Dictionary Search

hoá sắc

(化色) Chư Phật và Bồ tát vì phương tiện giáo hóa các loài chúng sinh mà dùng sức thần thông biến hóa ra các thứ hình thể, gọi là Hóa sắc.

hoá sớ

(化疏) I. Hóa sớ. Tờ sớ ghi rõ mục đích đi hóa duyên. Khi đi khuyến hóa, vị tăng có nhiệm vụ này phải mang theo hóa sớ. [Thiền uyển thanh qui Q.5] II. Hóa sớ. Chỉ cho các loại văn sớ, tiền giấy, ngựa giấy, v.v... đem đốt (hỏa hóa) để tế cáo thần linh.

hoá tha

(化他) Giáo hóa người khác, đối lại với Tự hành (tu hành cho mình). Phật và Bồ tát giáo hóa chúng sinh, khiến họ xa lánh điều ác, hướng về việc thiện. (xt. Tự Hành).

hoá tha thọ

(化他壽) Đối lại với Tự chứng thọ. Thọ mệnh vô lượng của đức Phật Vô lượng thọ ở thế giới Cực lạc phương Tây, vì Ngài sống lâu nên có thể hóa độ chúng sinh cũng nhiều vô hạn lượng. Cho nên gọi là Hóa tha thọ. (xt. Tự Chứng Thọ).

hoá thành dụ

(化城喻) Hóa thành, Phạm: Fddhi-nagara. Ví dụ về thành ấp do biến hóa mà có, là một trong 7 thí dụ của kinh Pháp hoa. Theo phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3, có một đoàn người phải vượt qua một chặng đường dài 500 do tuần, đầy gian nan nguy hiểm, để đến được nơi có nhiều châu báu, nhưng vì quá mỏi mệt cực nhọc nên muốn quay về. Vì muốn làm cho mọi người phấn chấn tinh thần, nên người dẫn đường mới dùng sức phương tiện, cách nơi đến khoảng 300 do tuần, hóa hiện ra một tòa thành ấp để mọi người được nghỉ ngơi, cuối cùng có thể tiến tới chỗ có châu báu. Phẩm kinh này mượn Hóa thành để ví dụ Niết bàn mà hàng Nhị thừa đã đạt được chưa phải là chỗ rốt ráo, mà chỉ là phương tiện của đức Phật tạm lập ra, mục đích muốn cho mọi người đạt được đến quả Phật cao tột của Đại thừa. Về chặng đường 500 do tuần có nhiều thuyết khác nhau. Các nhà giải thích xưa nay cho rằng 500 do tuần dụ chỉ cho lộ trình đi đến quả Phật phải trải qua. Còn về mỗi chặng, thì trong Pháp hoa văn cú quyển 7 phần dưới có nêu rõ chủ trương của các nhà cho rằng quả báo trong 3 cõi là chỗ 300 do tuần, quốc độ Hữu dư là chỗ 400 do tuần, còn quốc độ Thực báo là chỗ 500 do tuần. Nếu đứng về phương diện phiền não mà nói, thì kiến hoặc là 100, Ngũ hạ phần 200, Ngũ thượng phần là 300, Trần sa là 400 và vô minh là 500. Nếu đứng về phương diện quán trí mà nói, thì vào Không quán là đã có thể vượt qua 300 do tuần, vào Giả quán là vượt qua 400 do tuần và vào Trung quán là vượt qua 500 do tuần. [X. Pháp hoa huyền luận Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới]. (xt. Pháp Hoa Thất Dụ, Thí Dụ).

hoá thành tự

(化城寺) Chùa ở núi Cửu hoa, phía tây nam huyện Thanh dương, tỉnh An huy, Trung quốc, do ngài Bôi độ sáng lập vào năm Long an thứ 5 (401) đời Đông Tấn. Về sau, ngài Kim địa tạng, người nước Tân la đến chùa này tu Thiền, sống khổ hạnh, bốn chúng cảm mến đức độ của ngài nên xây dựng Thiền thất cúng dường. Người đương thời thường cho ngài là Ứng hóa thân của bồ tát Địa tạng, nên gần xa rất tôn sùng. Đầu năm Kiến trung (780- 783), triều đình ban cho chùa tấm biển Hóa thành . Vào cuối đời Minh, đại sư Ngẫu ích từng trụ ở chùa này.Khoảng năm Hàm phong chùa bị quân Thái bình Thiên quốc phá hủy, đến năm Quang tự 15 (1889) mới được trùng tu. Hiện nay chùa vẫn còn, ở phía tây chùa là núi Thần quang, trên đỉnh có tháp Kim địa tạng, trong đó thờ nhục thân của ngài, nên từ xưa tháp được gọi là Điện nhục thân. Năm 1911, chùa được sửa sang lại. [X. Tống cao tăng truyện Q.20; Cửu hoa sơn chí; điều Trì châu phủ sơn xuyên trong Đại Thanh nhất thống chí Q.82].

Hoá thân

化身; C: huàshēn; J: keshin; S: nirmāṇa-kāya; còn gọi là Ứng hoá thân (應化身) hoặc Ứng thân (應身);|1. Thân nhất thời của Đức Phật. Thân thị hiện. Còn gọi là Biến hoá thân (變化身). Thân thị hiện bằng năng lực thần thông. Một trong Ba thân (三身) của đức Phật. Thân biến hoá của Phật ứng hợp sắc tướng của chúng sinh để giáo hoá và cứu độ. Còn được gọi là Ứng thân (應身; e: response body); 2. Khi Hoá thân và Ứng thân thuộc dạng siêu việt, thì Ứng thân được xem là biểu hiện của những vị có công hạnh tu tập siêu xuất, trong khi đó Hoá thân là thị hiện của những vị có công hạnh tu tập thấp hơn, hoặc dùng cho loài Phi nhân (e: non-human); 3. Theo giáo lí Tiểu thừa, Khi một vị Phật nhập niết-bàn cũng được gọi là »Hoá Phật«; 4. Phật Thích-ca Mâu-ni, thân của Phật Thích-ca Mâu-ni.

hoá thân

(化身) Phạm: Nirmàịa-kàya. Đức Phật vì lợi ích cứu độ chúng sinh mà hiện ra các loại thân. I. Hóa Thân. Sinh thân của đức Phật đầy đủ 32 tướng, cùng với Pháp thân hoặc Chân thân gọi chung là Nhị thân. Giống như Ứng thân trong 3 thân Pháp, Báo, Ứng. [X. kinh Pháp thân; luận Đại trí độ Q.30]. II. Hóa Thân. Các thứ thân hình rồng, quỉ, v.v... do đức Phật vì cứu độ chúng sinh trong 5 đường mà hóa hiện ra, cùng với Ứng thân và Pháp thân gọi chung là Tam thân. Trong đây, Ứng thân chỉ cho thân hiện hình tướng Phật. [X. phẩm Tam thân phân biệt trong kinh Hợp bộ kim quang minh Q.1; luận Đại thừa khởi tín (bản dịch mới) Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu]. III. Hóa Thân. Chỉ cho phân thân Hóa Phật nương nơi Ứng thân (thân sinh trong cung vua và thành đạo dưới gốc cây Bồ đề) mà hóa hiện, cùng với Ứng thân và Chân thân gọi chung là Tam thân. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19] IV. Hóa Thân. Gọi đủ: Biến hóa thân. Thân Phật hóa hiện 8 tướng thành đạo để độ cho hàng Bồ tát địa tiền, Nhị thừa và phàm phu, cùng với Tự tính thân, Thụ dụng thân gọi chung là Tam thân. [X. Phật địa kinh luận Q.7]. (xt. Tứ Thân).

hoá tiền

(化前) Các nhà thuộc tông Tịnh độ căn cứ vào Quán vô lượng thọ kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo mà chủ trương rằng các giáo pháp do đức Phật nói trước kinh Quán vô lượng thọ là Hóa tiền (giáo hóa trước).

Hoá tác

化作; C: huàzuò; J: kesa; |Có hai nghĩa: 1. Tạo ra bằng một năng lực khác thường; 2. Sự thị hiện sắc thân trong tình huống thích hợp của chư Phật và Bồ Tát để giáo hoá chúng sinh.

hoá tích

(化迹) Chỉ cho giáo tích, tức là di tích đức Phật giáo hóa chúng sinh. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung phần 1; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1 đoạn 2].

hoá đàn

(化壇) Cũng gọi Niết bàn đài. Là cái nền cao để di hài lúc hỏa táng. [X. Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.3; Thiền lâm tượng khí tiên Q.1].

Hoá đạo

化道; C: huàdào; J: kedō; |Dạy dỗ và khuyến hoá chúng sinh, dẫn dắt họ đến bờ giải thoát.

Hoá địa bộ

化地部; C: huàdì bù; J: kejibu; S: mahīśāsaka;|Một tông phái Tiểu thừa, chi nhánh của Hữu bộ (有部; s: sarvāstivāda; sthavira), hình thành 300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Quan điểm của phái nầy rất gần với Đại chúng bộ (大衆部; s: mahāsāṃghika), đặc biệt quan điểm về quá khứ và tương lai là không có thật, chỉ có hiện tại là có thật.

hoá địa bộ

(化地部) Phạm: Mahìzàsaka. Pàli: Mahiôsàsaka. Dịch âm: Di sa tắc bộ. Cũng gọi Chính địa bộ, Giáo địa bộ, Đại bất khả khí bộ. Là một trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Tương truyền, bộ này từ Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Thượng tọa bộ hệ tách ra vào khoảng 300 năm sau đức Phật diệt độ.Về tên gọi của bộ này, Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 320 thượng), nói: Tông chủ của bộ này vốn là một vị quốc vương, cai trị đất nước, cảm hóa nhân dân nên gọi là Hóa địa. Sau, vị quốc vương này bỏ ngôi xuất gia, hoằng dương Phật pháp, cho nên từ đó bộ phái do ngài sáng lập được gọi là Hóa địa bộ . Còn theo ngài Chân đế thì chủ của Chính địa bộ vốn là một vị Vương sư, khuông chính bờ cõi, rồi bỏ ngôi để chuyên việc hoằng pháp, vì thế gọi là Chính địa. Theo Dị bộ tông luân luận, thì giáo nghĩa của Hóa địa bộ được chia làm Bản tông đồng nghĩa và Mạt tông dị nghĩa để giải thích. Trong đó,Bản tông đồng nghĩa rất giống với giáo nghĩa của Đại chúng bộ, cho rằng không có quá khứ và vị lai, nhưng có hiện tại và pháp vô vi. Đồng thời lập ra 9 pháp vô vi: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Hư không, Bất động, Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân, Vô kí pháp chân như, Đạo chi chân như và Duyên khởi chân như. Về Kiến đạo, chủ trương nhất thời hiện quán lí Tứ thánh đế và khẳng định không có thân Trung hữu , đồng thời cho 5 thức có sức tạp nhiễm. Đối với 4 quả sa môn, bộ này chủ trương quả Dự lưu có thoái chuyển, chỉ có quả A la hán là không thoái chuyển. Còn Mạt tông dị nghĩa thì gần giống với thuyết của Tát bà đa bộ chủ trương có quá khứ, vị lai và cũng có thân Trung hữu. Theo 2 ngài Tứ ân và Hiền thủ thì Bản tông đồng nghĩa thuộc về tông Pháp vô khứ lai , còn Mạt tông dị nghĩa thì thuộc về tông Pháp hữu ngã vô .Ngoài ra, luật do Hóa địa bộ truyền trì là Di sa tắc bộ hòa hê ngũ phần luật 30 quyển. [X. kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; kinh Phật bản hạnh tập Q.2; Bộ chấp dị luận; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].

Hoá độ

化度; C: huàdù; J:; |Giáo hoá và đem đến sự cứu độ; hướng dẫn và khuyến khích, chuyển hoá đưa đến giải thoát (theo kinh Pháp hoa 法華經).

hoá độ

(化土) Phạm: Nirmàịakwetra. Cũng gọi Biến hóa độ, Ứng hóa độ, Phương tiện hóa độ. Cõi nước do đức Phật vì hàng Bồ tát địa tiền, Nhị thừa và phàm phu mà phương tiện thị hiện ra. Là một trong 3 cõi hoặc 4 cõi, đối lại với Chân thực báo độ . Cõi này tùy theo căn cơ của chúng sinh mà có tịnh (trong sạch), uế ( nhơ nhớp) khác nhau. Quốc độ do tâm thanh tịnh chiêu cảm, gọi là Tịnh độ, như Tịnh độ của đức Di lặc; quốc độ do tâm ô nhiễm chiêu cảm, gọi là Uế độ, như thế giới Sa bà do đức Phật Thích ca thị hiện. Tịnh độ và Uế độ này đều là Hóa độ biến hiện ra trong thời gian dài, khác với Hóa độ nhất thời tạm biến hiện được nói đến trong kinh Duy ma. Còn Tịnh độ do đức Phật A di đà hóa hiện thì có nhiều loại như: Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới, Biên địa, v.v... nói trong kinh Quán vô lượng thọ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); luận Thành duy thức Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần cuối; Hiển tịnh độ giáo hành chứng văn loại Q.6].

Hoá Độ tự

化度寺; C: huàdù sì; J: keto-ji; |Một ngôi chùa ở Trường An, trú sở của Vô tận tạng (無盡藏), một tổ chức từ thiện của trào lưu Tam giai giáo (三階教); chùa này vốn được gọi là Chân Tịch tự (眞寂寺).

hoá độ tự

(化度寺) Chùa ở phường Nghĩa ninh, đường Chu tước tại Trường an (Tây an, tỉnh Thiểm tây). Nguyên là ngôi nhà của quan Thượng thư tả bộc xạ Tề quốc công Cao quýnh đời Tùy. Năm Khai hoàng thứ 3 (583). Cao quýnh hóa nhà làm chùa, đặt tên là Chân tịch tự. Lúc bấy giờ, thiền sư Tín hành, Tổ khai sáng Tam giai giáo, từ Sơn đông đến, ông Cao quýnh nghe tin, liền cất một viện trong khuôn viên chùa rồi thỉnh ngài đến ở. Trong thời gian cư trú tại đây, ngài Tín hành đã soạn bộ Tam giai tập lục hơn 40 quyển. Sau khi ngài tịch, các đệ tử là Tăng ung, Tuệ như, Tuệ liễu, v.v... đều trụ ở chùa này. Về sau, trong năm Vũ đức đời Đường, ngài Tín nghĩa lập viện Vô tận tạng ở trong chùa để làm trung tâm của Tam giai giáo. Năm Vũ đức thứ 2 (619), chùa được đổi tên là Hóa độ tự. Năm Hội xương thứ 5 (845), lúc Vũ tông phá hủy Phật Pháp, chùa bị hoang phế một thời gian, nhưng năm sau được khôi phục và đổi tên là chùa Sùng phúc. Ngoài ra, theo Cao tăng truyện, các ngài Đàm toại, Đàm lương đời Tùy, Chuyển minh, Trí thăng, Duy khác, Mãn ý, v.v... đời Đường đều đã từng ở chùa này. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Tống cao tăng truyện Q.5 Q.6, Q.14; Lưỡng kinh tân kí; Tam giai giáo chi nghiên cứu].

hoá ứng thân tứ cú

(化應身四句) Đức Phật vì cứu độ chúng sinh mà biến hiện ra các thân dưới nhiều hình tướng, như khi biến hiện làm hình tướng Phật, thì gọi là Ứng thân; khi biến hiện làm các hình tướng khác, thì gọi là Hóa thân. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao nêu ra 4 loại Hóa ứng thân, do đó, có Hóa ứng thân tứ cú là: 1. Hóa thân phi ứng (Hóa thân chẳng phải Ứng thân): Đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên tùy theo các loài mà biến hiện làm thân hình rồng, quỉ, v.v... không là thân Phật, cho nên gọi là Hóa thân phi ứng. 2. Ứng thân phi hóa (Ứng thân chẳng phải Hóa thân): Chỉ cho thân Phật vì các Bồ tát địa tiền như: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, v.v... mà ứng hiện, chứ không phải Phật vì các trời, người, quỉ, súc sinh và địa ngục mà hóa hiện, cho nên gọi là Ứng thân phi hóa. 3. Diệc ứng diệc hóa (vừa là Ứng thân vừa là Hóa thân): Chỉ cho thân Phật vì hàng Thanh văn mà thị hiện tướng hảo trang nghiêm, gọi là Ứng; Phật từ không biến ra có, gọi là hóa, cho nên gọi là Diệc ứng diệc hóa. 4. Phi ứng phi hóa (chẳng phải Ứng thân chẳng phải Hóa thân): Chỉ cho Pháp thân và Báo thân trong 3 thân (Pháp, Báo, Ứng) của Phật. Pháp thân là lí thể trung đạo, Báo thân là nhờ công đức tu hành mà được phúc báo hiển hiện thực trí của Phật. Hai thân này không thuộc về Ứng cũng chẳng thuộc về Hóa, cho nên gọi là Phi ứng phi hóa.

hoán chung

(喚鍾) Cũng gọi Bán chung, Tiểu chung, Phạn chung. Chuông báo hiệu. Một trong 6 vật dụng ở Phật đường. Hoán chung treo trong Phật đường, khi pháp hội sắp bắt đầu thì đánh chuông báo hiệu cho đại chúng biết. Hoán chung còn được treo dưới mái hiên nhà kho để báo hiệu giờ dùng cơm, nên cũng được gọi là Phạn chung. [X. luận Khảo tín Q.1; điều Bán chung trong Trì bảo thông giám Q.trung]. (xt. Bán Chung).

hoán chuyển

To exchange.

hoãn lại

To postpone—To defer—To delay—To put off to a later time

hoè an quốc ngữ

(槐安國語) Tác phẩm, 7 quyển, do ngài Bạch ẩn Tuệ hạc, người Nhật soạn, ngài Nhất nặc ghi chép, ấn hành năm 1750, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này bình xướng bộ Tông phong diệu siêu ngữ lục của Quốc sư Đại đăng. Những câu ngắn gọn dưới dấu hiệu (O) là phần nói lên chỗ tâm đắc của tác giả đối với yếu chỉ của tông thừa. Ngài Tuệ hạc dùng từ Hòe an quốc trong Nam kha kí để đặt tên cho tác phẩm của mình là tự khiêm rằng những lời trong sách này chỉ là lời nói trong mộng mà thôi. Toàn sách gồm các phần: Lời dạy khai pháp, Yếu ngữ khi trụ ở chùa Đại đức (gồm quyển 1, 2); Yếu ngữ khi trụ ở chùa Sùng phúc (quyển 3); Yếu ngữ khi dời chùa Sùng phúc trở về chùa Đại đức (quyển 4); Tụng cổ (các quyển 5, 6), Niêm cổ (quyển 7). Ngài Tuệ hạc lấy cách thức của Bích nham lục, Thung dung lục làm qui tắc mà phát huy 10 bài Niêm cổ trong quyển 7 để làm trọng tâm cho tác phẩm này.

hoạch

1) Bắt được: To seize—To catch—To obtain—To recover. 2) Hoạch định: To sketch—To plan—To devise. 3) See Vạc. 4) Vẽ: To draw—To pain a picture. ; (獲) Phạm: Pratilambha. Đối lại với Bất hoạch. Nghĩa là được cái chưa từng được, hoặc được cái từng được rồi mà đã mất. Một trong các loại Đắc . Luận Câu xá quyển 4 và luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 10 nói, như phàm phu được cái chưa từng được là sơ vô lậu của giai vị Kiến đạo, hoặc được cái đã từng được rồi lại mất là Hữu lậu định, đều gọi là Hoạch. Nhưng luận Đại tì bà sa quyển 157 dẫn lời trong luận Thi thiết cho rằng 3 chữ Đắc, Hoạch và Thành tựu đều đồng nghĩa, tên tuy khác nhưng thể thì giống nhau. (xt. Đắc)

hoạch bính

Vẽ bánh mà ăn, một từ Thiền Tông dùng để chỉ kinh điển như bánh vẽ chỉ là thức ăn vô bổ—Pictured biscuits, a term of the Intuitive school for the scriptures, i.e. useless as food.

hoạch sa

Osh or Ush (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía bắc của Sita, có lẽ bây giờ là Ingachar; rất có thể là Uch-Turfan hay Yangishahr—An ancient kingdom, north of Sita, probably the present Ingachar, possibly Uch-Turfan or Yangishahr.

hoạch thang địa ngục

Địa ngục với những vạc nấu sắt nóng chảy—The purgatory of caldrons of molten iron. ; (鑊湯地獄) Địa ngục vạc nước sôi. Những tội nhân trong địa ngục này bị bỏ vào vạc nước sôi để trừng phạt các tội ác mà họ đã tạo lúc còn sống. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5, thì địa ngục này có tất cả 18 cái vạc, mỗi cái rộng 40 do tuần, có 7 lớp lưới sắt, trong các vạc chứa đầy nước đồng sôi. Có 500 quỉ La sát lấy tảng than đá lớn đốt vạc đồng, ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt liên tiếp, ròng rã 60 ngày (tức bằng 12 vạn năm ở thế giới Sa bà này) mà không tắt. Những chúng sinh hủy phạm giới pháp của Phật, sát sinh cúng tế, vì ăn thịt mà thiêu đốt núi rừng làm thương tổn chúng sinh, thiêu đốt các loài chúng sinh, v.v... thì sau khi chết bị quả báo đọa vào địa ngục này. Người phạm tội khi sắp chết, thân tâm phiền muộn, không làm chủ được đại tiểu tiện, thân thể hoặc nóng như nước sôi, hoặc lạnh như băng giá, liền nảy ra ý muốn được tắm nước ấm. Ngục tốt La sát liền hóa làm người hầu, tay bưng nồi nước nóng đến chỗ tội nhân, tội nhân thấy nước nóng sinh tâm ưa thích, liền tắt thở và sinh ngay vào địa ngục Hoạch thang này. Tội nhân bị nấu trong vạc, da thịt nhừ nát, chỉ còn lại bộ xương, ngục tốt dùng cái chạc bằng sắt gắp xương ra khỏi vạc, vứt cho chó sắt ăn, ăn xong, chó ói mửa trên đất, tội nhân sống lại, ngục tốt liền đuổi bắt tội nhân cho vào vạc trở lại. Vì sợ vạc nóng, tội nhân liền đưa tay bám vào cây bằng gươm dao, xương thịt bị đứt nát, lại rơi vào trong vạc. Vì tội sát sinh nên trong một ngày một đêm phải chịu quả báo chết đi sống lại nhiều lần như số cát sông Hằng. Đền tội xong rồi ra khỏi địa ngục, phải sinh làm loài súc sinh có đời sống ngắn ngủi như: lợn (heo), dê, gà, chó, v.v... Sau khi chịu thân súc sinh trong 8.000 vạn năm mới được sinh làm người. Tuy được sinh trong loài người, nhưng phải chịu quả báo nhiều bệnh và chết non. Trải qua vô lượng kiếp sau mới được gặp thiện tri thức, mới được thụ trì 5 giới, thực hành 6 độ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.7; kinh Luật dị tướng Q.50].

hoạch thạch

Khắc trên đá, nghĩa là để lại dấu vết cụ thể—Sculpture in stone, which remains.

hoạch thủy

Giống như vẽ một đường trong nước, không để lại một dấu vết gì, là điều không thể được—Like drawing a line across water, which leaves no trace, this is impossible, unlike.

hoạch tượng

Hình tượng vẽ—Portraits, paitings of images, mandalas.

hoạch đắc

See Hoạch (2).

hoạch định

To define—To form.

Hoại

壞; C: huài; J: e, kai;|Có các nghĩa sau: 1. Tiêu tan, hư hoại, huỷ diệt, xoá sạch. Biến đổi và hoại diệt (s: nāśā, hāni, bheda, vigayama, nāśana); 2. Sự hoại diệt một cõi giới; 3. Sự phá huỷ, sự sụp đổ (s: vināśayati); 4. Hoại diệt trên lí thuyết (s: hata).

hoại

Hủy diệt hay hoại diệt—To go to ruin—To decay—To perish—To destroy—To spoil—Worn out—Rotten—Bad.

hoại diệt

To annihilate—Annihilation—Extinguish.

Hoại khổ

壞苦; C: huàikŭ; J: eku;|Sự đau khổ con người trải qua khi đánh mất những thứ mình đã gắn bó. Nói chung là đau khổ vì sự hoại diệt.

hoại khổ

xem ba tướng khổ ; Một trong tam khổ, nổi khổ của sự hoại diệt—One of the three aspects of dukkha, the suffering of decay, or destruction. a) Nỗi khổ do sự hoại diệt của thân, khi tứ đại luôn lấn át lẫn nhau: The suffering of decay of the body due to the contradictions of the four great elements. b) Nỗi khổ khi niềm vui bị hủy hoại: The suffering of decay of reaction from joy, etc. ** For more information, please see Tam Khổ, and Bát Khổ in Vietnamese-English Section. ; (壞苦) Phạm: Vipariịàma-dukhatà. Pàli: Vipariịàma-dukkha. Cũng gọi Biến dị khổ. Cái khổ phát sinh khi người mình thương yêu chết mất, hoặc vật mà mình nâng niu ưa thích bị hư hoại. Một trong 3 nỗi khổ. Lại nữa, đất, nước, lửa, gió trong thân xâm lấn lẫn nhau, phá hoại lẫn nhau, làm cho mình khổ, cũng gọi là Hoại khổ. Ngoài ra, những điều thích ý, khi phát sinh thì vui, khi hoại diệt thì khiến cho thân tâm khổ não, cũng gọi là Hoại khổ. [X. luận Câu xá Q.22; luận Du già sư địa Q.42; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.3]. (xt. Tam Khổ).

hoại kiến

Tà kiến bại hoại, ám chỉ đoạn kiến—Corrupt or bad views, the advocacy of total annihilation.

hoại kiếp

Samvarta (skt)—Một trong tứ kiếp, khi vũ trụ hay tam thiên đại thiên thế giới bị hủy diệt—The kalpa of destruction—The periodical gradual destruction of a universe, one of its four kalpas. ** For more information, please see Tứ Kiếp. ; (壞劫) Phạm: Saôvarta-Kalpa. Thời gian giữa kiếp Trụ và kiếp Không là Hoại kiếp, tức là thời kì thế gian chuyển dần đến hoại diệt. Một trong 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Khoảng thời gian kiếp hoại này được chia làm 20 Trung kiếp, trong 19 Trung kiếp đầu, chúng sinh hữu tình lần lượt hoại diệt hết, khí thế gian (hoàn cảnh đất nước) chỉ còn trống không, đến Trung kiếp cuối cùng thì khí thế gian cũng hoại diệt hoàn toàn. Khí thế gian lần lượt bị phá hoại bởi 3 tai họa lớn: Lửa, nước, gió gọi là Đại tam tai. Hỏa tai (nạn lửa) xảy ra do 7 mặt trời xuất hiện cùng một lúc, từ tầng trời Sơ thiền của cõi Sắc trở xuống đều bị cháy thành tro; Thủy tai (nạn nước) xảy ra do mưa dầm, từ tầng trời Nhị thiền trở xuống đều bị ngập chìm; Phong tai (nạn gió) xảy ra bởi gió va chạm nhau, từ tầng trời Tam thiền trở xuống đều bị gió thổi tan. Ba tai họa lớn này cũng được gọi là Kiếp tai, nhưng chỉ phá hoại từ tầng trời Tam thiền của cõi Sắc trở xuống mà thôi. [X. luận Đại tì bà sa Q.14, Q.135; luận Câu xá Q.12; Câu xá luận quang kí Q.12]. (xt. Tam Tai, Tứ Kiếp, Kiếp).

hoại lư xa

Xe lừa đã hư hoại, ám chỉ nhị thừa—A worn-out donkey cart, i.e. Hinayana. ; (壞驢車) Chiếc xe hư do con lừa già yếu kéo, đối lại với cỗ xe trang hoàng đẹp đẽ do con trâu trắng lớn kéo nói trong kinh Pháp hoa. Tông Thiên thai lập ra Thập thừa quán pháp và cho rằng, nếu không tu hành đầy đủ 10 pháp năng quán và 10 cảnh sở quán thì chẳng có công dụng gì, cũng giống như chiếc xe đã hư mà do con lừa già kéo vậy. Chỉ quán nghĩa lệ quyển hạ (Đại 46, 453 thượng), nói: Tu 10 thừa 10 cảnh là tu chân chính, (…) nếu không có 10 cảnh thì 10 thừa không có thể; nếu không có 10 pháp thì gọi là Hoại lư xa [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Đại bát niết bàn kinh sớ Q.20; Ma ha chỉ quán Q.7 phần dưới].

hoại nạp

(壞衲) Chỉ cho áo cà sa của chư tăng. Hoại, tức là hoại sắc (Phạm: Durvarịì, Pàli: Dubbaịịa), nghĩa là không dùng 5 mầu chính: Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, mà dùng các mầu nhuộm xen lẫn nhau như xanh đen, mộc lan, v.v... Còn Nạp, tức là Nạp y, là áo pháp được may bằng nhiều miếng vải khâu lại với nhau. Ngoài ra, tiếng Hoại nạp cũng được dùng để chỉ tăng sĩ Phật giáo. (xt. Nạp, Ca Sa).

hoại pháp

1) Tiến trình hoại diệt: Any process of destruction or decay. 2) Theo tập tục Ấn Độ, hỏa thiêu xương cốt người quá vãng để những thứ nầy không còn lôi kéo người ấy tiếp tục lăn trôi trong luân hồi sanh tử nữa: According to Indian customs, to burn the bones of a deceased person so that they may not draw him to reborth any longer.

hoại pháp bất hoại pháp

(壞法不壞法) Hoại pháp và Bất hoại pháp là 2 pháp quán tưởng để thành tựu quả A la hán. Đây là theo cảnh sở quán mà đặt tên. Hoại pháp , tức là khi tu quán bất tịnh, dùng tuệ giả tưởng, lần lượt thực hành 9 quán tưởng về bản thân và về người mình yêu mến, đó là: Quán tưởng chương sình lên, quán tưởng bắt đầu rữa nát, quán tưởng máu chảy ra, quán tưởng mủ rịn ra, quán tưởng xanh bầm, quán tưởng chim thú đến ăn và giòi bọ rúc rỉa, quán tưởng da thịt tan rã, quán tưởng chỉ còn bộ xương và quán tưởng lửa đốt thành tro. Khi đến pháp quán lửa đốt thành tro thì quán tưởng tất cả đều không nên gọi là Hoại pháp. Người tu pháp này chỉ một lòng cầu dứt khổ, nhưng vì hành giả không thích tu sự quán, cho nên dù đã được quả A la hán Tuệ giải thoát vẫn còn thoái chuyển, bỏ quả A la hán. Bất hoại pháp cũng dùng tuệ giả tưởng tu quán bất tịnh. Trong 9 quán tưởng nói trên, lần lượt tu từ pháp quán tưởng sình chương lên đầu tiên trở đi như thường, nhưng dừng lại ở Pháp quán thứ 8 (còn trơ bộ xương) chứ không tiến tới pháp quán thứ 9 (lửa đốt thành tro, quán không). Khi dừng lại ở pháp quán thứ 8 còn trơ bộ xương thì khiến cho trí quán tưởng tăng thêm, thấy suốt được ở trong xương có: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, gọi là 8 sắc mà trước kia chưa thấy. Tám sắc này đều phát ra ánh sáng tựa hồ như nước chảy, bao quanh bộ xương, khiến cho người tu quán cảm thấy hổ thẹn, tâm định lắng yên, càng lúc càng sâu. Tóm lại, người thực hành pháp quán này, về phương diện tuệ quán, có đầy đủ tất cả công đức như: Bát bối xả, Bát thắng xứ, Quán luyện huân tu, thần thông biến hóa, v.v... Trải qua quá trình tu quán như thế, sau mới chứng quả Vô học, tức là thành tựu quả A la hán Câu giải thoát . Vì khi thực hành pháp quán này, hành giả còn giữ lại bộ xương, không quán tưởng tất cả đều không, cho nên gọi là Bất hoại pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.2; luận Đại trí độ Q.21; Ma ha chỉ quán Q.9 phần trên; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung]. (xt. Bát Giải Thoát).

hoại sơn

Theo Kinh A Hàm:“Sinh, lão, bệnh, tử làm suy hao con người giống như sự hao mòn của quả núi vậy (Suy Hao Sơn)—According to The Agama Sutra:“as the hills wear down, so is it with man.”

hoại sắc

Kasaya (skt). 1) Màu tối: Broken colour (not a bright colour). 2) Màu phụ (không phải là năm màu chính): A secondary color (not the five primary colours). 3) Màu trung tính, hay là màu được nhuộm từ các màu khác: It is described as a neutral colour through the dyeing out of the other colours. 4) Luật nhà Phật là nhuộm sao cho áo cà sa có màu hoại sắc—A fundamental rule in Buddhism is to dye the kasaya with a secondary color.

hoại sắc y

xem áo nhuộm màu. ; Hoại Sắc Nạp—Áo dành cho chư Tăng Ni—Rag-robe, or robe for monks and nuns.

hoại tướng

Trạng thái hoại diệt của sự vật, một trong sáu tướng của vạn hữu—The aspect, or state of destruction or decay, one of the six characteristics found in everything. ** For more information, please see Lục Tướng in Vietnamese-English Section.

hoại đạo

Phá hoại chân lý hay đạo pháp bằng những hành động bại hoại—To destroy the truth, or the religion, e.g. by evil conduct.

hoại đạo sa môn

Vị Sa Môn phá hoại chân lý hay đạo pháp bằng những hành động bại hoại (một trong bốn loại Sa Môn)—A monk who destroys the truth, or the religion by his evil conduct. ; (壞道沙門) Cũng gọi Ô đạo sa môn. Sa môn làm nát đạo, làm nhơ đạo. Chỉ cho những sa môn dối trá, vi phạm giới cấm, làm hoen ố đạo Phật mà không biết hổ thẹn. Là một trong 4 loại sa môn. [X. luận Câu xá Q.15; luận Du già sư địa Q.29]. (xt. Tứ Sa Môn).

hoạn nạn

Calamity—Misfortune

hoạnh phát

ill-gotten.

hoạnh tài

Ill-gotten gains.

hoạnh tài bất phú

Ill-gotten gains seldon prosper.

hoạnh tử

To die innocently.

Hoạt

活; C: huó; J: katsu;|1. Sống, đang sống, sinh động, tràn đầy sự sống; 2. Sinh kế, cách sinh nhai; 3. Làm sinh động, truyền sự sống cho, hồi sinh. Làm sống lại.

hoạt

Jivaka or Jiva (skt)—Sống động, linh hoạt—Alive—Living—Lively—Revive—Movable.

hoạt bát

Active—Fluent—To be a fluent speaker.

hoạt cú tử cú

(活句死句) Cũng gọi Hoạt ngữ tử ngữ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hoạt cú là câu nói linh diệu, siêu việt mọi sự phân biệt; Tử cú là câu nói không hoạt dụng. Trong Lâm gian lục quyển thượng của ngài Tuệ hồng đời Tống, có ghi câu nói của thiền sư Động sơn Thủ sơ (Vạn tục 148, 299 hạ): Trong lời có lời gọi là Tử cú; trong lời không lời gọi là Hoạt cú . [X. Sơn phòng dạ thoại Q.hạ (Minh bản)].

Hoạt lộ

活路; C: huólù; J: katsuro;|Con đường sống.

hoạt mệnh

Sống hay sống lại—Life—Living—To retrive. ; (活命) I. Hoạt Mệnh. Phạm:Jìvaka, ajìvaka (dịch âm: A thời phạ ca, A thời bà ca, A dần bà ca, A thời bà), Ajìvika (dịch âm: A kì tì già, A di duy, A kì duy). Chỉ cho sự sinh hoạt, sự sống còn. Người xuất gia tu hành nên dứt bỏ vật dục, chuyên tâm tu đạo, nếu kinh doanh buôn bán, xem tướng số, bói lành dữ cho người, hoặc hiện các việc kì lạ để lòe đời, mong được tiền của cho việc mưu sinh, hoặc vì cơm áo mà nói pháp cho người, v.v... thì gọi là Hoạt mệnh, nghĩa là kiếm sống bằng tà đạo chứ không phải chính đạo. Như luật Tứ phần quyển 30 chép, thời đức Phật còn tại thế, có nhóm Lục quần tỉ khưu ni học tập chú Chi tiết, chú Sát lợi, xem tướng chết, bói để biết âm thanh các loài chim, v.v... và dùng cách đó để mưu sinh (hoạt mệnh). Ngoài ra, nhóm Mạt ca lợi cù xá lê (Pàli: Makkhali-gosàla) thuộc ngoại đạo Ni kiền tử cùng thời với đức Phật, cũng làm những nghề nói trên để kiếm sống, nên gọi là Tà mệnh ngoại đạo. [X. kinh Trường a hàm Q.14; phẩm Bố thí trúc viên trong kinh Phật bản hạnh tập Q.45; luật Ma ha tăng kì Q.7; luận Đại trí độ Q.19; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tà Mệnh). II. Hoạt Mệnh. Phạm: Jìvaka. Dịch âm: Kì bà, Thời bà, Thời phạ ca. Tên một vị Đại lương y ở thời đức Phật. Vì ông đã cứu mạng sống cho nhiều người mắc bệnh nan y, nên được gọi là Hoạt mệnh. Câu xá luận quang kí quyển 5 (Đại 41, 103 thượng), nói: Bấy giờ có Phạ ca, Hán dịch là Hoạt mệnh, rất giỏi về thuốc, chữa lành các bệnh, cứu sống được nhiều người, nên gọi là Hoạt mệnh . Ngoài ra còn có một Đồng tử tên là Hoạt mệnh, từng được đức Phật thụ kí.

hoạt mệnh ấn minh

(活命印明) Ấn minh của Mật giáo dùng trong pháp Diên mệnh chiêu hồn (pháp gọi hồn người chết sống lại). Kinh Hiện chứng tam muội đại giáo vương quyển 14 (Đại 18, 389 thượng), nói: Kết ấn hình lưỡi câu bí mật, chắc chắn, mười ngón tay hướng ngoại và xòe ra, rồi đặt lên giữa đỉnh đầu, khiến cho người chết được sống lại . Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la tát đỏa (vajrasattva, kim cương hữu tình) hồng nhược (hùôja, dẫn nhập câu triệu). [X. Nhũ vị sao Q.12; Bí sao vấn đáp Q.9].

hoạt nhi tử

Tên của cây Bồ Đề—A name for the bodhi-tree—See Bồ Đề Thọ. ; (活兒子) Cũng gọi Bồ đề tử. Đứa con chết sống lại. Kinh Sổ châu công đức chép, thời xưa, một ngoại đạo có đứa con chết, ông ta liền đến cầu xin dưới cây Bồ đề, nhờ đó mà con ông sống lại. Vì lí do ấy nên hạt Bồ đề được gọi là Hoạt nhi tử. [X. Tô tất địa quĩ Q.hạ).

hoạt nhân kiếm

(活人劍) Đối lại với Sát nhân đao. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gươm cứu sống người. Gươm, dao đều được dùng để ví dụ trí tuệ. Trí tuệ có khả năng đánh thức linh tính sẵn có của con người, thì gọi là Hoạt nhân kiếm; trái lại đặt con người vào chỗ chết, thì gọi là sát nhân đao (dao giết người). Điều Nham đầu Toàn khoát trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 326 hạ), nói: Thạch sương tuy có sát nhân đao nhưng lại không có hoạt nhân kiếm . Phần Thùy thị, tắc 12, trong Bích nham lục (Đại 48, 152 hạ), ghi: Sát nhân đao, hoạt nhân kiếm vốn là phép tắc từ xưa, nhưng cũng là chỗ then chốt của thời nay . [X. Giáp sơn Thiện hội trong Tông môn thống yếu tục tập Q.14].

hoạt phật

Vị Phật sống, danh hiệu của Hộ Độ Khắc Đồ, hay đức Đạt Lai Lạt Ma, có khả năng tiếp tục tái sanh, giữ những chức vụ sẳn giữ để hoằng pháp độ sanh (các vùng Mông, Tạng và Thanh Hải đều có)—A living Buddha, i.e. a reincarnation Buddha, e.g. Hutuktu, Dalai Lama. ; (活佛) Tạng: Hpbrulsku. Mông cổ: Khutuktu, Khutukutu, Hobilghan. Phật sống của Tây tạng. Lạt ma cựu giáo (Hồng giáo)của Tây tạng được phép lấy vợ sinh con làm người thừa kế pháp vị. Từ khi ngài Tông khách ba sáng lập Hoàng giáo mới qui định đời sống độc thân, cho nên trong quá trình kế thừa pháp vị đã có sự chuyển biến lớn lao, đó là sự chuyển sinh của Lạt ma . Sau khi vị Đạt lai lạt ma đời thứ I là Căn đôn châu ba (Tạng: Dge-dun-grub-pa), đệ tử ưu tú của ngài Tông khách ba, thị tịch vào năm 1475 Tây lịch, mọi người đều tin rằng ngài chuyển sinh thành Căn đôn gia mục thố, đó là trường hợp đầu tiên về chế độ chuyển sinh của Hoạt Phật. Không bao lâu, Ban thiền lạt ma cũng noi theo chế độ này, do đó, chế độ chuyển sinh dần dần trở thành phương pháp chính thức kế thừa địa vị Cao tăng trong Lạt ma giáo. Tư tưởng về hóa thân Phật sống ở đời hiện tại này đã khiến cho các nơi xuất hiện nhiều Phật sống quá, đến nỗi đưa đến sự đối kháng lẫn nhau giữa các tông phái có thế lực. Bởi vậy, để duy trì sự phát triển của giáo đoàn, khi lâm chung, vị Cao tăng liền báo trước phương hướng chuyển sinh đời kế tiếp. Đệ tử theo phương hướng thầy mình đã nói, đến nơi ấy tìm một thần đồng sinh ra trong vòng một năm, sau khi đã qua cuộc thử nghiệm chính thức, cậu bé ấy được suy tôn làm người thừa kế, đó chính là Hô tất lặc hãn (Hobilghan, Khublighan). Hô tất lặc hãn là tiếng Mông cổ, có nghĩa là tự tại chuyển sinh , tái lai nhân , v.v... và là Châu cô (Sprul-sku); Châu cô là tiếng Tây tạng, có nghĩa là hóa thân . Người phàm phu vọng niệm chưa trừ, theo nghiệp chuyển sinh không được tự tại; bậc Thánh của Đại thừa đã trừ sạch vọng niệm, chứng pháp tính chân thực, không bị nghiệp chuyển, nên tự làm chủ việc sinh tử, tự tại chuyển sinh, tùy duyên độ chúng. Tư tưởng tự tại chuyển sinh này bắt nguồn từ tín ngưỡng luân hồi thụ sinh và 3 thân của Phật. Qua phương thức chuyển sinh Hô tất lặc hãn để tiếp nhận chức vị do đời trước để lại, thì chức ấy được gọi là Hô đồ khắc đồ, tiếng Mông cổ là Khutuktu, nghĩa là minh tâm kiến tính, sinh tử tự chủ , từ ngữ này tiếng Tây tạng cũng có nghĩa là Châu cô (hóa thân) và Thánh giả. Có thuyết cho rằng bậc Thánh chuyển sinh của Tây tạng gọi là Hô tất lặc hãn, còn thân chuyển hóa của các bậc Thánh tăng Ấn độ và Tây tạng thì gọi chung là Hô đồ khắc đồ. Nhưng nói chung, Hồ đồ khắc đồ là một chức vụ về mặt hành chính được nhà nước phong tặng, còn Hô tất lặc hãn là người tu hành tuy chuyển sinh nhưng vẫn không mê mất bản tính, cho nên phàm đã là Hô đồ khắc đồ tất nhiên cũng là Hô tất lặc hãn. Nhưng người tu hành trở thành Hô tất lặc hãn thì chưa hẳn đều được phong tặng tước vị Hô đồ khắc đồ. Hiện nay có tới 160 vị Hoạt Phật từ các vùng Tây tạng, Ngoại mông, Nội mông, Cam túc, Thanh hải, Tây khang, v.v... đang sống tại thủ đô Bắc kinh. Các vị Đạt lai lạt ma và Ban thiền lạt ma của Tây tạng, Triết bá tôn đan ba hô đồ khắc đồ (Rje btsun dam pa khutukta) của Ngoại mông và Chương gia của Nội mông, v.v... đều là những vị Hoạt Phật nổi tiếng trong lịch sử. [X. điều Ô tư tạng đại bảo pháp vương trong Minh sử Q.331; Thánh triều phủ tuy Tây tạng kí thượng, hạ trong Thánh vũ kí Q.5; Đại thanh hội điển sự lệ; Mông Tạng Phật giáo sử (Diệu chu); Cận đại Tây tạng sử nghiên cứu cập cận đại Mông cổ sử nghiên cứu (Thỉ dã Nhân nhất); Mông cổ lạt ma giáo sử (Kiều bản Quang bảo)].

hoạt quốc

Ghur or Ghori (skt)—Đổ Hóa La—Theo Tây Vực Ký, Hoạt Quốc là tên một vương quốc cổ ở vùng Tân Cương—According The Great T'ang Chronicles of the Western World, Ghori is an ancient kingdom in Turkestan, north west of China. ; (活國) Kunduz. Tên một nước xưa ở Tây vực, nằm về phía tây núi Thông lĩnh. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 940 thượng), nói: Hoạt quốc là vùng đất cũ của nước Đổ hóa la, chu vi hơn 2000 dặm. Đại đô thành rộng hơn 20 dặm, không có vua, lệ thuộc nước Đột quyết. Đất đai bằng phẳng, lúa cấy 2 vụ, cây cỏ xanh tốt, hoa quả sum suê, khí hậu điều hòa, phong tục thuần phác, người trong nước tính tình nóng nảy, y phục bằng dạ, phần đông tin Tam bảo, ít thờ các thần linh. Trong nước có 10 ngôi chùa với vài trăm vị tăng, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Vua là người nước Đột quyết . Khi ngài Huyền trang sang Ấn độ cầu pháp, trên đường qua nước này, thì vùng đất Đổ hóa la đều thuộc lãnh thổ của chủng tộc Đột quyết, đô thành cũ lúc bấy giờ là Phược hát (Bokhara), còn Hoạt quốc này là đô thành mới. Nước này có một học giả tên là Đạt ma tăng già từng du học ở Ấn độ. Nước này chính là vùng Khố trát ô nhật (Kunduz) ở phía nam sông Áo khắc tát tư (Oxus) ngày nay. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.5; S. Beal: Buddhist Records of the Western World vol.I].

hoạt thạch kinh

(滑石經) Kinh văn được khắc trên loại đá trơn láng rồi chôn vào lòng đất. Hình thức các bản hoạt thạch đều giống nhau, cong từ 40 độ đến 120 độ, trên có kẻ dòng để tiện việc khắc kinh. Lúc chôn đều phải sắp xếp theo hình tròn. Loại kinh này hiện nay còn rất ít bản như: Viện bảo tàng Quốc lập ở Đông kinh, Nhật bản, còn cất giữ phẩm tựa kinh Pháp hoa; một người Nhật tên là Đảo địa đại cũng tàng trữ phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự và phẩm Phổ hiền bồ tát khuyến phát trong kinh Pháp hoa, mỗi thứ có 1 bản. Ngoài ra, như đã nói trên, các bản kinh hoạt thạch đều có hình thức giống nhau, cho nên ta có thể suy đoán loại kinh này đã được thực hiện trong cùng một thời đại.

hoạt đạo sa môn

(活道沙門) Chỉ cho vị sa môn tu các hạnh lành. Nhờ hạnh lành mà tuệ mệnh sinh trưởng. Là một trong 4 loại sa môn. (xt. Tứ Chủng Tăng).

hoạt động

Functioning

hoả biện

(火辨) Phạm: Citrabhàna. Dịch âm: Chất đát la bà noa. Người Ấn độ. Một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức, người cùng thời với ngài Thế thân, sống vào cuối thế kỉ thứ IV. Ngài có tài về văn chương, tuy hình tướng thế tục, nhưng đạo hạnh lại cao vời. Ngài có chú thích Duy thức tam thập tụng. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu].

hoả bản

(火版) Tấm bản treo ở nhà bếp trong Thiền lâm. Khi cơm đã chín, vị Phạn đầu (người trông coi việc cơm nước) đánh 3 hồi Hỏa bản, vị Hỏa đầu (người chuyên việc nấu cơm) liền tắt lửa trong bếp. Đồng thời, khi đại chúng nghe đánh Hỏa bản thì xả thiền chuẩn bị dùng cơm. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả châu

(火珠) Vật trang trí đặt ở trên nóc tháp. Trên cửu luân của đỉnh tháp để một vật trang sức hình viên ngọc báu, chung quanh có hình ngọn lửa cháy, gọi là Hỏa châu. (xt. Thủy Yên).

hoả chủng cư sĩ

(火種居士) Từ chỉ chung cho những người Bà la môn thờ lửa ở Ấn độ cổ đại. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 5 ghi, thì đệ tử của đức Phật gọi những người Tát già ni kiền tử ở thành Tì xá li là Hỏa chủng cư sĩ.

hoả cẩu

(火狗) Con chó trong địa ngục phun lửa để trừng phạt tội nhân. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 nói, nếu có người lúc còn sống làm các việc ác, đến khi chết, thần thức người ấy trước hết thấy núi lớn từ 4 mặt dần dần ép lại, kế đến lại thấy thành lớn bằng sắt và các loài ác thú hung dữ như: Rắn lửa, chó lửa, hổ (cọp), chó sói, sư tử, v.v... chuyên việc trừng phạt tội nhân.

hoả diệm luân chỉ ấn

(火焰輪止印) Cũng gọi Chế hỏa ấn, Già hỏa ấn. Ấn minh thứ 10 trong 14 ấn minh căn bản của Bất động tôn thuộc Mật giáo. Phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp (Đại 21, 3 thượng), nói: Hỏa diệm luân chỉ ấn là 2 tay nắm lại, áp lưng bàn tay vào nhau; 2 ngón cái (tượng trưng hư không) đều đặt vào giữa kẻ ngón trỏ (tượng trưng gió) ngón giữa (tượng trưng lửa), 2 đầu ngón cái đều ló ra. Nếu ngón trỏ nằm gần ngón giữa thì lửa càng mạnh, cho nên đặt ngón cái vào giữa kẽ ngón trỏ và ngón giữa khiến 2 ngón cách xa ra thì lửa tự tiêu diệt, hàm ý là dùng trí đại không để tiêu trừ lửa nghiệp phiền não.

hoả diệm ấn

(火焰印) Ấn minh thứ 9 trong 14 ấn minh căn bản của Bất động tôn thuộc Mật giáo. Phẩm Tối thắng lập ấn thánh vô động tôn đại uy nộ vương niệm tụng nghi quĩ pháp trong kinh Kim cương thủ quang minh quán đính (Đại 21, 2 hạ), nói: ... Kế đến, kết ấn Hỏa diệm, lấy ngón cái của tay phải đè lên móng ngón giữa và ngón áp út, duỗi ngón trỏ chống vào bàn tay trái. Vì ngón trỏ (tượng trưng gió) của tay phải đặt ở góc ngón giữa (tượng trưng lửa) của tay trái, là biểu thị nghĩa dùng ngọn gió (tức giáo pháp) đại bi của Phật để thổi bùng ngọn lửa trí tuệ của chúng sinh. Ngoài ra, theo Để lí tam muội da bất động tôn thánh giả niệm tụng pháp quyển hạ, thì ấn tướng này là ngón cái của tay phải đè lên lưng của 3 ngón kia, còn ngón trỏ thì duỗi thẳng chỉ vào bàn tay trái, 5 ngón của tay trái xòe ra thành hình ngọn lửa.

hoả dụ bồ tát thập chủng thiện pháp

(火喻菩薩十種善法) Dùng lửa để ví dụ cho 10 thiện pháp của Bồ tát. Cứ theo kinh Trừ cái chướng Bồ tát sở vấn quyển 6, thì lửa ví dụ 10 thiện pháp như sau: 1. Đốt củi phiền não: Bồ tát dùng trí tuệ quán xét, diệt trừ hết các phiền não tham, sân, si, v.v... như ngọn lửa mạnh có thể đốt sạch các cây cỏ trên mặt đất. 2. Thành thục Phật pháp: Bồ tát tu hành, dùng trí tuệ quán xét, thành thục tất cả Phật pháp; khi đã thành thục rồi thì dù trải qua bao nhiêu kiếp cũng không hoại mất, như tính nóng của lửa có thể giúp cho tất cả hạt giống và cây cỏ nương mặt đất mà sinh trưởng đều được thành thục. 3. Làm khô bùn lầy phiền não: Bồ tát tu hành, dùng trí tuệ quán xét đoạn trừ các phiền não cáu bẩn, khôi phục bản tính sáng suốt trong sạch xưa nay vốn có, ví như ngọn lửa mạnh có thể làm cho tất cả vật ẩm ướt và bùn lầy khô ráo. 4. Như đống lửa lớn: Bồ tát dùng sức trí tuệ, khai thị cho các hữu tình khiến cho họ lìa khổ được vui; ví như đống lửa lớn mang lại sự ấm áp cho những người ngồi sưởi chung quanh. 5. Làm ánh sáng chiếu rọi: Bồ tát tu hành, dùng ánh sáng trí tuệ chiếu rọi làm cho hữu tình chưa giác ngộ đều được giác ngộ, ví như người đốt đống lửa lớn trên đỉnh núi Tuyết, ánh sáng chiếu khắp thì không một chỗ tối tăm nào mà không sáng. 6. Làm cho kinh sợ: Bồ tát có đại uy đức và trí tuệ, ánh sáng rực rỡ, có thể khiến cho thiên ma, ngoại đạo đều kinh sợ, lìa bỏ hang ổ của mình mà chạy tứ tán. 7. Có thể mang lại sự an ổn: Bồ tát thuyết pháp cho các loài hữu tình nghe, khiến họ xa lìa phiền não, thẳng tới đường Bồ đề chân chính; ví như người đi đường xa, qua cánh đồng rộng trong đêm tối, không biết phương hướng, tâm sinh sợ hãi, nhưng nếu thấy đống lửa thì liền tới nơi muốn đến, tâm được an ổn. 8. Có lợi đều cho mọi người cùng hưởng: Bồ tát tùy chỗ lợi dưỡng có được, đều chia đều cho mọi người cùng hưởng, dù sang hay hèn nhất luật bình đẳng, không có sai khác, như ngọn lửa lớn, soi sáng khắp cả, không phân biệt kia đây. 9. Được mọi người cúng dường: Tâm Bồ tát từ bi vô lượng, hóa đạo rộng rãi, tất cả trời, người, A tu la... đều cung phụng cúng dường; ví như lửa ở thế gian, được các Bà la môn, Sát đế lợi và thứ dân… đều phụng thờ. 10. Không ai khinh mạn: Bồ tát tuy mới phát tâm Đại thừa nhưng có thể làm cho trời, người, A tu la ở thế gian không dám khinh mạn, vì họ biết không bao lâu Bồ tát sẽ chứng quả Phật vô thượng; ví như đốm lửa nhỏ, nhưng không ai dám khinh suất; vì đốm lửa tuy nhỏ nhưng cũng có thể bốc cháy lan tràn, nên chẳng ai dám xem thường.

hoả giới

(火界) Tự thể của lửa. Giới nghĩa là giữ gìn. Lửa giữ gìn tự tính của nó, tính của lửa là nóng, có thể làm cho mọi vật thành thục. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 3 trung), nói: Đất, nước, lửa, gió, đều có thể giữ gìn tự tướng của chúng .

hoả giới tam muội

(火界三昧) Phạm: Agni-dhàtu-samàdhi. Cũng gọi Hỏa định, Hỏa giới định, Hỏa quang tam muội, Hỏa sinh tam muội. Thiền định trong đó từ thân Thiền giả phát ra lửa. Luận Đại tì bà sa quyển 177 chép, đức Phật Để sa trải ni sư đàn (tọa cụ), ngồi kết già, vào Hỏa giới định. Kinh Tần bà sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm quyển 11 chép, tôn giả Uất tì la ca diếp vào Hỏa định, thân phát ra những ngọn lửa. Cũng có trường hợp vào định phát ra lửa để tự thiêu thân mà nhập Niết bàn, cũng gọi là Hỏa giới tam muội, như kinh Đại bát niết bàn (bản 3 quyển) quyển hạ chép, ngài Tu bạt đà la vào Hỏa giới tam muội ở trước Phật mà nhập Niết bàn. Ngoài ra, Tam muội của Bất động minh vương trong Mật giáo từ thân mình phát ra lửa cũng gọi là Hỏa sinh tam muội, biểu thị cho việc dùng lửa trí tuệ của tâm Bồ đề thanh tịnh đốt sạch phiền não tam độc, ngũ dục. [X. kinh Tần bà sa la vương; kinh Để lí tam muội da Q.thượng; phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.2; luật Ma ha tăng kì Q.32; luận Đại trí độ Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].

hoả huyết đao

(火血刀) Tức là Hỏa đồ (đường lửa), Huyết đồ (đường máu), Đao đồ (đường dao), là tên khác của 3 đường ác: Địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Đường địa ngục là nơi bị lửa dữ thiêu đốt, gọi là Hỏa đồ; đường súc sinh là nơi các loài súc sinh ăn thịt lẫn nhau, gọi là Huyết đồ; đường ngã quỉ là nơi tội nhân bị dao gươm chém chặt, gậy gộc đánh đập, gọi là Đao đồ. [X. kinh Tứ giải thoát; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 3]. (xt. Tam Đồ).

hoả hồng

(火吽) Tên khác của pháp Hộ ma trong Mật giáo.Hỏa chỉ cho Hỏa pháp, tức là pháp Hộ ma. Hồng (Phạm:Hùô) là chủng tử của tâm Bồ đề thanh tịnh, tượng trưng cho lửa trí tuệ của thực tướng tâm Bồ đề. Dùng lửa trí tuệ đốt hết củi vô minh phiền não là nghĩa Hộ ma, cho nên Hỏa hồng là tên khác của Hộ ma. [X. phẩm Nội hộ ma trong kinh Du kì].

hoả khanh

(火坑) Hầm lửa. Từ này được dùng để ví dụ cho 5 dục: Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ đáng sợ như hầm lửa. Hoặc được ví dụ cho sự đáng sợ trong 3 đường ác: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Kinh Tạp a hàm quyển 43 (Đại 2, 314 thượng), nói: Các Thánh đệ tử đa văn thấy 5 món dục lạc như hầm lửa .

hoả khách

(火客) Cũng gọi Hỏa bạn, Hỏa điền. Người chuyên phụ trách việc bếp núc, nấu nướng trong Thiền lâm. [X. chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả linh

(火鈴) Quả chuông lắc dùng để cảnh giác mọi người đề phòng hỏa hoạn trong tùng lâm. Theo điều Nhật trung hành sự trong Oánh sơn hòa thượng thanh qui quyển thượng nói, thì giờ Ngọ, giờ Hợi, giờ Dần lắc Hỏa linh để nhắc nhở đại chúng đề phòng hỏa hoạn. Ngoài ra, Hỏa linh còn được dùng thay cho bảng thông báo 2 thời cơm, cháo. Đời sau, Hỏa linh được đổi thành pháp khí bằng đồng, hình trái tim, gọi là Hỏa điểm. [X. chương Pháp khí trong Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.8].

hoả luân ấn

(火輪印) Cũng gọi Trí hỏa ấn, Tam giác hỏa luân ấn. Gọi tắt: Hỏa ấn. Ấn khế có hình ngọn lửa. Một trong những ấn tướng thường dùng của Mật giáo.Vì Hỏa đại tượng trưng cho lửa trí tuệ của pháp tính, cho nên cũng gọi là Trí hỏa ấn. Lại vì Hỏa luân thường có hình tam giác nên cũng gọi Tam giác hỏa luân ấn. Ấn tướng này là: Hai tay nắm lại thành Kim cương quyền, 2 ngón cái để trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ dựng thẳng, đầu ngón chụm vào nhau làm thành hình tam giác.

hoả lí liên

(火裏蓮) Hoa sen mọc trong lửa, ví dụ việc hiếm có. Nhóm từ này được dùng để biểu thị sự diệu dụng của Bồ tát. Phẩm Phật đạo trong kinh Duy ma (Đại 14, 550 trung), nói: Thị hiện thụ hưởng 5 món dục lạc, nhưng cũng lại thị hiện hành thiền, làm cho tâm ma rối loạn, không có cơ hội quấy phá. Hoa sen mọc trong lửa là việc hiếm có, nhưng sống trong 5 dục mà vẫn hành thiền cũng hiếm có như thế .

hoả nhất thiết xứ

(火一切處) Phạm: Tejas-kftsnàyatana. Cũng gọi Hỏa biến xứ, Hỏa đại biến nhất thiết xứ định. Thiền định quán tưởng lửa bao trùm khắp mọi nơi không xen hở. Là một trong 10 biến xứ. [X. luận Đại tì bà sa Q.85; luận Câu xá Q.29]. (xt. Thập Biến Xứ).

hoả tai

(火灾) Phạm: Teja-saôvartanì. Nạn lửa thiêu đốt xảy ra trong giai đoạn cuối cùng của kiếp hoại. Là một trong 3 tai họa lớn. Khi hỏa tai bắt đầu, thế giới có 7 mặt trời xuất hiện, làm cho các biển lớn và sông hồ đều khô cạn, núi non trơ trụi, gió thổi lửa bốc cháy dữ dội, từ địa ngục Vô gián cho đến mãi cõi trời Sơ thiền của Sắc giới đều bị thiêu rụi. [X. luận Câu xá Q.12]. (xt. Tam Tai).

hoả thiên

(火天) Cũng gọi Hỏa quát. Đũa bằng gỗ dùng để gắp lửa. (xt. Hỏa Thiểm Thí).

hoả thiên chân ngôn

(火天真言) Chân ngôn của thần Hỏa thiên. Cứ theo kinh Đại nhật quyển 2, thì chân ngôn của Hỏa thiên là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm a yết na duệ sa ha . Theo Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 6, thì Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm nghĩa là Qui mệnh chư Phật; A yết na duệ nghĩa là lửa. Lấy chữ A làm chủng tử biểu thị tất cả pháp vốn không sinh, tức trở về với trí thể kim cương. Yết nghĩa là hành, vì các pháp vốn không sinh, nên tu hành đầy đủ muôn hạnh mà thực ra chẳng có gì để tu hành cả, bởi thế gọi là Vô sư tự giác, tức cùng với Đại không trùm khắp pháp giới, tức là đồng thể với Đại không của chữ Na . Lại nữa, vì các pháp vô hành, nên ở trong 3 cõi bất động, bất xuất mà đạt tới địa vị Tát bà nhã (Nhất thiết trí), cho nên Vô thừa mà Thừa là nghĩa của chữ Duệ . Chữ Duệ thêm tiếng Tam muội vào để nói rõ nghĩa Thừa này định và tuệ bằng nhau. Nếu khi triệu thỉnh thì thêm chữ Y hệ y hệ , còn lúc sai khiến thì thêm chữ Ca xa ca xa . Ngoài ra, theo kinh Đà la ni tập quyển 11, thì Hỏa thiên chân ngôn là: Án a xa na duệ ha tệ ca tệ bà ha na da địa tệ địa tệ địa bạt dạ sa ha . [X. Thập nhị thiên quĩ; Du già hộ ma nghi quĩ].

hoả tiễn

(火箭) Tên lửa. Tức mũi tên đặt ở trên đàn khi tu pháp Ái nhiễm minh vương trong Mật giáo. Về cách làm Hỏa tiễn có nhiều thuyết, có thuyết nói làm bằng cọng sen, cánh hoa sen; có thuyết nói làm bằng cây anh đào, đầu mũi tên bôi mầu đỏ, hoặc bằng đồng mạ vàng; có thuyết nói làm bằng cây tía tô, dài một thước ba tấc (Tàu), ở đuôi mũi tên gắn lông cánh chim; cũng có thuyết nói gắn lông cánh của chim uyên ương; hoặc có thuyết nói trên lông cánh của chim uyên ương vẽ mũi tên, v.v... Khi tu pháp, hành giả quán tưởng lấy Hỏa tiễn bắn vào 5 chỗ: Trái tim, chỗ kín, vú trái, vú phải và trán của người mình yêu mến.

hoả trướng

(火帳) Quyển sổ của vị Phạn đầu (chức vụ phụ trách việc cơm cháo cho đại chúng) dùng để ghi chép số người dùng cơm và lương thực được tiêu thụ hàng ngày trong tùng lâm. Tuyết nham tổ khâm thiền sư ngữ lục quyển 2 (Vạn tục 122, 256 hạ),nói: Các ông sẽ bị thổi vào 88 tầng địa ngục Vô gián, ở đó lão Diêm vương sẽ tha hồ tính sổ (đả toán hỏa trướng) và đòi tiền cơm các ông . [X. Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].

hoả trạch

(火宅) Phạm: Adìptàgàra. Nhà lửa, ví dụ 3 cõi khổ não mà chúng sinh đang ở trong đó. [X. Hỏa Trạch Dụ].

hoả trạch dụ

(火宅喻) Ví dụ về nhà lửa, một trong 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói rằng, có một Trưởng giả đại phú, tiền của nhiều vô lượng, một ngày nọ, nhà bị cháy, các con của Trưởng giả mải mê vui chơi, không hay biết. Trưởng giả vì cứu các con ra khỏi nhà lửa nên bày phương tiện, bảo các con rằng bên ngoài có xe dê, xe nai và xe trâu sẵn sàng dành cho các con. Nhưng khi các con ra khỏi nhà lửa, Trưởng giả đều cho mỗi người một cỗ xe trâu trắng to lớn, trang hoàng rất đẹp. Trong thí dụ này, nhà lửa dụ cho 3 cõi (Dục, Sắc, Vô sắc) các con dụ cho chúng sinh, Trưởng giả dụ cho đức Phật. Các ngài Thiên thai Trí khải, Hiền thủ Pháp tạng, v.v... vì chủ trương pháp môn Nhất Phật thừa, nên đem xe dê, xe nai, xe trâu dụ cho Tam thừa trong 3 cõi, còn dùng xe trâu trắng lớn dụ cho Nhất Phật thừa ngoài 3 cõi, tức thuyết minh Hội tam qui nhất . Còn các ngài Gia tường, Từ ân, v.v... thì chủ trương giáo pháp của đức Phật không ngoài Tam thừa, nên cho rằng xe trâu và xe trâu trắng lớn chỉ là một, dụ cho hội Nhị thừa về Bồ tát thừa, tức thuyết minh Hội nhị qui nhất . [X. phẩm Ứng thời trong kinh Chính Pháp hoa Q.2; phẩm Duyên giác trong kinh Tu hành đạo địa; phẩm Phá ái võng trong kinh Trung ấm Q.hạ; luận Đại trí độ Q.84; Pháp hoa kinh luận Q.hạ].

hoả trạch tăng

(火宅僧) Chỉ cho vị tăng có gia đình. Cứ theo Mộng dư lục chép, thì ở đất Ngô trung người ta gọi vị đạo sĩ có gia thất là Hỏa cư (ở trong lửa). Còn theo Đường trịnh hùng phiên ngung tạp kí, thì ở vùng Quảng đông, dân chúng gọi vị tăng có vợ là Hỏa trạch tăng. [X. Sự vật dị danh lục; Xuyết canh lục Q.6].

hoả táng

(火葬) Phạm: Agnidagdha. Cũng gọi Đồ tì (Pàli: Jhàpita, thiêu đốt).Đốt xác chết, là một trong 4 cách an táng ở Ấn độ. Từ xưa, người Ấn độ rất coi trọng việc hỏa táng. Trước khi đức Phật ra đời, cách an táng này được xem là cách an táng chính. Trung quốc vốn lấy thổ táng (chôn xuống đất) làm chính, nhưng về sau cũng thực hành hỏa táng. Còn tại Nhật bản, hỏa táng bắt đầu được thực hành từ năm ngài Đạo chiêu thị tịch (700 Tây lịch). [X. A thát bà phệ đà Q.18; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 4; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Tứ Táng).

hoả tế

(火祭) I. Hỏa Tế. Phạm: Homa. Dịch âm: Hộ ma. Tức là cách bỏ các vật cúng vào trong lửa để tế lễ được người Ấn độ thời xưa thực hành, về sau trở thành một trong những pháp tu quan trọng của Mật giáo. Trong các pháp tu phần nhiều đều có phụ thêm pháp Hộ ma. Về phương thức tu pháp, vật phẩm dùng để cúng, việc chuẩn bị đàn, lư, v.v... đều tùy theo các pháp tu mà có khác. (xt. Hộ Ma). II. Hỏa Tế. Phạm: Agnihotra. Pháp cúng tế của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Nghi thức Hỏa tế có từ thời Dạ nhu phệ đà được cử hành 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Khi cử hành thì đổ váng sữa bò và các vật cúng vào 3 thứ lửa (lửa gia chủ, lửa cúng dường, lửa tế Tổ tiên). Người Ấn độ thực hành phép tế tự này là để hối lỗi, chuộc tội. Gần đây, phép tế này vẫn còn được cử hành nhưng có thay đổi chút ít cho hợp thời.

hoả tịnh thực

(火淨食) Thực phẩm nấu chín. Một trong 5 loại tịnh thực được Phật cho phép dùng. Tức là các loại trái cây phải nấu chín rồi mới được ăn, gọi là Hỏa tịnh thực. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.36; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].

hoả tụ

(火聚) Phạm: Alàtacakra. Cũng gọi Hỏa chuyển, Toàn hỏa luân. Đốt một đốm lửa như trên đầu nén hương rồi quay tròn tạo thành một vòng lửa, gọi là Hỏa tụ. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 609 thượng), nói: Người cầm đốm lửa quay trong hư không, tạo ra các thứ hình tướng, hoặc vuông hoặc tròn, tam giác, bán nguyệt, lớn nhỏ dài ngắn, tùy ý mình muốn . Trên đây là dụ cho các pháp không có thực thể, không tự tính, chỉ là tướng giả, cho nên giống như ảo thuật, không thường còn.Ngoài ra, Hỏa tụ còn dụ cho luân hồi, nghĩa là chúng sinh trong 3 cõi hệt như vòng lửa xoay tròn, luân hồi trong 6 ngả. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.6; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].

hoả tụ tiên

(火聚仙) Vị tôn ngồi ở phía trên Tì sa môn thiên, phía bắc của viện Kim cương bộ ngoài trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Vì vị tiên này lửa cháy khắp mình nên gọi là Hỏa tụ tiên. Hình tượng vị này mầu da người, ngồi trên hoa sen, tay phải cầm thanh gươm, tay trái nắm lại chống vào cạnh sườn, có một tiên nữ đứng hầu. (xt. Trì Minh Tiên).

hoả viện mật phùng ấn

(火院密縫印) Cũng gọi Kim cương viêm, Kim cương hỏa viêm, Kim cương hỏa viện giới ấn, Mật phùng ấn, Hỏa ấn. Ấn khế biểu thị ý nghĩa dùng lửa Kim cương che kín các khe hở mà lúc kết giới còn sót lại. Nơi nào mà ấn khế và chân ngôn này giữ gìn thì 4 phương và 4 góc của nơi ấy đều thành bức tường lửa, vì thế cũng gọi là Bát phương hỏa viện hay Hỏa viện (tường lửa). Khi kết ấn này, bàn tay trái úp lên lưng tay phải, 2 ngón cái dựng thẳng, xoay thân 3 vòng về bên phải, quán tưởng phía ngoài tường kim cương có hỏa viện bao quanh. Chân ngôn là: Án a tam mãng nghĩ nễ hồng phát tra . [X. Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ; Thập bát khế ấn].

hoả xa địa ngục

(火車地獄) Địa ngục dùng Hỏa xa chuyên chở tội nhân đến nơi chịu tội hoặc để trừng phạt tội nhân. Loại xe này toàn thân lửa bốc cháy. Luận Đại trí độ quyển 14 nói, Đề bà đạt đa đã phạm 3 tội nghịch, lại dùng thuốc độc tẩm vào 10 đầu ngón tay để hại đức Phật, ngay lúc đó mặt đất thành Vương xá nứt ra, Hỏa xa đưa ông vào địa ngục. Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 5 nói, địa ngục này có cái vạc bằng đồng, rộng 40 do tuần, trong đó chứa đầy lửa, phía dưới có 12 bánh xe lửa, phía trên có 94 vòng lửa, những kẻ gian tà làm ác, sau khi chết bị hành tội trên hỏa xa, từng lóng đốt bị lửa thiêu cháy, hỏa xa cán thân, nát như bụi đất, từ trên trời mưa nước đồng sôi trút xuống tưới khắp thân thể, trong một ngày đêm chịu 90 ức lần chết đi sống lại. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.2; Kinh luật dị tướng Q.50].

hoả xá

(火舍) Cũng gọi Hỏa dã, Hỏa giả. Loại lư hương bằng đồng có nắp đậy và 3 chân dùng để đốt hương đặt trên đàn khi tu pháp Mật giáo. Trong tu pháp, Mật giáo thường dùng 6 thứ cúng dường phối với 6 Ba la mật,trong đó, khói hương nghi ngút không dứt của Hỏa xá được phối với Tinh tiến Ba la mật. [X. Loại tụ danh vật khảo Q.29; Khảo tín lục Q.1].

hoả đầu

(火頭) Cũng gọi Du đầu. Chức vụ coi việc thắp đèn trong Thiền lâm.Có chỗ cho rằng người chuyên trách việc nấu cơm nước cũng gọi là Hỏa đầu. [X. Thiền uyển thanh qui Q.9; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoả đồ đạo

(火塗道) Chỉ cho đường địa ngục, là một trong ba đường. Vì địa ngục là nơi chịu khổ bị lửa dữ thiêu đốt nên gọi là Hỏa đồ đạo. [X. kinh Tứ giải thoát; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 3]. (xt. Tam Đồ).

hoả đức tinh quân

(火德星君) Tên vị thần tiêu trừ hỏa hoạn theo tín ngưỡng Đạo giáo. Hỏa là một trong ngũ hành được phối với phương Nam, thần cách hóa thành Hỏa đức tinh quân, được cúng tế cùng với Viêm đế Thần nông. Tại Trung quốc, từ đời Tống về sau, trong các tùng lâm Thiền tông, trước tượng Bản tôn trên Phật điện có treo tấm bản đề là Nam phương Hỏa đức tinh quân thần và vào các ngày mồng 4, 18 mỗi tháng, đọc kinh Hỏa đức để cầu cho già lam được yên ổn. [X. môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hoảng dưỡng hạo hãn

(滉漾浩汗) Từ ngữ hình dung cảnh nước mênh mông lênh láng. Hoảng dưỡng là nước không có bờ bến; Hạo hãn là dáng nước mênh mông. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 278 thượng), nói: Khi kiếp thủy xảy đến, nước tràn ngập khắp thế giới, muôn vật chìm trong biển nước mênh mông không bờ bến (hoảng dưỡng hạo hãn) .

hoắc

Chớp nhoáng—Quickly—Suddenly.

hoắc hoắc bà địa ngục

(臛臛婆地獄) Hoắc hoắc bà, Phạm: Hahava. Cũng gọi Hác hác phàm, A ba ba, A bà bà. Một trong 8 địa ngục lạnh. Cứ theo Câu xá luận bảo sớ quyển 11, thì những người rơi vào địa ngục này, vì lạnh giá quá nên lưỡi cứng đờ, không cử động được chỉ phát ra tiếng hừ hừ . Âm thanh khổ sở này được dùng làm tên cho địa ngục. [X. luận Du già sư địa Q.4; luận Câu xá Q.11; luận Đại trí độ Q.16].

hoắc hương thụ

(藿香樹) Hoắc hương, Phạm: Tamàlapatra, dịch âm: Đa ma la bạt. Pàli: Tamàla, dịch âm: Đa ma la. Tên khoa học: Cinnamomum nitidum. Loại cây thuộc họ Chương, mọc từng bụi là là trên mặt đất, hoa mầu vàng lợt, vỏ cây có mùi thơm như quế, có thể dùng làm cho thoát mồ hôi và chữa bệnh bao tử. Loại cây này sinh sản ở Trung quốc, Nam Ấn độ, Tích lan, v.v... Kinh Đại bát nhã quyển 318 (Đại 6, 624 thượng), nói: Bấy giờ, các thiên tử ở cõi Dục đều cầm bột thơm của cõi trời như: Đa yết la, Đa ma la, Chiên đàn (...) tung lên đức Phật . [X. phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.20 (bản Bắc); Tăng quảng bản thảo cương mục Q.14].

hoằng

1) Rộng lớn: Great—Vast—Spacious. 2) Hoằng truyền: To enlarge—To spread abroad.

Hoằng Chính

(弘政, Kōsei, hay Hoằng Chánh [宏正], ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, thuộc Bắc Tông Thiền, đệ tử của Phổ Tịch (普寂) ở Tung Sơn (嵩山), đã từng trú tại Thánh Thiện Tự (聖善寺), Đông Kinh (東京). Trong số khá nhiều đệ tử của ông có Khế Vi (契微) ở An Quốc Tự (安國寺) là nổi tiếng nhất.

hoằng dương chánh pháp

To propagate The True (Correct) Dharma.

hoằng dương phật pháp

To propagate the Dharma.

hoằng giáo

See Hoằng Pháp (1).

hoằng kinh đại sĩ

(弘經大士) Các bậc Đại sĩ giải thích và hoằng dương kinh tạng. Như các ngài: Bồ tát Long thụ sáng tác luận Đại trí độ để giải thích kinh Đại phẩm bát nhã; luận Thập trụ tì bà sa giải thích kinh Hoa nghiêm thập địa. Bồ tát Vô trước soạn luận Nhiếp đại thừa để giải thích phẩm Nhiếp đại thừa trong kinh Đại thừa A tì đạt ma; Kim cương bát nhã kinh luận để giải thích kinh Kim cương bát nhã. Bồ tát Thế thân được tôn xưng là Thiên bộ luận chủ , vì Ngài là tác giả của nghìn bộ luận để chú thích và phát huy tư tưởng trong các kinh: Pháp hoa, Hoa nghiêm, Niết bàn, Bát nhã, Duy ma, A di đà, v.v..., trong đó, 2 bộ Thập địa kinh luận và Phật tính luận là các tác phẩm quan trọng xiển dương tư tưởng Như lai tạng và A lại da thức….

hoằng lễ

(弘禮) (1600-1667) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Cối kê (Thiệu hưng, Chiết giang), họ Trương, tự Cụ đức. Sư xuất gia ở chùa Phổ đà, sau tham yết ngài Hán nguyệt Pháp tạng ở chùa An ẩn. Một hôm, sư nhìn vào gương bỗng nhiên có chỗ tỉnh ngộ. Sau sư nhận chức Thanh đầu (chức vụ quét dọn nhà vệ sinh), trong lúc dọn phân, hoát nhiên đại ngộ. Năm Sùng trinh 11 (1636), sư trụ trì chùa Quang hiếu ở Vân môn, không bao lâu sư lại dời đến Kính sơn, cuối cùng sư trụ trì chùa Thiên ninh. Năm Khang hi thứ 6 (1667) sư tịch, thọ 68 tuổi, pháp lạp 47. Sư để lại tác phẩm: Cụ đức Lễ thiền sư ngữ lục 30 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69].

hoằng minh tập

(弘明集) Tác phẩm, 14 quyển, 58 thiên, do ngài Tăng hựu (445-518) soạn vào đời Lương thuộc Nam triều, thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này thu tập các bộ luận điển xiển dương và hộ trì Phật pháp trong khoảng hơn 500 năm từ thời Đông Hán cho đến các đời Tề, Lương thuộc Nam triều. Phật giáo Trung quốc từ thời Đông Tấn về sau đã rất hưng thịnh, dần dần có thế hơn cả Nho giáo và Đạo giáo. Do đó, các Nho gia và Đạo sĩ đã đặt ra nhiều vấn đề tranh luận để công kích và bài bác Phật giáo một cách kịch liệt. Như Bạch hắc luận của Tuệ lâm, Di hạ luận của Cố hoan, Môn luật của Trương dung, v.v... đều nhằm hạ giảm uy tín của Phật giáo. Trong tình hình ấy, ngài Tăng hựu tuy đã già yếu, lại thêm bệnh hoạn luôn, nhưng vẫn gắng sức hộ trì Phật pháp, bất cứ việc gì có ích cho Tam bảo, ngài đều biên chép, như bản Hoằng minh tập này là bộ sách giải đáp những vấn đề bài Phật của thế tục đương thời, trong đó, ngài nêu ngay những việc được ghi chép trong sách sử của Nho giáo và Đạo giáo để thuyết minh nghĩa lí của Phật giáo. Tập luận này được gọi là Hoằng minh có nghĩa là hoằng đạo, minh giáo. Mười một quyển đầu trả lời sự phê phán của Nho, Đạo và nêu rõ chỗ dị đồng giữa Nho, Thích, Đạo; 3 quyển sau thì tích cực xiển minh giáo nghĩa Phật giáo. Bộ sách này rất dễ hiểu đối với mọi người và là một tư liệu quan trọng cho việc tìm hiểu sự giao lưu giữa Nho, Thích, Đạo ở đương thời. Ngoài ra, sách này được chép trong Xuất tam tạng kí tập chỉ có 10 quyển 33 thiên, về sau bổ sung thành 14 quyển, 57 thiên; ngài Đạo tuyên đời Đường căn cứ vào đây soạn Quảng hoằng minh tập 30 quyển, chính là tiếp theo sách này. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Đại đường nội điển lục Q.4; Đường thư nghệ văn chí Q.49].

hoằng nguyện nhất thừa

(弘願一乘) Chỉ cho pháp môn Nhất Phật thừa. Tức là pháp chân thực khiến cho tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật. Đây là pháp hoằng nguyện của đức Phật A di đà. (xt. Hoằng Nguyện).

Hoằng Nguyện Trợ Chánh

(弘願助正, Kōganjoshō): giáo thuyết do Tăng Duệ (僧叡, Sōei, 1762-1826), học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, tuyên xướng và cho rằng trong hạnh báo ân hoằng nguyện thì có Trợ Nghiệp (助業) và Chánh Định Nghiệp (正定業); chỉ có xưng danh niệm Phật là Chánh Định Nghiệp mà thôi.

hoằng nhất

(弘一) (1880-1942) Vị danh tăng trung hưng Luật học Nam sơn, sống vào thời Dân quốc, người Bình hồ, Chiết giang, họ Lí, tên Quảng hầu, hiệu Thúc đồng. Cũng lấy tên là Thành hề, tự Tích sương. Tính sư điềm đạm, giản dị, ngoài thi văn từ phú ra, sư còn giỏi về thư họa, đặc biệt là chữ triện, thư pháp đã đạt được bí quyết của Hán Ngụy Lục triều. Năm 26 tuổi, sư sang Nhật bản theo học ở trường Mĩ thuật chuyên môn tại Thượng dã, đồng thời nghiên cứu về âm nhạc, sáng lập Xuân liễu kịch xã , mở đầu phong trào vận động tân kịch nghệ Trung quốc. Sau khi về nước, sư dạy ở trường Công nghiệp chuyên môn tại Thiên tân, rồi đến Thượng hải làm chủ bút báo Thái bình dương, mượn thư họa văn tự để tuyên truyền cách mạng. Sư nhận lời mời của trường Sư phạm đệ nhất ở Chiết giang đặc trách về các khoa Hội họa, Âm nhạc trong 7 năm, là người đầu tiên giới thiệu hí kịch, hội họa, âm nhạc phương Tây ở Trung quốc. Năm dân quốc thứ 7 (1918), lúc 39 tuổi, sư đến chùa Đại từ ở Hàng châu, lễ ngài Liễu ngộ xin xuất gia. Ít lâu sau, sư được phép đến chùa Linh ẩn thụ giới Cụ túc, được đặt pháp danh là Diễn âm, hiệu Hoằng nhất. Sư từng than thở sở dĩ giới tăng sĩ thường bị người đời chê cười là vì không giữ giới luật, cho nên sư phát nguyện trọn đời tinh nghiêm giới pháp. Mới đầu, sư học luật của Hữu bộ, nhưng về sau thì chuyên hoằng truyền Luật tông Nam sơn. Sư tu hành kham khổ, thường mang dép gai, một mình một túi, vân du khắp nơi, giảng kinh hoằng pháp. Năm Dân quốc 16 (1927), sư gởi thư đến nhà cầm quyền ở Hàng châu đề nghị chấm dứt chính sách diệt Phật . Dân quốc 25 (1936), sư nhập thất trong hang núi Nhật quang trên hòn đảo Cổ lãng, rồi ra nước ngoài thỉnh được tạng Kinh hơn một vạn quyển. Về sau, sư lại nhập thất ở chùa Phổ tế tại Vĩnh xuân và chùa Phúc lâm tại Tuyền châu. Về già, sư tự xưng là Vãn tình lão nhân, Nhị nhất lão nhân. Bình sinh sư rất sùng kính đại sư Ấn quang và học theo phong cách của ngài là không thu nhận đồ chúng, không trụ trì chùa, am nào, chỉ lấy việc viết chữ tặng người để kết duyên. Phong cách cao thượng, thanh thoát và điềm đạm của sư đã có ảnh hưởng rất lớn đối với giới Phật giáo thời Dân quốc. Tháng mười năm Dân quốc 31 (1942) sự thị tịch tại viện Dưỡng lão Ôn lăng, Tấn giang, thọ 63 tuổi, tăng lạp 24.Tác phẩm của sư gồm có: Di đà nghĩa sớ hiệt lục, Tứ phần luật tỉ khưu giới tướng biểu kí, Thanh lương ca tập, Hoa nghiêm liên tập, Giới bản yết ma tùy giảng biệt lục, Tứ phần hàm chú giới bản giảng nghĩa, Nam sơn đạo tổ lược phổ…

hoằng nhất đại sư pháp tập

(弘一大師法集) Tác phẩm, 6 tập, do đại sư Hoằng nhất soạn, ông Thái niệm sinh biên tập, nhà xuất bản Tân văn phong phát hành. Nội dung thu chép hơn 20 loại soạn thuật như: Dược sư kinh tích nghi, Tứ phần luật tỉ khưu giới tướng biểu kí, Địa tạng bồ tát thánh đức đại quan, Luật học giảng lục 33 thiên, Giảng diễn tập, Niên phổ (do Lâm tử thanh biên), Vĩnh hoài lục, v.v...

Hoằng Nhẫn

(弘忍, Kōnin, 601-674): vị tổ thứ 5 của Thiền Tông Trung Hoa, xuất thân vùng Hoàng Mai (黃梅) thuộc Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc), họ là Chu (周). Ông theo làm đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín (道信) tu hành trong một thời gian khá lâu, rồi kế thừa dòng pháp của vị này. Sau khi thầy qua đời, ông chuyển đến Bằng Mậu Sơn (憑茂山) ở phía Đông của Song Phong Sơn (雙峰山) và nỗ lực tuyên xướng tông phong của mình tại đây. Môn hạ của ông có Thần Tú và Huệ Năng là hai nhân vật kiệt xuất. Huệ Năng sau này trở thành vị tổ thứ 6. ; 弘忍; C: hóngrěn; J: gunin;|Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung Quốc. Sư có hai vị kế thừa xuất sắc, đó là Lục tổ Huệ Năng và Thần Tú. Tương truyền rằng, Sư yết kiến Tứ tổ Ðạo Tín năm 14 tuổi và đã chứng tỏ trí huệ sâu xa của mình.|Sư quê ở Kì Châu, đồng hương với Tứ tổ. Một hôm Tứ tổ qua huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp Sư, lúc bấy giờ còn là một đứa trẻ với thần sắc khác thường. Tổ hỏi: »Danh tính (姓) là chi?« Sư đáp: »Có tính, nhưng chẳng phải tính (性) thường.« Tổ hỏi: »Là tính chi?« Sư đáp: »Phật tính.« Tổ hỏi vặn lại: »Con không có tính sao?« Sư thưa: »Nhưng tính vốn Không.« Tổ lặng im Ấn chứng.|Sau khi Tứ tổ qua đời, Sư thành lập một thiền viện trên núi Hoàng Mai. Nơi đây xảy ra chuyện truyền y bát cho Huệ Năng và sự phân chia của Thiền tông ra Nam thiền Bắc thiền, biểu hiệu của một bước ngoặt lớn trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc.

hoằng nhẫn

Zen master Hung-Jen (601-674)—Một vị sư nổi tiếng, tổ thứ năm của Thiền Tông Trung Hoa, đệ tử của Tứ Tổ Đạo Tín, và là thầy của Lục Tổ Huệ Năng. Hoằng Nhẫn cùng quê với Tổ Đạo Tín, ở Kỳ Châu. Hoằng Nhẫn đến với Tứ Tổ khi ngài còn là một đứa trẻ; tuy nhiên, điều mà ngài đã làm hài lòng sư phụ là với cung cách trả lời của ngài qua cuộc nói chuyện đầu tiên. Khi tứ tổ hỏi ngài về họ mà tiếng Trung Hoa gọi là 'Tánh' thì ngài đáp:“Con có tánh, nhưng chẳng phải là tánh thường.” Tổ bèn hỏi:“Vậy là tánh gì?” Hoằng Nhẫn đáp:“Là Phật tánh.” Tổ lại hỏi:“Con không có tánh sao?” Hoằng Nhẫn đáp:“Nhưng tánh vốn là không.” Tổ thầm nhận biết đây là người sẽ được truyền thừa về sau nầy. Đây chỉ là thuật chơi chữ, vì nói về tộc họ hay danh tánh và bổn thể hay tự tánh, người Trung Hoa đều đọc chung là 'tánh.' Tổ Đạo Tín hỏi là hỏi về danh tánh, còn cậu bé Hoằng Nhẫn lại đáp về tự tánh, cậu đã mượn chữ đồng âm ấy cốt đưa ra kiến giải của mình. Thật vậy về sau nầy Hoằng Nhẫn được Tổ Đạo Tín truyền y bát làm tổ thứ năm của dòng Thiền Trung Quốc. Đạo trường của Tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai, tại đây Tổ nói pháp và dạy Thiền cho đồ chúng năm trăm người. Nhiều người cho rằng ngài là vị Thiền sư đầu tiên có ý định giải thông điệp Thiền theo giáo lý Kim Cang. Trước thời Hoằng Nhẫn, thường các vị Thiền sư hoằng hóa trong im lặng, khiến đại chúng chú ý; các ngài lánh ẩn trên núi cao, xa cảnh gió bụi của thế gian, nên không ai biết việc làm của các ngài phải trái thế nào mà định luận. Nhưng Hoằng Nhẫn là vị đã công khai xuất hiện giữa đại chúng, và dọn đường cho người kế vị của mình là Huệ Năng—Hung-Jên, a noted monk. He was the fifth patriarch, a disciple of the fourth patriarch Tao-Hsin, and the master of the sixth patriarch Hui-Neng. Hung-Jen came from the same province as his predecessor, Tao-Hsin in Ch'i-Chou. Hung-Jen came to the fourth patriarch when he was still a little boy; however, what he pleased his master at their first interview was the way he answered. When Tao-Hsin asked what was his family name, which pronounced 'hsing' in Chinese, he said:“I have a nature (hsing), and it is not an ordinary one.” The patriarch asked:“What is that?” Hung-Jen said:“It is the Buddha-nature (fo-hsing).” The patriarch asked:“Then you have no name?” Hung-Jun replied:“No, master, for it is empty in its nature.” Tao-Hsin knew this boy would be an excellent candidate for the next patriarch. Here is a play of words; the characters denoting 'family name' and that for 'nature' are both pronounced 'hsing.' When Tao-Hsin was referring to the 'family name' the young boy Hung-Jen took it for 'nature' purposely, whereby to express his view by a figure of speech. Finally, Hung-Jen became the fifth patriarch of the Chinese Zen line. His temple was situated in Wang-Mei Shan (Yellow Plum Mountain), where he preached and gave lessons in Zen to his five hundred pupils. Some people said that he was the first Zen master who attempted to interpret the message of Zen according to the doctrine of the Diamond Sutra. Before the time of Hung-Jen, Zen followers had kept quiet, though working steadily, without arresting public attention; the masters had retired either into the mountains or in the deep forests where nobody could tell anything about their doings. But Hung-Jen was the first who appeared in the field preparing the way for his successor, Hui-Neng. ; (弘忍) I. Hoằng Nhẫn (602-675). Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung quốc sống vào đời Đường, người Tầm dương (Cửu giang, Giang tây), có thuyết nói là người Hoàng mai, Kì châu (Kì xuân, Hồ bắc), họ Chu. Năm lên 7 tuổi, sư theo ngài Đạo tín, Tổ thứ 4, xuất gia ở chùa Đông sơn, núi Song phong, Hoàng mai, Kì châu, tại đây, sư triệt ngộ ý chỉ đốn tiệm và được truyền tâm ấn. Năm Vĩnh huy thứ 2 (651) đời Đường, ngài Đạo tín nhập diệt, lúc đó sư 51 tuổi, kế thừa pháp tịch của thầy. Người đời tôn xưng sư là Ngũ Tổ Hoàng Mai . Năm Hàm hanh thứ 2 (671), sư truyền pháp cho Lục tổ Tuệ năng. Sự truyền thừa của Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma đến Ngũ tổ Hoằng nhẫn được các phái Thiền đời sau đều công nhận. Tổ Hoằng nhẫn tiếp nối sự truyền thừa này, phát huy Thiền phong, hình thành pháp môn Đông sơn và bắt đầu truyền kinh Kim cương bát nhã thay thế cho kinh Lăng già. Tư tưởng của Ngũ tổ Hoằng nhẫn lấy việc liễu ngộ nguồn gốc tâm tính làm tông chỉ, giữ tâm là cốt yếu của sự tham học. Ngũ tổ có rất đông đệ tử, trong đó có 2 vị Thần tú và Tuệ năng lập thành 2 hệ thống Thiền Bắc tông và Thiền Nam tông, đến đời sau, từ 2 hệ thống này lại chia ra thành nhiều tông phái. Ngũ tổ tịch vào năm Thượng nguyên thứ 2 (675) đời vua Cao tông nhà Đường, thọ 74 tuổi. Vua Đại tông ban thụy hiệu Đại Mãn Thiền Sư . Tương truyền sư có tác phẩm: Ngũ tổ Hoằng nhẫn đại sư tối thượng thừa luận 1 quyển. Nhưng có thuyết cho là ngụy tác. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.39]. II. Hoằng Nhẫn (1599-1638). Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Minh, người Tứ xuyên, đất Thục, họ Trịnh, tự Đàm cát. Từ nhỏ sư đã thông minh, học rộng nghe nhiều, năm 20 tuổi sư xuất gia, rất hâm mộ phong cách mẫu mực của các ngài Tăng triệu, Huyền trang, rồi tự trách mình không có chân sư thiện hữu. Năm Sùng trinh thứ 4 (1631), sư đến Ngô trung tham học; một hôm, sư xem Ngữ lục của ngài Hán nguyệt Pháp tạng, bất giác toàn thân toát mồ hôi, liền vào núi xin ngài Pháp tạng chỉ giáo và được tỏ ngộ. Sau khi ngài Pháp tạng thị tịch, sư trụ trì chùa An ẩn và lấy sự gắng sức tu tập của chính mình để giáo hóa người học. Sư thường bài xích thói đồi bại trong chốn Thiền lâm và nỗ lực cải cách những tệ nạn của đương thời. Năm Sùng trinh 11 (1638) sư tịch, thọ 40 tuổi. Sư có các tác phẩm: An ẩn lục, Tận dư ngoại tập. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69].

hoằng pháp

1) Hoằng Tuyên—Hoằng Giáo—Hoằng Thông—Đem chân lý Phật rộng truyền khắp nơi—Widely to proclaim the Buddhist-truth. 2) Tên của một vị sư nổi tiếng: Hung-Fa, name of a noted monk.

Hoằng Pháp Tự

(弘法寺, Gubō-ji): ngôi chùa của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại số 4-9-1 Mama (眞間), Ichikawa-shi (市川市), Chiba-ken (千葉縣); hiệu núi là Chơn Gian Sơn (眞間山). Chùa được kiến lập dưới thời Nại Lương (奈良, Nara, 710-794); đến thời Bình An (平安, Heian, 794-1185) thì chùa thuộc về tự viện của Chơn Ngôn Tông; nhưng sau đó thì chuyển sang Thiên Thai Tông. Phú Mộc Thường Nhẫn (富木常忍, tức Nhật Thường [日常, Nichijō]), thí chủ đắc lực của Nhật Liên, thắng trận trong cuộc luận tranh vấn đáp với Liễu Tánh (了性, Ryōshō), trú trì chùa này; nên Liễu Tánh bỏ đi và Nhật Thường đưa con ông là Nhật Đảnh (日頂, Nicchō) đến thay thế. Về sau, Nhật Đảnh rút lui, Nhật Thường, Nhật Cao (日高), Nhật Dương (日陽), Nhật Thọ (日樹) thay nhau kế thừa và hình thành Dòng Phái Chơn Gian (眞間門流).

hoằng pháp đại sư hành trạng hội truyện

(弘法大師行狀繪傳) Cũng gọi Cao đã đại sư hành trạng hội truyện. Truyện bằng tranh ghi lại hành trạng của đại sư Hoằng pháp (Không hải) người Nhật bản, được lưu hành từ thời Liêm thương trở về sau. Những truyện kí về đại sư Hoằng pháp Không hải có rất nhiều bản in như: 1. Bản Đông tự12 quyển, do nhóm ông Hành trung gồm 6 người vẽ, được in vào năm 1379. 2. Bản Địa tạng viện (núi Cao dã), 6 quyển, do Cự thế Hữu khang vẽ, hoặc có thuyết nói do Thổ tá Quang tín vẽ, được in vào năm 1319. Còn các bản khác là những tác phẩm thuộc thời đại Thất đinh.

Hoằng Pháp Đại Sư Thỉnh Lai Pháp Văn Sách Tử Tam Thập Thiếp

(弘法大師請來法文册子三十帖): xem Tam Thập Thiếp Sách Tử (三十帖册子, Sanjūjōsakushi) bên dưới.

hoằng phúc tự

(弘福寺) Chùa nằm về phía nam huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây, được xây dựng vào năm Trinh quán thứ 8 (634) đời Đường Thái tông để truy tiến cho hoàng hậu Thái mục. Chùa được xây trên nền nhà cũ của Hữu lãnh Đại tướng quân Bành quốc công Vương quân. Năm Trinh quán 19 (645), ngài Huyền trang thỉnh xá lợi Phật, tượng Phật và 520 hòm gồm 657 bộ kinh, luật, luận Đại Tiểu thừa từ Ấn độ về để ở chùa này. Tháng 3 năm ấy, Dịch trường của ngài Huyền trang được thành lập và các bộ: Kinh Bồ tát tạng, kinh Phật địa, kinh Lục môn đà la ni, luận Hiển dương Thánh giáo được phiên dịch trước tiên tại Dịch trường này. Từ đó về sau, sự nghiệp dịch kinh được tiếp tục cực thịnh một thời. Bộ Đại đường tây vực kí cũng được soạn vào thời gian này. Tháng 10 năm Trinh quán 22 (648), chùa Đại từ ân được xây cất xong, viện Dịch kinh được dời về chùa này. Niên hiệu Thần long năm đầu (705) đời vua Đường Trung tông, chùa Hoằng phúc được đổi tên là chùa Hưng phúc, sau lại được đổi là chùa Hồng phúc. Đến năm Hồng vũ thứ 2 (1369) đời Minh, chùa được dời từ phường Tu đức ở phía tây cung Thái cực trong nội thành Trường an đến địa chỉ hiện nay. Khoảng năm Thành hóa (1465-1487) đời vua Hiến tông nhà Minh, chùa được vị Trụ trì Chân cảnh trùng tu. [X. Đại đường đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6, Q.7; Đại đường cố Tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng; Trường an chí Q.9; Đại thanh nhất Truyện bằng tranh của Đại Sư Hoằng Pháp thống chí .180].

Hoằng Phước Tự

(弘福寺, Gūfuku-ji): hay còn gọi là Xuyên Nguyên Tự (川原寺, Kawara-dera), ngôi cổ tự của Phái Phong Sơn (豐山派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Asukamura (明日香村), Takaichi-gun (高市郡), Nara-ken (奈良縣). Theo như phát quật cho thấy, dưới chùa có xuất hiện những vật thuộc di tích của cung điện ngày xưa. Khi Nữ Đế Tề Minh (齊明, 594-661) qua đời, bà được an táng tại Phi Điểu Xuyên Nguyên Cung (飛鳥川原宮), nên tương truyền rằng Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenchi Tennō, tại vị 661-672) đã xây dựng Xuyên Nguyên Tự trên cung điện ấy. Ngôi già lam này có phối trí đặc biệt mang dáng dấp hệ thống của Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera); cho nên chùa được xếp vào một trong 4 ngôi Đại Tự, đồng hàng với Phi Điểu Tự, Dược Sự Tự (藥師寺, Yakushi-ji), Đại An Tự (大安寺, Daian-ji); nhưng đến thời Trung Đại thì bị suy tàn. Cũng có ký lục cho biết rằng vào năm 673, nơi đây có tiến hành hội sao chép hết thảy các kinh điển.

hoằng quyết ngoại điển sao

(弘决外典抄) Tác phẩm, 4 quyển, do Cụ bình Thân vương, người Nhật bản soạn. Nội dung của sách này là sao chép và giải thích văn của các ngoại điển như: Chu dịch, Thượng thư mà trong Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết ngài Trạm nhiên đời Đường đã dẫn dụng để chú giải bộ Ma ha chỉ quán. [X. Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.11; Đại nhật bản sử Q.94; Nhật bản phỏng thư chí].

hoằng sung

(弘充) Vị tăng học giả thời Nam Bắc triều, người Vũ uy, Lương châu, tỉnh Cam túc, Trung quốc. Lúc còn trẻ sư đã thông suốt học thuyết Lão trang và kinh, luật Phật giáo, đặc biệt giỏi về nghị luận. Khoảng cuối năm Đại minh (457-464) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, sư đến chùa Đa bảo diễn giảng và biện luận với các học giả. Sau, sư khai trường thuyết pháp, các học giả đến tranh luận rất sôi nổi và hào hứng. Vì trí tuệ của sư sâu rộng, cùng suốt lẽ huyền vi, lại thêm biện tài vô ngại, nên sư đã đánh đổ tất cả luận thuyết của đối phương, làm cho mọi người đều thông suốt. Sư thuyết giảng kinh Pháp hoa, Thập địa kinh luận, v.v... người đến tham học rất đông, nhiều bậc danh thần triều Lưu Tống qui y sư. Và, sau khi lên ngôi, vua Minh đế chọn sư giữ chức Cương lĩnh , đồng thời xây chùa Tương cung thỉnh sư về trụ trì. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời vua Vũ đế nhà Nam Tề, sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chú Văn thù vấn bồ đề kinh, Chú Thủ lăng nghiêm kinh. [X. Lương cao tăng truyện Q.8].

hoằng thánh tự

(弘聖寺) Chùa ở dưới chân ngọn Thất phong núi Điểm thương phủ Đại lí tỉnh Vân nam, Trung quốc. Cứ theo Vân nam thông chí thì chùa nằm về mạn tây nam huyện lị Thái hòa, có tháp 10 cấp cao 10 trượng, tương truyền do vua A dục xây cất. Khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, chùa được ông Lí nguyên dương là người trong quận trùng tu. Theo Điểm thương sơn kí của Dương thận du, thì chùa Hoằng thánh có tháp cao 200 thước (Tàu), kiểu cách trang nghiêm. Xét trong dã sử, thì có thuyết cho là tháp do vua A dục kiến tạo, cũng có thuyết nói do vua Văn đế nhà Tùy hạ chiếu xây dựng.

hoằng thông

See Hoằng Pháp (1).

hoằng thệ

Vast or universal vows of a Buddha or a Bodhisattva, especially Amitabha's forty-eight vows—See Tứ Thập Bát Nguyện (Amitabha's forty-eight vows). ; (弘誓) Phạm: Mahàsarnàha-Sannaddha. Cũng gọi Hoằng thệ nguyện, Đại thệ trang nghiêm. Thệ nguyện rộng lớn bao trùm khắp cả chúng sinh. Nguyên nghĩa của tiếng Phạm là mặc giáp lớn , tức là lập thệ nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh để thành tựu Vô thượng bồ đề. Đây chỉ cho nguyện chung của hàng Bồ tát. Nguyện này rộng lớn bền chắc, nên dùng giáp trụ để ví dụ, gọi là giáp hoằng thệ . Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung), nói: … Vì chúng sinh nên mặc giáp hoằng thệ, tích lũy công đức, độ thoát tất cả . Nói chung thì chư Phật và Bồ tát đều có 4 thệ nguyện rộng lớn. Ngoài 4 nguyện này, mỗi vị Phật, Bồ tát còn có nguyện riêng, như bồ tát Pháp tạng (tên của đức Phật A di đà khi chưa thành Phật) có 48 nguyện, bồ tát Di lặc phụng hành 10 nguyện lành...Tịnh độ Chân tông Nhật bản lấy nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà làm Bản hoằng thệ nguyện (Bản nguyện, Hoằng nguyện, Thệ nguyện, Hoằng thệ) và lấy giáo nghĩa hoằng nguyện này làm pháp chân thực, vì thế Tịnh độ Chân tông Nhật bản còn được gọi là Hoằng nguyện chân tông . Hoằng thệ này không thể nghĩ bàn nên gọi là Nan tư hoằng thệ. Nan tư hoằng thệ này là sức thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà, là tăng thượng duyên cho chúng sinh được vãng sinh Tịnh độ, cho nên gọi là Hoằng nguyện cường duyên. Nghĩa là bản nguyện hoằng thệ của đức Phật A di đà là nhân duyên thù thắng giúp chúng sinh vãng sinh. Hoằng thệ ấy có khả năng chuyên chở chúng sinh vượt qua biển sinh tử để đến Tịnh độ, cho nên dùng thuyền để ví dụ gọi là Hoằng thệ thuyền, cũng gọi Đại nguyện thuyền. Luận Tịnh độ quyển hạ của ngài Ca tài (Đại 47, 102 thượng), nói: Đức Phật A di đà vận dụng mái chèo từ bi, lái con thuyền đại nguyện chuyên chở tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh tử khổ não . Hoằng thệ còn được ví với biển cả mà gọi là Hoằng thệ hải. Biển hoằng thệ sâu rộng có thể bao dung tất cả, vô luận chúng sinh thiện hay ác đều có thể vượt qua. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.1; phẩm Hư không tạng bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.17; phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã Q.3; Vãng sinh yếu tập Q.3]. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện, Yếu Môn).

hoằng thệ phật địa

(弘誓佛地) Hoằng thệ của đức Phật A di đà được ví như mặt đất, là nơi nương tựa để vun bồi lòng tin vững chắc không gì có thể hủy hoại được. Văn loại tụ sao (Đại 83, 645 thượng), nói: Tâm nương đất hoằng thệ của Phật, ý chảy vào biển pháp khó lường .

hoằng trí

Hoằng Trí là tên của ngài Chánh Giác núi Thiên Đồng vào đầu thế kỷ thứ 12—Hung-Chih, posthumous name of a monk of T'ien-T'ung monastey, Ningpo, early in the twelfth century.

Hoằng Trí Chánh Giác

(宏智正覺, Wanshi Shōgaku, 1091-1157): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thấp Châu (隰州, Tỉnh Sơn Tây), họ là Lý (李). Năm lên 12 tuổi, ông theo xuất gia với Bổn Tông (本宗) ở Tịnh Minh Tự (淨明寺), đến năm 14 tuổi thì thọ Cụ Túc giới với Trí Quỳnh (智瓊) ở Từ Vân Tự (慈雲寺) vùng Tấn Châu (晋州, Lâm Phần, Tỉnh Sơn Tây). Vào năm 18 tuổi, ông có chí muốn đi tham vấn chư tôn túc khắp nơi, nên trước tiên ông lên Hương Sơn Tự (香山寺) ở Nhữ Châu (汝州, Huyện Lâm An, Tỉnh Hà Nam), viếng thăm Khô Mộc Pháp Thành (枯木法成), sau đó ông đến tham học với Tử Thuần (子淳) ở Đơn Hà Sơn (丹霞山, Tỉnh Hà Nam). Ông theo hầu Tử Thuần khi vị này lui về ẩn cư ở Đại Thừa Sơn (大乘山) thuộc Đường Châu (唐州, Bí Dương, Tỉnh Hà Nam), cũng như khi theo thầy ông đến Đại Hồng Sơn (大洪山) ở Tùy Châu (隨州, Tỉnh Hồ Bắc). Đến năm 31 tuổi, vào năm thứ 3 (1121) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和), ông được cử làm chức Thủ Tòa (首座), rồi năm sau thì đến trú trì Phổ Chiếu Tự (普照寺) ở Tứ Châu (泗州, Tỉnh An Huy) và kế thừa dòng pháp của Tử Thuần. Vào năm đầu (1127) niên hiệu Kiến Viêm (建炎), ông chuyển đến sống tại Thái Bình Tự (太平寺) thuộc vùng Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), rồi Vân Cư Sơn (雲居山, Tỉnh Giang Tây), và thỉnh thoảng ông có khai mở đạo tràng thuyết giảng tại Trường Lô Sơn (長蘆山, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông được cung thỉnh đến trú trì Thiên Đồng Sơn (天童山, Tỉnh Triết Giang). Lúc bấy giờ trên Thiên Đồng Sơn rất nghèo túng, nhà cửa chật hẹp, nhưng kể từ khi ông lên trú trì về sau thì thóc lúa đầy kho, ngôi già lam cũng được hoàn chỉnh trang nghiêm, đặc biệt ngôi Đại Pháp Đường được chỉnh trang đúng với thanh quy Thiền môn. Ông đã sống nơi đây trong vòng 30 năm, chuyên tâm nhiếp hóa đồ chúng, được xem như là vị tổ thời Trung Hưng của Thiên Đồng Sơn. Tông phong đương thời bị hủ bại do vì gặp thời loạn lạc cuối nhà Tống, nên ông đả kích điều này và cử xướng tông phong chánh truyền. Chính hoạt động của ông đã được mọi người công nhận và hình thức tọa Thiền cũng như mặc chiếu là chỉ tiêu Thiền phong của ông, cho nên người ta thường gọi đó là Mặc Chiếu Thiền (黙照禪) hay Hoằng Trí Thiền (宏智禪). Bên cạnh đó, văn từ của ông rất xảo diệu, sánh ngang hàng với Tuyết Đậu (雪竇); ông cùng với Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) của Lâm Tế Tông được gọi là Nhị Đại Cam Lồ Môn. Vào ngày mồng 7 tháng 10 năm thứ 27 (1157) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 56 hạ lạp. Vua Cao Tông ban tặng cho ông thụy hiệu Hoằng Trí Thiền Sư (宏智禪師). Một số trước tác ông để lại như Hoằng Trí Giác Hòa Thượng Ngữ Yếu (宏智覺和尚語要) 1 quyển, Hoằng Trí Giác Thiền Sư Ngữ Lục (宏智覺禪師語錄) 4 quyển, Hoằng Trí Quảng Lục (宏智廣錄) 9 quyển; ngoài ra còn có Thiên Đồng Bách Tắc Tụng Cổ (天童百則頌古) rất nổi tiếng.

Hoằng Trí Chính Giác

宏智正覺; C: hóngzhì zhèngjué; J: wanshi shō-gaku; 1091-1157;|Thiền sư Trung Quốc đời thứ mười dòng Tào Ðộng, môn đệ của Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần. Ðời sau còn nhớ đến Sư qua những cuộc tranh luận (với tinh thần bằng hữu) với Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo về phương pháp tu tập của hai dòng Tào Ðộng và Lâm Tế (Mặc chiếu thiền, Khán thoại thiền). Trước khi tịch, Sư nhờ Ðại Huệ hoàn tất tập Công án Thong dong lục. Ðiều đó cho thấy rằng, quan niệm của hai tông không có khác biệt quá đỗi như các môn đệ sau tìm cách chứng minh.|Sư họ Lí, quê ở Thấp Châu, xuất gia năm 11 tuổi và thụ giới cụ túc năm 14. Năm 18 tuổi, Sư đi du phương, nói với ông nội rằng »Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về.« Ðến tham vấn Ðan Hà, Ðan Hà hỏi: »Thế nào là chính mình trước không kiếp?« Sư thưa: »Con ếch nuốt trăng nằm đáy giếng, canh ba chẳng mượn cuốn rèm lên.« Ðan Hà bảo: »Chưa phải, nói lại.« Sư suy nghĩ, Ðan Hà liền đánh một Phất tử, nói: »Lại nói chẳng mượn.« Sư ngay lời này đại ngộ, làm lễ bái.|Sư làm thư kí nơi Ðan Hà được bốn năm, sau dời về Viên Thông. Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu sai tăng đi rước Sư. Chúng ra đón thấy y phục Sư rách rưới đều lấy làm lạ. Chân Yết liền sai thị giả đổi giày mới cho Sư. Sư bảo: »Tôi vì giày mà đến sao?« Chúng nghe được đều hết lòng kính phục.|Sư trụ trì được cúng không mừng, cho ra không chán, thường quá ngọ không ăn. Trước khi tịch, Sư tắm gội mặc y phục ngồi ngay thẳng nói chuyện với đại chúng. Sư sai vị tăng hầu đem bút viết thư, để lại cho Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo việc thỉnh người kế thừa. Thư kệ rằng:|Mộng huyễn không hoa|Sáu mươi bảy năm|Chim trắng khói lặn|Nước thu tiếp trời|Sư ném bút liền tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Hoằng Trí.

hoằng trí phái

(宏智派) Một Thiền phái thuộc tông Tào động của Trung quốc, tức là hệ thống của ngài Hoành trí Chính giác (1091-1157), đệ tử nối pháp của thiền sư Đơn hà Tử thuần đời Tống. Vào năm Kiến viêm thứ 3 (1129), ngài Hoành trí Chính giác đến núi Thiên đồng, sửa sang già lam, chỉnh đốn thanh qui; hoằng truyền thiền phong Mặc chiếu mà người đương thời gọi là Mặc chiếu thiền, Hoành trí thiền. Ngài trụ ở núi này trong hơn 30 năm, người học rất đông, trong đó có Văn am Tự tông, Tự đắc Tuệ huy, Thạch song Pháp cung, v.v... là nổi bật hơn cả. Ở Trung quốc, tông Tào động không mạnh bằng tông Lâm tế, cho nên dòng phái của ngài Hoành trí truyền bá cũng không được rộng. Nhưng tông Tào động truyền sang Nhật bản thì pháp mạch khá thịnh. Đầu tiên, vào năm 1228, ngài Đạo nguyên truyền hệ thống Thiền của ngài Trường hư Thanh liễu sang Nhật bản; kế đến, vào năm 1308, ngài Đông minh Tuệ nhật truyền hệ thống Thiền của ngài Hoành trí. Cuối cùng, vào năm 1351, ngài Đông lăng Vĩnh dư cũng truyền Thiền pháp Tào động. Hai ngài Đông minh, Đông lăng nối nhau trụ trì các chùa danh tiếng như: Viên giác, Kiến tường, Nam thiền, Thiên long, v.v... ở Kyoto và Nara, tông phong cũng theo đó mà hưng thịnh.

hoằng trí tam chủng công huân

(宏智三種功勛) Ba loại cảnh giới chứng ngộ do thiền sư Hoành trí Chính giác đời Tống nêu ra: 1. Chính vị nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi, thì tất cả không có tướng sai khác, mà hiển hiện cảnh giới bình đẳng. 2. Đại công nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi thì không chấp trước tất cả sự vật, mà hiển hiện cảnh giới dứt bặt. 3. Kim thời nhất sắc: Đã chứng ngộ rồi thì hoàn toàn phủ định tất cả sự phân biệt, mà hiển hiện cảnh giới nhậm vận tự do. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.3].

hoằng trí tứ tá

(宏智四借) Bốn pháp do thiền sư Hoành trí đời Tống đặt ra để chỉ rõ con đường tu hành cốt yếu cho người học: 1. Tá công minh vị: Dựa vào tác dụng (công) của muôn vật trong thế giới hiện tượng để rõ suốt bản thể (vị) của chúng. 2. Tá vị minh công: Dựa vào bản thể (vị) của muôn vật để làm sáng tỏ tác dụng (công) của chúng. 3. Tá tá bất tá tá: Bản thể và tác dụng của muôn vật đều mất, không một vật nào còn tồn tại. 4. Toàn siêu bất tá tá: Vượt lên không vị thứ 3 mà đạt tới cảnh giới tự do chẳng còn một niệm. [X. Động thượng cổ triệt Q.1; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8].

hoằng trữ

(弘儲) (1605-1672) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Thông châu, Giang nam, họ Lí, tự Kế khởi, hiệu Thoái ông.Thủa nhỏ, gia đình gặp nạn, sư được bà nội nuôi nấng. Năm 16 tuổi, sư học ở trường làng, nhưng không nghĩ đến công danh, trái lại rất tin Phật pháp và thích đạo Thiền, tham cứu có chỗ tâm đắc. Năm 25 tuổi, sư theo ngài Hán nguyệt Pháp tạng xuất gia, khổ tu nhiều năm, cuối cùng được nối pháp. Về sau, sư hoằng pháp ở chùa Tường phù, núi Phù tiêu, Thường châu, rồi lần lượt trụ trì các danh lam như: Chùa Sùng báo, núi Linh nham, Tô châu, chùa Bảo vân ở núi Nghiêu phong, chùa Vân nham ở núi Hổ khâu, chùa Kim túc quảng tuệ ở Tú châu (Gia hưng, Chiết giang), v.v... Sư thông suốt nội điển và các học thuyết của Bách gia chư tử, độ lượng bao dung, uy nghi đĩnh đạc, ai thấy cũng kính phục. Sau khi người Mãn Thanh xâm chiếm Trung hoa, sư thường hoài vọng cố quốc, mưu việc khôi phục nên thường giúp đỡ các đội nghĩa quân ở Ngô, Việt. Có lần sư bị bắt, tin chắc sẽ chết, nhưng sau được nghĩa sĩ ra sức cứu thoát. Mỗi năm đến ngày quốc nạn, sư mặc áo tang rơi lệ lễ bái, suốt 28 năm. Người đời cho đó là lấy trung hiếu làm Phật sự. Dưới pháp tòa của sư, có vài trăm vị long tượng, hơn 70 người đắc pháp. Tháng 9 năm Khang hi 11 (1672) sư tịch, thọ 68 tuổi, tháp xây ở núi Nghiêu phong hiệu Đại quang minh tạng. Sư có trứ tác trên 100 quyển Ngữ lục và thi văn kệ tụng, nhưng phần lớn đã bị thiêu hủy. Hiện nay chỉ còn các sách: Nam nhạc Kế khởi hòa thượng ngữ lục, 10 quyển, Nam nhạc lặc cổ, 1 quyển, Linh nham kí lược, 1 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.69; Chính nguyên lược tập Q.5].

hoằng tuyên

See Hoằng Pháp (1).

hoằng tán

(弘贊) (1611-1685) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Tân hội, Quảng đông, họ Chu, tự Tại tham. Thủa nhỏ, sư theo ông Dư tập sinh học sách Nho, học giỏi, hạnh kiểm tốt, có tài làm văn, năm 20 tuổi, sư được bổ làm chức Học sinh ở huyện. Sau khi nhà Thanh thống trị Trung quốc, sư từ quan đi xuất gia, nghiên cứu, tu tập Thiền pháp, tham yết ngài Đạo khâu ở Đỉnh hồ và được ấn khả. Lúc đầu, sư ở Bảo tượng lâm tại Quảng châu, sau nối pháp tịch của ngài Triệu khánh ở Đỉnh hồ. Bình sinh, sư đặc biệt chú trọng những việc thực tiễn, tuy tinh thông Thiền pháp, nhưng lại xót xa vì cái phong khí khoa trương phù phiếm trong chốn tùng lâm, nên sư tuyệt nhiên không nói gì về Thiền đạo mà chỉ thực hành luật nghi, đề cao giới hạnh và lấy đó làm bổn phận của mình. Năm Khang hi 24 (1685) sư tịch, thọ 75 tuổi.Sư có các tác phẩm: Đỉnh hồ sơn mộc nhân cư tại tham thiền sư sát cảo 5 quyển, Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni kinh hội thích 12 quyển, Qui giới yếu tập 3 quyển, Bát quan trai pháp, Lễ Phật nghi thức…; Tứ phần giới bản như thích 12 quyển. [X. Đỉnh hồ sơn chí].

hoằng tán pháp hoa truyện

(弘贊法華傳) Gọi tắt: Pháp hoa truyện. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Huệ tường ở Lam cốc soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này nói về việc lưu truyền kinh Pháp hoa và sự linh nghiệm của những người tu tập, trì tụng kinh này trong khoảng thời gian từ đời Tam quốc đến đời Trung đường. Sách được chia làm 8 phần: Tranh tượng, Phiên dịch, Giảng giải, Tu quán, Di thân, Tụng trì, Chuyển đọc và Viết chép… Phần Tranh tượng ghi chép những nhân duyên kiến thiết chùa viện, kinh tượng, bảo tháp, v.v... Phần phiên dịch trình bày về những bản dịch kinh thật, giả và sự dị đồng giữa các bản dịch ấy. Các phần còn lại đều là truyện kí hoặc là sự cảm ứng của những người tu tập và trì tụng kinh Pháp hoa. Căn cứ vào đó người ta thấy được ảnh hưởng và địa vị của kinh Pháp hoa trong lịch sử Phật giáo Trung quốc.

Hoằng Tường Tự

(弘祥寺, Kōshō-ji): ngôi phế tự, nguyên lai thuộc về Tào Động Tông, từng tọa lạc tại sườn núi bên bờ tả ngạn Sông Nhật Dã (日野川) thuộc Kanaya-chō (金屋町), Fukui-shi (福井市), Fukui-ken (福井縣). Ban đầu, chùa do Quy Sơn Pháp Vương (龜山法王) kiến lập dưới thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333); nhưng sau đó bị đốt cháy tan tành do vì cuộc chiến loạn Nam Bắc Triều. Về sau, Triêu Thương Quảng Cảnh (朝倉廣景, Asakura Hirokage) tái kiến lại chùa và cung thỉnh Thiền Sư Biệt Nguyên Viên Chỉ (別源圓旨, Betsugen Enshi, 1294-1364) của Tào Động Tông đến làm Tổ khai sơn và nơi đây trở thành ngôi chùa của dòng họ Triêu Thương. Sau khi Triêu Thương Nghĩa Cảnh (朝倉義景, Asakura Yoshikage) diệt vong, chùa lại bị đốt cháy lần nữa. May thay, nhờ bà Trường Quang Viện (長光院), mẫu thân của vị Phiên Chủ đời thứ tư Phiên Tùng Bình (松平藩) là Tùng Bình Quang Thông (松平光通, Matsudaira Mitsumichi), quy y theo, nên chùa được xây dựng lại. Đến thời đại Minh Trị (明治, 1868-1911), chùa được sát nhập vào (大安禪寺).

hoặc

1) Tất cả: Entirely. 2) Nghi hoặc: Moha (skt)—Illusion—Delusion—Doubt—Unbelief. 3) Phiền não: Klesa (skt)—Distress—Passion—Temptation—Trouble. ; (惑) Mê lầm không hiểu. Chỉ cho trạng thái thân tâm não loạn, hoặc chỉ chung tất cả phiền não làm chướng ngại tâm giác ngộ. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Sinh tử nối nhau là do hoặc, nghiệp và khổ. Phiền não phát nghiệp, nhuận sinh gọi là Hoặc . Bởi vì chúng sinh mê lầm sự lí, phát khởi nghiệp hữu lậu, tăng trưởng sức mạnh cho Hữu ở vị lai, làm nhân cho sự sinh tử tiếp nối, gọi là Hoặc. Hoặc gần giống với nghĩa Vô minh . Do phiền não kết hợp với nghiệp tướng làm nhân chung cho quả báo luân hồi nên Hoặc và Nghiệp thường đi đôi với nhau. Trong 12 chi Duyên khởi, Vô minh là Hoặc phát nghiệp, gọi là Đẳng khởi nhân; 2 chi Ái, Thủ là Hoặc nhuận sinh, gọi là Sinh khởi nhân. Do sự tu hành có những giai đoạn khác nhau nên Hoặc có 2 loại là Kiến hoặc và Tu hoặc. Nếu mê lí Tứ đế thì gọi là Kiến hoặc, cũng gọi là Mê lí hoặc; còn mê tất cả sự lí thì gọi là Tu hoặc, cũng gọi là Mê sự hoặc. Trong 10 Tùy miên thì 5 món: Tham, sân, si, mạn, nghi là Tu hoặc; còn 5 món: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến thì thuộc về Kiến hoặc. Trong đó, 3 món tham, sân, mạn của Tu hoặc chỉ duyên riêng từng việc mà sinh, không thể duyên khắp các việc trong 3 đời, nên gọi là Tự tướng hoặc. Còn 5 kiến hoặc, nghi và vô minh thì duyên nhiều việc mà sinh, có khả năng trói buộc khắp các việc trong 3 đời, cho nên gọi là Cộng tướng hoặc. Chương Nhất thừa trong kinh Thắng man chia Hoặc làm 5 loại: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa và Vô minh trụ địa. Tức Kiến hoặc là Kiến nhất xứ trụ địa, còn Tu hoặc là Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu ái trụ địa, đồng thời lập riêng Vô minh làm Vô minh trụ địa. So với các trụ địa nói trên, Vô minh trụ địa có sức mạnh nhất. Phẩm Bồ đề trong kinh Vô thượng y quyển thượng cho rằng, Vô minh trụ địa là Hoặc sinh duyên, các hành do Vô minh trụ địa sinh ra là Hoặc sinh nhân, ở đây cũng chia Hoặc làm 2 loại là Phát nghiệp và Nhuận sinh. Ngoài ra, tông Thiên thai lập 3 Hoặc: Kiến tư hoặc là phiền não giới nội (chỉ cho 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc) làm chướng ngại lí Không . Trần sa hoặc là hằng sa tập khí của giới nội và ngoại (ngoài 3 cõi) làm chướng ngại lí Giả , Vô minh hoặc là Hoặc giới ngoại làm mê lí Trung đạo đệ nhất nghĩa đế . Phổ thông đều cho Hoặc và Phiền não là đồng nghĩa, mà Hoặc thì có nghĩa không hiểu, mờ tối, vì thế cũng có thể được xem là tên khác của Vô minh. [X. luận Đại tì bà sa Q.55; luận Câu xá Q.9, Q.20, Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.53; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu; Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên]. (xt. Phiền Não).

Hoặc Am Sư Thể

(或庵[菴]師體, Wakuan Shitai, 1108-1179): vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, họ là La (羅), xuất thân Hoàng Nham (黃巖, Tỉnh Triết Giang), Đơn Kheo (丹丘). Năm 15 tuổi, ông bỏ nhà đi theo hầu Thủ Uy (守威) ở Diệu Trí Viện (妙智院). Năm 20 tuổi, ông thọ giới Sa Di, sau đó gặp Bàn Am Kế Thành (蹣庵繼成). Rồi ông theo học với Thử Am Cảnh Nguyên (此庵景元), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng sống tại Tiêu Sơn (焦山) thuộc Phủ Trấn Giang (鎭江府, Tỉnh Giang Tô). Vào ngày mồng 1 tháng 8 năm thứ 6 (1179) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông nhuốm bệnh nhẹ, rồi đến ngày mồng 4 thì viên tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 52 hạ lạp.

hoặc chướng

Một trong tam chướng, tham sân si làm chướng ngại che lấp chánh đạo—The hindrance or obstruction of the delusive passions to entry into truth, one of the three kinds of hindrance. ** For more information, please see Tam Chướng.

hoặc có tội hoặc không có tội

Whether guilty or innocent.

hoặc giả

Maybe—Perhaps—Or else.

hoặc nghiệp khổ

Các phiền não như tham, sân, si thì gọi là hoặc; những việc làm thiện ác y vào cái hoặc nầy gọi là nghiệp; lấy nghiệp nầy làm nhân sinh tử niết bàn gọi là khổ—Illusion, accordant action, and suffering—The pains arising from a life of illusion, such as greed, hatred, ignorance. ** For more information, please see Nghiệp, Khổ, Tam Đạo, and Phiền Não Nghiệp Khổ ; (惑業苦) Do các hoặc tham, sân, si mà tạo các nghiệp thiện ác, rồi lại do các nghiệp này làm nhân mà chiêu cảm quả khổ sống chết trong 3 cõi. Do hoặc khởi nghiệp, vì nghiệp mà phải chịu khổ, khổ lại khởi hoặc, cứ thế xoay vần, sinh tử không dứt, nên gọi là 3 đạo. [X. luận Thành duy thức Q.8].

hoặc nhiễm

Sự uế nhiễm của phiền não (tham sân si làm nhiễm bẩn chân tánh)—The taint of delusion, the contamination of illusion. ; (惑染) Các phiền não tham sân si làm nhơ nhớp chân tính. Duy ma kinh lược sớ quyển 1 của ngài Trí khải (Đại 38, 564 trung), nói: … Cho nên biết rằng tuy còn hoặc nhiễm, nhưng nhờ nguyện lực giữ tâm cũng được an trụ .

hoặc nhân

1) Người phiền não: A deluded person. 2) Người gây phiền não hay làm người khác phiền não: To delude others.

hoặc thú

Hướng đi đến phiền não—The way or direction of illusion, delusive objective, interpreted as deluded in fundamental principles. ; (惑趣) Hoặc nghĩa là mê, thú là lí thú. Tức là mê lí. Bài tựa luận Trung quán (Đại 30, 1 thượng), nói: Khiến cho những người mê lí (hoặc thú) thấy được yếu chỉ sâu kín mà thay đổi tức khắc .

hoặc trước

Sự trói buộc của phiền não—The bond of illusion—The delusive bondage of desire to its environment. ; (惑著) Vì phiền não mê hoặc nên đối với cảnh sở duyên tâm tham ái chấp trước không rời.Ma ha chỉ quán quyển 7 phần trên (Đại 46, 93 thượng), nói: Nếu duyên theo nữ sắc, say đắm trong lòng, hoặc trước không lìa, thì nên đối trị bằng pháp quán bất tịnh .

hoặc đồng

Cùng nhau—All together.

hoặc…hoặc

Whether…or.

Hung

凶; C: xiōng; J: kyō;|Có các nghĩa sau: 1. Xấu, ác; 2. Vận xấu, vận chẳng lành; 3. Tai hoạ, tai ương, nạn lụt, nạn hạn hán.

hung hành

(胸行) Chỉ cho loại động vật di chuyển bằng bụng, tức loại bò sát, như loài rắn. Trong các kinh, khi đề cập đến loài động vật di chuyển bằng bụng này, có khi không trực tiếp nói đến tên của chúng mà chỉ gọi bằng từ Hung hành để thay thế.

hung tự

(胸字) Chữ...(Vạn) ở trên ngực của đức Phật. Một trong 32 tướng tốt. Kinh Quán Phật tam muội quyển 3 (Đại 15, 661 trung), nói: Khi ấy đức Thế tôn mặc áo Tăng kì chi, để lộ chữ Vạn ở ngực, khiến các tỉ khưu nhìn thấy chữ này thì biết được công đức trí tuệ trang nghiêm của Phật; từ trong ấn chữ Vạn mà nói về 84.000 hạnh công đức của Phật. Các vị tỉ khưu thấy rồi, bèn tán thán đức Phật rằng: Thế tôn rất kì đặc! Chỉ ở nơi chữ Vạn mà nói vô lượng nghĩa, huống gì là công đức của Phật tâm .

huy tông bài phật

(徽宗排佛) Vua Huy tông đời Bắc Tống bài xích Phật giáo. Vua Huy tông vốn sùng tín Đạo giáo nên đã tin dùng các Đạo sĩ: Từ tri thường, Từ thủ tín, Lưu hỗn khang, v.v… và tự xưng là Giáo chủ Đạo quân Hoàng đế, xây cất cung Ngọc thanh chiêu dương thờ Lão tử, phá bỏ chùa Phật, lập một nghìn pháp hội Đạo giáo, làm hao tổn tiền của triều đình. Năm Chính hòa thứ 6 (1116), vua hạ lệnh đốt bỏ kinh Phật ở viện Đạo tịch. Niên hiệu Tuyên hòa năm đầu (1119), vua xuống lệnh đổi danh hiệu Phật thành Đại giác kim tiên, gọi Bồ tát là Tiên nhân đại sĩ, tăng là Đức sĩ, ni là Nữ đức sĩ, làm thay đổi diện mạo của Phật giáo. Bấy giờ có ngài Vĩnh đạo ở viện Hương tích, đang giữ chức Tả nhai, dâng biểu can ngăn, vua chẳng những không nghe, mà còn đày ngài ra Đạo châu. Đến năm Tuyên hòa thứ 2 (1120), pháp phục và danh xưng của tăng ni Phật giáo mới dần dần được khôi phục. Và mãi đến năm Tuyên hòa thứ 7 (1125), ngài Vĩnh đạo mới được ân xá và được thừa nhận việc làm của ngài là vì đạo pháp, cho nên vua mới ban hiệu cho ngài là Viên Thông Pháp Tế Đại Sư . [X. Phật tổ thống kỉ Q.46, Q.54; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19].

huynh đệ

(兄弟) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho đại chúng, là những người cùng tu hành trong Thiền viện. Điều Tự pháp sư kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 thượng), nói: Tụng kinh xong chuẩn bị nước nóng, trái cây, (...) rồi mời tôn trưởng, pháp quyến, huynh đệ đồng môn cùng thụ dụng . [X. môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Huyên Đường

(萱堂): nhà của mẹ, từ đó nó có nghĩa là người mẹ. Nơi căn nhà phía Bắc người mẹ thường sinh hoạt có trồng loại cỏ huyên dùng để cho người mẹ khi nhìn thấy nó thì quên đi mọi ưu sầu, từ đó ngôi nhà ấy được gọi là Huyên Đường. Từ này đối với Thung Đường (椿堂, nhà người cha ở).

Huyền Sa Sư Bị

(玄沙師僃, Gensha Shibi, 835-908): người Huyện Mân (閩縣, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Tạ (謝). Hồi còn nhỏ ông rất thích câu cá, nhưng có một ngày nọ vào năm đầu niên hiệu Hàm Thông (咸通), ông bỗng nhiên phát tâm, đến tham kiến Linh Huấn (靈訓) ở Phù Dung Sơn (芙蓉山), Phúc Châu (福州) và xin xuất gia. Vào mùa xuân năm thứ 5 (864) cùng niên hiệu trên, ông thọ cụ túc giới với Luật Sư Đạo Huyền (道玄) của Khai Nguyên Tự (開元寺) thuộc Dự Chương Sơn (豫章山, thuộc Tỉnh Giang Tây). Vào mùa thu năm nầy, ông trở về quê cũ, chuyên tâm tu hành; và vào năm thứ 7 cùng niên hiệu trên, ông đến tham yết Nghĩa Tồn (義存) ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Với phong cách hành trì giới luật nghiêm khắc của mình, ông được tôn xưng là Bị Đầu Đà, thêm vào đó vì ông là con trai thứ ba của nhà họ Tạ, nên còn được gọi là Tạ Tam Lang. Ông dựng thảo am trên Phổ Ứng Sơn (普應山), rồi lại đến trú tại Huyền Sa Viện (玄沙院) của vị quan Huyện họ Hầu (候). Vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (光化), ông đến trú ở An Quốc Viện (安國院). Vua Chiêu Tông (昭宗) ban cho ông hiệu là Tông Nhất Đại Sư (宗一大師). Ông thị tịch vào ngày 27 tháng 11 năm 2 (908) niên hiệu Khai Bình (開平), hưởng thọ 74 tuổi đời và 45 hạ lạp. Bộ Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Đại Sư Quảng Lục (福州玄沙宗一大師廣錄, 3 quyển), Phúc Châu Huyền Sa Tông Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (福州玄沙宗一禪師語錄, 3 quyển) được biên soạn thành. Môn hạ của ông có La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛), Quốc Thanh Sư Tĩnh (國清師靜), v.v.

Huyền Sách

(玄策, Gensaku, ?-?): xuất thân vùng Kim Hoa (金華), Vụ Châu (㜈州), sống ở Đông Dương (東陽, thuộc Phủ Kim Hoa, Tỉnh Triết Giang). Ông đã từng theo học với Lục Tổ Huệ Năng 30 năm, sau kế thừa dòng pháp của thầy và giáo hóa đồ chúng. Trong Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện (曹溪大師別傳), ông có tên là Đại Vinh (大榮), trong Tổ Đường Tập (祖堂集) là Trí Sách (智策), rồi trong Vĩnh Gia Huyền Giác Chương (永嘉玄覺章) của tập trên ông lại có tên là Thần Sách (神策), ngoài ra trong Tông Cảnh Lục (宗鏡錄) ông được gọi là Trí Vinh (智榮). Ông thị tịch trong khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (上元, 760-762) nhà Đường, thọ 95 tuổi.

huyết bồn kinh

(血盆經) Gọi đủ: Đại tạng chính giáo huyết bồn kinh. Kinh, 1 quyển, được thu vào Vạn tục tạng tập 87. Nội dung kinh này tường thuật việc tôn giả Mục liên đến huyện Truy dương thuộc Vũ châu, thấy những người đàn bà chịu khổ trong địa ngục Huyết bồn trì. Tôn giả Mục liên bèn hỏi ngục tốt về nguyên nhân do đâu mà họ chịu khổ, ngục tốt cho biết, vào những ngày có kinh nguyệt hoặc khi sinh nở, những người đàn bà thường mang đồ máu me dơ bẩn đến giặt ở các ao hồ, sông ngòi, những người khác không biết, thường lấy nước từ các nơi ấy về cúng dường thần thánh, do đó mà họ phải chịu khổ báo. Ngài Mục liên lại hỏi làm cách nào để họ thoát được tội khổ ấy, thì ngục tốt cho biết phải hiếu thuận cha mẹ, cung kính Tam bảo, tụng kinh Huyết bồn, trì trai thanh tịnh, v.v... thì sẽ được siêu thoát…. Kinh này không thấy được ghi trong các bộ Kinh lục, cho nên bị ngờ là kinh giả, nhưng vì có nói nhiều về công đức lợi ích chúng sinh, nên Thiền tông Nhật bản cũng trì tụng; nhất là tông Tào động mỗi khi có pháp hội truyền giới thì thường tặng kinh này cho phụ nữ.

huyết mạch

(血脉) Mạch máu. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho sự truyền thừa giáo pháp. Huyết mạch biểu thị ý nghĩa lưu thông liên tục không ngừng, vì thế pháp môn được truyền nối giữa thầy và trò gọi là Huyết mạch tương thừa . Đồ biểu về hệ thống truyền thừa giữa thầy và trò gọi là Huyết mạch phổ . Ở Trung quốc, khoảng năm Trinh nguyên (785-804) đời Đường đã có lưu truyền cách làm Huyết mạch phổ. Tại Nhật bản, Huyết mạch phổ đặc biệt được Thiền tông và Mật giáo coi trọng. Trong Huyết mạch phổ, hệ phổ ghi chép các việc lớn của tông phái, được gọi là Tông mạch hoặc Pháp mạch, còn hệ phổ ghi chép việc truyền giới thì gọi là Giới mạch. Nói chung, khi chư tăng trao truyền ấn tín cũng được ghi chép tường tận trong Huyết mạch phổ. Ngoài ra tín đồ tại gia kết duyên Phật pháp, đôi khi cũng được truyền Huyết mạch phổ, nhưng đơn giản hơn.

huyết thư

(血書) Cũng gọi Huyết tả. Dùng máu để viết chép kinh văn. Kinh Phạm võng quyển hạ (đại 24, 1009 thượng), nói: Lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm bút để biên chép giới của Phật . [X. kinh Tập nhất thiết công đức tam muội Q.trung; luận Đại trí độ Q.28; Phổ chiếu quốc sư niên phổ Q.hạ].

Huyết đồ

xem Ba đường ác.

Huyền

(玄): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Trong Dịch Kinh (易經), chương Khôn (坤), có câu: “Thiên huyền nhi địa hoàng (天玄而地黃, trời đen mà đất vàng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Thiên sắc huyền, địa sắc hoàng (天色玄、地色黃, trời màu đen huyền, đất màu vàng).” Về sau, từ huyền được dùng để chỉ cho trời. (2) Chỉ cho phương Bắc, thuộc về hướng Bắc. (3) Thâm áo, huyền diệu. Như trong Lão Tử (老子) có câu: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn (玄之又玄、眾妙之門, thâm áo lại càng thâm áo, cửa của các mầu nhiệm).” Lão Tử còn cho “huyền chi hựu huyền” là đạo (道); nhân đó sau này tư tưởng này trở thành học thuyết của Đạo gia. Hay trong tác phẩm Ngũ Quân Vịnh (五君詠), phần Hướng Thường Thị (向常侍), của Nhan Duyên Chi (顏延之, 384-456) nhà Tống thời Nam Triều, lại có đoạn: “Thám đạo háo uyên huyền, quán thư bỉ chương cú (探道好淵玄、觀書鄙章句, tìm đạo thích thâm áo, xem sách ghét câu chữ).” (4) Chỉ đạo lý thâm áo, huyền diệu. (5) Các triết học gia cổ đại Trung Quốc dùng từ này để chỉ cho bản thể của vũ trụ. Như trong tác phẩm Thái Huyền (太玄), phần Ly (攡), của Dương Hùng (揚雄, 53-18 ttl.) nhà Hán, có đoạn: “Huyền giả, u ly vạn loại nhi bất kiến hình giả dã (玄者、幽攡萬類而不見形者也, huyền [bản thể vũ trụ] nghĩa là trùm khắp muôn loài mà không thấy hình vậy).”

huyền bí tháp bi

(玄秘塔碑) Bia tháp huyền bí. Tên một tấm bia ở đời Đường. Tháp do pháp sư Đại đạt dựng vào niên hiệu Hội xương năm đầu (841) đời Đường, văn bia do ông Bùi hưu soạn, chữ do ông Liễu công quyền viết. Bia cao 4,8m, văn bia gồm 28 dòng, mỗi dòng 54 chữ. Bia này trước để ở Nam nguyên, huyện Trường lạc, sau được dời về Phủ học, huyện Tây an. Hiện nay thì để ở Tây an bi lâm, tỉnh Thiểm tây, vì quá lâu đời nên văn bia phần nhiều đã hư hoại. [X. Kinh thạch sử].

huyền cao

(玄高) (402-444) Vị tăng đời Bắc Ngụy, người Vạn niên, huyện Phùng dực, họ Ngụy, tên Linh dục. Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở núi Trung thường, lấy pháp danh là Huyền cao. Sư chuyên nghiên cứu Thiền và Luật, mỗi khi sư thuyết pháp, tứ chúng đều kính phục. Về sau, sư thờ ngài Phật đà bạt đà làm thầy và được truyền trao bí pháp Thiền quán. Chỉ trong một tuần, sư đã thông suốt Thiền pháp, ngài Phật đà bạt đà rất khen ngợi sư. Từ đó, sư ẩn tu ở núi Mạch tích. Hà nam vương nghe danh đức của sư, sai sứ đến đón về, tôn làm Quốc sư. Sau, sư đến đất Lương, được Hà tây vương là Thư cừ Mông tốn nghinh tiếp cúng dường. Khi Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy diệt nước Lương, sư bèn đến Bình thành, lại được thái tử Hoảng tôn làm thầy và mọi người đều kính ngưỡng. Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy đã có ý hủy diệt Phật pháp nhưng còn e ngại danh tiếng của sư, nên vào tháng 9 năm Thái bình chân quân thứ 5 (444), bức ép sư tự vẫn, lúc ấy sư mới 43 tuổi. Nhục thân của sư được an táng trên ngọn đồi ở ngoại ô huyện Bình thành. [X. Cổ kim Phật đạo luận hành giáp; Lương cao tăng truyện Q.11; Phật tổ thống kỉ Q.38].

huyền chỉ

(玄旨) Ý chỉ nhiệm mầu sâu kín, cũng tức là nghĩa căn bản tông chỉ. Tín tâm minh (Đại 48, 378 trung), nói: Nếu không thấy suốt được huyền chỉ, thì tư duy tịch tĩnh cũng uổng công . Ngoài ra, Huyền chỉ còn chỉ cho bản chỉ của Niết bàn. Triệu luận (Đại 45, 158 hạ), nói: Đạo quả Niết bàn vượt ra ngoài cảnh giới hữu, vô (...), nếu như vô thì trái với thần cực, tổn hại đến huyền chỉ . [X. Thị chúng trong lâm tế lục].

huyền chỉ quy mệnh đàn

(玄旨歸命壇) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp Quán đỉnh truyền khẩu lấy thần Ma đa la làm Bản tôn. Đây là bí pháp huyền chỉ tâm yếu của Tổ sư do tông Thiên thai Nhật bản thực hành vào thời Trung cổ. Về sau, người học qui y lãnh thụ huyền chỉ ấy qua sự truyền khẩu, gọi là Huyền chỉ qui mệnh . Tư tưởng và hình thức của pháp này rất phức tạp, vừa thực hành nghi thức quán đỉnh, vừa xen lẫn các pháp ngữ giống như công án Thiền tông. Về sau, do chịu ảnh hưởng của phái Lập xuyên thuộc tông Chân ngôn, pháp này dần dần đã có khuynh hướng dâm từ, rồi diễn biến thành một loại tà giáo. Đến giữa thời đại Giang hộ, pháp này bị cấm chỉ, sách vở bị đốt hết.

Huyền cơ

(玄機): có hai nghĩa khác nhau. (1) Ý trời, thiên cơ. Như trong Trần Thư (陳書), chương Cao Tổ Kỷ Hạ (高祖紀下), có câu: “Cao Tổ nãi đạo huyền cơ nhi phủ mạt vận (高祖乃蹈玄機而撫末運, vua Cao Tổ bèn theo ý trời mà an ủi mạt vận).” Hay trong hồi thứ nhất của Hồng Lâu Mộng (紅樓夢) cũng có câu: “Thử nãi huyền cơ, bất khả dự tiết (此乃玄機、不可預泄, thiên cơ thế này, không thể tiết lộ).” (2) Nghĩa lý vi diệu, thâm áo. Như trong bài thứ 3 của Đạo Gia Tứ Thủ Phụng Sắc Soạn (道家四首奉敕撰) do Trương Thuyết (張說, 667-730) nhà Đường sáng tác có câu: “Kim lô thừa đạo quyết, ngọc điệp khải huyền cơ (金爐承道訣、玉牒啟玄機, lò vàng vâng bí quyết, điệp ngọc mở lý mầu).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 18, phần Đối Cơ Môn (對機門), Hàng Châu Phật Nhật Sơn Trí Tài Thiền Sư Pháp Từ (杭州佛日山智才禪師法嗣), lại có đoạn: “Bất tu biện vọng cầu chơn, bất dụng tị huyên thủ tĩnh, nhân nhân cảo nhật đương không, xứ xứ huyền cơ độc hồi (不須辨妄求眞、不用避喧取靜、人人杲日當空、處處玄機獨迴, chẳng nên bỏ vọng tìm chân, không cần lánh ồn lấy tĩnh, người người trời sáng trên không, chốn chốn huyền cơ hiện rõ).” Hoặc trong bài tựa của Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 1, cũng có câu: “Toát huyền cơ ư chưởng ác, phát diệu nghĩa ư ngôn tiền (撮玄機於掌握、發妙義於言前, nắm huyền cơ nơi bàn tay, phát diệu nghĩa nơi lời nói).”

huyền cước toạ

(懸脚坐) Pháp hàng phục quỉ thần của Mật giáo. Khi tu pháp này, 2 bàn tay nắm chặt lại đặt lên 2 bắp đùi, rồi mắm môi, trừng mắt, vẻ mặt giận dữ, đó là ấn A tra bà câu hàng phục đại ma quỉ thần. [X. A tra bạc câu nguyên soái tu hành nghi quĩ Q.hạ].

huyền cổ

(懸鼓) Một loại trống treo được dùng như một thứ nhạc khí trong các pháp hội, hoặc dùng để tu pháp quán tưởng mặt trời (Nhật quán). Kinh Quán vô lượng thọ (đại 12, 341 hạ), nói: Tất cả chúng sinh, chỉ trừ người mù, còn ai cũng thấy mặt trời lặn. Cho nên, khi quán tưởng mặt trời, nên ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng tây, chuyên chú quán tưởng mặt trời sắp lặn có hình dáng giống như quả trống treo. Thấy như vậy rồi thì lúc nhắm mắt, mở mắt đều thấy được rõ ràng, ấy là Nhật tưởng . [X. chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.317; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên).

Huyền Diệu Năng Hóa

(玄妙能化, 1314-1392): tức Nhật Thập (日什, Nichijū), xem phần Nhật Thập bên dưới.

Huyền Duệ

(玄叡, Genei, ?-840): vị học tăng của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời kỳ Bình An, húy Huyền Duệ (玄叡). Ông theo An Trừng (安澄, Anchō) ở Đại An Tự (大安寺, Daian-ji) học về Tam Luận, trú tại Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) và nỗ lực giảng diễn. Vào năm 827, ông thuyết giảng về tông nghĩa trên pháp tòa tượng Dược Sư Như Lai trong cung nội. Đến năm 830, ông viết bộ Đại Thừa Tam Luận Đại Nghĩa Sao (大乘三論大義鈔, 3 quyển) với chủ ý muốn vãn hồi Tam Luận Tông trên lập trường thủ thế về mặt giáo lý.

Huyền Giác

玄覺|Vĩnh Gia Huyền Giác.

huyền giác

(玄覺) (665-713) Cũng gọi Chân giác đại sư. Vị Thiền tăng sống vào đời Đường, người huyện Vĩnh gia, Ôn châu (Chiết giang), họ Đới, tự Minh đạo, hiệu Vĩnh gia Huyền giác. Sư xuất gia năm 8 tuổi, học suốt 3 tạng, đặc biệt thông hiểu pháp chỉ quán của tông Thiên thai. Về sau, sư cất Thiền am dưới dốc núi cạnh chùa Long hưng ở Ôn châu tu tập Thiền quán. Tình cờ được sự khích lệ của ngài Huyền lãng ở Tả khê, sư nảy chí du phương, rồi cùng với sư Huyền sách ở Đông dương lên đường cầu đạo. Khi đến Vận dương, sư ra mắt ngài Tào khê Tuệ năng. Sau cuộc tham vấn, sư được tổ Tuệ năng ấn khả. Tổ giữ sư ở lại một đêm, sáng hôm sau sư liền trở về chùa Long hưng, người đương thời gọi là Nhất túc giác (Giác ngộ trong một đêm). Ngày 17 thàng 10 năm Tiên thiên thứ 2 (có thuyết nói năm Khai nguyên thứ 2-714- hoặc niên hiệu Tiên thiên năm đầu-712), sư ngồi kiết già thị tịch, hưởng dương 49 tuổi, thụy hiệu Vô tướng. Đệ tử có các vị: Huệ tháo, Huệ đặc, Đẳng từ, Huyền tịch. Tác phẩm gồm có: Chứng đạo ca, Thiền tông ngộ tu viên chỉ 1 quyển, Vĩnh gia tập 10 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Ngũ đăng hội nguyên Q.2].

huyền giám

(玄鑒) I. Huyền Giám (?-?). Cư sĩ Phật giáo Ấn độ, sống vào giữa thế kỉ VI. Ông là một cư sĩ hết lòng cúng dường bồ tát Hộ pháp, một trong 10 vị Đại luận sư Duy thức. Sau khi ngài Hộ pháp thị tịch, ông lại là người có công lớn trong việc gìn giữ các bộ luận giải thích về Duy thức do ngài soạn. Khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, thì được ông trao lại những bộ luận về Duy thức của ngài Hộ pháp, nhờ đó mà Duy thức học được phát triển rực rỡ trên đất nước Trung quốc. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu]. II. Huyền Giám (?-?). Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Khúc tĩnh, tỉnh Vân nam. Sư y vào ngài Vân nham Tĩnh công ở Hổ khâu xuất gia. Mới đầu tu tập giáo quán. Sau, sư theo thiền sư Cao phong Nguyên diệu học Thiền, được cử giữ chức Thủ tọa. Sau khi ngài Cao phong thị tịch, sư theo học ngài Trung phong Minh bản, khế ngộ tâm ấn, được giữ chức Đệ nhất tòa. Không bao lâu, sư trở về Vân nam, khai trường giảng pháp, xiển dương Thiền phong, có hàng trăm đệ tử theo học, trong đó, có 5 người được sư ấn khả. Sư tịch ở núi Đại hoa, hưởng dương 37 tuổi, ngài Trung phong Minh bản làm điếu văn tỏ lòng thương tiếc. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.58; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

huyền huệ

(玄惠) (1302-1350) Vị tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, hiệu là Kiện tẩu, Tẩy tâm tử, thường gọi là Bắc điền Pháp ấn. Sư là em của ngài Hổ quan Sư luyện, theo học ở núi Tỉ duệ; sư rất am tường những chú giải của Nho học đời Tống, từng giảng dạy cho Thiên hoàng Hậu đề hồ. Có lần sư biện luận về tông chỉ của Thiền tông với các vị Thiền sư Thông ông Kính viên và Tông phong Diệu siêu ở điện Thanh lương nhưng không thắng được, nên sau sư qui y ngài Diệu siêu. Sư được triều đình và Mạc phủ tín nhiệm nên được tham dự việc chế định các điều mục Kiến vũ của Mạc phủ. Năm Chính bình thứ 5 (1350) sư tịch, thọ 49 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Đình huấn vãng lai, Khiết trà vãng lai, Du học vãng lai.

huyền hương

(懸香) Cũng gọi Quải hương (hương treo). Túi hương được treo ở một góc của Tăng phòng để trừ mùi hôi. Luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 958 trung), nói: Trong phòng các tỉ khưu có mùi hôi, nên đức Phật dạy: Phải chăm quét dọn, nếu có mùi hôi thì rắc bột thơm, hoặc treo hương ở 4 góc nhà . Đây chỉ là một cách tạm thời, chứ không phải pháp nhất định. [X. Ung châu phủ chí Q.6].

huyền học

(玄學) Môn học sâu xa huyền diệu, chỉ chung cho giáo nghĩa của Phật giáo. Nhưng trong lịch sử Triết học Trung quốc, thì từ này chỉ cho học thuyết Lão Trang. Ngày nay, Huyền học được gọi là Hình nhi thượng học, tức là Siêu hình học.

huyền hội

(玄會) (582-640) Vị tăng sống vào đời Đường, người Phàn xuyên, Kinh triệu (huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Tịch, tự là Hoài mặc. Năm 12 tuổi, sư theo pháp sư Tổng xuất gia ở chùa Hải giác, học kinh Niết bàn. Về sau, sư sáng lập chùa Từ bi để tiếp hóa hàng hậu học. Năm Trinh quán thứ 8 (634), sư vâng sắc dời đến ở chùa Hoằng phúc, sư ngưng việc giảng dạy để chuyên tu tịnh nghiệp. Một hôm, sư cảm được điềm mộng, nên tạo tượng Phật A di đà để chiêm bái. Tháng 5 năm Trinh quán 14 (640), sư thị tịch ở chùa Từ bi, thọ 59 tuổi. Tác phẩm: Niết bàn kinh sớ, 4 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.15; Thích thị lục thiếp Q.10; Lục học tăng truyện Q.23).

huyền khoáng

(懸曠) Chỉ cho Phật đạo rộng lớn, sâu xa. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 hạ), nói: Làm thế nào có thể chứng được Vô thượng bồ đề? Phật đạo sâu xa, rộng lớn, phải trải qua vô lượng kiếp, cần khổ, tích chứa công đức, tu lục độ vạn hạnh, rồi mới thành tựu được .

huyền không tự

(懸空寺) Chùa ở mỏm Tứ diêu, dưới núi Hoằng sơn, phía nam huyện Hồn nguyên, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được kiến thiết vào thời Bắc Ngụy. Chùa nằm tựa vào sườn núi, giữa những ngọn núi cao sừng sững; người ta đóng các cây cột và đà dài để chống đỡ, trên cất lầu gác cao đến mấy tầng, lẫn trong mây; người đi phía dưới trông lên thấy giống như tòa lâu đài trong hư không. Đây là một kiểu kiến trúc độc đáo tại Trung quốc. [X. Sơn tây sơn chí].

huyền kiên

(玄堅) Cũng gọi Quải kính, Đàn kính. Cái gương treo ở Phật đường, biểu thị cho Pháp thân thanh tịnh, tương đương với Đại viên kính trí. Trong kinh điển Phật giáo, gương thường được dùng để tượng trưng cho sự tròn đầy của Phật đức. Ngoài ra, gương cũng được dùng để trang nghiêm đạo tràng. Nếu được treo trên đàn cầu nguyện hay treo ở trong nhà, thì huyền kính còn có tác dụng xua đuổi tà ma. [X. kinh Đà la ni tập Q.3; Q.12].

huyền kí

(懸記) Cũng gọi Sấm kí, Vị lai kí. Lời đoán trước của đức Phật về những việc sẽ xảy ra trong tương lai. Có rất nhiều kinh điển nói về sự huyền kí của đức Phật, như kinh Tạp a hàm quyển 23 đoán trước việc vua A dục ra đời vào khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt; kinh Ma ha ma da quyển hạ tiên đoán việc các vị tỉ khưu: Thi la nan đà, Thanh liên hoa nhãn, Bảo thiên và 2 vị Đại luận sư Mã minh, Long thụ xuất hiện; cũng có các kinh đoán trước những việc lớn sẽ xảy ra trong khoảng 1.500 năm, hoặc 2.500 năm sau đức Phật nhập diệt, như các kinh Phật lâm Niết bàn kí pháp trụ, Đại phương đẳng đại tập quyển 55, v.v…... Những việc trên đây tuy được trình bày dưới hình thức huyền kí, nhưng trong đó cũng có nhiều sự kiện sau khi xảy ra rồi mới được ghi chép, bởi thế, huyền kí là những tư liệu rất quí báu về mặt lịch sử kinh điển và lịch sử giáo đoàn Phật giáo tại Ấn độ. [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.126; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu].

huyền lãng

(玄朗) (673-754) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Ô thương, Vụ châu (nay là huyện Nghĩa ô, tỉnh Chiết giang), họ Phó, tự Tuệ minh, hiệu Tả khê. Là Tổ thứ 8 của tông Thiên thai. Sư xuất gia năm 9 tuổi; 20 tuổi, y vào luật sư Đạo ngạn ở Quang châu thụ giới Cụ túc, sau đó, được vua ban sắc trụ trì chùa Thanh thái ở Đông dương. Sư học giới luật và kinh luận, đặc biệt tinh thông kinh Niết bàn. Sư từng đến chùa Diệu hỉ ở Cối kê theo thiền sư Ấn tông học tập Thiền yếu. Sau sư lại đến chùa Thiên cung ở Đông dương theo ngài Tuệ uy học kinh Pháp hoa, rồi lại tu tập chỉ quán với thiền sư Cung. Ngoài ra, sư còn nghiên cứu Nho học và Lão giáo. Về sau, vì thích núi rừng, chán nơi náo nhiệt, nên sư ẩn cư tu khổ hạnh hơn 30 năm trên núi Tả khê, huyện Phố dương, Vụ châu. Năm Khai nguyên 16 (728), nhận lời thỉnh cầu của quan Thứ sử Vụ châu tên là Vương chính dung, sư tạm xuống ở trong thành để hoằng pháp, chỉ trong thời gian ngắn, sư cáo bệnh trở về núi. Thường ngày, sư hết lòng với việc giảng dạy, giáo pháp Thiên thai bấy giờ nhờ sư mà dần dần hưng thịnh. Một hôm, sư bảo các đệ tử rằng (Đại 49, 188 trung): Ta nay lục tức đã tròn, muôn hạnh không được, Giới là nguồn gốc của tâm, các ông hãy lấy giới làm thầy . Năm Thiên bảo 13 (754), sư thị tịch, thọ 82 tuổi. Ngô việt vương ban thụy hiệu Minh Giác Tôn Giả , người đời tôn xưng sư là Tả Khê Tôn Giả . Đệ tử có các vị: Trạm nhiên, Pháp dung, Lí ứng, Thuần anh, v.v…... Tác phẩm: Pháp hoa khoa văn 2 quyển. [X. Vĩnh gia tập; Tống cao tăng truyện Q.26; Phật tổ thống kỉ Q.7, Q.40; Phật tổ lịch đại thông tải Q.17; Thích thị kê cổ lược Q.3].

huyền lưu

(玄流) Chỉ chung cho giới tăng sĩ của Phật giáo. Huyền tức là truy, là mầu đen, lưu tức là dòng phái. Bài tựa Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (Đại 46, 141 thượng), nói: Nối tiếp bốn đời, gần hai trăm năm, dắt dẫn huyền lưu ra khỏi vòng lẩn quẩn của ngữ ngôn văn tự .

huyền lộ

(玄路) Con đường sâu thẳm, mầu nhiệm lìa ngôn ngữ, văn tự và các kiến chấp, tức chỉ cho chân lí. (xt. Động Sơn Tam Lộ).

Huyền Môn

(玄門, Gemmon, ?-1658): vị tăng của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời kỳ Giang Hộ, húy là Huyền Môn (玄門), tự là Trực Chước (直釣), hiệu Thượng Liên Xã (上蓮社), Hướng Dự (向譽); xuất thân vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, tức Sơn Lê [山梨, Yamanashi]), họ Hoa Thôn (花村). Ông theo tu học với Phan Tùy Ý (幡隨意) ở Tân Tri Ân Viện (新知恩院, tức Phan Tùy Viện [幡隨院]) vùng Giang Hộ (江戸, Edo) và sau đó khai sáng Huyền Môn Tự (玄門寺, Gemmon-ji) ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa), Gia Hạ (加賀, Kaga).

huyền môn

(玄門) Cũng gọi Phật môn, Không môn, Chân môn. Pháp môn mầu nhiệm, diệu lí sâu thẳm, tức chỉ chung cho Phật pháp. Luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài (Đại 47, 83 trung), nói: Tịnh độ huyền môn, mười phương đều khen ngợi . Tư trì kí quyển thượng 1, phần cuối (Đại 40, 179 trung), nói: Phật pháp sâu xa mầu nhiệm, người có lòng tin mới vào được, cho nên gọi là Huyền môn . [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; Quảng hoằng minh tập Q.12].

huyền môn vô ngại thập nhân

(玄門無礙十因) Mười đức của pháp tính làm nhân sinh khởi đại nghiệp dụng, khiến cho các pháp của huyền môn viên dung vô ngại, trùng trùng vô tận. Mười nhân ấy là: 1. Duy tâm sở hiện: Tất cả các pháp đều do chân tâm hiển ra, cho nên các pháp là tâm, tâm đã viên dung thì pháp cũng vô ngại. 2. Pháp vô định tính: Các pháp đều do tâm hiển hiện, từ nhân duyên mà sinh nên không có tính chất nhất định, vì không có tính chất nhất định cho nên có cái lí cái này, cái kia dung hòa; như một mảy bụi chứa được cả hư không. 3. Duyên khởi tương do: Pháp duyên khởi không thể biệt lập, mà phải nương dựa lẫn nhau mới thành thể. 4. Pháp tính dung thông: Tính của pháp giới viên dung vô ngại, tính đã dung thông thì sự cũng dung thông, như mỗi mảy bụi đều hàm chứa cả pháp giới. 5. Như huyễn mộng: Các pháp hư giả không thật, giống như chiêm bao, trò dối, cho nên có thể dung hòa với nhau. 6. Như ảnh tượng: Các pháp từ tâm hiện ra, có thể hàm chứa tính trong sáng, giống như chiếc gương có khả năng ánh hiện hình bóng của các pháp. 7. Nhân vô hạn: Khi xưa Bồ tát tu vô lượng nhân thù thắng, nên nay được vô lượng quả, cũng diệu dụng vô biên. 8. Phật chứng cùng: Phật chứng được tận cùng chân tính, đầy đủ tự giác, giác tha và giác hạnh, 6 thần thông tự tại. 9. Thâm định dụng: Dùng sức thiền định mầu nhiệm sâu xa khiến cho tất cả các pháp đều hiện rõ ràng, viên dung vô ngại. 10. Thần thông giải thoát: Đức Phật dùng sức thần thông giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho tất cả pháp kiến lập trong một pháp, hiển hiện viên dung vô ngại. Trong 10 nhân nói trên, thì 6 nhân trước là bàn về mặt tự tính của các pháp, 4 nhân còn lại là bàn về sự vô ngại của nghiệp dụng. Tông Hoa nghiêm lập ra 10 huyền môn để nói rõ cái tướng của Sự sự vô ngại pháp giới , còn Huyền môn vô ngại thập nhân thì được dùng để giải thích lí do của sự sự sự vô ngại . (xt. Thập Huyền Môn).

huyền nghiễm

(玄儼) (675-742) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người ở Chư kí (Chiết giang), họ Từ. Năm 12 tuổi, sư theo ngài Tăng huy ở Phú xuân. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Huyền lựu, y vào ngài Đạo ngạn ở Quang châu thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến Trường an, được các luật sư Mãn ý và Dung tế ấn khả. Do đó, sư nổi tiếng khắp kinh đô và được xếp vào hàng Đại đức của chùa An quốc và chùa Phật thụ kí. Không bao lâu, sư trở về Giang tả, chuyên giảng dạy luật Tứ phần. Sư ở chùa Pháp hoa tại Việt châu, cấm túc gần 30 năm. Năm Khai nguyên 24 (736), vua Đường Huyền tông chú thích kinh Kim cương bát nhã, ban lệnh giảng kinh này khắp trong nước, ông Nguyên ngạn trọng thỉnh sư ra tuyên giảng. Năm Khai nguyên 26 (738), Châu lệ thỉnh sư chủ trì việc giảng kinh, nhân dịp này, có cả vạn người xin xuất gia thụ giới. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742), sư tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử của sư có các vị: Thần ung, Đàm tuấn, Sùng mặc, Sùng hiểu, Duy trạm, Đạo chiêu…. Tác phẩm của sư gồm có: Hành sự sao phụ thiên kí 10 quyển, Yết ma thuật chương 3 thiên, Kim cương nghĩa sớ 7 quyển. [X. Tống cao tăng truyên Quyển 14].

huyền nghĩa

(玄義) Bàn luận một cách tổng quát về ý nghĩa sâu kín của một bộ kinh, luận trước khi giải thích chính văn. Đại sư Trí khải của tông Thiên thai chia nội dung Huyền nghĩa làm 5 phạm trù để giải thích ý chỉ của một bộ kinh, gọi là Ngũ trùng huyền nghĩa. Năm phạm trù ấy là: 1. Thích danh: Giải thích tên kinh. 2. Biện thể: Bàn rõ ý nghĩa được hiển bày trong tên kinh. 3. Minh tông: Nói rõ mục đích chủ yếu của giáo pháp trong bộ kinh. 4. Luận dụng: Bàn về tác dụng của giáo pháp ấy. 5. Phán giáo: Phân định địa vị của giáo pháp ấy trong toàn thể Phật giáo. Ngài Trí khải đã dùng Ngũ trùng huyền nghĩa này để giải thích đề mục của các bộ kinh như: Pháp hoa, Kim cương bát nhã, Quán vô lượng thọ, A di đà, Duy ma, Thỉnh Quan âm, v.v… Ngài cũng dùng Tam trùng huyền nghĩa: Thích danh, Xuất thể, Liệu giản để giải thích đề mục của kinh Phạm võng, v.v...… Còn ngài Cát tạng thì soạn Tam luận huyền nghĩa, lập 2 nghĩa Phá tà và Hiển chính để bàn về yếu chỉ của Tam luận. Ngài Thiện đạo soạn Quán kinh sớ huyền nghĩa phần cũng dùng Thất môn huyền nghĩa như: Tự đề, Thích danh, v.v…... để giải thích kinh Quán vô lượng thọ…. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1 phần trên; Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].

huyền nghĩa phần

(玄義分) Phần trình bày về ý nghĩ sâu xa của một bộ kinh. Như trong Quán vô lượng thọ kinh sớ 4 quyển của ngài Thiện đạo đời Đường thì có 1 quyển là Huyền nghĩa phần. Nội dung của quyển Huyền nghĩa phần này, trước tiên nêu một bài kệ phát nguyện qui y Tam bảo, kế đến chia ra 7 môn Huyền nghĩa như: Tự đề, Thích danh, v.v... để giải thích yếu chỉ của kinh Quán vô lượng thọ. (xt. Quán Vô Lượng Kinh Sớ).

huyền nguyệt

(玄月) Vầng trăng huyền ảo giữa hư không, dụ cho chân lí trong sáng thanh tịnh. Tam luận đại nghĩa sao quyển 1 (Đại 70, 120 thượng), nói: Đưa ngón tay bí mật để chỉ vầng trăng huyền ảo kia .

huyền ngật

(玄嶷) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, họ Đỗ, tên Xoa. Thưở nhỏ, sư tu học theo Đạo giáo, về sau, nhờ tinh thông tam huyền, thất lược, sư được tôn làm Đại hoằng Đạo quan chủ ở Lạc đô, hiệu là Đỗ xoa luyện sư, thống lãnh tín đồ Đạo giáo. Thời ấy, Vũ hậu Tắc thiên nhà Đường qui y Phật pháp, giúp đỡ việc truyền giáo độ tăng, sư cảm ngộ điều đó, nên khẩn cầu xuất gia, được triều đình chấp thuận và vâng sắc trụ ở chùa Phật thụ kí tại Lạc dương. Không bao lâu, sư giữ chức Tự đô và tham dự việc phiên dịch. Sư từng viết sách chỉ ra những điều hư dối sai lầm của Đạo gia. Tác phẩm: Luận Chân chính 3 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17; Khai nguyên thích giáo lục Q.10].

huyền nhất

(玄一) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, có thuyết cho rằng sư là người nước Tân la (nay là Cao li). Sư tinh thông về pháp tướng học, chuyên việc trước tác. Những tác phẩm của sư gồm có: Vô lượng thọ kinh kí 2 quyển, Quán vô lượng thọ kinh kí 1 quyển, Pháp hoa kinh sớ 8 quyển, A di đà kinh sớ 1 quyển, Niết bàn kinh liệu giản 2 quyển, Du già luận sớ 17 quyển, Trung biên luận liệu giản 1 quyển, Phạm võng kinh sớ 3 quyển, Duy thức xu yếu tư kí 1 quyển. Phần lớn các tác phẩm trên đây của sư đã thất truyền, hiện chỉ còn Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng được thu vào Vạn tục tạng tập 32. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1; Đông vực truyền đăng mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.2; Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.thượng].

huyền phong

(玄峰) (1266-1349) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào đời Nguyên. Sư vốn là người đất Sở, họ Chu, nhưng vì ông nội làm quan ở Điền nam, nên mới dời đến Côn minh. Tương truyền thân mẫu sư nằm mộng thấy áng mây lành bao bọc quanh nhà, bà liền mang thai và sinh ra sư. Từ nhỏ, sư đã thông minh đĩnh ngộ và có uy nghi đĩnh đạc, năm 12 tuổi đã thông suốt Nho học, năm 14 tuổi nhàm chán trần tục, cho nên theo pháp sư Hùng biện xin xuất gia. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến tham yết ngài Bảo tích Đàn chủ, kết bạn với thiền sư Tuyết đình, nhưng không khế ngộ. Sau, sư từng tham thiền 7 ngày trong rừng, nghe chim hót líu lo, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư lại đến núi Thiên mục tham yết ngài Trung phong Minh bản và được ấn khả. Sau khi trở về Điền nam, sư trụ tại Hoa đình, khai đường thuyết pháp, đạo phong vang xa. Tháng 12 năm Chí chính thứ 9 (1349) sư tịch, thọ 84 tuổi, pháp lạp 70. Sư có soạn Cao tăng truyện và Ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

huyền phạm

(玄範) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, vì sư là người cùng thời đại với ngài Huyền trang, nên có thuyết cho rằng sư là học trò của ngài Huyền trang. Sư rất ham học, trình độ Phật pháp thâm sâu, đặc biệt là môn Duy thức. Sư ở chùa Phổ quang tại Trường an, chuyên việc soạn thuật. Những tác phẩm của sư gồm có: Giải thâm mật kinh sớ 10 quyển, Thành duy thức luận sớ 20 quyển, Nhiếp đại thừa luận sớ 7 quyển, Biện trung biên luận sớ 3 quyển, Tạp tập luận sớ 16 quyển, Đối pháp luận sớ 10 quyển, Đại nhân minh luận sớ 2 quyển, Nhân minh chính lí môn luận sao 2 quyển, Nhân minh nhập chính lí luận sớ 1 quyển, Pháp hoa kinh sớ 8 quyển, Vô cấu xưng kinh sớ 6 quyển, Nhân vương kinh sớ 4 quyển, Năng đoạn kim cương bát nhã kinh thuật tán 3 quyển, Đại niết bàn kinh sớ sao 2 quyển.… Rất tiếc là tất cả những tác phẩm trên đều đã thất lạc! [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Đông vực truyền đăng mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1, Q.2].

huyền phảng

(玄昉) (?-746) Vị tăng Nhật bản thuộc tông Pháp tướng, người Đại hòa (huyện Nại lương), họ A đao. Sư theo ngài Nghĩa uyên xuất gia và học Duy thức ở chùa Long môn. Năm Linh qui thứ 2 (716), sư vâng sắc đến Trung quốc, theo ngài Trí chu học tông nghĩa Pháp tướng và ở lại đó 20 năm. Vua Huyền tông nhà Đường nghe tài học của sư liền ban hàm Tam phẩm và áo đỏ. Năm Thiên bình thứ 6 (734), sư trở về Nhật bản, mang theo hơn 5.000 quyển kinh sớ. Sau sư đặt trung tâm hoằng pháp ở chùa Hưng phúc. Năm Thiên bình thứ 9 (737), sư giữ chức Tăng chính, được ban ca sa đỏ, đây là lần đầu tiên vua ban ca sa đỏ ở Nhật bản. Nhờ sự đãi ngộ đặc biệt của nhà vua nên sư rất có quyền thế trong cung và cũng vì thế mà sau sư bị họ Đằng nguyên đày đến chùa Quan âm ở Trúc tử. Năm Thiên bình thứ 8 (746) sư tịch. [X. Nguyên hanh thích thư Q.16; Phù tang lược kí Q.6; Bản triều cao tăng truyện Q.67].

Huyền quan

玄關; J: genkan; nghĩa là »Cửa ải huyền bí«; |Ðược sử dụng trong nhiều trường hợp: 1. Nhập môn, bước vào con đường tu học Phật pháp, con đường mà Phật và các vị Tổ sư hướng dẫn; 2. Chỉ ngưỡng cửa của phòng tiếp khách trong một Thiền viện hoặc một phòng tiếp khách nằm gần cửa cổng; 3. Căn phòng nằm giữa cửa nhà và phòng khách trong một ngôi nhà tại Nhật Bản.

huyền quan

(玄關) I. Huyền Quan. Cửa huyền diệu. Tức là pháp môn để chứng nhập đạo sâu xa mầu nhiệm. Đầu đà tự bi nói: Huyền quan khóa kín, cảm được liền thông . Lời dạy trong tắc 88 của Bích nham lục (Đại 48, 212 hạ), nói: Đương cơ đã điểm, đập nát khóa vàng huyền quan . Gia thái phổ đăng lục quyển 17 (Vạn tục 137, 126 hạ), nói: Huyền quan mở rộng, chính nhãn lưu thông . II. Huyền Quan. Chỉ cho thư viện, hoặc cửa chính của nhà ở.

Huyền Quang

玄光; 1254-1334|Thiền sư Việt Nam, Tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Sư là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Ðầu Ðà (Trần Nhân Tông) và Pháp Loa, Sư được xem là một Ðại thiền sư của Việt Nam và người ta xem Sư và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị Tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị Tổ của Thiền Ấn Ðộ.|Theo Tam tổ thật lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì đã 30 mà chưa có con. Ðầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy »các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Ðức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: ›Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Ðông Ðộ và phải nhớ lại duyên xưa.‹« Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.|Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại »duyên xưa«, xin xuất gia thụ giáo (có tài liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Ðầu Ðà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.|Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Yử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên tăng chúng đua nhau đến học. Niên hiệu Ðại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.|Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Ðệ Tam Ðại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.|Sau đây là một vài bài thơ của Sư:|1. Cúc hoa 菊花 – Hoa cúc:|忘身忘世已都忘。坐久簫然一榻涼|歲晚山中無歷日。菊花開處即重陽|Vương thân vương thế dĩ đô vương|Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương|Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật|Cúc hoa khai xứ tức trùng dương|*Quên mình quên hết cuộc tang thương|Ngồi lặng điều hiêu mát cả giường|Năm cuối trong rừng không có lịch|Thấy hoa cúc nở biết trùng dương|(theo Thơ văn Lý-Trần)|花在中庭人在樓。焚香獨坐自忘憂|主人與物渾無競。花向群芳出一頭|Hoa tại trung đình, nhân tại lâu|Phần hương độc toạ tự vong ưu|Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh|Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.|*Người ở trên lầu hoa dưới sân|Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông|Hồn nhiên người với hoa vô biệt|Một đoá hoa vừa mới nở tung.|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|2. Ðịa lô tức sự 地爐即事 – Lò sưởi tức cảnh:|煨餘榾柮獨焚香。口答山童問短章|手把吹商和木鐸。從來人笑老僧忙|Ổi dư cốt đốt độc phần hương|Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương|Thủ bả xuy thương hoà mộc đạc|Tòng lai nhân tiếu lão tăng mang|*Củi hết lò còn vương khói nhẹ|Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh|Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo|Thiên hạ cười ta cứ mặc tình|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|Tác phẩm của Sư: 1. Ngọc tiên tập; 2. Chư phẩm kinh; 3. Công văn tập; 4. Phổ huệ ngữ lục.

huyền quang

(玄光) Cao tăng nước Tân la (nay là Triều tiên), người Hùng châu. Từ nhỏ sư đã thông minh. Sau khi xuất gia, sư đến Trung quốc. Năm Thái kiến thứ 5 (573) đời Trần, sư lên núi Nam nhạc ra mắt ngài Tuệ tư, học hạnh an lạc trong kinh Pháp hoa, gắng sức tu hành, không bao lâu đã chứng được Pháp hoa tam muội. Sau, sư trở về Tân la, lập chùa ở núi Ông sơn tại Hùng châu, hoằng dương Pháp hoa, người theo học rất đông. Sư là người đầu tiên truyền bá giáo lí Pháp hoa ở Hải đông. Trong số các đệ tử của sư, người nối pháp là Hạnh chân, một người được thụ kí thăng đường, một người nhập Hỏa quang tam muội, 2 người nhập Thủy quang tam muội. Sau này sư là một trong 28 vị Tổ được thờ ở Tổ đường tại núi Nam nhạc và ở chùa Quốc thanh tại núi Thiên thai. [X. Tống cao tăng truyện Q.18; Thích môn chính thống Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.9, Q.37; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.hạ].

Huyền Sa Sư Bị

玄沙師備; C: xuánshā shībèi; J: gensha shibi; 835-908;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ danh tiếng nhất của Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Nối pháp của Sư có 13 vị – với La Hán Quế Sâm hàng đầu. Vị này lại là sư phụ của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích, người sáng lập tông Pháp Nhãn. Cảnh Ðức truyền đăng lục ghi tên tông này là Huyền Sa tông. Bích nham lục (công án 22, 56, 88) và Vô môn quan (41) có ghi lại pháp ngữ của Sư.|Sư họ Tạ, quê ở huyện Mân, Phúc Châu. Sư chẳng biết chữ, không đọc được chữ khắc trên những đồng tiền thời đó. Sư rất thích câu cá, thường cắm một chiếc thuyền nhỏ trên sông Nam Ðài để câu. Bỗng một hôm, Sư phát tâm cầu giải thoát, dẹp bỏ thuyền câu, lên núi Phù Dung theo Thiền sư Linh Huấn xuất gia, sau đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương thụ giới cụ túc với Luật sư Ðạo Huyền. Sư tu theo hạnh Ðầu-đà, chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi im lặng, tăng chúng thấy vậy đều kính phục. Nơi đây, Sư gặp Tuyết Phong. Mặc dù chỉ nhỏ hơn 13 tuổi và theo lí thì như huynh đệ trong đạo, nhưng Sư gần gũi kính thờ Tuyết Phong như thầy trò. Tuyết Phong lên núi Tượng Cốt hoằng hoá, Sư cùng theo góp sức đắc lực. Học giả bốn phương đến tấp nập. Trong một cuộc Hành cước xuất phát từ đây, Sư vấp chân vào đá đau điếng người, bỗng nhiên đại ngộ.|Sư ứng đối nhanh nhẹn phù hợp kinh điển. Những người huyền học các nơi chưa thông đều đến cầu Sư chỉ dạy. Tuyết Phong thường bảo: »Ðầu-đà Bị là người tái sinh!«|Sau, Sư từ giã Tuyết Phong xuống núi, thu nhận môn đệ tại Huyền Sa. Từ đây học chúng đến rất đông. Công án sau đây trong Bích nham lục ghi lại cách dạy thần tốc của Sư và Thiền sư Vân Môn Văn Yển, hai môn đệ kế thừa xuất sắc của Tuyết Phong:|Một hôm, Sư thượng đường dạy chúng: »Những bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sinh, chợt gặp người ba thứ bệnh đến làm sao mà tiếp? Người bệnh mù thì đưa chùy, dựng Phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bị bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao tiếp? Nếu tiếp không được người này thì Phật pháp chẳng linh nghiệm.«|Tăng đến hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo: »Ông lễ bái đi« Tăng lễ bái xong đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chận, tăng thối lui. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh mù.« Lại bảo: »Ông đến gần đây.« Vị tăng đến gần. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh điếc.« Vân Môn hỏi tiếp: »Hội chăng?« Tăng đáp: »Chẳng hội« Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh câm.« Tăng nhân đây có tỉnh.|Sư ứng cơ tiếp người 30 năm, người có mặt nghe giảng không dưới 800. Ðến đời Lương, niên hiệu Khai Bình năm thứ hai, ngày 27 tháng 11 năm Mậu Thìn, Sư thị tịch, thọ 74 tuổi, được 40 tuổi hạ.

huyền sa sư bị thiền sư quảng lục

(玄沙師備禪師廣錄) Gọi đủ: Phúc châu Huyền sa tông nhất đại sư quảng lục. Cũng gọi: Huyền sa quảng lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Huyền sa Sư bị soạn vào đời Đường, ngài Trí nghiêm biên tập, ấn hành vào năm Nguyên phong thứ 3 (1080) đời vua Thần tông nhà Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này gồm các phần: Thướng đường ngữ tụng, Thướng đường thị chúng, Phương trượng lục, Phật tâm ấn lục, v.v... Ở cuối quyển có phụ thêm: Đường phúc châu an quốc thiền viện tiên khai sơn Tông nhất đại sư bi văn tinh tự do ông Lâm trừng soạn. Ngoài ra, còn có Huyền sa Sư bị thiền sư ngữ lục 3 quyển, cũng gọi Phúc châu Huyền sa Tông nhất thiền sư ngữ lục, Huyền sa ngữ lục, Huyền sa đại sư ngữ lục, do ông Lâm hoằng diễn biên tập, ấn hành vào năm Thiên khải thứ 6 (1626) đời vua Hi tông nhà Minh, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 126. Nội dung sách này thu chép những yếu ngữ mà bộ Quảng lục bỏ sót, như: Thướng đường, Niêm hương, Thùy thị, Cương tông tam cú, Niêm bình cổ tắc công án, v.v... và phụ thêm phần Lược truyện của ngài Huyền sa.

huyền sa tam chủng bệnh nhân

(玄沙三種病人) Cũng gọi Huyền sa tiếp vật lợi sinh, Huyền sa tam chủng bệnh, Huyền sa tam bệnh. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là cơ duyên ngữ cú của ngài Huyền sa Sư bị nêu lên vấn đề làm thế nào để tiếp hóa 3 loại bệnh nhân: mù, điếc, câm. Tắc 88 trong Bích nham lục (Đại 48, 212 hạ) ghi: Ngài Huyền sa dạy mọi người rằng: Những bậc lão túc ở các nơi đều hết lòng tiếp vật lợi sinh, nhưng nếu gặp 3 loại bệnh nhân mù, điếc, câm đến thì làm sao tiếp hóa? Vì người mù thì giơ chùy, dựng phất, họ không thấy; người điếc thì nói Tam muội họ cũng không nghe; người câm thì bảo nói thì họ cũng không nói được, vậy làm thế nào để giáo hóa, tiếp dắt họ? Nếu không tiếp hóa được những người ấy thì Phật pháp không linh nghiệm sao . Có vị tăng nêu vấn đề này hỏi ngài Vân môn. Ngài nói: Ông lễ bái đi! Vị tăng lễ xong, đứng dậy, ngài Vân môn dùng gậy ra hiệu, vị tăng lùi lại phía sau. Ngài Vân môn nói: Ông không bị mù Rồi bảo vị tăng đến gần. Vị tăng liền tiến đến. Ngài Vân môn nói: Ông không bị điếc! Ngài lại hỏi: Ông có hiểu không? . Vị tăng thưa: Không hiểu . Ngài Vân môn nói: Ông không bị câm . Ngay lời nói ấy, vị tăng tỉnh ngộ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Tụng cổ liên châu thông tập Q.31; Cổ tôn túc ngữ lục Q.34; Tông môn cát đằng tập Q.hạ].

huyền sa văn yến tử thanh

(玄沙聞燕子聲) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên ngữ cú của thiền sư Huyền sa Sư bị nhân nghe tiếng chim én kêu mà khai thị cho đại chúng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 7 (Vạn tục 138, 123 thượng), ghi: Một lần sư thăng tòa, nghe chim én kêu, sư bèn nói: Đúng là bàn về thực tướng, rất sâu xa, nói pháp yếu khéo léo . Rồi xuống tòa. Lúc ấy, có vị tăng thưa: -Đệ tử không hiểu. Sư nói: -Đi! Ai tin được ông!

huyền sa đáo huyện

(玄沙到縣) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Huyền sa Sư bị (835- 908) và Trưởng lão Tiểu đường về cảnh giới huyền diệu Động tĩnh chẳng phải một, chẳng phải hai . Điều Sư bị thiền sư trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 347 thượng), ghi: Sư đi về phía nam đến huyện Bồ điền, được tiếp rước bằng nhiều trò vui chơi. Hôm sau, sư hỏi Trưởng lão Tiểu đường rằng: Hôm qua có rất nhiều trò huyên náo, hôm nay đâu cả rồi? Ngài Tiểu đường nắm chéo áo đưa lên. Sư nói: Hiển nhiên chẳng dính dáng. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Tụng cổ liên châu thông tập Q.31; Tông môn thống yếu tục tập Q.7].

huyền sách

(玄策) (?-854) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Cối kê (tỉnh Chiết giang), họ Lỗ. Thưở nhỏ, sư theo cha đi buôn bán khắp nơi, nhân dịp đến núi Thiên thai tham dự Hội Quang Minh , thấy cảnh muôn người lễ bái tấp nập, sư bèn lễ pháp sư Trí quảng ở chùa Thiền lâm xin xuất gia. Về sau, sư tham yết thiền sư Mã tổ Đạo nhất ở Giang tây, bổng nhiên ngộ đạo. Trên đường du phương, thấy thế núi Cửu tỉnh hùng vĩ lạ kì, sư bèn dừng lại đây kết am tranh làm nơi ẩn tu. Năm Đại trung thứ 8 (854), sư tịch, thụy hiệu Viên Tịch . [X. Tống cao tăng truyện Q.11].

huyền sướng

(玄暢) I. Huyền Sướng (416-484). Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn, người Kim thành, Hà tây (thuộc huyện Hoa, tỉnh Thiểm tây), họ Triệu. Thời thơ ấu, cả nhà bị quân Hồ tàn sát, sư liền đến Lương châu xuất gia. Mới đầu, sư lấy tên là Tuệ trí, sau đến Bình thành, theo học ngài Huyền cao, mới đổi tên là Huyền sướng. Vua Vũ đế nhà Bắc Ngụy vì nghe lời sàm tấu của Tể tướng Thôi hạo và đạo sĩ Khấu khiêm chi nên cấm chỉ không ai được cúng dường sa môn và thầy pháp, rồi ra lệnh bắt các ngài Huyền cao, Huệ sùng, v.v... lúc đó sư may mắn chạy thoát. Năm Nguyên gia 22 (445) đời Lưu Tống, sư đến Dương châu, rất được vua Văn đế tôn kính và thỉnh sư làm thầy dạy cho Thái tử, nhưng sư từ chối, rồi đến trụ ở chùa Trường sa tại Kinh châu. Bấy giờ có vị sa môn người Tây vực tên là Công đức trực dịch kinh Bồ tát niệm Phật tam muội 6 quyển và kinh Vô lượng môn phá ma đà la ni 1 quyển, do sư nhuận sắc văn và chứng nghĩa. Sư cũng giỏi về hội họa; vào những năm cuối đời Lưu Tống, sư đến chùa Đại thạch tại Thành đô và tự tay vẽ 16 bức tượng thần Kim cương mật tích. Năm Thăng minh thứ 3 (479), sư đến núi Tề hậu ở huyện Quảng dương, kết am tranh ẩn tu, ít lâu sau, sư xây cất chùa Tề hưng. Đến khi vua Vũ đế nhà Tiêu Tề lên ngôi, quan Tư đồ là Văn tuyên vương và thái tử Huệ văn sai sứ đến thỉnh sư về kinh đô, sư bèn xuôi thuyền xuống miền Đông, nửa đường sư bị bệnh phải dừng lại ở chùa Linh căn nghỉ ngơi. Ngoài cái học nội điển, sư còn tinh thông các thuật chiêm tinh bói toán và học thuyết của Bách gia chư tử. Sư thường than rằng giáo nghĩa Hoa nghiêm sâu rộng, nhưng chưa được giải thích, nên sư chuyên cần tư duy nghiên cứu để soạn lời chú giải. Đó là mở đầu cho các bộ Hoa nghiêm kinh sớ sau này. Ngoài ra sư cũng giỏi về Tam luận nên rất được các học giả tôn sùng. Năm Vĩnh minh thứ 2 (484) sư tịch, thọ 69 tuổi. Tác phẩm: Ha lê bạt ma truyện (1 thiên). [X. Xuất tam tạng kí tập Q.11; Lương cao tăng truyện Q.8]. II. Huyền Sướng(797-875). Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Tuyên thành, họ Trần, tự là Thân chi. Khoảng năm Đại trung (847-859), sư vào cung giảng đạo, được vua Ý tông ban hiệu Pháp Bảo . Các tác phẩm của sư gồm có: Lịch đại đế vương lục, Hiển chính kí, Khoa lục thiếp danh nghĩa đồ, Tam bảo ngũ vận…. [X. Tống cao tăng truyện Q.17].

huyền sớ

(玄疏) Cũng gọi Diệu huyền diệu sớ. Chỉ cho 2 bộ sách do đại sư Trí khải nói, ngài Chương an ghi chép. Huyền tức là Pháp hoa kinh huyền nghĩa , còn Sớ tức là Pháp hoa kinh văn cú .

Huyền Thiên Thượng Đế

(玄天上帝): xem Bắc Đế ở trên.

Huyền Thấu Tức Trung

(玄透卽中, Gentō Sokuchū, 1729-1807): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời kỳ Giang Hộ, vị Tổ đời thứ 50 của Vĩnh Bình Tự (永平寺, Eihei-ji), húy là Tức Trung (卽中), đạo hiệu Huyền Thấu (玄透), thụy hiệu là Động Tông Hoành Chấn Thiền Sư (洞宗宏振禪師); xuất thân vùng Danh Cổ Ốc (名古屋, Nagoya), Vĩ Trương (尾張, Owari, thuộc Aichi-ken [愛知縣]); họ Kim Tỉnh (今井, Imai). Sau khi xuất gia, ông kế thừa dòng pháp của Quan Khánh (官慶) ở Thanh Lương Tự (清涼寺) vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ông từng sống qua các chùa như Thiện Ứng Tự (善應寺) ở Mỹ Nùng (美濃, Mino), Long Ẩn Tự (龍隱寺) ở Võ Tàng (武藏, Musashi, thuộc Saitama-ken [埼玉縣]); rồi đến năm 1795 thì làm Trú Trì đời thứ 50 của Vĩnh Bình Tự. Ông là người tận lực làm giảng hòa cuộc đối lập giữa Vĩnh Bình Tự với Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), cho đối chiếu Vĩnh Bình Thanh Quy (永平清規) với Hoàng Bá Thanh Quy (黃檗清規) và tiến hành phục hưng nếp phong xưa. Chính ông đã từng tập trung tái hưng già lam và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Pháp từ của ông có Đại Khí Thạch Đỉnh (大器石鼎), Huệ Môn Thiền Trí (慧門禪智). Trước tác của ông có Vĩnh Bình Tiểu Thanh Quy (永平小清規) 3 quyển, Tổ Quy Phục Cổ Tạp Cảo (祖規復古雜稿) 1 quyển, Không Hoa Am Lục (空華庵錄) 1 quyển, Huyền Thấu Thiền Sư Ngữ Lục (玄透禪師語錄) 8 quyển, v.v.

Huyền Trang

(玄奘, Genjō, 602-664): một trong 4 nhà dịch kinh lớn nổi danh dưới thời nhà Đường của Trung Hoa, xuất thân Huyện Hầu Thị (緱氏縣), Lạc Châu (洛州, tức Lạc Dương, Tỉnh Hà Nam ngày nay), tên Huy (褘), họ Trần (陳). Ban đầu ông học Kinh Niết Bàn (涅槃經) và Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論), và có chí nghiên cứu dựa trên nguyên điển về Duy Thức Học cũng như Luận A Tỳ Đạt Ma (阿毘達磨論). Vào năm thứ 3 (629) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), với tâm mạo hiểm, ông bắt đầu chuyến hành trình Tây du, xuất phát từ kinh đô Trường An. Trãi qua biết bao nhiêu gian khổ, cuối cùng ông đến được Ấn Độ từ con đường phía Bắc của vùng Tân Cương thuộc miền Tây Turkistan, Afghanistan. Tại Na Lan Đà Tự (s: Nālandā, 那蘭陀寺), ông theo hầu Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀, 529-645, tức Giới Hiền [戒賢]), học về giáo lý Duy Thức, Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論), v.v. Sau đó, ông đi tham quan du lịch khắp Ấn Độ, chiêm bái các Phật tích và đến năm thứ 19 (645) niên hiệu Trinh Quán, ông trở về Trường An, mang theo 657 bộ kinh văn bằng tiếng Phạn cùng một số tượng Phật, xá lợi, v.v. Sau khi trở về nước, nhờ có sự tín nhiệm của Hoàng Đế Thái Tông, ông bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh điển của mình cùng các đệ tử tại Hoằng Phước Tự (弘福寺), Từ Ân Tự (慈恩寺) và Ngọc Hoa Cung (玉華宮). Khởi đầu với bộ Đại Bát Nhã Kinh (大般若經) 100 quyển, kinh điển Hán dịch của ông lên đến 76 bộ, 1347 quyển. Sự phiên dịch của ông nhằm mục đích trung thực dựa trên nguyên điển, cho nên các kinh điển được dịch trước thời của ông được gọi là Cựu Dịch, và những kinh điển do ông dịch sau này là Tân Dịch. Bộ Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), tác phẩm ghi lại chuyến lữ hành của ông sang Ấn Độ, là tư liệu rất quan trọng cho chúng ta biết được địa lý, phong tục, văn hóa, tôn giáo, v.v., của vùng trung ương Châu Á cũng như Ấn Độ vào tiền bán thế kỷ thứ 7. Cũng từ bộ này mà tác phẩm Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân ra đời. Người đời sau gọi ông là Huyền Trang Tam Tạng (玄奘三藏), Tam Tạng Pháp Sư (三藏法師) và tôn sùng như là vị tổ của Pháp Tướng Tông. Vào năm đầu niên hiệu Lân Đức (麟德), ông thị tịch. ; 玄奘; C: xuánzhuǎng; 600-664; còn mang danh hiệu là Tam Tạng Pháp sư, là người tinh thông cả ba tạng, Tam tạng;|Cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán. Sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (c: fǎxiàng-zōng), một dạng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) tại Trung Quốc. |Sư du hành 16 năm (629-645) Ấn Ðộ, lưu lại học tại Na-lan-đà và thăm viếng tất cả các di tích Phật giáo quan trọng. Cuộc hành trình này được ghi trong Ðại Ðường Tây vực kí, giúp hậu thế hiểu nhiều lịch sử Ấn Ðộ trong thế kỉ thứ 7. Sau khi trở lại Trung Quốc, Sư bắt tay vào công trình dịch các tác phẩm của Duy thức tông và các kinh luận khác sang Hán ngữ, như bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitāsūtra) gồm 600 tập; Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra), Nhiếp Ðại thừa luận (s: mahāyāna-saṃgraha) của Vô Trước (s: asaṅga), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-śās-tra), Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi) và Duy thức nhị thập tụng (viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi) của Thế Thân (s: vasubandhu). Sư cũng là tác giả của bộ luận Thành duy thức (s: vijñāpti-mātratāsiddhi), trong đó Sư tổng kết quan niệm Mười đại luận sư của Duy thức tông. Ðó là bộ luận bao gồm đầy đủ giáo lí của học phái này.|Huyền Trang sinh tại Hồ Nam. Năm lên 13 tuổi Sư đã xuất gia và Thụ giới cụ túc năm 21 tuổi. Sư tu học kinh sách Ðại thừa dưới nhiều giảng sư khác nhau và thấy có nhiều chỗ giảng giải mâu thuẫn. Ðây là lí do chính thúc đẩy Sư lên đường đi Ấn Ðộ để tự mình tìm hiểu và năm 629, Sư rời Trường An. Năm 631, Sư đến Kashmir, năm 633 mạo hiểm tìm đến các dấu tích Phật như Ca-tì-la-vệ, Giác Thành và cuối cùng tìm đến đại học Phật giáo Na-lan-đà và được Giới Hiền (s: śīlābhadra) truyền Pháp môn Duy thức. Hai năm sau, Sư rời Na-lan-đà đi Tích Lan, rồi lại trở về Na-lan-đà học tiếp triết học Ấn Ðộ. Danh tiếng của Sư trở nên lừng lẫy, nhiều vua chúa mời Sư giảng dạy. Sư là người biện luận giỏi, nhiều lần thắng đại diện của Tiểu thừa cũng như phái Bà-la môn. Năm 645 Sư trở về Trường An và mang theo 520 bộ kinh sách của Tiểu thừa và Ðại thừa về Trung Quốc. Những năm sau đó, Sư tập trung dịch kinh và dịch được 75 bộ. Vì thông cả văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) nên Sư cũng dịch ngược lại Ðạo đức kinh của Lão Tử và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra) sang Phạn ngữ (vì nguyên bản Phạn đã thất truyền). Ðặc điểm của các bản dịch của Huyền Trang là trình độ văn chương rất cao và rất chính xác. Sư là người có công trong việc đưa vào tiếng Hán một loạt thuật ngữ Phật giáo quan trọng.|Vào thế kỉ thứ 16, dựa vào chuyến Tây du của Huyền Trang, bộ Tây du kí của Ngô Thừa Ân ra đời, trong đó Huyền Trang có tên là Tam Tạng, mang nhiều tình tiết li kì hấp dẫn người đọc.

huyền trang

(玄奘) (602-664) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Khu thị, Lạc châu (huyện Yển sư, tỉnh Hà nam), họ Trần, tên Huy, là Sơ tổ tông Pháp tướng và là nhà dịch kinh nổi bật nhất của Trung quốc, được người đời tôn xưng là Tam tạng pháp sư hoặc là Đường tam tạng. Có thuyết cho rằng ngài sinh năm Khai hoàng 20 (600) đời Tùy. Người anh của ngài xuất gia ở chùa Tịnh độ tại Lạc dương, pháp hiệu là Trường tiệp. Thưở nhỏ, ngài học tập kinh điển với người anh và đọc các sách Nho, Đạo, Bách gia. Năm Đại nghiệp thứ 8 (612), quan nhà Tùy là Trịnh thiện quả, khi tuyển chọn người làm tăng ở Lạc dương, thấy ngài tuy nhỏ tuổi nhưng thông minh xuất chúng, đối đáp trôi chảy, nên đặc cách cho phép ngài làm tăng. Từ đó ngài đến ở chùa Tịnh độ cùng với anh, rồi theo ngài Tuệ cảnh học kinh Niết bàn và theo pháp sư Nghiêm học luận Đại thừa. Khoảng cuối đời Tùy đầu đời Đường, thiên hạ loạn lạc, ngài cùng với anh đi khắp các vùng như: Lũng tây, Ba thục, Kinh châu, Triệu châu, v.v... tham vấn các bậc Lão túc. Ngài học Nhiếp luận, Tì đàm với các ngài Đạo cơ và Bảo thiên, nghe luận Phát trí với pháp sư Chấn. Năm Vũ đức thứ 5 (622) đời Đường, ngài thụ giới Cụ túc, rồi học Luật bộ. Sau lại theo ngài Đạo thâm học luận Thành thực, theo ngài Đạo nhạc học luận Câu xá và nghe các ngài Pháp thường, Tăng biện giảng luận Nhiếp đại thừa. Nhưng ngài thường than rằng, các sư giảng không giống nhau, mà xét trong các Thánh điển cũng có những chỗ bất đồng, cho nên sinh ra nhiều mối ngờ vực, không biết nương vào đâu làm gốc, vì thế ngài phát nguyện đến Thiên trúc để tìm cầu những kinh điển nguyên bản bằng tiếng Phạm để giải quyết mối nghi. Vào năm Trinh quán thứ 3 (629, có thuyết nói Trinh quán năm đầu), ngài khởi hành một mình, trải qua nhiều gian nan, nguy hiểm, đi qua các vùng Tần, Lương, Cao xương, v.v... đến vùng phía bắc Thiên trúc, tức là ngài vượt qua con đường phía bắc tỉnh Tân cương ngày nay, rồi đi về phía tây, qua Turkistan, Afghanistan mà tiến vào nội địa Ấn độ, dọc đường chiêm bái các Thánh tích và cuối cùng đến nước Ma kiệt đà, dừng lại ở chùa Na lan đà. Bấy giờ là năm Trinh quán thứ 5 (631) ngài vừa 30 tuổi. Tại chùa Na lan đà, ngài thờ đại sư Giới hiền làm thầy, học tập các bộ luận như: Du già sư địa, Hiển dương, Bà sa, Câu xá, Thuận chính lí, Đối pháp, Nhân minh, Thanh minh, Tập lượng, Trung, Bách, v.v... trong khoảng 5 năm. Sau đó, ngài đi tham vấn các bậc danh hiền, thạc đức và tìm cầu các bản kinh tiếng Phạm trên toàn cõi Ấn độ suốt 12 năm, rồi trở về chùa Na la đà. Đại sư Giới hiền giao cho ngài giảng các bộ luận Nhiếp đại thừa và Duy thức quyết trạch. Thời bấy giờ, có ngài Sư tử quang thuộc phái Trung quán, giảng Trung luận, Bách luận để bài bác thuyết của ngài Huyền trang, ngài liền dung hội 2 tông Trung quán và Du già mà làm 3.000 bài tụng lấy tên là Hội Tông Luận để bác bỏ thuyết của ngài Sư tử quang. Về sau, ngài lại làm luận Phá Ác Kiến gồm 1.600 bài tụng để phản bác luận Phá Đại Thừa của luận sư Tiểu thừa nước Ô đồ. Từ đó, danh tiếng ngài Huyền trang vang dội khắp cõi Ấn độ. Vua Giới nhật nghe danh ngài xin đến bái yết. Bấy giờ (642), ngài Huyền trang đã được 41 tuổi, ngài có ý muốn trở về Trung quốc. Vua Giới nhật bèn tổ chức Đại pháp hội ở thành Khúc nữ để ngài Huyền trang có dịp tuyên dương giáo lí Đại thừa và tranh luận với các phái Tiểu thừa cùng ngoại đạo. Đây là Đại hội biện luận nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo, với sự tham dự của 18 vị Quốc vương khắp 5 xứ Thiên trúc, cùng với hơn 7.000 vị tăng Đại, Tiểu thừa và Bà la môn. Trong Đại hội này, ngài Huyền trang được mời làm Luận chủ và ngài đề xuất Chân duy thức lượng để làm nội dung cho cuộc tranh luận, rồi treo ở ngoài cửa hội trường. Nhưng qua 18 ngày, không có ai dám đứng ra tranh luận. Vua Giới nhật càng thêm tôn sùng ngài và 18 vị Quốc vương đều xin quy y làm đệ tử. Sau Đại hội ở thành Khúc nữ bế mạc, ngài Huyền trang quyết định trở về nước, vua Giới nhật cố thỉnh ngài lưu lại không được, lại triệu tập 18 vị Quốc vương đến thành Bát la na ca mở Đại hội Vô già (bố thí) trong 75 ngày để tiễn chân ngài về nước. Năm Trinh quán 17 (643), ngài Huyền trang chính thức từ biệt vua Giới nhật để lên đường hồi hương. Ngài theo con đường phía nam tỉnh Tân cương ngày nay, qua các xứ Vu điền, Lâu lan, v.v... mà về nước. Cuộc hành trình của ngài, từ khi đi đến lúc về, ròng rã 17 năm, trải qua 5 vạn dặm đường. Vào tháng giêng năm Trinh quán 19 (645), ngài về tới Trường an, vua sai trăm quan văn vũ như Lương quốc công Phòng huyền linh, v.v... tổ chức đại lễ đón rước ngài, cùng với kinh, tượng, xá lợi do ngài mang về gồm vài trăm kiện, trong đó có 657 bộ kinh tiếng Phạm. Sau khi về nước, ngài được vua Thái tông và vua Cao tông tôn sùng, tổ chức lễ cúng dường trong cung và ban hiệu Tam Tạng Pháp Sư . Vua Thái tông đã 2 lần khuyên ngài hoàn tục để giúp việc nước, ngài đều từ chối với lí do nguyện giữ giới trọn đời, hoằng dương Phật pháp để báo đáp quốc ân. Cuối cùng, vua cũng phải thuận theo chí nguyện của ngài và giúp đỡ ngài trong sự nghiệp phiên dịch kinh điển sau này. Ngài Huyền trang lần lượt ở các chùa: Hoằng phúc, Đại từ ân và cung Ngọc hoa. Trong 19 năm, ngài dịch được 75 bộ, gồm 1335 quyển kinh, luận. Trong đó, có những bộ kinh, luận chủ yếu như: Kinh Đại bát nhã 600 quyển, luận Du già sư địa 100 quyển, luận Đại tì bà sa 200 quyển, luận Câu xá, luận Thành duy thức, luận Nhiếp đại thừa. Ngài thường chê trách phương pháp dịch ý của ngài Cưu ma la thập mà đề xướng qui tắc phiên dịch trung thành với nguyên tác và dịch từng chữ. Qui tắc này đã trở thành chuẩn mực cho các nhà dịch kinh đời sau. Từ đó, các kinh được dịch trước thời ngài Huyền trang gọi là Cựu dịch (dịch cũ), từ ngài Huyền trang trở về sau gọi là Tân dịch (dịch mới). Ngoài ra, ngài còn soạn bộ Đại Đường Tây Vực Kí 12 quyển, trong đó, ngài thuật lại cuộc hành trình Tây du cầu pháp của ngài trong 17 năm, trải qua 138 quốc gia; những điều ngài thấy nghe và tìm hiểu về lịch sử, địa lí, tông giáo, văn hóa, phong thổ, sơn xuyên, sản vật, nhân tính, v.v... của những nơi mà ngài đã đi qua, đều được ghi chép rõ ràng. Bộ sách này không chỉ là một bộ du kí mà về mặt lịch sử, địa lí, văn hóa, giao thông… đều có giá trị rất lớn, vô cùng quí báu cho việc nghiên cứu về các nước Tây vực, Ấn độ và vùng Trung á, ở thời cổ đại. Vì thế, bộ sách đã được các học giả trên thế giới rất coi trọng, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngày mồng 5 tháng 2 niên hiệu Lân đức năm đầu (664) ngài thị tịch, thọ 63 tuổi(có các thuyết nói ngài thọ 65 tuổi, 69 tuổi). Nghe tin ngài tịch, vua Cao tông nhà Đường rất đau buồn, bãi triều 3 ngày. Vua ban thụy hiệu cho ngài là Đại Biến Giác và sắc lệnh xây tháp thờ ngài trên ngọn đồi ở phía bắc Phiền xuyên. Về sau, khi loạn Hoàng sào nổi lên, linh cốt của ngài được đưa về nhập tháp tại Nam kinh. Thời Thái bình thiên quốc, tháp bị đổ nát, đến khi yên định thì không còn dấu tích gì có thể nhận ra. Thời kháng chiến chống Nhật (1937-1945), người Nhật bản đến Nam kinh, sửa đường đào đất phát hiện được linh cốt của ngài, họ bèn đưa về thờ ở nước của họ. Về sau, họ trả lại một phần xương đỉnh đầu cho Trung quốc và hiện đang được thờ ở chùa Huyền trang tại đầm Nhật nguyệt, huyện Nam đầu, tỉnh Đài loan. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Tuệ lập); Đại đường tam tạng thánh giáo tự; Đại đường tây vực kí tự; Huyền trang tam tạng sư tư truyện tùng thư; Đại đường nội điển lục Q.5; Đại đường cố tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng; Tục cao tăng truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.39; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Pháp uyển châu lâm Q.29; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4].

huyền trang tự

(玄奘寺) Chùa nằm bên bờ đầm Nhật nguyệt, huyện Nam đầu, Đài loan, được sáng lập vào năm 1961, để thờ xương đỉnh đầu và xá lợi của ngài Huyền trang. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Đài loan. Năm 1952, trong thời gian Hội Hữu nghị Phật giáo thế giới nhóm họp tại Tokyo, 2 ông Cao sâm Long giới và Thương trì Tú phong người Nhật bản tuyên bố trả lại xương đỉnh đầu và xá lợi của ngài Huyền trang mà họ đã tìm thấy ở Nam kinh vào năm 1942, giới Phật giáo Trung quốc bèn xây cất chùa này để phụng thờ, kinh phí do chính phủ Đài loan giúp đỡ. Các ngài Thái thương chùa Giang thiên ở Kim sơn, ngài Đạo an chùa Tùng sơn, ngài Diễn bồi tịnh xá Phúc nghiêm, pháp sư Ngộ minh chùa Hải minh, v.v... đã lần lượt kiêm nhiệm chức Trụ trì chùa này.

huyền trung tự

(玄中寺) Chùa ở phía nam núi Thạch bích, cách huyện Giao thành thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc 15, km về mạn tây bắc, do ngài Đàm loan sáng lập vào năm Diên hưng thứ 2 (472) đời vua Văn đế nhà Bắc Ngụy. Chùa này là một trong những đạo tràng chủ yếu của tông Tịnh độ. Hiện nay được gọi là Đại long sơn thạch bích Vĩnh ninh huyền trung thiền tự. Sau ngài Đàm loan đời Bắc Ngụy thì đến các ngài Đạo xước đời Tùy, ngài Thiện đạo đời Đường nối tiếp nhau hoằng dương Tịnh độ giáo và trụ trì ngôi chùa này. Ngài Thân loan của Nhật bản cũng tiếp nhận giáo nghĩa Tịnh độ, thành lập Tịnh độ Chân tông và xem chùa này là Tổ đình. Năm Trinh nguyên 13 (797), tỉ khưu Thận vi lập giới đàn ở chùa này, được vua ban hiệu là Cam lộ vô ngại nghĩa đàn . Giới đàn này cùng với Linh cảm đàn ở Trường an và Hội thiện đàn ở Lạc dương được gọi chung là Tam đô tam giới đàn. Về sau, chùa này trở thành chùa của Luật tông, mãi đến đời Nguyên mới được đổi làm Thiền tự, gọi là Đại long sơn Thập phương hộ quốc Thạch bích Vĩnh ninh thiền tự. Trong chùa hiện còn bia của ngài Đàm loan, điện Thiên vương, lầu chuông, lầu trống, điện Phật, điện Quan âm, Khách đường, Thiền đường, Phương trượng, Tiếp dẫn đường, v.v... Ngoài ra, còn có Thiên Phật các(Gác Nghìn Phật), trong đó thờ 225 pho tượng Phật ngồi đúc bằng sắt. [X. truyện Đàm loan trong Tục cao tăng truyện Q.6, truyện Đạo xước Q.20; Sơn tây thông chí Q.168; Đại thanh nhất thống chí Q.97; Trung quốc Phật giáo sử tích đạp tra kí (Thường bàn Đại định); Trung quốc Tịnh độ giáo dữ Huyền trung tự (Đạo đoan Lương tú)].

huyền trách

(玄賾) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người huyện Kì, Thái nguyên (huyện Phần dương, tỉnh Sơn tây), họ Vương, là đệ tử nối pháp của Ngũ tổ Hoằng nhẫn. Năm Trinh quán 20 (646), ngài Huyền trang dịch bộ luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập 16 quyển, ở viện Dịch kinh chùa Hoằng phúc, thì sư giữ chức Bút thụ. Đến khi ngài Huyền trang dịch Đại Bồ tát tạng kinh 20 quyển, thì sư cùng với Hạnh hữu giữ việc nhuận sắc văn. Sau, sư vào ẩn tu tại Thọ sơn ở An châu (Hồ bắc). Năm Cảnh long thứ 2 (708), sư vâng sắc về kinh đô thụ Tam qui cho vua Trung tông. Đệ tử là Tịnh giác căn cứ vào Lăng già nhân pháp chí của sư mà soạn bộ Lăng già sư tư kí, được phát hiện tại Đôn hoàng, là tư liệu rất quí để nghiên cứu lịch sử Thiền tông. Tác phẩm: Lăng già nhân pháp chí (đã thất truyền). [X. Lăng già sư tư kí; Tục cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

huyền tông

(玄宗) Đồng nghĩa: Huyền chỉ. Tông chỉ huyền diệu, tức gọi chung Phật giáo. Bài tựa trong Chú duy ma cật kinh quyển 1 (Đại 38, 327 trung), nói: Thường sợ rằng huyền tông có thể bị những người phiên dịch làm sai lạc . Duy thức xu yếu quyển thượng phần đầu (Đại 43, 608 thượng), nói: Văn chứa huyền tông, ý hàm áo chỉ .

Huyền Tắc

(玄則, Gensoku, ?-?): nhân vật sống vào đầu thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người vùng Vệ Nam (衛南), Hoạt Châu (滑州), Tỉnh Hà Nam (河南). Ông kế thừa dòng pháp của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) ở Thanh Lương Viện (清涼院), rồi sau đó đến trú tại Báo Ân Viện (報恩院) ở Kim Lăng (金陵), nên được gọi là Báo Ân Huyền Tắc (報恩玄則). Ban đầu ông đến tham yết Thanh Phong (青峰), rồi sau đến khi tham vấn Pháp Nhãn, ông cũng được trả lời cùng câu như Thanh Phong trả lời trước kia, và lần này ông đốn ngộ. Không bao lâu sau, ông khai đường giáo hóa tại Báo Ân Viện, còn hành tung sau này của ông thì không rõ.

huyền tịch

(玄籍) Kinh sách nhiệm mầu, sâu xa, thông thường chỉ cho kinh điển của Phật giáo. Bài tựa trong Chú duy ma cật kinh (Đại 38, 327 thượng), nói: Chỗ cùng tột của âm vận là không lời, nhưng kinh sách nhiệm mầu thì đầy khắp . Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 4 (Đại 40, 148 trung), ghi: Đặt ra kinh sách nhiệm mầu để nêu tỏ chỗ sâu thẳm của tâm . [X. Tứ phần luận hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4 đoạn 1].

huyền tố

(玄素) (668-752) Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Ngưu đầu, sống vào đời Đường, người Diên lăng, Nhuận châu (tỉnh Giang tô), họ Mã, tự là Đạo thanh, vì thế cũng gọi là Mã tố, là đệ tử nối pháp của thiền sư Trí uy. Niên hiệu Như ý năm đầu (692) đời Đường, sư xuất gia ở chùa Trường thọ tại Giang ninh. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư thường tư duy về nghĩa lí huyền nhiệm, mến mộ các bậc tông tượng. Cuối đời, sư vào chùa U thê ở Thanh sơn thờ ngài Trí uy làm thầy và liễu ngộ chân tông, nhưng vẫn hiện thân tu hành cần khổ. Đối với sang hèn, oán thân đều xem bình đẳng, người đương thời tôn xưng sư là vị bồ tát Anh nhi hạnh. Khoảng năm Khai nguyên (713-742), nhận lời mời của vị tăng tên Uông mật, sư đến Kinh khẩu, sau đó, lại theo lời thỉnh cầu của quan Quận mục tên là Vi tiển, sư đến ở chùa Hạc lâm trên núi Hoàng hạc tại Nhuận châu, giới xuất gia, tại gia đều thành kính qui y, các bậc vương hầu thường lễ bái đón mời, nhưng sư không vì thế mà động tâm. Một hôm, có người đồ tể đến bái kiến sư, sám hối những tội lỗi đã làm và thỉnh sư đến nhà để được cúng dường, sư hoan hỷ nhận lời, đến nhà người đồ tể, mọi người đều kinh ngạc cho là việc kì lạ, sư bèn nói (Đại 51, 229 hạ): Phật tính bình đẳng, hiền ngu như nhau, hễ người nào độ được thì ta độ, nào có phân biệt gì? . Năm Thiên bảo 11 (752) sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Các đệ tử dựng tháp thờ sư ở phía tây núi Hoàng hạc, thụy hiệu Đại luật Thiền sư . [X. Tổ đường tập Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Tống cao tăng truyện Q.9].

huyền uyển

(玄琬) (562-636) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy Đường, người Hoằng nông, Hoa âm, sau dời đến huyện Tân phong, Ung châu, họ Dương. Sư xuất gia năm 15 tuổi, y vào ngài Đàm diên thụ giới Cụ túc, rồi theo ngài Hồng tuân học luật Tứ phần. Sư tinh thông Luật bộ và giữ giới nghiêm khắc. Sư học kinh, luận với ngài Đàm thiên và có năng khiếu giảng thuyết. Đầu năm Trinh quán (627), triều đình ban chiếu thỉnh sư thụ giới Bồ tát cho Thái tử và các Thân vương, đồng thời xây chùa Phổ quang thỉnh sư trụ trì. Sư thường dạy Thái tử 4 việc là: Thực hành từ bi, không giết hại, không tức giận và ăn chay. Vua nghe việc ấy, đặc biệt ra lệnh trong năm Trinh quán thứ 9 (635), từ tháng 3 đến tháng 9, không được sát sinh, sư tâu vua triển hạn thêm, vua chấp thuận đến cuối năm. Năm Trinh quán thứ 10 (636), sư tịch ở chùa Diên hưng, thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Phật giáo hậu đại quốc vương thưởng phạt Tam bảo pháp, An dưỡng thương sinh luận (1 quyển), Tam đức luận (1 quyển). [X. Tục cao tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.39; Thích thị kê cổ lược Q.3].

Huyền văn

(玄文): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho loại hoa văn có màu đen huyền. Như trong Sở Từ (楚辭), chương 9, phần Hoài Sa (懷沙) có câu: “Huyền văn xử u hề, mông tẩu vị chi bất chương (玄文處幽兮、矇瞍謂之不章, hoa văn đen chỗ tối chừ, mắt mờ bảo chẳng thấy rõ).” Nhà ngôn ngữ học Khương Lượng Phu (姜亮夫, 1902-1995) chú thích rằng: “Huyền văn, hắc văn dã (玄文、黑文也, huyền văn là hoa văn màu đen).” (2) Chỉ cho chiếu lịnh hay Thánh chỉ của triều đình. Như trong bài Tiêu Bái Thái Úy Dương Châu Mục Biểu (蕭拜太尉揚州牧表) của Giang Yêm (江淹, 444-505) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Huyền văn ký giáng, điêu điệp tăng huy (玄文旣降,雕牒增輝, chiếu chỉ ban xuống, điệp khắc rạng ngời).” (3) Chỉ cho văn từ thâm áo. Như trong bài Vị Long Tuyền Tự Mộ Tạo Tàng Kinh Lâu Khải (爲龍泉寺募造藏經樓啟) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn rằng: “Minh chi sĩ đại phu, tịch thừa bình chi thanh hà, vãng vãng thám bí điển, vấn huyền văn, Chi Na thạnh hữu thuật tác (明之士大夫、席承平之清暇、往往探祕典、問玄文、支那盛有述作, các nhà sĩ đại phu nhà Minh, nhân những lúc nhàn rỗi thời thái bình, học hỏi văn từ thâm áo, nên Trung Hoa có rất nhiều trước tác).” Trong Tu Hoa Nghiêm Áo Chỉ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán (修華嚴奧旨妄盡還源觀, Taishō Vol. 45, No. 1876) có đoạn: “Bị Tam Tạng chi huyền văn, bằng Ngũ Thừa chi diệu chỉ, phồn từ tất tước, khuyết nghĩa phục toàn (備三藏之玄文、憑五乘之妙旨、繁辭必削、缺義復全, đủ Ba Tạng ấy huyền văn, nương Năm Thừa ý diệu, từ nhiều bỏ bớt, nghĩa thiếu lại tròn).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có đoạn rằng: “Đại Giác di ngôn, quần sanh pháp lạc, thậm thâm áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính nhi hải tạng thu, Đế Thích khâm nhi thiên thần phủng (大覺遺言、群生法樂、甚深奧義、秘密玄文、龍王敬而海藏收、帝釋欽而天神捧, đấng Đại Giác dặn dò, chúng sanh hưởng pháp lạc, thâm sâu áo nghĩa, bí mật huyền văn, Long Vương kính trọng mà biển cả thu giữ, Đế Thích khâm phục mà thiên thần trân trọng).”

huyền y ông

(懸衣翁) Bộ hạ của Sơ giang vương trong Thập điện minh vương. Cứ theo Tịnh độ kiến văn tập, thì người chết sau 14 ngày, phải đến sảnh đường của Sơ giang vương ở âm phủ, lúc đó, Đoạt y bà lột hết quần áo của người chết, rồi đem giao cho Huyền y ông, Huyền y ông treo quần áo ấy lên cây Y lãnh, tùy theo treo cao hay thấp mà phán xét tội nghiệp của người chết là nặng hay nhẹ. [X. kinh Địa tạng bồ tát phát tâm nhân duyên thập vương Q.2].

huyền đàm

(玄談) I. Huyền Đàm. Đồng nghĩa: Huyền nghĩa, Huyền luận, Khai đề. Bàn về tựa đề, thể lệ, chỉ thú, hoặc tác giả của một bộ kinh luận nào đó, trước khi giải thích phần chính văn. Như: Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm, Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí, Khởi tín luận huyền đàm, v.v…... II. Huyền Đàm. Bàn luận một cách tổng quát về lí huyền nhiệm của Phật giáo. Như: Thập huyền đàm, v.v…... III. Huyền Đàm. Chỉ cho thuật Hoàng lão. Tức là những lời bàn luận bông lông không sát thực.

Huyền đàn

(玄壇): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho tôn xưng Chánh Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái (正一玄壇元帥, hay Kim Long Như Ý Chánh Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chơn Quân [金龍如意正一龍虎玄壇眞君]) của Thần Tài Triệu Công Minh (趙公明). Tượng của ông được vẽ đứng đạp trên con hổ đen, nên có tên là Hắc Hổ Huyền Đàn (黑虎玄壇). (2) Chỉ cho các Đạo Quán hay đàn tràng của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Nhạc Từ Trai Cung Dạ Túc (岳祠齋宮夜宿) của Nguyên Hảo Vấn (元好問, 1190-1257) nhà Kim có câu: “Huyền đàn triển suy bộ, tợ dục trục u bình (玄壇展衰步、似欲逐幽屛, đàn tràng từng bước xuống, như muốn đuổi ma binh).” Hay trong bài Kỳ Đảo (祈禱) của tác phẩm Hương Nang Ký (香囊記) do Thiệu Xán (邵璨, ?-?) nhà Minh sáng tác, có đoạn: “Vi nhân cốt nhục bệnh thương tâm, đặc quá huyền đàn khải pháp âm (爲因骨肉病傷心、特過玄壇啟法音, nhân vì cốt nhục bệnh thương tâm, mấy bận đàn tràng diễn pháp âm).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 25 cũng có đoạn: “Ư tam điện tu Kim Lục Đạo Tràng, đông thập nguyệt đế hạnh tam điện, thăng Cửu Tiên Huyền Đàn, thân thọ pháp lục (於三殿修金籙道場、冬十月帝幸三殿、昇九仙玄壇、親受法籙, nơi ba ngôi điện tu thiết Đạo Tràng Kim Lục, đến mùa Đông tháng 10, nhà vua [Võ Tông] thân hành đến ba ngôi điện ấy, lên Đàn Tràng Cửu Tiên, chính thức thọ nhận phù chú [trừ tà ma]).”

Huyền Đô

(玄都): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên nước chư hầu ngày xưa. Như trong Dật Chu Thư (逸周書), phần Sử Ký (史記) có đoạn: “Tích giả Huyền Đô hiền quỷ đạo, phế nhân sự thiên, mưu thần bất dụng, quy sách thị tùng, thần vu dụng quốc, triết sĩ tại ngoại, Huyền Đô dĩ vong (昔者玄都賢鬼道、廢人事天、謀臣不用、龜策是從、神巫用國、哲士在外、玄都以亡, xưa kia có nước chư hầu thân cận với yêu quỷ, bỏ người thờ Trời, mưu thần chẳng dùng, bói toán lại theo, thầy pháp thì trọng dụng, kẻ sĩ thì xem thường, nên nước chư hầu bị diệt vong).” (2) Là trú xứ của thần tiên trong truyền thuyết. Như trong tác phẩm Hải Nội Thập Châu Ký (海內十洲記), phần Huyền Châu (玄洲) có câu: “Thượng hữu đại Huyền Đô, tiên bá Chơn Công sở trị (上有大玄都、仙伯眞公所治, trên có cõi Huyền Đô to lớn, do vị tiên Chơn Công cai trị).” Hay trong tác phẩm Chẩm Trung Thư (枕中書) của Cát Hồng (葛洪, 284-364) nhà Tấn có giải thích rõ rằng: “Huyền Đô Ngọc Kinh Thất Bảo Sơn, châu hồi cửu vạn lí, tại Đại La chi thượng, thành thượng thất bảo cung, cung nội thất bảo đài, hữu thượng trung hạ tam cung …, thượng cung thị Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu sở trị (玄都玉京七寶山、週迴九萬里、在大羅之上、城上七寶宮、宮內七寶臺、有上中下三宮…上宮是盤古眞人元始天尊太元聖母所治, Huyền Đô ở Ngọc Kinh thuộc Thất Bảo Sơn, chu vi chín vạn dặm, nằm trên thành Đại La; trên thành có cung điện bảy báu, trong cung điện có đài bảy báu, có ba cung trên giữa dưới …, cung trên do Bàn Cổ Chân Nhân Nguyên Thỉ Thiên Tôn Thái Nguyên Thánh Mẫu cai trị).” (3) Tên gọi của một Đạo Quán nổi tiếng của Trung Quốc, tọa lạc tại khoảng giữa đỉnh núi Chúc Dung (祝融) và Trấn Nam Nhạc (南嶽鎭), thuộc Tỉnh Hồ Nam (湖南省); còn gọi là Bán Sơn Đình (半山亭), Hấp Vân Am (吸雲庵). (4) Tên gọi tắt của Huyền Đô Đàn (玄都壇), đàn tràng ngày xưa của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Huyền Đô Đàn Ca Ký Nguyên Dật Nhân (玄都壇歌寄元逸人) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Ốc tiền thái cổ Huyền Đô Đàn, thanh thạch mạc mạc tùng phong hàn (屋前太古玄都壇、青石漠漠松風寒, trước nhà cổ xưa Huyền Đô Đàn, đá xanh mù mịt gió tùng lạnh).” Thái Mộng Bậc (蔡夢弼, ?-?), học giả thời Nam Tống (南宋, 1127-1279) chú thích rằng: “Huyền Đô nãi Hán Võ Đế sở trúc, tại Trường An Nam Sơn Tý Ngọ cốc trung (玄都乃漢武帝所築、在長安南山子午谷中, Huyền Đô Đàn là do Hán Võ Đế dựng nên, nằm trong hang Tý Ngọ, thuộc Nam Sơn, Trường An).” Trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 9 cho biết rằng: “Kim cứ Cửu Thiên Sanh Thần Chương, Thái Thượng trú tại Huyền Đô Cung dã, kỳ Ngọc Thanh Cung tại Huyền Đô chi thượng (今據九天生神章、太上住在玄都宮也、其玉清宮在玄都之上, nay theo Chương Cửu Thiên Sanh Thần, Thái Thượng trú ở Huyền Đô Cung; Ngọc Thanh Cung của ngài ở trên Huyền Đô).” Hay trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 40 có đoạn: “Cung văn Hoa Nghiêm Đại Kinh, nãi Tỳ Lô căn bổn chi pháp luân, Tào Khê cổ sát, vi Lục Tổ Thiền Tông chi chánh mạch, pháp giới thị chúng Thánh chi Huyền Đô, tùng lâm tác thập phương chi quy túc (恭聞華嚴大經、乃毗盧根本之法輪、曹溪古剎、爲六祖禪宗之正脈、法界是眾聖之玄都、叢林作十方之歸宿, cúi nghe Hoa Nghiêm Đại Kinh là bánh xe pháp căn bản của Tỳ Lô, chùa cổ chốn Tào Khê là dòng mạch chính của Lục Tổ Thiền Tông, pháp giới là cõi Huyền Đô của chư vị Thánh, chốn tùng lâm làm nơi nương tựa của thập phương).”

huyền đô quán

(玄都觀) Ngôi Đạo quan (chùa của Đạo giáo) ở Trường an, trung tâm nghiên cứu và chỉnh lí kinh điển Đạo giáo (Đạo tạng) ở thời Bắc Chu.

huyền đạo

(玄道) Đạo sâu sa mầu nhiệm. Tức chỉ cho Phật đạo, Chân đế, Trung đạo đệ nhất nghĩa. Đạo này chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không, lìa tứ cú, tuyệt bách phi , dứt bặt nói năng suy nghĩ. Từ ngữ Huyền đạo vốn có xuất xứ từ Đạo đức kinh của ngài Lão tử: Đạo mà nói được thì chẳng phải là đạo thường, Danh mà gọi được thì chẳng phải là danh thường. Vô danh là đầu mối của trời đất, hữu danh là mẹ đẻ của muôn vật (...) Cả hai đồng thể mà dị danh, đều gọi là huyền , huyền lại thêm huyền là cửa của các thứ mầu nhiệm . Đạo thì vô danh, trời đất thì hữu danh, cả hai đều từ một thể mà ra, lí ấy rất sâu sa kín nhiệm, khó lường biết được, Phật giáo mượn từ huyền đạo để hiển bày lí Chân đế vô sở đắc . [X. chương Diệu tồn, chương Huyền đắc trong luận Niết bàn vô danh; Trung luận sớ Q.1; Tông kính lục Q.92].

huyền đề bảo tháp

(玄題寶塔) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tháp đá có khắc 7 chữ Na Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh do tông Nhật liên của Nhật bản làm ra. Những Huyền đề bảo tháp này thường được dựng ở bên cổng các chùa viện, nơi vệ đường, hoặc nơi xóm làng thôn ấp để cho mọi người có cơ hội được kết duyên với kinh Pháp hoa.

huyền ứng

(玄應) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Sư là người học rộng, nghe nhiều, nhớ dai, rất am tường về âm vận và giải thích văn tự. Năm Trinh quán 19 (645) ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về, thành lập dịch trường, sư cũng được mời tham dự việc dịch kinh. Tác phẩm của sư gồm có: Huyền ứng âm nghĩa (Nhất thiết kinh âm nghĩa) 25 quyển, Nhiếp đại thừa luận sớ 10 quyển, Biện trung biên luận sớ, Nhân minh nhập chính lí luận sớ 3 quyển, Đại bát nhã kinh âm nghĩa 3 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.8; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.6; Tuệ uyển âm nghĩa tự; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

huyền ứng âm nghĩa

(玄應音義) Cũng gọi Nhất thiết kinh âm nghĩa. Tác phẩm, 25 quyển (Đại đường nội điển lục quyển 5 gọi là Chúng kinh âm nghĩa, 15 quyển; Pháp uyển châu lâm quyển 100 gọi là Đại đường chúng kinh âm nghĩa, 20 quyển), do ngài Huyền ứng soạn vào đời Đường, được thu vào Trung hoa Đại tạng kinh tập 1, quyển 30. Nội dung sách này chú thích những tự cú, pháp số và âm nghĩa khó hiểu trong 458 bộ kinh luận, từ kinh Hoa nghiêm cho đến luận Thuận chính lí. Đây là bộ sách âm nghĩa xưa nhất hiện còn và mức độ giải thích rất chính xác, rất được các học giả xem trọng. Những sách được Huyền ứng âm nghĩa trích dẫn là những bộ sách rất xưa mà hiện nay phần nhiều đã bị thất lạc, như: Thương hiệt thiên, Tam thương, Thông tục văn, Tự uyển, Cổ văn, Kì tự, Tự lược, Thanh loại, Vận lược, Thiết vận, v.v... Sách này là tư liệu rất quí giá cho việc nghiên cứu về âm vận học. (xt. Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa).

Huyễn

幻; S, P: māyā; dịch âm là Ma-da; cũng được gọi là ảo ảnh;|Ảo ảnh

huyễn

(幻) Phạm:Màyà. Giả tướng. Tất cả các hiện tượng trong thế gian đều không có thể thật, mà chỉ là giả tướng huyễn hiện như trò ảo thuật. [X. phẩm Vấn huyễn trong kinh phóng quang bát nhã Q.3; luận Đại trí độ Q.55].

huyễn cấu

(幻垢) Thân tâm của chúng sinh là do 6 đại (đất, nước, lửa, gió, không và thức) giả hòa hợp mà thành, không có thực thể, thuộc về hữu lậu và nhơ nhớp, cho nên gọi là huyễn cấu. Kinh Viên giác (Đại 17, 914 hạ), nói: Này thiện nam tử! Nên biết thân tâm đều là huyễn cấu. Tướng cấu đã diệt thì mười phương thanh tịnh .

huyễn hoá

(幻化) I. Huyễn Hóa. Những sự vật do nhà ảo thuật biến hóa ra. Trong kinh điển Phật giáo, huyễn hóa thường được dùng để ví dụ các pháp không có thực thể, đều do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 101 hạ), nói: Ví như voi ngựa và các vật huyễn hóa khác, tuy biết là không thật, nhưng cũng có thể thấy, có thể nghe, đối với sáu tình (mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét) không có lẫn lộn. Các pháp cũng như thế…... II. Huyễn Hóa. Huyễn và hóa. Hai dụ trong 10 thí dụ về pháp không. Huyễn là những sự vật do nhà ảo thuật làm ra. Hóa là Phật và Bồ tát dùng sức thần thông biến hóa ra. (xt. Thập Dụ).

huyễn hoá tông

(幻化宗) Tông phái chủ trương các pháp thế tục đế đều như huyễn hóa, nhưng tâm là Đệ nhất nghĩa đế thì có thực. Là một trong Lục gia thất tông thuộc học phái Bát nhã do ngài Đạo nhất thành lập vào đời Đông Tấn. Thần nhị đế luận của ngài Đạo nhất nói: Tất cả các pháp đều như huyễn hóa, nên gọi là Thế tục đế. Còn tâm thì chân thực, là Đệ nhất nghĩa đế… . [X. Hán Ngụy Lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử (Thang tích dư)].

Huyễn Hữu Chánh Truyền

(幻有正傳, Genu Shōden, 1549-1614): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Huyễn Hữu (幻有), hiệu Nhất Tâm (一心), xuất thân vùng Lật Dương (溧陽), Ứng Thiên (應天, Lật Dương, Tỉnh Giang Tô), họ Lữ (呂). Năm 22 tuổi, ông theo xuất gia với Lạc Am (樂庵) ở Tĩnh Lạc Viện (靜樂院), Kinh Khê (荆溪, Tỉnh Giang Tô). Sau đó, ông đến tham vấn Tiếu Nham Đức Bảo (笑巖德寳) ở Quan Âm Am (觀音庵), Yến Đô (燕都, Tỉnh Hà Bắc) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm đầu (1573) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông bắt đầu khai đường thuyết pháp tại Vũ Môn Thiền Viện (禹門禪院) ở Long Trì Sơn (龍池山), Kinh Khê và sống nơi đây được 3 năm, đến năm thứ 12 thì đến Bí Ma Nham Tự (秘魔巖寺) ở Thanh Lương Sơn (清涼山) và sau đó ông còn khai sáng Phổ Chiếu Tự (普照寺) ở Yến Sơn (燕山, Tỉnh Hà Bắc). Đến ngày 14 tháng 2 năm thứ 42 (1614) niên hiệu Vạn Lịch, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 44 hạ lạp. Châu Nhữ Đăng (周汝登) soạn bài minh tháp của ông; đệ tử nối dòng pháp như Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟), Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) thì biên tập bộ Huyễn Hữu Thiền Sư Ngữ Lục (幻有禪師語錄) 12 quyển.

huyễn môn

(幻門) Pháp môn huyễn hóa. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 4 phần 1, thì Bồ tát dùng pháp môn huyễn hóa để phá trừ huyễn hoặc của chúng sinh, dùng huyễn đại bi để làm lợi ích cho huyễn hữu tình, khi công hạnh tự lợi, lợi tha đã hoàn tất, liền vào huyễn Niết bàn vô sở đắc.

huyễn sư

(幻師) Phạm:Màyà-kàra. Cũng gọi Huyễn sĩ, Huyễn nhân, Huyễn thuật sư. Nhà ảo thuật, tức là người có khả năng biến hóa ra những vật không có thật. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.5; kinh Huyễn sư bạt đà thần chú; luận Đại trí độ Q.44, Q50].

Huyễn thân

幻身; Tạng ngữ: gyulu [sGyu lus]; S: māyākāya, māyādeha;|Là thân huyễn hoá. Trong Kim cương thừa, thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Huyễn thân cũng được hiểu là một phần của Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) và một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả.

huyễn trụ am thanh quy

(幻住庵清規) Thanh qui, 1 quyển, do ngài Trung phong Minh bản soạn vào đời Nguyên, thu vào Vạn tục tạng tập 111. Nội dung chia làm 10 môn là: Nhật tư, Nguyệt tiến, Niên qui, Thế phạm, Doanh biện, Gia phong, Danh phận, Tiễn lí, Nhiếp dưỡng, Tân tống. Bộ Thanh qui này được khắc in vào năm Diên hựu thứ 4 (1317) và thực hành hàng ngày trong các tùng lâm thuộc dòng phái Thiên mục.

huyễn tướng

(幻相) Chỉ cho những hình tướng giả tạm, không có thực thể. Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nói, thì tất cả các pháp đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tuy có hình tướng nhưng đều là giả tạm, không có thực thể. (xt. Huyễn).

huyệt đẳng tâm

(穴等心) Tạng: Phug-lta-bu#i sems. Chỉ cho tâm dễ bị loạn động, không giữ được trạng thái an định lúc ban đầu. Đây là tâm thứ 58 trong 60 thứ vọng tâm phân biệt của phàm phu được liệt kê trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại nhật quyển 1. (xt. Lục Thập Tâm).

Huân hao

(焄蒿): hương vị xuất phát từ vật phẩm dâng cúng trong khi cúng tế, sau đó từ này cũng được dùng để chỉ cho việc cúng tế. Như trong bài thơ Trừ Dạ Cảm Hoài (除夜感懷) có câu: “Huân hao phụng từ sự, khổ lệ lạc tửu chi (焄蒿奉祠事、苦淚落酒巵, cúng tế phụng thờ việc, lệ đắng chén rượu rơi).” Hay trong bài thơ Long Môn (龍門) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh lại có câu: “Nhập miếu huân hao tiếp, lâm lưu tưởng tượng tồn (入廟焄蒿接、臨流想像存, vào miếu cúng tế tiếp, đến dòng tưởng tượng còn).” Trong Hoằng Minh Tập (弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2102) quyển 3, phần Thích Quân Thiện Nan (釋均善難), có đoạn: “Vi khuyến hóa chi bổn, diễn huân hao chi đáp, minh lai sanh chi nghiệm (爲勸化之本、演焄蒿之答、明來生之驗, lấy khuyến hóa làm gốc, bày cúng tế đáp đền, rõ đời sau ứng nghiệm).” Lại trong Tứ Minh Tôn Giả Giáo Hành Lục (四明尊者敎行錄, Taishō Vol. 46, No. 1937) quyển 7, phần Loa Khê Di Tháp Ký (螺谿移塔記), có câu: “Tuy nhiên học giả chi đốc, tư chi chí huân hao thê sảng (雖然學者信之篤、思之至焄蒿悽愴, tuy nhiên học giả dốc một lòng tin, nghĩ đến tận cùng cúng tế thật xót thương).”

huân lục hương thụ

(熏陸香樹) Huân lục hương, Phạm: Kundura hoặc Kunduraka. Cũng gọi Quân đỗ rô hương thụ, Quân trụ rô hương thụ, Đỗ rô hương thụ. Tên khoa học: Boswellia thurifera. Loại cây có nhựa dùng làm hương đốt. Hình dáng và mùi thơm của nhựa cây này rất giống với nhựa cây thông, nhựa cây nhỏ xuống giống như núm vú, nên cũng gọi là Nhũ hương, Nhũ đầu hương. Xưa nay hương này thường được trộn lẫn với các thứ hương khác như: An tức, Chiên đàn, Long não, Tô hợp, Đa yết la, v.v... để đốt lên cúng dường. Hiện nay người Ấn độ thường xông hương này để cho phòng ốc thơm tho, sạch sẽ. [X. kinh Khổng tước chú vương Q.hạ; Bất động sứ giả đà la ni bí mật pháp; kinh Đà la ni tập Q.10; Đại đường tây vực ký Q.11; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].

huân nỗ bối

(熏努貝) (1392-1481) Tạng: Gshon-nu-dpal. Dịch âm: Hùng nỗ phẫu. Dịch ý: Đồng tử Cát tường. Vị tăng Tây tạng thuộc phái Ca nhĩ cư. Sư từng theo học những bậc thầy của các phái đương thời, cho nên sư thông hiểu các giáo nghĩa Đại thừa, Tiểu thừa, Hiển giáo, Mật giáo. Cả đời sư chuyên nghe pháp, giảng dạy, thường đem nhị chứng Giáo và Lí để chỉ dạy, dắt dẫn người học. Ngoài ra, sư còn là một sử gia nổi tiếng. Năm 1481 sư tịch, thọ 90 tuổi. Tác phẩm: Thanh sử.

huân thiền

(熏禪): một trong bốn pháp thiền thuộc Xuất thế gian thiền. Bốn pháp thiền này gồm có: 1. Quán thiền (觀禪), 2. Luyện thiền (練禪), 3. Huân thiền (熏禪), 4. Tu thiền (修禪). Bốn pháp này thường được gọi chung là Quán luyện huân tu (觀練薰修).

huân tu

(熏修) Dùng đức để tu thân như lấy hương xông ướp y phục. Kinh Đại thừa trí ấn quyển 1 (Đại 15, 475 trung), nói: Các chúng hữu tình gần gũi Như lai và Đại bồ tát, huân tu trí tuệ, ba nghiệp cung kính . [X. kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm Q.25 (bản 80 quyển)].

huân tập

(熏習) Phạm:Vàsanà, Pravfti, Abhyàsa. Gọi tắt: Huân. Cũng giống như người dùng mùi thơm để xông ướp quần áo, thế lực của các pháp nhiễm tịnh, mê ngộ (đặc biệt chỉ cho các hành vi của 3 nghiệp: Thân, Ngữ, Ý) in sâu vào tâm thức của con người, ấy là Huân tập (xông, ướp). Kinh lượng bộ của Phật giáo Tiểu thừa chủ trương sắc (vật chất) và tâm huân tập lẫn nhau, vì thế nên có thuyết Sắc tâm hỗ huân. Nhưng hoàn thành thuyết Huân tập này thì chính lại là tông Duy thức của Đại thừa. Theo thuyết ấy thì pháp năng huân (cái do thân, ngữ, ý hiện ra) là Hiện hành , mà pháp sở huân là Tâm , tác dụng huân tập lưu lại các chủng tử: Tàn khí, tập quán, dư tập (tập khí), v.v...… trong tâm sở huân. Tông Duy thức cho rằng sự hiện hành của 7 chuyển thức là pháp năng huân, còn thức A lại da thứ 8 là nơi sở huân chứa chất các chủng tử. Mối quan hệ giữa sở huân và năng huân này là lý nhân quả nối nhau của thức A lại da. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì Sở huân và Năng huân mỗi thứ đều có 4 nghĩa. 1. Bốn nghĩa sở huân: a. Kiên trụ tính: Tính chất giữ gìn khiến cho nó được kiên cố, tồn tại, tương tục. b. Vô kí tính: Tính chất chẳng phải thiện, chẳng phải ác. c. Khả huân tính: Tính chất có khả năng chịu sự huân tập và có thể tự huân tập, nhưng chẳng phải là tự thể kiên cố bất biến. d. Năng sở hòa hợp: Tính chất của sở huân hòa hợp với năng huân. Chỉ có thức A lại da đầy đủ 4 nghĩa này. 2. Bốn nghĩa năng huân: a. Hữu sinh diệt: Tác dụng chuyển biến để sinh trưởng tập khí. b. Hữu thắng dụng: Tác dụng duyên lự, có thắng dụng mạnh mẽ và năng lực phát sinh tập khí. c. Hữu tăng giảm: Chỉ cho Thắng dụng có năng lực tăng, giảm để giữ gìn tập khí. d. Năng sở hòa hợp: Năng huân và sở huân hòa hợp. Bảy chuyển thức và các tâm sở đều có đủ 4 nghĩa này. Bảy chuyển thức đã có tác dụng năng huân, thì trong Tứ phần, chúng thuộc về phần nào? Về vấn đề này, xưa nay có các thuyết: Nhị huân (Kiến phần huân, Tướng phần huân), Tam huân tập (Danh ngôn tập khí, Ngã chấp tập khí, Hữu chi tập khí) và Tứ huân tập (Vô minh huân tập, Vọng tâm huân tập, Vọng cảnh giới huân tập và Tịnh pháp huân tập). [X. Lăng già a bạt đa la bảo kinh Q.4; luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Sở Huân Tứ Nghĩa, Năng Huân Tứ Nghĩa).

huân tửu

(葷酒) Danh từ chỉ chung cho rượu, thịt và các loại thực vật có vị cay và mùi hôi nồng như hành, tỏi, hẹ, củ kiệu, hưng cừ, v.v…... Đây là những món mà người tu hành bị cấm không được dùng. Ngoài ra, tấm bia dựng ở ngoài cổng chùa có ghi hàng chữ: Không cho người ăn thịt uống rượu (Huân tửu) vào chùa gọi là Cấm bi thạch, Giới đàn thạch, Huân tửu bài. [X. luật Tứ phần Q.15; luật Thập tụng Q.17; luận Câu xá Q.14, Q.18; Pháp uyển châu lâm Q.93]. (xt. Ngũ Tân).

Huệ Năng

(慧能hay惠能, Enō, 638-713): vị tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Hoa, họ là Lô (盧), người Phạm Dương (范陽, thuộc Tỉnh Hà Bắc ngày nay), sinh tại Tân Châu (新州, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Quảng Đông), nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師), thường được gọi là Đại Giám Huệ Năng (大鑑慧能), hay Lục Tổ Đại Sư (六祖大師). Ngay từ lúc còn nhỏ, ông đã sống trong cảnh cực khổ cơ hàn, thường hay đi hái củi nuôi mẹ. Một hôm, ông nghe có tiếng tụng Kinh Kim Cang trong chợ, bỗng nuôi chí xuất gia; sau ông đến tham yết Trí Viễn (智遠), và thể theo lời khuyên của vị nầy, năm lên 24 tuổi, ông đến tham bái Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍) ở Đông Thiền Viện (東禪院) vùng Đông Sơn (東山), Kì Châu (蘄州, thuộc Huyện Hoàng Mai, Tỉnh Hồ Bắc). Được tám tháng, ông làm bài kệ nổi tiếng “Bồ đề bổn vô thọ, minh kính diệc phi đài, bổn lai vô nhất vật, hà xứ hữu trần ai (菩提本無樹、明鏡亦非臺、本來無一物、何處有塵埃, bồ đề vốn không cây, gương sáng chẳng có đài, xưa nay chẳng một vật, nơi nào nhuốm bụi trần)”, nửa đêm đem trình cho Hoằng Nhẫn, được truyền thừa y bát và chạy trốn về phương Nam. Trong bốn năm trường, ông luôn nhớ lời thầy dạy, sống ẩn náu trong nhà người thợ săn, đến năm 677, ông đến Pháp Tánh Tự (法性寺) ở Nam Hải (南海, Tỉnh Quảng Đông), theo xuất gia với Ấn Tông (印宗), rồi bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình, và có được rất nhiều người quy ngưỡng theo ông. Đến năm 705, vua Trung Tông (中宗) sai sứ đến triệu thỉnh ông, nhưng ông cáo bệnh không nhận lời. Nhà vua lại ban sắc chỉ cho đổi Bảo Lâm Tự (寶林寺) thành Trung Hưng Tự (中興寺) và ban sắc ngạch cho Pháp Tuyền Tự (法泉寺). Ngoài ra, nhà vua còn cho biến nhà cũ của Huệ Năng thành Quốc Ân Tự (國恩寺), cho dựng nơi ấy ngôi Báo Ân Tháp (報恩塔), và vào ngày mồng 3 tháng 8 năm thứ 2 (713) niên hiệu Tiên Thiên (先天), ông thị tịch tại chùa nầy. Vào năm 816, Hoàng Đế Hiến Tông (憲宗) ban cho ông nhụ hiệu Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師), và đặt tên tháp là Nguyên Hòa Linh Chiếu Chi Tháp (元和靈照之塔). Liễu Tông Nguyên (柳宗元) soạn ra bài minh cho tháp. Đến năm 978, Hoàng Đế Thái Tông (太宗) còn ban thêm cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Thiền Sư (大鑑眞空禪師) và tên tháp là Thái Bình Hưng Quốc Chi Tháp (太平興國之塔). Đến năm 1032, Hoàng Đế Nhân Tông (仁宗) cho đem chơn thân và pháp y của Huệ Năng vào trong cung nội làm lễ cúng dường và ban cho thụy hiệu là Đại Giám Chơn Không Phổ Giác Thiền Sư (大鑑眞空普覺禪師). Vào năm 1082, Hoàng Đế Thần Tông (神宗) còn ban thêm thụy hiệu là Đại Giác Chơn Không Phổ Giác Viên Minh Thiền Sư (大覺眞空普覺圓明禪師). Hơn 40 năm trường, Huệ Năng đã từng giáo hóa ở Thiều Châu (韶州, thuộc Tỉnh Quảng Đông ngày nay) và Quảng Châu (廣州), trong đó những bài thuyết pháp của ông tại Đại Phạn Tự (大梵寺) vùng Thiều Châu, được biên tập thành văn bản dưới tên Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經) rất nỗi tiếng và được lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay. Bên cạnh đó ông còn trước tác Kim Cang Kinh Giải Nghĩa (金剛經解義) 2 quyển. Thần Tú (神秀, 605-706), người đồng môn với ông, lớn hơn ông 30 tuổi, và nhờ sự tiến cử của Thần Tú mà Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后) đã có lần cung thỉnh Huệ Năng. Thuyết cho rằng Thần Tú hủy báng việc truyền pháp được xem như là do hậu thế tạo nên, nhưng vẫn có căn cứ của nó. Thần Tú thì giáo hóa ở phương Bắc thuộc các vùng phụ cận của Trường An (長安), Lạc Dương (洛陽) với chủ nghĩa tiệm tu. Còn Huệ Năng thì bố giáo ở phương Nam với chủ nghĩa đốn tu. Đời sau, người ta gọi hai trường phái nầy là Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸), hay Nam Tông Thiền (南宗禪) và Bắc Tông Thiền (北宗禪). Về sau, Nam Tông Thiền phát triển rực rỡ cũng là nhờ có nhiều nhân vật kiệt xuất thuộc pháp hệ nầy xuất hiện. Những môn đệ xuất sắc của Huệ Năng như Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思, ?-740), Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓, 677-744), Hà Trạch Thần Hội (河澤神會, 684-760), Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺, 675-713), Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠, ?-775).

Huệ Trung

(慧忠, Echū, ?-775): người vùng Chư Kỵ (諸曁, thuộc Huyện Chư Kỵ, Phủ Thiệu Hưng, Tỉnh Triết Giang), Việt Châu (越州), họ là Nhiễm (冉). Lúc còn nhỏ ông theo Lục Tổ Huệ Năng (慧能) học đạo, và sau kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau khi Huệ Năng qua đời, ông đi tham bái các tòng lâm, từng đi qua Ngũ Lãnh (五嶺), La Phù (羅浮, thuộc Tỉnh Quảng Đông), Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), Thiên Mục (千目, Tỉnh Triết Giang), cuối cùng đi vào trong hang núi vùng Nam Dương (南陽, Tỉnh Hà Nam), và lưu lại đó suốt trong vòng 40 năm trường không hề hạ sơn. Đến năm thứ 2 (761) niên hiệu Thượng Nguyên (上元) nhà Đường, vua Đường Túc Tông (肅宗) nghe được thanh danh của ông, cho vị sắc sứ Trung Triều Tấn (中朝進) mang sắc chỉ đến triệu ông lên kinh đô và lấy lễ tôn ông làm thầy. Ban đầu ông trú tại Tây Thiền Viện ở Thiên Phước Tự (千福寺), nhưng sau vua Đại Tông (代宗) ban chiếu chỉ cho ông chuyển đến Quang Trạch Tự (光宅寺). Cả hai vị vua đều rất trọng đãi ông, nhưng Huệ Trung lại quen sống cuộc đời đạm bạc, tự nhiên, thường giao du với Nam Nhạc Huệ Tư (南岳慧思). Theo lời thỉnh cầu, ông kiến tạo Thái Nhất Kiến Xương Tự (太一建昌寺) ở Võ Đương Sơn (武當山) thuộc Quân Châu (均州), rồi sáng lập ra Hương Nghiêm Kiến Thọ Tự (香嚴建壽寺) nơi hang động mà ông từng ẩn tu, mỗi nơi ông đều thỉnh về một bộ kinh tạng để tôn thờ. Cùng với Hành Tư (行思), Hoài Nhượng (懷讓), Thần Hội (神會), Huyền Giác (玄覺), và ông là 5 bậc tông tượng lớn của môn hạ Huệ Năng. Mặc dầu Thiền phong của ông có nét đặc trưng khác với bốn vị kia, nhưng ông đã tạo nên sắc thái mới cho giới tôn giáo đương thời. Cùng với Thần Hội mà cử dương Thiền phong của mình ở phương Bắc, ông đả kích nhóm Đạo Nhất (道一) xiển bá Thiền phong ở phương Nam. Thiền phong của ông lấy Thân Tâm Nhất Như (身心一如), Tức Tâm Tức Phật (卽心卽佛) làm yếu chỉ, và bắt đầu tuyên xướng tư tưởng Vô Tình Thuyết Pháp (無情說法). Thêm vào đó, ông còn phê phán việc các Thiền giả phương nam xem nhẹ kinh điển mà tùy ý thuyết pháp; trái lại ông nghiên cứu kinh luật luận một cách rộng rãi, chú trọng đến giáo học. Ông thị tịch vào ngày mồng 9 tháng 12 năm thứ 10 (775) niên hiệu Đại Lịch (大曆). Theo chiếu chỉ nhà vua, ông được an táng tại Hương Nghiêm Tự (香嚴寺). Do vì ông đã từng sống tại Nam Dương (南陽), nên người đời thường gọi ông là Nam Dương Huệ Trung (南陽慧忠). Vua Đại Tông ban cho ông thụy hiệu là Đại Chứng Quốc Sư (大証國師).

huấn đồng hành

(訓童行) Hòa thượng trụ trì dạy bảo các hành giả nhỏ tuổi. Theo điều Huấn đồng hành trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2, thì vào các ngày mồng 1 và ngày rằm mỗi tháng, sau khi Hòa thượng trụ trì thuyết pháp xong, vị hành giả Tham đầu bảo vị hành giả Hát thực, treo bảng thông báo ở trước liêu của hành giả (Hành đường) để báo cho các hành giả ở các bộ phận được rõ. Sau khi thỉnh chuông buổi chiều, gõ 3 tiếng bảng ở trước Hành đường, các hành giả tụ tập, trước tiên lên điện Phật, kế đến xuống Tổ đường, vào Tăng đường rồi đến nhà nghỉ, đứng xếp hàng đúng theo vị trí. Lúc đó, vị Tham đầu vào phương trượng, thỉnh Hòa thượng trụ trì an tọa. Vị hành giả Tham đầu bước lên phía trước cắm hương vào lư, rồi trở về chỗ cũ, hô lên một tiếng Tham! , đại chúng thấp giọng đáp: Bất thẩm , rồi lạy 3 lạy. Sau đó lắng tâm cung kính nghe lời dạy dỗ của Hòa thượng trụ trì, nghe xong lạy 3 lạy, hành giả Tham đầu hô: Trân trọng! Đại chúng thấp giọng họa lại rồi lui. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng kí tiên].

Huệ

慧; S: prajñā; P: paññā;|Bát-nhã, Trí huệ

Huệ An

(慧安, Ean, 582-709): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Chi Giang (支江), Kinh Châu (荆州), họ Vệ (衛), còn gọi là Lão An (老安), Đạo An (道安), Đại An (大安), một trong 10 vị đệ tử lớn của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍). Ông có dung mạo đoan nhã, không hề nhiễm bụi trần, các pháp môn tu học thảy đều thông suốt. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-616) nhà Tùy, ông tập trung dân chúng, khai thông cầu đường, bao nhiêu thức ăn xin được ông đem phát cho dân nghèo. Trong khoảng thời gian niên hiệu Trinh Quán (貞觀, 627-649) nhà Đường, ông đến tham yết Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai Sơn (黃梅山) và ngộ được huyền chỉ với vị này. Vào một đêm nọ của năm thứ 2 (699) niên hiệu Thánh Lịch (聖曆) đời Võ Hậu, mưa gió dữ tợn, ông truyền thọ Bồ Tát giới cho thần Tung Sơn. Đến năm thứ 2 (706) niên hiệu Thần Long (神龍) đời vua Trung Tông, vua ban Tử Y cho ông, kính trọng như thầy, thường mời vào cung nội cúng dường trong vòng 3 năm. Vào năm thứ 3 (709) niên hiệu Cảnh Long (景龍), ông từ khước trở về Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺) và đến ngày mồng 8 tháng 3 năm này, ông thị tịch, hưởng thọ 128 tuổi. ; 慧安; 582-709|Thiền sư Trung Quốc, một trong mười vị đại đệ tử của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nối pháp của Sư có Phá Táo Ðọa, Nguyên Khuê.|Sư có dung mạo đoan chính, xuất trần, sớm thông các pháp môn tu học. Trong khoảng thời gian 627-649, Sư đến núi Hoàng Mai yết kiến Ngũ tổ và ngộ được huyền chỉ. Vua Ðường Trung Tông (năm 706) ban tử y (ca-sa tía) và dùng lễ thầy trò thỉnh vào cung điện thờ phụng ba năm. Năm 709, Sư từ biệt, trở về chùa Thiếu Lâm ở Tung Nhạc và tịch tại đây ngày mồng 8 tháng 3, thọ 128 tuổi.

Huệ Bố

(慧布, Efu, 518-587): vị tăng sống dưới thời nhà Trần thuộc Nam Triều, người vùng Quảng Lăng (廣陵, Giang Đô, Giang Tô), họ Hác (郝). Năm 21 tuổi, ông xuất gia, ban đầu theo Quỳnh Pháp Sư (瓊法師) ở Kiến Sơ Tự (建初寺) thuộc Quận Dương (楊郡) học Thành Thật Luận (成實論), sau nghe Tăng Thuyên (僧詮) ở Chỉ Quán Tự (止觀寺) thuộc Nhiếp Sơn (攝山) giảng về Trung Luận (中論), Bách Luận (百論), Thập Nhị Môn Luận (十二門論), thấu đạt huyền chỉ của 3 bộ luận này. Ông thường vui ngồi Thiền, thề không giảng thuyết, ngồi ngay ngắn như thân cây. Sau ông đến thăm Thiền Sư Huệ Khả (慧可) ở kinh đô Nghiệp, rồi du học nước Tề, viết chương sớ 6 cuốn mang về Giang Nam (江南). Sau khi trở về Dương Đô (楊都), gặp lúc Hầu Cảnh (候景) gây loạn, tuy chịu khổ nhọc, nhưng ông vẫn không hề thối chí trong việc hoằng truyền giáo pháp. Trong khoảng thời gian niên hiệu Chí Đức (至德, 583-586), ông kiến lập Thê Hà Tự (棲霞寺) ở Nhiếp Sơn, danh tiếng vang xa, cho nên vương tôn công tử đều quy y theo, kính thờ ông như Phật. Vào năm đầu (587) niên hiệu Trinh Minh (禎明), ông tuyệt thực mà thoát hóa, hưởng thọ 70 tuổi. Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 82 cho rằng ông thọ hơn 70.

Huệ chất

(蕙質): có hai nghĩa. (1) Chỉ phong cách và phẩm chất tốt đẹp của người nữ. Như trong bài Hán Võ Đế Trùng Kiến Lý Phu Nhân Phú (漢武帝重見李夫人賦) của Trần Sơn Phủ (陳山甫, ?-?) nhà Đường có câu: “Phảng phất yên quang, phiêu diêu huệ chất (彷彿煙光、飄颻蕙質, lờ mờ khói tỏa, phiêu diêu dáng hình).” (2) Chỉ thục nữ. Như trong bài thơ Chinh Nhân (征人) của Dương Hành (楊衡, ?-?) nhà Đường có câu: “Vọng vân sầu ngọc tái, miên nguyệt tưởng huệ chất (望雲愁玉塞、眠月想蕙質, trông mây buồn Ngọc Môn, gối trăng nhớ thục nữ).”

Huệ Cần Phật Giám

慧勤佛鑒; tk. 11-12|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Thanh Viễn Phật Nhãn dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Uông, xuất gia từ nhỏ, sớm tinh thông kinh sách. Nhân lúc đọc đến câu »Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng chân«, Sư bỗng nhiên có tỉnh.|Câu chuyện ngộ đạo triệt để của Sư cũng có nhiều điểm thú vị đáng được nhắc đến tường tận. Sư vốn đã tham vấn các bậc tôn túc, sau mới đến hội của Pháp Diễn tại Thái Bình và lưu lại đây. Sư tức giận vì Pháp Diễn nói quanh co không chịu ấn chứng. Sư muốn đi nơi khác nhưng Viên Ngộ khuyên ở lại rồi sẽ thấy hiệu quả. Một hôm, Sư nghe Pháp Diễn nhắc lại chuyện sau: »Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là gia phong của Hoà thượng. Triệu Châu nói: Lão tăng lãng tai hỏi to lên đi. Tăng lại hỏi to lên, Triệu Châu nói: Ông hỏi gia phong của ta, ta lại biết gia phong của ông rồi.« Sư nghe đây bỗng nhiên có tỉnh, nhưng chưa triệt ngộ, trình Pháp Diễn: »Xin Hoà thượng chỉ bày chỗ tột.« Pháp Diễn đáp: »Sum la và vạn tượng là sở ấn của một pháp.« Sư lễ bái và được phong làm thư kí. Một hôm, Sư cùng với Viên Ngộ bàn về việc Ðông Tự Như Hội (môn đệ đắc pháp của Mã Tổ) hỏi Ngưỡng Sơn về hạt minh châu trấn hải. Ðến chỗ »không lí có thể bày«, Viên Ngộ hỏi gạn Sư: »Ðã nói nhận được, đến khi đòi hạt châu, lại nói không lời có thể đáp, không lí có thể bày, là thế nào?« Sư không đáp được. Hôm sau, Sư nói với Viên Ngộ: »Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu, Ngưỡng Sơn ngay đó trút cả giỏ.« Viên Ngộ thừa nhận câu này nhưng lại khuyên Sư tham vấn, cận kề Pháp Diễn.|Một hôm, Sư đến Phương trượng của Pháp Diễn, chưa kịp nói gì đã bị Pháp Diễn mắng chửi thậm tệ. Trở về phòng, Sư đóng cửa nằm nghỉ mà tức giận Pháp Diễn vô cùng. Viên Ngộ biết thế gõ cửa vào phòng dọ hỏi, Sư bảo Viên Ngộ: »Tôi vốn không đi, bị huynh lừa nhiều lần, bị lão ấy mắng chửi.« Viên Ngộ nghe vậy bèn cười ha hả nói: »Huynh nhớ được lời ngày trước chăng?« Sư hỏi lại lời gì, Viên Ngộ bảo: »Huynh lại nói, Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu mà Ngưỡng Sơn trút cả giỏ.« Sư nhân đây triệt ngộ, tất cả mối nghi ngờ đều tan vỡ.|Sư được Pháp Diễn truyền pháp y và sau khi rời thầy, Sư hoằng hoá nhiều nơi, tông phong rất thịnh hành.|Trước khi tịch, Sư tắm gội đắp y ngồi ngay thẳng, cầm bút viết thư từ giã bạn bè. Vừa dừng bút, Sư tịch.

Huệ Giác

(慧覺, Ekaku): xem Giác Thiết Tuy (覺鐵觜, Kakutetsushi, ?-?) bên trên.

Huệ Hải

慧海|Ðại Châu Huệ Hải.

Huệ Khai

慧開|Vô Môn Huệ Khai.

Huệ Khả

(慧可, Eka, 487-593): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Tùy, xuất thân vùng Võ Lao (武牢), Lạc Dương (洛陽, thuộc Tỉnh Hà Nam), họ là Cơ (姫), tên hồi nhỏ là Thần Quang (神光), là vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Trung Hoa, còn được gọi là Tăng Khả (僧可). Hồi còn trẻ, ông học Lão Trang và Phật điển, sau đó ông đến vùng Hương Sơn (香山) thuộc Long Môn (龍門), Lạc Dương, xuất gia với Bảo Tĩnh (寳靜) và thọ giới tại Vĩnh Mục Tự (永穆寺). Về sau, ông đi tham học khắp các nơi, đến năm 23 tuổi thì trở về lại Lạc Dương, và nỗ lực tu hành trong 8 năm trường. Vào năm đầu (520) niên hiệu Chánh Quang (正光) nhà Bắc Ngụy, lúc 40 tuổi, ông đến tham vấn Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨) ở Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (嵩山少林寺), làm đệ tử của vị này và tu hành trong vòng 6 năm. Tương truyền, ban đầu khi đến gặp Đạt Ma, ông đã đứng bên ngoài thất chờ cho đến khi tuyết phủ lên đến hông mình, vậy mà vẫn không được Đạt Ma chấp nhận cho làm đệ tử. Khi ấy, Huệ Khả tự chặt lấy cánh tay mình để thể hiện tâm cầu đạo. Sau một thời gian khắc khổ tu hành, ông đến trình chỗ sở ngộ cho thầy biết, Đạt Ma hứa khả và trao truyền đại pháp cho. Sau đó, ông thuyết pháp suốt 34 năm tại kinh đô Nghiệp (thuộc Tỉnh Hà Nam) và cử xướng tông phong của mình rất mạnh mẽ. Vào năm thứ 3 (550) niên hiệu Thiên Bảo (天保) nhà Bắc Tề, ông trao truyền pháp cho đệ tử Tăng Xán (僧燦). Rồi nhân gặp nạn phá Phật (574-578) nhà Bắc Chu, ông đến ẩn cư tại Hoàn Công Sơn (皖公山), đến khi qua nạn này rồi, ông mới trở về kinh đô Nghiệp. Ông thị tịch vào ngày 16 tháng 3 năm Quý Sửu (593), năm thứ 13 niên hiệu Khai Hoàng (開皇), và được ban cho thụy hiệu là Chánh Tông Phổ Giác Đại Sư (正宗普覺大師), Đại Tổ Thiền Sư (大祖師禪). ; 慧可; C: huìkě; J: eka; 487-593;|Tổ thứ hai của Thiền tông Trung Quốc, được Bồ-đề Ðạt-ma Ấn khả. Kế thừa Sư là Tam tổ Tăng Xán. Theo truyền thuyết thì Sư đến Thiếu Lâm tự năm 40 tuổi tham vấn Bồ-đề Ðạt-ma. Ban đầu Bồ-đề Ðạt-ma chẳng để ý đến sự hiện diện của Sư, để Sư đứng trong tuyết băng nhiều ngày. Ðể chứng minh Bồ-đề tâm của mình, Sư tự chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề Ðạt-ma và từ đây Sư được nhận là môn đệ. Tắc thứ 41 trong Vô môn quan có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ-đề Ðạt-ma và Huệ Khả.|Bồ-đề Ðạt-ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói: »Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con.« Ðạt-ma bảo: »Ðưa tâm cho ta, ta sẽ an cho.« Sư đáp: »Con không thấy tâm đâu cả.« Ðạt-ma đáp: »Ta đã an tâm cho con.«|Sau sáu năm tu tập dưới sự hướng dẫn của Bồ-đề Ðạt-ma, Sư được ấn chứng, nhận y bát và từ đây Sư trở thành Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Dịp truyền pháp được ghi lại trong Truyền quang lục.|Một hôm Sư nói: »Con đã dứt hết chư duyên rồi« Tổ hỏi: »Ngươi không biến thành đoạn diệt chứ?« Sư đáp: »Chẳng thành đoạn diệt.« Tổ hỏi lại: »Lấy gì chứng minh?« Sư đáp: »Rõ ràng thường biết, nói không thể được.« Tổ hài lòng, đáp: »Ðó là chỗ bí quyết tâm truyền của tất cả chư Phật, ngươi chớ nghi ngờ gì.«|Trước khi đến Bồ-đề Ðạt-ma thụ pháp, Sư tên là Thần Quang, chuyên học Nho, Lão Trang (Lão Tử, Trang Tử) và kinh sách Phật pháp. Cái hiểu biết từ sách vở này không thoả mãn lòng quyết đạt chính giác. Vì vậy Sư chú tâm đến việc tu tập Thiền định, quyết chứng nhận trực tiếp chân lí được tả trong kinh luận. Sau khi được truyền tâm ấn, Sư sống ẩn dật đây đó vì chưa muốn thâu nhận môn đệ và tập trung tâm sức nghiên cứu kinh Nhập Lăng-già theo lời khuyên của Bồ-đề Ðạt-ma. Sư lang thang đây đó, uống rượu ăn thịt, có những hành động như phàm phu. Có người hỏi vì sao thầy tu mà làm những việc này, Sư thản nhiên trả lời: »Ta tu tâm mặc ta, có liên can gì đến ngươi.«|Dầu vậy, Sư vẫn tuỳ duyên hoằng hoá và tương truyền rằng Sư có biệt tài thuyết pháp, dân chúng thường đến rất đông để nghe. Có một ông sư có thái độ chống báng, sai chú tiểu đến dọ chân tướng Sư, nhưng chú này vừa được nghe giảng cái gọi là tà đạo thì bỗng chốc chấn động tinh thần, xin lưu lại học. Vị sư lại sai chú tiểu khác đi gọi chú trước về, nhưng chú sau cũng biến luôn và cứ như thế thêm mấy chú nữa. Sau này, vị sư tình cờ gặp lại chú tiểu đầu tiên, quở: »Sao chú để ta kêu gọi nhiều lần? Ta chẳng tốn công mở mắt cho chú sao?« Chú tiểu đáp: »Mắt của tôi từ bao giờ vẫn thẳng, chỉ vì ông nên nó đâm ra lé!«|Những thành tích trong việc giáo hoá này gây sự bất bình ganh tị của những vị sư khác. Họ phong tin rằng Sư truyền bá tà giáo và thưa việc này cho quan trên. Sư bị bắt và sau đó bị xử trảm. Sư thản nhiên thuận theo, cho rằng đúng với luật nhân quả Sư có một món nợ phải trả. Việc này xảy ra năm 593, Sư thọ 106 tuổi.

Huệ Lâm Tông Bổn

(慧林宗本, Erin Sōhon, 1020-1099): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, hiệu là Pháp Không (法空), người vùng Vô Tích (無錫), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), họ là Quản (管). Năm lên 19 tuổi, ông theo hầu Đạo Thăng (道昇) ở Thừa Thiên Vĩnh An Viện (承天永安院) thuộc Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô). Sau 10 năm, ông xuống tóc xuất gia và thọ giới, sau đó ông du phương tham học. Trước hết ông đến tham yết Nghĩa Hoài (義懷) ở Cảnh Đức (景德), Trì Châu (池州, Tỉnh An Huy) và được khế ngộ. Đến khi Nghĩa Hoài chuyển đến Thiên Y Sơn (天衣山) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang) và Tiến Phước Tự (薦福寺) ở Thường Châu, ông cũng đi theo hầu thầy. Sau ông bắt đầu hoạt động truyền bá tông phong ở Thoại Quang Tự (瑞光寺) vùng Tô Châu, rồi chuyển sang Tịnh Từ Tự (淨慈寺). Vào năm thứ 5 (1082) niên hiệu Nguyên Phong (元豐) nhà Tống, thể theo lời thỉnh cầu của vua Thần Tông (神宗), ông đến trú trì Đại Tướng Quốc Tự Từ Lâm Thiền Viện (大相國寺慈林禪院) ở Đông Kinh (東京). Ông còn được vua Triết Tông (哲宗) ban cho hiệu là Viên Chiếu Thiền Sư (圓照禪師). Vào ngày 27 tháng 12 năm thứ 2 (1099) niên hiệu Nguyên Phù (元符), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời và 50 hạ lạp. Bản Huệ Lâm Tông Bổn Thiền Sư Biệt Lục (慧林宗本禪師別錄) hiện còn lưu hành.

Huệ Lăng

慧稜|Trường Khánh Huệ Lăng.

huệ mân

(惠旻) (573-649) Vị cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Hà đông, tự Huyền tố. Năm 9 tuổi, sư bắt đầu học Phật, tu tập giáo nghĩa Pháp hoa. Năm 15 tuổi, sư theo ngài Huyền quang, vị tăng người Tân la, học luận Thành thực. Năm 17 tuổi, sư giảng kinh Pháp hoa ở chùa Quang hưng tại Hải diêm,người đến nghe rất đông. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo ngài Trúc viên chí học luật Thập tụng và các bộ luật khác. Sau, sư ở chùa Thông huyền tại đất Ngô, suốt 17 năm không ra khỏi viện, siêng tu đạo nghiệp. Năm Trinh quán 33 (649) sư thị tịch, thọ 77 tuổi. Sư có các trứ tác: Thập tụng tư kí 13 quyển; Đạo tục Bồ tát giới nghĩa sớ 4 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.22; Lục học tăng truyện Q.19].

Huệ mạng

(s: āyuṣmat, p: āyasmant, 慧命): ý dịch là cụ thọ mạng (具壽命), cụ thọ (具壽); cũng là từ tôn xưng đối với vị Tỳ Kheo cao đức, còn gọi là huệ thọ (慧壽). Giống như sắc thân thì nương tựa vào ăn uống để nuôi dưỡng, Pháp Thân lấy trí tuệ làm thọ mạng nuôi dưỡng; nên mạng của trí tuệ bị thương tổn thì thể của Pháp Thân mất đi. Vì tuệ là thọ mạng của Pháp Thân, nên được gọi là tuệ [huệ] mạng. Như trong Tăng Già Tra Kinh (僧伽吒經, Taishō Vol. 13, No. 423) quyển 1 có đoạn: “Nhất thời Bà Già Bà, tại Vương Xá Thành Linh Thứu Sơn trung, cọng Ma Ha Tỳ Kheo tăng nhị vạn nhị thiên nhân câu, kỳ danh viết, huệ mạng A Nhã Kiều Trần Như, huệ mạng Ma Ha Mô Già Lược, huệ mạng Xá Lợi Tử, huệ mạng Ma Ha Ca Diếp, huệ mạng La Hầu La, huệ mạng Bà Câu La, huệ mạng Bạt Đà Tư Na, huệ mạng Hiền Đức, huệ mạng Hoan Hỷ Đức, huệ mạng Võng Chỉ, huệ mạng Tu Phù Đế, huệ mạng Nan Đà Tư Na (一時婆伽婆、在王舍城靈鷲山中、共摩訶比丘僧二萬二千人俱、其名曰慧命阿若憍陳如、慧命摩訶謨伽略、慧命舍利子、慧命摩訶迦葉、慧命羅睺羅、慧命婆俱羅、慧命跋陀斯那、慧命賢德、慧命歡喜德、慧命網指、慧命須浮帝、慧命難陀斯那, một thưở nọ đức Bà Già Bà, ở trong núi Linh Thứu Thành Vương Xá, cùng với đại Tỳ Kheo tăng hai vạn hai ngàn người tập trung, tên các vị đó là A Nhã Kiều Trần Như tôn kính, Ma Ha Mô Già Lược tôn kính, Xá Lợi Tử tôn kính, Ma Ha Ca Diếp tôn kính, La Hầu La tôn kính, Bà Câu La tôn kính, Bạt Đà Tư Na tôn kính, Hiền Đức tôn kính, Hoan Hỷ Đức tôn kính, Võng Chỉ tôn kính, Tu Phù Đế tôn kính, Nan Đà Tư Na tôn kính).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 15, phần Thỉnh Phương Sách Tạng Kinh Ký (請方册藏經記), lại có đoạn: “Chư Phật huệ mạng, phi văn tự dã; nhiên thác chi văn tự dĩ truyền; cố thiện độc giả, hóa văn tự vi huệ mạng; bất thiện độc giả, hóa huệ mạng vi văn tự (諸佛慧命、非文字也、然托之文字以傳、故善讀者、化文字爲慧命、不善讀者、化慧命爲文字, huệ mạng của chư Phật, chẳng phải là chữ nghĩa; nhưng nhờ vào chữ nghĩa mà lưu truyền; cho nên người khéo đọc thì chuyển chữ nghĩa thành huệ mạng; người không khéo đọc thì chuyển huệ mạng thành chữ nghĩa).”

Huệ Nam

慧南|Hoàng Long Huệ Nam.

Huệ Nghiêm Tông Vĩnh

(慧嚴宗永, Egon Sōei, ?-?): người biên tập bộ Tông Môn Thống Yếu (宗門統要, Shūmontōyō, hay Tông Môn Thống Yếu Tập [宗門統要集], 10 quyển). Ông đã từng hoạt động bố giáo tại Kiến Cốc (建谿, Tỉnh Phúc Kiến). Vào năm thứ 3 (1133) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), Thống Yếu Tập được san hành, rồi hai năm sau được san hành tiếp. Vào năm thứ 6 (1179) niên hiệu Thuần Hy (淳熙) có san hành bản nhà Tống và nó là tác phẩm lớn nhất có ảnh hưởng của tập công án, nên sau này đã tạo ảnh hưởng không ít cho Liên Đăng Hội Yếu (聯燈會要). Đến thời nhà Nguyên, Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) có biên tập bộ Tông Môn Thống Yếu Tục Tập (宗門統要續集).

Huệ Nhiên

慧然|Tam Thánh Huệ Nhiên.

Huệ Nhãn, Tuệ Nhãn

(慧眼): có ba nghĩa khác nhau. (1) Là thuật ngữ Phật Giáo, chỉ cho một trong Ngũ Nhãn (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼), tức là con mắt trí tuệ của Nhị Thừa; cũng chỉ chung cho trí tuệ có thể chiếu thấy rõ thật tướng của các pháp. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475), quyển Trung, Phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn (入不二法門品) có giải thích về Huệ Nhãn rằng: “Thật kiến giả thượng bất kiến thật, hà huống phi thật, sở dĩ giả hà ? Phi nhục nhãn sở kiến, Huệ Nhãn nãi năng kiến, nhi thử Huệ Nhãn, vô kiến vô bất kiến, thị vi nhập Bất Nhị pháp môn (實見者尚不見實、何況非實、所以者何、非肉眼所見、慧眼乃能見、而此慧眼、無見無不見、是爲入不二法門, cái thấy thật còn không thấy thật thay, huống gì chẳng phải thật, vì cớ sao vậy ? Chẳng phải mắt thịt thấy được, mà Huệ Nhãn [con mắt trí tuệ] mới có thể thấy, mà Huệ Nhãn này, không thấy và không phải không thấy, đó là đi vào pháp môn Không Hai).” Hay trong bài thơ Tặng Am Trung Lão Tăng (贈庵中老僧) của Đường Thuận Chi (唐順之, 1507-1560) nhà Minh có câu: “Nghiệp tịnh Lục Căn thành Huệ Nhãn, thân vô nhất vật ký mao am (業淨六根成慧眼、身無一物寄茅庵, nghiệp sạch Sáu Căn thành Huệ Nhãn, thân không một vật gởi am tranh).” Trong Viên Giác Kinh Giáp Tụng Tập Giải Giảng Nghĩa (圓覺經夾頌集解講義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 253) còn cho biết rằng: “Thâm ngộ luân hồi tức Huệ Nhãn, phân biệt tà chánh tức Pháp Nhãn; nhiên Huệ Nhãn chứng chơn, Pháp Nhãn đạt sự; hựu Huệ Nhãn tức Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức Hậu Đắc Trí (深悟輪迴卽慧眼、分別邪正卽法眼、然慧眼證眞、法眼達事、又慧眼卽根本智、法眼卽後得智, biết sâu luân hồi tức là Huệ Nhãn, phân biệt đúng sai tức là Pháp Nhãn; tuy nhiên Huệ Nhãn thì chứng chơn, Pháp Nhãn thì đạt về sự; lại nữa, Huệ Nhãn tức là Căn Bản Trí, Pháp Nhãn tức là Hậu Đắc Trí).” (2) Nhãn lực nhạy bén, tinh anh. Như trong tập Âu Bắc Thi Thoại (甌北詩話), bài Ngô Mai Thôn Thi (吳梅村詩) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh có câu: “Thử thi nhân huệ nhãn, thiện ư thủ đề xứ (此詩人慧眼、善於取題處, con mắt nhạy bén của nhà thơ này, khéo ở chỗ nắm bắt đề tài).” Hay trong tập Dạ Thu Vũ Đăng Lục (夜雨秋燈錄), Truyện A Hàn (阿韓傳) của tiểu thuyết gia Tuyên Đỉnh (宣鼎, 1832-1880) nhà Thanh lại có câu: “Nhi Hàn năng ư phong trần trung độc cụ tuệ nhãn, nữ hiệp dã (而韓能於風塵中獨具慧眼、女俠也, mà trong phong trần, riêng một mình A Hàn có thể có đủ con mắt tinh anh, đúng là nữ hiệp vậy).” (3) Chỉ cho tròng mắt đẹp. Như trong tập đề vịnh Hồng Vi Cảm Cựu Ký (紅薇感舊記) do Phó Truân Cấn (傅屯艮, 1883-1930, tự Văn Lương [文渠]) sáng tác, có câu: “Năng tương huệ nhãn khán tài tử, khảng khái bi ca úy tịch liêu (能將慧眼看才子、慷慨悲歌慰寂寥, thường lấy mắt đẹp nhìn tài tử, hăng hái buồn ca sợ tịch liêu).”

Huệ nhật

(慧日): mặt trời trí tuệ. Trí tuệ của Phật có thể chiếu sáng những nơi tối tăm, u ám của thế gian, cho nên được ví như là mặt trời. Như trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có câu: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 7, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25, lại có câu: “Huệ nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa (慧日破諸闇、能伏災風火, trời tuệ phá tối tăm, hàng phục tai gió lửa).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Trùng Khắc Ngũ Đăng Hội Nguyên Tự (重刻五燈會元序), cũng có đoạn: “Toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu (遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉, bèn khiến tông phong lan khắp, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đuốc soi, tối tăm sáng tỏ).”

Huệ Nhật Văn Nhã

(慧日文雅, Enichi Bunga, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, pháp từ của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文). Ông đã từng sống tại Huệ Nhật Tự (慧日寺) ở Lô Sơn (蘆山) và tận lực cử xướng tông phong của mình.

Huệ nhật, tuệ nhật

(慧日): mặt trời trí tuệ. Trí tuệ của Phật có thể chiếu sáng những nơi tối tăm, u ám của thế gian, cho nên được ví như là mặt trời. Trong Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh (佛說無量壽經, Taishō Vol. 12, No. 360) có câu: “Huệ nhật chiếu thế gian, tiêu trừ sanh tử vân (慧日照世間、消除生死雲, trời tuệ chiếu thế gian, tiêu trừ mây sanh tử).” Hay trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 7, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) thứ 25, lại có câu: “Huệ nhật phá chư ám, năng phục tai phong hỏa (慧日破諸闇、能伏災風火, trời tuệ phá tối tăm, hàng phục tai gió lửa).” Hoặc như trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 31, phần Trùng Khắc Ngũ Đăng Hội Nguyên Tự (重刻五燈會元序), cũng có đoạn: “Toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu (遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉, bèn khiến tông phong lan khắp, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đuốc soi, tối tăm sáng tỏ).” Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên Mục Lục (五燈會元目錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1564) lại có đoạn rằng: “Thích Ca bất xuất thế, Đạt Ma bất Tây lai, Phật pháp biến đại địa, đàm huyền khẩu bất khai; đương thử thời dã, ngữ ngôn văn tự tung tích bất lai, bổng hát cơ duyên phong mang bất lộ, đãi phù niêm hoa thị chúng, khiên khởi trần lận cát đằng, lập tuyết an tâm, đột xuất Hiện Tiền Công Án, toại sử tông phong quảng diễn, huệ nhật cao huyền, nhiên trường dạ chi đăng, quần hôn đốn hiểu, niêm nhất hành chi thảo, pháp giới tề quan; giá xa tu thị đả ngưu, ma chuyên khởi năng tác kính, như linh đơn nhất lạp điểm thiết thành kim, chí lý nhất ngôn chuyển phàm thành Thánh (釋迦不出世、達磨不西來、佛法遍大地、譚玄口不開、當此時也、語言文字蹤跡不來、棒喝機緣鋒芒不露、逮夫拈花示眾、牽起陳爛葛藤、立雪安心、突出現前公案、遂使宗風廣衍、慧日高懸、燃長夜之燈、群昏頓曉、拈一莖之草、法界齊觀、駕車須是打牛、磨磚豈能作鏡、如靈丹一粒點鐵成金、至理一言轉凡成聖, Thích Ca không xuất thế, Đạt Ma chẳng Tây đến, Phật pháp khắp đại địa, đàm đạo miệng chẳng bày; ngay chính lúc này, ngôn ngữ văn tự dấu tích chẳng có, đánh hét cơ duyên mũi đâm không hé, đến khi đưa hoa dạy chúng, liền khởi bày đốt dây leo, đứng tuyết an tâm, chợt xuất Hiện Tiền Công Án, bèn khiến tông phong rộng mở, trời tuệ lên cao, đốt đêm dài đèn soi, chúng mê hiểu ngộ; đưa một nhành cỏ dại, pháp giới cùng xem; cỡi xe nên tập đánh trâu, mài ngói làm sao thành kính; như linh đơn một viên điểm thép thành vàng, chí lý một lời chuyển phàm thành Thánh).” Trong Lễ Sám Văn (禮懺文, Taishō Vol. 85, No. 2854) có câu: “Nhược dục sám hối giả, đoan tọa quán thật tướng, chúng tội như sương lộ, huệ nhật năng tiêu trừ; thị cố ưng chí tâm, cần sám Lục Căn tội (若欲懺悔者、端坐觀實相、眾罪如霜露、慧日能消徐、是故應至心、懃懺六根罪, nếu muốn hành sám hối, ngồi ngay quán thật tướng, các tội như sương móc, trời tuệ thể tiêu trừ; cho nên phải chí tâm, siêng sám tội Sáu Căn).”

Huệ Năng

慧能; C: huìnéng; J: enō; 638-713;|Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Quốc, môn đệ và pháp tự của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Trước Huệ Năng, Thiền còn mang nặng ảnh hưởng Ấn Ðộ nhưng đến đời Sư, Thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng Sư mới thật sự là người Tổ khai sáng của Thiền Trung Quốc. Huệ Năng không chính thức truyền y bát cho ai, nên sau đó không còn ai chính thức là truyền nhân. Tuy nhiên Sư có nhiều học trò xuất sắc. Môn đệ chính là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng là hai vị Thiền sư dẫn đầu hầu như toàn bộ các dòng Thiền về sau. Cả hai dòng này cũng được truyền đến Việt Nam qua Thảo Ðường, Nhất Cú Tri Giáo, Vô Ngôn Thông, Chuyết Công.|Sư là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là »Kinh,« một danh từ thường chỉ được dùng chỉ những lời nói, bài dạy của đức Phật, đó là Lục tổ Ðại sư Pháp bảo đàn kinh, một tác phẩm với ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Cũng nhờ Pháp bảo đàn kinh, người ta biết được ít nhiều về lịch sử của Huệ Năng. Sư sinh trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, lớn lên giúp mẹ bằng cách bán củi. Một hôm, trong lúc bán củi, nghe người ta tụng kinh Kim cương, Sư bỗng nhiên có ngộ nhập. Nghe người đọc kinh nhắc đến Hoằng Nhẫn, Sư liền đến tìm học. Hoằng Nhẫn nhận ra ngay căn cơ của Sư, nhưng không truyền pháp ngay, bắt tiếp tục chẻ củi, vo gạo. Truyền thuyết nổi tiếng về việc truyền tâm ấn cho Huệ Năng và việc phân đôi hai phái Thiền Nam-Bắc được kể lại như sau:|Hoằng Nhẫn biết tới lúc mình phải tìm người kế thừa nên ra lệnh cho học trò mỗi người viết kệ trình bày kinh nghiệm giác ngộ. Cuối cùng chỉ có Thần Tú, một đệ tử với tri thức xuất sắc mới dám làm. Thần Tú viết bài kệ, so sánh thân người như cây Bồ-đề và tâm như tấm gương sáng và người tu hành phải lo lau chùi, giữ tấm gương luôn luôn được trong sáng. Sư đang làm việc trong bếp, nghe đọc bài kệ biết người làm chưa Kiến tính. Sư cũng nhờ người viết bài kệ của mình như sau:|菩提本無樹。明鏡亦非臺|本來無一物。何處有(匿)塵埃|Bồ-đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài|Bản lai vô nhất vật, hà xứ hữu (nặc) trần ai?|*Bồ-đề vốn chẳng cây|Gương sáng cũng chẳng đài|Xưa nay không một vật|Nơi nào dính bụi trần?||H 28: Huệ Năng xé kinh (tranh của Lương Khải, tk. 13). Hình này không có một tích lịch sử gì, chỉ muốn nêu lên giáo pháp nằm ngoài văn tự của Thiền tông, được biểu hiện qua Lục tổ và phá sự chấp trước chữ nghĩa nằm trong kinh sách.|Nghe bài kệ, Hoằng Nhẫn biết căn cơ của Sư vượt hẳn Thần Tú, nhưng sợ di hại nên nửa đêm gọi Sư vào thất và vì Sư thuyết trọn kinh Kim cương. Ðến câu »Ðừng để tâm vướng víu nơi nào« (應無所住而生其心; ưng vô sở trụ, nhi sinh kì tâm), Sư hoát nhiên đại ngộ. Ngũ tổ truyền y bát cho Sư và khuyên đi về phương Nam. Khi tiễn Sư xuống thuyền, Tổ muốn tự chèo đưa Sư sang sông, Sư bèn nói: »khi mê thầy độ, ngộ rồi tự độ« và tự chèo qua sông.|Suốt 15 năm sau, Sư ở ẩn, và trong thời gian này vẫn là Cư sĩ. Sau đó, Sư đến chùa Pháp Tính ở Quảng Châu. Ðó là nơi sản sinh Công án nổi tiếng »chẳng phải gió, chẳng phải phướn« (Vô môn quan, công án 29). Sau khi Sư chen vào nói »tâm các ông động« thì Ấn Tông, vị sư trụ trì của chùa hỏi Sư »Nghe nói y pháp Hoàng Mai đã truyền về phương Nam, phải chăng là hành giả?« Lúc đó Sư mới nhận mình là truyền nhân của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ấn Tông sai người cạo đầu cho Sư, cho Sư gia nhập Tăng-già rồi xin nhận Sư làm thầy.|Sư bắt đầu giáo hoá ở chùa Pháp Tính, về sau về Bảo Lâm tự ở Tào Khê và thành lập Nam tông, trong lúc đó Thần Tú và đệ tử thành lập Bắc tông và cũng tự nhận là truyền nhân của Ngũ tổ. Nam tông cho rằng, giác ngộ là một sự nhảy vọt bất ngờ, mang tính trực giác trong lúc Bắc tông chủ trương dùng suy luận, tu tập dần dần theo chỉ dạy của kinh sách mà giác ngộ. Trong cuộc tranh chấp giữa hai phái đốn ngộ (ngộ ngay tức khắc) và tiệm ngộ này, Nam tông đã chứng tỏ sinh lực của mình, sản sinh vô số Ðại sư và trở thành truyền phái đích thật của Phật pháp tại Trung Quốc. Phái Thần Tú chỉ vài thế hệ sau là khô kiệt.|Với Huệ Năng, được xem là người »ít học« nhất lại được truyền tâm ấn, Thiền đã qua một bước ngoặt quyết định, trở thành Thiền tông Trung Quốc với sự ảnh hưởng ít nhiều của đạo Lão. Các hiền triết Lão giáo cũng là những người cười nhạo văn tự, họ đã có ảnh hưởng lên cái »bất lập văn tự« của Thiền tông để từ sự dung hợp này, tất cả các tông phái Thiền Trung Quốc ra đời. Với Huệ Năng và các vị Ðại sư nối tiếp, Thiền tông Trung Quốc đi vào thời đại hoàng kim của đời Ðường, đời Tống. Và cho đến ngày nay, Thiền tông vẫn còn là nguồn cảm hứng sâu xa, vẫn là một pháp môn cho nhiều Phật tử.

Huệ Phương

(慧方, Ehō, 629-695): vị tổ thứ 3 của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, người vùng Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州, Giang Tô), họ Bộc (濮). Ông xuất gia ở Khai Thiện Tự (開善寺), rồi sau khi thọ Cụ Túc giới thì tập trung nghiên cứu sâu kinh luận. Sau đó, ông lên Ngưu Đầu Sơn (牛頭山), tham yết Thiền Sư Trí Nham (智巖), học các bí pháp. Trí Nham thấy căn cơ của ông có thể gánh vác chánh pháp, bèn trao truyền tâm ấn cho. Trong suốt hơn 10 năm tham học tại Ngưu Đầu Sơn, ông chưa hề hạ sơn lần nào, học chúng đến tham học rất đông. Sau ông phó chúc hậu sự cho Pháp Trì (法持), rồi tự vào trong núi ẩn tu. Vào năm đầu (695) niên hiệu Vạn Tuế (萬歳) đời Võ Hậu, ông thị tịch, hưởng thọ 67 tuổi đời và 40 hạ lạp.

Huệ Quang

(慧光, Ekō, 468-537): vị tăng sống dưới thời Bắc Ngụy, sơ tổ của Nam Đạo Phái thuộc Địa Luận Tông Trung Quốc, người đời thường gọi là Quang Thống Luật Sư (光統律師), người vùng Trường Lô (長蘆), Định Châu (定州, Hà Bắc [河北]), họ Dương (楊). Năm 13 tuổi, ông theo cha lên Lạc Dương (洛陽), theo xuất gia với Phật Đà Phiến Đa (佛陀扇多) và được người đương thời gọi là Thánh Sa Di. Ban đầu ông học Luật bộ, sau thọ Cụ Túc giới và 4 năm sau thuyết giảng Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律). Vào năm đầu (508) niên hiệu Vĩnh Bình (永平) thời Bắc Ngụy, Lặc Na Ma Đề (勒那摩提) cùng với Bồ Đề Lưu Chi (菩提流支) dịch bộ Thập Địa Kinh Luận (十地經論), ông thông qua cả 2 dịch bản, tự đọc lại Phạn bản, ngộ được yếu chỉ của kinh, nhân đó hưng khởi Địa Luận Tông. Bên cạnh đó, ông còn soạn ra Tứ Phần Luật Sớ (四分律疏), rồi viết chú sớ cho các kinh như Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Duy Ma, Thập Địa, Địa Trì, v.v. Đến cuối thời Bắc Ngụy, ông đến nhậm chức Tăng Đô ở Lạc Dương. Về sau, ông phụng chiếu chỉ vào đất Nghiệp, nhậm thêm chức Quốc Thống, nên từ đó có tên Quang Thống Luật Sư. Khi lâm chung, nơi Thiên cung hiện ra điềm lành, ông thị tịch ở Đại Giác Tự (大覺寺), hưởng thọ 70 tuổi. Trước tác của ông để lại có Huyền Tông Luận (玄宗論), Đại Thừa Nghĩa Luật Chương (大乘義律章), Nhân Vương Thất Giới (仁王七疏), Di Giáo Kinh Sớ (遺敎經疏), Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 10 quyển, Thập Địa Luận Sớ (十地論疏).

huệ quang

(惠光) (1881-1967) Vị tăng Trung quốc, người huyện Tương đàm, tỉnh Hồ nam, họ Lí, pháp danh Thánh như, biệt hiệu Phục định. Năm 11 tuổi, sư y vào hòa thượng Diệu hoa chùa Thiết lô ở huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam xuất gia, năm 13 tuổi Huệ Quả học thiền, 19 tuổi thụ giới Cụ túc ở chùa Khai phúc tại Hồ nam. Trong suốt 14 năm, sư lần lượt cầu học tại các Phật học viện: Khai phúc tại Trường sa, Vũ xương, Vũ viện ở Hồ bắc, Trung hoa ở Bắc bình và Báo ân, Quán tông ở Thất tháp. Sư từng nhập thất 4 lần để xem Đại tạng kinh, đối với các tông: Hiền thủ, Thiên thai, Tính, Tướng, Luật, Tịnh, Mật, Thiền, v.…v... sư đều thể ngộ sâu sa. Năm Dân quốc 56 (1967) sư tịch, thọ 79 tuổi. Tác phẩm: Tông môn giảng lục, Thiền học chỉ nam, Thiền học vấn đáp, Thích ca ứng hóa sử tích.

huệ quả

(惠果) (746-805) Vị cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người huyện Chiêu ứng, phủ Kinh triệu, tỉnh Thiểm tây, họ Mã, người đời gọi sư là Thanh long A xà lê. Là Tổ thứ 7 của Mật giáo được phó pháp. Sư vào đạo từ thủa nhỏ, mới đầu, sư theo ngài Đàm trinh học tập các kinh. Năm 17 tuổi, sư theo ngài Đàm trinh vào Nội đạo tràng tu tập, sư tỏ ra xuất sắc hơn người nên được ngài Tam tạng Bất không khen ngợi và truyền trao pháp yếu Tam mật. Năm 20 tuổi, sư chính thức xuất gia thụ giới Cụ túc. Sư lại thụ các pháp Thai tạng và Tô tất địa nơi ngài Huyền siêu, đệ tử của Tam tạng Thiện vô úy, thụ mật pháp Kim cương giới nơi ngài Bất không. Sư dung hội 2 pháp này mà lập ra thuyết Kim Thai Bất Nhị . Từ đó về sau, sư thường được vua Đại tông thỉnh vào Nội đạo tràng để tu pháp, đồng thời kế vị ngài Bất không làm Quán đính Quốc sư viện Đông tháp chùa Thanh long, vì thế sư cũng được gọi là Hòa thượng Thanh long. Sư lần lượt làm Quốc sư của 3 triều vua: Đại tông, Đức tông và Thuận tông, danh đức vang lừng và được bội phần sùng kính. Sư thông hiểu các kinh Hiển mật, nội ngoại và hết sức dìu dắt lớp người sau, cho nên môn đồ từ khắp nơi về học, thường đến vài nghìn người. Các vị tăng nước ngoài đến Trung quốc cầu pháp vào thời ấy, phần lớn theo sư học giáo nghĩa Mật tông. Sư từng truyền pháp cho các vị Không hải, người Nhật, Huệ nhật, Ngộ châu, v.v... người Tân la, khi trở về, các vị này đã đem Mật tông về truyền bá tại nước họ. Về sau, tông Chân ngôn Nhật bản xếp sư vào bậc thứ 8 trong 8 vị Tổ tương thừa của Mật giáo, cho nên trong lịch sử của Mật giáo sư đã chiếm một địa vị quan trọng. Hai bộ Mạn đồ la và các đạo cụ bí mật của các pháp tu khác do Không hải truyền đều là do sự chỉ dạy của sư. Niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805) sư tịch, thọ 60 tuổi. Sư Không hải vâng sắc chỉ của vua soạn văn bia. Tác phẩm của sư gồm có: Thập bát khế ấn, A xà lê đại mạn đồ la quán đính nghi quĩ, Đại nhật Như lai kiếm ấn, Kim cương giới, Kim cương danh hiệu. [X. Đại đường thanh long tự tam triều cung phụng đại đức hành trạng; Huệ quả hòa thượng hành trạng; Phật tổ thống kỉ Q.29, Q.41; Hoằng pháp đại sư ngự truyện Q.thượng; Chân ngôn truyện Q.1].

Huệ Sinh

慧生; ?-1063|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13, nối pháp Thiền sư Ðịnh Huệ.|Sư tên Lâm Khu Vũ, quê ở làng Ðông Phù Liệt. Năm lên 19, Sư xuất gia thờ Thiền sư Ðịnh Huệ ở chùa Quang Hưng làm thầy và được ấn chứng.|Sau đó, Sư du phương tham vấn đầy đủ yếu chỉ Thiền rồi trụ tại núi Trà Sơn, sau lên ngọn Bồ-đề. Ðạo hạnh của Sư từ đây lan xa. Vua Lí Thái Tông nghe danh sai sứ đến mời về kinh. Sư cố gắng từ chối nhiều lần nhưng không được, đành phải tuân lệnh vào cung. Sau khi đàm đạo với Sư, vua rất kính phục và thỉnh trụ trì chùa Vạn Tuế ở gần thành Thăng Long. Nơi đây, Sư tuỳ duyên giáo hoá học chúng cũng như các vị hiền triết trong triều đình.|Niên hiệu Gia Khánh thứ năm, Sư họp chúng nói kệ:|水火日相參。由來未可談|報君無處所。三三又三三|自古來參學。人人指爲南|若人問新事。新事月初三|Thuỷ hoả nhật tương tham|Do lai vị khả đàm|Báo quân vô xứ sở|Tam tam hựu tam tam|Tự cổ lai tham học|Nhân nhân chỉ vị Nam|Nhược nhân vấn tân sự|Tân sự, nguyệt sơ tam|*Nước lửa ngày hỏi nhau|Nguyên do chưa thể bàn|Ðáp anh không nơi chốn|Tam tam lại tam tam|Xưa nay kẻ tham học|Người người chỉ vì Nam|Nếu người hỏi việc mới|Việc mới, ngày mồng ba.|Nói xong, Sư tắm gội, thắp hương và nửa đêm viên tịch.

Huệ Trung

(慧忠, Echū, 683-769): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Đường, xuất thân vùng Thượng Nguyên (上元), Nhuận Châu (潤州, Giang Tô), họ Vương (王). Năm 23 tuổi, ông xuất gia tại Trang Nghiêm Tự (莊嚴寺), theo hầu hạ Trí Uy (智威) ở Ngưu Đầu Sơn (牛頭山) vùng Kim Lăng (金陵), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông chia tay với thầy, đi du hóa khắp nơi, rồi đến trú tại Diên Tộ Tự (延祚寺). Thường ngày ông sống rất đơn giản, chỉ một bình bát và một y mà thôi. Ông lại được thỉnh về trú trì chùa cũ Trang Nghiêm Tự, khi ấy học chúng tập trung rất đông và người kế thừa dòng pháp có đến 30, 40. Đến tháng 6 năm thứ 4 (769) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi. Bộ Thích Môn Chánh Thống (釋門正統) quyển 8 cho rằng Nam Dương Huệ Trung Thiền Sư (南陽慧忠禪師) là nhân vật đồng nhất với ông, tuy nhiên hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau. ; 慧忠|Nam Dương Huệ Trung

Huệ Trung Thượng Sĩ

慧忠上士; 1230-1291|Một nhân vật lỗi lạc trong Phật giáo Việt Nam. Thượng sĩ tên thật là Trần Quốc Tung (1230-1291), con trai trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu. Ông là anh ruột của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, anh của hoàng hậu Thiên Cảm. Thiên Cảm là vợ của vua Trần Thánh Tông và là mẹ của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ có chí khí cao siêu, khí lượng thâm trầm, dung thần nhàn nhã. Từ nhỏ ông đã sùng mộ đạo Phật, lớn lên được cử trấn đất Hồng Lộ. Năm 1251, Trần Thái Tông phong ông tước hiệu Hưng Ninh Vương. Ông cùng em là Trần Hưng Ðạo tham gia kháng chiến ba lần chống quân Nguyên Mông. Ðó là lần thứ nhất 1257-1258, lần thứ hai năm 1258 và lần thứ ba 1287-1288. Qua những lần tham gia giữ nước, ông được thăng chức Tiết Ðộ sứ, nhưng từ quan về quê sống, xưng hiệu là Huệ Trung. Dù chỉ là Cư sĩ có gia đình, nhưng ông đã theo học Phật pháp với Thiền sư Tiêu Diêu, học trò của Thiền sư Ðại Ðăng và cư sĩ Ứng Thuận Vương. Nhờ thế ông trở thành một nhà Thiền học. Trần Thánh Tông tôn ông là sư huynh và ông cũng là thầy của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ là người có bản lĩnh, không câu nệ giáo điều. Lần nọ, em gái là Thiên Cảm mời ông dùng cơm, có mặt của Trần Nhân Tông. Ông gắp thịt cá tự nhiên làm Thiên Cảm ngạc nhiên hỏi: »Anh tu thiền, ăn thịt cá sao thành Phật được?« Ông cười đáp: »Phật là Phật, anh là anh.« Trần Nhân Tông lần đó cũng thắc mắc, nhưng ngày sau có dịp, ông trả lời như sau (bản dịch của Nguyễn Lang):|無常諸法行。心疑罪便生|本來無一物。非種亦非萌|日日對境時。景景從心出|心境本來無。處處巴羅密|喫草亦喫肉。種生各所食|春來百草生。何處見罪福|Vô thường chư pháp hành|Tâm nghi tội tiện sinh|Bản lai vô nhất vật|Phi chủng diệc phi manh|Nhật nhật đối cảnh thời|Cảnh cảnh tòng tâm xuất|Tâm cảnh bản lai vô|Xứ xứ ba-la-mật|*Vạn pháp vô thường cả,|Tâm ngờ tội liền sinh.|Xưa nay không một vật,|Chẳng hạt chẳng mầm xanh.|Hằng ngày khi đối cảnh,|Cảnh đều do tâm sinh.|Tâm cảnh đều không tịch,|Khắp chốn tự viên thành.|Trần Nhân Tông nghe xong nhưng vẫn thắc mắc về chuyện tội phúc, hỏi »thế thì công phu giữ giới để làm gì«, Thượng Sĩ đọc tiếp các câu kệ (bản dịch của Nguyễn Lang):|持戒兼忍辱。招罪不招福|欲智無罪福。非持戒忍辱|如人上樹時。安中茲求危|如人不上樹。風月何所爲|Trì giới kiêm nhẫn nhục|Chiêu tội bất chiêu phúc|Dục tri vô tội phúc|Phi trì giới nhẫn nhục|Như nhân thượng thụ thời|An trung tư cầu nguy|Như nhân bất thượng thụ|Phong huyệt hà sở vi?|*Trì giới và nhẫn nhục,|Thêm tội chẳng được phúc.|Muốn siêu việt tội phúc,|Ðừng trì giới nhẫn nhục.|Như người khi leo cây,|Ðương yên tự chuốc nguy.|Nếu đừng leo cây nữa,|Trăng gió làm được gì?|Sau đó ông căn dặn Nhân Tông dừng nói những lời này ra cho kẻ sơ cơ biết.|Ngày 1 tháng 4 năm 1291, Thượng Sĩ cho kê giường ở Thiền đường tại Dưỡng Chân Trang, nằm xuôi nhắm mắt. Hầu cận khóc lóc, Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy quở »Sống chết là lẽ thường, sao lại luyến tiếc khóc than, làm náo động chân tính ta.« Nói xong, Thượng Sĩ tịch, thọ 62 tuổi.|Ông để lại rất nhiều thơ văn chỉ rõ kiến giải của một Thiền giả đắc đạo. Một trong những tác phẩm quan trọng là Huệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục do Thiền sư Pháp Loa biên soạn.

Huệ trướng

(蕙帳): phòng thất tràn đầy mùi hương nhè nhẹ của hoa Lan và Huệ. Huệ trướng còn là tên gọi khác rất hoa mỹ về bức màn the. Trong bài Bắc Sơn Di Văn (北山移文) của Khổng Nhã Khuê (孔稚珪, 447-501) nhà Tề, thời Nam Triều có câu: “Huệ trướng không hề dạ hộc oán, sơn nhân khứ hề hiểu viên kinh (蕙帳空兮夜鵠怨、山人去兮曉猨驚, màn the trống chừ đêm ngỗng oán, người núi đi chừ sáng vượn buồn).” Hay trong bài thơ Đề Định Lâm Bích Hoài Lý Thúc Thời (題定林壁懷李叔時) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống lại có câu: “Liệu lô vô phục hỏa, huệ trướng lãnh không sơn (燎爐無伏火、蕙帳冷空山, đốt lò không chút lửa, màn the lạnh núi hoang).” Hoặc trong Thanh Vận Khải Mông (聲韻啟蒙) quyển 1 có đoạn rằng: “Lâu đối các, hộ đối song, cự hải đối trường giang, dung thường đối huệ trướng, ngọc giả đối ngân công (樓對閣、戶對窗、巨海對長江、蓉裳對蕙帳、玉斝對銀釭, lầu đối với gác, cửa lớn đối với cửa sổ, biển lớn đối với sông dài, áo đẹp đối với màn thơm, chén ngọc đối với bầu đồng).”

Huệ Tín

(惠信, Eshin, 1182-?): vị Ni sống vào khoảng đầu và giữa thời đại Liêm Thương, vợ của Thân Loan (親鸞, Shinran), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo, thuộc Niigata-ken [新潟縣]); con của Binh Bộ Đại Phụ Tam Thiện Vi Giáo (三善爲敎, Miyoshi Tamenori). Bà kết hôn với Thân Loan trong thời gian vị này bị lưu đày ở vùng Việt Hậu, và hạ sanh được 3 trai và 3 gái, trong đó có Thiện Loan (善鸞, Zenran), Tín Liên Phòng (信蓮房), v.v. Sau bà cùng với Thân Loan chuyển đến sống ở vùng Quan Đông (關東, Kantō), và đã cùng chồng mình tích cực bố giáo cho đến khi trở về kinh đô. Đến cuối đời, bà quay trở về quê của mình, rồi sau khi Thân Loan qua đời thì bà đã ghi lại tất cả hành trạng cuộc đời của ông và trao lại cho người con gái của mình đang sống ở kinh đô là Ni Giác Tín (覺信, Kakushin). Trước tác của bà để lại có Huệ Tín Ni Văn Thư (惠信尼文書), 10 bức.

Huệ Tư

慧思; C: huìsī; 515-577, cũng được gọi là Nam Nhạc Tôn giả (南嶽尊者), Tư Ðại Thiền sư (思大禪師);|Cao tăng Trung Quốc, môn đệ của sư Huệ Văn và là thầy của sư Trí Khải. Vì Trí Khải sau này về núi Thiên Thai sáng lập Thiên Thai tông nên Sư được xem là Tổ thứ ba của tông này sau Long Thụ (s: nāgārjuna) và Huệ Văn.|Sư họ Lí, người Vũ Tân (nay là huyện Thượng Thái, Hà Nam). Sư xuất gia lúc còn nhỏ sau khi chiêm bao thấy một vị tăng khuyên xuất thoát tục. Sư say mê tụng đọc kinh Diệu pháp liên hoa và ngoài việc khất thực, Sư tìm đến những chỗ trống hoang vắng, ở những gò mã, động huyệt chú tâm tụng trì kinh này. Tương truyền trong thời gian này – từ 7 đến 14 tuổi – Sư tụng kinh đến nỗi bệnh cũng tự biến, mộng thấy Phổ Hiền đến xoa đầu và sau đó đầu nổi lên nhục kế (cái chóp thịt trên đầu mà các tượng Phật hay được trình bày), văn tự chưa học mà tự nhiên thông. Trong khoảng thời gian từ 15-20 tuổi, Sư thụ giới cụ túc, tìm đến các nơi tham học và nhân đây, Sư gặp Huệ Văn và được truyền pháp »Nhất tâm tam quán«, tức là quán ba tính chất của chư Pháp là »Không, giả và trung«, một trong những giáo lí then chốt của Thiên Thai tông sau này. Sư tuân theo lời dạy của Huệ Văn, tinh tiến toạ thiền. Một hôm – mặc dù vẫn đang dày công tu tập – Sư tỏ vẻ hối tiếc vì đã để tuổi đạo luống qua, dựa lưng vào tường than thở thì bỗng nhiên ngộ được chân lí, đạt »Pháp hoa tam-muội.«|Sư đặc biệt chú trọng đến việc phụng thờ Phật A-di-đà và Bồ Tát Di-lặc và nhân khi tạo kinh Bát-nhã chữ vàng, Sư làm hộp lưu li tôn trì và nguyện rằng, khi đức Di-lặc ra đời thì kinh Bát-nhã chữ vàng này sẽ xuất hiện và được tuyên dương lần nữa. Sư là một trong những người đầu tiên đưa ra thuyết »thời kì mạt pháp« là thời kì suy vong của đạo Phật. Sư cũng đặc biệt chú trọng đến việc thực hành việc Toạ thiền và cả về việc nghiên cứu giáo lí được ghi chép lại trong Tam tạng kinh điển.|Năm 554, Sư đến Quang Châu khai đường thuyết pháp, hoằng hoá suốt 14 năm và từ đây, danh tiếng vang lừng. Nhưng cũng có nhiều người ganh ghét và nhiều lần muốn ám hại Sư bằng cách đầu độc. Tại núi Ðại Tô ở phía Nam của Hà Nam, Sư truyền pháp lại cho Trí Khải Ðại sư. Năm 568, khi đến Hành Sơn ở Hồ Nam, Sư bỗng nhiên ngộ được ba tiền kiếp của mình, ở lại đây hoằng giáo mười năm và vì thế Sư cũng mang danh hiệu là Nam Nhạc Tôn giả. Vua Tuyên Ðế cũng rất khâm phục tín ngưỡng nên ban cho Sư danh hiệu Ðại Thiền sư và vì vậy Sư cũng được gọi là Tư Ðại Hoà thượng hay Tư Ðại Thiền sư.|Năm 577, Ðinh Dậu, ngày 22 tháng 6, Sư ngồi yên an nhiên thị tịch. Vị Tổ của Luật tông là Ðạo Tuyên viết về Sư như sau trong Tục cao tăng truyện: »Phụng trì Bồ Tát giới, không thị biệt thỉnh, không nhận biệt cúng. Mặc áo vải thô, lạnh thì dùng áo độn cỏ, ăn thì ngày một bữa. Thường ở núi rừng, đêm thì tư duy, ngày phu diễn, phát ngôn sâu xa. Nhân định mà phát huệ, điều này thấy rõ nơi Tôn giả Huệ Tư.«|Các tác phẩm của Sư còn được lưu lại: 1. Pháp hoa kinh an lạc hạnh nghĩa; 2. Chư pháp vô tránh tam-muội pháp môn; 3. Ðại thừa chỉ quán pháp môn; 4. Tứ thập nhị tự môn; 5. Thụ Bồ Tát giới nghi; 6. Nam Nhạc Tư Ðại Thiền sư lập thệ nguyện văn.

Huệ Tạng

慧藏|Thạch Củng Huệ Tạng

Huệ Tịch

慧寂|Ngưỡng Sơn Huệ Tịch

Huệ Viễn

(慧遠, Eon, 523-592): vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, xuất thân Đôn Hoàng (敦煌, thuộc Cam Túc [甘肅]), họ Lý (李). Năm 13 tuổi, ông theo Sa Môn Tăng Tư (僧思) xuất gia, đến năm 16 tuổi theo Luật Sư Trạm đến kinh đô Nghiệp (thuộc Lâm Chương [臨漳], Hà Bắc [河北]), học thông các kinh điển của Tiểu Thừa và Đại Thừa, rồi đến năm 20 tuổi thọ giới Cụ Túc với Pháp Thượng (法上). Sau đó, ông theo học Tứ Phần Luật (四分律) với Đại Ẩn (大隱). Không bao lâu sau, ông cùng với chúng học tăng dời về Thanh Hóa Tự (清化寺) vùng Cao Đô (高都, thuộc Tấn Thành [晉城], Sơn Tây [山西]), và mọi người cùng hợp sức nhau kiến thiết Giảng Đường. Về sau, gặp phải nạn phế kinh hủy tượng, diệt Phật, bắt buộc Sa Môn hoàn tục dưới thời vua Võ Đế của Bắc Chu, chẳng ai dám khuyên can gì cả, chỉ mình ông đến yết kiến nhà vua biện bác, thưa rằng: “Nay Bệ Hạ ỷ thế lực nhà vua, phá diệt Tam Bảo, đó là người tà kiến. A Tỳ Địa Ngục kia chẳng kể giàu nghèo, Bệ Hạ há chẳng sợ sao ?” Nhà vua nổi giận bảo: “Nếu làm cho bá tánh được vui, trẫm cũng chẳng ngại gì nỗi khổ chốn Địa Ngục”. Biết vậy, ông tránh vào trong núi, chuyên tâm tụng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, v.v. Đến khi nhà Tùy hưng thạnh, ông bắt đầu xuất hiện, khai triển pháp môn ở Lạc Ấp (洛邑), xa gần nghe tiếng ông đều quy tụ về rất đông. Ngoài ra, ông đã từng thuyết giảng các địa phương khác, rồi bao lần vâng chiếu lên Tây Kinh giảng kinh khiến cho nhà vua vui lòng, bèn sắc phong cho ông trú trì Hưng Thiện Tự (興善寺). Sau đó, ông kiến lập Tịnh Ảnh Tự (淨影寺), chuyên tâm giảng thuyết. Vì ông làm trú trì chùa này nên được gọi là Tịnh Ảnh Tự Huệ Viễn, khác với Huệ Viễn trên Lô Sơn (廬山). Vào năm thứ 12 (592) niên hiệu Khai Hoàng (開皇), ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi. Ông là vị tăng của Nam Đạo Phái thuộc Địa Luận Tông, trước tác để lại có khoảng 24 bộ và hơn 100 quyển như Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章) 26 quyển, Thập Địa Kinh Luận Nghĩa Ký (十地經論義記) 14 quyển, Hoa Nghiêm Kinh Sớ (華嚴經疏) 7 quyển, Đại Bát Niết Bàn Kinh Nghĩa Ký (大般涅槃經義記) 20 quyển, Pháp Hoa Kinh Sớ (法華經疏) 7 quyển, Duy Ma Kinh Nghĩa Ký (維摩經義記) 4 quyển, Thắng Man Kinh Nghĩa Ký (勝鬘經義記) 3 quyển, Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ (無量壽經義疏) 1 quyển, v.v. Trong số đó, Đại Thừa Nghĩa Chương được xem như là bộ bách khoa toàn thư của Phật Giáo, có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với việc nghiên cứu Phật Giáo dưới thời nhà Tùy và Đường. ; (慧遠, Eon, 334-416): vị tăng sống dười thời Đông Tấn, sơ tổ của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, người vùng Lâu Phiền (婁煩), Nhạn Môn (鴈門, thuộc Huyện Quách [崞縣], Sơn Tây [山西]), họ Cổ (賈). Năm lên 13 tuổi, ông đi du học khắp các vùng Hứa Xương (許昌), Lạc Dương (洛陽), thông hiểu các học vấn của Lão Trang. Năm 21 tuổi, ông cùng với người em là Huệ Trì (慧持) lên Hằng Sơn (恒山, Tây Bắc Khúc Dương [曲陽], Hà Bắc [河北]) nghe Đạo An (道安) giảng Kinh Bát Nhã, nhân đó ông lãnh ngộ, bèn cùng với em theo xuất gia làm đệ tử của Đạo An. Ông rất tinh thông học thuyết Tánh Không của Bát Nhã, năm 24 tuổi đăng đàn thuyết pháp, lúc ấy ông dẫn chứng 1 quyển sách của Trang Tử để nói về nghĩa thật tướng của Phật Giáo, khiến cho chúng hội thông hiểu rõ ràng. Đến năm thứ 6 (381) niên hiệu Thái Nguyên (太元), ông lên Lô Sơn (廬山), trú tại Đông Lâm Tự (東林寺) truyền bá giáo pháp, đệ tử đến nghe rất đông. Ông tập trung vào việc nghiên cứu kinh điển, thường than thở vùng đất Giang Đông chưa có đủ kinh điển, Thiền pháp chưa từng được nghe, luật tạng thiếu sót, nên sai đệ tử Pháp Tịnh (法淨), Pháp Lãnh (法領), v.v., đi tìm các kinh để truyền dịch. Cứ mỗi lần gặp được vị Tam Tạng pháp sư nào của Tây Vức, ông đều cung thỉnh về trú xứ mình. Vào năm thứ 16 (391) cùng niên hiệu trên, ông cung thỉnh vị tăng người Kế Tân (罽賓) là Tăng Già Đề Bà (s: Saṃghadeva, 僧伽提婆) đến phiên dịch A Tỳ Đàm Tâm Luận (阿毘曇心論), Tam Pháp Độ Luận (三法度論), v.v. Khi ông nghe tin Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什) đến Trung Quốc, bèn tức tốc cho các đệ tử Đạo Sanh (道生), Huệ Quán (慧觀), Đạo Ôn (道溫), Đàm Dực (曇翼), v.v., đến Trường An hầu hạ vị này, học Đại Thừa Không Quán của hệ Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹). Bên cạnh đó, ông thường dùng thư từ qua lại với La Thập để nghiên cứu trao đổi nghĩa lý kinh điển. Khi Đàm Ma Lưu Chi (s: Dharmaruci, 曇摩流支) sang Trung Hoa, ông cho đệ tử Đàm Ung (曇邕) đến tham gia dịch Thập Tụng Luật (十頌律). Ngoài ra, ông còn đích thân cung thỉnh Phật Đà Bạt Đà La (s: Buddhabhadra, 佛陀跋陀羅) đến Lô Sơn để dịch bản Đạt Ma Đa La Thiền Kinh (達磨多羅禪經). Song song với việc tuyên dương giáo học Bát Nhã của Đại Thừa, ông còn đề xướng Thiền học Tiểu Thừa. Vào năm đầu (402) niên hiệu Nguyên Hưng (元興), ông cùng với Lưu Di Dân (劉遺民) và đồng đạo hơn 100 người sáng lập Bạch Liên Xã (白蓮社), chuyên lấy việc niệm Phật cầu vãng sanh về Tịnh Độ làm pháp môn tu tập, trong suốt hơn 30 năm chưa từng hạ sơn lần nào. Vào năm thứ 2 (403) niên hiệu Nguyên Hưng, khi Hoàn Huyền (桓玄) hạ lệnh sa thải các vị Sa Môn và bắt họ phải kính trọng nhà vua, ông bèn viết cuốn Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận (沙門不敬王者論) để luận về vấn đề người xuất gia không cần phải khuất phục vương quyền, chủ trương giữ gìn truyền thống cao quý của Phật Giáo. Ông là người rất uyên thâm giáo lý Phật Giáo, lại rành tất cả sách vở, là bậc tông tượng đương thời và thậm chí còn được chư tăng ngoại quốc kính quý. Đông Lâm Tự trên Lô Sơn lúc bấy giờ là trung tâm Phật Giáo phương Nam, cùng với vùng Trường An, nơi La Thập trú ngụ, hùng bá thiên hạ. Vào năm thứ 12 (416) niên hiệu Nghĩa Hy (義熙), ông thị tịch, hưởng thọ 83 tuổi đời. Về sau, ông được các vị vua Đường Tống ban tặng cho những thụy hiệu là Biện Giác Đại Sư (辨覺大師), Chánh Giác Đại Sư (正覺大師), Viên Ngộ Đại Sư (圓悟大師), Đẳng Biến Chánh Giác Viên Ngộ Đại Sư (等徧正覺圓悟大師). Trước tác của ông có Lô Sơn Tập (廬山集) 10 quyển, Vấn Đại Thừa Trung Thâm Nghĩa Thập Bát Khoa (問大乘中深義十八科, tức Đại Thừa Đại Nghĩa Chương [大乘大義章]) 3 quyển, Minh Báo Ứng Luận (明報應論) 1 quyển, Thích Tam Báo Luận (釋三報論) 1 quyển, Biện Tâm Thức Luận (辯心識論) 1 quyển, Sa Môn Đản Phục Luận (沙門袒服論) 1 quyển, Đại Trí Độ Luận Tự (大智度論序), v.v. Đệ tử xuất chúng có Huệ Quán (慧觀), Tăng Tế (僧濟), Pháp An (法安), Đàm Ung (曇邕), Đạo Tổ (道祖), v.v. ; 慧遠; C: huìyuǎn; 334-416;|Cao tăng Trung Quốc, đệ tử của Ðạo An. Là người sáng lập tông phái tôn thờ Phật A-di-đà và thành lập Bạch Liên xã, được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Quốc. Tác phẩm quan trọng của Huệ Viễn gồm một bài luận giải về Nghiệp (s: karma), trong đó Sư nói đến từng bước chín muồi của hành động (quả báo) và một luận đề cập đến những vấn đề »linh hồn« bất tử. Sư là người đã giúp các tăng sĩ thời bấy giờ bớt các trách nhiệm thế gian đối với vương triều để chuyên tâm tu hành.|Lúc thiếu thời, Sư học Nho, Lão Tử, Trang Tử. Qua tuổi 21, Sư được Ðạo An đưa vào Tăng-già và bắt đầu học kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) và diễn giải kinh này với các khái niệm của Lão Trang. Năm 381, Sư đến Lư Sơn và sống đến cuối đời tại đó. Trong thời gian này, Lư Sơn trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng và nổi tiếng về giới luật nghiêm minh. Theo lời mời của Sư, Cao tăng người Kashmir tên là Khang Tăng Khải (s: saṅghadeva, saṅghavarman) đến Lư Sơn và dịch các tác phẩm quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) sang tiếng Hán. Sư liên hệ thường xuyên với Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) để trao đổi về các vấn đề thuộc về Kinh tạng (Tam tạng) và sự khác biệt giữa một A-la-hán (s: arhat) và một Bồ Tát (s: bodhisattva).|Năm 402, Sư tập hợp 123 tăng sĩ trước tượng Phật A-di-đà, thệ nguyện sinh vào cõi Tây phương Cực lạc và thành lập Liên phái và từ đây Sư được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông. Sư là một trong những Cao tăng Trung Quốc đầu tiên nhấn mạnh sự quan trọng của phép Thiền (s: dhyāna) trong việc tu học.

Huệ Văn

慧文; C: huìwén; tk. 5-6, cũng được gọi là Bắc Tề Tôn giả (北齊尊者);|Cao tăng Trung Quốc, sống vào thời Bắc Tề, được xem là Tổ thứ hai của Thiên Thai tông sau Long Thụ. Người nối pháp của Sư là Huệ Tư.|Sư họ Cao, người Bột Hải, thuộc tỉnh Sơn Ðông. Sư xuất gia từ nhỏ, thông minh hơn người và tinh tiến tu học. Một hôm, Sư xem luận Ðại trí độ (大智度; s: mahāprajñāpāramitā-śāstra) của Long Thụ bỗng nhiên có tỉnh và sau đó, khi đọc Trung quán luận (s: madhyamakaśāstra), phẩm Quán thánh đế đến bài kệ:|Các pháp do nhân duyên sinh ra|Ta nói tất cả đều là Không|Cũng chỉ là giả danh tạm gọi|Cũng chính là lí nghĩa Trung đạo|Sư thông suốt được huyền nghĩa Trung đạo là »Không hữu bất nhị« (空有不二). Sư từ đây căn cứ vào giáo lí của Long Thụ mà xiển dương Phật pháp. Sau, Sư đến vùng Hoàng Hà, truyền bá giáo pháp Ðại thừa, chúng theo học có hơn ngàn người. Tại Hà Nam, Sư truyền giáo pháp lại cho sư Huệ Tư, Tổ thứ ba và từ đây, mầm mống của tông Thiên Thai được hình thành.|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

Huệ Vận

(惠運, Eun, 798-869): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, họ là An Đàm (安曇), xuất thân vùng Sơn Thành (山城), là một trong 8 vị tăng sang nhà Đường (gồm Tối Trừng, Không Hải, Thường Hiểu, Viên Hành, Viên Nhân, Huệ Vận, Viên Nhân và Tông Duệ). Ban đầu ông theo học giáo học Pháp Tướng Tông với Thái Cơ (泰基) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), cũng như Trọng Kế (仲繼) ở Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji); rồi sau khi thọ giới vào năm 824 (niên hiệu Thiên Trường [天長] nguyên niên), ông đến làm môn hạ của Thật Huệ (實惠, Jitsue) thuộc Chơn Ngôn Tông. Ông đã từng làm chức Kiểm Hiệu cho việc sao chép các kinh điển tại vùng Quan Đông (關東, Kantō), rồi làm Giảng Sư ở Quan Thế Âm Tự (觀世音寺) vùng Trúc Tử (筑紫). Sau đó, vào năm 842 (niên hiệu Thừa Hòa [承和] thứ 9), ông lên thuyền sang nhà Đường. Tại Thanh Long Tự (青龍寺) ở Trường An, ông được Nghĩa Chơn (義眞) ban cho phép Quán Đảnh, và sau đó đi tuần bái khắp Ngũ Đài Sơn và Thiên Thai Sơn. Đến năm 847 (năm thứ 14 cùng niên hiệu trên), ông trở về nước, trên lên triều đình bản Bát Gia Thỉnh Lai Mục Lục (八家請來目錄). Năm sau, ông khai sáng An Tường Tự (安祥寺, Anjō-ji) ở kinh đô Kyoto. Về sau, ông được cử làm Tăng Đô, nên được gọi là An Tường Tự Tăng Đô (安祥寺僧都).

huệ vận

(惠運) (800-871) Vị tăng Nhật bản, thuộc tông Chân ngôn, người Kinh đô (Kyoto), họ An đàm thường được gọi là Tăng đô chùa An tường, là một trong 8 vị tăng Nhật bản du học ở Trung quốc vào đời Đường. Sư thụ pháp Quán đính nơi ngài Thực tuệ ở Đông tự, Nhật bản. Năm Khai thành thứ 3 (838, có thuyết nói năm Hội xương thứ 2 đời Vũ tông) đời vua Văn tông nhà Đường, sư đến Trung quốc, thụ 2 bộ Mật ấn nơi ngài Nghĩa chân ở chùa Thanh long. Mười năm sau (có thuyết nói 6 năm) sư trở về nước, thỉnh về 220 quyển kinh điển Mật giáo, trụ tại chùa An tường, sau giữ chức Biệt đương ở chùa Đông đại. Năm 871, có thuyết nói năm 869, sư tịch, thọ 72 tuổi. Sư có các tác phẩm: Bồ đề tâm giới nghi 1 quyển, Kim cương giới yếu kí 1 quyển.

Huống

况; C: kuàng; J: kyō; S: kah vādah|Thêm vào, ngoài ra, tuy nhiên, thậm chí ít hơn. Chưa tính, chưa kể đến (s: kah vadah). Thường dùng thay đổi với chữ Huống bộ Thuỷ 況.

huỳnh hoặc tinh

(熒惑星) I. Huỳnh Hoặc Tinh. Phạm:Aígàraka. Dịch âm: Áng già la ca. Cũng gọi Huỳnh hoặc thiên, Hỏa tinh, Hỏa diệu tinh, Tứ lợi tinh, Hỏa tinh tinh, Hư hán tinh, Vân hán tinh. Sao Huỳnh hoặc, một trong Cửu diệu. Hình tượng của vị thần sao này mình mặc áo da beo, bên ngoài khoác tấm da lừa, tóc, chân và môi đều mầu đỏ, có 4 tay. Hai tay bên phải, tay trên cầm thương, tay dưới cầm tên. Hai tay bên trái, tay trên cầm gươm, tay dưới cầm cung. [X. Thai tạng giới thất tập Q.hạ]. (xt. Cửu Diệu). II. Huỳnh Hoặc Tinh. Phạm: Piígala#. Dịch âm: Băng nga la. Chỉ cho Thiên bộ ở phía nam Kim cương bộ ngoại trên Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, cũng là một trong 20 vị trời của Kim cương bộ ngoài thuộc hội Tam muội da Kim cương giới. Vị tôn này cùng với Nhật thiên, thuộc hàng chư thiên trên hư không, một trong 5 loại chư thiên. Hình tượng vị tôn này là hình thiên nữ, thân mầu da người, ngồi trên tòa lá sen, tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm vòng lửa để ở trước ngực. Chân ngôn là: Án (oô) phạ nhật la (Vajra, Kim cương) băng nga la (pingala, hạt sắc) sa phạ ha (svàhà). [X. kinh Giáo vương Q.10 (bản dịch đời Tống); Hiền kiếp thập lục tôn quĩ; Bí tạng kí].

Huỳnh Tuyền

(黃泉): suối vàng. Trong văn hóa Trung Quốc, nó chỉ cho thế giới cư trú của người chết. Người xưa cho rằng trời là đen huyền, đất là màu vàng; suối thì nằm trong lòng đất, nên có tên gọi là Huỳnh Tuyền. Có thuyết cho rằng, Trung Quốc lấy lưu vực Hoàng Hà (黃河) làm trung tâm, do vì đất màu vàng nên nước suối chảy ra cũng có màu như vậy. Người Trung Quốc quan niệm rằng dưới âm phủ có chín suối nước màu vàng, nên có tên gọi Cửu Tuyền (九泉, Chín Suối). Cửu Tuyền hay Huỳnh Tuyền đều chỉ cho thế giới của người chết. Tương truyền vào thời Xuân Thu, có Trịnh Trang Công (鄭莊公) rất có hiếu với mẹ, vì mẹ bất chính nên ông có lời thề rằng: “Bất cập huỳnh tuyền bất tương kiến dã (不及黃泉無相見也, không xuống Huỳnh Tuyền thì không gặp nhau).” Trong Tạp Khúc Ca Từ (雜曲歌辭) 13 của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) quyển 73 có câu: “Kết phát đồng chẩm tịch, Huỳnh Tuyền cọng vi hữu (結髮同枕席、黃泉共爲友, nối tóc cùng gối chiếu, Huỳnh Tuyền làm bạn thân).” Hay trong bài Trường Hận Ca (長恨歌) của thi hào Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường còn có câu: “Thượng cùng bích lạc hạ Huỳnh Tuyền, lưỡng xứ mang mang giai bất kiến (上窮碧落下黃泉、兩處茫茫皆不見, trên khắp trời xanh dưới Huỳnh Tuyền, hai chốn mịt mờ nào chẳng thấy).” Theo truyền thuyết thần thoại của Nhật Bản, có quốc gia Huỳnh Tuyền tên là Dạ Kiến (夜見, Yomi). Nguyên lai, cách phát âm yomi này còn có nghĩa là yume (夢, mộng). Về sau, từ yomi này gắn liền với thế giới của người chết. Trong Cổ Sự Ký (古事記, Kojiki), sử thư tối cổ của Nhật Bản, có đề cập đến Huỳnh Tuyền Quốc (黃泉國). Thời xa xưa của Nhật Bản có tồn tại Huỳnh Tuyền Lộ (黃泉路); nó gắn liền với Vi Nguyên Trung Quốc (葦原中國, Ashihara-no-Nakatsukuni, tên gọi khác của nước Nhật) ở vùng Huỳnh Tuyền Tỷ Lương Phản (黃泉比良坂, Yomotsuhirasaka). Tương truyền chàng nam thần Y Tà Na Kì (伊邪那岐, Izanaki) đuổi theo người vợ là nữ thần Y Tà Na Mỹ (伊邪那美, Izanami) đã chết, đi qua con đường này và vào tiểu quốc Nenokatasukuni (根の堅州國, địa vức lấy An Lai Thị [安來市, Yasugi-shi], Huyện Đảo Căn [島根縣, Shimane-ken] làm trung tâm; là nguyên ngữ của Đảo Căn [島根]). Huỳnh Tuyền Tỷ Lương Phản ở gần An Lai Thị, được định vị là Đông Xuất Vân Đinh (東出雲町, Higashiizumo-chō). Tuy nhiên, Y Tà Na Kì lại lỗi hẹn với vợ, nhìn thấy người vợ xinh đẹp của mình bị con giòi ăn thịt, bèn tức giận và quay trở về. Khi ấy, để tránh người vợ và đoàn nữ binh xấu xí thủ hạ dưới Huỳnh Tuyền đuổi theo, chàng thanh niên lấy tảng đá lớn lấp con đường Huỳnh Tuyền. Tảng đá lớn này được gọi là Đạo Phản Đại Thần (道坂の大神, Chigaeshi-no-Ōkami). Nữa phần còn lại của con đường này là Y Phú Dạ Phản (伊賦夜坂, hiện tại nằm ở Đông Xuất Vân Đinh, Huyện Đảo Căn). Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng vùng đất Huỳnh Tuyền là Hùng Dã (熊野, Kumano). Quan niệm về Huỳnh Tuyền (suối vàng) cũng thịnh hành ở Việt Nam như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Đã không kẻ đoái người hoài, sẵn đây ta kiếm một vài nén hương, gọi là gặp gỡ giữa đường, họa là ng­ười dưới suối vàng biết cho.”

hy

1) Hy: Giởn—To play—Pleasure. 2) Hy hữu: Hiếm—Rare—Seldom—Few. 3) Hy vọng: To hope for.

hy cầu thi

See Hy Thiên Thi.

hy hý

Giải trí—To play—To perform.

hy hữu

Rare—Seldom—Extraordinary—Uncommon.

hy hữu nhân

Hiếm có người thọ nhận Phật Pháp, hiếm có người lầm lỗi mà biết hối lỗi, hiếm có người làm ơn mà nhớ mình làm ơn, vân vân—There are few, a sad exclamation, indicating that those who accept Buddha's teaching are few, or that those who do evil and repent, or give favours and remember favours, etc., are few.

hy kỳ

Rare and extraordinary.

hy liên hà

The river Nairanjana—See Ni Liên Thiền.

hy lân âm nghĩa

Bộ Tự Điển 10 quyển do Hy Lân đời Đường biên soạn, bổ túc cho bộ Tục Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa do Tuệ Lâm biên soạn. Âm và nghĩa đồng bộ với bộ sách của Tuệ Lâm, lại có thêm phần những từ dịch thuật bổ túc—The Dictionary (10 books) compiled by Hsi-Lin of the T'ang dynasty, supplementing the Hui-Lin-Yin-I. Sound and meaning accord with Hui-Lin, and terms used in translations made subsequent to that work are added.

hy ma đát la

Himatala (skt)—See Tuyết Sơn Hạ.

hy pháp

Adbhutadharma (skt). 1) Những việc siêu nhiên hiếm có, không thể nghĩ bàn: Supernatural things, prodigies, or miracles, which are beyond thought or discussion. 2) Một trong mười hai bộ kinh cổ điển bên Ấn Độ: One of the twelve classical books of India.

hy sinh

To sacrifice.

hy thiên thi

Hy Cầu Thi—Thi ân bố thí với hy vọng sanh Thiên hay được hưởng phước (do mong cầu được sanh lên cõi trời mà bố thí)—Giving in hope of heaven, or bliss.

hy thiên thạch đầu thiền sư

Zen master Hsi-T'ien—See Thạch Đâu Hy Thiên.

Hy Tẩu Thiệu Đàm

(希叟紹曇, Kesō Shōdon, ?-?): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Hy Tẩu (希叟), người Tây Thục (西蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), pháp từ của Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範). Vào năm thứ 9 (1249) niên hiệu Thuần Hựu (淳祐) nhà Tống, ông đến sống tại Phật Lũng Tự (佛隴寺) thuộc Phủ Khánh Nguyên (慶元府, Tỉnh Triết Giang), rồi năm đầu (1260) niên hiệu Cảnh Định (景定) thì chuyển đến Pháp Hoa Tự (法華寺) ở Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô), đến năm thứ 5 cùng niên hiệu trên thì đến Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (雪竇山資聖寺) ở Phủ Khánh Nguyên, và vào năm thứ 5 (1269) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳) thì đến Thoại Nham Sơn Khai Thiện Sùng Khánh Tự (瑞巖山開善崇慶寺) cùng địa phương trên. Các Thiền tăng Nhật Bản như Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉) đã từng đến tham vấn với ông. Trước tác của ông có Ngũ Gia Chánh Tông Tán (五家正宗贊) 4 quyển, Hy Tẩu Hòa Thượng Ngữ Lục (希叟和尚語錄) 1 quyển và Hy Tẩu Hòa Thượng Quảng Lục (希叟和尚廣錄) 7 quyển.

hy tự quỷ

Quỷ mong đợi tế tự từ con cháu còn sống của mình—Ghosts that hope for sacrificial offerings from their descendants.

hy vận

1) Sông Hiranyavati: Hiranyavati River. 2) See Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư.

hy vận hoàng bá thiền sư

Zen Master Xi-Yun Huang-Bo—See Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư.

hy vọng

Hope.

hy vọng tràn trề

To be full of hope

Hy-liên

xem A-lỵ-la-bạt-đề.

Hy-mã-lạp

xem Tuyết sơn.

1) Bông lục bình lá nhỏ: A small-leaved water-lily. 2) Tôm: Shrimp. 3) Hà Mô: Con cóc—A frog. 4) Sông: River—See Nhị Hà Ấn Ðộ. 5) Thế nào: How—What.

Hà Bá

(河伯): tên gọi của vị Thủy Thần ở Hoàng Hà (黃河) trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Về lịch sử, tên ban đầu của Hà Bá là Băng Di (冰夷), Bằng Di (馮夷), Hà Thần (河神), Vô Di (無夷). Tên gọi Hà Bá phát xuất từ thời Chiến Quốc (戰國, 403 hay 453-221 ttl.), truyền thuyết không thống nhất với nhau. Vì Hoàng Hà thường lũ lụt, gây tai họa khôn xiết, cho nên người ta cho rằng tính tình của Hà Bá cũng hung bạo. Thần thoại kể rằng Hậu Nghệ (后羿) đã từng dùng tên bắn vào mắt trái Hà Bá. Do vì ông có uy lực không thể lường, nên từ xưa đã có tập tục xấu “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, lấy đó để cầu được bình an, không hoạn nạn. Về truyền thuyết “Hà Bá Thú Phụ (河伯娶婦, Hà Bá Cưới Vợ)”, dưới thời đại Chiến Quốc, Tây Môn Báo được phái đến Nghiệp Thành (鄴城, nay thuộc Huyện Lâm Chương [臨漳縣], Tỉnh Hà Bắc [河北省]) làm quan huyện. Khi đến nơi thì không bóng người qua lại, cả ngày hoang vắng, bèn hỏi xem thử nguyên do vì sao. Có một lão già tóc bạc phơ bảo rằng đó là do vì chuyện Hà Bá cưới vợ gây nên náo loạn như vậy. Hà Bá là thần của sông Chương, hằng năm đều phải cưới một cô nương xinh đẹp. Nếu như không đem cống nạp, tất sông Chương sẽ phát sinh lũ lớn, làm cho ruộng đất, nhà cửa đều ngập trong biển nước. Nghe vậy, Tây Môn Báo biết rằng đây là câu chuyện bịa đặt của tên tham quan nào đó để xách nhiễu lòng dân. Đợi đến ngày Hà Bá Cưới Vợ năm sau, ông đến ngay tại hiện trường quan sát. Ông phát hiện con quan lớn nhỏ cùng với mấy bà đồng bóng đội lốt thần quỷ cũng có mặt. Về sau, Tây Môn Báo (西門豹) nhà Ngụy không tin vào truyền thuyết đó, cấm tuyệt không cho thờ cúng, kêu gọi dân chúng làm cầu, ngăn đê, cuối cùng dứt được sự lo âu về thủy tai. Về truyền thuyết, Hà Bá có thân người đuôi cá, tóc trên đầu màu trắng bạc, tròng mắt có màu sắc rực rỡ như ngọc Lưu Ly. Tuy nhiên, ông là người nam, có vẻ đẹp dị thường, trên thân có mùi hương thơm ngát, mới nhìn thoáng qua khoảng không quá 20 tuổi. Trong Bão Phác Tử (抱朴子), Thiên Thích Quỷ (釋鬼篇), có giải thích rằng Băng Di đi qua sông, bị chết đuối, được Thiên Đế giao cho làm Hà Bá để quản lý sông hồ. Hay như trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 4 có đoạn giải thích sự việc trên rằng: “Tống thời Hoằng Nông Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, dĩ bát nguyệt thượng Canh nhật độ hà, nịch tử; Thiên Đế thự vi Hà Bá (宋時弘農馮夷、華陰潼鄉隄首人也、以八月上庚日渡河、溺死、天帝署爲河伯, vào niên hiệu Hoằng Nông nhà Tống, có Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, nhân qua sông vào ngày Canh đầu tháng 8, bị chết đuối; Thiên Đế phong cho làm Hà Bá).” Trong tác phẩm Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō No. 2122) quyển 75 của Phật Giáo cũng có cùng nội dung tương tự như vậy. Cũng có thuyết cho rằng Hà Bá dùng 8 thứ đá (xưa kia các Đạo gia dùng 8 loại nguyên liệu bằng đá để luyện đơn, gồm Chu Sa [硃砂], Hùng Hoàng [雄黃], Thử Hoàng [雌黃], Không Thanh [空青], Vân Mẫu [雲母], Lưu Huỳnh [硫黃], Nhung Diêm [戎鹽], và Tiêu Thạch [硝石]) và thành thần, như trong Sơn Hải Kinh Hải Kinh Tân Thích (山海經海經新釋) quyển 7 có giải thích: “Bằng Di, Hoa Âm, Đồng Hương, Đê Thủ nhân dã, phục bát thạch, đắc Thủy Tiên, thị vi Hà Bá (馮夷華陰潼鄉隄首人也、服八石、得水仙、是爲河伯, Bằng Di, người Đê Thủ, Đồng Hương, vùng Hoa Âm, dùng tám loại đá, thành Thủy Tiên, đó là Hà Bá).” Vị thần này còn có tên gọi khác là Hà Bá Sứ Giả (河伯使者), như trong Thần Dị Kinh (神异經), phần Tây Hoang Kinh (西荒經) có câu: “Tây hải thủy thượng hữu nhân, thừa bạch mã chu liệp, bạch y huyền quan, tùng thập nhị đồng tử, sử mã Tây hải thủy thượng, như phi như phong, danh viết Hà Bá Sứ Giả (西海水上有人、乘白馬朱鬣、白衣玄冠、從十二童子、駛馬西海水上、如飛如風、名曰河伯使者, trên mặt nước biển Tây có người cỡi con ngựa trắng, bờm đỏ, mặc áo trắng, đội mũ đen, cùng với mười hai đồng tử, cỡi ngựa trên mặt nước biển Tây, bay nhanh như gió, tên là Hà Bá Sứ Giả).” Tên gọi Kappa ở Nhật cũng xuất phát từ nguyên ngữ này. Nó đồng nghĩa với Hà Tông (河宗). Tín ngưỡng Hà Bá cũng rất thịnh hành ở Việt Nam; cho nên tục ngữ Việt Nam thường có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá.” Truyền thuyết của Hà Đồng (河童) vốn phát xuất rất sớm từ vùng thượng du của lưu vực Hoàng Hà; xưa kia gọi là Thủy Hổ (水虎), hay Hà Bá. Về truyền thuyết của Hà Đồ, khi vua Đại Vũ (大禹) quản lý Hoàng Hà, có 3 báu vật là Hà Đồ (河圖, Bản Đồ Sông Nước), Khai Sơn Phủ (開山斧, Búa Mở Núi) và Tỵ Thủy Kiếm (避水劍, Kiếm Tránh Nước). Truyền thuyết cho rằng Hà Đồ do vị Thủy Thần là Hà Bá trao cho vua Đại Vũ. Vua phục nghi (伏羲) quan sát rất kỹ lưỡng đối với sự hưng suy của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, thời tiết, khí hầu, cây cỏ, v.v. Có hôm nọ, bỗng nhiên giữa Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (龍馬), ông thấy chấn động tâm thần, tự thân cảm xúc được sự linh thiêng của trời đất, tự nhiên. Nhà vua phát hiện trên thân con ngựa có đồ hình, rất tâm đầu ý hợp với ý tưởng về quá trình quán sát vạn vật. Phục nghi đi qua thân con ngựa, quan sát thật kỹ, vẽ ra đồ hình Bát Quái (八卦). Từ đó, đò hình trên thân con ngựa kia được gọi là Hà Đồ. Trong Sơn Hải Kinh (山海經) có giải thích rằng: “Phục Nghi đắc Hà Đồ, Hạ nhân nhân chi, viết Liên Sơn (伏羲得河圖、夏人因之、曰連山, Phục Nghi có được Hà Đồ, người Hạ nhân đó gọi là Liên Sơn).” Ngay như Kinh Quái (經卦) của Phục Nghi cũng xuất phát từ nguồn gốc hiện tượng thiên văn, có căn nguyên từ Hà Đồ. Trong bài Cửu Ca (九歌) của Khuất Nguyên (屈原, 340-278 ttl.) cũng có thiên viết về Hà Bá.

Hà Ca-diếp

河迦葉; C: hé jiāshě; J: ka kashō; |Kết hợp phiên âm và phiên dịch tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).

hà cát sâm

(荷吉森) (1800-1894) Hodgson, Brian Houghton. Nhà học giả về Đông phương học người Anh. Năm 18 tuổi, ông đến Ấn độ giữ chức quan ngoại giao của công ty Đông ấn độ. Trong thời gian làm việc ở Ba tư, Nepal (1833-1848), ông đã đưa ra nhiều chính sách tốt đẹp cho vùng đất thực dân ở Ấn độ. Năm 1848, sau khi nghỉ việc, ông lui về ẩn dật ở chân núi Hỉ mã lạp nhã, chuyên nghiên cứu về Động vật học, Địa lí học, Nhân loại học và Ngôn ngữ học. Ông sưu tập hơn một vạn loài chim, đồng thời, giới thiệu phong tục, văn vật của Nepal và Tây tạng với độc giả của ông ở phương Tây. Ngoài ra, ông còn dốc sức vào việc sưu tập 381 bộ kinh điển Phật giáo Đại thừa viết tay bằng tiếng Phạm, rồi phiên dịch và ấn hành để giới thiệu với giới học thuật của các nước Âu châu và đã có ảnh hưởng rất lớn. Trong đó, luận Kim cương châm (Phạm: Vajrasùcì) là bộ sách Phật bằng tiếng Phạm được dịch ra Anh văn sớm nhất. Tác phẩm của ông gồm có: Illustration of the Literature and Religion of the Buddhists, 1841; Essays on the Language, Literature and Religion of Nepal and Tibet, 1874; Aborigines of India; Sketch of Buddhism, derived from Buddha Scriptures of the Nepal; Miscellaneous Essays relating to Indian Subjects, 2 vols, 1800.

hà da

Haya (skt)—Tên tiếng Phạn của Mã Ðầu Quan AÂm—Sanskrit name for the horse-head form of Kuan-Yin.

hà da yết lợi bà

Hayagriva (skt)—Hạ Dã Hột Lợi Phạt—Tên của một vị Mã Ðầu Minh Vương hay Minh Vương Cổ Ngựa—Horse-neck, a form of Visnu, name of a Ming-Wang.

hà da yết lợi bà quan thế aâm bồ tát thụ pháp ðàn

Kinh giải thích về đàn pháp của Ðức Mã Ðầu Quan AÂm, một quyển, không rõ ai đã dịch ra Hoa ngữ—Hayagriva-Dharma-Platform Sutra, explaining about the dharma which Horse-head Kuan-Yin expounded, one book and the translator was unknown.

hà da yết lợi bà tượng pháp

Kinh nói về tượng pháp và đàn pháp của Mã Ðầu Quan AÂm—The sutra explaining about the dharma forming and dharma platform of Horse-head Kuan-Yin. ; (何耶揭唎婆像法) Cũng gọi: Hạ da yết lí bà nghi quĩ. Nghi quĩ của Mật giáo, 1 quyển, mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 20. Hà da yết lị bà, Phạm:Hayagrìva, dịch là Mã thủ, tức chỉ cho Mã đầu Quan âm, một trong 8 vị Đại minh vương của Mật giáo. Nội dung kinh này trình bày về cách vẽ tượng Mã đầu Quan âm, pháp cầu nguyện, đồng thời, nói về ấn tướng, chân ngôn chữa bệnh, khất thực và thần chú trói quỉ, tiêu trừ dâm dục và giữ mình. Ngoài ra, cùng loại với kinh này còn có: 1. Hà da yết lị bà Quán thế âm bồ tát thụ pháp đàn, 1 quyển, mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 20. 2. Hà da yết lị bà Quán thế âm bồ tát Pháp ấn chú phẩm, 1 quyển, do ngài A địa cù đa dịch, thu vào Đại chính tạng tập 18.

hà diệp toà

(荷葉座) Tòa ngồi bằng lá sen. Trong Mật giáo, chư Thiên của Kim cương giới và các vị Thanh văn lớn của viện Thích ca trong Thai tạng giới đều ngồi tòa lá sen. Cứ theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ diễn mật sao quyển 9, thì vì các vị tôn này chưa có hạt giống bồ đề, cho nên chỉ dùng lá sen làm tòa chứ không dùng đài sen làm tòa. [X. kinh Đại nhật Q.5].

hà diệp đoàn đoàn

(荷葉團團) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tròn như lá sen. Thiền tông dùng từ ngữ này để diễn tả sự viên mãn hoàn toàn. Chương Giáp sơn Thiện hội trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 94 thượng), nói: Lá sen tròn tròn, tròn như gương. Sừng ấu nhọn nhọn, nhọn như dùi .

hà hoài

(河淮) Hà chỉ cho Hà bắc, Hoài chỉ cho Hoài nam, nơi ở cửa ngài Tuệ văn đời Bắc Tề, là Tị tổ của tông Thiên thai Trung quốc. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 trung), nói: Ngài Nam nhạc thờ thiền sư Tuệ văn làm thầy, người đương thời tôn kính, ngài giáo hóa khắp vùng Hà hoài. Pháp môn của ngài cao sâu, bao trùm trời đất, người đời không thể hiểu được . Vì thế mà có từ ngữ Hà hoài chi lưu (dòng Hà hoài), tức là chỉ cho tông Thiên thai hoặc chi phái của tông Thiên thai. (xt. Tuệ Văn).

Hà huống

何況; C: hékuàng; J: kakyō;|Từ ngữ nhấn mạnh vào sự phủ định hoặc khẳng định.

hà khẩu huệ hải

(河口慧海) (1866-1945) Học giả Phật giáo kiêm thám hiểm gia, người Nhật bản, ở phủ Đại phản. Sư xuất gia năm 1890. Năm 1894, sư thờ ngài Vân chiếu làm thầy, rồi theo ngài Hưng nhiên học Phật giáo Nam truyền. Lúc đó, sư cảm thấy rằng muốn nghiên cứu Phật giáo thì phải bắt đầu từ nguyên điển, sư bèn lập chí đến Tây tạng. Tháng 6 năm 1897, sư đi từ Thần hộ đến Đại cát lãnh (Darjeeling) giáp giới Tây tạng để nghiên cứu và học tập tiếng Tây tạng. Tháng 1 năm 1899, sư từ Nepal đi vào Tây tạng, là người Nhật bản đầu tiên đến đất Tây tạng, lấy tên Tây tạng làZesrab rgya-mtsho (Tuệ hải), xin vào học viện chùa Sắc lạp (Tạng:Serra) là trung tâm học thuật của Tây tạng để tham cứu Lạt ma giáo. Về sau, có người phát giác ra quốc tịch, sư bị trục xuất, bèn qua Ấn độ để trở về Nhật bản. Sau khi về nước, sư xuất bản cuốn Tây tạng lữ hành kí , khiến người ta chú ý đến Tây tạng. Năm sau, sư ấn hành cuốn Hà khẩu Tuệ hải sư tương lai Tây tạng phẩm mục lục . Tháng 9 năm 1904, trên đường đến Tây tạng lần thứ 2, sư sưu tầm được một số lượng lớn kinh điển Phật chép tay bằng tiếng Phạm ở Nepal. Năm 1913, sư vào Tây tạng, mang theo bộ Đại tạng Hán dịch (bản Hoàng bá) để đổi lấy bộ Đại tạng kinh (Tạng dịch) của Tây tạng, đồng thời, nhận bộ Đại tạng kinh (Tạng dịch) chép tay của Đạt lại lạt ma gửi tặng trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh. Ngoài ra, sư còn sưu tập thêm các bản Đại tạng kinh khác, tượng Phật, tranh Phật, pháp khí và các bản mẫu về địa chất, thực vật, v.v... Tháng 8 năm 1915 sư về nước, mang theo nhiều tư liệu quí báu bằng tiếng Tây tạng gồm các bộ Đại tạng kinh như: Nại đường bản, Cách đức bản, Trác ni bản, Sao tả bản, v.v... và rất nhiều kinh điển khác ngoài Đại tạng. Về sau, ngoài việc giảng dạy tại Đại học Tôn giáo ở Đông kinh, sư còn phiên dịch các kinh điển Phật từ tiếng Tây tạng và tiếng Phạm sang tiếng Nhật, đồng thời, chỉ đạo việc tổ chức hội Tuyên dương Phật giáo . Tháng 1 năm 1926, sư được 60 tuổi, xả giới hoàn tục, đề xướng Phật giáo tại gia. Năm 1935, ông lại đi từ Bắc kinh đến Nội mông cổ để nghiên cứu. Những năm cuối đời, ông còn biên soạn bộ Tạng Hòa Đại Từ Điển của Văn khố Đông dương. Năm 1945, ông qua đời, hưởng thọ 80 tuổi.Những tác phẩm của ông gồm có: Tây tạng văn điển, Chính chân Phật giáo, Đông dương văn khố Tạng Hòa đại từ điển. Các dịch phẩm: Nại đường bản Tây tạng đại tạng kinh cam châu nhĩ mục lục, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Duy ma kinh, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Pháp hoa kinh, Hán Tạng đối chiếu quốc dịch Thắng man kinh, Nhập bồ đề hành luận, Pháp cú kinh. [X. Hà khẩu Tuệ hải truyện (Hà khẩu chính)].

hà la hỗ la

Rahula (skt)—La Hầu La. 1) Tên của con trai Phật Thích Ca Mâu Ni: Rahula, name of Sakyamuni's son. 2) Tên của một loài A-Tu-La: Name of a kind of asura.

Hà linh

(遐齡): tuổi thọ cao, trường thọ. Từ này thường đi chung với “thiên tứ hà linh (天賜遐齡, trời ban tuổi thọ cao)”, “tùng hạc hà linh (松鶴遐齡, sống lâu bằng với cây tùng và con hạc)”, “khắc hưởng hà linh (克享遐齡, hưởng mãi tuổi thọ)” dùng để chúc thọ những người cao niên. Như trong bài Biệt Uông Cư Sĩ (別汪居士) của Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 24 có câu: “Khất duy toại kỳ viên nhu chi tình, lượng kỳ khuyển mã chi ám, đắc hoàn sơ địa, vĩnh chúc hà linh (乞惟遂其猿猱之情、亮其犬馬之暗、得還初地、永祝遐齡, cúi mong trọn vẹn tấm tình vượn khỉ, sáng tỏ tối tăm chó ngựa, trở về nguyên quán, chúc được sống lâu).”

hà lí na

(何履那) Phạm: Hariịa. Cũng gọi A lí na, Hạt lợi noa, Hạ lí noa. Tên gọi chung những con hươu và nai con. Kinh Đại uy đức đà la ni dịch là dê rừng. Kinh Đại uy đức đà la ni quyển 7 (Đại 21, 786 thượng), nói: A nan! Trong đó còn có tên của nhiều loài súc sinh 4 chân khác như: Ca ca bà, Ca câu trà (...), Hà lí na (dê rừng), Xá xá ca (thỏ) . [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].

hà lực bì ðà

Rigveda (skt)—Một trong bốn phần của kinh Vệ Ðà—One of the four divisions of Vedas.

hà mô thiền

Loại thiền cóc nhái (cứng nhắc), không linh hoạt, nhảy múa vui đùa khi chỉ biết nửa vời chân lý—Frog samadhi, which causes one to leap with joy at half-truths. ; (蝦蟆禪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thiền con ếch. Có 2 nghĩa: 1. Ếch chỉ biết nhảy chứ không biết cách gì khác. Thiền tông dùng từ ngữ này để chê trách những người tu Thiền chỉ hiểu một mặt rồi chấp chặt vào đó, khiến cho Thiền trở thành khô cứng, mất tính hoạt dụng tự tại. 2. Chỉ cho những người tu Thiền chỉ biết ngồi thiền như ếch ngồi trên lá sen. Vân môn lục (Đại 47, 551 trung), nói: Ném câu nhằm câu cá kình mà lại câu được chú ếch (hà mô) . Ngoài ra, mồm con ếch còn được dùng để ví dụ người nói nhiều. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 564 trung), ghi: Ta chẳng muốn mở miệng ếch . [X. Tông thống lục Q.5; Chính pháp nhãn tạng biện đạo thoại; Bích nham lục chủng điện sao].

hà sa

Hằng Hà Sa—Nhiều như cát sông Hằng—The sands of Ganges (vast in number).

hà sung

(何充) (292-346) Người huyện Tiềm (nay là huyện Hoắc sơn, tỉnh An huy) đời Tấn, tự Đạo thứ. Ông là người tài trí, làm quan đến chức Tể tướng thời Thành đế (337), sau phù tá ấu chúa, tôn vua, dẹp loạn, nước nhà yên định, thịnh trị. Tính tình ông hòa nhã, giỏi văn chương, rất kính tin Phật pháp, tận lực xây dựng và sửa sang các chùa viện. Ông thường gần gũi các bậc cao tăng, thụ trì giới bát quan trai, suốt đời không biếng nhác. Năm Vĩnh hòa thứ 2 ông mất, thọ 55 tuổi, được vua ban thụy hiệu là Văn Mục. [X. Tấn thư Q.77].

hà thần tiểu tì

(河神小婢) Vị thần ở sông Hằng. Trong kinh chép, đệ tử Phật là Tất lăng già bà ta (Phạm: Pilinda-vatsa) tính tình kiêu mạn, lời nói thô tháo, thường gọi thần sông Hằng là Tiểu tì (con đầy tớ bé nhỏ). Ngoài đức Phật và 8 vị đại Thanh văn ra, ông đều gọi những người khác một cách khinh miệt là Thủ đà la (tiện dân). Ông có chứng đau mắt, lại thường phải qua sông Hằng để khất thực, mỗi lần đến bờ sông thì ông khảy móng tay và quát to (Đại 25, 71 thượng): Này tiểu tì! Hãy ngăn nước lại . Sông liền rẽ nước làm hai đoạn. Một hôm, thần sông Hằng đến bạch đức Phật, Ngài bảo ông phải xin lỗi, Tất lăng già bà ta liền hướng về thần sông Hằng chắp tay nói rằng: Tiểu tì chớ có giận, nay ta xin lỗi ngươi! , đại chúng đều cười. Đức Phật mới bảo thần sông Hằng rằng: Tất lăng già bà ta từ 500 đời đến nay đều sinh trong gia đình Bà la môn, cho nên có tính kiêu căng, hay khinh người . [X. phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; luật Ma ha tăng kì Q.30; luật Thập tụng Q.25; luận Đại trí độ Q.2, Q.23]. (xt. Tất Lăng Già Bà Ta).

hà thừa thiên

(何承天) (370-447) Người Đàm thành, tỉnh Sơn đông, sống vào thời Lưu Tống. Ông học rộng, nhớ dai, làu thông các học thuyết. Thời Vũ đế, ông làm quan đến chức Thượng thư từ bộ lang, sau ra làm Hành dương nội sử. Đến thời Văn đế, ông được triệu về làm Ngự sử trung thừa, mỗi khi có việc phải quyết đoán, nhà vua đều hỏi ý kiến ông. Sau, vì ông tiết lộ việc cơ mật nên bị bãi quan. Hà thừa thiên vốn trọng Nho học, không tin Phật pháp, thường giao du thân thiện với sa môn Tuệ lâm ở Trị thành. Tuệ lâm soạn luận Hắc bạch phản lại giáo lí Phật giáo; Thừa thiên soạn luận Đạt tính , phê bình thuyết Báo ứng của Phật giáo, chủ trương thân xác hoại diệt thì tinh thần cũng diệt theo để tán trợ lập trường của Tuệ lâm trong luận Hắc bạch. Quan điểm của Tuệ lâm và Hà thừa thiên đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài trong giới Phật giáo đương thời. [X. Hoằng minh tập Q.3, Q.4, Q.5, Q.7]; luận Phá tà Q. thượng; Tống thư Q.64; Nam sử Q.33].

hà tiện

Misery—Stingy.

hà trung

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại xã Vinh Hà, quận Phú Vang. Năm 1677, au khi khai sơn Thập Tháp Di Ðà ở Qui Nhơn, Tổ Nguyên Thiều ghé lại Huế và được lệnh chúa trở về Trung Quốc để thỉnh thêm danh Tăng và pháp khí. Trong số pháp khí có tượng Bồ Tát Quán AÂm, cở lớn hơn người thật. Tổ muốn đưa tượng nầy lên kinh đô Huế, nhưng khi thuyền chở ngang qua xã Hà Trung thì bị mắc cạn mà không cách gì đẩy nổi. Tổ nghĩ là do cơ duyên nên thỉnh tượng vào thờ tại chùa làng Hà Trung để thờ. Từ đó chùa làng Hà Trung trở thành danh lam quốc tự dưới thời chúa Nguyễn Phước Châu. Sau đó, Tổ Nguyên Thiều phụng mệnh chúa về trụ trì chùa Hà Trung. Rồi trải qua những năm cuối thế kỷ thứ 18, chùa đã bị hư hỏng tiêu điều. Dưới triều nhà Nguyễn, chùa đã được trùng tu. Hiện nay chùa được mang tên Phổ Thành. Người ta kể rằng chiếc đại hồng chung của chùa vốn là chuông của chùa Phổ Thành bên làng Ngân Ðiền, huyện Gia Ðịnh, Phủ Thuận An, đúc năm 1762, không rõ cơ duyên nào mà trở thành pháp khí của chùa Hà Trung trên 100 năm qua. Vì vậy thay vì giữ tên Hà Trung thì người của những thế hệ sau nầy lại đổi tên chùa là Phổ Thành, tên được khắc trên chuông—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is located in Vinh Hà village, Phú Vang district. In 1677, after building Thập Tháp Di Ðà in Qui Nhơn, Patriarch Nguyên Thiều came to Huế and obeyed the order of the Lord, he travelled back to Kuang-Chou to invite more celebrated Chinese monks and obtain more ritual instruments. Among these ritual instruments, there was a stone statue of Avalokitesvara Bodhisattva, bigger than life size, which sat on a lotus pedestal also made of stone. The statue should have been bound for Huế Citadel, however, when passing by Hà Trung village, the shp got stuck and no efforts could free it. The Patriarch was convinced that this was a token of destiny. Thus, the patriarch decided to fix the statue in the village temple for worship. Since then, the village temple became a national temple during the reign of Lord Nguyễn Phước Châu. After that, patriarch Nguyên Thiều moved to stay at Hà Trung temple. Hà Trung temple fell into deteriorations in the years of the late 18th century. Then it was restored under the reign of the Nguyễn Dynasty. Now the temple name is Phổ Thành. It is said that the great bell of the temple formerly belonged to Phổ Thành temple at Ngân Ðiền village, Gia Ðịnh district, Thuận An province. It was cast in 1762 for an unknown reason, the bell has been a ritual instruments of Hà trung Temple for the last 100 years. As a result, instead of keeping its old name, people of later generations renamed the temple Phổ Thành after the name given on the bell.

Hà Trạch Thần Hội

(荷澤神會, Kataku Jinne, 684-760): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ khai sáng Hà Trạch Tông (荷澤宗) Trung Quốc, người vùng Tương Dương (襄陽, Hồ Bắc), họ Cao (高). Lúc nhỏ ông học Ngũ Kinh, Lão Trang, các sử thư, sau theo xuất gia với Cảnh Nguyên ở Quốc Xương Tự (國昌寺), đọc tụng thuộc các kinh điển rất dễ dàng. Năm lên 13 tuổi, ông đến tham yết Huệ Năng (慧能). Sau khi Huệ Năng qua đời ông đi tham học khắp các nơi. Vào năm thứ 8 (720) niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông vâng chiếu đến trú trì Long Hưng Tự (龍興寺) ở Nam Dương (南陽) và cử xướng Thiền pháp rộng rãi tại đây, cho nên người đời thường gọi ông là Nam Dương Hòa Thượng (南陽和尚). Sau khi Lục Tổ qua đời trong vòng 20 năm, giáo pháp của ông bị suy tàn dần dần, cả hai kinh đều tôn sùng Thần Tú (神秀) mà thôi. Lần đầu tiên khi đến Lạc Dương (洛陽), ông đã có ý muốn chấn hưng Thiền phong của Lục Tổ, cho nên vào năm thứ 20 (732) niên hiệu Khai Nguyên, ông thiết lập đại hội ở Đại Vân Tự (大雲寺) thuộc Hoạt Đài (滑臺), Hà Nam (河南), cùng luận tranh với Sùng Viễn (崇遠) ở Sơn Đông (山東). Kế đến vào năm thứ 4 (745) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông viết cuốn Hiển Tông Ký (顯宗記), quy định ra 2 tông phái đốn và tiệm của Nam Bắc, lấy Huệ Năng ở phương Nam làm Đốn Tông và Thần Tú ở phía Bắc làm Tiệm Tông; cho nên từ “Nam Đốn Bắc Tiệm (南頓北漸)” vốn phát xuất từ đây. Ông tận lực công kích pháp môn của Thần Tú, vì vậy Nam Tông Thiền càng ngày trở nên hưng thạnh, trong khi đó thì Bắc Tông Thiền dần dần suy tàn. Đến năm thứ 12 niên hiệu Thiên Bảo, nhân vụ trình tâu vu khống của vị quan Ngự Sử Lô Dịch (盧奕), ông rời khỏi Hà Trạch Tự (荷澤寺) vùng Lạc Dương, chuyển đến sống tại các địa phương như Dặc Dương (弋陽, Giang Tây), Võ Đương (武當, Hồ Bắc), v.v. Đến năm sau, ông lại chuyển đến Tương Dương, rồi Bát Nhã Viện (般若院) của Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Kinh Châu (荆州). Khi vụ loạn An Sử (安史) dấy khởi, cả 2 kinh đô đều rơi vào cảnh lầm than, khắp nơi có thiết lập giới đàn độ chúng tăng, tập trung tiền của để sung vào quân nhu, cho nên người ta thỉnh ông làm chủ đàn. Sau vụ loạn, vua Túc Tông mời ông vào cung nội cúng dường và cho xây dựng Thiền đường trong khuôn viên Hà Trạch Tự, thỉnh ông đến làm trú trì chùa này, cho nên người đời thường gọi ông là Hà Trạch Đại Sư (荷澤大師). Vào năm đầu (760) niên hiệu Thượng Nguyên (上元), ông thị tịch, hưởng thọ 93 tuổi. Có thuyết cho là ông mất vào năm đầu (758) niên hiệu Càn Nguyên (乾元). Ông được ban cho thụy hiệu là Chơn Tông Đại Sư (眞宗大師). Vào năm thứ 12 (796) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), Hoàng Thái Tử cho triệu tập các vị Thiền sư, quy định tông chỉ của Thiền môn, suy cử ông là vị tổ thứ 7 của Thiền Tông, sắc phong bia đặt tại Thần Long Tự (神龍寺). Tông môn của ông được gọi là Hà Trạch Tông (荷澤宗). Môn hạ ông có rất nhiều đấng anh tài như Vô Danh (無名), Pháp Như (法如), v.v. ; 荷澤神會; C: hézé shénhuì; J: kataku jin'e; 686-760 hoặc 670-762;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Sư có công lớn trong việc thuyết phục triều đình nhà Ðường công nhận dòng thiền của Lục tổ là chính tông và Tổ là người thừa kế chính của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sự quan hệ với triều đình, và nói chung các người cầm quyền chính trị, không làm cho phái thiền Hà Trạch của Sư hưng thịnh mà ngược lại, chỉ sau vài đời tàn luỵ. Kế thừa Sư, trong phái sau này chỉ có một vị còn được nhắc nhở đến, đó là Thiền sư Khuê Phong Tông Mật, vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông.|Sư họ Cao, quê ở Tương Dương. Lúc nhỏ Sư theo thầy học Nho, hiểu rành Lão Trang. Trên đường tìm thầy chứng đạo, Sư đến Bảo Lâm tự ở Tào Khê, nơi Lục tổ hoằng hoá.|Gặp Sư, Tổ hỏi: »Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được gốc (bản) đến chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?« Sư thưa: »Lấy vô trụ làm gốc, thấy tức là chủ.« Tổ bảo: »Sa-di chớ nói càn.« Sư thưa: »Hoà thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?« Tổ đánh Sư ba gậy, hỏi: »Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?« Sư thưa: »Cũng đau cũng chẳng đau.« Tổ bảo: »Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.« Sư hỏi: »Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?« Tổ bảo: »Chỗ ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi đau thì đồng với phàm phu, ắt khởi tâm giận hờn. Trước ngươi nói thấy chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sinh diệt. Ngươi không thấy tự tính mà dám cợt với người.« Nghe qua Sư thất kinh, quì sám hối. Tổ bảo: »Nếu ngươi tâm mê không thấy nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tính, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi được. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết tự thấy, lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?« Sư lễ bái trăm lạy cầu xin sám hối. Một hôm Tổ bảo chúng: »Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?« Sư bước ra thưa: »Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tính của Thần Hội.« Tổ bảo: »Ðã nói với các ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên Phật tính. Sau này ngươi ra trụ trì thì cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.« Sư lễ bái lui ra. Từ đây, Sư ở lại hầu hạ Tổ năm năm đến khi Tổ tịch, không lúc nào rời.|Khoảng 20 năm sau khi Tổ nhập diệt, Sư hội họp tất cả những Thiền sư danh tiếng miền Nam, và tuyên rằng, Huệ Năng chính là người nối pháp của Ngũ tổ và Thần Tú – lúc bấy giờ được vương triều công nhận là pháp tự của Thiền tông – vô cớ đoạt danh hiệu này của Huệ Năng, không phải là người được truyền y bát. Sư không nhọc công đi đến tận Trường An và Lạc Dương để nêu rõ và bảo vệ quan niệm này. Kết quả của việc làm mạo hiểm này là Sư bị lưu đày xuống miền Nam. Nhưng sau một cuộc nổi loạn (755-757), triều đình nhớ lại danh tiếng của Sư, muốn nương danh này để lấy lại lòng tin của dân. Sư được mời đến trụ trì chùa Hà Trạch (trước khi bị lưu đày Sư đã trụ trì ở đây). Từ đây Sư rất có uy tín trong triều đình và cuối cùng Huệ Năng và các vị thừa kế được công nhận là Thiền chính tông.|Ðời Ðường niên hiệu Thượng Nguyên, Sư từ biệt đại chúng, nửa đêm thị tịch. Vua ban hiệu là Chân Tông Ðại sư. Tác phẩm Hiển tông kí của Sư vẫn còn lưu hành.

hà trạch thần hội thiền sư

Zen master He-Ze-Shen-Hui—See Thần Hội Hà Trạch Thiền Sư.

Hà Trạch tông

荷澤宗; C: hézé-zōng; J: kataku-shū;|Một nhánh của Thiền tông Trung Quốc, bắt nguồn từ Thiền sư Hà Trạch Thần Hội, một môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Ngược với giáo lí và quan niệm thiền định của Phật giáo Ấn Ðộ – được Bồ-đề Ðạt-ma truyền sang Trung Quốc và kế tiếp đến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn – Thần Hội nhấn mạnh rằng, Giác ngộ không thể đạt được qua những phương pháp tu tập thiền định và tiến lên từng cấp bậc. Cách tu tập thiền định chính là thực hiện được trạng thái »Vô tâm«, một trạng thái trực tiếp dẫn đến kinh nghiệm Kiến tính, Ðốn ngộ. Mặc dù sư Thần Hội rất có công trong việc xiển dương Nam tông thiền – được xem là một móc ngoặt cực kì quan trọng cho Thiền tông Trung Quốc – tông của sư không được xếp vào Ngũ gia thất tông và tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.|Vị Thiền sư nổi danh duy nhất của tông này sau sư Thần Hội là Khuê Phong Tông Mật, nhưng vị này cũng không nổi danh với tính cách một vị Thiền sư mà là vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Sau khi tịch, Thần Hội được phong danh hiệu Chân Tông Ðại sư.

hà trạch tông

(荷澤宗) Tông Hà trạch, một hệ phái của Thiền tông, do ngài Thần hội khai sáng ở chùa Hà trạch tại Lạc dương vào thời vua Huyền tông nhà Đường. Cứ theo Thiền môn sư tư thừa tập đồ của ngài Khuê phong Tông mật, thì pháp hệ truyền thừa của tông Hà trạch là: Thần hội (Sơ tổ), Pháp như, Duy trung, Đạo viên và Tông mật. Nhưng theo các nhà nghiên cứu lịch sử gần đây thì pháp hệ của tông Hà trạch là: Thần hội, Nam ấn, Đạo viên và Tông mật. Tông Hà trạch đã khai triển từ pháp hệ của các ngài Thạch đầu Hi thiên (677-744) và Nam nhạc Hoài nhượng (700-790), đến ngài Tông mật (780-841) trở về sau thì dần dần suy tàn. Yếu chỉ của tông Hà trạch là một chữ Tri (biết). Tri tức linh tri, là cái tâm rỗng lặng do tổ Đạt ma truyền thụ. Vì mê mất linh tri nên khởi ngã tướng (tâm tự ngã), vọng chấp có ta, của ta , nhận các đối tượng khách quan bên ngoài là sở hữu của ta, nên bị vướng mắc trong thế giới đối đãi tự tha, thiện ác. Nếu liễu ngộ được cái linh tri tịch diệt thì bi trí thêm sáng, tội ác đoạn trừ, công hạnh tự nhiên tinh tiến. Ngài Tông mật lại đem tông Hà trạch đại biểu cho Thiền học ở thời bấy giờ (đời Đường) tổng hợp với giáo học Hoa nghiêm truyền thống mà chủ trương Giáo Thiền Nhất Trí. [X. chương Lục tổ Tuệ năng trong Lịch đại pháp bảo kí; Lạc kinh Hà trạch Thần hội thiền sư quảng ngữ; Cảnh đức truyền đăng lục Q.28; Trung quốc thiền tông sử chương 7 (Ấn thuận); Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

Hà Trạch Tự

(荷澤寺, Kataku-ji): hiện tọa lạc tại Lạc Dương (洛陽), Đông Đô (東都), Tỉnh Hà Nam (河南省). Vào năm thứ 4 (745) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), nhận lời thỉnh cầu của Tống Đỉnh (宋鼎), Thần Hội (神會) đến trú trì chùa này. Đây là nơi đã từng xảy ra cuộc luận tranh bài xích Bắc Tông Thiền với Sùng Viễn (崇遠).

hà trạch tự

(荷澤寺) Chùa ở Lạc dương, Hà nam, Trung quốc. Năm Thiên bảo thứ 4 (745) đời Đường, thiền sư Thần hội (người nối pháp Lục tổ Tuệ năng– Thiền tông), nhận chiếu chỉ của vua đến trụ trì chùa này. Ngài Thần hội cực lực chủ trương thuyết Đốn ngộ của Thiền Nam tông là chính hệ của Thiền tông, cho nên chùa này trở thành nơi công kích thuyết Tiệm ngộ của Bắc tông. [X. chương Lục tổ Tuệ năng trong Lịch đại pháp bảo kí; Hà trạch hiển thị kí].

hà tính

(何姓) Họ gì? Là cơ duyên vấn đáp giữa Tứ tổ Đạo tín và Ngũ tổ Hoằng nhẫn. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 chương Ngũ tổ Hoằng nhẫn chép, thì khi lên 7 tuổi, trên đường đến núi Hoàng mai, Hoằng nhẫn gặp tổ Đạo tín, tổ hỏi (Đại 51, 222 trung): - Chú họ gì? Hoằng nhẫn đáp: - Họ thì có, nhưng không phải họ (tính) thường. Đây là một trong những tắc công án nổi tiếng của Thiền tông.

Hà tất

何必; C: hébì; J: kahitsu;|Có các nghĩa: 1. Cần gì phải; sao phải?; 2. Có thể như thế nầy…, có thể như thế kia. Từ ngữ biểu thị tính chất phỏng chừng, không dứt khoát.

hà tất

Tại sao lại cần phải như vậy?—Why should it necessarily be?

hà tự sanh

Thế thì việc ấy xãy đến như thế nào?—How does it thus happened?

hà tự sinh

(何似生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Hà tự sinh. Cũng gọi Hà tự. Thế nào? Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 30 thượng), ghi: Cư sĩ vừa tiếp lấy tách trà, Lâm bèn kéo ông ra sau, hỏi: - Thế nào? Cư sĩ đáp: - Có miệng nói chẳng được! II. Hà tự sinh. Giống vật gì? Bích nham lục tắc 6 (Đại 48, 146 trung), chép: Giống vật gì? Trên là trời, dưới là đất, đông, nam, tây, bắc và tứ duy, có vật gì giống với nó không?

hà tỵ chỉ

See Avici in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

hà xuất đồ lạc xuất thư

(河出圖洛出書) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ý nói đạo của trời đất sức người không thể biết được, cũng chỉ cho điềm lành rất khác thường. Hà đồ và Lạc thư vốn là truyền thuyết về nguồn gốc của hai bộ sách Chu dịch và Hồng phạm của Trung quốc thời xưa. Thiên Hệ từ trong sách Chu dịch nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, Thánh nhân tắc chi (Bản vẽ xuất hiện ở sông Hoàng, sách xuất hiện ở sông Lạc, bậc Thánh dựa theo đó làm ra pháp tắc). Hà đồ tức là Bát quái (8 quẻ). Cứ theo Khổng truyện và Khổng dĩnh đạt sớ nói, thì đời vua Phục hi trị vì thiên hạ, có con Long mã xuất hiện ở sông Hoàng, Phục hi bèn y theo hoa văn của nó mà vạch ra Bát quái, gọi là Hà đồ, đây là truyền thuyết về nguồn gốc sách Chu dịch. Đến thời vua Hạ vũ trị thủy(chống lụt) thì có con rùa thần xuất hiện trên sông Lạc (một chi nhánh của sông Hoàng), trên lưng rùa có 9 nét vạch, vua Hạ vũ căn cứ theo đó mà làm thành Cửu trù (9 phương pháp trị nước), gọi là Lạc thư, đây là truyền thuyết về nguồn gốc sách Hồng phạm. Thiền tông dùng các truyền thuyết thần thoại trên đây để hình dung việc kì lạ khác thường, vượt ra ngoài sự hiểu biết của con người. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 1 (Đại 47, 991 trung), ghi: Thiên cơ tiết thướng đường, nói: Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, sấm sét biến hóa, quỉ thần không lường được, thử nói xem điềm lành gì đó? Im lặng giây lát, sư lại nói: Thánh nhân ra đời . [X. Tấn thư ngũ hành chí; Bắc Chu chân loan chú số thuật kí di cửu cung toán, Tùy thư kinh tịch chí].

hà ðảm

Gánh vác trên vai—To carry, bear on the back or shoulder.

hà điêu a na hàm kinh

(荷雕阿那含經) Cũng gọi Ha điêu a na hàm kinh. Có 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan dịch vào thời Đông Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật việc Ha điêu a na hàm vâng làm 4 điều do đức Phật dạy. Đó là: 1. Bố thí. 2. Nói lời tốt lành. 3. Lưu ý xem người đồng học có được cung cấp đầy đủ không. 4. Coi tiền tài là của chung. Đức Phật còn khen 8 việc làm của Ha điêu a na hàm như: Không cầu, tự tin, tự thẹn, tự hổ, tinh tiến, tự quán xét, được thiền định và thông tuệ, mà đều không muốn ai biết đến để tránh sự quấy nhiễu cho người. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

hà đông đại sĩ

(河東大士) Danh hiệu của Bùi hưu đời Đường, người Tế nguyên, Hà nam (có thuyết cho rằng ông là người Văn hỉ, Sơn tây), tự Công mĩ. Ông từng làm quan đến các chức: Giám sát ngự sử, Hộ bộ thị lang kiêm Diêm thiết chuyển vận sứ, Chiêu nghĩa tiết độ sứ, Hà đông tiết độ sứ, Lại bộ thượng thư thái tử thiếu bảo, v.v... Tính tình ông rộng rãi, chí khí cao thượng, giỏi văn chương thư pháp, đặc biệt tinh thâm Phật lí; ông nghiên cứu Thiền học, Hoa nghiêm và thấu suốt huyền chỉ. Ông phát nguyện ăn chay và tụng kinh, bái sám hàng ngày. Người đương thời tôn xưng ông là Hà đông đại sĩ. (xt. Bùi Hưu).

hà đảm

(荷擔) Cùng nghĩa với Hà phụ, Hà pháp. Hà là vác trên lưng, Đảm là gánh ở vai, nghĩa là gánh vác. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để chỉ cho hạnh nguyện gánh vác và hộ trì Phật pháp. [X. Tiểu tham trong Thiền uyển thanh qui Q.2].

Hà đẳng

何等; C: héděng; J: kadō;|Có hai nghĩa: 1. Biết bao? Thế nào? 2. Xiết bao!

hài cốt

(骸骨) Phạm: Zaíkara. Dịch âm: Thương yết la. Bộ xương còn lại sau khi xác chết rữa nát. Hoặc chỉ gọi riêng xương đầu lâu. Ngoài ra, pháp tu quán tưởng thân thể người ta là bộ xương trắng mà hành giả tu tập để đối trị phiền não tham dục, gọi là Cốt tưởng, hoặc Bạch cốt quán, là một trong Cửu tưởng. (xt. Cửu Tưởng).

hài kịch

Comedy.

hài lòng

satisfied—Content.

hài ðàm

Humorous talk.

hài ðồng

Infant—Baby.

hàm

Ngậm trong miệng—To hold in the mouth. Mặn: Salty—Salted.

hàm cái tương ưng

(函蓋相應) Cũng gọi Hàm cái tương xứng, Hàm cái hợp. Hàm là chiếc hộp, Cái là nắp đậy. Hộp và nắp ăn khớp nhau không trở ngại. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 2 thì các pháp vô lượng, trí tuệ cũng vô lượng, cả hai phối hợp với nhau thì vô lượng vô biên, giống như hộp lớn thì nắp đậy cũng lớn, hộp nhỏ thì nắp đậy cũng nhỏ. Lại nữa, từ ngữ này cũng biểu thị ý nghĩa trí năng chiếu và cảnh sở chiếu khế hợp nhau; hoặc pháp nói ra và căn cơ của chúng sinh phù hợp nhau; cơ duyên thầy trò truyền thụ khế hợp nhau; hoặc sự và lí khế hợp nhau. [X. luận Đại trí độ Q.36; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.3; Tham đồng khế].

hàm hoa

Trong sen búp, ví như những người đang chờ sen nở để vãng sanh Cực Lạc—In the closed lotus flower, i.e. those who await the opening of the flower for rebirth in Paradise. ; (含華) Hoa sen búp. Những người có thiện căn tu pháp môn Tịnh độ mà nghi ngờ trí Phật, tuy được vãng sinh nhưng còn ở trong hoa sen búp, khi hoa ấy chưa nở thì vẫn không được thấy Tam bảo. Đây là trường hợp của những người Thượng phẩm trung sinh trở xuống đến Hạ phẩm hạ sinh. Định thiện nghĩa trong Quán kinh sớ của ngài Thiện đạo (Đại 37, 264 thượng): Người tu nhân chính niệm không nên nghi ngờ, vì nghi ngờ tuy được vãng sinh, nhưng phải ở trong hoa sen búp, hoặc sinh nơi biên địa, hoặc rơi vào Thai cung . (xt. Thai Cung)

Hàm Hư

涵虚; C: hánxū; J: kanko; K: hamhŏ|Xem Hàm Hư Đắc Thông (涵虚得通)

Hàm Hư Đường Đắc Thông Hoà thượng ngữ lục

涵虚堂得通和尚語録; C: hánxūtáng détōng héshàng yŭlù; J: kankodō tokutsū ōshō goroku; K: hamhŏ tang tŭkt'ong hwasang ŏrok;|Tóm tắt tiểu sử của Thiền sư Hàn Quốc Hàm Hư Đắc Thông (1376-1433).

Hàm Hư Đắc Thông

涵虚得通; C: hánxū détōng; J: kanko tokutsū; K: hamhŏ tŭkt'ong (1376-1433)|Thuỵ hiệu là Kỉ Hoà (己和, k: kihwa). Nguyên là tăng sĩ trước thời kì Cao Li thuộc Thiền tông Hàn Quốc, sư là nhân vật lĩnh đạo Phật giáo kiệt xuất thuộc thế hệ của này. Hàm Hư vốn là một nhà Nho học nổi danh, nhưng sư chuyển sang Phật giáo vào lúc 21 tuổi sau cái chết của một người bạn thân. Sư hành cước khắp các sơn tự ở Hàn Quốc, cho đến khi sư có dịp may trở thành đệ tử của Quốc sư Vô Học (無學). Các tác phẩm của Kỉ Hoà là một pha trộn giữa sự đả phá tôn sùng ngẫu tượng và ngôn ngữ thiền đốn ngộ, cùng nhận thức sâu sắc về giáo môn. Do vậy, sư tiếp nhận ở Tri Nột tinh thần hợp nhất giữa Phật giáo thiền tông và giáo môn. Trong số các tác phẩm của sư, có 4 tác phẩm đặc biệt tạo nên ảnh hưởng sâu đậm về sau cho Thiền tông Hàn Quốc. Đó là: 1. Luận giải về kinh Viên Giác, nhan đề Viên Giác kinh giải thuyết nghi (圓覺經解説誼; k: wŏn'gakkyŏng hae sŏrŭi), 2. Biên soạn và phụ chú về 5 luận giải nổi tiếng về kinh Kim Cương, 3. Biên soạn và phụ chú về Vĩnh Gia tập, nhan đề Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi (永嘉集科註説誼). Cũng như kết quả từ tác phẩm thứ tư của mình là Hiển chính luận (顯正論), Hàm Hư đã tự xem mình là Phật tử chính bị tố cáo trong sự phê phán của Tân Nho gia và sư cũng phản ứng quyết liệt sự phê phán của Tân Nho giáo đối với Phật giáo thời bấy giờ. Sư viên tịch trong lúc trú tại chùa Tịnh Thuỷ (淨水寺), toạ lạc tại đầu phía nam đảo Giang Hoa (江華島), nay Phật tử vẫn còn được viếng tháp của sư ở nơi đây. Có một luận án tiến sĩ phân tích hành trạng và tác phẩm của Hàm Hư của Muller (1993); và bản dịch của Muller (1999) về luận giải kinh Viên Giác của Hàm Hư.

hàm hồ

Inconsiderably—Ăn nói hàm hồ:To speak inconsiderably.

hàm khả

(函可) (1611-1659) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động ở đời Minh, người Bác la, Huệ châu (thuộc Quảng đông), họ Hàn, tự Tổ tâm, hiệu Thặng nhân. Thân phụ của sư làm quan đến chức Thượng thư bộ lễ, rất nổi tiếng. Thủa nhỏ sư học Nho, tính tình hào hiệp. Sau khi thân phụ mất, sư y vào thiền sư Tông bảo Đạo độc xuất gia và được nối pháp của thầy. Năm Sùng trinh 17 (1644) sư đến Nam kinh thỉnh Đại tạng, gặp lúc loạn lạc, sư phải ở lại đó. Không bao lâu, Hồng thừa trù muốn đón sư về quê cũ, sư làm thơ chê trách ông ta là phản bội nhà Minh, Thừa trù phẫn nộ, lập mưu giết sư, sư phải lánh đến chùa Triêu dương ở Thiên sơn thuộc Liêu dương, mở đạo tràng giảng pháp, rất được mọi người tôn sùng. Năm Thuận trị 16 (1659) sư tịch, hưởng dương 49 tuổi, 20 tuổi đạo. Trứ tác: Thiên sơn Thặng nhân hòa thượng ngữ lục 6 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.116].

hàm kiệt

(鹹杰) (1118-1186) Vị Thiền tăng thuộc chi Hổ khâu, phái Dương kì, tông Lâm tế ở đời Tống, người huyện Phúc thanh, tỉnh Phúc kiến, họ Trịnh, hiệu Mật am. Tương truyền, thân mẫu sư nằm mộng thấy một vị tăng ở Lô sơn đến, sau đó bà mang thai rồi sinh ra sư. Thủa nhỏ sư rất thông minh. Sau khi xuất gia, sư tham học nhiều bậc tri thức. Về sau, sư đến tham yết ngài Ứng am Đàm hoa ở am Minh quả tại Cù châu (Chiết giang), sư đại ngộ và được ấn khả, rồi đến ở am Ô cự và nhiều danh lam khác. Năm Thuần hi 13 (1186) sư tịch, thọ 69 tuổi, 52 tuổi đạo. Trứ tác: Mật am hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Minh cao tăng truyện Q.8].

hàm linh

See Hàm Sanh.

hàm loại

All sentient beings—Hàm Thức—See Hàm Sanh.

hàm nhuận

(鹹潤) Vị tăng thuộc phái Sơn ngoại, tông Thiên thai ở đời Tống, người Thượng ngu, Việt châu, họ Trịnh, tự là Cự nguyên, năm sinh năm mất không rõ. Năm lên 7 tuổi, sư thờ ngài Tử minh ở chùa Đẳng từ làm thầy, tinh thông Luật tạng. Sau sư đến núi Thiên thai, nhờ đọc sách của đại sư Trí khải nói về pháp Tam quán mà có chỗ tỉnh ngộ. Sư muốn tiến sâu hơn nữa, nên lại đến tham học ngài Khánh chiêu ở chùa Khai hóa tại Tiền đường, nghiên cứu các kinh Duy ma, Pháp hoa, Niết bàn, Lăng nghiêm v.v... được ngài Khánh chiêu chia tòa thuyết pháp. Và trước khi thị tịch, ngài Khánh chiêu trao cho sư lư hương và phất tử để kế vị trụ trì chùa Phạm thiên. Năm Cảnh đức thứ 4 (1007), quan huyện Thượng ngu là Bùi hoán đón sư về chùa Đẳng từ để giảng giáo nghĩa Tịnh độ. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025), sư dời đến chùa Vĩnh phúc ở Cối kê để hoằng hóa, đồ chúng rất đông, xa gần đều ngưỡng mộ đạo hạnh của sư. Trứ tác: Chỉ hà, Tiêm nghi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Thích môn chính thống Q.5].

hàm quang

(含光) Vị tăng dịch kinh ở đời Đường, đệ tử của Tam tạng Bất không. Năm Khai nguyên 29 (741), sư theo ngài Bất không đến nước Sư tử (Tích lan), năm Thiên bảo thứ 6 (747), sư trở về Trung quốc, trụ ở chùa Bảo thọ. Năm Vĩnh thái thứ 2 (766) sư giữ chức Tu công đức sứ và sáng lập đạo tràng Mật quán ở chùa Kim các trên núi Ngũ đài. Những sự tích khác về sư và năm sinh năm mất đều không rõ. Dịch phẩm: Tì na dạ ca nga na bát để tất địa phẩm bí yếu 1 quyển, Đại thánh hoan hỉ song thân Tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ 1 quyển.

hàm quỹ

(函櫃) Cái tủ đựng đồ dùng của chúng tăng trong tùng lâm. Tủ có 2 ngăn, được kê trong Tăng đường, ngăn trên để áo pháp, bồ đoàn, ngăn dưới để chăn, màn, gối v.v... Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 43 hạ) nói: Nếu trong Tăng đường có tủ (hàm quĩ) thì phải để hành lí vào đó . [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hàm sanh

Hàm tình—Hàm Thức—Hàm linh hay chúng sanh có mạng sống—All beings possessing feeling—All sentient beings.

hàm sơn

(憨山) (1546-1623) Vị Thiền tăng ở đời Minh, người huyện Toàn tiêu, tỉnh An huy, họ Thái, tên Đức thanh, tự Trừng ấn, hiệu Hàm sơn. Năm 12 tuổi, sư theo ngài Vĩnh ninh ở chùa Báo ân tại Kim lăng học tập kinh điển. Năm 19 tuổi, sư xuất gia, thụ giới Cụ túc, rồi đến núi Thê hà theo ngài Pháp hội học Thiền. Vì ngưỡng mộ nhân cách của ngài Thanh lương Trừng quán nên sư lấy tự là Trừng ấn. Niên hiệu Vạn lịch năm đầu (1573), sư lên núi Ngũ đài, thấy cảnh Hàm sơn u tịch nên lấy làm hiệu. Sư từng ở các chùa Hải ấn tại Thanh châu (Sơn đông), chùa Bảo lâm ở Tào khê v.v... xiển dương Thiền tông. Sư đề xướng niệm Phật kết hợp với tham cứu công án Thiền. Tháng 10 năm Thiên khải thứ 3 sư tịch, thọ 78 tuổi. Trứ tác: Hoa nghiêm kinh thông nghị 10 quyển, Quán lăng già kinh kí 8 quyển, Pháp hoa kinh thông nghĩa 7 quyển, Hàm sơn lão nhân mộng du tập 55 quyển, Niên phổ 2 quyển. [X. Hàm sơn lão nhân tự tự niên phổ thực lục; Thích giám kê cổ lược tục tập Q.3; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16; Cao tăng trích yếu Q.3; Tịnh độ thánh hiền lục Q.5]. (xt. Đức Thanh).

hàm thủy

Salt water.

hàm thủy dụ kinh

(鹹水喻經) Có 1 quyển, được dịch vào khoảng 265- 316 đời Tây Tấn, nhưng không rõ người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này kể lại việc đức Phật nói 7 ví dụ về nước cho các tỉ khưu nghe. Lấy trường hợp một người chìm trong nước, rồi ngoi lên khỏi mặt nước, lại bị chìm xuống, cuối cùng bơi được vào bờ qua 7 giai đoạn, để ví dụ những người chìm đắm trong tội lỗi cuối cùng được chứng ngộ. Kinh này có 4 bản dịch, trong đó, bản được thu vào kinh Trung a hàm là rõ ràng nhất, còn 3 bản kia thì đại đồng tiểu dị.

hàm thức

(含識) Phạm: Sattva. Pàli: Satta. Dịch âm: Tát đóa. Dịch ý: Hữu tình, Chúng sinh. Cũng gọi Hàm linh, Hàm sinh, Hàm loại, Hàm tình, Bẩm thức. Chỉ chung tất cả chúng sinh hữu tình tức loài có tâm thức, trong 6 đường. Kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển) quyển 2 (Đại 10, 215 trung) nói: Quay bánh xe pháp vi diệu, lợi ích các loài hàm thức . Kinh Đại bảo tích quyển 37 (Đại 11, 215 trung) ghi: Giả sử tất cả hàm linh trong 3 cõi, đều biến thành chúng Thanh văn . [X. luận Câu xá Q.12; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 4].

hàm trung giáo

Giáo lý thông giáo của Tông Thiên Thai, nói về Trung Ðạo (tức là Thông giáo trong Tứ Giáo Thiên Thai) giữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa—A T'ien-T'ai term for the interrelated teaching which was midway between or interrelated with Hinayana and Mahayana. ** For more information, please see Thiên Thai Hóa Pháp Tứ Giáo. ; (含中教) Giáo nghĩa ẩn chứa lí Trung đạo. Chỉ cho Thông giáo trong Tứ giáo hóa pháp (Tạng, Thông, Biệt, Viên) do tông Thiên thai phán lập. Thông giáo là cửa đầu tiên của giáo pháp Đại thừa, trong đó nói như huyễn tức không là ẩn chứa lí Trung đạo phi hữu phi không , cho nên gọi là Hàm trung giáo. Tại sao Thông giáo lại có tên là Hàm trung giáo? Vì 2 lí do: 1. Thông giáo tuy không được gọi là Trung đạo, nhưng hàng Bồ tát lợi căn nhờ thấy rõ chân lí Thể không của Thông giáo mà tiến suốt vào Biệt giáo (Biệt tiếp Thông) hoặc vào Viên giáo (Viên tiếp Thông), vì thế, hàng Thông giáo được tiếp hóa gọi là Hàm trung giáo. 2. Thông giáo không nói Phật tính thường trụ , như vậy, dĩ nhiên không được coi là Trung đạo, nhưng lí bất sinh bất diệt của Thông giáo đã ẩn chứa lí Trung đạo rồi, vì thế mà được gọi là Hàm trung giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.23; Ma ha chỉ quán Q.6 phần dưới]. (xt. Thông Giáo).

hàm tình

Chúng sanh hữu tình, có cảm thọ—All beings, possessing feeling, sentience.

hàm tạng khí

(含藏器) Cũng gọi Đồ hương khí. Dụng cụ đựng hương thoa (đồ hương) để cúng dường chư tôn trong Mật giáo. Một trong 6 thứ đồ đựng(Át già = đồ đựng nước, Đồ hương, Hoa man = đồ đựng hoa, mỗi thứ đều một cặp thành 6 thứ). Sau khi tu pháp xong, hành giả phải thu hết hoa và nước thơm đã cúng dường rồi để vào Đồ hương khí này cho nên gọi là Hàm tàng khí (đồ chứa đựng). Lại nữa, 6 đồ dùng để 6 thứ cúng dường là: Đèn, cơm, hoa, hương thoa, nước thơm và hương đốt, theo thứ tự được phối với Phật Di đà, Phật Thích ca, bồ tát Văn thù, bồ tát Phổ hiền, bồ tát Quan âm và bồ tát Di lặc. Trong đó, Đồ hương khí được phối với bồ tát Phổ hiền, mà bồ tát Phổ hiền lại biểu thị cho thức thứ 8 trong 8 thức, tức là Hàm tàng thức, cho nên Đồ hương khí cũng gọi là Hàm tàng khí.

hàn

25) Sita (skt)—Lạnh—Cold. 1) Nghèo: In poverty.

Hàn Dũ

(韓愈, 768-824): văn hào thời Trung Đường, một trong 8 nhân vật nổi tiếng thời Đường Tống, tự là Thối Chi (退之), xuất thân vùng Xương Lê (昌黎), Tỉnh Hà Nam (河南省), nên được gọi là Xương Lê Tiên Sinh, bút hiệu là Văn Công (文公). Ông đã cùng với Liễu Tông Nguyên (柳宗元) nỗ lực phục hưng nền cổ văn. Tác phẩm của ông có Hàn Xương Lê Văn Tập (韓昌黎文集) 50 quyển.

hàn dũ

(韓愈) (768-824) Văn hào Trung quốc ở đời Đường, người Nam dương, Đặng châu, tỉnh Hà nam, tự là Thoái chi. Ông chủ trương Nho giáo độc tôn, kịch kiệt bài bác Phật giáo và Đạo giáo. Ông là một nhà văn lỗi lạc thời bấy giờ, văn chương của ông có sức lôi cuốn đến nỗi Tô thức đời Tống phải khen rằng ông đã làm cho văn chương 8 đời về trước phải suy vi. Ông làm quan đến chức Hình bộ thị lang. Về sau, vì dâng biểu can vua không nên rước xá lợi Phật vào cung nên bị biếm xuống làm Thứ sử Triều châu. Trong thời gian này, ông thường đến hỏi đạo nơi hòa thượng Đại điên và sau lại qui y theo Phật giáo. [X. Cựu đường thư Q.160; Đường thư Q.176].

hàn gắn

To heal.

hàn hành

(寒行) Cũng gọi Hàn tu hành. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp tu khổ hạnh chịu đựng sự giá lạnh trong mùa đông của tín đồ Phật giáo Nhật bản. Họ thực hành mấy cách sau đây: - Hàn cấu li: Tắm gội bằng nước lạnh, trừ sạch sự nhớp nhúa của thân tâm để cầu thần Phật ban phúc. - Hàn niệm Phật: Tăng ni và tín đồ đi quanh các đường phố niệm Phật hoặc hòa tán.- Hàn nghệ, cũng gọi Hàn tham: Trong đêm giá buốt thường đến các chùa niệm Phật, hoặc đến đền thần cầu nguyện. Thông thường, Hàn hành được tu trong thời gian 1 ngày, 3 ngày, 7 ngày, 21 ngày hoặc 30 ngày. Hành giả đều ở trần, hay mặc áo trắng, đi chân đất, đốt cây cúng dường để chống rét, dùng nước tắm gội, đồng thời, đi lễ chùa đền 100 lần. Họ tin rằng trong mùa đông giá rét mà tu khổ hạnh như vậy thì thần Phật sẽ gia hộ và được nhiều công đức hơn.

hàn khổ điểu

(寒苦鳥) Cũng gọi Tuyết sơn điểu. Giống chim sống trên núi Hỉ mã lạp nhã (Himàlaya). Vì không biết làm tổ nên ban đêm nó phải chịu cái khổ rét buốt; nhưng khi mặt trời lên ấm áp thì nó lại quên ngay cái khổ của đêm qua. Thông thường, từ ngữ này được dùng để nói về người mau quên. Câu ngạn ngữ Vừa qua khỏi cổ đã quên ngay cái nóng cũng mang ý nghĩa giống nhau. Tương truyền, ở Ấn độ có giống chim Hàn khổ biết nói kệ vô thường. Con mái kêu: Lạnh giá khổ bức thân, đêm mai lo làm tổ . Con trống hót: Biết đâu đêm nay chết, lo tổ để làm gì .

hàn lu trục khối, sư tử giảo nhân

(Hàn Lu là con chó mực rất thông minh của nước Hàn vào thời Xuân Thu Trung Quốc). Có người quăng ra cục xương, con chó đuổi theo cục xương mà cắn, sư tử thì phát hiện người quăng cục xương mà cắn ngay người đó. Người đó dụ cho tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của chư Phật chư Tổ. Nếu hướng vào lời nói lãnh hội là con chó, hướng vào vào tự tánh lãnh hội mới là con sư tử.

Hàn Lâm

(s: Śītavana, p: Sītavana, j: kanrin, 寒林): căn cứ vào Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義) quyển 7 của cao tăng Thích Huyền Ứng (玄應, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Thi Đà Lâm, chánh ngôn Thi Đa Bà Na, thử danh Hàn Lâm; kỳ lâm u thúy nhi hàn, nhân dĩ danh dã, tại Vương Xá Thành trắc, tử nhân đa tống kỳ trung, kim tổng chỉ khí thi chi xứ danh Thi Đà Lâm giả, thủ bỉ danh chi dã (屍陀林、正言屍多婆那、此名寒林、其林幽邃而寒、因以名也、在王舍城側、死人多送其中、今總指棄屍之處名屍陀林者、取彼名之也, Thi Đà Lâm, gọi cho đúng là Thi Đa Bà Na, ở đây [Trung Quốc] gọi là Hàn Lâm; khu rừng này thâm u mà lạnh lẽo, nên có tên như vậy, nằm một bên Vương Xá Thành; phần lớn người chết đều được tống vào trong rừng này; nay chỉ chung cho những nơi vất bỏ thi thể người chết là Thi Đà Lâm, lấy đó làm tên gọi).” Như vậy, Thi Đa Bà Na (尸多婆那), Thi Đà Lâm (屍陀林、尸陀林), là âm dịch của Hàn Lâm, khu mộ địa nằm gần Vương Xá Thành (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城), là khu rừng vứt bỏ xác người chết cho cầm thú ăn. Người vào khu rừng này cảm thấy rùng rợn, lạnh lùng, sợ hãi, nên được gọi là Hàn Lâm (khu rừng lạnh lẽo). Từ đó, nó được gọi là nghĩa trang, khu mộ địa. Cho nên Hàn Lâm ở đây có nghĩa là khu rừng lạnh lẽo với những xác người chết, vì vậy các hồn phách vất vưởng mới đến nương tựa. Trong bài Phụng Hòa Tập Mỹ Thương Sử Củng Sơn Nhân (奉和襲美傷史拱山人) của Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-khoảng 876) nhà Đường có câu: “Tằng thuyết sơn thê dục khứ tầm, khởi tri sương cốt táng Hàn Lâm (曾說山棲欲去尋、豈知霜骨葬寒林, từng sống rừng sâu muốn đi tìm, nào hay sương cốt chôn Hàn Lâm).” Hay trong bài Dữ Lý Sanh Luận Thi Thư (與李生論詩書唐) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Đào nạn nhân đa phần khích địa, phóng sanh lộc đại xuất Hàn Lâm (逃難人多分隙地、放生鹿大出寒林, trốn nạn người đa phần chun đất, phóng sanh nai thường ra Hàn Lâm).”

hàn lâm

Citavana (skt)—Thi Ða Bà Na—Khu rừng lạnh nơi mai táng những người chết (đây là khu rừng ở cạnh thành Vương Xá, nơi mà xác người chết được đem vào đây cho kên kên rỉa thịt)—The cold forest where the dead were exposed (to be devoured by vultures). Nghĩa địa: A cemetery. Accademy.

hàn lâm viện

Academy.

hàn lô trục khối

(韓獹逐塊) Cũng gọi Cuồng cẩu trục khối. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Con chó đuổi theo cục đất. Hàn lô là một giống chó nổi tiếng ở nước Hàn trong thời đại Chiến quốc. Nếu ném cục đất trước nó, nó sẽ tưởng lầm là thức ăn được, rồi cứ đuổi theo. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho người không tự tìm hiểu tâm tính của mình, mà chỉ miệt mài giải thích, phân tích từng lời nói, câu văn trong các kinh điển, để mong thấu suốt chân tướng của các pháp. Như thế chỉ uổng công phí sức, chứ chẳng được lợi ích gì.

hàn môn

Needy family.

hàn ngục

Ðịa ngục lạnh—The cold hells—See Ðịa Ngục (A) (b).

hàn nho

A poor, needy scholar.

hàn nhân

A poor man.

hàn nữ

A poor girl.

hàn phong

Cold wind.

hàn quốc phật giáo

(韓國佛教) Phật giáo nước Đại hàn. Hàn quốc thời xưa gồm các nước: Triều tiên, Cao cú li, Bách tế, Tân la, Cao li... Cứ theo Tam quốc sử kí quyển 18 chép, thì năm 372, vua Phù kiên đời Tiền Tân của Trung quốc có sai sứ thần và 2 vị cao tăng là ngài Thuận đạo và A đạo mang kinh luận, tượng Phật đến bán đảo Triều tiên. Năm 373, vua Triều tiên ban sắc cho 2 ngài Thuận đạo, và A đạo xây cất chùa Tiếu môn và chùa Y phất lan. Đây là 2 ngôi chùa đầu tiên trên bán đảo này. Năm 384, có vị sa môn Ấn độ tên là Ma la nan đà đến Bách tế truyền đạo, riêng Tân la thì mãi đến năm 528 mới thấy Phật giáo thịnh hành. Lúc mới truyền vào bán đảo Triều tiên, Phật giáo đã dung hòa ngay với tập tục cố hữu của địa phương, mục đích chỉ nhằm cầu phúc. Đó là thời kì đầu du nhập. Đến đầu thế kỉ VI, có nhiều vị danh tăng xuất hiện, như ở Bách tế có ngài Khiêm ích sang Ấn độ cầu pháp, khi trở về nước mang theo tạng A tì đàm và 5 bộ luật bằng tiếng Phạm, ngài dịch bộ luật 72 quyển, trở thành vị Tổ Luật tông đầu tiên của nước Bách tế, rồi 2 ngài Đàm húc và Huệ nhân soạn bộ Luật sớ 36 quyển, tất cả đều được cất giữ ở điện Đài diệu. Năm 595, ngài Huệ từ của Cao cú li đến Nhật bản, cùng với ngài Huệ thông của Bách tế ở chùa Pháp hưng tại Phi điểu và đều được thái tử Thánh đức tôn làm thầy. Trong 3 nước Cao cú li, Bách tế, Tân la thì Phật giáo ở Tân la hưng thịnh hơn cả, rất nhiều vị cao tăng đến Trung quốc, Ấn độ cầu pháp. Trong đó, ngài Viên quang đến Trung quốc vào thời Trần thuộc Nam triều, học thông Niết bàn, Thành thực, Nhiếp luận. Ngài Nguyên hiểu vừa đến Trung quốc vào đời Đường đã chú thích 81 bộ kinh Phật, xiển dương Nhất thừa viên giáo. Ngài Nghĩa tương cũng đến Trung quốc vào đời Đường, tham yết ngài Trí nghiễm, tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm, khi trở về nước ngài chuyên truyền bá tông Hoa nghiêm. Ngài Từ tạng cùng với 10 người đệ tử đến Trung quốc vào đời Đường, khi về nước mang theo các loại phan phướn, một bộ Đại tạng kinh. Vua ban lệnh cho ngài giảng luận Đại thừa ở chùa Phân hoàng, ngài chuyên về Luật học và Hoa nghiêm. Ngài kiến lập giới đàn ở chùa Thông độ và xây tháp ở chùa Đại hòa. Ngài Viên trắc thì 15 tuổi đã đến Trung quốc, tham học tại các trường giảng của các vị cao tăng ở nhiều nơi, chuyên về Duy thức học, được vua Đường thái tông ban cho độ điệp. Ngài Huệ thông là tổ của tông Chân ngôn, hoằng truyền pháp Mật giáo. Đến thời kì Tân la thống nhất (khoảng 668-935), Phật giáo Triều tiên đã dần dần tách khỏi Trung quốc mà lập ra nền giáo học của riêng mình. So với các tông, thì Thiền tông được truyền vào Triều tiên muộn hơn cả, nhưng về sau lại là tông phái hưng thịnh nhất. Người đầu tiên truyền Thiền tông vào Triều tiên là ngài Pháp lãng và đệ tử là sư Tín hạnh (cũng gọi là Thần hạnh). Sư Tín hạnh (704-779) truyền hệ thống Thiền Bắc tông của ngài Thần tú. Sau Tín hạnh, có các sư Phổ chiếu, Hồng trắc truyền bá Thiền Nam tông của Lục tổ Tuệ năng. Đó là nguồn gốc của Thiền môn cửu sơn của Phật giáo Triều tiên. Thiền môn cửu sơn nghĩa là Thiền tông của Triều tiên gồm có 9 phái: Thực tướng sơn, Ca trí sơn, Xà quật sơn, Đồng lí sơn, Thánh trụ sơn, Sư tử sơn, Hi dương sơn và Tu di sơn. Ngoài ra, tín ngưỡng về Tịnh độ cũng rất thịnh hành. Năm 935, nước Tân la bị nước Cao li đánh bại, từ đó Phật giáo cũng mang một sắc thái mới. Thời đại Cao li (935-1392), Giáo tông và Thiền tông đều hưng thịnh, nhất là Thiền tông, nhờ tiếp nối thế lực ở cuối thời Tân la mà được thịnh hành suốt thời Cao li. Đồng thời, các tông Hoa nghiêm, Pháp tướng cũng được hình thành. Từ quốc sư Đại giác Nghĩa thiên trở về sau, tông Thiên thai được thành lập, có ảnh hưởng rất lớn đối với các tông khác. Thời đại Cao li đất nước ở trong tình trạng ngoại xâm nội loạn, vì muốn nhờ Phật lực che chở nên triều đình đã tổ chức các Phật sự như Pháp hội, giảng tọa, đạo tràng, thiết trai, v.v... do đó mà tư tưởng quốc gia cầu phúc trừ họa, trấn giữ đất nước được hình thành. Cứ theo Đông quốc thông giám chép, năm 918, khi Thái tổ lên ngôi, liền tổ chức hội Bát quan trai, hội thắp đèn. Năm 919, vua dời đô đến Khai thành; cùng với việc kiến thiết cung điện, vua cho xây dựng 10 ngôi chùa tại kinh đô là: Pháp vương, Từ vân, Vương luân, Nội đế thích, Xá na, Thiên thiền, Tân hưng, Văn thù, Viên thông và Địa tạng. Vua Quang tông (ở ngôi 950-976) xây chùa Đại báo ân để truy tiến cầu siêu cho Thái tổ; đồng thời, thiết lập chế độ Tăng chức, định ngôi vị Quốc sư, Vương sư. Bấy giờ, các Phật sự như: Tì lô giá na sám pháp, hội Vô già thủy lục, trai tăng... rất thịnh hành. Thời vua Hiển tông (ở ngôi 1010-1031), Cao li bị quân Khất đan đánh phá, vua phát nguyện khắc Đại tạng kinh để mong trừ quốc nạn. Đây là bản khắc đầu tiên của tạng kinh Cao li và được cất giữ ở chùa Phù nhân, đến khi quân Mông cổ xâm lăng Cao li vào đầu thế kỉ XIII thì toàn bộ bản khắc này bị đốt cháy. Đến năm 1251 Tây lịch, sau nhiều năm nỗ lực, bản khắc Đại tạng kinh thứ 2 mới được hoàn thành, gồm 6529 quyển, 81.258 bản gỗ, được cất giữ ở Đại tạng kinh bản đường phía ngoài cửa tây của thành Giang hoa, sau được dời đến chùa Hải ấn tàng trữ cho đến nay. Ở thời đại Cao li có rất nhiều vị cao tăng xuất hiện, như các ngài: Đạo tân, Quảng học, Đại duyên, Pháp ấn, Lợi nghiêm, Khánh phủ, Lợi nhượng, Xán u, Doãn đa v.v... trong đó, ngài Lợi nghiêm là thầy của vua Thái tổ, ngài Xán u từng đến Trung quốc (đời Đường) theo ngài Đại đồng tu học ở núi Đầu tử và được truyền tâm ấn. Sau khi về nước, ngài được 4 đời vua là Thái tổ, Huệ tông, Định tông và Quang tông qui y, đặc biệt vua Quang tông ban hiệu cho ngài là Chứng chân đại sư , đồng thời được phong làm Quốc sư. Ngoài ra, các ngài Trí tông, Đạo phong cũng từng đến Trung quốc (đời Tống) tham học ngài Vĩnh minh Diên thọ, sau khi về nước, hoằng dương Phật pháp, nổi tiếng một thời. Ngài Đại giác Nghĩa thiên, người sáng lập tông Thiên thai, là con thứ 4 của vua Văn tông. Năm 11 tuổi, y vào ngài Lạn viên ở chùa Linh thông xuất gia, tu học giáo pháp Hoa nghiêm. Năm 1085, ngài đến Trung quốc (đời Tống), khi về nước mang theo hơn 3.000 quyển kinh sớ... sau biên thành Tân biên chư tông giáo tạng mục lục 3 quyển và soạn Tân tập viên tông văn loại hơn 10 bộ trên 300 quyển. Phật giáo ở thời đại Cao li được triều đình bảo hộ nên rất hưng thịnh, đến năm 1392, Cao li diệt vong, Phật giáo cũng theo đó mà suy vi dần. Sau khi nhà Lí dựng nước, phong trào chấn hưng Nho học và bài xích Phật giáo bùng nổ, là thời đại Phật giáo bị hạn chế và đàn áp. Vua Duệ tông (ở ngôi 1469) sửa đổi và định lại qui chế về độ điệp, chia ra Thiền tông, Giáo tông, mỗi tông đều có 30 viên chức chính ngạch. Ngoài ra, còn cấm xây dựng chùa tháp. Các vua về sau như Thành tông (ở ngôi 1470-1494), Yên sơn quân (ở ngôi 1495-1505), Trung tông (ở ngôi 1506-1544), v.v... đều thi hành chính sách bài Phật. Đến đầu năm Minh tông (ở ngôi 1546- 1567), Thái hậu nhiếp chính, làm cho Phật giáo hưng thịnh một thời gian, nhưng sau khi vua Minh tông đích thân cầm quyền, khôi phục chính sách phù Nho bài Phật thì Phật giáo lại rơi vào tình trạng suy đồi như cũ. Tuy vậy, thời kì này vẫn còn có các vị cao tăng đại đức, như ngài Vô chuẩn Kỉ hòa (1376-1433) soạn luận Hiển chính để bác lại luận Bài Phật; ngài Tây sơn Hưu tĩnh (1520-1604) phát huy Thiền học, tăng ni và tín đồ Phật giáo ở Hàn quốc hiện nay phần nhiều thuộc về pháp hệ này. Sánh ngang với pháp hệ của ngài Hưu tĩnh, có pháp hệ của ngài Phù hưu Thiện tu (1543-1649) và pháp hệ của ngài Bích nham Giác tính (1575- 1660). Ngoài ra, còn có ngài Hối am Định tuệ (1685-1741) soạn Hoa nghiêm kinh sớ ẩn khoa, Thiền nguyên tập đô tự trứ bính. Ngài Hối am Định tuệ và ngài Kính nghiêm Ưng doãn (1703-1804) được gọi là Đại tông sư của Giáo tông và Thiền tông. Vào cuối triều Lí, nhờ các sư nỗ lực vận động, cuối cùng, năm 1895, lệnh cấm tăng sĩ vào kinh đô được bãi bỏ. Bốn năm sau, chùa Nguyên hưng được xây cất và Sở Triều tiên Phật giáo tổng tông vụ được thiết lập tại kinh đô. Từ đó, Phật giáo Triều tiên được phục hưng. Năm 1910, Nhật bản xâm chiếm Triều tiên, 1911 ban bố Triều tiên tổng đốc phủ tự sát lệnh và Tự sát lệnh thi hành qui tắc , chia Giáo đoàn làm 30 bản sơn (năm 1924 thêm chùa Hoa nghiêm nữa thành 31 bản sơn), hình thành 30 giáo khu. Năm 1912, Phật giáo Triều tiên được gọi là Giáo Thiền Lưỡng Tông , đồng thời, lấy chùa Giác hoàng làm cơ quan truyền giáo trung ương và là trụ sở hội nghị của 30 bản sơn và qui định qui củ Thiền môn. Sau vì phản đối việc phủ Tổng đốc chi phối giáo đoàn, nên vào năm 1921, một đại hội chư tăng toàn quốc được triệu tập và lấy quyết nghị thiết lập Viện Triều Tiên Phật Giáo Thiền Giáo Lưỡng Tông Trung Ương Tổng Vụ tại chùa Giác hoàng để quản lí các chùa viện trên cả nước. Năm 1922, phái phản đối cũng lập Viện Triều Tiên Phật Giáo Thiền Giáo Lưỡng Tông Trung Ương Giáo Vụ ở chùa Giác hoàng. Năm 1925, 2 viện hiệp nghị với nhau tổ chức thành một viện: Tài Đoàn Pháp Nhân Triều Tiên Phật Giáo Trung Ương Giáo Vụ làm cơ quan tông vụ trung ương thống nhất để cai quản 31 bản sơn trên toàn quốc; về sau đổi tên thành tông Tào khê và kiến lập chùa Thái cổ làm Tổng bản sơn. Ngoài ra, Viên Phật Giáo là một tông phái mới hưng khởi ở đầu thế kỉ XX do ngài Thiếu thái sơn (1891-1943) sáng lập. Giáo nghĩa cơ bản của phái này là Tu hành môn (Chân không diệu hữu) và Tín ngưỡng môn (Nhân quả báo ứng), thành lập 3 học thuyết: Tinh thần tu dưỡng, Sự lí nghiên cứu và Tác nghiệp thủ xả để giáo hóa tín đồ. Đồng thời mở trường Đại học Viên quang để đào tạo nhân tài. Tông pháp này có thế lực rất mạnh. Về phương diện giáo dục, năm 1906 chùa Nguyên hưng mở trường Minh tiến làm cơ sở giáo dục tăng chúng, trường này sau được đổi làm trường Sư phạm Phật giáo. Năm 1916, viện Trung ương tổng vụ lập Phật Giáo Trung Ương Học Lâm tại Hán thành để bồi dưỡng tăng sĩ trẻ với các môn học như: Tu thân, Tông thừa, Dư thừa, Tông giáo học, Bố giáo pháp, Triết học, Lí, Số, Sử, Địa, v.v... Đồng thời, cũng thành lập các Học lâm ở các địa phương lấy chùa viện làm trung tâm. Nhưng vì Học lâm trung ương trước kia từng là căn cứ địa của cuộc vận động độc lập cho Hàn quốc nên vào năm 1922 bị bãi bỏ. Qua nhiều lần đổi thay, sau thế chiến thứ 2, cơ sở này đã trở thành Đại học Đông quốc. Ngoài những cơ sở giáo dục nói trên, còn có Đại học Tăng già trung ương và các giảng viện phụ đặt ở các chùa. Trong đó, Đại học Đông quốc và Đại học Viên quang là 2 trung tâm nghiên cứu Phật giáo lớn nhất và đã đào tạo được nhiều học giả kiệt xuất. Về phương diện báo chí, thì từ sau năm 1910, Phật giáo Hàn quốc đã phát hành các tạp chí như: Viên tông, Triều tiên Phật giáo nguyệt san, Hải đông Phật giáo, Phật giáo chấn hưng hội nguyệt báo, Triều tiên Phật giáo giới, Phật giáo, Phật giáo học báo, Hàn quốc Phật giáo học, Hàn quốc tông giáo, Viên Phật giáo tư tưởng, v.v... Hiện nay, Phật giáo Hàn quốc chia làm 18 tông phái, trong đó, tông Tào khê và tông Thái cổ là 2 phái chủ đạo lớn. Cứ theo Hàn quốc tự sát tư liệu tùng thư 4 (1983), thì Hàn quốc hiện có 20.755 tăng sĩ và 11.130.000 tín đồ thuộc tất cả các tông phái. Ngoài Phật giáo, Hàn quốc còn có các tông giáo khác như Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, Nho giáo, Thiên đạo giáo... Thiên chúa giáo truyền vào Hàn quốc cách đây khoảng 200 năm. Sau thế chiến, Cơ đốc giáo rất thịnh. Đến năm 1933, số tín đồ đã lên tới 940.000 người. [X. Nhật Hàn Phật giáo nghiên cứu (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 82); Triều tiên Phật giáo thông sử (Lí năng hòa); Hàn quốc Phật giáo sử (Ái đãng Hiển xương); Hàn quốc Phật giáo sử (Kim anh thái)].

hàn sĩ

A poor student.

Hàn Sơn

寒山; C: hánshān; J: kanzan; tk. 7;|Một dị nhân trong Phật giáo Trung Quốc đời Ðường. Ông thường được nhắc đến cùng với Thập Ðắc và Thiền sư Phong Can. Cả ba vị đều là những nhân vật độc đáo trong lịch sử Thiền tông, tạo thành một trong những đề tài hấp dẫn của lối vẽ tốc hoạ bởi các nghệ sĩ thiền. Những bài thơ của Hàn Sơn khắc trên vách đá được sưu tầm và lưu truyền dưới tên Hàn Sơn thi.|Ông là một thi sĩ sống ẩn dật cơ hàn trong một hang đá núi Thiên Thai, thường đến viếng Thiền sư Phong Can (豐干; c: fēnggān; j: bukan) ở chùa Quốc Thanh. Nơi đây ông gặp Thập Ðắc, một người phụ bếp trong chùa. Thập Ðắc (拾得, Thập Ðắc có nghĩa là »lượm được«; c: shide; j: jittoku) hay để dành thức ăn còn sót lại trên bàn của chư tăng cho ông. Ông thường đi tới đi lui ở hành lang, thỉnh thoảng kêu to một mình rồi tự than: »Khổ quá! Khổ quá! Họ cứ lăn trôi mãi trong tam giới« và khi bị đuổi đi thường vỗ tay cười lớn rời chùa.|Về Thập Ðắc thì cũng không ai biết gì, chỉ rõ là ông bị bỏ rơi lúc còn nhỏ trong rừng, được Phong Can – vị trụ trì tại chùa Quốc Thanh – tìm thấy và bồng về chùa nuôi dưỡng. Phong Can thì nổi danh vì sư cảm hoá được cả cọp, xung quanh am của sư có cọp dữ qua lại và vì vậy, sư thường được trình bày dưới dạng cưỡi cọp trong các bức tranh.|Một hôm Thập Ðắc quét sân chùa, vị sư trụ trì hỏi: »Chú tên là Thập Ðắc vì Phong Can mang chú về. Vậy chú tên họ là gì? ở đâu đến?« Thập Ðắc nghe hỏi vậy liệng cây chổi và đứng khoanh tay trước ngực. Sư trụ trì không hiểu. Hàn Sơn chợt đi ngang qua, đấm ngực kêu: »Ối! Ối!« Thập Ðắc hỏi: »Làm gì thế, huynh?« Hàn Sơn bảo: »Chú có biết nói: ›Nhà hàng xóm chết, người hàng xóm chia buồn, không?‹« Rồi cả hai cùng nhảy múa, vừa la vừa cười bỏ đi.|Trong lời dẫn của tập Hàn Sơn thi, Lưu Khâu Dận – một vị quan mộ đạo tại Ðài Châu – có ghi lại chút ít về Hàn Sơn và Thập Ðắc. Khi được Phong Can chữa khỏi bệnh, ông hỏi: »Vùng này có vị nào mà tôi có thể theo học được chăng?« Phong Can đáp: »Ai nhìn họ thì không nhận ra, ai mà nhận ra họ thì không cần nhìn. Nếu ông muốn yết kiến thì không nên tin vào cặp mắt thịt – và sẽ nhận ra họ. Hàn Sơn là Văn-thù, ẩn cư trên chùa Quốc Thanh, Thập Ðắc là Phổ Hiền, trông giống như một gã ăn xin, phong cách như cuồng…«.||H 26: Hàn Sơn và Thập Ðắc, tranh của Châu Văn (周文; j: shūbun, ?-1460), một hoạ sĩ người Nhật.|Nghe như vậy, Lưu Khâu liền đến chùa Quốc Thanh tìm hai vị. Vừa thấy mặt, ông làm lễ cung kính. Việc này làm các vị sư trong chùa ngạc nhiên, hỏi: »Ðại nhân sao lại lễ các gã ăn xin này?« Hàn Sơn và Thập Ðắc liền cười to và nói: »Phong Can này lắm chuyện, đáng bị quở phạt vụ này.« Cả hai chạy trốn thật nhanh, không ai theo kịp. Khi Lưu Khâu đến tìm cúng dường lần nữa thì gặp Hàn Sơn và Hàn Sơn thấy ông liền la lớn: »Các ngươi hãy cố gắng!« Nói xong, ông lui vào một hang đá không bao giờ trở ra nữa, Thập Ðắc cũng mất tích luôn. Sau đây là một bài thơ của ông (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|憶得二十年。徐歩國清歸|國清寺中人。盡道寒山癡|癡人何用疑。疑不解尋思|我尚自不識。是伊爭得知|低頭不用問。問得復何爲|有人來罵我。分明了了知|雖然不應對。却是得便宜|Ức đắc nhị thập niên|Từ bộ Quốc Thanh quy|Quốc Thanh tự trung nhân|Tận đạo Hàn Sơn si|Si nhân hà dụng nghi|Nghi bất giải tầm ti|Ngã thượng tự bất thức|Thị y tranh đắc tri|Đê đầu bất dụng vấn|Vấn đắc phục hà vi|Hữu nhân lai mạ ngã|Phân minh liễu liễu tri|Tuy nhiên bất ứng đốI|Khước thị đắc tiện nghi.|Nhớ hai mươi năm trước|Thả bộ Quốc Thanh về|Trong chùa ai cũng nói|Hàn Sơn là gã si|Người si cần chi nghi|Nghi không hiểu tầm ti (tư)|Riêng ta còn chẳng biết|Thì y biết nỗi gì|Cúi đầu đừng hỏi nữa|Hỏi được lại làm chi?|Có người đến chửi ta|Ta biết rõ tức thì|Tuy nhiên không ứng đối|Thế mà được tiện nghi|Sự trầm tĩnh khinh an, tự tín bất động xuất phát từ hai nhân vật này cho thấy rằng, nó chỉ có thể là biểu hiện từ tâm giác ngộ. Tự mình tu tập, chẳng theo tông phái nào, cũng chẳng sống trong chùa theo luật chật hẹp mà vẫn đi trên Phật đạo, »cuồng điên« nhưng trí huệ lại cao siêu xuất thế. Có lẽ vì sự dung hoà của những kiến giải mâu thuẫn người ta tìm được ở hai đại nhân này mà hình tượng của họ đã và vẫn còn gây nhiều cảm hứng cho những người cư sĩ mộ đạo, trở thành những đề tài bất hủ trong nghệ thuật giới thiền.

hàn sơn

(寒山) Cũng gọi Hàn sơn tử, Bần tử. Nhà ẩn sĩ sống vào đời Đường. Vì ông thường ở trong một hang núi lạnh lẽo tối tăm thuộc huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang, lại cũng chẳng biết họ tên ông, nên người đời gọi ông là Hàn sơn. Hàn sơn thường đến chùa Quốc thanh trên núi Thiên thai, trong chùa có vị tăng tên là Thập đắc, giữ chức trông nom nhà ăn, kết bạn thân với Hàn sơn. Sư thường thu nhặt những thức ăn thừa của chúng tăng, chứa vào một cái ống tre lớn, đợi khi Hàn sơn đến thì 2 người liền mang ống tre đi. Hành vi của Hàn sơn rất quái đản, gần như điên cuồng. Mỗi khi đến chùa Quốc thanh, Hàn sơn hay đi ngất ngưỡng ở hành lang, có khi la hét xúc phạm mọi người, khi lại ngửa mặt lên trời chửi đổng, chư tăng thấy thế, cầm gậy dọa đuổi, Hàn sơn quay lại vỗ tay cười ha hả rồi bỏ đi. Ông mặc manh áo rách nát, thân hình khô đét, đầu đội chiếc mũ làm bằng vỏ cây hoa, chân đi đôi guốc gỗ to; thích ngâm thơ xướng kệ, mỗi khi phát ngôn thường khế hợp với lí Phật. Thứ sử Thai châu là Lư khâu dận nghe danh ông tìm đến chùa Quốc thanh thăm ông, thấy Thái thú đến, Hàn sơn và Thập đắc khoắc tay cười ngạo rồi ra khỏi chùa. Lư khâu dận lại đến hang núi Hàn sơn ở để thăm, mang theo quần áo, thuốc thang để tặng. Hàn sơn lớn tiếng nói (Đại 50, 831 hạ): Giặc đến giặc đến! Ta chạy trốn thôi! rồi thu mình vào hang đá và nói: Các ngươi hãy cố gắng! Nói xong, hang đá tự nhiên khép lại không thấy dấu vết gì nữa. Về sau, ngài Đạo kiều đi tìm di vật của Hàn sơn, chỉ thấy hơn 300 bài thơ ở trong núi, sau đó biên chép lại, lấy tên là Hàn Sơn Thi . Cứ theo Tổ đường tập quyển 16 và Tống cao tăng truyện quyển 11, thì thiền sư Qui sơn Linh hựu đã từng gặp Hàn sơn ở núi Thiên thai. Cổ tôn túc ngữ lục quyển 14 cũng ghi thiền sư Triệu châu Tùng thẩm cũng có lần đối đáp với Hàn sơn. Về niên đại của Hàn sơn, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng ông sinh vào khoảng năm Tiên thiên đời vua Huyền tông nhà Đường. Có thuyết cho vào khoảng năm Trinh quán đời vua Thái tông, có thuyết nói vào năm Nguyên hòa đời vua Hiến tông. Nhưng theo sự khảo chứng gần đây thì ông sinh vào đầu năm Cảnh vân đời vua Duệ tông, ở ẩn tại núi Thiên thai vào khoảng năm Đại lịch đời vua Đại tông. Truyền thuyết cho rằng Hàn sơn là hóa thân của bồ tát Văn thù cùng với các sư Phong can(hóa thân của Phật Di đà) và Thập đắc (hóa thân của bồ tát Phổ hiền) được gọi là Tam thánh hoặc Tam ẩn. Lại vì cả 3 vị đều ở chùa Quốc thanh, núi Thiên thai, nên cũng gọi là Quốc thanh tam ẩn . Năm Ung chính 11 (1733) đời Thanh, vua phong cho Hàn sơn là Hòa Thánh , Thập đắc là Hợp Thánh , gọi chung là Hòa Hợp Nhị Thánh hoặc Hòa Hợp Nhị Tiên . [X. Tống cao tăng truyện Q.19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.27; Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Thích thị kê cổ lược Q.3; Thiên thai sơn quốc thanh thiền tự tam ẩn tập kí]. (xt. Thập Đắc).

hàn sơn thi

(寒山詩) Thi phẩm, 3 quyển, do ngài Đạo kiều chùa Quốc thanh biên chép vào đời Đường. Nội dung sưu tập hơn 300 bài thi tụng của nhà thơ Hàn sơn, làm theo thể ngũ ngôn. Lời thơ trong sáng, tao nhã, ý thơ thanh thoát, thể hiện chiều sâu của tâm linh và trí tuệ. Ngoài ra, còn có phần phụ lục thơ của ngài Phong can và Thập đắc. Đầu quyển có bài tựa của Thứ sử Thai châu Lư khâu dận. Sách này còn có bản do sa môn Vũ huyệt Chí nam biên tập vào năm Thuần hi 16 (1189) đời Tống và bản khắc của Kế ích hiên đời Minh.

hàn sơn tự

(寒山寺) Cũng gọi Phong kiều tự Chùa ở thị trấn Phong kiều, phía tây huyện Ngô (tức Tô châu), tỉnh Giang tô, được sáng lập vào khoảng năm Thiên giám (502-519) đời Lương thuộc Nam triều. Tương truyền, khoảng năm Nguyên hòa đời Đường, Hàn sơn và Thập đắc dựng am tranh ở đây, về sau, ngài Hi thiên lập thành chùa, lấy tên là Hàn sơn tự. Có thuyết cho rằng trước kia chùa này có tên là Diệu lợi phổ minh tháp viện. Khoảng năm Thái bình hưng quốc đời Tống, quan Tiết độ sứ là Tôn thừa hựu xây một tòa tháp 7 tầng. Khoảng năm Gia hựu đổi tên là Phổ minh thiền viện. Cuối đời Nguyên, chùa bị chiến tranh thiêu hủy. Trong năm Hồng vũ Hàn Sơn đời Minh, chùa được trùng tu. Về sau còn được sửa chữa nhiều lần. Trong chùa thờ tượng các ngài Hàn sơn, Thập đắc và Phong can. Chùa có các kiến trúc như lầu chuông, gác để kinh, v.v... Trong chính điện còn tấm đá khắc các chữ. Hàn sơn, Thập đắc và tấm bia dựng ở vách điện khắc bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ Trương kế đời Đường. Trong chùa cũng có quả chuông do người Nhật tên là Y đằng Bác văn cúng vào năm Quang tự 31 (1905) đời Thanh. Phía ngoài cửa chùa có cây cầu đá tên là Phong kiều. [X. Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 678, 686; Thần dị điển thứ 115; Đại minh nhất thống chí Q.8; Đại thanh nhất thống chí Q.55; Tô châu phủ chí Q.40; Chi na Phật giáo sử tích bình giải thứ 2].

hàn sơn tự chí

(寒山寺志) Gồm 3 quyển, do ông Diệp xương xí soạn vào đời Thanh, ấn hành năm 1922, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Nội dung nói về chùa Hàn sơn. - Quyển 1: Nói về cầu, chùa, tượng, chuông... - Quyển 2: Nói về bia, chư tăng, tài sản, thắng cảnh, du khách... - Quyển 3: Nói về thơ và phụ thêm sự tích Hàn sơn, Thập đắc, Hàn sơn thi tập giải đề, Chư gia thư độc thi thoại tự bạt khảo chứng.

hàn thanh tịnh

(韓清淨) (1873-?) Học giả Phật giáo Trung quốc, tên Đức thanh, hiệu Thanh tịnh cư sĩ, bởi thế, giới Phật giáo thường gọi là Hàn thanh tịnh. Ông là người có công lớn đối với việc phục hưng Duy thức học sau đời Đường và phát triển Phật học ở miền Bắc Trung quốc, ông nổi tiếng ngang với Âu dương tiệm, nên đương thời đã có lời khen một cách danh dự là: Nam Âu Bắc Hàn (miền Nam có Âu dương tiệm, miền Bắc có Hàn thanh tịnh).Năm Dân quốc 16 (1927), ông và Từ sâm ngọc tổ chức Tam thời học hội . Hội này và Chi na nội học viện của ông Âu dương tiệm đều là nơi nghiên cứu Duy thức học nổi tiếng. Nhờ học thức uyên thâm, ông nghiên cứu bộ luận Du già sư địa căn bản và 10 bộ luận phụ thuộc. Ông nhớ từng câu, từng chữ trong bộ luận Du già sư địa và luận Nhiếp đại thừa. Ông đã ấn hành các bộ sách cổ về Duy thức học, mỗi khi giảng dạy hoặc soạn thuật, ông cố sức giữ nguyên nghĩa. Ông có các tác phẩm: Du già sư địa luận khoa cú phi tầm kí vựng biên 100 quyển, Duy thức chỉ chưởng, Duy thức tam thập tụng thuyên cú, Thành duy thức luận thuật kí giảng nghĩa 2 tập, Giải thâm mật phân biệt du già phẩm lược thích 3 quyển.

hàn thử

Lạnh và nóng—Cold and heat.

hàn thử biểu

Thermometer.

hàn vi

Poor and humble.

Hàng Châu Thiên Long

杭州天龍; C: hángzhōu tiānlóng; J: kōshū tenryū; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðại Mai Pháp Thường và là thầy truyền »Thiền một ngón tay« cho Thiền sư Kim Hoa Câu Chi.

hàng châu thượng thiên trúc giảng tự chí

(杭州上天竺講寺志) Gồm 16 quyển, do ngài Quảng tân soạn vào đời Minh, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Vị trí chùa Thượng thiên trúc giảng ở núi Thiên trúc, Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, được xây cất vào năm Thiên phúc thứ 4 (939) đời Hậu Tấn. Trải qua các triều đại đều được tu bổ. Đến năm Càn long 16 (1751) vua đề tên là Pháp Hỉ Tự , từ đó người đời gọi là chùa Pháp hỉ. Về các bản Tự chí cũ thì có Tự chí của Lí kim đình, Thiên trúc sơn chí 12 quyển của Quản đình phân. Bản chí này được khắc lại và ấn hành vào năm Quang tự 23 (1897), chia làm 7 phẩm: 1. Phổ môn thị hiện. 2. Tôn túc trụ trì. 3. Khí giới trang nghiêm. 4. Đế vương đàn việt. 5. Tể quan ngoại hộ. 6. Phong phạm long ô. 7. Thi văn kí thuật. Trong phẩm Phong phạm long ô, soạn giả đã ghi lại tất cả những hành vi xấu xa nhơ nhuốc của chư tăng trong chùa, không giấu giếm che đậy. Một cây bút cương trực đáng quí.

hàng long

Hàng phục rồng dữ, như bắt nó phải chui vào bình bát như Ðức Phật đã làm—To subdue nagas, e.g. to compel a naga to enter an almsbowl as did the Buddha.

hàng long bát

(降龍鉢) Bình bát hàng phục loài rồng. Vị cao tăng đời Tấn là ngài Thiệp công, theo lời thỉnh cầu của Phù kiên, làm lễ cầu mưa. Ngài chú nguyện một lúc thì hàng phục được một con rồng, nó chui vào trong chiếc bát của ngài và chỉ trong giây lát là mưa lớn trút xuống. Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 thượng), nói: Bát hàng rồng, gậy can hổ (cọp), 2 lớp khoen vàng kêu leng keng . [X. chương Thiệp công trong Lương cao tăng truyện Q.10].

hàng long phục hổ

To subdue nagas and subjugate tigers.

hàng long vương kinh

Kinh giảng về câu chuyện Ðức Phật hàng phục rồng dữ—A sutra preached about the story of subduing nagas of the Buddha—See Hàng Long.

hàng ma

Hàng phục ma quân như Ðức Phật đã làm khi Ngài vừa thành Chánh Giác (Khi Ðức Phật sắp sửa thành chánh giác, Ngài ngồi ở Bồ Ðề Ðạo Tràng, thì có vị trời thứ sáu ở cõi dục giới hiện tướng ác ma đến thử thách Ngài bằng đủ thứ nguy hại, hoặc dùng lời ngon ngọt dụ dỗ, hoặc dùng uy lực bức hại. Tuy nhiên, đức Phật đều hàng phục được tất cả)—To overcome demons, e.g. as the Buddha did at his enlightenment. ; (降魔) Phạm: Màra-tarjama, hoặc Màradharwaịa. Đối trị và hàng phục ác ma để tăng trưởng pháp lành, giữ tìn tuệ mệnh. Thông thường, ma được chia làm 2 loại là Phiền não ma và Thiên ma. Hai thứ ma này đều là chướng ngại cho việc tu đạo, hành giả phải nhờ vào sức thiền định và trí tuệ để hàng phục. Chư Phật và Bồ tát vì dắt dẫn chúng sinh nên cũng phải dùng sức thiền định và trí tuệ để hàng phục ác ma phá hại, như thanh gươm của Bất động minh vương được gọi là gươm hàng ma. Tương truyền, đức Thích tôn đang ngồi ở gốc cây Bồ đề, bọn ma vương đến quấy phá, Ngài liền hàng phục chúng mà thành bậc Chính đẳng chính giác, cho nên Hàng ma là một trong 8 tướng thành đạo của đức Thích tôn. Sự tích hàng ma của đức Thích tôn được ghi chép rất nhiều trong các kinh, như phẩm Hàng ma trong kinh Phật bản hạnh quyển 3, phẩm Phá ma trong Phật sở hành tán quyển 3, phẩm Hàng ma trong kinh Phổ diệu quyển 6, v.v... Ngoài ra, tranh và tượng miêu tả đức Thích tôn hàng ma cũng được đắp vẽ rất nhiều, mà nổi tiếng nhất là bức tranh Đức Thích Tôn Hàng Ma Thành Đạo được vẽ vào thế kỉ thứ VII Tây lịch trên vách đá bên phải của hang thứ nhất trong quần thể hang đá A chiên đa (Ajantà) ở Ấn độ. Lại nữa, ấn tướng tay phải đặt trên đầu gối, tay trái nắm lấy chéo áo ca sa, gọi là Hàng ma ấn. Ngồi kết già chân phải đặt lên trên bắp vế trái, chân trái đè lên bắp vế phải và tay trái để ở trên tay phải, gọi là Hàng ma tọa. [X. kinh Vô lượng thọ; Thánh vô động tôn nhất tự xuất sinh bát tự đồng tử bí yếu pháp phẩm; Ma ha chỉ quán Q.8].

Hàng Ma Sùng Huệ

(降魔崇慧, Gōma Sūe, hậu bán thế kỷ thứ 8): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, sống vào khoảng giữa thời nhà Đường, pháp từ của Kính Sơn Pháp Khâm (徑山法欽), họ Chương (章), xuất thân Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Ông theo làm đệ tử của Pháp Khâm, tu về Thiền quán lẫn Mật Giáo. Ban đầu ông kết am tu ở Thiên Khoảnh Sơn (千頃山, Tỉnh Triết Giang), trì tụng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni (佛頂尊勝陀羅尼). Khoảng đầu niên hiệu Đại Lịch (大曆, 766), ông lên Kinh Sư (京師, Trường An), trú ở Chương Tín Tự (章信寺), đã từng tranh đua đạo lực với đạo sĩ Sử Hoa (史華) ở Thái Thanh Cung (太清宮) và thắng trận. Ông được ban cho hiệu là Hộ Quốc Tam Tạng (護國三藏), sắc chỉ trú trì An Quốc Tự (安國寺). Người đời thường gọi ông là Cân Tử Sơn Hàng Ma Thiền Sư (巾子山降魔禪師).

Hàng Ma Tạng

(降魔藏, Kōmazō, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, thuộc Bắc Tông Thiền, xuất thân Quận Triệu (趙郡, Tỉnh Hà Bắc), họ Vương (王). Năm lên 7 tuổi đã từng sống một mình ở chỗ vắng vẻ, chẳng hề sợ sệt và lớn lên tự xưng là Hàng Ma. Ông đến tham yết Minh Tán (明讚) ở Quảng Phước Viện (廣福院), thông hiểu về Pháp Hoa. Sau khi xuống tóc xuất gia và thọ giới Cụ Túc, ông chuyên học về Luật. Mặc dầu ông đã từng giảng thuyết về Nam Tông Luận, nhưng ông từ bỏ và theo hầu hạ Bắc Tông Thần Tú (神秀). Ông thị tịch ở tuổi 91.

hàng ma ấn

(降魔印) Ấn tướng hàng phục ác ma. Khi kết ấn này, tay phải đặt trên đầu gối, tay trái nắm chéo áo ca sa. Nhưng theo Hoan hỉ mẫu ái tử thành tựu pháp nói, thì 2 tay đan vào nhau, 2 ngón út móc với nhau, 2 đầu ngón áp út để vào kẽ 2 ngón cái và 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa dựng đứng áp sát nhau, 2 ngón trỏ để trên lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái bấm vào 2 lóng giữa của 2 ngón giữa.

hàng phục

Abhicaraka (skt)—To subdue—To tame—Subjugation—Tiếng Phạn là A Tỳ Giá Lỗ Ca, một trong tứ đàn pháp của tông Chân Ngôn, nghĩa là hàng phục ma quân sức trí tuệ và lòng từ bi của mình—One of the four kinds of altar-worship of the Shingon sect, exorciser; magic; subjugator of demons—See Tứ Chủng Ðàn Pháp.

hàng phục phiền não

Có bốn cách cho người Phật tử hàng phục phiền não—Subduing afflictions—There are four basic ways for a Buddhist to subdue afflictions: 4) Hàng phục phiền não bằng tâm: Subduing afflictions with the mind bygoing deep into meditation or Buddha recitation. 5) Hàng phục phiền não bằng quán chiếu sự bất tịnh, vô thường và vô ngã của vạn vật: Subduing afflictions by visualizing the principles of impurity, suffering, impermanence and no-self. 6) Hàng phục phiền não bằng cách rời bỏ hiện trường: Subduing afflictions by leaving the scene and slowly sip a glass of water to cool ourselves down. 7) Hàng phục phiền não bằng cách sám hối nghiệp chướng qua tụng kinh niệm chú: Subduing afflictions with repentance and recitation sutras, mantras, or reciting the noble name of Amitabha Buddha.

hàng phục toạ

(降伏坐) Cũng gọi Hàng ma tọa. Một trong những lối ngồi kiết già. Khi ngồi, chân phải đặt lên trên bắp vế trái và chân trái để ở trên bắp vế phải. Tay trái để trên tay phải, đặt trước rốn. Tông Thiên thai và Thiền tông phần nhiều ngồi theo tư thế này. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.8]. (xt. Kết Già Phu Tọa).

hàng phục tâm

To subdue one's mind.

hàng phục vọng tâm

To subdue one's false mind.

hàng tam thế

Vị Minh Vương kiểm soát và hàng phục tam thế tham sân si, như Hàng Tam Thế Minh Vương—To subdue the three worlds of desire, resentment, and stupidity, as conqueror of them, e.g. Trailokya-vijaya-raja—See Hàng Tam Thế Minh Vương.

hàng tam thế minh vương

Trailokya-vijaya-raja (skt)—Còn gọi là Nguyệt Yêm Tôn Thắng Tam Thế Vương. Vị Minh Vương chinh phục ba món độc hại tham, sân, si, trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Vị Minh Vương nầy ngự trị nơi đông phương—The Maharaja who subdues all resisters (of desire, resentment, and stupidity) in the three realms, past, present, and future, represented with black face, three eyes, four protruding teeth, and fierce laugh. This raja controls and subdues the demons in the east. ; (降三世明王) Phạm: Trailokyavijaya. Cũng gọi: Nguyệt yểm tôn, Thắng tam thế, Tam thế thắng, Hàng tam thế kim cương bồ tát. Vị Minh vương đã hàng phục được tham, sân, si và cả 3 cõi. Vị thứ 2 trong 5 vị Đại minh vương, tức là Giáo lệnh luân thân ở phương đông thuộc Kim cương bộ. Mật hiệu là Tối thắng kim cương. Hình tượng vị này màu xanh, 3 mặt, 8 tay, hoặc 4 mặt, 8 tay. Mỗi tay cầm một thứ vũ khí, sau lưng có lửa bốc lên, chân đạp lên 2 vợ chồng Đại tự tại thiên (Ma hê thủ la), tượng trưng việc đối trị phiền não. Trong mạn đồ la Kim cương giới, vị Minh vương này mang hình tướng phẫn nộ của Kim cương tát đóa. Đó là hóa thân của Đại nhật Như lai trong Nguyệt luân ở phía đông của hội Hàng tam thế yết ma và hội Hàng tam thế tam muội da. Trong viện Trì minh của mạn đồ la Thai tạng giới, Hàng tam thế minh vương được đặt ở khoảng giữa bồ tát Bát nhã và Bất động tôn. [X. Lâm tăng bảo truyện 1 trong kinh Giáo vương Q.10 (bản 30 quyển); Đại nhật kinh sớ Q.5; Kim cương giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.3].

hàng tam thế tam muội da hội

(降三世三昧耶會) Hội thứ 9 trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo, vị trí ở bên trái phía dưới hội Thành thân. Trong hội này, đức Đại nhật Như lai lấy việc hàng phục trời Đại tự tại làm bản thệ, còn các vị tôn khác đều trụ nơi bản thệ của Hàng tam thế minh vương. Hình tượng và vị trí chư tôn trong hội này cũng giống như hội Hàng tam thế yết ma, nhưng hội Hàng tam thế yết ma thì biểu thị thân tướng đầy đủ sự nghiệp, còn hội này thì biểu thị đức nội chứng của chư tôn, cho nên đặc biệt bày hình Tam muội da của các Ngài. Trong đó, hình Tam muội da của Kim cương tát đóa là bánh xe 8 nan hoa (căm), có tác dụng phá dẹp, biểu thị tâm bồ đề thanh tịnh kiên cố sẵn có của chúng sinh; còn trời Đại tự tại thì tượng trưng cho vô minh căn bản. Tổng số chư tôn trong hội này là 37 vị. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).

hàng tam thế yết ma hội

(降三世羯磨會) Cũng gọi Hàng tam thế hội. Hội thứ 8 trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo, vị trí ở phía trái của hội Thành thân. Trong hội này, đức Đại nhật Như lai hiện tướng giận dữ, biểu thị đức Đại nhật Như lai dùng trí kim cương bất hoại để điều phục chúng sinh khó giáo hóa. Hai chân của Ngài đạp lên mình vợ chồng trời Đại tự tại, tượng trưng cho sự đoạn diệt tướng của phiền não chướng và sở tri chướng trong 3 đời, cho nên chư tôn trong hội này trụ nơi thân Yết ma của Hàng tam thế minh vương. Hình tượng và vị trí của chư tôn trong hội này cũng giống như hội Thành thân, đức Đại nhật ở chính giữa kết ấn Trí quyền, hiện tướng hàng phục Tứ ma (Ngũ uẩn ma, Phiền não ma, Tử ma, Thiên ma). Bốn vị Phật và 16 vị đại Bồ tát ở chung quanh Ngài cũng đều nắm tay, hiện tướng phẫn nộ. Tổng số các vị tôn trong hội này gồm 77 vị, trong đó có 73 vị của hội Tam ma da, cộng thêm với 4 vị Đại minh vương trấn giữ ở 4 góc ngoài là Bất động, Kim cương dạ xoa, Quân đồ lợi, Đại uy đức. [X. kinh Giáo vương Q.10, Q.11 (bản 30 quyển)]. (xt. Kim Cương Giới Mạn Đồ La).

hàng thụ

Avenues of trees—Trees in rows.

Hành

行; S: saṃskāra; P: saṅkhāra;|1. Theo Ấn Ðộ giáo thì saṃskāra có nghĩa là »ấn tượng,« »hậu quả,« được dùng chỉ những ấn tượng, khả năng tiềm tàng trong thâm tâm. Những saṃskāra này được hình thành qua những hành động, ý nghĩ, kể cả những hành động trong những tiền kiếp. Tất cả những saṃskāra này tạo thành thân thể con người, tạo thành cái mà người ta thường gọi là »bản năng«.|2. Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật. Hành được xem là một ý định, một chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác. Chủ động tạo tác là Hành mà thể thụ động của một sự việc xảy ra cũng là Hành. Hành là uẩn thứ tư trong Ngũ uẩn (五蘊; s: pañcaskandha; p: pañcakhan-dha) và là yếu tố thứ hai trong Mười hai nhân duyên (s: pratītyasamutpāda; p: pa-ṭicca-samuppāda). Hành bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Vì hành động bao gồm Thân, khẩu, ý nên người ta cũng phân biệt Hành thuộc thân, khẩu hay ý. Hành mang lại một sự tái sinh (được hiểu là một hành động hay cả một cuộc đời), không có Hành thì không có Nghiệp và không có tái sinh. Hành quyết định phương thức tái sinh vì hành có tốt, có xấu. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa) và chính thức này đi tìm cha mẹ để tái sinh và quyết định thể tính của con người mới.

hành

4) Ði: To go. 5) Làm: Asevati (p)—Asev (skt)—To act—To do—To perform—To practice. 6) Hạnh Kiểm: Conduct. 7) Hành uẩn: Sankhara (p)—Samskara (skt)—Yếu tố cấu tạo hành động (mental formation forces or volitional impulses, or intentions that precede an action)—Nhiệm vụ của “Hành” là chuyển tâm về một đối tượng nào đó, nhận biết và thực chứng đối tượng. Như vậy “Hành” là căn bản cho tất cả những mong ước của chúng ta (mong ước nơi thân, khẩu và ý qua hành động, lời nói và tư tưởng)—Mental formation—Intention—Volition—Mental functioning—Whatever is done by mind, mouth, or body in thought, word, or deed—The function of mental factor intention is to move our mind toward an object, to perceive and realize it. Thus mental factors intention is the basis for all our wishes (wishing in body, speech and mind)—See Ngũ Uẩn. 33) Sự cấu tạo: Formation. 34) Ý muốn hành động: Volitional actions. 35) Khuynh hướng của tâm: Tendencies of mind. 36) Lực cấu tạo tâm: Mental formation forces. 37) Pháp duyên hợp hay pháp hữu vi: Compounded things or conditioned things. 8) Thực hành: To practice—There are two kinds of practice—Còn gọi là Hạnh, tức là phần thực hành, hay sự hành trì. Theo Tịnh Ðộ Tông, hành là thiết thực xưng niệm danh hiệu Phật A Di Ðà cho đến nhứt tâm và cảm ứng đạo giao để được Ðức Phật A Di Ðà tiếp dẫn—According to the Pureland Buddhism, practice means one must recite the Amitabha Buddha with the utmost sincerely to the point of achieving one-mind or single-minded recitation in order to establish the unimaginable connections and having the Buddha rescue and deliver the cultivator to the Western Pureland after death. 3) Pháp hành: Practice based on the teaching of Dharma. 4) Tín hành: Practice based on belief. ; (行) I. Hành. Phạm:Saôskàra.Pàli:Saíkhàra. Dịch âm: San ca la, Tăng sa ca la. Nguyên nghĩa là tạo tác, sau chuyển thành nghĩa biến hóa đổi dời. 1. Tạo tác: Cùng nghĩa với Nghiệp , tức là chi Hành trong 12 duyên khởi. Đó là 3 nghiệp thân, khẩu, ý đời quá khứ chiêu cảm quả báo hiện tại. Cũng tức là tất cả hành động của thân và tâm. 2. Biến hóa đổi dời, tức là pháp hữu vi, bởi vì các pháp hữu vi là do nhân duyên tạo thành, đều là pháp vô thường, biến hóa, đổi dời, cùng nghĩa với chữ Hành trong Chư hành vô thường và Hành uẩn trong Ngũ uẩn. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Ngũ Uẩn, Hành Uẩn, Nghiệp).II.Hành. Phạm: Caryà hoặc Carita. Pàli: Cariya hoặc Carita. Có 2 nghĩa: 1. Động tác, hành vi. 2. Chỉ cho sự tu hành hoặc phương pháp tu hành đạt đến cảnh giới giác ngộ. Như chữ Hành trong Hành giải tương ứng (sự hiểu biết và thực hành ứng hợp nhau), Hành thuyết nhất trí (nói và làm giống nhau), Giáo hành chứng, Giáo lí hành quả v.v... III. Hành. Phạm: Gamana. Tiến hành, bộ hành, cùng nghĩa với chữ Hành trong hành trụ tọa ngọa (4 uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm).

hành bà

(行婆) Bà lão tin Phật tu hành. Truyện Phù bôi hòa thượng trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 262 hạ) chép: Có Lăng hành bà đến lễ bái sư, sư cho ngồi uống trà .

hành bát

(行鉢) Thiền lâm qui định chúng tăng ăn cơm cháo bằng bình bát đi khất thực, gọi là Hành bát. Ngoài ra, tấm bảng ghi tên để sắp xếp ngôi thứ của người hành bát, gọi là Hành bát bài vị bảng.

hành bố môn

(行布門) Cũng gọi Thứ đệ hàng bố môn. Đối lại với Viên dung môn. Pháp môn tu hành theo thứ lớp từ giai vị Bồ tát tiến dần đến quả Phật. Một trong 2 môn của tông Hoa nghiêm. Hai môn ấy là: 1. Sơ hậu tương tức: Người vừa phát tâm liền thành chính giác, gọi là Viên dung môn. 2. Sơ hậu thứ đệ: Từ phẩm Danh hiệu hội thứ 2 đến phẩm Tiểu tướng quang minh hội thứ 6 trong kinh Hoa nghiêm gồm 28 phẩm, nói về 52 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Phàm phu có thể theo thứ tự này mà tu để tiến dần đến quả vị Phật, thì gọi là Hàng bố môn. Ngoài ra, trong 6 tướng viên dung thì Biệt tướng, Dị tướng và Hoại tướng thuộc về Hàng bố môn. (xt. Lục Tướng Viên Dung, Viên Dung Môn Hàng Bố Môn).

hành chánh

Administration.

hành chứng

Tu hành và chứng ngộ. Dựa vào hành đạo mà chứng lý. Hành là nhân và chứng lý là quả—Action and proof; knowledge or assurance derived from doing; practice of religious discipline and the resulting enlightenment. ; (行證) Tu hành và chứng ngộ. Nương nơi Phật đạo tu hành mà được chứng ngộ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.13].

hành cúng dường

c) Ði đến chùa để cúng dường: To go to a temple to make offerings. d) Thực hành thiện pháp để cúng dường chư Phật—The making of offerings by performing wholesome deeds.

Hành Cơ

(行基, Gyōki, 668-749): vị tăng sống dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), húy là Hành Cơ, Pháp Hành (法行), xuất thân vùng Phong Điền (蜂田), Hà Nội (河內, Kawachi, tức Ōsaka [大阪] ngày nay); con trai đầu của Cao Chí Tài Trí (高志才智). Năm 682, ông xuất gia, theo hầu Đạo Chiêu (道昭, Dōshō) và Nghĩa Uyên (義淵, Gien). Đến năm 704, ông biến nhà mình thành Gia Nguyên Tự (家原寺, Ebara-ji), chuyên tâm bố giáo cho dân chúng trong vùng; sau đó đi tuần du khắp nơi, chuyên tâm làm các công việc xã hội như xây dựng chùa chiền, thiết lập đê điều, dựng cầu cống, v.v., nên thông xưng là Hành Cơ Bồ Tát. Tập đoàn những tín đồ tri thức của ông bị liệt vào danh sách vi phạm Tăng Ni Lịnh và bị đàn áp kịch liệt; nhưng đến năm 731, một số đệ tử của ông được phép cho xuất gia. Vào năm 743, ông thống lãnh chúng đệ tử tham gia tạo lập tượng Đại Phật Lô Xá Na (盧舍那) ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), và đến năm 745 thì được bổ nhiệm làm Đại Tăng Chánh. Tương truyền ông từng vào kinh đô, khai mở đạo tràng, số lượng lên đến 49 ngôi viện. Đến năm 749, ông viên tịch tại Quản Nguyên Tự (菅原寺, Sugawara-dera, tức Hỷ Quang Tự [喜光寺, Gikō-ji]) trong khi đang đúc tượng Đại Phật.

hành cơ

(行基) (668-749) Cao tăng Nhật bản sống vào thời Nại lương, người Hòa tuyền, phủ Đại bản. Năm 15 tuổi, sư đến chùa Dược sư học Duy thức, Du già, về sau sư du hóa các nước, hoằng dương pháp môn quán tưởng và giáo nghĩa Tịnh độ, tăng tục theo học sư đông hơn nghìn người. Sư thường dẫn đệ tử đi đào ao, đắp đê, mở đường, bắc cầu, nhưng bấy giờ có người cho những việc làm ấy là trái với giới luật tăng ni nên bị cấm. Thiên hoàng Thánh vũ ngưỡng mộ đức hạnh của sư nên qui y và giúp sức kiến lập chùa Đông đại, chùa Quốc phân. Sư là người đầu tiên được phong chức Đại tăng chính (địa vị cao nhất của chư tăng Nhật bản). Niên hiệu Thiên bình cảm bảo năm đầu (749) sư tịch, thọ 82 tuổi. Người đời tôn sư là hóa thân của bồ tát Văn thù. [X. Tục nhật bản kỉ Q.7, Q.11, Q.17; Hành cơ niên phổ; Hành cơ đại bồ tát].

Hành cước

行腳; J: angya;|Nghĩa là đi chu du đây đó tham học; có hai loại hành cước: 1. Các chuyến hành trình của thiền sinh trẻ và 2. Các cuộc tham vấn, đọ sức, trau dồi kinh nghiệm sau khi ngộ đạo.|Thực hiện các cuộc hành cước loại thứ nhất là các vị đã chấm dứt giai đoạn sơ khởi trong các Thiền viện nhỏ, đi cầu học với các Thiền sư đại gia với hi vọng được thu nhận làm môn đồ (Quải tích). Các chuyến đi đó thường thường rất xa, nhọc nhằn và nguy hiểm, là những thử thách thể chất và tinh thần các thiền sinh. Qua việc gặp nhiều hiểm nguy và cảnh ngộ khác nhau, thiền sinh tập luyện một tâm thức dày dặn và tỉnh giác. Hành lí thường là một cái nón vành rộng, nhằm che mắt để thiền sinh bớt rong ruổi theo cảnh tượng bên ngoài. Ngoài ra thiền sinh có một túi nhỏ đựng quần và giày vải. Trên ngực, thiền sinh mang hai bộ áo, mùa hè và mùa đông, đũa ăn cơm, Bát khất thực, dao cạo râu và vài bộ kinh. Trên lưng là áo mưa lá. Một khi thiền sinh đã vượt qua bao gian nan đến nơi, các vị này hay bị từ chối không cho vào, mục đích là thử thách lòng kiên trì. Có khi các vị phải đứng hàng ngày trời chờ đợi, trong mưa gió lạnh lẽo rồi mới được cho vào. Sau đó các vị phải toạ thiền hàng tuần trong sự cô tịch trước khi chính thức được thâu nhận làm đệ tử. Câu chuyện sau – được Thiền sư Chí Minh ghi lại trong Vườn thiền rừng ngọc (Thiền uyển dao lâm, bản dịch của Thông Thiền) – trình rõ những thử thách khó khăn mà thiền sinh phải vượt qua trước khi được thu nhập làm môn đệ:|»Hoà thượng Diệp Huyện Quy Tỉnh (nối pháp Thủ Sơn Tỉnh Niệm) tính tình nghiêm khắc lạnh lùng, cuộc sống đạm bạc khô khan khiến cho thiền sinh rất kính sợ. Có hai vị thiền sinh là Phù Sơn Pháp Viễn và Thiên Y Nghĩa Hoài riêng đến tham vấn. Gặp lúc mùa đông tuyết rơi, Thiền sư Tỉnh quở mắng thậm tệ rồi lấy nước tạt ướt cả áo quần của chúng tăng. Các vị tăng khác đều giận mà bỏ đi, chỉ còn hai vị Viễn và Hoài ở lại. Họ để nguyên y phục rồi ngồi đợi từ sáng đến trưa, Thiền sư Quy Tỉnh đến quở rằng: ›Các ngươi chẳng chịu đi, ta sẽ đánh các ngươi!‹ Viễn đến trước mặt Quy Tỉnh thưa: ›Hai đứa con đi từ ngàn dặm đến để tham học với Hoà thượng, há vì một gáo nước của Thầy tạt mà bỏ đi. Nếu Thầy có đánh chết, con cũng chẳng chịu đi.‹ Quy Tỉnh cười nói: ›Hai ông muốn tham thiền ư? Hãy vào nhà cất hành lí.‹«|Thuộc vào loại thứ hai là các chuyến hành cước sau khi đạt đạo, khi các vị Thiền sư muốn trau dồi kinh nghiệm giác ngộ với những bậc thượng thủ khác trước khi trụ trì hoằng hoá chúng. Chính những cuộc tiêu diêu du và những Pháp chiến sản sinh từ đây là một trong những điểm đặc sắc nhất của Thiền tông. Các Ðại thiền sư như Triệu Châu Tòng Thẩm, Vân Môn Văn Yển, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch… đều diêu du đây đó sau khi đã đắc đạo nơi Bản sư. Các cuộc đọ sức của Triêụ Châu với các đệ tử đắc pháp của  Mã Tổ vẫn còn vang vọng đến ngày nay.

hành cước

Ngày xưa người tu hành đi bộ đến các nơi tham vấn, gọi là hành cước. ; Anupubbena-carikam-caramano (p). Ði từ nơi nầy đến nơi khác: To wander from place to place. Du Tăng tu hành theo lối du phương hoằng hóa—A wandering monk who wanders to convert people. ; (行脚) Cũng gọi Du phương, Du hành. Đồng nghĩa với Vân thủy. Đi khắp nơi để cầu học hoặc giáo hóa. Vị tăng du phương gọi là Hành cước tăng, Vân thủy tăng. Khi du phương, vị tăng hành cước có thể mang theo bên mình những vật dụng cần thiết, nhưng chủng loại và số lượng vật dụng đều có giới hạn. [X. điều Hành cước trong Tổ đình sự uyển Q.8; Lâm gian lục Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Vân Thủy).

hành cước tăng

Vrajaka (skt)—A wandering religious monk.

hành cảnh thập phật

(行境十佛) Đối lại với Giải cảnh thập Phật. Mười loại thân Phật nói trong kinh Hoa nghiêm. Nghĩa là khi Bồ tát Viên giáo Hoa nghiêm hoàn thành việc tu hành thì đạt tới quả vị Phật cùng tột, siêu việt cảnh giới tâm của Bồ tát còn ở Nhân vị. Đó là thân Phật Tì lô giá na hoặc gọi là thân trùm khắp pháp giới. Phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch cũ) liệt kê danh hiệu của 10 đức Phật ấy như sau: 1. Vô trước Phật: Không chấp trước Niết bàn (ngộ) sinh tử (mê) để hoàn thành sự giác ngộ chân thực mà hiển bày sự diệu dụng trong thế giới mê vọng. 2. Nguyện Phật: Khi tu thành đạo Bồ tát đã phát sinh sức thệ nguyện. 3. Nghiệp báo Phật: Tất cả sự tu hành do trang nghiêm mà được. 4. Trì Phật: Dùng tịnh thức bảo trì tất cả căn lành để hoàn thành sự ngộ đạo. 5. Niết bàn Phật: Thường trụ nơi Niết bàn.6. Pháp giới Phật: Thân Phật trùm khắp tất cả thế giới. 7. Tâm Phật: Phật ở trong tâm của hết thảy chúng sinh, vì tâm tức là Phật. 8. Tam muội Phật: Phật thường ở trong chính định. 9. Tính Phật: Bản tính chân thực biểu hiện khắp tất cả mọi nơi. 10. Như ý Phật: Tùy chỗ chúng sinh mong cầu mà ban phát sự giáo hóa. Mười thân Phật là căn cứ vào 10 đức của Phật Tì lô giá na mà phân chia. Trong 10 thân ghi trên thì thân Vô trước biểu thị đức chung của Như lai, 9 thân còn lại thì biểu thị đức cá biệt của Như lai. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2, Q.14, Q.17; Hoa nghiêm kinh sớ Q.42, Q.51, Q.53]. (xt. Thập Thân, Giải Cảnh Thập Phật).

hành cụ tam tâm

(行具三心) Đối lại với Trí cụ tam tâm. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Hạnh đủ 3 tâm: Tâm chí thành, tâm sâu xa và tâm hồi hướng phát nguyện. Ba tâm này là thượng thượng phẩm trong 9 phẩm vãng sinh nói trong kinh Quán vô lượng thọ, nếu có đầy đủ 3 tâm này thì có thể được sinh sang cõi Tịnh độ cực lạc. Về sau, tông Tịnh độ Nhật bản đặc biệt gọi 3 tâm này là pháp An tâm , là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh độ. Khi bàn nghĩa an tâm , tông Tịnh độ Nhật bản cho rằng nếu xét về phương diện trí giải, tức chỉ hiểu qua kinh luận thôi thì gọi là Trí cụ; còn nếu vượt qua giai đoạn lí giải mà phát tâm niệm Phật thì gọi là Hạnh cụ. Vì thế, Trí cụ tam tâm chưa phải là lòng tin chân thật, mà Hạnh cụ tam tâm mới là lòng tin chân thật, do đó quyết định được vãng sinh. (xt. An Tâm).

hành dinh

Headquarters.

hành do

(行由) Nhân duyên đưa đến việc tu hành. Như trong Lục tổ đàn kinh có một bộ phận ghi chép truyện kí hành trạng của ngài Tuệ năng, gọi là chương Hành do hoặc phẩm Hành do.

hành duyên

(行緣) Những trợ duyên làm tăng trưởng thiện căn của chúng sinh, như 6 Ba la mật, 4 nhiếp pháp, v.v... (xt. Lục Ba La Mật, Tứ Nhiếp Pháp).

hành dịch thần

(行疫神) Các quỉ thần độc ác gieo dịch bệnh cho thế gian. Cứ theo kinh Khước ôn hoàng thần chú chép, có 7 loại quỉ thần: Mộng đa nạn quỉ, A khư ni quỉ, Ni khư thi quỉ, A khư na quỉ, Ba la ni quỉ, A tì la quỉ và Ba đề lê quỉ, các loại quỉ thần này thường nhả khí độc để hại người, người bị trúng khí độc ấy thì nhức đầu, nóng lạnh, đau đớn vô cùng. Nhưng nếu biết tên của những quỉ thần ấy thì không bị họ làm hại. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 11 còn nói: Mang đát lí thiên cũng có thể dùng chân ngôn của mình để gây dịch bệnh cho người.

hành giáo

Tu tập hay thực hành y theo luật tạng mà Phật đã chế ra—To carry out the vinaya disciple (Vinaya)—To preach.

hành giả

Acarin (skt)— 25) Người thị giả ở phương trượng: An abbot's attendant. 26) Người hành thiền: Zen Practitioner. 27) Vị đệ tử tu hành theo Phật—One who performs the duties of a disciple. ; (行者) I. Hành Giả. Phạm:Yogin. Cũng gọi Hành nhân, Tu hành nhân. Chỉ chung những người tu hành Phật đạo.Những người tu pháp môn niệm Phật là Hành giả niệm Phật; những người tu theo Mật pháp là Hành giả chân ngôn; những người chuyên trì tụng kinh Pháp hoa là Hành giả Pháp hoa, v.v... [X. kinh Quán vô lượng thọ; phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1]. II. Hành Giả. Chỉ cho những người chưa xuất gia nhưng ở trong chùa làm công quả. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển thượng và Thiện kiến luật tì bà sa, thì người ở trong chùa mà chưa được xuất gia, chưa có áo, bát gọi là Bạn đầu ba la sa, tức là hành giả. Cứ theo điều Hành giả, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên, thì Hành giả ở Nhật bản cạo bỏ râu tóc, nhưng sinh hoạt giống như người thế tục; còn ở Trung quốc thì chỉ có các vị tỉ khưu và sa di mới cạo tóc, Hành giả thì không cạo và chỉ giữ 5 giới mà thôi. Hành giả trong Thiền lâm, tùy theo chức vụ mà có nhiều tên gọi như: Tham đầu hành giả, Lục cục hành giả, Phương trượng khách đầu hành giả, Phó tham hành giả, Khách đầu hành giả, Trà đầu hành giả, Cung quá hành giả, Môn đầu hành giả, Tang tư hành giả, Chấp cục hành giả, Đường tư hành giả, Khố tư hành giả, Cung đầu hành giả, Chúng liêu hành giả, Phương trượng hành giả, Khố tư khách đầu hành giả, Hát thực hành giả, Trực điện hành giả, Giám tác hành giả, Trực linh hành giả, v.v... Ngoài ra, Hành giả của Phương trượng gọi tắt là Phương hành, Hành giả của Tây đường gọi tắt là Tây hành, Hành giả của Hậu đường gọi tắt là Hậu hành, Hành giả của Giám tự gọi tắt là Giám hành, Hành giả của Phó tự gọi tắt là Phó hành, Hành giả của Duy na gọi tắt là Duy hành, Hành giả của Điển tòa gọi tắt là Điển hành, Hành giả của Trực tuế gọi tắt là Trực hành, Hành giả của Tri khách gọi tắt là Khách hành, Hành giả của Thủ tòa gọi tắt là Thủ hành, Hành giả của Tri điện gọi tắt là Điện hành, v.v... [X. điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Trì bảo thông lãm Q.hạ]. III. Hành Giả. Chỉ cho những người Sơn phục thuộc phái Tu nghiệm đạo của Nhật bản, họ thường tu khổ hạnh trong rừng núi hoang dã. Hai chữ Sơn phục nghĩa là vào núi báu pháp tính chân như, hàng phục vô minh phiền não . Ngoài ra, ở Nhật bản cận đại, những người mang theo một số hành trang nhất định, đi chiêm bái các danh sơn linh tích, cũng gọi là Hành giả. (xt. Sơn Phục).

hành giả có bi tâm

Compassionate cultivators (practitioners).

hành giải

(行解) I. Hành Giải. Khi tâm vương và tâm sở tiếp xúc với đối tượng thì phát sinh tác dụng nhận thức, hiểu biết, gọi là Hành giải. Hành giải có tổng tướng và biệt tướng khác nhau mà trong các bộ luận Phật giáo giải thích bằng nhiều cách: 1. Tâm vương thu nhiếp lấy tổng tướng của đối tượng (như sắc, thanh), chứ không thể thu nhiếp lấy biệt tướng (như thuận, nghịch). Trái lại, tâm sở thu nhiếp biệt tướng chứ không thể thu nhiếp tổng tướng. 2. Tâm vương vừa thu nhiếp tổng tướng lại vừa thu nhiếp biệt tướng, còn tâm sở thì chỉ thu nhiếp biệt tướng mà thôi. Bởi vì thuyết này cho rằng sức tác dụng của tâm vương mạnh hơn tâm sở. 3. Tâm sở thu nhiếp cả biệt tướng và tổng tướng, còn tâm vương thì chỉ thu nhiếp tổng tướng. Bởi vì thuyết này cho rằng hễ tâm vương tác dụng chỗ nào thì chắc chắn tâm sở cũng y theo chỗ đó. 4. Tâm vương và tâm sở đều có thể thu nhiếp tổng tướng và biệt tướng. Ngoài ra, tông Câu xá và tông Duy thức đều cho Hành giải là tác dụng liễu biệt của tâm vương và tâm sở, nhưng vì tông Câu xá gọi những ảnh tượng (bóng dáng) hiện lên trong tâm thức là Hành tướng , cho nên đặc biệt gọi tác dụng liễu biệt của tâm thức là Hành giải. Còn tông Duy thức thì trực tiếp gọi tác dụng liễu biệt của tâm thức là Hành tướng, cho nên giữa Hành tướng và Hành giải không có sự sai khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.34; luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.1 phần cuối]. (xt. Hành Tướng). II. Hành Giải. Gọi chung Hành (thực hành) và Giải (hiểu biết). Hiểu biết và thực hành những giáo lí được chỉ dạy. Đây là 2 điều kiện căn bản để đạt đến quả vị Phật. (xt. Giải Hành).

hành hoa

Dâng hoa cúng dường—To offer flowers. ; (行華) Hành đạo và tán hoa (Đi nhiễu và tung hoa).Cứ theo Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện quyển 2 ghi, thì khi ngài Huyền trang đến nước Khuất chi đã thấy nghi thức Hành hoa, cho nên biết nghi thức này đã từng lưu hành ở Tây vực từ xa xưa. Nghi thức hành hoa hiện nay là: Người hành hoa cầm hoa đứng ở góc Tây nam của Phật đường, đợi khi những người đi nhiễu qua trước mặt thì tung hoa lên những người đó. [X. Tịnh độ pháp sự tán Q.thượng; Loại tụ danh vật khảo Q.28].

hành hoá

(行化) Gọi đủ: Du hành giáo hóa. Đi khắp nơi để giáo hóa chúng sinh. Phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng (Đại 8, 828 trung), nói: Nếu dùng thân huyễn hóa thấy được các pháp huyễn hóa, thì đó mới là Bồ tát hành hóa chúng sinh một cách chân thực . [X. phẩm Thủ tài túy tượng điều phục trong Phật sở hành tán Q.4; truyện Phong can trong Tống cao tăng truyện Q.19].

hành hung

To act with violence.

hành hóa

Du hành hoằng pháp để hóa độ chúng sanh—To go and convert.

hành hương

Ði hành hương: To go on pilgrimate. Dâng hương cúng Phật: To offer incense in front of the altar of the Buddha. ; (行香) Nghi thức thắp hương đi nhiễu quanh tháp.Khi thí chủ thiết trai cúng dường chư tăng, trước hết, đốt hương chia đều cho đại chúng, rồi đi nhiễu và lễ bái chung quanh tháp. Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 7 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì khi hành hương, tăng chúng phải đứng ngay thẳng để nhận hương, nếu người hành hương là phụ nữ, thì chư tăng nên ngồi mà nhận hương, nếu không sẽ phạm tội Đột cát la. Ở Trung quốc, nghi thức này bắt đầu với ngài Đạo an đời Tấn, đến các đời Đường, Tống thì biến thành một loại nghi thức của triều đình. Lại khi hành hương, người nhận hương phải xướng kệ. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 276 thượng) chép kệ như sau: Giới định tuệ giải tri kiến hương, Thế giới mười phương đều thơm ngát; Nguyện khói hương này cũng như thế, Thành vô lượng vô biên Phật sự . Ngoài ra, trong Thiền tông, vào 2 thời sớm tối, vị Trụ trì đốt hương đi tuần tra các nhà kho, nhà tăng, nhà tắm, cửa ngõ, v.v..., cách đốt hương đi tuần như thế cũng gọi là Hành hương. [X. kinh Phổ đạt vương; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3 tiết 3; điều Giám viện trong Thiền uyển thanh qui Q.3; Đại tống tăng sử lược Q.trung; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hành Hạ

(行賀, Gyōga, 729-803): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Hành Hạ (行賀), xuất thân Quảng Lại (廣瀬, Hirose), Đại Hòa (大和, Yamato), họ Thượng Dã Mao (上野毛). Ông theo xuất gia và thọ giới với Vĩnh Nghiêm (永嚴), sau đó học về Pháp Tướng, Duy Thức với Bình Bị (平僃) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji). Năm 752, nhận sắc lệnh của triều đình, ông sang nhà Đường cầu pháp, chuyên học cả Thiên Thai lẫn Pháp Tướng. Sau 31 năm lưu học bên đó, ông trở về nước, mang theo hơn 100 quyển kinh sớ. Trước tác của ông có Duy Thức Nghĩa Tinh (唯識義精) 1 quyển, nhưng bị tán thất. Ông được xem là một trong 6 vị tổ của Pháp Tướng Tông Nhật Bản.

hành hạ

Tormenting—To torture—To torment.

hành hạ thân xác quá ðáng

Extreme of tormenting the body.

hành hải

(行海) I. Hạnh Hải (1604-1670). Vị Thiền tăng sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Tiền, hiệu Đại phương. Năm 20 tuổi, sư đến chùa Vân thê ở Hàng châu chuyên tu Tịnh độ. Năm 29 tuổi, sau khi đọc Lục tổ đàn kinh, sư đến lễ ngài Vô dị Nguyên lai xin xuất gia ở Minh châu đường tại Kính sơn. Về sau, sư lại tham học các thiền sư Mật vân Viên ngộ, Phí ẩn Thông dung, v.v... Năm Khang hy thứ 8 (1669), sư đến ở am Thiền đăng tại Lâu giang, tỉnh Giang tô. Năm sau sư tịch, thọ 67 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Đại phương thiền sư ngữ lục 6 quyển. II. Hạnh Hải (1609-1683). Vị Thiền tăng tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người Tân an, họ Tưởng. Người đời gọi là Thiết chu Hạnh hải thiền sư. Từ thủa nhỏ sư mồ côi cha mẹ, một hôm đến chùa Trung linh sư thấy tượng Phật trang nghiêm rực rỡ, sư hân hoan chiêm ngưỡng đến nỗi quên trở về, rồi sư kinh hành lễ bái trước tượng Phật trông như một vị lão tăng. Về sau, sư y vào ngài Nhược am Thông vấn xuất gia, thụ giới Cụ túc và được ấn kí, sư đến ở Long du thiền tự. Năm Khang hi 22 (1682) sư tịch, thọ 75 tuổi. Sư có soạn phẩm: Kim sơn chí lược. [X. Chính nguyên lược tập Q.4].

hành hải kim sơn chí lược

(行海金山志略) Cũng gọi Kim sơn long du thiền tự chí lược, Kim sơn chí lược. Gồm 4 quyển, do ngài Hạnh hải soạn vào đời Thanh, thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Kim sơn nằm về mạn tây thành Trấn giang tỉnh Giang tô, là trục lộ giao thông trọng yếu giữa Nam và Bắc cả về đường bộ lẫn đường thủy. Ở chân núi phía tây có chùa, theo truyền thuyết, thì được sáng lập vào thời vua Nguyên đế hoặc Minh đế đời Đông Tấn, mới đầu gọi là chùa Trạch tâm. Về sau, có ngài Đường bùi xây cất lại và từ đó trở đi, các vị cao tăng qua các đời nối tiếp nhau trùng tu, nghiễm nhiên trở thành ngôi chùa nổi tiếng, đứng đầu 10 ngôi chùa ở Kinh khẩu (Trấn giang). Vua Tống chân tông ban chiếu đổi tên là Long Du Thiền Tự và ban cho chùa một bộ Đại tạng kinh. Khoảng đầu năm Thuận trị (1644-1661) đời Thanh, ngài Hạnh hải trụ trì chùa và soạn bản Tự chí này. Nội dung nói về nhân vật, sự truyền thừa pháp mạch, phong cảnh, v.v... chia làm 10 mục: Sơn đồ, Hình thắng, Kiến trí, Tổ đường pháp hệ, Kí, Kỉ du, Bi, Phú, Sắc thư, Cao tăng, Kỉ tích và Thi văn...

hành học

(行學) Đối lại với Giải học. Chỉ cho sự tu hành và học hiểu. Trong Chư pháp thực tướng sao, ngài Nhật liên, vị tăng thuộc tông Nhật liên của Nhật bản, nói rằng hành giả phải siêng năng tu hành và học hiểu, đó là con đường chuyển mê khai ngộ; nếu lìa con đường này (hành học) thì không có Phật pháp.

hành hữu

The reality of karma—See Thất Chủng Hữu.

Hành Khiển Đại Vương

(行譴大王): theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của Trung Quốc, có 12 vị Đại Vương Hành Khiển, được gọi là Thập Nhị Hành Khiển Đại Vương (十二行譴大王), cai quản nhân gian. 12 vị ứng với 12 Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Các Đại Vương này còn được gọi là đương (kim) niên chi thần (當[今]年之神, vị thần của năm nay). Mỗi vị có trách nhiệm thống nhiếp thế gian trong vòng 1 năm, xem xét mọi chuyện tốt xấu của từng người, từng gia đình, từng thôn xã, cho đến từng quốc gia để luận tội và trình tấu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bên cạnh mỗi vị Đại Vương, thường có một vị Phán Quan trợ lý. Trong số 12 vị này, có rất nhân đức, độ lượng; có vị cương trực và cũng có vị rất nghiêm khắc. Tương truyền rằng có năm xảy ra loạn lạc, chiến tranh, mất mùa, thiên tai, v.v., cũng do các vị Đại Vương Hành Khiển gây ra để trừng phạt nhân gian. Tên gọi các vị Đại Vương Hành Khiển và Phán Quan như sau: (1) Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển Đại Vương (周王行譴), Thiên Ôn Hành Binh Chi Thần, Lý Tào Phán Quan; (2) Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển (趙王行譴), Tam Thập Lục Phương Hành Binh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (3) Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển (魏王行譴), Mộc Tinh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan; (4) Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển (鄭王行譴), Thạch Tinh Chi Thần, Liễu Tào Phán Quan; (5) Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển (楚王行譴), Hỏa Tinh Chi Thần, Biểu Tào Phán Quan; (6) Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển (呉王行譴), Thiên Hải Chi Thần, Hứa Tào Phán Quan; (7) Năm Ngọ: Tần Vương Hành Khiển (秦王行譴), Thiên Hao Chi Thần, Nhân Tào Phán Quan; (8) Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển (宋王行譴), Ngũ Đạo Chi Thần, Lâm Tào Phán Quan; (9) Năm Thân: Tề Vương Hành Khiển (齊王行譴), Ngũ Miếu Chi Thần, Tống Tào Phán Quan; (10) Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển (魯王行譴), Ngũ Nhạc Chi Thần, Cựu Tào Phán Quan; (11) Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển (越王行譴), Thiên Bá Chi Thần, Thành Tào Phán Quan; (12) Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển (劉王行譴), Ngũ Ôn Chi Thần, Nguyễn Tào Phán Quan. Một trong những ý nghĩa quan trọng của Lễ Giao Thừa là vì tục lệ Việt Nam chúng ta tin rằng mỗi năm có một vị Hành Khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để cung tiễn vị cũ ra đi và nghênh đón vị mới đến. Sở dĩ Lễ Giao Thừa được thiết cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút vị cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã; thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì cả.

Hành Không

(行空, Gyōkū, ?-?): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống khoảng vào đầu thời Liêm Thương, húy là Hành Không (行空), hiệu là Pháp Bổn Phòng (法本房), Pháp Bảo Phòng (法寶房), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc vùng Gifu-ken [岐阜縣]). Ông theo hầu Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên) và học Tịnh Độ Giáo với vị này, rồi đến năm 1204 thì ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy. Ông chủ xướng Nghĩa Nhất Niệm (一念義, tức là Nghĩa Vãng Sanh về cõi Thường Tịch Quang Độ), rồi năm 1206 thì phá môn bỏ đạo, và năm sau thì gặp phải vụ Pháp Nạn Kiến Vĩnh (建永), ông bị xử tội lưu đày đến vùng Tá Độ (佐渡, Sado).

hành không

Pracarita (skt)—Cái không về hành động, một trong bảy loại không—Emptiness of action, one of the seven Sunyatas—See Thất Chủng Không (4).

hành khất

Ði xin ăn—To go begging, or asking for alms.

hành khổ

xem ba tướng khổ ; Ðau khổ là hậu quả tất yếu của hành động—The suffering inevitably consequent on action. ; (行苦) Hành nghĩa là trôi chảy đổi dời, tất cả các pháp hữu vi đều thay đổi theo thời gian, không một sát na dừng nghỉ an ổn, làm cho con người cảm thấy bức bách khổ não, nên gọi là Hành khổ. Là một trong 3 khổ. (xt. Tam Khổ).

hành khổ hạnh luận sư

(行苦行論師) Một trong những ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ. Ngoại đạo này cho rằng tội phúc ở đời trước đều đã định, cho nên ở đời này phải tu khổ hạnh để được hưởng an vui ở đời sau. [X. luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn].

hành kiện ðộ

Hành Uẩn, uẩn thứ tư trong ngũ uẩn—The samskara skandha, the fourth of the five skandhas. ** For more information, please see Hành Uẩn and Ngũ Uẩn.

hành lí

(行履) Hành là thân mình làm, Lý là chân bước tới. Chỉ cho những sinh hoạt thực tiễn hàng ngày của chúng tăng. Trong tùng lâm, mỗi năm 2 lần vào ngày mồng 9 tháng 2 và ngày mồng 9 tháng 8 có việc kiểm tra số tăng an cư và xem xét tình hình sinh hoạt sau khi giải chế, gọi là Hành lý điều tra . Cuốn sổ ghi kết quả của cuộc điều tra, gọi là Hành lý trướng. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.1, Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.21; Liên đăng hội yếu Q.27; Niên phần hành trì trong Hành trì quĩ phạm Q.1].

hành lý

Những hành động thường nhật, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, ngủ, nghỉ, suy nghĩ, vân vân—The common acts of daily life, going, standing, lying, siting, eating, drinking, sleeping, resting, thinking, etc.

hành lạc

To rejoice.

hành lễ

To celebrate.

hành lịch sao

(行曆抄) Có 1 quyển, do ngài Lại giác, người Nhật bản, trích sao từ tác phẩm Hành lịch kí của ngài Viên trân mà thành. Nội dung sách này thuật lại những điều tai nghe mắt thấy của ngài Viên trân trên đường đến Trung quốc và trở về Nhật bản, khoảng từ năm Đại trung thứ 5 đến niên hiệu Trinh quán năm đầu (851-859). Đây là một tư liệu lịch sử quan trọng được thu vào Trí chứng đại sư toàn tập trong bộ Đại Nhật Bản Phật Giáo Toàn Thư, bản gốc được cất giữ ở chùa Thạch sơn, Nhật bản.

Hành Minh

(行明, Gyōmyō, ?-1073): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, vị Kiểm Hiệu đời thứ 9 của Cao Dã Sơn, húy là Hành Minh (行明), thông xưng là Đại Bắc Thất Đại Sư (大北室大師). Ông lên tu ở Bắc Thất Viện (北室院) trên Cao Dã Sơn, đến năm 1044 thì làm chức Sơn Lung (山籠), nhập thất tu hành, bắt đầu công phu tu tập một ngày 3 thời tại Ngự ảnh Đường (御影堂), nơi thờ phụng Không Hải Đại Sư. Cùng năm đó, ông làm chức Kiểm Hiệu. Đến năm 1069, ông thọ pháp của Dòng Quảng Trạch (廣澤流) với Tánh Tín (性信) ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji). Đệ tử phú pháp của ông có Lương Thiền (良禪).

hành miên mật

Asevita (skt)—To practice assiduously—Assiduous practice (asevana).

Hành Mãn

(行滿, Gyōman, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tông Trung Quốc, sống vào thời nhà Đường, xuất thân Tô Châu (蘇州). Ông xuất gia năm 20 tuổi, đến năm 25 tuổi thì thọ Cụ Túc giới và học Luật trong vòng 5 năm. Vào năm 768 (niên hiệu Đại Lịch [大曆] thứ 3), ông trú ở Phù Tra Tự (浮槎寺), lúc bấy giờ Trạm Nhiên (湛然) đang thuyết giảng Thiên Thai Chương Sớ (天台章疏) ở Kinh Khê (荆溪), ông liền đi theo vị này. Sau khi Trạm Nhiên thị tịch, ông trú ở Phật Lũng Tự (佛隴寺) trên Thiên Thai Sơn và tận lực truyền trì pháp môn. Đến năm 804 (niên hiệu Trinh Nguyên [貞元] thứ 20), vị tăng người Nhật Bản là Tối Trừng (最澄) sang Trung Hoa, thường đến thọ học giáo điển Thiên Thai với ông. Trước tác của ông có Niết Bàn Kinh Sớ Tư Ký (涅槃經疏私記) 12 quyển, Niết Bàn Kinh Âm Nghĩa (涅槃經音義) 1 quyển, Lục Tức Nghĩa (六卽義) 1 quyển, Học Thiên Thai Tông Pháp Môn Đại Ý (學天台宗法門大意) 1 quyển, v.v.

hành mãn

Sư Hành Mãn ở chùa Phật Lũng, thân thế của sư ít được ai biết đến, nhưng người ta tin rằng sư là người đã cung cấp cho Thiền sư Kinh Khê kinh điển giáo bổn của tông Thiên Thai vào cuối thế kỷ thứ tám—Hsing-Man, a monk of the Fo-Lung monastery, about whom little is known, but who is accredited with supplying Dengyo of Japan with T'ien-T'ai scriptures in the latter part of the eighth century. ; (行滿) I. Hạnh Mãn. Tạng:Fdsin-bye. Một trong 12 vị tôn Hỏa thiên của Mật giáo.Hình tướng như vầng trăng thu, trong sáng rực rỡ, ngồi trong vòng tròn cát tường, mình mặc áo trắng, trang sức bằng chuỗi ngọc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.20]. (xt. Thập Nhị Hỏa). II. Hạnh Mãn. Vị tăng sống vào đời Đường, người Tô châu, năm sinh năm mất không rõ. Sư xuất gia năm 20 tuổi, thụ giới Cụ túc năm 25 tuổi, học Luật bộ trong 5 năm. Năm Đại lịch thứ 3 (768), sư trụ trì chùa Phù tra, nghe ngài Kinh khê đang giảng kinh sớ của tông Thiên thai, sư liền đến theo học. Sau khi ngài Trạm nhiên tịch, sư đến ở chùa Phật lũng trong núi Thiên thai để truyền trì giáo nghĩa Thiên thai. Năm Trinh nguyên 22 (804), vị tăng Nhật bản tên là Tối trừng đến Trung quốc, từng đến đây tham học nơi sư. Tác phẩm của sư gồm có: Niết bàn kinh sớ tư kí 12 quyển, Niết bàn kinh âm nghĩa 1 quyển, Lục tức nghĩa 1 quyển, Học Thiên thai tông pháp môn đại ý 1 quyển, Hạnh mãn hòa thượng ấn tín, Hạnh mãn hòa thượng thí dữ vật mục lục. III. Hạnh Mãn. Vị tăng sống vào đời Tống, người Nam phố, Vạn châu. Lúc đầu, sư theo ngài Thạch sương học Thiền, sau sư đến núi Thiên thai ở tại viện Trí giả dưới ngọn Hoa đính. Vì hành tích của sư linh dị lạ thường, nên người đời coi sư là hiện thân của bồ tát Quan thế âm. Vào khoảng năm Khai bảo (968-975), sư tịch, thọ 88 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Tống cao tăng truyện Q.22].

hành môn quán môn hoằng nguyện môn

(行門觀門弘願門) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đây là danh mục do ngài Chứng không thuộc phái Tây sơn của tông Tịnh độ Nhật bản đặt ra để nói về giáo tướng tông Tịnh độ.1. Hành môn: Pháp môn tu hành nhờ vào sức mình, chỉ cho 84.000 hành pháp. 2. Quán môn: Pháp môn quán chiếu thệ nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà, chỉ cho pháp quán Định tâm, Tán tâm được nói trong kinh Quán vô lượng thọ. 3. Hoằng nguyện môn: Pháp hoằng thệ bản nguyện của đức Phật A di đà trong kinh Vô lượng thọ. Trong Quán kinh huyền nghĩa phần, ngài Thiện đạo cho rằng tất cả phàm phu thiện ác được vãng sinh Tịnh độ đều nương vào đại nguyện lực của Phật A di đà làm duyên tăng thượng. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần Quán môn nghĩa sao Q.1, Q.2].

hành mẫu

Matrka (skt)—Ma Ðức Lý Ca—“Mẹ của nghiệp,” thí dụ trong Vi Diệu Pháp, chỉ rõ nghiệp sanh nghiệp, hay là một hành động đưa đến (sản sanh) một hành động khác—The “mother of karma,” i.e. the Abhidharma-pitaka, which shows that karma produces karma, one act producing another.

hành nghi

Tu hành đúng theo luật nghi, đặc biệt cho chư Tăng Ni—To perform the proper duties, especially of monks and nuns. ; (行儀) Lễ nghi phép tắc qui định những hành vi thường nhật của tỉ khưu và tỉ khưu ni, hoặc nghi thức xếp hàng hành lễ. Ngoài ra, nghi thức niệm Phật của tông Tịnh độ cũng có 3 loại hành nghi: Bình thường, Biệt thời và Lâm chung.

hành nghiệp

Việc làm của thân, khẩu, ý (việc làm thiện ác sẽ gánh chịu quả báo khổ vui)—The activities of thought, word, deed, moral action; karma. ; (行業) Cũng gọi Tác nghiệp. Chỉ cho những hành vi do thân, khẩu, ý tạo tác.

hành nghiệp thần

(行業神) Thần thủ hộ các nghề nghiệp. Tùy theo sự phát triển của chế độ và sự phân công của xã hội mà có các vị Hành nghiệp thần khác nhau. Vì các vị thần này đều có liên hệ với truyền thuyết thần thoại của những người sáng lập nghề nghiệp. Như ở Trung quốc, người làm nghề nuôi tằm thì thờ Mã đầu nương, người làm nghề thợ mộc thì thờ Lỗ ban, dân chài sống bằng nghề biển phần nhiều thờ Ma tổ, những người lái buôn thì đều thờ Quan thánh đế quân (Quan vũ) và Thổ địa công. Trong tông giáo của Hi lạp cổ đại cũng có loại thần này, như thần của nghề săn bắn, nghề nông, thương nghiệp, v.v... [X. Đài loan đích dân gian tín ngưỡng (Khương nghĩa trấn)].

hành nghề

To practice a profession.

hành nguyện

Hành động của thân và ý nguyện của tâm (nương tựa hành nguyện mà tu hành)—Action of the body and vow of the mind—Act and vow, resolve or intention; to act out one's vows; to vow.

hành nguyện bồ ðề

Tu hành những gì mình phát nguyện (nguyện là tất cả chúng sanh đều hàm chứa Như Lai tạng tính, đều có thể an trụ ở vô thượng Bồ Ðề, nên nguyện đem pháp Ðại Thừa Vi Diệu mà độ tận)—To start out for bodhi-mind to act out one's vows to save all living beings (all beings possess Tathagata-garbha nature and can become a Buddha; therefore, vow to save them all).

hành ngũ pháp

(行五法) Thực hành 5 pháp: Dục, Tinh tiến, Niệm, Xảo tuệ, Nhất tâm. Đây là pháp tu chỉ quán của tông Thiên thai. Pháp tu chỉ quán này có 25 phương tiện, lại được chia làm 5 khoa: Cụ ngũ duyên, Ha ngũ dục, Khí ngũ cái, Điều ngũ sự và Hành ngũ pháp. Khoa Hành ngũ pháp này gồm có 5 món: 1. Dục: Muốn lìa tất cả vọng tưởng điên đảo của thế gian, muốn được tất cả các môn thiền định trí tuệ. 2. Tinh tiến: Ngày đêm siêng năng giữ gìn giới cấm, lìa ngũ cái. 3. Niệm: Luôn nghĩ đến thế gian dối trá mà xem thường và quí trọng thiền định trí tuệ. 4. Xảo tuệ: Dùng trí tuệ sáng suốt so sánh cái vui dục lạc thế gian với cái vui thiền định trí tuệ xuất thế gian, xem cái nào hơn kém, nặng nhẹ. 5. Nhất tâm: Niệm tuệ phân minh, thấy rõ thế gian đáng nhàm chán, biết chắc định tuệ đáng tôn quí. Nếu dùng con thuyền để ví dụ 5 pháp này, thì Xảo tuệ như mũi thuyền, Nhất tâm như bánh lái, 3 pháp còn lại như cây sào, mái chèo. Nếu thiếu một thứ thì dù con thuyền có ở trên sông nước phẳng lặng, yên ổn, cũng khó mà tiến lên được. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 phần dưới; Thứ đệ thiền môn Q.2; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Ngũ Phương Tiện).

hành nhiễm

(行染) Đối lại với Li nhiễm. Chỉ cho những sinh hoạt và hành vi ô nhiễm, tức là đời sống của người tại gia. Điều Sa di đắc độ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1137 trung), nói: Chư Phật 3 đời không có vị nào nói ở tại gia thành Phật, các vị Tổ sư chưa có ai là Hành nhiễm mà độ người .

hành nhân

Tu Hành Nhân—Người du hành hay hành giả tu theo Phật; đệ tử Phật—A traveller, wayfarer; a follower of Buddha; a disciple.

hành pháp

(行法) Phương pháp tu hành. Đồng nghĩa với Tu pháp, Mật pháp trong Mật giáo. Trong Mật giáo, Tứ độ gia hành tức là 4 Hành pháp phương tiện gồm: Thập bát đạo hành pháp, Thai tạng giới hành pháp, Kim cương giới hành pháp và Hộ ma hành pháp. Bốn pháp này được thực hành trước khi nhận lãnh Truyền pháp quán đính. (xt. Tứ Độ Gia Hành, Tu Pháp).

hành pháp trung gian lập toà tác pháp

(行法中間立座作法) Nghi thức tác pháp để rời chỗ ngồi của hành giả Mật giáo. Trong lúc tu pháp, vì có việc quan trọng phải tạm rời chỗ ngồi thì hành giả phải làm phép này. Theo Tác pháp tập thì cách tác pháp là kết ấn 5 chĩa và tụng chữ Hồng . Còn theo Khai tâm bí quyết quyển 7 thì tác pháp là: Gấp áo ca sa đặt trên mâm lễ, rồi để xâu chuỗi lên trên. [Mật giáo áo nghĩa Q.hạ].

hành phạt

To punish.

Hành Phật

行佛; J: gyōbutsu; nghĩa là »hành động như Phật«;|Danh từ được dùng để chỉ sự chú tâm tuyệt đối vào việc tu tập để Kiến tính, ngộ đạo.

hành phật

(行佛) Cũng gọi Hành Phật uy nghi. Giữ uy nghi như Phật. Nghĩa là trong những động tác hàng ngày như đi, đứng, ngồi, nằm, người tu hành luôn phải khởi tâm niệm tôn sùng kính sợ, nghi dung cử chỉ phải ngay thẳng hợp cách, tâm không động loạn để hiển bày uy nghi của Phật.

hành phật tánh

The Buddha-nature in action or development. ** For more information, please see Nhị Phật Tánh.

hành phật tính

(行佛性) I. Hạnh Phật Tính. Chỉ cho muôn hạnh hữu lậu, vô lậu, là một trong 3 Phật tính. Vì muôn hạnh hữu lậu, vô lậu là nhân để thành tựu bốn trí của quả Phật cho nên được gọi là Hạnh Phật tính. (xt. Tam Phật Tính). II. Hạnh Phật Tính. Đối lại với Lí Phật tính. Tông Pháp tướng cho rằng trong thức A lại da thứ 8 của tất cả chúng sinh đã hàm chứa sẵn chủng tử vô lậu để thành Phật. Là một trong 2 Phật tính. (xt. Nhị Phật Tính).

hành quân

(行均) Vị tăng Trung quốc sống vào đời Liêu, họ Vu, tự Quảng tế, năm sinh, năm mất và quê quán đều không rõ. Sư rất giỏi về âm vận và văn tự học, sư từng thu tập những chữ khó hiểu trong Đại tạng kinh rồi soạn thành bộ Long khám thủ giám 4 quyển. Nội dung gồm 26.430 chữ, dưới mỗi chữ nêu hình chữ xưa và nay, cách đọc theo phiên thiết và giải nghĩa tỉ mỉ, rõ ràng. Đây là bộ sách rất quí giá, được người đời ưa chuộng. (xt. Long Khám Thủ Giám).

hành quả

Hành nghiệp và quả báo. Quả báo tất yếu dựa vào nhân của hành nghiệp—Deed and result—The inevitable sequence of act and its effect.

hành quả mãn vị

(行果滿位) Chỉ cho quả vị Phật, quả vị mà công đức tu hành đã đạt đến chỗ viên mãn.

hành sách

(行策) (1628-1682) Vị tăng thuộc tông Tịnh độ sống vào đời Thanh, người huyện Nghi hưng, tỉnh Giang tô, họ Tưởng, tự Tiệt lưu. Thân phụ của sư tên là Toàn xương, tinh thông Nho Phật, thân giao với ngài Hàm sơn Đức thanh. Tương truyền, sau khi ngài Đức thanh thị tịch được 3 năm thì ông Toàn xương nằm mộng thấy ngài chống tích trượng đi vào nhà mình, sau đó vợ ông mang thai và sinh ra Hành sách. Đến khi lớn khôn, cha mẹ sư lần lượt qua đời. Năm 23 tuổi, sư theo làm đệ tử ngài Nhược am Thông vấn ở chùa Lí an tại Vũ lâm. Sau 5 năm tinh tiến tu học, sư thấu triệt pháp yếu. Sau, sư trụ ở chùa Báo ân và theo lời khuyên của ngài Am anh, sư tu Tịnh độ, đồng thời đến ngài Tiều thạch ở Tiền đường nghiên cứu học thuyết tông Thiên thai và tu Pháp hoa tam muội. Năm Khang hi thứ 2 (1663), sư cất am Liên phù ở bờ sông Tây khê chỗ chân núi Pháp hoa tại Hàng châu, chuyên tu tịnh nghiệp. Năm Khang hi thứ 9 (1670), sư ở viện Phổ nhân trên núi Ngu sơn, phục hưng Liên xã, người đến theo học rất đông. Năm Khang hi 21 (1682) sư tịch, thọ 55 tuổi. Sư để lại các trứ tác: Kim cương kinh sớ kí hội biên 10 quyển, Khuyến phát chân tín văn, Khởi nhất tâm tinh tiến niệm Phật thất kì qui thức, Bảo kính tam muội bản nghĩa, Lăng nghiêm kinh Thế chí viên thông chương. [X. Kim cương kinh sớ kí hội biên tự; Tịnh độ thánh hiền lục Q.6; Tân tục cao tăng truyện Q.45].

hành sách ðại sư

Hsing-She—Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, Hành Sách đại sư, tự là triệt Lưu, người đời nhà Thanh. Ngài là con của ông Tưởng Toàn Xương, một bậc lão nho ở vùng Nghi Hưng. Thân phụ của ngài là bạn ngoài đời của Hòa Thượng Thanh Ðức, tức là Ngài Hám Sơn Ðại Sư. Niên hiệu Thiên Khải thứ 6, sau khi Hám Sơn Ðại Sư thị tịch được ba năm, một đêm nọ ông Tưởng Toàn Xương mộng thấy Hám Sơn đi vào nhà của mình. Cũng trong đêm ấy. Hành Sách Ðại sư được sanh ra đời. Nhân đó, ngài được thân phụ đặt cho ngoại hiệu là Hám Mộng (Mộng thấy Hám Sơn). Ðến khi khôn lớn, thân phụ thân mẫu kế tiếp qua đời. Ngài thương cảm sự thế vô thường, nên có ý niệm thoát tục. Năm hai mươi ba tuổi, ngài thế phát xuất gia với Hòa Thượng Nhược Am ở chùa Lý An. Suốt năm năm dài, ngài tu hành tinh tấn, không hề đặt lưng xuống nằm, do đó ngài được tỏ suốt nguồn chơn, ngộ vào pháp tánh. Sau khi Nhược Am Hòa Thượng thị tịch. Ngài qua trụ trì chùa Báo AÂn. Thời gian nầy ngài được bạn đồng tham (bạn cùng tu) là Tức An Thiền Sư khuyên tu Tịnh Ðộ. Kế đó ngài lại được gặp Tiều Thạch Pháp Sư hướng dẫn về Thiên Thai Giáo Quán, và sau đó ngài lại cùng với Tiều Thạch Pháp Sư đồng nhập thất tu môn Pháp Hoa Tam Muội. Nhờ đó mà trí huệ huân tu từ kiếp trước của ngài khai phát, ngộ suốt đến cốt tủy của Thai Giáo. Niên hiệu Khang Hy thứ 2, ngài cất am ở núi Pháp Hoa, bên bờ sông Tây Khê tại Hàng Châu, chuyên tu Tịnh Ðộ. Nhân đó đặt tên chỗ ở của mình là Liên Phụ Am. Ðến năm Khang Hy thứ 9, ngài về trụ trì chùa Phổ Nhân ở Ngư Sơn, đề xướng thành lập Liên Xả. Học giả các nơi hưởng quy tụ về rất đông. Ngài trụ trì tại chùa Phổ Nhân được 13 năm. Niên hiệu Khang Hy thứ 21, ngày mồng 9 tháng 7, ngài thị tịch, thọ được 55 tuổi—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Great Venerable Master Hsing-She's self-given name is Che-Liu. He was the son of Mr. Tuong-Toan-Xuong, an elderly Confucianist in the Nghi Hưng region. The Grat Master lived during the Ch'ing Dynasty. His father was the worldly friend of Great Master Ðức Thanh, also known as Greta Master Hám Sơn. In the sixth year of the T'ien-Ksi reign period, three years after Great Master Hám Sơn had passed away, one night while dreaming Mr. Toan Xương saw Great Master Hám Sơn come into his home. It was also during that night the Great Master Hsing-She was born. Given this circumstance, he was given the nickname Hám Dreaming. When he had grown up, both his parents passed away. He had a deep sadness for the impermanence of life; thus, he had the thought of abandoning the worldly life to take a religious path. In his twenty-third year; the Great Master shaved his head to join the order with Great Master Nhược Am at Lý An Temple. After year long, he cultivated diligently, never once lying down on his back; thus, he gained a deep understanding of the truths, penetrated the teachings and became awakened to the Dharma Nature. After Great Master Nhược Am passed away, he went to the Báo AÂn Temple to assume the Headmaster position. During this period, he befriended a fellow cultivator, Zen Master Túc An, who encouraged him to practice Pureland Buddhism as the two studied and examined Buddhism. Thereafter, he met Dharma Master Tiều Thạch who guided him to examine “T'ien-Tai Zen Meditation” and eventually, both of them retreated to practice the Dharma Door of Dharma Flower Samadhi (Lotus Samadhi). For this reason, his wisdom of former lives began to blossom and he was able to penetrate into the root and core of the T'ien-T'ai' Doctrine. The second year of the Khánh-Hỷ reign period, he built a small temple at the Dharma Flower Mountain, on the bank of Tây Khê River at the Heng-Chou region to focus his practice on Pureland Buddhism. Then in the ninth year of the Khánh Hỷ reign period, he came down the mountain to assume the headmaster position at Phổ Nhân Temple at Wu-Tai-Shan region and initiated the building of the Lotus Mandala. Scholars and intellectuals from everywhere began to gather to cultivate in a great number. He held the headmaster position at Phổ Nhân Temple for thirteen years. On July 9th of the twenty-first year of the Khang-Hy reign period, he gained rebirth. He was 55 years old.

hành sâm

(行森) (1614-1677) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, người huyện Bác la, tỉnh Quảng đông, họ Lê, người đời gọi sư là Lữu khê Hành sâm thiền sư. Tương truyền, thân mẫu sư nằm mộng thấy ánh sáng chiếu vào bụng mà có thai. Khi sinh ra, sư rất khôi ngôi tuấn tú. Năm lên 7 tuổi, sư theo ngài Tông bảo Độc công xuất gia, tham học ngài Tuyết kiệu Viên tín ở Vân môn, sau lại tham yết ngài Ngọc lâm Thông tú ở Đại hùng và được nối pháp của ngài. Năm Thuận trị 17 (1660) đời Thanh, sư được nhà vua triệu vào cung để phong hiệu, nhưng sư cố từ nên vua ban cho sư tên gọi Từ Ông . Sau đó, sư trở về ẩn cư tại am Long khê ở Hàng châu, tỉnh Chiết giang để thuyết pháp hoằng hóa, vua ban chiếu chỉ đổi am Long khê thành chùa Viên chiếu, để tỏ lòng ngưỡng mộ của vua. Năm Khang hi 16 (1677) sư tịch ở chùa Hoa nghiêm tại Ngô sơn, thọ 64 tuổi. Năm Ung chính 11 (1733) được truy thụy Minh Đạo Chính Giác Thiền Sư . Hành trạng của sư được chép vào Ngự tuyển lục quyển 11. Sư có trứ tác: Lữu khê Sâm thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Chính nguyên lược tập Q.4]. HÀNH SỰ Đồng nghĩa với Phụng hành, Tri sự. Chấp hành nghi thức pháp hội theo một qui tắc nhất định, như Pháp hội hành sự, Hội hành sự, v.v... Ngoài ra, người giữ chức vụ làm một việc gì đó đã thành lệ, cũng được gọi là Hành sự. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1].

Hành Sơn Đăng Bỉnh

(衡山燈炳, Kōzan Tōhei, 1611-1680): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, ban đầu lấy hiệu là Xung Cốc (冲谷), sau đổi thành Hành Sơn (衡山), xuất thân Hợp Giang (合江), Nam Đạo Lô Châu (南道瀘州), xứ Thục (蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Phùng (馮). Sau khi xuất gia, ông đến tham học với Xuy Vạn Quảng Chơn (吹萬廣眞) ở Long Hưng Tự (隆興寺), Vạn Ấp (萬邑); sau theo hầu Tụ Vân (聚雲) ở Trung Châu (忠州, Tỉnh Tứ Xuyên) được mấy năm thì vị này qua đời; cho nên ông đến tham vấn Thiết Bích Huệ Cơ (鐵壁慧機)—pháp từ của Tụ Vân và đến năm 41 tuổi, ông kế thừa dòng pháp của Thiết Bích. Vào năm thứ 9 (1652) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đến trú trì Cát Tường Tự (吉祥寺) ở Quỳ Châu (夔州, Tỉnh Tứ Xuyên) và sau chuyển đến Phước Thành Sơn Khánh Vân Tự (福城山慶雲寺) ở Trung Châu. Đến ngày 18 tháng 6 năm thứ 9 niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh, ông thị tịch, hưởng thọ 70 tuổi đời và 53 hạ lạp. Ông có để lại bản Hành Sơn Bỉnh Thiền Sư Ngữ Lục (衡山炳禪師語錄) 1 quyển.

hành sử

To make use of—To use—To utilize.

hành thao

(行韜) (?-1652) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế sống vào đời Thanh, người huyện Ngô giang, tỉnh Giang tô, họ Triệu, tên Dữu tiên, tự là Đại dữu.Thủa nhỏ, sư theo học người bác là ngài Hán nguyệt Pháp tạng. Năm Thuận trị thứ 3 (1646) sư ở ẩn trong núi Vũ di. Về sau, sư y chỉ vào ngài Phù thạch Thông hiền ở chùa Báo ân tại huyện Ngô giang thụ giới Cụ túc, sau lại theo học ngài Hoằng trừ ở chùa Linh nham. Năm Thuận trị thứ 7 (1650), vâng mệnh của thầy, sư đến Hành Sâm trụ trì chùa Quốc thanh. Năm Thuận trị thứ 9 (1652) sư tịch. Sư có tác phẩm: Đại dữu thiền sư trụ Thiên thai cảnh đức quốc thanh thiền tự ngữ lục 1 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.84].

hành thiện

3) Làm việc thiện: To do good—To perform good deeds or whlesome deeds—To offer up deeds of goodness. 4) Nghiệp thiện: Deeds that are good. 5) Những lời Phật dạy về “Hành Thiện” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “To do good” in the Dharmapada Sutra: Những người tạo các thiện nghiệp, làm xong chẳng chút ăn năn, còn vui mừng hớn hở, vì biết mình sẽ thọ lấy quả báo tương lai—The deed is well done when, after having done it, one repents not, and when, with joy and pleasure, one reaps the fruit thereof (Dharmapada 68). ; (行善) I. Hành Thiện. Đối lại với Chỉ thiện. Tích cực tu hành thiện nghiệp là Hành thiện. Trái lại, không tạo các ác nghiệp như giết hại, trộm cướp..., một cách tiêu cực là Chỉ thiện. (xt. Chỉ Hành Nhị Thiện). II. Hành Thiện. Phát tâm Đại thừa, khuyên người dứt bỏ tâm hạnh độc ác xấu xa mà khởi tâm cầu vãng sinh Tịnh độ. Đây tức là Hành phúc trong 3 phúc. (xt. Tam Phúc).

hành thụ

Hàng Thụ—Rừng cây thành hàng thành lối—Tree in rows—A avenue of trees. ; (行樹) Rừng cây mọc thành hàng, thẳng tắp từ đầu đến cuối. Kinh A di đà (Đại 12, 346 hạ) nói: Bảy lớp hàng cây đều do 4 thứ báu tạo thành . A di đà kinh thông tán sớ quyển trung (Đại 37, 338 hạ), giải thích: Bảy lớp cây báu mọc thành hàng trong cõi nước, hoa thơm thường nở, lá không héo rụng, chim quí đến đậu, chúng thánh dạo chơi, vì thế nói là 7 hàng cây đều do 4 thứ báu tạo thành .

hành triền

(行纏) Cũng gọi Hành tất (buộc đầu gối), Hành bán (buộc ống chân). Thiền tăng dùng vải buộc ống chân khi đi hành cước. Chương Vân cư Hiểu thuấn trong Liên đăng hội yếu quyển 28 (Vạn tục 136, 454), nói: Ban đêm cởi bí tất để ngủ, sáng ngày buộc ống chân lên đường .

hành trà

(行茶) Nghi thức phân phối trà hoặc cùng uống trà với đại chúng. Trong Thiền lâm, khi hành trà, người tham dự có chỗ ngồi nhất định. Điều Đầu thủ tựu Tăng đường điểm trà trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1136 trung), nói: Thụ trai xong, người phụ trách việc hành trà vào Trai đường đốt hương pha trà . [X. điều Kết chế lễ nghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; điều Tăng đường nội tiễn điểm trong Thiền uyển thanh qui Q.5].

Hành Trì

(行持, Gyōji): quyển thứ 30 trong bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏), là phần Thị Chúng (示眾) tại Hưng Thánh Tự (興聖寺) vùng Vũ Trị (宇治, Uji) vào năm 1241. Nội dung của thiên này trước hết nói về việc trong đời tận thế này, chúng ta cần phải hành trì mới tu chứng được; kế đến ghi cụ thể sự tích của chư vị Tổ sư ở Ấn Độ, Trung Quốc từ thời đức Thích Ca trở về sau, và cuối cùng là khuyên người học đạo nên thâm nhập pháp môn hành trì của chư vị Tổ sư.

hành trì

Conduct and keeping—Practice and continuance.

hành trình

Itinerary.

Hành Trạng

(行狀): là một thể loại văn chương ghi lại sơ lược tất cả những việc làm, sinh hoạt, quê quán, ngày tháng năm sinh và năm mất của một người nào đó; còn gọi là Hành Trạng Ký (行狀記), Hành Thuật (行述), Hành Thật (行實), Hành Nghiệp (行業), Hành Nghiệp Ký (行業記). Dưới thời nhà Hán thì gọi là Trạng, và từ thời nhà Nguyên trở về sau thì gọi là Hành Trạng. Nguồn gốc của Hành Trạng khởi đầu vào thời Đông Hán (東漢, 25-220), đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (魏晉南北朝, 220-589) thì bắt đầu thịnh hành; được tìm thấy trong phần trích dẫn về hành trạng của chư vị hiền đi trước của Truyện Viên Thiệu (袁紹), Ngụy Chí (魏志) 6 thuộc Tam Quốc Chí (三國志); hay trong Truyện Vương Ẩn (王隱) của Tấn Thư (晉書) quyển 82, cho biết rằng Vương Ẩn lúc nhỏ rất thích học, có chí viết ký thuật, thường ghi chép lại những sự việc nhà Tấn cũng như hành trạng của chư vị công thần. Có một số ký thuật hành trạng nổi tiếng qua các triều đại của Trung Quốc. Tỷ dụ như dưới thời nhà Đường (唐, 618-907) có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀), 1 quyển, không rõ tác giả; Đổng Tấn Hành Trạng (董晉行狀) của Hàn Dũ (韓愈, 768-824); Hàn Lại Bộ Hành Trạng (韓吏部行狀) của Lý Cao (李翱, 774-836), v.v. Thời nhà Tống (宋, 960-1279) có Tư Mã Ôn Công Hành Trạng (司馬溫公行狀) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101); Phó Anh Châu Khất Đan Hành Trạng (赴英州乞舟行狀) cũng của Tô Thức; Minh Đạo Tiên Sinh Hành Trạng (明道先生行狀) của Trình Di (程頤, 1033-1107); Hoàng Khảo Lại Bộ Chu Công Hành Trạng (皇考吏部朱公行狀) của Chu Hy (朱熹, 1130-1200); Trương Ngụy Công Hành Trạng (張魏公行狀) của Chu Hy; Triều Phụng Đại Phu Văn Hoa Các Đãi Chế Tặng Bảo Mô Các Trực Học Sĩ Thông Nghị Đại Phu Thụy Văn Chu Tiên Sinh Hành Trạng (朝奉大夫文華閣待制贈寶謨閣直學士通議大夫諡文朱先生行狀) của Hoàng Càn (黃乾, 1152-1221), v.v. Thời nhà Nguyên (元, 1206-1368) có Cao Phong Thiền Sư Hành Trạng (高峰禪師行狀) của Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫, 1254-1322). Dưới thời nhà Minh (明, 1368-1662) thì có Thành Ý Lưu Công Cơ Hành Trạng (誠意伯劉公基行狀) của Hoàng Bá Sanh (黃伯生, ?-?); Tự Tự Tiên Thế Hành Trạng (自敘先世行狀) của Hoàng Tá (黃佐, 1490-1566); Viên Trung Lang Hành Trạng (袁中郎行狀) của Viên Trung Đạo (袁中道, 1570-1623), v.v. Thời nhà Thanh (清, 1616-1911) có Ngô Đồng Sơ Hành Trạng (吳同初行狀) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682). Về hành trạng của Phật Giáo, trong Nghệ Văn Chí (藝文志) của Tân Đường Thư (新唐書) quyển 59 có Tăng Già Hành Trạng (僧伽行狀) do Tân Sùng (辛崇) soạn, 1 quyển; trong Thiên Tăng Hành (僧行篇) của Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集) quyển 23 có phần Chư Tăng Luy Hành Trạng (諸僧誄行狀). Trong Đại Tạng Kinh của Phật Giáo có Đại Đường Cố Tam Tạng Huyền Trang Pháp Sư Hành Trạng (大唐故三藏玄奘法師行狀, Taishō Vol. 50, No. 2052), 1 quyển; Huyền Tông Triều Phiên Kinh Tam Tạng Thiện Vô Úy Tặng Hồng Lô Khanh Hành Trạng (玄宗朝翻經三藏善無畏贈鴻臚卿行狀, Taishō Vol. 50, No. 2055), do Lý Hoa (李華) soạn, 1 quyển; Đại Đường Cố Đại Đức Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Bất Không Tam Tạng Hành Trạng (大唐故大德贈司空大辨正廣智不空三藏行狀, Taishō Vol. 50, No. 2056) do Triệu Thiên (趙遷) soạn, 1 quyển; Đại Đường Thanh Long Tự Tam Triều Cúng Phụng Đại Đức Hành Trạng (大唐青龍寺三朝供奉大德行狀, Taishō Vol. 50, No. 2057, không rõ tác giả), 1 quyển, v.v. Trong Kim Thạch Tụy Biên (金石萃編) quyển 134 có Truyền Ứng Pháp Sư Hành Trạng (傳應法師行狀); Tục Kim Thạch Tụy Biên (續金石萃編) quyển 17 có Chiêu Hóa Tự Chính Thiền Sư Hành Trạng (昭化寺政禪師行狀), v.v.

hành trạng

(行狀) Cũng gọi Hành trạng kí, Hành thuật, Hành thực, Hành nghiệp, Hành nghiệp kí. Một thể văn ghi chép lại đức hạnh, công trạng, quê quán và năm tháng sống chết của một nhân vật nào đó. Về nguồn gốc của thể văn hành trạng thì trong phần chú thích về truyện Viên thiệu trong Tam quốc Ngụy chí 6 có dẫn dụng Hành trạng các Tiên hiền và truyện Vương ẩn trong Tấn thư quyển 28 thường nói về hành trạng của các công thần. Do đó có thể đoán biết rằng thể văn hành trạng đã được sử dụng từ thời Ngụy Tấn. Trong Phật giáo cũng có nhiều tác phẩm nói về hành trạng như: Tăng già hành trạng 1 quyển của Tân sùng, thu vào Văn nghệ chí trong Tân đường thư quyển 59, Chư tăng lụy hành trạng trong thiên Tăng hạnh của Quảng hoằng minh tập quyển 23, Đại đường cố tam tạng Huyền trang pháp sư hành trạng trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh tập 50, Truyền ứng pháp sư hành trạng trong Kim thạch tụy biên quyển 134, Trung nhạc sa môn Pháp như hành trạng trong Tục kim thạch tụy biên quyển 6, Chiêu hóa tự Chính thiền sư hành trạng trong Tục kim thạch tụy biên quyển 17, v.v...

hành trụ toạ ngoạ

(行住坐臥) Đi, đứng, ngồi, nằm, tức là 4 uy nghi. Để răn bảo các tỉ khưu, tỉ khưu ni phải thận trọng trong từng cử chỉ, không được buông thả, đức Phật đã qui định phép tắc ba nghìn uy nghi, tám muôn tế hành để mọi người thường phải lưu ý đến hành vi hàng ngày của mình. (xt. Tứ Uy Nghi).

hành trụ tọa ngọa

Ði Ðứng Nằm Ngồi (bốn uy nghi bao gồm hết mọi động tác của người tu hành dù xuất gia hay tại gia, lúc thiền định cũng như lúc bình thường)—Walking, Standing, Sitting and Lying.

hành tín

Tu tập và tin tưởng—Act and faith—Doing and believing—Acting out one's belief. ; (行信) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Đặc biệt Tịnh độ chân tông thường dùng từ ngữ này để nói về giáo nghĩa cơ bản của tông mình. Thông thường, Hành chỉ cho sự tu hành hoặc hành nghiệp để thành tựu Phật đạo; còn Tín là chỉ tín ngưỡng, tín tâm. Vì thế, Hành tín còn được gọi là Tâm hạnh, là điều kiện tất yếu để vãng sinh Tịnh độ và thành tựu Phật đạo. Từ xưa đến nay, trong các hệ phái Tịnh độ giáo, ngoại trừ Tịnh độ chân tông Nhật bản, bất luận là chủ trương Tự lực Thánh đạo môn hay chủ trương Tha lực Tịnh độ môn đều xem trọng cả Hành lẫn Tín, tức cho rằng người tu hành phải phát tâm bồ đề và tu hạnh Tín thì mới có thể đầy đủ sở cầu, thành tựu sở nguyện. Nhưng giáo nghĩa của Tịnh độ chân tông thì coi trọng Tín hơn Hành . Bởi vì tông này cho rằng tự thân chúng sinh không có khả năng thành Phật, cho nên phải nhờ vào tín tâm đối với đức Phật A di đà, đồng thời, dùng tín tâm ấy làm chính nhân vãng sinh Tịnh độ. Sau khi đã phát khởi tín tâm, mà lại xưng niệm danh hiệu Phật A di đà nữa, thì điều đó có thể được coi là hành nghiệp báo ân Phật A di đà. Trong Tịnh độ chân tông, Tín và Hành ấy đặc biệt được gọi là Đại tín, Đại hành.

hành túc

Ví trí tuệ là mắt và sự tu hành là chân—As works are the feet, so wisdom is the eye.

Hành Tư

行思|Thanh Nguyên Hành Tư.

hành tư

(行思) (?-740) Vị Thiền tăng đời Đường, người An thành, Cát châu (An phúc, Giang tây), họ Lưu. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, sau đến cầu pháp nơi Lục tổ Tuệ năng. Sư cùng với thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng là 2 đại đệ tử cùng nối pháp của ngài Lục tổ. Về sau, sư trụ trì chùa Tĩnh cư ở núi Thanh nguyên tại Cát châu, cho nên người đương thời gọi sư là Thanh nguyên Hành tư. Môn đồ rất đông, Thiền phong lừng lẫy, được gọi là dòng phái Thanh nguyên, song song với dòng phái Nam nhạc. Về sau, từ dòng Thanh nguyên lại khai sinh ra 3 pháp hệ là: Vân môn, Tào động và Pháp nhãn. Năm Khai nguyên 28 (740) sư tịch, vua Hi tông ban thụy hiệu là Hồng Tế Thiền Sư (có chỗ chép là Hoằng Tế Thiền Sư), hiệu tháp là Qui Chân. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Tổ đường tập Q.3; Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.1; Thanh nguyên sơn chí lược Q.2].

hành tư thanh nguyên thiền sư

Seventh Generation of Chinese Zen (First Generation after the Sixth Patriarch Hui-Neng)—Xing-Si-Quing-Yuan—Thiền Sư Hành Tư tại núi Thanh Nguyên, sanh năm 660 sau Tây Lịch, là một đệ tử xuất sắc của Lục Tổ Huệ Năng. Ông xuất gia từ thuở nhỏ. Sau nầy nghe có Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê, sư liền đến tham học. Hành Tư hỏi Lục Tổ, “Phải làm việc gì để khỏi rơi vào những trạng thái phát triển tâm linh?” Tổ gạn hỏi lại, “Ông từng làm việc gì?” Hành Tư trả lời, “Tôi không thực hành tứ diệu đế.” Tổ nói lại, “Vậy rơi vào cái gì?” Hành tư đáp lại, “Tứ Thánh Ðế cũng chẳng làm, thì làm gì có rơi vào giai đoạn phát triển tâm linh nào?” Tổ thầm thán phục và hứa nhận Hành Tư. Dầu tại Tào Khê tăng chúng khá đông, Hành Tư được Tổ cho đứng đầu trong chúng. Một hôm Tổ gọi Hành Tư lại bảo, “Từ trước y pháp cả hai đều được thầy truyền cho trò, y để tiêu biểu làm tin, pháp để ấn tâm, nay không còn sợ người chẳng tin. Ta từ ngày nhận y đến nay đã gặp nhiều tai nạn khó khăn. Hơn nữa, đời sau lắm cạnh tranh. Y để lại Sơn Môn, ngươi đến một phương truyền bá pháp ta không cho đứt đoạn. Thiền Sư Hành Tư thị tịch năm 740 sau Tây Lịch—Xing-Si Quing-Yuan was born in 660 A.D., an eminent student of the Sixth Patriarch Hui-Neng. He left home when he was young. Upon hearing that the Sixth Patriarch Hui-Neng was preaching at T'ao-Xi, he traveled there to study with him. Xing-Si asked the Sixth Patriarch, “In all that I do, how can I avoid falling into stages of spiritual development?” The Sixth Patriarch said, “How do you practice?” Xing-Si said, “I don't even pratice the four noble truths.” The Sixth Patriarch said, “What stage have you fallen into?” Xing-Si said, “Without even studying the four noble truths, what stages could I have fallen into?” The Sixth Patriarch esteemed Xing-Si's ability. Although there were many in the congrgation, Xing-Si was selected as head monk. One day the Sixth Patriarch said to Xing-Si, “In the past, the robe and teaching have been passed down together, each generation of teacher and student passing them on in turn. The robe has been evidence of the transmission. The authentic teaching is passed from mind to mind. Now I have suitable heirs. Why worry about not having evidence of transmission? Since I received the robe I have encountered innumerable difficulties. Moreover, in future times, the competition for preeminence between Zen schools will be even greater. The robe remains at the Zen Mountain Gate. You must establish a separate assembly and expound the teaching. Don't allow my Dharma to be cut off. 6) Một hôm Thiền sư Thần Hội đến tham vấn, sư hỏi: “Ở đâu đến?” Thần Hội đáp: “Tào Khê đến.” Sư hỏi: “Ý chỉ Tào Khê thế nào?” Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: “Vẫn còn đeo ngói gạch.” Thần Hội hỏi: “Ở đây Hòa Thượng có vàng ròng cho người chăng?” Sư hỏi: Giả sử có cho, ông để vào chỗ nào?”—One day, He-Ze-Shen-Hui came to visit the master. Xing-Si said: “Where have you come from?” Shen-Hui said: “From Cao-Xi.” Xing-Si said: “What is the essential doctrine of Cao-Xi?” Shen-Hui suddenly stood up straight. Xing-Si said: “So, you're still just carrying common tiles.” Shen-Hui said: “Does the Master not have gold here to give people?” Xing-Si said: “I don't have any. Where would you go to find some?” 7) Có vị Tăng đến hỏi sư: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Sư đáp: “Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?”—A monk asked Xing-Si: “What is the great meaning of the Buddhadharma?” Xing-Si said: “What is the price of rice in Lu-Ling?” 8) Thiền sư hành Tư thị tịch năm 740 sau Tây lịch—Zen master Xing-Si died in 740 A.D.

hành tướng

5) Hoạt động: Activity—Performance 6) Tác dụng nhận thức của tâm thức (hành là hành giải hiểu biết; tướng là tướng mạo, nếu hiểu được tướng mạo của sự vật thì gọi là hành tướng): Mental activity. ; (行相) Chỉ cho tác dụng nhận thức hoặc trạng thái của bóng dáng ánh hiện trong tâm và tâm sở. Về danh từ Hành tướng , giữa tông Câu xá và tông Duy thức có sự giải thích khác nhau. Tông Câu xá chủ trương tâm có thể trực tiếp duyên theo cảnh ngoài tâm, nên cho tâm và tâm sở là năng duyên, cho cảnh ngoài tâm là sở duyên. Khi duyên cảnh, cảnh hiện ra trong tâm và tâm sở tức là hành tướng. Câu xá luận kí quyển 1 phần cuối (Đại 41, 26 hạ), nói: Hành tướng nghĩa là thể của tâm và tâm sở thanh tịnh, khi đối trước cảnh không có tác ý, nhậm vận tự nhiên mà hiện ra hình tượng, giống như ao nước trong, tấm gương sáng, các hình bóng đều hiện rõ . Cũng Câu xá luận kí quyển 4 còn tiến thêm bước nữa mà nói rõ rằng: Hành nghĩa là hành giải, như tác dụng liễu biệt; Tướng nghĩa là tướng mạo, như hình tượng, cho nên lấy tướng mạo của sự vật được liễu biệt làm hành tướng. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng tâm không thể trực tiếp duyên theo cảnh bên ngoài, mà tất cả ảnh tượng đều hiển hiện trong tâm và tâm lấy đó làm sở duyên, rồi sinh khởi tướng năng duyên. Tức là trong tâm có 2 tướng năng duyên và sở duyên. Tướng năng duyên gọi là kiến phần, tướng sở duyên gọi là tướng phần. Kiến phần chính là hành tướng thuộc về tác dụng nhận thức chứ không phải hình ảnh sự vật. Cho nên, nói theo quan điểm của tông Duy thức, cái mà tông Câu xá gọi là hành tướng thực ra là hành tướng tướng phần, khác xa với hành tướng kiến phần của tông Duy thức. Thành Duy thức luận thuật kí quyển 3 (Đại 43, 318 hạ), nói: Tiểu thừa cho rằng ngoài tâm có cảnh và lấy đó làm sở duyên; vì Đại thừa không chủ trương ngoài tâm có cảnh nên lấy hành tướng của Tiểu thừa làm tướng phần của Đại thừa. Đại thừa cho tâm có thể tự duyên nên lập riêng phần tự thể và lấy đó làm cảnh, vì vậy gọi kiến phần là hành tướng . [X. luận Thành duy thức Q.2; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, Q.hạ; Câu xá luận yếu giải Q.1].

hành tượng

Phong tục ở Tây Vực mỗi năm vào ngày Phật đản sanh, người ta tô điểm trang hoàng tượng Phật cho buổi lễ diễn hành trong kinh thành—To take an image of Buddha in procession; it was a custom observed on Buddha's birthday acording to the Records of the Western Lands (records of the Land of the Buddha). ; (行像) Cũng gọi Tuần thành, Hành thành. Nghi thức tôn trí tượng Phật đặt trên xe hoa, rước đi khắp các đường phố trong ngày Phật đản. Ở Ấn độ đời xưa nghi thức Hành tượng được tổ chức rất trọng thể. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện ghi, thì ở thành Ba liên phất nước Ma yết đà Trung Ấn độ, hàng năm có tổ chức nghi thức Hành tượng vào ngày mồng 8 tháng 4. Ban tổ chức làm 20 chiếc xe 4 bánh, trên mỗi xe có trang trí tháp bằng trúc 5 tầng, cao khoảng 2 trượng, treo những tấm vải trắng chung quanh, trên vải có vẽ hình tượng chư thiên bằng nhiều màu sắc, trang sức vàng bạc, lưu li, treo phan phướn cờ lọng, 4 phía đều có khám thờ tượng Phật ngồi và tượng các Bồ tát đứng hầu, mỗi xe được trang hoàng theo mỗi kiểu khác nhau. Vào ngày này kẻ tăng người tục tập họp khắp nơi, xướng ca trỗi nhạc cúng dường. Ở Trung quốc, phong tục Hành tượng bắt đầu từ đời Đông Tấn, đó là lễ rước tượng Ngũ tôn của ông Đới quì. Từ thời Nam Bắc triều đến đời Đường, Tống, nghi thức Hành tượng dần dần đã thịnh hành trên khắp nước. Điều Thành nam Cảnh minh tự trong Lạc dương già lam kí quyển 3 (Đại 51, 1010 trung), chép: Ngày mồng 7 tháng 4, tất cả tượng Phật ở kinh đô được cung nghinh về chùa Cảnh minh, gồm hơn 1.000 pho. Đến ngày mồng 8, lần lượt rước tượng vào cửa Tuyên dương, tới trước cửa chính của cung điện để vua tung hoa cúng dường. Lúc ấy hoa vàng lấp lánh như ánh mặt trời, lọng báu như mây, cờ phan như rừng, khói hương mờ mịt như sương, tiếng nhạc tiếng pháp vang dội trời đất; hàng trăm con ngựa đi song đôi; danh tăng đại đức gậy tích chạm nhau, tín đồ pháp lữ cầm hoa thành rừng, xe cộ nghẽn đường. Thời ấy có vị sa môn Tây vực thấy quang cảnh đó bảo là nước Phật . Từ sau đời Nguyên, Minh, trong các tư liệu đã ít thấy ghi chép về Hành tượng, nhưng gần đây ở Tây tạng và vùng núi Ngũ đài vẫn thấy cử hành nghi thức này. Còn tại các vùng Giang nam, Giang bắc, thì phong tục Hành tượng đã được thay thế bằng nghi thức tắm Phật. [X. phẩm Quán tứ uy nghi trong kinh Quán Phật tam muội hải Q. 6, phẩm Quán tượng Q. 9; Phật tổ thống kỉ Q.38, Q.42; Pháp uyển châu lâm Q.16; Tuế thời quảng kí Q.20; Ngụy thư thích lão chí Q.20]. (xt. Phật Đản Nhật).

hành tứ y

The four reliances of ascetic practictioners—See Tứ Y (A). ; (行四依) Cũng gọi Tứ y trụ, Tứ y pháp, Tứ y chỉ pháp. Bốn pháp của người xuất gia phải thực hành hàng ngày để nuôi lớn giới thân tuệ mệnh. Tứ y gồm có: 1. Phẩn tảo y (Phạm:Pàôsukùla,Pàli: Paôsukùla): Tức là lượm lấy những thứ y phục cũ rách, nhơ bẩn như đồ lau phân mà người đời đã vứt bỏ ngoài đường, đem giặt sạch và khâu may lại mà mặc. Người tu hành mặc như thế sẽ không sinh tâm tham luyến thì đạo nghiệp mau thành. 2. Khất thực (Phạm;Pàli:Piịđa-pàta): Thường đi xin ăn để nuôi sống thân mệnh. 3. Thụ hạ tọa (Phạm: Vfkwa-mùla, Pàli:Rukkla-mùla-senàsana): Ngồi dưới gốc cây hoặc trong hang đá, tạm thời nương ở để tu tập thiền định. 4. Trần khí dược (Phạm:Pùtimuktabhaiwajya,Pàli: Pùtimutta-bhesajja): Nếu ốm đau thì dùng thuốc mục nát lâu năm để điều trị; bệnh khỏi rồi, phải ngưng ngay, không được lấy thuốc mới để tích trữ.

hành uẩn

Samskara (skt)—Hành uẩn, uẩn thứ tư trong ngũ uẩn. Hành động dẫn đến hậu quả một cách tất yếu—Aggregate of volition, the fourth of the five skandhas. Action which inevitably passes on its effects. ; (行蘊) Phạm: Saôskàra-skandha. Pàli: Saíkhàra-khandha. Hành nghĩa là đổi dời, biến hóa, tạo tác. Uẩn nghĩa là chứa nhóm, chia loại. Phật giáo chia tất cả pháp hữu vi làm 5 loại, gọi là Ngũ uẩn , trong đó, Hành uẩn là loại thứ 4, gồm các pháp có tính chất tạo tác, đổi dời. Tông Câu xá chia hết thảy pháp hữu vi, vô vi thành 75 pháp, trong đó, có 44 món tâm sở và 14 pháp bất tương ứng, cộng lại gồm 58 pháp, gọi chung là Hành uẩn. Có thuyết chủ trương, nếu tất cả các pháp hữu vi đều là những pháp tạo tác, đổi dời, thì chẳng riêng gì Hành uẩn, mà ngay cả sắc, thụ, tưởng, thức cũng đều có thể gọi là Hành uẩn. Nhưng tông Câu xá cực lực phản đối thuyết này, như Câu xá luận kí quyển 1 của ngài Phổ quang cho rằng 4 uẩn: Sắc, thụ, tưởng, thức tuy cũng thuộc các pháp tạo tác, đổi dời, nhưng so với Hành uẩn thì tính chất tạo tác, đổi dời ấy ít hơn, cho nên phải gọi bằng những tên khác nhau. Ngoài những điểm nói trên, còn có nhiều giải thích khác nữa về Hành uẩn. Như Kinh bộ và Phật giáo Đại thừa thì chủ trương 6 Tư thân là Hành uẩn. Sáu Tư thân tức là tâm sở Tư do tương ứng với 6 thức mà sinh ra, phạm vi của thuyết này rất rộng. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; luận Đại tì bà sa Q.74; Q.75; luận Câu xá Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Uẩn).

hành vi

Deed—Act—Action. ; (行爲) Phạm: Karma. Pàli: Kamma. Dịch ý: Nghiệp. Những hành động của thân, lời nói của miệng, và ý nghĩ của tâm cấu tạo thành ba nghiệp nhân, sẽ mang lại nghiệp quả, tức là hành vi. Hành vi có 3 loại: Thiện (nghiệp thiện), ác (nghiệp ác) và vô kí (nghiệp không thiện không ác). (xt. Thiện, Ác, Nghiệp).

hành vi tốt

Good deeds

hành vi xấu

Bad deeds.

hành viên

(行圓) (?-1020) Vị tăng Nhật bản. Sống vào giữa thời Bình an, người Trấn tây. Sư là người không thích quyền thế, mà chỉ dốc sức vào việc giáo hóa đại chúng. Bất luận thời tiết nóng hay lạnh, lúc nào sư cũng mặc áo da hươu, vì thế người thời bấy giờ gọi sư là Cách thượng nhân (Thượng nhân mặc áo da), Bì thánh. Niên hiệu Khoan hoằng năm đầu (1004), sư lập chùa Hạnh nguyện (Cách đường, nhà da) ở Kinh đô (Kyoto) và làm nhiều việc phúc lợi xã hội, như sửa sang đường sá, v.v... được mọi người trong triều ngoài nội sùng kính.Năm Khoan nhân thứ 4 (1020) sư tịch, thọ hơn 70 tuổi. [X. Nhật bản kỉ lược hậu thiên Q.11; Nguyên hanh thích thư Q.14].

Hành Vũ

xem Vũ Hành.

hành vũ

Làm mưa: To rain, or produce rain. Hành Vũ, tên của một vị đại thần của vua Bình Sa Vương: Varsakara, name of a minister of king Bimbisara.

hành xá

(行舍) Gọi tắt: Xả. Tên tâm sở. Chỉ cho tác dụng tinh thần bình đẳng, chính trực, xa lìa tâm tháo động như hôn trầm, trạo cử, an trụ trong trạng thái tĩnh lặng. Là một trong 10 Đại thiện địa pháp của tông Câu xá, một trong 11 Thiện tâm sở của tông Duy thức. Trong Ngũ uẩn, Xả này thuộc về Hành uẩn, cho nên được gọi là Hành xả để phân biệt với Thụ xả thuộc trong Thụ uẩn. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 6, thì Tâm sở này có 3 loại tác dụng: Bình đẳng, Chính trực và Vô công dụng. Nhưng 3 tác dụng này thực ra là 3 tác dụng trong một niệm, chỉ căn cứ theo sự rõ rệt của nó để phân biệt trước sau mà thôi. (xt. Thập Nhất Thiện, Xả).

hành xác

Self-mortification

hành xí

Ði cầu (nhà xí); nhà cầu nơi mà chúng ta đi, ẩn dụ thân người uế trược—To go to the privy; the privy to which one goes, metaphor of the human body as filthy.

hành xứ

(行處) Đối tượng của sự tu hành quán tưởng.Phẩm Phân biệt hành xứ trong luận Giải thoát đạo quyển 3 liệt kê 38 hành xứ:1. Thập nhất thiết nhập: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không xứ, thức xứ... 2. Thập bất tịnh tưởng: Tưởng xác chết sình chương, bầm tím, nứt nẻ, vứt bỏ, chim thú đến ăn, thịt rữa ra, chém chặt lìa tan, máu me bê bết, dòi bọ rúc rỉa, xương trắng... 3. Thập niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tử, niệm thân, niệm sổ tức, niệm tịch tĩnh... 4. Tứ vô lượng tâm: Từ, bi, hỉ, xả... 5. Tứ hạnh: Quán tứ đại, Thực bất tịnh tưởng, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ...

hành xử không sai lầm

To behave impeccably.

hành xử ðúng

To tackle in the right perspective.

hành yếu

The requirements for action; to do that which is most important.

hành ðạo

21) Ði theo chân lý của Phật: To walk in the way, follow the Buddha-truth. 22) Trịch vai phải, đi nhiễu vòng quanh hình tượng, đặc biệt là hình tượng Ðức Phật: to make procession round an image, especially of the Buddha, with the right shoulder toward it.

hành ðộng

Karma—Action—Deed—Act.

hành ðộng có chủ tâm

Willful action.

hành ðộng có chủ ý

To commit intentionally.

hành ðộng do tác lý

Volitional activities.

hành ðộng không phân biệt

Avikalpapracara (skt)—Deeds of non-discrimination.

hành ðộng với tâm rộng lượng và lòng từ bi

To act with kindness and love.

hành ðức

Tu tập đức hạnh—The virtue of performance—Discipline to perform viruous deeds.

hành đoan

(行端) (1254-1341) Vị Thiền tăng thuộc phái Đại tuệ, tông Lâm tế ở đời Nguyên, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Hà, hiệu Nguyên tẩu. Sư sinh ra trong một gia đình Nho giáo, lên 6 tuổi bắt đầu học Nho với thân mẫu. Lớn lên, sư theo người chú là Mậu thượng nhân xuất gia ở viện Hóa thành, rồi tham học ngài Tạng tẩu Thiện trân ở Kính sơn và đắc pháp. Năm Đại đức thứ 4 (1300), sư trụ trì Tư phúc Thiền tự ở núi Tường phụng thuộc Hồ châu (tỉnh Chiết giang). Năm Đại đức thứ 8 (1304), vua ra sắc chỉ cho sư ở chùa Trung thiên trúc vạn thọ và ban hiệu Tuệ Văn Chính Biện Thiền Sư . Không bao lâu, sư đến ở chùa Linh ẩn cảnh đức, được vua ban thêm cho hiệu Phật Nhật Phổ Chiếu . Năm Chí trị thứ 2 (1322), sư đến ở chùa Hưng thánh vạn thọ tại Kính sơn. Trong thời gian ấy, sư 3 lần được ban áo ca sa kim lan và được các Hoàng đế qui y. Ngày mồng 4 tháng 8 niên hiệu Chí chính năm đầu (1341) sư tịch, hưởng thọ 88 tuổi, 78 tuổi đạo. Tác phẩm: Tuệ văn chính biện Phật nhật phổ chiếu Nguyên tẩu đoan thiền sư ngữ lục 8 quyển. [X. Nam Tống Nguyên Minh thiền lâm tăng bảo truyện Q.10; Tục truyền đăng lục Q.38; Tăng tục truyền đăng lục Q.3].

hành đường

(行堂) I. Hành Đường. Chỉ cho chức vụ của người trông nom các bữa ăn của chúng tăng trong tùng lâm. II. Hành Đường. Cũng gọi Hành giả đường, Hành giả liêu, Hành giả phòng, Tuyển tăng đường. Chỉ cho chỗ ở của hành giả. Hành giả là người chưa được xuất gia nhưng đến ở trong chùa làm công quả. Như ngài Lục tổ Tuệ năng đến Hoàng mai theo ngài Ngũ tổ Hoằng nhẫn, đến khi được Ngũ tổ truyền áo bát cho thì ngài Tuệ năng cũng vẫn còn là hình thức Hành giả. Vì Hành giả sẽ có thể xuất gia làm tăng, nên chỗ ở của Hành giả cũng còn được gọi là Tuyển tăng đường (Nhà lựa chọn tăng). [X. điều Huấn hành đồng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; điều Hành giả, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hành Giả).

hành đạo

(行道) I. Hành Đạo. Nghi thức xếp thành hàng một, đi nhiễu quanh tượng Phật hoặc tháp theo phía tay mặt (cũng có thuyết nói theo phía tay trái) từ một vòng, 3 vòng, 7 vòng, cho đến 100 vòng, 1.000 vòng, để tỏ lòng tôn kính. Đây là một trong những phép lễ bái của Ấn độ đời xưa. Tại Trung quốc và Nhật bản, trong các pháp hội quan trọng của các tông phái đều có nghi thức Hành đạo. Ngoài việc đi nhiễu trong điện Phật, quanh tháp, còn có rải hoa cúng dường và tán tụng kinh kệ. Trong Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán của ngài Thiện đạo có nói rõ về cách tán hoa hành đạo. Cứ theo kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì khi hành đạo nhiễu quanh tháp phải cúi đầu nhìn xuống đất, không được đạp lên côn trùng, không được nhìn ngó 2 bên, không được khạc nhổ trên đất và nói chuyện với người đứng trong tháp. [X. luận Đại trí độ Q.47; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.37]. (xt. Hữu Nhiễu). II. Hành Đạo. Chỉ cho sự kinh hành, tức là khi ngồi thiền đứng dậy bước đi để thân tâm được thư thái. (xt. Kinh Hành). III. Hành Đạo. Phạm:Ìryàpatha. Hán dịch: Uy nghi lộ (đường uy nghi). Phép tắc của tỉ khưu cầm bát đi khất thực. Cũng chỉ chung 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm. (xt. Tứ Uy Nghi). IV. Hành Đạo. Tu hành Phật đạo. HÀNH ĐỒNG Cũng gọi Đồng hành, Đạo giả, Đồng thị, Tăng đồng. Chỉ cho những chú tiểu (điệu) hoặc sa Di còn nhỏ tuổi làm các việc lặt vặt trong chùa viện.

hành ấm

xem năm ấm.

Hành Ứng Huyền Tiết

(行應玄節, Gyōō Gensetsu, 1756-1831): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ (江戸, Edo), húy là Huyền Tiết (玄節), đạo hiệu Hành Ứng (行應), thụy là Tâm Giám Từ Chiếu Thiền Sư (心鑑慈照禪師), xuất thân vùng Thỉ Dã (矢野), Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]). Năm lên 19 tuổi, ông theo hầu Đề Châu Thiền Nhứ (提洲禪恕) ở Tự Tánh Tự (自性寺), vùng Trung Tân (中津, Nakatsu) Phong Tiền (豐前, Buzen). Sau khi vị này qua đời thì ông đến tham Thiền với Hải Môn Thiền Cách (海門禪恪). Năm 1779, ông lên tham dự lễ kỵ lần thứ 500 của Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓) ở Đông Phước Tự (東福寺) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), nhân đó tham yết Thiên Nghê Huệ Khiêm (天猊慧謙) ở chùa này; và sau được ấn khả của Từ Trác (慈棹). Năm 1794, ông đến sống tại Long Đàm Tự (龍潭寺) vùng Y Do, rồi năm 1803 đến Đẳng Giác Tự (等覺寺).

Hành, trụ, toạ, ngọa

行住坐臥; J: gyō-jū-za-ga; nghĩa là đi-đứng-ngồi-nằm, cũng được gọi là bốn uy nghi (四威儀; tứ uy nghi);|Biểu thị này muốn nói rằng, hành giả tham thiền phải thiền trong tất cả hành động hằng ngày như đi, đứng, ngồi, nằm.|Ði-đứng-ngồi-nằm ở đây có nghĩa là: tâm niệm (chú tâm) tuyệt đối trong lúc thực hành bốn uy nghi và nói chung là trong lúc thực hành bất cứ việc gì, trong mọi hành động.|Câu chuyện sau đây của Ðại thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun, 1394-1481) nêu rõ sự quan trọng này:|Một hôm, một ông khách đến tham vấn: »Thỉnh Hoà thượng viết vài quy tắc cơ bản để đạt trí huệ.« Sư cầm bút lên viết ngay: »Tâm niệm.« Ông ta hỏi: »Chỉ vậy thôi sao, Hoà thượng còn gì viết thêm không?« Sư viết hai lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách bảo: »Chẳng thấy trí huệ sâu sắc cao cả gì ở đây.« Sư lại viết ba lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách nổi cáu, hỏi: »Tâm niệm có nghĩa gì?« Sư trầm tĩnh đáp: »Tâm niệm là tâm niệm.«

Hào

毫; C: haó; J: gō;|1. Lông dài nhỏ và nhọn; lông măng; 2. Đầu mút của ngọn bút lông; Một phần ngàn của một ounce; 4. Lông tơ trên cây cối; 5. Một nguyên tử.

hào

Lông mềm—Soft hair.

hào hiệp

Gallant.

Hào li

(毫厘): mảy may, gang tấc, phần cực nhỏ. Trong Ngu Chi Truyện (虞荔傳) của Trần Thư (陳書) quyển 19 có đoạn rằng: “Phù an nguy chi đào, họa phước chi cơ, phỉ độc thiên thời, diệc do nhân sự. 'thất chi hào li, sai chi thiên lí'. Thị dĩ minh trí chi sĩ, cứ trọng vị nhi bất khuynh, chấp đại tiết nhi bất thất, khởi hoặc ư phù từ tai (夫安危之兆、禍福之機、匪獨天時、亦由人事。'失之毫釐、差以千里'。是以明智之士、據重位而不傾、執大節而不失、豈惑於浮辭哉, Phàm dấu hiệu an nguy, cơ duyên họa phước, chẳng phải riêng do cơ trời, cũng do con người. 'Mất chút mảy may, sai cả ngàn dặm.' Cho nên người có trí tuệ sáng suốt, dẫu ở vị trí trọng đại mà không nghiêng ngữa, cầm quyền hành to lớn mà vẫn không mất mác, liệu còn nghi ngờ gì nơi ngôn từ hư ảo chăng ?).” Hay trong phần Kinh Giải (經解) của (禮記) cũng có câu: “Quân tử thận thỉ, sai nhược hào li, mậu dĩ thiên lí (君子愼始、差若豪釐、繆以千里, trước hết người quân tử phải thận trọng, sai chút mảy may, lầm cả ngàn dặm).” Câu “ân thâm vị báo ư hào li (恩深未報於毫厘)” có nghĩa là ơn sâu chưa báo đáp được chút mảy may nào. ; 毫釐; C: haólí; J: gōri;| Một đơn vị rất nhỏ. Rất nhỏ. Số dây bằng tơ từ miệng tằm nhả ra với một độ dày được gọi là một Mịch (糸), Mười mịch là một hào (毫), 10 hào là một li (釐). Một từ ngữ chỉ cho sự nhỏ bé hoặc không quan trọng.

Hào li thiên lí

毫釐千里; C: haólí qiānlĭ; J: gōrisenri;|Sự lệch lạc dù nhỏ nhất lúc ban đầu sẽ dẫn đến sự lạc đường cả ngàn dặm.

hào mi

Lông trắng giữa hai chân mày của Phật—The white hair between Buddha's eyebrows.

Hào Nhiếp Tự

(毫攝寺, Gōshō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Xuất Vân Lộ (出雲路派) thuộc Chơn Tông, hiện tọa lạc tại số 2-9 Shimizugashira-chō (清水頭町), Takefu-shi (武生市), Fukui-ken (福井縣); hiệu là Xuất Vân Lộ Sơn (出雲路山). Có nhiều thuyết khác nhau về sự sáng lập ngôi chùa này, nhưng vẫn chưa xác định rõ về nguồn gốc chùa như thế nào. Có thuyết cho rằng Thừa Chuyên (承專, Jōsen, tức Thanh Phạm Pháp Nhãn [清範法眼]) quy y theo Giác Như (覺如) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), rồi cải đổi ngôi Phật các ở làng mình, lấy hiệu của Giác Như mà đặt tên cho chùa là Hào Nhiếp Tự. Sau đó chùa được dời về vùng Xuất Vân Lộ (出雲路, Izumoji), kinh đô Kyoto, và đệ tử của Giác Như là Thiện Tánh (善性, có thuyết cho là Thiện Nhập [善入]) được giao trọng trách lo việc chùa. Về sau, đến thời của cháu Thiện Tánh là Thiện Trí (善智), chùa gặp phải nạn binh hỏa, nên ông mới dựng một ngôi chùa khác ở Thanh Thủy Đầu (清水頭) mà ẩn cư. Ngôi chùa này chính là gốc của Hào Nhiếp Tự. Các ngôi đường xá hiện tại của chùa là kiến trúc được tái kiến vào năm 1884 (Minh Trị [明治] 17). Chùa có Chánh Điện, Đại Sư Đường, Đại Quảng Gian, Thư Viện, Khách Điện, Kinh Tàng, v.v. Tượng thờ chính của chùa là A Di Đà Như Lai, tương truyền là tác phẩm của Huệ Tâm (惠心). Ngoài ra chùa còn nhiều bảo vật khác.

hào nhoáng

Showy.

hào quang

Halo.

hào tướng

Tước lông trắng giữa hai chân mày của Phật, một trong 32 tướng hảo—The white hair between Buddha's eyebrows, one of the thirty-two signs of a Buddha.

hác

(郝) Chữ Tất đàm (ha#). Chủng tử của bồ tát Tồi ma. Gồm có 4 nghĩa: 1. Tất cả pháp vốn chẳng sinh. 2. Nhân duyên. 3. Nhân ngã. 4. Pháp ngã. Vì không biết rõ tất cả các pháp vốn chẳng sinh nên sinh ra hết thảy phiền não, rồi do phiền não mà khởi lên nhân ngã và pháp ngã. Tất cả ngoại đạo và chư thiên đều chấp ngã, chấp pháp, muốn chế phục phiền não thì phải vào chính định Kim cương dược xoa, tư duy về Nhất tự chân ngôn của vị Bồ tát này, tiến vào cửa Tất cả pháp vốn không sinh , thì xa lìa được hết thảy phiền não, phiền não đã lìa thì chứng được nhân vô ngã và pháp vô ngã mà hiển bày hằng sa công đức của chân như, vượt ra ngoài 3 cõi. [X. Lí thú thích].

hách dịch

Authoritative.

hái quả

To pick the fruit.

Hám Phác Tánh Thông

(憨璞性聰, Kampaku Shōsō, 1610-1666): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu Minh Giác (明覺), tự Hám Phác (憨璞), xuất thân Diên Bình Thuận Xương (延平順昌), thuộc Huyện Mân (閩, tỉnh Phúc Kiến), họ là Liên (連). Năm 15 tuổi, ông đến nhập môn ở Thiên Vương Tự (天王寺) và 3 năm sau xuống tóc xuất gia. Từ 25 tuổi, ông đã đi ngao du đó đây, theo học kinh luận với Bổn Huy (本輝) ở Chi Đề Sơn (支提山) và thọ cụ túc với Đại Vân (大雲) ở Phổ Đà Nham (普陀巖), Nam Hải (南海, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông đến tham Thiền với Mặc Uyên (默淵) ở Võ Lâm Sơn (武林山, Tỉnh Triết Giang), Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢), v.v. Cuối cùng ông đại ngộ dưới trướng của Nhĩ Mật Minh Phục (爾密明澓) ở Đông Sơn (東山) thuộc Phủ Thiệu Hưng (紹興府, Tỉnh Triết Giang), rồi được Ngư Đàm (魚潭) ở Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang) ấn chứng cho và sau đó đắc pháp với Bách Si Hành Nguyên (百癡行元) ở Thái Bình Tự (太平寺), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Từ đó về sau, ông sống qua một số chùa như Quan Âm Tự (觀音寺) ở Cẩm Sơn (錦山), Hàng Châu, Pháp Hỷ Tự (法喜寺) ở Dư Hàng (餘杭, Tỉnh Triết Giang), Quảng Phước Viện (廣福院) ở Tiền Đường (錢唐, Tỉnh Triết Giang), Hải Hội Tự (海會寺) cũng như Diên Thọ Tự (延壽寺) ở Thuận Thiên (順天, Tỉnh Hà Bắc), An Quốc Tự (安國寺) ở Thiệu Võ (邵武, Tỉnh Phúc Kiến), v.v. Đến ngày 13 tháng 12 năm thứ 5 (1666) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 39 hạ lạp. Pháp từ của ông có hơn 20 người. Ông có để lại tác phẩm Minh Giác Thông Thiền Sư Ngữ Lục (明覺聰禪師語錄) 16 quyển. Phùng Phổ (馮溥) soạn bài tháp minh cho ông.

Hám Sơn Đức Thanh

(憨山德清, Kanzan Tokusei, 1546-1623): tự là Trừng Ấn (澄印), hiệu Hám Sơn (憨山), xuất thân Kim Tiêu (金椒), Kim Lăng (金陵, Nam Kinh), họ Thái (蔡). Năm 13 tuổi, ông theo học với Vĩnh Ninh (永寧) ở Báo Ân Tự (報恩寺) vùng Kim Lăng. Đến năm 19 tuổi, ông xuất gia và thọ Cụ Túc giới, rồi tham học Thiền với Vân Cốc Pháp Hội (雲谷法會) ở Thê Hà Tự (栖霞寺), kế đến tham vấn Pháp Quang (法光) ở Phục Ngưu Sơn (伏牛山), đạt được huyền chỉ sâu xa. Sau đó, ông chọn Ngũ Đài Sơn (五臺山) làm nơi tĩnh tu cho mình. Vào năm thứ 9 (1581) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông thiết lập đại hội trên Ngũ Đài Sơn, chiêu tập 500 vị đại đức tăng. Đến năm thứ 14 cùng niên hiệu trên, nhân dịp Thái Hậu quy y, bà cho sáng lập Hải Ấn Tự (海印寺) ở Lao Sơn (牢山) và ban tặng Đại Tạng Kinh; thế nhưng khi mắc tội với vua Thần Tông, ông cũng bị tống giam vào ngục thất ở Lôi Châu (雷州, Tỉnh Quảng Đông). Vào năm thứ 24, ông đến trú ở Tào Khê (曹溪), phục hưng các ngôi Thiền Đường nơi đây, rồi truyền giới, giảng kinh và chế ra quy cũ Thiền môn. Đến năm thứ 43, ông khai sáng Pháp Vân Thiền Tự (法雲禪寺) ở Ngũ Nhũ Phong (五乳峰). Vào năm thứ 2 (1622) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông trở về lại Tào Khê, và năm sau thì thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 59 hạ lạp. Trước tác của ông có rất nhiều như bộ Ngữ Lục (語錄) 12 quyển, Mộng Du Toàn Tập (夢遊全集) 55 quyển, Quán Lăng Già Kinh Ký (觀楞伽經記), Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要), Lăng Nghiêm Thông Nghĩa (楞嚴通義), Viên Giác Kinh Trực Giải (圓覺經直解), Kim Cang Kinh Quyết Nghi (金剛經決疑), v.v. Ông chủ xướng pháp môn Niệm Phật và Khán Thoại Thiền, cùng với Châu Hoằng (袾宏), Chơn Khả (眞可), Trí Húc (智旭) được gọi là Tứ Đại Thích Gia (四大釋家, 4 vị tu sĩ vĩ đại) cuối thời nhà Minh. Ngô Ứng Thật (呉應實) và Tiền Khiêm Ích (錢謙益) soạn bài minh bia tháp cho ông và trong khoảng niên hiệu Thuận Trị (順治, 1644-1661) nhà Thanh, ông được ban tặng thụy hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師).

Hán

漢; C: hàn; J: kan;|1. Tên một con sông ở Trung Hoa; 2. Một người, một thiếu niên, xuất phát từ cách gọi thông tục thời xưa »một người gốc Hán«; 3. Dân tộc Hán, chủng tộc của những người được đồng nhất với dân tộc Trung Hoa; 4. Một triều đại ở Trung Hoa. Tiền Hán từ 206 trước CN-8 sau CN. Hậu Hán từ 25-220 sau CN; 5. Nước Trung Hoa; 6. Trong ngôn ngữ thiền chỉ cho một người, một gã, một kẻ.

hán

Người Hán: Chinese. Sông Hán Giang: The River Han. Triều đại nhà Hán: The Han dynasty.

Hán Nguyệt Pháp Tạng

(漢月法藏, Kangetsu Hōzō, 1573-1635): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hán Nguyệt (漢月), tự Ư Mật (於密), sinh vào năm đầu niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), người Huyện Vô Tích (無錫縣), Lương Khê (梁溪, Tỉnh Giang Tô), họ Tô (蘇). Năm 15 tuổi, ông xuất gia tại Đức Khánh Viện (德慶院) thuộc Ngũ Mục Sơn (五牧山), rồi thọ Cụ Túc giới ở Vân Thê Tự (雲棲寺). Vào năm thứ 4 (1624) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông đến tham yết Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) ở Kim Túc Tự (金粟寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang) và đắc pháp với vị này. Năm sau, ông chuyển đến sống các nơi như Tam Phong Thanh Lương Viện (三峰清涼院) ở Hải Ngu (海虞, Tỉnh Giang Tô), Bắc Thiền Đại Từ Tự (北禪大慈寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), An Ổn Tự (安穏寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang); rồi đến năm thứ 2 (1629) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông dời đến Đặng Úy Thánh Ân Tự (鄧尉聖恩寺) ở Tô Châu. Sau đó, ông còn sống qua một số nơi khác như Cẩm Thọ Viện (錦樹院) ở Lương Khê Long Sơn (梁溪龍山), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Hàng Châu, Chơn Như Tự (眞如寺) ở Gia Hưng và Thánh Thọ Tự (聖壽寺) ở Tô Châu. Đến ngày 21 tháng 7 năm thứ 8 (1635) niên hiệu Sùng Trinh, ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi. Ông có để lại một số tác phẩm như Quảng Lục (廣錄) 50 quyển, Ngữ Lục (語錄) 30 quyển, Tam Phong Tạng Hòa Thượng Ngữ Lục (三峰藏和尚語錄) 16 quyển, Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀) 3 quyển. Môn nhân Thối Ông Hoằng Trữ (退翁弘儲) viết bản Niên Phổ, Hoàng Tông Hy (黃宗羲) soạn bài văn bia tháp cho ông.

hán nguỵ lưỡng tấn nam bắc triều phật giáo sử

(漢魏兩晋南北朝佛教史) Tác phẩm, 20 chương, do ông Thang dụng đồng soạn. Nội dung trình bày về lịch sử Phật giáo Trung quốc từ khi mới truyền vào cho đến thời Nam Bắc triều. Trong đó ghi chép rõ ràng những chứng cứ lịch sử và sự phát triển giáo nghĩa, rất được học giới coi trọng. Sách này có 2 loại bản in là Thương vụ bản và Đỉnh văn bản.

hán pháp bản nội truyện

(漢法本內傳) Cũng gọi Pháp bản nội truyện. Tác phẩm, 5 quyển, được soạn vào thời nào và tên soạn giả đều không rõ. Sách này nói về việc Phật giáo lúc mới du nhập Trung quốc khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời Minh đế nhà Hậu Hán và về tình hình Phật giáo chống đỡ sự phê phán của Đạo giáo. Nội dung gồm 5 phẩm: - Minh đế đắc mộng cầu pháp. - Thỉnh pháp sư lập tự công đức. - Dữ chư đạo sĩ tỉ giảo độ thoát. - Minh đế đại thần đẳng xưng dương. - Quảng thông lưu bố. Đến nay bản hoàn chỉnh của sách này vẫn không thấy lưu truyền, chỉ thấy rải rác trong Quảng hoằng minh tập quyển 1, Tập cổ kim Phật Đạo luận hành quyển 1, Pháp uyển châu lâm quyển 18, Tục tập cổ kim Phật Đạo luận hành, v.v... Các ngài Đạo tuyên và Trí thăng cho rằng sách này là tác phẩm thời Hán Ngụy, nhưng trong các văn hiến từ đời Tùy trở về trước không thấy được đề cập tới. Nếu căn cứ vào nội dung mà phán đoán thì có thể sách này là tác phẩm từ khoảng năm Thiên giám (502- 519) đời Lương thuộc Nam triều trở về sau. [X. luận Phá tà Q.thượng; truyện Đàm vô tối trong Tục cao tăng truyện Q.23; thiên Tông phiên dịch chủ trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1].

háo danh

To thirst after honor and fame.

háo hức

Enthusiastic.

Hát

喝; C: »Ho!«, »Hè!«; J: »Katsu!«;|Một tiếng hét không có ý nghĩa cụ thể, được các vị Thiền sư sử dụng làm phương tiện để hoằng hoá như một cây gậy, Phất tử. Tiếng hét này cũng được chư vị sử dụng để trình bày kinh nghiệm chứng ngộ của mình, sử dụng như một phương tiện chuyển hoá tất cả những văn tự ngôn ngữ bình thường. Như một cây gậy được vung lên đúng lúc, một tiếng hét hợp thời điểm có thể là một yếu tố dẫn thiền sinh đến kinh nghiệm Kiến tính.|Theo truyền thuyết thì người đầu tiên sử dụng tiếng hét để giáo hoá chúng là Mã Tổ Ðạo Nhất, một vị Thiền sư nổi danh với giọng hét như sấm. Tương truyền rằng, Thiền sư Bách Trượng nghe tiếng hét của Mã Tổ mà ù tai ba ngày. Cũng nổi danh không kém Mã Tổ trong việc sử dụng tiếng hét – và thêm vào đó là cây gậy (Bổng hát) – là sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. |Lâm Tế phân biệt bốn loại hét (tứ hát) sau: 1. Tiếng hét như bảo kiếm của vua Kim cương; 2. Tiếng hét như bốn vó của Kim mao sư tử đang vồ trụ đất; 3. Tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ và 4. Tiếng hét mà không có tác dụng của tiếng hét.|Lâm tế lục ghi lại rất nhiều trường hợp sư sử dụng tiếng hét. Sau đây là hai ví dụ (bản dịch của Thích Duy Lực):|»Tăng hỏi: ›Sư tuyên nói gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào?‹ Sư đáp: ›Ta ở nơi Hoàng Bá ba lần hỏi Phật pháp, ba lần bị đánh.‹ Tăng do dự muốn nói. Sư bèn hét rồi nói rằng: ›Không lẽ hướng vào Hư không mà đóng đinh chăng?‹«.|»Tăng hỏi: ›Thế nào là đại ý Phật pháp?‹ Sư không đáp, dựng đứng Phất tử. Tăng bèn hét. Sư cũng hét. Lúc ấy, vị tăng do dự, sư bèn đánh.«

hâm mộ

To be fond of—To have admiration for.

Hân

欣; C: xīn; J: gon; |1. Mong muốn, hi vọng, mong mỏi, ao ước; 2. Vui lòng, hạnh phúc, thích thú.

hân

Vui thích (tên của một tâm sở đối lại với yếm hay chán ghét)—Delight—Joy—Elated—Elevated.

hân cầu

Tìm cầu vui thích—To seek gladly.

hân cầu tịnh ðộ

Cầu mong được vãng sanh Tịnh Ðộ—To seek rebirth in the Pure Land—See Yếm Ly Uế Ðộ.

hân giới

Cõi vui thích của chư Hiền Thánh—The joyful realm of saints and sages.

hân hoan

Joyful—Merry.

hân hạnh

To be honoured—To have the honour.

Hân lạc

欣樂; C: xīnlè; J: gongyō;|1. Mong cầu niềm vui; 2. Niềm hân hoan, hạnh phúc, khoái cảm (prasanna-citta).

hãi hùng

Dreadful—Frightful.

hãn

Mồ hôi—Sweat.

hãn lật đà

Hrd or Hrdaya (skt)—Càn Lật Ðà—The heart, core, mind, soul. ; (汗栗馱) Phạm: Hfd. Cũng gọi Can lật đại, Can lật đa, Ha lật đa, Càn lật thái, Hĩ lật đà, Ô lật đà, Càn lật đà đa. Phạm: Hfdaya. Dịch âm: Ngật lợi đà da, Hột lợi đà da, Hột lí đà da, Càn lật đà da, Hột lí na da, Hột lí na dã, Hột lợi đà, Hột phạt da. Dịch ý: Nhục đoàn tâm, Chân thực tâm, Kiên thực tâm. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4, quyển 12, thì Hãn lật đà là chỉ cho nhục đoàn tâm, tức là quả tim thịt của chúng sinh, chứ không phải tâm tự tính chân thực của chúng sinh. Tông chỉ căn bản của Mật giáo là quán tưởng nhục đoàn tâm này là hoa sen 8 cánh trở thành thân Tì lô giá na. Còn Nhập lăng già tâm huyền nghĩa, Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, Đại nhật kinh sớ quyển 17 và Bồ đề tâm nghĩa, v.v... thì đều cho Hãn lật đà là tâm tự tính chân thực của chúng sinh. Ngoài ra Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng phần 1 của ngài Tông mật chia tâm làm 4 loại: 1. Hột lợi đà da(Phạm:Hfdaya): Nhục đoàn tâm, tức là quả tim thịt trong thân thể. 2. Duyên lự tâm: Chỉ cho 8 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na, a lại da, có tác dụng duyên lự (suy nghĩ). 3. Chất đa da(Phạm:Cetaya): Tâm tập khởi, tức là thức a lại da thứ 8 tích tập chủng tử sinh khởi hiện hành. 4. Càn lật đà da (Phạm:Hfdaya): Tâm chân thực, tức là tâm Như lai tàng. Như vậy, theo ngài Tông mật, Hột lợi đà da và Càn lật đà da là 2 loại tâm hoàn toàn khác nhau: Một chỉ cho nhục đoàn tâm, một chỉ cho chân thực tâm. Về sau, Viên giác kinh lược sớ sao quyển 1 và Khởi tín luận sớ bút tước kí quyển 1 đều trích dùng thuyết này. Nhưng, các học giả Nhật bản cận đại cho rằng Hfdaya (Hột lợi đà da) chính là chữ Hfd (Càn lật đà) được thêm vĩ ngữ Aya vào mà thành Hfdaya. Thực ra 2 chữ này chỉ là một và có nghĩa là tâm, tinh thần. Nếu đem phân tích làm 2 để giải thích thì e đó là thuyết sai lầm. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích Q.3, Q.9, Q.12; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.16; Bát nhã tâm kinh bí kiện; Bảo khiếp ấn đà la ni kinh bí lược thích Q.thượng; Bí tàng kí tư mạt sao Q.4]. (xt. Tâm).

hãnh diện

To be proud.

hão huyền

Unreal—Vain.

hãy tự biết mình

Know yourself.

hèn mọn

Ignoble—Humble—Mean—Despicable.

hèn nhát

Cowardly

hé môi

To utter one's lips.

hé mở

To half-open.

héo tàn

To fade—To wither—To shrivel up.

hê rô ca minh vương

(hê rô ca minh vương ) Hê rô ca, Phạm: Heruka. Tạng:Dges-pa rjo-rje. Trong Mật giáo, vị tôn này là hóa thân của đức Phật A súc (Phạm: Akwobhyabuddha). Hê rô ca minh vương còn có nhiều tên gọi khác như: Hô kim cương (Phạm: Hevajra), Giác đầu (Phạm:Buddhakapàla), Tối thắng (Phạm:Sambara), Thất vô tận (Phạm:Saptàkwara), Đại huyễn (Phạm: Mahàmàyà), v.v...… Hình tượng vị này phần nhiều là màu xanh, nhe răng, thè lưỡi, có ba mắt, mặc áo da hổ hoặc da rắn, đầu đội mũ, trên mũ có tượng Phật A súc, đầu nghiêng về phía trái, thường che chở chúng sinh, không để ác ma xâm hại. Tín ngưỡng Hê rô ca bắt đầu vào khoảng thế kỉ VIII Tây lịch, đến khoảng thế kỉ IX thì ngài Trí quang (Phạm:Jĩànapàda) có soạn Hê rô ca thành tựu pháp (Phạm: Heruku-sàdhana) của Kim cương giới và Thai tạng giới. Ở Tây tạng, vị tôn này cũng rất được sùng bái, đã có nhiều đền thờ Hê rô ca và trong Đại tạng kinh Tây tạng cũng có chép Thành tựu pháp Hê rô ca. Cứ đó mà suy, ta có thể biết, tín ngưỡng Hê rô ca đã rất thịnh hành ở khoảng thế kỉ VIII, đồng thời, có thể đã có quan hệ mật thiết với tín ngưỡng Văn thù. Thời gần đây, người ta đã tìm thấy nhiều pho tượng Hê rô ca ở Tây tạng và ở các vùng chung quanh. [X. Nebesky-Wojkowitz; Oracles and Demons of Tibet].

hên

To be lucky.

hên xui

Lucky and unlucky.

hình

Form—Figure—Appearance—The body.

hình dung

See Hình dáng.

hình dáng

Appearance.

hình hài

Body and skeleton.

hình luật

Criminal law.

hình mạo

Form—Appearance.

Hình mạo dục

xem Ba sự ham muốn.

hình mạo dục

Dục về sắc đẹp hình tướng, một trong lục dục---The desire awakened on seeing a beautiful form, one of the six desires (lục dục).

hình ngay bóng thẳng

Nếu bạn muốn gặt quả vị Phật, bạn phải gieo chủng tử Phật—A straight mirror image requires a straight object. If you want to reap the “Buddhahood,” you must sow the Buddha-seed—Hình đẹp xấu thế nào, bóng hiện trong gương cũng như thế ấy, lời Phật dạy muôn đời vẫn thế, biết được quả báo ba đời, làm lành được phước, làm dữ mang họa là chuyện đương nhiên. Người trí biết sửa đổi hình, kẻ dại luôn hờn với bóng. Trước cảnh nghịch cảnh thuận cảnh, người con Phật chơn thuần đều an nhiên tự tại, chứ không oán trời trách đất—A mirror reflects beauty and ugliness as they are, the Buddha's Teachings prevail forever, knowing that requital spans three generations, obviously good deeds cause good results, evil deeds causes evil results. The wise know that it is the object before the mirror that should be changed, while the dull and ignorant waste time and effort hating and resenting the image in the mirror. Encountering good or adverse circumstances, devoted Buddhists should always be peaceful, not resent the heaven nor hate the earth—See Tam Báo.

hình như

To seem—To appear.

hình nộm

Mannequin.

hình pháp

See Hình Luật.

hình phạt khổ sai

penal servitude.

hình phục

(形服) Chỉ cho áo ca sa với hình thức hoàn chỉnh, sử dụng mầu sắc đúng như luật chế định (nghĩa là tránh những mầu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen mà người đời thường dùng). Chương Báo bản trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1115 hạ), nói: Môn đồ của ta mặc hình phục (ca sa) hoại sắc, dự vào dòng pháp, tuân thủ giới hạnh, đó là luật . [xt. Ca Sa].

hình sơn

Thân hình, so sánh với một ngọn núi—The body, comparable to a mountain. ; (形山) Chỉ cho nhục thân (thân thịt) của người ta. Tâm tính con người được giấu kín trong nhục thân, cho nên kinh sách Phật giáo thường dùng từ ngữ Bí tại hình sơn (giấu trong Hình sơn) để chỉ tâm tính của mọi người. Tắc 92 trong Thung dung lục (Đại 48, 286 hạ), ghi: Đại sư Vân môn nói: Trong trời đất, giữa vũ trụ, có một bảo vật được giấu kín trong thân (bí tại hình sơn) .

hình sắc

Samsthanarupa (skt)—Hiển sắc có hình hay tính chất đặc thù của hình thức như dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, thẳng, cong, vân vân—The characteristics of form (long, short, square, round, high, low, straight, crooked, etc). ; (形色) I. Hình Sắc. Phạm:Saôsthàna-rùpa. Đối lại với Hiển sắc. Sắc có hình tướng, tức chỉ cho những sắc pháp chất ngại, khi tiếp xúc có thể biết được. Hình sắc có 8 loại: 1. Trường (Phạm:Dìrgha, dài). 2. Đoản (Phạm:Hrasva, ngắn). 3. Phương (Phạm: Caturazra, vuông). 4. Viên (Phạm:Vftta, tròn). 5. Cao (Phạm: Unnata, cao). 6. Hạ (Phạm:Avanata, thấp). 7. Chính (Phạm:Zàta, ngay thẳng). 8. Bất chính (Phạm:Vizàta, không ngay thẳng). Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng cực vi của những Hình sắc này đều khác nhau và đều có thể tính riêng biệt. Nhưng tông Duy thức thì cho đây chẳng phải thực sắc mà sắc giả. [X. luận Câu xá Q.1; luận Du già sư địa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.13, Q.75; Câu xá luận quang kí Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu]. II. Hình Sắc. Hình thể và sắc tướng. Tức chỉ cho tướng mạo và mầu sắc của người và súc vật. [X. phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Phân biệt thiện ác báo ứng Q.hạ].

hình sự

Criminal affairs.

hình thân

(形身) Chỉ cho văn tự. Văn tự lấy hình làm thể nên gọi là Hình thân. Kinh Lăng già quyển 2 (Đại 16, 494 trung), nói: Vì hiển bày danh cú nên gọi là Hình thân .

hình thức

Form.

hình thức bề ngoài

External practice—Formality—External form.

hình thức tinh tế

Subtle form.

hình tướng

Formal or spatial, as length and breadth, etc.

hình tướng công đức

(形相功德) Công đức trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc, loại thứ 17 trong 29 loại trang nghiêm Tịnh độ. Luận Tịnh độ của ngài Thiên thân (Đại 26, 230 hạ), nói: Ánh tịnh quang tràn đầy, sáng như vầng nhật nguyệt . Trong Tịnh độ luận chú quyển thượng (Đại 40, 828), ngài Đàm loan giải thích là: Hai câu trên đây gọi là trang nghiêm hình tướng công đức thành tựu. Cõi Tịnh độ tuy rộng lớn vô biên, nhưng ánh sáng thanh tịnh vẫn tràn khắp . Đức dụng của công đức trang nghiêm này không thể nghĩ bàn, phàm là trời hoặc người được sinh về Tịnh độ cực lạc thì tất cả đều được sắc tướng bình đẳng tuyệt diệu, do lực dụng của ánh sáng thanh tịnh tạo nên. Vì ở Tịnh độ cực lạc ánh sáng chiếu soi đều khắp, giống như gương, mặt trời và mặt trăng, cho nên chúng sinh một khi sinh về cõi này thì nhờ công đức thù thắng của ánh sáng ấy mà được sắc tướng tuyệt diệu bình đẳng, sự trang nghiêm đó gọi là Hình tướng công đức.

hình tượng

Pratima (skt)—Hình tượng Phật—An image or likeness of Buddha. ; (形像) Phạm: Pratima. Dịch âm: Bát la để ma. Chân dung của chư Phật và Bồ tát. Chỉ chung cho các loại tượng vẽ, tượng gỗ, tượng đồng, tượng vàng, tượng đá, tượng đất, v.v...… [X. Căn bản tì nại da Q.45; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

hình tượng mạn đồ la

(形像曼荼羅) Mạn đồ la của Mật giáo do vẽ hoặc chạm trổ hình tượng của chư tôn mà thành. Đây là phương tiện nhằm giúp hành giả tập trung tâm ý khi quán tưởng. Mạn đồ la gồm có 4 loại: 1. Đại mạn đồ la: Mạn đồ la vẽ hình tượng các vị tôn. 2. Tam muội da mạn đồ la: Mạn đồ la vẽ hình Tam muội da tượng trưng cho các vị tôn. 3. Pháp mạn đồ la(cũng gọi chủng tử mạn đồ la):Mạn đồ la tiêu biểu cho chủng tử của các vị tôn. 4. Yết ma mạn đồ la: Mạn đồ la tượng trưng cho sự nghiệp, động tác và tác dụng của các vị tôn. (xt. Mạn Đồ La).

hình tượng vẽ của bồ tát địa tạng

Earth Store Bodhisattva's image.

hình tượng vẽ của phật

Buddha's image.

hình tận thần bất diệt luận

(形盡神不滅論) Tác phẩm của ngài Tuệ viễn (334-416) ở Lô sơn đời Đông Tấn, được thu vào Hoằng minh tập quyển 5 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung của luận này nói về hình thể con người tuy sẽ diệt mất, nhưng tinh thần thì không diệt. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

hình ảnh thoáng qua

A faint glymse

hí hải nanh long ma thiên tuấn cốt

(戲海獰龍摩天俊鶻) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rồng dữ đùa giỡn dưới biển, chim cắt mạnh mẽ bay liệng trên trời. Rồng và chim cắt ví dụ người tài trí xuất chúng. Thiền tông dùng nhóm từ này để chỉ cho người tu hành đã đạt đến cảnh giới nhậm vận tự do, như giữa trời cao biển rộng. Gia thái phổ đăng lục quyển 27 (Vạn tục 137,194 hạ), nói: Tức tâm tức Phật, trâu sắt không xương, rồng dữ khuấy biển, cắt mạnh tung trời. Uống hết nước Tây giang chưa phải chuyện lạ; sen nở giữa lò than hồng, mùi thơm nhẹ thoảng .

hí hởn

Joyful—Full of joy.

Hí Khúc

(戯曲, Gikyoku): với ý nghĩa là ca khúc tạp hí, nó là tuồng diễn kịch viết nên với mục đích công diễn trước công chúng. Bên cạnh đó, nó còn là tác phẩm văn học được thể hiện qua hành động của cuộc nói chuyện với nhân vật.

hí khúc

(戲曲) Những khúc điệu hát để vui chơi (Drama, Opera). Trong các nghi thức tông giáo ở thời đại nguyên thủy, phần nhiều có bao hàm thành phần hí kịch, ban đầu nhằm mục đích dâng hiến thần linh, nhưng về sau dần dần diễn biến thành phương tiện truyền giáo. Nhưng trường hợp Phật giáo thì hơi khác. Phật giáo vốn lấy việc đoạn trừ phiền não, xa lìa tham dục làm chủ yếu, nên Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái đã bài xích tất cả hí kịch, ca khúc. Đến Phật giáo Đại thừa mới dùng các loại thần thoại, thơ tự sự, văn học phổ thông, v.v...… để tuyên dương giáo nghĩa của Phật giáo, trong đó, nhiều tác phẩm được biên soạn theo hình thức hí khúc, như các kinh Pháp hoa, Duy ma là những tác phẩm đại biểu thuộc loại này, có lẽ đã soạn phỏng theo hình thức Duy hữu ca (Phạm:Vyàyoga) trong 10 hình thức về Hí khúc của Ấn độ. Tác phẩm đứng đầu trong thể loại hí khúc của Phật giáo là Xá lợi phất chi sở thuyết (Phạm: Zàriputraprakaraịa) do ngài Mã minh sáng tác, đây là tác phẩm sớm nhất trong nền văn học hí khúc Ấn độ. Tác phẩm này được tìm thấy vào năm 1911 trong bản viết tay trên lá bối ở Thổ phồn thuộc vùng Trung á, gồm có 9 màn, nội dung lấy việc ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên bỏ ngoại đạo về qui y đức Thế tôn làm nòng cốt. Vở hí khúc 5 màn Long vương chi hỉ (Phạm:Nàgànanda) tương truyền do vua Giới nhật sáng tác, cũng là hí khúc Phật giáo nổi tiếng. Thời cận đại, trong nhiều hí khúc do thi hào Rabindranath Tagore của Ấn độ sáng tác thì 2 tác phẩm Vũ giả chi cúng dường (Naỉìrapùjà) và Chân đà lợi (Chaịđàlikà) đều lấy tài liệu từ các sự tích trong kinh điển Phật giáo. Hí khúc Trung quốc chịu ảnh hưởng rất lớn về các mặt tư tưởng, đề tài, hình thức, v.v...… của văn học Ấn độ và kinh điển Phật giáo; các tác phẩm trứ danh như: Tây du kí, Mục liên cứu mẹ, Truyện rắn trắng, v.v...… nội dung đều mang đậm tư tưởng nhân quả của Phật giáo. Ngoài ra, văn học giảng xướng như: Phật khúc, bảo quyển, biến văn, trường thiên đàn từ, v.v...… cũng đều chịu ảnh hưởng thể văn kệ tụng của Phật giáo, nhất là đoạn Tám ông vua chia Xá lợi lấy sự tích trong Phật sở hành tán thì nghiễm nhiên là hình thức hí khúc đối thoại; đã đặt nền tảng cho tuồng hát về sau. Nhưng tương đối có giá trị về mặt văn học Phật giáo thì nhiều nhất là loại truyền kì ở các đời Minh, Thanh. Trong đó có 2 tác phẩm nổi tiếng nhất là Khuyến thiện kim khoa và Qui nguyên kính . Khuyến thiện kim khoa là do nhà vua đặt ra, bắt nguồn từ truyền thuyết dân gian trong kinh Vu lan bồn (tuồng Mục liên), nên được truyền bá rất rộng. Qui nguyên kính chia thành 42 phần, lấy ý nghĩa 42 chữ cái trong kinh Hoa nghiêm. Các khúc bạch trong đó đều bắt nguồn từ Ngữ lục trong Tạng kinh, cho nên có thể được coi là hí khúc Phật giáo. Ngoài ra, còn có các hí khúc truyền kì nổi tiếng lấy Phật giáo làm chủ đề như: Di lặc kí , Phục linh sơn , Hưởng thiên thu , Vô để động , v.v...… Bộ phận ca nhạc trong các hí khúc lấy Phật giáo làm chủ đề sớm nhất là nhạc phủ đời Tùy, Đường, như Phổ kí Phật khúc, Nhật quang minh Phật khúc, v.v...… Chư Phật Thế tôn Như lai Bồ tát Tôn giả danh xưng ca khúc được ấn hành vào khoảng năm Vĩnh lạc đời Minh là hí khúc nổi tiếng khen ngợi danh hiệu của chư Phật và là tư liệu quí giá nhất trong những hí khúc tản mạn gồm hơn 400 loại khúc điệu Nam Bắc với tổng số 2177 bài. Bản in sớm nhất của những hí khúc này đã được lưu hành tại Trung quốc từ khoảng năm Vĩnh lạc 15 (1417) đến năm 17 (1419). Ngoài ra, còn có các hí khúc trường thiên như: Thiên vũ hoa, Bút sinh hoa, là bắt nguồn từ thể tài kệ tụng trong kinh Phật. Các vở tạp kịch như: Bố đại hòa thượng của Trịnh đình ngọc, Đường Tam tạng tây thiên thủ kinh của Ngô xương linh, là lấy sự tích của các bậc cao tăng trong Phật giáo; Kim thủy kiều Trần lâm Bão trang hạp(Trần lâm ôm cái hộp đẹp ở cầu Kim thủy) của khuyết danh ở đời Nguyên, là lấy tích truyện nàng Lộc nữ trong kinh Lục độ tập quyển 2 và kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 3; Trương sinh chử hải(chàng Trương nấu biển) của Lí hiếu cổ, là lấy sự tích trong phẩm Đại thi trữ hải của kinh Hiền ngu quyển 8; đến các vở Thiên nữ tán hoa do Mai lan phương soạn ở thế kỉ XX, là lấy tài liệu trong kinh Duy ma; Ma đăng già nữ của Thượng tiểu vân là lấy sự tích trong kinh Ma đăng già, v.v...… đều là những vở kịch được hoan nghinh rộng rãi. Tại Nhật bản, trong các hí khúc cổ điển, đặc biệt có kĩ nhạc và vũ nhạc được truyền vào từ thời đại thái tử Thánh đức; về sau, những hí khúc ấy được kết hợp với tản nhạc của dân gian, từ đó, việc cúng tế trong các chùa viện dần dần được hí kịch hóa. Nói chung, nền ca, vũ, nhạc, kịch của Nhật bản thời bấy giờ đều thường lấy sự tích của Phật giáo làm đề tài, hoặc lấy tư tưởng Phật giáo mà nội dung là tán thán công đức của Phật làm nòng cốt. Chẳng hạn như trong 30 thiên ca vũ kĩ cước bản của tác giả hí khúc vĩ đại nhất ở Nhật bản là ông Cận tùng môn tả vệ môn, thì có khoảng phân nửa kịch bản có liên quan đến Phật giáo. Thế kỉ XVI, XVII ở Nhật bản được gọi là thời đại vàng son của giai cấp thương gia mới nổi lên, hí khúc cũng theo đó mà phát triển mạnh mẽ. Nhưng đến thời đại Đức xuyên, Mạc phủ thi hành chính sách đóng cửa, giới thương gia cũng như dân chúng bỗng thấy nhụt chí, mất hứng. Thêm vào đó là giới tăng sĩ trong các chùa viện bị tha hóa, mất dần uy tín trong nhân dân, cho nên nội dung các hí khúc lúc bấy giờ phần nhiều lấy các ông tăng phá giới không biết hổ thẹn làm nhân vật chính. Loại kịch tác này gồm có: Diên mệnh viện nhật đương, Thập lục dạ thanh tâm, Pháp giới phường, v.v...… Sau thời Minh trị duy tân, nhờ ý chí cách tân của giới Phật giáo để thích ứng với thời đại mới, nên hí khúc cũng theo đó mà rực rỡ hẳn lên. Những hí khúc nổi tiếng ở thời gian này gồm có: Dịch chi hành giải của Bình nội Tiêu dao, Nhật liên thuyết pháp của Lâm hạc ngoại, Đại Phật khai nhãn của Trường điền Tú hùng, Phật đà dữ Tôn ngộ không của Vũ giả Tiểu lộ, v.v...… [X. Sylvain Lévi: Le Théâtre indien, 1890; Sten Konow: Das indísche Drama, 1920; A.B. Keith: The Sanskrit Drama, 1924]. (xt. Bảo Quyển, Biến Văn).

hí luận

(戲論) Phạn: Prapaĩca. Những lời bàn luận sai lầm, trái với chân lí, không thể làm cho thiện pháp tăng trưởng. Kinh Phật di giáo (đại 12, 1112 thượng), chép: Này các tỉ khưu! Nếu hí luận nhiều thứ thì tâm trí rối loạn, tuy đã xuất gia mà chưa được giải thoát. Vì thế các ông phải bỏ ngay những sự hí luận làm tán loạn tâm trí, nếu các ông muốn được niềm vui vắng lặng, chỉ có cách diệt trừ cái hại lí luận . Luận Du già sư địa quyển 91 (Đại 30, 815 thượng), ghi: Những lời nói dẫn đến chỗ tư duy phân biệt một cách vô nghĩa, gọi là hí luận. Vì sao? Vì những lời nói ấy, dù có gắng sức tu hành, cũng không thể làm tăng thêm chút pháp lành nào, mà cũng chẳng thể làm giảm được pháp ác . Phẩm Quán pháp trong Trung luận quyển 3 chia Hí luận làm 2 loại: Ái luận và Kiến luận. Ái luận là tâm bám dính vào tất cả pháp; Kiến luận là tâm quyết định hiểu tất cả pháp. Người độn căn khởi lên Ái luận; người lợi căn khởi lên Kiến luận. Người tại gia khởi Ái luận, người xuất gia khởi Kiến luận; Thiên ma khởi Ái luận, ngoại đạo khởi Kiến luận; phàm phu khởi Ái luận, Nhị thừa khởi Kiến luận. Phật di giáo kinh luận sớ tiết yếu nêu lên 2 loại hí luận: 1. Đối với lí chân thực mà phát sinh hí luận.2. Đối với các sự việc thế gian mà phát sinh hí luận. Ngoài ra, luận Phật tính quyển 3 liệt kê 3 loại và 9 loại Hí luận, còn Trung quán luận sớ quyển 1 cũng nêu 5 loại Hí luận. [X. phẩm Quán nhân duyên trong Trung luận Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Ái Luận Kiến Luận).

hí ma đát la vương

(hí ma đát la vương ) Hí ma đát la, Phạm: Himatala. Dịch ý: Tuyết sơn hạ(dưới núi Tuyết). Vua nước Đổ hóa la sống vào khoảng 600 năm sau đức Phật nhập diệt, ông rất kính tin Phật pháp và tôn trọng ngôi Tam bảo.Cứ theo điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, sau khi vua Ca nị sắc ca qua đời, trong nước có dòng hạ tiện là Ngật lợi da (Phạm: Krìta) xưng vương, xua đuổi chúng tăng, phá hủy chùa chiền, vua Hi ma đát la nghe biết những hành động tàn ác ấy của họ, liền đem quân tinh nhuệ vào vương thành, giết vua Ngật lợi da, đuổi các quan, chiếm thành rồi đem sáp nhập vào nước Đổ hóa la. Sau đó, vua cho xây dựng lại các chùa viện, cúng dường Tăng bảo, tận lực ủng hộ và phát triển Phật giáo.

hí vong thiên

(戲忘天) Cũng gọi Hí vong niệm thiên, Du hí vong niệm thiên. Tên cõi trời, trong đó, những người trời vì quá đam mê sự vui chơi, lâu ngày quên mất chính niệm (vong niệm) mà mệnh chung. Về vị trí của cõi trời này, có nhiều thuyết khác nhau: có thuyết cho đó là cõi trời Đao lợi; có thuyết cho là cõi trời Dạ ma; lại có thuyết cho rằng Hí vong thiên là các cõi Diêm ma thiên, Đâu xuất thiên, Hóa tự tại thiên và Tha hóa tự tại thiên trong 6 tầng trời của cõi Dục. [X. luận Đại tì bà sa Q.199; luận Câu xá Q.5; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.3; luận Thành duy thức Q.4].

hí độ

(hí độ ) Tức là nước Ấn độ. Hí độ là tên mà dân của các nước Hồ ở phương bắc đời xưa gọi nước Ấn độ. Cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, chỉ có các nước Hồ ở phía Bắc Trung quốc gọi nước Ấn độ là Hí độ. Đây không phải tên phổ thông, nó cũng không mang một ý nghĩa đặc thù nào, vì nó chỉ là từ ngữ địa phương của người Hồ, chứ các nước vùng Tây vực không biết đến danh xưng này. Ngoài ra, Phạm ngữ tạp danh nói rằng: Ấn độ cũng được dịch là Hí nộ nê xá (Phạm: Sindhu-deza).

híp mắt

To close the eyes.

hòa

1) Hài hòa: Harmony 2) An hòa: Peace. 3) Hòa tan: To mingle—To mix. 4) Hòa điểm: To tie—Equality of scores. 5) Hòa hiệp: To unite with.

hòa già la

Vyakarana (skt). 1) Pháp cú hay văn phạm—Grammar—Analysis. 2) Thọ Ký: Sự thọ ký của Đức Phật về sự hạnh phúc trong tương lai của đệ tử—Prediction od change of form, i.e. by the Buddha of the future felicity and realm of a disciple, hence Kaundinya is known as Vyakarana Kaundinya.

hòa giải

To reconcile—To conciliate—To mediate.

hòa hương hoàn

Một loại viên được làm bằng cách hòa trộn nhiều loại bột hương thơm, để ví với Phật pháp bao trùm vô số pháp—A pill compounded of many kinds of incense typifying that in the one Buddha-truth lies all truth.

hòa hảo

Agreement—Concord.

hòa hội

To blend—To unite.

hòa hợp

Phật dạy rằng trước khi làm bất cứ thứ gì, Tăng Ni và chúng tại gia phải đoàn kết và hòa hợp—To unite—To blend—To be in congruence with—United and harmonious—The Buddha taught that before doing anything else, all the monks, the nuns and layfollowers must be united and harmonious.

hòa hợp chúng

Four monks or more live in the same place and observe pure precepts together—Bốn vị Tăng trở lên, cùng ở một nơi, cùng giữ giới thanh tịnh thì gọi là một Hòa Hợp Tăng—See Lục Hòa in Vietnamese-English Section.

hòa hợp hải

Tăng chúng trong tự viện hòa hợp thành một thể, giống như nước biển chỉ thuần một vị—A monastery where all are of one mind as the sea is of one taste.

hòa hợp ly tán vô thường

xem ba loại vô thường.

hòa hợp tăng

Hòa hợp chúng—A samgha—See Lục Hòa in Vietnamese-English Section.

hòa khí

Atmosphere of harmony.

Hòa La Phạn

(和羅飯): từ gọi tắt của Bát Hòa La Phạn (缽和羅飯). Bát Hòa La (缽和羅、鉢和羅、盋和羅) là âm dịch của từ Phạn ngữ pravāraṇā (s.) và pavāraṇā (p.); còn có một số âm dịch khác như Bát Lợi Bà Thích Noa (鉢利婆刺拏), Bát Hòa Lan (缽和蘭、鉢和蘭); ý dịch là đầy đủ, vui vẻ, việc tùy ý, tùy theo ý của người khác mà tự thân mình nêu ra những sai phạm, Tự Tứ (自恣). Theo Sa Môn Huyền Ứng (玄應, ?-?), nhân vật sống dưới thời nhà Đường, đệ tử của Huyền Trang (玄奘, 602-664), tu sĩ của Đại Tổng Trì Tự (大總持寺) ở Trường An (長安), người biên soạn bộ Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (一切經音義, 25 quyển), giải thích rằng sau An Cư là ngày Tự Tứ, tức nhằm vào Rằm tháng 7 (tại Việt Nam thường tổ chức vào ngày 16). Ngày này, món ăn cúng dường Tam Bảo được gọi là Hòa La Phạn, tức là món ăn Tự Tứ. Trong Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (盂蘭盆經新疏, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 377) giải thích rõ rằng: “Thọ Bát Hòa La Phạn giả, lân mẫn thí chủ, vô trước vô tham, mỹ thực ố thực, bất sanh tăng giảm, cố danh nhất tâm (受缽和羅飯者、憐愍施主、無著無貪、美食惡食、不生增減、故名一心, người thọ nhận cơm Tự Tứ, phải biết thương xót thí chủ, không chấp trước không tham lam, thức ăn ngon hay thức ăn dở, không sinh cũng không giảm, nên gọi là nhất tâm).” Trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (宗門拈古彙集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1296 q.37) quyển 37 có câu: “Trai thời nhất Bát Hòa La Phạn, Thiền đạo thị phi tổng bất tri (齋時一缽和羅飯、禪道是非總不知, khi ăn một bát cơm Tự Tứ, Thiền đạo đúng sai thảy không hay).” Hay trong bài Nữ Tử Xuất Định (女子出定) của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 11 có đoạn: “Xuất định mạn vân đàn chỉ gian, không lao thần lực bất tương quan, nhi kim quán khiết Hòa La Phạn, nhất nhật tam xan bão tiện nhàn (出定謾云彈指間、空勞神力不相關、而今慣喫和羅飯、一日三餐飽便閒, xuất định dối cho [trong khoảng] khảy móng tay, nhọc gì thần lực liên quan đây, như nay quen ăn cơm Tự Tứ, ba bữa một ngày no ngũ say).”

hòa mục

Concord—Harmony.

Hòa Nam

(s, p: vandana, 和南): ý dịch là Bạn Thê (畔睇), Bạn Đề (伴題), Bà Nam (婆南), Bàn Đàm (槃談), Bạn Đàm (伴談); âm dịch là kính lễ, cung kính, tôn kính.

hòa nam

Vandana (skt)—Bà Nam—Bạn Đàm—Bạn Đề—Phiền Đạm—Bàn Đạm—Bàn Đồ Vị—Bàn Na Mị—Bạn Ể—Bạn Đàn Nam—Cúi đầu đảnh lễ hay lễ bái, lễ kính—Obeisance—Prostration—Bowing the head—Reverencing—Worshipping.

hòa nam thánh chúng

Reverence to the multitude of sages (usually announced at the end of any ceremony).

hòa nghị

To negotiate for peace.

hòa nhã

Affable.

Hòa phong

(和風, わふう, wafū): có hai nghĩa. (1) Kiểu Nhật, phong cách Nhật; đồng nghĩa với Hòa dạng (和様, わよう, wayō), Hòa thức (和式, わしき, washiki). (2) Gió ôn hòa, phần nhiều chỉ gió xuân. Như trong bài thơ Thượng Tị Nhật Từ Ty Lục Lâm Viên Yến Tập (上巳日徐司錄林園宴集) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Bạc y lâm tích thủy, xuy diện thọ hòa phong (薄衣臨積水、吹面受和風, áo mỏng bên sông nước, xáp mặt đón gió xuân).” Hay trong bài Xuân Vũ Tam Tuyệt Cú (春雨三絕句) của Lưu Cơ (劉基, 1311-1375) nhà Minh cũng có câu: “Xuân vũ hòa phong tế tế lai, viên lâm thủ thứ phát khô cai (春雨和風細細來、園林取次發枯荄, gió ấm mưa xuân nho nhỏ đến, vườn rừng lần lượt phát rễ khô).”

Hòa quang đồng trần

(和光同塵): vốn xuất xứ từ lời dạy của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh (道德經) rằng: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光、同其塵, hòa với ánh sáng ấy, đồng với bụi trần ấy)”; nghĩa là cùng với trần tục hợp lại với nhau, nhưng không tự lập dị. Theo Phật Giáo, từ này chỉ cho chư Phật, Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà ẩn tàng ánh sáng trí tuệ, lấy phương tiện quyền giả của Ứng Hóa Thân (應化身) mà sanh ra nơi cõi trần thế đầy rẫy phiền não, khổ đau; cùng kết duyên với chúng sanh, dần dần dẫn dắt họ đến với Phật pháp, nhưng vẫn siêu trần thoát tục; như trường hợp Phổ Môn Thị Hiện của Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), v.v. Như trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 6 có dạy rằng: “Hòa quang đồng trần, kết duyên chi thỉ; Bát Tướng Thành Đạo, dĩ luận kỳ chung (和光同塵、結緣之始、八相成道、以論其終, hòa quang đồng trần, ban đầu kết duyên; Tám Tướng Thành Đạo, để luận chung cuộc).” Tuy nhiên, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 6 lại đưa ra thuyết “hòa quang bất đồng trần (和光不同塵)” với ý nghĩa rằng chư Phật, Bồ Tát vì muốn đạt mục đích cứu độ chúng sanh nên cùng hòa hợp với chúng sanh nơi cõi trần thế, nhưng không bị ô nhiễm. Cho nên, Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 5 có dạy rằng: “Hòa quang bất đồng kỳ trần giả phương tiện hiện tật, cố viết hòa quang; nội vô hoặc nghiệp, cố bất đồng trần (和光不同其塵者方便現疾、故曰和光、內無惑業、故不同塵, hòa cùng ánh sáng mà chẳng đồng với bụi trần ấy, phương tiện hiện ra tật bệnh, nên gọi là hòa quang; trong không có nghiệp mê hoặc, nên không đồng trần).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1239) lại có câu rằng: “Ẩn mai kỳ tích nhi hòa quang đồng trần, thao tàng hư danh nhi khử hoa vụ thật (隱晦其跡而和光同塵、韜藏虛名而去華務實, mai danh ẩn tích mà hòa quang đồng trần, giấu kín hư danh mà bỏ hoa lấy quả).” Hay trong Phạm Võng Kinh Trực Giải (梵網經直解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 697) cũng có đoạn rằng: “Chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên ẩn Thánh hiện liệt, hòa quang đồng trần, dĩ đồng chúng sanh thân tướng sự nghiệp, như ảnh tùy hình, cửu hóa phương quy, sử kỳ giải thoát; thị cố giả thọ Tứ Đại huyễn thân, giả thọ Ngũ Uẩn hình mạng, nhi nhập lợi ích Tam Muội (諸佛菩薩、敎化眾生、必然隱聖現劣、和光同塵、以同眾生身相事業、如影隨形、久化方皈、使其解脫、是故假受四大幻身、假受五蘊形命、而入利益三昧, chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên giấu sự Thánh thiện mà hiện ra sự yếu kém, hòa quang đồng trần, để cùng với thân tướng sự nghiệp của chúng sanh, như bóng theo hình, hóa độ lâu mới quy phục; cho nên mới giả thọ thân huyễn Bốn Đại, giả thọ hình hài Năm Uẩn, mà nhập vào lợi ích Tam Muội).”

hòa quang đồng trần

Giao tiếp gần gũi nhưng không nhiễm lấy những thói xấu: nguyên văn chữ Hán diễn đạt khái niệm này là “dữ cộng hòa quang bất đồng kỳ trần” (與共和光不同其塵). Về sau, quan điểm “hòa quang đồng trần” đã trở thành một trong các tôn chỉ của Đại thừa, với ý nghĩa đưa Chánh pháp vào đời sống thế tục để tiếp độ những kẻ lỗi lầm, trụy lạc. Có thể xem tư tưởng này là xuất phát từ đây.

hòa sơn

Tên của một vị Tăng trụ trì tại Hòa Sơn Tự ở Cát Châu, sư tịch năm 960 sau Tây Lịch—Ho-Shan, name of an abbot at Ho-Shan monastery in Chi-Chou, who died in 960 A.D.

Hòa Sơn Vô Ân

(禾山無殷, Kazan Muin, 884-960): xuất thân Huyện Liên Giang (連江), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Ngô (呉). Năm lên 7 tuổi, ông đến xuất gia với Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存). Sau khi thọ Cụ Túc giới xong, ông lên đường vân du đó đây, đến tham yết Cửu Phong Đạo Kiền (九峰道虔) ở Quân Dương (筠陽, Tỉnh Giang Tây), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông được cung thỉnh đến trú trì Đại Trí Viện (大智院), Hòa Sơn, thuộc Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây) và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Ông đã từng quy y cho nhà họ Lý ở Giang Nam, rồi đến sống tại Tường Quang Viện (祥光院) ở Dương Châu (楊州, Tỉnh Giang Tô), Thúy Nham Viện (翠巖院) ở Giang Tây (江西). Đến năm đầu (951) niên hiệu Quảng Thuận (廣順), ông lại chuyển đến sống ở Hộ Quốc Tự (護國寺) thuộc Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và được ban cho hiệu là Trừng Nguyên Thiền Sư (澄源禪師). Ông thị tịch vào ngày mồng 2 tháng 3 năm đầu (960) niên hiệu Kiến Long (建隆), hưởng thọ 77 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Pháp Tánh Thiền Sư (法性禪師).

hòa thuận

Harmonious and compliant.

Hòa Thượng

(s: upādhyāya, p: upajjhāya, 和尚、和上): chỉ bậc xuất gia đức độ cao cả; còn gọi là Hòa Xà (和闍), Hòa Xã (和社), Cốt Xã (鶻社), Ô Xã (烏社), Ô Ba Đà Da (鄔波馱耶), Ô Ba Địa Da (摀波地耶), Ưu Ba Đà Ha (優婆陀訶), Úc Ba Đệ Da Dạ (郁波第耶夜), Phật Đà (佛佗). Ý dịch là Thân Giáo Sư (親敎師), Lực Sanh (力生), Cận Tụng (近誦), Y Học (依學), Đại Chúng Chi Sư (大眾之師). Hòa Thượng là bậc thầy mô phạm của người thọ giới, cho nên các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ, v.v., đều gọi là Giới Hòa Thượng (戒). Về sau, Hòa Thượng trở thành tôn xưng của trò đối với bậc thầy. Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch là Lực Sanh, ý chỉ rằng đệ tử nương vào thầy mà sanh đạo lực, nhưng nghĩa này không được lưu truyền rộng rãi. Trong giai vị Tăng Quan của Phật Giáo Nhật Bản có chức vị Hòa Thượng, Đại Hòa Thượng. Đặc biệt, vị trú trì của một chùa nào đó cũng được gọi là Oshō-sama (和尚様, Hòa Thượng Dạng), hay Oshō-san (和尚さん) mang nghĩa thông tục. Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 13 cho biết rằng: “Vân hà Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Bạch Y lai dục cầu xuất gia, ưng cầu nhị sư, nhất Hòa Thượng, nhất A Xà Lê; Hòa Thượng như phụ, A Xà Lê như mẫu; dĩ khí bổn sanh phụ mẫu, đương cầu xuất gia phụ mẫu. Trước Ca Sa, thế trừ tu phát, ưng lưỡng thủ tróc Hòa Thượng lưỡng túc. Hà dĩ tróc túc ? Thiên Trúc pháp dĩ tróc túc vi đệ nhất cung kính cúng dường (云何沙彌、沙彌尼出家受戒法、白衣來欲求出家、應求二師、一和上、一阿闍梨、和上如父、阿闍梨如母、以棄本生父母、當求出家父母、著袈裟、剃除鬚髮、應兩手捉和上兩足、何以捉足、天竺法以捉足爲第一恭敬供養, Thế nào là Sa Di, Sa Di Ni xuất gia thọ giới pháp ? Hàng Bạch Y đến muốn cầu xuát gia, nên cầu hai vị thầy: một là Hòa Thượng, một là A Xà Lê; Hòa Thượng như cha, A Xà Lê như mẹ; để bỏ đi cha mẹ sanh minh ra, nên cầu cha mẹ xuất gia. Mang y Ca Sa, cạo bỏ râu tóc, nên lấy hai tay nắm chặt hai chân của Hòa Thượng. Vì sao vậy ? Pháp tắc của Ấn Độ cho rằng nắm chặt chân là cung kính cúng dường số một).”

hòa thượng

Dịch là Thân Giáo Sư, nghĩa là Bổn sư xuống tóc cho người xuất gia trong Phật giáo, gọi là Hòa thượng. ; Most Venerable. 1) Hòa Thượng: Từ dùng để chỉ một vị Tăng cao tuổi hạ—A general term for a senior monk. 2) Lực Sinh: Một vị Tăng cao hạ trong tự viện, nhờ vị nầy mà đạo lực của các đệ tử được sinh ra—A senior monk who is strong in producing or begetting strength in his disciples. 3) Ô Xã: Vandya (skt)—See Hòa Thượng (6). 4) Pháp Sư: Vị Tăng cao tuổi hạ và cũng là vị Pháp Sư—A senior monk and teacher of doctrine. 5) Tri Hữu Tội Tri Vô Tội: Một vị Tăng cao hạ, người có khả năng biện biệt tội không tội—A senior monk, a discerner of sin from not sin, or the sinful from the not-sinful. 6) Ưu Bà Đà Da: Upadhyaya (skt)—Người ta nói từ nầy xuất phát từ từ “Ô Xã” hay “Hòa Xã” được dùng ở Điền Quốc. Phạn Ngữ giảng giải là Ưu Bà Đà Da, một vị thầy thấp hơn thấp A Xà Lê—Teacher or preceptor. It is said to be derived from Khotan in the form of Vandya. The Sanskrit term used in its interpretation is Upadhyaya, a sub-teacher of the Vedas, inferior to an acarya. **For more information, please see Ưu Bà Đà Da in Vietnamese-English Section.

Hòa Thượng Địa Tạng

(地藏, Chizō): xem La Hán Quế Sâm (羅漢桂琛, Rakan Keichin, 867-928) bên dưới.

hòa tu cát

Vasuki (skt)—Vua của loài rồng hay cửu thủ long (rồng chín đầu)—Lord of nagas, name of a dragon king, with nine heads.

hòa tu mật đa

Vasumitra (skt)—Sư Thế Hữu, chủ trì Đại Hội Kiết Tập Kinh Điển lần thứ hai tại Kashmia vào khoảng đầu Tây Lịch—The head monk who presided the Second Council in Kashmia in about the first century AD.

Hòa Tán

(和讚, Wasan): một loại hình ca dao dưới hình thức tiếng Nhật gồm 75 điệu, dùng để tán thán chư Phật, Bồ Tát, giáo pháp và các vị tổ sư. Bài Chú Bổn Giác Tán (註本覺讚, Chūhonkakusan) của Lương Nguyên (良源, Ryōgen) sáng tác dưới thời Bình An trung kỳ là một tuyệt tác tối cổ. Về sau thì có Cực Lạc Quốc Di Đà Hòa Tán (極樂國彌陀和讚, Gokurakumidawasan), của Thiên Quán (千觀, Senkan), Cực Lạc Lục Thời Tán (極樂六時讚, Gokurakurokujisan) của Nguyên Tín (源信, Genshin), v.v., lấy trung tâm là Tịnh Độ Giáo mà sáng tác nên. Đến thời đại Liêm Thương thì có bài Tam Thiếp Hòa Tán (三帖和讚, Sanchōwasan) của Thân Loan (親鸞, Shinran) và các bài Hòa Tán của Thời Tông như Biệt Nguyện Tán (別願讚, Betsugansan) của Nhất Biến (一遍, Ippen) là tiêu biểu nhất; các bài này được lưu bố rộng rãi và đóng vai trò trung tâm ở các pháp hội. Ngoài ra vào thời Trung Đại còn có bài Hoằng Pháp Đại Sư Hòa Tán (弘法大師和讚, Kōbōdaishiwasan) và Tứ Tòa Giảng Hòa Tán (四座講和讚, Shizakōwasan) của Chơn Ngôn Tông, rồi Thái Tử Hòa Tán (太子和讚, Taishiwasan) của Thánh Đức Tông, v.v. Đến cuối thời Trung Đại thì phần nhiều các bài Hòa Tán đều có thêm niêm luật và được xướng họa. Về khúc tiết của chúng thì khác nhau tùy theo từng tông phái, nhưng chủ yếu bài nào cũng có âm điệu phách tiết cả. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều bài Hòa Tán do các cư sĩ tại gia làm nữa.

Hòa-ca-la-na

xem Thọ ký.

hòe nhai tự

See Hồng Phúc Tự.

hóa

1) Nairmanika (skt)—Biến đổi, giáo hóa, hướng dẫn vào đạo Phật—To transform—Metamorphose—Conversion by instruction into Buddhism—Magic power of transformation. 2) Hàng hóa: Goods—Wares.

hóa bồ tát

Một vị Phật hay Bồ Tát hóa thân thành một vị phàm Bồ Tát—A Buddha or bodhisattva transformed into a human bodhisattva—A bodhisattva in various metamorphoses.

hóa chuyển

To transform, convert from evil to good, from delusion to deliverance.

hóa chế nhị giáo

Luật Tông chia một đời giáo hóa của Đức Phật ra làm hai phần:Hóa Giáo và Chế Giáo—The twofold division of the Buddha's teaching into converting or enlightening and discipline, as made by Vinaya School. 1) Hóa Giáo: Giảng chung cho Tăng tục về lý nhơn quả—The Buddha's teaching on enlightening, explaining on the cause and effect. 2) Chế Giáo: Giảng về giới pháp cho hàng xuất gia—The Buddha's teaching on discipline, especially for monks and nuns.

hóa chế nhị môn

See Chế Hóa Nhị Giáo.

Hóa Chủ

(化主, Keshu): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Chỉ cho đức Phật, đấng chủ tôn giáo hóa chúng sanh. (2) Chỉ vị tăng cao đức. (3) Trong Phái Tân Nghĩa (新義派) của Chơn Ngôn Tông, là tiếng kính xưng của vị Quản Trưởng hay Trú Trì của một ngôi chùa nào đó. (4) Chỉ cho các Thiền tăng đi khất thực. Họ thường rời tự viện, giảng đạo cho mọi người và nhận vật phẩm bố thí cúng dường để góp phần trang trãi phí dụng cho chùa.

hóa chủ

1) Người chủ trì việc giáo hóa: The lord of transformation or conversion. 2) Đức Phật: The Buddha. 3) Người bố thí cúng dường: An Almsgiver. 4) Người khuyến hóa tín đồ để họ cúng dường Tam Bảo: One who exhorts believers to give alms for worship.

hóa cung điện

Cung điện hoan hỷ được giữ trên tay thứ 40 của Thiên Thủ Quan Âm—The magical palace, or, palace of joy, held in the fortieth left hand of Kuan-Yin of the thousand hands.

hóa cung điện thủ

Cánh tay thứ 40 của Thiên Thủ Quán Âm—The fortieth hand of the Kuan-Yin of the thousand hands—See Hóa Cung Điện.

hóa công

Ngoại đạo tin rằng có một đấng tạo hóa hay thượng đế đã tạo dựng lên vạn vật—Externalists believe that there exists a so-call “Creator” or “God.”

hóa công qui ký

Công đức hóa độ người khác sẽ trở thành công đức của chính mình vì sự tăng trưởng nơi trí tuệ và giải thoát; đây là giai đoạn thứ ba trong Quán Hạnh Ngũ Phẩm Vị của tông Thiên Thai—The merit of converting others becomes one's own (in increased insight and liberation); it is the third stage of merit of the T'ien-T'ai five stages of meditation and action.

hóa cảnh

Môi trường, điều kiện hay hoàn cảnh nơi Phật hóa độ chúng sanh—The region, condition, or environment of Buddha instruction or conversion. ** For more information, please see Hóa Độ.

hóa duyên

Nguyên nhân Phật và Bồ Tát giáng trần hóa độ chúng sanh—The cause of a Buddha's or bodhisattva's coming to the world, i.e. the transformation of the living.

hóa dại

To go (become) mad.

hóa già

To become old.

hóa giải chướng duyên

To clear up (dissolve) obstructing conditions.

hóa giải nghi chấp

To dissolve (annihilate) the suspicion.

hóa giải trở ngại

To annihilate the barriers or hindrances.

hóa giải vô minh

To eliminate ignorance.

hóa hiện

Sự xuất hiện hay hình tướng của một vị Phật hay Bồ Tát nhằm cứu độ chúng sanh, có thể dưới bất cứ hình thức nào (đủ các loại hình tướng) tùy theo cứu cánh—The appearance or forms of a Buddha or bodhisattva for saving creatures may take any form required for that end.

hóa hành

Giáo hóa bằng thuyết pháp và hành trì giới luật Phật—Conversion through preaching and observing Buddhist precepts. ** For more information, please see Hóa Chế Nhị Giáo (2).

hóa hạnh nhị giáo

The two lines of teaching, i.e. in the elements for conversion and admission.

hóa lão

See Hóa Già.

hóa lý

Lý biến hóa của sự vật, biến chuyển liên tục, không ngừng nghỉ—The law of phenomenal change, which never rests.

hóa lạc thiên

Nirmanarati (skt)—Joy-born Heaven—Lạc Biến Hóa Thiên, tầng trời thứ năm trong lục dục thiên, khoảng 640.000 do tuần bên trên núi Tu Di, ở trên Đâu Suất Thiên, nhưng dưới Tha Hóa Tự Tại Thiên. Cõi trời nầy lấy 800 năm trên cõi người làm một ngày một đêm. Thọ mệnh của chư thiên ở đây là 8000 năm tuổi. Chư thiên trên cõi trời nầy có thân cao tám do tuần, thân thường tỏa hào quang, hướng vào nhau mà cười khi giao hoan, con được hóa sinh từ nơi đầu gối của nam nữ, mới sinh ra là bằng trẻ 12 tuổi nơi cõi người—The fifth of the six desire-heaven, 640,000 yojanas above Meru; it is next above the Tusita (fourth devaloka). A day there is equal 800 human years; life lasts 8,000 years; its inhabitants are eight yojanas in height, and ligh-emitting; mutual smiling produces impregnation and children are born on the knees by metamorphosis, at birth equal in development to human children of twelve.

hóa lợi tập di ca

Kharismiga (skt)—Một vương quốc cổ nằm trên thượng nguồn sông Oxus, một phần của Tukhara—An ancient kingdom on the upper Oxus, which formed part of Tukhara, the Kharizm of Arabic geographers.

hóa mễ

Gạo của đàn na tín thí—Rice obtained by monastic begging and the oering of exhortation or instruction.

hóa nghi

Những nguyên tắc hay phương thức cứu độ do Phật đặt ra—The rules or methods laid down by the Buddha for salvation.

hóa nghi tứ giáo

Bốn giáo pháp mà Phật dùng để giáo hóa chúng sanh tùy theo cơ nghi. 1. Đốn giáo: Vì kẻ thượng căn thuyết pháp đốn tu đốn chứng, gọi là Đốn giáo. 2. Tiệm giáo: Vì kẻ trung, hạ căn thuyết pháp từ cạn vào sâu từng lớp tiến lên, gọi là Tiệm giáo. 3. Bí mật giáo: dùng trí huệ bất khả tư nghì (Bát nhã) khiến cho người nghe mỗi mỗi tự lãnh hội mà chẳng biết với nhau, gọi là Mật giáo. 4. Bất định giáo: Dùng sức Bát nhã khiến người nghe được hiểu khác nhau, chứng quả chẳng đồng, hoặc nghe tiểu pháp mà đắc đại quả, hoặc nghe đại pháp mà đắc tiểu quả, gọi là Bất định giáo. Tứ giáo này là những nghi thức của Phật dùng để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa nghi. ; Tông Thiên Thai chia giáo pháp Phật ra làm bốn loại—T'ien-T'ai divided the Buddha's teaching into four modes of conversion or enlightenment: 1) Đốn: Direct or sudden. 2) Tiệm: Gradual. 3) Bí mật: Soteric. 4) Bất định: Variable.

hóa nguyên

Bắt đầu giáo pháp của Phật—The beginning of the Buddha's teaching.

hóa nhân

Chư Thiên hay Phật hiện thành hình người—A deva or Buddha transformed into human shape.

hóa nhân nữ

Một chúng sanh cõi trời trong lốt người nữ—A deva in female form.

hóa nhân thuyết

Những người có thể thuyết Phật pháp—Those who testified to Buddhism (were able to preach Buddhist doctrine)—See Ngũ Chủng Thuyết Nhân.

hóa nhân thuyết kinh

See Ngũ Chủng Thuyết Nhân.

hóa ni

Thần lực của Phật hay Bồ Tát, có thể hóa thân thành một ni sư—The power of a Buddha or bodhisattva, to be transformed into a nun.

hóa pháp

Pháp môn hóa đạo hay phương pháp giáo hóa—Instruction in the Buddhist principles—Theo Tông Thiên Thai, để hóa độ chúng sanh, Phật Thích Ca dùng bốn phương pháp—According to the T'ien Tai Sect, the Buddha utilized four methods to save sentient beings 1) Tụng: Nội dung giảng dạy căn cứ theo Tam Tạng Kinh Điển—Preaching in accordance with the Tripitaka Basket. 2) Thông: Nội dung giảng dạy thông suốt với các trình độ, mọi người đều hiểu được—Interrelated preaching. 3) Biệt: Nội dung giảng chỉ thích hợp với trình độ của một số người: Differentiated preaching. 4) Viên: Giáo lý tròn đầy hoàn thiện, chỉ trực tiếp vào thực tại—A complete, all-embracing preaching. ** For more information, please see Hóa Nghi.

hóa pháp tứ giáo

Bốn loại giáo pháp mà đức Phật thường thuyết giảng: 1. Tam tạng giáo: Bao gồm tam tạng: Kinh, Luật, Luận. 2. Thông giáo: Là pháp cộng thông của Tam thừa. 3. Biệt giáo: Là pháp riêng biệt chỉ đối với một thừa. 4. Viên giáo: Đối với người tối thượng căn thuyết pháp viên dung. Tứ giáo này là pháp môn của Phật để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là hóa pháp. ; Bốn giai đoạn hóa pháp của đức Phật—Four periods of the Buddha's teaching during his life time—See Hóa Pháp.

hóa phật

Nirmanabuddha or Nairmanikabuddha (skt)—Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ thì hóa thân Phật hay thân Phật được hóa hiện tùy ý. Phật hay Bồ Tát có khả năng vô hạn về sự hiện biến—According to the Contemplation on the Infinite Life Sutra, an incarnate or metamorphosed Buddha—Buddhas and Bodhisattvas have universal and unlimited powers of appearance. ** For more information, please see Ngũ Thần Thông and Lục Thông.

hóa sanh

Một trong bốn hình thức sanh—Hóa sinh trực tiếp hay không dựa vào đâu bỗng nhiên mà sinh ra, không có cha mẹ. Bằng cách hóa sanh nầy, chư Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất có thể xuất hiện trên trần thế bất cứ lúc nào tùy ý để cứu độ chúng sanh (chư Phật và chư Bồ Tát đều bắt nguồn từ sự hóa sanh kỳ diệu như vậy). Những hình thức hóa sanh như mối, A Tu La, Ngạ quỷ, chúng sanh địa ngục, cả chúng sanh trên Tịnh Độ, hay là thế giới mới khởi đầu (con người kiếp sơ). Đây là một trong bốn hình thức sanh sản của chúng sanh, không có cha mẹ, mà lớn lên tức thì—Aupapadaka—Aupapaduka (skt)—One of the four forms of birth—Direct metamorphosis or birth by transformation, without parentage—Transformational birth—Any form of existence by which required form is attained in an instant in full maturity. By this birth bodhisattvas residing in Tusita can appear on earth any time at will to save beings (the dhyani-buddhas and bodhisattvas are also of such miraculous origin)—Ethereal birth—Form of metamorphic birth, as with moths, asuras, hungry ghosts, and inhabitants of hells, and the Pure Lands, or first newly evolved world—One of the four forms of birth, which is by transforming, without parentage, attained in an instant in full maturity.

hóa sanh từ liên hoa

To spring to life from a lotus.

hóa sắc thân

A Buddha's or bodhisatva's metamorphoses of body, or incarnation at will.

hóa tha

Giáo hóa người khác—To save others.

hóa tha thọ

Thân Phật trường thọ và vĩnh hằng để cứu độ chúng sanh (chúng sanh có thể tế độ thì nhiều vô hạn, nên đức đại bi của chư Phật cũng mãi mãi không dứt)—Buddha's long or eternal life spent in saving others, implying Buddha's powers of unlimited salvation.

hóa thuộc

Phật và Bồ tát có những quyến thuộc từ xưa đã định giáo hóa—The converted followers of a Buddha or bodhisattva.

hóa thành

xem càn-thát-bà thành. ; Thanh văn, Duyên giác ưa pháp Tiểu thừa, chẳng tin Đại thừa nên Phật phương tiện thuyết Niết bàn Tiểu thừa (Hóa thành) để an ủi được tạm yên, rồi mới bảo bỏ Hóa thành xu hướng Đại thừa để đạt đến Bảo sở (quả Phật). ; 1) Thành phố ảo tưởng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa; là Niết bàn tạm thời và không hoàn toàn trong trường phái Tiểu thừa—The magic or illusion city in the Wonder Lotus Sutra; it typifies temporary or incomplete nirvana (the imperfect nirvana of Hinayana). 2) To transform into—To change into.

Hóa Thân

(s: nirmāṇa-kāya, j: keshin, 化身): nghĩa là thân biến hóa, là một trong 3 thân (Pháp Thân, Ứng Thân Và Hóa Thân) và 4 thân (Pháp Thân, Báo Thân, Ứng Thân và Hóa Thân) của Phật. Nó còn được gọi là Ứng Phật, Ứng Thân Phật, Ứng Hóa Thân. Để cứu độ và giáo hóa chúng sanh, chư Phật và Bồ Tát đã hóa hiện ra 33 loại thân cũng như trăm ngàn ức loại thân khác nhau; cho nên có tên gọi “Thiên Bách Ức Hóa Thân (千百億化身).” Như trong Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖法寶壇經), Phẩm Sám Hối (懺悔品) thứ 6, có đoạn: “Hà danh Thiên Bách Ức Hóa Thân ? Nhược bất tư vạn pháp, tánh bổn như không, nhất niệm tư lường, danh vi biến hóa; tư lường ác sự, hóa vi Địa Ngục, tư lường thiện sự, hóa vi Thiên Đường, độc hại, hóa vi long xà, từ bi, hóa vi Bồ Tát, trí tuệ, hóa vi thượng giới, ngu si, hóa vi hạ phương, tự tánh biến hóa thậm đa, mê nhân bất năng tỉnh giác, niệm niệm khởi ác, thường hành ác đạo, hồi nhất niệm thiện, trí tuệ tức sanh, thử danh Tự Tánh Hóa Thân Phật (何名千百億化身、若不思萬法、性本如空、一念思量、名爲變化、思量惡事、化爲地獄、思量善事、化爲天堂、毒害、化爲龍蛇、慈悲、化爲菩薩、智慧、化爲上界、愚癡、化爲下方、自性變化甚多、迷人不能省覺、念念起惡、常行惡道、迴一念善、智慧卽生、此名自性化身佛, thế nào là Trăm Ngàn Ức Hóa Thân ? Nếu không tư duy vạn pháp, tánh vốn là không, một niệm tư lường, gọi là biến hóa; suy nghĩ việc ác, hóa thành Địa Ngục; suy nghĩ việc thiện, hóa thành Thiên Đường; độc hại thì hóa làm rồng rắn; từ bi thì hóa làm Bồ Tát; trí tuệ thì hóa thành cõi trên, ngu si thì hóa thành cõi dưới; tự tánh biến hóa rất nhiều, người mê chẳng thể tỉnh thức, mỗi niệm khởi ác, thường hành đường ác, trở về niệm lành, trí tuệ liền sanh; đây gọi là Tự Tánh Hóa Thân Phật).”

hóa thân

To embody—Transformation body—Apparitional body—Buddha Nirmanakaya which may take any form at will—See Tam Thân (B) (3).

hóa thổ

Cõi nước nơi Phật hóa độ chúng sanh—The realm where the Buddha save sentient beings. 1) Cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà: The Pure Land of Amitabha Buddha. 2) Cõi Ta Bà của Phật Thích Ca: The Saha World of Sakyamuni Buddha.

hóa tiền

Trong Tịnh Độ, từ nầy có nghĩa là trước thời có kinh Quán Vô Lượng Thọ. Theo Thiên Thai thì từ nầy có nghĩa là trước thời có Kinh Pháp Hoa—In the Amitabha cult, this term means before the time of the Contemplation on the Infinite Life Sutra (the term means before its first sutra). With T'ien-T'ai cult or the Lotus School, this term means “before the Lotus.”

hóa tiền phương tiện

Tất cả hay từng phần phương tiện được giảng dạy cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh trước thời có Kinh Quán Vô Lượng Thọ—All the expedient, or partial, teaching suited to the conditions before the time of the Infinite Life Sutra (Wu-Liang-Shou-Ching).

hóa tiền tự

Lời mở đầu trong Quán Kinh Hóa Tiền của ngài Thiện Đạo—The preface to the “Quán Kinh Hóa Tiền” by Shan-Tao of the T'ang dynasty.

hóa trang

To disguise oneself—To camouflage.

hóa tác

To transform into—To create—To make.

hóa tâm

Tâm trong hóa thân của Phật hay Bồ Tát, tâm có cái nhìn như thực—The mind in the transformation body of the Buddha or bodhisattva, which apprehends things in their reality.

hóa tích

Di tích (dấu vết) giáo hóa chúng sanh của Đức Phật—The trace or evidences of the Buddha's transforming teaching.

hóa tướng

Tướng hóa hiện của Phật và Bồ Tát được các Ngài dùng để hóa độ chúng sanh—The transformation form or body in which the Buddha or Bodhisattva converts the living.

hóa tướng tam bảo

Hóa tướng Tam Bảo theo Tiểu Thừa là thân Phật 16 bộ, pháp Phật, thập nhị nhân duyên, Tăng già, và các đệ tử của Ngài như A La Hán và Duyên Giác—Nirmanakaya Buddha in the Triratna forms. In Hinayana, these are the human 16-foot Buddha, his dharma as revealed in the four axioms and twelve nidanas, and his sangha, or disciples, such as arhats and pratyeka-buddhas.

hóa tục kết duyên

Vì cơ duyên hóa độ chúng sanh—For the sake of converting the people.

hóa đàn

Chỗ để thiêu hóa thi hài của vong nhân—The altar of transformation, i.e. crematorium.

Hóa đạo

(化道): giáo hóa đạo, hoằng truyền đạo pháp. Như trong Quốc Thanh Bách Lục (國清百錄, Taishō Vol. 46, No. 1934) quyển 2, phần Sa Chủ Hoàng Thái Tử Thỉnh Giới Sớ (少主皇太子請戒疏) thứ 14, có đoạn: “Ngưỡng duy hóa đạo vô phương, tùy cơ tế vật, vệ hộ quốc độ, cấp dẫn thiên nhân (仰惟化道無方、隨機濟物、衛護國土、汲引天人, ngưỡng mong hóa đạo khắp nơi, tùy cơ duyên độ vật, bảo vệ quốc gia, dẫn dắt trời người).” Hay trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 19, phần Ngự Giảng Kim Tự Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh Tự (御講金字摩訶般若波羅蜜經序), lại có đoạn: “Tích Như Lai hóa đạo hoạch ngộ bất đồng, cố Pháp Nhãn vô sanh, căn tánh phi nhất (昔如來化道獲悟不同、故法眼無生、根性非一, xưa kia đức Như Lai hóa đạo, giác ngộ không giống nhau; cho nên con mắt pháp không sanh, căn tánh chẳng phải một).”

hóa đạo

Đạo hay con đường hướng dẫn và giáo hóa—The way of conversion—Transformation or development—To instruct and guide—See Tam Luân Hóa Đạo.

hóa đạo lực

Năng lực giáo hóa và dẫn dắt—Power to instruct and guide. ** For more information, please see Tam Lực.

Hóa Địa Bộ

(s: Mahīśāsaka, p: Mahiṃsāsaka, 化地部): âm dịch là Di Sa Tắc Bộ (彌沙塞部), còn gọi là Chánh Địa Bộ (正地部), Giáo Địa Bộ (敎地部), Đại Bất Khả Khí Bộ (大不可棄部), tên gọi của một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa. Tương truyền sau khi đức Phật diệt độ khoảng 300 năm, bộ phái này phân ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部) của hệ Thượng Tọa Bộ (上座部). Về tên gọi của bộ phái này, trong Dị Bộ Tông Luân Luận (異部宗輪論) có ghi rằng: “Người chủ của bộ phái này là quốc vương, nhà vua thống nhiếp đất nước, giáo hóa hàng thứ dân trên đất, cho nên có tên là Hóa Địa. Nhà vua bỏ ngôi vua xuất gia, rộng tuyên Phật pháp, từ đó lấy tên là Hóa Địa Bộ. Pháp sư Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) nói rằng: 'Chánh Địa Bộ vốn là thầy nhà vua, muốn chỉnh đốn đất nước, bèn bỏ ngôi vua để hoằng pháp, cho nên có tên là Chánh Địa'”. Về giáo nghĩa của Hóa Địa Bộ, Dị Bộ Tông Luân Luận chia làm hai phần là Bổn Tông Đồng Nghĩa (本宗同義) và Mạt Tông Dị Nghĩa (末宗異義); trong đó, Bổn Tông Đồng Nghĩa rất giống Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部), cho rằng không có quá khứ và tương lai, mà chỉ có hiện tại cũng như pháp vô vi. Từ đó, phái này lập ra 9 loại vô vi gồm Trạch Diệt (擇滅), Phi Trạch Diệt (非擇滅), Hư Không (虛空), Bất Động (不動), Thiện Pháp Chơn Như (善法眞如), Bất Thiện Pháp Chơn Như (不善法眞如), Vô Ký Pháp Chơn Như (無記法眞如), Đạo Chi Chơn Như (道支眞如), và Duyên Khởi Chơn Như (緣起眞如). Họ chủ trương thấy đạo nhất thời, hiện quán lý của Tứ Thánh Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-arya-sacca, 四聖諦) và cho rằng 5 thức có năng lực tạp nhiễm. Đối với chủ trương về 4 quả Sa Môn, họ cho rằng Quả Dự Lưu (s: srotāpatti-phala, p: sotāpatti-phala, 預流果) còn trở lui nữa, chỉ có Quả A La Hán (s: arhant-phala, p: arahant-phala, 阿羅漢果) thì bất thối. Trong khi đó, Mạt Tông Dị Nghĩa thì gần với học thuyết của Tát Bà Đa Bộ (s: Sarvāstivāda, 薩婆多部), chủ trương thật có quá khứ, tương lai. Từ Ân (慈恩) và Hiền Thủ (賢首) lấy chủ trương của Bổn Tông Đồng Nghĩa để lập nên Pháp Vô Khứ Lai Tông (法無去來宗), và lấy Mạt Tông Dị Nghĩa để hình thành Pháp Hữu Ngã Vô Tông (法有我無宗). Luật của Hóa Địa Bộ hành trì là Sa Di Tắc Bộ Hòa Hê Ngũ Phần Luật (彌沙塞部和醯五分律), 30 quyển.

hóa địa bộ

Mahisasakah (skt)—Sự lẫn lộn về trường phái nầy phần lớn do bởi có đến hai nhóm của trường phái đã thịnh hành ở hai giai đoạn khác nhau. Theo tài liệu Pali thì Chánh Địa Bộ là một trong hai mươi tông phái Tiểu Thừa, từ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ mà tách ra riêng sau khi Phật nhập diệt được 300 năm. Bộ chủ của bộ phái nầy vốn là quốc vương, người đã giáo hóa nhân dân trong bờ cõi đất nước mình cai quản, nên gọi là hóa địa. Giáo pháp của phái bộ nầy cũng giống như Đại Chúng Bộ, cho rằng hiện tại là hữu thể, còn quá khứ và vị lai là vô thể. Giáo pháp bộ nầy cũng chủ trương không và vô ngã mà hiện quán nhất thời; thừa nhận tạp nhiễm sanh ra bởi năm thức. Tông phái còn đặt ra ra chín thứ vô vi (see Cửu Vô Vi Pháp). Vì phủ nhận hữu thể nơi quá khứ và vị lai nên tông phái nầy còn được gọi là Pháp Vô Pháp Lai Tông. Hóa Địa Bộ tin rằng A Lan Hán không còn bị thối chuyển, không có thân trung ấm giữa kiếp nầy với kiếp kế tiếp. Họ cũng cho rằng trong Tăng già có Phật, nên cúng dường cho chư Tăng sẽ có nhiều công đức hơn là chỉ cúng dường cho Đức Phật. Điều đáng chú ý là Hóa Địa Bộ về sau lại có quan điểm trái ngược với những người theo Hóa Địa Bộ lúc ban đầu. Những người Hóa Địa Bộ về sau nầy tin rằng có quá khứ, có vị lai và thân trung ấm—The confusion regarding this school is largely due to the fact that there were two groups of this school which were prominent at two different periods. According to Pali sources, Mahisasakah was one of the twenty Hinayana sects, an offshoot from Sarvastivadah school, supposed to have been founded 300 years after the nirvana. The name Mahisasakah is said to be that of a ruler who converted his land or people, or rectified his land. The doctrines of the school are said to be similar to those of the Mahasanghika, and to have maintain the reality of the present, but not of the past and future; also the doctrine of the void and non-ego; the production of taint by five perceptions; the theory of nine kinds of activity. It was called the school which denied reality to past and future. The Mahisasakas first believed that the Arhats were not subject to retrogression, and there was no antara-bhava, ot interim existence between this life and the next. The Sangha included the Buddha and therefore charities given to the former were more meritorious than those given to the buddha only. It is interesting to notethat the later Mahisasakas held views contrary to those held by the earlier followers of the sect. They believed in the existence of the past, the future and anatra-bhava.

hóa độ

1) Giáo hóa và cứu độ—To save—To rescue—To convert and transport—To transform other beings—See Hóa Cảnh. 2) Một trong ba loại quốc độ; đây là cõi nước của những người còn phải luân chuyển trong luân hồi sanh tử: One of the three kinds of lands or realms; it is any land or realm whose inhabitants are subject to reincarnation. 3) Cõi nước an trụ của biến hóa thân Phật, gồm hai loại: Any land which a Buddha is converting, or one in which the transformed body of a Buddha. These lands are of two kinds • Thanh tịnh như cõi trời Đâu Suất: Pure like Tusita heaven, and • Ô trược như cõi Sa Bà: Vile or unclean like this world. 4) Tông Thiên Thai thì cho rằng đó là cõi Tây Phương Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà: T'ien-T'ai defines the transformation realm of Amitabha as the Pure Land of the West. 5) Các tông phái khác thì cho rằng đó vừa là hóa độ mà cũng là báo độ: Other schools speak of the transformation realm as the realm on which depends the nirmanakaya. ** For more information, please see Nhị Độ and Ứng Độ.

hóc búa

Very difficult (hard).

hóc hiểm

Very dangerous.

hóng mát

To go outside for fresh air.

San hô—Coral.

hô hô

Raurava (skt)—Hiệu Kiếu địa ngục hay hỏa ngục nóng thứ tư—The fourth hot hell. ** For more information, please see Địa Ngục (A) (a) (4).

hô hấp

Thở ra thở vào—To exhale and inhale.

Hô kim cương tan-tra

S: hevajra-tantra;|Một Tan-tra được biên soạn trong thế kỉ thứ 9, được xếp vào hạng Vô thượng du-già tan-tra. »He-vajra« có thể dịch là »Hô, xin chào! Chân như tuyệt đối!« Tan-tra này được nhiều Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) tu luyện và là Tan-tra Phật giáo được nghiên cứu kĩ nhất tại Tây phương.

hô liên

Bình đựng hạt để tế lễ, đây là một loại đá quý—A sacrificial grain-vessel; described as a precious stone.

hô ma

See Hộ Ma.

hô phong khiếu chỉ

(呼風嘯指) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Gọi gió huýt sáo. Tức là ứng xử tự tại, không bị trở ngại. Từ ngữ này có xuất xứ từ điển tích danh y Triệu bính đời Hậu Hán. Một hôm, Triệu bính muốn qua sông, gọi đò mãi mà không ai trả lời, ông liền hú gió, huýt sáo, lấy nón làm thuyền qua sông. Đời sau, Thiền tông dùng điển tích này để ví dụ người tham thiền đã tỏ ngộ thì được tự tại giải thoát, ứng xử linh hoạt, không bị ràng buộc. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 8 (Đại 47, 1045 thượng), nói: Hú gió huýt sáo tự do, dường như không người; số trăm thành đàn chẳng thuộc vương hóa .

hô tất lặc hãn

(呼畢勒罕) Mông cổ: Hobilghan, Khubilghan. Tạng: Sprul-Sku. Phạm: Nirmàịa-kàya. Cũng gọi Hô tất nhĩ hãn. Tự tại chuyển sinh hoặc chỉ cho người tái sinh, nghĩa là những người đã giác ngộ, sau khi bỏ thân này, có thể tùy ý chuyển sinh, tiếp nối chức vị đời trước. Người phàm tục chưa trừ vọng niệm, phải theo nghiệp chuyển sinh, càng chuyển càng mê mà không tự biết. Còn các bậc Thánh đã đoạn hết vọng niệm, chứng pháp tính chân thực, không bị nghiệp chuyển, tự làm chủ việc sống chết, tùy ý chuyển sinh, theo duyên độ chúng, cho nên gọi là Hô tất lặc hãn. Sau thời ngài Tông khách ba, Giáo tổ của Hoàng giáo Tây tạng, các vị Đạt lai lạt ma, Ban thiền lạt ma và Hồ đô khắc đồ, đều là những vị chuyển sinh của đời trước. Tư tưởng tự tại chuyển sinh là do sự kết hợp giữa tín ngưỡng Luân hồi thụ sinh và ba thân Phật mà thành. Nhưng chế độ đời đời chuyển sinh mà vẫn đồng nhất danh xưng, đồng nhất chức vị, thì đó là điểm đặc sắc của Phật giáo Tây tạng. Tương truyền chế độ này bắt nguồn từ Bổng giáo, một tông giáo nguyên thủy của Tây tạng. (xt. Hô Đồ Khắc Đồ, Hoạt Phật).

hô đồ khắc đồ

Hutuktu (skt)—Hồ Thổ Khắc Đồ—Danh hiệu của các vị Lạt Ma Phật Giáo Mông Cổ, những vị nầy cứ tiếp tục tái sinh, giữ chức vụ của mình để hoằng hóa chúng sanh—A chief Lama of Mongolian Buddhism, who is repeatedly reincarnated to keep the title and to save sentient beings. ; (呼圖克圖) Mông cổ: Khutuktu, khutukutu. Cũng gọi Hồ đồ khắc đồ, Hồ thổ khắc đồ, Khố đồ khắc đồ. Chức vị do chính phủ phong cho vị Cao tăng thuộc Lạt ma giáo Tây tạng sau khi chuyển sinh theo chế độ Hoạt Phật. Hô đồ khắc đồ là tiếng Mông cổ, có nghĩa là biết rõ kiếp trước kiếp sau, không bị luân hồi, sống chết tự do, sau khi chết có thể tái sinh . Tiếng Tây tạng có nghĩa là Sprul-Sku (Châu cô), nghĩa là Hóa thân, Thánh giả. Cứ theo tư liệu lưu trữ ở viện Lí phiên đời Thanh, thì đến năm Càn long 48 (1783) đã có tất cả 148 vị Hô đồ khắc đồ, trong đó, 4 vị: Đạt lai, Ban thiền, Triết bá tôn đan ba và Chương gia được gọi là Tứ thánh của Phật giáo Mông cổ, Tây tạng và được phân công: Ngài Đạt lai thống lãnh toàn bộ, ngài Ban thiền phụ tá ngài Đạt lai phụ trách vùng Hậu tạng, ngài Triết bá tôn đan ba phụ trách vùng Ngoại mông và ngài Chương gia phụ trách vùng Nội mông. Tại Tây tạng, ngoài 2 vị Đạt lai và Ban thiền, còn có 30 vị khác trong số đó có một vị Phật sống nữ trụ ở chùa Tang đình, thị trấn Tát đinh cát, bên bờ hồ Dương trác, là vị nữ Hô đồ khắc đồ duy nhất trong Lạt ma giáo. (xt. Hoạt Phật).

Hô-ma

呼魔 (麼); C: hūmó; J: koma;|Phiên âm chữ homa từ tiếng Phạn, Hộ-ma (護摩).

hôi

1) Mùi hôi: Smell bad—Stink. 2) Tro: Ash—Hot or fiery as ash. 3) Vôi: Lime.

hôi hà

Dòng nham thạch hay lửa, biến tất cả thành tro—A river of lava or fire, reducing all to ashes.

hôi nhân

Ngoại đạo dùng một hình tượng bằng tro hay đá vôi được làm để thờ phượng ngày bảy lần bởi người đàn bà mà hôn nhân bị trở ngại vì không được sủng ái—Heretics used an image of ash or lime made and worshipped seven times a day by a woman whose marriage is hindered by unpropitious circumstances.

hôi sa

Những vị Sa Môn tu khổ hạnh bằng cách phủ tro đầy mình, hay tự đốt thịt mình—Ascetics who cover themselves with ashes, or burn their flesh.

hôi sơn chủ bộ

Tông phái Hôi Sơn, một trong hai mươi tông phái Tiểu Thừa—Sect of Limestone hill dwellers, onr of the twenty Hinayana schools.

hôi thân diệt trí

Ngoại đạo khổ hạnh cho rằng phá hủy thân thể để diệt tâm mà đạt đến cảnh giới niết bàn—Destruction of the body and annihilation of the mind, for the attainment of nirvana.

hôi đầu thổ diện

Bôi tro lên đầu và bôi đất lên mặt (lối tu khổ hạnh của ngoại đạo)—To put ashes on the head and dust on the face.

Hôn

昏; C: hūn; J: kon;|1. Tối, u ám. Tình trạng lộn xộn, tối tăm, bối rối; 2. Bóng tối, sự mờ mịt, tính lơ đãng; 3. Buổi tối, bóng đêm.

hôn

1) Hoàng Hôn: Buổi chiều—Dusk. 2) Hôn Muội: Hôn Ám—Confused—Stupefied—Dull. 3) Hôn Nhân: To get married. 4) Hôn trầm: Confused—Stupified.

hôn chung

See Hôn Cổ.

hôn chung minh

(昏鍾鳴) Đồng nghĩa: Tịch chung, Hôn chung, Vãn chung, Nhập tướng chung. Đối lại: Hiểu chung. Tiếng chuông được đánh vào 8 giờ tối, cũng chỉ cho thời điểm lúc canh một. Trong các tùng lâm thời xưa, khoảng thời gian từ lúc chập tối cho đến rạng sáng được chia làm 5 phần, gọi là năm canh, mỗi canh lại được chia làm năm phần, tức là 5 điểm. Sau Hôn cổ (tiếng trống lúc hoàng hôn) thì gõ canh để báo giờ, sau đó đánh ba hồi Hôn chung, tất cả 108 tiếng. [X. chương Tôn tổ trong Bách trượng thanh qui; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hôn cổ

Loại trống để đánh báo hiệu giờ khắc buổi tối (ba hồi trống mỗi hồi đánh 120 dùi)—The bell, or drum, at dusk. ; (昏鼓) Trống đánh vào lúc hoàng hôn (chạng vạng tối) để báo hiệu sắp tối. Tùy theo mỗi mùa mà thời gian đánh trống có khác. Cách đánh cũng giống như Hiểu cổ (trống đánh báo trời sáng) tức là đánh 3 hồi từ chậm rãi đến nhanh dần, cuối cùng đổ hồi; xong hồi thứ 3 thì chấm dứt bằng 3 tiếng. Môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Trước canh một đánh 3 hồi trống, đó là Hôn cổ . Chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui (Đại 48, 1156 thượng), nói: Trống báo canh, sớm, tối đều đánh 3 hồi . Một hồi có 120 tiếng, 3 hồi là 360 tiếng, tượng trưng cho số ngày trong một năm.

hôn hối

Tối ám—Obscure—Dark.

hôn lễ

The wedding ceremony—Marriage.

hôn miên cái

(惛眠蓋) Phạm: Styàna-middha-àvaraịa. Cũng gọi là Thụy miên cái. Gọi đủ: Hôn trầm thụy miên cái. Tiếng gọi chung 2 phiền não Hôn trầm và Thụy miên. Vì hai phiền não này che lấp và chướng ngại trí tuệ nên gọi là Cái (che, đậy). Là một trong Ngũ cái. Trong Ngũ cái, Hôn miên cái và Trạo hối cái (Trạo cử, Ác tác) là hai món hợp làm một, vì tác dụng của chúng và cách đối trị đều giống nhau. [X. kinh Tạp a hàm Q.27; luận Câu xá Q.21; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Cái).

hôn muội

Stupid.

hôn mê

To faint—To fall down in a faint—To lose consciousness.

hôn mặc đa

Kandat (skt)—Thủ đô của Tamasthiti, có lẽ là Kunduz, nhưng theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì Kundoot lại cách Jshtrakh 40 dậm về phía bắc—The capital of Tamasthiti, perhaps the modern Kunduz, but according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, “Kundoot is about 40 miles north of Jshtrakh.

hôn ngụ tiền

(昏寓錢) Cũng gọi Lục đạo tiền, Lục văn tiền, Chỉ tiền.Trước khi chôn cất người chết, thân nhân bỏ tiền vào quan tài để chuẩn bị lộ phí cho cuộc hành trình luân hồi trong 6 đường của họ. Loại tiền này thông thường là 6 đồng tiền đồng hoặc là tiền giả (giấy tiền vàng bạc), nay hầu hết dùng tiền giả. Phật giáo vốn không có phong tục này, mà nó đã bắt nguồn từ trong dân gian Trung quốc vào đời Hán. Thời ấy, khi hoàng hôn buông xuống, người dân Trung quốc thường đem tiền ra chôn ngoài mộ để cho người chết tiêu dùng, phong tục chôn tiền bắt đầu từ đó. Về sau người Nhật bản cũng làm theo.

hôn nhân

To get married—Marriage.

hôn phu

Chú rễ—Bridegroom—Fiancé.

hôn phối

See Hôn nhân.

hôn thành

Thành lũy tối tăm, chỗ mà kẻ phàm phu hôn ám nương náu—The dim city, the abode of the common, unenlightened man. ; (昏城) Thành quách tối tăm, ví cho chỗ ở của phàm phu. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 204 hạ): Dẫn dắt 4 loài trong nhà lửa, cữu vớt 3 cõi trong Hôn thành .

hôn thê

Cô dâu—Bride—Fianceé.

hôn thú

Marriage certificate.

hôn thơ

See Hôn thú.

hôn thụy

Lethargy—See Hôn Trầm.

hôn thức

Kiến thức hôn ám mê muội—Dull or confused knowledge.

hôn trầm

Thina (p)—Dullness (thẩn thờ)—Idleness (ngầy ngật)—Sloth—Torpor—Sunk in stupor—To lose consciousness—Khi hành thiền, thỉnh thoảng trạng thái tâm của hành giả rơi vào một vùng nặng nề tối ám (mê mờ) và buồn ngủ, đây là vọng chướng hôn trầm—When practicing meditation, sometimes cultivators drift into a dark heavy mental state, akin to sleep, this is the delusive obstruction of drowsiness. ; (惛沈) Phạm: Styàna. Pàli: Thìna. Cũng gọi Hôn. Tác dụng tinh thần làm cho thân tâm mờ tối, bải hoải, nặng nề, đần độn, si mê, mất chí tiến thủ và những hoạt động tích cực. Là tên của Tâm sở (tác dụng của tâm).Tông Câu xá cho Hôn trầm là một trong những Đại phiền não địa pháp, là tâm sở sinh ra tất cả tâm ô nhiễm (tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí). Còn tông Duy thức thì xếp Hôn trầm vào một trong 20 Tùy phiền não. Về vấn đề thể tính của tâm sở này là thật hay giả thì xưa nay có nhiều thuyết khác nhau, nhưng trong đó, thuyết chủ trương Hôn trầm có thể tính riêng là chính thống. Tâm sở này lấy si làm gốc mà sinh khởi, si lấy mê muội làm tính, vì thế tâm sở này lấy mờ tối làm tính. Hôn trầm thuộc một trong 10 triền, hợp với Thùy miên thành Hôn trầm miên cái , là một trong Ngũ cái. Thiền tông cho Hôn trầm là loại phiền não làm chướng ngại thiền định, ví như hầm hố tối tăm, hang quỉ trong núi vô minh, như hang ếch nhái, là một trong 50 loại ma phá hoại thiền định. [X. luận Thành duy thức Q.6; luận Đại tì bà sa Q.37; luận Câu xá Q.4]. (xt. Ngũ Cái).

hôn trầm thụy miên

Thinamiddham (p)—Sloth and torpor.

hôn túy

Matta (skt)—Say lúy túy—Drunk—Intoxicated.

hôn ước

Engagement.

Hùng bi

(熊羆): đồng nghĩa với hùng hổ (熊虎), nghĩa là gấu và cọp, tỷ dụ một người dũng mãnh, dũng sĩ thiện chiến. Vì vậy thường có từ “hùng bi chi sĩ (熊羆之士, người có sức mạnh oai dũng như con gấu, cọp).” Như trong Thư Kinh (書經), Khang Vương Chi Cáo (康王之誥) có câu: “Tắc diệc hữu hùng bi chi sĩ, bất nhị tâm chi thần, bảo nghệ vương gia (則亦有熊羆之士、不二心之臣、保乂王家, ắt sẽ có dũng sĩ hùng mạnh, trung thần một lòng tận lực, bảo vệ vương gia).” Trong Thi Kinh (詩經), phần Tiểu Nhã (小雅), Tư Can (斯干) có câu: “Đại nhân chiêm chi, duy hùng duy bi, nam tử chi tường, duy hủy duy xà, nữ tử chi tường (大人占之、維熊維羆、男子之祥、維虺維蛇、女子之祥, người lớn đoán rằng, là gấu là cọp, điềm lành con trai; là hổ mang là rắn, điềm lành con gái).” Cho nên nằm mơ thấy con gấu hay cọp, những con vật tượng trưng cho sức mạnh hùng dũng, đó là điềm lành báo mộng sanh con trai. Như trong Tam Quốc Chí (三國志) quyển 24 có câu: “Bệ Hạ thông đạt, cùng lý tận tánh, nhi khoảnh Hoàng Tử liên đa yểu thệ, hùng bi chi tường vị cảm ứng (陛下聰達、窮理盡性、而頃皇子連多夭折、熊羆之祥又未感應, Bệ Hạ thông đạt, xét cùng lý lẽ, nhưng trong chốc lát mà mấy Hoàng Tử liên tục chết yểu, điềm lành gấu cọp vẫn chưa cảm ứng).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng quyển 2, phần Bảo Thai, có câu: “Hùng bi ứng mộng thả cư do dự chi trung, xà hủy trình tường diệc tại cô nghi chi vức, duy kí bảo an chi nhị tự, cảm vong trí kính vu Tam Tôn (熊羆應夢且居猶豫之中、蛇虺呈祥亦在狐疑之域、惟冀保安之二字、敢忘致敬于三尊, gấu cọp ứng mộng sao còn do dự làm chi, rắn mang điềm tốt liệu mang nghi ngờ lưỡng lự, chỉ mong bình an trong hai chữ, dám quên kính ngưỡng đấng Tam Tôn).” Hoặc trong bài Diệm Khẩu Triệu Thỉnh Văn (焰口召請文) tương truyền do Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống trước tác cũng có câu nói về giấc mộng hùng bi: “Hoài thai thập nguyệt, tọa thảo tam triêu, sơ hân loan phụng hòa minh, thứ vọng hùng bi hiệp mộng (懷胎十月、坐草三朝、初欣鸞鳳和鳴、次望熊羆叶夢, mang thai mười tháng, nằm cỏ ba hôm, mới mừng loan phụng cùng vui, kế trông gấu beo báo mộng).”

hùng dã sơn

(熊野山) Cũng gọi Hùng dã tam sơn, Hùng dã tam xã, Tam ngự sơn, Tam hùng dã, Hùng dã quyền hiện, Hùng dã tam sở quyền hiện. Núi ở quận Đông mâu lâu, đảo Kỉ y, Nhật bản. Trong núi có 3 ngôi đền thờ thần (Thần xã), đứng đối nhau tạo thành thế chân vạc, đó là: Hùng dã tọa, Hùng dã tốc ngọc và Hùng dã phu tu mĩ: - Hùng dã tọa thần xã, được xây dựng vào năm Sùng thần đế 16 (82 tr. T.L.), đời gọi là Hùng dã bản cung, thờ Tố trản minh tôn hoặc Y trang sách tôn. - Hùng dã tốc ngọc thần xã, được kiến thiết vào năm Cảnh hành đế 59 (129), đời gọi là Hùng dã tân cung, thờ Nam thần Sự giải. - Hùng dã phu tu mĩ thần xã, được kiến tạo vào niên hiệu Văn ứng năm đầu (1260), đời gọi là Na trí sơn, hoặc Na trí, thờ Nam thần Tốc ngọc. Ba cung trên đây, mỗi cung đều có thờ 12 vị thần đất, vì thế cũng gọi là Thập nhị xã quyền hiện. Vào thời đại Bình an, thuyết Bản địa Thùy tích của Thần Phật rất thịnh hành. Bản địa của Bản cung là A di đà Như lai, Bản địa của Tân cung là Dược sư Như lai, Bản địa Na trí là bồ tát Quan thế âm 11 mặt, 1.000 tay. Phong tục lễ bái Hùng dã tam sở quyền hiện xưa nay rất phổ cập. [X. Hùng dã quyền hiện kim cương tạng vương bảo điện tạng tạo công nhật kí; Phú tang lược kí Q.30; Bách luyện sao Q.5; Nhật bản thư kỉ Q.1; Tam đại thực lục Q.2; Nhật bản kỉ lược tiền thiên Q.17].

hùng dã tỉ khâu ni

(熊野比丘尼) Cũng gọi Ca tỉ khưu ni, Khuyến tiến tỉ khưu ni, Hội giải tỉ khưu ni. Những vị tỉ khưu ni ở trên núi Hùng dã, Nhật bản, vào cuối thời đại Thất đinh. Các tỉ khưu ni này thường dùng những bức tranh Địa ngục, Tịnh độ cực lạc để giải thích lí nghiệp báo trong Phật giáo mà khuyên người ta niệm Phật. [X. Đông hải đạo danh sở kí Q.3; điều Nhị nguyệt trong Nhật thứ kỉ sự].

hùng lại ba

(雄賴巴) Chức vụ của vị tăng phụ trách việc học tập kinh điển trong Trát thương ở các chùa viện của Phật giáo Tây tạng, do vị Kham bố (Trụ trì) ủy nhiệm.

hùng nhĩ sơn

(熊耳山) Núi nằm về phía nam huyện Lư thị, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Núi này có 2 ngọn núi song song và dựng đứng như tai con gấu, cho nên gọi là Hùng nhĩ sơn (núi tai gấu). Tháp của sơ tổ Thiền tông Bồ-đề đạt ma được xây ở đây. [X. Đại minh nhất thống chí Q.29; Đại thanh nhất thống chí Q.162].

Hùng Nhất Tiêu

(熊一瀟, ?-?): tự là Úy Hoài (蔚懷), Hán Nhã (漢若); xuất thân Đông Đàn (東壇), Huyện Nam Xương (南昌縣). Năm thứ 3 (1664) đời Khang Hy (康熙), ông đỗ Tiến Sĩ, từng làm các chức quan như Triết Giang Đạo Ngự Sử (浙江道御史), Thiên Thái Bộc Tự Thiếu Khanh (遷太僕寺少卿), Hữu Thông Chính (右通政), Thuận Thiên Phủ Phủ Y (順天府府伊), Hình Bộ Hữu Thị Lang (刑部右侍郞), Binh Bộ Đốc Bộ Thị Lang (兵部督捕侍郞), Sử Bộ Hữu Thị Lang (吏部右侍郞), Công Bộ Thượng Thư (工部尚書), Đại Thường Thị Khanh (大常寺卿), Đại Lý Thị Khanh (大理寺卿), Tả Phó Đô Ngự Sử (左副都御史), Công Bộ Hữu Thị Lang (工部右侍郞), Công Bộ Thượng Thư (工部尚書). Trước tác của ông có Phố Vân Đường Thi Văn Tập (浦雲堂詩文集).

hùng thập lực

(熊十力) (1882-1968) Nhà học giả Trung quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, tự là Tử chân. Thưở nhỏ, ông thông minh đĩnh ngộ, nhà nghèo, 10 tuổi mới học Tam tự kinh, Tứ thư do cha dạy. Không bao lâu, cha ông mắc bệnh và qua đời, từ đó ông tự học để cầu tiến. Nhờ đọc các sách của Vương thuyền sơn, Cố đình lâm, v.v... mà ông nuôi chí cách mệnh. Năm 17 tuổi, ông tham gia phong trào và lần lượt thành lập: Hội Nhật tri, Học xã Quần trị, Học xã Chấn vũ để cổ động cách mạng. Sau cuộc khởi nghĩa Vũ xương thành công, ông chen chân vào quan trường. Nhưng khi Viên thế khải dẹp bỏ quân cách mệnh thì ông cũng bị đuổi. Ông về quê làm ruộng, đọc sách. Ít lâu sau, ông lại giữ chức tham mưu trong quân Bắc phạt. Năm 35 tuổi, ông chợt nhận ra rằng, nếu con người làm cách mệnh mà không tu dưỡng thân tâm, thì không thể mang lại sự yên vui chân chính. Từ đó ông thôi làm quan, hiến thân cho học thuật, ra sức giảng dạy, chủ trương tự phản tỉnh. Về sau, ông đến Nam kinh, vào viện Chi na nội học theo Âu dương tiệm học Phật, ông nghiên cứu giáo nghĩa Đại thừa rất sâu sắc, đặc biệt về Duy thức học. Ông soạn bộ luận Tân duy thức, chủ trương đem lí Không của Phật dung hợp với Thần của Dịch. Học thuyết của ông đại khái lấy tư tưởng Nho gia và triết học của kinh Dịch làm tông chỉ để ngầm phê phán Phật giáo. Đại sư Thái hư, pháp sư Ấn thuận và các ông Vương ân dương, v.v… đều soạn văn để phản bác, cho rằng họ Hùng đã có nhận thức sai lầm về Phật pháp. Năm 35 tuổi, ông lần lượt làm Giáo sư các trường: Đại học Bắc kinh, Đại học Vũ xương, Đại học Trung ương, Thư viện Phục tính ở Lạc sơn. Ông lâm bệnh và qua đời vào tháng 5 năm 1968 tại Thượng hải. Tác phẩm của ông gồm có: Phật gia danh tướng thông thích (2 quyển), Tân duy thức luận, Thể dụng luận, Trung quốc thông sử giảng thoại, Độc kinh thị yếu, Thập lực ngữ yếu, Thập lực ngữ yếu sơ tục, Phá phá tân duy thức luận, Nhân minh đại sớ san chú, Nguyên nho, Minh tâm thiên, Càn khôn diễn…...

Hùng Trạch Phiên Sơn

(熊澤蕃山, Kumazawa Banzan, 1619-1691): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Bá Kế (伯繼); tự Liễu Giới (了介); hiệu Tức Du Hiên (息游軒); thông xưng là Thứ Lang Bát (次郎八); xuất thân kinh đô Kyoto; tên gọi Phiên Sơn (蕃山) vốn phát xuất từ Thôn Phiên Sơn (蕃山村), Bị Tiền (僃前, Bizen), nơi ông lui về ẩn cư. Năm 1634 (Khoan Vĩnh [寛永] 11), ông phục vụ cho Trì Điền Quang Trí (池田光致), Phiên chủ của Phiên Cương Sơn (岡山藩, Okayama-han), nhưng vì tu học chưa thuần thục, nên lấy lý do đó mà từ chức, rồi theo học với Trung Giang Đằng Thọ (中江藤樹, Nakae Tōju). Vào năm 1645 (Chánh Bảo [正保] 2), ông trở lại phục vụ cho Quang Trí và đã cống hiến những đối sách cứu nạn đói vào năm Minh Lịch (明曆) cũng như trị sơn, trị thủy, v.v. Sau đó, vào năm 1657 (Minh Lịch 3), ông lui về ẩn cư, chuyên tâm giảng dạy và trước tác ở kinh đô và các nơi khác; nhưng đến năm 1687 (Trinh Hưởng [貞享] 4), ông bị chính quyền Mạc Phủ kiêng kỵ vì phê phán chính trị, rồi bị cấm cố ở vùng Cổ Hà (古河, Koga), Hạ Tổng (下總, Shimōsa) và cuối cùng qua đời tại đây. Ông vốn là môn hạ của Đằng Thọ, nhưng Chu Tử Học hay Dương Minh Học, ông chẳng thuộc học phái nào cả; mà chủ trương thuyết gọi là Tâm Học (心學), cho rằng tâm là căn nguyên của vạn vật, đồng nhất với Thái Hư, và cần phải thể đắc đạo lý vốn có trong tâm này. Trước tác của ông có Tập Nghĩa Hòa Thư (集義和書), Tập Nghĩa Ngoại Thư (集義外書), Đại Học Hoặc Vấn (大學或問), Tam Luân Vật Ngữ (三輪物語), v.v.

Khela or Krida (skt). 1) Giởn chơi: To joke for passing time. 2) Vở kịch hay trò chơi thể thao: Play or sport. 3) Xem hát giải trí là những trò vui mà chư Tăng Ni không được tham gia: Take one's pleasure—Theatricals, which are forbidden to monks and nuns.

hý luận

Prapanca or Vikarsa (skt)—Ngôn luận phi lý vô nghĩa hay nói chuyện vô bổ không đâu vào đâu—To joke—To jest—Sophistry—Meaningless argument—Frivolous or unreal discourse—Talking vainly or idly.

hý vong niệm thiên

See Hý Vong Thiên.

hý vong thiên

Hý Vong Niệm Thiên—Một trong sáu cõi trời dục giới, thiên chúng ở đây bị mọi trò vui chơi làm quên mất chân lý và chánh niệm—One of the six devalokas of the desire heavens, where amusement and laughter cause forgetfulness of the true and right.

hăm dọa

To threaten—To intimidate—To menace.

hăm hở

With fervour (zeal).

hăng hái

Eagerness—Fervour—Ardour.

hơi thở

Breath span.

hơn

More than.

hư am

(虛庵) Tức là thiền sư Hoài xưởng, thuộc phái Hoàng long, tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, là đệ tử nối pháp của ngài Tuyết am Tòng cẩn ở chùa Thiên đồng. Năm Thuần hi 16 (1189) đời Nam Tống, vị tăng người Nhật bản tên là Vinh tây, đến chùa Cảnh đức trên núi Thiên đồng theo sư tu Thiền. Năm Thiệu hi thứ 2 (1191), sư truyền pháp cho sư Vinh tây. Sau, sư Vinh tây trở về Nhật, sáng lập chùa Kiến nhân. [X. Hoàng long thập thế lục; Ngũ sơn văn học tân tập Q.3].

Hư Am Hoài Sưởng

(虛庵懷敞, Kian Eshō, ?-?): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Tông Lâm Tế Trung Quốc, hiệu là Hư Am (虛庵). Ông nối dòng pháp của Thiên Đồng Tuyết Am Tùng Cẩn (天童雪庵從瑾), rồi đến sống tại Vạn Niên Tự (萬年寺) ở Thiên Thai Sơn. Vào năm thứ 14 (1187) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), Vinh Tây đến tham vấn Thiền với ông. Đến năm thứ 16 cùng niên hiệu trên, ông chuyển đến sống ở Thiên Đồng Cảnh Đức Tự (天童景德寺), làm vị Tổ đời thứ 23 của chùa này. Vinh Tây thường đi theo hầu hạ bên ông, và đến năm thứ 2 (1191) niên hiệu Thiệu Hy (紹熙), ông ấn chứng cho Vinh Tây.

Hư Cốc Hy Lăng

(虛谷希陵, Hikoku Kiryō, 1247-1322): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵) thuộc Lâm Tế Tông, hiệu là Hư Cốc (虛谷), tự là Tây Bạch (西白), xuất thân vùng Nghĩa Ô (義烏), Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), họ là Hà (何). Năm 19 tuổi, ông xuất gia rồi thọ Cụ Túc Giới ở Đông Dương Tư Thọ Viện (東陽資壽院). Ông đã từng đến tham yết Hư Chu Viễn (虛舟遠) ở Song Lâm Tự (雙林寺), rồi Đông Tẩu Trọng Dĩnh (東叟仲頴). Sau đó ông kế thừa dòng pháp của Tuyết Nham Tổ Khâm (雪巖祖欽), đến năm thứ 3 (1316) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông đến ở tại Kính Sơn, Hàng Châu. Ông được mời vào cung nội, rồi được Thế Tổ ban cho hiệu là Phật Giám Thiền Sư (佛鑑禪師), sau đó lại được ban tặng những danh hiệu khác như Đại Viên (大圓), Huệ Chiếu (慧照), Đại Biện (大辯). Đến ngày 12 tháng 4 năm thứ 2 niện hiệu Chí Trị (至治), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi đời và 57 pháp lạp. Tương truyền ông có trước tác bộ Ngữ Lục, Bộc Nham Tập (瀑巖集). Ngu Tập (虞集) soạn bài minh cho tháp của ông.

Hư không

虛空; S: ākāśa; P: ākāsa;|Khái niệm quan trọng trong đạo Phật. Hư không được hiểu là »không gian« Có hai thứ không gian: 1. Không gian do sắc thể quy định mà thành và 2. Không gian vô cùng tận. Khái niệm đầu thuộc sắc thể (Ngũ uẩn), khái niệm sau là một trong sáu yếu tố (Giới, s: dhātu), không có tự tính nhưng lại là cơ sở của mọi sắc thể và của Tứ đại chủng là đất, nước, gió, lửa. Hư không (khái niệm thứ hai) là tính Không, rời mọi sắc thể, thường còn và không thể mô tả nghĩ bàn.|Quan điểm về hư không cũng có nhiều sai khác trong các tông phái Phật giáo. Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) quan niệm rằng, hư không không chịu dưới quy luật duyên khởi; nó không gây chướng ngại, xuyên suốt mọi vật và thường còn. Còn Trung quán tông (s: mādhyamika) thì cho hư không cũng bị tuỳ thuộc, vì nó có thể bị một vật khác »chiếm giữ«. Trong các phương pháp thiền định, hư không giữ một vai trò quan trọng: trong Bốn xứ thì xứ đầu tiên là Không vô biên xứ và trong mười Biến xứ (p: kasiṇa) thì hư không là biến xứ thứ chín.

hư không

(虛空) Phạm:Àkàza. Dịch âm: A ca xá. I. Hư Không. Chỉ cho pháp vô vi thanh tịnh, không bị chướng ngại. Là 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ, 1 trong 9 vô vi của Đại chúng bộ và Hóa địa bộ, 1 trong 6 vô vi của luận Bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, 1 trong 4 vô vi của luận Đại thừa ngũ uẩn, 1 trong 8 vô vi của luận Du già sư địa và luận A tì đạt ma tạp tập, v.v... II. Hư Không. Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Còn theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.1, Q.6; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, luận Du già sư địa Q.53; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hư Không Vô Vi). III. Hư Không. Tên khác của Không giới. Chỉ cho khoảng không gian, nơi tồn tại của tất cả các pháp, 1 trong 6 giới. Tuy nhiên, cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì giữa hư không và không giới có sự khác nhau, bộ này cho rằng Hư không chẳng phải sắc, còn Không giới thì là sắc; Hư không không thấy được, Không giới thì thấy được; Hư không vô lậu, Không giới hữu lậu; Hư không vô vi, Không giới hữu vi. Cái không mà chúng ta thấy đó là không giới, chứ chẳng phải Hư không. Nhưng trong các kinh thì phần nhiều không phân biệt 2 từ này mà dùng thay cho nhau. Ngoài ra, Hữu bộ còn cho rằng sắc của Không giới lấy sáng, tối làm thể, là có thật. Nhưng các bộ phái khác thì không công nhận thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q75; luận Câu xá Q.1; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Du già luận kí Q.14 phần dưới].

hư không hoa

xem hoa đốm.

hư không tạng bồ tát

(虛空藏菩薩) Hư không tạng, Phạm: Àkàza-garbha (dịch âm: A ca xá nghiệt bà),Gagana-gaĩja (dịch âm: Nga nga nẵng ngạn nhạ). Tạng: Nam-mkha#i-sĩiị-po, Nammkha#-mdsod. Cũng gọi Hư không dựng bồ tát. Vị Bồ tát này có phúc tạng và trí tạng vô lượng, giống như hư không, rộng lớn vô biên, lại dùng vô lượng pháp bảo bố thí, làm lợi lạc hết thảy chúng sinh. Bồ tát này gồm có 3 tôn vị: 1. Hư không tạng bồ tát, là chủ tôn của viện Hư không tạng, thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng vị này, thân mầu da người, ngồi trên hoa sen báu, đầu đội mũ Ngũ Phật, cánh tay phải co lại, cầm thanh kiếm có ánh lửa sáng; tay trái đặt ở cạnh sườn, cầm hoa sen, trên hoa sen có viên ngọc báu như ý. Ngọc báu và thanh kiếm của vị Bồ tát này biểu thị cho phúc môn và trí môn. Mật hiệu là Như ý kim cương, chủng tử là (i), hình Tam muội da là Kiếm tuệ. 2. Hư không tạng bồ tát, là vị thị giả đứng hầu trong viện Thích ca. Hình tượng của vị tôn này, mình mặc thiên y, đứng trên tòa sen nở, mặt hơi hướng về phía trái, bàn tay phải dựng thẳng, ngón trỏ và ngón giữa co lại, cầm phất trần trắng, tay trái nắm lại đặt ở chỗ rốn, cầm hoa sen, trên hoa sen có viên ngọc mầu xanh. Mật hiệu là Vô tận kim cương, chủng tử là (à), hình Tam muội da là ngọc mầu xanh trên hoa sen. 3. Hư không tạng bồ tát, là 1 trong 16 vị tôn thuộc Hiền kiếp của Kim cương giới (cũng gọi là bồ tát Kim cương chàng, bồ tát Bảo chàng) là vị thứ 3 trong 4 vị tôn ngồi ở phía nam của Phương đàn thuộc viện ngoài. Hình tượng vị này, mình mầu trắng, tay trái nắm lại chống vào eo, tay phải cầm hoa sen, trên hoa sen có ngọc báu. Mật hiệu là Phú quí kim cương, Viên mãn kim cương, chủng tử là (à), hình Tam muội da là ngọc báu có 3 cánh, ấn tướng là Kim cương phược, tức là 2 ngón trỏ làm thành hình bình báu, 2 ngón cái dựng đứng. [X. phẩm Hư không tạng trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.14; kinh Hư không bồ tát; kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.3; kinh Bát nhã lí thú; Đại nhật kinh sớ Q.5; Q.10; Lưỡng bộ mạn đà la nghĩa kí Q.3, Q.4; Hiện đồ mạn đồ la Kim cương giới chư tôn tiện lãm Q.2].

hư không tạng bồ tát kinh

(虛空藏菩薩經) Phạm:Àkàzagarbha-sùtra. Cũng gọi Hư không tạng kinh, Hư không tạng bồ tát thần chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Phật đà da xá dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung kinh này tường thuật về việc khi đức Phật đang ở núi Khư la để sí, thì bồ tát Hư không tạng từ nơi ở của đức Phật Thắng hoa phu tạng trong thế giới Nhất thiết hương tập y nằm về phương tây hiện đến, dùng thần lực biến thế giới Sa bà thành Tịnh độ, rồi biến trong 2 tay của đại chúng đều có hạt ma ni bảo châu như ý, từ trong hạt châu ấy tuôn ra các thứ báu. Kế đó là nói về các đà la ni trừ bệnh được phúc, về người niệm danh hiệu của vị Bồ tát này sẽ được trí nhớ dai, mọi ý nguyện được viên mãn. Các bản dịch khác của kinh này còn có: Kinh Hư không tạng bồ tát thần chú 1 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống, kinh Hư không dựng bồ tát 2 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

hư không tạng bồ tát pháp

(虛空藏菩薩法) Gọi tắt: Hư không tạng pháp. Pháp tu này y cứ vào Đại hư không tạng bồ tát niệm tụng pháp do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Nội dung chia làm 3 pháp: Phúc đức, Trí tuệ, Âm thanh. Nếu nương vào pháp này mà tu hành thì sẽ tiêu trừ được nghiệp báo chướng, tăng trưởng phúc đức, tâm thần an vui, có lòng tin thanh tịnh đối với Đại thừa, làm lợi lạc chúng sinh, tâm không thoái chuyển, được mọi thứ của báu trong thế gian và xuất thế gian. [X. Hạnh lâm Q.43; Bí sao Q.trung; Nhũ vị sao Q.9].

hư không tạng cầu văn trì pháp

(虛空藏求聞持法) Gọi đủ: Hư không tạng bồ tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà la ni cầu văn trì pháp. Cũng gọi: Hư không tạng cầu văn trì pháp kinh, Hư không tạng bồ tát mãn nguyện tối thắng tâm đà la ni kinh, Cầu văn trì kinh, Cầu văn trì nghi quĩ, Cầu văn trì pháp, Cầu văn trì quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nghi quĩ này được rút ra từ phẩm Thành tựu nhất thiết nghĩa trong kinh Kim cương đính. Nội dung nói về đà la ni Năng mãn chư nguyện tối thắng tâm và Đàn pháp, Ấn pháp, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].

hư không tạng viện

(虛空藏院) Viện này thờ bồ tát Hư không tạng làm vị chủ tôn, là viện thứ 10 trong 12 viện lớn thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Viện Hư không tạng biểu thị cho Bi, Trí hợp nhất, hàm chứa muôn đức, có khả năng ban bố cho chúng sinh tất cả của quí báu, tuy có đầy đủ trí đức nhưng lấy phúc đức làm chính. Tay phải của bồ tát Hư không tạng cầm thanh kiếm tiêu biểu cho trí đức; tay trái cầm hoa sen tiêu biểu cho phúc đức. Trong viện có 28 vị tôn, chính giữa là bồ tát Hư không tạng, các vị tôn khác ở 2 bên tả hữu của Ngài chia làm 2 hàng trên và dưới. Hàng trên gồm có 10 vị bồ tát Ba la mật, 5 vị ở bên phải là: Đàn, Giới, Nhẫn, Thiền tượng trưng cho Phúc môn; 5 vị ở bên trái là: Bát nhã, Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí tượng trưng cho Trí môn. Ở hàng dưới, phía bên trái gồm có các vị Bồ tát: Vô cấu thệ, Tô bà hô, Kim cương châm, Tô tất địa yết la, Mạn đồ la; hàng dưới, phía bên trái, gồm có các Bồ tát: Cộng phát ý chuyển luân, Sinh niệm xứ, Phẫn nộ câu, Bất không câu. Còn Thiên thủ Quan âm ở đầu bên phải lấy viện Quan âm của Liên hoa bộ làm nhân hạnh mà sinh ra quả đức; bồ tát Kim cương tạng vương ở đầu bên trái lấy viện Kim cương thủ của Kim cương bộ làm nhân hạnh mà sinh ra quả đức. Ngoài ra, còn có thuyết cho rằng 2 vị tôn Thiên thủ, Kim cương tạng và quyến thuộc của các Ngài được chia thành 2 viện khác nhau, cho bồ tát Hư không tạng thuộc về Phật bộ, cùng với bồ tát Kim cương tạng và Thiên thủ Quan âm ở 2 bên cùng ở trong viện này, đều tượng trưng cho đức của 3 bộ Thai tạng giới. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1, phẩm Mật ấn Q.4; kinh Bất không quyên sách Q.9]. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La, Mạn Đồ La).

hư không vân hải minh môn

(虛空雲海明門) Từ ngữ dùng để mô tả trí tuệ không giới hạn của Bồ tát địa thứ 11 (Phật quả). Bồ tát Sơ địa chứng được Bách pháp minh môn, Bồ tát từ nhị địa trở lên thì mỗi địa tùy theo thứ tự tăng lên nhiều lần cho đến địa thứ 10, mỗi địa đều có số minh môn khác nhau. Nhưng sau khi đến địa thứ 11, tức là quả Phật, thì trí tuệ chứng được không thể hạn lượng, ví như hư không, mây, biển, cho nên gọi là Hư không vân hải minh môn. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 657 hạ) nói: Đến địa thứ 11, bằng minh môn (trí tuệ) hư không vân hải, Bồ tát sẽ thấy tất cả thế giới Liên hoa tạng trang nghiêm .

hư không vô biên siêu việt bồ tát

(虛空無邊超越菩薩) Hư không vô biên siêu việt, Phạm: Gaganànanta-vikrama. Tạng: Nam-makha#-la rnam-par #gro-ba. Cũng gọi: Việt vô lượng hư không bồ tát, Hư không vô biên du bộ kim cương bồ tát, Hư không du bộ chấp kim cương bồ tát. Vị Bồ tát thứ 4 ở hàng thứ 2 trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới của Mật giáo. Hình tượng vị Bồ tát này. Mình mầu vàng lợt, ngồi kết già trên hoa sen đỏ, cánh tay phải co lại, khuỷu tay dang ra và bàn tayngửa lên, đầu các ngón tay hường về bên phải, tay trái hướng vào trong để ngang ngực, cầm chày ba chĩa. Mật hiệu là Quảng đại kim cương, hình Tam muội da là chày 3 chĩa, chủng tử là (hùô), ấn tướng là Trì địa ấn. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

hư không vô cấu trì kim cương bồ tát

(虛空無垢持金剛菩薩) Hư không vô cấu trì kim cương, Phạm: Gaganàmala-vajradhara. Hán âm: Nga nga na ma la phạ nhật ra thải lạc. Tạng: Rdo-rje-#dsin nam-mkha# drima-med-pa. Cũng gọi: Hư không vô cấu chấp kim cương bồ tát. Vị Bồ tát thứ nhất ở hàng thứ 2 mé bên đông trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Là một trong mười chín vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của Hội Mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật. Hình tượng vị tôn này, mình mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, cánh tay phải co lại, bàn tay ngửa lên, các đầu ngón tay hướng về bên phải; tay trái nắm lại, cầm chày một chĩa đưa lên để ở trước ngực phía trái, mặt hướng về bên phải. Mật hiệu là Li nhiễm kim cương, chủng tử là (hùô), ấn tướng là Kim cương trí ấn của Đại nhật Như lai, tượng trưng cho đức Nhân . .. trong Ngũ chuyển , cũng tức là thể của tâm Bồ đề. Vì thể của tâm Bồ đề lìa tất cả phiền não hí luận, trong sạch như hư không, nên gọi là Hư không vô cấu. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Chư thuyết bất đồng kí Q.4; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].

Hư không vô vi

xem Ba pháp vô vi.

hư không vô vi

(虛空無爲) Phạm:Àkàzàsaôskfta. I. Hư Không Vô Vi. Lí chân không thanh tịnh, vô ngại, bao trùm muôn pháp, là 1 trong 3 pháp vô vi do Thuyết nhất thiết hữu bộ tiểu thừa thành lập. Hư không là vô ngại, Vô vi là pháp thực tại, lìa nhân duyên tạo tác không bị 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt làm cho đổi dời. [X. luận Câu xá Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. II. Hư Không Vô Vi. Chỉ cho chân như xa lìa các chướng ngại, giống như hư không. Một trong 6 pháp vô vi do tông Duy thức thành lập Luận Thành duy thức lập 6 pháp vô vi, cho rằng Hư không vô vi do Hữu bộ thành lập chẳng phải là pháp có thật, rằng pháp tính mà đức Phật chứng được là một tướng trong 6 tướng vô vi. Thể của pháp tính xa lìa các chướng ngại, gọi là Hư không vô vi, chớ chẳng phải có cái hư không vô vi nào khác trùm khắp muôn vật. Bởi thế, theo lập thuyết của Hữu bộ, thì từ ngữ Hư không chỉ thẳng cho bầu hư không rộng lớn. Còn theo chủ trương của Duy thức thì hư không chỉ là ví dụ, vì vô vi của pháp tính giống như hư không bao la, nên gọi là Hư không vô vi. [X. luận Thành duy thức Q.2; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ Q.thượng].

hư thụ tín thí tội

(虛受信施罪) Gọi tắt: Hư thụ tội. Tội nhận lãnh của tín thí với tâm hư dối, hoặc tăng ni đã phạm tội phá giới mà còn nhận vật cúng dường của tín đồ. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q5; kinh Phạm võng Q.hạ; kinh Tì ni mẫu Q.2; Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự].

hư tâm hợp chưởng

(虛心合掌) Phạm: Saôpuỉa. Dịch âm: Tam bổ tra. Cũng gọi: Không tâm hợp chưởng, Không trung hợp chưởng, Hư hợp, Hư tâm hợp. Một kiểu chắp tay mà lòng 2 bàn tay tạo thành một khoảng trống. Đây là ấn thứ 2 trong 12 ấn khế hợp chưởng cơ bản của Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

hư vân

(虛雲) Thiền sư Trung quốc, người làng Tương, tỉnh Hồ nam, họ Tiêu, tên Cổ nham, tự Đức thanh. Cuộc đời sư tiếp nối pháp mạch của 5 dòng Thiền: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Pháp nhãn và Qui ngưỡng. Năm 19 tuổi sư theo ngài Thường khai lão nhân chùa Dũng tuyền, núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, xin xuất gia. Năm 20 tuổi sư y vào ngài Diệu liên thụ giới Cụ túc. Về sau, sư du phương tham học khắp các vùng Tứ xuyên, Tây khang, Tây tạng, Ấn độ, Tích lan, Miến điện, v.v... Năm 43 tuổi, sư phát tâm lên chiêm bái núi Ngũ đài để đền đáp ơn sâu của cha mẹ, bắt đầu từ am Pháp hoa ở núi Phổ đà, cứ 3 bước lạy 1 lạy, ròng rã trong ba năm, chịu đủ nỗi đói lạnh, ba lần bị bệnh nặng, tưởng như chờ chết, đều được bồ tát Văn thù cảm ứng cứu giúp. Cuối cùng, sư đến được chùa Hiển thông núi Ngũ đài. Năm 56 tuổi, sư ở chùa Cao mân tại tỉnh Giang tô, một hôm nhân bị nước sôi bắn vào tay làm cho tách trà rơi xuống đất, sư bỗng nhiên dứt gốc ngờ, triệt ngộ bản lai. Năm 61 tuổi, cuối đời Thanh, sư theo Lưỡng cung(chỉ cho vua và Thái hậu) đến phía tây mở pháp hội Chúc Thánh Hộ Quốc Tiêu Tai , rồi trở về ẩn tu ở núi Chung nam, đổi tên là Hư vân, hiệu Huyễn du. Sau, sư đến hoằng pháp ở đảo Penang, Mã lục giáp, Cát long pha (Kuala Lumpur), Đài loan, v.v... Năm 68 tuổi, lúc giảng kinh ở Thái lan, sư từng nhập định 9 ngày, gây xôn xao cả kinh đô Thái. Sư cũng từng thuyết phục quân Hiệp thống tỉnh Vân nam là Lí căn nguyên, chấm dứt việc đuổi tăng phá chùa, cũng như đã điều đình sự tranh chấp giữa Trung quốc và Tây tạng, trừ khử họa chiến tranh, khuyên dụ bọn trộm cướp trở về con đường lương thiện. Sư hoằng dương giáo pháp ở tỉnh Vân nam 18 năm. Năm 90 tuổi sư mới trở về trụ trì chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn. Năm 109 tuổi, sư hoằng pháp ở Hương cảng. Sau, vì hoài bão bi nguyện hộ giáo cứu tăng nên năm sau sư trở về đại lục. Năm 1951, sư được 112 tuổi. Mùa xuân năm ấy, cộng sản Tàu đến quấy phá chùa Vân môn, đệ tử của sư là Diệu vân bị cộng sản đánh đến chết, chính sư cũng bị đánh đến hôn mê. Không bao lâu phát bệnh, sư ngồi kết già, nhịn ăn trong 9 ngày, cộng sản thấy sư không chết lấy làm lạ, từ đó không dám quấy nhiễu nữa. Cuối đời sư đến ở núi Vân cư tại tỉnh Giang tây. Trọn đời sư đã vâng giữ các hạnh thanh tịnh, khổ, hiếu, nhẫn, định, xả, bi, dị, phương tiện, vô úy, bất phóng dật. Sư thường than thở tông phong suy tàn, đạo tràng đổ nát, luật giáo không còn được nghe, sư phát nguyện chấn hưng, trùng tu các tùng lâm trong nước, tổng cộng hơn 80 ngôi lớn nhỏ như: Chùa Hoa đình (Vân thê) tại tỉnh Vân nam, Chúc Thánh thiền tự ở núi Kê túc, tùng lâm Hoa nam ở Tào khê, chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, Vân môn thiền tự ở huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông, Chân như thiền tự ở núi Vân cư, tỉnh Giang tây, v.v... Mỗi nơi sau khi hoàn thành sư đều giao cho một vị làm trụ trì, sau đó lại đi nơi khác. Tuy là bậc cự phách trong Thiền tông nhưng sư cũng dạy người chân thật niệm Phật. Mùa thu năm 1959 sư thị tịch tại núi Vân cư, thọ 120 tuổi, pháp lạp 101. Lúc sinh thời sư từng soạn các bộ: Lăng nghiêm kinh huyền yếu, Pháp hoa kinh lược sớ, Di giáo kinh chú thích, Viên giác kinh huyền nghĩa, Tâm kinh giải, v.v... nhưng tất cả những tác phẩm trên đều đã bị cộng sản lấy đi hết trong vụ cướp phá chùa Vân môn năm 1951. Hiện nay chỉ còn Pháp ngữ, Khai thị, Vấn thư, Thi ca…... do người sau biên tập thành Hư Vân Hòa Thượng Pháp Vận . [X. Hư vân hòa thượng pháp vậng; Hư vân lão hòa thượng sự lược].

hư vô chủ nghĩa

(虛無主義) (Nihilism) Chủ nghĩa phủ định tất cả đạo đức, tập quán, chế độ, tôn giáo, hoặc chân lí, giá trị của bất cứ sự vật gì. Những người theo chủ nghĩa hư vô tuy có tích cực đề xướng cuộc vận động cách mạng xã hội, nhưng phần đông họ là những kẻ trốn tránh, tiêu cực không quan tâm. Cũng có những người rơi vào chủ nghĩa tìm cầu khoái lạc nhất thời. Có thể nói, đây là chủ nghĩa tối tăm, tuyệt vọng. Đức Phật Thích ca dùng nguyên lí phủ định Phạm ngã siêu hình làm tiền đề, nhìn thẳng vào hiện thực để thấu suốt hiện thực mà tìm con đường giải quyết, nên Ngài bị những người Bà la môn(chủ trương có Phạm ngã) xem đồng như Lục sư ngoại đạo và công kích là người theo chủ nghĩa hư vô. Đó là vì đức Phật thấu suốt hiện thực, nên Ngài biết rõ sự vật tồn tại đều là vô thường, khổ, vô ngã, nhất là nhấn mạnh con người nhờ có chết mà tồn tại, do đó mà Ngài bị hiểu lầm là người theo chủ nghĩa hư vô. Thực ra, qua tư tưởng, hành vi và giáo thuyết của đức Phật, thì Ngài không giống như những người theo chủ nghĩa hư vô, trốn tránh hiện thực, mà trái lại, Ngài nhìn thẳng vào hiện thực, thấu suốt hiện thực, siêu việt hiện thực để giải quyết vấn đề thống khổ của kiếp người. Vì thế, Phậtgiáo tuyệt nhiên chẳng phải là chủ nghĩa hư vô. Khi đức Phật sắp nhập diệt, Ngài căn dặn các đệ tử phải nương vào pháp và nương vào chính mình để đạt đến giải thoát. Từ đó, ta thấy thái độ của đức Phật đối với nhân sinh rất là khẩn thiết. Pháp mà muôn vật y cứ và chính mình , tức là chủ thể, đều là không . Nhưng cái không ở đây chẳng phải là không đối với có , mà là không siêu việt có và không , vì thế cái không này chẳng phải là cái không (vô) thông thường của chủ nghĩa hư vô. (xt. Không).

hư vô thân

(虛無身) Pháp thân đã chứng được diệu lí Niết bàn. Hư vô là tên khác của Niết bàn, vì Niết bàn xa lìa tất cả tướng sai biệt nên gọi là Hư vô. Thân Phật dung thông tự tại, lìa tất cả tướng, nên gọi là Hư vô thân. Người sinh về Tịnh độ cực lạc, khế nhập diệu lí Niết bàn, cũng được thân hư vô, thể vô cực. Cứ theo Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ của ngài Cát tạng, thì nhờ thần thông không chỗ nào mà chẳng đến, nên gọi là Thể vô cực; sắc như ánh sáng, nên gọi là Thân hư vô. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

hư vô tăng

(虛無僧) Cũng gọi Hư vọng tăng, Tiến tăng, Cô tăng, Phổ hóa tăng, Mãng lỗ phá khỏa, Mộ lộ, Phạm luận, Phạm luận tử. Từ ngữ gọi chung các vị tăng của phái Thiền Phổ hóa ở Nhật bản. Hư vô tăng không mặc áo pháp, đầu đội nón cói, miệng thổi ống sáo(Xích bát, một loại nhạc khí đời xưa, dài 1 thước 8 tấc Tàu), cổ khoác ca sa, vai mang một cái đãy, đi xin ăn khắp nơi. [X. Phổ hóa tông vấn đáp; Chư tông bình phán kí; Thất thập nhất phiên ca hợp Q.trung; Hư đạc truyền kí Q.thượng; Sa thạch tập Q.8]. (xt. Phổ Hóa Tông).

hư vọng

(虛妄) Gọi tắt: Vọng. Hư giả, chẳng phải chân thực. Nếu phân biệt thì hư vọng có 3 nghĩa: 1. Không có thật, không tồn tại (Phạm: A-santa-bhàva). Như vọng pháp, vọng cảnh, vọng hữu, v.v... 2. Chấp mê một cách phi lí (Phạm: Vitatha). Như vọng thức, vọng tâm, vọng niệm, vọng chấp, vọng tình, vọng phân biệt, v.v...3. Hư dối (Phạm:Mfwà). Như vọng ngữ, vọng ngôn, v.v... [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; luận Du già sư địa Q.36; luận Thành duy thức Q.9].

hư vọng luân

(虛妄輪) Bánh xe hư vọng quay chuyển không ngừng, ví dụ chúng sinh vì hoặc nghiệp hư vọng mà phải sinh tử luân hồi trong 6 đường không dứt. Kệ tán thán Phật A di đà (Đại 47, 424 thượng), nói: Từ vô thủy con nổi chìm trong ba cõi, Hư vọng luân quay mãi không ngừng .

hư vọng phân biệt

(虛妄分別) Phạm: Vitatha-vikalpa. Gọi tắt: Vọng phân biệt. Sự phân biệt hư dối sai lầm không đúng với chân tướng của sự vật. Muôn pháp do tâm tạo, ngoài tâm không có pháp, nhưng phàm phu ngu si khởi vọng tâm loạn thức, sinh ra đủ thứ phân biệt hoặc chấp thực ngã, thực pháp, cái chấp này là biến kế sở chấp, không khế hợp với chân tính, nên gọi là Hư vọng phân biệt. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 14, chia Hư vọng phân biệt làm 10 loại là: Căn bản phân biệt, Tướng phân biệt, Tướng hiển hiện phân biệt, Tướng biến dị phân biệt, Tướng hiển hiện biến dị phân biệt, Tha dẫn phân biệt, Bất như lí phân biệt, Như lí phân biệt, Chấp trước phân biệt và Tán loạn phân biệt. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.5; luận Du già sư địa Q.36; luận Thành duy thức Q.7, Q.8; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Nhiếp đại thừa Q.9 (bản dịch đời Lương); Biện trung biên luận thuật kí Q.thượng].

Hư Ðường Trí Ngu

虛堂智愚; C: xūtáng zhìyú; J: kidō chigu; 1185-1269;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vận Am Phổ Nham và là thầy của vị Thiền sư Nhật Bản danh tiếng là Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo shōmyō). Trong sự việc gìn giữ tông Lâm Tế Nhật Bản trước sự suy tàn, các vị Ðại thiền sư tại đây như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun), Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) – cả hai vị đều nằm trong hệ thống truyền thừa của Sư – thường nhắc đến phong cách, phương pháp hoằng hoá nghiêm chỉnh kỉ luật của Sư và tự xem mình là Pháp tự chính thống của Sư.

hư đường hoà thượng ngữ lục

(虛堂和尚語錄) Cũng gọi Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục, Hư đường thiền sư ngữ lục, Hư đường lục, Hư đường ngữ lục. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Hư đường Trí ngu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung ghi chép các pháp ngữ, kệ tụng, thi văn của thiền sư Hư đường Trí ngu, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế. Bảy quyển trước do các đệ tử ấn hành lúc ngài còn sống, 3 quyển sau thì do ngài Diệu nguyên biên tập và xuất bản năm Hàm thuần thứ 5 (1269) đời Tống.

Hư Đường Trí Ngu

(虛堂智愚, Kidō Chigu, 1185-1269): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hư Đường (虛堂) hay Tức Canh Tẩu (息耕叟), người Tứ Minh Tượng Sơn (四明象山). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Sư Uẩn (師蘊) ở Phổ Minh Tự (普明寺). Sau đó ông đi du phương tham học, gặp được Vận Am Phổ Nham (運庵普巖), có chỗ sở đắc và kế thừa dòng pháp của vị này. Tiếp theo ông còn đi tham vấn chư vị tôn túc khác, đến năm thứ 2 (1228) niên hiệu Thiệu Định (紹定), ông đến sống tại Hưng Thánh Tự (興聖寺). Về sau, ông được hai vua Lý Tông và Độ Tông nhà Tống quy y theo, vì vậy ông càng bố giáo mạnh mẽ hơn. Vào năm thứ 5 (1269) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳), ông thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi. Trước tác của ông có Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄) 10 quyển.

hư đường trí ngu

(虛堂智愚) (1185-1269) Vị Thiền tăng thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người huyện Tượng sơn, tỉnh Chiết giang, họ Trần, hiệu Hư đường, tức Canh tẩu. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Sư uẩn ở chùa Phổ minh xin xuất gia. Sau, sư tham học các ngài Tuyết đậu, Tịnh từ, nhưng không khế ngộ, sư bèn đến Kim sơn tham yết ngài Vận am Phổ nham và được nối pháp. Năm Thiệu định thứ 2 (1229), lần đầu tiên, sư trụ trì chùa Hưng thánh, sau lần lượt ở các chùa Báo ân, Hiển hiếu, Thụy nham, Diên phúc, Bảo lâm, Dục vương, Tịnh từ, Kính sơn...,… vua Lí tông, Độ tông nhà Tống đều qui y sư. Năm Hàm thuần thứ 5 (1269), sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Tác phẩm: Hư đường Hòa thượng ngữ lục, 10 quyển. [X. Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Phật tổ cương mục Q.40; Tục đăng tồn cảo Q.4].

Hư Đường Tập

(虛堂集, Kidōshū): 6 quyển, có lời bình xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân (林泉從倫), san hành vào năm đầu (1295) niên hiệu Nguyên Trinh (元貞) nhà Nguyên. Nguyên văn là Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập (林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, Rinsenrōjinhyōshōtankajunzenjijukokidōshū). Đây là tập thâu lục 100 tắc tụng cổ của Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) nhà Tống để làm kim chỉ nam cho hàng hậu học biện đạo. Từ các bài tụng cổ được thâu lục trong Đơn Hà Ngữ Lục (丹霞語錄), mỗi tắc có lời dạy chúng của Lâm Tuyền Lão Nhân, rồi được thêm vào trước ngữ cho cổ tắc do Đơn Hà nêu lên, kế đến thêm vào tụng cổ của Đơn Hà, cuối cùng có lời bình xướng của riêng tác giả. Bộ này bắt chước hình thức biên tập của Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄).

hư đường tập

(虛堂集) Cũng gọi Hư đường lục. Gọi đủ: Lâm tuyền lão nhân bình xướng Đơn hà Thuần thiền sư tụng cổ Hư đường tập. Tác phẩm, 6 quyển, do thiền sư Đơn hà Tử thuần soạn vào đời Tống, ngài Lâm tuyền Tòng luân bình xướng, ấn hành vào niên hiệu Trinh nguyên năm đầu (1295) đời vua Thành tông nhà Nguyên, được thu vào Vạn tục tạng tập 124. Nội dung gồm 100 cổ tắc công án như: Thanh nguyên giai cấp, Thạch đầu tào khê, Dược sơn tọa thứ, Thuyền tử giáp sơn, Thiên ninh dạ bán, Thiên ninh thướng đường, Bảo thọ thướng đường, Tam giới duy tâm, v.v...

hư độc

xem bốn thứ độc.

Hưng Chánh Tự

(興正寺, Kōshō-ji): ngôi chùa bản sơn của Phái Hưng Chánh Tự (興正寺派) thuộc Chơn Tông, hiệu là Viên Đốn Sơn Hoa Viên Viện Hưng Long Đường (圓頓山花園院興隆堂), lãnh địa Lộc Uyển Viện (鹿苑院); hiện tọa lạc tại Shimogyō-ku (下京區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府). Tượng thờ chính là A Di Đà Như Lai. Chùa tách khỏi sự quản lý của Bổn Nguyện Tự và chính thức trực thuộc Phái Hưng Chánh Tự là vào năm 1876 (Minh Trị [明治] 9). Theo một số tư liệu như Cao Điền Khai Sơn Thân Loan Thánh Nhân Chánh Thống Truyện Đệ Tứ (高田親鸞聖人正統傳第四), v.v., vào tháng 9 năm 1212 (Kiến Lịch [建曆] 2), thể theo lời thỉnh cầu của Nguyên Hải (源海), Thân Loan kiến lập ngôi làng ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina); rồi đến năm 1218 (Kiến Bảo [建保] 6), Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, tại vị 1210-1221) đã ban sắc hiệu cho chùa hiệu là Hưng Long Chánh Pháp Tự (興隆). Vào năm 1602 (Khánh Trường [慶長] 7), khi Bổn Nguyện Tự phân lập thành Đông Tây, chùa tùng thuộc vào Tây Bổn Nguyện Tự.

hưng cừ

(興渠) Phạm: Hiịgu. Cũng gọi Hưng cù, Hưng cựu, Hưng nghi, Hình ngu, Hình cụ. Một loại thực vật có mùi hôi như tỏi, sinh sản ở các vùng Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương, Tây tạng, Ấn độ, Iran, A phú hãn, v.v... là một trong ngũ tân(hành, hẹ, tỏi, củ kiệu, hưng cừ). Đây là loài thực vật thân thảo cao 2 mét, củ giống như củ cải nhỏ, mầu trắng, ăn được. Nếu cắt ngang thân cây thì ngay ở chỗ cắt tiết ra một chất lỏng, sau khi đông cứng lại có thể dùng làm thuốc, gọi là A ngùy, diệt được sâu bọ và trừ mùi hôi. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 19, thì có người cho rằng hưng cừ là rau vân đài(củ cải dầu) của Trung quốc, nhưng thực ra không đúng. [X. truyện Tuệ nhật trong Tống cao tăng truyện Q.29]. (xt. Ngũ Tân).

Hưng Dương Thanh Nhượng

興陽清讓; C: xīngyōng qīngràng; J: kōoyō seijō; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Quy Ngưỡng đời thứ năm, nối pháp Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Sử sách chẳng viết gì về Sư ngoài những giai thoại nhỏ rải rác đây đó.|Một vị tăng hỏi Sư: »Phật Ðại Thông Trí Thắng ngồi tu mười kiếp ở đạo trường, Phật pháp không hiển hiện, không đắc Phật đạo, thế nghĩa là sao?« Sư bảo: »Hỏi thật hay.« Vị tăng hỏi: »Ðã ngồi tu ở đạo trường, sao lại không thành được Phật đạo?« Sư đáp: »Vì ông ấy không thành Phật.«

hưng giáo tự

(興教寺) Chùa ở cách thành Trường an, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc về phía nam khoảng 30 km, được xây dựng vào đời Đường, là 1 trong 8 tự viện lớn ở Phiền xuyên vào thời đó. Cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Quyển 10, thì ngài Tam tạng Huyền trang thị tịch ở chùa Ngọc hoa vào ngày mùng 5 tháng 2 niên hiệu Lân đức năm đầu (664) đời Đường, được an táng tại phía đông Sản thủy vào ngày 14 tháng 4. Đến ngày mùng 8 tháng 4 năm Tổng chương thứ 2 (669), vua Cao tông ban sắc dời di cốt của Ngài về để ở đồng bằng phía bắc Phiền xuyên và chùa Hưng giáo cũng được sáng lập từ đó. Thời vua Trung tông, ngài Huyền trang được ban thụy hiệu là Đại Biến Giác , còn vua Túc tông thì ban hiệu chùa là Hưng giáo tự. Niên hiệu Trường khánh năm đầu (821) và năm Thái hòa thứ 2 (828), 2 ngài Đàm cảnh và Nghĩa lâm nối tiếp nhau trùng tu. Hiện nay, trong chùa có 3 ngôi tháp, ngôi cao nhất ở chính giữa là tháp thờ xá lợi của ngài Huyền trang, còn 2 ngôi tháp nhỏ ở 2 bên là tháp thờ 2 vị đệ tử của ngài Huyền trang là các vị Khuy cơ và Viên trắc. Ngoài ra, còn có Đại hùng bảo điện, lầu để kinh, v.v... Khoảng năm Đồng trị (1862-1874) đời Thanh, chùa này từng bị hỏa hoạn, cho nên ngoại trừ 3 ngôi tháp, còn các kiến trúc khác đều mới được làm lại vào thời cận đại. Tháng 10 năm 1948, giới Phật giáo Trung quốc và Nhật bản đã tổ chức lễ kỉ niệm lần thứ 1320 ngày đại sư Huyền trang thị tịch tại chùa này. [X. Đại đường Tam tạng Đại biến giác pháp sư tháp minh tinh tự; Tống cao tăng truyện Q.4; Đường hội yếu; Trường an chí; Trường an cổ sát đề yếu. Đại thanh nhất thống chí Q.180; Chi na văn hóa sử tích giải thuyết 9 (Thường bàn Đại định, Quan dã trinh)].

hưng hoàn

(興莞) (1634-?) Vị Thiền tăng thuộc tông Tào động sống vào cuối đời Minh, người Hoài quận, họ Viên. Người đời gọi là Cổ nham Hưng hoàn thiền sư. Lúc mới sinh, thân mẫu sư phải đốt nhang khấn lạy, nguyện ăn chay, sư mới chịu bú. Năm lên 9 tuổi, sư theo thân phụ đến lễ ngài Tung nhũ Đạo mật xin xuất gia. Được 3 năm, sư nghe ngài Đạo mật dạy người tham thiền, sư cũng theo đó tham cứu ngày đêm không nghỉ. Năm Thuận trị 13 (1656), sư đến chùa Báo ân tham vấn hòa thượng Thụy ông y, có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó, sư đến tham yết ngài Thiên đồng Đạo mân, rồi trở về lễ hòa thượng Đàn độ y và được nối pháp. Ban đầu, sư hoằng pháp ở chùa Văn thù, sau dời đến chùa Hồ tâm để mở rộng việc giáo hóa. Tác phẩm: Tục cận đại tôn túc lục. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)].

Hưng Hoá Tồn Tưởng

興化存獎; C: xīnghuà cúnjiǎng; J: koke zon-shō; 830-888;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Người thừa kế Sư là Thiền sư Nam Viện Huệ Ngung.|Sư học nơi Lâm Tế làm thị giả nhưng ngộ yếu chỉ nơi Thiền sư Ðại Giác, một môn đệ đắc pháp khác của sư Lâm Tế. Ở hội của Tam Thánh Huệ Nhiên, Sư làm Thủ toạ, thường nói: »Ta nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp.« Tam Thánh nghe được nói: »Ngươi đủ con mắt gì mà nói thế ấy?« Sư liền hét. Tam Thánh nói: »Phải là ngươi mới được.« Ðại Giác nghe chuyện này mong có ngày gặp thử tài.|Sau Sư đến Ðại Giác làm Viện chủ. Một hôm Ðại Giác hỏi: »Viện chủ! Ta nghe ông nói ›Nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp‹, ông y cứ vào đạo gì mà nói như thế?« Sư liền hét, Ðại Giác liền đánh, Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Hôm sau, Sư đi ngang qua pháp đường, Ðại Giác gọi: »Viện chủ, ta vẫn còn nghi hai tiếng hét của ông hôm qua.« Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư bèn nói: »Tôi ở chỗ sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, nay bị sư huynh bẻ gẫy rồi, xin cho tôi pháp môn an lạc.« Ðại Giác bảo: »Cái gã mù, đến trong ấy đã chịu thua, cổi áo nạp ra đánh đòn một trận.« Ngay đây, Sư ngộ pháp của Lâm Tế.|Sư dạy chúng: »Ta chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở giá sau hét. Các ông chớ hét mù, hét loạn, dù cho hét được Hưng Hoá bay trụ đến giữa trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi Hưng Hoá tỉnh dậy sẽ bảo ông ›chưa hiện tại‹. Vì cớ sao? Ta chưa từng nhằm màn lụa đỏ để chân châu, với những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì?«|Sư cỡi ngựa, bị ngựa quăng té gẫy chân. Sư gọi: »Viện chủ! chuốt cho ta một cái chân cây« Viện chủ chuốt xong đem đến, Sư cặp vào khấp khểnh đi quanh viện, hỏi tăng chúng: »Các ngươi biết Lão tăng chăng?« Chúng đáp: »Làm sao mà không biết Hoà thượng.« Sư bảo: »Pháp sư què nói được đi chẳng được.« Sư đến pháp đường sai Tri sự đánh chuông gọi chúng. Chúng tụ họp, Sư bảo: »Lại biết Lão tăng chăng?« Chúng không đáp. Sư ném chân cây, ngồi thẳng thị tịch, thọ 59 tuổi.

hưng hoá tồn tưởng thiền sư ngữ lục

(興化存獎禪師語錄) Cũng gọi Hưng hóa ngữ lục, Quảng tế đại sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng soạn vào cuối đời Đường, ấn hành vào đầu năm Vĩnh lạc (1403?) đời Minh, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 5 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này gồm có: Cơ duyên vấn đáp giữa ngài Tồn tưởng và ngài Nghĩa huyền, lời đối đáp giữa ngài và vua Trang tông đời Hậu Đường, Pháp ngữ khai đường thị chúng ở chùa Hưng hóa. Ngoài ra, ở cuối quyển có chép thêm bài kí nói về tháp của thiền sư Lâm tế Tuệ chiếu do ngài hiệu đính.

hưng hoá đả trung

(興化打中) Tên công án trong Thiền tông. Cơ duyên đối thoại giữa thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng đời Đường với một vị tăng. Chương Hưng hóa trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 11 (Vạn tục 138, 196 hạ) ghi: Có vị tăng hỏi: Khi 4 phương 8 hướng đến thì thế nào? Sư đáp: Đánh ở khoảng giữa. Vị tăng liền lễ bái. Sư nói: Hôm qua vào trong thôn thụ trai, giữa đường gặp mưa to gió lớn, liền trú trong một ngôi cổ miếu . [X. Lục tổ đàn kinh; tắc 6 trong Bích nham lục].

Hưng Hóa Tồn Tương

(興化存奬, Kōke Zonshō, 830-888): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Khuyết Lí (闕里), họ là Khổng (孔). Ông kế thừa dòng pháp của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), và đã từng đến tham vấn Tam Thánh Huệ Nhiên (三聖慧然). Sau ông đến sống tại Hưng Hóa Tự (興化寺) ở Ngụy Phủ (魏府) và tuyên xướng tông phong của mình. Ông nổi tiếng là người hiệu đính bản Lâm Tế Lục (臨濟錄). Môn hạ của ông có Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒). Ông được ban cho thụy hiệu là Quảng Tế Đại Sư (廣濟大師). Vào năm đầu niên hiệu Văn Đức (文德), ông thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi đời.

hưng khởi hành kinh

(興起行經) Cũng gọi Thập duyên kinh, Nghiêm giới túc duyên kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Khang mạnh tường dịch vào đời Hậu Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 4. Nội dung kinh này nói về nhân duyên mà đức Phật phải chịu 10 tai nạn trong một đời, gồm có 10 kinh như: Kinh Tôn đà lợi túc duyên, kinh Đầu thống túc duyên, kinh Mộc thương thích cước nhân duyên, kinh Khổ hạnh túc duyên, v.v... [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1].

Hưng Nhã

(興雅, Kōga, ?-1387): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nam Bắc Triều, húy là Hưng Nhã (興雅), hiệu Thiếu Tướng Tăng Chánh (少將僧正), Tể Tướng A Xà Lê (宰相阿闍黎); con của Đằng Nguyên Thật Bác (藤原實博). Ông thọ pháp Quán Đảnh với Long Nhã (隆雅) ở An Tường Tự (安祥寺, Anjō-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); đến năm 1351 thì làm Quyền Luật Sư (權律師), năm 1357 là Quyền Thiếu Tăng Đô (權少僧都). Vào năm 1361, ông được thăng chức lên Đại Tăng Đô (大僧都) và trở thành trú trì đời thứ 24 của An Tường Tự. Năm 1370, ông được tiến cử chức Quyền Tăng Chánh (權僧正), rồi năm sau ông dâng lời tấu thỉnh xin truy tặng chức Đại Tăng Chánh (大僧正) cho Long Nhã và được hứa khả. Vào năm 1377, ông trao truyền dòng pháp cho Hựu Khoái (宥快) của Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn; từ đó trở về sau, Dòng An Tường Tự (安祥寺) được lưu bố rộng rãi trên Thánh địa này.

Hưng Phước Tự

(興福寺, Kōfuku-ji): ngôi đại bản sơn của Pháp Tướng Tông, tọa lạc tại Noboriōji-chō (登大路町), Nara-shi (奈良市), Nara-ken (奈良縣). Nguồn gốc của chùa là ngôi Sơn Giai Tự (山階寺, Yamashina-dera) do Đằng Nguyên Liêm Túc (藤原鎌足, Fujiwara-no-Kamatari) xây cho vợ mình là Kính Vương Nữ (鏡王女, Kagami-no-Ōkimi) vào năm thứ 8 (669) đời Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇, Tenji Tennō); sau đó chùa được dời về vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka) và lấy tên là Cứu Phản Tự (厩坂寺, Umayasaka-dera). Sau khi kinh đô được dời về vùng Bình Thành (平城, Heizei), chùa được chuyển về vị trí hiện tại, trở thành ngôi chùa của dòng họ Đằng Nguyên và lấy tên là Hưng Phước Tự. Các kiến trúc như Trung Kim Đường (中金堂), Bắc Viên Đường (北圓堂), Đông Kim Đường (東金堂), Ngũ Trùng Tháp (五重塔), Tây Kim Tháp (西金塔), Nam Viên Đường (南圓堂), v.v., lần lần được xây dựng. Rất nhiều tác phẩm thuộc dạng điêu khắc thời Thiên Bình (天平) vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay như tượng Thập Đại Đệ Tử, Bát Bộ Chúng, do Quang Minh Hoàng Hậu (光明皇后, Kōmyō Kōgō) phát nguyện cúng dường để cầu nguyện cho mẹ Quất Tam Thiên Đại (橘三千大) được siêu độ, được an trí tại Tây Kim Đường (西金堂). Đến thời đại Bình An, cùng với sự vinh quang của dòng họ Đằng Nguyên, chùa cũng trở nên hưng thịnh và được xếp vào một trong 7 ngôi chùa nổi tiếng vùng Nam Đô với nhiều trang viên tuyệt mỹ. Chùa đã kết hợp tư tưởng Thần Phật Tập Hợp để trở thành nhất thể với đền thờ Xuân Nhật Thần Xã (春日神社, Kasuga-jinja). Dưới thời đại Viện Chính (院政, Insei), thỉnh thoảng có xảy ra vài trận hỏa hoạn; đặc biệt trận phóng hỏa của Bình Trọng Hành (平重衡, Taira-no-Shigehira) vào năm thứ 4 (1180) niên hiệu Trị Thừa (治承) đã là cho ngôi già lam bị cháy rụi và phải mất 30 năm sau mới có thể tái thiết được. Trong lần này, các tượng Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音), Tứ Thiên Vương (四天王), v.v., do nhóm môn hạ của Khang Khánh (康慶, Kōkei), và tượng Di Lặc Phật (彌勒佛), Vô Trước (無著), Thế Thân (世親), v.v., do nhóm môn hạ của Vận Khánh (運慶, Unkei) làm nên. Đến thời đại Liêm Thương, chùa được ủy nhiệm chức Thủ Hộ tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato) nên đã xác lập được quyền thống trị cả một tiểu quốc. Từ cuối thời Liêm Thương trở đi, chùa tự lập hóa với lực lượng tăng binh. Sau vụ Loạn Ứng Nhân (應仁の亂, Ōnin-no-ran), uy thế của chùa dần dần suy yếu; nhưng đến thời Giang Hộ lại được ban cho đất đại khá nhiều. Đến thời Minh Trị Duy Tân, chùa công kích bởi làn song Phế Phật Hủy Thích; tuy nhiên sau đó thì từ từ hồi phục lại. Trong số các thư tịch ghi lại nguồn gốc của chùa, bản Hưng Phước Tự Duyên Khởi (興福寺緣起) là tối cổ, do Đằng Nguyên Lương Thế (藤原良世) viết vào năm thứ 3 (900) niên hiệu Xương Thái (昌泰), có ghi lại sự việc kiến lập các ngôi đường tháp, tạo dựng tượng Phật, xuất xứ những pháp hội, v.v.

Hưng Phước Tự Tấu Trạng

(興福寺奏狀, Kōfukujisōjō): bản tấu trạng do chúng môn đồ của phía Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) dâng lên triều đình thỉnh cầu cấm chế giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật (專修念佛). Người viết bản thảo là Giải Thoát Phòng Trinh Khánh (貞慶, Jōkei). Bản trạng văn ghi tháng 10 năm 1205 (Nguyên Cửu [元久] nhị niên), nêu lên 9 điều sai trái và phê phán giáo đoàn Chuyên Tu Niệm Phật của Pháp Nhiên (法然, Hōnen). Tám tông phái lớn đương thời như Pháp Tướng, Thiên Thai, v.v., tất nhiên đã được sắc hứa của triều đình nên công nhiên hoạt động, riêng Pháp Nhiên thì lập ra một tông phái mới mà vẫn chưa có sự hứa khả (sai lầm thứ nhất), vẽ bức Nhiếp Thủ Bất Xả Mạn Trà La (攝取不捨曼荼羅) với tư tưởng cho rằng ánh quang minh của đức Di Đà không chiếu soi đến các học sinh của Hiển Tông cũng như hành giả của Chơn Ngôn; thể hiện sự khinh miệt trắng trợn đối với những nhà tu hành của Thánh Đạo Môn (sai lầm thứ hai). Phái này chỉ biết trọng thị Phật Di Đà, xem thường đấng giáo chủ Thích Ca (sai lầm thứ ba); bỏ đi các việc làm thiện như đọc tụng kinh điển, kiến lập chùa tháp, v.v. (sai lầm thư tư); rồi không lễ lạy các đền thờ, tông miếu (sai lầm xem thường Ngũ Linh Thần [五靈神] thư năm); phủ nhận đạo đức của thế gian và thiện căn ngoài việc niệm Phật, do đó không công nhận các hạnh vãng sanh (sai lầm thứ sáu). Họ chỉ biết lấy pháp môn miệng niệm hồng danh mà bỏ qua việc niệm Phật theo hình thứ quán niệm cũng như tâm niệm (sai lầm về quan niệm niệm Phật thứ bảy); thậm chí còn khuyến khích phá giới như phạm nữ sắc, ăn thịt, v.v. (sai lầm làm tổn hại chúng đệ tử Thích Tôn thứ tám); làm phá tan nguyên tắc Vương Pháp Phật Pháp và dấy sinh loạn lạc (sai lầm làm cho quốc gia loạn lạc thứ chín). Bản tấu trạng này đã nêu lên 9 điều sai lầm nghiêm trọng (bằng Hán văn) của giáo đoàn niệm Phật, thỉnh cầu đình chỉ pháp môn Chuyên Tu Niệm Phật, và xử phạt Pháp Nhiên cũng như chúng đệ tử ông. Khoảng 1, 2 năm sau đó, Pháp Nhiên cùng môn đệ bị lưu đày.

Hưng thiền hộ quốc luận

興禪護國論; J: kozen gokoku-ron;|Một tác phẩm của vị Thiền sư Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (s: myōan eisai), người đầu tiên truyền Thiền học – có kết quả lâu dài – sang Nhật. Sư viết luận này để đáp lại sự phản bác, chống đối Thiền tông của những tông phái khác tại đây và trình bày trong luận này rằng, sự phát triển của Thiền tông tại đây chỉ làm cho nước Nhật ngày càng hưng thịnh. Hưng thiền hộ quốc luận là quyển sách nói về Thiền đầu tiên được viết tại Nhật.

hưng thiền hộ quốc luận

(興禪護國論) Tác phẩm, 3 quyển, do thiền sư Vinh tây (1141-1215) người Nhật soạn. Thiền sư Vinh tây là người đầu tiên truyền Thiền phái Hoàng long thuộc tông Lâm tế từ Trung quốc đến Nhật bản. Tuy bị các tông ở vùng Bắc lãnh Nam đô bách hại, nhưng ngài quyết không khuất phục, trái lại, dùng chỉ thú Trấn hộ quốc gia, hưng thiền hộ quốc để soạn luận, hầu xiển dương Thiền tông tại Nhật bản. Nội dung bộ luận này chia làm 10 môn: 1. Linh pháp cửu trụ môn. 2. Trấn hộ quốc gia môn. 3. Thế nhân quyết nghi môn. 4. Cổ đức thánh chứng môn 5. Tông phái huyết mạch môn. 6. Điển cứ tăng tín môn. 7. Đại cương khuyến tham môn. 8. Kiến lập chi mục môn. 9. Đại quốc thuyết thoại môn. 10. Hồi hướng phát nguyện môn. [X. Phú tang thiền lâm thư mục].

Hưng Thiện Duy Khoan

(興善惟寛, Kōzen Ikan, 755-817): xuất thân vùng Tín An (信安), Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang), họ Chúc (祝). Năm 13 tuổi, ông xuất gia rồi thọ giới Cụ Túc với Tăng Sùng (僧崇). Bên cạnh đó, ông theo học Luật và tu Chỉ Quán với Tăng Như (僧如), nhưng cuối cùng lại ngộ đạo với Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一). Vào năm thứ 6 (790) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến hành hóa vùng Mân Việt (閩越, Tỉnh Phúc Kiến), sau đó mở Đằng Nguyên Đạo Tràng (藤原道塲) ở Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang) và Hồi Hướng Đạo Tràng (回向道塲) ở Bà Dương (鄱陽, Tỉnh Giang Tây). Ông đã từng sống qua các chùa như Thiếu Lâm Tự (少林寺), Vệ Quốc Tự (衛國寺), Thiên Cung Tự (天宮寺), rồi đến năm thứ 4 (809) niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông nhận sắc chỉ trú trì Đại An Quốc Tự (大安國寺) ở Trường An (長安) và năm sau vào cung nội. Ông cũng từng lưu trú tại Hưng Thiện Tự (興善寺) ở Trường An. Môn đệ của ông có hơn ngàn người, trong đó có thi hào nổi danh Bạch Cư Dị (白居易) và đệ tử đắc pháp có 39 vị. Vào tháng chạp năm thứ 12 (817) niên hiệu Nguyên Hòa, ông thị tịch, hưởng thọ 63 tuổi đời và 39 hạ lạp, được ban cho thụy hiệu là Đại Triệt Thiền Sư (大徹禪師). Bạch Cư Dị soạn văn bia cho ông.

Hưng Thánh Tự

(興聖寺, Kōshō-ji): xem Quan Âm Đạo Lợi Viện Hưng Thánh Bảo Lâm Tự (觀音導利院興聖寶林寺) bên dưới.

hưng thế

(興世) Sự ra đời của đức Phật. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 1 (Đại 40, 165 thượng), nói: Nay theo sự hiểu biết của người ở thế giới Sa bà, thì Phật sinh ra trong cung vua, nhàm chán thế gian, xuất gia tu hành, hàng ma thành đạo, nên gọi là Hưng thế .

hưng trù

(興5儔) (1639-1695) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào cuối đời Minh, người huyện Phố dương, tự Tâm việt, hiệu Đông cao, Tổ của phái Thọ xương, tông Tào động, Nhật bản. Sư xuất gia năm 10 tuổi, sau đến tham yết ngài Thúy vi Khoát đường, ở 2 năm. Một hôm, ngài Khoát đường hỏi về thoại đầu Con chó có Phật tính không , sư toan mở miệng thì ngài Khoát đường hét một tiếng, cứ như thế đến 7, 8 lần. Ngày hôm sau, sư vào thất, ngài Khoát đường hét đuổi ra, bỗng nhiên sư dứt hết mối ngờ vực từ trước đến nay, ngài Khoát đường liền phó kệ ấn chứng, bấy giờ sư được 33 tuổi. Khi nhà Minh mất, nhà Thanh lên ngôi, sư ẩn cư ở chùa Vĩnh phúc tại Tây hồ. Năm Khang hi 15 (1676), nhận lời thỉnh của ngài Trừng nhất (vị tăng Trung quốc đời Minh) đang trụ trì chùa Hưng phúc tại Trường kì, Nhật bản, sư sang Nhật hoằng pháp. Năm 1683, sư đến ở chùa Đại đức, sau đổi tên là chùa Kì viên. Sư bản tính thông minh, ngoài nội điển sư còn tinh thông các sách nho học, giỏi về âm nhạc, thư pháp, hội họa và khắc chữ triện. Sư tịch vào năm 1695, thọ 57 tuổi. Tác phẩm: Đông cao tập.

Hưng tác

(興作): có hai nghĩa chính. (1) Hưng khởi chế tác, khởi sự tiến hành. Như trong Thuyết Uyển (說苑), phần Chí Công (至公) của Lưu Hướng (劉向, khoảng 77-6 ttl.) nhà Hán có câu: “Hưng tác Li Sơn cung thất, chí Ung tương kế bất tuyệt (興作驪山宮室、至雍相繼不絕, khởi công làm cung thất ở Li Sơn, cho đến đất Ung [Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay] vẫn tiếp tục không dứt).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Kính Tông Kỷ (敬宗紀), lại có câu: “Đế tánh hảo thổ mộc, tự xuân chí đông hưng tác tương kế (帝性好土木、自春至冬興作相繼, nhà vua tính thích thổ mộc, từ mùa xuân đến mùa đông luôn khởi công làm liên tục).” (2) Bắt tay tiến hành. Như trong bài Lôi Phú (雷賦) của Trương Trọng Phủ (張仲甫, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Ngũ Tinh bất nghịch, Lục Khí hợp độ, phát dương hòa, khải chập hộ, nông sự hưng tác (五星不逆、六氣合度、發陽和、啟蟄戶、農事興作, Năm Sao chẳng nghịch, Sáu Khí hợp nhau, phát khí ấm, tan mùa đông, việc nông tiến hành).”

hưng từ

(興慈) Danh tăng Trung quốc sống vào cuối đời Thanh, đầu thời Dân quốc, người huyện Thiên thai, tỉnh Chiết giang, tự Quán nguyệt, hiệu là Thiên thai Quán nguyệt. Sư tu học theo giáo pháp Thiên thai, nhưng lại hoằng dương Tịnh độ giáo, duyên pháp của sư phổ cập khắp vùng Thượng hải, huyện Hàng. Sư xây chùa Pháp tạng ở Thượng hải, chuyên hoằng dương giáo quán, hàng ngày giảng kinh niệm Phật, trong mấy mươi năm không hề thay đổi. Sư nghiêm trì giới luật, dốc lòng niệm Phật, sống đời đạm bạc, Thiền Tịnh song tu, thực là bậc tôn túc vào bậc nhất ở Thượng hải. Sư có tác phẩm: Nhị khóa hợp giải, Kim cương kinh dị tri sớ.

Hưng Viên

(興圓, Kōen, 1263-1317): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Liêm Thương, húy là Hưng Viên (興圓), hiệu Nghiêu Quang Phòng (堯光房), Truyền Tín Hòa Thượng (傳信和尚), xuất thân vùng Việt Hậu (越後, Echigo), họ Bình (平). Năm 1278, ông xuất gia, sau đó theo học các pháp môn của Hiển, Mật và Giới với Huệ Khải (惠顗) ở Kim Quang Viện (金光院), vùng Đông Sơn (東山, Higashiyama), Sơn Thành (山城, Yamashiro). Đến năm 1305, ông có chí muốn tái hưng Viên Đốn Giới của Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) và năm 1316 thì ẩn tu trong núi trong vòng 12 năm. Trong khoảng thời gian này, vào năm 1310, nhóm đệ tử của ông gồm Quang Tông (光宗), Viên Quán (圓觀), v.v., bắt đầu tiến hành An Cư Kiết Hạ ở Thần Tạng Tự (神藏寺) trong khuôn viên Tỷ Duệ Sơn. Ông phục hưng Viên Đốn Giới để làm luật nghi cho tăng chúng ở Nhất Hướng Đại Thừa Tự (一向大乘寺), và hình thành hệ thống pháp môn Giới Quán Đảnh từ thời Huệ Tầm (惠尋) trở đi. Mặt khác, ông còn tận lực tái tạo các ngôi nhà trên Tỷ Duệ Sơn. Trước tác của ông có Nhất Hướng Đại Thừa Tự Hưng Long Thiên Mục Tập (一向大乘寺興隆篇目集) 3 quyển, Viên Đốn Bồ Tát Giới Thập Trọng Tứ Thập Bát Hành Nghi Sao (圓頓菩薩戒十重四十八行儀鈔) 1 quyển, Giới Quán Đảnh Thập Lục Thiếp Khẩu Quyết (戒灌頂十六帖口決) 16 quyển, v.v.

hưu lưu tiên hoá thạch

(鵂鶹仙化石) Tiên Hưu lưu hóa đá. Tiên Hưu lưu tức là ông Ưu lâu khư, Tổ của học phái Thắng luận ở Ấn độ. Cứ theo Chỉ quán tư kí quyển 10, thì vị tiên này ra đời vào cuối kiếp Thành, uống thuốc trường sinh, hóa thành đá, như hình con bò nằm. Khoảng 800 năm trước khi đức Phật ra đời thì khối đá ấy tan thành tro, môn đồ đều cho rằng vị tiên ấy đã vào Niết bàn. (xt. Ưu Lâu Khư).

hưu lương

(休糧) Chỉ cho tiền bạc và vật dụng của vị tăng hành cước trên đường được mọi người tặng cho. Chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 312 thượng), nói: Ông nên trở về quê, nếu ông trở về, tôi sẽ chỉ cho ông phương pháp hưu lương .

Hưu trinh

(休禎): dấu hiệu tốt lành, điềm lành. Như trong Truyện Trần Phiên (陳番傳) của Hậu Hán Thư (後漢書) có đoạn: “Như thị thiên hòa ư thượng, địa hiệp ư hạ, hưu trinh phù đoan, khởi viễn hồ tai (如是天和於上、地洽於下、休禎符瑞、豈遠乎哉, như vậy trời hòa ở trên, đất hợp bên dưới, điềm lành tốt đẹp, liệu xa gì chăng ?).” Hay trong bài thơ Tống Lý Sách Kiêm Giản Hành Châu Lữ Bát Lang Trung (送李策兼簡衡州呂八郎中) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Thánh công điện viễn phục, thần vật ủng hưu trinh (聖功奠遠服、神物擁休禎, công của bậc thánh định yên bờ cõi xa, vật của thần ủng hộ điềm lành).”

Hưu Tĩnh

休靜; C: xiūjìng; J: kyūjō; K: hyujǒng (1520-1604);|Thiền sư sống vào triều đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), được xem là một trong 5 nhân vật quan trọng của lịch sử Phật giáo Hàn Quốc. Thường được người Hàn Quốc gọi một cách cung kính là Tây Sơn Đại sư (西山大師). Sư là một bậc thầy và một nhà trứ tác uy tín, tương truyền đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, trong đó một số đã thành những vị Thiền sư rất xứng đáng. Sư đóng vai trò chính trong việc củng cố phương thức nghiên cứu và thực hành Thiền Hàn Quốc để duy trì pháp môn nầy cho đến thời hiện đại. Điều làm cho Hưu Tĩnh được kính trọng nhất trong lịch sử Hàn Quốc nói chung là vai trò của sư trong việc sáng lập cũng như lĩnh đạo đội quân tăng lữ, đã đóng vai trò quyết định trong việc đẩy lui cuộc xâm lăng của quân đội Nhật Bản do tướng Tú Cát Phong Thần (秀吉豊臣; j: hideyoshi toyotomi) chỉ huy.|Thêm vào năng lực phi thường như một tướng lĩnh quân đội, Hưu Tĩnh còn là một Thiền sư kiệt xuất và là tác giả của rất nhiều bản kinh văn quan trọng, nổi bật nhất là cuốn Thiền gia quy giám (禪家龜鑑; k: sǒnga kwigam), một tác phẩm hướng dẫn thực hành Thiền quán, đã được chư tăng Hàn Quốc nghiên cứu cho đến ngày nay.|Cũng như hầu hết chư Tăng trong thời đại Triều Tiên, ban đầu sư cũng được học tập triết học Tân Nho giáo. Không thoả mãn với tinh thần nầy, sư lặn lội qua nhiều tòng lâm trên những rặng núi để tham học, và cuối cùng gia nhập tăng-già. Sau khi được thừa nhận là một bậc Đạo sư, sư được Hoàng hậu Munjǒng sắc phong Tăng thống Thiền tông. Không lâu sau, sư từ bỏ trọng trách nầy, trở về lại với đời sống du phương. Sách tấn các môn đệ mình tu tập và dạy cho chư tăng khắp các tự viện trong nước. Sư tịch lúc 85 tuổi, độ cho gần 1000 đệ tử và trong số đó có 70 tăng ni. Nhiều vị đã giữ vai trò nổi bật trong sự truyền thừa Phật giáo Triều Tiên (朝鮮).|Hưu Tĩnh cũng được nổi tiếng trong nỗ lực kế tục chương trình hợp nhất việc nghiên cứu và tu tập đạo Phật. Sư được xem là nhân vật trung tâm của sự phục hưng Phật giáo Triều Tiên. Dòng Thiền Cao li hiện đại đã được kế thừa từ sư thông qua 1 trong 4 vị đệ tử lớn: Duy Chính (惟政; k: yujǒng) và Nhan Cơ (彦機; ǒngi), Thái Năng (太能; k: t'aenǔng) và Nhất Thiền (一禪; k: ilsǒn), tất cả 4 vị nầy đều là những người phụ tá cho Hưu Tĩnh trong cuộc chiến tranh chống Nhật Bản.

hưu tĩnh

(休靜) I. Hưu Tĩnh(?-?). Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Động sơn Lương giới. Sư trụ trì chùa Hoa nghiêm tại Kinh triệu, xiển dương tông Tào động. Sau khi sư thị tịch, được vua Trang tông nhà Hậu Đường ban thụy hiệu là Bảo Trí Đại Sư . [X. Tổ đường tập Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.17]. II. Hưu Tĩnh (1520-1604). Danh tăng Hàn quốc, sống vào đời Lí, người An châu, tỉnh Bình an nam, họ Thôi, tự Huyền ứng, hiệu Thanh hư đường, người đời gọi là Tây sơn đại sư. Năm sư lên 9 tuổi, mẹ mất; năm sau, cha qua đời, sư bèn theo quan Quận thú là Lí tư tằng lên kinh đô học tập. Sau sư học kinh luận nơi ngài Sùng nhân, kế đến theo hầu ngài Linh quán 3 năm. Một đêm, bỗng thoát li sự chướng ngại của văn tự, sư liền xuất gia thụ giới Cụ túc, rồi lần lượt tham phỏng các chùa nổi tiếng. Năm 30 tuổi, sư đậu kì thi Tăng khoa phục cựu lần thứ nhất do vua Minh tông chủ trì, rồi được tiến cử làm đến chức Thiền Giáo Lưỡng Tông Phán Sự . Năm Minh tông 12 (1557), sư trả ấn tín, rồi lần lượt vào các núi: Kim cương, Đầu lưu, Trí dị và Diệu hương khai đường thuyết pháp, người đến theo học rất đông. Năm Tuyên tổ 26 (1592), khi quân Nhật bản tiến đánh Triều tiên, vua Tuyên tổ phải chạy đến Long loan, Nghĩa châu, sư tụ họp đệ tử khởi nghĩa, lập nhiều chiến công. Sau khi Tuyên tổ trở về kinh đô, sư tâu xin lui về ẩn tu, vua ban hiệu cho sư là Quốc Nhất Đô Đại Thiền Sư Thiền Giáo Đô Tổng Nhiếp Phù Tông Thụ Giáo Phổ Tế Đăng Giai Tôn Giả . Năm Tuyên tổ 38 (1604) sư thị tịch, thọ 85 tuổi. Trong số các đệ tử của sư, có 4 vị nổi tiếng hơn cả được gọi là Tứ đại đệ tử, đó là: Tùng vân Duy chính, Tiên dương Ngạn cơ, Tiêu diêu Thái năng và Tĩnh quán Nhất thiền. Về sau, 4 vị này lập thành 4 chi phái. Sư có các tác phẩm: Thiền giáo thích, Thiền giáo quyết, Vân thủy đàn, Tam gia qui giám (mỗi loại 1 quyển), Thanh hư đường tập (4 quyển). [X. Lí triều Tuyên tổ thực lục; Triều tiên Phật giáo thông sử; Lí triều Phật giáo; Triều tiên thiền giáo sử].

Hưu yết

休歇; C: xiūxiē; J: kyūgatsu;|Dừng nghỉ, chấm dứt, hoàn thành. Vượt qua.

hưu đồ

(休屠) Cũng gọi Phù đồ. Chỉ cho đức Phật hoặc chúng tăng. Truyện Hoắc khứ bệnh trong Hán thư chép: Bắt Hưu đồ tế người Thiên kim . Hưu đồ ở đây chỉ cho chúng tăng. Ngụy lược Tây di truyện chép: Niên hiệu Nguyên thọ năm đầu đời vua Ai đế, Tiến sĩ Cảnh hiến được sứ giả của vua nước Đại nguyệt thị là Y tồn khẩu truyền Hưu đồ kinh . Hưu đồ ở đây chỉ cho đức Phật; còn Hưu đồ kinh tức là kinh Phật. Ngoài ra, theo thuyết của ông Nguyễn nguyên, thì Phật giáo được truyền vào Trung quốc từ thời Tây Hán, lúc đầu gọi là Hưu đồ, sau gọi là Phù đồ, Phật đồ, Phật đà, đều là từ một chữ Phạm mà dịch âm khác nhau. [X. Ngụy thư Thích Lão chí 20]. (xt. Phật, Phù Đồ).

hương

(香) Phạm,Pàli:Gandha. Dịch âm: Càn đà. Cảnh sở duyên của tị căn (mũi ngửi), cũng là đối tượng phân biệt của tị thức(thức mũi), 1 trong 5 trần, 1 trong 6 cảnh, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Luận Phẩm loại túc quyển 1 và luận Pháp uẩn túc quyển 10, chia hương làm 3 loại: Hảo hương, ố hương, bình đẳng hương. Còn luận Đại tì bà sa quyển 13 và luận Câu xá quyển 1, thì chia hương làm 4 loại: Hảo hương, ố hương, bình đẳng hương, bất bình đẳng hương. Theo quan điểm của luận Đại tì bà sa quyển 13, thì hương mang lại cho người ta cái cảm giác khoan khoái (hảo hương), không khoan khoái (ố hương) hoặc chẳng phải khoan khoái chẳng phải không khoan khoái (bình đẳng hương); hoặc hương có thể bồi bổ hay gây hại cho 5 cảm quan của người ta, cho đến nguyên nhân phát sinh ra hương là do phúc nghiệp hay tội nghiệp, hoặc do thế lực của tứ đại, hoặc do sức của 4 loại hương này cân bằng hay không cân bằng mà nó có thể bồi bổ hoặc gây tổn hại cho thân thể. Do nhựa cây hoặc gỗ có mùi thơm được chế thành hương và tùy loại hương liệu khác nhau mà có: Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long não hương. Năm loại hương này Mật giáo thường sử dụng khi lập đàn. Ngoài ra, còn có Huân lục hương, Già la hương, Chân bàn hương, An tức hương, v.v... Trong Phật giáo hương thường được dùng trong pháp hội cúng dường hoặc để ví dụ công đức của Phật pháp như: Giới hương, văn hương, thí hương, hoặc giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương, v.v... [X. phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đà la ni tập Q.12; kinh Hoa nghiêm Q.49 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.67 (bản dịch mới)].

hương ba ca nhĩ cư

(香巴迦爾居) Một chi hệ lớn trong phái Ca nhĩ cư thuộc Phật giáo Tây tạng, do ngài Quỳnh ba nam giao sáng lập. Vì phái này có thế lực rất mạnh ở vùng Hương ba thuộc Hậu Tạng (nay là vùng Đông bắc Nhật khách tắc, Tây tạng) nên có tên như trên. Môn đồ của phái này chia ra thành 2 chi phái Giả tự và Tang định tự. Thủy tổ của phái Cách lỗ là ngài Tông khách ba và đệ tử là Khắc chủ kiệt cách lôi bối tang từng theo học giáo pháp của phái này. Sau thế kỉ XIV, XV, phái này suy vi dần.

hương bàn

(香盤) Cũng gọi Hương đài, Thường hương bàn. Cái mâm dùng để đốt hương được làm bằng gỗ hoặc bằng kim loại, có hình dáng như cái đài vuông, trong mâm đựng đầy hương xếp thành hình các chữ Phạm để đốt. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên; An trai tùy bút Q.2].

hương bản

(香版) Thanh gỗ dùng để sách tiến sự tu hành trong tùng lâm, hình dáng giống như thanh bảo kiếm. Tùy theo mục đích sử dụng mà hương bản có nhiều tên gọi khác nhau: Dùng để thúc đẩy người dụng công tu đạo, gọi là Cảnh sách hương bản; dùng để trừng phạt người vi phạm thanh qui, gọi là Thanh qui hương bản; dùng để đánh thức người ngồi thiền ngủ gục, gọi là Tuần hương hương bản; sử dụng trong Thiền thất, gọi là Giám hương hương bản. Nói chung, các chức vụ Phương trượng, Thủ tọa, Tây đường, Hậu đường, Đường chủ, Duy na, Tri khách, Kiểm sát, v.v... đều có thể sử dụng Hương bản. [X. Kim sơn cộng trụ qui ước].

hương ca sa

(香袈裟) Ca sa nhuộm hương. Hương là dịch nghĩa từ tiếng Phạm Gandha(càn đà) là tên một loại cây thơm. Vỏ cây càn đà có mầu vàng sậm được dùng để nhuộm áo ca sa, là một loại hoại sắc được đức Phật cho phép các vị tỉ khưu sử dụng. (xt. Ca Sa).

hương cảng phật giáo

(香港佛教) Hương cảng, xưa gọi là Đồn môn thuộc huyện Tân an, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, vào đời Đường, Đồn môn là của ngõ giao thương với vùng Nam hải. Năm 1842, triều đình nhà Thanh cắt nhượng đất này cho nước Anh, từ đó trở thành bến cảng quốc tế nổi tiếng ở phương Đông. Theo lịch sử thì thiền sư Bôi độ là người đầu tiên truyền Phật giáo vào Hương cảng, đạo tràng hoằng pháp của ngài là am Bôi độ và chùa Linh độ. Ngày nay vẫn còn các di tích như động Bôi độ, giếng Bôi độ, v.v... Sự tồn tại của Phật giáo ở Hương cảng gần như đồng thời với sự tồn tại của Phật giáo ở Quảng châu, chỉ có điều là Phật giáo Hương cảng không được phát đạt lắm. Từ năm 1911 trở đi, Phật giáo mới chính thức được truyền vào Hương cảng. Đầu tiên, năm 1916, có tổ chức hội Phật học; kế đến, có nhóm các ông Lư gia xương, v.v... thiết lập viện Cực lạc, pháp sư Mậu phong hoằng dương giáo nghĩa Thiên thai. Năm 1920, có pháp hội giảng kinh của đại sư Thái hư, ảnh hưởng của Phật giáo từ đó dần dần lan rộng. Năm 1925, hội Cư sĩ Lâm được thành lập, chủ yếu là để tuyên dương Mật giáo. Sau lại có những người dựa vào việc mở tiệm cơm chay để truyền bá Phật giáo Trung quốc, như các nơi ăn chay Bàn đào thiên, Vệ lạc quốc, Tiểu kì viên, v.v... đã hình thành một đặc sắc trong việc phát triển Phật giáo tại Hương cảng. Đồng thời các chùa viện Phật giáo vốn đã có từ trước ở Tân giới cũng dần dần được khôi phục, không kể là tăng sĩ hay cư sĩ, tất cả đều tích cực vận động phát triển Phật giáo, như việc thành lập Đa đa Phật học xã , chuyên hoằng dương Tịnh độ giáo. Ngoài ra, Trúc lâm thiền viện, Lộc dã uyển cũng được xây dựng, rồi lại có cư sĩ Trương liên giác sáng lập Đông liên giác uyển và Nữ tử Phật học viện, v.v... song song với sự thành lập hội Phật học Hương cảng, hội Thanh niên Phật giáo Hương cảng và sự phát hành Nguyệt san Nhân hải đăng khiến cho phong trào giảng kinh, hoằng pháp khá sôi nổi. Năm 1936, Y viện Đông hoa tổ chức Đại hội vạn thiện chúng duyên thủy lục , lần đầu tiên, do hòa thượng Hư vân chủ trì. Đến thời đó, các tông Thiên thai, Tịnh độ, Thiền tông, Mật tông, Pháp tướng (...)… đều lần lượt mở rộng về mọi mặt như hoằng pháp, tu trì, văn hóa, giáo dục Phật giáo (...) tất cả tương đối đã vững chắc. Nhưng đến khi đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ, thì mọi hoạt động của Phật giáo Hương cảng cũng bị ngưng trệ. Sau khi đại chiến thứ 2 kết thúc, Hương cảng dần dần đã khôi phục được quang cảnh phồn hoa như xưa. Sau khi cộng sản chiếm trọn lục địa Trung quốc vào năm 1949, thì rất nhiều tăng sĩ chạy sang Hương cảng, trong đó phần đông đã xây cất chùa viện hoặc tinh xá để an cư, đây cũng là một đặc sắc khác của Phật giáo Hương cảng. Hiện nay việc giáo dục tăng già cũng như một số công tác xã hội của Phật giáo Hương cảng đang phát triển. Như thư viện Năng nhân biến thành trường Đại học do giới Phật giáo điều hành; ngoài ra, cũng có các trường Trung học phổ thông như trường Bảo giác, trường Đại quang, v.v... rồi đến thư viện Phật giáo và các tạp chí Nội Minh , Phật Giáo Hương Cảng , v.v..., viện Từ ấu, viện An lão, nghĩa trang Phật giáo, Y viện Phật giáo... đều được mở rộng. Còn về phương diện đoàn thể Phật giáo cư sĩ thì có các hội như: Hội pháp tướng học, hội Kim cương thừa học, hội Pháp trụ học, v.v... Tóm lại, do cư dân ở Hương cảng phần lớn là người Quảng đông, cho nên thực chất của Phật giáo Hương cảng là sự mở rộng của Phật giáo Quảng đông. Nhưng từ vài mươi năm gần đây, do hình thái xã hội biến đổi, nên Phật giáo Hương cảng cũng khác với Phật giáo Quảng đông ngày xưa. [X. Hương cảng Phật giáo (Trương mạn đào, Phật quang học báo kì 2)].

hương cử

(香筥) Cũng gọi Hương hạp, Hương hợp, Hương hàm, Hương sương. Hộp đựng hương, thường được đóng bằng gỗ rồi sơn, cũng có loại làm bằng đất nung và kim loại. Hình dáng thường là hình tròn và lớn nhỏ có nhiều loại khác nhau. Hộp đựng hương vốn là vật dùng để cúng Phật, đời sau người ta dùng nó trong các tiệc trà và hình dáng của nó cũng khác xưa. [X. Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách tượng thanh qui Q.thượng; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương dược

(香藥) Có 3 nghĩa: 1. Chỉ chung cho 5 loại hương và 5 loại thuốc phổ thông. 2. Danh từ gọi chung 20 vật: 5 thứ báu vật, 5 loại hương, 5 loại thuốc và 5 loại hạt. 3. Chỉ cho hợp chất được điều hợp từ 20 loại kể ở trên, thường dùng cho pháp Quán đính của Mật giáo.

hương giới

(香界) Cũng gọi Hương phụ. Từ ngữ gọi chung các chùa viện của Phật giáo, thường được dùng trong thi ca của người xưa. Trong bài thơ Đề núi Vân môn của nhà thơ Mạnh hạo nhiên có câu: Xả chu nhập hương giới, Đăng các khế chiên đàn . Nghĩa là: Rời thuyền vào chốn am mây Leo lên gác nghỉ, ngất ngây chiên đàn .

hương hoa

(香華) Cũng gọi Hoa hương. Gọi chung Hương (Phạm: Gandha) và Hoa (Phạm: Puwpa). Hương hoa dùng để cúng Phật. Người dâng cúng sẽ được 10 thứ công đức: 1. Cuộc đời tươi đẹp như hoa. 2. Thân thể thơm tho. 3. Hương phúc, hương giới tỏa khắp mọi nơi. 4. Dù sinh ở bất cứ nơi nào, căn mũi không hư hoại. 5. Vượt trên tất cả, được mọi người qui ngưỡng. 6. Thân thường không có mùi hôi 7. Được niềm vui trong chính pháp, thường thụ trì đọc tụng. 8. Đầy đủ các phúc báo. 9. Sau khi mệnh chung, được sinh lên các cõi trời. 10. Mau chứng quả Niết bàn. Tại Nhật bản, các chùa viện thuộc về gia đình riêng, gọi là Hương hoa viện hoặc Hương hỏa viện. [X. kinh Phật vị Thủ ca trưởng giả thuyết nghiệp báo sai biệt; Pháp uyển châu lâm Q.36].

hương hoả

(香火) Chỉ cho nhang và đèn, hoặc người phụ trách việc thắp hương, đốt đèn trong các chùa viện. Thích môn chính thống quyển 4 (Vạn tục 130, 411 thượng), nói: Việc lễ bái, hương đèn, đến nay vẫn thịnh . Tục cao tăng truyện quyển 1 (Đại 50, 429 trung), nói: Hương hỏa, tụng kinh, lễ bái, xướng đạo . Ngoài ra, chùa viện nào có đông tín đồ đến lễ bái, người ta thường nói rằng chùa viện đó hương hỏa sầm uất.

hương hoả nhân duyên

(香火因緣) Chỉ cho sự kiện 2 người tâm đầu ý hợp, dường như đã kết lời thề từ đời trước nên ngày nay gặp nhau thì càng thân thiết nhau hơn. Từ ngữ này bắt nguồn từ tập tục của người xưa, mỗi khi lập lời thề ước, thường bày hương án để tế cáo thần minh. Truyện Lục pháp hòa trong Bắc Tề thư nói: Pháp hòa là người muốn được làm Phật, cho nên đối với ngôi vị trời Đế thích, trời Phạm vương còn chẳng mong cầu, huống chi là ngôi vua? Nhưng, khi ở chỗ đức Phật Không vương, Pháp hòa và Chúa thượng đã có Hương hỏa nhân duyên, vả lại, Chúa thượng chắc sẽ chịu báo, nên ngài sẽ đến cứu giúp! .

hương hoả xã

(香火社) Hội đoàn niệm Phật, do cư sĩ Bạch lạc thiên (tức Bạch cư dị, 772-846) cùng với ngài Như mãn sáng lập vào khoảng năm Hội xương (841-846) đời vua Vũ tông nhà Đường, tại chùa Phật quang, Lạc dương, Trung quốc. Sự tồn tại của hội đoàn này có ý nghĩa rất sâu xa đối với việc Đường Vũ tông phá hủy Phật giáo. [X. truyện Bạch cư dị trong Cựu đường thư Q.116].

Hương Hải

香海; 1628-1715.|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử. Không biết Sư thừa kế ai bởi vì hệ thống truyền thừa của Trúc Lâm Yên Tử bị thất lạc từ sau vị Tổ thứ ba là Huyền Quang.|Sư con nhà thế phiệt, tổ tiên làm quan triều đình. Sư thuở nhỏ đã thông minh tài trí, năm 18 tuổi thi đỗ Cử nhân, được triều đình phong làm tri phủ Triệu Phong (nay là tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi Sư bắt đầu học đạo, ba năm sau thì từ quan xuất gia rồi dong thuyền ra đảo Tim Bút La (Cù lao Chàm ở biển Ðà Nẵng) ở biển Nam Hải, cất am để tu. Tương truyền rằng ở đây ma quái kéo đến quấy nhiễu nhưng Sư đều đối trị được. Chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) nghe danh Sư cho mời về núi Quy Kính trụ trì. Bấy giờ có quan nội giám Gia quận Công, người Ðàng ngoài nhưng được chúa Nguyễn cho dạy trong nội cung. Gia quận Công hay lui tới nghe Sư giảng pháp. Vì thế mà có kẻ ganh ghét tâu với chúa Nguyễn là hai người âm mưu định trốn về Bắc. Chúa Nguyễn không có bằng cớ nhưng buộc Sư phải vào Quảng Nam ở. Vì chuyện đó mà Sư quyết chí về Bắc. Chúa Trịnh coi trọng sư thưởng nhiều vàng bạc, về sau cho đưa Sư về Sơn Tây, lúc này Sư đã 56 tuổi. Năm Canh Thìn 1700, Sư dời sang chùa Nguyệt Ðường, học trò theo học rất đông, nơi đây Sư làm hưng thịnh phái Trúc Lâm.|Sư thường dạy chúng như sau: »Ngộ được tự tính mình thì chúng sinh là Phật, mê tự tính của mình thì Phật là chúng sinh. Giữ được tự tính mình bình đẳng thì chúng sinh là Phật, để tự tính mình gian hiểm thì Phật là chúng sinh.« Lại nói: »(Có những kẻ) Chỉ muốn tránh chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết. Làm như thế tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lí không, nhưng không biết đó cũng là cái lối làm chôn vùi chân tính, lấp mất chân giác… Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình bỏ ngoại cảnh mà xem tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, Pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt… Cái bản thể của tâm và chân tướng của tính, vốn lặng lẽ chẳng phải có, chẳng phải không, không có sinh cũng không có diệt. Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó thì vẫn chẳng rời. Nếu ta mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng, nếu ngộ được chân tính của nó thì tinh thông sáng suốt. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người chứng ngộ mới biết.«|Năm Ất Mùi Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), ngày 13 tháng 5, Sư mặc áo ca-sa ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 88 tuổi. Chùa Nguyệt Ðường là một thiền lâm lớn nhất trong nước. Sư để lại 16 tác phẩm giải thích các kinh Pháp hoa, Kim cương, A-di-đà…

hương khẩu tỉ khâu

(香口比丘) Vị Tỉ khưu trong miệng thường bay ra mùi hương vi diệu. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 144 thượng), nói: Vua A du già một ngày vẽ 8 vạn tượng Phật, tuy chưa thấy đạo, nhưng đối với Phật pháp cũng có tâm tin ưa, hằng ngày thường thỉnh các vị tỉ khưu vào cung cúng dường và theo thứ tự thỉnh một vị Pháp sư ở lại nói pháp. Một hôm đến phiên vị Tam tạng pháp sư trẻ đẹp, thông minh được thỉnh, vị này khi thuyết pháp, trong miệng thường phát ra mùi thơm kì lạ, nhà vua rất ngạc nhiên và cho rằng vị này không đoan chính, muốn dùng mùi thơm để quyến rũ người trong cung vua, nên hỏi vị tỉ khưu rằng: Trong miệng của nhà ngươi có gì, há miệng cho ta xem?, vị tỉ khưu liền há miệng, nhưng chẳng có vật gì cả. Nhà vua lại sai lấy nước cho vị tỉ khưu súc miệng, súc miệng xong, mùi thơm vẫn bay ra như cũ. Vua hỏi: Đại đức! Mùi thơm này mới có hay đã có lâu rồi? Vị tỉ khưu đáp: (...) Thưở quá khứ, trong thời đức Phật Ca diếp, tôi là một tỉ khưu thuyết pháp, thường ở giữa đại chúng, vui mừng diễn nói công đức vô lượng của đức Phật Ca diếp và thực tướng các pháp (...), cho nên từ đó đến nay, trong miệng tôi vẫn thường phát ra mùi thơm vi diệu như thế . [X. Thích môn qui kính nghi Q.hạ].

hương kệ

(香偈) Cũng gọi Thiêu hương kệ, Thiêu hương hồi hướng văn. Bài kệ được xướng lên khi dâng hương trước đức Phật. Lễ Phật nghi thức (Vạn tục 129, 118 thượng), nói: Khi kính lễ tán thán công đức của Phật, trước phải đến đài hương, thân quì ngay thẳng, mắt nhìn tôn dung của Phật, lắng tâm tư duy, dứt hết tạp niệm, tay bưng lò hương, chỉ nghĩ tưởng đến công đức của Phật, rồi xướng bài kệ rằng: Hương giới, hương định, hương giải thoát, Đài mây soi sáng khắp pháp giới. Cúng dường mười phương vô lượng Phật. Người ngửi hương này chứng vô sinh. (Bài kệ này được trích từ kinh Hoa nghiêm, nhưng đã lược bớt phần hương tuệ và hương giải thoát tri kiến) . Kinh Quán Phật tam muội hải quyển 10 (Đại 15, 695 thượng) ghi: Nguyện dâng hoa hương này. Khắp cõi nước mười phương. Cúng dường hết thảy Phật. Hóa Phật và Bồ tát. Cùng vô số Thanh văn. Thụ lãnh hương hoa này. Dùng làm đài quang minh. Soi sáng vô biên cõi. Làm Phật sự khôn cùng . Trong các tông phái, có tông dùng bài kệ trên đây làm kệ dâng hương, nhưng cũng có tông chỉ lấy ý văn, rồi soạn thành bài tụng khác. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng; Chư kinh yếu tập Q.3; Tập chư kinh lễ sám nghi Q.thượng; Pháp sự tán tư kí Q.thượng].

Hương Lâm Trừng Viễn

(香林澄遠, Kyōrin Chōon, 908-987): vị tăng của Vân Môn Tông Trung Quốc, người vùng Tuyến Trúc (線竹), Hán Châu (漢州, Tỉnh Tứ Xuyên). Ông theo Vân Môn Văn Yển (雲門文偃) tu tập, cuối cùng được yếu chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống ở Hương Lâm Viện (香林院) thuộc Thanh Thành Sơn (青城山), Ích Châu (益州, Tỉnh Tứ Xuyên), suốt 40 năm trường chuyên tâm cử xướng tông phong của Vân Môn, và tiếp độ chúng tăng tu tập. Vào ngày 13 tháng 2 năm thứ 4 (987) niên hiệu Ung Hy (雍熙), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời. ; 香林澄遠; C: xiānglín chéngyuǎn; J: kyōrin chōon, 908-987;|Thiền sư Trung Quốc. Sư và Ðộng Sơn Thủ Sơ là hai môn đệ trội nhất của Thiền sư Vân Môn Văn Yển. Môn đệ giỏi nhất của Sư là Thiền sư Trí Môn Quang Tộ.|Nơi Vân Môn, Sư làm Thị giả. Vân Môn mỗi khi tiếp Sư đều gọi: »Thị giả Viễn!« Sư ứng: »Dạ.« Vân Môn hỏi: »Ấy là gì?« Ðó là pháp duy nhất Sư học tại Vân Môn. Sau 18 (!) năm như vậy, Sư tỉnh ngộ. Sư từ giã đi, Vân Môn bảo: »Sao chẳng nói một câu hướng thượng?« Sư suy nghĩ. Vân Môn bắt ở thêm ba năm (!) nữa.|Sau đó Sư đến chùa Hương Lâm trụ trì và hướng dẫn học giả trên thiền đạo. Có vị tăng hỏi Sư: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Sư đáp: »Ngồi lâu sinh nhọc.«|Một hôm, Sư bảo chúng: »Lão tăng 40 năm mới dồi thành một khối.« Nói xong, Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi.

hương lâm tây lai ý

(香林西來意) Cũng gọi Hương lâm tọa cửu thành lao. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên đối thoại giữa thiền sư Hương lâm với một vị tăng. Tắc 17 trong Bích nham lục (Đại 48, 157 thượng), chép: Vị tăng hỏi ngài Hương lâm:- Tổ sư từ Tây thiên đến là ý gì? Ngài Hương lâm trả lời: - Ngồi lâu sinh mệt. [X. Cảnh đức truyền tăng lục Q.22; Ngũ đăng hội nguyên Q.5].

hương lâu

(香樓) Gỗ thơm được xếp đống thành một cái lầu cao để đặt kim quan của đức Phật. Đại niết bàn kinh hậu phần quyển hạ (Đại 12, 908 thượng, 908 hạ), chép: Bấy giờ tất cả đại chúng thu góp những cây gỗ có mùi hương vi diệu, lan tỏa khắp thế giới, rồi xếp những cây gỗ ấy thành một cái lầu hương lớn, cao bằng núi Tu di. (...) Lúc ấy, đại chúng và trời, người, đưa kim quan của đức Thế tôn đặt trên lầu hương (...) dần dần đồ tì (đốt), suốt 7 ngày lầu hương vi diệu này mới cháy hết .

hương lô

(香爐) Cũng gọi Hỏa lô, Huân lô. Lư hương, một khí cụ dùng để đốt hương, thường được bày ở trước Phật và Phật đàn. Là một trong 18 thứ vật dụng của tỉ khưu, một trong Tam cụ túc, Ngũ cụ túc. Lò hương được chế tạo bằng nhiều loại nguyên liệu, như vàng, bạc, đồng, đồng vàng, đồng bạch, đồng đỏ, đồng xanh, cũng có loại làm bằng sành, lưu li, ngà voi, gỗ, v.v... Loại lư hương được đặt cố định ở một chỗ gọi là Trí hương lô(cũng gọi là Cư hương lô), loại này thường thấy được điêu khắc ở các di tích tại Ấn độ đời xưa; loại lư hương có cán cầm ở tay gọi là Bính hương lô, loại dùng để bước qua cho thân thể được thanh tịnh gọi là Tượng lô (Hương tượng, có hình dáng con voi), loại này cũng có thể dùng để trang trí trên giường hay trên bàn. Từ loại lư hương nhỏ cầm tay, đến loại lư hương lớn đặt ở trước nhà, có nhiều kiểu dáng, như Văn hương lô, Dũng trắc hương lô, Cử hương lô, Tứ phương hương lô, Hỏa bát hương lô, v.v... Về Trí hương lô thì hương lô Bác sơn là nổi tiếng hơn cả, nắp đậy có hình quả núi, trên chóp núi có một trụ nhỏ. Đây là một khí cụ bằng đồng lớn được chế tạo vào đời Hán, đến thời Lục triều và đời Đườngđã trở nên thịnh hành. Ngoài ra, có Hương lô hỏa xá, giống như cái hỏa xá trong các pháp cụ của Mật giáo, bằng sành phẳng và nông, gồm 3 chân, có thêm cái nắp hình bán cầu, trên nắp có chạm hình quả đào và mây. Ngoài ra, Hương lô của chùa Kim sơn có hình dáng như lồng đèn, nhưng không có nắp và lư hương hình cái vạc có 3 chân, 2 quai, nắp hình bán cầu, thường có chạm sư tử, loại này tương đối phổ biến. Loại lư hương khá nổi tiếng hiện còn là Hương ấn tọa, có hình cánh sen, được cất giữ ở viện Chính thương tại Nhật bản; lư hương Ngột lí tự bằng sành, nắp hình lá sen, có khắc chữ Phạm, được tàng trữ ở viện Pháp kim cương. [X. Thích thị lục thiếp Q.22; Loại tụ danh vật khảo Q.252, Q.254, Q.255; Cổ kim đồ thư tập thành khảo công điển 236]. (xt. Bính Hương Lô).

hương mộc

(香木) Thanh gỗ thơm hình bát giác, được treo trên cọc trước nhà xí, sau khi vệ sinh, chà 2 tay vào gỗ thơm ấy để khử mùi hôi. [X. môn Khí vật loại 28 trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Hương Nghiêm

(香嚴): có hai nghĩa. (1) Tên vị thiên tử, đồng tử trong kinh điển Phật Giáo. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ có câu: “Hữu chư thiên tử, giai hiệu Hương Nghiêm (有諸天子、皆號香嚴, có các thiên tử, đều hiệu Hương Nghiêm).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 5 có đoạn Hương Nghiêm đồng tử bạch Phật rằng: “Kiến chư Tỳ Kheo, thiêu trầm thủy hương, hương khí tịch nhiên, lai nhập tỷ trung, ngã quán thử khí, phi mộc phi không, phi yên phi hỏa, khứ vô sở trước, lai vô sở tùng, do thị ý tiêu, phát minh vô lậu, Như Lai ấn ngã đắc Hương Nghiêm hiệu (見諸比丘、燒沉水香、香氣寂然、來入鼻中、我觀此氣、非木非空、非煙非火、去無所著、來無所從、由是意銷、發明無漏、如來印我得香嚴號, con thấy các Tỳ Kheo, đốt loại trầm hương, hương khí lặng lẽ, xông vào trong mũi, con quán khí này, chẳng gỗ chẳng không, chẳng khói chẳng lửa, đi không nơi bám, đến không chỗ theo, do vậy ý tiêu, phát sáng vô lậu, Như Lai ấn chứng cho con được hiệu là Hương Nghiêm).” Trong bài tán Tâm Nhiên có đề cập đến Hương Nghiêm đồng tử: “Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán thiệt nan lường (香嚴童子悟眞常、鼻觀實難量, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán thật khó lường).” (2) Tên của vị tăng sống vào thời nhà Đường, pháp hiệu là Trí Nhàn (智閑, ?-898); xuất thân vùng Thanh Sơn (青州, Sơn Đông), pháp từ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). (xin tham khảo thêm mục Hương Nghiêm Trí Nhàn) ; (香嚴): có hai nghĩa. (1) Tên vị thiên tử, đồng tử trong kinh điển Phật Giáo. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ có câu: “Hữu chư thiên tử, giai hiệu Hương Nghiêm (有諸天子、皆號香嚴, có các thiên tử, đều hiệu Hương Nghiêm).” Hay trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 5 có đoạn Hương Nghiêm đồng tử bạch Phật rằng: “Kiến chư Tỳ Kheo, thiêu trầm thủy hương, hương khí tịch nhiên, lai nhập tỷ trung, ngã quán thử khí, phi mộc phi không, phi yên phi hỏa, khứ vô sở trước, lai vô sở tùng, do thị ý tiêu, phát minh vô lậu, Như Lai ấn ngã đắc Hương Nghiêm hiệu (見諸比丘、燒沉水香、香氣寂然、來入鼻中、我觀此氣、非木非空、非煙非火、去無所著、來無所從、由是意銷、發明無漏、如來印我得香嚴號, con thấy các Tỳ Kheo, đốt loại trầm hương, hương khí lặng lẽ, xông vào trong mũi, con quán khí này, chẳng gỗ chẳng không, chẳng khói chẳng lửa, đi không nơi bám, đến không chỗ theo, do vậy ý tiêu, phát sáng vô lậu, Như Lai ấn chứng cho con được hiệu là Hương Nghiêm).” Trong bài tán Tâm Nhiên có đề cập đến Hương Nghiêm đồng tử: “Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, tỷ quán thiệt nan lường (香嚴童子悟眞常、鼻觀實難量, Hương Nghiêm đồng tử ngộ chơn thường, mũi quán thật khó lường).” (2) Tên của vị tăng sống vào thời nhà Đường, pháp hiệu là Trí Nhàn (智閑, ?-898); xuất thân vùng Thanh Sơn (青州, Sơn Đông), pháp từ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). (xin tham khảo thêm mục Hương Nghiêm Trí Nhàn)

hương nghiêm

(香嚴) I. Hương Nghiêm. Tên một vị Thiên tử và Đồng tử trong kinh Phật. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển hạ (Đại 14, 552 thượng), nói: Có các Thiên tử đều hiệu là Hương nghiêm . Kinh Lăng nghiêm quyển 5 chép, đồng tử Hương nghiêm bạch đức Phật rằng (Đại 19, 125 hạ): Thấy các tỉ khưu đốt hương trầm thủy, mùi thơm lặng lẽ xông vào mũi, con quán mùi thơm ấy, chẳng phải từ gỗ ra, chẳng phải từ hư không đến (...…) đức Như lai ấn chứng cho con, hiệu là Hương nghiêm. Mùi trầm bỗng diệt, diệu hương bao trùm, con từ Hương nghiêm chứng A la hán . II. Hương Nghiêm(?-898). Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thanh châu (Ích đô, Sơn đông), pháp hiệu Trí nhàn. Ban đầu, sư theo ngài Bách trượng Hoài hải xuất gia. Sau sư tham yết ngài Qui sơn Linh hựu, không khế hợp, sư rơi lệ từ biệt. Một hôm, sư đang phát cỏ ở trong núi, bỗng nghe viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng mà thoắt tỉnh ngộ. Lúc đó, sư mới thấu suốt ý chỉ sâu xa trong lời dạy trước kia của ngài Qui sơn, nhờ thế được nối pháp của ngài. Về sau sư vào núi Hương nghiêm, Đặng châu, xiển dương Thiền pháp, đồ chúng tham học thường hơn nghìn người. Đời sau tôn xưng sư là Hương nghiêm thiền sư. Bản tính sư nghiêm cẩn, lời nói ngay thẳng giản đơn. Sư có làm hơn 200 bài kệ tụng, lưu truyền khắp nơi. Sư thị tịch vào năm 898, sau được vua ban thụy là Tập Đăng Đại Sư . [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Tống cao tăng truyện Q.13].

hương nghiêm kích trúc

(香嚴擊竹) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về nhân duyên ngộ đạo của thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11, thì sư Trí nhàn đến tham học ngài Qui sơn Linh hựu, ngài Linh hựu biết sư là hàng pháp khí (người có thể dùng để truyền pháp cho) nên muốn nói khích. Một hôm, ngài bảo sư Hương nghiêm (Đại 51, 283 hạ): Ta không hỏi người về học giải và những gì ghi chép trong các kinh sách mà bình sinh ngươi đã đạt được, nhưng ta chỉ hỏi: Khi cha mẹ chưa sinh ra thì ngươi là ai, người hãy thử nói một câu xem nào? . Sư trả lời, nhưng không khế hợp, liền trở về liêu tìm khắp các câu nói của các bậc thầy mà sư đã học, nhưng không một lời nào có thể đối đáp được. Sư bèn đốt hết sách vở và nghẹn ngào từ biệt thiền sư Qui sơn. Đến Nam dương, sư thấy di tích của Quốc sư Tuệ trung, bèn dừng chân lập am tranh ẩn tu. Một hôm, sư đang phát cỏ, bỗng một viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng, sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sư về am, tắm gội sạch sẽ, đốt hương từ xa lễ vọng về ngài Qui sơn và khen ngợi: Hòa thượng đại bi, ân đức hơn cả cha mẹ; khi ấy nếu ngài nói ra, thì làm sao con có được việc hôm nay? . [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.25].

hương nghiêm nguyên mộng

(香嚴原夢) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về việc các ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và Hương nghiêm Trí nhàn đoán giấc mộng của thiền sư Qui sơn Linh hựu. Nguyên mộng nghĩa là đoán mộng, giải mộng. Một hôm, thiền sư Qui sơn Linh hựu ngủ trưa nằm mộng, tỉnh dậy liền đem giấc mộng hỏi 2 vị đệ tử là các ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và Hương nghiêm Trí nhàn, sư Ngưỡng sơn mang thau nước và khăn mặt đến, còn sư Hương nghiêm thì dâng tách trà. Ngài Qui sơn bình rằng (Đại 51, 265 hạ): Kiến giải của 2 đệ tử còn hơn cả Thu tử . [X. chương Qui sơn linh hựu trong cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Thiền uyển mông cầu Q.thượng].

hương nghiêm quế

(香嚴桂) (1631-1708) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đầu đời Thanh, Trung quốc, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trần. Năm 11 tuổi, sư theo ngài Ẩn phòng Nhĩ liêm xuất gia ở chùa Tinh nghiêm, tu tập giáo pháp Du già. Năm 26 tuổi, sư y vào ngài Viên mộ Sơn phẫu thụ giới Cụ túc. Năm 30 tuổi, sư tham lễ ngài Nhất tạng ở am Cổ ẩn và tham cứu gia phong của ngài Mật vân Viên ngộ. Năm 41 tuổi, sư đến chùa Phổ minh tại Gia hưng yết kiến ngài Thạch quan lăng, đệ tử nối pháp của thiền sư Phí ẩn Thông dung rất khế cơ và năm sau đắc pháp. Năm Khang hi 16 (1677), sư thừa kế ngôi vị của thầy ở chùa Phổ minh, về sau, sư lần lượt trụ trì các viện Dũng vạn, Đại bình và chùa Tinh nghiêm. Năm Khang hi 47 (1708), sư thị tịch, thọ 78 tuổi. Sư có tác phẩm: Phổ minh Hương nghiêm thiền sư ngữ lục. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.92].

hương nghiêm thượng thụ

(香嚴上樹) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc Thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn khai thị đại chúng. Tắc 5 trong Vô môn quan (Đại 48, 293 hạ) chép: Hòa thượng Hương nghiêm dạy: Như người trên cây, miệng ngậm cành cây, tay không vin cành, chân không đạp lên cây. Lúc ấy, dưới đất có người hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Tây thiên đến? Nếu không trả lời thì có lỗi với người hỏi, mà trả lời thì tan thân mất mạng. Vậy, ngay khi ấy phải làm sao? .

Hương Nghiêm Trí Nhàn

(香嚴智閑, Kyōgen Chikan, ?-898): ông theo xuất gia với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), rồi sau đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐). Ông bị Quy Sơn cật vấn câu liên quan đến bản lai diện mục khi cha mẹ chưa sinh ra như thế nào, nhưng ông không trả lời được, nên giã từ Quy Sơn, vào trong Bạch Nhai Sơn (白崖山) ở Nam Dương (南陽), dựng am tu nơi di tích của Huệ Trung Quốc Sư (慧忠國師). Có hôm nọ, khi ông đang quét dọn sân trước am, nhân nghe tiếng đá chạm loảng xoảng nơi khóm trúc, bỗng nhiên đại ngộ, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Quy Sơn. Sau ông đến trú tại Hương Nghiêm Sơn (香嚴山) và cử xướng Thiền phong của mình. Ông thị tịch vào năm đầu (898) niên hiệu Quang Hóa (光化), được ban cho thụy hiệu là Tập Đăng Thiền Sư (襲燈禪師). ; 香嚴智閑; C: xiāngyán zhìxián; J: kyōgen chi-kan; ?-898;|Thiền sư Trung Quốc, ngộ đạo nơi Quy Sơn Linh Hựu. Câu chuyện »sáng mắt« của Sư được nhắc nhở nhiều trong giới thiền vì nó nêu rõ quan niệm »Bất khả tư nghị« và các phương pháp hoằng hoá đặc biệt của các vị Tổ sư.|Trước khi đến Quy Sơn, Sư đã đến học nơi Bách Trượng Hoài Hải, nổi danh là đã nghiên cứu nhiều kinh luận nhưng vẫn không đoạn triệt hồ nghi. Sau khi Bách Trượng tịch, Sư đến tham vấn Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: »Ta nghe sư đệ ở chỗ Tiên sư Bách Trượng thông minh lanh lợi, nhưng ta không hỏi đệ về chỗ học bình sinh, cũng không hỏi về kinh sách. Giờ đây hãy nói thử một câu khi cha mẹ chưa sinh xem!« Sư mù mịt không biết đâu là đâu bèn rút lui vào thất, soạn hết sách vở đã học qua nhưng trọn không tìm được câu giải đáp. Sư than: »Bánh vẽ chẳng no bụng đói« và đến Quy Sơn xin lời giải. Quy Sơn bảo: »Nếu ta nói sư đệ sau này sư đệ sẽ mắng ta, vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ?« Sư đem sách vở ra đốt hết, tự nghĩ »Ðời này không học Phật pháp nữa, làm tăng thường lo cơm lo cháo để khỏi nhọc tâm.« Sư từ giã Quy Sơn đi thẳng đến di tích của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung, cất am tại đây. Sư ngày ngày lấy chổi quét dọn sạch mộ của Quốc sư. Một hôm Sư quét lá, một viên sỏi bay đụng vào khóm tre vang lên một tiếng. Sư nghe vậy bỗng nhiên đại ngộ, tìm được câu trả lời Quy Sơn, phá lên cười và làm bài kệ sau:|一擊忘所知。更不假修治|動容揚古路。不墮悄然機|處處無蹤跡。聲色外威儀|諸方達道者。咸言上上機|Nhất kích vong sở tri|Cánh bất giả tu trị|Ðộng dung dương cổ lộ|Bất đoạ tiểu nhiên cơ|Xứ xứ vô tung tích|Thanh sắc ngoại uy nghi|Chư phương đạt đạo giả|Hàm ngôn thượng thượng cơ.|*Tiếng dội lùm tre quên sở tri|Có gì đối trị giả tu trì|Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ|Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si|Chốn chốn dạo qua không dấu vết|Sắc thanh nào nhiễm được uy nghi|Mười phương đạt giả đều như vậy|Tối thượng là đây biết nói gì.|(Trúc Thiên dịch)|Sư trở về am thắp hương hướng về Quy Sơn bái lễ: »Hoà thượng từ bi hơn cha mẹ, khi trước nếu vì ta mà nói thì đâu có ngày nay.«|Sư hỏi chúng: »Ví như có người leo cây cao, dưới là vực thẳm. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi ›ý của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang‹, khi ấy phải làm sao?« Vị Thượng toạ bước ra thưa: »Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thế nào?« Sư cười rồi thôi.

hương nghiêm tự

(香嚴寺) Chùa ở trong núi Bạch nhai, phía tây bắc huyện Đặng, tỉnh Hà nam, Trung quốc, vốn do hai ngài Nhất hạnh và Hổ nhân sáng lập vào đời Đường. Sau ngài Nhất hạnh thị tịch ở Trường an, vua Túc tông đích thân đến dự lễ tang, lúc bấy giờ trong núi Bạch nhai bỗng có mùi hương bay tỏa, cả tháng không dứt, vì thế chùa được đặt tên là Hương nghiêm. Về sau, ngài Nam dương Tuệ trung là đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng đến trụ trì chùa này, lúc đó chùa có tên là Hương nghiêm trường thọ tự. Khi ngài Tuệ trung thị tịch, cũng được an táng tại nơi này. Ngoài ra đệ tử nối pháp của thiền sư Qui sơn Linh hựu là Hương nghiêm Trí nhàn cũng từng trụ trì chùa này. [X. Đại minh nhất thống chí Q.30]. (xt. Trường Thọ Tự).

hương ngữ

(香語) Gọi đủ: Niêm hương pháp ngữ. Pháp ngữ được tuyên thuyết khi niêm hương. Khi cử hành pháp hội, vị Trụ trì lên Tăng đường niêm hương, nói pháp ngữ, kế đến trình bày ý nghĩa Phật sự trong tháng và đọc các câu kệ ngắn. Cuối cùng kết thúc bằng tiếng hét. Hương ngữ có thể dựa theo tình hình đương thời, hoặc căn cứ vào những điều thấy nghe mà làm ra, cũng có khi dùng theo những câu đã có sẵn của người xưa, ngày nay dần dần đã trở thành câu nói bình thường. [X. phẩm Phú na kì duyên trong kinh Hiền ngu Q.6; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương nhiễm

(香染) Cũng gọi Trà hạt sắt, Mộc lan sắc. Một loại mầu dùng nhuộm áo ca sa. Tức là mầu vàng sẫm (hoại sắc) do ngâm vỏ cây càn đà (gandha) với nước mà thành.

hương nhập

(香入) Phạm: Gandhàyatana Cũng gọi Hương xứ. Từ gọi chung những mùi do mũi ngửi được. Một trong 12 nhập, một trong 12 xứ. (xt. Thập Nhị Xứ).

hương phòng

(香房) Phạm,Pàli:Gandha-kuỉì Dịch âm: Kiện đà câu tri. Cũng gọi Hương thất, Hương điện, Hương đài, Tịnh hương phòng, Hương tích điện, Hương khố viện, Thanh tịnh hương đài. Vốn chỉ cho phòng xá của đức Phật, nhưng đến đời sau thì chỉ chung cho điện đường thờ tượng Phật và phòng chúng tăng phụ thuộc điện Phật. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Tì nại da tạp sự quyển 14 chép, thì Hương phòng phần nhiều được xây ở khoảng giữa Tăng viện, muốn đi qua nơi này thì phải tụng Già đà (kệ), nếu không sẽ phạm tội Việt pháp. [X. Tì nại da tạp sự Q.26].

hương quang trang nghiêm

(香光莊嚴) Tam muội niệm Phật có công năng trang nghiêm hành giả, ví như người được xông ướp mùi thơm. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 128 thượng), nói: Nếu con nhớ mẹ cũng như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật và niệm Phật, thì hiện tại và đương lai nhất định được thấy Phật, cách Phật không xa; chẳng cần nhờ vào phương tiện nào khác, mà tâm tự khai ngộ. Như người được xông hương, thân có mùi thơm, đó gọi là Hương quang trang nghiêm .

Hương quốc

(香國): có hai nghĩa. (1) Tên cõi nước Phật, còn gọi là Hương Tích Quốc (香積國), Chúng Hương Quốc (眾香國), Chúng Hương Thế Giới (眾香世界); là quốc độ do Hương Tích Như Lai (香積如來) cư trú, nằm phương trên của thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), cách khoảng 42 hằng hà sa cõi Phật. Thế giới này được thuyết rõ trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10 rằng hết thảy đều lấy hương làm lầu đài, đi kinh hành trên đất hương, vườn nhà đều ngát hương; mọi người ăn hương khí, v.v. như trong Duy Ma Kinh Vô Ngã Sớ (維摩經無我疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 19, No. 348) quyển 11 có đoạn rằng: “Như chúng hương quốc, dĩ hương vi Phật sự, tức thế giới tất đàn, hoan hỷ nghĩa dã (如眾香國、以香爲佛事、卽世界悉檀、歡喜義也, như nước các loại hương, lấy hương làm Phật sự, là thế giới tất đàn, nghĩa là hoan hỷ).” (2) Đất nước hoa. Như trong bài thơ Mộc Tê (木犀) của Hứa Nguyệt Khanh (許月卿, 1217-1286) nhà Tống có câu: “Phân phong tại hương quốc, vu sĩ đắc hoàng thường (分封在香國、筮仕得黃裳, chia phong cho nước hoa, làm quan được áo vàng).”

hương quốc

(香國) Cũng gọi Hương tích quốc, Chúng hương quốc, Chúng hương thế giới. Đất nước của đức Hương tích Như lai. Cõi nước này ở phương trên, cách thế giới Sa bà 42 hằng hà sa cõi Phật, là thế giới mà trong đó tất cả lầu gác, đất đai, cho đến vườn, rừng, v.v... đều phát ra mùi hương vi diệu. Đồng thời, mùi thơm từ thức ăn ở cõi này đều bay khắp 10 phương vô lượng thế giới. [X. phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ].

hương sát

(香刹) Chỉ cho chùa viện. Hương, ví dụ công đức của Phật pháp, hoặc công đức của những kiến trúc Phật giáo. Đồng nghĩa với Hương của Hương điện, Hương thất. Sát, Phạm: Kwetra, vốn là nghĩa cây cột thuộc phần lộ bàn trên đỉnh tháp, về sau, từ sát được dùng để gọi tháp và chùa, viện.

hương sơn tự

(香山寺) I. Hương Sơn Tự. Chùa ở sườn phía đông núi Long môn, cách huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, 14 km về mạn tây nam. Chùa được sáng lập vào thời đại nào không được rõ. Có thuyết cho rằng nó được xây dựng vào niên hiệu Hi bình năm đầu (516) đời Bắc Ngụy. Lại có thuyết cho rằng nơi đây là phần mộ của ngài Tam tạng Nhật chiếu đời Đường, về sau do Lương vương kiến thiết thành già lam. Trong năm Nguyên hòa (806-820), đệ tử nối pháp của thiền sư Mã tổ Đạo nhất là ngài Phục ngưu Tự tại từng trụ ở chùa này. Năm Đại hòa thứ 6 (832) đời Đường, ông Bạch cư dị trùng tu và thỉnh ngài Thanh nhàn làm Trụ trì. Trong chùa có 5270 quyển Kinh, Luật, Luận chia làm 3 tạng Đại thừa, 3 tạng tiểu thừa. Hương sơn là 1 trong 10 ngôi chùa nổi tiếng ở Long môn thời bấy giờ. Về sau, chùa dần dần suy đồi. Mãi đến đầu đời Thanh mới được vua ban sắc trùng tu. Nay trong chùa có mộ của ông Bạch cư dị và bia của hòa thượng Bất không. [X. Bạch thị văn tập Q.68, Q.71; Đại minh nhất thống chí Q.29; Đại thanh nhất thống chí Q.163; Cổ kim đồ thư tập thành phương chức điển 428, 434]. II. Hương Sơn Tự. Chùa trên núi Hương sơn phía tây bắc thành phố Bắc bình, được sáng lập vào đời Liêu. Năm Đại định 26 (1186) đời Kim, chùa được xây dựng lại và được ban tên Đại Vĩnh An Tự , cũng gọi là Cam lộ tự. Chùa dựa theo thế núi, vốn có điện 5 tầng, 2 bên có hiên gác. Sau, chùa bị cháy, tầng dưới vẫn còn thềm đá và đàn hoa xếp bằng gạch lưu li. Chùa nổi tiếng về những cây bách. Các vua triều Thanh từng kiến thiết đại qui mô, sửa sang nhiều lầu gác, điện đường. Nhưng phần lớn các kiến trúc này đã bị liên quân Anh, Pháp đốt phá vào năm Hàm phong thứ 10 (1860) và liên quân 8 quốc gia vào năm Quang tự 26 (1900).

hương thang

(香湯) Nước nóng có pha hương liệu để tắm gội thân thể. Xưa nay vào ngày Phật đản, các chùa viện thường dùng hương thang để tắm tượng Phật. Thời xưa nước hương có đủ 5 vị, nhưng về sau chỉ dùng cam thảo và mộc cam trà. Thiền tông dùng 7 vị thuốc như: Trần bì, phục linh, địa cốt bì, nhục quế, đương qui, chỉ xác và cam thảo để nấu nước thơm, gọi là Thất hương thang. Ngoài ra, hương thang cũng được dùng để giặt ca sa. [X. kinh Quán tẩy Phật hình tượng; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; điều Phật giáng đản, chương Báo ân trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng].

hương thang kệ

(香湯偈) Khi Bố tát, đọc kệ Hương thủy xong, quì xuống, chắp tay, xướng bài kệ Hương thang. Kệ rằng (Đại 82, 432 thượng): Hương thang gột rửa sạch hồng trần. Pháp thân trọn đủ cả năm phần. Bát nhã chiếu soi tràn giải thoát. Pháp giới hàm dung thảy chứng chân. (xt. Hương Thủy Kệ).

hương thuỷ

(香水) Phạm:Gandha-vàri. Nước sạch có pha mùi thơm, dùng để rửa các vật cúng dường hoặc để tắm gội. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 3 (Đại 3, 554 hạ), nói: Trên hư không, các trời Phạm vương, Đế thích, rưới hương thủy lên thân Bồ tát . Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 627 thượng), nói: Khi làm tua mũ, nên chọn tơ thật tốt và mịn, rồi dùng hương thủy giặt cho thật sạch . Về sau, có phép gia trì hương thủy, nghĩa là dùng nước thơm đã được gia trì rưới lên thân thể, rảy trong đạo tràng, hoặc các vật phẩm dâng cúng. Trong Mật giáo, hương thủy chủ về trí đức, cho nên nước hương được điều chế cũng tùy theo các loại tu pháp mà có khác nhau. [X. kinh Trường a hàm Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.27 (bản dịch cũ); Thai quán kí bản trong A sa phược sao Q.1]. (xt. Hương).

hương thuỷ hải

(香水海) Gọi tắt: Hương hải. Biển nước thơm. Cứ theo truyền thuyết của Phật giáo, thì thế giới có 9 núi, 8 biển, núi Tu di ở giữa. Chung quanh núi Tu di có 8 núi, 8 biển bao bọc, trong đó, trừ biển thứ 8 là nước mặn, còn những biển kia đều chứa nước 8 công đức, rất trong mát và có mùi vị thơm tho, vì thế gọi là Hương hải thủy. [X. luận Câu xá Q.11; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.31].

hương thuỷ kệ

(香水偈) Bài kệ được đọc lúc lấy hương thủy rửa tay trước khi Bố tát. Bài kệ ấy là (Đại 82, 432 thượng): Nước tám công đức tẩy bụi nhơ. Tay rửa sạch rồi tâm vô nhiễm. Giữ gìn giới cấm không sai phạm. Nguyện khắp chúng sinh đều thanh tịnh . Lúc đọc câu kệ chót, tay phải cầm bình nước dội lên tay trái, rửa sạch hai tay, rồi lấy khăn sạch lau cho khô.

hương thuỷ tiền

(香水錢) Tiền do tăng ni nộp cho quan phủ để được cấp độ điệp. Vào cuối đời Đường, sau loạn An lộc sơn và Sử tư minh, binh lính đói khổ, nhân dân khốn quẫn, nên Tể tướng Bùi miện tâu vua Đường túc tông, đề nghị thu thuế của tăng ni, gọi là Hương thủy tiền, để giúp cho việc quân nhu. Tức là trong nước ai muốn xuất gia làm tăng ni thì phải nộp tiền trước, rồi mới được xuất gia thụ giới.[X. chương Thích thần hội trong Tống cao tăng truyện Q.8]. (xt. Độ Điệp).

hương tháp

(香塔) Ngôi tháp nhỏ làm bằng bột hương trộn lẫn với bùn. Trong tháp tôn trí kinh văn để cúng dường lễ bái. (xt. Tháp).

hương thần

xem càn-thát-bà. ; (香神) Phạm: Gandharva. Dịch âm: Càn thát bà thần. Cũng gọi Hương ấm thần, Tầm hương thần, Hương âm thần, Nhạc thần. Tên vị thần trông coi về âm nhạc của trời Đế thích, là một trong 8 bộ chúng. Thức ăn của thần Càn thát bà là hương và toàn thân ngài toát ra mùi thơm, vì thế gọi là Hương thần. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.5]. (xt. Càn Thát Bà).

hương thốn

(香寸) Đơn vị thời gian được tính bằng độ dài của nén nhang. Thời xưa, trong tùng lâm, nén nhang thường được cắt ra làm 1 tấc(khoảng 3 cm) hoặc 2 tấc để làm tiêu chuẩn mà tính thời gian ngồi thiền.

Hương Thủy Hải

(香水海): biển lớn bao bọc chung quanh chu vi của núi Tu Di (s, p: Sumeru, 須彌山), nước biển có đủ tám thứ công đức (lắng sạch, trong lạnh, ngọt ngon, nhẹ mềm, tươi mát, an hòa, trừ đói khát, nuôi lớn các căn) thù thắng. Hơn nữa, vị nước có mùi thơm phức tuyệt hảo, nên được gọi là Hương Thủy Hải. Như trong Nguyên Tẩu Hành Đoan Thiền Sư Ngữ Lục (元叟行端禪師語錄, CBETA No. 1419) có câu: “Thống bách ức Hương Thủy Hải, vi nhất phước hải, vĩnh vĩnh vô cùng; tụ bách ức Tu Di Sơn, vi nhất thọ sơn, nguy nguy bất động (統百億香水海、爲一福海、永永無窮、聚百億須彌山、爲一壽山、巍巍不動, thâu cả trăm ức Biển Hương Thủy làm thành một biển phước, mãi mãi không cùng; tập trung trăm ức Núi Tu Di làm thành một núi thọ, sừng sững không động).”

hương ti

(香司) Chức vụ phụ trách việc báo giờ giấc trong Thiền lâm. Ngày xưa thường đốt hương để tính thời khắc, cho nên gọi chức vụ ấy là Hương ty.

Hương trai

(香齋): từ mỹ xưng của cỗ chay thanh tịnh, ngát hương thành kính, nhất tâm cúng dường. Như trong Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển 1 có bài tán: “Cát tường hội khải, Cam Lộ môn khai, cô hồn Phật tử giáng lâm lai, văn pháp phó hương trai, huýnh thoát luân hồi, u ám nhất thời khai (吉祥會啟、甘露門開、孤魂佛子降臨來、聞法赴香齋、迥脫輪回、幽暗一時開, cát tường hội mở, Cam Lộ cửa bày, cô hồn Phật tử giáng xuống đây, nghe pháp dự cỗ chay, mãi thoát luân hồi, u ám tỏa sáng khai).” Hay trong Tức Hưu Khế Liễu Thiền Sư Thập Di Tập (卽休契了禪師拾遺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1408) có bài Đề Long Vương Thỉnh La Hán Trai Đồ (題龍王請羅漢齋圖) rằng: “Long Vương cung lí bão hương trai, độ thủy xuyên vân phí vãng lai, hà tợ lăng hư chấn Kim Tích, triêu du Nam Nhạc mộ Thiên Thai (龍王宮裏飽香齋、渡水穿雲費往來、何似凌虛振金錫、朝遊南嶽暮天台, trong cung Long Vương no cỗ chay, vượt nước xuyên mây nhọc đến đây, sao giống lướt không chấn Tích Trượng, sáng chơi Nam Nhạc tối Thiên Thai).”

Hương Trù

(香廚[厨]): từ mỹ xưng của Nhà Bếp (Nhà Trù) trong các tự viện Phật Giáo, cũng là từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Từ “hương (香)” ở đây vốn phát xuất từ điển cứ “hương phạn (香飯)” trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10: “Ư thị Hương Tích Như Lai dĩ chúng hương bát thạnh mãn hương phạn, dữ hóa Bồ Tát (於是香積如來以眾香缽盛滿香飯、與化菩薩, lúc bấy giờ Hương Tích Như Lai lấy các bình bát hương thơm bỏ đầy thức ăn thơm, đưa cho các Bồ Tát hóa hiện).” Như trong bài thơ Xã Tập Thiên Giới Tuần Công Phòng (社集天界循公房) của Cố Mộng Du (顧夢游, 1599-1660) nhà Thanh có câu: “Trượng tiền tằng bất hệ, tùy ý khất Hương Trù (杖錢曾不繫、隨意乞香廚, bạc tiền chưa từng buộc, tùy ý xin cơm chùa).” Trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 48 có đoạn: “Dạ minh liêm ngoại thiên phong tú, loan kính đài tiền vạn tượng thù, tảo túng diệt tích, bất lập tri thù, thùy vi Phật Điện, thùy thị Hương Trù (夜明簾外千峰秀、鸞鏡臺前萬象殊、掃蹤滅跡、不立錙銖、誰爲佛殿、誰是香廚, đêm sáng ngoài rèm ngàn núi đẹp, kính soi trước đài muôn cảnh sai, quét tung xóa tích, chẳng cần tiền bạc, ai là Điện Phật, ai là Bếp Chùa).”

hương trù

(香厨) Cũng gọi Hương tích. Nhà bếp của Tăng viện. Danh từ này lấy điển tích cơm thơm ở cõi Phật Hương tích trong kinh Duy ma cật. (xt. Hương Tích Phạn).

hương trần

(香塵) Cảnh sở duyên của thức mũi và căn mũi. Một trong 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Trần nghĩa là bụi bậm nhiễm ô, vì nó hay làm cho tâm thức nhơ nhớp, khiến chân tính không hiển lộ ra được. Các loại hương từ chiên đàn, trầm hương, hương của các thức ăn uống, hương trên thân thể người nam, người nữ, cho đến tất cả những thứ mùi thơm, mùi hôi, v.v... đều là Hương trần. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.28].

hương tuý sơn

(香醉山) I. Hương Túy Sơn. Hương túy, Phạm, Pàli: Gandhamàdana. Dịch âm: Càn đà ma ha thuật, Kiện đà ma la. Cũng gọi Hương thủy sơn, Hương tích sơn, Hương sơn. Núi ở vùng cực bắc của châu Diêm phù đề. Núi này có các mùi hương làm cho người ta bị say, cho nên gọi là Hương túy. Cứ theo kinh Khởi thế nhân bản quyển 1, phẩm Diêm phù châu trong kinh Khởi thế quyển 1, thì có vô lượng Khẩn na la (thần âm nhạc) sống trong Hương sơn, thường tấu nhạc và múa hát, có các loại cây tỏa ra mùi thơm, cũng là chỗ ở của các vị thần Đại uy đức. Trong núi có 2 hang động Tạp sắc và Thiện Tạp sắc, do 7 thứ báu như mã não, v.v... tạo thành. Hang dài và rộng 50 do tuần, là nơi ở của vua Càn thát bà và 500 Khẩn na la nữ. Phía bắc 2 hang động này lại có Đại sa la thụ vương, rừng cây Bát thiên sa la và hồ Mạn đà cát ni. Từ xưa, tín đồ của Ấn độ giáo tin rằng trên đỉnh núi này là cõi trời của thần Thấp bà (Phạm:Ziva), trong đó có cung điện của thần Cung tì la. Cho đến nay, người Ấn độ vẫn cho núi Hương túy là núi thiêng. Cứ theo vị trí và hình dáng được mô tả trong kinh điển, thì núi này có lẽ là núi Kailàsa, đứng sừng sững trên bờ phía bắc hồ Mànasa trong dẫy núi Himalayas ngày nay. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; luận Câu xá Q.11; luận Lập thế a tì đàm Q.2]. II. Hương Túy Sơn. Cũng gọi Tiểu thanh lương cảnh. Núi ở mạn tây bắc của thành phố Bắc bình, Trung quốc, nổi tiếng là nơi thâm u tịch mịch. Trong núi có dòng suối, nước ngọt và mát. Thổ dân dẫn nước ấy vào ruộng để cấy lúa, trồng sen, có mùi thơm lạ, chính vì thế mà núi được gọi là Tiểu thanh lương cảnh. Thời xưa trong núi này có chùa Hương sơn. (xt. Hương Sơn Tự).

Hương Tích

(香積): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của vị Phật ở thế giới của các loại hương thơm. Như trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (維摩詰所說經, Taishō Vol. 14, No. 475) quyển Hạ, Phẩm Hương Tích Phật (香積佛品) thứ 10, có đoạn: “Thượng phương giới phân quá tứ thập nhị Hằng hà sa Phật độ, hữu quốc danh Chúng Hương, Phật hiệu Hương Tích, kim hiện tại kỳ quốc hương khí, tỷ ư thập phương chư Phật thế giới nhân thiên chi hương, tối vi đệ nhất; bỉ độ vô hữu Thanh Văn, Bích Chi Phật danh, duy hữu thanh tịnh đại Bồ Tát chúng, Phật vi thuyết pháp; kỳ giới nhất thiết giai dĩ hương tác lâu các, kinh hành hương địa, uyển viên giai hương, kỳ thực hương khí, châu lưu thập phương vô lượng thế giới (上方界分過四十二恆河沙佛土、有國名眾香、佛號香積、今現在其國香氣、比於十方諸佛世界人天之香、最爲第一、彼土無有聲聞、辟支佛名、唯有清淨大菩薩眾、佛爲說法、其界一切皆以香作樓閣、經行香地、苑園皆香、其食香氣、周流十方無量世界, thế giới phương trên phân quá bốn mươi hai Hằng hà sa cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương [các loại hương], đức Phật hiệu là Hương Tích, nay hiện tại hương khí của nước ấy, so sánh với hương của trời người trong thế giới của mười phương các đức Phật, tột cùng số một; quốc độ kia không có tên Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ có chúng đại Bồ Tát thanh tịnh, Phật vì họ thuyết pháp; thế giới ấy tất cả đều lấy hương làm thành lầu gác, kinh hành nơi đất hương, vườn nhà đều ngát hương, họ ăn hương khí, cùng khắp mười phương vô lượng thế giới).” (2) Chỉ cõi nước Phật, tự viện Phật Giáo. Như trong bài thơ Thu Dạ Túc Công Phòng Hỷ Phổ Môn Thượng Nhân Tư Dương Tiện Sơn Chí (秋夜肅公房喜普門上人自陽羡山至) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, 709-780) nhà Đường có câu: “Tảo vãng lai Hương Tích, hà nhân trú Ốc Châu (早晚來香積、何人住沃洲, sớm chiều đến Hương Tích, người nào sống Ốc Châu).” Hay trong bài thơ Quá Trung Phong Lễ Thương Công Tháp (過中峰禮蒼公塔) của Ngô Vĩ Nghiệp (吳偉業, 1609-1671) nhà Thanh cũng có câu: “Điểu đề hương tích tán, hoa lạc ảnh đường cô (鳥啼香積散、花落影堂孤, chim kêu chùa tan tác, hoa rụng bóng nhà đơn).” (3) Chỉ thức ăn của chúng tăng hay Đạo sĩ. Như trong bài thơ Lão Trần Đạo Nhân Tự Vân Mộng Bị Chiêu Tác Địa Thượng Chủ Giả Hựu Thường Thọ Nhất Quý Gia Cúng Chúc Chi Viết Tha Nhật Tất Lai Ngô Gia Tác Nhi Hí Tặng Tiểu Tụng (老陳道人自雲夢被召作地上主者又常受一貴家供祝之曰他日必來吾家作兒戲贈小頌) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Hạnh hữu thiên môn hương tích cúng, bất như tùy hỷ khử la trai (幸有千門香積供、不如隨喜去羅齋, may có ngàn nhà dâng cơm cúng, không bằng tùy hỷ bỏ mời ăn).” (4) Từ gọi tắt của Hương Tích Trù (香積廚, Bếp Hương Tích). Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Thỉnh Phật Văn (請佛文), có đoạn: “Sái phi phi chi pháp vũ, phiến táp táp chi từ phong, quảng khai Hương Tích chi trù, phổ hiến Tô Đà chi soạn (洒霏霏之法雨、扇颯颯之慈風、廣開香積之廚、普獻酥酡之饌, rưới lả tả ấy mưa pháp, quạt vù vù ấy gió từ, rộng mở Hương Tích bếp trời, cúng khắp Tô Đà cỗ lạt).” Hay trong Hoa Nghiêm Kinh Chú Sớ (華嚴經疏注, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 7, No. 234) quyển 4 lại có câu: “Hương Tích thế giới, xan hương phạn, nhi Tam Muội hiển; Cực Lạc Phật quốc, thính phong kha, nhi chánh niệm thành (香積世界、餐香飯、而三昧顯、極樂佛國、聽風柯、而正念成, Hương Tích thế giới, ăn cơm hương, mà Tam Muội tỏ; Cực Lạc Phật quốc, nghe gió lay, mà chánh niệm thành).”

hương tích phạn

(香積飯) Cũng gọi Hương phạn. Cơm có mùi thơm vi diệu ở cõi nước Chúng hương của đức Phật Hương tích. Phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 552 trung), nói: Lúc đó, đức Phật Hương tích lấy bát đựng đầy cơm thơm trao cho Hóa Bồ tát .

hương tích phật

(香積佛) Cũng gọi Hương đài Phật. Đức Phật trụ ở thế giới Chúng hương thuộc phương trên. Hương chỉ cho hương giới, hương định, hương tuệ, xa lìa sự nhơ nhớp của thế gian. Tích nghĩa là tụ tập, chứa góp các công đức.Phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển hạ (Đại 14, 552 trung), nói: Ở phương trên, cách thế giới Sa bà 42 hằng hà sa cõi Phật, có cõi nước tên là Chúng hương, đức Phật ở cõi nước ấy tên là Hương tích. So với mùi hương của các cõi Phật trong 10 phương thế giới, thì mùi hương của cõi này vi diệu bậc nhất. Huyền ứng âm nghĩa quyển 4 giải thích Hương tích tiếng Phạm làGandhàlaya, dịch âm là Càn đà la da. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.10].

Hương Tích Trù

(香積廚): Bếp Hương Tích. Xem Hương Tích bên trên và Hương Trù (香廚) bên dưới.

hương tích tự

(香積寺) Chùa ở phía nam huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây, được xây dựng vào năm Thần long thứ 2 (706) đời vua Trang tông nhà Đường, để kỉ niệm đại sư Thiện đạo. Đến đời Tống, chùa được đổi tên là Khai lợi tự. Sang đời Minh chùa được trùng tu và khôi phục lại cảnh quan cũ. Chùa có tòa tháp gạch 5 tầng, qua 2 trận động đất, đỉnh tháp và vài tầng trên đã bị lở. Hiện nay vẫn còn nhưng cảnh quan không được như xưa.

hương tính sa la môn

(香姓娑羅門) Hương tính, Phạm: Droịa. Pàli:Doịa. Cũng gọi Đậu ma bà la môn, Đầu na bà la môn, Đồn khuất bà la môn, Đột lộ noa bà la môn. Người Bà la môn họ Hương, ông này đã đề nghị chia xá lợi của đức Phật làm 8 phần. Khi đức Phật nhập diệt, Kim thân của Ngài được đồ tì (hỏa thiêu), sau đó, vua các nước đều muốn thỉnh xá lợi về nước mình để phụng thờ, cho nên đã đưa đến sự tranh chấp. Bấy giờ Bà la môn họ Hương mới đề nghị chia xá lợi làm 8 phần cho 8 nước để xây tháp cúng dường. Mọi người đều hoan hỷ chấp thuận đề nghị ấy và cuộc tranh giành chấm dứt. [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển)].

hương tượng

(香象) I. Hương Tượng. Phạm: Gandhahastin, gandha-gaja. Mùi thơm toát ra từ ngà con voi đực trong thời kì giao phối. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 30, thì thời kì này voi đực rất mạnh, tính hung bạo, khó chế phục, sức của nó mạnh bằng 10 con voi bình thường. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; Chú duy ma kinh Q.1]. II. Hương Tượng. Cũng gọi Tượng lô. Lò đốt hương hình con voi được dùng trong đạo tràng quán đính bí mật của Mật giáo. Lúc thụ quán đính, trước khi vào đàn, người thụ bước qua Hương tượng, nhờ mùi thơm xông lên mà thân được thanh tịnh. Ngoài ra, nghi thức truyền pháp của tông Tịnh độ Nhật bản cũng dùng lò hương hình con voi, gọi là Xúc hương. [X. Nhũ vị sao Q.16].

Hương Tượng Bồ Tát

(香象菩薩): xem Càn Đà Ha Đề (s: Gandha-hastin, 乾陀訶提) bên trên.

hương tượng bồ tát

(香象菩薩) Hương tượng, Phạm: Gandha-hastin. Dịch âm: Càn đà ha đề bồ tát, Càn đà ha trú bồ tát. Kiền đà ha sa để bồ tát. Cũng gọi Hương huệ bồ tát, Xích sắc bồ tát, Bất khả tức bồ tát. Vị Bồ tát thứ nhất trong 4 vị tôn phía nam trên phương đàn của viện ngoài trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là một trong 16 vị tôn của Hiền kiếp. Hương nghĩa là lan tỏa khắp mà không ngại; Tượng nghĩa là hạnh đầy đủ và có sức mạnh to lớn. Hương tượng biểu thị hạnh và quả đều viên mãn. Hình tượng vị Bồ tát này, thân mầu da trắng, ngồi trên hoa sen, tay phải nắm lại, cầm hoa sen để ở trước ngực, trên hoa có hộp hương, tay trái nắm lại đặt ở trên bẹn. Mật hiệu là Đại lực kim cương, Hộ giới kim cương. Trong các kinh Đại thừa như: Tiểu phẩm bát nhã quyển 9, Vô lượng thọ quyển thượng, A di đà, v.v... thường thấy danh hiệu của vị Bồ tát này. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.9; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.hạ].

hương tượng độ hà

(香象渡河) Hương tượng qua sông, chân nó đặt tận đáy nước, ví dụ người nghe giáo pháp, chứng được chỗ sâu xa. Trong các kinh luận thường nói về 3 con thú qua sông là thỏ, ngựa, hương tượng, để ví dụ chỗ chứng đắc có sâu, nông khác nhau khi nghe giáo pháp. Chẳng hạn như thỏ qua sông thì nổi, ngựa qua sông thì chìm phân nửa thân, còn hương tượng qua sông thì chân giẫm đến đáy nước. Người thời nay cũng cho rằng bình luận văn chương đến chỗ thấu triệt, gọi là Hương tượng độ hà.

hương vi phật sứ

(香爲佛使) Mùi hương là sứ giả của Phật, vì mùi hương có khả năng thông đạt lòng tin của người đời đến đức Phật. [X. thiên Phó thỉnh trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ].

hương vương bồ tát

(香王菩薩) Hương vương, Phạm: Gandha-ràja. Dịch âm: Kiền đà la xà. Cũng gọi Hương vương quan âm. Vị Bồ tát bản tôn trong pháp tu tăng ích, diệt tội, là quyến thuộc của bồ tát Quan âm. Hương nghĩa là lan tỏa khắp nơi; Vương nghĩa là tự tại. Hương vương biểu thị nghĩa tự tại hóa độ chúng sinh khắp pháp giới. Cứ theo kinh Hương vương bồ tát đà la ni chú, thì hình tượng vị Bồ tát này, thân mầu da trắng, ngồi kết già trên hoa sen, diện mạo đoan chính, đầu đội mũ trời, cổ đeo chuỗi ngọc, tay phải buông xuống, năm ngón duỗi thẳng như kết ấn Thí vô úy, tượng trưng cho mưa cam lộ từ năm đầu ngón tay tuôn xuống, để bố thí cho chúng sinh trong năm đường. Cánh tay trái co lại, cầm hoa sen đặt ở trước ngực, hoa sen này là từ tòa sen của Ngài ngồi hiện ra. Phía sau Bồ tát có vòng hào quang, trên có lọng che. Y phục của Ngài là gấm mịn 5 mầu, 2 cánh tay có buộc dây lụa mầu đỏ, mầu vàng đính châu ngọc. Pháp tu lấy vị Bồ tát này làm Bản tôn để cầu diệt tội, gọi là Hương vương bồ tát pháp. Khi tu pháp này thì thiết lập một đàn vuông 4 tấc ở phía trước tượng, dâng hương, đèn và phẩm vật cúng dường; nửa đêm hành giả thức dậy, y phục trang nghiêm thanh tịnh, tụng 1.008 biến thần chú Hương vương bồ tát, nếu đến sáng mà không buồn ngủ, thì những điều mong cầu đều được toại nguyện.

hương xà lê

(香闍梨) Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Ngụy, trụ trì chùa Phi phó, núi Thanh thành, Ích châu (huyện Quán, tỉnh Tứ xuyên). Thời bấy giờ có tập tục hàng năm đến ngày mùng 3 tháng 3, dân chúng lên núi Thanh thành du ngoạn, mang theo rượu thịt để vui say. Hương xà lê thường đến khuyên răn nhưng họ vẫn không bỏ. Một năm nọ, vào dịp này, sư cũng đến tham dự tiệc rượu, mọi người tranh nhau chuốc rượu dâng thịt, dâng đến đâu hết đến đó. Ăn xong, sư kêu đau bụng, rồi nôn ra đủ thứ, nào thịt gà, thịt dê, cá, cua, ngỗng, vịt, sau đó biến thành những con vật chạy nhảy bơi lội lẫn lộn, khiến mọi người đều kinh hãi, phát nguyện không giết hại, không ăn thịt nữa. Từ đó, phong cảnh núi Thanh thành cũng đổi mới. Sau khi sư thị tịch, lúc di quan, các đệ tử lấy làm lạ vì quan tài rất nhẹ, mở ra thì không thấy nhục thân của sư, chỉ còn cây tích trượng mà thôi. [X. Tục cao tăng truyện Q.25, Q.26].

hương y

(香衣) Cũng gọi Hương nhiễm, Hương bào thường, Hương phục. Áo pháp được nhuộm bằng nước của vỏ cây càn đà(vỏ cây hương, có mùi thơm). (xt. Ca Sa, Hương Ca Sa).

hương điện

(香奠) Cũng gọi Hương điển, Hương tiền, Hương tư, Hương nghi. Dâng cúng hương hoa phẩm vật trước Phật hoặc trước bàn thờ vong linh.

hương đình

(香亭) Chiếc khám nhỏ dùng để đặt lư hương, thường dùng trong nghi thức chôn cất. Hình dáng khám này giống như cái đình, 4 mặt được che bằng lụa mỏng, dưới rèm phía trước treo tấm biển đề 2 chữ Hương Đình , bên trong đặt một lư hương lớn. Khi cử hành tang lễ của bậc tôn túc trong tùng lâm, thì Hương đình được sắp hàng đi trước Chân đình (Khám đặt ảnh tượng bậc tôn túc). [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Thiền uyển thanh qui Q.7; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hương đăng

(香燈) Hương và đèn, hoặc chỉ cho người trông coi việc đốt nhang, thắp đèn trong các chùa viện.

hương ấn

(香印) Cũng gọi Hương triện. Một loại hương được làm theo hình dáng chữ Triện. Thời xưa, trong tùng lâm thường đốt hương này để tính biết giờ khắc.

Hướng

向; C: xiàng; J:; kō.|Có các nghĩa sau: 1. Có khuynh hướng về, tiến hành theo; 2. Phát tâm tu tập. Lúc mới phát nguyện tu tập; 3. Giai đoạn tu tập ở mức độ nhất định của một giai vị trước khi hoàn bị một giai vị đặc biệt. Ngược với thuật ngữ Quả (果) hoặc »hoàn bị«. Chẳng hạn như Tứ hướng (四向).

hướng

xem Bốn hướng.

Hướng dương

(向陽): có hai nghĩa. (1) Đối diện, hướng về phía mặt trời. Như trong Nhàn Cư Phú (閑居賦) của Phan Nhạc (潘岳, 247-300) nhà Tây Tấn có câu: “Nhương Hà y âm, Thời Hoắc hướng dương (蘘荷依陰、時藿向陽, rau Nhương Hà nương bóng râm, dâu Thời Hoắc hướng mặt trời).” (2) Tỷ dụ việc thọ nhận ơn ngộ. Có loại Hướng Nhật Quỳ (向日葵), hay Hướng Dương Quỳ (向陽葵), một giống quỳ một rò (nhánh) mọc thẳng, vào khoảng cuối Thu đầu Hạ nở hoa vàng. Tính nó thường cứ chầu hướng về mặt trời, nên có tên gọi như vậy. Người ta thường dùng làm tiếng để tỏ lòng kẻ dưới hướng mộ người trên.

hướng hoả

(向火) Ngồi cạnh lò than để sưởi ấm vào mùa đông. Cứ theo điều Nhật dụng qui phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, thì khi hướng hỏa(sưởi ấm) phải ngồi ngay thẳng gần lò sưởi, vái chào mọi người, không được đùa nghịch thìa xúc hương, đũa gắp lửa, không được bươi lửa làm cho tro bay, không được chụm đầu nói chuyện, không được nướng các vật để ăn, không được sấy giầy dép, hơ quần áo, cũng không được vén quần áo để lộ da thịt, không được khạc nhổ hay vứt bỏ vật dơ bẩn vào trong lửa. Nhưng theo luật Tứ phần quyển 59, thì hướng hỏa có 5 điều hại: 1. Làm cho người ta mất vẻ hồng hào. 2. Làm cho sức khỏe tổn giảm. 3. Làm cho mờ mắt. 4. Gây sự ồn ào. 5. Thường nói việc thế tục. [X. chương Nam tuyền phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.9].

hướng hạ

(向下) Đối lại: Hướng thượng. I. Hướng Hạ. Cũng gọi Hướng hạ môn, Thuận vạn (..) tự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ cảnh giới đại ngộ mà hiển hiện sức diệu dụng tự tại, tùy thuận căn cơ để tiếp hóa người học; thuộc về môn lợi tha. II. Hướng Hạ. Tức là Hướng hạ môn được nói trong luận Ma ha diễn, là 1 trong 2 môn của Sinh diệt môn. III. Hướng Hạ. Gọi đủ: Hồi văn hướng hạ. Tức là trước hết dẫn văn kinh rồi sau mới giải thích. Một trong 12 cách khẩu truyền của Mật giáo. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền, Hướng Thượng).

hướng khứ

(向去) I. Hướng Khứ. Phát tâm hướng về Phật tính xưa nay vốn có của chính mình. II. Hướng Khứ. Đối lại với Hướng lai. Đồng nghĩa với Hướng hậu. Nghĩa là sau này, từ nay về sau. III. Hướng Khứ. Đối lại với Khước lai. Hướng tới chính vị, gọi là Hướng khứ; từ chính vị hướng tới thiên vị, thì gọi là Khước lai. [X. chương Đức sơn Tuyên giám trong Tổ đường tập Q.5; chương Thạch sương Khánh chư trong Tổ đường tập Q.6; Thiền lâm tượng khí tiên Q.6].

hướng lai

(向來) Đối lại với Hướng khứ. Nghĩa là từ xưa đến nay. Chương Thuyền tử Đức thành trong Tổ đường tập quyển 5 có từ ngữ Hướng lai sở nghị (những điều được bàn từ xưa đến nay). Ngoài ra trong bài thơ Vãn ca (thơ viếng người chết) của Đào tiềm có câu: Hướng lai tương tống nhân. Các tự hoàn kì gia . (Xưa nay cùng tiễn người. Rồi ai về nhà nấy). (Xt. Hướng Khứ).

hướng thượng

(向上) I. Hướng Thượng. Đối lại với Hướng hạ. Cũng gọi Hướng thượng môn, Nghịch vạn(..) tự. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ cảnh giới mê vọng nỗ lực cầu Bồ đề hướng tới cảnh giới giác ngộ giải thoát, thuộc về môn tự lợi. Từ ngữ Hướng thượng được thấy rải rác trong các sách vở của Thiền tông và tùy theo trường hợp mà được ghép chung với những từ khác để diễn đạt ý nghĩa, như: -Hướng thượng nhất lộ, Hướng thượng đạo: Biểu thị chỗ chí cực của đại đạo và cảnh giới đại ngộ. -Hướng thượng cực tắc sự, Hướng thượng quan lệ tử, Hướng thượng sự: Mô tả việc tìm cầu lí sâu xa rất mực của Phật đạo. -Hướng thượng nhất lộ, thiên thánh bất truyền: Hình dung cảnh giới giác ngộ chân thực tuyệt đối mà chư Phật và Tổ sư các đời không hề nói đến, chỉ do người tu thiền tự tham cứu mà thể nhận được thôi. -Hướng thượng chuyển khứ: Từ cảnh giới tương đối của phàm phu mà hướng tới cảnh giới tuyệt đối của chư Phật. -Hướng thượng cánh đạo: Khi vị thầy bảo đệ tử hoặc Thiền khách đưa ra kiến giải triệt để thì thường dùng từ này để biểu thị. -Hướng thượng kiềm chùy: Tức là Đệ nhất nghĩa đế mà vị thầy dùng để tiếp hóa và rèn luyện người học. -Hướng thượng nhất cơ: Chỉ cho lực lượng và cơ dụng mà người học nhờ đó có thể tiến thẳng vào cảnh giới rốt ráo của chư Phật. -Hướng thượng nhân, Hướng thượng cơ: Chỉ cho người có năng lực thể nhận cảnh giới của chư Phật một cách triệt để. -Hướng thượng nhất cú: Câu nói đưa đến cảnh giới giác ngộ cùng tột. -Hướng thượng tông thừa: Tức là yếu chỉ sâu xa cùng cực của Thiền tông. [X. tắc 10, 11, 43 trong Bích nham lục; Tắc 31, 83 trong Thung dung lục]. II. Hướng Thượng. Tức là Hướng thượng môn được nói trong luận Thích ma ha diễn quyển 2, là 1 trong 2 môn của Sinh diệt môn. III. Hướng Thượng. Gọi đủ: Hồi văn hướng thượng. Lời chú giải được ghi ở trên mỗi danh từ, là một trong 12 cách truyền khẩu của Mật giáo. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền).

hướng thượng nhất lộ

(向上一路) Đồng nghĩa với Hướng thượng nhất trước. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho Đại đạo chân chính tuyệt đối, dứt bặt ngôn ngữ, suy tư. Chương Bàn sơn Bảo tích trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 253 trung), nói: Một con đường hướng thượng, nghìn Thánh không truyền, người học luống công, nhọc mình, như vượn bắt bóng . Vì con đường hướng thượng này là đạo mầu nhiệm, xa thẳm mà nghìn Thánh không truyền, là cái mà đức Thích ca không nói, ngài Đạt ma im lặng, vượt ngoài ngôn ngữ tâm niệm, đó là đạo vô thượng chí chân, chỉ tự chứng tự biết mà thôi. [X. tắc 12 trong Bích nham lục].

hướng vị

xem Bốn hướng.

hưởng cốc triệt

(響穀徹) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, Trung quốc, người huyện Quyên xuyên, tỉnh Hồ nam, họ Hoàng, hiệu Hưởng cốc. Sư xuất gia năm 23 tuổi, sau tham học thiền sư Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng, có chỗ khế ngộ. Sư lại lần lượt tham phỏng khắp các tùng lâm, cuối cùng thờ ngài Vạn như Thông vi ở Long trì, Giang tô, làm thầy, được nối pháp của ngài và trụ trì chùa Vạn tùng tại Kim lăng. Năm Khang hi 12 (1673) sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Sư có tác phẩm: Hưởng cốc Triệt thiền sư ngữ lục 10 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.72].

hưởng đường

(享堂) Ngôi nhà thờ hình tượng và bài vị của các bậc Tổ sư trong các chùa viện của Thiền tông. Vì ngôi nhà này là nơi tế tự, dâng lễ vật cúng dường Tổ sư nên gọi là Hưởng đường. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hưởng đường sơn thạch quật

(響堂山石窟) Cũng gọi Hưởng đường sơn tự. Hang động ở núi Hưởng đường. Có Bắc Hưởng đường và Nam Hưởng đường. Bắc Hưởng đường nằm ở huyện Vũ an, tỉnh Hà nam, còn Nam Hưởng đường thì nằm ở huyện Từ, tỉnh Hà bắc, Trung quốc. Hai động cách nhau khoảng 15 km, được khai tạo vào khoảng những năm 550-557 đời Bắc Tề. Vì trong động này chỉ phất tay áo là có thể phát ra các thứ tiếng chiêng, tiếng trống vang vang nên có tên là Hưởng đường sơn (núi nhà tiếng vang), Cổ sơn (núi trống), Thạch cổ sơn (núi trống đá), Phũ sơn. Hưởng đường sơn (cả Nam và Bắc) có tất cả 16 động đá, với hơn 3.400 pho tượng lớn nhỏ. Cácđộng sâu thẳm, cấu trúc tinh xảo, đặc biệt là những pho tượng, trông rất sinh động, nổi tiếng gần xa. Ngoài ra, các kiến trúc phụ thuộc trong hang động cũng có qui mô hoành tráng, dựa theo thế núi, trùng trùng điệp điệp. Đây là di sản quí giá về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, thư pháp, hội họa, v.v... của Trung quốc cổ đại. (xt. Thạch Quật).

hạ

1) Hina (p & skt)—Dưới thấp: Low—below—Inferior. 2) Hạ giải: Vui mừng khi chấm dứt ngày an cư kiết hạ, chư Tăng Ni được các thí chủ cúng dường mừng tuổi hạ—To make offerings in congratulation. 3) Mùa hè: Summer. ; (賀) Cũng gọi Ha, Ca. Chữ Tất đàm (ha). Một trong 50 chữ cái Tất đàm. Để phân biệt với chữ Ca, xưa nay gọi nó là chữ Hạ của nghiệp nhân. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 339 thượng), nói: Chữ Hạ, nhân của tất cả pháp bất khả đắc .Kinh Đại nhật quyển 7 giải thích chữ Hạ, cho rằng nó là nhân của tất cả các pháp bất khả đắc, bởi vì tiếng Phạm Đát phạ (hetavas, là số nhiều củahetu) nghĩa là nhân. Vì tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh, nhân duyên này cũng do nhân duyên sinh, cứ thế xoay vần cái này làm duyên sinh ra cái kia, cuối cùng không có chỗ nương, cho nên lấy vô trụ làm gốc. Vốn đã chẳng sinh, thì nhân là pháp giới, mà duyên cũng là pháp giới và pháp do nhân duyên sinh cũng là pháp giới. Như chữ A vốn chẳng sinh mà có thể sinh tất cả pháp, chữ Hạ ở đây không có nhân đối đãi mà có năng lực làm nhân thể của các pháp. [X. kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Tự mẫu thứ 14 trong kinh Văn thù vấn; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2, phẩm Bách tự thành tựu trì tụng Q.6 kinh Đại nhật; kinh Bất không quyển sách thần biến chân ngôn Q.14].

hạ an cư

See Hạ Tọa.

hạ bát

(下鉢) I. Hạ bát. Bát cỡ nhỏ. Tùy theo dung lượng của bát mà có 3 loại khác nhau: Thượng bát (Pàli: Ukkaỉỉha-patta), Trung bát (Pàli: Majjhima-patta), Hạ bát (Pàli:Omakapatta). Cứ theo luật Tứ phần quyển 9, thì dung lượng của Hạ bát là một đấu rưỡi. (xt. Bát). II. Hạ bát. Phép ăn của Thiền gia. Điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 hạ), nói: Khi nghe hiệu thông báo giờ dùng cơm trước hết mọi người ngồi vào chỗ của mình, chờ đánh xong 3 hồi bảng thì đứng hạ bát (đến giá để bát lấy bát xuống).

hạ bối quán

Thiền quán theo lối Tịnh Ðộ. Theo Kinh Vô Lượng Thọ, những ai phạm phải tội ngũ nghịch và thập ác sẽ rơi vào các đường dữ của địa ngục; tuy nhiên, nếu khéo biết trì niệm hồng danh Phật A Di Ðà, họ vẫn được cứu độ. Họ vẫn thoát khỏi vô lượng kiếp luân hồi khổ sở và trong lúc lâm chung sẽ nhìn thấy Liên Hoa và bằng cách tưởng nghĩ đến một niệm Di Ðà sẽ được vãng sanh vào cõi nước Tịnh Ðộ của Ðức Phật A Di Ðà—A meditation of the Amitabha sect. According to the Infinite Life Sutra, those who have committed the five rebellious sins (ngũ nghịch) and the ten evils (thập ác) should have fallen into the lowest gati (be rebirth in the uninterrupted hells); however, if they invoke the name of Amitabha, they can still obtain salvation. They can still escape countless of reincarnation and suffering and on dying they will behold a lotus flower and by response of a single thought on the name of Amitabha, will enter the Pure Land of Amitabha.

Hạ Bổn Kỳ Giác

(榎本其角, Enomoto Kikaku, 1661-1707): hay Bảo Tỉnh Kỳ Giác (寶井其角), nhà thơ Haiku sống vào đầu thời đại Giang Hộ, họ chính là Trúc Hạ (竹下), họ của mẹ là Hạ Bổn (榎本); tên chính thức là Trúc Hạ Khản Hiến (竹下侃憲, Takeshita Tadanori); hiệu là Bảo Tấn Trai (寶晉齋); biệt hiệu là Loa Xá (螺舍), Cuồng Lôi Đường (狂雷堂), Tấn Tử (晉子), Bảo Phổ Trai (寶普齋); người vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ông xuống Giang Hộ, theo học với Ba Tiêu (芭蕉, Bashō), có cú phong rất sáng sủa. Sau khi Thầy qua đời, ông sáng lập ra phong cách Sái Lạc (洒落) và mở ra Phái Giang Hộ. Soạn tập của ông có Hoa Trích Tập (華摘集), Khô Vĩ Hoa (枯尾華), Ngũ Nguyên Tập (五元集), v.v.

Hạ bổng

下棒; C: xiàbàng; J: abō;|Lối khai thị trong Thiền tông, dùng gậy để đánh, xem như là sự khuyến khích trong công phu thiền.

hạ bổng

(下棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền gia, vị thầy dùng gậy đánh đệ tử hay người đến cầu học, gọi là Hạ bổng. Vì lòng từ bi mà bậc Sư phụ dùng phương thức này để tiếp hóa đệ tử; nếu cơ duyên của người học đã chín mùi, thì nhờ cái đánh ấy mà có thể tỉnh ngộ. Cùng ý nghĩa với Hát (hét), hoặc dùng song song với Hát mà gọi là Bổng hát (đánh, hét). (xt. Hát, Bổng Hát).

hạ chuyển

Luân hồi đi xuống. Những hành động đi ngược lại Phật tánh gây nên luân hồi đi xuống—The downward turn in transmigration—Acts which are against the primal true, or Buddha-nature cause transmigration. ; (下轉) I. Hạ chuyển. Cũng gọi Hạ chuyển môn. Cùng nghĩa với Lưu chuyển. Chỉ cho bản giác chuyển xuống, từ quả đến nhân. Cũng có nghĩa là pháp chân như trong sạch của chúng sinh không có năng lực, bị các pháp nhơ nhớp tiêm nhiễm lấn lướt, đến nỗi bị chìm đắm trong thế giới khổ đau. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 (Đại 32, 610 thượng), nói: Các pháp nhơ nhớp mạnh mẽ, các pháp trong sạch yếu ớt, nên từ bản giác chuyển xuống, gọi là Hạ chuyển môn . [X. Đại nhật kinh sớ chỉ tâm sao Q.1; Thích ma ha diễn luận khai giải sao Q.7]. II. Hạ chuyển. Chư Phật tùy duyên hiển hiện đủ loại thân hình đi vào biển khổ sinh tử để hóa độ chúng sinh, cũng gọi là Hạ chuyển.

hạ chúng

1) Bảy chúng đệ tử đứng sau hàng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni: The seven lower orders of disciples who are ranked below the monks and the nuns. 2) Chúng Tỳ Kheo vào ngày an cư kiết hạ: The assembly of monks at the summer retreat. ; (下衆) Chỉ cho 7 chúng dưới tỉ khưu và tỉ khưu ni. Tức là sa di, sa di ni, học pháp nữ, xuất gia nam, xuất gia nữ, ưu bà tắc, ưu bà di. ; (夏衆) Chỉ cho đại chúng cùng tu học trong 3 tháng kết hạ an cư.

hạ chủng

Gieo giống—To sow the seed—To preach—To teach. According to the Chinese Buddhism, there are three periods: 1) Gieo: To sow the Buddha's seed—When the seed of Budha's teaching is sown in the heart. 2) Quả thục: Chín—When it ripens. 3) Thoát: When it is stripped or harvested (when one abandons all things).

hạ cánh

(夏竟) Cũng gọi Hạ giải, Hạ mạt. Ngày kết thúc hạ an cư. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, thì ngày Hạ cánh là rằm tháng 7 âm lịch; còn cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, thì là rằm tháng 8.

Hạ căn

下根; C: xiàgēn; J: gekon;|Căn cơ thấp kém. Chỉ người có nghiệp duyên nông cạn và đần độn, khó tu tập đạt giải thoát (như Độn căn 鈍根). Thường những ngưòi nầy cần có phương chước giáo hoá đặc biệt để trước mắt, họ có thể nắm bắt những điểm chính yếu của thế giới quan biểu hiện qua sự chiêm nghiệm về đạo Phật. Đó là thấp nhất trong ba căn cơ, hai hàng kia là Trung căn (中根) và Thượng căn (上根; theo kinh Niết-bàn 涅槃經).

hạ căn

Lamakindriya (p)—Low (dull) capacities—Low spiritual faculty—Sanh ra với căn tánh kém cõi hay khả năng hiểu được Phật pháp rất thấp—Those born with base characters or of low capacity to understand dharma.

hạ cự

(下炬) Cũng gọi Hạ hỏa. Nghi thức hỏa táng, có vị Đạo sư cầm đuốc. Tương truyền, Hạ cự bắt đầu từ thiền sư Hoàng bá Hi vận, khi mẹ ngài chết chìm dưới sông, ngài cầm đuốc soi sáng trong đêm tối, đọc pháp ngữ dẫn đường cho mẹ. Điều Thiên hóa Phật sự, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng, cũng có nêu ra mục Bỉnh cự. Các thuyết cũ cho Hạ cự tức là Bỉnh cự. Nhưng môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên thì cho rằng pháp ngữ của Bỉnh cự dài, pháp ngữ của Hạ cự ngắn. Lại nữa, Hạ hỏa chỉ một người làm, còn Bỉnh cự thì nhiều người lần lượt thay nhau làm. Ngoài ra, theo Hạ cự dẫn đạo tập thì bài pháp ngữ đọc lúc hạ cự phải có đủ 5 yếu tố sau đây: 1. Đức: Trong pháp ngữ phải nói đến đức hạnh của người quá cố. 2. Tử: Phải nói rõ nguyên nhân của cái chết.3. Ai: Những lời thương tiếc. 4. Hoạt: Phải tường thuật những hoạt động của người chết lúc sinh tiền. 5. Điện: Tế truy điệu người chết. [X. Tôn túc tang pháp trong Tăng đường thanh qui Q.5]. (xt. Bỉnh Cự).

Hạ Dã

(下野, Shimotsuke): tên gọi của một tiểu quốc ngày xưa, nay thuộc Tochigi-ken (栃木縣).

hạ gian

(下間) Chỉ cho những gian phòng cấp thấp trong chùa, như các phòng ở phía tây Pháp đường và Phương trượng, ở phía nam Tăng đường, phía bắc Khố tư, v.v... đều là Hạ gian. [X. chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Thiền lâm tượng khí tiên Q.2]. (xt. Thượng Gian).

hạ giọng

To lower one's voice.

hạ giới

The lower world—The human world.

hạ hóa

To save those below.

hạ hóa chúng sanh

Một trong những hạnh của một vị Bồ Tát: Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh—Below, to transform all beings, one of the great vows of a Bodhisattva:Above, to seek Bodhi; below, to transform all beings.

Hạ hạ

下下; C: xiàxià; J: gege; S: mṛdu-mṛduka.|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Kinh văn Phật giáo thường định rõ những loại như phiền não, tái sinh ở cõi trời, căn cơ của chúng sinh… thành 9 loại, là 3 dạng của các bậc thượng, trung, hạ, lại chia thành ba thứ nữa, kết quả là 9.

Hạ hạ phẩm

下下品; C: xiàxiàpǐn; J: gegehon;|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Hạ hạ.

hạ khẩu thực

Một vị sư kiếm sống bằng cách cày cấy hay những phương pháp tà vạy khác. Một trong bốn cách sống tà mệnh của người xuất gia—A monk earns his living (livelihood) by bending down to cultivate the land. Oone of the four heterodox means of living of a monk. 1) Tăng Ni làm việc kiếm sống: A monk or nun earns his or her living by bending down to cultivate the land. 2) Bốc thuốc kiếm sống; tuy nhiên nếu bốc thuốc vì nhân đạo cứu người là đúng với lòng bi mẫn Phật dạy: Colect herbs for a living; however, collecting herbs to save human lives is in compliance with the Compassion which the Buddha had taught. 3) Xem thiên văn: Một lối sống tà mạng khác là xem thiên văn—Another wrong way of earning a living is to look up and telling or guessing as in astrology. 4) Nghênh Khẩu Thực (bói quẻ): Fortune-telling. ; (下口食) Hạ khẩu, Pàli: Adhomukkha. Một trong 4 cách mưu sinh không chân chính. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 79 hạ), nói: Người xuất gia sinh sống bất tịnh bằng cách pha chế thuốc thang, gieo trồng ngũ cốc, buôn bán hàng hóa v.v... gọi là Hạ khẩu thực . (xt. Tứ Thực)

hạ kim cương

(夏金剛) Cũng gọi Vân kim cương, Thời vũ kim cương. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam của mạn đồ la Lí thú trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới Mật giáo. Vị Bồ tát này có đức thấm nhuần chúng sinh như mây mưa mùa hạ làm cho muôn vật tươi mát. [X. Lí thú thích Q.thượng; Phổ hiền kim cương tát đóa lược du già niệm tụng nghi quĩ].

hạ kinh

(夏經) Chỉ cho những bộ kinh được viết chép hoặc đọc tụng trong mùa kết hạ an cư.

hạ kiên

(下肩) Cũng gọi Kiên hạ, Kiên thứ. Đối lại với Kiên thượng (hoặc Thượng kiên). Chỉ cho vị trí ở gần kề phía dưới chỗ ngồi của mình. Trái lại, nếu vị trí gần với chỗ ngồi của mình ở phía trên, thì gọi là Thượng kiên. Điều phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui (Vạn tục 111, 441 hạ), nói: Đầu đũa và thìa quay phía thượng kiên, cái cọ bát để ở riềm ngoài của hạ kiên .

hạ la ðà

Hrada (skt). 1) Hồ: A lake—A pool. 2) Tia sáng: A ray of light.

Hạ liệt

下劣; C: xiàliè; J: geretsu;|1. Thấp kém, thấp hơn, xấu hơn; 2. Xấu, thoái hoá (s: hīna, līna, lūha).

hạ liệt

Lamako (p)—Thấp kém—Tệ—Bad—Inferior—Low—Vile.

hạ liệt chuyển

(下劣轉) Vị thứ 5 trong 6 loại chuyển vị, chỉ cho sự chứng ngộ của hàng Nhị thừa: Thanh văn, Duyên giác. Hạ liệt (thấp kém) là nói đối lại với Đại thừa; Chuyển là chuyển nhiễm ô thành thanh tịnh, chuyển mê muội thành giác ngộ.Lâm gian lục quyển hạ (Vạn tục 148, 308 hạ), nói: Hàng hạ liệt chuyển không đủ khả năng tiến tới quả vị thù thắng . (xt. Lục Chủng Chuyển Vị).

Hạ liệt thừa

下劣乘; C: xiàlièshèng; J: geretsujō;|Một cách gọi Tiểu thừa.

hạ liệt thừa

The inferior and mean yana.

hạ lưu

1) Low class. 2) Downstream.

Hạ Lạp

(夏臘, 夏臈): còn gọi là Tăng Lạp (僧臘), Pháp Lạp (法臘), Pháp Tuế (法歲), Pháp Hạ (法夏), Giới Lạp (戒臘), Tọa Lạp (坐臘), Tọa Hạ Pháp Lạp (坐夏法臘); chỉ cho số năm An Cư Kiết Hạ của vị Tỳ Kheo (s: bhikṣu, p: bhikkhu, 比丘) sau khi thọ giới Cụ Túc. Mỗi năm từ ngày 16 tháng 4 cho đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, trong vòng 3 tháng, các tòng lâm có tổ chức An Cư Kiết Hạ, lấy ngày cuối cùng của thời gian ấy làm ngày kết thúc của một năm; tức là ngày thọ thêm 1 tuổi. Cho nên, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni (s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī, 比丘尼), sau khi thọ giới xong, vào dịp kết thúc kỳ An Cư Kiết Hạ, sẽ được tăng thêm 1 tuổi nữa. Tùy theo tuổi Hạ ít nhiều mà phân làm Thượng Lạp (上臘), Trung Lạp (中臘) và Hạ Lạp (下臘), để phân định cao thấp, tôn ty thượng hạ. Người có tuổi Hạ cao nhất được gọi là Nhất Lạp (一臘), Cực Lạp (極臘), Lạp Mãn (臘滿). Trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 21 có đoạn: “Sở trú giả Pháp Lạp, cố cổ chi cao tăng, viết Thế Thọ, hựu viết Pháp Lạp; cái bất câu tuế niên, nhi dĩ sơ nhập thọ trì giới phẩm, tam nguyệt An Cư, giới thể vô khuy vi nhất lạp, do dĩ lạp bất dĩ niên, cố hữu niên cao nhi lạp thiểu giả, hữu đồng niên nhi kì thọ giả (所住者法臘、故古之高僧、曰世壽、又曰法臘、蓋不拘歲年、而以初入受持戒品、三月安居、戒體無虧爲一臘、由以臘不以年、故有年高而臘少者、有童年而耆壽者, Pháp Lạp của người cư trú, chư vị cao tăng xưa gọi là Thế Thọ, hay còn gọi là Pháp Lạp; vì không kể tuổi đời, mà lấy việc mới vào thọ trì giới phẩm, ba tháng An Cư, giới thể không bị thiếu là một Lạp, do vì lấy Hạ Lạp mà không lấy tuổi đời; cho nên có người tuổi đời cao mà Hạ Lạp ít, có người tuổi đời ít mà tuổi thọ cao).” Trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển Hạ lại giải thích rõ rằng: “Hạ Lạp, tức Thích thị Pháp Tuế dã; phàm tự trưởng ấu, tất vấn, Hạ Lạp đa giả vi trưởng (夏臘、卽釋氏法歲也、凡序長幻、必問、夏臘多者爲長, Hạ Lạp là Pháp Tuế nhà Phật; phàm muốn biết thứ tự lớn nhỏ, cần phải hỏi, Hạ Lạp nhiều là lớn).” Hay trong Báo Ân Luận (報恩論, 卍 Xuzangjing Vol. 62, No. 1205) quyển Thượng có đề cập rằng: “Phàm xuất gia nhị chúng, Đông Hạ nhập Lan Nhã giảng học, Xuân Thu quy gia dưỡng phụ mẫu, cố tăng gia tự xỉ xưng Hạ Lạp, bất xưng niên (凡出家二眾、冬夏入蘭若講學、春秋歸家養父母、故僧家序齒稱夏臘、不稱年, phàm hai chúng xuất gia, mùa Đông và Hạ thì vào chùa tu học, đến mùa Xuân và Thu thì về nhà phụng dưỡng cha mẹ; nên tuổi tác của tăng sĩ được gọi là Hạ Lạp, không gọi là năm [tuổi đời]).” Trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳, q.16, Taishō Vol. 50, No. 2061) quyển 16, phần Đường Giang Châu Hưng Quả Tự Thần Thấu Truyện (唐江州興果寺神湊傳) cũng có đoạn: “Nguyên Hòa thập nhị niên cửu nguyệt cấu tật, nhị thập lục nhật nghiễm nhiên tọa chung vu tự, thập nguyệt thập cửu nhật môn nhân phụng toàn thân biếm vu tự Tây đạo Bắc phụ Nhạn Môn phần tả, nhược tăng Thuyên táng cận Quách Văn chi mộ dã, xuân thu thất thập tứ, Hạ lạp ngũ thập nhất (元和十二年九月遘疾、二十六日儼然坐終于寺、十月十九日門人奉全身窆于寺西道北祔雁門墳左、若僧詮葬近郭文之墓也、春秋七十四、夏臘五十一, vào tháng 9 năm thứ 12 [817] niên hiệu Nguyên Hòa, ông nhuốm bệnh, đến ngày 26 thì nghiễm nhiên ngồi thị tịch tại chùa; vào ngày 19 tháng 10, môn nhân đem toàn thân của ông an táng ở phía Tây chùa, sau hợp táng ở bên trái đồi Nhạn Môn, giống như vị tăng Đạo Thuyên an táng gần mộ của Quách Văn vậy; ông hưởng thọ 74 tuổi đời và 51 Hạ lạp).”

hạ lạp

Tuổi của Tăng Ni được tính bằng số an cư kiết hạ mà các vị đã trải qua—Sau kiết hạ an cư, chư Tăng Ni nào đã nhập hạ đều được tăng một tuổi đạo. Quyền đi trước của Tăng Ni trong đoàn tùy thuộc vào tuổi hạ lạp—The age of a monk as monk, the years of his ordination, or the years a person has been a monk are counted by the number of summer retreats passed. To receive one's monastic age—To add to one's monastic age on the conclusion of the summer retreat—The precedence of monks and nuns in the Order is determined by the number of summer retreats they have attended. ; (下臘) Cũng gọi Thiển lạp. Đối lại với Thượng lạp. Chỉ cho những vị tăng, ni tuổi hạ còn thấp.(xt. Pháp Lạp).

hạ lộ phái

(夏路派) Cũng gọi Bố đốn phái. Một trong những biệt phái của Phật giáo Tây tạng, do ngài Bố đốn nhân khâm trát ba sáng lập vào thế kỉ XIV lấy chùa Hạ lộ (Tạng: Sha-lu) gần vùng Nhật khách tắc làm trung tâm. Phái này nổi tiếng một thời nhờ việc trao truyền 4 bản Tục quán đính và thuyết giảng kinh điển Mật giáo một cách khéo léo, dễ hiểu.

hạ lộ tự

(夏路寺) Hạ lộ, Tạng: Sha-lu. Vị trí chùa cách Nhật khách tắc Tây tạng khoảng 20 km về phía đông nam, do sư Kiệt tôn hỉ nhiêu quýnh nãi, thuộc Lạt ma giáo, sáng lập vào năm Nguyên hựu thứ 2 (1087) đời Bắc Tống. Vào thế kỉ XIV, ngài Bố đốn nhân khâm trát ba (1290-1364) trụ trì và xây cất rộng thêm. Về sau, ngài lấy chùa này làm trung tâm mà sáng lập phái Hạ lộ Lạt ma giáo. Tòa kiến trúc chính của chùa là Đại điện, kết cấu rường cột, đẩu củng theo phong cách kiến trúc đời Nguyên. Đây là kiểu kiến trúc hỗn hợp giữa kiến trúc Tây tạng và Trung quốc. Trong chùa còn có những bức bích họa đời Nguyên và văn bố cáo bằng tiếng Mông cổ rất quí.

hạ miến tôn

(hạ miến tôn ) (1885-1946) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Bạch mã hồ, huyện Thượng ngu, tỉnh Chiết giang, tự Miễn chiên. Lúc trẻ, ông du học ở Nhật bản, sau khi về nước, ông làm việc văn hóa, giáo dục. Ông kết giao với đại sư Hoằng nhất rất thân thiết, như tình anh em. Sau khi ngài Hoằng nhất xuất gia, ông dốc lòng học tập và nghiên cứu Phật pháp. Ông từng xây cất tịnh thất ở Bạch mã hồ cúng dường ngài Hoằng nhất. Trong thời gian kháng chiến, ông cùng với các nhân sĩ nhiệt tâm ở Thượng hải biên tập và ấn hành Đại tạng kinh Phổ tuệ, đồng thời, phiên dịch hơn 20 loại kinh luận Nam truyền theo bản dịch tiếng Nhật của Đại tạng kinh Pàli. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm: Bình ốc tạp văn, Văn chương tác pháp, Hoằng nhất đại sư di thư. Dịch phẩm: Ái đích giáo dục.

hạ mãn

See Hạ Mạt.

hạ mình

To demean –To humble oneself—To condescend.

hạ mạt

Sự kết thúc của kỳ an cư kiết hạ, nhằm ngày rằm tháng bảy âm lịch—The end of the summer retreat, the 15th of the 7th month, lunar calendar.

hạ nguyên

The fifteen of the tenth moon.

hạ ngục

To imprison—To put in prison.

Hạ ngữ

下語;; C: xiàyǔ; J: agyo;|Chỉ những lời dạy của một vị Thiền sư dành cho một vị đệ tử. Những lời văn của một vị thầy về một Ngữ lục nào đó hoặc một Công án cũng được gọi là hạ ngữ.

hạ ngữ

Chỉ thị—To give instructions. ; (下語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có 3 nghĩa: 1. Dựa vào công án hoặc cổ tắc của Thiền tông mà làm nảy sinh kiến giải riêng của mình. 2. Lời nói pháp của thầy khai thị cho đệ tử. 3. Đồng nghĩa với các chữ: Trứ ngữ, Giản ngữ. Lời bàn ngắn gọn về kinh luận, tổ tắc, v.v... [X. chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; tắc 17 trong Bích nham lục].

hạ nại sa

Hamsa (skt)—Loài ngan hay ngỗng, cùng họ với loài vịt—A goose.

hạ phong

(下風) Nghĩa đen là gió dưới, tức là đánh rắm. Khi chế giới luật, trong pháp uy nghi của chúng tăng, đức Phật cũng có dạy về việc hạ phong. Thủar xưa, khi Phật ở tại thành Xá vệ, có nhóm Lục quần tỉ khưu (6 tỉ khưu xấu) không giữ luật nghi, làm nhiều việc xấu xa, cố ý ăn nhiều đậu, bột, uống nhiều nước, sau ngồi trong Thiền phòng thay nhau đánh rắm thành tiếng, rồi dùng âm thanh ấy đùa bỡn, chọc tức các vị Trưởng lão. Do đó, các tỉ khưu mới xin Phật chỉ dạy về việc hạ phong phải như thế nào. Luật Ma ha tăng kì quyển 35 (Đại 22, 514 thượng), chép: Không được cố ý ăn nhiều thực phẩm dễ gây hạ phong để đùa giỡn. Trong Thiền phòng nếu bị hạ phong bức xúc thì phải cố nín, nếu nín không được thì nên xuống ngồi chỗ dưới cùng; nếu ở đó có vị Thượng tọa, thì lại nên trở về chỗ cũ. Khi xì hơi không được gây thành tiếng làm phiền nhiễu những tỉ khưu ngồi gần .

hạ phương thế giới

This world.

Hạ phẩm

下品; C: xiàpǐn; J: gebon;|Lớp dưới, bậc thấp, hạng dưới. Thường được dùng để so sánh năng lực của hành giả, như Hạ phẩm Bồ Tát (theo Du-già luận 瑜伽論).

hạ phẩm

The lowest quality—Ba phẩm thấp nhất trong Cửu Phẩm Tịnh Ðộ của Ðức Phật A Di Ðà—The three lowest of the nine classes born in the Amitabha Pure Land: 1) Hạ phẩm thượng sanh: Người vào phẩm cao nhứt của hạ phẩm, những người gây tội tạo nghiệp, nhưng không hủy báng kinh điển và vào cuối đời mà chịu niệm Hồng danh A Di Ðà Phật—One who enters the Pure Land of Amitabha in the highest of the three lowest classes (those who committed all sins and karma except dishonoring the sutras; however, at the end of life, the person clasps his hands and say NAMO AMITABHA, that person will be born in the Pure Land Precious Lake). 2) Hạ phẩm trung sanh: Trung sanh của Hạ phẩm Tịnh Ðộ, những người phá giới, ăn cắp của Tăng chúng và lạm dụng giáo pháp; tuy nhiên vào cuối đời nghe được thần lực của Phật A Di Ðà mà tán thán bằng một niệm, sẽ được vãng sanh vào Hạ phẩm Trung sanh Tịnh Ðộ—One who enters the Pure Land of Amitabha in the middle of the three lowest classes (those who have broken all the commandments, even stolen from monks and abuse the law; however, at the end of life, the person hears of the great power of Amitabha and assents with but a thought, the person will be received into the paradise). 3) Hạ phẩm hạ sanh: Phẩm thấp nhứt trong Hạ phẩm Tịnh Ðộ, những ai bị rơi vào những đường dữ, nhưng chịu niệm hồng danh Phật A Di Ðà sẽ được thoát khỏi vô lượng kiếp tái sanh khổ sở, và vào cuối đời sẽ nhìn thấy Liên Hoa như ánh mặt trời, và chỉ bằng một niệm tán thán, người đó sẽ được vãng sanh vào Hạ Phẩm Hạ Sanh—One who enters the Pure Land of Amitabha in the lowest of the three lowest classes (those who should be fallen into the lowest gati because of their sins; however, by invoking the name of Amitabha they can escape countless ages of reincarnation and suffering, and on dying will behold a lotus flower like the sun, and by responding of a single thought, will enter the Pure Land).

hạ phẩm giới

(下品戒) Khi không có pháp sư truyền giới, mình đến trước tôn tượng Bồ tát, tự nguyện thụ giới, gọi là Hạ phẩm giới. Một trong 3 loại thụ giới. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1020 hạ) nói: Này các Phật tử! Thụ giới có 3 loại. (...) Ba là: Sau khi đức Phật nhập diệt, trong phạm vi một nghìn dặm, nếu không có pháp sư truyền giới, thì nên đối trước hình tượng chư Phật, Bồ tát, quì gối chắp tay tự nguyện thụ giới, nên nói như thế này: Con tên là..., bạch chư Phật 10 phương và đại địa Bồ tát, con xin tu học tất cả giới Bồ tát. Đó là Hạ phẩm giới .

hạ phẩm hạ sanh

Cấp thấp nhất trong Tịnh Ðộ—The lowest type of incarnated beings with corresponding to the karma—The lowest grade in the Pure Land.

hạ sinh

(下生) Bồ tát từ trên cõi trời giáng sinh xuống hạ giới. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 (Đại 3, 623 hạ), chép: Bấy giờ Bồ tát bảo Thiên tử rằng: Ta sẽ hạ sinh trong cõi Diêm phù đề, nước Ca tì la vệ, dòng dõi Cam giá, chủng tộc họ Thích, trong cung vua Bạch tịnh . Cũng kinh đã dẫn còn nói (Đại 3, 624 hạ): Bấy giờ ở cung trời Đâu suất có một vị thiên tử nghĩ rằng: Bồ tát đã sinh trong cung vua Bạch tịnh, ta cũng nên hạ sinh ở cõi người . Trong 8 tướng thành đạo của đức Phật, chỉ có tướng thứ nhất Đâu suất giáng thần là liên quan đến cõi trời, còn các tướng khác đều liên quan đến cõi người. [X. phẩm Phủ giáng vương cung trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 7; Tam di lặc kinh sớ]. (xt. Bát Tướng).

Hạ sinh kinh

下生經; C: xiàshēng jīng; J: geshō kyō;|Tên viết tắt của Di-lặc hạ sinh kinh (彌勒下生經).

hạ sĩ

A so-call disciple of Buddhism, but profits neither to self nor others.

hạ sấn

(下嚫) Đem phẩm vật bố thí cúng dường trước Phật. Hạ nghĩa là kính cẩn đặt xuống; Sấn gọi tắt từ Đạt sấn (Phạm:Dakwìịa), nghĩa là những phẩm vật bố thí, cúng dường. Cứ theo môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên, thì dâng của bố thí lên gọi là Thượng sấn; đặt của bố thí xuống gọi là Hạ sấn.(xt. Đạt Sấn).

hạ tam ðồ

Ba đường dữ đi xuống (Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sanh)—The three lower path of the six destinations or gati (Hells, hungry ghosts and animals).

hạ thư

(夏書) Những kinh văn được viết chép trong thời gian Hạ an cư. Cũng có thuyết cho rằng Hạ thư là tên gọi khác của Hạ an cư.

hạ thủ

Ngày đầu của kỳ an cư kiết hạ—The first day, or beginning, of the retreat. ; (夏首) Ngày đầu tiên của mùa kết hạ an cư. Theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng, thì Hạ thủ là ngày 16 tháng 4 âm lịch; còn theo Đại đường tây vực kí quyển 8 thì là ngày 16 tháng 5.

hạ thừa

The lower yana—Hinayana. ; (下乘) I. Hạ thừa. Chỉ cho Thanh văn tạng do bồ tát Thế thân soạn. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.1]. II. Hạ thừa. Cũng gọi Hạ mã. Xuống xe hoặc xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính. Thời đức Phật còn tại thế, vua Tần bà sa la thường đến núi Cô lật đà la củ trả (núi Linh thứu) nghe Phật thuyết pháp. Khi còn cách chân núi một khoảng đường, nhà vua xuống xe đi bộ để tỏ lòng tôn kính đức Phật. Về sau, một ngôi tháp nhỏ được dựng lên ở đây để ghi dấu chỗ nhà vua xuống xe đi bộ. Khi ngài Huyền trang đến nơi này, ngôi tháp kỉ niệm ấy vẫn còn. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 921 thượng), nói: Giữa đường có 2 ngôi tháp nhỏ: Một là Hạ thừa, ghi dấu chỗ vua Tần bà sa la đến đây, xuống xe đi bộ; một là Thoái phàm, nơi người thường đến đây phải lui lại, không được đi cùng với vua . Đời sau, ngoài cổng các chùa viện cũng theo lệ này mà dựng bia đá: Hạ thừa, Hạ mã... [X. Pháp uyển châu lâm Q.39; Thích thị lục thiếp Q.21; Loại tụ danh vật khảo Q.223, 227].

hạ trung

Giữa mùa hè, giữa kỳ an cư kiết hạ, hay kỳ hạn 90 ngày an cư kiết hạ—During the summer, the middle of the summer; the rainy season spent by the monks of India in retirement.

hạ trần

The lower gati, the hells, hungry ghosts, animals. ; (下塵) Cõi bụi bặm. Chỉ cho hạ giới. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng), nói: Không thể để cho tấm thân này bị đày ải mãi nơi hạ trần .

hạ tuần

The last ten days (decade) of a month.

hạ tọa

1) Kỳ thiền định trong mùa an cư kiết hạ hay mùa mưa: The period of the summer retreat for meditation, known as varsas, the rains. 2) Vị Tăng có ít hơn 10 năm hạ lạp: A monk or nun who has less than ten years of renunciation.

hạ ðiền

Ploughing Festival.

hạ ðẳng

Inferior rank.

hạ ðịa

Phần dưới của 52 cấp phát triển Bồ tát—The lower region or the lower half of the fifty-two grades of bodhisattva development.

Hạ địa

下地; C: xiàdì; J: geji;|1. Cảnh giới hiện hữu bên dưới đối tượng của thế giới khách quan được nhận biết bởi hành giả (s: adhara-svābhūmi); 2. Trong sự phân chia các cõi trong tam giới thành 9 bậc (cửu địa 九地), hạ địa chính là ba cõi thấp cuối cùng; 3. Giai vị thấp nhất trong Bồ Tát Thập địa.

hạ địa

(下地) Phạm: Adhara-svabhùmi. Cõi dưới, có 3 nghĩa: 1. Ba cõi chia ra 9 địa, cảnh giới tốt là thượng địa, cảnh giới xấu là hạ địa. 2. Vì Thập địa Bồ tát có cao, thấp khác nhau nên gọi là thượng địa hay hạ địa. 3. Các cảnh giới dưới cõi trời cũng gọi là hạ địa.

hạ địa thô khổ chướng

(下地粗苦障) Đối lại với Thượng địa tĩnh diệu li. Người tu hành ở 3 cõi 9 địa, khi dùng trí hữu lậu để đoạn trừ Tư hoặc, thì quán 3 thứ phiền não Thô, Khổ, Chướng của hạ địa, thuộc đạo Vô gián mà sinh tâm nhàm chán hạ địa, nên quán 3 đạo giải thoát: Tĩnh, Diệu, Li của thượng địa mà sinh tâm mong cầu. Sáu hành tướng hữu lậu này hợp lại gọi chung là Lục hành quán. [X. luận Câu xá Q.24; luận Đại tì bà sa Q.64]. (xt. Lục Hành Quán).

hạc

Con hạc—A crane—An egret.

Hạc diễm, hạc diệm

(鶴燄, 鶴焰): lửa đuốc, lửa nến. Vì bệ cây nến đứng thẳng trang nghiêm như con hạc, nên có tên như vậy. Như trong bài Vịnh Trì Trung Chúc Ảnh (詠池中燭影) của Lương Nguyên Đế (梁元帝, tại vị 552-554) thời Nam Triều có câu: “Ngư đăng thả diệt tẫn, hạc diễm tạm đình huy (魚燈且滅燼、鶴焰暫停輝, đèn chài còn tắt ngúm, lửa nến tạm dừng cháy).” Hay trong bài thơ Thượng Nguyên Chế Thi (上元應制) của Hạ Tủng (夏竦, 985-1051) nhà Tống lại có câu: “Bảo phường nguyệt kiểu long đăng đạm, tử quán phong vi hạc diễm bình (寶坊月皎龍燈淡、紫館風微鶴燄平, chùa chiền trăng tỏ đèn heo hắt, lữ quán gió hiu đèn đứng yên).” Trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3 có đoạn: “Hạc diễm huỳnh hoàng chiếu mê mông, Ngọc Đế tô du vạn hộc trung (鶴燄熒煌照迷曚、玉帝酥油萬斛中, lửa nến lập lòe chiếu sáng mơ, dầu bơ Ngọc Đế muôn hộc trong).” Hay tại Đại Chính Điện (大政殿) của Cố Cung bên Trung Quốc, vua Càn Long (乾隆, tại vị 1745-1796) nhà Thanh có đề hai câu: “Long tiên thúy niệu kim tiên vũ, hạc diễm hồng phiên bảo tướng hoa (龍涎翠嬝金仙宇、鶴焰紅翻寶相花, cỏ thơm yểu điệu tiên trời điện, lửa nến chuyển hồng tướng báu hoa).” Trong Đạo Môn Khoa Phạm Đại Toàn Tập (道門科範大全集) tập I của Đạo Giáo, phần Sanh Nhật Bổn Mạng Nghi (生日本命儀) có câu: “Đăng phân hạc diễm chi huy, hương tán long yên chi tuệ (燈分鶴焰之輝、香散龍煙之穗, đèn chia lửa nến rực soi, hương tỏa khói rồng ánh đuốc).”

Hạc giá

(鶴駕): cỗ xe hạc, cỡi hạc. Có mấy nghĩa khác nhau. (1) Căn cứ tác phẩm Liệt Tiên Truyện (列仙傳), phần Vương Tử Kiêu (王子喬) cho biết rằng xưa kia Vương Tử Kiêu, tức là Thái Tử Tấn của Chu Linh Vương (周靈王, ?-545 ttl.) thường cỡi hạc trắng đậu trên đỉnh núi của họ Câu (緱). Cho nên, về sau người ta thường gọi xa giá của Thái Tử là hạc giá. Như trong bài thơ Văn Hoa Kỷ Sự (文華紀事) của Lý Đông Dương (李東陽, 1447-1516) nhà Minh có câu: “Hạc giá tạm đình đương điện ngọ, long nhan nhất cố mãn trì xuân (鶴駕暫停當殿午、龍顏一顧滿墀春, xe hạc tạm dừng trước điện cổng, long nhan ngoảnh lại đầy thềm xuân).” (2) Cỗ xe của tiên nhân. Như trong bài Lão Thị Bi (老氏碑) của Tiết Đạo Hành (薛道衡, 540-609) nhà Tùy có đoạn: “Luyện hình vật biểu, quyển tích phương ngoại, nghê thường hạc giá, vãng lai Tử Phủ (鍊形物表、卷跡方外、蜺裳鶴駕、往來紫府, rèn hình thành vật, cuộn dấu ngoài xa, nghê thường cỡi hạc, tới lui Tử Phủ).” (3) Cách gọi khác của cái chết, từ giã cõi đời, cỡi hạc mà đi. Như trong bài Trịnh Thái Tử Bi Minh (鄭太子碑銘) của Lô Chiếu Lân (盧照鄰, 632-695) nhà Đường có đoạn: “Nghê tinh dương Hán, do tầm hủ cốt chi linh; hạc giá đình không, thượng yết tiên nhân chi mộ (霓旌揚漢、猶尋朽骨之靈、鶴駕停空、尚謁先人之墓, cờ tiên dương khắp, để tìm cốt mục vong linh, xe hạc dừng không, tham yết người xưa lăng mộ).” Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (五燈會元續略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 80, No. 1566) quyển 4 có đoạn: “Ngọc mai phá tuyết, hồng diệp điêu sương, thích quan gia trừ đạm chi thần, nãi hạc giá tiên du chi nhật (玉梅破雪、紅葉凋霜、適官家除禫之辰、迺鶴駕仙遊之日, mai ngọc phá tuyết, lá đỏ khắc sương, đúng nhà quan tang hết lúc này, là cỡi hạc về tiên ngày ấy).” Hay trong bài Du Kim Hoa Động Thiên (遊金華洞天) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (虛堂和尚語錄, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Sưu sưu nhai lựu tĩnh biên văn, đáo thử tiên phàm chỉ xích phân, hạc giá triều chơn hà nhật phản, động môn chung nhật tỏa hàn vân (颼颼崖溜靜邊聞、到此仙凡咫尺分、鶴駕朝眞何日返、洞門終日鎖寒雲, vù vù khe nước nghe lắng trầm, đến chốn tiên phàm cách mấy phân, cỡi hạc quy chơn ngày nao lại, cửa động suốt buổi ngút mây hàn).”

hạc lâm

1) Khu rừng Hạc Lâm, nơi Ðức Phật nhập diệt, ở giữa hai hàng cây Ta La, những cây nầy bỗng nở hoa trắng giống như những con hạc trắng nên có tên là “Hạc Lâm” (theo Kinh Niết Bàn thì khi Phật nhập Niết Bàn, rừng cây Sa La ở thành Câu Thi Na đều biến thành trắng giống như hạc trắng vậy)—Crane grove, a name for the place where Sakyamuni died, when the trees burst into white blossom resembling a flock of white cranes. 2) Hạc Lâm Tự: Tên của một tự viện nằm về phía bắc Ấn Ðộ—Crane-Garden Monastery, name of a monastery in northern India. ; (鶴林) Cũng gọi Bạch hạc lâm, Bạch lâm, Hộc lâm. Chỉ cho rừng Sa la song thụ ở gần sông Bạt đề, thành Câu thi na yết la, Ấn độ, là nơi đức Phật vào Niết bàn. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển thượng chép, thì khi đức Thế tôn vào Niết bàn, rừng Sa la rủ lá che thân Như lai, lá các cây Sa la biến thành trắng như chim hạc, bởi thế có tên Hạc lâm. Lại vì đức Thế tôn nhập diệt ở rừng này nên danh từ Hạc lâm được dùng để chỉ cho việc Phật vào Niết bàn. Ngoài ra, cứ theo Đại bát niết bàn kinh nghĩa kí quyển 1, thì có 2 thuyết về nguyên nhân cây Sa la biến thành màu trắng. 1. Màu trắng là tướng chết của cây, biểu thị sự nhập diệt của bậc Thánh. 2. Màu trắng là gốc của các màu, hàm ý đức Phật vào Niết bàn là trở về nguồn gốc. Đến đời sau, khu vườn của chúng tăng ở cũng được gọi Hạc lâm hoặc Hạc uyển. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc); Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên, Q.7 phần trên; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1. Quảng hoằng minh tập Q.20]. (xt. Sa La Thụ).

Hạc Lâm Huyền Tố

(鶴林玄素, Gakurin Genso, 668-752): vị tăng của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, pháp từ của Trí Uy (智威), vị tổ đời thứ 5 của Ngưu Đầu Tông, tự là Đạo Thanh (道清), họ Mã (馬), cho nên ông thông xưng là Mã Tố (馬素), xuất thân Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州, Tỉnh Giang Tô). Ông xuất gia ở Trường Thọ Tự (長壽寺) vùng Giang Ninh (江寧, Tỉnh Giang Tô) và sau khi thọ Cụ Túc giới xong, ông sống ẩn cư. Đến cuối đời, ông theo hầu hạ Trí Uy ở U Thê Tự (幽棲寺), Thanh Sơn (青山), thân hình khắc khổ. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-742), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Uông Mật (汪密), ông đến Kinh Khẩu (京口) và đáp ứng sự khẩn thỉnh của vị quan trong quận Vi Tiển (微銑), ông đến sống tại Hạc Lâm Tự (鶴林寺) thuộc Hoàng Hạc Sơn (黃鶴山), Nhuận Châu (潤州). Vào ngày 11 tháng 11 năm thứ 11 (752) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông an nhiên thị tịch, hưởng thọ 85 tuổi. Tháp ông được dựng ở Tây Hoàng Hạc Sơn. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Luật Thiền Sư (大律禪師). Môn nhân của ông có Pháp Hải (法海), người biên tập bộ phận tối cổ của Lục Tổ Đàn Kinh Bản Đôn Hoàng. Lý Hoa (李華) soạn bia văn cho tháp của ông.

hạc lâm tự

(鶴林寺) Tên cũ: Trúc lâm tự. Chùa ở chân núi Hoàng hạc, phủ Trấn giang, tỉnh Giang tô, được sáng lập vào năm Đại hưng thứ 4 (321) đời Tấn. Lúc còn hàn vi, vua Vũ nhà Lưu Tống từng đến ở nhờ chùa này; sau khi lên ngôi, vua liền cho xây cất lại rộng lớn hơn và đổi tên là Hạc lâm luật viện. Khoảng những năm Khai nguyên, Thiên bảo (713-755) đời Đường, có thiền sư Huyền tố Pháp chiếu về trụ trì chùa này, tăng đồ ngày càng đông, chùa được đổi là Thiền tự, cũng gọi Cổ trúc viện. Khoảng năm Thiệu hưng đời Tống, chùa được xây cất lại và đổi tên là Báo ân quang hiếu thiền tự. Khoảng năm Hàm thuần, ngài Thanh khánh trùng tu. Khoảng các năm Vĩnh lạc, Hoằng trị, Vạn lịch đời Minh, chùa nhiều lần được sửa sang lại và mở rộng thêm. Những kiến trúc chính như: Thượng hỉ đường, Thiên vũ bảo hoa đường, Viên âm đường v.v... Ngoài ra, còn những kiến trúc khác như: Tích nỗ đường, Liêm khê từ, Lục tú phu từ, Đơn đồ cung, Ái liên trì, Tăng bố trạch, Mễ phất trạch v.v... cũng được coi là những di tích lịch sử.

hạc lặc na

See Hạc Lặc Na Dạ Xa.

hạc lặc na dạ xa

Haklenayasas or Padmaratna (skt)—The twenty-third patriarch—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Ðộ. ; (鶴勒那夜奢) Phạm: Haklena-yaza. Cũng gọi Hạc lặc na, Hạc lặc. Tổ thứ 22 (có thuyết nói thứ 23) của Thiền tông Ấn độ, người nước Nguyệt chi, thuộc dòng Bà la môn. Năm 22 tuổi, ngài xuất gia, năm 30 tuổi ngài gặp tôn giả Ma nô la và được phó chúc đại pháp. Ngài đến Trung Ấn độ giáo hóa, rất được vua Vô úy hải kính ngưỡng. Về sau, ngài truyền pháp lại cho đệ tử là tỉ khưu Sư tử, rồi thị tịch. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.5].

hạc mạt

Homa (skt)—See Hộ Ma.

hạc thụ

See Hạc Lâm.

hạc tát la

Hasara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển, Hạc Tát La là tên của thủ phủ thứ nhì của Tsaukuta, có lẽ bây giờ là Assaia Hazareh, nằm giữa Ghuznee và Kandahar thuộc A Phú Hãn—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hasara is the second capital of Tsaukuta, perhaps modern Assaia Hazareh, between Ghuznee and Kandahar in Afghanistan.

hạc tất na

Hosna or Ghazna (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Ðiển của Giáo Sư Soothill, Hạc Tất Na là thủ phủ của Tsaukuta, bây giờ là Ghuznee, thuộc A Phú Hãn—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Ghazna is the capital of Tsaukuta , the present Ghuznee, or Ghazni in Afghanistan.

hạc uyển

See Hạc Lâm.

hạch miệng

Oral examination.

hạch sách

To insist upon—To demand.

hại

Himsa or Vihimsa (skt)—Harmful—Detrimental—Hurtful. ; (害) Phạm: Vihiôsà. Tâm muốn gây tổn hại cho người khác. Một trong những món tâm sở. Một trong những tiểu phiền não địa pháp thuộc Hữu bộ. Một trong những tùy phiền não thuộc tông Pháp tướng. (xt. Bất Hại).

hại giác

xem ba loại tư tưởng xấu ác. ; (害覺) Cũng gọi Não giác. Tâm muốn gia hại người khác. Một trong 3 giác, một trong 8 giác. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh)].

hại sức khỏe

Harmful to health.

hại tưởng

Tư tưởng muốn hại người khác—The wish or thought to injure others. Trong Kinh Pháp Cú, câu 125, Ðức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 125, the Buddha taught: “Ðem ác ý xâm phạm đến người không tà vạy, thanh tịnh và vô nhiễm, tội ác sẽ trở lại kẻ làm ác như ngược gió tung bụi—Whoever harms a harmless person who is pure and guiltless, the evil falls back upon that fool, like dust thrown against the wind.”

hại vi chính pháp tông

(害爲正法宗) Cũng gọi Hại vi chính pháp luận. Phái ngoại đạo chủ trương dùng chú thuật hại sinh mệnh có thể được sinh lên trời. Một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ.Pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 nói, các Bà la môn vì muốn ăn thịt nên đặt ra luận thuyết sai lầm này. Họ cho rằng nếu khi dùng chú thuật cúng tế, thì bất luận người tế, người trợ tế, con vật bị giết để làm đồ tế v.v... tất cả đều được sinh lên cõi trời. [X. luận Du già sự địa Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.10].

hạn

Cố định: To fix. Giới hạn—Limit—Boundary.

hạn chế

To limit—To bound—Limitation—Restriction.

hạn phần

Hạn chế ý nghiệp, hay tu tập để hạn chế những lỗi lầm không cố ý—Limited, e.g. limited culpability by reason of accident, unintentional error.

hạng bình

Second-class honor.

hạng bình thứ

Third-class honor.

hạng thượng lưu

People of high class.

hạng thứ

Fourth-class honor.

hạng trung lưu

People of middle class.

hạng tối ưu

Suma-cum claud honor.

hạng ưu

First-class honor.

hạnh

Acara (p & skt)—Behavior—Conduct—Manner of action. ; (行) Chỉ cho đức hạnh. Nết na còn ở trong tâm là đức, đã thực hành ra ngoài là hạnh, như độc hạnh là hạnh hơn người.

hạnh bất thoái

(行不退) Hạnh nghiệp đã đạt đến địa vị không lui sụt trên đường tu hành Phật đạo. Cùng với Niệm bất thoái , Vị bất thoái gọi chung là Tam bất thoái. Lại bậc Sơ địa được duy thức quán chân thực, bỏ tâm Nhị thừa, đối với hạnh lợi tha không còn lui sụt cũng gọi là Hạnh bất thoái. Ngoài ra, Tổ của tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Nguyên không cho rằng công phu tu niệm Phật để vào cảnh giới không còn lui sụt gọi là Hạnh bất thoái.

Hạnh Huệ Bồ Tát

(行慧菩薩) Phạm: Caritamati. Dịch âm: Tả lí đát la ma đế bồ tát, Nhạ lệ đát ra ma đế bồ tát. Cũng gọi Hành tuệ hạnh bồ tát, Tuệ bộ bồ tát. Cứ theo phẩm Cụ duyên và phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật, thì vị Bồ tát này ở trong viện Hư không tạng và xưa nay Ngài là đồng tôn vị với bồ tát Phẫn nộ câu quan thế âm. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9 thì vị Bồ tát này ngồi bán già, tay trái cầm hoa sen nở, tay phải nắm lại áp vào ngực. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật thì hình Tam muội da của vị tôn này là hoa sen xanh cắm trên bình báu xà cừ trong phong luân. Còn theo phẩm Mật ấn thì Ấn khế là hoa sen 8 cánh. Chân ngôn là: Na ma (Nama: qui mệnh) tam mạn đa (samanta, phổ biến) bột đà nam (buddhànàm, chư Phật) bát đàm na (padma, hoa sen) a la da (àlaya, tạng) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. A xà lê sở truyền mạn đồ la). HÀO TƯ BỐI NHĨ (Fausbôll, Michael Viggo; 1821-1908) .. ... ... .. Nhà Ấn độ học, người Đan mạch. Ông từng dạy tại trường Đại học Copenhague (1878-1902), chuyên nghiên cứu các kinh điển của Ấn độ cổ đại, đặc biệt đối với Thánh điểnPàli mà thời đó vẫn chưa được xem trọng, ông đã có những cống hiến rất đáng kể. Năm 1855, ông hiệu đính kinh Pháp cú (Pàli: Dhammapada), dịch sang tiếng La tinh rồi xuất bản. Sau đó, ông sưu tập và nghiên cứu các tư liệu chú thích kinh Pháp cú (Dhammapadaỉỉhakathà), đây là công trình nghiên cứu học thuật đầu tiên của ông. Tiếp theo, ông còn hiệu đính, phiên dịch và ấn hành các kinh Bản sinh (The Jàtaka, 6 vols., 1877-1899), Kinh tập (Pàli: Suttanipàta, 1884), v.v...

hạnh kiểm tốt

Good conduct.

hạnh lành

Good or right conduct—Good or right behavior—Good or right manners.

hạnh nguyện

Vow—To act out one's vow. ; (行願) Cũng gọi Nguyện hạnh. Tu hành và thệ nguyện. Trong Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 1 phần trên, ngài Trí khải cho rằng nếu có nguyện mà không có hạnh, thì cũng giống như người muốn qua sông mà không chuẩn bị thuyền bè, chắc chắn người ấy sẽ không thể sang bờ bên kia được. Bồ tát tuy đã phát 4 thệ nguyện rộng lớn, nhưng nếu không tu 4 hạnh thì cũng giống như thế. Cho nên biết tu hành và thệ nguyện cũng như 2 cánh của con chim, nếu thiếu một thì chim không bay được, không đạt đến cảnh giới mong muốn.

hạnh ngộ

A happy meeting.

hạnh phúc

Happiness—Welfare—Cái gì mang lại thoải mái là hạnh phúc—What can be borne with ease is happiness. 31) Hạnh phúc bình thường là thỏa mãn sự khao khát. Tuy nhiên, ngay khi điều mong muốn vừa được thực hiện thì chúng ta lại mong muốn một thứ hạnh phúc khác, vì lòng thèm muốn ích kỷ của chúng ta không cùng tận: Ordinary happiness is the gratification of a desire. However, as soon as the thing desired is achived the we desire something else or some other kind of happiness, for our selfish desires are endless. 32) Tiền không mua được hạnh phúc, hay sự giàu có thường không mang lại hạnh phúc. Kỳ thật, hạnh phúc thực sự chỉ tìm thấy trong nội tâm chứ không nơi của cải, quyền thế, danh vọng hay chiến thắng: Money cannot buy happiness, or wealth does not always conduce to happiness. In fact, real happiness is found within, and is not be defined in terms of wealth, power, honours, or conquests. 33) Ðức Phật đã nêu lên các loại hạnh phúc cho người cư sĩ tại gia: “Hạnh phúc có sức khỏe, có của cải, sống lâu, đẹp đẽ, vui vẻ, sức mạnh, tài sản và con cái, vân vân. Ðức Phật không khuyên chúng ta từ bỏ cuộc sống trần tục và rút lui về sống ẩn dật. Tuy nhiên, Ngài khuyên Phật tử tại gia, sự vui hưởng của cải không những nằm trong việc xử dụng cho riêng mình, mà nên đem phúc lợi cho người khác. Những cái mà chúng ta đang có chỉ là tạm bợ. Những cái mà chúng ta đang gìn giữ, rốt rồi chúng ta cũng bỏ chúng mà đi. Chỉ có những nghiệp sẽ phải theo chúng ta suốt nẻo luân hồi. Ðức Phật dạy về hạnh phúc của người cư sĩ như sau: “Sống nghèo về vật chất mà tinh thần thoải mái là hạnh phúc. Sống đời không bị chê trách là hạnh phúc, vì người không bị chê trách là phúc lành cho chính mình và cho người khác. Người đó được mọi người ngưỡng mộ và cảm thấy sung sướng hơn khi truyền cảm được làn sóng hòa bình sang người khác. Tuy nhiên, rất khó mà không bị mọi người chê trách. Vì thế người trí cao thượng nên cố sống dửng dưng với sự khen chê bên ngoài, cố đạt được hạnh phúc tinh thần bằng cách vượt qua lạc thú vật chất.” Sau đó Ðức Phật tiếp tục nhắc nhở chư Tăng Ni: “Hạnh phúc Niết Bàn là dạng thức hạnh phúc giải thoát khổ đau cao thượng nhất.”: The Buddha enumerates some kinds of happiness for a layman. They are the happiness of possession, health, wealth, longevity, beauty, joy, strength, property, children, etc. The Buddha does not advise all of us to renounce our worldly lives and pleasures and retire to solitude. However, he advised lay disciples to share the enjoyment of wealth with others. We should use wealth for ourselves, but we should also use wealth for the welfare of others. What we have is only temporary; what we preserve we leave and go. Only karmas will have to go with us along the endless cycle of births and deaths. The Buddha taught about the happiness of lay disciples as follows: “A poor, but peace life is real happiness. Leading a blameless life is one of the best sources of happiness, for a blameless person is a blessing to himself and to others. He is admired by all and feels happier, being affected by the peaceful vibrations of others. However, it is very difficult to get a good name from all. The wisemen try to be indifferent to external approbation, try to obtain the spiritual happiness by transcending of material pleasures.” Then the Buddha continued to remind monks and nuns: “Nirvana bliss, which is the bliss of relief from suffering, is the highest form of happiness.” 34) Những lời dạy của Ðức Phật về Hạnh Phúc trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Happiness in the Dharmapada Sutra:Hạnh phúc thay đức Phật ra đời! Hạnh phúc thay diễn nói Chánh pháp! Hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp! Hạnh phúc thay dõng tiến đồng tu!—Happy is the birth of Buddhas! Happy is the teaching of the True Law! Happy is the harmony in the sangha! Happy is the discipline of the united ones! (Dharmapada 194). Sung sướng thay chúng ta sống không thù oán giữa những người thù oán; giữa những người thù oán, ta sống không thù oán—Oh! Happily do we live without hatred among the hateful! Among hateful men we dwell unhating! (Dharmapada 197). Sung sướng thay chúng ta sống không tật bệnh giữa những người tật bệnh; giữa những người tật bệnh chúng ta sống không tật bệnh—Oh! Happily do we live in good health among the ailing! Among the ailing we dwell in good health! (Dharmapada 198). Sung sướng thay chúng ta sống không tham dục giữa những người tham dục; giữa những người tham dục, chúng ta sống không tham dục—Oh! Happily do we live without greed for sensual pleasures among the greedy! Among the greedy we dwell free from greed! (Dharmapada 199). Sung sướng thay chúng ta sống không bị điều gì chướng ngại. Ta thường sống với những điều an lạc như các vị thần giữa cõi trời Quang-AÂm—Oh! Happily do we live without any hindrances. We shall always live in peace and joy as the gods of the Radiant Realm (Dharmapada 200). Thắng lợi thì bị thù oán, thất bại thì bị đau khổ; chẳng màng tới thắng bại, sẽ sống một đời hòa hiếu an vui và hạnh phúc—Victory breeds hatred, defeat breeds suffering; giving up both victory and defeat will lead us to a peaceful and happy life (Dharmapada 201). Nếu bỏ vui nhỏ mà được hưởng vui lớn, kẻ trí sẽ làm như thế—If by giving up a small happiness or pleasure, one may behold a larger joy. A far-seeing and wise man will do this (a wise man will leave the small pleasure and look for a larger one) (Dharmapada 290). 35) See Kinh Hạnh Phúc in Appendix E.

hạnh phúc bất diệt

Eternal happiness.

hạnh phúc giải thoát

The bliss of freedom.

hạnh phúc trong tịnh lặng

The bliss of solitude.

hạnh phúc tràn trề

Intense happiness.

hạnh phúc trường cửu

Everlasting happiness.

hạnh phúc tương ðối

Relative happiness.

hạnh phúc tối thượng

Supreme happiness—Nirvana.

hạnh phúc vật chất

Material well-being.

Hạnh Tây

(幸西, Kōsai, 1163-1247): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, Tổ của Nhất Niệm Nghĩa (一念義), húy là Hạnh Tây (幸西), thường được gọi là A Ba Thánh Nhân (阿波上人), hiệu là Thành Giác Phòng (成覺房), Chung Hạ Phòng Thiếu Phụ (鐘下房少輔), hay Chung Bổn Phòng Thiếu Phụ (鐘本坊少輔), hoặc Kim Bổn Phòng Thiếu Phụ (金本坊少輔). Ông vốn là vị Tăng của Thiên Thai Tông trên Tỷ Duệ Sơn, nhưng đến năm 1198 thì quy y theo Nguyên Không (源空) và học Tịnh Độ Giáo. Vào năm 1204, ông ký tên vào bản Bảy Điều Răn Dạy, rồi năm 1207 nhân vụ pháp nạn năm Kiến Vĩnh (建永) ông bị lưu đày đến vùng A Ba (阿波, Awa), rồi đến năm 1227 lại bị lưu đày thêm lần nữa đến vùng Nhất Khi (壱崎, Ichizaki), có thuyết cho là vùng Y Do [伊予, Iyo]) trong vụ pháp nạn Gia Lộc (嘉祿). Vì ông cùng với nhóm Hành Không chủ xướng Nghĩa Nhất Niệm, nên xảy ra cuộc tranh luận trong nội bộ giáo đoàn của Nguyên Không, và bị nhóm Biện Trường (辨長) phê phán gắt gao. Về sau tương truyền ông đến bố giáo ở địa phương Lật Nguyên (栗原, Kurihara) thuộc vùng Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Trước tác của ông để lại có Huyền Nghĩa Phần Sao (玄義分抄) 1 quyển, Kinh Sư Thiện Đạo Hòa Thượng Loại Tụ Truyện (京師善導和尚類聚傳) 1 quyển.

hạnh tây

(幸西) (1163-1247) Vị tăng người Nhật bản thuộc tông Tịnh độ, hiệu là Thành giác phòng, người đời sau gọi là Thành giác phòng Hạnh tây. Lúc đầu, sư tu hành ở Tây tháp núi Tỉ duệ, về sau, thờ ngài Pháp nhiên làm thầy. Thời pháp nạn Thừa nguyên, sư bị đày đến A ba. Tại đây, sư giáo hóa rất mạnh và đề xướng thuyết Nhất niệm vãng sinh, được tôn là Tổ của phái Nhất niệm. Niên hiệu Bảo trị năm đầu (1247) sư tịch, hưởng thọ 85 tuổi (nhưng cũng có thuyết cho rằng năm sinh, năm mất của sư không được rõ). [X. chương Tịnh độ pháp môn nguyên lưu; Pháp nhiên thượng nhân truyện kí Q.6 phần dưới; Tịnh độ tông phái thừa kế phổ].

hạnh vận

Good luck—Good fortune.

hạnh yểm ly

Hạnh chánh ngũ dục—The practice of disgust at the five desires.

hạnh ép xác

Penance.

hạnh đầu đà

Dịch là khổ hạnh. Người tu hành tự nguyện sống theo cuộc sống gian nan khổ nhọc để mài dũa thân tâm, muốn nhờ hạnh này để giải thoát tất cả khổ, nói là dùng khổ để trừ khổ, gọi là khổ hạnh.

hạo

Rộng lớn—Vast—Great.

hạo diệu

Vĩ đại và huyền diệu—Vast and mysterious.

Hạo thiên

(昊天): trời xanh; do vì trời cao rộng vô biên, từ đó nó ví cho ân đức vô cùng to lớn của cha mẹ; như trong Thi Kinh (詩經), chương Tiểu Nhã (小雅), Lục Nga (蓼莪) có câu: “Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực (欲報之德、昊天罔極, muốn báo đức ấy, trời xanh vô tận).” Hay trong bài thơ Trách Cung (責躬) của Tào Thực (曹植) nhà Ngụy thời Tam Quốc cũng có câu: “Hạo thiên võng cực, sanh mạng bất đồ (昊天罔極、生命不圖, trời xanh vô tận, mạng sống chẳng lo toan).” Hoặc như trong Nhị Thập Niên Mục Đỗ Chi Quái Hiện Trạng (二十年目睹之怪現狀), hồi thứ 74 lại có đoạn rằng: “Khuy đắc tổ phụ phủ dưỡng thành nhân, dĩ hữu kim nhật, giá họa thiên võng cực chi ân, vô tùng bổ báo vạn nhất (虧得祖父撫養成人、以有今日、這昊天罔極之恩、無從補報萬一, may được ông nội nuôi nấng nên người, cho đến ngày nay; ơn tựa trời cao vô cùng ấy, chẳng báo đáp trong muôn một).”

hạp

To suit—To agree.

hạp nhau

To get along well.

Hạt

曷; C: hé; J: katsu; |Tại sao? Thế nào? Khi nào?

hạt

3) See Hạt Bụi and Hạt Cát. 4) Ðui Mù: Blind. ; (喝) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là tiếng hét. Từ đời Đường trở về sau, các Thiền sư Trung quốc thường dùng tiếng hét hoặc để điểm hóa cho người học nhằm phá trừ chỗ thấy sai lầm tà chấp của họ, hoặc để diễn đạt cái trạng thái mà ngôn ngữ, tư tưởng không vươn tới được. Cứ theo Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 chép, thì thiền sư Mã tổ Đại tịch là người đầu tiên đã sử dụng tiếng hét. Khi thiền sư Bách trượng đến tham vấn, bị ngài Mã tổ hét cho một tiếng quá chát chúa đến nỗi tai Bách trượng bị điếc 3 ngày! Về sau, ngài Bách trượng dùng tiếng hét, ngài Hoàng bá thì dùng gậy đánh, còn ngài Lâm tế thì dùng cả đánh lẫn hét. Cứ theo Lâm tế lục khám biện, thì tiếng hét của ngài Lâm tế có 4 tác dụng: 1. Có lúc tiếng hét như thanh kiếm báu Kim cương vương(chặt đứt sự bám níu vào ngôn ngữ, văn tự). 2. Có lúc tiếng hét như con sư tử lông vàng ngồi xổm trên mặt đất(phá tiểu cơ, tiểu kiến). 3. Có lúc tiếng hét như dùng cần câu hua dưới bè cỏ (thử nghiệm người học hoặc khám biện sư gia). 4. Có lúc tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét (chỉ cho tiếng hét hướng thượng thu về tất cả, có đầy đủ các tác dụng mà chưa dùng). Đây tức là Lâm tế tứ hát . Nhưng, nếu không hiểu tác dụng của tiếng hét mà cứ hét một cách loạn xạ thì chẳng có ích lợi gì. Về sau tiếng hét đã trở thành gia phong của tông Lâm tế và là phương pháp ứng cơ tiếp vật tuyệt kĩ của tông này, rất thịnh hành ở Trung quốc và Nhật bản. [X. điều Lâm tế trong Tông môn thống yếu tục tập Q.9; Nhân thiên nhãn mục Q.3]. (xt. Đức Sơn Bổng, Lâm Tế Tứ Hát).

hạt bộ ða

Adbhuta (skt)—Thần thông huyền diệu—Remarkable—Miraculous—Supernatural.

hạt bụi

A specks of dust.

hạt châu như ý

(như ý châu): Cũng gọi là ma-ni bảo châu, là hạt ngọc quý đặc biệt có thể giúp người sở hữu nó muốn gì được nấy (như ý), nên gọi là châu như ý.

hạt cát

A grain of sand.

hạt cải đầu kim

điều rất khó xảy ra, ví như khó gieo cho hạt cải nằm ngay trên đầu cây kim. Sanh ra được gặp Phật cũng rất khó như vậy.

hạt hoả

(喝火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng hô coi chừng hỏa hoạn. Trong Thiền lâm, trước khi đi ngủ, người Tuần liêu kiểm điểm các phòng, hô to để nhắc nhở mọi người coi chừng đèn lửa, đề phòng hỏa hoạn. Phần kệ tụng trong Khai phúc thiền sư ngữ lục (Vạn tục 120, 239 thượng), ghi: Đêm khuya nghe tiếng hát hỏa. Cho nên trong kinh nói: Ngay lúc đó quán xét âm thanh ấy mà được giải thoát .

hạt la hầu

Rohu (skt)—Một thành phố cổ và tỉnh Tukhara, nằm về phía nam sông Oxus—An ancient city and province of Tukhara, south of the Oxus.

hạt lũ sinh

Một kẻ mù quáng—A blind, stupid man. ; (瞎屢生) Cũng gọi Hạt lư (con lừa mù), Hạt hán (gã mù), Lũ sinh tử (gã ngu muội), Độn lũ sinh (gã ngu đần), Ngốc lũ sinh (gã ngu ngốc). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hạt:Mắt mù; Lũ:Ngu muội; Sinh:Người. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để dụ cho người ngu si, không có kiến thức. Mục Thị chúng (dạy mọi người) trong Lâm tế lục (Đại 47, 501 hạ), nói: Hạt lũ sinh! Đồ ngu si! Các ngươi tìm được gì trên bộ xương khô ấy? Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 2 (Đại 47, 997 trung), ghi: Sư nói: Sáng là mù. Tăng thưa: Xin thầy chỉ dạy. Sư nói: Lũ sinh tử(đồ ngu ngốc) .

hạt lư

5) Con lừa mù—A blind or folded donkey. 6) Ngu si: Stupid.

hạt lạt li

Harali (skt)—Vải dệt bằng một loại lông mịn—Cloth woven of fine hair.

hạt lạt li y

(hạt lạt li y ) Hạt lạt li, Phạm:Kàrali. Hạt lạt li là tên một loại vải dệt bằng lông dã thú. Hạt lạt li y là áo được may bằng loại vải này. Ngài Huyền trang du học Ấn độ, khi đến nước Kiện đà la thấy người ở đây mặc loại áo này. Nhưng đây không phải loại áo do tăng sĩ Phật giáo mặc. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 76 trung), nói: Hạt lạt li y là áo được may bằng loại vải do dệt từ lông dã thú. Lông dã thú mềm mịn, xe thành sợi rất quí, dùng để may quần áo .

hạt lệ phiệt ða

Revata (skt)—Tên của một vị sư Ấn Ðộ—Name of an Indian monk.

hạt lợi nã

Harina (skt)—Những loại nai—Deer of several kinds.

hạt lợi sa phạt ðan na

Harsavardhana (skt)—Vua xứ Kanyakubja, vị hộ pháp Phật giáo vào khoảng những năm 625 sau Tây Lịch—King of Kanyakubja, protector of Buddhism about 625 A.D.

hạt ngọc

Pearl—Precious stone.

hạt sương

A dew-drop.

hạt tham

(喝參) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xướng lên cho đại chúng cùng tham. Điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 thượng), nói: Tham đầu tiến lên trước cắm hương rồi lui về chỗ của mình, chậm rãi hô lên: Tham! Đại chúng thấp giọng cùng nói: Xin vâng. Tất cả lễ 3 lễ . [X. chương Triệu châu Tùng thẩm trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.10, chương Ôn châu thụy lộc tự Bản tiên thiền sư Cảnh đức truyền đăng lục Q.26; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hạt thực

(喝食) Gọi đủ: Hát thực hành giả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người giữ chức vụ xướng các món ăn của đại chúng trong Tăng đường vào lúc thụ trai. Cứ theo điều Phó chúc phạn trong Thiền uyển thanh qui quyển 1, thì sau khi vào Tăng đường, Hát thực hành giả lần lượt lễ bái Thánh tăng, vái chào thưa hỏi các vị Trụ trì và Thủ tọa. Đợi vị Thủ tọa chú nguyện xong, mới tuần tự xướng: Tịnh chúc (cháo), Hương thang tịnh thủy (nước nóng) . Sau khi ăn xong, thì xướng: Chiết thủy (tráng bát). Tiếng xướng phải được rõ ràng, nếu xướng sai thì phải xướng lại. Ngoài ra, chức vụ này cũng kiêm nhiệm cả việc thông báo cho chúng tăng biết đã hết giờ tham thiền (phóng tham). Lại nữa, hành giả Hát thực vốn không giới hạn tuổi, nhưng thời gần đây, Nhật bản thường chọn chú tiểu 10 tuổi, chưa được cạo tóc phụ trách công việc này. Hoặc cũng có khi vị sa di giữ chức Hát thực và trong trường hợp ấy thì được gọi là Sa hát. Mà danh từ Sa hát cũng được dùng để gọi chung Sa di và Hát thực. [X. điều Huấn đồng hành, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng; pháp Phó chúc phạn trong Vĩnh bình thanh qui Q. thượng; Oánh sơn hòa thượng thanh qui; Loại tụ danh vật khảo Q.124; môn Chức vị và môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hạt trai

See Hạt ngọc.

hạt xoàn

A diamond.

hả dạ

Content-Satisfied.

hả giận

To give way to anger.

hải

Sagara (skt)—Biển—Sea—Ocean.

hải bình bảo tạng

Zen Master Hải Bình Bảo Tạng (1818-1862)—Thiền sư Hải Bình Bảo Tạng, một thiền sư nổi tiếng của Việt Nam vào tiền bán thế kỷ thứ 19, quê ở Phú Yên. Ngài xuất gia và thọ giới cụ túc với Thiền sư Tánh Thông Sơn Nhân tại chùa Bát Nhã trên núi Long Sơn, tỉnh Phú Yên. Khi Hòa Thượng Sơn Nhân thị tịch, ngài trở thành Pháp tử đời thứ 40 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa tại miền Nam Trung Việt. Ngài thị tịch năm 1862—A Vietnamese famous monk from Phú Yên, South Vietnam. He left home and received complete precepts with Zen Master Tánh Thông Sơn Nhân at Bát Nhã Temple on Mount Long Sơn in Phú Yên province. When his master passed away, he became the Dharma heir of the fortieth generation of the Linn-Chih Zen Sect and spent most of his life to expand the Buddha Dharma in the southern parts of Central Vietnam. He passed away in 1862.

hải chàng tỉ khưu

(海幢比丘) Phạm: Sàgara-dhvaja. Vị thứ 6 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55].

hải châu

Châu ngọc của biển cả, thường nằm sâu trong lòng biển, khó mà lấy được—Ocean pearls, things hard to obtain. ; (海珠) Ngọc báu dưới đáy biển, là vật hiếm có, ví dụ việc khó được. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 hạ), nói: Xét về công lao thì cao như núi, tính về lợi ích thì quí như hải châu .

hải chúng

Giáo hội của chư Tăng Ni được ví như Hải Chúng hay Hải hội, vì đây cũng là sự hội họp lớn của những người đồng lý tưởng giải thoát như chỉ một vị mặn của muối—Ocean assembly, i.e. a great assembly of monks, the whole body of monks. ; (海衆) Cũng gọi Đại hải chúng, Thanh tịnh đại hải chúng. Chỉ cho chúng tăng sống trong tùng lâm. Bất luận người thuộc chủng tộc nào, khi đã xuất gia thì đều mang chung họ Thích, cũng như trăm sông chảy về biển cả, tên sông không còn mà chỉ còn tên biển. Chúng tăng hòa hợp một vị, tịch lặng, không có tướng sai biệt.

hải giản quốc

(海㵎國) Nơi ở của bồ tát Di lặc, một trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn, được chép trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Nước này ở Nam Thiên trúc, gần bờ biển nên có tên là Hải giản. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 58 (Đại 9, 767 hạ), nói: Ở phương Nam, có một nước tên là Hải giản . [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.20].

hải hà

Sea and river.

Hải hội

海會; C: hăihuì; J: kai'e;|1. Theo truyền thống thiền, thuật ngữ nầy thường chỉ cho sự tụ hội rất đông tăng ni. Chùa hoặc tự viện; 2. Buổi lễ có nhiều vị cao tăng tham dự; 3. Thuật ngữ chỉ cho phần mộ hay lăng tẩm.

hải hội

Chỗ ngồi hội họp của Thánh chúng, những vị có đức độ sâu rộng lớn như biển cả: The assembly of the saints, who have great virtues. Nghĩa trang: A cemetery. ; (海會) I. Hải Hội. Chúng tăng trong tùng lâm. Chúng tăng hội tụ trong tùng lâm như trăm sông chảy về biển cả, nên gọi là Hải hội. II. Hải Hội. Sự hội tụ của chư tôn Thánh chúng. Biển được dùng để ví dụ cho đức hạnh sâu rộng và sự đông đảo của các Ngài nên gọi là Hải hội. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 1 (Đại 36, 5 hạ) nói: Các vị Bồ tát như Phổ hiền v.v... hạnh đức ngang với Phật, nhiều như biển nên gọi là Hải . III. Hải Hội. Cũng gọi Hải hội tháp. Nơi thờ công cộng hài cốt của chúng tăng. (xt. Hải Hội Tháp).

hải không trí tạng kinh

(海空智藏經) Cũng gọi Thái thượng nhất thừa hải không trí tạng kinh. Gồm 10 quyển, do đạo sĩ Lê hưng ở Ích châu và đạo sĩ Phương trường ở Lễ châu soạn. Đây là bộ kinh của Đạo giáo được ngụy tác vào đời Đường. Sách này được soạn theo thể vấn đáp, chia làm 10 phẩm, nội dung nói về giáo lí Đạo giáo do các vị Nguyên thủy thiên tôn và Hải không trí tạng chân sĩ giảng thuyết. Nhưng xét ra thì sách này đã dung nhập thuyết A lại da và Tam tính của Duy thức Phật giáo vào giáo lí của Đạo giáo, cho nên cả nội dung và hình thức của kinh này đều đã chịu ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm. Khoảng năm Hiển khánh thứ 3 đến thứ 4 (658-659) đời Đường cao tông, giữa Phật giáo và Đạo giáo đã xảy ra cuộc tranh luận sôi nổi về thuyết Tam tính, cho nên niên đại biên soạn kinh này có thể suy đoán là sau năm Hiển khánh thứ 4 (659).

hải long vương

Vua của loài rồng biển (theo Kinh Phật Thuyết Hải Long Vương, ngày ấy Ðức Phật đang ở núi Linh Thứu, khi đại chúng đang quây quần, chợt thấy Hải Long Vương dẫn vô số quyến thuộc đến. Ðức Phật bèn giảng thuyết thâm pháp. Hải Long Vương hoan hỷ thỉnh Phật xuống Long cung để được cúng dường và được nghe thuyết pháp. Ðức Phật nhận lời, Long vương làm một tòa điện lớn, trang trí bằng thất bảo như lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, vân vân, chung quanh nạm vàng ròng. Lại cho làm con đường lót bằng toàn vàng bạc và lưu ly từ bờ biển đến Long cung để đón Ðức Thế Tôn và đại chúng. Ðức Thế Tôn dẫn vô lượng đại chúng đến Long cung, ngồi lên tòa sư tử trên đại điện rồi thuyết pháp để giáo hóa quyến thuộc của Long Vương)—The Ocean-Naga, or Dragon King of the Ocean.

hải long vương kinh

Kinh mà Ðức Phật đã thuyết nơi thủy cung để cứu độ quyến thuộc của Long Vương—The sutra which the Buddha preached in the Ocean-naga's palace to save beings in the ocean. ; (海龍王經) Phạm:Sàgara-nàga-ràja-pripfcchà. Gồm 4 quyển, 20 phẩm do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, thu vào Đại chính tạng tập 15. Kinh này thuật lại việc đức Phật ở trên núi Linh thứu gần thành Vương xá, giảng nói cho Hải long vương nghe về các pháp tu của Bồ tát như Lục độ, Thập đức v.v... Ngoài ra, Phật còn nói rõ rằng phụ nữ, rồng, a tu la... đều được thành Phật, nên Ngài đã thụ kí cho a tu luân Yến cư, long vương Vô phần và Bảo cẩm nữ... Đời Đông Tấn, ngài Tuệ viễn thường tụng kinh này để cầu mưa, cảm đến long vương, cho nên đời sau phần nhiều tụng kinh này khi làm lễ cầu mưa. [X. Lương cao tăng truyện Q.6; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

hải long vương nữ

(海龍王女) Con gái của Long vương, tên là Bảo cẩm, trí tuệ lanh lợi, từng cùng với tôn giả Ca diếp đối đáp về nghĩa sâu xa của Đại thừa, cô được đức Phật khen ngợi và thụ kí. [X. phẩm Nữ bảo cẩm thụ quyết trong kinh Hải long vương].

hải lưu

Sea current.

hải minh

(海明) (1597-1666) Cũng gọi Thông minh, Phá sơn tổ sư. Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở đời Minh, người Tây thục (tỉnh Tứ xuyên), họ Kiển. Năm 19 tuổi, sư xuất gia, theo pháp chủ Tuệ học kinh Lăng nghiêm, nhưng có nhiều chỗ ngờ không giải quyết được, sư bèn rời Tây thục, đi đến đất Sở, lên ở núi Phá đầu, một mình khổ tham trong nhiều năm. Một hôm, đang đi, sư ngã (té) và bị thương ở chân, nửa đêm trở mình nghe đau đớn dữ dội liền có chỗ tỉnh ngộ. Sau đó ít lâu, sư đến tham vấn ngài Bác sơn Vân môn, rồi lại tham vấn ngài Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng, khế ngộ và được nối pháp. Năm Sùng trinh thứ 2 (1629), sư đến ở Đông tháp tại Gia hòa (tỉnh Chiết giang) trong 3 năm. Về sau, nhân lời thỉnh của tín chúng tỉnh Tứ xuyên, sư lần lượt trụ trì hơn 10 ngôi chùa như: Tiết nhạc, Đại nga, Vạn phong, Trung khánh, Phụng sơn, Thê kinh, Tường phù, Vô tế, Bàn long, Phật ân, Song quế... để hoằng dương Thiền pháp. Cuối đời Minh, loạn lạc nổi lên, Tây thục, Tứ xuyên nhiều biến động trong hoàn cảnh khó khăn ấy, sư vẫn ra sức hóa đạo quần sinh cứu giúp hàng vạn người. Năm Khang hi thứ 5 đời Thanh, sư tịch, hưởng thọ 70 tuổi, 44 tuổi đạo. Sư có tác phẩm: Phá sơn Minh thiền sư ngữ lục 12 quyển. [X. Ngũ đăng nghiêm thống Q.24; Ngũ đăng toàn thư Q.65].

hải môn quốc

(海門國) Nước Hải môn. Nơi ở của tỉ khưu Hải vân (Phạm: Sàgara-megha), vị thứ 2 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vì nước này ở gần Nam hải, cửa thành trông ra biển nên gọi Hải môn quốc. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

hải ngạn

Sea shore.

hải ngạn quốc

(海岸國) Nước Hải ngạn. Nơi ở của tỉ khưu Thiện trụ (Phạm:Supratiwỉhita), là vị thứ 3 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn, được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vì nước này ở gần bờ biển nên gọi là Hải ngạn quốc. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

hải ninh

Tên một ngôi chùa cổ tọa lạc tại làng Vĩnh Niệm, huyện An Hải, tỉnh Hải Phòng. Chùa trước đây được xây trên Kinh Bắc vào thời Hậu Lê. Vào năm 1931, chùa được dời về Hải Phòng, và được nhân dân địa phương cúng cho hội Ðồng Thiện, vì vậy mà chùa còn có tên là chùa Ðồng Thiện. Trong sân chùa có hai ngôi tháp ghi 40 bức ký họa ghi lại lịch sử xây dựng thành phố Hải Phòng—Name of an ancient temple, located in Vĩnh Niệm village, An Hải district. The previous temple was built in Kinh Bắc area during the late Lê dynasty. In 1931, it was moved to Hải Phòng, and then offered to Ðồng Thiện Association, therefore it was also called Ðồng Thiện Temple. In the courtyard of the temple, there are two stupas with 40 pictures illustrating the history of building of Hai Phòng City.

hải quýnh từ phong

Zen Master Hải Quýnh Từ Phong (1728-1811)—Vị sư Việt Nam, quê ở Bắc Ninh. Vào lúc 16 tuơåi, ngài đến chùa Liên Tông, đảnh lễ Thiền Sư Bảo Sơn Dược Tính. Ngài trở thành đệ tử của Bảo Sơn và Pháp tử đời thứ 40 dòng Lâm Tế. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng pháp ở miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1811, thọ 84 tuổi—A Vietnamese monk from Bắc Ninh. At the age of 16, he came to Liên Tông Temple to pay homage to Zen Master Bảo Sơn Dược Tính and became the latter's disciple. He was the 40th generation of the Linn Chih Zen Sect. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. He passed away in 1811, at the age of 84.

hải thanh

(海青) Cũng gọi Đại bào. Trang phục đời Đường, có vạt rộng, ống tay toang, là loại áo mà 2 chúng xuất gia và tại gia của Phật giáo Trung quốc mặc khi lễ Phật, tụng kinh. Hình thức áo này là từ áo hoàng bào được sửa đổi đôi chút mà thành. Hoàng bào là phục sức của nhà vua từ đời Tùy trở về sau, ống tay áo rộng rãi, mặc vào rất thoải mái. Ở vùng Ngô trung thuộc tỉnh Giang tô, người ta gọi áo có ống tay rộng là Hải thanh; vì ống tay áo của chư tăng cũng rộng nên mới dùng danh từ này. Ngoài ra, danh từ Hải thanh được dùng trong tùng lâm là lấy ý nghĩa biển cả mênh mông sâu rộng, có thể dung chứa muôn vật, những đợt sóng cuốn trào dào dạt, tự tại vô ngại; màu lam có từ màu xanh của nước biển, nhưng lại xanh hơn màu lam, mục đích nhằm khuyến khích sách tiến người mặc áo này phải khác với phàm tục. Phật giáo truyền vào Trung quốc, do điều kiện khí hậu, phong tục và nhu cầu thực tế, 3 tấm ca sa (áo pháp) vốn có không thể thích ứng được, nên phải may thêm các loại áo ngắn, áo vừa, áo dài và áo lễ (tay áo rộng). Ba tấm ca sa chỉ đắp khi lễ Phật, tụng kinh hoặc trai nghi, đắp bên ngoài áo lễ và tùy theo tình huống thực tế, chỉ đắp một trong 3 tấm. Ở Trung quốc hiện nay, Hải thanh có 2 màu:1. Màu đen: Loại áo phổ thông mà 2 chúng xuất gia và tại gia mặc khi lễ Phật; người đã thụ giới thì ngoài Hải thanh còn đắp thêm ca sa. 2. Màu vàng: Chỉ có vị Trụ trì chùa viện hoặc vị Pháp chủ trong pháp hội mặc áo này, còn đại chúng phổ thông không được mặc.

hải triều aâm

AÂm thanh của hải triều được ví như tiếng thuyết pháp của Phật, oai mãnh và vang dội khắp như tiếng sóng biển (Hải Triều AÂm còn dùng để chỉ thanh danh của chư Phật và chư Bồ Tát tỏa rộng khắp muôn phương, ai nghe tới cũng nễ sợ như sự hùng vĩ của sóng biển. Sóng biển tuy vô niệm nhưng không trái thời, cũng giống như âm thanh thuyết pháp tụng kinh của chư Tăng Ni luôn luôn thích hợp với thời cơ)—The ocean tide voice, i.e. of the Buddha.

hải triều âm

(海潮音) I. Hải Triều Âm. Âm thanh vang rền của sóng triều ngoài biển, được dùng để ví dụ âm thanh của Phật và Bồ tát, hoặc chỉ cho sự ứng hóa của Phật và Bồ tát. Hội Bồ tát tạng trong kinh Đại bảo tích quyển 40 (Đại 11, 231 hạ), chép: Lời nói của Như lai tùy theo sự ứng hiện mà chuyển biến, chẳng thể nghĩ bàn, nay ta nói sơ qua như sau: Xá lợi tử! Lời nói của Như lai rõ ràng, dễ hiểu, dễ biết, dịu dàng (...) là tiếng nói Phạm thiên, tiếng hải triều, tiếng mây sấm (...) tiếng theo lượng hư không, là tiếng nói thành tựu bởi tất cả sự nhiệm mầu . Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 110 hạ) nói: Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A nan và đại chúng, dùng tiếng như hải triều dạy bảo toàn thể chúng hội . Đây là ví dụ âm thanh của Phật giống như tiếng sóng triều ngoài biển. Phẩm Quán thế âm bồ tát phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 58 thượng) ghi: Diệu âm, Quan thế âm Phạm âm, Hải triều âm Vượt âm thanh thế gian, Vì thế nên thường niệm Niệm niệm chớ sinh ngờ, Quán thế âm tịnh thánh Trong khổ não đau thương Thường làm nơi nương tựa Đây là ví dụ sự ứng hóa của bồ tát Quán thế âm. II. Hải Triều Âm. Một điệu tán tụng (đọc canh) được lưu hành trong giới Phật giáo Trung quốc. III. Hải Triều Âm. Tạp chí Phật giáo Trung quốc, do các vị Thái hư, Tưởng tác tân, Trần nguyên bạch, Hoàng bảo thương v.v... sáng lập. Lúc đầu, tạp chí này có tên là Giác Xã Tùng Thư , số 1 được phát hành vào ngày 10 tháng 10 năm 1918, 3 tháng ra một kì, chuyên nghiên cứu và hoằng dương Phật giáo. Sau khi phát hành kì thứ 5, vào năm 1920, tạp chí quí san được đổi làm nguyệt san và lấy tên là Hải Triều Âm , nghĩa là tiếng nói thức tỉnh giữa trào lưu tư tưởng của loài người . Lấy việc phát huy nghĩa chân thực của Phật pháp Đại thừa để hướng dẫn nhân tâm và tư tưởng chân chính trong thời hiện đại làm tông chỉ. Đại sư Thái hư là vị chủ biên quyển 1 trong kì phát hành lần đầu tiên của tạp chí này. Tiếp theo, có những biên tập viên nổi tiếng như: Đường đại viên, Trương hóa thanh, Pháp phường, Chi phong, Phúc thiện v.v... Năm Dân quốc 37 (1948), sư Đại tỉnh làm chủ biên. Năm sau (1949) chiến tranh bùng nổ, tòa soạn tạp chí phải dời ra Đài loan, ngài Ấn thuận làm chủ nhiệm, Lí tử khoan là người phát hành. Năm 1988, tòa soạn được đặt tại chùa Thiện đạo ở Đài bắc và Diệu nhiên là người phát hành.

hải trích

(海滴) Cũng gọi Hải trích dụ. Giọt nước biển. Một trong 4 thí dụ về tuổi thọ của đức Phật. Những giọt nước biển tuy nhiều, nhưng vẫn có thể đếm được, còn tuổi thọ của Phật thì vô lượng vô biên không thể tính đếm được. Kinh Kim quang minh quyển 1 (Đại 16, 336 thượng), nói: Tất cả giọt nước biển, Đều có thể đếm số; Tuổi thọ của Thế tôn Không cách nào tính được (xt. Phật Thọ Tứ Dụ).

hải tạng

(海藏) I. Hải Tạng. Ví dụ sự thuyết pháp của đức Phật. Biển Phật pháp rộng lớn không phân biệt tốt xấu, cũng không phân Hải Minh chia hữu tình hay vô tình, tất cả đều được Phật pháp dung chứa cho nên dùng biển để ví dụ. [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển)]. II. Hải Tạng. Vị tăng Trung quốc sống vào đời Đường, năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Theo truyện Giác lãng trong Tục cao tăng truyện quyển 21, thì sư kính tin Phật pháp một cách chân chính và bền chắc, hâm mộ Luật học, thường giảng luật Tứ phần, tuổi trẻ mà đã kế pháp vị. Đầu năm Vũ đức (618), triều đình cử 10 vị cao tăng lãnh đạo chúng tăng trong đó có sư.

hải vân tỉ khâu

(海雲比丘) Phạm: Sàgara-megha. Vị thứ 2 trong 53 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đến tham vấn được ghi trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm. Vị tỉ khưu này ở tại nước Hải môn, thường đến bờ biển quán xét về duyên khởi biển cả và pháp của bậc thượng nhân ở biển ấy trang nghiêm rải khắp như mây, vì thế, theo cảnh sở quán mà gọi là Hải vân (mây biển). [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18].

Hải Vân Ấn Giản

(海雲印簡, Kaiun Inkan, 1202-1257): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hải Vân (海雲), người vùng Ninh Viễn (寧遠, Tỉnh Tứ Xuyên), họ Tống (宋). Năm lên 7 tuổi, ông được cha giảng nghĩa Hiếu Kinh cho nghe, sau ông theo xuất gia với Trung Quán Chiểu (中觀沼), đến năm 11 tuổi thọ Cụ Túc giới và chuyên tâm tham học. Khi thầy mình qua đời, ông đến tham yết Trung Hòa Chương (中和璋) ở Đại Khánh Thọ Tự (大慶壽寺), Yến Kinh (燕京, tức Bắc Kinh) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ban đầu, ông hóa đạo tại Nhân Trí (仁智) thuộc Hưng Châu (興州, Tỉnh Sơn Tây), sau đó từng sống qua các nơi như Hưng Quốc (興國) ở Lôi Dương (洡陽), Vĩnh Khánh (永慶) ở Hưng An (興安), cuối cùng trở về Đại Khánh Thọ Tự. Ông đã từng quy y cho triều đình nhà Nguyên, đến năm thứ 9 (1237) đời vua Thái Tông, ông được ban cho hiệu là Quang Thiên Trấn Quốc Đại Sĩ (光天鎭國大士). Vào năm thứ 11 cũng đời vua trên, ông lại quay về Đại Khánh Thọ Tự, rồi đến năm đầu (1242) đời vua Thoát Liệt Ca Na (脫列哥那), ông trả lời những vấn nạn của Hộ Tất Liệt (護必烈) và khẳng định rõ tính ưu việt của Phật Giáo hơn Đạo Giáo. Từ đó trở đi, thỉnh thoảng ông có trả lời những nan giải của triều đình, cho nên vua Định Tông cho ông nhậm chức Tăng Lục (僧錄). Tại Hạo Thiên Tự (昊天寺), ông làm lễ cầu nguyện cho quốc gia được thái bình, sau đó ông chuyển đến Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) ở Hòa Lâm (和林, Tỉnh Sơn Tây). Vào tháng giêng năm thứ 4 (1256) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), ông vâng mệnh hoàng triều mở pháp hội tại Hạo Thiên Tự. Đến ngày mồng 4 tháng 4 nhuận năm thứ 5 (1257) cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 56 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Phật Nhật Viên Minh Đại Sư (佛日圓明大師).

hải vương

God of the seas.

hải ðăng

Giáo pháp Phật xuyên qua thế giới khổ đau tăm tối như ngọn hải đăng chiếu toàn nhân loại—Beacon light (Lighthouse)—The Dharma of the Buddha goes through a world of suffering and darkness like a beacon light to guide and illuminate mankind.

hải ðạo

Sea route.

hải ðức

Tám đức tánh (tánh chất) hay khả năng của biển—The eight virtues, or powers of the ocean. 1) Bao la: Vastness. 2) Hải triều đúng quy định: Tidal regularity. 3) Không dung chứa xác chết (tất cả xác chết của chúng hữu tình đều bị tấp vào bờ): Throwing out of the dead. 4) Chứa thất bảo: Containing the seven kinds of pearls. 5) Thâu nhiếp đại hà mà không hề tăng hải triều: Absorption of all rivers without increase. 6) Thâu nhiếp đại vũ mà không hề tăng hải triều: Absorption of all rain without increase. 7) Chứa kình ngư: Holding the most mighty fish. 8) Ðồng một vị mặn: Universal unvarying saltness.

hải ý bồ tát

(海意菩薩) Vị Bồ tát ở thế giới Bảo trang nghiêm. Vị Bồ tát này thay mặt đại chúng thưa hỏi đức Phật trong kinh Hải ý. Kinh Hải ý gọi đủ là kinh Hải ý Bồ tát sở vấn tịnh ấn pháp môn, gồm 18 quyển, do ngài Duy tịnh dịch vào đời Bắc Tống. Đây là kinh biệt dịch (biệt sinh) từ phẩm Hải tuệ Bồ tát trong kinh Đại phương đẳng đại tập phần 5.

Hải Đông

海東; C: hăidōng; J: kaitō;|Thuật ngữ mang ý tôn trọng do người Trung Hoa thường dùng để chỉ cho người Hàn Quốc. Thường được người Trung Hoa dùng để gọi tên các vị tăng Hàn Quốc hay những tác phẩm quan trọng của Hàn Quốc.

Hải Đông cao tăng truyện

海東高僧傳; C: hăidōng gāosēng zhuàn; J: kaitō kōsō den; K: haedong kosŭng jŏn|Sách của Giác Huấn (覺訓; k: kakhun)

hải đông cao tăng truyện

(海東高僧傳) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Giác huấn, người Cao li, soạn vào năm 1215, thu vào Đại chính tạng tập 50. Nội dung sách này ghi chép sự tích của các vị cao tăng Triều tiên, toàn bộ không rõ có bao nhiêu quyển, hiện chỉ còn 2 quyển đầu.Quyển 1 gồm có Tổng tự, kế đến là mục lục của quyển này và truyện của các ngài: Thuận đạo, Vong danh, Nghĩa uyên, Đàm thủy, Ma la nan đà; A đạo(có phụ thêm truyện của các vị Hắc hồ tử, Nguyên biểu, Huyền chương), Pháp không, Pháp vân v.v... Quyển 2 gồm truyện của các ngài: Giác đức (có phụ thêm truyện ngài Minh quán), Trí minh (phụ thêm truyện ngài Đàm dục), Viên quang, An hàm (có phụ thêm truyện của các vị tăng người Hồ, người Hán, Đàm hòa, An hòa), A li da bạt ma, Tuệ nghiệp, Tuệ luân, Huyền khác(có phụ thêm truyện của hai vị Huyền chiếu và Vong danh), Huyền du (có phụ thêm truyện ngài Tăng triết), Huyền đại v.v... Ở cuối mỗi truyện thường phụ thêm lời tán. Hình thức biên soạn của bộ sách này là phỏng theo bộ Lương cao tăng truyện của Trung quốc. Lại nữa, từ các vị A li da bạt ma trở xuống ở cuối quyển 2 là chép lại truyện của các vị trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện của ngài Nghĩa tịnh. Đây là bộ Cao tăng truyện xưa nhất của nước Triều tiên.

hải đạo sư thập dụ

(海導師十喻) Mười ví dụ chỉ cho vị Bồ tát. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 12 thì Bồ tát là vị Đại đạo sư trong biển lớn sống chết, dắt dẫn chúng sinh ra khỏi đường hiểm ác mà chứng vào Niết bàn chân không, cũng như trong biển cả mênh mông không bờ không bến, cần phải nương theo sự chỉ dẫn của vị Hải đạo sư mới có thể vượt qua muôn trùng sóng gió mà đến bờ yên vui. Kinh trên nêu ra 10 ví dụ như sau: 1. Bồ tát biết rõ tất cả thiện pháp và tinh tiến tu hành được chư Phật, các vị Duyên giác, Thanh văn và các đệ tử tin thuận, hứa khả, cũng như vị Hải đạo sư được quốc vương, đại thần và tất cả nhân dân tin tưởng. 2. Bồ tát vì đầy đủ đạo hạnh nên được tất cả các vị Thanh văn, Duyên giác và trời, người, rồng, quỉ, dạ xoa, càn thát bà cung kính cúng dường, cũng như vị Hải đạo sư được quốc vương, đại thần và hết thảy nhân dân cung kính cúng dường. 3. Bồ tát dùng các phương tiện dắt dẫn chúng sinh ra khỏi con đường hiểm ác phiền não mà được an ổn cũng như vị Hải đạo sư có khả năng dắt dẫn mọi người ra khỏi con đường nguy hiểm đến nơi an toàn. 4. Bồ tát dùng các phương tiện khéo léo làm nơi nương tựa cho trời, người và các ngoại đạo, khiến cho họ ra khỏi biển lớn sống chết; cũng như vị Hải đạo sư làm nơi nương tựa cho những người lênh đênh trong biển khổ. 5. Bồ tát có thể vì chúng sinh đắm đuối trong sinh tử, bày ra các phương tiện khiến họ phát tâm bồ đề để cho tuệ mệnh được sống còn; cũng như vị Hải đạo sư có thể cung cấp tất cả nhu cầu cho chúng sinh để cứu mệnh sống của họ. 6. Bồ tát có đầy đủ tư lương phúc đức và trí tuệ, giáo hóa chúng sinh phát tâm làm việc thiện để lìa sinh tử, đến Niết bàn; cũng như vị Hải đạo sư chuẩn bị đầy đủ lương thực giúp cho các người đi buôn ra khỏi nguy hiểm, đến được thành ấp an toàn. 7. Bồ tát tu hành theo pháp bảo vô thượng tối thắng của chư Phật để khiến cho thiện nguyện của chúng sinh đều được viên mãn; cũng như vị Hải đạo sư dừng lại ở bất cứ nơi nào cũng thu thập thêm của báu và đồ dùng cần thiết để chu cấp cho những người thiếu thốn. 8. Bồ tát đối với của báu Thánh pháp thường hay tích lũy, tâm mong cầu tiến thủ không nhàm chán; cũng như vị Hải đạo sư đối với tất cả tiền của chính đáng để giúp cho người nghèo khổ, thì thường sinh lòng mong cầu mà không tự cho là đủ. 9. Bồ tát thường tự mình tăng thêm tất cả các pháp công đức, thường dùng lời nói dịu hiền dắt dẫn chúng sinh, khiến họ ra khỏi bể khổ, đến bờ Niết bàn; cũng như vị Hải đạo sư biết rõ đường đi, thường dùng lời từ ái chỉ dẫn những người lái buôn khiến cho họ được lợi ích. 10. Bồ tát hiểu thấu tất cả pháp mà đến được thành lũy Nhất thiết trí, trí có khả năng phá hoặc hiển lí, thành có thể ngăn điều ác, phòng kẻ địch, cho nên năng lực thù thắng ấy có thể đưa chúng sinh đến được thành Nhất thiết trí; cũng như vị Hải đạo sư có đầy đủ năng lực, có thể dắt dẫn mọi người đến thành ấp an vui.

hải để tứ bảo

(海底四寶) Bốn thứ của báu dưới đáy biển. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 51 (bản dịch mới) nói, thì dưới đáy biển có 4 thứ của báu rực rỡ sáng chói và tính rất nóng, có thể hút hết nước của vô lượng con sông lớn chảy vào biển cả mà biển không hề thêm bớt. Bốn của báu này ví dụ cho 4 loại trí tuệ của Như lai, đầy đủ vô lượng uy đức trang nghiêm, có thể khiến chúng sinh cắt đứt dòng ái dục, phá trừ ngu si tối tăm. Bốn của báu ấy là: 1. Nhật tạng quang minh đại bảo (của báu sáng chói như mặt trời): Ví dụ trí tuệ của Như lai soi rọi các Bồ tát khiến diệt trừ tất cả đợt sóng tán thiện, giữ tâm ở một cảnh mà an trụ nơi chính định. 2. Li nhuận quang minh đại bảo (của báu sáng chói lìa nhiễm): Ví dụ trí tuệ của Như lai diệt trừ tất cả pháp ái, chiếu soi các Bồ tát khiến xả bỏ sự đam mê trong định để phát khởi thần thông rộng lớn. 3. Hỏa diệm quang minh đại bảo(của báu sáng chói như ngọn lửa rực rỡ): Ví dụ trí tuệ của Như lai chiếu rọi các Bồ tát khiến xa lìa thần thông rộng lớn mà trụ trong đại công dụng hạnh. 4. Tận vô dư quang minh đại bảo (của báu sáng chói suốt hết không sót): Ví dụ trí tuệ của Như lai chiếu soi các Bồ tát khiến xả bỏ đại công dụng hạnh và chấm dứt tất cả sự công dụng mà vào cảnh vô dư.

Hải đức

海徳; C: hăi dé; J: kaitoku;|Đức rộng lớn mênh mông như biển.

hải đức

(海德) I. Hải Đức. Danh hiệu của vị Phật đã ra đời từ vô số kiếp ở thời quá khứ. Đức Phật này từng là thầy của các vị Phật ra đời sớm nhất. Cứ theo phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì ba sa quyển 5 của ngài Long thụ, thì vô số kiếp ở thời quá khứ có đức Phật hiệu là Hải đức, thọ mệnh vô lượng, hào quang chiếu sáng vô cùng, đất nước rất trong sạch, chư Phật ở hiện tại đều phát nguyện từ nơi Ngài, người được nghe danh hiệu của Ngài thì nhất định sẽ thành Phật; đức tướng của Ngài đầy đủ cũng như đức tướng của Phật A di đà. Trước nay các học giả đều cho rằng Phật Bảo sinh nói trong kinh Đại thừa Bảo nguyệt đồng tử vấn pháp là Phật Hải đức. Còn Tịnh độ chân tông của Nhật bản thì cho đức Phật này và bản địa của Phật A di đà là một. II. Hải Đức. Chỉ cho 8 thứ đức tốt của biển nói trong kinh Hải bát đức, đó là: 1. Mênh mông không bờ. 2. Thủy triều lên xuống đúng giờ. 3. Không chứa xác chết. 4. Có 7 báu trân châu. 5. Năm sông đều chảy vào mà không giữ tên sông cũ. 6. Mưa tầm tã mà nước biển không thêm bớt.7. Có nhiều loài cá to lớn. 8. Giữa biển và ven bờ cũng chỉ có một vị mặn. Kinh Niết bàn quyển 37 (bản Bắc) cũng có nói về 8 thứ bất tư nghị của biển, kinh Hoa nghiêm quyển 42 (bản dịch mới) thì liệt kê 10 đức của biển, đại khái đều giống nhau.

hải ấn

Còn gọi là Hải Ấn Ðịnh, tên của tam muội mà Phật đã sở đắc. Biển thiền định bao la của Phật mà tất cả các pháp đều hiện ra trong biển trí đó—The ocean symbol, indicating the vastness of the meditation of the Buddha, the vision of all things—See Hải Ấn Tam Ma Ðịa. ; (海印) (1840-1924) Vị tăng Trung quốc, người huyện Nguyên giang, tỉnh Hồ Nam, họ Lỗ, tự Hàm hư. Thủa nhỏ, sư nhiều bệnh, năm 12 tuổi y vào pháp sư Nguyệt tuyền xuất gia. Sau khi thụ giới, sư tự tu trong nhiều năm. Về sau, sư đến Nhật bản lên ở trên núi Cao dã, chuyên học Thiền và Mật giáo. Năm 34 tuổi, sư về nước và trở lại trụ trì chùa Cảnh tinh, huyện Nguyên giang, tỉnh Hồ nam, lần lượt sáng lập Phật học viện, Sở nghiên cứu Phật học phổ thông, Phật giáo cư sĩ lâm và hơn 10 Niệm Phật xã và Liên xã. Sư có tác phẩm: Thiền hải trân tham 1 quyển.

hải ấn tam ma ðịa

Trạng thái tập trung ở mức độ cao, được nói đến trong Kinh Hoa Nghiêm, trạng thái tâm như đại dương, một khi tĩnh lặng và không gợn sóng sẽ phản chiếu mọi vật trong vũ trụ, quá khứ, hiện tại và vị lai—A state of concentration of the highest level, mentioned in the Avatamsaka Sutra. The mind is likened to the ocean, which when calm and without a single wave, can reflect everything throughout the cosmos, past, present and future—See Hải Ấn.

hải ấn tam muội

Hải ấn là hải thượng ấn văn (Nghĩa là do ánh nắng mặt trời chiếu trên thành phố phản xạ hiện lên mặt biển, người hàng hải thường gặp thấy thành phố trên mặt biển, nhưng đến gần thì không thấy nữa), để dụ cho sức dụng biến hóa vô biên của tự tánh. Cái chánh định được hiển bày sức dụng này, gọi là Hải Ấn Tam Muội. ; See Ðại Hải Ấn. ; (海印三昧) Phạm: Sàgaramudrà-samàdhi. Cũng gọi Hải ấn định, Hải ấn tam ma địa, Đại hải ấn tam muội. Tên của tổng định nói trong kinh Hoa nghiêm. Trước khi đức Phật nói pháp, Ngài thường nhập định để tư duy về pháp nghĩa và xem xét căn cơ. Như khi nói Pháp hoa thì Ngài vào định Vô lượng nghĩa xứ; khi thuyết Bát nhã, Ngài vào định Đẳng trì vương; khi nói Niết bàn thì Ngài vào định Bất động. Trong 7 chỗ 8 hội của kinh Hoa nghiêm, mỗi mỗi hội đều có định riêng, tức hội thứ nhất, Phật vào định Như lai tạng, cho đến hội thứ 8, Ngài vào định Sư tử phấn tấn. Định Hải ấn này tức là định chung của cả 7 chỗ 8 hội. Hải ấn là lấy dụ đặt tên, tức là hình ảnh biển cả sóng lặng gió yên, nước trong phẳng lặng, muôn tượng sum la đều in trên mặt biển, ví dụ cho tâm Phật sóng thức không sinh, lắng yên trong sáng, hết thảy các pháp trong 3 đời đều hiện rõ ràng. Nội dung kinh Hoa nghiêm tức đã căn cứ vào vạn hữu hiện rõ như thực ở trong định này mà được nói ra. [X. phẩm Hiền thủ Bồ tát trong kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản dịch cũ); phẩm Hư không tạng bồ tát trong kinh Đại phương quảng đại tập Q.15; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh Thám huyền kí Q,4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

hải ấn tam muội thập nghĩa

(海印三昧十義) Mười nghĩa của định Hải ấn. Đó là: 1. Vô tâm năng hiện: Pháp tính bình đẳng, lìa các danh tướng, không cần dụng công mà vẫn có năng lực hiện rõ hết thảy các tướng. 2. Hiện vô sở hiện: Tùy theo tâm của chúng sinh mà hiện tất cả các tướng; những tướng ấy như ánh chớp, như cái bóng hoàn toàn bất khả đắc. 3. Năng hiện sở hiện phi nhất: Trí năng hiện và cảnh sở hiện đều là một niệm viên dung, nhưng ứng khắp 10 phương. 4. Năng hiện sở hiện phi dị: Trí năng hiện và cảnh sở hiện tuy ứng khắp 10 phương dưới những dạng khác nhau, nhưng vốn ở trong một niệm. 5. Vô khứ lai: Muôn pháp hiện trong tự tâm, đó là bất lai (chẳng từ đâu đến) thân tướng của muôn pháp trùm khắp pháp giới, đó là bất khứ (chẳng đi đâu). 6. Quảng đại: Bao trùm khắp mọi pháp, hàm chứa cả thế giới của chúng sinh, nhưng chẳng lìa nhất tâm. 7. Phổ hiện: Tất cả thế giới đều hiển hiện trong một tâm. 8. Đốn hiện: Hết thảy thế giới đều hiện ngay trong một niệm, không trước không sau, sắc tướng rõ ràng. 9. Thường hiện: Tướng của hết thảy các pháp không lúc nào là không hiện. 10. Phi hiện hiện: Vì thuận theo chúng sinh nên ở trong trạng thái vắng lặng phi ứng, lại tùy cảm mà ứng một cách vô tâm, giống như gương sáng, vật đến hiện liền, nhưng không phân biệt. (xt. Hải Ấn Tam Muội).

Hải ấn tam-muội

海印三昧;; S: sāgara-mudrā-samādhi; C: hăi-yìn sānmèi; J: kaiin sanmai;|Định thâm diệu mà Đức Phật an trú khi ngài giảng kinh Hoa Nghiêm. Tất cả chúng sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều bao gồm trong tâm nầy. Chữ Ấn có nghĩa là »phản chiếu«. Như vậy, tâm an định giống như biển lớn, có thể phản chiếu mọi hiện tượng. Trong tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, các pháp đều biểu hiện tuỳ theo tâm nầy.

Hải Ấn tự

海印寺; C: hăiyìn sì; J: kaiinji;|Một trong những ngôi chùa lớn ở Hàn Quốc, xâu dựng đầu tiên năm 892. Là nơi chạm khắc mộc bản in Tam tạng kinh Hàn Quốc, vẫn còn được lưu trữ nơi đây. Hải Ấn tự vẫn là một trung tâm tu tập Thiền trong thời cận đại. Đây là nơi xuất thân của vị cao tăng đã viên tịch Sŏngch'ŏl.

hảo

Good—Well—To be fond of.

hảo bản đa đồng

(好本多同) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là những người viết chữ đẹp, bút pháp của họ thường giống nhau. Thiền gia dùng từ ngữ này để dụ cho trình độ, cảnh giới, phong cách, v.v... giữa thầy và đệ tử phần nhiều giống nhau. Tắc 80 trong Thung dung lục (Đại 48, 278 trung), ghi: Lâm tế nói: Hãy mang bồ đoàn lại đây cho ta! (Hảo bản đa đồng) .

hảo bất tức lưu

(好不唧

hảo chiếu

Good at shining—A mirror. ; (好照) Chỉ cho tấm gương được dùng trong lúc ngồi thiền. Nghĩa là sử dụng tấm gương sáng để quán chiếu có thể ngăn ngừa tâm thần tán loạn. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 2, tiết 3 (Đại 40, 387 trung), chép: Hảo chiếu, có thuyết cho rằng chỗ ngồi thiền phần nhiều thường treo tấm gương sáng để giúp tâm hạnh, hoặc dùng ngọc sáng để chiếu soi .

hảo hiệp

To be in accord (agreement).

hảo hạng

Good quality.

hảo kiên thụ

(好堅樹) Cây Hảo kiên. Loại cây thần thoại dùng để ví dụ trí tuệ cao siêu của đức Thế tôn vô thượng. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 10, cây Hảo kiên sinh trưởng trong lòng đất đã 100 năm, cành lá đầy đủ, một hôm nứt đất vọt lên liền cao 100 trượng. Sau khi ra khỏi lòng đất, cây này muốn tìm một cây đại thụ để che chở cho mình, lúc ấy thần rừng nói với cây này rằng: Hảo kiên là cây lớn nhất thế gian, các cây khác đều được Hảo kiên che chở . Đức Thích tôn trong vô lượng kiếp ở Bồ tát địa, một khi ra đời là ngồi trên tòa Kim cương dưới gốc cây Bồ đề, thấy rõ thực tướng của tất cả các pháp mà chứng ngộ thành Phật. Bấy giờ đức Thích tôn tự nghĩ: Ai là người để mình tôn phụng làm thầy? . Lúc ấy, Phạm thiên vương liền nói: Phật là bậc Vô thượng, trong 10 phương 3 đời không ai hơn Ngài, tất cả người, trời đều tôn Phật làm thầy, cung kính cúng dường .

hảo sinh

Love of the living—Love of life. ; (好生) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sinh là trợ từ, Hảo sinh là từ ngữ dùng để khiến mọi người chú ý. Điều Tiểu tham trong Giới thạch Trí bằng thiền sư ngữ lục có câu: Chư nhân hảo sinh thính thủ (Mọi người hãy chú ý lắng nghe?). Trong Thạch khê Tâm nguyệt thiền sư ngữ lục quyển thượng có câu: Hảo sinh quan (Hãy chú ý xem!). Ngoài ra, từ đời Tống trở đi, từ Hảo sinh cũng được dùng rộng rãi. [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.5; Chư tổ kệ tụng Q. thượng phần trên].

hảo sự

A good business.

hảo thanh

Good voice (sound).

hảo thanh ðiểu

Chim có âm tốt, có thể là Ca Lăng Tần Già—A bird with a beautiful note, maybe a Kalavinka.

hảo tâm

Kindness—Kindheart.

hảo tướng

A good appearance (omen or sign).

hảo ý

Good intention.

hấn

Gây hấn—To provike hostilities.

hấp

To suck up.

hấp dẫn

Attractive.

hấp thụ

To absorb—To receive.

hất hủi

To neglect.

hầu

Con khỉ—Monkey.

hầu thời

Giờ Thân từ 3 đến 5 giờ chiều—The hours of the monkey, the time from 3:00PM to 5:00PM.

hẩm hiu

Unfortunate—Unlucky.

hậm hực

Displeased.

hận

Thù ghét—Hate—Hatred—Annoyed—Vexed. ; (恨) Phạm: Upanàha. Tên tâm sở. Hận là đối với việc oán giận không bao giờ quên, là một trong 75 pháp của Câu xá, một trong 100 pháp của Duy thức.Tông Câu xá đặc biệt cho nó là một trong những tâm sở (Tiểu phiền não địa pháp) sinh khởi từ tâm ô uế (Tâm bất thiện và tâm hữu phú vô kí); còn tông Duy thức thì cho Hận là một trong những Tùy phiền não. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 54, thì Hận tuy không mãnh liệt bằng phẫn nộ, nhưng sức tàn dư của nó rất khó trừ diệt. [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Thành duy thức Q.6; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

hận thù

Hận—Hatred. Những lời Phật dạy về “Hận Thù” trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings of “Hatred” in the Dharmapada Sutra: “Người kia lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hại tôi, và cướp đoạt của tôi.” Ai còn ôm ấp tâm niệm ấy, thì sự oán hận không thể nào dứt hết—“He abused me, he beat me, he defeated me, he robbed me.” Hatred will never leave those who dwell on such thoughts (Dharmapada 3). “Người kia lăng mạ tôi, đánh đập tôi, phá hại tôi, và cướp đọat của tôi.” Ai bỏ được tâm niệm ấy, thì sự oán giận tự nhiên san bằng---“He abused me, he hit me, he defeated me, he robbed me.” Hatred will leave those who do not harbor such thoughts (Dharmapada 4). Ở thế gian nầy, chẳng phải hận thù trừ được hận thù, chỉ có từ bi mới trừ được hận thù. Ðó là định luật của ngàn xưa—In this world, hatred never destroys (eliminates) hatred, only love does. This is an eternal law (Dharmapada 5).

hận thù suốt kiếp

Enmities.

hậu

(D) Hậu hỷ: Rộng rãi—Generous. (E) Sau: After—Behind—Posterior. (F) Về sau: Later.

hậu biên thân

xem thân gần cuối.

Hậu Bá Nguyên Thiên Hoàng

(後柏原天皇, Gokashiwabara Tennō, tại vị 1500-1526): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Chiến Quốc, Hoàng Tử thứ nhất của Hậu Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (後土御門天皇, Gotsuchimikado Tennō, tại vị 1464-1500), tên là Thắng Nhân (勝仁, Katsuhito).

hậu bái

(後唄) Đối lại với Thủy đoạn bái, Trung bái. Bài kệ được tán tụng trước khi kết thúc Pháp hội, âm điệu trầm bổng du dương. Chư kinh yếu tập quyển 4 (Đại 45,32 hạ), ghi: Sống giữa đời như hư không, Giống hoa sen không dính nước, Tâm thanh tịnh vượt xa hơn, Cúi đầu lễ đấng Vô thượng . Bốn câu kệ này cũng được viết ở mỗi ngôi tháp trong 84.000 tháp do vua A dục xây dựng. Nghi thức tán tụng Hậu bái rất thịnh hành ở đời Đường, như sau khi tu pháp sám Pháp hoa đều có tụng tán Hậu bái. [X. Ngư sơn thanh minh tập].

hậu báo

Future retribution—Quả báo của một hay nhiều đời sau tạo nên bởi cái nghiệp thiện ác của đời nầy. Ðời nay làm lành ác, mà qua đến đời thứ hai, thứ ba, hay lâu hơn nữa mới được hưởng phước lành, hay thọ lãnh quả báo ác. Hậu báo sớm muộn không nhứt định, nhưng chắc chắn là không thể nào tránh khỏi. Hễ tạo nghiệp, dù thiện hay dù ác, chắc chắn sớm muộn gì sẽ phải thọ lãnh quả báo. Chính vì thế mà cổ đức dạy:“Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu,” và “Giả sử bá thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong; nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ,” có nghĩa là lưới trời tuy thưa lồng lộng, nhưng một mảy lông cũng không lọt khỏi, và giả sử như trăm ngàn kiếp đi nữa thì nghiệp gây tạo vẫn còn, khi nhơn duyên đầy đủ thì báo ứng sẽ đến không sai. Có những trường hợp đáng chú ý mà người Phật tử phải hiểu rõ để tránh không bị hiểu lầm về luật nhân quả:làm dữ ở kiếp nầy mà vẫn được giàu sang, là vì kiếp trước đã từng làm phước, cúng dường, bố thí. Cái nhân dữ ở kiếp nầy vì mới gieo nên chưa thành ra quả ác; trong khi cái nhơn lành trong kiếp trước hay nhiều kiếp trước, vì đã gieo lâu, nên đã chín mùi, nên quả giàu sang phải trổ. Cũng như vậy, ăn ở hiền lành mà vẫn cứ nghèo cùng, hoặc luôn bị các điều khổ sở, hoạn nạn, vân vân, ấy là vì nhơn lành mới gieo trong kiếp nầy mà thôi, nên quả lành chưa trổ; còn bao nhiêu nhân ác kiếp trước, đã gieo lâu rồi nên quả dữ đã đến thời điểm chín mùi —The retribution received in the next or further incarnation for the deeds done in this life. Wholesome and unwholesome karma are created in this life, but sometimes the karma will pass through the second, third life, or even longer before one is able to reap the meritorious retributions or endure the evil consequences. Whether these future retributions are earlier or later is not absolute, but it is absolutely unavoidable. If there is action, whether it is good or evil, there will be consequences sooner or later. Ancient sages taught:“The heaven's net may be thin, but even a hair will not fall through,” and “supposing hundreds of thousands of lives have passed, but the karma created still remains; when destinies, circumstances come to fruition, the appropriate retributions will not be denied.” There are some noticeable situations which Buddhists should clearly understand to prevent any misunderstanding about the law of cause and effect:Those who commit evil in this life, yet continue to prosper; it is because they have only began to commit transgressions in this life. However, in the former lives, they have already formed wholesome merits, make offerings and charitable donations. The evil deeds of this life which have just been planted, have not had the proper time to form unwholesome consequences; while the wholesome deeds in the former lives planted long ago, have had the time to come to fruition in the present life. There are also other circumstances, where people practice good deeds, yet they continue to suffer, experience setbacks, misfortunes, etc. that is because they have just learned to practice wholesome conducts in the present life. Otherwise, in the former lives, they have created many unwholesome deeds. The wholesome deeds in this life have just been planted, have not had the proper time to grow into wholesome fruition. However, the wholesome and wicked deeds in the former lives which had been planted long long ago, have had the proper time to come to fruition in the present life. ; (後報) Cũng gọi Hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Quả báo sẽ phải nhận lãnh trong đời vị lai tùy theo nghiệp nhân thiện ác đã tạo ở đời hiện tại, là một trong 3 báo. Luận Thành thực (Đại 32, 297 trung), nói: Đời này tạo nghiệp, qua đời kế tiếp nhận lãnh, gọi là Hậu báo. Vì qua đời kế tiếp nên gọi là Hậu (sau) . [X. Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Đại minh tam tạng pháp số Q.11]. (xt. Tam Báo).

Hậu Bạch Hà Thiên Hoàng

(後白河天皇, Goshirakawa Tennō, tại vị 1155-1158): vị Thiên Hoàng trị vì vào cuối thời Bình An, hoàng tử thứ 4 của Điểu Vũ Thiên Hoàng (鳥羽天皇, Toba Tennō, tại vị 1107-1123), tên là Nhã Nhân (雅仁, Masahito). Một năm sau khi ông tức vị thì nảy sinh vụ loạn Bảo Nguyên (保元). Sau khi nhường ngôi vị lại cho Nhị Điều Thiên Hoàng (二條天皇, Nijō Tennō, tại vị 1158-1165), ông làm Nhiếp Chính trong suốt 34 năm với 5 đời vua. Vào năm 1169 (niên hiệu Hỷ Ứng [喜應] nguyên niên), ông làm Pháp Hoàng, chuyên tâm xây chùa, tạo tượng Phật và soạn bộ Lương Trần Bí Sao (梁塵秘抄).

hậu bối

Future generations.

hậu chu thế tông

(後周世宗) (921-959) Vua Thế tông nhà Hậu Chu, con nuôi Chu thái tổ, họ Sài, tên Vinh. Vua có học qua sử sách, có tài cai trị. Sau khi lên ngôi, vua ra sức chăm lo việc nước, đánh chiếm đất Tần lũng, dẹp yên vùng Hoài tây, uy thế lừng lẫy 4 phương. Vua sửa lại lễ nhạc, qui định chế độ để làm khuôn phép cho đời sau. Thế tông vốn không ưa Phật giáo, cho rằng tăng ni và chùa viện Phật giáo là gánh nặng đối với nền tài chính của quốc gia, nên vào năm Hiển đức thứ 2 (955), ông xuống lệnh phế bỏ đạo Phật, cấm người xuất gia, phá hủy 3.336 chùa viện, tất cả pháp khí, bằng đồng như chuông, khánh v.v...… đều bị đem đúc thành tiền, lịch sử gọi biến cố này là Nhất tông chi ách hay Nhất tông pháp nạn . Tương truyền, khi vua ban lệnh phá hủy các tượng Phật, ở Trấn châu có tượng bồ tát Quan thế âm bằng đồng rất linh nghiệm, tuy đã có lệnh nhưng không ai dám phá, nhà vua đích thân đến chùa lấy búa bổ vào ngực của pho tượng Bồ tát, mọi người đứng xem đều run sợ. Đến năm Hiển đức thứ 6 (959), trên đường đi chinh phạt phương Bắc, trên ngực nhà vua bỗng sinh ra một cái nhọt rồi chết, lúc đó vua mới 39 tuổi, ở ngôi được sáu năm. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42; Phật tổ lịch đại thông tải Q.25].

hậu cung dưỡng

(後供養) Đối lại với tiền cúng dường. Trong Mật giáo, khi tu pháp, tụng niệm xong rồi, thì dâng 6 món đồ cúng để cúng dường Bản tôn, gọi là Hậu cúng dường(cúng dường sau). Thông thường, Tiền cúng dường (cúng dường trước) là cúng dường tôn vị tu đắc, còn Hậu cúng dường là cúng dường tôn vị tính đức. Khi cúng dường, thì bày các món đồ cúng trên bàn bên trái của hành giả. Đây là theo phép đãi khách của người Ấn độ. Tập tục của họ mỗi khi mời khách dự tiệc, khi khách cáo từ, thì chủ phải mời khách ở lại để khoản đãi một lần nữa. Đó chính là ý nghĩa của Hậu cúng dường trong Mật giáo. [X. kinh Chuẩn đề đà la ni; Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ; Cam lộ quân đồ lợi bồ tát cúng dường niệm tụng thành tựu nghi quĩ].

hậu duệ

Descendants.

hậu dạ

Thời thứ ba và cũng là thời chót trong đêm (đêm chia làm ba thời sơ, trung, và hậu)—The third division of the night. ; (後夜) Cuối đêm. Ấn độ chia khoảng thời gian ban đêm làm ba thời: Sơ dạ, trung dạ, hậu dạ. Hậu dạ tương đương với giờ dần (3 đến 5 giờ sáng). Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận quyển 3 (Đại 26, 247 trung), chép: Sơ dạ, hậu dạ tinh cần tu hành (đầu đêm, cuối đêm siêng năng tu hành).

hậu dạ kệ

(後夜偈) Bài kệ đọc tụng vào cuối đêm. Khi thức dậy, hoặc lúc tụng kinh, tu pháp vào cuối đêm, hành giả Mật giáo thường tụng bài kệ sau đây (Đại 18, 337 thượng): Thưa đại chúng nên nhớ .Đây là kệ thanh tịnh; Các pháp như bóng dáng, Trong suốt không vết nhơ; Nắm bắt không thể được, Đều do nhân duyên sinh .

hậu giá

(後架) Cái giá để chậu rửa mặt đặt ở phía sau Tăng đường là nơi chúng tăng rửa mặt. Chương Tẩy diện trong Chính pháp nhãn tạng quyển 56 (Đại 82, 206 hạ), nói: Chỗ rửa mặt của chúng tăng ở Hậu giá, ở phía tây Chiếu đường . Phần nhiều Hậu giá được thiết trí gần chỗ nhà xí, cho nên thường gọi lẫn lộn nhà xí với Hậu giá. Điều Tu tập trị điệp trong Huyễn trụ am thanh qui (Vạn tục 111, 495 hạ), nói: Hậu giá là nơi chứa phẩn uế . Môn Điện đường Thiền lâm tượng khí tiên nói: Chỗ nhà xí cũng có hậu giá . [X. điều Nhật dụng quĩ phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Oánh sơn hòa thượng thanh qui].

Hậu Hoa Viên Thiên Hoàng

(後花園天皇, Gohanazono Tennō, tại vị 1428-1464): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi), con đầu của Trinh Thành Thân Vương (貞成親王), con nuôi của Hậu Tiểu Tùng Thiên Hoàng (後小松天皇, Gokomatsu Tennō, tại vị 1382-1412), tên là Sảng Nhân (彦仁, Bikohito).

hậu hán kỉ

(後漢紀) Gồm 30 quyển do Viên hoành soạn vào đời Tấn. Sách này được phỏng theo thể lệ viết Hán kỉ của Tuân duyệt mà soạn thành. Tư liệu tham khảo gồm có các sách: Thế tổ bản kỉ của Ban cố, Công thần liệt truyệt thời Quang vũ, Hán kỉ của Thôi thực và Đông quan Hán kỉ của Mã nhật đê. Sách này được soạn khoảng 200 năm sau vua Minh đế nhà Hậu Hán, trong đó có ghi chép chuyện Cảm mộng cầu pháp của vua Minh đế. Trong các sách ghi chép câu chuyện này, thì Hậu Hán Kỉ là tư liệu xưa nhất và đáng tin cậy hơn cả.

hậu hữu

Quả báo thời vị lai: Future karma. Thân đời sau: The person in the subsequent incarnation. Thân tái sinh cuối cùng của bậc A La Hán hay Bồ Tát: The final incarnation of the arhat, or bodhisattva. ; (後有) Phạm: Punar-bhava. Thân sau. Tức là quả báo của chúng sinh hữu tình phải lãnh nhận ở đời vị lai. Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 136 hạ), nói: Đời ta đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không chịu hậu hữu . Ý nói: Bậc A la hán đã được Tận trí, Vô sinh trí, thân và tâm đều đã diệt, nên không còn chịu quả báo ở vị lai nữa. Ngoài ra, thân sinh tử cuối cùng cũng được gọi là Hậu hữu, như thân của thái tử Tất đạt đa. [X. Bố tra bà lâu trong Trường a hàm Q.17; luận Đại tì bà sa Q.29, Q.102, Q.192; luận Du già sư địa Q.66].

hậu khuyến thỉnh

(後勸請) Khuyên mời sau. Bài kệ tụng tán được đọc trước khi kết thúc nghi thức lễ cầu mưa hoặc cầu cho sản phụ được an lành. Nghi thức này vốn của Ấn độ, sau được Mật giáo sử dụng. Bài kệ như sau. Có những Bà la môn thanh tịnh Trừ được hết tất cả nghiệp ác; Chúng con nguyện một lòng qui y, Xin che chở con và quyến thuộc .

hậu lai

The time to come—Future.

hậu linh

(後鈴) Chuông sau. Tức là rung chuông để đưa rước Bản tôn trở về nguyện vị sau khi hoàn tất pháp tu trong Mật giáo. Phong tục Ấn độ, sau bữa tiệc, tân khách bái biệt, chủ nhà phải trỗi nhạc vui vẻ tiễn đưa. Nghi thức này sau được Mật giáo dùng theo.

hậu nghiệp

Upapajjavedaniya (p)—Subsequently effective karma—Theo A Tỳ Ðạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), hậu nghiệp là loại nghiệp mà quả của nó, nếu có, sẽ phải trổ trong kiếp kế liền kiếp hiện tại; nếu không trổ sanh được trong kiếp liền kế tiếp ấy thì hậu nghiệp sẽ trở nên vô hiệu lực. Một thí dụ về quả trổ sanh trong kiếp kế liền sau kiếp hiện tại được kể như sau. Có người làm công cho nhà triệu phú nọ, một ngày rằm, sau khi làm việc cực nhọc ngoài đồng, chiều về thấy cả nhà đề thọ bát quan trai giới trong ngày ấy. Mặc dầu chỉ còn có nửa ngày, anh liền xin thọ giới và nhịn đói buổi chiều hôm đó. Bất hạnh thay, sáng hôm sau anh qua đời. Nhờ tâm trong sạch nghiêm trì bác quan trai giới, anh sanh lên cõi trời. Một thí dụ khác là vua A Xà Thế, con vua Bình Sa Vương, liền sau khi chết, tái sanh vào cảnh khổ vì đã mang trọng tội giết cha—According to the Abhidharma, subsequently effective karma is a karma which, if it is to ripen, must yield its results in the existence immediately following that in which it is performed; otherwise, it becomes defunct. An example of Upapajjavedaniya, a millionaire's servant returned home in the evening after his laborious work in the field, to see that all were observing the eight precepts as it was the full-moon day. Learning that he also could observe them even for half a day, he took the precepts and fasted at night. Unfortunately he died on the following morning and as a result of his good action was born as a Deva. Another good example of subsequently effective karma, Ajatasatru, son of King Bimbisara, was born, immediately after his death, in a state of misery as the result of killing his father.

hậu ngũ bách niên

Pratirupaka (skt). Thời kỳ 500 năm sau cùng: The last of the period of 500 years when strife would prevail. Thời Tượng Pháp, 500 năm sau ngày Phật nhập Niết Bàn: Symbol, formal, or image period, 500 years after the nirvana—See Tượng Pháp.

hậu nhất nhất thừa

(後一一乘) Cũng gọi nhất thừa giáo. Chỉ cho Viên giáo, là giáo sau cùng trong năm giáo (Tiểu, Thủy, Chung, Đốn, Viên) của tông Hoa nghiêm. Về nhất thừa có 3 thuyết: 1. Nhất tướng vô tận môn: Chỉ thuyết minh về Vô tận duyên khởi; sự sự vô ngại . 2. Thành Phật bất thành Phật môn: Thuyết minh Một tính đều thành . 3. Đoạn hoặc bất đoạn hoặc môn: Thuyết minh Vốn đã thành Phật không dứt hoặc . Trong 3 thuyết trên đây thì Nhất tướng vô tận môn là Viên giáo, tức là Hậu nhất nhất thừa. [X. Hoa nghiêm thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3].

hậu nhật phần

(後日分) Phần cuối của ngày. Ngày được chia đều làm 3 phần: Sơ nhật phần, Trung nhật phần, Hậu nhật phần. Hậu nhật phần là khoảng thời gian từ 14 giờ đến 18 giờ trong ngày. [X. điều Nhật tư trong Huyễn am thanh qui].

hậu niệm

(後念) Niệm sau. Niệm là khoảng thời gian cực ngắn, như trong chớp mắt. Cái chớp mắt trước gọi là Tiền niệm, cái chớp mắt sau gọi là Hậu niệm. Vãng sinh lễ tán kệ (Đại 47, 439 hạ), nói: Niệm trước mệnh chung, niệm sau vãng sinh .

Hậu Nại Lương Thiên Hoàng

(後奈良天皇, Gonara Tennō, tại vị 1526-1557): vị Thiên Hoàng sống dưới thời đại Chiến Quốc, Hoàng Tử thứ 2 của Hậu Bá Nguyên Thiên Hoàng (後柏原天皇, Gokashiwabara Tennō, tại vị 1500-1526), tên là Tri Nhân (知仁, Tomohito).

hậu phan đề hồ vị

(後番醍醐味) Cũng gọi Hậu giáo ngũ vị.Vị sau cùng trong 5 vị (nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ) được biến chế từ sữa bò, chỉ cho kinh Niết bàn. Trong phán giáo 5 thời của tông Thiên thai, thì kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn là thời thứ 5, được ví dụ với đề hồ trong 5 vị. Mà kinh Pháp hoa được tuyên thuyết trước, cho nên gọi là Tiền phiên đề hồ vị, còn kinh Niết bàn được tuyên thuyết sau, cho nên gọi là Hậu phiên đề hồ vị. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10].

hậu pháp

The latter, or symbol, age of Buddhism—See Tượng Pháp.

hậu phương

In the rear.

hậu quang

Ánh hào quang sau bức tượng—The halo behind the image. ; (後光) Cũng gọi Quang bối, Quang diệm. Hào quang ở sau lưng tranh hoặc tượng Phật và Bồ tát. Tùy theo thời đại, địa phương và các loại tranh, tượng mà có nhiều thứ khác nhau, nhưng tựu trung có thể chia làm hai loại là: Đầu quang và Thân quang. Nếu hào quang ở đầu tượng Phật thì gọi là Đầu quang hoặc Viên quang; ở toàn thân tượng Phật thì gọi là Thân quang. Nếu Đầu quang và Thân quang có hai lớp vòng tròn thì gọi là Luân hậu quang. Nếu đàng sau Luân hậu quang lại thêm tia sáng lớn hình cái thuyền, thì gọi là Thuyền hậu quang, Thuyền hình hậu quang. Ngoài ra, tượng các vị Minh vương trong Mật giáo, có những ngọn lửa hừng hừng ở sau lưng, biểu thị sự phẫn nộ, cũng gọi là Hậu quang hay Quang bối. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Quảng hoằng minh tập Q.17; Phật tượng đồ vựng Q.5]. (xt. Quang Bối).

hậu quả

Consequence.

hậu sanh

Ðiều kiện tái sanh của đời sau: The after condition of rebirth. Sanh sau: Later born. Thế hệ đời sau: The later, or younger generations. Tuổi trẻ: Youth.

hậu sinh

(後生) Cũng gọi Lai thế, Lai sinh, Hậu thế. Đối lại với Tiền sinh, Kim sinh. Sự sống ở đời sau. Theo thuyết nhân quả luân hồi trong ba đời của Phật giáo, thì sự khổ vui ở đời này là kết quả của nghiệp nhân đã tạo ra ở đời trước, sự khổ vui của đời sau là do nghiệp nhân thiện ác đã tạo tác trong đời này. Bởi thế, người ta phải hết sức thận trọng đối với những hành động của mình trong đời này. [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa Q.3; chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; Vãng sinh lễ tán kệ].

hậu sinh bồ đề

(後生菩提) Đời sau được sinh về Tịnh độ cực lạc, chứng quả Bồ đề. (xt. Vãng Sinh).

hậu sơn ngoại

(後山外) Đối lại với Tiền sơn ngoại. Cũng gọi Tạp truyền phái. Sơn ngoại là tiếng chê bai những người đệ tử có kiến giải khác với, thậm chí phản bội, lời dạy của thầy tổ. Hậu sơn ngoại nguyên chỉ cho Tịnh giác Nhân nhạc và Thần trí Tòng nghĩa là đệ tử và pháp tôn của ngài Tứ minh Tri lễ thuộc tông Thiên thai, mà lại phản đối giáo thuyết của ngài Tứ minh và chủ trương quan điểm giống như phái Tiền sơn ngoại (chỉ cho Ngô ân và Nguyên thanh thuộc phái Sơn ngoại tông Thiên thai). Ngài Tứ minh soạn Quán kinh diệu tông sao, đệ tử và pháp tôn của ngài là Quảng trí và Tịnh giác có sự tranh luận về quán tâm và quán Phật. Bấy giờ, ngài Tứ minh lập nghĩa Ước tâm quán Phật để hóa giải sự tranh luận ấy, nhưng sư Tịnh giác không hài lòng, vẫn cố thủ quan điểm của mình và chống lại thuyết của thầy mình. Sợ gây thành mối họa cho đời sau, nên ngài Tứ minh cực lực bác bỏ quan điểm của Tịnh giác, do đó, Tịnh giác bèn viết 10 lá thư để biện hộ. Sau khi ngài Tứ minh nhập tịch, pháp tôn của ngài là sư Hi tối nghe lời lẽ ngạo mạn của Tịnh giác bèn ra sức biện bác, cuối cùng Tịnh giác phải thán phục. Về sau, pháp tôn của ngài Tứ minh là sư Tòng nghĩa, đệ tử của sư Kế trung, cũng chống lại thuyết của ngài Tứ minh. Cho nên người đời phần nhiều lấy Tịnh giác và Tòng nghĩa làm đại biểu cho phái Hậu sơn ngoại. Nhưng, 2 vị này không có quan hệ thầy trò như 2 vị thuộc phái Tiền sơn ngoại là Ngô ân và Nguyên thanh, cho nên không được thừa nhận mối quan hệ về giáo quyền và truyền thừa. Ngoài ra, từ ngữ Hậu sơn ngoại cũng được dùng để chỉ cho những người không phải là chính thống của Sơn gia. [X. Chư sư tạp truyện trong Phật tổ thống kỉ Q.21; Thích môn chính thống Q.5].

Hậu Tha Nga Thiên Hoàng

(後嵯峨天皇, Gosaga Tennō, tại vị 1242-1246): vị Thiên Hoàng sống giữa thời Liêm Thương, vị Hoàng Tử của Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (土御門天皇, Tsuchimikado Tennō, tại vị 1198-1210), tên là Bang Nhân (邦仁, Kunihito). Sau khi nhường ngôi cho Hậu Thâm Thảo Thiên Hoàng (後深草天皇, Gofukakusa Tennō, tại vị 1246-1259), ông làm Viện Chính.

hậu thiện đạo

(後善導) Hậu thân của ngài Thiện đạo. Sau khi ngài Thiện đạo thị tịch, vì mến mộ di phong của ngài, nên 2 vị Pháp chiếu và Thiếu khang đã tận lực hoằng dương pháp môn Tịnh độ của ngài. Bởi thế, 2 vị được người đời khen ngợi là Hậu Thiện Đạo. Tây phương lược truyện của ngài Từ vân nói: Sau có đại sư Pháp chiếu, tức là hậu thân của ngài Thiện đạo . Thiếu Khang truyện trong Tống cao tăng truyện (Đại 50, 867 hạ), nói: Bấy giờ, ngài được gọi là Hậu Thiện Đạo .

hậu thuyết

Học thuyết của đời sau, hay được nói về sau nầy:Spoken later, or after (a doctrine).Thuật ngữ của Nhân Minh (một trong ba chi “tôn, nhân, và dụ”): The predicate of the major premiss of a syllogism.

hậu thân

Thân của kiếp sau—The body or person in the next stage of transmigration.

Hậu Thôn Thượng Thiên Hoàng

(後村上天皇, Gomurakami Tennō, tại vị 1339-1368): vị Thiên Hoàng Nam Triều của thời đại Nam Bắc Triều, Hoàng Tử thứ 7 của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339), mẹ là A Dã Liêm Tử (阿野廉子), tên là Nghĩa Lương (義良, Noriyoshi) hay Hiến Lương (憲良).

hậu thất nhật ngự tu pháp

(後七日禦修法) Pháp tu 7 ngày của tông Chân ngôn Nhật bản, cầu nguyện cho Thiên hoàng. Hàng năm, từ ngày mồng 8 đến ngày 14 tháng giêng, tông Chân ngôn cử hành lễ ở viện Chân ngôn trong nội cung, để cầu cho Thiên hoàng được mạnh khỏe, quốc dân được an vui. Từ thời Minh trị trở về sau, lễ cầu nguyện này được cử hành ở viện Chân ngôn của chùa Đông tự.

hậu thập di vãng sinh truyện

(後拾遺往生傳) Gồm 3 quyển, do ngài Tam thiện Vi khang người Nhật bản biên soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư. Nội dung sách này ghi chép sự tích của 74 người được vãng sinh, là sử liệu chủ yếu cho việc nghiên cứu về Tịnh độ giáo của Nhật bản từ thời đại Liêm thương trở về trước. [X. Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3].

hậu thế

Ðời sau: The life after this. Những thế hệ về sau nầy: Later generations or ages.

hậu thế giả

(後世者) Cũng gọi Độn thế giả, Đạo tâm giả. Chỉ cho người xả bỏ tất cả việc đời mà chuyên tu niệm Phật, tụng kinh để chuẩn bị tư lương cho đời sau, mong cầu được sinh về Tịnh độ cực lạc.

Hậu Thổ

(后土): có nhiều nghĩa khác nhau: (1) Tôn xưng đối với đại địa, như trong chương Hy Công Thập Ngũ Niên (僖公十五年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Quân lý Hậu Thổ nhi đái Hoàng Thiên (君履后土而戴皇天, người tuy đạp lên Thần Đất mà đội ông Trời).” (2) Chỉ Thần Thổ Địa, Thần Đất, Địa Thần (地神), đồng nghĩa với Địa Kỳ (地祗), hay chỉ cho nơi thờ tự Thần Thổ Địa. Như trong Chu Lễ (周禮), phần Xuân Quan (春官), Đại Tông Bá (大宗伯) có câu: “Vương đại phong, tắc tiên cáo Hậu Thổ (王大封、則先告后土, nhà vua phong chức, trước phải cáo Thần Thổ Địa).” Hay trong Hán Thư (漢書), phần Võ Đế Kỷ (武帝紀) lại có câu: “Trẫm cung tế Hậu Thổ Địa Kỳ, kiến quang tập vu linh đàn, nhất dạ tam chúc (朕躬祭后土地祇、見光集于靈壇、一夜三燭, Trẫm cung kính cúng tế Thần Thổ Địa, thấy ánh sáng tập trung nơi linh đàn, một đêm ba lần thắp nến sáng).” (3) Tên gọi khác của Thổ Công (土公), xem chú thích Thổ Công bên trên. (4) Tên gọi của một chức quan chuyên quản lý đất đai thời Thượng Cổ, như trong Tả Truyện, chương Chiêu Công Nhị Thập Cửu Niên (昭公二十九年) có giải thích rằng: “Ngũ Hành chi quan, thị vị Ngũ Quan …, Thủy Chánh viết Huyền Minh, Thổ Chánh viết Hậu Thổ (五行之官、是謂五官…水正曰玄冥、土正曰后土, quan Ngũ Hành được gọi là Ngũ Quan; … quan trông coi về thủy đạo là Huyền Minh, quan trông coi về đất đai là Hậu Thổ).” Trong dân gian Trung Quốc có câu chuyện Hậu Thổ Phu Nhân (后土夫人) cưới chàng họ Vi (韋). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806-820), khi tướng Cao Biền (高駢, 821-887) làm Tiết Độ Sứ (節度使) Hoài Nam (淮南), bộ tướng (呂用之) ngụy tạo ra điềm linh dị của Hậu Thổ Phu Nhân và khuyên Cao Biền nên cát cứ một phương. Như trong bài thơ Hậu Thổ Miếu (后土廟) của La Ẩn (羅隱, 833-909) nhà Đường có câu: “Cửu Thiên Huyền Nữ do vô Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân khởi hữu linh (九天玄女猶無聖、后土夫人豈有靈, Cửu Thiên Huyền Nữ chẳng phải Thánh, Hậu Thổ Phu Nhân sao có linh)” để nói lên sự hôn mê, vô tri của Cao Biền lúc bấy giờ. Hậu Thổ còn có tên gọi khác là Thổ Hoàng (土皇), vị Địa Thần của Đạo Giáo, được liệt vào trong Tứ Ngự (四御). Thần hiệu của Hậu Thổ là Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân (承天効法開皇后土元君), còn gọi là Địa Mẫu Nương Nương (地母娘娘), Hậu Thổ Nương Nương (后土娘娘). Trong điện thờ Tứ Ngự có thần tượng hay thần vị của Hậu Thổ. Tại Trung Quốc, kể từ thời nhà Đường trở đi, theo đà phát triển của thuật Phong Thủy, mỗi khi động thổ, thượng lương, về nhà mới, trấn trạch, làm cầu, đắp đường, v.v., người dân đều có thiết trai nghi dâng cúng tạ Hậu Thổ để cầu cho gia trạch bình an, cầu đường hanh thông, ban phước tiêu tai cát tường. Truyền thống này cũng được tìm thấy trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam. Tại Huế mỗi năm có 2 tháng để Cúng Đất là tháng 2 hoặc tháng 8 Âm Lịch. Trong lễ này, ngoài những lễ vật độc đáo như cua, trứng vịt luộc, rau muống luộc mắm nêm, v.v., còn có luộc một con gà kiến tuổi đã trưởng thành và con gà đó phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đặc biệt đôi chân phải “đẹp”. Sau khi cúng đất xong, theo tục lệ cặp chân gà được đem đi nhờ thầy xem bói giò để biết thời vận trong gia đình, hoặc được đem treo ở chàng bếp cho khô.

hậu tiến

Underdeveloped—Backward.

hậu trần

(後陳) Cũng gọi Hậu thuyết. Đối lại với Tiền trần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ sau của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh. Như trong mệnh đề Âm thanh là vô thường thì vô thường là Hậu trần, âm thanh là Tiền trần. Hậu trần có 3 tên gọi: 1. Sai biệt (Phạm:Vizewa). 2. Pháp (Phạm: Dharma). 3. Năng biệt (Phạm:Vizewaịa). Ba tên này được gọi chung là Thể chi tam danh (3 tên của thể) hoặc Nghĩa chi tam danh (3 tên của nghĩa). [X. luận Nhân minh nhập chính lí Q.thượng phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2]. (xt. Thể).

hậu tâm

Post-mental state.

hậu tạ

To reward liberally.

hậu ðãi

To treat well.

hậu ðắc trí

Còn gọi là Phân Biệt Trí, tức là cái trí chân chánh, sâu kính, ngầm hợp chân như, trí sở đắc theo sau căn bản trí—Detailed or specific knowledge or wisdom succeeding upon or arising from fundamental knowledge (Căn bản trí)—See Phân Biệt Trí.

hậu ý

Good intent.

hậu đường

(後堂) I. Hậu Đường. Gọi đủ: Hậu tăng đường. Đối lại: Tiền đường. Chỉ cho Tăng đường trong đại tùng lâm ở thời Nam Tống. Hiện nay chỉ cho dãy nhà ở phía sau Tăng đường. II. Hậu Đường. Gọi đủ: Hậu đường thủ tọa. III. Hậu Đường. Chức vụ thay Tây đường chỉ đạo đại chúng trong thời gian kết hạ an cư.

hậu đường thủ toà

(後堂首座) Đối lại với Tiền đường thủ tọa. Gọi tắt: Hậu đường. Chức vụ của vị quản chúng ở Hậu đường. Điều Hậu đường thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1131 thượng), nói: Vị Hậu đường thủ tọa ở Hậu bản, giữ giới nghiêm túc, uy nghi đoan trang; làm khuôn phép cho đại chúng. Bởi vì chúng đông nên chia Tiền, Hậu để ra vào trông coi 2 thời cơm cháo và giờ tọa thiền của đại chúng . [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hậu đắc trí

(後得智) Phạm: Pfwỉha-labdha-jĩàna. Cũng gọi Vô phân biệt trí, Hậu đắc vô phân biệt trí. Đối lại: Căn bản trí, Căn bản vô phân biệt trí. Trí tuệ có được sau trí Căn bản vô phân biệt. Vì trí này là do trí căn bản dẫn dắt, có thể thấu suốt cảnh y tha như huyễn, cho nên gọi là Như lượng trí, Quyền trí, Tục trí. Lại trí căn bản không phải là năng phân biệt, sở phân biệt, còn trí này thì là sở phân biệt, năng phân biệt. Trong 10 Ba la mật, Hậu đắc trí được phối với Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí. Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 8 của ngài Vô tính, thì trí này có thể chia làm 5 loại: 1. Thông đạt tư trạch(suy xét, chọn lựa, thông suốt): Hậu đắc trí suy xét, quyết định chọn pháp hiện quán chân thực, mà được thông suốt, tức là ở trong tâm tự xét việc ấy đúng như vậy. 2. Tùy niệm tư trạch(theo ý nghĩ mà suy xét lựa chọn): Tùy theo niệm thông suốt đó mà nghĩ rằng Mình đã từng thông suốt việc ấy . 3. An lập tư trạch: Đem chỗ mình đã thông suốt trình bày cho người khác biết. 4. Hòa hợp tư trạch: Dùng tướng chung quán xét duyên theo tất cả pháp mà tiến đến chuyển y, hoặc chuyển y rồi, lại khởi lên pháp quán này. 5. Như ý tư trạch: Trí hiện tiền tùy theo điều suy nghĩ sẽ được như ý, như nghĩ đất là vàng thì trở thành vàng, v.v...… [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.8 (bản dịch đời Đường); Phật địa kinh luận Q.3; luận Thành duy thức Q.10].

hắc

Màu đen: Kala or Krsna (skt)—Black—Dark. Mực: Ink.

hắc bạch

36) Hai phần trong tháng, phần trăng khuyết, và phần trăng đầy: The two halves of the month, the waning and the waxing. 37) Màu trắng và màu đen: Black and white. 38) Xấu và tốt: Evil and good. ; (黑白) I. Hắc Bạch. Gọi đủ: Hắc nghiệp, Bạch nghiệp. Chỉ cho ác nghiệp và thiện nghiệp. (xt. Bạch Nghiệp Hắc Nghiệp). II. Hắc Bạch. Hình tròn đen, trắng được dùng để giải thích 2 vị Chính và Thiên trong Động sơn ngũ vị của thiền sư Động sơn Lương giới, tổ khai sáng của tông Tào động. Ngài Động sơn Lương giới chia quá trình khai ngộ của người học đạo làm 5 giai đoạn: Chính trung thiên, Thiên trung chính, Chính trung lai, Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Trong đó, Chính là pháp chân như, bình đẳng, tuyệt đối, được tượng trưng bằng màu đen; Thiên là pháp sinh diệt, sai biệt, tương đối, được tượng trưng bằng màu trắng. Chính trung thiên trong Ngũ vị được tượng trưng bằng hình tròn , sự chứng ngộ ở giai đoạn này lấy hiện tượng giới làm chủ, nhưng hiện tượng giới được thấy ở đây đã được nhận là cảnh giới của Ngã tuyệt đối. Thiên trung chính trong Ngũ vị được tượng trưng bằng hình tròn , ở giai đoạn này, kiến giải phân biệt không còn vẻ mạnh mẽ nữa, tất cả hiện tượng giới đã dần dần mờ nhạt. Từ sau khi thuyết Động sơn ngũ vị được coi trọng, thì trong Thiền lâm, đặc biệt là tông Tào động, từ Hắc bạch được dùng chung với những từ ngữ khác, như: Hắc bạch vị phân, Hắc bạch kí phân, Hắc bạch giao hỗ, Hắc bạch khuyên nhi, v.v... Hắc bạch vị phân: Đen trắng chưa chia. Có 2 nghĩa: 1. Biểu thị vị Chính, Thiên khi chưa phân định, tức là sự chứng ngộ của người học vẫn chưa tiến đến giai đoạn Ngũ vị. Cho nên cũng gọi là Hắc bạch vị triệu, Hắc bạch vị giao thời. 2. Biểu thị Chính, Thiên chưa hiển hiện tướng sai biệt, nên cũng gọi là Âm dương vị phân, Thiên địa vị khai, Trẫm triệu vị manh. Hắc bạch kí phân: Đen trắng đã chia. Biểu thị Chính vị và Thiên vị đã phân biệt rõ ràng, nhưng vẫn tác dụng giao thoa lẫn nhau. Lúc đó là trong Chính có Thiên (tức Chính trung thiên), trong Thiên có Chính (tức Thiên trung chính), cho nên cũng gọi là Hắc bạch giao hỗ (đen trắng giao thoa nhau). Hắc bạch khuyên nhi: Chỉ cho Thiên trung chí và Kiêm trung đáo. Hình vẽ được tượng trưng bằng vòng tròn trắng và đen . Từ Hắc bạch khuyên nhi này là gọi chung toàn bộ hình tướng của Ngũ vị, đồng thời, cũng là từ ngữ được dùng thay cho Động sơn ngũ vị. [X. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục; Động thượng cổ triệt Q.thượng; Giải thích Động sơn ngũ vị hiển quyết Q.trung; Nhân thiên nhãn mục Q.3]. (xt. Ngũ Vị, Động Sơn Ngũ Vị).

hắc ca sa

(黑袈裟) Áo ca sa màu đen Luật Phật qui định cấm chúng tăng không được dùng 5 màu chính: xanh, vàng, đỏ, trắng và đen làm màu áo cà sa, mà chỉ được dùng màu bùn (truy sắc), màu vỏ già và màu hạt dẻ. Cho nên, áo chúng tăng mặc được gọi là truy y (áo màu bùn). [X. Thích môn chương phục nghi].

hắc chủng

Black race.

hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục

(黑谷上人語燈錄) Gồm 18 quyển, do sư Liễu huệ Đạo quang, người Nhật soạn. Sau khi ngài Pháp nhiên, tổ khai sáng của tông Tịnh độ Nhật bản, thị tịch được 62 năm, vào năm Văn vĩnh 11 (1274), do trong môn phái phát sinh các kiến giải khác nhau, nên sư Liễu huệ Đạo quang mới căn cứ theo các bài giảng và lời khai thị của ngài Hắc cốc thượng nhân (Pháp nhiên) mà soạn thành sách này để chỉnh đốn lại môn phong. Toàn bộ sách gồm Ngữ đăng lục 15 quyển và Thập di 3 quyển, trong đó, chia làm 2 phần: Chữ Hán và chữ Nhật. - Phần chữ Hán gồm Hán ngữ đăng lục (17 chương) và Thập di quyển thượng (3 chương). - Phần chữ Nhật gồm Hòa ngữ đăng lục 5 quyển (24 chương) và Thập di quyển trung, hạ (8 chương). Phần chữ Nhật được khắc in vào niên hiệu Nguyên hanh năm đầu (1321) là bản in Tịnh độ giáo sớm nhất trong các bản khắc chữ Nhật, do đó rất nổi tiếng.

hắc dạ thiên

(黑夜天) Phạm:Kàlà-ràtrì. Cũng gọi Hắc ám thiên, Ám dạ thiên. Vị tôn này được đặt ở phía tây Diêm ma thiên của viện ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là vợ của vua Diêm ma. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 10, thì bản thệ của vị tôn này là cứu giúp chúng sinh thoát khỏi bóng tối của sợ hãi và âu lo. Hình tượng vị này màu da người, bàn tay phải ngửa lên, đầu các ngón hơi co lại, tay trái cầm gậy, đầu gậy là vòng tròn, trong đó có hình đầu người, ngồi tréo chân, ngoảnh mặt về phía trái, ngước nhìn vua Diêm ma. Hình Tam muội da là cây cờ. Theo phẩm Bí mật trong kinh Đại nhật thì ấn khế của vị tôn này là ấn Hắc dạ kế đô. Kế đô tức tiếng Phạm có nghĩa là cờ . Ấn tướng: Tay trái nắm lại, ngón trỏ, ngón cái duỗi ra. Chủng tử là (ka). Chân ngôn là: Qui mệnh Ca la la để lí duệ (Kàlaràtriye, hắc dạ) sa phạ hạ (svàhà). [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.16].

hắc dạ thần

Kalaratri (skt)—Còn gọi là Ám Hạ Thiên, Hắc Ám Thiên, hay Hắc Dạ Thiên, tiếng Phạn là Ca La Ca Ðể Mặc, một trong ba bà hoàng hậu của vua Diêm Ma, đây là vị Thần trông coi thế gian nửa đêm, lúc tối trời—One of the three queens of Yama, who controls midnight.

hắc hủy hoài châu

(hắc hủy hoài châu ) I. Hắc hủy hoài châu. Hắc hủy là rắn hổ mang có nọc rất độc. Hắc hủy hoài châu là rắn hổ mang ngậm ngọc báu, ngọc tuy quí nhưng hoàn toàn vô dụng. Trong Phật giáo, từ ngữ này được dùng để ví dụ người tu hành tuy hiểu Phật pháp mà không làm theo, hoặc làm không đúng, cho nên vẫn là phàm phu sinh tử. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 48, 101 trung), nói: Tuy nghe pháp mà không tu, thì cũng giống như hổ mang (hắc hủy) ngậm ngọc, có ích gì đâu . II. Hắc hủy hoài châu. Ví dụ chúng sinh vì đời trước tạo các nghiệp nhân khác nhau, nên đời này chịu báo cũng khác nhau. Luận Đại trí độ quyển 10 nói: Có con rắn hổ mang miệng ngậm ngọc báu ma ni; lại có vị La hán đi khất thực không được. Rắn hổ mang nói ở đây, tuy đời trước là kẻ phá giới, nhưng còn có chút phúc đức, nên nay tuy rơi vào đường súc sinh mà vẫn có ngọc báu. Còn vị La hán tuy đi khất thực, mà ôm bát không trở về là vì đời trước không tạo phúc đức.

hắc luân thuân

(黑輪皴) Cũng gọi Hắc lân thuân. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây gậy mầu đen có hình dáng sần sùi như vảy cá. Phá am tổ tiên thiền sư ngữ lục (Vạn tục 121, 417 hạ). nói: Muôn nghìn biến hóa, chỉ có cây gậy mun sần sùi vảy cá, chớ tính toán, suy tư!

hắc lĩnh

(黑嶺) Cũng gọi Hắc sơn. Núi nằm ở miền Đông A phú hãn (Afghanistan), thuộc thượng du sông Picha và sông Kao, chi nhánh của sông Kabul. Thủa xưa, ngài Huyền trang du học Ấn độ, khi đi từ nước Ca tất thí (Phạm:Kapiza) vào nước Lạm ba (Phạm: Lampàka), ngài đã từng vượt qua ngọn Hắc lãnh cheo leo này. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 2 (Đại 50, 229 trung), nói: Từ hướng đông đi hơn 600 dặm, vượt qua ngọn Hắc lãnh, vào biên giới Bắc Ấn độ, đến nước Lạm ba . Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 878 trung), ghi: Nước Lạm ba chu vi hơn nghìn dặm, phía bắc giáp Tuyết sơn, 3 mặt kia giáp với Hắc lãnh . Lại theo phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm quyển 18, thì vùng phụ cận Tuyết sơn cũng có dãy núi gọi là Hắc sơn. Ngoài ra, núi Karakorum, tên Phạm là Kfwịa-giri, ở khoảng giữa dãy núi Côn lôn và dãy Hindukush, cũng có nghĩa là Hắc sơn. [X. Đại đường tây vực kí Q.1; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol.I; N. L. Dey: The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval India].

hắc lục tự minh vương

(黑六字明王) Cũng gọi Lục tự minh vương, Lục tự thiên. Vị Bản tôn của pháp tu Lục tự kinh trong Mật giáo. Khi tu pháp này phải thờ vị Bản tôn ở nơi kín đáo. Cứ theo kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương quyển 4, thì hình tượng vị tôn này màu xanh đen, có 4 tay, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có ngọc ma ni, tay phải cầm xâu chuỗi, hai tay dưới kết ấn Nhất thiết vương. Còn theo Giác thiền sao, thì vị tôn này có 6 tay, 2 tay trên đều kết ấn; 2 tay giữa, tay trái cầm cây kích, tay phải cầm dao; 2 tay dưới, tay trái cầm nguyệt luân, tay phải cầm nhật luân, nét mặt lộ vẻ nhu hòa, trên đỉnh đầu có đầu rắn, chân phải co lên, chân trái đứng trên hoa sen, vòng hào quang sau lưng có 12 con giáp, chủng tử là (ga). Tuy nhiên, về vị Bản tôn của pháp tu Lục tự kinh này có nhiều thuyết khác nhau, nên về chủng tử của vị tôn này cũng có nhiều thuyết bất đồng. Còn về hình tam muội da của vị này cũng có các thuyết khác nhau. Có thuyết cho là phất trần mầu trắng, có thuyết bảo là chày một chĩa, lại có thuyết cho là gương tròn. Về ấn khế, theo kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương là ấn Nhất thiết vương , cũng có khi kết ấn Đại tam cổ . Còn về chân ngôn, theo kinh Lục tự thần chú vương, là: Khư trí khư trụ khư tì trí giam thọ giam thọ đa trí bà trí . Thần chú này có năng lực ngăn trừ các chú của Đế thích, của Phạm thiên, của Tứ thiên đại vương và tất cả chú thuật của tà quỉ. (xt. Lục Tự Kinh Pháp).

hắc mạn mạn

(黑漫漫) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên chỉ cho dòng sông rộng mênh mang, nhìn từ xa chỉ thấy như một vệt sơn đen. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho trạng thái vô tri không phân biệt được phải trái, thiện ác. Tắc 44 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 trung), ghi: Báo cho ông biết, chớ có lỗ mãng, bạ đâu nói đó, ngọt ra ngọt, đắng ra đắng(Cảm ơn lời đáp, giải thích bậy bạ, đáng cho 30 gậy, được không? Liền đánh. Vẫn hắc man man như cũ) .

hắc nghiệp

Một trong bốn loại nghiệp, ác nghiệp sinh khổ quả đen tối—One of the four kinds of karma, black karma, or evil deeds which produce like karmaic results—See Tứ Nghiệp.

hắc nguyệt

xem tuần trăng tối. ; Krsnapaksa (skt)—Nửa tháng trời tối hay nửa tháng sau tính theo âm lịch (theo Tây Vực Ký, từ ngày trăng bắt đầu khuyết đến ngày 30 trong tháng, gọi là “Hắc Phần.” Hắc phần có thể là 14 hay 15 ngày tùy theo tháng thiếu hay đủ)—The darkening or latter half of the month, the period of the waning moon. ; (黑月) Phạm: Kfwịa-pakwa. Pàli: Kaịha-pakkha. Dịch âm: Ngật lí sử noa bác khất sử. Cũng gọi Hắc phần, Hắc bán. Đối lại với Bạch nguyệt. Lịch pháp Ấn độ dựa theo sự tròn, khuyết của mặt trăng mà chia mỗi tháng làm 2 phần: Hắc nguyệt và Bạch nguyệt. Nửa tháng tính từ ngày 16 đến hết tháng gọi là Hắc nguyệt (tháng đen); nửa tháng tính từ ngày mồng 1 đến ngày rằm gọi là Bạch nguyệt (tháng trắng). Lại vì có tháng đủ, Minh Vương Hắc Lục Tự tháng thiếu nên Hắc nguyệt, có 15 ngày, hoặc 14 ngày. [X. Câu xá luận quang kí Q.11; Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Bạch Nguyệt).

hắc nhân sấm

(黑人讖) Lời sấm về người mặc áo màu đen. Đây là nguyên nhân đã khiến Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật giáo ở Trung quốc. Thời bấy giờ, trong dân gian có lời sấm truyền: Hắc nhân đương vương (người áo đen sẽ làm vua), rồi họ bàn nhau không bao lâu nữa, Hắc nhân sẽ thống lãnh cả nước. Vũ đế rất tin sấm vĩ, sợ mất ngôi vua, do đó, hiềm ghét màu đen, liền ra lệnh đổi áo pháp của chúng tăng thành màu vàng. Về sau, các đạo sĩ Trương tân và Vệ nguyên tung nghe nhà vua muốn qui y Phật giáo, bèn lợi dụng tính mê tín của vua mà tâu rằng: Đen là các sư Phật giáo, một tông giáo mang điềm chẳng lành cho quốc gia; còn vàng là Đạo sĩ của Đạo giáo (Hoàng lão) mang điềm tốt lành cho quốc gia. Vua nghe những dèm pha ấy nên quyết tâm phá hủy Phật giáo. Nạn Vũ đế diệt Phật là một trong Tam Vũ Pháp Nạn của lịch sử Phật giáo Trung quốc.

hắc nhĩ thiên

(黑耳天) Phạm: Kfwịa-karịà. Vị nữ thần có dung mạo xấu xí, chuyên gieo rắc tai họa cho người. Là em ruột của Cát tường thiên (Phạm: Zrì-mahà-devì). Vì Cát tường thiên hay ban phúc, còn Hắc nhĩ thiên thì chuyên giáng họa, cho nên, nếu người ta thấy Cát tường thiên thì mừng, mà gặp Hắc nhĩ thiên thì lo. Nhưng 2 chị em Cát tường và Hắc nhĩ lại thường đi đôi với nhau, cho nên danh từ Hắc nhĩ Cát tường thường được dùng để ví dụ thiện ác, họa phúc luôn theo nhau như hình với bóng. Do đó, khi hành giả Mật giáo tu pháp Cát tường thiên thì, đồng thời cũng tu cả pháp Hắc nhĩ thiên, để trừ tai họa. Pháp tu này được ghi rõ trong kinh Đại tùy cầu đà la ni. Chủng tử của vị tôn này là (ka), hình Tam muội da là chày một chĩa. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1, phẩm Mật ấn Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Đại nhật kinh sớ Q.10; Câu xá luận quang kí Q.5]. (xt. Cát Tường Thiên).

hắc phong

Gió bão đen tối—Black wind, i.e. a dark storm.

hắc pháp

xem bạch pháp. ; (黑法) Pháp đen. Đối lại với Bạch pháp (pháp trắng). Chỉ cho các pháp nhơ nhớp, hoặc các pháp hữu lậu bất thiện, hoặc các pháp tà ác xấu xa của ngoại đạo. Ngoài ra, Hắc cũng có nghĩa là khổ. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55;luận Cứu cánh nhất thừa thực tính Q.1; luận Nhiếp đại thừa Q.11, Q.13 (bản dịch đời Lương)]. (xt. Bạch Pháp).

hắc phạn

(黑飯) Cũng gọi Ô phạn, Đồng phạn. Cơm đen. Vì cơm được nấu bằng nước vắt từ lá của cây Nam thiên chúc nên có màu đen. Trong Thiền lâm, hàng năm đến ngày Phật đản mồng 8 tháng 4, đều dâng loại cơm này để cúng dường đức Phật. Điều Nguyệt phần tu tri, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1155 thượng), nói: Ngày Phật đản, Khố tư chuẩn bị làm cơm đen để cúng dường trong lễ tắm Phật . Cây Nam thiên chúc là chúa của loài thảo mộc, ăn vào, nó làm cho thần khí sảng khoái, và tuổi thọ tăng thêm. Đây vốn là thức ăn của Đạo gia và được gọi là Thanh tịnh phạn. Ngoài ra, cây Nam thiên chúc cũng có tên là Dương đồng, bởi thế, có nhiều người lầm cho Đồng phạn là cơm được nấu bằng nước vắt từ lá của cây ngô đồng. [X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.25].

hắc phần

Krsnapaksa (skt)—See Hắc Nguyệt.

hắc phẩm

(黑品) Phẩm đen. Tức là pháp bất thiện. Hắc là nhiễm ô; phẩm là loại, pháp bất thiện có tính nhiễm ô, nên gọi là Hắc phẩm. Ngoài ra, cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114, thì Hắc phẩm ngoài nghĩa nhiễm ô còn có nghĩa là pháp bất khả ý. [X. luận Câu xá Q.16; Câu xá luận quang kí Q.16].

hắc sa địa ngục

(黑沙地獄) Địa ngục cát đen. Nghĩa là địa ngục này có gió nóng thổi cát đen đến đốt cháy người chịu tội, là một trong 16 ngục nhỏ thuộc địa ngục Đẳng hoạt, Cứ theo phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm quyển 19 và luận Câu xá quyển 11, thì các chúng sinh ở đời trước do đã tạo nhiều nghiệp ác, nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục Đẳng hoạt (Phạm: Saôjìva, cũng gọi Tưởng địa ngục), là một trong 8 địa ngục Đại nhiệt, nằm ở khoảng giữa 2 quả núi Đại kim cương, phía ngoài núi Tu di. Địa ngục Đẳng hoạt bao gồm 16 địa ngục nhỏ, đứng đầu là địa ngục Hắc sa rộng 500 do tuần. [X. luận Đại tì bà sa Q.172; luận Thuận chính lí Q.31].

hắc sơn

(黑山) I. Hắc Sơn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Núi đen tối. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, ở phía bắc của châu Nam thiệm bộ có ba lớp Hắc sơn, nơi ấy tối tăm, là chỗ ở của ác quỉ. Thiền tông mượn từ ngữ này để ví dụ cho sự chấp trước và tình thức phân biệt, như sa vào hang tối của Hắc sơn không còn cách nào thoát ra được. Tắc 41 trong Bích nham lục (Đại 48, 179 trung), nói: Núi bạc vách sắt, nghĩ bàn thì quỉ trước mặt, suy tìm thì ngồi trong Hắc sơn . II. Hắc Sơn. Chỉ cho ngọn Hắc lãnh ở miền Đông nước A phú hãn. (xt. Hắc Lãnh).

hắc sơn phật tháp quần

(黑山佛塔群) Quần thể tháp Phật và hang động ở cực tây thung lũng Jalalabad thuộc nước A phú hãn (Afghanistan), được sáng lập vào khoảng thế kỷ thứ I Tây lịch. Quần thể này gồm có khoảng 30 tháp Phật và 14 hang đá. Ở đây người ta đã đào được loại tiền tệ trước thời Khưu tựu khước (Kujura Kadphises I) thuộc vương triều Quí sương. Hiện nay, đa số tháp đã đổ nát, chỉ còn vài ngôi vẫn giữ được hình dạng ban đầu. Những ngôi tháp có đường kính 15m, cấu trúc tráng lệ, chung quanh thân tháp thiết trí khám hình vòng cung để thờ Phật. Ngôi tháp thứ 10 cũng gọi là Tỳ mã lan đệ nhị tháp, chu vi 39m, trong ruột tháp người ta đào được một chiếc bình đựng xá lợi bằng vàng, chung quanh có khắc 8 pho tượng hình nổi, nét chạm trổ rất tinh vi, đẹp đẽ, một trong 8 pho tượng ấy là tượng đức Phật, phía trên và phía dưới bình có nạm hồng ngọc. Có thuyết cho rằng chiếc bình đựng xá lợi này đã được chế tạo tại nước Kiện đà la vào khoảng thế kỷ I.

hắc sắc

(黑色) Phạm: Kfwịa. Màu đen. Một trong 5 màu chính (xanh, vàng, đỏ, trắng, đen). Mật giáo đem 5 mầu phối hợp với 5 đức Phật, 5 trí, 5 căn, 5 lực, 5 chữ, 5 đại, 5 phương và 5 chuyển. Màu đen tức là chữ (ha), là màu của Phong đại. Màu đen có hàm nghĩa tiêu trừ các màu, giấu kín các vật, cho nên được coi là màu tương ứng với pháp Điều phục. Ngoài ra, theo Đại nhật kinh sớ, thì màu đen là màu của đức Thiên cổ lôi âm Như lai; hơn nữa, là nghĩa Đại niết bàn, tức là trí tuệ tột bậc của Như lai, vì thế cũng được gọi là Tuệ sắc. [X. Đại nhật kinh sớ Q.6, Q.12]. (xt. Ngũ Sắc).

hắc thiên

Mahakala (skt)—Còn gọi là Ðại Hắc Thiên Thần, quyến thuộc của Ðại Tự Tại Thiên, vốn tên Lô Nại La (Rudra), dịch là bạo ác, vị có tám tay ba mắt—The black-deva, a title of Siva, the fierce Rudra, a black or dark-blue deity with eight arms and three eyes. ; (黑天) I. Hắc Thiên. Phạm: Kfwịa. Cũng gọi Cát lật sắt noa. Hóa thân thứ 8 của Tì thấp nô, một trong những vị thần lớn của Ấn độ giáo. Cứ theo thiên anh hùng ca Mahàbhàratacủa Ấn độ, thì Hắc thiên là một vị anh hùng đa mưu túc kế. Còn kinh Bhagavadgìtàthì gọi vị thần này là Tinh thần tối cao của vũ trụ . (xt. Cát Lật Sắt Noa). II. Hắc thiên. Phạm:Kàla. Hóa thân của trời Đại tự tại. Có thuyết cho thần này là hóa thân của Rô nại la (Phạm:Rudra), hoặc là Đại hắc thiên. Còn Đại nhật kinh sớ quyển 2 thì cho rằng âm Phạm của Hắc thiên là Rô nại la, là quyến thuộc của Tự tại thiên, tức cho Hắc thiên chính là Rô nại la. Nhưng theo kinh Quảng lí thú quyển 3, thì Hắc thiên, Rô nại la và Đại hắc thiên là ba vị khác nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].

hắc thiên sinh nhật tiết

(黑天生日節) Lễ đản sinh của Hắc thiên được cử hành vào ngày 8 tháng 8 hàng năm, là lễ hội trọng yếu của phái Tì thấp noa thuộc Ấn độ giáo. Vào ngày lễ này, giáo đồ đều tuyệt thực, xuống sông tắm gội, thoa dầu lên mình rồi lễ bái Hắc thiên, đọc tập thơ: Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata) và bố thí các Bà la môn.

hắc thuỷ thành

(黑水城) Tiếng Mông cổ: Khara-khoto. Dịch âm: Ca lạp hà đa, Cáp lạp hà đa. Đô thành màu đen. Thành này ở khu vực Qua bích (Gobi), phía bắc tỉnh Hà tây, mạn đông hạ lưu sông Hắc thủy, Trung quốc, vốn là đất của Tây hạ, sau bị Thành cát tư hãn diệt. Đất này nằm trên trục lộ giao thông quan trọng suốt đến phía đông bắc của dãy núi Côn lôn, dân chúng ở đây chuyên sống bằng nghề nông. Vào cuối thế kỉ XIX, học giả người Nga là Grigorü Nikokaevich Potanin (1835- 1920) hướng dẫn một số nhà thám hiểm nổi tiếng thuộc các nước Trung quốc, Anh, Hoa kì, v.v...… đến khai quật vùng đất này và đã phát hiện thành Hắc thủy. Vách thành xây bằng gạch, 4 bên đều có cửa thành. Trong và ngoài thành còn có các di tích như: Chùa viện, tháp Phật, đền thờ và phần mộ của Hồi giáo. Ngoài ra người ta cũng tìm được nhiều di vật khác và các sách vở xưa. Những sách vở phần lớn là tiếng Hán, tiếng Tây hạ, kế đến là tiếng Tây tạng; cũng có số ít tư liệu bằng chữ Hồi hột, Đột quyết, Ba tư, v.v...…, trong đó có bộ Phồn Hán Hợp Thời Chưởng Trung Châu (Tự điển Hạ - Hán đối chiếu) do Cốt lặc mậu tài soạn. Về phần tranh, tượng thì có tượng Phật đắp bằng đất, chạm nổi, tranh Phật dệt bằng sợi gai, vẽ trên lụa, trên giấy, trên vách...… rõ ràng theo họa phong Trung quốc và Tây tạng. Tóm lại những di tích ở thành Hắc thủy là tư liệu quí báu cho việc nghiên cứu về nước Tây hạ cổ đại.

hắc thằng

Kalasutra (skt)—Hắc Thằng Ðịa Ngục—The black-rope, or black-bonds hell—See Ðịa Ngục (A) (a) (2).

hắc thằng địa ngục

(黑繩地獄) Hắc thằng, Phạm:Kàla-sùtra;Pàli: Kàơa-sùtra. Cũng gọi Hắc nhĩ địa ngục, Hắc địa ngục. Cứ theo Câu xá luận tụng sớ quyển 8, trong địa ngục này, dây sắt được dùng để đánh dấu trên thân thể của tội nhân rồi theo đó mà cưa xẻ, vì thế gọi là địa ngục Hắc thằng(địa ngục dây đen). Lại theo kinh Trường a hàm quyển 19, thì đây là ngục thứ 2 trong 8 địa ngục Nóng (Đại nhiệt) nằm ở dưới địa ngục Đẳng hoạt và trên địa ngục Chúng hợp. Bao quanh ngục này có 16 ngục nhỏ, mỗi ngục rộng 500 do tuần. Ngục tốt bắt tội nhân nằm trên sắt nóng, dùng dây sắt nóng, vạch ngang dọc trên thân thể, rồi cứ theo vết dây hoặc dùng búa chặt, hoặc lấy cưa xẻ, hoặc dùng dao mổ, máu thịt vung vãi, thân thể bị cắt trăm đoạn. Hai bên ngục còn có núi sắt lớn, trên mỗi núi có dựng cột sắt, ở đầu cột giăng dây sắt, ngục tốt lùa tội nhân lên trên dây sắt, rồi đuổi cho rơi vào vạc dầu sôi, khổ đau chẳng kể xiết. Đây là nơi chịu tội của những người gây nghiệp giết hại, trộm cướp, v.v...… [X. kinh Khởi thế Q.3; luận Đại trí độ Q.16].

hắc thị phạm chí

(黑氏梵志) Hắc thị, Phạm:Kàla. Cũng gọi Sư tử vương ca la bật sô. Người Bà la môn ở núi Hương sơn được nói đến trong kinh Hắc thị phạm chí. Lúc đầu, người này tu Tứ thiền, đầy đủ 5 thần thông, có thể bay trong hư không và giảng nói nghĩa kinh. Một hôm, vua Diêm la đến nghe pháp, báo trước 7 ngày nữa Phạm chí ấy sẽ mệnh chung và đọa vào địa ngục. Phạm chí lo buồn khổ não, sau đó, theo lời khuyên bảo của các thiện thần núi Hương sơn, ông đến chỗ Phật xin xuất gia, liền dứt hết các phiền não và tuổi thọ tăng thêm. [X. Hữu bộ tì nại da dược sự Q.17; Phiên Phạm ngữ Q.2].

hắc tất dũng

(黑漆桶) Tiếng dùng trong thiền lâm. I. Hắc tất dũng: Thùng sơn đen. Cũng gọi Tất dũng: Thùng sơn. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ vô minh của chúng sinh đã kết tập từ vô thủy kiếp, nó dày đặc bền chắc như keo sơn, che lấp tính Phật sẵn có, cũng như cái thùng sơn màu đen chứa đầy sơn, đen kịt không còn rõ một vật gì. Tắc một trong Bích nham lục (Đại 48, 140 trung), nói: Tốt nhất hãy dẹp bỏ ngôn ngữ, văn tự (sắn, bìm), điều đó chẳng trở ngại gì việc phá tan bóng tối vô minh (phá thùng sơn) cho y . Ngoài ra còn có các từ như: Tất dũng, Tất dũng bối, được dùng để mắng những người ngu độn không hiểu chân lý của Phật pháp. II. Hắc tất dũng: Đen kịt, không thấy một vật gì. Thiền tông dùng từ này để ví dụ cảnh giới tuyệt đối, vượt ra ngoài tất cả sự đối đãi, sai biệt. Như tịnh hòa thượng ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 124, 487 hạ), nói: Xếp đống xương trên đất bằng, khoét hang ở giữa hư không, vượt qua hai lớp cửa ải, vào thẳng cảnh giới tuyệt đối (Hắc tất dũng). Ngoài ra, Thiền gia còn dùng từ ngữ Tất dũng bất hội (thùng sơn không hiểu), cũng có hai nghĩa: Một là chỉ cho tâm vọng tưởng phân biệt, không hiểu được sự lí; hai là chỉ cho thế giới dứt bặt tư duy phân biệt. Tắc 5 trong Bích nham lục (Đại 48, 144 hạ), ghi: Cử: Tuyết phong dạy chúng rằng: Nắm cả trái đất như nắm hạt gạo, ném ra trước mặt, nếu không hiểu được thế giới tuyệt đối (Tất dũng bất hội), thì hãy đánh trống gọi mọi người đến xem! .

hắc vận

Ill-luck.

hắc xà

Dục vọng và phiền não được ví với con rắn độc—The black adder, or venomous snake, i.e. klesa, passion, or illusion.

hắc xỉ

Matutacandi (skt)—Loại quỷ La sát răng đen—Black teeth, name of one of the raksasi.

hắc y

Y áo màu đen, một thời là y áo của chư Tăng Ni, để phân biệt với y áo của phàm nhân màu trắng—Black garments, or dark monastic clothes, at one time said to have been the garb of the monk to distinguish him from the ordinary people who wore white.

hắc y nhị kiệt

(黑衣二杰) Hai nhà tài trí mặc áo đen. Chỉ cho hai ngài Huyền sướng và Pháp hiến ở đời Tề, Nam triều. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 36, vào niên hiệu Vĩnh minh năm đầu (483), ngài Huyền sướng và ngài Pháp hiến ở chùa Trường can được Tề vũ đế sắc làm tăng chủ, giao trách nhiệm trông nom việc tăng ở Giang nam và Giang bắc. Vì hai ngài mặc áo màu đen, nên người đương thời gọi là Hắc y nhị kiệt. Nhưng, theo Lương cao tăng truyện quyển 8, thì Hắc y nhị kiệt là gọi ngài Tăng tuệ và ngài Huyền sướng, chứ không phải ngài Pháp hiến.

hắc y tể tướng

(黑衣宰相) Tể tướng áo đen, biệt hiệu của sư Tuệ lâm ở thời Lưu Tống thuộc Nam triều. Sư Tuệ lâm thời ấy, được Văn đế nhà Tống tin yêu, cho tham dự việc triều chính, vì sư mặc áo đen nên người đời gọi mỉa là Hắc y tể tướng. [X. phụ truyện của ngài Đạo nhuận trong Lương cao tăng truyện Q.7; Long hưng Phật giáo biên niên thông luận Q.5].

hắc ám

Black, dark, secluded, shut off; in darkness, ignorant. ; (黑闇) Tối đen, không có ánh sáng của trí tuệ. Kệ tụng tán Phật A di đà (Đại 47, 421 thượng), nói: Hào quang Phật sáng soi bậc nhất, Nên gọi Ngài là Quang viêm vương; Ba đường hắc ám nhờ chiếu rọi, Vì thế con đính lễ cúng dường . [X. Ma ha chỉ quán Q.5 phần trên; Nam sơn giới sớ Q.2 phần trên].

hắc ðạo

Black path—Ác đạo—Negative path.

hắc đậu pháp

(黑豆法) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Pháp đậu đen. Thiền gia dùng từ ngữ này để mỉa mai những người cố chấp văn tự, pháp số trong các kinh điển là người đếm đậu đen. Hư đường lục quyển 8 (Đại 47, 1047 hạ), nói: Tổ sư Tùng nguyên lúc sắp nhập tịch có dạy đại chúng rằng: Các huynh đệ tham thiền bấy lâu nay, là đang đi trên con đường chính, chớ nên dùng Hắc đậu pháp . Ngoài ra cũng có các từ ngữ đồng nghĩa như: Án hắc đậu , Hắc đậu khám định .

hắc đậu vị sinh nha thời

(黑豆未生芽時) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khi đậu đen chưa nảy mầm. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho bản lai diện mục trước khi cha mẹ sinh ra. Tào sơn Nguyên chứng thiền sư ngữ lục (Đại 47, 531 hạ), nói: Có lời trong không lời, như nói đậu đen lúc chưa nảy mầm, là chỗ xuất thân của chư Phật 10 phương .

hắc đồ

(黑徒) Người nô lệ trong các ngôi chùa Lạt ma ở Mông cổ. Theo chế độ xưa ở Mông cổ, khi triều đình phong tặng Lạt ma, thì thường cấp cho họ một số hộ dân. Sau khi bị cấp cho Lạt ma những người này mất hết tư cách công dân và được dời đến các vùng do Lạt ma cai quản, để làm nô lệ suốt đời. Năm Dân quốc 19 (1930), Mông Tạng Ủy Viên Hội ở Nam kinh đã đưa ra nghị quyết giải phóng Hắc đồ, trả lại tư cách công dân cho họ và cho họ được hưởng quyền bình đẳng.

hắt hơ hắt hãi

Panic-striken.

hắt hủi

To neglect.

hằm hằm

Angry—Furious.

hằn học

To bear a grudge.

hằng

Luôn luôn, thường thường—Constant—Perseverance—Persistence.

hằng cảnh

(恒景) (634-712) Vị tăng sống vào đời Đường, người Đương dương, họ Văn. Năm Trinh quán 22 (648) sư xuất gia, theo ngài Văn cương học Luật. Về sau, sư theo ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai tu tập pháp môn Chỉ quán và sáng lập chùa Long hưng. Thời vua Đường Trung tông (684-709), sư 3 lần được triệu thỉnh vào triều làm Giới sư. Năm Cảnh long thứ 3 (709), sư xin về núi, vua thiết trai tiễn đưa ở đạo tràng Quán môn tại cung Lâm quang, có sự tham dự của các vị Lí kiệu, Đạo tuấn, Huyền trang, v.v...…Niên hiệu Tiên thiên năm đầu (712) sư tịch, thọ 79 tuổi. Tác phẩm: Luận Thuận liễu nghĩa, luận Nhiếp chính pháp, luận Phật tính...… Sư còn dịch chung với ngài Thực xoa nan đà bộ kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển). [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Phật tổ thống kỉ Q.10; Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí Q.38].

hằng cửu

Everlasting—Eternal.

hằng già

Sông Hằng Hà—The river Ganges—See Hằng Hà.

hằng già hà

Ganges (skt)—Sông Hằng Hà—The Ganges River—See Hằng Hà.

hằng già sa

Hằng Sa—Ganga-nadi-valuka (skt)—Hằng hà sa số—As the sands of Ganges, numberless.

hằng già ðạt

Gangadatta (skt)—Con trai của một trưởng giả giàu có và là một đệ tử của Ðức Phật—Son of a wealthy landowner and disciple of the Buddha.

hằng già ðề bà

Gangadevi (skt)—Hà Thiên, tên một vị nữ đệ tử của Ðức Phật (truyền thuyết cha mẹ bái lễ Thần sông Hằng mà sanh ra nàng nên có tên nầy) —Name of a female disciple of the Buddha.

hằng hà

Sông Hằng Hà, theo truyền thuyết chảy ra từ trung tâm lổ tai của Thần Ma Hê Thủ La, chảy vào hồ A Nậu Ðạt (mà ngài Huyền Trang ghi trong Tây Du Ký là Căng Già), chảy qua Ngưu Khẩu (có nơi nói là Sư Tử Khẩu, hay Kim Tượng Khẩu), đoạn chảy quanh hồ rồi đổ ra biển theo hướng đông nam. Hằng Hà là một con sông rất lớn và rất dài ở Ấn Ðộ. Dưới đáy và dọc theo hai bên bờ của con sông nầy có rất nhiều cát—Ganges, said to drop from the centre of Siva's ear into the Anavatapta lake, passing through an orifice called (variously) ox's mouth, lion's mouth, golden elephant's mouth, then round the lake and out to the ocean on the south-east. Ganges River (Gangha) is a very large and long river in India. The bed and banks of this river are covered with innumerable grains of sands. ; (恒河) Phạm:Gaígà. Cũng gọi Hằng ca hà, Hằng già hà, Căng già hà. Sông hằng là một trong 3 con sông lớn ở Ấn độ. Sông này bắt nguồn từ dãy núi Hi mã lạp sơn, chảy theo hướng đông nam 800 km, đến Đông Bengale nhập với sông Bố lạp mã phổ đắc lạp rồi chảy vào Ấn độ dương. Hằng hà dài khoảng 2700 km, hai bên bờ sông có vô số đền đài, chùa miếu. Ấn độ giáo coi sông Hằng là sông thiêng liêng. Truyền thuyết cho rằng do người tiên cầu đảo mà nước sông Hằng từ đầu ngón chân của thần Tì thấp nô ở trên trời chảy xuống. Phật giáo cũng xem sông này là sông phúc, khi còn tại thế, đức Phật cũng thường đến đây tuyên thuyết diệu pháp. Vùng thượng lưu sông Hằng là trung tâm văn minh Ấn độ ở thời đại A thát bà phệ đà và thời kì thành lập Phạm thư; vùng trung lưu là trung tâm văn minh của thời đại Áo nghĩa thư; còn vùng hạ lưu là đồng bằng rộng lớn của cả đông bộ Ấn độ. Đến thời đức Phật, hai bờ sông Hằng trở thành khu vực giáo hóa trọng yếu của Ngài và các vị đệ tử. Vùng này dân cư đông đúc, kinh tế phồn thịnh, giao thông tiện lợi, sản vật dồi dào, cho nên người Ấn độ coi nơi này là vùng đất Thánh. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 thì cát sông Hằng rất mịn, cùng chảy theo dòng, tay vục lấy nước thì cát đầy trong tay. Trong các kinh điển Phật giáo, cát sông Hằng được dùng để ví dụ cho số lượng không thể tính đếm được. Người đời gọi sông này là sông Phúc, hoặc sông Phúc đức tốt lành. Phổ thông tin rằng tắm nước sông Hằng có thể tiêu trừ tội lỗi. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 114 thượng), nói: Mọi người đều cho rằng sông Hằng là sông phúc lành, người tắm trong đó thì các tội lỗi đều trừ sạch hết . Đại đường tây vực kí quyển 4 (Đại 51, 891 trung), nói: Phong tục xứ ấy cho là sông phúc lành, tội lỗi tuy nhiều, tắm gội liền hết. Người chán đời đến đây trầm mình, sẽ được sinh lên cõi trời. Thi hài thả xuống sông, trôi theo dòng nước, linh hồn được cứu, thoát khỏi đường ác . [X. kinh Thế kỉ trong Trường a hàm Q.18; kinh Nhất thiết pháp cao vương; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; luận Đại tì bà sa Q.5; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27].

hằng hà môn

(恒河門) Phạm:Gaígà dvàra. Cũng gọi Căng già hà môn. Chỗ cửa sông Hằng chảy vào đồng bằng, tức là Hardwar hiện nay. Xưa nay, người ta tin rằng Hằng hà môn là nơi có công đức diệt tội sinh phúc thù thắng hơn các chỗ khác của sông Hằng, cho nên hằng năm số người đến đây tắm gội không thể nào đếm được. Đại đường tây vực kí quyển 4 (Đại 51, 892 trung), nói: Cách thành này không xa, gần sông Căng già có đền thờ trời rất linh dị. Trong đền có ao, xung quanh xếp đá làm bờ dẫn nước từ sông Hằng vào. Người khắp Ấn độ gọi đó là Căng già hà môn, là nơi sinh phúc diệt tội, thường có hàng trăm nghìn người từ các phương xa đến đây tắm gội. Những ông vua hiếu thiện lập nhà tập phúc ở đây cho mọi người ở, cung cấp thức ăn, thuốc thang cho những người quan quả cô độc .

hằng hà sa

(恒河沙) Phạm:Gaígà-nadì-vàluka. Cũng gọi Hằng biên sa, Hằng thủy biên lưu sa, Giang hà sa, Căng già sa, Hằng sa, Hằng hà sa số. Cát sông Hằng. Hạt cát rất mịn, số lượng không thể đếm được. Trong các kinh, khi nói đến con số nhiều không thể tính toán được, thì thường dùng từ Hằng hà sa để ví dụ. Như: Phẩm Tựa của kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1 (Đại 8, 217 trung), nói: Chiếu khắp các cõi nước của chư Phật ở phương Đông nhiều như cát sông Hằng . Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung), nói: Vô lượng Đại thánh, số như Hằng sa . [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

Hằng hà sa số

xem số cát sông Hằng.

hằng hà sa số

Số nhiều vô kể—Numberless—Incalculable—Countless.

hằng ngày

Everyday—Daily.

hằng sa

Con ngỗng: Hamsa (skt)—A goose. Nhiều như cát sông Hằng: Ganga-nadi-valuka (skt)—As the sands of Ganges (numberless)—Countless.

hằng sản

Real estate.

hằng thuyết hoa nghiêm

(恒說華嚴) Gọi đủ: Pháp nhĩ hằng thuyết chi Hoa nghiêm. Đối lại: Kết tập lưu truyền chi Hoa nghiêm. Pháp môn Viên giáo Hoa nghiêm do đức Như lai diễn nói là pháp thường hằng, không bao giờ gián đoạn. Phẩm Phật bất tư nghị pháp trong kinh Hoa nghiêm quyển 47 (bản 60 quyển) nói rằng, tất cả chư Phật đều có thể từ một thân hóa hiện ra vô số đầu, trong mỗi đầu hóa hiện ra vô số lưỡi, từ mỗi lưỡi hóa hiện ra vô số âm thanh sai biệt, khiến chúng sinh trong khắp pháp giới đều nghe. Trong mỗi âm thanh diễn nói vô lượng tạng kinh, trong mỗi tạng kinh tuyên thuyết vô lượng pháp, trong mỗi pháp có vô lượng vô biên văn tự, cú nghĩa, nhiều bằng số bụi nhỏ bất khả thuyết. Diễn nói như thế, đến hết các kiếp nhiều như số bụi nhỏ trong các cõi Phật bất khả thuyết, các kiếp ấy hết rồi, lại tiếp tục giảng nói số kiếp khác, lần lượt như thế, cho đến cùng tận hết thảy thế giới nhiều như bụi nhỏ, cùng tận số tâm niệm của tất cả chúng sinh, mà hóa thân của Như lai thuyết pháp không bao giờ cùng tận. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.5 (Trừng quán)].

hằng thuận chúng sanh

To accommodate and benefit all living beings—Ðây là hạnh nguyện thứ chín trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Hằng thuận chúng sanh là tùy thuận chúng sanh mọi loài mà thật hành cúng dường và cung kính như cha mẹ, hoặc như các bậc Bồ Tát hay Phật. Nếu chúng sanh bịnh thì chúng ta làm lương y; nếu chúng sanh lạc đường thì chúng ta vì họ mà chỉ cho con đường chánh; nơi đêm tối chúng ta vì họ mà làm đuốc sáng, người cần ăn chúng ta cho ăn; người cần uống chúng ta cho uống, vân vân. Tùy thuận chúng sanh là tùy thuận chư Phật, cúng dường chúng sanh là cúng dường chư Phật, làm cho chúng sanh hạnh phúc là làm cho chư Phật hoan hỷ—This is the ninth of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva. To accommodate and benefit all living beings means we will accord with and take care of all living beings, making offerings to all living beings as if we made offerings to all Buddhas, honors and serves them as if we honored and served all Buddhas and Bodhisattvas. We should be a good doctor for the sick and suffering, lead those who have lost their way to the right road, be a bright light for those in the dark night, give food to the hungry, give drink to the thirsty, and so on. If we accord with living beings, then we accord with and make offerings to all Buddhas. If honor and serve living beings, we then honor and serve the Thus Come Ones. If we make living beings happy, we are making all Thus Come Ones happy.

hằng thuận chúng sinh

(恒順衆生) Thuận theo chúng sinh. Nguyện thứ 9 trong 10 nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền. Bồ tát Phổ hiền nguyện thuận theo chúng sinh trong mười phương quốc độ, cúng dường họ như phụng sự chư Phật, kính thờ sư trưởng và cha mẹ, hết thảy đều bình đẳng. Đối với người bệnh là thầy thuốc giỏi, với người lạc đường là đạo sư chân chính, với người trong đêm tối mang ánh sáng đến, với người nghèo cùng khiến được kho báu. Dùng lòng đại bi tùy thuận chúng sinh, cho nên, có thể thành tựu công đức cúng dường Như lai, niệm niệm tương tục, mãi mãi không cùng tận. [X. phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.40]

hằng thường

Thường hằng—Constant—Regular.

hằng thẩm tư lượng

(恒審思量) Thẩm tra tất cả sự lý, suy xét, tính lường, không lúc nào gián đoạn. Đây là tính chất của thức Mạt na, thức thứ 7 trong 8 thức do tông Pháp tướng thành lập. Trong 8 thức, chỉ có thức thứ 7 là có tác dụng này. (xt. Mạt Na Thức).

hằng thủy

Sông Hằng—The river Ganges—See Hằng Hà.

hằng trụ ngũ niệm

(恒住五念) Năm giáo điều mà chi phái Giáo giới thuộc phái Ca đương của Phật giáo Tây tạng hằng ghi nhớ. Đó là: 1. Sư trưởng là chỗ qui y. 2. Tự thân là Bản tôn. 3. Ngôn ngữ là thần chú. 4. Chúng sinh là cha mẹ. 5. Tâm tính vốn không. HÂN YẾM... .. Tên tâm sở. Hân nghĩa là ham thích, chỉ cho tác dụng tinh thần hâm mộ công đức. Yếm nghĩa là chán ghét, chỉ cho tác dụng tinh thần nhàm chán đau khổ. Theo luận Nhập a tì đạt ma thì Hân là ham thích Niết bàn, Yếm là chán ghét sinh tử và, cũng như luận Thuận chính lí, cho Hân yếm là Thiện tâm sở. Còn luận Câu xá thì cho rằng Thiện tâm sở thuộc về Đại thiện địa pháp, tự tính của nó trùm khắp tất cả tâm thiện rồi, cho nên không cần lập riêng 2 tâm sở Hân và Yếm nữa. Vì hành tướng của Hân (ham thích) và Yếm (chán ghét) mâu thuẫn nhau, không cùng khởi lên trong một tâm, cũng không thường hằng, vả lại, không tương ứng cùng khắp với tâm thiện, cho nên không lập riêng Hân yếm. Theo luận Thành duy thức quyển 6, thì Hân và Dục đều có một phần Vô sân, Yếm và Tuệ đều có một phần Vô tham, vì cùng chung một thể tính, nên trong tâm sở thiện không cần lập riêng (Hân, Yếm). [X. luận Đại tì bà sa Q.28, Q.143, Q.196; luận Thuận chính lí Q.11; Câu xá luận quang kí Q.4].

hằng tâm

Kindhearted—Generous.

Hằng Tịch

(恆寂, Kōjaku, 825-885): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời Bình An, Tổ khai sơn Đại Giác Tự (大覺寺, Daikaku-ji), húy là Hằng Tịch (恆寂), tục danh là Hằng Trinh (恆貞), thông xưng là Đình Tử Thân Vương (亭子親王), Hoàng Tử thứ 2 của Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō, tại vị 758-764); mẹ là Chánh Tử Nội Thân Vương (正子內親王). Vào năm 833, khi Nhân Minh Thiên Hoàng (仁明天皇, Nimmyō Tennō, tại vị 833-850) tức vị thì ông làm Hoàng Thái Tử, nhưng đến năm 842, do vụ biến loạn Thừa Hòa (承和) xảy ra do âm mưu của nhóm Đằng Nguyên Lương Phòng (藤原良房, Fujiwara-no-Yoshifusa), nên ông bị phế truất ngôi vị Hoàng Thái Tử. Sau đó, ông lui về nhan cư ở Thuần Hòa Viện (淳和院), rồi đến năm 849 thì xuất gia và thọ đại pháp của hai bộ Thai Mật với Chơn Như (眞如). Năm 876, khi mẹ ông là Hoàng Hậu Chánh Tử cải đổi ly cung Tha Nga Viện của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō, tại vị 809-823) để xây dựng Đại Giác Tự, ông trở thành vị Tổ khai sơn của chùa này.

hẳn hoi

Properly—Correctly.

hẹn lần hẹn lựa

Empty promise—Practice whatever you can practice today. Do not put off until tomorrow what you can practice today because you may never have tomorrow:Hãy tu tập những gì ta có thể tu tập hôm nay, chớ đừng hẹn lần hẹn lựa đến ngày mai vì biết đâu mình sẽ chẳng bao giờ có ngày mai.

hết hy vọng

Without hope—To despair—To lose all hope.

hết hơi

To be out of breath.

hết kế

To be at the end of one's resourses.

hết lòng

To be devoted to—With all one's heart—Heartily—Wholehearted.

hết lòng tùy hỷ

Wholehearted rejoice.

hết nhẵn

All finished.

hết nói

To find nothing more to say.

hết phương

To be at the end of one's resources.

hết sức

To be exhausted—At the end of one's tether.

hết thế

See Hết phương.

hết thời

To be on the down grade.

hết tiệt

See Hết Nhẵn.

hề la sơn

(醯羅山) Hê la, Phạm:Hila. Thánh địa Phật giáo ở nước Ô trượng na thuộc miền Bắc Ấn độ. Tương truyền đây là nơi đức Thích tôn, trong kiếp quá khứ, khi tu hạnh Bồ tát, đã xả thân để được nghe 2 câu sau của bài kệ: Các hành vô thường, Là pháp sinh diệt, Sinh diệt diệt rồi, Tịch diệt là vui. Núi này hiện nay ở gần thung lũng Bunir tại Tây bắc Ấn độ. [X. luận Đại trí độ Q.12; điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; T.Watters: On yuan chwang, vol. I]. (xt. Tuyết Sơn Đại Sĩ).

hề la thành

(醯羅城) Hê la, Phạm: HiđđahoặcHila. Cũng gọi Phật đầu cốt thành. Thủ phủ của nước Na yết la hạt thuộc Bắc Ấn độ, cáchJalàlàbàdcủa A phú hãn hiện nay về phía tây khoảng 9 km. Có thuyết cho rằng xương đầu, mắt, ca sa, tích trượng của đức Phật được thờ tại đây. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; điều Na yết la hạt quốc trong Đại đường tây vực kí Q.2; Giải thuyết tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. I].

hề trọng tạo xa

(奚仲造車) Tên công án trong Thiền tông. Hề trọng đóng xe. Hề trọng là người đời Hoàng đế nước Tàu, chế ra loại xe, mỗi bánh xe có 100 cái nan hoa. Thiền sư Nguyệt am Thiện quả ở núi Đại qui thuộc Đàm châu mới dùng sự tích này làm công án để mở bày cho người học.Tắc 8 trong Vô môn quan (Đại 48, 294 thượng) ghi: Hòa thượng Nguyệt am hỏi một vị tăng: Hề trọng đóng xe, bánh xe có 100 nan hoa, mỗi đầu nan hoa đều lắp vào cái trục xe. Nếu bỏ trục đi thì cái xe sẽ như thế nào? Ví người tu hành nếu chỉ chú trọng ở hình thức, mà không dụng công từ nơi tâm, thì cũng giống như những cái nan hoa xe không có trục xe, sẽ chẳng có tác dụng gì. [X. Tục truyền đăng lục Q.29; Ngũ đăng hội nguyên Q.20].

hệ

1) Cột trói: To fasten—To attach to. 2) Cột trói tư tưởng: To fix the thought on. 3) Ràng buộc: Connect—Bind—Involve—To be attached to. ; (繫) Phạm: Grantha. Lệ thuộc, trói buộc. Tên khác của phiền não.Phiền não trong 3 cõi thường trói buộc các pháp hữu lậu, do đó, các pháp phải lệ thuộc vào 3 cõi nên gọi là Giới hệ hoặc Tam giới hệ. Nói rõ hơn, như các pháp bị ràng buộc trong cõi Dục, gọi là Dục giới hệ; bị ràng buộc trong cõi Sắc, gọi là Sắc giới hệ; bị ràng buộc trong cõi Vô sắc, gọi là Vô sắc giới hệ. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 7, thì Hệ có 4 loại (cũng gọi Tứ kết, Tứ thân kết, Tứ phược): Tham dục thân hệ; Sân khuể thân hệ, Giới cấm thủ thân hệ và Thử thực chấp thủ thân hệ. Vì 4 loại này hay làm cho tâm thần tán loạn, gây chướng ngại định lực nên gọi là Hệ. Các pháp hữu lậu trong 3 cõi đều bị 4 thứ phiền não này trói buộc, nếu dứt trừ được sự trói buộc ấy thì đạt được Trạch diệt niết bàn. Ngoài ra, nghiệp cũng có tác dụng của Hệ. Chúng sinh do những nghiệp thiện ác đã tạo mà phải chịu quả báo trong 3 cõi, cũng tức là bị trói buộc trong 3 cõi, cho nên gọi là Nghiệp hệ. Còn nghiệp thiện ác lệ thuộc trong 3 cõi thì gọi Hệ nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.52; Q.145; luận Câu xá Q.1, Q.2; luận Du già sư địa Q.84; luận Thành duy thức Q.5; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu]. (xt. Giới Hệ).

hệ châu

Chẳng biết trong áo của mình có buộc hạt châu, lại tưởng mình nghèo khốn mà đi xin ăn—A peral fastened in a man's garment, yet he, in ignorance of it, is a beggar.

hệ châu dụ

(繫珠喻) Cũng gọi Y châu dụ, Y nội minh châu dụ. Ví dụ hạt ngọc quí giấu trong chéo áo. Một trong 7 ví dụ của kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa dùng ví dụ này để chỉ cho chúng sinh đã có sẵn tính Phật, nhưng vì ngu mê không biết nên cứ rong ruổi tìm cầu bên ngoài, như người có hạt ngọc quí giá trong chéo áo mà chẳng hay, cứ tha phương cầu thực. [X. phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa Q.4; Pháp hoa văn cú Q.8 phần trên]. (xt. Y Châu Dụ, Pháp Hoa Thất Dụ).

hệ duyên

See Duyên. ; (繫緣) Tâm rong ruổi theo các cảnh thế gian. Ngưng lại thì thấy ngay thực tướng. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 hạ), nói: Người tu viên đốn, vừa duyên thực tướng thì ngay nơi cảnh tức là Trung đạo, đều là chân thực. Khi tâm duyên pháp giới (Hệ duyên) thì một niệm là toàn thể pháp giới, một sắc một hương đều là Trung đạo .

hệ lư quyết

(繫驢橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho cái cọc buộc lừa ở bên đường. Thiền gia dùng từ ngữ này để ví dụ cho người học, tuy lãnh hội được cơ mầu nhiệm qua một câu, một gậy, nhưng nếu cố chấp một câu, một lời thì sẽ bị trói buộc như con lừa bị cột, không hoạt dụng được. Lâm tế lục (Đại 47, 497 hạ), nói: La hán Bích chi như thứ rác rưởi; Bồ đề Niết bàn như cọc buộc lừa . Ngoài ra, Hệ lư quyết còn được dùng để ví dụ vật vô giá trị. Tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), ghi: Lương vũ đế hỏi đại sư Đạt ma: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? (Đúng là cái cọc buộc lừa!)

hệ nghiệp

(繫業) Chỉ cho những nghiệp thiện ác trói buộc chúng sinh trong 3 cõi. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 7, thì hệ nghiệp trong 3 cõi có 4 nghĩa: 1. Đứng về phương diện nghiệp thể, thì nghiệp thể hữu lậu thuộc về 3 cõi. 2. Đứng về phương diện đắc quả, thì nơi chịu quả báo của nghiệp hữu lậu đều ở trong 3 cõi. 3. Đứng về phương diện nghiệp quả tương đối, thì ở trong 3 cõi nghiệp và quả ràng buộc nhau. 4. Đối với hoặc, nghiệp thiện ác trong 3 cõi bị phiền não ở các cõi ấy duyên theo và ràng buộc.

hệ niệm

Ràng buộc ý niệm theo một hướng nhất định, chẳng nghĩ gì khác (đêm ngày thường ràng buộc niệm, chớ nghĩ tới cảnh dục, ngược lại luôn nghĩ tới cảnh Tây Phương Cực Lạc)—To fix the mind, attention, or thought on—To think of—To be drawn to—Always think of the western paradise, not thinking of desires. ; (繫念) Cũng gọi Huyền niệm, Huyền tưởng. Để tâm chuyên chú vào một cảnh. Kinh Đại bát nhã ba la mật quyển 329 (Đại 6, 686 trung), nói: Ở nơi vắng vẻ, chuyên tâm (hệ niệm) quán tưởng những điều đã tu . Kinh Quán vô lượng thọ nói, khi chúng sinh dụng tâm quán tưởng Phật, thì cần phải nhất tâm hệ niệm quán đức Phật A di đà. [X. kinh Tạp a hàm Q.37, Q.39; kinh Đại bảo tích Q.47; Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3, Q.9].

hệ phược

1) Trói buộc (phiền não trói buộc thân tâm làm mất tự do): To fasten to—To tie—Tied to, e.g. things, or the passions. 2) Phiền não: Affliction.

hệ phọc

(繫縛) Phạm, Pàli: Bandhana. Cũng gọi kết phược. Sự trói buộc. Chỉ cho thân tâm của chúng sinh bị các phiền não vọng tưởng hoặc những sự vật của thế giới bên ngoài ràng buộc mà mất tự do, mãi trôi lăn trong dòng sinh tử. Cứ theo kinh Chúng tập trong Trường a hàm quyển 8, thì có 4 thứ phiền não trói buộc thân tâm của chúng sinh là: Tham dục, sân khuể, giới đạo và ngã kiến. Ngoài ra, học phái Số luận (Phạm: Saôkhya) của Ấn độ có lập ra 3 thứ Hệ phược là: Tự tính phược, Bố thí phược và Biến dị phược. [X. luận Tì bà sa Q.2; luận Kim thất thập Q.trung; Đại tạng pháp số Q.20]. (xt. Tứ Phược).

hệ quán thế âm ứng nghiệm kí

(繫觀世音應驗記) Có 1 quyển, do ông Lục cảo (459-532) soạn vào thời Nam triều. Sách này ở Trung quốc đã thất truyền. Hiện chỉ còn một bản chép tay vào khoảng giữa thời đại Liêm thương được cất giữ tại viện Thanh liên ở kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Năm 1970, ông Mục điền Đế lượng, người Nhật đã xuất bản cuốn Lục triều cổ dật Quan thế âm ứng nghiệm kí chi nghiên cứu (Nghiên cứu tác phẩm Quan thế âm ứng nghiệm kí của thời Lục triều đã bị thất truyền). Theo bài tựa của sách này thì Lục cảo muốn tiếp nối sách Quang thế âm linh nghiệm kí (7 điều) của ông Phó lượng (374-426) và sách Tục quang thế âm ứng nghiệm kí (10 điều) của ông Trương diễn mà soạn sách này. Sách được hoàn thành vào niên hiệu Trung hưng năm đầu (501) đời Hòa đế nhà Nam Tề, gồm 69 điều, nhưng 2 điều cuối cùng là do người sau thêm vào.

hệ thống

System.

hệ thống tư tưởng thích hợp

A rational system of thoughts

hệ trước

See Duyên. ; (繫著) Tâm dính mắc vào ngoại cảnh. Phàm phu tham đắm danh lợi nên bị danh lợi trói buộc, không được tự do. [X. kinh Tạp a hàm Q.34; kinh Đại bát niết bàn Q.17 (bản Bắc)].

hệ trọng

Important—Vital.

hệt

Close resemblance.

Hỉ

喜; S, P: muditā;|Một trong Bốn phạm trú. Hỉ là niềm vui theo với hạnh phúc của người khác. Tu dưỡng tâm hỉ là nhằm đối trị tâm ganh ghét và nhằm xóa dần ranh giới giữa ta và người. Hỉ là một trong bốn tâm vô lượng của một đức Phật, đó là tâm đại hỉ khi thấy có ai rời bỏ được Khổ và Luân hồi.

hỉ

(喜) Phạn: Su-manas. Sự vui mừng trong lòng. Một trong năm thụ, gọi là Hỉ thụ(cảm giác vui mừng) một trong 22 căn, gọi là Hỉ căn. Cứ theo luận Câu xá quyển 3, hành tướng vui mừng của tâm ở Sơ thiền, Nhị thiền và cõi Dục, thô động, có tính chất tham vui, gọi là Hỉ ; còn hành tướng vui mừng của tâm ở Tam thiền thì an tĩnh, đã lìa tính tham vui, nên gọi là Lạc . Nhưng luận Thành duy thức quyển 5 thì cho rằng: Sự vui mừng của tâm ở Sơ thiền, ở Cận phần định của Nhị thiền và ở cõi Dục gọi là Hỉ ; còn sự vui mừng của tâm ở Sơ thiền và ở Căn bản định của Nhị thiền thì gọi là Hỉ hoặc là Lạc . Từ ngữ Dũng dược hoan hỉ (vui mừng hớn hở) nói trong các kinh là mô tả thái độ vui mừng khi nghe đức Phật nói pháp. Địa thứ nhất trong 10 địa của Bồ tát Đại thừa là Hoan hỉ địa. Trong Thập địa kinh luận quyển 2, ngài Thế thân chia hoan hỉ làm 3 loại: Hữu tâm hỉ, Thể hỉ và Căn hỉ. Kế đó, ngài nêu ra 9 thứ:1. Kính hoan hỉ: Vui mừng cung kính Tam bảo. 2. Ái hoan hỉ: Vui mừng ưa thích quán pháp chân như. 3. Khánh hoan hỉ: Vui mừng tự biết chỗ sở ngộ thù thắng. 4. Điều nhu hoan hỉ: Niềm vui mừng được điều hòa lan khắp thân tâm. 5. Dũng dược hoan hỉ: Niềm vui đầy đủ, tràn khắp thân tâm. 6. Kham thụ hoan hỉ: Vui mừng khi thấy mình tiếp cận sự giác ngộ. 7. Bất hoại hoan hỉ: Vui mừng khi điều phục, giải thuyết, nghị luận mà tâm không dao động. 8. Bất não hoan hỉ: Vui mừng vì lòng từ bi nhu hòa, giáo hóa, nhiếp thụ chúng sinh.9. Bất sân hoan hỉ: Vui mừng vì khi thấy uy nghi chúng sinh không đúng đắn mà không sinh tâm giận dữ. [X. luận Đại tì bà sa Q.139, Q.142; luận Đạt thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận quang kí Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu; Bách pháp vấn đáp sao Q.1; Duy thức luận đồng học sao Q.5 phần 4]. (xt. Hoan Hỉ).

hỉ giác chi

(喜覺支) Phạn: Prìtisambodhyaíga. Pàli:Pìtisambojjhaíga. Cũng gọi Hỉ đẳng giác chi, Hỉ giác ý, Ái hỉ giác ý. Niềm vui mừng khi đạt được chính pháp, là một trong 7 giác chi của 37 Bồ đề phần. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; Chính pháp nhãn tạng bồ đề phần pháp]. (xt. Thất Giác Chi).

hỉ giải phái

(喜解派) Chi phái thuộc phái Ca đương của Phật giáo Tây tạng, do Đại a xà lê Ba đôn ba tang kết (Tạng: Pha-dom-pa sans rgyas) người Nam Ấn độ khai sáng vào đầu đời Nguyên. Hỉ giải cũng gọi là Hi giải, Hi kết, có nghĩa là năng tịch diệt. Phái này bắt nguồn từ chùa Siêu nham, chủ trương dùng Mật thừa để giải thoát những khổ não của kiếp người, vì chuyên về giảng giải giáo lí, thích ứng với trình độ phổ thông của mọi người, cho nên phái này lưu truyền rất rộng rãi. Những kinh điển Mật giáo mà phái này tôn sùng được chia làm 3 loại: Sơ, Trung, Hậu, gồm có các pháp tu như: Trừ diệt tam đăng, Dạ ma đế thành tựu, v.v...… Phái này truyền đến đời thứ 3 là ni sư Mụ chỉ nhạ đoan thì càng thịnh hơn. (xt. Tây Tạng Phật Giáo, Ca Đương Phái).

hỉ thụ

(喜受) Phạn: Saumanasya-vedanà. Pàli: Somanassa-vedanà. Cảm giác vui thích trước cảnh thuận. Một trong 5 thụ. Trong cõi Dục, Sơ thiền và Nhị thiền, khi tâm vui thích khởi lên tương ứng với ý thức thì gọi là Hỉ thụ. [X. kinh Đại tập pháp môn Q.hạ; luận Câu xá Q.3; luận Thuận chính lí Q.9]. (xt. Ngũ Thụ, Hỉ).

hỉ tiếu thiên

(喜笑天) Phạn:Krìđàpradowikà. Pàli:Khiđđàpadùsikà. Dịch âm: Kỉ đà ba đồ. Cũng gọi Hỉ hí tiếu giải đãi thiên, Hí tiếu giải đãi thiên. Cõi trời trong đó thiên chúng ham mê sự vui chơi. Cứ theo kinh Phạm võng (Pàli: Brahmajàla-sutta) trong Trường bộ kinh 1 và kinh Nhị thập tứ ba lợi li:Pàỉikasuttanta), thì những người trời ở cõi này vì đam mê pháp hỉ lạc trong thời gian dài nên sự nhớ nghĩ bị tiêu mất mà mệnh chung. [X. kinh Đại hội, kinh A nâu di và kinh Phạm động trong Trường a hàm; kinh Đại tam ma nhạ; kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; kinh Xuất diệu].

hỉ vô lượng tâm

Boundless joy on seeing others rescued from suffering. ; (喜無量心) Hỉ vô lượng, Phạm: Muditàpramaịà. Pàli: Mudità appamàịa. Tức là tâm vui mừng khi thấy vô lượng chúng sinh lìa khổ được vui. Một trong bốn vô lượng tâm. Tâm này được dùng để đối trị với tâm ích kỉ trong 4 chướng. [X. luận Đại trí độ Q.20]. (xt. Tứ Vô Lượng Tâm).

hỉ xá

(喜捨) I. Hỉ Xả. Phạm: Vyavasarga-rata. Cũng gọi Tịnh xả, Tịnh thí. Vui vẻ xả bỏ tiền bạc và phẩm vật để cúng dường Tam bảo. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.4].II. Hỉ Xả. Chỉ cho Hỉ vô lượng tâm và Xả vô lượng tâm trong Tứ vô lượng tâm(từ, bi, hỉ, xả). Nghĩ về vô lượng chúng sinh lìa khổ được vui mà vào Hỉ đẳng chí (Đẳng chí là một trong nhiều tên của Định), gọi là Hỉ vô lượng tâm. Tư duy về chính mình đối với vô lượng chúng sinh không thương cũng không ghét mà vào Xả đẳng chí, gọi là Xả vô lượng tâm. [X. luận Đại trí độ Q.20]

hỉ đa ca văn

(憙多迦文) Một loại văn tự của Ấn độ đời xưa. Tất đàm tự kí (Đại 54, 1186 thượng), nói: Văn tự Hí đa ca của nước Kiện đà la đặc biệt khác, nhưng nguồn gốc chữ đều từ Tất đàm . Về nhóm từ Hí đa ca xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Ngài Hạnh trí người Nhật bản, một học giả về chữ Tất đàm ở thế kỉ XIX cho rằng: Hí đa ca là tên đô thành của nước Kiện đà la, hoặc là địa danh, hoặc là tên vị thần truyền bá tiếng Phạm ở nước này. Cứ theo Tất đàm yếu tập kí, từ ngữ Hí đa ca gọi đủ là Lỗ hí đa hiệt sa la (Phạm: Rohita-kwìra), nghĩa là vỏ câyRohitahoặc Kwìramà người nước Kiện đà la thuộc Bắc Thiên trúc dùng làm giấy để viết chữ. Nay nếu cho rằng tiếng Phạm của Hí đa ca làKìtakathì nghĩa của nó là chỉ cho thi nhân của chủng tộc Ma yết đà, hoặc chỉ cho người tán tụng mà cha là dòng Sát đế lợi và mẹ là dòng Tì xá (Phệ xá); còn Văn là chỉ cho văn tự do thi nhân này dùng, Như vậy, văn Hí đa ca của nước Kiện đà la mà Tất đàm tự kí nói, có thể được giải thích là: Sau khi dời đến ở nước Kiện đà la trên miền Bắc, thi nhân của chủng tộc Ma yết đà vẫn tiếp tục sử dụng văn tự của nguyên quán. Ngoài ra, Hí đa ca cũng có thể được xem là chữ đảo ngược của Kikaỉa (Hí đa ca), có nghĩa là loại văn tự được giống người ở nước Kiện đà la thuộc biên thùy phía Bắc Ấn độ sử dụng.

hỉ đa viện

(喜多院) Cũng gọi Bắc viện, Tinh dã sơn Vô lượng thọ tự. Ngôi chùa của tông Thiên thai, nằm ở làng Tiểu tiên ba gần thành phố Xuyên việt, Nhật bản, tương truyền do đại sư Từ giác Viên nhân sáng lập vào năm Thiên trường thứ 7 (830) đời Thiên hoàng Thuần hòa, là một trong 8 ngôi chùa lớn của tông Thiên thai Nhật bản. Năm Vĩnh nhân thứ 4 (1296), chùa được ngài Tôn hải trung hưng và trở thành nơi trung tâm của tông Thiên thai ở vùng Quan đông. Về sau, đã có một thời gian chùa bị hoang phế, mãi đến năm Khánh trường thứ 6 (1601), ngài Thiên hải từ Tỉ duệ sơn đến trụ trì, được ông Đức xuyên Gia khang ủng hộ, ngài mới sửa sang lại chùa tháp, điện đường và được Thiên hoàng Dương thành ban bảng hiệu là Đông Duệ Sơn , chùa trở nên nổi tiếng. Về sau, ngài Thiên hải xây cất thêm Đông chiếu cung để thờ ông Đức xuyên Gia khang. Niên hiệu Khoan vĩnh, năm đầu (1624) ông Đức xuyên Gia quang sáng lập chùa Khoan vĩnh, lấy Hỉ đa viện làm sơn hiệu, từ đó, Hỉ đa viện được lấy lại tên cũ là Tinh Dã Sơn. Nhà khách, thư viện, nhà Từ nhãn, lầu chuông, sơn môn (Tam môn), v.v...… của viện này đều là những kiến trúc ở thời kì đầu của thời đại Giang hộ. Trong viện hiện còn cất giữ bức bình phong do ông Chức nhân tận vẽ (ông Thú dã Cát tín viết chữ), Đại tạng kinh (bản Cao li), Nhất thiết kinh (bản Thiên hải). [X. Luân vương tự cung niên phổ; Từ nhãn đại sư duyên khởi Q.1; Đông chiếu cung ngự thực kí phụ lục 25].

Hịch

(檄): là văn thư xưa kia cấp trên dùng để kêu gọi, triệu tập, hiểu dụ cấp dưới. Như trong Văn Tuyển (文選), Thiên Bạch Mã (白馬篇) có câu: “Vũ hịch tùng Bắc lai, lệ mã đăng cao đê (羽檄從北來,厲馬登高堤, Hịch truyền từ Bắc đến, ngựa gắng lên đê cao).” Như ở Việt Nam có bài Dụ Chư Tỳ Tướng Hịch Văn (諭諸裨將檄文, tức Hịch Tướng Sĩ) của Hưng Đạo Đại Vương (興道大王, 1232?-1300) là nổi tiếng nhất. Trong Công Văn Đàn Tràng của Phật Giáo Việt Nam có một số loại Hịch như: Hịch Thủy Văn (檄水文, văn cúng dưới nước khai mở bạt độ trầm luân), Phát Thành Hoàng Thổ Địa Hịch (發城隍土地檄, văn Hịch cáo Thành Hoàng Thổ Địa), Khai Tịch Hịch (開闢檄, Hịch cáo khai khẩn đất đai), Chiêu Sơn Thủy Hịch (召山水檄, văn Hịch cáo thần sông nước), v.v.

họ hàng

Relatives.

họ ngoại

Relation on the mother's side.

họ nội

Relation on the father's side.

họ Thích

tức là họ Thích-ca, dòng họ mà đức Phật đã đản sanh trong đó.

họa

1) Vẽ: To draw—To paint—To sketch. 2) Tai họa: Calamity—Misfortune—Woe. ; (họa ) Từ cảm thán, biểu thị sự ngạc nhiên, kinh ngạc.Trong Thiền tông, các vị Thiền sư, khi thình lình đại ngộ, thường dùng từ này để bày tỏ sự kinh ngạc bất ngờ, như những tiếng A! Ồ!... Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1099 hạ), ghi: Vị Thủ tọa vào Thiền đường đốt hương, tay đập vào hộp đựng hương phát ra tiếng, bỗng nhiên tỏ ngộ, liền ồ (họa) lên một tiếng . Bởi thế, trong Thiền lâm, những từ ngữ như: Họa địa nhất hạ Họa địa nhất thanh thường được dùng để biểu thị sự tỏ ngộ một cách triệt để. [X. tắc 81 phần Bình xướng trong Bích nham lục; Lư sơn liên tông bảo giám Q.10; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

họa bính sung cơ

(畫餅充飢) Vẽ bánh cho đỡ đói. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là ăn bánh vẽ trên giấy không làm cho người ta no được. Thiền tông dùng bánh vẽ để ví dụ sự vô dụng của văn tự, ngôn ngữ, người tu hành không thể nhờ cậy vào đó mà thoát khỏi sinh tử. [X. điều Hương nghiêm Trí nhàn trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11].

họa chăng

Maybe—Perhaps.

họa chủng

Seeds of misfortunes.

họa hoằng

Rarely.

họa hình

To draw a picture.

họa hại

Misfortunes.

họa may

See Họa Hoằng.

họa phước

Misfortune and happiness.

họa thai

See Họa chủng.

họa thạch

Nét vẽ trên đá, văn hoa thường còn (giống như lòng sân hận hay ác nghiệp)—Sculpture in stone—A painting of a rock:though the water of the water-colour rapidly disappears, the painting remains. It is likened with the hatred or evil deeds.

họa thủy

Vẽ một đường qua nước (sẽ không để lại dấu vết gì, cũng giống như thân nầy niệm niệm không trụ)—Like drawing a line across water. It is likened our body which never lasts long.

họa tượng

Paintings of images.

họa vô đơn chí

Misfortunes never come singly

học

Siks (skt). 1) (n) Learning—The process of acquiring knowledge. 2) (v) To learn—To study—To read. ; (學) I. Học. Tu hành thực tiễn. Nghĩa là nghiên cứu chân lí, tu tập giới, định, tuệ để đoạn trừ vọng hoặc. Kinh Tạp a hàm quyển 14 (Đại 2, 95 trung), nói: Tỉ khưu ấy xa lìa ái dục, diệt hết sự mong cầu, thế gọi là học . [X. Hữu bộ luật Phá tăng sự Q.7]. II. Học. Gọi đủ: Hữu học. Đối lại: Vô học. Chỉ cho bậc Thánh dưới quả vị A la hán chưa đoạn hết vọng hoặc, vẫn còn phải tu tập giới, định, tuệ. Trái lại, Vô học là chỉ cho những bậc Thánh đã chứng quả vị A la hán. [X. Pháp hoa văn cú Q.8 phần trên; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9 (Cát tạng)].

học giai

(學階) Những cấp bậc được ấn định theo kiến thức về Phật học của giới tăng sĩ tại Nhật bản. Vào thời đại Bình an của Nhật bản, người tốt nghiệp 3 pháp hội giảng kinh (hội Duy ma, hội Ngự trai, hội Tối thắng) được tổ chức tại Nại lương (Nara) gọi là Đắc nghiệp. Người vâng mệnh vua đảm nhiệm chức Giảng sư trong 3 hội mà vẫn chưa được giảng kinh, gọi là Nghĩ giảng, đã giảng kinh, gọi là Dĩ giảng. Vào thời gần đây, chế độ Học giai của các tông phái phần nhiều cũng còn dùng các tên gọi xưa, như tông Tịnh độ có các danh từ Khuyến học, Dĩ giảng, Giảng sư, Nghĩ giảng, Đắc nghiệp; phái chùa Bản nguyện thuộc Chân tông thì dùng các từ Khuyến học, Tư giáo, Phụ giáo, Trợ giáo, Đắc nghiệp; phái Đại cốc thì có các chức Giảng sư, Tự giảng, Nghĩ giảng, Học sư (vốn là Liêu ti); tông Thiên thai thì dùng các từ Thám đề, Dĩ giảng, Nghĩ giảng, Vọng nghĩ giảng, v.v... Vị tăng có Học giai cao nhất mới được thống lãnh các học sinh, đồng thời có trách nhiệm quyết định con đường tiến thân của họ, vì thế cũng có khi gọi vị này là Học chức. Phái chùa Bản nguyện từ xưa đến nay vốn chỉ đặt ra một chức Năng hóa do một người đảm nhiệm, nhưng khi người này ba nghiệp không thanh tịnh (tức không còn đủ tư cách) thì thay người khác. Còn chức Giảng sư hoặc Tự giảng của phái Đại cốc lúc đầu chỉ do một người giữ, nhưng về sau thì có thể do nhiều người đảm nhiệm. [X. Thích gia quan ban kí Q.hạ; Chư tông giai cấp Q.thượng].

học giáo thành mê

Học giáo pháp của Phật mà vẫn nảy sinh những kiến giải sai lầm—To study the Buddha's teaching yet interpret it misleadingly, or falsely. ; (學教成迷) Cũng gọi Học giáo khởi mê. Đây là từ ngữ của tông Tam luận chỉ cho tình trạng tu học giáo pháp của đức Phật mà lại sinh ra hiểu lầm. Chẳng hạn như những kiến chấp của Tiểu thừa và Quyền thừa chính là Học giáo thành mê. Tam luận huyền nghĩa (Đại 45, 1 trung), ghi: Nói không hợp đạo là phá chứ không thu; nói ắt khế lí là thu mà không phá. Học giáo khởi mê vừa phá vừa thu, phá trừ tình chấp năng mê, thu lấy giáo pháp sở hoặc. Nhưng thực tướng của các pháp thì dứt bặt nói năng suy nghĩ, thật không thể phá, cũng chẳng thể thu .

Học giả

學者; S, P: paṇḍita;|Là người học rộng; danh từ này dùng để chỉ những người am thông kinh sách nhưng chưa xác định gì về cấp bậc (Thánh quả) họ đã đạt được trong việc tu tập trực nhận chân lí.

học giả

Saiksa (skt). 1) Học giả ngoài đời: Scholars. 2) Học giả trong đạo: Người vẫn còn tu học chứ chưa đạt được quả vị A La Hán—A student—One who is still under instruction, who has not yet reached the arhat position.

học giả phật giáo

Buddhist scholars.

học giới

(學戒) Chỉ cho Tam tụ tịnh giới: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới. Vì Bồ tát muốn thành tựu 6 Ba la mật nên thực hành 6 việc trong đó, Học giới (tức Tam tụ tịnh giới) nếu được thực hành lâu dài thì có thể thành tựu Giới ba la mật một cách viên mãn. (xt. Lục Thành Tựu).

học huệ kiên cố

(學慧堅固) Cũng gọi Giải thoát kiên cố. Chỉ cho thời kì có rất nhiều người tu hành có đầy đủ trí tuệ, chứng được quả giải thoát. Tức là khoảng thời gian 500 đầu tiên sau khi đức Phật nhập diệt. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55]. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

học hành

To study and to practice.

học hạnh

Instruction and behavior.

học hải

(學海) Cũng gọi Đàm hiển. Vị tăng sống vào đời Bắc Chu thuộc Nam Bắc triều. Sư thông hiểu tạng Kinh, nổi tiếng về tuệ học, được Thừa tướng Vũ văn thái kính trọng. Thừa tướng thỉnh sư căn cứ vào các kinh điển Đại thừa để soạn thành Bồ tát tạng chúng kinh yếu và Bách nhị thập pháp môn. Sư tịch vào khoảng năm Thiên hòa, Kiến đức (566-577). [X. Tục cao tăng truyện Q.1].

học hải dũng trí thuỷ

(學海涌智水) Nước trí tuệ của biển học tuôn trào. Ví dụ sự biện luận của trí tuệ học hiểu giống như nước lũ cuồn cuộn, không gì có thể ngăn cản được.

học hỏi

See Học.

học hối

Học sám hối, như khi một vị tăng phạm tội tìm cách sám hối—Studying to repent, as when a monk having committed sin seeks to repent. ; (學悔) Chỉ cho vị tỉ khưu phạm một trong 4 tội Ba la di (sát, đạo, dâm, vọng) sau đó sám hối. Người phạm trọng tội này đã mất tư cách của tỉ khưu, nhưng nếu sám hối thì được gọi là Học hối và suốt đời ngồi dưới các tỉ khưu khác.

học liêu

(學寮) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nơi chúng tăng cư trú để tu học Phật pháp. Đây là do các chùa lớn của Phật giáo Nhật bản phỏng theo chế độ Đại học liêu của nhà nước mà đặt tên. Bắt đầu từ thời đại Thất đinh (1392-1572), thời đại Giang hộ (1600-1867), các nơi như chùa Trường cốc, viện Trí tích, chùa Tăng thượng, chùa Khoan vĩnh, chùa Bản nguyện, v.v… đều có xây cất các Học liêu làm nơi nghiên cứu Tông học. [X. Nhật bản thư kỉ 28; Diên lịch thức 20].

học luật

To study law.

Học Lâm

(學林, Gakurin): (1) Tên gọi nơi chuyên dạy về học vấn cho Tăng lữ ở các tự viện. (2) Là nơi tập trung học vấn, được dùng với tên gọi như Trường Học, Trường Tư Thục, v.v.

học lóm

To learn by hearsay—To learn merely by listening and observing.

học lý thuyết

Academic study.

học lấy

To educate oneself.

học lữ

Những vị Tăng cùng tu học với nhau—Fellow-students, the company of monks who are studying. ; (學侶) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho các vị tăng có học vấn. Từ ngữ này được các chùa ở Nam đô và ở núi Cao dã sử dụng. (xt. Cao Dã Tam Phương).

học nghề

To learn a trade.

học nhân

Student or disciple. ; (學人) I. Học Nhân. Phạm: Saikwa, Sacchisya. Pàli: Sekha. Gọi đủ: Hữu học nhân. Chỉ chung những người tu đạo trong Phật giáo còn trong giai đoạn học hỏi. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, thì trong thế gian có hai hạng Phúc điền nhân là Học nhân (Pàli: Sekha) và Vô học nhân (Phạm: Azikwa, Pàli: Asekha), Học nhân có 18 loại, Vô học nhân có 9 loại. Đây là chia 27 bậc Thánh làm 2loại Hữu học và Vô học. Hai mươi bảy bậc Thánh này lại được đơn giản hóa còn 7 bậc. Tứ giáo nghĩa quyển 6 (Đại 46, 739 thượng), nói: Trong bảy bậc Thánh này thì 5 bậc trước là Học nhân, còn 2 bậc sau là Vô học. Bắt đầu từ pháp nhẫn phát được chân trí mới có Thánh nhân, do 2 loại Ngũ ấm hữu lậu và Vô lậu mà thấy dấu vết Thánh nhân, nên gọi là Học nhân, còn đối với Thánh đế không tìm cầu nên gọi là Vô học nhân . Tức là trong 7 bậc Thánh: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Tuệ giải thoát và Câu giải thoát thì 5 bậc trước là phát được chân trí, vì còn có 5 ấm hữu lậu và 5 ấm vô lậu, còn phải tu học, nên gọi là Học nhân. Hai bậc sau là Thánh vô học. (xt. Thất Thánh, Hiền Thánh). II. Học Nhân. Cũng gọi Học đạo nhân, Học đạo trượng phu.Tiếng gọi chung những người tu học Phật pháp. Trong Thiền lâm thì chỉ cho người tham thiền. Tắc 8 trong Thung dung lục (Đại 48, 232 hạ) ghi: Có học nhân hỏi: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không? . Chương Trường sa cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 274, trung), nói: Bao người học đạo chẳng rõ chân Chỉ bởi xưa nay nhận thức thần; Sinh tử ngọn nguồn vô thủy kiếp. Kẻ si gọi đó bản lai thân . [X. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục; Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục Q.thượng; chương Tuệ thông trong Tục truyền đăng lục Q.19; Hoàng bá sơn Đoạn tế thiền sư truyền tâm pháp yếu].

học phái

School—Sect.

học pháp nữ

Siksamana (skt)—Thức Xoa Ma Na—A novice—An observer of the six commandments.

học pháp quán đỉnh

(學法灌頂) Cũng gọi Thụ minh quán đính, Thụ pháp quán đính, Trì minh quán đính, Đệ tử quán đín . Đối lại với Truyền pháp quán đính. Nghi thức mà hành giả Mật giáo phải trải qua để được chính thức thừa nhận là một đệ tử. Khi một hành giả được chấp nhận cho học tập hoặc thụ trì giáo pháp của Mật giáo, thì trước tiên phải cử hành nghi thức quán đính này, để tạo mối quan hệ thầy trò giữa vị A xà lê và hành giả. Nếu chưa thụ pháp quán đính này mà đã cử hành lễ trao truyền Mật pháp thì đó là việc xưa nay bị nghiêm cấm, người vi phạm sẽ bị trọng tội Việt tam muội da . [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Hộ ma lược kí (Tuệ lâm)]. (xt. Quán Đính).

học phật đại bi tâm

(學佛大悲心) Học tập tâm đại từ bi của đức Phật để cứu giúp chúng sinh. Đây là một đức tính mà Tăng bảo cần phải có. Có nhiều cách và mức độ cứu giúp khác nhau. Đứng về phương diện rốt ráo của môn Tịnh độ mà nói, thì sự cứu giúp ấy là làm cho chúng sinh được vãng sinh Tịnh độ. Quán kinh sớ huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo (Đại 37, 245 hạ), nói: Các bậc Hiền thánh tam thừa, học tâm đại bi của Phật, mãi mãi không bao giờ thôi . Nhưng trong hàng Tam thừa, hạnh Bồ tát gồm cả lợi mình, lợi người, cho nên thực hành tâm đại bi; còn Thanh văn, Duyên giác thì chỉ lợi mình chớ không lợi người; vả lại, Thanh văn, Duyên giác không thừa nhận có Tịnh độ ở ngoài 3 cõi nên cũng không khuyên người sinh về Tịnh độ. Điều này có vẻ mâu thuẫn với quan điểm của ngài Thiện đạo trong Quán kinh sớ huyền nghĩa phần nói trên. Về vấn đề này, trong Quán kinh sớ truyền thông kí, ngài Lương trung của Nhật bản có nêu ra 3 thuyết, một trong 3 thuyết đó là dẫn luận Pháp hoa, cho rằng hàng Thanh văn ứng hóa, trong ẩn hạnh Bồ tát, ngoài hiện tướng Thanh văn, đó là người học tâm đại bi của Phật.

học rộng

Learned.

học sinh

A student or disciple. ; (學生) Người còn đang theo đuổi việc học vấn. Theo điều Thụ giới quĩ tắc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3, thì học sinh vốn chỉ cho các thiếu niên trong chùa viện đang học tập ngoại điển. Tại Nhật bản, học sinh vốn chỉ cho các sinh viên còn đang theo học ở các trường Đại học, về sau thì chuyên chỉ cho người nghiên cứu và tu học Phật đạo. Tổ khai sáng tông Thiên thai Nhật bản là ngài Tối trừng có đặt ra điều khoản Học sinh thức , qui định pháp Chỉ quán nghiệp học sinh và Giá na nghiệp học sinh phải tu học trong 12 năm tại các tùng lâm. Tông Chân ngôn thì có Kim cương nghiệp học sinh và Thai tạng nghiệp học sinh. Ngoài ra, các sư Nhật bản đến Trung quốc du học gọi là Lưu học sinh, Hoàn học sinh. Đến đời sau, danh từ học sinh cũng được dùng để chỉ cho những người có trình độ học vấn uyên thâm.

Học Sĩ

(學士): có mấy nghĩa. (1) Chỉ chung cho những người đọc sách bình thường. Như trong Bão Phác Tử (抱樸子), Phần Sùng Giáo (崇敎), của Cát Hồng (葛洪, 284-363) nhà Tấn, có câu: “Tỉnh văn chương ký bất hiểu, đỗ học sĩ như thảo giới (省文章旣不曉、睹學士如草芥, xét văn chương đã không hiểu, xem người đọc sách như cỏ rác).” (2) Giống như học giả. Như trong tác phẩm Thiếu Thất Sơn Phòng Bút Tùng (少室山房筆叢), phần Hoa Dương Bác Nghị Hạ (華陽博議下), của Hồ Ứng Lân (胡應麟, 1551-1602) nhà Minh, có đoạn: “Giới Phủ, Nguyên Hối tự thị học sĩ, bất đắc dĩ sở trường một chi (介甫、元晦自是學士、不得以所長沒之, Giới Phủ [tức Vương An Thạch, 1021-1086], Nguyên Hối [tức Chu Hy, 1130-1200] tự là học giả, không được để cho sở trường mất đi).” (3) Tên một chức quan. Từ thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589) trở về sau, Học Sĩ được xem như là chức quan chuyên trách về soạn thuật văn học. Dưới thời nhà Đường (唐, 618-907), chức này được gọi là Hàn Lâm Học Sĩ (翰林學士), vì tiếp cận với Hoàng Đế, nên thỉnh thoảng có tham dự việc triều chính. Đến thời nhà Tống (宋, 960-1279), chức quan này được thiết định rõ ràng, chức quyền và địa vị cũng tương đồng với thời nhà Đường. Sang thời nhà Minh (明, 1368-1662) thì cho thiết lập các chức như Hàn Lâm Viện Học Sĩ (翰林院學士), Hàn Lâm Viện Thị Độc (翰林院侍讀), Thị Giảng Học Sĩ (侍講學士). Đến thời nhà Thanh (清, 1616-1911) thì đổi Hàn Lâm Viện Học Sĩ thành Chưởng Viện Học Sĩ (掌院學士). Trong Lịch Đại Tam Bảo Ký (歷代三寶紀, Taishō Vol. 49, No. 2034) quyển 1 có đoạn: “Khai Hoàng thập thất niên Phiên Kinh Học Sĩ thần Phí Trường Phòng (開皇十七年翻經學士臣費長房, năm Khai Hoàng 17 [597], thần Phí Trường Phòng, Học Sĩ Phiên Dịch Kinh Điển).” (4) Tên một loại học vị.

học thuyết

Doctrine—Teaching.

học thuật

Academic.

học thuộc lòng

To learn by heart—To memorize.

học thức

Learning—Knowledge.

học thức uyên thâm

Profound learning.

học tăng

(學僧) Cũng gọi Học vấn tăng. Chỉ cho vị tăng nghiên cứu Phật giáo, hoặc vị tăng học giả có trình độ học vấn uyên bác.

học tượng

(學匠) Chỉ cho học đồ, học sinh. Thầy gọi là Sư tượng, học trò gọi là Học tượng. Ngoài ra, cũng chỉ cho vị tăng có trình độ học vấn uyên thâm.

học uẩn

(學蘊) (1613-1689) Vị Thiền tăng thuộc tông Lâm tế ở cuối đời Minh, người huyện Nhị hải, tỉnh Vân nam, họ Vương, hiệu Tri không. Năm 14 tuổi (có thuyết nói 10 tuổi), sư xuất gia ở chùa Tịch quang, núi Kê túc, nghe giảng và tu tập các kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm, Viên giác, v.v... Năm Thuận trị thứ 5 (1648) đời Thanh, sư ở trong tịnh thất Ngọc lâm hiên lạy kinh Vạn Phật danh đến quyển thứ 3, vừa mới xướng lên 2 chữ Na mô thì bỗng nhiên đại ngộ, sư liền đến núi Lung can tham yết ngài Thủy mục Vô trụ và được ấn khả. Sau sư lại đến tham lễ ngài Mật hạnh Tịch nhẫn ở Khai phong, trình bày chỗ tỏ ngộ và được nối pháp. Sư từng trụ trì các chùa: Phúc thành ở phủ Sở hùng, tỉnh Vân nam, Đại phương quảng trên núi Cửu đài, viện Tiên dương ở huyện Quảng thông, tỉnh Vân nam, v.v... Năm Khang hi 28 (1689) sư tịch, thọ 77 tuổi.Sư có các tác phẩm: Ngữ lục 2 quyển, Thảo đường tập. [X. Tri không Uẩn thiền sư ngữ lục phụ hành lục].

học vô học

(A) Học: Nghiên cứu chân lý để dứt được vọng hoặc—One who is still learning—One who is still studying religion in order to get rid of illusion. a) Ba quả đầu của Tứ Thánh Quả Tiểu Thừa—The first three stages of the Hinayana (see Tứ Thánh Quả): • Tu Đà Hoàn: Srota-apanna (skt)—Dự Lưu—Stream-entry. • Tư Đà Hàm: Sakradagamin (skt)—Nhất Lai—Once-Return. • A Na Hàm: Anagamin (skt)—Bất Lai—Non-return. b) Thập Trụ Bồ Tát trong Đại Thừa—The ten stages of Bodhisattva in the Mahayana—See Thập Trụ Bồ Tát. (B) Vô Học: Người không còn học nữa vì đã đoạn tận vọng hoặc và đạt thành giác ngộ—One who is no longer studying because he has cut off all illusions—One who has attained enlightenment. a) A La Hán hay Bất sanh trong Tiểu Thừa là bậc vô học: Arhat (Worthy of Offerings) or No-birth in the Hinayana. b) Phật là bậc vô học trong Đại Thừa: The Buddha in the Mahayana. ** For more information, please see Hữu Học, Vô Học, and Tứ Thánh Quả. ; (學無學) Phạm: Zaikwa-azaikwa. Pàli: Sekha-asekha. Tức là Hữu học và Vô học. Theo thuyết của Tiểu thừa thì Hữu học chỉ cho những bậc tuy đã giác ngộ lí Tứ đế, nhưng chưa dứt hết phiền não nên còn phải tu học giới, định, tuệ, tức là những bậc Thánh dưới quả A la hán đều là hữu học. Còn bậc Thánh, chứng quả A la hán, đã đoạn trừ tất cả phiền não, không còn tu học nữa, gọi là Vô học. Nhưng theo thuyết của Đại thừa thì bồ tát Thập địa trở xuống đều là Hữu học, còn Phật quả mới là Vô học. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.9]. (xt. A La Hán).

học vụ

Educational affiars.

học xứ

(學處) Phạm: Ziksàpada. Pàli: Sikkhàpada. Những chỗ (điều) cần phải học. Chỉ chung cho giới luật. Tức là những giới điều mà tỉ khưu, tỉ khưu ni phải tuân thủ, như 5 giới, 8 giới, 10 giới, v.v... gọi là Học xứ. Phật giáo Nam truyền gọi giới học, định học, tuệ học là Tam học xứ. Còn theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, thì Bồ tát có 7 học xứ là: Tự lợi, lợi tha, chân thực nghĩa, lực, thành thục chúng sinh, tự thục Phật pháp và Vô thượng bồ đề. Ngoài ra, phẩm Thụ phương tiện học xứ trong kinh Đại nhật quyển 6 chia ra Hiển, Mật để nói về sở học và dịch là Học cú [X. phẩm Học xứ trong luận Pháp uẩn túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.124; luận Câu xá Q.14; Câu xá luận quang kí Q.14].

học đòi

To imitate—To follow in a bad way.

học đạo

To learn the Truth.

Học Đạo Dụng Tâm Tập

(學道用心集, Gakudōyōjinshū): 1 quyển, do Đạo Nguyên viết vào năm 1234 tại Hưng Thánh Tự (興聖寺), về những vấn đề cần phải lưu tâm khi tu hành. Nó còn được gọi là Vĩnh Bình Sơ Tổ Học Đạo Dụng Tâm Tập (永平初祖學道用心集), được san hành ấn bản đầu tiên vào năm 1357.

học đạo dụng tâm tập

(學道用心集) Gọi đủ: Vĩnh bình sơ tổ học đạo dụng tâm tập. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo nguyên, Sơ tổ tông Tào động Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung, chỉ dạy phương pháp dụng tâm tu đạo cho những người sơ cơ. Tất cả có 10 chương, từ chương Khả phát bồ đề tâm sự thứ 1 cho đến chương Trực hạ thừa đương chi sự thứ 10. Hơn 100 năm sau khi ngài Đạo nguyên thị tịch, sách này mới được xuất bản cùng với Nghĩa vân hòa thượng ngữ lục. Đây là bộ sách mở đầu cho việc xuất bản các sách Thiền của tông Tào động Nhật bản.

học địa

(學地) Chỉ cho các giai vị của bậc Hữu học còn phải tu giới, định, tuệ để chứng các quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm và A na hàm trong 4 quả Thanh văn.

học định kiên cố

(學定堅固) Cũng gọi Thiền định kiên cố. Sau khi đức Phật nhập diệt được chia làm 5 thời kì, mỗi thời kì 500 năm, để phân biệt trạng huống thịnh suy của Phật pháp. Trong khoảng thời gian 500 năm thứ 2, có rất nhiều người tu Thiền định, cho nên gọi là Học định kiên cố, Thiền định kiên cố. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.55]. (xt. Ngũ Ngũ Bách Niên).

học đồ

A student or disciple. ; (學徒) Cũng gọi Học giả, Học nhân. Đồng nghĩa với Học sinh, Đệ tử, Môn nhân, v.v... Chỉ cho người theo thầy thụ học. [X. luận Câu xá Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].

họp sức

To join forces.

hỏa

1) Sao Hỏa (planet): Angaraka (skt)—Mars. 2) Lửa: Tejo (skt)—Fire—Flame. 3) Thi Khí: Lửa ngọn—Tên của vị Phật thứ 999—Fire in the sense of flame—The name of the 999th Buddha of the kalpa preceding this.

hỏa biện

Citrabhanu (skt)—Một trong mười nhà văn lớn của Ấn Độ đồng thời với Ngài Thế Thân; tuy nhiên, sự kiện nầy không đáng được tin cậy lắm—One of the ten great writers of the Indian Dharmalaksana, a contemporary and colleague of Vasubandhu; however, this is still doubtful.

hỏa bạn

Hỏa đầu quân (người trông coi bếp núc) trong tự viện—The fire-tender in a monastic kitchen.

hỏa bản

Tấm gỗ treo trong nhà bếp, đánh lên để báo hiệu chư tăng Ni là cơm nước đã sẳn sàng—The “fire-board” or wooden plaque, hung in the kitchen, the striking of which warns the monks that the meal is ready.

hỏa châu

hạt châu quý chiếu ánh sáng rực rỡ, sắc như lửa cháy. ; Fire-pearls—Fire balls—Fire balloons—The ball on top of a pagoda.

hỏa chủng cư sĩ

Tên chỉ chung những người theo đạo Bà La Môn, thờ Thần Lửa—Brahmans, servers of the sacred fire.

hỏa cán bá ca sa

(hỏa cán bá ca sa ) Áo ca sa may bằng Hỏa cán bá. Hỏa cán bá (vải giặt lửa) là loại vải dệt bằng lông của con Hỏa thử (chuột lửa). Loại vải này không cháy, hễ bẩn thì bỏ vào lửa mà giặt. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 35, thì vào thời vua Minh đế nhà Ngụy, có sứ Tây vực đến dâng áo ca sa bằng Hỏa cán bá. Kinh Sơn hải và Bão phác tử nói rằng châu Viêm ở phương nam có núi Hỏa lâm (rừng lửa) cháy suốt đêm ngày, có loại cây sinh trưởng ở núi này không cháy, vỏ và hoa của nó có thể dùng làm vải. Ngoài ra, còn có loài thú Hỏa cán, hình dáng giống như loài chuột, thường ở trong lửa, lông của chúng dài và trắng, có thể dệt làm vải, khi bẩn bỏ vào trong lửa mà giặt thì lại trắng sạch như mới, cho nên gọi là Hỏa cán bá. Theo Bão phác tử, Hỏa cán bá có 3 loại: Vỏ cây, hoa, lông thú. Còn có thuyết cho rằng Hỏa cán bá được dệt bằng lông Hỏa kê (gà lửa). [X. kinh Đại bảo tích Q.109; Huyền ứng âm nghĩa Q.5; Nghĩa sở lục thiếp Q.22; Loại tụ danh vật khảo Q.259].

hỏa cẩu

Chó phun lửa trong địa ngục—A Fire-vomiting dog in the hell.

hỏa diệm sơn

Volcano.

hỏa diệm tam muội

Hỏa Quang Tam Muội—Hỏa Sinh Tam Muội—Theo kinh Trường A Hàm, đây là Tam Ma Địa mà Phật vào, trong đó Ngài phóng hỏa để lướt qua độc long—According to the Long Agama, this is the samadhi entered into by the Buddha, in which he emitted flames to overcome a poisonous dragon.

hỏa diệu

Hỏa tinh, một trong cửu tinh, được đặt bày về phía nam của Kim Cang Viện trong Thai Tạng Giới—Mars, one of the nine luminaries, shown south of the Diamond Hall in the Garbhadhatu.

hỏa dạ

Hava (skt)—To call—To invoke.

hỏa giới

Hoả Viện hay là một trong bốn giới hay tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—The realm of fire, or one of the realms of the four elements (earth, water, fire, and wind). ** For more information, please see Hỏa Viện.

hỏa giới chân ngôn

See Hỏa Giới Chú.

hỏa giới chú

Hỏa Giới Chân Ngôn hay là tên Đà La Ni của Đấng Bất Động Tôn—A dharani of Aryacalanatha.

hỏa giới định

Agni-dhatu-samadhi (skt)—Thiền quán vào giai đoạn cuối của thế giới bị tiêu hủy bằng lửa—The meditation on the final destruction of the world by fire.

hỏa hoản bố cà sa

Loại áo cà sa dùng lông của loài hỏa thử (chuột lửa) mà dệt, lửa chẳng thể đốt cháy được, khi áo dơ chỉ cần ném vào lửa mà giặt là sạch—An asbestos cassock; also a non-inflammable robe said to be made of the hair of the fire rat.

hỏa huyết đao

Tam Ác Đạo—The three devil destinies 1) Hỏa Đồ (đường lửa): Địa ngục—The hells—The fiery path or destiny. 2) Huyết Đồ (đường máu): Súc sanh—Animals—The bloody path or destiny. 3) Đao Đồ (đường đao): Ngạ quỷ—Hungry ghosts—The knife-sharp path or destiny.

hỏa khang

Hầm lửa—The fiery pit 1) Hầm lửa ngũ dục: The fiery pit of the five desires. 2) Hầm lửa lục đạo hạ: Ba đường dưới trong lục đạo—The fiery pit of the three destinies: • Địa Ngục: Hells. • Súc Sanh: Animals. • Ngạ Quỷ: Hungry ghosts.

hỏa khách

Hỏa Điền—The monk who attends to the fire—See Hỏa Bạn.

hỏa la

Hora (skt)— 1) Thời giờ: Time. 2) Giờ: Hour—Hours. 3) Nói về chiêm tinh tử vi—Astrologically a horoscope. 4) Người ta nói đây là xứ mà Nhất Hành đã nghiên cứu về chiêm tinh—Said to be the country where I-Shing studied astronomy.

hỏa linh

Chuông lửa hay chuông cảnh báo cẩn thận với lửa—Fire-bell, in warning to be careful with fire.

hỏa luân

Alatacakra (skt)—Tuyền Hỏa Luân—Lửa cuộn tròn hay quay tít thành hình vòng tròn như như bánh xe lửa, biểu tượng của ảo tưởng—Whirling fire (fire whirled in a circle), the whole circle seeming to be on fire, the emblem of illusion—A fire-wheel—A wheel of fire, produced by rapidly whirling a fire-brand, a symbol of the unreality of the visible, since such a wheel does not exist.

hỏa luân ấn

Dấu ấn hình thành bằng cách chụm hai nắm tay với hai ngón trỏ chụm vào nhau làm thành một dấu tam giác lửa—A sign made by putting the double fists together and opening the index fingers to form the fire-sign, a triangle.

hỏa lò

The homa—The fire altar.

hỏa lô

The fire altar of the esoterics.

hỏa ngục

Fire hells.

hỏa nhứt thiết xứ

Một trong những pháp thiền quán (mười nhứt thiết xứ) trong giai đoạn cuối cùng khi thế giới bị lửa tàn phá—One of the meditations on the final destruction of all things by fire—One of the ten universals.

hỏa pháp

Hỏa lò dùng trong những mục tiêu hay nghi thức cúng tế huyền bí về lửa của Mật Tông—The homa or fire service of the esoterics for magical purposes.

hỏa phần địa ngục

Tên khác của Tiêu Nhiệt Địa Ngục, nơi tội nhân bị lửa thiêu đốt—The scorching hell, where sinners are burnt up.

hỏa quang

A fire flame—A fire light.

hỏa quang tam muội

Lửa Tam Muội—Một phép Thiền định khiến thân người phát ra lửa, cũng là đệ tứ thiền định—The flame samadhi, also styled the fourth dhyana. ** For more information, please see Hỏa Diệm Tam Muội.

hỏa quang tôn

See Hỏa Thiên.

hỏa quang định

Thiền định phát ra lửa để tự đốt thân khi nhập diệt—The flame dhyana by which the body is self-immolated.

hỏa sinh

Hỏa Sanh—The fire-dhyana—See Hỏa Định.

hỏa sinh tam muội

Lửa phát ra từ Tam Ma địa, dùng để tự thiêu hay các công dụng khác. Đặc biệt liên hệ với Bất Động Tôn và Chân Ngôn Du Già, kết hợp người tu với Ngài và năng lực của Ngài—A flame-emtting samadhi—The power to emit flames from the body for auto holocaust or other purposes. It is especially associated with Aryacalanatha and Shingon practice of the yoga which unites the devotee to him and his powers. ** For more information, please see Hỏa Diệm Tam Muội.

hỏa tai

chỉ khi kiếp tận xảy ra nạn lửa thiêu đốt đến tận cảnh trời Sơ thiền. Trong kinh Phật dạy rằng khi một đại kiếp sắp chấm dứt thì khởi lên một trận hỏa tai (nạn lửa), tiêu diệt thế giới đến tận cảnh giới Sơ thiền. Xem Ba tai kiếp lớn. ; Một trong ba tai nạn lớn, hỏa tai thường xảy ra trong thời kỳ hoại diệt của một thế giới—One of the three major catastrophe, the conflagration catastrophe, for world destruction—The calamity of fire. ** For more information, please see Tam Tai.

hỏa thang

The hell of liquid fire.

hỏa thiên

Hỏa Thần—Hỏa Thiên được trình bày trong nhóm thứ mười hai trong Kim Cang viện thuộc Thai Tạng Pháp Giới—The fire devas shown as the 12th group in the diamond court of the Garbhadhatu. ** For more information, please see Hỏa Thần. ; (火天) Phạm: Agni. Pàli: Aggi. Dịch âm: A kì ni, A nga na, Ác kì ni. Cũng gọi Hỏa tiên, Hỏa thần, Hỏa quang tôn.Vị thần trấn giữ phương Đông nam, một trong các vị thần Hộ pháp quan trọng của Mật giáo. Mật hiệu là Hộ pháp kim cương. Về hình tượng và vị trí của Hỏa thiên tùy theo các bộ mà có khác nhau. Trong Hiện đồ mạn đồ la của Thai tạng giới thì vị tôn này ngồi ở góc Đông nam của Ngoại viện. Hình tượng là vị tiên nhân ngồi trong ngọn lửa, có 4 tay, tay thứ 1 bên phải cầm Hỏa luân ấn, tay thứ 2 cầm chuỗi tràng; tay thứ 1 bên trái cầm bình đựng nước, tay thứ 2 cầm gậy tiên. Còn trong Mạn đồ la Kim cương giới, thì vị tôn này ngồi ở phía Tây của Kim cương Ngoại bộ và hình tượng là thân mầu da người, tay phải cầm Hỏa luân ấn, tay trái cầm gậy tiên. Cứ theo Thập nhị thiên cúng nghi quĩ, thì Hỏa thiên cỡi con dê mầu xanh, toàn thân rực lửa, có 4 tay, 2 tay bên phải, một tay cầm cây trúc mầu xanh, một tay cầm bình đựng nước; 2 tay bên trái, một tay đưa lên, một tay cầm chuỗi tràng, có 2 thiên nữ cầm hoa đứng hầu, 2 bên tả hữu đều có hình vị tiên khổ hạnh. Ngoài ra, khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo, trước hết phải lập đàn Hỏa thiên cúng dường vị tôn này, rồi sau mới cúng dường các vị tôn khác. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Lược bản du già hộ ma quĩ; kinh Dược sư thất Phật cúng dường nghi quĩ như ý vương; kinh Đà la ni tập Q.11; phẩm Hộ ma tăng ích trong kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.20]. (xt. Bát Phương Thiên, Thập Nhị Thiên).

hỏa thiểm thí

(hỏa thiểm thí ) Cũng gọi Hỏa quát thí. Ví dụ dùng đũa bằng gỗ để gắp lửa mà hiển bày phương tiện khéo léo của Bồ tát. Bồ tát thệ nguyện độ hết vô biên chúng sinh rồi sau mới thành Phật, nhưng chúng sinh chưa hết, Bồ tát đã tự thành Phật, cũng giống như dùng đũa gỗ gắp lửa để đốt củi, củi chưa cháy hết mà đũa đã cháy hết. Vì Bồ tát lấy lợi tha làm đầu mà tự lợi đã thành trước; khi tự lợi đã thành thì lợi tha tự tại, phương tiện ấy rất khéo léo, cho nên gọi là phương tiện thiện xảo. [X. luận Đại trí độ Q.18; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

hỏa thần

Thần lửa ở Ấn Độ, được nói đến như vị thần thứ bốn mươi bốn trong đền thờ Bách Thần của Kinh Vệ Đà, trong đó Đại Phạm Thiên được xem như là đệ nhứt—The gods of fire in India, stated as numbering forty-four in the Verdic pantheon, with Mahabrahma as the first. ** For more information, please see Hỏa Thiên.

hỏa thử

Fire rat.

hỏa thực

Homa (skt)—Phép Hộ Ma hay phép cúng dường chư Tăng bằng cách đem các vật cúng ném vào lò lửa—Burnt offerings, as in the homa worship.

hỏa tinh

Angaraka (skt)—Sao Hỏa—The planet Mars.

hỏa trướng

Sổ sách ghi số gạo nấu và số người được phục vụ trong chùa—The kitchen account of the rice cooked and person served in a monastery.

hỏa trạch

A burning house—Theo Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: “Ba cõi không an, dường như nhà cháy, sự khổ dẫy đầy, rất đáng sợ hãi.” Thật vậy, chúng ta thấy cuộc sống trên cõi đời nầy nào có được bình an lâu dài. Thảm cảnh xãy ra khắp nơi, binh đao, khói lửa, thiên tai, bão lụt, đói kém, thất mùa, xã hội thì dẫy đầy trộm cướp, giết người, hiếp dâm, lường gạt, vân vân không bao giờ thôi dứt. Còn về nội tâm của mình thì đầy dẫy các sự lo âu, buồn phiền, áo não, và bất an. Trong kinh Pháp Cú, câu 146, Đức Phật dạy: “Làm sao vui cười, có gì thích thú, khi ở trong cõi đời luôn luôn bị thiêu đốt? Ở trong chỗ tối tăm bưng bít, sao không tìm tới ánh quang minh?”—According to the Lotus Sutra, the Buddha taught: “The three worlds are unsafe, similar to a house on fire, sufferings are rampant, deserving to be fearful.” In fact, we can never experience peacetime on earth very long. Everywhere there are weapons, fires, natural disasters, floods, famine, loss of harvest, etc. Societies are filled with robberies, murders, rapes, frauds, deceptions, etc. All these continue without any foreseeable end. To speak of our individual mind, everyone is burdened with worries, sadness, depression, and anxieties, etc. In the Dharmapada Sutra, verse 146, the Buddha taught: “How can there be laughter, how can there be joy, when the whole world is burnt by the flames of passions and ignorance? When you are living in darkness, why wouldn't you seek the light?”

hỏa trạch dụ

Thí dụ về nhà lửa đang cháy, một trong bảy ngụ ngôn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong đó ông Trưởng giả dùng để dẫn dụ những đứa con vô tâm bằng những phương tiện xe dê, xe nai, xe trâu, đặc biệt là Bạch Ngưu Xa—The burning house, one of the seven parables in the Wonder Lotus sutra, from which the owner tempts his heedless children by the device of the three kinds of carts (goat, deer and bullock), especially the white bullock cart.

hỏa trạch tăng

Vị Tăng trong nhà lửa hay vị Tăng mà vẫn còn có vợ con—Monks in the burning house (married monks).

hỏa táng

Jhapita (skt)—Người chết đem thiêu, còn lại tro cốt đem chôn, một trong bốn loại ma chay—Cremation, the relics being buried, one of the four methods of bury (Hỏa táng:Fire, Thủy táng:Water, Thổ táng:Ground, Lâm táng:Buried in the forest).

hỏa tôn

See Hỏa Thần.

hỏa tịnh

Purified—Thức ăn được làm sạch nhờ nấu chín bằng lửa—Food made clean by fire or cooking.

hỏa tốc

Very urgent—Most immediate.

hỏa tụ

1) Đống lửa: Accumulated fires. 2) Sự kết tụ hỏa địa ngục: Accumulated one's own hell-fires. 3) Thân như một cụm lửa đáng sợ, lửa giận hờn và dục vọng: The body as a heap of fire to be feared, the fire of angry-passions.

hỏa tụ phật đảnh

Quang Tụ Phật Đảnh—Phóng Quang Phật Đảnh. 1) Một trong những tiền kiếp tái sanh của Phật Thích Ca, tên Ấn Độ âm Hán là Đế Tụ La, Chước Yết La, Phạ Lý Để (mật hiệu là Thần thông Kim Cang): One of the incarnations of Sakyamuni, whose Indian name is given as Tejorasi-Cakravarti. 2) Một trong năm vị Phật Đảnh: One of the five kinds of Universal Wise Sovereign (Sakyamuni in the third court of the Garbhadhatu).

hỏa tụ tiên

Vị Thần bổn mệnh và vợ của ông ta bên trên Thai Tạng Pháp Giới—This genius and his wife are shown above Vaisramana in the Garbhadhatu.

hỏa từ pháp

Hỏa Pháp—The directions for the fire sacrifices in the Atharva-veda, the fourth veda.

hỏa viện

Hỏa Giới—Kim Cang Viêm—Sân lửa, một loại quán tưởng trong đó hành giả tự thấy mình đang bị lửa bao bọc (kết hỏa ấn thân xoay ba vòng về phía phải, lấy thân làm trung tâm để quán tưởng một đại hỏa viện vây quanh)—The “fire-court,” a kind of contemplation, in which the devotee sees himself encircled by fire—A kind of contemplation, in which devotee sees himself encircled by fire after circumambulating three times to the right while making the fire sign. ** For more information, please see Hỏa Giới.

hỏa xa

The fiery chariot of the hells.

hỏa xa địa ngục

Chúng sanh trong hỏa xa địa ngục thường bị đóng băng, rồi sau đó được đưa vào những chiếc xe bốc lửa làm thiêu rụi thân, cứ như thế mà trong một ngày phải chết đi sống lại đến 90 ức lần—Hells of the fire-chariot, and the fire-pit with its fiery wheels, the sufferer first freezes, then is tempted into the chariot which bursts into flames and he perishes in the fire pit, a process each sufferer repeats daily 90 kotis of times.

hỏa xà

Rắn phun lửa trong địa ngục—The fire-vomiting serpent in the hell.

hỏa xá

Một loại lư hương (lư nhang, đặc biệt, với hai vòng tròn nổi có nắp)—A kind of censer, made in two super-imposed circles with a cover.

hỏa điền

See Hỏa Bạn.

hỏa đàn

1) Giàn lửa để thiêu xác: Fire altar. 2) Homa or fire worship.

hỏa đại

Một trong tứ đại (đất, nước, lửa, gió)—The element fire, one of the four elements (earth, water, fire, and wind).

hỏa đạo

Hỏa đồ hay địa ngục, một trong tam đồ ác đạo—The fiery way (the destiny of the hot hells, one of the three evil destinies).

hỏa đầu

Vị sư trông coi nhà trù trong tự viện—A monastery cook.

hỏa đầu kim cang

Một trong những vị Minh Vương—One of the Ming-Wang.

hỏa đỉnh sơn

Đỉnh gần núi Thiên Thai, nơi Tổ Sư Thiên Thai đã hàng phục được ma quân—A peak near T'ien-T'ai, where the founder of that school overcame Mara.

hỏa định

Một phép Thiền định khiến thân người phát ra lửa—The fire dhyana.

Hỏa đồ

xem Ba đường ác.

hỏa đồ

The hells of fire—See Hỏa Đạo.

Hỏa Đức Tinh Quân

(火德星君): (1) Dân gian thường gọi là Hỏa Thần Da (火神爺, Ông Thần Lửa), hay Hỏa Thiên Kim Cang (火天金剛), Xích Đế (赤帝), là con của vị trưởng bộ tộc thời cổ đại xa xưa. Ông là người phát hiện ra phương pháp khẻ đá châm lửa. Hoàng Đế (黃帝) biết được bèn phong cho ông làm quan chưởng quản về lửa, cũng ban cho tên là Chúc Dung (祝融). Dưới thời đại của Hoàng Đế, ở phương nam có một thị tộc tên Xí Vưu (蚩尤), thường vào gây rối ở Trung Nguyên; nhân đó, Hoàng Đế hạ lệnh cho Chúc Dung đem binh mã thảo phạt. Tuy nhiên Xí Vưu người nhiều thế mạnh, anh em lại rất đông, mỗi người đều mang áo da thú, đầu đội sừng trâu, trông rất hùng mạnh và ghê tợn. Chúc Dung chỉ biết dùng lửa làm vũ khí, đốt cháy quân đội của Xí Vưu. Địch quân tháo chạy, Chúc Dung đuổi đến tận Hoàng Hà (黃河), Trường Giang (長江) và cuối cùng đánh bại Xí Vưu. Sau khi trở về triều, Chúc Dung được Hoàng Đế ban cho chưởng quan phương Nam, cho nên tại đây ông đã giáo hóa dân chúng biết cách dùng lửa trong sinh hoạt hằng ngày, như dùng lửa để xua đuổi dã thú, muỗi, để chế tạo các đồ dùng kim thuộc; nhờ vậy cuộc sống của người dân được cải thiện hơn nhiều. Cảm kích trước ân đức đó, người dân tôn xưng ông là Xích Thần (赤帝, xích là màu đỏ, cũng có ý là lửa). Ông sống được hơn trăm tuổi, và sau khi qua đời, bá tánh lập Xích Đế Điện để tôn thờ và tưởng nhớ đến ân đức cao dày của ông. Lịch đại chư vị đế vương đều phong hiệu cho ông như Hỏa Thần (火神), Hỏa Đức Tinh Quân (火德星君). Như trong Thần Đản Phổ (神誕譜) có giải thích rằng: “Hỏa Đức Tinh Quân, vi Viêm Đế Thần Nông thị chi linh, tự chi vi Hỏa Thần, dĩ nhương hỏa tai (火德星君、爲炎帝神農氏之靈、祀之爲火神、以禳火災, Hỏa Đức Tinh Quân là linh của Viêm Đế Thần Nông, thờ làm Hỏa Thần để giải trừ hỏa tai).” Sử Ký (史記) ghi rõ rằng: “Hỏa Thần vi Chúc Dung, Chuyên Húc chi tử, danh Lê (火神爲祝融、顓頊之子、名黎, Thần Lửa là Chúc Dung, con của Chuyên Húc, tên là Lê).” Trong khi đó, Quốc Ngữ (國語) lại cho hay một thông tin thú vị khác: “Hỏa Thần vi Hồi Lộc (火神爲回祿, Thần Lửa là Hồi Lộc).” Hồi Lộc hay Hồi Lục (回陸), do vì xưa kia tại nước Sở có một người tên Ngô Hồi (吳回), làm quan trông coi về lửa, nên có thuyết cho rằng ông là Hồi Lộc. Vì vậy trong Tả Truyện (左傳) có đoạn rằng: “Trịnh nhương hỏa vu Hồi Lộc (鄭禳火于回祿, Trịnh cầu nguyện lửa nơi Hồi Lộc).” Và người thời nay gọi hỏa hoạn là “Hồi Lộc chi tai (回祿之災, tai họa Hồi Lộc).” (2) Là tên gọi khác của Táo Quân (竈君), vị thần chưởng quản Nhà Bếp. (3) Là tên gọi của một trong Ngũ Đức Tinh Quân (五德星君), gồm Đông Phương Mộc Đức Tinh Quân (東方木德星君), húy Trọng Hoa (重華); Nam Phương Hỏa Đức Tinh Quân (南方火德星君), húy Huỳnh Hoặc (熒惑); Tây Phương Kim Đức Tinh Quân (金德星君), húy Thái Bạch (太白); Bắc Phương Thủy Đức Tinh Quân (水德星君), húy Tứ Thần (伺晨); Trung Ương Thổ Đức Tinh Quân (土德星君), húy Địa Nhật Hầu (地日侯). (4) Là tên gọi của một trong Cửu Diệu (九曜), gồm Kế Đô Tinh Quân (計都星君), Hỏa Đức Tinh Quân (火德星君), Mộc Đức Tinh Quân (木德星君), Thái Âm Tinh Quân (太陰星君), Thổ Đức Tinh Quân (土德星君), La Hầu Tinh Quân (羅睺星君), Thái Dương Tinh Quân (太陽星君), Kim Đức Tinh Quân (金德星君), và Thủy Đức Tinh Quân (水德星君). Hằng năm vào ngày 23 tháng 6 Âm Lịch, dân gian vẫn thường hành lễ kỷ niệm Thánh đản của Hỏa Đức Tinh Quân. Trong Phật Giáo vẫn công nhận Hỏa Đức Tinh Quân là một vị thần. Từ thời nhà Tống (宋, 960-1279) trở đi, trước tượng thờ chính trong Chánh Điện của các Thiền viện đều có treo bài vị “Nam Phương Hỏa Đức Tinh Quân Thần (南方火德星君神).” Mỗi tháng vào ngày mồng 4 và 18, chư tăng tụng kinh hồi hướng để cầu nguyện cho già lam hưng thạnh, yên ổn, không bị hỏa hoạn. Tương truyền Hòa Thượng Đạo Tế (道濟, tức Tế Công [濟公]) của Linh Ẩn Tự (靈隱寺) đã từng thấy Hỏa Đức Tinh Quân hóa hiện người nữ vào chùa, bèn chạy đến trước mặt cô ta chận đường, liền bị quở trách là đùa giỡn với nữ nhân. Tế Công trở về phòng nhập định và kết quả chùa bị hỏa hoạn thảm khốc. Có hôm nọ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (朱元璋, tại vị 1368-1398) ăn bánh nướng ở trong điện, ăn ngụm đầy cả miệng. Quan Nội Giám thấy vậy bèn chạy đi báo cho Quốc Sư Lưu Cơ (劉基) biết, nhân đó Quốc Sư có làm bài Thiêu Bính Ca (燒餠歌), trong đó có đề cập đến Hỏa Đức Tinh Quân rằng: “Hỏa phong đỉnh, lưỡng hỏa sơ hưng định thái bình; hỏa sơn lữ, Ngân Hà Chức Nữ nhượng Ngưu Tinh, Hỏa Đức Tinh Quân lai hạ giới, kim điện lâu đài tận Bính Đinh, nhất cá hồ tử Đại Tướng Quân (火風鼎,兩火初興定太平,火山旅,銀河織女讓牛星,火德星君來下界,金殿樓臺盡丙丁,一個鬍子大將軍, đỉnh gió lửa, hai lửa mới thành định thái bình; núi lửa chơi, Ngân Hà Chức Nữ nhường Sao Ngưu, Hỏa Đức Tinh Quân xuống hạ giới, điện vàng lâu đài thảy tiêu tan, còn một chòm râu Đại Tướng Quân).”

hỏa đức tinh quân

Hỏa Tinh, được coi như vì thống trị ngũ tinh (năm vì sao), bài vị được đặt ở phía nam các chùa và ngày thờ cúng vào các ngày mồng 4 hay 18; vị nầy cũng được coi như là Viêm Đế—The ruler over the five stars, Mars, whose tablet hangs in the southside of a temple and whose days of worship, to prevent conflagrations, are the fourth and eighteenth of each moon; he is identified with the ancient emperor Yen-Ti (Viêm Đế). ** For more information, please see Hỏa Diệu.

hỏa ấn

Ấn tam giác (ba góc) đỉnh quay lên. Ấn tam giác bằng cách bện những ngón tay phải và trái vào nhau—The fire sign, for which a triangle pointing upwards is used; a triangular arrangement of fingers of the right hand with the left.

hỏi

To ask—To interrogate—To inquire—To question.

hỏi dò

To make inquiries.

hỏi thăm

To ask about someone.

hỏi đạo

To seek guidance in the dharma.

hỏng

To fail—To miss.

hối

1) Hối hận: Ksama (skt)—To repent—To regret. 2) Hối thúc: To urge—To press—To hurry. 3) Ngày cuối của tháng: The last day of the moon—Night—Dark. ; (悔) Tên của tâm sở. Ăn năn những tội lỗi mình đã tạo ra. Cùng nghĩa với ác tác . [X. luận Thành duy thức Q.7].

Hối Cơ Nguyên Hy

(晦機元熙, Maiki Genki, 1238-1319): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Phái Dương Kì, Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Cơ (晦機), xuất thân Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây), họ Đường (唐). Ông cùng với người anh Nguyên Linh (元齡) nỗ lực học tập để thi đỗ Tiến Sĩ, nhưng sau đó ông theo xuất gia với Tây Sơn Minh (西山明). Gặp lúc Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) đến khai pháp ở Ngọc Kỷ (玉几), ông đến làm thị giả hầu hạ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đã từng sống qua ở Bách Trượng Sơn (百丈山), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và Ngưỡng Sơn (仰山). Vào ngày 17 tháng 8 nhuận năm thứ 6 (1319) niên hiệu Diên Hựu (延祐) đời vua Nhân Tông, ông thị tịch, hưởng thọ 82 tuổi.

hối hả

To hurry.

hối hận

Hối hận có nghĩa là cảm thấy tiếc cho những hành động trong quá khứ. Hối hận cho những việc làm bất thiện hay không có đạo đức trong quá khứ là hối hận tích cực; tuy nhiên nếu hối tiếc cho những việc làm tốt trong quá khứ là hối hận tiêu cực—To regret—To repent—Regret can be either a wholesome or unwholesome or neutral mind. Regret is a mind which feels sorrow or remorse about past actions. Regret for negative past actions (non-virtuous) is a positive regret; however, regret for positive past actions (virtuous) is a negative regret.

hối ngự niệm tụng

(晦禦念誦) Gọi tắt: Hối niệm tụng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp niệm tụng do Thiên hoàng hành trì ở viện Chân ngôn trong cung, vào 3 ngày cuối cùng của mỗi tháng, để cầu cho vua được an ổn, quốc gia được vững bền. Pháp này bắt nguồn từ Ấn độ. Vào năm Thiên bảo thứ 5 (746) đời Đường, ngài Tam tạng Bất không tu bí pháp Du già ở điện Trường sinh trong cung để cầu cho vua Huyền tôn được trường thọ. Về sau, ở Nhật bản, vào niên hiệu Thừa hòa năm đầu (834) ngài Không hải cũng phỏng theo pháp này mà lập Hậu Thất Nhật Ngự Tu Pháp để hành trì ở viện Chân ngôn trong cung. (xt. Ngự Tu Pháp).

Hối Nham Trí Chiêu

(晦巖智昭, Maigan Chishō, thế kỷ thứ 12-13): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Nham (晦巖), còn gọi là Trí Thông (智聰), pháp từ của Triết Ông Như Diễm (浙翁如琰). Ông đã bỏ ra 20 năm đi du phương đó đây để thâu tập cương yếu tông phong của Ngũ Gia, đến cuối đời ông đem phân loại chỉnh lý và biên tập thành bộ Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目) tại Thiên Thai Sơn Vạn Niên Tự (萬年寺), và vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông biên lời tựa cho bộ này.

hối quá

Sám hối tội lỗi với Tam Bảo—To regret one's faults, or error. ; (悔過) Sám hối tội lỗi. Nghĩa là tự giãi bày trước Phật, Sư trưởng hoặc chúng tăng xin sám hối những sai lầm mà 3 nghiệp thân, khẩu, ý đã phạm để cầu giảm nhẹ hoặc tiêu trừ tội lỗi. Văn chép trình tự của nghi thức hối quá này gọi là Sám nghi hay Sám văn, những Sám văn được y cứ vào các kinh khác nhau mà soạn thành, nên mới có Pháp hoa sám văn, Kim quang minh sám văn… Quảng hoằng minh tập quyển 28 có chép 10 thiên văn Hối quá của các ông vua đời Lương, Trần theo các kinh mà sám hối rồi soạn ra như: Ma ha bát nhã sám văn, Kim cương bát nhã sám văn, Thắng thiên vương bát nhã sám văn, v.v... Còn ở Nhật bản thì nghi thức hối quá không nương theo kinh, mà căn cứ vào các tôn tượng được phụng thờ mà cử hành, cho nên có: Dược sư hối quá, Cát tường hối quá, A di đà Phật hối quá, v.v

hối sám pháp

Nghi thức phát lồ sám hối tội lỗi—The rules fo repentance and confession—See Tam Chủng Sám Hối, Tác Pháp Sám, Thủ Tướng Sám, and Vô Sanh Hối in Vietnamese-English Section.

hối sơn

(晦山) (1610-1672) Vị tăng sống vào cuối đời Minh, người huyện Thái thương, tỉnh Giảng tô, họ Vương, tự là Nguyện vân. Từ nhỏ sư đã được thấm nhuần Phật pháp. Sau khi nhà Minh diệt vong, sư y vào ngài Tam muội xuất gia, không bao lâu thụ giới Cụ túc, được đặt pháp hiệu là Giới hiển, biệt hiệu là Hối sơn, Bãi ông. Lúc đó sư đã 35 tuổi. Về sau, sư tham yết ngài Cụ đức ở chùa Hiển ninh, núi Cao đình tại Hàng châu và được nối pháp; kế đó, sư đến viện Địa tạng ở huyện Cao bưu, tỉnh Giang tô và chùa Linh ẩn ở Tây hồ tham học. Sư từng trụ trì am Hải tạng, chùa Chân như núi Vân sơn, chùa Linh ẩn, v.v... Sư nghiêm trì giới luật, học vấn uyên bác. Thường ngày, ngoài việc nghiên cứu Tam tạng, sư còn sáng tác và làm thơ xướng họa với ông Ngô mai thôn. Năm Khang hi 11 (1672) sư thị tịch ở chùa Phật nhật núi Cao đình, thọ 63 tuổi, pháp lạp 28. Tác phẩm của sư gồm có: Thiền môn đoán luyện thuyết, Phật pháp bản thảo, Thứu phong tập, Hiện quả tùy lục, Sa di luật nghi tì ni nhật dụng hợp tham…. Trong đó, Phật pháp bản thảo và Thứu phong tập hiện nay đã thất truyền. Còn Thiền môn đoán luyện thuyết là tác phẩm phỏng theo thể tài Binh pháp của Tôn tử, gồm 13 thiên, trình bày phương pháp rèn luyện các Thiền sinh.

hối thúc

To urge—To press.

hối tâm

Regret.

Hối Ðường Tổ Tâm

晦堂祖心; C: huìtáng zǔxīn; J: maidō soshin; 1025-1100; cũng được gọi là Hoàng Long Tổ Tâm;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 9. Sư là môn đệ của Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam. Kế thừa Sư là Thiền sư Tử Tâm Ngộ Tân.|Sư họ Ổ, quê ở Thuỷ Hưng Nam Hùng. Năm 19 tuổi bị mù mắt, cha mẹ nguyện cho xuất gia, mắt tự nhiên sáng lại. Sư tham thiền nhiều nơi, sau đến Hoàng Long học. Nhân đọc một đoạn trong Cảnh Ðức truyền đăng lục, Sư khế hội, được Thiền sư Huệ Nam Ấn khả. |Sư dạy một vị quan tên Tạ Cảnh Ôn: »Ba thừa mười hai phần giáo – giống như chỉ thức ăn cho người. Ðã nhờ đó nói thức ăn, cốt nơi mình nếm lấy. Chính mình nếm được, liền rõ biết mùi vị kia là mặn lạt cay đắng. Tổ Ðạt-ma từ Ấn Ðộ sang chỉ thẳng tâm người thấy tính thành Phật cũng lại như thế. Chân tính đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sinh là tử. Ðã rõ biết chân vọng sinh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận thấy cái nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Ðâu chẳng biết cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với Lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương.|Một vị quan tên Khí Tư hỏi Sư: »Khi người lâm chung có chỉ quyết chăng?« Sư đáp: »Có.« Ông thưa: »Xin được nghe lời này.« Sư bảo: »Ðợi Khí Tư chết liền nói.« Khí Tư đứng dậy kính trọng nói: »Việc này phải là Hoà thượng mới được.«|Ỷ Công, một vị quan ở Chương Giang đến viếng Sư, bàn về câu »Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể« trong Triệu luận. Sư liền lấy cây thước dằn giấy gõ con chó, lại gõ cái bàn, nói: »Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình vẫn ở, tình cùng vô tình đâu thành một thể.« Ỷ Công đáp không được, Sư bèn nói tiếp: »Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng ›Hội muôn vật làm chính mình?‹«|Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ 3, ngày 16 tháng 11, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi. Vua sắc phong là Bảo Giác.

Hối Ông Ngộ Minh

(晦翁悟明, Kaiō Gomyō, ?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ (大慧派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hối Ông (晦翁), tự xưng là Chơn Lãn Tử (眞懶子), xuất thân Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), pháp từ của Mộc Am An Vĩnh (木庵安永) ở Cổ Sơn (鼓山). Ông đã từng trú trì các nơi như Sùng Phước Tự (崇福寺) ở Tuyền Châu (泉州, Tỉnh Phúc Kiến), Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), v.v. Chính ông biên tập bộ Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, 30 quyển), và năm thứ 10 (1183) niên hiệu Hưởng Hy (淳熙), ông ghi thêm lời tựa cho bộ này tại Tiềm Quang Đường (潛光堂). Các cổ tắc công án của Phái Đại Huệ đều do ông biên tập nên, và sau này được dùng rất rộng rãi trong Thiền lâm. Cuốn Hối Ông Minh Thiền Sư Ngữ Yếu (晦翁明禪師語要, 1 quyển) được thâu lục vào trong Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續古尊宿語要).

Hối Đài Nguyên Kính

(晦臺元鏡, Maidai Genkyō, 1577-1630): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Hối Đài (晦臺), biệt hiệu là Trạm Linh (湛靈), xuất thân Kiến Dương (建陽, Tỉnh Phúc Kiến), họ Bằng (憑), sinh ngày 25 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Năm 28 tuổi, ông đến xuất gia làm đệ tử của Lệ Không Cảo (麗空杲) ở Hổ Khiếu Nham (虎嘯巖), sau đó tham học với Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經) ở Thọ Xương (壽昌) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đến trú tại Thư Lâm (書林), rồi đến năm đầu (1620) niên hiệu Thái Xương (泰昌), ông bắt đầu khai đường giáo hóa tại Nhất Chi Sơn (一枝山), Kiến Dương, nhưng lại quay về ẩn tu tại Võ Di Sơn (武夷山). Đến ngày 13 tháng 7 năm thứ 3 (1630) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông thị tịch, hưởng thọ 54 tuổi đời và 26 hạ lạp. Trước tác của ông có Đông Uyển Kính Thiền Sư Ngữ Lục (東苑鏡禪師語錄) 1 quyển. Hoàng Đoan Bá (黃端伯) soạn bài Võ Di Đệ Nhất Đại Thiền Tổ Đông Uyển Kính Công Đại Sư Tháp Minh Tinh Tự (武夷第一大禪祖東苑鏡公大師塔銘幷序).

hối đường mộc tê hương

(晦堂木樨香) Tên công án trong Thiền tông. Nhân duyên ngộ đạo của quan Thái sử Hoàng đình kiên đời Tống khi đến tham yết thiền sư Hối đường Tổ tâm. Ngũ đăng hội nguyên quyển 17 (Vạn tục 138, 336 hạ) ghi: … (Hoàng đình kiên) đến nương tựa ngài Hối đường xin chỉ dạy con con đường tắt . Ngài bảo: Trọng ni nói rằng vài ba người cho là ta có dấu diếm nhưng ta có dấu diếm ông điều gì đâu. Bình thường Thái sử nghĩ thế nào về câu này? Hoàng đình kiên định trả lời, ngài Hối đường nói: Chẳng phải! Chẳng phải! Hoàng đình kiên mờ mịt, không ngộ được. Một hôm, họ Hoàng theo hầu ngài Hối đường đi dạo núi, lúc ấy hoa quế (mộc tê) nở rộ, ngài Hối đường nói: ông có nghe mùi thơm của hoa quế không? Họ Hoàng đáp: Dạ có! Ngài Hối đường nói: Tôi có dấu ông điều gì đâu! Ngay câu nói ấy, Thái sử Hoàng đình kiên tỉnh ngộ, liền lễ bái .

Hối Đường Tổ Tâm

(晦堂祖心, Kaidō Soshin, 1025-1100): vị tăng của Phái Hoàng Long thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, con trai của nhà họ Ổ (鄔) ở Nam Hùng (南雄, Tỉnh Quảng Đông). Năm lên 10 tuổi, ông theo xuất gia với Huệ Toàn (慧全) ở Long Sơn Tự (龍山寺), rồi sau đó đến tham bái Tuyết Phong Văn Duyệt (雪峰文悅), Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Hoàng Long. Sau khi thầy qua đời, ông kế thừa thầy, làm trú trì trong vòng 12 năm, và đến năm thứ 3 (1100) niên hiệu Nguyên Phù (元符) thì thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Bảo Giác Thiền Sư (寳覺禪師).

hối đường tổ tâm

See Tổ Tâm Hối Đường Hoàng Long.

Hống

吼; C: hŏu; J: kō, ku;|Có hai nghĩa: 1. Tiếng gầm rống như sư tử; tiềng gầm của sư tử; 2. Tiếng kêu la, tiếng kêu thất thanh.

hống hách

To use authority (show power) in a wrong manner—To domineer.

hốt

See Hốt Nhiên. ; (笏) Vốn là tấm thẻ mỏng của các quan Đại thần thời xưa cầm ở tay mỗi khi vào chầu vua, được làm bằng gỗ, ngà, tre. Tấm thẻ này được dùng để ghi những việc sắp tâu lên vua cho khỏi quên. Trong Thiền lâm, Hốt được làm bằng gỗ, dài hơn 38 phân tây, hình dáng như cột xương sống của người. Khi lên tòa giảng, vị giảng sư thường gõ hốt để nhấn mạnh đoạn văn mình đang giảng, hoặc dùng để chống khi ngồi, cũng có thể dùng để đánh người học hầu phá trừ vọng niệm, chấp trước của họ. [X. môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hốt hoạt cốc khoái thiên

(忽滑穀快天) (1867-1934) Danh tăng Nhật bản thuộc tông Tào động, người Đông kinh lúc còn nhỏ tên là Khoái phu, 10 tuổi xuất gia đổi tên là Khoái thiên. Năm Minh trị 17 (1884), sư vào học ở trường Đại học thuộc tông Tào động. Tháng 3 năm Minh trị 20 (1887), sư tốt nghiệp, nhờ công phu nghiên cứu Thiền tông đã đạt đến trình độ rất cao. Năm Đại chính thứ 8 (1919), sư giữ chức Giáo vụ trưởng trường Đại học của tông Tào động, năm sau làm Hiệu trưởng trường này. Năm Đại chính 14 (1925) sư đậu Tiến sĩ văn học. Tháng 3 năm Đại chính 14 (1925), trường Đại học tông Tào động được nâng cấp thành Đại học Câu trạch, sư vẫn giữ chức vụ Hiệu trưởng. Tháng 3 năm Chiêu hòa thứ 9 (1934), sư từ chức, để dốc sức vào việc truyền bá giáo nghĩa của tông Tào động. Tháng 7 năm Chiêu hòa thứ 9 (1934), do bị bệnh chảy máu não sư tịch, thọ 68 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thiền học phê phán luận, Thiền học gỉảng thoại, Thiền diệu vị, Tham thiền đạo thoại, Đạt ma dữ Dương minh, Thanh tân thiền thoại, Thiền học tư tưởng sử, Triều tiên thiền giáo sử, Hòa Hán danh sĩ tham thiền tập.…

hốt lẫm

Khulm (skt)—Một vương quốc cổ nằm giữa Balkh and Kunduz—An ancient kingdom and city between Balkh and Kunduz.

hốt lộ ma

Shaduman (skt)—Một khu vực trong xứ Tukhara thời cổ, nằm về phía bắc của Wakhan—A district of ancient Tukhara, north of Wakhan.

hốt nhiên

Suddenly—All of a sudden.

hốt tất liệt

(忽必烈) Khubilai (1212-1294). Hoàng đế đời thứ nhất của triều Nguyên và đời thứ 5 của Đế quốc Mông cổ. Miếu hiệu là Thế tổ. Trước khi Hốt tất liệt sáng lập triều Nguyên, các tông phái ở Tây tạng, vì muốn mở rộng thế lực của phái mình đã tranh thủ gây ảnh hưởng với các Khả hãn (vua) Mông cổ, nhất là phái Ca nhĩ mã và phái Tát ca tích cực hơn cả. Bát tư ba của phái Tát ca cuối cùng đã trở thành Quốc sư của Hốt tất liệt, rất được trọng đãi và tín nhiệm và vâng mệnh vua thống trị Tây tạng, xây dựng thể chế chính trị và tông giáo hợp nhất. Bắt đầu từ Hốt tất liệt, các bậc đế vương của triều Nguyên đều sùng kính phái Tát ca và trước khi lên ngôi phải được Quốc sư Lạt ma truyền trao giới luật. [X. Thế tổ kỉ trong Nguyên sử Q.14-17; Thế tổ kỉ trong Tân nguyên sử Q.7-12; Hốt tất liệt hãn (Ái đãng Tùng nam, 1941)].

hồ

1) Tại sao—Thế nào: Why—How. 2) Hồ nước: A lake. 3) Hồ tiêu: Pepper.

hồ bình

(胡瓶) Chiếc bình có hình đầu chim, là vật cầm ở tay bên phải trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Cánh tay ấy được gọi là Hồ bình thủ hoặc Bảo bình thủ (tay Hồ bình, tay bình báu). Tương truyền loại bình này do người nước Hồ ở phía bắc núi Tuyết phỏng theo hình con chim Kim sí (chim cánh vàng) mà chế ra, cho nên gọi là Hồ bình. Chuyển luân thánh vương đặt chiếc bình này ở trước mình, tượng trưng cho nghĩa tự tại. Trong Mật giáo, nếu muốn cầu sự hòa thuận trong gia đình, họ hàng thì tu pháp Hồ bình. Cách thực hành pháp tu này là: Rót nước vào Hồ bình rồi đặt ở trước Tôn tượng, tụng niệm chân ngôn xong, lấy nước ấy rưới lên những người họ hàng bất hòa, thì tất cả được hòa thuận yên vui, như nhiều vị hợp thành một vị. [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; Tạo tượng độ lượng kinh tục bổ].

hồ chủng tộc

1) Chủng tộc ở miền Tây Á: Of West Asian race. 2) Từ dùng để chỉ Đức Phật trong một số kinh điển Trung Hoa: A term applied to the Buddha in some Chinese sutras. ; (胡種族) Dòng giống người Hồ. Vốn được dùng để chỉ dân Hung nô trước thời Tần Hán. Nhưng về sau dùng để chỉ chung những dân tộc ở ngoài biên thùy phía tây Trung quốc. Thiền tông thì dùng từ ngữ này để chỉ cho pháp hệ của Tổ Đạt ma. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 trung), nói: Hiểu biết như thế gọi là diệt giống người Hồ . Ngoài ra, Hồ chủng tộc cũng được dùng để chỉ cho người Ấn độ, vì thế Tổ Bồ đề đạt ma được gọi là Lão Hồ. [X. Tổ đình sự uyển Q.1].

hồ kinh

Kinh điển của người Hồ—Hun classics.

hồ loạn

Hổn loạn—Disorderly—Without order. ; (胡亂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cẩu thả lộn xộn. Lời chú thích tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), nói: Hồ loạn chỉ chú (chú giải một cách cẩu thả lộn xộn). Ngoài ra, tham cứu một cách chiếu lệ gọi là Hồ tham hoặc Hồ toản loạn chàng (khua gõ lung tung). Ngồi không theo thứ bậc vị trí gọi là Hồ loạn tọa. Nói năng càn bậy gọi là Hồ thuyết, Hồ đạo, hoặc Hồ thuyết loạn đạo. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; điều Thuyết tâm thuyết tính trong Chính pháp nhãn tạng; Thiền quan sách tiến chư tổ pháp ngữ tiết yếu].

hồ lư giá na

Gorocana (skt)—Một chất nhuộm màu sáng được làm bằng nước tiểu hay mật bò—A bright yellow pigment prepared from the urine or bile of a cow.

hồ ma

(胡麻) Hạt vừng (mè), có 3 loại: Bạch hồ ma (vừng trắng), Hắc hồ ma (vừng đen), Kim hồ ma (vừng vàng). Hạt dẹt và rất nhỏ, có thể ép lấy dầu nấu ăn hoặc để bôi tóc. Trong Mật giáo, bạch hồ ma là vật để gia trì chú nguyện trong pháp Tiêu tai hộ ma. Ngoài ra, trong các kinh luận, hồ ma thường được dùng để ví dụ các nghĩa: Nhỏ nhiệm, trùm khắp, vô số, v.v... [X. kinh Lược xuất Q.1].

hồ mỵ

To impassion.

hồ nam

Tỉnh Hồ Nam bên Trung Quốc—The province of Hunan in China.

hồ nam hải chúng

(湖南海衆) Đối lại với Giang tây vân nạp. Chỉ cho số chúng tăng đông đảo tụ tập ở vùng Hồ nam để tiếp nhận sự giáo hóa của thiền sư Thạch đầu Hi thiên. Ngài Thạch đầu Hi thiên là một vị Thiền sư lớn thuộc hệ thống Thanh nguyên Hành tư của dòng Thiền Nam tông vào đời Đường ở Trung quốc. Vào khoảng năm Thiên bảo (742-755), ngài hoằng pháp ở Hoành sơn, tỉnh Hồ nam, nêu cao Thiền phong, chúng tăng từ khắp nơi tụ tập về đây tu học, Hoành sơn bỗng trở thành một trung tâm giáo hóa ở vùng Hồ nam lúc bấy giờ. Vì thế nên trong Thiền lâm mới có danh xưng Hồ nam hải chúng . [X. Tống cao tăng truyện Q.9. Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6, Q.14; Tổ đường tập Q.4].

hồ ngữ

(胡語) Tiếng nói của người Hồ ở Tây vực, hoặc chỉ cho tiếng Phạm. Khi bàn về chỗ đúng, sai trong các kinh luận phiên dịch, thì ngài Đạo an đời Đông Tấn gọi nguyên văn tiếng Phạm là Hồ ngôn, Hồ kinh. Còn Xuất tam tạng kí tập thì gọi nguyên văn của các kinh luận Hán dịch là Hồ bản. Ngài Ngạn tông đời Đường viết luận Biện chính chủ trương tiếng Phạm, tiếng Hồ cần được phân biệt rõ ràng. Vì xưa nay cái mà Trung quốc gọi là Hồ ngữ, về nghĩa của nó cũng tùy theo thời đại mà có khác. Chẳng hạn như: 1. Thời Tần Hán: Gọi Hung nô là Hồ, vì thế cho tiếng Hung nô là Hồ ngữ. 2. Thời Đông Hán về sau: Gọi chung vùng đất bên ngoài biên thùy phía tây Trung quốc là Hồ, bao gồm: Cao xương, Yên kì, Cưu tư, Vu điền, Nguyệt chi, Đại hạ, Kế tân, Ấn độ, v.v... cho nên tiếng nói của các xứ này được gọi chung là Hồ ngữ. 3. Từ Nam Bắc triều đến thời Tùy Đường: Chỉ riêng dân cư vùng Túc đặc (Sogdiana) là Hồ và gọi tiếng Túc đặc là Hồ ngữ. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 (Đại 54, 1056 thượng), nói: Âm Hồ, âm Phạm khác nhau. Từ đời Hán đến đời Tùy đều gọi các nước Tây vực là nước Hồ. Đời Đường có pháp sư Ngạn tông phân biệt Hồ, Phạm rõ ràng như sau: Từ ngọn Thông lĩnh về phía Tây đều thuộc Phạm chủng, còn phía trái Thiết môn đều là quê hương giống Hồ .Theo Tống cao tăng truyện quyển 3, thì các vùng đất ở phía bắc và phía đông núi Tuyết gọi chung là Hồ. Trong khoảng thời gian từ đời Đông Hán đến đời Tùy, vì Hồ và Phạm không được phân biệt rõ ràng, nên Phạm ngữ được xem là một trong các thứ Hồ ngữ. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].

hồ qua

(胡瓜): quả dưa chuột. Cách dùng này rất hiếm gặp, nhưng các từ điển Hán Việt hiện đại đều ghi rõ胡瓜 = 黃瓜(hoàng qua), nghĩa là dưa chuột.

hồ quỵ

See Hỗ Quỵ. ; (胡跪) Cũng gọi Hồ kị. Cách quì lạy của người Hồ. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Hồ quị là cách biểu tỏ lòng tôn kính của người Hồ, cách biểu tỏ này chỉ cần quì gối là đủ phép hồ quị. 2. Quì dài, tức là 2 đầu gối để sát đất, 2 bắp đùi dựng thẳng để đỡ thân thể. 3. Đầu gối bên phải đặt sát đất, đầu gối bên trái dựng thẳng. Trong 3 cách Hồ quị trên, cách thứ 3 được xem là đúng phép hơn cả. [X. phẩm Tứ thiên vương trong kinh Kim quang minh Q.2; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.2].

hồ sàng

(胡床) Một loại ghế ngồi hình dáng giống ghế dựa hoặc ghế gấp hiện nay. Vốn do người Tây nhung (rợ ở phía tây Trung quốc) chế ra, nên gọi là Hồ sàng. Ghế có 2 loại: Bị cơ và Đơn cơ . Bị cơ gọi là Triệp ỷ (ghế gấp); Đơn cơ gọi là Hồ sàng, tức chỉ cho Thiền sàng. Theo sách Phong tục thông chép, thì vua Linh đế nhà Hán rất thích vật dụng của người Hồ, nên ở kinh đô có rất nhiều Hồ sàng. Lại theo sách Phụ vận hải chép, thì vua Mục tông nhà Đường đổi Hồ sàng gọi là Thằng sàng (giường dây).

Hồ Thích

(胡適, Koseki, 1891-1962): xuất thân Tích Khê (績溪, thuộc Tỉnh An Huy), tự là Thích Chi (適之). Năm 1910, ông sang du học tại Đại Học Columbia, Hoa Kỳ. Sau khi trở về nước, ông làm giáo sư Đại Học Bắc Kinh và nhấn mạnh về tính cần thiết của văn học Bạch Thoại. Trong thời gian 1938-1942, ông làm Đại Sứ Trung Hoa tại Mỹ. Vào năm 1948, sau Đệ Nhị Thế Chiến, trước cuộc nội loạn của Đảng Quốc Dân và Đảng Cộng Sản, ông lưu vong sang Hoa Kỳ; sau đó, ông trở về Đài Loan, làm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Trung Ương, v.v., và cuối cùng qua đời tại đây. Ông có để lại một số trước tác như Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương (中國哲學史大綱, năm 1919), Bạch Thoại Văn Học Sử (白話文學史, năm 1928), v.v. Từ khoảng năm 1925 trở đi, ông bắt đầu phát biểu luận văn liên quan đến Thiền và nghiên cứu về Thiền của ông vẫn tiếp tục kéo dài cho đến cuối đời ông như chúng ta thấy qua bản di cảo Bạt Bùi Hưu Đích Đường Cố Khuê Phong Định Tuệ Thiền Sư Truyền Pháp Bi (跋裴休的唐故圭峰定慧禪師傳法碑), được san hành sau khi ông quá vãng. Đặc biệt, vào năm 1926, ông tiến hành điều tra các văn thư Đôn Hoàng tại Thư Viện Quốc Gia Paris, Thư Viện Anh Quốc London, phát hiện ra bản di văn có liên quan đến Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) về bản Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (南陽和尚問答雑徴義) và trở thành nổi tiếng khi cho xuất bản tác phẩm Thần Hội Hòa Thượng Di Tập (神會和尚遺集). Ngoài ra, ông đã cùng với học giả Linh Mộc Đại Chuyết (鈴木大拙, Suzuki Daisetsu, 1870-1966) của Nhật Bản luận tranh về Thiền trong Hội Nghị Đông Tây Triết Học Gia lần thứ 2 được tổ chức tại Đại Học Hawaii vào năm 1949.

hồ thích

(胡適) (1891-1962) Nhà học giả Trung quốc, người huyện Tích khê, tỉnh An huy, tự Thích chi, từng du học nước Mĩ. Ông là nhà tư tưởng nổi tiếng trong và ngoài nước từ thời Dân quốc đến nay, từng được tặng 35 văn bằng Tiến sĩ danh dự, lần lượt giữ các chức vụ như: Giáo sư Đại học Bắc kinh, Viện trưởng viện Văn học, Hiệu trưởng trường Công học Trung quốc, Đại sứ Trung quốc tại Mĩ, Viện trưởng viện Nghiên cứu Trung ương Đài loan… Học vấn của họ Hồ rất sâu rộng, phàm các môn Sử học, Quốc học, Triết học, Văn học, Ngoại giao, Giáo dục, Thiền học, v.v... đều thông suốt. Ông còn chủ trương cải cách văn học, đề xướng cuộc vận động văn Bạch thoại, ảnh hưởng rất to lớn. Ông là người tiên phong trứ tác loại sách Triết học sử Trung quốc. Năm Dân quốc 15 (1926), trong khi nghiên cứu văn hiến Đôn hoàng ở thư viện Quốc lập Ba lê nước Pháp và viện Bảo tàng Đại anh ở nước Anh, ông đã tìm thấy nhiều tư liệu về lịch sử Thiền tông Trung quốc ở thời kì đầu. Ông qua đời vào năm Dân quốc 51 (1962), thọ 72 tuổi. Những tác phẩm của ông gồm có: Bồ đề đạt ma khảo, Thiền học cổ sử khảo, Bạt tào khê đại sư biệt truyện, Thần hội hòa thượng di tập, Lăng già tập khảo, Thường thí tập, Bạch thoại văn học sử, Thủy kinh chú, Tứ thập tự thuật, Hồ thích văn tồn (4 quyển), Hồ thích thủ cảo (10 quyển), Trung quốc triết học sử đại cương….

hồ thích thiền học án

(胡適禪學案) Tác phẩm, do Hồ thích soạn, Liễu điền Thánh sơn người Nhật bản thu tập. Nội dung sách này gồm 20 thiên nói về Thiền học, được viết bằng tiếng Anh và tiếng Hoa như: Bồ đề đạt ma khảo, Hà trạch đại sư thần hội truyện, Thần hội hòa thượng ngữ lục, Trung quốc thiền học đích phát triển, Ch’an Buddhism in China, its History and Method...… Ở đầu quyển có 2 bài: Hồ thích bác sĩ dữ Trung quốc sơ kì Thiền tông sử chi nghiên cứu, Hồ thích bác sĩ Thiền học niên phổ, do Liễu điền Thánh sơn soạn.

hồ thực kiện

Hujikan (skt)—Một vương quốc cổ nằm về phía tây nam của Balkh—An ancient kingdom south-west of Balkh.

hồ tô đa

Một loài bùa để chống lại những hơi độc—A charm, or incantation against evil vapours, etc.

hồ tử

1) Một từ mà người Trung Hoa dùng để chỉ rợ Hồ ở phương tây và phương bắc nước Tàu—Hun or Turk, term which Chinese people used to call people in the west and north of China. 2) Tên tiếng lóng của Tổ Bồ Đề Đạt Ma: A nickname for Bodhidharma.

hồ đạo nhân

Tăng sĩ từ trung Á hay Ấn Độ—Monks from cental Asia or India.

hồ đồng khí

(胡銅器) Cũng gọi Sa trương, Sa la, Đồng cổ, Hưởng đồng. Loại pháp khí bằng đồng, hình dáng giống cái chén, đường kính từ khoảng 6 đến hơn 30 phân tây, bề dày khoảng 3 phân và sâu từ 3 đến 12 phân, dùng để gõ lúc tụng kinh niệm Phật. Nguồn gốc không được rõ. Cứ theo Tống sử lễ thứ 72 và Liệt truyện 252 ghi, có lẽ khí cụ này đã được truyền từ vùng Di nhung (gọi chung các rợ Hồ), cho nên có tên là Hồ đồng khí. [X. điều Bái khí môn đồng la trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hồi

1) Hồi hoản: To cancel. 2) Trả lại: To give back—To return something. 3) Trở về: To return—To turn back—To revolve.

hồi cơ

(回機) Xoay chuyển cơ dụng. Chỉ cho người truyền trì tâm ấn Phật, xoay chuyển cơ dụng của chính mình mà đi vào 6 đường luân hồi trong 3 cõi để thực hành hạnh phương tiện lợi tha cứu độ chúng sinh.

hồi cư

To return to the homeland.

hồi cố

To look back.

hồi cốt

(回鶻) Uigur. Cũng gọi Hồi hột. Chủng tộc thuộc tộc Thổ nhĩ kì, sống rải rác ở các vùng Mông cổ, Cam túc, Tân cương. Từ thế kỉ VIII đến thế kỉ IX là thời kì toàn thịnh của bộ tộc này, họ lấy bờ sông Orkhon (Ngạc nhĩ khôn) ở Ngoại mông cổ làm cứ điểm để tiến vào vùng Trung á. Ban đầu, bộ tộc này là một phần của bộ tộc Thiết lặc, dưới sự cai trị của người Đột quyết, đến đời Tùy thì độc lập, rồi lại bị nhà Đường đô hộ. Về sau họ chia làm 2 nhánh: Cam châu Hồi cốt và Sa châu Hồi cốt. Bộ tộc này rất hung hãn, sống vào các thời Tống, Liêu, Kim. Tây châu Hồi cốt, sống ở vùng Tư thản, phía đông Thổ nhĩ kì, tức là nước Cao xương ngày xưa. Bộ tộc này sùng tín Ma ni giáo và Phật giáo. Khoảng thế kỉ thứ VIII, Tây châu Hồi cốt sử dụng loại văn tự có nguồn gốc từ văn tự Túc đặc (Sogd) và dùng thứ văn tự này để viết chép kinh Phật, những kinh điển hiện còn ấy gồm có: Kinh Kim quang minh, phẩm Phổ môn, kinh Pháp hoa, kinh Di lặc hạ sinh, kinh Tôn thắng đà la ni, kinh Thiên địa bát dương thần chú, v.v... Căn cứ vào lời Bạt của các kinh nói trên, người ta biết các kinh này phần nhiều được dịch lại từ các bản dịch Tây tạng, Thổ phồn và Hán, chứ không dịch trực tiếp từ tiếng Phạm. [X. Tống sử liệt truyện 249].

hồi gia

To go home.

hồi giáo

Mohammedanism.

hồi hưu

To retire on a pension.

hồi hương

To return to one's native land (homeland).

hồi hướng

Parinamana (skt)—To turn towards—To turn something from one person or thing to another—Transference of merit, especially of one's merits to another. (A) Ý nghĩa của hồi hướng—The meanings of Parinamana: 1) Demitting the good to all others—Dedication—Hồi hướng công đức thiện lành của một người hay một vật, đến cho một người hay một vật khác: Transfer of merit—To turn towards—To turn something from one person or thing to another 2) Hồi hướng công đức là mục tiêu hay hướng đi mà Bồ Tát và Phật đã tận tụy tu hành cứu độ chúng sanh. Đây là một trong những ý niệm đặc biệt nhất trong Phật Giáo Đại Thừa: Transference of merit—The goal or direction of bodhisattva or Buddha which devotes all merits to the salvation of others. This is one of the most outstanding ideas of Mahayana Buddhism. (B) Bài kệ hồi hướng—The gatha of parinama: Tụng kinh công đức thù thắng hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng. Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh Tốc vãng vô lượng quang Phật sát. Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu. Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ. Thế thế thường hành Bồ tát Đạo. Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung. Cửu phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu. Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh. Bất thối Bồ tát vi bạn lữ. Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhứt thiết. Ngã đẳng dử chúng sanh. Giai cọng thành Phật đạo. I dedicate the merit and virtue of reciting sutras. With all its superior, limitless blessing. With all the universal vow that all beings in all realms. Will quickly go to the Land of the Buddha of Limitless Light (Amitabha). I vow to eradicate the three obstructions and all afflictions. I vow to obtain wisdom and to obtain true understanding. I make a universal vow that the obstacles of my offenses will be totally eliminated. And that in life after life we shall constantly practice the path of the Bodhisatvas. We vow that they will be born in the Western Pure Land. With the nine grades of Lotus flowers as parents. When the flowers open, they will see the Buddha and become enlightened to the unproduced. Anh the irreversible Bodhisattvas will be their companions I vow that merit and virtue from this. Will go everywhere and reach everyone. I and all other sentient beings. Will all realize the Buddha-path. ; (回向) I. Hồi Hướng. Phạm: Parìịàma. Cũng gọi Chuyển hướng, Thí hướng. Đem công đức thiện căn do chính mình tu được chuyển lại cho chúng sinh để cùng được lợi ích như mình, gọi là hồi hướng. Trong các kinh luận có nhiều thuyết nói về hồi hướng. 1. Theo thuyết Tính không của hệ tư tưởng Bát nhã, nếu hồi hướng mà không thấy có người hồi hướng, có pháp để hồi hướng, có nơi chốn để hồi hướng, thì mới được gọi là Hồi hướng chân thực. Phẩm Hồi hướng trong kinh Tiểu phẩm bát nhã do ngài Cưu ma la thập dịch (Đại 8, 548 trung), nói: Không có một pháp nào có thể gọi là pháp hồi hướng, mới được gọi là chính hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (…) Vì chư Phật dạy hồi hướng không được chấp tướng, (...), nếu hồi hướng mà còn chấp tướng thì gọi là Tạp độc 2. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 của ngài Tuệ viễn chia hồi hướng làm 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Đem tất cả thiện pháp mà mình tu hành để hướng cầu Bồ đề. b. Chúng sinh hồi hướng: Vì thương chúng sinh nên nguyện đem tất cả pháp lành mà mình tu được để ban cho họ. c. Thực tế hồi hướng: Đem thiện căn của mình hồi hướng để cầu pháp tính bình đẳng như thực. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 26, ngài Trừng quán nêu ra 10 loại hồi hướng, nhưng thâu tóm lại còn 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Xoay nhân hướng tới quả, xoay kém hướng hơn, xoay tỉ hướng chứng. b. Chúng sinh hồi hướng: Xoay mình hướng tới người, xoay ít hướng nhiều, xoay nhân hạnh của mình hướng tới nhân hạnh của người. c. Thực tế hồi hướng: Xoay sự hướng lí, xoay hạnh sai biệt hướng hạnh viên dung. Ngoài 8 loại hồi hướng trên đây, 2 loại còn lại là: Xoay thế (việc thế tục) hướng xuất thế (cầu Phật đạo) và Xoay thuận lí sự hạnh hướng lí sở thành sự. Hai loại Hồi hướng này thông cả quả Bồ đề hồi hướng và Thực tế hồi hướng. 4. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì có 2 loại Hồi hướng: a. Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình ở đời quá khứ và đời hiện tại hồi hướng cho chúng sinh, nguyện cùng được sinh về Tịnh độ phương tây. b. Hoàn tướng hồi hướng: Sau khi đã vãng sinh Tịnh độ, phát tâm đại bi trở lại cõi Sa bà, giáo hóa chúng sinh, cùng hướng về Phật đạo. 5. Trong An lạc tập quyển hạ, ngài Đạo xước nêu ra 6 loại hồi hướng: a. Đem các công đức do mình tu được hồi hướng đức Phật A di đà cầu sinh về Tịnh độ, để sau khi được 6 thần thông, trở lại thế gian cứu độ chúng sinh. b. Hồi nhân hướng quả. c. Hồi hạ hướng thượng. d. Hồi chậm hướng nhanh. e. Hồi hướng cho chúng sinh bi niệm hướng thiện. g. Hồi hướng dứt hết tâm phân biệt. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8]. II. Hồi Hướng.Cũng gọi Thập hồi hướng vị. Mười giai vị tu hành của Bồ tát. (xt. Bồ Tát Giai Vị).

hồi hướng các hạnh lành cầu về tịnh độ

To dedicate (transfer) all the merits and virtues towardrebirth in the Pure Land.

hồi hướng lợi ích tha hành

(回向利益他行) Cũng gọi Lợi ích tha hồi hướng hạnh. Hạnh nguyện đem công đức của mình đã đạt được, hồi hướng làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là hạnh nguyện của môn Hồi hướng thứ 5 trong 5 Niệm môn thuộc về việc vãng sinh Tịnh độ. Hành tướng của môn này có 2 loại: Vãng tướng hồi hướng và Hoàn tướng hồi hướng. [X. luận Tịnh độ (Thế thân); Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Hồi Hướng).

hồi hướng môn

(回向門) Đem công đức thiện căn của mình hồi hướng cho tất cả chúng sinh, cầu diệt trừ khổ não cho họ và nguyện cùng sinh về Tịnh độ an vui. Là một trong 5 Niệm môn. (xt. Ngũ Niệm Môn, Hồi Hướng).

hồi hướng phát nguyện tâm

(回向發願心) Tâm phát nguyện đem công đức thiện căn của mình tu được hồi hướng về Tịnh độ để cầu được vãng sinh. Là một trong 3 tâm tự lực nói trong kinh Quán vô lượng thọ. Ngoài ra, xoay chuyển tình chấp tự lực hướng về bản nguyện tha lực của đức Phật A di đà mà phát khởi ý tưởng vãng sinh, thì cũng gọi là Hồi hướng phát nguyện tâm, thuộc một trong 3 tâm tha lực. (xt. Tam Tâm).

hồi hướng tịnh độ

Transference of merits to the Pure Land—Sau khi niệm Phật, hành giả phải dùng tâm chí thành hồi hướng. Hành giả có thể nguyện phát tâm Bồ đề, một lòng quy mạng Đức A Di Đà, và sanh về cõi Tây phương Tịnh Độ. Sau đó hành giả dùng tâm chí thành lập lại lời nguyện thứ 18 trong Tứ Thập Bát nguyện của Đức A Di Đà như sau—After recitation with an utterly sincere mind, practictioner should transfer the merits by promising to develop the Bodhicitta (Bodhi mind) and earnestly taking refuge in Amitabha Buddha and seeking rebirth in the Pure Land, then making the 18th vow of Amitabha Buddha as follows:• “Nếu chúng sanh nào muốn về nước ta, hết lòng xưng danh cho đến mười lần, như không được sanh về, ta thề không thành Phật”—“If any sentient beings wishing to be reborn in my land, recite my name with utmost sincerity up to ten times, yet doesn't achieve rebirth, I will not become a Buddha.” • Sau khi lập lại lời nguyện của Phật xong, hành giả tự phát nguyện: “Con nguyện nương nhờ Phật lực, dứt trừ chướng ngại, tội diệt phước sanh, lúc lâm chung biết trước ngày giờ, cũng như được Phật và Thánh chúng tiếp dẫn vãng sanh, thượng phẩm thượng sanh, chóng ngộ Phật thừa cứu độ chúng sanh muôn loài.”—After repeating the 18th vow of Amitabha, practictioner should make a self-vow as follow: “I vow to seek the assistance of the Buddha's compassionate power to transgression and all other obstructions, at the same time to develop merits and virtues. I will have the ability to know in advance the day and time of my passing away, I will then be welcome and escorted by Amitabha Buddha and all saints, to swiftly awaken the Buddhahood and rescue all other sentient beings.”

hồi hướng văn

(回向文) Cũng gọi Hồi hướng kệ. Bài kệ được đọc lúc kết thúc khóa lễ hoặc pháp hội, phát nguyện đem công đức tụng kinh, trì chú hồi hướng cho tất cả chúng sinh đều được vãng sinh thành Phật. Bài kệ trong phẩm Hóa thành dụ, kinh Pháp hoa (Đại 9, 24 hạ): Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sinh, Đều trọn thành Phật đạo . Còn bài kệ trong bài tựa Quán kinh huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo (Đại 37, 246 thượng) là: Nguyện đem công đức này Bình đẳng thí tất cả, Cùng phát tâm Bồ đề Sinh về nước An lạc .

hồi hướng đà la ni

(回向陀羅尼) Cũng gọi Hồi hướng luân đà la ni. Loại Đà la ni được trì tụng để hồi hướng thiện căn cho tất cả chúng sinh, cầu tiêu diệt các ác nghiệp trọng tội của họ. Đà la ni ấy là:Án (oô, qui mệnh) sa ma la sa ma la (smara smara, ức niệm ức niệm) vi ma nẵng (vimàna) sa ra (sara, kiên lao) ma ha chước ca ra (mahà-cakra, đại luân) phạ (va, chủng tử) hồng (huô, chủng tử). [X. kinh Thủ hộ Q.1; kinh Hồi hướng luân].

hồi hỗ bất hồi hỗ

(回互不回互) Chủ trương trọng yếu của Thiền Thạch đầu, dung hợp Thiền lí với thuyết Thập huyền duyên khởi của tông Hoa nghiêm. Hồi hỗ nghĩa là muôn vật trong vũ trụ đan dệt với nhau, nương vào nhau mà tồn tại, không thể tách rời, tương đương với nghĩa Lí sự vô ngại, Sự sự vô ngại của tông Hoa nghiêm. Còn Bất hồi hỗ nghĩa là mỗi sự vật đều có vị trí riêng, mỗi mỗi trụ nơi tự tính của chính nó, tồn tại độc lập, tương đương với Lí sự các lập, Sự sự trụ vị của tông Hoa nghiêm. Hồi hỗ bất hồi hỗ là hiển bày trong Hồi hỗ có Bất hồi hỗ, trong Bất hồi hỗ cũng hàm có Hồi hỗ, dùng để nói về lí vạn vật nương vào nhau mà tồn tại, nhưng đồng thời cũng tồn tại một cách độc lập. Đối với cảnh giới của Phật giáo, sự nhận thức khế hợp với Tính và Lí không thôi thì chưa phải là sự giác ngộ tối cao, mà còn phải từ nơi tất cả sự tướng do Lí diễn sinh, biết rõ mối tương quan hồi hỗ bất hồi hỗ của muôn vật. Tức là quán xét thấy rõ Sự sai biệt và Lí vô sai biệt là một, hoàn toàn dung hợp với nhau: Đó mới là cảnh giới giác ngộ tối cao. [X. Tham đồng khế trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.30].

hồi hộp

To tremble with excitement.

hồi kinh

To come back to the capital.

hồi kị

(回忌) Ngày giỗ hằng năm của người chết. Về cách tính Hồi kị của Trung quốc, thì ngay ngày chết bắt đầu tính là lần thứ nhất (1 lần), bởi vậy, đến ngày giỗ tròn 2 năm, thì gọi là Tam hồi kị (giỗ lần thứ 3); cứ thế suy ra thì biết ngày giỗ tròn 6 năm, gọi là Thất hồi kị (giỗ lần thứ 7); ngày giỗ tròn 99 năm, gọi là Bách hồi kị (giỗ lần thứ 100), v.v

hồi kỵ

The days on which the day of death is remembered.

hồi lý hướng sự

To turn from theory to practice.

hồi lễ

Đáp lễ—To return or acknowledge a courteousy or gift. ; (回禮) Cũng gọi Hoàn lễ, Phục lễ. Đáp lại sự trọng đãi của người khác dành cho mình. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, điều Du phương tham thỉnh (Đại 48, 1140 thượng), nói: Vị Tham đầu dẫn chúng đến Khách ti (nơi ở của vị Tri khách), (…) trở về. Sáng hôm sau, vị Tri khách đến hồi lễ . Tấm bảng dùng để dán tờ thông báo việc hồi lễ gọi là Hồi lễ bảng. [X. điều Thỉnh lập tăng trong Thiền uyển thanh qui Q.7; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].

hồi môn

Dower—Marriage settlement in favour of daughter.

hồi ngộ

To turn and apprehend—To be converted to Buddhism.

hồi nhân chuyển quả

(回因轉果) Xoay chuyển nhân ác quả ác thành nhân thiện quả thiện. Cũng có nghĩa là chuyển mê khai ngộ. Nhập chúng nhật dụng thanh qui (Vạn tục 111, 473 hạ), nói: Thụ trai xong rồi, chắp tay tưởng niệm: Ăn xong uy lực mạnh vô cùng, Chấn động mười phương đấng Đại hùng Hồi nhân chuyển quả tâm vô niệm Chúng sinh hết thảy được thần thông .

hồi nhân hướng quả

Chuyển từ nhân đến quả—To turn from cause to effect. ; (回因向果) Xoay nhân hạnh mình đang tu, hướng tới quả vị mình mong cầu. Là một trong 6 thứ hồi hướng nói trong An lạc tập quyển hạ của ngài Đạo xước. (xt. Lục Chủng Hồi Hướng).

hồi nào

When ?

hồi nãy

A moment ago—Just now.

hồi phong

(回峰) Cũng gọi Hồi phong hành, Hành môn. Phương pháp tu hành bằng cách đi lễ bái chung quanh các chùa tháp, đền thờ trên núi Tỉ duệ của các vị A xà lê thuộc phái Tu nghiệm đạo, tông Thiên thai Nhật bản. Vị A xà lê tu hành theo cách ấy gọi là Hồi phong hành giả, Hành môn a xà lê. Danh từ Hồi phong có xuất xứ từ Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ. Theo truyền thuyết, Hồi phong vốn do Tổ sư của phái Tu nghiệm đạo là ngài Dịch tiểu dác sáng lập, hòa thượng Tương ứng (831-918) kế thừa, đồng thời sửa lại phép tắc, từ đó núi Tỉ duệ bắt đầu thực hành pháp Hồi phong và thầy trò truyền thừa cho đến ngày nay. Còn có thuyết cho rằng Hồi phong bắt nguồn từ việc ngài Tối trừng phỏng theo 3 Thánh tích của Ấn độ là núi Linh thứu, tịnh xá Kì viên và chùa Song lâm mà thiết lập tại Đông sơn, Kyoto, để lễ bái. Pháp tu Hồi phong thờ Bất động minh vương làm Bản tôn, hành giả tu bí pháp Nhật nhật bất động lập ấn, đầu đội nón lá thông, chân mang giầy cỏ, tu khổ hạnh nhiều năm trong rừng núi, chứng nghiệm pháp Tam mật gia trì. Pháp tu này lấy 1000 ngày làm kì hạn, người tu được 500 ngày, gọi là Bạch đới hành giả (Hành giả đai trắng), là Mãn hạ căn; người tu đủ 700 ngày, gọi là Thường hành mãn, tức là Mãn trung căn; người tu đủ 1000 ngày, gọi là Tối thượng đại mãn hành giả, Đại hành mãn, tức là Mãn thượng căn. Hành giả Đại hành mãn có thể tiến vào điện Thanh lương gia trì Thánh thể, gọi là Ngọc thể gia trì, đó là người vinh dự nhất trong Hành môn. Ngoài ra, hành giả được mang giầy cỏ vào điện tham bái nên gọi là Thổ túc tham nội. Pháp tu Hồi phong được lưu hành ở thời đại Thất đinh, đến thời đại Đức xuyên thì cực thịnh. [X. Bắc lãnh hồi phong tiền gia hành thứ đệ; Đường sơn tuần lễ linh sở pháp thí kí; Tuần lễ sở tác thứ đệ; Bắc lãnh hành môn kí].

hồi phục

To recover—To recuperate.

hồi phục nan

(回伏難) Hồi phục nghĩa là dòng nước xoáy hoặc dòng nước ngược, từ đó dẫn đến nghĩa luân hồi hoặc thoái chuyển. Nạn nghĩa là chướng nạn, tai nạn. Hồi phục nạn chỉ cho chướng nạn luân hồi, hoặc chướng nạn thoái chuyển. Cũng tức là chỉ cho chướng nạn luân hồi trong dòng nước xoáy của biển sống chết, hoặc chỉ cho chướng nạn trở lui của hàng Nhị thừa trên đường tiến đến quả Phật. Cứ theo luận Thập trụ tì bà sa quyển 1, thì chúng sinh luân hồi trong dòng nước xoáy của biển sống chết, theo nghiệp qua lại, không bao giờ dừng nghỉ. [X. Thập địa kinh luận Q.4; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.13].

hồi quang biến chiếu

See Hồi quang phản chiếu in Vietnamese-Englishe Section.

hồi quang phản chiếu

Hồi quang biến chiếu—Phản quang tự kỷ hay tự soi lại lấy mình—To turn the light inwards on oneself, or to concern oneself with one's own duty. ; (迴光返照) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tự chiếu soi lại tâm tính. Lâm tế lục (Đại 47, 502 thượng), ghi: Ngay nơi lời nói, ông tự hồi quang phản chiếu, không tìm cầu gì khác, thì biết được thân tâm mình không khác gì với Phật tổ . Thạch đầu thảo am ca trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 30 (Đại 51, 461 hạ), nói: Ở am này, thôi giảng giải. Ai khoe hàng quán mua người vẽ? Hồi quang phản chiếu liền biết đường về. Rỗng suốt tính linh chẳng hướng ngoại .

hồi qui

To go back—To return.

hồi sinh

To come to life again—To resuscitate.

hồi sự hướng lý

To turn form practice to theory.

hồi thiện tự

(回善寺) Chùa ở dưới ngọn Tích thúy, phía tây nam chân núi Thái thất Tung sơn, huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc, là đạo tràng của tông Tào động, cùng với các chùa Thiếu lâm và chùa Tung nhạc núi Thiếu thất là những chùa danh thắng ở Tung sơn. Cứ theo Tung sơn Hội thiện tự trùng tu Phật điện bi kí được khắc vào năm Khai bảo thứ 5 (972) đời Bắc Tống, thì chùa này vốn là Li cung, nơi nghỉ mát của vua Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy, về sau vua cúng để làm chùa. Khoảng năm Khai hoàn (581- 600) đời Tùy, chùa được đổi tên là chùa Thiện hội. Nhưng theo Thiện hội tự phù đồ minh, khắc vào tháng 7 năm Thần qui thứ 3 (520) đời Hậu Ngụy và Thiện hội tự bi, khắc vào năm Vũ bình thứ 7 (576) đời BắcTề, thì tên chùa Thiện hội đã có trước đời Tùy. Từ đời Đường các vị Thiền tăng về đây trụ trì mỗi ngày một đông. Như ngài Đạo an là môn hạ của Ngũ tổ Hoằng nhẫn thị tịch vào năm Cảnh long thứ 2 (708); ngài Tịnh tạng là đệ tử của Lục tổ Tuệ năng được người đời sau tôn là Tổ thứ 7, thị tịch vào năm Thiên bảo thứ 5 (746); ngài Cảnh hiền là đệ tử nối pháp của thiền sư Thần tú, thị tịch vào năm Khai nguyên 11 (723), v.v... Ngoài ra, vào đầu đời Đường, thiền sư Nhất hạnh và luật sư Nguyên đồng có thiết lập đàn giới Ngũ Phật chính tư duy ở chùa này, từ đó chùa trở nên hưng thịnh một thời, được gọi là Lạc vực đệ nhất, về sau suy vi dần. Đến khi ngài Thừa như từ chùa An quốc ở Thượng đô về trụ trì, chùa lại được phục hưng, hằng năm kiến lập giới đàn phương đẳng, giảng dạy giới luật. Vào năm Đại lịch thứ 2 (767), triều đình cho phép lập đàn giới Lưu li ở phía tây chùa, số người thụ giới hàng năm đạt tới hơn nghìn vị; thiền sư Triệu châu Tùng thẩm cũng thụ giới ở đây và tại đàn giới này, ngài Nguyên khuê truyền giới cho thần núi. [X. Kim thạch tụy biên Q.94, Q.95; Bồ đề đạt ma tung sơn sử tích đại quan; China văn hóa sử tích Q.2; Thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

hồi thí

See Hồi Hướng. ; (回施) Đem công đức của mình bố thí cho chúng sinh để họ được sinh về Tịnh độ. Hồi thí có 2 nghĩa: 1. Phật hồi thí cho tất cả chúng sinh 2. Chúng sinh này hồi thí cho chúng sinh khác. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

hồi thí hướng thiện

(回施向善) Đem công đức thiện căn của mình ban bố cho tất cả chúng sinh để mong mọi người cùng nhau hướng thiện. (xt. Hồi Hướng).

hồi thú

Hồi tâm hướng theo đạo Phật—To turn from other things to Buddhism.

hồi thế hướng xuất thế

To turn from this world to what is beyond this world—To turn from the worldly to the unworldly.

hồi tiểu hướng đại

Chuyển từ tự lợi đến lợi tha—To turn from self-benefit to benefiting others.

hồi tránh luận

(回諍論) Phạm: Vigraha-vyàvartanì.Tác phẩm,1 quyển, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjuna) soạn, 2 ngài Tì mục trí tiên và Cù đàm lưu chi dịch vào năm Hưng hòa thứ 3 (541) đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 31.Toàn bộ sách có 72 bài kệ, mỗi bài đều do chính tác giả chú thích. Nội dung gồm 2 phần: 1. Phần nghi ngờ chất vấn Luận giả. 2. Phần bác bỏ các điều nghi ngờ chất vấn ấy. Phần 1 nêu ra những điều nghi ngờ, chất vấn của đối phương về mệnh đề căn bản: Tất cả pháp không vô tự tính (duyên khởi) trong giáo lí Đại thừa. Phần 2 thuyết minh giáo nghĩa Tất cả pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh, không có tự tính để bác bỏ tất cả luận điểm của đối phương. Hai phần trên đây có 10 mục, nhưng chủ yếu nhất là nói rõ về lí Vô tự tính và tự tính (thực thể) thành lập hay không thành lập.

hồi trì hướng tốc

(回遲向速) Xoay chậm hướng nhanh. Nghĩa là chuyển đổi hạnh tiệm tu tiệm ngộ thành hạnh đốn tu đốn ngộ (thay vì tu muôn kiếp mới thành tựu giác ngộ, thì chỉ tu trong một đời là thành tựu). (xt. Hồi Hướng).

hồi trước

Formerly—Previously.

hồi tài

Payment by a donor of sums already expended at his request by a monastery. ; (回財) Trả lại tiền của. Môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên quyển 29 nói: Thí chủ đến chùa truy tiến hương linh, nếu chưa nộp chi phí, thì xin tạm mượn tiền của Thường trụ để sắm sửa, sau đó thí chủ phải trả lại đủ số, gọi là Hồi tài .

hồi tâm

Hối cải mà quay về với Đại Thừa—To turn the mind or heart towards Mahayana—To regret—To repent. ; (回心) Xoay chuyển tâm ý. Tức chuyển đổi tâm tà ác chạy theo dục vọng thế gian, thành tâm hướng thiện và qui y Phật giáo. Chuyển đổi Tiểu thừa tự lợi hướng về Đại thừa lợi tha, gọi là Hồi tâm hướng đại. Xoay chuyển tự lực để tin vào tha lực (Phật, Bồ tát) gọi Xả tự qui tha. Người ngay từ đầu có thể vào thẳng Đại thừa, gọi là Trực nhập căn cơ, người phải nhờ sự hồi tâm chuyển ý, thì gọi là Hồi tâm căn cơ.

hồi tâm giới

Commandments bestowed on the converted or repentant. ; (回心戒) Tên khác của viên đốn giới. Cũng gọi Phạm võng bồ tát giới, Bồ tát kim cương bảo giới, Nhất thừa giới. Giới của những người thiện tâm Tiểu thừa hướng về Đại thừa lãnh thụ. Tức y theo diệu chỉ của kinh Pháp hoa mà truyền trao 10 giới nặng và 48 giới nhẹ nói trong kinh Phạm võng. (xt. Viên Đốn Giới).

hồi tâm hướng đại

(回心向大) Phạm: Mahàyànàtiprativàhanàrtha. Xoay tâm Tiểu thừa hướng về tâm Đại thừa để cầu Vô thượng bồ đề. Hồi tâm hướng đại phát xuất từ kinh điển Đại thừa. Đứng trên lập trường 5 tính khác nhau, tông Pháp tướng cho rằng Nhị thừa định tính không có khả năng hồi tâm hướng đại, chỉ có Nhị thừa Bất định tính mới có thể hồi tâm hướng đại, vào Niết bàn Vô dư. Trái lại, tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai đứng trên lập trường tất cả đều thành chủ trương Nhị thừa đều có khả năng hồi tâm hướng đại, cho đến thành Phật. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 11, quyển 21 (bản Bắc), thì Nhị thừa phải trải qua 1 vạn kiếp cho đến 8 vạn kiếp mới có thể trở thành bồ tát Đại thừa. Tông Pháp tướng cho rằng Nhị thừa Bất định tính, trước khi vào Niết bàn Vô dư, phải đem chủng tử của Bồ tát chủng tính trong thức A lại da hồi tâm và tùy theo căn cơ khác nhau mà thời gian cần để đạt đến giai vị Thập tín cũng khác nhau. Tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì nói, Bồ tát hồi tâm trước khi vào Niết bàn Vô dư, không có thời gian nhất định. Nhưng một khi đã vào Niết bàn Vô dư thì sự phát tâm bồ đề có nhanh, chậm khác nhau. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa Q.2; luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3, Q.4].

hồi tâm sám hối

Chuyển tâm từ xấu ác trở vể lương hảo—To turn the mind from evil to good—To repent.

hồi tâm trực tiến

(回心直進) Chỉ cho Hồi tâm giáo và Trực tiến giáo trong Đại thừa thủy giáo, thuộc 5 giáo pháp của tông Hoa nghiêm. Hồi tâm giáo: Giáo pháp được lập ra để độ căn cơ tiệm ngộ. Trực tiến giáo: Giáo pháp được đặt ra để độ căn cơ đốn ngộ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Ngũ thập yếu vấn đáp Q.thượng, Q.hạ].

hồi tưởng

To recall—To recollect.

hồi tế

(回祭) Cùng nghĩa với Hồi tài. (xt. Hồi Tài).

hồi tỉnh

To regain consciousness—To become conscious.

hồi tố

Retroactive.

hồi tự hướng tha

To turn from oneself to another.

hồi vật

(回物) Vật phẩm do tín đồ bố thí. Điều Điển tọa giáo huấn trong Vĩnh bình thanh qui quyển thượng (Đại 82, 321 thượng) nói: Thí chủ đến chùa thiết trai, phải cùng nhau bàn bạc phân chia Hồi vật, không được lấn quyền loạn chức .

hồi xưa

Once upon a time—In former time.

hồi đáp

To answer—To reply.

hồi đại nhập nhất

Trở về và gia nhập vào Nhất Thừa Giáo (Đại Thừa)—To turn to and enter the One Vehicle of Mahayana. ; (回大入一) Xoay chuyển tâm Đại thừa phương tiện trở về Nhất Phật thừa. Cứ theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3, thì vị Trưởng giả đem 3 loại xe là xe dê, xe nai và xe trâu cho 3 người con, lại dành riêng một cỗ xe do trâu trắng lớn kéo để ở ngoài nhà chờ khi các con ra khỏi ngôi nhà đang cháy thì cho. Trong thí dụ này, vị Trưởng giả chỉ cho đức Phật, 3 xe chỉ cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Xưa nay có 2 thuyết về vấn đề này: 1. Xe trâu (tức Bồ tát thừa) với xe trâu trắng lớn là một, tức hàng Thanh văn, Duyên giác sau khi đã chuyển vào Đại thừa thì chắc chắn sẽ nhập vào Nhất Phật thừa. Ngài Gia tường tông Tam luận và ngài Từ ân tông Pháp tướng chủ trương thuyết này. 2. Xe trâu khác với xe trâu trắng lớn, tức hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là phương tiện để đi vào Nhất Phật thừa. Các ngài Hiền thủ thuộc tông Hoa nghiêm và ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai chủ trương thuyết này. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

hồi đầu thị ngạn

(回頭是岸) Quay đầu lại liền thấy bến bờ. Hồi đầu, biểu thị nghĩa tỉnh ngộ, hối cải. Ví dụ người làm ác, một lúc nào đó, biết ăn năn tỉnh ngộ mà hướng thiện thì được cứu vớt. Phật giáo thường dùng câu Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn (bể khổ mênh mông, quay đầu thấy bờ) để khuyên người ta hướng thiện. Bể khổ chỉ cho thế giới đầy dẫy các khổ nạn, cũng tức là vòng luân hồi sống chết trong 3 cõi 6 đường, chúng sinh chìm nổi trong đó khó thoát ra được.

hồn

1) Tâm thức: Vijnana (skt)—Mind—Soul—Conscious mind. 2) Thần thức: Spirit—Soul (of the dead).

hồn bay phách lạc

Panmic (terror)-stricken.

hồn nhiên

Spontaneous—Natural.

hồn phách

Tên gọi khác của tâm thân. Hồn là tâm thức, có diệu dụng nhưng không có hình hài, phách là hình thể và là chỗ cho tâm thức nương vào—Animus and anima—The spiritual nature or mind, and the animal soul; the two are defined as mind and body or mental and physical, the invisible soul inhabiting in the visible body, the former being celestial, the latter terrestrial.

hồn ra khỏi xác

To disembody the soul.

hồn thần

Tên gọi khác của tâm thức. Tiểu Thừa lập ra sáu thức, Đại Thừa lập ra tám thức nầy đối với nhục thể gọi là “hồn thần,” mà ngoại đạo gọi là “linh hồn”—Another name for “Consciousness.” Hinayana considered the six kinds of consciousness as “Vijnana.” Mahayana considered the eight kinds of consciousness as “Vijnana.” Externalists considered “vijnana” as a soul.

hồn thần tinh thức

(魂神精識) Cũng gọi Tinh thần, Tinh linh, Tinh thức, Hồn thần. Chỉ cho tâm thức của chúng sinh, cũng chỉ chung thần thức của con người hoặc tinh linh của loài vật. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 276 thượng), nói: Thay hình đổi nẻo, thọ mệnh dài ngắn, hồn thần tinh thức, tự nhiên hướng tới . Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 108 hạ), nói: Tinh thức sáng láng, sinh ra các duyên . Thủ lăng nghiêm nghĩa sớ chú kinh quyển 1 phần 2 (Đại 39, 837 hạ) giải thích: Thức A lê da thứ 8 nhỏ nhiệm nhất trong các thức, cho nên gọi là Tinh thức . Các danh từ thần hồn, tinh linh, hồn phách, thức tinh, v.v... đã được sử dụng rất sớm trong các sách vở của Trung quốc thời xa xưa. Như trong sách Hoài nam tử có câu: Khí trời là hồn, khí đất là phách . Truyện Tả thị xuân thu nói: Tâm tinh linh chính là hồn phách . Nghi lễ chú sớ thì nói: Hơi thở ra vào gọi là hồn, tính sáng tỏ linh lợi của tai mắt, gọi là phách, người chết thần hồn đi thì phách cũng lìa . Ngoài ra, thời xưa người ta cũng cho rằng khí dương là hồn, khí âm là phách, âm dương hòa hợp thì thành người, vì thế mà có thuyết chủ trương sau khi người ta chết thì hồn phách lên trời. Khi kinh điển Phật giáo được truyền dịch, các dịch giả thường mượn loại dụng ngữ này để chỉ chung cho tinh thần, tâm thức, hoặc dùng làm tên khác của thân tâm. Như Chư kinh yếu tập quyển 19 (Đại 54, 178 hạ), nói: Hồn là linh, phách là xác (chết) cho nên khi người mới chết, đem áo của họ mặc lúc còn sống, đặt lên xác chết, vì hồn đã ra khỏi xác, dùng áo gọi hồn, hồn biết áo mình, tìm về với phách. Nếu hồn về với phách, thì tờ giấy đậy miệng xác hơi động; còn nếu hồn không về, thì tờ giấy không động . [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.9].

hồn tế

(魂祭) Cũng gọi Linh tế, Bồn tế, Thánh linh tế, Tinh linh tế. Nghi thức cúng tế vong linh tổ tiên của Thần đạo Nhật bản. Hồn tế là một loại hành sự hàng năm được kết hợp giữa hội Vu lan bồn của Phật giáo và phong tục cúng tế tổ tiên của Thần đạo Nhật bản mà thành. Bắt đầu từ năm Suy cổ Thiên hoàng 14 (606), hàng năm vào ngày 8 tháng 4 và ngày rằm tháng 7, các chùa viện ở Nhật bản đều có thiết lễ Hồn tế. Tháng 7 năm Tề minh Thiên hoàng thứ 3 (675), chùa Phi điểu tổ chức lễ hội Vu lan bồn, về sau lại được mở trong cung vua và tại các chùa lớn; từ đó, lễ hội này được thực hành rộng rãi trong dân gian, cho mãi đến ngày nay. Đặc biệt từ thời Trung cổ (khoảng cuối thế kỉ XII đến cuối thế kỉ XVI) về sau, hội Vu lan bồn được gọi là Hồn tế. (xt. Vu Lan Bồn).

hồn vía

Soul and vital spirits.

Hồng

吽; C: hŏu; J: un;|Âm của chữ hūṃ trong tiếng Phạn, được xem như chủng tử chung của các thần. thường được dùng trong các Man-tra (s: mantra) và Đà-la-ni (s: dhāraṇī). Được cấu thành bởi 4 âm vị a अ, ha ह, u उ, và ma म.

hồng

Aruna or Rakta (skt)—Rosy—Pink--Red. ; (吽) Tức là chữ (hùô), mẫu tự Tất đàm, là chủng tử chung của chư thiên. Chữ này là phỏng theo tiếng rống của bò, hổ, là chân ngôn được dùng trong nghi thức Phệ đà đời xưa, gồm các nghĩa: Ngờ vực, vâng theo, phẫn nộ, sợ hãi v.v... Mật giáo thì dùng chữ này làm tiếng uy hiếp đe dọa, là chủng tử chung của Kim cương bộ. Lại trong ba bộ thì chư thiên thuộc về Kim cương bộ, cho nên chữ Hồng cũng là chủng tử chung của chư thiên. Chữ Hồng do 4 chữ Hạ (ha), A, Ô, Ma hợp thành, là chủng tử Bồ đề tâm của tất cả Như lai, chân như diệu thể hằng sa công đức riêng của tất cả Như lai đều từ chữ này sinh ra. Bát nhã lí thú thích quyển thượng (Đại 19, 609 hạ), nói: Chữ Hồng này có đầy đủ nghĩa của 4 chữ và lấy chữ Hạ làm bản thể. Chữ Hạ từ chữ A sinh ra, mà chữ A thì có nghĩa là tất cả pháp chẳng sinh, do đó, tất cả pháp là bất khả đắc. Trong chữ Hồng có âm Ô, mà âm Ô thì có nghĩa tất cả pháp tổn giảm bất khả đắc. Trên đầu chữ Hồng có chấm hình bán nguyệt đó là chữ Ma, tức là nghĩa ngã của tất cả pháp bất khả đắc . Trong tác phẩm Hồng tự nghĩa cũng giải thích rõ nghĩa chữ Hồng, cho rằng chữ A biểu thị nghĩa Pháp thân, bao nhiếp tất cả lí chân như, pháp giới, pháp tính, thực tế; chữ Ha biểu thị nghĩa Báo thân, bao nhiếp cả giáo nội ngoại, đại tiểu, quyền thật, hiển mật; chữ Ô biểu thị nghĩa Ứng thân, bao nhiếp tất cả hạnh Tam thừa, Ngũ thừa; chữ Ma biểu thị nghĩa Hóa thân, bao nhiếp tất cả quả pháp. Hồng tự nghĩa (Đại 77, 407 hạ), nói: Một chữ Hồng này bao nhiếp tất cả nhân, hạnh, quả của hàng Tam thừa và nhân hạnh của Hiển giáo Nhất thừa, Bí mật Nhất thừa, v.v... Kế đến là nói chữ Hồng này bao nhiếp tất cả nghĩa lí nói rõ trong các kinh luận. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10].

hồng anh

(洪英) (1012-1070) Vị Thiền tăng thuộc phái Hoàng long tông Lâm tế đời Tống, người huyện Thiện vũ, tỉnh Phúc kiến, họ Trần, người đời gọi sư là Anh thiệu vũ. Lúc đầu, sư xem luận Hoa nghiêm thập minh mà ngộ nhập tông yếu. Sau nghe tin ngài Hoàng long Tuệ nam hoằng pháp ở chùa Tích thúy núi Hoàng bá, sư liền đến xin y chỉ và được nối pháp của ngài. Sau đó, sư đến Sơn tây, trụ ở Song lãnh. Năm Hi ninh thứ 2 (1069), ngài Tuệ nam thị tịch, sư bèn khai pháp ở chùa Lặc đàm (tỉnh Giang tây), người đời gọi sư là Lặc đàm Hồng anh. Năm Hi ninh thứ 3 (1070), sư tịch, thọ 59 tuổi, pháp lạp 43. Sư có tác phẩm: Lặc đàm Anh thiền sư ngữ yếu 1 quyển.

hồng anh đào tất

(洪英搯膝) Tên công án trong Thiền tông, Hồng anh gõ đầu gối. Trong công án này, thiền sư Khả chân dùng sự tích cô gái xuất định để tiếp dẫn đại chúng. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 106 thượng) ghi: Ngài Thúy nham Khả chân chỉ vào ngực, hỏi đại chúng: Văn thù là thầy của 7 đức Phật, vì sao không làm cho cô gái ấy xuất định được? Mà bồ tát Võng minh từ phương dưới đến, lại có thể làm cho cô gái xuất định được, tại sao? Trong chúng không ai đáp được, chỉ một mình Hồng anh ngay lúc đó lấy tay gõ vào đầu gối rồi đi ra. Ngài Khả chân liền cười và nói: Ông khách bán thìa (muỗng) đũa đã đi rồi! .

Hồng Chung

(鴻鐘、洪鐘): chuông lớn, chuông to; còn gọi là Phạn Chung (梵鐘), Đại Chung (大鐘), Kim Chung (金鐘), Kình Chung (鯨鐘), Đồng Chung (銅鐘), Phong Chung (豐鐘), Cảnh Chung (景鐘), Hoa Chung (華鐘), Cự Chung (巨鐘), Phù Chung (鳬鐘), Lương Chung (梁鐘), Chàng Chung (撞鐘), Điếu Chung (釣鐘), Bồ Lao (蒲牢), Hoa Kình (華鯨). Từ nguyên gốc của Hồng Chung là Phạn Chung, nghĩa là chuông, loại pháp khí Phật Giáo, được truyền từ Ấn Độ sang các nước Phật Giáo Đại Thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, v.v. Tùy theo quốc gia chuông được tạo ra, chuông có tên gọi khác nhau như Trung Quốc Chung (中國鐘), Triều Tiên Chung (朝鮮鐘, hay Cao Lệ Chung [高麗鐘], Tân La Chung [新羅鐘]), Hòa Chung (和鐘, tức chuông Nhật Bản), v.v. Đối với trường hợp Nhật Bản, vẫn còn ký lục lưu lại trong Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshoki) cho biết rằng vào năm thứ 23 (562) đời Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539?-571), chuông được Đại Bạn Hiệp Thủ Sảng (大伴狹手彦, Ōtomo-no-Sadehiko) mang từ vương quốc Cao Cú Lệ (高句麗) của Triều Tiên sang Nhật. Chuông được xem như là tối cổ của Nhật Bản, có bản khắc minh ghi trên chuông vào năm 698 (Mậu Tuất), là Phạn Chung của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) ở kinh đô Kyoto. Vai trò chính của Phạn Chung là dùng để thông báo tiến hành các Phật sự, nghi lễ, v.v.; và cũng được dùng để báo thức sớm tối. Cho nên trong bài kệ Nguyện Chuông buổi sáng có câu: “Hồng chung sơ khấu, bảo kệ cao ngâm, thượng triệt Thiên Đường, hạ thông Địa Phủ (洪鐘初叩、寶偈高吟、上徹天堂、下通地府, chuông to mới đánh, kệ báu ngâm cao, trên thấu Thiên Đường, dưới thông Địa Phủ).” Tiếng chuông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống tâm linh của người dân bình thường cũng như tín đồ Phật Giáo. Theo như nghiên cứu cho thấy rằng trong bộ Toàn Đường Thi (全唐詩) cũng như Toàn Đường Thi Bổ Biên (全唐詩補編), có gần 1100 câu thơ về tiếng chuông, về Phạn Chung có 300 câu, cho ta thấy tầm quan trọng của tiếng chuông chùa như thế nào. Xin giới thiệu một số tác phẩm liên quan đến tiếng chuông như sau. Trong bài Trường Thọ Tự Xán Công Viện Tân Trứu Tỉnh (長壽寺粲公院新甃井) của Lý Kì (李頎, 690-751) có câu: “Tăng phòng lai trú cửu, lộ tỉnh mỗi đồng quan, bạch thạch bảo tân trứu, thương đài y cựu lan, không bình uyển chuyển hạ, trường cảnh lộc lô bàn, cảnh giới nhân tâm tịnh, tuyền nguyên kiến để hàn, chung minh thời quán đảnh, đối thử nhật nhàn an (僧房來徃久,露井每同觀。白石抱新甃,蒼苔依舊欄。空瓶宛轉下,長綆轆轤盤。境界因心淨,泉源見底寒。鐘鳴時灌頂,對此日閒安, tăng phòng đến đây ở, giếng nước ngày mỗi xem, đá trắng che mặt giếng, rêu xanh vẫn lan cùng, gàu nước buông thong thả, dây dài theo trục xoay, cảnh giới theo tâm lắng, suối nguồn tận đáy trong, chuông ngân dài quán đảnh, đối diện ngày an nhàn).” Trương Kế (張繼, ?-779) có làm bài Phong Kiều Dạ Bạc (楓橋夜泊) rất nổi tiếng: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên, Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (月落烏啼霜滿天,江楓漁火對愁眠,姑蘇城外寒山寺,夜半鐘聲到客船, trăng tà chiếc quạ kêu sương, lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ, thuyền ai đậu bến Cô Tô, nửa đêm nghe tiếng chuông Chùa Hàn San).” Như trong Vãn Đường Chung Thanh (晚唐鐘聲) của Phó Đạo Bân (傅道彬) có nêu một đoạn trong bài thơ Du Long Môn Phụng Tiên Tự (遊龍門奉先寺) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770): “Dĩ tùng Chiêu Đề du, cánh túc Chiêu Đề cảnh, âm hác sanh hư lại, nguyệt lâm tán thanh ảnh, thiên khuyết tượng vĩ bức, vân ngọa y thường lãnh, dục giác văn thần chung, linh nhân phát thâm tỉnh (已從招提遊,更宿招提境。陰壑生虛籟,月林散清影。天闕象緯逼,雲臥衣裳冷,欲覺聞晨鐘,令人發深省, từ độ thăm Chiêu Đề, lại luyến cảnh Chiêu Đề, hang tối vang tiếng vọng, rừng trăng bóng tỏ mờ, cổng trời bóng voi hiện, mây nằm áo lạnh băng, muốn dậy nghe chuông sớm, khiến người tỉnh thức sâu).” Hay trong San Hô Câu Thi Thoại (珊瑚鉤詩話) của Trương Biểu Thần (張表臣) có dẫn bài thơ của Thuyết Đỗ (說杜) là: “Chung khánh thanh tâm, dục sanh Duyên Giác (鐘磬清心,欲生緣覺, chuông khánh sạch lòng, chứng quả Duyên Giác).” Trong bài Kinh Thiếu Lâm Tinh Xá Ký Đô Ấp Thân Hữu (經少林精舍寄都邑親友) của Vi Ứng Vật (韋應物, 737-792) có câu: “Xuất hi thính vạn lại, nhập lâm trạc u tuyền, minh chung sanh đạo tâm, mộ khánh không vân yên (出巘聽萬籟,入林濯幽泉。鳴鐘生道心,暮磬空雲煙, ra hang vạn dây vướng, vào rừng rửa suối thiêng, chuông ngân sanh đạo tâm, khánh chiều mây khói quyện).” Lô Luân (盧綸, 739-799) có làm bài Thù Quý Đoan Công Dã Tự Bệnh Cư Kiến Ký (酬李端公野寺病居見寄): “Dã tự chung hôn sơn chánh âm, loạn đằng cao trúc thủy thanh thâm, điền phu tựu hướng hoàn y thảo, dã trĩ kinh phi bất quá lâm, trai mộc tạm tư đồng tĩnh thất, thanh luy dĩ giác trợ Thiền tâm, tịch mịch nhật trường thùy vấn tật, liệu quân duy thủ cổ phương tầm (野寺鐘昏山正陰,亂藤高竹水聲深。田夫就餉還依草,野雉驚飛不過林。齋沐暫思同靜室,清羸已覺助禪心。寂寞日長誰問疾,料君惟取古方尋, chùa hoang chuông chiều núi tỏa râm, dây leo trúc bám tiếng nước trầm, nông phu cất bước theo lối cỏ, gà đồng kinh hoảng bay qua rừng, chay tịnh ưu tư cùng tịnh thất, gầy xanh mới rõ ấy Thiền tâm, vắng lặng tháng ngày ai hỏi bệnh, khuyên người thôi chớ nhọc công tìm).” Hay trong bài Du Vân Tế Tự (遊雲際寺) của Chương Hiếu Tiêu (章孝標) có câu: “Vân lãnh phù danh khứ, chung chàng đại mộng tỉnh, mang mang sơn hạ sự, mãn nhãn tống lưu bình (雲領浮名去,鐘撞大夢醒。茫茫山下事,滿眼送流萍, mây núi phù danh bỏ, chuông ngân đại mộng tỉnh, mênh mang chuyện đời mặc, trước mắt bèo dạt trôi).” Trong bài Tặng Thiên Khanh Tự Thần Lượng Thượng Nhân (贈天卿寺神亮上人) của Triệu Hỗ (趙嘏, 806-853) có câu: “Ngũ khán xuân tận thử giang phần, hoa tự phiêu linh nhật tự huân, không hữu từ bi tùy vật niệm, dĩ vô tung tích tại nhân quần, nghênh thu nhật sắc diêm tiền kiến, nhập dạ chung thanh trúc ngoại văn, tiếu chỉ bạch liên tâm tự đắc, thế gian phiền não thị phù vân (五看春盡此江濆,花自飄零日自曛。空有慈悲隨物念,已無蹤跡在人群。迎秋日色簷前見,入夜鐘聲竹外聞。笑指白蓮心自得,世間煩惱是浮雲, năm bận đón xuân nơi bến sông, ngày nắng chói chan hoa phiêu bồng, không tâm từ bi theo vật nhớ, đã chẳng dấu tích chốn nhân quần, đón thu ngày mới trước thềm thấy, đêm về chuông vọng trúc ngoài vang, cười chỉ trắng sen lòng tự đắc, thế gian phiền não ấy phù vân).” Hay như trong bài Quá Hương Tích Tự (過香積寺) của Vương Duy (王維, 701-761) cũng có câu: “Bất tri Hương Tích Tự, sổ lí nhập vân phong, cổ mộc vô nhân kính, thâm sơn hà xứ chung, tuyền thanh yến nguy thạch, nhật sắc lãnh thanh tùng, bạc mộ không đàm khúc, an Thiền chế độc long (不知香積寺,數里入雲峰。古木無人逕,深山何處鐘。泉聲咽危石,日色冷青松。薄暮空潭曲,安禪制毒龍, nào hay Hương Tích Tự, mấy dặm trong mây rừng, cây xưa không người bước, núi sâu chuông chốn nào, tiếng suối ngâm lòng đá, ngày lên lạnh tùng xanh, chiều buông trên hồ vắng, tọa Thiền chế độc long).” Tại Tây Hồ, Hàng Châu có 2 ngôi danh lam là Tịnh Từ Tự (淨慈寺) và Linh Ẩn Tự (靈隱寺). Ở Tịnh Từ Tự có một Đại Hồng Chung rất nổi tiếng, nơi nhà bia an trí chuông có bút tích của vua Khang Hy với dòng chữ: “Nam Bình Vãn Chung (南屏晚鐘, Chuông Chiều Nam Bình).” Thi sĩ Trương Đại nhà Đường có làm bài thơ để diễn tả sự xuất thần nhập hóa của tiếng chuông chùa này như sau: “Dạ khí ổng Nam Bình, khinh phong bạc như chỉ, chung thanh xuất thượng phương, dạ độ không giang thủy (夜氣滃南屏、輕風薄如紙、鐘聲出上方、夜渡空江水, màn đêm trùm khắp Nam Bình, gió nhè nhẹ thổi như hình giấy manh, tiếng chuông vút tận trời xanh, buông vào đêm vắng sông thanh nghìn trùng).” Sau này dân gian vẫn có câu: “Ngọc Bình thanh chướng mộ yên phi, cam điện chung thanh lạc thúy vi (玉屏青嶂暮煙飛,紺殿鐘聲落翠微, Ngọc Bình mây khói chiều lặng bay, điện báu chuông chùa rụng sương chầy).” Về phía Việt Nam, cũng có khá nhiều bài thơ nói về tiếng chuông như trong bài của Đoàn Văn Khâm truy điệu Thiền Sư Chân Không: “Hạnh cao triều dã chấn thanh phong, tích trụ như vân mộ tập long, nhân vũ hốt kinh băng huệ đống, đạo lâm trường thán yển trinh tòng, phần oanh bích thảo thiêm tân tháp, thủy trám thanh sơn nhận tạ dung, tịch tịch Thiền quang thùy cánh khấu, kinh qua sầu thính mộ thiên chung (Trong triều ngoài nội kính gia phong, chống gậy đường mây quyện bóng rồng, cửa từ chợt hoảng rường cột đỗ, rừng đạo bùi ngùi cột thông long, cỏ biếc quanh mồ thêm tháp mới, non xanh nước thắm gởi thân trong, vắng vẻ cửa Thiền ai đến gõ, văng vẳng chuông chiều nát cõi lòng).” Hay như bài thơ của thi sĩ Dương Cự Nguyên người Tàu làm tặng tiễn chân Pháp Sư Phụng Đình của Việt Nam về nước như sau: “Cố hương Nam Việt ngoại, vạn lí bạch vân phong, kinh luận từ thiên khứ, hoa hương nhập hải phùng, lộ đào thanh phạm triệt, thận các hóa thành trùng, tâm đáo Trường An mạch, Giao Châu hậu dạ chung (Cố hương nam việt ấy, ngàn dặm mây trắng bay, cửa trời vắng kinh kệ, biển rộng hương hoa đầy, bóng cò in sóng bạc, thành quách lung linh xây, Trường An lòng tưởng nhớ, Giao Châu chuông canh chầy).” Tổ Giác Tiên (覺先, 1880-1936), người sáng lập ra An Nam Phật Học Hội Trung Việt, tổ sư khai sáng Chùa Trúc Lâm Huế có làm bài thơ: “Tuần diêm thanh khánh sao minh nguyệt, nhiễu thọ sơ chung khấu bích thiên (巡簷清磬敲明月,繞樹疏鐘扣碧天, tiếng khánh quanh nhà lay trăng sáng, cùng cây chuông sớm gõ trời xanh).” Cố Ni Trưởng Thích Nữ Diệu Không (1905-1997), nguyên trú trì và khai sơn Hồng Ân Ni Tự (鴻恩尼寺) tại Huế, cũng có lưu lại bài thơ ca ngợi về nét Thiền vị của chùa Trúc Lâm như sau: “Bước đến Trúc Lâm luống chạnh lòng, chuông chùa tiếng dội khắp rừng thông, trông lên bảo tháp mây quang đãng, ngó xuống ao sen cá vẫy vùng, cảnh tịnh soi tâm tâm cũng tịnh, nước trong trăng chiếu bóng thường trong, cảnh này nếu được đem thêu vẽ, tỏa rạng ngàn năm nét Đại Hùng.” Hòa Thượng Thạch Liêm (石濂, 1633-1702) có làm bài Vịnh Hà Trung Tự Thi (詠河中寺詩): “Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm cung, chung thanh điều đệ mãn hà phong, trúc li thảo kính phù lam yểm, thạch hác hà lâu đảo ảnh không, hầu thực hồng ngư xuy thủy thượng, đề yên thúy điểu lạc hoa trung, vương gia từ miếu âm sum xứ, huýnh hữu linh quang xạ hải Đông (綠柳垂垂隱梵宮、鐘聲迢遞滿河風、竹籬草徑浮嵐掩、石壑霞樓倒影空、候食紅魚吹水上、啼煙翠鳥落花中、王家祠廟陰森處、逈有靈光射海東, nép bóng chùa xưa liễu xanh non, tiếng chuông xa vẳng theo gió sông, lối cỏ bờ trúc mây khói phủ, hang đá lầu chiều bóng nghiêng lồng, đớp mồi cá nỗi trên dòng nước, chim xanh rộn hót giữa hoa hồng, vương gia miếu phủ nơi rừng thẳm, lóe sáng mù khơi rạng biển Đông).” Hơn nữa, tục ngữ dân gian Việt Nam thường có câu: “Đánh tan tục lụy hồi chuông sớm, gõ nát trần tâm tiếng mõ trưa”, hay “gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Sương, mịt mù khói toả ngàn sương, nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”, v.v.

hồng chung

Great bell

hồng châu tông

(洪州宗) Một tông phái Thiền Trung quốc do thiền sư Mã tổ Đạo nhất (709-788) sáng lập. Vì ngài Mã tổ ở chùa Khai nguyên tại Hồng châu (huyện Nam xương, tỉnh Giang tô), xiển dương Thiền pháp rất hưng thịnh, vì thế môn phái của ngài được gọi là tông Hồng châu. Tông này chủ trương rằng tất cả những sinh hoạt thường ngày như: đi, đứng, ngồi, nằm, nhướng mày, chớp mắt, mặc áo, ăn cơm, v.v... đều là sự hiển hiện của tính Phật. Tông phong này khác với chủ trương của thiền Bắc tông và thiền Ngưu đầu. Đời sau cho pháp hệ của ngài Mã tổ là chính hệ, còn pháp hệ của ngài Khuê phong Tông mật thừa kế tông Hà trạch là chi hệ. [X. Thiền tông sư tư thừa tập đồ].

hồng chí

Great will.

hồng chủng

The red race.

hồng cáp la tất lợi

(吽哈囉悉利) (1103-1165) Vị cao tăng người nước Mạt quang thát thuộc Bắc Ấn độ. Ngài ở tại núi Kê túc, tụng Mật ngữ của chư Phật, có thần thông lớn. Khoảng năm Thiệu hưng (1141-1148) ngài cùng với 7 vị sư khác trong đó có người em ruột là Tam ma da tất lợi đến Trung quốc, lên núi Thanh lương lễ bồ tát Văn thù và đến núi Linh nham lễ bái bồ tát Quan âm. Sau đó, ngài xây cất chùa Văn thù chân dung ở Tế nam, để người em ở lại trụ trì. Rồi ngài lại đến Lệ châu làm chùa Tam học và trụ trì tại đó. Niên hiệu Càn đạo năm đầu (1165) đời Nam Tông, ngài tịch thọ 63 tuổi. [X. Bổ tục cao tăng truyện Q.1; Phật tổ lịch đại thông tải Q.31; Thích thị nghi niên lục Q.8].

Hồng danh

(鴻名): tên to lớn, vĩ đại, trọng thể; hay danh hiệu linh thiêng. Như trong Khai Nguyên Nguyên Niên Xá Thư (開元元年赦書) của Tô Đĩnh (蘇頲, 670-727) nhà Đường có câu: “Hồng danh bất khả dĩ thâm cự, thạnh điển bất khả dĩ cố vi (鴻名不可以深拒、盛典不可以固違, tên vĩ đại không thể nào chối từ, lễ trọng thể không thể nào sai phạm).” Hay trong bài Hao Lí Khúc (蒿里曲) của Tôn Chi Úy (孫枝蔚, 1620-1687) nhà Thanh có câu: “Thiên tử hữu đạo trọng nhân mạng, hồng danh hách hách thùy vô cùng (天子有道重人命、鴻名赫赫垂無窮, thiên tử có đạo xem trọng mạng người, tiếng tăm lừng lẫy mãi không cùng).” Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 3 có đoạn: “Phật duyên hạnh ngộ thức hồng danh, hỏa cấp Tây quy thử nhất sanh, bất hướng thử sanh bính lực khứ, bào thai tái nhập đọa vô minh (佛緣幸遇識鴻名、火急西歸此一生、不向此生拼力去、胞胎再入墮無明, duyên Phật may gặp biết hồng danh, gấp rút về Tây một kiếp nhanh, chẳng để một đời phí uổng sức, bào thai đọa nữa mãi vô minh).” Hay trong Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Luân Quán (地藏本願經綸貫, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 383) lại có câu rằng: “Kim phù chư Phật danh hiệu, danh thật giai chơn; cố tài cử hồng danh, vạn đức toàn bị, nhất xưng gia hiệu, chúng tội tề tiêu (今夫諸佛名號、名實皆眞、故纔舉鴻名、萬德全備、一稱嘉號、眾罪齊消, nay phàm danh hiệu của chư Phật, tên gọi chân thật; cho nên vừa mới xướng hồng danh thì muôn đức có đủ, xưng một thánh hiệu, các tội đều tiêu).”

hồng danh

Great fame

hồng giáo

Hồng Y Phái—Phái Lạt Ma áo đỏ của Tây Tạng (giáo chủ được phép lấy vợ và kế truyền theo huyết thống). Môn phái nầy lưu hành ở phía nam Tây Tạng—The red sect, i.e. the Zva-dmar, or Shamar, the lder Lamaistic sect of Tibet, who wear red clothes and hats. This sect is popular in southern Tibet. ; (紅教) Cũng gọi: Cựu giáo, Hồng mạo phái. Đối lại với Tân giáo (Hoàng giáo). Tức phái Ninh mã thuộc Lạt ma giáo Tây tạng, do Thượng sư Liên hoa sinh (Phạm: Padmasambhava), một học giả trứ danh người Ấn độ sáng lập. Năm 747 Tây lịch, sau khi được mời đến Tây tạng, ngài đi khắp nơi trong nước, hết lòng truyền đạo. Giáo nghĩa của ngài lấy việc hộ trì tâm Bồ đề làm chính, và dẹp trừ đồng bóng, bùa chú, dị đoan đang mê hoặc người dân Tây tạng. Hai mươi lăm vị đệ tử của ngài chia nhau đi giáo hóa các địa phương chỉ trong vòng 3 năm, Mật giáo đã phổ cập khắp đất nước Tây tạng, chùa tháp, linh đàn, nguy nga tráng lệ. Đến đây, nền tảng của Lạt ma giáo Tây tạng đã được thiết lập vững chắc và Thượng sư Liên hoa sinh trở thành vị Tổ khai sáng của Lạt ma giáo Tây tạng. Về sau, Lạt ma giáo Tây tạng, chia ra nhiều chi phái, nhưng riêng phái Hồng giáo thì vẫn duy trì được trạng thái cũ, mặc dầu trải qua nhiều cuộc biến đổi. Tăng chúng của phái này đều mặc ca sa mầu đỏ, đội mũ mầu đỏ, cho nên gọi là Hồng giáo. So với các phái khác thì phái này lại không xem trọng giới hạnh. Giáo chủ phái này được lấy vợ, cho rằng việc ấy không trở ngại gì cho việc tu đạo. Nhưng từ khi ngài Tông khách ba thi hành chính sách đổi mới Lạt ma giáo, sáng lập phái Hoàng giáo (giáo phái mặc áo mầu vàng) vào thế kỉ thứ XIV, thì thế lực của phái Hồng giáo dần dần suy yếu, hiện nay tín đồ không còn được bao nhiêu. (xt. Tây Tạng Phật Giáo, Ninh Mã Phái).

hồng hào

To have a rosy complexion.

Hồng hưu

(洪庥): cùng nghĩa với hồng tỉ (洪庇), nghĩa là sự che chở, ơn mưa móc, sự tốt lành do trên ban xuống. Như trong bài Tán Hoa Sơ Hiến (散花初獻) của Bảo Phủ Quân Tiếu Khoa (鮑府君醮科) do Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh sáng tác có câu: “Kim tiếu chủ mỗ thâm hà hồng hưu, dự mông âm chất, kính dĩ tuế thần chi cát, cẩn trần tiếu lễ chi diên (今醮主某深荷洪庥、預蒙陰隲、敬以歲辰之吉、謹陳醮禮之筵, Hôm nay chủ lễ cúng là …, vốn mang nặng ơn mưa móc, được hưởng âm phúc, kính xin lấy ngày giờ tốt, thiết dọn lễ phẩm cúng dâng).” Tại chánh điện của Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) thuộc Phúc Châu (福州), Phúc Kiến (福建), có câu đối rằng: “Phạm vũ khánh trùng tân, y cựu từ vân chiêm bảo tướng; linh tuyền thường bất hạc, vĩnh triêm pháp vũ mộc hồng hưu (梵宇慶重新、依舊慈雲瞻寶相、靈泉常不涸、永沾法雨沐洪庥, Phạm vũ đẹp lại mới, như cũ mây từ nhìn tướng báu; suối linh thường không cạn, mãi rưới mưa pháp tắm ơn dày).” Câu “cấu tiền nhân tỉ ấm chi hồng hưu (構前人庇廕之洪庥)” có nghĩa là nối tiếp ân huệ, ơn mưa móc (sự nghiệp) thường che chở của người đi trước.

hồng hồng

(吽吽) Hồng vốn là tiếng rống của bò, hổ (cọp), Mật giáo dùng âm thanh này để biểu thị ý nghĩa trừ tà, dọa nạt. Trong Thiền lâm, 2 chữ Hồng hồng được dùng để biểu thị cho cảnh giới vô phân biệt, không thể dùng văn tự, ngôn ngữ để giải thích. Lâm tế lục, khám biện (Đại 47, 504 thượng), ghi: Sư hỏi Hạnh sơn: Thế nào là trâu trắng ở chỗ đất trống? Hạnh sơn đáp: Hồng hồng .

Hồng liên

(s: padma, kōren, 紅蓮): hoa sen hồng, âm dịch là Bát Đầu Ma (鉢頭摩), nguyên sản ở vùng Đông Ấn Độ, Ba Tư (波斯). Trong 40 tay của Thiên Thủ Quan Âm (千手觀音, Quan Âm Ngày Tay), có 1 tay bên phải cầm hoa này, gọi là Hồng Liên Hoa Thủ (紅蓮華手, tay hoa sen hồng). Trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (千手千眼觀世音菩薩大悲心陀羅尼, Taishō 20, 118) có đoạn rằng: “Nhược vi cầu sanh chư Thiên cung giả, đương ư Hồng Liên Hoa Thủ; chơn ngôn: 'án thương yết lệ tát phạ hạ' (若爲求生諸天宮者、當於紅蓮華手、眞言:唵商掲隷薩嚩賀, nếu có người vì cầu sanh lên cung điện của chư Thiên thì nên ở nơi cánh tay cầm hoa sen hồng; chơn ngôn là 'án thương yết lệ tát phạ hạ').” Trong bài kệ xưng tán Kinh Pháp Hoa có câu: “Lục vạn dư ngôn thất trục trang, vô biên diệu nghĩa quảng hàm tàng, Bạch Ngọc xỉ biên lưu Xá Lợi, Hồng Liên thiệt thượng phóng hào quang, hầu trung Cam Lồ quyên quyên nhuận, khẩu nội Đề Hồ trích trích lương, giả nhiêu tạo tội quá sơn nhạc, bất tu diệu pháp lưỡng tam hàng (六萬餘言七軸裝、無邊妙義廣含藏、白玉齒邊流舍利、紅蓮舌上放毫光、喉中甘露涓涓潤、口內醍醐滴滴涼、假饒造罪過山嶽、不須妙法兩三行, hơn sáu vạn lời bảy cuốn thành, vô biên nghĩa mầu rộng ẩn tàng, bên răng Ngọc Trắng tuôn Xá Lợi, trên lưỡi sen hồng phóng hào quang, trong cổ Cam Lồ rả rích nhỏ, trên miệng Đề Hồ giọt giọt tan, giả như tạo tội hơn núi cả, chẳng bằng diệu pháp vài ba hàng).”

hồng liên hoa

Padma (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus. ; (紅蓮華) Phạm: Padma. Dịch âm: Bát đầu ma hoa. Hoa sen mầu hồng (đỏ lợt). Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, một trong những tay bên trái của Ngài cầm hoa này, gọi là Hồng liên hoa thủ. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (Đại 20, 118 trung), nói: Nếu người muốn cầu sinh lên các cõi trời, thì nên hướng về tay Hồng liên hoa. Chân ngôn là: Án thương yết lệ tát phạ hạ . [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.3].

hồng liên đại hồng liên

Maha-padma (skt)—See Địa Ngục (b) (8).

hồng liên địa ngục

Bát Đặc Ma Địa Ngục—Địa ngục được gọi theo tên “hồng liên,” là địa ngục thứ bảy trong bát hàn địa ngục, nơi mà da thịt của tội nhân vì quá lạnh mà nở toét ra như những cánh sen đỏ—The hell called after the name of the Padma (red lotus), the seventh of the eight cold hells, where flesh of the sufferers bursts open like red lotuses.

hồng lô thượng nhất điểm tuyết

(洪爐上一點雪) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một lọn tuyết trên lò lửa đỏ. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để ví dụ sự vô thường, hư ảo hoặc chỉ cho cảnh giới vắng bặt, không dấu vết. 1. Vô thường, hư ảo. Chương Trường tì khoáng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 313 thượng), ghi: Ngài Thạch đầu hỏi: Ông thấy đạo lí gì mà lễ bái? Trường tì đáp: Theo chỗ đệ tử thấy thì giống như lọn tuyết trên lò lửa . 2. Chỉ cho cảnh giới vắng bặt, không dấu vết. Tắc 69 trong Bích nham lục (Đại 48, 198), nói: Thấu suốt rừng gai gốc, ngôi nhà của nạp tăng giống như một lọn tuyết trên lò lửa đỏ .

hồng lô tự

(鴻臚寺) Tòa nhà dùng để tiếp khách nước ngoài của triều đình nhà Hán, Trung quốc. Vị quan đứng đầu Hồng lô tự, đời Tần gọi là Điển khách, đời Hán gọi là Hồng lô khanh, có nhiệm vụ quản lí, tiếp đón khách nước ngoài và các việc tang ma, chúc mừng, v.v... Cứ theo Đường thư Bách quan chí 38, Hồng lô tự đặt một vị Khanh, 2 vị Thiếu khanh, 2 vị Thừa, chuyên việc tiếp khách và điều khiển lễ nghi. Khi Phật giáo mới được truyền vào Trung quốc các vị sa môn Tây vực đến đây hoằng pháp, được mời an nghỉ ở Hồng lô tự, do vị Hồng lô khanh chỉ dẫn việc ăn ở, tới lui. Chính do đây mà đời sau gọi chỗ ở của Tăng ni là tự (chùa). Đến đời Đường, Phật giáo hưng thịnh, các vị sư Tây vực, như ngài Bồ đề lưu chí, Thiện vô úy, Bất không, v.v... đều đã được tặng chức Hồng lô khanh. [X. Hán thư bách quan công khanh biểu 7 phần trên; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

hồng nghê tứ duyên

(虹霓四緣) Bốn duyên cầu vồng. Cứ theo kinh Pháp tập quyển 2, thì do nhân duyên thiện căn hạnh nghiệp, mà các Bồ tát có quả báo thắng diệu khác nhau, cho nên trong kinh dùng nhiều thí dụ để nói rõ việc này, Hồng nghê (cầu vồng) chính là một trong các thí dụ ấy. Mầu sắc của cầu vồng sinh ra trong hư không là do nhân duyên 4 đại đất, nước, lửa, gió, 4 đại này tuy không có trong cầu vồng, nhưng nhờ có 4 đại mà cầu vồng mới hiển hiện. Bốn duyên: 1. Địa đại sinh hoàng: Mầu vàng là mầu của đất, từ đất ánh hiện, cho nên cầu vồng hẳn phải nương vào đất mà sinh khởi. 2. Thủy đại sinh thanh: Mầu xanh của cầu vồng là mầu của nước, do nước chiếu rọi mà sinh, vì thế cầu vồng hẳn phải nhờ mưa mà có. 3. Hỏa đại sinh xích: Mầu đỏ của cầu vồng là mầu của lửa, cũng là mầu của mặt trời, cho nên cầu vồng phải nhờ ánh sáng của mặt trời chiếu soi mới hiện. 4. Phong đại sinh luân: Cầu vồng tùy nơi mà hiện khởi, mới đầu không có thực, nhưng nhờ sức của gió giữ gìn, nên có hình tướng như bánh xe, đó là do thể tính của gió, vận động theo bản năng.

hồng nhan đa truân

Beautiful women often have many misfortunes.

hồng như

(洪如) (1592-1664) Vị Thiền tăng sống vào đầu đời Thanh, người Mâu định, tỉnh Vân nam, họ Đặng, tự Vô trụ. Lúc còn ít tuổi, sư đã nghiên cứu kĩ kinh Kim cương, theo ngài Hải lượng Đại thiên xuất gia, tham yết ngài Triệt dung Chu lí. Về sau, sư đến chùa Phúc thành, huyện Định viễn giữ việc trông coi về cơm nước cho chúng tăng, một đêm nghe tiếng chuông bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư từng theo hầu ngài Chu lí đến Kim lăng thỉnh Đại tạng kinh, rồi đi khắp nơi tham vấn các bậc tôn túc như Thiên đồng, Lục tuyết, v.v... Sau khi trở về quê, sư sáng lập chùa Bảo hoa ở núi Thủy mục. Ngoài việc xiển dương Thiền pháp, sư còn truyền bá Luật học, tông phong rạng rỡ, đạo tràng hưng thịnh một thời. Sau sư phó pháp cho đệ tử là Phi tướng Phổ hành. Năm Khang hi thứ 3 (1664) sư tịch, thọ 73 tuổi, đệ tử xây tháp thờ ở núi Thủy mục. Sư để lại các tác phẩm: Thương sơn tập, Không minh tập, Khổ hải từ hàng tập, Tông môn ngữ lục, Nam đăng tục diệm. [X. Điền thích kỉ Q.2; Tân tục cao tăng truyện Q.21].

hồng phúc

1) Đại hạnh phúc: Great happiness. 2) Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa Hòe Nhai. Tương truyền chùa được xây vào thời nhà Lý, và đã trải qua các cuộc trùng tu vào những năm 1687, 1899, và 1952. Bên phải chùa có tháp Ấn Quang, được dựng lên để kỷ niệm Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu năm 1963. Chùa còn là Tổ Đình của Thiền phái Tào Động. Hiện Hòa Thượng Thích Đức Nhuận trụ trì chùa. Trong chùa có một số bia đá, đặc biệt là bia dựng năm 1703, ghi rõ vị trí chùa ở phường Hòe Nhai, tại Đông Bộ Đầu, nhờ thế mà các nhà sử học ngày nay xác định được vị trí quân đội Việt Nam chiến thắng quân đội Mông Cổ vào năm 1258. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng bằng gỗ và đồng, đặc biệt là pho tượng kép bằng gỗ vào thời Hậu Lê. Theo sách Thiền Sư Việt Nam của Hòa Thượng Thích Thanh Từ: “Trong chùa có tượng vua Lê Hy Tông để tượng Phật trên lưng quỳ sám hối.”: Name of a temple, located in Ba Đình district, Hanoi City, North Vietnam. It is also called Hồng Phúc Tự. It was said that Hòe Nhai Temple was built in the Lý dynasty and rebuilt in 1687, 1899, and 1952. On the right side of the temple stands Ấn Quang stupa built to memorized Most Venerable Thích Quảng Đức who burnt himself in 1963. The temple is also considered the Patriarch House of the Tào Động Ch'an Sect. Most Venerable Thích Đức Nhuận is now Head or abbot of the temple. Hòe Nhai Temple has some famous stelae, especially the stele that was built in 1703, showing that the temple was situated in Hòe Nhai quarter, Đông Bộ Đầu. This important fact helped the historians locate the place where Vietnam Army won over Yuan army in 1258. The statue is placed in the Main Hall. A great deal of wooden and bronze statues have been conserved in the temple. The most extraordinary is a wooden double statue cast in the late Lê dynasty. According to Vietnam Ch'an Masters, composed by Ch'an Master Thich Thanh Từ, “the Buddha statue was placed on king Lê Hy Tông statue's back as the King kneeling in repentance.”

hồng phả lê sắc a di đà

(紅頗梨色阿彌陀) Tượng đức Phật A di đà có mầu pha lê hồng, ngồi kết già trên tòa sen hồng, đầu đội mũ báu ngũ Phật kim cương, 2 tay kết Định ấn, uy dung đoan nghiêm. Là một trong 5 đức Phật. Nếu phối hợp với 5 đại, thì vì đức Phật A di đà ở về phương Tây nên thuộc hỏa đại, nếu phối với 5 mầu thì Ngài thuộc về mầu đỏ. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà là ni Q.2; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ].

hồng quan âm

(紅觀音) Hóa thân của bồ tát Quan âm. Một trong các vị Bản tôn của Mật tông thuộc Phật giáo Tây tạng.

hồng thủy

Flood.

Hồng trần

(紅塵): nguyên nghĩa là bụi đất nhìn như thể màu hồng dưới ánh mặt trời, từ đó nó có nghĩa là cuộc sống thế tục, hay chuyện đời phiền toái. Trong bộ Vĩnh Bình Quảng Lục 10 (永平廣錄, Eiheikōroku) của Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), vị tổ khai sáng ra Tào Động Tông (曹洞宗, Sōtō-shū) Nhật Bản, có mấy câu thơ rằng: “Tây lai tổ đạo ngã truyền Đông, câu nguyệt canh vân mộ cổ phong, thế tục hồng trần phi bất đáo, thâm sơn tuyết dạ thảo am trung (西來祖道我傳東、鉤月耕雲慕古風、世俗紅塵飛不到、深山雪夜艸庵中, Tổ đạo Tây lai ta truyền Đông, câu nguyệt cày mây nhớ cổ phong, bụi trần thế tục nào vướng lụy, thâm sơn đêm tuyết thảo am nằm).”

hồng trần

Red dust—Universe—World

Hồng Trắc

洪陟; C: hóngzhì; J: ōchoku; K: hongch'ŏk.|Tăng sĩ Hàn Quốc vào thời đại Tân La (e: silla); là người sáng lập trường phái Thật tướng sơn (實相⼭; k: silsangsan) của Phật giáo Hàn Quốc, là một trong Cửu sơn vào thời kì đầu của Phật giáo thiền Cao Li. Sư cùng sang Trung Hoa với người bạn là Đạo Nghĩa (道義; k: toŭi) tham học với Thiền sư Trí Tạng (智藏).

hồng tuân

(洪遵) (530-608) Vị cao tăng thuộc Luật tông sống vào đời Tùy, người Tương châu (huyện An dương, tỉnh Hà nam), họ Thời. Sư xuất gia năm 8 tuổi, lớn lên, sau khi thụ giới Cụ túc, đi các nơi học về Luật. Sau, sư theo ngài Đạo vân học Hoa nghiêm và Đại luận, rồi lại thụ pháp nơi ngài Đạo huy ở Nghiệp đô. Về sau, sư tu tập Đại luận, Tì đàm và pháp điều thuận của Thiền, suốt 10 năm. Từ đó, sư bắt đầu dạy Luật, người theo học có tới hơn nghìn vị. Năm Thừa quang thứ 5 (577), Bắc Tề bị Bắc Chu tiêu diệt, sư ẩn cư ở núi Bạch lộc. Năm Khai hoàng thứ 7 (587) đời Tùy, sư vâng sắc lệnh của vua về trụ trì chùa Đại hưng thiện. Năm Khai hoàng 11 (591), sư là một trong 10 vị Đại đức sa môn tham dự vào Dịch trường của ngài Xà na quật đa, người Ấn độ. Năm Khai hoàng 16 (596), sư được phong hiệu là Giảng Luật Chúng Chủ , giảng luật Tứ phần ở chùa Sùng kính, khiến cho nền Luật học ở Quan nội xưa nay vốn chỉ coi trọng luật Tăng kì, nhờ đó được thay đổi. Ngoài ra, sư còn giảng kinh Pháp hoa. Năm Đại nghiệp thứ 4 (608), sư tịch, thọ 79 tuổi. Sư có tác phẩm: Tứ phần luật đại thuần sao 5 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.21; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

hồng táo

Rose apple

Hồng từ

(鴻慈): đại ân, ơn lớn. Như trong bài Nghĩ Lý Hồng Chương Trần Miêu Sự Triệp Tử (擬李鴻章陳苗事摺子) của Vương Khải Vận (王闓運) có câu: “Mi khu khỏa giáp, mạc đáp hồng từ (糜軀裹甲、莫答鴻慈, nát thân bọc giáp, chẳng đáp ơn sâu).” Hay trong Tứ Minh Nhân Nhạc Dị Thuyết Tùng Thư (四明仁岳異說叢書, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 56, No. 948) lại có đoạn: “Phục vọng hồng từ, khúc tứ tinh sát, hạnh thậm hạnh thậm (伏望鴻慈、曲賜精察、幸甚幸甚, cúi mong đại ân, xét soi ban bố, may thay may thay).”

Hồng tự nghĩa

吽字義; C: hŏngzìyì; J: unjigi;|Ý nghĩa của chữ Hồng »Hūṃ«. 1 quyển, Không Hải (空海; j: kūkai) trứ tác năm 817. Một bản luận giải về linh tự hūm (Hồng tự 吽字), giải thích về mặt ngôn ngữ của hợp thể các âm vị h, a, ū and m (như được trình bày trong tác phẩm Lí thú thích 理趣釋 của Bất Không; s: amoghavajra). Ba âm nầy xem như có ý nghĩa chuẩn mực là Giải (解) đối với hàng phàm phu; và ý nghĩa rốt ráo là Thích (釋), cho các Đức Như Lai; và ý nghĩa bao quát, hợp thích (合釋), tổng hợp ý nghĩa chuẩn mực và rốt ráo. Theo ý nghĩa thông thường, âm ›h‹ là nguyên nhân (因; s: hetva), ›a‹ là mẹ của tất cả âm thanh (衆聲之母; A tự 阿字), ›u‹ là trừ diệt (tổn diệt 損減; s: ūna), và ›ṃ‹ là ›ngã‹ (我; s: ātman). Nghĩa rốt ráo của ›h‹ là: nguyên nhân ban đầu là không thể nắm bắt được; ›a‹ là cái tuyệt đối được định nghĩa trong Trung luận (中論; s: mādhyamikakārika), đó rõ là: biến khắp, nghĩa là âm ›a‹ biến khắp các âm thanh, thế nên có đặc tính hoàn toàn hiện hữu (有), vốn là không (空) và bất sinh (不生); ›u‹ có nghĩa Nhất thiết chư pháp tổn diệt bất khả cố (一切諸法損減不可故); và ›ṃ‹ biểu thị cho các pháp không có một tự thể thường hằng. Không Hải kết luận ›h‹ là thể của các pháp (Pháp thân 法身; s: dharma); ›a‹ là Báo thân (報身), ›ū‹ chỉ cho Ứng thân (應身), ›ṃ‹ là thân lịch sử (hoá thân 化身).

hồng tự nghĩa

(吽字義) Cũng gọi Hồng tự nghĩa thích, Hồng tự chân ngôn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Không hải, vị tăng Nhật bản soạn, được đưa vào Đại chính tạng tập 77. Nội dung sách này giải thích về tự tướng (theo Hiển giáo) và tự nghĩa (theo thâm nghĩa của Mật giáo) của chữ (hùô). (xt. Hồng).

hồng tự quán

(吽字觀) Pháp quán chữ (hùô, hồng), trong pháp tu của Mật giáo. Chữ Hồng là mật ngữ (chân ngôn) dùng trong chú pháp từ thời Phệ đà ở Ấn độ đến nay. Trong Mật giáo, chữ này bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa và có vô lượng công đức, cho nên đức A súc Như lai, Kim cương tát đỏa, Kim cương ba la mật, Kim cương quân đồ lợi và chư tôn trong viện Kim cương thủ thuộc Thai tạng giới, đều lấy chữ này làm chủng tử của mình. Cứ theo Kim cương vương bồ tát bí mật niệm tụng nghi quĩ do ngài Bất không dịch, thì hành giả quán tưởng tự thân là Kim cương tát đỏa, quán chữ Hồng ở 2 đầu gối, tim, lưỡi và 2 tay, chữ Hồng liền phóng ra ánh sáng vàng, chiếu khắp pháp giới. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.5].

hồng vận

good luck—Good fortune

hồng y

Cardinal.

hồng yển

(洪偃) (504-564) Vị tăng sống vào đời Trần thuộc Nam triều, người Sơn âm, Cối kê (nay là huyện Thiệu hưng, tỉnh Chiết giang), họ Tạ. Sư thông minh từ thưở nhỏ, thích đọc sách, xuất gia học đạo nơi pháp sư Xước ở chùa Long quang, chuyên nghiên cứu giáo nghĩa. Sau, sư mở đạo tràng giảng luận Thành thực, đồ chúng đến nghe rất đông, tiếng tăm vang xa. Sư còn giỏi về thi họa, viết chữ lệ, văn chương phóng khoáng, ít ai sánh kịp, cho nên người thời bấy giờ gọi mạo, nghĩa, thi, thư của sư là Tứ tuyệt. Vua Giản đế đời Lương khuyên sư hoàn tục làm quan nhưng sư không chịu. Sau vì chạy loạn nên sư vào ở trong tinh xá Nhã da tại Tấn vân. Sau khi vua Vũ nhà Trần bình định được thiên hạ, sư mở đạo tràng giảng kinh tại chùa Tuyên vũ ở Kiến khang, người đến nghe rất đông, hưng thịnh một thời. Năm Thiên gia thứ 5 (564) sư tịch, thọ 61 tuổi. Tác phẩm của sư gồm: Thành thực luận sớ, Văn tập (mỗi thứ hơn 20 quyển).

hồng ân

Great favour.

hổ

Vyaghra (skt)—A tiger.

hổ bào tuyền

(虎跑泉) I. Hổ Bào Tuyền. Suối ở chùa Hổ bào, núi Đại từ, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. Chùa Hổ bào tên cũ là Đại từ định tuệ thiền tự; tương truyền vào năm Nguyên hòa 14 (19) đời Đường, thiền sư Hoàn trung đến ở chùa này, rất khổ cực vì không có nước. Một hôm, bỗng có 2 con hổ đến đào đất làm hang, nước theo đó phun lên, vì thế có tên là suối Hổ bào và chùa Đại từ định tuệ thiền từ đó cũng được đổi lại gọi là chùa Hổ bào. Nước suối trong mát và ngọt, được xếp hạng là Suối thứ 3 trong thiên hạ . Phía tây suối còn lại nền một ngôi tháp thờ ngài Đạo tế, vị Cao tăng đời Tống và phía sau núi có tòa tháp thờ một phần di cốt của pháp sư Hoằng nhất. [X. Đại minh nhất thống chí Q.38; Đại thanh nhất thống chí Q.217]. II. Hổ Bào Tuyền. Suối ở phía bắc tháp Xá lợi trên đỉnh núi, đàng sau chùa Đông lâm, Lô sơn, mạn nam huyện Cửu giang, tỉnh Giang tây, Trung quốc. Tương truyền vào thời Đông Tấn, ngài Tuệ viễn cùng với các vị Hiền sĩ Liên xã thường đến ngọn núi này du ngoạn, nhưng rất khổ vì không có nước. Một hôm, có con hổ đến đào hang, nước bỗng từ đó phun lên nên gọi là Hổ bào tuyền (suối do hổ đào). [X. Lô sơn kí Q.1].

hổ huyệt lục

(虎穴錄) Gọi đủ: Đại hưng tâm tông Phật đức quảng thông Quốc sư Hổ huyệt lục. Cũng gọi Ngộ khê hòa thượng ngữ lục, Ngộ khê lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Ngộ khê Tông đốn (1416-1500) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, ngài Tông trụ trùng đính, được thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung sách này thu chép những Ngữ lục của ngài Ngộ khê Tông đốn khi ngài trụ tại các chùa: Diệu tâm núi Chính pháp, Đại đức núi Long bảo, Thụy tuyền núi Thanh long, gồm các tiết mục: Thị chúng, Pháp ngữ, Kệ tụng, Đạo hiệu, Tượng tán, Phật sự, Hành trạng, Tạp lục….

hổ hổ bà

Hahava (skt)—The fifth hell—See Địa Ngục (b) (5).

hổ hổ bà địa ngục

(虎虎婆地獄) Hổ hổ bà, Phạm: Huhuva. Cũng gọi Hổ hổ phàm địa ngục, Ẩu hầu hầu địa ngục. Địa ngục thứ 5 trong 8 địa ngục lạnh. Chúng sinh trong địa ngục này chịu cái khổ rét buốt như cắt, không mở miệng được, chỉ rên hừ hừ, hòa hòa (hổ hổ bà). Luận Du già sư địa quyển 4 (Đại 30, 297 thượng), nói: Hát tích hỗ, Hác hác phàm, Hổ hổ phàm, ba địa ngục này dựa theo tiếng kêu khổ não khác nhau của tội nhân thốt lên mà đặt tên . [X. kinh Khởi thế Q.4; kinh Đại lâu thán Q.2; luận Câu xá Q.11; luận Đại trí Suối Hổ Bào ở Núi Đại Từ độ Q.16].

Hổ Kheo Thiệu Long

(虎丘紹隆, Kukyū Shōryū, 1077-1136): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Huyện Hàm Sơn, Hòa Châu (和州, Tỉnh An Huy). Ban đầu ông xuất gia ở Phật Từ Viện (佛慈院) trong huyện, rồi đến tham học với Tịnh Từ Sùng Tín (淨慈崇信) ở Trường Lô (長蘆) cũng như một số Thiền tượng khác như Trạm Đường Văn Chuẩn (湛堂文準) ở Bảo Phong (寳峰), Tử Tâm Ngộ Tân (死心悟新) ở Hoàng Long (黃龍) và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤). Ông theo hầu thầy suốt 20 năm trường, sau đó trở về cố hương, rồi bắt đầu khai đường thuyết pháp ở Khai Thánh Thiền Viện (開聖禪院) vùng Hòa Châu. Về sau, ông chuyển đến sống một số nơi khác như Chương Giáo Thiền Viện (彰敎禪院) ở Tuyên Châu (宣州, Tỉnh An Huy), Linh Nham Thiền Tự (靈巖禪師寺) ở Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc Phủ Bình Giang (平江府, Tỉnh Giang Tô). Chính trong khoảng thời gian này, ông đã cùng với Nhược Bình (若平) biên tập các ngữ lục của Khắc Cần. Vào ngày mồng 8 tháng 5 năm thứ 6 (1136) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), ông thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời và 45 hạ lạp. Môn nhân Từ Thoại (嗣瑞) biên tập cuốn Hổ Kheo Long Hòa Thượng Ngữ Lục (虎丘隆和尚語錄) 1 quyển.

hổ khâu phái

(虎丘派) Chi phái thuộc dòng Dương kì, tông Lâm tế, do thiền sư Thiệu long ở núi Hổ khâu khai sáng vào đời Tống. Thiệu long và Đại tuệ Tông cảo là đệ tử của ngài Viên ngộ Khắc cần (đời thứ 3 của phái Dương kì Phương hội), thành lập 2 chi phái lớn. Phái của thiền sư Tông cảo được gọi là phái Đại tuệ, phái của thiền sư Thiệu long được gọi là phái Hổ khâu, vì môn phong của phái này tuyệt hiểm nên chỉ có một người đắc pháp là sư Ứng am Đàm hoa, nhưng dưới sư Ứng am thì có 8 vị, trong đó 2 vị Mật am Hàm kiệt và Hòa sơn Tâm giám là xuất sắc nhất. Dưới ngài Mật am có nhiều vị cao tăng xuất hiện như: Phá am Tổ tiên, Tùng nguyên Sùng nhạc, Tào nguyên Đạo sinh, v.v... làm cho đạo pháp hưng thịnh. Từ đời Nguyên trở về sau, môn phái này được truyền sang Nhật bản. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Thiền tông chính mạch Q.19].

hổ khâu sơn

Hu-Ch'iu-Shan—Tên một tự viện ở Tô Châu, nơi phát xuất một tông phái Thiền, được Ngài Thiệu Long sáng lập—A monastery at Soo-Chou, which gave rise to a branch of he Ch'an school, founded by Shao-Lung. ; (虎丘山) Cũng gọi Vũ khâu sơn, Hải dũng phong. Núi ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Vào cuối thời Xuân thu, vua Ngô phù sai chôn cất thân phụ là Hạp lư ở đây, tương truyền, sau khi chôn cất được 3 ngày thì có con hổ trắng đến ngồi ở trên mộ, vì thế gọi là Hổ khâu. Một thuyết khác thì cho rằng hình dáng núi này giống như con hổ ngồi, cho nên đặt tên Hổ khâu. Năm Thái hòa thứ 3 (368) đời Đông Tấn, quan Tư đồ Vương tuân và em là quan Tư không Vương dân xây cất 2 ngôi biệt thự ở đây, về sau biến 2 biệt thự này làm 2 ngôi chùa gọi là chùa Hổ khâu sơn Đông và Tây. Đến đời Đường, vì tránh tên húy của vua Thái tổ là Lí hổ nên đổi tên chùa là Vũ khâu báo ân tự. Thời kì pháp nạn Hội xương (841- 846) chùa bị phá hủy, sau được dời lên làm trên đỉnh núi và thu lại còn một chùa. Khoảng năm Chí đạo (995-997) đời Bắc Tống, chùa được xây dựng lại, quan Tri châu tên là Ngụy tường tâu xin đổi tên chùa là Vân nham Thiền tự. Đầu đời Tấn, các ngài Trúc đạo nhất, Đàm đế, pháp sư Ngập, v.v... lần lượt đến đây hoằng dương giáo pháp. Ngài Trúc đạo sinh đề xướng thuyết Nhất xiển đề thành Phật , bị giới Phật giáo đương thời phản đối kịch liệt, cũng lánh vào núi này với hàng trăm người đi theo. Tương truyền ở đây ngài Đạo sinh dựng đá nói pháp, đá cũng gật đầu, từ đó, đời truyền tụng giai thoại: Sinh công thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu (Ông Sinh nói pháp, đá ngu gật đầu). Ngài Tăng mân ở đời Lương lúc còn nhỏ cũng tu học tại đây; ngài Tăng thuyên, Tổ trung hưng tông Tam luận, lúc cuối đời cũng về núi này tĩnh tu. Đời Tùy, Đường có rất nhiều vị cao tăng về trụ ở núi này như các ngài: Trí tụ, Tuệ nghiêm, Tăng viện, Tề hàn, v.v...… Đến đời Tống, Thiền tông phát triển mạnh, chùa trở thành đạo tràng hoằng pháp của các vị Thiền tăng. Đến khi thiền sư Thiệu long (1077?-1136) về trụ trì, đại chúng theo học rất đông, từ đó hình thành phái Hổ khâu. Khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162) đời Nam Tống, qui mô chùa Vân nham đã to lớn, nguy nga tráng lệ, được xếp vào hàng thứ 9 trong 10 ngôi chùa lớn nhất tại Giang tô. Nhìn từ xa, núi Hổ khâu chỉ là một cái gò đất nhỏ nổi lên giữa vùng đồng bằng, nhưng khi đến gần mới cảm thấy cái khí thế hùng vĩ, như đang đi giữa chốn núi cao rừng thẳm. Từ đời Tùy đến đời Thanh, chùa Hổ khâu đã qua 7 phen hưng phế, may mắn còn lại ngôi tháp chùa Vân nham được xây dựng vào đời Ngũ đại và điện Đoạn lương kiến trúc vào đời Nguyên, ngoài ra đều do đời sau làm lại. Những thắng cảnh trong núi Hổ khâu gồm có: Thiên nhân thạch, Kiếm trì, Hám hám tuyền, Thí kiếm thạch, Tôn vũ tử đình, Bạch liên trì, Nhị tiên đình, Đệ tam tuyền, Lãnh hương các, Trí sảng các, Tiểu ngô hiên, Ủng thúy sơn trang, v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.5; Tống cao tăng truyện Q.4, Q.15; Đại minh nhất thống chí Q.8; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.24; Tô châu phủ chí Q.7, Q.42]. (xt. Hổ Khâu Phái, Vân Nham Tự).

Hổ Khâu Thiệu Long

虎丘紹隆; C: hǔqiū shàolóng; J: kukyū jōryū; 1077-1136;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kì. Sư là pháp tự của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần.|Sư quê ở Hàm Sơn, xuất gia lúc 9 tuổi, tu học dưới nhiều thầy rồi sau đó mới đến yết kiến Viên Ngộ. Viên Ngộ gặp Sư liền hỏi: »Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do li kiến, kiến bất năng cập« (Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tính thấy, cái Thấy mà do lìa tướng Thấy mới là cái Tính thấy siêu việt), rồi đưa nắm tay lên hỏi: »Thấy chăng?« Sư thưa: »Thấy.« Viên Ngộ bảo: »Trên đầu lại để đầu.« Sư nghe câu này bỗng tỉnh. Viên Ngộ quở: »Thấy cái gì?« Sư bèn thưa: »Tre dầy chẳng ngại nước chảy qua.« Viên Ngộ hài lòng.|Sau Sư đến Hổ Khâu dạy chúng. Nơi đây, đạo rất được mộ, chúng rất thịnh hành. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng, Sư có chút bịnh rồi tịch.

hổ khâu thiệu long thiền sư ngữ lục

(虎丘紹隆禪師語錄) Cũng gọi Hổ khâu Long hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hổ khâu Thiệu long thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Vạn lịch 20 (1592), được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung sách này gom chép các pháp ngữ ở Khai thánh thiền viện tại Hòa châu, Chương giáo thiền viện tại Tuyên châu, Hổ khâu Vân nham thiền viện tại phủ Bình giang; và các bài: Sơ tổ tán, Tống Lâm tế chính truyền Hổ khâu Long hòa thượng tháp minh, v.v

hổ khê nham

(虎溪岩) Núi ở mạn bắc núi Ngọc bình, Hạ môn, Phúc kiến. Dưới chân núi có khe nước, tương truyền thời xưa có hổ ở trong hang đá gần khe nước ấy, vì thế núi có tên là Hổ khê. Trong núi toàn nham thạch, những gốc si già rễ quấn chằng chịt, cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Khoảng năm Vạn lịch (1573- 1620), Lâm mậu thời tạo thạch thất Lăng tằng, gọi là động Lăng tằng và trên vách động khắc 4 chữ: Lăng Tằng , Mô Thiên . Từ đời Minh, Thanh trở về sau, lần lượt có các nhân sĩ: Trì hiển phương, Hồ chân khanh và Lí chương xây dựng ngôi chùa lớn ại đây. Chùa vốn có tên là Ngọc bình, nhưng vì chùa Đông lâm ở Lô sơn có sự tích Hổ Khê Tam Tiếu nên chùa này cũng gọi là chùa Đông lâm. Trên cổng chùa có tấm biển đề là Hải Kiệu Đông Lâm . Cửa động Lăng tằng nhìn ra hướng đông, khi trăng hiện lên, ánh trăng dọi vào trong động, soi trên những pho tượng La hán và các con hổ bằng đất, tạo nên cảnh sắc tịch mịch, thanh u, kì thú tuyệt vời, nên có tên là Hổ Khê Dạ Nguyệt (Khe Hổ Đêm Trăng).

hổ khê tam tiếu

(虎溪三笑) Ba người đứng cười ở khe hổ. Sự tích về ngài Lô sơn Tuệ viễn với nhà Nho Đào uyên minh và đạo sĩ Lục tu tĩnh. Tương truyền, một hôm Đào uyên minh và Lục tu tĩnh đưa nhau lên Lô sơn thăm ngài Tuệ viễn, một vị cao tăng đời Đông Tấn. Lúc khách ra về, ngài Tuệ viễn tiễn chân, 3 người vừa đi vừa chuyện trò rất tâm đắc, đến nỗi vượt qua cây cầu bắc ngang khe nước mà ngài Tuệ viễn đã tự đặt giới hạn cho mình không bao giờ được vượt qua, bỗng có tiếng hổ gầm vang, 3 người cùng giật mình, lúc đó mới biết đã đi quá giới hạn ấn định, 3 người nhìn nhau phá lên cười. Sự tích này về sau trở thành một đề tài hội họa nổi tiếng, tượng trưng cho tư tưởng Tam giáo dung hòa. Truyền thuyết Hổ Khê Tam Tiếu bắt đầu từ đời Đường, đến đời Tống, Lí long miên (Công lân, 1049-1106) là người đầu tiên vẽ tranh Tam tiếu và ngài Trí viên làm bài tán, đã trở thành giai thoại kì thú đối với nhiều người. Trong các tác phẩm như: Đại Tống tăng sử lược quyển hạ, Long hưng Phật giáo biên niên thông luận quyển 8, Phật tổ thống kỉ quyển 26, quyển 36, Thích thị thông giám quyển 3, Thích thị tư giám quyển 2, Thích thị kê cổ lược quyển 2, v.v...… đều có chép giai thoại này. Nhưng theo sự thực lịch sử, thì ngài Tuệ viễn viên tịch vào năm Nghĩa hi 13 (417) đời vua An đế nhà Đông Tấn; Đào uyên minh nếu qua đời vào năm Nguyên gia thứ 4 (427) đời Lưu Tống, thì 2 người là cùng thời đại; hơn nữa, Uyên minh là người huyện Tầm dương, gần Lô sơn, thì việc giao du giữa 2 người là điều có thể chấp nhận được. Còn về Lục tu tĩnh, theo luận Biện chính quyển 6, luận Chân chính quyển hạ, Tập cổ kim Phật đạo luận hành quyển 1, truyện Đàm hiển trong Tục cao tăng truyện quyển 23, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 10, v.v... thì vào niên hiệu Thiệu thái năm đầu (555) đời vua Kính đế nhà Tống, Lục tu tĩnh cùng với ngài Đàm hiển biện luận về sự hơn kém của Phật giáo và Đạo giáo, lúc đó ngài Tuệ viễn đã thị tịch được 138 năm. Còn theo Phật tổ thống kỉ quyển 26, thì Lục tu tĩnh mất vào năm Thái thủy thứ 3 (467) đời Lưu Tống. Và theo Vân cấp thất tiêm bản truyện trong Đạo giáo loại thư, thì Lục tu tĩnh tạ thế vào năm Nguyên huy thứ 5 (477) đời Lưu Tống, hưởng thọ 72 tuổi. Do đó mà biết rằng thời đại giữa ngài Tuệ viễn và đạo sĩ Lục tu tĩnh cách nhau rất xa, bởi thế, nếu nói giữa 2 người có sự giao du qua lại là điều rất miễn cưỡng. Từ đời Đường trở đi, xu thế Tam giáo dung hòa đã dần dần trở thành hiện thực, cho nên truyền thuyết Hổ Khê Tam Tiếu có lẽ đã dựa vào đó mà được hư cấu. Ở Nhật bản, vào hậu kì thời đại Liêm thương, loại họa phẩm này cũng bất đầu được lưu truyền. [X. Lô sơn kí Q.1; Nhàn cư biên Q.16; Đàm tân văn tập Q.13; Đông lâm thập bát cao hiền truyện; Trần thiêm ái nang sao Q.5].

hổ ngươi

Ashamed—Shameful—Humility and shame.

Hổ Nham Tịnh Phục

(虎巖淨伏, Kugan Jōfuku, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Hổ Nham (虎巖), xuất thân Chuẩn An (准安, Chuẩn An, Tỉnh Giang Tô), pháp từ của Hư Chu Phổ Độ (虛舟普度). Ban đầu, ông làm Thủ Tòa ở Trung Thiên Trúc Tự (中天竺寺) vùng Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), sau khai đường thuyết giáo tại Thạch Sương Tự (石霜寺) thuộc Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam) và cuối cùng đến trú tại Kính Sơn (徑山) ở Hàng Châu. Vào tháng giêng năm thứ 21 (1284) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông vào cung nội thuyết pháp cho triều thần nghe.

hổ phách

Asmagarbha (skt)—Hổ phách là một trong thất bảo—One of the saptaratna, amber, or yellow amber—See Thất Bảo.

Hổ Quan Sư Luyện

(虎關師錬, Kokan Shiren, 1278-1346): vị Tăng của Lâm Tế Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương và đầu thời Nam Bắc Triều, Tổ đời thứ 15 của Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Tổ đời thứ 15 của Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji); húy là Sư Luyện (師錬), thông xưng là Hải Tạng Hòa Thượng (海藏和尚); đạo hiệu là Hổ Quan (虎關), thụy hiệu Bản Giác Thiền Sư (本覺禪師); xuất thân vùng Kyoto, họ Đằng Nguyên. Ông đến tham Thiền với Trạm Chiếu (湛照) ở Đông Phước Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro); rồi năm lên 10 tuổi thì thọ giới ở trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Vào năm 1291, ông theo học pháp với Quy Am Tổ Viên (規庵祖圓) ở Nam Thiền Tự, rồi năm 1293 thì đến sống ở Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) thuộc vùng Liêm Thương. Sau khi trở về Kinh Đô Kyoto, ông lại theo học Nho Giáo với vị quan Quản Nguyên Tại Phụ (菅原在輔), rồi tu thêm cả Mật Giáo, và có được tri thức rất rộng rãi về mọi mặt. Hơn nữa ông còn cảm hóa được vị Tăng du học trở về là Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧). Đến năm 1312, theo lệnh của Hậu Phục Kiến Thượng Hoàng (後伏見上皇), ông đến sống ở Hoan Hỷ Quang Viện (歡喜光院). Năm sau, ông chuyển đến Tế Bắc Am (濟北庵) ở vùng Bạch Hà (白河, Shirakawa), và năm 1215 thì khai sáng ra Bản Giác Tự (本覺寺) ở vùng Y Thế (伊勢, Ise). Năm 1322, ông hoàn thành bộ Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書) ở Tế Bắc Am, bộ sử thư Phật Giáo tối cổ của Nhật Bản. Năm 1232, ông làm trú trì của Đông Phước Tự, rồi năm 1239 thì làm trú trì Nam Thiền Tự, và đến cuối đời thì ông sống nhàn cư ở Hải Tạng Viện (海藏院) nơi Đông Phước Tự. Tác phẩm để lại của ông có Nguyên Hanh Thích Thư (元亨釋書) 30 quyển, Thập Thiền Chi Lục (十禪支錄), Tục Thập Thiền Chi Lục (續十禪支錄) 3 quyển, Tế Bắc Tập (濟北集) 20 quyển, Phật Ngữ Tâm Luận (佛語心論) 18 quyển, v.v.

hổ quan sư luyện

(虎關師煉) (1278-1346) Vị Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người Kinh đô (Kyoto) họ Đằng nguyên, pháp danh Sư luyện. Sư thông minh dĩnh ngộ từ thủa nhỏ, rất thích đọc sách, người đương thời gọi sư là đồng tử Văn thù. Năm lên 10 tuổi, sư xuất gia và thụ giới Cụ túc ở núi Tỉ duệ. Về sau, sư lần lượt tham học các ngài: Qui am Tổ viên chùa Nam thiền, Đào khê Đức ngộ chùa Viên giác, Vô ẩn Viên phạm chùa Kiến nhân, Nhất sơn Nhất ninh ở Liêm thương, Ước ông Đức kiệm chùa Kiến trường, v.v... sau sư nối pháp ngài Tổ viên. Sư không những nghiên cứu sâu rộng nghĩa tông thừa mà còn thông suốt cả nội, ngoại điển. Sư rất giỏi về văn thơ, có thể sánh ngang với Bát đại gia thời Đường, Tống của Trung quốc. Năm Chính hòa thứ 2 (1313), sư trụ tại Tha nga; năm Chính hòa thứ 3 (1314) và niên hiệu Văn bảo năm đầu (1317), sư lần lượt sáng lập am Tế bắc ở Bạch hà và am Bảo giác ở Y thế. Niên hiệu Gia lịch năm đầu (1326), lúc đầu sư hoằng pháp ở chùa Tam thánh, sau dời đến ở chùa Đông phúc, chùa Nam thiền, v.v... Niên hiệu Chính bình năm đầu (1346) sư tịch, thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nguyên hanh thích thư 30 quyển, Tế bắc tập 20 quyển, Phật ngữ tâm luận 18 quyển, Hổ quan thập thiền chi hòa thượng lục 3 quyển, Thiền dư hoặc vấn 2 quyển, Thiền giới qui 1 quyển. Người đời gọi sư là Hải tạng hòa thượng, hiệu ban: Hổ Quan Quốc Sư, Bản Giác Quốc Sư. Đệ tử gồm các vị: Tính hải Linh kiến, Long tuyền Lệnh thốt, Nhật điền Lợi sa, Hồi đường Trọng uyên, v.v...…

hổ thẹn

(tàm quý): hai đức tính có thể giúp chúng ta xa lìa mọi điều xấu xa, tội lỗi. Khi ta làm một việc xấu, phải biết xấu hổ khi có người khác biết được, và tự thẹn với chính mình dù không có ai biết được. Như vậy gọi là biết hổ thẹn. Người không biết hổ thẹn thì bất cứ điều xấu xa nào cũng có thể thực hiện được. Còn người biết hổ thẹn thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù có bị người khác phát giác hay không, cũng luôn tự biết điều đã làm sai của mình để vĩnh viễn trừ dứt. ; See Hổ Ngươi.

hổn

See Hổn Độn.

hổn hển

To gasp for breath—To pant.

hổn độn

Mixed—Confused—Intermingled—Turbid—Chaotic—In disorder.

Hỗ

(岵): ngọn núi có nhiều cây cỏ. Trong bài Trắc Hỗ (陟岵) của Thi Kinh (詩經) có câu: “Trắc bỉ hỗ hề, chiêm vọng phụ hề (陟彼岵兮、瞻望父兮, Lên núi kia chừ, trông nhớ cha chừ)”; có nghĩa là khi người con đi làm ăn xa, thường leo lên núi cao để tưởng nhớ về người thân của mình như cha mẹ, anh em, v.v. Người xưa thường dùng chữ hỗ để ví cho người cha và nhớ đến cha được gọi là trắc hỗ (陟岵). Hơn nữa, trong bài Phụ Tiểu Tường (父小祥) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄) lại có câu: “Vô phụ hà hỗ mỗi hoài trắc hỗ chi bi (無父何怙每懷陟岵之悲, Không cha cậy ai mỗi lần nhớ lên núi buồn đau)”.Cho nên, câu “Ngưỡng kỳ hỗ sơn điện cố thiên niên (仰期岵山奠固千年)” có nghĩa là ngưỡng lên nhìn núi người cha vẫn còn vững chắc ngàn năm, tức người cha vẫn còn sống mãi với mình.

hỗ dụng tội

Tội lạm dụng dùng lẫn lộn các vật của Tam Bảo—The fault of transferring from one object of worship over to another a gift or duty—Theo Kinh Phạm Võng thì có bốn loại Hỗ Dụng Tội—According to the Brahma Net Sutra, there are four kinds 1) Tam Bảo Hỗ Dụng: Dùng tiền cúng dường đúc tượng Phật xài cho in kinh hay cho chư Tăng Ni: The fault of transferring gift given for an image of a Buddha to spend for publishing scriptures or expenditures of monks and nuns. 2) Đương Phần Hỗ Dụng: Dùng tiền của cúng để đúc tượng Thích Ca vào việc đúc tượng Di Lặc, hoặc dùng tiền cúng dường của chùa A đem cho chùa B—The fault of transferring gift given for an image of Sakyamuni to make one for Maitreya, or transferring gift given to Temple A to Temple B. 3) Tượng Bảo Hỗ Dụng: Dùng tiền cúng dường in kinh điển vào việc tạc tượng Phật hay Bồ Tát—The fault of transferring gift given for publishing scriptures to make image of Buddhas or Bodhisattvas. 4) Nhất Nhất Hỗ Dụng: Dùng lẫn lộn bừa bãi hay lạm dụng tài sản của nhà chùa—Misuse the property of the temple. ; (互用罪) Tội dùng lẫn lộn các vật của Tam bảo. Gồm có 4 loại: 1. Tam bảo hỗ dụng: Vật dùng để cúng Phật đem dùng vào việc Pháp và Tăng, hoặc vật dùng để làm việc Pháp lại đem cúng dường Phật và Tăng, hoặc là vật thuộc về Tăng lại đem cúng dường Phật và Pháp. 2. Đương phần hỗ dụng: Tiền bạc của tín đồ quyên góp để tạo tượng Phật Thích ca, lại đem dùng vào việc tạo tượng Phật A di đà, hoặc vật cúng cho chư tăng ở chùa này lại đem cúng cho chư tăng ở chùa khác. 3. Tượng bảo hỗ dụng: Vật dùng để cúng dường Ngũ phần pháp thân mà đem cúng dường hình tượng, hoặc vật dụng cúng dường tăng Đệ nhất nghĩa đế lại đem cúng dường cho phàm tăng. 4. Nhất nhất hỗ dụng: Những vật dụng để sửa chữa nhà cửa, những nông cụ, những vật cúng dường như: Hương, đèn, thức ăn, uống, v.v... không phân biệt mà sử dụng bừa bãi, lẫn lộn nhau. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1, đoạn 4; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.1].

hỗ khưu thiền sư

Hỗ Khưu Thiền sư là đệ tử của thiền sư Viên Ngộ. Sau khi xuất gia lúc còn trẻ, Hỗ Khưu theo tông phái Thiên Thai, nhưng ba năm sau, ông đã từ bỏ Thiên Thai để tu tập thiền định với thiền sư Viên Ngộ—Huguo, a disciple of Yuan-Wu. After entering monastic life as a young man, he studied T'ien-T'ai doctrines for three years, but gave up this pursuit to study under Zen master Yuan-Wu.

hỗ quỵ

Quỳ theo kiểu người Hồ, hai đầu gối xuống đất một lượt như kiểu quỳ ở Ấn Độ; ở Trung Hoa thì đầu gối trái được đặt xuống đất trước—The Hun way of kneeling or kneeling with both knees at once, as in India; in China the left knee is first placed on the ground, right knee up. ; (互跪) Một phép quì để tỏ lòng cung kính của người Ấn độ. Theo Thích môn qui kính nghi quyển hạ, thì Hỗ quị được thực hành trong các nghi thức thưa thỉnh, sám hối hoặc thụ giới,… khi quì thì đầu gối phải và các ngón chân phải đặt sát đất, đầu gối trái hơi nghiêng ép lên trên đầu gối phải, 5 ngón chân trái cũng sát đất, hơi cúi mình về phía trước, chuyên tâm chí thành thưa thỉnh sám hối. Nhưng tư thế quì này rất Hổ Quan Sư Luyện dễ bị mỏi mệt, cho nên các tỉ khưu ni có thể thực hành theo tư thế quì dài (2 gối sát đất). Nhưng người đời sau không quì theo tư thế này mà, trái lại, khi quì, đầu gối phải sát đất, đầu gối trái dựng đứng, toàn thân ngay thẳng.

hỗ sa già lam

Hamsa-samgharama (skt)—Còn gọi là Tăng Sa Già Lam hay Ưng sa Già Lam, có nghĩa là Dã Ngan Già lam (chùa ngỗng Hoang) trên Indrasailaguha, nơi mà chư Tăng Ni đã một lần thoát đói nhờ sự tự hy sinh thân mạng của một con ngỗng trời— “Wild goose monastery,” on Mount Indrasailaguha, whose inmates were once saved from starving by the self-sacrifice of a wild goose.

hỗ tương

Reciprocity—Mutual.

hỗ tương tác dụng

Interaction.

Hỗn dung

混融; C: hùnróng; J: konyū;|Trộn lẫn, hoà hợp nhau.

hỗn hào

Impolite—Rude.

hỗn hợp

Mixed—Joint.

hỗn loạn

Confused—Disordered.

hỗn luân

(渾崙) Cũng gọi: Hồn luân, Hỗn luân, Cốt luân, Hốt luân, Côn lôn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho trạng thái tối tăm, mờ mịt, khi trời đất chưa hình thành, âm dương chưa phân định. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho một khối hỗn độn, không rõ ràng, không thể phân biệt, hoặc chỉ cho chân tính bình đẳng vô sai biệt. Thiên Thiên thụy trong sách Liệt tử ghi: Khí đã hình thành, chất đã có đủ, nhưng chưa tách rời nhau, cho nên gọi là Hồn luân . Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 504 thượng), chép: Sư thấy vị tăng vừa đến, sư liền dang 2 tay ra, vị tăng im lặng. Sư hỏi: Hiểu không? Vị tăng đáp: Thưa không! Sư nói: Một khối hỗn độn, mờ mịt tách không ra, cho ông 2 đồng tiền . Vì Hồn lôn cũng gọi là Côn lôn, nên thường được dùng lẫn lộn với núi Côn lôn . Núi Côn lôn ở Tây vực, có nhiều ngọc quí, là Linh sơn và cũng là chỗ ở của Tây vương mẫu trong truyền thuyết, sông Hoàng hà bắt nguồn từ đó. Núi Côn lôn nay là dãy núi ở phía nam Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương và ở phía bắc Tây tạng. Thiền tông dùng núi này để biểu thị sự cao siêu, sâu kín của Phật pháp. Hư đường lục quyển 3 (Đại 47, 1005 hạ) ghi: Nếu nói đến Kim luân thủy tế, đỉnh núi Côn lôn, thì công qui về đâu? .

Hỗn tích

(混跡): trà trộn tung tích, dấu vết, không để lộ rõ ra; tức là hòa mình vào môi trường sống, không thể hiện hành tung của bậc Thánh, mai danh ẩn tích. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 9 có câu: “Tổ ư Nghiệp Đô hóa đạo, Tứ Chúng quy y, phàm tam thập tứ niên, toại thao quang hỗn tích, biến dịch nghi tướng, nhân mạc chi trắc (祖於鄴都化導、四眾皈依、凡三十四年、遂韜光混跡、變易儀相、人莫之測, Tổ [Huệ Khả] hóa đạo ở Nghiệp Đô, Bốn Chúng quy y, được ba mươi bốn năm, bèn mai danh ẩn tích, thay đổi hình tướng, người đời không lường được).” Hay như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (佛法金湯編, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 4, phần Lục Thùy (陸倕) có câu: “Pháp sư tự thuyết tánh Chu danh Bảo Chí, hỗn tích loạn từ, cư vô thường sở, y phục ẩm thực suyễn bác bất hằng, Tống Thái Thỉ trung xuất nhập Chung Sơn (法師自說姓朱名寶誌、混跡亂詞、居無常所、衣服飲食舛駁不恆、宋泰始中出入鍾山, Pháp sư [Lục Thùy] tự bảo họ là Chu, tên Bảo Chí, ẩn tích nói lung tung, sống nơi không cố định, áo quần, ăn uống xuề xòa chẳng bình thường; trong khoảng niên hiệu Thái Thỉ [466-471] nhà Tống, Pháp sư thường ra vào Chung Sơn).”

Hỗn độn

混沌; C: hùndùn; J: konton;|Thời kì hỗn mang nguyên sơ trong thuyết nguồn gốc vũ trụ Trung Hoa.

hỗn độn cung

(混沌供) Cũng gọi Tạp hòa cúng. Những vật phẩm cúng dường được trộn lẫn với nhau. Khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo, trước hết dâng hương viên, hương tán, hương hoa, cơm, ngũ cốc, thuốc, v.v... cúng riêng từng món, sau đó, trộn lẫn các thứ còn lại với nhau để cúng dường chư Tôn và chư Thiên ở 10 phương. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ (Đại 18, 922 trung), nói: Dâng cúng chư Tôn rồi, các thứ còn lại như: Ngũ cốc, hương hoa, v.v... gom hết vào cái mâm để cúng dường chư Thiên trong 10 phương . Ngoài ra, khi tu pháp Hộ ma tức tai, nếu ít vật cúng quá, thì cũng có thể trộn lẫn các vật cúng với nhau. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Nhũ vị sao Q.7, Q.20].

hộ

Bảo hộ hay che chở—To protect—To guard.

hộ giới thần

Chỉ năm vị Thiên Thần hộ trì năm giới luật (bảo vệ những người trì giới)—The five guardian spirits of each of the five commandments. ; (護戒神) Thiện thần thủ hộ giới luật của Phật và che chở những người lãnh thụ giới luật này. Kinh Quán đính quyển 4 (Đại 21, 504 thượng), nói: … Vì thế ta nói lời này, để khuyên các thiện nam, tín nữ có lòng tin trong sạch nên thụ Tam qui, Ngũ giới. Thụ Tam qui thì có vua của 36 quỉ thần thường theo giúp đỡ, giữ gìn; thụ ngũ giới thì có 25 vị thần luôn luôn ở 2 bên cửa để bảo vệ, diệt trừ những điều xấu ác . (xt. Nhị Thập Ngũ Thần).

hộ ma

Homa (skt). 1) Vốn chỉ việc đốt lửa tế trời của đạo thờ lửa Bà La Môn: Described as originally a burnt offering to Heaven (Brahmins). 2) Nghĩa của Hộ Ma theo Mật Giáo—The meanings of homa according to the esoterics: (A) Lễ tế lửa (của Mật Giáo). Mật giáo bắt chước phép tế lửa, dùng lửa tiêu biểu cho trí tuệ để đốt củi phiền não, và từ đó chuẩn bị thức ăn niết bàn. Có bốn loại lò—An oblation by fire (of esoteric sects). The esoterics adopted the idea of worshipping with fire, symbolizing wisdom as fire burning up the faggots of passion and illusion, and therewith preparing nirvana as food. (B) Phân loại Hộ Ma theo Mật giáo—Categories of homa according the esoterics: a) Tứ Hộ Ma—There are four kinds of braziers: • Lò hình bán nguyệt tượng trưng cho “Nhiếp Thiện Pháp” hay triệu tập thiện loại: Vasikarana (skt)—Phạ Thủy Ca La Nã—Semi-circular brazier for dominating, interpreted as calling down the good by means of enchantments. • Lò hình trăng tròn tượng trưng cho “Tức Tai Pháp” hay trừ tai ương: Santika (skt)—Phiếm Để Ca—Round brazier meaning to end calamities. • Lò hình vuông tượng trưng cho “Tăng Ích Pháp” hay làm tăng phúc: Pustika (skt)—Bố Sắt Trí Ca—Square brazier for prosperity. • Lò hình bát giác tượng trưng cho “Hàng Phục Pháp” hay hàng phục ác đảng: Abhicaraka (skt)—A Tỳ Già Lỗ Ca—Octagonal brazier meaning exorcising the evil. b) Ngũ Hộ Ma—Five kinds of braziers: See Ngũ Chủng Hộ Ma. 3) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của GS Soothill, Hộ Ma là tên của một thành phố nằm về biên giới phía tây của nước Ba Tư thời cổ, có lẽ bây giờ là Humoon—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, composed by Professor Soothill, Homa is a city on the eastern frontier of Persia, perhaps the modern Humoon. ; (護摩) Phạm: Homa. Cũng gọi Hô ma. Dịch ý: Hỏa tế tự pháp (pháp cúng tế lửa), Hỏa cúng dường pháp, Hỏa cúng, Hỏa pháp, Hỏa thực. Pháp cúng tế bằng cách đốt các vật cúng để cúng dường là việc làm quan trọng trong các pháp tu của Mật giáo, hàm ý ví dụ dùng lửa trí tuệ thiêu đốt tâm mê muội. Pháp này nguyên là pháp cúng dường thần lửa A kì ni (Phạm: Agni) để trừ ma cầu phúc ở Ấn độ đời xưa. Trong nghi thức tông giáo ở thời đại Ấn Y (Indo-Iranian Period) của Ấn độ cổ đại đã có pháp này; trong các văn hiến ở thời kì đầu của Lê câu phệ đà, Dạ nhu phệ đà, Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha-bràhmaịa), v.v... cũng có nói đến việc thiết lập 3 loại hỏa đàn để tu pháp. Ngoài ra, trong kinh Gia đình (Phạm: Gfhya sùtra) cũng nói rõ về các loại pháp Hộ ma rất phức tạp. Trong các vị thần của thời đại Phệ đà, thần A kì ni là quan trọng nhất, nghi thức cúng tế vị thần này của những người Bà la môn thờ lửa ở thời bấy giờ đã rất thịnh hành, họ bỏ vật cúng vào trong lò lửa của đàn tế, chờ lửa bốc lên thì cho rằng các vật cúng đã đến được miệng của các thần, các thần nhờ đó mà được sức mạnh để hàng phục các ma và ban cho loài người phúc lành, bởi thế họ cho rằng lửa là miệng của các thần, cũng là miệng của trời (Phạm: Devànàô mukha). Pháp cúng tế này về sau được Mật giáo thu dụng và dần dần trở thành pháp tu quan trọng. Nhưng ý nghĩa pháp Hộ ma trong Mật giáo rất khác với nghi thức cúng tế của Bà la môn giáo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 19, quyển 20, thì trước khi thành đạo, đức Phật chưa biết rõ tự tính của lửa, nên Ngài đã y cứ vào kinh điển Phệ đà mà nói 44 pháp Hộ ma. Nhưng sau khi thành đạo, đức Phật đã biết rõ tự tính của lửa, liền tuyên thuyết 12 pháp Hộ ma, biểu trưng cho ánh sáng Nhất thiết trí của Như lai. Đây mới là Hộ ma chân thực. Hộ ma của Mật giáo được chia làm 2 loại: Ngoại Hộ ma: Tu ở trong đàn Hộ ma, phải có đủ 3 thứ: Tượng Bản tôn, lư hương, hành giả, tượng trưng cho Tam mật (thân, khẩu, ý) của hành giả. Trong đó, tượng Bản tôn tượng trưng cho Ý mật, không hạn cuộc ở bất cứ đức Như lai nào hay vị Minh vương nào, chỉ tùy theo pháp tu mà quyết định; lư hương tượng trưng Khẩu mật, còn tự thân của hành giả thì tượng trưng cho Thân mật. Về phương thức thực hành thì trước hết là chọn đất, làm đàn, đặt lư hương, tụng chân ngôn, rồi bỏ các vật cúng như nhũ mộc, ngũ cốc, v.v... vào trong lư hương để thanh tịnh hóa Tam mật của hành giả hầu thành tựu các pháp Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, v.v... Vì thực hành pháp này đều là những việc ở ngoài tâm, cho nên gọi là Ngoại hộ ma, Sự hộ ma. 2. Nội Hộ ma: không cần lập đàn, tượng Bản tôn và lư hương, mà chỉ lấy tự thân hành giả làm đàn tràng, trong tâm quán tưởng dùng lửa trí tuệ của Như lai đốt hết các nghiệp phiền não, vì pháp Hộ ma này thuộc về pháp quán của nội tâm, cho nên gọi là Nội hộ ma, lại vì pháp quán này thuộc về quán Lí pháp nên cũng gọi là Lí hộ ma. Pháp Nội hộ ma này tuy là pháp tu đặc biệt của Mật giáo, nhưng nếu xét về nguồn gốc, thì có lẽ nó đã từ thuyết Nội bộ hỏa tế (Phạm: Antara-agnizad) mà ra. Nội Hộ ma thông thường có 5 pháp: 1. Pháp tức tai: Quán tưởng bản tính đức Đại nhật Như lai. 2. Pháp tăng ích: Quán tưởng bản tính đức Bất không thành tựu Như lai. 3. Pháp kính ái: Quán tưởng Bản tính đức Vô lượng thọ Như lai. 4. Pháp câu triệu: Quán tưởng bản tính đức Bảo sinh Như lai. 5. Pháp điều phục: Quán tưởng bản tính đức A súc Như lai. Nếu phân biệt theo tính tương đối thế gian và xuất thế gian, thì pháp Hộ ma của xuất thế gian là Nội hộ ma, còn pháp Hộ ma của thế gian và ngoại đạo là Ngoại hộ ma. Tuy nhiên, trong pháp Hộ ma xuất thế gian cũng có nội ngoại khác nhau, tức lấy Quán tâm làm nội và lấy Sự tướng làm ngoại. Còn pháp Ngoại hộ ma, vì chưa tương ứng với nội quán, không thành tựu Tất địa , cho nên khi thực hành Ngoại hộ ma thì phải đồng thời tu quán Tam bình đẳng của Nội hộ ma, để mong nội ngoại tương ứng, lí sự dung hợp, mau thành tựu Tất địa; đó là nghĩa chân thực Ngoại hộ ma tức Nội hộ ma . Đây không những chỉ là chỗ khác biệt giữa Ngoại hộ ma của Mật giáo và Ngoại hộ ma của ngoại đạo, mà còn là một yếu quyết của hành giả Mật giáo khi tu pháp Hộ ma. Nếu chỉ nói riêng về Ngoại hộ ma, thì ngoài tượng Bản tôn, hành giả đã trình bày ở trên, khi tu pháp, còn phải lập một đàn Hộ ma ở trước tượng Bản tôn, ở chính giữa đàn đặt một lư hương, 4 góc đàn cắm 4 cây cọc, trên các đầu cọc đều buộc dây kim cương. Trước bàn đặt mâm lễ, mỗi cạnh mâm lễ kê một cái bàn, trên mỗi bàn để củi Hộ ma, hương bột, lư hương có cán cầm, vật gia trì, v.v...… Tu pháp này thông thường có 3 loại pháp, 4 loại pháp, 5 loại pháp, 6 loại pháp khác nhau: 1. Ba loại pháp, cũng gọi 3 loại Hộ ma. Chỉ cho 3 pháp: Tức tai, Tăng ích và Hàng phục. Ba pháp này tương ứng với nội chứng của 3 bộ Thai tạng giới. 2. Bốn loại pháp, cũng gọi 4 loại Hộ ma. Chỉ cho 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Kính ái và Hàng phục. Bốn pháp tu này được thực hành rộng rãi nhất. 3. Năm loại pháp, cũng gọi 5 loại Hộ ma. Là 4 loại pháp trên cộng thêm pháp Câu triệu. Năm pháp này tương ứng với nội chứng của 5 trí thuộc 5 bộ Kim cương giới. Nói về công đức của 5 pháp này thì mỗi pháp đều có hiệu quả của 4 pháp kia, gọi là Ngũ pháp hỗ cụ. Chẳng hạn như khi tu pháp Tức tai thì dứt được phiền não tham, sân hoặc tiêu trừ tai nạn, đó là ý nghĩa Tức tai. Khi đã dứt trừ phiền não tham, sân thì tăng trưởng được công đức giới, định, tuệ và các thứ phúc đức khác, đó là ý nghĩa Tăng ích. Khi công đức đã được tăng trưởng, thì dần dần phá vỡ vô minh, diệt trừ các tai ách, đó là ý nghĩa Điều (hàng) phục. Nhờ các công đức ấy mà được chư Phật, Bồ tát hộ trì, đó là ý nghĩa Kính ái. Nhờ những công đức nói trên mà các điều thiện sinh khởi, muôn pháp hiển hiện, đó là ý nghĩa Câu triệu. Bốn pháp kia cũng như thế. 4. Sáu loại pháp, cũng gọi 6 loại Hộ ma. Tức là 5 loại pháp nói trên thêm pháp Diên thọ (pháp này sinh ra từ pháp Tăng ích). Ngoài ra, củi đốt trong pháp Hộ ma, gọi là Hộ ma mộc, tro tàn gọi là Hỏa thực hôi, dao chặt củi gọi là Hộ ma đao. Tờ giấy hoặc thẻ gỗ viết chép mang nội dung cầu nguyện và chỉ thú của pháp Hộ ma, có thể dùng làm bùa hộ mạng, gọi là Hộ ma trát; phòng xá trong đó pháp Hộ ma được cử hành, gọi là Hộ ma đường. [X. phẩm Thế xuất thế hộ ma trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3; kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.8, Q.15; Bách luận sớ Q.thượng phần giữa; Tuệ lâm ân nghĩa Q.41; Hi lâm ân nghĩa Q.1].

hộ ma mộc

(護摩木) Cũng gọi Hộ ma tân, Hộ ma sài, Hỏa mộcCủi dùng để đốt trong lò khi tu pháp Hộ ma của Mật giáo, có 2 loại: Đoạn mộc: Củi bằng gỗ thông khô, được chặt ra từng khúc. Nhũ mộc: Củi còn tươi, như cây dâu, v.v... Khi để củi vào lò để đốt thì đặt đoạn mộc ở dưới, rồi xếp nhũ mộc lên trên. Lại tùy theo cách tác pháp của 5 loại pháp Hộ ma mà củi và độ dài có khác nhau. Như Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ nói, pháp Tức tai dùng củi có vị ngọt, pháp Tăng ích dùng củi của cây ăn trái, pháp Hàng phục dùng củi có vị đắng, pháp Câu triệu dùng củi của loại cây có gai, pháp Kính ái dùng củi của loại cây có hoa. Đại nhật kinh sớ quyển 8 thì cho rằng pháp Tức tai dùng củi ngọn, pháp Tăng ích dùng củi cành, pháp Hàng phục thì dùng củi gốc. Hiện nay thường dùng gỗ thông, gỗ sam, gỗ cối. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.hạ; kinh Nhất thiết Như lai đại bí mật vương vị tằng hữu tối thượng vi diệu đại mạn noa la Q.3; kinh Nhuy hi da Q.hạ; kinh Mâu lê mạn đồ la chú].

hộ ma trát

(護摩札) Tấm thẻ gỗ hoặc mảnh giấy ghi lời cầu nguyện, biểu thị sự cầu nguyện pháp Hộ ma đã hoàn thành. Phổ thông, người ta tin rằng Trát hộ ma có năng lực thần bí có thể trừ tai họa, mang lại phúc lành, cho nên thường được dùng làm bùa hộ mạng. Có 2 loại: Trát bằng gỗ và Trát bằng giấy. Trát bằng gỗ thời xưa thường dùng gỗ cối, nay thì dùng gỗ thông hoặc các loại gỗ khác. (xt. Hộ Ma).

hộ ma đàn

(護摩壇) Đàn, Phạm: Maịđala. Dịch âm: Mạn đồ la, Man đồ la. Cũng gọi Quang minh đàn, Hộ ma hỏa đàn, Hỏa đàn, Quân đồ đàn, Hỏa mạn đồ la. Đàn tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Tùy theo nguyên liệu làm đàn có thể chia làm 2 loại: Thổ đàn (đàn đắp bằng đất) và Mộc đàn (đàn đóng bằng gỗ). 1. Thổ đàn: Đàn đắp bằng đất rất thịnh hành ở Ấn độ; có 2 cách lập, gọi là Thất nhật tác đàn pháp và Thủy đàn pháp. Cách thứ 1: Trước hết chọn địa điểm, cúng thần đất trong 7 ngày 7 đêm, sau đó đào đất, làm cho sạch sẽ, rồi vẽ Mạn đồ la chư tôn. Cách thứ 2: Trong tình hình khẩn cấp như dịch bệnh bộc phát, chiến tranh bùng nổ, v.v... thì nghi thức cần phải vắn tắt. Nghĩa là chỉ trong một ngày rưới nước làm cho đất sạch sẽ, rồi lập đàn Hộ ma, giữa đàn đào một cái lò, bên ngoài lò vẽ 3 lớp viện, các vị tôn trong Mạn đồ la của 3 lớp viện tùy theo các pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Câu triệu, Kính ái mà có khác và thường được tượng trưng bằng hình Tam muội da. Cứ theo Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ, nếu tu pháp Tức tai thì ở 4 phương của viện chính giữa vẽ chày Yết ma, 4 góc vẽ hoa sen; 4 phương của viện thứ 2 vẽ 4 bồ tát Ba la mật (Kim cương ba la mật, Bảo ba la mật, Pháp ba la mật, Yết ba la mật), 4 góc vẽ 4 bồ tát Nội cúng dường (Hi, Man, Ca, Vũ), 4 cửa của viện thứ 3 vẽ 4 Nhiếp bồ tát (Kim cương câu, Kim cương tác, Kim cương tỏa, Kim cương linh), 4 góc vẽ 4 bồ tát Ngoại cúng dường (Hương, Hoa, Đăng, Đồ), chính giữa vẽ Bát phương thiên (8 vị trời thủ hộ 8 phương) ở chính giữa Mạn đồ la an vị tượng Biến chiếu tôn (đức Đại nhật Như lai). Tuy nhiên cách vẽ và phân bố các tôn vị cũng tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác nhau. Về hình dáng và kích thước của Thổ đàn, cứ theo các kinh và nghi quĩ thì có nhiều thuyết, nhưng phổ thông thì đàn Hộ ma Tức tai là hình tròn, mầu trắng hoặc vàng; đàn Tăng ích là hình vuông, mầu đỏ hoặc vàng; đàn Hàng phục hình 3 góc, mầu đen; đàn Câu triệu và Kính ái là hình bán nguyệt, hoặc là hình 8 cánh sen, mầu đỏ hoặc tạp sắc. Còn về kích thước thì tùy theo đường kính lớn nhỏ mà có cao thấp khác nhau như: 4 khuỷu tay, 3 khuỷu tay, 2 khuỷu tay, v.v... 2. Mộc đàn: Hình dáng và kích thước cũng tùy theo pháp tu mà có khác nhau, nhưng phổ thông phần nhiều dùng đàn hình vuông. Bên ngoài lò Hộ ma không vẽ 3 lớp viện. Bốn góc đàn đóng 4 cây cọc, dùng những sợi tơ 5 mầu giăng trên các đầu cọc. Trên đàn bày nước hoa thơm (át già), hương xoa, tràng hoa, hỏa xá (lư hương), các thức ăn uống, đèn sáng, nước sái tịnh, nước súc miệng, 5 chiếc bình, v.v... Cách trang trí và sự sắp xếp các vật cúng trên đàn cũng tùy theo các phái mà có khác. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; phẩm Hộ ma đàn trong kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.5; kinh Du già đại giáo vương Q.6; phẩm Hộ ma trong Từ thị quĩ Q.hạ; Hộ ma bí yếu sao Q.5].

hộ ma đường

(護摩堂) Nhà để tu pháp Hộ ma của Mật giáo. Trong nhà này thường bài trí các tượng Bản tôn như: Bất động minh vương, Ái nhiễm minh vương. Phía trước tượng Bản tôn bày đàn Hộ ma.

hộ minh đại sĩ

Prabhapala (skt)—Hộ Quang, tên của Phật Thích Ca khi Ngài còn ở trên cung trời Đâu Suất, trước khi giáng trần—Guardian of light or illumination, name of Sakyamuni when in the Tusita heaven before earthly incarnation.

Hộ Mạng

(護命, Gomyō, 750-834): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống vào khoảng hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy Hộ Mạng (護命), thông xưng là Tiểu Tháp Viện Tăng Chánh (小塔院僧正), xuất thân Mỹ Nùng (美濃, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]), họ Tần (秦). Năm 10 tuổi, ông theo Đạo Hưng (道興, Dōkō) ở Mỹ Nùng Quốc Phận Tự (美濃國分寺) học cách đọc âm Pháp Hoa Kinh (法華經), Tối Thắng Vương Kinh (最勝王經) và đến năm 766 thì thọ cụ túc gới tại giới đàn viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Sau đó, ông theo Vạn Diệu (萬耀, Manyō), Thắng Ngộ (勝悟, Shōgo) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) học về Pháp Tướng và sống tại một ngôi tháp nhỏ trong chùa. Năm 794, trong lễ hội cúng dường tại Nhất Thừa Chỉ Quán Viện (一乘止觀止院) trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), ông làm vị đạo sư tán hoa. Đến năm 805, ông làm giảng sư tại Tối Thắng Hội (最勝會) trong cung nội và sau đó được bổ nhiệm làm Luật Sư. Vào năm 816, khi Giới Đàn Đại Thừa được triều đình cho phép thành lập, ông đảm đương trách nhiệm Thượng Thủ Tăng Cang, rồi dâng thư xin từ chức Đại Tăng Đô và lui về ẩn cư tại Sơn Điền Tự (山田寺, Yamada-dera). Năm 823, khi Thuần Hòa Thiên Hoàng (淳和天皇, Junna Tennō) tức vị, ông lại được đãi ngộ với chức Đại Tăng Đô và năm 827 thì trở thành Tăng Chánh. Đến năm 830, ông dâng lên nhà vua bản Đại Thừa Pháp Tướng Nghiên Thần Chương (大乘法相研神章) và tận lực chấn hưng Pháp Tướng Tông. Trước tác của ông có rất nhiều như Đại Thừa Pháp Tướng Nghiên Thần Chương (大乘法相研神章) 5 quyển, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Ký (大乘法苑義林章記) 3 quyển, Pháp Uyển Giải Tiết Chương Ký (法苑解節章記) 20 quyển, v.v.

hộ mệnh

Bảo vệ sinh mệnh—Protection of life.

hộ nguyệt

(護月) Phạm: Candra-gupta. Cũng gọi Xứng nguyệt tạng. Vị Cao tăng ở chùa Na lan đà, Trung Ấn độ, sống đồng thời với luận sư Hộ pháp. Ngài từng chú thích luận Biện trung biên, thuyết minh về A lại da duyên khởi và đề xướng thuyết Chủng tử bản hữu. Nhưng tất cả các sách ấy hiện nay đã thất truyền. [X. Đại đường tây vực kí Q.9; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối].

hộ niệm

1) Bảo hộ ức niệm (khiến cái ác bên ngoài không xâm phạm thì gọi là hộ, khiến điều thiện ở bên trong được nẩy nở thì gọi là niệm): To guard and care for, protect and keep in mind. 2) Hộ niệm là phương thức tụng niệm của những người tu theo Tịnh Độ, giúp cho người quá vãng được vãng sanh Tịnh Độ. Thành viên trong gia đình người sắp chết cũng như bà con phải luôn bình tĩnh, buồn nhưng không khóc, từ lúc người ấy trở bịnh nặng cho đến lúc lâm chung. Chúng ta phải luôn nhớ rằng đây là giai đoạn của thân trung ấm, giai đoạn chuyển tiếp quan trọng nhứt trong kiếp chúng sanh. Đây là giai đoạn mà người lâm chung đang đứng trước ngã rẽ giữa quỷ, người, phàm Thánh. Trong giai đoạn nầy điều quan trọng nhất nên làm là cùng nhau hộ niệm. Dù cho người ấy đã có ý hướng sanh về cõi nào, có thể là cõi thiện; tuy nhiên, sự than khóc của người thân làm khơi dậy niệm luyến ái trong người ấy, do vậy người ấy có thể rơi trở về vòng sanh tử, uổng phí một đời tu—To conduct Supportive Recitation—Supportive Recitation is recitation performed by one or more Pure Land practitioners alongside a dying person, to assist him in achieving rebirth in the Pure Land. Family members and relatives of a dying person should remain calm, show sorrow without weeping or lamenting from the time that person becomes gravely ill until her or his last moments. We should always remember that this is the Bardo stage, the most important juncture in any being's life. This is the period where the dying person is standing in front of a crossroads which separate demons from humans, and the mundane from the transcendental. At this time the most important thing to do is to recite the supportive recitation together. Even though that person already set her or his mind on rebirth, may be an upward path; however, when the relatives weep and lament would arouse deep-seated feeling of love-attachment in that person, thus he or she will certainly sink in the cycle of births and deaths, wasting all her or his whole-life efforts in cultivation—See Supportive Recitation. 3) See Thiện Đạo Niệm Phật Chỉ Giáo. ; (護念) Phật, Bồ tát, chư thiên và các vị thiện thần thường nhớ nghĩ và che chở những người tin kính Tam bảo, khiến cho họ không bị các chướng nạn làm hại. Sự nhớ nghĩ che chở của các Ngài như bóng theo hình, không cách rời, làm cho ác quỉ không thể đến gần làm hại, vì thế gọi là Ảnh hộ hộ niệm. Lại nữa, để chứng minh cho giáo pháp do đức Phật nói ra là chân thực, chư Phật và Bồ tát bèn lập thệ nguyện, nếu chúng sinh tin nhận và làm theo giáo pháp này, thì sẽ được lợi ích vô cùng, đó gọi là Chứng thành hộ niệm.

hộ niệm tăng thượng duyên

(護念增上緣) Cũng gọi Hộ niệm đắc trường mệnh tăng thượng duyên. Sức mạnh của nhân duyên hiện thế được Phật và Bồ tát thương nhớ che chở mà được sống lâu. Một trong 5 loại duyên tăng thượng mà hành giả niệm Phật có được. [X. Quán niệm pháp môn]. (xt. Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên).

Hộ Pháp

(護法): bảo hộ, hộ trì chánh pháp. Tương truyền đức Phật từng phái 4 vị Đại Thanh Văn, 16 vị A La Hán (阿羅漢) đến để hộ trì Phật pháp. Bên cạnh đó, lại có Phạm Thiên (梵天), Đế Thích Thiên (帝釋天), Tứ Thiên Vương (四天王, 4 Thiên Vương), Thập Nhị Thần Tướng (十二神將, 12 Thần Tướng), 28 bộ chúng, 13 phiên thần, 36 thần vương, 18 thiện thần chốn Già Lam, Long Vương, quỷ thần, v.v., nhân nghe đức Phật thuyết pháp mà thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Những vị này được gọi là Thần Hộ Pháp, hay Hộ Pháp Thiện Thần (護法善神). Ngoài ra, các bậc đế vương, đàn việt, Phật tử đều là những người hộ pháp đắc lực. Trong số các Thần Hộ Pháp, có vị là thiện thần, nhưng cũng có vị là hung thần, ác thần. Họ có trách nhiệm bảo hộ chúng sanh, đầy đủ 4 công đức độ đời là làm cho tiêu trừ mọi tai họa, làm tăng trưởng ích lợi, tạo sự kính mến thương yêu, và hàng phục. Đặc biệt, Quan Vũ (關羽, tức Quan Thánh Đế Quân [關聖帝君]) cũng trở thành Thần Hộ Pháp, sau khi được Trí Khải Đại Sư (智顗大師, 538-397) dùng pháp Phật làm cho siêu độ và thoát khỏi thân quỷ. ; 護法; S: dharmapāla; P: dhammapāla;|1. Người bảo vệ chính pháp. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), người ta tin rằng có một số thiên nhân chuyên bảo vệ chính pháp. Hành giả hành trì Nghi quỹ (s: sādha-na), tụng đọc Man-tra thì được các vị đó bảo hộ. Bên cạnh các vị Hộ Pháp chính thống như Ma-ha Ca-la (s: mahākāla, nghĩa là Ðại Hắc, 大黑) – được xem là một dạng xuất hiện của Quán Thế Âm – người ta còn kể thêm các vị Hộ Thế (護世; s: lokapāla), là các vị thần thệ nguyện theo Phật.|Ðối với hành giả của Kim cương thừa thì các vị Hộ Pháp chuyên trách bảo vệ họ trước những hiểm nguy và ảnh hưởng xấu liên quan đến chuyện tu học. Tuy nhiên các hành giả đó phải được chân truyền sự hỗ trợ từ vị thần bảo hộ, Hộ Thần (t: yidam) của mình. Vị Ðại Hắc (s: mahākāla), Hộ Pháp của tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ðạt-lại Lạt-ma thường được trình bày như một vị thần cao lớn, da đen. Vị này có bốn trách nhiệm lớn đối với trở ngại khó khăn của người tu hành: điều phục, giúp đỡ, thu hút, huỷ diệt. Các vị Hộ Thế trong Phật giáo Tây Tạng được chinh phục – theo truyền thuyết – là nhờ công của Ðại sư Liên Hoa Sinh. Ðó là các vị thần của đạo Bôn (t: bon) đã được điều phục thành các vị phục vụ Phật pháp. Các vị đó thường là hiện thân của các lực lượng thiên nhiên. Người ta còn nhắc đến các vị Hộ Thế Tứ thiên vương. Các vị này xuất hiện từ lâu trong tranh tượng Ấn Ðộ và cũng được tôn thành Hộ Pháp.||H 27: Hộ Pháp.|2. Luận sư của Duy thức tông (s: vijñāna-vāda), sống trong thế kỉ thứ 6-7 sau Công nguyên, môn đệ của Trần-na (s: dignāga) và về sau trở thành viện trưởng của viện Na-lan-đà (s: nālandā). Sau đó Sư đến Giác Thành (bodh-gayā) và trở thành viện trưởng viện Ðại Bồ-đề (s: mahābodhi). Sư mất năm 32 tuổi. Hầu như mọi tác phẩm của Sư đều thất lạc cả.|Sư viết luận giải về Bách luận (s: śataśāstra) của Thánh Thiên (s: āryadeva), về Duy thức nhị thập tụng (s: viṃśatikāvijñap-timātratākārikā) của Thế Thân (s: va-subandhu). Tư tưởng luận giải của Sư còn được tìm thấy trong tác phẩm Thành duy thức luận của Huyền Trang. Hộ Pháp và các môn đệ nhấn mạnh tính »duy tâm« (s: citta-mātra) tuyệt đối của Duy thức học, cho rằng thế giới »không gì khác hơn là sự tưởng tượng.«|3. Hộ Pháp, Cao tăng Tích Lan (1865-1933), sáng lập hội Ðại Bồ-đề (mahābodhi society) năm 1891 nhằm phục hưng viện Ðại Bồ-đề tại Giác Thành. Sư là tăng sĩ đầu tiên của thời cận đại tự nhận mình là một người Vô gia cư (s: anāgārika; xem Khất sĩ). Năm 1925, Sư sáng lập hội Ðại Bồ-đề ở Anh, London.

hộ pháp

1) Ủng hộ chánh pháp của Đức Phật: Dharma Guardian—Dharma protector—To protect and maintain the Buddha-truth. 2) Tên của ngài Dharmapala, người nam Ấn, một học giả nổi tiếng trong giới Phật học. Sanh ra sau khi Phật nhập Niết Bàn 1000 năm. Hộ Pháp nhìn nhận sự khác biệt giữa tướng (laksana) và tánh (svabhava) của các pháp, tức Chân, Như (Tathata). Ý kiến của ông được xem như là thuộc thế tục đế (lý thế luận) chứ không thuộc đệ nhất nghĩa đế (paramartha satya). Thế tục đế cho rằng sự và lý luôn luôn song hành và ta không bao giờ có thể phân biệt được chúng bằng cách tổng hợp, ý kiến như vậy không đúng hẳn là Đại Thừa mà gồm cả nửa phần Tiểu Thừa cho nên Pháp Tướng Tông được xem như là Bán Đại Thừa: Name of Dharmapala, native of south India, a famous scholar throughout the Buddhist world. He was born 1000 years after the Buddha's nirvana. Dharmapala recognized the distinction between the specific character (laksana) and the nature (svabhava) of dharma, i.e., Thusness (Tathata). His point of view was that of what is called the 'worldly truth' (laukika-satya) and not the 'highest truth' (paramartha-satya). The worldly truth assumes the fact and principle always go 'parallel' and can never be synthetically identified. Such a view is not quite Mahayanistic but is half Hinayistic, and on that account the Dharmalaksana school is generally classified as quasi-Mahayanistic. ; (護法) I. Hộ Pháp. Hộ trì chính pháp. Trời Phạm vương, trời Đế thích, 4 Thiên vương, 12 thần tướng, 28 bộ chúng, v.v... sau khi nghe đức Phật nói pháp, đều phát nguyện hộ trì chính pháp; các vị thần này được gọi chung là thần Hộ pháp hoặc thiện thần Hộ pháp. Vua chúa và những người tín đồ bảo hộ người tu theo Phật pháp cũng được gọi là Hộ pháp. Lại vì mục đích hộ pháp, các vị thiện thần hiện hình đồng tử hầu hạ người tu hành và bảo vệ linh địa, gọi là Hộ pháp đồng tử hoặc Hộ pháp thiên đồng. II. Hộ Pháp. Phạm: Dharmapàla. Cao tăng Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VI Tây lịch, con của quan Đại thần nước Đạt la tì đồ (Phạm: Dràviđa) thuộc Nam Ấn độ, là 1 trong 10 vị Đại luận sư Duy thức.Sư vâng mệnh cha mẹ kết hôn với một công chúa, nhưng vào ngày tổ chức hôn lễ thì sư cạo tóc xuất gia. Sư tinh thông giáo nghĩa Đại Tiểu thừa, đặc biệt về Duy thức học; sư giảng dạy ở chùa Na lan đà thuộc nước Ma kiệt đà, học trò có tới mấy nghìn người. Năm 29 tuổi, sư về ẩn ở chùa Đại bồ đề (Phạm: Mahàbodhi) chuyên việc trứ thuật. Sư tịch năm 32 tuổi. Tác phẩm: Đại thừa quảng bách luận thích luận; Thành duy thức bảo sinh luận, Quán sở duyên luận thích. [X. Đại đường tây vực kí Q.5, Q.9; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

hộ pháp a la hán

(護法阿羅漢) Bậc A la hán ưa thích và giữ gìn pháp mà mình đã chứng được. Một trong 6 bậc A la hán, 1 trong 9 bậc Vô học. [X. luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học).

Hộ Pháp Luận

(護法論, Gohōron): 1 quyển, do Trương Thương Anh (張商英, tức Vô Tận Cư Sĩ [無盡居士]) nhà Tống soạn, san hành vào năm thứ 7 (1171) niên hiệu Càn Đạo (乾道). Đây là luận thư phản bác đối với luận thuyết bài xích Phật Giáo của hàng Nho sĩ đương thời dựa trên cơ sở các điển tịch của hai tôn giáo Nho và Phật, bên cạnh đó, nó còn luận về việc ngụy tác Hóa Hồ Kinh (化胡經) của Vương Phù (王浮), dẫn chứng tác phẩm Đại Đồng Luận (大同論) của Vương Văn Khang (王文康) để đề xướng chủ thuyết điều hòa Tam Giáo và quét sạch tư tưởng cực lực muốn bài xích Phật Giáo. Tác giả Trương Thương Anh là vị Tướng Quốc (tức Tể Tướng) vào năm thứ 4 (1110) niên hiệu Đại Quán (貞觀) đời vua Huy Tông.

hộ pháp luận

(護法論) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Trương thương anh soạn vào thời Bắc Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 52. Nội dung luận này phản bác thuyết bài Phật của Âu dương tu và đả phá quan niệm sai lầm về Phật giáo của Hàn dũ, Trình y xuyên, v.v... So sánh giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, Trương thương anh cho rằng Nho giáo trị bệnh ngoài da, Đạo giáo trị bệnh mạch máu, còn Phật giáo thì chữa bệnh trong xương tủy. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Cư sĩ truyện Q.28].

hộ pháp lục

(護法錄) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Tống liêm soạn vào đời Minh, ngài Vân thê Châu hoành sưu tập, ông Tiền khiêm ích hiệu đính. Nội dung sách này thu chép những bài viết có liên quan đến việc hộ trì Tam bảo trong sách Kim hoa văn tập của ông Tống liêm, trong đó nhiều thể loại như: Tháp minh, Bi, Kí, Tự, Cáo, Tán, Minh, Tụng, Kệ, Thuyết, Đề bạt, v.v

hộ pháp thiện thần

(護法善神) Cũng gọi Hộ pháp thần, Hộ pháp thiên. Gọi chung các vị Thiện thần hộ trì Phật pháp. Đó là: Trời Phạm vương, trời Đế thích, lực sĩ Kim cương, 4 Thiên vương, trời Hộ thế trấn giữ 8 phương, 10 La sát nữ, 12 vị Thần tướng, 16 vị Thiện thần, 28 Bộ chúng, 30 Phan thần, 36 Thần vương, 18 vị Thiện thần bảo vệ già lam, các vua Rồng, Quỉ thần, v.v... Tọa thiền dụng tâm kí (Đại 82, 413 trung), nói: Đạo tràng phải thanh khiết, thường thắp hương dâng hoa, thì chư Phật, Bồ tát và các vị Thiện thần hộ pháp mới đến giữ gìn, che chở . [X. kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.trung].

hộ pháp thần

Bốn vị thần hộ pháp thường thấy nơi cửa vào các chùa hay tự viện—Four Lokapalas, usually seen at the entrance to Buddhist temples or monasteries. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương.

hộ phù

Bùa được dùng bởi trường phái Mật Tông—A charm used by the esoterics.

hộ quốc

See Hộ Quốc Tứ Thiên Vương.

hộ quốc châu

(護國珠) Chỉ cho kinh Nhân vương. Nội dung kinh này đức Phật chỉ dạy 16 vị Quốc vương về nhân duyên hộ trì Phật pháp và bảo vệ quốc gia. Nếu thụ trì đọc tụng và giảng thuyết kinh này thì đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, vì thế thí dụ kinh này là viên ngọc báu che chở quốc gia (Hộ quốc châu). Phẩm phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 843 hạ), nói: Tất cả quốc độ nếu thọ trì, đọc tụng, giải thuyết kinh này (…) thì những tai họa như chiến tranh, dịch bệnh, v.v... đều bị tiêu trừ .

hộ quốc kinh điển

(護國經典) Chỉ cho 3 bộ kinh điển nói về việc bảo hộ quốc gia. Đó là: 1. Kinh Nhân vương bát nhã ba la mật, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch. 2. Kinh Kim quang minh, 4 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch. 3. Kinh Diệu pháp liên hoa, 7 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch. Ngoài ra, còn có kinh Kim quang tối thắng vương 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch, là bản dịch khác của kinh Kim quang minh.

Hộ Quốc Thủ Trừng

(護國守澄, Gokoku Shuchō, ?-?): nhân vật sống vào khoảng cuối thời nhà Đường, vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, pháp từ của Sơ Sơn Khuông Nhân (疎山匡仁). Ông có sống ở Hộ Quốc Viện (護國院), Tùy Châu (隨州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc), được ban cho hiệu là Tịnh Quả Đại Sư (淨果大師).

hộ quốc tôn giả sở vấn đại thừa kinh

(護國尊者所問大乘經) Gọi tắt: Hộ quốc tôn giả sở vấn kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung này ghi chép việc đức Phật ở núi Kì xà quật, gần thành Vương xá, nói cho tôn giả Hộ quốc nghe về pháp trọng yếu của Bồ tát. Hội Hộ quốc bồ tát (do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy) trong kinh Đại bảo tích (quyển 80, 81) là bản dịch khác của kinh này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1].

hộ quốc tứ thiên vương

Bốn vị Thiên vương hộ thế—The four Lokapalas, or Rastrapalas, who protect a country—See Hộ Thế Tứ Thiên Vương.

hộ thân

To defend (protect) oneself—Protection of the body, for which the charm last named is used, and also other methods.

hộ thân pháp

(護身法) Cũng gọi Hộ thân gia trì pháp. Trước khi tu một pháp nào đó trong Mật giáo, hành giả phải kết ấn, tụng chân ngôn gia trì nơi thân tâm của chính mình, làm cho thanh tịnh để thành tựu pháp tu ấy. Về ấn tướng và chân ngôn mà 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới thường sử dụng, thì gồm có 5 loại gọi là Ngũ hộ thân. Đó là: 1. Ấn Tịnh tam nghiệp: Diệt trừ các tội của 3 nghiệp. 2. Ấn Tam muội da của Phật bộ: Làm cho thân nghiệp thanh tịnh. 3. Ấn Tam muội da của Liên hoa bộ: Làm cho khẩu nghiệp thanh tịnh. 4. Ấn Tam muội da của Kim cương bộ: Làm cho ý nghiệp thanh tịnh. 5. Ấn Bị giáp hộ thân: Mặc giáp trụ từ bi rộng lớn của đức Phật để ngăn ngừa các chướng nạn do thiên ma và ác nhân gây ra. Ngoài ra, trong Đại pháp Thai tạng giới còn có các tác pháp hộ thân đặc biệt như: Tam muội da của Phật bộ, Pháp giới sinh, Chuyển pháp luân, Lãm tự quán, v.v...; còn trong Đại pháp Kim cương giới thì có các tác pháp Tịnh địa, Tịnh thân, v.v... [X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.2; Thập bát khế ấn; Thập bát đạo niệm tụng thứ đệ (Không hải); Thai tạng giới hư tâm kí Q.thượng; Kim cương giới Tịnh địa kí].

hộ thân phù

(護身符) Cũng gọi Hộ phù, Thần phù, Linh phù, Bí phù. Bùa hộ thân. Tức những lá bùa trong đó có vẽ hình tượng hoặc viết chủng tử, chân ngôn của Phật, Bồ tát, chư thiên, quỉ thần, v.v... đeo trong mình hoặc nuốt vào bụng để mong được chư tôn gia trì hộ niệm. Có nhiều loại bùa hộ thân và tùy theo sự mong cầu mà tác dụng của chúng cũng khác, như: Trừ ách nạn, trừ nạn nước, nạn lửa, sinh nở được bình an, v.v... Trong các kinh và nghi quĩ Mật giáo cũng nói rất nhiều về Hộ thân phù. Cứ theo Tây tạng tân chí, thì dân chúng Tây tạng đều đeo bùa hộ thân. Chẳng hạn, họ dùng những sợi chỉ buộc một trang kinh lại để vào chiếc hộp nhỏ bằng kim loại rồi đeo trong người, hoặc dùng tranh vẽ Lữ nhân dĩ mã và Kim cương hệ khuyển làm hộ phù để trừ nạn mưa bão và chó dữ. Ngoài ra, Nhật bản vào thời đại bình an, phong tục đeo bùa hộ thân cũng thịnh hành, chẳng hạn như Ngưu vương bảo ấn cũng là một loại hộ thân phù. [X. kinh Uế tích kim cương cấm bách biến pháp; kinh Quán đính Q.1].

hộ thất

Retreats assistant.

Hộ Thần

護神; S: sādhita, iṣṭadevatā; T: yidam; E: deity; cũng có thể gọi là Thiên thần (天神);|Thần hộ vệ người tu tập trong hệ thống Tan-tra, Vô thượng du-già; là linh ảnh biểu hiện của một Nghi quỹ (s: sādhana). Những Hộ Thần này được tạo bằng sức mạnh quán tưởng của một người tu luyện Nghi quỹ (s: sādhaka, tantrika) và chỉ có người này mới thấy được »sự sống« của linh ảnh này. Hộ Thần là hình ảnh tưởng tượng, là những »thần hỗ trợ như ý« đi theo hộ vệ người đã tạo ra họ (s: sādhaka). Khi một người tu tập tạo ra một Hộ Thần, người ta có thể hiểu rằng, người ấy muốn Hộ Thần này truyền lại tất cả những năng lượng tiềm tàng trong nghi quỹ đang được tu luyện.|Những Hộ Thần thường được nhắc đến mang tên của những Tan-tra quan trọng nhất, đó là Bí mật tập (s: guhyasamāja), Cha-kra sam-va-ra (»Người chặn đứng bánh xe«, bánh xe đây là Vòng sinh tử), Hô kim cương (s: hevajra; còn được gọi là Hê-ru-ka; t: heruka) và Thời luân (s: kālacakra). Trong tranh tượng, các vị Hộ Thần thường được trình bày dưới hai dạng, tịch tịnh (s: śānta) và phẫn nộ (s: krodha). Trong cả hai trường hợp, những vị này luôn luôn cũng được diễn tả với một nữ nhân, một Du-già-ni (s: yoginī) trong tư thế giao phối (s: yuganaddha; t: yab-yum).|Trong Kim cương thừa tại Tây Tạng, Hộ Thần là một vị thần dành riêng cho mỗi người; vị này phải phù hợp với căn cơ và tâm lí của hành giả. Hộ Thần là dạng xuất hiện của Báo thân (s: saṃbhogakāya), phải được hình dung thành linh ảnh trong các Nghi quỹ – tức là phải được nhìn bằng nội quán. Hộ Thần có thể có những hình tượng hiền từ hoặc phẫn nộ khác nhau, mỗi vị thuộc về một vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật. Tại Tây Tạng, những vị Hộ Thần phổ biến nhất là Quán Thế Âm (t: chen-resi), vị nữ thần Ða-la (s: tārā) và những vị được truyền trong các bộ Tan-tra cực kì bí mật như »Lợn kim cương« (金鋼母豬; Kim cương mẫu trư; t: dorje phagmo).|Khác với truyền thống Tan-tra của Ấn Ðộ giáo, Phật giáo Tây tạng không xem Hộ Thần là người chuyên trách bảo vệ mình, các vị chỉ là những biểu tượng nói lên tính cách riêng của mỗi hành giả và tính cách đó chính là phương tiện để chuyển hoá tâm thức. Hộ Thần cũng là mối nối giữa hành giả và dòng tu và giáo pháp của dòng đó.|Hộ Thần cũng được chia thành nhiều loại có tên khác nhau, mỗi loại có một tính chất riêng:|Nam Hộ Thần (chủ từ bi):|hiền từ: Bà-già-phạm (s: bhagavat);|nghiêm nghị: Không hành nam (s: ḍāka); |phẫn nộ: Hê-ru-ka (s: heruka).|Nữ Hộ Thần (chủ trí huệ): |hiền từ: Bà-già-bà-đề (s: bhagavatī)|nghiêm nghị và phẫn nộ: Không hành nữ (s: ḍākinī).|Các vị Nam và Nữ Hộ Thần cũng thường được trình bày trong tư thế giao phối (Yab-yum) như vị Nam Hộ Thần Cha-kra sam-va-ra và Nữ Hộ Thần Kim Cương Bhai-ra-va (s: vajrabhairava) và từ đó phát sinh ra nhiều biểu tượng cực kì phức tạp.

Hộ thế giả

護世者; S, P: lokapāla;|Tên gọi chung của bốn vị Thiên vương, bốn vị thần thủ hộ thế giới.

hộ thế giả

Bốn vị Thần canh giữ tứ phương hay chủ hộ của thế giới—The four Lokapalas or heaven kings—See Hộ Thế Tứ Thiên Vương.

hộ thế tứ thiên vương

Bốn vị Thiên vương ở cõi Trời Tứ Thiên Vương, mỗi vị canh giữ một phương, ý nói Thần Hộ Pháp. Cõi Trời thứ nhứt nầy nằm giữa chừng núi Tu Di. Mỗi vị mỗi hướng, Bắc, Nam, Đông, Tây (Kinh Duy Ma Cật, phẩm Phương Tiện:“Hộ thế tứ thiên vương là những vị bảo vệ chúng sanh thoát khỏi sự tàn hại của các loài quỷ thần ác độc.”)—Four Heaven kings or Lokapalas of the Heaven of the Four Kings, each protecting one of the four quarters of space, the guardians of the world and of the Buddhist faith. This first-level heaven is halfway up Sumeru Moountain and in each of its directions, North, South, East, West. ** For more information, please see Tứ Thiên Vương. ; (護世四天王) Cũng gọi Hộ quốc tứ vương, Tứ đại thiên vương, Tứ vương. Bốn vị trời ở 4 phương lưng chừng núi Tu di để hộ trì Phật pháp và che chở chúng sinh trong 4 đại châu. Đó là: 1. Phương Đông: Trì quốc thiên vương. 2. Phương Nam: Tăng trưởng thiên vương. 3. Phương Tây: Quảng mục thiên vương. 4. Phương Bắc: Đa văn thiên vương. [X. kinh Đại hội trong Trường a hàm Q.12; kinh Tăng nhất a hàm Q.9; phẩm Tứ thiên vương hộ quốc trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.6; kinh A dục vương Q.6].

hộ trì

Viharapala (skt)—Hộ trì tự viện hay Tam Bảo—Supporter—Guardian deity of a monastery.

hộ trì các căn

• Theo Kinh Sa Môn Quả trong Trường Bộ Kinh, Đức Phật đã dạy về một vị Tỳ Kheo Hộ Trì Các Căn—According to the Samannaphala Sutta in the Long Discourses of the Buddha, the Buddha taught about “a guardian of the sense-door.” • Thế nào là vị Tỳ Kheo hộ trì các căn? Khi mắt thấy sắc, Tỳ Kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện khởi lên, Tỳ Kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, thân cảm xúc, ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỳ Kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục: How does a monk become a guardian of the sense-door? Here a monk, on seeing a visible object with the eye, does not grasp at its major signs or secondary characteristics. Because greed and sorrow, evil unskilled states, would overwhelm him if he dwelt leaving this eye-faculty unguarded, so he practises guading it, he protects the eye-faculty, develops restraint of the eye-faculty. On hearing a sound with the ear…; on smelling an odour with the nose…; on tasting a flavour with the tongue…; on feeling an object with the body…; on thinking a thought with the mind, he does not grasp at its major signs or secondary characteristics, he develops restraint of the mind-faculty. He experiences within himself the blameless bliss that comes from maintaining this Ariyan guarding of the faculties.

hộ trì phật

Buddha's supporter.

hộ trì tam bảo

Supporter of the Triple Gem.

hộ trợ

To help one another.

hộ tất na

Hupian (skt)—Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, Hộ Tất Na là kinh đô của Vridjisthana, có lẽ là xứ láng giềng của vùng mà bây giờ gọi là Charekoor, nằm về phía bắc của Cabool—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hupian is the capital of Vridjisthana, probably in the neighbourhood of the present Charekoor, to the north of Cabool.

hộ tống

To convoy—To escort.

hộ vệ

To guard.

hộ đồng tử pháp thần

Vị thần bảo hộ trẻ em khỏi bị 15 quỷ dữ ám hại—Guardian or protector (spirit) who protects the young against the fiften evil spirits which seek to harm them.

hộc

đơn vị đo lường ngày xưa, mỗi hộc bằng 10 đấu. ; Drona (skt). 1) Cái hộc bằng gỗ để chứa đồ—A tub, or wooden vessel. 2) Cái Hộc dùng để đo lường: A measure of capacity—A square wooden vessel, a bushel.

hộc phạn vương

Dronodana (skt)—Tên tiếng Phạn là Đồ Lô Đàn Na, dịch là Cốc Tịnh, là con vua Sư Tử Giáp, là một trong những người em trai của Tịnh Phạn Vương, là cha của Đề Bà Đạt Đa và Mahanama, là chú của Đức Phật—One of the younger brothers of Suddhodana, a prince of Magadha, father of Devadatta and Mahanama, and uncle of Sakyamuni. ; (斛飯王) Hộc phạn, Phạm: Droịodana. Dịch âm: Đồ lô đan na. Cũng gọi Cốc tịnh vương. Một vị vua sống vào khoảng thế kỉ VI trước Tây lịch ở Ấn độ, là con của vua Sư tử Giáp (Phạm: Siôhahanu), em vua Tịnh phạn (Phạm: Suddhodana), chú ruột của đức Phật. Về những người con của vị vua này thì có nhiều thuyết, có thuyết cho rằng vua có 2 con là A ni lâu đà và Bạt đề lê ca, hoặc Ma ha nam và A ni lâu đà, hoặc Đề bà đạt đa và A nan đà. Lại có thuyết cho rằng vua có 3 người con là A ni lâu đà, Ma ha nam và một người con gái là Bạt nại lê. [X. kinh Khởi thế Q.hạ; kinh Thập nhị du; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.2; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.3; luật Ngũ phần Q.15; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.2; luận Đại trí độ Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng; Thích ca phổ Q.1].

hộc thực

(斛食) Hộc, nguyên là cái đồ dùng để đong lường, thời xưa 1 hộc là 10 đấu, nhưng nay 1 hộc chỉ có 5 đấu. Hộc thực là cái mâm lớn bằng gỗ hình vuông đựng nhiều thức ăn để cúng dường thần linh trong 3 cõi. Trong pháp hội Vu lan bồn thường sắp bày Hộc thực cúng dường. [X. kinh Cứu bạt diệm khẩu ngã quỉ đà la ni; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7].

Hội

會; C: huì; J: e;|1. Kết hợp, hợp nhất; 2. Trở về, dàn xếp; 3. Triệu tập mọi người lại; 4. Cuộc hội họp, hội nghị, hội đồng; 5. Một hội chúng tu tập. Thuật ngữ gốc tiếng Phạn chỉ cho một cuộc hội nghị nhất thời là utsava; 6. Thời gian một Thiền sư lưu lại ở một thiền viện trước khi ra đi cũng gọi là Hội; 7. Đồ chúng của một vị thầy tu học cùng nhau; 8. Hiểu, nhận ra, lãnh hội; 9. Sự chào hỏi, chào mừng, thừa nhận; 10. Sự hợp nhất, kết hợp, liên hợp (hợp đồng合同); 11. Chúng đồng phận (衆同分), một pháp trong giáo lí Duy thức

hội

1) Hiểu rõ: To apprehend—Skilled in. 2) Hội chúng: Assembly—Association—Society—Company. 3) Hội họp: To meet—To assemble—To collect—To unite. 4) Hội thoại: To associate—To communicate. ; (會) Phạm: Parwad. Pàli: Parisà. Gồm có những nghĩa sau đây. 1. Tập hội, hội họp, pháp hội, tức là đại chúng tập hợp lại để nghe thuyết giảng kinh pháp, như Niết bàn hội, Duy ma hội, Pháp hoa hội. 2. Dung hội, như Hội tam qui nhất và Khai hội của tông Thiên thai; nghĩa là khai trừ tình chấp phân biệt từ trước mà dung hội chứng nhập vào cảnh giới Nhất thừa. 3. Hội thông, Hòa hội, nghĩa là hợp vào một lí, như làm lời sớ giải, chú thích để hợp thông các thuyết khác nhau. 4.Trong Thiền tông có từ Hội đắc hoặc nói tắt Hội , nghĩa là liễu ngộ, hiểu thầm hợp với chân lí. Tắc 18 trong Bích nham lục (Đại 48, 157 hạ), ghi: Quốc sư im lặng hồi lâu rồi hỏi: Hội không? Pháp nhãn Văn ích thiền sư ngữ lục (Đại 47, 588 trung), nói Ông hiểu như thế, liệu được gì không?

hội bản

(會本) Tập hợp các kinh văn hoặc chú sớ cùng loại thành một bản để lưu thông, như Thập bất nhị môn chỉ yếu sao hội bản,Diệu tông sao hội bản, Hoa nghiêm đại sớ sao hội bản, v.v... Loại Hội bản phần nhiều được thực hiện từ đời Tống trở về sau.

hội chúng

Hội họp toàn thể những thành viên trong Tăng đoàn—To assemble the community, or company; to meet all.

hội diện

To meet face to face.

hội dịch

To assemble and explain the meaning; to comprehend and explain.

hội giả định li

(會者定離) Có họp ắt có chia lìa. Ý nói sự vô thường ở thế gian. Kinh Phật di giáo (Đại 12, 1112 trung), nói: Thế gian đều vô thường, Hội hợp ắt chia li, Chớ ôm lòng lo buồn, Cuộc đời là như thế . [X. kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc)].

hội hiệp sở sanh khổ

xem ba loại khổ.

hội hạ

Vị Tăng kém tuổi hạ trong giáo đoàn—The lower, or junior member of an assembly, or company. ; (會下) Cũng gọi Môn hạ, Hội trung, Hội lí. Chỉ chung cho những người đến nghe thuyết pháp, tu học hoặc tham thiền nơi một bậc thầy nào đó. Như Thanh nguyên hội hạ, Nam nhạc hội hạ, v.v... Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục chi hành lục (Đại 47, 504 trung), nói: Mới đầu sư ở trong hội của ngài Hoàng bá (Hoàng bá hội hạ), hạnh nghiệp thuần nhất .

hội khánh

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1741 dưới triều vua Lê Hiển Tông. Năm 1860, năm Tự Đức thứ 13, quân Pháp đốt hủy chùa. Năm 1868, Hòa Thượng Chánh Đắc xây lại, nhưng trong thời gian chiến tranh với quân Pháp chùa lại bị hư hại nặng nề. Năm 1917, giảng đường và tây lang được trùng tu, và về sau nầy đông lang và ngôi chánh điện cũng được trùng tu lại. Các pho tượng trong chánh điện đều được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng, có ba tấm bao lam chạm tứ linh, cửu long và thập bát La Hán. Hai bên tường chánh điện có tượng thập bát La Hán và thập điện Diêm Vương. Các tác phẩm chạm trổ nầy được tạc vào những năm cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20 do các nhóm thợ nổi tiếng ở Thủ Dầu Một như Trương Văn Can, Nguyễn Văn Ba, Sáu Nhồng thực hiện. Tượng La Hán bằng gỗ, mỗi tượng cao 76 phân, ngang 41 phân, cả bệ cao 1 mét 7. Tượng Diêm Vương cao 1 mét, ngang 63 phân—Name of a famous ancient pagoda located in Phú Cường village, Thủ Dầu Một, South Vietnam. It was built in 1741, under Emperor Lê Hiển Tông. In 1860, the thirteenth Tự Đức year, it was burnt down by the French army. Most Venerable Chánh Đắc had it rebuilt in 1868, but later it was damaged again during the wartime. In 1917, the auditorium and east compartment were rebuilt, and later the west compartment and the Main Hall were also rebuilt. All the statues placed in the Main Hall are cast in wood, gilded and painted in red. There are three carved drafts decorated with the images of the four sacred animals, the nine dragons and the Eighteen Arahats. On both walls of the Main Hal stand the statues of the Eighteen Arahats and Ten Halls of Yama of Hell. Created in the late years of the nineteenth century, these wooden carved masterpieces were completed by the famous engravers from Thủ Dầu Một town like Trương Văn Can, Nguyễn Văn Ba, Sáu Nhồng and workers of sugar and sugar-candy workshops. The statues of Eighteen Arahats, made of wood, each 0.76 meter high, 0.41 meter wide. Its pedestal is 0.10 meter high and the base is 1.7 meters high. The statue of Yama Hell is made of wood, 1 meter high and 0.63 meter wide.

hội kiến

To meet face to face—To interview.

hội kín

Secret meeting (society).

hội linh

Tên của một ngôi chùa cổ trong thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ lâu và được trùng tu năm 1914—Name of an ancient temple, located in Cantho City, Cantho province, South Vietnam. It was built a long time ago, and was rebuilt in 1914.

hội lợi câu tự tháp

(hội lợi câu tự tháp ) Tháp 5 tầng bằng đá hoặc bằng gỗ, ở chính giữa có viết chữ (hrì#, Hột lợi câu). Tháp tức là chữ Tông (Vaô), biểu thị cho cung điện pháp giới của quả vị Đại nhật thuộc Kim cương giới. Còn chữ Hột lợi câu thì biểu thị cho chủng tử căn bản của Vô lượng thọ Như lai ở phương Tây và chủng tử nhân vị của Vô lượng thọ tát đỏa. Vì thế chủng tử này có các nghĩa: Khéo hiện nhân quả không hai , Vào đại bi sinh Liên hoa tam muội , Trí diệu quan sát được phát hiện khi trụ nơi thức thứ 6 , Tích tập vô lượng công đức trong pháp giới , Cứu giúp tất cả chúng sinh .

hội nghị

Conference.

hội nghị giáo dục

Educational conference.

hội nhất lập ngũ

(會一立五) Hội thông yếu chỉ Nhất thừa mà lập thuyết Ngũ tính sai biệt. Đây là thuyết của kinh Giải thâm mật. Kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn, v.v... chủ trương chỉ có Nhất Phật thừa, chứ không có 2 thừa, 3 thừa, nhưng kinh Giải thâm mật thì cho rằng chỉ có Nhất thừa là Phật thừa, còn chúng sinh thì tùy theo căn cơ lợi, độn mà có 5 tính khác nhau. Kinh Giải thâm mật quyển 2 (Đại 16, 695 thượng), nói: Tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều cùng chung một đạo thanh tịnh mầu nhiệm này, đều cùng một đạo rốt ráo thanh tịnh này, chứ không có đạo nào khác. Nay căn cứ vào đó mà ngầm chỉ rằng: Chỉ có Nhất thừa, nhưng chẳng phải trong các cõi Hữu tình không có những chủng tính khác nhau: Hoặc căn tính đần độn, hoặc căn tính bậc trung, hoặc căn tính lanh lợi .

hội phước

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng tọa lạc trong ấp Phú Nhuận, xã An Mỹ, thị xã sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được bà Trần Thị Ngôn dựng từ năm 1842. Khởi đầu nó chỉ là một cái am nhỏ gọi là chùa Bà Định (vì bà Ngôn có pháp danh là Diệu Định). Năm 1847, bà Ngôn cầu thỉnh Hòa Thượng Giác Lâm đặt tên chùa là Hội Phước Tự. Năm 1848, bà thỉnh thầy Phổ Minh từ chùa Giác Lâm về trụ trì. Thầy Phổ Minh bắt tay xây chùa từ năm 1849 đến năm 1892 thì hoàn thành. Từ đó đến nay chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a famous ancient pagoda, located in Phú Nhuận hamlet, An Mỹ village, Sa Đéc town, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built in 1842. At first it was a small temple possessed by Ms. Trần Thị Ngôn and called Lady Định Pagoda. In 1847, Ms. Ngôn whose Dharma name is Diệu Định, worshipped the Buddhism and requested the Most Venerable Head of Giác Lâm Pagoda to name it Hội Phước Pagoda. In 1848 she requested Master Phổ Minh from Giác Lâm pagoda to head Hội Phước Pagoda. Master Phổ Minh began to build the pagoda from 1849 to 1892. It has been restored many times.

hội phước thiện

Benevolent agency

hội phật sư

(繪佛師) Cũng gọi Hội sư, Hội họa sư, Phật họa sư. Tiếng dùng trong mĩ thuật Phật giáo Nhật bản, chỉ chung cho các vị sư chuyên vẽ tượng Phật từ giữa thời kì Bình an trở về sau. Cứ theo Sơ liệt sao quyển thượng, thì Hội Phật sư được xếp vào hàng Tăng cương. Việc này bắt đầu từ năm Trị lịch thứ 4 (1068) đời Hậu lãnh tuyền Thiên hoàng; bấy giờ có Hội Phật sư là ngài Giáo thiền, ở chùa Pháp thành, vẽ 121 tượng Phật, được Thiên hoàng ban thưởng và xếp vào hàng Tăng cương, giữ chức Pháp kiều. Đề tài hội họa chủ yếu của các Hội Phật sư phần nhiều là các tự viện, nhưng đôi khi cũng có những chủ đề thế tục. Các ngài Định phong, Giáo thiền, Viên tâm, Lại nguyên, v.v... là những Hội Phật sư nổi tiếng nhất.

hội quyển

(繪卷) Cũng gọi Hội từ. Tiếng dùng trong mĩ thuật Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho loại sách có hình thức giống như loại truyện bằng tranh. Phàm những điềm ứng nghiệm của Bản tôn, truyện kí của các bậc Cao tăng, duyên khởi của các chùa viện, v.v... đều có thể được dùng làm nội dung của Hội quyển. Trong đó, nếu vẽ lại truyện kí của một người nào đó, thì gọi là Họa truyện (truyện vẽ, truyện tranh). Tại Nhật bản, vào cuối thời kì Đằng nguyên đến thời đại Liêm thương là thời kì thịnh hành nhất của Hội quyển. Đề tài của Hội quyển phần nhiều có liên quan đến Phật giáo, hoặc vẽ kinh Nhân quả, hoặc dùng các bức tranh để trang nghiêm kinh, đó là khởi nguồn của phong cách vẽ này. Hình thức diễn đạt của Hội quyển rất phong phú. Dựa vào thứ tự thời gian mà được sáng tác nên Hội quyển có tính liên tục và rất mạch lạc. Hội quyển Thiện tài đồng tử 53 lần tham vấn là tác phẩm tiêu biểu đẹp nhất. Còn về mặt diễn đạt giáo nghĩa thì như Địa ngục thảo tử, Ngã quỉ thảo tử, v.v... là những kiệt tác về loại này. Những Hội quyển có liên quan đến duyên khởi các chùa Phật, thì như duyên khởi Tín quí sơn, Phấn hà tự, Thạch sơn tự … là những danh tác. Ngoài ra còn có nhiều loại tác phẩm về duyên khởi, như Thần xã duyên khởi, Hoa nghiêm duyên khởi, Tổ sư hội truyện, v.v

hội sơn

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thôn Cầu Ông Táng, xã Long Bình, huyện Thủ Đức, Thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Thiền sư Khánh Long xây vào cuối thế kỷ thứ 18, trên một ngọn đồi bên dòng sông Đồng Nai. Theo Gia Định Thành Thông Chí:“khi khách leo đồi du ngoạn, ngó xuống đại giang, có cảm tưởng như đã ra ngoài vòng thế tục.” Chùa có nhiều pho tượng gỗ quý từ thế kỷ thứ 19, trong đó có pho tượng của Bồ Tát Đại Thế Chí cao 1 mét 14, phần tòa sen và đế cao 34 phân, bề ngang giữa hai đầu gối là 44 phân. Bên ngoài chùa có tháp thờ Tổ Khánh Long, và trên bia tháp đề:“Hội Sơn Khai Thủy Lâm Tế thượng chánh tông. Đạo Thành Khánh Long Hòa Thượng Tổ Tháp.”—Name of an ancient temple, located in Cầu Ông Táng hamlet, Long Bình village, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. It was built by Ch'an Master Khánh Long in the late eighteenth century, on a hill adjacent to the Đồng Nai river. According to Gia Định Thành Thông Chí, as visitors go up to the hill for sightseeings, they face the great river and have a feeling of being out of this world. There are many precious wooden statues conserved in the pagoda since the nineteenth century. Among them, the statue of Mahasthama-Bodhisattva is the oldest one, enshrined in the Main Hall. It is 1.14 meters high, the base and the lotus pedestal is 0.34 meter high, and the width between the two knees is 0.44 meter. Outside of the pagoda, stands the stupa of Patriarch Khánh Long. The stele of the stupa reads, “The stupa of Patriarch Khánh Long of the Original Lin-Chi Sect.”

hội tam quy nhất

Quy tụ tam thừa về nhất thừa như lời thuyết giảng của Phật trong Kinh Pháp Hoa (trước kia Phật thuyết tam thừa chỉ là phương tiện để dẫn dụ chúng sanh mà thôi)—To unite the three vehicles in one, as in the Lotus sutra. ; (會三歸一) Cũng gọi Hội tam nhập nhất. Hợp 3 thừa phương tiện vào Nhất thừa chân thực. Từ ngữ này do tông Thiên thai căn cứ vào giáo nghĩa kinh Pháp hoa mà lập ra. Tông Thiên thai cho rằng trong các kinh trước Pháp hoa, đức Phật phương tiện nói 3 thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát để thích ứng với những căn cơ chưa thuần thục, cho nên những pháp phương tiện ấy gọi là Quyềnpháp. Đến khi căn cơ chúng sinh đã thuần thục viên mãn, thì Phật mở bày Nhất thừa. Nếu khi tình chấp ngăn che đã được trút bỏ thì Quyền tức Thực, 3 tức 1, đó là duy nhất Phật thừa, đã hợp 3 vào 1 nên gọi là Hội tam qui nhất. Cũng giống như Khai quyền hiển thực , Phế quyền lập thực , nhưng Khai quyền hiển thực là căn cứ vào giáo thể mà lập; Phế quyền lập thực căn cứ vào giáo dụng mà lập, còn Hội tam qui nhất thì căn cứ vào hạnh tu mà lập. Ngoài ra, các tông Thiên thai, Hoa nghiêm dùng 3 xe dê, nai, trâu, dụ cho 3 thừa và dùng xe trâu trắng lớn dụ cho Nhất thừa, do đó mà đề xướng tông chỉ Hội tam qui nhất. Nhưng các nhà chủ trương chỉ có 3 xe, như ngài Gia tường, Từ ân, thì phủ nhận thuyết trên và cho rằng Bồ tát thừa trong 3 thừa là Phật thừa, rằng kinh Pháp hoa là dung hội Thanh văn, Duyên giác vào Bồ tát thừa, gọi là Hội Nhị Qui Nhất . [X. phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1 (Pháp vân); Pháp hoa huyền nghĩa Q.9 phần dưới]. (xt. Khai Quyền Hiển Thực, Khai Hiển).

Hội thông

會通; C: huìtōng; J: etsū;|1. Hoà hợp và thống nhất những giáo lí (xung đột) khác nhau thành sự thông cảm hiểu biết rộng lớn và sâu sắc; 2. Xuyên qua, vượt qua sự vật.

hội thông

Giải quyết và thống nhất những tư tưởng dị biệt—To compare and adjust; compound; to bring into agreement; to solve and unify conflicting ideas. ; (會通) Cũng gọi Hòa hội, Dung hội, Hội thích hoặc gọi tắt là Hội. Dung hợp các thuyết, các nghĩa khác nhau để điều hòa sự mâu thuẫn giữa các thuyết hầu tìm ra ý nghĩa chân chính. Bởi vì Phật giáo vốn có nhiều phương tiện nói pháp để thích ứng với các căn cơ, trình độ; hơn nữa, do thời gian lưu truyền lâu dài, qua nhiều quốc độ, cho nên e có người cho rằng giáo thuyết ấy có chỗ mâu thuẫn, bởi vậy phải nghiên cứu rộng rãi giáo thuyết phương tiện, rồi điều hòa, dung hợp để tìm ra ý chỉ chân thực hầu đưa về một mối. [X. Pháp hoa huyền luận Q.9; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2].

hội thương

To meet and to negotiate.

hội thọ

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong thôn Mỹ Hưng, xã Thiện Tứ, huyện Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Tổ Đình Cái Cỏ. Tên nguyên thủy của nó là Kim Chương, đã ba lần được triều đình nhà Nguyễn ban bảng vàng “Sắc Tứ.” Lần thứ nhất là Sắc Tứ Kim Chương; lần thứ hai là Sắc Tứ Phổ Quang, và lần thứ ba là Sắc Tứ Thiên Tường Tự. Sau khi quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Hòa Thượng Minh Giác (1794-1884) và đệ tử của ngài là Hòa Thượng Thiệu Lonïg(1835-1929) đã theo phu đồn điền rút về Mỹ Thiện (nay thuộc Cái Bè) lập chùa đổi hiệu là Hội Thọ Tự. Trước năm 1945, chùa Hội Thọ cũng quy mô và tráng lệ không kém chùa Kim Chương thuở trước. Khi thực dân Pháp trở lại, vì sợ chúng chiếm chùa làm đồn nên Tăng chúng và tín đồ đã thiêu hủy ngôi chùa rồi rút vào chiến khu. Hiện chùa còn giữ được bộ tượng thờ, nhiều bài vị và pháp khí của chùa cổ Kim Chương cùng ba ngôi bảo tháp của Hòa Thượng Minh Giác, Hòa Thượng Thiệu Long và Quảng Tục—Name of an ancient pagoda located in Mỹ Hưng hamlet, Thiện Tứ village, Cái Bè district, Mỹ Tho province, South Vietnam. It is also called Cái Cỏ Patriarch Temple. Its original name was Kim Chương Pagoda, being offered three times the gold board “Royal Recognisation” by the Nguyễn dynasty. The first time it was called Royal Recognized Kim Chương Pagoda; the second time, Royal Recognized Phổ Quang Pagoda; and the third time Royal Recognized Thiên Tường Pagoda. After the French colonist troops attacked and occupied the Gia Định rampart, Most Venerable Minh Giác (1794-1884) and his disciples, Most Venerable Thiệu Long (1835-1929) followed a group of plantation workers to arrive in Mỹ Thiện (now called cái Bè district, Mỹ Tho province) to build a pagoda that they named Hội Thọ. Prior to 1945, Hội Thọ Pagoda was as great and magnificient as Kim Chương Pagoda. When French colonist returned, monks, nuns as well as believers burnt the pagoda for fearing that the French troops would take it and serve as a barrack. After burning the pagoda, they withdrew into the guerilla base. The pagoda has still kept the pedestals of the statues, the tablets and worshipped implements and ritual appliances of Kim Chương Pagoda, as well as three precious stupas of Most Venerable Minh Giác, Most Venerable Thiệu Long and Most Venerable Quảng Tục. In the Main Hall, there is the statue of Amitabha Buddha, made of clay

hội thức

Phương thức hay quy luật của giáo đoàn—The manners, customs, or rules of an assembly, or community. ; (會式) Cũng gọi Ngự hội thức, Ngự mệnh giảng, Báo ân hội, Đại hội thức, Khai sơn hội, Ngự ảnh cúng. Nghi thức pháp hội được cử hành vào ngày giỗ Tổ sư Nhật liên của tông Nhật liên ở Nhật bản. Hằng năm vào các ngày 12, 13 tháng 10, các chùa viện thuộc tông Nhật liên dâng bánh cúng dường trước tượng Tổ sư, bên cạnh tượng trang hoàng hoa nhân tạo, ngày đêm tụng kinh thuyết pháp. Đêm hôm ấy, tín đồ kết vạn ngọn đèn, đứng quanh tượng, đánh trống lớn, xướng đề kinh, lễ bái. Đặc biệt ở chùa Bản môn ở Đông kinh, nơi ngài Nhật liên nhập tịch, pháp hội này được cử hành rất trọng thể.

hội toà

(會座) Nơi thuyết pháp. Nếu phân biệt nơi thuyết pháp và chỗ nhóm họp để thuyết pháp, thì có chỗ và hội khác nhau. Như kinh Hoa nghiêm (60 quyển, bản dịch đời Tấn) chỉ ra rằng, 7 chỗ từ Bồ đề đạo tràng cho đến Trùng các giảng đường, có tất cả 8 lần hội họp, gọi là Thất xứ bát hội (7 chỗ 8 hội). Trong kinh Hoa nghiêm (80 quyển, bản dịch đời Đường) thì có thuyết Thất xứ cửu hội (7 chỗ 9 hội). Đến kinh Pháp hoa thì có thuyết 2 chỗ (Linh sơn và Hư không) 3 lần hội họp, thông thường gọi là Pháp hoa nhị xứ tam hội (2 chỗ 3 hội Pháp hoa).

Hội Trạch Chánh Chí Trai

(會澤正志齋, Aizawa Seishisai, 1782-1863): nhà Nho học sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, Phiên sĩ của Phiên Thủy Hộ (水戸藩, Mito-han); tên là An (安). Ông theo học với Đằng Điền U Cốc (藤田幽谷), rồi làm Tổng Quản của Chương Khảo Quán (彰考館). Thông qua tác phẩm Tân Luận (新論), ông tuyên xướng Tôn Vương Nhương Di (尊王攘夷) và đã tạo ảnh hưởng to lớn đối với cuộc vận động chính trị cuối thời Mạc Phủ.

hội tuyền

(會泉) (1874-1943) Danh tăng Trung quốc, người huyện Đồng an, tỉnh Phúc kiến, họ Trương, pháp danh Minh tính, biệt hiệu Ấn nguyệt, bút hiệu Hoa mãn, về già lấy hiệu là Liên sinh đạo nhân. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Thiện ôn ở núi Hổ khê tại Hạ môn, xuất gia. Năm 20 tuổi, sư lễ ngài Phật thừa ở chùa Sùng phúc tại Nam sơn, Long khê, Chương châu, thụ giới Cụ túc, đồng thời ở đây học luật, rồi hỏi đạo nơi ngài Hỉ tham tại Nam phổ đà. Sau đó, sư đi tham vấn các ngài Ấn quang, Đế nhàn, Huyễn nhân, Nguyệt hà, Đạo giai, v.v... Sư từng giảng kinh Lăng nghiêm ở chùa Tuyết phong tại Nam an, giảng kinh Kim cương ở chùa Linh tuyền tại Cơ long, Đài loan và giảng luận Đại thừa khởi tín ở tịnh xá Tuệ nguyệt tại Thạch tỉnh. Năm 1913, sư nhận chức trụ trì chùa Thừa thiên và sáng lập Học lâm Ưu đàm sơ cấp. Năm 1924, sau khi chùa Nam phổ đà được đổi làm Thập phương đạo tràng, sư được mời làm vị trụ trì đầu tiên. Trong thời kì chiến tranh chống Nhật, sư cùng với các vị Hoành thuyền, Khai luận, v.v... đến Tân gia ba, Ngưỡng quang Miến điện, Nam dương để hoằng pháp. Tiếp đó, sư đến Penang Mã lai, xây dựng Diệu hương lâm để mở rộng Phật pháp. Sư đã từng sáng lập Phật học viện Mân nam, Học xá Lăng nghiêm, Hội nghiên cứu Phật học, Viện Phật giáo dưỡng chính, xuất bản nguyệt san Phật giáo công luận; đối với nền Phật giáo Mân nam, sư đã có những cống hiến rất lớn. Năm 1943 sư tịch tại Penang, thọ 70 tuổi. Sư có các tác phẩm: Đại thừa khởi tín luận khoa chú, Phật học thường thức dị tri lục, Phổ môn phẩm giảng nghĩa, A di đà kinh tập giảng, Kim cương kinh giảng nghĩa. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử tập hạ (Đông sơ)].

hội tôn

Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nam Việt Nam. Chùa do Hòa Thượng Long Thiền xây cất vào giữa thế kỷ thứ 18 dưới triều chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Hòa Thượng vốn người Quảng Ngãi, tu học tại chùa Núi Đá, đã theo dân di cư vào vùng đất mới thuộc huyện Bình Đại, bên bờ sông Tiền, lập nên chùa Hội Tôn để hoằng dương Phật Pháp. Vị trụ trì kế tiếp là Hòa Thượng Khánh Hưng, phái Lâm Tế đời thứ 36 (ngài nguyên tu tại chùa Hưng Long và trụ trì chùa Đức Lâm) đứng ra trùng tu chùa vào đầu thế kỷ thứ 19, tôn tạo tượng Phật và pháp khí, đúc đại hồng chung năm 1805. Những vị Hòa Thượng trụ trì kế tiếp là chư Hòa Thượng Bảo Chất, Quảng Giáo, và Tâm Định. Ngài Tâm Định đã tổ chức trùng tu chùa vào cuối năm 1884. Năm 1886, ngài ra Huế để đúc một số tượng Phật và tượng Thập Điện Diêm Vương bằng đồng về thờ ở chùa. Kế tiếp là những vị Hòa Thượng trụ trì Chánh Hòa, Chơn Tịnh. Chùa hiện nay còn giữ một số bản gỗ khắc kinh chữ Hán, một số cổ vật của thế kỷ thứ 19. Trong vườn chùa có 15 bảo tháp. Chùa lại được trùng tu vào năm 1947. Đại hồng chung chùa được đúc năm 1805, trên chuông có khắc chữ Hán:“Gia Long, Ất Sửu niên, thập nhất nguyệt, kiến nhựt chú cúng, Hội Tôn Tự, thượng Khánh hạ Hưng chứng minh.” Giá trống và chuông được chạm đục từ gốc đại thọ trên một trăm năm—Name of a famous ancient pagoda located in Quới Sơn village, Châu Thành district, Bến Tre province, South Vietnam. The pagoda was built by Most Venerable Long Thiền in the middle of the eighteenth century in the reign of Lord Võ Vương Nguỹn Phúc Khoát (1738-1765). The Most Venerable was from Quảng Ngãi province. He entered the monkhood at Núi Đá Pagoda and followed the local people to move into the new land of Bình Đại district, adjacent to the bank of the River Tiền in order to found Hội Tôn Pagoda to propagate The Lord Buddha's Dharma. The next Head of the pagoda was Most Venerable Khánh Hưng of the thirty-sixth generations of theLin-Chi Ch'an Sect (he originally entered monkhood at Hưng Long pagoda but headed Đức Lâm pagoda). Most venerable Khánh Hưng did restore the pagoda in the early nineteenth century, decorate the Buddha statue and Dharma Objects as well as have the great bell cast in 1805. The Most Venerable Bảo Chất, Quảng Giáo, and Tâm Định were the successive heads of the pagoda. Most Venerable Tâm Định organised a reconstruction of the pagoda late in 1884. In 1886 he left for Huế to have some Buddha statues and those of the Ten Kings of Hell cast in bronze for worshipping in the pagoda. The successive Heads were Most Venerable Chánh Hòa, and Chơn Tịnh. At present, the pagoda still keeps sevaral wooden boards used in printing the Buddhist canonical books. Besides are some vestiges of the nineteenth century. In the pagoda garden stand fifteen precious stupas. Hội Tôn Pagoda was restored again in 1947. The pagoda still has the great bell cast in 1805. The Chinese characters carved on the bell read “Ritually inaugurated on the good day of the elventh month of Aát Sử year, in the Gia Long dynasty, under the recognition o f Most Venerable Khánh Hưng, Head of Hội Tôn Pagoda. There are also ancient thunder drum stand and bell support, made of one-hundred-year-old secular tree.

hội tương tế

Mutual aid association.

hội xương pháp nan

(會昌法難) Chỉ cho sự kiện phá bỏ Phật giáo vào niên hiệu Hội xương đời Vũ tông nhà Đường. Vua Vũ tông vốn tin Đạo giáo, sau khi lên ngôi, vào tháng 9 niên hiệu Hội xương năm đầu (841), vua cho triệu nhóm Đạo sĩ gồm 81 người do Triệu qui chân dẫn đầu vào cung để tu phép Kim lục đạo tu ở Tam điện. Tháng 10 năm ấy, vua đến Tam điện, lên Cửu tiên huyền đàn đích thân nhận pháp Lục. Tháng 6 năm Hội xương thứ 2 (842), vua cho triệu đạo sĩ Lưu nguyên tĩnh ở Hoành sơn vào cung, nhận các chức Ngân thanh quang lộc đại phu, Sùng huyền quán học sĩ và cùng với đạo sĩ Triệu qui chân ở lại trong cung để tu pháp Lục. Tháng 3 năm Hội xương thứ 3 (843), vua bổ nhiệm Triệu qui chân làm Tả hữu nhai đạo môn giáo thụ tiên sinh. Bấy giờ vua đã có ý định phế bỏ đạo Phật, nên ra lệnh cho Tả hữu nhai đạo môn tra xét lại sự hưng phế của đất nước từ khi có đạo Phật đến nay, xem có điều gì có thể trưng ra làm chứng cứ để tiến hành việc phá Phật, đồng thời, vua hạ lệnh cho Tăng sĩ và Đạo sĩ biện luận với nhau ở điện Lâm đức. Sa môn Tri huyền lên tòa, trình bày những điểm căn bản của Đạo giáo, rồi chê bai chỉ trích, nét mặt nhà vua không vui. Tháng 1 năm Hội xương thứ 5 (845), vua cho xây cất lầu Vọng tiên ở Nam giao, triệu tập các Đạo sĩ để hỏi về đạo Tiên. Bấy giờ đạo sĩ Triệu qui chân đặc biệt được vua tin yêu, kề cận bên vua, Gián quan đã mấy lần dâng sớ nói về việc này. Triệu qui chân biết được việc này, bèn tiến cử đạo sĩ Đặng nguyên siêu ở núi La phù và rước vào cung. Từ đó các Đạo sĩ bàn mưu tính kế diệt Phật, Thừa tướng Lí đức dụ cũng đồng lõa trong âm mưu đó. Tháng 4 năm ấy, vua hạ lệnh cho quan Từ bộ kiểm kê tất cả các chùa viện và tăng ni trong cả nước, có 44.600 ngôi chùa, hơn 265.000 vị tăng. Tháng 5 vua ra lệnh cho Thượng đô, Đông đô mỗi nơi giữ lại 4 ngôi chùa, mỗi chùa 30 vị tăng. Còn các châu quận trong nước mỗi nơi để lại một ngôi chùa, chùa lớn 20 vị tăng, chùa vừa 10 vị, chùa nhỏ 5 vị, còn bao nhiêu bắt phải hoàn tục. Các chùa còn lại đều bị phá hủy, chuông, khánh, tượng đồng đều giao cho quan Diêm thiết sứ đúc tiền, tượng sắt thì giao cho các quan địa phương đúc nông cụ, tượng bằng vàng, bạc, du thạch (loại đồng có mầu vàng), v.v... thì giao cho Độ chi (người tính toán việc xuất chi tiền bạc). Trong dân chúng, ai có tượng vàng, bạc hạn trong một tháng phải đưa nộp cho nhà nước. Tháng 8 năm ấy, vua ban chiếu chỉ tuyên bố rõ việc phá bỏ Phật giáo. Tháng 3 năm Hội xương thứ 6 (846), vua lâm bệnh và băng hà. Vua Tuyên tôn lên ngôi, ra lệnh bắt nhóm Qui chân, Nguyên tĩnh, Nguyên siêu… gồm 12 người giam vào ngục. Tháng 3 niên hiệu Đại trung năm đầu (847), vua cho khôi phục các chùa Phật trong nước. Người đời gọi sự kiện vua Vũ tông phế bỏ Phật giáo là Pháp nạn Hội xương. [X. Tống cao tăng truyện Q.6, Q.12; Đại tống tăng sử lược Q.trung; Cựu đường thư Q.18; Đường thủ Vũ tông bản kỉ 8].

Hội Yếu

(會要, Eyō): xem Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) bên dưới.

hội ái hữu

Friendly society.

hội ý

1) To comprehend—To understand. 2) To meet to discuss.

hội đàm

To converse.

hội đòi hỏi nữ quyền

Suffragetes

hội đắc

1) Gặp gỡ: To meet with. 2) Hiểu rõ: To comprehend—To understand.

hội đồ bản

(繪圖本) Bản có tranh vẽ. Tức là những bức tranh Phật, Bồ tát và chư thiên được vẽ kèm trong bản kinh Phật bằng lá bối của Ấn độ và ở trang đầu, trang cuối bản kinh bằng giấy của Tây tạng. Phật tổ thống kỉ của ngài Chí bàn và Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch đời Tống đều thuộc loại này. Ở Nhật bản, vào thời đại Nại lương, bản kinh có vẽ tranh Phật, Bồ tát thì có kinh Quá khứ hiện tại nhân quả. Đến thời Bình an thì có lối vẽ Phản hội (vẽ ở bìa mặt và bìa sau), Hạ hội (dùng mầu lợt vẽ tranh ở cuối để làm phần cúng dường của người viết kinh), thông thường người Nhật bản gọi những loại này là Hội nhập bản. Ngoài ra, trong những kinh sách đào được ở Đôn hoàng, cũng có hình bản vẽ tượng của bồ tát Quan âm và ở phần trên mỗi dòng của bản kinh Phật danh chép tay xưa, đều có vẽ một hình tượng Phật nhỏ.

hội đồng

Council—Assembly—Meeting.

hột

Cái nút—A knot.

hột cải nạp tu di, tu di nạp hột cải

Hột cải rất nhỏ, Tu di rất lớn. Nơi thế giới tương đối, tu di nạp hột cải thì được, hột cải nạp tu di thì không được. Nhưng nếu vào thế giới tuyệt đối thì lớn nhỏ có thể dung nạp lẫn nhau. Đây chứng tỏ sau khi ngộ rồi thì chẳng phân biệt tương đối nữa.

hột lý

Hrih [Ha-Ra-I-Ah] (skt)—Hột Lý Câu—Chủng tử của Đức A Di Đà và Đức Quán Thế Âm (hột-lý hay “ha-ra-i-ah” là câu chân ngôn, tất cả cung điện, cây cối, ao báu, chim chóc ở cõi Cực Lạc đều do chữ Hột Lý nầy mà sanh ra)—A germ-word of Amitabha and Kuan-Yin.

hột lý câu

Hrih (skt)—See Hột Lý.

hột lộ tất nê

Hrosminkan or Semenghan (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Hột Lộ Tất Nê là một vương quốc cổ gần hai thành Kulm và Kunduz, thuộc vùng bắc Ấn Độ—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Hrosminkan is an ancient kingdom near Khulm and Kunduz, northern India.

hột lợi câu

(紇利俱) Cũng gọi Hột lợi, Hiệt lợi. Tức là chữ (hrì#) của mẫu tự Tất đàm, là chủng tử của đức Phật A di đà trong Kim cương giới và cũng là chủng tử của bồ tát Quan âm của Mật giáo. Chữ này do 4 chữ: (hạ), (ra), (ì), (a#) hợp lại với nhau mà thành chân ngôn. Cứ theo Lí thú thích quyển hạ nói, thì chữ Hạ nghĩa là nghiệp nhân, vì nhân của các nỗi thống khổ là tham dục, cho nên chữ này được phối với tham dục; Ranghĩa là hỏa đại, vì lửa tức giận có thể đốt cháy củi thiện căn, cho nên chữ này được phối với sân khuể; Ì nghĩa là tự tại, vì ngu si là vua của phiền não, cho nên chữ này được phối với ngu si; A# nghĩa là Niết bàn, tức tự tính vốn thanh tịnh. Hợp cả 4 chữ ấy lại thì có nghĩa là tự tính của 3 độc tham, sân, si xưa nay vốn trong sạch, mầu nhiệm như hoa sen không nhiễm. Cũng theo Lí thú thích quyển hạ, thì Mạn đồ la của chữ Hột lợi câu được phối trí như sau: Ở cửa đông vẽ hình Thiên nữ, tượng trưng tham dục; cửa nam vẽ hình rắn, tượng trưng sân khuể; cửa tây vẽ hình lợn (heo) tượng trưng ngu si; cửa bắc vẽ hoa sen, tượng trưng Niết bàn. Nếu vào được luân đàn này, thì sẽ đến Vô thượng bồ đề, tất cả các hoặc (phiền não) đều không làm nhiễm ô được. [X. Niệm Phật đề hồ bí yếu tạng; Chân ngôn niệm Phật tập Q.thượng].

hột lợi câu tự hương lô

(紇利俱字香爐) Lò hương có vẽ chữ (hrì#, hột lợi câu), được đặt ở trong đàn khi tu pháp Tâm chân ngôn nhất ấn niệm tụng của bồ tát Quán tự tại trong Mật giáo. Quán tự tại bồ tát đại bi trí ấn chu biến pháp giới lợi ích chúng sinh huân chân như pháp (Đại 20, 33 trung), nói: Lò hương này hàm nhiếp các tướng trùm khắp pháp giới của bồ tát Quán tự tại. Tướng ấy như thế nào? Tức là hương ấn ấy phải hợp Hột , Lí làm một. Trí nghiệp là lí bất khả đắc, gồm có 4 nghĩa của 4 chữ: ghép lại thành một chữ, tức là chữ vậy…. Về hình dáng thì lò hương này giống như một tòa sen 8 cánh, trên nắp có đục các lỗ thành hình những chữ Án phạ nhật la đạt ma , phía trên nắp có cây chày một chĩa dựng đứng để cầm, trên đầu chày có hoa sen 8 cánh nở rộ, để tượng trưng cho bản thệ của bồ tát Quan âm. Trong lò đặt hương hình chữ, đốt lửa ở một đầu hương, lửa cháy đến đâu thì khói hương chữ tự kết thành hình Tam muội da. Từ trong hình này lại quán tưởng hình thể của Bản tôn, tất cả để biểu thị cho bản thệ của nhân vị (Quan âm) khế chứng với quả đức (Di đà) để cầu diệt trừ tai họa, nguyện sinh Cực lạc. [X. Thánh quan âm trong A sa phược sao Q.83; Mật giáo pháp cụ tiện lãm Q.thượng].

hột lợi đà da

Hrdaya (skt)—Hãn Lật Đà—Hột Lý Đà Da—Hột Lý Na Da—Hột Lý Nãi Da—Chân thực tâm hay kiên thực tâm. Có chỗ nói là “nhục đoàn tâm hay hột lý đà da,” có chỗ lại cho là “kiên thực tâm hay can lật đà da.”—The heart—The mind—Some forms are applied to the physical heart, others somewhat discriminately to the tathagata-heart, or the true, natural, innocent heart.

hờ hững

Negligent—Careless—Indifferent.

hờn giận

To become angry and bear grudges.

hợp

1) Thich hợp: Suitable—Comfortable—Agreeing with—In accordance with—In accord. 2) Hợp nhau: Hợp lại—To bring together—To unite. ; (合) I. Hợp. Phạm: Upanaya. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là tác pháp dựa vào Đồng dụ và Dị dụ để liên kết Tông (mệnh đề) và Nhân (lí do), được ứng dụng sau khi đã khẳng định mệnh đề, là chi thứ 4 trong tác pháp 5 chi của Cổ nhân minh. Vì chi Hợp chỉ có công dụng so sánh suy lí, sức chứng minh của nó rất yếu ớt, cho nên trong tác pháp 3 chi của Tân nhân minh, ngài Trần na đã đổi chi Hợp làm nguyên tắc phổ biến và sáp nhập vào trong chi Dụ để phát huy công dụng diễn dịch suy lí hầu tăng cường sức chứng minh cho chi Dụ . [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp). II. Hợp. Phạm: Anvaya. Gọi đủ: Hợp tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. (xt. Hợp Tác Pháp).

Hợp (hiệp)

合; C: hé; J: gō; |1. Hợp nhất hoặc kết hợp hai thứ với nhau (s: samgati, samsarga, samnikarsa). Để cho hai vật trở thành một thể (s: sahā). Hoà hợp; 2. Sự phát sinh hoạt dụng đặc biệt của thức do sự tiếp xúc của cảnh trần, các căn và ý thức của tự ngã; 3. Xúc (觸); 4. Đồng ý, phù hợp với; 5. Sự hợp nhất nhân và duyên.|6. Trong Nhân minh học (因明; s: hetu-vidyā), Hợp là phần thứ 4 của Ngũ chi tác pháp.

Hợp bộ kim quang minh kinh

合部金光明經; C: hébù jīn guāngmíng jīng; J: gōbu konkōmyō kyō; S: suvarna-prabhasa-[uttama]-sūtra.|Kinh, 8 quyển. Bảo Quý (寶貴) và những người khác dịch vào khoảng đời Tuỳ.

Hợp chưởng

合掌; C: hézhăng; J: gasshō; |Cử chỉ chắp hai bàn tay lại với nhau rồi đạt ngang ngực để tỏ lòng kính trọng. Ngữa hai bàn tay, hơi khum lại và đặt cạnh nhau.

hợp chưởng

1) Chấp mười ngón tay hay hai bàn tay vào nhau: To bring the ten fingers or two palms together. 2) Anjali (skt)—Chấp hay tay chào—Hay bàn tay chấp vào nhau—Hai bàn tay để bên nhau trong tư thế khất thực, nâng từ từ lên trán như một dấu hiệu khẩn khoản và tôn kính—Salutation with joined hands—Joining the palms together—The open hands placed side by side and slightly holowed (as if by a beggar to receive food; hence when raised to the forehead, a mark of supplication) reverence, salutation—For more information, please see Anjali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (合掌) Phạm,Pàli:Aĩjali. Cũng gọi Hợp thập. Chắp tay cung kính lễ bái. Người Ấn độ cho rằng tay phải là tay thanh khiết, tay trái là tay bất tịnh, vì thế mà có thói quen phân biệt giữa 2 tay, nhưng nếu 2 tay chắp lại thì thanh khiết và bất tịnh là một. Cho nên chắp tay là biểu hiện cái bản lai chân thực nhất của con người. Trong các kinh luận có nhiều chỗ nói về chắp tay cung kính lễ Phật. Về hình thức chắp tay, nói theo Mật giáo, thì 2 tay phối với Kim cương giới và Thai tạng giới, hoặc lí và trí, định và tuệ, v.v... đồng thời, 10 ngón phối với Ngũ đại, Thập ba la mật. Ngoài ra, Đại nhật kinh sớ quyển 10, có nêu 12 kiểu chắp tay: 1. Hai lòng bàn tay sáp vào nhau. 2. Lòng bàn tay rỗng. 3. Hoa sen búp. 4. Hoa sen mới chớm nở. 5. Ngửa 2 bàn tay. 6. Như vụm bàn tay để lấy nước. 7. Chắp tay kim cương. 8. Mười ngón đan tréo nhau. 9. Lưng bàn tay dính vào nhau (tay mặt ngửa, tay trái úp). 10. Hai bàn tay ngửa, hai ngón giữa dính nhau, đầu các ngón còn lại hơi hé mở. 11. Úp 2 bàn tay hướng xuống. 12. Úp 2 tay. Mười hai kiểu chắp tay này đều có ý nghĩa sâu xa. [X. phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa; Pháp uyển châu lâm Q.20; Thiền lâm tượng khí tiên Q.10]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

hợp chưởng quan âm

(合掌觀音) Quan âm chắp tay, một trong 33 hóa thân của bồ tát Quan âm. Cứ theo phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7, thì bồ tát Quan âm tùy duyên thị hiện 33 thân để hóa độ chúng sinh, trong đó, thân Bà la môn được phối với Hợp chưởng Quan âm. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

hợp cán

(合幹) Cũng gọi Hợp can nhân. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người có liên quan đến nghi thức tống táng. [X. điều Trụ trì, chương Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

hợp dụng

In accordance with need—Suitable.

hợp hòa

In accord.

hợp hạ

(合下) Cũng gọi Trực hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là tức thời, tức khắc, liền, ngay. Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 205 hạ), nói: Vẽ ngay (hợp hạ) một cái vòng tròn, rồi bảo Đầu tử bước vào . [X. Phật quả Viên ngộ thiền sư tâm yếu Q.thượng].

hợp liên hoa

Hoa sen búp. Mật giáo dùng để ví với tâm của phàm phu—A closed lotus flower. Esoteric Buddhism utilizes this term to indicate ordinary people's mind.

hợp lô

(合爐) Cũng gọi Hợp đàn lư. Lò hương Hộ ma dùng lúc tu pháp Hộ ma trong Mật giáo. Cứ theo phẩm Kì vũ pháp trong Tôn thắng nghi quĩ quyển hạ do ngài Thiện vô úy dịch, thì ở 4 phương của Hợp lư viết 4 chữ chủng tử như sau: 1. Phương Đông: Chữ (a) hình vuông mầu vàng. 2. Phương Tây: Chữ (ha) hình bán nguyệt mầu xanh. 3. Phương Bắc: Chữ (vaô) hình tròn mầu trắng. 4. Phương Nam: Chữ (raô) hình tam giác mầu đỏ. Ở đáy lò, mỗi phương đều có vẽ ấn khế, tức phương đông vẽ bánh xe, phương bắc vẽ hoa sen, phương nam vẽ phạ nhật ra và phương tây vẽ lưỡi câu. Khi tu 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, và Kính ái thì phải dùng 4 loại lò này. Nếu thêm vào pháp Diên mệnh nữa, thì gọi là Ngũ chủng pháp hợp lư. [X. phẩm Hộ ma trong kinh Nhất tự đính luân vương Q.5].

hợp lý

Logical—Rational—Reasonable.

hợp lại

To come together.

hợp lệ

In accordance (agreement) with rules and regulations.

hợp lực

To join (combine) forces.

hợp nghi

Appropriate—Fitting—Suitable.

hợp nhứt

Fuse.

hợp pháp

Legal—Lawful.

hợp quần

To join—To unite.

hợp sát

(合殺) Âm điệu dùng để xướng tụng danh hiệu Phật khi thời kinh sắp kết thúc. Về ý nghĩa của Hợp sát có nhiều thuyết khác nhau: - Có thuyết cho rằng hợp sát là dịch âm từ chữ Waw của tiếng Phạm, dịch ý là lục (sáu), hợp lục là 12, vì thế gọi là Hợp sát. Dùng hợp sát này để biểu thị ý nghĩa niệm Phật ngày đêm 12 thời không lui sụt. - Thuyết khác thì cho rằng hợp sát nguyên là tên một điệu nhạc ở đời Đường, đặc biệt được dùng để kết thúc một bản nhạc. Vì sát nghĩa là tan ra, mà khi khúc điệu sắp được kết thúc thì âm thanh nhỏ dần, tạo thành trạng thái êm nhẹ, lan tỏa rồi dứt hẳn, vì thế gọi là Hợp sát. Trong Phật giáo, Hợp sát được chuyển dụng để gọi khúc điệu trong tán tụng rất thịnh hành ở Trung quốc, sau được truyền vào Nhật bản cũng rất phổ biến, nhưng cách sử dụng của Nhật bản có khác với Trung quốc. Ngoài ra, vì Hợp sát là khúc điệu để kết thúc bản nhạc nên cũng được chuyển dụng với nghĩa rốt cuộc . Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục nói, dẫu cho tu hành đến địa vị Tam thừa, Tứ quả, Thập thánh, v.v...… nhưng rốt cuộc (hợp sát) vẫn còn chấp trước phàm thánh.

hợp sơn

(合山) Cũng gọi Toàn sơn, Hạp sơn. Chỉ cho toàn thể tùng lâm, hoặc tất cả tăng chúng trong một sơn môn. Ngoài ra, toàn thể chúng tăng qui tụ lại ở một chùa để tu hành, gọi là Hợp sơn thanh chúng, hay Hạp sơn thanh chúng.

hợp thân

(合身) Thân Phật trong giáo nghĩa của Thông giáo thuộc 4 giáo hóa pháp do tông Thiên thai lập ra. Vì 2 Ứng thân Thắng và Liệt là từ thân này mà hiển hiện, thân này kết hợp 2 thân Thắng, Liệt nên gọi là Hợp thân. Luận Đại trí độ quyển 34 nêu 2 loại Ứng thân: Thân Phật hiện tướng tỉ khưu cao một trượng sáu ngồi trên tòa cỏ là Liệt ứng thân, thân tôn quí ngồi trên tòa nhung tơ của cõi trời là Thắng ứng thân. Tuy nhiên, đối với Hợp thân của Thông giáo thì Thắng ứng thân mà hàng độn căn thấy được, chỉ là Liệt ứng thân hiện tướng tỉ khưu cao 1 trượng 6 mà đức Phật thị hiện để thích ứng với căn cơ Tiểu thừa. [X. Pháp hoa văn cú Q.2].

hợp thủ khẩu

(合取口) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngậm miệng. Tức không nói lời vô ý nghĩa. Vì Phật pháp chân thực, ngôn ngữ không thể diễn đạt một cách tường tận, bởi thế, nếu chấp trước vào ngôn ngữ thì dễ trở thành chướng ngại cho việc tu đạo. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 148 hạ) ghi: Thúy nham lải nhải(con hồ li tinh này hãy ngậm miệng– hợp thủ khẩu) .

hợp thức hóa

To give legitimacy—To regularize.

hợp trung tri

(合中知) Đối lại với Li trung tri. Căn và cảnh phải trực tiếp xúc chạm nhau thì mới có thể sinh ra sự nhận biết, gọi là Hợp trung tri. Trong 5 căn, thì 3 căn mũi, lưỡi, thân chỉ hay biết được khi cảnh chạm đến chúng, ấy là Hợp trung tri; còn 2 căn mắt và tai thì thấy nghe được cảnh mà không cần chạm vào cảnh, ấy là Li trung tri. Chẳng hạn như khi mũi(căn) ngửi mùi(cảnh) thì phải đợi khi mùi tiếp xúc với lỗ mũi mới nghe thơm hoặc hôi; còn khi mắt(căn)thấy sắc(cảnh) thì không cần đợi sắc chạm vào mắt vẫn có thể thấy được sắc ngay. [X. luận Câu xá Q.2; Câu xá luận quang kí Q.2]. (xt. Ngũ Căn).

hợp trí ấn

(合智印) Cũng gọi Bế tâm hộ ấn, Bế tâm môn ấn, Hạp tâm môn ấn, Hạp trí tự ấn, Hạp trí tự đà la ni ấn, Như lai kiên cố quyền ấn, Kim cương quyền tam muội da ấn, Tam muội da kim cương quyền ấn, Kim cương nhập ấn. Ấn này có năng lực làm cho trí vô lậu tịch tĩnh của Như lai hòa hợp với tự tâm của hành giả trong tàng thức một cách kiên cố không lay chuyển. Khi hành giả Mật giáo tu pháp Kim cương giới thì kết tụng ấn ngôn này để gia trì. Khi kết ấn này, 2 tay đan vào nhau, 2 ngón cái để vào lòng bàn tay, đốt giữa của 2 ngón trỏ co lại, đầu móng tay hợp vào nhau. Chân ngôn là: Phạ nhật la (Vajra, kim cương) mẫu sắt để (muwỉi, quyền) tông (vaô, phược). [X. Lí thú hội Phổ hiền nghi quĩ].

hợp tác

Cooperation.

hợp tác pháp

(合作法) Cũng gọi Tùy bạn. Gọi tắt: Hợp. Đối lại: Li tác pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi muốn nêu rõ Đồng dụ thể, thì phải kết hợp Tông (mệnh đề) với Nhân (lí do) để xác lập Tông nghĩa. Như: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự động tác mà có ra. Phàm những gì do sự động tác mà có ra(Nhân đồng phẩm) đều là vô thường(Tông đồng phẩm). Đồng dụ: Như cái bình, v.v...… Trong luận thức trên, Nhân đồng phẩm và Tông đồng phẩm được kết hợp chặt chẽ với nhau. Nghĩa là bất cứ đâu có nghĩa của Nhân đều phải có nghĩa của Tông đi kèm. Và qui tắc nhất định của Hợp tác pháp là: Nhân trước Tông sau . [X. Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.3]. (xt. Tiên Nhân Hậu Tông, Tiên Tông Hậu Nhân).

hợp đàn

United or common altar. ; (合壇) Gọi đủ: Hợp đàn hộ ma. Đối lại: Li đàn. Cũng gọi: Tức đàn. Khi tu pháp Cúng dường và pháp Hộ ma, rước thỉnh chư tôn của Đại đàn dời đến đàn Hộ ma, để hợp chung làm một đàn mà cúng dường Bản tôn. Ngoài ra, một lò hương phải có 4 loại hình và viết các chữ chủng tử ở 4 phương trong lò, vẽ ấn khế của mỗi phương dưới đáy lò, gọi là Hợp đàn lư. Nếu hướng vào lò này mà tu 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Kính ái cùng một lúc, thì gọi là Hợp đàn hộ ma. Còn pháp cúng dường và pháp Hộ ma được thực hành theo đàn riêng, thì gọi là Li đàn. Li đàn được thiết lập theo môn Lí và Trí, còn Hợp đàn thì được thiết lập theo môn Lí, Trí bất nhị.

hợp đồng thuyền

(合同船) Cũng gọi Thừa hợp thuyền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng ngồi một thuyền mà không phân biệt thân phận, địa vị. Ví dụ cảnh giới không có cái thấy phân biệt về phàm thánh, sang hèn. Chương Nam dương Tuệ trung trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 245 thượng), nói: Cùng ngồi một thuyền dưới cây không bóng, không có tri thức trên điện Lưu li .

Hứa Do

(許由): tên của vị ẩn sĩ trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, tự là Võ Trọng (武仲), bậc cao sĩ dưới thời nhà Nghiêu (堯). Theo Cao Sĩ Truyện (高士傳), phần Hứa Do của Hoàng Phủ Mật (皇甫謐, 215-282) nhà Tấn cho biết rằng, vua Nghiêu nghe tiếng ông, bèn lấy thiên hạ nhường ngôi cho. Nghe vậy, ông lui về ẩn cư nơi Dĩnh Thủy (潁水), dưới chân núi Ky Sơn (箕山). Vì mến mộ đức lớn của ông, nhà vua bèn mời đến phong cho làm chức Trưởng Quan Cửu Châu (九州). Hứa Do không muốn nghe đến chuyện danh lợi như vậy, bèn xuống bến sống Dĩnh Thủy mà rửa tai cho sạch. Lúc bấy giờ có nhà ẩn sĩ tên Sào Phủ (巢父), dẫn trâu xuống định cho trâu uống nước sông ấy; chợt thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi nguyên do vì sao. Hứa Do đáp rằng: “Nghiêu dục chiêu ngã vi Cửu Châu trưởng, ố văn kỳ thanh, thị cố tẩy nhĩ (堯欲召我為九州長、惡聞其聲、是故洗耳, vua Nghiêu muốn mời tôi làm Trưởng Quan Cửu Châu, nghe như vậy thấy nhớp tai quá; nên rửa cho sạch).” Sào Phủ nghe vậy bèn bảo rằng: “Tử nhược xử cao ngạn thâm cốc, nhân đạo bất thông, thùy năng kiến tử; tử cố phù du, dục văn cầu kỳ danh dự, ô ngô độc khẩu (子若處高岸深谷、人道不通、誰能見子、子故浮游、欲聞求其名譽、污吾犢口, nếu ông sống nơi thâm sơn cùng cốc, chẳng bóng người qua lại, ai có thể thấy được ông chứ; do vì ông sống trôi nỗi, muốn nghe cầu danh dự ấy, nên làm dơ bẩn miệng trâu ta).” Bèn dẫn trâu lên trên đầu nguồn để cho trâu uống nước, vì sợ nước rửa tai dưới dòng chảy xuống sẽ làm nhớp miệng trâu. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, CBETA No. 1295) quyển 40 có câu kệ tụng của Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚, 1185-1269) rằng: “Kiến thuyết Hứa Do tằng tẩy nhĩ, khả lân Sào Phủ cánh tiên ngưu (見說許由曾洗耳、可憐巢父更鞭牛, nghe bảo Hứa Do từng tai rửa, thương thay Sào Phủ lại đuổi trâu).” Hoặc như trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō No. 2103) quyển 4 lại có câu đề cập đến chuyện rửa tai của Hứa Do: “Hứa Do tẩy nhĩ ư Ky Sơn, Trang Chu duệ vĩ ư Bộc Thủy (許由洗耳於箕山、莊周曳尾於濮水, Hứa Do rửa tai nơi núi Ky, Trang Chu kéo đuôi nơi sông Bộc).” Trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, đoạn Vân Tiên, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm vô quán nước gặp một chủ quán có vẻ có tài, Vân Tiên bèn khuyên ông nên ra làm quan. Ông trả lời: “Quán rằng Nghiêu Thuấn thưở xưa, khó ngăn Sào Phủ, khôn ngừa Hứa Do.”

hứa khả

(許可) Chấp nhận. Trong Mật giáo, chỉ cho sự chấp nhận cho tu học một phần Mật giáo, hoặc sau khi thụ pháp Quán đính, hành giả được trao ấn tín chấp nhận cho làm thầy. Như tác pháp hứa khả của tông Chân ngôn, hoặc như tờ giấy Hứa khả trong tông Tịnh độ được cấp cho đệ tử sau khi vị thầy đã trao giới Viên đốn. Ngoài ra, khi giảng truyền sự tướng, có thiết lập đàn Quán đính hứa khả(cũng gọi Hứa khả đàn) để thực hành pháp Quán đính hứa khả. [X. Nghiễm tị la sao Q.12; A sa phược sao Q.14].

hứa nguy văn

(許巍文) (1908- ) Học giả Phật giáo Trung quốc, người huyện Cửu giang, tỉnh Giang tây. Ông là kĩ sư ngành hóa học của trường Đại học công nghiệp Mộ ni hắc, cũng là Tiến sĩ khoa học tự nhiên của trường Đại học công nghiệp Minh hưng, Tây đức. Sau khi về nước, ông đã cống hiến rất lớn cho công cuộc nghiên cứu ngành hóa học phân tử tại Trung quốc. Ông sùng tín Phật giáo, thường nghiên cứu Phật pháp. Ông cho rằng Phật pháp hoàn toàn phù hợp với khoa học và khoa học thì cần phải có sự chỉ đạo của Phật pháp mới không gây tai hại cho nhân loại. Tác phẩm: Nguyên tử và Vô ngã. Dịch phẩm: Luận đại thừa đích hưng khởi.

hứa địa sơn

(許地山) (1893-1941) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Yết dương, tỉnh Quảng đông, tên là Tán khôn, cũng có tên là Thúc sửu, tự Địa sơn, bút hiệu Lạc hoa sinh. Ông tốt nghiệp Đại học Yên kinh, sau đến Đại học Colombia ở Hoa kì để nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, tỉ giảo tôn giáo học, ông đậu bằng Thạc sĩ văn học và nổi tiếng về các môn Nhân loại học, Dân tục học. Năm 1925, ông chuyển đến Đại học Oxford, Anh quốc, chuyên nghiên cứu tiếng Phạm. Vì muốn biết rõ về nguồn gốc của tư tưởng Phật học, nên ông đến Ấn độ để khảo sát. Về sau ông lần lượt làm giáo sư các trường Đại học Yên kinh, Bắc kinh, Thanh hoa, Nam khai và chủ nhiệm hệ Đại học Hương cảng. Các tác phẩm văn học của ông thường dung nhập tư tưởng Phật giáo, có phong cách riêng, nhất là bút pháp tả chân lãng mạn trong văn xuôi, đã chiếm một địa vị quan trọng trong văn học sử cận đại của Trung quốc. Về sau, ông lại chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo và Đạo giáo. Ông qua đời năm 1941, hưởng dương 49 tuổi. Tác phẩm của ông gồm có: Trần na dĩ tiền Trung quán phái dữ Du già phái chi Nhân minh, Ấn độ văn học, Phật tạng tử mục dẫn đắc, Trung quốc Đạo giáo sử, Đạo tạng tử mục dẫn kiểm, Đạo giáo sử thượng biên, Phù ki mê tín để nghiên cứu, Không sơn linh vũ tản văn tập.

Hữu

有; C: yŏu; J: u, yū; S, P: bhava;|1. Có, sở hữu; 2. Có, có được, tồn tại, xuất hiện, nằm ở, xảy ra, gồm có (s: asti, sat); 3. Được cấu tạo bởi, sự vật chất hoá, sự tạo thành, sự hoàn thành; 4. Sở hữu, quyền sở hữu, quyền được sở hữu; 5. Một vài, một người nào đó,…|[Phật học] 1. Đối nghịch với vô (無) hoặc không (空). Sự tồn tại, và sự tồn tại này được phân thành 3 loại: tồn tại ở thế gian: tương đãi hữu, giả danh hữu và pháp hữu (Tam chủng hữu 三種有); 2. Cưu-ma-la-thập thường dũng chữ Hữu (有) để dịch chữ bhavati từ tiếng Phạn, nhưng chữ Hữu 有 không thường được dùng để dịch chữ »yod pa« trong tiếng Tây Tạng, mà thường được dùng cho chữ »hgyur ba«. Nghĩa chính của chữ bhavati là trở thành, sinh ra, làm nên, cấu tạo.v.v… 3. Gồm có, sự cụ thể hoá, sự hình thành, sự hoàn thành (s: saṃbhava); 4. Xem những điều không hiện hữu là hiện hữu (s: samāropa); 5. Sở hữu, quyền sở hữu, vật sở hữu; 6. Một vài, một, một cái nào đó; 7. Hữu – chi phần thứ 10 trong 12 nhân duyên.

hữu

(有) Phạm,Pàli:Bhava. Nghĩa là tồn tại, sinh tồn. Trong kinh điển Phật giáo, phạm vi sử dụng của chữ Hữu rất rộng, rồi về ý nghĩa và sự phân loại của nó cũng có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 60, thì Hữu có nhiều nghĩa, nhưng chủ yếu thì chỉ cho quả thể dị thục của chúng sinh có tình thức và các nghiệp có khả năng chiêu cảm quả thể dị thục này, cũng tức là do nghiệp nhân thiện ác mà mang lại quả báo khổ vui. Vì loại nhân quả báo ứng này nối tiếp nhau không mất, nên gọi là Hữu . Còn luận Câu xá quyển 9 và luận Thành duy thức quyển 8, thì cho rằng nghiệp có khả năng đưa đến quả báo vị lai, gọi là Hữu , hữu này tức là chi Hữu trong 12 nhân duyên. Hữu biểu thị sự tồn tại của các pháp, đối lại với Vô , không tồn tại. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp tồn tại, 3 đời có thật; nhưng tông Duy thức thì chủ trương các pháp y tha khởi tính là Giả hữu , Viên thành thực tính là Thực hữu , nhưng ý nghĩa Thực hữu ở đây khác với ý nghĩa 3 đời thực có của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Tức Thực hữu này là chỉ cho Thực tính (chân như) của các pháp là thường tồn, cùng khắp. Vì thực tính ấy không sinh diệt nên tông Duy thức đặc biệt gọi Hữu này là Diệu hữu, Chân hữu. Ngoài ra, vì phàm phu chấp trước cõi Sắc và cõi Vô sắc là cảnh giới giải thoát, nên thường dấy sinh ý niệm giải thoát, vọng cầu sinh về 2 cõi này, vì muốn ngăn dứt tình chấp này nên trong Phật pháp lập ra các Hữu , để nói rõ ràng 2 cõi này không phải là cảnh giới giải thoát chân thực. Chẳng hạn như gọi Tham của cõi Sắc và cõi Vô sắc là Hữu tham , gọi phiền não là Hữu lậu , hoặc gọi Ái của cõi Vô sắc là Hữu ái …. Về chủng loại Hữu thì gồm có: 1. Ba hữu: Chỉ cho 3 cõi, cũng tức là Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu. 2. Bảy hữu: Địa ngục hữu, Ngã quỉ hữu, Bàng sinh hữu, Thiên hữu, Nhân hữu, Nghiệp hữu, Trung hữu. 3. Hai mươi lăm hữu: -Bốn ác thú: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, A tu la. -Bốn châu: Đông thắng thần châu, Nam thiệm bộ châu, Tây ngưu hóa châu, Bắc câu lư châu. -Sáu tầng trời cõi Dục: Trời Tứ thiên vương, trời Dạ ma, trời Đao lợi, trời Đâu xuất, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại. Các tầng trời cõi Sắc: Trời Sơ thiền, trời Đại phạm, trời Nhị thiền, trời Tam thiền, trời Tứ thiền, trời Vô tưởng, trời Ngũ tịnh cư. Các cõi trời Vô sắc: Trời Không vô biên xứ, trời Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 4. Hai mươi chín hữu: Tức là 25 Hữu nói trên cộng với 5 tầng trời của Ngũ tịnh cư: Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện kiến thiên, Thiện hiện thiên, Sắc cứu kính thiên. Ngoài ra, bậc Thánh Sơ quả còn phải 7 lần qua lại trong nhân gian và cõi trời, cộng lại thành 14 lần sinh, mỗi lần sinh lại chia làm Sinh hữu và Trung hữu, nên tổng cộng là 28 hữu, cũng gọi 28 sinh. Đây là số lần thụ sinh cao nhất của bậc Thánh Sơ quả, vì thế không có cái Hữu thứ 29. Lại vì trạng thái tồn tại của tất cả vạn hữu không giống nhau nên mới chia làm nhiều loại Hữu và được gọi chung là Chư hữu , Chư hữu vốn rộng lớn vô biên giống như biển cả nên cũng gọi là Chư hữu hải . Luận Đại trí độ quyển 12 chia các pháp tồn tại ra làm 3 Hữu: 1. Tương đãi hữu: Sự tồn tại (Hữu) có đối đãi, như lớn nhỏ, dài ngắn, v.v... 2. Giả danh hữu: Tức là Hữu do nhiều nhân duyên tập hợp lại mà thành, như thân người là do 4 đại giả hòa hợp mà có, là Hữu giả danh chứ không có thực thể. 3. Pháp hữu: Pháp do nhân duyên sinh, tuy không có tự tính, nhưng chẳng phải hữu danh vô thực như sừng thỏ, lông rùa… nên gọi là Pháp hữu. [X. luận Tập dị môn túc Q.4; luận Đại tì bà sa Q.192; luận Câu xá Q.19; luận Thuận chính lí Q.45; luận Thành duy thức Q.2, Q.9; luận Đại trí độ Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.8]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Hữu, Tứ Hữu, Vô).

hữu ban

(右班) Vị trí của vị Tri sự. Trong Thiền lâm, lúc hội họp, đại chúng theo thứ tự xếp hàng ở 2 bên trong Pháp đường, gọi là Lưỡng ban, Lưỡng tự. Vị trí của vị Tri sự ở bên phải nên gọi là Hữu ban hay Đông tự.

hữu biên

(有邊) Nghiêng hẳn về bên hữu (có). Nghĩa là chấp trước tất cả các pháp trong thế gian là do các duyên hòa hợp mà sinh, sức hòa hợp này có khả năng hiện bày tác dụng của các pháp, nên gọi là Hữu biên. Trái lại, chấp trước các pháp là do nhân duyên giả hòa hợp mà sinh, nên không có tự tính, đã không tự tính thì thể của các pháp chẳng phải có thực, gọi là Vô biên. Hữu biên, vô biên là các từ ngữ được sử dụng khi bàn về lí Hữu, Vô; những từ ngữ này được thấy rải rác trong các kinh luận. Như kinh Tiễn dụ (Đại 1, 917 trung), nói: Thế gian hữu biên, thế gian vô biên. Nếu người chấp trước hữu biên, vô biên thì rất dễ rơi vào kiến giải thiên lệch, hạn hẹp . [X. kinh Tạp a hàm Q.10; kinh Nhập lăng già Q.5; Trung luận Q.4; luận Du già sư địa Q.36; Đại minh tam tạng pháp số Q.8].

hữu biên vô biên luận

(有邊無邊論) Cũng gọi Biên vô biên đẳng tông. Tông phái chấp trước thế gian là hữu biên, là vô biên, cũng là hữu biên cũng là vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Là một trong 16 tông phái ngoại đạo. [X. Du già luận kí Q.3 phần dưới]. (xt. Ngoại Đạo Thập Lục Tông).

Hữu bạo lưu

有暴流; C: yŏubàoliú; J: ubōru;|Dòng chảy dữ dội của sự đắm chấp vào sự hiện hữu (s: bhava-ogha), thí dụ cho lòng tham và kiêu mạn có trong cõi sắc và vô sắc. Là một trong 4 dòng bạo lưu (Tứ bạo lưu 四暴流), tương đương với Hữu lậu (有漏).

Hữu bảo

有寶; C: yŏubăo; J: uhō; |Có được châu báu – tên của một kiếp (s: kalpa) trong kinh Pháp Hoa.

Hữu Bộ

(s: Sarvāstivādin, 有部): gọi đủ là Thánh Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (聖根本說一切有部), Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (說一切有部), là một trong 20 bộ phái của Tiểu Thừa, âm dịch là Tát Bà A Tư Để Bà Địa (薩婆阿私底婆地), Tát Bà Đế Bà (薩婆帝婆), Tát Bà Đa (薩婆多), ý dịch là Nhất Thiết Hữu (說一切有), Nhất Thiết Ngữ (一切語); còn gọi là Hữu Bộ Tông (有部宗), Hữu Tông (有宗), là một bộ phái của Thượng Tọa Bộ. Bộ phái này chủ trương rằng các pháp trong ba đời là có thật. Đại bộ phận phái này phân bố ở các vùng Tây Bắc Ca Thấp Di La (s: Kaśmīra, p: Kasmīra, 迦濕彌羅), Kiền Đà La (s, p: Gāndhāra, Gandhāra, 犍陀羅) thuộc Ấn Độ ngày xưa; và đã một thời cực thịnh. Họ y cứ chủ yếu vào các luận thư A Tỳ Đạt Ma (s: Abhidharma, 阿毘達磨).

Hữu bộ

有部; C: yŏu bù; J: ubu; S: sarvāstivāda|Viết tắt của Thuyết nhất thiết hữu bộ (説一切有部).

hữu bộ

(有部) Phạm:Sarvàsti-vàdin. Dịch âm: Tát bà a tư để bà địa, Tát bà đế bà, Tát bà đa. Dịch ý: Nhất thiết hữu, Nhất thiết ngữ ngôn. Gọi đủ: Thánh căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Cũng gọi: Hữu bộ tông, Hữu tông. Bộ phái chủ trương tất cả pháp trong 3 đời đều có thật. Là một trong 20 bộ phái của Phật giáo Tiểu thừa. Bộ phái này lấy các bộ luận A tì đạt ma làm chỗ y cứ mà lập thuyết, cực thịnh một thời ở các vùng Ca thấp di la, Kiện đà la, v.v... thuộc miền Tây bắc Ấn độ đời xưa. [X. luận Dị bộ tông luân; Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ).

hữu bộ luật

(有部律) Gọi đủ: Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da (Phạm:Mùla-sarvàstivàdavinaya). Luật, 50 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 23. Nội dung nói về giới luật của Thuyết nhất thiết hữu bộ, chia ra 8 khoa: Tứ ba la di pháp, Thập tam tăng già bà thi sa pháp, Nhị bất định pháp, Tam thập ni tát kì ba dật để ca pháp, Cửu thập ba dật để ca pháp, Tứ ba la đề đề xá ni pháp, Chúng đa học pháp và Thất diệt tránh pháp. (xt. Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tì Nại Da).

hữu chi tập khí

(有支習氣) Đồng nghĩa: Nghiệp chủng tử, Dị thục tập khí. Chủng tử nghiệp chiêu cảm quả Dị thục trong 3 cõi, do sự huân tập khí phần của nhân trong 3 cõi tạo thành. Có thể chia làm 2 loại: 1. Hữu chi tập khí thiện chiêu cảm quả thiện cõi người, cõi trời. 2. Hữu chi tập khí ác chiêu cảm quả báo 3 đường ác. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Hữu chi tập khí nghĩa là nghiệp chủng chiêu cảm quả Dị thục trong 3 cõi. Hữu chi có 2: Một là hữu lậu thiện, có khả năng chiêu cảm nghiệp quả đáng ưa thích. Hai là chư bất thiện, có công năng chiêu cảm nghiệp quả không được ưa thích . [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu] (xt. Tam Chủng Tập Khí).

hữu chấp thụ

(有執受) Phạm:Upàtta. Đối lại: Vô chấp thụ. Có cảm giác, cảm thụ. Tức thân thể chúng sinh do tâm và tâm sở pháp nắm giữ. Tông Câu xá cho rằng có sinh mệnh thì có chấp thụ; vì 5 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi,thân) của chúng sinh và 4 cảnh(sắc, hương, vị, xúc) cộng lại thành 9 phạm trù đều do tâm và tâm sở pháp nắm giữ, vả lại, cũng là chỗ nương tựa của tâm và tâm sở pháp, cho nên gọi là Hữu chấp thụ. Năm căn và 4 cảnh này là Hữu căn thân của chúng sinh hữu tình. Chữ Thụ trong Hữu chấp thụ nghĩa là Hữu căn thân có khả năng sinh ra giác thụ (cảm giác, cảm thụ khổ và vui, v.v...). Ngoài ý nghĩa giác thụ do tông Câu xá chủ trương, tông Duy thức cho rằng Chấp thụ còn có nghĩa là Cùng chung an nguy , tức là ngoài Hữu căn thân ra, chủng tử hàm chứa trong thức A lại da cũng là Hữu chấp thụ và cùng chung an nguy với thức A lại da. An chỉ cho đường thiện, nguy chỉ cho nẻo ác. Sự an nguy của chủng tử và Hữu căn thân tức là sự an nguy của thức A lại da. Vòng quanh trong 6 ngả, chúng cùng chung số phận, nên nói là cùng chung an nguy. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 phần đầu, thì Chấp nghĩa là nhiếp trì, Thụ nghĩa là lãnh thụ, cảm giác. Nếu nói theo nghĩa giác thụ của tông Câu xá thì Hữu căn thân là Chấp thụ, Chủng tử và Khí thế giới là Phi chấp thụ. Nhưng nếu nói theo nghĩa cùng chung an nguy của tông Duy thức thì Hữu căn thân và Chủng tử là Chấp thụ, còn Khí thế giới là Phi chấp thụ. [X. luận Câu xá Q.2, Q.3; luận Du già sư địa Q.66; luận Thành duy thức Q.2, Q.3; Câu xá luận quang kí Q.2; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

hữu chủ vật

(有主物) Đối lại: Vô chủ vật. Tài vật đã có người làm chủ. Được chia làm 2 loại: 1. Vật của Tam bảo: - Vật của Phật: Tượng Phật, xá lợi Phật, áo bát của Phật, màn trướng, tòa ngồi trong Phật đường, lụa là đắp trên thân Phật, phan lọng bằng 7 báu, tháp Phật, v.v... - Vật của Pháp: Kinh luận, bí chú, các vật dụng như trục cuộn kinh, khăn đậy rương kinh, vải phủ pho kinh, v.v... - Vật của Tăng: Chia làm 2 loại: a) Vật của tăng thường trụ trong 10 phương và vật của tăng hiện tiền trong 10 phương. b) Vật của chúng tăng và vật của cá nhân. 2. Các loại vật khác: Vật của người thủ hộ, vật của quan, vật của người điên cuồng, vật của súc sinh, vật của thần, vật của quỉ, vật của trời, v.v... [X. kinh Phạm võng Q.hạ; luật Tứ phần Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.3]. (xt. Tam Bảo Vật, Tăng Vật).

hữu công dụng

(有功用) Phạm:Sàbhoga. Tạm mượn động tác của thân, khẩu, ý để tu tập vô tướng quán; tức là chưa có thể đạt đến chỗ không cần dụng công để tu tập mà vẫn còn phải nhờ vào phương tiện gia hạnh. Trái lại, nếu không cần nhờ vào thân, miệng, ý để tu hành, mà nhậm vận tự như, tùy thuận pháp tính mà tu tập thì gọi là Vô công dụng (Phạm: An-àbhoga). Trong 10 địa của Bồ tát thì Bồ tát ở 7 địa trước phải nổ lực gia hạnh để tu tập Vô tướng quán, nên gọi là Hữu công dụng địa; còn Bồ tát từ địa thứ 8 trở lên thì đã nhậm vận tự như nên gọi là Vô công dụng địa. Tuy nhiên, nếu nói theo Phật quả thì Bồ tát từ địa thứ 8 trở trên cũng thuộc về Hữu công dụng, chỉ có Phật quả là Vô công dụng. Ngoài ra, tông Thiên thai cho rằng Bồ tát trước Sơ địa của Biệt giáo và Bồ tát trước Sơ trụ của Viên giáo đều thuộc Hữu công dụng và được gọi chung là Sơ địa Sơ trụ chứng đạo đồng viên. [X. kinh Thập địa Q.6; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.9; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9, Q.13; Tứ giáo nghi Q.11].

hữu cú

(有句) Trong các kinh luận, 4 câu: Khẳng định, Phủ định, Phức khẳng định, Phức phủ định thường được sử dụng để phân loại các pháp, hoặc để giải thích các nghĩa lí, gọi là Tứ cú phân biệt . Và trong Tứ cú phân biệt, nếu dùng khái niệm Hữu , Vô làm tiêu chuẩn để phân biệt thì gọi là Hữu vô tứ cú và câu thứ nhất trong Hữu vô tứ cú tức là Hữu cú . Nếu nói theo nghĩa Hữu, Vô thì có thể thành lập 4 câu để phân biệt các pháp, đó là: 1. Hữu cú: Tức là có chứ chẳng phải không. 2. Vô cú: Tức là không chứ chẳng phải có. 3. Song diệc cú(phức khẳng định): Tức là cũng có cũng không. 4. Song phi cú: (phức phủ định): Tức là chẳng phải có chẳng phải không. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).

hữu căn thân

(有根身) Phạm:Sendriya-kàya. Gọi đủ: Hữu sắc căn thân. Thân thể con người. Sắc nghĩa là vật chất, tức là vật có hình dáng; Căn tức 5 căn, hoặc cũng gọi là 5 sắc căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, quyển 3, thì 5 sắc căn (Thắng nghĩa căn) và chỗ nương tựa của chúng(tức Phù trần căn) gọi chung là Hữu căn thân. [X. luận Đại tì bà sa Q.118; luận Câu xá Q.5, Q.10; Thành duy thức luận diễn bí Q.3 phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.3].

hữu căn vô căn

(有根無根) Chỉ cho loài hữu tình và vô tình. Căn chỉ cho thân căn, nhãn căn, v.v... cho nên phàm chúng sinh hữu tình có thân căn, nhãn căn… đều gọi là Hữu căn. Vì 4 đại năng tạo: Đất, nước, lửa, gió và 4 vị sở tạo: Sắc, hương, vị, xúc, khi ở vào vị trí 5 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, thì năng tạo và sở tạo của chúng đều có căn, nên gọi hữu tình là Hữu căn. Trái lại, những vật vô tình như: Cỏ, cây, núi, sông, v.v... thuộc về khí thế giới và tóc, lông, răng, móng, v.v... thuộc về chúng sinh hữu tình, thì năng tạo và sở tạo của chúng lìa căn, cho nên gọi là Vô căn.

Hữu cấu

有垢; C: yŏugòu; J: uku; |Có, bao gồm, hay dính mắc với nhiễm ô. Theo Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), dạng nhiễm ô nầy biểu thị dạng thức thấp (nhị thừa) của phiền não, khác với Hữu điểm (有點), chướng ngại liên quan đền hàng Bồ Tát.

hữu da vô da

(有耶無耶) Tâm chạy theo 2 bên có không, nên do dự không quyết định. Nói chung, từ ngữ này thường được dùng để chỉ cho tâm vô phú vô kí mà người tu hành ở cõi Dục phải đoạn trừ; nhưng cũng có khi được dùng để bày tỏ sự hồ nghi.

hữu danh vô thật đế

(有名無實諦) Cũng gọi Thế gian thế tục đế. Chỉ có tên giả không có thực thể. Các pháp thế gian vốn không có thực thể, nhưng người phàm phu si mê chấp là thật, cho nên thuận theo cái thấy biết thông thường của thế gian mà tạm đặt ra tên gọi cho các pháp ấy, gọi là Hữu danh vô thực đế. Phật giáo không thừa nhận sự tồn tại của một thực thể thường hằng bất biến, mà chủ trương rằng các pháp đều do nhân duyên giả hòa hợp mà thành, như cái ta, cái bình, chiếc xe, v.v... Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 13 (bản Bắc) thì Hữu danh vô thực có nghĩa là tất cả pháp thế gian như ta , chúng sinh, cho đến vòng lửa xoay tròn và danh cú, v.v... đều thuộc về Thế tục đế. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối]. (xt. Nhị Đế).

hữu di thục

(有异熟) Phạm:Sa-vipàka. Đối lại: Vô dị thục. Có năng lực chiêu cảm quả Dị thục ở vị lai. Cứ theo luận Câu xá quyển 3 thì trong 22 căn, Ưu căn là Hữu dị thục, vì tính của nó là tính hữu kí hoặc thiện hoặc ác, vả lại, nó là pháp hữu lậu nên có thể chiêu cảm quả Dị thục trong vị lai. Mười một căn kế tiếp là Nhãn căn, Nhĩ căn, Tị căn, Thiệt căn, Thân căn, Nam căn, Nữ căn, Mệnh căn (8 căn này có tính vô kí), Vị tri căn, Dĩ tri căn và Cụ tri căn(3 căn này thuộc tính vô lậu). Mười một căn trên đều là Vô dị thục. Mười căn còn lại thì chung cho cả Hữu dị thục và Vô dị thục, trong đó 4 căn Ý, Hỉ, Lạc, Xả khi ở tính hữu kí, tính hữu lậu thì là Hữu dị thục, còn khi ở tính vô kí, tính vô lậu thì là Vô dị thục; về Khổ căn thì tính hữu kí của nó làHữu dị thục và tính vô kí của nó là Vô dị thục; còn 5 thiện căn Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ thì tính hữu lậu của chúng là Hữu dị thục và tính Vô lậu của chúng là Vô dị thục. [X. luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Đại tì bà sa Q.144; Câu xá luận quang kí Q.3].

Hữu duyên

有縁; C: yŏuyuán; J: uen; |1. Có đối tượng của thức (s: sālambana); 2. Duyên khởi. Có liên quan; 3. Những nhân duyên khác nhau; 4. Nguyên nhân gián tiếp phát sinh sự hiện hữu; 4. Người mà mình gắn bó.

hữu duyên

(有緣) Đối lại Vô duyên. Có mối quan hệ nhân duyên với nhau. Thông thường hữu duyên chỉ cho những người có duyên với Phật đạo, cũng tức là chỉ cho chúng sinh có cơ duyên nghe pháp được giải thoát. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 344 thượng), nói: Tất cả chúng sinh hữu duyên đều được thấy . Kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 7 (Đại 3, 161 trung), nói: Đức Phật Thế tôn ứng hiện ở thế gian, tiếp dẫn chúng sinh hữu duyên, khi chúng sinh hữu duyên đã hết, Ngài liền vào Niết bàn . An lạc tập quyển hạ và Quán kinh tán thiện nghĩa thì cho rằng đức Phật A di đà và giáo pháp vãng sinh Tịnh độ có nhân duyên rất sâu xa đối với chúng sinh của thế giới Sa bà này. Ngoài ra, chư Phật và Bồ tát cũng đều vì đại sự nhân duyên mà phát tâm từ bi rộng lớn, độ khắp chúng sinh hữu duyên. Danh từ Hữu duyên vốn chỉ cho pháp duyên , nhưng được người đời sử dụng rộng rãi để chỉ cho mối quan hệ hữu nghị, thân tình giữa người với người. Chẳng hạn như những câu: Hữu duyên thiên lí lai tương ngộ (có duyên nghìn dặm đến gặp nhau), Thiên lí nhân duyên nhất tuyến khiên (Sợi dây nhân duyên nghìn dặm dắt nhau), Hữu duyên hà xứ bất tương phùng (Có duyên thì nơi nào chẳng gặp nhau), v.v... [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm Q.75 (bản 80 quyển); Tán A di đà Phật kệ; Vãng sinh lễ tán].

Hữu dư

有餘; C: yŏuyú; J: uyo; |1. Còn tàn dư. Dù đã giải thoát khỏi mọi phiền não và trói buộc, nhưng vẫn còn thân thể vật chất nhiễm ô. Thường thấy dùng trong dụng ngữ »Hữu dư niết-bàn« (有餘涅槃); 2. Cái khác, cái còn lại; người khác, vật khác.

hữu dư

còn tồn tại, vẫn còn sót lại, được dùng để chỉ hết thảy những sự vật và lý lẽ chưa đạt đến chỗ rốt ráo, cùng cực, cho nên đối nghĩa với vô dư. ; (有餘) I. Hữu Dư. Phạm: Sopadhi-zewa. Đối lại: Vô dư. Chưa thật rốt ráo diệt hết mà vẫn còn sót lại một phần. Luận Đại trí độ quyển 23 (Đại 25, 229 hạ), nói: Lại có 2 loại quán tướng vô thường: Một là Hữu dư, hai là Vô dư. Như đức Phật dạy tất cả người, vật diệt hết, chỉ còn tên gọi, đó là Hữu dư. Nếu người, vật diệt hết, tên gọi cũng không còn thì đó là Vô dư . Ngoài ra, khi chứng được Niết bàn mà thân này vẫn còn, thì Niết bàn chứng được ấy gọi là Hữu dư y Niết bàn . Quốc độ mà người vẫn còn vô minh phiền não được sinh đến, gọi là Hữu dư độ . Người đề xướng ra học thuyết chưa rốt ráo, thì gọi là Hữu dư sư . [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.32, Q.36; luận Câu xá Q.1]. II. Hữu Dư. Phạm:Zewavat. Tức từ sự thực hiện tại suy ra mà biết sự thực ở quá khứ. Một trong các phương pháp suy luận (tỉ lượng). Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1246 thượng), nói: Tỉ lượng có 3: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng . (xt. Tỉ Lượng).

hữu dư niết bàn

(有餘涅槃) Phạm: Sopadhi-zewa-nirvàịa. Gọi đủ: Hữu dư y Niết bàn. Đối lại: Vô dư Niết bàn. Tuy đã dứt hết phiền não mà chứng được Niết bàn nhưng chưa rốt ráo, vì vẫn còn thân do hoặc nghiệp đời trước tạo thành. Tức là nhân sinh tử đã đoạn, nhưng quả sinh tử chưa dứt hết, nên gọi là Hữu dư Niết bàn. Trái lại, nhân sinh tử đã đoạn hết, quả sinh tử cũng không còn mà đã đạt đến cảnh giới Niết bàn cùng tột, thì gọi là Vô dư Niết bàn (khôi thân diệt trí). Đây là quan điểm của Phật giáo Tiểu thừa. Nhưng kiến giải của Phật giáo Đại thừa thì có hơi khác. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 19, thì Ứng thân và Hóa thân của Phật là Hữu dư Niết bàn, còn Chân thân của Phật là Vô dư Niết bàn. Thắng man bảo quật quyển hạ phần đầu thì cho rằng khi nhân quả sinh tử của Tiểu thừa diệt hết, gọi là Hữu dư Niết bàn; khi nhân quả sinh tử của Đại thừa trừ sạch, thì gọi là Vô dư Niết bàn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.7; kinh Pháp hoa Q.2; kinh Thắng man; luận Đại tì bà sa Q.32; luận Đại trí độ Q.31; luận Thành duy thức Q.10; Thiên thai tứ giáo nghi].

Hữu dư niết-bàn

有餘涅槃; C: yŏuyú nièpán; J: uyo nehan; S: sopadhiśeṣa-nirvāṇa;|1. Niết-bàn thực chứng được khi đang còn ở trong thế gian nầy. Cũng vậy, do thân thể còn lưu lại, nên được gọi là »Hữu dư niết-bàn«; 2. Sự chấm dứt các nguyên nhân luân hồi của hàng Bồ Tát; 3. Còn gọi là »niết-bàn tiểu thừa«, vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác có thể chứng đắc được. Thuật ngữ đề cập đến sự biểu hiện của chân như tương ưng với sự chấm dứt mọi phiền não chướng. Là một trong »Tứ chủng niết-bàn« theo giáo lí Duy thức. »Hữu dư y niết-bàn«. Niết-bàn

hữu dư sư

(有餘師) Cũng gọi Hữu dư, Dư sư, Hữu chư sư, Hữu nhân. Các vị Luận sư không thuộc phái chính thống hoặc các học giả không được liệt vào hàng Đại gia. Các bộ luận Câu xá, Đại tì bà sa, v.v... cho rằng thuyết của các vị Luận sư chính thống thì nghĩa chân thực, rốt ráo, còn thuyết của các Luận sư khác thì nghĩa chưa được rốt ráo, vì thế gọi họ là Hữu dư sư. Ngoài ra, luận thuyết của Hữu dư sư gọi là Hữu dư sư thuyết, Hữu dư thuyết, Hữu thuyết. Còn các bộ tông thuộc về luận thuyết Hữu dư sư thì gọi là Hữu dư bộ. [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; kinh Thắng man; luận Câu xá Q.6, Q.16; Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối]. (xt. Hữu Dư).

Hữu Dư Y Niết Bàn

(s: sopadhiśeṣa-nirvāṇa, p: saupādisesa-nibbāna, 有余依涅槃): hay còn gọi là Hữu Dư Niết Bàn, là một trong 4 loại Niết Bàn, trong Tiểu Thừa Phật Giáo chỉ về trường hợp người đã diệt tận hết thảy phiền não và chứng đắc giác ngộ Niết Bàn, nhưng vẫn còn lưu lại nhục thân.

hữu gián

(有間) Đối lại: Vô gián. Chỉ cho tác dụng của các loại tâm thức xen tạp lẫn nhau, hoặc chỉ cho sự ngăn cách về phương diện thời gian và không gian. Trong Vãng sinh luận chú quyển thượng có từ ngữ Hữu gián tâm , tức chỉ cho tâm xen tạp, không chuyên nhất, hoặc chỉ cho sự ngăn cách về thời gian.

hữu gián vô gián đối

(有間無間對) Niệm Phật có gián đoạn đối lại với niệm Phật không gián đoạn, là 1 trong 5 cặp đối đãi để so sánh sự hơn kém giữa Chính hạnh niệm Phật và Tạp hạnh niệm Phật trong môn Tịnh độ. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Chính Tạp Nhị Hạnh).

Hữu giáo

有教; C: yŏujiāo; J: ukyō; |Giáo lí chủ trương »ngã không pháp hữu«. »Thật thể« được công nhận. Thế giới hiện hữu khách quan vô thường và biến dịch, nhưng các pháp (法) hợp thành thế giới thay đổi nầy lại có một ngã thể.

hữu giáo vô nhân

(有教無人) Đồng nghĩa với Quả đầu vô nhân. Chỉ có giáo pháp, chứ thực tế không có người tu hành chứng quả. Cứ theo phán giáo của tông Thiên thai thì giai vị đoạn hoặc của Tạng giáo, Bát địa trở lên của Thông giáo, Sơ địa trở lên của Biệt giáo đều là Hữu giáo vô nhân. Bởi vì, nếu nói theo quan điểm hành nhân bẩm giáo (người tu hành vâng theo giáo pháp) (Nhân), thì Tạng, Thông, Biệt giáo vừa có giáo pháp vừa có người tu hành hướng tới cực quả, cho nên gọi là Hữu giáo hữu nhân . Nhưng nếu nói theo quan điểm nhân hành quả mãn (nhân thành tựu, quả viên mãn) (Quả), thì chỉ có giáo pháp, chứ thực tế không có người chứng đắc cực quả, cho nên gọi là Hữu giáo vô nhân . Đó là vì căn cơ của Tạng giáo trải qua 3 đại A tăng kì kiếp mới trở thành hàng Hậu giáo (Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo), hàng Thông giáo từ Bát địa trở lên đã biết rõ lí Trung đạo, hàng Biệt giáo từ Sơ địa trở lên đồng với giai vị Sơ trụ của Viên giáo; bởi thế, những người tu hành trong 3 giáo nói trên, mặc dầu còn ở trong Nhân nhưng đã được lợi ích tiếp nhập vào trong Hậu giáo, do đó trên thực tế, không có người chứng đắc cực quả của 3 giáo ấy. Tông Thiên thai căn cứ vào đây để nói rõ ý nghĩa Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo đều là quyền giáo phương tiện. Ngoài ra, tông Tịnh độ cũng dựa theo quan điểm trên mà cho rằng trong thời mạt pháp, môn Thánh đạo tự lực tu hành rất khó chứng quả, nên chỉ là Hữu giáo vô nhân; còn môn Tịnh độ tu hành nhờ tha lực, thì dễ tu dễ chứng, cho nên là Hữu giáo hữu nhân, Hữu giáo hữu chứng. [X. Tứ giáo nghĩa Q.12; Ma ha chỉ quán Q.3 phần dưới; An lạc tập Q.thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3 phần 4]. (xt. Quả Đầu Vô Nhân).

hữu giải

(有解) Đối lại: Không giải. Kiến giải cho rằng các pháp là có chứ chẳng phải không. Trong Ma ha chỉ quán quyển 10 phần dưới có câu: Tác thử hữu giải (sinh khởi kiến giải cho rằng các pháp là có). Nếu người chấp trước kiến giải ấy thì sẽ không tỏ ngộ được lí Trung đạo thực tướng.

hữu hiếp

(右脅) Cũng gọi Hữu hiếp ngọa, Hữu hiếp sư tử ngọa, Sư tử ngọa. Tư thế nằm nghiêng bên phải, 2 chân duỗi ra chồng lên nhau, gối đầu lên tay phải, tay trái duỗi thẳng, đặt xuôi theo thân. Đây là cách nằm đúng phép của các vị tỉ khưu và phần đông tín đồ Phật giáo cũng áp dụng. Không được nằm nghiêng bên trái, vì đó là tướng dâm dục; không được nằm ngửa, vì đó là nghiệp A tu la, không được nằm sấp, vì đó là nghiệp ngã quỉ. [X. kinh Trưởng lão thượng tôn thụy miên trong Trung a hàm Q.20; kinh Du hành trong Trường a hàm Q.3].

hữu hành tướng

(有行相) Tên khác của tâm vương, tâm sở. Hành tướng nghĩa là khi tâm, tâm sở tiếp xúc với đối tượng (cảnh), thì bóng dáng của đối tượng hiện lên ở trong tự thể và tâm liền phân biệt. Luận Câu xá quyển 4 (Đại 29, 21 hạ) chép: Gọi hữu hành tướng tức là đối với những cảnh sở duyên sai biệt mà khởi lên hành tướng . (xt. Tâm Vương, Tâm Sở, Hành Tướng).

hữu hải

(有海) Ví dụ 3 hữu (3 cõi), 25 hữu (25 cõi) mông mênh như biển cả, trong đó, chúng sinh sống chết, nổi chìm trôi dạt không biết ngày nào thoát ra được. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 trung), nói: Do phiền não, hoặc nghiệp thế gian mà trôi dạt trong Hữu hải . (xt. Hữu Lưu, Hữu Ngục, Hữu Luân).

hữu hậu sinh tử

(有後生死) Một lần sinh sau cùng. Bồ tát Pháp vân địa chưa đoạn được một phẩm vô minh cuối cùng nên còn phải chịu một lần biến dịch sinh tử nữa, gọi là Hữu hậu sinh tử. Một trong 7 loại sinh tử. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).

hữu hỉ định

(有喜定) Pàli:Sappìtika-samàdhi. Cảnh giới thiền định có cảm thụ vui mừng (hỉ) và tâm không tán loạn, như Sơ thiền, Nhị thiền trong Tứ thiền và Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, v.v... trong 5 loại thiền. [X. luận Thanh tịnh đạo 3].

Hữu học

有學; C: yŏuxué; J: ugaku; |Bậc tu đạo chưa thành tựu, còn phải học và tiến bước trong Phật đạo, chưa đạt quả vị A-la-hán. Theo Phật giáo Tiểu thừa thì đây là bậc chưa đạt được quả vị thứ tư.

hữu học

(有學) Phạm:Zaikwa. Pàli: Sekha. Cũng gọi Học nhân. Bậc còn phải tu tập giới, định, tuệ vô lậu và lí trạch diệt để dứt sạch tất cả phiền não, hầu chứng được Thánh quả, cho nên gọi là Hữu học. Trong Tứ hướng, Tứ quả của Tiểu thừa, bậc Thánh Tứ hướng và 3 quả vị trước là Hữu học, chỉ có bậc Thánh chứng quả vị A la hán mới được gọi là Vô học. Cứ theo kinh Phúc điền trong Trung a hàm quyển 30, thì Hữu học gồm có 18 loại, gọi là Thập bát hữu học hay Thập bát học nhân, đó là: Tùy tín hành, Tùy pháp hành, Tín giải, Kiến chí, Thân chứng, Gia gia, Nhất gián, Dự lưu hướng, Dự lưu quả, Nhất lai hướng, Nhất lai quả, Bất hoàn hướng, Bất hoàn quả, Trung ban, Sinh ban, Hữu hành ban, Vô hành ban và Thượng lưu ban. Ngoài ra, trong các kinh luận như luận Thành thực, v.v... Hữu học còn được phân loại bằng nhiều cách khác nhau. [X. luận Câu xá Q.24; luận Thành thực Q.1; luận Thuận chính lí Q.65; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu] (xt. Thập Bát Hữu Học, Tứ Hướng Tứ Quả, Vô Học).

hữu hữu lực bất đãi duyên

(有有力不待緣) Nhân của các pháp duyên khởi có đầy đủ lực dụng để sinh ra quả mà không cần nhờ sự giúp sức của các duyên khác. Là một trong 6 nghĩa của Nhân do tông Hoa nghiêm lập ra. Đứng về phương diện Như lai tạng mà luận, thì Hữu là thể Như lai tạng bất biến; Hữu lực là thể bất biến nhưng lại tùy duyên mà hiển hiện các pháp, giống như gương sạch hiện bày muôn tượng; Bất đãi duyên nghĩa là thể của Như lai tạng tuy bất biến nhưng lại có năng lực sinh ra các pháp mà không cần sự trợ lực của các duyên khác. Vì các pháp có 2 nghĩa Hữu và Không; bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp, đó là Hữu , cho nên gọi là Hữu hữu lực bất đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu hữu lực đãi duyên

(有有力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi tuy có lực dụng sinh ra quả, nhưng vẫn phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới thành. Là một trong 6 nghĩa của Nhân do tông Hoa nghiêm lập ra. Các pháp có đủ 2 nghĩa Không và Hữu, trong đó, bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp là nghĩa Hữu; có công năng sinh ra quả là Hữu lực, nhờ duyên giúp sức mới sinh ra quả là Đãi duyên. Vì Nhân này có đủ các nghĩa Hữu, Hữu lực, Đãi duyên nên gọi là Hữu hữu lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu không

(有空) Đối lại: Không hữu. Hữu tức là Không(chân không), gọi là Hữu không; Không tức là Hữu(diệu hữu), thì gọi là Không hữu. Hữu chỉ cho tướng của muôn vật trong thế giới hiện tượng; Không chỉ cho thực thể tồn tại của tất cả hiện tượng. Về mối quan hệ giữa Hữu và Không thì luận Bất chân không trong Triệu luận nói rằng tuy có mà không tức phi hữu , tuy không mà có tức phi vô . Lại có thuyết cho rằng tướng Hữu là tính Không, mà tính Không cũng là tướng Hữu , cho đến các thuyết Sắc tức là không, không tức là sắc trong Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, v.v... đều là cảnh giới Hữu không bất nhị , là cốt tủy của giáo nghĩa Vô sở đắc của Đại thừa.[X. phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma; Trung quán luận sớ Q.4; Tam luận huyền nghĩa Q.2].

Hữu kiến

有見; C: yŏujiàn; J: uken; |Tính chất có thể trông thấy được (s: sanidarśana); có thể thấy – đặc tính của vật chất, hay »sắc« (色). Khác với Vô kiến (無見).

hữu kiến

(有見) I. Hữu Kiến. Phạm:Astiva-nizrita. Pàli:Atthità. Cũng gọi Thường kiến. Kiến giải vọng chấp muôn vật trong thế gian đều có thực thể thường hằng bất biến. Như chủ trương: Người thì mãi mãi là người, súc sinh thì vĩnh viễn là súc sinh, giầu nghèo thường hằng không thay đổi, v.v... đều thuộc loại Hữu kiến. Pháp hoa huyền tán quyển 4 phần đầu (Đại 34, 725 trung), nói: Hữu là chấp ngã có thân sau, thuộc về thường kiến; Vô là chấp ngã không có thân sau, thuộc về đoạn kiến . [X. kinh Tạp a hàm Q.2; kinh Trung a hàm Q.26; phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa; luận Đại trí độ Q.7; luận Đại tì bà sa Q.200; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4]. II. Hữu Kiến. Phạm: Sanidarzana. Đối lại: Vô kiến. Sắc cảnh do mắt có thể thấy được. [X. luận Câu xá Q.2]. (xt. Thường Kiến).

hữu kí pháp

(有記法) Đối lại: Vô kí pháp. Chỉ cho 2 pháp thiện, ác; tướng của 2 pháp này hiển bày rõ ràng, có thể cho biết trước quả tướng ở vị lai. Cũng tức là pháp có năng lực đưa đến quả Dị thục. [X. luận Đại tì bà sa Q.51].

hữu kết

(有結) Hữu là quả báo sinh tử, Kết là phiền não chiêu cảm quả báo. Nghĩa là các phiền não tham, sân, si trói buộc con người, khiến phải ở trong cảnh giới sinh tử, không thể thoát ra được. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 1 hạ), nói: Khi hết các hữu kết thì tâm được tự tại .[X. Pháp hoa văn cú Q.1 phần trên].

hữu luân

(有輪) Chỉ cho 3 hữu, 25 hữu là các cõi sinh tử mê vọng, trong đó chúng sinh bị nhân quả nghiệp lực kéo lôi nên luân hồi không dứt, giống như bánh xe quay tròn không ngưng nghỉ. [X. Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.3; An lạc tập Q.thượng].

Hữu lưu

有流; C: yŏuliú; J: uru; |Chân Đế (眞諦, s: paramārtha) dịch từ chữ āsrava trong tiếng Phạn, nghĩa là: có sự chảy thoát ra – bị phiền não, nhiễm ô, dính mắc thế tục, có định hướng mục đích. Về sau, Huyền Trang dịch là Hữu lậu (有漏).

hữu lưu

(有流) Cũng gọi Hữu bạo lưu. Chỉ cho tất cả các hoặc trong cõi Sắc và cõi Vô sắc, nhưng không bao gồm Kiến hoặc và Vô minh hoặc. Một trong 4 lưu. Hữu là nhân quả không mất; Lưu là trôi đi không trở lại. Nghĩa là các hoặc này (Tư hoặc) làm cho con người sống chết, trôi lăn trong cõi Sắc và cõi Vô sắc không thoát ra được, cho nên gọi là Hữu lưu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.23; luận Câu xá Q.20]. (xt. Tứ Bạo Lưu).

Hữu lưu thiện

有流善; C: yŏuliúshàn; J: uruzen; |Tính chất thiện có nhiễm bất tịnh. Hữu lậu thiện (有漏善).

Hữu lượng

有量; C: yŏuliáng; J: uryō; |Nhận thức được; phân định được, như vô số hiện tượng trong thế gian được xác định bởi tri thức hiểu biết (s: parimita).

hữu lượng chư tướng

(有量諸相) Các sự tướng có hạn lượng và tính toán được. Theo nghĩa rộng, các tướng hữu lượng chỉ cho các pháp trong cõi mê, còn theo nghĩa hẹp thì chỉ cho chúng sinh trong cõi mê. Nghĩa là chúng sinh ở trong cõi mê, tâm, thân đều có hạn lượng và sai khác nhau, cho nên mới sinh ra các sự tướng bất đồng. Các sự tướng hữu lượng có chia ra cái này cái kia đối lập nhau, chẳng phải là thực thể. Còn thực thể tuyệt đối bình đẳng thì không có hạn lượng đây kia, nên là vô lượng. [X. kinh Văn thù vấn bồ đề; luận Đại trí độ Q.82; kệ tán Phật A di đà].

Hữu Lậu

(s: sāsava, p: sāsrava, 有漏): đối nghĩa với Vô Lậu (s: anāsrava, 無漏). Lậu (s: āsrava, 漏) nghĩa là chảy mất, rỉ rỏ ra, là tên gọi khác của phiền não (s: kleśa, p: kilesa, 煩惱). Con người do vì sai lầm, khổ quả vốn sanh ra từ phiền não, khiến cho họ cử trôi lăn mãi trong thế giới mê lầm, không bao giờ dừng nghỉ, khó có thể thoát ra biển sanh tử; nên goi là Hữu Lậu. Nếu đạt đến cảnh giới đoạn diệt phiền não, được gọi là Vô Lậu. Trong Tứ Thánh Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-arya-sacca, 四聖諦), Khổ Đế và Tập Đế thuộc về nhân và quả của mê lầm, là pháp Hữu Lậu; Diệt Đế và Đạo Đế là nhân và quả của giác ngộ, thuộc về pháp Vô Lậu. Các pháp Hữu Lậu cũng như Vô Lậu vốn ở trong nhân, quả tu hành, có vị trí vô cùng quan trọng. Có nhiều tên gọi khác về Hữu Lậu, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 có nêu lên một số như Thủ Uẩn (取蘊), Hữu Tránh (有諍), Khổ (苦), Tập (集), Thế Gian (世間), Kiến Xứ (見處), Tam Hữu (三有), v.v. Ngoài ra, còn có các danh xưng khác như Hữu Nhiễm (有染), Hữu Nhiễm Ô (有染污), Hữu Phú (有覆), Trần Cấu (塵垢), v.v. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (另據大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 3 nêu ra 6 loại Hữu Lậu, gồm: Lậu Tự Tánh (漏自性), Lậu Tướng Thuộc (漏相屬), Lậu Sở Phược (漏所縛), Lậu Sở Tùy (漏所隨), Lậu Tùy Thuận (漏隨順), Lậu Chủng Loại (漏種類). Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) có đoạn: “Tư duy Thất Giác Ý thời, Hữu Lậu tâm tận, tiện đắc giải thoát, hậu thành vô thượng chánh chân chi đạo (思惟七覺意時、有漏心盡、便得解脫、後成無上正眞之道, khi tư duy về Thất Giác Chi, tâm Hữu Lậu diệt tận, bèn được giải thoát, sau chứng được đạo vô thượng chánh chân).” Hay trong Du Già Sư Địa Luận Thích (瑜伽師地論釋, Taishō Vol. 30, No. 1580) lại có đoạn: “Khởi chư phiền não, phát Hữu Lậu nghiệp, luân hồi Ngũ Thú, thọ tam đại khổ (起諸煩惱、發有漏業、輪迴五趣、受三大苦, khởi các phiền não, sinh nghiệp Hữu Lậu, luân hồi Năm Đường, chịu ba khổ lớn).”

Hữu lậu

有漏; C: yŏulòu; J: uro; S: āsrava|Dịch sang tiếng Hán là »còn chảy ra«, nhưng đó là một thuật ngữ Phật học vay mượn mô phỏng theo Kì-na giáo (e: jainism), có nghĩa là sự hiện hữu của nghiệp tăng trưởng theo linh hồn (s: jīva). Trong Phật giáo, thuật ngữ nầy có thể được so sánh với ý niệm phiền não hoặc nhiễm ô, nên nó có nghĩa là »nhiễm ô«, »phiền não«, »bất tịnh«, »không hoàn thiện« v.v…; đồng nghĩa với Nhiễm (染) và Phiền não (煩惱). Sự nhiễm ô nầy liên đới trực tiếp với duyên của vô minh, khiến thức bị đánh lừa bởi ảo tướng của chủ thể và đối tượng, yêu và ghét. Tâm giải thoát thì vận hành không vướng nhiễm ô (vô lậu 無漏, s: anāsrava); do vậy, sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu ương tự như sự khác biệt giữa phàm và thánh, hoặc giữa mê và ngộ; 2. Sự nhiễm ô kết hợp với trong sắc giới (hơn là kết hợp với Dục giới hay Vô sắc giới); Tam lậu (三漏).

hữu lậu

Có tập khí phiền não là hữu lậu. ; (有漏) I. Hữu Lậu. Phạm:Sàsrava. Đối lại: Vô lậu. Lậu, Phạm:Àsrava, nghĩa là thấm ra, rò rỉ, tên khác của phiền não. Phiền não sinh ra tội lỗi làm cho con người trôi lăn trong thế giới mê vọng không ngừng, khó có thể ra khỏi biển khổ sinh tử. Trong 4 Thánh đế thì Khổ đế, Tập đế thuộc về quả và nhân mê vọng, là pháp hữu lậu; Diệt đế, Đạo đế là quả và nhân giác ngộ, là pháp vô lậu. Pháp hữu lậu, vô lậu có vị trí rất quan trọng trong nhân và quả của sự tu hành. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì Hữu lậu có nhiều tên gọi khác như: Thủ uẩn, Hữu tránh, Khổ, Tập, Thế gian, Kiến xứ, Tam hữu, Hữu nhiễm, Hữu nhiễm ô, Hữu phú, Trần cấu, v.v... Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Hữu lậu có 6 loại: Lậu tự tính, Lậu tương thuộc, Lậu sở phược, Lậu sở tùy, Lậu tùy thuận và Lậu chủng loại. [X. luận Đại tì bà sa Q.22; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; Câu xá luận quang kí Q.1, Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1, Q.2]. (xt. Lục Lậu, Hữu Lậu Pháp, Hữu Lậu Vô Lậu). II. Hữu Lậu. Đối lại: Dục lậu, Vô minh lậu. Chỉ cho 52 loại phiền não ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.47, Q.48; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Câu xá luận quang kí Q.20]. (xt. Tam Lậu).

hữu lậu duyên

(有漏緣) Đối lại: Vô lậu duyên. Dùng pháp hữu lậu làm đối tượng để duyên theo. Cứ theo luận Câu xá quyển 19, trong 98 tùy miên thì 6 hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) mà Đạo đế và Diệt đế đoạn trừ thuộc về Vô lậu duyên, các tùy miên còn lại đều là những hoặc thuộc về Hữu lậu duyên. Nghĩa là các Kiến hoặc và Tu hoặc của Khổ đế và Tập đế là thuộc về Hữu lậu duyên; còn 4 hoặc của Diệt đế và 5 hoặc (kiến thủ, giới cấm thủ, tham, sân, mạn) của Đạo đế, vì chúng là những phiền não mê lầm nhiều lớp, tùy theo các hoặc của Vô lậu duyên mà sinh khởi, chứ không thể trực tiếp duyên theo pháp vô lậu, nên đều thuộc về Hữu lậu duyên. (xt. Vô Lậu Duyên).

hữu lậu hành

(有漏行) I. Hữu Lậu Hành. Đối lại: Vô lậu hành. Dùng trí hữu lậu(trí thế tục) mà thực hiện những hành vi thiện ác, v.v... của thế tục. Tức là những phương pháp tu hành được thực hiện bởi tâm hữu lậu, như sự tu hành của giai vị Kiến đạo trở xuống và tâm hữu lậu tu tập tĩnh lự trong giai vị Tu đạo. II. Hữu Lậu Hành. Tên khác của Hữu vi. Hữu lậu chỉ cho pháp hữu lậu, tức là pháp hữu vi; Hành nghĩa là tạo tác. Bởi thế, Hữu lậu hành ở đây là chỉ cho pháp hữu lậu hoặc hữu vi tạo tác.

hữu lậu nghiệp

(有漏業) Đối lại: Vô lậu nghiệp. Các nghiệp thiện, ác trong thế gian. Các nghiệp này đều do phiền não gây ra. Như trong 4 nghiệp hắc bạch thì 3 nghiệp: Hắc hắc nghiệp chiêu cảm ác quả trong cõi Dục, Bạch bạch nghiệp mang lại thiện quả trong cõi Sắc và Hắc bạch nghiệp mang lại thiện quả trong cõi Dục là các nghiệp hữu lậu, còn Phi hắc phi bạch nghiệp dứt hết 3 nghiệp nói trên, là nghiệp vô lậu. [X. luận Câu xá Q.16].

hữu lậu nhân

(有漏因) Nhân mang lại quả báo trong 3 cõi, tương đương với Khổ đế trong 4 đế, như các nhân ngũ nghịch, thập ác, ngũ giới, thập thiện… đều là nhân hữu lậu. Chương Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 thượng) ghi: Vua hỏi: Vì sao không có công đức? Sư đáp: Đó chỉ là tiểu quả nhân thiên, nhân hữu lậu như bóng theo hình, tuy có nhưng chẳng phải thật . (xt. Thập Thiện Thập Ác, Ngũ Giới, Ngũ Nghịch, Tứ Đế).

hữu lậu pháp

(有漏法) Đối lại: Vô lậu pháp. Chỉ cho các lậu (phiền não) tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. Tức là pháp Khổ đế và Tập đế trong Tứ đế. Các phiền não này đối với pháp tương ứng là Khổ đế, Tập đế và cảnh sở duyên của chúng tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau, cho nên gọi pháp Khổ đế, Tập đế là Hữu lậu. Còn các lậu duyên theo Diệt đế và Đạo đế mà sinh khởi thì vì không tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau, cho nên pháp Diệt đế, Đạo đế chẳng phải là pháp hữu lậu. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì sau khi đức Phật nhập diệt 500 năm, ở nước Viêm la phược chúc có luận sư Pháp thắng soạn luận A tì đàm tâm, đã dùng Tùy sinh để giải thích Hữu lậu. Về sau, luận sư Pháp cứu soạn luận Tạp a tì đàm tâm để bổ túc thêm cho thuyết của ngài Pháp thắng. Ngài Pháp cứu cho rằng Diệt đế và Đạo đế tuy cũng có thể sinh ra các lậu, nhưng lậu này chẳng phải hữu lậu, nên theo ngài thì nghĩa sinh trong Tùy sinh là không đúng, vì thế đổi Tùy sinh thành Tùy tăng . Thuyết Tùy tăng ngày nay chính là căn cứ vào thuyết của ngài Pháp cứu mà ra. Có thể chia Tùy tăng làm 2 loại: 1. Tương ứng tùy tăng: Tức là phiền não và tâm sở tương ứng với nó tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. 2. Sở duyên tùy tăng: Tức là phiền não và cảnh sở duyên của nó tùy thuận tăng trưởng lẫn nhau. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 1 thì Hữu lậu có nhiều tên gọi khác nhau như: Thủ uẩn, Hữu tránh, Khổ, Tập, Thế gian, Kiến xứ, Tam hữu, v.v... Còn pháp hữu lậu thì là tên gọi chung cho nhân quả Khổ, Tập (Tập là nhân, Khổ là quả) trong 3 cõi thế gian. Cũng luận Câu xá quyển 2, cho rằng 15 giới(5 căn + 5 cảnh + 5 thức)trong 18 giới là hữu lậu, 3 giới còn lại(ý căn, pháp trần, ý thức) thì chung cho cả hữu lậu và vô lậu. Về sự giải thích pháp hữu lậu, các bộ phái có những quan điểm khác nhau như sau:1. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho Tùy tăng là nghĩa hữu lậu, nên thừa nhận Khổ đế, Tập đế là pháp hữu lậu. Nhưng trong sự tương tục, phiền não của 6 thức không cùng khởi với tâm thiện và vô phú vô kí, ở đây không có nghĩa Tùy tăng, cho nên tâm thiện và vô phú vô kí không phải là pháp hữu lậu. 2. Đại chúng bộ và các nhà phân biệt luận cho rằng Tùy miên là pháp bất tương ứng, không tùy tăng với cảnh sở duyên và pháp tương ứng, nhưng vì chúng tương tục hiện khởi nên thừa nhận tâm thiện và vô phú vô kí cũng là pháp hữu lậu. Ngoài ra, các vị Luận sư này đều nhận rằng thuyết của Hữu bộ cho 15 giới (5 căn, 5 cảnh, 5 thức) là hữu lậu, mà thân Phật cũng thuộc 15 giới nên thân Phật cũng là hữu lậu là không đúng và bác bỏ quan điểm này của Hữu bộ bằng thuyết Phật đã dứt hẳn Tùy miên nên thân Ngài là vô lậu . 3. Kinh lượng bộ cho rằng trong tự thân có chủng tử hữu lậu, do chủng tử này mà sinh ra tâm thiện và vô phú vô kí, cho nên tâm ấy là hữu lậu. 4. Duy thức Đại thừa thì bác bỏ các thuyết nói trên, mà cho rằng ngã chấp của thức Mạt na là thể của các lậu, bất cứ pháp nào cùng chuyển với nó thì đều gọi là pháp hữu lậu. Tức là phiền não tương ứng với 6 thức tuy có nghĩa là lậu , nhưng thức thứ 7 là chỗ nương dựa của các thức nhiễm tịnh, thường hằng tương tục mà không gián đoạn, là thể của các lậu , cho nên pháp nào cùng chuyển với nó thì gọi là pháp hữu lậu. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, Q.76, Q.86; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.13, Q.19; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; luận Thành duy thức Q.5, Q.10; Câu xá luận quang kí Q.2, Q.19; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1]. (xt. Vô Lậu Pháp).

hữu lậu quả

(有漏果) Quả báo do nhân hữu lậu mang lại, tương đương với Khổ đế trong Tứ đế. Ba cõi Sáu đường đều là quả báo hữu lậu.(xt. Tứ Đế).

hữu lậu thiền

(有漏禪) Đối lại: Vô lậu thiện. Cũng gọi: Hữu lậu thiện pháp. Thiện căn của phàm phu có được trước khi phát sinh trí vô lậu. Ngũ giới, Thập thiện và Thiện căn từ giai vị Kiến đạo trở xuống đều là Hữu lậu thiện. Nếu tu thiện pháp hữu lậu thì có thể mang lại quả báo hữu lậu trời, người…... Cứ theo luận Câu xá quyển 4, quyển 12, thì 4 cái thiện: Sinh đắc, Văn, Tư, Tu là Hữu lậu thiện. Sinh đắc thiện là cái thiện có đồng thời lúc mới sinh ra, còn 3 thiện Văn, Tư, Tu là nhờ nghe giáo pháp, suy nghĩ xem xét, thiền định quán hạnh mà được, 3 thiện này có năng lực sinh ra trí tuệ vô lậu. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối]. (xt. Thiện).

Hữu lậu thiện

有漏善; C: yŏulòu shàn; J: urozen; |Tính thiện bất tịnh, tương đối, còn nhiễm ô bởi tâm thức có định hướng mục đích.

hữu lậu thiện

(有漏善) Cũng gọi Hữu lậu định, Thế gian thiền. Đối lại: Vô lậu thiền. Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm định, v.v... đều là Hữu lậu thiền. (xt. Hữu Lậu Định).

hữu lậu thức

(有漏識) Đối lại: Vô lậu thức Chỉ cho thức của các hữu tình từ địa thứ 10 (Kim cương vô gián đạo) trở xuống. Cứ theo các nhà Duy thức thì chỉ có tịnh thức của Phật quả là vô lậu, còn tất cả thức của loài hữu tình đều hữu lậu. [X. luận Thành duy thức Q.10].

hữu lậu trí

(有漏智) Phạm:Sàsrava-jĩàna. Đối lại: Vô lậu trí. Cũng gọi: Tục trí, Thế gian trí, Thế trí, Thế tục trí. Chỉ cho trí tuệ thế gian chưa dứt sạch phiền não. Trí tuệ này tuy quán duyên tất cả pháp hữu vi, vô vi, nhưng thường lấy pháp thế tục làm chính, nên cũng gọi là Thế tục trí. Trí này còn mang theo phiền não hữu lậu nên không có năng lực dứt trừ tất cả phiền não thuộc về mê lí. Thông thường, Hữu lậu trí là chỉ cho Sinh đắc tuệ (tuệ khi sinh ra đã có) và 3 tuệ Văn, Tư, Tu của phàm phu và ngoại đạo. [X. luận Câu xá Q.26; luận Thuận chính lí Q.73; luận Du già sư địa Q.73].

Hữu lậu tập đế

有漏集諦; C: yŏulòujídì; J: uroshūtai; |Sự thật về sự huân tập có nhiễm ô.

hữu lậu tịnh độ

(有漏淨土) Tịnh độ được chiêu cảm bởi sức thiện nghiệp do sự tu hành bằng tâm hữu lậu của phàm phu. Các nhà Duy thức cho cõi này là một trong những biến hóa độ, tức là cõi được biến hiện từ tâm hữu lậu của chúng sinh do nghiệp nhân hữu lậu chiêu cảm. Cũng tức là Phật dùng Thành sở tác trí biến hiện ra cõi nước tương ứng và giống với loại chúng sinh ở cõi này để hóa độ và làm lợi ích cho họ. Bởi thế đứng về phương diện Phật thì cõi này được gọi là Vô lậu tướng phần, còn đứng về phương diện chúng sinh, thì vì tâm hữu lậu của chúng sinh mà biến hiện ra, cho nên gọi là Hữu lậu độ. Cứ theo luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 1 của ngài Hoài cảm đời Đường, thì Tịnh độ do tâm vô lậu của Phật biến hiện ra là vô lậu, mà tâm của phàm phu là hữu lậu nên không được sinh về cõi này; nhưng phàm phu có thể do tâm hữu lậu của chính mình biến hiện ra Tịnh độ giống như Tịnh độ vô lậu để vãng sinh. Nói cách khác, Cực lạc tịnh độ nếu luận theo bản độ của Phật thì là Tịnh độ vô lậu, còn nói theo sự biến hiện và thụ dụng của phàm phu, thì là Tịnh độ hữu lậu.

hữu lậu tứ quá

(有漏四過) Bốn lỗi của hữu lậu. Hữu lậu nghĩa là rơi lọt vào đường sinh tử trong 3 cõi. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 56, thì Hữu lậu có 4 lỗi là: 1. Bất tịch tĩnh: Chúng sinh chạy theo căn trần, khởi các vọng tưởng, điên đảo tán loạn, không dụng công thiền định, cho nên không thể đoạn hoặc chứng quả. 2. Nội ngoại biến dị: Chúng sinh do trong tâm loạn tưởng, lại thêm cảnh ngoài đổi dời, tâm cảnh ứng nhau, thay đổi chẳng ngừng, tâm rong ruổi theo cảnh mà khởi, bị phiền não trói buộc, không thể giải thoát. 3. Phát khởi ác hạnh: Chúng sinh do phiền não vọng hoặc tạo các nghiệp ác như: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối… nên phải trôi lăn trong vòng sinh tử, khó có ngày ra khỏi. 4. Nhiếp thụ nhân: Chúng sinh do gây nhân ác nghiệp nên chuốc lấy quả khổ ở vị lai, cứ thế xoay vòng không thể giải thoát.

hữu lậu vô lậu

(有漏無漏) Gọi chung hữu lậu và vô lậu, chỉ cho phiền não. Về sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu có những điểm sau đây: Thân thể của phàm phu gọi là Hữu lậu thân, còn thân Phật thì thanh tịnh vô lậu, gọi là Vô lậu thân; tu 6 hành quán hữu lậu được quả báo trời, người trong 3 cõi, gọi là Hữu lậu đạo, Hữu lậu lộ, còn pháp tu chứng được đạo quả Niết bàn thì gọi là Vô lậu đạo, Vô lậu lộ. Nhờ vào pháp thế tục mà phát sinh trí tuệ, gọi là Hữu lậu trí, còn chứng biết lí 4 đế và trí tuệ của bậc Thánh từ giai vị Kiến đạo trở lên, gọi là Vô lậu trí. Phàm phu từ giai vị Kiến đạo trở xuống làm thiện, gọi là Hữu lậu thiện, còn điều thiện do bậc Thánh từ giai vị Kiến đạo trở lên đạt được, gọi là Vô lậu thiện. Hành vi thế tục do trí hữu lậu tạo tác, gọi là Hữu lậu hạnh, còn dùng trí vô lậu tu quán hạnh Tứ đế thì gọi là Vô lậu hạnh. Dùng đạo hữu lậu để đoạn trừ phiền não thì gọi là Hữu lậu đoạn; dùng đạo Vô lậu để đoạn trừ phiền não thì gọi là Vô lậu đoạn. Hạnh hữu lậu có thể chiêu cảm quả hữu lậu trời, người, v.v... trong 5 đường, cho nên gọi là Hữu lậu nhân; còn hạnh vô lậu thì có khả năng chứng quả vô lậu Niết bàn, cho nên gọi là Vô lậu nhân. Phàm phu nhờ tu 6 hạnh quán mà an trụ trong các định Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm định, v.v... gọi là Hữu lậu định, hoặc Hữu lậu thiền; còn thiền định do bậc Thánh dùng trí vô lậu mà phát được thì gọi là Vô lậu định, hay Vô lậu thiền. Định Vô lậu này sinh khởi ở trong 9 địa Vô lậu (Vị chí định, Trung gian định, Tứ căn bản định, Không vô biên xứ định, Thức vô biên xứ định và Vô sở hữu xứ định). Ngoài ra, theo tông Duy thức thì tịnh thức của quả Phật gọi là Vô lậu thức, còn thức khi chưa thành Phật thì gọi là Hữu lậu thức. Thức thứ 6, thứ 7 khi ở Sơ địa vào giai vị Kiến đạo đã chuyển một phần thức thành trí, thì cũng có thể đoạn được gọi là Vô lậu thức. Còn 5 thức trước và thức thứ 8 thì khi thành quả Phật mới có thể chuyển biến thành thức vô lậu. Sau hết, sự giác ngộ vô lậu xưa nay vốn vắng lặng, gọi là Vô lậu vô vi; nhưng khi do tác dụng mà khởi động thì gọi là Vô lậu hữu vi. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, Q.173; luận Câu xá Q.1, Q.2, Q.12; luận Thuận chính lí Q.1, Q.49; luận Thành duy thức Q.5, Q.10; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần cuối, Q.10 phần cuối].

hữu lậu đoạn

(有漏斷) Đối lại: Vô lậu đoạn. Dùng đạo hữu lậu đoạn trừ phiền não. Tức là phàm phu tu 6 hành quán hữu lậu để đoạn trừ 72 phẩm Tu hoặc ở 8 cõi, đây là thuyết của luận Câu xá. Nhưng Đại thừa thì cho rằng đạo hữu lậu chỉ khắc phục phiền não chứ không thể dứt hết phiền não. [X. luận Câu xá Q.22, Q.23, Q.24]. (xt. Hữu Lậu Đạo).

hữu lậu đạo

(有漏道) Phạm:Sàsravamàrga. Cũng gọi Thế gian đạo, Thế tục đạo, Hữu lậu lộ. Đối lại: Vô lậu đạo. Phương pháp tu hành có khả năng chiêu cảm quả báo người, trời trong 3 cõi. Tức là tu tập 6 hành quán: Ưa thích 3 hành tướng Tĩnh, Diệu, Li của cõi trên và chán lìa 3 hành tướng Thô, Khổ, Chướng của cõi dưới, để đoạn trừ 72 phẩm Tu hoặc của 8 cõi dưới. Ngoài ra, cứ theo luận Câu xá quyển 5 thì nghiệp Hữu lậu đạo có 5 quả là Dị thục quả, Đẳng lưu quả, Li hệ quả, Sĩ dụng quả và Tăng thượng quả. Còn theo Văn thù sư lợi bồ tát vấn bồ đề kinh luận quyển hạ, thì 5 Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định trong 6 Ba la mật là Hữu lậu đạo, có thể thành tựu quả thế gian, còn Bát nhã ba la mật là Vô lậu đạo, có công năng thành tựu quả xuất thế gian. [X. luận Đại tì bà sa Q.64, Q.162; luận Thành duy thức Q.10; Bách pháp vấn đáp sao Q.7]. (xt. Lục Hành Quán, Vô Lậu Đạo).

hữu lậu định

(有漏定) Cũng gọi Hữu lậu thiền, Thế gian thiền. Định tương ứng với tâm hữu lậu. Hàng phàm phu tu 6 hành quán hữu lậu, đối với cõi dưới (cảnh giới thấp kém) quán 3 hành tướng thô, khổ, chướng để chán lìa, đối với cõi trên (cảnh giới vi diệu) quán 3 hành tướng tĩnh, diệu, li để mong cầu, 6 hành quán này có năng lực đoạn trừ phiền não ở cõi dưới và an trụ trong các định Tứ thiền, Tứ vô sắc, v.v... đây tức là Hữu lậu định. Về tính chất của định Tứ thiền có thể chia làm 3 loại: Vị định, Tịnh định và Vô lậu định, trong đó, Vị định và Tịnh định thuộc về Hữu lậu định. Ngoài ra, tông Duy thức cho rằng Hữu lậu định chỉ khắc phục được sự hiện hành của phiền não, chứ không có năng lực đoạn trừ chủng tử của phiền não. Còn Pháp giới thứ đệ quyển thượng phần sau thì cho rằng Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm định, Tứ không xứ định (Tứ vô sắc) đều là thế gian thiền. Cũng sách đã dẫn (Đại 64, 673 thượng), ghi: Các thiền định đã nói từ trước, tuy cũng sâu xa nhưng đều là pháp cố hữu của thế gian. Từ đầu đến cuối, chán cõi dưới thích cõi trên, trong các cõi đều chưa có phương tiện xuất thế là quán tuệ để chiếu rọi, vì thế phàm phu ngoại đạo tu được 12 môn thiền này mà vẫn không thể phát chân ngộ đạo, nên sinh tử không dứt . Nhưng khi bậc Thánh vào định Tứ thiền và 3 Vô sắc định sau (Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ) mà phát được trí vô lậu thì những định ấy trở thành định Vô lậu. (xt. Tam Đẳng Chí).

hữu lậu, vô lậu

hữu lậu là còn phiền não, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì có sự lậu tiết, rỉ chảy, cảm xúc. Đó là nói những chúng sanh còn lưu chuyển trong ba cõi. Vô lậu là bậc đã dứt phiền não, Thánh nhân, thân tâm không bị níu kéo bởi ngoại duyên.

hữu môn

(有門) Quán các pháp là có để làm cửa vào đạo. Một trong 4 môn do tông Thiên thai lập ra. Tức quán xét các pháp nhân duyên sinh diệt là có, phá trừ 16 tri kiến… mà phát khởi trí vô lậu đích thực để thấu suốt lí thiên chân (chỉ thấy một bên). Các tông Tì đàm, Câu xá, v.v... thuộc Tam tạng giáo trong Thiên thai tứ giáo phần nhiều đặt nặng về Hữu môn. Ngoài ra, giáo nghĩa của tông Pháp tướng cũng có pháp môn này. [X. luận Đại trí độ Q.31; Tứ giáo nghĩa Q.3, Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 phần dưới, Q.9 phần trên]. (xt. Tứ Môn).

hữu nghiêm

(有嚴) (1021-1101) Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên thai, sống vào đời Tống, người Thai châu (huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang), họ Hồ, hiệu Đàm vũ. Năm lên 9, sư theo người anh tên là Tông bản xuất gia, năm 14 tuổi thọ giới Cụ túc. Về sau, nhân đọc Tâm kính lục của thiền sư Diên thọ mà có chỗ tỏ ngộ. Không bao lâu, sư đến chùa Thừa thiên theo ngài Thần chiếu Bản như học giáo quán Thiên thai. Sau đó, sư đến chùa Sùng thiện tại Xích thành hoằng dương giáo pháp trong mấy mươi năm. Khoảng năm Thiệu thánh, sư kết am tranh ẩn cư trên ngọn Đông phong núi Linh thứu, lấy hiệu là Tra am. Trong thời gian ẩn cư hơn 20 năm, sư chuyên tu tịnh nghiệp cầu vãng sinh an dưỡng. Mùa hạ niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), trong định sư thấy Thiên thần, lại nằm mộng thấy trong ao mọc đóa sen lớn, đồng thời nghe thiên nhạc trỗi khắp 4 phương, 7 ngày sau sư thị tịch, thọ 81 tuổi. Sư có các tác phẩm: Huyền nghĩa thích tiêm bị kiểm 4 quyển, Văn cú kí tiên nan 4 quyển, Chỉ quán phụ hành trợ lãm 4 quyển, An lạc hạnh chú 1 quyển, Không phẩm chú 1 quyển, Long vương pháp ấn kinh sớ 1 quyển, A di đà Phật lễ văn 1 quyển. [X. Thích môn chính thống Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.13, Q.28; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tịnh độ thánh hiền lục Q.3]. HỮU NGHIỆM Do tu hành hoặc cầu nguyện mà có những hiện tượng linh nghiệm. Người hay hiển bày hiện tượng linh nghiệm ấy gọi là Hữu nghiệm giả.

hữu nghĩa vô nghĩa

(有義無義) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, danh từ sau (Hậu trần) của Tông (mệnh đề) được gọi là Nghĩa. Nếu nghĩa được cả người lập luận và người vấn nạn (đối phương) cùng chấp nhận thì gọi là Hữu nghĩa; trái lại, nếu nghĩa không được cả đôi bên công nhận thì gọi là Vô nghĩa. (xt. Hữu Thể Vô Thể).

hữu ngục

(有獄) Ví dụ 3 hữu (cõi), 25 hữu như lao ngục. Chúng sinh do phiền não mà tạo nghiệp, do tạo nghiệp mà phải chịu khổ sinh tử xoay vần trong 3 cõi, khó có thể ra khỏi, giống như tường đồng vách sắt của nhà ngục giam hãm con người, khó có thể trốn thoát. [X. Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ Q.3].

hữu ngữ

(右語) Văn sớ đạo tràng được đọc vào lúc mở đầu và kết thúc pháp hội trong Thiền lâm. Thông thường, trước hết nêu tỉnh, huyện, xã, chùa, người nào tên gì, cầu việc gì, tụng kinh gì, v.v..., kế đến là lời sớ bằng thể văn biền ngẫu. Vì lời mở đầu của sớ phải có 3 chữ Hữu phục dĩ , cho nên sớ ngữ cũng gọi là Hữu ngữ. Hữu là chỉ cho đoạn văn nói về các việc đã được trình bày ở trước (chữ Hán được viết theo hàng dọc, từ phải sang trái, cho nên Hữu ngữ (lời bên phải) tức chỉ cho đoạn văn trước); còn phục dĩ là nói về mục đích của sự cầu nguyện...… được trình bày ở phần sau. Khi có pháp hội, vị Duy na tuyên đọc văn sớ, lúc đọc đến Hữu ngữ thì vị Trụ trì phải quì xuống trước lư hương, gọi là Hữu ngữ quị lư. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.15].

hữu nhiễu

đi quanh một đối tượng nào đó theo chiều về bên phải. Theo phong tục thời cổ Ấn Độ, người ta đi vòng quanh theo chiều bên phải để tỏ lòng cung kính. Đi quanh Phật cả trăm ngàn vòng là muốn tỏ ý hết sức cung kính. Khi viếng các tháp Phật, người ta cũng đi quanh như vậy, gọi là nhiễu tháp. ; (右繞) Phạm: Pradakwiịa. Pàli:Padakkhiịa. Dịch âm: Bát lạt đặc kì noa. Cũng gọi Hữu toàn, Toàn hữu. Đi vòng quanh, tay phải hướng về tôn tượng ở chính giữa để tỏ lòng tôn kính đối với Phật, tháp và các bậc tôn túc. Ở Ấn độ từ xưa đã thịnh hành phép lễ này. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 thượng), nói: Cúi đầu lễ chân Phật, đi hữu nhiễu ba vòng . Chương Toàn hữu quán thời trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 225 trung), nói: Chữ Bát lạt có nhiều nghĩa, 1 trong các nghĩa ấy là biểu thị sự đi vòng quanh. Còn Đặc kì noa tức là bên phải, biểu thị nghĩa tôn kính và thuận tiện, vì thế người thời bấy giờ gọi tay phải là tay Đặc kì noa; nghĩa là đi theo chiều bên phải của mình thì vừa tôn kính vừa thuận tiện, mới hợp với phép tắc Hữu nhiễu . Ngoài ra, cứ theo kinh Đề vị ba lợi thì đi hữu nhiễu quanh đức Phật được 5 điều phúc lợi, đó là: 1. Đời sau được hình tướng đoan chính, trang nghiêm. 2. Âm thanh trong trẻo, dịu dàng. 3. Sinh vào nhà vua, ở ngôi tôn quí. 4. Được sinh lên các cõi trời. 5. Cuối cùng chứng đạo quả Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.67; Đại đường tây vực kí Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.37; Vạn thiện đồng qui tập Q.2].

hữu nhiễu phật tháp công đức kinh

(右繞佛塔功德經) Cũng gọi Nhiễu tháp công đức kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thực xoa nan đà (652-710) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này tường thuật về việc đức Phật theo lời thỉnh cầu của ngài Xá lợi phất, dùng kệ tuyên giảng về công đức hữu nhiễu tháp Phật. Trước hết, nói về chúng tại gia hữu nhiễu tháp Phật sẽ được các công đức như: Dạ xoa quỉ thần, v.v... gần gũi cúng dường, xa lìa 8 nạn, sắc tướng tốt đẹp, sinh trong dòng họ tôn quí, dung nhan xinh đẹp... Kế đến, nói về việc chúng xuất gia hữu nhiễu tháp Phật thì được các công đức: 4 niệm xứ, 4 chính cần, 4 như ý túc, 4 đế, căn, lực, giác, đạo, xa lìa tham sân si, chứng Độc giác bồ đề, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.12].

hữu nhân luận

(有因論) Luận thuyết chủ trương có nhân thực sinh ra quả thực, là một loại luận thuyết thiên kiến. Phật giáo dùng nghĩa căn bản vô sinh để phá Hữu nhân luận này. Kinh Lăng già quyển 4 (Đại 16, 507 hạ), nói: Chiêm bao và ảo thuật. Sóng nắng Càn thát bà. Thế gian nhiều sự tướng. Không nhân mà vẫn hiện. Phá dẹp Hữu nhân luận. Giải rõ nghĩa vô sinh. Vô sinh được sáng tỏ. Dòng pháp mãi không dứt .

Hữu Nhất

有一; C: yŏuyī; J: uitsu; K: yuil, 1720-1799;|Thiền sư Triều Tiên. Sư nghiên cứu lịch sử và kinh điển từ lúc niên thiếu, xuất gia và bắt đầu tu thiền vào năm 18 tuổi. Sau đó sư dành thời gian tập trung nghiên cứu các kinh quan trọng đã trở thành thông dụng trong chương trình tu tập của tăng sĩ Triều Tiên như kinh Thủ Lăng Nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác. Sư trứ tác rất nhiều, trong số những tác phẩm quan trọng của sư là những luận giải về 4 bộ kinh luận nói trên.

hữu niệm

(有念) Đối lại: Vô niệm. Dùng sự vật cụ thể làm đối tượng để tu quán, gọi là Hữu niệm. Trong môn Tịnh độ, Tán thiện được gọi là Hữu niệm, còn Định thiện thì được gọi là Vô niệm. Hữu niệm hay Vô niệm tùy theo căn cơ của chúng sinh khác nhau mà có sự sai biệt. Nhưng khi từ Hữu niệm tiến vào Vô niệm thì Hữu niệm và Vô niệm không hai. Như niệm Phật vãng sinh, tuy có tướng niệm, nhưng khi lắng tâm dứt bặt vọng niệm mà vào được diệu đức của tam muội Niệm Phật, thì tự nhiên khế hợp với Vô niệm, lúc đó hữu vô là một, đạt được cảnh giới cũng hữu niệm cũng vô niệm . (xt. Vô Niệm).

hữu pháp

(有法) I. Hữu Pháp. Gọi đủ: Hữu thể pháp Đối lại: Vô pháp. Pháp tồn tại hoặc pháp có thực. Tông Duy thức cho rằng các pháp trong 18 giới hiện tại có thể tính, cho nên gọi là Hữu thể pháp; pháp vô vi cũng thuộc về Hữu thể pháp này. Trái lại, các pháp quá khứ, vị lai, lông rùa, sừng thỏ, v.v... không có thể tính, cho nên gọi là Vô thể pháp (Vô pháp). Kinh Đại bát niết bàn quyển 10 (Đại 12, 422 hạ), nói: Xưa có nay không, xưa không nay có, hữu pháp 3 đời, không có lí ấy . II. Hữu Pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho danh từ trước của Tông (mệnh đề) trong luận thức Nhân minh, còn danh từ sau của Tông thì gọi là Pháp. Hữu pháp là có thuộc tính mà Pháp là thuộc tính. Như nói âm thanh là Vô thường thì âm thanh (danh từ trước = hữu pháp) là một sự vật có cái thuộc tính vô thường, còn vô thường (danh từ sau = pháp) là cái thuộc tính ấy của âm thanh và của nhiều sự vật khác. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 98 hạ), nói: Danh từ trước (tiền trần) chỉ có một nghĩa, có tự thể cố định nên nghĩa không được rộng rãi, không được gọi là pháp . Còn danh từ sau (hậu trần) thì bao hàm cả 2 nghĩa (hữu pháp và pháp), vì nghĩa của nó rộng rãi như thế nên đặc biệt được gọi là pháp .

hữu pháp sai biệt tướng vi quá

(有法差別相違過) Cũng gọi Hữu pháp sai biệt tương vi Nhân (Phạm: Dharmi-vizewa-viruddha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do Nhân trái với ý nghĩa hàm súc trong Hữu pháp(danh từ trước), tức là lỗi thiếu 2 điều kiện (tướng) sau trong 3 điều kiện của Nhân. Đây là lỗi thứ 4 trong 4 lỗi tương vi của Nhân (lí do) trong 33 lỗi Nhân minh. Hữu pháp chỉ cho tiền trần (danh từ trước– chủ từ) của Tông (mệnh đề); sai biệt chỉ cho ý nghĩa hàm súc trong danh từ trước; tương vi tức là trái ngược nhau, mâu thuẫn. Khi lập luận thức Nhân minh, người lập luận khôn ngoan, bao giờ cũng có 2 ẩn ý trong danh từ trước của Tông, chỉ thành lập một, còn một để phòng hờ và hi vọng đối phương sẽ không thành lập ẩn ý ấy. Nhưng Nhân (lí do) trong mệnh đề của người lập luận không có quan hệ với đồng phẩm, trái lại, có quan hệ với dị phẩm, nên bị đối phương dùng Nhân chính xác đánh đổ. Như luận thức sau đây: Tông: Có một đấng thường còn. Nhân: Vì không có hình tướng. Dụ: Như hư không. Ý của người lập luận là muốn xác lập một đấng Tạo hóa thường hằng sinh ra muôn vật, nhưng có thể bị phản bác bằng một luận thức chính xác của đối phương: Tông: Đấng ấy của ông là thường còn, nhưng không tạo ra được vật gì cả. Nhân: Vì đấng ấy không có hình tướng. Dụ: Như hư không. Trong trường hợp này, người lập luận đã phạm lỗi trái ngược với ý nghĩa hàm súc mà mình chủ trương trong danh từ trước, tức là Hữu pháp sai biệt tương vi . [X. Nhân minh nhập chính lí luận; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.4, Q.7]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh, Đông Phương Luận Lí Học).

hữu pháp tự tướng tương vi quá

(有法自相相違過) Cũng gọi Hữu pháp tự tướng tương vi Nhân (Phạm: Dharmi-svarùpa-viruddha). Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do Nhân trái với danh từ trước, là lỗi thứ 3 trong 4 lỗi tương vi của Nhân(lí do) trong 33 lỗi Nhân minh. Hữu pháp chỉ cho danh từ trước (chủ từ) của Tông (mệnh đề); tự tướng chỉ cho sự kiện được trình bày trong phần danh từ trước; tương vi nghĩa là trái ngược nhau, là mâu thuẫn với nhau. Trong pháp Nhân minh, khi 2 bên biện luận, Nhân do người lập luận nêu ra trái với Hữu pháp của Tông do chính mình thành lập, khiến cho Nhân được trình bày ở phần danh từ trước không đứng vững và cái lí do được nêu ra cũng tiêu tan, giúp cho đối phương cơ hội dùng ngay Nhân ấy để phản bác. Đó là lỗi Hữu pháp tự tướng tương vi. Tức là người lập luận đã phạm lỗi thiếu 2 điều kiện (tướng) sau trong 3 điều kiện của Nhân. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung phần cuối; Nhân minh nhập chính lí thụy nguyên kí Q.4, Q.7]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).

Hữu pháp vô ngã tông

有法無我宗; C: yŏufă wúwǒ zōng; J: uhō muga shū; |Giáo lí của Nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp là có thật nhưng ngã thì không.

hữu pháp ý hứa

(有法意許) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, khi người lập luận có chủ ý riêng ẩn chứa trong phần Hữu pháp (danh từ trước) của Tông, gọi là Hữu pháp ý hứa. Cũng như trường hợp các lỗi Hữu pháp tự tướng tương vi nhân và Hữu pháp sai biệt tương vi nhân, ở đây đối phương cũng đã khám phá ra Hữu pháp ý hứa(ẩn ý) của người lập luận, rồi dùng ngay Nhân(lí do), Dụ(ví dụ) của chính người lập luận để bác bỏ chủ trương của người lập luận. (xt. Hữu Pháp Tự Tướng Tương Vi Quá, Hữu Pháp Sai Biệt Tương Vi Quá).

Hữu Phù

(右符): phần nữa bên phải của thẻ ấn phù, thường được dùng để điều động quân đội hay bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ Trưởng Quan của châu quận thời xưa. Tả Phù (左符) và Hữu Phù hợp lại được gọi là bằng tín (憑信). Loại này thường được làm bằng tre, gỗ, đồng, v.v. Loại Hữu Phù có hình con cá có tên là Hữu Ngư (右魚). Như trong Đại Tông Triều Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Tam Tạng Hòa Thượng Biểu Chế Tập (代宗朝贈司空大辨正廣智三藏和上表制集, Taishō Vol. 52, No. 2120) quyển 4 có câu: “Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng sắc như Hữu Phù đáo phụng hành (沙門大廣智不空奉敕如右符到奉行, Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không [705-774] vâng sắc chỉ như Hữu Phù đến vâng làm).” ; (右符): phần nữa bên phải của thẻ ấn phù, thường được dùng để điều động quân đội hay bổ nhiệm hoặc bãi miễn chức vụ Trưởng Quan của châu quận thời xưa. Tả Phù (左符) và Hữu Phù hợp lại được gọi là bằng tín (憑信). Loại này thường được làm bằng tre, gỗ, đồng, v.v. Loại Hữu Phù có hình con cá có tên là Hữu Ngư (右魚). Như trong Đại Tông Triều Tặng Tư Không Đại Biện Chánh Quảng Trí Tam Tạng Hòa Thượng Biểu Chế Tập (代宗朝贈司空大辨正廣智三藏和上表制集, Taishō Vol. 52, No. 2120) quyển 4 có câu: “Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không phụng sắc như Hữu Phù đáo phụng hành (沙門大廣智不空奉敕如右符到奉行, Sa Môn Đại Quảng Trí Bất Không [705-774] vâng sắc chỉ như Hữu Phù đến vâng làm).”

Hữu phú

有覆; C: yŏufù; J: ufuku; |Sự ngăn ngại, chướng ngại, sự cản trở; đặc biệt là sự cản trở tri giác thanh tịnh và chân chính.

Hữu phú vô kí

有覆無記; C: yŏufù wújì; J: ufuku muki; |Một trong các loại Vô kí (無記) gây chướng ngại cho sự giác ngộ, cùng với Vô phú vô kí (無覆無記). Là điều mặc dù không dứt khoát tốt hay xấu, nhưng có khía cạnh nhiễm ô làm ngăn ngại cho nhận thức trong sáng về thực tại, chẳng hạn như bốn biểu hiện quan niệm về ngã (Tứ kiến 四見) khi liên kết với mạt-na thức (s: nivṛta-avyākṛta, t: bsgribs la luṅ du ma bstan pa).

hữu phú vô kí

(有覆無記) Phạm:Nivftàvyàkfta. Cũng gọi Hữu phú tâm, Hữu phú (che đậy).Một loại tâm nhiễm ô làm trở ngại Thánh đạo và có khả năng che lấp chân tính, cho nên gọi là Hữu phú. Nhưng vì thế lực của nó yếu kém, không thể sinh ra quả Dị thục, cho nên gọi là Hữu phú vô kí. [X. luận Đại tì bà sa Q.12, Q.51, Q.161; luận Thành duy thức Q.3, Q.5; luận Câu xá Q.4, Q.13, Q.19; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.5 phần đầu]. (xt. Vô Kí).

Hữu phần

有分; C: yŏufēn; J: ubun; |1. Có tướng trạng phân biệt, có sắc thân (s: sāvayava); 2. Tất cả, toàn thể (s: avayavin); 3. Cũng như là… (s: tanmayatā); 4. Sự phân biệt cõi giới mình đang hiện hữu – như là tam giới, lục thú.v.v… Mắc xích của chuỗi hiện hữu, là 3 dạng huân tập của tàng thức trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyāna-saṃgrāha).

hữu phần thiền

(有分禪) Đồng nghĩa: Vô tâm định. Vô tưởng định ở cõi Sắc và Diệt tận định ở cõi Vô sắc. Tức là thiền định trong trạng thái vô ý thức. (xt. Vô Tâm Tam Muội).

hữu phần thức

(有分識) Hữu chỉ cho sự sinh tồn của tất cả chúng sinh mê vọng trong 3 cõi(Dục, Sắc, Vô sắc); phần nghĩa là nguyên nhân. Hữu phần thức chỉ cho thức làm nguyên nhân căn bản của sự sinh tử luân hồi trong 3 cõi. Là một trong 9 tâm luân do Thượng tọa bộ lập ra. Thức này trùm khắp 3 cõi, tương tục không dứt và tồn tại thường hằng. Vào thời kì đầu của Phật giáo bộ phái, Thượng tọa bộ và các nhà phân biệt luận, đều gọi thức này là Hữu phần thức. Sau khi tư tưởng Đại thừa hưng khởi, tông Duy thức cho rằng thức A lại da là nguyên nhân căn bản sinh ra muôn pháp trong vũ trụ, rồi căn cứ vào thuyết của Thượng tọa bộ mà cho rằng Hữu phần thức là tên khác của thức A lại da. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.4 phần đầu].

hữu phần vô mãn nhân

(有分無滿人) Từ ngữ chỉ chung hàng Bồ tát Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa. Vì Bồ tát ở các giai vị này mới chỉ được Phần giác chứ chưa viên mãn trí thủy giác. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4].

hữu phật vô phật tính tướng thường trụ

(有佛無佛性相常住) Bất luận là có Phật xuất hiện nơi thế gian hay không thì tính tướng của các pháp vẫn thường trụ, không thay đổi, không thêm bớt. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 21 (Đại 12, 492 thượng), nói: Bấy giờ, Phật bảo Đại bồ tát Quang minh biến chiếu cao quí đức vương rằng: Thể của Niết bàn chẳng phải xưa không mà nay có. Nếu thể của Niết bàn xưa không mà nay có thì chẳng phải là pháp vô lậu thường trụ. Cho dù có Phật hay không, tính tướng vẫn thường trụ; chỉ vì chúng sinh bị phiền não che lấp, không thấy được Niết bàn, nên cho là không. Bậc Đại bồ tát tinh tiến tu hành giới, định, tuệ, dứt sạch phiền não, chứng được Niết bàn . Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 65, cho rằng tính của các pháp thế gian chính là thực tướng của các pháp, mà thực tướng của các pháp tức là Bát nhã ba la mật. Nếu dựa vào Thường luận, Vô thường luận… để tìm cầu thực tướng các pháp thì đều sai lầm. Nhưng nếu thể nhập vào pháp tính mà tìm cầu thì sẽ đạt được lí thực tướng. Do đó mà biết là bất luận có Phật hay không Phật, tính tướng của các pháp vẫn thường trụ không mất. [X. phẩm Hiện thế gian trong kinh Đại bát nhã Q.547; phẩm Vô tác trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.12; phẩm Cụ túc trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.25; phẩm Tướng vô tướng trong kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.5; luận Đại trí độ Q.41; Pháp hoa kinh văn cú Q.9 phần dưới].

hữu quý

(有愧) Có lòng hổ thẹn đối với những việc làm sai trái của mình. Kinh Di giáo (Đại 12, 1111 trung), nói: Người biết hổ thẹn (hữu quí) thì có pháp lành .

hữu quýnh

(有炯) (1824-1889) Vị Thiền tăng Triều tiên, người huyện Ngọc quả, Hồ nam, họ Lí, tên Phụng văn, hiệu Tuyết đậu. Sư thông minh từ thủa nhỏ, giỏi Nho học. Năm 19 tuổi, sư xuất gia làm đệ tử ngài Chính quán Khoái dật chùa Bạch dương, núi Bạch nham, phủ Trường thành, tỉnh Toàn la nam. Không bao lâu, sư y vào ngài Chẩm minh Hàn tỉnh ở núi Tào khê thụ giới Cụ túc, rồi lần lượt tham vấn các bậc Trưởng lão, Tôn túc, cuối cùng nối pháp của ngài Bạch nham Đạo viên. Về sau, sư giáo hóa đồ chúng hơn 10 năm. Năm Lí thái vương thứ 7 (1870), sư dời đến ở chùa Phật giáp núi Mẫu nhạc. Năm Lí thái vương 26 (1889), sư mở Thiền môn giảng hội ở chùa Phụng ấn, núi Thiên ma, Dương châu (Kinh kì). Tháng 8 cùng năm ấy, sư thị tịch trong động Tiểu lâm chùa Qui nham, thọ 66 tuổi, pháp lạp 46. Sư là một trong 3 vị tăng nổi tiếng của Phật giáo Triều tiên thời cận đại. Sư có các tác phẩm: Thiền nguyên tố lưu, Khải chính lục. [X. Triều tiên Phật giáo thông sử Q.thượng; Linh qui sơn Tuyết đậu đại sư hành trạng; Đông sư liệt truyện Q.5].

hữu quả

(有果) Tên gọi khác của pháp hữu vi, vì pháp hữu vi là pháp sinh diệt, có nhân có quả nối nhau, nên được gọi là Hữu quả. Câu xá luận tụng sớ quyển 1 (Đại 41, 819 trung), nói: Hữu vi có quả, vô vi không quả, vì thế hữu vi được gọi là Hữu quả . (xt. Hữu Vi).

Hữu sinh

有生; C: yŏushēng; J: ushō; |Một cuộc đời; được (tái) sinh ra trong thế gian nầy (s: utpāda; t: skyes pa).

hữu sư trí

(有師智) Đối lại: Vô sư trí. Trí tuệ có được nhờ học hỏi nơi các vị danh sư, thạc đức. Trái lại, Vô sư trí là trí tuệ tự mình thể ngộ được mà không do thầy chỉ dẫn.

Hữu sắc

有色; C: yŏusè; J: ushiki;|Có thể trạng, có hình tướng (s: rupin).

hữu sắc thiên

(有色天) Đối lại: Vô sắc thiên. Chỉ cho các người trời ở cõi Sắc, vì các vị trời ở cõi này có sắc pháp nhỏ nhiệm thanh tịnh, nên gọi là Hữu sắc thiên.

hữu sở duyên

(有所緣) Tên gọi khác của tâm và tâm sở, vì tâm và tâm sở đều có cảnh sở duyên nên gọi là Hữu sở duyên (có chỗ để duyên theo). Sở duyên là cảnh giới mà tâm thức duyên theo, nương dựa, như thức mắt duyên theo màu sắc, thức tai duyên theo âm thanh... Còn vật ở ngoài tâm thức, thì gọi là Vô sở duyên, bởi vì nó bị tâm thức vin theo, chứ nó không thể tự vin theo được. [X. luận Câu xá Q.2, Q.4]. (xt. Tâm Tâm Sở).

hữu sở y

(有所依) Tên khác của tâm, tâm sở, vì tâm, tâm sở đều có chỗ để nương gá nên gọi là Hữu sở y. Luận Du già sư địa quyển 55 có nêu các tên khác của tâm, tâm sở như: Hữu sở duyên, Tương ứng, Hữu hành, Hữu sở y, v.v... Hữu sở y chỉ cho pháp nương gá vào các pháp khác mà chuyển biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 4, thì các tâm, tâm sở đều có sở y, những sở y ấy gồm có 3: Nhân duyên y, Tăng thượng duyên y và Đẳng vô gián duyên y. Trong các pháp, chỉ có tâm, tâm sở pháp có đủ 3 sở y này, cho nên gọi là Hữu sở y. Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng quyển 4 phần cuối (Đại 43, 739 thượng) ghi: Hỏi: Tâm, tâm sở pháp sinh khởi nhờ 4 duyên, tại sao chỉ nói có 3 thứ sở y? Đáp: Sở duyên duyên chung cho cả nội và ngoại, còn Nhân duyên, Đẳng vô gián duyên, Tăng thượng duyên thì thuộc nội, cho nên chỉ nói có ba . Hỏi: Các thức khác duyên nội, ngoại, thì không nói 4 y; thức thứ 7 chỉ duyên nội, tại sao cũng không nói 4 y? Đáp: Vì 3 duyên kia sinh thức mạnh hơn, nên chỉ nói 3 y; Duyên y cũng là duyên bên ngoài, sức yếu nên không nói 4 y . Tức là trong 4 duyên, trừ sở duyên duyên, còn 3 duyên kia là 3 sở y. [X. luận Câu xá Q.4]. (xt. Tâm Tâm Sở).

hữu sở đoạn giả

(有所斷者) Tên khác của quả vị Đẳng giác. Cứ theo phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát Niết bàn (bản Nam và bản Bắc) thì giai vị Đẳng giác tuy đã gần với giai vị Diệu giác nên gọi là Giác, nhưng vẫn còn phải đoạn trừ một phẩm vô minh và tập khí rất nhỏ nhiệm, vì thế gọi là Hữu sở đoạn giả để phân biệt với giai vị Diệu giác. (xt. Đẳng Giác).

hữu sở đắc

(有所得) Phạm:Pràpti. Đối lại: Vô sở đắc. Tâm chấp trước phân biệt có, không, một, khác, phải, trái, v.v... Nếu xa lìa quan niệm có, không tương đối mà thể ngộ được chân lí Không thì gọi là Vô sở đắc. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21, Q.22; kinh Nhân vương Q.thượng (Bất không); luận Đại trí độ Q.18, Q.60; Chú duy ma cật kinh Q.8].

Hữu tham

有貪; C: yŏu tān; J: uton; |1. Mối bận tâm về tham dục trong cõi sắc và vô sắc. Xuất phát từ tham muốn sự liên tục sinh mệnh của mình; »tham đắm sự hiện hữu«; 2. Dính mắc với thế tục; 3. Theo Hữu bộ (s: sarvāstivāda), đó là tham đắm sự hiện hữu trong cõi giới cao hơn.

hữu tham

(有貪) Phạm,Pàli:Bhava-ràga. Cũng gọi: Hữu dục. Đối lại: Dục tham. Tham đắm thiền định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc. Hữu chỉ cho định và thân sở y của định ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, nghĩa là người ở 2 cõi này thường có tâm tham đắm thiền định, sinh ra phiền não tham ái, chấp trước, cho nên gọi là Hữu tham. Vì phàm phu thế gian thường nghĩ rằng người ở 2 cõi này đã được giải thoát, lầm tưởng 2 cõi này là các nơi giải thoát, nên Phật giáo mới lập danh từ Hữu tham để ngăn dứt ý tưởng sai lầm ấy và nói rõ 2 cõi này chẳng phải là những nơi giải thoát chân thực. [X. luận Câu xá Q.19; luận Thuận chính lí Q.45; Câu xá luận tụng sớ Q.19].

hữu tham tâm

(有貪心) Tâm có tham. Cứ theo luận Câu xá quyển 26, thì tâm tương ứng với tham và lệ thuộc vào tham, gọi là Hữu tham tâm. Trái lại, các thiện tâm khác và tâm vô phú không tương ứng với tham, thì gọi là Li tham tâm (tâm lìa tham).

Hữu thân kiến

有身見; C: yŏushēn jiàn; J: ushin ken; S: satkāya-dṛṣṭi; P: sakkāya-diṭṭhi.|Kiến chấp về ngã, không thể vượt thoát ra khỏi ý niệm về »Ngã« và »Ngã sở«. Gọi tắt là Thân kiến (身見). Phiên âm là Tát-ca-da kiến (薩迦耶見). Đây là một trong Tứ kiến liên hệ đến mạt-na thức (末那識).

hữu thân kiến

(有身見) Phạm:Satkàya-dfwỉi. Pàli:Sakkàya-diỉỉhi. Dịch âm: Tát ca da kiến, Táp ca da kiến, Tát ca tà kiến. Dịch ý: Hư ngụy thân kiến, Hoại thân kiến, Di chuyển thân kiến. Cái thấy sai lầm cho rằng thân do 5 uẩn hợp thành có thực ngã và ngã sở (ta và của ta), vì pháp thể của 5 uẩn này là có thật. Một trong 5 kiến, một trong 10 Tùy miên. Vọng kiến này do Thuyết nhất thiết hữu bộ lập ra. (xt. Ngũ Kiến, Tát Ca Da Kiến).

hữu thượng sĩ

(有上士) Đối lại: Vô thượng sĩ. Chỉ cho Bồ tát Đẳng giác. Trong các giai vị tu hành của Bồ tát Đại thừa, Đẳng giác và Diệu giác là 2 giai vị cuối cùng. Bồ tát Đẳng giác còn chút ít phiền não sót lại, tức là vẫn chưa dứt hết hoặc; cho nên đối với bậc Vô thượng sĩ (tức giai vị Diệu giác) đã dứt sạch phiền não mà gọi Bồ tát Đẳng giác là Hữu thượng sĩ. (xt. Đẳng Giác).

hữu thắng thiên kinh

(有勝天經) Bài kinh nhỏ thứ 2 trong Trung a hàm quyển 19, do ngài Cù đàm tăng già bà đề dịch vào đời Đông Tấn, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung bài kinh này thuật lại việc tôn giả A na luật đà giảng cho vị tài chủ Tiên dư nghe về nhân quả sai biệt ở các cõi Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh quang thiên.

hữu thể

(有體) Phạm:BhàvahoặcSattva. Đối lại: Vô thể Pháp có thể tính, như 75 pháp trong luận Câu xá, 84 pháp trong luận Thành thực, 100 pháp trong luận Duy thức. Các pháp này bao gồm vật chất có hình, tâm thức không hình, pháp hữu vi do nhân duyên sinh, pháp vô vi chẳng do nhân duyên sinh. (xt. Hữu Thể, Vô Thể).

hữu thể thí thiết giả

(有體施設假) Tạm đặt tên giả trên pháp thể không tên. Một trong 2 giả. Cứ theo Tông kính lục quyển 67, thì những điều nói trong Thánh giáo tuy có pháp thể, nhưng chẳng phải ngã pháp, thể vốn không tên, tùy duyên bày đặt, tạm gọi là Ngã pháp, cho nên gọi đó là Hữu thể thi thiết giả. Ngoài ra, nếu theo thực tướng các pháp mà bàn, thì tất cả sự vật trong thế gian đều là Hữu thể thi thiết giả. [X. luận Thành duy thức Q.1]. (xt. Nhị Giả).

hữu thể vô thể

(有體無體) 1. Hữu Thể Vô Thể. Các pháp có thực thể và các pháp không có thực thể. Về thực tướng các pháp, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương pháp thể hằng hữu; tông Pháp tướng Đại thừa thì cho rằng ngoài tướng năng y, còn có thể sở y, tức là trong 3 tính Biến, Y, Viên, thì ngoài các pháp Y tha khởi ra, còn có chân như thực thể Viên thành thực. Còn các tông thuộc về pháp tinh như Hoa nghiêm, Thiên thai, v.v... thì chủ trương tướng năng y tức là thể sở y, cho nên ngoài tướng của các pháp Y tha khởi ra thì không có chân thể Viên thành thực. [X. phẩm La bà na vương khuyến thỉnh trong kinh Đại thừa nhập lăng già Q.1; phẩm Thuật cầu trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt.Thể). II. Hữu Thể Vô Thể. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hữu thể, nghĩa là trong luận thức Nhân minh, bất cứ sự vật gì được nêu ra đều phải được người lập luận và người vấn nạn cùng công nhận là có thật. Vô thể, sự vật được nêu ra không được người lập luận và người vấn nạn công nhận là có thật. Theo lẽ thông thường, bất cứ sự vật gì tồn tại trên thực tế, thì gọi là Hữu thể, còn sự vật không tồn tại trên thực tế thì gọi là Vô thể. Nhưng trong Nhân minh, việc quyết định một sự vật là Hữu thể hay Vô thể thì hoàn toàn tùy thuộc vào ý kiến chủ quan của người lập luận và người vấn nạn. Bất luận là sự vật có tồn tại trên thực tế hay không, nhưng chỉ cần người lập luận và người vấn nạn cùng công nhận sự vật ấy là có thật thì gọi đó là Hữu thể, còn nếu đôi bên không công nhận là có thật thì gọi là Vô thể. Do đó, vấn đề Hữu thể, Vô thể trong Nhân minh hoàn toàn tùy theo quan điểm của người lập luận và người vấn nạn mà chuyển biến. Nhân minh gọi danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) là thể, danh từ sau (hậu trần) của Tông là nghĩa. Cho nên, nói theo danh từ trước thì có Hữu thể, Vô thể; nói theo danh từ sau thì có Hữu nghĩa, Vô nghĩa. Cái tiêu chuẩn phân biệt Hữu thể vô thể, Hữu nghĩa vô nghĩa hoàn toàn giống với tiêu chuẩn phân biệt Cực thành bất cực thành; bởi thế, Hữu thể, Hữu nghĩa tức là Cực thành thể, Cực thành nghĩa; còn Vô thể, Vô nghĩa tức là Bất cực thành thể, Bất cực thành nghĩa. Hữu thể vô thể và Hữu nghĩa vô nghĩa được chia làm 4 loại: 1. Lưỡng câu hữu thể hoặc Lưỡng câu hữu nghĩa: Người lập luận và người vấn nạn đều công nhận là có thật. 2. Lưỡng câu vô thể hoặc Lưỡng câu vô nghĩa: Người lập luận và người vấn nạn đều không công nhận là có thật. 3. Tự hữu tha vô thể hoặcTự hữu tha vô nghĩa: Người lập luận công nhận có thật, người vấn nạn không công nhận có thật. 4. Tha hữu tự vô thể hoặcTha hữu tự vô nghĩa: Người vấn nạn công nhận có thật, người lập luận không công nhận có thật. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Cực Thành).

Hữu thời

有時; C: yŏushí; J: uji; |1. Vào một lúc; một lúc nào đó, xảy ra đúng lúc; 2. »Hữu Thời«, nhan đề một tiểu luận nổi tiếng của Đạo Nguyên Hi Huyền trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏, j: shōbōgenzō).

Hữu thủ

有取; C: yŏuqŭ; J: ushu; |Có dính mắc, chấp trước (s: sa-upādāna). Tương tự với nghĩa rộng và thường dùng với Hữu lậu (有漏).

hữu thủ

(有手) I. Hữu Thủ. Phạm:Hastin. Tên khác của con voi. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần cuối của ngài Cát tạng đời Tùy, thì con voi có 7 chi, mà cái vòi (thủ) là thù thắng hơn hết, cho nên voi được gọi là Hữu thủ (có tay). Trong bộ sách này, voi và hữu thủ còn được dùng làm thí dụ để phân tích, luận chứng lí Không, khiến cho ngoại đạo thể ngộ bản tính Không, mà chẳng khởi phiền não có sở đắc để được giải thoát. II. Hữu Thủ. Có lòng tin. Thủ ví dụ lòng tin, người có lòng tin được gọi là Hữu thủ nhân. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển thượng phần trên (Đại 44, 175 trung), nói: Lòng tin như tay (thủ), người có tay vào kho báu thì có thể tùy ý nhặt lấy; người không có tay, tuy vào kho báu cũng chẳng nhặt được gì . [X. luận Đại trí độ Q.1]. ; (右手) Tay phải. Ở Ấn độ, từ xưa đến nay tay trái thường được sử dụng để cầm nắm những vật bất tịnh như khi đại tiểu tiện…, trái lại, tay phải là tay tiêu biểu cho thần thánh, phần nhiều dùng để cầm nắm những vật thanh tịnh. Trong Phật giáo, tùy theo thời đại và sự sai biệt giữa các tông phái mà ý nghĩa tiêu biểu cũng khác nhau. Tông Thiên thai dùng tư thế chắp tay để biểu thị ý nghĩa Quyền, Thực bất nhị , trong đó, tay trái tượng trưng cho Ứng thân Phật Quyền thân ngũ uẩn , còn tay phải thì tượng trưng cho Báo thân Phật Thực thân ngũ uẩn . Trong Thiền tông thì như tông Tào động xưa nay có thuyết Chính , Thiên , tay phải biểu thị Chính vị, tượng trưng cho lí bình đẳng; tay trái biểu thị Thiên vị, tượng trưng cho hiện tượng sai biệt. Còn Mật giáo, trong nghi thức của các pháp tu, khi kết ấn khế, thì thường dùng tay phải tiêu biểu cho trí tuệ, thuộc về Kim cương giới; tay trái tiêu biểu cho lí và định , thuộc về Thai tạng giới. Đại nhật kinh sớ quyển 3 (Đại 39, 612 trung), nói: Tay trái tượng trưng cho tam muội, tay phải tượng trưng bát nhã , 10 ngón tượng trưng cho 10 ba la mật . Bí tạng kí, phần đầu (Đại 86, 7 trung), nói: Tay phải làm tất cả mọi việc, nên gọi là trí, thuộc Kim cương giới, (...) 5 ngón tay phải tượng trưng 5 trí của Kim cương giới .

Hữu thủ thức

有取識; C: yŏuqŭshì; J: ushushiki; |1. Ý thức chấp trước. Thức uẩn trong tình trạng hữu lậu (有漏) hoặc phiền não (煩惱); 2. Theo Duy thức tông, đó là thuật ngữ bao hàm chức năng hoà hợp của thức thứ 7 và thức thứ 8.

hữu thủ thức

(有取識) Thức có phiền não. Thủ là tên gọi chung các phiền não. Cứ theo luận Câu xá quyển 30, thì lúc mệnh chung (hấp hối) có rất nhiều chủng tử dẫn nghiệp tụ tập lôi kéo người chết vào vòng luân hồi trong 6 đường. Khi ấy, Hữu thủ thức này rõ biết 3 loại chủng tử nghiệp mà đi đầu dẫn đến quả báo, còn các thức khác thì không. Ba loại chủng tử nghiệp đó là: 1. Chủng tử trọng nghiệp: Chủng tử do nghiệp nặng dẫn dắt, như chủng tử nghiệp của tội ngũ nghịch, v.v... 2. Chủng tử cận khởi nghiệp: Chủng tử do cận khởi nghiệp dắt dẫn, như chủng tử nghiệp dẫn khởi lúc hấp hối gặp bạn lành hoặc bạn ác. 3. Chúng tử sác tập nghiệp: Chủng tử do nghiệp tập quen dẫn khởi, như chủng tử nghiệp huân tập dẫn khởi lúc bình sinh.

hữu toàn

(右旋) Cũng gọi Hữu hồi, Hữu nhiễu. Xoay vòng theo bên phải, giống như sợi lông trắng ở khoảng giữa 2 chân mày của đức Phật. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 trung), nói: Sợi lông trắng ở 2 chân mày của Phật uốn vòng theo chiều bên phải như 5 núi Tu di . Ngoài ra, khi đi vòng quanh bên phải, tay phải luôn hướng về phía tượng Phật, tháp Phật, các bậc Tôn túc, Trưỡng lão, v.v... cũng gọi là Hữu toàn. Đây là một trong những cách bày tỏ lòng tôn kính thịnh hành ở Ấn độ từ xưa. (xt. Hữu Nhiễu).

hữu tránh

(有諍) ¦Phạm,Pàli:Sa-raịa. Tên khác của Hữu lậu. Tránh là phiền não, Hữu là tùy tăng. Hữu tránh nghĩa là pháp Khổ đế và Tập đế thuận theo phiền não, va chạm với thiện phẩm, gây tổn hại đến thân mình và thân người, cho nên gọi là Hữu tránh. [X. luận Câu xá Q.1]. (xt. Hữu Lậu Pháp).

hữu tuỳ miên tâm

(有隨眠心) Phạm:Sànuzaya-citta. Chỉ cho tâm phiền não. Tùy miên tức là phiền não. Cứ theo luận Câu xá quyển 20 và Câu xá luận quang kí quyển 20, thì Hữu tùy miên tâm được chia làm 2 loại: Hữu nhiễm hữu tùy miên tâm và Vô nhiễm hữu tùy miên tâm. 1. Hữu nhiễm hữu tùy miên tâm: Bao gồm cả Duyên phược đã dứt và Duyên phược chưa dứt. a) Hữu nhiễm tùy tăng hữu tùy miên tâm: Tùy miên chưa đoạn trừ, vì tương ứng với sở duyên mà có tính tùy tăng. b) Hữu nhiễm bất tùy tăng hữu tùy miên tâm: Tùy miên tuy đã bị đoạn trừ nhưng vẫn còn tính đồng bạn tương ứng với tâm. 2. Vô nhiễm hữu tùy miên tâm: Tùy miên chưa dứt hẳn, chỉ mới y cứ vào tùy tăng của Sở duyên phược, vì tâm vô nhiễm này không có Tương ứng phược mà chỉ có Sở duyên phược. Luận Đại tì bà sa quyển 22 có nêu ra quan điểm của 3 nhà đối với Hữu tùy miên tâm, trong đó, các nhà chủ trương nhất tâm tương tục cho rằng trong thân này nếu Thánh đạo chưa hiện tiền, thì phiền não chưa dứt hết, cho nên tâm có Tùy miên; nếu Thánh đạo hiện tiền thì phiền não đoạn tận, vì thế tâm không có Tùy miên. Tuy nhiên, tâm có Tùy miên và tâm không Tùy miên mặc dầu có sai khác, nhưng tính của chúng chỉ là một, giống như nhơ bẩn và không nhơ bẩn có khác nhau, nhưng áo thì không khác. [X. luận A tì đạt mà phát trí Q.1].

hữu tài ngạ quỷ

(有財餓鬼) Chỉ chung cho ngã quỉ Thiểu tài và ngã quỉ Đa tài trong 3 loại ngã quỉ. 1. Ngã quỉ Thiểu tài: Ngã quỉ này thường ăn máu mủ, có 3 loại: a) Châm mao quỉ: Loài quỉ có lông bén nhọn như kim, lúc đi thì lông tự đâm vào mình. Vì đời trước đâm chích làm thương tổn súc sinh, dối gạt làm nghề châm cứu để kiếm tiền chứ không hết lòng chữa bệnh, cho nên phải chịu quả báo này. b) Xú mao quỉ: Loài quỉ có lông bén nhọn và hôi thối, tự nhổ lông để chịu khổ. Vì đời trước buôn bán lợn dê, làm thịt ngỗng vịt, chém chặt nấu nướng, làm cho chúng đau đớn vô cùng, cho nên phải chịu quả báo này. c) Đại anh quỉ: Quỉ này có cái bướu lớn, chỉ ăn máu mủ. Vì đời trước ghen ghét với người, thường ôm lòng sân hận, cho nên phải chịu quả báo này. 2. Ngã quỉ Đa tài: Loài quỉ thường được nhiều thức ăn ngon, cũng có 3 loại: a) Đắc khí quỉ: Thường được thức ăn thừa do người cúng tế bỏ đi. Vì đời trước phạm nhiều tội, ít làm phúc, tham lam bỏn sẻn, không muốn bố thí, cho nên phải chịu quả báo này. b) Đắc thất quỉ: Thường được thức ăn thừa người ta vứt bỏ trong ngõ hẻm. Vì đời trước thường sinh tâm keo kiệt, chỉ cho người khác những vật mình vứt đi, cho nên phải chịu quả báo này. c) Thế lực quỉ: Chỉ cho quỉ Dạ xoa, La sát, v.v... Loại quỉ này hưởng sự giàu sang, vui sướng ngang với trời, người…. [X. luận Thuận chính lí Q.31]. (xt. Ngã Quỉ Đạo).

hữu tài thích

(有財釋) Phạm: Bahu-vrìhi. Pàli:Bahu-bìhi. Cũng gọi Đa tài thích. Cách giải thích một danh từ kép gồm 2 chữ trở lên, mà có tác dụng của hình dung từ. Là một trong Lục hợp thích. Cứ theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, thì Hữu tài thích là không nêu tên chính mà dùng tài vật để thay thế; trong tiếng Phạm, cách giải thích này được gọi là Hữu tài thích. Chẳng hạn như người có thân cao, thì thân cao này được dùng để gọi thay cho tên của người ấy. Phương pháp giải thích này có 2 loại: Toàn phần tha danh (Toàn thủ tha danh) và Nhất phần tha danh (Nhất thủ tha danh). 1. Toàn phần tha danh: Hoàn toàn lấy hình dung từ kép làm tên gọi để thay cho loại danh từ không có hình dung từ kép miêu tả, như danh từ tiếng Phạm: Mahà-bahu (cánh tay lớn) được dùng để gọi thay cho người có cánh tay lớn. Chẳng hạn Na la vương có cánh tay lớn, thì Cánh tay lớn được dùng để gọi thay cho Na la vương. 2. Nhất phần tha danh: Lấy một phần hình dung từ kép làm tên gọi để thay cho loại danh từ có hình dung từ kép miêu tả, như danh từ tiếng phạm: Mahàbàhu nala (Na la vương có cánh tay lớn). Trong 6 hợp thích, ngoài Hữu tài thích ra thì những từ kép của 5 loại kia cũng có trường hợp có tác dụng của hình dung từ, chẳng hạn như Tam nhãn (Phạm: Trilocana), từ kép này thuộc về Đới số thích, nhưng cũng có thể giải thích là có 3 mắt hoặc người có 3 mắt , trường hợp này xưa nay được gọi là Đới số thích mang tên Hữu tài thích. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.26; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1 phần đầu]. (xt. Lục Hợp Thích).

Hữu tác

有作; C: yŏuzuò; J: usa; |1. Có tác dụng. Có chức năng tạo tác (s: kārya); 2. Cái được tạo tác. Đồng nghĩa với Hữu tướng (有相), cái không phải tự vốn hiện hữu như thế. Nhận biết được tác dụng hoặc hoặt động; 3. Điều sinh ra do nhân duyên.

Hữu tác tứ đế

有作四諦; C: yŏuzuòsìdì; J: usa shitai; |Tứ diệu đế được giải thích theo ý nghĩa thông thường trong phạm vi luật nhân quả. Khác với Vô tác tứ đế (無作四諦).

hữu tác vô tác

(有作無作) Có tạo tác và không tạo tác. Cứ theo kinh Di hê trong Trung a hàm quyển 10, thì cảnh giới của Phật là vô vi vô tác, còn cảnh giới của phàm phu là hữu vi hữu tác. Phẩm Niệm tăng trong kinh Phật tạng quyển thượng cho rằng, xưa nay vốn không có pháp sở hữu, nhưng vì hạng người hữu sở đắc phân biệt chấp trước các tướng ngã, nhân, thọ giả, mệnh giả, rồi nhớ tưởng phân biệt pháp vô sở hữu mà bàn luận, hoặc cho là đoạn thường, hoặc cho là hữu tác, hoặc cho là vô tác…. Cứ theo Truyền thông kí nhữu sao quyển 5 của ngài Thánh cảnh, thì trong các kinh luận cựu dịch gọi là Hữu tác vô tác; còn các kinh luận tân dịch thì gọi là An lập phi an lập. Ngoài ra, hữu tác tức là hữu vi, cũng tức là pháp do nhân duyên sinh. (xt. An Lập).

Hữu tâm

有心; C: yŏuxīn; J: ushin; |1. (Loài) có tâm ý – do vậy, là loài hữu tình (s: sa-citta; t: sems daṅ bcas pa), chúng sinh; 2. Hoạt động phân biệt của tâm chấp trước. Tâm niệm phân biệt của chúng sinh; 3. Tâm trong quan niệm là một cái gì đó có thể nắm bắt được.

hữu tâm vị

(有心位) Đối lại: Vô tâm vị. Chỉ cho lúc tâm thức khởi tác dụng. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 13, thì trừ 6 vị là Vô tâm thùy miên vị, Vô tâm muộn tuyệt vị, Vô tưởng định vị, Vô tưởng sinh vị, Diệt tận định vị và Vô dư Niết bàn giới vị ra, còn tất cả các vị khác đều là Hữu tâm vị. Ngoài ra, tông Duy thức cho rằng 8 thức cùng khởi, nhưng thức thứ 7, thứ 8 thường nối nhau không gián đoạn, còn lại 5 thức trước, lúc khởi tác dụng thì tất nhiên cùng khởi với thức thứ 6, vì thế tông Duy thức chỉ căn cứ vào thức thứ 6 có khởi hay không mà nhận định hữu tâm hay vô tâm. Nhưng tông Câu xá không thừa nhận 2 tâm cùng khởi một lúc, nên cho rằng bất cứ một thức nào trong 6 thức khởi tác dụng thì đều gọi là Hữu tâm vị. [X. luận Thành duy thức Q.7]. (xt. Ngũ Vị Vô Tâm).

Hữu tình

有情; C: yŏuqíng; J: ujō; S: sattva; P: satta; dịch âm Hán Việt là Tát-đoá (薩埵), cũng được gọi là Chúng sinh (眾生), Hàm thức (含識);|Chỉ các giống có tình, có thức, nói chung là các loại động vật trong Ba thế giới.|Trước thời Huyền Trang, thuật ngữ nầy được dịch sang tiếng Hán là Chúng sinh (衆生), nhưng sau đó được địch là Hữu tình. Toàn thể chúng sinh.

hữu tình

Sinh vật có hai thứ: động vật thuộc hữu tình, thực vật thuộc vô tình. Phật nói độ chúng sanh với cấm sát sanh đều là đối với chúng sanh hữu tình mà nói. ; (有情) Phạm:Sattva. Pàli:Satta. Dịch âm: Tát đa bà, Tát đóa phạ, Tát đóa. Cũng gọi: Hữu thức, Hữu linh. Dịch cũ: Chúng sinh. Loài có tình thức và có sự sống còn. Về mối quan hệ giữa Hữu tình và Chúng sinh có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng Hữu tình chỉ riêng cho những sinh vật có tình thức như loài người, các trời, quỉ đói, súc sinh, A tu la, v.v... còn những vật không có tình thức như cỏ cây, gạch đá, núi sông, đất liền, v.v... là loài vô tình. Còn chúng sinh thì bao quát cả 2 loại Hữu tình và Vô tình. Nhưng có thuyết lại cho rằng Hữu tình tức là tên khác của chúng sinh, cả 2 cùng một thể nhưng khác tên. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Câu xá luận bảo sớ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Chúng Sinh). ; (友情) Chỉ cho chữ Từ trong Từ bi, tương đương với chữ Từ trong chữ Từ thị (Di lặc, Phạm: Maitrì). Chữ Maitrì là do chữ Mitra (hữu = bạn bè) biến hóa mà ra, người đời gọi là Hữu tình (tình bè bạn). Hữu tình biểu thị lòng từ bi vô điều kiện (vô duyên từ). Trong Phật giáo, Hữu tình vô điều kiện là sự phát huy đến tột độ của chữ Ái (tình yêu) ở ngoài đời. Chữ Ái này vượt ra ngoài giới hạn huyết thống, địa phương, gia đình, quốc gia, không giới hạn trong tình thân cốt nhục vị kỉ, mà bình đẳng đối với tất cả mọi người. Đây là điều kiện tất yếu của tín đồ Phật giáo.

hữu tình duyên từ

(有情緣慈) Cũng gọi Chúng sinh duyên từ. Coi tất cả loài hữu tình thân thiết như cha mẹ, quyến thuộc mà đối xử với họ bằng tâm từ bi bình đẳng, không phân biệt. Là một trong 3 duyên từ bi. (xt. Từ Bi).

hữu tình số

(有情數) Phạm:Sattvàkhyà. Đối lại: Phi hữu tình số. Thuộc về loài hữu tình. Chúng sinh luân hồi trong 6 đường tức là Hữu tình số. Còn núi sông, đất đai, cây cỏ, v.v... thì thuộc về Phi hữu tình số. Đến như bản thân của người hóa (hữu tình không có cảm giác) tuy không có cảm giác nhưng cũng thuộc về Hữu tình số. Ngoài ra, luận Đại tì bà sa quyển 138 căn cứ vào 2 bộ luận Phẩm loại túc và Thức thân túc để giải thích nghĩa Hữu chấp thụ mà cho rằng Hữu tình số đồng nghĩa với Hữu căn , Dị thục sinh . [X. luận Đại tì bà sa Q.13, Q.15, Q.60; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.1; luận Câu xá Q.5; Câu xá luận quang kí Q.1].

hữu tình thế gian

(有情世間) Cũng gọi: Giả danh thế gian, Chúng sinh thế gian, Chúng sinh thế. Chính báo của loài hữu tình, tức chỉ cho tất cả chúng sinh do 5 ấm tạo thành. Một trong 3 loại thế gian. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thì Ngũ ấm thế gian có 10 loại khác nhau, nên chúng sinh chiêu cảm cũng có 10 loại bất đồng. Chẳng hạn như chúng sinh chịu tội khổ trong 3 đường, chúng sinh hưởng vui sướng trên cõi trời, cõi người, v.v... còn Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì chia chúng sinh thế gian thành 2 loại: Thường và Vô thường; luận Câu xá quyển 8, quyển 9, quyển 10, đã nói rõ hiện tượng sinh, trụ, dị, diệt của Hữu tình thế gian. Hoa Nghiêm kinh văn nghĩa cương mục thì chia Chúng sinh thế gian thành 2 loại là Đồng sinh chúng và Dị sinh chúng. Ngoài ra, luận Vãng sinh nói rằng chúng sinh thế gian của cõi Cực lạc, có 8 thứ trang nghiêm thành tựu công đức của Phật và 4 thứ trang nghiêm thành tựu công đức của Bồ tát. [X. kinh Xuất diệu Q.24; luận Đại trí độ Q.47; Vãng sinh luận chú Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Tam Chủng Thế Gian).

Hữu tính

有性; C: yŏuxìng; J: ushō; |1. Tồn tại, hiện hữu; sự sống (s: asita, astitva); 2. Có tự tính. Có bản tính; 3. Người vốn sở hữu bản chất, khả năng thành Phật. Bản tính Thanh văn, Bích chi Phật và Bồ Tát, khác với loài không có được bản tính như thế.

hữu tính

(有性) Đối lại: Vô tính. Có tính xuất li, giải thoát sinh tử, gọi là Hữu tính; trái lại, không có tính xuất li, giải thoát sinh tử thì gọi là Vô tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.26, Q.32 (bản Bắc); kinh Viên giác]. (xt. Nhất Xiển Đề).

hữu tông

(有宗) Cũng gọi Hữu giáo. Đối lại: Không tông. Tông phái chủ trương các pháp có thật. Lập trường giải thích vũ trụ vạn hữu của Phật giáo vốn không nghiêng hẳn về bất cứ một bên nào, hoặc có hoặc không. Nhưng Hữu tông thì chấp có hình tướng hiện thực, mà đại biểu là Thuyết nhất thiết hữu bộ (gọi tắt là Hữu bộ) của Tiểu thừa. Về sau, hệ thống Hữu của ngài Thế thân được phát triển song song với hệ thống Không quán của ngài Long thụ và đã đưa đến cuộc tranh luận về Không, Hữu. Hữu tông của Đại thừa lấy Duy thức làm căn bản và đại biểu là tông Pháp tướng. (xt. Hữu Không Luận Tranh, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ).

hữu tướng

(有相) Phạm:Sàkàra. Đối lại: Vô tướng. Có hình tướng. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín và kinh Đại nhật quyển 7, thì hữu tướng chỉ cho tướng trạng sai biệt của các pháp hữu hình. Những gì có tướng sinh diệt đổi dời đều gọi là Hữu tướng hay Hữu vi pháp. Theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 10 phần trên, nếu dùng lí Hữu mà đắc đạo, rồi chia Hữu thành các cấp bậc khác nhau như Thập địa, v.v... để hiển bày công đức hành tướng của nó thì cũng gọi là Hữu tướng. Ngoài ra, quán xét sự tướng sai biệt của thế tục, gọi là Hữu tướng quán; tu muôn hạnh thiện gọi là Hữu tướng thiện; chỉ rõ vị trí, thiết lập Tịnh độ bằng hình tượng thanh tịnh, gọi là Hữu tướng độ, v.v... đều là căn cứ vào sự tướng sai biệt, đối với vô tướng bình đẳng mà gọi là Hữu tướng. Thông thường, phần nhiều cho nghĩa Hữu tướng là nông cạn, mà nghĩa vô tướng là sâu xa, nhưng Mật giáo thì cho rằng hữu tướng gồm có 2 nghĩa: Cạn hẹp và sâu kín. 1. Nghĩa cạn hẹp: Các pháp sắc tâm mà người thường nhận thấy hàng ngày, có sự tướng rõ ràng, hiện hành trước tâm, rất dễ biết rõ. 2. Nghĩa sâu kín: Tướng của tất cả pháp, mỗi mỗi đều rõ ràng mà an trụ, đây là dùng sự tướng của Tam mật du già làm ý nghĩa cho hữu tướng sâu kín. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Hữu Tướng Vô Tướng, Vô Tướng).

hữu tướng an lạc hành

(有相安樂行) Đối lại: Vô tướng an lạc hạnh. Pháp môn tu hành chỉ cần một lòng tụng niệm kinh Pháp hoa. Pháp môn này do tông Thiên thai căn cứ vào kinh Phổ hiền quán và văn kệ Tứ an lạc hạnh của ngài Nam nhạc Tuệ tư mà lập ra. Tông Thiên thai cho rằng lí quán là Vô tướng an lạc hạnh, còn sự tụng là Hữu tướng an lạc hạnh. Nghĩa là không cần vào thiền định tam muội, mà trong tất cả mọi lúc như đi, đứng, ngồi phải nhất tâm tụng niệm văn kinh Pháp hoa, như thế gọi là Hữu tướng an lạc hạnh. Nếu tu hạnh này mà thành tựu thì thấy được thân thượng diệu của bồ tát Phổ hiền. [X. Pháp hoa kinh an lạc hạnh nghĩa; Vạn thiện đồng qui tập Q.2]. (xt. An Lạc Hạnh, Vô Tướng An Lạc Hạnh).

hữu tướng chấp trước

(有相執著) Bám chặt vào những sự tướng sai biệt hữu hình.

hữu tướng giáo

(有相教) Cũng gọi Tam thừa biệt giáo. Giáo môn hữu tướng sai biệt mà đức Phật tuyên thuyết cho hàng Tam thừa sau khi Ngài thành đạo. Là một trong 5 thời phán giáo do ngài Tuệ quán đời Lưu Tống và ngài Lưu cầu đời Nam Tề thành lập. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa quyển thượng, thì Tam thừa biệt giáo là nói Tứ đế cho hàng Thanh văn, nói 12 nhân duyên cho hàng Bích chi phật, chỉ dạy pháp Lục độ cho hàng Đại thừa; vì nhân hạnh của hàng Tam thừa này khác nhau nên chứng quả cũng bất đồng. Đó là giáo môn Hữu tướng sai biệt của Tam thừa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Ngũ Thời Giáo).

hữu tướng liệt huệ cơ

(有相劣慧機) Đối lại: Vô tướng thắng tuệ cơ. Chỉ cho các hành giả Mật giáo có căn cơ yếu kém, chuyên tu hạnh tam mật hữu tướng (tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn, tâm quán Bản tôn) để thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật . Căn cơ này được chia làm 4 loại: 1. Thâm trí tương ứng ấn minh hạnh. 2. Sự quán tương ứng kết tụng hạnh. 3. Duy tín tác ấn tụng minh hạnh. 4. Tùy ư nhất mật chí công hạnh. [X. Ngũ luân cửu tự minh bí thích (Giác tông)].

hữu tướng quán

(有相觀) Đối lại: Vô tướng quán. Quán xét sự tướng sai biệt của thế gian, tức dùng các tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh... làm cảnh sở quán. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 9, trong 10 địa Bồ tát, thì Bồ tát 4 địa trước, vì trí quán chưa nhuần nhuyễn nên quán chân tục khác nhau; Bồ tát địa thứ 5 mới chứng loại vô biệt chân như, khơi mở tri kiến sự lí không hai, được chân tục hợp quán, nhưng pháp quán sở tu vẫn còn nhiều tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh, nên sức quán hữu tướng thì mạnh, mà sức quán vô tướng thì yếu kém. Bồ tát địa thứ 6 thường an trụ nơi hạnh vô tướng, tuy sức quán hữu tướng yếu, sức quán vô tướng mạnh, nhưng cũng chưa hoàn toàn trút bỏ được các tướng lưu chuyển, hoàn diệt, nhiễm tịnh (...) Bồ tát địa thứ 7 tuy đạt được vô tướng quán nhưng vẫn còn phải gia công dụng hạnh mới được tương tục. Bồ tát địa thứ 8 đã hoàn toàn nhập vào vô tướng quán, không cần gia công dụng hạnh mà vẫn được tự nhiên tương tục.

hữu tướng tam mật

(有相三密) Đối lại: Vô tướng tam mật. Tam mật chỉ cho Thân mật, Khẩu mật (Ngữ mật), Ý mật (Tâm mật). Hữu tướng tam mật tức là người tu hành Mật giáo, tay kết ấn khế, miệng tụng chân ngôn và tâm quán Bản tôn. Hành giả tu Hữu tướng tam mật để chuyển 3 nghiệp thân, khẩu, ý của mình thành 3 mật thân, khẩu, ý của Như lai, nhờ sự gia trì của 3 mật mà thành tựu diệu hạnh Tức thân thành Phật . Trái lại, Vô tướng tam mật thì lấy tất cả hành vi thuộc về thân của chúng sinh làm thân mật, tất cả âm thanh làm ngữ mật, tất cả tư niệm làm ý mật. (xt. Tam Mật).

hữu tướng tông

(有相宗) Cũng gọi Tướng tông, Pháp tướng tông, Duy thức tông. Đối lại: Vô tướng tông. Tông phái chủ trương cảnh ngoài tâm là không, pháp trong tâm là có; Sơ tổ của tông này là đại sư Huyền trang đời Đường. Hữu tướng tông lấy thức A lại da làm thức căn bản, lập ra 5 vị 100 pháp để phân biệt tướng trạng của các pháp hữu vi, vô vi và dùng 3 thời: Hữu giáo, Không giáo, Trung đạo giáo để phân chia Thánh giáo do đức Phật nói trong một đời. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Pháp Tướng Tông).

hữu tưởng

(有想) Phạm: Saôjĩin. Pàli:Saĩĩin. Đối lại: Vô tưởng. Có cảm giác, nhận thức, ý chí tư duy hoặc chỉ cho hữu tình chúng sinh có đủ các tác dụng này. Cứ theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa, thì chúng sinh có nhiều loại như: Hữu hình, vô hình, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng, v.v... Trong kinh Kim cương cũng có câu: Nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng … Ngoài ra, Hữu tưởng cũng chỉ cho cõi trời Hữu tưởng, là nơi ở của loài chúng sinh có tư tưởng.

hữu tưởng chấp trước

(有想執著) Chấp trước những sự vật mà cảm quan con nguời nhận biết là có thật, rồi cố bám níu lấy không chịu rời bỏ.

hữu tưởng luận

(有想論) Luận thuyết cho rằng chúng sinh sau khi chết vẫn có các tác dụng ý thức như: Cảm giác, nhận thức, ý chí, tư duy, v.v... Đây là thường kiến trong 62 loại kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 6, thì do 4 loại Tứ cú mà tạo thành 16 loại Hữu tưởng luận. Tứ cú thứ 1: Tưởng và Sắc đối đãi nhau. 1. Hữu sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã hữu sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc pháp và cho rằng sau khi chết, Ngã vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, nhưng không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. 2. Vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là vô sắc uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. 3. Diệc hữu sắc diệc vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu sắc diệc vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là Ngũ uẩn , sau khi chết vẫn có ý thức và tồn tại ở khắp cõi Dục. 4. Phi hữu sắc phi vô sắc hữu tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu sắc phi vô sắc tử hậu hữu tưởng luận): Tức cho rằng Ngã chẳng phải sắc chẳng phải tâm, thường trụ không hoại diệt. Tứ cú thứ 2: Tưởng và Biên, Vô biên đối đãi nhau. 1. Hữu biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã hữu biên tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc hoặc chẳng phải sắc, cho thể của Ngã cũng như sở y, sở duyên của nó đều có tính sai biệt, tính giới hạn, sau khi chết cũng có ý thức và tồn tại ở cõi Dục, cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. 2. Vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Chấp trước Ngã là sắc pháp hoặc chẳng phải sắc pháp, trùm khắp tất cả mọi chỗ, sau khi chết vẫn có ý thức, tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục. 3. Diệc hữu biên diệc vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã diệc hữu biên diệc vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Nếu chấp trước Ngã là sắc pháp thì cho rằng lượng của Ngã tùy theo sự biến hiện của thân sở y mà là hữu biên hay vô biên; nếu chấp trước Ngã chẳng phải là sắc pháp thì cho rằng tùy theo sở y và sở duyên có hạn lượng hay không hạn lượng, mà hữu biên hoặc vô biên; sau khi chết vẫn có ý thức và tùy chỗ thích ứng mà tồn tại trong toàn bộ cõi Dục. 4. Phi hữu biên phi vô biên hữu tưởng (cũng gọi Ngã phi hữu biên phi vô biên tử hậu hữu tưởng luận): Không thừa nhận Ngã là hữu biên hay vô biên và chủ trương sau khi chết sinh về cõi Hữu tưởng. Tứ cú thứ 3: 1. Nhất tưởng (cũng gọi Ngã hữu nhất tưởng, Duy nhất tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở 3 tầng trời dưới trong 4 tầng trời cõi Vô sắc, thì các tưởng của Ngã chỉ nương vào ý môn mà lưu chuyển, cho nên Ngã chỉ có 1 tưởng. 2. Chủng chủng tưởng (cũng gọi Nhược can tưởng, Ngã hữu chủng chủng tưởng): Tức cho rằng khi Ngã ở cõi Dục, cõi Sắc thì các tưởng của Ngã nương vào lục căn môn mà chuyển, duyên theo nhiều cảnh, cho nên Ngã có nhiều thứ tưởng. 3. Tiểu tưởng (cũng gọi Ngã hữu tiểu tưởng): Chấp trước, Ngã là tiểu sắc, tiểu vô sắc, nương vào tiểu thân, duyên theo tiểu cảnh, cho nên là Ngã nhỏ hẹp. Trong đó, nếu cho ngã là tiểu sắc uẩn , thì Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chứ không tồn tại ở cõi trời Vô tưởng. Còn nếu cho Ngã là tiểu vô sắc uẩn (tức bất cứ một uẩn nào trong 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức), thì trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. 4. Vô lượng tưởng (cũng gọi Ngã hữu vô lượng tưởng): Chấp trước Ngã là sắc uẩn vô lượng, hoặc chấp trước Ngã là vô sắc uẩn (thụ, tưởng, hành, thức) vô lượng. Trong đó, nếu chấp trước Ngã là sắc uẩn thì Ngã trùm khắp tất cả mọi chỗ, lấy ý thức làm Ngã sở nương vào vô lượng thân, duyên theo vô lượng cảnh, hợp cùng với sắc uẩn kia, cho nên có vô lượng tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục và cõi Sắc, chỉ trừ cõi trời Vô tưởng. Còn nếu chấp trước Ngã là vô sắc uẩn vô lượng, thì ngoài trừ cõi trời Vô tưởng, Ngã tồn tại ở cõi Dục cho đến Vô sở hữu xứ. Tứ cú thứ 4: 1. Ngã thuần hữu lạc (cũng gọi Hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi trời Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền cõi Sắc. 2. Ngã thuần hữu khổ (cũng gọi Hữu khổ hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở địa ngục. 3. Ngã hữu khổ hữu lạc(cũng gọi Hữu khổ hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở các cõi quỉ đói, súc sinh, người và các trời cõi Dục. 4. Ngã vô khổ vô lạc(cũng gọi Phi hữu khổ phi hữu lạc hữu tưởng): Cảm thụ của Ngã ở cõi trời Đệ tứ thiền cõi Sắc trở lên. Bốn loại kiến giải trên đây đều cho rằng đời này, đời khác giống nhau, các cảm giác như khổ, vui, v.v... là khách, còn Ngã thể thì lưu chuyển trong trạng thái mờ mịt, sau khi chết thì vẫn có ý thức. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).

hữu tưởng vô tưởng phi hữu tưởng phi vô tưởng

(有想無想非有想非無想) Cũng gọi Tưởng vô tưởng phi tưởng phi vô tưởng. Tưởng, Phạm:Saôjĩà: Cảm thụ, quan niệm, khái niệm, ý thức…. Hữu tưởng, Phạm: Saôjĩin. Pàli: Saĩĩin. Vô tưởng, Phạm: A-saôjĩin.Pàli: Asaĩĩin. Phi hữu tưởng phi vô tưởng, Phạm: Naiva-saôjĩin-nàsaôjĩin. Pàli:Neva-saĩĩinàsaĩĩin. Tùy theo loài chúng sinh có tưởng hay không có tưởng mà chia nơi hữu tình chúng sinh ở làm 3 loại là Hữu tưởng, Vô tưởng và Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cứ theo luận Kim cương Bát nhã ba la mật phá thủ trước bất hoại giả danh quyển thượng, thì Hữu tưởng nghĩa là đối với Không vô biên xứ khởi không tưởng, đối với Thức vô biên xứ khởi thức tưởng; Vô tưởng nghĩa là đối với Vô sở hữu xứ lìa thiểu tưởng, còn Phi hữu tưởng phi vô tưởng thì thuộc về Hữu đính. Đây là phối hợp hữu tình chúng sinh với 4 cõi trời Vô sắc. Ngoài ra, theo sự giải thích của Đại thừa và Hữu bộ tông, nhất là của Hữu bộ tông, trong 9 nơi ở của hữu tình thì 7 Thức trụ được phối với Hữu tưởng, trời Vô tưởng là Vô tưởng, Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Còn cách giải thích của Đại thừa thì trong 4 nơi thuộc cõi Vô sắc, Thức vô biên xứ được phối với Hữu tưởng, Vô sở hữu xứ phối với Vô tưởng, Phi tưởng phi phi tưởng xứ phối với Phi hữu tưởng phi vô tưởng. [X. phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đại bát nhã Q.577; kinh Kim cương bát nhã ba la mật; kinh Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật; Kim cương bát nhã kinh sớ; Kim cương bát nhã sớ Q.2]. (xt. Cửu Địa, Cửu Hữu Tình Cư).

hữu tất trước địa

(右膝著地) Cũng gọi Hỗ quị, Hồ quị. Quì gối bên phải, đầu các ngón chân phải chấm đất, đầu gối bên trái dựng đứng, bàn chân trái đạp đất. Là một trong những phép lễ kính của người Ấn độ. Phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 16 trung), nói: Trật áo trên vai bên phải, đầu gối bên phải đặt sát đất, một lòng chắp tay . [X. môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.10].

hữu tầm hữu tứ

(有尋有伺) Pàli:Savitakka-savicàra. Pháp tương ứng với 2 tâm sở Tầm và Tứ.Cứ theo luận Câu xá quyển 2, thì trong 18 giới, nói về tương ứng hay không tương ứng với tầm, tứ, thì có thể chia làm 4 phẩm: Hữu tầm hữu tứ, Vô tầm vô tứ, Vô tầm duy tứ (không có tầm chỉ có tứ) Vô tứ duy tầm (không có tứ chỉ có tầm). Trong đó, hành tướng của 5 thức trước (thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân) thì thô và chuyển biến ở bên ngoài, cho nên thường tương ứng với tầm, tứ, tức là Hữu tầm hữu tứ. Mười sắc giới (5 căn, 5 cảnh) không phải là những pháp tương ứng, cho nên thường không tương ứng với tầm, tứ, tức là Vô tầm vô tứ. Ba giới: Ý giới, ý thức giới và pháp giới thì chung cho cả 3 phẩm: Hữu tầm hữu tứ, vô tầm duy tứ và Vô tầm vô tứ. Tức là 3 giới này, trong cõi Dục và Sơ tĩnh lự, ngoại trừ 2 pháp tầm, tứ, còn các pháp tương ứng khác thì thường tương ứng với tầm, tứ, cho nên là Hữu tầm hữu tứ. Còn trong khoảng Sơ tĩnh lự và Tĩnh lự thứ 2 thì các pháp này chỉ tương ứng với tứ, cho nên là Vô tầm duy tứ. Từ Tĩnh lự thứ 2 trở lên cho đến Hữu đính địa, thì những pháp này không tương ứng với tầm, tứ, cho nên là Vô tầm vô tứ. Do đó, cõi Dục và Sơ tĩnh lự được gọi là Hữu tầm hữu tứ địa; khoảng giữa Sơ tĩnh lự và Tĩnh lự thứ 2 được gọi là Vô tầm duy tứ địa; còn từ Tĩnh lự thứ 2 trở lên được gọi là Vô tầm vô tứ địa. Ngoài ra, các pháp phi tương ứng trong pháp giới và pháp tứ của Tĩnh lự trung gian, đều là Vô tầm vô tứ. Còn pháp tầm thì chỉ tương ứng với pháp tứ, cho nên trong tất cả thời gian, đều là Vô tầm duy tứ. Pháp tứ thì trong cõi Dục và Sơ tĩnh lự chỉ tương ứng với pháp tầm, cho nên là Vô tứ duy tầm. Tuy nhiên, trong các kinh luận như luận Đại tì bà sa, v.v... còn có nhiều thuyết khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.52, Q.90, Q.145; luận Du già sư địa Q.4, Q.56; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.4; luận Thuận chính lí Q.4; luận Câu xá Q.10; Câu xá luận quang kí Q.2].

hữu tầm hữu tứ tam ma địa

(有尋有伺三摩地) Phạm:Savitarka-savicàra-samàdhi. Pàli:Savitakka-savicàra-samàdhi. Cũng gọi Hữu giác hữu quán tam muội. Thiền định tương ứng với 2 tâm sở Tầm (giác) và Tứ(quán), thuộc Sơ thiền và Vị chí định, là một trong 3 loại Tam muội. Tầm nghĩa là suy tính tìm cầu, tức là tác dụng tinh thần thô tạp; Tứ nghĩa là thẩm xét tư duy, là tác dụng tinh thần vi tế. [X. luận Câu xá Q.28; luận Đại trí độ Q.23]. (xt. Tam Tam Muội).

Hữu vi

有爲; C: yŏuwéi; J: ui; S: saṃskṛta; T: ḥdus byas; P: saṅkhāta; nghĩa là »được tạo tác« phụ thuộc, bị ảnh hưởng, đối nghĩa với Vô vi (無爲);|Chỉ tất cả những hiện tượng, vạn vật chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Ðặc điểm chính của những Pháp hữu vi này là Thành, Trụ, Hoại, Diệt. Vì thế nên tất cả những gì hữu vi đều trống rỗng (Không), Vô thường, không có tự tính; bám vào chúng là Khổ.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta thường dùng những pháp hữu vi để giảng nghĩa tính chất vô thường của cuộc sống. Ðại thừa (s: mahāyāna) áp dụng danh từ hữu vi vào tất cả những hiện tượng vật chất, tâm lí của thế giới và con người. Ðây chính là nguồn gốc của giáo lí tính Không (s: śūnyatā) của Trung quán tông và học thuyết »Nhất thiết duy tâm tạo« của Duy thức tông.|Tuy nhiên, cách phân chia các pháp theo hữu vi, vô vi thay đổi theo từng tông phái (Pháp tướng tông, Câu-xá tông).|Kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa có ghi lại (Kim cương tứ cú):|一切有爲法。如夢幻泡影|如露亦如電。應作如是觀|Nhất thiết hữu vi pháp|Như mộng huyễn bào ảnh|Như lộ diệc như điện|Ưng tác như thị quán.|*Các pháp hữu vi ấy|Như chiêm bao huyễn mị|Bọt bèo bóng chớp mù|Nên tưởng đều như vậy.

hữu vi

có tạo tác, chỉ chung cả việc có dụng ý tạo tác, có nhân duyên tạo tác. Đây đều là các pháp vô thường, khổ não. ; (有爲) Phạm: Saôskfta. Pàli:Saíkhata. Cũng gọi Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Cũng tức là tất cả hiện tượng trong quan hệ hỗ tương, sinh diệt biến hóa, lấy 4 tướng hữu vi sinh, trụ, dị, diệt làm đặc trưng. Ngược lại, pháp nào vĩnh viễn bất biến và tồn tại tuyệt đối thì gọi là Vô vi pháp. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 5, thì nhân duyên tạo tác gọi là Vi , còn các pháp sắc, tâm từ nhân duyên, có sự tạo tác của nhân duyên, cho nên gọi là Hữu vi, do đó, Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi. Tiểu thừa chú trọng việc dùng hữu vi để nói rõ về lẽ vô thường của kiếp người, còn Đại thừa thì đi xa hơn mà đặt nặng việc phân tích tất cả hiện tượng vật chất và tinh thần trong thế giới để thuyết minh lí tính không, duy tâm. Phổ thông cho 5 uẩn là pháp hữu vi, còn trong 75 pháp của tông Câu xá thì pháp hữu vi chiếm hết 72 thứ; trong 100 pháp của tông Duy thức thì pháp hữu vi chiếm 94 loại. Nói một cách bao quát, pháp hữu vi có thể chia ra 3 loại gọi là Tam hữu vi, đó là: Sắc pháp (vật chất), Tâm pháp (tâm) và Phi sắc phi tâm pháp (pháp bất tương ứng). Pháp hữu vi là pháp vô thường, chuyển biến, đổi dời trong từng sát na, vì thế cũng gọi là Hữu vi chuyển biến. Sinh, trụ, dị, diệt (Tứ tướng hữu vi) là đặc trưng căn bản của các pháp hữu vi, cũng có thuyết hợp 2 tướng trụ, dị làm một mà lập Tam tướng hữu vi. Luận Câu xá quyển 1 có nêu 4 tên khác của pháp hữu vi: Thế lộ, Ngôn y, Hữu li và Hữu sự. 1. Thế lộ: Thế nghĩa là tam thế (3 đời); lộ tức là pháp, là chỗ nương tựa của đời (thế). Nghĩa là pháp quá khứ là đời đã qua rồi; pháp hiện tại là đời đang diễn ra; pháp vị lai là đời sẽ diễn ra. Bởi thế pháp hữu vi là chỗ nương tựa của 3 đời, cho nên gọi là Thế lộ. Thế cũng còn bao hàm ý nghĩa có thể phá hoại , pháp hữu vi là pháp có thể phá hoại, mà cũng là chỗ nương tựa của vô thường, cho nên gọi là Thế lộ. 2. Ngôn y: Ngôn chỉ cho lời nói lấy âm thanh làm thể, là pháp mà Danh ngôn năng thuyên và Thực nghĩa sở thuyên dựa vào để biểu hiện và tồn tại. Lí do tại sao pháp hữu vi được gọi là Ngôn y, là vì nghĩa sở thuyên và danh năng thuyên đều rơi vào 3 đời và hiện hành trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). 3. Hữu li: Li nghĩa là xa lìa vĩnh viễn, tức chỉ cho Niết bàn. Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn, cho nên gọi là Hữu li. 4. Hữu sự: Sự là nhân, nghĩa là các pháp hữu vi đều từ nhân mà sinh ra, cho nên gọi là Hữu sự. Lại nữa, pháp hữu vi phải nhờ quan hệ nhân quả mới thành lập được, như vậy, phàm là pháp hữu vi thì nhất định sẽ sinh ra quả, cho nên Hữu vi cũng được gọi là Hữu quả. Ngoài ra, Hữu vi còn có tên khác là Hữu sát na vì nó có tính chất sinh diệt đổi dời trong từng sát na. [X. luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; Câu xá luận tụng sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp, Tứ Tướng).

hữu vi chuyển biến

(有爲轉變) Tất cả sự vật trong thế gian đều do nhân duyên sinh, rồi cũng theo nhân duyên mà diệt, sinh diệt chuyển biến không ngừng, gọi là Hữu vi chuyển biến. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 6 thượng), nói: Do sức nhân duyên của pháp hữu vi mà xưa không nay có, tạm thời có rồi lại không, muốn cho thấy khác với vô vi, mà giả lập 4 tướng (...); mới có gọi là Sinh, sau không gọi là Diệt, Sinh rồi giống nhau và nối nhau không dứt gọi là Trụ, sự nối nhau chuyển biến ấy gọi là Dị, vì thế 4 tướng đều là giả lập . Căn cứ vào những điều được trình bày trên đây, ta có thể biết pháp hữu vi do nhân duyên mà sinh, có đủ 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt, vì chúng chuyển biến vô thường nên các nhà Duy thức cho rằng 4 tướng đều là tạm thời giả lập, đó chính là nghĩa Hữu vi chuyển biến. Ngoài ra, theo sự giải thích trong luận Câu xá quyển 4, thì chuyển biến tức là sự biến đổi khác nhau giữa trước và sau trong quá trình lưu chuyển tương tục.

hữu vi công đức

(有爲功德) Đối lại: Vô vi công đức. Chỉ cho tất cả công đức thiện pháp thế gian do nhân duyên sinh. Đối lại, Niết bàn đệ nhất nghĩa đế thì gọi là Vô vi công đức.Thập nhị thời ca trong Triệu châu lục (Vạn tục 118, 167 thượng) ghi: Mặt trời mọc vào lúc giờ Mão Thanh tịnh bỗng trở thành phiền não. Hữu vi công đức dính bụi trần Vô hạn ruộng đất chưa từng xáo . [X. kinh Nhân vương Q.thượng].

hữu vi giải thoát

(有爲解脫) Cũng gọi: Vô học chi. Đối lại: Vô vi giải thoát. Thắng giải tương ứng với chính kiến của bậc Vô học A la hán. Thắng giải này là một trong 10 thứ Đại địa pháp thuộc Tâm sở hữu pháp, cho nên gọi là Hữu vi; lại vì thắng giải của pháp hữu vi này sinh khởi từ trong quả thể của bậc Vô học A la hán, cho nên gọi là Hữu vi giải thoát; chia làm Thời giải thoát và Bất thời giải thoát. Thời giải thoát và Bất thời giải thoát mỗi thứ lại đều có 2 loại: 1. Tâm giải thoát: Xa lìa tham dục. 2. Tuệ giải thoát: Xa lìa vô minh. Trong 5 phần pháp thân, Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát này được gọi là Giải thoát uẩn. [X. luận Câu xá Q.25; luận Đại tì bà sa Q.28, Q.101]. (xt. Giải Thoát).

hữu vi không

(有爲空) Phạm:Saôskfta-zùnyatà. Tất cả các pháp hữu vi đều không có tự tính vì do nhân duyên giả hòa hợp mà thành. Là một trong 18 thứ không. Kinh Đại bát niết bàn quyển 16 (bản Bắc) (Đại 12, 461 trung), nói: Hữu vi không nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều là không . [X. kinh Ma ha bát nhã ba la mật Q.5; luận Đại trí độ Q.31, Q.46]. (xt. Thập Bát Không).

hữu vi niết bàn

(有爲涅槃) Đối lại: Vô vi Niết bàn. Niết bàn không có đủ 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. Trái lại, nếu đầy đủ 4 đức ấy thì gọi là Vô vi Niết bàn. Kinh Đại bát niết bàn quyển 3 (bản Nam) có nêu ra 8 vị của Niết bàn để phối với 4 đức: 1. Phối 2 vị thường, hằng với thường. 2. Phối 2 vị an, khoái lạc với lạc. 3. Phối 2 vị không già, không chết với ngã.4. Phối 2 vị trong sạch, không dơ với tịnh. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Nam)].

Hữu vi pháp

有爲法; C: yŏuwéi fă:; J: uihō; S: saṃskrta, saṃskrta-dharmāḥ; |1. Những hiện tượng biểu thị khác nhau được tạo ra như một tổng hợp của nhân và duyên. Những hiện tượng hình thành do nhân duyên, những gì sinh khởi, biến dịch và hoại diệt. Các pháp được tạo tác; 2. Các pháp hữu vi. Còn có nghĩa là năm uẩn: sắc, thụ tưởng, hành, thức, tất cả các yếu tố được tạo thành do các điều kiện (duyên; s: pratyaya); 3. Nhiễm ô, phiền não; 4. Những gì nhất thời và giả tạm.

hữu vi quả

(有爲果) Đối lại: Vô vi quả. Quả của pháp hữu vi do nhân duyên hòa hợp kết thành. Tức là 4 quả: Sĩ dụng, Tăng thượng, Đẳng lưu và Dị thục. [X. luận Câu xá Q.6; luận Thành duy thức Q.8]. (xt. Ngũ Quả).

hữu vi sinh tử

(有爲生死) Cũng gọi Phần đoạn sinh tử. Đối lại: Vô vi sinh tử (Biến dịch sinh tử). Sự sống chết của chúng sinh trong 3 cõi. Chúng sinh trong 6 đường do quả báo bất đồng nên thân hình, thọ mệnh đều có hạn định khác nhau, loại sinh tử này có phần đoạn giới hạn, nên gọi là Hữu vi sinh tử. (xt. Phần Đoạn Sinh Tử).

hữu vi vô lậu

(有爲無漏) Cũng gọi Vô lậu hữu vi. Chỉ cho pháp hữu vi vô lậu. Luận Câu xá cho rằng Khổ đế, Tập đế trong Tứ đế là pháp hữu vi hữu lậu, Diệt đế là pháp vô vi vô lậu, còn Đạo đế thì tuy là pháp vô lậu, nhưng vì có tính chất sinh diệt nên thuộc về pháp hữu vi, do đó, Đạo đế cũng được gọi là pháp Hữu vi vô lậu. Ngoài ra, trong 75 pháp thì có 29 pháp là pháp Hữu vi vô lậu, đó là: Vô biểu sắc trong Sắc pháp, thức thứ 6 tâm vương trong Tâm pháp, 10 Đại địa pháp, 10 Đại thiện địa pháp, Tầm, Tứ trong Tâm sở hữu pháp, Đắc và 4 tướng Sinh trụ dị diệt trong Tâm bất tương ứng hành pháp. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp, Tứ Đế). HỮU VÔ . Phạm: Bhava-abhava. Hữu và vô, chỉ cho sự tồn tại và sự không tồn tại. Trong Phật giáo, nếu cho rằng tất cả sự vật tồn tại đều là giả tướng tạm thời, gọi là Giả hữu (có giả); vì chúng theo nhân duyên mà sinh diệt, không có thực thể thường còn (ngã, tự tính), cho nên nói vô ngã, vô tự tính. Trái lại, nếu chấp tất cả là thường trụ bất biến (có thật) và tồn tại lâu dài, thì gọi là Hữu kiến, Ngã kiến. Nếu vượt qua loại Hữu kiến, Hữu ngã này thì hiểu rõ lí vô thường, vô ngã, không, v.v... Nhưng dứt khoát không thể xem vô ngã, vô thường, không, v.v... này là một thứ tư tưởng hư vô mà phải thấu suốt ý nghĩa chân thực của chúng. Tư tưởng hư vô bị Phật giáo xếp vào loại Hư vô không kiến , tư tưởng này và ngã kiến, hữu kiến đều là chấp trước nên phải phá trừ. Đức Phật chủ trương lí Trung đạo, có thể phá trừ sự chấp trước Hữu, Vô mà liễu ngộ lí Thực tướng. Do đó, chữ Vô trong Phật giáo là chỉ cho cái Không siêu việt Hữu, Vô. Trung luận của ngài Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna, 150–250) đã trực tiếp phá tư tưởng Hữu , đồng thời làm sáng tỏ chân nghĩa Không , khiến cho người ta không còn lầm tưởng Không là hư vô mà rơi vào Không kiến và Hữu kiến. Hữu và vô vốn là 2 nghĩa của 1 pháp, tức là các pháp do nhân duyên mà sinh, thực sự tồn tại, đó là Hữu. Nhưng vì các pháp do nhân duyên sinh nên không có tự tính, đó là Vô. Nếu chấp trước bất cứ một nghĩa nào trong 2 nghĩa ấy đều dễ rơi vào kiến giải thiên lệch hẹp hòi, vì thế đức Phật chủ trương thuyết Trung đạo, để phá trừ sự chấp trước ở trên mà thể ngộ được nghĩa chân thực của các pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.12]. (xt. Hữu).

Hữu vô

有無; C: yŏuwú; J: umu; |1. Có và không (s: bhāva-abhāva; t: dṅos daṅ dṅ med). Khuynh hướng giải thích thực tại như là một hay là khác thuộc hai cực nầy là toát yếu căn bản của Phật pháp, và là một trong những ý nghĩa mở rộng nhất của thuật ngữ Trung đạo (中道); 2. Một cách diễn đạt ý niệm không (空) và hữu (有).

hữu vô lực đãi duyên

(有無力待緣) Nhờ vào sức giúp đỡ của các duyên mà nhân có thể dẫn sinh ra quả. Là một trong 6 nghĩa của nhân do tông Hoa nghiêm căn cứ vào nghĩa hằng tùy chuyển trong sáu nghĩa chủng tử của tông Duy thức mà lập ra. Các pháp duyên khởi đều có 2 nghĩa Không và Hữu, bản thể chân như tùy duyên hiển hiện các pháp, ấy là nghĩa Hữu; nhưng Hữu này là giả hữu, không có tự tính, đó là nghĩa Không. Theo nghĩa Hữu mà nói về thể của nhân , nếu muốn dẫn sinh ra quả thì nhân ấy phải nhờ sự giúp đỡ của các duyên khác mới có thể sinh ra quả, bởi vì nhân ấy cũng là giả hữu, cho nên gọi là Hữu vô lực đãi duyên. Chẳng hạn, Như lai tạng từ vô thủy đến nay thường theo duyên vô minh mà sinh quả, đó là Hữu mà vô lực; theo mà đợi duyên khác nên gọi là Hữu vô lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

hữu vô nhị kiến

(有無二見) Hữu kiến và Vô kiến. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 4 phần dưới thì Hữu kiến là thường kiến, Vô kiến là đoạn kiến, do 2 loại kiến này mà sinh ra 62 kiến giải sai lầm. Ngoài ra, nếu chấp trước Hữu hay chấp trước Vô, thì đều là thiên kiến, gọi là Hữu vô nhị biên. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; Triệu luận]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).

hữu vô tà kiến

(有無邪見) Hữu kiến và Vô kiến đều chẳng phải là chính kiến Trung đạo, mà là thiên lệch, hẹp hòi, bất chính, nên gọi Hữu vô tà kiến. (xt. Thường Kiến).

hữu vô tứ cú

(有無四句) Bốn câu liên quan đến siêu hình của các học phái ngoại đạo. Đó là: 1. Hữu cú: Chấp trước nhất định thân ta là có thật, thuộc về thường kiến. 2. Vô cú: Chấp trước thân này là không, thuộc về đoạn kiến. 3. Diệc cú: Chấp trước thân này cũng có cũng không, thuộc về Hữu vô tương vi kiến (quan điểm có, không trái nhau). 4. Phi cú: Chấp trước thân này chẳng phải có chẳng phải không, thuộc về Hí luận kiến. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.16; Đại minh tam tạng pháp số Q.18]. (xt. Tứ Cú Phân Biệt).

Hữu ái

有愛; C: yŏuài; J: uai; |1. Đắm chấp vào sự hiện hữu; tham muốn hiện hữu (p: bhava-taṇhā; s: bhava-priya); 2. Chỉ những dạng khác của tham chấp trong cõi sắc và vô sắc.

hữu ái trụ địa

(有愛住地) Cũng gọi Vô sắc ái trụ địa. Chỉ cho Tư hoặc trong cõi Vô sắc. Là một trong 5 Trụ địa hoặc. Trong các phiền não ở cõi Vô sắc, ngoại trừ Vô minh và Kiến, các phiền não khác tuy đã xa lìa Sắc tham nhưng còn chấp trước, ái nhiễm thân mình, nên gọi là Hữu ái trụ địa. Ái chỉ cho tham ái, là một trong các loại Tư hoặc. Tuy Tư hoặc chỉ chung cho cả 4 món tham, sân si, mạn, nhưng vì tham ái có ý nghĩa nhuận sinh mạnh nhất nên mới dùng Ái để biểu thị cho Tư hoặc. Ngoài ra, vì Tư hoặc là chỗ nương, chỗ trụ của tất cả phiền não, hơn nữa, lại có khả năng sinh ra phiền não, cho nên gọi là Trụ địa. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Ngũ Trụ Địa Hoặc).

Hữu điểm

有點; C: yŏudiăn; J: uten;|Nakamura định nghĩa thuật ngữ nầy đơn giản là »có nhiễm ô phiền não«, nhưng theo cách dùng trong Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), nó chỉ cho tập khí vi tế còn sót lại, việc chuyển hoá tập khí nầy là của hàng Bồ Tát, vượt qua phạm vi tu tập của hàng nhị thừa. Cách dùng trái ngược với Hữu cấu (有垢).

hữu đãi

(有待) Chỉ cho thân thể con người. Từ này vốn có xuất xứ từ câu Do hữu sở đãi dã (còn có chỗ tiếp đãi vậy) trong Tiêu dao du của ngài Trang tử. Thân thể còn cần có thức ăn, y phục, v.v... …mới sống còn được, nên gọi là Hữu đãi. Ma ha chỉ quán quyển 4 thượng (Đại 46,36 thượng), nói: Thân hữu đãi phải nhờ sự giúp đỡ . Ngoài ra, thân được sống còn là nhờ các duyên phụ trợ gọi là Y thân hữu đãi; sự chuyển biến của thân thể gọi là Hữu đãi chuyển biến, sự vô thường của thân thể gọi là Hữu đãi bất định. [X. truyện Đạo an trong Lương cao tăng truyện].

hữu đạo tính lực phái

(右道性力派) Phạm:Dakwiịàcàra Zàkta. Một chi phái thuộc phái Tính lực của Ấn độ giáo. Phái này nổi lên vào khoảng thế kỉ XIII, thờ Thương yết la (Phạm: Zaíkara, 700- 750) của học phái Phệ đàn đa làm thủy tổ, nhằm chấn chỉnh những tệ hại và sai lầm do phái Tả đạo tính lực gây ra. (xt. Tả Đạo Tính Lực Phái).

Hữu đỉnh

有頂; C: yŏudǐng; J: uchō;|Tầng trời thứ tư của Sắc giới (色界). Tầng cao nhất của của thế giới hữu hình (s: bhava-agra). Xem Hữu đỉnh thiên (有頂天).

hữu đỉnh hoặc

(有頂惑) Cũng gọi Phi tưởng hoặc. Hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính. Theo luận Câu xá quyển 24 thì cõi Hữu đính là cõi trên hết trong 3 cõi 9 địa, hoặc nghiệp ở cõi này có 2 loại là Kiến hoặc và Tu hoặc, trong đó, Kiến hoặc được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo, còn Tu hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo. Tức là trước hết dùng 6 quán hạnh đoạn trừ 72 phẩm hoặc nghiệp ở 8 địa dưới, kế đến dùng trí vô lậu đoạn trừ 8 phẩm dưới trong 9 phẩm hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính, lúc này gọi là A la hán hướng; sau cùng, khi đoạn trừ hoặc nghiệp phẩm thứ 9 thì gọi là A la hán quả. Hoặc nghiệp ở cõi Hữu đính, ngoài trí vô lậu ra không có cách nào đoạn trừ được, vì thế lực của trí vô lậu rất mạnh, có công năng phá trừ hoặc nghiệp ở tự địa và ở các địa trên.

Hữu đỉnh thiên

xem A-ca-ni-trá. ; 有頂天; C: yŏudǐngtiān; J: uchōten; S: akaniṣ-ṭha.|1. Tên gọi khác của Sắc cứu cánh thiên (色究竟天), là tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Sắc; 2. Tên gọi khác của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Vô sắc.

hữu đỉnh thiên

(有頂天) Phạm:Akaniwỉha. Pàli:Akaniỉỉha. Dịch âm: A ca ni tra. Cũng gọi Sắc cứu kính thiên. Tầng trời thứ 9 của Tứ thiền thiên thuộc cõi sắc, là đỉnh cao nhất của thế giới hữu hình. Ngoài ra, Hữu đính thiên cũng chỉ cho tầng trời thứ 4 của cõi Vô sắc, tức là cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì tầng trời này là đỉnh cao nhất của 3 cõi nên gọi là Hữu đính. Trong văn xuôi cũng như văn vần của kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm hiện còn, đều dùng tiếng Phạm Bhavàgra (Hữu đính) chứ không dùng chữ Akaniwỉha. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.74; luận Câu xá Q.24; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng)]. (xt. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên).

Hữu đối

有對; C: yŏuduì; J: utai;|Sự hiện hữu của một đối tượng bền chắc choán không gian và có hoặt dụng như một chướng ngại (s: pratigha). Đồng nghĩa với Hữu ngại (有礙) và phản nghĩa với Vô đối (無對).

hữu đối

(有對) Phạm: Sa-pratigha. Đối lại: Vô đối. Đối hàm ý là ngăn ngại. Hữu đối nghĩa là pháp có tính ngăn ngại. Ngại có 2 loại là chướng ngại và câu thúc. Chẳng hạn như các pháp 5 căn, 5 cảnh và tâm, tâm sở, v.v... bị chướng ngại nên không sinh khởi, hoặc các pháp ấy bị cảnh sở thủ sở duyên câu thúc nên chẳng thể chuyển biến đến cảnh khác. Cứ theo luận Câu xá quyển 2 thì Hữu đối có thể chia làm 3 loại: 1. Chướng ngại hữu đối: Nghĩa là 10 sắc pháp (5 căn + 5 cảnh) do cực vi tạo thành, ngăn ngại lẫn nhau nên không sinh, như tay ngăn ngại tay, đá ngăn ngại đá, v.v..., 2 loại vật này không thể cùng lúc phát sinh ở một chỗ, nên gọi là Chướng ngại hữu đối. 2. Cảnh giới hữu đối: Nghĩa là 6 căn, 6 thức và tâm sở pháp(một phần pháp giới) bị cảnh sở thủ trói buộc, không thể sinh khởi cảnh khác. Chẳng hạn như căn mắt, thức mắt và tâm sở tương ứng với chúng, đã sinh khởi cảnh sắc thì bị tự cảnh của chúng trói buộc nên không sinh khởi ở cảnh khác được, các căn thức khác cũng thế. Cũng như luận Thi thiết quyển 5 nói, mắt của cá chỉ thấy được ở dưới nước, trên đất liền thì vô dụng; mắt người ta cũng vậy, chỉ thấy được trên đất liền(nghĩa là bị đất liền trói buộc, ngăn ngại), chứ không thể khởi tác dụng ở dưới nước. 3. Sở duyên hữu đối: Nghĩa là 6 thức và tâm sở chỉ chuyển biến ở cảnh sở duyên của chúng; cũng tức là 6 thức và tâm sở bị pháp sở duyên của chúng trói buộc. Cảnh giới và sở duyên nói trên đây đều là 6 cảnh, nhưng nương vào công năng thủ cảnh mà gọi là Cảnh giới hữu đối và căn cứ vào tác dụng duyên theo phụ mà gọi là Sở duyên hữu đối. [X. luận Đại tì bà sa Q.76, Q.128; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.1; Câu xá luận quang kí Q.2].

hữu đối xúc

(有對觸) Đối lại: Tăng ngữ xúc. Trong 6 Xúc, tâm sở xúc tương ứng với 5 thức trước (nhãn xúc, nhĩ xúc, tị xúc, thiệt xúc, thân xúc), gọi là Hữu đối xúc; còn Ý xúc tương ứng với thức thứ 6 thì gọi là Tăng ngữ xúc. Vì 5 xúc nhãn, nhĩ, v.v... lấy 5 căn hữu đối làm chỗ nương tựa, cho nên gọi là Hữu đối xúc; còn Ý xúc thì duyên theo tên của sự vật mà phân biệt nên gọi là Tăng ngữ xúc. [X. luận Câu xá Q.10]. (xt. Hữu Đối, Tăng Ngữ Xúc).

hữu động định

(有動定) Đối lại: Bất động định. Chỉ cho 3 thiền định (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền) trong 4 định của cõi Sắc. Còn định thứ 4 thuộc về Bất động. Cứ theo luận Câu xá quyển 28, thì 3 thiền định trước có 8 nạn là Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Khổ, Ưu, Nhập tức (hít vào), Xuất tức (thở ra). Tám nạn này như gió nhiễu động mặt nước lặng yên (định), cho nên gọi là Hữu động; còn trong định thứ 4 không có 8 nạn trên nên gọi là Bất động. [X. Câu xá luận quang kí Q.28]. (xt. Tứ Thiền).

hữu đức nữ

(有德女) Người con gái của Bà la môn Hữu đức ở thành Ba la nại, Ấn độ đời xưa. Cô gái này nhờ thấy tướng hảo của đức Phật mà sinh khởi lòng tin thanh tịnh, thưa hỏi Phật về pháp sâu xa mầu nhiệm, Phật liền giảng nói lí thực tướng các pháp tự tính không vô, do đó mà có kinh Hữu đức nữ sở vấn (1 quyển) lưu truyền ở đời.

hữu đức nữ sở vấn kinh

(有德女所問經) Cũng gọi Hữu đức nữ sở vấn Đại thừa kinh.Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào năm 693, đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Mục đích của kinh này là làm sáng tỏ tư tưởng Đại thừa. Nội dung tường thuật việc người con gái Hữu đức thưa hỏi, đức Phật giảng nói về 12 nhân duyên và giải thích vô minh vốn không có tự tính, nhưng vì ngu si điên đảo nên phàm phu tạo nghiệp chịu khổ. Đức Như lai phương tiện tùy thuận thế gian, tuyên giảng Đệ nhất nghĩa đế, khiến cho chúng sinh liễu ngộ. Hữu đức nghe rồi, biết rõ pháp luân do đức Phật chuyển đúng là Hư không pháp luân, Xuất li pháp luân, Vô tướng pháp luân và hiểu rõ thực tướng của các pháp là không có tự tính, cho nên được đức Phật thụ kí trong vị lai sẽ thành Phật. Kinh này còn có bản dịch khác dưới nhan đề: Phạm chí nữ thủ ý kinh, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào khoảng năm 266- 313 đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.3, Q.14].

Hựu Khoái

(宥快, Yūkai, 1345-1416): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Hiền Vinh (賢榮), Thoại Nghiêm (瑞嚴), Hựu Khoái (宥快); hiệu là Tể Tướng Phòng (宰相房), Tánh Nghiêm Phòng (性嚴房); xuất thân vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto); con của Tả Thiếu Tướng Đằng Nguyên Thật Quang (左少將藤原實光). Ông theo xuất gia với Vinh Trí (榮智) ở Tá Cửu Gian Tự (佐久間寺), vùng Thường Lục (常陸, Hitachi). Sau ông theo hầu Tín Hoằng (信弘) ở Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn, học về Sự Tướng, Giáo Tướng cũng như Tất Đàm (悉曇), rồi kế thừa các dòng Trung Viện (中院), Tam Bảo Viện (三寶院), Tây Viện (西院) và Trì Minh Viện (持明院). Năm 1374, ông làm trú trì Bảo Tánh Viện; đến năm sau thì trước tác bộ Bảo Kính Sao (寶鏡抄) để phê phán Dòng Lập Xuyên (立川流). Vào năm 1375, ông theo học pháp với Hưng Nhã (興雅) ở An Tường Tự (安祥寺); đến năm 1406 thì giao Bảo Tánh Viện lại cho đệ tử Thành Hùng (成雄) và lui về ẩn cư tại Thiện Tập Viện (善集院). Ông rất tinh thông về Giáo Tướng, tự xưng là Bảo Môn Phái (寶門派), cùng với Thọ Môn Phái (壽門派) của Trường Giác (長覺), hình thành nên hệ thống giáo học của Cao Dã Sơn. Đệ tử phú pháp của ông có Hựu Tín (宥信), Thành Hùng (成雄), Khoái Nhã (快雅), Khoái Tôn (快尊), v.v. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Đại Nhật Kinh Khẩu Chi Sớ Sao (大日經口之疏鈔) 85 quyển, Tông Nghĩa Quyết Trạch Tập (宗義決擇集) 20 quyển, Bảo Kính Sao (寶鏡抄) 1 quyển, Nhị Giáo Luận Sao (二敎論鈔) 30 quyển, Tất Đàm Quyết Trạch Tập (悉曇決擇集) 5 quyển, v.v.

hỷ

Priti or Ananda (skt). 1) Hỷ là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta xả bỏ đi những ưu phiền và khó chịu của cuộc sống hằng ngày của chúng ta—Joy—Glad—Delighted—Rejoice—To like—Joy is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we renounce all unpleasant things and sorrows in our daily life. 2) Theo Kinh Duy Ma Cật, khi ngài Bồ Tát Văn Thù đến thăm bệnh cư sĩ Duy Ma Cật, có hỏi về lòng “hỷ” như sau—According to the Vimalakirti Sutra, when Manjusri Bodhisattva called on to enquire after Upasaka Vimalakirti's health, he asked Vimalakiriti about “Priti” as follows: • Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật: “Sao gọi là lòng hỷ của một vị Bồ Tát?”—Manjusri asked Vimalakirti: “What should be the joy (mudita) of a Bodhisattva?” • Duy Ma Cật trả lời: “Một vị Bồ Tát hễ có lợi ích gì đều hoan hỷ, không hối hận.”—Vimalakirti replied: A Bodhisattva should be filled with joy on seeing others win the benefit of the Dharma with no regret whatsoever.”

hỷ duyệt

See Hỷ Lạc.

hỷ giác chi

The third bodhyanga—See Hỷ Giác Phần.

hỷ giác phần

Priti-bodhyanga (skt)—Enjoyment of the state of truth—Hỷ giác phần còn là một trong những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì nhờ đó mà chúng ta đạt được nhiều trạng thái định tĩnh cho tâm trí. Đây là giác chi thứ ba, giai đoạn mà vị Bồ Tát cảm thấy thích thú khi đạt được chân lý—Enjoyment of the state of truth is one of the most important entrances to the great enlightenment; for with it, we attain many kinds of balanced state. This is the third bodhyanga, the stage of joy on attaining the truth. ** For more information, please see Thất Bồ Đề Phần in Vietnamese-English Section.

hỷ hoan

See Hỷ Lạc.

hỷ kiến

Priyadarsana (skt)—Hoan hỷ nhìn thấy—Joyful to see, beautiful name of a kalpa.

hỷ kiến bồ tát

Theo Kinh Pháp Hoa, phẩm Dược Vương, đây là tên gọi tắt của Bồ Tát Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến, là tiền thân của Bồ tát Dược Vương (ngài thường cúng dường Pháp Hoa mà đốt cả thân mình)—The Bodhisattva Beautiful, an incarnation of Bhaisajyaraja-samudgata.

hỷ kiến thiên

Cõi trời Đao Lợi, hay ba mươi ba tầng trời Đế Thích, trên đỉnh núi Tu Di—The Trayastrimsas, or thirty-three devas or gods of Indra's heaven, on the summit of Meru—See Đao Lợi Thiên.

hỷ kiến thành

Sudarsana (skt)—A Joy-To-Behold City—See Thiên Đế Thích Thành.

hỷ lâm

The park of all delights.

hỷ lâm uyển

See Hoan Hỷ Viên.

hỷ lạc

Còn gọi là Hỷ Duyệt, hay Hỷ Hoan, do không phân biệt mà vui thích thì gọi là lạc; do phân biệt mà vui thích thì gọi là hỷ—Pleased—Delighted—See Ngũ Thọ.

hỷ nhẫn

The patience of joy, achieved on beholding by faith Amitabha and his Pure Land, one of the three kinds of patience.

hỷ nộ

Joy and anger

hỷ sự

Happy occasion.

hỷ thọ

Một trong năm thọ—One of the five vedanas or sensations—See Ngũ Thọ. 1) Niềm vui do tâm thuận cảnh:The sensation , or receptivity of joy. 2) Thụ nhận với niềm hân hoan vui thích:To receive with pleasure.

Hỷ Túc

xem cõi trời Đâu-suất.

Hỷ vô lượng

xem Bốn tâm vô lượng.

hỷ xả

Hỷ là tự mình hoan hỷ làm việc thiện, thấy người khác làm việc thiện cũng phát tâm tùy hỷ. Xả là xả bỏ, tất cả sự chướng ngại giải thoát của thân tâm đều xả bỏ hết. ; Còn gọi là Tịnh Thí hay Tịnh Xả, vui mừng mà bố thí tiền của—Joyful giving—See Tịnh Thí.

im bặt

Completely silent.

im lặng

•Giữ im lặng: Vacamyama (skt)—To keep still, calm, or silent. •Không nói: Restraining speech or voice—Without speaking. •Sự im lặng: Vacamtva (skt)—Silence.

im lặng cao quí

Noble Silence. •Chỉ nói khi cần thiết. Đức Phật không trả lời những câu hỏi về tự tồn, không tự tồn, thế giới vĩnh cửu, vân vân. Theo Đức Phật, người giữ im lặng là người khôn ngoan vì tránh được hao hơi tổn tướng cũng như những lời nói tiêu cực vô bổ—Speak only when necessary—Buddha Sakyamuni refrained from giving a definitive answer to many metaphysical questions of his time (questions of self-exists, not self-exists, if the world is eternal, or unending or no, etc)—According to the Buddha, a silent person is very often a wise person because he or she avoids wasting energy or negative verbiage. •Một hôm có người nói với Phật y sẽ nhập bọn các đệ tử của Ngài nếu Ngài đưa ra được những giải đáp sáng tỏ về các vấn đề như Phật sống mãi hay không, nếu thế thì cái gì sẽ xãy ra sau khi Ngài chết? Nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ là gì và vũ trụ rồi sẽ giống như cái gì trong tương lai? Tại sao loài người sống và cái gì xãy ra sau khi chúng ta chết? Vân vân và vân vân. Nếu người ấy hỏi để vấn nan Phật thì Ngài chỉ im lặng. Ví bằng Ngài thấy rằng người ấy hỏi để học thì Ngài sẽ trả lời như thế nầy: “Giả sử bạn bị trúng một mũi tên tẩm thuốc độc, có một y sĩ đến để nhổ mũi tên ấy ra khỏi thân thể của bạn và trị vết thương cho lành, trước tiên bạn có hỏi ông ta những vấn đề như mũi tên được làm bằng thứ gì, thuốc độc được chế bằng thứ gì, ai bắn mũi tên đó, và nếu y sĩ không trị vết thương, cái gì sẽ phải xãy ra, vân vân và vân vân; và từ chối chữa trị trừ phi y sĩ trả lời tất cả những vấn đề đó để thỏa mãn bạn? Bạn sẽ chết trước khi nhận được những giải đáp.” Trong thí dụ nầy, Phật khuyến cáo các người hỏi nếu là đệ tử của Ngài thì đừng nên phí mất thời gian về những vấn đề quá sâu xa ngoài tầm lãnh hội của một người thường, có thể sau thời gian dài tu tập theo nhà Phật thì tự nhiên sẽ thấu hiểu: One day a certain man said to the Buddha that he would join the band of his disciples if the Buddha would give clear answer to the questions: Would the Buddha ever die, and, if so, what would become of him after death? What was the first cause of the universe, and what was the universe going to be like in the future? Why do men live and what becomes of them after death? If the person asks because he wants to cause troubles for the Buddha, the Buddha will remain silent. If the person asks because he wants to study, the Buddha's answer was to the following effect: “Suppose you were shot by a poison arrow and a physician came to draw the arrow from your body and to dress the wound, would you first ask him questions as to what the arrow was made of, what the composition of the poison was., and who shot the arrow, and, if the physician did not dress the wound, what was going to happen, and such blissful questions, and refuse the treatment until the physician answered all the questions to your satisfaction? You would be dead before you obtained the answers.” In this parable the Buddha advised the questioner to become his disciple without wasting his time on problems which were too profound to be understood by an ordinary man, probably a long cultivation as a disciple of the Buddha he might come to understand. •Theo Triết Học Trung Quán, sự im lặng bí ẩn của Đức Phật đối với những câu hỏi có tính cách siêu hình căn bản nhất đã thúc đẩy Bồ Tát Long Thọ nghiên cứu tìm hiểu lý do tại sao Đức Phật lại giữ im lặng. Có phải Đức Phật chủ trương “Bất khả tri” như một số người Tây phương nghiên cứu Phật Giáo đã nghĩ? Nếu không thì vì lý do gì mà Ngài giữ thái độ im lặng? Qua một cuộc nghiên cứu đối với sự im lặng nầy, Long Thọ đã đặt ra biện chứng pháp. Có một số câu hỏi trứ danh mà Đức Phật cho là “Vô ký,” tức là những giải đáp mà Ngài cho rằng không thể diễn đạt. Trong những chú giải của Nguyệt Xứng về Trung Luận, Ngài đã từng nói về chuyện Đức Thế Tôn đã tuyên bố về mười bốn sự việc không thể thuyết minh được như sau—According to the Madhyamaka Philosophy, the mysterious silence of the Buddha on most fundamental questions of Metaphysics led him to probe into the reason of that silence. Was the Buddha agnostic as some of the European writers on Buddhism believe him to be? If not, what was the reason of his silence? Through a searching inquiry into this silence was the dialectic born. There are well-known questions which the Buddha declared to be avyakrta or the answers to which were inexpressible, Cadrakirti enumerates them in his commentary on the Madhyamaka Sastra that the Buddha announced fourteen things to be inexpressible: a)Thế giới phải chăng là—Whether the world is…: 1)Vĩnh hằng: Eternal. 2)Không vĩnh hằng: Not eternal. 3)Hoăc vừa vĩnh hằng vừa không vĩnh hằng: Both eternal and not eternal. 4)Hoặc chẳng phải vĩnh hằng mà cũng chẳng phải không vĩnh hằng: Neither eternal nor not eternal. b)Phải chăng thế giới là—Whether the world is… 5)Hữu biên: Finite. 6)Vô biên: Infinite. 7)Hoặc vừa hữu biên vừa vô biên: Both finite and infinite. 8)Hoặc chẳng phải hữu biên mà cũng chẳng phải vô biên: Neither finite nor infinite. c)Phải chăng sau khi Như Lai nhập diệt—Whether the Tathagata… 9)Ngài vẫn tồn tại: Exists after death. 10)Ngài không còn tồn tại: Does not exist after death. 11)Hoặc Ngài vừa tồn tại vừa không tồn tại: Either exists or does not exist after death. 12)Hoặc Ngài chẳng tồn tại mà cũng chẳng không tồn tại:Neither exists nor does not exist after death. d)Phải chăng linh hồn và thể xác—Whether the soul is. 13)Đồng nhất: Identical with the body. 14)Không đồng nhất: Different with the body.

im phăng phắc

Dead silence—Unbroken silence.

im thin thít

To keep silent.

im ỉm

Very silent.

In-đra-bu-ti

S: indrabhūti; »Nhà vua Tất-đạt giác ngộ«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. In-đra-bu-ti là tên của ba nhà vua khác nhau của nước Ô-trượng-na (s: oḍḍiyāṇa), chuyện này nói về nhà vua thứ ba, sống trong thế kỉ thứ 9.||H 29: In-đra-bu-ti (indrabhūti)|In-đra-bu-ti có một cô em gái là La-kha Min-ka-ra (lakṣmīṅkarā), lúc lên bảy đã hứa làm vợ cho nhà vua Ja-len-đra (jalendra). Nhưng La-kha Min-ka-ra đã sớm từ bỏ đời sống thế gian, theo học Phật pháp. Theo gương cô em, In-đra-bu-ti nhường ngôi cho con, âm thầm tu tập thiền định trong một cung điện riêng. Sau 12 năm thiền quán, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi), quần thần không hề biết. Ngày nọ ông đến thăm con thì con ông cũng định đến thăm cha. Người con nghe tiếng gọi từ không trung, nhìn lên thấy ông đang lơ lửng trên trời. Ông tận dụng lúc này để giảng pháp cho con và quần thần nghe. Bài thánh đạo ca của ông như sau:|Nếu không có phép lành,|bất chợt và đúng lúc,|thì ngay người tu tập|không thể nào giác ngộ.|An lạc và Phật-đà|thật sự không gì khác.|Hãy cắt bỏ ràng buộc,|và trực nhận tự tính,|đầy phúc của thật tại.|Ông có để lại một tác phẩm về tu tập Tan-tra dưới tên Trí thành tựu pháp (s: jñānasiddhi).

inh tai

Deafening.

inh ỏi

Noisy—Loud.

Ja-lan-đa-ra

S: jālandhara hoặc jālandharipa; »Người được chọn của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ của thế kỉ thứ 9, 10. Ông là vị thầy nổi tiếng, có 10 đệ tử cũng trở thành Tất-đạt.|Ja-lan-đa-ra là người theo đạo Bà-la-môn ở thành Tur-khā-ra, nhàm chán thế gian đến mức bỏ hết đi đến một bãi thiêu xác, lang thang tại đó. Lúc ngồi dưới một gốc cây thì một Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra, hỏi ông có muốn học Phật pháp, thực hành một Nghi quỹ (s: sādhana). Ông cầu khẩn xin học thì được giáo hoá như sau|Tập hợp mọi tri thức,|cả ba Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo,|cho lên đến đỉnh đầu,|rồi hãy tống vào cửa,|mở vào cõi Thanh tịnh.|Du-già sư trong sạch,|sẽ phát sinh Ðại lạc,|trong tính Không vô tận.|Cứ giữ sự giao phối,|tính Không và Ðại lạc.|»Ba huyệt đạo« chính là La-la-nā, tượng trưng cho trí phán đoán phân biệt, chủ nam tính; Ra-sa-nā, tượng trưng cho tâm trực giác, cảm xúc, chủ nữ tính và A-va-dhū-ti là huyệt đạo trung tâm, chấm dứt tại đỉnh đầu. Ja-lan-đa-ra thiền quán bảy năm liên tục và đạt yếu chỉ của Ðại thủ ấn, đó là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Thánh đạo ca của ông như sau:|Muốn nhận được ân phúc,|hãy tập hợp tư duy,|của ba: Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo.

Ja-ya-nan-đa

S: jayānanda hoặc jayānanta; »Vua của bầy quạ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ – có lẽ là đệ tử của A-đề-sa – sống trong thế kỉ thứ 11.|Ja-ya-nan-đa là quan đại thần của nhà vua, thuộc dòng Bà-la-môn xứ Bengal. Ông âm thầm tu tập một Tan-tra Phật giáo, đặc biệt là chuyên cúng dường bánh trái. Về sau nhà vua biết ông tu phép này, bắt giam vào ngục. Ðến giờ cúng dường thường lệ, bầy quạ đến chờ thức ăn không có, chúng bay từng đàn trên cung điện nhà vua, mổ đầu người qua kẻ lại. Trong số đó có người hiểu được tiếng chim, tâu lại vua. Vua nghe xong, truyền thả ông ra. Ông đọc bài kệ:|Nhờ phép lành Ðạo sư,|ta chứng thật viên mãn,|đạt tỉnh giác tự nhiên,|vốn tiên thiên sẵn có.|Ta, đại thần hỉ lạc,|hết phụng sự Luân hồi.|Vua chính là Tự tính,|đã thắng quân nhị nguyên,|đã xa rời dục lạc.|Hãy nghe, hỡi các người,|Khúc khải hoàn Cha-da.||H 30: Ja-lan-đa-ra (jālandhara) đang phối hợp từ bi và tính không|Chứng đạo ca của ông có những dòng:|Trong tâm thức đạt định,|đầy tỉnh giác, tri kiến,|đạt tự tâm thanh tịnh,|xa hẳn tâm phân biệt.|Chứng được lòng kiên cố,|vắng bóng các thành kiến,|và tư duy hỗn loạn.

Jam-gon Kong-trul

T: jamgon kongtrul [jammgon koṅsprul]; 1813-1899;|Một trong những Lạt-ma quan trọng của Phật giáo Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mới đầu Sư theo giáo phái Bôn (t: bon), về sau tu học với dòng Ninh-mã (t: nyingmapa) và Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu). Các tác phẩm của Sư được gọi là »Ngũ báu«, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.|Năm 30 tuổi, Sư chấm dứt việc học hành sau khi được 60 Ðại sư giảng dạy và được công nhận là một Chu-cô (t: tulku) trong thời gian này. Vì đã có kiến thức về truyền thống của đạo Bôn và dòng Ninh-mã nên Sư bắt đầu sưu tầm tất cả những Ter-ma đang có sẵn. Sư chấm dứt công việc này năm 59 tuổi. Các Ter-ma sau được in ra 60 tập và là một trong năm kiệt tác của Sư, đời sau gọi là Ngũ báu. Sư cố gắng hết mình dung hoà tất cả những tông phái Phật giáo ở Tây Tạng và quan niệm rằng, tất cả những giáo lí đều bình dẳng, ngang hàng nhau. Ngoài ra Sư còn biên soạn nhiều sách hướng dẫn tu tập thiền định theo phương pháp của dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa). Ngày nay, những bộ sách này vẫn còn được sử dụng. Ảnh hưởng của Sư trên Phật giáo Tây Tạng còn phát rộng ra vì sau khi Sư tịch, nhiều vị tái sinh được công nhận là Chu-cô, trong đó Zhe-chen Kong-trul (1901-1960) và Pal-pung Kong-trul (1904-1953) là hai vị quan trọng nhất.

Jô-gi-pa

S: jogipa, yogipa;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 9 hay theo một giả thuyết khác, khoảng thế kỉ thứ 11. |Ông là người tinh tiến nhưng kém hiểu biết, được thầy là Sa-va-ri-pa (s: śavaripa) cho nhập môn và truyền năng lực của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra) – nhưng ông thiền quán không có kết quả. Cuối cùng Sa-va-ri-pa khuyên nên đi hành hương đến 24 chỗ thiêng liêng và vừa đi vừa đọc thần chú của Kim cương Hê-ru-ka (s: vajra heruka). Jô-gi-pa nghe lời thầy, đi hành hương suốt 12 năm. Sau đó mọi tâm nhiễm ô đều biến mất, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Jô-gi-pa sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Chứng đạo ca của ông như sau:|Khi ánh sáng tâm thức,|được quán sát liên tục,|sáng như tim ngọn đèn,|thì mọi thứ hiện tượng,|dù động hay bất động,|đều tan chảy vào trong,|không gian đó: Pháp giới.||H 31: Jô-gi-pa (jogipa) hành cước.|24 thánh địa mà Jô-gi-pa đã đến được nhắc nhiều trong những Tan-tra là:|1. Pūrnagiri (Paurṇagiri, Puri Lamalaya) tại vùng Bijapur, Karnataka, Nam Ấn Ðộ; 2. Oḍḍiyāṇa (Uḍḍiyāṇa, Oḍiyāṇa, Uryan, (Ô-trượng-na), thung lũng Swat tại miền Bắc nước Pakistan; 3. Jālandhara tại thung lũng Kangra, Himachal Pradesh; 4. Kāma-rūpa, gần Gauhati, Assam; 5. Arbuda (Apruta, Arbuta), đỉnh Abu tại Rajastan; 6. Godāvarī, nơi bắt nguồn của sông Deccan; 7. Rāmeśvaram ở Tamil Nadu; 8. Devīkoṭṭa, phía nam của Dinajpur, Tây Bengal. 9. Malava, tại Mālwa, Mādhya Pradesh; 10. Oḍra (Oṭre, Oṭi), miền Bắc Orissa; 11. Triśakune, tại Trisrotah; 12. Kośala với thủ đô là Śrāvastī; 13. Kaliṅga, phía Nam Orissa và Nordandhra với thủ đô là Daṇṭapurī; 14. Lampāka, thủ đô của Oḍḍiyāṇa, gần Mardan; 15. Kāñcī (Kāñcīka), Conjeevaram hoặc Kāñcīpuram, phía Tây Nam của Madras; 16. Himalāya (Himādri, Mimavat); đỉnh Ngân Sơn (kailāśa) hoặc Bhīmāsthān tại Peshawar hoặc đỉnh Nandādevī ở tỉnh Garhwal tiểu bang Uttar Pradesh; 17. Preṭapurī Tsaritra tại Tây Tạng hoặc gần biên giới Arunachal; 18. Gṛhadeva (Nepāla), vùng Paśupati tại Kathmandu; 19. Saurāṣṭra (Sourakhta), một vương quốc cổ, bao gồm Surat, Cambay và Kathiawar; 20. Survaṇadvīpa, tại Sumatra, Nam Dương; 21. Nagara, Nagarkoṭa hoặc Jvālamukhī (?), gần Jālandhara; 22. Sindhu, Nagara haṭha, miền đông của Karachi; 23. Maru (Maro, Marobalaraste), Ostrajasthan; 24. Kulānta (Kulāta, Kupānta).

Ka-la-lã

柯羅邏; C: kēluóluó; J: karara; S: kalala. |Giai đoạn đầu trong 5 thời kì con người được thụ thai.

Ka-la-pa

S: kālapa; »Người bảnh trai cuồng điên«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 12 và thuộc dòng truyền thừa của Thời luân tan-tra (kālacakra-tantra).|Ka-la-pa là một người bảnh trai nổi tiếng, đi đâu ai cũng nhìn ngắm ông. Ðiều này làm phiền đến mức ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Sau đó nhờ một vị Du-già sư (s: yogin) khai thị hướng dẫn vào một Nghi quỹ (s: sādhana), ông chuyên tâm thiền định và đạt thánh quả. Qua quá trình tu tập, ông nhận ra sự nhất thể, thấy sự khác biệt giữa mình và người chỉ là một sự nhầm lẫn. Ông trở lại thân thiện với mọi người – quá mức thân thiện đến nỗi người đời gọi ông là »cuồng.« Ông thi triển thần thông và khuyên dạy mọi người như sau:|Nguyên nhân mọi âu lo,|xuất phát từ nhầm lẫn:|mỗi người một ốc đảo,|đơn độc và cách biệt.|Nếu bạn muốn thoát khổ,|quán tâm thức hoạt động,|như một đoàn thiên nhân,|biến mất trong âm »A«|như một chiếc cầu vồng,|biến mất trong bầu trời.|Sinh, Tử và Già, Chết,|không còn gì uy lực,|với tên cuồng này nữa.|Hành động tràn qua y,|là niềm vui thanh tịnh.|Chứng thật và rốt ráo,|là niềm vui thanh tịnh.|Thiền quán vô lậu trí,|là niềm vui thanh tịnh.|Ðạt đích không mong cầu,|là niềm vui thanh tịnh.|Bài thánh ca của ông có những dòng:|Những con người thế gian,|sống cuộc đời lầm lạc,|họ gọi ta là cuồng.|Ta biết cách chữa trị,|căn bệnh lầm lạc đó,|là cam lộ thiêng liêng|giáo lí bậc Ðạo sư.

Ka-na Kha-la

S: kanakhalā;|Một Du-già ni tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Ka-na Kha-la là cô em gái của Mê-kha-la (s: me-khalā), xem chuyện kể chung với chị.|Bài ca ngộ đạo của Ka-na Kha-la như sau:|Ta đã tu Nhẫn nhục,|một phép tu bất hoại,|hạnh nguyện như kim cương.|Cưỡi trên dòng tâm thức,|rồi thi triển quyền năng,|trên xác thân con người.

Ka-na Ðề-bà

S: kāṇadeva; »Ðơn nhãn Ðề-bà«;|Một tên khác của Thánh Thiên, Tổ thứ 15 của Thiền tông Ấn Ðộ.

Ka-pa-la-pa

S: kapālapa hoặc kapa; »Người đeo sọ người«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 8, 9.|Ông là người làm thuê tại Rā-ja-pu-rī, có vợ năm con. Ngày nọ, vợ ông chẳng may chết sớm. Ông vừa mang vợ ra chỗ thiêu xác thì nghe tin năm đứa con mình cũng chết luôn. Ông trở về mang xác con để bên cạnh vợ, ngồi khóc thảm thiết. Ðúng lúc đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya) đi ngang. Kan-ha-pa giảng cho ông đời sống vô thường và khuyên ông tu tập một Nghi quỹ (s: sādhana). Ka-pa-la-pa thú nhận ông bị sự sợ hãi cái chết xâm chiếm, xin Kan-ha-pa dạy cho phép đối trị cái sợ này. Kan-ha-pa cho phép ông vào Man-đa-la của Hô kim cương tan-tra và dạy phép thiền định. Vị này còn đưa cho ông sáu miếng xương đẽo từ tay chân của con ông, sọ người vợ được biến thành bình bát. Ông quán tưởng, xem sọ là tác nhân và tính Không là quả. Sau chín năm thiền định, ông đạt được sự giao phối của hai thứ thiền định đó và đọc bài kệ:|Ta, người mang sọ người,|đã chứng thật Tự tính,|mọi sự và sọ người.|Không còn ngần ngại nữa,|mọi hoạt động của ta.|Sau khi chứng ngộ, ông sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Bài ca tán Chân như của ông như sau:|Thể tính phi nhị nguyên,|nguồn gốc mọi hiện tượng,|cũng là xương và sọ,|cũng là Ngã giả dối.|Tất cả những điều đó,|chẳng phải tìm mà ra.

Kam-ba-la

S: kambala; »Du-già sư với áo choàng đen«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8.|Ông là thái tử nước Kaṅ-ka-ra-ma, lúc phụ vương mất, lên nối ngôi cha. Thế nhưng mẹ ông khuyên ông nên bỏ ngôi báu thụ giới đi tu, ông nghe lời. Bà mẹ vẫn chưa vừa lòng, khuyên ông nên bỏ tu viện, ông nghe lời, trở thành một Du-già sư (s: yogin) lang thang khất thực. Bà mẹ thật ra là một Không hành nữ (s: ḍākinī), muốn thử lòng tuyệt đối vâng lời của ông để đưa vào phép luyện Tan-tra. Sau khi ông trở thành Du-già sư, người mẹ hiện ra, cho ông nhập môn tu luyện Cha-kra-sam-va-ra-tan-tra. Ông tu luyện 12 năm liên tục và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Nghe lời vị Không hành nữ, ông tiếp tục du hoá. Ngày nọ, có một nhóm phù thuỷ muốn phá ông, họ lấy cắp và nuốt chửng chiếc áo choàng đen của ông. Ông thi triển thần thông biến phù thuỷ thành cừu cái và cạo đầu chúng. Lúc được hiện lại nguyên hình, nhóm phù thuỷ nghe lời, ủng hộ Phật pháp và nhả lại các mảnh áo cho ông. Ông vá chiếc áo lại, nhưng bây giờ nó ngắn hơn trước một chút. Ông được mệnh danh là »Du-già sư với áo choàng đen.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Ðại dương sâu thăm thẳm,|chất chứa đầy ngọc quý,|phồn vinh thay, Long Vương.|Từ vô thuỷ, tất cả|là ánh sáng, âm thanh|của Pháp thân thường tại.|Quý thay, Du-già sư,|kẻ nhận thức Thật tại!

Kam-pa-ri-pa

S: kamparipa hoặc karmāri, karmāra; »Thợ rèn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kam-pa-ri-pa sinh tại Hoa Thị thành (s: pāṭali-putra). Ông sống bằng nghề thợ rèn. Ngày nọ có một Du-già sư đến khất thực, Kam-pa-ri-pa mừng rỡ vì không ngờ vị này khất thực nơi nhà mình. Cùng vợ, ông tiếp đãi trọng hậu và được vị này khai thị, dạy cho ông quán tưởng về ba dòng năng lực tâm lí: »Hãy quán ống bệ, than và lửa trong tâm ngươi. Ống bệ là năng lực, ống khói là cảm thụ, tâm thức là lửa, khái niệm là than, miếng sắt là ba độc. Hãy dùng nó mà đánh tan Ba độc và miếng sắt sẽ trở thành Ðại lạc của Pháp thân bất nhị. Hãy biến quán tưởng thành hành động hàng ngày:|Hai tay thổi ống bệ,|bên mặt và bên trái,|quạt lửa than nóng lên,|mà đốt cháy khái niệm,|nằm trô trên ống khói.|Thổi lên ngọn lửa hồng,|của tri kiến, tỉnh giác,|đốt chảy tan miếng sắt,|của ba độc, năm tham,|đạt Pháp thân bất hoại.«|Ông nghe nghe lời và sau sáu năm thiền định, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Sau đó sản phẩm rèn của ông không làm mà tự xuất hiện. Bài chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Trên ống khói thân ta,|là than đen khái niệm,|Thổi ống bệ trái, mặt,|đốt lên ngọn lửa trí.|Miếng sắt của ba độc,|bị chảy thành như nước,|lấy pháp thân làm búa.|Kam-ba-ri giác ngộ!

Kan-ha-pa

S: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya; »Thành tựu giả kiêu mạn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8.|Kan-ha-pa là đệ tử của Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara). Sau mười hai năm tu luyện, ông cho mình đã đạt đạo và đem đệ tử đi đấu phép với ma quân. Lúc đi trên nước, ông tự đắc nghĩ mình đã hơn thầy, vừa nghĩ tới đó ông mất hết thần thông và chìm xuống nước. Ja-lan-đa-ra lại hiện ra cứu ông và gửi ông cho một đệ tử thợ dệt nhờ giáo hoá. Thế nhưng đệ tử thợ dệt cũng không chữa nổi tính kiêu mạn của ông. Trên đường đi ông lại đấu phép với một cô bé trẻ tuổi, thua cuộc và sau đó lòng tự phụ mới tiêu tan, ông đạt Tất-địa và được bước vào cõi của các Không hành nữ (s: ḍākinī). Kệ tụng của ông như sau:|Xe không thể chạy được,|nếu không có bánh xe,|Hành bố thí phạm hạnh,|mà không có Ðạo sư,|chẳng đạt được Tất-địa.|Như con chim giang cánh,|với khả năng sẵn có,|nó bay vút lên cao.|Ðã nghe lời giáo hoá,|của Ðạo sư nghiệp định,|Du-già sư hài lòng.

Kan-ka-na

S: kaṅkaṇa; »Tất-đạt vương«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng thế kỉ thứ 11.|Ông là nhà vua xứ Viṣ-ṇu-na-gar, đời sống sung mãn không thiếu thứ gì. Ngày nọ, có một Du-già sư (s: yogin) đến khất thực và nhân dịp này khuyên ông: »Vua và Quốc vương là hai danh từ rỗng, chức vị bây giờ của ông là vô nghĩa. Tất cả chúng sinh đều phải chịu đựng khổ cực, kiếp này sang kiếp khác, một vòng xoay bất tận. Ngay cả sự hạnh phúc hiện tại của chư thiên cũng là khổ khi họ nghe là sắp phải chết. Rồi kiếp sau ông sẽ thế nào? Hãy quên đi những thú vui tạm thời, ngắn ngủi như sương sớm mai và hãy tu luyện một Nghi quỹ.«|Nghe như thế, ông liền hỏi có cách nào tu tập mà không phải mặc áo quần rách rưới, không phải đi khất thực. Vị Du-già sư khuyên ông nên tránh lòng kiêu mạn đó, đồng thời chỉ cho ông phép tu đặc biệt, quán ánh sáng vàng ngọc đeo trên tay mình chính là tâm thức thanh tịnh:|Quán ánh ngọc trên tay:|Tự tính trong tâm thành.|Quán màu sắc áo quần,|của lụa là, cung điện,|nó là hình ảnh hiện,|trong viên ngọc quý này.|Thế nhưng – tự tính ngọc,|không hề từng lay động.|Từ thiên hình vạn trạng,|của sum la hiện tượng,|sinh ra vô số lượng,|tư tưởng trong tâm mình.|Tâm thức lại chỉ là,|viên ngọc biết chiếu rọi.|Nhà vua nghe lời và chỉ sáu tháng sau, ông đạt Tất-địa. Người đời đặt tên ông là Kan-ka-na (kaṅkaṇa), có nghĩa »vòng ngọc« vì nhờ vòng ngọc đó mà ông chứng ngộ được. Ông sống đến 500 tuổi và giáo hoá cho vô số người. Ông dạy họ như sau:|Chứng ngộ được tính tâm,|đó là vua không khác.|Khi báo thân hiển hiện,|đó là vương quốc mình.|Vua sống trong vương quốc,|đó là lễ đăng quang.|Các ngươi muốn làm vua?|Hãy tu tập phép này.|Thánh ca của Kan-ka-na có những dòng:|Chứng ngộ: ngọc như ý,|chiếu tri kiến cao tột,|có sức mạnh diệu kì,|thành tựu mọi ước nguyện.|Ai đã nếm thử nó,|kẻ chứng đạt hoàn toàn.

Kan-ka-ri-pa

S: kaṅkāripa hoặc kaṅkali; »Người góa vợ ưu sầu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ông là một sống người bình thường, rất yêu vợ. Ðến khi người vợ mất thì ông không thiết đến gì nữa, đau khổ gần như muốn chết. Một Du-già sư thấy vậy thương tình, đến thăm hỏi. Ông than với vị này: »Ông không thấy sao? Tôi mất người vợ yêu quý và cuộc đời của tôi như thế cũng chấm dứt. Tôi đau khổ như bị ai lấy cả hai tròng mắt ngay lúc này, không có ai trên đời khổ như tôi.« Vị Du-già sư nghe vậy khuyên ông: »Tất cả những gì được sinh ra đều phải chết, hợp rồi phải tan. Tất cả những hiện hữu trong Luân hồi đều là Khổ. Khổ là đặc tính của Vòng sinh tử. Tại sao ông lại buồn? Tại sao ông còn giữ cái thây này, một vật không khác gì tro đất? Tại sao ông không tu học Phật pháp để diệt khổ?«|Nghe những lời khai thị này ông mừng quá, cầu xin chỉ dạy. Vị Du-già sư khuyên ông quán hình ảnh vợ mình là một Không hành nữ (s: ḍākinī), không bằng xương thịt tạo thành mà là sự nhất thể của Ðại lạc và tính Không. Sau sáu năm quán niệm, ông đạt tri kiến tuyệt đối – Ðại thủ ấn tất-địa.|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Không hành nữ, nữ hoàng,|chủ nhân của chính ta.|Tự tính thanh tịnh đã,|biến ra thành sắc thể,|Không gian trống rỗng đã|biến thành vật khả tri,|Ta không hề rời xa,|nhưng không phải của »Ta.«|Không thể diễn bày được,|không thể nào so sánh.

Kan-ta-li-pa

S: kantalipa, kanthapa, kantapa, kaṇtālipa, ka-nālipa, kandipa; »Người may vải vụn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người vô giai cấp, sống bằng nghề vá áo, không bao giờ biết sung sướng là gì. Ngày nọ, ông vô ý đâm kim vào tay chảy máu. Buồn rầu về số phận của mình, ông tìm một nơi vắng vẻ suy tư. Một Không hành nữ (s: ḍākinī), hiện hình thành một người đàn bà, hỏi thăm ông. Ông thành thật kể lể đời sống mình và vị nữ thần cho hay rằng, nếu không thoát khỏi Vòng sinh tử thì kiếp này hay kiếp sau ông cũng chịu khổ như kim chích. Ông cầu xin được truyền một Nghi quỹ để theo đó tu tập. Nữ thần cho ông nhập môn Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh và dạy ông quán Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông cố gắng tu tập nhưng tâm luôn trở lại nghề may của mình. Nữ thần bèn dạy ông cách biến tư duy thành phương pháp tu:|Vải vụn ví không gian,|Kim nhọn ví tỉnh giác,|Sợi chỉ ví lòng Từ,|may vá áo quần lại,|mặc cho loài hữu tình,|của thế gian ba cõi.|Nhờ phép thiền quán này mà Kan-ta-li-pa ngộ được tính Không của những yếu tố tạo ra thế giới hiện tượng và lòng Từ bi, thương xót tất cả những loài hữu tình dâng lên trong lòng ông. Ông chứng ngộ rằng, Từ bi và Không là một và đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Ta gom may ba cõi,|kim ta là Ðạo sư,|sợi chỉ là lòng Từ,|hãy nhìn chiếc áo quý,|của Du-già sư này!

keo

Tên khác của chùa là Trần Quang Tự, tọa lạc tại thôn Dũng Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa được xây dựng năm 1608 bên bờ sông Hồng Hà, nên bị nước xoáy mòn dần. Năm 1930, Quận Công Nguyễn Quyên đã cúng dường đất để xây lại ngôi chùa. Trong chùa có đại hồng chung được đúc vào thời nhà Lê—Another name for Trần Quang Tự Temple, a famous ancient temple, located in Dũng Nhuệ hamlet, Duy Nhất village, Vũ Thư district, Thái Bình province. It was built in 1608 by the bank of the Red River, so it has gradually been eroded. In 1930, Duke Nguyễn Quyên donated his own land for rebuilding the temple. The great bell of the temple cast during the Lê dynasty.

keo kiệt

Stingy—Misery.

keà

Close to—Near to.

kha nguyệt

(珂月) Kha là mầu trắng của ngọc, nguyệt là ánh sáng mặt trăng. Kha nguyệt dùng để ví dụ một vật có mầu trắng tươi mát. Phẩm Diệu trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 60 hạ) nói: Tướng lông trắng giữa chân mày của đức Phật như kha nguyệt.

khai bá nhĩ ách khẩu

(開伯爾隘口) Khaibar hoặc Khyber Pass. Cửa ải ở biên giới A phú hãn (Afghanistan) và vùng núi Tô lí mạn thuộc miền tây bắc Ba cơ tư thản (Pakistan). Cách Bạch hạ ngõa (Peshàwar) vài mươi cây số về phía đông nam. Đây là một trong những con đường giao thông quan trọng giữa Trung á và Ấn độ từ xưa đến nay, người muốn đến Ấn độ phần nhiều phải men theo phía bắc sông Khố nạp (Kunat) để vào ải. Thời xưa, những người Aryans di cư đến Ấn độ, Đại đế Á lịch sơn đại (Alexandre) của Hi lạp xâm lăng Ấn độ, chư tăng Trung quốc đến Ấn độ cầu pháp hay những vị tăng do vua A dục phái sang phương Tây hoằng dương Phật pháp, phần nhiều cũng đều phải qua cửa ải này. Sau cuộc chiến tranh A phú hãn lần thứ 1 (1838-1842) quân đội Anh đã nhiều lần vượt qua chỗ này đến xâm lược Pakistan. Hiện nay đã có đường sắtthông qua cửa ải đến vùng biên trấn Landi kotal. Vùng phụ cận cửa ải này vẫn còn những di tích Phật giáo của thời đại vua A dục, như Ca phi nhi khấu đặc (Kafir Kot), Tu phổ lạp sử đô phạ (Shipla Stupa), v.v...

khai chẩm

(開枕) Cùng gọi Khai bị an chẩm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sắp đặt mền gối để ngủ nghỉ. Trong Thiền lâm, sau 10 giờ đêm vị Thần ti (chức vụ trông nom về giờ giấc) báo giờ, sau đó, vị Đường hành(chức vụ đi tuần tra) gõ 3 hồi bảng treo trước Thiền đường, rồi vị Chung ti(chức vụ chuyên việc thỉnh chuông)gióng 18 tiếng chuông để báo hiệu hết giờ tọa thiền, đồng thời, cũng để báo giờ Khai chẩm; 18 tiếng chuông này gọi là Khai chẩm chung, Thập bát chung, Định chung, Sơ dạ chung. [X. điều Nhật dụng quĩ phạm, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

khai cơ

(開基) Cũng gọi Khai sơn. Sáng lập chùa viện. Người bỏ tiền của để chi dùng vào việc sáng lập chùa viện, cũng gọi là Khai cơ.

khai cận hiển viễn

(開近顯遠) Chủ trương phá trừ sự chấp trước cho rằng đức Phật mới thành đạo ở Phật đà già da(Bồ đề đạo tràng) mà hiển thị Bản Phật đã thành từ lâu xa. Trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa, 14 phẩm đầu nói rõ về Tích môn, 14 phẩm sau thì trình bày về Bản môn. Nhưng thân Phật vốn không có Bản Tích riêng biệt, nên tông Thiên thai mới dùng từ ngữ Khai cận hiển viễn nhằm trừ sạch tình chấp cho rằng đức Phật mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng mà hiển bày đức Thế tôn đã thành Phật từ lâu xa rồi. Nói theo thời gian thì gọi là Khai cận hiển viễn; nói theo ý nghĩa thì gọi là Khai tích hiển bản. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5; Pháp hoa huyền nghĩa Q.10 phần cuối; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1; Pháp hoa huyền luận Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn; Khai Tích Hiển Bản, Khai Hiển).

khai dục

(開浴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mở nhà tắm để vào tắm gội. Theo điều Lưỡng tự đầu thủ, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ, thì vào những tháng trời lạnh, cứ 5 ngày tắm một lần, trời nóng thì tắm hàng ngày. Trước nhà Trai có treo bảng thông báo ngày và giờ tắm. Khi nghe trống khai dục thì chúng tăng vào tắm trước, sau đến Tri sự và Trụ trì. Nhưng đến đời sau thì thứ tự này được đổi ngược lại. Khi vào nhà tắm phải giữ im lặng, nghiêm túc, không được nói cười. Trước khi vào tắm, đến thắp hương trước tượng của ngài Bạt đà bà la, rồi đọc bài kệ (Đại 82, 776 hạ): Tắm gội thân thể Nguyện cho chúng sinh Thân tâm thanh tịnh Trong ngoài sáng sạch. Và xướng 7 biến chú: Án bạt chiết ra não ca tra sa ha. [X. điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.4; điều Tri dục trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7; chương Nhật dụng kệ trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.10].

khai già

(開遮) Cũng gọi Khai chế, Già khai. Khai là cho phép; Già là cấm chỉ. Trong giới luật, có khi khai cho, có khi cấm chỉ. Giới của Tiểu thừa rất nghiêm, không có trường hợp tạm khai; còn giới pháp của Đại thừa thì lấy hạnh nguyện từ bi làm gốc, vì thế có lúc tạm khai theo tinh thần hoạt dụng của giới pháp, gọi là Khai già trì phạm, đây là đặc trưng của giới Đại thừa. [X. luận Du già sư địa Q.41; Phạm võng Bồ tát giới bản sớ Q.1; Tứ phần luật hành sự sao Q.trung]. (xt. Trì Phạm).

khai giác

(開覺) Khơi mở Phật tính sẵn có của mình để chứng ngộ nguồn gốc của pháp. [X. kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản 80 quyển)].

khai hiển

(開顯) Khai là khai trừ, tức phá trừ chấp trước; Hiển là hiển bày nghĩa chân thực. Đây là từ ngữ phán giáo kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Về tư tưởng khai hiển của kinh Pháp hoa, trong các tác phẩm của các luận sư Ấn độ, như luận Đại trí độ, luận Pháp hoa, v.v... chưa thấy được đề cập đến, còn ở Trung quốc thì đầu tiên có ngài Trúc pháp khoáng đời Đông Tấn đề xướng ý chỉ Hội Tam Qui Nhất, rồi đến các ngài Cưu ma la thập, Cát tạng, Tăng triệu, Pháp vân, v.v... tiếp tục phát huy ý chỉ này. Sau hết, Đại sư Trí khải tông Thiên thai lập thêm nghĩa phương tiện tức chân thực mà hoàn chỉnh hệ thống tư tưởng Khai hiển của kinh Pháp hoa. Tông Thiên thai chủ trương tất cả giáo pháp đức Phật tuyên giảng trước thời Pháp hoa đều chưa phải là giáo pháp chân thực (chưa khai hiển), đến thời kinh Pháp hoa đức Phật mới hiển bày giáo pháp chân thực. Tông này cũng căn cứ vào giáo pháp và Phật thân mà lập thành các nghĩa: Khai quyền hiển thực, Khai tam hiển nhất, Khai tích hiển bản, Khai cận hiển viễn, v.v... Ngoài ra, theo Pháp hoa kinh Huyền nghĩa, thì kinh Pháp hoa có khai hiển Bản môn và khai hiển Tích môn như sau. 1. Khai hiển tích môn: Nói theo giáo pháp, thì 14 phẩm trước của kinh Pháp hoa là Khai quyền hiển thực, Khai tam hiển nhất. Vì có người không biết rằng giáo pháp trước kinh Pháp hoa chỉ là phương tiện tạm thời dắt dẫn đến chỗ chân thực nên chấp trước vào giáo pháp của Tam thừa. Muốn phá trừ sự chấp trước này, đức Phật nói rõ Tam thừa chỉ là phương tiện, Nhất thừa mới là chân thực, đồng thời thuyết minh phương tiện tức chân thực mà hiển bày lí Tam thừa đều qui về Nhất thừa. 2. Khai hiển bản môn: Nói theo thân Phật của đức Thích ca mâu ni, thì 14 phẩm sau của kinh Pháp hoa là Khai tích hiển bản, Khai cận hiển viễn. Nghĩa là phá trừ sự chấp trước cho rằng đức Phật mới thành đạo dưới gốc cây Bồ đề ở Phật đà già da(Bồ đề đạo tràng) để hiển bày lí đức Phật đã thành đạo từ kiếp sâu xa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1, phẩm pháp sư kinh Pháp hoa Q.4. phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; bài tựa trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần trên; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa nghĩa kí Q.1, Q.2, Q.3, Q.8; Pháp hoa huyền luận Q.2, Q.4, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Phế Hội).

khai hoá tự

(開化寺) Chùa ở gần bờ sông Tiền đường, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, do ngài Vĩnh minh Diên thọ sáng lập vào năm Khai bảo thứ 4 (971) đời Bắc Tống, theo lời thỉnh cầu của Ngô Việt vương Tiền thúc, để trấn áp ngọn thủy triều của sông Tiền đường. Mới đầu chùa có tên là viện Thọ ninh. Trong viện có tháp Lục hòa, do ngài Diên thọ kiến tạo, trong tháp có thờ xá lợi, sau bị thiêu hủy. Năm Thiệu hưng 22 (1152), Lễ bộ vâng mệnh vua khởi công xây cất lại với sự góp sức của Ty chuyển vận phủ Lâm an. Năm Thiệu hưng 26 (1156) đời Nam tống, ngài Trí đàm về trụ trì chùa này, ra sức khuyết hóa, quyên góp tịnh tài để xây dựng tòa tháp 7 tầng và 100 gian nhà, viện. Năm Long hưng thứ 2 (1164), vua ban tấm biển Từ ân khai hóa giáo tự. Năm Long hưng thứ 3 (1165), do công lao của ngài Trí đàm, vua ban cho chùa nhiều kinh điển đặc biệt. Từ các đời Nguyên, Minh về sau, chùa cũng nhiều lần gặp nạn. Khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, chùa bị thiêu hủy và đến khoảng năm Vạn lịch (1573-1619) được sửa lại. Ngôi tháp Lục hòa hiện nay là ngôi tháp được xây cất lại vào năm Ung chính 13 (1735) và được trùng tu vào năm Quang tự 26 (1900) đời Thanh. Tháp có hình bát giác 13 tầng. Đứng trên tháp người ta có thể thấy toàn cảnh sông Tiền đường. [X. Chiết giang thông chí Q.226; Hàng châu chí Q.35; Tây hồ thắng tích; Hàng châu dữ Tây hồ, Chi na văn hóa sử tích giải thuyết Q.4; China đích Phật giáo (Thôn điền Trị lang)]. (xt. Lục Hòa Tháp).

khai huân

(開葷) I. Khai Huân. Tạm thời cho phép dùng Ngũ huân với mục đích chữa bệnh, gọi là Khai huân (cho phép ăn mặn). [X. luật Thập tụng Q.26; luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.42]. II. Khai Huân. Cũng gọi Khai trai. Người trước kia ăn chay, nay đổi sang ăn mặn, gọi là Khai huân(bắt đầu ăn mặn). Nhưng ngày xưa gọi là Giải tố, Khai tố(bỏ ăn chay), chứ không gọi là Khai huân. KHAI KHẢI I. Khai Khải: Cũng gọi Khải kiến. Chỉ cho lúc bắt đầu cử hành nghi thức pháp hội: Điều Thánh tiết, chương Chúc lí, Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng ghi: Vào ngày lễ Chúc thánh, các chùa cần chuẩn bị kiến lập đạo tràng Kim cương vô lượng thọ, trong 1 tháng, hàng ngày chư tăng luân phiên lên điện, khai kinh(khai khải). II. Khai khải: Cũng gọi Khai bạch, Khải bạch, Biểu bạch. Đối lại: Kết nguyện. Nghi thức tác bạch trước Bản tôn về chỉ thú, những việc cầu nguyện và thời hạn tu pháp trong pháp hội của Mật giáo. Khai khải cũng chỉ cho ngày mở đầu của pháp hội. Ở Nhật bản, nghi thức này rất được coi trọng.

khai hội

(開會) Khai là khai trừ, Hội là hội nhập. Tức phá trừ sự chấp trước giáo pháp Tam thừa phương tiện mà hội nhập giáo pháp Nhất thừa chân thực. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Khai hội gồm có 2 loại là Pháp khai hội và Nhân khai hội. Về phương diện lí luận thì tất cả pháp đều cùng một mối, gọi là Pháp khai hội; theo đó thì trên thực tế không phân biệt Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát hay phàm phu, tất cả đều có thể thành Phật, gọi là Nhân khai hội. Về Nhân khai hội lại có Đồng loại khai hội và Dị loại khai hội. Đồng loại khai hội là Khai tiểu thiện và Hội đại thiện, còn Dị loại khai hội là Khai ác, Hội thiện. Loại trước là Chủng loại khai hội, loại sau là Địch đối khai hội. Trong 5 thời thuyết pháp, thời thứ 4 là thời Bát nhã chỉ nói Pháp khai hội, đến thời thứ 5 là Pháp hoa Niết bàn mới chỉ bày rõ về Nhân và Pháp khai hội. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9 phần cuối; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q1, Q.2, Q.3; Thai tông nhị bách đề Q.13]. (xt. Khai Phế Hội, Khai Hiển, Hội Tháp Lục Hòa Chùa Khai Hóa Tam Qui Nhất).

khai kinh

(開經) I. Khai kinh: Đối lại: Kết kinh. Phần tự thuyết ở đầu 1 bộ kinh, gọi là Khai kinh. Còn phần cuối là phần kết luận tổng quát yếu chỉ của bộ kinh, thì gọi là Kết kinh. Khai kinh, kết kinh gọi chung là Khai kết. Như phần khai kinh của kinh Pháp hoa là chỉ cho kinh Vô lượng nghĩa, còn phần kết kinh thì chỉ cho phẩm Quán Phổ hiền. [X. Chú Vô lượng nghĩa kinh Q.1]. II. Khai Kinh. Cũng gọi Khai đề, Khai trục. Mở văn kinh để tụng đọc, gọi là Khai kinh. Thông thường, trước khi tụng văn kinh thì đọc bài kệ khai kinh: Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp dễ hay đâu. Con nay nghe thấy chuyên trì tụng Nguyện hiểu Như lai nghĩa thật sâu.

khai lô

(開爐) Ngày đầu tiên mở lò sưởi để sưởi ấm vào mùa đông trong các chùa viện Thiền tông Trung quốc thời xưa. Ngày Khai lô là ngày mồng 1 tháng 10 âm lịch, gọi là Khai lô nhật, Khai lô tiết. Đến ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch năm sau thì đóng cửa lò sưởi, gọi là Bế lô. Ngày khai lô, vị Trụ trì thăng tòa thuyết pháp, gọi là Khai lô thướng đường. [X. điều Thánh tăng thị giả Lô đầu trực đường trong Thiền uyển thanh qui Q.4].

khai lạp sa sơn

(開拉沙山) Phạm:Kailàsa. Pàli: Kelàsa-pabbata. Núi thiêng, truyền thuyết nói ở phía bắc Hi mã lập sơn. Cứ theo Tự sự thi La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa, I, 26), thì trong núi này có hồ Mã na tát (Mànasa), sông Sa lạp ưu (Phạm: Sarayù) bắt nguồn từ hồ này, sau khi chảy vòng quanh thành Vô đấu (Phạm: Ayodhyà) thì đổ vào sông Hằng. Trong văn học Ấn độ xưa thường mô tả vẻ tráng lệ của núi Khai lạp sa. Phật sở hành tán (Phạm: Buddha-carita, I, 21) của ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa) cũng nói: Ánh trăng chiếu rọi khắp 4 phương, rực rỡ như núi Khai lạp sa.

khai môn tiết

(開門節) Tiếng Thái: Hào ngõa tát. Ngày lễ tịnh trai lớn nhất tại khu vực người Thái theo Phật giáo Tiểu thừa sống ở hạ du sông Lan thương tỉnh Vân nam, Trung quốc. Theo lịch Thái, khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 9 đến 15 tháng 12 là tiết Quan môn (tiết đóng cửa), tiết Quan môn kết thúc, gọi là tiết Khai môn(tiết mở cửa). Mỗi lần gặp ngày lễ này thì tín đồ và quần chúng trang phục đẹp đẽ, đem thực vật, hoa tươi và tiền bạc dâng cúng Phật. Ngoài việc chúc mừng thời kì tịnh trai kết thúc, họ còn nhân dịp này để cầu phúc và mong được một vụ mùa bội thu.

khai mục sao

(開目鈔) Tác phẩm, 2 quyển, do sư Nhật liên người Nhật bản soạn vào năm 1272, được thu vào Đại chính tạng tập 84. Sách này được viết ra trong thời kì tác giả bị lưu đày, nội dung nói về sự thể nghiệm tín ngưỡng và khảo xét một cách sâu sắc về những lí do cùng giải đáp các nghi hoặc vì sao tác giả phải chịu pháp nạn Long khẩu. Đồng thời đem học thuyết của ngoại đạo và Nho gia để đối chiếu, so sánh với giáo học của các tông phái Phật giáo, đề xướng thuyết Ngũ trùng tương đối để giải thích giáo quán Nội ngoại, Đại tiểu, Quyền thực, Bản tích và Chủng thoát, nhằm đưa người ta vào chân lí rốt ráo của kinh Pháp hoa. Đây là một tác phẩm về Tỉ giảo tôn giáo học và cùng với Quán tâm bản tôn sao là 2 viên ngọc của tông Nhật liên.

khai ngoại học

(開外學) Cho phép học tập ngoại điển(sách vở ngoài Phật giáo) nhằm mục đích chế phục tà giáo, dắt dẫn thế gian về với chính đạo.

khai nguyên song tháp

(開元雙塔) Đông tháp và Tây tháp của chùa Khai nguyên ở huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc, là những kiến trúc lịch sử nổi tiếng. Hai ngôi tháp này cách nhau khoảng 200 mét. Đông tháp gọi là tháp Trấn quốc, được xây dựng vào năm Hàm thông thứ 6 (865) đời Đường, sau 12 năm mới hoàn thành. Tháp có hình bát giác, cao 48,4 mét, nguyên làm bằng gỗ, đến đời Nam Tống được xây lại bằng gạch và sau cùng bằng đá hoa cương. Tây tháp gọi là tháp Nhân thọ, được xây dựng vào năm Trinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương, 10 năm sau mới hoàn thành, tháp cao 44,6 mét, làm bằng gỗ, đến đời Bắc Tống được xây dựng lại bằng gạch và sau cùng cũng được làm bằng đá hoa cương. Trên mặt của cả 2 tháp có tất cả 180 bức phù điêu. Kiểu kiến trúc của 2 tháp đều chịu ảnh hưởng văn hóa Trung á, kết hợp giữa hình thức Trung quốc và Tây vực, cho nên có giá trị nghệ thuật rất cao. Thời xưa 2 ngôi tháp này có tiếng là Hải nội đệ nhất, Thế giới đệ nhất tháp. Đến nay, tuy đã trải qua thời gian hơn 700 năm, qua bao tang thương biến đổi, nhưng 2 tòa tháp vẫn giữ được vẻ hùng vĩ như xưa. [X. Ôn lăng Khai nguyên tự chí; Thích thị kê cổ lược Q.3].

khai nguyên tam đại sĩ

(開元三大士) Chỉ cho 3 vị Đại sư của Mật tông Ấn độ đến Trung quốc vào niên hiệu Khai nguyên dưới triều vua Huyền tông nhà Đường, đó là các ngài: Thiện vô Úy, Kim cương trí và Bất không. (xt. Bất không, Kim Cương Trí, Thiện Vô Úy).

khai nguyên thích giáo lục

(開元釋教錄) Cũng gọi Khai nguyên lục, Khai nguyên mục lục, Trí thăng lục. Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Trí thăng soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: I. Tổng quát quần kinh lục (từ quyển 1 đến quyển 10) tương đương với Đại lục. Phần này theo thứ tự thời gian phiên dịch, bắt đầu từ năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Minh đế nhà Đông Hán, đến năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường khoảng 664 năm, có 176 dịch giả dịch được 2278 bộ kinh, luật, luận Đại Tiểu thừa, gồm 7046 quyển. Trong đó, những tư liệu liên quan đến những bộ kinh đã dịch được sưu tập rất đầy đủ, bao quát cả tên gọi khác, tên gọi tắt, số lượng quyển, kinh còn hay mất, tên tác giả, niên đại phiên dịch, nơi phiên dịch và những người có liên quan đến việc phiên dịch những bộ kinh đó. Ngoài ra, còn phân biệt những kinh có bản dịch và mất bản dịch, dịch một lần và dịch nhiều lần, Đại kinh và kinh Biệt sinh, v.v... Phần Đại lục này là do kế thừa các bộ Lịch đại Tam bảo kỉ và Đại đường nội điển lục mà có. II. Biệt phần thừa tạng lục (từ quyển 11 đến quyển 20), phần này phỏng theo cách phân loại mục lục của Pháp kinh lục, tương đương với các bộ Tiêu chuẩn nhập tạng mục lục và Hiện tạng nhập tạng mục lục. Phần Biệt phần thừa tạng lục này lấy kinh làm chính, chia ra 7 loại: 1. Hữu dịch hữu bản lục: Có tên người dịch, có bản dịch (quyển 11 đến 13). 2. Hữu dịch vô bản lục: Có tên người dịch, nhưng không có bản dịch (quyển 14 đến 15). 3. Chi phái biệt hành lục: Những bản kinh lưu hành riêng có tính chi phái (quyển 16). 4. San lược phồn trùng lục: Lược bỏ chỗ rườm rà trùng lập (quyển 17). 5. Bổ khuyết thập di lục: Thêm vào những chỗ còn thiếu sót (quyển 17). 6. Nghi hoặc tái tường lục: Giải thích lại một cách rõ ràng những chỗ nghi hoặc (quyển 18). 7. Ngụy vọng loạn chân lục: Mục lục các bản kinh được ngụy tạo (quyển 18). Còn 2 quyển cuối cùng là mục lục của 1076 bộ kinh điển Đại Tiểu thừa gồm 5048 quyển được đưa vào Tạng. Xưa nay có câu: Tất cả hơn 5000 quyển kinh là bắt nguồn từ đó. Trên đây, trong phần Hữu dịch hữu bản lục, các kinh Đại thừa được chia làm 5 bộ lớn là: Bát nhã, Bảo tích, Đại tập, Hoa nghiêm, Niết bàn và có chú thích rõ ràng về trường hợp dịch một lần hay dịch nhiều lần. Phương pháp này đã được những người biên tập mục lục Đại tạng kinh đời sau noi theo. Và để đề phòng sự lầm lẫn, ngài Trí thăng còn dùng Thiên tự văn để ghi số hiệu mục lục được nhập Tạng của bộ sách này và biên soạn thành Khai nguyên thích giáo lục lược xuất 4 quyển. Từ đời Tống trở về sau, bộ Lược xuất này là chỗ y cứ cho việc khắc in số hiệu của Đại tạng kinh. Khai nguyên thích giáo lục ghi chép các việc rất đầy đủ và rõ ràng, là khuôn mẫu cho các bộ Kinh lục và sự tổ chức Đại tạng kinh đời sau. Năm Trinh nguyên thứ 10 (794), ngài Viên chiếu soạn thêm 3 quyển để nối theo Khai nguyên thích giáo lục và lấy tên là Đại Đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14, Q.19].

khai nguyên tự

(開元寺) Vào năm Khai nguyên 26 (738), vua Đường Huyền tông của Trung quốc ban sắc cho các châu, quận xây chùa Khai nguyên để làm nơi cầu nguyện cho quốc thái dân an, do các quan địa phương chủ trì. Về lí do vua Huyền tông hạ lệnh cho toàn quốc xây dựng chùa Khai nguyên, thì ngày nay không thể khảo chứng được, nhưng theo văn bia Tây an phủ thành nội nguyên đại Khai nguyên tự hưng giáo, thì được biết vào năm Khai nguyên 28 (740, nghi là lầm, đáng lẽ là năm Khai nguyên 26-738), vua Huyền tông từng bàn luận với pháp sư Thắng quang về vấn đề Ơn đức Phật ở điện Diên khánh. Sau khi bàn luận, vua Huyền tông qui y làm đệ tử Phật và hạ lệnh cho các châu, phủ trên cả nước mỗi nơi xây dựng một ngôi chùa lấy tên là Khai nguyên. Nhưng nay không có tư liệu để khảo sát xem vào năm ấy các châu, phủ trong nước có tuân lệnh hay không, mà chỉ thấy trong Cựu đường thư quyển 9 có đoạn ghi: Vào tháng 4 năm Thiên bảo thứ 3 (744), vua ban sắc lệnh cho 2 kinh đô Trường an, Lạc dương và các châu trong nước đều đúc một pho tượng Thiên tôn và một pho tượng Phật bằng kim đồng để thờ ở chùa Khai nguyên. Tuy nhiên, trong các tư liệu về lịch sử Phật giáo, như Đông chinh truyện của hòa thượng Giám chân đời Đường, Lữ hành kí của các vị tăng người Nhật bản đến tu học ở Trung quốc là Viên tải, Viên nhân, Viên trân, v.v... đều có những ghi chép liên quan đến chùa Khai nguyên. Còn theo Đại minh nhất thống chí, thì vào đời Minh vẫn còn lại 12 ngôi chùa Khai nguyên rải rác ở 12 nơi là: Ở Kí châu, phủ Chân định, tỉnh Trực lệ, ở huyện Nguyên thị, ở phủ Vĩnh bình, ở phủ Thuận đức, huyện Hàm ninh, phủ Tây an, tỉnh Thiểm tây, ở Ôn lăng, phủ Tuyền châu, tỉnh Phúc kiến, ở huyện Mân, phủ Phúc châu, ở phủ Đăng châu, tỉnh Sơn đông, ở phủ Qui đức, tỉnh Hà nam, ở huyện Ninh lăng, ở huyện Ngu thành và ở Vũ dương phủ Nam dương... nhưng không còn thịnh như xưa. Vào đời Đường, Tống từ chùa Khai nguyên ở các nơi đã xuất hiện nhiều bậc cao tăng, như các ngài Nguyên hạo, Biện tú ở chùa Khai nguyên tại Tô châu, ngài Nghĩa sở ở chùa Khai nguyên tại Tề châu, các ngài Đạo nhất, Thê ẩn ở chùa Khai nguyên tại Hồng châu, ngài Huyền án ở chùa Khai nguyên tại Ngạc châu, v.v... Trong đó, ngài Đạo nhất của chùa Khai nguyên ở Hồng châu là nổi tiếng hơn cả. Tình trạng các ngôi chùa Khai nguyên ở các nơi không giống nhau, đến các đời Nguyên, Minh tuy được trùng tu, nhưng hiện nay không còn được bao nhiêu. [X. Phật tổ thống kỉ Q.34; Thích thị kê cổ lược Q. 3; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển 61, 104, 117, 200, 278, 395, 457, 507]. I. Khai Nguyên Tự. Chùa ở mạn tây nam huyện Ngô tỉnh Giang tô, Trung quốc, do nhũ mẫu của Ngô tôn quyền xây dựng vào thời Tam quốc. Mới đầu, chùa có tên là Trùng nguyên, Thông nguyên, đến đời Đường đổi tên là chùa Khai nguyên. Vào đời Tấn, có 2 pho tượng Phật và 1 bình bát bằng đá từ ngoài biển trôi vào, hiện nay còn được thờ trong chùa. Trải qua các đời, chùa này lần lượt có các vị cao đức thuộc các tông đến ở, như các ngài Ấn tông(đệ tử nối pháp của Lục tổ Tuệ năng), Kinh khê Trạm nhiên, Trường khánh Tuệ lăng, Hoàng long Sở nam, Thanh lương Trừng quán, Từ vân Tuân thức, v.v... [X. Khai nguyên tự chí; Đại minh nhất thống chí Q.8]. II. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Tấn giang, tỉnh Phúc kiến, được xây dựng vào năm Thùy củng thứ 2 (686) đời Vũ hậu của Trung quốc. Mới đầu, chùa có tên là Liên hoa, sau được đổi tên là Hưng giáo, Hưng long. Năm Khai nguyên 26 (738), vua ban sắc đổi tên là chùa Khai nguyên. Từ thời Ngũ đại đến đời Tống, hơn 100 viện phụ thuộc được xây dựng. Đời Nguyên, vua ban hiệu là Khai nguyên vạn tuế thiền viện. Khoảng năm Chính bình (1341-1398) chùa bị phá hủy. Trong những năm Hồng vũ và Vĩnh lạc, chùa dần dần được kiến thiết lại, cuối đời Minh, ông Trịnh chi long trùng tu Đại hùng bảo điện, đình Bái thánh, điện Tử vân bình, Tháp, v.v... Trong đó, có tháp Đông(tháp Trấn quốc) và tháp Tây(tháp Nhân thọ) là nổi tiếng hơn cả. Đây là những kiến trúc lịch sử của Trung quốc được thế giới biết đến. Đại hùng bảo điện cũng gọi là điện Bách trụ(điện trăm cột) được kiến trúc theo kiểu Trùng thiềm hiết sơn(có 2 lớp mái, mái dưới nhô ra, rường hơi cong), là kiến trúc đời Minh còn lại, trên đẩu cũng có chạm trổ 24 vị Phi thiên tấu nhạc, đường nét rất tinh vi. [X. Phúc kiến thông chí Q.264; Đại thanh nhất thống chí Q.328]. III. Khai nguyên Tự. Cũng gọi viện Thượng lam. Chùa ở phía đông huyện Tân kiến phủ Nam xương tỉnh Giang tây, Trung quốc. Đây là đạo tràng hoằng dương Thiền pháp nổi tiếng của đại sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường. Vào đời Tống, chùa này được đổi tên là chùa Năng nhân, đến đời Minh đổi tên là chùa Vĩnh ninh, rồi sang đời Thanh chùa lại được đổi tên là chùa Hựu thanh. [X. Đại minh nhất thống chí Q.49; Đại thanh nhất thống chí Q.239; Giang tây thông chí Q.111]. IV. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phía đông phủ Tây an tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Khai nguyên đời vua Huyền tông nhà Đường. Trong số các chùa Khai nguyên do vua Huyền tông ban sắc xây dựng trên khắp nước, thì chùa này có qui mô lớn nhất, nhưng trải qua nhiều đời không được tu bổ nên cảnh chùa bị tàn phá, không còn như xưa. V. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phía nam huyện Thương khưu, tỉnh Hà nam, Trung quốc, được xây dựng vào đời Đường. Đời Tống, chùa được đổi tên là Bảo dung, Hưng long. Trong chùa có một cột đá khắc hàng chữ Bát quan trai hội báo đức kí do nhà thư pháp Nhan chân khanh viết vào đời Đường. VI. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Ngu thành, tỉnh Hà nam, Trung quốc, được kiến thiết vào năm Thiệu thánh thứ 3 (1096) đời Tống. VII. Khai Nguyên Tự. Chùa ở phủ Triều châu, tỉnh Quảng đông, Trung quốc, được sáng lập vào năm Khai nguyên 26 (738) đời Đường. Là một tùng lâm lớn ở miền Đông nam, đời Nguyên gọi là Khai nguyên vạn thọ thiền tự; từ đời Minh về sau gọi là Khai nguyên trấn quốc thiền tự. Chùa có kiểu kiến trúc thanh nhã, cổ kính, việc lễ bái rất thịnh. VIII. Khai Nguyên Tự. Chùa ở huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. (xt. Thiện Hóa Tự).

Khai nhãn

開眼; J: kaigen;|Nghĩa là mở mắt; được dùng trong hai trường hợp:|1. Ðược dùng chỉ sự chạm mắt với cái tuyệt đối, Chân như, Phật tính lần đầu. Người lĩnh hội được đại ý Phật pháp thường được gọi là có Pháp nhãn (xem thêm Năm loại mắt);|2. Chỉ lễ an vị một tượng Phật. Người ta nói rằng, bức tượng hay hình của Phật chỉ »sống« khi có đủ hai con mắt. Trong buổi lễ khai nhãn, vị tăng trụ trì gắn mắt (tượng trưng) và nhấn mạnh sự tôn kính Phật tính vô tướng của mình được biểu hiện qua bức tượng này.

khai nhãn cung dưỡng

(開眼供養) Cũng gọi Khai quang minh, Khai quang, Khai nhãn, Khai minh. Nghi thức khai quang điểm nhãn tượng Phật trong lễ an vị. Khi thay thế tượng Phật cũ bằng tượng Phật mới trên chính điện, phải cử hành nghi thức Khai nhãn cúng dường. [X. điều Tượng tháp Khai nhãn cúng dường pháp trong Hành trì quĩ phạm Q.2; môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên; phẩm Khai nhãn trong luận Thuyết pháp minh nhãn].

khai phong thiết tháp

(開封鐵塔) Tháp ở chùa Cam lộ, mạn đông bắc thành Khai phong, tỉnh Hà nam, Trung quốc. Vốn có tên là tháp Linh cảm, năm Khánh lịch thứ 4 (1044) đời vua Nhân tông nhà Tống bị hỏa hoạn thiêu hủy. Sau đó, nhà kiến trúc trứ danh là Du hạo đã xây dựng lại bằng lưu li 7 mầu gọi là tháp Lưu li. Tháp có Tháp sắt ở Khai phong hình bát giác, 13 tầng, cao 32 mét, vì mầu Lưu li trông giống như sắt nên gọi là Thiết tháp. Trên mỗi khối lưu li của Tháp đều có khắc hoa văn Phi thiên, Phật, tăng, rồng, phượng, kì lân, v.v... rất tinh xảo và tuyệt mĩ. Đây là một thắng tích nổi tiếng của thành Khai phong.

khai phu hoa vương như lai

(開敷華王如來) Phạm:Saôkusumita-ràja-tathàgata. Dịch âm: Tam cú tô nhĩ đa la nhạ đát tha nga đa. Cũng gọi Sa la thụ vương hoa khai phu Phật, Khai phu hoa Phật, Hoa khai phu Phật. Đức Như lai ở phía nam viện Trung đài bát diệp trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Ngài trụ trong Tam muội Li cấu, dùng chủng tử tâm bồ đề trưởng dưỡng muôn hạnh đại bi, thành tựu Chính biến giác, muôn đức bừng nở, cho nên gọi là Khai phu hoa vương Như lai. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. Hình tượng của Ngài toàn thân mầu vàng, ngồi trên tòa sen hồng, phóng ánh sáng cùng khắp, đắp ca sa trùm kín 2 vai, bàn tay phải ngửa lên hướng ra ngoài, các ngón tay duỗi xuống, tay trái cầm góc áo ca sa đặt ở ngang rốn. Chủng tử là (a), hình Tam muội da là chày kim cương 5 chĩa. Chân ngôn là Nẵng mồ tam mạn đa mẫu đà nẫm tông phạ sa ha. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại Tì lô già na kinh quảng đại nghi quĩ Q. thượng; Đại nhật kinh sớ Q.4].

khai phúc đạo ninh thiền sư ngữ lục

(開福道寧禪師語錄) Cũng gọi: Đàm châu Khai phúc báo từ thiền tự Đạo ninh sư ngữ lục, Khai phúc Ninh hòa thượng ngữ lục. Gọi đủ: Đàm châu Khai phúc thiền tự đệ thập cửu đại Ninh hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Khai phúc Đạo ninh soạn vào đời Tống, ngài Nguyệt am Thiện quả biên chép, được thu vào Vạn tục tạng tập 120. Nội dung ghi chép các pháp ngữ Khai đường, Niêm hương, Thướng đường, Tiểu tham, Thùy thị, Kệ tụng, Di giới, v.v... Đầu quyển và cuối quyển có lời tựa và sớ. Bộ ngữ lục này được in lại vào năm Thiền hi thứ 6 (1179) đời vua Hiếu tông nhà Tống.

khai phế câu thời

(開廢俱時) Khai quyền và Phế quyền cùng một lúc, không chia trước sau. Đây là lời phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Vì muốn nêu rõ ý chỉ Khai hiển của kinh Pháp hoa, nên tông Thiên thai căn cứ vào 2 chữ Liên Hoa trong đề kinh mà khai lập 3 dụ Bản môn và 3 dụ Tích môn. Khai phế câu thời là từ 3 dụ Tích môn khai hội mà ra. Ba dụ Tích môn là: 1. Vị liên cố hoa: Vì hạt nên có hoa, ví dụ vì thực mà lập quyền. 2. Hoa khai liên hiện: Hoa nở hạt hiện, ví dụ khai quyền hiển thực. 3. Hoa lạc liên thành: Hoa rụng hạt thành, ví dụ phế quyền lập thực. Trong 3 dụ trên, dụ thứ 2(hoa nở hạt hiện)và dụ thứ 3(hoa rụng hạt thành) nếu căn cứ vào sự thực mà nói, thì hoa nở hoa rụng phải có trước sau. Nhưng, nếu nói theo lí hội nhập của giáo pháp thì khai quyền và phế quyền xảy ra cùng lúc, chứ không có trước sau. Tóm lại, khai quyền hiển thực là nói theo thể của giáo pháp, mà phế quyền lập thực là nói theo dụng của sự giáo hóa, cả 2 đều hiển bày pháp thể của quyền giáo tức là nghĩa của giáo pháp chân thực. Đó là diệu pháp của quyền thực nhất thể, cho nên mới đặc biệt dùng từ ngữ Khai phế câu thời để nói rõ nghĩa ấy. (xt. Liên Hoa Tam Dụ).

khai phế hội

(開廢會) Chỉ cho 3 nghĩa khai hội của Bản môn và Tích môn trong kinh Pháp hoa theo sự phán thích của tông Thiên thai. Phần Tích môn trong 14 phẩm trước của kinh Pháp hoa nói rõ ý chỉ Khai quyền hiển thực, Phế quyền lập thực và Hội tam qui nhất để giải thích lí tất cả là Nhất Phật thừa. Phần Bản môn trong 14 phẩm sau là thuyết minh ý chỉ Khai tích hiển bản, Phế tích hiển bản và Hội tích qui bản để giải thích sự cửu viễn bản Phật(đã thành Phật từ lâu xa). Khai là khai trừ quyền giáo, tích môn; Phế là phế bỏ quyền giáo, tích môn, Hội là hội nhập quyền giáo và tích môn để trở về thực giáo và bản môn. Khai quyền hiển thực, Khai tích hiển bản nêu trên là nói theo thể của giáo pháp; Phế quyền lập thực, Phế tích hiển bản là nói theo dụng của sự hóa đạo; còn Hội tam qui nhất, Hội tích hiển bản thì nói theo sự tu hành. Đứng về phương diện bản thể của giáo pháp thì gọi là Khai quyền hiển thực, tức là đối với thực giáo mà nói thì quyền giáo là giáo pháp phương tiện. Trừ bỏ sự chấp trước đối với quyền giáo thì thực giáo có thể hiển hiện. Đứng về mặt phương tiện giáo hóa chúng sinh thì gọi là Phế quyền lập thực, tức là đã trừ bỏ sự chấp trước quyền giáo mà hội nhập thực giáo rồi thì không cần đến quyền giáo nữa. Nghĩa là đã đạt đến cứu kính thì không cần phương tiện nữa. Đứng về phương diện tu hành thực tiễn mà nói thì gọi là Hội tam qui nhất; tức là Tam thừa Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều có thể hội nhập Nhất thừa mà thành Phật. Bản môn Pháp hoa nhắm vào Phật thân cũng có thể dùng Khai tích hiển bản, Phế tích hiển bản và Hội tích hiển bản để xiển minh diệu pháp quyền thực nhất thể. Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 9 phần cuối, về Bản môn, Tích môn mỗi môn lại lập 10 lớp để giải thích rõ lực dụng của kinh Pháp hoa như sau: - Mười lớp trong Tích môn: Phá tam hiển nhất, Phế tam hiển nhất, Khai tam hiển nhất, Hội tam hiển nhất, Trụ nhất hiển nhất, Trụ tam hiển nhất, Trụ phi tam phi nhất hiển nhất, Phú tam hiển nhất, Trụ tam dụng nhất và Trụ nhất dụng tam. Mười lớp này cũng có thể phối với Thập diệu của Tích môn. - Mười lớp của Bản môn: Phá tích hiển bản, Phế tích hiển bản, Khai tích hiển bản, Hội tích hiển bản, Trụ bản hiển bản, Trụ tích hiển bản, Trụ phi tích phi bản hiển bản, Phú tích hiển bản, Trụ tích dụng bản và Trụ bản dụng tích. Mười lớp này cũng có thể phối với Tập diệu của Bản môn. Ngoài ra, 10 lớp của Bản môn, Tích môn cũng có thể phối với Tứ tất đàn. Phương pháp phối hợp được nói rõ ràng trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1, phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần trên, Q.7 phần dưới; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1-3; Pháp hoa văn cú Q.3 thượng, Q.3 hạ, Q.4 thượng, Q.4 hạ; Pháp hoa huyền luận Q.2, Q.4, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Phế Câu Thời, Liên Hoa Tam Dụ).

Khai Quang

(開光): có nhiều loại Khai Quang khác nhau. Căn cứ vào tôn giáo mà có Khai Quang của Phật Giáo, Khai Quang của Đạo Giáo, Khai Quang của Âm Dương Sư (陰陽師), v.v.; như ở các đền thờ Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君) thường tiến hành nghi thức Quan Công Khai Quang (關公開光). Khai Quang của Phật Giáo lại chia thành Quần Khai Quang (群開光, Khai Quang cho nhiều hình tượng) và Đơn Độc Khai Quang (單獨開光, Khai Quang chỉ cho một tượng). Mỗi khi có tự viện nào lạc thành hay trùng tu, sau khi điêu khắc tượng Phật Bồ Tát xong, thường cung thỉnh chư tôn Thiền đức đến để tiến hành lễ Khai Quang Điểm Nhãn (開光點眼) cho các pho tượng đó. Đối với các tôn giáo, Khai Quang được xem như là một loại nghi thức vô cùng linh thiêng, quan trọng, tiếp dẫn linh tánh cũng như tiên khí vào trong tôn tượng. Nguồn gốc của nghi thức này phát xuất từ Đạo Giáo; lấy cái vô hình trong vũ trụ, có đủ linh tánh với pháp lực vô biên đem nhập vào trong thần tượng; cho nên sau khi đem thờ phụng thì tôn tượng ấy trở thành linh hiển. Nguyên lai, Phật Giáo không có nghi thức này, mà chỉ có nghi thức gia trì tượng Phật, so với nghi Khai Quang có khác nhiều. Nếu xét về phương pháp Khai Quang thần tượng theo Đạo Giáo, mọi việc đều thông qua vị Cao Công Pháp Sư (高功法師), chọn ngày giờ tốt để tiến hành nghi Khai Quang Điểm Nhãn. Nghi thức ấy gồm 12 loại khoa nghi: Thanh Tịnh (清淨), Thỉnh Thần (請神), Phát Chỉ (發旨), Phát Lịnh (發令), Thất Tinh (七星), Bát Quái (八卦), Nhập Thần (入神), Sắc Bút (敕筆), Sắc Kính (敕鏡), Sắc Kê (敕雞), Khai Quang (開光), Phát Hào (發毫). Khai Quang còn gọi là Khai Nhãn (開眼), Khai Minh (開明), Khai Quang Minh (開光明), Khai Nhãn Cúng Dường (開眼供養), Khai Nhãn Giới (開眼界), Khai Nhãn Căn (開眼根). Thiền Lâm Tượng Khí (禪林象器) quyển Thượng có ghi rằng: “Phàm tân tạo Phật Tổ Thần Thiên tượng giả, chư tông sư gia, lập địa sổ ngữ, tác bút điểm thế, trực điểm khai tha Kim Cang chánh nhãn, thử vi Khai Nhãn Phật sự, hựu danh Khai Thủy Minh (凡新造佛祖神天像者、諸宗師家、立地數語、作筆點勢、直點開他金剛正眼、此爲開眼佛事、又名開水明, phàm các tượng Phật, Tổ, Thần, chư Thiên mới tạo nên, các nhà Tông sư, đứng trên mặt đất nói vài lời, cầm cây bút theo tư thế điểm, điểm thẳng khai mở chánh nhãn Kim Cang của tượng; đây là Phật sự Khai Nhãn, còn gọi là Khai Thủy Minh).” Phật Giáo cho rằng chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay, đã chịu biết bao nhiêu ô nhiễm của trần cấu, vô minh, nên không thể nào thấy rõ chân lý của các pháp, vì vậy cần phải khai mở trí tuệ bên trong mỗi chúng ta. Khai Quang cũng là một hình thức để tu chứng đạt đến tương ứng với Phật tâm, cầu thỉnh chư Phật Bồ Tát giáng lâm, ấn chứng cho Ứng Thân của tôn tượng, rót vào đó năng lượng đại từ đại bi, đại trí đại tuệ, Ngũ Nhãn Lục Thông, thông qua người tiến hành lễ Khai Quang. Do đó, hiệu quả của việc Khai Quang hoàn toàn liên quan đến vị Đạo Sư hành lễ, chứ không phải do nghi thức hay hình thức gì cả. Về tiến trình lễ Khai Quang, trước khi hành lễ, phải an trí tôn tượng một nơi cố định, trước tụng kinh và thần chú để cung thỉnh chư Phật, Bồ Tát an tọa; sau đó mới thỉnh chư vị cao tăng vì tôn tượng mà tiến hành Khai Quang, thuyết pháp. Hắc Cốc Đăng Ngữ Lục (黑谷燈語錄) quyển Trung có giải thích rằng: “Khai Nhãn giả, bổn thị Phật tượng điêu khai nhãn, thị sự Khai Nhãn, thứ tăng gia tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, nhi thành tựu Phật nhất thiết công đức, thử vị Khai Nhãn dã (開眼者、本是佛匠雕開眼、是事開眼、次僧家誦佛眼真言、誦大日真言、而成就佛一切功德、此謂開眼也, Khai Nhãn vốn là khai mở con mắt của tượng điêu khắc, việc đó là Khai Nhãn; kế đến chư tăng tụng Phật Nhãn Chơn Ngôn, tụng Đại Nhật Chơn Ngôn, để thành tựu hết thảy công đức, đây được gọi là Khai Nhãn vậy).” Thật ra, Khai Quang là một loại nghi thức thuyết pháp cử hành cho tượng Phật. Nghi thức cụ thể như sau: Trước hết vị chủ lễ cầm một cái khăn lông hướng về tượng Phật làm động tác lau chùi tôn tượng, rồi nói một câu kệ, tán tụng công đức của chư Phật Bồ Tát, như vậy được gọi là Khai Nhãn. Tiếp theo, vị ấy dùng cái kính hướng đối chiếu ngay chánh diện của tượng Phật, nói vài lời về ngôi tự viện hiện tại, nhân duyên hoàn thành tôn tượng. Sau đó, vị chủ lễ cầm cây bút Chu Sa (硃砂), lại nói một câu kệ ngữ khác, rồi cầm cây bút hướng về tôn tượng làm động tác “điểm”, hô vang một tiếng “khai (開, mở ra)”; khi nghi thức ấy đã xong, như vậy việc Khai Quang được xem như là hoàn tất. Khi Khai Quang, do vì công đức của chư Phật Bồ Tát không giống nhau, nên vị chủ lễ nói pháp ngữ cũng không thống nhất. Tại Trung Quốc, Pháp Hội Khai Quang được tiến hành đầu tiên vào năm thứ 5 (980) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國) nhà Bắc Tống. Truyền Pháp Đại Sư Thí Hộ (傳法大師施護), người nước Ô Điền Nẵng (烏塡曩) ở Bắc Ấn Độ, đã dịch bản Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh (佛說一切如來安像三昧儀軌經, Taishō Vol. 21, No. 1418) tại Dịch Kinh Viện (譯經院) của Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) thuộc Phủ Khai Phong. Dịch bản này ghi rõ toàn bộ quy trình tiến hành nghi thức Khai Quang Điểm Nhãn một cách chi tiết. Tại Nhật Bản, trong Điều Thiên Trí Thiên Hoàng Thập Niên Thập Nguyệt (天智天皇十年十月條, tháng 10 năm thứ 10 [671] đời Thiên Trí Thiên Hoàng [天智天皇, Tenji Tennō, tại vị 661-671]) của bộ Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀, Nihonshōki) có ghi lại Lễ Khai Nhãn cho trăm tượng Phật trong cung nội; rồi trong Điều Trì Thống Thiên Hoàng Thập Nhất Niên Thất Nguyệt (持統天皇十一年七月條, tháng 7 năm thứ 11 [697] đời Trì Thống Thiên Hoàng [持統天皇, Jitō Tennō, tại vị 690-697]) có ký lục cho biết rằng tại Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji) ở vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka) có tiến hành Hội Khai Nhãn. Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 4 (752) niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo (天平勝寶), lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (大佛開眼會) được diễn ra tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), thành phố Nại Lương (奈良, Nara). Hiếu Khiêm Thiên Hoàng (孝謙天皇, Kōken Tennō, tại vị 749-758), Thánh Võ Thiên Hoàng (聖武天皇, Shōmu Tennō, tại vị 724-749), Hoàng Thái Hậu và phi tần nội cung, cùng toàn thể quần thần bá quan văn võ đồng đến tham dự với khoảng hơn 1 vạn tăng sĩ hành lễ. Đặc biệt, lễ hội này do Bồ Đề Tiên Na (s: Bodhisena, 菩提僊那) chủ lễ, và điều khiển nhạc lễ thì do Phật Triết (佛哲, Buttetsu, ?-?, hay Phật Triệt [佛徹]), vị tăng sang Nhật Bản dưới thời đại Nại Lương (奈良, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (林邑, Nam bộ Việt Nam, Huế-Phan Rang). Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (開元, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (天平), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính (理鏡) và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng Thành (多治比廣成), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (大安寺, Daian-ji). Bồ Đề Tiên Na dạy Phật pháp, còn Phật Triệt chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp cho nội cung triều đình Nhật, cùng là dạy các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v., để cúng dường trong các lễ hội Phật Giáo. Trong lễ Hội Khai Nhãn năm 752 này, Phật Triệt điều khiển dàn nhạc gồm hơn 400 nhạc công và vũ công của Nhã Nhạc Viện (雅樂院) trong nội cung, diễn tấu Nhạc Lâm Ấp để cúng dường Tượng Đại Phật Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那); lễ Hội kéo dài trong 3 tháng. Trong Chuẩn Đề Phần Tu Tất Địa Sám Hối Huyền Văn (准提焚修悉地懺悔玄文, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1482) có ghi lại sự huyền nhiệm của lễ Khai Nhãn như sau: “Hựu như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, vi cư sĩ thời, tằng vi dư y Bất Không dịch, tả Chuẩn Đề tượng ư Dược Sơn viên trung; Khai Quang chi nhật, hốt hữu cốt đổng gia, dĩ Chuẩn Đề Chơn Ngôn Phạn thư cựu hồng nha trục, Phạn thư cổ từ lư, đồng hương hạp, lai trợ trang diễn cúng dường giả, tinh cảm chiêu trung bất tư nghì sự (又如丁元公淨伊禪師、爲居士時、曾爲余依不空譯、寫准提像於藥山園中、開光之日、忽有骨董家、以准提眞言梵書舊紅牙軸、梵書古瓷罏、銅香盒、來助裝演供養者、幷感召中不思議事, lại như Đinh Nguyên Công Tịnh Y Thiền Sư, khi còn làm cư sĩ, từng theo bản dịch của Bất Không, vẽ tượng Chuẩn Đề trong vườn Dược Sơn; ngày lễ Khai Quang, chợt có một người chơi đồ cổ, lấy cuộn sách cũ kỹ ghi Chuẩn Đề Chơn Ngôn bằng tiếng Phạn, bình sứ có ghi tiếng Phạn, hộp đốt hương bằng đồng, đến giúp trang trí cúng dường, bèn cảm biết trong ấy việc không nghĩ bàn).” Trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1252) quyển 1, có lòng văn Sớ về Tạo Tượng Khai Quang (造像開光) như: “Tướng hảo trang nghiêm, dĩ tận quỳ khuynh chi khẩn; trai tu túc liệt, viên thân bộc hiến chi cung; ngung nhược hữu phu, nghiễm nhiên như tại. Thiết niệm: [Mỗ] thọ hạ liệt thân phạp đại nhân tướng, đổ Tử Ma chi sắc, hạt thắng kỳ thừa; vọng bạch hào chi quang, đồ thiết bi ngưỡng; thị dĩ kính vu [mỗ] tự thí tạo [mỗ] tượng nhất tôn, tạo công ký tất nhưng diên tăng kiến Khai Quang thực phước đạo tràng, [nhập Phật sự] phủ tu vi thiện, ngưỡng đáp hồng hưu. Phục nguyện: Ngộ chơn không tướng, hoạch pháp tánh thân; bị nhị nghiêm chi tư, biến du giác uyển; tiêu Ngũ Trược chi uế, hằng xử Tịnh Bang (相好莊嚴、已盡葵傾之懇、齋饈肅列、爰申曝獻之恭、顒若有孚、儼然如在、竊念[某]受下劣身乏大人相、睹紫磨之色、曷勝祇承、望白毫之光、徒切悲仰、是以敬于[某]寺施造[某]像一尊、造功既畢仍延僧建開光植福道塲、[入佛事]俯修微善、仰答洪休、伏願悟眞空相、獲法性身。備二嚴之資、遍遊覺苑、消五濁之穢、恆處淨邦, tướng tốt trang nghiêm, bày tận tấc lòng khẩn thiết; cỗ chay thiết đủ, chí thành dâng hiến cúng dường; vĩ đại đức tin, nghiễm nhiên hiện hữu. Thiết nghĩ: [Con…] thọ thân hạ liệt thiếu tướng đại nhân [bậc giác ngộ], thấy vàng ròng sắc tướng, sao khỏi ước mong; ngắm mày trắng hào quang, không sao buồn tủi; do vậy kính ngưỡng chùa …, tạo dựng tượng một pho, công trình hoàn tất, lại thỉnh chư tăng lập đạo tràng Khai Nhãn gieo phước; [phần Phật sự], cúi tu chút thiện, ngưỡng đáp hồng ân. Cúi mong: Ngộ chơn không tướng, đạt pháp tánh thân; đủ phước trí dáng hình, chơi khắp vườn giác; tiêu Năm Trược ô uế, thường trú Tịnh Bang).” Trong Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai An Tượng Tam Muội Nghi Quỹ Kinh có nêu một số câu Thần Chú dùng cho lễ Khai Quang như Chơn Ngôn Hiến Ứ Già Cúng Dường (眞言獻閼伽供養, cúng dường nước) là “Án, tát rị phạ bá ba ta phổ tra na hạ nẵng phạ nhật ra dã tát phạ hạ (唵薩哩嚩播波娑普吒那賀曩嚩日囉野薩嚩賀)”; Hương Du Chơn Ngôn (香油眞言, Chơn Ngôn cúng dường hương dầu) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa ca dã vĩ thú đà nhĩ ta phạ hạ (唵薩哩嚩怛他誐多迦野尾戍馱你娑嚩賀)”; Phật Nhãn Bồ Tát Chơn Ngôn Năng Trừ Nhất Thiết Cấu (佛眼菩薩眞言能除一切垢, Chơn Ngôn của Phật Nhãn Bồ Tát có thể trừ tất cả những dơ bẩn) là “Án, tát rị phạ ra tổ ba hạ ra noa ta phạ hạ (唵薩哩嚩囉祖波賀囉拏娑嚩賀)”; Quán Đảnh Chơn Ngôn (灌頂眞言) là “Án, tát rị phạ đát tha nga đa tỷ sân ca tam ma dã thất rị duệ hồng (唵薩哩嚩怛他誐哆鼻詵迦三摩野室哩曳吽)”; Trước Y Chơn Ngôn (著衣眞言, Chơn Ngôn mặc áo) là “Án, phạ nhật ra phạ ta tế ta phạ hạ (唵嚩日囉嚩娑細娑嚩賀)”; An Nhĩ Chơn Ngôn (安耳眞言, Chơn Ngôn an vị lỗ tai) là “Án, ca ra noa ma lộ đà ra noa hồng (唵迦囉拏摩路馱囉拏吽)”; An Phát Kế Chơn Ngôn (安髮髻眞言, Chơn Ngôn an vị tóc và búi tóc) là “Án, tát rị phạ chỉ ta a phạ đa ra noa hồng ta phạ hạ (唵薩哩嚩枳娑阿嚩哆囉拏吽娑嚩賀)”; An Chỉ Giáp Chơn Ngôn (安指甲眞言, Chơn Ngôn an vị ngón tay) là “Án, tát rị phạ thâu nẵng khư thế na nẵng ra nhã ta phạ hạ (唵薩哩嚩輸曩佉砌那曩囉惹娑嚩賀)”; An Tì Tu Chơn Ngôn (安髭鬚眞言, Chơn Ngôn an vị râu ria) là “Án, tát rị phạ ta ma tô rô đà ra noa hồng hồng hứ lăng (唵薩哩嚩娑摩酥嚕馱囉拏吽吽呬凌)”; Hiến Đồ Hương Chơn Ngôn (獻塗香眞言, Chơn Ngôn dâng cúng dầu hương) là “Án, phạ nhật ra hiến đệ ta phạ hạ (唵嚩日囉巘弟娑嚩賀)”; An Trang Nghiêm Chơn Ngôn (安莊嚴眞言) là “Án, phạ nhật ra bà ra noa vĩ bộ sắt ni ta phạ hạ (唵嚩日囉婆囉拏尾部瑟尼娑嚩賀)”; Bổn Tôn Tam Muội Chơn Ngôn (本尊三昧眞言) là “Án, hồng đát lạc ngật rị ác (唵吽怛落仡哩惡)”; Hiến Hoa Chơn Ngôn (獻花眞言) là “Án, phạ nhật ra bổ sắt bế hồng (唵嚩日囉補瑟閉吽)”; Hiến Hương Chơn Ngôn (獻香眞言) là “Án, phạ nhật ra độ bế (唵嚩日囉度閉)”; Đăng Chơn Ngôn (燈眞言) là “Án, phạ nhật ra nễ bế ta phạ hạ (唵嚩日囉禰閉娑嚩賀)”; Thực Chơn Ngôn (食眞言) là “Án, tân nỗ ba đán bát ra để ngật rị hận nẵng ta phạ hạ (唵賓努波旦缽囉底仡哩恨曩娑嚩賀)”; Khai Nhãn Quang Chơn Ngôn (開眼光眞言) là “Án, tác sô tác sô tam mãn đa tác sô vĩ thú đà nễ ta phạ hạ (唵作芻作芻三滿哆作芻尾戍馱你娑嚩賀)” và “Án, nễ đát ra ba tra lộ ba hạ ra noa hứ lăng (唵你怛囉波吒路波賀囉拏呬凌)”; Hộ Ma Chơn Ngôn (護摩眞言) là “Án, phạ nhật ra dụ thế ta phạ hạ (唵嚩日囉喻世娑嚩賀)”; Tức Tai Tăng Ích Chơn Ngôn (息災增益眞言) là “Án, phạ nhật ra bố sắt tra duệ ta phạ hạ (唵嚩日囉布瑟吒曳娑嚩賀)”; Hộ Thế Chơn Ngôn (護世眞言) là “Ấn, nại ra dã ta phạ hạ (印捺囉野娑嚩賀)”, v.v.

khai quyền hiển thật

(開權顯實) Phá trừ sự chấp trước vào quyền giáo phương tiện của Tam thừa để hiểnbày nghĩa chân thực Nhất thừa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa do tông Thiên thai lập ra. Khai nghĩa là khai trừ, khai phát, khai thác; khai trừ là trừ bỏ quyền chấp(chấp vào giáo pháp phương tiện tạm thời), Khai phát là do cơ duyên bên trong thuần thục mà lìa quyền chấp, khai thác là quyền tức thực mà mở rộng ý nghĩa về thể của nó. Giáo pháp do đức Phật thuyết giảng trước kinh Pháp hoa là giáo pháp phương tiện, nhằm thích ứng với những căn cơ chưa thuần thục, hầu dắt dẫn chúng sinh vào giáo pháp chân thực. Vì dùng phép phương tiện quyền giả (tạm thời) để hiển bày nghĩa chân thực, nên gọi là Khai quyền hiển thực. Tuy nhiên, quyền thực vốn chẳng khác nhau, nếu trừ bỏ được chấp trước này, thì quyền thực không hai, quay về với chân nghĩa Nhất Phật thừa. Trên đây là nói theo Hóa nghi Tích môn thuộc nửa bộ trước của kinh Pháp hoa. Mà Khai tích hiển bản thuộc Hóa nghi Bản môn của nửa bộ sau cũng gọi là Khai quyền hiển thực tức phá trừ chấp trước vào quyền giáo Tích môn, để hiển bày thực nghĩa Bản môn. Nếu nói theo trọn bộ kinh Pháp hoa, thì 14 phẩm trước là Khai tam hiển nhất, 14 phẩm sau là Khai cận hiển viễn, tức là nửa bộ trước trừ bỏ giáo pháp Tam thừa phương tiện, để hiển bày giáo pháp Nhất thừa chân thực; còn nửa bộ sau là trừ bỏ Cận Phật thùy tích(Phật mới thành), mà hiển bày Chân Phật bản địa(Phật đã thành từ lâu xa). Như vậy, tất cả 28 phẩm kinh Pháp hoa đều qui về Khai quyền hiển thực. Lại nữa, Khai tam hiển nhất là nói theo người, căn cơ, trái lại, Khai quyền hiển thực là nhằm giải thích lí, giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 thượng; Pháp hoa văn cú kí Q.8 phần 3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Pháp hoa huyền luận Q.3, Q.5]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Tam Hiển Nhất, Khai Cận Hiển Viễn).

Khai Sĩ

(開士): tên gọi khác của Bồ Tát. Vị Bồ Tát hiểu rõ tất cả chân lý, có thể dẫn dắt chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, có thể tự khai mở giác ngộ, lại có thể khai mở tín tâm của người khác; nên có tên gọi như vậy. Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có đoạn rằng: “Kinh trung đa hô Bồ Tát vi Khai Sĩ, Tiền Tần Phù Kiên tứ Sa Môn hữu đức giải giả hiệu Khai Sĩ (經中多呼菩薩爲開士、前秦苻堅賜沙門有德解者號開士, trong kinh phần lớn gọi vị Bồ Tát là Khai Sĩ, vua Phù Kiên [338-385] nhà Tiền Tần ban tặng cho vị sa môn có đức độ và thông hiểu kinh điển là Khai Sĩ).” Trong Độ Thế Phẩm Kinh (度世品經, Taishō Vol. 10, No. 292) quyển 2 có câu: “Sử ngô bất ly chư Phật Thế Tôn cập chư Khai Sĩ, quyên trừ sanh tử trì dật chi nạn (使吾不離諸佛世尊及諸開士、蠲除生死馳逸之難, khiến ta chẳng rời chư Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ Tát, dứt trừ nạn sống chết đuổi theo).” Hay trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 8 lại có đoạn: “Tam thế Thánh nhân, lịch đại Khai Sĩ, mạc bất tự thử nhi xuất; tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh, mạc bất tự thử nhi sanh (三世聖人、歷代開士、莫不自此而出、三千威儀、八萬細行、莫不自此而生, ba đời Thánh nhân, lịch đại Bồ Tát, thảy đều từ đây mà ra; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, thảy đều từ đây mà sanh).” ; (開士): tên gọi khác của Bồ Tát. Vị Bồ Tát hiểu rõ tất cả chân lý, có thể dẫn dắt chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, có thể tự khai mở giác ngộ, lại có thể khai mở tín tâm của người khác; nên có tên gọi như vậy. Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽, Taishō Vol. 54, No. 2127) quyển 1 có đoạn rằng: “Kinh trung đa hô Bồ Tát vi Khai Sĩ, Tiền Tần Phù Kiên tứ Sa Môn hữu đức giải giả hiệu Khai Sĩ (經中多呼菩薩為開士、前秦苻堅賜沙門有德解者號開士, trong kinh phần lớn gọi vị Bồ Tát là Khai Sĩ, vua Phù Kiên [338-385] nhà Tiền Tần ban tặng cho vị sa môn có đức độ và thông hiểu kinh điển là Khai Sĩ).” Trong Độ Thế Phẩm Kinh (度世品經, Taishō Vol. 10, No. 292) quyển 2 có câu: “Sử ngô bất ly chư Phật Thế Tôn cập chư Khai Sĩ, quyên trừ sanh tử trì dật chi nạn (使吾不離諸佛世尊及諸開士、蠲除生死馳逸之難, khiến ta chẳng rời chư Phật Thế Tôn cùng các vị Bồ Tát, dứt trừ nạn sống chết đuổi theo).” Hay trong Liễu Am Thanh Dục Thiền Sư Ngữ Lục (了菴清欲禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1414) quyển 8 lại có đoạn: “Tam thế Thánh nhân, lịch đại Khai Sĩ, mạc bất tự thử nhi xuất; tam thiên uy nghi, bát vạn tế hạnh, mạc bất tự thử nhi sanh (三世聖人、歷代開士、莫不自此而出、三千威儀、八萬細行、莫不自此而生, ba đời Thánh nhân, lịch đại Bồ Tát, thảy đều từ đây mà ra; ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, thảy đều từ đây mà sanh).”

khai sĩ

(開士) Phạm: Bodhisattva. Dịch âm: Bồ đề tát đỏa. Cũng gọi Xiển sĩ. Từ tôn xưng các bậc cao đức, thông đạt. Khai là sáng suốt, chỉ cho người mở ra chính đạo để dắt dẫn chúng sinh, đặc biệt chỉ cho các vị Bồ tát. A tì đạt ma thức thân túc luận quyển 1 (Đại 26, 531 thượng) nói: Uy lực Khai sĩ tạng Như lai, mắt tuệ soi sáng khắp ba cõi. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 260 hạ) nói: Trong các kinh, phần nhiều gọi Bồ tát là Khai sĩ. Vua Phù kiên đời Tiền Tần, ban danh hiệu Khai sĩ cho các bậc sa môn có đức hạnh và trí tuệ. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.4].

khai sĩ nhập dục

(開士入浴) Cũng gọi Khai sĩ ngộ thủy nhân. Tên công án trong Thiền tông. Khai sĩ vào phòng tắm. Nhân duyên ngộ đạo của ngài Bạt đà bà la và 16 vị Khai sĩ (Bồ tát). Tắc 78 Bích nham lục (Đại 48, 205 thượng) ghi: Xưa có 16 vị Khai sĩ, đến giờ chư tăng tắm gội, các vị cũng lần lượt vào tắm, bỗng nhiên tỏ ngộ nhân duyên của nước. Chư thiền đức hiểu thế nào? Ngài Bạt đà bà la nói: Hiểu rõ được xúc trần là mầu nhiệm thì ngay lúc đó liền thành Phật. Cần phải trải qua nhiều thủ đoạn tung hoành ngang dọc mới rõ được chỗ này.

Khai sơn

(開山): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tức khai mở núi lập chùa. Xưa kia, đại đa số các tự viện đều được xây dựng ở những nơi núi non thâm u, nhàn tĩnh, nên gọi là khai sơn, hay khai cơ (開基). Như trong bài tựa của Sơn Ông Thiền Sư Văn Tập (山翁禪師文集) do Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh sáng tác, có đoạn: “Dư du Vân Môn chư tự, chí Bình Dương, Sơn Ông khai sơn kinh thỉ (余遊雲門諸寺、至平陽、山翁開山經始, ta ngao du các chùa ở Vân Môn, đến Bình Dương, Sơn Ông bắt đầu khai sơn cho đến nay).” Hay trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) lại có đoạn: “Đương Dương Huyện Ngọc Tuyền Sơn Cảnh Đức Thiền Tự vi Tùy Trí Giả Thiền Sư khai sơn đạo tràng (當陽縣玉泉山景德禪寺爲隋智者禪師開山道塲, Cảnh Đức Thiền Tự ở Ngọc Tuyền Sơn, Huyện Đương Dương là đạo tràng do Thiền Sư Trí Khải [538-397] nhà Tùy khai sơn).” (2) Là từ tôn xưng cho vị Tổ, trú trì đời đầu tiên của chùa. Như trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀, Taishō Vol. 49, No. 2035) quyển 14, phần Từ Biện Gián Pháp Sư Pháp Từ (慈辯諫法師法嗣), Pháp Sư Trạch Khanh (法師擇卿), có đoạn: “Nguyên Hựu nhị niên, sơ kiến Thọ Thánh Viện, thỉnh sư khai sơn (元祐二年、初建壽聖院、請師開山, vào năm thứ 2 [1807] niên hiệu Nguyên Hựu, ban đầu kiến lập Thọ Thánh Viện, cung thỉnh Pháp Sư làm Tổ khai sơn).” Hay trong Võ Lâm Tây Hồ Cao Tăng Sự Lược (武林西湖高僧事略, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1526), phần Ngũ Đại Vĩnh Minh Tiềm Thiền Sư (五代永明潛禪師), lại có đoạn: “Chu Hiển Đức nguyên niên, kiến Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, thỉnh sư cư chi, vi khai sơn thỉ Tổ (周顯德元年、建慧日永明寺、請師居之、爲開山始祖, vào năm đầu [954] niên hiệu Hiển Đức nhà Chu, kiến lập Huệ Nhật Vĩnh Minh Tự, cung thỉnh Thiền Sư đến ở, là vị Tổ khai sơn đầu tiên).” (3) Khai sáng học phái, tông phái nào đó, hay chỉ cho người khai sáng học phái, tông phái đó. ; 開山; J: kaisan;|Danh từ chỉ người khai sơn lập chùa. Người lập một trường phái riêng biệt được gọi là Khai sơn tổ sư.

khai sơn

(開山) Cũng gọi Khai cơ. Khai sơn vốn chỉ cho việc khai sáng chùa viện. Thời xưa các chùa viện thường được xây cất ở những nơi rừng núi tĩnh mịch, cho nên khai quang rừng núi để kiến thiết chùa viện, gọi là Khai sơn. Vị trụ trì đời thứ nhất của chùa viện cũng được tôn xưng là Khai sơn. Khai sơn lại có: Khuyến thỉnh khai sơn và Sáng kiến khai sơn. Sáng kiến khai sơn là tự khai sáng chùa viện và làm Trụ trì, còn Khuyến thỉnh khai sơn là tự mình đứng ra sáng lập chùa viện rồi thỉnh vị tăng có đức về làm Trụ trì. Ngoài ra, người sáng lập một tông phái cũng gọi là Khai sơn, Khai tổ, Khai sơn tổ, Khai sơn tổ sư. [X. Phật tổ thống kỉ Q.14; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai sơn kỵ

(開山忌) Ngày giỗ của vị Khai sơn chùa viện. Ngày xưa ở Trung quốc đã có ngày lễ này, thường được các chùa viện cử hành rất trọng thể. Còn ở Nhật bản thì mãi đến thời Thiền tông được truyền vào, các chùa viện mới làm theo. Ngoài ra, ngày giỗ các vị Tổ sáng lập tông phái thì gọi là Tổ sư kị. [X. điều Khai sơn lịch đại tổ kị, chương Tôn tổ, trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. thượng].

khai sơn đường

(開山堂) Cũng gọi Tổ sư đường, Tổ đường, Ảnh đường, Ảnh thất. Ngôi nhà thờ tượng Tổ khai sơn bản tự, thường được xây dựng ở phía tây trước điện Phật và đốidiện với Già lam đường ở phía đông. Vào thời Tống, vì tôn sùng vị Khai sơn, nên trong Tổ đường chỉ đặt hình tượng vị Khai sơn. Nhưng đến đời sau trong Tổ đường cũng có thờ bài vị của các đời Trụ trì. [X. Tổ đường cương kỉ trong Bạch vân Thủ đoan thiền sư quảng lục Q.1].

khai tam hiển nhất

(開三顯一) Trừ bỏ quyền chấp Tam thừa để hiển bày thực nghĩa Nhất thừa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa do tông Thiên thai đặt ra. Nửa bộ trước của kinh Pháp hoa là hiển bày Tích môn, nửa bộ sau là hiển bày Bản môn, Khai tam hiển nhất tức là trong phần hóa nghi của Tích môn, trừ bỏ sự chấp trước vào quyền giáo Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát)được tuyên thuyết trong các kinh trước thời Pháp hoa, để hiển bày giáo pháp chân thực Nhất thừa (Phật thừa). Nhưng sự sai khác của Tam thừa và Nhất thừa thực ra chỉ do căn cơ chưa thuần thục mà thôi. Nếu trừ bỏ được vọng chấp sai biệt, thì đạo do Tam thừa tu tập tức là Phật đạo, mà giáo lí của Tam thừa cũng tức là giáo lí của thực tướng Nhất thừa; bởi thế, Tam thừa rốt cục đều qui về Nhất thừa. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.9; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp hoa văn cú Q.4; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1, Q.8; Pháp hoa huyền luận Q.4]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Quyền Hiển Thực, Khai Hiển).

Khai Thiện Tự

(開善寺, Kaizen-ji): hiện tọa lạc trong núi Chung Sơn (鐘山, tức Tương Sơn [蔣山]) ở phía đông bắc của Huyện Thượng Nguyên (上元縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), ngôi chùa đứng hàng thứ 3 trong số 10 ngôi danh sát. Đây là ngôi chùa do vua Lương Võ Đế (梁武帝) xây dựng vào năm thứ 13 (514) niên hiệu Thiên Giám (天監) để truy điệu Bảo Chí (寳誌 [保誌]); sau đó đệ tử của Bảo Chí là Trí Tàng (智藏) vâng sắc mệnh trú trì chùa này. Chùa còn được gọi là Chung Sơn Tự (鐘山寺). Thể theo sắc mệnh trong khoảng thời gian niên hiệu Càn Phù (乾符, 874-879) nhà Đường, chùa có hiệu là Bảo Quang Viện (寳光院), sau đó trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Bảo (開寳, 968-976) nhà Tống, chùa được đổi thành Khai Thiện Đạo Tràng (開善道塲). Đến khoảng thời gian niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (太平興國, 976-984), chùa lại đổi thành Thái Bình Hưng Quốc Tự (太平興國寺) và vào năm thứ 2 (1042) thì được liệt vào loại chùa Thập Phương Thiền Viện (十方禪院). Sau đó, vào đầu thời nhà Minh chùa được đổi tên là Tương Sơn Tự (蔣山寺), rồi đến năm thứ 14 (1381) là Linh Cốc Tự (靈谷寺) và lần này chùa được trùng tu trên quy mô lớn.

khai thiện tự

(開善寺) I. Khai Thiện Tự. Chùa ở núi Chung sơn, ngoài cửa Triều dương của thành phố Nam kinh, Trung quốc. Năm Thiên giám 13 (514) đời Lương, ngài Bảo chí thị tịch. Lương Vũ đế ban chiếu chỉ an táng ngài ở Chung sơn và xây một ngôi tháp 5 tầng, vua thân hành đến đặt móng, bỗng thấy trong đám mây có hình của Đại sĩ, vua liền cho lập chùa này và ban sắc cho đệ tử của ngài là sư Trí tạng trụ trì. Vào thời Trần thuộc Nam triều, ngài Trí viễn cũng từng ở chùa này. Trong năm Càn phù đời Đường, vua ban lệnh đổi chùa thành viện Bảo công. Sang đời Tống, trong năm Khai bảo, chùa được đổi tên thành Khai thiện đạo tràng. Đến năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980), Đạo tràng này cùng với các chùa viện khác ở Chung sơn được hợp lại mà gọi chung là Thái bình hưng quốc tự. Từ đó chùa này trở thành một chi viện ở Chung sơn và mất tên cũ. II. Khai Thiện Tự. Tục gọi: Linh sơn tự. Chùa ở Triều dương. Quảng đông, Trung quốc. Khoảng năm Thái nguyên đời Đường, Thiền sư Đại điên đến trụ tại chùa này. Ông Hàn dũ nghe danh ngài, đến bái kiến và tham vấn Thiền pháp, ông rất kính phục.

Khai Thiện Đạo Khiêm

(開善道謙, Kaizen Dōken, ?-?): tức Kiến Châu Tử (建州子, Kenshūsu), người vùng Kiến Ninh (建寧, Tỉnh Phúc Kiến). Ban đầu ông đến tham học với Viên Ngộ (圜悟), sau đi theo Diệu Hỷ (妙喜, tức Đại Huệ) ở Tuyền Nam (泉南, Tỉnh Phúc Kiến). Diệu Hỷ thường gọi Kiến Châu Tử là Đạo Khiêm (道謙).

khai thất

(開室) Đồng nghĩa: Nhập thất. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vị thầy mở cửa thất cho phép đại chúng vào hỏi đạo. Nhập thất là nói về phía người học, còn Khai thất là nói về phía vị thầy. [X. môn Thùy thị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai thị ngộ nhập

(開示悟入) Khai là khai phát, tức là phá trừ vô minh, mở Như lai tạng khiến chúng sinh thấy được lí thực tướng. Thị là hiển bày, vô minh đã trừ thì tri kiến thể hiện, muôn đức trong pháp giới hiển hiện rõ ràng. Ngộ là liễu ngộ, vô minh đã trừ, tri kiến đã hiển, thì sự (hiện tượng), lí(bản thể) dung thông, có chỗ tỏ ngộ. Nhập là chứng nhập, nghĩa là sự, lí đã dung thông thì được tự tại vô ngại, chứng nhập biển trí tuệ. Cứ theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa quyển 1, thì mục đích duy nhất của chư Phật xuất hiện nơi thế gian là để khơi mở cho chúng sinh ngộ vào tri kiến của Phật, tức là giác ngộ thành Phật. Pháp hoa văn cú quyển 4 thượng, đã đứng trên lập trường khác nhau của Tứ vị, Tứ trí, Tứ môn, Quán tâm, v.v... mà giải thích lí của Khai Thị Ngộ Nhập, đồng thời phối hợp 4 chữ này với 4 hạng mục vừa nêu ở trên. 1. Phối hợp với Tứ vị của Bồ tát. a) Khai phối hợp với Thập trụ vị: Ở giai vị này, Bồ tát có khả năng phá trừ vô minh, mở bày Như lai tạng mà thấy được lí Thực tướng. b) Thị phối hợp với Thập hạnh: Ở giai vị này hoặc chướng đã trừ, thể của tri kiến cũng tự hiển bày; thể này đầy đủ muôn đức, cho nên tất cả các đức của pháp giới đều hiển hiện rõ ràng. c) Ngộ phối hợp với Thập hồi hướng: Ở giai vị này, chướng đã trừ, thể đã hiện, muôn đức của pháp giới đã sáng tỏ, cho nên sự lí ắt dung thông. d) Nhập phối hợp với Thập địa: Ở giai vị này, sự lí đã dung thông, cho nên được tự tại vô ngại, nhậm vận tự nhiên mà hòa nhập vào biển nhất thiết trí (tát bà nhã). 2. Phối hợp với Tứ trí. a) Khai phối hợp với Đạo tuệ: Trong thực tính khai phát được tri kiến của Phật. b) Thị phối hợp với Đạo chủng tuệ: Biết rõ sự sai biệt của các đạo trong 10 pháp giới và biết rõ tướng của giải hoặc đều do tri kiến Phật hiển bày. c) Ngộ phối hợp với Nhất thiết trí: Biết rõ nhất tướng tịch diệt của tất cả pháp tức là liễu ngộ được tri kiến Phật. d) Nhập phối hợp với Nhất thiết chủng trí: Biết rõ nhất tướng tịch diệt tướng của tất cả pháp và biết được tướng mạo của các loại hành, tức là nhập vào tri kiến Phật. 3. Phối hợp với Tứ môn. a) Khai phối hợp với Không môn: Hiểu rõ lí Nhất không nhất thiết không trong Không môn là khơi mở được tri kiến Phật. b) Thị phối hợp với Hữu môn: Hiểu rõ lí Nhất hữu nhất thiết hữu trong Hữu môn tức hiển bày tri kiến Phật. c) Ngộ phối hợp với Diệc không diệc hữu môn: Thấu suốt lí Nhất thiết diệc không nhất thiết diệc hữu tức thể ngộ tri kiến Phật. d) Nhập phối hợp với Phi không phi hữu môn: Chứng được lí Nhất thiết phi không nhất thiết phi hữu tức là nhập vào tri kiến Phật. 4. Phối với Quán tâm. Sử dụng thuyết Nhất tâm tam quán của tông Thiên thai để trực tiếp giải thích lí khai thị ngộ nhập. Tam quán là Không quán, Giả quán và Trung quán. a) Quán rõ suốt Tâm tính tam đế không thể nghĩ bàn, pháp quán này trong sáng không trở ngại, cho nên gọi làKhai. b) Cảnh này quán này tuy không thể nghĩ bàn, nhưng tâm có thể quán không, Giả, Trung phân biệt rõ ràng không lẫn lộn cho nên gọi làThị. c) Tâm quán Không, Giả, Trung tức 3 mà 1, tức 1 mà 3, cho nên gọi là Ngộ. d) Ba quán Không, Giả, Trung chẳng phải là 3 quán cá biệt mà là quán chiếu Không, Giả, Trung trong cùng một tâm, cho nên gọi làNhập. [X. Pháp hoa kinh luận Q. hạ; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Pháp hoa nghĩa sớ Q.3 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.3 phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Thai tông nhị bách đề Q.15].

khai trướng

(開帳) Cũng gọi: Khải khám, Khai phi, Khải trướng. Mở bức màn che tượng Phật tượng Tổ sư để tín đồ lễ bái. Lệ khai trướng bắt đầu từ đời Đường ở Trung quốc, về sau mới thịnh hành tại Nhật bản. Nói chung, tượng Phật ở các chùa viện tại Nhật bản thường được che kín và chỉ khai trướng vào những dịp cử hành pháp hội định kì như 3 năm, 7 năm, 10 năm. 12 năm, 20 năm, 33 năm, 50 năm, 60 năm mà thôi. Ngoài ra, cũng có khi cung nghinh tượng Phật và Bồ tát rước quanh làng xã, gọi là Xuất khai trướng. [X. Tư trị thông giám Q.240; Hiếu kinh lâu mạn bát Q.4; Tam dưỡng tạp chí Q.3].

khai tâm tự

(開心寺) Chùa ở quận Lễ tuyền, tỉnh Khánh thượng bắc, Hàn quốc. Trong khu nội tự có ngôi tháp đá hình tứ giác, cao 5 tầng được xây dựng vào năm 1.009 và được xem là thuộc hệ thống tháp đá Tân la ở đầu thời đại Cao li. Phía trên cửa chính của tầng thứ nhất có khắc tượng Nhân vương, thủ pháp điêu khắc giống hệt như tháp gạch ở thời đại nhà Liêu, vì thế được cho là chịu ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc đời Liêu.

khai tích hiển bản

(開迹顯本) Cũng gọi: Phát tích hiển bản. Phá trừ tình chấp Quyền Phật mới thành ở Phật đà già da để hiển bày Bản Phật vốn đã thành từ lâu xa. Đây là từ ngữ phán thích kinh Pháp hoa của tông Thiên thai. Theo đại sư Trí khải của tông Thiên thai, thì kinh Pháp hoa có Khai hiển Bản môn và Khai hiển Tích môn. Trong Khai hiển Bản môn, nói theo thân Phật thì là Khai tích hiển bản, mà ý nghĩa như đã nói ở trên. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại 33, 773 thượng), nói: Phật giới thập như trong Tích môn hiển bày ra Phật giới thập như trong Bản môn, nghĩa là Tích môn đã khai trừ Quyền của 9 cõi dưới để hiển bày Thực của Phật giới. Cho nên Bản môn hiển thị lí Vốn đã có lâu xa của Phật giáo, khiến cho chúng sinh biết rõ những điều được nói trong Tích môn mà hiểu rõ bản địa của chư Phật. [X. phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa Q.5; Pháp hoa văn cú Q.9 hạ; Pháp hoa huyền luận Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Khai Cận Hiển Viễn, Khai Hiển).

khai tĩnh

(開靜) Chỉ cho Khai giác tĩnh thụy và Khai phóng tĩnh lự. 1. Khai giác tĩnh thụy: Đánh bảng gọi chúng tăng thức dậy vào sáng sớm trong Thiền lâm. Khai tĩnh có Đại khai tĩnh và Tiểu khai tĩnh. Tiểu khai tĩnh cũng gọi là Khai tiểu tĩnh, tức đánh tấm bảng ở trước nhà kho gọi chúng tăng dậy vào lúc 4 giờ sáng. Giờ này các vị Hành giả dậy trước. Đại khai tĩnh cũng gọi là Khai đại tĩnh, tức là đánh bảng ở trước nhà kho và ở các chỗ khác vào lúc 5 giờ sáng để gọi tất cả đại chúng trong chùa đều dậy. 2. Khai phóng tĩnh lự: Đánh bảng báo hiệu hết giờ tọa thiền, hoặc cho phép nghỉ ngơi sau khóa tụng, bữa ăn, nghe giảng, làm việc, v.v..., đối lại với giờ Chỉ tĩnh nên gọi giờ này là Khai tĩnh. Khi báo giờ khai tĩnh thì đánh bảng khai tĩnh. Khai tĩnh cũng có Đại khai tĩnh và Tiểu khai tĩnh. Đại khai tĩnh là gọi theo các thời khóa buổi sáng, cơm cháo, buổi tối và khi đi ngủ. Tiểu khai tĩnh là tạm nghỉ ngơi một chút trong lúc chỉ tĩnh. Về các loại pháp khí và cách sử dụng để khai tĩnh thì trong các tông phái đều khác nhau. [X. chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. hạ; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Chỉ Tĩnh).

Khai Tịch

(開闢): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ sự khai thỉ của vũ trụ. Thần thoại cổ đại cho rằng Bàn Cổ (盤古) là người khai thiên lập địa. Thái Bình Ngự Lãm (太平御覽) quyển 1 dẫn về Thượng Thư Trung Hầu (尚書中候), có câu: “Thiên địa khai tịch (天地開闢, trời đất khai mở).” Hay trong bài thơ Trung Đường Mai Lâm Thiên Hạ Chi Thạnh Dã Liêu Thân Bỉ Thuật Khải Hảo Du Giả (中塘梅林天下之盛也聊伸鄙述啟好遊者) của Diệp Thích (葉適, 1150-1223) nhà Nam Tống có câu: “Vấn thùy thỉ chủng thử, khởi tự khai tịch sơ (問誰始種此、豈自開闢初, hỏi ai trồng loại này, ngay từ buổi ban sơ).” (2) Khai phát, khai quật. Như trong Thi Kinh, chương Đại Nhã (大雅), phần Giang Hán (江漢) có câu: “Thức tịch tứ phương (式闢四方).” Trịnh Huyền (鄭玄, 127-200) nhà Hán giải thích rằng: “Mạng Chiêu Công sử dĩ vương pháp chinh phạt khai tịch tứ phương, trị ngã cương giới ư thiên hạ (命召公使以王法征伐開闢四方、治我疆界於天下, lệnh cho Chiêu Công lấy vương pháp mà chinh phạt và khai khẩn bốn phương, thống trị cương giới của ta khắp thiên hạ).” Hay như trong Thạnh Thế Nguy Ngôn (盛世危言), phần Công Pháp (公法) của Trịnh Quán Ứng (鄭觀應, 1842-1923) có đoạn: “Trung Quốc vị Ngũ Châu quan miện, khai tịch tối tiên (中國爲五洲冠冕、開闢最先, Trung Quốc vì quan lại của năm châu, việc khai khẩn được xem là đầu tiên hết).” (3) Khai sáng, sáng lập. Như trong Ngũ Tổng Chí (五總志) của Ngô Quýnh (吳炯, ?-?) nhà Tống có đoạn: “[Hoàng Đình Kiên] chí trung niên dĩ hậu, cú luật siêu diệu nhập thần, ư thi nhân hữu khai tịch chi công ([黃庭堅]至中年以後、句律超妙入神、於詩人有開闢之功, [thi sĩ Hoàng Đình Kiên, 1045-1105] từ thời trung niên trở về sau, câu và luật thơ siêu phàm, nhập thần, có công khai sáng đối với thi nhân).” Trong Tiên Giác Tập (先覺集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1619) có đoạn: “Nhất cơ nhất cảnh, nhất thoại nhất ngôn, khả dĩ khai tịch nhân thiên chánh nhãn, hiển dương Nho Phật tâm tông, Tiên Giác Tập chi sở do trước dã (一機一境、一話一言、可以開闢人天正眼、顯揚儒佛心宗、先覺集之所由著也, một cơ duyên một cảnh ngộ, một câu chuyện một lời nói, có thể khai sáng con mắt chân chánh của trời người, hiển dương tâm tông của Nho Phật, đó là nguyên do trước tác Tiên Giác Tập vậy).” Trong Chân Chánh Luận (甄正論, Taishō Vol. 52, No. 2112) quyển Trung có đoạn khác như: “Thiên địa khai tịch chi sơ, vạn vật trước hình chi thỉ, ngôn đạo sinh nguyên khí, nguyên khí sinh thiên địa, thiên địa sinh nhân cập âm dương, âm dương sinh vạn vật, thử nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật dã (天地開闢之初、萬物著形之始、言道生元氣、元氣生天地、天地生人及陰陽、陰陽生萬物、此一生二、二生三、三生萬物也, buổi ban sơ khi trời đất mới khai mở, lúc đầu tiên khi muôn vật thành hình, người ta bảo rằng đạo sinh ra nguyên khí, nguyên khí sinh ra trời đất, trời đất sinh ra con người và âm dương, âm dương sinh ra muôn vật, một này sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra muôn vật vậy).”

Khai đàn

(開壇): tức khai mở đàn Mạn Trà La (s: Maṇḍala, 曼茶羅) để truyền pháp Quán Đảnh. Vị thầy tự khai đạo tràng, truyền pháp Quán Đảnh cho đệ tử được gọi là Khai Đàn A Xà Lê (開壇阿闍梨). Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là khai mở đàn tràng để tiến hành Kết Giới, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, Giải Oan Bạt Độ, truyền thọ giới pháp, v.v. Như trong Thích Giáo Bộ Vị Khảo (釋敎部彙考, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 3, phần Liêu (遼), có đoạn: “Thái Khang ngũ niên, Thu cửu nguyệt Kỷ Mão, chiếu chư lộ, vô cấm tăng đồ khai đàn; Đông thập nhất nguyệt Đinh Sửu, chiêu Sa môn Thủ Đạo, khai đàn ư nội điện (太康五年、秋九月己卯、詔諸路、毋禁僧徒開壇、冬十一月丁丑、召沙門守道、開壇於內殿, vào năm thứ 5 [284] niên hiệu Thái Khang [vua Võ Đế nhà Tây Tấn], mùa Thu tháng 9 Kỷ Mão, hạ chiếu cho các nơi không được cấm chư tăng khai mở đàn tràng; đến mùa Đông tháng 11 Đinh Sửu, cho mời Sa môn Thủ Đạo, khai mở đàn tràng tại nội điện).” Hay trong bài tựa của Kim Cang Kinh Chú Thích (金剛經註釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 494) lại có đoạn: “Nhân thỉnh ư Như Lai, đắc từ bi chỉ, khai đàn thiết giảng, phàm tứ thập nhật cáo thành (因請於如來、得慈悲旨、開壇設講、凡四十日告成, nhân thỉnh cầu đức Như Lai, được ý chỉ từ bi, bèn khai đàn thuyết giảng, được bốn mươi ngày thì tuyên bố xong).”

khai đàn

(開壇) Mở đàn Mạn đồ la để truyền pháp quán đính. Vị thầy tự khai đạo tràng để trao pháp quán đính cho đệ tử, thì gọi là Khai đàn A xà lê, Khai đàn giả.

khai đường

(開堂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên là nghi thức trong việc dịch kinh đời xưa. Hàng năm, đến ngày Thánh đản (sinh nhật của vua), viện Dịch kinh thường phải dâng một bộ kinh mới dịch lên để chúc thọ vua. Hai tháng trước đó, các quan nhóm họp để xem xét việc dịch kinh. Rồi trước ngày Thánh đản 1 tháng, các vị Dịch kinh sứ và quan nhuận văn lại nhóm họp để dâng bộ kinh ấy lên vua, gọi là Khai đường. Về sau, buổi tuyên thuyết đại pháp của vị Tân trụ trì trong lễ nhập tự cũng được gọi là Khai đường, đây là nghi thức quan trọng trong Thiền lâm. Trong lễ nhập tự, cũng có nghi thức cầu nguyện quốc thái dân an, Thánh hoàng muôn tuổi, cho nên cũng được gọi là Khai đường chúc thọ, Khai đường chúc thánh, Chúc quốc khai đường. Về nghi thức Khai đường thì trước hết cung thỉnh một vị tăng đức độ cao vời, kiến thức sâu rộng, giữ chức Bạch chùy sư, an tọa tại phía đông pháp tòa để giám sát việc khai đường. Các quan viên thì ngồi đối diện với pháp tòa. Kế đến nghinh thỉnh vị Trụ trì, sau khi trình công văn(những giấy tờ về việc bổ nhiệm Trụ trì) và tuyên nói pháp ngữ, vị Duy na đọc các lá sớ. Sau đó, vị Trụ trì đưa tay chỉ về phía pháp tòa, tuyên thuyết pháp ngữ, rồi thăng tòa niệm hương chúc mừng Thánh thọ. Khi Đế sư và các quan lần lượt niệm hương xong, Bạch chùy sư gõ một tiếng kiền chùy(cái kiểng) rồi nói (Vạn tục 113, 118 hạ): Chúng long tượng trong pháp hội, nên quán xét Đệ nhất nghĩa. Tiếp theo, vị Trụ trì nêu lên cương yếu của tông môn, cảm tạ các quan, chư sơn Thiền đức, Bạch chùy sư lại gõ chùy xướng rằng: Quán xét kĩ pháp của Pháp vương, pháp của Pháp vương là như thế. Sau cùng, vị Trụ trì dộng tích trượng xuống đất một tiếng, rồi bắt đầu vấn thoại (hỏi đáp giảng giải). Vấn đáp xong, kết thúc nghi thức Khai đường. Ngoài ra, Khai đường Hòa thượng là một vị Chấp sự quan trọng trong đàn truyền giới ở Trung quốc. Về các pháp tắc thụ giới, về các nghi lễ và qui củ sinh hoạt của giới tử, v.v... đều do Khai đường hòa thượng chỉ dạy. [X. Tổ đình sự uyển Q.8; điều Nhập viện khai đường chúc thọ, chương Trụ trì trong Bách trượng thanh qui Q. thượng; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khai đạo y

(開導依) Cũng gọi Khai tị pháp, Khai đạo căn, Đẳng vô gián duyên y (Phạm: Samanantara -pratyaya), Đẳng vô gián y. Danh từ này do tông Pháp tướng đặt ra. Một trong 3 loại duyên làm chỗ nương (y) cho tâm, tâm sở khi khởi tác dụng. Những hoạt động tâm thức của con người cứ niệm niệm nối nhau, không có gián đoạn, một niệm trước vừa diệt mất thì niệm sau liền sinh khởi, giữa khoảng niệm trước niệm sau sinh diệt này, có mối quan hệ rất mật thiết. Tức là tâm vương của một niệm trước mở đường và làm chỗ nương dựa(Khai đạo y)cho tâm vương, tâm sở của một niệm sau sinh khởi, vì thế gọi là Khai đạo y. Tâm vương của niệm trước mở đường dẫn sinh tâm vương, tâm sở của niệm sau, trong đó có mối quan hệ dẫn sinh đồng loại, dị loại. Về vấn đề này, giữa các vị Luận sư ở Ấn độ thời xưa như các ngài: Nan đà, An tuệ, Hộ pháp, v.v... đều có kiến giải khác nhau. 1. Ngài Nan đà cho rằng 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều từ thức thứ 6 phát sinh, còn thức thứ 6 thì tự nó có công năng làm cho niệm trước niệm sau nối nhau, lại vừa có năng lực sinh ra 5 thức trước, vì thế thức thứ 6 là Khai đạo y(mở đường dẫn sinh)của cả 6 thức. Thức Mạt na thứ 7 và thức A lại da thứ 8 chỉ có năng lực tương tục chính mình, chứ không thể sinh các thứ khác. 2. Ngài An tuệ thì chủ trương: Thức thứ 6 lấy chính nó và thức thứ 7, thức thứ 8 làm khai đạo y, thức thứ 7 lấy chính nó và thức thứ 6 làm khai đạo y, thức thứ 8 lấy chính nó và thức thứ 6, thứ 7 làm khai đạo y. Ý kiến của 2 vị Luận sư trên tuy có khác nhau, nhưng đều đồng ý rằng các tâm vương khác loại có thể làm khai đạo y cho nhau. 3. Ngài Hộ pháp thì cho rằng 8 thức tâm vương đều tự giới hạn trong mỗi thức, cho nên tâm vương này không thể làm khai đạo y cho tâm vương khác. Kiến giải này của ngài Hộ pháp trái với quan điểm của 2 vị Luận sư trên. [X. luận Thành duy thức Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.5 phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.4 phần cuối].

khai đề

(開題) I. Khai Đề. Đồng nghĩa: Huyền đàm, Huyền nghĩa. Giải thích tựa đề và nói rõ về những điểm cốt yếu của kinh luận, như Đại nhật kinh khai đề, Kim cương kinh khai đề, v.v... Ngoài ra, chép lại văn kinh và thêm phần tán thán cúng dường, gọi là Khai đề cúng dường. II. Khai Đề. Mở quyển kinh để tụng đọc. (xt. Khai Kinh).

Khai, thị, ngộ, nhập

開示悟入|tức là mở mắt (khai), hướng dẫn cho thấy (thị), thấy rồi thầm hiểu (ngộ) ý chỉ, ngộ rồi thì bước vào (nhập) Thánh đạo.

kham bố

(堪布) Nguyên là tên gọi của người chủ trì việc truyền giới trong Phật giáo Tây tạng, nhưng về sau những vị Lạt ma tinh thông kinh điển, trụ trì các tự viện hoặc làm Hiệu trưởng các trường Phật học, thì đều được gọi là Kham bố. Từ ngữ này còn là tên một chức vụ thuộc hệ thống Tăng quan trong chính phủ địa phương tại Tây tạng, như vị hầu cận cao cấp của đức Ban thiền Lạt ma. Còn vị tăng quan trông coi các việc trong cung Bố đạt lạp thì được gọi là Cơ xảo kham bố.

kham nhẫn

(堪忍) Phạm: Kwama. Nhẫn nại chịu đựng sự bức bách đau đớn của thân và tâm. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 26 (Đại 12, 779 hạ) nói: Không tiếc thân mệnh, kham nhẫn các nạn. Lại nữa, tiếng Phạm: Sahà(dịch âm: Sa bà), cũng được dịch là kham nhẫn. Thế giới Kham nhẫn là chỉ cho thế giới Sa bà, vì chúng sinh trong thế giới Sa bà nhẫn chịu 3 độc tham, sân, si và các nỗi khổ não, rồi các Bồ tát vì giáo hóa chúng sinh mà cũng nhẫn chịu mệt nhọc, cho nên gọi là thế giới Kham nhẫn. [X. kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.5; phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa Q.7; kinh Đại bát niết bàn Q.11 (bản Nam); kinh Bi hoa Q.5; Pháp hoa văn cú Q.2 hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

Kham nhẫn địa

địa vị ban sơ trong mười địa vị (Thập địa) của hàng Bồ Tát, cũng gọi là Hoan hỷ địa.

kham nhẫn địa

(堪忍地) Cũng gọi: Hoan hỉ địa. Địa đầu tiên trong 10 địa Bồ tát, theo thuyết của tông Thiên thai. Cứ theo phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn quyển 11 (bản Nam) thì người đã chứng được Tứ niệm xứ, ở trong Kham nhẫn địa, có thể chịu đựng được tham dục, sân hận, si mê, lạnh nóng, đói khát, muỗi mòng, rận rệp, giông bão, sự va chạm xấu ác, các chứng bệnh tật, sự hành hạ đánh đập và tất cả khổ não của thân tâm, vì chịu đựng được hết thảy nên gọi là Kham nhẫn địa. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.11; Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 thượng].

kham nhập bất không giáo

(堪入不空教) Chỉ cho Thông giáo, tức giáo thứ 2 trong 4 giáo hóa pháp theo phán thích của tông Thiên thai. Lí của Thông giáo là Huyễn hữu tức không(có giả tức là không), chưa hiển phát được lí Bất không (Trung đạo). Nhưng thông giáo có 3 nghĩa: Đương thông, tiền thông và hậu thông. Hậu thông cũng gọi là Bị tiếp, nghĩa là người lợi căn trong Thông giáo có khả năng đoạn trừ Kiến hoặc, bỏ qua hành vị Thông giáo mà nhập ngay vào Biệt giáo hay Viên giáo. Hành giả Thông giáo có thể tiếp tục tiến đến các giáo sau, cho nên gọi là Bị tiếp. Các giáo sau là Trung đạo giáo, được gọi là Bất không. Thông giáo thì từ Bị tiếp mà có thể Kham nhập vào Trung đạo giáo Bất không, cho nên gọi là Kham nhập bất không giáo.

Kham năng

堪能; C: kānnéng; J: kannō; |Kĩ năng, tinh thông, tính linh hoạt, khả năng thích nghi (s: karmanya); thường dùng với từ gần đồng nghĩa Điều nhu (調柔). Khó đạt được loại khả năng nầy khi bị trói buộc bởi những phiền não thô trọng (麁重).

khang cư quốc

(康居國) Tên một nước xưa ở Tây vực, do dân tộc du mục Thổ nhĩ kì kiến lập, chạy dài từ hạ lưu sông Tích nhĩ đến đồng bằng Kirgif. Cứ theo Tiền Hán thư Tây vực truyện 66, thượng, thì nước Khang cư có 5 vị tiểu vương chia nhau cai trị 5 thành là: Thành Tô giới,(nước Sử) thành Phụ mặc(nước Cư sương nễ ca), thành Dũ nặc(nước Thạch), thành Kế(nước An)và thành Áo kiện(nước Hóa lợi tập di). Căn cứ vào đó ta có thể biết được là đến đời Hán lãnh thổ nước Khang cư đã mở rộng đến vùng Túc đặc(Sogdiana), Tháp thập hãn (Tashkend) và Hỏa tầm (Khiva) ở phía nam. Lại cứ theo Ngụy thư tây vực liệt truyện 90, thì nước Khang, nước Thiệt đều có sau nước Khang cư, cho nên, vào thời Nam Bắc triều, nước Khang cư có thể đã bị diệt vong. Khang cư cũng là 1 trong những nơi phát xuất sớm nhất của Phật giáo Trung quốc. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và Lương cao tăng truyện quyển 1, thì từ đời Đông Hán về sau, các vị danh tăng như: Khang tăng hội, Khang cự, Khang mạnh tường, Khang tăng khải, v.v... đã lần lượt đến Trung quốc phiên dịch kinh Phật đều là người Khang cư hoặc tổ tiên các ngài là người Khang cư. Tuy nhiên, có thể những vị danh tăng kể trên không phải là người nước Khang cư của dân tộc du mục mà là người nước Khang thuộc chủng tộc Túc đặc (Sogdiana) ở phía nam, cũng tức là nước Khang ở vùng Tán mã nhĩ can (Samarkand). Bởi vì thời bấy giờ người Tây vực thường dùng tên nước mình làm họ, cho nên dễ lẫn lộn giữa nước Khang cư và nước Khang. [X. Sử kí đại uyển liệt truyện 63; Đường thư tây vực liệt truyện 146; Đại đường tây vực kí; tiết 2 chương 3 trong Tây vực chi Phật giáo (Vũ khê Liễu đế)].

Khang Hy Tự Điển

(康熙字典, Kōkijiten): gồm 42 quyển. Thể theo sắc mệnh của vua Thánh Tổ (聖祖) nhà Thanh, nhóm Trương Ngọc Thư (張玉書), Trần Đình Kính (陳廷警) biên tập nên bộ này, trải qua 5 năm và đến năm 1716 (Khang Hy [康熙] thứ 55) thì hoàn thành. Số lượng chữ thâu tập trong bộ này bao gồm cả Cổ Văn là hơn 49.000. Từ đó về sau, nó trở thành tiêu chuẩn cho các bộ từ điển khác.

Khang Hữu Vi

(康有爲, Kō Yūi, 1858-1927): học giả, chính trị gia sống vào cuối thời nhà Thanh, tự là Quảng Hạ (廣夏), hiệu Trường Tố (長素), xuất thân Huyện Nam Hải (南海縣), Tỉnh Quảng Đông (廣東省). Ông trợ giúp vua Quang Tự (光緒) thực hiện chính sách Biến Pháp Tự Cường (變法自强), nhưng thất bại; sau đó, ông chủ trương Chế Độ Quân Chủ Lập Hiến để đối lập với cuộc vận động cách mạng của Tôn Văn (孫文). Ông rất tinh thông về Công Dương Học (公羊學) và có viết một số tác phẩm như Đại Đồng Thư (大同書), Khổng Tử Cải Chế Khảo (孔子改制考), v.v.

khang hữu vi

(康有爲) (1858-1927) Học giả Trung quốc, người huyện Nam hải, tỉnh Quảng đông, vốn tên là Tổ di, tự Quảng hạ, Cánh sinh, hiệu Trường tố. Ông tinh thông Khổng học, mà đối với áo chỉ của Phật học ông cũng hiểu được một cách sâu sắc. Trong các trứ tác của ông thường bao hàm tư tưởng Phật học, nhất là tác phẩm Đại đồng thư có thể nói đã hoàn toàn thoát thai từ Thập pháp giới quán của Phật giáo.

khang lâm hãn

(康林罕) Cunningham, Sir Alexander (1814-1893) Nhà Khảo cổ học người nước Anh, được đời tôn là cha đẻ của ngành khảo cổ học Ấn độ. Từ năm 1834 đến năm 1854, ông liên tiếp đào được những di tích của Ấn độ ở các khu vực Manikyala, Sarnath, Bhilsa, v.v... đồng thời bắt đầu nghiên cứu lịch sử Phật giáo. Ông viết nhiều bài nói về tòa Đại tháp ở Bồ đề già da (Buddha-Gayà) nơi đức Phật thành đạo, điều tra các kiến trúc Phật giáo ở Khách thập mễ nhĩ (Kashmir) và khảo chứng tuyến đường ngài Huyền trang đi Ấn độ cầu pháp. Ngoài ra, ông cũng còn tìm hiểu về các loại ngọc quí, ấn chương tiền cổ, v.v... của vùng Bắc Ấn và Trung á. Tác phẩm của ông gồm có: Ancient Geography of India, 1871; the Stùpa of Bharhut, 1879, Coins of Ancient India, 1891, TheMahàbodhi, 1892, Khảo cổ học báo cáo 24 thiên.

khang mạnh tường

(康孟詳) Nhà dịch kinh sống vào đời Đông Hán của Trung quốc. Tổ tiên của ngài là người nước Khang cư. Nhờ có trí tuệ học mà ngài nổi tiếng ở Lạc dương. Khoảng từ niên hiệu Hưng bình năm đầu đến năm Kiến an thứ 4 (194-199) đời vua Hiến đế, ngài dịch được các kinh: Xá lợi phất Ma ha mục kiền liên tứ cù 1 quyển, kinh Hưng khởi hành 2 quyển, kinh Phạm võng 2 quyển và kinh Tứ đế 1 quyển; đồng thời, dịch chung với ngài Trúc đại lực kinh Tu hành bản khởi 2 quyển và dịch chung với ngài Đàm quả kinh Trung bản khởi 2 quyển. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, Q.13; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

khang pháp lãng

(康法朗) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tấn, người Trung sơn (nay thuộc tỉnh Hà nam, có chỗ nói huyện Định, tỉnh Hà bắc). Sư xuất gia từ thủa nhỏ, giữ giới rất tinh nghiêm. Sư phát nguyện sang Ấn độ chiêm bái các Phật tích, tìm kiếm các kinh điển còn sót lại, rồi mời được 4 người đồng học cùng đi, bắt đầu từ huyện Trương dịch, tỉnh Cam túc. Giữa đường gặp ngôi chùa cũ, bên trong có 2 gian nhà đã hư nát, trong mỗi gian đều có 1 người, một người tụng kinh, một người bị bệnh kiết lị, phẩn giải bừa bãi. Hai người tuy ở sát phòng nhau nhưng việc ai nấy làm, chẳng hề quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Vì lòng từ bi thương xót, sư Pháp lãng lưu lại mấy ngày, hết lòng chăm lo, cọ rửa tắm giặt. Đến ngày thứ 7 bổng nghe bên trong phòng ngào ngạt mùi thơm, sư mới biết đó là thần nhân hóa hiện. Vị Hòa thượng tụng kinh khuyên 4 người không cần đi các nước xa xôi mà chỉ nên tự lực hànhđạo, chớ phí phạm thì giờ. Còn đối với sư Pháp lãng thì vị Hòa thượng đoán trước rằng sau khi đi các nước trở về sẽ trở thành vị Đại pháp sư. Sau đó, 4 người đồng hành quay trở lại, còn một mình sư tiếp tục cuộc hành trình, đi qua nhiều nước. Sau khi nghiên cứu tìm kiếm các kinh, sư lại trở về Trung sơn mở đàn truyền pháp, xiển dương giáo lí Pháp tướng, có hàng trăm người theo học. Sau khi sư thị tịch, vị đệ tử của sư là Lữ thiều tư khắc tượng sư bằng gỗ để thờ. [X. Lương cao tăng truyện Q.4].

khang tháp cơ phạt na

(康塔基伐那) Phạm: Kaịỉhakìvana. Pàli: Kaịỉakì-vana. Cũng gọi: Đề khang phạt cơ đạt na (Pàli: Tikaịđaki-vana) Vườn cây ở thành phố Sa kì đa (Pàli: Sàketa) tại Ấn độ. Một trong 6 đô thị lớn ở thời đại đức Phật. Cứ theo Tương ứng bộ kinh 47, thì các ngài Xá lợi phất, Mục kiền liên và A na luật cùng trụ ở khu vườn này. Một hôm, ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên đến thăm ngài A na luật và hỏi về phương pháp mà bậc Hữu học, Vô học cầu đạt tới thượng trí, ngài A na luật bảo nương vào pháp Tứ niệm xứ thì có thể đạt tới. Ngoài ra, theo Tăng chi bộ kinh V. 144, thì đức Thích tôn từng dạy Ngũ tưởng quán cho các tỉ khưu ở vườn cây này.

Khang Tăng Hội

康僧會; ~ tk. 3|Cao tăng Việt Nam. Sư sinh tại Giao Chỉ, cha mẹ mất lúc lên mười, thông giỏi chữ Pā-li và chữ Hán, là người sáng tác các tác phẩm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam như Lục độ yếu mục, Nê-hoàn phạm bối, chú giải sách An-ban thủ ý. Sư được xem là người khởi nguyên Thiền tông Việt Nam. Cuối đời, Sư đi Nam Kinh (Trung Quốc) và mất tại đây năm 280.

khang tăng hội

(康僧會) (?- 280) Vị cao tăng dịch kinh ở thời đại Tam quốc, người Giao chỉ (miền Bắc Việt nam), tổ tiên của sư gốc người nước Khang cư (nay là miền Bắc Tân cương), nhưng đời đờisống ở Ấn độ; đến đời thân phụ của sư vì theo nghề buôn bán nên mới dời đến ở Giao chỉ. Năm sư hơn 10 tuổi, cha mẹ đều mất, cư tang xong, sư xuất gia, tu hành tinh tiến, học thông kinh, luật, luận. Sau sư theo các ngài Hàn lâm ở Nam dương, Bí nghiệp ở Dĩnh xuyên và Trần tuệ ở Cối kê, luyện tập phiên dịch kinh Phật ra chữ Hán. Năm Xích ô thứ 10 (247) thời Ngô (Tam quốc), sư đến Kiến nghiệp, lập đạo tràng thờ tượng Phật, trọn ngày đốt hương lễ bái, tụng kinh, ngồi thiền và vào phố khất thực. Việc làm của sư khiến mọi người trong phố ngờ vực, bèn báo với Ngô tôn quyền, Tôn quyền cho triệu sư vào để hỏi. Nhưng sau khi nghe sư nói pháp và nhìn hình tướng uy thần của sư, Ngô tôn quyền vô cùng cảm mến, bèn xin qui y sư rồi cho xây chùa Kiến sơ để cúng dường sư làm nơi truyền đạo và dịch kinh. Phật giáo ở miền Nam Trung quốc nhờ đó mà bắt đầu hưng thịnh. Niên hiệu Thái khang năm đầu (280) sư thị tịch, thụy hiệu là Siêu Hóa Thiền Sư. Dịch phẩm: Ngô phẩm 5 quyển, kinh Tạp thí dụ 2 quyển, kinh Lục độ tập 9 quyển (nay còn 8 quyển) và Chú giải các kinh An ban thủ ý, Pháp kính, Đạo thụ, v.v... [X. Lương cao tăng truyện Q.1; bài Tựa kinh Thập pháp cú nghĩa trong Xuất tam tạng kí tập Q.10; Nguyên Kim lăng tân chí].

khang tăng khải

(康僧鎧) Phạm: Saôghavarman. Dịch âm: Tăng già bạt ma. Vị tăng dịch kinh sống vào thời đại Tam quốc, tương truyền sư là người Ấn độ, nhưng căn cứ vào họ Khang ở trước tên ta có thể suy đoán nguồn gốc của sư có quan hệ nước Khang cư ở vùng Trung á. Vào năm Gia bình thứ 4 (252) đời Tào Ngụy, sư đến Lạc dương, trụ ở chùa Bạch mã, phiên dịch các kinh: Úc già trưởng giả 2 quyển, kinh Vô lượng thọ 2 quyển, Tứ phần tập yết ma 1 quyển, v.v... Nhưng lời dịch trong kinh Vô lượng thọ đối chiếu với văn dịch của kinh Úc già trưởng già không giống nhau, cho nên giữa các học giả cũng có người ngờ là kinh Vô lượng thọ không phải do sư dịch. Ngoài ra, trong Tục tạng kinh chữ Vạn (..) có thu kinh Vô lượng thọ Phật danh hiệu lợi ích đại nhân duyên 1 quyển, đề là Khang tăng khải đời Tào Ngụy dịch, điều này cũng khả nghi. [X. truyện Đàm kha ca la Lương cao tăng truyện Q.1; Lịch đại Tam bảo kỉ quyển 5; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

khang tăng uyên

(康僧淵) Danh tăng sống vào đời Đông Tấn, tổ tiên của sư là người Tây vực, sư sinh ra ở Trường an, Trung quốc. Sư có tướng mạo khôi ngô, đoan chính, chí nghiệp cao xa, hiểu sâu lí không, thường tụng kinh Phóng quang bát nhã và Đạo hành bát nhã. Thời vua Thành đế nhà Đông Tấn, sư cùng với các vị Khang pháp sướng, Chi mẫn độ, thường đi du hóa, nhưng vì sống thanh đạm nên ít người biết đến. Sau, nhân dịp ông Ân hạo hỏi về lí sâu xa trong kinh Phật, sư bèn dùng nghĩa tính tình trong sách ở ngoài đời để giải đáp, từ đó sư mới nổi tiếng. Lại do sư có mũi cao, mắt sâu, thường bị Vương mậu ở Lang gia đùa cợt, sư nói (Đại 50, 347 thượng): Mũi là núi của mặt, mắt là vực của mặt, núi không cao thì chẳng thiêng, vực không sâu thì chẳng trong, với câu nói này, người đương thời khen sư là cơ trí. Về sau, sư cất chùa trên núi Dự chương, phong cảnh rất yên tĩnh, đẹp đẽ, thường đọc kinh tiếng Phạm, thấu suốt nghĩa lí và giảng thuyết rõ ràng, nên học chúng tụ tập về rất đông. Sau, sư tịch ở chùa này. [X. Lương cao tăng truyện Q.4].

khinh an

(輕安) Phạm: Prasrabdhi. Pàli: Passaddhi. Đối lại: Hôn trầm. Tên tâm sở, là tâm thái nhẹ nhàng, an ổn trước cảnh sở duyên, 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Tông Câu xá cho Khinh an là 1 trong các Đại thiện địa pháp, còn tông Duy thức thì coi nó là 1 trong những tâm sở thiện. Khinh an thường khởi lên trong Thiền định, giúp sự tu tập được tiến hành liên tục. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì Khinh an có 2 loại: Thân khinh an và Tâm khinh an. Thân khinh an là tính kham nhẫn của tâm tương ứng với 5 thức trước, Tâm khinh an là tính kham nhẫn của tâm tương ứng với thức thứ 6. Thuyết nhất thiết hữu bộ còn cho rằng Thân khinh an chỉ có trong hữu lậu và tán vị, còn Tâm khinh an thì có cả trong hữu lậu và vô lậu, tán vị và định vị. Nhưng theo Kinh bộ thì Thân khinh an là sự xúc chạm nhẹ nhàng, mà tâm sở khinh an không tương ứng với 5 thức trước; còn Tâm khinh an là sự sai biệt của tâm sở Tư, chỉ có trong Định vị. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối, thì Khinh an chia làm 2 loại: Hữu lậu khinh an và Vô lậu khinh an. Trong 2 loại Khinh an này, tâm thái đều nhẹ nhàng, thoải mái, đều ở trong định vị. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; luận Phẩm loại túc Q.3; Câu xá luận quang kí Q.4].

khinh cấu tội

(輕垢罪) Đối lại: Trọng tội (tội Ba la di). Tội tuy nhẹ nhưng làm ô nhiễm hạnh thanh tịnh, nên gọi là Khinh cấu tội. Thiên Khinh cấu tội trong Phạm võng kinh bồ tát giới bản sớ quyển 4 (Đại 40, 634 trung), nói: Để phân biệt với các tội nặng nên gọi là Khinh; so với các tội nặng khác thì không phạm, nên gọi là Cấu; làm ô nhiễm hạnh thanh tịnh, gọi là Cấu; thể của nó không quá nặng, gọi là Khinh. (xt. Tứ Thập Bát Khinh Giới).

khinh mao

(輕毛) Sợi lông nhẹ bay theo chiều gió thổi, lúc sang đông, lúc sang tây, dụ cho tâm lực của Bồ tát ở giai vị Thập tín còn yếu kém nên tiến thoái bất định. Luận Thích ma ha diễn quyển 7 (Đại 32, 649 hạ), nói: Phẩm vị Thập tín gọi là bất định, nghĩa là gặp duyên thuận thì hướng về đường thiện; trái lại, nếu gặp duyên nghịch thì sẽ đi vào nẻo ác, giống như sợi lông nhẹ, bị quấn theo chiều gió. Pháp hoa văn cú quyển 2 thượng (Đại 34, 21 thượng), nói: Bồ tát giai vị Thập tín, vì tín căn chưa vững chắc, nên còn thoái chuyển. Ngoài ra, vì Thập tín đã vượt qua giai đoạn phàm phu nên được gọi là Tín ngoại khinh mao, còn phàm phu dưới Thập tín thì gọi là Mao đạo phàm phu. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần].

khinh trọng nhị nghiệp

(輕重二業) Hai nghiệp nhẹ và nặng. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 31 (bản Bắc), thì 2 nghiệp nhẹ và nặng là do người trí và ngu khác nhau, nên chịu quả báo cũng khác nhau, có 2 trường hợp như sau: 1. Trọng nghiệp khinh thụ(nghiệp nặng chịu báo nhẹ): Người trí dùng sức trí tuệ tu tập phạm hạnh thì có năng lực chuyển nghiệp nặng địa ngục thành quả báo nhẹ ở đời hiện tại. 2. Khinh nghiệp trọng thụ(nghiệp nhẹ chịu nặng): Người ngu vì si mê chấp trước mà tăng trưởng nghiệp lực khiến cho nghiệp ở đời hiện tại phải chịu quả báo nặng ở địa ngục trong đời sau.

khiêm ích

(謙益) Sơ tổ Luật tông ở nước Bách tế (Triều tiên) thời xưa. Năm Thánh vương thứ 4 (526), sư vượt biển đến chùa Đại luật ở Thường già na, Trung Ấn độ, học tiếng phạm 5 năm, nghiên cứu Luật điển để trang nghiêm giới thể. Sau, sư cùng với một vị tăng người Ấn độ là Tam tạng Bồi đạt đa mang 5 bộ Luật thuộc tạng A đàm bằng tiếng Phạm về nước, vua Bách tế với lễ nghi trọng thể ra ngoài thành tiếp rước những bộ Luật này về chùa Hưng luân, sau đó, vua triệu thỉnh 28 vị danh tăng trong nước cùng dịch Luật bộ 72 quyển. Về sau, các ngài Đàm húc và Huệ nhân soạn bộ Luật sớ gồm 36 quyển dâng lên vua, vua bèn viết bài tựa cho bộ sớ này, rồi cất giữ trong điện Thai diệu. Tạng A đàm nói trên có lẽ là Tì đàm ở đời sau? Hoặc chỉ cho tạng A tì đàm? Còn sự quan hệ giữa 5 bộ Luật với tạng A đàm cũng không rõ. [X. điều Bách tế Thánh vương tứ niên trong Triều tiên Phật giáo thông sử thượng biên].

khiên duy

(褰帷) Chỉ cho việc bồ tát Mã minh vén màn hàng phục Bà la môn Quỉ biện. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, thì trong thành Ba tra li tử ở nước Ma kiệt đà, có một Bà la môn thờ quỉ để cầu phúc, biện luận cũng nhờ sức quỉ, cho nên khi luận đàm thường che màn để đối đáp với người. Khi ngài Mã minh đến tranh luận, Bà la môn này ở phía sau màn cứ im lặng, ngài liền vén màn(khiên duy) hàng phục ông ta.

khiêu thần tiết

(跳神節) Lễ hội của Phật giáo Tây tạng, được cử hành hàng năm vào ngày 29 tháng 12 theo lịch Tây tạng ở cung Bố đạt lạp và chùa Mộc lộc tại Lạp tát (Lhasa), gọi là Cung nội khiêu thần và Mộc lộc khiêu thần. Đến giờ làm lễ, các vị Lạt ma hóa trang thành Thần linh, quỉ quái, đi nhiễu quanh chùa Đại chiêu, khua vang các thứ vũ khí hò hét inh ỏi, xua đuổi ma quỉ để tượng trưng cho việc tiễn đưa năm cũ, đón rước năm mới.

Khiếm

欠; C: qiàn; J: ketsu;|1. Không hoàn toàn; thiếu, vắng. Thất lạc; 2. Vết thương hay thương tích; 3. Ngáp, cử chỉ ngáp (s: vijrmbhita). Thường viết 缺.

Khiết

潔; C: jié; J: ketsu;|1. Thanh tịnh, trong sạch, tinh khiết; 2. Đạo đức chính trực, uy nghi.

khiết già

(朅伽) Phạm: Khaḍga. I. Khát già. Cũng gọi Kiệt nga. Dịch là dao, gươm. Một trong 7 vật được dùng khi cầu nguyện đã thành tựu. Phẩm Thành tựu chư vật tướng kinh Tô tất địa yết la quyển trung (Đại 18-622 hạ), nói: Nếu muốn thành tựu Đao pháp, thì phải dùng dao bằng thép, dài 2 khuỷu tay, rộng bằng 4 ngón út, nhẫn nhụi, mầu xanh biếc. [X. phẩm Tất địa xuất hiện kinh Đại nhật Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.36; Phạm ngữ tạp danh]. II. Khát Già. Con tê giác. Các kinh luận dùng sừng con tê giác để dụ cho Độc giác. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. Khát Già Tì Sa Noa).

khiết già tì sa noa

(朅伽毘沙拏) Phạm: Khaḍga-viṣṇa. Cũng gọi Khư già tì sa noa, Khư già bà sa, Khát già bà sa, Hát già tì sa noa. Huyền ứng âm nghĩa quyển 24 giải thích: Khát già là con tê giác; Tì sa noa là sừng, chỉ cho một cái sừng của con tê giác. Một là Độc, vì thế Khát già tì sa noa được dùng để dụ cho bậc Thánh Độc giác (một mình giác ngộ, không có thầy chỉ dạy). Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 51 (Đại 13, 338 thượng), nói: Nơi ấy không sinh không diệt, chẳng chứng chẳng tu, chẳng có chẳng không, chẳng bờ này chẳng bờ kia, chẳng tối chẳng sáng, chẳng phải phân biệt, chẳng phải không phân biệt, không thể suy lường. Đó là cảnh giới Khư già tì sa noa. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.15; Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

khiết lam bà

(朅藍婆) Cũng gọi Khát lam ba, A la. Cứng mạnh, nơi mai phục. Là chỗ ở của loài quỉ, một cái gò to lớn, hoang vắng, rất đáng sợ, phần nhiều Dạ xoa, La sát đều ở trong đó. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18 (Đại 54, 420 trung), nói: Khát lam bà là nơi quỉ mai phục, không phải nghĩa chữ, mà là tên đất. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.4; Huyền ứng âm nghĩa Q.21].

khiết trai

(潔齋) Cũng gọi Tinh tiến khiết trai, Trai thanh tịnh. Vật kị. Giữ gìn trai giới, dứt dâm dục, bỏ rượu thịt, kiêng ngũ tân, v.v... để cho thân tâm được trong sạch. Cứ theo truyện Sở vương anh trong Hậu Hán thư quyển 72, thì khi Phật giáo mới truyền vào Trung quốc, vua nước Sở đã phát nguyện khiết trai 3 tháng. Đây là trường hợp danh từ Khiết trai đã được sử dụng sớm nhất. Khiết trai thông thường được thực hành trong những dịp sau đây: 1. Khi biên chép văn kinh hay đắp vẽ tượng Phật, thì kiêng cữ rượu thịt, ngũ tân, tắm gội và mặc áo sạch. 2. Khi cầu nguyện trước thần, Phật thì giữ trai giới, tắm gội sạch sẽ, thân tâm thanh tịnh. 3. Người tu hành, để giữ cho 6 căn thanh tịnh, nên khi tu hành ở chốn núi rừng đồng nội cũng thực hành pháp khiết trai. [X. Loại tụ danh vật khảo Q.31].

khiết trà dưỡng sinh ký

(潔茶養生記) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Vinh tây (1141-1215), vị tăng Nhật bản chép. Nội dung dựa theo phong tục uống trà của Trung quốc, Ấn độ, viện dẫn các sách như: Tôn thắng đà la ni phá địa ngục pháp bí sao, Nhĩ nhã, Trà kinh, v.v... để nói về sự quan hệ giữa 5 tạng là gan, phổi, tim, lá lách, thận với 5 vị là chua, cay, ngọt, đắng, mặn... cho đến công hiệu của sự uống trà và kĩ thuật trồng cây trà, đồng thời, thuyết minh về phương pháp dưỡng sinh.

khiết địa la thụ

(朅地羅樹) Khát địa la, Phạm,Pàli:Khadira. Cũng gọi Cát địa la, Khư đà la, Kha lê la, Kha địa la, Khát đạt la, Khả lê la, Kiệt địa lạc ca, Khư đề la ca. Cây không phá, cây thiềm, cây đàn tía, thuộc họ cây đậu. Tên khoa học: Acacia catechu. Sinh sản ở vùng Orissa, Hi mã lạp sơn ở Ấn độ và ở Miến điện, v.v... Thân cây hơi cao, lá kép dáng như lông cánh chim, hoa mầu trắng hoặc vàng nhạt, hoa rụng, quả kết thành chùm, dài khoảng 3 tấc, rủ xuống như giải áo, cây rất cứng, nhựa cây có thể dùng làm thuốc A tiên (Catechu). Thuyết núi Tu di trong Phật giáo cho rằng núi thứ 5 của 7 núi vàng (Kim sơn) gọi là núi Khát địa la, vì núi này mọc nhiều cây Khát địa la nên có tên như thế. [X. kinh Đà la ni tập Q.3, Q.10; Hữu bộ tì nại da Q.3; luận Đại tì bà sa Q.173; Câu xá luận quang kí Q.11; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Huyền ứng âm nghĩa Q.25].

khiết độc

xem bốn thứ độc.

khiếu hoán địa ngục

(叫喚地獄) Khiếu hoán, Phạm: Raurava, Pàli: Roruva. Cũng gọi Dịch khiếu địa ngục, Đề khốc địa ngục, Hào khiếu địa ngục. Địa ngục kêu gào, 1 trong 8 địa ngục nóng. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, thì ngục tốt bắt các tội nhân trong ngục bỏ vào vạc nước sôi đun nấu, sau đó lại vớt ra và ném lên vỉ sắt để nướng, làm cho các tội nhân vô cùng đau đớn, kêu gào thảm thiết. Tuy trải qua những sự trừng trị khổ sở như thế, nhưng vì tội chưa hết nênkhiến cho tội nhân không chết hẳn, mà phải 3 lần chết đi sống lại để chịu khổ qua 16 địa ngục nhỏ nữa. Theo luận Du già sư địa quyển 4, thì tuổi thọ của chúng sinh ở địa ngục này rất dài lâu, mà một ngày đêm ở địa ngục này tương đương với 4.000 năm ở cõi trời Tri túc (Đâu suất). Như vậy, thời gian mà tội nhân phải chịu khổ trong địa ngục này, không thế tưởng tượng được. Những tội nhân lúc còn sống bắt nhốt người trong phòng kín rồi dùng lửa thiêu chết, hoặc hun đốt muỗi mòng, hoặc trộm cắp, gian dâm, uống rượu, v.v... sau khi chết sẽ rơi vào địa ngục này. Ngoài ra, ngục thứ 5 trong 8 địa ngục nóng, gọi là địa ngục Đại khiếu hoán, tội nhân trong địa ngục này chịu các hình phạt còn đau đớn, nặng nề hơn địa ngục Khiếu hoán. Hai địa ngục này trong các kinh thường được gọi chung là Khiếu hoán Đại khiếu hoán. [X. kinh Đại lâu thán Q.2; kinh Khởi thế Q.2; luận Lập thế a tì đàm Q.8; luận Câu xá Q.11]. (xt. Bát Nhiệt Địa Ngục).

khiển hoàng

(遣蝗) Trừ sâu. Tức là cầu nguyện để diệt trừ (khiển) sâu bọ, khiến cho ngũ cốc được mùa. Điều Kì đảo trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 1 (Đại 48, 1115 trung), nói: Do đó, cần phát tâm thành, thiết lập đạo tràng khiển hoàng, hàng ngày thỉnh chư tăng trì tụng kinh chú.

khiển hoán

(遣喚) Gọi đủ: Phát khiển chiêu hoán. Chỉ bảo và vời gọi. Đức Thế tôn chỉ dạy (phát khiển) chúng sinh nương theo thuyền đại nguyện của Phật A di đà mà sinh về Tịnh độ cực lạc; còn đức Phật A di đà cũng từ Tịnh độ cực lạc đến đây vời gọi và tiếp đón chúng sinh. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).

khiển sử đắc

(遣使得) Trường hợp đắc giới do đức Phật phái người đến truyền. Một trong 10 duyên đắc giới. Người phụ nữ có nhan sắc xinh đẹp, trên đường đến nơi thụ giới tỉ khưu ni, sợ gặp tai nạn, nên Phật sai người(khiển sứ) đến thụ giới Cụ túc cho. [X. luận Câu xá Q.14]. (xt. Thập Chủng Đắc Giới Duyên).

Khoa phạm

(科範): khoa nghi, nghi thức, quy cách. Như trong Nghiễn Bắc Tạp Chí (硯北雜志) của Lục Hữu (陸友, ?-?) nhà Nguyên có đoạn: “Lô Sơn đạo sĩ Hoàng Khả Lập chi ngôn viết: 'Khấu Khiêm Chi, Đỗ Quang Đình chi khoa phạm, bất như Ngô Quân chi thi' (廬山道士黃可立之言曰、寇謙之、杜光庭之科範、不如吳筠之詩, Đạo sĩ ở Lô Sơn là Hoàng Khả Lập nói rằng: 'Khoa nghi của Khấu Khiêm Chi [365-448, đạo sĩ thời Nam Bắc Triều], Đỗ Quang Đình [850-933, đạo sĩ trứ danh nhà Đường], không như thơ của Ngô Quân [?-778, đạo sĩ trứ danh nhà Đường]').”

khoa văn

(科文) Cũng gọi Khoa chương, Khoa tiết, Khoa đoạn, Phân khoa. Giải thích các kinh luận bằng cách chia nội dung thành từng phần, từng đoạn, rồi tóm tắt chỗ cốt yếu của nội dung mỗi đoạn, như thế gọi là Khoa văn. Thông thường, mỗi bộ kinh được chia làm 3 phần: Phần tựa, phần chính tông và phần lưu thông, gọi là Tam phần khoa văn. Tại Ấn độ, phương thức chia 1 bộ kinh thành 3 phần bắt đầu từ Thập địa kinh luận quyển 1, còn ở Trung quốc thì bắt đầu từ ngài Đạo an ở đời Phù Tần. Phần tựa lại được chia làm 2: Tựa chung và Tựa riêng. 1. Tựa chung: Tất cả các kinh đều mở đầu bằng đoạn văn: Như thị ngã văn, v.v... cho đến dữ đại tỉ khưu chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, v.v... Đây là phần tựa chung cho tất cả kinh điển do đức Phật nói ra. 2. Tựa riêng: Sau phần tựa chung là phần duyên khởi riêng của mỗi bộ kinh. Tựa chung là phần khiến chúng sinh phát khởi lòng tin nên cũng gọi là Chứng tín tự. Còn tựa riêng là phần trình bày về nhân duyên của bộ kinh ấy nên cũng gọi là Phát khởi tự. Nhưng theo chủ trương của ngài Thiện đạo thì 4 chữ Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy) mới là Chứng tín tự, còn từ đó trở xuống đều là phát khởi tự và phần tương đương với tựa chung trong Phát khởi tự gọi là Hóa tiền tự. Tựa chung cũng được chia làm 6 thành tựu, tức là Tín (như vầy), Văn(tôi nghe), Thời (một thời), Chủ(Phật), Xứ(ở...), Chúng(cùng với chúng tỉ khưu), v.v... Phần tựa chung trong các kinh của Phật giáo đều phải đầy đủ 6 đều kiện trên. Ngoài ra, cũng có chỗ hợp 2 thành tựu Chủ và Xứ làm một mà gọi là Ngũ thành tựu; lại có chỗ đem chia thành tựu Văn làm 2 là Ngã và Văn mà gọi là Thất thành tựu. Từ thế kỉ XX trở đi, trong Phật giáo đã có nhiều phương pháp mới để nghiên cứu, cho nên Khoa văn không còn được dùng nữa. [X. luận Đại thừa khởi tín; Pháp hoa kinh văn cú Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán nhiếp thích 1].

Khoa điển

(科典): từ gọi chung của nghi thức Đạo Giáo. Khoa tức chỉ cho khoa nghi; điển là điển phạm, điển tịch. Đối với Đạo Giáo, khi tiến hành nghi thức cúng đàn tràng, thường tuân thủ theo những quy định mang tính điển tịch, khoa nghi của Đạo Giáo; và gọi chung đó là khoa điển. Trong bộ Kim Lục Trai Khải Đàn Nghi (金籙齋啟壇儀) do Đạo sĩ Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) thời Đường Ngũ Đại biên soạn có đoạn rằng: “Đương ư danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, tinh bị tín nghi, án tuân khoa điển, tu kim bút bảo trai, bái thiên tạ quá (當於名山洞府、古跡仙鄉、精僃信儀、按遵科典、修金筆寶齋、拜天謝過, nay tại các danh sơn động phủ, cổ tích tiên hương, chuẩn bị thức nghi, tuân theo khoa điển, tu thiết lễ cúng chay, lạy Trời tạ quá).” Hay trong Thái Thượng Huỳnh Lục Trai Nghi (太上黃籙齋儀) quyển 1 có câu: “Y Huỳnh Lục giản văn linh tiên khoa điển, siêu độ tồn một (依黃籙簡文靈仙科典、超度存歿, nương vào khoa điển linh tiên văn ngắn gọn của Huỳnh Lục mà làm cho người còn và kẻ mất được siêu độ).”

khoan nhân

(寬因) Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân rộng. Tức phạm vi Nhân (lí do) của pháp năng lập rộng hơn phạm vi Nhân của pháp sở lập, là 1 trong những Tự nhân (lí do không đúng) của Nhân minh. Trong 3 phần (chi) Nhân minh, thì Tông (mệnh đề) là pháp sở lập, Nhân và Dụ là pháp năng lập. Theo qui định về 3 phần của Nhân minh, đã là Nhân chính xác thì giữa phạm vi của pháp năng lập và phạm vi của pháp sở lập có một sự quan hệ nhất định; nghĩa là phạm vi của pháp năng lập phải bằng hoặc hẹp hơn phạm vi của pháp sở lập. Trái lại, nếu pháp năng lập rộng hơn (Khoan nhân) pháp sở lập thì trong phạm vi của Nhân đồng phẩm không những chỉ có Tông đồng phẩm mà còn có cả Tông dị phẩm khiến cho pháp năng lập chuyển theo Tông dị phẩm mà phá hoại tướng thứ 3 của Nhân là Dị phẩm biến vô tính(tuyệt đối không có dị phẩm). Như vậy thì Nhân đề ra là Tự nhân(Nhân sai lầm) không thể biện chứng cho Tông. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại đề)].

Khoan Triêu

(寬朝, Kanchō, 916-998): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời đại Bình An (平安, Heian), Tự Trưởng đờithứ 19 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), trú trì đời thứ 50 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), húy là Khoan Triêu (寬朝), thông xưng là Biến Chiếu Tự Tăng Chánh (遍照寺僧正) hay Quảng Trạch Ngự Phòng (廣澤御房), xuất thân vùng Kyoto, con của Đôn Thật Thân Vương (敦實親王), cháu của Vũ Đa Pháp Hoàng (宇多法皇, Uda Hōō). Năm 11 tuổi, ông theo xuất gia với Vũ Đa Pháp Hoàng, rồi đến năm 948 thì thọ pháp Quán Đảnh của Khoan Không (寬空, Kankū). Vào năm 967, ông tách ra ở riêng tại Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), sau đó trãi qua các chùa khác như Đông Đại Tự, Tây Tự (西寺, Sei-ji), rồi đến năm 981 thì nhậm chức Tự Trưởng của Đông Tự. Vào năm 989, vâng mệnh của Hoa Sơn Pháp Hoàng (花山法皇, Kazan Hōō), ông kiến lập Biến Chiếu Tự (遍照寺, Henshō-ji) ở ven hồ Quảng Trạch (廣澤) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Chính dòng Quảng Trạch do từ đây mà phát xuất. Ông có để lại vài trước tác như Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thứ Đệ (成就妙法蓮華經次第), Kim Cang Giới Thứ Đệ (金剛界次第), Bất Động Thứ Đệ (不動次第), Nhất Thừa Nghĩa Tư Ký (一乘義私記), v.v.

Khoái Xuyên Thiệu Hỷ

(快川紹喜, Kaisen Shōki, ?-1582): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng hai thời đại Chiến Quốc và An Thổ Đào Sơn, vị trú trì đời thứ 43 của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Thiệu Hỷ (紹喜), đạo hiệu Khoái Xuyên (快川), thụy hiệu Đại Thông Trí Thắng Quốc Sư (大通智勝國師), xuất thân vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣] ngày nay). Ông kế thừa dòng pháp của Tông Thọ (宗壽) ở Diệu Tâm Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi trải qua sống ở các chùa như Nam Tuyền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) thuộc vùng Mỹ Nùng, và chính trong khoảng thời gian nầy ông làm trú trì Diệu Tâm Tự. Vào năm 1561, ông được Tướng Quân Võ Điền Tín Huyền (武田信玄, Takeda Shingen) ở Giáp Phỉ (甲斐, Kai) thỉnh đến trú trì Huệ Lâm Tự (惠林寺, Erin-ji). Đến năm 1582, khi dòng họ Võ Điền bị diệt vong, Huệ Lâm Tự bị Tướng Quân Chức Điền Tín Trưởng (織田信長, Oda Nobunaga) đốt cháy tan tành.

khoá già luận

(課伽論) Tác phẩm, 1 trong 8 luận, thuộc 18 bộ Đại kinh do ngoại đạo ở Ấn độ thành lập. Theo Bách luận sớ quyển thượng, thì Khóa già là bộ luận giải thích về phương pháp thu nhiếp tâm. Có thuyết cho rằng tên tiếng Phạm của bộ luận này làGarga, nhưng các học giả hiện đại căn cứ vào bộ Prasthànabheda mà cho rằng tên tiếng Phạm chính xác của nó làYoga.

khoá tụng

(課誦) Cũng gọi Công khóa. Các thời khóa tụng niệm kinh chú vào buổi sáng sớm và chiều tối tại các chùa viện Phật giáo. Hàng ngày thực hành các thời khóa tụng niệm để mong đạt được công đức nên cũng gọi là công khóa. Tại Trung quốc thời xưa, pháp tụng niệm lúc đầu rất đơn giản, chỉ có kinh chú và kệ tán. Nhưng từ sau đời Tấn đã phát triển thêm pháp sám hối. Kế đó, khi có nghi thức Thủy lục, Diệm khẩu thì việc xướng niệm ngày càng thêm phức tạp. Về nguồn gốc của khóa tụng thì trong phẩm Pháp sư của kinh Pháp hoa đã có ghi các danh xưng như: Thụ trì pháp sư, Độc kinh pháp sư, Tụng kinh pháp sư, v.v..., do đó có thể suy ra rằng nghi thức khóa tụng ở Trung quốc là do những nhà dịch kinh Phật từ các nước Tây vực truyền đến. Những ghi chép sớm nhất về khóa tụng trong các sách ở Trung quốc có thể thấy trong sự tích Trách dung đời Đông Hán được chép chung với truyện Lưu diêu trong Ngô thư. Vua chúa các đời cũng đề cao khóa tụng, như vua Đường Huyền tông ban sắc thỉnh Tam tạng Bất không tụng kinh Nhân vương, Đường Đại tông ra sắc lệnh chọn 27 vị sa môn tụng chú Phật đính cầu nguyện cho đất nước trường tồn, nhân dân an lạc. Điều Trì tụng công thâm trong Phật tổ thống kỉ quyển 53, có nêu ra 19 việc đặc biệt của đạo tục tụng kinh trong khoảng thời gian hơn 700 năm từ vua An đế đời Đông Tấn đến vua Quang tông đời Tống. Như vậy, ta có thể thấy khóa tụng đã rất phổ biến và có một lịch sử lâu dài rồi. Về nghi thức khóa tụng thì ở Ấn độ thời xưa thực hành nghi chế Tam khải, nghĩa là trước tiên ngâm tụng thơ văn tán thán đức Phật(Phật sở hành tán) do ngài Mã minh sáng tác, kế đến, chính thức tụng kinh Phật, sau cùng là văn hồi hướng, phát nguyện. Toàn bộ quá trình là mở ra 3 tiết đoạn, cho nên gọi là Tam khải. Khi tụng kinh xong, đại chúng đồng thanh niệm Tô bà sư đa hoặc Sa bà độ(khen ngợi văn kinh là những lời vi diệu). Nghi thức tụng niệm ở Trung quốc xưa nay cũng theo phép Tam khải này, chỉ thiếu phần đại chúng đồng niệm Tô bà sư đa hoặc Sa bà độ, nhưng lại có xướng Thiện hay Thiện tai. Nghi thức tụng niệm ở Trung quốc bắt đầu từ Tăng Ni Quĩ Phạm do ngài Đạo an chế định vào đời Đông Tấn, trong đó qui định hàng ngày có 6 thời hành đạo, khi ăn phải hiến cúng, tức là phép hiến trai. Đời sau thực hành 2 thời khóa tụng niệm sớm tối, tức đã bắt nguồn từ đây. Những kinh văn trì tụng trong 2 thời khóa đều là kinh Đại thừa, như chú Lăng nghiêm, chú Đại bi, kinh A di đà, văn Sám hối, Mông sơn thí thực, xưng niệm danh hiệu Phật, v.v... Còn về lịch trình và nội dung của 2 thời khóa thì tùy theo các tông phái mà có khác nhau. [X. điều Niệm tụng trong Thiền uyển thanh qui Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.36; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Cao tăng Pháp hiển truyện; Trung quốc Phật giáo nhân vật dữ chế độ khóa tụng chương (Vương tân)].

khoái diêu cản bất cập

(快鷂趕不及) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Diêu là loài chim ưng nhỏ giống như chim cắt, bay rất nhanh. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho Thiền cơ loang loáng như ánh chớp, như tia lửa từ trong đá bắn ra, dù có bay nhanh như chim cắt thì đuổi cũng không kịp(cản bất cập); cũng chỉ cho thời gian trôi qua nhanh chóng. Tắc 12, Bích nham lục (Đại 48, 153 thượng) ghi: Ngày qua nhanh(mắt trái nửa cân, chim cắt đuổi không kịp, đặt ngang mình trong ngọn lửa đỏ); đêm chóng sáng(mắt phải 8 lạng, làm hang ổ trong cung Hằng nga), phải khéo ứng phó thế nào để khỏi bị khinh rẻ, xúc phạm?.

khoái lạc vô thoái lạc

(快樂無退樂) Niềm an vui không bao giờ mất. Một trong 10 niềm vui mà người niệm Phật vãng sinh Tịnh độ đạt được. Đây là thuyết của ngài Nguyên tín, Tổ thứ 6 của Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Ở cõi Cực lạc bên phương Tây, con người sống lâu vô lượng, không có 8 nỗi khổ: Sinh, già, bệnh, chết, yêu thương phải chia lìa, oán ghét phải sống chung, mong cầu không được và 5 uẩn bức bách. Nếu có nguyện sinh ở phương khác thì đó là sống chết tự tại chứ chẳng phải do nghiệp báo, vì thế không có khổ mà chỉ là vui. Và niềm vui này vĩnh viễn không thay đổi, không thoái thất. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng]. (xt. Thập Lạc).

khoái mã

(快馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho con ngựa hay(ngựa chạy nhanh). Ngựa hay chỉ cần người cỡi đánh một roi là nó chạy, gọi là Khoái mã nhất tiên (ngựa hay một roi). Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho người đệ tử có căn cơ nhạy bén, chỉ cần một lời mở bày của thầy liền được triệt ngộ. Tắc 38 trong Bích nham lục (Đại 48, 175 hạ), nói: Khoái nhân nhất ngôn, Khoái mã nhất tiên(Người có căn cơ nhạy bén, chỉ cần nói một lời liền ngộ; ngựa hay chỉ cần đánh một roi liền chạy).

khoái tiện nan phùng

(快便難逢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cơ hội nghìn năm có một (rất khó gặp). Tắc 54 trong Bích nham lục (Đại 48, 188 trung) ghi: Ngài Vân môn hỏi vị tăng: -Ông vừa rời chỗ nào? Vị tăng trả lời: -Tây thiền. Ngài Vân môn hỏi: -Tây thiền gần đây có ngôn cú gì? Vị tăng dang 2 tay, ngài Vân môn đánh thật mạnh(theo lệnh mà làm, đánh mạnh, cơ hội nghìn năm khó gặp).

Khoái Toàn

(快全, Kaisen, ?-1424): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, húy là Khoái Toàn (快全), tự là Hiền Trí (賢智), xuất thân vùng Đơn Hậu (丹後, Tango, Kyoto). Ông theo hầu Hựu Tánh (宥性) ở Bảo Tánh Viện (寶性院) trên Cao Dã Sơn và chuyên tâm tu học. Sau đó, ông chuyển đến trú tại Thích Ca Văn Viện (釋迦文院) trong núi và chuyên tâm giảng cứu học tập. Trước tác của ông có Đại Sớ Truyền Thọ Sao (大疏傳受鈔) 18 quyển, Áo Sớ Do Lai Ký (奥疏由來記) 1 quyển, v.v.

khoán môn

(khoán môn ) Cửa cuốn, một lối kiến trúc thời cổ, kiến trúc Phật giáo cũng thu dụng. Phần trên cửa xây cuốn bằng gạch hoặc đá với hình bán cầu hoặc hình cung. Nếu cây cầu được xây cất theo kiểu này thì gọi là Củng kiều(cầu vòng cung).

Khoáng

曠; C: kuàng; J: kō;|1. Rất trong sáng và rõ ràng; 2. Hoang vu, trống không; 3. Bỏ hoang, bỏ quên; 4. Rộng mở, mênh mông, bao la, trống không, để trống; 5. Xa xăm, rộng dài; 6. Vô ưu, không bận tâm lo nghĩ.

khoáng dã thành

(曠野城) Tòa thành lớn nằm giữa 2 nước Ma kiệt đà và Kiều tát la thuộc Trung Ấn độ thời xưa. Cứ theo Căn bản thuyết nhất hữu bộ Tì nại da quyển 47, thì thành này nguyên là nơi đồng không mông quạnh, có bọn cướp gồm 500 tên thường hay giết hại khách buôn, cho nên giữa 2 vùng này tuyệt nhiên không có dấu chân người qua lại. Bấy giờ Ảnh thắng vương nghe biết, mới sai Đại tướng tiêu diệt bọn cướp, chúng van xin tha mạng, vị Đại tướng vì lòng từ bi thương xót, xây dựng một tòa thành mới ở giữa 2 vùng, rồi chiêu tập dân chúng đến ở, đó là nguồn gốc của thành này. [X. luật Ma ha tăng kì Q.13; luật Tứ phần Q.3].

khoáng dã thần

(曠野神) Phạm:Àỉavika hoặcÀỉavaka. Dịch âm: A tra bạc câu, A tra bà câu. Dịch nghĩa: người rừng, ở rừng. Cũng gọi Khoáng dã quỉ thần, Khoáng dã quỉ, Khoáng dã dạ xoa. Thần ở đồng trống, 1 trong 16 thần Dược xoa. Trong Phật giáo xưa nay có pháp thí thực, tức là đem thức ăn bố thí cho thần này. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 15 (bản Nam), thì khi đức Phật còn tại thế, thần Khoáng dã ở trong làng xóm, đồng nội, ăn thịt nhiều chúng sinh, sau tuy được đức Phật giáo hóa, nhưng vẫn ăn thịt uống máu để sống còn, vì thế Phật chế giới, bất cứ chỗ nào có người tu hành Phật pháp đều phải bố thí thức ăn cho thần này. Theo kinh Quán Phật tam muội hải, thì loài qủi thần này có 1 cổ, 6 đầu, 6 mặt, đầu gối có 2 mặt, khắp mình mọc lông giống như các mũi tên sắt, hễ cử động thì lông bắn ra, trợn mắt đỏ ngầu, máu chảy ròng ròng. Ở phía bắc sông Hằng và cách đền thờ trời Na la diên về mạn đông có 1 ngôi tháp, tức là nơi mà ngày xưa đức Phật hàng phục và giáo hóa thần Khoáng dã. Mật giáo thờ thần Khoáng dã để tiêu trừ các chướng nạn như ác thú, nước lửa, đao binh, v.v... và coi họ như thiện thần giữ gìn đất nước và chúng sinh. Tông Thai mật của Nhật bản rất xem trọng thần Khoáng dã, thường thờ làm Bản tôn khi tu pháp Trấn hộ quốc gia và tôn xưng là Đại nguyên Súy minh vương. [X. kinh Kim quang tối thắng vương Q.9; kinh Quán Phật tam muội hải Q.2; Đại đường tây vực kí Q.7].

Khoáng kiếp

曠劫; C: kuàng jié; J: kōgō;| Một thời gian dài. Từ xưa nay.

khoáng kiếp

(曠劫) Khoáng là lâu xa, kiếp (Phạm:Kalpa) là đơn vị thời gian được người Ấn độ đời xưa dùng để chỉ cho thời hạn rất lớn, tức Khoáng kiếp là thời gian vô cùng tận. Tắc 1 Bích nham lục (Đại 48, 140 hạ), nói: Tâm hữu thì khoáng kiếp vẫn là phàm phu; tâm vô thì trong sát na chứng quả Diệu giác.

khu khiển yết-ma

(驅遣羯磨), cũng gọi là khu xuất yết-ma, biện pháp áp dụng đối với vị tỳ-kheo có tội (thường là khi hình thức quở trách không có tác dụng), theo đó phải chịu sự trục xuất ra khỏi nơi ở.

khu long

(驅龍) ..... Đuổi rồng độc hại. Chỉ cho việc vị A la hán nhờ vào sức giữ giới mà đuổi được con rồng độc ở nước Ca thấp di la. Luận Đại tì bà sa quyển 44 (Đại 27, 230 thượng), nói: Thủa xưa trong nước Ca thấp di la có con rồng độc, tên là Vô khiếp cụ (không khiếp sợ), bản tính hung ác, gây tổn hại cho nhiều người và thường đến Tì ha la số cách đó không xa để quấy nhiễu. Trong ngôi chùa ở vùng ấy có 500 vị A la hán cùng nhau bàn luận nhập định để đuổi rồng độc, mặc dầu dùng hết thần lực nhưng vẫn không đuổi được. Bấy giờ có 1 vị A la hán từ xa đến, các vị tăng trong chùa kể lại việc trên, vị A la hán liền đến chỗ rồng ở, khảy móng tay và nói rằng: Hiền giả hãy rời khỏi nơi này! Rồng độc nghe nói thế liền bỏ đi. Các vị A la hán kia lấy làm lạ, hỏi rằng: Nhờ định lực nào mà ngài có thể đuổi được con rồng ấy? Ngài đáp: Tôi không nhập định, cũng không khởi thần thông, tôi chỉ giữ giới mà có được sức ấy. Tôi giữ gìn giới nhẹ cũng như hộ trì giới nặng, nên khiến con rồng độc sợ hãi bỏ đi. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1].

khu quỷ tiết

(驅鬼節) ........ Nghi thức đuổi quỉ của Phật giáo Tây tạng được cử hành vào ngày 29 tháng 2 hàng năm theo lịch Tây tạng tại quảng trường Lạp tát lỗ bố. Tên con quỉ là Lộ cung(gọi đủ là Ân lan đạt trát lộ cung), 1 môn đồ của Bổng giáo, chuyên phá hoại Phật giáo. Đúng vào ngày lễ này, lúc cử hành Tiểu triệu thì 1 vị Lạt ma hóa trang đeo mặt nạ nửa đen nửa trắng, bị mọi người đuổi ra khỏi thành, vị Lạt ma đóng vai giả quỉ này phải đến chùa Tang da ở lại vài ngày, rồi lại lén quay về Lạp tát (Lhasa).

khu ô sa di

(驅烏沙彌) ........... Cũng gọi Trục dăng sa di(Sa di đuổi ruồi). Sa di đuổi quạ. Chỉ cho hạng sa di tuổi từ 7 đến 13, có thể xua đuổi chim quạ, ruồi nhặng, v.v... không để chúng tha hoặc làm bẩn thức ăn của các vị tỉ khưu. [X. luật Ma ha tăng kì Q.29; luật Ngũ phần Q.17; luật Tứ phần Q.34].

Khuy Cơ

(窺基, Kigi, 632-682): sơ tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Trường An (長安), Kinh Triệu (京兆) nhà Đường, họ là Úy Trì (尉遲), tự Hồng Đạo (洪道), còn được gọi là Linh Cơ (靈基), Thừa Cơ (乘基), Đại Thừa Cơ (大乘基), Cơ Pháp Sư (基法師), tục xưng là Từ Ân Đại Sư (慈恩大師), Từ Ân Pháp Sư (慈恩法師) và tông phái của ông được gọi là Từ Ân Tông (慈恩宗). Ông có tướng mạo khôi ngô, bẩm tánh thông tuệ, xuất gia lúc 15 tuổi, phụng sắc chỉ nhà vua làm đệ tử của Huyền Trang (玄奘, 602-664). Ban đầu ông đến xuất gia tại Quảng Phước Tự (廣福寺), sau chuyển đến Đại Từ Ân Tự (大慈恩寺), theo Huyền Trang học Phạn văn và kinh luận Phật Giáo. Năm 25 tuổi, ông tham gia dịch kinh, đến năm thứ 4 (659) niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), khi Huyền Trang dịch bộ Duy Thức Luận (s: Vijñaptimātratāsiddhi-śāstra, 唯識論), ông cùng với ba vị Thần Phưởng (神昉), Gia Thượng (嘉尚), Phổ Quang (普光) cùng hiệu đính văn phong, nghĩa lý của bộ luận này. Huyền Trang còn sai ông diễn thuyết về Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận (s: Nyāya-dvāra-tarka-śāstra, 因明正理門論) và Du Già Sư Địa Luận (s: Yogacārabhūmi, 瑜伽師地論) của Trần Na (s: Dignāga, Dinnāga, 陳那), vì vậy ông rất thông đạt tông pháp của Nhân Minh và Ngũ Tánh. Vào năm đầu (661) niên hiệu Long Sóc (龍朔), những bộ luận do Huyền Trang chủ dịch như Biện Trung Biên Luận (s: Madhyānta-vibhāga-ṭīkā, 辨中邊論), Biện Trung Biên Luận Tụng (s: Madhyānta-vibhāga-kārikā, 辨中邊論頌), Nhị Thập Duy Thức Luận (s: Viṃśatikāvijñapti-mātratā-siddhiḥ, 二十唯識論), Dị Bộ Tông Luân Luận (s: Samayabhedoparacanacakra, 異部宗輪論), A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (s: Abhidharma-dhātu-kāya-pāda, 阿毘達磨界身足論), đều được ông chấp bút; và ngoại trừ A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận ra, ông đều ghi thuật ký cho các bộ luận này. Về sau, ông ngao du Ngũ Đài Sơn (五臺山), tuyên giảng đại pháp, rồi trở về Từ Ân Tự truyền thọ giáo nghĩa của thầy mình. Trước tác của ông rất nhiều cho nên người đương thời gọi ông là Bách Bản Sớ Chủ hay Bách Bản Luận Sư. Ông lấy Duy Thức Luận làm tông chỉ, nên còn được gọi là Duy Thức Pháp Sư. Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Thuần (永淳), ông thị tịch tại Phiên Kinh Viện (翻經院) của Từ Ân Tự, hưởng thọ 51 tuổi đời. Trước tác của ông có Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (法苑義林章), Du Già Luận Lược Toản (瑜伽論略纂), Bách Pháp Minh Môn Giải (百法明門解), Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận Sớ (因明入正理論疏), Nhiếp Đại Thừa Luận Sao (攝大乘論鈔), Đối Pháp Luận Sao (對法論鈔), Thắng Tông Thập Cú Nghĩa Chương (勝宗十句義章), Pháp Hoa Kinh Huyền Tán (法華經玄贊), A Di Đà Kinh Thông Tán Sớ (阿彌陀經通贊疏), Quán Di Lặc Thượng Sanh Kinh Sớ (觀彌勒上生經疏), Kim Cang Bát Nhã Kinh Huyền Ký (金剛般若經玄記), Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Tán (攝無垢稱經贊), v.v. ; 窺基; C: kuījī; 632-682;|Cao tăng Phật giáo Trung Quốc, đệ tử của Huyền Trang và cùng Huyền Trang sáng lập Pháp tướng tông.|Khuy Cơ đi tu từ năm 17 tuổi, năm 25 tuổi đã dịch kinh sách và tham gia dịch Thành duy thức luận (s: vijñaptimātratā-siddhi), một tác phẩm căn bản của Pháp tướng tông. Sư cũng viết một bài luận về tác phẩm này và hệ thống hoá mạch lạc giáo lí của thầy mình.

khuy cơ

(窺基) (632-682) Cũng gọi: Linh cơ, Thừa cơ, Đại thừa cơ, Cơ pháp sư, Cơ, Từ ân đại sư, Từ ân pháp sư. Sơ tổ tông Pháp tướng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường an (Tây an, Thiểm tây), họ Úng trì, tự Hồng đạo. Sư có tướng mạo khôi ngô, bẩm tính thông tuệ. Năm 17 tuổi, sư vâng mệnh vua xuất gia làm đệ tử ngài Huyền trang ở chùa Quảng phúc. Sau, sư dời về chùa Đại từ ân, theo ngài Huyền trang học tiếng Phạm và kinh luận Phật giáo. Năm 25 tuổi, sư tham dự việc dịch kinh. Năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang dịch luận Duy thức, sư tham chước các bản luận thích của 10 vị Luận sư mà soạn thành 1 bản, tức là luận Thành duy thức. Ngài Huyền trang còn giảng dạy sư về luận Nhân minh chính lí môn của ngài Trần na và luận Du già sư địa của ngài Di lặc, vì thế sư rất thông thạo về Nhân minh học và tông pháp Ngũ tính. Niên hiệu Long sóc năm đầu (661), ngài Huyền trang chủ dịch các luận: Biện trung biên, Biện trung biên luận tụng, Nhị thập duy thức, Dị bộ tông luân, A tì đạt ma giới thân túc, v.v... đều do sư chấp bút. Trong các bộ luận trên, trừ bộ A tì đạt ma Giới thân túc luận ra, còn tất cả sư đều soạn Thuật kí. Sau, sư đến Thái hàng, Ngũ đài tuyên dương Đại thừa, rồi trở về chùa Từ ân truyền trao giáo pháp của ngài Huyền trang. Niên hiệu Vĩnh thuần năm đầu (682), sư thị tịch ở viện Dịch kinh, chùa Từ ân, thọ 51 tuổi, được an táng bên cạnh tháp ngài Huyền trang ở Phàn xuyên, Bắc nguyên. Những tác phẩm của sư gồm có: Pháp uyển nghĩa lâm chương, Du già sư địa luận lược toản, Bách pháp minh môn giải, Nhân minh nhập chính lí luận sớ, Nhiếp đại thừa luận sao, Đối pháp luận sao, Thắng tông thập cú nghĩa chương, Pháp hoa kinh tán, A di đà kinh thông tán sớ, Quán Di lặc thướng sinh kinh sớ, Kim cương bát nhã kinh huyền kí, Thuyết vô cấu xưng kinh tán. [X. Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng; Đại từ ân tự Tam tạng phápsư truyện Q.10; Tống cao tăng truyện Q.4].

khuyên hội

(圈圚) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho khuôn mẫu hoặc phương thức nhất định. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho cái phương tiện của thầy dùng lời nói, động tác để thử nghiệm và dẫn dắt người học. Tắc 16 Thung dung lục (Đại 48, 237 trung), nói: Phải và chẳng phải, hãy xem phương tiện(Khuyên hội)đè xuống nâng lên, khó anh khó em. Tắc 5 Bích nham lục (Đại 48, 145 trung), nói: Được mất, phải trái, cùng lúc buông bỏ hết, tự nhiên thấu suốt được phương tiện (Khuyên hội) của người.

khuyên luyến

(圈攣) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khuyên(hoặc đọc là quyền)là chuồng nuôi muông thú; Luyên là sợi dây buộc mồi để thả câu. Thiền lâm dùng từ ngữ này để chỉ cho cơ pháp đặc biệt mà bậc thầy sử dụng để lôi kéo, nắm giữ người học có căn cơ cao, tính giác ngộ mạnh, giống như người buông câu dùng mồi ngon câu cá lớn; hoặc giống như người đi săn dùng cũi chắc chắn để nhốt mãnh thú, đó đều là những phép tắc phương tiện để ngăn ngừa thói quen ngông cuồng, nóng nảy của người học, thường thay đổi bất định mà mất tài năng. Trong những trườnghợp ấy, cái cơ pháp mà vị thầy thường dùng nhất là Viên tướng (tướng tròn), tức là dùng tay hoặc phất trần, cây như ý, gậy, v.v... vẽ 1 hình tròn trong hư không hoặc trên mặt đất, biểu thị cho chân lí tuyệt đối, dùng làm mồi dắt dẫn, tạo cơ khai ngộ cho người học. Tắc 33 Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ), nói: Khi câu con ba ba lớn ngoài biển thì phải thả miếng mồi to và ngon (Khuyên luyên). [X. Bích nham sao; Phương ngữ giải, Bích nham lục].

Khuyến

勸; C: quàn; J: kan; |Có các nghĩa sau: 1. Ủng hộ, thuyết phục, khuyến khích; 2. Khuyên nhủ, giáo hoá; 3. Sự giúp sức, sự tiến bộ, sự tăng trưởng (s: samādāpayati).

khuyến duyên

(勸緣) ..... Danh xưng các vị tăng chuyên đi khuyến hóa tín đồ góp tịnh tài cúng dường vào việc khắc in kinh điển. Như phần san kí của kinh Trường a hàm quyển 22 trong bản in Đại tạng kinh của Viên giác thiền viện ở Tư khê, Hồ châu, đời Nam tống, có hàng chữ Khuyến duyên Trụ trì Viên giác thiền viện Truyền pháp sa môn Hoài thâm. Lại như phần san kí của kinh Chuyển nữ thân được ấn hành vào năm 1256 và cất giữ ở viện Giới học thuộc Luật tông của Nhật bản, cũng có dòng chữ Khuyết duyên tỉ khưu Hốt trì đề, v.v...

khuyến giới nhị môn

(勸誡二門) I. Khuyến Giới Nhị Môn. Khuyến môn và Giới môn. Khuyến là khuyên dạy người làm việc thiện; Giới là răn cấm người làm điều ác. Giáo lí Phật giáo có đủ 2 ý nghĩa này. Tiêu biểu nhất cho ý nghĩa khuyến giới của Phật giáo là bài kệ tụng tổng quát về giới luật của 7 đức Phật ở quá khứ: Chớ làm các điều ác Làm tất cả việc lành Giữ tâm ý trong sạch Là lời chư Phật dạy. Trong đó, làm tất cả việc lành là Khuyến môn, Chớ làm các điều ác là Giới môn. Có chỗ cho rằng Kinh tạng là Khuyến môn, mà Luật tạng là Giới môn. Ngày xưa, ở Ấn độ, ngài Long thụ đã soạn Khuyến phát chư vương yếu kệ để khuyên răn vua Sa đa bà hán na của nước Kiêu tát la. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.5 hạ; Trung quán luận sớ Q.1; Đại đường Tây vực kí Q.10]. II. Khuyến Giới Nhị Môn. Khuyến tín môn và Giới nghi môn. Chỉ có lòng tin mới vào được biển Phật pháp, vì thế khuyên vững niềm tin và răn dứt mối ngờ vực. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 60 (Đại 9, 788 thượng), nói: Được nghe pháp này mà vui mừng, sinh lòng tin không ngờ vực thì chóng thành đạo vô thượng. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 14 (Đại 10, 72 trung), nói: Tin là mẹ đẻ của vô lượng công đức, nuôi lớn tất cả pháp lành, cắt đứt lưới nghi ra khỏi sông ái. Tông Tịnh độ của Nhật bản đem tâm chân thực phối hợp với Khuyến môn, tâm hư giả phối hợp với Giới môn. Cũng có thuyết cho rằng khuyến tiến lòng tin vào tha lực là khuyến tín; răn ngừa sự nghi hoặc của tự lực là giới nghi. Lại nữa, chiết phục ma pháp là giới, nhiếp thụ chính pháp là khuyến. [X. Tuyển trạch truyền hoằng quyết nghi sao Q.3].

khuyến hoá

(勸化) ..... Khuyến tiến chuyển hóa, nghĩa là khuyến tiến chúng sinh chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành Thánh. Kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 14 (Đại 12, 695 thượng), nói: Nếu có chúng sinh tham đắm 5 món dục lạc, thì hãy đem 5 dục vi diệu làm cho họ thỏa mãn, sau đó khuyến hóa, khiến họ an trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. [X. Tu đạt đa thừa tượng khuyến hóa duyên trong kinh Soạn tập bách duyên Q.6; luận Đại trí độ Q.33; luận Câu xá Q.12].

khuyến học

(勸學) ..... Tên chức vụ của những vị tăng có học vị cao thuộc các phái Bản nguyện tự, Hưng chính tự trong Tịnh độ tông và Chân tông của Phật giáo Nhật bản. Như vào năm Văn chính thứ 7 (1824), phái Bản nguyện tự đặt ra chức Khuyến học do 11 người đảm nhiệm, trong đó có các ngài Liễu húc, Tuệ hàng, Tính hải, v.v...

Khuyến lệnh

勸令; C: quànlìng; J: kenryō; |Dạy dỗ và khuyến khích; thúc đẩy, ủng hộ.

khuyến phát

(勸發) ..... Phạm:Utàhana. Khuyến là khuyến khích, phát là phát khởi. Theo sự giải thích trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 12, thì khuyến phát tức là dùng những việc thù thắng để khuyến khích mọi người phát khởi tâm trì tụng kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10 hạ; Pháp hoa kinh Huyền tán Q.10].

khuyến phát chư vương yếu kệ

(勸發諸王要偈) Phạm: Àrya-nagarjuna-bodhisattva suhfllekha. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Long thụ, người Ấn độ soạn, ngài Tăng già bạt ma dịch vào thời Lưu tống, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ sách khuyên răn mà bồ tát Long thụ gửi cho vua Sa đa bà hán na nước Kiêu tát la thuộc Nam Ấn độ. Nội dung nói về pháp quán bất tịnh, sự tai hại của 5 dục lạc và xa lìa lục uế nhiễm. Điểm cốt yếu của sách này là dạy người ta tu thiện để cầu Niết bàn rốt ráo. Sách này còn có các bản dịch khác như: - Long thụ bồ tát vị Thiền đà ca vương thuyết yếu kệ, do ngài Cầu na bạt ma dịch vào đời Lưu Tống. - Long thụ bồ tát khuyến giới vương tụng, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Cả 2 bản dịch trên cũng được thu vào Đại chính tạng tập 32. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4].

khuyến phát phẩm

(勸發品) ........ Gọi đủ: Phổ hiền bồ tát khuyến phát phẩm. Phẩm thứ 28 trong kinh Pháp hoa quyển 7, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung phẩm này nói về việc bồ tát Phổ hiền từ cõi nước của Phật Bảo uy đức thượng vương (Phạm: Ratnatejobyudgataràja) ở phương đông đến thế giới Sa bà này, được nghe đức Phật Thích ca mâu ni nói rằng: Nếu thành tựu được 4 pháp thì sau khi Phật nhập diệt sẽ gặp được kinh Pháp hoa, bồ tát Phổ hiền bèn dùng 7 việc làm thù thắng để khuyến khích mọi người phát khởi tâm trì kinh. Bảy việc thù thắng ấy là: Hỏi về 4 pháp, hiện tướng lành, nói thần chú, sức thông suốt kinh (Pháp hoa), khen ngợi việc trì kinh, nói rõ quả báo của việc trì kinh, hộ pháp.

khuyến thiện trừng ác

(勸善懲惡) ........... Cũng gọi khuyến thiện cấm ác, Trừng ác khuyến thiện. Khuyên làm các việc lành, răn cấm các điều ác. Bài tựa trong luận Nguyên nhân (Đại 45, 708 thượng), nói: Thúc dục muôn hạnh, trừng ác khuyến thiện, cùng đưa đến chỗ an vui, Tam giáo (Phật, Nho, Đạo) đều có thể làm như vậy. [X. Bách luận sớ Q.thượng phần cuối; Bài tựa Trùng khai tăng sử lược].

khuyến thỉnh

(勸請) Chí thành cầu thỉnh Phật và Bồ tát quang lâm. Cứ theo kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1, khi 7 đức Phật ở quá khứ như Phật Tì bà thi, v.v... thành đạo, thì Phạm thiên từng đến khuyến thỉnh Phật chuyển pháp luân. Còn theo phẩm Phạm thiên khuyến thỉnh trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 33, thì khi Phật Thích ca thành đạo, Phạm thiên cũng đến dùng kệ tụng khuyến thỉnh ngài chuyển pháp luân. Theo kinh Kim quang minh quyển 2 (Hợp bộ) và luận Thập trụ tì bà sa quyển 5, thì Khuyến thỉnh là 1 trong 4 hối; còn theo kinh Đại thừa tam tụ sám hối và Bồ tát ngũ sám pháp văn, thì Khuyến thỉnh là 1 trong 5 hối, cùng với sám hối, tùy hỉ và hồi hướng đều là những hạnh tu quan trọng của Bồ tát. Đến đời sau, khi cử hành pháp hội, trước hết dùng nghi thức khuyến thỉnh chư Phật, Bồ tát giáng lâm đạo tràng, sau đó tự mình phát nguyện. Ngoài ra, khi đức Phật sắp vào Niết bàn, các vị đệ tử xin Ngài trụ lâu nơi đời, thì gọi là khuyến thỉnh cửu trụ. Lại khi khánh thành chùa viện mà không có vị Khai sơn (người sáng lập chùa)thì bái thỉnh Bản sư (thầy tổ) hoặc vị tăng có đức hạnh đảm nhiệm Khai sơn, thì gọi là Khuyến thỉnh khai sơn. [X. kinh Đại niết bàn Q.thượng (bản 3 quyển); kinh Hiền ngu Q.1; kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; luận

khuyến tiến

(勸進) ..... Đồng nghĩa: Khuyến hóa. Khuyên nhủ người ta gắng sức chuyển hóa mà trở về Phật đạo. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 341 hạ), nói: Phát tâm bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tiến hành giả. Quán kinh tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo (Đại 37, 260 thượng), nói: Cần phải khuyến tiến người tu hành, là vì khổ pháp như thuốc độc, ác pháp như dao, trôi lăn trong 3 cõi, tổn hại chúng sinh. Còn thiện thì như gương sáng, pháp như cam lộ, gương thì soi rọi chính đạo để trở về chân thực; cam lộ thì rưới mưa pháp không để khô kiệt, muốn cho hàm linh được thấm nhuần, đều gặp được dòng nước pháp, cho nên phải khuyến tiến lẫn nhau. Đến đời sau, khuyến tiến được chuyển thành nghĩa quyên góp tài vật để cất chùa, xây tháp, tạo tượng, đúc chuông, v.v... Đây tức là từ việc khuyên nhủ chứa góp công đức thiện căn của mình và người, chuyển thành nghĩa khuyến dụ mọi người hoan hỉ cúng tịnh tài để làm việc phúc lợi. Ngoài ra, quyển sổ dùng để ghi chép lí do và mục đích của việc quyên góp thì gọi là Khuyến tiến trướng, Khuyến hóa trướng. [X. phẩm Tín giải kinh Pháp hoa].

Khuyến trì

勸持; C: quànchí; J: kanji; |Ủng hộ và gìn giữ, tôn trọng, hành trì theo lời dạy trong một bộ kinh. Thuật ngữ nầy thường thấy ở phần kết thúc của một bộ kinh (theo Pháp hoa kinh 法華經).

khuyến trì phẩm

(勸持品) Phẩm thứ 13 trong kinh Pháp hoa quyển 15, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung của nửa phẩm trước nói về các Bồ tát: Dược vương, Đại nhạo thuyết và 500 vị A la hán được thụ kí, thệ nguyện không tiếc thân mệnh phụng trì đọc tụng kinh Pháp hoa. Còn nửa phần sau thì nói về việc các Bồ tát khuyên mọi người thụ trì và hoằng dương rộng rãi kinh này.

Khuyến Tu Tự

(勸修寺, Kanjū-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Sơn Giai (山階派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Yamashinakanjujininōdō-chō (山科勸修寺仁王堂), Higashiyama-ku (東山區), Kyoto-shi (京都市). Căn cứ vào một số sử liệu như Khuyến Tu Tự Duyên Khởi (勸修寺緣起), thể theo bản nguyện của thân mẫu Đằng Nguyên Dận Tử (藤原胤子, Fujiwara-no-Inshi) và để cầu nguyện cho bà được siêu độ, vào năm 900 (niên hiệu Xương Thái [昌泰] thứ 3), Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō, tại vị 897-930) đã biến tư gia của Cung Đạo Di Ích (宮道彌益, Miyajii Yamasu) bên ngoại tộc thành ngôi già lam, và cung thỉnh Thừa Tuấn (承俊, Shōshun) làm Tổ khai sơn chùa. Vào năm 905 (niên hiệu Diên Hỷ [延喜] thứ 5), nơi đây trở thành chùa cấp định ngạch của triều đình, được phép độ tăng chúng hằng năm và trở thành đạo tràng của Chơn Ngôn cũng như Tam Luận. Đến năm 918 (năm thứ 18 cùng niên hiệu trên), từ khi Tế Cao (濟高) được bổ nhiệm về đây làm Trưởng Lại (長吏) đầu tiên, chùa trở nên cực thịnh. Chùa được sự bảo hộ hùng mạnh của Hoàng Thất, bao đời các bậc cự tượng lỗi lạc xuất hiện, từ đó vận của chùa ngày càng đi lên. Sau đó, vị Tổ đời thứ 7 của chùa là Giác Tín (覺信) lấy chùa làm cứ địa để khai sáng Dòng Khuyến Tu Tự (勸修寺流). Kể từ khi vị Hoàng Tử thứ 7 của Hậu Phục Kiến Thiên Hoàng (後伏見天皇, Gofushimi Tennō, tại vị 1298-1301) là Khoan Dận Thân Vương (寛胤親王) đến đây xuất gia, đời đời các vị Thân Vương đều được bổ nhiệm là Trưởng Lại ở đây, cứ như vậy kéo dào cho đến thời Minh Trị Duy Tân. Đến năm 1470 (niên hiệu Văn Minh [文明] thứ 2), chùa bị binh hỏa cháy tan tành, rồi được phục hưng như cũ; nhưng do vì không tuân mệnh của Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi), lãnh địa của chùa bị tịch thâu. Đến khi công trình xây dựng Thành Phục Kiến (伏見城, Fushimi-jō) thực hiện, trong khuôn viên chùa có đường thông ngang qua, các ngôi nhà bị dời đi nơi khác. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永), chùa được phục hưng lại. Đặc biệt, vào năm 1682 (niên hiệu Thiên Hòa [天和] thứ 2), Hoàng Tử thứ nhất của Linh Nguyên Thiên Hoàng (靈元天皇, Reigen Tennō, tại vị 1663-1687) là Tế Thâm Thân Vương (濟深親王) đến làm trú trì đời thứ 29 của chùa, vận chùa lại phát triển mạnh. Chùa hiện vẫn còn lưu giữ một số bảo vật như bức tranh thêu đồ hình Thích Ca Thuyết Pháp (tác phẩm thời nhà Đường), 3 bức Nhân Vương Kinh Lương Phần Sớ (仁王經良賁疏) tương truyền do tự tay Không Hải (空海, Kūkai) viết, v.v.

khuyến tín giới nghi

(勸信誡疑) [X. Khuyến Giới Nhị Môn II].

khuyến tướng chuyển

(勸相轉) Cũng gọi Khuyến chuyển. Khuyến tướng chuyển là đức Thế tôn chuyển pháp luân nói lí Tứ đế ở vườn Lộc dã, khuyên người đời nên biết khổ, nên đoạn tập, nên chứng diệt và nên tu đạo. Tức khuyên tu Tứ đế, đây là nói theo hàng căn cơ bậc trung, tương đương với Tu đạo (1 trong 3 đạo). [X. luận Câu xá Q.24; Pháp hoa kinh văn cú Q.7 hạ; Tam tạng pháp số Q.9]. (xt. Tam Chuyển Pháp Luân).

Khuyến Tấn Trạng

(勸進狀, Kanjinjō):là những bản trạng văn khuyến hóa quyên góp tiền bạc để xây dựng hoặc tu sửa chùa chiền hay đền thờ.

khuyến đạo đệ nhất

(勸導第一) Chỉ cho ngài Ưu đà di, là người có duyên khuyến hóa bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng), nói: Người có tài khuyến đạo khéo léo và dùng phúc thiện hóa độ mọi người chính là tỉ khưu Ưu đà di.

khuyết bản kinh

(缺本經) Những kinh điển vốn đã được dịch ra chữ Hán, nhưng do sự lưu truyền qua nhiều đời nên bị thất lạc mà thiếu đi một số bản. Về số kinh khuyết bản thì trong Chúng kinh mục do ngài Ngạn tông soạn vào năm Nhân thọ thứ 2 (602) đời Tùy, liệt kê 402 bộ khuyết bản. Trong Vũ chu san định chúng kinh mục lục, do các ngài Minh thuyên, v.v... soạn vào niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695) đời Đường, liệt kê 450 bộ. Đến Khai nguyên thích giáo lục, do ngài Trí thăng biên soạn vào năm khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì số kinh khuyết bản đột nhiên tăng lên 1.153 bộ. Còn trong Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục, do ngài Viên chiếu biên soạn năm Trinhnguyên 16 (808) đời Đường, thì liệt kê 1.148 bộ. Qua những tư liệu được trình bày ở trên, người ta nhận thấy: Chúng kinh mục lục của ngài Ngạn tông đời Tùy liệt kê có 402 bộ kinh khuyết bản; đến Khai nguyên lục đời Đường, kinh khuyết bản bỗng tăng lên tới 1.153 bộ, nhiều gấp 3 lần, nếu khảo chứng sự thật về con số ấy, thì rất đáng nghi ngờ; bởi vì các kinh điển bị cho là khuyết bản, thì sau đó lại tìm được, việc này thường xảy ra, vì thế, theo lí thì số lượng kinh khuyết bản chí giảm xuống chứ không thể thêm lên. Nhưng Khai nguyên lục lại tăng thêm gấp 3 lần, đó là vì khi biên soạn Lịch đại Tam bảo kỉ, ông Phí trường phòng tùy ý thêm tên người dịch vào các kinh mất tên dịch giả, kinh sao chép, v.v... làm thành ngụy mục lục, tuy rằng ngài Ngạn tông đời Tùy, khi khám định Chúng kinh mục lục, có loại bỏ một phần lớn các kinh không thuần nhất như kinh sao chép. Nhưng Khai nguyên lục lại sử dụng mục lục không đúng sự thực của Lịch đại Tam bảo kỉ và thêm tên các kinh khuyết bản, vì thế mà số kinh khuyết bản đã tăng lên nhiều. [X. chương 4, bộ 2 trong Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận].

khuyết dị dụ y

(缺異喻依) Tiếng dùng trong Nhân minh. Thiếu Dị dụ y, 1 lỗi Vô thể khuyết trong các lỗi thiếu sót thuộc Nhân minh cũ. Trong Nhân minh mới không thấy nói đến loại lỗi này. Thiếu Dị dụ y có 2 trường hợp: 1. Thiếu Tông dị phẩm, nên thiếu Dị dụ y không phạm lỗi. 2. Có Tông dị phẩm mà thiếu Dị dụ y thì phạm lỗi. [X. Nhân minh đại sớ lê trắc].

khuyết lậu

(缺漏) ..... Do giữ giới không nghiêm túc mà phạm lỗi. Giới như con đê, có khả năng ngừa lỗi ngăn ác, cho nên không giữ giới là khuyết; vì không giữ giới nên tội lỗi phát sinh, gọi là lậu. [X. phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1].

khuyết quá

(缺過) Cũng gọi: Khuyết giảm quá, Khuyết giảm. Đối lại: Chi quá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do sự trình bày không đầy đủ ý nghĩa. Tức là lỗi vì không có lời trình bày(ngôn trần)hoặc có lời trình bày mà nghĩa lí không đầy đủ, không bao quát. Lỗi này có thể chia làm 2 loại: 1. Vô thể khuyết: Chỉ mới trình bày phần Tông(mệnh đề)chứ chưa nói đến Nhân (lí do)và Dụ(đồng dụ và dị dụ). Tức là luận thức chưa đầy đủ, đối phương không hiểu được ý của người lập luận. Đây là thuyết Nhân minh cũ. 2. Hữu thể khuyết: Khi lấy ba tướng của Nhân làm pháp năng lập tuy nói 3 tướng, nhưng nếu thiếu 1 tướng đầu, hoặc thiếu 2 tướng sau, hay thiếu cả 3 tướng thì gọi là Tướng thiểu khuyết. Còn khi lấy Nhân và 2 Dụ(đồng dụ, dị dụ) làm Pháp năng lập, tuy có trình bày về thể của chúng nhưng thiếu 1, 2 hoặc cả 3 thì gọi là Nghĩa thiểu khuyết. Đây là thuyết của Nhân minh mới. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng].

khuyết vô

(缺無) Cũng gọi Khuyết vô quá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Là lỗi thiếu 1 trong 3 chi(Tông, Nhân, Dụ)của luận thức Nhân minh. Khuyết vô và Khuyết quá có khác nhau. Khuyết quá (lỗi thiếu sót)chỉ là ý nghĩa sơ lược không đầy đủ, còn Khuyết vô là lỗi căn bản làm cho luận thức không tồn tại. Cho nên theo quy định của Nhân minh, lỗi Khuyết vô nghiêm trọng hơn lỗi Khuyết quá. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích].

khuyển trục khối

(犬逐塊) Con chó đuổi theo cục đất. Từ ngữ này được dùng để thí dụ cho phàm phu không biết, chỉ thấy quả mà không thấy nhân, giống như con chó chỉ đuổi theo cục đất, chứ không biết đuổi theo người ném đất. [X. kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc)].

Khuê ly

(暌離): cách xa, rời xa, xa lìa. Như trong bài Tú Quy Hình Thi (繡龜形詩, Toàn Đường Thi, quyển 799) của (侯氏) nhà Đường có câu: “Khuê ly dĩ thị thập thu cường, đối kính na kham trùng lí trang, văn nhạn kỉ hồi tu xích tố, kiến sương tiên vị chế y thường (暌離已是十秋強、對鏡那堪重理妝、聞雁幾回修尺素、見霜先爲制衣裳, xa lìa vốn đã mười thu hơn, nhìn kính cần chi phấn sáp thơm, nghe nhạn bao lần mong thư tín, thấy sương vội vã chế y thường).” Hay trong Gia Đình Bảo Phiệt (家庭寶筏) do Biệt Tiều Cư Sĩ (別樵居士) ở Hán Dương (漢陽) biên soạn có đoạn: “Lưu lạc viễn phương, sử kỳ phụ mẫu khuê ly, thậm hoặc tử ư đố phụ chi thủ, luân ư dâm xướng chi gia (流落遠方、使其父母暌離、甚或死於妒婦之手、淪於淫娼之家, lưu lạc phương xa, khiến cho xa lìa cha mẹ, thậm chí chết trên tay người nữ đố kỵ, hay rơi vào nhà xướng hát bán dâm).”

khuê phong

(圭峰) ..... Ngọn núi ở phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, hình núi giống như hòn ngọc Khuê, phía dưới núi có chùa Thảo đường, phía đông chùa này có Tiểu khuê phong. Thiền sư Tông mật, vị tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm đời Đường, từng trụ trì chùa Thảo đường, sau khi ngài tịch được an táng ở Khuê phong, cho nên đời sau thường dùng chữ Khuê phong để gọi ngài. Ở bên cạnh Nga hồ, huyện Diên sơn, tỉnh Giang tây cũng có 1 ngọn núi tên là Khuê phong. (xt. Tông Mật).

khuê phong bi

(圭峰碑) ........ Tấm bia ghi lại sự nghiệp truyền pháp của thiền sư Khuê phong Tông mật đời Đường, vị tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm. Sau khi Thiền sư thị tịch, ngài được an táng ở núi Khuê phong, phía đông nam huyện Hộ, tỉnh Thiểm tây. Năm Đại trung thứ 9 (855) đời Đường, môn nhân của ngài dựng bia, gọi là Khuê phong Định tuệ thiền sư truyền pháp bi. Văn bia do ông Bùi hưu soạn và viết, còn những chữ triện trên trán bia là của ông Liễu công quyền. [X. Tống cao tăng truyện Q.6; Cảnh đức truyền đăng lục Q.13].

Khuê Phong Tông Mật

(圭峰宗密, Keihō Sumitsu, 780-841): người Quả Châu (果州), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), ban đầu ông theo học Nho Giáo, sau chuyển sang Phật Giáo. Năm lên 15 tuổi, ông xuất gia, theo hầu hạ Đạo Viên (道圓), chẳng bao lâu sau gặp được Viên Giác Kinh (圓覺經) và Pháp Giới Quán Môn (法界觀門) của Đỗ Thuận (杜順), cho nên ông xác định được lập trường của mình. Năm lên 19 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới, sau đó vào năm 808 thể theo lời dạy của Đạo Viên, ông đến hầu hạ thầy của vị này là Kinh Nam Trương (荆南張, tức Nam Ấn), rồi tiếp theo học Thiền với Thần Chiếu (神照), học trò của Kinh Nam Trương, ở Báo Quốc Tự (報國寺), Lạc Dương (洛陽). Ngoài ra, vào năm 811 ông theo hầu hạ Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀), chuyên tâm nghiên cứu về Hoa Nghiêm. Thông qua trước tác và giảng dạy, thanh danh của ông càng lên cao. Từ năm 821 trở đi, ông đến sống tại Thảo Đường Tự (草堂寺) thuộc Chung Nam Sơn (終南山), và chuyên tâm viết bộ Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao (圓覺經大疏鈔), v.v. Vào năm 828, ông được vua Văn Tông (文宗) mời vào cung thuyết pháp, được ban cho Tử Y, và từ đó về sau ông quen thân với Bùi Hưu (裴休, 791-864), rồi viết nên cuốn Bùi Hưu Thập Di Vấn (裴休拾遺問) dưới hình thức trả lời các câu hỏi của nhân vật này. Ngoài ra còn có các trước tác khác như Khởi Tín Luận Chú Sớ (起信論注疏), Vu Lan Bồn Kinh Sớ (盂蘭盆經疏), Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao (華嚴經行願品疏鈔), Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn (注華嚴法界觀門), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (禪源諸詮集都序), Nguyên Nhân Luận (原人論). Ông qua đời tại Thảo Đường Tự vào năm 841; Bùi Lâm soạn bản Khuê Phong Thiền Sư Bia Minh Tinh Tự (圭峰禪師碑銘幷序). ; 圭峰宗密; C: guīfēng zōngmì; J: keihō shū-mitsu; 780-841;|Thiền sư Trung Quốc dòng Hà Trạch Thần Hội và cũng là Tổ thứ 5 của Hoa nghiêm tông. Sư tìm cách phối hợp giáo lí của Hoa nghiêm tông và cách thực hành của các vị Thiền sư. Sư luận giải giáo lí của Hiền Thủ Pháp Tạng – Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông – bằng ngôn ngữ dễ hiểu hơn. Hoa nghiêm nguyên nhân luận của Sư là một trong những tác phẩm tiêu chuẩn mà những vị tăng ở Nhật Bản phải học qua.|Sư họ Hà, quê ở Quả Châu, lúc đầu quy y ở Toại Châu nơi Thiền sư Viên. Nhân dịp đọc kinh Viên Giác, Sư bỗng ngộ yếu chỉ. Sau khi đọc Hoa nghiêm sớ, Sư đến yết kiến Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán và sau trở thành Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Danh tiếng của Sư lan tràn khắp nơi và vua Ðường Văn Tông ban cho Sư áo ca-sa tía (tử y). Ngày 6 tháng giêng năm Hội Xương, Sư ngồi thị tịch. Vua sắc phong là Ðịnh Huệ.|Một tác phẩm nổi tiếng khác của Sư là Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự cũng thường được nhắc đến, trong đó Sư phân chia Thiền thành năm thể loại, được gọi chung là Ngũ vị thiền.

Khuê phạm

(閨範): chỉ quy phạm đạo đức người phụ nữ cần phải tuân thủ. Như trong bài Cố Diêm Châu Phòng Ngự Sử Vương Túng Truy Thuật Bi (故鹽州防禦使王縱追述碑) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường có câu: “Tảo di phương ư khuê phạm, nghi ưng đảo ư hà linh (早貽芳於閨範、宜應禱於河靈, sớm lưu tiếng thơm quy phạm, nên cầu đảo nơi thần linh).” Hay trong Ngọc Tao Đầu (玉搔頭), phần Thập Sầu (拾愁), của Lý Ngư (李漁, 1610-1680) nhà Thanh, cũng có đoạn: “Chỉ thị nhĩ tại gia trung, tu yếu cẩn thủ khuê phạm, cần tố nữ công, bất khả thiện xuất phòng môn, nhạ nhân đàm tiếu (只是你在家中、須要謹守閨範、勤做女工、不可擅出房門、惹人談笑, chỉ là ngươi ở trong nhà, nên cần thận trọng giữ gìn quy phạm đạo đức, siêng năng làm nữ công, không được tự ý ra khỏi cửa phòng, khiến cho người ta cười nói).”

Khuê Đường Cư Sĩ

(圭堂居士, Keidō Koji, khoảng thế kỷ 12-13): vị cư sĩ của Lâm Tế Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, không rõ truyền ký về ông ta như thế nào. Hiện tại chúng ta chỉ biết được rằng ông là người đã chia yếu nghĩa Phật pháp của bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng (正法眼藏) do Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) trước tác thành 19 thiên và giải thích tường tận.

Khuông Việt

匡越; 933-1011|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 4, đắc pháp nơi Thiền sư Vân Phong. Kế thừa Sư là Thiền sư Ða Bảo.|Sư tên tục là Ngô Chân Lưu, quê ở làng Cát Lợi quận Thường Lạc. Thuở nhỏ Sư theo nghiệp nhà Nho nhưng lớn lên lại tu học Phật pháp. Sư thụ giáo nơi Thiền sư Vân Phong tại chùa Khai Quốc và triệt ngộ yếu chỉ Thiền nơi đây.|Danh Sư vang khắp tùng lâm, được vua Ðinh Tiên Hoàng mời vào cung hỏi đạo. Sư ứng đối rành rẽ, vua rất phục, ban cho chức Tăng thống. Ðến đời vua Lê Ðại Hành, Sư càng được kính trọng. Bao nhiêu việc về binh, nước, vua đều mời Sư vào cung tham vấn.|Sắp tịch, gọi Ða Bảo lại nói kệ:|木中原有火。有火火還生|若謂木無火。鑽遂何由萌|Mộc trung nguyên hữu hoả|Hữu hoả, hoả hoàn sinh|Nhược vị mộc vô hoả|Toản toại hà do manh.|*Trong cây sẵn có lửa|Có lửa, lửa lại sinh|Nếu bảo cây không lửa|Cọ xát làm gì sinh.|Ðọc xong, Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 79 tuổi.

khuất huyễn bố

(屈眴布) Khuất huyến, Phạm:Kàrpàsaka. Hán dịch: Đệ nhất bố, Đệ nhất hảo bố, Đại tế bố. Loại vải rất mịn được dệt bằng sợi bông. Theo điều Bố(vải)trong Thích thị lục thiếp quyển 22, vào đời Đường, vải Khuất huyến được coi là vải tốt nhất được dệt bằng sợi bông, tức chỉ cho tấm áo ca sa 7 nẹp của Tổ Đạt ma, mặt trong có mầu xanh biếc, áo này vốn được truyền từ Tôn giả Sư tử. Truyện Tuệ năng trong Tống cao tăng truyện quyển 8 (Đại 50, 755 trung), nói: Dưới tháp Tổ có cất giữ tấm áo Uất đa la tăng bằng vải khuất huyến mầu xanh biếc, được may 2 lớp, nhân gian không có được. [X. Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh chú; Thích môn chính thống Q.8; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khuất lãng nã quốc

(屈浪拿國) Khuất lãng noa, Phạm:Kuràịa. Cũng gọi Khuất lãng na quốc, Câu lan quốc, Câu lan nỗ quốc. Tên 1 nước xưa ở Tây vực vào khoảng thế kỉ thứ VII. Theo Đại đường tây vực kí quyển 12, thì nước này nằm cở vùng đất cũ của nước Đổ hóa la, chu vi hơn 2000 dặm, dân chúng tính tình thô bỉ, bạo ngược, đa số không tin Phật pháp, chùa chiền, tăng đồ rất ít, chỉ có nhà vua là tính tình thuần hậu, sùng kính Tam bảo. Về vị trí nước này, theo ông H. Yule (1820-1889), nhà lịch sử học và địa lí học người Anh, thì vùng đất Kuran ở thượng du sông Kokeha nằm trong nội địa nước Afghanistan hiện nay chính là nước Khuất lãng noa (Phạm:Kuràịa) ngày xưa. [X. Giải thuyết Tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. I].

khuất lộ đa quốc

(屈露多國) Khuất lộ đa, Phạm:Kulùta. Tên 1 nước xưa ở miền Bắc Ấn độ. Theo Đại đường Tây vực kí quyển 4, nước này chu vi hơn 3000 dặm, đô thành rộng 14 đến 15 dặm, đất đai phì nhiêu, thích hợp cho việc trồng trọt, sản xuất thuốc quí, vàng, bạc, đồng, v.v... Có hơn 20 ngôi chùa với hơn 1000 tăng đồ, phần nhiều tu học theo Đại thừa. Ở đây còn có di tích thuyết pháp của đức Như lai thủa xưa và tháp do vua A dục xây dựng. Theo sự suy định của ông A. Cunningham, nhà Khảo cổ học người Anh, thì vùng đất Kullu ở thượng du sôngByàs, phía đông bắcJàllandharhiện nay chính là đất cũ của nướcKulùtangày xưa và Nagar ngày nay chính là đô thành của nước ấy. Còn học giả T. Watters thì cho rằng Thôn làng Tích tập nói trong Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 9 tức là nước Khuất lộ đa. [X. Thích ca phương chí Q.thượng; A. Cunmingham: The Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I].

khuất đà ca ni ca da

(屈陀迦尼迦耶) Pàli:Khuddaka-nikàya. Hán dịch: Tiểu bộ, Tiểu ni ca da. Cũng gọi: Khuất đà ca ni kha da. Bộ thứ 5 trong 5 bộ kinh bằng tiếng Pàli thuộc hệ thống kinh điển Nam truyền. Đại thể bộ kinh này do thu tập các truyền thuyết, kệ tụng, cách ngôn, v.v... trong 4 bộ Ni ca da: Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tương ứng bộ kinh và Tăng chi bộ kinh mà thành. Vì chỉ gồm những thiên ngắn nên gọi là Tiểu bộ; hoặc có chỗ cho rằng do thu chép những tạp văn (Pàli:Khuddka-pàỉha, Tiểu tụng) làm đầu nên gọi là Tiểu bộ. Về nội dung kinh này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 1, thì Khuất đà ca ni ca da gồm 14 bộ: Pháp cú (Pàli:Dhamma-pada), Dụ (Pàli:Apadàna) Ẩu đà na (Pàli:Udàna), Y đế Phật đa già (Pàli:Ftivuttaka). Ni ba đa (Pàli:Sutta-nipàta), Tì ma na (Pàli: Vimàna-vatthu) Ti đa (Pàli: Petavatthu), Thế la (Pàli:Thera-gàthà), Thế lợi già đà (Pàli:Therì-gàthà), Bản sinh (Pàli:Jàtaka), Ni thế bà (Pàli:Niddesa), Ba trí tham tì đà (Pàli:Paỉisambhidà), Phật chủng tính (Pàli:Buddha-vaôsa) và Nhã dụng tạng (Pàli:Cariyà piỉaka). Còn trong bộ Nhất thiết thiện kiến (Pàli: Samantapàsàdika), bài tựa Trường bộ kinh chú (Pàli:Sumaígala-vilàsinì) và Tam tạngPàli của Tích lan thì thêm Tiểu tụng nữa mà thành 15 bộ. Tam tạng Pàli của Miến điện lại thêm Di lan đà vấn (Pàli: Milinda-paĩha), Kinh tập Pàli:Suttasaôgaha), Côn lặc luận (Pàli: Peỉakopadesa) và Chỉ đạo luận (Pàli: Netti) nữa mà thành 19 bộ. Tam tạngPàli Thái lan thì chỉ có 8 bộ trong 15 bộ do Tích lan truyền là: Pháp cú, Dụ, Ẩn đà na, Y đế Phật đa già, Ni ba đa, Ni thế bà và Ba trí tham tì đà. Nay nói qua về 15 bộ kinh của Tích lan như sau: 1. Tiểu dụng: Có 9 thiên, 4 thiên đầu nói về việc người mới vào đạo Phật cần phải tu học 3 qui y và 10 học xứ, 5 thiên sau thì ghi chép những nghi thức tán tụng. Cho đến nay, tín đồ Phật giáo của Tích lan vẫn noi theo nghi thức này. 2. Pháp cú: Có 26 chương, 423 bài tụng, các cách ngôn đạo đức Phật giáo, tương đương với kinh Pháp cú và Pháp cú thí dụ bản Hán dịch. 3. Ẩu đà na: Có 8 phẩm, 80 kinh, dùng văn vần(kệ tụng)và văn xuôi(trường hàng) khen ngợi quả A la hán và Niết bàn... 4. Y đế Phật đa già: Có 4 chương, 11 phẩm, cũng dùng văn vần và văn xuôi để nói rõ về pháp tu nhân đắc quả, tương đương với kinh Bản sự do ngài Huyền trang dịch. 5. Ni ba đa: Có 5 phẩm: Xà phẩm (Pàli: Uraga-vagga), Tiểu phẩm (Pàli:Cùơavagga), Đại phẩm (Pàli:Mahà-vagga), Bát phẩm (Pàli:Aỉỉhaka-vagga), Ba la diên phẩm (Pàli:Pàràyana-vagga); 4 phẩm đầu có 45 kinh, phẩm Ba la diên có 16 bài thơ, trong đó bao hàm những kinh điển ở thời kì sớm nhất. 6. Tì ma na. 7. Tì đa, cùng với Tì ma na đều là những thiên ngắn giải thích về tư tưởng nghiệp lực. So với các kinh khác trong Thánh điển Pàli, thì Tì đa và Tì ma na là những kinh xuất hiện muộn hơn. 8. Thế la: Thu chép những bài kệ của các vị Trưởng lão, gồm 107 chương, 1279 bài tụng. 9. Thế lợi già đà: Thu chép những bài kệ của các trưởng lão ni, gồm 73 chương, 522 bài tụng. 10. Bản sinh: Có 546 phẩm, viết về sự tích của bản sinh của đức Phật, ghi chép nhiều truyền thuyết ngoài Phật giáo. 11. Ni thế bà: Sách chú thích Tiểu phẩm trong Ni ba đa. 12. Ba trí tham tì đà: Thuộc về tạng Luận. 13. Dụ: Thu chép giáo thuyết của các vị đệ tử Phật và trưởng lão ni đã chứng quả A la hán, là những tác phẩm xuất hiện muộn nhất trong Thánh điểnPàli. 14. Phật chủng tính kinh: Có 25 chương, tường thuật sự tích của 24 vị Phật ra đời trong 12 kiếp quá khứ. 15. Nhã dụng tạng: Kể lại sự tích của đức Phật ở đời quá khứ khi còn là Bồ tát tu các hạnh Ba la mật. [X. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd.II. (Diebuddhische Literatur); FourÀgamas in Chinise (Tỉ kì Chính trị)].

Khuất Đại Quân

(屈大均, 1630-1696): xuất thân Phiên Ngu (番禺) Quảng Đông (廣東); ban đầu ten là Thiệu Long (紹隆), tự là Ông Sơn (翁山), Giới Tử (介子). Vào cuối thời nhà Minh, gặp loạn lạc, ông xuống tóc xuất gia tu hành, họ Thích, tự Nhất Linh (一靈), hay Tao Dư (騷余). Về sau ông hoàn tục, lấy lại tên cũ. Ông có sở trường về thơ, chuyên về thể Ngũ Ngôn, cùng nổi danh với Trần Cung Duẫn (陳恭尹), Lương Bội Lan (梁佩蘭), xưng là Lĩnh Nam Tam Đại Gia (嶺南三大家). Ông còn có tài năng về vẽ hoa Lan, có bài thơ Họa Lan Sách (畫蘭冊). Trước tác của ông có Ông Sơn Thi Ngoại (翁山詩外), Dịch Ngoại (易外), Đạo Viên Đường Tập (道援堂集), Quảng Đông Tân Ngữ (廣東新語), v.v.

khuếch nhiên vô thánh

(廓然無聖) Cũng gọi Thánh đế đệ nhất nghĩa, Đạt ma khuếch nhiên. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa tổ Bồ đề đạt ma và vua Lương vũ đế. Khuếch nhiên(rỗng lặng)chỉ cho cảnh giới đại ngộ; cảnh giới đại ngộ này không phân biệt phàm thánh, không bỏ phàm cũng không cầu thánh, gọi là Khuếch nhiên vô thánh. Tắc 1 Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng), ghi: Vua Lương vũ đế hỏi đại sư Đạt ma: - Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Ngài đáp: - Khuếch nhiên vô thánh. Vua hỏi: - Người đối trước trẫm là ai? Ngài Đạt ma trả lời: - Không biết! [X. điều Bồ đề đạt ma trong cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Truyền pháp chính tông kí Q.5; Tắc 2 Thung dung lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.1; Thiền tăng truyện Q.4].

khách trần

(客塵) Phạm: Akasmàt-kleza. Cũng gọi Khách trần phiền não. Đối lại: Tự tính thanh tịnh. Tức là phiền não. Phiền não vốn chẳng phải là vật có sẵn trong tâm tính, nhưng là do mê lí mà khởi lên, cho nên gọi là Khách; làm cho tâm tính nhơ nhớp giống như bụi bặm làm bẩn đồ vật, cho nên gọi là trần. Bản tính chúng sinh vốn thanh tịnh, nhưng do những hiện tượng bên ngoài khiến cho đối cảnh sinh mê mà tâm dấy lên phiền não. Chú Duy ma kinh quyển 5 (Đại 38, 378 trung), nói: Tâm gặp duyên bên ngoài, phiền não liền nổi lên, nên gọi là Khách trần. Lại chữ trần(bụi) vốn là cái rất nhỏ bé của sắc thể, cho nên dùng nó để ví dụ cho phiền não như những hạt bụi không chỗ nào mà không có, cùng khắp cả ba nghìn đại thiên thế giới, người tu đạo cần phải trừ bỏ khách trần này mới có thể thành Thánh quả. Phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Tối thắng vương quyển 1 (Đại 16, 407 thượng), nói: Các hoặc phiền não đều là Khách trần; pháp tính là chủ, không có đi lại. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 109 hạ), nói: Tất cả chúng sinh không thể thành Bồ đề và A la hán là đều do Khách trần phiền não làm mê hoặc. Ngoài ra, theo luận Phật tính quyển 4, thì Khách trần phiền não gồm có 9 loại là Tùy miên tham dục phiền não, Tùy miên sân, Tùy miên si, Tham sân si đẳng cực trọng thượng tâm hoặc(Tâm do tham sân si làm mê hoặc nặng nề), Vô minh trụ địa, Kiến đế sở diệt, Tu tập sở diệt, Bất tịnh địa và Tịnh địa hoặc. [X. kinh Lăng già Q.7; kinh Duy ma Q. trung; luận Đại tì bà sa Q.4].

khách trần nhị nghĩa

(客塵二義) Hai nghĩa của khách và trần. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 1 thì khách trần có 2 nghĩa sau đây: 1. Khách: Chúng sinh bị Hoặc làm mê lầm, không rõ cảnh trần bên ngoài, nên sinh ra các thứ vọng tưởng. Nếu dùng trí tuệ quán xét thể của Hoặc vốn không, thì lí của pháp tính tự nhiên hiện bày, Hoặc cũng không từ đâu sinh khởi được. 2. Trần (bụi): Hoặc(mê lầm)rất nhỏ nhiệm, hay làm nhơ nhớp chân tính thanh tịnh, giống như lúc ánh mặt trời chiếu qua khe của sổ thì bụi bặm hiện lên, bay lăng xăng làm rối loạn tính vắng lặng của hư không. Nhưng nếu dùng trí tuệ quán chiếu, thì lí Hoặc vốn không, trần cũng chẳng có. (xt. Khách Trần).

khách vị

(客位) Chỗ nghỉ ngơi của tân khách hoặc người mới nhậm chức trong các chùa viện Thiền tông, tức là một nơi riêng biệt ngoài Đán quá liêu. Điều Nghinh thị tôn túc, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 trung) ghi: Thị giả lại thắp hương, rót trà, trà xong, các vị nguyên Tri sự, Tạng chủ, v.v... của Lưỡng tự cùng đưa khách về Khách vị. Điều Du phương tham thỉnh, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ (Đại 48, 1140 trung) ghi: Khi có bậc tôn túc đến thăm, Trụ trì tiễn chân về Khách vị để đáp lễ. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khách đầu hành giả

(客頭行者) Gọi tắt: Khách hành. Tên chức vụ trong Thiền lâm, người phụ tá vị Tri khách (tiếp đãi tân khách). [X. điều Phương trượng đặc vị tân cựu lưỡng tự thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.8].

khái cổ lục

(慨古錄) Cũng gọi Trạm nhiên thiền sư Khái cổ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trạm nhiên Viên trừng (1581-1626) thuộc tông Tào động soạn vào đời Minh, thu vào Vạn tục tạng tập 114. Ngài Viên trừng nhận thấy qui củ trong tùng lâm vào thời ấy quá lỏng lẻo, dần dần đi đến tình trạng hủ bại trụy lạc và sợ rằng sự suy đốn ấy có thể dẫn tới pháp nạn giống như thời Tam vũ, cho nên ngài viện dẫn những cơ duyên sống động của các Thiền sư từ đời Lục tổ đến hết đời Đường, Tống để kêu gọi phấn chấn đạo tâm, trùng hưng tông phong. Qua tác phẩm này, người ta có thể biết rõ tình hình của Thiền lâm vào cuối đời Minh.

khám

(龕) I. Khám. Chỗ đục khoét trên vách núi làm hang động để thờ Phật. Cứ theo kinh Quán Phật tam muội hải quyển 4, thì trên núi Tu di có vô lượng khám thất, trong đó có vô số hóa Phật. Còn theo luận Đại tì bà sa quyển 177, thì đức Phật Để sa lên đỉnh núi vào khám Phệ lưu li, trải ni sư đàn(tọa cụ), ngồi kết già, nhập định Hỏa giới. Hiện nay, trong các di tích lớn của Phật giáo, như động đá A chiên đa, Y la lạp ở Ấn độ, các động Vân cương, Long môn... ở Trung quốc, trên 4 mặt vách động đều xoi đục khám thất để thờ Phật và Bồ tát. Đời sau, khám được làm bằng đá hoặc gỗ theo hình cái hòm, có cửa, trong đó thờ tượng Phật gọi là Phật khám, cũng có khi khám được dùng để thờ tượng Tổ sư khai sơn. II. Khám. Cũng gọi Khám quan, Khám tử, Khám cữu, Khám thuyền, Linh khám. Quan tài để xác chết. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 307 hạ), nói: Nay quan tài để tẩn liệm chư tăng có hình dáng giống như ngôi tháp, gọi là Khám. Thu liệm xác người chết vào quan tài, gọi là Tiến khám, hoặc Nhập khám (tục gọi Nhập quan); rưới dầu thơm vào rồi đóng nắp lại, gọi là Tỏa khám, Phong khám; dời quan tài đến nơi chôn cất, gọi là Di khám (Di quan); văn sớ đọc trước khám, gọi là Khám tiền sớ; dựng nhà tạm thời trước khám, gọi là Khám tiền đường. [X. điều Thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3; Trì bảo thông giám Q. trung; môn Tang tiến trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khám biện

(勘辨) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Bậc sư gia phán đoán và biện biệt năng lực của đệ tử, hoặc người học dò xét việc tà chính của vị thầy. [X. điều Khám biện trong Thiền lâm loại tụ tập Q.6].

khám phá

(勘破) Tiếng dùng trong Thiền lâm. So sánh, thử nghiệm, chất vấn để hiểu rõ đối thủ, tức là xét định sự việc đúng sai. Tắc 48, Vô môn quan (Đại 48, 297 thượng) ghi: Hãy kiểm nghiệm xem, cả 2 đều lỗi. Lại nói: Triệu châu khám phá Bà tử thế nào? [X. Tắc 97 Bích nham lục].

khám quá

(勘過) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Xem xét, thử nghiệm để làm rõ chân tướng. Tắc 20 Bích nham lục (Đại 48, 160 thượng), nói: Long nha hỏi Thúy vi: Thế nào là ý của Tổ sư từ Tây trúc sang?(Những lời nói xưa của các bậc tôn túc cũng cần phải xét lại (Khám quá)).

khán

(看) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho sự lưu tâm, chú ý trong im lặng, hoặc đọc thầm, như: Khán kinh(xem kinh), khán thư(xem sách), v.v... Trong các bộ Ngữ lục của Thiền tông, chữ Khán thường được dùng làm trợ từ đặt sau động từ có nghĩa là khuyên bảo. Bàng Cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 29 hạ) ghi: Trả tôi một chưởng nào! Sĩ tiến gần đến trước, nói: Thử xuống tay xem (Khán)!

khán bệnh

(看病) Cũng gọi Chiêm bệnh. Khán bệnh, thăm hỏi chăm sóc người bệnh. Kinh Phạm võng quyển hạ nói rằng, bố thí cho người bệnh là phúc đức lớn nhất trong 8 phúc điền. Trong luật cũng nói muốn cúng dường Phật thì trước hãy cúng dường người bệnh. Cứ theo luật Tứ phần quyển 41, thì có 5 cách chăm sóc người bệnh: 1. Phải biết thức ăn nào người bệnh ăn được, thức ăn nào không ăn được. 2. Không ghê tởm đồ đại tiểu tiện và khạc nhổ của người bệnh. 3. Có lòng từ bi thương xót, nhưng không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ được đền bù bằng cơm áo. 4. Phải chuẩn bị thuốc men cho người bệnh. 5. Nói pháp cho người bệnh nghe để họ vui vẻ. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; luật Thập tụng Q.28; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ; thiên Chiêm bệnh trong Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4].

khán kinh

(看經) Đồng nghĩa: Độc kinh. Xem kinh, đọc thầm. Trong Thiền lâm, từ Khán kinh còn được dùng để chỉ cho những việc làm hàng ngày. Ngoài ra, thí chủ thỉnh chư tăng tụng kinh, khi tụng xong, thí chủ cúng dường tiền, gọi là Khán kinh tiền. Vị tăng trông nom nhà xem kinh, gọi là Khán kinh đường thủ tọa; tấm bảng treo trong chùa niêm yết ngày giờ tụng kinh, gọi là Khán kinh bài. [X. điều Tạng chủ trong Thiền uyển thanh qui Q.3; môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khán kinh tự

(看經寺) Chùa ở quần thể hang động Long môn tại Hương sơn, Lạc dương, Trung quốc, đượckiến tạo vào đời Vũ tắc thiên đời Đường(có thuyết cho là do vua Đường Cao tông sáng lập). Tương truyền ngày xưa chùa này từng là nơi ngài Huyền trang phơi kinh. Trên trần nóc hang động có khắc hình hoa sen, phía trên khắc hình chư thiên đang bay, hình thái lả lướt, dải áo phấp phới, giống như bay múa giữa hư không, trông rất đẹp đẽ. Trên mặt vách động có chạm trổ hình tượng của 29 vị Tổ sư Thiên trúc, từ ngài Ma ha Ca diếp đến ngài Bồ đề Đạt ma, nét khắc tinh vi, thần thái trông như sống.

khán lương

(看糧) Chức vụ coi về lương thực của chúng tăng trong tùng lâm, dưới quyền vị Điển tọa (người phụ trách việc trông nom cơm cháo cho chúng tăng).

khán phường

(看坊) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Người giữ gìn chùa viện gọi là Khán phường. Ngoài ra, vị tăng không phải là Trụ trì nhưng thay vị Trụ trị mà giữ chức vụ này, cũng gọi là Khán phường.

khán thoại niệm phật

(看話念佛) Cũng gọi Tham cứu niệm Phật, niệm Phật công án. Tức là dùng câu A di đà Phật hoặc người niệm Phật là ai làm công án để tham cứu mà cầu khai ngộ. Đây là một loại thiền Khán thoại đầu. Vào đời Tống, ngài Đại tuệ Tông cảo chủ trương thiền Khán thoại đầu để làm pháp môn khơi mở tâm tính. Thời bấy giờ, chủ trương Thiền Tịnh song tu cũng thịnh hành. Ngài Chân hiết Thanh liễu cũng chủ trương dùng 4 chữ A di đà Phật làm thoại đầu, có thể đốn ngộ kiến tính và vãng sinh, gọi là Khán thoại niệm Phật. [X. điều Nhất tâm bất loạn trong Tây phương trực chỉ Q.thượng; Tịnh độ chỉ qui tập Q.thượng; Chư gia niệm Phật tập Q.4; Thiền tổ niệm Phật tập Q.thượng].

Khán thoại thiền

看話禪; C: kànhuà-chán; J: kanna-zen;|Danh từ này được Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo nêu ra và sử dụng lần đầu. Khán thoại thiền là phương pháp quán Công án, xem công án là phương tiện quan trọng nhất để đắc đạo. Công án đã được sử dụng từ giữa thế kỉ thứ 10, nhưng chỉ thật sự hưng thịnh khi tập Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ ra đời. Thiền sư Ðại Huệ rất đề cao vai trò quan trọng của công án và từ đây, quán công án trở thành phương pháp tu tập chính trong dòng thiền Lâm Tế.

khán trước tắc hạt

(看著則瞎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dính vào cái thấy thì mù. Nghĩa là còn thấy có chỗ thấy thì sẽ bị cái thấy trói buộc, cho nên tuy nói là khán (xem thấy), nhưng thực ra không khác gì mù. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ ra rằng nếu còn chấp trước vào kiến giải của mình thì không tỏ ngộ được. [X. tắc 62 trong Bích nham lục].

khánh

(磬) I. Khánh. Loại nhạc khí của Trung quốc đời xưa, được chế tạo bằng ngọc thạch có hình dạng giống như cái dấu mũ ^. II. Khánh. Pháp khí được làm bằng đồng để dùng trong các thời khóa niệm tụng trong các chùa viện ngày nay tại Trung quốc. Khánh mang nhiều hình dáng khác nhau như: hình mây, hình cong, hình bướm, hình hoa sen, v.v... lớn nhỏ không nhất định. Khánh cũng có nhiều loại như khánh lớn, khánh tròn, khánh nhỏ cầm ở tay, khánh biển. Khánh lớn có đường kính từ 30 đến 60 phân Tây; khánh tròn được đặt trên cái đế đánh khi tụng niệm và lễ Phật; khánh biển làm bằng đá, có hình dáng giống như bảng mây, treo ở ngoài hành lang phương trượng, khi có khách đến thăm vị Trụ trì thì Tri khách đánh 3 tiếng để báo hiệu; khánh nhỏ cầm ở tay tục gọi là Dẫn khánh, hình dáng giống như chiếc bát nhỏ, có gắn cán cầm bằng gỗ, dùng thanh sắt nhỏ để đánh, khi lễ Phật tụng kinh đều dùng khánh này để làm nhịp từ đầu đến cuối. Khánh được sử dụng trong các chùa viện ở Nhật bản đại khái cũng giống như tại Trung quốc, riêng có chiếc khánh nhỏ cầm tay thì được gọi là Linh(cái chuông nhỏ). [X. điều Khánh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.8; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên; Trì bảo thông giám Q.trung].

khánh chiêu

(慶昭) (963-1017) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người huyện Tiền đường, tỉnh Chiết giang, họ Hồ, tự là Tử văn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ ở viện Khai hóa, 13 tuổi, thụ giới Cụ túc ở chùa Khai nguyên tại Cối kê. Năm 23 tuổi, sư lễ ngài Nguyên thanh chùa Phụng tiên học giáo pháp Thiên thai suốt 17 năm. Sau khi ngài Nguyên thanh thị tịch, sư thừa kế pháp tòa của ngài. Niên hiệu Cảnh đức năm đầu (1004), sư đến chùa Phạm thiên giảng kinh Pháp hoa và Chỉ quán, mỗi loại hơn 100 lần, xiển dương tông phong, hưng thịnh một thời. Trước đó, các ngài Nguyên thanh, Hồng mẫn có viết Nạn từ nhị thập điều(Hai mươi điều vấn nạn) để đề cao tác phẩm Quang minh huyền nghĩa phát huy kí của thầy mình là ngài Ngô ân, còn ngài Tứ minh Tri lễ thì soạn Thích nạn phù tông kí để bác lại. Tháng 10 năm cảnh đức thứ 3 (1006). Khánh chiêu lại cùng với sư Trí viên soạn Biện ngoa(biện minh điêu sai trái) để bảo vệ thuyết của ngài Ngô ân. Đến tháng 12, ngài Tri lễ lại viết Vấn nghi để hỏi vặn lại. Trong 7 năm ròng, 2 bên cật vấn qua lại đến 5 lần. Đây là cuộc tranh luận kéo dài giữa các đệ tử Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai mà sư Khánh chiêu là người đại diện cho phái Sơn ngoại. Sư giữ giới rất tinh nghiêm, tu hành cần khổ, nghĩ sâu, nhanh trí, biện bác lưu loát, hiếm thấy ở đời. Niên hiệu Thiên hi năm đầu (1017) sư tịch, thọ 55 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10; Thích môn chính thống Q.5; Nhàn cư biên Q.15].

khánh chư

(慶諸) (807-888) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc pháp hệ thứ 4 dòng Thanh nguyên Hành tư, người Tân kim (Giang tây) Lư lăng, họ Trần. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Thiệu loan xuất gia, 23 tuổi đến Tung sơn thụ giới Cụ túc và học giới luật. Về sau, sư chuyên tâm tu Thiền, làm đệ tử ngài Qui sơn Linh hựu, lãnh chức Mễ đầu(người trông nom việc thóc gạo), hết lòng phục vụ đại chúng. Sau, sư tham yết Hòa thượng Đạo ngô ở Vân nham, Đàm châu và được khế ngộ, từ đó sống trà trộn với dân chúng ở vùng Trường sa, không ai biết đến. Về sau, Tổ của tông Tào động là Thiền sư Động sơn Lương giới cho người đi tìm, lúc đó sư mới lộ diện, rồi ở tại núi Thạch sương. Lúc ngài Đao ngô (Viên trí) sắp tịch, muốn phó chúc cho sư làm người nối pháp chính thức, bèn thân hành đến núi Thạch sương thăm sư. Đến khi ngài Đạo ngô thị tịch, 500 đồ chúng của ngài vân tập về núi Thạch sương. Sư tránh họ chẳng được, nên từ đó sư bắt đầu hoằng pháp và sớm chiều cùng với học chúng vấn đáp. Sư ở trên núi Thạch sương trong khoảng 20 năm, học chúng của sư có người ngồi hoài không nằm, cứ sừng sững như gốc cây, người đời gọi là Thạch sương khô mộc chúng (Chúng cây khô của Thạch sương). Vua Đường Hi tông nghe đạo hạnh của sư, sai sứ mang áo đỏ đến ban cho sư, sư cố từ không nhận. Năm Quang khải thứ 4 (888) sư thị tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi đạo, thụy hiệu Phổ Hội Đại Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Giáo ngoại biệt truyền Q.14; Thiền tông chính mạch Q.5].

Khánh Diệu

(慶耀, Keiyō, ?-?): vị tăng của Thiên Thai Tự Môn Tông (天台寺門宗) Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Bình An, húy Khánh Diệu (慶耀), thông xưng là Khánh Diệu Dĩ Giảng (慶耀已講), hiệu là Hương Tập Phòng (香集房), xuất thân vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka), Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Ông là văn nhân, cũng là người rất giỏi về Phạn văn. Năm 1073, khi Thành Tầm (成尋, Shōjin) sang nhà Tống, có mang theo sách của Khánh Diệu; sách này được người Tống khen ngợi, từ đó tiếng tăm của ông được mọi người biết đến. Đến năm 1076, ông theo Lại Hào (賴豪) đến đăng đàn thọ phép Quán Đảnh ở Đường Viện của Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji). Vào năm 1101, khi Bạch Hà Thượng Hoàng (白河上皇, Shirakawa Jōkō) mở đạo tràng giảng thuyết tại Điểu Vũ Ly Cung (鳥羽離宮), ông đảm đương các thư tịch. Trước tác của ông có Di Lặc Bồ Tát Họa Tượng Tập (彌勒菩薩畫像集) 1 thiếp.

Khánh Hỉ

慶喜; 1066-1142|Thiền sư Việt nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 14. Sư nối pháp Thiền sư Bản Tịch và truyền lại cho Thiền sư Pháp Dung.|Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, thuở nhỏ đã không thích ăn thịt cá. Lớn lên, Sư xuất gia tu học với Thiền sư Bản Tịch tại chùa Chúc Thánh.|Một hôm, trên đường đến nhà đàn việt thụ trai, Sư hỏi: »Thế nào là ý chính của Tổ sư – mà nghe dân gia bị đồng cốt làm mê hoặc?« Bản Tịch đáp: »Lời nói ấy đâu không không phải đồng cốt giáng thần?« Sư bảo: »Hoà thượng chớ chuyên nói đùa.« Bản Tịch đáp: »Ta không từng có mảy may nói đùa.« Sư nghe không hội, bèn từ biệt thầy ra đi.|Ðến chùa Vạn Tuế gặp Thiền sư Biện Tài, Biện Tài hỏi: »Ngươi từ đâu đến?« Sư thưa: »Con từ Bản Tịch đến.« Biện Tài bảo: »Thầy ấy cũng là Thiện tri thức của một phương, đã từng nói với ngươi câu gì?« Sư liền thuật lại chuyện cũ, Biện Tài bảo: »Ôi! Tịch sư vì ngươi đã nói tột rồi, chớ huỷ báng Bản sư không tốt.« Sư dừng lại suy nghĩ, Biện Tài bảo: »Ðâu không nghe nói: Khi đạt khắp cảnh đầy đủ, chẳng ngộ hằng trái xa.« Sư nghe vậy bỗng nhiên đốn ngộ, trở về Bản Tịch và được ấn khả.|Vua Lí Thần Tông mời Sư vào kinh, Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ nên vua rất phục, phong chức Tăng lục, sau lại phong Tăng thống.|Ðệ tử Pháp Dung hỏi: »Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?« Sư liền đọc bài kệ sau:|勞生休問色兼空。學道無過訪祖宗|天外覓心難定體。人間植桂豈成叢|乾坤盡是毛頭上。日月包含芥子中|大用現前拳在手。誰知凡聖與西東|Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không|Học đạo vô quá phỏng Tổ tông|Thiên ngoại mích tâm nan định thể|Nhân gian thực quế khởi thành tùng|Càn khôn tận thị mao đầu thượng|Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung|Ðại dụng hiện tiền quyền tại thủ|Thuỳ tri phàm thánh dữ Tây Ðông?|*Uổng công thôi hỏi sắc cùng không|Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông|Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy|Thế gian trồng quế đâu thành tùng|Ðầu lông trùm cả càn khôn thảy|Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong|Ðại dụng hiện tiền tay nắm vững|Ai phân phàm thánh với Tây, Ðông.|Ngày 27 tháng giêng, niên hiệu Ðại Ðịnh năm thứ 3, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 76 tuổi.

khánh hỉ

(慶喜) I. Khánh Hỉ. Do nghe Phật pháp mà vui mừng. Tức là người niệm Phật có đầy đủ lòng tin, quyết định ngay đời này có thể trụ nơi quả vị bất thoái của chính định tụ, nhờ đó mà tràn đầy niềm vui... (xt. Hoan Hỉ) II. Khánh Hỉ. Phạm:Ànanda. Dịch âm: A nan, An nan đà. Một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. Kinh Đại bát nhã phần nhiều dùng tên Khánh hỉ, chứ ít dùng tên A nan. (xt. A Nan).

khánh khái

(謦咳) I. Khánh Khái. Tiếng hắng dặng. Một trong 10 thứ thần lực mà Phật thị hiện sau khi giảng nói kinh Pháp hoa. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 10 hạ, thì khánh khái có 2 nghĩa: 1. Khánh khái sự liễu: Tiếng hắng dặng biểu tỏ một sự việc đã hoàn thành. Sau hơn 40 năm đức Phật mới nói kinh Pháp hoa để khai quyền hiển thực, tiếng khánh khái sau thời pháp này của đức Phật là để đánh dấu một đại sự nhân duyên, hoài bão xuất thế của Ngài đã viên mãn. 2. Khánh khái phó tha: Tiếng hắng dặng của đức Phật bày tỏ ý muốn giao phó đại pháp này (kinh Pháp hoa) lại cho các vị Bồ tát để dắt dẫn làm lợi ích cho chúng sinh đời sau. [X. Pháp hoa nghĩa sớ Q.1]. II. Khánh Khái. Tiếng ho nhẹ gọi là khánh, tiếng ho mạnh gọi là khái. Khánh khái nghĩa là nói và cười.

Khánh sanh

(慶生): sanh ra vui vẻ, hân hoan. Đây là từ mỹ xưng hay kính xưng đối với bậc tôn kính, hàng ngũ xuất gia, v.v.; thay vì dùng từ “nguyên mạng sanh (元命生).” Như trong Cẩm Giang Thiền Đăng (錦江禪燈, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1590) quyển 12, phần Tăng Khánh (僧慶), có đoạn: “Ba Tây An Hán Trần thị tử, gia thế nghiệp Nho, khánh sanh hữu dị thụy, thập tam xuất gia, y Nghĩa Hưng Tự tịnh tu Phạm hạnh (巴西安漢陳氏子、家世業儒、慶生有異瑞、十三出家、依義興寺淨修梵行, sư là con nhà họ Trần ở An Hán, Ba Tây, gia đình theo Nho học, khi sanh ra có điềm lạ; năm 13 tuổi thì xuất gia, nương theo Chùa Nghĩa Hưng chuyên tu Phạm hạnh).”

Khánh Trúc

(慶竺, Keijiku, 1403-1459): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 19 và 21 của Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in), húy là Khánh Trúc (慶竺), hiệu là Hành Liên Xã (行蓮社), Đại Dự (大譽), xuất thân vùng Tokyo. Ông xuất gia theo Liên Dự (蓮譽) và học với pháp Thánh Thông (聖聰). Vào năm 1442, ông làm vị Tổ dời thứ 19 của Tri Ân Viện, và được trao tặng Hương Y. Ông đã từng làm lễ cầu nguyện trừ tai ương với trăm vạn biến niệm Phật, và chính ngôi chùa này đã trở thành ngôi chùa sắc nguyện của dòng dõi hoàng gia. Vào năm 1451, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm trú trì đời thứ 21 của Tri Ân Viện, và đã tận lực tái hưng ngôi viện này.

Khánh Tộ

(慶祚, Keiso, 955-1019): học tăng của Thiên Thai Tự Tông Môn Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Bình An, húy Khánh Tộ (慶祚), thông xưng là Long Vân Phường Tiên Đức (龍雲坊先德), hiệu là Long Vân Phường (龍雲坊), xuất thân kinh đô Kyōto, con của Đại Ngoại Ký Trung Nguyên Sư Nguyên (大外記中原師元). Ông theo Dư Khánh (余慶, Yokei) ở Viên Thành Tự (園城寺, Onjō-ji) vùng Cận Giang (近江, Ōmi) học giáo nghĩa của các tông Hiển Mật; đến năm 991 thì được thọ pháp Quán Đảnh. Vào năm 993, khi hai chúng môn đồ của Viên Nhân (圓仁, Ennin) và Viên Trân (圓珍, Enchin) đối lập nhau, ông chuyển đến Đại Vân Tự (大雲寺, Daiun-ji) ở vùng Nham Thương (岩岡), Sơn Thành (山城, Yamashiro) và sau đó trở về Viên Thành Tự. Từ đó, học chúng vân tập đến rất đông, vì vậy giáo học của Phái Tự Môn (寺門派) trở nên hưng thạnh. Đến năm 997, khi 5 bộ sách mới được gởi từ bên nhà Bắc Tống Trung Quốc sang, vâng mệnh triều đình, ông bình luận về nghĩa Long Nữ Thành Phật (龍女成佛). Vào năm 1017, mở hội Pháp Hoa Thập Giảng (法華十講) nhân ngày húy kỵ của Viên Trân. Trước tác của ông có Tây Phương Yếu Quán (西方要觀) 1 quyển, Pháp Hoa Long Nữ Thành Phật Quyền Thật Nghi Nạn (法華龍女成佛權實疑難) 1 quyển.

kháp táp

(榼

Khát

渇; C: kĕ; J: katsu; S: tarsa. |Khát nước, thèm muốn, thèm khát

Khát ngưỡng

渇仰; C: kĕyăng; J: katsugō;|Mong mỏi, trông mong, khao khát (s: tṛṣṭa). Sự ngưỡng mộ.

khát ngưỡng

(渴仰) Tưởng nhớ và kính ngưỡng một cách thiết tha, mong được trông thấy, như người khát muốn uống nước. Trong kinh điển, từ ngữ này thường được sử dụng để miêu tả sự ngưỡng mộ đối với Phật và pháp. Kinh Úc già trưởng giả trong Trung a hàm quyển 9 (Đại 1, 479 hạ), nói: Bấy giờ đức Thế tôn thuyết pháp cho người ấy nghe, khuyên phát tâm khát ngưỡng, thành tựu hoan hỉ. Phẩm Như lai thọ lượng kinh Pháp hoa quyển 5 (Đại 9, 43 thượng), nói: Này các tỉ khưu! Khó có thể được thấy Như lai, chúng sinh nghe những lời ấy ắt sẽ sinh ý tưởng khó gặp, ôm lòng luyến mộ, khát ngưỡng đối với Phật, liền gieo căn lành. [X. kinh Ngưu giác sa la lâm Trung a hàm Q.48; kinh Đại bát niết bàn Q.1; Cao tăng Pháp hiển truyện].

khát thụ la thụ

(渴樹羅樹) Khát thụ la, Phạm:Kharjùra. Tên khoa học: Phoenix sylvestris. Cây khát thụ la, thuộc họ cây cọ, lá hình răng lược, giống như lá dừa nhưng thô và ngắn, quả to bằng đầu ngón tay và ăn rất ngon. Nhựa cây có thể dùng để nấu rượu, gọi là rượu Khát thụ la (Phạm:Kharyùrarasa). Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết ma quyển 5 có nêu 8 loại nước thuốc, trong đó, loại thứ 8 là nước Khát thụ la. Cũng sách đã dẫn còn chú thích (Đại 34, 478 thượng): Quả khát thụ la giống như trái táo nhỏ, chát mà lại ngọt, nguồn gốc từ nước Ba tư. Trung quốc cũng có loại cây này nhưng vị hơi khác; cây này mọc lẻ loi, hình dáng giống như cây cọ, quả có nhiều nước, người ở huyện Phiên ngung gọi là táo Ba tư, vị nó rất giống với vị của quả hồng khô. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.29].

khát ái

(渴愛) Phạm:Tfwịà. Pàli: Taịhà. Tạng:Red-pa. Dục vọng, tham dục, tính ái, ái(một trong 12 nhân duyên). Từ ngữ khát ái dụ cho tâm mong cầu thú vui yêu đương của phàm phu, giống như người khát đi tìm nước. Kinh Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa quyển 3 (Đại 9, 154 thượng), nói: Bậc trượng phu hiểu được nghĩa này rồi liền xuất gia tu hành, ở nơi vắng vẻ, chuyên giữ một lòng, dứt tâm khát ái thế gian, chứng được 5 thần thông. Phẩm Phương tiện thiện xảo kinh Thuyết vô cấu xưng (Đại 14, 560 hạ), nói: Thân này như sóng nắng, từ các phiền não khát ái mà sinh. Thuyết vô cấu xưng kinh sớ quyển 3 phần đầu (Đại 38, 1039 trung), nói: Như sóng nắng mùa xuân, xa trông như nước, những con nai bị nóng khát bức não đều chạy đến đó, chẳng phải nước mà tưởng là nước. Thân hữu lậu này từ các phiền não khát ái mà sinh, cũng lại như thế. [X. phẩm Hủy hoại kinh Hoa thủ Q.7; phẩm Nghịch thuận kinh Hoa thủ Q.8; phẩm Phương tiện kinh Duy ma cật sở thuyết Q.thượng; Chú Duy ma cật kinh Q. 2]. (xt. Ái).

Khát-ga-pa

S: khaḍgapa; »Kiếm sĩ« còn được mệnh danh là »Kẻ trộm vô uý«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong khoảng đầu thế kỉ thứ 10. |Ông thuộc giới nông dân, nhưng lúc lớn lên sống bằng trộm cắp. Lần nọ, ăn trộm không được, ông buồn rầu trở về bãi đốt xác thì gặp một vị Du-già sư tên Cát-pa-ti (s: carpaṭi), ông hỏi: »Có phép lạ nào giúp ta ăn trộm mà không bị khám phá.« Vị Du-già sư nghe hỏi như thế bèn chỉ cách: »Trong thành nọ có một bảo tháp, trong đó có một tượng Quán Thế Âm. Ngươi hãy đến đó đi vòng quanh tượng liên tục ba tuần, sau đó sẽ có một con rắn xuất hiện và hãy nắm bắt lấy đầu của con rắn này.« Làm đúng như lời, ông bắt được con rắn nhưng ngay sau đó, con rắn biến thành lưỡi kiếm trí huệ. Chỉ một thời gian ngắn sau, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Kệ chứng đạo của ông như sau:|Nếu không có khí giới,|dù chống chọi bao nhiêu,|chiến sĩ luôn bại trận.|Mang theo thanh bảo kiếm,|»Lòng tỉnh giác bất tử«|thắng kẻ thù »Ba cõi«|lòng ta đầy an lạc!

Khâm Minh Thiên Hoàng

(欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539-571): người con thứ 4 của Kế Thể Thiên Hoàng (繼体天皇), tên là Thiên Quốc Bài Khai Quảng Đình (天國排開廣庭, Amekunioshiharaki Hironiwa), tức vị vào năm 539 (có thuyết cho là năm 531). Vào thời đại này, vua Thánh Minh (聖明) của Bách Tế (百濟, Kudara) sai sứ đem dâng hiến Phật điển và Phật tượng cho thiên triều Nhật. Đây được xem như là lần đầu tiên Phật Giáo được truyền vào Nhật.

Khâm Sơn Văn Thuý

欽山文邃; C: qīnshān wénsuì; J: kinzan bun-sui; |Thiền sư Trung Quốc, đệ tử của Ðộng Sơn Lương Giới.|Sư xuất gia lúc còn nhỏ và lúc đầu là bạn đồng hành với Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Nham Ðầu Toàn Hoát. Cả ba đều đến Ðức Sơn tham thiền. Trong khi Nham Ðầu và Tuyết Phong trở thành hai vị môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn thì Sư lại không chịu nổi cách dạy cực kì nghiêm khắc tại đây. Cảnh Ðức truyền đăng lục có ghi lại rằng có lần Ðức Sơn đánh Sư đến nỗi sinh bệnh. Sau Sư đến Ðộng Sơn và đốn ngộ nơi đây. Tương truyền rằng, Sư đến trụ trì Khâm sơn lúc mới 27 tuổi.|Bích nham lục có ghi lại cách hoằng hoá của Sư trong Công án 56. Một vị Thiền khách tên Cự Lương đến hỏi: »Khi một mũi tên phá ba cổng thì thế nào?« Sư bảo: »Dẫn ông chủ của ba cổng ra xem?« Lương Toại đáp: »Thế ấy thì biết lỗi, ắt cãi.« Sư bảo: »Lại đợi khi nào?« Lương nói: »Tên tốt bắn chẳng đến đích.« và ra đi. Sư liền gọi: »Xà-lê lại đây!« Họ Lương xoay đầu, Sư nắm đứng nói: »Mội mũi tên phá ba cổng hãy gác lại, thử vì Khâm Sơn bắn tên xem!« Họ Lương suy nghĩ, Sư liền đánh bảy gậy và nói: »Hãy cho gã này nghi ba mươi năm.«

Khâm Sơn Văn Thúy

(欽山文邃, Kinzan Bunsui, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Tống, vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, người Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lục (陸). Khi đang còn ẵm trên tay, ông đã cùng với cha mẹ dời đến Huyện Tuyên Thành (宣城), Tỉnh An Huy (安徽). Hồi nhỏ ông đã đến lạy vị Tăng Chánh ở Trì Châu (池州) làm thầy, xuống tóc xuất gia và đăng đàn thọ giới. Sau đó, ông theo học pháp với Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Sau ông đến trú tại Chỉ Quán Tự (止觀寺) vùng Cát Châu (吉州, thuộc Tỉnh Giang Tây), rồi vào năm thứ 2 (964) niên hiệu Càn Đức (乾德), ông chuyển đến sống tại Trường Khánh Tự (長慶寺) vùng Kim Lăng (金陵), rồi đến Thanh Lương Tự (清涼寺) và cuối cùng là Báo Từ Tự (報慈寺). Ông còn được gọi là Lôi Âm Giác Hải Đại Sư (雷音覺海大師).

Khê Lam Thập Diệp Tập

(溪嵐拾葉集, Keiranshūyōshū): bộ tùng thư do Quang Tông (光宗, 1276-1350) của Thiên Thai Tông thâu tập, ghi lại những sự cố của Tông phái trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) thông qua truyền miệng, rồi chỉnh lý các thuyết từ xưa đến nay, và đưa vào tư tưởng của tác giả. Nguyên lai bộ này có 300 quyển, nhưng hiện tại phần được thâu lục vào trong quyển 76 của Đại Chánh Đại Tạng Kinh (大正大藏經, Taishō), chỉ có 113 quyển mà thôi. Trong đó, có hạng mục Thiền Tông Giáo Gia Đồng Dị Sự (禪宗敎家同異事), và có những ký sự liên quan đến Thiền Sư Đạo Nguyên (道元, Dōgen).

Khê lam thập diệp tập

溪嵐拾葉集; C: xīlán shíyè jí; J: keiran shūyō shū;|113 quyển, tuyển tập của phái Thai Mật Phật giáo Nhật Bản, được cao tăng học giả Quang Tông (光宗, j: kōshū) biên soạn vào giữa năm 1311 và 1348. Bao gồm hơn 300 tập, ấn bản trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh dựa vào sự phục hồi tập nầy bắt đầu vào năm 1968. Để nghiên cứu nội dung, xin xem Grapard (1998).

khê lam thập diệp tập

(溪嵐拾葉集) Tùy bút, 300 quyển (hiện còn 116 quyển), do sư Quang tông (1276-1347) người Nhật soạn từ niên hiệu Ứng trường năm đầu (1311) đến năm Trinh hòa thứ 3 (1347) mới xong, được thu vào Đại chính tạng tập 76. Nội dung ngoài Phật pháp ra, tác giả còn đề cập đến nhiều lĩnh vực như: y học, ca đạo, binh pháp, canh tác, toán học, v.v... Đây là tư liệu nghiên cứu về Thần đạo của Nhật bản.

Khí

氣; C: qì; J: ki;|1. Không khí, gió; 2. Hơi thở (s: vāta); 3. Năng lực vô hình của sự sống, có phần tương đương với prāṇa của Ấn Độ, là năng lực vật chất của vũ trụ. ; 棄; C: qì; J: ki;|1. Liệng bỏ, buông ra, thả ra; bỏ lại; quên đi, bỏ qua. Quăng bỏ, từ bỏ (s: vihāya, apana-yati). Dừng hẳn.

khí

(器) I. Khí. Tên gọi chung tất cả đồ dùng. Trong kinh điển Phật giáo, từ Khí thường được dùng để gọi những người có căn cơ hoằng pháp là Căn khí, có khả năng tiếp nhận và tin chịu Phật pháp là Pháp khí, Đạo khí; người tuân thủ giới luật, gọi là Giới khí, v.v... Trái lại thì gọi là Phi khí. Phi khí gồm có 5 loại: 1. Tà kiến, không tin Phật pháp. 2. Phỉ báng chân lí, mua chuộc tiếng khen. 3. Chấp trước văn tự, trái với ý đạo. 4. Hành vi thấp hèn. 5. Trụ vào phương tiện, không biết thực nghĩa. Năm hạng người trên gọi là Ngũ nhân phi khí. Khi thụ giới, thuyết pháp loại bỏ 5 hạng người này gọi là Giản khí. II. Khí. Gọi đủ: Khí thế gian. Nơi ở của các loài hữu tình. (xt. Khí Thế Gian).

khí giới thuyết

(器界說) Khí giới là chỉ cho thế giới trong đó có núi sông, đất đai, cây cỏ, v.v... là nơi sinh sống của các loài hữu tình. Như lai dùng thần lực không thể nghĩ bàn khiến cho cây cỏ, đất nước diễn thuyết chính pháp, gọi là Khí giới thuyết. Là một trong 5 loại thuyết pháp của kinh Hoa nghiêm. Như kinh Hoa nghiêm nói, cây Bồ đề, rừng Cực lạc, v.v... đều có thể tuyên thuyết diệu pháp, đó tức là Khí giới thuyết. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Tam tạng pháp số Q.20].

Khí hiềm

棄嫌; C: qìxián; J: kiken; |Trừ bỏ nghi ngờ; từ bỏ lòng căm ghét.

khí lượng

(器量) Vốn chỉ dung lượng của đồ vật, về sau danh từ này được dùng để chỉ cho tài trí và độ lượng của người ta. Cứ theo kinh Tối thắng vương quyển 1, thì đức Thế tôn không có phân biệt, tùy theo căn cơ và khí lượng của chúng sinh mà nói pháp. Lời tựa trong Bách luận của ngài Tăng triệu (Đại 30, 168 thượng) nói: Sa môn Cưu ma la thập, người nước Thiên trúc, khí lượng sâu rộng, thần trí siêu phàm.

khí ngũ cái

(棄五蓋) Trừ bỏ 5 cái: Tham dục, sân khuể, thụy miên, điệu hối và nghi. Cái nghĩa là che đậy, là tên khác của phiền não. Năm loại phiền não này thường che lấp tâm tính, làm cho mờ tối, không khai phát được định tuệ, cho nên gọi là Ngũ cái. Khi tham dục dấy lên, thì nghĩ đến 5 dục, sinh tâm mê say; khi sân khuể dấy lên, thì tâm sinh oán giận, bừng bừng như lửa, luôn luôn bực tức; khi thụy miên (buồn ngủ) dấy lên, thì tâm thần mơ màng, sáu thức tối tăm, khiến người tu hành quên mất thiền định chính niệm; khi điệu hối dấy lên, thì tâm bồn chồn lo lắng, hối hận những điều lỗi lầm mà sinh sầu não; khi nghi dấy lên, thì ngờ mình, ngờ thầy, ngờ pháp. Ngờ mình tức là ngờ chính mình chẳng phải đạo khí; ngờ thầy là ngờ về giới hạnh của thầy, không hợp ý mình, sợ mình sẽ lầm; ngờ pháp tức là ngờ pháp mình đã tiếp nhận chưa chắc đã đúng chân lí. Tất cả 5 phiền não (5 cái) trên đây đều chướng ngại định tuệ, cho nên phải trừ bỏ. Nghĩa là dùng Bất tịnh quán trừ bỏ tham dục, dùng Từ bi quán trừ bỏ sân khuể, dùng hạnh Tinh tiến trừ bỏ thụy miên, dùng Sổ tức quán trừ bỏ Điệu hối. Còn phiền não Nghi có 3 cách quán tưởng để trừ bỏ 3 cái nghi mình, nghi thầy và nghi pháp. Nếu nghi mình thì nghĩ (Đại 46, 45 trung): Thân ta tức là đứa con đui mù giầu có, đầy đủ tài bảo pháp thân vô thượng, nhưng vì bị phiền não che đậy nên mắt đạo chưa mở, cần luôn luôn tu sửa. Lại nghĩ: Từ vô lượng kiếp đến nay, tập nhân đâu có cố định? Há lại tự nghi, mất thời gian, mất lợi lạc. Thân người khó được, chớ để nghi hoặc làm tổn thương mình. Nếu nghi thầy thì nghĩ rằng: Ta nay ngu si, bậc thượng thánh đại nhân đều cầu pháp, không chấp người, (...), thường khởi tâm cung kính Như lai 3 đời. Thầy tức là chư Phật vị lai, sao lại sinh tâm nghi?. Nếu nghi pháp thì nghĩ: Mắt pháp của ta chưa mở, chưa phân biệt phải trái, chỉ nhờ vào lòng tin mà thôi. Phật pháp như biển, chỉ có lòng tin mới có thể vào được. Trừ bỏ 5 phiền não (cái) này, thì liền sinh chính niệm thiền định. [X. Ma ha chỉ quán Q.4 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4 hạ; Thứ đệ thiền môn Q.2; Chỉ quán đại ý; Tứ giáo nghi tập chú Q.hạ phần cuối]. (xt. Ngũ Cái).

khí phác

(器樸) Danh từ được dùng trong Quán kinh sớ định thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đời Đường. Khí là cây cong, Phác là cây thẳng. Khí và phác chỉ cho cây gỗ còn nguyên chưa gia công. Ngài Thiện đạo dùng danh từ này để ví dụ định cơ hay tán cơ của chúng sinh. Ngoài ra, có chỗ cho rằng Khí là đồ để thụ pháp, còn Phác là chỉ cho cây gỗ nguyên.

khí phác luận

(器樸論) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Thác hà (Thác a), Tổ thứ 7 của Thời tông Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 84, ấn hành năm Bảo vĩnh thứ 3 (1706), khắc in lại vào năm An vĩnh thứ 5 (1776). Nội dung sách này trình bày về giáo nghĩa của Thời tông, chia làm 15 môn như: Thánh tịnh nan dị, Bản hoài phi bản hoài, Nhị tôn nhị giáo, v.v... và giải thích rõ ràng, rồi qui kết giáo thuyết một đời của đức Thích ca vào môn Niệm Phật.

khí thế gian

(器世間) Phạm:Bhàjana-loka. Cũng gọi Khí thế giới, Khí giới, Khí. Chỉ cho đất nước là nơi sinh sống của tất cả chúng sinh, 1 trong 3 thế gian. Vì đất nước chứa đựng chúng sinh giống như đồ dùng chứa đựng các vật nên gọi là Khí, dễ biến đổi, dễ hư nát nên gọi là Khí thế gian. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 134, thì trong 1 kiếp Khí thế gian được tạo thành, trong 19 kiếp các loài hữu tình dần dần sinh trụ. Khí thế gian chỉ đến cõi trời Sắc cứu kính, phía trên đó là trời Vô sắc. Tiểu thừa cho rằng Khí thế gian do cộng nghiệp của chúng sinh chiêu cảm lấy, còn Duy thức Đại thừa thì chủ trương rằng Khí thế gian là do thức A lại da biến hiện. Ngoài ra, trong luận Tịnh độ của ngài Thiên thân, Tịnh độ trang nghiêm của Phật A di đà được gọi là Khí thế gian thanh tịnh, vì Tịnh độ này là do sức bản nguyện của Như lai kiến lập, cho nên gọi là Khí thế gian, nhưng khác với quốc độ hữu lậu do cộng nghiệp của chúng sinh chiêu cảm. [X. luận Đại tì bà sa Q.133; luận Câu xá Q.11; luận Thành duy thức Q.2; Vãng sinh luận chú Q.3; Câu xá luận quang kí Q.11; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.17; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1; Bách pháp vấn đáp sao Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Thế Gian).

khí thế gian thanh tịnh

(器世間清淨) Chỉ cho Tịnh độ trang nghiêm của Phật A di đà. Chúng sinh thế gian là chính báo của chúng sinh, Khí thế gian là y báo của chúng sinh nương vào đó mà sống còn. Ở cực lạc Tịnh độ thì bất luận chính báo, y báo, đều lấy diệu lí thực tướng Niết bàn của pháp thân làm thể, thể ấy thanh tịnh vô nhiễm, vượt ra ngoài 3 cõi, nên gọi là Khí thế gian thanh tịnh. Trong 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ cực lạc thì về quốc độ có 17 thứ là: Thanh tịnh, lượng, tính, hình tướng, chủng chủng sự, diệu sắc, xúc, tam chủng(nước, đất, hư không), vũ(mưa), quang minh, diệu thanh, chủ, quyến thuộc, thụ dụng, vô chư nạn, đại nghĩa môn và nhất thiết sở cầu mãn túc. Đó là Khí thế gian thanh tịnh, một trong 2 thứ thanh tịnh. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Tịnh độ luận chú Q.hạ]. (xt. Nhị Thập Cửu Chủng Trang Nghiêm, Nhị Chủng Thanh Tịnh).

khí thế gian thuyết pháp tam nghĩa

(器世間說法三義) Ba nghĩa của Khí thế gian thuyết pháp. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 8, thì Khí thế gian thuyết pháp có 3 nghĩa sau đây: 1. Ước thông lực thuyết(nương vào sức thần thông mà nói): Phật dùng sức thần thông khiến các vật vô tình của thế gian đều có khả năng thuyết pháp. 2. Ước dung thông thuyết(dựa vào sự dung thông mà nói): Bản tính của y báo(quốc độ)và chính báo(thân căn) dung thông nhau, cho nên thân có thể thuyết pháp, mà độ cũng có thể thuyết pháp. 3. Ước hiển lí thuyết(nhờ sự hiển rõ lí mà nói): Bồ tát tiếp xúc với cảnh đều có thể biết rõ, như lúc Bồ tát tiếp xúc sắc cảnh thì liền hiển bày các lí nghĩa: Chất ngại, duyên sinh, vô thường, v.v...

khí thủ thiên

(器手天) Phạm:Karoỉapàịi. Cũng gọi Khí tửu thiên. Tên một vị trời thuộc Kim cương bộ ngoài của Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là quyến thuộc của trời Y xá na. Vì tay của vị trời này cầm bình rượu nên gọi là Khí tửu thiên.

khí thủ thiên hậu

(器手天後) Phạm:Karoỉapàịiịì. Tên một vị trời thuộc Kim cương bộ ngoài trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, là quyến thuộc của trời Y xá na. Vị trời này cùng với Khí thủ thiên tay đều cầm bình rượu.

khí tông lộng tán

(棄宗弄贊) (?-650) Tạng: Khri-lde-sroí-bstan-sgam-po. Cũng gọi Song tán tư cam phổ (Tạng: Sroí-bstan-sgam-po), Khí tô nông tán, Tùng tán can bố. Vua Tây tạng, sống cùng thời với nhà Đường ở Trung quốc, ông đã làm cho nền Phật giáo Tây tạng hưng thịnh. Ông lên ngôi năm 16 tuổi(có thuyết nói 13 tuổi), tính kiêu dũng, nhiều mưu lược. Năm 634, ông sai sứ đến Trường an triều cống, sau đưa 20 vạn quân đến tấn công Tùng châu, bị quân nhà Đường đánh bại, liền xin cầu hôn với nhà Đường. Năm 641, ông cưới công chúa Văn thành nhà Đường, muốn theo văn hóa Hán tộc, ông cho người trong Hoàng gia đến Trung quốc học tập. Về sau, ông lại cưới công chúaBhfkuỉicủa Nepal làm phi(có thuyết nói bà này được cưới trước). Hai vị công chúa khi về Tây tạng, mỗi người đều mang theo tượng Phật và kinh điển, đó là nguyên nhân đã làm cho Phật giáo Tây tạng hưng thịnh. Rồi ông lại sai đại thần Đoan mĩ tam bồ đề (Tạng: Thon-misam-bhoỉa) đến Nam Ấn độ học tiếng Phạm, truyền dịch kinh Thiền, kinh Bách bái sám hối, kinh Tam pháp vân. Đồng thời, ông lấy tiếng Phạm làm gốc, châm chướcchữ Tây tạng rồi chế ra văn tự riêng của Tây tạng và soạn các sách chú giải về thanh tự và văn pháp. Ngoài ra, ông ứng dụng pháp Thập thiện của Phật giáo để canh tân chính sách đã suy bại và chế định hình pháp mới cho Tây tạng. Truyền thuyết đời sau cho rằng Quốc vương là hóa thân của bồ tát Quan thế âm, 2 bà phi và ông Đoan mĩ tam bồ đề thì được coi là hóa thân của bồ tát Đa la, bồ tát Văn thù. Vua Khí tông lộng tán cùng với vua Khất lật song đề tán (Tạng:Khri-sroí-lde-bstan), vua Khất lật lai ba chiêm (Tạng:Khri-ral-pa-can) là 3 vị vua hộ giáo lớn nhất trong lịch sử Tây tạng. Tây tạng Quan âm kinh (Tạng), tức Thánh điển Phật giáo Tây tạng, là do tuân theo di mệnh của vua Khí tông lộng tán thu chép mà thành. [X. luận Chương sở tri Q.thượng; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Thổ phồn truyện thượng trong Đường thư Q.196 thượng; Thổ phồn truyện thượng trong Tân đường thư 216 thượng; Sách phủ nguyên qui 979; Mông cổ nguyên lưu 2; Thánh vũ kí 5; Mông Tạng Phật giáo sử Q.thượng; Obermiller: History of Buddhism by Bu-ston, Part II; W. W. Rockhill: Tibet; Surat Candra Das: Tibetan Enghish Dictionary].

khí ân

(棄恩) Chỉ sự xả bỏ ân ái thế tục. Chư kinh yếu tập quyển 4 dẫn lời kinh Thanh tín sĩ độ nhân, nói (Đại 54, 29 trung): Nếu người muốn xuất gia, vốn mặc áo thế tục, sau khi lạy từ cha mẹ tôn thân rồi, đọc bài kệ: Trôi lăn trong ba cõi Khó thoát khỏi ân ái Bỏ ân vào vô vi Mới thật là báo ân. Nói kệ xong, liền cởi bỏ áo thế tục. [X. Đệ thập lục tổ trong Truyền quang lục Q.thượng].

khí độc

xem bốn thứ độc.

khích du trần

(隙游塵) Phạm:Vàtàyanacchidra-rajas. Cũng gọi Hướng du trần, Nhật quang trần. Những mảy bụi lởn vởn mà mắt thường có thể thấy được khi ánh sáng mặt trời xuyên qua các kẽ hở. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì trong đó mảy bụi nhỏ nhất tương đương với 823.543 lần của một cực vi (Phạm:Paramàịu), còn mảy lớn nhất thì tương đương với 1 phần trong 2.401 phần của đốt ngón tay. Cứ theo Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc Phật giáo Tiểu thừa, thì cực vi là nguyên tố rất nhỏ, cơ bản nhất cấu tạo thành vũ trụ. Hình trạng của cực vi tuy không có dài ngắn, vuông tròn, cũng không có mầu sắc xanh vàng đỏ trắng, mắt thường không thể thấy được, nhưng nó là một sắc pháp có thực chất tồn tại, tất cả vật chất đều do cực vi tạo thành, cũng tức là đem phân tích tất cả vật chất đến nguyên tố cuối cùng không còn phân tích được nữa, thì đó chính là cực vi. Cho nên, trong hư không, cực vi chiếm một vị trí không gian nhất định, hình thái tồn tại của nó thường lấy 7 cực vi kết hợp ở một chỗ gọi là 1 vi trần (Phạm: Aịu-rajas), tức lấy 1 cực vi làm trung tâm, rồi tụ tập ở 6 phương(đông, tây, nam, bắc, trên, dưới), mỗi phương 1 cực vi, như vậy, 7 cực vi cộng lại thành 1 vi trần, cứ theo đó mà suy: 7 vi trần là 1 kim trần (Phạm:Loharajas, cũng gọi Đồng trần, Thiết trần), 7 kim trần là 1 thủy trần (Phạm:Ab-rajas), 7 thủy trần là 1 thố mao trần (Phạm:Zazarajas), 7 thố mao trần là 1 dương mao trần (Phạm: Avi-rajas), 7 dương mao trần là 1 ngưu mao trần (Phạm: Go-rajas), 7 ngưu mao trần là 1 khích du trần. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu].

khô cảo chúng sinh

(枯槁衆生) Chúng sinh khô héo, ví dụ hạng người phàm phu bị tham sân si làm ô nhiễm, khiến cho pháp thân tuệ mệnh khô kiệt, giống như cây cỏ bị nắng hạn không phát triển được. Phẩm Dược thảo dụ kinh Diệu pháp liên hoa (Đại 9, 20 thượng), nói: Giống như đám mây lớn, che mát tất cả chúng sinh khô héo. Đạo tuyên thuật giáo giới luật nghi (Đại 45, 869 trung), nói: Bên trong thì trái với tâm Bồ tát, bên ngoài thì thiếu hạnh Thanh văn, bốn uy nghi không có, nên gọi là Khô cảo chúng sinh.

khô mộc

(枯木) Cây khô, ví dụ trạng thái vô tâm, hoặc chỉ bám chặt vào việc ngồi thiền cầu khai ngộ, chứ không có công dụng hóa độ người khác.

khô mộc chúng

(枯木衆) Chúng cây khô. Chỉ cho những vị tăng đệ tử của thiền sư Thạch sương Khánh chư thuộc tông Tào động đời Đường. Theo truyện Khánh chư trong Tống cao tăng truyện quyển 12, thì các vị lão túc trong Thiền đường ngồi mãi chẳng nằm, lù lù bất động như gốc cây, mọi người gọi là Thạch sương khô mộc chúng. Tắc 96 trong Thung dung lục (Đại 48, 289 hạ) ghi: Thiền sư Thạch sương một đời tạo dựng khô mộc đường, lập khô mộc chúng, trọn ngày thường ngồi chẳng nằm, có nhiều vị ngồi hoặc đứng mà hóa.

khô mộc long ngâm

(枯木龍吟) Cũng gọi Khô mộc lí long ngâm. Tên công án trong Thiền tông. Rồng ngâm nga trong cây khô, có nghĩa là dứt bặt tất cả vọng niệm, vọng tưởng, đến chỗ một phen chết đi rồi sống lại, lúc ấy mới được tự tại, giải thoát hoàn toàn. Chương Hương nghiêm Trí nhàn trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 284 trung) ghi: Hỏi: Thế nào là đạo? Sư đáp: Khô mộc long ngâm. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.13; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.1].

Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục

(枯崖和尚漫錄, Kogaioshōmanroku): 3 quyển, còn gọi là Khô Nhai Mạn Lục (枯崖漫錄, Kogaimanroku), do Khô Nhai Viên Ngộ (枯崖圓悟) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 8 (1272) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳) nhà Nam Tống, thành lập vào năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định. Từ các bộ Truyền Đăng Lục, Viên Ngộ―pháp từ của Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣文)―đã ghi chép tản mạn những điều mình thấy nghe được về các cơ duyên, pháp ngữ dạy chúng, v.v., để hình thành nên tác phẩm này. Trong bộ này có truyền ký, niêm tán, trước ngữ, v.v., hình như thiếu sự thống nhất, nhưng vẫn là phương tiện cần thiết để cảnh tỉnh người tham học.

Khô Nhai Mạn Lục

(枯崖漫錄, Kogaimanroku): xem Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục (枯崖和尚漫錄, Kogaioshōmanroku) ở trên.

khô nhai mạn lục

(枯崖漫錄) Cũng gọi Khô nhai hòa thượng mạn lục. Tác phẩm, 3 quyển, do hòa thượng Khô nhai Viên ngộ biên chép vào đời Tống, ấn hành vào năm Hàm thuần thứ 8 (1272), được thu vào Vạn tục tạng tập 184. Nội dung sách này chủ yếu bổ sung cho những phần ứng cơ tiếp vật, cơ duyên nhập đạo, thị chúng pháp ngữ của các bậc tôn túc được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục, Gia thái phổ đăng lục, v.v..., hoặc kỉ truyện, hoặc niên tán, hoặc cảnh ngữ, tùy theo chỗ thấy nghe của tác giả mà ghi chép một cách tự do, chứ không theo thứ tự thống nhất.

Khô Nhai Viên Ngộ

(枯崖圓悟, Kogai Engo, ?-?): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Khô Nhai (枯崖), người vùng Phước Thanh (福清) thuộc Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), pháp từ của Yển Khê Quảng Văn (偃溪廣聞). Vào năm thứ 4 (1263) niên hiệu Cảnh Định (景定), tại Kính Sơn (徑山) ông đã biên tập các phần cơ duyên, thị chúng cũng như pháp ngữ của chư vị tôn túc để hình thành nên cuốn Khô Nhai Hòa Thượng Mạn Lục (枯崖和尚漫錄), và nó được san hành vào năm thứ 8 (1272) niên hiệu Hàm Thuần (咸淳).

khô quy táng mệnh

(枯龜喪命) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rùa già mất mạng, nghĩa là người có chút tài mà thích xông pha trước đầu sóng ngọn gió đến nỗi thân bại mạng vong. Tương truyền, khi vua Đại vũ trị thủy ở sông Hoàng hà, có con rùa thần nổi lên, vì trên lưng nó có vằn như những chữ sốnên rùa bị bắt giết. Thiền tông mượn điển tích này để ngụ ý chê bai những người thích khoe tài mà mất mạng. Tắc 10 trong Thung dung lục (Đại 48, 233 trung), nói: Rùa già mất mạng vì trên lưng có chữ, ngựa hay bị hàm thiết dây cương vì chạy nhanh.

khô quỷ tử để

(枯鬼死底) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quỉ chết khô. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho trạng thái dứt bặt ý thức. Hoặc là dụ cho Vô tưởng định, Diệt tận định, 2 định này gọi chung là Nhị vô tâm định. [X. chương Tổ sư thiền trong Truyền quang lục 47]. (xt. Vô Tưởng Định, Diệt Tận Định).

khô thiền

(枯禪) I. Khô Thiền. Cũng gọi Khô cảo tọa thiền. Pháp ngồi thiền tuyệt đối buông bỏ tất cả, để đạt đến cảnh giới vô vi, vượt ra ngoài vòng đối đãi. II. Khô Thiền. Danh từ này được các nhà chủ trương Khán thoại thiền(thiền tham cứu công án) dùng để mỉa mai những người chủ trương Mặc chiếu thiền, cho rằng ngồi lặng lẽ giống như gốc cây khô.

khôi hà

(灰河) I. Khôi Hà. Sông tro, ví dụ phiền não. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 43, thì Khôi chỉ cho 3 thứ giác xấu ác là: Dục giác, khuể giác, hại giác; Hà chỉ cho 3 thứ ái là: Dục ái,sắc ái,vô sắc ái. Những phiền não này ngăn che tâm tính chúng sinh, khiến phải chịu các thứ khổ não, cũng giống như trầm mình trong con sông tro, nổi chìm theo dòng nước, chịu bao nỗi khổ não đau xót. II. Khôi Hà. Tên địa ngục, là 1 trong 16 địa ngục Du tăng. [X. phẩm Địa ngục kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.19]. (xt. Thập Lục Tiểu Địa Ngục).

khôi khoái

(魁膾): người làm nghề đao phủ. Các bản trước đây đều dịch là người hàng thịt, bán thịt hoặc băm thịt làm nem chả... Đó chỉ là suy đoán từ nghĩa của chữ khoái (膾). Trong Tạp A-tì-đàm tâm luận, quyển 3, xếp đây là nghiệp ác thứ 8 và giải thích như sau: 魁膾,指爲官操刀行刑之人。謂人本同類,彼雖犯法,理固當死,然習操刀之業以害其生,實爲惡行Khôi khoái, chỉ vi quan thao đao hành hình chi nhân. Vị nhân bản đồng loại, bỉ tuy phạm pháp, lý cố đương tử, nhiên tập thao đao chi nghiệp dĩ hại kỳ sanh, thật vi ác hạnh. – Khôi khoái, chỉ người giữ nhiệm vụ cầm đao hành hình. Là đồng loại với nhau, người kia tuy phạm pháp, theo lý phải [xử tội] chết, nhưng người làm quen theo nghiệp giết hại sanh mạng như vậy thật là hạnh xấu ác.) Như vậy, rõ ràng những cách dịch trước đây đều không đúng. Khôi khoái ở đây phải hiểu là người làm nghề đao phủ.

khôi sa

(灰沙) Tro cát. Đốt thân ngũ uẩn thành tro. Hàng Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) sau khi đoạn trừ hết sạch phiền não, dùng lửa Tam muội tự đốt sắc thân(Khôi sa), tâm trí dứt bặt, nhập vào cảnh giới Niết bàn vắng lặng, gọi là Khôi thân diệt trí.

Khôi sơn trụ bộ

灰山住部; S: gokulika;|Một bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).

khôi sơn trụ bộ

(灰山住部) Cũng gọi Kê dận bộ, Quật cư bộ. Tên Bộ phái, 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 200 năm, Khôi sơn trụ bộ, Nhất thuyết bộ và Thuyết xuất thế bộ đều từ Đại chúng bộ tách ra. Tông nghĩa của bộ này là: Chư Phật Thế tôn đều là các bậc xuất thế, Như lai không có pháp hữu lậu, mỗi lời nói của Như lai đều là chuyển pháp luân, Phật dùng 1 âm, nói tất cả pháp, pháp do Thế tôn nói đều đúng như thật, sắc thân và âm thanh của Như lai không có giới hạn. Về nguồn gốc của tên gọi Khôi sơn trụ bộ, theo Tam luận huyền nghĩa dụ mông quyển trung, thì đá ở trong núi mà bộ chúng này cứ trú có thể dùng để nung vôi(khôi) nên gọi là Khôi sơn trụ bộ, đây là đặt tên theo chỗ ở. Nhưng Dị bộ tông luân luận thuật kí thì cho thuyết này là sai lầm. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Thập bát bộ]. (xt. Đại chúng Bộ, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Kê Dận Bộ).

khôi thán tháp

(灰炭塔) Gọi tắt: Thán tháp. Ngôi tháp thờ tro của đức Phật. Về ngôi tháp này, các kinh sách nói có khác nhau. Như Pháp hiển truyện và Đại đường tây vực kí quyển 6, đều gọi là Khôi thán tháp. Nhưng kinh Bát nê hoàn quyển hạ thì lại cho rằng nên chia làm 2 là Thán tháp và Khôi tháp. Còn về vị trí của tháp thì có thuyết cho rằng ở vùng phụ cận của đất cũ thành Câu thi, có thuyết nói ở vùng phụ cận thành Ca tì la vệ. Tương truyền Khôi thán tháp rất linh nghiệm, nếu người có bệnh đến tháp này cầu xin thì sẽ hết bệnh. Bên cạnh Khôi thán tháp còn có chùa và vài trăm ngôi tháp, trong đó có 1 ngôi tháp khá lớn do vua A dục xây dựng.

khôi thân diệt trí

(灰身滅智) Cũng gọi: Vô dư khôi đoạn, Phần thân khôi trí. Gọi tắt: Khôi diệt, Khôi đoạn. Đốt nhục thân thành tro, dứt bặt tâm trí, cũng tức là đưa thân tâm về cảnh giới Niết bàn vô vi tịch diệt. Đó là Niết bàn vô dư của Tiểu thừa. Cứ theo Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng, nếu dứt hết phiền não trong 3 cõi thì chứng được Niết bàn hữu dư, rồi đốt thân bặt trí thì chứng nhập Niết bàn vô dư. [X. luận Kim cương tiên Q.9; Triệu luận; Duy ma kinh huyền sớ Q.5; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.3 phần 1; Thiên thai tứ giáo nghi].

khôi đầu thổ diện

(灰頭土面) Cũng gọi Khôi đầu thổ kiểm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khôi đầu thổ diện vốn có nghĩa là đầu mặt dính tro bụi. Trong thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho người tu hành sau khi ngộ đạo, vì nguyện độ sinh, nên sống lẫn lộn trong đám đông, không quản ngại sự ô trược của trần thế. Cũng gần giống với ý nghĩa trong nhóm từ Hòa quang đồng trần(hòa ánh sáng vào bụi bặm). Nhưng thông thường Khôi đầu thổ diện là chỉ cho người thân thể dơ dáy, mặt mũi lem luốc, trôi nổi vất vả, hoặc chỉ cho người không trang điểm. [X. điều Qui tông tự Hoài uẩn trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.20; tắc 43 Bích nham lục; Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.2].

Khôn

(坤): tên của quẻ Khôn (☷) trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho đức nhu thuận, đại diện cho Thổ (土, đất), Hoàng Hậu, người mẹ, vợ, người nữ, đối xứng với Càn (乾). Khôn có nghĩa là thân (伸, làm cho phải lẽ), cũng có nghĩa là thuận (順, tùy thuận, thuận theo). Càn là hình tượng ánh sáng mặt trời chiếu rọi, mang tính tương đối; trong khi đó Khôn là hình tượng ánh sáng của đất. Càn có công năng của Trời sáng tạo nên vạn vật; Khôn thì thuận theo lẽ Trời, là công cụ của Trời hình thành nên vạn vật.

Khôn duy

(坤維): có ba nghĩa. (1) Chỉ phương Tây Nam; do vì trong kinh dịch có câu: “Tây Nam đắc bằng (西南得朋, phía Tây Nam được bạn)”, nên lấy Khôn chỉ cho phương này. Như trong Văn Tuyển (文選), chương Trương Hiệp (張協), Tạp Thi (雜詩), có câu: “Đại Hỏa lưu Khôn duy, bạch nhật trì Tây lục (大火流坤維、白日馳西陸, sao Đại Hỏa trôi về Tây Nam, mặt trời dong ruổi về hướng Tây).” (2) Chỉ phương Nam. Như trong bài văn Quảng Châu Bảo Trang Nghiêm Tự Xá Lợi Tháp Bi (廣州寶莊嚴寺舍利塔碑) của Vương Bột (王勃, khoảng 650-676) nhà Đường có câu: “Thượng đương Tinh Kỷ, hạ liệt Khôn duy (上當星紀、下裂坤維, trên gặp Tinh Kỷ, dưới rẽ phương Nam).” (3) Chỉ phần chính giữa của đất trời. Như trong Tùy Thư (隋書), phần Lễ Nghi Chí (禮儀志) 1 có câu: “Tứ phương các y kỳ phương, Hoàng Đế cư Khôn duy (四方帝各依其方、黃帝居坤維, bốn phương đều nương vào phương ấy, Hoàng Đế sống ở chính giữa).”

Khôn hậu

(坤厚): chỉ cho đại địa sâu dày, hay chỉ riêng cho đại địa, đất, đối với trời. Như trong bài (代宋敏求知絳州謝到任表) của Tằng Củng (曾鞏, 1019-1083) nhà Tống có câu: “Cái phục ngộ Hoàng Đế Bệ Hạ càn cang độc đoán, khôn hậu kiêm dung (蓋伏遇皇帝陛下乾剛獨斷、坤厚兼容, cúi mong gặp Hoàng Đế Bệ Hạ trời cao độc nhất, đất dày khoan dung).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Thọ Thủ (法華經授手, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 32, No. 623) quyển 10 có đoạn: “Kim Bồ Tát dĩ viên thông diệu thể ký năng minh chiếu, hựu năng thừa thọ hữu khôn đạo yên, khôn hậu tải vật, cố linh cầu giả tiện sanh hàm hoằng quang đại đoan chánh hữu tướng chi nữ dã (今菩薩以圓通妙體旣能明照、又能承受有坤道焉、坤厚載物、故令求者便生含弘光大端正有相之女也, nay Bồ Tát lấy thể mầu viên thông mới có thể chiếu sáng, lại có thể vâng chịu đạo của đất vậy; đất dày chứa vật, cho nên người cầu nguyện bèn sanh nữ nhân có tướng đoan trang, ánh sáng rực rỡ).”

Khôn nghi

(坤儀): có ba nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho đại địa. Như trong bài thơ Đáp Lô Kham (答盧諶) của Lưu Côn (劉琨, 270-317) nhà Tấn có câu: “Càn tượng đống khuynh, khôn nghi chu phú (乾象棟傾、坤儀舟覆, trời cao mái nghiêng, đất cả thuyền che).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Âm Nhạc Chí (音樂志) 3 lại có câu: “Đại hỉ khôn nghi, chí tai Thần Huyện (大矣坤儀、至哉神縣, lớn thay đại địa, to thay Thần Huyện [Trung Hoa]).” (2) Nhà tướng số lấy Ngũ Nhạc (五嶽, tức 5 ngọn núi lớn, gồm Đông Nhạc Thái Sơn [東嶽泰山] ở Thái An [泰安], Sơn Đông [山東]; nam nhạc hành sơn [南嶽衡山] ở Hành Sơn [衡山], Hồ Nam [湖南]; Tây Nhạc Hoa Sơn [西嶽華山] ở Hoa Âm [華陰], Thiểm Tây [陝西]; Bắc Nhạc Hằng Sơn [北嶽恆山] ở Đại Đồng [大同], Sơn Tây [山西]; và Trung Nhạc Tung Sơn [中嶽嵩山] ở Đăng Phong [登封], Hà Nam [河南]), Tứ Độc (四瀆, tức 4 con sông lớn, gồm Trường Giang [長江], Hoàng Hà [黃河], Hoài Hà [淮河] và Tế Thủy [濟水]) trên mặt đất tỷ dụ cho 5 giác quan và các bộ phận trên khuôn mặt con người; cho nên gọi dung mạo, bề ngoài của con người là khôn nghi. (3) Cũng như mẫu nghi thiên hạ, phần lớn được dùng để xưng tụng hoàng hậu, được xem như là tiêu biểu, mực thước cho người mẹ của thiên hạ. Như trong bài Úy Thái Hậu Biểu (慰太后表) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống có câu: “Phương chánh khôn nghi chi vị, thượng đồng càn thí chi nhân (方正坤儀之位、上同乾施之仁, mới đúng mẫu nghi cương vị, trên giống trời ban lòng nhân).”

Khôn Nguyên

(坤元): đối xứng với Càn Nguyên (乾元), chỉ cho đức lớn sinh ra vạn vật của đại địa. Như trong Kinh Dịch có câu: “Chí tai Khôn Nguyên, vạn vật tư sanh, nãi thuận thừa thiên (至哉坤元、萬物資生、乃順承天, lớn thay Khôn Nguyên, muôn vật sanh ra, thuận theo mệnh trời).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) giải thích rằng: “Chí tai Khôn Nguyên giả, thán mỹ Khôn đức (至哉坤元者、歎美坤德, chí tai Khôn Nguyên nghĩa là ca ngợi đức tốt đẹp của Đất).”

khôn nhân

(髡人) Khôn nghĩa là cạo bỏ râu tóc. Khôn nhân chỉ cho tăng sĩ. Trong Phật giáo, từ đức Giáo chủ Thích ca trở xuống, nếu muốn xuất gia, đều phải cạo bỏ râu tóc để tượng trưng cho sự thệ nguyện dứt trừ tất cả phiền não tập khí.

Khôn đạo

(坤道): có 3 nghĩa. (1) Chỉ thuộc tánh của đại địa. Như trong Dịch Kinh có câu: “Khôn dạo kỳ thuận hồ, thừa thiên nhi thời hành (坤道其順乎、承天而時行, tánh của đất vâng thuận vậy, theo mệnh trời mà thi hành đúng lúc).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngôn Khôn đạo nhu thuận, thừa phụng ư thiên dĩ lượng thời nhi hành (言坤道柔順、承奉於天以量時而行, bảo rằng tánh của đất là nhu thuận, có nghĩa rằng vâng theo mệnh trời để tính thời gian mà thi hành).” (2) Chỉ cho đức của người nữ. Như trong bài Lễ Bộ Hạ Sách Thái Thượng Hoàng Hậu Biểu (禮部賀冊太上皇后表) của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường có câu: “Mẫu nghi hữu quang, Khôn đạo khắc thuận (母儀有光、坤道克順, mẫu nghi tỏa sáng, đức nữ vâng thuận).” (3) Chỉ cho đạo của người nữ, hay chỉ cho phụ nữ.

Không

(s: śūnya, p: suñña, 空): cái không có thực thể cố định, thiếu tánh thực thể. Trong lịch sử số học, người Ấn Độ phát hiện đầu tiên con số zero (0, không). Từ con số không này, khái niệm số phụ (số âm) được xác lập. Nó được truyền vào Châu Âu thông qua Ả Rập, số học cận đại ra đời và khao học cũng như kỹ thuật tự nhiên cũng theo đó phát triển. Từ śūnya vốn dựa trên cơ sở của śūna, được hình thành từ tiếp đầu ngữ śū (=śvā, śvi, mở rộng, bành trướng), có nghĩa là không hư, rỗng không, khiếm khuyết, nội bộ trống rỗng, v.v. Ý nghĩa này có xuất hiện trong các điển tịch Phật Giáo thời kỳ đầu như: “Hãy phá đi kiến giải chấp trước về tự ngã, và quán sát thế gian là không (Kinh Tập [p: Suttanipāta, 經集] 1119)”; hay “Vào căn nhà trống vắng để trấn tĩnh tâm (Pháp Cú Kinh [p: Dhammapada, 法句經] 373)”, v.v. Đặc biệt, trong Tiểu Không Kinh (小空經) của Trung Bộ (p: Majjhimanikāya, 中部) 121, Trung A Hàm Kinh (中阿含經) quyển 49, có dạy rằng: “Giảng đường này không có bò, nếu nói về bò là không (thiếu khuyết). Tuy nhiên, có Tỳ Kheo; nếu nói về Tỳ Kheo thì chẳng phải là không (có cái còn lại).” Như vậy, cái khiếm khuyết và cái còn lại được xem như là không có. Từ đó, thực tiễn quán pháp gọi là “không” được hướng dẫn vào; Không Tam Muội (空三昧) đồng hành với Vô Tướng Tam Muội (無相三昧) và Vô Nguyện Tam Muội (無願三昧); ba loại Tam Muội này được gọi là Tam Giải Thoát Môn (三解脫門, Ba Cửa Giải Thoát). Đặc biệt, cách dùng này được phục hoạt trong Đại Thừa Phật Giáo thời Trung Kỳ trở đi và lấy chủ trương này để làm căn cứ. Lại nữa, Đại Không Kinh (大空經) của Trung Bộ 122, Trung A Hàm Kinh quyển 49, thể hiện rõ các tướng của Không như Nội Không, Ngoại Không và Nội Ngoại Không. Thêm vào đó, cũng có tư liệu nêu rõ mối quan hệ giữa Không và Duyên Khởi (緣起) như Tương Ưng Bộ (p: Saṁyuttanikāya, 相應部) 20.7, Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, kinh 1258). Cách dùng về Không trong Bộ Phái Phật Giáo cũng gần tương tự với Phật Giáo thời kỳ đầu, và trong giai đoạn như trình bày ở trên thì Không vẫn chưa đạt đến tư tưởng trung tâm của Phật Giáo. Khi Bát Nhã Kinh (般若經) xuất hiện, Không được phục hồi và chủ trương mạnh. Trong kinh này, Không thể hiện sự phủ định nghiêm khắc, bài trừ đến tận cùng hết thảy mọi cố định. Tác phẩm hình thành hệ thống lý luận Không này là Trung Luận (s: Mādhyamakakārikā, 中論) của Long Thọ (s: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250), v.v. Long Thọ cho rằng hết thảy mọi tồn tại, vận động, cơ năng, yếu tố và các thứ khác, cũng như ngôn ngữ biểu hiện chúng, đều thành lập trên tính quan hệ phức tạp đa dạng hay Duyên Khởi; hơn nữa, tính quan hệ ấy lại mâu thuẩn lẫn nhau, phủ định liên tục để cùng nhau tồn tại. Việc này xảy ra ngay trong đời thường của chúng ta. Nơi đây, tự tánh (thực thể độc lập tồn tại với tự thân nó) theo cái nhìn thực thể về các yếu tố, v.v., hoàn toàn tiêu diệt mất, căn cứ cũng như thật thái của nó là Không, và mối quan hệ Duyên Khởi-Vô Tự Tánh-Không được xác lập; ngôn ngữ với tư cách là Giả thuộc loại quá độ cũng được công nhận. Phật Giáo từ thời Long Thọ trở về sau đã kế thừa tư tưởng Không Quán (空觀) này; không phải chỉ có Ấn Độ mà Đại Thừa Phật Giáo của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, v.v., tất cả đều triển khai các thuyết theo ảnh hưởng này. Đặc biệt, ở Trung Quốc, xuất hiện tư tưởng “Đạo là không” (Lão Tử [老子] 40), “người thông với Đạo là vô tâm” (Trang Tử [莊子], chương Thiên Địa [天地]), “Đạo chẳng phải có, cũng chẳng phải không” (Trang Tử, chương Tắc Dương [則陽]), v.v. Cho đến Triệu Luận (肇論) giải thích về 3 loại Không là Bổn Vô (本無), Tâm Vô (心無) và Tức Sắc (卽色). Như vậy, Không ở đây có nghĩa là chẳng phải có cũng chẳng phải không có; hơn nữa, nó cũng vừa là có mà cũng vừa là không có. Nhìn thoáng qua, chúng ta thấy như có mâu thuẩn; nhưng đó là phản ánh rõ ràng trưng thực tính giới hạn cũng như tự kỷ mâu thuẩn của hết thảy tồn tại, ngôn ngữ, hiện thực, con người, thế giới, v.v. Đồng thời, Không cũng triệt để tương đối hóa đến bất cứ nơi đâu và thai nghén chí hướng nhắm đến tuyệt đối.

không

(空) Phạm:Zùnya. Dịch âm: Thuấn nhã. Dịch ý: Không vô, Không hư, Không tịch, Không tịnh, Phi hữu. Đối lại: Hữu. Tất cả vật tồn tại đều không có tự thể, thực thể, thực ngã... tư tưởng ấy gọi là Không. Nói cách khác, Không là sự hư huyễn không thực của sự vật, hoặc là sự rỗng lặng trong sáng của lí thể. Tư tưởng không đã có từ thời đại đức Phật còn tại thế, rõ ràng nhất trong Phật giáo Đại thừa sau này và là tư tưởng căn bản của hệ thống kinh Bát nhã. Không được chia ra thành các loại như sau: 1. Nhị không. a) Theo phẩm Quán tà kiến trong Trung luận quyển 4 và luận Thành duy thức quyển 1, thì Không được chia ra làm 2 loại là Nhân không và Pháp không. Nhân không nghĩa là trong cá thể của hữu tình không có thực ngã, cho nên Nhân không còn được gọi là Ngã không, Chúng sinh không, Sinh không, Nhân vô ngã, v.v... Pháp không nghĩa là tất cả các pháp do nhân duyên sinh không có thực thể tồn tại, cho nên gọi là Pháp vô ngã. Tiểu thừa chỉ nói Nhân không, chứ không nói Pháp không, còn Đại thừa chủ trương Nhân pháp nhị không(cũng gọi Nhân pháp nhị vô ngã, Ngã pháp nhị không). b) Phẩm Thân kiến trong luận Thành thực quyển 10, chia Không thành 2 loại là Tích không và Thể không. Tích không nghĩa là phân tích sự vật tồn tại đến khi không còn phân tích được nữa thì gọi là Không; còn Thể không có nghĩa là ngay bản thân của tất cả sự vật tồn tại đã là không rồi, đương thể tức không, chứ không cần phải phân tích nữa. Tiểu thừa và tông Thành thực chủ trương Tích không, còn Đại thừa thì chủ trương Thể không. c) Theo Tam luận huyền nghĩa, thì Không được chia làm Đãn không và Bất đãn không. Đãn không là chỉ chấp không, chứ không biết đến Chân không và Diệu hữu. Bất đãn không nghĩa là biết rõ Chân không và thừa nhận Diệu hữu, tức là Trung đạo không. 2. Tam không. a) Theo luận Biện trung biên quyển trung và luận Hiển dương thánh giáo, thì 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực đều có nghĩa không, vì thế gọi đó là Tam không. Cảnh mà phàm phu vọng chấp thuộc về tính Biến kế sở chấp, tính này xưa nay vốn không, cho nên gọi là Vô tính không. Pháp do nhân duyên sinh thuộc về tính Y tha khởi, khác với tính Biến kế sở chấp, nhưng không phải hoàn toàn Vô, mà cũng chẳng phải là Hữu như chúng sinh vọng chấp, đây tức là Dị tính không. Còn chân như là tính Viên thành thực, là tự tính do quán xét nhân và pháp đều không mà hiển hiện, đó là Tự tính không. b) Theo kinh Kim cương toản yếu san định kí quyển 1, thì Không có 3 thứ là Nhân không, Pháp không và Câu không. 3. Tứ không. Kinh Đại tập quyển 54 và kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 cho rằng Không có 4 loại: Pháp pháp tướng không, Vô pháp vô pháp tướng không, Tự pháp tự pháp tướng không, Tha pháp tha pháp tướng không. 4. Lục không. Theo luận Xá lợi phất a tì đàm quyển 16, thì Không có 6 loại: a) Nội không, cũng gọi Thụ giả không, Năng thực không nghĩa là 6 chỗ bên trong (6 căn) đều là không. b) Ngoại không, cũng gọi Sở thụ không, Sở thực không, nghĩa là 6 chỗ bên ngoài (6 cảnh) đều là không. c) Nội ngoại không, cũng gọi Thân không, Tự thân không. d) Không không: Cái Không bị quán chiếu(Sở quán) cũng là Không, vì thế còn gọi là Năng chiếu không. e) Đại không, cũng gọi Thân sở trụ xứ không, nghĩa là 10 phương thế giới đều là không. g) Đệ nhất nghĩa không, cũng gọi Thắng nghĩa không, Chân thực không, Chân cảnh không. Nghĩa là ngoài các pháp ra không có cái gì được gọi là tự tính của thực tướng. 5. Thất không. Cứ theo kinh Lăng già quyển 1 (bản 4 quyển), thì Không có 7 loại: a) Tướng không, cũng gọi Tự tướng không, nghĩa là tự tướng và cộng tướng của các pháp đều là không. b) Tính tự tính không, cũng gọi Tự tính không, nghĩa là tự tính của các pháp tức là không. c) Hành không, 5 uẩn xa lìa ngã và ngã sở, vì do nhân duyên sinh. d) Vô hành không, cũng gọi Bất hành không, nghĩa là trong 5 uẩn không hề có Niết bàn. e) Nhất thiết pháp li ngôn thuyết không: Tất cả các pháp không thể dùng lời nói để diễn tả, nên là không. g) Đệ nhất nghĩa thánh trí đại không: Đề nhất nghĩa không thấy được từ quả vị Thánh trí. h) Bỉ bỉ không: Mình, người, kia, đây đều là không; cái Không này là theo nghĩa hẹp. 6. Thập không. Luận Đại tì bà sa quyển 8 nêu ra 10 không: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Tán hoại không, Bản tính không, Vô tế không, Thắng nghĩa không và Không không. 7. Thập nhất không. Theo kinh Niết bàn quyển 16 (bản Bắc), thì Không có 11 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Hữu vi không, Vô vi không, Vô thủy không, Tính không, Vô sở hữu không, Đệ nhất nghĩa không, Không không, Đại không... Trong đó, Vô sở hữu không cũng gọi Bất khả đắc không. 8. Thập lục không. Theo luận Biện trung biên quyển thượng, thì Không có 16 thứ: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Đại không, Không không, Thắng nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô tế không, Vô tán không, Bản tín không, Tướng không, Nhất thiết pháp không, Vô tính không và Vô tính tự tính không. 9. Thập bát không. Theo kinh Đại phẩm bát nhã quyển 3, kinh Đại tập quyển 54 và luận Đại trí độ quyển 31, thì Không có 18 loại: Nội không, Ngoại không, Nội ngoại không, Không không, Đại không, Đệ nhất nghĩa không, Hữu vi không, Vô vi không, Tất kính không, Vô thủy không, Tán không, Tính không, Tự tướng không, Chư pháp không, Bất khả đắc không, Vô pháp không, Hữu pháp không và Vô pháp hữu pháp không... [X. kinh Đại bát nhã ba la mật Q.44; kinh Niết bàn Q.25 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38; luận Bồ đề tâm; luận Thập bát không; Đại thừa nghĩa chương Q.1 đến Q.4; Duy ma kinh nghĩa kí Q.3; Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Trung quán luận sớ Q.2 phần cuối]. (xt. Bản Thể, Không Hữu Luận Tranh).

Không A Di Đà Phật

(空阿彌陀佛, Kūamidabutsu) hay Không A (空阿, Kūa, 1156-1228): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu thời kỳ Liêm Thương, hiệu là Không A (空阿), tục danh là Nguyên Thu Trạch (原秋澤, tên bị lưu đày), thường được gọi là A Không Vô Trí (空阿無智). Ông quy y theo Nguyên Không (源空) trên Tỷ Duệ Sơn và chuyên tâm tu pháp môn Xưng Danh Niệm Phật. Ông thường không sống ở một chỗ mà đi tuần du khắp vùng Kyoto, và tương truyền ông thường tập trung 48 vị Tăng có giọng hay lại mà niệm Phật. Vào năm 1227, nhân vụ pháp nạn Gia Lộc, ông bị lưu đày đến vùng Tát Ma (薩摩, Satsuma, thuộc phía Tây Kagoshima-ken [鹿兒島縣]), nhưng trước khi bị đưa đi thì ông đã qua đời.

không chấp

Phá được ngã chấp, pháp chấp rồi, thấy vũ trụ vạn vật đều không, bèn chấp cái không này cho là tất cả đều không có, gọi là không chấp.

không căn, hai căn

Những người có bộ phận sanh dục bất thường, hoặc không có dương vật, dương vật rất nhỏ, hoặc có cả dương vật lẫn âm vật nhưng cả hai đều nhỏ khác thường.

không cư thiên

(空居天) Phạm:Àntarikwavàsin. Các tầng trời ở trên hư không. Như trời Dạ ma, trời Đâu suất, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại ở sáu tầng trời cõi Dục và các trời ở cõi sắc. Trái lại, trời Tứ thiên vương, trời Đao lợi, v.v... ở trên núi Tu di, thì gọi là Địa cư thiên(các trời ở trên mặt đất). [X. luận Đại tì bà sa Q.134; luận Câu xá Q.11; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.31].

Không Cốc Cảnh Long

(空谷景隆, Kūkoku Keiryū, 1393-1443?): vị tăng của phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Tổ Đình (祖庭), hiệu Không Cốc (空谷), xuất thân Cô Tô (姑蘇, Tỉnh Giang Tô), họ Trần (陳). Ban đầu ông theo học đạo với Lại Vân Trí An (嬾智雲安), sau xuất gia với Thạch Am (石菴) và tu hành với vị này được hơn 7 năm, có chỗ tỉnh ngộ, được thầy ấn chứng cho và kế thừa dòng pháp. Từ đó, ông trú tại Bích Nham (碧巖), nhưng đến cuối đời ông lại chọn vùng đất Tu Cát Sơn (修吉山) ở Tây Hồ (西湖), dựng một cái thất, đặt tên là Chánh Truyền Tháp Viện (正傳塔院) và sống tại đây. Đến năm thứ 8 niên hiệu Chánh Thống (正統) nhà Minh, tự ông viết bài tháp minh cho mình, thọ 52 tuổi. Trước tác của ông có Thượng Trực Biên (尚直編), Thượng Lý Biên (尚理編), Không Cốc Tập (空谷集).

Không Cốc Tập

(空谷集, Kūkokushū): 6 quyển, san hành vào năm thứ 22 (1285) niên hiệu Chí Nguyên (至元), nguyên văn là Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập (林泉老人評唱投子清和尚頌古空谷集, Rinsenrōjinhyōshōtōsuseioshōjukokūkokushū). Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義清) thâu lục 100 tắc cơ duyên của cổ nhân, thêm vào lời tụng cổ cho mỗi tắc, sau đó Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) còn thêm vào lời dạy chúng và trước ngữ, kế đến Lâm Tuyền Tùng Luân (林泉從倫) ghi lời bình xướng; cho nên đây là tác phẩm có sự kết hợp của 3 Thiền tượng nổi tiếng, cũng tương tợ như Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄). San bản của Nhật có bản do Nhất Trinh (一貞) ở Hạo Đài Tự (皓臺寺), Trường Khi (長崎, Nagasaki) san hành vào năm thứ 3 (1654) niên hiệu Thừa Ứng (承應) và bản do Liên Sơn Giao Dịch (連山交易) ghi lời chú và san hành trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Hòa (天和, 1681-1684). Như Bích Nham Lục (碧巖錄) và Tùng Dung Lục (從容錄), nó là tập công án không được lưu hành ngoài đời, mà chỉ phổ biến trong phạm vi Thiền môn thôi. Ngoài ra, Tổ Đình Cảnh Long (祖庭景隆) có cho rằng có bộ Không Cốc Tập 30 quyển, nhưng độ tin cậy không có.

không cốc tập

(空穀集) Gọi đủ: Lâm tuyền lão nhân bình xướng Đầu tử Thanh hòa thượng tụng cổ không cốc tập. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Đầu tử Nghĩa thanh biên tập vào đời Tống, Trung quốc. Nội dung gồm 100 tắc công án nói về cơ duyên của các Thiền sư qua các đời, trong mỗi tắc đều có phụ thêm bài tụng. Về sau, ngài Đơn hà Tử thuần phụ thêm lời Thị chúng và Trứ ngữ. Đến đời Nguyên, ngài Lâm tuyền Tòng luân lại viết lời Bình xướng và in chung thành 1 tập để lưu hành. Về hình thức, tập sách này cũng cùng 1 thể loại với Thung dung lục, Bích nham lục, v.v... Ngoài ra, vào đời Minh, ngài Tổ đình Cảnh long cũng soạn Không cốc tập 30 quyển, nhưng đến nay đã bị thất lạc.

Không Dã

(空也, Kūya, Kōya, 903-972): vị tăng sống giữa thời Bình An, vị tổ của Phái Không Dã Niệm Phật (空也念佛派, Kūyanembutsu-ha), tổ của pháp môn Odorinembutsu (踊り念佛, Niệm Phật Nhảy), húy là Không Dã, Hoằng Dã (弘也), Quang Thắng (光勝); không rõ xuất thân ở đâu. Khi tuổi thanh niên, dưới hình thức cư sĩ tại gia, ông đi khắp các tiểu quốc, làm các công việc xã hội như đắp đường, xây cầu cống, đào giếng, v.v. Khoảng độ hơn 20 tuổi, ông xuất gia ở Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji) vùng Vĩ Trương (尾張, Owari), thọ giới Sa Di, lấy hiệu là Không Dã. Đến năm 938, ông lên kinh đô, lấy nơi đây làm trung tâm để tiến hành bố giáo pháp môn “miệng xưng niệm Phật”, không kể giàu nghèo sang hèn gì cả; từ đó ông được gọi là Thị Thánh (市聖, vị Thánh ngoài chợ) hay A Di Đà Thánh. Vào năm 948, ông có thọ giới với Diên Xương (延昌), vị Thiên Thai Tọa Chủ đương thời, ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) với giới danh là Quang Thắng, nhưng sau đó ông không bao giờ dùng đến tên này. Trong khoảng niên hiệu Ứng Hòa (應和, 961-964), khi bệnh dịch lưu hành khắp nơi, ông sáng kiến Tây Quang Tự (西光寺, tức Lục Ba La Mật Tự [六波羅蜜寺, Rokuharamitsu-ji]) để an trí tượng Thập Nhất Diện Quan Âm và cầu nguyện cho bệnh tật tiêu trừ. Ông được xem như là người khai sáng Tịnh Độ Giáo của Nhật Bản. Trước tác của ông có Di Đà Hòa Tán (彌陀和讚).

không dã

(空也) (903?-972) Danh tăng Nhật bản, thuộc tông Tịnh độ, sống vào giữa thời đại Bình an, hiệu Không dã, chuyên truyền bá Tịnh độ giáo. Năm 20 tuổi, sư xuất gia ở chùa Quốc phận tại Vĩ trương, sư thường đi tham bái Thánh tích ở các nước và mở đường bắc cầu, đào giếng, xây dựng và sửa chữa các chùa viện, khắc tạo tượng Phật, biên chép kinh điển, thu nhặt các thi hài ở nơi núi non hoang vắng đem hỏa thiêu. Sư thường niệm danh hiệu Phật A di đà để khuyến hóa dân chúng, cho nên người đương thời tôn sư là Thánh A di đà. Sư trụ tại chùa Phong tướng ở quận Ấp bảo, nước Bá ma, xem Đại tạng kinh trong nhiều năm, thỉnh thoảng nằm mộng thấy người vàng(Phật hoặc Bồ tát) đến giải thích những nghĩa khó hiểu trong các kinh. Sư nghe trên Thang đảo ở giữa biển A ba có linh tượng Quan âm, sư liền đến chiêm bái, ngày đêm thắp hương cầu nguyện, nhịn ăn, không ngủ, cuối cùng được bái kiến tôn dung của Bồ tát. Năm Thiên lịch thứ 2 (948), sư lên núi Tỉ duệ xin ngài Diên xương thụ giới Đại thừa, được ban pháp danh Quang thắng. Năm Thiên lộc thứ 3, sư ở chùa Tây quang, tự biết giờ viên tịch đã đến, sư liền tắm gội, thay đổi y phục, ngồi xếp bằng, tay bưng lư hương, mặt hướng về phía tây rồi thị tịch, thọ 70 tuổi(có các thuyết nói 76 tuổi, hoặc 69 tuổi, hoặc 83 tuổi). Công đức hoằng dương Tịnh độ giáo của sư rất lớn, nên hàng quí tộc Phật giáo đương thời tạo tượng sư đứng ở trong chùa, từ miệng tuôn ra nhiều tượng Phật nhỏ, biểu trưng cho sự thành tựu xưng danh niệm Phật của sư. [X. Nguyên hanh thích thư Q.14; Nhật bản vãng inh cực lạc kí; Không dã thượng nhân hội từ truyện].

không dã niệm phật

(空也念佛) Cũng gọi Bát khấu (gõ bát). Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Phương pháp niệm Phật do sư Bình định thịnh thực hành theo sự chỉ dạy của sư phụ là ngài Không dã thuộc tông Tịnh độ Nhật bản. Phương pháp này là vừa gõ vào vỏ quả bầu khô, vừa niệm Phật, thông thường dùng các âm điệu hòa ca, hòa tán, phụ họa với nhịp phách, nhịp chiêng, vỗ tay, đi vòng quanh, nhảy múa và hoan hỉ niệm Phật. Nhờ công đức niệm Phật ấy sẽ được vãng sinh Tịnh độ cực lạc, do đó tâm sinh vui mừng.

Không Dã Thượng Nhân

空也上人; j: kūya shōnin, 903-972;|Tịnh độ tông

không gian

(空間) I. Không Gian. Khoảng không. Tức chỉ hư không hoặc khoảng trống giữa các vật. Phật giáo, từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay cho rằng 6 đại: đất, nước, lửa, gió, không, thức là những yếu tố cơ bản cấu thành sự tồn tại của muôn vật; trong đó, 4 đại đất, nước, lửa, gió, là những nguyên tố sinh thành muôn vật, còn Không đại là khoảng không gian cần thiết cho muôn vật tồn tại. Nhờ 5 đại này mà tất cả muôn vật mới tồn tại được, 5 đại này gọi chung là Sắc, có tính chất biến hoại, chất ngại. Biến hoại là biến đổi không ngừng, dù trong 1 nháy mắt cũng không trụ lại; còn chất ngại có nghĩa là 2 khối vật chất trong cùng một thời gian, không thể cùng chiếm hữu một không gian. Đến thời đại Phật giáo Đại thừa thì sản sinh một khái niệm rất đặc biệt về không gian như kinh Hoa nghiêm cho rằng trong bất cứ lỗ chân lông nào trên cơ thể đều có cõi nước của chư Phật, nhiều như nước biển, không thể tưởng tượng được; kinh Duy ma cũng nói trong căn thất chật hẹp của ngài Duy ma có thể đặt được 32 nghìn tòa Sư tử. Lại nói Bồ tát có năng lực đặt núi Tu di vào trong 1 hạt cải, mà núi Tu di không bị rút nhỏ lại và hạt cải cũng không phình ra to; đem nước 4 biển lớn rót vào trong một lỗ chân lông mà cũng không làm cho các loài cá, ba ba, tôm, cua... hay bất cứ sinh vật nào trong nước cảm thấy chao động hoặc chật chội. Khái niệm về không gian và những việc làm này chỉ có Bồ đã chứng được giải thoát bất tư nghị mới làm được. Và trong Phật giáo, khái niệm về không gian này đặc biệt được gọi là Không, Bất sinh, Vô tự tính... II. Không Gian. Cũng gọi Không nhàn, Không nhàn xứ, Không ốc. Nơi vắng vẻ cách xa làng xóm thích hợp cho việc tu đạo. Kinh Di giáo (Đại 12, 1111 hạ), nói: Hãy rời bỏ đồ chúng của mình và đồ chúng của người, một mình ở chốn không nhàn, thiền định tư duy, diệt trừ gốc khổ. (xt. A Lan Nhã).

không giáo

(空教) Cũng gọi Đệ nhị thời giáo, Duy thuyết pháp không tông. Đối lại: Hữu giáo. Giáo lí nói các pháp đều không, là thời giáo thứ 2 trong 3 thời giáo do tông Pháp tướng thành lập. Không giáo chủ trương Vạn pháp giai không như được nói trong các bộ kinh Bát nhã. Theo sự phán giáo của các ngài Tuệ quán và Lưu cầu, thì Không giáo là Vô tướng giáo trong 5 giáo; các ngài Đàm ẩn và Tự quĩ thì cho Không giáo là Bất chân tông trong 5 giáo. Còn ngài Hiền thủ phán lập 4 giáo, thì cho Không giáo là Chân không vô tướng tông. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương (Đại 45, 249 thượng) ghi: Các kinh nói về Không giáo là thời giáo thứ 2, vì đã dùng lời kín đáo để nói chung các pháp không tự tính. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Tam Thời Giáo).

không giả trung

(空假中) Chỉ cho Tam đế tam quán do tông Thiên thai lập ra. Lí thể của các pháp xưa nay vốn vắng lặng; gọi là Không; các pháp do nhân duyên sinh, gọi là Giả; lí thể tuyệt đối, chẳng phải không chẳng phải giả, gọi là Trung. Đứng về phương diện lí thực tướng sở quán mà nói, thì Không, Giả, Trung được gọi là Tam đế; còn đứng về phương diện trí năng quán mà nói, thì Không, Giả, Trung được gọi là Tam quán. Không để phá tất cả pháp, Giả để lập tất cả pháp, Trung để đạt lí vi diệu của tất cả pháp, Không, Giả, Trung thực ra chỉ là tên khác nhau của một pháp cho nên nói Tức không tức giả tức trung. (xt. Tam Đế).

không giả trung tam quán

(空假中三觀) Ba pháp quán Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập ra. Không quán là từ kiến thức thông thường (giả) mà tiến vào chân lí(không); Giả quán là không dừng lại ở nơi Không mà tiến vào Giả do trí Phật chiếu rọi; Trung đạo quán là hạnh Bồ tát đại bi không chấp trước Không quán, Giả quán. Hành giả trụ từ Giả quán vào Không quán, vì sức định nhiều nên chưa thấy tính Phật; hành giả trụ từ Không quán vào Giả quán, vì sức tuệ nhiều, tuy thấy tính Phật nhưng không rõ ràng. Bởi thế, Không quán và Giả quán đều là pháp quán phương tiện. Nếu trụ trong Trung đạo chính quán thì định và tuệ bằng nhau, có thể thấy được tính Phật rõ ràng. (xt. Tam Quán).

không giới sắc

(空界色) Không giới, Phạm:Àkàza-dhàtu. Chỉ cho sắc trong cõi hư không, nghĩa là những khoảng không mà mắt có thể thấy được, tức các kẽ hở và lỗ hổng như khe cửa, khoảng không trong miệng và lỗ mũi, v.v..., vì mắt có thể thấy nên thêm danh từ sắc mà gọi là Không giới sắc. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1, thì Không giới sắc lấy bóng, ánh sáng, sáng và tối trong 12 hiển sắc làm thể; nhưng vì bóng, ánh sáng, sáng và tối cũng theo 4 hiển sắc chính là xanh, vàng, đỏ, trắng mà hiển hiện, cho nên Không giới sắc cũng thuộc về xanh, vàng, đỏ, trắng. Lại xanh, vàng, đỏ, trắng là tịnh sắc thuần nhất của 4 đại châu hiển hiện trong hư không, nên Không giới sắc tức là Không nhất hiển sắc. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 6 hạ) còn nói: Vì thế không giới này lấy sáng tối làm thể, nên biết thể ấy không lìa ngày đêm, đây tức là Lân a già sắc. Do đó mà biết, Không giới sắc còn có tên là Lân a già sắc (Phạm: Agha-Sàmantaka), chỉ cho sắc gần với A già. [X. luận Câu xá luận thích Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1 hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Không Nhất Hiển Sắc, Lân A Già Sắc).

không hoa

xem hoa đốm. ; (空華) Phạm: Khapuwpa. Cũng gọi Nhãn hoa. Gọi đủ: Hư không hoa. Hoa đốm trong hư không. Trong hư không vốn không có hoa, nhưng vì người đau mắt, trong mắt có màng nên thường thấy hoa đốm huyễn hiện trong hư không. Danh từ này được dùng để ví dụ cảnh giới vốn không có thực thể, nhưng vì vọng kiến sai lầm nên cho là có thực; rồi thấy trong thân mình có một cái ta thường trụ bất biến, trong muôn vật có thực thể; như thế gọi là thấy hoa giữa hư không. Ngoài ra, cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, thì tăng chúng ở nước Ô đồ thuộc Trung Ấn độ, phần nhiều tu học pháp Tiểu thừa, vì họ cho giáo pháp Đại thừa không phải của Phật, cho nên chê những người tu học pháp Đại thừa là Không hoa ngoại đạo. [X. kinh Viên giác; phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật; luận Thành duy thức Q.8; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

Không hành nữ

空行女; S: ḍākinī; T: khadroma;|Theo quan điểm dân gian Ấn Ðộ, Không hành nữ là các nữ thần trong thiên giới. Ðặc biệt trong Kim cương thừa, Không hành nữ được xem là gốc của sự cảm hứng và trong các tranh tượng, chư vị được vẽ như các nữ thần loã thể đáng sợ.||H 32: Kim cương không hành nữ (s: vajra-ḍākinī), đang ở tư thế đứng vòng cung (s: cāpasthāna). Trong Phật gia thì vị này thuộc về Ðiều hỉ quốc của Phật Bất Ðộng và thường được trình bày với tay cầm Kim cương chử và bình. Thỉnh thoảng bình được thay thế bằng một sọ người.|Trong Phật giáo Tây Tạng, nhiều tu sĩ xem Không hành nữ là thần bảo hộ, là người giải phóng năng lực của người tu tập và hoà nhập vào năng lực của chính mình. Danh hiệu Không hành nữ có nghĩa là vị nữ thần di chuyển trên bình diện thật tại cao nhất – theo tiếng Tây Tạng Kha-dro-ma, kha: không gian, dro: chuyển dịch, ma: nữ giới. Sự loã thể tượng trưng cho sự thật không bị che đậy.

không hạnh

chỉ sự tu chứng tánh không, tức thật tánh của các pháp, vì tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh, không hề có một thực thể nào tồn tại độc lập.

Không Hải

(空海, Kūkai, 774-835): vị tổ sư khai sáng ra Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, xuất thân vùng Tán Kì (讚岐, Sanuki) thuộc Tứ Quốc (四國, Shikoku), cha là Tá Bá Trực Điền (佐伯直田), mẹ là A Đao (阿刀). Lúc lên 15 tuổi, ông theo người bác là A Đao Đại Túc (阿刀大足) lên kinh đô, năm 18 tuổi thì học hết các học vấn của Trung Quốc, nhưng vì ông có chí xuất gia nên cuối cùng bỏ học. Ông theo Đại Long Ngạc (大龍嶽) ở vùng A Ba (阿波, Awa, thuộc Tokushima-ken [德島縣]) và Thất Hộ Khi (室戸崎) ở vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]) tu hành rất nghiêm mật. Ngoài ra, ông còn theo học các giáo học ở các chùa lớn đương thời vùng Nại Lương. Đến năm 24 tuổi, ông viết nên cuốnTam Giáo Chỉ Quy (三敎指歸), nhằm luận về những điểm hay dở của Nho Giáo, Đạo Giáo và Phật Giáo. Đó cũng chính là bức thư tuyên ngôn xuất gia của Không Hải. Với lòng quan tâm rất lớn đối với Mật Giáo, vào năm 804, lúc 34 tuổi, ông được cho đi theo cùng với Đằng Nguyên Cát Dã Ma Lữ (藤原吉野麻呂) sang nhà Đường. Giữa đường cả hai người gặp nhiều trắc trở trên biển cả, nhưng cuối cùng cũng đến được kinh đô Trường An.Năm sau từ tháng 5 đến tháng 12, ông theo hầu hạ Huệ Quả (惠果) ở Thanh Long Tự (青龍寺), và được thọ nhận lễ Quán Đảnh và kế thừa bí pháp từ vị này. Bên cạnh đó ông còn theo học pháp với Bát Nhã Tam Tạng (般若三藏), nhưng vì vào tháng 12 Huệ Quả viên tịch, nên tháng 10 năm sau (806), ông phải trở về nước, mang theo nhiều kinh luận và pháp cụ Mạn Trà La. Đến năm 36 tuổi, ông đến trú tại Cao Hùng Sơn Tự (高雄山寺) vùng Kyoto và bắt đầu thắp sáng ngọn đèn Chơn Ngôn Mật Giáo tại đây. Từ đó, ông được Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō) ủng hộ và chấp nhận cho phát triển Chơn Ngôn Tông. Thêm vào đó, ông còn giao tế với Tối Trừng (最澄, Saichō) của Thiên Thai Tông và đã từng truyền thọ pháp Quán Đảnh cho vị này cùng với đệ tử của ông. Đến năm 816, lúc 43 tuổi, ông đến khai sáng vùng Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan) và trãi qua quãng đời cuối cùng của ông tại nơi đây. Đến năm 823, lúc 50 tuổi, nơi đây đã trở thành đạo tràngcăn bản cho Chơn Ngôn Tông, và quần thể tháp đường cũng được kiến lập nên. Chính trong khoảng thời gian này, Không Hải đã bố giáo cho rất nhiều đệ tử, thuyết giáo cho rất nhiều người và xây dựng nên giáo đoàn của Chơn Ngôn Tông. Ông đã viết khá nhiều tác phẩm như Biện Hiển Mật Nhị Giáo Luận (辨顯密二敎論), Tức Thân Thành Phật Nghĩa (卽身成佛義), Thanh Tự Thật Tướng Nghĩa (聲字實相儀), Hồng Tự Nghĩa (吽字義), Bí Tạng Bảo Thược (秘藏寳鑰), Bát Nhã Tâm Kinh Bí Kiền (般若心經秘鍵), v.v., và hình thành nên giáo học của Chơn Ngôn Tông. Vào năm 936 (năm thứ 2 niên hiệu Thừa Hòa [承和]), ông thị tịch ở Cao Dã Sơn. Đến năm 921 (năm thứ 21 niên hiệu Diên Hỷ [妙喜]), ông được ban cho thụy hiệu là Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師, Kōbō Daishi). ; 空海; J: kūkai; 774-835, còn được gọi là Hoằng Pháp Ðại sư (j: kōbō daishi);|Cao tăng Nhật Bản, người sáng lập Chân ngôn tông (j: shingon) – dạng Mật tông tại Nhật. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và về Nhật mở đạo trường tại núi Cao Dã (j: kō-ya), về sau trở thành trung tâm của Chân ngôn tông. Năm 17 tuổi, Sư đã viết luận về Nho, Lão và Phật giáo và tác phẩm Thập trụ tâm luận – Sư biên soạn bộ này dưới lệnh của Thiên hoàng – nói rõ đạo lí cơ bản của Chân ngôn tông.|Sư cũng mở trường dạy nghệ thuật và khoa học, chấp nhận mọi người theo học, dạy các môn học thế gian và siêu thế gian, kể cả đạo lí của Khổng Tử và Lão Tử. Sư cũng nổi danh trong các ngành khác như hội hoạ, điêu khắc và kĩ thuật.|Sư rất quan tâm đến việc học Phạn ngữ vì cho rằng chỉ với ngôn ngữ này, ý nghĩa của những Man-tra và Ðà-la-ni mới thể hiện trọn vẹn. Sư và các môn đệ cũng là những người đầu tiên kết hợp truyền thống Thần đạo (j: shintō) với Phật giáo và đưa các vị Tổ của Thần đạo lên hàng Bồ Tát.|Sư sinh trưởng trong một gia đình quý tộc. Năm 791, Sư vào một trường dạy Nho và cũng trong năm này, mới 17 tuổi, Sư viết Tam giáo chỉ quy, một bài luận về ba học thuyết thời bấy giờ là Phật, Khổng và Lão giáo. So sánh với đạo Phật, Sư nêu ra những giới hạn của Khổng, Lão. Theo Sư thì đạo Phật đã dung chứa những yếu tố của Khổng, Lão. Tác phẩm Thập trụ tâm luận (Mười bậc trên đường học đạo) của Sư được xem là quan trọng nhất, vượt xa năm tác phẩm Phật giáo khác cùng được trình cho nhà vua thời bấy giờ. Tác phẩm này bao gồm mười chương, trình bày mười cấp phát triển một ý thức giác ngộ. Sư là người đầu tiên tại Nhật dùng phương pháp so sánh một học thuyết với học thuyết khác để làm sáng tỏ một quan điểm. Mười bậc trên đường học đạo theo Thập trụ tâm luận của Sư gồm có:|Cấp 1 là thế giới như của súc sinh, thế giới không kiểm soát được tham dục, thế giới không hề có ý thức Giác ngộ;|Cấp 2 là Khổng giáo, là nơi thực hiện các đức hạnh thế gian, nhưng không quan tâm đến ý thức giác ngộ;|Cấp 3 là Lão giáo, mà các tín đồ tin tưởng nơi một tầng trời đầy hoan lạc bằng cách tu tập thiền định;|Cấp 4 là cấp của Thanh văn thừa của Tiểu thừa, tin vào tính Vô ngã vì cái ngã chỉ do Ngũ uẩn tạo thành;|Cấp 5 là cấp Ðộc giác Phật, là người đạt tri kiến về Mười hai nhân duyên, về sự vô thường, vô ngã và là người đã chấm dứt sự phát sinh của Nghiệp;|Cấp 6 là cấp của tông Pháp tướng (j: hossū-shū);|Cấp 7 là cấp của Tam luận tông, cấp 8 là cấp của Thiên Thai tông, cấp 9 là cấp của Hoa nghiêm tông và cấp 10 là Chân ngôn tông. Sư cho rằng chín cấp trước đều do »bệnh của tư tưởng« mà thành, chỉ có cấp 10 mới chứa đựng chân lí đích thật.

không hải

(空海) (774-835) Cao tăng Nhật bản, tổ khai sáng tông Chân ngôn, người Tán kì, huyện Hương xuyên, họ Tá bá trực. Năm 15 tuổi, sư đến kinh đô (Kyoto) nghiên cứu Nho học, sau đó sư vào Đại học khoa Minh kinh (chuyên nghiên cứu kinh điển), dần dần tiếp xúc với Phật giáo. Năm 18 tuổi, sư viết bài Lung cổ chỉ qui(sau đổi là Tam giáo chỉ qui) để phê phán Nho, Thích, Đạo. Năm Diên lịch 12 (793), sư xuất gia, thờ ngài Cần thao ở chùa Điên vĩ sơn tại Hòa tuyền làm thầy, pháp danh là Giáo hải, sau đổi là Như không. Sư ở đây nghiên cứu Tam luận và giáo nghĩa Đại, Tiểu thừa. Năm Diên lịch 14 (795), sư thụ giới Cụ túc tại đàn giới chùa Đông đại, đổi tên là Không hải. Năm Diên lịch 15 (796), trong giấc mộng, sư cảm được kinh Đại nhật, nhưng chưa hiểu tỏ. Năm Diên lịch 23 (804), sư đến Trung quốc tham yết các bậc danh đức tại Trường an, được A xà lê Huệ quả chùa Thanh long truyền pháp Quán đính A xà lê, mật hiệu là Biến chiếu kim cương. Sư là người Nhật bản đầu tiên được học giáo học Chân ngôn. Niên hiệu Đại đồng năm đầu (806) sư trở về Nhật bản. Năm sau (807), sư giảng kinh Đại nhật ở chùa Cửu mễ tại Kinh đô. Năm Đại đồng thứ 3 (808) vua ban sắc cho phép tông Chân ngôn được truyền bá rộng rãi. Năm Đại đồng thứ 4 (809), sư vào cung nói về nghĩa Tức thân thành Phật khiến các bậc thạc đức như Đạo hùng thuộc tông Hoa nghiêm, Viên trừng thuộc tông Thiên thai, v.v... đều phải bái phục. Niên hiệu Hoằng nhân năm đầu (810), sư trụ ở chùa Cao hùng sơn, được bổ nhiệm chức Biệt đương chùa Đông đại. Năm Hoằng nhân thứ 3 (813), sư tu pháp quán đính Kim cương giới và truyền cho các vị Tối trừng, Hòa khí Chân cương, v.v..., không bao lâu, sư lại tu pháp quán đính Thai tạng giới và truyền cho các vị Tối trừng, Hiền vinh, v.v..., là pháp quán đính đầu tiên của cả 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới Mật giáo tại Nhật bản. Năm Hoằng nhân thứ 7 (816), vua sắc ban khu đất ở núi Cao dã để xây chùa. Năm Hoằng nhân thứ 9 (818), vua ban cho sư hiệu Truyền Đăng Đại Pháp Sư, giữ chức Nội cung phụng thập thiền sư. Năm Hoằng nhân thứ 10 (819), chùa trên núi Cao dã được khánh thành hiệu là Kim cương phong tự. Năm Hoằng nhân 14 (823), sư được vua ban cho Đông tự, cùng với núi Cao dã đều là Đạo tràng Mật giáo. Cách kết cấu điện đường, tạo hình tượng Phật, pháp hội hàng năm, uy nghi tăng chúng, v.v... của Đông tự đều được phỏng theo phong cách của chùa Thanh long ở Trung quốc. Năm Thiên trường thứ 5 (828), sư sáng lập viện Tông nghệ chủng trí, là ngôi trường học tư lập đầu tiên ở Nhật bản, giảng dạy Mật giáo cho các đệ tử xuất gia và tại gia. Năm Thừa hòa thứ 2 (835), sư thị tịch ở núi Cao dã, thọ 62 tuổi, được truy tôn là Cao tổ của tông Chân ngôn Nhật bản, thụy hiệu Hoằng Pháp Đại Sư, người đương thời thường gọi Cao dã đại sư. Tác phẩm của sư gồm có: Biện Hiển Mật nhị giáo luận, Bí tạng bảo thược, Thập trụ tâm luận, Phó pháp truyện, Thỉnh lai mục lục, Ngự di cáo, Tức thân thành Phật nghĩa, Thanh tự nghĩa, Hồng tự nghĩa, Bát nhã tâm kinh bí kiện, Đại Tất đàm chương và Triện lệ vạn tượng danh nghĩa (Từ điển), Văn kính bí phủ luận, Văn bút nhãn tâm sao, Tính linh tập, Cao dã tạp bút tập, Phong tín thiếp, Quán đính lịch danh, Thất tổ tán, Tam thập thiếp sách tử... [X. Nguyên hanh thích thư Q.1; Cao dã xuân thu biên niên tập Q.1; Bản triều cao tăng truyện Q.3; Hoằng pháp đại sư chính truyện].

không hầu

(箜篌), tên một loại đàn thời cổ, Phạn ngữ là vỵṇ, ngày nay không còn nữa. Loại đàn này thường có 23 dây, nhưng cũng có các loại được chế tạo với 22, 24 hoặc 25 dây. Đàn có xuất xứ từ Ấn Độ, về sau có lưu hành sang các nước vùng Tây Vực cho đến Trung Hoa vào thời Hán. Một số phù điêu trang trí trong các tháp cổ cũng như được phát hiện gần đây trong động Đôn Hoàng còn lưu giữ hình ảnh loại đàn này. ; (箜篌) Phạm,Pàli:Vìịà. Cũng gọi Không cổ, Giang hồ. Một loại đàn dây thời xưa. Trong các kinh điển Phật, như phẩm Phân biệt công đức kinh Pháp hoa, kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 400, kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), phẩm Phổ hiền hành nguyện kinh Hoa nghiêm, kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 1, Kim cương đính thắng sơ Du già Phổ hiền bồ tát niệm tụng pháp, Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ, luận Đại thừa tập bồ tát học quyển 6, v.v... đều có nói đến tên của loại nhạc khí này. Lại trong các bức phù điêu trên lan can của Đại tháp maràvati (A ma la bà đề) ở Ấn độ, có khắc hình tượng Thiên nữ ôm đàn không hầu mà gảy. Và trong các bức bích họa ở động Thiên Phật tại Đôn hoàng, Trung quốc, cũng có vẽ hình đàn không hầu. Cứ theo phần chú thích về Hiếu vũ bản kỉ của Từ quảng trong Sử kí quyển 12, thì vào thời Vũ đế, nhạc nhân Hầu điều chế ra đàn Không hầu. Theo Tùy thư âm nhạc chí 10, thì đàn Không hầu có xuất xứ từ Tây vực, lưu hành ở các nước Tây lương, Cưu tư, Thiên trúc, Sớ lặc, An quốc, Cao li, v.v... Đàn Không hầu có nhiều loại như: Không hầu đứng, Không hầu nằm, Không hầu đầu phượng, v.v... Đàn Không hầu đứng có thân cong mặt dài, có 23 dây, cũng có loại 22, 24, 25 dây. Khi tấu nhạc thì đặt đàn vào lòng và 2 tay cùng gảy. Đàn Không hầu nằm thì có 7 dây, hình dáng giống như đàn tì bà. Đàn Không hầu đầu phượng giống như đàn Không hầu nằm, nhưng có trang sức đầu chim phượng. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.10, Q.26, Q.27; Hi lân âm nghĩa Q.1, Q.2, Q.6; Uyên giám loại hàm Q.189; Cổ kim đồ thư tập thành nhạc luật điển 115; Đương ma mạn đồ la sưu huyền kí Q.7].

không hữu

(空有) Đồng nghĩa: Hữu vô. Không và có. Không là trừ bỏ, Hữu là kiến lập. Các pháp do nhân duyên sinh, cho nên về mặt sự thì chúng tồn tại, vì thế gọi là Hữu. Nhưng các pháp do nhân duyên sinh không có tự tính, chỉ là có giả, nên gọi là Không. Đây là 2 hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo.

không hữu các cụ nhị nghĩa

(空有各具二義) Chân không và huyễn hữu(có giả) mỗi pháp đều có 2 nghĩa: Các pháp nương vào nhân duyên mà sinh không có tự tính, gọi là Không, cái không này chẳng phải là cái không Vô kiến, Đoạn kiến, nên gọi là Chân không; các pháp tuy không tự tính nhưng do duyên mà sinh nên gọi là Hữu, Hữu này chẳng phải là cái hữu Thường kiến, Hữu kiến, nên gọi là Huyễn hữu (có giả). Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 14, thì 2 nghĩa của Chân không là: 1. Chân không có công năng diệt huyễn hữu, nếu huyễn hữu không diệt thì chẳng phải là chân không. 2. Chân không có công năng thành huyễn hữu, nếu trệ ngại mà không thành thì cũng chẳng phải là chân không. Hai nghĩa của Huyễn hữu là: 1. Huyễn hữu che lấp chân không, nếu huyễn hữu hiển hiện, thì chân không ẩn khuất. 2. Huyễn hữu chẳng trở ngại chân không, huyễn hữu cuối cùng sẽ ẩn diệt để cho chân không hiện rõ.

không hữu luận tranh

(空有論爭) Sự tranh luận giữa 2 hệ thống giáo lí chủ trương Không và Hữu trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ có 2 hệ thống giáo lí lớn, 1 của các ngài Long thụ và Đề bà; 1 của các ngài Vô trước và Thế thân. Hệ thống Long thụ- Đề bà chủ trương các pháp đềuKhông, về sau, tông Tam luận thừa kế chủ trương này. Còn hệ thống Vô trước - Thế thân thì chủ trương các pháp đều Hữu, về sau phát triển thành tông Pháp tướng. Nhưng ở thời đại các ngài Long thụ- Đề bà và Vô trước- Thế thân, sự tranh luận chính thức chưa xảy ra, chỉ có khác nhau về tông thú giáo nghĩa mà thôi, tức là các ngài Long thụ - Đề bà chủ trương cái Không tiêu cực, mà các ngài Vô trước - Thế thân thì chủ trương cái Hữu tích cực. Trong luận Trung quán và luận Thập nhị môn, tuy ngài Long thụ nói về Chân không, Vô tướng, nhưng trong luận Thập bát không, ngài cũng bàn về sự khác nhau giữa Duy thức phương tiện và Duy thức chính quán; rồi trong luận Đại trí độ, ngài cũng trình bày về nghĩa Hữu một cách tích cực. Còn các ngài Vô trước, Thế thân tuy trong luận Du già và Duy thức nói về Hữu tích cực, nhưng cả 2 vị đều đã chú giải Bách luận của ngài Đề bà, được liệt vào hàng hơn 10 nhà chú giải Bách luận; vả lại, ngài Vô trước còn soạn luận Thuận trung để chú giải luận Trung quán của ngài Long thụ. Bởi thế nên biết, lúc bấy giờ, đối với vấn đề Không và Hữu tuy mỗi phái có chủ trương riêng, nhưng chẳng những không trực tiếp xung đột mà còn dung hợp lẫn nhau. Đến hơn 1.000 năm sau khi đức Phật nhập diệt, 2 phái Không, Hữu đều có xu thế phát đạt. Đối với Trung luận, Bách luận chủ trương Không, đã có tới hơn 70 nhà chú thích các luận này. Đối với luận Du già chủ trương về Hữu cũng có hơn 10 nhà chú thích, còn luận Duy thức cũng xuất hiện 10 vị Đại luận sư chú thích. Đến thời các ngài Hộ pháp và Thanh biện căn cứ vào tính Y tha khởi mà mở ra cuộc tranh luận về Không và Hữu. Rồi về sau, các ngài Giới hiền và Trí quang lại dựa vào Tam thời giáo mà tranh luận về vấn đề này. Trong luận Thành duy thức quyển 8, ngài Hộ pháp chủ trương tất cả pháp đều do nhân duyên sinh và chia chúng làm 3 tính: 1. Tính Biến kế sở chấp: Pháp do vọng tình mà có, nên là không. 2. Tính Y tha khởi: Các pháp đều do nhân duyên sinh, nên là hữu. 3. Tính Viên thành thực: Bản thể của tất cả pháp đều chân thực, nên gọi là hữu. Còn ngài Thanh biện thì soạn luận Đại thừa chưởng trân nêu bày rõ yếu chỉ Hữu là Không, Vô là Không, rốt ráo là Không. Về phương diện vũ trụ luận, trong triết học Phật giáo có 2 hệ thống tư tưởng lớn là Thực tướng luận là Duyên khởi luận, đồng thời, căn cứ vào đó mà đề ra 2 pháp môn lớn là Quán tâm môn và Pháp tướng môn để tổng hợp cả 2 luận thuyết nói trên. Do đó nên biết, ngài Hộ pháp đã căn cứ vào Duyên khởi luận mà lập ra Pháp tướng môn, chủ trương các pháp do nhân duyên sinh là thực hữu; còn ngài Thanh biện thì căn cứ vào Thực tướng luận mà lập ra Quán tâm môn, chủ trương rốt ráo là không. Chủ trương của 2 ngài này có vẻ như mâu thuẫn nhau, nhưng thực ra là thành tựu cho nhau, mà hiển bày cái lí cùng tột của Phật giáo là Chân không diệu hữu. Cho nên, trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4, ngài Hiền thủ Pháp tạng thuộc tông Hoa nghiêm đã nói (Đại 45, 501 thượng): Sắc tức là không, thuộc giáo nghĩa ngài Thanh biện; Không tức là sắc, thuộc giáo nghĩa của ngài Hộ pháp. Hai giáo nghĩa dung hòa, bao nhiếp toàn thể. Lại các ngài Giới hiền và Trí quang cũng căn cứ vào Tam thời giáo phán mà tranh luận về vấn đề Không, Hữu. Ngài Giới hiền là đệ tử của luận sư Hộ pháp, thuộc hệ thống Hữu; còn ngài Trí quang thì chịu ảnh hưởng thuyết của luận sư Thanh biện nên chủ trương Không, đối với Tam thời giáo phán, mỗi vị đều có luận thuyết riêng. Ngài Giới hiền cho rằng Trung đạo cảnh không tâm hữu là thời thứ 3, còn ngài Trí quang thì chủ trương tâm cảnh đều không là thời thứ 3. Về sau, Đại sư Hiền thủ lần lượt phê phán sự hơn kém của 2 ngài qua 4 môn sau đây: 1. Sự thu nhiếp căn cơ có rộng và hẹp: Thời thứ 3 do ngài Giới hiền lập có thể thu nhiếp căn cơ của cả hàng Tam thừa, còn thời thứ 3 do ngài Trí quang lập thì chỉ thu nhiếp căn cơ Bồ tát mà thôi. Như vậy, phạm vi nhiếp cơ của thời thứ 3 do ngài Giới hiền lập rộng lớn hơn. 2. Về ngôn giáo có đủ và thiếu: Thời thứ 3 của ngài Giới hiền nói đủ cả giáo pháp Đại thừa, Tiểu thừa; còn ngài Trí quang thì chỉ nói về Đại thừa mà thôi, nên luận thuyết của ngài Giới hiền đầy đủ hơn. 3. Về sự ích lợi chúng sinh: Thời thứ 3 của ngài Trí quang cho rằng tất cả chúng sinh đều được sự ích lợi của Đại thừa; còn ngài Giới hiền thì chỉ bàn về Nhị thừa định tính và vấn đề vô tình hữu tình, v.v..., cho nên thuyết của ngài Trí quang là thù thắng hơn. 4. Về sự hiển bày nghĩa lí sâu cạn: Ngài Giới hiền tuy chủ trương cảnh không nhưng còn bàn về tâm hữu, vì thế nghĩa lí do ngài phán lập chưa rốt ráo; còn ngài Trí quang phán lập tâm, cảnh đều không, duyên sinh tức không, cho nên thù thắng hơn. Trong 4 môn trên, ngài Hiền thủ cho rằng trong 2 môn trước, giáo phán của ngài Giới hiền thù thắng hơn, còn trong 2 môn sau thì sự phán giáo của ngài Trí quang sâu sắc hơn. Về sau, tổ thứ 4 của tông Hoa nghiêm là ngài Trừng quán phê phán một cách mạnh mẽ về thuyết phán giáo này của 2 ngài Giới hiền và Trí quang. Trong Hoa nghiêm huyền đàm, ngài Trừng quán cho rằng, bàn về mức độ liễu nghĩa, nếu so sánh sự rộng hẹp của nhiếp cơ với sự ích lợi cho chúng sinh về Đại thừa, Tiểu thừa, thì sự rộng lớn của nhiếp cơ không bằng sự ích lợi cho chúng sinh về Đại thừa; nếu so sánh về ngôn giáo có đủ thiếu với sự hiển bày nghĩa lí sâu cạn, thì ngôn giáo đầy đủ không thù thắng bằng nghĩa lí được hiển bày đến chỗ cùng tận. Hơn nữa, sự phán giáo của 2 ngài, mỗi ngài tuy có 2 điểm hoàn toàn, 2 điểm chưa hoàn toàn, nhưng nếu xét đến chỗ rốt ráo thì tất cả đều chưa hoàn toàn. Vì ngài Hiền thủ lấy sự dung hội Tính tông và Tướng tông(Tính tướng dung hội) làm chủ yếu, còn ngài Trừng quán thì cho rằng giữa Tính tông và Tướng tông có sự phân cách rõ ràng(Tính tướng quyết phán), cho nên 2 ngài mới có sự kết luận khác nhau về 2 tông Không và Hữu. Sau khi Không tông và Hữu tông được truyền vào Trung quốc, cũng đã từng thịnh hành. Vào thời ngài Cưu ma la thập đời Hậu Tần và ngài Cát tạng đời Tùy, thì tông Tam luận chủ trương thuyết Không đã rất hưng thịnh, từ đời Đường về sau thì dần dần suy vi; còn thời ngài Huyền trang đời Đường, thì tông Pháp tướng chủ trương thuyết Hữu rất hưng thịnh. Nhưng, trong lịch sử Phật giáo Trung quốc, giữa 2 tông phái này đã không xảy ra tranh luận, đó là vì các ngài Cưu ma la thập, Cát tạng và Huyền trang đều ở vào các thời đại khác nhau, cho nên không thể có xung đột trực tiếp. Vả lại, giáo lí tông Hoa nghiêm, tông Thiên thai đã chủ trương thuyết Không và Hữu tương tức vô ngại, cho nên cũng không có sự thiên chấp về Không, Hữu. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, tông Tam luận và tông Pháp tướng đều thịnh hành và cũng có các cuộc tranh luận sôi nổi về nhiều vấn đề như: Không hữu, Thường vô thường, Ngũ tính nhĩ phi nhĩ, Hữu tính vô tính, Định bất định, Biến dịch sinh tử, Giáo thời, v.v... Từ thời Bình an trở về sau thì các tông Thiên thai, Chân ngôn, v.v... hưng thịnh, còn tông Tam luận và tông Pháp tướng thì suy vi, từ đó, cuộc tranh luận về Không và Hữu cũng chấm dứt. [X. Phật địa kinh luận Q.4]. (xt. Tam Tính, Tam Thời Giáo, Trung Quán Phái, Du Già Phái).

không hữu lực bất đãi duyên

(空有力不待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, có toàn bộ lực dụng sinh ra quả mà không cần sự giúp sức của các duyên khác, gọi là Không hữu lực bất đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí Pháp giới duyên khởi. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Vì chỉ diệt trong sát na nên hiển bày vô tự tính: đó là không,;vì có diệt nên quả pháp sinh: đó là hữu lực; nhưng sự tàn diệt ấy chẳng phải do sức của duyên, cho nên gọi là Bất đãi duyên. Vì nghĩa của Không hữu lực bất đãi duyên giống với nghĩa của Sát na diệt, nên mượn nghĩa của Sát na diệt để thuyết minh Không hữu lực bất đãi duyên. Sát na diệt chỉ cho pháp sinh diệt trong từng sát na, có khả năng trở thành nhân sinh ra các pháp khác. Vì sinh diệt trong từng sát na nên không có tự tính mà thể là không; nhưng vì sự diệt này có năng lực làm nhân để sinh ra quả, cho nên gọi là hữu lực; lại vì sự diệt này là do tự nhiên mà diệt, chứ không nhờ bất cứ sự giúp sức nào của các duyên khác, cho nên gọi là Bất đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không hữu lực đãi duyên

(空有力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, tuy có đủ lực dụng sinh ra quả nhưng vẫn còn phải nhờ đến sự giúp sức của các duyên khác, gọi là Không hữu lực đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí Pháp giới duyên khởi. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Do câu hữu mới có hữu, tức hiển bày bất hữu, đó là nghĩa không. Do câu nên có thể thành hữu, đó là hữu lực. Vì câu chẳng phải đơn độc, đó là đãi duyên. Vì Không hữu lực đãi duyên giống với nghĩa quả câu hữu, cho nên mượn nghĩa của Quả câu hữu để thuyết minh Không hữu lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không hữu nhị chấp

(空有二執) Cũng gọi Hữu vô nhị kiến. Vì vọng tưởng phân biệt nên sinh ra những kiến chấp sai lầm, như chấp tuyệt đối là có, hoặc chấp tuyệt đối là không. Tông kính lục quyển 4 viện dẫn tư tưởng ba tính của Duy thức mà đề ra 2 pháp môn để đối trị chấp Không và chấp Có như sau: 1. Dùng Không quán tình có lí không để đối trị chấp Có, nghĩa là quán xét tính Biến kế sở chấp về mặt tình thì thật có, nhưng về mặt lí thì không, cả 2 đều do hư vọng mà sinh khởi, đều không có thể và dụng, cho nên cần phải loại trừ. 2. Dùng Hữu quán lí có tình không để đối lại chấp Không. Nghĩa là quán xét tính Y tha khởi, tính Viên thành thực về mặt lí thì thật có, nhưng về mặt tình thì không, song, lí vốn là thật, có thể và dụng, cho nên cần phải tu Hữu quán.

không hữu nhị tông

(空有二宗) Chỉ cho Không tông và Hữu tông. Không tông chủ trương tất cả đều không, Hữu tông chủ trương các pháp là có. Trong Phật giáo Tiểu thừa thì tông Câu xá thuộc Hữu tông, còn tông Thành thực thuộc Không tông. Trong Phật giáo Đại thừa thì tông Pháp tướng thuộc Hữu tông, tông Tam luận thuộc Không tông. (xt. Hữu Tông, Không Tông).

không kiến

(空見) Phạm:Zùnyatà-dfwỉi. Kiến giải sai lầm không thừa nhận lí nhân quả 3 đời, hoặc chấp trước pháp Không mà hoàn toàn phủ định sự tồn tại của các pháp. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 7, thì có 2 loại Không kiến: 1. Không kiến của ngoại đạo: Vì ngoại đạo không rõ nhân quả có sự mau chậm khác nhau ở đời này, đời sau, nên thấy người làm việc lành lại được quả ác, còn kẻ làm việc ác thì được quả lành, bèn cho rằng không có nhân quả, không thấy được lí của nghiệp báo thiện ác. 2. Không kiến của nội giáo: Người học Phật chưa hiểu rõ đạo lí sâu xa của Như lai, nghe thuyết Bát nhã chủ trương tất cả đều không bèn rơi vào kiến chấp sai lầm cho các pháp đều là không. Tâm chấp trước Không kiến thì khởi tăng thượng mạn, vi phạm giới luật buông thả theo ngũ dục, phá hoại chính kiến, uy nghi và đời sống thanh tịnh. Phẩm Bồ đề, kinh Vô thượng y (Đại 16, 471 trung), nói: Nếu có người chấp trước ngã kiến lớn như núi Tu di, ta không kinh lạ cũng không chê trách; nhưng kẻ tăng thượng mạn chấp trước không kiến, dù chỉ bằng 1/10 của một sợi tóc, thì ta cũng không chấp nhận. Vì trong các loại kiến chấp, lỗi của Không kiến là nặng nhất, nó có thể phá hoại tất cả. Theo Ma ha chỉ quán quyển 4, nếu chấp trước Không kiến, thì sau khi chết sẽ rơi vào 3 đường ác, chìm đắm mãi mãi. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.10; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu; Du già luận kí Q.2; Ma ha chỉ quán Q.10 hạ].

không kiến ngoại đạo

(空見外道) Cũng gọi Không kiến luận giả. Ngoại đạo phủ định nhân quả, cho rằng người ta sau khi chết thì tất cả đều đoạn diệt, hoàn toàn không còn linh hồn, ý thức, như ngoại đạo Phú lan na ca diếp, 1 trong 6 phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Kiến chấp sai lầm của ngoại đạo này cũng giống như Đoạn kiến ngoại đạo, Vô nhân ngoại đạo. Luận Du già sư địa quyển 7 (Đại 30, 311 thượng), nói: Không kiến luận giả, nghĩa là 1 vị sa môn hoặc Bà la môn khởi lên kiến chấp hoặc lập luận rằng: không có sự ban cho, không có sự thương yêu nuôi nấng, không có sự cúng tế, cho đến nói thế gian không có bậc A la hán. Hoặc lại khởi lên Không kiến mà lập luận rằng: không có thể tướng của tất cả các pháp. Loại ngoại đạo này thấy người thực hành hạnh lành bố thí, thương xót, thì chuốc lấy quả ác, còn kẻ làm điều ác thì lại được quả thiện... bèn khởi vọng chấp rằng tất cả các pháp đều không, chẳng có nhân quả thiện ác chi hết! [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Phân biệt đại nghiệp trong Trung a hàm Q.44; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu].

không kiếp

(空劫) Là thời kì thế giới đã hoàn toàn hoại diệt, chỉ còn hư không. Kiếp thứ tư trong 4 kiếp. Vào thời kì này chỉ còn chúng sinh hữu tình ở cõi Tứ thiền của cõi Sắc mà thôi; còn từ cõi Dục đến cõi trời Đệ tam thiền thì hoàn toàn là không. Ngoài ra, thời kì thế giới chưa hình thành, muôn vật chưa sinh, cũng gọi là Không kiếp. (xt. Tứ Kiếp, Kiếp).

không kiếp dĩ tiền

(空劫以前) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho thời kì trước khi thế giới này được thành lập. Khi trời đất chưa hình thành, hoàn toàn không có những sự phân biệt đối đãi, như thiện ác, mê ngộ, phàm thánh, hữu vô, v.v... cũng tức là cảnh giới tồn tại tuyệt đối trước khi muôn tượng sum la sinh khởi. Thiền tông thường dùng câu Thế nào là chính mình ở trước Không kiếp làm thoại đầu để tham thiền. Ngoài ra, đồng nghĩa với dụng ngữ này còn có: Trước khi cha mẹ sinh, Trước thời Không vương, Bờ bên kia của Không vương, Trước khi điềm lành xảy ra, Mặt mũi xưa nay...

không luân

(空輪) I. Không Luân. Chỉ cho lối kiến trúc trên nóc tháp Phật của Nhật bản. Không luân gồm có 9 hình tròn như bánh xe(luân)xếp lên nhau theo 1 khoảng cách nhất định. Trong kiến trúc tháp Phật, trên nóc tháp có hình luân bàn (hình cái mâm) nhiều lớp, thông thường gọi là Tướng luân(tướng bánh xe), Bàn cái(hình lọng)hoặc Thừa lộ bàn(hình mâm). Trên chóp những ngôi tháp 3 tầng, 5 tầng tại Nhật bản thường kiến trúc Tướng luân, nghĩa là dựng một cây trụ có gắn những hình bánh xe cao vút trong hư không, gọi là Không luân. Số bánh xe của Tướng luân nếu cố định thì là 9 cái, trong trường hợp này, Tướng luân hoặc Không luân cũng được gọi là Cửu luân. Tháp có 3 tầng, 5 tầng khác nhau, đây có lẽ đã được căn cứ theo thuyết trong Tam bộ, Ngũ bộ mạn đồ la của Mật giáo, còn tướng 9 bánh xe thì căn cứ theo thuyết Cửu tôn của Thai tạng giới. Lại thân tháp theo thứ tự cao dần lên tượng trưng cho 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. Cửu luân ở trên nóc tháp tượng trưng cho Không đại, cho nên gọi là Không luân. (xt. Thừa Lộ Bàn, Tháp). II. Không Luân. Khoảng hư không bao gồm khí thế gian ở dưới Phong luân. Là 1 trong 4 luân. (xt. Đại Địa Tứ Luân).

Không Lộ

空露; ?-1119|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 9 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông.|Sư sinh năm nào không rõ, chỉ biết là tịch năm 1119. Ông cha theo nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề, xuất gia theo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), đời Lí Thánh Tông, Sư xuất gia với Thiền sư Hà Trạch, kết bạn với Thiền sư Giác Hải và Ðạo Hạnh. Sư có khuynh hướng tu Mật giáo, tương truyền rằng Sư có phép lạ như bay trong không trung, đi trên mặt nước, hàng phục cọp beo.|Ngày 3 tháng 6 năm Hội Trường Ðại Khánh thứ 10 (1119), đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, môn đồ thu xá lợi thờ tại chùa Nghiêm Quang. Chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang (1167) nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị bão lụt huỷ hoại. Năm 1630 dân dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, tỉnh Thái Bình, được gọi là chùa Keo dưới.|Sư có để bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn sau:|Thơ Ngư Nhàn:|萬里青江萬里天。一村桑柘一村煙|漁翁睡著無人喚。過午醒來雪滿船|Vạn lí thanh giang, vạn lí thiên.|Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.|Ngư ông thuỳ trước vô nhân hoán,|Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.|*Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,|Một làn dâu giá, một làn hơi.|Ông chài mê ngủ không người gọi,|Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.|Kệ Ngôn Hoài (Ngô Tất Tố dịch):|擇得龍蛇地可居。野情終日樂無餘|有時直上孤峰頂。長嘯一聲寒太虛|Trạch đắc long xà địa khả cư|Dã tình chung nhật lạc vô dư|Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh|Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư|*Lựa nơi rồng rắn đất ưa người|Cả buổi tình quê những mảng vui|Có lúc thẳng lên lầu núi thẳm|Một hơi sáo miệng lạnh bầu trời.|Có sách cho rằng sư Không Lộ là Nguyễn Minh Không, nhưng theo Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ thì hai vị hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Minh Không sinh năm 1076, mất năm 1141, là người trị bệnh hoá hổ cho Lí Thần Tông.

không ma

(空魔) ..... Ma, Phạm: Màra. Một loại ác ma chấp trước không kiến, cho các pháp đều không, bác bỏ tất cả nhân quả thiện ác, cướp đoạt tuệ mệnh, phá hoại đạo pháp, công đức, gốc lành, v.v... Kinh Lăng nghiêm quyển 9 (Đại 19, 149 thượng), nói: Có loại không ma nhập vào tim của người ấy, rồi chê bai người trì giới là Tiểu thừa; còn Bồ tát đã ngộ được tính không thì đâu có gì là trì và phạm? Cho nên người ấy thường lợi dụng lòng tin của tín đồ, ăn thịt uống rượu, làm các việc dâm uế.

Không Môn

(空門): cửa Không. Không (s: śūnya, p: suñña, 空) được xem như là giáo nghĩa tối cao của Phật Giáo, cho nên cửa nhà Phật được gọi là Không Môn. Cho nên người vào xuất gia trong các tự viện Phật Giáo được gọi là “Không Môn Tử (空門子)”. Như trong Thích Thị Yếu Lãm (釋氏要覽) quyển Thượng có giải thích rõ rằng: “Trí Độ Luận vân: 'Niết Bàn hữu Tam Môn, nhất Không Môn, nhị Vô Tướng Môn, tam Vô Tác Môn; hà giả Không Môn ? Vị quán chư pháp, vô ngã ngã sở, chư pháp tùng nhân duyên sanh, thị danh Không; kim xuất gia nhân, do thử môn nhập Niết Bàn trạch, cố hiệu Không Môn Tử' (智度論云、涅槃有三門、一空門、二無相門、三無作門、何者空門、謂觀諸法、無我我所、諸法從因緣生、是名空、今出家人、由此門入涅槃宅、故號空門子, Trí Độ Luận dạy rằng: 'Niết Bàn có ba cửa, một là Cửa Không, hai là Cửa Vô Tướng, ba là Cửa Vô Tác; thế nào là Cửa Không ? Tức là quán các pháp không có ngã và ngã sở, các pháp từ nhân duyên sanh, nên gọi là Không; nay người xuất gia từ cửa này vào nhà Niết Bàn, nên được gọi là Không Môn Tử').” Hoặc ngoài thế gian gọi người vào xuất gia tu hành cửa Phật là “độn tích Không Môn (遁跡空門)”, có nghĩa là lánh xa trần thế và vào ẩn cư trong Thiền môn. Như trong tác phẩm Thiên Vũ Hoa (天雨花) hồi thứ 5 của Đào Trinh Hoài (陶貞懐) nhà Thanh có đoạn: “Bức đắc ngã, thử nhất thân, tẩu đầu vô lộ, nhân thử thượng, lai phi thế, độn tích Không Môn (逼得我、此一身、走投無路、因此上、來披剃、遁跡空門, bức bách tôi, một thân này, chạy cùng không lối thoát, nhân việc này, đến xuống tóc, xuất gia cửa chùa).” Tại Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) của vùng Phúc Châu (福州), Phúc Kiến (福建) có câu đối rằng: “Tịnh địa hà tu tảo, Không môn bất dụng quan (淨地何須掃、空門不用關, đất sạch còn gì quét, cổng Không cửa nào cần).” Hay như trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1083) quyển hạ có câu: “Cát ái từ thân, tảo nhập Không môn nội, phỏng đạo tầm sư, chỉ vị siêu sanh tử, thử vãng hàn lai, bất giác vô thường, chí phản chiếu hồi quang, lai thọ cam lồ vị (割愛辭親、早入空門內、訪道尋師、只爲超生死、暑徃寒來、不覺無常、至返照回光、來受甘露味, cắt bỏ thân yêu, sớm nhập cửa Không ấy, học đạo tìm sư, chỉ vì vượt sanh tử, nóng đi lạnh đến, chẳng biết vô thường, lúc phản tỉnh hồi đầu, đến thọ cam lồ vị).”

không môn

(空門) I. Không Môn. Cửa không. Giáo nghĩa Phật giáo lấy tính Không làm chỗ tột cùng, cho nên cửa Phật gọi là Không môn. II. Không Môn. Các pháp nương vào nhân duyên mà sinh khởi, không có tự tính, gọi là không: nếu thể ngộ tính không ấy, thì được giải thoát mà vào Niết bàn, nên gọi là Không môn. Một trong 3 giải thoát môn. (xt. Tam Giải Thoát Môn). III. Không Môn. Pháp môn quán xét các pháp là không mà thành tựu Phật đạo. Là một trong 4 pháp môn tu hành do tông Thiên thai thành lập. (xt. Tứ Môn).

không môn tử

(空門子) Hàm ý là con của cửa không. Chỉ cho những người xuất gia của Phật giáo. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 261 hạ), nói: Niết bàn có 3 môn: Không, Vô tướng và Vô tác. Thế nào là Không môn? Nghĩa là quán xét các pháp vô ngã, vô ngã sở, các pháp từ nhân duyên sinh, không có người tạo tác, không có người nhận lãnh, gọi là không. Nay người xuất gia do cửa này mà vào nhà Niết bàn, nên gọi là Không môn tử. Ngoài ra, chư tăng ở Trung quốc thời xưa thường tự nhún mà xưng là Không tang tử. [X. luận Đại trí độ Q.20].

không nhất hiển sắc

(空一顯色) Mầu sắc hiển hiện trong hư không, thuần nhất không lẫn lộn, như mầu xanh của bầu trời. Thuyết nói về núi Tu di cho rằng 4 mặt của núi này do 4 thứ báu cấu tạo thành, mặt bắc là vàng ròng, mặt đông là bạc trắng, mặt nam là lưu li, mặt tây là pha lê, phản chiếu lên khoảng hư không của 4 đại châu, hiện ra mầu vàng ở phương bắc, mầu trắng ở phương đông, mầu xanh ở phương nam, mầu đỏ ở phương tây, 4 mầu này thuần nhất thanh tịnh, không lẫn lộn, nên gọi là Không nhất hiển sắc. Tông Duy thức cho sắc này là 1 trong 13 thứ hiển sắc, tông Câu xá thì cho nó là 1 trong 21 thứ hiển sắc. Câu xá luận quang kí quyển 1 (Đại 41, 16 hạ), nói: Trong khoảng hư không ở 4 phía núi Diệu cao, mỗi phía đều có 1 hiển sắc, gọi là Không nhất hiển sắc. Núi Diệu cao là tên khác của núi Tu di. Về thể của Không nhất hiển sắc có nhiều thuyết khác nhau. Như luận Thức thân túc quyển 11 cho rằng 4 hiển sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng là thể của Không nhất hiển sắc. Luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 1 thì cho Không giới sắc là thể của Không nhất hiển sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Du già sư địa Q.1; luận Câu xá Q.1, Q.11; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hiển Sắc).

không phá mộc

xem khư-đà-la.

không quán

(空觀) ..... Pháp quán tưởng tất cả pháp đều không. Tất cả pháp đều do nhân duyên sinh ra, pháp do nhân duyên sinh ra vốn không có tự tính, vắng lặng không tướng. Quán xét lí vắng lặng không tướng này tức là Không quán. Các tông Phật giáo đều nói rõ về giáo nghĩa Không, tùy theo nghĩa Không này mà lập ra pháp môn quán Không, tuy có sâu cạn, hơn kém khác nhau, nhưng mục đích đều là phá trừ tình chấp cho các pháp là có thật. Nói một cách khái quát, Phật giáo Tiểu thừa tu tập pháp quán Ngã không để đoạn trừ phiền não chướng, còn Phật giáo Đại thừa thì tu tập pháp quán Ngã, Pháp đều không để lìa phiền não chướng và sở tri chướng. Trong tông Thiên thai, Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, Viên giáo mỗi giáo đều có pháp quán Không riêng biệt. Tạng giáo phân tích các pháp để quán lí không, gọi là Tích không quán; Thông giáo thì quán đương thể các pháp tức là Không, gọi là Thể không quán; Biệt giáo quán Không ngoài Giả đế và Trung đế, gọi là Thiên không quán, còn Viên giáo thì quán Giả đế, Trung đế tức là Không, gọi là Viên không quán. Vì căn cơ của người tu hành có nhạy bén và chậm lụt khác nhau cho nên có 4 pháp quán bất đồng này, nhưng đều lấy quán Không làm cửa để đi vào thực lí. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 3; Tứ giáo nghi Q.1; Tam tạng pháp số Q.10; Quang minh huyền nghĩa thập di kí Q.5]. (xt. Tam Quán).

không sinh

(空生) Phạm,Pàli:Subhùti. Dịch âm: Tu bồ đề, Tô bộ để. Cũng gọi: Thiện hiện, Thiện nghiệp. Một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật được tôn xưng là bậc có trí tuệ hiểu nghĩa Không bậc nhất, thuộc dòng dõi Bà la môn, tên là Phụ lê, người nước Xá vệ thuộc Ấn độ đời xưa. Ngài có thân tướng đoan nghiêm đẹp đẽ, trí tuệ thông minh không ai sánh kịp. Ban đầu vì tính tình xấu ác nên ngài bị cha mẹ và họ hàng chán ghét, bèn bỏ nhà vào chốn núi rừng. Một ngày kia, ngài được thần núi dẫn đến chỗ đức Phật. Phật liền nói sự tai hại của sân hận cho ngài nghe, ngài bèn ăn năn sám hối tội lỗi, bỗng nhiên chứng được quả Tu đà hoàn, không bao lâu lại chứng quả A la hán. [X. kinh Thí dụ Q.1; Duy ma kinh văn sớ Q.13; Đại đường tây vực kí Q.4]. (xt. Tu Bồ Đề).

không thuỷ giáo

(空始教) Giáo pháp giải thích về lí Không. Một trong 2 môn của Đại thừa thủy giáo do tông Hoa nghiêm thành lập. Theo kinh Bát nhã, Tam luận, v.v... thì giáo pháp nào nói rõ các pháp đều không, hiển bày nghĩa chân không vô tướng, thì gọi là Không thủy giáo. Theo kinh Giải thâm mật, luận Du già, v.v... thì thuyết Duy thức căn cứ vào tác dụng của hiện tượng mà khẳng định sự tồn tại của các pháp, gọi là Tướng thủy giáo. Hai phần giáo trên đây đều là cửa đầu tiên của Đại thừa nên gọi là Thủy giáo. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông, Thủy Giáo).

không thối chuyển

(Bất thối chuyển): địa vị tu hành của hàng Bồ Tát khi không còn thối lui nữa, chỉ thẳng tiến dần đến mục đích là quả Phật.

không trần

(空塵) Chấp Không làm ô nhiễm chân tính. Ngoại đạo quán không, còn chấp trước tướng Không mà rơi vào Không kiến, phủ định tất cả nhân quả thiện ác, hoặc cho rằng các pháp đều không. Không kiến này cũng giống như tất cả sự pháp thế gian có khả năng làm ô nhiễm chân tính, vì thế gọi là Trần (bụi bặm), thuộc về pháp trần trong 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cho nên gọi là Không trần. Nghĩa là pháp quán Không của ngoại đạo thuộc về pháp trần chứ không phải chính quán. Ma ha chỉ quán quyển 5 hạ (Đại 46, 65 trung), nói: Quán tâm suy xét, phát được 1 phần định vi tế, sinh 1 phần hiểu biết về nghĩa không đó là pháp trần thuộc về Không kiến, tương ứng với tâm, chứ chẳng liên quan gì đến vô sinh.

không tuệ

(Trí tuệ không) trí tuệ có được do tu tập pháp quán không, thấy được thật tánh của tất cả các pháp chính là tánh không.

không tâm

(空心) I. Không Tâm. Tâm quán xét lí không. II. Không Tâm. Tâm chấp trước Không kiến mà bác bỏ lí nhân quả. Không kiến là kiến chấp sai lầm cho tất cả đều là không và không thừa nhận lí nhân quả 3 đời. Ma ha chỉ quán quyển 10 thượng (Đại 46, 135 hạ), nói: Không tâm chẳng sợ hãi, không giữ gìn giới luật, buông thả theo ngũ dục, phá hoại chính kiến, uy nghi, tuệ mệnh, sau khi chết sẽ rơi vào 3 đường ác. (xt. Không Kiến).

không tính

(空性) ..... Phạm:Zùnyatà. Pàli:Suĩĩatà. Dịch âm: Thuấn nhã đa. Cũng gọi Vô, Không môn. Chỉ cho tự tính không, chân lí không, là tên khác của chân như. Theo tông Duy thức thì chân như là thực thể xa lìa ngã chấp và pháp chấp, cho nên tu không quán mà xa lìa ngã chấp và pháp chấp thì thực thể chân như mới hiển hiện, tức là nương vào Không mà hiển rõ thực tính, chứ chẳng phải thể của chân như là Không. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu, Q.7 phần cuối].

không tính vô cảnh tâm

(空性無境心) Cũng gọi Nhất đạo vô vi tâm. Tâm thứ 8 trong 10 trụ tâm do ngài Không hải người Nhật bản lập ra. Nghĩa là thực tướng chân như, không tướng không cảnh, cho nên biết tự tâm chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở khoảng giữa, là bất khả đắc. [X. luận Thập trụ tâm Q.8]. (xt. Nhất Đạo Vô Vi Tâm).

không tông

(空宗) ..... Đối lại: Hữu tông. Chỉ cho tông phái chủ trương tất cả đều không. Tông này lấy tư tưởng Bát nhã của Đại thừa làm chính yếu, dùng Không quán để tuyên dương lí Trung đạo. Theo Tiểu thừa giáo thì tông Câu xá là Hữu tông, tông Thành thực là Không tông. Theo Đại thừa giáo thì tông Pháp tướng (Duy thức) là Hữu tông, còn tông Tam luận là Không tông. Tông Thành thực chủ trương nhân, pháp đều không, cho nên nghĩa Không này thù thắng hơn, tông Câu xá chỉ chủ trương nhân không. Tông Tam luận thì chủ trương Không, Hữu đều không, lấy cái Không của các pháp đều vô sở đắc làm tông nghĩa. Lại Thiền tông, cũng gọi là Không tông, chủ trương Phật, ma đều không, cho rằng lời nói và sự suy nghĩ đều là sắn bìm, cần phải gỡ bỏ. Ngoài ra, Phật giáo cũng được gọi là Không tông, vì Phật giáo chủ trương các pháp vô ngã. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Nguyên nhân luận; Tông kính lục Q.34]. (xt. Không Hữu Luận Tranh).

không tướng

(空相) Chỉ cho tướng trạng của các pháp đều không , hoặc chỉ cho thể tướng chân không. Pháp do nhân duyên sinh không có tự tính, tức là tướng trạng của Không. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 25, 107 thượng), nói: Pháp do nhân duyên sinh, gọi đó là Không tướng, cũng gọi là Giả danh, cũng nói là Trung đạo. Còn theo Bát nhã tâm kinh do ngài Huyền trang dịch, thì tướng không của các pháp chẳng sinh chẳng diệt, không sạch không nhơ, chẳng thêm chẳng bớt. Lại tính và tướng thường được coi là đồng nghĩa, cho nên Không tướng cũng có thể gọi là Không tính.

không tế

(空際) Cũng gọi Thực tế. Tên khác của Niết bàn. Niết bàn là nơi (trạng thái)vắng lặng, xa lìa các pháp tướng, chẳng sinh chẳng diệt. Kinh Lăng già quyển 3 (Đại 16, 500 trung), nói: Như như và không tế, Niết bàn và pháp giới. Như như tức chân như, Không tế tức thực tế. Niết bàn tức Đại niết bàn cùng tột, pháp giới tức Phật pháp giới. Bốn danh từ này tuy khác tên nhưng cùng 1 thể. (xt. Thực Tế).

không tịch

(空寂) ..... Trạng thái vắng lặng xa lìa hình tướng các pháp. Theo phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2, thì tất cả các pháp đều vắng lặng, không sinh cũng không diệt, không lớn cũng không nhỏ, vô lậu và vô vi. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma quyển thượng (Đại 14, 538 thượng), nói: Như hoa sen chẳng nhiễm thế gian, thường khéo hòa vào hạnh không tịch. Trong Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 2, ngài Cát tạng giải thích là: Không nhiễm (dính) thế gian tức là khéo hòa vào không tịch mà xả bỏ tâm nhiễm; cũng tức là tuy sống giữa thế gian mà vẫn thường vào không tịch. Còn khéo vào tức là xuất nhập tự tại mà chẳng lìa thực nghĩa không tịch. Ngoài ra, trong Thiền lâm có nhóm từ Không tịch linh tri tâm, tức chỉ cho tâm linh diệu hiển hiện khi đã dứt bặt mọi đối đãi. [X. kinh Tạp a hàm Q.10; kinh Tạp a hàm Q.15 (Biệt dịch); kinh Ương quật ma la Q.2; phẩm Thần túc kinh Tu hành đạo địa Q.5; phẩm Quán tâm trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán; phẩm Thuyết pháp kinh Vô lượng nghĩa; Ma ha chỉ quán Q.4 thượng; Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Cao li quốc Phổ chiếu thiền sư tu tâm quyết].

không tức thị sắc

(空即是色) Phạm:Zùnyatà va rùpam. Đối lại: Sắc tức thị không. Vật chất, thân thể ở nhân gian vốn không có thực thể, mà do 4 đại đất, nước, lửa, gió giả hòa hợp mà thành, cho nên gọi Không tức thị sắc; nếu 4 đại tan rã thì lại trở về không, nên gọi Sắc tức thị không. Không tức thị sắc chẳng phải phân tích sắc chất ra để thấy nó là không, mà là thể hội đương thể của sắc tức là không. Không này cũng chẳng phải là đoạn diệt, mà là tức hữu tức không(ngay cái có đó tức là không) mới là chân không. Chân không này đã là hữu, thì chắc chắn không khác với hữu, vì không tức là hữu, cho nên nói Không tức thị sắc. Bát nhã tâm kinh (Đại 8, 848 hạ), nói: Khi bồ tát Quán tự tại thể nhập vào Bát nhã ba la mật đa(trí tuệ đến bờ bên kia), Ngài thấy rõ 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách. Ngài nói: Này Xá lợi tử! Sắc chẳng khác không, Không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, tưởng, hành, thức cũng hệt như thế. [X. Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh sớ (Tuệ tịnh); Bát nhã Ba la mật đa tâm kinh u tán Q.hạ; chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn]. (xt. Sắc Tức Thị Không).

không vân

(空雲) ..... Cũng gọi Không trung vân. Đồng nghĩa: Thủy nguyệt. Mây tụ tán trong hư không ví dụ các pháp vô thường giả tạm. Các pháp trong thế gian tùy nhân duyên mà sinh diệt, giống như mây giữa hư không, hợp tan vô thường, biến hóa như huyễn, khó lường được. Phẩm Quán chúng sinh trong kinh Duy ma (Đại 14, 547 trung), nói: Ví như người trí thấy bóng trăng trong nước (...), mây giữa hư không (...) Bồ tát quán xét chúng sinh cũng như thế. Kinh Nhân vương (bản dịch mới) quyển thượng (Đại 8, 838 hạ), nói: Thiện ác trong ba đời, như mây giữa hư không.

không vô biên xứ

(空無邊處) Phạm:Àkàzànantyàyatana. Pàli:Àkàsànaĩcàyatana. Cũng gọi: A kiệt thiền thiên, Hư không tri thiên, Không tri thiên, Không vô biên xứ địa, Không vô biên xứ thiên, Không xứ. Tầng trời thứ nhất trong 4 tầng trời của cõi Vô sắc, 1 trong 9 địa thuộc 3 cõi. Chúng sinh ở cõi trời này vì nhàm chán hình sắc nên không có sắc uẩn, chỉ có 4 uẩn thụ, tưởng, hành, thức mà hợp thành dị thục sinh. Cõi Vô sắc tuy không có xứ sở, nhưng có quả báo sai khác, cho nên tạm gọi là Xứ. Câu xá luận tụng sớ luận bản quyển 8 (Đại 41, 864 thượng), nói: Trước khi tu định này, ở giai vị gia hạnh, nhàm chán thân có sắc, suy nghĩ về chỗ không vô biên, có sự hiểu biết về không vô biên, gọi là Không vô biên xứ. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 84, thì người mới bắt đầu tu định Không vô biên xứ, trước hết, phải suy nghĩ về các tướng hư không trên tường, trên cây, trên vách núi, trên nhà, v.v..., sau khi được các tướng không ấy rồi, tạm thời giả tưởng thành thắng giải, quán xét rõ ràng tướng không vô biên. Vì trước hết suy nghĩ về tướng không vô biên rồi mới tu gia hạnh, dần dà đưa đến định Vô sắc đầu tiên nên gọi là Không vô biên xứ. [X. phẩm Vô sắc trong luận Pháp uẩn túc Q.8; luận Lập thế a tì đàm Q.7].

không vô biên xứ định

(空無邊處定) Phạm:Àkàzàịantyàyatana dhyàna. Cũng gọi: Không xứ định. Định Không vô biên xứ. Định này ở trên Thiền định thứ tư của cõi Sắc, 1 trong 4 định Vô sắc. Ở cõi định này, hành giả diệt trừ các sắc tưởng tương ứng với nhãn thức, hữu đối tưởng và bất thiện tưởng tương ứng với nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, cho đến diệt trừ tất cả tưởng làm chướng ngại định mà chỉ tư duy về định tướng Không vô biên. Nếu ở cõi người mà tu được định này thì sau khi chết sẽ được sinh lên Không vô biên xứ. Phẩm Vô sắc trong luận Pháp uẩn túc quyển 8 (Đại 26, 488 hạ), nói: Người bắt đầu tu tập, thì trước nên tư duy đệ tứ tĩnh lự (đệ tứ thiền) là thô khổ chướng; kế đến nên tư duy Không vô biên xứ là tĩnh diệu li (...). Khi người ấy tu tập như vậy, thì nhiếp phục được tâm mình, không để cho tán loạn, rong ruổi cảnh khác, ý chuyên 1 chỗ, niệm trụ 1 duyên, tư duy tu tập định tướng Không vô biên xứ. Tư duy như thế, siêng năng tinh tiến, gắng sức không dừng, đó gọi là gia hạnh của Không vô biên xứ định, cũng gọi là Vào không vô biên xứ định. Người ấy đối với định này đã nhiều đời tu tập (...). Lại trong định này hoặc thụ hoặc tưởng, cho đến hoặc tuệ, v.v... gọi là các pháp câu hữu của định Không vô biên xứ, các pháp này cũng được gọi là Không vô biên xứ định. Ngoài ra, mỗi định trong 4 định cõi Vô sắc, nói theo tự thể của các định này, đều gọi là định căn bản; giai đoạn dự bị trước khi tiếp cận định căn bản, gọi là Cận phần định, hoặc Gia hạnh định. Gia hạnh nghĩa là gia công dụng hạnh trước khi thực hiện một việc gì. Vì thế nên biết, Không vô biên xứ định có thể chia làm 2 loại là định gia hạnh và định căn bản; còn hiểu biết về hữu và không, hữu vô biên, không vô biên, thì gọi là định gia hạnh. Nếu được định căn bản mà nhập vào cảnh giới không vô biên, thì không còn biết, không còn hiểu. [X. kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại trí độ Q.20; Thiền pháp yếu giải Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.13; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng phần cuối]. (xt. Không Vô Biên Xứ).

không vô lực đãi duyên

(空無力待緣) Nhân của các pháp duyên khởi thể tính là không, không đủ lực dụng để sinh ra quả, mà phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới có thể sinh ra quả, gọi là Không vô lực đãi duyên. Là 1 trong 6 nghĩa của Nhân mà tông Hoa nghiêm dùng để thuyết minh nguyên lí pháp giới duyên khởi. Đây là theo nghĩa Đãi chúng duyên(đợi các duyên) trong 6 nghĩa chủng tử của tông Duy thức mà thành lập. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 (Đại 45, 502 thượng), nói: Đó là nghĩa đãi chúng duyên. Tại sao? Vì vô tự tính, đó là không. Vì nhân không sinh mà duyên sinh, đó là vô lực, cũng vì nghĩa này mà gọi là đãi duyên. Vì nghĩa không vô lực đãi duyên giống với nghĩa Đãi chúng duyên, cho nên mượn nghĩa của Đãi chúng duyên để thuyết minh Không vô lực đãi duyên. Các pháp duyên khởi đều có 2 nghĩa không và hữu, bản thể của chân như tùy duyên mà hiển hiện các pháp, đó là nghĩa hữu, nhưng cái hữu này là giả hữu(có giả), thể của nó không có tự tính, đó là nghĩa không. Vì quả của các pháp là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, nếu không có duyên thì quả không thể sinh, cho nên biết rằng toàn bộ lực dụng sinh ra quả là nhờ nơi duyên, đó là nghĩa Vô lực đãi duyên; lại thể của nó là không nên gọi là Không vô lực đãi duyên. [X. Thập địa kinh luận Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3 hạ]. (xt. Nhân Lục Nghĩa).

không vương

(空王) I. Không Vương. Tôn hiệu của chư Phật, vì chư Phật đã thân chứng tính không của các pháp vắng lặng vô ngại, chúng sinh không ai sánh kịp, nên gọi là Không vương. Theo kinh Viên giác thì đức Phật là vua của muôn pháp, nên gọi là Không vương. [X. Niệm thập phương Phật duyên, thiên Kính Phật, bộ Tam bảo trong Chư kinh yếu tập Q.1]. II. Không Vương. Cũng gọi: Không vương Phật. Tên một vị cổ Phật, ra đời vào thời Không kiếp. Phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 30 thượng), nói: Các thiện nam tử! Ta và A nan phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề cùng một lượt ở nơi đức Phật Không vương. Trước thời đức Phật Không vương thì muôn vật chưa phát sinh, cho nên Thiền tông thường dùng nhóm từ Không vương dĩ tiền để biểu thị cảnh giới siêu việt ý thức của con người.

không điểm

(空點) Chỉ cho dấu chấm tròn thêm vào trên chữ Phạm, đọc là ô, nghĩa là tùy theo âm vận mà thêm dấu chấm. Ví dụ chữ Tất đàm (a), thêm dấu chấm vào thì thành (aô). Không điểm của Tất đàm trong tiếng Phạm gọi là Tùy vận (Phạm:Anusvàra), nghĩa là tùy theo mẫu âm mà đọc thành âm mũi. Còn thì có thể hiểu làAôbara, nghĩa là đại không, cho nên do sự giải thích này mà cái chấm tròn được gọi là Không điểm. Lại là 1 trong 5 lần chuyển biến của chữ , theo thuyết Đông nhân phát tâm, thì được phối hợp với giai vị Phát bồ đề tâm, cho nên nó cũng được gọi là Bồ đề điểm. Đại nhật kinh sớ quyển 14 (Đại 39, 723 thượng), nói: Trên chữ (a) này có dấu chấm tròn, đó là nghĩa đại không, giống như tâm bồ đề, lìa tất cả các tướng, nên gọi chư Phật là thành bồ đề. Mật giáo thường dùng 5 thứ biến hóa về mặt âm vận của chữ (a) Tất đàm phối hợp với 5 phương 5 Phật, 5 trí để nói rõ về thứ bậc và phương hướng tu chứng của hành giả, cũng giống như nghĩa 5 lần chuyển biến của chữ (a), trong đó, lấy A súc Như lai ở phương đông làm nhân vị phát tâm bồ đề, theo phương hướng tu chứng từ nhân hướng quả, gọi là Đông nhân phát tâm. Lại nữa, ở dưới Không điểm vẽ thêm 1 hình bán nguyệt, thành , gọi là Ngưỡng nguyệt điểm(chấm trăng ngửa). Trong tiếng Phạm, Ngưỡng nguyệt điểm thuộc về Tùy tị vận (Phạm:Anunàsika), nghĩa là tùy theo mẫu vận mà đọc thành âm mũi, vì thế cách dùng Ngưỡng nguyệt điểm cũng giống như Không điểm. Hình bán nguyệt chỉ là trang sức mà thôi, còn cả 2 chấm tròn đều là nghĩa Đại không. [X. Lí thú thích Q.thượng, Đại nhật kinh sớ Q.7, Q.9]. (xt. Ngưỡng Nguyệt Điểm).

không đại

(空大) Cũng gọi Không giới. Chỉ cho hư không. Một trong 5 đại, 6 đại. Năm đại gồm: Đất, nước, lửa, gió, không (thuộc sắc pháp: vật chất), thêm Thức đại (thuộc tâm pháp: tinh thần)nữa thì thành 6 đại. Đây là những nguyên tố cơ bản tạo thành thế giới hữu tình hoặc vô tình. Vì thể tính của chúng rộng lớn, trùm khắp mọi nơi nên gọi là Đại. Không giới bao hàm hư không và những kẽ hở, lỗ hổng trong và ngoài thân như khe cửa, khoảng trống trong miệng, mũi, v.v... cũng như đất, nước, lửa, gió, Không giới là nhân sinh trưởng vạn vật và cùng thuộc sắc pháp. (xt. Lục Đại).

không đế

(空諦) Cũng gọi Chân đế, Vô đế. Lí chân thực về nghĩa Không của các pháp, nghĩa là tất cả các pháp từ nhân duyên sinh không có tự thể chân thực. Là 1 trong 3 đế, 1 trong 9 đế. Phẩm Tứ đế trong Trung luận quyển 4 (Đại 30, 33 trung), nói: Pháp do nhân duyên sinh Ta nói tức là không Đó gọi là giả danh Cũng là nghĩa trung đạo. (xt. Cửu Đế, Tam Đế).

Không định

cũng gọi là pháp Tam-muội Không, đạt được nhờ quán sát tánh không của các pháp. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát đều có tu tập phép định này, nhưng chỉ có chư Phật mới đạt được phép định này đến mức rốt ráo.

Không, Không tính

空,空性; S: śūnya (tính từ), śūnyatā (danh từ); nghĩa là »trống rỗng«, »rỗng tuếch«;|Khái niệm trung tâm của đạo Phật, quan trọng nhất và cũng trừu tượng nhất. Trong thời đạo Phật nguyên thuỷ, kinh điển đã nhắc rằng, mọi sự vật là giả hợp, Hữu vi (s: saṃskṛta), trống rỗng (s: śūnya), Vô thường (s: anitya), Vô ngã (s: anātman) và Khổ (s: duḥkha).|Trong Tiểu thừa, tính Không nhằm nói về thể tính của con người và được sử dụng như một tính từ (s: śūnya). Ðại thừa đi thêm một bước nữa, sử dụng Không như một danh từ (s: śūnyatā), xem Không là vạn sự, vạn sự là Không, tức mọi hiện tượng thân tâm đều không hề có tự tính (s: svabhāva). Mọi pháp đều chỉ là những dạng trình hiện (呈現; e: appearance; g: erscheinung), chúng xuất phát từ tính Không, là không. Tính Không vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật. Tuy thế, người ta cần phải tránh quan điểm hư vô (e: nihilism) dễ có khi luận về tính Không như vừa kể trên. Phải hiểu là sự vật không phải là không có, chúng có, nhưng chỉ là những dạng xuất hiện, là những trình hiện của một thể tính. Kể cả tư tưởng cũng là trình hiện của thể tính đó nên không thể dùng tư tưởng để tiếp cận ngược lại nó. Vì vậy tiếp cận tính Không là nội dung của các phép tu học, nhất là Thiền tông. Tính Không được Ðại thừa cho là thể tính tuyệt đối, tối thượng, không bị hạn lượng của nhị nguyên. Vì tính chất trừu tượng và chỉ nhờ trực ngộ mà thấy nên tính Không luôn luôn là đối tượng tranh luận trong các tông phái Phật giáo xưa nay.|Ðại thừa dùng ẩn dụ sau đây để minh hoạ sự khác biệt trong quan điểm của Tiểu thừa và Ðại thừa về tính Không: Tiểu thừa xem sự vật như một cái thùng trống rỗng, Ðại thừa phủ nhận luôn sự hiện hữu của cái thùng đó, chủ trương một quan điểm vô ngã tuyệt đối.|Trong bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tính Không được xem là cái chung nhất của tất cả mọi hiện tượng mâu thuẫn lẫn nhau; kinh này cho rằng Sắc và Không không hề khác nhau (Ma-ha bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh).|Trung quán tông thì cho mọi sự vật đều trống rỗng, chúng chỉ dựa lên nhau mà có (Mười hai nhân duyên). Thể tính của toàn thế giới là Không, nó là »cái tĩnh lặng của thiên hình vạn trạng«. Tính Không là thể tính của mọi khái niệm, kể cả khái niệm »tính không« bao trùm ngôn ngữ. Vì vậy không thể dùng ngôn ngữ, dùng khái niệm nói về Không. Trung quán tông cho rằng, Tính Không có ba chức năng: nguồn gốc của tất cả mọi sinh thành của chúng sinh, của sự hoại diệt của chúng, đồng thời tạo cho chúng điều kiện thoát khỏi Luân hồi. Một khi con người dùng trí Bát-nhã kiến ngộ được Không là con người đạt Niết-bàn.|Ðối với Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) thì mọi sự đều trống rỗng vì chúng chỉ xuất phát từ Tâm (s: citta). Trong trường phái này thì Tâm và tính Không là một.|Tại Tây Tạng, quan điểm tính Không cũng đóng một vai trò quan trọng trong khi truyền giáo lí Trung quán qua xứ này. Luận sư Ấn Ðộ Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla) và Hoà thượng Ðại Thừa, đại diện của Thiền tông Trung Quốc tranh cluận nhau, liệu con đường giác ngộ chân lí phải qua từng cấp bậc (Tiệm ngộ) hay chỉ là một trực nhận bất ngờ (Ðốn ngộ). Cuối cùng, tại Tây Tạng, người ta chấp nhận con đường »từng cấp« và vì thế kể từ khoảng thế kỉ 11, người ta bắt đầu thiết lập nhiều phép tu và quan niệm triết học về tính Không, còn được ghi lại trong những tác phẩm gọi chung là Tất-đàn-đa (s: siddhānta). Tất cả mọi trường phái của Trung quán đều lấy quan điểm »hai chân lí« của Long Thụ làm gốc:|Chân lí quy ước (s: saṃvṛti-satya), có giá trị trong đời sống bình thường, có giá trị cho các hiện tượng do Mười hai nhân duyên tạo nên, nhưng thật ra chúng không tồn tại thật sự;|Chân lí tuyệt đối (s: paramārthasatya), là tính Không, là thể »nằm ngoài tồn tại hay không tồn tại«, là thể không thể nghĩ bàn – chỉ có thể thông đạt được qua sự trực nhận.|Tất cả các điểm khác nhau giữa các phái thuộc Trung quán là hiểu thế nào về hai chân lí đó và làm sao mà tiếp cận, trực ngộ được tính Không. Các phép tu của Phật giáo Tây Tạng dần dần không chỉ tự giới hạn nơi những quan điểm triết học mà còn đi sâu vào các phép Tan-tra để tiếp cận tính Không. Ðặc biệt là phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Ðại cứu kính (s: atiyoga; t: dzogchen) chỉ rõ cho hành giả cách thể nhập kinh nghiệm về tính Không. |Với thời gian, người ta có thể nhận ra một điểm khác biệt giữa Trung quán tông nguyên thuỷ và các giáo pháp Trung quán của Tây Tạng: nếu Trung quán chỉ nói tới tính Không bằng cách phủ nhận cái »đang là« thì các giáo phái này xem tính Không là một cái gì đó có tính chất khẳng định (e: positive) có thể nắm bắt được, tính Không này mang một tính chất »rộng mở«, có một mối liên hệ với Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ, Na-rô lục pháp).

Không, Vô tướng và Vô tác

xem Ba môn giải thoát.

Khúc

曲; C: qŭ; J: koku, goku, kyoku; |1. Uốn cong, bị cong, vênh, khúc cong; 2. Làm cong, làm hư hỏng, bóp méo, làm xoắn; 3. Một đoạn đường cong; 4. Sai, trái; 5. Kĩ lưỡng, chính xác; 6. Một bài hát; 7. Dạy dỗ; thầy giáo.

khúc công

(曲工) ..... Một loại đèn làm bằng đồng, vàng, bạc, đá, v.v... để thờ cúng trong các chùa của Phật giáo Tây tạng. Trước tượng Phật Thích ca mâu ni ở chùa Đại chiêu tại Lạp tát (Lhasa), Tây tạng, có cây đèn bằng vàng nạm đá quí mầu xanh lam, chạm trổ hoa văn rất đẹp để thờ. Đèn này có nhiều loại như đèn trăm chén (dầu), đèn nghìn chén...

khúc lục

(曲彔) Cũng gọi Khúc lục mộc, Khúc lộc, Khúc lốc, Khúc mộc, Viên ỷ, Giao ỷ, Tham ỷ. Ghế ngồi có ngai để dựa của chư tăng thời xưa. Người Trung quốc cổ đại chỉ trải chiếu ngồi trên đất chứ không có ghế. Đến khoảng cuối đời Hán và đầu Lưỡng Tấn (Đông Tấn, Tây Tấn) do sự quan hệ giữa người Hồ (các nước Tây vực) và người Trung nguyên nên loại ghế này mới được truyền vào Trung quốc và gọi là Hồ sàng (giường người Hồ). Thông thường, khúc lục được làm bằng gỗ, có 4 chân, mỗi cặp chân tréo nhau; vì hình dáng lưng dựa cũng giống như cái tay ngai nên gọi là Khúc lục. Trong Đại minh cao tăng truyện quyển 6 có từ ngữ Tọa khúc lục sàng(ngồi giường khúc lục), như vậy, Khúc lục cũng được dùng để chỉ cho cái giường. Ngoài ra, Tọa khúc lục sàng còn được dùng để thay thế cho sự hoằng dương Phật pháp của vị Trụ trì 1 ngôi chùa trong Thiền lâm. Chương Ứng am Đàm hoa thiền sư trong Gia thái phổ đăng lục (vạn tục 137, 139 hạ), nói: Hai mươi năm qua ngồi giường khúc lục, treo đầu dê, bán thịt chó, biết hắn có bằng cớ gì? Tuy nhiên, mỗi năm 1 lần tiết thiêu hương, ngàn xưa khiến người ta càng thêm hận. [X. Vân môn Văn yển thiền sư ngữ lục Q.thượng; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khúc mộc cứ vị

(曲木據位) Cũng gọi Khúc mộc thiền sàng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngồi yên trên chiếc ghế của chư tăng. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng với ý nghĩa lên chức Trụ trì để giáo hóa đại chúng. Tuyết đậu Tổ anh tập thượng trong Tổ đình sự uyển quyển 3 (Vạn tục 113, 33 hạ), ghi: Đại sư Vân môn ở Thiều dương nói: Các lão trọc ở khắp nơi ngồi trên giường khúc mộc(tức làm Trụ trì), cầu danh cầu lợi, hỏi Phật đáp Phật, hỏi Tổ đáp Tổ, đi ngoài đi giải, giống như bà già đã dốt lại lắm chuyện, biết cái gì tốt cái gì xấu? Tất cả đều như thế! Dao bén chém bỏ trăm nghìn vạn ức kẻ, có lỗi gì!. (xt. Khúc Lục).

khúc pháp môn

(曲法門) Pháp môn cong queo. Chỉ cho pháp môn tựa hồ như đúng, nhưng thực ra là sai, làm cho người ta mê lầm; hoặc chỉ cho giáo pháp bất chính không đúng với chân lí.

Khúc thuyết

曲説; C: qŭ shuō; J: kyokusetsu; |Quan niệm sai lệch. Khuynh hướng hay lí lẽ thiên lệch. Lời tuyên bố một chiều.

Khúc thành

曲成; C: qŭ chéng; J: kyokusei; |1. Hoàn chỉnh toàn bộ không một chút sơ suất; 2. Đưa sự việc đến chỗ hoàn mãn bằng cách lợi dụng sự biến chuyển theo hoàn cảnh (Kinh Dịch).

Khúc xỉ

曲齒; C: qŭchĭ; J: kyōshi; S: kūṭadantī|Một trong 10 vị La-sát nữ hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. Thập La-sát nữ (十羅刹女).

khúc đinh

(曲丁) ..... Chén đựng nước cúng trong các chùa của Phật giáo Tây tạng. Loại chén này được làm bằng vàng, bạc, đồng, v.v... 1 bộ 7 cái, đựng nước cúng trước Tam bảo, mỗi ngày thay nước 1 lần. Chén này cũng có thể được dùng để đựng hoa quả, thức ăn... để dâng cúng.

khư

(佉) Cũng gọi: Khát, Khách, Khất. Chữ Tất đàm (kha) là 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ Tất đàm, thanh hầu thứ 2 trong 35 phụ âm Tất đàm. Chữ Khư biểu thị nghĩa vào các pháp hư không bất khả đắc, vào môn Bát nhã ba la mật và dứt hết tất cả phiền não căn bản. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 652 thượng), nói: Chữ Khư tiếng Phạm nghĩa là hư không, thế gian cũng cho rằng hư không là pháp không sinh, không tạo tác, nếu tất cả các pháp vốn không sinh, lìa mọi sự tạo tác, thì rốt cuộc cũng giống như tướng hư không, nay tướng hư không này cũng lại bất khả đắc. Bởi vì Khư nghĩa là hư không, cho nên, khi giải thích theo tướng chữ thì Khư là hư không; còn khi giải thích theo nghĩa sâu kín thì Khư là hư không bất khả đắc. Tất cả pháp vốn không sinh, lìa mọi sự tạo tác và người tạo tác, thế gian không thể lấy gì để ví dụ, chỉ hư không là có phần giống nhau, cho nên dùng cái không khó hiểu của pháp tính để ví dụ cái không dễ hiểu của thế gian. Nhưng sợ rằng sau khi nghe nói các pháp đồng như hư không, thì người đời lại rơi vào cái thấy không, vì thế mà nói cái tướng không ấy cũng bất khả đắc, nghĩa là lấy đại không để hiển bày tuyệt đối. Ngoài ra, trong 6 đại(đất, nước, gió, lửa, không, thức), Mật giáo lấy chữ Khư để biểu thị cho chủng tử Không đại. [X. phẩm Phổ hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; kinh Phật bản hạnh tập Q.31; kinh Phật ban nê hoàn Q.5; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù vấn; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; Môn tứ thập nhị tự quán, phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm; phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính; luận Đại trí độ Q.48].

khư la đế da sơn

(佉羅帝耶山) Khư la đế da, Phạm: Kharàdìya. Cũng gọi Khư la đề da sơn, Khư la đà sơn, Gia la đà sơn. Hán dịch: Loa lâm sơn. Tên núi, ở gần núi Tu di, cao 40.000 du thiện na. Theo Tuệ lâm âmnghĩa quyển 18, thì núi này là 1 trong 7 núi vàng, đức Phật đã từng nói kinh Địa tạng thập luân ở đây, vì thế nơi này là chỗ ở của bồ tát Địa tạng, cũng là trú xứ của Quang vị tiên nhân. [X. kinh Địa tạng thập luân Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.21]. (xt. Khư Đà La Sơn).

khư lê

(佉棃) Phạm:KhàrìhoặcKhàra. Pàli:Khàri. Cũng gọi Khê lợi. Dịch ý: Hộc, Thập hộc, Thạch. Đơn vị tính số đong lường của Ấn độ thời xưa. Bài kinh thứ 1278 trong Tạp a hàm quyển 48, nói về thọ lượng của chúng sinh trong địa ngục A phù đà như sau (Đại 2, 351 hạ): Theo đơn vị đong lường ở nước Câu tát la thì 4 hộc bằng 1 a la, 4 a la bằng 1 độc lung na, 16 độc lung na bằng 1 xà ma na, 16 xà ma na bằng 1 ma ni, 20 ma ni bằng 1 khư lê, 20 khư lê bằng 1 thương (kho). Ví dụ trong kho này chứa đầy hạt cải, giả sử có người mỗi trăm năm lấy ra 1 hạt, cứ như thế cho đến khi lấy hết hạt cải trong kho mà thọ mệnh của chúng sinh ở địa ngục A phù đà vẫn chưa hết!. Trong kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 1, có nói đến những danh từ như: Bát tha, A la, Độc lung na, Khư lê, v.v... Trong kinh Nhập lăng già quyển 2 dịch vào đời Ngụy và kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 1 dịch vào đời Đường, thì từ khư lê đều được dịch là nhất thăng, bán thăng, nhất hộc, thập hộc, tức lấy 10 độc lung na làm 1 Khư lê, khác với kinh Tạp a hàm quyển 5 cho rằng 1120 độc lung na là 1 khư lê. [X. phẩm Đàm vô kiệt trong kinh Tiểu phẩm bát nhã Q.10; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2; phẩm Pháp thượng trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.27; Câu xá luận quang kí Q.11; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

khư lô sắt trá

(佉盧虱咤) I. Khư Lô Sắt Tra. Phạm: Kharowỉha hoặc Kharowỉi. Cũng gọi: Khư lộ sắt na, Khư lô sắt để, Khư lô tra. Gọi tắt: Khư lô, Ca lưu, Lô tra. Hán dịch: Lư thần, Cường dục hồng. Tên một vị tiên trong truyền thuyết của Ấn độ cổ đại. Cứ theo kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 41, thì vào đầu kiếp Hiền, phu nhân của vua thành Chiêm ba tham đắm sắc dục, bà vào trong vườn giao hợp với lừa (lư) sinh được 1 con, thân người mặt lừa, bà ta sợ hãi đem bỏ đi, nhưng nhờ phúc lực đứa bé chỉ dừng lại ở giữa hư không chứ không rơi xuống. Lúc đó có 1 La sát nữ tên là Lư thần, trông thấy, động lòng thương xót, đưa đứa bé về núi Tuyết nuôi dưỡng và đặt tên là Khư lô sắt tra. Lớn lên, đứa bé rất xinh đẹp, phúc hậu, chỉ đôi môi là giống lừa, tu khổ hạnh thành tiên, nên gọi là Lư thần tiên nhân(vị tiên môi lừa). Sau, vị tiên này nói cho các trời và long thần nghe về sự vận hành của các vì tinh tú. [X. A tì đàm tì bà sa Q.51; luận Đại tì bà sa Q.101; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Phiên phạm ngữ Q.5]. II. Khư Lô Sắt Tra. Văn tự được khắc sâu vào đá lưu hành ở vùng Thông lãnh thuộc miền Bắc Ấn độ đời xưa. Theo truyền thuyết, lọai văn tự này do vị tiên Lư thần đặt ra, cho nên gọi là Khư lô sắt tra thư, hoặc Khư lô thư, Khư lâu thư, Lư thần văn tự, Phạm mị thư, Khư lô sắt để thư. Loại văn tự này do ông Aramaische Type, người Ba tư khởi xướng vào khoảng 500 năm trước Tây lịch, rồi lại do vua Ba tư là Darius đời thứ III bắt buộc phát triển, đến khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch thì loại văn tự này được truyền vào miền Bắc Ấn độ. Nhưng thời ấy, Bắc Ấn độ đang lưu hành Phạm thư (Phạm: Bràhmì), cho nên văn tự này không được mọi người sử dụng và gần như bị tiêu diệt. Cách viết loại chữ này là viết ngang từ phải sang trái, cách đọc cũng thế. Văn tự này được khắc trên đá, kim loại, bản gỗ, đồ dùng, tiền tệ, vỏ cây hoa, v.v..., được thấy rải rác ở vùng Kiện đà la đời xưa(nay là A phú hãn, phía đông và phía bắc). Vua A dục cũng sử dụng loại văn tự này. Lần đầu tiên thám hiểm vùng Trung á, ông A. Stein đã tìm thấy loại chữ này được khắc trên những đồng tiền, vỏ cây, phiến gỗ... ở gần Hòa điền. [X. luận Đại tì bà sa Q.82, Q.101; Bách luận sớ Q.thượng phần cuối; Huyền ứng âm nghĩa Q.17; Tất đàm tạng Q.1].

khư trá võng ca

(佉咤網迦) Phạm: Khaỉvàíga. Cũng gọi: Khư tra vọng ca. Cứ theo kinh Nhất tự kì đặc Phật đính quyển trung do ngài Bất không dịch vào đời Đường, thì Khư tra võng ca là một loại vật thành tựu. Còn theo Chư nghi quĩ bẩm thừa lục quyển 10, thì Khư tra võng ca là chỉ cho cây gậy dùng để cắm xuống đất. Lại theo kinh Đà la ni tập quyển 9, thì Khư tra võng ca là cây gậy đầu lâu(gậy có treo cái đầu lâu).

khư đà la

(佉陀羅) Phạm: Khadira. Cũng gọi: Khư đạt la, Kiếp đà la, Kiếp địa la, Khát đạt la, Kha địa la, Khát địa lạc ca, Khư đề la ca, Ha lê la, Kha lê la, Khả lê la. Gọi tắt: Khư đà. Tên một loại cây, gỗ nó cứng chắc nên được dùng làm cây hộ ma hoặc cọc kim cương trong pháp tu của Mật giáo. Tuệ lâm âm nghĩa quyển hạ gọi cây này là Khổ luyện mộc(cây xoan), e đã nhầm lẫn. Kinh Trường a hàm quyển 18 và Câu xá luận quang kí cũng có nói đến núi Khư đà la, vì trên núi này có rất nhiều cây Khư đà la nên lấy tên cây làm tên núi. Ngoài ra, người đời truyền tụng rằng trên núi Khư đà la có tượng vẽ của bồ tát Địa tạng. [X. kinh Tô tất địa Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.9].(xt. Khư Đà La Sơn).

khư đà la sơn

(佉陀羅山) Phạm: Khadiraka. Cũng gọi: Kiệt địa lạc ca sơn, Khát đạt lạc ca sơn, Khư đề la ca sơn, Già đà la sơn, Kha lê la sơn, Kha địa la sơn. Dịch ý: Thiềm mộc sơn, Thiềm lâm sơn, Không phá sơn, Chiên sơn. Tên núi nằm ở khoảng giữa núi Tu di và núi Thiết vi. Trên núi có nhiều cây quí, giống như cây Khư đà la, cho nên dùng tên cây để đặt tên núi. Một trong 7 núi vàng. Về vị trí của núi này, theo phẩm Diêm phù đề châu, kinh Thế kí trong Trường a hàm quyển 18, kinh Khởi thế quyển 10 và kinh Khởi thế nhân bản quyển 10, thì núi này ở gần núi Tu di nhất. Theo luận Câu xá quyển 10 và luận Thuận chính lí quyển 31, thì núi Khư đà la là núi thứ 3 trong 7 núi vàng; luận Du già sư địa quyển 2 thì cho là núi thứ 5; còn Đại sự (Phạm: Mahàvastu, vol. II. p.300) bằng tiếng Phạm thì cho là núi thứ 4. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4, thì ngọn thứ 3 trong bảy núi vàng là Ca la tì câu sơn (Pàli:Karavìka), đây có thể là tên khác của núi Khư đà la. Trong Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 14, có ghi Khư đạt la sơn (Phạm: Khadiraka), tên Phạm của núi này cũng trùng với núi Khư đà la, nhưng là 2 quả núi khác nhau. [X. phẩm Tai biến kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Hoa nghiêm quyển 27 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.50 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.14; Câu xá luận quang kí Q.11; Phiên phạm ngữ Q.9; Du già luận kí Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.1].

khư-đà-la

phiên âm từ Phạn ngữ là khadira, tên một loại cây có gỗ rất rắn chắc, dịch nghĩa là kiên ngạnh mộc hay không phá mộc. Vì gỗ cây này rắn chắc nên than của nó là loại than đốt lên rất nóng.

khưu tỉnh

(丘井) ..... Giếng khô. Ví dụ sắc thân già nua, giống như cái giếng trên gò cao khô cạn, không dùng được nữa. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung), nói: Thân này như giếng khô, bị tuổi già bức bách. [X. Duy ma kinh lược sớ Q.3].

khưu tựu khước

(khưu tựu khước ) ........ Kujurakara. Tên của Linh hầu Quí sương trong 5 bộ Linh hầu của chủng tộc Nguyệt chi. Sau, Linh hầuKujurakaratiêu diệt 4 Linh hầu kia, tự lập vương quốc, hiệu là Quí sương vương. Kế tiếp, đánh chiếm nước An tức, lấy đất Cao phụ và diệt các nước Bộc đạt, Kế tân, v.v... Khưu tựu khước qua đời lúc hơn 80 tuổi, con là Diêm cao trân nối ngôi làm vua, về sau diệt nước Thiên trúc. Đến đời con của Diêm cao trân là Ca nị sắc ca sau khi lên làm vua thì trở thành một Đại vương thống trị cả miền Trung và miền Bắc Ấn độ. [X. Tây vực truyện trong Hậu Hán thư]. (xt. Nguyệt Chi, Ca Nị Sắc Ca Vương).

Khương Tăng Hội

(康僧會, Kōsōkai, ?-280): vị tăng dịch kinh dưới thời đại Tam Quốc, người Giao Chỉ (交趾, Bắc bộ Việt Nam), tổ tiên ông xuất thân nước Khương Cư (s: Sogdiana, 康居), nhưng đến thời cha ông thì dời sang Giao Chỉ để làm ăn buôn bán. Hơn 10 tuổi, ông đã để tang song thân và sau khi mãn tang thì xuất gia. Ông tinh thông tam tạng kinh luật, cùng các học tăng như Hàn Lâm (韓林) ở Nam Dương (南陽), Bì Nghiệp (皮業) ở Dĩnh Châu (潁), Trần Huệ (陳慧) ở Cối Kê (會稽), v.v., phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang tiếng Hán. Vào năm thứ 10 (247) niên hiệu Xích Ô (赤烏) nhà Ngô thời Tam Quốc, ông đến Kiến Nghiệp (建業) bắt đầu hành đạo, suốt ngày thắp hương lễ bái tượng Phật, tụng kinh, ngồi Thiền, rồi ra chợ khất thực. Chính việc làm kỳ lạ của ông đã làm cho nhiều người cảm mến, bèn tâu lên vua nhà Ngô là Tôn Quyền (尊權); nhân đó nhà vua cho mời đến hỏi sự việc. Sau ông đáp ứng lời thỉnh cầu của Tôn Quyền, chỉ trong 21 ngày làm cảm ứng được xá lợi Phật, vì vậy nhà vua vô cùng kính phục thần thông của ông, bèn quy y theo, và lập nên Kiến Sơ Tự (建初寺) để cho ông truyền đạo dịch kinh. Nhờ vậy Phật Giáo ở địa phương Kiến Nghiệp trở nên hưng thạnh. Đây cũng là con đường truyền đạo từ phương Nam vào Trung Quốc, và chính Phạn bối cũng được truyền vào qua con đường này. Vào năm đầu niên hiệu Thái Khang (太康) nhà Tấn, ông thị tịch, không rõ thọ được bao nhiêu, được ban cho hiệu là Siêu Hóa Thiền Sư (超化禪師). Các kinh điển chủ yếu của ông dịch có Ngô Phẩm Kinh (呉品經) 5 quyển, Tạp Thí Dụ Kinh (雜譬喩經) 2 quyển, Lục Độ Tập Kinh (六度集經) 9 quyển (hiện tồn chỉ có 8 quyển), và chú giải một số kinh như An Ban Thủ Ý Kinh (安般守意經), Pháp Kính Kinh (法鏡經), Đạo Thọ Kinh (道樹經), v.v.

khương yết la

(姜羯羅) ........ Phạm: Kaôkara, hoặc Kaíkara. Cũng gọi: Căng yết la, Châu ca la, Hằng ca la. Đơn vị số lượng rất lớn của Ấn độ đời xưa. Về danh xưng và số mục, các kinh luận nói có khác nhau. Luận Câu xá quyển 12 nêu số 16 nói trong kinh Giải thoát, theo pháp Thập tiến (decimal system) thì Khương yết la được xếp vào hàng thứ 16. Còn kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch mới) nêu 122 số lớn, bắt đầu lấy 100 lạc xoa (100.000) làm 1 câu chi, câu chi câu chi là 1 a dữu đa, theo thứ tự thêm lên dần dần thì Khương yết la được xếp vào hàng thứ 6. [X. kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đạo thần túc Q.4].

khương yết lê

(羌揭梨) Phạm: Zamkarì. Con dao nhỏ, hoặc con dao nhỏ hình răng cưa, 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 16, thì các sứ giả phụng giáo đều kết ấn dao nhỏ, còn Khương yết la thì có hình răng cưa, vì thế dịch Khương yết la là dao nhỏ e không được chính xác. Nhưng Đại nhật kinh sớ quyển 53 thì cho rằng Khương yết la chẳng phải là cái cưa, mà là 1 loại dao nhỏ có hình răng cưa. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.63].

khước giác ta tử

(却較些子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ta tử nghĩa là chút ít, chỉ có chút ít, ý nói chỉ đúng một chút ít thôi. Trong Thiền lâm, nhóm từ này thường được dùng để làm lời bình mang tính chất vừa khen vừa chê. Tắc 69 Bích nham lục (Đại 48, 199 thượng), nói: Do cơ nhắm bắn vượn Quanh cây làm sao thẳng? Nghìn người cùng vạn người Đã ai từng trúng đích? Gọi nhau đi về thôi! (Một bọn đùa cục đất, tốt hơn hãy về đi, thì còn đúng chút ít) Đường Tào khê hãy dừng bước.

khước lai

(却來) Cũng gọi Khước hồi. Đối lại: Hướng khứ. Từ thế giới tuyệt đối bình đẳng trở lại thế giới tương đối sai biệt. Trái lại, tin tưởng vững chắc vào Phật tính sẵn có mà phát tâm qui hướng, thì gọi là Hướng khứ. Vị tăng đã từng giữ chức Thủ tọa, sau khi thôi việc, lại được thỉnh làm chức ấy lần nữa thì gọi là Khước lai thủ tọa hoặc Thoái vị vị nhân. Điều Tiền đường thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1130 hạ), nói: Tuy là bậc tôn túc ở nơi khác, nhưng nếu vị Trụ trì hết lòng kính lễ ngài và thỉnh giữ chức này (Thủ tọa) thì gọi là Thoái vị vị nhân. Như ngài Văn thù là thầy của 7 đức Phật mà còn giúp đỡ đức Thích ca tuyên dương giáo hóa, làm bậc Thượng thủ trong đại chúng.

khước mê

(却迷) ..... Cũng gọi: Đại mê. Đồng nghĩa: Ngộ hậu khước mê, Đại ngộ khước mê. Khước mê có 2 nghĩa: 1. Trong cảnh giới của người đại ngộ không có dấu vết của ngộ, hệt như phàm phu không khác. Đây là nói theo lập trường mê ngộ nhất thể. Bởi mê và ngộ không hai, không khác, ngoài mê không ngộ, cho nên ngoài khước mê cũng chẳng có cái đại ngộ nào đáng nói. 2. Từ cảnh giới đại ngộ trở lại thế giới hiện thực của chúng sinh để làm việc cứu độ chúng sinh. Vì nhu cầu cứu độ cái mê của chúng sinh nên người đại ngộ thường thị hiện tướng mê giống như thế giới chúng sinh. Để phân biệt với cái mê thông thường trước khi khai ngộ, nên đặc biệt gọi cái mê với 2 nghĩa trên là Khước mê. [X. chương Hoa nghiêm hưu tĩnh trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.17].

khước thích

(却刺) Đối lại: Trực phùng. Cách khâu áo ca sa. Tức là khi khâu tới 1 mũi rồi, trở lại đặt mũi kim vào chỗ mũi kim trước mà khâu tiếp, như vậy mối chỉ sẽ nối tiếp liền nhau trên mặt vải(như lối khâu bằng máy ngày nay), chứ không có chỗ nào bỏ trống hay cách quãng. Phương pháp khâu này làm cho các mối chỉ bền chắc và chịu được lâu. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 2 phần 2 (Đại 46, 190 trung) chép: Nói khâu đơn tức không phải khước thích (khâu kép), nếu khâu theo phương pháp khước thích thì đó là áo của bậc đại tăng thụ trì.

khước ôn hoàng thần chú kinh

(却溫黃神咒經) Cũng gọi: Khước ôn thần chú kinh. Tác phẩm, 1 quyển, không rõ tên người dịch, có chỗ nói do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 3. Khước nghĩa là từ chối, trừ bỏ; Ôn chỉ cho ôn dịch, độc khí. Kinh này nói về việc diệt bỏ sự độc hại, tiêu trừ tai ương. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật đến thuyết pháp ở tinh xá Trúc lâm gần thành Vương xá, thì trong nước Tì da li (Phạm:Vaizàli) bệnh ôn dịch đang hoành hành, trong pháp hội, có nhiều thính chúng bị bệnh, nhân đó, ngài A nan mới thưa hỏi đức Phật về cách diệt trừ ôn dịch độc khí. Đức Phật dạy rằng có 7 loài quỉ thần thường phun khí độc để hại nhân dân, người bị nhiễm khí độc ấy thì nhức đầu và nóng lạnh, các khớp xương như muốn rã ra, đau đớn khó tả, nếu muốn được bình an thì nên tụng trì kinh chú này, khiến tất cả bệnh độc dịch khí đều tiêu diệt hết, nhà cửa an ổn, cát tường như ý.

Khả

可; C: kĕ; J: ka; |Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có lẽ, có khả năng. Biểu hiện của trạng thái tiềm năng (s: sakya); 2. Tốt, đẹp. Ổn đáng.

khả chân

(可真) (?-1064) Vị Thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Trường kê, Phúc châu (tỉnh Phúc kiến). Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch sương Sở viên, từng trụ ở núi Thúy nham, phủ Long hưng (Giang tây), cho nên sư còn được gọi là Thúy nham Khả chân. Về sau, sư dời đến núi Đạo ngô ở Đàm châu (huyện Trường sa, tỉnh Hồ nam). Tài biện luận của sư lưu loát, trôi chảy nên tiếng đồn khắp gần xa. Sư có tác phẩm: Thúy nham Chân thiền sư ngữ yếu 1 quyển, được thu vào Cổ tôn túc ngữ yếu. [X. Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục Q.7; Liên đăng hội yếu Q.14; Gia thái phổ đăng lục Q.3; Ngũ đăng hội nguyên Q.12; Tục truyền đăng lục Q.7; Thiền tông chính mạch Q.12; Phật tổ cương mục Q.36].

khả chân điểm hung

(可真點胸) Tên công án trong Thiền tông. Khả chân chỉ ngực. Công án này nói về sự khai ngộ đắc pháp của Thiền sư Thúy nham Khả chân đời Tống. Lúc đầu, sư theo hầu dưới tòa ngài Thạch sương Sở viên. Một hôm ngài Sở viên muốn xét nghiệm sư nên hỏi (Vạn tục 148, 140 hạ): Như thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: Đỉnh núi không mây, trăng chìm đáy nước. Ngài Sở viên quở rằng: Đầu bạc răng long mà còn hiểu như vậy sao? Nghe thế sư khóc lóc, xin ngài Sở viên chỉ dạy. Ngài bảo: ông cứ hỏi ta đi! Sư liền đem câu trước mà hỏi ngài. Ngài Sở viên thong thả đáp: Đỉnh núi không mây, trăng chìm đáy nước. Sư nghe lời ấy, hoát nhiên chỉ ngực(rõ suốt đại pháp, không còn chút gì vướng mắc) mà khai ngộ đắc pháp. Do nhân duyên này mà trong tùng lâm thường gọi Khả chân là Chân điểm hung. [X. Thiền uyển mông cầu Q. hạ].

khả hồng

(可洪) Học giả Trung quốc, sống vào khoảng đời Hậu Đường đến đời Hậu Tấn thời Ngũ đại. Lúc đầu ông theo Nho học, sau qui y Phật giáo, đọc nhiều kinh sách. Bắt đầu từ năm Trường hưng thứ 2 (931) đời Hậu Đường, ông tham khảo các bộ Huyền ứng âm nghĩa, Tuệ uyển âm nghĩa, Tuệ lâm âm nghĩa, Hi lân âm nghĩa, v.v... mà soạn thành bộ Tân tập tạng kinh âm nghĩa tùy hàm lục (30 quyển), ròng rã 10 năm mới hoàn tất. Trong sách này, đối với loại cổ tự, tục tự, điểm họa, v.v... ông đều giải thích rất rõ ràng.

khả kiến bất đối sắc

(可見不對色) Khả kiến là chỉ cho những gì mắt người có thể thấy được; Bất đối sắc là chỉ cho những cái không có tính ngăn ngại. Tức là loại sắc pháp do cực vi tạo thành, mắt thường có thể thấy, có mầu sắc nhưng không có hình thể, không làm chướng ngại các vật chất khác. Tức chỉ cho 4 sắc pháp: bóng, ánh mặt trời, sáng và tối...

khả kiến hữu đối sắc

(可見有對色) Cũng gọi Hữu kiến hữu đối sắc. Khả kiến chỉ cho những gì mắt thường có thể thấy được; Hữu đối chỉ cho những gì do vật chất rất nhỏ nhiệm tạo thành và có tính chướng ngại. Khả kiến hữu đối sắc tức chỉ cho sắc cảnh. Bởi vì sắc pháp gồm có 11 thứ(5 căn, 5 cảnh, vô biểu sắc), trong đó, Sắc cảnh là Khả kiến hữu đối sắc, 5 căn và 4 cảnh(thanh, hương, vị, xúc) là Bất khả kiến hữu đối sắc; còn Vô biểu sắc là Bất khả kiến vô đối sắc. Như núi, sông, đất đai, cỏ cây, v.v... có mầu sắc, hình tướng, có thể ngăn ngại các vật chất khác, đều là Khả kiến hữu đối sắc.

khả lậu tử

(可漏子) Cũng gọi Xác lậu tử, Khả lậu. I. Khả Lậu Tử. Phong bì để thư tín trong Thiền lâm thời xưa. Khả lậu nguyên chỉ cho cái vỏ trứng, nghĩa là đơn từ, thư tín dán kín bỏ vào trong ống tre, giống như loài sâu bọ rút vào trong vỏ bọc, nên gọi là Khả lậu tử. Cách viết phong bì như sau: Thỉnh Hòa thượng Thiền sư Đường đầu ở... chức vụ... cẩn phong. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.15]. II. Khả Lậu Tử. Cái túi rách. Chỉ cho nhục thể của con người, hàm ý khinh miệt. Động sơn thiền sư ngữ lục (Đại 47, 515 thượng) chép: Sư hỏi vị tăng: Khi lìa bỏ cái túi rách(xác lậu tử)này rồi, thì ta sẽ gặp nhau ở đâu?.

khả quan

(可觀) (1092-1182) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người huyện Hoa đình, tỉnh Giang tô, họ Thích(có thuyết nói họ Phó), tự Nghi ông, hiệu Giải không, Trúc am. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học giáo nghĩa Thiên thai. Mới đầu, sư y chỉ vào ngài Nam bình Tinh vi, sau nghe danh Thiền sư Trạch khanh ở Xa khê vang khắp vùng Giang tô, Chiết giang, sư liền đến theo học và được pháp của ngài. Đầu năm Kiến viêm đời Nam Tống, sư trụ trì chùa Thọ thánh ở Gia hòa, khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162), sư chuyển sang ở chùa Đức tạng tại Đương hồ, ngoài giờ giảng thuyết, sư lại chú thích kinh Lăng già. Sau, sư dời đến ở chùa Tường phù, vì nhuốm bệnh nên sư lui về ẩn dật ở Trúc am tại Nam lâm, Đương hồ. Năm Càn đạo thứ 7 (1171) nhận lời thỉnh của Thừa tướng Ngụy bả, sư về trụ trì chùa Thiên thai ở Bắc thiền. Năm Thuần hi thứ 7 (1180), nhận lời thỉnh của Ngụy Hiến vương, sư làm viện chủ chùa Diên khánh ở Nam hồ, không bao lâu, sư lại về ẩn ở Trúc am tại Đương hồ. Năm Thuần hi thứ 9 (1182) sư thị tịch, thọ 91 tuổi. Đệ tử nối pháp có các vị: Bắc phong Tông ấn, Trí hành Thủ mân, Thần biện Thanh nhất, v.v... Tác phẩm của sư gồm có: Lăng già thuyết đề tập giải bổ chú 4 quyển, Lan bồn bổ chú 2 quyển, Sơn gia nghĩa uyển 2 quyển, Kim cương thông luận, Kim cương sự thuyết (hoặc Kim cương sự quyển), Viên giác thủ giám 1 quyển, Trúc am thảo lục 1 quyển... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15, Q.25; Thích môn chính thống Q.7; Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ lịch đại thông tải Q.21].

Khả tri

可知; C: kĕzhī; J: kachi; |Hiển nhiên, rõ rệt; có thể thấy; có thể biết, đáng được biết.

khả trung

(可中) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là nếu, giả sử, giá như, nhược bằng, v.v... Là phương ngôn thông dụng ở đời Đường, Tống, Trung quốc. Các vị Thiền tăng cũng hay dùng từ này. Qui sơn cảnh sách (vạn tục 111, 146 hạ) ghi: Nếu (khả trúng) đốn ngộ chính nhân thì đó là bước đầu để dần dần ra khỏi trần lao.

khả tương

(可湘) (1206-1290) Vị Thiền tăng thuộc dòng Phá am, phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, Nguyên, Trung quốc, người Ninh hải, Thai châu (Chiết giang), họ Cát, hiệu Tuyệt ngạn, đệ tử nối pháp của ngài Vô chuẩn Sư phạm. Sư từng ở các nơi như: Lưu hồng Hưng thánh thiền tự ở phủ Gia hưng (Chiết giang), Nhạn sơn Năng nhân thiền tự tại Ôn châu (Chiết giang), Cửu nham Tuệ vân thiền tự ở Việt châu (Chiết giang), Hộ quốc Quảng ân thiền tự tại Thiên thai (Chiết giang) Sùng ân Diễn phúc thiền tự ở phủ Lâm an (Chiết giang), Long tường Hưng khánh thiền tự ở Ôn châu. Năm Hàm thuần thứ 8 (1272), Sư trụ trì Sùng thánh thiền tự trên núi Tuyết phong thuộc Phúc châu (Phúc kiến) khoảng 10 năm. Sau đó, sư từ bỏ mọi việc trong viện, lui về sống ở chùa Bảo thọ tại Hàng châu, ít lâu sau, sư lại được thỉnh trở về Sùng thánh thiền tự. Năm Chí nguyên 27 (1290) sư tịch, thọ 85 tuổi, do cốt thờ ở Tuyết phong, tháp xây ở Tây am. Sư có tác phẩm: Tuyệt ngạn hòa thượng ngữ lục 1 quyển. [X. Kế đăng lục Q.3; Tăng tục truyền đăng lục Q.4; Tục đăng tồn cảo Q.4].

Khả ý

可意; C: kĕyì; J: kai; S: manojñā; T: yid du ḥoṅ ba;|Có các nghĩa sau: 1. Hài lòng, hấp dẫn, dễ chịu (s: manojñā; t: yid du ḥoṅ ba); 2. Điều đáng yêu (manāpa); 3. Mang lại, ban phát niềm vui; 4. Niềm vui, sự vui mừng, hạnh phúc.

Khả đắc

可得; C: kĕdé; J: katoku; S: upalabhyante; T: dmigs pa, yod pa.|Có thể đạt được, có thể được, có thể hiểu được, có thể lĩnh hội được.

khả đắc tương tự quá loại

(可得相似過類) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi do người vấn nạn cố tình phản bác Nhân(lí do) chính xác của người lập luận. Là lỗi thứ 5 trong 14 lỗi Tự năng phá của Cổ nhân minh do Túc mục, Tổ khai sáng của Nhân minh, lập ra. Như đệ tử Phật lập luận thức: Tông: Âm thanh là Vô thường Nhân: Vì do sự nỗ lực không ngừng mà phát ra Dụ: Như cái bình, v.v... Nhân(lí do)trong luận thức trên đây là đúng, nhưng người vấn nạn cố ý muốn phá nên nói bừa rằng Điện là Vô thường, chẳng phải vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra, nhưng vì có thể thấy được nên là Vô thường, âm thanh cũng chẳng phải vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra. Trong hình thức đối luận trên đây, đệ tử Phật viện lí do Vì sự nỗ lực không ngừng mà phát ra để chứng minh âm thanh là vô thường; bởi vì Những gì do sự nỗ lực mà có ra thì nhất định là vô thường. Nhưng tất cả những gì vô thường chưa hẳn đều lấy sự nỗ lực không ngừng mà có ra để làm Nhân. Phạm vi vô thường rất rộng, còn sự nỗ lực không ngừng mà phát ra chỉ là một phần của Nhân vô thường. Như điện tuy chẳng phải do sự nỗ lực không ngừng phát ra nhưng cũng là vô thường. Người vấn nạn không xét đến lí này, nên cố ý dùng lí do tương tự để phản bác, như thế là phạm loại lỗi Khả đắc tương tự. [X. Nhân minh chính lí môn luận bản; Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí Q.8]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).

Khải

啓; C: qǐ; J: kei;|Dạy, làm sáng tỏ, khai ngộ, soi sáng, giảng giải.

Khải bạch

啓白; C: qǐbái; J: keibyaku;|Lời thưa thỉnh đến chư Phật hay Bồ Tát.

khải châu

(凱珠) (1385-1438) Tạng: Mkhas-grub. Dịch Hán: Hiền thiện thành tựu. Gọi đủ: Mkhas-grub Dge-legs dpalbzaí-po. Dịch âm: Khải châu ca lỗ ba tang bảo, Khai lỗ khắc vương kiệt. Cũng gọi:Mkhas-rab. Thiện xảo. Cao tăng Tây tạng, vị Ban thiền lạt ma đời thứ nhất, người nước Vu điền, một trong2 vị đệ tử lớn của ngài Tông khách ba, cũng là trưởng tử của ngài Côn ca tháp tây (Tạng: Kun-dga# bkra zis) thuộc hệ thống Mật chú. Sư thông minh từ thủa nhỏ, lần lượt học tập tại các chùa Gia mẫu lâm (Tạng: Íam-rin), Tát ca (Phạm: Sa-skya). Năm 17 tuổi, sư thụ giới Sa di; năm 23 tuổi, sư theo vị tăng thuộc phái Tát ca là ngài Nhân đạt oa (Tạng: Reímda#-ba) thụ giới Cụ túc, học Trung quán, Lượng luận, Giới luật, Câu xá, Bát nhã, các giáo thuyết về tính tướng, yếu nghĩa của 4 bộ Đát đặc la và Chân ngôn. Sau, sư lại theo các ngài Đạt nhĩ ma nhân khâm (Tạng: Dar ma rinchen), Lạp cách ba (Tạng:Grags-pa rgyalmtshan), Chiêm khách nhĩ ba và Chiêm mẫu an ca chu âu (Tạng: #jam dbyaís rgya-mtsho), v.v... học giáo pháp Hiển mật. Năm Vĩnh lạc thứ 6 (1408) sư thờ ngài Tông khách ba làm thầy. Trong 10 tháng hầu thầy, hàng ngày sư nghe ngài Tông khách ba giảng về Câu xá, Lượng luận, Bí mật tập, Thời luân, Đát đặc la và Hiển giáo, Mật giáo... Sư rất nổi tiếng về học vấn và đức hạnh, đặc biệt có tài biện luận, nhiều lần tổ chức các cuộc tranh luận, tận lực dẹp bỏ các mối dị đoan trong và ngoài Hoàng giáo. Sư từng biên soạn giáo thuyết khó hiểu của ngài Tông khách ba thành sách cương yếu; sư cũng xây dựng nhiều chùa viện Hoàng giáo. Các hóa thân Lạt ma dưới hệ thống của sư đến đời sau đều gọi là Ban thiền Lạt ma. Năm 47 tuổi, sư thừa kế ngài Căn đôn châu ba làm Tọa chủ đời thứ 2 của chùa Cam đan (Tạng: Dga#-ldan khri-pa), đến năm 1438 sư thị tịch, thọ 54 tuổi. Đệ tử đắc pháp của sư gồm có: Tuệ pháp hộ, Hà lô thiện chàng, Kham cần phúc thắng thành, Biến trí thắng quang, Cụ pháp thiện hiện, Bạt thoa pháp chàng, Bảo hải tuệ, Cẩn nga tuệ chàng, Sát khuếch ngõa pháp xứng, Nghĩa thành đường, Dạng nhung ngõa pháp tự tại xưng, Pháp hộ, v.v... Về các tác phẩm của sư thì có: Tông khách ba đại sư truyện, Hiện quán trang nghiêm luận chú sớ, Thích lượng luận đại sớ, luận Hiển thị thậm thâm không chân thực nghĩa, luận Tam tịnh nghĩa kiến lập, v.v... Ngoài ra, còn có Truyện kí, Thư giản, Thính văn lục, Nguyện văn, Lễ tán... tất cả hơn 60 bộ loại. [X. Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục; Tây tạng Phật giáo nghiên cứu].

khải kiến kỳ vũ sớ

(啓建祈雨疏) Văn sớ được đọc trong pháp hội cầu mưa. Thời xưa, gặp những năm hạn hán kéo dài, người ta thường tổ chức lễ đảo vũ. Trong thời gian cử hành nghi lễ này, mỗi ngày vào 2 thời cơm cháo, tụng 7 biến chú Đại bi để cầu cho mưa xuống. Ngày đầu tiên của pháp hội gọi là Khải kiến, đặc biệt trang nghiêm đạo tràng, cầu nguyện bồ tát Quan thế âm, tụng thần chú Thủ lăng nghiêm và tuyên đọc văn sớ. Văn sớ được tuyên đọc vào ngày này gọi là Khải kiến kì vũ sớ. [X. Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

khải kiến thán phật

(啓建嘆佛) Nghi thức tán Phật được cử hành vào ngày đầu tiên của pháp hội truyền giới. Trong ngày thứ nhất của lễ truyền giới, vào giờ Ngu trung(khoảng 10 giờ sáng), sau khi tụng kinh nghinh Thánh xong, Giáo thụ sư khuyến thỉnh Đạo sư(Khải thỉnh sư, Khải sư) cử hành nghi thức tán thán công đức của Phật.

khải mông thư

(啓蒙書) Những kinh sách có khả năng mở mang sự ngu tối và làm phát sinh chính trí bát nhã. Trong các kinh điển, những kinh thường được trích dẫn để dạy dỗ tín đồ như: Kinh Pháp cú, kinh Hiền ngu, kinh Tạp bảo tạng và những tác phẩm do ngài Long thụ của Ấn độ soạn thuật như: Bồ đề hành kinh, Khuyến phát chư vương yếu kệ, v.v... đều được gọi là Khải mông thư. Ở Trung quốc thì có các tác phẩm như: Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu(Tiểu chỉ quán)của ngài Trí khải đời Tùy, Hoa nghiêm kim sư tử chương của ngài Pháp tạng đời Đường, Thiền lâm bảo huấn của ngài Tịnh thiện đời Tống, v.v... đều thuộc loại sách này. Ngoài ra, tại Nhật bản, những sách như: Quán tâm giác mộng sao của ngài Lương biến, Bát tông cương yếu của ngài Ngưng nhiên, Tam quốc Phật giáo truyền thông duyên khởi, v.v... cũng đều là Khải mông thư. Rồi thời cận đại đến nay, những tác phẩm thuộc loại này cũng rất nhiều như cuốn Buddhism (Phật giáo) của ông Ch. Humphreys, người Anh, được lưu hành khá phổ biến.

khải sương thai

(啓霜台) Cũng gọi: Ngự sử đài. Chỉ cho nơi thiết lập đàn giới. Sương đài vốn là nơi thi hành luật pháp, vì thế nơi đặt đàn giới gọi là Khải sương đài. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 464 thượng), nói: Lời cảm tạ đại giới (nhân dịp chúc thọ Thánh hoàng vạn tuế, thiên hạ bình an, đặc biệt có thiết lập Khải sương đài).

khải thỉnh

(啓請) Phạm: Adhyewanà, adhyewita. Phụng thỉnh chư Phật trước khi tụng kinh. Như xướng: Na mô Lăng nghiêm hội thượng Phật Bồ tát trước khi tụng văn chú Thủ lăng nghiêm. Trong nghi thức Vọng hối lược Bố tát, tức là mỗi tháng vào ngày mồng 1 và ngày rằm, cử hành nghi thức Bố tát vắn tắt, thì sau khi đọc văn sám hối, xướng rằng: Na mô Quá khứ thất Phật, Na mô Thích ca mâu ni Phật, Na mô Văn thù bồ tát, Na mô Phổ hiền bồ tát, Na mô Quan thế âm bồ tát, Na mô Di lặc bồ tát, Na mô Lịch đại tổ sư bồ tát, v.v... đây là Khải thỉnh, sau đó mới xướng Tứ hoằng thệ nguyện. Nhưng trong nghi thức tống táng, thì khi tụng chú Lăng nghiêm, không cử hành nghi thức khải thỉnh. Mật giáo thì dùng khế ấn và chân ngôn để Khải thỉnh. Như trong pháp Kim cương giới, kết tụng ấn ngôn Đạo tràng quán, Đại hư không tạng, Tiểu kim cương luân, v.v... và chuẩn bị đầy đủ luân đàn xong, thì kết ấn ngôn để triệu thỉnh Bản tôn Thánh chúng ở các Tịnh độ phương khác, thầm hội nhất thể với Bản tôn của đạo tràng đang tu quán. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q. thượng; phẩm Thỉnh Phật kinh Lăng già Q.1; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Bình Cử, Khuyến Thỉnh).

khải định sớ

(楷定疏) Cũng gọi: Quán vô lượng thọ kinh sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tạp 37. Do ở cuối quyển 4 có câu: Nay muốn nêu ra nghĩa trọng yếu của kinh này để định lại mẫu mực(Khải định)xưa nay, nên người đời gọi bộ Sớ này là Khải định sớ. Về sau, vị tăng người Nhật bản tên là Hiển ý soạn Quán kinh sớ Khải định kí để chú thích bộ Khải định sớ của ngài Thiện đạo gồm 36 quyển, người đời gọi là Khải định kí.

Khảm

(坎): trong Kinh Dịch, Khảm là tên của một quẻ, là một trong Bát Quái (八卦), tượng trưng cho sự hiểm nạn, đại biểu cho nước, là quẻ của phương Bắc. Như trong Dịch Kinh (易經), Thuyết Quái Truyện (說卦傳), có giải thích rằng: “Khảm giả, thủy dã; chánh Bắc phương chi quái dã; Lao Quái dã; vạn vật chi sở quy dã (坎者、水也、正北方之卦也、勞卦也、萬物之所歸也, Khảm là nước; là quẻ của hướng chánh Bắc, là Lao Quái, là nơi quay về của vạn vật).” Trong tác phẩm Đào Hoa Phiến (桃花扇), phần Nhập Đạo (入道), của Khổng Thượng Nhiệm (孔尚任, 1648-1718) nhà Thanh, có đoạn: “Nữ hữu nữ giới, hạ hợp Khảm đạo, khoái hướng Bắc sơn chi Bắc, tu chơn học đạo (女有女界、下合坎道、快向北山之北、修眞學道, nữ có cảnh giới của người nữ, dưới hợp với phương Bắc, thích hướng phía Bắc của Bắc sơn, tu chơn học đạo).”

khảo tín lục

(考信錄) Tác phẩm, 5 quyển, gồm 337 hạng mục, do ngài Cảnh diệu Huyền trí, người Nhật bản soạn, được thu vào Nhật bản Chân tông toàn thư tạp bộ. Nội dung tìm hiểu về căn cứ và lí do của những phép tắc và nghi thức được thực hành trong các chùa viện.

Khất

乞; C: qǐ; J: kotsu;|Cầu, xin. Cầu xin của bố thí.

khất nhãn bà la môn

(乞眼婆羅門) Tên người Bà la môn đã xin con mắt của một vị Bồ tát. Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 6, kinh Di lặc bồ tát sở vấn bản nguyện, kinh Phúc cái chính hạnh sở tập quyển 7, kinh Bản sinh (tiếngPàli) và luận Bản sinh man (tiếng Phạm), thì đời quá khứ, khi còn ở nhân vị tu hành, đức Phật là Đại vương Tu đề la ở thành Phú ca la bạt (Phạm:Puwkaràvatì) thuộc Bắc Ấn độ, đã bố thí đôi mắt cho người Bà la môn mù theo lời khẩn cầu của ông ta; Bà la môn mù ở thành Xá vệ này tức là Khất nhãn bà la môn. Ngoài ra, theo luận Đại trí độ quyển 12, thì ngài Xá lợi phất khi thực hành đạo Bồ tát trong 60 kiếp, muốn tu hạnh Bố thí ba la mật, lúc đó có người đến xin mắt, ban đầu Ngài ngần ngại không cho, người ấy năn nỉ, Ngài mới móc 1 con mắt để cho, người ấy ngửi mắt, chê hôi rồi ném xuống đất và lấy chân chà lên, Ngài liền tự nghĩ lũ người như thế không thể độ được, chi bằng ta tự tu để sớm thoát khỏi sinh tử. Nghĩ như thế rồi, ngài Xá lợi phất đang từ đạo Bồ tát rơi xuống hạnh Tiểu thừa. [X. kinh A dục vương tức hoại mục nhân duyên; kinh Soạn tập bách duyên Q.4; kinh Lục độ tập Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. hạ phần đầu].

khất sái

(乞灑) Cũng gọi Khất xoa, Cát xoa, Sát, Sai, Đồ, La, Củ. Chữ Tất đàm (Kwa). Một trong 50 tự môn (chữ cái), 1 trong 42 tự môn Tất đàm. Kinh Đại phẩm Bát nhã quyển 5, giải thích chữ Phạm:Kwaya(dịch âm: Khất xoa da, dịch ý: Tận) nghĩa là Chư pháp tận bất khả đắc (các pháp hết chẳng thể được). Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 4 và kinh Đại phương quảng quyển 4, giải nghĩa Khất sái là Nhẫn (Phạm:Kwànti). Kinh Xuất sinh vô biên môn đà la ni giải thích Khất sái là Sát na (Phạm: Kwaịika), Vô tận (Phạm: Akwaya). Cho nên, khi nghe âmKwathì liên tưởng ngay đến cả 3 âm: Kwàịti, Kwaịika và Kwaya. Phẩm Tự mẫu của kinh Văn thù vấn thì bảo: Khi đọc chữ Khất sái thành 1 âm thì có nghĩa là tất cả văn tự rốt ráo không có lời nói, âm thanh. Đây là giải thích lại nghĩa chữ Phạm:Akwara(âm Hán: Ác xoa la). [X. phẩm Thích tự mẫu kinh Kim cương đính; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; luận Đại trí độ Q.48; Tất đàm tự kí].

Khất sĩ

乞士|danh từ chỉ các vị Xuất gia học đạo, lang thang khất thực hằng ngày, dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo. Tại Ấn Ðộ, người ta thường dùng ba danh từ chỉ một người Khất sĩ, đó là Anāgārika (Vô gia cư), Bhikṣu (Tỉ-khâu), và Śramaṇa (Sa-môn, Du tăng). Ba từ này đều có thể hiểu là Khất sĩ, được dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo.

khất sĩ

(乞士) Phạm: Bhikwu. Chỉ cho tỉ khưu. Các tỉ khưu không mưu sinh bằng bất cứ nghề nghiệp gì, mà chỉ đi xin ăn để duy trì sắc thân, sống cuộc đời thanh tịnh, cho nên gọi là Khất sĩ. [X. luận Đại trí độ Q.3; Chú duy ma cật kinh Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27]. (xt. Tỉ Khưu).

Khất thực

乞食; C: qǐshí; J: kotsujiki;|Cầu xin thực phẩm. Tiếng Hán còn gọi là Thác bát (托鉢). Tăng ni tự nuôi sống mình bằng cách khất thực từ nhà của cư sĩ. Có nhiều luật liên quan đến việc khất thực được ghi trong Luật tạng, như hạn định thời gian khất thực chỉ được đến khi đúng ngọ (12 giờ trưa) và chỉ khất thực trong giới hạn những nhu cầu căn bản để duy trì mệnh sống (s: pinda-cārika, bhaikṣya, pinda).

khất thực

(乞食) Phạm:Paiịđapàtika. Pàli: Piịđapàta. Cũng gọi Đoàn đọa, Phần vệ, Thác bát, Hành khất. Hành nghi của tăng sĩ Ấn độ, đi xin thức ăn của mọi người để nuôi dưỡng sắc thân, là 1 trong 12 hạnh đầu đà. Khất thực vốn có 2 ý nghĩa: 1. Tự lợi: Dứt bỏ tất cả các việc thế tục, làm phương tiện tu đạo. 2. Lợi tha: Tạo cơ hội cho chúng sinh gieo nhân phúc đức. Khất thực thuộc về chính mệnh của tăng sĩ, nếu tự kinh doanh, buôn bán để mưu sinh là tà mệnh. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 47 và Tì ni thảo yếu quyển 6 thì khi vào thành khất thực, phải đi sát bên lề đường, tay trái cầm bình bát, theo thứ tự khất thực, cốt để duy trì mệnh sống, tâm không tham đắm, cho nên khi được thức ăn không mừng, không được cũng không lo, chỉ lấy việc trừ bệnh đói, nuôi dưỡng khí lực làm chính. Lại theo kinh Pháp tập quyển 1, thì việc đức Như lai đi khất thực có 3 nghĩa: 1. Không tham đắm vị ngon: Ngon, dở đều bình đẳng. 2. Để phá trừ ngã mạn: không phân biệt nhà giàu, nghèo. 3. Từ bi bình đẳng: Làm lợi ích lớn cho chúng sinh. Tỉ khưu Ca lưu đà di có sắc mặt đen thui vào thành khất thực lúc gần tối, trời mưa gió sấm chớp, khi ấy có người đàn bà đang mang thai, trông thấy Ca lưu đà di tưởng lầm là quỉ, bà ta sợ hãi quá đến nỗi bị sẩy thai. Vì việc này mà đức Phật liền chế giới cấm khất thực sau giờ Ngọ. Theo kinh Bảo vũ quyển 8, thì Bồ tát đi khất thực là để thành tựu 10 pháp: 1. Nhiếp thụ chư hữu tình: Bồ tát thấy tất cả loài hữu tình chịu các nổi khổ não, tuy có thể thành tựu chút ít thiện căn, nhưng thời gian thực hành chẳng được bao lâu. Vì muốn thu nhiếp và làm lợi ích cho các hữu tình nên Bồ tát đi khất thực. 2. Thứ tự: Khi vào thành ấp, làng xóm, giữ gìn chính niệm, đầy đủ uy nghi, các căn tĩnh lặng, theo thứ tự khất thực, không bỏ nhà nghèo để đến nhà giầu (chỉ trừ các nhà hung ác và chỗ ở của các ngoại đạo). 3. Bất bì yếm(mỏi mệt, nhàm chán): Bồ tát khi theo thứ tự đi khất thực không sinh tâm nhàm chán, xa lìa, cũng không mỏi mệt, đối với các hữu tình, không có tâm thương, ghét. 4. Tri túc(biết đủ): Vì không mỏi mệt nhàm chán nên biết đủ. 5. Phân bố: Sau khi được thức ăn, dù ngon dù dở đều phải nhận lấy, rồi trở về chỗ mình ở, trước dâng lên cúng dường tượng đức Như lai hoặc trước tháp Xá lợi, rồi chia thức ăn mình xin được làm 4 phần, 3 phần thí cho những người đồng tu, những người nghèo cùng và những chúng sinh trong đường ác, phần còn lại thì mình ăn. 6. Bất đàm thị: Bồ tát tuy ăn nhưng đối với việc ăn không tham đắm, không nhiễm trước. 7. Tri lượng: Ăn cốt để sống, nếu ăn ít quá, thể lực suy yếu, sẽ ảnh hưởng đến việc tu trì, còn nếu ăn quá no thì dễ tăng trưởng sự ngủ nghỉ. 8. Thiện phẩm hiện tiền: Bồ tát ăn uống đúng như pháp, có thể làm cho các thiện căn hiện tiền thêm lớn. 9. Thiện căn viên mãn: Bồ tát siêng năng tu tập, không biếng nhác, nên được tư lương bồ đề viên mãn. 10. Li ngã chấp: Nhờ tất cả những thiện phẩm, thiện căn ấy mà thành tựu được thất bồ đề phần, xa lìa ngã chấp, có thể bỏ nhục thân bố thí cho hữu tình. Từ xưa, Trung quốc gọi khất thực là Thác bát, khi thác bát, phải lưu tâm đến uy nghi, chú ý đến đạo; nếu không có đạo tâm mà chỉ có hình thức thì chẳng khác gì những kẻ ăn xin tầm thường. Cứ theo luận Hiển dương thánh giáo, thì tỉ khưu khi đi khất thực có 5 chỗ không nên đến để tránh sự hiềm nghi. Đó là: 1. Nhà hát xướng: Nhà hát là chỗ vui chơi náo nhiệt, làm tán loạn tâm thiền định. 2. Nhà bán dâm: Mọi sinh hoạt ở đây đều không trong sạch, tiếng tăm không tốt, nhân duyên sắc dục là gốc của sự chướng đạo. 3. Nhà bán rượu: Rượu là nguyên nhân sinh ra lỗi lầm và tội ác. 4. Cung vua: Chỗ ở của quyền quí, chỗ nghiêm cấm mọi quan hệ, vì thế không nên đến. 5. Nhà Chiên đà la: Nhà đồ tể, nơi đây tâm sát sinh rất mạnh, não hại chúng sinh, nếu người trông thấy thì tổn thương lòng từ bi, hư hoại căn lành, vì thế không nên đến. [X. kinh Trung a hàm Q.4; kinh Thập bát ngưu dác sa la lâm; Ngũ phần luật Q.27; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 3 đoạn 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4; Thích thị yếu lãm Q.thượng].

khất thực thập lợi

(乞食十利) Khất thực có 10 điều lợi ích: 1. Thức ăn xin được dùng để nuôi thân mệnh. 2. Khi chúng sinh cho thức ăn, thì phải làm cho họ an trú nơi Tam bảo, rồi sau mới ăn. 3. Nếu có người cho thức ăn, thì phải khuyên họ tinh tấn tu tập hạnh bố thí, rồi sau mới ăn. 4. Thuận theo giáo hạnh của đức Phật. 5. Ăn uống giản dị. 6. Phá trừ kiêu mạn. 7. Chiêu cảm thiện căn Vô kiến đính tướng trong 32 tướng của Phật. 8. Thấy tỉ khưu đi khất thực, những người tu các thiện pháp khác cũng làm theo. 9. Không quan hệ với nam nữ, lớn nhỏ. 10. Khất thực phải theo thứ tự, có tâm bình đẳng đối với chúng sinh. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.16; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q. hạ phần 3].

khất thực tứ phần

(乞食四分) Thức ăn xin được đem chia làm 4 phần. Cứ theo kinh Bảo vân quyển 8, thì đức Phật chế pháp khất thực một ngày chỉ giới hạn trong 7 nhà và khi xin được thức ăn phải chia làm 4 phần như sau: 1. Một phần cúng dường những người đồng tu tịnh hạnh: Mỗi khi đi khất thực, tất phải có người ở lại trông nom phòng xá, hoặc có những người già cả bệnh hoạn không thể đi khất thực, khi tỉ khưu đi xin đượcthức ăn trở về, phải dành một phần cho các vị ấy, khiến họ no đủ và được yên tâm tu đạo. 2. Một phần cho những người nghèo khổ: Khi xin được thức ăn, gặp người nghèo khổ đến xin, tỉ khưu phải khởi tâm thương xót, chia cho họ một phần, rồi khuyên họ làm lành. 3. Một phần cho các quỉ thần: Để một phần thức ăn xin được vào cái chén hoặc đĩa sạch, đợi đến chiều tối, thắp hương, tụng chú cầu nguyện, rồi bố thí cho tất cả quỉ thần, khiến họ no đủ, ra khỏi các đường khổ não và đều được giải thoát. 4. Một phần để mình ăn: Tỉ khưu đi khất thực, trừ 3 phần nói trên, chỉ để lại một phần mình ăn. Ăn rồi, chuyên tâm tu đạo, để khỏi luống phí của tín thí.

khất vũ

(乞雨) Cũng gọi Kí vũ, Thỉnh vũ, Đảo vũ. Cầu mưa. Khi hạn hán lâu ngày, người xưa thường tổ chức lễ cầu mưa. Nghi thức này bắt nguồn từ kinh Hải long vương của Phật giáo. Tại Trung quốc và Nhật bản lại còn thêm các nghi thức cầu mưa theo tín ngưỡng dân gian như: Sắp hàng, nhảy múa, v.v..., nhưng vẫn lấy việc tụng kinh (hoặc trì chú)và tu pháp để cầu nguyện là chính. Người cầu mưa nếu là tỉ khưu thì phải đầy đủ luật nghi, nếu là cư sĩ thì phải thụ 8 giới. Khi tu pháp , chỉ được ăn cơm với sữa và phó mát, hàng ngày phải tắm gội bằng nước thơm, mặc áo mới mầu xanh sạch sẽ; ở mặt tây đàn đặt một tòa ngồi cũng được làm bằng vật mầu xanh. Trên bàn để kinh Đại vân, 2 người, 3 người cho đến 7 người thay phiên nhau đọc tụng, tiếng tụng kinh không được gián đoạn. Phép cầu mưa đã được thực hành sớm nhất ở Ấn độ. Ở Trung quốc thì từ đời Hoàng đế trở về sau mới có nghi thức cầu mưa. Như thời Hoàng đế có Xích tương tử làm thầy Khất vũ, thời Thần nông có Xích tùng tử, thời Hán có sa môn Trúc đàm cái tụng kinh Hải long vương cầu mưa; thời Tấn, có lần vùng Tầm dương nắng hạn, pháp sư Tuệ viễn cũng tụng kinh Hải long vương cầu mưa, chỉ trong chốc lát liền có trận mưa to. Khoảng năm Trinh quán đời Đường xẩy ra đại hạn, chùa Ngọc tuyền hết nước, sa môn Không tạng cầu mưa, nước từ suối vọt lên, mưa cũng trút xuống tràn đầy. Nhật bản, Cao li, Việt nam, v.v... cũng có tục cầu mưa. [X. kinh Đại vân luân thỉnh vũ; phẩm Thỉnh vũ trong kinh Đại phương đẳng đại vân; kinh Hải long vương].

khấu băng cổ phật

(扣冰古佛) (844-928) Cũng gọi Khấu băng tảo tiên. Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Lương thời Ngũ đại, người huyện Tân phong, tỉnh Phúc kiến, họ Ông. Thân mẫu sư có lần nằm mộng thấy một vị tỉ khưu, sắc diện rực rỡ, chống tích trượng đến xin tá túc. Năm Hội xương thứ 4 (844), lúc sinh ra sư, sương thơm tỏa khắp phòng, suốt ngày không tan. Năm 13 tuổi, sư theo ngài Hạnh toàn ở chùa Hưng phúc núi Ô sơn xin xuất gia. Năm Hàm thông thứ 6 (865), sư thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến tham yết ngài Tuyết phong Nghĩa tồn. Về sau, sư ở núi Nga hồ, tỉnh Giang tây, rồi lại về núi Ôn lãnh dựng am tranh để tu, thường có 2 con hổ hầu 2 bên. Mùa hạ sư mặc áo giấy, mùa đông thì phá băng để tắm gội, cho nên người đời gọi sư là Khấu băng cổ Phật(Phật cổ phá băng). Năm Thiên thành thứ 3 (928) đời Hậu Đường, sư nhận lời thỉnh của Mân vương vào cung, ở được 10 ngày sư viện cớ bệnh xin trở về Cổ sơn. Tháng 12 năm Thiên thành thứ 3 sư tịch, thọ 64 tuổi, được vua ban thụy hiệu Diệu Ứng Pháp Uy Từ Tế Thiền Sư. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.4 (Hư vân); Thiền lâm khẩu thực hỗn danh tập Q.thượng].

khấu độc lâu tri sinh xứ

(叩髑髏知生處) Gõ đầu lâu biết được nơi vãng sinh. Thời đức Phật còn tại thế, có ngoại đạo Kì vực gõ đầu lâu nghe tiếng phát ra có thể đoán biết chỗ người ấy vãng sinh, thậm chí biết họ là nam hay nữ, vì bệnh tật gì mà chết và các sự tích lúc còn sống. Luật Ngũ phần quyển 20 (Đại 22, 134 thượng), nói: Kì vực phân biệt âm thanh rất giỏi, đức Phật đưa ông ta đến nghĩa địa, chỉ 5 cái đầu lâu của 5 người rồi bảo Kì vực gõ; gõ xong Kì vực bạch Phật: Người thứ nhất sinh địa ngục, người thứ 2 sinh súc sinh, người thứ 3 sinh ngã quỉ, người thứ 4 sinh cõi người, người thứ 5 sinh cõi trời. Đức Phật bảo Kì vực: Hay thay! Đều đúng như ông nói. Đức Phật lại chỉ một đầu lâu khác, Kì vực gõ 3 lần mà chẳng biết chỗ sinh đến, liền bạch Phật: Con không biết chỗ vãng sinh của người này! Đức Phật bảo Kì vực: Ông không biết được đâu. Vì sao? Vì đây là đầu lâu của bậc A la hán, không có chỗ sinh đến. Ngoài ra, phẩm Thanh văn của kinh Tăng nhất a hàm quyển 20 cũng ghi chép giống như vậy, chỉ khác là ngoại đạo tên là Lộc đầu phạm chí. [X. Ma ha Khấu Băng Cổ Phật chỉ quán Q.7 hạ].

khẩn ba ca quả

(緊波迦果) Khẩn ba ca, Phạm: Kimpaka. Cũng gọi Chân ba ca quả. Tên khoa học: Trichosanthes palmata. Một loại quả có chất độc, thân thảo, thuộc họ bầu. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 41 nói rằng loại quả này rất đẹp, ai trông thấy cũng thích, nhưng nếu người nào đụng vào nó thì phải chết, vì thế nó được dùng để dụ cho chất độc. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 29 thì bảo loại quả này mọc ở bãi biển, ăn vào thì bị say trong 7 ngày. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; Huyền ứng âm nghĩa Q.11].

khẩn na la

(緊那羅) Phạm: Kiônara. Pàli: Kinnara. Cũng gọi: Khẩn nại lạc, Khẩn noa la, Khẩn đảm lộ, Chân đà la. Dịch ý: Ca thần, Ca nhạc thần, Âm nhạc thần, Nghi thần, Nghi nhân, Nhân phi nhân. Vốn là vị thần trong thần thoại Ấn độ, sau được Phật giáo thu dụng và xếp vào bộ thứ 7 trong 8 bộ chúng. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 2, thì hình dáng vị thần này giống như người, nhưng trên đỉnh đầu có một cái sừng, khiến người thấy sinh nghi. Trong tiếng Phạm, chữ Kim có nghĩa là nghi vấn, nara nghĩa là người, vì thế Kiônasa được dịch là Nghi nhân, Nghi thần. Vị thần này có âm thanh hay và ca múa giỏi. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5, thì vị thần này là Nhạc thần chấp pháp của Thiên đế. Trong các kinh Đại thừa, tên của vị thần này thường được nói đến trong số thính chúng nghe Phật nói pháp. Trong Mật giáo, vị thần này là quyến thuộc của Câu tì la. Trong bức tranh Mạn đồ la do ngài Thiện vô úy truyền thì vị thần được đặt ở lớp thứ 3 phía bắc. Còn trong Hiện đồ mạn đồ la thì Ngài được đặt ở phía bắc Kim cương bộ ngoài; phía bắc chúng Ma hầu la già có 2 vị Khẩn na la, thân mầu da người, một vị trên 2 bắp vế đặt cái trống nằm ngang, còn vị kia thì phía trước có để 2 cái trống đứng, cả 2 vị đều trong tư thế đang đánh trống. Ngoài ra, tùy theo các cơ loại, bồ tát Quan thế âm thường thị hiện 32 ứng thân để cứu độ chúng sinh, trong đó, ứng thân thứ 29 là Khẩn na la. Nghĩa là nếu Khẩn na la muốn trút bỏ được thân Khẩn na la, thì bồ tát Quan thế âm liền ứng hiện thân Khẩn na la ở trước để thuyết pháp cho nghe, khiến thành tựu nguyện vọng. [X. kinh Đại thụ khẩn na la vương sở vấn Q.1; luận Đại trí độ Q.17; Chú Duy ma cật kinh Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11].

khẩu an lạc hành

(口安樂行) Miệng không nói lỗi của người và của kinh điển. Là 1 trong 4 hạnh an lạc. Phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa (Đại 9, 37 hạ), nói: Văn thù sư lợi! Sau khi Như lai diệt độ, trong thời mạt pháp muốn nói kinh này, nên trụ nơi hạnh an lạc, không nên nói lỗi của người và của kinh điển. (xt. Tứ An Lạc Hạnh).

khẩu luân

(口輪) Cũng gọi Giáo giới luân, Chính giáo luân, Thuyết pháp luân. Giáo pháp do đức Phật nói có khả năng diệt trừ phiền não cho chúng sinh, khiến chúng sinh bỏ tà về chính, nương theo chính giáo mà tu hành, cho nên gọi là Khẩu luân. [X. Kim quang minh kinh văn cú Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.8]. (xt. Tam Luân).

khẩu lực luận sư

(口力論師) Luận sư chủ trương hư không là nhân sinh ra muôn vật. Một trong các phái ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì Khẩu lực luận sư là phái thứ 19 trong 20 phái ngoại đạo, do chủ trương hư không là nhân sinh ra muôn vật, nên cho rằng hư không là nguồn gốc của vũ trụ, từ hư không sinh ra gió, từ gió sinh ra lửa, từ lửa sinh ra hơi ấm, từ hơi ấm sinh ra nước, nước đông lại, sau đó cứng chắc trở thành đất, đất sinh ra các loại cây cỏ, các loại cây cỏ sinh ra ngũ cốc, mệnh sống, v.v... Trong Chư thừa pháp số và Giáo thừa pháp số, ngoại đạo này được gọi là Nhân lực luận sư có lẽ đã lầm lẫn. Sự giải thích về từ ngữ Khẩu lực xưa nay không nhất định. Có chỗ cho rằng hư không giữa vũ trụ và hư không trong miệng có mối quan hệ tương đồng, đầu tiên sinh ra hư không, hư không sinh ra gió, giống như xoang miệng hà ra hơi; có chỗ lại cho rằng trời đất, vạn vật đều do Phạm thiên tạo ra, hư không sinh ra gió, gió sinh ra muôn vật chính là nghĩa từ xoang miệng Phạm thiên phát ra hơi. Cũng có chỗ giải thích rằng ngoại đạo này coi thức ăn là sinh mệnh, nghĩa là dùng Khẩu lực làm kế sinh sống, vì thế gọi là Khẩu lực luận sư. [X. Hoa nghiêm huyền đàm Q.8; Trung quán luận sớ Q.3 phần đầu].

khẩu nghiệp

xem ba nghiệp. ; (口業) Phạm: Vàk-karman. Cũng gọi Ngữ nghiệp. Lời nói bày tỏ ý muốn của nội tâm, từ đó dẫn đến Vô biểu nghiệp. Một trong 3 nghiệp. Khẩu nghiệp chia làm 2: Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Về vấn đề này, quan điểm của Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau. Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương Ngữ biểu nghiệp lấy âm thanh làm thực thể, cho Vô biểu nghiệp cũng là thực sắc. Luận thành thực cho Ngữ biểu nghiệp là giả lập, Vô biểu nghiệp là phi sắc, phi tâm. Kinh bộ và Duy thức thì cho rằng Ngữ biểu nghiệp là âm thanh giả, lấy Tư do Ngữ nghiệp phát ra làm thể, Vô biểu nghiệp cũng là giả lập, lấy công năng thiện hoặc phát khởi bất thiện và công năng bất thiện hoặc ngăn thiện của chủng tử Tư làm thể. [X. luận Chúng sự phần A tì đàm Q.5; luận Câu xá Q.1, Q.13; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Đại tì bà sa Q.113; luận Thành thực Q.7; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Tam Nghiệp, Nghiệp).

khẩu nghiệp cung dưỡng

(口業供養) Chỉ cho công đức của miệng khen ngợi chư Phật và Bồ tát. Là một trong 3 nghiệp cúng dường. [X. Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối]. (xt. Khẩu Nghiệp).

khẩu nghiệp công đức

(口業功德) Chỉ cho công đức khẩu nghiệp của Phật A di đà, là 1 trong 8 thứ công đức của 29 thứ trang nghiêm ở Tịnh độ Cực lạc. Đức Phật trang nghiêm 3 nghiệp như khẩu nghiệp là để đối trị 3 nghiệp dối trá của chúng sinh, vì thế công đức khẩu nghiệp cũng có lợi ích của nó. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ, nếu chúng sinh vì hủy báng chính pháp hoặc chê bai hiền thánh mà phải chịu khổ báo bị rút lưỡi, câm ngọng, v.v... mà được nghe danh hiệu và âm thanh thuyết pháp của đức Phật A di đà thì liền thoát khỏi sự trói buộc của khẩu nghiệp, vào nhà Như lai, rốt ráo được khẩu nghiệp bình đẳng, vì thế nên biết công đức của khẩu nghiệp chỉ cho cả danh thanh và âm thanh. Danh thanh là danh hiệu của Phật vang khắp 10 phương; còn âm thanh là tiếng thuyết pháp của Phật thông suốt pháp giới. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinh luận chú Q.thượng].

Khẩu quyết

口訣 (決); C: kŏujué; J: kuketsu; |Sự truyền miệng tinh yếu giáo pháp từ thầy cho đệ tử. Còn gọi Khẩu quyết (口決).

Khẩu truyền

口傳; C: kŏuchuán; J: kuden; |Giáo pháp truyền miệng, khác biệt với giáo pháp lưu truyền bằng kinh điển, Sự mật truyền, khác với công truyền. Còn gọi là Khẩu quyết (口訣).

khẩu truyền

(口傳) Cũng gọi Khẩu quyết, Khẩu thụ, Diện thụ, Diện thụ khẩu quyết. Vị thầy truyền pháp cho đệ tử bằng cách nói miệng. Ấn độ thời xưa xem cách ghi chép kinh Phật là việc làm coi thường thần thánh, vì thế chỉ dùng cách truyền khẩu. Sự truyền trao bí pháp của Mật giáo cũng là khẩu truyền, cho nên có từ ngữ Thập nhị khẩu truyền. Tông Thiên thai của Nhật bản cũng có các pháp môn khẩu truyền. [X. luận Phân biệt công đức Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.14; Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Thập Nhị Khẩu Truyền).

khẩu truyện sao

(口傳鈔) ... ... .. Tác phẩm, 3 quyển, do vị tăng người Nhật là Giác như soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sách này được viết bằng tiếng Nhật, nội dung gồm 21 điều pháp ngữ của Tổ sư Thân loan, người khai sáng Tịnh độ Chân tông của Nhật bản, có phụ thêm những kí lục của sư Như tín.

khẩu xưng

(口稱) Đồng nghĩa: Xưng danh. Miệng xưng niệm Na mô A di đà Phật. Nhờ phương pháp khẩu xưng này, đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn mà phát được Tam muội, gọi là Khẩu xưng tam muội. [X. Quán kinh tán thiện nghĩa (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Niệm Phật, Xưng Danh).

khẩu xưng tam muội

(口稱三昧) Miệng xưng danh hiệu Phật, không xen lẫn niệm khác, nương theo đó mà niệm từng tiếng từng tiếng liên tục, một lòng chẳng rối loạn, thì phát sinh Tam muội.

khẩu đầu thiền

(口頭禪) Cũng gọi Khẩu đầu tam muội. Thiền nói ở đầu môi, chót lưỡi, chứ không có công phu tu trì chân thực để thâm nhập Lí Thiền. Trong Thái căn đàm có câu: Chỉ giảng nói suông về Thiền, mà không tu luyện thực sự là Khẩu đầu thiền. [X. điều Thị chúng trong Thiền quan sách tấn của Thiền sư Hoàng ba Hi vận ở Quân châu].

Khắc

克; C: kè; J: koku;|Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có khả năng, thích đáng; 2. Khắc phục, cải tiến; 3. Ấn định (thời gian).

khắc chu nhân

(刻舟人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người khắc thuyền, từ ngữ này có xuất xứ từ câu chuyện Khắc chu cầu kiếm (Khắc thuyền tìm gươm) trong thiên Sát Kim của Lã thị xuân thu: Có người đi thuyền vô ý đánh rơi thanh gươm xuống sông, anh ta vội khắc lên man thuyền để đánh dấu chỗ gươm rơi. Khi thuyền cập bến, đậu lại, anh ta liền theo dấu ấy lặn xuống tìm gươm, mà không biết rằng thuyền đã đi đến nơi khác rồi và gươm không thể đi theo thuyền. Kết quả uổng công vô ích, còn bị người đời chê cười là ngu ngốc. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người học mê vọng, chấp trước, đối với cơ pháp của thầy không biết dung thông tự tại. [X. Hoè an quốc ngữ Q.5].

khắc chung

(克終) Ấn định thời hạn để chứng quả. Khắc là nhất định, kì hạn, Chung là cuối cùng. Do nhân mà nhất định được quả, là khắc; quả là việc cuối cùng, là Chung. Tóm lại, nhờ nhân tu tập không ngừng nên cuối cùng nhất định sẽ chứng quả, gọi là Khắc chung. Ngoài ra, còn các từ đồng nghĩa với từ Khắc chung như: Khắc quả, khắc chứng, khắc thánh, khắc thực, v.v... [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh âm nghĩa Q. thượng. Tông viên kí Q.3].

khắc cần

(克勤) (1063-1135) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Sùng ninh, Tứ xuyên, họ Lạc, tự là Vô trước. Thủa nhỏ, sư y vào ngài Tự tỉnh xuất gia ở viện Diệu tịch, sau khi thụ giới Cụ túc, sư theo ngài Viên minh ở thành đô học tập kinh luận. Về sau, sư đến núi Ngũ tổ tham yết ngài Pháp diễn và được ấn chứng. Sư nổi tiếng ngang hàng với Cây Khát Thụ La các vị Phật giám Tuệ cần và Phật nhãn Thanh viễn, được người đời khen ngợi là 3 bậc kiệt xuất trong chốn tùng lâm đương thời. Đầu năm Chính hòa, sư đến Kinh châu, danh sĩ đương thời là ông Trương vô tận đến yết kiến, cùng sư đàm luận về yếu chỉ Hoa nghiêm và Thiền, sư lại nhận lời mời của quan Thứ sử Lễ châu đến trụ trì Thiền viện Linh tuyền ở Giáp sơn. Bấy giờ quan Khu mật là ông Đặng tử thường tâu xin vua ban cho sư áo đỏ và hiệu Phật Quả Thiền Sư. Cuối năm Chính hòa, sư vâng chiếu đến Tưởng sơn, Kim lăng, hoằng dương tông phong. Sau, sư trụ tại Kim sơn, được vua Cao tông ban hiệu Viên Ngộ, từ đó, người đời gọi sư là Viên ngộ Khắc cần. Sau, sư trở về chùa Viên giác ở Thành đô. Năm Thiệu hưng thứ 5, sư tịch, thọ 73 tuổi, thụy hiệu là Chân Giác Thiền Sư. Đệ tử ưu tú của sư có các vị Đại tuệ Tông cảo, Hổ khưu Thiệu long, v.v... là những bậc long tượng trong Thiền lâm. Sư có các tác phẩm: Bích nham lục 10 quyển, Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục 20 quyển. [X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư niên phổ; Tăng bảo chính tục truyện Q.4; Gia thái phổ đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Phật tổ thống kỉ Q.46; Phật tổ lịch đại thông tải Q.30; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tục truyền đăng lục Q.25].

khắc gia chi tử

(克家之子) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người con có thể thừa kế nghiệp cha. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho người đệ tử có khả năng giữ gìn giáo pháp của thầy. Tắc 6 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 thượng), nói: Thuốc để chữa bệnh, trông vào tiên Thánh Bệnh cần điều trị, biết nhờ ai đây? Đầu bạc đầu xanh chừ nhờ con nối dõi Có nói không nói chừ cơ pháp tuyệt dòng.

khắc kỳ thủ chứng

(克期取證) Hạn định kì gian tu hành để chứng quả. Cứ theo kinh Viên giác, nếu muốn tu hành mau có kết quả, thì phải kiến lập đạo tràng ở nơi vắng lặng, đặt ra kì hạn ở trong đó tịnh tu. Nếu kì hạn dài thì 120 ngày, kì hạn vừa 100 ngày và kì hạn ngắn 80 ngày.

khắc lê khả túc

(克黎可足) Tạng: Khri- gtsug lde- brtsan. Cũng gọi Khả lê khả túc, Lai ba thiệm (Tạng:Ral-pa-can), Nhiệt ba trung. Vua nước Tây tạng, ở ngôi từ năm 815 đến 836 (có thuyết nói 838), một vị vua văn võ kiêm toàn, có công mở mang lãnh thổ và cùng với Khí tông lộng tán, Khất lật song đề tán là 3 vị vua hộ trì Phật giáo mạnh nhất ở Tây tạng. Những thành tựu về mặt lịch sử văn hóa Tây tạng thời đó là nhờ nhà vua đã biết ứng dụng phép đo lường của Ấn độ, bắt chước chế độ Sử quan của triều Đường Trung quốc để biên soạn lịch sử đương thời. Ông tận lực chấn hưng Phật giáo, thành tích bất hủ của ông là việc phiên dịch kinh điển và thống nhất giáo nghĩa của Phật giáo, hơn phân nửa của Đại tạng kinh Tây tạng(hoàn thành vào khoảng thế kỉ XIV) đã được dịch vào thời kì này. Ngoài ra, nhà vua còn muốn thuần túy hóa các loại giáo nghĩa Phật giáo được truyền vào Tây tạng và tăng cường chính sách bảo hộ Phật giáo, nhưng không thực hiện được vì bị thế lực truyền thống của Bổng giáo hạn chế. Về sau, vua bị Lãng đạt ma (Tạng: Glaídar-ma) ám sát để cướp ngôi.

khắc phù liệu giản

(克符料揀) Bài kệ tụng của Thiền sư Khắc phù đời Đường nói về Tứ liệu giản của ngài Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Khắc phù là người Trác châu (Cố an, Hồ bắc), bình thường thích mặc áo giấy, cho nên người đời gọi là Chỉ y đạo giả(ông đạo áo giấy), Chỉ y hòa thượng. Sau, sư nhờ tham cứu Tứ liệu giản của ngài Lâm tế Nghĩa huyền mà được tỉnh ngộ. Tứ liệu giản là 4 tiêu chuẩn do ngài Lâm tế Nghĩa huyền đề ra để tiếp dắt người học. Đó là: Đoạt người chẳng đoạt cảnh, Đoạt cảnh chẳng đoạt người; Người cảnh đều đoạt cả; Người cảnh đều chẳng đoạt. Những bài kệ tụng của ngài Khắc phù được nghi chép đầy đủ trong Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 140 thượng) là: Đoạt người chẳng đoạt cảnh: Duyên tự mắc sai lầm Toan mong cầu huyền chỉ Nghĩ lại đáng trách mà! Li châu dù xán lạn Cung quế bóng phôi pha Nhìn nhau không gì khác Đều vướng trong võng la (lưới). Đoạt cảnh chẳng đoạt người: Tìm lời chân ở đâu? Hỏi Thiền, Thiền là vọng Xét lí, lí không gần Mặt trời soi bóng lạnh Núi thẳm mầu thanh tân Lí huyền dù hiểu được Cũng chỉ mắt vương trần (vương bụi). Người cảnh đều đoạt cả: Xưa nay việc phải làm Bất luận Phật hay Tổ Nói chi Thánh với phàm Toan đọ cùng kiếm khách Lại gặp kẻ chẳng kham Tiến tới cầu diệu ngộ Chặt đứt bậc siêu phàm. Người cảnh đều chẳng đoạt: Suy nghĩ ý không cùng Chủ khách nói chẳng khác Hỏi đáp lí đều dung Dẵm nát đầm trăng lặng Mở bung khoảng trời trong Nếu không thành diệu dụng Chìm đắm mãi không thôi. (xt. Tứ Liệu Giản).

khắc thật thông luận

(克實通論) Cũng gọi: Cứ thực thông luận. Đối lại: Cứ thắng vi luận. Căn cứ vào sự thực của vấn đề để thảo luận. Khi so sánh 2 vấn đề, nếu chỉ nêu lên cái ưu điểm của một vấn đề để bàn, thì gọi là Cứ thắng vi luận. Còn nếu chọn lấy một điểm chung giữa 2 vấn đề để bàn, thì gọi là Khắc thực thông luận. Chẳng hạn như nước A là nước nông nghiệp, nước B là nước công nghiệp; khi so sánh 2 nước này, nếu chỉ nêu lên cái đặc điểm của mỗi bên mà bàn, thì gọi là Cứ thắng vi luận. Còn nếu chọn lấy một lợi điểm chung của nông nghiệp và công nghiệp để bàn, thì gọi là Khắc thực thông luận. (xt. Cứ Thắng Vi Luận).

khắc thức

(克識) Khắc là chắc chắn, tất nhiên; Thức là ghi chép. Nghĩa là khi Thiên thần ghi chép những việc thiện, ác mà người ta đã làm thì chắc chắn một mảy may cũng không sai sót. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 276 trung) nói: Thiên thần khắc thức, phân biệt rõ tên tuổi và quê quán.

khắc tân xuất viện

(克賓出院) Khắc tân ra khỏi viện. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc thiền sư Hưng hóa Tồn tưởng thuộc tông Lâm tế đời Đường dùng cơ pháp linh hoạt tiếp dẫn đệ tử là Khắc tân. Thiền uyển mông cầu quyển hạ (Vạn tục 148, 139 thượng), nói: Ngài Hưng hóa bảo Duy na Khắc tân rằng: -Không bao lâu nữa, ông sẽ là bậc đạo sư. Sư Khắc tân thưa: -Con chẳng vào đoàn thể ấy đâu. Ngài Hưng hóa hỏi: -Ông hiểu mà chẳng vào hay không hiểu mà chẳng vào? Sư Khắc tân hỏi lại: -Đều không cho sao? Ngài Hưng hóa liền đánh và nói: -Duy na Khắc tân, pháp chiến bị thua rồi, phải bị phạt tiền thiết trai. Hôm sau, ngài Hưng hóa lên Tăng đường đánh kiền chùy bảo đại chúng rằng: Duy na Khắc tân pháp chiến bị thua rồi, phạt tiền 5 quan để thiết trai cúng dường chư tăng, nhưng vẫn phải ra khỏi Thiền viện.

khắc tư nhĩ thiên phật động

(克孜爾千佛洞) Quần thể động đá ở sườn núi trên bờ bắc sông Mộc trát, phía đông nam trấn Khắc tư nhĩ, huyện Bái thành, tỉnh Tân cương, Trung quốc. Quần thể hang động này được đục mở vào thời Nam Bắc triều đến cuối đời Đường (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ IX), có tất cả 236 hang động, địa thế quanh co, chạy dài tới 2 cây số, qui mô to lớn, chỉ đứng sau động Đôn hoàng mà thôi. Bái thành là đất cũ của nước Cưu tư đời xưa, vì thế quần thể hang động này cũng được gọi là Cưu tư thiên Phật động (Động Nghìn Phật ở nước Cưu tư). Những hang động chủ yếu gồm có hang lễ bái, giảng đường tăng đường. Nội dung đề tài điêu khắc thuộc nghệ thuật Phật giáo Tiểu thừa, sùng bái Phật Thích ca mâu ni và Phật Di lặc, phong cách ít nhiều chịu ảnh hưởng nghệ thuật hang động Ba mễ dương; thời kì cuối thì chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo Đại thừa, đồng thời, hấp thu thành phần nghệ thuật hang động Đôn hoàng mà xuất hiện đề tài Thiên Phật (Nghìn Phật), Nhất Phật nhị Bồ tát(tượng Tam tôn), v.v... Về bố cục của quần thể hang động này, ở giữa tạc một cột đá hình vuông, chia hang động làm hai gian trước sau, trên mặt vách 2 bên gian trước vẽ hình đức Phật thuyết pháp, vách chính đắp khám Phật ngồi hoặc tượng Phật đứng, trên nóc động thì vẽ sự tích bản sinh của đức Phật, gian sau vẽ hoặc đắp tượng Phật nhập Niết bàn hoặc những tích truyện về đức Phật và tượng những người cúng dường. Thời gần đây, quần thể hang động này đã bị cướp phá rất nhiều và phần lớn các pho tượng, bích họa được đưa ra nước ngoài, những vách hang bị đập phá, không một bức ào còn nguyên vẹn, thật là một tai nạn lớn đối với nghệ thuật khắc đá.

khắc ân

(克恩) Kern, Johan Hendrik Caspar (1833-1917) Nhà Phật học và Ấn độ học người Hà lan. Ông sinh ở Java, Indonesia (cựu thuộc địa của Hà lan). Ông học tiếng Phạm với ông Weber. Từ năm 1865 trở đi, ông làm giáo sư Đại học Leiden và là Giám tu tờ tạp chí Nghiên cứu Ấn độ, đồng thời nghiên cứu thơ cổ Java, phiên dịch các tác phẩm Văn học cổ điển tiếng Phạm ra tiếng Hà lan. Năm 1891, ông hiệu đính và xuất bản tác phẩmJatakamàlà(Bản sinh man) và quyển Ấn độ Thiên văn học. Đầu năm 1896, ông hợp tác với ông Nam điều Văn hùng (người Nhật bản) hiệu đính và xuất bản kinh Diệu pháp liên hoa (Saddharmapuịđarìka-sùtra) tiếng Phạm, sau đó ấn hành bản dịch tiếng Anh của kinh này. Ông có các tác phẩm: Lịch sử Phật giáo Ấn độ (Geschiedenis de van hetBuddhisme in Indi, 1881-1883, Manual of Indian Buddhism.

khế cơ

Sự dạy bảo khai thị của Tông sư khế hợp căn cơ, trình độ của người học gọi là căn cơ.

Khế kinh

xem Tu-đa-la.

khế kinh nhị nghĩa

(契經二義) Hai nghĩa của Khế kinh. Cứ theo luận A tì đạt ma đại tì bà sa quyển 1, thì Khế nghĩa là trên khế với lí của chư Phật, dưới hợp với cơ của chúng sinh. Kinh là pháp, là thường. Khế kinh có 2 nghĩa như sau: 1. Nghĩa kết tập: Khế kinh của Như lai nhiếp trì nhiều nghĩa, thu tóm tâm của chúng sinh, khiến cho họ không quên mất; giống như kết vòng hoa trên đầu chúng sinh, lâu mà không rơi mất. 2. Nghĩa san định: Khế kinh của Như lai xét định mọi nghĩa, biết rõ phải trái, bỏ ác, lấy thiện; giống như người thợ mộc, dùng mực thước sửa chữa cây gỗ, loại bỏ chỗ cong queo, giữ lại chỗ thẳng thắn.

Khế phạm

xem Tu-đa-la.

khế phạm

(契範) Tên khác của kinh điển. Kinh Phật có 2 nghĩa: Khế lí, Khế cơ, là phép tắc và khuôn mẫu (Phạm) phá mê mở ngộ, vì thế gọi là Khế phạm. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].

khế trá quốc

(契咤國) Khế tra, Phạm: Kheđahoặc Kaccha. Tên một nước xưa thuộc Trung Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11, thì nước này lệ thuộc nước Ma lạp bà, dân số đông đúc, sản vật dồi dào, nhà cửa khang trang giầu có. Trong nước có chừng hơn 10 ngôi chùa với trên 1000 vị tăng, tu học cả Đại thừa, Tiểu thừa. Ngoài ra, còn có vài mươi đền thờ trời, ngoại đạo rất đông. Về vị trí nước này có nhiều thuyết, có thuyết cho rằng vùng Khải y lạp (Kàira) ở phía bắc Bombay hiện nay là đất cũ của nước Khế tra ngày xưa; lại có thuyết bảo vị trí nước Khế tra là vùng Cutch ngày nay; còn thuyết khác thì cho rằng vùng Cambay hiện giờ tức là đất cũ của nước Khế tra, v.v... [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết tây vực kí; A. Cunningham: Ancient Geography of India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol. II].

khế tung

(契嵩) (1007-1072) Vị Thiền tăng thuộc tông Vân môn, sống vào đời Tống, người Đàm tân, Đằng châu (nay là huyện Đằng, tỉnh Quảng tây), họ Lí, tự Trọng linh, hiệu Tiềm tử. Năm 7 tuổi, sư xuất gia, năm 13 tuổi được cho cạo tóc, năm 19 tuổi du phương. Sư thường cung kính lễ bái tượng bồ tát Quan âm, mỗi ngày tụng danh hiệu của Ngài 10 vạn biến. Về sau, sư đắc pháp nơi thiền sư Động sơn Hiểu thông. Sư giỏi cả nội, ngoại điển, viết văn hay, từng dựa vào luận thuyết Giáo Thiền nhất trí của ngài Tông mật mà bàn rộng thêm về nghĩa lí, nhấn mạnh thuyết Nho Phật nhất trí và soạn Nguyên giáo, Hiếu luận để phản bác luận điệu bài Phật của các nhà Nho nhưHàn dũ, v.v... Những tác phẩm của sư được vua Nhân tông ban chiếu thu vào Đại tạng, đồng thời ban áo đỏ và hiệu là Minh Giáo Đại Sư. Vì sư trụ ở núi Phật nhật tại Tiền đường nên cũng gọi là Phật nhật thiền sư. Sư cũng từng trụ ở tinh xá tại núi Vĩnh an, nên người đời sau gọi sư là thiền sư Vĩnh an. Năm Hi ninh thứ 5 (1072) sư tịch ở chùa Linh ẩn tại Hàng châu, thọ 66 tuổi. Tác phẩm của sư gồm có: Truyền pháp chính tông định tổ đồ, Truyền pháp chính tông kí, Nguyên giáo, Hiếu luận, các tác phẩm này sau được đệ tử biên tập thành Đàm Tân Văn Tập 20 quyển. [X. Truyền pháp chính tông kí Q.1; Tục truyền đăng lục Q.5; Đàm tân Minh giáo đại sư hành nghiệp kí].

Khế tuyến

xem Tu-đa-la.

khế đan

(契丹) Cũng gọi: Khiết đan, Khất đan. Tên một bộ tộc thời xưa. Vào đầu thế kỉ thứ X, bộ tộc này sống ở lưu vực Hắc long giang, trung nam bộ Mông cổ. Về sau, họ xâm nhập vào các vùng bắc và đông bắc của Trung quốc, kiến lập thành nhà Liêu và cũnglấy tên nước là Khế đan. Nước này có 5 kinh đô ở 5 nơi gọi là Ngũ kinh: Thượng kinh ở phủ Lâm hoàng (đông bộ Mông cổ), Đông kinh ở phủ Liêu dương (đông bắc Liêu dương), Trung kinh ở phủ Đại định (tên một tòa thành lớn ở Nhiệt hà), Nam kinh ở phủ Triết tân (Bắc kinh) và Tây kinh ở phủ Đạiđồng. Nước này được sáng lập vào năm 907 Tây lịch, trải 9 đời vua, trị vì cả thảy 219 năm. Tôn giáo cố hữu của Khế đan là Tát mãn giáo, tuy nhiên ngay từ thời kì đầu lập quốc, Phật giáo vẫn được phát triển. Vua Thái tổ nhà Liêu thỉnh các vị tăng Trung quốc đến xây các chùa Khai giáo, chùa Đại quảng ở châu Long hóa và chùa Đại hùng ở Thượng kinh. Vào năm Thiên hiển 12 (937), vua Thái tông lấy được tỉnh Hà bắc và bắc bộ tỉnh sơn tây, từ đó Phật giáo ở miền Bắc Trung quốc liền được truyền vào Khế đan. Về sau, dưới các đời vua Thế tông, Mục tông và Cảnh tông, Phật giáo càng phát triển mạnh, cho đến đời Thánh tông, Hưng tông và Đạo tông thì Phật giáo trở nên toàn thịnh, có thể gọi là thời Hoàng kim của Phật giáo Khế đan. Việc khắc Đại tạng kinh Khế đan được bắt đầu từ thời vua Thánh tông, đến thời vua Đạo tông thì hoàn thành vào năm Thanh ninh thứ 5 (1059), toàn bộ gồm 5048 quyển. Về sau, bộ Đại tạng kinh này được truyền vào Cao li và đã ảnh hưởng rất lớn đối với Đại tạng kinh Cao li. Các tác phẩm Phật giáo do những vị Cao tăng của Khế đan soạn, có rất nhiều bộ nổi tiếng như: Long khám thủ giám của ngài Hành quân, Tục nhất thiết kinh âm nghĩa 10 quyển của ngài Hi lân, Đại nhật kinh nghĩa thích mật sao 10 quyển của ngài Giác uyển, Hiển mật viên thông thành Phật tâm yếu tập 2 quyển của ngài Đạo trách, Tùy nguyện vãng sinh tập 20 quyển của ngài Phi trược, Tam bảo cảm ứng yếu lược 3 quyển, cũng do ngài Phi trược soạn. [X. Liêu sử; Khế đan quốc chí; Tống sử tân biên Q.192; Khế đan Phật giáo văn hóa sử khảo (Thần vĩ Nhất xuân); Thạch sơn kinh Vân cư tự dữ thạch khắc tạng kinh (Trủng bản Thiện long); Liêu kim chi Phật giáo (Dã thượng Tuấn tĩnh)].

khế ấn

(契印) I. Khế Ấn. Đồng nghĩa: Ấn khế. Khế ấn theo nghĩa hẹp chỉ riêng cho hình Tam muội da, nhưng theo nghĩa rộng thì chỉ cho thủ ấn và hình Tam muội da. Luận Bồ đề tâm (Đại 32, 574 trung), nói: Thân mật (1 trong Tam mật) như kết khế ấn, triệu thỉnh Thánh chúng. II. Khế ấn. Chỉ cho những hình Tam muội da của các vị tôn được vẽ ở trên đàn Hộ ma; hoặc chỉ cho hình Tam muội da tượng trưng nội tâm của Hỏa thiên. Thông thường khế ấn này được làm bằng đất, hoặc được vẽ dưới đáy lư Hộ ma.

khế ấn mạn đồ la

(契印漫荼羅) Mạn đồ la vẽ các khế ấn và hình Tam muội da của các vị tôn trong Mật giáo. Là Tam muội da mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Đại nhật kinh sớ quyển 6 (Đại 39, 642 thượng), nói: Trong mạn đồ la Khế ấn, trên tòa Kim cương cũng đặt hoa sen trắng, trên hoa mỗi vị tôn đều biểu trưng hình Tam muội da của mình.

khể thủ

(稽首) Cúi đầu chạm đất. Trong 9 phép lạy được chép trong sách Chu lễ của Trung quốc, thì khể thủ là phép lễ cung kính nhất. Khể thủ trong Phật giáo là khom lưng cúi mình, đầu mặt sát đất, duỗi 2 bàn tay hướng về 2 chân của người được lễ bái, vì thế gọi là Tiếp túc lễ. Khể thủ cùng nghĩa với qui mệnh, nhưng khể thủ thuộc về thân, còn qui mệnh thì thuộc về ý. [X. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.4; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng; Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Thích thị yếu lãm Q.trung].

khố chủ

(庫主) Tên chức vụ trông coi kho lẫm trong Thiền lâm, cũng là từ gọi chung cho cả 3 chức: Đô tự, Giám tự và Phó tự. Ngoài ra cũng có chỗ chỉ gọi Đô tự là Khố chủ. (xt. Khố Đầu, Đô Tự, Giám Tự).

khố lí

(庫裏) Cũng gọi Khố viện, Trù viện, Hương tích cục, Khố hạ, Khố đường, Bào trù, Thực trù. Nhà kho cất chứa các phẩm vật của chùa. Phòng bếp, phòng tăng cũng gọi chung là Khố lí để phân biệt với Điện đường.

khố mộc thổ lạt thiên phật động

(庫木吐喇千佛洞) Cũng gọi Khố mộc thổ lạp thạch khố. Quần thể hang động ở phía đông cửa sông Vị can, cách huyện Khố xa, tỉnh Tân cương, Trung quốc, về mạn tây nam khoảng 30 km. Những hang động này được đục mở khoảng từ đầu đời Đường đến đầu đời Tống. Tất cả có 99 hang động, những pho tượng đắp trong các động đã bị hư nát quá phân nửa, chỉ còn các bức bích họa trong 31 hang là được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh, chủ yếu là những tác phẩm của thời thịnh Đường. Trong hang đá còn có bài kí bằng chữ Hán và chữ Cưu tư, các bích họa miêu tả cõi Tịnh độ của Phật A di đà ở phương Tây, các sự tích của Phật giáo Đại thừa và các tượng Phật, Bồ tát như Thích ca, Di lặc, v.v... (xt. Thiên Phật Động).

khố tử

(庫子) Cũng gọi Khố ti hành giả. Người phụ trách việc kế toán trong Thiền gia. Chức vụ này phải chọn người có tâm lực, có khả năng viết lách, tính toán, giữ mình nghiêm cẩn để đảm nhận. [X. điều Đông tự tri sự phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Khố đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4].

khố đầu

(庫頭) Cũng gọi Phó tự, Quĩ đầu, Tài bạch. Chức vụ trông coi việc chi thu trong Thiền lâm, là 1 trong 6 vị Tri sự ở Đông tự, dưới chức Đô tự. Chức này tuy thấp nhưng nhiệm vụ lại rất quan trọng, vì phụ trách việc thu xuất hàng ngày như lúa gạo, tiền bạc, v.v... Cứ theo Bách trượng thanh qui cáo hương hồ, thì thời xưa dưới chức Đô tự còn có 3 vị Phó tự, 1 vị ở trên chức Duy na gọi là Thượng phó tự, 2 vị ở dưới chức Duy na gọi là Hạ phó tự. Dưới vị Phó tự còn đặt ra chức Tri khố, về sau vị Phó tự kiêm luôn chức này để quản lí việc chi thu, xuất nạp tài chính trong chùa. [X. điều Đông tự Tri sự Phó tự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; Chức vị môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Khổ

苦; S: duḥkha; P: dukkha;|Khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong Ba tính của sự vật.|Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ; Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (s: tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo.|Chân lí thứ nhất của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau: »Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ; không đạt gì mình ưa thích là khổ; nói tóm lại: mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ.«

khổ

(苦) Phạm: Du#kha. Dịch âm: Đậu khư, Nặc khư, Nạp khư. Sự khổ não trong thân tâm. Khổ và vui tồn tại trong tương đối, nếu tâm duyên theo đối tượng vừa ý thì cảm thấy vui, nếu tâm duyên theo đối tượng trái với ý thì cảm thấy khổ. Theo luận Thanh tịnh đạo thì khổ có đủ 2 nghĩa hiềm ố (du) và không hư (khạm), tức hiềm ố(chán ghét) và trạng thái không có thường, lạc, ngã, tịnh gọi là Khổ. Khổ có nhiều thứ: 1. Hai khổ: Khổ trong và khổ ngoài. Khổ phát sinh từ thân tâm mình gọi là khổ trong; khổ từ bên ngoài đưa đến như giặc cướp, thiên tai, v.v... gọi là khổ ngoài. 2. Ba khổ: Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ: Trước những đối tượng trái ý mà cảm thấy khổ, gọi là khổ khổ. Trước sự hủy hoại của những thứ mình yêu thích mà cảm thấy khổ, gọi là Hoại khổ. Thấy tất cả thế gian nay còn mai mất mà cảm thấy khổ, gọi là Hành khổ. 3. Bốn khổ: Chỉ cho 4 thứ sinh khổ(vì có sinh nên có khổ), già khổ, bệnh khổ, chết khổ. 4. Tám khổ: Sinh, già, bệnh, chết, thương yêu chia lìa, oán thù gặp gỡ, mong cầu không được và 5 ấm xí thịnh. 5. Mười tám khổ: Khổ gồm 18 loại như sinh, tử, ưu, bi, khổ, não, đại khổ tụ, vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh... 6. Ba khổ về thân và tâm: Già, bệnh, chết(thân), tham, sân, si(tâm). Ngoài ra, các kinh luận còn nêu ra rất nhiều loại khổ, như luận Du già sư địa quyển 44 nêu ra 110 thứ khổ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Phật địa Q.5; luận Xá lợi phất a tì đàm Q.12; luận Đại trí độ Q.19].

khổ cụ

(苦具) Chỉ chung cho tất cả nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho các khổ dấy sinh, như các pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, v.v... Ngoài ra, cũng đặc biệt chỉ cho những dụng cụ trong địa ngục dùng để trừng trị tội nhân. [X. luận Thành duy thức Q.6].

khổ giới

(苦界) Thế giới trong đó các loài hữu tình đang sống, đầy dẫy các khổ. Vô lượng thọ kinh sớ quyển 2 (Đại 37, 258 thượng), nói: Cõi Diêm phù toàn là xấu ác(khổ giới), không có một chỗ nào đáng tham đắm; nhưng vì phàm phu ngu si chấp trước nên phải chịu khổ triền miên.

khổ hạnh

(苦行) Phạm: Duwkara-caryà hoặc Tapas. Hạnh chịu đựng những cái khó chịu đựng để đoạn trừ dục vọng của thể xác. Chủ yếu chỉ cho các ngoại đạo ở Ấn độ vì muốn cầu sinh lên cõi trời nên thực hành các khổ hạnh. Trong Phật giáo, khổ hạnh được gọi là hạnh Đầu đà. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 16 (bản Bắc), thì khổ hạnh có nhiều cách như nhịn đói, gieo mình xuống vực sâu, nhảy vào hố lửa, trèo lên núi cao rồi đâm đầu xuống, thường đứng một chân, nướng thân trên lửa, luôn nằm trên tro đất, gai nhọn, cỏ độc, phân bò, v.v... Ngoài ra, còn có rất nhiều phép khổ hạnh như giữ giới bò, giới chó, giới gà, lấy tro trát vào mình, để tóc dài, v.v... Hiện nay, tín đồ Ấn độ giáo còn tu theo loại khổ hạnh này để cầu sinh lên cõi trời. Đức Thích ca tu khổ hạnh 6 năm, hàng ngày chỉ ăn chút ít vừng (mè) và lúa mạch, cuối cùng Ngài nhận ra rằng khổ hạnh chẳng phải Thánh đạo, cho dù có được sinh lên cõi trời thì cũng vẫn còn trong vòng luân hồi, chưa được giải thoát, nên Ngài chấm dứt lối tu khổ hạnh. Trong Phật bản sinh đàm và các kinh luận cũng nói đến việc tu hành cần khổ như bố thí vợ con, đất nước, hoặc khoét mắt cho người, hoặc lóc thịt nuôi chim ưng, hoặc đưa thân cho cọp đói, hoặc cắt đầu bỏ tủy não, v.v... nhưng đó là 6 hạnh Ba la mật thuộc về Thánh hạnh đại bi lợi tha của Bồ tát, hoàn toàn khác với khổ hạnh vô ích của ngoại đạo. Đến đời sau, bố thí, từ bi trong Phật giáo và những việc khó làm lấy Phật đạo làm mục đích, đều gọi là khổ hạnh. Rồi những tịnh nhân trong chùa cũng gọi là khổ hạnh. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 433 trung); nói: Trong nhà bếp của chùa này có 2 người khổ hạnh, đó là Hàn sơn và Thập đắc. [X. luận Đại trí độ Q.8, Q.16; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.83].

khổ hạnh luận sư

(苦行論師) Ngoại đạo cho sự tu khổ hạnh là nhân chủ yếu để đạt được Niết bàn. Một trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng quả báo ở đời hiện tại là do tội nghiệp của quá khứ quyết định, nếu đời hiện tại lấy việc hưởng lạc làm chính thì luân hồi không dứt, cho nên chủ trương lấy sự chịu khổ để đền tội, hầu đổi lấy sự an vui sau khi chết. Theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn thì ngoại đạo khỏa hình và Ni kiền tử là những phái khác của Khổ hạnh luận sư. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Bắc); Bách luận Q.thượng].

Khổ hạnh lâm

xem rừng Khổ hạnh.

khổ hạnh lâm

(苦行林) Phạm,Pàli: Tapovana. Rừng khổ hạnh ở cách Đại tháp Phật đà già da về phía nam hơn 500 mét và phía đông thôn Mục chi lân đà (Phạm: Mucilinda, Pàli: Mucalinda), Ấn độ. Ngày xưa, nơi này được gọi là Ưu lâu tần loa (Pàli:Uruvelà) là nơi đức Phật tu khổ hạnh trong 6 năm, nhưng nay chỉ còn 1 rừng cây tạp. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.25; kinh Đại phương quảng trang nghiêm Q.7; điều Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.8].

khổ hạnh lục sư

(苦行六師) Sáu thứ ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chủ trương những phương pháp khổ hạnh nhịn đói, gieo mình xuống vực, nhảy vào lửa, ngồi im lặng, giữ giới bò, giới chó, v.v... để cầu được quả báo sinh lên cõi trời. (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).

khổ hạnh ngoại đạo

(苦行外道) Ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa, chủ trương tu khổ hạnh để cầu quả báo an vui ở đời vị lai. Theo các ngoại đạo này, con người ở đời hiện tại đều nhận lãnh khổ và vui, mà nguyên nhân là do quá khứ quyết định. Cho nên ở đời hiện tại hãy chịu khổ đau để sau khi chết được hưởng vui sướng. Đây là chủ trương của ngoại đạo Túc tác. Theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì có 4 thứ ngoại đạo khổ hạnh: Khỏa hình ngoại đạo luận sư, Khổ hạnh luận sư; Hành khổ hạnh luận sư và Ni kiền tử luận sư. Còn những phương pháp khổ hạnh do các ngoại đạo trên đây thực hành là: Nhịn đói, nhịn khát, nướng thân trên lửa và hơ lỗ mũi, gieo mình xuống vực sâu khi trời rét, khỏa thân ngồi ngoài trời, bất chấp nắng mưa, ngồi im lặng giữa chỗ nghĩa địa, giữ giới bò, giới chó, ăn cỏ, ăn phân, v.v... Những ngoại đạo này tin rằng thực hành các phương pháp khổ hạnh như trên, sau khi chết sẽ được sinh lên cõi trời để hưởng thụ sự vui sướng! [X. kinh Duy ma Q.thượng].

khổ hạnh thích ca

(苦行釋迦) Đề tài của một bức tranh vẽ hình đức Phật Thích ca tu khổ hạnh trong rừng. Hình tượng đức Phật trong bức họa này 2 mắt sâu lõm, thân thể gầy gò, chỉ còn da bọc xương.

Khổ hải

(苦海): biển khổ, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Phật Giáo chỉ cho phiền não và khổ nạn giữa cuộc đời. Như trong bài Tịnh Nghiệp Phú (凈業賦) của vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) nhà Lương thời Nam Triều có đoạn: “Luân hồi hỏa trạch, trầm nịch khổ hải, trường dạ chấp cố, chung bất năng cải (輪迴火宅、沉溺苦海、長夜執固、終不能改, luân hồi nhà lửa, chìm đắm biển khổ, đêm dài chấp chặt, rốt cuộc chẳng đổi).” (2) Tỷ dụ cho cảnh khổ vô cùng tận. Như trong bài thơ Túc Thạch Ung Tự (宿石瓮寺) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Hồi chiêm tướng hảo nhân thùy lệ, khổ hải ba đào hà nhật bình (迴瞻相好因垂淚、苦海波濤何日平, ngoảnh nhìn tướng tốt mà rơi lệ, biển khổ sóng cồn ngày nào yên ?).” Hay có bài tán đức Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, thanh tịnh trang nghiêm lũy kiếp tu, thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, khổ hải thướng tác độ nhân chu (觀音菩薩妙難酬、清凈莊嚴累劫修、千處有求千處應、苦海常作度人舟, Quan Âm Bồ Tát thật nhiệm mầu, thanh tịnh trang nghiêm bao kiếp tu, ngàn cõi có cầu ngàn cõi ứng, biển khổ làm thuyền cứu người qua).” Trong bài cảnh tỉnh khuyên tu niệm Phật tương truyền của Đại Sư Ấn Quang (印光, 1861-1940) cũng có câu: “Khổ hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhân bất thức bán phân hào, kim sanh bất bả Di Đà niệm, uổng tại nhân gian tẩu nhất tao (苦海滔滔業自招、迷人不識半分毫、今生不把彌陀念、枉在人間走一遭, biển khổ mênh mông nghiệp tự chiêu, người mê chẳng biết một chút nào, đời nay không trú Di Đà niệm, uổng tại nhân gian một kiếp mau).”

khổ hải

(苦海) Biển khổ. Chỉ cho thế giới có nhiều khổ nạn, cũng tức là 3 cõi 6 đường, sống chết vòng quanh. Chúng sinh chìm đắm trong sự khổ não của 3 cõi, mông mênh mờ mịt, không bờ không bến, giống như ngụp lặn trong biển lớn khó thoát ra được, cho nên dùng biển cả vô biên để ví dụ. Kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 (Đại 3, 298 trung), nói: Tất cả chúng sinh đều không biết rõ phiền não nghiệp chướng nên phải chịu chìm đắm trong biển khổ, sống chết không cùng tận. [X. kinh Lăng nghiêm Q.4; phẩm Thọ lượng kinh Pháp hoa; kinh Thiên thủ đà la ni].

khổ hồ liên căn khổ

(苦瓠連根苦) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Quả mướp đắng(khổ qua)đến cả rễ cũng đắng. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để diễn tả một sự vật từ đầu đến cuối không biến đổi tính chất của nó. Chương Vô trước văn hỉ trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 9 (Vạn tục 138, 166 hạ), ghi: Văn thù bèn nói kệ: Khổ hồ liên căn khổ Điềm qua triệt đới điềm Tu hành tam đại kiếp Khước bị lão tăng hiềm. (Mướp đắng, đắng tận rễ Dưa ngọt, ngọt cả dây Tu hành ba đại kiếp Còn bị lão tăng rầy).

khổ khí

(苦器) Chỉ cho thân chúng sinh chịu khổ trong 4 đường ác: Địa ngục ngã quỉ, súc sinh, A tu la.

khổ không

(苦空) Chỉ cho Khổ và Không trong 4 hành tướng (Khổ, không, vô thường, vô ngã) của Khổ đế thuộc quả báo hữu lậu. Quả báo hữu lậu có đủ tính của 3 khổ, 8 khổ, v.v... cho nên gọi là Khổ; nam nữ, một khác, v.v... đều do nhân duyên sinh diệt, chứ không có thực tướng cố định bất biến, cho nên gọi là Không.

khổ không vô thường vô ngã

(苦空無常無我) Cũng gọi Vô thường khổ không phi ngã, Phi thường khổ không phi ngã. Bốn tướng của quả báo hữu lậu, tức là 4 hành tướng của Khổ đế trong 16 hành tướng của Tứ đế, là 4 thứ quán giải(quán xét và hiểu rõ) nhờ quán cảnh của Khổ đế mà phát khởi. Kinh thuyết xứ trong Trung a hàm quyển 21 (Đại 1, 565 hạ), nói: Nhân duyên khởi này và pháp do nhân duyên khởi, phải nhớ nghĩ, suy lường, quán sát và khéo phân biệt vô thường khổ không phi ngã. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3; pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, phần hạ].

khổ khổ

xem ba tướng khổ ; (苦苦) Phạm: Du#kha-du#khatà. Thân tâm của loài hữu tình xưa nay vốn dĩ là khổ rồi, nay lại chịu thêm những cái khổ khác như đói khát, tật bệnh, gió mưa, nhọc nhằn, nóng rét, dao gậy, v.v..., cho nên gọi là Khổ khổ. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.7 thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.12]. (xt. Tam Khổ).

khổ loại trí

(苦類智) Phạm: Du#khe’nvaya-jĩànam. Trí vô lậu đạt được nhờ quán xét Khổ đế của cõi Sắc và cõi Vô sắc. Để phân biệt với Khổ pháp trí do quán xét Khổ đế của cõi Dục mà đạt được, cho nên gọi là Khổ loại trí. Một trong 8 trí. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.31]. (xt. Kiến Đạo).

khổ loại trí nhẫn

(苦類智忍) Phạm:Du#khe’nvaya-jĩàna-kwànti#. Trí vô gián đạo phát khởi trước khi chứng được Khổ loại trí. Khổ loại trí thuộc về quả, tức là giải thoát đạo; còn Khổ loại trí nhẫn thuộc về nhân, tức là vô gián đạo. Một trong 8 nhẫn. (xt. Kiến Đạo).

khổ luân

(苦輪) Quả khổ sinh tử trôi lăn không dừng, quay vòng như bánh xe, nên gọi là Khổ luân (bánh xe khổ). Kinh Thắng thiên vương bát nhã quyển 1, dùng từ ngữ Khổ luân bất tức(bánh xe khổ quay vòng không dừng) để ví dụ chúng sinh vì tham ái mà bị trôi lăn mãi trong 6 đường. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; kinh Phật di giáo; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển)].

khổ ngôn

(苦言) Lời nói ân cần, tha thiết khuyên răn, dạy bảo người khác. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 18 thượng), nói: Lời nói thiết tha như thế, ngươi nên làm theo. Lại dùng lời dịu hiền như khuyên dạy con ta.

khổ pháp trí

(苦法智) Phạm: Du#khe-dharma-jĩànam. Trí vô lậu do quán xét Khổ đế của cõi Dục mà chứng được, nên gọi là Khổ pháp trí. Một trong 8 trí. Câu xá luận tụng sớ quyển 23 (Đại 41, 946 trung), nói: Khổ nhẫn vô gián duyên với Khổ đế của cõi Dục phát sinh pháp trí, gọi là Khổ pháp trí. (xt. Kiến Đạo, Khổ Trí).

khổ pháp trí nhẫn

(苦法智忍) Phạm: Du#khe dharma-jĩànakwànti#. Pháp trí nhẫn vô lậu(tức là trí vô gián đạo) phát khởi trước khi chứng được Khổ pháp trí. Một trong 8 nhẫn, cũng tức là 1 trong 16 tâm. Nhẫn tức là tin; trí là tin vào lí mà không nghi ngờ; trí này là nhân để đạt được Khổ pháp trí, cho nên gọi là Khổ pháp trí nhẫn. (xt. Kiến Đạo, Khổ Trí).

khổ qua hoà thượng hoạch ngữ lục

(苦瓜和尚畫語錄) Cũng gọi Họa phổ. Tác phẩm, 18 chương, do ngài Đạo tế (Thạch đào) soạn vào cuối đời Minh, Trung quốc. Nội dung bàn về hội họa, phát huy nhiều ý kiến mới mẻ mà trước đó chưa ai làm được, văn từ giản dị, ý tứ sâu xa. Đạo tế là người học vấn sâu rộng, tư tưởng hoạt bát, sử dụng thành thạo những thuật ngữ của Phật, Nho và Lão. Ngoài ra, tác giả còn sáng tạo nhiều từ ngữ độc đáo, nên có phần khó hiểu.

khổ quả

(苦果) Quả báo do nghiệp ác sinh ra khiến cho thân tâm chúng sinh chịu khổ não. Nói chung thì quả báo sinh tử đều là khổ. Nếu phân biệt thì cõi trời là lạc quả, cõi địa ngục là khổ quả, còn cõi người thì gồm cả khổ quả và lạc quả.

khổ thụ

(苦受) Phạm: Du#kha-vedanà. Sự cảm nhận khổ não. Một trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ. Thụ nghĩa là nhận lãnh cảnh bên ngoài. Cảnh có 3 loại: Thuận, nghịch, không thuận không nghịch, nên thụ cũng có 3 thụ là khổ, vui, chẳng khổ chẳng vui. Thân tâm bị bức bách, lãnh nhận cảnh trái ý, nên phát sinh cảm giác khổ não, gọi là Khổ thụ. [X. luận Thành duy thức Q.9; Tứ niệm xứ Q.1]. (xt. Tam Thụ, Ngũ Thụ).

khổ trách ngu si bổng

(苦責愚痴棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây gậy dùng để đánh người ngu si. Một trong 8 gậy của tông Lâm tế. Tông Lâm tế dùng gậy làm phương pháp chủ yếu tiếp hóa người học, vị thầy dùng gậy đánh người học là nhằm phá trừ mê vọng, giúp họ tỏ ngộ.

khổ trí

(苦智) Phạm: Du#kha-jĩàna. Trí vô lậu chứng được sau khi dứt trừ mê hoặc nhờ quán xét 4 hành tướng khổ, không, vô thường, vô ngã. Một trong 10 trí. Luận Phẩm loại túc quyển 1 (Đại 26, 694 thượng) ghi: Nếu suy tư quán xét 5 thủ uẩn là phi thường, khổ, không, phi ngã thì sẽ phát sinh trí vô lậu. Luận Đại tì bà sa quyển 106 (Đại 27, 548 trung), nói: Duyên theo Khổ thánh đế, 4 hành tướng chuyển nên gọi là khổ trí. Cũng tức là hành giả khi vào giai vị Kiến đạo, dùng trí thế tục duyên theo cảnh Khổ đế, đến sát na thứ 2 thì trí cùng sinh với pháp trí, gọi là Khổ trí. [X. luận Câu xá Q.26; luận Hiển dương thánh giáo Q.2].

khổ tưởng

(苦想) Cũng gọi Khổ tư tưởng. Quán tưởng về khổ. Một trong 10 tưởng. Thân 5 ấm thường bị các khổ bức bách, nếu quán tưởng tất cả pháp hữu vi đều là vô thường, thì trí tuệ phát sinh, tất cả khổ đều diệt, gọi là Khổ tưởng. [X. kinh Quảng nghĩa pháp môn; luận Đại trí độ Q.23].

khổ tế

(苦際) Pàli: Dukkhassanta. Thân chịu khổ sinh tử cuối cùng, cũng tức là ranh giới giữa sinh tử và Niết bàn. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 2 hạ), nói: Nếu người bị khổ, nhàm chán già, bệnh, chết thì hãy vì họ mà nói Niết bàn, khiến dứt khổ tế. [X. kinh Trung a hàm Q.15].

khổ ách

(苦厄) Khổ hoạn và tai ách. Bát nhã tâm kinh (Đại 8, 848 hạ), nói: Soi thấy 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách.

khổ đạo

(苦道) Khổ do mê lầm(Hoặc) mà tạo nghiệp (Nghiệp), vì tạo nghiệp mà phải chịu quả khổ (Khổ). Cái quả khổ ấy gọi là Khổ đạo, 1 trong 3 đạo. Trong 12 nhân duyên, Khổ đạo bao gồm 7 chi: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ (thuộc quả báo hiện tại), sinh và lão tử(thuộc quả báo vị lai). [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.1; Kim quang minh huyền nghĩa Q.thượng].

khổ đế

(苦諦) Phạm: Du#kha-satya. Pàli: Dukkha-sacca. Cũng gọi Khổ thánh đế (Phạm: Du#khàrya-satya). Chỉ cho sự thật về các khổ trong 3 cõi, như 3 khổ, 8 khổ, v.v... Là 1 trong 4 đế. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng cảm nhận vui là có thật và lấy khổ nhiều vui ít làm nghĩa của Khổ đế, nhưng Kinh bộ thì chủ trương rằng trong các uẩn hoàn toàn không có cảm giác vui nào đáng nói. Phẩm Hành khổ trong luận Thành thực quyển 6 (Đại 32, 282 trung), nói: Ba thụ (khổ, vui, không khổ không vui)đều thuộcKhổ đế; nếu thật có vui, thì tại sao nói khổ đế? Khổ là chân thực mà vui là hư vọng. Vì sao biết? Vì quán tâm khổ mới đoạn trừ được các phiền não, chứ chẳng phải quán tâm vui mà đoạn trừ được, cho nên biết tất cả đều là khổ. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 (Đại 31, 719 hạ) nói: Sinh khổ cho đến oán thù gặp gỡ khổ là hiển bày khổ khổ, thuận theo pháp khổ thụ, là nghĩa tự tướng của khổ. Yêu thương chia lìa khổ, mong cầu không được khổ là hiển bày Hoại khổ, thuận theo pháp lạc thụ, là nghĩa tự tướng của Hoại. Tóm thu tất cả khổ của 5 thủ uẩn là hiển bày Hành khổ, là nghĩa bất an ổn. (...) Sinh khổ cho đến mong cầu không được khổ là khổ của Thế tục đế, vì là cảnh giới của trí thế gian, còn thu tóm tất cả khổ của 5 uẩn là khổ của Thắng nghĩa đế. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.17; luận Thuận chánh lí Q.57; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Câu xá luận quang kí Q.22].

khổ ấm

(苦陰) Cũng gọi Khổ uẩn. Chỉ cho chỗ tụ tập của các nỗi khổ hoặc chỉ cho sự tồn tại của con người. Vì thân tâm của hữu tình do 3 khổ, 8 khổ tụ họp lại mà thành nên gọi là Khổ ấm. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 855 thượng), nói: Thân bị các tập tục trói buộc, khổ ấm thường bao vây.

khổng tước

tên một loài chim, dịch từ Phạn ngữ là maỷra, dịch âm là ma-do-la (摩由羅).

khổng tước kinh âm nghĩa

(孔雀經音義) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Quán tĩnh người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 61. Đây là sách chú thích bộ kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương do ngài Bất không dịch vào đời Đường. Nội dung chia làm 3 môn: Đại ý, Giải thích tên kinh, Giải thích kinh văn. Phần Đại ý nói về yếu chỉ của kinh; phần Giải thích tên kinh chia làm 2 mục: Hiển, Mật, giải thích 8 chữ: Phật mẫu đại khổng tước minh vương kinh, tiếp đó là Giải thích phần chính văn một cách rất rõ ràng. Những sách được dùng để tham khảo và dẫn dụng gồm 130 bộ kinh điển: Mật bộ, Luận bộ, Sử truyện, các tác phẩm của Trung quốc và Nhật bản, v.v... [X. Thích giáo chư sư chế tác mục lục Q.2; Lục nội khải mông Q.15].

khổng tước minh vương

(孔雀明王) Phạm:Mahà-mayùrì-vidyà-ràjĩì. Dịch âm: Ma ha ma du lị la xà. Cũng gọi: Khổng tước vương, Phật mẫu khổng tước đại minh vương. Vị Minh vương thứ 6 ngồi ở đầu cực nam của viện Tô tất địa trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Cứ theo Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ, thì hình tượng vị tôn này hiện tướng 1 mặt 4 cánh tay, cỡi chim khổng tước(chim công) mầu vàng ròng, các tay lần lượt cầm hoa sen, quả câu duyên, quả cát tường, lông đuôi chim công, tượng trưng cho 4 pháp tu: Hoa sen tượng trưng pháp Kính ái, quả câu duyên tượng trưng pháp Điều phục, quả cát tường tượng trưng pháp Tăng ích và lông đuôi chim công tượng trưng pháp Tức tai. Vị Minh vương này là thân Đẳng lưu của đức Tì lô giá na Như lai, có đủ 2 đức nhiếp thủ và chiết phục, cho nên có 2 loại tòa ngồi: Tòa sen trắng biểu thị bản thệ từ bi nhiếp thủ, còn tòa sen xanh thì biểu thị đức chiết phục. Trên đây là theo Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ, còn trong Hiện đồ mạn đồ mạn đồ la Thai tạng giới thì hình tượng vị tôn này mầu da người, có 2 tay, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải cầm lông đuôi chim Khổng tước(chim công), tay trái cầm hoa sen, mật hiệu là Phật mẫu kim cương, hình Tam muội da là lông cánh chim Khổng tước. [X. kinh Khổng tước vương chú; kinh Đại khổng tước chú vương Q.thượng; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

khổng tước minh vương kinh

(孔雀明王經) Khổng tước minh vương, Phạm: Mahàmayùrì-vidyàràjĩì. Gọi đủ: Phật mẫu đại kim diệu khổng tước minh vương kinh. Cũng gọi: Phật mẫu đại khổng tước minh vương kinh, Khổng tước kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc ngàiA nan đà thấy tân tỉ khưu tên Sa để (Phạm:Svati) bị rắn hổ mang cắn ở chân, gần chết, nên cầu Phật từ bi cứu hộ. Đức Phật liền dạy ngài A nan đà tụng đại đà la ni Phật mẫu minh vương thì cứu được tỉ khưu Sa để. Ngoài ra, kinh này còn nói các vị thần tiên, tinh tú, Dược xoa, chư Phật quá khứ, v.v... nhờ tụng đà la ni này mà xa lìa tất cả sự sợ hãi và được phúc đức. Kinh này cũng có các bản dịch khác như: -Kinh Khổng tước vương chú, 2 quyển, do ngài Tăng già bà la dịch vào đời Lương. -Kinh Đại khổng tước chú vương, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Pháp tu Khổng tước minh vương trong Mật giáo là y cứ vào kinh này.

khổng tước minh vương kinh pháp

(孔雀明王經法) Cũng gọi: Khổng tước kinh pháp. Một pháp tu trong Mật giáo y cứ vào kinh Phật mẫu đại kim diệu khổng tước minh vương hoặc Khổng tước minh vương nghi quĩ, thờ Khổng tước minh vương làm Bản tôn để cầu mưa, cầu tạnh mưa, sinh nở được an ổn và tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, v.v... Khi tu pháp, trước hết, tôn trí tượng Khổng tước minh vương 4 tay ở chính giữa, trên đại đàn đặt chày Yết ma, hộp kinh Phật bằng tiếng Phạm(có cắm lông đuôi chim Khổng tước = chim công), trong bình cắm 3 hoặc 5 cái lông đuôi chim Khổng tước, đồng thời đặt mâm kim cương và lư hương (hỏa xá), trong đó đốt hoàn hương liên tục để cúng dường. Ngoài ra, còn thiết đàn Hộ ma, đàn Thánh thiên, đàn Thập nhị thiên. Đàn Hộ ma 1 ngày 3 tòa; đàn Thánh thiên cuối đêm 1 tòa, giữa trưa 1 tòa; đàn Thập nhị thiên đầu đêm 1 tòa, mỗi đàn, mỗi tòa đều tu pháp kinh Khổng tước minh vương. [X. kinh Đại khổng tước chú Q.hạ; Khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ; A sa phọc sao Q.69].

khổng tước thỉ

(孔雀屎) Phân chim công, ví dụ hỏi đáp trái ngược nhau, như hỏi trời mà đáp đất. Kinh Bách dụ quyển 3 (Đại 4, 550 hạ), nói: Có 2 đứa trẻ, xuống sông tắm và đùa giỡn, nhặt được 1 nắm lông ở dưới đáy sông, một đứa nói: Đây là râu tiên, đứa kia bảo: Đâu phải, đây là lông gấu. Hai đứa trẻ cứ thế cãi nhau mãi. Bấy giờ, bên bờ sông có 1 vị tiên, 2 đứa trẻ liền đến xin vị tiên ấy giải quyết cho ai đúng, ai sai. Vị tiên bèn lấy 1 nhúm gạo và hạt mè (vừng) bỏ vào miệng nhai, rồi nhả ra trong lòng bàn tay và bảo 2 đứa trẻ rằng: Cái chất sền sệt trong lòng bàn tay ta giống như cứt chim Khổng tước. Vị tiên này trả lời không đúng với câu hỏi nên bị người chê cười. Do đó, về sau, từ ngữ Khổng tước thỉ được sử dụng để chỉ cho những lời nói phù phiếm, bông lông, hoặc hỏi một đường trả lời một nẻo.

khổng tước toà

(孔雀座) Phạm:Mayùràsana. Tòa khổng tước. Tòa ngồi của Phật mẫu khổng tước minh vương và của đức Phật A di đà chủ bộ Liên hoa. Bản kinh Khổng tước minh vương tiếng Phạm Khổng tước(chim công) là loài chim tượng trưng cho điềm lành, hình dáng rất đẹp và lông có nhiều mầu, vì thế tòa ngồi được làm theo hình dáng loài chim này để biểu thị nghĩa chuyển đại pháp luân. Ngoài ra, trong Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới, trời Cưu ma la cũng ngồi trên tòa Khổng tước. [X. kinh Kim cương đính du già lược xuất niệm tụng Q.1; Đại khổng tước minh vương họa tượng đàn tràng nghi quĩ; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng]. (xt. Ngũ Bộ Tòa).

khổng tước vương triều

(孔雀王朝) Triều vua thời xưa ở Ấn độ trị vì được 137 năm (từ năm 317-180 trước Tây lịch). Năm 327 trước Tây lịch, Đại đế Á lịch sơn đại (Alexandre) người Hi lạp, xâm lược Ấn độ. Thời bấy giờ, vương triều Nan đà (Phạm: Nanda) nước Ma kiệt đà (Phạm: Magadha), xưng bá ở vùng đồng bằng sông Hằng, Bắc Ấn độ. Vua Chiên đà la cấp đa (Phạm:Chandragupta), thừa cơ nổi lên, bình định Bắc Ấn độ, đặt thủ đô ở thành Ba liên phất (Phạm:Pàỉaliputra), nước Ma kiệt đà, sáng lập vương triều Khổng tước (Phạm:Maurya), dựng nên một đại đế quốc trung ương tập quyền thống nhất trong lịch sử Ấn độ. Đến thời vua A dục (Phạm: Azoka) cháu của vua Chiên đà la cấp đa là thời cực thịnh của vương triều này. Về mặt đối ngoại, vua A dục đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Ai cập, Hi lạp, còn đối nội thì vua dùng Pháp (Phạm: Dharma) làm lí tưởng chính trị để sửa sang việc nước, đồng thời, xây dựng các cơ sở phúc lợi trong nước. Vua A dục qui y Phật giáo nên dưới sự ủng hộ của vua, Phật giáo đã được phổ cập không những trên toàn cõi Ấn độ, mà còn được truyền bá đến vùng Trung á, các nước Tích lan, Miến điện, v.v... Vào thời kì này, giáo đoàn Phật giáo chia làm Thượng tọa bộ (Phạm:Theravàda) và Đại chúng bộ (Phạm: Mahàsaíghika). Vua A dục tuy sùng tín Phật giáo nhưng không hề bài xích các tôn giáo khác, cho nên, dưới chính sách khoan dung của vua, Kì na giáo và Bà la môn giáo cũng dần dần hưng thịnh, phát triển. Sau khi vua A dục băng hà, thế lực của vương triều Khổng tước cũng mất dần. Khoảng năm 180 trước Tây lịch, tướng quân Phất sa mật đa la (Phạm:Puwyamitra) làm phản, giết vua, không bao lâu Ấn độ lại rơi vào tình trạng phân chia.

khổng tước vương tạp thần chú kinh

(孔雀王雜神咒經) Cũng gọi: Phật thuyết đại kim sắc khổng tước vương chú kinh, Đại khổng tước vương tạp thần chú kinh, Đại khổng tước vương chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bạch thi lê mật đa la dịch lại vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung bao gồm: Qui y Tam bảo, văn Phát nguyện, sự tích của tỉ khưu Cát tường, kinh Phật thuyết chú tặc, kinh Pháp hoa thần chú, Tì sa môn thiên, La sát nữ chú, Đại niết bàn kinh chú. Kinh này và kinh Phật thuyết đại khổng tước chú vương, 3 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường nội dung hơi giống nhau. Trong bản Đại tạng kinh Cao li, kinh này mất tên người dịch, còn trong các bản Đại tạng đời Nguyên, đời Minh thì dịch giả kinh này là ngài Bạch thi lê mật đa la. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.6].

khởi chỉ xứ

(起止處) Chỉ cho nơi đại tiểu tiện(nhà xí). Môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Khởi chỉ xứ là nơi đại tiện. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 (Đại 24, 838 trung), nói: Nhà xí có 2 nơi: Một là Khởi chỉ xứ(nơi đại tiện), hai là Dụng thủy xứ(nơi tiểu tiện). Khi vào Dụng thủy xứ cũng phải vén áo hệt như khi vào Khởi chỉ xứ.

khởi cốt

(起骨) .... . Đặt di cốt của vị tăng đã mất vào trong tháp. Theo điều Vong tăng nhập tháp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, thì thu nhặt di cốt đặt trong tẩm điện gọi là An cốt; sau đó đưa vào trong tháp gọi là Khởi cốt.

Khởi cổ

(起鼓): bắt đầu đánh trống; đồng nghĩa với khởi canh (起更), tức báo cho biết thuộc canh nào; vì thời xưa người ta thường dùng trống để báo canh. Như trong hồi thứ 97 của Tây Du Ký (西游記) có đoạn: “Tiệm tiệm thiên vãn, thính đắc lâu đầu khởi cổ, hỏa giáp tuần canh (漸漸天晚、聽得樓頭起鼓、火甲巡更, dần dần trời tối, nghe trên đầu lầu gióng trống, lính vệ tuần canh).”

khởi diệt

(起滅) ..... Sự sinh, diệt của các pháp. Khi nhân duyên hòa hợp thì các pháp sinh khởi, khi nhân duyên li tán thì các pháp hoại diệt. Phẩm Vấn tật kinh Duy ma (Đại 14, 545 thượng), nói: Phải nghĩ như vầy: Thân này là do các pháp hợp thành, khởi chỉ là pháp khởi, mà diệt cũng chỉ là pháp diệt.

khởi giả

(起者) Người chấp chặt ngã kiến, cho rằng chính mình là người có thể khởi động nghiệp tội phúc ở đời sau, cho nên gọi là Khởi giả. Một trong 16 loại thần ngã trong ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. [X. luận Đại trí độ Q.35; Đại thừa nghĩa chương Q.6].

khởi hiển cánh

(起顯竟) Cũng gọi Khởi hiển chung. Tiếng dùng của tông Nhật liên Nhật bản. Chỉ cho Khởi nhân, Hiển thuyết và Chung liễu của pháp môn Bản hóa trong kinh Pháp hoa. Tức là pháp môn Bản hóa trong kinh Pháp hoa khởi nhân (bắt đầu) ở phẩm Pháp sư và phẩm Bảo tháp, hiển thuyết (trình bày rõ ràng)ở phẩm Thọ lượng và chung kết ở phẩm Thần lực.

khởi hành

(起行) Những hạnh được phát khởi bằng 3 nghiệp thân, miệng, ý. Do tâm bồ đề mà phát khởi các hạnh nghiệp như thân thì lễ bái cung kính, miệng thì xưng niệm danh hiệu và tán thán Phật, ý thì quán xét nhớ nghĩ. Nếu phát khởi 3 hạnh nghiệp thân, miệng, ý với lòng chí thành tha thiết, thì ngay đời hiện tại được nhiều lợi ích và trong vị lai sẽ được sinh về cõi Tịnh độ cực lạc. [X. Vãng sinh lễ tán kệ; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4].

khởi hành nhất tâm

(起行一心) Khi tu khởi hạnh, tâm niệm phải chuyên nhất, không khởi vọng tưởng, nghĩa là không khởi tâm hư vọng điên đảo để phân biệt tướng trạng của các pháp. (xt. Nhất Tâm).

khởi khám

(起龕) Đưa quan tài từ nhà đến nơi chôn cất. Nghi thức khởi khám, gọi là Khởi khám Phật sự; người điều khiển việc khởi khám, gọi là Khởi khám sư. Theo điều Vong tăng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6, vào ngày cử hành nghi thức tống táng, đánh 108 tiếng chuông lớn để thông báo xa gần. Sau khi chúng tăng tập họp rồi, vị Khởi khám sư niệm hương, nói pháp ngữ, vị Duy na xướng văn tụng niệm. Sau khi tụng chú Đại bi, đánh 3 hồi trống để bày tỏ sự khuyến thỉnh, sau đó mọi người xếp hàng để di quan; xếp hàng xong, vừa đi vừa niệm danh hiệu Phật cho đến tận nơi chôn cất.

khởi quán sinh tín

(起觀生信) Một lòng quán tưởng cảnh giới Tịnh độ trang nghiêm đẹp đẽ, từ đó phát sinh tín tâm. Pháp này được nói trong luận Tịnh độ của ngài Thế thân.

khởi sự tâm

(起事心) Những phiền não thô, mạnh, dấy lên ở Tứ trụ địa, có khả năng phát khởi nghiệp sự, cho nên gọi là Khởi sự tâm. Một trong 3 tâm phàm phu. Tâm này hay làm chướng ngại hóa thân Phật. Bồ tát tu tập chiết phục kết sử thì có thể trừ diệt tâm này. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.19; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7 phần đầu; Tông kính lục Q.89]. (xt. Tam Tâm).

khởi thi quỷ

(起尸鬼) ........ Tên một loài quỉ. Ở Ấn độ thời xưa, có pháp chú gọi là Tì đà la, khi tụng pháp chú này có thể khiến xác chết đứng dậy đi giết người. [X. Pháp hoa văn cú Q.10 hạ]. (xt. Tì Đà La Quỉ).

khởi tháp cung dưỡng

(起塔供養) Cũng gọi Kiến tháp cúng dường. Xây tháp để cúng dường. Sau khi đức Phật diệt độ, Bà la môn Hương tính đem chia xá lợi của ngài làm 8 phần cho 8 nước. Sau khi nhận được phần xá lợi, các nước mang về xây tháp để thờ. Khoảng 100 năm sau, vua A dục lại đem những phần xá lợi ấy chia nhỏ ra làm 84.000 phần rồi xây cất 84.000 ngôi bảo tháp để cúng dường. Tại Trung quốc, việc xây tháp cúng dường được ghi chép trong sách vở và các văn bia cũng rất nhiều. Cứ theo Quảng hoằng minh tập quyển 17, từ niên hiệu Nhân thọ năm đầu (601), vua Văn đế nhà Tùy đã cho xây tháp xá lợi ở các châu. Đây là tư liệu nói về việc xây tháp sớm nhất ở Trung quốc. Tương truyền, Ngô việt vương Tiền hoằng thúc cũng tạo 84.000 tháp... [X. kinh Du hành trong Trường a hàm Q.4; phẩm Giáo lượng công đức trong kinh Vô thượng y Q.thượng; Kinh luật dị tướng Q.6].

khởi tháp lục ý

(起塔六意) Sáu ý nghĩa của việc xây dựng tháp Phật. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 28, việc kiến tạo tháp Phật có 6 ý nghĩa là: 1. Biểu thị sự thù thắng: Đức Như lai là bậc chí tôn trong 3 cõi, không ai sánh kịp, cho nên xây tháp để tượng trưng cho sự chí tôn ấy, khiến mọi người chiêm bái mà phát tâm qui kính. 2. Khiến sinh lòng tin trong sạch: Xây dựng tháp Phật để cho chúng sinh chiêm ngưỡng đính lễ mà sinh tâm chính tín tôn trọng. 3. Khiến sinh tâm hướng về: Kiến tạo tháp Phật là để khiến cho tâm của chúng sinh có chỗ hướng về mà ngưỡng mộ qui y. 4. Khiến cúng dường sinh phúc: Xây dựng tháp Phật để khiến cho chúng sinh dốc lòng cung kính cúng dường, gieo hạt giống thiện vào ruộng phúc. 5. Vì hạnh nguyện báo ân: Kiến tạo tháp Phật không phải vì sự lợi ích của riêng mình, mà vì báo đáp 4 ân (ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân nhà nước, ân tín đồ) để hoàn thành hạnh nguyện vô biên. 6. Khiến sinh phúc diệt tội: Xây cất tháp Phật không phải vì phúc lợi của riêng mình, mà cho tất cả chúng sinh chiêm ngưỡng đính lễ được sinh phúc,diệt tội. KHỞI THẾ KINH ........ Kinh, 10 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về nguồn gốc, trạng thái, sự tổ chức và quá trình hoại diệt của thế giới, chia ra 12 phẩm: Diêm phù châu, Uất đàn việt châu, Chuyển luân thánh vương, Địa ngục, Chư long kim sí điểu, A tu la, Tứ thiên vương, Tam thập tam thiên, Đấu chiến, Kiếp trụ, Thế trụ và Tối thắng. Kinh này có tất cả 6 bản dịch, nhưng hiện nay chỉ còn 4 bản, tức ngoài bản kinh này ra còn 3 bản kia là: - Kinh Khởi thế nhân bản, do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. - Kinh Đại lâu thán, do 2 ngài Pháp lập, Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn. - Kinh Trường A hàm quyển 18-22, do 2 ngài Phật đà da xá và Trúc phật niệm cùng dịch vào đời Đông Tấn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại đường nội điển lục Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, Q.4, Q.7].

khởi thỉnh

(起請) Cũng gọi: Khởi thệ. Lập thệ nguyện cầu xin Thần, Phật soi xét và ủng hộ; hoặc khi mình làm việc gì sai quấy thì xin nhận chịu trách phạt của các Ngài.

khởi thỉnh văn

(起請文) Cũng gọi: Khởi thệ văn, Khởi thệ trạng, Thệ văn, Thệ chỉ, Thệ từ. Lời văn thệ nguyện được ghi trên giấy, đọc tước Thần, Phật để cầu xin chứng minh, nếu sai lời thề nguyền thì xin nhận sự trách phạt. Loại văn khởi thỉnh này rất thịnh hành trong giới Phật giáo Nhật bản.

khởi tâm lập hành

(起心立行) Phát khởi tâm bồ đề, tu tập muôn hạnh. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 12 hạ), nói: Ở ngay nơi này, khởi tâm lập hạnh, nguyện sinh Tịnh độ, đó là tự lực. Tức là nếu muốn ngay đời này được thấy Phật Vô lượng thọ, thì phải phát tâm vô thượng bồ đề, đem công đức tu tập muôn hạnh, hồi hướng nguyện sinh về Tịnh độ, liền được vãng sinh. Nhưng cũng sách trên, quyển hạ, lại nói: Tâm bồ đề khó phát, dù có phát được rồi, cũng phải tu 10 hạnh là: Tín, tiến, niệm, giới, định, tuệ, xả, hộ pháp, phát nguyện và hồi hướng, thì mới có thể tiến đến quả vị Bồ đề.

khởi tâm lập đức

(起心立德) Phát khởi tâm bồ đề, tạo lập công đức. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 12 trung), nói: Đạo dễ làm(Dị hành đạo) có nghĩa là đem lòng tin Phật mà nguyện sinh về Tịnh độ, khởi tâm lập đức, tu các hạnh nghiệp.

khởi tín luận nghĩa ký huyễn hổ lục

(起信論義記幻虎錄) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Phượng đàm thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn. Đây là sách chú sớ bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí của ngài Pháp tạng. Luận Đại thừa khởi tín có rất nhiều bản chú sớ, trong đó, bộ Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí là quan trọng hơn cả. Nhưng sau, vì ngài Tông mật đem hợp chung lại với luận khởi tín sửa đổi và thêm bớt rất nhiều rồi xuất bản, nên ngài Phượng đàm mới soạn bộ sách này để phê phán và kích bác. Những luận chứng trong sách này rất được các học giả nghiên cứu luận Khởi tín xem trọng.

khởi tín luận nhất tâm nhị môn đại ý

(起信論一心二門大意) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đờiTrần thuộc Nam triều, được thu vào Vạn tục tạng tập 71. Đây là bản chú sớ luận Đại thừa khởi tín do ngài Chân đế dịch. Nội dung sách này giải thích rõ ý chỉ sâu xa của Nhất tâm và Nhị môn trong luận Đại thừa khởi tín. Nhất tâm chỉ cho tâm Như lai tạng. Nhị môn chỉ cho tâm chân như môn và tâm sinh diệt môn. Đây là lí luận quan trọng về tư tưởng trung tâm của Phật giáo Đại thừa.

khởi tín nhị môn

(起信二門) Cũng gọi Chân sinh nhị môn. Chỉ cho 2 môn tâm chân như và tâm sinh diệt được nói trong luận Đại thừa khởi tín. 1. Tâm chân như môn: Môn này đứng về phương diện bản thể của tâm chúng sinh để thuyết minh lí thể của chân như chẳng sinh chẳng diệt, không thêm không bớt, xa lìa tướng sai biệt của các pháp. 2. Tâm sinh diệt môn: Môn này căn cứ vào phương diện hiện tượng của tâm chúng sinh để thuyết minh tâm theo duyên mà sinh diệt, sinh khởi các tướng nhiễm tịnh khác nhau. Nhưng 2 môn này vốn chẳng phải khác chẳng phải một, đây là tâm Như lai tạng không sinh không diệt, chỉ vì huân nhiễm vọng duyên vô minh, mà sinh ra tướng nhiễm tịnh sai biệt, chứ không có thể riêng; giống như nước trong biển cả, hễ gió lặng thì sóng yên, mà gió thổi thì nước động, động tĩnh tuy khác nhau, nhưng thể của nước thì là một. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối].

khởi tử nhân chú

(起死人咒) ........... Chú thuật có năng lực sai khiến tử thi mới chết đứng dậy giết hại kẻ thù, đây là chú pháp của Ấn độ đời xưa. Luật ngũ phần quyển 26 (Đại 22, 174 trung), nói: Các tỉ khưu học chú khiến người chết đứng dậy, đức Phật cấm chỉ và bảo tỉ khưu nào học sẽ phạm tội Thâu lan gia. (xt. Tì Đà La Quỉ).

khởi đan

(起單) Cũng gọi Trừu đơn, Tạm hạ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Rời khỏi chỗ ngồi thiền của mình; từ ý ấy, Khởi đơn cũng có nghĩa là vị Thiền tăng lìa chùa ra đi. Sau lễ giải hạ(kết thúc 3 tháng an cư), Thiền tăng khởi đơn đến Thiền viện khác. Ngoài ra, hoặc vì mình hạnh kiểm không tốt, hoặc vì vị thầy không đủ tư cách để mình nương dựa, nên khởi đơn đi nơi khác. Đời sau, có người hiểu lầm Khởi đơn là xin phép đi nghỉ. Trong tùng lâm, khi có việc cần xin tạm nghỉ để ra khỏi chùa, không quá 15 ngày, thì gọi là Thỉnh giả(xin tạm nghỉ), còn nếu hơn 15 ngày thì gọi là Khởi đơn. Trong trường hợp này, khi trở về, phải làm lại nghi thức quải đáp, mới được phép ở. [X. điều Nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.7; môn Tùng quĩ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

khứ hành

(去行) Chỉ cho việc hành trì tu niệm để sinh về Tịnh độ, hoặc chỉ cho hành vi thực tiễn nhằm mục đích vãng sinh Tịnh độ. Khứ tức là hành. Ngài Thiện đạo gọi pháp môn tu hành chung của chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ của chư Phật, là Thông khứ hành, còn gọi pháp môn tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ của 1 đức Phật là Biệt khứ hành. [X. Quán kinh sớ Q.1, Q.2 (Thiện đạo); Quán kinh huyền nghĩa phần quán môn nghĩa sao Q.3].

khứ lai kim

(去來今) Cùng nghĩa với từ ngữ Quá hiện vị. Chỉ cho 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong kinh thường dùng từ ngữ này để chỉ cho quá trình sinh diệt biến hóa của tất cả các pháp hữu vi.

khứ lai tha quốc trần cảnh

(去來他國塵境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lìa bỏ quê hương cũ của mình mà lưu lạc nơi các phương khác. Trong Thiền lâm, dùng nhóm từ này để chỉ cho những người bỏ tự tâm để tìm cầu Phật bên ngoài.

khứ lai thật hữu tông

(去來實有宗) Cũng gọi Cổ lai thực hữu tông, Khứ lai hữu thực luận. Một trong 16 tông phái ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Tông phái này chủ trương quá khứ, vị lai cũng có thực như hiện tại. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1 (Đại 45, 249 hạ), nói: Khứ lai thực hữu tông (...) cho rằng đời quá khứ, đời vị lai, giống như hiện tại, là có thực, chứ không phải giả. Trong 6 phái triết học của Ấn độ cổ đại, thì học phái Thắng luận và ngoại đạo Thời luận đều chủ trương thuyết này. Còn trong Phật giáo Tiểu thừa thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng chủ trương thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9].

khứ lịch tạc thực

(去曆昨食) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Lịch năm ngoái và thức ăn ngày hôm. Đây là lời của tông Nhật liên Nhật bản dùng để phê bình giáo lí của tông Thiên thai. Tông Nhật liên cho rằng giáo pháp của tông Thiên thai chỉ cứu độ được chúng sinh ở đời tượng pháp, chứ không cứu độ được chúng sinh ở đời mạt pháp như ngày nay, để cho thế gian hiện tại được lợi ích, cho nên mới ví giáo pháp của tông Thiên thai như tấm lịch cũ và thức ăn hôm qua, là những thứ vô dụng. [X. Thượng dã điện ngự phản sự (Nhật liên); Quán tâm bản tôn đắc ý sao; Pháp hoa sơ tâm thành Phật sao].

khứ niêm giải phọc

(去粘解縛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cởi bỏ những vướng mắc, ràng buộc của thân. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho sự diệt trừ các phiền não, chấp trước, hầu đạt đến cảnh giới tự tại, vô ngại. Bài tựa trong Bích nham lục (Đại 48, 139 hạ), nói: Nếu người thấy nước cho là biển, nhận ngón tay là mặt trăng, thì đó không phải là nỗi lo riêng của ngài Đại tuệ, đến ngài Viên ngộ cũng sẽ vì họ mà giải trừ sự vướng mắc, ràng buộc vậy.

khứ thử bất viễn

(去此不遠) ... ... ... .. Phật A di đà ở cách đây không xa. Trong kinh nói Tịnh độ cực lạc ở phương tây cách thế giới Sa bà này 10 vạn ức cõi Phật, nhưng về mặt pháp vị quán niệm thì không xa. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 341 hạ), ghi: Bấy giờ đức Thế tôn bảo bà Vi đề hi: Bà có biết không, Phật A di đà cách đây không xa, bà nên chuyên tâm quán tưởng nước kia thì tịnh nghiệp sẽ thành. Theo luận thích Tịnh độ quần nghi quyển 6 của ngài Hoài cảm, thì Khứ thử bất viễn có 10 nghĩa: 1. Phật lực bất viễn: Nếu được Phật lực gia trì thì có thể thấy ngay cõi Tịnh độ. 2. Phương tiện bất viễn: Nếu dùng định thiện làm phương tiện quán tưởng, thì có thể thấy ngay Tịnh độ. 3. Ứng hiện bất viễn: Đức Phật A di đà trụ ở giữa hư không, nếu nghe được lời cầu xin diệt trừ khổ não thì Ngài hiện thân trong khoảng khắc. 4. Tự tâm bất viễn: Nếu rõ suốt tâm là Phật, thì cảnh tức Tịnh độ, tâm cảnh dung thông nhau, Tịnh độ tức là tự tâm. 5. Thủ hộ bất viễn: Phật thường đến chỗ người tu hành. 6. Hữu duyên bất viễn: Chúng sinh có duyên đều được thấy Phật. 7. Bản nguyện bất viễn: Nương theo sức bản nguyện của Phật A di đà mà nhớ tưởng thì sẽ được thành tựu. 8. Lai nghinh bất viễn: Lúc lâm chung, Phật và Bồ tát đến đón, cho nên người tu hành có thể được thấy Phật A di đà ngay tại thế giới Sa bà. 9. Vãng sinh bất viễn: Trong khoảng khảy móng tay liền được sinh về Tịnh độ. 10. Bất phóng dật bất viễn: Chuyên tâm tu hành không buông lơi, thì tức là gần Phật. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ phần đầu].

khứ uế chú

(去穢咒) ........ Cũng gọi Khử uế chân ngôn. Câu chú trừ khử sự ô uế được đọc sau khi vào nhà xí. Văn chú là: Án bạt chiết la nẵng già đà sa ha. [X. Động thượng già lam tạp kí].

khứ uế phục

(去穢服) ........ Tên khác của áo ca sa. Ca sa có rất nhiều công đức, có khả năng khiến chúng sinh trừ bỏ sự nhớp nhúa của trần tục như dâm, nộ, si, v.v... cho nên gọi là Khử uế phục. [X. kinh Đại tịnh pháp môn].

Ki-la Ki-la-pa

S: kilakilapa; »Người mồm to bị đuổi«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết sống trong thế kỉ nào.|Ông thuộc giai cấp thấp kém trong thành Bhi-ra-li-ra, là người không nói lời dịu dàng, hay khích bác gây sự. Ðiều này xuất phát từ khẩu Nghiệp của các đời trước. Người ta ai cũng ghét ông và vì thế ông rút về sống trên một bãi thiêu xác. Nơi đó ông gặp một Du-già sư và vị này sẵn lòng chỉ cho ông một Nghi quỹ (s: sādhana) để tu tập. Ông được đưa vào những yếu chỉ bí mật của Bí mật tập hội (s: guhya-samāja-tantra) và được dạy phép quán tưởng như sau:|Lời mình hay lời người,|tất cả là âm thanh;|hãy tinh tiến quán tưởng,|mọi âm không hề khác.|Rồi hãy quán thêm rằng,|lời mình từ tính Không,|mênh mông như bầu trời,|đến như ngàn tiếng sấm,|rồi rơi xuống như hoa.|Nhờ chuyên tâm quán tưởng, ông không còn thấy âm thanh của người khác đối với mình hằn học nữa. Rồi ông mất luôn âm thanh của tiếng nói mình trong khoảng bao la bất tận của tính Không. Tất cả mọi hiện tượng và thanh âm hiện lên đối với ông dưới dạng Ðại thủ ấn và ông đạt giải thoát. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Trong bầu trời Pháp giới,|sức diệu dụng thanh tịnh,|biến ra ngàn tiếng sấm.|Toàn thế giới hiện tượng,|trước hư vọng giả dối,|nay trở thành Tỉnh giác:|Tâm thức đạt  Ba thân

Ki-ra Pa-la-pa

S: kirapālapa; »Người chinh phục hối hận«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào. Có sách cho rằng ông là đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa). Ðời sống ông có vẻ giống cuộc đời vua A-dục.|Ông là nhà vua trị vì vương quốc Gra-ha-ra. Ông cho quân đi chiếm đánh và cướp bóc các nước lân bang, thế nhưng ông không hề biết nỗi khổ của chiến tranh. Ngày nọ trong cuộc chiến với một nước gần đó, thấy tận mắt chiến tranh, ông tỏ lòng hối hận. Ông đem phân phát của cải cho dân nghèo và xin tu tập với một vị Du-già sư.|Vị Du-già sư dạy ông Quy y tam bảo, thụ giới Bồ Tát và trau dồi bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông tinh tiến xin học tập một pháp mà chỉ trong đời này đạt Phật quả. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn ông vào Cha-kra sam-va-ra tan-tra, truyền lực và dạy ông phép thiền tạo tác và thiền thành tựu. Vì ông còn vướng đến chuyện chiến chinh, Du-già sư dạy ông như sau:|Chúng sinh trong ba cõi,|ví như đội binh mã.|Trong thức vô biên xứ,|sinh vô số anh hùng,|thống nhất chúng làm một,|đánh tan quân giặc cướp.|Ca khúc ca khải hoàn,|trên đỉnh cao của Tâm.|Cần phải quán như vậy.|Sau mười hai năm, nhà vua đắc đạo, đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Ngày nọ, các nàng hoàng hậu và quần thần thấy hào quang chiếu rực, họ biết ông đã thành tựu viên mãn và cúng lạy ông. Ông khuyên:|Hãy ham muốn mang lại,|cho tất cả hữu tình,|cả bốn vô lượng tâm.|Hãy giận dữ chống lại,|mỗi một tên ma quỷ,|quấy rối trong tâm thức.|Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Lúc nào còn vô minh,|ta còn bị trói buộc,|trong cái Ta và Người.|Lúc chớp nhoáng chứng ngộ,|mọi tư tưởng gãy đổ,|khi đó »Phật« cũng là,|danh từ vô ý nghĩa.|Khi chứng được tâm thức,|trong khoảng không vắng lặng,|thì Thật tại trở thành,|bất định, vô cấu trúc.

kim

1) Kim Tinh: Sukra (skt)—Venus. 2) Vàng hay quý kim: Hiranya (skt)—Y Lại Nã—Gold or any precious metal. 3) Bây giờ: Now—The present—At present. 4) Màu sặc sỡ: Suvarna (skt)—Tô Phạt Thích—Of a good or beautiful colour—Golden—Yellow.

kim ba

The moonlight.

kim biện

(今辯) (?- 1697) Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Thanh, người Phiên ngung (Quảng châu), họ Mạch, tự Nhạo thuyết. Sư từng theo học ông Lương chi bội và rất nổi tiếng về văn chương. Về sau, ông Chi bội nghiên cứu về đạo Phật, thường đem lí Thiền và kinh Phật dạy cho sư, nhờ đó sư được tỉnh ngộ. Sau sư theo 1 vị tăng hành cước đến Khuông lư, tham yết thiền sư Thiên nhiên thị, xin xuất gia. Năm Thuận trị 17 (1660), sư thụ giới Cụ túc ở Lôi phong. Khi ngài Kim thích mở Thiền viện Đan lộ, rước thiền sư Thiên nhiên thị về khai pháp tòa, sư cũng theo thầy tận lực phú trì và về sau được nối pháp. Năm Khang hi thứ 7 (1668) sư được thiền sư Thiên nhiên thị phân tòa thuyết pháp ở Thiền viện Đan lộ. Sau khi ngài Thiên nhiên thị nhập tịch, sư trụ trì chùa Hải vân, không bao lâu, sư dời đến ở chùa Hải chàng, sau lại về chùa Trường khánh ở Phúc châu. Sư tịch năm Khang hi 36 (1697). Sư có các tác phẩm: Tứ hội ngữ lục, Phạm võng kinh chú sớ.

kim bà la hoa

(金婆羅華) Cũng gọi Kim ba la hoa. Tên 1 thứ hoa mà Phạm vương dâng cúng đức Phật trên hội Linh sơn. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 5, thì khi đức Thế tôn đưa cành hoa Kim bà la lên, giữa đại chúng chỉ có một mình ngài Ca diếp mỉm cười, ngộ được ý chỉ của Phật. Về hoa Kim bà la không rõ thuộc loại thực vật nào. Có thuyết cho nó là hoa Chiêm bặc (Phạm:Svarịa), Hán dịch là Kim sắc hoa(hoa mầu vàng ròng). Như vậy, Kim bà hoa là tên gọi do ghép chữ Hán (Kim) và tiếng Phạm (Bà la, phiên âm của Svarịa lược bỏ chữ S ở đầu). Ngoài ra, có thuyết nói Kim bà la là chỉ cho cây Ba la xa (Hán dịch: Xích sắc thụ, nghĩa là cây có hoa mầu đỏ). Tên tiếng Phạm của Ba la xa là Kanaka, nghĩa là vàng (Kim). Như vậy, Kim bà la tức là cây Ba la xa(lược bớt chữ Xa ở cuối) có hoa mầu vàng (Kim).

kim bình sế thiêm

(金瓶掣簽) Cách rút thẻ để xác định Phật sống chuyển thế (Hô tất lặc hãn) của Phật giáo Tây tạng và Mông cổ. Để tránh cho vấn đề các Phật sống Đạt lại, Ban thiền chuyển thế khỏi phát sinh những tệ nạn và tranh chấp, nên vào năm Càn long 57 (1792) đời Cao tông nhà Thanh, nhà vua ban phát 2 kim bình (bình bằng vàng), 1 bình đặt ở cung Ung hòa tại Bắc kinh và 1 bình đặt tại chùa Đại chiêu ở Lạp tát (Lhasa), kinh đô của Tây tạng. Khi các Phật sống của Phật giáo Mông cổ, Tây tạng như: Chương gia hô đồ khắc đồ, Triết bố tôn đan ba, Đạt lại, Ban thiền, v.v... chuyển thế, thì tên họ được ghi vào sổ ở viện Lí phiên(viện trông nom các việc ở nước thuộc địa). Sau đó, muốn tìm xem linh đồng(trẻ thiêng) nào mới sinh ra là tiền thân của các Phật sống nói trên, thì phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng và năm sinh của những linh đồng tìm được, bằng tiếng Mãn châu, Hán, Tây tạng, trên các tấm thẻ(tiêm)ngà voi được để vào trong kim bình, rồi cho quan Thượng thư viện Lí phiên ở Ung hòa tại Bắc kinh, hoặc do quan Đại thần ở chùa Đại chiêu tại Tây tạng, giám sát việc rút thăm để quyết định linh đồng thừa kế, việc này về sau trở thành 1 định chế. [X. Thế giới Phật giáo thông sử (Thánh nghiêm)].

Kim Bắc Hồng Xuyên

(今北洪川, Imakita Kōsen, 1816-1892): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Tông Ôn (宗溫), đạo hiệu Hồng Xuyên (洪川), hiệu Thương Long Quật (蒼龍窟), Hư Chu Tử (虛舟子), xuất thân vùng Nhiếp Duật (攝津, Settsu, thuộc Osaka), con trai thứ ba của Kim Bắc Thiện Tạng (今北善藏). Năm lên 14 tuổi, ông theo học Nho Giáo với Đằng Trạch Đông Hạt (藤澤東畡). Đến năm 1840, ông xuất gia, theo hầu Thừa Diễn (承演) ở Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), và đến năm 1842 thì kế thừa dòng pháp của vị nầy. Năm 1847, ông đến tham Thiền với Nghi Sơn Thiện Lai (儀山善來) ở Tào Nguyên Tự (曹源寺) vùng Cương Sơn (岡山, Okayama), Bị Tiền (僃前, Bizen), rồi đến năm 1859 thì chuyển đến sống ở Vĩnh Hưng Tự (永興寺). Vào năm 1875, ông đến trú tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), tuyên xướng chủ trương Nho Thiền Nhất Trí, và khuyến hóa tu tập Thiền cho tầng lớp cư sĩ tại gia. Dòng pháp từ của ông có Thích Tông Diễn (釋宗演). Trước tác của ông có Thiền Hải Nhất Lan (禪海一瀾), Thương Long Quảng Lục (蒼龍廣錄), Khuyến Thiện Dư Lục (勸善余錄), Ẩm Đề Hồ (飲醍醐), v.v.

Kim bảng

(金榜): bảng vàng, thường đi chung với kim bảng đề danh (金榜題名) có nghĩ là bảng vàng ghi tên người thi đỗ. Như trong bài thơ Dung Trai Tứ Bút (容齋四筆), phần Đắc Ý Thất Ý Thi (得意失意詩) của Hồng Mại (洪邁, 1123-1202) nhà Tống có câu: “Động phòng hoa chúc dạ, kim bảng quải danh thì (洞房花燭夜、金榜掛名時, đêm động phòng hoa chúc, lúc bảng vàng nêu tên).” Hay trong bài Lý Viên Tùng Thoại (履園叢話), phần Khoa Đệ (科第), Cầu Thiêm (求籤) của Tiền Vịnh (錢泳, 1759-1844) nhà Thanh cũng có câu: “Hoài dựng sanh nam dĩ hữu kỳ, hậu lai kim bảng quải danh thì (懷孕生男已有期、後來金榜掛名時, mang thai sanh trai đã có kỳ, mai sau bảng vàng nêu tên khi).”

kim bề

(金篦) Cũng gọi Kim tì, Kim trù, Kim bế. Chiếc đũa bằng vàng, có hình dáng giống như cây chày 1 chĩa 2 đầu tròn. K i m bề vốn là 1 dụng cụ của người thầy thuốc ở Ấn độ đời xưa, dùng để lột bỏ màng mắt của người mù. Về sau, Mật giáo cũng sử dụng, khi cử hành lễ Quán đính, vị A xà lê dùng Kim bề chú nguyện vào mắt của người thụ pháp, biểu thị ý nghĩa trừ bỏ màng tối tăm của hành giả. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8 hạ; luận Kim cương ti; Niết bàn kinh hội sớ Q.8; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.7].

kim cang

Vajra (skt)—Diamond or adamantine—Biểu tượng năng lực tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất, kim cương với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu khác được phản chiếu trong ấy, mà nó vẫn giữ được tính không màu sắc của nó. Nó có thể cắt đứt được mọi vật rắn khác, trong khi một một thứ gì có thể cắt đứt được nó—The symbol of the highest spiritual power, which is compared with the gem of supreme value, the diamond, in whose purity and radiance other hues are reflected while it remains colorless, and which can cut every other material, itself is being cut by nothing. (A) Nghĩa của Kim Cang—The meanings of Vajra: 1) Kim Cang chùy của vua Trời Đế Thích: The thunderbolt of Indra, often called the diamond club. 2) Biểu tượng của mặt trời: A sun symbol. 3) Một trong thất bảo: One of the seven precious stones (saptaratna). (B) Ba đặc tánh của Kim Cang—Three special natures of diamond: 1) Cứng rắn: Solid—Firm. 2) Chiếu sáng: Bright—It has brilliance. 3) Sắc bén: Sharp—It is piercing—Trong Phật giáo, kim cang có thể cắt đứt mọi phiền não, khiến cho chúng sanh có được đại trí để tiến đến tâm Bồ đề—In Buddism, vajra can cut off all afflictions of living beings so that they can open great wisdom and advance to bodhi-mind.

kim cang bát nhã ba la mật đa

Vajracchedika Prajnaparamita—See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa in Appendix A (6).

kim cang bảo giới

Nhất Tâm Kim Cang Bảo Giới hay Đại Thừa giới trình bày trong Kinh Phạm Võng—The Mahayana rules according to the Brahma Net sutra. ** For more information, please see Bốn Mươi Tám Giới Khinh.

kim cang bảo tạng

Theo Kinh Niết Bàn, Bảo Tạng Kim Cang gồm Niết Bàn và Bồ Đề tâm, là nguồn tâm của mọi chúng sanh—According to the Nirvana Sutra, the “Diamond” treasury, i.e. nirvana and the pure bodhi-mind, as the source of the mind of all sentient beings.

kim cang bất hoại

1) Tánh chất bất hoại của kim cương: The indestructibility of the diamond. 2) Kim Cang thân bất hoại của Đức Phật: The diamond indestructible body of the Buddha.

kim cang bồ tát

There are several Vajra-bodhisattvas: 1) Kim Cang Nhân Bồ Tát: Vajrahetu bodhisattva. 2) Kim cang Thủ Bồ Tát: Vajrapani bodhisattva. 3) Kim Cang Bảo Bồ Tát: Vajraratna bodhisattva. 4) Kim Cang Tạng Bồ Tát: Vajragarbha bodhisattva. 5) Kim Cang Châm Bồ Tát: Vajrasuci bodhisattva. 6) Kim Cang Tướng Bồ Tát: Vajrasena bodhisattva. 7) Kim Cang Tác Bồ Tát: Vajrapasa bodhisattva. 8) Kim Cang Câu Bồ Tát: Vajrankusa bodhisattva. 9) Kim Cang Hương Bồ Tát: Vajradhupa bohisattva. 10) Kim Cang Quang Bồ Tát: Vajratejah bodhisattva. 11) Kim Cang Pháp Bồ Tát: Vajradharma bodhisattva. 12) Kim Cang Lợi Bồ Tát: Vajratiksna bodhisattva.

kim cang bộ

Vajrapani (skt)—Nhóm Kim Cang trong Kim Cang Giới hay Thai Tạng Giới (các vị tôn tay cầm chày Kim Cang nêu cao trí của Đức Như Lai, 13 vị tôn trong Kim Cang Thủ bên trái của Đức Đại Nhật Như Lai) —Groups of the same in the Vajradhatu or Garbhadhatu mandalas.

kim cang bộ bồ tát

Vajrapani-bodhisattva (skt)—Kim Cang Bộ Tát Đỏa—Vị Bồ Tát trong Kim Cang Bộ như Bồ tát Phổ Hiền—Vajrapani-bodhisattva, especially P'u-Hsien (Samantabhadra).

kim cang châm

Vajrasena (skt)—Kim kim cang—The straight vajra.

kim cang chúng

Quyến thuộc của chư Kim Cang Thần—The retinue of the Vajradevas.

kim cang chử

Chày Kim Cang rất bén—The Vajra or thunderbolt. It is generally sharp as such, but has various other forms. 1) Một loại vũ khí của binh lính Ấn Độ: The Vajra is also interpreted as a weapon of Indian soldier. 2) Mật giáo và những tông phái khác dùng Kim Cang Chử như một biểu tượng của trí tuệ và sức mạnh để chặt đứt phiền não và khắc phục ma chướng: It is employed by the esoteric sects, and others, as a symbol of wisdom and power over illusion and evil spirits. 3) Độc Cổ Kim Cang Chữ: Khi thẳng thì Kim Cang Chử được gọi là “Độc Cổ”—When straight as a sceptre it is one limbed vajra. 4) Tam Cổ Kim Cang Chử: Khi có ba chia thì gọi là “tam cổ”—When it has three prongs, it is called “three-pronged” vajra. 5) Ngũ Cổ Kim Cang Chử: Khi có năm chia thì gọi là “ngũ cổ”—When it has five prongs, it is called “five-pronged” vajra. 6) Cửu Cổ Kim Cang Chử: Khi có chín chia thì gọi là “cửu cổ”—When it has nine prongs, it is called “nine-pronged” vajra.

kim cang câu vương

The Vajra Hook King.

kim cang diệt định

Kim cang diệt định là giai đoạn sau cùng của Bồ Tát với trí tuệ bất hoại—Diamond meditation, the last stage of a bodhisattva, characterized by firm and indestructible knowledge, penetrating all reality.

kim cang dạ xoa

Vajrayaksa (skt). 1) Vị Thần Hộ Pháp thường được đặt ngay cổng của các chùa. Kim Cang Dạ Xoa hay Phẫn nộ Minh Vương, là một trong năm vị Minh Vương, người hộ trì Phật pháp, nhưng lại là kẻ thù của ma quỷ. Vị nầy có ba mặt sáu tay hay một mặt bốn tay, trụ tại phương Bắc, là vị Phẫn Nộ Tôn Bất Không Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc trong ngũ trí Như Lai (ngũ Phật) của Kim Cang Giới—The guardian spirits represented on the temple gates. One of the five kings of hells or messengers and manifestation of Vairocana. The fierce maharaja as an opponent of evil, he is one of the guardians of Buddhism. He has either three faces and six arms, or one face and four arms. He is a fierce guardian of the north in the region of Amoghasiddhi in the Vajradhatu—See Ngũ Phật. 2) Vị Bồ Tát có răng nanh: A Bodhisattva with the fangs.

kim cang dụ định

Vajra-meditation—See Kim Cang Định and Kim Cang Tam Muội.

kim cang giới

Vajradhatu (skt). • Kim Cang giới là một phần tử của vũ trụ; nó là TRÍ ĐỨC bất hoại của Đức Tỳ Lô Giá Na; nó khởi lên từ trong Thai Tạng Giới—The Diamond or Vajra realm, element of the universe; it is the wisdom of Vairocana in its indestructibility and activity; it arises from the Garbhadhatu (the womb of all things). • Kim Cang Giới được diễn dịch là “Trí” giới—Vajradhatu is interpreted as the realm of intellection. • Kim cang giới tiêu biểu cho thế giới tâm linh của sự toàn giác: The Vajradhatu represents the spiritual world of complete enlightenment. • Mật Giáo coi Kim Cang Giới là Pháp Thân, trong khi Hiển Giáo thì coi nó như là Hóa Thân: The esoteric Dharmakaya doctrine as contrasted with the exoteric Nirnamakaya. • Kimg Cang Giới là yếu tố thứ sáu của tâm, nó biểu hiệu bằng một hình tam giác mũi chúi xuống và mặt trăng tròn tượng trưng cho trí tuệ hay sự hiểu biết—It is the sixth element of “Conscious mind,” and is symbolized by a triangle with the point downwards and by the full moon, which represents “wisdom” or “understanding.” • Kim Cang Giới tương ứng với “quả.”—Vajradhatu corresponds to fruit or effect. • Kim Cang giới là vũ trụ được nhìn như là sự thể hiện của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na mà hình ảnh của Ngài được phản chiếu trong tâm của mọi chúng sanh: Vajradhatu is the universe viewed as the manifestation of Vairocana Buddha whose image is reflected in the heart of every being.

kim cang giới ngũ bộ

Five divisions of the Vajradhatu represented by five Dhyani-Buddhas: 1) Trung Đài Đại Nhựt Như Lai: Vairocana in the center. 2) Đông Độ A Súc Bệ Phật: Aksobhya in the east. 3) Nam Phương Bảo Sanh Phật: Ratnasambhava in the south. 4) Tây Phương A Di Đà Phật: Amitabha in the west. 5) Bắc Phương Bất Không Thành Tựu: Amoghasiddhi or Sakyamuni in the north. ** For more information, please see Ngũ Phật

kim cang giới thai tạng giới

Vajradhatu and Garbhadhatu (skt). (I) Kim Cang Giới: Vajradhatu (skt)—See Kim Cang Giới. (II) Thai Tạng Giới: Garbhadhatu (skt). 1) Thai Tạng Giới là kho chứa mọi lý luận của trí: Garbhadhatu is the womb or store of the Vairocana reason or principles of the wisdom. 2) Nơi tồn chứa tất cả mọi LÝ LUẬN của Tỳ Lô Giá Na bất hoại trí—The womb or store of the Vairocana reason or principles of the Vairocana's indestructible wisdom—The womb or store of all things. 3) Thai Tạng Giới được diễn dịch như là chất liệu căn bản của Kim Cang Giới—Garbhadhatu is interpreted as the substance underlying the Vajradhatu (realm of intellection). 4) Thai Tạng Giới tương ứng với nhân: Garbhadhatu corresponds to the cause.

kim cang huệ

Trí tuệ thấu rõ lý của thực tướng mà phá vỡ chư tướng hay trí tuệ ảo giác—Diamond-wisdom, which by its reality overcomes all illusory knowledge.

kim cang hộ bồ tát

Vị Bồ Tát bảo hộ che chở cho con người với lòng đại bi như một chiếc nón sắt bao bọc—The Bodhisattva Vajra pala, who protects men like a helmet and surrounds them like mail by his great pity.

kim cang khẩu

Lời nói hay giáo thuyết xuất ra từ kim khẩu của Phật bền vững như kim cương bất hoại—Diamond mouth (of a Buddha)—The diamond-like firmness of the Buddha doctrine.

kim cang kinh

Vajracchedika-prajnaparamita-sutra—Kim cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh, tóm lược cô đọng của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, trước tiên được dịch sang Hoa ngữ bởi ngài Cưu Ma La Thập, sau đó có nhiều bản dịch khác—The Diamond Sutra, a condensation of the Prajnaparamita; first translated into Chinese Kumarjiva, later by others. ** For more information, please see Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.

kim cang linh

Chuông Kim Cang có công dụng làm tăng sự chú tâm và phấn chấn người nghe—The diamond or vajra bell for attracting the attention of the objects of worship, and stimulating all who hear it.

kim cang linh bồ tát

Vajra-ghanta (skt)—Vị Bồ Tát tay cầm chuông trong Kim Cang Mạn Đồ La—A Bodhisattva holding a bell in the Vajradhatu mandala.

kim cang luân

1) Kim Cang Pháp Luân: Bánh xe Pháp Kim cang—The diamond or vajra wheel. 2) Kim Cang Thừa: Vajrayana (skt)—Symbolical of the esoteric sects. 3) Kim luân của tầng đất thấp nhất: The lowest of the circles beneath the earth.

kim cang luân sơn

See Kim Cang Vi Sơn.

kim cang luân tọa

See Đại Nhân Đà La Tọa.

kim cang lực

Sức mạnh như kim cương, sức mạnh không ai chống nổi—Vajra-power—Irresistible strength.

kim cang lực sĩ

See Kim Cang Thần, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim Cang Mật Tích.

kim cang môn

Cổng Kim Cang trong Thai Tạng Mạn Đồ La—The diamond door of the Garbhadhatu mandala.

kim cang mạn đồ la

See Kim Cang Giới, and Kim cang Giới Ngũ Bộ.

Kim Cang Mật Tích

(s: Guhyapāda-vajra, 金剛密跡): còn gọi là Mật Tích Kim Cang (密跡金剛), Mật Tích Lực Sĩ (密跡力士), Kim Cang Thủ Dược Xoa (金剛手藥叉), Kim Cang Lực Sĩ (金剛力士), Kim Cang Mật Tích Đại Quỷ Thần Vương (金剛密跡大鬼神王); là loại quỷ thần có thần lực, thuộc thần thủ hộ của Phật Giáo, là một trong 20 vị trời, do Tỳ Sa Môn Thiên (s: Vaiśravaṇa, p: Vessavaṇa, 毘沙門天) thống quản. Nguyên lai vị này là thị giả của Tỳ Nữu Thiên (s: Viṣṇu, 毘紐天). Vị trí của Mật Tích Kim Cang thấp hơn Đế Thích Thiên và Tỳ Sa Môn Thiên, hiện hình tướng giận dữ, tay cầm Chày Kim Cang (s: vajra, 金剛杵, Kim Cang Chử); thống lãnh 500 Kim Cang Lực Sĩ (s: Vajradhāra, 金剛力士, thần Dạ Xoa), chủ yếu phòng thủ cửa ra vào cõi trời. Vị này cư trú tại Khoáng Dã Thành (曠野城, tức A La Tỳ Quốc [s: Alāvī, p: Ālavī, 阿羅毗國]); sau khi đức Thích Tôn thành đạo, thường theo hầu bên Ngài, chịu trách nhiệm bảo vệ Phật, hàng phục ngoại đạo cũng như quỷ thần. Phật Giáo Đại Thừa tôn thờ Mật Tích Kim Cang như là Bồ Tát hóa thân. Tương truyền, trong thời quá khứ, vị này có tên là Thái Tử Pháp Ý (法意), từng thệ nguyện bảo vệ cho ngàn vị huynh trưởng, cho đến khi nào những người này thành Phật mới thôi. Một trong những huynh trưởng đó là Thái Tử Pháp Niệm (法念), tức là Phạm Thiên. Nhân vì bảo hộ cho đức Phật lâu dài, Phật Giáo thời kỳ đầu cũng tín phụng, Mật Tích Kim Cang đã lãnh thọ nhiều giáo pháp từ Ngài. Mật Tông kính ngưỡng Mật Tích Kim Cang là hóa thân của Bồ Tát Kim Cang Thủ (s: Vajra-pāṇi, Vajra-dhara, 金剛手). Hình tượng vị này thường đứng thủ hộ hai bên phải trái ngay cổng tự viện Phật Giáo, vị mở miệng (dạng A [阿]) và vị ngậm miệng (dạng Hồng [吽]), ở trần với gân cốt rắn chắc nỗi cộm, hung dữ. Trong Thiên Thủ Quan Âm Tạo Thứ Đệ Pháp Nghi Quỹ (千手觀音造次第法儀軌, Taishō Vol. 20, No. 1068) có đoạn rằng: “Mật Tích Kim Cang Sĩ, xích hồng sắc cụ tam nhãn, hữu trì Kim Cang Chử, tả thủ quyền an yêu (密跡金剛士、赤紅色具三眼、右持金剛杵、左手拳安腰, Mật Tích Kim Cang Sĩ, màu đỏ hồng đủ ba mắt, tay phải cầm Chày Kim Cang, tay trái nắm chặt để ngang lưng).” Hay trong Phật Nhập Niết Bàn Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Ai Luyến Kinh (佛入涅槃密跡金剛力士哀戀經, Taishō Vol. 12, No. 394) lại có đoạn rằng: “Mâu Ni Thế Tôn tại Câu Thi Na Thành Ta La lâm gian, Bắc thủ nhi ngọa, sơ nhập Niết Bàn thời, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, kiến Phật diệt độ bi ai áo não (牟尼世尊在拘尸那城娑羅林間、北首而臥、初入涅槃時、密跡金剛力士、見佛滅度悲哀懊惱, đức Mâu Ni Thế Tôn tại Thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La, nằm xoay mặt về hướng Bắc, khi mới nhập Niết Bàn, Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ, thấy Phật diệt độ thì buồn rầu áo não).”

kim cang mật tích

Mật Tích Kim Cang—Mật Tích Lực Sĩ—Kim Cang Lực Sĩ—Kim Cang Thủ—Chấp Kim Cang—Những vị tay cầm chày kim cang thể hiện đại uy ủng hộ Phật pháp. Đức Đại Nhật Như Lai lấy các vị Kim Cang Mật Tích nầy làm nội quyến; lấy các vị Phổ Hiền, Văn Thù làm đại quyến hay ngoại quyến. Cũng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lấy các vị Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…, làm nội quyến, lấy các vị Bồ Tát làm đại quyến—The deva-guardians of the secrets of Vairocana, his inner or personal group of guardians in contrast with the outer or major group of P'u-Hsien, Manjusri, etc. Similarly, Sariputra, or Maudgalyayana, the sravakas, etc., are the inner guardians of Sakyamuni, the Bodhisattvas being the major group.

kim cang ngữ ngôn

See Kim Cang Niệm Tụng.

kim cang niệm tụng

Kim cang Ngữ Ngôn—Niệm thầm—Silent repetition.

kim cang phan

Vajraketu (skt)—Cờ treo trên cột đầu rồng—A flag hung to a pole with a dragon's head.

kim cang phan bồ tát

Vajraketu Bodhisattva (skt)—Vị Bồ Tát cầm cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer, one of the sixteen in the Vajradhatu group.

kim cang pháp giới cung

Cung điện của Thai Tạng Giới, nơi trụ của Đức Đại Nhật Như Lai (kim cương là thực tướng của Như Lai, pháp giới là trí thể của thực tướng. Pháp thân của Đức Đại Nhật Như Lai trụ ở trí thể của thực tướng)—The palace or shrine of Vairocana in the Garbhadhatu.

kim cang phật

Vajra-buddha (skt)—Đức Đại Nhật Như Lai, có lúc chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni như là hóa thân của chân lý, trí tuệ và thanh tịnh—Vairocana, the Sun-Buddha; sometimes applied to Sakyamuni as embodiment of the Truth, of Wisdom, and of Purity.

kim cang phật tử

Con của Kim Cang Phật hay con của Đức Đại Nhật Như Lai, từ dùng để chỉ những người mới được làm phép gia nhập vào Mật Giáo—Son of the Vajra-buddha, i.e. of Vairocana, a term applied to those newly baptized into the esoteric sect.

kim cang quyền

Nắm tay Kim Cang hay hai tay nắm lại và để ngay trước ngực (có bốn loại quyền: nắm tay thông thường, để ngón cái nằm thẳng, đặt ngón cái vào lòng bàn tay, nắm tay lại với nhau)—Vajra-fist—The hands doubled together on the breast.

kim cang quyền bồ tát

Một trong những vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang—One of the Bodhisattvas in the Diamond group.

kim cang quán

Phép Kim Cang quán là phép quán xuyên qua chân lý—The diamond insight or vision which penetrates into reality.

kim cang sát

Vajraksetra (skt)—Tên gọi các chùa hay tự viện—Buddhist monastery or building.

kim cang tam muội

Vajravimbopama (skt)—Tam muội thông suốt các pháp giống như Phật tánh chân như. Đây là loại tam muội cao nhất mà người tu Phật có thể đạt được. Nhờ tam muội nầy mà người tu có thể đoạn diệt cái hình thức vi tế nhất của phiền não—A samadhi on the idea that all things are of the same Buddha-nature. This is the highest samadhi attainable by the Buddhist yogin who by this destroys the subtlest form of the klesa. ** For more information, please see Kim Cang Định.

kim cang thiên

Vị Trời hộ pháp trong nhóm Kim Cang Giới—The vajra-deva in the Vajradhatu group.

kim cang thân

xem thân kim cang. ; Kiên Thân (thân kiên cố)—Chân Thân (thân chân thật)—Thân kim cang bất hoại của Phật—Golden body—The diamond body, the indestructible body of Buddha.

kim cang thần

1) Vị Thần hộ pháp (bảo hộ chư Tăng)—The guardian spirits of the Buddhist order. 2) Tượng hộ pháp lớn nơi cổng các tự viện: The large idols at the gate (entrance) of Buddhist monasteries. ** For more information, please see Kim Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim Cang Mật Tích.

kim cang thể

Thân thể bền vững như kim cương, nói về công đức của Phật thân (thân của Như Lai là thể kim cương. Mọi thứ ác đều đã cắt đứt, mọi điều vui sướng đều đã huân tập)—The diamond body, that of Buddha and his merit.

kim cang thủ

Vajrapani (skt)— 1) Vị Thần tay cầm Kim Cang Chùy: A holder (protector) of the vajra. 2) Hình ảnh hay dấu hiệu Kim Cang Chùy: Any image or symbol of a Vajra. ** For more information, please see Đại Thắng Kim Cang and Kim Cang Mật Tích.

kim cang thủy

Nước Kim Cương, tên một thứ nước mà người thọ giới phải uống khi làm nghi thức quán đảnh trong Mật Giáo—Diamond or Vajra-water, drunk by a person who receives the esoteric baptismal rite.

kim cang thừa

Vajrayana (skt)—Tên khác của tông phái Chân Ngôn, giáo pháp sắc bén như kim cương. Kim Cang Thừa thường được gọi đơn giản là Phật Giáo Tây Tạng và nó được chia ra làm bốn tông phái chính: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa và Gelugpa—The Diamond Vehicle, another name of the Shingon. The Vajrayana is simply often called Tibetan Buddhism, and it is divided into four main sects: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa and Gelugpa. 1) Nyingmapa: Giáo phái Nyingmapa là giáo phái cổ nhất của Phật giáo Tây Tạng, được ngài Liên Hoa Sinh hay Đạo sư Rinpoche sáng lập vào thế kỷ thứ 8 dưới triều vua Trisong Detsen: The Nyingmapa sect is the oldest Tibetan Buddhism, founded by Padmasambhava or Guru Rinpoche in the 8th century under the reign of King Trisong Detsen (742-797). 2) Kagyupa: Phái Kagyupa được thành lập bởi Marpa Chokyi Lodoe, một dịch giả Tây Tạng nổi tiếng vào thế kỷ 11 và vị đại đệ tử của ngài là ngài Milarepa vào thế kỷ thứ 12: The Kagyupa sect was founded by Marpa Chokyi Lodoe (1012-1099), a famous Tibetan translator in the 11th century and his outstanding disciple Milarepa (1040-1123) in the 12th century. 3) Sakyapa: Phái Sakyapa được vị dịch giả Tây Tạng là Drogmi Sakya Yeshe sáng lập vào thế kỷ thứ 11: The Sakyapa sect was founded by the Tibetan translator Drogmi Sakya Yeshe (992-1074) in the 11th century. 4) Gelugpa: Phái Gelugpa là phái trẻ nhất và đông nhất trong các phái Tây Tạng, được ngài Tông Khách Ba hay Je Rinpoche sáng lập vào thế kỷ thứ 14: The Gelugpa sect, the youngest and largest among the schools of Tibetan Buddhism, was founded by Thongkhapa (1357-1419) or Je Rinpoche in the 14th century.

Kim Cang Trí

(s: Vajrabodhi, j: Kongōchi, 金剛智, 671-741): con thứ 3 của vua Iśanavarma miền Trung Ấn, xuất gia ở tu viện Nālandā (娜爛陀寺, Na Lan Đà Tự), học cả Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa. Đến năm 31 tuổi, ông được Bồ Tát Long Trí (龍智) truyền trao cho Mật Giáo thuộc hệ Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) tại Nam Ấn; sau đó, ông đi qua Tích Lan, Mathura và đến Trung Quốc bằng đường biển. Tại Trường An (長安) và Lạc Dương (洛陽), ông chuyên tâm truyền bá Mật Giáo. Ông có dịch bộ Lược Xuất Niệm Tụng Kinh (略出念誦經) 4 quyển thuộc loại Kim Cang Đảnh Kinh, dùng chú pháp của Mật Giáo như phép cầu mưa, cho nên được triều đình rất kính phục. Ông là người có công trong việc làm cho Mật Giáo cắm sâu gốc rễ tại Trung Quốc dưới thời nhà Đường. Ông được kính ngưỡng như là vị tổ phú pháp thứ 5 và tổ truyền trì thứ 3 của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản.

kim cang trí

1) For more information, please see Tự Giác Thánh Trí. 3) Kim Cang Trí Pháp Sư—Dharma Master Vajrabodhi: • Tên của một vị sư người Tây Ấn, đến Trung Quốc vào khoảng năm 619 sau Tây Lịch, dưới thời nhà Đường; người ta nói ông chính là người đầu tiên giới thiệu Du Già Luận và là sơ tổ của Mật Tông tại Trung Quốc, nhưng có thuyết lại cho rằng chính A Mục Khư Bạt Triết La mới chính là Sơ Tổ Mật Tông Trung Quốc—Name of an Indian monk who came to China around 619 A.D., during the T'ang dynasty; he is said to have introduced the Yogacara system and founded the esoteric school, but this is attributed to Amoghavajra. • Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): Ông là người Nam Ấn, học đạo tại Na Lan Đà. Năm 15 tuổi ông sang Tây Ấn và học tập Nhân Minh Luận trong bốn năm với Pháp Xứng (Dharmakirti), nhưng trở về Na Lan Đà để thọ đại giới. Trong sáu năm, ông chuyên học Luật (Vinaya) và trung Quán Luận (Madhyamika) với Santabodhi, ba năm kế đó ông nghiên cứu Du Già Luận (Yogacara) của Vô Trước, Duy Thức Luận (Vijnaptimatra) của Thế Thân và Biện Trung Biên Luận (Madhyanta-vibhanga) của An Huệ (Sthiramati) với Jinabhadra tati Ca Tỳ La Vệ, vùng Bắc Ấn. Rồi bảy năm sau nghiên cứu Kim Cang Đảnh (Vajra-sekhara) và các kinh Mật giáo khác với Long Trí (Nagabodhi) ở Nam Ấn. Sau cùng, ông đáp thuyền theo đường Nam Hải đến Lạc Dương vào năm 720. Ông dịch thuật nhiều kinh điển quan trọng của Mật giáo, như Kim Cang Đảnh, vân vân. Năm 741, trong lúc ở Trường An, ông được phép trở về Ấn Độ nhưng mất trên đường về Lạc Dương: Vajrabodhi came from South India, became a novice at Nalanda. At the age of fifteen he went to West India and studied logic for four years under Dharmakirti, but came again to Nalanda where he received full ordination at twenty. For six years he devoted himself to the study of Discipline (Vinaya) text and the Middle Doctrine (Madhyamika) under Santabodhi; for three years he studied the Yogacara by Asanga, the Vijnaptimatra by Vasubandhu and the Madhyanta-vibhanga by Sthiramati under Jinabhadra, at Kapilavastu, North India; and for seven years he studied the Diamond Head (Vajra-sekhara) and other mystical texts under Nagabodhi, in South India. At last, he sailed to the southern sea and reached Lo-Yang, China, in 720. He translated several important mystical texts, such as the Vajra-sekhara. In 741, while in Ch'ang-An, he obtained permission to return to India, but on his way he died in Lo-Yang.

kim cang trí tam tạng

Vajrabodhi (skt)—Bạt Viết La Bồ Đề—See Kim Cang Trí (2).

kim cang trượng

See Kim Cang Chử.

kim cang tuệ

Diamond wisdom—See Kim Cang Huệ.

kim cang tác

Vajrapasa (skt)—Dây thòng lọng kim cang trong tay của Bất Động Minh Vương—The diamond lasso or noose in the hand of the subduer of demons (Arya-achlanatha-raja) and others.

kim cang tác bồ tát

Kim Cang Tác Bồ Tát trong Kim cang Giới Mạn Đồ La, người mang lưới từ bi quấn lấy tâm hồn của chúng sanh hữu tình—Vajrapasa-bodhisattva in the Vajradhatu mandala, who carries the snare of compassion to bind the souls of the living.

Kim Cang Tát Đỏa

(s: Vajra-sattva, 金剛薩埵): từ vajra, âm dịch là Phược Nhật Ra (嚩日囉), nghĩa là kim cang (金剛); sattva có âm dịch là tát đỏa (薩埵), nghĩa là dũng mãnh, hữu tình. Cho nên Kim Cang Tát Đỏa là từ kết hợp của ý dịch và âm dịch. Nó còn được gọi là Kim Cang Thủ (金剛手), Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ (金剛手祕密主), Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ (執金剛祕密主), Trì Kim Cang Cụ Tuệ Giả (持金剛具慧者), Kim Cang Thượng Thủ (金剛上首), Đại Nhạo Kim Cang (大樂金剛), Tô La Đa Kim Cang (蘇羅多金剛), Nhất Thiết Như Lai Phổ Hiền (一切如來普賢), Phổ Hiền Tát Đỏa (普賢薩埵), Phổ Hiền Kim Cang Tát Đỏa (普賢金剛薩埵), Kim Cang Thắng Tát Đỏa (金剛勝薩埵), Kim Cang Tạng (金剛藏), Chấp Kim Cang (執金剛), Bí Mật Chủ (祕密主), Kim Tát (金薩). Từ Kim Cang Tát Đỏa tượng trưng cho tâm bồ đề kiên cố bất hoại, cũng như diệu lý gọi là phiền não tức bồ đề (煩惱卽菩提). Trong Mật Giáo, danh xưng này có 4 ý nghĩa khác nhau: (1) Chỉ vị Tổ truyền pháp thứ 2 của Mật Giáo. Hệ Mật Giáo là do Đại Nhật Như Lai (s: Mahāvairocana, 大日如來) truyền cho Kim Cang Tát Đỏa. Vị này nguyên là vị thượng thủ của các thần Chấp Kim Cang (執金剛) trong hàng quyến thuộc của Đại Nhật Như Lai. Trong Đại Nhật Kinh (大日經) gọi vị này là Kim Cang Thủ (金剛手) hay Bí Mật Chủ (祕密主); trú tại Kim Cang Pháp Giới Cung (金剛法界宮). Tương truyền Ngài đã kết tập hai bộ kinh điển do đức Đại Nhật Như Lai thuyết về sự thể nghiệm tâm linh của bản thân, và hai bộ ấy vẫn còn an trí tại miền Nam Thiên Trúc. (2) Là một trong 37 đấng chủ tôn của Kim Cang Bộ Viện (金剛部院) trong Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅), an vị ở phía trước đức A Súc Như Lai (阿閦如來) trong vòng nguyệt luân ở phương Đông; chủ về đức của phát bồ đề tâm; là một trong 4 vị thân cận của A Súc Như Lai. Vị này đầu đủ hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền (s: Samantabhadra, 普賢) để làm cho đầy đủ hết thảy chúng sanh, khiến cho tất cả Bồ Tát thọ dụng Trí Tam Ma Địa (三摩地智). Hơn nữa, vị Bồ Tát này thể hiện bồ đề tâm thanh tịnh vốn có của chúng sanh, đồng thể mà khác tên với Bồ Tát Phổ Hiền. Mật hiệu của vị này là Chơn Như Kim Cang (眞如金剛), Đại Dũng Kim Cang (大勇金剛), Dũng Tấn Chấp Kim Cang (勇進執金剛). Chủng tử của vị này có Tam Muội Da Hình (三昧耶形), Tôn Hình (尊形); hoàn toàn khác nhau trong các hội như Thành Thân Hội (成身會), Tam Muội Da Hội (三昧耶會), Vi Tế Hội (微細會), Cúng Dường Hội (供養會), v.v. Trong Thành Thân Hội, hình Tam Muội Da của vị này là Ngũ Cổ Chử (五股杵, Chày Năm Đầu). Hình tượng Bồ Tát, tay phải cầm Ngũ Cổ Chử, biểu thị khả năng phá tan 10 thứ phiền não, tròn đầy 10 Ba La Mật; hoặc biểu thị Tam Muội của 5 vị Phật. Tay trái Ngài cầm Kim Cang Linh (金剛鈴), để làm kinh động vô minh của tất cả chúng sanh. (3) Là đấng chủ tôn của 17 vị trong Kim Cang Giới Mạn Trà La Lý Thú Hội (金剛界曼荼羅理趣會), an vị ở trung ương của đồ hình Mạn Trà La, là Chánh Pháp Luân Thân (正法輪身) của A Súc Như Lai. Ngài là tượng trưng cho đức tánh vọng thể của 4 phiền não, gồm Dục (欲), Xúc (觸), Ái (愛) và Mạn (慢); thể hiện cho yếu chỉ phiền não tức bồ đề tâm. Cho nên, vị này cùng với 4 Bồ Tát khác như Kim Cang Dục (金剛欲), Kim Cang Xúc (金剛觸), Kim Cang Ái (金剛愛), Kim Cang Mạn (金剛慢), đồng thời hiển hiện tướng Ngũ Bí Mật Kim Cang (五祕密金剛). Hình Tam Muội Da của vị này cũng là Ngũ Cổ Chử. Về hình tuợng của Ngài, toàn thân có màu trắng, đội mũ báu Ngũ Trí, tay trái cầm cái Linh, đặt trên bắp đùi trái, biểu thị nghĩa “đại ngã mạn” vui mừng. Tay phải cầm Ngũ Cổ Chử, biểu thị khai mở mầm mống Ngũ Trí Bồ Đề (五智菩提) vốn có của chúng sanh. Thông thường, trong Mật Giáo khi tu Phổ Hiền Pháp (普賢法), Ngũ Bí Mật Pháp (五祕密法), Phổ Hiền Diên Mạng Pháp (普賢延命法), v.v., đều lấy vị này làm đấng bổn tôn. (4) Là đấng chủ tôn của Đại Trí Kim Cang Bộ (大智金剛部) trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La Kim Cang Bộ Viện (胎藏界曼荼羅金剛部院); chủ về đức tánh hàng phục, lấy việc phá tan các ác chướng làm thệ nguyện. Về hình tượng của vị này, toàn thân có màu da, đầu hơi nghiêng về bên phải; trong lòng bàn tay phải có Tam Cổ Chử (三股杵).

kim cang tát đỏa

Vajrasattva-mahasattva (skt)—Kim Cang Thủ. 1) Bí Mật Chủ Phổ Hiền, vị tổ thứ hai trong tám vị tổ Chân Ngôn, vị tổ thứ nhất là Đức Đại Nhật Như Lai: A form of P'u-Hsien (Samantabhadra), reckoned as the second of the eight patriarchs of the Shingon, Vairocana was the first. 2) Các vị Chấp Kim Cang Thần, hay các vị Bồ Tát, đặc biệt chỉ ngài Kim Cang Nguyệt Luân ở Đông độ của Kim Cang Mạn Đồ La: All vajra-beings, or vajra-bodhisattvas; especially those in the moon circle in the east of the Diamond mandala. 3) Ngài Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Bồ tát (tiền thân của Đức Phật Thích Ca): Sakyamuni in a previous incarnation as a vajrasattva. 4) Tất cả chúng hữu tình đều là “Kim cang Tát Đỏa” vì tất cả đều có Phật tính: All beings are vajrasattva, because of their Buddha-nature. 5) Tất cả những người sơ cơ tín hành đều là Kim Cang tát Đỏa: All beginners in the faith and practice are vajrasattva. 6) Tất cả quyến thuộc của Ngài A Súc Bệ Phật đều là Kim Cang Tát Đỏa: All the retinue of Aksobhya are vajrasattva. 7) Bất cứ vị Đại Phổ Hiền (bất cứ ai thành tựu mười thệ nguyện lớn đều là trưởng tử Như Lai, và đều được gọi là Phổ Hiền) nào cũng đều là Kim Cang Tát Đỏa: Any Great P'u-Hsien is a vajrasattva.

kim cang tâm

Cái tâm lớn của Bồ Tát bền vững và bất hoại như kim cương—Diamond heart, that of a bodhisattva, i.e. infrangible, unmoved by illusion.

kim cang tâm điện

Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện hay Kim Cang Giới Mạn Đà La, nơi trụ của Phật Tỳ Lô Giá Na—The shrine of the indestructible diamond-brillant heart—The Vajradhatu (mandala) in which Vairocana dwells.

kim cang tạng

Vajragarbha (skt). 1) Kho Tạng Kim Cang: The Diamond treasury. 2) Vị Bồ Tát trong Kinh Lăng Già: The Bodhisattva in the Lankavatara sutra.

kim cang tạng bồ tát

Vajra Treasury Bodhisatva.

kim cang tạng vương

1) Kiếp kế tiếp của Kim cang Tạng Bồ Tát: A form of the next entry of the Vajra Treasury Bodhisattva. 2) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.

kim cang tọa

Vajrasana (skt). 1) Kim Cang Tòa nơi Đức Phật ngồi khi đắc Chánh Đẳng Chánh Giác—Bodhimanda—Buddha's seat on attaining enlightenment—The Diamond throne. 2) Dáng vẻ lúc ngồi: The posture or manner of sitting.

kim cang tử

Rudraksa (skt)—Hạt kim cang để làm chuỗi—A seed similar to a peachstone used for beads. ** For more information, please see Ác Xoa, and Ác Xoa Tụ.

kim cang tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong ấp Bình Cang, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Nam Việt Nam. Chùa Kim cang được dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 17 và đã được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn bản Kinh Kim Cang bằng chữ Hán được khắc trên gỗ—Name of a pagoda located in Bình Cang hamlet, Bình Thạnh village, Thủ Thừa district, Long An province, South Vietnam. Kim Cang Pagoda was built in the middle of the nineteenth century and has been rebuilt many times. The copies of the Diamond Sutra in Chinese character, engraved in wood, has still been kept in the pagoda.

kim cang vi sơn

1) Núi Thiết Vi bao quanh thế giới: The concentric iron mountains about the world. 2) Núi Tu Di: The Sumeru. 3) Kim Sơn, tên của một ngọn núi trong huyền thoại: Golden Mountain, name of a fabulous mountain.

kim cang viêm

See Hỏa Giới and Hỏa Viện.

kim cang vương

Cái thù thắng (mạnh nhất và tốt nhất) của kim cang—The Vajra-king, i.e. the strongest, or finest, e.g. a powerful bull.

kim cang vương bảo giác

Ngọc Ma Ni nẩy nở trong Vô Thượng Giác, đức hiệu của Như Lai Chánh Giác—The diamond royal-gem enlightenment, i.e. that of the Buddha.

kim cang vương bồ tát

Một trong 16 vị Bồ Tát trong Kim Cang Giới—The Diamond King Bodhisattva, one of the sixteen bodhisattvas in the Diamond realm.

kim cang đoạn

Vajracchedika (skt)—Cắt đứt Kim Cang, một đoạn văn ngắn trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa—Diamond cutter, a short paragraph in the Perfection of Wisdom Sutra (Prajnaparamita Sutra)—See Kinh Kim Cang in Appendix G.

kim cang đài

Diamond Lotus.

kim cang đàm

Hỏa Viện—Giới Ấn—Mật Phong Ấn—Vòng tròn lửa ngăn cấm sự xâm nhập của ma quỷ—Diamond-blaze, acircle of fire to forbid the entry of evil spirits. ** For more information, please see Hỏa Ấn, Hỏa Giới, and Hỏa Viện.

kim cang đảnh

1) Vương miện Kim Cang: The vajra (diamond) apex or crown. 2) Tên gọi chung các kinh của Mật Giáo: A general name of the esoteric doctrine and sutras of Vairocana.

kim cang đảnh kinh

Kim Cang Đảnh Kinh là kinh chính của Kim cang Đảnh Tông, một trong ba bộ kinh chính của Chân Ngôn Giáo—Vajra-crown sutra, the authority for the Vajra-Crown sect, one of the three main sutras of the Shingon.

Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh

(s: Sarvatathāgatatattvasaṃgrahanāmamahāyāna-sūtra, t: De-bshin-gregs-thams-cad-kyi de-kho-na-ñid bsdus-papa-shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, c: Chin-kuang-ting-i-ch'ieh-ju-lai-chên-shih-shê-ta-hsien-chêng-ta-chiao-wang-ching, j: Kongōchōissainyoraishinjitsusetsudaijōgenshōdaikyōōkyō, 金剛頂一切如來眞實攝大乘現證大敎王經): còn gọi là Kim Cang Đảnh Du Già Chơn Thật Đại Giáo Vương Kinh (金剛頂瑜伽眞實大敎王經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經), Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Kinh (攝大乘現證經), Đại Giáo Vương Kinh (大敎王經), 3 quyển, hiện còn, Taishō 18, 207, No. 865, Bất Không (不空, 705-774) dịch vào năm 753.

kim cang định

Vajrasamadhi (skt)—Kim Cang Dụ Định—Kim Cang Tam Muội—Thiền định của Bồ tát ở ngôi tối hậu. Người tu hành và đắc phép thiền định nầy sẽ được trí bền vững, sắc bén và bất hoại như kim cương, có thể cắt đứt tất cả phiền não và tà kiến thiên lệch—Vajra-meditation—Samadhi as a state of great stability, that of the last stage of the Bodhisattva, characterized by firm, indestructible knowledge, penetrating all reality; attained after all remains of illusion and wrong views have been cut off. ** For more information, please see Kim Cang Tam Muội.

kim cang đồng tử

Vajrakumara (skt). 1) Kim Cang Sứ Giả của chư Phật và chư Bồ Tát: A Vajra-messenger of the Buddhas or Bodhisattvas. 2) Hóa thân của Đức Phật A Di Đà thành một đứa trẻ tay cầm kim cương chùy, mặt có vẻ phẫn nộ: An incarnation of Amitabha in the form of a youth with fierce looks holding a vajra.

Kim chi

(金枝): cành vàng, từ quý xưng con cháu đế vương, đặc biệt chỉ cho con gái nhà quyền quý; vì vậy thường xuất hiện từ “kim chi ngọc diệp (金枝玉葉, cành vàng lá ngọc).” Trong Dật Chu Thư (逸周書), phần Võ Cảnh (武儆), có đoạn: “Vương cáo mộng, Bính Thìn xuất kim chi (王告夢、丙辰出金枝, nhà vua báo cho biết giấc mộng rằng vào giờ Bính Thìn sinh ra cành vàng).” Hay trong Hưởng Thái Miếu Nhạc Chương (享太廟樂章), phần Hy Tông Vũ (懿宗舞) lại có câu: “Kim chi phồn mậu, ngọc diệp diên trường (金枝繁茂、玉葉延長, cành vàng sum sê, lá ngọc dài tốt).” Trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) quyển 12 cũng có đoạn: “Kim chi nhi chi chi đĩnh tú, ngọc diệp nhi diệp diệp tương thừa, pháp luân đại chuyển ư Chi Na, đế nhật trường huy ư Chấn Đán (金枝而枝枝挺秀、玉葉而葉葉相承、法輪大轉於支那、帝日長輝於震旦, cành vàng mà cành cành tươi tốt, lá ngọc mà lá lá liền nhau, xe pháp vận chuyển nơi Chi Na [Trung Hoa], trời vua sáng tỏ chốn Chấn Đán [Trung Hoa]).” Trong bài hát Giọt Lệ Đài Trang có câu: “Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng, ngày xưa ai quyền quý cao sang.”

kim chi ngọc diệp

Gold branches and jade leaves—Noble.

kim châm song toả

(金針雙鏁) I. Kim Châm Song Tỏa. Chỉ cho 2 vị Bồ tát: Kim cương châm (Phạm: Vajra-sùci) và Kim cương tỏa (Phạm: Vajra-zfịkhalà) trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 633 thượng), nói: Kế đến, ở bên phải Bộ Mẫu đặt Đại lực Kim cương châm. (...) Vị Bồ tát này dùng trí tuệ nhất tướng nhất duyên bền chắc sắc bén thấu suốt các pháp cho nên gọi là Kim cương châm. (...) Rồi bên trái Chấp kim cương đặt Kim cương thương yết la (Hán dịch: Kim cương tỏa). Vị Bồ tát này cầm ấn tướng nhiều cái vòng móc liền nhau, 2 đầu có hình cây chày kim cương (...). Ngài dùng trí ấn này thu nhiếp tất cả chúng sinh ương ngạnh khó dạy, làm cho họ không thoái tâm Bồ đề vô thượng, vì thế gọi là Kim cương tỏa. (xt. Kim Cương Châm Bồ Tát, Kim Cương Tỏa Bồ Tát). II. Kim Châm Song Tỏa. Cây kim dùng để khâu cho 2 miếng vải dính lại, tượng trưng ý nghĩa trong và ngoài dung thông vô ngại. Nhóm từ này ví dụ sự và lí, sai biệt và bình đẳng tương tức nhau, cùng 1 thể. Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 526 thượng), nói: Có kim châm song tỏa, đường may bao quát hết.

kim các tự

(金閣寺) I. Kim Chàng. Loại cờ phan treo ở điện Phật để trang trí. Loại cờ phan này phổ thông được may bằng gấm hoặc bằng lụa mầu vàng, hình trụ dài. II. Kim Chàng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho luân cái trên đỉnh tháp. (xt. Thừa Lộ Bàn).

Kim cương

金剛; S: vajra; T: dorje (rDo-rje); cũng gọi là Kim cương chử (金剛杵), Kim cương chùy (金剛鎚);|Trong Ấn Ðộ giáo, Kim cương có nghĩa là »sấm sét«, một vũ khí của Ðế Thích (s: indra). Trong đạo Phật, Kim cương không phải là một vũ khí mà là biểu tượng của sự bất hoại. Ðó là biểu tượng của Chân như, của tính Không (s: śūnyatā), của thể tính hằng tồn tại của hiện tượng. Như Kim cương, tính Không không thể bị huỷ hoại vì chưa hề sinh thành. Tính Không cũng trong sáng rực rỡ thanh tịnh như Kim cương, mặc dù tính Không là gốc của thiên hình vạn trạng hiện tượng.||H 33: Kim cương chử|Tính Không là gốc mọi vật nhưng không phải là một »vật«, như Thiền tông hay nói. Mọi hiện tượng đều khác nhau, nhưng chúng là Không, tính Không với chúng tương đồng, không hề khác. Ðó là một kiến giải không thông qua suy luận mà »hiểu« được, chỉ được trực nhận trong một trạng thái giác ngộ.|Tại Tây Tạng Kim cương (chử) được viết là Dor-je (rDo-rje), là »chúa tể loài đá«, là biểu tượng »dương tính« của đạo giác ngộ, là khía cạnh Phương tiện (s: upāya). Ngược lại, chuông đồng (t: drilbu) là biểu tượng của »âm tính« và là khía cạnh trí Bát-nhã. Hai mặt này biểu tượng tính nhị nguyên của toàn thể thế giới hiện tượng. Tính nhị nguyên này sẽ tự hoại diệt trong thiền định.|Một trong năm Phật gia có thuộc tính cơ bản là tính bất hoại của Dor-je. Vị thầy nắm vững và truyền dạy các phương tiện của Kim cương thừa được gọi là Kim cương đạo sư (t: dorje lopon).||H 34: Kim cương phổ chử (金剛普杵; s: viśvava-jra)|Một pháp khí có tính chất gần giống với Kim cương, cũng có tính thiêng liêng của kim khí là truỷ thủ (Phur-bu). Truỷ thủ thường dùng để đối trị ma quỷ (tượng trưng cho sự giận giữ) và được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) sử dụng khi giáo hoá Tây Tạng.|Tâm thức huyền bí của chư Phật, của trí huệ vô thượng, được tượng trưng bằng tính kiên cố vĩnh viễn, bằng ánh sáng rực rỡ và sự trống rỗng, của tự tính Kim cương bất hoại, như hư không. Thật diệu kì, nhìn được tận mặt của Chân như.

kim cương

See Kim Cang. ; (金剛) I. Kim Cương. Phạm:Vajra. Pàli:Vajira. Hán âm: Phạt xà la, Bạt xà la, Bạt chiết la, Phạ nhật ra. Vật cứng chắc và sắc bén nhất trong các vật chất. Trong các kinh luận, Kim cương thường được dùng để ví dụ vũ khí và đá quí. 1. Dùng kim cương ví dụ vũ khí: Tính kim cương cứng chắc, bén nhọn, có khả năng phá hủy tất cả các vật, nhưng không bị các vật khác phá hoại, như thứ vũ khí của trời Đế thích và Lực sĩ Mật tích cầm ở tay, gọi là Kim cương chử(chày kim cương). Cũng do ý nghĩa ấy mà trong các kinh luận thường có những từ như: Kim cương kiên cố, Kim cương bất hoại, Kim cương thân, Kim cương đính, Kim cương giới, Kim cương tâm (lòng tin bền chắc như kim cương). Trong Kim cương bát nhã kinh sớ luận toản yếu quyển thượng ngài Chân đế dùng 6 mầu của kim cương để dụ cho thể và dụng của bát nhã (trí tuệ) như sau: 1. Mầu xanh có khả năng tiêu trừ tai ách, dụ chobát nhã có năng lực tiêu trừ nghiệp chướng. 2. Mầu vàng tùy thuận những điều mong cầu của người, dụ cho công đức vô lậu. 3. Mầu đỏ đối với mặt trời có thể phát sinh ánh sáng như lửa, ví dụ trí tuệ đối với bản giác có thể sinh ra lửa trí vô sinh. 4. Mầu trắng có khả năng làm cho nước đục lắng trong, ví dụ Bát nhã có công năng thanh lọc những vẩn đục về nghi ngờ. 5. Mầu không có thể làm cho người ta đi đứng trong hư không, ví dụ trí tuệ Bát nhã có công năng phá trừ pháp chấp, khiến cho người an trú trong lí chân không. 6. Mầu xanh biếc có khả năng tiêu trừ các thứ độc hại, dụ cho trí tuệ có năng lực trừ sạch 3 độc (tham, sân, si). Trên đây đều dùng tính cứng chắc của kim cương để ví dụ Thể của Bát nhã; dùng tính bén nhọn của kim cương để dụ cho Dụng của Bát nhã. Trong Mật giáo, Kim cương cũng thường được dùng để ví dụ vũ khí, như kim cương độc cổ chử (cây chày kim cương có hình 1 chĩa, tam cổ, ngũ cổ, v.v... Các loại vũ khí này thường được dùng làm hình Tam muội da, biểu trưng cho bản thệ hoặc đức nội chứng của các vị tôn, bao hàm các nghĩa: Phá trừ phiền não, tiêu diệt nghiệp chướng và thức tỉnh chúng sinh... Ngoài ra, các thứ vũ khí này còn được dùng làm tiêu biểu cho các loại Tam ma địa trong đó các vị tôn an trụ. Vị lực sĩ cầm chày kim cương gọi là Chấp kim cương, gọi tắt là Kim cương, còn tượng Tứ thiên vương trong các chùa viện thường được gọi là Tứ đại Kim cương. 2. Dùng kim cương ví dụ đá quí: Vì đá kim cương trong suốt không mầu, sáng chói, khi mặt trời chiếu qua thì liền hiện các mầu sắc rực rỡ, ban đêm cũng phát ra ánh sáng, cho nên đá kim cương được coi là quí nhất trong các thứ bảo vật; vì vậy, trong các kinh luận, đá quí kim cương cũng được dùng để ví dụ cho Kim cương tam muội của hàng Bồ tát. Ngoài ra, cứ theo Kim cương đính sớ quyển 1, kim cương có 3 nghĩa: Không thể phá hoại, vật báu trong các vật báu, chiến cụ tốt nhất trong các loại chiến cụ. Còn theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) và Đại thừa nghĩa chương quyển 9, thì kim cương có 14 tính chất quí: Phá được tất cả vật khác, trong sạch, cứng chắc, tốt nhất, vô giá, khó được, có sức công phá mạnh, chiếu sáng, không định, đứng đầu, năng tập năng ích và vô phân biệt. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.15; Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ; kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng, Kim cương tiên luận Q.1; luận Bí mật mạn đồ la thập trụ tâm Q.10; Phạm ngữ tạp danh; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Hi lân âm nghĩa Q.7]. (xt. Kim Cương Nhị Nghĩa). II. Kim Cương. Gọi đủ: Kim cương thảo lí. Dép cỏ đan bằng cói hoặc rơm. (xt. Kim Cương Thảo Lí).

kim cương ba la mật bồ tát

(金剛波羅蜜菩薩) Kim cương ba la mật, Phạm: Vajrapàramità. Hán âm: Phạ nhật ra ba la mật; Phạm: Sattva-vajrì, Hán âm: Tát đát ra phạ nhật li. Hán dịch: Hữu tình kim cương nữ, Dũng mãnh kim cương nữ. Tạng: Sems-dpa#i-rdo-rje. Vị Bồ tát ngồi ở phía đông đức Đại nhật Như lai trong vòng tròn trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới, 1 trong bốn bồ tát Ba la mật. Vị Bồ tát này do đức Phật A súc sinh ra khi Ngài ở trong Tam muội Kim cương ba la mật, biểu thị ý nghĩa đem tâm bồ đề bền chắc như kim cương cúng dường đức Đại nhật Như lai. Mật hiệu là Kiên cố kim cương, chủng tử là (hùô). Trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới, hình tượng và hình Tam muội da của vị tôn này đều khác nhau: Trong hội Thành thân hình tượng của vị tôn này là hình thiên nữ mầu xanh thẫm, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có Phạm khiếp (hộp đựng kinh chữ Phạm), tay phải chạm đất; hình Tam muội da là chày 5 chĩa; chân ngôn là: Án tát đát phạ phạ nhật lí hồng. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái cầm hoa sen, trên hoa có linh (chuông nhỏ); trong hội Cúng dường thì 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có cái chày 5 chĩa. [X. kinh Kim cương đính Q.trung; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung].

kim cương bàn

(金剛盤) Chỉ cho cái mân hình trái tim, làm bằng kim loại có 3 chân, dùng để đặt linh (chuông nhỏ) kim cương và 3 loại chày kim cương (1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa)khi tu pháp. Đây là 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Tên gọi Kim cương bàn không thấy trong các kinh và nghi quĩ, mà chỉ thấy câu Kim cương bàn tử nhất khẩu trong bộ Ngự thỉnh lai mục lục do ngài Không hải người Nhật bản soạn. Cái mâm này có giống với cái mâm được sử dụng hiện nay hay không thì không thể biết chắc được. [X. Nhũ vị sao Q.1, Q.16].

kim cương bát nhã ba la mật kinh

(金剛般若波羅蜜經) Phạm:Vajracchedikà-prajĩàpàramità -sùtra. Gọi tắt: Kim cương bát nhã kinh, Kim cương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Nội dung kinh giải thích rõ lí tất cả pháp vô ngã. Đại khái có thể chia làm 2 phần: Phần đầu từ Tôi nghe như vầy đến quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn. Phần sau từ Bấy giờ, ngài Tu bồ đề bạch Phật rằng đến cuối quyển. Cứ theo sự nghiên cứu của các học giả qua nhiều thời đại thì câu văn và ý nghĩa trong phần đầu và phần cuối của kinh hiển nhiên có những chỗ khác nhau. Ngài Tăng triệu cho rằng phần đầu là nói về Chúng sinh không, phần sau là nói vềPháp không. Còn các ngài Trí khải và Cát tạng thì cho rằng phần đầu là Phật nói cho thính chúng trong hội trước; phần cuối là nói cho thính chúng trong hội sau; phần đầu nói cho hàng lợi căn, phần cuối nói cho hàng độn căn. Từ xưa đã có rất nhiều nhà giảng nói kinh này, nhất là từ ngài Lục tổ Tuệ năng trở về sau thì kinh này lại càng được coi trọng. Kinh này có 5 bản dịch khác: 1. Bản do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy(cùng tựa đề). 2. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần (cùng tựa đề). 3. Kim cương năng đoạn bát nhã ba la mật kinh(gọi tắt: Kim cương năng đoạn kinh) do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. 4. Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh(tức là phần Năng đoạn kim cương trong kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 577)do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 5. Năng đoạn kim cương bát nhã ba lamật đa kinh(gọi tắt: Năng đoạn kim cương kinh) do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Hiện nay có các bản dịch Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu, Anh, Pháp, Đức, Nhật, v.v... Nguyên bản tiếng Phạm được ấn hành mới nhất là bản của ông Khổng tư (Conze) người Ý. Kinh này có rất nhiều tác phẩm chú sớ, quan trọng hơn cả thì có: Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận 3 quyển, Luận tụng 1 quyển, Luận thích 3 quyển của ngài Vô trước, Kim cương bát nhã ba la mật kinh chú 1 quyển của ngài Tăng triệu, Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ 1 quyển của ngài Tuệ viễn, Kim cương bát nhã ba la mật sớ 1 quyển của ngài Trí khải; Kim cương bát nhã ba la mật kinh tán thuật 3 quyển của ngài Khuy cơ; Kim cương bát nhã ba la mật giải nghĩa 2 quyển của ngài Tuệ năng. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Quảng hoằng minh tập Q.22; Khai nguyên thích giáo lục Q.4].

kim cương bát nhã ba la mật kinh luận

(金剛般若波羅蜜經論) Phạm: Vajracchedikà-prajĩapàr= amitopadeza. Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh luận, Kim cương bát nhã luận. Tác phẩm, 3 quyển, do bồ tát Thiên thân soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Đây là sách chú thích bộ Kim cương bát nhã kinh luận tụng của ngài Vô trước. Bộ Năng đoạn kim cương bát nhã ba la mật đa kinh luận thích do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường là cùng bản tiếng Phạm với bộ này. Nhưng ngài Vô trước còn soạn 1 bộ sách khác có tên là: Kim cương bát nhã luận (cũng gọi: Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận, 2 quyển hoặc 3 quyển) do ngài Đạt ma cấp đa dịch vào đời Tùy. Bởi thế, sách này chú thích bộ Kim cương bát nhã kinh luận tụng của ngài Vô trước thì e đã truyền lầm giữa 2 bộ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.6, Q.7, Q.9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.8].

kim cương bát nhã kinh sớ

(金剛般若經疏) I. Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ. Cũng gọi Kim cương kinh sớ, Kim cương bát nhã sớ, Kim cương bát nhã ba la mật kinh sớ. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải (531- 597) tông Thiên thai soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là bộ sách chú thích kinh Kim cương bát nhã xưa nhất hiện còn. Nội dung giải thích kinh Kim cương theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập và sử dụng phương pháp Ngũ trùng huyền nghĩa để chú giải và chia kinh văn làm 3 phần: Tựa, Chính tông, Lưu thông. Tuy nhiên, trong sách có rất nhiều điểm không được viên dung, cũng không đúng với phong cách giải thích của ngài Trí khải, cho nên, có lẽ đã cho người đời sau mượn danh, hoặc do ngài Trí khải giảng, người khác ghi chép. [X. Trí chứng đại sư thỉnh lai mục lục; Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; chư tông chương sớ lục Q.1]. II. Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ. Cũng gọi Kim cương bát nhã ba la mật kinh lược sớ, Kim cương bát nhã kinh lược sớ. Tác phẩm, 2 quyển (hoặc 1 quyển), do ngài Trí nghiễm (602-668) soạn vào đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 33. Là 1 trong những bộ sách chú thích Kim cương bát nhã thịnh hành ở đời Đường. Ngài Trí nghiễm là Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm, cho nên ngài đã đứng trên lập trường Đồng giáo nhất thừa của Hoa nghiêm mà giải thích kinh Bát nhã. Nếu nhận xét theo quan điểm của tông Hoa nghiêm về Thực tướng bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Văn tự bát nhã thì ta mới thấy được cái kiến giải độc đáo của ngài Trí nghiễm. [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.1].

kim cương bát nhã tập nghiệm ký

(金剛般若集驗記) Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh tập nghiệm kí. Tác phẩm, 3 quyển, do ông Mạnh hiến tông soạn vào năm Khai nguyên thứ 6 (718) đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 149. Nội dung sách này nói về những sự linh nghiệm của việc thụ trì kinh Kim cương bát nhã, chia làm 6 thiên: Thiên Cứu hộ, thiên Diên thọ, thiên Diệt tội, thiên Thần lực, thiên Công đức và thiên Thành ứng. Trong đó, một phần được sao chép ra từ các sách Kim cương bát nhã linh nghiệm kí của Tiêu vũ, Minh báo kí của Đường lâm, Minh báo thập di của Lang dư lệnh, v.v... và một phần do tác giả thấy nghe trong thực tế mà ghi lại. Sách này là bộ Linh nghiệm kí về kinh Kim cương bát nhã xưa nhất hiện còn, cũng là tư liệu quí giá để nghiên cứu tín ngưỡng Phật giáo vào thời Sơ Đường.

Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh

金剛般若波羅密多經; S: vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra; dịch đủ là Kim cương năng đoạn bát-nhã ba-la-mật-đa kinh;|Một bài Kinh quan trọng của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được lưu truyền rộng rãi vùng Ðông Á. Kinh chỉ rõ, mọi hiện tượng thân tâm không phải là thể của thật tại, chúng chỉ là biểu hiện của tâm. Hành giả phải quán chiếu hoạt động của tâm thức và hiểu rằng tâm vốn »trống rỗng, vô ngã, tịch tịnh«. Kinh được gọi là »Kim cương« vì nó »sắc bén như kim cương, cắt sạch (能斷; năng đoạn) mọi khái niệm và đưa hành giả đến bờ Giác ngộ«. Tương truyền rằng, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe người tụng kinh này mà giác ngộ.

kim cương bảo bồ tát

(金剛寶菩薩) Kim cương bảo, Phạm: Vajra-ratna. Hán dịch: Phạ nhật ra ra đát na. Tạng:Rdorje-rin-chen. Cũng gọi Kim cương thai Bồ tát. I. Kim Cương Bảo Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía trước đức Bảo sinh Như lai trong vòng tròn phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn Kim cương giới, 1 trong 16 vị Đại bồ tát. Mật hiệu là Đại bảo kim cương, Như ý kim cương, Khố tạng kim cương. Về hình tượng và chủng tử của vị tôn này, trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng là thân mầu da người, tay trái kết ấn Dữ nguyện, tay phải cầm vật báu, chủng tử là (oô), hìnhTam muội da là vật báu 3 hạt ngọc có ngọn lửa cháy; ấn tướng là 2 nắm tay hợp lại, dùng 2 ngón trỏ làm thành hình báu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra ra đát na án. Cứ theo Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn, thì nhờ có sự gia hộ của bồ tát Kim cương bảo mà hành giả chứng được trí vô nhiễm. II. Kim Cương Bảo Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi trong vòng tròn phía nam trong hội Tứ ấn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, đại biểu cho Trí ấn tam muội da trong 4 loại Trí ấn. Là 1 trong 4 vị Bồ tát thân cận đức Đại nhật Như lai. Hình tượng vị tôn này là tay phải kết ấn Dữ nguyện, tay trái cầm viên bảo châu đặt ở trước ngực. Ấn tướng là ấn Kim cương châm; chân ngôn là: Tát phược mục nại lam minh bất lật dạ bạc phược đổ. Vị Bồ tát này là thân chuyển xuống của đức Bảo sinh Như lai, tượng trưng cho vạn hạnh thu nhiếp muôn pháp sau khi phát tâm bồ đề. [X. kinh Kim cương đính Q.1; phẩm Nhất thiết Như lai nội hộ ma kim cương nghi quĩ trong kinh Du già du kì; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ].

kim cương bảo giới

(金剛寶戒) I. Kim Cương Bảo Giới. Giới pháp bền chắc không hư hoại. Nhờ thụ trì giới pháp mà phá trừ được phiền não mê vọng, công đức bền chắc như kim cương, không có gì sánh kịp. [X. kinh Tâm địa quán Q.3]. II. Kim Cương Bảo Giới. Cũng gọi Nhất tâm kim cương giới. Chỉ cho giới Bồ tát Đại thừa nói trong kinh Phạm võng. Tức là Nhất tâm tính giới (giới Bồ tát) vốn có, không do tạo tác; một khi đã thụ trì thì không bao giờ mất, có lực dụng rất lớn, không giới nào khác sánh bằng. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1003 hạ), nói: Kim cương bảo giới là cội nguồn của tất cả chư Phật và Bồ tát. Ngoài ra, Kim cương bảo giới cũng là tên khác của Viên đốn giới (10 giới trọng và 48 giới khinh) do ngài Tối trừng người Nhật căn cứ vào thuyết của đại sư Trí khải tông Thiên thai Trung quốc mà lập ra. (xt. Viên Đốn Giới).

kim cương bảo toà

(金剛寶座) Nguyên chỉ cho cái tòa của đức Phật ngồi khi Ngài thành đạo ở gốc cây Bồ đề. Đời sau, bảo tọa cũng được dùng để chỉ chung cho tòa ngồi của Thuyết pháp sư, Thuyết giới sư và Đạo sư trong các pháp hội. (xt. Kim Cương Tọa, Cao Tọa).

kim cương bảo tạng

(金剛寶藏) Phạm: Vajra-ratna-koza. Kho báu bền chắc như kim cương, ví dụ cho Đại niết bàn và tâm bồ đề trong sạch của chúng sinh. Tâm bồ đề trong sạch, bền chắc này có khả năng thành tựu tất cả công đức của Như lai, mặc dầu trôi lăn trong 6 đường, tham sân si trói buộc, nhưng không bao giờ bị phá hoại. [X. kinh Đại bát niết bàn hậu phần Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2].

kim cương bất hoại

(金剛不壞) Kim cương không hư nát. Trong kinh luận thường thấy những câu như Kim cương bất hoại thân, Kim cương bất hoại thắng địa, v.v... đều có nghĩa là bền chắc không hư nát giống như kim cương.

kim cương bộ

(金剛部) Bộ được tổ thành bởi các vị tôn tay cầm chày kim cương tiêu biểu cho trí đức của Như lai. Là 1 trong 5 bộ Kim cương giới, hoặc 1 trong 3 bộ Thai tạng giới của Mật giáo. Vì trí tuệ của chư Phật có năng lực phá trừ các phiền não mà Bộ này thì dùng tính chất bén nhọn, chẳng hư hoại của kim cương để ví dụ cho đức trí tuệ năng phá của Như lai, cho nên dùng trí này bao hàm tất cả môn đại trí của Như lai. Trong 13 viện lớn của Mạn đồ la Thai tạng giới, thì viện Kim cương thủ, viện Trừ cái chướng và 1 phần viện Kim cương bộ ngoài bên phía trái của Đại nhật Như lai ở Trung đài đều thuộc Bộ này. Bộ chủ là Minh vương Hàng tam thế, bộ mẫu là bồ tát Mang mãng kê. Trong Ngũ trí Ngũ Phật của Mạn đồ la Kim cương giới, thì Đại viên kính trí ở phía đông thuộc về Bộ này; bộ chủ là A súc Như lai; bộ mẫu là bồ tát Kim cương ba la mật, có 4 vị Bồ tát thân cận là: Kim cương tát đỏa, Kim cương vương, Kim cương ái và Kim cương hí. Ngoài ra, 5 vị trời ở phương đông trong 20 vị trời, 250 vị tôn ở phương đông trong 1.000 vị Phật, 4 vị tôn ở phương đông trong 16 vị tôn, v.v... đều thuộc Bộ này. Trong Tam mật thân, khẩu, ý, Bộ này được phối với Ý mật, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 5 chĩa, hình tượng là Kim cương tát đỏa. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; phẩm Tựa kinh Du già du kì; Đại nhật kinh sớ Q.5; Bí tạng kí].

kim cương bộ chủ

(金剛部主) Vị tôn đứng đầu bộ Kim cương. Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo đều có bộ Kim cương, nhưng về vị bộ chủ của mỗi bộ thì có nhiều thuyết khác nhau. Theo kinh Nhiếp vô ngại và luận Ngũ bộ đà la ni vấn đáp kệ tán tông kí(Không hải), thì bộ chủ Kim cương bộ thuộc Kim cương giới là A súc Như lai. Còn bộ chủ Kim cương bộ thuộc Thai tạng giới thì theo Đại nhật kinh sớ quyển 5, là Kim cương tát đỏa(Chấp kim cương). Theo Nhiếp đại nghi quĩ quyển 2, bồ tát Kim cương thủ là bộ chủ của Kim cương bộ; Bí tạng kí thì cho rằng Minh vương Hàng tam thế là bộ chủ của Kim cương bộ. Ngoài ra, Kim cương bộ mẫu là chỉ cho vị tôn chủ về đức năng sinh. Kim cương bộ mẫu của Kim cương giới là bồ tát Kim cương ba la mật, còn Kim cương bộ mẫu của Thai tạng giới là bồ tát Mang mãng kê.

kim cương ca bồ tát

(金剛歌菩薩) Kim cương ca, Phạm:Vajra-gàtà, Tạng: Rdo-rje-glu. Hán âm: Phạ nhật ra nghĩ đa, Phạ nhật ra nghê đế. Cũng gọi: Kim cương ca vịnh đại thiên nữ. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong vòng tròn trung ương, là 1 trong 4 vị Bồ tát nội cúng dường trong 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Vô úy kim cương, Diệu âm kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (gì#), nghĩa là tất cả pháp không tạo tác; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu da trắng, tay trái cầm đàn không hầu, tay phải trong tư thế gảy đàn; hình Tam muội da là cây đàn không hầu kim cương; ấn tướng là 2 cạnh nắm tay sáp lại với nhau đặt ở trước rốn, dần dần nâng lên ngang miệng thì 2 nắm tay xòe ra. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra nghĩ đế nghĩ. Trong hội Tam muội da, thì chủng tử là (khya) nghĩa là ca tụng thừa giáo đại không và lấy đó làm vui; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây đàn tì bà 6 dây; ấn tướng là ấn Kim cương hợp chưởng, đặt dưới rốn, khi nâng lên đến ngang miệng thì mở ra và ngửa bàn tay lên. Chân ngôn là: Tuất lộ đát ra táo khế. Còn trong hội Cúng dường thì hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có đàn không hầu. Cứ theo Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn, thì nhờ sự gia hộ của bồ tát Kim cương ca mà hành giả có được âm thanh mầu nhiệm của Như lai, làm cho người nghe không nhàm chán. Ngoài ra, vị Bồ tát này là từ trong đức Đại nhật Như lai lưu xuất ra, đem lời ca tiếng hát cúng dường đức Vô lượng thọ Như lai là vị Phật chủ về Trí tuệ môn thuyết pháp. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương châm bồ tát

(金剛針菩薩) Kim cương châm, Phạm: Vajra-sùci. Hán âm: Phạ nhật ra tô chi. Tạng:Rdo-rje-khab. Cũng gọi Đại lực kim cương châm bồ tát. Vị Bồ tát bày ở vị trí thứ 3 phía nam bên ngoài viện Hư không tạng trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Châm, nghĩa là trí tuệ bén nhọn. Vị tôn này có khả năng thấu suốt tất cả các pháp bằng trí tuệ bén nhọn như kim cương, cho nên gọi là Kim cương châm. Mật hiệu là Tinh tiến kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, ngồi kết già trên hoa sen trắng, bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út co lại cầm hoa sen, trên hoa có cây chày 1 chĩa dựng đứng; bàn tay phải ngửa lên và hướng về bên phải, các ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út hơi co lại. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết la noản tát bà đạt ma nễ phệ đạt nễ phạt chiết ra tố chỉ phạ ra nêsa ha. Phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật quyển 5, cho vị tôn này là quyến thuộc của Kim cương tát đỏa thuộc viện Kim cương bộ, chứ không thuộc viện Hư không tạng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.6].

kim cương châm luận

(金剛針論) Phạm:Vajrasùcì. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp xứng (Phạm:Dharmakìrti) soạn, ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này, ngài Pháp xứng đã đứng trên lập trường Phật giáo để phê phán chế độ giai cấp của Ấn độ từ thời đại Phệ đà trở về sau và chủ trương mọi người đều bình đẳng. Trong luận có trích dẫn kinh điển của Bà la môn giáo để phản bác. Đây là 1 bộ luận ngắn gọn, lời văn rất sáng sủa và nguyên bản tiếng Phạm hiện vẫn còn. Năm 1829, nhà học giả Đông phương học người Anh là ông Hà cát lâm (B.H. Hodgson) đã xuất bản nguyên văn tiếng Phạm và bản dịch tiếng Anh. Ngoài ra, còn có bản dịch tiếng Đức, bản dịch tiếng Tây tạng. Các bản dịch tiếng Hán và tiếng Tây tạng đều cho rằng luận này là do ngài Pháp xứng soạn, nhưng trong lời Tựa và lời Bạt bản tiếng Phạm đều bảo sách này là tác phẩm của ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa). [X. Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục; Áo nghĩa toàn thư Q.8; S. Lévi: Journal Asiatique, 1908].

kim cương chử

(金剛杵) Phạm:Vajra. Hán âm: Phạ nhật la, Phạt chiết ra, Bạt chiết la, Nga đam ra, Phạt xa la. Chày kim cương. Vốn là loại vũ khí của Ấn độ đời xưa. Do tính chất cứng chắc của nó có thể đánh phá các loại vật chất khác, giống như kim cương, cho nên gọi là Kim cương chử. Trong Mật giáo, Kim cương chử tượng trưng cho tâm bồ đề phá trừ phiền não, là vật mà chư tôn vị cầm ở tay hoặc là đạo cụ tu pháp. Các vị tôn thuộc Kim cương bộ trong Hải hội Mạn đồ la đều cầm Kim cương chử. Hành giả Chân ngôn cũng thường mang theo bên mình. Bởi vì Kim cương chử tượng trưng cho trí dụng kim cương của Như lai, có công năng phá trừ ma ngu si vọng tưởng bên trong và các ma chướng ngoại đạo bên ngoài. Lúc ban đầu, đầu của Kim cương chử rất bén nhọn, nhưng khi được dùng làm pháp cụ thì hình dáng của nó đã thay đổi nhiều.Về chất liệu có nhiều loại, như: bằng vàng, bạc, đồng, sắt, đá, gỗ chiên đàn, xương người, v.v...; về độ dài thì có các loại như: dài 8 ngón tay, 10 ngón, 12 ngón, 16 ngón, 20 ngón, v.v... Về hình dáng cũng có nhiều loại như: Chày 1 chĩa, 2 chĩa, 3 chĩa, 4 chĩa, 5 chĩa, 9 chĩa, chày kim cương yết ma hình người, chày hình tháp, hình báu, v.v... Trong đó, thường thấy nhất là các loại chày 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, lần lượt tượng trưng cho Nhất pháp giới, Tam mật tam thân, Ngũ trí ngũ Phật, v.v... Chày 1 chĩa, chày 3 chĩa, chày 5 chĩa, chày báu và chày hình tháp được gọi chung là Ngũ chủng chử. Trong đó, chày 1 chĩa là hình thức xưa nhất, mũi nhọn rất dài, là vật cầm tay của Lực sĩ Kim cương Mậttích. Ngoài ra, tay Kim cương chử trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm và 1 trong 108 tay của bồ tát Kim cương tạng vương cũng cầm chày 1 chĩa. Trong 5 loại chày Kim cương thì chày 1 chĩa tương ứng với Liên hoa bộ, được đặt ở phía tây Đại đàn, 1 chĩa tượng trưng cho Nhất pháp giới. Chày 3 chĩa tương ứng với Yết ma bộ, được đặt ở phía bắc Đại đàn. Thông thường gọi Phạ nhật ra là chỉ cho chày 3 chĩa. Còn chày 5 chĩa cũng gọi là Ngũ trí kim cương chử, Ngũ phong kim cương chử, Ngũ phong quang minh, Ngũ cổ kim cương... Năm chĩa biểu thị Ngũ trí Ngũ Phật, trong đó, 1 chĩa tượng trưng cho Thực trí của Phật, còn 4 chĩa kia thì tiêu biểu cho Quyền trí của 4 vị Phật. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc); kinh Đà la ni tập Q.2; Từ thị bồ tát lược tu dũ nga niệm tụng pháp Q.hạ; kinh Kim cương đính Q.2; Đà la ni môn chư bộ yếu mục; Đại nhật kinh sớ Q.6].

kim cương câu bồ tát

(金剛鈎菩薩) Kim cương câu, Phạm: Vajràikuza#. Tạng:Rdo-rje lcags-kyu. Hán âm: Phạ nhật ra củ xả, Phược nhật la củ xả. Vị Bồ tát ngồi ở cửa Đông, lớp thứ nhất của Mạn đồ la Kim cương giới. Là 1 trong 4 vị Nhiếp bồ tát thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu là Phổ tập kim cương, Triệu tập kim cương, Câu dẫn kim cương. Vị tôn này dùng tâm bồ đề bền chắc, mạnh mẽ cứu vớt và dẫn dắt chúng sinh ra khỏi đường ác, giống như ngư phủ dùng lưỡi câu để câu cá. Vị tôn này là từ môn hạ chuyển của đức Đại nhật Như lai lưu xuất, chủ về đức nhiếp thủ chúng sinh và triệu tập tất cả Hiền Thánh giáng lâm đạo tràng. Chủng tử là (ja#), nghĩa là các pháp nhân duyên đều vô sinh. Về hình Tam muội da và chân ngôn, thì trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì hình Tam muội da là lưỡi câu kim cương, hình tượng là thân mầu đen, tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm lưỡi câu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra củ xả nhược. Trong hội Tam muội da, thì hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có lưỡi câu 3 chĩa. Chân ngôn là: A dạ hi nhược. Trong hội Vi tế, hình tượng là tay phải cầm lưỡi câu 3 chĩa, tay trái nắm lại, ngón trỏ duỗi ra và đặt ở cạnh sườn. Trong hội Cúng dường, thì hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có lưỡi câu 3 chĩa. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương câu nữ bồ tát

(金剛鈎女菩薩) Kim cương câu nữ, Phạm: Vajràíkuzì. Hán âm: Phạ nhật ra cú thi, Phược nhật la cú thi. Tạng: Rdo-rje lcags-kyu-ma. Vị Bồ tát ở ngôi thứ 2 phía trên hàng thứ nhất trong viện Kim cương thủ, trên Hiện đồ Mạn đà la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Triệu tập kim cương. Vị tôn này dùng trí tuệ bát nhã để triệu tập chúng sinh, cho họ trí tuệ thù thắng, giống như ngư phủ dùng lưỡi câu để câu cá. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, cánh tay phải co lại bàn tay ngửa đặt ở ngang ngực gần sát nách, 5 đầu ngón hướng xuống dưới; ngón cái giang thẳng, ngón trỏ hơi xòe ra, tay trái cầm lưỡi câu 3 chĩa, đầu gối trái dựng đứng, mắt hướng về bên phải và nhìn xuống, ngồi trên hoa sen đỏ. Ấn tướng là ấn Đại câu triệu, nghĩa là 2 mu bàn tay đâu lại với nhau, 10 ngón tay đan nhau rồi nắm lại cho các ngón tay nắm trong 2 lòng bàn tay(nội phược), ngón trỏ của tay phải dựng đứng, rồi hơi co lại làm thành hình cái móc câu. Chủng tử là (hùô), (a#), hình Tam muội da là móc câu 3 chĩa(có thuyết nói là cây mâu 3 chĩa). Chân ngôn là: Phẫn nộ qui mệnh chiến noa ma ha lộ sái noa hàm. Vị tôn này không thấy được ghi trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, mà chỉ thấy được ghi trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. Đây có lẽ đã do người đời sau căn cứ vào đoạn văn nói về quyến thuộc của bồ tát Kim cương bát đỏa trong phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật quyển 5, mà thêm vào.

kim cương cửu dụ

(金剛九喻) Kinh kim cương bát nhã ba la mật do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào thời Bắc Ngụy, dùng 9 hiện tượng ví dụ cho tất cả pháp hữu vi để nói rõ sự vô thường, hư ảo của các pháp. Đó là: 1. Tinh dụ(ví dụ như sao): Ban đêm các vì sao sáng tỏ, nhưng ban ngày bị ánh sáng mặt trời lấn át nên đều ẩn mất; ví dụ chúng sinh hôn mê, chấp trước, cho sự thấy biết của mình là sáng suốt, nhưng nếu dùng chính trí soi rọi thì những thiên kiến kia đều bị tiêu diệt. 2. Ế dụ(ví dụ như mắt có màng): Khi mắt bị đau, có màng che mờ, thì thấy những hình ảnh hư huyễn như hoa đốm; ví dụ cho chúng sinh bị vô minh che lấp, chỉ thấy được những cảnh tượng hữu vi hư vọng. 3. Đăng dụ (ví dụ như đèn): Đèn nhờ dầu mà được đốt sáng không bao giờ tắt; ví dụ vọng thức của chúng sinh nương vào các cảnh giới tham ái nên đời đời sống chết không dứt. 4. Huyễn dụ(ví dụ như huyễn): Các việc huyễn hóa, chợt có chợt không, thể vốn chẳng thực, đó đều do sức chú thuật của huyễn sư(người làm trò ảo thuật) tạo ra; ví dụ cho núi, sông, đất đai ở thế gian đều là hư vọng huyễn hóa do sức hoặc nghiệp của chúng sinh giả hiện mà thôi. 5. Lộ dụ(ví dụ như sương móc): Những giọt sương móc đọng trên cây cỏ chẳng được bao lâu, lúc bị gió thổi thì chỉ trong nháy mắt là tan biến, rơi rụng hết; ví dụ thân giả tạm của chúng sinh, sống ở thế gian đã ngắn ngủi, nhưng bất cứ lúc nào bị ngọn gió vô thường ào đến thì vụt biến mất ngay. 6. Bào dụ(ví dụ như bọt nước): Bọt nước do giọt nước, nước và gió hòa hợp mà thành; ví dụ chúng sinh do 3 pháp căn, cảnh, thức hòa hợp nên có cảnh thụ dụng khổ vui. 7. Mộng dụ(ví như nằm mơ): Ngày theo các cảnh, đêm cảm thấy mộng, mộng do vọng tưởng mà sinh, vốn không có thực thể; ví dụ chúng sinh nghĩ về quá khứ tạo tác các việc, cảnh tuy đã diệt, nhưng tưởng đến liền sinh; tất cả pháp hữu vi cũng đều do mộng tưởng mà thành, giống như cảnh trong giấc mộng. 8. Điện dụ(ví dụ như ánh chớp): Ánh sáng của tia chớp, biến diệt trong chốc lát, ví dụ tất cả các pháp hiện tại, giống như ánh chớp, biến diệt trong khoảnh khắc. 9. Vân dụ(ví dụ như mây): Mây hay làm mưa, nhưng lại biến hiện vô thường, ví dụ thức A lại da của chúng sinh hàm chứa các pháp, có năng lực nắm giữ các cảnh giới ở vị lai và biến hiện một cách vô định.

kim cương danh

(金剛名) Tạng:Rdo-rje-mií. Cũng gọi Kim cương danh hiệu, Kim cương hiệu, Mật hiệu, Quán đính danh. Chỉ cho danh hiệu về quả đức của Phật và Bồ tát đã thành tựu thể kim cương bí mật của thân. Kinh Kim cương đính quyển 1 (Đại 18, 208 thượng), nói: Tất cả các đức Như lai đối với Đại bồ tát đã thành tựu hết thảy nghĩa đều đặt tên là Kim cương, hiệu là Kim cương giới. Trong Bí tạng kí có ghi danh hiệu Kim cương của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Ngoài ra, khi hành giả Chân ngôn vào đạo tràng quán đính bái kiến Mạn đồ la, nhận quán đính, thì thân của vị ấy liền thành thân kim cương, cho nên cũng được nhận danh hiệu Kim cương. [X. kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1].

kim cương diện thiên

(金剛面天) Kim cương diện, Phạm: Vajràíkuza#. Cũng gọi Kim cương trư đầu thiên, Kim cương trư diện thiên, Trư đầu thiên. Vị tôn thuộc Thiên bộ, ngồi ở vị trí thứ nhất, phía bắc, viện ngoài của Kim cương bộ trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời, chủng tử là (ku) nghĩa là trí đại không bất sinh, hình Tam muội da là móc câu 3 chĩa. Hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì hình tượng vị tôn này là thân mầu đen(có thuyết nói là mầu đỏ), thân người, đầu lợn (heo), tay trái nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng, tay phải cầm móc câu 3 chĩa, ngồi trên tòa hình lá sen. Ấn khế là tay phải nắm lại, ngón trỏ dựng đứng rồi hơi co lại ở đầu ngón, làm dáng cái móc câu. Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la củ xả (vajràíkuza, móc câu kim cương) sa phạ hạ (svàhà). Vị tôn này tương đương với vị tôn Phạ ra hạ ( Phạm:Varàha) trong các vị trời ở dưới nước nói trong kinh Đại giáo vương quyển 10. [X. Bí tạng kí, Kim cương giới thất tập Q.hạ; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.thượng].

kim cương duệ bồ tát

(金剛銳菩薩) Cũng gọi Kim cương duyệt bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ 2, hàng thứ 3 phía trên trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Xoa tấn kim cương. Hình tượng của vị tôn này là thân mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, chân trái xếp bằng, chân phải co lại, đầu gối dựng đứng, cánh tay trái hơi co, bàn tay úp xuống, nắm lại, để ở chỗ cạnh sườn và cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; cánh tay phải co lại, bàn tay nghiêng và dựng thẳng, có ngón vô danh, ngón út, đặt ở trước ngực, mặt hướng về bên phải và nhìn xuống. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là cây chày 3 chĩa. Vị tôn này tương đương với bồ tát Chấp kim cương danh văn nói trong kinh Bất không quyên sách quyển 9. Tên của vị Bồ tát này không thấy ghi trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật cũng như trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, mà chỉ thấy ghi trong Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyển trung. Xưa nay đều cho rằng tên tiếng Phạm của bồ tát Kim cương nhuệ là Khyàti-vajra, âm Hán là Khư dã đô phạ nhật la và Hán dịch là Thuyết kim cương. Có chỗ cho rằng Kim cương nhuệ (..) là viết lầm từ chữ Kim cương thuyết (..), tức chỉ cho Danh xưng kim cương, là quyến thuộc của Kim cương tát đỏa của viện Kim cương bộ nói trong phẩm Bí mật mạn đồ la của kinh Đại nhật quyển 5. [X. Bí tạng kí].

kim cương dạ xoa minh vương

(金剛夜叉明王) Kim cương dạ xoa, Phạm: Vajra-yakwa. Hán âm: Phạ nhật ra dược khất sái. Cũng gọi: Kim cương diệm khẩu minh vương, Đại hắc minh vương, Kim cương đạm thực minh vương, Kim cương tận minh vương. Minh vương Kim cương dạ xoa, là giáo lệnh luân thân của đức Như lai Bất không thành tựu ở phương bắc. Một trong 5 vị Đại minh vương của Mật giáo. Vì vị Minh vương này có thể ăn thịt hết tất cả chúng sinh xấu ác nên gọi là Kim cương diệm khẩu, Kim cương tận; vì thân Ngài mầu đen nên gọi là Đại hắc. Hình tượng vị tôn này thân mầu xanh thẫm, hiện tướng phẫn nộ, có 3 mặt, 6 tay, trên đầu có búi tóc hình bờm ngựa chúa. Mặt chính giữa có 5 mắt, 2 mặt 2 bên đều có 3 mắt, 3 mặt đều há to miệng. Tay thứ 1 bên phải cầm chày 5 chĩa, tay thứ 2 cầm mũi tên, tay thứ 3 cầm thanh kiếm; tay thứ 1 bên trái cầm linh(chuông nhỏ)5 chĩa, tay thứ 2 cầm cái cung, tay thứ 3 cầm bánh xe vàng. Chân phải đứng thẳng, chân trái dơ lên, dưới 2 chân đều giẫm trên hoa sen, toàn thân trang sắc bằng châu báu, lửa bốc cháy hừng hừng. Mật hiệu là Đạm thực kim cương, Điều phục kim cương, Hộ pháp kim cương; chủng tử là (hùô), nghĩa là khủng bố, hoặc là (ha#) hoặc (vaô); hình Tam muội da là bánh xe yết ma, biểu thị nghĩa thành tựu sự nghiệp, có thuyết cho rằng hình Tam muội da là tấm thẻ bằng ngà(dùng làm hiệu lệnh), chuông nhỏ, chày 5 chĩa, thanh kiếm, v.v... Chân ngôn là Án ma hạ dược khất xoa phạ nhật ra sa đát phạ nhược hồng tông hộc bát la phệ xả hồng. Ngoài ra, theo Kim cương dược xoa sân nộ vương tức tai đại uy thần nghiệm niệm tụng nghi quĩ, thì vị tôn này là do bồ tát Kim cương thủ hư không khố thị hiện. Còn pháp tu thờ vị tôn này làm Bản tôn để tu, gọi là Kim cương dạ xoa pháp. [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.thượng; Lí thú thích Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; phẩm Đại kim cương diệm khẩu hàng phục nhất thiết ma oán trong kinh Du già du kì].

kim cương dụ định

(金剛喻定) Phạm: Vajropamà-samàdhi. Cũng gọi Kim cương tam muội, Kim cương diệt định, Kim cương tâm, Đính tam muội. Chỉ cho Thiền định bền chắc, sắc bén như kim cương, có năng lực phá trừ tất cả phiền não, cũng như kim cương có thể hủy hoại hết thảy vật chất khác. Tức là Thiền định của hàng Tiểu thừa Thanh văn hoặc Đại thừa Bồ tát tu tập vào giai đoạn sắp hoàn tất việc đoạn trừ các phẩm phiền não cuối cùng, cũng là tâm sau rốt của người tu theo Tam thừa. Tu tập định này có khả năng dứt trừ các phiền não cực nhỏ nhiệm, mà chứng ngộ quả vị cao tột, như hàng Thanh văn có thể đạt đến quả A la hán, Bồ tát thì chứng được quả Phật. Thông thường, gọi các thứ bậc đoạn trừ phiền não là Vô gián đạo, mà gọi các vị từ đó chứng được chân lí là Giải thoát đạo; bởi thế, sinh khởi Kim cương dụ định tương đương với Vô gián đạo, từ đó mà được quả A la hán hoặc quả Phật thì tương đương với Giải thoát đạo. Cho nên, Vô gián đạo có khả năng sinh khởi Kim cương dụ định, cũng gọi là Kim cương vô gián đạo. [X. luận Đại tì bà sa Q.28; luận Đại trí độ Q.47; luận Câu xá Q.24; luận Thành duy thức Q.10].

kim cương giới

(金剛界) Phạm:Vajra-dhàtu Hán âm: Phạ nhật ra đà đô. Tạng:Rdo-rje-dhyiís. Đối lại: Thai tạng giới. Gọi tắt: Kim giới. Theo quan điểm của Mật giáo, hết thảy muôn vật trong vũ trụ đều do đức Đại nhật Như lai hiển hiện, trong đó, phần biểu hiện về mặt trí đức của Ngài gọi là Kim cương giới, còn phần biểu hiện về mặt lí tính của Ngài thì gọi là Thai tạng giới. Đây là hai bộ căn bản của Mật giáo. Trí đức nội chứng của Như lai, thể rất bền chắc, không bị phiền não làm hoen ố, phá hoại, giống như kim cương cứng chắc, không bị các vật khác làm hư nát, vì thế, Kim cương giới có đủ các nghĩa: Trí, quả, thủy giác, tự chứng, v.v...… Trái lại, lí tính của Như lai tồn tại ở trong tất cả, do đại bi nuôi đỡ, giống như thai nhi trong bụng mẹ hoặc như một hột sen ẩn chứa trong hoa sen, cho nên ví như Thai tạng; do đó, Thai tạng giới bao hàm các nghĩa: Lí, nhân, bản giác, hóa tha, v.v...… Nếu phối hợp Kim cương giới với 5 trí thì chia làm 5 bộ là: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ; nếu phối hợp Thai tạng giới với 3 đức: Đại định, đại bi, đại trí, thì chia làm 3 bộ là: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. Theo kinh Kim cương đính, nếu Kim cương giới được biểu hiện bằng tranh vẽ, thì gọi là Mạn đồ la Kim cương giới. Còn theo kinh Đại nhật, nếu Thai tạng giới được biểu hiện bằng tranh vẽ, thì gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới. Kim cương giới và Thai tạng giới gọi chung là Chân Ngôn lưỡng bộ hoặc là Kim Thai lưỡng bộ, là 2 mặt căn bản nhất của Mật giáo. Nếu 2 bộ được xem như là đối lập nhau, thì gọi là Lưỡng bộ tương đối; còn nếu được xem là 1 thể thì gọi là Lưỡng bộ bất nhị. Về vấn đề này, Đông Mật của Nhật bản chủ trương 2 bộ vốn bất nhị, cho nên không lập riêng pháp bất nhị, nhưng Thai Mật thì lập riêng pháp bất nhị gọi là pháp Tô tất địa. Ngoài ra, trong 2 pháp sắc, tâm thì Kim cương giới thuộc tâm pháp; trong 6 đại đất, nước, lửa, gió, không, thức thì Kim cương giới thuộc thức đại. Ấn khế chung của Kim cương giới là ấn Ngũ cổ chử (ấn chày 5 chĩa). Về phổ hệ truyền thừa của Kim cương giới, thì bắt đầu từ đức Đại nhật Như lai, rồi lần lượt đến các ngài: Kim cương tát đỏa, Long mãnh, Long trí, Kim cương trí, Bất không v.v...… [X. kinh Kim cương đính Q.1; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.7; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Mạn Đồ La).

kim cương giới mạn đồ la

(金剛界曼荼羅) Phạm: Vajra-dhàtu-maịđala Cũng gọi: Tây mạn đồ la, Quả mạn đồ la, Nguyệt luân mạn đồ la. Một trong 2 bộ Mạn đồ la của Mật giáo, nền tảng là kinh Kim cương đính. Hiện đồ Mạn đồ la Kim cương giới gồm 9 hội Mạn đồ la cấu tạo thành, vì thế còn được gọi là Cửu hội mạn đồ là, Kim cương cửu hội, Kim cương giới cửu hội mạn đồ la. Trong 9 hội, thì 7 hội trước là phẩm Kim cương giới, trong đó 6 hội đầu là Luân thân tự tính của đức Đại nhật Như lai, hội thứ 7 là Luân thân chính pháp của Ngài; hội thứ 8 và thứ 9 thuộc phẩm Hàng tam thế, đều biểu thị Luân thân giáo lệnh của đức Đại nhật Như lai. Cả 9 hội trên đây, gọi chung là Mạn đồ la Kim cương giới. Bức vẽ của Mạn đồ la này lấy phía trên làm phương Tây, 2 chiều ngang và dọc đều chia làm 3 phần, tổng cộng có 9 ô tức thành 9 hội. Trong hình vẽ này, nếu căn cứ vào ý nghĩa Hạ chuyển môn(môn hướng xuống) Từ quả hướng xuống nhân, thì hội thứ nhất ở chính giữa là hội Thành thân, từ đó, theo thứ tự hướng xuống đi theo phía bên trái như sau: 1. Hội Thành thân, cũng gọi là Yết ma: Đại mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Hội này dùng 5 cái vòng tròn, bày xếp theo hình chữ..., trong mỗi vòng tròn vẽ 1 đức Phật; vòng ở chính giữa là đức Đại nhật Như lai, chung quanh Ngài là 4 vị bồ tát Ba la mật; ở 4 phương đều có nguyệt luân(vòng mặt trăng), trong mỗi nguyệt luân vẽ 1 vị Phật, mỗi vị Phật có 4 Bồ tát thân cận, tổng cộng có 16 Bồ tát; ngoài ra, còn có 4 bồ tát Nội cúng dường, 4 bồ tát Ngoại cúng dường, 4 vị Nhiếp bồ tát, các vị trời hộ trì Mật giáo và 1.000 đức Phật ở kiếp Hiền v.v...… tổng cộng có 161 vị tôn vây chung quanh đức Đại nhật Như lai. Hình vẽ của hội Thành thân này được biểu thị cho thực tướng của quả Phật. 2. Hội Tam muội da, cũng gọi họi Yết ma: Tam muội da mạn đồ la trong 4 loại Mạn đồ la. Là hình thức các vị tôn dùng như vật cầm tay, ấn khế, v.v... để tượng trưng cho bản thệ của các Ngài; chẳng hạn tháp Đa bảo tượng trưng cho thân Tam muội da của đức Đại nhật Như lai, cây chày kim cương 5 chĩa được đặt ngang dưới thân tháp, là hình Tam muội da biểu thị cho 5 trí hiển hiện. Hình Tam muội da của 4 vị Phật ở 4 phương theo thứ tự là: Phật A súc phương Đông là chày kim cương dựng đứng, Phật Bảo sinh phương Nam là bảo châu, Phật A di đà phương Tây là hoa sen, Phật Bất không thành tựu phương Bắc là Yết ma. Còn các vị Bồ Tát cũng đều dùng hình Tam muội da để tượng trưng bản thệ của các Ngài. Hội Tam muội da có tất cả 73 vị tôn mà vị trí được sắp xếp đại khái cũng giống như hội Thành thân. 3. Hội Vi tế, cũng gọi hội Yết ma, hội Kim cương vi tế: Pháp mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Tức thân Tam muội da của chư tôn đều hòa nhập vào nhau để hiển bày nghĩa Đức tính của một vị tôn có đầy đủ đức tính của các vị tôn, cho nên Mạn đồ la này biểu thị chư tôn đều có đầy đủ trí dụng vi tế của 5 trí. Hội này tổng cộng có 73 vị tôn. 4. Hội Cúng dường, cũng gọi hội Đại cúng dường. Là Yết ma mạn đồ la trong 4 loại mạn đồ la. Hội này trình bày nghi thức chư tôn cúng dường lẫn nhau, cho nên, ngoại trừ 5 đức Phật, còn có các vị Bồ tát khác đều nắm tay trái, tay phải cầm hoa sen, trên hoa đặt hình Tam muội da. Hội này cũng có tất cả 73 vị tôn. 5. Hội Tứ ấn: Biểu thị nghĩa Tứ mạn bất li, tức hội này bao quát tất cả 4 loại mạn đồ la. Hình vẽ là: Đức Đại nhật Như lai ở chính giữa, 4 phương vẽ 4 vị: Kim cương tát đỏa, Quan âm, Hư không tạng và Tỳ thủ yết ma; ở 4 góc của 4 vòng tròn lớn vẽ hình Tam muội da(chày 5 chĩa, bảo châu, hoa sen, yết ma) của 4 bồ tát Ba la mật và hình Tam muội da(chày 3 chĩa, tràng hoa, đàn không hầu, yết ma) của 4 Bồ tát: Kim cương hí, Kim cương man, Kim cương ca, Kim cương vũ. Đức Đại nhật Như lai trong bức vẽ tượng trưng cho chỗ nương tựa của 4 loại mạn đồ la, còn 4 bồ tát Ba la mật thì theo thứ tự tượng trưng cho 4 loại mạn đồ la. Hội này tổng cộng có 13 vị tôn. 6. Hội Nhất ấn: biểu thị nghĩa chư tôn của 4 loại mạn đồ la đều qui về tính hải bất nhị. Hình vẽ chỉ đơn thuần biểu hiện có 1 vị tôn: Đức Đại nhật Như lai, đặc biệt được dùng trong phép tu Đại nhật. Đại nhật Như lai an tọa trong Đại nguyệt luân ở giữa bức vẽ, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, mình mặc áo trời mầu trắng, trụ trong ấn Trí quyền, tượng trưng nghĩa Pháp thân duy nhất đầy đủ 5 trí. 7. Hội Lí thú, cũng gọi hội Tát đỏa, hội Phổ hiền. Hội này biểu thị nghĩa Đại nhật Như lai hiện thân Kim cương tát đỏa đem chính pháp giáo hóa chúng sinh. Trong bức vẽ, Kim cương tát đỏa đầu đội mũ báu Ngũ trí ngồi ở chính giữa, 4 phương là 4 vị Kim cương: Dục, Xúc, Ái, Mạn và ở 4 góc là 4 vị Kim cương nữ: Ý sinh, Kế lí cát la, Ái lạc và Ý khí. Viện Ngoài thì vẽ 4 vị Nhiếp bồ tát và 4 vị bồ tát Nội cúng dường là: Kim cương hí, Kim cương man, Kim cương ca và Kim cương vũ. Nhưng vị trí của các bồ tát Nội cúng dường, Ngoại cúng dường của hội này đặc biệt khác với các hội khác, đó là biểu thị nghĩa Nội, Ngoại dung hợp, không ngăn ngại. Hội này có tất cả 17 vị tôn. 8. Hội Hàng tam thế yết ma, gọi tắt là hội Hàng tam thế: Biểu thị nghĩa Đại nhật Như lai hiện thân giận dữ để hàng phục những chúng sinh ương ngạnh khó dạy. Trong bức vẽ, đức Đại nhật Như lai an trú trong ấn Trí quyền, ngự ở chính giữa, hiện tướng hàng phục 4 loài ma(Ngũ ấm ma, Phiền não ma, Tử ma, Thiên ma). Bốn phương là 4 vị Phật và 16 vị Bồ tát cũng đều nắm tay và hiện tướng giận dữ, nhất là Kim cương tát đỏa thị hiện thân hình đặc biệt khác lạ, đó là tướng Minh vương phẫn nộ hàng tam thế với 3 mặt 8 tay. Ở 4 góc của Kim cương bộ ngoài, vẽ 4 vị Đại minh vương: Kim cương dược xoa, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Bất động, hoặc vẽ hình tướng 4 bà vợ của 4 vị Đại minh vương là; Sắc, Thanh, Hương, Vị. Hội này tổng cộng có 77 vị tôn. 9. Hội Hàng tam thế tam muội da: Biểu thị nghĩa bản thệ của đức Đại nhật Như lai là hàng phục trời Đại tự tại. Cách bài trí chư tôn trong hội này hoàn toàn giống với hội Hàng tam thế ở trên, chỉ có vị trí của hình Tam muội da là khác nhau mà thôi. Bởi vì hội Hàng tam thế thì biểu hiện thân tướng đầy đủ sự nghiệp của chư tôn, mà hội này thì biểu hiện đức nội chứng của chư tôn. Trong bức vẽ, hình Tam muội da của Kim cương tát đỏa là bánh xe có 8 găm(nan hoa), là một khí cụ dùng để phá dẹp, tượng trưng cho tâm bồ đề thanh tịnh kiên cố sẵn có của chúng sinh. Còn trời Đại tự tại trong bức vẽ thì tượng trưng cho căn bản vô minh, bởi thế, hội này biểu hiện uy nghi dùng ánh sáng của trí tuệ thanh tịnh xua tan bóng tối vô minh ô nhiễm trong nội tâm của hành giả. Nếu nói theo môn thượng chuyển Từ nhân hướng tới quả, thì ý nghĩa của các hội là biểu thị thứ tự tu hành của Bồ tát hoặc của hành giả Chân ngôn, tức là thứ tự đoạn trừ hoặc chướng và khai phát tâm địa như sau: 1. Hội thứ nhất, đảo ngược thứ tự mà chỉ cho hội Hàng tam thế tam muội da, tức là Minh vương Hàng tam thế tự hiện hình Tam muội da, hàng phục 3 độc tham, sân, si để dẹp trừ chướng nạn gây trở ngại cho việc hành đạo. 2. Do hình Tam muội da biến làm thân Yết ma, hiện tướng đại phẫn nộ, chân trái đạp lên trời Đại tự tại, tượng trưng đoạn trừ phiền não chướng; chân phải đạp lên Ô ma (vợ của trời Đại tự tại), tượng trưng đoạn trừ sở tri chướng. Đây tức là hội Hàng tam thế yết ma. 3. Hai hội trước đã trừ 3 độc, 2 chướng, mà ngộ được lí thú Bát nhã. Như vậy, tất cả 17 vị tôn bao gồm Dục, Xúc, Ái, Mạn, v.v... tượng trưng cho tâm trong, cảnh ngoài đều thị hiện cái thể của Bát nhã ngay từ ban đầu vốn chẳng sinh. Đây tức là hội Lí thú. 4. Khi pháp quán Ngũ tướng thành thân được thành tựu, thì tự thân hành giả tức là thể của bản thôn Đại nhật Như lai, thu nhiếp tất cả chư tôn vào 1 thể duy nhất. Đây tức là hội Nhất ấn. 5. Hành giả phải được sự gia hộ của 4 vị Phật, thì mới có thể quyết định thành Phật, lúc ấy, 4 vị Phật hiện ra trước, vây quanh Đại nhật Như lai. Đây tức là hội Tứ ấn. 6. Các vị tôn đều dâng mũ báu, tràng hoa, v.v... cúng dường đức Đại nhật Như lai để biểu hiện nghi thức cúng dường chư Phật. Đây tức là hội Cúng dường. 7. Do chư tôn hiển hiện Tha thụ dụng thân mà có Hiện trí thân, Kiến trí thân, Tứ minh, v.v... để hiển bày tướng vào khắp trong Thiền định kim cương vi tế. Đây tức là hội Vi tế. 8. Trong Đạo tràng quán, kết ấn Như lai quyền, từ văn tự chủng tử mà chuyển biến thành hình Tam muội da. Đây tức là hội Tam muội da. 9. Lại từ hình Tam muội da chuyển biến mà thành thân yết ma của Tì lô giá na Như lai. Đây tức là hội Yết ma. Toàn thể 9 bộ tổng cộng có 1461 vị tôn, gồm 136 vị Phật, 297 vị Bồ tát, 4 vị tôn hiện thân giận dữ, 4 vị thần Chấp kim cương và 120 vị tôn thuộc Kim cương bộ ngoài. Ngoài thứ tự của các hội được sắp xếp như trên ra, còn có nhiều thuyết khác, trong đó có thuyết Mạn đồ la biểu thị Tự chứng hóa tha chiết phục nhiếp thụ bất nhị được sắp xếp theo thứ tự như sau: Thứ nhất hội Tát đỏa(hội Lí thú), thứ hai hội Hàng tam thế, thứ ba hội Hàng tam thế tam muội da, thứ tư hội Tứ ấn, thứ năm hội Cúng dường, thứ sáu hội Yết ma(hội Vi tế), thứ bảy hội Nhất ấn, thứ tám hội Thành thân(hội Yết ma), thứ chín hội Tam muội da. Thứ tự này biểu thị ý nghĩa từ tự chứng đi đến hoá tha, rồi từ hoá tha trở về tự chứng. [X. phẩm Đại quán đính mạn đồ la trong Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui; Hiện đồ mạn đồ la Kim cương giới chư tôn tiện lãm Q.1; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.7, Q.5].

kim cương giới tam thập thất tôn

(金剛界三十七尊) Cũng gọi: Tháp trung tam thập thất tôn. Ba mươi bảy vị tôn được bày xếp trong hội Thành thân, thuộc Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo. Đó là: 1. Năm đức Phật: Đại nhật Như lai, A súc Như lai, Bảo sinh Như lai, Vô lượng thọ Như lai, Bất không thành tựu Như lai. 2. Bốn vị bồ tát Ba la mật: Tức 4 vị thân cận đức Đại nhật Như lai, từ Đại nhật Như lai sinh ra, biểu thị đức Định của 4 đức Phật, đó là: Bồ tát Kim cương ba la mật, bồ tát Bảo ba la mật, bồ tát Pháp ba la mật và bồ tát Yết ma ba la mật. Bốn vị Bồ tát này theo thứ tự là mẹ sinh ra và nuôi nấng 4 đức Phật: A súc, Bảo sinh, Vô lượng thọ và Bất không thành tựu. 3. Mười sáu vị Đại bồ tát: - Bốn vị thân cận A súc Như lai: Kim cương tát đỏa, bồ tát kim cương Vương, bồ tát kim cương Ái và bồ tát kim cương Hỷ. - Bốn vị thân cận Bảo sinh Như lai: Bồ tát kim cương Bảo, bồ tát kim cương Quang, bồ tát kim cương Chàng và bồ tát kim cương Tiếu. - Bốn vị thân cận Vô lượng thọ Như lai: Bồ tát kim cương Pháp, bồ tát kim cương Lợi, bồ tát kim cương Nhân, bồ tát kim cương Ngữ. - Bốn vị thân cận Bất không thành tựu Như lai: Bồ tát kim cương Nghiệp, bồ tát kim cương Hộ, bồ tát kim cương Nha, bồ tát kim cương Quyền. 4. Tám vị bồ tát Cúng dường, chia ra Nội và Ngoại: - Bốn vị Nội cúng dường: Bồ tát kim cương Hi, bồ tát kim cương Man, bồ tát kim cương Ca và bồ tát kim cương Vũ. Bốn vị Bồ tát này do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường 4 vị Phật. - Bốn vị Ngoại cúng dường: Bồ tát kim cương Hương, bồ tát kim cương Hoa, bồ tát kim cương Đăng và bồ tát kim cương Đồ hương. Bốn vị Bồ tát này do 4 vị Phật sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. 5. Bốn vị Nhiếp bồ tát: Bồ tát kim cương Câu, bồ tát kim cương Sách, bồ tát kim cương Tỏa và bồ tát kim cương Linh. Bốn vị Bồ tát này từ trong tâm đức Đại nhật Như lai lưu xuất, có nhiệm vụ nhiếp hóa dẫn dắt tất cả chúng sinh vào Mạn đồ la, biểu thị đức hóa tha, trao cho pháp quả địa (quả vị). Về vấn đề xuất sinh của 37 vị tôn, thì theo Lí thú thích và Bí tạng kí, như đã nói ở trên, cho rằng từ Đại nhật Như lai sinh ra 4 bồ tát Ba la mật, từ 4 bồ tát Ba la mật sinh ra 4 vị Phật. Tuy nhiên, còn có các thuyết khác, như kinh Kim cương đính, Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa và luận Bồ đề tâm, v.v... thì cho rằng từ Đại nhật Như lai sinh ra 4 vị Phật, rồi từ 4 vị Phật sinh ra 4 bồ tát Ba la mật. Còn Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn thì cho rằng 36 vị tôn đều do Đại nhật Như lai sinh ra. Lại theo Bí tạng kí thì 4 bồ tát Nội cúng dường là do 4 vị Phật sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai, còn 4 bồ tát Ngoại cúng dường thì do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường 4 vị Phật. Ngoài ra, 16 vị Đại bồ tát chủ về Tuệ đức, nên gọi là Tuệ môn thập lục tôn; còn 4 bồ tát Ba la mật, 8 bồ tát Cúng dường và 4 Nhiếp bồ tát thì chủ về Định đức, nên gọi là Định môn thập lục tôn. [X. kinh Đại thừa nhập lăng già Q.7; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Kim cương đính liên hoa bộ tâm lược thuật nghi quĩ; Kim cương đính đại giáo vương kinh sớ Q.1].

kim cương hi bồ tát

(金剛嬉菩薩) Kim cương hi, Phạm:Vajra-làsì, Vajralàzye. Hán âm: Phạ nhật ra la tây. Tạng: Rdo-rje- #dsin-ma. Cũng gọi Kim cương hi hí đại thiên nữ. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông nam trong nguyệt luân trung ương. Một trong 4 bồ tát Nội cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu la Phổ kính kim cương. Chủng tử, hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (ha#), nghĩa là các pháp lìa nhân quả; hình Tam muội da là lưỡi câu 3 chĩa cong về phía trái; hình tượng là Thiên nữ, thân mầu đen, 2 tay đều nắm lại và để ở 2 bên cạnh sườn, đầu hơi cúi và hơi hướng về bên trái. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra la tế hộ. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ti), nghĩa là tam muội đại lạc như như bình đẳng; hình Tam muội da là chày kim cương dựng đứng trên hoa sen; ấn tướng là Ngoại phược quyền(10 ngón tay đan nhau rồi nắm lại ở bên ngoài), 2 ngón cái dựng thẳng. Chân ngôn là: Ma ha ra để. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen dựng chày 3 chĩa. Bồ tát này từ Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường đức A súc Như lai ở phương đông, vì A súc Như lai chủ về đức của tâm bồ đề bền chắc như kim cương nên dùng vị Bồ tát có hình tướng vui vẻ để cúng dường Ngài. Nhờ sự gia bị của vị tôn này mà hành giả được đầy đủ về pháp thụ dụng và được tự tại về trí thụ dụng. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính lược xuất du già trung niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương hoa bồ tát

(金剛華菩薩) Kim cương hoa, Phạm: Vajra-puwpà. Hán âm: Phạ nhật ra bổ sáp bế, Phạ nhật ra bổ sắt ba. Tạng:Rdo-rje-me-tog. Cũng gọi Kim cương tán hoa bồ tát, Kim cương diệu hoa bồ tát, Kim cương giác hoa thị nữ bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong Phương đàn của viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, 1 trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Diệu sắc kim cương, Thanh tịnh kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (oô), nghĩa là tất cả pháp lưu chú không sinh diệt; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu vàng lợt, tay cầm hoa tươi; hình Tam muội da là giỏ đựng đầy hoa; ấn tướng là 2 tay kết Kim cương quyền, sau đó ngửa lên vàxòe ra như dáng đang dâng hiến. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra bổ sáp bề án. Trong hội Tam muội da thì chủng tử của vị tôn này cũng giống như hội Thành thân, hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có rải hoa, ấn tướng là 2 tay kết ấn Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại), sau đó mở ra và ngửa lên. Chân ngôn là: Phá la nga nhị. Trong hội Vi tế, hình tượng là hình Thiên nữ ngồi quì, tay bưng lá sen, trên lá sen có hoa sen búp(chưa nở). Vị tôn này là Bảo sinh Như lai sinh ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bảo sinh Như lai chủ về muôn đức mở bày nên dùng hoa đẹp để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương huệ

(金剛慧) Chỉ cho trí tuệ thông suốt lí thực tướng mà phá trừ các tướng. Phẩm Bất nhị kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 550 hạ) nói: Thấu suốt được tính của tội thì không khác gì với phúc, dùng trí tuệ kim cương(kim cương tuệ)mà rõ suốt tướng tội phúc này. Duy ma kinh chú quyển 8 (Vạn tục 27, 252 hạ), ghi: Ngài Cưu ma la thập nói: Kim cương lún sâu đến tận lòng đất rồi mới dừng; tuệ thực tướng phải rõ suốt đến cùng tột pháp tính rồi mới dừng. Còn ngài Tăng triệu thì nói: Kim cương tuệ tức là thực tướng tuệ. Trong Mật giáo, Kim cương tuệ chỉ cho trí tuệ thông đạt được diệu lí Chữ A vốn chẳng sinh, trí tuệ này không lay chuyển, cứng chắc như kim cương không hư hoại. (xt. A Tự Bản Bất Sinh).

kim cương hỉ bồ tát

(金剛喜菩薩) Kim cương hỉ, Phạm: Vajra-sadhu Hán âm: Phạ nhật ra sa độ. Tạng:Rab-tu-dga#-bahi rgyal-po (vua Hoan hỉ). Cũng gọi: Kim cương xưng bồ tát, Kim cương thiện tai bồ tát, Hoan hỉ vương bồ tát, Ma ha duyệt ý bồ tát, Diệu tát đỏa thượng thủ bồ tát, Kim cương thủ bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức A súc Như lai trong nguyệt luân ở phương đông trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thiện tai kim cương, Tán thán kim cương, An lạc kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (sa#), nghĩa là quán xét lí thuờng trụ kiên cố bất sinh bất diệt; hình Tam muội da là 2 tay nắm lại đặt ngang nhau, mỗi nắm tay duỗi ngón tay trỏ làm như dáng khảy móng tay; hình tượng mầu da người, 2 tay nắm lại để trước ngực. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra sa độ sách. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (dhu), biểu hiện tâm đại hoan hỉ do tự chứng Pháp giới tam muội; ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp lại, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại), 2 ngón trỏ trong tư thế khảy mỏng tay. Chân ngôn là: Sa độ sa độ. Trong hội Cúngdường, hình tượng 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có vật báu. Trong hội Vi tế, hình tượng là tay trái nắm lại, tay phải trong tư thế khảy móng tay. Bồ tát Kim cương hỉ tượng trưng cho cái đức bồ đề tâm của A súc Như lai, đức này thương xót và cứu giúp tất cả chúng sinh, cho nên biểu hiện tướng mình, người đều được vui mừng. Nếu được vị Bồ tát này gia hộ thì hành giả sẽ sinh tâm khao khát những pháp lành mà không nhàm chán, dù thấy một việc thiện nhỏ, cũng liền khen ngợi, tán thán. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương hợi mẫu

(金剛亥母) Vị thần bản tôn trong pháp tu của phái Ca nhĩ cư thuộc Mật tông Tây tạng, là Minh phi của Thượng lạc kim cương. Hình tượng của vị thần này là thân người đàn bà, đầu lợn (heo) cùng với Thượng lạc kim cương đang ôm nhau. KIM CƯƠNG HƯƠNG BỒ TÁT Kim cương hương, Phạm: Vajra-dhùpà. Hán âm: Phạ nhật ra đỗ bế Tạng:Rda-rje-bdug-pa. Cũng gọi Kim cương thiêu hương bồ tát, Kim cương phần hương bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông nam trên Phương đàn của viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, là 1 trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Vô ngại kim cương, Tốc tật kim cương, Đoan nghiêm kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì chủng tử là (a#), nghĩa là xa lìa các phiền não. Hình tượng là hình Thiên nữ, mình mầu đen, 2 tay cầm lư hương có cán; hình Tam muội da là lư hương báu. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra độ bề a. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là lư hương trên hoa sen; chân ngôn là: Bát ra ha la nễ nễ. Tronghội Vi tế, hình tượng của vị tôn này ở tư thế ngồi quì, 2 tay cầm lư hương có cán, hình hoa sen. Trong hội Cúng dường, 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có lư hương. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa độ ba bố nhạ dương già tam mẫu nại tát phát ra noa tam ma duệ hồng. Vị tôn này từ thân A súc Như lai ở phương đông lưu xuất để cúng dường Đại nhật Như lai. Đức Phật A súc chủ về tâm bồ đề bền chắc và lấy trí hoan hỉ vô ngại làm bản thệ; vì hương thơm biểu trưng cho trí tuệ này nên dùng hương để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Kim cương đính Q.2; Lược thuật Kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Đại giáo vương Q.4].

kim cương khẩu

(金剛口) Miệng kim cương. Ví dụ lời nói của đức Như lai chắc thật như kim cương. Kinh Anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 111 thượng) nói: Lúc bấy giờ, đức Phật Thích ca mâu ni dùng lời nói chắc thật như kim cương(kim cương khẩu) để chỉ dạy bồ tát Kính thủ.

kim cương khởi ấn

(金剛起印) Cũng gọi Giác khởi ấn, Khởi ấn, Kinh giác Phật ấn, Kinh giác ấn, Kinh giác nhất thiết Như lai ấn, Phát ngộ khế, Phát ngộ nhất thiết Phật đại khế, Phổ thỉnh kinh giác nhất thiết Thánh chúng ấn. Ấn tướng và chân ngôn dùng để đánh thức tất cả Thánh chúng đang nhập định Kim cương hầu phụng thỉnh các Ngài đến đạo tràng hộ niệm cho hành giả. Lúc hành giả tu pháp, sau khi quán tưởng chư Phật rồi thì kết tụng ấn minh này. Ấn tướng là 2 tay kết Kim cương quyền, 2 ngón út móc vào nhau, 2 ngón trỏ dựng đứng, đầu ngón tay chạm nhau, đưa lên 3 lần. Trong đó, 2 ngón út móc vào nhau biểu thị ý nghĩa Lí bên trái, Trí bên phải, Pháp thân vô ngại dung hợp với nhau; ba lần cử động ngón trỏ biểu thị ý nghĩa thức tỉnh chư Phật đang nhập định để thỉnh các Ngài xuất định. Tức là trước hết đánh thức Thánh chúng trong đạo tràng, kế đến đánh thức Thánh chúng trong 3 nghìn đại thiên thế giới, sau cùng đánh thức Thánh chúng nhiều như số bụi nhỏ trong bất khả thuyết thế giới ở 10 phương. Khi kết ấn này thì niệm chân ngôn: Án phạ nhật ra để sắt tra. Ngoài ra, theo kinh Lược xuất quyển 1, thì đây là ấn minh mà hành giả kết tụng lúc thức dậy, tức là hành giả thường quán tưởng thân mình là thân kim cương Phổ hiền, vì vậy, khi đi ngủ, phải quán tưởng là mình vào định Kim cương và khi thức dậy phải quán tưởng là ra định Kim cương. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.thượng; kinh Giáo vương Q.thượng; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Kim cương vương bồ tát bí mật niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính kinh Đa la bồ tát niệm tụng pháp; Kim cương đính nghĩa quyết Q.thượng].

Kim cương kinh

金剛經|Tên gọi tắt của Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh.

kim cương kinh cưu di

(金剛經鳩异) Cũng gọi Kim cương bát nhã kinh cưu dị. Tác phẩm, 1 quyển, do ông Đoàn thành thức soạn vào niên hiệu Khai thành năm đầu (836) đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 149. Cưu dị nghĩa là sưu tập những truyện linh dị đã bị thất lạc. Sách này phỏng theo hình thức của bộ Kim cương kinh linh nghiệm kí 3 quyển, mà ghi chép những việc linh nghiệm của 21 vị tăng tục thụ trì kinh Kim cương từ giữa đời Đường về sau như: Trương tề khâu, Vương hiếu liêm, v.v.. sách này là tư liệu có giá trị để nghiên cứu về tín ngưỡng kinh Kim cương ở thời kì giữa đời Đường.

kim cương kinh giải nghĩa

(金剛經解義) I. Kim Cương Kinh Giải Nghĩa. Cũng gọi Kim cương kinh chú giải, Kim cương kinh khẩu quyết, Lục tổ giải nghĩa, Lục tổ khẩu quyết. Kinh sớ, 2 quyển, do Lục tổ Tuệ năng ở Tào khê giảng thuật vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 38. Đây là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Ở đầu quyển đề: Kim cương bát nhã ba la mật kinh tự. Quyển thượng từ phần Pháp hội nhân do thứ 1 đến phần Vô vi phúc thắng thứ 11. Quyển hạ từ phần Tôn trọng chính giáo thứ 12 đến phần Ứng hóa phi chân thứ 32. Bài tựa ở đầu quyển thượng có giải thích rằng: Kim cương tức là tính Phật, Bát nhã tức là Đại trí tuệ, Ba la mật tức là đến bờ kia, lìa tướng sinh diệt, Kinh là con đường dẫn đến quả Phật. Vì muốn khiến cho chúng sinh lìa tướng sinh diệt, phá trừ vọng tưởng ngu si, để đạt đến diệu cảnh Niết bàn, được Đại trí tuệ, cho nên chỉ ra con đường dẫn đến quả Phật. Lời văn trình bày trong bộ sớ giải này gọn gàng, sáng sủa và dễ hiểu. II. Kim Cương Kinh Giải Nghĩa. Kinh sớ, 2 quyển, do ông Từ hòe đình soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 92. Là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Về nội dung, trước hết là lời tựa của ông Hoàng lạc và phần nói về nguồn gốc kinh Kim cương của Từ hòe đình, kế đến là liệt kê, xếp loại những sách được dùng để tham khảo và trích dẫn 6 nguyên tắc về yếu pháp tụng kinh; tiếp theo là chia làm 3 phần Chú, Luận và Giảng để giải thích chính văn. Chú là giải thích các câu và chữ trong văn kinh, Luận là phân tích và đoán định ý nghĩa cốt yếu trong văn kinh, còn Giảng thì bắt chước khẩu khí của Như lai để diễn bày nghĩa rốt ráo của kinh Kim cương bát nhã; cuối cùng là giải thích theo từng loại và giải thích tổng quát. Trong phần này, soạn giả cho rằng kinh Kim cương là yếu chỉ bí mật tâm truyền của Phật và Tổ, lấy thanh tịnh làm thể, phát tâm làm dụng và lấy như như bất động làm cứu cánh.

kim cương kinh lục thí

(金剛經六譬) Sáu thí dụ trong kinh Kim cương. Tức là: Như chiêm bao, như ảo thuật, như bọt nước, như bóng sáng, như sương móc và như tia chớp. Sáu thí dụ này nhằm nói lên tính chất không, vô thường của tất cả pháp hữu vi. Kinh Kim cương ( Đại 8, 752 trung) Tất cả pháp hữu vi Như chiêm bao trò dối Như bọt nước bóng sáng Như sương móc ánh chớp Nên quán xét như thế. (xt. Thí Dụ).

kim cương kinh nghĩa sớ

(金剛經義疏) Cũng gọi: Kim cương bát nhã kinh nghĩa sớ, Kim cương bát nhã sớ. Kinh sớ, 4 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào khoảng năm Khai hoàng 9-17 (589-597) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Nội dung chia làm 10 khoa, 9 khoa trước trình bày về ý nghĩa trọng yếu của kinh Kim cương, khoa thứ 10 giải thích chính văn. Lời văn rõ ràng, đầy đủ, có trích dẫn nhiều tư liệu.

kim cương kinh tán thuật

(金剛經贊述) Gọi đủ: Kim cương bát nhã kinh tán thuật. Kinh sớ, 2 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Là sách chú thích kinh Kim cương bát nhã theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập. Trong bộ sách này, ngài Khuy cơ đứng trên lập trường của tông Pháp tướng để giải thích Không quán của Bát nhã, cho nên đây là bộ chú sớ rất quan trọng để tìm hiểu về quan niệm Không của các nhà Duy thức.

kim cương kết già

(金剛結跏) Cũng gọi Kim cương già. Ngồi bán già. Một trong những tư thế ngồi thiền. Kinh Thủ hộ quốc giới quyển 2 (Đại 19, 530 thượng), nói: Phải ngồi theo tư thế Kim cương kết già, nghĩa là chân phải gác lên vế trái, giữ thân ngay thẳng. [X. kinh Nhất tự đính luân vương Q.4]. (xt. Bán Già Phu Tọa).

kim cương linh

(金剛鈴) Cũng gọi Kim linh. Cái linh(chuông nhỏ có quả lắc)dùng để đốc thúc chúng sinh tinh tiến tu tập và cung thỉnh chư Phật, Bồ tát xuất định, giáng lâm đàn tràng để gia hộ hành giả trong khi tu pháp. Là 1 trong những pháp cụ của Mật giáo. Cán linh để cầm là hình chày Kim cương, cho nên căn cứ vào hình dáng của cán mà có 5 loại linh khác nhau: Linh 1 chĩa, Linh 3 chĩa, Linh 5 chĩa, Linh báu và Linh hình tháp. Năm loại linh này và 5 loại chày đều được đặt ở các vị trí tương ứng trên Đại đàn tu pháp. Cái linh được dùng để tiễn chư tôn khi tu pháp xong, gọi là Hậu linh. Linh biểu thị cho ý nghĩa thuyết pháp, bởi thế, nếu dùng 5 loại linh để chỉ cho 5 trí, thì 5 loại linh này tượng trưng cho cái dụng thuyết pháp bên ngoài của 5 trí 5 Phật. Ngoài ra, kinh Vi diệu Mạn đồ la quyển 5 do ngài Thiên tức tai dịch, có nêu 2 loại linh là Linh 9 chĩa(linh của Minh vương Phẫn nộ biến hóa) và Linh 7 chĩa (linh của Minh vương Kim cương phẫn nộ). [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Nhiếp đại nghi quĩ Q.1].

kim cương linh bồ tát

(金剛鈴菩薩) Kim cương linh, Phạm: Vajràveza. Hán âm: Phạ nhật ra phệ xả. Tạng:Rdo-rje-dbab-pa. Cũng gọi là Biến nhập bồ tát, Nhiếp nhập bồ tát, Triệu nhập bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc Phương đàn ở viện Ngoài trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Nhiếp bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Giải thoát kim cương, Hoan hỉ kim cương, chủng tử là (ho#), nghĩa là tất cả đều vui mừng. Hình Tam muội da và chân ngôn của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình Tam muội da là cái linh kim cương; hình tượng là mầu xanh, tay trái nắm lại đặt ở chỗ cạnh sườn, tay phải duỗi ngón cái, ngón trỏ và các ngón khác co lại để ở trước ngực. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra phệ xả hộc. Trong hội Tam muội da thì hình Tam muội da là cái linh 3 chĩa ở trên hoa sen; chân ngôn là: Kiện tra á á. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là 2 tay đều cầm linh kim cương. Vị tôn này tượng trưng cho sự chân thực, vui mừng hớn hở khi nhiếp thủ chúng sinh, giống như khi ngư phủ bắt được cua cá. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương luân

(金剛輪) I. Kim Cương Luân. Chỉ cho Mật giáo. Mật giáo được gọi là Kim cương thừa, còn luân nghĩa là Pháp luân, vì thế gọi là Kim cương luân. Mật giáo tự cho giáo pháp của mình là thù thắng hơn cả và giáo pháp ấy cứng chắc như kim cương. II. Kim Cương Luân. Chỉ cho kim luân ở đáy của địa tầng trên cùng. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, Khí thế gian được cấu tạo thành bởi 3 lớp: Phong luân là lớp dưới cùng, bề mặt rất rộng, dày 16 lạc xoa; trên đó là Thủy luân, bề dày chỉ có 8 lạc xoa, lớp 1 trên cùng là Kim luân, bề mặt ngưng kết thành vàng, trên Kim luân có 9 núi, 8 biển, 4 châu. Chỗ tận cùng của Kim luân gọi là Kim luân tế. [X. Vô lượng thọ Như lai hành cúng dường nghi quĩ]. III. Kim Cương Luân. Chỉ có tòa kim cương nơi đức Thích ca ngồi khi thành đạo. Tòa này ở trên mặt đất, còn đế tòa được đặt trên Kim luân.

kim cương lợi bồ tát

(金剛利菩薩) Kim cương lợi, Phạm: Vajra-tìkwịa. Hán âm: Phạ nhật ra để khất sái noa Tạng:Rdo-rje-ral-gri. Cũng gọi Kim cương thụ trì bồ tát, Ma ha diễn bồ tát, Ma ha khí trượng bồ tát, Văn thù sư lợi bồ tát, Kim cương tạng bồ tát, Kim cương thậm thâm bồ tát, Kim cương giác bồ tát. I. Kim Cương Lợi Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên phải đức Vô Lượng thọ Như lai trong nguyệt luân phía tây trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Mật hiệu là Bát nhã kim cương, Trừ tội kim cương. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này có thân mầu vàng ròng, tay trái cầm hoa, trên hoa có hộp kinh, tay phải cầm thanh gươm sắc bén; chủng tử là (dhaô), nghĩa là trí pháp giới đại không; hình Tam muội da là thanh gươm sắc. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra để khất sắt noa đạm. Trong hội Tam muội da chủng tử của vị tôn này là (da), nghĩa là trí tuệ Trung đạo vi diệu không lấy không bỏ; chân ngôn là: Nậu khư thiết na. Trong hội Cúngdường, hình tượng của vị tôn này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có thanh gươm sắc. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nghiệt đa bát ra chỉ nhạ ba la mật đa tị niết hạ lệ tát đô tát đô nỗ nhĩ ma ha cụ sa nỗ nghê đạm. Vị Bồ tát này là thân hạ chuyển(thân hoá độ chúng sinh)của đức Như lai Vô lượng thọ, tượng trưng cái đức ban gươm trí tuệ sắc bén cho chúng sinh. Thân Ngài mầu vàng ròng là biểu thị tướng thành tựu Phật trí viên mãn; tay trái cầm hộp kinh tượng trưng cho việc giữ gìn trí Phật ở trong định; tay phải cầm gươm sắc biểu thị ý nghĩa dùng trí Phật đoạn trừ hoặc chướng. Nếu được sự gia hộ của vị Bồ tát này, thì hành giả có thể dùng gươm Bát nhã ba la mật dứt trừ phiền não tạp nhiễm của mình và người. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Đại giáo vương Q.3 (bản dịch của ngài Thí hộ), kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung]. II. Kim Cương Lợi Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía tây trong 5 vị Đại lực bồ tát nói trong kinh Nhân vương bát nhã. Vị Bồ tát này tay cầm thanh gươm kim cương, phóng ra ánh sáng rực rỡ che chở cho đất nước. Gươm biểu thị ý nghĩa có năng lực đoạn trừ nghiệp chướng câu sinh(sinh ra đã có rồi) của mình và người khác.

kim cương lực sĩ

(金剛力士) Phạm:Vajrapàịibalin. Hán âm: Bà xà ba la ni bà lí ti. I. Kim Cương Lực Sĩ. Vương tử Pháp ý con vua Dũng quận ở đời quá khứ. Cứ theo Hội Kim cương lực sĩ trong kinh Bảo tích quyển 9, thủa xưa, Chuyển luân Thánh vương tên là Dũng quận có 1.000 người con và 2 vương tử là Pháp ý và Pháp niệm; Pháp ý nguyện rằng khi nào 1.000 vị Thái tử thành Phật, thì mình sẽ là Kim cương lực sĩ, ở gần bên Phật, nghe những pháp bí yếu của chư Phật. Vua Dũng quận lúc bấy giờ chính là đức Định quang Như lai trong quá khứ, 1.000 vị Thái tử tức là 1.000 đức Phật trong kiếp Hiền, còn vương tử Pháp ý chính là Kim cương lực sĩ, tên là Mật tích, cho nên cũng gọi là lực sĩ Kim cương Mật tích. Lực sĩ Mật tích, hoặc gọi là Na la diên,vì ngài có sức rất mạnh. II. Kim Cương Lực Sĩ. Chỉ cho Kim cương và Lực sĩ. Cứ theo phẩm Chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật, thì Kim cương là chỉ cho thần thủ hộ Bất khả việt, còn gọi là Nan thắng kim cương; Lực sĩ là chỉ cho thần thủ hộ Tương hướng, cũng gọi là Đối diện kim cương. Hai vị thần thủ hộ này thường được gọi là Nhị Vương Tôn, là những thần Kim cương thờ ở 2 bên cửa chùa. Cũng có nơi lập Hữu bật Kim cương và Tả phụ Mật tích. Hữu bật tức là trời Na la diên, vì vị thần trời này có sức rất mạnh, xua đuổi được tất cả quỉ thần. Còn Tả phụ tức là lực sĩ Kim cương Mật tích. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật; kinh Đà la ni tập Q.12]. (xt. Nhị Vương Tôn, Na La Diên Thiên).

kim cương man bồ tát

(金剛鬘菩薩) Kim cương man, Phạm: Vajra-màla. Hán âm: Phạ nhật ra ma lê. Tạng: Rdo-rje-#phreí-ba. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây nam trong nguyệt luân trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 4 vị bồ tát Nội cúng dường, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Diệu nghiêm kim cương, nghĩa là dùng tràng hoa để trang nghiêm. Bồ tát này do đức Đại nhật Như lai sinh ra để cúng dường Bảo sinh Như lai; Bảo sinh Như lai chủ về đức muôn hạnh phúc trí cho nên dùng chuỗi anh lạc kim cương để cúng dường Ngài. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này là hình Thiên nữ, mình mầu vàng nhạt, 2 tay cầm vòng hoa nâng ngang ngực, chủng tử là (traỉ), nghĩa là không cáu bẩn, không cao thấp; hình Tam muội da là vòng hoa báu kim cương; ấn tướng là 2 tay nắm lại trong tư thế đang vắt vòng hoa từ trán rủ xuống sau ót. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra ma lê đát la tra. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương minh vương bồ tát

(金剛明王菩薩) Kim cương minh vương, Phạm: Vidyottama. Hán âm: Vĩ nễ dã đa ma. Hán dịch: Minh vương chí cao. Vị Bồ tát ngồi ở ngoài cùng phía bên phải trong viện Tô tất địa trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Trì minh kim cương. Hình tượng vị tôn này mình mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, chắp tay, ngón út và ngón áp út co lại, móng tay tiếp sát nhau, 2 ngón trỏ mở ra, 2 ngón cái hợp lại, để ở trước ngực và hướng xuống dưới; chủng tử là (ka); chân ngôn là: Án phạ nhật ra vĩ nễ dã la nhạ sa ha. [X. Chư thuyết bất đồng kí Q.6; Bí tạng kí; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

kim cương na la diên thân

(金剛那羅延身) Na la diên, Phạm:Nàràyaịa. Thân thù thắng của Phật, Bồ tát. Vì thân của Phật và Bồ tát cứng chắc, giống như kim cương, không một vật gì khác làm hư hoại được. Còn sức mạnh của các Ngài thì cũng giống như sức mạnh của trời Na la diên, thế nên gọi là Kim cương na la diên thân. [X. kinh Đại bảo tích Q.10]. (xt. Na La Diên Thiên).

kim cương nghiệp bồ tát

(金剛業菩薩) Kim cương nghiệp, Phạm: Vajrakarman. Hán âm: Phạ nhật ra yết ma. Tạng: Las-thams-cad-kyi rdo-rje. I. Kim Cương Nghiệp Bồ Tát. Cũng gọi Kim cương tì thủ, Kim cương yết ma, Thiện biến nhất thiết xứ, Kim cương bất không. Vị Bồ tát ngồi ở phía trước đức Bất không thành tựu Như lai trong nguyệt luân phương bắc trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 6 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thiện xảo kim cương, Biện sự kim cương. Chủng tử và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, thì chủng tử là (kaô), nghĩa là mọi sự tạo tác đều nhập vào đại không, hình Tam muội da là yết ma chữ thập (..); hình tượng là thân mầu da người; 2 tay chắp lại đưa lên đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án phạ nhật la yết ma kiếm. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (tvaô), nghĩa là mọi sự tạo tác đều như như, lìa lời nói, trùm khắp pháp giới và tối thắng bậc nhất; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có yết ma chữ thập; chân ngôn là: Tô phược thủy đát tông. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tôn này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có yết ma chữ thập; ấn tướng là Ngoại phược quyền(2 tay chắp lại, 10 ngón đan vào nhau rồi nắm lại) đưa lên đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa độ bá minh già tam mẫu nại ra tát phát ra noa bố nhạ yết mê ca la gia lạc. Vị tôn này là thân hóa độ chúng sinh của đức Bất không thành tựu Như lai, tượng trưng cho đức tự lợi, lợi tha. Ngài đem kho báu trong hư không cứu giúp chúng sinh khiến không còn thiếu thốn và mở lòng rộng lớn cúng dường tất cả chư Phật Như lai nhiều như bụi nhỏ ở khắp 10 phương. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Du già du kỳ]. II. Kim Cương Nghiệp Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận đức Đại nhật Như lai ngồi trong nguyệt luân phương đông thuộc hội Tứ ấn trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Vị tôn này tượng trưng cho trí ấn yết ma trong 4 loại trí ấn. Hình tượng vị tôn này là tay trái nắm lại để ở chỗ thắt lưng, bàn tay phải ngửa ra đặt trước ngực, trong lòng bàn tay có yết ma; ấn tướng là Ngoại phược quyền đặt trên đỉnh đầu, 2 ngón giữa để trong lòng bàn tay, mặt ngón tay sáp nhau, 2 ngón út và 2 ngón trỏ dựng đứng tiếp hợp nhau. Chân ngôn là: A vĩ nễ dã đà phược đế minh tát đát phược tát phược đát tha nghiệt đảm thất giả vĩ nễ dã địa nghiệt ma tán phược la tham phẫn đảm. Trong các hội: Thành thân, Yết ma, Cúng dường, Hàng tam thế, v.v..., vị tôn này đều được gọi là Nghiệp ba la mật bồ tát. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Đại giáo vương Q.3].

kim cương ngữ bồ tát

(金剛語菩薩) Kim cương ngữ, Phạm: Vajra-bhàwa. Hán âm: Phạ nhật ra bà sa. Tạng:Rdo-rje brjod#-pa. Cũng gọi Kim cương ngữ ngôn bồ tát, Vô ngôn bồ tát, Kim cương niệm tụng bồ tát, Năng thụ tất địa bồ tát, Kim cương thượng tất địa bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức Vô lượng thọ Như lai trong nguyệt luân phương tây. Là một trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Mật hiệu là Tính không kim cương, Diệu ngữ kim cương. Chủng tử, hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như tronghội Thành thân, chủng tử của Ngài là (raô), nghĩa là nghiệp thanh tịnh vô cấu, hình Tam muội da là chày 3 chĩa đặt trên cái lưỡi; hình tượng Ngài là thân mầu da người, tay trái nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng ngang bụng, tay phải cầm lưỡi Như lai để ở trước ngực; ấn tướng là 2 tay kết kim cương quyền, đưa lên đến miệng thì mở ra và ngửa lên. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra bà sái lam. Trong hội Tam muội da, chủng tử của vị tôn này là (da), nghĩa là dùng lời nói ban phát cho tất cả; hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây chày 3 chĩa hình cái lưỡi; ấn tướng là Ngoại phược quyền(2 bàn tay chắp, 10 ngón đan xen kẻ nhau rồi nắm lại)với 2 ngón trỏ làm thành hình hoa sen búp, 2 ngón cái dính vào 2 ngón trỏ. Chân ngôn là: Bát ra để nhiếp na. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái nắm lại để ở chỗ cạnh sườn ngang rốn, bàn tay phải duỗi ra để ở trước ngực. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị Bồ tát này là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có cây chày 3 chĩa. Vị tôn này tượng trưng cho đức nội chứng, vì chúng sinh nói pháp của Vô lượng thọ Như lai. Thân mầu da người biểu thị ý nghĩa tu hành và chứng quả hợp nhất; mầu da người là do mầu trắng và mầu đỏ hợp thành, mầu trắng biểu thị cho đức thanh tịnh sẵn có, mầu đỏ biểu thị cho việc tu hành tinh tiến. Còn lưỡi Như lai biểu thị cho đức thuyết pháp luận nghĩa. Nếu vị tôn này gia hộ thì hành giả có được 64 thứ pháp âm vang rền khắp 10 phương, khiến cho chúng sinh đều được sự lợi ích của chính pháp. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương ngữ ngôn

(金剛語言) Gọi tắt: Kim cương ngữ. Tụng kinh thầm lặng, không phát ra tiếng. Cứ theo kinh Thủ hộ quốc giới quyển 2, thì thân ngồi trong tư thế Kim cương kết già, răng và môi khép kín, không phát ra tiếng, chỉ niệm thầm trong tâm, gọi là Kim cương ngữ. Kinh Nhiếp chân thực quyển hạ (Đại 18, 281 trung), nói: Lúc trì tụng chân ngôn, nên giữ tâm lắng lặng; miệng khẽ đọc, chỉ một mình nghe, không để người khác biết. Trong tâm quán tưởng từng chữ Phạm, phân biệt rõ ràng, không được nhầm lẫn, chẳng chậm chẳng mau, đó gọi là Kim cương ngữ ngôn.

kim cương nha bồ tát

(金剛牙菩薩) I. Kim Cương Nha Bồ Tát. Kim cương nha, Phạm: Vajra-daôwỉra. Hán âm: Phạ nhật ra năng sắt tra la. Tạng: Rdo-rje-mche-ba. Cũng gọi Kim cương dược xoa, Kim cương tồi phục bồ tát, Ma ha phương tiện bồ tát, Thậm khả bố úy bồ tát, Kim cương thượng bồ tát, Kim cương bạo ác bồ tát, Tồi phục ma bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên trái đức Bất không thành tựu Như lai trong nguyệt luân phương bắc trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là một trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Mãnh lợi kim cương, Điều phục kim cương, Hộ pháp kim cương. Hình tượng, chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của vị tôn này là thân mầu vàng lợt, 2 tay nắm lại hướng ra bên ngoài đặt ở trước ngực, chủng từ là (hùô), biểu thị ý nghĩa tất cả các nghiệp nhân đều hòa nhập vào đại không; hình Tam muội da là 2 chiếc răng sắc trên cây chày nằm ngang. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra dược khất xoa hồng. Trong hội Tam muội da thì chủng tử là (kwa), biểu thị ý nghĩa trừ (nuốt) hết phiền não; hình Tam muội da là nửa cái chày 3 chĩa giống như chiếc răng, đặt trên hoa sen; chân ngôn là: Thiết đốt rô bạc khất xoa. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tôn này là hai tay cầm hoa sen, trên hoa sen có hai nửa cây chày; chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nghiệt đa lộ ca nhập phạ la tát phát ra noa bố nhạ yết mê bạt ra bạt ra. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là 2 tay hướng vào trong, tay trái kết Nha ấn, ngón cái, ngón trỏ của tay phải bấm vào nhau. Nếu được bồ tát Kim cương nha gia hộ, thì hành giả có thể phá dẹp tất cả chướng ngại do thiên ma tạo ra và diệt trừ được hết thảy phiền não oán địch từ vô thủy. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4 (ngài Thí hộ dịch)]. II. Kim Cương Nha Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 5, hàng thứ 3 ở phía trên, trong 21 vị tôn của Kim cương bộ thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Điều phục kim cương. Hình tượng vị tôn này mình mầu da người, mặc áo trời, ngồi trên hoa sen vàng, tay trái đặt ngang thắt lưng, cầm hoa sen, cánh tay phải co lại, bàn tay dựng thẳng hướng về phía trước, co ngón giữa và ngón áp út. Chủng tử là (hùô), nghĩa là phá dẹp, khủng bố; hình Tam muội da là nửa cây chày 3 chĩa đặt trên hoa sen, ấn tướng là ấn Kim cương dược xoa đại bi tam muội da; chân ngôn là: Nẵng mạc tam mạn đa một đà nam già vĩ ba la thiết đốt rô ô hồng sa phạ hạ. [X. Chư thuyết bất đồng kí Q.4; Thai tạng giới thất tập Q.thượng].

kim cương nhị nghĩa

(金剛二義) Hai đặc tính của kim cương thường được các kinh luận dùng để ví dụ cho Thể và Dụng của Bát nhã. 1. Cứng chắc: Sự cứng chắc của kim cương không một vật nào có thể phá hoại được, ví dụ Thể của Bát nhã chân thường thanh tịnh không hề biến đổi, không bị phiền não nhiễu loạn, tà ma không thể lay động, đó là Thực tướng Bát nhã. 2. Bén nhọn: Sự bén nhọn của kim cương có thể phá vỡ muôn vật, ví dụ Dụng của Bát nhã có công năng dứt trừ hoặc chấp, thấu suốt 5 uẩn đều không, vượt qua tất cả khổ ách, đó là Quán chiếu bát nhã. (xt. Kim Cương).

kim cương nộ mục bồ tát đê mi

(金剛怒目菩薩低眉) Kim cương nộ mục nghĩa là đồng tử Kim cương trợn mắt, hình dung cái uy thế của người, đầy vẻ phẫn nộ để hàng phục kẻ ác. Còn Bồ tát đê mi nghĩa là Bồ tát lim dim đôi mắt, miêu tả vẻ hiền từ của người để nhiếp hóa người thiện lương.

kim cương pháp bồ tát

(金剛法菩薩) Kim cương pháp, Phạm: Vajra-dharma. Hán âm: Phạ nhật ra đạt ma. Tạng:Rdo-rje-spyan. Hán dịch: Kim cương nhãn. Cũng gọi Kim cương nhãn bồ tát, Thiện lợi tát đỏa, Kim cương liên hoa bồ tát, Thiện thanh tịnh bồ tát, Kim cương diệu nhãn bồ tát, Quán thế tự tại bồ tát. I. Kim Cương Pháp Bồ Tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía trước đức Vô lượng thọ Như lai trong nguyệt luân ở phương tây, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, Chính pháp kim cương, Liên hoa kim cương. Hình tượng, chủng tử của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là thân mầu da người, tay trái cầm hoa sen, tay phải xòe ra; chủng tử là (hrì#), nghĩa là xa lìa 3 cái độc hại là tham, sân, si; hình Tam muội da là hoa sen nở rộ, hoặc là chày kim cương 3 chĩa dựng trên hoa sen; chân ngôn là: Án phạ nhật ra đạt ma ngật lí. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ra), nghĩa là tự tính thanh tịnh vô cấu tam muội; chân ngôn là: Tát phạ ca lí. Nếu được sự gia hộ của vị Bồ tát này, thì hành giả có thể chứng được lí bản tính của các pháp vốn thanh tịnh. II. Kim Cương Pháp Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi trong nguyệt luân ở phía tây trong hội Tứ ấn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, là 1 trong 4 vị Bồ tát thân cận của đức Đại nhật Như lai, tượng trưng cho Pháp trí ấn trong 4 loại Trí ấn. Hình tượng của vị tôn này đại khái cũng giống với hình tượng của bồ tát Kim cương pháp trong hội Thành thân đã nói ở trên. Chân ngôn là: Niết sắc bát la bán tả phược cát tất đệ bạc phạ đổ tát phược đát tha nghiệt đá ma đạt dụ minh a nhạ diễn đảm. Vị Bồ tát này là thân hóa độ chúng sinh của đức Vô lượng thọ Như lai, vì thế tuyên nói lí bản tính thanh tịnh để mở tỏ cho chúng sinh. Vì pháp do Ngài nói là từ chính trí mà ra, cho nên cũng gọi là Kim cương nhãn (mắt kim cương). [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung].

kim cương pháp giới cung

(金剛法界宮) Gọi tắt: Pháp giới cung, Pháp giới cung điện. Chỉ cho hội trường, nơi đức Đại nhật Như lai tuyên thuyết kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính v.v... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, Kim cương pháp giới cung có 2 nghĩa nông cạn và sâu kín. 1. Nghĩa nông cạn: Kim cương pháp giới cung là nơi đức Phật thành đạo Bồ đề thủa xưa, tức cũng chỉ cho cung trời Ma hê thủ la (Phạm:Mahezvara, dịch ý là Đại tự tại). 2. Nghĩa sâu kín: Khắp mọi nơi trong pháp giới đều là Kim cương pháp giới cung. Kim cương ví dụ trí Thực tướng; Pháp giới chỉ cho trí thể kim cương rộng lớn, tức là Thực tướng trí thân của Như lai; Cung là nơi được trang nghiêm bằng công đức chân thực. Bởi thế, y chính sắc thân trong 10 cõi đều là Pháp giới cung, chứ không phải chỉ giới hạn ở nơi hội trường tuyên thuyết kinh Đại nhật. Nói tóm lại, theo nghĩa nông cạn, thì Kim cương pháp giới cung là đất nước ứng hiện của Tha thụ dụng thân trở xuống; còn theo nghĩa sâu kín, thì đó là cảnh giới của Pháp thân an trú, là cõi nước tức sự mà chân. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp Q.hạ; luận Thập trụ tâm Q.10].

kim cương phật tử

(金剛佛子) Cũng gọi Kim cương đệ tử, Kim cương tư. Chỉ cho những người tu hành Kim cương thừa, tức là những đệ tử Phật tu hành theo Chân ngôn Mật giáo. Hoặc chỉ cho những hành giả chân ngôn Mật giáo đã nhận lễ Quán đính và danh hiệu Kim cương.

kim cương quang bồ tát

(金剛光菩薩) Kim cương quang, Phạm: Vajra-tejas. Hán âm: Phạ nhật ra đế nhạ. Tạng:Rdo-rje-gzi-brjid. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở bên phải đức Bảo sinh Như lai trong nguyệt luân phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị Đại bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Cũng gọi: Kim cương nhật bồ tát, Kim cương quang minh bồ tát, Kim cương uy đức bồ tát, Tối thắng quang bồ tát, Ma ha quang diệm bồ tát, Kim cương huy bồ tát. Mật hiệu là Uy đức kim cương, Uy quang kim cương, tượng trưng cho đức sáng lạn của Bảo minh Như lai, chiếu rọi khắp cõi hữu tình, phá tan bóng tối vô minh. Về chủng tử và hình tượng của vị tôn này, trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng vị tôn này là thân mầu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm hình mặt trời; chủng tử là (aô), nghĩa là các pháp vốn chẳng sinh, ánh sáng chiếu soi vô hạn lượng; hình Tam muội da là mặt trời; chân ngôn là: Án phạ nhật ra đế nhạ ám. Trong hội Tam muội da, chủng tử của vị tôn này là (ta); hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa sen có mặt trời. Chân ngôn là: Rô bao nễ dữu đa. Trong hội Vi tế, hình tượng của vị tôn này là 2 tay bưng vầng mặt trời để ở trước ngực. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có hình mặt trời. Chân ngôn là: Án na mạc tát phạ đát tha nga đa tô lí duệ tì dụ phạ nhật ra đế nhĩ nễ nhập phược la dĩ dực. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; Kim cương đính du già trung lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương quyền

(金剛拳) Cũng gọi: Kim cương Như lai quyền, Phẫn nộ quyền, Kiên lao kim cương quyền ấn. Ấn tướng này biểu trưng cho thức Đại kim cương trí, được dùng trong Mạn đồ la Kim cương giới. Một trong 4 loại Quyền ấn, 1 trong 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Khi kết ấn này, ngón cái co vào trong lòng bàn tay, còn 4 ngón kia nắm lại thành quyền. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

kim cương quán

(金剛觀) Ví dụ pháp quán Chỉ quán, khi thành tựu, sẽ cứng chắc và sắc bén như kim cương. Theo sự giải thích của tông Thiên thai thì Chỉ và Quán tức là 2 pháp Định và Tuệ. Chỉ nghĩa là ngăn dứt tất cả vọng niệm và ngoại cảnh, chuyên chú tâm vào 1 đối tượng đặc biệt nào đó; Quán nghĩa là dùng chính trí quán xét đối tượng ấy. Pháp quán này có năng lực chiếu phá sự mê tối, ngăn dứt tán loạn, hết thảy 3 chướng 4 ma đều bị diệt trừ, vì thế gọi là Kim cương quán. Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng (Đại 46, 49 thượng), nói: Pháp quán kim cương này dẹp tan giặc phiền não, đôi chân mạnh mẽ này, vượt qua cánh đồng sinh tử.

kim cương quân

(金剛軍) Cao tăng người Ấn độ, sự tích về ngài không được rõ. Cứ theo Hoa nghiêm kinh truyện kí quyển 1, vị này từng chú thích bộ Thập địa kinh luân gồm 12.000 bài tụng, do ngài Thế thân soạn. Bộ sách chú thích này về sau được phiên dịch thành hơn 30 quyển. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Giải thâm mật kinh sớ Q.1].

kim cương sách bồ tát

(金剛索菩薩) Kim cương sách, Phạm: Vajra-pàza. Hán âm: Phạ nhật la bá xả bồ tát. Vị Bồ tát ngồi trong nguyệt luân ở cửa Nam, lớp thứ nhất của hội Thành thân thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Nhiếp bồ tát trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Đẳng dẫn kim cương, Từ dẫn kim cương. Vị tôn này là đồng thể với Bồ tát Kim cương quyên sách trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền. Ngài dùng sợi dây (sách) tâm đại từ bi dắt dẫn chúng sinh vào Phật đạo, vì thế, Ngài chủ về đức dắt dẫn chúng sinh. Trong Lược thuật kim cương đính du già phân biệt Thánh vị tu chứng pháp môn (Đại 18, 290 hạ) nói: Từ trí Dẫn nhập phương tiện quyên sách Tam ma địa mà buông ra ánh sáng kim cương quyên sách, chiếu khắp 10 phương thế giới (...) Vì thụ dụng trí tam ma địa nên thành tựu thân hình bồ tát Kim cương quyên sách, trụ trong nguyệt luân ở cửa Nam để giữ gìn ngôi nhà công đức. [X. kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển)].

kim cương sám

(金剛懺) Pháp sám hối được thực hành dựa theo kinh Kim cương bát nhã ba la mật. Về bản văn của pháp sám này, theo thiên Hối tội trong Quảng hoằng minh tập, thì có Kim cương bát nhã sám văn của vua Lương Vũ đế. Kinh Kim cương là bộ kinh đặc biệt Thiền tông coi trọng và từ thời Ngũ tổ trở về sau, qua các đời, tín ngưỡng kinh Kim cương đã rất phổ cập. Chính vì thế mà kim cương sám pháp cũng được lưu hành rộng rãi.

kim cương sát

(金剛刹) Cũng gọi là Kim cương tịnh sát. Tên khác của chùa viện Phật giáo. Vì kim cương được dùng để ví dụ cho công đức của chùa (sát) nên gọi là Kim cương sát. Tăng sử lược quyển thượng (Đại 54, 237 thượng), nói: Xét trong bài văn Tự cáo (nói về các chùa) của pháp sư Linh dụ, thì chùa gồm có 10 tên gọi (...). Kim cương sát (chỗ ở kiên cố, nơi người tu hành cư trú) là tên thứ 7.

kim cương sơn

(金剛山) Núi ở phía đông phủ Hoài dương, tỉnh Giang nguyên, Hàn quốc, gần biển Nhật bản, là cảnh đẹp bậc nhất của nước này. Tương truyền, núi này là chỗ ở của bồ tát Pháp khởi trong kinh Hoa nghiêm, cho nên người đời tôn xưng là Linh sơn. Toàn núi được chia làm 4 khu Kim cương: Nội, Ngoại, Hải, Tân và có mấy chục ngôi chùa. Trong khu Nội kim cương có chùa Chính dương do vua Thái tổ nước Cao li sáng lập, chùa Biểu huấn do vua Văn vũ nước Tân la xây dựng và chùa Trường an do ngài Chân biểu kiến thiết dưới triều vua Pháp hưng nước Tân la. Khu Ngoại kim cương có chùa Thần khê, vốn là ngôi tháp cổ ở thời đại Tân la, cũng là một Bản sơn có sớm nhất. Khu Tân kim cương có chùa Du hỗ là nổi tiếng nhất của núi này, mà cũng là nổi tiếng nhất trong 31 ngôi chùa Bản sơn của nước Triều tiên.

kim cương tam muội

(金剛三昧) Tam muội (chính định) có năng lực thông suốt tất cả các pháp. Vì định này bền chắc như kim cương, có thể phá trừ tất cả phiền não, cho nên gọi là Kim cương tam muội. Kinh Niết bàn quyển 24 (Đại 12, 509 trung), nói: Bậc Đại bồ tát tu Đại niết bàn, chứng được Kim cương tam muội; an trụ trong Tam muội này, có thể phá tan tất cả các pháp. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6; Đại nhật kinh sớ Q.5; luận Đại trí độ Q.47].

kim cương tam muội kinh

(金剛三昧經) I. Kim Cương Tam Muội Kinh. Tạng: Rdo-rje#i tií-íe- (dsin-gyi chos-kyi yige Kinh 1 quyển (hoặc 2 quyển) được dịch vào thời Bắc Lương (397-439), mất tên người dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung giải thích các pháp Không, Chân như, Như lai tạng, v.v... và được chia làm 8 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Vô tướng, phẩm Vô sinh hành, phẩm Bản giác lợi, phẩm Nhập thực tế, phẩm Chân tính không, phẩm Như lai tạng và phẩm Tổng trì. Kinh này tuy chỉ có 1 quyển, nhưng đã bao quát các tư tưởng Đại thừa, xứng đáng làm pháp bảo cho Bồ tát ra đời độ người. Bản dịch Tây tạng của kinh này là dịch từ bản chữ Hán. Về sách chú thích kinh này thì có: Kim cương tam muội kinh chú giải, 4 quyển, của ngài Viên trừng đời Minh, Kim cương tam muội kinh luận, 3 quyển, của ngài Nguyên hiểu người Tân la, Kim cương tam muội kinh thông tông kí, 12 quyển, của ngài Tru chấn đời Thanh. [X. Đôn hoàng kiếp dư lục Q.7 (Trần viên)]. II. Kim Cương Tam Muội Kinh. Cũng gọi Kim cương tam muội bản tính thanh tịnh bất hoại bất diệt kinh, Kim cương thanh tịnh kinh. Có 1 quyển, mất tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 15.

kim cương thuỷ

(金剛水) Phạm: Vajrodaka. Hán âm: Bạt chiết la ô đà ca. Tạng:Rdo-rje chu. Cũng gọi Kim cương thệ thủy, Thệ thủy. Loại nước dành cho hành giả Mật giáo uống khi phát lời thệ nguyện trong lễ thụ Quán đính, gọi là Kim cương thủy. Đại nhật kinh sớ quyển 5 nói rằng, Kim cương thủy là nước trong được điều chế bằng các thứ hương liệu như uất kim(nghệ), long não, chiên đàn, v.v... rồi đọc chân ngôn gia trì. Người thụ Quán đính uống nước ấy trước mặt tất cả Thánh chúng và tự thệ không bao giờ lui sụt nguyện Đại bồ đề. [X. kinh Đại giáo vương Q.3 (ngài Thí hộ dịch); kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Đà la ni tập Q.4].

kim cương thân

(金剛身) Phạm: Vajra-saôhatana-kàya. Gọi đủ: Kim cương bất hoại thân. Kinh Đại bảo tích quyển 52 (Đại 52, 37 trung), nói: Thân Như lai tức là Pháp thân; thân kim cương là thân bền chắc không hư hoại. Nghĩa là Pháp thân của Như lai được ví như kim cương, không thể hư nát. [X. kinh Trường a hàm Q.4; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vượng Q.1; kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].

kim cương thảo lí

(金剛草履) Cũng gọi: Kim cương tạng thảo hài, hoặc gọi tắt là Kim cương. Một trong các loại giầy cỏ do các vị tăng Nhật bản thời xưa sử dụng. Có rất nhiều loại: Cảo kim cương (giầy rơm), Lận kim cương(giầy cỏ cói), Gian kim cương(giầy cỏ may), Bản kim cương(giầy bằng ván gỗ), v.v... So với giầy cỏ hiện nay thì Kim cương thảo lí hơi lớn hơn. Vì lấy theo nghĩa kim cương bền chắc không hư hoại nên gọi là kim cương thảo lí. Cứ theo Nhật tăng Pháp nhiên thượng nhân hành trạng họa đồ quyển 34, thì ngài Pháp nhiên cả đời chẳng cỡi ngựa, ngồi xe, mà chỉ mang giầy cỏ kim cương đi bộ. [X. Đồng dực tán Q.34; điều Cảo kim cương trong sách Loại tụ danh vật khảo Q.24].

kim cương thể

(金剛體) Thân thể bền chắc ví như kim cương, chỉ cho công đức của thân Phật. Theo kinh Nguyệt quang đồng tử, công đức của thân Phật như kim cương, đã dứt sạch các điều ác và tích tụ muôn hạnh lành; tướng tốt sáng chói, không thần khí nào sánh kịp; đã phá tan bóng tối của 5 đường, hiển bày ánh sáng vô thượng chính chân. Kinh Nhân vương (bản dịch mới) quyển trung (Đại 8, 837 trung), nói: Thế tôn đạo sư kim cương thể, tâm hành tịch lặng chuyển pháp luân. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1].

kim cương thủ bồ tát

(金剛手菩薩) Kim cương thủ, Phạm: Vajra-pàịi. Hán âm: Phạt chiết la bá ni, hoặcVajradhara (Hán âm: Phạt chiết la đà la). Tạng:Lag-na rdo-rje. Cũng gọi: Chấp kim cương bồ tát, Bí mật chủ bồ tát, Kim cương chủ dược xoa tướng. Chỉ cho các vị Bồ tát cầm chày kim cương trong viện Kim cương thủ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị Bồ tát náy cũng đặc biệt được dùng để gọi Lực sĩ Kim cương mật tích, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 22 nói, Lực sĩ Kim cương mật tích cầm chày kim cương đứng ở phía sau đức Như lai. Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì nói, Kim cương thủ theo nghĩa nông cạn là chỉ cho Dạ xoa cầm chày kim cương, thường theo hầu đức Phật; còn theo nghĩa sâu xa thì chỉ cho Kim cương tát đỏa, biểu thị cho tam mật thân, ngữ, ý của đức Đại nhật Như lai. Lí thú thích quyển thượng thì cho rằng vị Bồ tát này chính là bồ tát Phổ hiền, vì ngài Phổ hiền đích thân tiếp nhận chày kim cương từ tay đức Phật Tì lô giá na. Nhưng trong kinh Bát đại bồ tát mạn đồ la do ngài Bất Không dịch, thì trong 8 vị Bồ tát có 2 bồ tát Phổ hiền và Kim cương thủ khác nhau; bồ tát Kim cương thủ thân mầu xanh, ngồi bán già, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày kim cương, tay trái để ở chỗ thắt lưng; chân ngôn là: Án tông ra phạ sa phạ ha. [X. kinh Nhập lăng già Q.8; kinh Đại giáo vương Q.1 (ngài Thí hộ dịch); kinh Sư tử trang nghiêm vương bồ tát thỉnh vấn; kinh Đại thừa bát đại mạn noa la].

kim cương thủ trì kim cương bồ tát

(金剛手持金剛菩薩) Kim cương thủ trì kim cương, Phạm: Vajra-hasta-vajra-dhara. Hán âm: Phạ nhật ra ha tốt đổ phạ nhật ra đà lạc. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 hàng thứ 1 trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Kiên cố kim cương, Bí mật kim cương. Vị tôn này đồng thể với bồ tát Mang mãng kê (Phạm: Màmakì) của Kim cương bộ mẫu và chủ về đức năng sinh trong Kim cương bộ. Hình tượng là thân mầu vàng nhạt, ngồi trên hoa sen đỏ, tay trái hướng vào trong, cầm cây chày 3 chĩa, tay phải kết ấn Thí nguyện, mặt hơi hướng về bên phải; chủng tử là (triô), (hùô), hình Tam muội da là chày kim cương 3 chĩa(có thuyết nói 5 chĩa); ấn tướng là ấn Trì địa; chân ngôn là: Phẫn nộ qui mệnh hồng hồng hồng hồng phát tra nhiêm nhiêm sa phạ hạ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Chư thuyết bất đồng Q.4]. (xt. Mang Mãng Kê Bồ Tát).

Kim cương thừa

金剛乘; S: vajrayāna;|Một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5,6 tại Bắc Ấn Ðộ. Kim cương thừa bắt nguồn từ Ðại thừa (s: mahāyāna) và được truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản (riêng bộ Vô thượng du-già không được truyền sang Trung Quốc và Nhật).|Xuất phát từ Phật giáo Ðại thừa, nhưng trường phái này lấy thêm những phương pháp tu học huyền bí, có tính chất bí truyền. Thường thường các phái này được hướng dẫn bằng một vị Ðạo sư, kinh sách của họ trình bày nhiều phép tu luyện được gọi là Tan-tra. Kim cương thừa hay sử dụng Man-tra và có ảnh hưởng mạnh nhất tại Tây Tạng. Vì hay sử dụng Man-tra, Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Kim cương thừa là Chân ngôn thừa (s: man-trayāna).|Giáo pháp của Kim cương thừa mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố của phép Du-già và các tôn giáo thiên nhiên của Ấn Ðộ trộn lẫn với tư tưởng Phật giáo. Quan trọng nhất là ảnh hưởng từ Tây Bắc Ấn Ðộ với nhiều biểu tượng về Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ) cũng như ảnh hưởng của Bắc Ấn về việc tôn thờ giới tính.|Trong thời gian đầu, giáo pháp này chỉ được khẩu truyền, và đến giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10 mới được hệ thống hoá và kết tập hoàn chỉnh. Các tác phẩm quan trọng nhất của Kim cương thừa là Bí mật tập hội (s: guhyasamājatantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakratantra) cũng sinh ra trong thời gian này. Các kinh sách quan trọng nhất của Kim cương thừa được gồm trong các Tan-tra cũng như các bài thánh đạo ca của các vị Tất-đạt (s: siddha), là các bài diễn tả kinh nghiệm của phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā).|Lúc Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng thì cũng là lúc giáo pháp này đã có một chỗ đứng vững chắc trong Phật giáo nói chung. Muốn lĩnh hội Kim cương thừa, hành giả phải có một kiến giải sâu xa về giáo pháp của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, giáo pháp theo cách luận giải của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga). Vì vậy Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng được gọi là »Nhân thừa« (因乘) và Kim cương thừa được gọi là »Quả thừa« (果乘). Trong Kim cương thừa, có một yếu tố quan trọng khác là vai trò của một vị Ðạo sư, vị này Quán đỉnh và truyền lực, hướng dẫn đệ tử thiền quán, chú tâm vào một Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định. Trong các phép này, sử dụng Man-tra, quán Man-đa-la và và bắt Ấn là những phương tiện quan trọng. Trong Kim cương thừa, Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) biểu hiện sự giác ngộ, đạt được sự nhất thể của vũ trụ, vượt lên mọi nhị nguyên thông thường.

kim cương thừa giáo

(金剛乘教) Kim cương thừa, Phạm: Vajra-yàna. Hán âm: Bạt nhật la diễn. Cũng gọi Kim cương nhất thừa, Kim cương nhất thừa thậm thâm giáo, Kim cương nhất thừa tối cực bí mật giáo, Kim cương trí tuệ nhất thừa giáo, Tối thượng kim cương bí mật thừa giáo. Tên gọi khác của Mật giáo. Đối với Đại thừa và Tiểu thừa hiển giáo, Mật giáo tự cho pháp của mình là thù thắng nhất, vả lại bền chắc, sắc bén như kim cương, cho nên gọi là Kim cương thừa giáo. [X. kinh Du già du kì Q.1; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu]. (xt. Mật Tông).

kim cương thực thiên

(金剛食天) Kim cương thực, Phạm: Vajra-màla#. Cũng gọi Kim cương ẩm thực thiên, Kim cương thực trì man, Man tì na dạ ca, Nghiêm kế đại tướng. Vị tôn ngồi ở chính giữa phương nam của Kim cương bộ ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời của bộ này, một trong 5 loại trời ở hư không. Hình tượng của vị tôn này trong các hội Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng mầu da người, đầu voi mình người, ngồi trên lá sen, tay trái nắm lại thành quyền để ở dưới bụng chỗ thắt lưng, tay phải cầm tràng hoa. Trong hội Vi tế, tay phải cầm tràng hoa, tay trái cầm thanh kiếm. Trong hội Cúng dường, hai tay đều cầm tràng hoa. Chủng tử là (ma), hình Tam muội da là tràng hoa. Theo kinh Đại giáo vương quyển 10, thì vị tôn này chính là Tác cam lộ (Phạm: Madhu-kasa) trong các vị trời đi trong hư không, hiệu là Kim cương man (Phạm: Vajra-màla). [X. Hiền kiếp thập lục tôn; Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ].

kim cương ti hiển tính lục

(金剛錍顯性錄) Gọi đủ: Kim cương ti luận hiển tính lục. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Cô sơn Trí viên (976-1022) biên tập vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 100. Đây là sách chú thích bộ luận Kim cương ti của ngài Kinh khê Trạm nhiên đời Đường. Trong bộ sách này, ngài Cô sơn Trí viên thuộc phái Sơn ngoại tông Thiên thai đã công nhiên dấy lên cuộc tranh luận với ngài Tứ minh Tri lễ thuộc phái Sơn gia. Xưa nay những nghĩa lí được bàn giải trong các tác phẩm của phái Sơn ngoại thường là thiên lệch lầm lẫn, luôn bị các học giả của phái Sơn gia bài bác. Nhưng sách này giải thích nghĩa lí trong luận Kim cương ti rất ưu việt, đến cả phái Sơn gia cũng thường dẫn dụng và xem trọng.

kim cương ti luận

(金剛錍論) Cũng gọi Kim cương ti, Kim ti luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Kinh khê Trạm nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Kim cương ti là dụng cụ để lột màng mắt chữa bệnh cho người mù, từ đó dẫn đến nghĩa tượng trưng cho sự khai mở con mắt trí tuệ cho chúng sinh mê tối. Luận này dựa vào tư tưởng tất cả hữu tình, vô tình đều thành Phật trong kinh Pháp hoa và tư tưởng Duy thức của luận Đại thừa khởi tín làm căn bản mà chủ trương tất cả cỏ cây đều có thể thành Phật; đồng thời; căn cứ vào lập trường Phật tính như không trong kinh Niết bàn để phản bác thuyết cho rằng gạch đá không có tính Phật. Luận này bàn về nghĩa chân thực của Phật tính, cho rằng không những tất cả loài hữu tình có Phật tính, mà ngay cả cỏ cây cũng có Phật tính. Thuyết Vô tình có Phật tính này không thấy trong các tác phẩm của ngài Trí khải, vì thế nên biết tư tưởng này đã do ngài Trạm nhiên đề xướng và về sau trở thành đặc sắc của giáo nghĩa tông Thiên thai đời Tống.

kim cương tiên luận

(金剛仙論) Cũng gọi Kim cương tiên kí, Tiên kí. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 25. Đây là sách chú giải bộ Kim cương bát nhã ba la mật kinh luận của ngài Thiên thân. Về tác giả của luận này, ở cuối quyển có ghi (Đại 25, 874 hạ): Di lặc Thế tôn giải thích bằng văn xuôi, Luận chủ Thiên thân học được từ tỉ khưu Vô chướng ngại, nghiên cứu suy tìm ý của bộ kinh luận này, rồi làm kệ luận, nêu lên nhiều nghi vấn. Để giải thích những nghi vấn đó, nên làm 80 bài kệ và soạn luận thích bằng văn xuôi, rồi truyền dạy cho luận sư Kim cương tiên. Luận sư Kim cương tiên truyền dạy cho ngài Vô tận ý, ngài Vô tận ý truyền cho đến nay đã gần 200 năm mà chưa hề dứt tuyệt. Qua quá trình truyền thừa như trên, trong đó, về sự tích của các ngài Kim cương tiên, Vô tận ý, Thánh tế, v.v... tuy không được rõ, nhưng nhan đề của luận này là Kim cương tiên luận, thì có thể được xem như đã do ngài Kim cương tiên soạn. Tuy nhiên, trong luận này có nhiều chỗ trích dẫn thuyết của các nhà dịch kinh ở Trung quốc, thì rõ ràng luận này đã không phải được dịch từ tiếng Phạm. Kim cương bát nhã kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng, Nhân vương kinh sớ quyển thượng phần cuối của ngài Viên trắc, Khai nguyên thích giáo lục quyển 12, v.v... đều cho rằng luận Kim cương tiên là do ngài Bồ đề lưu chi soạn. Nhưng Kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng của ngài Khuy cơ thì cho rằng ý nghĩa hồi tâm của hàng Nhị thừa định tính và thuyết Chân thức duyên khởi nói trong luận Kim cương tiên đều xa lạ với các môn hạ của ngài Thiên thân, bởi thế, ngài Khuy cơ đã đoán định rằng Kim cương tiên là người nước Ngô ở miền Nam Trung quốc. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng].

kim cương tiếu bồ tát

(金剛笑菩薩) Kim cương tiếu, Phạm:Vajra-hàsa. Hán âm: Phạ nhật ra hạ sa. Tạng: Rdo-rje-#dsum. Cũng gọi Ma ha tiếu bồ tát, Ma ha hi hữu bồ tát, Kim cương hoan hỉ bồ tát, Kim cương vi tiếu bồ tát, Lạc sinh hoan hỉ bồ tát. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía sau đức Bảo sinh Như lai trong nguyệt luân ở phương nam trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Hỉ duyệt kim cương, Hoan hỉ kim cương. Là 1 trong 16 vị Bồ tát, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Hình tượng, hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội của Mạn đồ la Kim cương giới đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là thân mầu da người, 2 tay nắm lại thành thế quyền ấn đưa lên ngang tai; hình Tam muội da là giữa 2 cây chày 3 chĩa có hình cái miệng cười; chủng tử là (ha#), nghĩa là 2 chướng (phiền não, sở tri)dứt sạch, mừng rỡ vui cười; chân ngôn là: Án phạ nhật hạ sa hác. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là chày kim cương đặt ngang trên hoa sen; chân ngôn là: Ha ha hồng hác. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; chân ngôn là: Án na mạc tát phạ đát tha nghiệt đa ma ha tất lí để bát la mẫu nễ da ca lê phiếu phạ nhật ra hạ tây hác. Vị Bồ tát này tượng trưng cho đức của Bảo sinh Như lai, là trao cho chúng sinh muôn hạnh muôn điều thiện và cùng vui cười mừng rỡ với họ. Nhờ sự gia bị của vị Bồ tát này, nếu chúng sinh nào nghe danh hiệu hoặc thấy hình tượng của Ngài thì đều được sự lợi lạc trong chính pháp. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Đại giáo vương Q.2 (bản 3 quyển); Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương toà

(金剛座) Phạm: Vajra-sana. Cũng gọi Kim cương tề. Chỉ cho cái tòa đức Phật ngồi lúc Ngài thành đạo dước gốc cây Bồ đề, ở phía nam thành Già da, nước Ma kiệt đà, Trung Ấn độ. Vì tòa này cứng chắc giống như kim cương không hư hoại, cho nên gọi là Kim cương tọa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, ở gốc cây Bồ đề có tòa Kim cương. Thủa xưa, khi kiếp Hiền mới hình thành thì tòa này có cùng một lúc với quả đất; trong Tam thiên đại thiên thế giới, tòa này dưới đến Kim luân, trên đến mặt đất, do kim cương tạo thành, chu vi hơn 100 bước, nghìn đức Phật trong kiếp Hiền ngồi trên tòa này mà vào định Kim cương, vì thế gọi là tòa Kim cương. Điều Kinh hành thiểu bệnh trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường (Đại 54, 221 hạ), nói: Chính tôi đã đến bên cạnh tòa kim cương, nhưng chỉ thấy dấu vết, chứ không thấy nền cũ nữa. Như vậy chứng tỏ tòa kim cương vào thời ngài Nghĩa Tịnh đến Ấn độ đã bị hư hoại, còn tòa Kim cương hiện nay là do người đời sau mô phỏng tạo thành. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.3; luận Đại trí độ Q.34; luận Đại tì bà sa Q.30, Q.83; luận Câu xá Q.19].

kim cương toả bồ tát

(金剛鏁菩薩) I. Kim Cương Tỏa Bồ Tát. Kim cương tỏa, Phạm: Vajra-sphoỉa. Hán âm: Phạ nhật ra tát phổ tra. Tạng:Rdo-rje-lcags-sgrog. Cũng gọi Kim cương liên tỏa bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở cửa tây của lớp thứ 1 trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 4 Nhiếp bồ tát, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Với tâm đại từ bi, vị tôn này thệ nguyện đóng khóa (tỏa) tất cả cửa ác thú, khiến chúng sinh an trụ nơi Bồ đề không trở lui. Ngài tượng trưng cho đức nhiếp thụ chúng sinh. Mật hiệu là Kiên trì kim cương, Diệu trụ kim cương, chủng tử là (vaô), nghĩa là trói buộc không thể được. Hình Tam muội da, ấn tướng, hình tượng của Bồ tát này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình Tam muội da là chiếc khóa kim cương; hình tượng là thân mầu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm khóa; ấn tướng là 2 nắm tay đâu lưng vào nhau, 2 ngón út 2 ngón trỏ móc lấy nhau như cái khóa; chân ngôn là: Án phạ nhật ra tát phổ tra tông. Trong hội Tam muội da, hình Tam muội da là chiếc khóa 3 chĩa; chân ngôn là: Hệ tát phổ tra tông. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa để cái khóa. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa]. II. Kim Cương Tỏa Bồ Tát. Kim cương tỏa, Phạm:Vajra-zfíkhalà. Hán âm: Phạ nhật ra thi lí khư la. Tạng: Rdo-rje lu-gu-rgyud-ma. Cũng gọi Kim cương thương kiệt la bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ 5 phía trên trong viện Kim cương thủ của Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Kiên trì kim cương, Kiên cố kim cương, biểu thị ý nghĩa giữ gìn chắc chắn. Hình tượng vị tôn này là thân mầu vàng nhạt, ngồi trên hoa sen đỏ, chân trái xếp bằng, đầu gối phải dựng đứng, mặt hướng về bên phải; tay phải đưa lên, co ngón giữa và ngón vô danh, ngón trỏ và ngón út cong lại thành hình cái móc, cầm chiếc khóa; nắm tay trái ngửa lên chống vào cạnh sườn. Chủng tử là (hùô) hoặc (vaô), hình Tam muội da là cái khóa kim cương. Vị Bồ tát này tiêu biểu cho trí tuệ của kim cương bộ, giữ gìn hết thảy chúng sinh, khiến họ dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng. Ngoài ra, trong kinh Đại nhật, bồ tát Kim cương tỏa và bồ tát Kim cương châm được bày đối nhau. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.6; Chư thuyết bất đồng kí Q.4]. (xt. Kim Cương Song Tỏa).

kim cương trì bồ tát

(金剛持菩薩) Kim cương trì, Phạm: Vajra-dhara. Hán âm: Phạ nhật ra đà la. Tạng:Rdo-rje #dsin-pa. Gọi tắt: Kim cương trì. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí 6 hàng thứ 2 trong viện Kim cương thủ trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Thường định kim cương. Hình tượng vị tôn này thân mầu vàng lợt, mặc áo trời, ngồi trên hoa sen đỏ, khuỷu tay phải co lại, bàn tay ngửa lên, cầm đầu dưới của chày 1 chĩa dựng thẳng đứng, tay trái cũng cầm chày 1 chĩa đặt ở trước ngực; chủng tử (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Ấn tướng của vị tôn này là ấn Trì địa; chân ngôn là: Na ma tam mạn đa phạt chiết la noản hồng hồng hồng phát tra phát tra phát tra nhiêm nhiêm sa ha (Nama# samanta-vajràịàô hùô hùô hùô phaỉ phaỉ phaỉ jam jam svàhà). [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

kim cương trí

(金剛智) I. Kim Cương Trí. Phạm:Vajra-prajĩà. Hán âm: Phược nhật la bát nhã. Tạng:Rdo-rje-zes-rab. Chỉ cho trí thể bền chắc không hư hoại, là tên khác của Đại viên kính trí. Vì trí này có công năng phá trừ phiền não tập khí, giống như kim cương phá hủy các vật, cho nên gọi là Kim cương trí. Cứ theo Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu, đứng về mặt Nhân vị(giai vị tu nhân)mà nói, thì Kim cương trí chỉ cho tín tâm mới phát của hành giả, còn về mặt Quả vị(giai đoạn chứng quả)thì Kim cương trí tượng trưng cho A súc Như lai. [X. luận Bồ đề tâm; Đại nhật kinh sớ Q.1; Du già kinh nghĩa thuật đệ nhất]. II. Kim Cương Trí (671-741). Phạm: Vajrabodhi. Hán âm: Bạt nhật la bồ đề. Tổ phó pháp thứ 5 của Mật giáo Ấn độ, Sơ tổ Mật giáo Trung quốc, thuộc dòng dõi Bà la môn ở miền Nam Ấn độ(có thuyết cho rằng sư là 1 vương tử ở Trung Ấn độ). Năm 10 tuổi, sư xuất gia ở chùa Na lan đà, 20 tuổi thụ giới Cụ túc, thông suốt kinh luật luận Đại thừa, Tiểu thừa. Năm 31 tuổi, sư theo ngài Long trí học Mật giáo ở Nam Ấn độ. Năm Khai nguyên thứ 7 (719) đời Đường, sau khi ngài Thiện vô úy đến Trung quốc được 3 năm, sư dẫn đệ tử là Bất không theo đường biển qua các đảo Tích lan, Sumatra, rồi đến Quảng châu, Trung quốc, kiến lập đạo tràng Đại mạn đồ la quán đính, hóa độ 4 chúng. Năm Khai nguyên thứ 8 (720), sư đến Lạc dương, Trường sa, phiên dịch kinh điển Mật giáo và truyền trao bí pháp Quán đính. Sư và ngài Thiện vô úy cùng với Bất không được tôn xưng là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ(ba vị Bồ tát thời Khai nguyên). Sư tịch vào năm 741 ở chùa Quảng phúc tại Lạc dương, thọ 71 tuổi(có thuyết nói 70, hoặc cho là không rõ tuổi thọ), thụy hiệu là Đại Hoằng Giáo Tam Tạng. Đệ tử có các vị: Nhất hạnh, Tuệ siêu, Nghĩa phúc, Viên chiếu, v.v.. Các dịch phẩm gồm 8 bộ 11 quyển như: kinh Kim cương đính, Du già niệm tụng pháp, Quán tự tại du già pháp, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.40].

kim cương trượng

(金剛杖) Cây gậy kim cương, vật cầm của thần Chấp kim cương trong Mật giáo. Tương truyền, gậy này là do cây chày 1 chĩa trong các pháp cụ của Mật giáo diễn biến mà thành, tượng trưng cho niềm tin vững chắc không lay chuyển. Gậy kim cương được làm bằng gỗ trắng với hình 8 góc hoặc 4 góc và cao bằng thân người. Ngoài ra, Kim cương trượng cũng chỉ cho cây gậy của hành giả phái Tu nghiệm đạo ở Nhật bản.

kim cương tuyến

(金剛綫) Phạm:Vajra-sùtra. Sợi chỉ ngũ sắc, 2 đầu nối kết lại bằng 3 nút kim cương, dùng để trao cho người nhận Quán đính; hoặc chỉ cho sợi dây giăng giữa các cây cọc kim cương ở 4 góc trên đàn tu pháp của Mật giáo. Theo nghĩa rộng thì Kim cương tuyến là chỉ chung cho 2 loại dây vừa nói ở trên. Còn nếu phân biệt kỹ hơn thì loại trước gọi là Kim cương tuyến, Hộ thân tuyến, Thần tuyến; loại sau gọi là Đàn tuyến. Năm mầu là: trắng, đỏ, vàng, xanh và đen theo thứ tự biểu trưng cho 5 trí của 5 đức Phật là: Phật Đại Nhật, Phật Bảo Chàng, Phật Hoa Khai Phu, Phật Vô Lượng Thọ và Phật Cổ Âm. Năm mầu cũng còn biểu thị 5 pháp: Tín, Tiến, Niệm, Định và Tuệ. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì phải chọn tơ thật tốt để làm Kim cương tuyến, trước hết rửa sạch tơ bằng nước thơm, rồi do một đồng nữ thanh tịnh se lại, sau đó, y theo thứ tự chân ngôn của 5 đức Phật mà gia trì vào mỗi mầu. Cuối cùng là chú nguyện gia trì chung bằng chân ngôn Thành biện chư sự. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; kinh Đà la ni tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.15].

kim cương tát đoá

(金剛薩埵) Phạm:Vajra-sattva. Tạng: Rdo-rje sems-dpa#. Cũng gọi: Kim cương thủ, Kim cương thủ bí mật chủ, Chấp kim cương bí mật chủ, Trì kim cương cụ tuệ giả, Kim cương thượng thủ, Đại lạc kim cương, Tô la đa kim cương, Nhất thiết Như lai Phổ hiền, Phổ hiền tát đỏa, Phổ hiền Kim cương tát đỏa, Kim cương thắng tát đỏa, Kim cương tạng, Chấp kim cương, Bí mật chủ, Kim tát. Kim cương tát đỏa tượng trưng cho diệu lí: Tâm bồ đề bền chắc không hư hoại và Phiền não tức Bồ đề. Trong Mật giáo, Kim cương tát đỏa chỉ cho 4 vị: I. Kim Cương Tát Đỏa. Tổ truyền pháp thứ 2 của Mật giáo. Mật giáo là do đức Đại nhật Như lai truyền cho bồ tát Kim cương tát đỏa, là vị Bồ tát đương cơ trong kinh Đại nhật. Ngài là bậc Thượng thủ trong các vị Chấp kim cương thuộc nội quyến thuộc của Đại nhật Như lai. Trong kinh Đại nhật, Ngài thường được gọi là Kim cương thủ hoặc Bí mật chủ, ngồi trong cung Kim cương pháp giới. Sau khi đích thân nhận giáo sắc của đức Đại nhật Như lai, Ngài kết tụng truyền trì Mật thừa, trở thành Tổ thứ 2 truyền trao Mật pháp. Sau khi đức Thích tôn nhập diệt khoảng 7,800 năm, bồ tát Long mãnh (Long thụ) mở tòa tháp sắt ở Nam thiên trực tiếp nhận lãnh Mật thừa từ nơi bồ tát Kim cương tát đỏa để turyền đến nhân gian. II. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Bồ tát thân cận ngồi ở phía trước đức A súc Như lai, trong nguyệt luân ở phương đông thuộc viện Kim cương bộ, là 1 trong 37 vị tôn trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, mật hiệu là Chân như kim cương, Đại dũng kim cương, Dũng tiến chấp kim cương. Hình tượng, chủng tử, hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài là mình mầu da người, hình Bồ tát, tay phải cầm chày 5 chĩa, biểu thị nghĩa phá dẹp 10 thứ phiền não, đầy đủ 10 ba la mật, hoặc biểu trưng tam muội của Ngũ Phật; tay trái cầm linh(chuông nhỏ) kim cương, để thức tỉnh tâm vô minh của tất cả chúng sinh, hình Tam muội da là cây chày 5 chĩa. Vị Bồ tát này chủ về đức phát tâm bồ đề của A súc Như lai, có đầy đủ hạnh Phổ hiền để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh và khiến cho hết thảy Bồ tát được thụ dụng trí Tam ma địa. Ngoài ra, vị Bồ tát này còn biểu thị cho tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, là cùng thể nhưng khác tên với bồ tát Phổ hiền. III. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Bồ tát chủ tôn trong hội Lí thú, ngồi ở chính giữa Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Hình tượng của vị tôn này toàn thân mầu trắng, đội mũ báu Ngũ trí, tay trái cầm linh, để bên hông trái, biểu thị ý nghĩa vui thích đại ngã mạn; tay phải cầm cây chày 5 chĩa, tượng trưng cho nghĩa khai phát mầm bồ đề Ngũ trí sẵn có của chúng sinh. Chủng tử là (oô) hoặc (hùô), hình Tam muội da là chày 5 chĩa. Vị Bồ tát này là thân Chính pháp luân của đức A súc Như lai, lấy thể hư vọng của 4 phiền não: Dục, xúc, ái, mạn làm đức riêng để hiển bày chỉ thú mầu nhiệm: Phiền não tức là tâm bồ đề thanh tịnh, bởi thế, cùng với 4 vị bồ tát Kim cương Dục, Kim cương Xúc, Kim cương Ái và Kim cương Mạn đồng thời hiển hiện 5 tướng Kim cương bí mật. Thông thường, khi tu pháp Phổ hiền, pháp Ngũ bí mật, pháp Phổ hiền diên mệnh, v.v... đều thờ vị Bồ tát này làm Bản tôn. IV. Kim Cương Tát Đỏa. Vị Chủ tôn của bộ Đại Trí Kim Cương trong viện Kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Vị tôn này chủ về đức Chiết phục môn, lấy việc phá dẹp ác chướng làm bản thệ. Hình tượng của Ngài toàn thân mầu da người, ngồi trên tòa sen, đầu hơi nghiêng về phía bên phải, cánh tay mặt co lại, hơi giơ lên, lòng bàn tay ngửa, hơi co 5 ngón, cây chày 3 chĩa đặt ngang giữa bàn tay; cánh tay trái cũng co lại, hơi nâng lên, nắm lại thành quyền để ở trước ngực, lưng bàn tay đối diện với tay phải. Ngoài ra, theo kinh Đại giáo vương quyển 8, trong hội Hàng tam thế yết ma, Kim cương tát đỏa hiện tướng Hàng tam thế Minh vương với 3 mặt, 8 tay, là Luân thân giáo lệnh của đức A súc Như lai. Vị Bồ tát này vâng lãnh giáo sắc của Như lai hàng phục trời Đại tự tại ương ngạnh, khó dạy, cho nên phải hiện hình tướng Minh vương. Tuy Kim cương tát đỏa có các nghĩa được trình bày ở trên, nhưng trong Mật giáo, Kim cương tát đỏa thường được xem là tâm Bồ đề, hoặc đại biểu chung cho những người từ nơi tâm Bồ đề tiến lên cầu quả Phật. Lại nữa, Đại nhật Như lai là tổng thể của giác, Kim cương tát đỏa là tổng thể của mê, cho nên trong pháp tu của Mật giáo, nếu khi chủng tử của Đại nhật Như lai và Kim cương tát đỏa được đắp đổi dùng lẫn cho nhau, thì đó là biểu thị ý nghĩa dung hợp bản thệ của 2 Ngài và ý nghĩa Chúng sinh và Phật không hai. Thông thường, Lạt ma giáo Tây tạng sùng bái Kim cương tát đỏa và tôn Ngài là A đề Phật đà(tức Phật Bản Sơ). Đồng thời, Ngài cũng được xem là hóa thân của đức A súc Như lai trong Ngũ trí Như lai ngồi trên đài sen trắng, là chủ của Tịnh độ ở phương Đông. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; phẩm Tăng ích thủ hộ thanh tịnh hạnh trong kinh Đại nhật Q.7; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.4; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Lí thú thích Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.5; Buddhism in Tibet (E. Schlagintweit)]. KIM CƯƠNG TÁT ĐỎA THUYẾT TẦN NA DẠ CA THIÊN THÀNH TỰU NGHI QUĨ KINH ... .. Gọi tắt: Tần na dạ ca thiên nghi quĩ kinh. Kinh 4 quyển, do ngài Pháp hiền (?-101) dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung tường thuật về việc trời Tần na dạ ca(trời Hoan hỉ) thành tựu được lợi ích cho tất cả chúng sinh và pháp chú trớ (cầu nguyện) của vị trời này tương ứng với 4 pháp: Tức tai, Tăng ích, Kính ái và Điều phục.

Kim cương Tát-đoá

金剛薩埵; S: vajrasattva;|Tên của một vị Bồ Tát. Trong Kim cương thừa, đây là hiện thân của nguyên lí và khả năng lọc sạch thân tâm. Ðó là khả năng loại trừ ô nhiễm và biếng nhác trên đường tu học. Người ta xem Kim cương Tát-đoá là một dạng của Báo thân (Ba thân). Trong tranh tượng, Kim cương Tát-đoá được vẽ màu trắng, tượng trưng cho sự hoà nhập của Ngũ phật vào thân này. Tay mặt của Kim cương Tát-đoá cầm Kim cương chử, tay trái dựa trên một chuông đồng, tượng trưng lòng từ bi. Kim cương Tát-đoá có Man-tra dài trên 100 âm được các trường phái Tây Tạng tụng đọc nhằm thanh lọc thân tâm.||H 35: Kim cương Tát-đoá với Ấn »tay làm dấu vajrahūṃ« (s: vajrahūṃkāra-mudrā). Tay bắt chéo trước ngực là biểu hiện của Ðại lạc (mahāsukha) khi vượt qua giới nhị nguyên.

kim cương tâm

(金剛心) Tín tâm của Bồ tát bền vững không hề bị lay chuyển, giống như kim cương cứng chắc không bị các vật khác phá hoại, cho nên gọi là tâm kim cương. Đối với tông Tịnh độ thì Kim cương tâm là chỉ cho lòng tin vững chắc vào bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. luận Đại trí độ Q.45].

kim cương tướng bồ tát

(金剛將菩薩) Kim cương tướng, Phạm: Vajra-sena. Hán âm: Phạ nhật ra chế na. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ hai phía bên phải trong viện Tô tất địa thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Thủ lãnh kim cương. Hình tượng vị tôn này mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, 2 bàn tay sáp vào nhau ngửa lên và hướng ra ngoài, ngón vô danh và ngón út tréo nhau, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa duỗi thẳng hướng xuống dưới, đặt ở trước ngực. Chủng tử là (hùô), nghĩa là hàng phục; chân ngôn là: Án phạ nhật la chế na sa ha. Trong kinh Đại nhật cũng như trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô uý truyền, không thấy ghi vị Bồ tát này, bởi thế, có lẽ đã do các vị A xà lê đời sau thêm vào. [X. Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.6].

kim cương tạng

(金剛藏) I. Kim Cương Tạng. Tạng nói về pháp môn tu nhân chứng quả của hàng bồ tát Đẳng giác. Là tạng thứ 7 trong 8 tạng nói trong phẩm Xuất kinh của kinh Bồ tát xử thai quyển 7. Theo Tam tạng pháp số quyển 31, thì Kim cương tạng là pháp tu nhân cảm quả của hàng bồ tát Đẳng giác do đức Phật chỉ dạy, vì trí tuệ phá trừ hoặc chướng của hàng Bồ tát này rất bền chắc sắc bén, có khả năng đoạn diệt phẩm vô minh nhỏ nhiệm cuối cùng, nên bồ tát Đẳng giác được gọi là Kim cương tâm. (xt. Bát Tạng). II. Kim Cương Tạng. Tiếng gọi tắt của bồ tát Kim cương tạng vương. (xt. Kim Cương Tạng Vương Bồ Tát).

kim cương tạng bồ tát

(金剛藏菩薩) Kim cương tạng, Phạm: Vajra-garbha Hán âm: Phạ nhật ra nghiệt ra bà. Cũng gọi Kim cương thai. Tạng:Rdo-rje-sĩií. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 trong 4 vị tôn ở phía bắc Phương đàn của viện Ngoài thuộc hội Vi tế và hội Cúng dường của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 16 vị tôn của kiếp Hiền, mật hiệu là Trì giáo kim cương, Lập nghiệm kim cương. Hình tượng của vị tôn này là hình mầu xanh nhạt, tay trái nắm lại thành quyền (nắm tay), tay phải cầm hoa sen xanh, trên hoa có cây chày 1 chĩa; chủng tử là (va), hình Tam muội da là 4 cây chày 1 chĩa xếp thành hình cái giếng, biểu thị ý nghĩa muôn trí được thu nhiếp vào trong 4 trí; ấn tướng là ấn Ngoại phược(2 tay chắp lại, 10 ngón đan xen kẽ nhau rồi nắm lại)trên vòng lửa, hoặc là ấn Ngoại phược 5 chĩa. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra nghiệt la bà dã sa phược hạ. Vì là 1 trong 16 vị tôn của kiếp Hiền, nên danh hiệu của vị Bồ tát này thường thấy trong các kinh Đại thừa, như trong phẩm Thập địa của hội thứ 16 kinh Hoa nghiêm, đặc biệt Ngài được tôn làm bậc Thượng thủ. Thập địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 124 thượng), nói: Vì sao gọi là Kim cương tạng? Tạng nghĩa là cứng chắc, hệt như lõi cây, cũng giống như thai trong bụng, cứng chắc như kim cương, cho nên gọi là Kim cương tạng. Trong tất cả các thiện căn, lực dụng của thiện căn này là hơn hết, lại có khả năng sinh thành đạo hạnh trời người, không bị các thiện căn khác hủy hoại, vì thế gọi là Kim cương tạng. Trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1, trong kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực quyển thượng và trong Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ, vị Bồ tát này đều được gọi là Kim cương tát đỏa; trong kinh Văn thù bảo tạng đà la ni thì Bồ tát này là chỉ cho bồ tát Văn thù; trong Lí thú thích quyển hạ thì chỉ cho bồ tát Hư không tạng; trong kinh Lược xuất niệm tụng quyển 3 thì Kim cương tạng là tên khác của Kim cương bảo và Kim cương lợi; trong kinh Giáo vương (bản quyển 3) quyển 2 thì vị Bồ tát này được gọi là Kim cương bảo. Còn kinh Đà la ni tập quyển 7 thì cho rằng Kim cương tạng là hóa thân của Kim cương tát đỏa. [X. kinh Kim cương đính Q.3; Hiền kiếp thập lục tôn; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31; Kim cương đính đại giáo vương kính sớ Q.2].

kim cương tạng vương bồ tát

(金剛藏王菩薩) Kim cương tạng vương, Phạm: Awỉottarazatabhujavajradhara. Hán âm: A sắt tra đa la xá đa bộ nhạ phạ nhật la đà lạc. Gọi đủ: Nhất bách bát tí kim cương tạng vương. Gọi tắt: Kim cương tạng. Vị Bồ tát ngồi ở đầu cực hữu trong viện Hư không tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Bí mật kim cương. Hình tượng vị tôn này thân mầu xanh sẫm, ngồi trên hoa sen báu, có 16 mặt(hoặc 22 mặt, trong đó có 1 mặt là mặt Phật), 18 tay, tượng trưng ý nghĩa đối trị 18 phiền não, tay cầm 18 thứ vũ khí như: Chày 1 chĩa, bánh xe, vòng dây, thanh gươm, móc câu, Phạm khiếp(hộp kinh), gậy, chày hình hoa, v.v...… biểu thị cho nghĩa phá dẹp phiền não; chủng tử là (hùô); hình Tam muội da là chày 5 chĩa, ấn tướng là Kim cương la xà nhất thiết kiến pháp ấn; chân ngôn là: Án bạt chiết lộ ba bà dạ sa ha. Trong viện Hư không tạng, vị Bồ tát này được đặt đối diện với bồ tát Thiên thủ thiên nhãn quán tự tại, đại biểu cho đức trí trong 2 môn Phúc, Trí của bồ tát Hư không tạng. Kim cương tượng trưng cho nghĩa thức thứ 8 là Đại viên kính trí vốn có, không hư hoại; Tạng biểu thị ý nghĩa thức thứ 8 bao hàm muôn pháp, còn Vương có nghĩa là thức thứ 8 an trú trong tâm của hành giả. Hoặc có thuyết cho rằng Phật Thích ca và bồ tát Kim cương tạng vương là thân biến hóa của Kim cương tát đỏa, cho nên Phật Thích ca và Kim cương tạng vương có thể được xem như cùng một thể năng biến. Tên của vị Bồ tát này không thấy trong kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ, mà mới được thấy trong các bộ Huyền pháp tự nghi quĩ quyển 2 và Thanh long tự nghi quĩ quyền trung. Xưa nay đều cho rằng vị tôn này chính là bồ tát Kim cương tạng được nói trong kinh Đà la ni tập quyển 7. Ngoài ra, Lí thú thích quyển hạ và kinh Đại giáo vương quyển 2 cho rằng Kim cương tạng là danh hiệu quán đính của bồ tát Hư không tạng, rằng Kim cương tạng là cùng thể với Hư không tạng. [X. Bí tạng kí].

kim cương tịnh sát

(金剛淨刹) Chỉ cho già lam (chùa), là nơi chứa góp công đức. Kim cương ví dụ cho công đức bền chắc; tịnh sát là cõi thanh tịnh. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 141 trung), nói: Vào chùa thực hành pháp kim cương tịnh sát. Hành sự sao tư trì kí quyển 3 phần cuối (Đại 40, 49 trung), nói: Kim cương cứng chắc sắc bén; già lam là nơi gieo trồng phúc đức, cho nên dùng kim cương để ví dụ.

kim cương tồi toái thiên

(金剛摧碎天) Cũng gọi Tản cái tì na dạ ca. Gọi tắt: Kim cương tồi thiên. Vị trời ngồi chính giữa phương đông thuộc Ngoại kim cương bộ trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 20 vị trời của Ngoại kim cương bộ thuộc Kim cương giới, 1 trong 5 loại trời ở hư không. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, mình người, đầu voi, ngồi trên tòa bằng lá sen, 2 tay cầm tàn (lọng) báu(có thuyết nói tay trái đặt ở chỗ thắt lưng). Ấn tướng làtay trái duỗi thẳng 5 ngón, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải nắm lại, ngón trỏ chống vào lòng bàn tay trái tạo thành hình cái tàn; chủng tử là (gu), (go), nghĩa là tất cả pháp vô hành; hình Tam muội da là cái tàn, chân ngôn là: Án phạ nhật ra ngu sa phạ hạ. Vị tôn này là thân do đức Đại nhật Như lai hóa hiện để thu nhiếp các Tì na dạ ca, cầm lọng là biểu thị cho sự che chở chúng sinh và có năng lực phá dẹp các chướng ngại, cho nên gọi là Kim cương tồi toái. [X. kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn Q.thượng; Đại thánh hoan hỉ song thân Tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ].

kim cương tử

(金剛子) I. Kim Cương Tử. Cũng gọi Kim cương châu. Hạt của cây kim cương. Cây kim cương, Phạm: Akwa, Hán âm: Ác xoa; hoặcRudràkwa, Hán âm: Minh ru nại ra xoa. Sau khi xâu lại, hạt kim cương có thể được dùng làm tràng hạt khi tụng niệm chư tôn thuộc Kim cương bộ Mật giáo như Bất động minh vương, v.v...… Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 542 hạ), nói: Minh ru nại ra xoa là loại cây bên phương Tây, quả nứt thì hạt lộ ra, lớn bằng hạt anh đào, hoặc cỡ viên đạn nhỏ, mầu đỏ tía, rất cứng chắc, đó gọi là Kim cương tử, dùng làm tràng hạt khi tụng niệm Kim cương bộ. [X. Điển tịch tiên lãm]. II. Kim Cương Tử. Danh từ gọi chung những hành giả Mật giáo vào đàn tiếp nhận, Quán đính Mạn đồ la Kim cương giới.

kim cương vi sơn

(金剛圍山) Phạm: Cakravàđaparvata. Pàli:Cakkavàơa-pabbata. Cũng gọi Thiết vi sơn, Luân vi sơn, Kim cương sơn. Dãy núi sắt bao bọc biển ngoài cùng của 4 châu Tu di. Do tính chất của sắt cứng chắc nên gọi là Kim cương. (xt. Thiết Vi Sơn).

kim cương võng

(金剛網) Phạm: Vajra-paĩjaraô. Cũng gọi: Thượng phương kim cương võng, Hư không võng, Hư không kết, Thiên võng, Thiên kết. Ấn khế và chân ngôn dùng để kết và gia trì phương trên. Một trong 18 loại khế ấn của Mật giáo, 1 trong 5 loại kết giới thuộc Minh vương Quân đồ lợi. Khi tu pháp, hành giả triệu thỉnh Bản tôn Thánh chúng ngồi xe lớn từ trên hư không đi xuống đạo tràng, rồi kết giới ở phương trên; nếu không kết giới, thì Thiên ma sẽ rình cơ hội để quấy nhiễu. Từ vô lượng cây chày kim cương 3 chĩa phát ra vô số ngọn lửa mạnh, ngang dọc xen nhau kết thành mạng lưới kim cương (kim cương võng), che trùm khắp hư không nên gọi là Hư không võng. Nhờ sự gia trì của ấn ngôn này mà Thiên ma cũng như phiền não vô minh trong tâm, không thể gây chướng nạn và hành giả mau chóng thành tựu Tất địa. Ấn tướng là: 2 ngón tay cái bấm vào mé đốt dưới của 2 ngón trỏ. Tụng 3 biến chân ngôn: Án (oô, qui mệnh) vĩ sa phổ la (visphala, rộng khắp) nại la khất sái (drakwa) phạ nhật ra (vajra, kim cương) hồng nhạ la (paĩjara, lưới) hồng (hùô, sợ hãi) phát tra (phá hoại), vừa tụng vừa xoay ấn về phía bên phải của đỉnh đầu, rồi xả ấn. [X. Vô lượng thọ cúng dường nghi quĩ].

kim cương vũ bồ tát

(金剛舞菩薩) Kim cương vũ, Phạm: Vajra-nfta. Hán âm: Phạ nhật ra niết lí đa, Phạ nhật ra nễ lí đế diệu. Tạng:Rdo-rje-gar. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông bắc trong nguyệt luân trung ương trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 Bồ tát cúng dường, 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thần thông kim cương, Diệu thông kim cương. Vị tôn này là thân do đức Đại nhật Như lai từ trong Tam ma địa (chính định) thần thông ca múa hóa ra để cúng dường đức Phật Bất không thành tựu; Phật Bất không thành tựu lấy sự nghiệp Tinh tiến môn làm chủ cho nên đem việc ca múa cúng dường Ngài. Hình tượng và chủng tử của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì mình mầu xanh hoặc mầu lục nhạt, hình Thiên nữ; tay trái duỗi 5 ngón đặt trên đùi bên trái, tay phải duỗi 5 ngón để trước ngực, biểu thị tư thế đang múa; chủng tử là (kfỉ), nghĩa là vô tác vô nhiễm, chu biến bình đẳng; ấn tướng là 2 tay nắm lại rồi hướng xuống dưới và mở ra, giống như áng mây giăng khắp. Chân ngôn là: Án phạ nhật la miết lật đế ngật lí tra; hình Tam muội da là cây chày 1 chĩa hình chữ (..). Trong hội Tam muội da, chủng tử là (ji), hình Tam muội da là chày kim cương hình chữ thập trên hoa sen, ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan vào nhau, rồi nắm lại), xoay ở trước ngực và 2 vai, sau đó chuyển lên đỉnh đầu kết ấn Kim cương hợp chưởng. Chân ngôn là: Tát phạ bố nhi. Trong hội Vi tế, hình tượng vị tôn này là tay trái buông trên gối phải; tay phải đặt ở trước ngực, ngón trỏ và ngón út dựng đứng, các ngón khác co lại. Trong hội Cúng dường, hình tượng là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương vương bồ tát

(金剛王菩薩) I. Kim Cương Vương Bồ Tát. Kim cương vương, Phạm: Vajra-ràja. Tạng:Gdon-mi-za-ba#i rgyal-po (Bất không vương). Cũng gọi Kim cương tạng bồ tát, Kim cương câu vương bồ tát, Bất không vương bồ tát, Kim cương thỉnh dẫn bồ tát, Diệu giác bồ tát, Tối thượng bồ tát. Vị Bồ tát thân cận, ngồi phía bên phải đức A súc Như lai trong nguyệt luân ở phương đông, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 37 vị tôn của Kim cương giới, mật hiệu là Tự tính kim cương, Chấp câu kim cương. Hình tượng, chủng tử, v.v... của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình tượng là mình mầu da người, 2 cổ tay giao nhau ở trước ngực, 2 tay nắm lại thành kim cương quyền, chủng tử là (ja#), nghĩa là tất cả pháp duyên sinh đều trở về lí không sinh diệt; ấn tướng là Câu triệu, biểu thị ý nghĩa trên cầu quả Phật, dưới hóa độ chúng sinh, tức là đối với hạnh nguyện tự lợi, lợi tha được tự tại vô ngại, vì thế được gọi là Kim cương vương. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra la nhạ nhược. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (sa); chân ngôn là (A nang da sa phạ). Trong hội Cúng dường, hình tượng của Ngài là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa có 2 cái móc 3 chĩa, chân ngôn là Án tát phạ đát tha nga đa tát phạ đát ma niết lí da đát na bố nhạ tát phát ra xoa yết ma ngật lí nhược. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, Q.3; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ]. II. Kim Cương Vương Bồ Tát. Vị Bồ tát ngồi ở hàng thứ 3 bên phía trái bồ tát Trì diệu kim cương trong viện Kim cương thủ trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Tự tại kim cương, Chấp câu kim cương. Hình tượng vị tôn này làmình mầu lục nhạt, ngồi kết già trên hoa sen úp, 2 tay nắm lại thành quyền, ngón trỏdựng đứng, 2 cổ tay giao nhau để ở trước ngực, khoác áo trời, giải áo gió thổi tung lên phấp phới. Hình Tam muội da là 2 cái móc; chân ngôn là: Án phạ nhật ra la nhạ nhược. [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.4].

kim cương y thiên

(金剛衣天) Kim cương y, Phạm: Vajra-vàsin. Hán âm: Phạ nhật ra phạ thủy. Gọi đủ: Kim cương y phục thiên. Cũng gọi: Cung tiễn tì na dạ ca thiên, Đính hành đại tướng. Vị trời ngồi ở phía tây của Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 5 loại trời đi trong hư không, 1 trong 20 vị trời thuộc Ngoại kim cương bộ của Kim cương giới Mật giáo. Hình tượng vị tôn này là đầu voi thân người, mình mầu da người, ngồi trên tòa làm bằng lá sen, tay trái cầm cung, tay phải cầm tên, trong tư thế đang bắn. Chủng tử là (va), nghĩa là các pháp lìa sự trói buộc, dính mắc; hình Tam muội da là cung tên. Chân ngôn là: Án phạ nhật ra phạ thi sa phạ hạ. Lòng đại bi của vị tôn này như cái nhau ở trong thai, có công dụng ngăn ngừa sự lạnh nóng cho con, nên gọi là Kim cương y(áo kim cương). Ngoài ra, kinh Đại giáo vương quyển 10 nói rằng: Vị trời thù thắng nhất trong các vị trời đi trên hư không tên là Kim cương ái. Như vậy thì Kim cương y tức là Kim cương ái. Bởi vì, tên tiếng Phạm của Kim cương ái làVajra-vazin, có lẽ đã bị viết lầm thành Vajra-vàsin, mà dịch là Kim cương y. [X. Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ].

kim cương ái bồ tát

(金剛愛菩薩) Kim cương ái, Phạm:Vajra-ràga. Hán âm: Phạ nhật la la già, Phạ nhật ra la nga. Tạng:Rdo-rje#i. Cũng gọi Kim cương cung bồ tát, Kim cương thê bồ tát, Năng điều phục giả, Ma la chư dục bồ tát, Ma ha an lạc bồ tát. Vị Bồ tát ở bên trái đức A súc Như lai trong vòng tròn ở phương đông, trên Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Đại bi kim cương, Li lạc kim cương, Li ái kim cương. Về chủng tử và hình tượng của vị tôn này thì trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình tượng của vị tôn này có thân mầu da người, 2 tay nâng mũi tên nằm ngang; chủng tử là (ho#), nghĩa là chúng sinh và Phật chẳng phải hai, mình người vui vẻ; hình Tam muội da là 2 cây chày 5 chĩa dựng song song. Chân ngôn là: Án bạt chiết ra a ra già hộ. Trong hội Tam muội da, chủng tử là (kha), hình Tam muội da là trên hoa sen có 2 bạt chiết ra(chày kim cương);chân ngôn là: A hộc tô pháp. Trong hội Vi tế thì hình tượng vị tôn này tay trái cầm cung, tay phải cầm tên trong tư thế đang bắn. Trong hội Cúng dường, hình tượng vị tônnày là 2 tay cầm hoa sen, trên hoa sen có chày 3 chĩa; ấn tướng là ngoại phược quyền (10 ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại)đặt ở ngực trái. Vị Bồ tát này tượng trưng cho sự phát tâm bồ đề mà tự tại thương xót chúng sinh của đức A súc Như lai. [X. kinh Kim cương đính Q.1; kinh Du già du kì; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương điều phục thiên

(金剛調伏天) Kim cương điều phục, Phạm: Vajrajaya. Hán âm: Phạ nhật la nhạ dã. Tạng: Rdo-rje rnam-par rgyal-ba. Cũng gọi: Tượng đầu thiên, Bão đao tì na dạ ca, Tượng đầu đại tướng. Vị tôn ngồi ở chính giữa, phía bắc của Kim cương bộ ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 20 vị trời thuộc Kim cương giới, chủng tử là (ja). Hình tượng của vị tôn này trong các hội thuộc Kim cương giới có hơi khác nhau. Như trong hội Thành thân, là đầu voi mình người, ngồi trên lá sen, tay trái cầm gươm, tay phải nắm lại đặt ở chỗ thắt lưng, hình Tam muội da là hình thanh gươm hoặc là Hoan hỉ đoàn (tên 1 loại bánh); ấn tướng là tay trái nắm lại để ở cạnh sườn, tay phải kết ấn dao. Chân ngôn là: Án phạ nhật la nhạ dã sa phạ hạ. Cứ theo Đại thánh hoan hỉ song thân tì na dạ ca thiên hình tượng phẩm nghi quĩ, thì Kim cương điều phục thiên là 1 trong các Tì dạ ca ở 4 phương, cũng gọi là Kim sắc già na bát để, tay trái cầm hạt ngọc lưu li trắng, tay phải cầm gậy báu. Vị trời này tức là trời Trì thắng, hiệu là Tối thắng kim cương, 1 trong các vị trời đi trên hư không nói trong kinh Đại giáo vương quyển 10. [X. Hiền kiếp thập lục tôn; Bí tạng kí].

kim cương đăng bồ tát

(金剛燈菩薩) Kim cương đăng, Phạm: Vajràlokà. Hán âm: Phạ nhật ra lộ kế, Phạ nhật ra lộ ca. Tạng: Rdo-rje-snaí-ma. Cũng gọi: Kim cương quang minh bồ tát, Kim cương trí đăng bồ tát, Đăng bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở góc tây bắc của Phương đàn, viện ngoài, trên Mạn đồ la kim cương giới Mật giáo. Một trong 37 vị tôn của Kim cương giới, 1 trong 4 vị Bồ tát Ngoại cúng dường. Vị Bồ tát này dùng ánh sáng của đèn trí tuệ soi khắp pháp giới, phá trừ vô minh tối tăm cho chúng sinh. Mật hiệu là Phổ chiếu kim cương, Trừ ám kim cương; chủng tử là (dì#), nghĩa là tất cả pháp không thủ xả. Hình Tam muội da và hình tượng của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân thì hình Tam muội da là cây nến báu; hình tượng là hình Thiên nữ, thân mầu trắng, 2 tay cầm lò hương; ấn tướng là ấn Kim cương quyền, 2 ngón cái dựng đứng làm hình cây kim. Chân ngôn là: Án phạ nhật la lộ kế nễ. Trong hội Tam muội da, thì hình Tam muội da là hoa sen, trên hoa có cây nến; ấn tướng là Ngoại phược quyền (2 tay chắp, 10 ngón đan xen kẽ nhau rồi nắm lại), 2 ngón cái dựng thẳng thành hình cây kim. Chân ngôn là Tố đế nhạ ngật lí. Trong hội Vi tế, thì hình tượng vị tôn này ở tư thế đang quì, tay phải cầm hoa sen, trên hoa có cây nến... Vị Bồ tát này là do Phật Vô lượng thọ ở phương Tây thị hiện ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Vì Phật Vô lượng thọ chủ về Trí tuệ môn, cho nên dùng đèn trí tuệ để cúng dường. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu].

kim cương đỉnh

(金剛頂) Danh từ gọi chung các kinh, các Hội thuộc Kim cương giới trong Mật giáo. Kim cương có 2 nghĩa: Cứng chắc và sắc bén. Cứng chắc ví dụ cho lí thể của thực tướng bất tư nghị, thường trụ bất hoại; sắc bén ví dụ cho trí dụng của Như lai, có công năng phá trừ phiền não chướng ngại, chứng ngộ chân lí tột cùng. Đính có nghĩa tốt đẹp nhất, tôn quí nhất. Tức giáo nghĩa Kim cương là tôn quí nhất trong pháp Đại thừa, cũng giống như phần đỉnh đầu của con người. Kim cương đính vốn ví dụ cho trí đức của Như lai, mà sự thuyết pháp trong 18 hội thuộc Kim cương giới là pháp môn mở bày trí tuệ của Phật, vì thế, trước tên gọi của các pháp hội và kinh điển thuộc Kim cương giới đều có kèm thêm danh từ Kim cương đính. Ngoài ra, đứng về phương diện sâu xa mà nói, thì Kim cương đính cũng chỉ cho tâm thể bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, thường còn không hư hoại, có khả năng thành tựu viên mãn các công đức. Tâm thể ấy là tối tôn, tối thắng, vô thượng. [X. Kim cương đính kinh sớ (Tứ giác) Q.1].

kim cương đỉnh du già trung lược xuất niệm tụng kinh

(金剛頂瑜伽中略出念誦經) Gọi tắt: Lược xuất kinh, Lược xuất niệm tụng kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này là phần tinh yếu được rút ra từ 10 vạn bài tụng của kinh Kim cương đính (bản đầy đủ), vì thế gọi là kinh Lược xuất. Kinh này cùng với kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương đều là những kinh điển trọng yếu của Mật giáo. Nội dung kinh này nói về tư cách của người và đàn để truyền trao pháp Quán đính; chỉ rõ thời gian, nơi chỗ trì tụng chân ngôn và phép trì tụng, nhập định, v.v... Kế đến, nói về việc 37 vị tôn theo thứ tự sinh ra từ tâm của tất cả Như lai. Nói sơ lược về pháp quán Ngũ tướng thành thân, pháp Quán đính, đồng thời, nói rõ về nghi thức vào đàn Quán đính và phép hộ ma Quán đính, v.v... [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14]. KIM CƯƠNG ĐÍNH DU GIÀ TRUNG PHÁT A NẬU ĐA LA TAM MIÊU TAM BỒ ĐỀ TÂM LUẬN Gọi tắt: Kim cương đính phát Bồ đề tâm luận, Phát bồ đề tâm luận, bồ đề tâm luận, Du già tổng trì giáo môn thuyết bồ đề tâm quán hành tu trì nghĩa. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Là bộ luận trọng yếu của Mật tông. Nội dung luận này lập 3 môn: Hành nguyện, Thắng nghĩa và Tam ma địa để trình bày về hành tướng của tâm bồ đề. Trong đó, dùng Hành nguyện bồ đề tâm đem lại lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh hữu tình, dùng thắng nghĩa Bồ đề tâm quán xét tất cả pháp không tự tính; dùng Tam ma địa quan sát tướng trạng của Hành, tức chỉ cho các pháp quán Nhật nguyệt luân và Ngũ tướng thành thân. Phổ thông, mọi người đều cho rằng luận này do ngài Long thụ soạn, nhưng trong luận có nhiều chỗ trích dẫn kinh Đại nhật, Đại nhật kinh cúng dường pháp, Đại nhật kinh sớ, v.v... do đó ta có thể suy đoán là tác phẩm này được soạn vào thời ngài Nhất hạnh(Tổ sư của Mật tông)đời Đường trở về sau. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

kim cương đỉnh kinh

(金剛頂經) Bộ kinh nói về pháp môn Kim cương giới của Mật giáo. Kinh này cùng với kinh Đại nhật được gọi chung là Nhị bộ kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Kinh này có 2 loại: Loại đầy đủ và loại tóm lược, hiện chỉ còn loại tóm lược và có 3 bản dịch khác nhau: 1. Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, là bản được lưu truyền rất rộng. 2. Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng kinh, cũng gọi Lược xuất kinh, 4 quyển, do ngài Kim cương trí dịch xong vào năm Khai nguyên 11 (723) đời Đường. Do đó, ta có thể suy đoán là nguyên bản đã được soạn vào cuối thế kỉ VII ở Nam Ấn độ. 3. Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng tam muội giáo vương kinh, 30 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống. Nội dung các bản kinh này trình bày về những nghi quĩ tu hành rất đặc biệt và bí mật của Mật giáo, khiến cho hành giả có thể mau chóng chứng nhập cảnh giới Phật, Bồ tát. Bản tiếng Phạm hiện nay không còn. Kinh Kim cương đính được nói trong 18 hội ở 14 chỗ. Sau, bồ tát Long thụ mở tháp sắt ở miền Nam Thiên trúc, được ngài Kim cương tát đỏa trao cho 10 vạn bài tụng của kinh này, rồi truyền lại cho ngài Long trí, Kim cương trí. Nhưng ngài Kim cương trí trên đường đáp thuyền đi Trung quốc gặp gió bão, nên phần lớn kinh điển đã bị trôi mất, phần còn lại được phiên dịch và lưu bố hiện nay chỉ là một phần nhỏ trong đó mà thôi. Tương truyền, kinh Kim cương đính có 4 loại: 1. Bản pháp nhĩ hằng thuyết. 2. Bản an trí trong tháp. 3. Quảng bản (bản đầy đủ) 10 vạn bài tụng. 4. Lược bản (bản rút bớt) 4 nghìn bài tụng, tức phẩm Tứ đại thuộc hội đầu trong 18 hội. [X. Kim cương đính du già thập bát hội chỉ qui; Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng].

kim cương đỉnh liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quỹ

(金剛頂蓮華部心念誦儀軌) Cũng gọi Kim cương giới nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm nghi quĩ, Liên hoa bộ tâm quĩ, Liên hoa bộ nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không phiên dịch vào đời Đường, được đưa vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung nói về nghi thức niệm tụng, cúng dường các vị tôn trong Mạn đồ la Kim cương giới; theo thứ tự nói rõ ấn khế, chân ngôn của các vị tôn trong hội Thành thân, hội Yết ma, hội Tam muội da, hội cúng dường, v.v... Xưa nay, phần nhiều phối hợp nghi quĩ này với Mạn đồ la của 6 hội trong phẩm đầu kinh Kim cương đính(bản đầy đủ). Ngoài ra, kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương, 2 quyển, do ngài Bất không dịch, là cùng bản tiếng Phạm với nghi quĩ này. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15]. KIM CƯƠNG ĐÍNH NHẤT THIẾT NHƯ LAI CHÂN THỰC NHIẾP ĐẠI THỪA HIÊN CHỨNG ĐẠI GIÁO VƯƠNG KINH Cũng gọi: Kim cương đính du già chân thực đại giáo vương kinh, Kim cương đính đại giáo vương kinh, Kim cương đính kinh, Tam quyển bản đại giáo vương kinh, Giáo vương kinh, Nhiếp Đại thừa hiện chứng kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Một trong 5 bộ kinh bí mật. Đây là kinh biệt dịch nói về Đại mạn đồ la thứ nhất trong 6 Mạn đồ la của hội đầu trong 18 hội thuộc kinh Kim cương đính 10 vạn bài tụng (bản đầy đủ), là Thánh điển căn bản của Mật tông. Thông thường, khi nói tắt Kim cương đính kinh tức là chỉ cho kinh này. Nội dung kinh này nói sơ lược về việc đức Như lai vào chính định Kim cương trong Kim cương giới, việc xuất sinh 37 vị tôn thuộc Kim cương giới, lễ tán Như lai, nghi thức và pháp tắc kiến lập Đại mạn đồ la Kim cương giới, phép hướng dẫn đệ tử vào Mạn đồ la và nói về Yết ma mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, v.v...… Ngoài ra, cùng tên với kinh này còn có bản 2 quyển, cũng do ngài Bất không dịch, là cùng bản tiếng Phạm với Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ. Lại nữa, kinh Nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng tam muội đại giáo vương, 30 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Bắc Tống, thì là toàn bộ của hội đầu trong 18 hội kinh Kim cương đính (bản đầy đủ), cũng gọi Tống dịch giáo vương kinh, Tam thập quyển đại giáo vương kinh, Đại giáo vương kinh. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

kim cương đồ hương bồ tát

(金剛塗香菩薩) Kim cương đồ hương, Phạm: Vajragandhà. Hán âm: Phạ nhật ra kiện đà, Phược nhật ra nghiễn đề. Tạng:Rdo-rje-dri. Vị Bồ tát ngồi ở góc đông bắc Phương đàn viện Ngoài thuộc Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Một trong 4 vị bồ tát Ngoại cúng dường thuộc 37 vị tôn của Kim cương giới. Mật hiệu là Thanh lương kim cương, Thắng tịnh kim cương, chủng tử là (ga#), nghĩa là không tạo tác. Hình tượng và hình Tam muội da của vị tôn này trong các hội đều khác nhau. Như trong hội Thành thân, hình tượng vị tôn này là Thiên nữ, thân mầu xanh, tay trái cầm hộp hương xoa, tay phải ở trong tư thế đang xoa hương; hình Tam muội da là hộp hương xoa ở trên hoa sen; ấn tướng là 2 tay đều nắm lại rồi mở ra và dùng bàn tay xoa hương vào ngực. Chân ngôn là Án phạ nhật ra nghiễn đế ngược. Trong hội Vi tế, thì tay phải vị tôn này nắm lại, tay trái cầm hộp hương xoa. Trong hội Cúng dường, thì 2 tay cầm hoa sen, trên hoa đặt hộp hương xoa. Chân ngôn là: Án tát phạ đát tha nga đa nghiễn đà bố nhạ dương già tam mẫu nại ra tát phát ra noa tam ma duệ hồng. Vị Bồ tát này do Bất không thành tựu Như lai ở phương bắc thị hiện ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bất không thành tựu Như lai tức là Phật Thích ca, vì làm lợi ích chúng sinh mà xuất hiện ở cõi nhơ nhớp vẩn đục, nên dùng hương xoa để cúng dường. [X. kinh Đại giáo vương Q.4; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm Q.2; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa].

kim cương đồng tử

(金剛童子) Phạm: Kani-krodha. Cũng gọi: Kim cương nhi. Vị tôn ngồi ở vị trí thứ 5, hàng thứ 3 phía trên, thuộc viện Kim cương bộ trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Sự nghiệp kim cương. Có thuyết nói vị tôn này là hóa thân của Phật A di đà, hoặc cho là đồng thể với Minh vương Ô sô sa ma. Hình tượng vị tôn này thân mầu da người, hiện tướng phẫn nộ, chân trái giơ cao, 2 tay giang rộng, tay trái cầm chày Kim cương, tay phải kết ấn Thí vô úy(ban cho sự can đảm)hướng xuống phía dưới, chân phải đạp lên hoa sen, đầu có vòng ánh sáng, tóc dựng lên tua tủa trông như ngọn lửa bốc cháy. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 3 chĩa hoặc chày 1 chĩa. Chân ngôn là: Hồng phạ nhật la câu ma la ca ni độ ni hồng hồng phấn tra. Trong các Nghi quĩ, hình tượng vị tôn này có nhiều loại: Thân mầu vàng thì gọi là Hoàng đồng tử, thân mầu xanh thì gọi là Thanh đồng tử…. Ngoài ra, vị tôn này còn có hình tượng đang từ trong biển cả vọt lên, thân mầu phệ lưu li, có 6 tay 3 mắt, đầu đội mũ báu, chân trái đạp hoa sen trên núi báu, chân phải chìm dưới mặt biển, hình tượng này được gọi là Thanh đồng tử, nhưng không thấy ghi trong kinh Đại nhật và các nghi quĩ của Thai tạng giới. Trong kinh Thánh ca ni phẫn nộ Kim cương đồng tử bồ tát thành tựu nghi quĩ quyển thượng có nói, đồng tử Kim cương là hóa thân của Kim cương tát đỏa, có lẽ căn cứ vào thuyết đó mà các vị A xà lê đời sau đã thêm đồng tử này vào Mạn đồ la của Kim cương tát đỏa. Nếu thờ vị tôn này làm bản tôn mà tu các pháp Tức tai; Điều phục v.v...… thì gọi là pháp Kim cương đồng tử. Tu theo pháp này thì được các công đức như: Lợi ích trong đời mạt pháp, hiện tướng tất địa, hiện thân Kim cương nhi, thấy chư Phật, được của báu, không còn sợ hãi, được ghi nhớ lâu không quên v.v...… [X. kinh Thánh ca ni phẫn nộ Kim cương đồng tử bồ tát thành tựu nghi quĩ Q.trung; kinh Kim cương đồng tử trì niệm; Vô lượng thọ Phật hóa thân đại phẫn tấn câu ma la kim cương niệm tụng du già nghi quĩ pháp].

kim cốt

Xá lợi của Đức Phật—Golden bons, i.e. Buddha's relics.

kim cổ

(金鼓) Trống làm bằng kim loại. Có chỗ nói trống chế tạo bằng vàng ròng. Là khí cụ dùng để đánh khi triệu tập đông người. Trong kinh có nói đến các loại trống như: Kim cổ(trống vàng)ngân cổ(trống bạc)đồng cổ(trống đồng), v.v... Xưa nay kim cổ, chiêng và nạo bạt được coi là một. Nhưng tại Nhật bản, nạo bạt 2 mặt được gọi là Kim cổ, một mặt thì gọi là Chinh, Phục chinh, Chinh cổ. [X. phẩm Tu đạt khởi tinh xá trong kinh Hiền ngu Q.10; phẩm Mộng kiến kim cổ sám hối trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; Đại đường tây vực kí Q.4; Loại tụ danh vật khảo Q.317].

Kim dung

(金容): dung mạo màu vàng ròng, tức thân Phật, là tôn xưng đối với thần Phật. Như trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳, Taishō Vol. 50, No. 2053) quyển 5 có đoạn: “Hướng mông Đại Thánh giáng linh, thân huy pháp hóa, nhĩ thừa diệu thuyết, mục kích kim dung (向蒙大聖降靈、親麾法化、耳承妙說、目擊金容, ngưỡng mong Đại Thánh giáng linh, thương bày giáo pháp, tai nghe tuyên thuyết, mắt thấy dung vàng).” Hay trong bài Ưu Điền Tượng Minh (優填像銘) của Giang Tổng (江總, 519-594) nhà Tùy có đoạn: “Hào quang thử ngộ, pháp tướng kim phùng, mâu vân xỉ tuyết, nguyệt mạo kim dung (毫光此遇、法相今逢、眸雲齒雪、月貌金容, hào quang nay gặp, pháp tướng tương phùng, mắt mây răng tuyết, dáng nguyệt dung vàng).” Hoặc trong Đôn Hoàng Biến Văn Hối Lục (敦煌變文匯錄), phần Duy Ma Cật Kinh Bồ Tát Phẩm Biến Văn (維摩詰經菩薩品變文), cũng có câu: “Kim dung hiện nhi nhật nguyệt tàng huy, thần lực trình nhi càn khôn chấn động (金容現而日月藏暉、神力呈而乾坤振動, dung vàng hiện mà trời trăng tỏ rạng, thần lực bày mà càn khôn chấn động).” Bên cạnh đó, trong hồi thứ 58 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) lại có đoạn: “Đệ tử phụng sư mạng, đặc khẩn kim dung đại phát từ bi, cứu viện vô cô sinh linh (弟子奉師命、特懇金容大發慈悲、救援無辜生靈, đệ tử vâng mạng thầy, khẩn cầu dung vàng mở tâm từ bi lớn, cứu độ những sinh linh vô tội).”

kim gia

Trường phái mà mình đang theo—The present school—My school or sect. ; (今家) Đồng nghĩa với Kim sư, Nhất gia. Chỉ cho bậc thầy hiện tại. Vì các môn đồ cho rằng Tổ sư hiện tại có khả năng làm sáng tỏ ý chỉ sâu xa mầu nhiệm của tông phái mình hơn các bậc thầy quá khứ, cho nên tôn xưng ngài là Kim gia. Danh từ Kim gia, Nhất gia được dùng trong Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 3 phần cuối, Tứ giáo nghĩa quyển 5, v.v...… là chỉ cho đại sư Trí khải tông Thiên thai. Còn những từ Kim gia, Kim sư nói trong Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí quyển 3 và trong Vãng sinh luận chú kí quyển 2 thì chỉ cho đại sư Thiện đạo.

kim giới quang minh tự

(金戒光明寺) Cũng gọi: Hắc cốc đường, Tân hắc cốc, Bạch hà thiền phòng. Chùa ở phường Hắc cốc, khu Tả kinh, thành phố Kyoto, Nhật bản. Là Đại bản sơn của tông Tịnh độ, hiệu là Tử vân sơn. Tổ của tông Tịnh độ là ngài Pháp nhiên từ Hắc cốc ở Tây tháp núi Tỷ duệ đến đây cất am tranh lập đạo tràng niệm Phật, về sau, đạo tràng này đã trở thành ngôi đại già lam. Nhờ sự ngoại hộ của 2 họ Phong thần và Đức xuyên mà khu vực chùa này được mở rộng thêm. Hiện trong chùa còn giữ được các bảo vật như: Một áng văn khởi thỉnh của Pháp nhiên thượng nhân và 3 tấm bình phong(chính giữa là tượng Tam tôn Sơn Việt A Di Đà, bên trái là cảnh địa ngục, bên phải là cảnh thế giới Cực lạc)bằng lụa nhuộm mầu, tương truyền do ngài Tăng đô Tâm huệ (tức là ngài Nguyên tín) vẽ, được coi là kiệt tác của thời đại Liêm thương. Năm Minh trị 30 (1897) vua ban sắc xác định là quốc bảo của Nhật bản.

kim hà

See Kim Sa Hà.

kim khu

See Kim Thân.

kim khẩu

The golden mouth of the Buddha. ; (金口) Miệng vàng, tiếng tôn xưng miệng của đức Phật. Lời thuyết pháp từ cửa miệng đức Phật phát ra không có mảy may lầm lỗi, làm lợi ích cho chúng sinh, vì thế gọi là Kim khẩu thuyết, Kim khẩu thuyết pháp, Kim khẩu trực thuyết, Kim khẩu sở thuyết, v.v... Có thuyết cho rằng Phật có thân tướng mầu vàng ròng, nên lời thuyết pháp từ miệng của Ngài gọi là Kim khẩu sở thuyết. Lại nữa, lời thuyết pháp của Phật chắc thật như kim cương, không thể phá hoại được, nên cũng gọi là Kim ngôn.

kim khẩu quỷ

Châm khẩu quỷ—Quỷ có cổ nhỏ như cây kim—Needle-mouth ghosts, with mouth so small that they cannot satisfy their hunger or thurst.

kim khẩu tương thừa

(金口相承) Kim khẩu nghĩa là lời thuyết pháp của chính đức Phật; tương thừa nghĩa là chư tổ lần lượt truyền pháp cho nhau. Tông Thiên thai có 3 thuyết về Tương thừa: Kim khẩu tương thừa, Kim sư tương thừa, Cửu tổ tương thừa. Trong đó, Kim khẩu tương thừa cũng gọi là Kim khẩu tổ thừa, là chỉ cho sự truyền nối của 23 vị tổ, từ ngài Ma ha Ca diếp đến Sư tử tôn giả. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng].

Kim kinh

(金經): kinh điển vàng ngọc. Kinh (s: sūtra, p: sutta, 經), âm dịch là Tu Đa La (修多羅), ý dịch là Khế Kinh (契經), Chánh Kinh (正經), Quán Kinh (貫經); là từ gọi chung cho tất cả Phật pháp, hay chỉ cho một loại trong 9 hoặc 12 phần giáo. Từ này còn dùng để chỉ cho các kinh điển của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Thù Điền Dật Nhân Du Nham Kiến Tầm Bất Ngộ (酬田逸人遊岩見尋不遇) của thi nhân Trần Tử Ngang (陳子昂, 661-702) nhà Đường có câu: “Thạch tủy không doanh ác, kim kinh bí bất văn (石髓空盈握、金經祕不聞, nhũ đá rỗng nắm trọn, kinh vàng linh chẳng nghe).” Hay trong Vĩnh Giác Nguyên Hiền Thiền Sư Quảng Lục (永覺元賢禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1437) quyển 26, bài thơ Đề Sư Tử Am (題獅子菴), có đoạn: “Sát can cao thụ thạch khê đông, bán yểm tùng vân thúy sắc nồng, nhật ngọ kim kinh phương bãi độc, nhất thanh sư hống bạch vân trung (剎竿高豎石溪東、半掩松雲翠色濃、日午金經方讀罷、一聲獅吼白雲中, đầu sào cao vút khe đá đông, xanh biếc sắc màu che mây tùng, quá trưa kinh vàng vừa đọc hết, tiếng gầm sư tử mây trắng trong).” Hoặc trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) lại có câu: “Quá khứ hiện tại cập vị lai, nhất thiết hữu tình Tam Giới biến, ngã kim thích huyết tả kim kinh, cúng phụng từ vương khất thùy giám, phù đồ thất cấp tánh trung quang, Di Đà nhất cú tâm đầu niệm, đồng sanh Cực Lạc ly khổ luân (過去現在及未來、一切有情三界遍、我今刺血寫金經、供奉慈王乞垂鑒、浮圖七級性中光、彌陀一句心頭念、同生極樂離苦輪, quá khứ hiện tại và tương lai, hết thảy hữu tình Ba Cõi khắp, con nay chích máu viết kinh vàng, dâng cúng đức từ xin chứng giám, bảy tầng tháp báu hiện hào quang, Di Đà mọtt câu trong tâm niệm, cùng sanh Cực Lạc thoát luân hồi).”

kim kê

Gà vàng và hạt thóc trong miệng. Đem gà vàng ví với lời sấm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—The golden cock or fowl, with a grain of millet in its beak, a name for Bodhidharma. ; (金鶏) Con gà đậu trên sao Kim kê trong truyền thuyết. Về sau, danh từ Kim kê được chuyển thành dụng ngữ của Thiền tông. Tổ đình sự uyển quyển 5 (Vạn tục 113, 67 thượng), nói: Nhân gian vốn không có tên Kim kê, đó là ứng theo sao Kim kê trên trời mà gọi. Hễ khi nào kim kê trên trời gáy, thì các con gà dưới đất cũng gáy theo. Nhân thiên nhãn mục quyển 3 chép, về từ ngữ Chính trung thiên trong Động sơn ngũ vị, thiền sư Phần dương Thiện chiêu nói (Đại 48, 314 thượng): Ngọc thố(mặt trăng) sáng lòa sau canh một, Kim kê phải gáy trước canh năm. Đầu tử nghĩa thanh thiền sư ngữ lục quyển thượng (Vạn 124, 229 hạ) nói: Chính trung lai, trong lửa kim kê ngồi trên đài phượng, đường huyền nương hư không vượt qua ngõ hẹp, đường chim rẽ mây ra khỏi trần ai. Câu trước ví dụ kim kê là bản giác trong tĩnh có động của Chính trung thiên, câu sau ví dụ vô thủy bản giác Phật tính Như lai tạng tâm của Chính trung lai là kim kê trên đài phượng ở trong lửa. Phần giáp chú(chú thích ở bên cạnh) điều Giang tây Mã tổ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 51, 245 hạ) chép: Tổ Bát nhã đa la ở Tây thiên bảo ngài Đạt ma rằng: Đất Trung hoa rộng bao la, nhưng không có con đường nào khác; phải nhờ chân của con cháu mà đi, kim kê biết ngậm một hạt thóc, cúng dường La hán tăng 10 phương. Ở đây ví dụ ngài Bồ đề đạt ma là kim kê, ngậm một hạt thóc bay đến bỏ trên đất Hán, về sau làm cho con cháu của Lục tổ Tuệ năng như các ngài Nam nhạc Hoài nhượng, Thanh nguyên Hành tư, v.v...… phồn thịnh, nhờ đó mà Thiền pháp được truyền bá khắp trong nước. [X. Tùy châu Đại hồng sơn Thuần thiền sư ngữ lục; điều Thiệu trân trong Tục truyền đăng lục Q.11; luận Tông môn vô tận đăng Q.thượng].

kim lai

The present and the future.

kim lan cà sa

See Kim Lan Y.

kim lan y

Kim Sắc Y—Kim Lan Cà Sa—Áo cà sa dệt bằng sợi vàng—A kasaya or robe embroidered with gold; a golden robe. ; (金襴衣) Cũng gọi Kim lan ca sa, Kim lũ ca sa, Kim sắc y, Hoàng kim điệp y, Kim sắc điệp y. Ca sa dệt bằng tơ vàng. Kinh Hiền ngu quyển 12 chép, di mẫu của đức Phật là bà Ma ha ba xà ba đề tự tay dệt tấm lụa mầu vàng rồi may ca sa dâng cúng Phật, nhưng Ngài không nhận và bảo Bà dâng cúng chúng tăng, chúng tăng cũng không dám nhận, sau đó ngài Di lặc nhận lấy. Việc này cũng được ghi trong kinh Trung a hàm quyển 13, kinh Tạp bảo tạng quyển 5, luận Đại tì bà sa quyển 178 và Đại đường tây vực kí quyển 6. Kinh Trường a hàm quyển 3 và kinh Phật ban nê hoàn quyển hạ thì chép, khi đức Phật sắp vào Niết bàn, có người đệ tử của một vị A la hán tên là Phúc quí dâng cúng đức Phật 1 tấm cà sa bằng tơ vàng, Ngài nhận rồi nói diệu pháp cho ông nghe. Nhưng Đại đường tây vực kí quyển 9 và Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 thì ghi: Đức Phật đem áo ca sa mầu vàng do bà Di mẫu dâng cúng truyền cho ngài Ca diếp. Pháp uyển châu lâm quyển 35 nói, khi đến rừng Sa la, Vương huyền sách có thấy tấm ca sa vàng phủ trên tượng Phật Thích ca. Như vậy, tấm ca sa này được may sau khi đức Phật nhập diệt, chứ không phải tấm ca sa do ngài Di lặc hoặc Ca diếp truyền trì như đã nói ở trên. [X. kinh Bồ tát anh lạc Q.1; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.1].

Kim Linh

(金鈴): linh vàng. Linh (s: ghaṇṭā, 鈴) là một loại pháp khí dùng đánh lên trước bàn Phật khi tụng kinh; được chế bằng loại đồng xanh, đồng đỏ. Loại pháp khí này còn có tên là Kim Cang Linh (金剛鈴), Kim Linh, hình như cái chuông, bên trong có treo quả cầu đồng. Trong Mật Giáo, khi tu pháp, Linh được dùng để làm kinh động, tỉnh giác chư tôn, hay khiến cho chư vị hoan hỷ. Cho nên Linh có 3 nghĩa là làm kinh động tỉnh giác, làm cho hoan hỷ, và thuyết pháp. Khi làm cho Linh kêu vang để cúng dường chư tôn, được gọi là Chấn Linh (振鈴). Linh có 5 loại là Độc Cổ Linh (獨鈷鈴), Tam Cổ Linh (三鈷鈴), Ngũ Cổ Linh (五鈷鈴), Bảo Linh (寶鈴), Tháp Linh (塔鈴). Kim Cang Linh là hình Tam Muội Da (三昧耶) của Kim Cang Linh Bồ Tát (金剛鈴菩薩). Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, CBETA No. 1565) quyển 20 có câu: “Giải mãnh hổ hạm hạ kim linh, kinh quần động chúng; thủ thương long huyệt lí minh châu, quang thiên chiếu địa (解猛虎頷下金鈴、驚群動眾、取蒼龍穴裏明珠、光天照地, tháo dưới cằm hổ dữ kim linh, kinh động quần chúng; lấy châu sáng trong huyệt rồng xanh, sáng tỏ trời đất).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) cũng có câu: “Thượng lai chấn động Kim Linh, hô chiêu nhữ đẳng quỷ chúng, nhiên thả nhữ đẳng tùng Địa Ngục trung xuất, nghiệp đạo trung lai, sạ văn luy bạt chi thanh, tất khởi kinh hoàng chi niệm (上來振動金鈴、呼召汝等鬼眾、然且汝等從地獄中出、業道中來、乍聞鏍鈸之聲、必起驚惶之念, nhân nay chấn động Kim Linh, mời gọi quỷ chúng các người, như vậy các người từ trong Địa Ngục ra, từ trong nghiệp đạo đến, vừa nghe tiếng não bạt, tất khởi niệm kinh hoàng).”

Kim Liên

(金蓮): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Hoa sen bằng vàng. Như trong bài thơ Nam Triều (南朝) của Lý Thương Ẩn (李商隱, khoảng 813-858) nhà Đường có câu: “Thùy ngôn quỳnh thọ triêu triêu kiến, bất cập kim liên bộ bộ lai (誰言瓊樹朝朝見、不及金蓮步步來, ai bảo cây quỳnh sáng sáng thấy, chẳng bằng sen vàng bước bước đi).” (2) Chỉ cho bàn chân bó nhỏ lại của người nữ theo tục lệ ngày xưa. Như trong bài Hòa Hàn Trí Quang Thị Lang Vô Đề (和韓致光侍郎無題) 2 của Ngô Dung (吳融, ?-?) nhà Đường có câu: “Ngọc trứ hòa trang ấp, kim liên trục bộ tân (玉箸和妝裛、金蓮逐步新, đũa ngọc cùng áo kép, gót vàng theo bước xinh).” (3) Chỉ cho tòa sen, tòa ngồi của Phật hình hoa sen. Như trong bài Thất Ngôn (七言) thứ 9 của Lữ Nham (呂岩, 798-?) nhà Đường có câu: “Thủy trung bạch tuyết vi vi kết, hỏa lí kim liên tạm tạm sanh (水中白雪微微結、火裏金蓮漸漸生, trong nước tuyết trắng nho nhỏ kết, lửa rực đài sen dần dần sinh).” (4) Chỉ hoa đăng. Như trong tác phẩm Tuyên Hòa Di Sự (宣和遺事) có câu: “Kim liên vạn trản, tản hướng thiên cù (金蓮萬盞、撒向天街, hoa đăng muôn ngọn, tung khắp không gian).” Trong Chỉ Nguyệt Lục (指月錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 83, No. 1578) quyển 31 có đoạn: “Kim liên tùng địa dũng, bảo cái tự thiên thùy, vi thị thần thông diệu dụng, vi thị pháp nhĩ như nhiên (金蓮從地湧、寶蓋自天垂、爲是神通妙用、爲是法爾如然, sen vàng từ đất vọt, lọng báu tự trời buông, đó là thần thông diệu dụng, đó là pháp vốn tự nhiên).” Hay trong Ảnh Hưởng Tập (影響集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1209), bài Tịnh Độ Thi (淨土詩), có đoạn: “Nhất cú Di Đà tận lực xưng, Tam Đồ Bát Nạn tổng siêu thăng, trì danh diệt tội kim liên hiện, bi nguyện toàn bằng Phật lực tăng (一句彌陀盡力稱、三塗八難總超升、持名滅罪金蓮現、悲願全憑佛力增, một câu Di Đà tận lực xưng, Ba Đường Tám Nạn thảy siêu thăng, trì danh diệt tội sen vàng hiện, bi nguyện toàn nhờ Phật lực tăng).”

kim liên

1) Hoa sen vàng: Golden lotus bloom. 2) Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong làng Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liên, Hà Nội, Bắc Việt Nam. Nguyên xưa là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên một nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái vua Lý Thần Tông ra đời. Về sau chỗ nầy lập trại trồng dâu nuôi tằm nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm 1639, chùa được tu sử lại, gọi là chùa Đại Bi, đến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771), lại được trùng tu, và chùa được mang tên Kim Liên từ đó. Vào năm 1792, chùa lại được trùng tu và nhiều lần về sau nầy nữa. Chùa hiện nay được coi như là di sản kiến trúc thời Tây Sơn. Cổng tam quan của chùa có kiến trúc gỗ độc đáo, đượm dáng vẻ cung đình. Nổi bậc còn có những bức chạm trỗ hình rồng và hoa nổi trên mặt gỗ hết sức tinh xảo: Name of an ancient temple, located in Nghi Tàm hamlet, Quảng An village, Từ Liêm disrict, Hanoi, North Vietnam. Its old name was Đống Long Temple, built in the Trần dynasty (1225-1413) on an old floor of a house where Princess Từ Hoa, King Lý Thần Tông's daughter, was born. The house was once turned into a plantation for growing mulberry and silk worms. This is why the village is called Nghi Tàm. In 1639, the temple was repaired and renamed Đại Bi. In the thirty-second Lê Cảnh Hưng year (1771), it was rebuilt again, and given the present name, Kim Lien Temple. In 1792, it was restored on the larger scale and has been resconstructed many times. At present, Kim Liên Temple is an architectural artistic vestige of the Tây Sơn dynasty. The three-entrance gate is of distinctive wooden structure styled Vietnamese royal palace. Distinguished from the three-entrance structure are the skillfully carved wooden bas-reliefs representing the image of flowers and dragons.

kim liên tịch truyền

Zen Master Kim Liên Tịch Truyền (1745-1816)—Thiền sư Kim Liên, người Việt Nam, quê ở Thượng Phước, Bắc Việt. Ngài xuất gia từ thuở bé tại chùa Vân Trai. Sau dó ngài đến chùa Liên Tông và trở thành đệ tử của ngài Từ Phong Hải Quýnh. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng pháp tại miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1816, thọ 70 tuổi—A Vietnamese Zen master from Thượng Phước, North Vietnam. He left home and stayed at Vân Trai Temple when he was very young. Later he went to Liên Tông Temple and became a disciple of Zen Master Từ Phong Hải Quýnh. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North Vietnam. He passed away in 1816, at the age of 70.

Kim Luân

(金輪): (1) Nơi sâu tận cùng của thế giới là Phong Luân (風輪), Phong Luân này nương vào hư không, dày 16 ức do tuần, kiên cố như kim cang. Trên Phong Luân có Thủy Luân (水輪), sâu 8 ức do tuần. Trên Thủy Luân có Kim Luân, dày 3 ức 2 vạn do tuần, bề ngang 12 ức 3450 do tuần, được hình thành từ kim cang hình vòng tròn; nên gọi là Kim Luân. Trên Kim Luân này lại có chín núi tám biển, gọi là Địa Luân (地輪). Từ mặt nước cho đến Kim Luân, sâu đến 8 vạn do tuần; do vậy ta mới biết Địa Luân rất dày. Như vậy Kim Luân này còn có nghĩa là đại địa, vũ trụ, thế giới. (2) Là tên gọi của một trong 7 loại báu do Chuyển Luân Thánh Vương (轉輪聖王) cảm đắc được. Vòng tròn báu này có 4 loại khác nhau là vàng, bạc, đồng, sắt, từ đó sanh ra sự khác nhau giữa Kim Luân Vương (金輪王), Ngân Luân Vương (銀輪王), Đồng Luân Vương (銅輪王) và Thiết Luân Vương (鐵輪王). (3) Là tên gọi tắt của Kim Luân Thánh Vương (金輪聖王). Tắc Thiên Võ Hậu nhà Đường tự xưng là Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế (金輪聖神皇帝). Như trong Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集, Taishō Vol. 52, No. 2103) quyển 28 có câu: “Minh ngân cổ ư bảo phường, chuyển Kim Luân ư hương địa, pháp lôi kinh mộng huệ nhật huy lãng, đạo tục bức thấu, viễn nhĩ tất tập (鳴銀鼓於寶坊、轉金輪於香地、法雷驚夢、慧日暉朗、道俗輻湊、遠邇畢集, gióng trống bạc nơi phòng báu, chuyển xe vàng chốn đất thơm, sấm pháp tỉnh mộng, trời tuệ sáng ngời, đạo tục tụ hội, xa gần vân tập).” Hay như trong Mục Am Văn Khang Thiền Sư Ngữ Lục (穆菴文康禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1415) lại có đoạn: “Càn khôn đồng thọ, nhật nguyệt tề minh, Kim Luân ngự nhi hải nhạc an, ngọc chúc điều nhi thiên vận tự (乾坤同壽、日月齊明、金輪御而海嶽安、玉燭調而天運序, càn khôn cùng thọ, trời trăng sáng trong, xe vàng hiện cho biển núi yên, đèn ngọc điều cho vận trời thuận).” Hoặc như trong Hạt Đường Huệ Viễn Thiền Sư Quảng Lục (瞎堂慧遠禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1360) quyển 2 cũng có câu: “Du hý Tam Muội, ứng tiếp vạn cơ, cao củng Kim Luân vạn thừa chi tôn, thượng niệm Linh Sơn nhất ngôn chi phó (游戲三昧、應接萬機、高拱金輪萬乘之尊、尚念靈山一言之付, rong chơi Tam Muội, ứng tiếp cơ duyên, sùng kính xe vàng vạn cỗ tôn nghiêm, mãi nhớ Linh Sơn một lời phó chúc).”

kim luân

1) Nơi thấp nhất của thế giới là phong luân; phong luân dựa vào hư không (bề dầy là 16 ức do tuần, bền vững như kim cương). Trên phong luân có thủy luân (sâu 8 ức do tuần). Trên thủy luân có kim luân (dầy 3 ức 2 vạn do tuần do có hình bánh xe nên gọi là kim luân). Trên kim luân là địa luân (gồm 9 núi 8 biển)—The metal circle on which the earth rests, above the water circle which is above the wind or air circle which rests on space. 2) Kim Luân là một trong bảy báu vật của Chuyển Luân Thánh Vương—The cakra or wheel or disc, emblem of sovereignty, one of the seven precious possessions of a Cakra-King—See Tứ Luân (D). ; (金輪) I. Kim Luân. Phạm: Kàĩcana-maịđala. Cũng gọi Kim tính địa luân, Địa luân, Địa giới. Một trong 3 luân(phong thủy kim), hoặc 1 trong 4 luân (không phong thủy kim). Vũ trụ luận của Ấn độ đời xưa cho rằng lớp dưới cùng của thế giới là hư không, trên hư không có phong luân (Phạm: Vàyumaịđala), trên phong luân lại có thủy luân (Phạm:Jala-maịđala), trên thủy luân lại có kim luân. Do sức nghiệp của loài hữu tình khuấy động thủy luân, nên trên mặt thủy luân kết thành kim luân(lớp vàng rất dày). Các thế giới hiện thực như: Núi, biển, đảo, v.v... đều kiến lập và tồn tại trên kim luân. Phía dưới cùng của kim luân gọi là Kim luân tế(mé kim luân). [X. kinh Trường a hàm Q.18; luận Đại tì bà sa Q.133; luận Du già sư địa Q.2; luận Câu xá Q.11]. (xt.Tam Luân, Tứ Luân). II. Kim Luân. Gọi đủ: Kim luân bảo. Cũng gọi: Luân, Luân bảo (Phạm: Cakra-ratna). Vũ khí hình bánh xe làm bằng kim cương(một trong 7 thứ báu)là vật cầm tay của vua Chuyển luân Thánh vương. Truyền thuyết cho rằng tùy theo luân bảo chuyển động xoay về hướng nào thì nơi ấy đều qui phục. Chuyển luân Thánh vương cầm Kim luân bảo gọi là Kim luân vương (gọi tắt là Kim luân). Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, tay cầm Kim luân được gọi là Kim luân thủ. [X. kinh Trường a hàm Q.27; kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.6; kinh Tạp thí dụ]. (xt. Luân Bảo).

kim luân phật đảnh

See Đại Thắng Kim Cang.

kim luân phật đảnh tôn

Đại Xí Thạnh Quang—The Great Blazing Perfect Light.

kim luân tế

(金輪際) Chỉ cho bờ mé kim luân là lớp dưới cùng của quả đất theo thế giới quan Phật giáo. Theo luận Câu xá quyển 11, thì Kim luân là lớp vàng dưới cùng của quả đất, dày 320.000 do tuần, đường kính 1.23.450 do tuần. Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8 cho rằng Kim luân tức là Kim cương luân (mặt đất được trải bằng kim cương). Ở Nhật bản, từ Kim luân tế chỉ cho giới hạn cùng cực của sự vật. Ngoài ra, Kim luân tế còn được dùng với ý nghĩa Bất luận như thế nào. [X. kinh Đại bảo tích Q.120; kinh Kim quang minh Q.2; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.1]. (xt. Kim Cương Luân).

kim luân vương

A Golden-wheel (cakra) king—See Tứ Luân (D).

Kim Lô

(金爐): lò vàng dùng để đốt giấy tiền vàng bạc khi dân chúng đến tham bái. Tạo hình bên ngoài Kim Lô ở Miếu Thành Hoàng (城隍廟) lấy màu hồng làm chính. Trên đỉnh lò có tòa nhà lục giác ba tầng: tầng thứ nhất lên đến đỉnh lò, mỗi góc đều có hình con rồng bay; tầng thứ hai lên đến đỉnh lò, mỗi góc có hình con chim phụng bay; tầng thứ ba, mỗi góc đều có hình hoa. Kim Lô và Hương Lô (香爐, lò hương) hoàn toàn khác nhau về chức năng. Lò Hương chủ yếu để cắm hương. Lò Hương cỡ lớn thì có điêu khắc hình con rồng trên đó và được đúc bằng đồng. Trong khi đó, Kim Lô chủ yếu dùng để đốt các loại giấy tiền vàng mã và hầu hết mỗi đền miếu đều có. Loại Kim Lô ở các đền miếu được chế tạo bằng gốm sứ. Như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn: “Giới Định chơn hương, phần khí xung thiên thượng, thí chủ kiền thành, nhiệt tại kim lô phóng, khoảnh khắc nhân uân, tức biến mãn thập phương, tích nhật Da Du, miễn nạn trừ tai chướng (戒定眞香、焚氣衝天上、施主虔誠、爇在金爐放、頃刻氛氤、卽遍滿十方、昔日耶輸、免難除災障, Giới Định chơn hương, khí đốt xông trời đất, thí chủ lòng thành, hơi nóng trong lò tỏa, khoảnh khắc hòa hài, tức cùng khắp mười phương, xưa kia Da Du, hết nạn trừ tai chướng).” Hay trong Huyễn Trú Am Thanh Quy (幻住庵清規, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1248) lại có đoạn: “Thần minh chi sum vệ, tuyên Phật Đảnh chi bí thuyên, tường yên tiêu cổ triện ư kim lô, bảo diệm thổ Đàm Hoa ư ngọc chúc (神明之森衛、宣佛頂之秘詮、祥煙銷古篆於金爐、寶燄吐曇花於玉燭, thần minh ấy hộ vệ, tuyên Phật Đảnh bao bí ngữ, mây lành nung triện cổ nơi lò vàng, lửa báu tuôn hoa Đàm nơi nến ngọc).” Trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Tống Thích Ngộ Ân (宋釋晤恩) có đoạn rằng: “Ung Hy tam niên bát nguyệt, mộng ủng nạp Sa Môn, chấp kim lô phần hương, tam nhiễu kỳ thất, tự ngôn Tổ sư quán đảnh, lai thử tương nghênh, mộng giác do văn dị hương, diện Tây hiệp chưởng nhi hóa (雍熙三年八月、夢擁衲沙門、執金爐焚香、三遶其室、自言祖師灌頂、來此相迎、夢覺猶聞異香、面西合掌而化, vào tháng 8 niên hiệu Ung Hy thứ 3 [986], Ngộ Ân mơ thấy vị Sa Môn ôm y bá nạp, tay cầm lò vàng xông hương, ba lần nhiễu quanh thất của ông, tự bảo là Tổ sư quán đảnh, đến đây nghinh đón, khi tỉnh mộng mà vẫn nghe có mùi hương lạ, ông mặt hướng về phương Tây chấp tay mà đi).”

kim lăng khắc kinh xứ

(金陵刻經處) Cơ sở khắc in và phát hành kinh sách Phật giáo nằm ở đường Diên linh, thành phố Nam kinh Trung quốc. Vào cuối đời nhà Thanh, xã hội loạn lạc, binh lửa liên miên vì thế kinh điển của Phật giáo phần nhiều thất tán. Do lòng thương cảm, ông Dương văn hội cùng với hơn 10 người khác khuyến hóa khắp nơi để khắc bản lưu thông kinh Phật. Trong số hơn 10 người ấy có ông Trịnh học xuyên(về sau xuất gia, pháp hiệu Diệu không) ở Giang đô, sáng lập, Giang bắc khắc kinh xứ ở Chuyên kiều Kê viên tại làng Đông thuộc Dương châu; ông Dương văn hội thì thành lập cơ sở khắc kinh tại Nam kinh. Vào năm Đồng trị 12 (1873), ấn hành bức tranh Cực lạc thế giới y chính trang nghiêm, tượng Đại bi Quan âm thập nhất diện. Về sau, xây một tòa nhà ở Nam kinh để cất giữ những bản kinh đã được khắc trong mấy năm qua. Năm Quang tự 12 (1886), ông Dương văn hội sang Anh quốc, 3 năm sau về nước, thỉnh được bộ Súc loát Đại tạng kinh(Đại tạng kinh rút gọn) của Nhật bản, từ đó ông đóng cửa đọc tụng. Năm Quang tự 16 (1890), ông đến Bắc kinh sưu tầm sách của các bậc Cổ đức chưa được đưa vào Đại tạng nhưng đã bị thất tán và thông qua một học giả Phật giáo người Nhật là ông Nam điều Văn hùng, ông đã thỉnh được những tác phẩm Phật giáo thời Tùy, Đường từ Nhật bản đưa về Trung quốc, như các bộ: Trung luận sớ, Bách luận sớ, Thành duy thức luận thuật kí, v.v... và khắc bản lưu thông. Năm Quang tự 23 (1897), ông sáng lập Kim Lăng Khắc Kinh Xứ để cất giữ và phát hành kinh sách, là nơi ấn hành kinh điển Phật đầu tiên. Năm Quang tự 33 (1900), ông mở trường Phật học tại nơi khắc kinh, gọi là Tinh xá Kì viên, nhằm đào tạo nhân tài cho việc chấn hưng Phật giáo sau này. Nhưng chưa đầy 2 năm thì phải tạm ngưng vì thiếu kinh phí. Ông lại đóng cửa đọc Đại Nhật bản tục tạng kinh, ông nhận thấy bộ Tục tạng kinh này rất lộn xộn, nên ông sửa đổi mục lục các sách, mà biên soạn thành Đại Tạng Tập Yếu. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911), ông mắc bệnh, lúc lâm chung, ông ủy thác cho 3 người: Trần tê am, Trần tuyên phủ và Âu dương tiệm khắc bản các kinh sách được ghi trong Đại tạng tập yếu, rồi lại triệu tập những người trong hội Nghiên cứu Phật học, cùng nhau duy trì Kim Lăng Khắc Kinh Xứ. Sau khi ông Dương văn hội qua đời, các ông Trần tê am, v.v... tiếp tục công việc khắc kinh. Sau khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, việc khắc kinh phải đình chỉ và một số bản kinh đã bị mất. Năm Dân quốc 41 (1951), được sự giúp đỡ của giới Phật giáo ở Nam kinh và Thượng hải, cháu của ông Dương văn hội là các ông Dương lập sinh, Dương vũ sinh, cùng với các ông Từ bình hiên và Triệu phác sơ, thành lập Hội Ủy viên hộ trì Kim lăng khắc kinh xứ. Trong đó, ông Từ bình hiên là chủ trông coi mọi việc, có ông Lữ trừng phụ tá. Ngoài ra, cũng nhờ sự viện trợ kinh tế của Hiệp hội Phật giáo Trung quốc và sự ngoại hộ của ông Chu thúc ca, v.v... Hội này thực hiện kế hoạch bổ sung nghiệp vụ và mở rộng cơ sở khắc kinh, sửa sang những căn nhà dột nát và các bản kinh đã bị hư hại, tổng cộng đã có 900 bản khắc được tàng trữ. Từ năm Dân quốc 43 (1953) trở đi, nhờ sự hộ trợ của hiệp hội Phật giáo Trung quốc, hội lại tiến thêm một bước thu tập tất cả các bản kinh tản mạn trên khắp nước, tổng cộng được trên 12 vạn bản, tuyển 20 thợ khắc kinh để khắc cho đủ các bản kinh đã bị thất lạc và khắc những bản mới những kinh sách do ngài Huyền trang soạn dịch. Để đáp ứng nhu cầu khắc kinh, Hội đã làm ra các bản khắc mới, đào tạo thợ khắc, tận lực sưu tập các loại bản kinh đã bị thất tán, đồng thời, đặt chi bộ Trung quốc biên soạn sở để soạn bộ Thế Giới Phật Giáo Đại Bách Khoa Sự Điển bằng tiếng Anh. [X. Dương nhân sơn cư sĩ di trứ, tập thứ 1; Dương nhân sơn cư sĩ sự lược (Từ văn úy); Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều)].

kim lăng phạm sát chí

(金陵梵刹志) Tác phẩm, 53 quyển, do ông Cát dần lượng soạn vào đời Minh. Năm vạn lịch 35 (1607), ti Tăng lục ở Nam kinh ấn hành; năm Thiên khải thứ 7 (1627), in thêm lời tựa, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san, tập thứ 1. Nội dung sách này bắt chước theo Lạc dương già lam kí của Dương huyễn chi nhưng thể tài thì khác, để ghi chép về chùa Phật, Đạo quan (nhà thờ của Đạo giáo) và đền miếu ở Kim lăng, Kinh đô của các triều đại Nam triều và nhà Minh. Quyển đầu ghi chép về Ngự chế tập, Khâm lục tập, từ quyển thứ 3 đến quyển 48 lần lượt nói về các chùa, quyển 49 là mục lục Nam tạng, từ quyển 50 trở đi là ghi chép về điều lệ như công phí, tài sản của các chùa. Sách này bố cục chặt chẽ, tư liệu sưu tập rất hoàn bị, là văn hiến trọng yếu để khảo sát về các di tích chùa Phật ở Kim lăng cũng như lịch sử Phật giáo thời Lục triều.

kim lăng thanh lương viện văn ích thiền sư ngữ lục

(金陵清凉院文益禪師語錄) Cũng gọi Đại pháp nhãn Văn ích thiền sư ngữ lục, Đại trí tạng đại đạo sư ngữ lục, Thanh lương Văn ích thiền sư ngữ lục, Văn ích lục, Pháp nhãn lục. Tác phẩm, 1 quyển, do thiền sư Pháp nhãn Văn ích (885-958) soạn vào đời Đường, các ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép lược truyện về ngài Pháp nhãn Văn ích và các mục Khai đường, Thướng đường, Thị chúng, Vấn đáp, Cơ duyên, Cử cổ, Đại cổ, Kệ tụng, v.v... của ngài khi trụ tại viện Sùng thọ, viện Báo ân thiền, viện Thanh lương thiền, v.v... Qua những lời chỉ dạy trong bộ ngữ lục này, ta có thể thấy được tông phong của ngài Pháp nhãn Văn ích, ngài dắt dẫn người học đời sau bằng lòng khẩn thiết nhắc nhớ chứ không dùng phương pháp đánh hét. Ở đầu quyển có thêm phần Ngũ gia ngữ lục Pháp nhãn tông, cuối quyển chép thêm 2 bài tựa về Ngũ gia ngữ lục do 2 ngài Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi soạn.

kim lưu

(金流) Cũng gọi Ni liên thiền giang, Ni liên giang thủy. Chỉ cho sông Ni liên thiền (Phạm: Nairaĩjanà, tức là sông Nhĩ pháp cổ ngày nay), là 1 chi nhánh của sông Hằng tại Ấn độ. Sau khi bỏ lối tu khổ hạnh, đức Thích tôn xuống sông này tắm gội thân thể sạch sẽ, rồi tiếp nhận bát sữa do 1 cô gái chăn bò cúng dường, sau đó, Ngài đến dưới gốc cây Tất bát la, đối diện bờ sông, đoan tọa tư duy, đạt thành chính giác. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng), nói: Thị hiện vào cõi 5 trược ác để tùy thuận chúng sinh, thị hiện có cáu bẩn, nên tắm gội ở Kim lưu. [X. phẩm Khổ hạnh, kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.7; điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí]. (xt. Ni Liên Thiền Hà, Lưỡng Hà).

kim mao quỷ

Ghosts with needle hair, distressing to themselves and others.

kim mao sư tử

1) Sư tử lông vàng mà ngài Văn Thù Sư Lợi cỡi—The lion with golden hair on which Manjusri rides. 2) Sư Tử lông vàng cũng là tiền thân của Đức Phật: A previous incarnation of the Buddha.

kim minh

(金明) (1914- ) Vị tăng Trung quốc thời hiện đại, người huyện Bồ điền, tỉnh Phúc kiến, họ Trịnh, tên Thanh tuyền, Chí tâm. Năm 16 tuổi, sư lễ hòa thượng Hương lâm chùa Phúc thanh, núi Qui sơn cầu xuất gia. Năm 24 tuổi, sư thụ giới Cụ túc tại chùa Phúc thanh. Sư tốt nghiệp tại thư viện Đông sơn, Bồ điền. Sau đó, theo pháp sư Từ hàng nghiên cứu nhân minh, Duy thức. Sau, sư đến Mã lai á hoằng pháp, lần lượt sáng lập Hương lâm giác uyển (1946), Hương lâm học hiệu (1951) ở Malacca và cùng với 2 pháp sư Kim tinh, Trúc ma thành lập Tổng hội Phật giáo Mã lai (1958). Sư từng đảm trách các chức vụ Chủ tịch Tổng hội Phật giáo Mã lai, Chủ tịch hội Ủy viên khảo thí Phật học Mã lai, Đạo sư tôn giáo của Tổng hội Thanh niên Phật giáo Mã lai, Giám đốc trường Hương lâm và vườn trẻ Hương lâm, Trụ trì Hương lâm giác uyển. Sư có các tác phẩm: Quốc dân hình hoa văn Tiểu học thích dụng Phật học khóa bản (10 tập), Phật pháp dữ nhân sinh xã hội đích quan hệ; Phật đà đích giáo dục, Đạo đức giáo dục.

Kim môn

(金門): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi tắt của Kim Mã Môn (金馬門), tên của một cung môn dưới thời nhà Hán, là nơi dành cho các học sĩ chờ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. Như trong Sử Ký (史記), phần Cốt Kê Liệt Truyện (滑稽列傳) có giải thích rằng: “Kim Mã Môn giả, hoạn thự môn dã; môn bàng hữu đồng mã, cố vị chi viết Kim Mã Môn (金馬門者、宦署門也、門傍有銅馬、故謂之曰金馬門, Kim Mã Môn là cổng [chờ] nhậm chức làm quan; bên cửa có con ngựa bằng đồng, nên gọi nó là Cổng Ngựa Vàng).” (2) Chỉ cho gia đình phú quý, giàu sang, quý phái. Như trong Ngụy Thư (魏書), Truyện Thường Cảnh (常景傳) có đoạn: “Phù như thị, cố ỷ các kim môn, khả an kỳ trạch, cẩm y ngọc thực, khả di kỳ hình (夫如是、故綺閣金門、可安其宅、錦衣玉食、可頤其形, phàm như vậy, cho nên gác lụa cổng vàng, có thể làm yên nhà cửa; áo gấm cơm ngọc, có thể nuôi dưỡng thân hình).” Trong Truyện Kiều cũng có câu rằng: “Chẳng sân ngọc bội, thời phường kim môn.” (3) Chỉ cho cổng lớn được trang sức bằng vàng. Như trong hồi thứ 65 của Phong Thần Diễn Nghĩa (封神演義) có câu: “Ngọc điện kim môn lưỡng phiến khai, nhạc thanh tề tấu hạ dao đài (玉殿金門兩扇開、樂聲齊奏下瑤臺, điện ngọc cổng vàng hai cánh khai, tiếng nhạc cùng tấu dưới ngọc đài).”

kim môn

Golden door (gate).

kim ngân

Gold and silver.

kim ngôn

Lời vàng của Phật—Golden words, i.e. those of Buddha.

Kim Ngưu

(金牛, Kingyū, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), xuất thân vùng Trấn Châu (鎮州, Tỉnh Hà Bắc). Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) có ghi lại những hành trạng kỳ đặc của ông.

kim ngọc

Gold and jade.

kim nhân

Tượng Phật bằng kim loại hay bằng vàng—A image of Buddha of metal or gold. ; (金人) Cũng gọi Kim thần. Vốn chỉ cho những tượng người được đúc bằng vàng, về sau, vì thân Phật có mầu vàng ròng nên kim nhân cũng chỉ cho thân Phật hoặc tượng Phật. Sự du nhập Phật giáo vào Trung quốc cũng có liên quan đến sự tích Kim nhân. Như năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Đông Hán, vua Minh đế nằm mộng thấy Kim nhân, nên sai sứ đến nước Nguyệt thị thỉnh tượng Phật, kinh điển và chư tăng về Trung quốc, đó tức là Kim nhân được truyền vào và sự tích này được lưu truyền mãi đến ngày nay. [X. Phật tổ thống kỉ Q.34; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.1; Ngụy thư Thích lão chí thứ 114; Vệ tướng quân Phiêu kị liệt truyện trong Sử kí Q.111; Hán thư liệt truyện thứ 25; Hậu Hán thư Tây vực truyện thứ 78].

kim nông

(金農) (1687-?) Nhà thư họa Trung quốc, sống vào đời Thanh, người huyện Nhân hòa, tỉnh Chiết giang, tự Thọ môn, hiệu là Cát kim, Đông tâm, Tư nông Cát kim, Liên thân cư sĩ, Long thoa tiên khách, Kim nhị thập lục lang, Tích da cư sĩ. Bình sinh, ông thích những cái hay lạ của thời xưa, thu thập có tới ngàn quyển sách nói về tượng vàng, bia đá. Phong cách thơ của ông thanh cao giản dị và ông cũng rất giỏi về thư pháp, hội họa. Tuổi trung niên ông tin Phật, về già càng chí thành, từng viết cho cư sĩ Viên thuần 1 quyển kinh Kim cương, Viên thuần khắc in 1000 bản, đóng rất đẹp, rồi đem cúng dường khắp các Thiền lâm ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, bức tranh Quan âm áo trắng ngồi trên áng mây 5 sắc do ông vẽ rất nổi tiếng, người đương thời khen là Thần phẩm. Ông mất năm hơn 70 tuổi. Ông có tác phẩm: Đông tâm tập.

kim phược pháp

(金縛法) Cũng gọi Bất động kim phược pháp, Bổng phược pháp. Pháp bí mật dùng để trói người của phái Tu nghiệm đạo Nhật bản. Pháp này nương vào uy lực của Minh vương Bất động mà trói buộc chân tay thân thể của người, khiến cho người ấy không cử động được.

kim phật

See Kim Nhân.

kim quang

Golden light.

kim quang minh

Ánh sáng vàng chói sáng—The golden light.

Kim Quang Minh Kinh

(s: Survarṅaprabhāsottama-sūtrendrarāja-sūtra, t: Ḥphags-pa gser-ḥod-dam-pa mdo-sdeḥi dbaṅ-poḥi rgyal-po-shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, c: Chin-kuang-ming-ching, j: Konkōmyōkyō, 金光明經): 4 quyển, hiện còn, Taishō 16, 335, No. 663, Đàm Vô Sấm dịch.

Kim quang minh kinh

金光明經; S: suvarṇaprabhāsa-sūtra;|Kim quang minh tối thắng vương kinh

kim quang minh kinh

Suvarna-prabhasa-uttamaraja (skt)—Kim Quang Minh Kinh được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ sáu và hai bản dịch khác về sau nầy (có 3 bản dịch: Đàm Vô Sám đời Bắc Lương, Nghĩa Tịnh đời Đường, Thiên Thai Trí Giả). Kinh được sơ tổ tông Thiên Thai là ngài Trí Giả dịch và dùng cho tông phái mình—Golden Light Sutra, translated in the sixth century and twice later, used by the founder of T'ien-T'ai. ; (金光明經) Phạm:Suvarịaprabhàsottama-sùtra. Kinh, 4 quyển, do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương được thu vào Đại chính tạng tập 16. Nội dung kinh này chủ yếu nói về việc chư thiên và các thiẹn thần hộ vệ quốc gia. Những bản dịch khác của kinh này còn có: 1. Kinh Kim quang minh đế vương, 7 quyển (hoặc 6 quyển), do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều. 2. Kinh Kim quang minh cánh quảng đại biện tài đà la ni, 5 quyển, do ngài Da xá quật đa(có thuyết nói do ngài Xà na quật đa) dịch vào đời Bắc Chu. 3. Kinh Hợp bộ kim quang minh, 8 quyển, do các ngài Bảo quí, v.v.. hợp biên vào đời Tùy. 4. Kinh Kim quang minh tối thắng vương(gọi tắt là kinh Tối thắng vương), 10 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. Trong các bản dịch trên đây, chỉ có các bản (3) (4) được thu vào Đại chính tạng tập 16, còn các bản (1) (2), không thấy được truyền. Ngoài ra, còn có các bản dịch tiếng Nhật và nguyên bản tiếng Phạm cũng được ấn hành. Về phần chú sớ của kinh này, quan trọng hơn cả thì có: - Kim quang minh kinh sớ, 13 quyển, của ngài Chân đế. - Kim quang minh huyền nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí khải. - Kim quang minh văn cú, 6 quyển, cũng của ngài Trí khải. - Kim quang minh kinh sớ, 1 quyển, của ngài Cát tạng. - Kim quang minh chiếu giải, 2 quyển, của ngài Tông hiểu. [X. Xuất tam tạng kí tập Q. 2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1,6,11; Phật tổ thống kỉ Q.25].

kim quang minh kinh huyền nghĩa

(金光明經玄義) Gọi tắt: Kim quang minh huyền nghĩa, Quang minh huyền nghĩa, Quang minh huyền. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Trí khải giảng vào đời Tùy, đệ tử là ngài Quán đính biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung giải thích nghĩa sâu kín của kinh Kim quang minh, bản dịch của ngài Đàm vô sấm, qua 5 phần: Thích danh, xuất thể, minh tông, luận dụng và giáo tướng. Phần thích danh chia làm 2 chương là Giáo nghĩa thích và Quán hành thích. 1. Giáo nghĩa thích: Theo mặt thuận, nói về 10 thứ Tam pháp: Tam đức, Tam bảo, Tam Đại thừa, Tam bồ đề,Tam Phật tính, Tam thức, Tam Niết bàn, Tam thân, Tam bát nhã và Tam đạo. 2. Quán hành thích: Theo mặt nghịch, giải thích tên kinh một cách chi tiết rõ ràng. Kế đến, đều y theo nghĩa kinh, văn kinh mà lấy pháp thân, pháp tính làm thể, lấy Phật quả làm tông, lấy diệt ác sinh thiện làm lực dụng. Từ những năm cuối thời Ngũ đại trở đi, bộ sớ này có 2 bản là quảng và lược, quảng bản có chương Quán hành thích trong phần Thích danh, còn lược bản thì không có. Lúc bấy giờ có ngài Từ quang Ngộ ân, soạn Kim quang minh huyền nghĩa phát huy kí để chú thích lược bản và xem quảng bản là do người đời sau ngụy tác; đây chính là đầu mối phát sinh ra cuộc tranh luận giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại. Về sách chú giải bộ sớ này gồm có: Kim quang minh kinh huyền nghĩa phát huy kí (đã thất truyền)của ngài Ngộ ân, Kim quang minh kinh huyền nghĩa nghĩa kí(thất truyền) của ngài Hồng mẫn, Kim quang minh kinh huyền nghĩa biểu vi kí, 1 quyển, của ngài Trí viên, Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí, 6 quyển, của ngài Tri lễ. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Duyệt tạng tri ân Q.35, 39].

kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di ký

(金光明經玄義拾遺記) Cũng gọi Kim quang minh huyền nghĩa thập di kí, Quang minh huyền nghĩa thập di kí, Quang minh huyền thập di kí. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào niên hiệu Thiên thánh năm đầu (1023) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung sách này giải thích văn nghĩa của bộ Kim quang minh huyền nghĩa do ngài Trí khải soạn, đồng thời bác bỏ thuyết ngụy tạo, Quán tâm thích trong quảng bản và công kích bộ Kim quang minh huyền nghĩa biểu vi kí của ngài Cô sơn Trí viên vì 4 lỗi: Lời thô, nghĩa cạn, lí trái và sự lầm. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Duyệt trạng tri tân Q.39; Chư tông chương sớ lục Q.2].

kim quang minh kinh sớ

(金光明經疏) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Cát tạng (549-632), soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Sách này giải thích bộ kinh Kim quang minh 4 quyển do ngài Đàm vô sấm dịch. Nội dung chia 18 phẩm của kinh Kim quang minh làm 3 phần: - Phần tự thuyết: Phẩm tựa thứ nhất. - Phần chính thuyết: Từ phẩm Thọ lượng thứ hai đến phẩm Xả thân thứ 17. - Phần lưu thông: Phẩm tán Phật thứ 18. Ngoài ra, còn giải thích rõ về đại ý, lực dụng và tán thán công đức của kinh Kim quang minh; lời văn ngắn gọn, ý nghĩa sáng sủa, là bộ chú sớ quan trọng cho việc nghiên cứu kinh Kim quang minh. So với các bộ Kim quang minh kinh huyền nghĩa và Kim quang minh kinh văn cú của đại sư Trí khải tông Thiên thai, thì sách này tuy không được tỉ mỉ và rõ ràng bằng, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận những kiến giải độc đáo của ngài Cát tạng. Chỗ khác nhau nữa là ngài Trí khải xếp kinh Kim quang minh vào Phương đẳng bộ thuộc thời thứ 3 trong 5 thời phán giáo, còn ngài Cát tạng thì xếp kinh này vào tạng Cứu cánh Đại thừa bồ tát, thuộc Đốn giáo. Ngái Cát tạng soạn bộ sớ này lúc ngài khoảng 60 tuổi. [X. Đông vực truyền đăng mục lục Q.thượng; Chư tông chương sớ lục Q.1].

kim quang minh kinh văn cú

(金光明經文句) Gọi tắt: Kim quang minh văn cú, Quang minh văn cú. Tác phẩm, 6 quyển, do đại sư Trí Khải giảng vào đời Tùy, đệ tử là ngài Quán đính biên chép, thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung sách này giải thích kinh Kim quang minh do ngài Đàm vô sấm dịch vào đời Bắc Lương, Trung quốc, đồng thời, bài xích cách chia kinh này làm 3 khoa của các nhà chú giải kinh ở Giang bắc và Giang nam. Còn về phần mình, trong bộ sớ này, ngài Trí khải chia kinh Kim quang minh ra như sau: - Phần tựa: Từ câu Tôi nghe như vầy đến đoạn Tất cả đều đến nhóm họp trong thất của Đại bồ tát Tín tướng trong phẩm Thọ lượng (1 phẩm rưỡi). - Phần chính tông: Từ câu Bấy giờ, 4 đức Phật đến hết phẩm Không (3 phẩm rưỡi). - Phần lưu thông: Từ phẩm Tứ vương về sau (13 phẩm). Về sách chú thích bộ sớ này thì có: Kim quang minh kinh văn cú kí, 12 quyển của ngài Tri lễ, Kim quang minh kinh văn cú tân kí, 7 quyển của ngài Tòng nghĩa, Kim quang minh kinh văn cú khoa 1 quyển của ngài Minh đắc. [X. Phật tổ thống kỉ Q,25; Duyệt tạng tri tân Q.35, 39].

kim quang minh kinh văn cú ký

(金光明經文句記) Cũng gọi Kim quang minh văn cú kí, Quang minh văn cú kí. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Tri lễ soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Nội dung giải thích bộ Kim quang minh kinh văn cú của đại sư Trí khải. Mới đầu, thầy của ngài Tri lễ là hòa thượng Nghĩa thông, tuyên giảng Kim quang minh kinh văn cú, các đệ tử ganh nhau ghi chép thành sách những điều mình đã nghe, nhưng lại không nói lên được cái ý chỉ cao xa sâu rộng, phần dẫn chứng các kinh luận cũng sai lầm không ít. Vì thế, ngài Tri lễ mới căn cứ vào đại nghĩa mà mình đã lãnh hội được và tham khảo bộ Kim quang minh văn cú sách ẩn của ngài Trí viên mà soạn thành sách này. Nhưng đến phẩm thứ 17 thì ngài Tri lễ viên tịch, đệ tử của ngài là sư Quảng trí tiếp tục soạn thêm phẩm Tán Phật. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Tân biên chư tông giáo tạng mục lục Q.1; Duyệt tạng tri tân Q.39].

kim quang minh nữ

Phu nhân của Kim Quang Đồng Tử—Wife of Golden Light Drum—See Kim Quang Đồng Tử.

kim quang minh sám pháp

(金光明懺法) Cũng gọi: Kim quang minh tam muội sám. Gọi tắt: Kim quang minh sám. Nghi thức sám hối theo kinh Kim quang minh. Ngài Tuân thức đời Tống đã y cứ vào kinh Kim quang minh tối thắng vương mà soạn Kim quang minh sám pháp bổ trợ nghi, đặt ra 10 khoa, nói rõ về nghi thức này như sau: Trang nghiêm đạo tràng, thanh tịnh 3 nghiệp, cúng dường hương hoa, trì chú triệu thỉnh, tỏ ý tán thán, kính lễ Tam bảo, tu hành ngũ hối, đi nhiễu và tự qui, đọc tụng kinh Kim quang minh v.v... Ngoài ra, ngài Tri lễ đời Tống cũng có soạn Kim quang minh tối thắng sám nghi, nói rõ nghi thức lễ tụng. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8, 10; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Đại minh cao tăng truyện Q.2; Tục thích thị kê cổ lược Q.1].

Kim quang minh tối thắng vương kinh

金光明最勝王經; S: suvarṇaprabhāsotta-ma-rāja-sūtra; cũng được gọi tắt là Kim quang minh kinh;|Tên của một bộ kinh Ðại thừa. Kinh này đóng một vai trò quan trọng tại Nhật vì nói đến một số quan điểm chính trị của đạo Phật, được giới quý tộc tại đó coi trọng.|Kinh này bắt đầu với sự giảng nghĩa về tính chất của một vị Phật, một vị không chỉ tồn tại, xuất hiện dưới nhân dạng mà cũng là sự biểu hiện của nguyên lí vũ trụ. Phật ở trong mỗi chúng sinh và tất cả chúng sinh đều thụ hưởng, cảm nhận được lòng từ bi vô biên của Phật. Ngoài ra kinh này cũng dạy rằng, cánh cửa của các cõi Phật luôn luôn mở rộng tiếp độ chúng sinh bởi vì mỗi chúng sinh đều là Phật. Phương cách để đạt được mục đích trên chính là sám hối và hành động vị tha; một câu chuyện quan trọng được kể lại trong kinh này là việc một đức Phật thời xa xưa hiến thân mình cho một con sư tử đói.|Một điểm quan trọng của kinh này là trí Bát-nhã (s: prajñā), một loại trí biết phân biệt thiện ác: Mỗi người, từ vua chúa đến thường dân đều phải theo ánh sáng của nội tâm này.|Khía cạnh chính trị được nêu ra rõ nhất trong phẩm nói về luật pháp và trong đó, kinh này nói rằng, chính quyền và tôn giáo được thống nhất bằng Phật pháp. Tất cả những luật pháp của nhân thế đều nên có mục đích cao nhất là thái bình. Một vương tử cũng phải bị trừng phạt nếu ông ta vi phạm pháp luật; nhưng nếu ông ấy cai trị liêm chính, tuân hành nghiêm chỉnh pháp luật thì tạo rất nhiều thiện nghiệp, công đức vô biên. Ðất nước nào phổ biến và tuân theo những lời dạy trong kinh này được các Thiên vương và chư Thiên (s: deva) hộ vệ.|Trong thời Nại Lương (nara, tk. 8), kinh này được phổ biến rộng tại Nhật, đặc biệt rất được các nhà cầm quyền bấy giờ quý trọng – quý trọng đến mức độ chư vị muốn lập một vương quốc theo gương kinh này dạy.

kim quang minh tối thắng vương kinh

(金光明最勝王經) Gọi tắt: Tối thắng vương kinh. Kinh, 10 quyển, 31 phẩm, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Đây là bản dịch sau cùng trong các bản dịch kinh Kim quang minh và được coi là hoàn bị nhất. Nội dung kinh này nói về công đức của pháp sám Kim quang minh, về Tứ thiên vương trấn hộ quốc gia và những lợi ích trong đời hiện tại mà chư Thiên mang lại. Kinh này rất được Trung quốc và Nhật bản xem trọng. Sách chú sớ của kinh này rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Kim quang minh kính sớ, 1 quyển, của ngài Cát tạng đời Tùy, Kim quang minh kinh văn cú 6 quyển và Kim quang minh kinh huyền nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí khải đời Tùy, Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ, 10 quyển, của ngài Tuệ chiểu đời Đường. (xt. Kim Quang Minh Kinh).

kim quang minh tối thắng vương kinh sớ

(金光明最勝王經疏) Cũng gọi: Kim quang minh sớ. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tuệ chiểu (?-714) soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 39. Đây là sách chú thích kinh Kim quang minh tối thắng vương theo bản dịch của ngài Nghĩa tịnh. Nội dung giải thích về duyên khởi, đề kinh, tông, thể, thời gian nói kinh Kim quang minh và lợi ích của sự thụ trì kinh này. Sách này có 2 đặc điểm: 1. Lập trường của sách này được xây dựng trên nền tảng của giáo học tông Pháp tướng như: Tam thừa, Ngũ tính các biệt. 2. Nhấn mạnh tư tưởng hộ quốc được lưu hành ở đời Đường phù hợp với kinh Kim quang minh tối thắng vương.

kim quang phật sát

Cảnh giới thấp nhất của Phật Giới—The lowest of the Buddha-ksetra.

kim quang tự

Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Quang ban đầu có tên là Tường Quang, là một ngôi chùa do dì của Vua Thành Thái là bà Nguyễn Thị Lựu xây dựng năm 1871. Bốn năm sau khi lên ngôi, vua Thành Thái đã sắc tứ biển ngạch đổi tên là Kim Quang Tự, và cấp tiền để phụng thờ tiên tổ. Hoàng Thái Hậu Từ Minh, thân mẫu của vua Thành Thái ban tiền để thếp vàng tượng Phật và mở rộng nhà Tăng cũng như hậu liêu. Sau cơn bão lịch sử năm 1904, chùa bị hư hại nặng, nên nhà vua cấp tiền trùng tu, qui mô chùa lại một lần nữa đổi mới. Năm 1962, sư Bích Phong chùa Qui Thiện đôn đốc trùng tu. Năm 1963 sư Toàn Lạc xây cổng tam quan, trùng tu bình phong, làm cho cảnh chùa trở nên uy nghi hơn. Chùa Kim Quang gắn liền với họ ngoại của vua Thành Thái. Ảnh của hai vị vua Thành Thái và Duy Tân đã được thờ trên án thờ phía sau chùa. Chùa Kim Quang là nơi lưu niệm của hai vì vua yêu nước—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple's original name was Tường Quang. It was built in 1871 by one of king Thành Thái's aunts, Mrs. Nguyễn Thị Lựu. In 1892, four years after he came to the throne, king Thành Thái officially recognized the temple and renamed it Kim Quang, and allotted land for the use of the temple to keep up worship services. The Từ Minh, the king's mother, granted money for the statues to be gilted and the staff house as well as the house enlarged. After the historic storm in 1904, the temple was badly damaged, so the king granted money for an overall reconstruction. The structure of the temple once more changed for the better. In 1962, Venerable Bich Phong from Qui Thiện temple supervised the reconstruction of the temple. In 1963, Venerable Toàn Lạc built the three-entrance gate, restored the screen wall, giving the temple a more impressive appearance. Kim Quang temple was closely linked with the maternal family of king Thành Thái. Portraits of king Thành Thái and king Duy Tân were positioned on the altar in the back room of the temple. Kim Quang temple is also a souvenir to the above two patriotic kings.

kim quang đồng tử

Kim Quang Minh Cổ—Người trẻ tuổi dòng Thích Ca trong thành Ca Tỳ La Vệ, có thân hình đẹp đẽ như ánh kim quang, xuất gia và gia nhập Tăng đoàn của Đức Phật—Golden Light Drum—A youth of the Sakya tribe in Kapilavastu, who had a beautiful golden light body, left home and joined the Order.

kim quy

Con rùa vàng mà cả thế giới phải tựa vào—The golden tortoise on which the world rests. ** For more information, please see Kim Luân.

Kim sa

(金沙、金砂): cát có màu vàng, bột phấn vàng. “Kim sa dụng tử (金沙用子)” có nghĩa là người dùng bột phấn vàng, tức chỉ cho người cao sang, quyền quý.

kim sa

Cát vàng—Golden sand.

kim sa hà

Một dòng sông tưởng tượng ở Niết Bàn—An imaginary river in the Nirvana.

kim sa luân tam muội

(金沙輪三昧) Một trong 5 thứ công đức do tu thiền định mà có được. Trình tự tu tập thiền định, phá trừ phiền não từ cạn đến sâu, có thể chia làm 5 lớp: Địa luân tam muội, Thủy luân tam muội, Phong luân tam muội, Kim sa luân tam muội và Kim cương luân tam muội. Đặc sắc của thiền định Kim sa luân tam muội là quán tưởng ở phía trên rốn, khiến cho tâm định tĩnh không tán loạn. Ở đây, Kim (vàng) ví dụ cho chân thực, Sa(cát) ví dụ cho không đắm trước. Nếu hành giả phát được chân tuệ kiến tư(trí tuệ chân thực phá trừ được Kiến hoặc, Tư hoặc), không đắmkhông dính, thì chứng được quả Tam đạo(Chứng đạo, Trợ đạo, Bất trụ đạo), giống như cát vàng, nên gọi là Kim sa luân tam muội. Khi Bồ tát chứng được tam muội này, thì liền bước lên địa vị Tam hiền, Thập thánh, phá được hết thảy trần sa phiền não. [X. Thứ đệ thiền môn Q.3 phần trên]. (xt. Ngũ Luân Tam Muội).

kim sát

1) Kim Tháp: A golden pagoda. 2) Cửu Kim Luân đặt trên đỉnh tháp: The nine golden circles on top of a pagoda.

Kim sí điểu

金翅鳥; S: garuḍa;|Ca-lâu-la

kim sí điểu

xem chim cánh vàng. ; (金翅鳥) Phạm: Suparịa, hoặc Suparnin. Hán âm: Tô bát lạt ni. Cũng gọi: Diệu sí điểu, Hạng anh điểu. Loài chim trong thần thoại Ấn độ, thần Tỳ thấp nô trong Ấn độ giáo thường cỡi loài chim này. Trong Phật giáo, chim này là 1 trong 8 bộ chúng, lông cánh vàng, 2 cánh rộng 3.360.000 dặm, trụ ở tầng dưới núi Tu di. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, loài chim này có 4 thứ: Đẻ trứng, đẻ bọc, đẻ dưới nước và tự nhiên sinh, thường bắt rồng để ăn. [X. kinh Đại lâu thán Q.3, 4; kinh Bồ tát tòng đâu suất thiên giáng thần mẫu thai thuyết quảng phổ Q.7; phẩm Kim sí điểu vương trong kinh Văn thù sư lợi bồ tát căn bản đại giáo vương; Pháp hoa văn cú Q.2 hạ; Hoa nghiêm thám huyền kí Q.2; Câu xá luận quang kí Q.8; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].(xt. Ca Lâu La Điểu).

kim sí điểu vương

xem chim cánh vàng.

Kim sơn

(金山): núi vàng, từ này được dùng để ví dụ cho thân Phật; như trong Phẩm Tựa của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) có câu: “Thân sắc như kim sơn, đoan nghiêm thậm vi diệu (身色如金山、端嚴甚微妙, thân màu như núi vàng, đoan nghiêm thật vi diệu).” Hay trong Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經, Taishō Vol. 3, No. 190) quyển 27, phẩm Hướng Bồ Đề Thọ (向菩提樹品), còn có câu: “Thử tất thiên quang tân nhật xuất, uy đức chiếu diệu như kim sơn, lân mẫn nhất thiết chư thiên nhân, tạm đáo thọ vương như sư tử (此必千光新日出、威德照耀如金山、憐愍一切諸天人、漸到樹王如師子, đây ắt hào quang trời mới mọc, oai đức chiếu tỏa như núi vàng, thương xót hết thảy các trời người, tạm đến dưới cây như sư tử).” Hoặc trong Đại Phương Đẳng Đà La Ni Kinh (大方等陀羅尼經, Taishō Vol. 21, No. 1339) quyển 1, lại có đoạn: “Thế Tôn thân sắc như kim sơn, do như nhật quang chiếu thế gian, năng bạt nhất thiết chư khổ não, ngã kim khể thủ đại pháp vương (世尊身色如金山、猶如日光照世間、能拔一切諸苦惱、我今稽首大法王, Thế Tôn thân màu như núi vàng, giống như mặt trời chiếu thế gian, có thể bạt trừ các khổ não, con nay cúi lạy đấng pháp vương).” Kim sơn còn chỉ cho núi vàng bảy tầng ở chung quanh Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山).

kim sơn

1) Núi Thiết Vi hay Tu Di: Metal or golden mountain or Sumeru. 2) Thân Phật: The Buddha's body. ** For more information, please see Thất Kim Sơn. 3) Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Sơn trước đây tên là Bửu Sơn, rồi Ngọc Sơn. Không ai biết chùa được xây dựng từ đời nào, nhưng hiện nay tại sân Bảo Tàng Cổ Vật Huế vẫn còn một tấm bia đá chùa Bửu Sơn đề năm 1667. Năm 1904, cơn bão lớn đã làm cho chùa sụp đổ. Qua năm 1908, vua Duy Tân cho đem tượng Phật và pháp khí về chùa Thiên Mụ. Trên nền cũ chỉ dựng lại một nhà từ đường để thờ những vị Tăng quá cố. Vào khoảng cuối thập niên 1970s, chùa được tái thiết, vẫn tọa lạc trên ngọn đồi tròn thuộc làng Bảo Hựu, cuối một dãy đồi thấp về phía tây của Huế—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was first named Bửu Sơn, then Ngọc Sơn. No one knows when the temple was built; however, there is still a stele of the temple positioned in the yard of the Museum of Historic Antiques of Huế which dated 1667. In 1904, a big storm badly damaged the temple. In 1908, king Duy Tân ordered to dismantle the temple and to transfer Buddha statues and ritual instruments to Thiên Mụ temple. On the old side, only a worhsip house was built for the worship of the dead monks. In the 1970s, the temple was rebuilt on the the round hill at Bảo Hựu village, at one end of a range of low hills west of Huế.

kim sơn hoạt phật

(金山活佛) (1852-1935) Vị thánh tăng ở chùa Kim sơn sống vào thời Dân quốc, người huyện Chung nam, tỉnh Thiểm tây, họ Đổng, pháp danh Giác đống, hiệu là Diệu thiện. Ngài y chỉ vào hòa thượng Bản chiếu xuất gia ở chùa Trúc lâm, núi Chung nam. Niên hiệu Tuyên thống năm đầu (1909) ngài thụ giới Cụ túc ở chùa Ngọa long, tỉnh Sơn tây, sau đó trụ ở chùa Kim sơn tại Trấn giang mấy mươi năm. Bấy giờ ngài thường dùng thần thông du hí tế độ người đời nên được tôn xưng là Phật sống Kim sơn. Năm Dân Quốc 18 (1929) ngài đến thủ đô Ngưỡng quang của Miến điện hoằng pháp 24 năm. Ngài hoằng hóa giúp đời không câu nệ hình thức, thường dùng nước tắm rửa, nước mũi, nước miếng để chữa bệnh cho người và nói pháp cho động vật. Khi niệm Phật, ngài thường dùng âm điệu đặc biệt xướng niệm 8 chữ Thùy niệm Nam mô A di đà Phật(Ai niệm nam mô A di đà Phật?), tụng trì chú Đại bi, thường vào Thiền định. Tuy không chú trọng về uy nghi lắm, nhưng cử chỉ của ngài rất phù hợp với tinh thần Thiền, Tịnh và Mật tông, nên rất được Phật tử đương thời kính trọng. Ngài tịch ở Miến điện năm 1935 thọ 84 tuổi.

kim sơn mục thiều

(金山穆韶) (1876-1958) Học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Cao dã sơn và làm giáo sư ở trường này. Ông có các tác phẩm: Hoằng pháp Đại sư đích Phật giáo quan, Bí tạng bảo thược đích đại cương, Chân ngôn Mật giáo đích giáo học, Chân ngôn Mật giáo đích giáo lí sử, Đại nhật kinh đích nghiên cứu, Hoằng pháp đại sư đích tín ngưỡng quan.

kim sơn tự

(金山寺) I. Kim Sơn Tự. Chùa ở Kim sơn, ngoại ô huyện Trấn giang, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Tương truyền chùa được sáng lập vào đời vua Nguyên đế(có thuyết nói vua Minh đế) nhà Đông Tấn. Mặt chùa nhìn ra Trường giang (sông Dương tử), cùng với Tiêu sơn, núi Bắc cố đều là những thắng cảnh mà các văn nhân vùng Giang nam thường đến du ngoạn, nhưng từ đời Tống về sau chùa mới được nhiều người biết đến. Năm Thiên giám thứ 4 (505), vua Vũ đế nhà Lương lập đàn Sám pháp Thủy lục ở chùa này. Đầu năm Hàm bình (998-1003), vua Chân tông nhà Tống sai quan Nội thị là Lam kế tông ban Đại tạng kinh cho chùa, năm Đại trung tướng phù thứ 5 (1012) đổi tên là chùa Long du. Lần lượt có các vị cao tăng như: Đàm dĩnh, Hoài hiền, Phật ấn, Nghĩa thiên,Thiện ninh Liễu tâm, v.v... trụ trì chùa này.Thời TốngHuy tông, chùa bị dùng làm Đạo quan và đổi tên là Thần tiêu ngọc thanh Vạn thọ cung. Đến khoảng năm Thuần hi đời Nam Tống, chùa được ngài Ôn trung sửa lại. Đời Thanh, 2 vua Khang hi và Càn long đều đến thăm chùa này. Năm Khang hi 25 (1686), chùa được đổi tên là chùa Giang thiên, nhưng người ta vẫn quen gọi hiệu chùa Kim sơn. Hiện nay, chùa vẫn còn đầy đủ các kiến trúc như: Đại hùng Bảo điện, điện Thiên vương, Ngũ quan đường, lầu chứa kinh và 1 tòa tháp nổi tiếng, hình bát giác, 7 tầng, cao khoảng 48m. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.27, 29; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 734]. (xt. Giang Thiên Tự). II. Kim Sơn Tự. Chùa ở quận Kim đề, tỉnh Toàn la bắc, Hàn quốc, được sáng lập vào niên hiệu Bách tế Pháp vương năm đầu (599). Đây là ngôi chùa nổi tiếng ở Hàn quốc. Năm Cảnh đức vương thứ 6 (747), luật sư Chân biểu đã xây dựng lại chùa này, thờ đức Di lặc làm Bản tôn, dùng các bộ luận Du già, Duy thức làm cơ sở cho việc hoằng pháp. Từ đó, chùa trở thành đạo tràng căn bản của tông Pháp tướng tại bán đảo Triều tiên. Tòa pháp xá lợi bằng đá và ngôi tháp 6 tầng bằng đá khác được kiến tạo vào thời ấy đến nay vẫn còn. Bức tranh Quan âm trong điện Tịch quang được trùng tu là tác phẩm đại biểu cho nghệ thuật bích họa của Triều tiên. Kiểu kiến trúc của điện Di lặc 3 tầng, hiếm thấy ở các nơi khác, đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử kiến trúc. Tượng đức Di lặc cao khoảng 11,8m thờ ở điện Di lặc là pho tượng đồng lớn nhất ở Triều tiên.

kim sơn vương

Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà—Buddha, especially Amitabha.

kim sư tổ thừa

(今師祖承) Cũng gọi Kim sư tương thừa. Tiếng dùng của tông Thiên thai, một trong Tam tương thừa. Tức là sự truyền thừa từ bồ tát Long thụ đến đại sư Trí khải. Ngài Trí khải là Tông sư, lập thành thứ tự truyền thừa của tông Thiên thai như sau: Ngài Tuệ tư ở Nam nhạc là Phụ sư, ngài Tuệ văn đời Bắc Tề là tổ sư, ngài Long thụ là Tằng tổ sư. [X. Ma ha chỉ quán Q.1 thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1].

kim sắc

Có màu vàng—Golden coloured.

kim sắc ca diếp

Tên của Ngài Đại Ca Diếp. Ngài có tên Kim Sắc Ca Diếp do bởi tương truyền ngài nuốt ánh sáng, nên thân tỏa ra kim sắc—Name of Mahakasyapa, as he is said to have swallowed light, hence his golden hue. ; (金色迦葉) Cũng gọi Đại ẩm quang, Kim sắc đầu đà, Kim sắc tôn giả. Tức là ngài Ma ha Ca diếp (Phạm:Mahàkàzyapa), 1 trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật. Vì toàn thân Ngài phát ra ánh sáng vàng chói nên gọi là Kim sắc. (Xt. Ca Diếp).

Kim sắc giới

(金色界): hay kim sắc thế giới (金色世界), thế giới có sắc màu hoàng kim. Nó còn là tên gọi thế giới thanh tịnh của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利). Bộ Triều Dã Quần Tải (朝野羣載) 16 có đoạn rằng: “Phụng thỉnh kim sắc thế giới Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát vi Yết Ma A Xà Lê (奉請金色世界文殊師利菩薩爲羯磨阿闍梨, phụng thỉnh Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi của thế giới có sắc màu hoàng kim làm Yết Ma A Xà Lê)”.

kim sắc khổng tước vương

Vị Thiên Thần hỗ trợ người tu hành, là quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm—The golden-hued peacock king, protector of travellers, in the retinue of the 1,000-hand Kuan-Yin. ; (金色孔雀王) Vị Thiện thần giữ gìn che chở người tu hành, là quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quán âm, 1 trong 28 bộ chúng. Hình tượng của vị thần này là thân mầu vàng ròng, tay trái cầm cờ báu, trên cờ có con chim khổng tước(chim công) mầu sắc rực rỡ, thốt ra vô lượng âm thanh vi diệu. Chân ngôn là: Án cụ quang bạn tra sa la ca phóng quang bạn tra sa la ca la chu biến hồng la ca án bạn tra sa bà ha. [X. kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni; Thiên thủ Quán âm tạo thứ đệ pháp nghi quĩ; Phật tượng đồ vậng Q.4]. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).

kim sắc nữ

Công chúa Kim Sắc Nữ, người mà người ta nói rằng đã ưng chịu Thái Tử Tất Đạt Đa vì màu da của Ngài giống màu da “kim sắc” của bà—The princess of Varanasi, who is said to have ben offered in marriage to Sakyamuni because he was of the same colour as herself. ; (金色女) Con gái vua nước Ba la nại sống vào thời đại đức Phật. Cứ theo kinh Luật dị tướng quyển 34, hoàng hậu nước Ba la nại sinh 1 người con gái thân mầu vàng chói, mái tóc xanh biếc. Năm 16 tuổi, vua cha định gả chồng, cô cho biết phải lựa chọn người có thân tướng mình vàng ròng như cô thì mới ưng thuận; nhưng khắp trong nước không tìm được ai. Bấy giờ, có người lái buôn từ Xá vệ đến tâu với vua nước Ba la nại rằng ở nước ông ta có người như vậy. Nhà vua mừng rỡ và nhờ ngay lái buôn đi rước người ấy về. Người lái buôn liền viết thư cho Phật, nói cô gái ấyxinh đẹp không ai sánh bằng và xin Phật hãy lấy cô ta làm vợ! Lúc đó, đức Phật ở tại tinh xá Kì viên, đang thuyết pháp cho mấy nghìn vị tỉ khưu, người đưa thư đến thẳng chỗ Phật trình lên. Đức Phật đã biết trước trong thư nói gì rồi, nên Ngài xé bỏ và viết thư nói cho Kim sắc nữ hiểu về nỗi khổ của sinh tử vô thường. Sau khi xem thư, Kim sắc nữ tự suy tư sâu sắc, đạt được 5 thứ thần thông, liền đến kính lễ đức Phật.

kim sắc thế giới

Cõi trời Kim Sắc hay cõi Tịnh Độ của ngài Văn Thù Sư Lợi—The golden coloured heaven of Manjusri. ; (金色世界) Tịnh độ của bồ tát Văn thù. Cứ theo phẩm Như lai danh hiệu trong kinh Hoa nghiêm quyển 12 (bản dịch mới), trải qua các thế giới nhiều như số bụi nhỏ của 10 cõi Phật ở phương đông, có 1 thế giới tên là Kim sắc, đức Phật ở thế giới ấy hiệu là Bất động trí và trong thế giới ấy có bồ tát Văn thù sư lợi. Về Tịnh độ của bồ tát Văn thù, còn có nhiều thuyết khác nhau. Theo kinh Văn Thù sư lợi Phật độ nghiêm tịnh quyển hạ và hội Văn thù sư lợi thụ kí trong kinh Đại bảo tích quyển 60, thì đã qua bao nhiêu na do tha a tăng kỳ kiếp từ thủa xa xưa đến nay, bồ tát Văn thù đã phát 18 đại nguyện làm cho cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, trong đời vị lai sẽ thành Phật, hiệu là Phổ hiện Như lai, cõi Phật ấy ở phương nam, hiệu là Li trần cấu tâm thế giới, Vô cấu thế giới, Thanh tịnh vô cấu bảo trí thế giới. [X. phẩm Chư Bồ tát bản thụ kí kinh Bi hoa Q.3; phẩm Đề bà đạt đa kinh Pháp hoa Q.4; Triều dã quần tải Q.16].

kim sắc vương

Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A previous incarnation of the Buddha.

kim sắc y

See Kim Lan Y.

kim thai

See Kim Cang Giới Thai Tạng Giới.

kim thai lưỡng bộ

(金胎兩部) Gọi tắt: Lưỡng bộ. Chỉ cho 2 bộ Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. Ở trong Nhất tâm pháp giới lập 2 môn Lí bình đẳng và Trí sai biệt để hiển bày sự ứng dụng vô cùng của Lí và Trí. Những kinh điển, nghi quĩ nói rõ về trí sai biệt gọi là Kim cương đính bộ; những kinh điển, nghi quĩ thuyết minh về Lí bình đẳng thì gọi là Thai tạng bộ. Kim cương đính bộ lấy kinh Kim cương đính làm căn bản và Mạn đồ la được căn cứ vào bộ kinh này mà vẽ ra, gọi là Mạn đồ la Kim cương giới. Thai tạng bộ lấy kinh Đại nhật làm căn bản, Mạn đồ la được căn cứ vào bộ kinh này mà vẽ ra, gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới. Kim cương giới cũng gọi là Trí giới, tức Trí sai biệt môn, được biểu thị bằng kim cương, là vật báu cứng chắc, tượng trưng cho thực trí của Như lai. Thai tạng giới cũng gọi là Lí giới, tức Lí sai biệt môn, được biểu hiện bằng hoa sen, tượng trưng cho Lí tính mà chúng sinh vốn có sẵn bao hàm trong muôn hạnh đại bi. Kim cương giới là hành tướng trừ chướng thành thân, tự thụ pháp lạc, tức chuyển 9 thức mà thành tựu 5 trí, cho nên lập 5 bộ; còn Thai tạng giới là hành tướng hóa độ lợi sinh, tha thụ pháp lạc, cho nên lập 3 bộ, mở 3 môn: Đại định, Đại trí, và Đại bi để nhiếp dẫn chúng sinh. Về hình Tam muội da của 2 bộ, các thuyết đều khác nhau, như: 1. Kim cương giới lấy tháp làm hình tam muội gia, Thai tạng giới lấy tốt đổ ba làm hình Tam muội da. 2. Kim cương giới lấy tháp Đa bảo làm hình Tam muội da, Thai tạng giới lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. 3. Cả 2 bộ đều lấy tháp Ngũ luân làm hình Tam muội da. Về chủng tử thì: Chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới là (vaô), nghĩa là 5 trí dung thông; chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới là (a#), nghĩa là phương tiện tức cứu cánh. Còn (hùô) là chủng tử của Kim cương giới, (a) là chủng tử của Thai tạng giới. Kim cương giới lấy chữ cuối của tự môn làm chủng tử, biểu thị ý nghĩa từ bản lập tích; Thai tạng giới lấy chữ đầu của tự môn làm chủng tử, biểu thị ý nghĩa từ nhân đến quả. Còn có thuyết nói chữ là chủng tử Lí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới, chữ là chủng tử Trí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Hai chữ này đại biểu cho Kim cương bộ và Thai tạng bộ. Lại nữa, Mạn đồ la Kim cương giới biểu thị bằng nguyệt luân nên dùng hình tròn; còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì được biểu trưng bằng hoa sen nên dùng hình vuông, Lí thú của 2 bộ này khác nhau. Kim cương giới và Thai tạng giới, tuy mỗi giới có lập cách giải thích riêng, nhưng ngoài lí thì không có trí và ngược lại, ngoài trí cũng không có lí, sắc và tâm vốn không hai; lìa Kim cương giới thì không có riêng Thai tạng giới, mà lìa Thai tạng giới thì cũng không có riêng Kim cương giới, cho nên Kim cương bộ và Thai tạng bộ là cùng một thể, không hai. Thuyết Kim cương bộ và Thai tạng bộ là cùng một thể bất khả phân, được bắt đầu từ ngài Huệ quả, tổ thứ 7 của Mật tông, đệ từ ngài là sư Không hải, người Nhật, truyền ý chỉ này của ngài về Nhật bản, từ đó, tông Chân ngôn Nhật bản liền phát sinh thuyết Lưỡng bộ bất nhị do Đông Mật chủ trương, nhưng Thai Mật thì chủ trương Lưỡng bộ đối lập, cho nên ngoài Kim cương bộ và Thai tạng bộ, còn lập thêm Tô tất địa bộ, vì kinh Tô tất địa dung hợp Lí và Trí, thuyết minh ý chỉ Lưỡng bộ nhất thể bất nhị, nên Mạn đồ la của Tô tất địa bộ được gọi là Tạp mạn đồ la. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Kim cương đính đại giáo vương kinh sớ Q.1].

Kim thiềm

(金蟾): có hai nghĩa. (1) Con cóc sắc màu vàng kim. Như trong bài thơ Đề Bắc Bình Chiểu (題北平沼) của Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850-933) nhà Tiền Thục có câu: “Bảo chi thường tại tri thùy đắc, hảo giá kim thiềm nhập thái hư (寶芝常在知誰得、好駕金蟾入太虛, nấm báu ở đó ai biết được, khéo cỡi cóc vàng lên không trung).” Hay trong bài thơ Thường Nga Đồ (嫦娥圖) của Hà Cảnh Minh (何景明, 1483-1521) nhà Minh lại có câu: “Ngọc vũ quỳnh lâu bế tảo thu, kim thiềm ngân sắc đề hàn dạ (玉宇瓊樓閉早秋、金蟾銀兔啼寒夜, nhà ngọc lầu son đóng sớm thu, cóc vàng màu bạc khóc đêm lạnh).” (2) Tên gọi khác của mặt trăng. Truyền thuyết thần thoại cho rằng trong mặt trăng có con cóc, nên gọi như vậy. Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 11, có câu: “Kim thiềm sơ xuất hải, hà xứ bất phân minh (金蟾初出海、何處不分明, mặt trăng ló khỏi biển, chốn nào chẳng sáng soi).”

Kim Thánh Thán

(金聖嘆, Kin Seitan, 1608-1661): nhà bình luận văn nghệ sống vào khoảng cuối thời nhà Minh và đầu nhà Thanh, xuất thân Huyện Ngô (呉縣), Tỉnh Giang Tô (江蘇省), tên là Nhân Thoại (人瑞), hiệu Thánh Thán (聖嘆). Ông có viết sách bình luận về Thủy Hử Truyện (水滸傳), Tây Sương Ký (西廂記), v.v.

kim thân

Thân Kim Sắc của Đức Phật—The golden body or person, that of Buddha—The whole body of the Buddha.

kim thích

(今釋) (1614-1680) Vị thiền tăng Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Thanh, người huyện Nhân hòa, tỉnh Chiết giang, họ Kim, tên là Tính nhân, Điềm nhân, tự là Đạm qui, hiệu là Cam giá sinh, Mao bình nạp tăng, Tá sơn Dã nạp. Khoảng năm Sùng trinh, sư thi đậu Tiến sĩ, sau khi nhà Minh mất, sư xuất gia làm tăng, tham học thiền sư Thiên nhiên thị và được truyền tâm pháp. Sư rất đạm bạc nhưng bản sắc siêu việt hơn người. Lúc đầu sư ở thiền viện Đan lộ, năm Khang hi 17 (1678), sư cất am tranh ẩn cư tại Bình hồ. Năm Khang hi 19 (1680) sư thị tịch, thọ 67 tuổi, 29 tuổi hạ, đệ tử xây tháp thờ sư ở Khuông lư. Sư để lại tác phẩm: Biến hành đường chính tục tập. [X. Tông thống biên niên Q.32; Đạm viên văn tập Q.32].

kim thóc như lai

1) Kim Thóc Như Lai: Hạt thóc vàng Như Lai—The golden grain Tathagata. 2) Danh hiệu của Duy Ma Cật trong một tiền kiếp: A title of Vimalakirti in a previous incarnation.

kim thương viên chiếu

(金倉圓照) (1896-) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1920, ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ thuộc bộ Văn học trường Đại học Đông kinh. Ông từng làm giáo sư và Chủ nhiệm khoa Nghiên cứu của trường Đại học Đông bắc. Ông tham gia biên soạn Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục phụ sách dẫn, Tây tạng soạn thuật Phật điển mục lục, v.v... Ông có các tác phẩm: Phệ đàn đa triết học đích nghiên cứu, Ấn độ cổ đại tinh thần sử, Ấn độ trung thế tinh thần sử, Ấn độ tinh thần văn hóa chi nghiên cứu, Tam luận huyền nghĩa (dịch chú), Pháp hoa kinh chi hình thành dữ phát triển.

kim thạch văn

(金石文) Bài văn được khắc trên kim loại, trên đá, bia đá, hoặc trên gạch, ngói, v.v... gọi là Kim thạch văn. Như trên các cột đá, sườn núi ở Ấn độ xưa, vua A dục đã từng cho khắc các bài Pháp sắc, các bài minh. Ở Tây tạng, 6 chữ thần chú Quan âm được khắc trên đá ở khắp nơi trong nước. Tại Trung quốc, từ đời Bắc Ngụy về sau, rất nhiều bộ kinh được khắc trên đá, thường gọi là Thạch kinh. Tóm lại, Kim thạch văn rất phổ biến tại các nước theo Phật giáo nói chung. Ngoài ra, còn có bài minh được khắc trên hồng chung, Phật cụ, các bia đá, ấn chương, ngõa kinh(kinh khắc trên mặt viên ngói), thạch kinh, v.v... đều là những tư liệu giá trị giúp rất nhiều cho công trình nghiên cứu lịch sử.

kim thất thập luận

(金七十論) Phạm:Sàíkhya-kàrikà. Cũng gọi Tăng khư tụng, Tăng khư luận, Ca tì la luận. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Đây là bộ sách của ngoại đạo Số luận bài bác Phật giáo, nhưng vì nội dung có đề cập đến Phật giáo nên cũng được đưa vào Đại tạng kinh. Luận này gồm có các bài tụng (văn vần)và trường hàng(văn xuôi). Có thuyết cho rằng tác giả luận này là ngoại đạo Ca tì la tiên nhân (Phạm:Kapila), hoặc cho rằng phần kệ tụng do Tự tại hắc (Phạm: Ìzvara-kfwịa) soạn, phần trường hàng do ngài Thiên thân chú thích. Về tên gọi của luận này, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Thành duy thức luận thuật ký quyển 1 phần cuối, quyển 4 phần cuối, thì Tự tại hắc soạn 70 bài tụng, được vua nước Kim nhĩ ban thưởng vàng bạc, vì muốn đề cao vinh dự ấy nên ông đặt tên là Kim thất thập luận. Nguyên văn kệ tụng và phần chú thích của bản tiếng Phạm đã do ông Tiết nhĩ mã (Vishum Prasad Zarma) ấn hành vào năm 1922; còn bản dịch tiếng Anh của luận này thì đã được ông Kha nhĩ bố lỗ khắc (Henry Thomas Colebrooke) xuất bản vào năm 1887. Những sách chú sớ của luận này có: Kim thất thập luận giải, 2 quyển, của ngài Tông lãng, Kim thất thập luận bị khảo, 3 quyển, của ngài Hiểu ứng, Kim thất thập luận sớ, 3 quyển, của ngài Trí chàng. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.10; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

Kim thằng

(金繩): dây thừng bằng vàng. Trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 14, có đoạn: “Ngân Giác Đại Vương khuyến đạo: 'Một sự, ngã môn hoàn hữu Thất Tinh Kiếm, Ba Tiêu Phiến hòa Hoảng Kim Thằng tam kiện bảo bối, bất như phái nhân đáo Áp Long Động thỉnh lão mẫu thân nhất khối lai cật Đường Tăng nhục (銀角大王勸道∶沒事、我們還有七星劍、芭蕉扇和幌金繩三件寶貝、不如派人到壓龍洞請老母親一塊來吃唐僧肉, Ngân Giác Đại Vương khuyên rằng: 'Không được. Chúng ta đã có ba thứ bảo bối là Kiếm Thất Tinh, Quạt Ba Tiêu, Lưới Thừng Vàng; chi bằng phái người đến Áp Long Động thỉnh mẹ già thân chinh đến đây ăn thịt Đường Tăng').” Hay trong Phật Thuyết Đảnh Sanh Vương Nhân Duyên Kinh (佛說頂生王因緣經) quyển 5 cũng có đoạn: “Hựu Thiện Pháp Đường đạo lộ hồi hoàn, thanh tịnh nghiêm sức kim sa bố địa, xúc xứ biến sái Chiên Đàn hương thủy, kim thằng giao lạc thùy kim linh đạc dĩ giới đạo trắc (又善法堂道路回環、清淨嚴飾金沙布地、觸處遍灑旃檀香水、金繩交絡垂金鈴鐸以界道側, lại trở về nơi con đường của Thiện Pháp Đường, trong sạch, được trang trí với cát vàng rãi khắp mặt đất, các nơi đều được rưới khắp nước hương Chiên Đàn, thừng vàng buộc chặt nhau treo linh, mỏ vàng để làm ranh giới hai bên đường).” Ngoài ra, trong Thiền Môn Đối Liễn Đại Toàn (禪門對聯大全) còn có câu: “Kim thằng khai giác lộ, bảo phiệt độ mê tân (金繩開覺路、寶筏渡迷津, thừng vàng mở đường giác, bè báu vượt sông mê).”

kim thế tông

(金世宗) (1123-1189) Vị hoàng đế thứ 5 của triều Kim, Trung quốc, họ Hoàn nhan, tên là Ung. Trong thời gian ở ngôi, ông đã làm việc hết sức mình để kết thúc chiến tranh, khôi phục trật tự, chỉnh bị tài chính, v.v... nên có thể nói đây là thời kì toàn thịnh của triều Kim. Năm Đại định thứ 2 (1162), vua sáng lập chùa Đại khánh thọ ở Yên kinh, viện Từ thị, viện Thanh lương ở huyện Mạnh, tỉnh Sơn tây. Năm Đại định thứ 8 (1168), vua xây dựng thiền viện Thanh an ở Đông kinh (nay là huyện Liêu ninh, tỉnh Liêu dương), cho 500 người xuất gia làm tăng. Năm Đại định 24 (1184), vua xây chùa Thê ẩn ở Ngưỡng sơn, cho độ 10.000 người làm tăng và kiến thiết lại chùa Hạo thiên tại Yên kinh. Năm Đại định 26 (1186), vua vi hành đến chùa Đại vĩnh an, ban cho chùa 2.000 mẫu ruộng, 7.000 cót thóc, 20.000 quan tiền. Người đời sau gọi nhà vua là Tiểu Nghiêu Thuấn.

kim thời

Present time.

kim thủy

Nước vàng, ám chỉ trí tuệ—Golden water, i.e. wisdom.

Kim Tinh

(金精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho khí ở phương Tây, như trong Văn Tuyển (文選), phần Di Hành (彌衡) có câu: “Thể Kim Tinh chi diệu chất hề, hợp Hỏa Đức chi minh huy (體金精之妙質兮、合火德之明輝, thể Kim Tinh là chất mầu chừ, cùng với ánh sáng của Hỏa Đức).” Lý Thiện (李善) chú rằng: “Tây phương vi Kim, mao hữu bạch giả, cố viết Kim Tinh (西方爲金、毛有白者、故曰金精, phương Tây là Kim, lông có màu trắng, nên gọi là Kim Tinh).” (2) Chỉ nước Tần, như trong bài Cao Tổ Tứ Thủy Đình Bi Minh (高祖泗水亭碑銘) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán, có câu: “Dương uy trảm xà, Kim Tinh tồi thương (揚威斬蛇、金精摧傷, dương oai chém rắn, nước Tần hết thương).” (3) Chỉ cho sao Thái Bạch (太白), như trong bài Ai Giang Nam Phú (哀江南賦) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu có câu: “Địa tắc thạch cổ sơn minh, thiên tắc Kim Tinh động tú (地則石鼓山鳴、天則金精動宿, đất ắt trống đá núi vang, trời tất Thái Bạch chuyển sao).” (4) Tên một loại thuốc tiên trong truyền thuyết của Đạo Giáo, như trong bài thơ Nhập Cổ Lãi Kinh Tùng Môn Quán Thạch Kính Miến Hoài Tạ Khang Lạc (入彭蠡經松門觀石鏡緬懷謝康樂) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Thủy Bích hoặc khả thái, Kim Tinh bí mạc luận (水碧或可采、金精秘莫論, Ngọc Bích còn lấy được, Kim Tinh chớ luận bàn).” (5) Chỉ mặt trăng (nghĩa trong bài), như trong Sơ Học Ký (初學記) có dẫn phần Hà Đồ Đế Lãm Hi (河圖帝覽嬉) câu: “Nguyệt giả, Kim chi tinh dã (月者、金之精也, mặt trăng là Kim Tinh).” Hay như trong Lữ Bạc Đồ Giang (旅泊塗江) của Trần Đào (陳陶, khoảng 812-885) cũng có câu: “Đoạn sa nhạn khởi Kim Tinh xuất, cô lãnh viên sầu mộc khách quy (斷沙雁起金精出、孤嶺猿愁木客歸, cát sụt nhạn biến mặt trăng hiện, đỉnh non vượn sầu dã nhân về).” (6) Tên gọi khác của Cam Cúc (甘菊, tức Thu Cúc), như trong (小園賦) của Dữu Tín thời Bắc Chu có câu: “Vân khí ấm vu tùng thi, Kim Tinh dưỡng vu Thu Cúc (雲氣蔭于叢蓍、金精養于秋菊, khí mây che rợp bụi lá, Kim Tinh dưỡng nơi Thu Cúc).” Nghê Phan (倪璠, ?-?) nhà Thanh chú dẫn trong Ngọc Hàm Phương (玉函方) rằng: “Cam Cúc, cửu nguyệt thượng Dần nhật thái, danh viết Kim Tinh (甘菊、九月上寅日採、名曰金精, Cam Cúc, hái vào ngày Dần đầu tháng 9, tên gọi là Kim Tinh).”

kim tinh

1) Sukra (skt)—The planet Venus. 2) Tóc của Phật: The Buddha's hair. ; (金精) Chỉ cho tóc của đức Phật. Kinh Đại tập quyển 6 (Đại 13, 37 hạ), nói: Không làm những việc độc ác gây hại cho chúng sinh, nên được mái tóc màu vàng ròng(kim tinh). [X. Vãng sinh yếu tập chỉ huy sao Q.12].

Kim Tiên

(金仙): có hai nghĩa. (1) Chỉ đức Phật. Trong Phật Pháp Kim Thang Biên (卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628 佛法金湯編) quyển 11 cho biết rằng: “Tuyên Hòa nguyên niên đế cảm ư Lâm Linh Tố chi thuyết, chiếu cải Phật vi Đại Giác Kim Tiên, tăng vi Đức Sĩ, tự vi cung quán (宣和元年帝惑於林靈素之說、詔改佛爲大覺金仙、僧爲德士、寺爲宮觀, vào năm đầu [1119] niên hiệu Tuyên Hòa [đời vua Huy Tông nhà Tống], nhà vua cảm được lời nói của Đạo sĩ Lâm Linh Tố, bèn hạ chiếu đổi Phật thành Đại Giác Kim Tiên, tăng là Đức Sĩ, chùa là cung quán).” Như trong bài thơ Dữ Nguyên Đan Khâu Phương Thành Tự Đàm Huyền Tác (與元丹丘方城寺談玄作) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Lãng ngộ tiền hậu tế, thỉ tri Kim Tiên diệu (朗悟前後際、始知金仙妙, biết rõ trước sau thảy, mới hay Phật vi diệu).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 3, phần Thất Hiến Tổng Văn (七獻總文), cũng có câu: “Cửu long thân thổ dục Kim Tiên, vạn cổ Tào Khê vô tận duyên (九龍親吐浴金仙、萬古曹溪無盡綠, chín rồng phun nước tắm Kim Tiên, vạn cổ Tào Khê vô tận duyên).” (2) Tên gọi khác của thần tiên. Hai người con gái của vua Duệ Tông (睿宗, tại vị 684-690, 710-712) nhà Đường xuất gia làm nữ Đạo sĩ, một người được phong là Kim Tiên Công Chúa (金仙公主), người kia là Ngọc Chân Công Chúa (玉眞公主). Nhà Phật cũng gọi những tiên nhân ngoại đạo tu hành tinh tấn là Kim Tiên.

kim tiên

1) Thần Tiên: Golden rsi or immortal. 2) Người tu Tiên (đạo Lão): Taoist genii. 3) Tiếng tôn xưng để gọi Đức Phật: A venerable term for Buddha. 4) Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Tuy không phải là tổ đình của một hệ phái nào nhưng chùa Kim Tiên là một ngôi chùa được xây dựng rất sớm ở Huế. Hòa Thượng Bích Phong là vị sư đầu tiên trùng tu chùa Kim Tiên vào khoảng thế kỷ 17. Sau đó chùa trở thành phế tích, chỉ còn là một mái thảo am. Đến khoảng giữa triều Gia Long, Hòa Thượng Đức Hóa tái thiết lại mái thảo am. Mấy mươi năm sau, dưới triều Tự Đức, chùa được Hòa Thượng Thánh Thông Nhất Trí, một Tăng Cang của triều đình tại chùa Thiên Mụ trùng tu chùa trên qui mô rộng lớn hơn, và giao cho Hòa Thượng Tâm Chính Hải Từ trụ trì. Năm 1888, Hòa Thượng Hải Từ với sự trợ giúp của Hòa Thượng Diệu Giác đã tái thiết ngôi chùa lần nữa. Năm 1930, chùa được Hòa Thượng Thanh Đức Tâm Khoan, Tăng Cang chùa Diệu Đế trùng tu lần nữa. Sau đó Hòa Thượng Hưng Mãn Trừng Gia trùng tu lại chánh điện, tái thiết phương trượng, xây dựng lại Tăng xá, hậu liêu. Ngày nay, dù chùa đã trải qua nhiều cuộc trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính—Name od an old temple in Huế, Central Vietnam. Though it is not a temple that has relations with a certain venerable patriarch of a Buddhist sect, Kim Tiên was one of the oldest temples in Huế. Most Venerable Bích Phong was the first monk who rebuilt the temple in the seventeenth century. Sometime later, the temple became a ruin, only a thatched small temple survived. In the middle of King Gia Long'' reign, Most Venerable Đức Hóa Đạo Thành rehabilitated the thatched temple in a small structure. Several decades later, during the reign of king Tự Đức, the temple was rebuilt on a larger scale by Most Venerable Tánh Thông Nhất Trí, who was a royal-recognized monk of Thiên Mụ Temple. In 1888, with the help of Most Venerable Diệu Giác, Most venerable Tâm Chính Hải Từ rebuilt the temple again. In 1930, Most Venerable Thanh Đức Tâm Khoan, a royal-recognized monk from Diệu Đế temple rebuilt the temple again. Though it has been rebuilt so many times, it still maintains its ancient architectural style.

kim tiền tỉ khâu

(金錢比丘) Cũng gọi Kim tài tỉ khưu. Vị tỉ khưu này là con của một đại trưởng giả ở nước Xá vệ khi đức Phật còn tại thế. Tương truyền, khi sinh ra, 2 tay ngài nắm 2 đồng tiền vàng, nên gọi là Kim tài. Khi lớn lên, ngài xuất gia, chứng quả A la hán, vì thế gọi là Kim tiền tỉ khưu. Vào thời quá khứ, cách nay 91 kiếp, khi đức Phật Tì bà thi ra đời, tỉ khưu Kim tiền lúc ấy là một người nghèo khổ; bấy giờ đức Phật Tì bà thi và chúng tăng du hành trong nước, các con của trưởng giả giàu có sắm sửa thức ăn cúng dường Phật và chúng đệ tử, duy có người nghèo này vì không có tài vật nên chỉ cúng Phật 2 đồng tiền do kiếm củi bán mà có. Nhờ công đức ấy mà suốt thời gian 91 kiếp hễ sinh ra là có 2 đồng tiền nắm trong tay và cứ cần là có, không bao giờ hết. [X. phẩm Kim tài nhân duyên trong kinh Hiền ngu Q.2].

kim trượng

Đức Phật lấy cây gậy và mảnh áo xé (thụ ký việc chia thành 18 bộ Tiểu Thừa trong giấc mơ của vua Tần Bà Sa La thấy một chiếc áo bị xé làm 18 mảnh, một cây gậy vàng gẫy thành 18 đoạn. Ông lo sợ bèn hỏi Đức Phật. Đức Phật nói: “Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm sẽ có vị vua tên A Dục uy danh lẫy lừng. Lúc ấy về Luật thì chia làm 18 môn phái khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là tu giải thoát)—The golden staff broken into eighteen pieces and the skirt similarly torn, seen in a dream by king Bimbisara (eighteen divisions of Hinayana as in a dream of King Bimbisara).

kim tàng thổ

(金藏土) Phạm: Kàĩcana-garbhà mftikà. Cũng gọi Kim thổ tàng, Thổ trung hữu kim. Khối đất có chứa vàng bên trong, ví dụ trong tính Y tha khởi có tính phân biệt và tính chân thực. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) quyển trung, thì có 3 loại pháp là: Phần nhiễm ô, phần thanh tịnh và phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh. Tính phân biệt trong tính Y tha khởi là phần nhiễm ô, tính chân thực trong tính Y tha khởi là phần thanh tịnh, còn chính tính Y tha khởi thì là phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh. Cũng như trong Kim tàng thổ có 3 pháp: Địa giới, Kim, Thổ. Trong Địa giới, khi Thổ (đất) hiển hiện tức là hiện tướng hư vọng; khi Kim (vàng) hiển hiện tức là hiện tướng chân thực, vì thế trong địa giới có 2 phần là Thổ và Kim. Như cùng 1 bản thức(thức A lại da), khi nó chưa được tôi luyện bằng lửa trí vô phân biệt thì nó(thức A lại da) từ tính hư vọng phân biệt mà hiển hiện, còn tính chân thực thì không hiện. Trái lại, khi nó đã được tôi luyện bởi lửa trí vô phân biệt, thì nó từ tính chân thực thành tựu mà hiển hiện, còn tính hư vọng phân biệt thì không thể hiển hiện. Cho nên thức của tính hư vọng phân biệt (tức là tính Y tha)có 2 phần: Phần vừa nhiễm ô vừa thanh tịnh(của tính Y tha)dụ cho Địa giới, phần nhiễm ô(tính phân biệt của Y tha)dụ cho Thổ trong Địa giới, còn phần thanh tịnh(tính chân thực của Y tha) thì dụ cho Kim trong Địa giới. Ngoài ra, trong Nhiếp đại thừa luận bản quyển trung, ngài Huyền trang đời Đường dịch Sở tri tướng phần là Kim thổ tàng, còn Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) thì dịch là Thổ trung hữu kim. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bồ tát Thế thân soạn, ngài Huyền trang dịch); Nhiếp đại thừa luận thích Q.5 (bồ tát Vô tính soạn, ngài Huyền trang dịch)].

kim tì la

(金毗羅) I. Kim Tì La. Pàli:Kimbila. Đệ tử của đức Phật, thuộc dòng họ Thích ca. Cứ theo kinh Trường thọ vưong bản khởi trong Trung a hàm quyển 17, thì khi đức Thích tôn đến khu rừng Ban na man xà tự (Pàli:Pàcìnavaôsadàya), bấy giờ có 3 vị: A na luật đà, Nan đề và Kim tì la cùng hòa hợp ở chung tu hành phạm hạnh. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 trung), nói: Thường tĩnh tọa tư duy, chuyên tâm niệm đạo, đó là tỉ khưu Kim tì la. II. Kim Tì La. Phạm: Kumbhìra. Cũng gọi Cấm tì la, Câu tì la, Câu phệ rô, Quân tì la, Cung tì la. Hán dịch: Giao long(thuồng luồng), Long vương(chúa rồng), Ngạc ngư (cá sấu). Vị thần hộ vệ thành Vương xá, Trung Ấn độ, 1 trong 12 vị thần tướng của đức Dược sư Như lai, 1 trong 16 vị thiện thần giữ gìn che chở Bát nhã, thống lãnh chúng Dạ xoa, thệ nguyện hộ trì Phật pháp. Cứ theo kinh Kim tì la đồng tử uy đức, thì Phật ở trong vườn Hoan hỉ trên cung trời Đao lợi, phóng hào quang rực rỡ, hiện hình đồng tử Kim tì la, cao nghìn thước, nghìn đầu, nghìn tay, hàng phục ma vương, cứu chúng sinh thoát khỏi các khổ trong 3 đường, thành bậc Đại y vương của thế gian, dùng quả ha lê lặc cứu chữa các chứng bệnh... [X. phẩm Thỉnh vũ thứ 64 trong kinh Đại vân; kinh Quán đính Q.12; Dược sư lưu li quang Như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ; kinh Dươc sư Như lai bản nguyện; kinh Đại khổng tước chú vương Q.trung; kinh Đại bảo tích Q.36; Đại nhật kinh sớ Q.2].

kim túc như lai

(金粟如來) Danh hiệu của một vị Phật ở đời quá khứ, tiền thân của cư sĩ Duy ma cật. Thuyết này đã thịnh hành từ xưa, hoặc nói có xuất xứ từ kinh Tư duy tam muội và kinh Phát tích, nhưng 2 bộ kinh này đều không có bản Hán dịch, vả lại cũng không thấy được ghi trong các bộ mục lục của kinh. Tịnh danh huyền luận quyển 2 (Đại 38, 866 trung), nói: Tịnh danh, Văn thù đều là các đức Phật quá khứ, nay hiện thân là Bồ tát. Như kinh Thủ lăng nghiêm nói: Văn thù là Phật Long chủng tôn; kinh Phát tích thì nói: Tịnh danh tức là Kim túc Như lai. Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng (Đại 38, 915 thượng) chép: Có người nói: Văn thù sư lợi vốn là Phật Long chủng thượng tôn, Tịnh danh tức là Kim túc Như lai. Tương truyền Kim túc Như lai có xuất xứ từ kinh Tư duy tam muội, nhưng đến nay không thấy bản kinh này. [X. Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.1; Tổ đình sự uyển Q.3].

Kim tướng

(金相): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho hình thức hoàn mỹ. Như trong bài Hà Nam Phủ Tham Quân Quách Quân Thần Đạo Bi Minh (河南府參軍郭君神道碑銘) của Nhan Chơn Khanh (顏眞卿, 709-785) nhà Đường có câu: “Gia truyền ngọc thọ, nhân vịnh kim tướng (家傳玉樹、人詠金相, nhà truyền cây ngọc, người vịnh tướng đẹp).” (2) Chỉ cho các tượng Phật, Bồ Tát dát vàng. Như trong bài thơ Tịnh Lạc Cung (淨樂宮) của Vương Thế Trinh (王世貞, 1526-1590) nhà Minh có câu: “Mạt pháp khai kim tướng, chơn vương đắc bảo phù (末法開金相、眞王得寳符, mạt pháp bày vàng tướng, vua hiền được báu bùa).” Trong Ngũ Phương Tiện Niệm Phật Môn (五方便念佛門, Taishō Vol. 47, No. 1962) có đoạn: “Niệm Phật chi thời đế quán Như Lai ngọc hào kim tướng, ngưng nhiên tịch tĩnh liễu lượng động triệt, danh Ngưng Tâm Thiền (念佛之時諦觀如來玉毫金相、凝然寂靜了亮洞徹,名凝心禪, khi niệm Phật, quán rõ tướng vàng lông ngọc của Như Lai, lắng đọng tĩnh lặng, sáng soi thấu triệt, đó gọi là Thiền Lắng Tâm).” Hay trong Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 23, phần Đàm Châu Báo Từ Khai Phước Tấn Anh Thiền Sư (潭州報慈開福進英禪師), lại có đoạn: “Kim triêu tứ nguyệt bát, ngã Phật giáng sanh thần, đầu đầu kim tướng hiện, xứ xứ pháp tràng tân, bất tẩy thế, bất tẩy trần, quán mộc Như Lai diệu sắc thân, thùy tín nhị thiên niên hậu sự, Ưu Đàm trùng trưởng nhất chi xuân (今朝四月八、我佛降生辰、頭頭金相現、處處法幢新、不洗體、不洗塵、灌沐如來妙色身、誰信二千年後事、優曇重長一枝春, sáng nay mồng tám tháng tư, ngày Phật ta giáng trần, đầu đầu tướng vàng hiện, chốn chốn cờ pháp tung, chẳng rửa thân, chẳng rửa bụi, tắm rửa Như Lai sắc mầu thân, ai tin hai ngàn năm sau nữa, Ưu Đàm lớn mạnh một cành xuân).”

kim tạng

Kim Tạng là tạng chứa châu báu vàng bạc, như là Phật tánh trong mỗi chúng sanh—Golden treasury, i.e. the Buddha-natue in all the living.

kim tạng vân

Khi Hiền Kiếp mới hình thành, giữa bầu trời Quang Âm đầy mây kim sắc (sắc vàng), mang lại trận mưa đầu tiên—The first golden treasury cloud when a new world is completed, arising in the abhasvara heaven and bringing the first rain.

kim tử đại vinh

(金子大榮) (1881-1936) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Chân tông, từng là giáo sư danh dự của trường Đại học Đại cốc. Ông có các tác phẩm: Phật giáo khái luận, Phật giáo chư vấn đề, Bỉ ngạn đích thế giới, Nhật bản Phật giáo sử quan, Giáo hành tín chứng giảng độc, Qui y dữ hành thiện, Hoa nghiêm kinh khái thuyết...

kim tự kinh

(金字經) Kinh Phật được viết bằng kim nhũ. Trung quốc, Tây tạng, Tây hạ, v.v... đều có các bản kinh được viết theo loại này. Cứ theo tư liệu ghi chép, thì trong Nam nhạc Tư đại thiền sư lập thệ nguyện văn của ngài Tuệ tư (515-577) đời Trần thuộc Nam triều, có bản kinh Bát nhã viết bằng kim nhũ. Còn ở Nhật bản, vào thời đại Nại lương có cơ sở viết kinh bằng kim nhũ do nhà nước thiết lập. Nói chung, Kim tự kinh phổ cập ở Trung quốc, Triều tiên, Nhật bản thường dùng giấy màu xanh sậm ánh đỏ (cám) để viết chữ bằng kim nhũ, gọi là Cám chỉ kim nê. Cũng có khi sử dụng giấy màu đỏ tươi hoặc màu trắng.Kinh điển Tây tạng thì viết bằng kim nhũ trên giấy màu xanh biếc.

kim tự tháp

Pyramid.

kim tỳ la

Kumbhira (skt)—Kim Ba La-Cấm Tỳ La. 1) Cá Sấu—A crocodile—Alligator. 2) Vua Dạ Xoa, quy-y và trở thành vị hộ pháp: A Yaksa-king, who was converted and became a guardian of Buddhism.

kim tỳ la đà ca tỳ la

Kampilla (skt)—Kim Tỳ La Thần—Kim Tỳ La Đại Tướng. 1) Quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm: The retinue of 1,000-hand Kuan-Yin. 2) Kim Tỳ La Tỳ Kheo: Một vị sư Ấn Độ: An Indian monk.

kim viên

Thuật ngữ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ “viên giáo” của Pháp Hoa, so với Tích Viên trước đó—A T'ien-T'ai term indicating the “perfect” teaching, that of the Lotus, as compared with the old “perfect” teaching which preceded it. ; (今圓) Chỉ cho Viên giáo. Tông Thiên thai chia giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời theo thứ tự làm 5 thời và gọi Viên giáo nói trong kinh Pháp hoa là Kim viên, còn gọi Viên giáo nói trong các kinh Đại thừa của 4 thời trước là Tích viên.

kim văn

Modern literature.

Kim Xuyên

(今川, Imagawa): tên gọi của một dòng họ, chi tộc của họ Túc Lợi (足利), Thủ Hộ Đại Danh của vùng đất Tuấn Hà (駿河, Suruga), sau đó làm Đại Danh Chiến Quốc cả vùng Đông Hải. Quê hương gốc của dòng họ này là vùng Kim Xuyên (今川), Quận Phan Đậu (幡豆郡), tiểu quốc Tam Hà (三河, Mikawa).

kim xí điểu vương

Garuda-raja (skt)—Ca Lâu La Vương. 1) Vua của loài chim Kim Xí (Loài chim thù thắng nhất trong các loài chim Kim Xí), bạn đồng hành của thần Visnu—The king of birds, with golden wings, companion of Visnu. 2) Kim Xí Điểu Vương còn được dùng để ví với các bậc đại nhân, trong khi tiểu nhân được ví với loài quạ: Garuda-raja or king of birds are used to compare with the great people, while the crow are used to compare with the wicked people. 3) Kim Xí Điểu Vương còn để chỉ Đức Phật: The king of birds is a symbol of the Buddha.

Kim âu

(金甌): có hai nghĩa chính. (1) Cái bồn, cái chậu bằng vàng. (2) Tỷ dụ cho sự bền vững của biên cương đất nước, từ đó cũng được dùng chỉ cho đất nước. Như trong bài từ Chá Cô Thiên (鷓鴣天) của Thu Cấn (秋瑾, 1875-1907) nhà Thanh có câu: “Kim âu dĩ khuyết tổng tu bổ, vị quốc hi sinh cảm tích thân (金甌已缺總須補、爲國犧牲敢惜身, nước non đã khuyết nên tu sửa, vị quốc hy sinh đâu tiếc thân).” Hay trong bài thơ Nam Bắc Sử Cảm Ngộ (南北史感遇) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Binh vi Lương điện kim âu phá, hỏa phát Trần cung ngọc thọ tồi (兵圍梁殿金甌破、火發陳宮玉樹摧, binh vây Lương điện nước nhà nát, lửa phát Trần cung cây ngọc tan).”

kim ô

The sun.

kim điện đại tự

(金殿大寺) Chùa ở Kim đính, núi Nga mi, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc, về sau gọi là Kim đính chính điện. Ngày xưa Kim đính chính điện có tên là Vĩnh minh Hoa tạng tự, ngói, cột, cửa ra vào, cửa sổ, tường vách, v.v...… đều được đúc bằng đồng và hợp kim, là ngôi chùa đứngđầu trong các ngôi chùa ở núi Nga mi. Bên cạnh chính điện có 1 tòa tháp sắt, cao chót vót, trong tháp có thờ rất nhiều hạt xá lợi, lớn bằng hạt trân châu. Tương truyền trong đó có 1 hạt sáng bóng soi thấy hình người, là hạt xá lợi do Tam tạng Huyền trang mang từ Ấn độ về. Trong chùa còn có ấn ngọc, trên khắc 9 con rồng, do vua Càn long ban tặng.

kim đường

(金堂) Tức là điện Phật được thiết lập ở chính giữa già lam để thờ tượng Bản tôn. Vì bên trong điện Phật được trang trí bằng mầu vàng ròng nên gọi là Kim đường(nhà vàng); hoặc cho rằng trong điện thờ tượng Phật bằng vàng ròng, mầu sắc chói lọi, rực rỡ, nên gọi là Kim đường. Kim đường là kiến trúc đẹp đẽ trang nghiêm nhất trong già lam. Trong các tùng lâm lớn có thể có đến 2 hoặc 3 Kim đường. Về danh xưng kim đường, theo Tham Thiên thai sơn ngũ đài sơn kí quyển 1 và Tam quốc di sự quyển 3, thì ở Trung quốc và Triều tiên vào thời Tam quốc đã có danh xưng Kim đường rồi(có thuyết nói Trung quốc không dùng danh xưng này). Còn ở Nhật bản, vào giữa thời Bình an, chuyên gọi nơi thờ Bản tôn là Kim đường, đến khi Thiền tông truyền vào thì mới gọi là Phật điện, hoặc Bản đường.

kim đại vương

Vị Thần bảo hộ khách lữ hành, Thiên Thủ Quán Âm—Protector of travellers, shown in the train of the 1,000-hand Kuan-Yin. ; (金大王) Vị thiện thần giữ gìn che chở người tu hành, quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quán âm, 1 trong 28 bộ chúng. Theo pho tượng để ở tòa nhà 33 gian tại Kyoto, Nhật bản, thì tay trái của vị tôn này đặt ở giữa chỗ thắt lưng, tay phải cầm cây chày 1 chĩa. Nhưng trong 28 bộ chúng được liệt kê trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, thì không thấy có vị thần này. [X. Phật tượng đồ vựng Q.4]. (xt. Nhị Thập Bát Bộ Chúng).

kim đạo tâm

(今道心) Cũng gọi Thanh đạo tâm, Áo đạo tâm. Chỉ cho người mới phát tâm xuất gia, đạo hạnh chưa cao, sự tu hành chưa thuần thục.

kim đề

Kanthaka-asvaraja (skt)—Tên của con ngựa Kiến Trắc mà Đức Phật đã cỡi đi trong đêm xuất gia—Name of the steed on which Sakyamuni left his home.

kim địa

Kim Điền—Tự viện Phật giáo (do tích trưởng giả Tu Đạt lấy vàng mua Kỳ Viên)—A Buddhist monastery.

kim địa quốc

Suvarnabhumi (skt)—Một nước về phía nam thành Hoa Tử, vua A Dục đã gửi đoàn truyền giáo Phật giáo đến hoằng pháp tại đây—A country south of Sravasti, to which Akosa sent missionaries. ; (金地國) Phạm: Suvarịa-bhùmi. Pàli:Suvaịịa-bhùmi. Tên một nước xưa nằm về mạn nam thủ đô Ngưỡng quang của Miến điện và phía tây bờ biển bán đảo Mã lai hiện nay. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2, thủa xưa vua A dục đã từng phái các Đại đức Tunaca (Pàli:Sonaka) và Uất đa la (Pàli:Uttara) đến nước này truyền đạo. Các ngài đã truyền giảng kinh Phạm võng và có 3.500 vị tăng, 1.500 vị ni được đạo quả. Về vị trí nước này, theo ông Phất cách sâm (J. Ferguson), thì nay là vùng Đả đoan (Thaton), ông Phí nhĩ (Phayre) thì cho là vùng Tì cổ (Pegu) cách Ngưỡng quang (Ranngoon) về phía đông bắc khoảng 80,5km hiện nay; nhưng ông Cái cách (W. Geiger) hoài nghi 2 thuyết trên và cho rằng nước này là vùng Hỉ lạp ni nhã phạt ha (Phạm:Hiraịyavàha) ở ven bờ sông Tang (Son) chi nhánh của sông Hằng bên Ấn độ hiện nay. [X. Đảo sử chương 18; Đại sử chương 12; phẩm Đại kiếp tân ninh trong kinh Hiền ngu Q.7; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; The Mahàvaôsa (W. Geiger); On Yuan Chwang, vol.II (T. Watters); The Life or Legend of Gaudama, vol. II (P. Bigandet).

Kim Đồng Ngọc Nữ

(金童玉女): còn gọi là Tiên Đồng Tiên Nữ (仙童仙女), có ba nghĩa khác nhau: (1) Thuật ngữ của Đạo Giáo chỉ cho những đồng nam đồng nữ hầu hạ các tiên nhân. (2) Từ chỉ cho những hài nhi hay thanh niên nam nữ thanh tú, dễ thương, không bị tà nhiễm thế tục. Như trong bài Trương Sanh Chử Hải (張生煮海) của Lý Hảo Cổ (李好古, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Kim Đồng Ngọc Nữ ý đầu cơ, tài tử giai nhân thế hãn hy (金童玉女意投機,才子佳人世罕稀, Kim Đồng Ngọc Nữ ý dịp may, tài tử giai nhân đời hiếm thay).” (3) Tên gọi của một loại người giấy nam nữ người ta thường dùng đặt trước hai bên phải trái bàn linh để hầu hạ người chết.

kim đồng phật

(金銅佛) Tượng Phật, Bồ tát đúc bằng đồng, bên ngoài mạ vàng. Từ Ấn độ đến Trung quốc và các nước Phật giáo khác, phần lớn tượng Phật đều được đúc bằng đồng. Về nguồn gốc, theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, vì hình thể Như lai có mầu vàng như vàng ở cõi trời, nên vua Ba tư nặc cho đúc tượng Như lai bằng vàng ròng cao 5 thước. Còn theo đại Đường tây vực kí quyển 12, khi từ Ấn độ trở về Trung quốc, ngài Huyền trang có thỉnh về 3 pho tượng bằng vàng. Thời cận đại, ở vùng Kiện đà la, Ấn độ, người ta có đào được những mảnh tượng Phật bằng kim đồng đúc vào thời vương triều Ca nị sắc ca, nhờ đó mà biết được là thời xưa Ấn độ, Tây vực, v.v... đã thịnh hành phương pháp nấu và đúc kim đồng. Còn ở Trung quốc, ghi chép sớm nhất về việc đúc tượng kim đồng là vào thời vua Hiến đế nhà Đông Hán. Thời ấy, ông Trách dung xây cất chùa Phật rất lớn và đúc tượng Phật bằng vàng ròng. Còn theo Tấn thư Đế kỉ thứ 10, thì vua Cung đế nhà Đông Tấn rất kính tin đạo Phật, nhà vua từng cho nấu chảy hàng nghìn vạn đồng tiền vàng để đúc tượng Phật cao 1 trượng 6, rồi đích thân vua rước tượng đến chùa Ngõa quan. Từ đó về sau, trải qua các đời, có rất nhiều tư liệu nói về việc đúc tượng Phật bằng kim đồng và cũng không ít di phẩm hiện còn đến ngày nay. [X. Ngũ thiên trúc quốc truyện Q.5, Q.13; Đại đường tây vực kí Q.8; Quảng hoàng minh tập Q.2, Q.15-17; Hậu Hán thư Q.73].

Kinh

經; S: sūtra; P: sutta; còn gọi là Khế kinh, dịch theo âm là Tu-đa-la;|Tên gọi của các bài giảng của đức Phật, nằm trong tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Tất cả các bộ kinh được gộp chung trong Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka).||H 36: Một tập kinh được viết trên lá bối. Hai mặt của tập kinh được ép lại bằng hai tấm gỗ – thường được trang trí rất đẹp – và hai sợi chỉ luồn qua. Các chữ của kinh được viết gắn lên những đường gân song song của lá dừa, vì vậy phía trên đầu của một hàng chữ luôn luôn là một đường thẳng (xem Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh, nguyên bản Phạn ngữ).|Ngày nay, kinh được dịch ra nhiều tiếng trên thế giới, kể cả những tiếng Tây phương. Mới đầu kinh được ghi lại bằng tiếng Pā-li hay Phạn, dần dần được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng và các ngôn ngữ khác. Kinh ghi lại những gì chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu »Tôi nghe như vầy…« (如是我聞; Như thị ngã văn). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đã thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lí một vấn đề riêng biệt. Các kinh Tiểu thừa được viết bằng văn hệ Pā-li, trong Bộ kinh (p: nikāya). Các bộ này trong văn hệ chữ Phạn (sanskrit) có tên là A-hàm (s: āgama). Kinh Ðại thừa được viết bằng văn hệ chữ Phạn, nhưng ngày nay phần lớn cũng đã thất lạc, chỉ còn bản dịch bằng chữ Hán hoặc Tây Tạng. Các kinh Ðại thừa có thể được xem là phát khởi giữa thế kỉ thứ nhất và thứ sáu. Các kinh này cũng bắt đầu bằng câu »Tôi nghe như vầy…« và ghi rõ danh xưng, nơi chốn thời gian.|Trong »rừng« kinh sách Phật giáo người ta có thể phân biệt hai hướng sau đây:|1. Kinh dựa trên Tín tâm (s: śraddhā), nói về thế giới quan Phật giáo, quan niệm Bồ Tát cũng như nhấn mạnh lên lòng thành tâm của người nghe. Hướng này có lẽ xuất xứ từ Bắc Ấn. Trong những bộ kinh này, ta thấy rất nhiều điều huyền bí, cách mô tả trùng trùng điệp điệp. Kinh nhắc lại các vị Phật và Bồ Tát thi triển nhiều thần thông, qua vô lượng thế giới, không gian và thời gian. Các vị Phật và Bồ Tát được biến thành các Báo thân (Ba thân) đầy quyền năng. Khuynh hướng này xuất phát từ Ðại thừa, vừa muốn đáp ứng tinh thần tín ngưỡng của Phật tử, vừa phù hợp với giáo pháp căn bản của mình là tính Không (s: śūnyatā), cho rằng mọi biến hiện trong thế gian chẳng qua chỉ là huyễn giác. Qua đó thì các thần thông cũng như toàn bộ thế giới hiện tượng chỉ là Ảo ảnh.|2. Kinh có tính triết học, lí luận dựa trên quan điểm chính của Ðại thừa là tính Không. Xuất xứ các kinh này có lẽ từ miền Ðông của Trung Ấn. Các loại kinh này được nhiều luận sư giảng giải khác nhau và vì vậy mà xuất phát nhiều trường phái khác nhau.|Các kinh độc lập quan trọng của Ðại thừa là: Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra), Phổ diệu (hay Thần thông du hí; s: lalitavistara), Chính định vương (s: samādhirāja), Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp (s: bhadrakalpika), Phạm võng (s: brahmajāla), Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka), Thắng Man (s: śrīmālādevī), A-di-đà (s: amitābha), Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm tam-muội (s: śūraṅgama).

kinh

1) Gai: Thorns. 2) Sutras (skt)—Sutta (p)—Prayer book—Nghĩa đen của tiếng Phạn là “sợi chỉ xâu các hạt châu.” Kinh là Thánh Thư của Phật giáo, tức là những cuộc đối thoại có định hướng, những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Người ta nói có hơn vạn quyển, nhưng chỉ một phần nhỏ được dịch ra Anh ngữ. Các kinh Tiểu Thừa được ghi lại bằng tiếng Pali hay Nam Phạn, và các kinh Đại Thừa được ghi lại bằng tiếng Sanskrit hay Bắc Phạn. Đa số các tông phái Phật giáo được sáng lập theo một kinh riêng từ đó họ rút ra uy lực cho tông phái mình. Phái Thiên Thai và Pháp Hoa (Nhật Liên Tông ở Nhật—Nichiren in Japan) thì dùng Kinh Pháp Hoa; Tông Hoa Nghiêm thì dùng Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, Thiền Tông không liên hệ với kinh nào cả, điều nầy cho phép các thiền sư tự do sử dụng các kinh tùy ý khi các thầy thấy thích hợp, hoặc có khi các thầy không dùng bộ kinh nào cả. Có một câu quen thuộc trong nhà Thiền là “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền,” nghĩa là không theo ngôn ngữ văn tự, giáo lý biệt truyền ngoài kinh điển. Điều nầy chỉ có nghĩa là với Thiền Tông, chân lý phải được lãnh hội trực tiếp và không theo uy thế của bất cứ thứ gì ngay cả uy thế của kinh điển—Literally sutra means a thread on which jewles are strung. The sutras are Buddhist scriptures, that is, the purported dialogues and sermons of sakyamuni Buddha. There are said to be over ten thousand, only a fraction of which have been translated into English. The so-called Hinayana were originally recorded in Pali, the Mahayana in Sanskrit. Most Buddhist sects are founded upon one particular sutra from which they derive their authority. The T'ien-T'ai and Lotus Sects from the Lotus sutra; the Hua-yen from the Avatamsaka Sutra. The Zen sects, however, is associated with no sutra, and this gives Zen masters freedom to use the scriptures as and when they see fit or to ignore them entirely. There is a familiar statement that Zen is a special transmission outside the scriptures, with no dependence upon words and letters. This only means that for the Zen sect, truth must be directly grasped and not taken on the authoriry of any thing, even the sutras. ; (經) .. Phạm:Sùtra. Hán âm: Tu đa la, Tố đát lãm, Tô đát la. Hán dịch: Khế kinh, Chính kinh, Quán kinh. Tất cả giáo pháp do đức Phật giảng nói được ghi chép, giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Là 1 trong 3 tạng Thánh điển của Phật giáo, 1 trong 9, hoặc 12 thể tài kinh. Về danh nghĩa của kinh, có những giải thích như sau: Giáo lí do đức Phật giảng nói vốn được gọi là Pháp(Đạt ma), nghĩa là giáo pháp, đời sau ghi chép lại làm sách giáo lí cương yếu mà gọi là Kinh(Tu đa la). Tu đa la vốn là tiếng dùng của Bà la môn giáo, về sau được Phật giáo thu dụng, với hàm ý là xâu kết những văn nghĩa lại không để tản mạn rời rạc. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 25, Phật địa kinh luận quyển 1, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, v.v... thì nghĩa gốc của chữ Tu đa la là sợi dây, sợi chỉ, sợi tơ, với hàm nghĩa xuyên suốt, thu nhiếp lấy, giữ gìn, tức có nghĩa chúng sinh nhờ giáo pháp thu nhiếp, giữ gìn, nên không rơi vào đường ác. Nghĩa lí được giáo pháp xâu kết lại không bị tản mạn mất mát, cho nên Thánh giáo được gọi là Khế kinh. Còn theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, thì Tu đa la có 5 nghĩa là: 1.Xuất sinh: Sinh ra các nghĩa lí. 2.Tuyền dũng: Ý vị, nghĩa lí không cùng tận. 3.Hiển thị: Hiển bày các nghĩa lí. 4. Thằng mặc: Biện biệt các pháp tà chính. 5.Kết man: Xâu kết các pháp. Lại cứ theo Chú duy ma cật kinh quyển 1, Đại bát niết bàn kinh tập giải quyển 1. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, v.v... thì Kinh hàm có các nghĩa: Xâu suốt, thu nhiếp, giữ gìn, thường hằng, v.v... nghĩa là Kinh xâu suốt các pháp, xưa nay thường hằng không gián đoạn. Trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 8 phần trên, ngài Trí khải có nêu ra 2 thuyết về Kinh là: Hữu phiên và Vô phiên. Trong thuyết Vô phiên(cho rằng vì quá nhiều nghĩa nên không phiên dịch) thì trưng ra 5 nghĩa đã nêu ở trên. Còn trong thuyết Hữu phiên thì nêu ra 5 cách dịch: Kinh, Khế, Pháp bản, Tuyến, Thiện ngữ giáo, trong đó lấy Kinh làm nghĩa chính. Kinh có 2 nghĩa rộng và hẹp. Về nghĩa rộng, Kinh chỉ cho tất cả giáo pháp do đức Phật diễn nói; giáo nghĩa mà Kinh xiển dương, giải thích thì gọi là Kinh pháp, Kinh giáo; sách vở ghi chép kinh giáo thì gọi là Kinh điển. Về nghĩa hẹp, Kinh chỉ cho Kinh tạng, 1 trong 3 tạng Kinh, Luật, Luận. Thông thường, Kinh là chỉ cho Khế kinh trong 9 thể tài hoặc 12 thể tài, tức dùng văn xuôi ghi chép những giáo pháp do đức Phật trực tiếp nói ra. Nhưng về cách chia loại 9 thể tài, 12 thể tài cũng như ý nghĩa của danh từ Khế kinh xưa nay cũng có nhiều thuyết. Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập hành của pháp sư Ấn thuận cho rằng: - Về ý nghĩa: Khế kinh mang ý nghĩa xâu kết, giữ gìn khi kinh điển được kết tập. - Về thể tài: Khế kinh chỉ cho phần văn xuôi trong kinh điển sau khi được kết tập. Nói chung, phần đông các học giả thời cận đại đều cho rằng khó có thể giới hạn, định nghĩa hoặc xác quyết mỗi thể loại kinh, nhưng đều thừa nhận Khế kinh hàm có các nghĩa: Xuyên suốt, đức Phật trực tiếp nói ra, nghĩa rộng chỉ cho Kinh tạng, nghĩa hẹp chỉ cho kinh Tạp a hàm(1 trong 9 hoặc 12 thể tài kinh). Kinh cũng chỉ cho các kinh Đại thừa ngoài 3 tạng của Tiểu thừa. Luận Đại trí độ quyển 33 (Đại 25, 306 hạ), ghi: Trong các kinh, những giáo pháp do đức Phật trực tiếp nói ra gọi là Tu đa la, như 4 bộ A hàm, các kinh Đại thừa và 250 giới kinh. Ngoài Tam tạng ra cũng có các kinh gọi là Tu đa la. Tam tạng vừa nói trên, tức chỉ cho Tam tạng của Tiểu thừa. Cho đến nay, trong Phật giáo bộ phái, việc kết tập, biên soạn kinh điển của mỗi bộ phái chỉ thấy trong Đại tạng kinh Nam truyền của Thượng tọa bộ Nam phương. Còn các kinh điển Hán dịch Bắc truyền thì hỗn hợp 4 bộ kinh A hàm và kinh điển của các bộ phái mà thành. Ngoài các kinh điển của các bộ phái Phật giáo nói trên, vào khoảng trước hoặc sau kỷ nguyên Tây lịch xuất hiện những kinh điển Đại thừa như: Kinh Bát nhã, v.v... do tín đồ của Đại thừa giáo biên tập thành. Đến khoảng thế kỉ thứ IV, lại thành lập kinh Duy ma, kinh A di đà, kinh Pháp hoa, kinh Đại tập, kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn, kinh Giải thâm mật, v.v... Sau đó, lại có các kinh điển Mật giáo như: Kinh Đại nhật, kinh Kim cương đính, v.v... ra đời. Các kinh Đại thừa nói trên cũng sử dụng hình thức đức Phật nói pháp, tức ở đầu kinh có ghi câu: Như thị ngã văn (Tôi nghe như vầy). Trong Đại tạng hiện còn thì kinh Hán dịch và Tạng dịch là nhiều hơn cả. Đại tạng kinh tuy bao gồm 3 tạng Kinh, Luật, Luận, nhưng trong đó Kinh là căn bản và cũng chiếm đa số, vì thế Đại tạng kinh cũng được gọi là Nhất thiết kinh. [X. luận Đại trí độ Q.2; luận Thành thực Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1, 126; Tứ A hàm mộ sao giải Q.thượng; Pháp hoa kinh nghĩa ký Q.1; Nhân vương hộ quốc Bát nhã kinh sớ Q.1 (Trí khải); Quán kinh sớ Q.1 (Thiện đạo)]. (xt. Cửu Bộ Kinh, Thập Nhị Bộ Kinh, Đại Tạng Kinh, Tu Đa La Tạng).

kinh a di đà

Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ yếu của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra. One of the three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated into Chinese by Kumarajiva. This is the short form of Amitabha Sutra. ** See Kinh A Di Đà trong phần Appendix A.

kinh a di đà bổn nguyện

Longer Sukhavativyuha Sutra—Longer Amitabha Sutra—See Tây Phương Cực Lạc và Kinh A Di Đà.

kinh a di đà tiểu bổn

Sukhavati-vyuha (skt)—Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là một bản toát yếu hay trích yếu của Đại phẩm Đại Vô Lượng Thọ Kinh (Sukhavati-Vyuha). Bộ chót trong số ba kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh (Amitayr-dhyana-sutra) cho chúng ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh Độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. Nguyên do Đức Phật thuyết Kinh A Di Đà là khi thái tử A Xà Thế nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua nầy. Hoàng hậu Vi Đề Ha cũng bị giam vào một nơi. Sau đó Hoàng Hậu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xãy ra như vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ, và bà chọn quốc độ của Đức Phật A Di Đà coi như là tối hảo. Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ nầy để sau cùng được thác sanh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài, và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà. Đức Phật đã căn dặn ngài A Nan như sau: “Này A Nan! Hãy ghi nhớ bài thuyết pháp nầy và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo nầy, ta gọi đấy là Kinh A Di Đà.” Đối tượng của bài thuyết pháp nầy của Phật là sự tôn thờ Phật A Di Đà, và từ đó chúng ta cũng thấy rằng giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cuối cùng cũng không khác với giáo thuyết của Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là giáo tụng chính yếu của tông Tịnh Độ. Theo Tịnh Độ tông, việc chuyên tâm niệm Phật là cần thiết để đào sâu đức tin, vì nếu không có đức tin nầy thì không bao giờ có sự cứu độ trọn vẹn—The smaller text of Sukhavati-vyuha is a résumé or abridged text of the larger one. The last of the three texts, the Amitayur-dhyana Sutra, tells us the origin of the Pure Land doctrine taught by Sakyamuni Buddha. The reason for the Buddha to preach this sutra was from the following story, Ajatasatru, the prince heir-apparent of Rajagriha, revolted against his father, King Bimbisara, and imprisoned him. His consort, Vaidehi, toow was confined to a room. Thereupon the Queen asked the Buddha to show her a better place where no such calamities could be encountered. The World-Honored One appeared before her and showed all the Buddha lands and she chose the Land of Amitabha as the best of all. The Buddha then taught her how to meditate upon it and finally to be admitted there. He instructed her by his own way of teaching and at the same time by the special teaching of Amitabha. That both teachings were one in the end could be seen from the words he spoke to Ananda at the conclusion of his sermons. “Oh Ananda! Remember this sermon and rehearse it to the assembly on the Vulture Peak. By this sermon, I mean the name of Amitabha." ” From this we can see that the object of the sermon was the adoration of Amitabha. Thus, we see that Sakyamuni Buddha's teaching was after all not different from that of Amitabha. The smaller Sakhavati-vyuha is the main text for reciting of the Pure Land Sect. With the Pure Land, the devotional repetition of the Buddha's name is a necessary action of the pious to deepen the faith, without which salvation will never be complete. ** For more information, please see Kinh A Di Đà in Appendix A.

kinh a dục vương

Asokaraja Sutra (skt)—Kinh nói về vua A Dục, vị vua thứ ba của triều đại Mauryan của xứ Ma Kiệt Đà, thuộc Trung Ấn. Một quân vương Phật tử đã cải từ Ấn giáo sang đạo Phật sau cuộc trường chinh—The sutra written about the life of King Asoka, a Buddhist ruler and the third king of the Maurya Dynasty of Magadha, in central India. He converted from Hinduism to Buddhism after a long period of war and conquest.

kinh a hàm

Agamas (for Hinayana).

kinh biến

(經變) Gọi đủ: Phật kinh biến tướng. Những bức tranh vẽ theo những cảnh tượng đã được miêu tả trong kinh. Có rất nhiều loại Kinh biến như: Duy ma biến, Thiên bát Văn thù, Kim cương kinh biến, Bản hạnh kinh biến, Di lặc biến, Hoa nghiêm biến, Trừ tai hoạn biến, Pháp hoa biến, Nhật tạng nguyệt tạng biến, Nghiệp báo sai biệt biến, Thập luân kinh biến, Dược sư biến, Bảo tính kinh biến, Lăng nghiêm kinh biến tướng, Trí độ luận sắc kệ biến, Tịnh độ kinh biến, Kim quang minh kinh biến, Lăng già biến tướng, Địa ngục biến... Về hình thức cũng như nội dung và tác giả của các bức tranh Kinh biến trên đây đều được ghi chép đầy đủ trong Lịch đại danh họa kí, 3 quyển, của Trương ngạn viễn đời Đường. (xt. Biến Tướng).

kinh biệt giải thoát

Pratimoksa sutra (skt)—Kinh Biệt Giải Thoát là cốt lõi của Tạng Luật. Đây là phần cổ xưa nhất của Luật Tạng bằng tiếng Ba Li—Pratimoksa sutra is the nucleus of the Vinaya-pitaka. It is the oldest part of the Pali Pitaka—See Cụ Túc Giới Tỳ Kheo in Vietnamese-English Section, and Pratimoksa and Pratimoksa-sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kinh bát châu tam muội

Pratyutpannabuddhasammukha-Vasthitasamadhi-Sutra—Kinh nói về trạng thái tâm linh được dùng để quán tưởng các vị Phật hay quán chư Phật hiện tiền Tam muội. Kinh được Ngài Chi Lô Ca Sám dịch sanh Hán tự—The sutra shows ways of contemplations of any Buddhas. The sutra was translated into Chinese by Lokaksema.

kinh bát nhã ba la mật đa tâm kinh

Prajnaparamitahrdaya-Sutra—Bát Nhã Ba La Mât Đa Tâm Kinh hay gọi tắt là Tâm Kinh, là phần kinh ngắn nhất trong 40 kinh tạo thành Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Đây là một trong những kinh văn quan trọng nhất trong Phật giáo Đại thừa. Kinh được nhấn mạnh về tánh không. Kinh thường được các Phật tử tụng thuộc lào trong các tự viện. Một trong những câu nổi tiếng trong kinh là “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” (hình thức chỉ là hư không, hư không chỉ là hình thức), một công thức được lập đi lập lại trong nhà thiền. Toàn bộ văn kinh của Bát Nhã Ba La Mật có nghĩa là “trí huệ đáo bỉ ngạn.” Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Heart of the Prajna-Paramita-Sutra or Heart Sutra, the shortest of the forty sutras that constitute the Prajanparamita-sutra. It is one of the most important sutras of Mahayana Buddhism. The sutra is especially emphasized on emptiness (Shunyata). It is recited so frequently in the temple that most Buddhists chant it from memory. One of the most famous sentences in the sutra is “Form is no other than emptiness; emptiness is no other than form,” an affirmation that is frequently referred to in Zen. The Prajna-Paramita Heart Sutra literally means “the wisdom that leads to the other shore.” The sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang. ** See Bát Nhã Tâm Kinh trong phần Appendix A.

kinh bát đại nhân giác

Sutra on the Eight Awakenings of Great People. (A) Lịch sử và công năng của Kinh Bát Đại Nhân Giác—History and usage of the Sutra on the Eight Awakenings of Great People: a) Sa môn An Thế Cao, người Parthia, dịch từ Phạn sang Hán vào khoảng năm 150 sau Tây Lịch (đời Hậu Hán) tại Trung Tâm Phật Giáo Lạc Dương . Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch từ Hán sang Việt vào khoảng thập niên 70s. Nguyên văn bản kinh bằng Phạn ngữ không biết còn lưu truyền tới ngày nay hay không. Kinh nầy thích hợp với cả hai truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa—Shramana An Shi Kao, a Partian monk, translated from Sanskrit into Chinese in about 150 A.D. (during the Later Han Dynasty). Most Venerable Thích Thanh Từ translated from Chinese into Vietnamese in the 1970s. The original text of this sutra in Sanskrit is still extant to this day. This sutra is entirely in accord with both the Theravada and Mahayana traditions. b) Kỳ thật, từng điều trong tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân trong kinh nầy có thể được coi như là đề tài thiền quán mà hàng Phật tử chúng ta, đêm lẫn ngày hằng giữ thọ trì, chí thành tụng niệm ghi nhớ, tám điều giác ngộ của các bậc vĩ nhân—In fact, each of the eight items in this sutra can be considered as a subject of meditation which Buddhist disciples should at all times, by day and by night, with a sincere attitude, recite and keep in mind eight truths that all great people awaken to. c) Tám Chơn Lý mà chư Phật, chư Bồ Tát và các bật vĩ nhân đã từng giác ngộ. Sau khi giác ngộ, các vị ấy lại tiến tu vô ngần từ bi đạo hạnh để tăng trưởng trí huệ. Dùng thuyền Pháp Thân thong dong dạo chơi cõi Niết Bàn, chỉ trở vào biển sanh tử theo đại nguyện cứu độ chúng sanh. Các bậc nầy lại dùng tám Điều Giác Ngộ để khai lối dắt dìu chúng sanh, khiến cho ai nấy đều biết rành sự khổ não của tử sanh sanh tử, để từ đó can đảm xa lìa ngũ dục bợn nhơ mà quyết tâm tu theo Đạo Thánh—Eight Truths that all Buddhas, Bodhisattvas and great people awaken to. After awakening, they then energetically cultivate the Way. By steeping themselves in kindness and compassion, they grow wisdom. They sail the Dharma-body ship all the way across to Nirvana's other shore, only to re-enter the sea of death and rebirth to rescue all living beings. They use these Eight Truths to point out the right road to all beings and in this way, help them to recognize the anguish of death and rebirth. They inspire all to cast off and forsake the Five Desires, and instead to cultivate their minds in the way of all Sages. d) Nếu là Phật tử phải nên luôn trì tụng kinh nầy, hằng đêm thường trì tụng và nghĩ tưởng đến tám điều nầy trong mỗi niệm, thì bao nhiêu tội lỗi thảy đều tiêu sạch, thong dong tiến vào nẻo Bồ Đề, nhanh chóng giác ngộ, mãi mãi thoát ly sanh tử, và thường trụ nơi an lạc vĩnh cửu—If Buddhist disciples recite this Sutra on the Eight Awakenings, and constantly ponder its meaning, they will certainly eradicate boundless offenses, advance toward Bodhi, quickly realize Proper Enlightenment, forever be free of death and rebirth, and eternally abide in joy. (B) Hình thức của kinh—The form of the sutra: Xét về phương diện hình thức thì kinh văn rất đơn giản. Kinh văn rất cổ, văn thể của kinh thuộc loại kết tập như Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Kinh Lục Độ Tập. Tuy nhiên, nội dung của kinh rất sâu sắc nhiệm mầu—The form of the sutra is very simple. The text form is ancient, just like the Forty-Two Chapters and the Sutra on the Six Paramitas. However, its content is extremely profound and marvelous. (C) Nội dung của kinh—The content of the Sutra: 1) Điều Giác Ngộ thứ nhất—The First Awakening: • Đời vô thường quốc độ bở dòn—The world is impermanent, countries are perilous and fragile. • Tứ đại khổ không—The body's four elements are a source of pain; ultimately, they are empty. • Năm ấm vô ngã có còn chi đâu—The Five Aggregates (Skandhas) are not me. • Đổi đời sanh diệt chẳng lâu—Death and rebirth are simply a series of transformations. • Giả dối không chủ lý mầu khó tin—Misleading, unreal, and uncontrollable. • Tâm là nguồn ác xuất sanh—The mind is the wellspring of evil. • Thân hình rừng tội mà mình chẳng hay—The body is the breeding ground of offenses. • Người nào quán sát thế nầy—Whoever can investigate and contemplate these truths, • Lần hồi sanh tử sớm chầy thoát ra—Will gradually break free of death and rebirth. 2) Điều Giác Ngộ thứ hai—The Second Awakening: • Tham dục nhiều, khổ thiệt thêm nhiều—Too much desire brings pain. • Nhọc nhằn sanh tử bao nhiêu—Death and rebirth are tiresome ordeals. • Bởi do tham dục, mà chiêu khổ nầy—They stem from our thoughts of greed and desire. • Bớt lòng tham dục chẳng gây—By reducing desires. • Thân tâm tụ tại vui nầy ai hơn—We can realize absolute truth and enjoy independence and well-being in both body and mind. 3) Điều Giác Ngộ thứ ba—The Third Awakening: • Đắm mê trần mải miết chẳng dừng—Our minds are never satisfied or content with just enough. • Một bề cầu được vô chừng—The more we obtain, the more we want. • Tội kia thêm lớn có ngừng được đâu—Thus we create offenses and do evil deeds. • Những hàng Bồ Tát hiểu sâu—Bodhisattvas do not make mistakes. • Nhớ cầu tri túc chẳng lâu chẳng sờn—Instead, they are always content. • Cam nghèo giữ đạo là hơn—Nurture the way by living a quiet life in humble surroundings. • Lầu cao trí huệ chẳng khờn dựng lên—Their sole occupation is cultivating wisdom. 4) Điều Giác Ngộ thứ tư—The Fourth Awakening: • Kẻ biếng lười hạ liệt trầm luân—Idleness and self-indulgence will be our downfall. • Thường tu tinh tấn vui mừng—With unflagging vigor, • Dẹp trừ phiền não ác quân nhiều đời—Great people break through their afflictions and baseness. • Bốn ma hàng phục như chơi—They vanquish and humble the Four Kinds of Demons. • Ngục tù ấm giới thảnh thơi ra ngoài—And they escape from the prison of the Five Skandhas. 5) Điều Giác Ngộ thứ năm—The Fifth Awakening: • Ngu si là gốc khổ luân hồi—Stupidity and ignorance are the cause of death and rebirth. • Bồ Tát thường nhớ không ngơi—Bodhisattvas are always attentive to. • Nghe nhiều học rộng chẳng lơi chút nào—And appreciative of extensive study and erudition. • Vun bồi trí tuệ càng cao—They strive to expand their wisdom. • Biện tài đầy đủ công lao chóng thành—And refine their eloquence. • Đặng đem giáo hóa chúng sanh—Teaching and transfoming living beings. • Niết bàn an lạc còn lành nào hơn—Nothing brings them greater joy than this. 6) Điều Giác Ngộ thứ sáu—The Sixth Awakening: • Người khổ nghèo lắm kết oán hờn—The suffering of poverty breeds deep resentment. • Không duyên tạo tác ác đâu sờn—Wealth unfairly distributed creates ill-will and conflict among people. • Bồ Tát bố thí, ai hơn kẻ nầy, lòng không còn thấy kia đây—So, Bodhisattvas practice giving and treat friend and foe alike. • Ít khi nhớ đến buồn gây thuở nào. Dù nguời làm ác biết bao, một lòng thương xót khổ đau cứu giùm—They neither harbor grudges nor despite evil-natured poeple. 7) Điều Giác Ngộ Thứ Bảy—The Seventh Awakening: • Năm dục gây lầm lỗi ngất trời. Tuy người thế tục ngoài đời—Great people, even as laity, are not blightly by worldly pleasures. • Mà lòng không nhiễm vui chơi thế tình, ba y thường nhớ của mình, ngày nào sẽ được ôm bình ngao du—Instead, they constantly aspire to take up the three precepts-robes and blessing-bowl of the monastic life. • Chí mong lìa tục đi tu, đạo gìn trong sạch chẳng lu không mờ—Their ideal and ambition is to leave the household and family life to cultivate the way in immaculate purity. • Hạnh lành cao vút kính thờ, thương yêu tất cả không bờ bến đâu—Their virtuous qualities are lofty and sublime; their attitudes toward all creatures are kind and compassionate. 8) Điều Giác Ngộ Thứ Tám—The Eighth Awakening: • Tử sanh hoài đau khổ vô cùng—Rebirth and death are beset with measureless suffering and afflictions, like a blazing fire. • Phát tâm dõng mãnh đại hùng—Thus, great people make the resolve to cultivate the Great Vehicle. • Quyết lòng độ hết đồng chung Niết bàn—To rescue all beings. • Thà mình chịu khổ muôn vàn, thay cho tất cả an nhàn thảnh thơi—To endure endless hardship while standing in for others. • Mọi người đều được vui tươi, đến bờ giác ngộ rạng ngời hào quang—To lead everyone to ultimate happiness. ** For more information, please see Bát Đại Nhân Giác.

kinh bản mẫu

(經本母) ... ... .. Pàli:Suttanta-màtikà. Bốn mươi hai môn được nêu ở đầu quyển của luận Pháp tập (Dhammasaígaịi) trong 7 bộ luận bằng tiếngPàli của phái Đại tự ở Tích lan. Kinh Bản mẫu này và Luận Bản mẫu nêu ở đầu quyển đều là tiêu chuẩn để phân biệt và quan sát các pháp. Bốn mươi hai môn ấy là: 1. Minh phần pháp, Vô minh phần pháp. 2. Điện quang dụ pháp, Kim cương dụ pháp. 3. Ngu pháp, Hiền pháp. 4. Hắc pháp, Bạch pháp. 5. Khổ hạnh pháp, Phi khổ hạnh pháp. 6. Tăng ngữ pháp, Tăng ngữ đạo pháp. 7. Từ pháp, Từ đạo pháp. 8. Thi thiết pháp, Thi thiết đạo pháp. 9. Danh, Sắc. 10. Vô minh, Hữu ái. 11. Hữu kiến, Vô hữu kiến. 12.Thường kiến, Đoạn kiến. 13.Biên kiến, Vô biên kiến. 14.Tiền tế kiến, Hậu tế kiến. 15. Vô tàm, Vô quí. 16. Tàm, Quí. 17. Ác ngôn, Ác hữu. 18. Thiện ngôn, Thiện hữu. 19. Nhập tội thiện xảo, Xuất tội thiện xảo. 20. Nhập định thiện xảo, Xuất định thiện xảo. 21. Giới thiện xảo, Tác ý thiện xảo. 22. Xứ thiện xảo, Duyên thiện xảo. 23. Xứ thiện xảo, Phi xứ thiện xảo. 24. Chất trực, Nhu hòa. 25. Kham nhẫn, Khả nhạo. 26. Hòa thuận, Cúng dường. 27. Bất hộ căn môn, Thực bất tri lượng. 28. Năng hộ căn môn, Ư thực tri lượng. 29. Thất niệm, Bất chính tri. 30. Niệm, Chính tri. 31. Tư trạch lực, Tu tập lực. 32. Chỉ, Quán. 33. Chỉ tướng, Cần lệ tướng. 34. Cần lệ, Bất tán loạn. 35. Khuyết giới, Khuyết kiến. 36. Cụ giới, Cụ kiến. 37. Tịnh giới, Tịnh kiến. 38. Kiến thanh tịnh, Tri kiến tinh tiến. 39. Ư thuận yếm xứ chi yếm, Yếm giả chi như lí tinh cần. 40. Ư thiện pháp bất hỉ túc, Ư tinh cần bất bị giá chỉ. 41. Minh, Giải thoát. 42. Tận trí, Vô sinh trí. Phẩm Tổng thuyết trong Pháp tập 3, giải thích hết thảy pháp bằng 42 môn nói trên. [X. Nam phương Thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; B.C. Law: A History of Pàli Literature, vol.II].

kinh bồ đề hành kinh

Bodhicaryavatara Sutra—Kinh nói về “Đi vào con đường Giác Ngộ” được Ngài Long Thọ soạn—Entering the Path of Enlightenment, composed by Nagarjuna.

kinh bổn

Sutra (skt)—Kinh điển trong Tam Tạng được Đức Phật thuyết giảng—The sutras in the Tripitaka are the sermons attributed to the Buddha. **For more information, please see Kinh.

kinh bổn sanh

Jataka—Kinh nói chi tiết về tiền thân Đức Phật, các đệ tử cũng như những kẻ chống phá Ngài. Kinh chỉ bày những hành động trong tiền kiếp ảnh hưởng thế nào đến những hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại theo đúng luật nghiệp quả—Narratives of birth stories detail past (previous) lives of the Buddha and of his followers and foes. The sutra shows how the acts of previous lives influence the circumstances of the present life according to the law of karma.

kinh bổn sự

Itvritaka—Narratives of past lives of the Buddha's disciples.

kinh châu

(荊州) Vùng đất nằm ở bờ Bắc sông Dương tử, tỉnh Hồ bắc, phía bắc tiếp giáp lưu vực Hán thủy. Là khu vực trọng yếu trên trục lộ giao thông giữa 2 miền Nam, Bắc Trung quốc thời xưa. Ngày xưa, vùng này từng là nơi hoằng truyền Phật pháp của nhiều đời Tổ sư, như ngài Tuệ trì, em của ngài Tuệ viễn, sau khi từ biệt ngài Đạo an, đã đến hoằng pháp ở chùa Thượng minh tại Kinh châu. Thầy của ngài Cưu ma la thập là ngài Ti ma la xoa đã đến đây hoằng dương luật Thập tụng. Ngài Đàm ma mật đa đời Lưu Tống đến trụ ở chùa Trường sa tại vùng này để dịch kinh và hoằng truyền Thiền pháp. Đại sư Thiên thai Trí khải đã sinh ra ở đây vào năm Đại đồng thứ 4 (538) đời Lương và về sau sáng lập chùa Ngọc tuyền, tuyên thuyết pháp môn Ma ha chỉ quán, v.v...

kinh chúng tập

Sangiti Sutta (p).

kinh cung dưỡng

(經供養) Cũng gọi Khai đề cúng dường, Thư tả cúng dường, Nhất thiết kinh cúng dường. Pháp hội được cử hành khi chép kinh xong làm lễ đưa kinh vào tạng hoặc ấn tống cho mọi người. Kinh thuộc về Pháp bảo trong Tam bảo, vậy cúng dường kinh tức là cúng dường Pháp bảo. Khi cử hành pháp hội cúng dường kinh, phải xướng tụng lời thệ như sau (Đại 9, 36 thượng): Chúng con phải khởi sức đại nhẫn, thụ trì, đọc tụng, viết chép kinh này và cúng dường mọi thứ, kể cả thân mệnh! Tại Trung quốc, pháp hội cúng dường kinh đã được mở rất sớm. Tháng 2 năm Đại thông thứ 5 (531) đời Lương Vũ đế thuộc Nam triều, Vũ đế đến chùa Đồng thịnh, viết đề kinh Bát nhã ba la mật bằng chữ vàng và lập Đại hội Vô già cho hơn 5 vạn người cả tăng lẫn tục tham dự, lúc bấy giờ Hoàng thái tử phụng hiến các pho Ngũ kinh và Thất bảo kinh để làm việc cúng dường. Đây chính là nguồn gốc của các pháp hội cúng dường kinh ở đời sau. [X. phẩm Khuyến trì kinh Pháp hoa Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.37].

kinh cô khởi

Phúng Tụng—Gatha—Verses containing ideas not expressed in prose.

kinh di bộ tông luân luận

Samayabhedo Sutra—Kinh được soạn bởi Ngài Thế Hữu vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt, sau được Ngài Huyền Trang dịch ra Hoa ngữ, nói về thời kỳ phân rẽ thành hai phái của Phật giáo là Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ—The sutra was composed by Vasumitra about 100 years after the death of the Buddha, later was translated into Chinese by Hsuan-Tsang. The sutra mentioned about the first division of Buddhism into two divisions: The Theravada (elder monks or intimate disciples) and Mahasanghika (general body of disciples).

kinh diệu pháp liên hoa

Saddharma-pundarika-Sutra (skt)— Wonderful Law Lotus Flower—The Lotus of the True Law—Thời gian giữa Đại Hội Kết Tập lần thứ nhì và thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, văn hóa Đại Thừa phát triển tại Ấn Độ và sự phổ biến một số kinh điển quan trọng. Sau đó là hàng trăm kinh điển Đại Thừa được viết bằng tiếng Phạn xuất hiện. Liên Hoa Kinh, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, một trong những kinh chính của Phật giáo Đại thừa vì nó chứa đựng những ý tưởng chủ yếu của Đại thừa, ý tưởng về bản chất siêu việt của Phật và việc phổ cứu chúng sanh. Trong nhiều phương diện, kinh Pháp Hoa được xem là kinh căn bản của truyền thống Phật giáo Đại Thừa. Kinh nầy ảnh hưởng rất lớn đến thế giới Phật tử Đại Thừa, không những chỉ ở Ấn Độ mà còn tại các xứ khác như Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam, qua các tông Thiên Thai, Nhật Liên và những tông khác. Hơn nữa, kinh nầy dẫn giải con đường từ bi vô lượng, cũng như cốt lõi hướng đi căn bản của truyền thống Đại Thừa, đó là tâm đại từ bi. Phật giáo Đại thừa coi Kinh Liên Hoa là bộ kinh chứa đựng toàn bộ học thuyết của Phật. Kinh nầy được Phật thuyết giảng trên núi Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn trong giáo pháp của Phật. Ý nghĩa của kinh nầy là Đức Phật đã gom tam thừa Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát về một thừa duy nhất là Phật Thừa. Trong kinh nầy Đức Phật đã giải thích rõ ràng về nhiều phương pháp đạt tới đại giác như Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, v.v. chỉ là những phương tiện được đặt ra cho thích hợp với trình độ của từng người. Thật ra chỉ có một cỗ xe duy nhất: Phật thừa dẫn đến đại giác cho chúng sanh mọi loài. Kinh Pháp Hoa tiêu biểu cho giai đoạn chuyển tiếp từ Phật giáo Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Phần lớn kinh được dùng để chứng minh rằng Đức Phật đã giảng giáo pháp Tiểu Thừa cho lớp người đầu óc thấp kém, vì đối với những người nầy không thể giải bày toàn bộ chân lý được. Các Phật tử Tiểu Thừa được Phật khuyên nên hành trì ba mươi bảy phẩm trợ đạo, hay các phép tu dẫn đến sự giác ngộ để rũ sạch phiền não, nên hiểu rõ Tứ Diệu Đế, luật Nhân Quả và nhận thức Nhân Không hay Vô Ngã, để qua đó có thể đạt được niết bàn. Sau đó Đức Phật nhấn mạnh rằng những người nầy cần nỗ lực thêm nữa ở đời sau, tạo được những công đức và phẩm hạnh cần thiết của một vị Bồ Tát để chứng đắc Phật quả. Kinh được Ngài Dharmaraksa dịch ra Hán văn năm 268 và Cưu Ma La Thập dịch năm 383. Chúng ta nên nhớ rằng Kinh Pháp Hoa, nguyên đã được ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch thành bảy quyển gồm 27 phẩm. Pháp Hiển, tìm kiếm một phẩm nữa nên du hành sang Ấn Độ vào năm 475. Khi đến Khotan, ông tìm thấy phẩm về Đề Bà Đạt Đa. Đề Bà Đạt Đa là anh họ và cũng là kẻ phá hoại Phật. Ông trở về, và yêu cầu Pháp Ý, người Ấn, phiên dịch phẩm nầy. Phẩm nầy về sau được phụ thêm vào bản kinh trước. Do đó kinh Pháp Hoa hiện thời có 28 phẩm. Năm 602 hai vị Jnanagupta và Dharmagupta cũng dịch bộ kinh nầy sang Hán văn—The period between the Second Council and the first century B.C., Mahayana literature developed in India, and the emergence of a number of important texts. After that, hundreds of Mahayana sutras were composed in Sanskrit. Sutra of the Lotus Flower, sutra of the Lotus of the Good Dharma, written in the first century A.D., one of the most important sutras of Mahayana Buddhism because it contains the essential teachings of Mahayana, including the doctrines of the transcendental nature of the buddha and of the possiblity of universal liberation. In many ways, the Lotus is the foundation sutra of the Mahayana tradition. It has great influence in the Mahayana Buddhist world, not only in India, but also in China, Japan, and Vietnam, where it is the favorite text of the T'ien-T'ai, Nichiren and some other schools. Moreover, it expounds the way of great compassion, the lotus sutra represents the essence of the Mahayana tradition's fundamental orientation, which is great compassion. It is considered in the Mahayana as that sutra that contains the complete teaching of the Buddha. The Lotus Sutra is a discourse of the Buddha on Vulture Peak Mountain. Dharma Flower Sutra or the Maha Saddharma-pundarika Sutra, or the Lotus Sutra, is one of the greatest sutras taught by the Buddha. Its significance is that the Buddha united all three vehicles of Sravaka-Yana (Sound-Hearer Vehicle), Pratyeka-Buddha-Yana, and Bodhisattva-Yana and said there is only one vehicle and that is the vehicle of Buddhahood. In it the Buddha shows that there are many methods through which a being can attain enlightenment such as shravaska, pratyekabuddha and bodhisattva, etc. These are only expedients adapted to varying capabilities of beings. In reality, there is only one vehicle: Buddhayana (Buddha vehicle), which leads all beings to enlightenment, including Mahayana and Hinayana. The Saddharma-pundarika sutra represents the period of transition from Hinayana to Mahayana Buddhism. A large part of this sutra is devoted to proving that Hinayana Buddhism was preached by the Buddha for the benefit of people of lower intelligence, to whom the whole truth was not divulged. Hinayana Buddhists were adivised to practise the thirty-seven limbs of enlightenment in order to rid themselves of moral impurities, to comprehend the Four Noble Truths and the Law of Causation, and to realize the absence of soul or individuality whereby they can reach a place of rest or nirvana. The Buddha then advises those who had reached perfection in these attainments, to exert themselves further in their future existences in order to acquire the merits and virtues prescribed for the Bodhisattvas for the attainment of Buddhahood. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva. We should bear in mind that the Lotus Sutra was originally translated into Chinse by Dharmaraksa in 268 and Kumarajiva in 383 in seven volumes of twenty-seven chapters. Fa-Hsien, in quest of another chapter, started for India in 475 A.D. When he reached Khotan, he found the chapter on Devadatta, a treacherously acting cousin of the Buddha. He eturned and requested Fa-I, an Indian monk, to translate it. This translation was later added to the earlier text. Thus, there are twenty-eight chapters in the present text. In 601A.D., Jnanagupta and Dharmagupta also translated this sutra into Chinese. ** For more information, please see Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa Kinh.

kinh duy ma cật

Vimalakirtinirdesa-Sutra—Kinh Duy Ma Cật là một bộ kinh Đại thừa quan trọng, đặc biệt cho Thiền phái và một số đệ tử trường phái Tịnh Độ. Nhân vật chính trong kinh là Ngài Duy Ma Cật, một cư sĩ mà trí tuệ và biện tài tương đương với rất nhiều Bồ Tát. Trong kinh nầy, Ngài đã giảng về Tánh Không và Bất Nhị. Khi được Ngài Văn Thù hỏi về Pháp Môn Bất Nhị thì Ngài giữ im lặng. Kinh Duy Ma Cật nhấn mạnh chỗ bản chất thật của chư pháp vượt ra ngoài khái niệm được ghi lại bằng lời. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The Vimalakirti Sutra, a key Mahayana Sutra particularly with Zen and with some Pure Land followers. The main protagonist is a layman named Vimalakirti who is equal of many Bodhisattvas in wisdom and eloquence. He explained the teaching of “Emptiness” in terms of non-duality. When asked by Manjusri to define the non-dual truth, Vimalakirti simply remained silent. The sutra emphasized on real practice “The true nature of things is beyond the limiting concepts imposed by words.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh duy tử

(經帷子) ........ Cũng gọi Kinh y, Kinh duy y, Duệ phú mạn đồ la. Loại áo thanh tịnh có viết văn kinh, thần chú hoặc danh hiệu Phật lên trên để mặc cho người chết. Người ta tin rằng sau khi chết nếu được mặc loại áo này, thì dù tội nghiệp sâu nặng đến đâu cũng được giải thoát. Tập tục này lưu hành ở Nhật bản, bắt đầu từ tông Chân ngôn vào khoảng thời đại Liêm thương. Về sau được phổ cập nhưng tùy theo tập quán của mỗi phái mà có khác nhau.

kinh dược sư lưu ly quang bản nguyện công đức

Bhaisaya-guru-vaiduryaprabhasapurvapranidhanavisesavistara—Kinh nhấn mạnh về những công đức của Đức Dược Sư Như Lai và khuyên chúng sanh hãy tin tưởng vị Phật nầy để được vãng sanh Thiên đường Đông Độ; tuy nhiên, kinh không phủ nhận Tây phương Cực Lạc. Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Medicine Buddha Sutra—The sutra stresses on the merits and virtues of Bhaisaya-Guru and encourages sentient beings to have faith in this Buddha so that they ca be reborn in the Eastern Paradise; however, the sutra never denies the Western Paradise. The Sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang—See Mười Hai Lời nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.

kinh dị

Frightened.

kinh gia

Người kết tập kinh điển, như Ngài A Nan, theo truyền thống được ghi lại thì chính ông là người đầu tiên đã kết tập kinh điển Phật giáo—One who collected or collects the sutras, especially Ananda, who according to tradition recorded the first Buddhist sutras. ; (經家) ..... Chỉ cho các vị đệ tử tụng lại giáo pháp của Phật đã nói để kết tập thành kinh điển. Đây là chỉ cho các ngài A nan và Ca diếp. Thông thường, trong 1 bộ kinh, lấy câu đầu tiên Tôi nghe như vầy làm phần Tựa, ở giữa lấy câu Phật bảo A nan làm phần Chính tông và cuối cùng lấy câu làm lễ mà lui ra làm phần Lưu thông. Đó là những lời Kinh gia. Ngoài ra, Luận gia là những người soạn các bộ luận để xiển dương nghĩa lí trong kinh, tuyên dương Phật pháp, như các vị bồ tát Long thụ, Thế thân ở Ấn độ, v.v... Lại còn thích gia là chỉ cho các bậc Đại đức giải thích ý nghĩa văn tự của các kinh luận như các ngài Đạo xước, Thiện đạo, v.v... Thích gia còn được dùng để chỉ cho những người thuộc dòng họ Thích của Phật hoặc những người tu theo đạo Phật để phân biệt với Đạo gia, Nho gia, v.v...

kinh giác

(驚覺) Kinh là giật mình, Giác là tỉnh thức. Có 2 nghĩa: - Chư Phật làm cho chúng sinh từ trong bất giác và mê muội mà tỉnh thức. - Khuyến thỉnh chư Phật xuất định để cứu độ chúng sinh. Đại nhật kinh sớ quyển 9 nói, chư Phật kinh giác chúng sinh, vì hết thảy chúng sinh đều ngủ say trong vô minh bất giác, cho nên Như lai dùng lời thành khẩn khiến họ cảm động mà tỉnh ngộ. Kinh Kim cương đính du già Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ quyển thượng nói, hành giả Du già kết ấn, tụng chân ngôn để kinh giác, khuyến thỉnh tất cả Như lai xuất định, đồng thời, tư duy: Thân con ít phúc tuệ, chìm đắm trong biển khổ, nay nhớ sức uy thần của chư Phật, cúi xin không bỏ bản nguyện đại bi, thương xót cứu giúp cho con. Tất cả chư Phật liền dùng thần lực gia trì hộ niệm, khiến hành giả được vô lượng phúc đức, thân tâm tự tại. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng, Bí tạng kí].

kinh giáo

The teaching of the sutras—See Kinh Lượng Bộ.

kinh giáp

(經夾) ..... Cũng gọi Phạm giáp. Sau khi viết kinh văn (tiếng Phạm) vào lá bối, xếp những lá ấy thành tập, rồi dùng 2 tấm ván gỗ kẹp lại và lấy dây cột chặt, gọi là Phạm giáp. Chữ giáp (..) này e là viết lầm của chữ giáp ( ) có bộ trúc; cùng nghĩa với chữ sách (..).

kinh giả

1) Bậc uyên thâm và có khả năng thuyết giảng thông suốt kinh luật: One who expounds the sutras and sastras. 2) Bậc uyên thâm và giảng giải thông suốt kinh Pháp Hoa: One who keeps the teaching of the Lotus Sutra.

kinh giải thâm mật

Samdhinirmocana-Sutra—Đây là kinh điển căn bản của Pháp Tướng Tông, nội dung nói về tư tưởng của trường phái Duy Thức. Mọi hiện tượng đều là trạng thái của tâm thức. Các đối tượng chỉ tồn tại qua quá trình trí tuệ, chứ không tồn tại như vốn có. Kinh được Ngài Huyền Trang dịch sanh Hán tự —This is the basic sutra for the Dharmalaksana sect. The sutra based on the central notion of the Yogachara, everything experienceable is mind only. Things exist only as processes of knowing, not as objects. The sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

kinh giới

Kinh và giới luật,hay những giới luật được tìm thấy trong kinh điển. Những giới luật được coi là căn bản bất hư—Sutras and commandments; the sutras and morality or discipline. The commandments found in the sutras. The commandments regarded as permanent and fundamental.

kinh hoa nghiêm

Avatamsaka (skt)—Flower Ornament Sutra—Nhan đề Phạn ngữ của Hoa Nghiêm là Avatamsaka, nhưng Pháp Tạng trong bản chú giải kinh Hoa Nghiêm bộ 60 quyển nói nguyên ngữ chính là Gandavyuha. Avatamsaka có nghĩa là “một tràng hoa” trong khi nơi chữ Gandavyuha, thì ganda là “tạo hoa” hay một loại hoa thường và “vyuha” là “phân phối trật tự” hay “trang sức.” Hoa Nghiêm có nghĩa là trang hoàng bằng hoa. Hoa Nghiêm là một trong những bộ kinh thâm áo nhất của Đại Thừa, ghi lại những bài thuyết pháp của Đức Phật sau khi Ngài đã đạt giác ngộ viên mãn. Gandavyuha là tên phẩm kinh kể lại công trình cầu đạo của Bồ Tát Thiện Tài Đồng Tử. Bồ Tát Văn Thù hướng dẫn Đồng Tử đi tham vấn hết vị đạo sư nầy đến vị đạo sư khác, tất cả 53 vị, trụ khắp các tầng cảnh giới, mang đủ lốt chúng sanh. Đây là lý thuyết căn bản của trường phái Hoa Nghiêm. Một trong những kinh điển dài nhất của Phật giáo, cũng là giáo điển cao nhất của đạo Phật, được Đức Phật thuyết giảng ngay sau khi Ngài đại ngộ. Người ta tin rằng kinh nầy được giảng dạy cho chư Bồ tát và những chúng hữu tình mà tâm linh đã phát triển cao. Kinh so sánh toàn vũ trụ với sự chứng đắc của Phật Tỳ Lô Giá Na. Kinh cũng nhấn mạnh rằng mọi sự vật và mọi hiện tượng đồng nhất thể với vũ trụ. Sau khi khảo sát về nội dung của Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy kinh khởi đầu bằng những bản kinh độc lập và về sau được tập hợp thành một dòng thơ, mỗi thể tài được trình bày trong các kinh đó đều được xếp loại theo từng thể và được gọi chung là Hoa Nghiêm—The Garland Sutra—The Sanskrit title is Avatamsaka, but it is Gandavyuha according to Fa-Tsang's commentary on the sixty-fascile Garland Sutra. Avatamsaka means a 'garland,' while in Gandavyuha, ganda means 'a flower of ordinary kind,' and vyuha 'an orderly arrangement' or 'array.' Gandavyuha means 'flower-decoration.' Avatamsaka is one of the profound Mahayana sutras embodying the sermons given by the Buddha immediately following his perfect enlightenment. The Gandavyuha is the Sanskrit title for a text containing the account of Sudhana, the young man, who wishing to find how to realize the ideal life of Bodhisattvahood, is directed by Manjusri the Bodhisattva to visit spiritual leaders one after another in various departments of life and in various forms of existence, altogether numbering fifty-three. This is the basic text of the Avatamsaka school. It is one of the longest and most profound sutras in the Buddhist Canon and records the highest teaching of Buddha Sakyamuni, immediately after enlightenment. It is traditionally believed that the sutra was taught to the Bodhisattvas and other high spiritual beings while the Buddha was in samadhi. The sutra has been described as the “epitome of Budhist thought, Buddhist sentiment, and Buddhist experiences” and is quoted by all schools of Mhayana Buddhism. The sutra compares the whole Universe to the realization of Vairocana Buddha. Its basic teaching is that myriad things and phenomena are the oneness of the Universe, and the whole Universe is myriad things and phenomena. After examining the sutra, we find that there were in the beginning many independent sutras which were later compiled into one encyclopaedic collection, as the subject-matters treated in them are all classified under one head, and they came to be known as Avatamsaka.

kinh hoàng

Terrified—Scared—Consternated.

kinh hoảng

See Kinh hoàng.

Kinh hành

經行; J: kinhin;|Ði qua lại để dãn gân cốt sau một buổi Toạ thiền. Trong tông Lâm Tế (j: rinzai) ở Nhật, các thiền sinh đi nhanh, dáng điệu mạnh bạo. Trong tông Tào Ðộng (j: sōtō) thì người ta đi rất chậm.

kinh hành

đi chậm rãi và nhiếp tâm, chung quanh điện Phật hoặc sân chùa, am, tịnh thất, thường vào những giờ nhất định trong ngày. Kinh hành được vận dụng như một trong các phương pháp tu tập hằng ngày. ; Cankrama (skt). 1) Hành thiền bằng cách đi tới đi lui để tránh buồn ngủ (có thể đi trong sân nhà, sân chùa, hay quanh Phật điện): Meditative walking by walking up and down. To walk about when meditating to prevent sleepiness. 2) Tập dưỡng thân phòng bệnh trong hành lang tự viện: Exercise to keep in health; the cankramana was a place for such exercise, i.e. a cloister, a corridor. ; (經行) Phạm: Caíkramana. Pàli: Caíkamana. Đi vòng quanh một cách nhàn tản trong một nơi nhất định để giữ cho thân tâm được điều hòa, an tĩnh. Kinh hành thường được thực hiện sau khi ăn cơm, lúc mỏi mệt hoặc khi ngồi thiền bị hôn trầm buồn ngủ. Theo kinh Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, thì có 5 chỗ thích hợp cho việc kinh hành, đó là: Nơi vắng vẻ, trước sân nhà, trước giảng đường, quanh tháp, dưới gác. Luật Tứ phần quyển 59 nói, kinh hành được 5 điều lợi ích: 1. Có sức chịu đựng cuộc đi xa. 2. Có thể yên lặng suy tư. 3. Ít bệnh tật. 4. Tiêu hóa thức ăn dễ dàng. 5. An trụ lâu trong thiền định. [X. luật Thập tụng Q.57; Nam hải ký qui nội pháp truyện Q.3; Đại đường tây vực kí Q.8].

kinh hãi

To be frightened.

kinh hạ sanh di lặc thành phật

Maitreyavyakarana Sutra—Kinh ghi lại rằng sau thời Phật Thích ca nhập diệt thì thế giới Ta Bà bước vào một thời kỳ không có Phật. Hiện thời Đức Di Lặc đang thuyết pháp trên cung trời Đâu Suất, Ngài sẽ xuất hiện và thành Phật trong hội Long Hoa. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The sutra mentioned that after the historical Buddha sakyamuni's Nirvana, the whole Saha world entered a period without any Buddha (a Buddhaless period). At this time, the Buddha-to-be is still preaching in the Tushita. He will descend and become the Buddha in the “Long Hoa” assembly. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh hồn

Frightened out of one's wits.

kinh khê

Tức Trạm Nhiên Đại Sư, vị tổ thứ chín của tông Thiên Thai ở Trung Hoa—Ching-Ch'i, thorn stream, name of the ninth T'ien-T'ai patriarch Chan-Jan.

Kinh Khê Trạm Nhiên

(荆溪湛然, Keikei Tannen, 711-782): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, tổ thứ 9 của Thiên Thai Tông Trung Quốc, người vùng Kinh Khê (荆溪), Thường Châu (常州, tức Nghi Hưng, Giang Tô), họ Thích (戚), cả nhà đều theo Nho Giáo, chỉ mình ông thích Phật pháp. Năm 17 tuổi, ông học Thiên Thai Chỉ Quán (天台止觀) với Kim Hoa Phương Nham (金華芳巖), đến năm 20 tuổi theo làm môn hạ của Tả Khê Huyền Lãng (左溪玄朗), dốc chí học tập giáo quán Tông Thiên Thai. Năm 38 tuổi, ông xuất gia ở Tịnh Lạc Tự (淨樂寺) vùng Nghi Hưng (宜興), rồi đến Việt Châu (越州) học luật với Đàm Nhất (曇一) và sau đó giảng Chỉ Quán ở Khai Nguyên Tự (開元寺), Quận Ngô (呉郡). Sau khi thầy mình qua đời, ông kế thừa pháp tịch, tự nhận trách nhiệm trùng hưng Thiên Thai Tông, đưa ra thuyết “vô tình hữu tánh (無情有性)”, chủ trương các loài cỏ cây, sỏi đá đều có Phật tánh. Ông đã từng sống qua các chùa Lan Lăng (蘭陵), Thanh Lương (清涼), và khi ông đến nơi đâu thì chúng theo học rất đông, tiếng tăm vang khắp. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寳) và Đại Lịch (大曆), các vua Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông đều ưu ái thỉnh vào cung, tuy nhiên ông cáo bệnh không đi. Đến cuối đời, ông đến trú tại Thiên Thai Quốc Thanh Tự (天台國清寺). Vào năm thứ 3 niên hiệu Kiến Trung (建中), ông thị tịch tại đạo tràng Phật Lũng (佛隴), thọ 72 tuổi đời và 43 hạ lạp. Đệ tử Lương Túc (梁肅) soạn văn bia. Ông là vị tổ trung hưng của Thiên Thai Tông, được người đời gọi là Kinh Khê Tôn Giả (荆溪尊者), Diệu Lạc Đại Sư (妙樂大師) hay Ký Chủ Pháp Sư (記主法師). Đệ tử của ông có 39 người như Đạo Thúy (道邃), Phổ Môn (普門), Nguyên Hạo (元皓), Trí Độ (智度), Hành Mãn (行滿), v.v. Bình sinh ông soạn thuật rất nhiều như Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm (法華經玄義釋籤) 10 quyển, Pháp Hoa Văn Cú Ký (法華文句記) 10 quyển, Chỉ Quán Phổ Hành Truyền Hoằng Quyết (止觀普行傳弘決) 10 quyển, Chỉ Quán Sưu Yếu Ký (止觀捜要記) 10 quyển, Chỉ Quán Đại Ý (止觀大意) 1 quyển, Kim Cang Phê Luận (金剛錍論) 1 quyển, Pháp Hoa Tam Muội Bổ Trợ Nghi (法華三昧補助儀) 1 quyển, Thủy Chung Tâm Yếu (始終心要) 1 quyển, Thập Bất Nhị Môn (十不二門) 1 quyển, v.v.

kinh khủng

Dreadful—Fearful—Frightened.

kinh kim cang

See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.

kinh kim cang bát nhã ba la mật đa

Vajracchedika-Prajna-Paramita (skt)—Kinh Kim Cang, một trong những kinh thâm áo nhứt của kinh điển Đại Thừa. Kinh nầy là một phần độc lập của Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Kinh Kim Cang giải thích hiện tượng không phải là hiện thực, mà chỉ là những ảo giác hay phóng chiếu tinh thần riêng của chúng ta (Bất cứ hiện tượng và sự vật nào tồn hữu trong thế gian nầy đều không có thực thể, do đó không hề có cái gọi là “ngã”). Chính vì thế mà người tu tập phải xem xét những hoạt động tinh thần của hiện tượng sao cho tinh thần được trống rỗng, cởi bỏ và lắng đọng. Nó có tên Kim cương vì nhờ nó mà chúng sanh có thể cắt bỏ mọi phiền não uế trược để đáo bỉ ngạn. Kinh được kết thúc bằng những lời sau: “Sự giải bày thâm mật này sẽ gọi là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa. Vì nó cứng và sắt bén như Kim Cương, cắt đứt mọi tư niệm tùy tiện và dẫn đến bờ Giác bên kia.” Kinh đã được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—Sutra of the Diamond-Cutter of Supreme Wisdom, one of the most profound sutras in the Mahayana, an independent part of The Vairacchedika Prajanparamita Sutra. The Diamond Sutra shows that all phenomenal appearances are not ultimate reality but rather illusions or projections of one's mind (all mundane conditioned dharmas are like dreams, illusions, shadow and bubbles). Every cultivator should regard all phenomena and actions in this way, seeing them as empty, devoid of self, and tranquil. The work is called Diamond Sutra because it is sharp like a diamond that cuts away all necessary conceptualization and brings one to the further shore of enlightenment. The perfection of wisdom which cuts like a diamond. The sutra ends with the following statement: “This profound explanation is called Vajracchedika-Prajna-Sutra, for the diamond is the gem of supreme value, it can cut every other material (thought) and lead to the other Shore.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva—A gatha of the Diamond Sutra states: *Nhứt thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ, diệc như điện, Ưng tác như thị quán. *All phenomena in this world are Like a dream, fantasy, bubbles, shadows; They are also like dew, thunder, and lightening; One must understand life like that.

kinh kim cang đảnh nhất thiết như lai chân thật nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương kinh

Sarva-tathagatatattvasamgrahama-Hayanabhisamayamahakaparaya—Kinh điển căn bản của Mật giáo, nói về các nghi thức đặc thù Mật giáo. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—This is the basic sutra of the Tantric Buddhism, stressed on special tantric rituals. The sutra was translated by amoghavajra.

kinh kim quang minh

Suvarnaprabhasa-Sutra—Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương—Kinh Đại thừa cho rằng đọc tụng sẽ được sự hộ trì của Tứ Thiên Vương. Chính vì thế mà thời trước kinh đóng một vai trò quan trọng trong việc du nhập đạo Phật vào Nhật bản. Kinh nhấn mạnh tới khía cạnh chánh trị của đạo Phật, và vì lý do đó nó được nhiệt liệt hưởng ứng bởi giai cấp lãnh đạo Nhật. Ý tưởng chánh của kinh là đức trí năng phân biệt thiện ác. Mọi người từ lãnh đạo đến tiện dân đều phải tuân theo “ánh sáng bên trong” ấy. Kinh được Ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hán tự—Suvarnaprabhasa-sutra (skt)—The Sutra of Golden Light—Golden Light Supreme King Sutra, A Mahayana sutra mentioned that those who recite it will receive the support and protect from the four heavenly kings. That was why it played a major role in establishing Buddhism in Japan. It stressed the political aspect of Buddhism and thus was highly regarded by the Japanese ruling class. The main theme of the sutra is the virtue of wisdom (inner light) which discriminates good and evil. Each person from the ruler to those in the lowest state, must follow this “inner light.” The sutra was translated into Chinese by I-Ching.

kinh kệ

See Kinh điển.

kinh liên đới

Book of Relations.

kinh luân

To adminster—To manage.

kinh luận

The sutras and sastras—See Kinh Luật Luận.

kinh luận nghị

Upadesa—Thuyết về Lý Luận—Discussions of doctrine.

kinh luận thích

(經論釋) Danh từ gọi chung Kinh, Luận, Thích. Kinh là giáo pháp do đức Phật nói ra; Luận là do chư vị Tổ sư các đời soạn thuật để làm sáng tỏ ý nghĩa của giáo pháp; còn Thích là lời giải thích ý nghĩa sâu xa của Kinh, Luận. Ngoài ra, cũng có Kinh thích (kinh và thích), Luận thích(luận và thích), v.v...

kinh luật dị tướng

(經律異相) Tác phẩm, 50 quyển, do ngài Bảo xướng chủ biên, các ngài Tăng mân, Tăng hào, Pháp sinh phụ giúp biên soạn, hoàn thành vào năm Thiên giám 15 (516) đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 53. Sách này có thể được xem là 1 loại Bách khoa toàn thư. Nội dung lựa chọn ghi chép những câu chuyện cổ rải rác trong các kinh, luật gồm 21 loại chia làm 14 bộ như sau: 1.Thiên bộ: Nói về mặt trời, mặt trăng, các vì sao và mưa gió... 2. Địa bộ: Nói về những hiện tượng tự nhiên như núi sông, cây cỏ... 3. Phật bộ: Nói về việc xuất gia, thành đạo, nhập Niết bàn và tháp xá lợi của đức Phật. 4. Bồ tát bộ: nói về việc xuất gia, tự lợi, hóa tha và tùy cơ hiện thân của hàng Bồ tát. 5. Thanh văn bộ: Phân loại nói về Thanh văn vô học tăng, Thanh văn bất trắc thiển thâm tăng, Thanh văn học nhân tăng, Thanh văn hiện hành ác hạnh tăng, Sa di tăng, Ni tăng, v.v... 6. Quốc vương bộ: Nói về việc các Quốc vương và Hoàng hậu tu tập đạo Bồ tát, đạo Thanh văn và pháp của Chuyển luân Thánh vương. 7. Thái tử bộ: Nói về việc tu tập của Thái tử và Công chúa. 8. Trưởng giả bộ: Chia làm 2 bộ là Đắc đạo và Tạp hành. 9. Ưu bà tắc, Ưu bà di bộ. 10. Ngoại đạo tiên nhân bộ: Gồm 3 bộ là Ngoại đạo tiên nhân, Phạm chí và Bà la môn. 11. Cư sĩ, thứ nhân bộ: Gồm cư sĩ, thương gia và nam nữ. 12. Quỉ thần bộ: Gồm A tu la, Khẩn na la... 13. Súc sinh bộ: Chia làm 3 bộ loại là loài thú 4 chân, loài sâu bọ và loài chim. Về sau nêu thêm tên 29 loài động vật. 14. Địa ngục bộ: Nói về 8 địa ngục lớn và 18 tầng địa ngục. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

kinh luật luận

Sutras, Vinaya, Abhidharma sastras (skt)—Tam Tạng Kinh Điển Phật—The three divisions of the Buddhist canon. 1) Kinh: Sutra (skt)—See Kinh and Kinh Bổn. 2) Luật: Vinaya (skt)—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 3) Luận: Sastra (skt)—See Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section.

kinh lăng già

Lankavatara Sutra (skt)—Kinh Lăng Già là giáo thuyết triết học được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trên núi Lăng Già ở Tích Lan. Có lẽ kinh nầy được soạn lại vào thế kỷ thứ tư hay thứ năm sau Tây Lịch. Kinh nhấn mạnh về tám thức, Như Lai Tạng và “tiệm ngộ,” qua những tiến bộ từ từ trong thiền định; điểm chính trong kinh nầy coi kinh điển là sự chỉ bày như tay chỉ; tuy nhiên đối tượng thật chỉ đạt được qua thiền định mà thôi. Kinh có bốn bản dịch ra Hán tự, nay còn lưu lại ba bản. Bản dịch đầu tiên do Ngài Pháp Hộ Đàm Ma La sát dịch giữa những năm 412 và 433, nay đã thất truyền; bản thứ nhì do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào năm 443, gọi là Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh, gồm 4 quyển, còn gọi là Tứ Quyển Lăng Già; bản thứ ba do Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hán tự vào năm 513, gồm 10 quyển, gọi là Nhập Lăng Già Kinh; bản thứ tư do Ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào những năm 700 đến 704 đời Đường, gọi là Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh, gồm 7 quyển, nên còn gọi là Thất Quyển Lăng Già. Đây là một trong những bộ kinh mà hai trường phái Du Già và Thiền tông lấy làm giáo thuyết căn bản. Kỳ thật bộ kinh nầy được Tổ Bồ Đề Đạt Ma chấp thuận như là bộ giáo điển được nhà Thiền thừa nhận. Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng, “về sau nầy tại miền nam Ấn Độ sẽ xuất hiện một vị đại sư đạo cao đức trọng tên là Long Thọ. Vị nầy sẽ đạt đến sơ địa Bồ Tát và vãng sanh Cực Lạc.”—A philosophical discourse attributed to Sakyamuni as delivered on the Lanka mountain in Ceylon. It may have been composed in the fourth of fifth century A.D. The sutra stresses on the eight consciousness, the Tathagatha-garbha and gradual enlightenment through slow progress on the path of meditative training; the major idea in this sutra is regarding that sutras merely as indicators, i.e. pointing fingers; however, their real object being only attained through personal meditation. There have been four translations into Chinese, the first by Dharmaraksa between 412-433, which no longer exists; the second was by Gunabhada in 443, 4 books; the third by Bodhiruci in 513, 10 books; the fourth by Siksananda in 700-704, 7 books. There are many treatises and commentaries on it, by Fa-Hsien and others. This is one of the sutras upon which the Zen and Yogacara schools are based. In fact, this was the sutra allowed by Bodhidharma, and is the recognized text of the Ch'an School. In the Lankavatara Sutra, Sakyamuni Buddha predicted, “In the future, in southern India, there will be a great master of high repute and virtue named Nagarjuna. He will attain the first Bodhisattva stage of Extreme Joy and be reborn in the Land of Bliss.”

kinh lăng nghiêm

Surangama Sutra (skt)—Tên đầy đủ là Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, là bộ kinh thâm sâu nguyên tác bằng tiếng Phạn, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch. Kinh Lăng Nghiêm được ngài Paramartha (Chơn Đế) đem sang Trung quốc và được thừa tướng Vương Doãn giúp dịch vào khoảng năm 717 sau Tây Lịch (có người nói rằng vì vụ dịch kinh không xin phép nầy mà hoàng đế nhà Đường nổi giận cách chức thừa tướng Vương Doãn và trục xuất ngài Chơn Đế về Ấn Độ). Bộ kinh được phát triển và tôn trọng một một cách rộng rãi ở các nước Phật Giáo Đại Thừa. Cùng với các vấn đề khác, kinh giúp Phật tử tu tập Bồ Tát Đạo. Kinh còn nói đầy đủ về các bước kế tiếp nhau để đạt được giác ngộ vô thượng. Kinh cũng nhấn mạnh đến định lực, nhờ vào đó mà đạt được giác ngộ. Ngoài ra, kinh còn giải thích về những phương pháp “Thiền Tánh Không” bằng những phương thức mà ai cũng có thể chứng ngộ được—Also called the Sutra of the Heroic One. This profound writing, originally in sanskrit, written in the first century A.D. The sutra was brought to China by Paramartha and translated into Chinese with the assistance of Wang Yung about 717 A.D. (some said that it was angered the T'ang Emperor that this had been done without first securing the permission of the government, so Wang-Yung was punished and Paramartha was forced to return to India)—It is widely developed and venerated in all the Mahayana Buddhist countries. Among other things, the sutra helps Buddhist followers exercising Bodhisattva magga. It deals at length with the successive steps for the attainment of supreme enlightenment. It also emphasizes the power of samadhi, through which enlightenment can be attained. In addition, the sutra also explains the various methods of emptiness meditation through the practice of which everyone can realize enlightenment.

Kinh Lượng Bộ

(s: Sautrāntika, 經量部): hay Tăng Già Lan Đề Ca (s: Saṃkrāntika, 僧伽蘭提迦), còn gọi là Tu Đa La Luận Bộ (修多羅論部), Thuyết Độ Bộ (說度部), Thuyết Chuyển Bộ (說轉部), Thuyết Kinh Bộ (說經部), Kinh Bộ (經部); là một trong 20 bộ phái của Phật Giáo Tiểu Thừa, là bộ phái phân liệt từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部). Vị tổ khai sáng ra phái này là Cưu Ma La Đà (s: Kumāralabdha, 鳩摩羅駄, còn gọi là Đồng Thọ [童受]), xuất thân nước Đát Xoa Thỉ La (呾叉始羅) của Ấn Độ vào thế kỷ thứ 3. Trước tác của ông có Dụ Man Luận (喩鬘論), Si Man Luận (癡鬘論), Hiển Liễu Luận (顯了論), v.v. Thất Lợi La Đa (s: Śrīlāta, 室利羅多) thuộc thế ký thứ 4 là vị tổ Trung Hưng của phái này. Trong khi Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ xem trọng luận thư thì Kinh Lượng Bộ lại xem trọng kinh thư hơn, lấy kinh là chánh lượng, nên có tên gọi như vậy. Bộ phái này lập ra Nhị Nguyên Luận tâm và vật, phủ định thuyết vạn vật thật có của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, công nhận chỉ có Tứ Đại và tâm là thật có, do Tứ Đại và tâm nương nhau mà thành, khiến cho sanh tử của cá thể tương tục, không đoạn. Bên cạnh đó, họ còn chủ trương chỉ có hiện tại là thật tại, quá khứ từng trãi qua thực tại, và tương lai là cái thực tại có được mà chưa đến, cái không tồn tại trong hiện tại là một loại tồn tại có chủng tử. Đây chính là nguồn gốc của thuyết Duy Thức Chủng Tử (唯識種子) sau này. Giáo nghĩa của bộ phái này có nhiều yếu tố của Phật Giáo Đại Thừa, được xem như là cơ sở cho Phật Giáo Trung Quán (中觀) về sau. Vị tổ khai sáng ra Kinh Lượng Bộ có trước tác Dụ Man Luận, khéo dùng hình thức thí dụ để thuyết pháp, nên được gọi là Thí Dụ Sư (譬喩師). Cho nên, sau này thí dụ trở thành một đặc trưng lớn của phái này, cũng được xem như là cơ sở của văn học thí dụ của Phật Giáo Đại Thừa.

Kinh lượng bộ

經量部; S: sautrāntika;|Một nhánh của Tiểu thừa xuất phát từ Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) khoảng 150 năm trước Công nguyên. Như tên gọi cho thấy (sautrāntika xuất phát từ sūtrānta, có nghĩa là Kinh phần, chỉ Kinh tạng của Tam tạng), bộ này chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka) và phản bác Luận tạng (s: abhidharmapiṭaka) cũng như quan điểm »Nhất thiết hữu« (tất cả đều hiện hữu, đều có) của Nhất thiết hữu bộ.|Kinh lượng bộ cho rằng có một thức tinh vi hơn thức thông thường, từ đó đời sống con người sinh ra và chính thức đó sẽ tái sinh. So sánh với Ðộc Tử bộ (s: vatsīputrīya) – là bộ phái cho rằng có một tự ngã thật sự, sống kiếp này qua kiếp khác – thì Kinh lượng bộ cho rằng, chỉ có thức là luân chuyển trong Vòng sinh tử và với cái chết thì bốn uẩn còn lại (Ngũ uẩn; s: pañcaskandha) chìm lắng trong thức đó. Quan điểm về sự tồn tại của thức này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra).|Kinh lượng bộ còn cho rằng, mỗi một hiện tượng thật sự chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc cực nhỏ – được gọi là Sát-na (s: kṣaṇa) – và mỗi quá trình chỉ là tiếp nối những khoảnh khắc đó, mỗi quá trình thông qua thời gian chỉ là Ảo ảnh. Kinh lượng bộ xem Niết-bàn (s: nirvāṇa) là sản phẩm của sự phủ nhận (e: negation) của tư duy, là sự tịch diệt.

kinh lượng bộ

Sautrantika or Santrantivadin (skt)—Thuyết Độ Bộ—Thuyết Chuyển Bộ—Giáo thuyết trong kinh điển (một trong 18 bộ của Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật nhập diệt 400 năm, nó được tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Trong số Tam Tạng chỉ có bộ nầy dùng kinh làm chính lượng nên gọi là Kinh Lượng Bộ, người khai sáng ra bộ nầy là Cưu Ma La Đà (bộ phái nầy chỉ lấy Kinh làm chính lượng, chỉ dùng kinh điển để chứng minh). Bộ nầy cho rằng có sự chuyển thực thể từ kiếp nầy sang kiếp khác. Theo các Phật tử của phái nầy thì trong ngũ uẩn của con người, chỉ có một uẩn vi tế nhất chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, trái với Chánh Lượng Bộ cho rằng toàn bộ 'pudgala' đều được chuyển đi. Phái nầy cũng tin rằng mỗi người đều có một khả năng tiềm ẩn trở thành Phật, đây vốn là chủ thuyết của giáo phái Đại Thừa. Do những quan điểm đó nên bộ phái nầy được xem là một cầu nối giữa Thanh Văn Thừa (thường được gọi là Tiểu Thừa) và Đại Thừa—The teaching of the sutras, an important Hinayana school, which based its doctrine on the sutras alone, the founder of this division is Kumara-labha. This school believed in the transmigration of a substance (sankranti) from one life to another. According to its followers, of the five skandhas of an individual, there is only one subtle skandha which transmigrates, as agianst the whole of the pudgala of the Sammitiyas. It also believed that every man had in him the potentiality of becoming a Buddha, a doctrine of the Mahayanists. On account of such views, this school is considered to be a bridge between the Sravakayana (often called the Hinayana) and the Mahayana. ; (經量部) ........ Phạm:Sautràntika. Cũng gọi Tăng ca lan đề ca (Phạm: Saôtràntika), Tu đa la luận bộ, Thuyết độ bộ, Thuyết chuyển bộ, Thuyết kinh bộ (Phạm:Sùtra vàdin), Kinh bộ. Một chi phái tách ra từ Thuyết nhất thiết hữu bộ, do ngài Cưu ma la đà (Phạm: Kumàralabdha, cũng gọi Đồng thụ), người nước Đát xoa thủy la thuộc miền Bắc Ấn độ sáng lập vào cuối thế kỉ III. Ngài Thất lợi la đa (Phạm:Zrìlàta) trung hưng vào cuối thế kỉ IV. Là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Vì phái này coi trọng Kinh và cho Kinh là Chính lượng nên gọi là Kinh lượng bộ. Bộ phái này lập Tâm vật nhị nguyên luận, phủ định thuyết Vạn vật thực hữu của Hữu bộ, mà chủ trương chỉ có Tứ đại và Tâm là thật có, cả 2 nương vào nhau mà thành tựu và tồn tại, khiến cho sự sống chết của mỗi cá thể nối nhau không dứt. Phái này cho rằng chỉ có hiện tại thật có, còn quá khứ, vị lại thì không thật, vì quá khứ là thực tại đã qua, vị lai là thực tại chưa đến, còn hiện tại cũng chỉ là sự tồn tại của một thứ chủng tử mà thôi. Đây chính là nguồn gốc thuyết Chủng tử của Duy thức đời sau. Giáo nghĩa của bộ phái này hàm chứa nhiều yếu tố của Phật giáo Đại thừa, có thể được coi là nền tảng của Trung quán... Tổ sư khai sáng của phái này là ngài Cưu ma la đà soạn luận Dụ man, khéo dùng thí dụ trong lúc thuyết pháp, cho nên được tôn xưng là Thí dụ sư, sau đó, thí dụ trở thành đặc trưng lớn nhất của phái này và được xem là nền móng của văn học Thí dụ (Phạm:Aupamya) trong Phật giáo Đại thừa sau này. [X. Thập bát bộ luận; Dị bộ tông luân luận]. (xt. Ấn Độ Phật Giáo).

kinh lễ sáu phương

Worship in the Six Directions Sutra—See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A (7).

kinh ma ha tăng chỉ luật

Mahasanghika-Vinaya—Sau khi Phật nhập diệt 100 năm thì cộng đồng Phật giáo thời bấy giờ chia làm hai phái, Thượng Tọa và Đại Chúng. Bên Đại Chúng Bộ đã tự kết tập thành bộ luật Ma Ha Tăng Chỉ, nói về chi tiết những giới luật của chư Tăng Ni. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hán tự—100 years after the Buddha's nirvana, Buddhist community was divided into two divisions: Theravada and Mahasanghika. The Theravada wanted to keep the same rules since the Buddha's time; however, the Mahasanghika, the majority, believed proposed five points which laid foundation for the Mahasanghika-Vinaya: 1) Một vị A La Hán vẫn còn bị cám dỗ: An arhat is still subject to temptation. 2) Một vị A La Hán vẫn còn dấu vết của sự ngu dốt: An arhat is still not yet free from ignorance. 3) Một vị A La Hán vẫn còn nghi ngờ về học thuyết: An arhat is still subject to doubts concerning the teaching. 4) Một vị A La Hán có thể tu hành giác ngộ nhờ sự giúp đở của tha lực: An arhat can make progress on the path to enlightenment through the help of others. 5) Một vị A La hán có cơ may được cứu rỗi bằng việc lập đi lập lại những âm thanh: An arhat can advance on the path through utterance of certain sounds. ** This sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra and Fa-Hsien.

kinh ma đăng già

Matangi-Sutra—Kinh đặc trọng tâm vào câu chuyện về một phụ nữ tên Ma Đăng Già, thuộc giai cấp thấp nhất trong xã hội Ấn Độ, đã được Phật Thích Ca thu nhận làm đệ tử. Trong nầy, Đức Phật cũng giảng tỉ mỉ rằng mọi giai cấp đều bình đẳng. Kinh được Ngài Trúc Luật Viêm và Chi Khiêm dịch sang Hán tự—The sutra stressed on the story of a lady named Matangi, she belonged to the lowest class in Indian society. In this sutra, the Buddha also expounded clearly on the “Equality” of all classes. The sutra was translated into Chinese by Chu-lu-Yen and Chih-Ch'ien.

kinh mã

(經馬) ..... Tờ giấy có in Tâm kinh Bát nhã và hình con ngựa cúng quỉ thần trong lễ cầu an hoặc trong pháp hội Vu lan bồn, cúng xong đốt đi. Tập tục này thịnh hành ở đời Đường và tiếp tục mãi đến các đời Tống, Nguyên về sau. [X. Bác dị chí (Trịnh hoàn cổ); Tống sử lễ chí thứ 77]. (xt. Chỉ Tiền).

kinh mộc

(經木) I. Kinh Mộc. Cũng gọi Âm mộc. Cái phách bằng gỗ dùng để gõ nhịp khi tụng kinh. II. Kinh Mộc. Thanh gỗ thông, dài khoảng 38 phân, rộng 1 phân, phần trên viết văn kinh, phần dưới viết họ tên người chết, thường được sử dụng trong lễ truy tiến vong linh.

kinh mộc lưu

(經木流) Cũng gọi Kinh lưu. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trên tấm gỗ có viết văn kinh, ghi họ tên và pháp danh của người chết, rồi thả xuống sông cho trôi đi, gọi là Kinh mộc lưu. Nghi thức này được cử hành ở chùa Tứ thiên vương thuộc huyện Đại phản của Nhật bản vào dịp lễ hội Vu lan bồn. (xt. Kinh Mộc).

kinh na tiên tỳ kheo

Sutra on Questions of King Milinda—See Milindapanha.

kinh nghi

To fear and to suspect.

kinh nghiệm

Anubhava (skt)—Experience—Sự hiểu biết xuất phát từ sự quan sát của cá nhân hay thực nghiệm; ấn tượng của tâm chứ không từ ký ức—Experience means knowledge derived from personal experiment; impression on the mind not from memory.

kinh nghiệm bây giờ

Immediate experience.

kinh ngoã

(經瓦) ..... Cũng gọi Ngõa kinh. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Văn kinh được khắc trên những viên ngói rồi đem chôn xuống đất để lưu truyền cho đời sau, với niềm mong muốn Phật pháp được tồn tại lâu đài.

kinh nguyệt thượng nữ kinh

Candrottaradarikapariprccha-Sutra—Kinh nói về nàng Nguyệt Thượng, con gái của ông trưởng giả Duy Ma Cật (không phải là Cư Sĩ Duy Ma Cật). Nàng được đức Phật thọ ký rằng trong một kiếp tương lai sẽ trở thành một vị Phật. Kinh được Ngài Xà Na Quật Đa dịch sang Hán tự—The sutra mentioned about Candrottara, a daughter of a rich old man named Vilamakirti (not the layman Vilamakirti). She was predicted by the Buddha that she would become a Buddha in a future life. The sutra was translated into Chinese by Jnanaguptaad.

kinh nguyệt đăng tam muội

Samadhirajacandrapradipa-Sutra—Kinh ghi lại một cuộc đối thoại giữa một người trẻ tuổi tên là Nguyệt Đăng và Đức Phật Thích Ca, trong đó Đức Phật chỉ bày cách quán tánh “Bình Đẳng” cho tất cả mọi vật. Kinh cũng nhấn mạnh về bản chất đồng nhất của mọi sự vật, mọi vật tồn hữu đều không có thực thể, giống như giấc chiêm bao hoặc như ảo tưởng. Nhận chân được như vậy là đạt tới cảnh giới giác ngộ vậy. Kinh được Ngài Na Liên Đề Da Xá dịch sang Hán tự—The sutra mentioned a dialogue between a young person named Candragupta and the Buddha Sakyamuni. In which the Buddha taught about “Emptiness or Sunyata” in all things. The sutra also emphasized on the essential identity of all things, everything exists without its own reality, it is like a dream or illusion. To realize this means to reach the realm of enlightenment. The sutra was translated into Chinese by Narendrayasas.

kinh ngạc

Surprised—Amazed—Stupified—Astounded.

kinh nhơn duyên

Nidana—Narratives of the past which explain a person's present state.

kinh nhơn vương bát nhã ba la mật

Karunikaraja-Prajnaparamita-Sutra—Kinh nhấn mạnh đến “Trí huệ Phật” trong việc duy trì an ninh phúc lợi trong quốc gia. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—The sutra stressed on the “Buddha wisdom” for rulers to maintain security and welfare for the country. The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.

kinh niên

Chronic—Lasting for a long time.

kinh phân biệt

(經分別) ........ Pàli:Sutta-vibhaíga. Cũng gọi Kinh phân luật. Một trong 3 bộ luật lớn trong tạng Luật Pàli. Nội dung của bộ luật này chủ yếu nói về những điều khoản của văn giới, nhân duyên thành lập, giải thích tự cú và trường hợp vận dụng điều văn, v.v... Sách gồm 2 phần là Đại phân biệt (Pàli:Mahà-vibhaíga, cũng gọi Tỉ khưu phân biệt) và Tỉ khưu ni phân biệt (Pàli:Bhikkhunì-vibhaíga). Đại phân biệt: Bao gồm 4 pháp Ba la di, 13 pháp Tăng tàn, 2 pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa, 92 pháp Ba dật đề, 4 pháp Ba la đề đề xá ni, 75 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh. Tỉ khưu ni phân biệt: Bao gồm 8 pháp Ba la di, 17 pháp Tăng tàn, 30 pháp Xả đọa, 166 pháp Ba dật đề, 8 pháp Ba la đề đề xá ni, 75 pháp Chúng học và 7 pháp Diệt tránh. (xt. Ba Li Luật Tạng).

Kinh Phương đẳng

chỉ kinh điển Đại thừa. Xem Phương đẳng.

kinh quyển

(經卷) Phạm: Pustaka. Cuộn (trục) giấy có chép văn kinh, về sau chỉ chung cho kinh sách. Danh từ Kinh quyển trong kinh Pháp hoa quyển 4 là chỉ cho sách vở. Tại Trung quốc, mãi đến thời Bắc Tống mới có kinh bản xếp. Kinh Phật được viết trên giấy màu vàng, trục sơn màu đỏ, nên cũng gọi Hoàng quyển xích trục (quyển vàng trục đỏ). Ngoài ra, cái bàn dùng để đọc tụng kinh điển, gọi là Kinh trác; kinh được viết trên đá, gọi là Kinh thạch; kinh được chôn trong đất, gọi là Kinh trủng.

kinh quỹ

(經軌) ... .. Chỉ cho kinh điển và các nghi quĩ của Mật giáo. Trong Mật giáo, thầy trò truyền thừa giáo pháp, lập đàn tu luyện, v.v... đều phải căn cứ vào kinh điển, nghi quĩ để thực hành. ; (經櫃) ..... Cái hòm (rương) dùng để đựng kinh sách, đạo cụ và y phục của chúng tăng được đặt trong Chúng liêu. Nếu nó được đặt trong Tăng đường thì gọi là Hàm quĩ. Vì Chúng liêu là nơi chư tăng xem kinh nên gọi là Kinh quĩ. [X. điều Vong tăng sao đáp y bát, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Chúng liêu kết giải đặc vị chúng thang, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

kinh sinh thánh giả

(經生聖者) Chỉ cho bậc Thánh Tiểu thừa còn phải sinh vào cõi Dục, cõi Sắc rồi mới đạt được cảnh giới Niết bàn. Kinh sinh Thánh giả có 2 loại: 1. Dục giới kinh sinh: Như các bậc Thánh Cực thất phản hữu của quả Dự lưu, Gia gia của Nhất lai hướng, Nhất lai quả, v.v... Các bậc Thánh này còn phải sinh vào cõi Dục, nhưng khi thấy cõi này có quá nhiều khổ não, liền sinh tâm chán lìa một cách mạnh mẽ, nhờ thế mà được quả Bất hoàn, không phải sinh vào cõi Sắc, cõi Vô sắc nữa mà vào thẳng Niết bàn. 2. Sắc giới kinh sinh: Các bậc Thánh này còn phải sinh vào cõi Sắc, như bậc Thánh Lạc định thuộc Thượng lưu ban trong 7 loại Bất hoàn, vì không biết nỗi khổ ở cõi Sắc nên không sinh tâm nhàm chán mãnh liệt, bởi vậy phải sinh vào cõi Sắc rồi mới nhập Niết bàn. [X. luận Đại tì bà sa Q.53; luận Câu xá Q.24].

kinh sám

(經懺) ..... Tức là tụng kinh và lễ sám. Tụng kinh có nhiều công đức, lễ sám tiêu trừ được tội nghiệp, cho nên Tụng kinh lễ sám trở thành phương thức tu hành thường nhật của tín đồ Phật giáo. Ngày nay, người xuất gia chuyên lấy việc tụng kinh lễ sám thay cho tín đồ làm sự nghiệp, gọi là Cản kinh sám.

kinh sư

(經師) ..... I. Kinh Sư. Vị sư thông hiểu kinh điển hoặc giỏi đọc tụng, ngâm vịnh kinh văn. Khi giải thích về sự giáo hóa, pháp Đơn đề thứ 29 trong luật Tứ phần quyển 13 có nêu ra 5 hạng mục là tán kệ, đa văn, pháp sư, trì luật và tọa thiền. Những từ này theo thứ tự tương ứng với:Bhàịaka(thuyết giả), bahussuta(đa văn giả),suttantika (kinh sư),vinaya-dhara(trì luật giả) vàdhammakathika(thuyết pháp giả)được nêu trong tạng Luật Pàli. Trong chương Tự tứ, luật Tứ phần quyển 38, có từ thông A hàm, chương Phòng xá trong luật Tứ phần quyển 50, có từ pháp sư giả, trong tạng LuậtPàli, tiếng tương đương với 2 từ ngữ trên đây là:Suttantika. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 14, cũng nêu lên các từ như: Học luật chúng (Pàli: Vinaya-gaịa), học A tì đàm chúng (Pàli: Abhidhammika-gaịa), học Tu đa la chúng (Pàli:Suttantika-gaịa), v.v... Do đó có thể biết các từ ngữ pháp sư, thông A hàm, học Tu đa la, v.v... đều tương đương với chữ Suttantika, nghĩa là người thông hiểu tạng Kinh trong 3 tạng. Nhưng mục Tán vịnh lễ trong Nam hải ký qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 227 thượng), nói: Thỉnh một vị Kinh sư lên tòa Sư tử đọc tụng kinh văn. Như vậy, Ấn độ cũng dùng danh từ Kinh sư để chỉ cho người giỏi tán vịnh kinh văn như ở Trung quốc. Truyện ngài Tuệ nhẫn trong Lương cao tăng truyện quyển 13 (Đại 50, 414 hạ), nói: Sau khi vua Văn tuyên nhà Tề cảm điềm lành trong mộng, triệu tập các vị Kinh sư cùng nhau xem lại các thanh điệu xưa, giải thích những điều mới lạ, mà soạn thành bộ Thụy ứng tứ thập nhị khế. Trong Lương cao tăng truyện quyển 13 cũng đặt ra một khoa Kinh sư, kể lại truyện tích của 11 vị Kinh sư từ ngài Bạch pháp kiều đời Tấn đến ngài Tuệ nhẫn đời Nam Tề, đồng thời, tường thuật về sự phát triển của Kinh sư. [X. điều Tùy văn đế trong luận Biện chính Q.3; thiên Tạp khoa thanh đức trong Tục cao tăng truyện Q.30]. II. Kinh Sư. Những người chuyên việc viết chép kinh điển cũng được gọi là Kinh sư, vào thời đại Thiên bình ở Nhật bản, các vị Kinh sư được gọi là Kinh sinh, vì chưa được nhận vào Tăng tịch. Đến đời sau, danh từ Kinh sư được chuyển dụng để chỉ cho những người trang hoàng kinh điển.

kinh tháp

(經塔) I. Kinh Tháp. Cây tháp dùng để cất chứa kinh điển. Kinh văn, kệ tụng, đà la ni, v.v... được để vào trong tháp gọi là Tháp Xá lợi. II. Kinh Tháp. Cũng gọi là Kinh mạn đồ la. Kinh văn được viết thành hình dáng ngôi tháp. Cứ theo Thư sử hội yếu quyển 6, thì vào năm Chính hòa thứ 2 (1112) đời Tống, ngài Pháp huy đã dùng kiểu chữ nhỏ, viết văn kinh thành hình 1 tòa tháp. Chữ viết ngay thẳng, mỗi chữ chỉ bằng nửa hạt vừng (mè), trên tháp này viết 10 bộ kinh: Pháp hoa, Lăng nghiêm, v.v... theo thứ tự từ nóc đến chân tháp, mỗi tầng 1 bộ, không sai mảy may.

kinh thể tam trần

(經體三塵) Chỉ cho Thanh trần, Sắc trần và Pháp trần, 3 trần cảnh này được dùng làm kinh thể. 1. Thanh trần: Khi đức Phật còn tại thế, Ngài thuyết pháp giáo hóa, các đệ tử nghe lời nói từ kim khẩu của Ngài mà được ngộ đạo, đó là lấy Thanh trần làm Kinh thể. 2. Sắc trần: Sau khi Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài nói ra được ghi chép thành kinh quyển để truyền lại cho đời sau, đó là lấy Sắc trần làm Kinh thể. 3. Pháp trần: Trong tâm tư duy tự pháp mà khế hợp với lí, đây không do người khác dạy, không do giấy mực kinh quyển, đó là lấy Pháp trần làm Kinh thể. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.8 phần trên]. KINH TÔNG ..... I. Kinh Tông. Tông chỉ của 1 bộ kinh. Còn kinh thể là phần nội dung của kinh văn trước sau nhất quán. Như dùng phòng nhà làm ví dụ thì Kinh tông là rường cột, mà Kinh thể là những nguyên liệu cấu thành. Tông Thiên thai cho rằng kinh Pháp hoa lấy nhân quả làm tông, lấy lí thực tướng làm thể. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản thì cho rằng kinh Vô lượng thọ lấy bản nguyện làm tông, lấy danh hiệu làm thể. [X. kinh Đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.1; luận Du già sư địa Q.81; Vãng sinh luận chú Q.thượng]. II. Kinh Tông. Những tông phái căn cứ vào Kinh để lập tông nghĩa. Trái lại, các tông phái y cứ vào Luận để lập tông thì gọi là Luận tông. Chẳng hạn như tông Hoa nghiêm, lấy kinh Hoa nghiêm làm văn cứ, cho nên gọi là Kinh tông. (xt. Kinh Luận Thích).

kinh tràng

(經幢) ..... Cũng gọi Thạch chàng. Cây cột đá trên có khắc văn kinh. Thông thường là cột đá hình bát giác khắc kinh Phật đính tôn thắng đà la ni. Phong tục này thịnh hành ở Trung quốc từ khoảng giữa đời Đường đến đời Ngũ đại Liêu, Kim. Về sau, truyền đến Triều tiên, Nhật bản. Hiện nay rất nhiều di tích Kinh chàng còn được tìm thấy ở miền Bắc Trung quốc.

kinh trủng

(經冢) Khi kinh được viết xong đem bỏ vào ống rồi chôn xuống đất, gọi là Kinh trủng(gò kinh). Việc làm này bày tỏ ý muốn bảo tồn kinh điển được lưu truyền lâu dài ở đời, hoặc để cầu phúc cho mình, cầu siêu cho vong linh tổ tiên. Cách làm là dùng đá xếp thành căn phòng, để các ống kinh ở trong rồi lấp đầy bằng than củi, bên ngoài phủ đất kín thành một cái gò cao, hình tròn hoặc hình vuông. Trên nóc gò đất đặt Bảo khiếp ấn(cái hộp nhỏ trong có để văn chú bằng tiếng Phạm), hoặc một tháp đá hình bài vị. Ngoài những vật như những viên ngói, những tấm đá trên có viết văn kinh ra, trong kinh trủng, còn có tranh tượng Phật, bình đựng nước, chày 1 chĩa, tấm gương, v.v... Những bộ kinh được cất giữ trong căn nhà bằng đá (Kinh trủng) này phần nhiều là kinh Pháp hoa, kinh Di lặc, kinh A di đà, kinh Vô lượng thọ, Bát nhã tâm kinh, v.v...

kinh tán

(經贊) ..... Phạm:Stava. Những bài kệ tụng tán thán kinh điển. Trong các bài Kinh tán bằng tiếng Phạm hiện còn, thì có Pháp hoa kinh tán (Phạm: Saddharmapuịđarìka-stava) và Tán Bát nhã ba la mật kệ. Trong đó, Pháp hoa kinh tán được ghi trong phần đầu bản viết tay kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do ngài Hà khẩu Tuệ hải, người Nhật bản, mang từ Tây tạng về. Nội dung gồm 20 bài tụng theo điệu Thủ lô ca (Phạm:Zloka), ở cuối sách có dòng chữ: A già lợi da La hầu la bạt đà la tạo (Phạm:Kftir àcàrya-Rahulabhadrasya). Ngoài ra còn 1 số kệ tán trong kinh Pháp hoa bằng tiếng Phạm do các ông Địch nguyên Vân lai, Thổ điền Thắng di hiệu đính và trong kinh Pháp hoa bản dịch tiếng Nhật bản của ông Cương giáo toại. Kệ tán Bát nhã ba la mật hiện còn thì được chép trong phần đầu của Bát thiên tụng bát nhã (Phạm: Awỉasàhasrikaprajĩàpàramità), do ông Rajendralata Mitra xuất bản, gồm 21 bài tụng cũng theo điệu Thủ lô ca, trong đó có 1 bản chép tay, trên có ghi dòng chữ: Thị la hầu la bạt đà la chi tác (Phạm: Kftir iyaô Rahulabhadrasya)... Về kinh tán của Trung quốc và Nhật bản, thì trong Tịnh độ pháp sự tán quyển cuối có ghi Bát nhã kinh tán, A di đà kinh tán văn và Tân vô lượng thọ quán kinh tán, Tân A di đà kinh tán của ngài Pháp chiếu. Trong Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục quyển 1, thì ghi Vu lan bồn kinh lễ tán văn, 1 quyển, của các ngài Trí viên, Tịnh nguyên và Linh giám. Ngoài ra, Đông vực truyền đăng mục lục quyển thượng và Chư tông chương sớ lục quyển 1, cũng chép Hoa nghiêm tán lễ (1 quyển), gồm 10 bài tụng của ngài Pháp tạng, Quán thế âm kinh tán(1 quyển), của ngài Cát tạng, Pháp hoa kinh tán tụng (1 quyển), không rõ tác giả, Tịnh danh kinh tán (1 quyển) của Thạch thượng Đại nạp ngôn... [X. luận Đại trí độ Q.18; Trung quán luận sớ Q.10 phần cuối (Cát tạng)].

Kinh tạng

經藏; S: sūtra-piṭaka; P: sutta-piṭaka;|Tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Kinh tạng chứa tất cả những bài giảng do chính Phật Thích-ca thuyết. Kinh tạng viết bằng văn hệ Phạn ngữ gồm có bốn A-hàm, bằng văn hệ Pā-li của Thượng toạ bộ có năm bộ, Bộ kinh.

kinh tạng

(經藏) ..... I. Kinh Tạng. Chỉ cho tạng kinh trong 3 tạng Kinh, Luật, Luận. (xt. Kinh). II. Kinh Tạng. Cũng gọi Kinh lâu, Kinh đường, Kinh khố, Pháp tạng, Luân tạng, Chuyển luân tạng, Tàng kinh các, Pháp bảo điện. Chỉ cho những tòa nhà cất chứa kinh điển. Cứ theo Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng, thì trong một châu ở Hàng châu có thiết lập 10 sở Kinh tạng do Ngô việt vương kiến tạo. Từ đời Tống về sau, do Đại tạng kinh được ấn hành nhiều lần, nên Kinh tạng cũng theo đó mà được thiết lập ở khắp nơi trong nước. Ở Nhật bản hiện nay còn rất nhiều Kinh tạng được kiến trúc từ đời xưa, như Kinh lâu(thời Nại lương) ở chùa Pháp long và các Kinh khố được xây dựng theo kiểu Hiệu thương. Từ thời Liêm thương, hình thức cấu tạo Kinh tạng có thay đổi, tức là ở giữa Kinh đường có thiết lập Luân tạng, theo nghĩa chuyển pháp luân hoặc chuyển độc. Tức là nếu không có thì giờ hoặc người không biết chữ để tụng, đọc kinh văn, thì cứ quay Luân tạng nhiều vòng cũng được công đức như người tụng kinh. Tại Trung quốc, Kinh tạng đã được thiết lập vào thời Nam Bắc triều, mà Luân tạng cũng đã có từ thời Đại sĩ Thiện tuệ Phó hấp đời Lương. [X. Đại đường tây vực kí Q.3; Quảng hoằng minh tập Q.22; Thích môn chính thống Q.3 Tháp miếu chí]. (xt. Phật giáo Đồ Thư Quán).

kinh tạng đường chủ

(經藏堂主) Chức vụ vị tăng trông nom Kinh tạng trong tùng lâm. Trên Đường chủ có Tạng chủ, nhưng Tạng chủ không ở trong Tạng điện mà do Đường chủ có trách nhiệm quản lí kinh điển, phải thường xuyên có mặt ở Tạng điện để trực tiếp trông coi và cho chúng tăng mượn kinh sách để đọc. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.6].

kinh Tạp hoa

tên gọi khác của kinh Hoa nghiêm. Từ điển Phật học của Đinh Phúc Bảo viết: 萬行譬如華, 以萬行莊嚴佛果,謂之華嚴。百行交雜,謂之雜華。 (Vạn hạnh thí như hoa, dĩ vạn hạnh trang nghiêm Phật quả, vị chi Hoa nghiêm, bách hạnh giao tạp, vị chi Tạp hoa. - Vạn hạnh ví như hoa, dùng vạn hạnh trang nghiêm quả Phật nên gọi là Hoa nghiêm, trăm hạnh giao tạp nên gọi là Tạp hoa.)

kinh tập

(經集) ..... Pàli:Sutta-nipàta. Tập kinh tiếngPàli thuộc tạng Kinh (Tiểu bộ) của Thượng tọa bộ Nam phương, do nhiều bài kinh nhỏ hợp thành. Hình thức kinh tập gồm có những bài thơ kệ dài ngắn khác nhau xen lẫn những bài văn xuôi. Nội dung chia làm 5 phẩm: Xà phẩm, Tiểu phẩm, Đại phẩm, Nghĩa phẩm và Bỉ ngạn đạo phẩm, trong đó, Nghĩa phẩm và Bỉ ngạn đạo phẩm là 2 phẩm được lưu hành rất sớm, có thể nói đây là tác phẩm xưa nhất trong Thánh điển Phật giáo nguyên thủy. - Phẩm Xà(Pàli:Uragavagga) có 12 kinh, trong đó Xà kinh ví dụ tỉ khưu tu hành phải xa lìa sự phân biệt bờ bên này bờ bên kia, giống như con rắn lột bỏ da cũ; còn kinh Tê giác thì gồm các bài nổi tiếng nói về người tu hành cần phải độc lập như con tê giác 1 sừng. - Tiểu phẩm có 14 bài kinh ngắn. - Đại phẩm có 12 bài kinh dài, trong đó, kinh Xuất gia, kinh Tinh cần và kinh Na lạc ca là những tư liệu sớm nhất ghi chép về truyện đức Phật còn được bảo tồn; bài kinh thứ 9 nói về lí 4 tính bình đẳng, bài kinh thứ 12 thuyết mình về lí duyên khởi. - Nghĩa phẩm (Pàli: Atthakavagga): gồm 16 kinh được gọi là phẩm Bát kệ vì phần lớn những bài kinh trong phẩm này đều do 8 bài kệ hợp thành, như: kinh Quật bát kệ(kinh thứ 2), kinh Sân nộ bát kệ(kinh thứ 3). Phẩm này tương đương với kinh Nghĩa túc trong Hán dịch (cũng có 16 kinh). - Bỉ ngạn đạo phẩm (Pàli: Pàràyanavagga) nội dung gồm có 18 tiết, tiết đầu tiên là bài tựa, tiết cuối cùng là lời kết thúc, 16 tiết còn lại thì nói về việc đức Phật trả lời cho 16 thiếu niên về những điều họ thưa hỏi. Trong Đại tạng kinh Nam truyền quyển 24, nhà học giả Nhật bản là ông Thủy dã Hoằng nguyên có cho biết về mối quan hệ giữa Kinh tập với Kinh, Luật, Luận khác và các kinh điển Hán dịch như sau: Kinh tập và Kinh nghĩa túc Hán dịch có 236 bài kệ tương đương(đã trừ những bài kệ trùng lặp), ngoài ra, bộ Đại sự bằng tiếng Phạm và trong hơn 10 bộ kinh, luật, luận Hán dịch như: Kinh Tạp a hàm, kinh Phật bản hạnh tập, luật Hữu bộ, kinh Trung a hàm, luận Đại trí bộ, luật Tứ phần, v.v... mỗi bộ đều có hơn 20 bài kệ tương đương với những bài kệ tụng trong Kinh tập. Trong tổng số 1149 bài kệ tụng trong các Kinh, Luật, Luận khác, hiện nay Kinh tập đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Bản dịch tiếng Anh có: S.B.E. vol. X, part II (Tr. by V. Fausbôll) 1881; S.B.B.15 (Woven Cadences of Early Buddhist, Tr. by E.M. Hare) 1945; Hos. 37 (Buddha’s Teachings, Tr. by Lord Chalmers) 1932. Bản dịch tiếng Đức có: K.E. Newmann (Die Reden Gotamo Buddho’s) München 1905; Nyàna-tiloka (Das Wort des Buddha) Leipzig 1923. Bản dịch tiếng Nhật có: Quốc dịch Đại tạng kinh Kinh bộ tập 13(Lập hoa Tuấn đạo), Thích ca mâu ni Thánh huấn tập (Địch nguyên Vân lai), Nam truyền Đại tạng kinh quyển 24(Thủy dã Hoằng nguyên). Ngoài ra còn có bản hiệu đính của: Dines Andersen anh Helmer Smith (Suttanipàta) new ed. (P.T.S., London 1948). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Nyànatiloka: Das Wort des Buddha; R. Hoernle: The Sutta nipàta in a Sanskfit Version from Eastern Turkestan (J.R.A.S. 1916); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II].

kinh tứ

(經笥) Nguyên chỉ cho cái rương chứa kinh, sau được dùng để chỉ cho người thông suốt kinh điển. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 293 thượng), nói: Kinh tứ, Pháp tướng là lời những người học ở Ấn độ tôn xưng pháp sư Huyền trang. Đại đường tây vực kí quyển 12 (Đại 51, 946 trung), ghi: Tiếng tăm vang xa muôn dặm, người học Ấn độ đều kính ngưỡng danh đức, cho nên gọi là Kinh tứ, cũng gọi là Pháp tướng.

kinh vương

(經王) Vua trong các Kinh. Trong các kinh Hiển giáo cũng như Mật giáo, thường có kinh tự xưng là Kinh vương hoặc được khen ngợi là Kinh vương. Như phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa quyển 4, phẩm Dược vương bồ tát bản sự kinh Pháp hoa quyển 6, phẩm Tựa kinh Kim quang minh quyển 1, phẩm Chúc lụy trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 8, v.v... đều tự xưng là Kinh vương. Trong Đại tạng kinh Tây tạng, cũng có nhiều kinh dùng hiệu xưng Đát đặc la vương (Phạm: Tantra-ràja), như: Cát tường bí mật kim cương đát đặc la vương, Cát tường bảo man đát đặc la vương, Cát tường trí tuệ tâm tủy đại du kì mẫu đát đặc vương trung vương.

Kinh điển

(經典): tức giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết, về sau tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難) và chư tôn đức khác kết tập giáo pháp ấy. Ban đầu thì dùng văn chương truyền khẩu, sau đó ghi lại bằng văn chương; phàm văn cú, thư tịch đều gọi là kinh điển. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 1, Phẩm Tựa (序品), có đoạn rằng: “Thánh chúa sư tử, diễn thuyết kinh điển, vi diệu đệ nhất (聖主師子、演說經典、微妙第一, sư tử chúa các bậc Thánh, diễn thuyết kinh điển, vi diệu số một).” Hay trong bài văn Tô Châu Trùng Huyền Tự Pháp Hoa Viện Thạch Bích Kinh Bi (蘇州重玄寺法華院石壁經碑) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường cũng có đoạn: “Phật Niết Bàn hậu, thế giới hư không, duy thị kinh điển, dữ chúng nhân câu (佛涅槃後、世界空虛、惟是經典、與眾生俱, sau khi Phật nhập Niết Bàn, thế giới [trống rỗng như] hư không, chỉ có kinh điển, cùng mọi người tồn tại).” Hoặc như trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文), lại có đoạn: “Nhãn trung thường kiến như thị kinh điển, nhĩ trung thường văn như thị kinh điển, khẩu trung thường tụng như thị kinh điển, thủ trung thường thư như thị kinh điển, tâm trung thường ngộ như thị kinh điển, nguyện sanh sanh thế thế, tại tại xứ xứ, thường đắc thân cận Hoa Tạng nhất thiết thánh hiền (眼中常見如是經典、耳中常聞如是經典、口中常誦如是經典、手中常書如是經典、心中常悟如是經典、願生生世世、在在處處、常得親近華藏一切聖賢, trong mắt thường thấy kinh điển như vậy, trong tai thương nghe kinh điển như vậy, trong miệng thường tụng kinh điển như vậy, trong tay thường chép kinh điển như vậy, trong tâm thường ngộ kinh điển như vậy, nguyện đời đời kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, thường được gần gủi hết thảy thánh hiền của thế giới Hoa Tạng).” Hòa Thượng Phước Hậu (1862-1949), từng là Tăng Cang và Trú Trì Chùa Báo Quốc-Huế, có để lại bài thơ rất thâm thúy rằng: “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, học hành không thiếu cũng không dư, đến nay tính lại đà quên hết, chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.”

kinh điển

Tipitaka (skt)—Những bài thuyết giảng của Đức Phật Thích Ca. Tam tạng Kinh Điển bao gồm Kinh, Luật và Luận. Phật Giáo Nguyên Thủy thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng Ba Li (Nam Phạn). Phật giáo Đại Thừa thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng tiếng Bắc Phạn—Canon—Buddhist Sutras—The discourses of Buddha—Canon—Three baskets in Pali recognized by Theravada school. Sutras were written down in Sanskrit recognized by the Mahayana school, including the sutras (kinh), Tantras (luật), and the Commentary (luận). ; (經典) Giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết, lúc đầu chỉ được truyền miệng, về sau mới dùng văn tự ghi chép thành sách, gọi là Kinh điển. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 trung), nói: Kinh điển của Bồ tát, cùng suốt mầu nhiệm. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 hạ), nói: Bậc Thánh chúa như sư tử, diễn nói các kinh điển, thực vi diệu đệ nhất.

kinh điển đại thừa

Mahayana sutras.

kinh đô đại phật

(京都大佛) Tượng Phật bản tôn Tì lô giá na ngồi, cao 28m, bằng gỗ, sơn son, thếp vàng, do ông Phong thần Tú cát tạo lập vào khoảng năm Thiên chính (1573-1592), thờ ở chùa Phương quảng, Đông sơn, thành phố Kinh đô (Kyoto), Nhật bản. Niên hiệu Khánh trường năm đầu (1596), vùng Đông sơn bị động đất, điện Phật và tượng này đều bị đổ. Đến năm Khánh trường 17 (1613), ông Tú lại là con ông Tú cát đúc 1 pho tượng Phật Thích ca ngồi bằng đồng, nhưng về sau nạn động đất lại làm cho tượng bị hư nát, nhà nước bèn gom những mảnh vụn còn lại dùng để đúc tiền, người đời gọi là tiền Đại Phật. Tượng đang thờ hiện nay là tượng bán thân bằng gỗ, do ông Trung vĩ Trương quốc tạc vào khoảng năm Thiên bảo (1830-1844), nhưng không còn giữ được phong cách xưa.

kinh đường

Sutra Hall. ; (經堂) Cũng gọi Kinh tạng. Nơi cất giữ Đại tạng kinh. (xt. Kinh Tạng).

kinh đại bi tâm đà la ni

Mahakaruna Dharani Sutra—A Sutra of the Esoteric Buddhist tradition—The Teaching of the powerful effect of the Avalokitesvara Maha-Bodhisattva Great Compassion Mantra.

kinh đại bát niết bàn

Mahaparinirvana-Sutra—Kinh thuyết về Phật nhập diệt và nhữõng giáo lý của Ngài, còn gọi là Kinh Thiên Đường. Kinh cũng bàn về lý thuyết bản tánh Phật vốn có ở mọi thực thể. Kinh được Ngài Đàm Vô Sám dịch sang Hán tự—Maha Parinirvana Sutra—Great Nirvana—The sutra or sermon of the Great Decease or passing into final Nirvana—A long sutra containing a description of the Buddha's passing and his teaching—The Paradise Sutra. The sutra also deals with the doctrine of Buddha-nature, which is immanent in all beings. The sutra was translated into Chinese by Dharmaksema.

kinh đại bửu tích

Maha Ratnakuta Sutra—Kinh được ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ, là một trong những kinh điển xưa nhất của Phật Giáo Đại Thừa. Trong Đại Bảo Tích, tư tưởng Trung Đạo được triển khai. Kinh cũng nói về trí huệ siêu việt (Bát Nhã Ba La Mật Đa trong trường Kinh A Di Đà)—Tạng kinh điển rất quan trọng gồm 6000 trang trong chín quyển chứa đựng hầu hết những giáo điển trọng đại của Đại Thừa nhằm đưa chúng sanh đến chỗ Giác Ngộ Tối Thượng của Phật quả—The sutra was translated into Chinese by Bodhiruci, one of the oldest sutras of Mahayan. In the Ratnakuta, the thought of the Middle Way is developed. It also contains sutras on transcendental wisdom (Prajan Paramita Sutra and Longer Amitabha Sutra)—A very important sutra (6000 pages in nine volumes) which contains almost all the most critical teaching of the Mahayana Tradition (Great Vehicle) to carry sentient beings to the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.

kinh đại lạc kim cang bất không chân thật tam ma đà

Adhyardhasatika-Prajnaparamita-Sutra—Còn được gọi là “Lý Thú Kinh” hoặc “Bát Nhã Lý Thú Kinh.” Đây là tinh yếu giáo lý của Mật Tông, dạy cách tu hành thành Phật ngay trong đời nầy. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—Also called “The Interesting Sutra” or “The Interesting Prajna Sutra.” It stressed on the essence of the Tantric schools that taught how to practice and become a Buddha in this very life. The sutra was translated into Chinese by Amoghavajra.

kinh đại niết bàn

Maha-Parinirvana Sutra—Great Nirvana Sutra—See Kinh Đại Bát Niết Bàn.

kinh đại phương quảng hoa nghiêm

MahaVaipulya-Avatamsaka-Sutra—Buddhavatamsaka Sutra—Kinh điển Đại Thừa gồm những giáo lý căn bản của trường phái Hoa Nghiêm, nhấn mạnh ý tưởng về “Sự thâm nhập tự do lẫn nhau” của tất cả mọi sự vật. Kinh cũng dạy rằng nhơn tâm là cả một vũ trụ và đồng nhất với Phật. Do đó, tâm, Phật, và chúng sanh không sai khác. Trường phái Thiền đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh nầy của học thuyết Đại thừa. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà La dịch sang Hán tự—The Sutra of the Garland of Buddhas. Mahayana sutra that constitutes the basis of the teachings of the Avatamsaka school (Hua-Yen), which emphasizes above all “mutually unobstructed interpenetration.” The sutra also teaches that the human mind is the universe itself and is identical with the Buddha. Indeed, the mind, Buddha and all sentient beings are one and the same. This aspects of the Mahayana teaching was especially stressed by the Chinese Zen. The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra.

kinh đại thừa

Mahayana sutras—Trong số các bộ kinh của Đại Thừa, có chín kinh sách được xem là quan trọng nhất. Các bộ kinh nầy được gọi là các kinh Phương Quảng (Vaipulya sutras)—Among the Mahayanist sutras, nine texts are regarded as the most important. These are called the Vaipulya sutras: 1) Bát Thiên Tụng: Astasahasrika-prajna-paramita. 2) Diệu Pháp Liên Hoa: Sadharma-pundarika. 3) Lăng Già: Lankavatara. 4) Phổ Diệu: Lalitavistara. 5) Kim Quang Minh: Suvarna-prabhasa. 6) Hoa Nghiêm: Gandavyuha. 7) Như Lai Mật: Tathagata-guhyaka. 8) Tam Muội Vương: Samadhi-raja. 9) Thập Địa Tự Tại: Dasabhumisvara.

kinh đại tập

Great Heap Sutra.

kinh đại tỳ lô giá na thành phật thần biến gia trì kinh

Mahavairocanabhisambodhivikur-Vitadhisthanna-vaipulya-Sutrendra-Raja-Nama-Dharmaparyaya—Đây là một trong những kinh điển căn bản của Phật giáo Mật tông, còn được gọi là Kinh Đại Nhựt Như Lai. Kinh được các Ngài Thiện Vô Úy và Nhứt hạnh cùng dịch sang Hán tự—This is one of the fundamental sutras in Tantric Buddhism. It is also called “Mahavairocana Sutra.” The sutra was translated into Chinese by Subhakarasimha and I-hsing.

kinh đại vô lượng thọ

The Great Infinite Life Sutra.

kinh đạo

Giáo thuyết của kinh—The doctrine of the sutras.

kinh đạo diệt tận

(經道滅盡) ........... Giáo pháp của đức Phật đến thời suy đồi diệt hết. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng), nói: Đời vị lai giáo pháp diệt hết, ta mở lòng từ bi thương xót chúng sinh, nên đặc biệt lưu truyền kinh này ở đời 100 năm nữa.

kinh đạt ma đa la thiền kinh

Yogacharabhumi-Sutra—Đây là kinh điển do Đạt Ma Đa La và Phật Đại Tiên biên soạn để phổ biến về phương pháp thiền định cho các trường phái Tiểu thừa vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch. Kinh được Ngài Phật Đà bạt Đà La dịch sang Hán tự. Kinh chia làm năm phần—This sutra is composed by Dharmatrata and Buddhasena in the 5th century AD on the methods of meditation for the Hinayana. The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra. The sutra was divided into five parts: 1) Mười bảy vùng đất đánh dấu sự tiến bước trên đường đại giác với sự trợ giúp của giáo lý Tiểu thừa Yogachara. Đây là phần quan trọng nhất: The seventeen stages presenting the progression on the path to enlightenment with the help of the Yogachara teaching, this is the most important part. 2) Những lý giải về những vùng đất khác nhau ấy: Interpretations of these stages. 3) Giải thích các kinh điển làm chỗ dựa cho giáo điều về các vùng đất Yogachara: Explanation of these sutras from which the Yogachara doctrine of the stages draws support. 4) Các phạm trù chứa đựng trong các kinh điển ấy: Classifications contained in these sutras. 5) Các đối tượng của kinh điển Phật giáo (kinh, luật, luận): Topics from the Buddhist canon (sutra, Vinaya-pitaka, Abhidharma).

kinh đầu

(經頭) ..... Tên một chức viên chuyên trông nom kinh sách trong Thiền lâm, hoặc chỉ cho những vị tăng đến các khu phố tụng kinh quyên tiền về tu chỉnh Đại tạng kinh. Nếu vị nào tụng kinh Bát nhã thì gọi là Bát nhã đầu, tụng kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa thì gọi Hoa nghiêm đầu, Pháp hoa đầu. [X. điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu Hoa nghiêm đầu trong Thiền uyển thanh qui Q.4).

kinh đề

(經題) ..... Cũng gọi Thủ đề. Tên của 1 bộ kinh. Nói chung, các sách Phật bằng tiếng Phạm, bất luận là kinh, luật, luận, ở đầu quyển đều có bài tựa qui kính, kế đến là phần chính văn, cuối cùng mới nêu tên sách. Các sách Phật Tạng dịch, trước hết ghi tên kinh bằng tiếng Phạm và tên Tây tạng dịch, kế đến là bài tựa qui kính và phần chính văn, cuối cùng có phụ thêm tên Tây tạng dịch và lời bạt nói về việc phiên dịch và hiệu đính, v.v... Về kinh điển Hán dịch thì phần nhiều lược bỏ bài tựa qui kính, mà đặt thủ đề và dịch đề ở trước phần chính văn và vĩ đề đặt ở phía sau. Ở trước tên kinh, dù là kinh Đại thừa hay kinh Tiểu thừa, thông thường đều có 2 chữ Phật thuyết như: Phật thuyết Đại tập pháp môn kinh, Phật thuyết Vô lượng thọ kinh, Phật thuyết Thủ lăng nghiêm tam muội kinh, v.v... Ngoài ra, trong Kim cương bát nhã kinh sớ quyển 1, ngài Cát tạng nói có 2 loại kinh đề: Đầy đủ và gọi tắt. Như: Phật thuyết Kim cương bát nhã là đầy đủ, còn Kim cương bát nhã là gọi tắt. [X. Tịnh danh huyền luận Q.2 (Cát tạng); Đại thừa tứ pháp kinh thích (bản Đôn hoàng)].

kinh địa tạng

Ksitigarbhapranidhana-Sutra—Kinh Địa Tạng, nói về một vị Bồ Tát ở vào thời kỳ vô Phật, tức là thời kỳ giữa lúc Phật Thích Ca nhập diệt và Phật Di Lặc ra đời. Trong thời ký nầy không có một vị Phật nào cả; tuy nhiên, thế giới Ta Bà vẫn có Bồ Tát Địa Tạng với bổn nguyện rộng lớn là cứu độ mọi chúng sanh đau khổ của địa ngục. Kinh được Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch sang Hán tự—Earth Store Sutra mentioned about the Buddhaless period, the period from the time the nirvana of the historical Buddha until the time the coming Buddha Maitreya descends. In this period, ther is no Buddha; however, the Saha world still has Earth-Store Bodhisatva who vows to save all beings in hells. The sutra was translated into Chinese by Siksananda.

kinh đồng

(經筒) ..... Cũng gọi Như pháp kinh đồng. Những ống hình tròn hoặc hình bát giác phần nhiều làm bằng gỗ, bên ngoài có vẽ hoa văn bằng mực kim nhũ, nếu chôn xuống đất, thì mạ vàng, bạc, hoặc đổi làm bằng sắt, sứ, đá, v.v... để khỏi bị mục nát. Ngài Tuệ tư ở thời Nguyên Ngụy, sợ rằng thời mạt pháp Phật giáo sẽ bị diệt mất, cho nên ngài chế tạo Kinh đồng để cất giữ kinh văn, với niềm hy vọng 5.600.000 năm sau, trước khi Phật Di lặc ra đời, các kinh điển Phật giáo vẫn được bảo tồn nguyên vẹn và lưu truyền tốt đẹp. Tương truyền, điều này được thấy trong văn phát nguyện của ngài, nhưng sự thật về việc này chưa khảo chứng được rõ ràng. Ở Nhật bản, cách chế tạo Kinh đồng được lưu hành phổ biến, lí do là để cầu siêu cho vong linh và kết duyên với chúng sinh. Trong đó, những Kinh đồng nổi tiếng và xưa nhất là những Kinh đồng do Đằng nguyên Đạo trường chôn ở núi Kim phong tại huyện Nại lương vào năm Khoan hoằng thứ 4 (1007). Ngoài ra, tại Nhật bản, Kinh đồng được thịnh hành nhất là thời đại Liêm thương và thời Túc lợi. Đời sau người ta đào được những Kinh đồng với nhiều hình dáng khác nhau. Kinh đồng ở thời kỳ đầu cao khoảng 20 đến 30 phân Tây, đường kính trên miệng rộng nhất là 15 phân, chế tạo rất khéo. Còn những Kinh đồng ở thời kì sau thì hình ngoài nhỏ hơn, kiểu dáng cũng sơ sài hơn. Chất liệu cũng có nhiều loại, hoặc bằng đồng, đồng xanh, đồng vàng, sắt, sứ, đá, v.v... Nắp Kinh đồng cũng có nhiều hình dạng và trên nhiều nắp có khắc chữ. (xt. Kinh Trủng).

kiêm

Cả hai—Both—Also.

kiêm hành lục độ phẩm

(兼行六度品) Chỉ cho phẩm thứ 4 trong 5 phẩm quán hạnh của tông Thiên thai. Phẩm Phân biệt công đức kinh Pháp hoa, đối với các vị đệ tử sau khi đức Như lai nhập diệt mà nói về công đức của 5 phẩm quán hạnh, trong đó, phẩm thứ 4 tức là phẩm Kiêm hành lục độ. Nội dung phẩm này, ngoài việc tu chính quán ra, còn tu cả Lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, Thiền định và Bát nhã để giúp cho việc quán tâm, vì thế gọi là phẩm Kiêm hành lục độ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Phẩm Đệ Tử Vi).

kiêm lợi

Cả hai cùng có lợi (cả mình lẫn người đều được lợi lạc)—Mutual benefit; to benefit self and others. ; (兼利) Lợi mình và lợi người, đây là tinh thần cơ bản của Bồ tát Đại thừa. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

Kiêm đái (đới)

兼帶; C: jiāndài; J: kentai;|Dùng một việc cho hai hay nhiều mục đích.

kiêm đãn đối đới

(兼但對帶) Tên gọi chung 4 giáo trước trong 5 thời phán giáo của tông Thiên thai. Thời thứ 1 là thời Hoa nghiêm, nói gồm cả Viên giáo và Biệt giáo, cho nên gọi là Kiêm. Thời thứ 2 là thời A hàm, chỉ nói về Tạng giáo, cho nên gọi là Đãn. Thời thứ 3 là thời Phương đẳng, nói chung cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên đối nhau, cho nên gọi là Đối. Thời thứ 4 là thời Bát nhã, nói về Viên giáo kèm theo Tạng, Thông, Biệt, cho nên gọi là Đới(đeo theo). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 thượng (Đại 33, 682 trung), nói: Nên biết Hoa nghiêm là Kiêm, Tam tạng là Đãn, Phương đẳng là Đối, Bát nhã là Đới. Kinh này (Pháp hoa) thì không kiêm, không đãn, không đối, không đới, mà chỉ nói về đạo chính chân vô thượng, cho nên gọi là Diệu pháp.

kiêm đản đối đới

Bốn thời kỳ đầu của giáo thuyết Phật Đà được tông Thiên Thai định nghĩa là Kim Đản Đối Đới (bốn thời kỳ nầy đều nói về tướng)—The first four of the five periods of Buddha's teaching defined by the T'ien-T'ai sect. 1) Kim: Thời Hoa Nghiêm nói về Viên Giáo và Biệt Giáo—Combined teaching, including the complete and differentiating doctrines, the period of Avatamsaka Sutra. 2) Đản: Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo Tiểu Thừa—Sole, i.e. Hinayana only, that of Agamas. 3) Đối: Thời Phương Đẳng, bốn giáo Tạng Thông Biệt Viên được thuyết giảng đối chiếu với nhau—Comparative, all four forms of doctrines being compared, the period of the Vaipulya Sutras. 4) Đới: Thời Bát Nhã Viên giáo được hé mở để hoàn thiện những giáo thuyết ở Tạng Thông Biệt—Inclusive, that of the Prajna, when the perfect teaching was revealed as the fulfilment of the rest.

Kiên

堅; C: jiān; J: ken; S: kathina|Có các nghĩa sau: 1. Cứng, mạnh, rắn, chắc, không linh động; 2. Sự cứng rắn có thể thấy được nơi tảng đá. Phẩm chất đặc biệt của địa đại; 3. Nhất định, kiên quyết. Duy trì; 4. Tôi luyện, củng cố, tăng cường; 5. Áo giáp; 6. Nặng.

kiên

1) Vai: Shoulder. 2) Kiên định: Drdha (skt)—Firm—Firmly fixed—Reliable.

kiên chí

Persevering—Constant—Patient

Kiên chấp

堅執; C: jiānzhí; J: kenshū; |Chấp cứng, chấp chặc.

Kiên cố

堅固; C: jiāngù; J: kengo; |Có các nghĩa sau: 1. Vững chắc, kiên định; 2. Có một khuynh hướng cố hữu về tính vĩnh cửu (s: anitya-asāra-saṃjñā); 3. Tồn tại cụ thể (s: dhrdha-sāra); 4. Không giảm bớt, không lui sụt, không tái phạm; 5. Dứt khoát.

kiên cố

Vững chắc không thay đổi hay không bị lay chuyển—Firm and sure.

kiên cố huệ

Trí huệ không gì lay chuyển được—Strong in wisdom.

kiên cố kinh

(堅固經) Kinh, do ngài Phật đà da xá và ngài Trúc phật niệm cùng dịch vào đời Hậu Tần, Trung quốc, được thu vào Trường a hàm quyển 16 trong Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc khi đức Phật ở tại thành Na nan đà, có 1 trưởng giả tên là Kiên cố, 3 lần xin đức Phật cho phép các vị đệ tử được thị hiện thần túc và pháp thượng nhân để khiến cho các trưởng giả Bà la môn tin phục. Đức Phật liền bảo trưởng giả Kiên cố rằng (Đại 1, 101 trung): Ta chỉ dạy các đệ tử của ta ở những nơi vắng vẻ, tĩnh lặng để tư duy về đạo, nếu có công đức thì nên tự dấu đi, còn nếu phạm lỗi lầm thì phải tự bày tỏ. Sau đó, đức Phật giải thích lí do vì sao Ngài không cho phép các đệ tử thị hiện thần thông và pháp thượng nhân.

kiên cố lâm

Rừng cây Sa La nơi Đức Phật nhập diệt (vì rừng cây Sa La không hề tàn dù hạ hay dù đông nên gọi là Kiên Cố Lâm)—The grove of Sala trees, in which Sakyamuni died. ; (堅固林) Tức là Sa la thụ lâm. Sa la, Phạm:Zàla.Pàli:Sàla. Dịch ý: Kiên cố. Cũng gọi: Kiên lâm, Song thụ lâm, Hạc lâm, Tứ khô tứ vinh thụ. Theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ,Zàla dịch là Cao viễn thì chính xác hơn. Còn Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 3, thì cho rằng loại cây này cứng chắc, mùa hạ mùa đông không thay đổi, nên gọi là kiên cố (Zàla). Tại thành Câu thi na yết la, bên bờ sông Bạt đề, lúc đức Phật sắp vào Niết bàn, chỗ đặt giường nằm của Ngài, ở 4 góc đều có câyZàla. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.2]. (xt. Sa La Thụ).

kiên cố nữ

(堅固女) Tên một người Ưu bà di, phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Thủa xưa, lúc đức Phật ở tại vườn cây của thái tử Kì đà và ông Cấp cô độc nói về việc người nữ muốn phát tâm rộng lớn, thì phải xa lìa các lỗi nịnh hót, ghen ghét, tham lam, tà ngụy, v.v... Khi ấy, ưu bà di Kiên cố liền ở trước đức Phật chắp tay phát nguyện rằng: Con vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh, nên phát tâm đại bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Phát nguyện xong, ưu bà di Kiên cố được đức Phật thụ kí. [X. kinh Kiên cố nữ].

kiên cố nữ kinh

(堅固女經) Cũng gọi Kiên lao nữ kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Na liên đề da xá (517-589) dịch vào năm Khai hoàng thứ 2 (582) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này kể lại việc ưu bà di Kiên cố vì muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh không đoạn dứt hạt giống Phật và hạt giống Nhất thiết trí, nên phát tâm vô thượng bồ đề, không sợ sinh tử lưu chuyển trong 3 cõi. Kinh này đứng trên lập trường của Đại thừa, chủ trương người tu hành phải lập chí của bậc đại trượng phu làm lợi ích rộng lớn cho hết thảy chúng sinh, đồng thời, chê bai chỗ thấy biết của Tiểu thừa, La hán, Thanh văn, Duyên giác, Bích chi Phật... [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.6; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

kiên cố pháp thân

(堅固法身) Cũng gọi Đại long bại hoại pháp thân, Đại long pháp thân. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc thiền sư Trí hồng Hoằng tế đời Tống ở núi Đại long, trả lời câu hỏi của một vị tăng. Tắc 82 Bích nham lục (Đại 48, 208 thượng) chép: Tăng hỏi Đại long: Sắc thân rữa nát, thế nào là pháp thân kiên cố? Đại long đáp: Hoa núi nở như gấm, nước khe trong như gương. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.8; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.35].

kiên cố trưởng giả

(堅固長者) Phạm:Muktà-sàra. Cũng gọi: Kiên cố giải thoát trưởng giả. Gọi tắt: Kiên cố. Vị thiện tri thức thứ 46 trong số 55 vị thiện tri thức ở phương nam mà Đồng tử Thiện tài đến tham vấn trên đường cầu pháp. Phẩm Nhập giới kinh Hoa nghiêm (Đại 10, 878 thượng), chép: Bấy giờ, Thiện tài (...) đứng ở 1 bên bạch rằng: Thánh giả! Tôi đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, nhưng chưa biết học hạnh Bồ tát và tu đạo Bồ tát như thế nào? Tôi nghe Thánh giả có thể dạy bảo, xin Ngài dạy cho. Trưởng giả đáp: Thiện nam tử! Tôi được pháp giải thoát của Bồ tát, tên là Thanh tịnh niệm vô trước. Từ khi tôi được giải thoát đến nay, pháp nguyện đầy đủ, nơi chư Phật 10 phương, không còn mong cầu. Thiện nam tử! Tôi chỉ biết pháp tịnh niệm giải thoát này.

kiên cố xá lợi

(堅固舍利) Chỉ cho pháp thân chân thực của Phật không thể bị phá hoại. Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá quyển thượng (Đại 26, 3 thượng) chép: Nói xá lợi kiên cố của tất cả chư Phật, có nghĩa là pháp thân chân thực của Như lai không thể bị phá hoại.

kiên cố ý

Ý chí vững chắc không gì lay chuyển được—Firm-willed.

kiên cố ý bồ tát

Kiên Cố Ý Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—Firm-Willed Bodhisattva in the Garbhadhatu. ; (堅固意菩薩) Kiên cố ý, Phạm:Dfđhàdhyàzaya. Dịch âm: Niết lí đồ địa dã xá dã, Địa lợi đát địa dã xá dạ. Tạng: Lhag-pa#i bsam-pa brtan-pa. Cũng gọi: Kiên cố huệ bồ tát, Kiên cố bồ tát, Kiên cố thâm tâm bồ tát, Kiên ý bồ tát. Vị tôn thứ 8 ngồi ở khoảng giữa bồ tát Trừ cái chướng và bồ tát Trì địa, là 1 trong 9 tôn vị của viện Địa tạng trong Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Hình tượng của vị tôn này, thân mầu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, tay phải cầm hoa sen nở, trên hoa sen có ngọn lửa yết ma kim cương, tay trái nắm lại, ngửa lên, đặt trên đầu gối. Chủng tử là (ịaô), biểu thị nội chứng kiên cố không hư hoại. Hình Tam muội da là 10 chữ kim cương trên hoa sen. Ngoài ra, Kiên cố còn chỉ cho địa đại, Ý chỉ cho tâmđức của địa đại. Ba chữ Kiên cố ý hợp lại là hiển bày đức nội chứng của bồ tát Địa tạng. Vị tôn này làm lợi ích cho chúng sinh hơn hẳn các vị tôn khác, cho nên có mật hiệu là Siêu việt kim cương. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Nhiếp đại nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao].

kiên gan

Persevering—Patient.

kiên hành thiên tử

(堅行天子) Vị Thiên tử kéo xe mặt trời, mặt trăng, ví dụ sự việc rất nhanh chóng. Pháp uyển châu lâm quyển 1 (Đại 53, 273 trung), nói: Sự nhanh chóng của vị trời kia không sánh kịp mặt trời mặt trăng, sự nhanh chóng của mặt trời mặt trăng không sánh kịp thiên tử Kiên hành.

kiên hạ

Vai kề vai—Shoulder by shoulder—One next to another.

kiên lao

Chỉ sự vững chắc của đất—Firm and stable; that which is stable, the earth.

kiên lao tâm

(堅牢心) Chỉ cho tâm chính tín bền vững, không chuyển lui. Kinh Bản hạnh tập quyển 6 (Đại 3, 681 thượng), nói: Chính tín là cửa đưa đến trí tuệ sáng suốt, hiểu thấu các pháp, nhờ đó mà lòng tin bền vững, không gì phá hoại được.

kiên lao địa thiên

(堅牢地天) Phạm:Pfthivì. Dịch âm: Tỉ lí để tì, Bát la thể phệ, Tất lí thể vi. Cũng gọi: Kiên lao, Kiên cố địa thần, Kiên lao địa thần, Địa thần thiên, Kiên lao địa kì, Trì địa thần, Địa thiên. Vị thần coi về đất đai. Một trong 12 vị trời ở cõi Sắc. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8, khi đức Phật Thích ca thành đạo, có vị Địa thần thứ 1 từ dưới đất vọt lên để hàng phục các ma, rồi đến vị Địa thần thứ 2 xuất hiện để minh chứng sự thành đạo của Ngài. Phẩm Hàng ma trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 9 cũng chép: Đức Phật vừa thành đạo thì Địa thần từ dưới đất vọt lên để chứng minh, cúi mình cung kính, bưng chiếc bình làm bằng 7 thứ báu, trong đó đựng đầy hương hoa, dâng cúng dường Phật. Trong Mạn đồ la Thai tạng của Mật giáo có vẽ 2 vị Kiên lao địa thiên nam và nữ. Vị Địa thiên nam ngồi trên tòa tròn, thân mầu đỏ, đội mũ báu, tay trái bưng bát, trong bát có hoa tươi, tay phải đặt ở trước ngực, bàn tay hướng ra ngoài, hình Tam muội da là bình báu, chủng tử là (pf). Vị Địa thiên nữ ở bên trái(hoặc phía sau)vị Địa thiên nam, cũng ngồi trên tòa tròn, thân mầu trắng, đội mũ báu, tay phải để trước ngực, tay trái đặt trước bụng. Trong hội Thành thân của Mạn đồ la Kim cương giới thì vị tôn nữ này 2 cánh tay ôm một vòng tròn, trong mũ báu có hình bán nguyệt, chủng tử là (aô), hình Tam muội da là hình vuông hoặc bình báu. Vào thời thái cổ, tại Ấn độ, vị thần này rất được tôn sùng. Các sách Lê câu phệ đà, A thát bà phệ đà, v.v... đều ca tụng vị nữ thần này có đủ các đức tính vĩ đại, kiên cố, bất diệt, nuôi dưỡng quần sinh, sinh trưởng đất đai... Lê câu phệ đà còn cho vị thần này là mẹ của các thần và tôn xưng là Địa mẫu (Phạm:Bhùmì). Kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8 cho rằng tên gọi Kiên lao địa thần (Phạm:Dfđhà-pfthivì-devatà) là do cái đức bền chắc của vị thần này mà ra, về sau vị thần này được Phật giáo tôn làm Bồ tát và thờ cúng. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) nói có vô lượng vô số Chủ địa thần như: Phổ đức tịnh hoa chủ địa thần, Kiên phúc trang nghiêm chủ địa thần, Diệu hoa nghiêm thụ chủ địa thần, Phổ tán chúng bảo chủ địa thần, Tịnh mục quan thời chủ địa thần, Diệu sắc thắng nhãn chủ địa thần, Hương mao phát quang chủ địa thần, Duyệt ý âm thanh chủ địa thần, Diệu hoa toàn kế chủ địa thần, Kim cương nghiêm thể chủ địa thần, v.v... Trong Mật giáo, pháp tu cúng dường để cầu cho đất nước phồn vinh, giữ yên quốc thổ, thì gọi là Địa thiên cúng hoặc Thổ công cúng. [X. kinh Tạp a hàm Q.15; kinh Phật bản hạnh tập Q.29; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; luật Ngũ phần Q.15; luận Đại tì bà sa Q.183; Đại nhật kinh sớ Q.4; Thanh long tự nghi quĩ Q.hạ; Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.9].

kiên lao địa thiên nghi quỹ

(堅牢地天儀軌) Cũng gọi Địa thiên nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Thiện vô úy dịch vào năm Khai nguyên thứ 5-23 (717- 734), thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung trình bày nghi thức lễ bái cung kính cúng dường Kiên lao địa thiên và Công đức thiên; đồng thời, nói về cách tụng chân ngôn và kết ấn Căn bản thân của vị trời này, v.v... Nếu tu hành tinh tiến thì sẽ được đại biện tài, đại trí tuệ, được tăng thêm tuổi thọ, công đức vô lượng và mọi sự nghiệp đều viên mãn. Nghi quĩ này tuy nói về Kiên lao địa thiên và Công đức thiên, nhưng chủ yếu là trình bày việc làm lợi ích cho trời, người của Kiên lao địa thiên.

kiên lao địa thần

Còn gọi là Kiên Lao Địa Thiên, hay Kiên Lao Địa Kỳ, tên của vị Nữ Thần Đại Địa, tức là đất vững bền và Thần kiên cố—The earth-goddess, or deity, or spirit.

kiên mãn bồ tát

Dhrtiparipurna (skt)—Vị Bồ Tát kiên cố viên mãn, về sau thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Phật—The firm and complete bodhisattva, who is to be Buddha Padma-vrsabha-vikramin, attending on Padmaprabha.

kiên ngạnh mộc

xem khư-đà-la.

kiên nhẫn

Persevering—Patient.

kiên pháp

Ba việc bảo đảm cho những người tín tâm vào tái sanh (ý nói nếu quên đi thân mệnh, vứt bỏ của cải thế tục mà tu đạo thì sẽ có được cái thân vô cực, cái mệnh vô cùng, và cái tài vô tận)—The three things assured to the faithful in reincarnation. 1) Thân tướng hảo: Người tu đạo sẽ được cái thân vô cực—A good body. 2) Trường Thọ: Mệnh vô cùng—A long life. 3) Tài sản vô biên: Tài vô tận—Boundless wealth. ; (堅法) Pháp bền chắc không hư nát. Người tu hành xả bỏ thân mệnh và tài sản quí báu thì đạt được thân vô biên, mệnh vô cùng, tài sản vô tận. Ba thứ ấy cho dù trời đất có bị thiêu hủy thì nó cũng không bị mất, kiếp số có cùng tận thì nó cũng không hết, vì thế nên gọi là Kiên pháp. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 543 thượng), nói: Nên quán 5 dục vô thường để cầu gốc thiện; đối với thân mệnh, của cải, nên tu kiên pháp. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng nêu 6 loại Kiên pháp: 1. Tín kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập trụ tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Chân đế, nên không bị hủy hoại. 2. Pháp kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập hạnh tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Tục đế, nên không bị hủy hoại. 3. Tu kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập hồi hướng tu tập Không quán, biết tất cả pháp đều là Trung đế, nên không bị hủy hoại. 4. Đức kiên: Bồ tát Biệt giáo ở giai vị Thập địa tu tập Trung quán, phá 1 phần vô minh, hiển 1 phần tam đức, nên không bị hủy hoại. 5. Đính kiên: Bồ tát Đẳng giác của Biệt giáo ở bậc cao nhất trong Thập địa, phá hoặc, hiển đức, nên không bị hủy hoại. 6. Giác kiên: Quả Phật Diệu giác của Biệt giáo, biết rõ tất cả đều là Trung đạo, nên không bị hủy hoại.

kiên phục

(堅伏) Phạm: Kanpila. Một trong những vị đệ tử của đức Phật được nói đến trong kinh Vô lượng thọ. Trong kinh Đại A di đà, Kiên phục được gọi là Chân bề để. Còn trong kinh Trang nghiêm thì Ngài được gọi là Khẩn tị lí. [X. Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa Q.1; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.1].

kiên quyết

Firm—Determined.

kiên thân

See Kim Cang Thân.

Kiên thật tâm

堅實心; C: jiānshíxīn; J: kenjitsushin; |Tâm chân thật mà tất cả chúng sinh đều vốn có. Chân tâm; tâm như chính từ chân tánh. Một trong bốn dạng tâm.

kiên thắng pháp giới toà

(堅勝法界座) Cũng gọi Tu di tọa. Tòa ngồi có hình dáng núi Tu di của đức Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Kim cương đính nghĩa quyết quyển thượng (Đại 39, 814 trung), nói: Tòa ngồi này phóng ra ánh sáng báu nhiều mầu sắc, tạo thành núi Diệu cao (núi Tu di) gọi là Kiên thắng pháp giới tọa. Tòa báu này cao lớn, hình dáng giống như núi Tu di, nên người sau gọi là Tu di tọa.

kiên thệ sư tử

Sư Tử Kiên Thệ, hay thệ nguyện xả thân của sư tử khi đã ngộ đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp khi còn ở nhân vị đã nói về công đức của áo cà sa cho sư tử Kiên Thệ lông vàng nghe. Nghe xong sư tử bèn thể nguyện xả thân—The firmly vowing lion, i.e. Sakyamuni in a previous incarnation. ; (堅誓師子) Sư tử Kiên thệ, tiền thân của đức Thích ca khi còn ở nhân vị tu hạnh Bồ tát, được ghi trong truyện Bản sinh. Cứ theo kinh Báo ân quyển 7 và phẩm Kiên thệ sư tử trong kinh Hiền ngu quyển 13, ở đời quá khứ, đức Thích ca từng làm thân sư tử, tên là Kiên thệ. Sư tử Kiên thệ có bộ lông mầu vàng rực rỡ, thấy 1 vị Bích chi Phật, uy nghi thanh tịnh, thường đến gần nghe Ngài tụng kinh. Bấy giờ có người thợ săn thấy sư tử có bộ lông quí, muốn giết để lột da dâng lên vua. Anh thợ săn liền dùng mưu, ngụy trang làm vị sa môn, vào núi ngồi dưới 1 gốc cây; sư tử trông thấy, ngỡ là vị tỉ khưu thật, liền đến liếm chân anh thợ săn, anh ta thừa cơ dùng tên tẩm thuốc độc bắn vào sư tử. Bị trúng tên độc, sư tử muốn vồ lấy anh thợ săn, nhưng nó chợt nghĩ: Đây là vị sa môn mặc áo hoại sắc (ca sa), là hình ảnh của chư Phật 3 đời, là tiêu biểu của Hiền thánh, ta quyết không sinh tâm ác, dù phải bỏ mạng.

kiên thứ

(肩次) Cũng gọi Kiên hạ, Hạ kiên. Đối lại: Kiên thượng, Thượng kiên. Chỉ cho những người có cương vị, tuổi hạ và chức vụ thấp trong Thiền lâm, tức y theo vai vế, địa vị trên mà sắp đặt địa vị dưới. Điều Tạ quải đáp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1142 thượng), nói: Phó tham đến trước, tiếp theo là Tham đầu, Kiên thứ, tất cả đều chờ vị Trụ trì tới. (xt. Thượng Kiên).

kiên thực

Kiên thật—Firm and solid.

kiên thực tâm

Tâm kiên thật không gì có thể thay đổi hay lay chuyển được—Firm heart.

kiên thực tâm hợp chưởng

(堅實心合掌) Phạm: Neviịa. Dịch âm: Ninh vĩ noa. Gọi tắt: Kiên thực hợp chưởng. Hai bàn tay chắp lại thật sát nhau. Là cách chắp tay thứ nhất trong 12 cách chắp tay của Mật giáo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Thập Nhị Hợp Chưởng).

kiên toà

(堅座) Kiểu ngồi xổm, tức ngồi 2 chân chụm lại, mông không chạm sát đất. Kiên tọa có thể đã viết lầm từ Hiền tọa. (xt. Hiền Tọa).

kiên trì

To persevere.

kiên trí

1) Trí huệ không có gì có thể thay đổi hay lay chuyển được: Firm knowledge or wisdom. 2) Tên của Kim Cang Thần: Name of Vajrapani—See Vajrapani in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kiên tuệ

See Kiên Ý. ; (堅慧 ) Phạm: Sāramati. Dịch âm: Sa ra mạt để. Cao tăng Ấn độ, thuộc dòng dõi Sát đế lợi, trụ ở chùa Na lan đà, miền Trung Ấn độ. Thủa nhỏ, ngài đã thông minh mẫn tiệp, rất giỏi ngoại điển. Sau khi xuất gia, ngài học tập cả giáo lí Đại Tiểu thừa, thông hiểu sâu sắc, nhưng khế hợp với tư tưởng Đại thừa hơn. Theo điều Phạt lạp tì quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 11, ngài đến ở nước Phạt lạp tì, tại đây, ngài cùng với ngài Đức tuệ soạn chung luận A chiết la để xiển dương giáo lí. Nhưng, theo Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ quyển thượng, thì ngài Kiên tuệ ra đời vào khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt, còn ngài Đức tuệ thì xuất sinh khoảng 900 năm sau đức Phật nhập diệt(tức khoảng hậu bán thế kỉ V đến tiền bán thế kỉ VI), cho nên rất khác với niên đại của ngài Kiên tuệ ở trên. Ngoài ra, còn điểm gây tranh cãi nữa là: Phải chăng ngài Kiên tuệ này và ngài Kiên tuệ soạn bộ luận Pháp giới vô sai biệt cùng với ngài Kiên ý (Phạm:Sthiramati, hoặc Sàramati) soạn bộ luận Nhập đại thừa cùng là 1 người? Về điểm này, có thuyết cho rằng 2 vị là 1 người, có thuyết căn cứ vào tên chữ Phạm giống nhau mà cho cả 3 người là 1. Ngài có các tác phẩm: Luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính, luậnPháp giới vô sai biệt. [X. điều Ma yết đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện kí; Đại thừa pháp giới vô sai biệt luận sớ Q.thượng].

kiên tâm chính ý kinh

(堅心正意經) Cũng gọi: Kiên ý kinh, Kiên tâm kinh, Kiên kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào năm Kiến hòa thứ 2 đến năm Kiến ninh thứ 3 (148-170) đời Đông Hán, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này ghi lại 10 điều mà đức Phật răn dạy ngài A nan, như tu trì nhẫn nhục làm đầu, có thể diệt trừ muôn điều ác; hoặc trong thời gian ngắn 1 ngày, nửa ngày, cho đến khoảng 1 sát na nghe Phật pháp cũng có thể được vô lượng phúc báo, v.v... Bản dịch khác của kinh này còn có bản do ngài Chi khiêm dịch vào thời Ngô đời Tam quốc, nhưng rất tiếc đã bị thất lạc. [X. Chúng kinh mục lục Q.3 (Pháp kinh); Khai nguyên thích giáo lục Q.15; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.24].

kiên vong bà luận

(肩亡婆論) Tên 1 bộ luận thuộc 8 luận trong 18 Đại kinh của ngoại đạo Ấn độ. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần dưới, thì luận Kiên vong bà là bộ luận lựa chọn các pháp thị phi, hoặc có thuyết cho rằng đây là bộ luận của Ấn độ cổ đại với tên Phạm làMimàôsa; song các học giả hiện tại thì căn cứ vào bộPrasthànabhedamà cho rằng Kiên vong bà thực ra là đã viết lầm từ Mi vong sa.

kiên ý

Sthiramati (skt)—Còn gọi là Kiên Tuệ—Firm mind, also called firm wisdom. 1) Tâm ý hay trí tuệ kiên cố không gì có thể thay đổi hay lay chuyển được: Firm mind or wisdom. 2) Bồ Tát Sa La Mạt Để, thuộc Phật Giáo Đại Thừa, xuất hiện sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm: Name of Sthramati Bodhisattva, an early Indian monk of the Mahayana, about 700 years after the Buddha's nirvana. 3) Bồ Tát Tất Xỉ La Mạt Để, soạn bộ Nhập Đại Thừa Luận: Sthiramati Bodhisattva who composed The Commentaries on Entering Mahayana. ; (堅意) Phạm:Sthiramati, hoặcSàramati. Dịch âm: Tất sỉ la mạt để. Danh tăng Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ IV, sau các ngài Long thụ, Đề bà, v.v... Ngài có soạn bộ luận Nhập Đại thừa, 2 quyển, trong đó có trích dẫn thuyết của các ngài Long thụ, Đề bà, La hầu la, Câu ma la đà, v.v... Ngoài ra, Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục (bản dịch tiếng Anh) ghi tên Phạm của ngài làSàramati, giống với tên Phạm của ngài Kiên tuệ, vì thế có thuyết cho rằng ngài và ngài Kiên tuệ chỉ là một người. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.4; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1]. (xt. Kiên Tuệ).

kiên định

To be determined.

kiêng

To abstain from—To forbear—To be on a diet.

kiêng cữ

Abstinence—Forbearance—Abstention---To abstain.

kiêng dè

To economize—To save.

kiêng nể

To have regard and consideration for—To respect.

kiêng thịt

To abstain from eating meat.

kiêng tránh

To abstain

kiêu

1) Sự kiêu ngạo (cậy vào sự việc trôi chảy hay tài của mình mà sanh lòng kiêu ngạo): Arrogant—Haughty—Proud—Boastful—Bragging—Self-indulgent—Indulgent. 2) Tưới nước: To sprinkle—To water. ; (憍) Phạm,Pàli:Mada. Hán âm: Mạt đà. Tâm kiêu căng ngạo mạn, tự cao tự đại đối với mọi người. Tên tâm sở, là 1 trong 75 pháp của Câu xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Theo tông Câu xá, Kiêu là một trong Tiểu phiền não địa pháp; còn tông Duy thức thì cho nó là 1 trong Tiểu tùy phiền não, lấy 1 phần tham ái làm thể, lìa tham không có tướng dụng riêng biệt. Luận Thành duy thức quyển 6 (Đại 31, 33 hạ), nói: Thế nào là Kiêu? Nghĩa là đối với sự thịnh vượng của mình, tâm sinh nhiễm trước, lấy cao ngạo làm tính. Kiêu có 8 thứ: 1. Thịnh tráng kiêu: Do khí lực cường tráng mà sinh kiêu 2. Tính kiêu: Do dòng dõi tôn quí mà sinh kiêu. 3. Phú kiêu: Do giầu có, lắm tiền của mà sinh kiêu. 4. Tự tại kiêu: Vì việc làm mình được tự do mà sinh kiêu. 5. Thọ mệnh kiêu: Nhân sống lâu mà sinh kiêu. 6. Thông minh kiêu: Cây có trí thức thông thái mà sinh kiêu. 7. Hành thiện kiêu: Ỷ vào việc làm lợi cho người khác mà sinh kiêu. 8. Sắc kiêu: Do thấy dung mạo mình đẹp đẽ mà sinh kiêu. [X. luận Đại tì bà sa Q.42, Q.43; luận Câu xá Q.4, Q.21; Pháp hoa văn cú Q.6].

kiêu khang

Hầm hố của ngã mạn cống cao—The pit of pride and arrogance.

kiêu mạn

Kiêu mạn là tên một loại phiền não, một trong ngũ thượng phần kết—Arrogance and pride, a kind of klesa, one of the five higher bonds of desire—See Ngũ Thượng Phần Kết. ; (憍慢) Phạm,Pàli:Adhi-màna. Chỉ cho tính tự cao tự đại, khinh người ngạo vật. Tông Câu xá cho Kiêu là 1 trong những Tiểu phiền não địa pháp, Mạn là 1 trong những Bất định địa pháp, 1 trong 10 Tùy miên. Còn tông Duy thức thì cho Kiêu là 1 trong các Tùy phiền não, Mạn là 1 trong những Căn bản phiền não. Sự sai khác giữa Kiêu và Mạn là ở chỗ Kiêu là tâm lí hợm mình, tự cao tự đại, còn Mạn là tâm lí cống cao ngạo mạn, khinh thường và lấn lướt người khác. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 273 trung), nói: Người khiêm cung nghe pháp vâng làm, tâm sinh vui mừng hớn hở; còn kẻ kiêu mạn lười biếng, khó tin được pháp này. Tịnh độ Chân tông của Nhật bản căn cứ vào đây mà xác định rằng chúng sinh có tâm Kiêu mạn khó tin được bản nguyện của đức Phật A di đà. [X. phẩm An lạc hành kinh Pháp hoa; luận Đại tì bà sa Q.43; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.5].

kiêu ngạo

See Kiêu.

kiêu phạm ba đề

Gavampati (skt)—Còn gọi là Ca Phạm Ba Đề, Cấp Phòng Bát Để, Kiêu Phạm Bát Đề, Kiều Phạm Ba Đề, hay Kíp Phòng Bát Để, dịch là Ngưu Thi hay Ngưu Vương, là tên một vị Tỳ Kheo có cái miệng cứ nhai tới nhai lui như trâu nhai lại vì tội của đời quá khứ (theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, tiếng Phạn Gavampati dịch là Ngưu Vương. Ngài do ở đời quá khứ có ngắt một nhánh lúa ném xuống đất, nên trong 500 đời phải làm kiếp trâu để đền bù, nay tuy mang thân người, nhưng có hình tướng và tiếng nói giống như loài trâu)—Interpreted as chewing the cud; lord of cattle, etc. (with the feet and cud-chewing characteristic of an ox) A man who became a monk, born with a mouth always ruminating like a cow because of former oral sins; he had spilled some grains from an ear of corn he plucked in a former life. ; (憍梵波提) Phạm: Gavàôpati. Pàli:Gavaôpati. Cũng gọi Kiêu phạm bạt đề, Cấp phòng bát để, Già sa bạt đế, Già phạm ba đề, Già bàng pha đế, Ca vi bạt để, Kiêu hằng bát, Phòng bát để. Hán dịch: Ngưu tích, Ngưu ti, Ngưu chủ, Ngưu vương, Ngưu tướng. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Vì trong đời quá khứ xa xưa, Ngài Kiêu phạm ba đề ngắt 1 bông lúa, có mấy hạt thóc rơi xuống đất, nên phải chịu sinh làm thân trâu trong 500 kiếp, nay vẫn còn thói quen, sau khi ăn thường nhai đi nhai lại như trâu, nên có tên là Ngưu tướng tỉ khưu và từng được tôn giả Xá lợi phất dạy bảo. Vì cử chỉ của Ngài chậm chạp, nên biểu hiện ra phong cách điềm đạm, khoan hòa và độ lượng, không tranh cãi với ai. Đức Thế tôn thương Ngài thường bị diễu cợt mà buồn khổ, nên bảo Ngài trụ trong vườn Thi lợi sa ở cung trời Đao lợi để tu tập Thiền định. Sau khiđức Phật nhập diệt, lúc các tôn giả Ca diếp, v.v... kết tập pháp tạng, mới sai người lên Thiên cung thỉnh Ngài trở về nhân gian, bấy giờ Ngài mới biết đức Phật và tôn giả Xá lợi phất đã nhập diệt. Không bao lâu, Ngài cũng nhập diệt. [X. phẩm Đệ tử kinh Tăng nhất a hàm; kinh Đại phương quảng Như lai bất tư nghị cảnh giới; kinh Phật bản hạnh tập Q.36; luận Ngũ phần Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.22; luận Đại trí độ Q.27; A dục vương truyện Q.4; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8].

kiêu thi

See Kiêu Thi Ca.

kiêu thi ca

Kausika or Kusika (skt). 1) Còn gọi là Kiêu Chi Ca, họ của Đế Thích (trong Đại Trí Độ Luận, theo Kinh Tạp A Hàm: “Vị Tỳ Kheo lại bạch với Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, do duyên gì mà ngài Đế Thích Đề Hoàn lại có tên là Kiêu Thi Ca? Đức Phật nói với vị Tỳ Kheo rằng: Ngài Thích Đề Hoàn ấy khi còn là người có họ là Kiêu Thi Ca. Vì nhơn duyên ấy mà ngài có tên là Kiêu Thi Ca.”)—Kausika, of the family of Kusika, family name of Indra. This story is mentioned in the Maha-Prajna Sastra. 2) Có người cho rằng Đức Phật A Di Đà cũng có họ Kiêu Thi Ca: One account says Amitabha was of the same family name. ; (憍尸迦) Phạm: Kauzika. Cũng gọi Kiêu chi ca. Tên khác của Đế thích thiên, vị trời đứng đầu cõi Đao lợi thiên (cõi trời 33). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 56, trời Đế thích xưa kia là 1 người Bà la môn ở nước Ma già đà, họ là Kiêu thi ca, tên là Ma già, vì nhân duyên ấy mà gọi là Kiêu thi ca. Bấy giờ, Kiêu thi ca và 32 người bạn cùng tu phúc đức trí tuệ, sau khi mệnh chung đều được sinh lên tầng trời thứ 2 trên đỉnh núi Tu di, Ma già làm chủ cõi trời này, còn 32 người bạn kia là phụ tá. Vì cõi trời này có 33 vị trời nên gọi là Tam thập tam thiên. [X. kinh Tạp a hàm Q.40; kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.72]. (xt. Đế Thích Thiên).

kiêu thưởng di

Kausambi (skt)—Một thành phố cổ nằm bên bờ sông Hằng, nằm bên dưới Doab. Có nhiều người cho rằng đây là vùng Kusia gần Kurrah, nhưng Kusia bây giờ là làng Kosam nằm bên bờ nhánh sông Jumna, khoảng 30 dậm bên trên vùng Allahabad—An ancient city on the Ganges, in the lower part of Doab. It has been identified by some with Kusia near Kurrah, but is the village of Kosam, on the Jumna, 30 miles above Allahabad.

kiêu thưởng di quốc

(憍賞彌國) Kiêu thưởng di, Phạm:Kauzàmbì,Pàli: Kosambi. Cũng gọi Kiêu hướng di quốc, Kiêu thiểm tì quốc, Câu thiểm di quốc, Câu tham tì quốc, Câu tham tì da quốc, Câu lam ni quốc, Cưu thiểm di quốc, Câu thâm quốc, Cú tham quốc. Hán dịch: Bất tĩnh quốc, Bất thậm tĩnh quốc, Tàng hữu quốc. Còn gọi Bạt sa quốc (Phạm:Vatsà,Pàli:Vaôsa), Việt sa quốc, Phạ sa quốc. Tên 1 Vương quốc thời cổ Ấn độ, 1 trong 16 nước lớn, 1 trong 6 đô thị lớn ở Trung Ấn độ. Nước này chu vi hơn 6000 dặm, đất đai phì nhiêu, khí hậu nóng bức, trồng nhiều lúa tám cánh và mía; tính người cứng cỏi. Có hơn 10 ngôi già lam, chúng tăng đều tu học theo giáo pháp Tiểu thừa. Ở kinh đô có 16 tinh xá lớn, trong đó có pho tượng Phật bằng gỗ chiên đàn do vua Ưu điền (Ô đà diễn na vương) tôn tạo. Thời đức Phật còn tại thế, nước này hùng mạnh ngang với các nước Ma yết đà, Xá vệ, v.v... tiếng tăm lừng lẫy đến tận phương tây. Trong thành này cũng có các di tích như: Khu vườn của trưởng giả Cụ sử la, căn nhà gạch là nơi ngài Thế thân soạn luận Duy thức và cũng là nơi ngài Vô trước soạn luận Hiển dương thánh giáo. Từ bên ngoài kinh đô đi về hướng đông bắc hơn 700 dặm thì đến thành phố Ca xa phú la, là nơi ngài Hộ pháp từng hàng phục ngoại đạo. Về vị trí nước này có nhiều giả thuyết khác nhau: Ông Khang lâm hãn (A. Cunningham) cho rằng khoảng cách từ Bát la da già đến Kiêu thưởng di là hơn 50 dặm (Đại đường tây vực kí nói hơn 500 dặm)và suy đoán rằng vị trí nước này nằm ở thôn Kha tát (Kosàm) gần bờ sông Diêm mâu na (Jumna) về mạn tây bắc A lạp cáp ba đô (Allahabad). Nhưng ông Sử mật tư (V.A. Smith) thì căn cứ vào khoảng cách và phương hướng nói trong Đại đường tây vực kí và Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 3, mà suy đoán rằng vị trí nước này nằm ở phía tây nam Allahabad, gần trạm xe lửa Sutna ở Ấn độ. [X. kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Tăng nhất a hàm Q.24; kinh Pháp cú thí dụ Q.1; phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn (Pháp hiển); kinh Đại phương đẳng đại tập Q.56; luật Ngũ phần Q.6; luật Thập tụng Q.30; Thiện kiến luật tì bà sa Q.13; luận Đại tì bà sa Q.183; Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.5; Phiên Phạm ngữ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; The Ancient Geography of India (A. Cunningham)].

kiêu trần na

Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.

kiêu trần như

Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như. ; (憍陳如) Phạm: Kauịđinya. Pàli: Kondĩĩa. Cũng gọi A nhã kiêu trần như, A nhã câu lân, Kiêu trần na, A nhã kiêu lân, Cư lân, Cư luân. Hán dịch: Sơ tri, Dĩ tri, Liễu giáo, Liễu bản tế, Tri bản tế. Là 1 trong 5 vị tỉ khưu được độ khi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Nai. Một trong những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật. Cứ theo phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm, Kiêu trần như là 1 trong những đệ tử Thanh văn của đức Phật, là người có lòng nhân từ và sự hiểu biết sâu rộng, có khả năng giáo hóa, tiếp dắt đại chúng, không mất uy nghi, là người đầu tiên thụ pháp vị và tư duy Tứ đế. Lại theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 25, khi thái tử Tất đạt đa mới xuất gia cầu đạo, thì ngài Kiêu trần như cùng với 4 vị khác vâng mệnh vua Tịnh phạn đi theo và gần gũi giúp đỡ Thái tử tu khổ hạnh, về sau, thấy Thái tử bỏ lối tu khổ hạnh, ngài Kiêu trần như và 4 vị kia bỏ đi, đến khi đức Thế tôn thành đạo thì các vị ấy mới được giáo hóa. Về sau, ngài là bậc Trưởng lão trong giáo đoàn. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34; kinh Trung bản khởi Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.40 (bản Bắc); kinh A la hán cụ đức; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.11; luận Đại tì bà sa Q.93; Tuệ lâm âm nghĩa Q.18].

kiêu tát la

Kosala (skt)—See Kiều Tát La

kiêu tát la quốc

(憍薩羅國) Kiêu tát la, Phạm:Kozàlà, Kauzala. Pàli:Kosalà. Cũng gọi Câu xá la quốc, Kiều tát la quốc, Cư tát la quốc, Câu tiết la quốc, Cao tác la quốc, Câu bà la quốc. Hán dịch: Vô đấu chiến quốc, Công xảo quốc. I. Kiêu Tát La Quốc. Cũng gọi Bắc Kiêu tát la. Một Vương quốc xưa thuộc Trung Ấn độ, nằm về mạn tây bắc Ca tì la vệ, phía bắc nước Ba la nại, Pháp hiển truyện gọi là Câu tát la quốc, là 1 trong 16 nước lớn ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Kinh đô của nước này là thành Xá vệ (Phạm:Zrà-vasti), là nơi đức Phật đã thuyết pháp giáo hóa trong suốt 25 năm. Nước này thóc lúa dồi dào, nhân dân sung túc, phong tục thuần hậu, nhưng chúng tăng ít, ngoại đạo nhiều. Ở nước này, khi ngài Pháp hiển đến (thế kỉ IV), vẫn còn di tích vườn cây của thái tử Kì đà và trưởng giả Cấp cô độc. [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.8; luận Phân biệt công đức Q.2; Đại đường tây vực kí Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.6, Q.15, Q.26; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Xá Vệ Quốc). II. Kiêu Tát La Quốc. Cũng gọi Nam Kiêu tát la, Đại Kiêu tát la. Tên 1 Vương quốc xưa thuộc Nam Ấn độ, nằm về phía nam nước Ma kiệt đà, tương đương với Bắc bộ cao nguyên Decan hiện nay. Đại đường tây vực kí cho Vương quốc này thuộc Trung Ấn độ, nhưng xưa nay phần nhiều đều nhận vùng đất này thuộc Nam Ấn độ. Pháp hiển truyện gọi là Đạt thấn quốc (Phạm:Dakwiịà). Bồ tát Long thụ đã từng ở tại nước này và rất được vua Sa đà bà ha (Phạm:Sadvaha) tôn kính. Nhà vua đã cho xây cất 1 ngôi đại già lam 5 tầng trên núi Bạt la mạt la kì li ở phía tây nước này. Nước này mạnh mẽ, tính người dũng cảm, có hơn 100 ngôi già lam, chúng tăng đều nghiên cứu, học tập theo giáo pháp Đại thừa. Có hơn 70 ngôi đền thờ trời, các đạo khác ở lẫn lộn. Về vị trí nước này có nhiều thuyết khác nhau.Ông Khang lâm hãn (A.Cunningham) cho rằng nước này là Duy đạt ba (Vidarbha) đời xưa, kinh đô là Na cách pha nhĩ (Nagpur) hoặc Tra đại (Chanda), tức là vùng Ca đức ngõa na (Gondwàna) thuộc Bối lạp nhĩ (Berar) hiện nay. Còn các ông Cách lan thoát (Grant) và Phất cách tốn (J.Fergusson) thì cho rằng nước này là đất Sạ cáp đề tư gia nhĩ (Chhattisgarh) hiện nay, kinh đô là Uy lạp gia nhĩ (Wairagarh). [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Đại đường tây vực kí Q.10; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10; The Ancient Geography of India (A. Cunningham)].

kiêu xa

Proud and luxurious

kiêu xa da

Kauseya (skt)—Cao Thế Da—Kiêu Xá—Vải làm bằng lụa thô—Cloth made of wild silk.

kiêu xa da y

(憍奢耶衣) Kiêu xa da, Phạm: Kauzeya, Pàli: Kosseyya. Cũng gọi Cao thế da y, Kiêu thi da y, Kiêu xá da y, Câu xá y. Hán dịch: Trùng y, Tàm y. Loại áo được may bằng tơ tằm hoang (không phải tằm nuôi trong nhà), tức là áo lụa. Kinh Thất Phật gọi là Kiêu thi y. Trong các bộ luật, pháp thứ 11 trong 30 pháp Xả đọa là giới cấm may phu cụ(đồ trải để ngồi, nằm, v.v...) bằng Kiêu xa da. Luật Thập tụng quyển 7 có nói về lí do đức Phật chế giới này như sau: Các tỉ khưu ở nước Câu diệm di may phu cụ mới bằng Kiêu xa da, muốn xin sợi bông và tơ tằm, nhưng tơ tằm giá đắt vì phải giết nhiều tằm mới có. Các tì khưu ấy thường đến nhà cư sĩ để xin, đến nỗi các cư sĩ chán ghét và trách mắng rằng (Đại 23, 47 hạ): Các tỉ khưu xin sợi bông, xin tơ tằm, xin vải, xin chỉ về may áo, làm phu cụ, may không hết thì tích trữ, bận rộn cả ngày, bỏ bê việc tụng kinh, tọa thiền, hành đạo, cúng dường các vị ấy thực không lợi ích gì, họ là những người không biết thế nào là đủ. Đức Phật nghe biết việc ấy liền chế giới cấm các tì khưu dùng Kiêu xa da làm phu cụ mới. Nếu dùng thì phạm tội Ni tát kì ba dật đề. [X. luật Tứ phần Q.7; luật Ngũ phần Q.5; Hữu bộ tì nại da Q.20; luật Ma ha tăng kì Q.9; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.2; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.1, Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25].

kiêu đàm di

Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English Section. ; (憍曇彌) Phạm: Gautamì. Pàli:Gotamì. Cũng gọi Kiều đáp di, Câu đàm di, Cù đàm di, Cù di, Cầu di. Tức là bà Ma ha ba xà ba đề, dì của đức Phật, cũng là từ gọi chung của những người phụ nữ trong dòng họ Thích. Kiêu đàm là 1 trong những họ thuộc dòng Sát đế lợi ở Ấn độ; Di là tiếng gọi người phụ nữ thuộc họ Kiêu đàm. Vì bà Ma ha ba xà ba đề là dì của đức Phật, cho nên gọi là Kiêu đàm di. Pháp hoa huyền tán quyển 9 phần đầu (Đại 34, 818 thượng), nói: Tiếng Phạm là Kiều đáp di, Hán dịch là Nhật chích chủng, cũng gọi là Cam giá chủng. Nay gọi là Kiều đáp di là chỉ cho người phụ nữ trong họKiều đáp thuộc dòng Nhật chích, là dì của Phật. [X. kinh Trung bản khởi Q.hạ; kinh Thập nhị du; Pháp hoa nghĩa sớ Q.7 (Cát tạng); Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Cù Đàm).

Kiêu-tát-la

憍薩羅; S: kośala; P: kosala; hoặc Câu-tát-la, cách dịch theo âm Hán Việt;|Vương quốc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca. Kiêu-tát-la là vương quốc có thế lực nhất tại Bắc Ấn Ðộ cho đến thế kỉ thứ 3 thì bị nước Ma-kiệt-đà (magadha) xâm chiếm. Ðức Phật hay đến Xá-vệ (s: śrāvastī), kinh đô của Kiêu-tát-la, lưu trú tại Kì viên (jetavana)

Kiều Bổn Độc Sơn

(橋本獨山, Hashimoto Dokusan, 1869-1938): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Minh Trị (明治, Meiji) và đầu thời Chiêu Hòa (昭和, Shōwa), vị trú trì đời thứ 128 của Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), húy Huyền Nghĩa (玄義), đạo hiệu Độc Sơn (獨山), hiệu Đối Vân Quật (對雲窟), Nam Uyển Quật (南苑窟), xuất thân vùng Niigata (新潟). Ban đầu ông theo học hội họa, đến năm 1890 xuất gia với Nga Sơn (峨山). Ông trú tại Tăng Đường của Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji) và kế thừa dòng pháp của Nga Sơn. Vào năm 1900, ông làm trú trì Lộc Vương Viện (鹿王院). Đến năm 1911, ông làm trú trì Tướng Quốc Tự, và Quản Trưởng của Phái Tướng Quốc Tự (相國寺派). Trước tác của ông có Đối Vân Lục (對雲錄) 2 quyển, Họa Thiếp (畫帖) 1 quyển.

kiếm

1) Lưỡi Kiếm: A sword (a two-edged sword). 2) Tìm kiếm: To search for—To look for.

kiếm ba

Kampa or Bhukampa (skt)—Chấn Địa Thiên—Deva of earthquakes.

kiếm chuyện

To find fault with—To seek/pick a quarrel with.

kiếm chác

To make profit

Kiếm hạ phân thân

劍下分身; C: jiànxiàfēnshēn; J: kengebun-shin;|Phân thân thành hai phần với một nhát kiếm. Một ẩn dụ chỉ một câu nói của một vị Thiền sư với khả năng cắt đứt vô minh, khai ngộ đệ tử.

kiếm luân pháp

Một hệ thống kiếm xoay để hàng phục ma quân—A system of revolving swords for subduing demons.

kiếm lâm địa ngục

Asipattra (skt)—Một trong mười sáu tiểu địa ngục, địa ngục rùng kiếm—One of the sixteen small hells, the hell of the forest of swords, or sword-leaf trees.

kiếm ma xá đề

Kiếm Ma Xá Đế. 1) Ma quân: A spirit or demon. 2) Con đẻ của dục vọng không kềm chế được: The ungovernable, son of Kama (Love and Lust).

kiếm sơn

Kiếm Lâm Địa Ngục, and Địa Ngục in Vietnamese-English Section.

kiếm thụ địa ngục

See Kiếm Lâm Địa Ngục.

Kiếm đạo

劍道; J: kendō;|Nghệ thuật đánh kiếm của Nhật Bản với cả hai tay. Thời trung cổ, nhiều kiếm sĩ Nhật thường tham thiền để đạt được sự bình tĩnh tuỳ cơ ứng biến và ngược lại, nhiều Thiền sư Nhật cũng là kiếm sĩ tuyệt luân.|Trạch Am Tông Bành, một vị Thiền sư danh tiếng người Nhật viết rất hay về kiếm đạo trong một bài luận. Sư so sánh tâm trạng của một thiền tăng và một kiếm sĩ như sau: »Nếu hiểu Kiếm đúng đắn thì không phải chỉ Thiền, mà quy luật của thiên địa cũng như tất cả những quy luật của vũ trụ đều là Kiếm đạo; và ngược lại – nhìn theo Thiền thì không chỉ Kiếm đạo, mà là tất cả vạn vật đều là những làn sóng trên biển Thiền. Nói rõ ràng hơn: Sự hợp nhất của Kiếm và Thiền tương ưng một cấp bậc mà trên đó Thiền và Kiếm đều chẳng có nhưng chúng ta lại chẳng tìm được một vật không phải Thiền, không phải Kiếm.«

kiếm ấn

(劍印) ..... Loại ấn tướng trong Mật giáo biểu thị dao kiếm, chia ra 3 loại: 1. Bất động minh vương kiếm ấn: Ấn tướng có hình thanh kiếm ở trong bao kiếm, tức là tay phải làm hình kiếm, tay trái làm bao kiếm. 2. Đại nhật kiếm ấn, có 2 thứ: a) Kim giới tam muội da hội Đại nhật ấn, cũng gọi Tì lô giá na Kim cương giới tự tại khế, Ngũ Phật quán đính ấn, Bảo quan ấn. Ấn tướng này, 2 tay đan vào nhau và nắm lại, 2 ngón giữa dựng đứng, hợp lại, đốt tay trên co lại làm hình thanh kiếm, 2 ngón trỏ duỗi ra đặt trên lưng 2 ngón giữa. b) Khai tháp ấn: Hai tay chắp lại, giữa lòng bàn tay để rỗng, đốt giữa của 2 ngón tay trỏ co lại, 2 đầu ngón tay chống nhau, 2 ngón cái đè lên đốt trên của 2 ngón trỏ, khoảng giữa 2 ngón cái hơi mở ra giống như hình thanh kiếm. 3. Văn thù kiếm ấn: Ấn kiếm hình Tam muội da của bồ tát Văn thù. Trong pháp cúng dường ngài Văn thù, ấn này còn được gọi là Kim cương lợi kiếm ấn, Kim cương lợi diệu ấn, Kim cương trí kiếm ấn. Ngoài ra, còn có Đại tuệ đao ấn, cũng gọi Kiếm ấn, là một ấn khế chân ngôn của hội Như lai thân. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật, Thánh Quán tự tại quán hành quĩ; Bí sao vấn đáp Q.10].

Kiến

見; S: dṛṣṭi hoặc darśana; P: diṭṭhi hoặc dassa-na;|Nghĩa là »thấy« nhưng được sử dụng nhiều cách khác nhau như sau:|a) Kiến dịch từ chữ Dṛṣṭi ngoài nghĩa »thấy« ra cũng có nghĩa là quan niệm, kiến giải; nếu danh từ Dṛṣṭi đứng một mình thì phần lớn được hiểu là »tà kiến« quan niệm sai lầm. Người ta phân biệt nhiều loại tà kiến và chia chúng ra nhiều nhóm khác nhau theo hệ số như 2, 3, 4, 5, 7, 10 và 16 kiến, trong đó hệ thống Nhị kiến, Tam kiến, Tứ kiến và Thất kiến quan trọng hơn hết:|Nhị kiến: 1. Hữu kiến, cho tất cả là có thật và 2. Vô kiến, tà kiến thiên về không, hư vô.|Tam kiến: 1. Cho rằng sự việc xảy ra không có nguyên nhân, 2. Cho rằng đời sống tuyệt đối vô ích và 3. Vô kiến, tin tưởng vào một quan điểm hư vô.|Tứ kiến: 1. Nhất, nghĩa là chỉ có một, tất cả đều như nhau; 2. Dị, tất cả đều khác nhau, không cái nào giống cái nào; 3. Thường kiến, cho rằng tất cả đều thường còn, vĩnh viễn; 4. Ðoạn kiến, không thường còn.|Thất kiến: 1. Ngã kiến, tin có một tự Ngã (s: ātman); 2. Phủ nhận quy luật nhân quả (Nghiệp; s: karma); 3. Thường kiến, tin nơi sự trường tồn bất biến; 4. Ðoạn kiến, tin vào sự huỷ diệt; 5. Giới cấm thủ kiến, bám giữ nơi Giới luật; 6. Quả đạo kiến, nhận lầm một ác nghiệp là một thiện nghiệp; 7. Nghi kiến, nghi ngờ về các chân lí do Phật tuyên giảng.|b) Kiến dịch từ chữ darśana và được dùng chung với một danh từ khác như Kiến đạo (s: darśana-mārga)…; chỉ cách nhìn dựa trên lí luận minh triết, có khả năng loại bỏ Ái, đoạn được Nghi hoặc. Nhờ chính kiến mà hành giả có thể hiểu được Tứ diệu đế, từ bậc Tuỳ pháp hành (s: dharmānusārin) hoặc Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin) trở thành một bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).

kiến

(A) Nghĩa của Kiến—The meanings of “Kiến.” 1) Giáo lý: Theory—Doctrine. 2) Kiến lập: • Kiến lập cơ sở: To found—To set up—To establish—To build a school, a market, a house, etc. • Kiến lập môn phái: To found or to set up a school of thought or practice. 3) Kiến Giải (thấy): Darsana (skt)—Nại Lạt Xả Nang—Suy nghĩ tìm tòi để hiểu rõ mà chọn lựa (khẳng định sự lý, kể cả ý nghĩa chính đáng và không chính đáng)—Seeing—Discerning—Views—Opinions—Judgment—Thinking—Reasoning—Discriminating—Selecting truth. 4) Niềm tin: Belief. 5) Thấy: Seeing—Thấy bằng—Seeing by: a) Cái thấy của phàm phu—The seeing of ordinary people: Dassanam (p)—Darsana (skt). • Quan sát: Observing. • Chú ý: Noticing. • Khảo sát: Examining. • Trầm ngâm suy tưởng: Contemplating. b) Cái thấy của bậc Thánh nhân—The seeing of saintly people: Darsayati (p)—Drisdarsam (skt). • Thấy bằng trực tâm: Seeing with the mind. • Thấy bằng trực giác: Seeing by divine intuition. (B) Phân Loại Kiến—Categories of “Kiến.”—For more information, please see Nhị Kiến, Ngũ Kiến Thô Thiển, Ngũ Kiến Vi Tế, Tà Kiến and Hữu Kiến. ; (見) .. Phạm: Dfwỉi hoặc Darzana. Dịch âm: Đạt lợi sắc trí. Xem xét, suy tính. Chỉ cho cái thấy biết nhất định đối với một sự vật nào đó mà mắt thấy hoặc suy tưởng. Kiến có chính kiến, tà kiến. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 95, thì Kiến có 4 nghĩa: Xem xét, tính lường quyết đoán, nắm chắc và thâm nhập; hoặc có 2 nghĩa: Nhìn kĩ, tìm cầu. Còn luận Câu xá quyển 2, quyển 26 thì cho rằng Kiến được chia làm 8 loại. Năm kiến nhiễm ô, chính kiến thế gian, chính kiến hữu học và chính kiến vô học: Năm kiến nhiễm ô chỉ cho thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ kiến. Chính kiến thế gian chỉ cho sinh đắc tuệ, văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ, thuộc tuệ hữu lậu. Chính kiến hữu học chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân hữu học; còn chính kiến vô học thì chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân vô học. Bởi vì tông Câu xá cho các loại kiến này đều là tính của tuệ, trước xem xét, tính lường rồi sau mới quyết đoán, cho nên gọi là Kiến. Trong đó, 5 kiến nhiễm ô là bất chính kiến, còn lại đều thuộc chính kiến. Luận sư Thế hữu cho rằng mắt tiếp lấy sắc cảnh, có tác dụng quán chiếu, cho nên chủ trương căn mắt thấy, đây là nghĩa chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Còn Đại chúng bộ và luận Thành thực quyển 4 thì chủ trương thức mắt thấy, gọi là thức thấy; Đại thừa thì cho rằng căn và thức hòa hợp thì mới thấy được. Ngoài ra, tông Duy thức gọi là hành tướng của 8 thức tâm vương và tâm sở năng duyên là Kiến phần, hoặc tương đương với nghĩa xem xét. Trong các kinh luận thường căn cứ vào nghĩa suy tính mà chia Kiến thành các loại như: Nhị kiến, Thất kiến, Thập kiến, v.v... 1. Nhị kiến: Hữu kiến và vô kiến, hoặc đoạn kiến và thường kiến. Đây thuộc Biên kiến trong 5 kiến. 2. Thất kiến: -Tà kiến: Phủ định lí nhân quả. -Ngã kiến: Thấy có thực ngã. -Thường kiến: Chấp trước thân tâm thường trụ bất biến. -Đoạn kiến: Chấp trước thân tâm đoạn diệt. -Giới đạo kiến(cũng gọi Giới cấm thủ kiến): Chấp trước những giới luật không chính đáng. -Quả đạo kiến: Chấp trước kết quả do tà hạnh đạt được là chân chính. -Nghi kiến: Nghi ngờ đối với chân lí. 3. Thập kiến: Năm kiến thêm vào Tham kiến, Khuể kiến, Mạn kiến, Vô minh kiến và Nghi kiến nữa thì thành Thập kiến. Ngoài ra, những kiến giải sai lầm của ngoại đạo thì có 4 kiến, 62 kiến(theo kinh Phạm võng), chẳng hạn như chủ trương tà nhân tà quả, không có nhân quả, có nhân không quả, không nhân không quả, v.v... đều là những kiến giải sai lầm. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25, Q.27 (bản Bắc); kinh Lăng già Q.1 (bản 10 quyển); luận Đại trí độ Q.7; luận Đại thừa khởi tín; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.13, Q.49; luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2]. (xt. Nhất Thủy Tứ Kiến, Nhị Kiến, Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến, Nhân Quả).

kiến chánh

1) Thấy đúng theo Chánh Pháp: Seeing correctly. 2) Tên của một đệ tử Đức Phật, nghi ngờ về hậu thế: Name of a disciple of the Buddha who doubted a future life.

kiến chánh kinh

Một vị đệ tử của Phật tên là Kiến Chánh, nghi ngờ về hậu thế. Nhân đó Phật đã đưa ra nhiều thí dụ để bác bỏ những thiên kiến mê chấp (đoạn kiến và thường kiến) của Tỳ Kheo Chánh Kiến—A Bodhisattva name “Correct Vision,” a disciple of the Buddha who doubted a future life, to whom the Buddha is said to have delivered the contents of the Correct Vision Sutra.

kiến chân

Tattva-dris (skt)—Perceiving truth—Thấy được chân tánh tuyệt đối của vạn hữu—To behold truth or ultimate reality. ; (見真) ..... I. Kiến Chân. Nhờ không tuệ thấy suốt chân lí. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 274 thượng), nói: Mắt tuệ thấy chân lí, vượt qua bờ bên kia. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ (Đại 37, 110 trung), ghi: Mắt tuệ thấy chân không, gọi là Kiến chân; xả bỏ hữu tướng, vượt qua bờ vô tướng bên kia, gọi là Độ bỉ ngạn. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ; truyện Giang phụ trong Lương thư Q.47] II. Kiến Chân(1173-1262). Cao tăng Nhật bản, tên Thân loan. Vua ban thụy hiệu là Kiến Chân Đại Sư. (xt. Thân Loan).

Kiến Châu Tử

(建州子, Kenshūsu): xem Khai Thiện Đạo Khiêm (開善道謙, Kaizen Dōken, ?-?) bên trên.

kiến chí

(見至) Phạm:Dfwỉi-pràpta. Cũng gọi Kiến đáo, Kiến đắc. Kiến chỉ cho trí tuệ vô lậu. Kiến chí nghĩa là dùng trí tuệ vô lậu để đạt đến chân lí. Là 1 trong 7 bậc Thánh, 1 trong 18 bậc Hữu học, 1 trong 27 Hiền thánh. Cứ theo luận Câu xá thì những người căn cơ nhạy bén ở giai vị Tu đạo, có khả năng tự thấy pháp đạt được lí mà chứng quả, cho nên gọi là Kiến chí. Trái lại, những người căn cơ chậm lụt thì nương vào lòng tin thù thắng mà hiểu biết chân lí. [X. luận Đại tì bà sa Q.54, Q.93; luận Câu xá Q.23; Q.25; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.64; luận Du già sư địa Q.26; Đại thừa nghĩa chương Q.17]. (xt. Thất Thánh, Nhị Thập Thất Hiền Thánh, Thập Bát Hữu Học).

kiến chí bổ la thành

(建志補羅城) Kiến chí bổ la, Phạm:Kàĩcipura. Cũng gọi Kiến chí thành. Kinh đô của nước Đạt la tì đồ (Phạm: Dràviđa) thuộc Nam Ấn độ đời xưa. Cứ theo Đại tứ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4, thành này là nơi sinh của bồ tát Đạt ma ba la (Hộ pháp). Thành này là cửa biển Nam của Ấn độ; từ đây, đi đường biển mất 3 ngày thì đến nước Tăng già la. Có thuyết cho rằng thành này chính là vùng Khang kiệt duy lạp mẫu (Conjeveram) ở bên bờ sông Phạ lạp nhĩ (Palàr) cách Mã đức lạp tư (Madras) hiện nay về phía tây 48 km. Lại có thuyết khác cho rằng Nội cách ba tháp mẫu (Negapatam) hiện nay chính là thành Kiến chí bổ la ngày xưa. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Giải thuyết tây vực kí; Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol. II].

kiến chí bộ la

Kancipura (skt)—Kiến Chí Thành—Kinh đô của Dravida, bây giờ là Conjevaram, khoảng chừng 48 dậm về phía tây nam Madras—Capital of Dravida, the modern Conjevaram, about 48 miles south-west of Madras.

kiến chính

See Kiến Chánh.

kiến chư phật độ nguyện

(見諸佛土願) Cũng gọi Thụ trung kiến độ nguyện, Tùy ý đắc kiến thập phương quốc độ nguyện, Phổ kiến Phật độ nguyện, Tùy ý chiếu kiến nguyện. Nguyện cho chúng sinh ở Tịnh độ Cực lạc, nếu muốn thấy cõi Phật trong 10 phương, thì đều theo ý được thấy rõ ràng từ trong các cây báu. Là nguyện thứ 40 trong 48 điều nguyện của đức Phật A di đà. Trong 5 bản dịch khác nhau của kinh Vô lượng thọ hiện còn, thì chỉ có bản dịch kinh Vô lượng thọ đời Ngụy và bản dịch Hội Vô lượng thọ Như lai đời Đường là còn văn nguyện của điều nguyện này, còn 3 bản dịch đời Hán, Ngô và Tống đều thiếu. Ngoài ra, trong nguyên bản tiếng Phạm, nguyện này được xếp vào điều nguyện thứ 38 và cho rằng cảnh hiện ra từ trong cây báu là dùng để trang nghiêm cõi Cực lạc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng].

kiến chướng

Các loại tà kiến dấy lên gây chướng ngại cho Bồ Đề Tâm—The obstruction of heterodox views to enlightenment.

kiến chấp

chỉ những quan điểm, định kiến sai lầm, cố chấp và vướng mắc vào chỗ thấy biết hiện có của mình, cho đó là tuyệt đối và không chấp nhận mọi quan điểm khác. Do kiến chấp mà người ta không thể nhận biết Chánh pháp. ; View-attachment.

kiến giả

(見假) ..... Chỉ cho Kiến hoặc.Vì thể của Hoặc là hư dối không thật có, cho nên gọi là Giả. (xt. Kiến Hoặc).

kiến giải

Samakhya (skt)—Comprehension—Understanding.

kiến hiệu

Effective.

kiến hoặc

Gọi đầy đủ là "kiến đạo sở đoạn hoặc", Phạn ngữ: darśana-mārga-prahātavyānuśaya. Cũng gọi là kiến phiền não, kiến chướng, kiến nhất xứ trụ địa, đều dùng để chỉ những chỗ mê lầm mà người tu tập phải trừ dứt. Theo Câu-xá tông (Tiểu thừa) thì kiến hoặc có 88 loại, gọi là kiến hoặc bát thập bát sử, tức là những phiền não căn bản mà người kiến đạo sẽ dứt trừ hết. Kể chi tiết ra thì gồm có: ngũ lợi sử (thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến), ngũ độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) hợp thành thập sử hay thập hoặc. Người kiến đạo quán xét Ba cõi, tu tập theo Bốn thánh đế nên trừ bỏ được các kiến hoặc theo từng trình tự không giống nhau, như quán xét tu tập Khổ đế trong Dục giới liền trừ được 10 kiến hoặc (thập sử); khi quán xét tu tập theo Tập đế và Diệt đế thì lần lượt trừ được mỗi giai đoạn là 7 kiến hoặc (thất sử, gồm thập sử kể trên trừ ra thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ kiến trong ngũ lợi sử); đến khi tu tập theo Đạo đế liền trừ được 8 kiến hoặc (bát sử, gồm thập sử kể trên trừ ra thân kiến và biên kiến trong ngũ lợi sử), cộng cả thảy là 32 kiến hoặc (10+7+7+8), gọi là tam thập nhị sử . Khi tu tập Bốn thánh đế ở các cõi Sắc giới và Vô sắc giới cũng trừ được số kiến hoặc như ở Dục giới, nhưng có khác là không có sân, nên còn lại 7 kiến hoặc (thay vì 8), nhân cho Bốn thánh đế thành 28 kiến hoặc (nhị thập bát sử), cộng chung hai giai đoạn tu tập ở Sắc giới và Vô sắc giới trừ dứt được 56 kiến hoặc (ngũ thập lục sử). Như vậy cộng chung số kiến hoặc phải trừ dứt trong Ba cõi là 88 kiến hoặc (32+56), gọi chung là bát thập bát sử 。Tuy nhiên, cách liệt kê các kiến hoặc không giống nhau ở các tông phái, chúng ta chỉ cần hiểu kiến hoặc là những nhận thức sai lầm gây ra phiền não, làm che mờ tâm thức. ; Chấp thật cái kiến giải sai lầm là kiến hoặc. ; Các loại phiền não và cám dỗ khởi lên từ tà kiến—Perplexities or illusions and temptations arise from false views or theories—Delusive views—Delusions of views. ; (見惑) ..... Tên đầy đủ: Kiến đạo sở đoạn hoặc (Phạm: Darzana-màrga-prahàtavyànuzaya). Cũng gọi Kiến phiền não, Kiến chướng, Kiến nhất xứ trụ địa. Chỉ cho những phiền não được đoạn diệt khi tiến lên giai vị Kiến đạo. Còn những phiền não được đoạn diệt khi đạt đến giai vị Tu đạo, thì gọi là Tu hoặc (hay Tư hoặc). Tông Câu xá cho Kiến hoặc thuộc về mê lí, tức là lầm chấp lí Tứ đế, còn Tu hoặc thì thuộc về mê sự, tức là lầm chấp các sự vật hiện hữu. Còn tông Duy thức thì cho Kiến hoặc là các phiền não sinh khởi ở nơi tâm do sự dẫn dắt của tà sư hay tà giáo, gọi là Phân biệt khởi; còn Tu hoặc là những phiền não tự nhiên, sinh ra đã có, gọi là Câu sinh khởi(xem biểu đồ 1). Đồ Biểu 1: Tông Câu Xá

kiến hoặc tư hoặc

Ảo tưởng đưa đến tà kiến—Illusory or misleading views and thoughts: 1) Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt tà vạy, gây ra những mê hoặc—Delusions in the visible world. 2) Tư Hoặc: Lấy tình cảm mê chấp tham, sân, si, mà nghĩ cảm về vạn hữu trên thế gian—Illusions in the mental or moral world. ** For more information, please see Tam Hoặc.

kiến huệ

Do sự tu tập thiền định mà được phát trí tuệ về các thứ kiến chấp—The wisdom of right views, arising from dhyana meditation.

kiến hành

chỉ chung các loại ngã kiến, tà kiến... khiến hành giả không thể nhận thức được chân lý, nên cũng gọi là kiến hoặc. ; Rational behaviour—See Ái Hành. ; (見行) Không nghe theo lời dạy bảo của người khác, chỉ làm theo ý mình. Một trong 2 loại căn tính của chúng sinh. Trái lại, làm theo những lời dạy bảo của người khác, thì gọi là Ái hành. Căn tính của chúng sinh tuy có thiên sai vạn biệt, nhưng đại khái thì không ngoài 2 loại này. Ngoài ra, Hành là tên gọi chung của pháp hữu vi, đặc biệt được dùng để chỉ riêng cho những phiền não; như 5 kiến, 62 kiến cho đến 96 thứ tà kiến cũng gọi là Kiến hành. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.15 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.21]. (xt. Ái Hành Kiến Hành).

Kiến kết

xem Ba kết.

kiến kết

Phiền não do tà kiến gây ra khiến chúng sanh lăn trôi trong luân hồi sanh tử, một trong cửu kết—The bond of heterodox views, which fastens the individual to the chain of transmigration, one of the nine attachments. ** For more information, please see Cửu Kết and Cửu Phược.

kiến liên quán tự tại

(見蓮觀自在) Cũng gọi Tử liên Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện ra từ tay cầm hoa sen đỏ tím(tử liên) của Ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 tôn vị Quan âm của Mật giáo. Cứ theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu ai muốn thấy đức Như lai thì nên thờ vị Quan âm này làm Bản tôn mà tu pháp Tử liên. Về hình tượng của vị Bồ tát này, thì tay phải cầm hoa sen đỏ tím, tay trái ngửa lên đặt ở trước ngực. Còn các tướng hảo khác của Ngài cũng giống với bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. Ấn khế là ấn Liên hoa hợp chưởng(chắp tay hình hoa sen nở). Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la đạt ma (vajra dharma, kim cương pháp), nhũ mạo la sa bát nạp ma (nilorasapadma, tử liên hoa), tát phạ bột đà (sarva buddha, nhất thiết Phật) chỉ nhương nẵng (jĩàna, tri) sa khất sô tì da (sàkwibhyas, kiến) sa phạ hạ (svàhà). (xt. Tứ Thập Quan Âm).

kiến lung đả lung

(見籠打籠) ........... Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thấy người ta đan lồng mình cũng bắt chước làm theo. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người tu hành chẳng có chút chủ kiến nào, chỉ làm theo những việc của người khác.

kiến luận

(見論) Đối lại: Ái luận. Cứ khư khư cho sự thấy biết sai lầm của mình là đúng. Là 1 trong 2 loại hí luận. Đại sư Gia tường thuộc tông Tam luận cho rằng 4 loại người như: lợi căn, xuất gia, ngoại đạo và Nhị thừa, dễ khởi ra kiến luận; còn 4 loại người như: độn căn, tại gia, thiên ma và phàm phu thì dễ khởi ra ái luận. [X. Trung quán luận sớ Q.1]. (xt. Ái Luận Kiến Luận).

kiến lập

Samaropa (skt). • Xây dựng—Thành lập—Sáng lập—To build—To establish—To errect—To set up—To found a school, sect, thought or practice. • Sự khẳng định hay sự thiết lập lý trí, trái lại với đối lập: Assertion, or theory-making. Samaropa stands against refutation (apavada).

kiến lập trí

Pratishthapikabuddhi (skt)—Cái trí nhờ đó một mệnh đề được thiết lập—The intelligence whereby a proposition is set up.

kiến lậu

Ảo tưởng tà kiến cho rằng những thứ giả hợp là có thật—The illusion of viewing the seeming as real.

kiến minh

(見明) (1206-1289) Vị Thiền tăng Cao li, người quận Chương sơn, Khánh châu, tỉnh Khánh thượng bắc, họ Kim, tự Hối nhiên, sau đổi là Nhất nhiên. Năm 14 tuổi, sư theo ngài Trần điền Đại hùng xuất gia thụ giới Cụ túc. Năm 31 tuổi, sư tu tập tại chùa Vô trụ ở Bao sơn, được tỏ ngộ, sau dời về Định lâm xã Nam hải. Năm 54 tuổi, sư được ban hiệu Đại Thiền Sư. Năm 1261, sư vâng mệnh vua khai đường giảng pháp ở Thiền nguyệt xã tại kinh đô, kế tiếp sư mở đạo tràng ở Hoàng nhân xã và ở đây 11 năm, người đến theo học rất đông. Năm 1277, vua Trung liệt sắc lệnh sư trụ trì chùa Vân môn, đại chấn tông phong, dạy pháp yếu nơi cung vua. Năm 1283, sư được ban các hiệu Quốc Tôn, Viên Kính Xung Chiếu. Năm 1284, sư ở chùa Lân giác tại Hoa sơn, Nghĩa hưng, hoằng dương Thiền pháp, tùng lâm hưng thịnh, không đâu sánh bằng. Năm 1289, sư tịch, thọ 84 tuổi, thụy hiệu Phổ giác. Sư có các tác phẩm: Phổ giác quốc sư ngữ lục 2 quyển, Đại tạng tu tri lục 3 quyển, Tổ đình sự uyển 30 quyển; Thiền môn niêm tụng sự uyển 30 quyển. [X. Cao li sử Q.29; Triều tiên Phật giáo thông sử Q.hạ; Triều tiên Phật giáo sử].

kiến mục khứu tị

(見目嗅鼻) Mắt thấy mũi ngửi. Chỉ cho cây cờ cắm bên cạnh vua Diêm ma. Theo truyền thuyết, đầu cây cờ này có 2 đầu người đỏ và trắng, đó là do sự kết hợp giữa cây cờ Đồ đàn của vua Diêm ma với thần Câu sinh(thần xét biết nghiệp thiện ác của nhân gian)mà ra. Cây cờ này tượng trưng cho sự xem xét tinh tường của vua Diêm ma.

kiến nghị

Motion.

Kiến Nhân Tự

(建仁寺, Kennin-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Kiến Nhân Tự thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Komatsu-chō (小松町), Higashiyama-ku (東山區), Phố Kyoto (京都), tên núi là Đông Sơn (東山). Vào năm 1202 (năm thứ 2 niên hiệu Kiến Nhân [建仁]), thể theo lời phát nguyện của Thổ Ngự Môn Thiên Hoàng (土御門天皇, Tsuchimikado Tennō, 1195-1231), thí chủ Tướng Quân Nguyên Lại Gia (源賴家, Minamoto-no-Yorriie, 1182-1204) đã mời Vinh Tây (榮西, Eisai) đến làm tổ khai sơn và lấy niên hiệu mà đặt tên chùa. Vào năm 1205 (năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Cửu [元久]), chùa được hoàn thành, trở thành đạo tràng tu tập cho cả 3 tông Thiên Thai, Chơn Ngôn và Thiền. Về sau, vào năm 1265, kể từ thời Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) làm trú trì trở đi, nơi đây trở thành ngôi Thiền tự rất hưng thạnh, được liệt vào hàng Ngũ Sơn (五山, 5 ngôi chùa danh tiếng); và đến thời kỳ Thất Đinh (室町, Muromachi) thì có rất nhiều vị danh tăng rất giỏi về văn chương xuất hiện. Từ ngày thành lập về sau, chùa này đã mấy lần bị hỏa hoạn, đặc biệt là vào năm 1552 (năm thứ 21 niên hiệu Thiên Văn [天文]), do vì binh loạn nên chùa bị cháy hoàn toàn. Kiến trúc chùa hiện nay do Huệ Quỳnh (慧瓊, Ekei) của An Quốc Tự (安國寺, Ankoku-ji) phục hưng, gồm Sắc Sứ Môn (勅使門, thời đại Liêm Thương hậu kỳ), Phương Trượng (方丈, khoảng năm 1487), Điện Phật (佛殿, khoảng thời gian niên hiệu Minh Hòa [明和, 1764-1772]). Bảo vật của chùa có rất nhiều như các tranh Phong Thần, Lôi Thần của Biểu ốc Tông Đạt (俵屋宗達, Tawaraya Sōtatsu), tranh Trúc Lâm Thất Hiền Đồ (竹林七賢圖) của Hải Bắc Hữu Tùng (海北友松, Kaihō Yūshō) cũng như bút tích của Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧, Issan Ichinei), v.v.

Kiến Nhân tự

建仁寺; J: kennin-ji;|Một ngôi chùa lớn của tông Lâm Tế tại Nhật, nơi Thiền sư Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai) được cử làm vị trụ trì đầu tiên năm 1202. Trên khu vực của chùa này người ta còn tìm thấy những di tích của những tông phái Phật giáo khác trong thời gian thành lập chùa này tại Kinh Ðô (kyōto). Nhiều vị trụ trì chùa này có quan hệ với Thiên Thai tông (j: tendai) và Chân ngôn tông (j: shingon) và phương pháp giáo hoá, hướng dẫn môn đệ tu tập của những vị này đều bị ảnh hưởng qua sự liên hệ này. Chùa Kiến Nhân được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô.

kiến nhân tự

(建仁寺) Chùa ở Kinh đô (Kyoto), Nhật bản, do ngài Minh am Vinh tây sáng lập vào năm Kiến nhân thứ 2 (1202), dưới sự bảo hộ của Mạc phủ, là Đại bản sơn của phái chùa Kiến nhân thuộc tông Lâm tế. Mới đầu, chùa này là đạo tràng của tông Thiên thai và tông Chân ngôn, đến ngài Đạo long đời thứ 11 mới chính thức đổi làm đạo tràng tu Thiền. Chùa đã nhiều lần bị hỏa hoạn. Khoảng năm Thiên chính (1573-1591), có ngài Huệ quỳnh ở chùa An quốc mới đến xây cất lại. Cổng Sắc sứ của chùa là kiến trúc đời Liêm thương, nhà phương trượng là kiến trúc đầu thời đại Thất đinh, điện Phật là kiến trúc của thời Giang hộ. Ngoài ra, chùa còn có lầu chuông, Khai sơn đường, Ảnh đường, v.v... và 70 tòa tháp mà nay chỉ còn lại hơn 10 tòa.

kiến phi kiến

Những cái dễ thấy dễ biết và những điều sâu sắc huyền diệu—The visible and the invisible—Phenomenal and noumenal.

kiến pháp

(見法) ... .. I. Kiến Pháp: 1. Đồng nghĩa với Hiện pháp, chỉ cho pháp hiện tại. Kinh Tạp a hàm quyển 6 (Đại 2, 40 thượng), nói: Xuất gia tu hành thường phải tinh tiến tu các phạm hạnh, đối với Kiến pháp tự biết tự chứng. 2. Chỉ cho sự thấy biết tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã, Niết bàn là vắng lặng. Kinh Tạp a hàm quyển 10 (Đại 2, 66 trung), nói: Chư Phật ắt vì chúng con mà nói pháp, khiến cho chúng con biết pháp, thấy (kiến) pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, Q.34; kinh Tượng tích trong Trung a hàm Q.7]. II. Kiến Pháp: Chỉ cho người tu hành Mật giáo đối với sở nguyện thành tựu, an trụ nơi tâm chân thực thanh tịnh không nhiễm trước, thấy rõ thực tướng và thông đạt thực nghĩa. Phẩm Tất địa xuất hiện kinh Đại nhật quyển 3 (Đại 18, 19 trung), nói: Lúc bấy giờ, bồ tát Kim cương thủ bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Kính xin Ngài giảng nói về Chính đẳng giác và về Tất địa thành tựu, khiến các thiện nam tử, thiện nữ nhân, thấy pháp ấy rồi tâm được hoan hỉ, thụ an lạc trụ, không tổn hại pháp giới. Bởi vì hành giả tuy miệng tụng chân ngôn, tu hạnh chân ngôn, nhưng trong tâm biết rõ, chân ngôn ấy tuy theo duyên khởi, mà thực ra là không tạo tác, từ xưa đến nay vốn là pháp giới, không sinh không diệt, chẳng sạch chẳng dơ, pháp thể như như, đồng với đại không, tự nhiên được tam muội vô tướng. Nương vào đó mà tu hành thì thông suốt được các pháp môn và các việc thế gian, xuất thế gian là đồng nhất pháp giới, không thể tách rời, liền được Tất địa Kiến pháp thành tựu, được niềm pháp hỉ sâu xa và được hiện pháp lạc trụ. [X. Đại nhật kinh sớ Q.11; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn bí sao Q.8]

kiến phân biệt

Drishtivikalpa (skt)—Các thứ kiến giải dựa vào sự phân biệt nhị biên về hiện hữu –Views based on the dualistic discrimination of existence.

kiến phược

Phiền não do tà kiến (cho những thứ giả hợp là có thật) gây ra, trói buộc con nguời vào vòng sanh tử—The bond of the illusion of heterodox opinions which binds men and robs them of freedom (mistaking the seeming for the real). ** For more information, please see Cửu Kết and Cửu Phược.

kiến phần

(見分) ... .. Cũng gọi Năng thủ phần. Chỉ cho tác dụng năng duyên của 8 thức tâm vương, là chủ thể nhận biết sự vật; cũng tức là tác dụng chủ thể soi sáng các đối cảnh sở duyên(tức Tướng phần– đối tượng của nhận thức). Là 1 trong 4 phần vị của tâm pháp do tông Duy thức thành lập. Kiến nghĩa là kiến chiếu, soi sáng tất cả pháp, như tấm gương chiếu rọi muôn tượng. Kiến phần có 5 nghĩa: 1. Chứng kiến danh kiến: Kiến phần của trí căn bản, tức trí căn bản tự chứng tự thấy nên gọi là Kiến. 2. Chiếu chúc danh kiến: Nghĩa này thông cả căn, tâm(tức 6 căn 6 thức), vì căn, tâm có đủ nghĩa soi sáng nên gọi là Kiến. 3. Năng duyên danh kiến: Nghĩa này thông cả Tự chứng phần,Chứng tự chứng phần và Tự chứng phần năng duyên, vì 3 phần này đều là năng duyên nên gọi là Kiến. 4. Niệm giải danh kiến: Hiểu và nhớ được nghĩa lí nói ra một cách rõ ràng nên gọi là Kiến. 5. Suy đạc danh kiến: Vì tâm có khả năng suy lường tất cả cảnh giới nên gọi là Kiến. [X. Phật địa kinh luận Q.3; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 phần đầu]. (xt. Tứ Phần).

kiến phật

Thấy báo thân và ứng thân của Phật—Beholding Buddha—To see Buddha. 1) Hàng phàm phu và nhị thừa, do cái biết phân biệt nên chỉ thấy được ứng thân của Phật: Due to clinging to discrimination, ordinary people and Hinayana see only the nirmanakaya or body of incarnation of the Buddha. 2) Bồ Tát và Đại Thừa, không còn phân biệt nên thấy cả ứng thân và báo thân Phật: Bodhisattvas and Mahayana, without clinging to discrimination, see both the body of incarnation (nirmanakaya) and the spiritual body or body in bliss (sambhogakaya) of the Buddha. 3) Những người không có duyên lành (không trồng căn lành) ở kiếp trước không thấy cả hai thứ ứng thân và báo thân: Those who did not cultivate good roots in their past lives, see neither nirmanakaya nor sambhogakaya of the Buddha. ; (見佛) Thấy Phật. Nếu nương vào Quán Phật tam muội hoặc Khẩu xưng tam muội mà tu hành thì sẽ được thấy sắc thân tốt đẹp của Phật. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín, thì hàng Nhị thừa và phàm phu nương theo Phân biệt sự thức mà thấy Ứng thân của Phật, còn hàng Bồ tát thì nương Nghiệp thức mà thấy Báo thân của Phật. Kinh Hoa nghiêm quyển 58 (bản 80 quyển) liệt kê 10 loại Kiến Phật: An trụ thế gian thành chính giác Phật vô trước kiến. Nguyện Phật xuất sinh kiến, Nghiệp báo Phật thâm tín kiến, Trụ trì Phật tùy nguyện kiến, Niết bàn Phật thâm nhập kiến, Pháp giới Phật phổ chí kiến, Tâm Phật an trụ kiến, Tam muội Phật vô lượng vô y kiến, Bản tính Phật minh liễu kiến và Tùy nhạo Phật phổ thụ kiến. Kiến Phật thường chỉ cho sự cảm thấy sắc thân của Phật, nhưng lãnh hội tâm Phật, chứng ngộ pháp Phật cũng có thể gọi là Kiến Phật. Thấy được Phật ắt có thể diệt tội sinh phúc, chứng được diệu quả. [X. phẩm Hành trong kinh Ban chu tam muội Q.thượng; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.5; kinh Quán vô lượng thọ; luận Đại trí độ Q.29; luận Thập trụ tì bà sa Q.12; luận Thích ma ha diễn Q.5; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu; Quán niệm pháp môn].

kiến phật quán tự tại

(見佛觀自在) Cũng gọi Thanh liên Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện từ bàn tay cầm hoa sen xanh của Ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 tôn vị Quan âm của Mật giáo. Cứ theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu người nào muốn sinh về Tịnh độ trong 10 phương thì nên thờ vị Quan âm này làm Bản tôn mà tu phápThanh liên. Hình tượng của Ngài là tay phải cầm hoa sen xanh, tay trái ngửa lên đặt ở trước ngực. Còn các tướng hảo khác thì cũng giống như bồ tát Dữ nguyện Quán tự tại. Ấn khế là Liên hoa hợp chưởng(chắp tay kiểu hoa sen nở). Chân ngôn là: Án(oô) phạ nhật la đạt ma (vajradharma, Kim cương pháp) ninh la bát nạp ma (nìlapadma, thanh liên hoa) ôn bá đa (ugata, sinh) bột đà vĩ sái doanh (buddhavisaye, Phật quốc) sa phạ hạ (svàhà).

kiến quá vu sư phương kham truyện thụ

(見過于師方堪傳授) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tri kiến của đệ tử phải hơn thầy mới đủ tư cách được thầy truyền pháp cho. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên đây là lời của vị thầy bày tỏ sự tán thưởng và thừa nhận một đệ tử có kiến giải, trí tuệ siêu phàm, vả lại còn có chỗ vượt trội hơn thầy. Hoặc được dùng để biểu thị mối tương quan giữa thầy và trò cư xử với nhau một cách thản nhiên tự tại. Tắc 11, Bích nham lục (Đại 48, 151 hạ), nói: Sự thấy biết ngang với thầy thì đức mới bằng nửa của thầy; trí tuệ vượt hơn thầy thì mới đủ sức lãnh nhận giáo pháp của thầy. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.16; Liên đăng hội yếu Q.7].

kiến quản sao

(見管鈔) Đối lại: Chi sao. Chỉ cho tiền bạc hiện có. Kiến quản nghĩa là hiện đang quản lí; Sao nghĩa là tiền giấy. Còn Chi sao là tiền xuất ra. Môn Tiền tài, loại 29, trong Thiền lâm tượng khí tiên ghi: Huyễn trụ am thanh qui, theo phép Xướng y, sau khi tường trình về các phí khoản cho đám tang, nói đến tài vật của vị tăng quá cố rằng: Ngoài khoản chi ra (Chi sao), không còn gì hết (Kiến quản vô). [X. điều Xướng y trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.3].

kiến quốc

To found (build up) a state.

kiến sâm lậu

(見滲漏) ........ Còn ngã kiến, pháp kiến thì không thể thấu suốt được thực tướng của các pháp. Là 1 trong 3 sấm lậu do ngài Động sơn Lương giới lập. Nhân thiên nhãn mục quyển 3 (Đại 48, 319 thượng), nói: Kiến sấm lậu, cơ chẳng lìa vị, rơi vào biển độc, diệu ở chuyển vị. (xt. Động Sơn Tam Sấm Lậu).

kiến sơ

Tên của một ngôi chùa tọa lạc tại làng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Theo Thiền Uyển Tập Anh và Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, chùa được xây vào trước năm 820 bởi Thiền Sư Cẩm Thành người huyện Tiên Du. Trước kia sư tu ở chùa Phật Tích, sau được một ông phú hộ họ Nguyễn mời về Kiến Sơ lập chùa. Đến năm 820, bên Tàu là đời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông, trụ trì chùa Hòa An, thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc, sang nước ta, đến làng Phù Đổng, được Thiền Sư Cảm Thành tôn làm Thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ đó Kiến Sơ trở thành trung tâm của Thiền Phái Vô Ngôn Thông. Hiện tại trong chùa vẫn còn tượng Lý Công Uẩn và mẹ ông ở hai bên điện thờ Tam Bảo. Trong điện thờ Tổ có gác chuông với kiến trúc nổi bậc và chiếc khánh bằng đá cổ, đường kính 2 mét 3, chiếu cao sáu tấc, bề dầy 17 phân. Kiến Sơ là một trong những ngôi chùa cổ của Việt Nam được xây cất trước thế kỷ thứ 5, chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple, located in Phù Đổng village, Gia Lâm district, Hà Nội province, North Vietnam. According to Thiền Uyển Tập Anh and Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, the temple was built before 820 by Ch'an Master Cẩm Thành from Tiên Du district. He previously practised Buddhism at Phật Tích Pagoda, then was requested by a rich landlord, whose last name was Nguyễn, to move to Kiến Sơ temple and built it. In 820, during the T'ang dynasty, Ch'an Master Wu Yun T'ung, Head of Hòa An Temple in Kuang-Chou province, in China, arrived in Vietnam. He went to Phù Đổng village and later became Ch'an Master Cẩm Thành's teacher. He, then, was invited to stay and appointed to be head of Kiến Sơ Temple. Since then, the temple has become the center of the Wu-Yun-T'ung Sect. At present, the statues of Lý Công Uẩn and his mother are placed on the left and right sides of the temple's Buddhist Trinity. Inside the Patriarch Hall is a remarkably architectural bell tower and an old stone gong, 2.3 meters wide, 0.60 meter high, 0.17 meter thick, has still been kept in the temple. Kiến Sơ is one of the most ancient temples in Vietnam which was constructed before the fifth century. It has been rebuilt many times—See Cảm Thành.

kiến sơ tự

(建初寺) Cũng gọi Tụ bảo sơn, Báo ân tự. Chùa ở bên ngoài Tụ bảo môn, ngoại thành Kiến nghiệp(nay là huyện Giang ninh, tỉnh Giang tô), Trung quốc, do vua nước Ngô là Tôn quyền sáng lập vào năm Xích ô thứ 10 (247). Đây là ngôi chùa đầu tiên ở vùng Giang nam. Vào năm Xích ô thứ 10 (247), ngài Khang tăng hội đến Kiến nghiệp (Nam kinh), là kinh đô nước Ngô, hoằng dương Phật giáo, được vua nước Ngô là Tôn quyền tin phục nên xây dựng chùa này và tháp A dục vương, tương truyền đây là 1 trong 84.000 tòa tháp của vua A dục. Từ đó, vùng này được gọi là Làng Phật(Phật đà lí). Ở chùa này, ngài Khang tăng hội biên dịch kinh Lục độ tập, chú thích các kinh An ban thủ ý, Pháp kính và Đạo thụ. Đến đời Tây Tấn, ngài Bạch thi lê mật đa la, người Tây vực, cũng ở chùa này dịch kinh điển Mật giáo như kinh Khổng tước vương, v.v... Đời Đông Tấn, ngài Chi đàm thược sáng tác Lục ngôn Phạm bái. Đời Lương, có ngài Tăng hựu giảng dạy Luật học ở đây. Năm Vĩnh minh thứ 10 (492) đời Tề ngài Minh triệt hoằng dương các kinh luận Đại thừa. Vào các đời Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều và qua đời Tùy, chùa đã nhiều lần được đổi tên là chùa Trường khánh, chùa Phụng tiên, chùa Thiên hi, chùa Đại báo ân, v.v... Cho mãi đến đời Minh, chùa này vẫn còn là 1 trong những đạo tràng trung tâm của Phật giáo vùng Giang nam. Các vị cao tăng như: Khang tăng hội, Trúc tuệ đạt, Tăng hựu, Trúc pháp khoáng, Minh triệt và các bậc Thiền sư như: Khuông dật, Huyền tắc, Pháp an, v.v... thuộc tông Pháp nhãn, đều đã từng trụ trì chùa này để hoằng dương giáo pháp; nhờ nhân duyên ấy mà nền Phật giáo Giang nam được hưng thịnh và vững bền. Vua Thành tổ nhà Minh có ban sắc xây 1 tòa tháp bằng gốm, hình 8 góc, có 9 tầng, với 5 mầu sắc rực rỡ, khiến người xem lóa mắt, nhưng rất tiếc tòa tháp này đã bị phá hủy trong cuộc chiến loạn thời Thái bình thiên quốc do Hồng tú toàn và Dương tú thanh khởi xướng từ năm 1851 đến 1864, nay chỉ còn lại nền tháp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.13; Lương cao tăng truyện Q.1, Q.11, Q.13; Tục cao tăng truyện Q.6].

kiến sắc văn thanh

(見色聞聲) Nói đủ: Kiến sắc minh tâm, văn thanh ngộ đạo. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thấy sắc sáng lòng, nghe tiếng ngộ đạo. Nghĩa là nhờ mắt thấy sắc mà thấu suốt được nguồn tâm, do tai nghe tiếng mà ngộ được Thánh đạo. Từ Kiến sắc văn thanh bắt nguồn từ 2 công án trong Thiền tông, đó là: Linh vân kiến đào minh tâm và Hương nghiêm kích trúc ngộ đạo. Vào đời Đường, thiền sư Linh vân nhân thấy hoa đào nở rộ bỗng thấu suốt tâm tính của mình. Thiền sư Hương nghiêm Trí nhàn thì nhân nghe viên sỏi bắn vào gốc tre phát ra tiếng mà hoát nhiên ngộ đạo. Hai công án này đều nổi tiếng, cho nên được truyền tụng đến ngày nay và rất được người đời ưa thích. Tắc 78, Bích nham lục (Đại 48, 205 trung), ghi: Chớ bám dính vào hang ổ, tất cả chỗ đều là cửa đưa vào lí Quan âm, cổ nhân cũng có người nghe tiếng mà ngộ đạo, thấy sắc mà sáng lòng.

kiến sở đoạn

(見所斷) Phạm: Darzana-prahàtavya. Cũng gọi: Kiến đạo sở đoạn, Kiến đoạn. Những phiền não ở giai vị Kiến đạo phải đoạn. Một trong Tam đoạn. Cứ theo luận Câu xá quyển 2, quyển 19 và Câu xá luận quang kí quyển 2, thì 88 tùy miên và pháp tương ứng của chúng, cùng với 4 tướng, v.v... đều là Kiến sở đoạn. Nhưng trong 15 tâm Kiến đạo, tùy theo thứ tự thấy lí Tứ đế khác nhau mà chỗ đoạn trừ có bất đồng, tức thấy lí Khổ đế mà đoạn, gọi là Kiến khổ sở đoạn; thấy lí Tập đế mà đoạn, gọi là Kiến tập sở đoạn; thấy lí Diệt đế mà đoạn, gọi là Kiến diệt sở đoạn; thấy lí Đạo đế mà đoạn, gọi là Kiến đạo sở đoạn. Tông Duy thức chia Tùy miên làm 2 loại là: Phân biệt khởi và Câu sinh khởi; Kiến đạo sở đoạn thuộc về Phân biệt khởi. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4, thì Kiến, Nghi, Kiến xứ, Nghi xứ nhiễm ô do chỗ phân biệt mà khởi, cho đến thân, ngữ, ý nghiệp do các Kiến phát sinh, cùng với Uẩn, Giới, Xứ của tất cả đường ác đều thuộc về Kiến sở đoạn. Nghĩa này hơi khác với nghĩa được nói trong luận Câu xá. Ngoài ra, tông Câu xá cho các hoặc (phiền não) Kiến sở đoạn là 88 sử(Tùy miên), còn tông Duy thức thì nói Kiến hoặc có 112 loại. [X. luận Thành duy thức Q.6, Q.8, Q.9; luận Đại tì bà sa Q.51, Q.86; luận Câu xá Q.3; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.6; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần cuối].(xt. Tam Đoạn, Kiến Hoặc).

kiến thanh

(建聲) Chủng loại ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Kiến, tức là 2 loại ngoại đạo: Kiến lập tịnh ngoại đạo và Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo trong 30 thứ ngoại đạo được nói trong kinh Đại nhật. Kiến lập tịnh ngoại đạo thì kiến lập tất cả pháp rồi y theo đó mà tu hành, tự cho rằng những gì mình làm đều là Tịnh pháp. Trái lại, Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo thì cho rằng phàm những pháp được kiến lập đều chẳng phải pháp rốt ráo, vì thế thực hành những pháp bất tịnh, mà xa lìa pháp thanh tịnh. Thanh, tức là 3 loại ngoại đạo: Thanh hiển ngoại đạo, Thanh sinh ngoại đạo và Phi thanh ngoại đạo. Thanh hiển ngoại đạo chủ trương âm thanh vốn có sẵn và thường trụ, nhưng đến khi phát âm mới hiển rõ ra cho ta nghe được. Thanh sinh ngoại đạo thì cho rằng âm thanh vốn không có, chỉ sau khi phát âm mới có và từ đó cứ tồn tại mãi. Còn Phi thanh ngoại đạo thì phản đối luận thuyết của cả Thanh hiển và Thanh sinh mà chủ trương âm thanh là vô thường không tồn tại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]. (xt. Kiến Trảo).

kiến thiết

See Kiến Tạo.

kiến thành công án

(見成公案) Cũng gọi Hiện thành công án. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Công án không nhờ tạo tác mà hiện thành, tức là công án như thực. Tắc 9, Bích nham lục (Đại 48, 149 thượng) chép: Tăng hỏi Triệu châu: Thế nào là Triệu châu? Triệu châu đáp: Cửa đông, cửa tây, cửa nam, cửa bắc. Thiền sư Viên ngộ bình luận: Lời đáp 4 cửa đông, tây, nam, bắc của ngài Triệu châu là công án hiện thành, không cần vay mượn một sự chỉ bày an bài nào khác. Bởi vì tất cả các pháp vốn tự nhiên như thế, tự hiển hiện Phật tính, không cần công phu tạo tác, đều tự thành công án. Nghĩa là Phật pháp hiện thành rõ ràng trên núi sông, cây cỏ và muôn vật. [X. điều Hối tích tàng dụng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.12].

kiến thố phóng ưng

(見兔放鷹) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khi thấy dấu vết của thỏ thì thả chim ưng ra đuổi bắt. Trong Thiền lâm, cụm từ này được dùng để chỉ cho bậc thầy, khi tiếp dắt người học, theo cơ nói pháp, tùy thời ứng biến, khéo léo linh hoạt. Tắc 27, Bích nham lục (Đại 48, 167 trung), nói: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả chim, nhân gió thổi lửa.

kiến thủ

Kiến chấp tà vạy, một trong tứ thủ—Clinging to heterodox views, one of the four kinds of clinging. ** For more information, please see Tứ Thủ.

kiến thủ kiến

Drstiparamasra (skt). • Những tranh cãi do chấp vào ý kiến cố chấp vào thiên kiến của mình, một trong ngũ Kiến—Wrong views caused by attachment to one's own erroneous understandings—To hold heterodox doctrines and be obsessed with the sense of the self. • Kiến thủ kiến (khư khư bảo thủ ý kiến của mình)—Conservative standpoint: Lối nầy là khuynh hướng của những người giữ lấy ý mình và chống lại sự thay đổi. Không ý thức được sự sai quấy, mà vẫn giữ ý, không thèm nghe người khác; hoặc vì tự ái hay vì cứng đầu ngang ngạnh cứ tiếp tục giữ cái sai cái dở của mình. Chẳng hạn như ở Việt Nam người ta có thói quen đốt giấy vàng mã theo phong tục của Trung Hoa trong đám tang. Kỳ thật, đám tang theo nghi thức Phật giáo thật đơn giản. Thân bằng quyến thuộc tề tựu về tụng Kinh A Di Đà để hộ niệm cho người chết thoát khổ. Phật tử, nhất là chư Tăng Ni thích được hỏa táng hơn là địa táng vì cách nầy vừa đở tốn kém lại vừa hợp vệ sinh hơn. Hơn nữa, theo thời gian đất chôn sẽ tăng một cách đáng kể làm giảm đi đất dành cho sự canh tác và xây cất các công thự tiện ích khác—That is the tendency of those who maintain their point of view or resist and oppose change. For example, there are some out-dated customs still practiced in Vietnam such as using Chinese money papers and burning them at funeral ceremonies. In fact, Buddhist funeral rites are simple. Relatives and friends recite the Amitabha Sutra to help free the dead from suffering. Buddhists, especially monks and nuns, prefer cremation to burial, since the first mode is more economic, and hygienic than the second one. Moreover, with time, the burial grounds would extend considerably, reducing thus the land reserved for cultivation and other utilities. ** For more information, please see Ngũ Kiến Thô Thiển and Ngũ Kiến Vi Tế. ; (見取見) Phạm: Dfwỉiparàmrza. Gọi đủ: Kiến đẳng thủ kiến. Gọi tắt: Kiến thủ. Chấp trước sự thấy biết sai lầm, trái với chính lí. Một trong 4 thủ, 1 trong 5 kiến, 1 trong 10 tùy miên. Nghĩa là cố chấp những pháp hữu lậu, hạ liệt mà bậc Thánh đoạn trừ cho là tối thắng. Loại cố chấp này lấy tuệ ô nhiễm làm thể, do phân biệt mà sinh khởi, gây chướng ngại và làm ô nhiễm sự hiểu biết chân chính. Cứ theo mục Thất kiến (7 kiến giải) trong Đại minh tam tạng pháp số quyển 30, thì Kiến thủ kiến còn được gọi là Giới đạo kiến, chỉ cho ngoại đạo không biết giới chân chính của Như lai, chấp bậy giới bò, giới chó, lầm tưởng những giới pháp bất chính ấy là giới hạnh có thể đạt được Niết bàn. Loại chấp trước này gọi là Kiến thủ kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.49; luận Câu xá Q.19; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.47; luận Du già sư địa Q.8; luận Thành duy thức Q.6]. (xt. Kiến, Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến, Tứ Thủ).

kiến thủ sứ

The trials of delusion and suffering from holding heterodox doctrines.

kiến thức

Learning—Knowledge.

kiến thức phàm phu

Worldly knowledge.

kiến thức phân biệt của phàm phu

Kiến thức biện biệt của phàm phu, phân biệt ta và người, đúng và sai—Differentiating knowledge—For ordinary beings, it is the everyday mind continually making distinction between self and others, right and wrong—Provisional wisdom.

kiến thức rộng

Wide knowledge.

kiến tranh

Cố chấp nơi ý kiến sai lầm của mình mà tranh cãi—Wrangling on behalf of heterodox views; striving to prove them.

Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục

(建中靖國續燈錄, Kenchūseikokuzokutōroku): 3 quyển, còn gọi là Tục Đăng Lục (續燈錄, Zokutōroku), do Phật Quốc Duy Bạch (佛國惟白) nhà Tống biên tập, san hành vào năm đầu (1101) niên hiệu Kiến Trung Tĩnh Quốc (建中靖國), là bộ Truyền Đăng Lục kế tiếp Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) và Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄). Sau khi biên tập hoàn thành, Duy Bạch đem bộ này dâng lên cho Hoàng Đế Huy Tông (徽宗) đương thời, cho nên nó được lấy tên niên hiệu lúc bấy giờ là Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục. Tác phẩm này phân biệt rõ 5 môn: Chánh Tông, Đối Cơ, Niêm Cổ, Tụng Cổ, Kệ Tụng; thâu tập các tiểu sử, ngữ cú đối cơ, Cổ Tắc Công Án, kệ tụng, v.v., của chư vị tôn sư để làm gương sáng cho hậu nhân noi theo. Đặc trưng nổi bật của bộ này là có thêm vào những lời dạy của chư vị Thiền sư thuộc Vân Môn Tông.

kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục

(建中靖國續燈錄) Tác phẩm, 33 quyển, trong đó có 3 quyển mục lục, do ngài Phật quốc Duy bạch biên soạn vào đời Tống, hoàn thành vào niên hiệu Kiến trung tĩnh quốc năm đầu (1101), được thu vào Vạn tục tạng tập 136. Sách này tiếp theo các bộ Cảnh đức truyền đăng lục và Thiên thánh quảng đăng lục. Nội dung nghi chép về thứ tự truyền thừa, tiểu sử, cơ duyên ngữ cú, cổ tắc công án, kệ tụng, v.v... của các Thiền sư. Toàn sách chia làm 5 môn là: Chính tông, Đối cơ, Niêm cổ, Tụng cổ và Kệ tụng. Trong đó, ngữ lục của các tông Lâm tế, Vân môn được ghi chép đầy đủ và rõ ràng hơn.

kiến trí thân

(見智身) ... ... .. Ấn và minh(thần chú)được kết tụng trong pháp Kim cương giới của Mật giáo. Trí thân chỉ cho Trí pháp thân. Trước khi kết tụng ấn minh này, phải kết tụng ấn minh của Hiện trí thân, quán tưởng Kim cương tát đỏa(tức Trí pháp thân) của Hiện phổ môn tổng đức, rồi đưa dẫn vào trong tâm của hành giả, khiến Trí pháp thân và Lí pháp thân thầm hợp làm một, do đó, trong tự thân hành giả quán thấy Trí pháp thân một cách rõ ràng, cho nên gọi là Kiến trí thân. Ấn khế này là 2 tay đan lại với nhau ở ngoài, 2 ngón cái đều đặt trong lòng bàn tay. Ấn này thuộc về ấn Nguyệt luân, 2 ngón cái tượng trưng Kim cương tát đỏa. Chân ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la tát đát phạ (vajrasattva, Kim cương tát đỏa) niết lí xả dã (dfiwya, kiến). [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.13].

Kiến Trường Tự

(建長寺, Kenchō-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Kiến Trường Tự thuộc Lâm Tế Tông, hiện tọa lạc tại số 8 Yamanouchi (山之內), Kamakura-shi (鎌倉市), Kanagawa-ken (神奈川縣); tên núi là Cự Phước Sơn (巨福山), tên chính thức của chùa là Cự Phước Sơn Kiến Trường Hưng Quốc Thiền Tự (巨福山建長興國禪寺). Tượng thờ chính là Diên Mạng Địa Tạng (延命地藏). Chùa được Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時賴, Hōjō Tokiyori) xây dựng vào năm 1253 (Kiến Trường 5) để cho Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師, tức Lan Khê Đạo Long [蘭溪道隆, Ranke Dōryū]) từ bên nhà Nam Tống Trung Quốc sang trú trì. Tên chùa được lấy theo niên hiệu năm ấy là Kiến Trường (建長), và Thiền Sư trở thành Tổ khai sơn đầu tiên của chùa. Mối quan hệ của Thời Lại với Đại Giác Thiền Sư cũng giống như mối thâm giao giữa Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) với Phật Quang Quốc Sư (佛光國師, tức Phật Quang Tổ Nguyên [佛光祖元, Bukkō Sogen]). Sau khi Thời Lại qua đời, Đại Giác Thiền Sư mất đi thế chủ đạo, rồi bị lưu đày đến một tiểu quốc xa xôi. Ông có viết bộ Tọa Thiền Luận (坐禪論), truyền bá Thiền Lâm Tế chính thống của Trung Quốc cho hàng võ sĩ cũng như dân chúng Liêm Thương, và đến 66 tuổi thì qua đời. Từ đó về sau, Kiến Trường Tự cũng đã trãi qua biết bao phen thạnh suy; song cũng có rất nhiều cao tăng từ Trung Quốc sang, cọng thêm những du học tăng từ bên Trung Quốc trở về, đều có đến lưu trú tại đây; nên chùa trở thành nguồn gốc của Thiền Tông Nhật Bản, và đứng đầu trong 5 ngôi chùa lớn vùng Liêm Thương. Chùa đã từng gặp mấy lần hỏa tai, quần thể kiến trúc hiện tại của chùa gồm Sơn Môn, Điện Phật, Đường Môn (唐門), Pháp Đường (法堂), Tây Lai Trung Môn (西來中門), Chiêu Đường (昭堂, tức Lễ Đường [禮堂]), Khai Sơn Đường (開山堂), Phương Trượng (方丈), Thiền Đường (禪堂), v.v. Trong khuôn viên chùa có Tháp Khai Sơn, mộ của Đại Ứng Quốc Sư (大應國師), mộ Hoàng Tử Hậu Tha Nga Viện (後嵯峨院), mộ Phật Đăng Quốc Sư (佛燈國師), v.v.

Kiến Trường tự

建長寺; J: kenchō-ji;|Một ngôi chùa thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai) tại Nhật Bản. Vị trụ trì đầu tiên của chùa này là Lan Khê Ðạo Long, một vị Thiền sư Trung Quốc sang Nhật hoằng hoá. Chùa này nằm tại Liêm Thương (j: kamakura), được xếp vào Ngũ sơn của nơi này. Kiến Trường tự là một trong những nơi mà Thiền Lâm Tế còn được truyền bá một cách thuần tuý theo truyền thống.

kiến trường tự

(建長寺) Chùa ở thành phố Liêm thương, Nhật bản, do Bắc điều Thời lại sáng lập vào năm Kiến trường thứ 3 (1251). Là bản sơn của phái Kiến trường tự thuộc tông Lâm tế. Chùa này được kiến trúc phỏng theo kiểu mẫu chùa Hưng thánh vạn phúc ở Kính sơn, Hàng châu, Trung quốc. Sau vua ban sắc đổi tên là chùa Định ngạch, do đó, chùa này trở thành đạo tràng bậc nhất trong 5 đạo tràng ở Liêm thương. Các bậc danh tăng như các ngài Vô học Tổ nguyên, Nhất sơn Nhất ninh, v.v... lần lượt trụ ở chùa này, từ đó chùa trở thành tùng lâm chủ yếu để xiển d ư ơ n g Thiền pháp và nghiên cứu các loại học vấn của Trung quốc, học tăng từ khắp nơi trong nước đều qui tụ về đây. Đến thời đại Thất đinh, đã 1 độ chùa bị hoang phế, về sau nhờ sự giúp đỡ của họ Bắc điều và họ Đức xuyên nên mặc dầu đã nhiều lần chùa bị cháy nhưng đều được trùng tu. Hiện nay chùa có 7, 8 phân viện. Khai sơn đường(Chiếu đường)là kiến trúc của Thiền tông thời Thất đinh. Phật điện(Bản đường)và Đường môn là những kiến trúc thuộc thời kì đầu Giang hộ.

kiến trược

Drsti-kasaya (skt)—Tà kiến khởi lên làm vẩn đục Chánh Pháp, một trong ngũ trược—Wrong views which cause corruption of doctrinal views, one of the five corruptions. ** For more information, please see Ngũ Trược.

kiến trảo

(建爪) Các loại ngoại đạo đời xưa ở Ấn độ. - Kiến, chỉ cho 2 loại ngoại đạo: Kiến lập tịnh ngoại đạo và Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo trong 30 loại ngoại đạo được nói đến trong kinh Đại nhật. -Trảo, chỉ cho ngoại đạo Trường trảo Phạm chí, là cậu của ngài Xá lợi phất. Ông này từng thề là trong một đời phải đọc cho hết 18 loại Đại kinh, trọn đời không cắt móng tay. Cho nên người đương thời gọi ông là Trường trảo phạm chí(Phạm chí có móng tay dài). [X. luận Đại trí độ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.2].

kiến trọc

See Kiến Trược. ; (見濁) ..... Phạm:Dfwỉi-kawàya. Cái thấy vẩn đục. Một trong 5 trược. Vào thời mạt kiếp, chúng sinh có những tư tưởng xấu xa, làm vẩn đục cuộc đời và rối loạn thế gian. Như thấy có, thấy không cho đến 62 thứ kiến giải sai lầm. Thể của Kiến trược gồm 5 kiến là: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Kinh Bồ tát địa trì quyển 7 cho rằng vào thời này(mạt kiếp) Chính pháp hoại diệt, Tượng pháp bắt đầu, tà kiến phát sinh, gọi là Kiến trược. (xt. Ngũ Kiến, Ngũ Trược).

kiến tu

Kiến hoặc và tu hoặc (kiến hoặc là mê hoặc về nghĩa lý mà bậc kiến đạo phải dứt bỏ; tu hoặc là mê hoặc về sự việc mà người tu phải loại trừ)—Wrong views and wrong views in practice (heterodoxy).

kiến tuệ

See Kiến Huệ.

kiến tánh

Tham thiền đến chỗ cùng tột, “Ồ” lên một tiếng, trong sát na tự tánh bỗng hiện, liễu chứng các pháp vô sanh, chẳng phải có năng kiến sở kiến. ; Nhìn thấy được Phật tánh hay nhìn thấy bản tánh thật của chính mình. Về mặt từ nghĩa, “kiến tánh” và “ngộ” có cùng một ý nghĩa và chúng thường được dùng lẫn lộn với nhau. Tuy nhiên khi nói về sự giác ngộ của Phật và chư tổ, người ta thường dùng chữ “ngộ” hơn là “kiến tánh” vì ngộ ám chỉ một kinh nghiệm sâu hơn. Đây là một câu nói thông dụng trong nhà Thiền—To behold the Buddha-nature within oneself or to see into one's own nature. Semantically “Beholding the Buddha-nature” and “Enlightenment” have virtually the same meaning and are often used interchangeably. In describing the enlightenment of the Buddha and the patriarchs, however, it is often used the word “Enlightenment” rather than “Beholding the Buddha-nature.” The term “enlightenment” implies a deeper experience. This is a common saying of the Ch'an (Zen) or Intuitive School.

kiến tánh thành phật

Thấy được tự tánh và thành Phật—To see one's own nature and become a Buddha—To behold the Buddha-nature to reach the Buddhahood or to attain enlightenment.

kiến tâm kiến tánh

Seeing (beholding) the Mind, beholding the Nature.

Kiến tính

見性; C: jiànxìng; J: kenshō;|Tức là trực nhận thấy tính; một danh từ chỉ sự trực nhận thấy chân lí. Như tất cả ngôn ngữ thì danh từ này cũng không chính xác và có thể tạo sự hiểu lầm vì kinh nghiệm kiến tính không có tính nhị nguyên, không có người nhìn (kiến) và không có »tính« được nhìn (xem cuộc đối thoại của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác với Lục tổ Huệ Năng).|Kiến tính đồng nghĩa với Giác ngộ và cũng được sử dụng như nhau. Nhưng thông thường, danh từ Giác ngộ được dùng để chỉ sự giác ngộ của một vị Phật, vị Tổ và kiến tính để chỉ các kinh nghiệm nếm vị giác ngộ ban đầu, cần được tu tập rèn luyện thêm.

kiến tính

See Kiến Tánh. ; (見性) ... .. Thấy rõ tính Phật trong tâm mình. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục (Đại 48, 389 trung), nói: Tức tâm là Phật. Trên từ chư Phật, dưới tất cả côn trùng nhỏ nhít, đều có tính Phật, cùng một tâm thể. Cho nên, ngài Đạt ma từ Tây thiên đến, chỉ truyền một pháp, chỉ thẳng tất cả chúng sinh xưa nay là Phật, chẳng cần tu hành. Chỉ cần hôm nay thấy rõ được tâm tính của chính mình, chớ tìm cầu gì khác. [X. điều Trung ấp Hồng ân trong Cảnh đức truyền đăng lục. Q.6; điều Thắng nhân Sùng khải trong Tục truyền đăng lục Q.19]. (xt. Kiến Tính Thành Phật).

kiến tính thành phật

(見性成佛) Thấy tính thành Phật. Thiền tông chủ trương muốn thành Phật thành Tổ, không nên bám chặt vào sự tu hành bề ngoài, không cần tìm cầu gì bên ngoài, mà dùng trí tuệ Bát nhã thấy suốt chân tính của tâm mình thì có thể giác ngộ. Tức là ngay khi phá tan màn vô minh của phiền não sinh tử, rõ suốt bản lai diện mục của mình thì liền ngộ được nguồn gốc của giác thể tròn sáng. Phẩm Cơ duyên trong Lục tổ pháp bảo đàn kinh (Đại 48, 356 hạ), nói: Bản tính của ông giống như hư không, một vật cũng không thể thấy, gọi là Chính kiến; không một vật có thể biết, gọi là Chân tri, không có xanh, vàng, dài, ngắn, mà chỉ thấy bản nguyên thanh tịnh, giác thể viên minh, gọi là Kiến tính thành Phật. [X. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục; Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.16].

kiến tư

Views and thoughts—See Kiến Hoặc and Tư Hoặc.

kiến tư giới

The realm of view and thought.

kiến tư hoặc

(見思惑) Gọi tắt: Kiến tư. Danh từ gọi chung Kiến hoặc và Tư hoặc, là 1 trong 3 hoặc. Kiến hoặc và Tư hoặc là nhân của phần đoạn sinh tử trong 3 cõi, mê về lí gọi là Kiến hoặc, mê nơi sự gọi là Tư hoặc. Muốn đoạn trừ hết 2 loại hoặc này thì Tạng giáo, Thông giáo phải đến Cực quả, Biệt giáo đến Thất trụ, Viên giáo đến Thất tín. Theo Thiên thai tứ giáo nghi thì Kiến tư hoặc có 7 tên khác là: Kiến tu, Tứ trụ, Nhiễm ô vô tri, Thủ tướng hoặc, Chi mạt vô minh, Thông hoặc và Giới nội hoặc. Trong đây, Kiến tu, tức chỉ cho Kiến hoặc do giai vị Kiến đạo đoạn trừ và Tu hoặc do giai vị Tu đạo đoạn trừ. Tứ trụ, chỉ cho Nhất xứ trụ địa của Kiến và Tam trụ địa của Tư. Nhiễm ô vô tri, chỉ cho Kiến tư. Thủ tướng hoặc, nghĩa là Kiến tư nắm giữ tướng sinh tử trong 6 đường. Đối lại với căn bản vô minh mà gọi Kiến tư là Chi mạt vô minh. Kiến tư do hàng Tam thừa cùng đoạn trừ, cho nên gọi là Thông hoặc. Kiến tư chỉ tăng trưởng nghiệp hữu lậu và chiêu cảm sinh tử trong 3 cõi, nên gọi là Giới nội hoặc. Ngoài ra, Kiến tư còn có 2 cách giải thích khác nhau: 1. Tòng giải đắc danh: Căn cứ vào trí giải năng đoạn mà lập ra tên gọi sở đoạn. Nghĩa là khi trí vô lậu năng đoạn sinh khởi, soi lấy lí Tứ đế, thì phiền não sở đoạn được gọi là Kiến hoặc; sau đó lại tư duy về lí Tứ đế một lần nữa để đoạn trừ, gọi là Tư hoặc. 2. Đương thể thụ xưng: Dựa vào đương thể của phiền não mà đặt tên. Nghĩa là phiền não vốn không có thực thể, Kiến là pháp hư vọng không có thật, cho nên gọi là Kiến hoặc. Những phiền não tham, sân, v.v... duyên theo sự tướng 5 trần, 6 dục, rồi qua tư duy mà lưu lại trong tâm thức, nên gọi là Tư hoặc. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.thượng, Q.5 thượng; Ma ha chỉ quán Q.5 hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5 phần 5, Q.7 phần 1; Quan âm huyền nghĩa kí Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, Q.hạ].

kiến tướng

Chuyển Tướng—Theo Khởi Tín Luận, do cái nghiệp tướng thứ nhất mà chuyển hóa thành các tướng có thể thấy được—The state or condition of visibility, which according to the Awakening of Faith, arises from motion.

kiến tại phật

(見在佛) Cũng gọi Hiện tại Phật. Tiếng tôn xưng của giới tăng sĩ Trung quốc thời xưa đối với vua chúa. Cứ theo Lâm gian lục dẫn lời trong Qui điền lục của Âu dương tu, chép rằng vua Thái tổ nhà Tống lần đầu đến chùa Tướng quốc, đứng trước tượng Phật, hỏi có nên lễ bái không? Tăng lục Tán ninh tâu rằng (Vạn tục 148, 295 hạ): Không nên bái. Vua hỏi: Vì sao? Đáp: Phật hiện tại không lạy Phật quá khứ. Từ đó, câu nói ấy trở thành định chế.

kiến tạo

To build—To errect—To construct.

kiến võng

Lưới bủa của tà kiến (trói buộc không cho thân tâm ta giải thoát khỏi luân hồi sanh tử)—The net of heterodox views, or doctrines, which binds men and rob them of freedom. ; (見網) Lưới tà kiến. Tức là các loại tà kiến giống như tấm lưới trói buộc chúng sinh. Đó là 16 tri kiến, 62 kiến. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 37 (Đại 10, 193 hạ), nói: Nghiệp là ruộng nương, thức là hạt giống, vô minh che phủ, nước ái thấm nhuần, được ngã mạn bón tưới, nên lưới kiến thêm lớn. [X. Pháp hoa văn cú Q.4 hạ].

kiến văn

1) Thấy và nghe—Experience—Knowledge—Learning—Seeing and hearing. 2) Thấy Phật bằng mắt và nghe Phật pháp bằng chính tai của mình—Beholding the Buddha with the eyes and hearing his truth with the ears.

kiến văn giác tri

(見聞覺知) ........... Thấy nghe hay biết. Tiếng gọi chung những tác dụng của tâm thức khi tiếp xúc với các đối tượng bên ngoài. Thấy là tác dụng của thức mắt, nghe là tác dụng của thức tai, hay (giác) là tác dụng của 3 thức mũi, lưỡi, thân, biết là tác dụng của thức ý. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 582 thượng), nói: Ngũ nhãn (5 mắt) của Như lai bắt nguồn từ tâm Bồ đề rốt ráo thanh tịnh, dùng Nhất thiết chủng trí quán xét tất cả pháp, cho nên Kiến văn giác tri của Như lai đều rõ ràng không bị ngăn ngại. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 2, thì tùy theo sự thấy nghe hay biết mà có 4 cách nói: Tùy theo mắt thấy mà nói, tùy theo tai nghe mà nói, tùy theo cảm giác mà nói, tùy theo sự biết mà nói, v.v... [X. kinh Tạp a hàm Q.13; kinh Trung a hàm Q.49; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Đại trí độ Q.40; luận Du già sư địa Q.56; Thành duy thức luận thuật kí Q.8].

kiến văn nghi

(見聞疑) Thấy, nghe, ngờ. Tiếng gọi chung 3 tác dụng thấy, nghe, ngờ, trong giới luật học gọi 3 tác dụng này là Tam căn. Nghĩa là mắt thấy người phạm tội, tai nghe người phạm tội và tuy không thấy không nghe nhưng tâm nghi ngờ người phạm tội. Cứ theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2, nếu có người tố cáo người khác phạm tội thì không được vội tin lời người tố cáo ngay, mà phải gọi cả người bị tố cáo đến trước chúng tăng để đối chất. Trước hết, hỏi người tố cáo về 3 căn là: chính mắt mình trong thấy người kia phạm tội hay nghe người khác mách bảo mà thấy, thấy người phạm tội ở đâu và đã phạm tội gì? Sau đó, hỏi người bị cáo xem có đúng không.

kiến vương trai

Lễ cúng Trai Tăng ba ngày sau khi có người chết, khi mà vong linh người chết đang chầu Diêm Vương (Lễ Kiến Diêm Vương)—The service on the third day when the deceased goes to see King Yama.

kiến xứ

Ngay nơi tà kiến khởi sanh luân hồi—The state of wrong views—The state of wrong views gives rise to transmigration.

kiến ái

Tất cả mọi mê hoặc về lý như ngã kiến tà kiến, cũng như tất cả mọi mê hoặc về tham, sân, si đều là gốc rễ của khổ đau phiền não—Views and desires are the root of all suffering, i.e. the illusion that the ego is a reality and the consequent desires and passions. ** For more information, please see Kiến Hoặc Tư Hoặc and Tam Hoặc.

kiến ái phiền não

(見愛煩惱) Cũng gọi Kiến trước nhị pháp. Danh từ gọi chung Kiến phiền não và Ái phiền não. Kiến phiền não chỉ cho tất cả phiền não mê lí như ngã kiến, tà kiến, v.v... Còn Ái phiền não thì chỉ cho tất cả phiền não thuộc mê sự như tham dục, sân hận, v.v... Kiến là phiền não chướng do phân biệt mà có, hễ dùng tác dụng của tuệ mà suy tính đối tượng thì đều gọi là Kiến, như 5 kiến nhiễm ô, chính kiến thế gian, chính kiến hữu học, chính kiến vô học, trong đó 5 kiến nhiễm ô thuộc Kiến phiền não. Còn Ái là phiền não chướng câu sinh(sinh ra đã có), hễ tâm tham nhiễm thì đều gọi là Ái; trong các phiền não mê sự, thì ái trước là gốc của mọi khổ đau, vì thế Ái bao gồm tất cả các phiền não khác. [X. luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.7, Q.21; luận Du già sư địa Q.89; Tứ giáo nghĩa Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.9 phần cuối; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng].

kiến điên đảo

Mắt nhận biết ngoại cảnh điên đảo hư ảo mà cho là thực, một trong ba điên đảo—To see things upside down—To regard illusion as reality, one of the three subversions (subverters). ** For more information, please see Tam Điên Đảo.

kiến đà ca

Kanthaka (skt)—Ngựa “kiền trắc” mà Thái tử Tất Đạt Đa đã cỡi ra khỏi kinh thành để xuất gia (người ta nói con ngựa nầy là hóa thân của Đế Thích)—The horse on which Sakyamuni rode when he left home.

kiến đào lục

(見桃錄) Tên đầy đủ: Viên mãn Bản quang quốc sư kiến đào lục. Cũng gọi Bản quang quốc sư ngữ lục, Linh vân kiến đào lục. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Đại hưu Tông hưu (1468-1549) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, thu vào Đại chính tạng tập 81. Nội dung thu chép các bản ngữ lục như: Chính pháp sơn Diệu tâm tự ngữ lục, Đại long sơn Lâm tế tự ngữ lục, Thanh long sơn Thụy tuyền tự ngữ lục và các bài kệ tụng, Tượng tán, Đạo hiệu tụng, Lập địa, Niêm hương, Bỉnh cự, Yêm khoáng, Dự thỉnh bỉnh cự, v.v... Ở cuối quyển có phụ thêm Thần hàn, Đồng môn sớ...

kiến đại

Kiến tính bao trùm khắp pháp giới, một trong thất đại như sắc tính bao trùm khắp pháp giới—Visibility or perceptibility as one of the seven elements of the universe. ; (見大) ... .. Tính thấy của mắt. Một trong 7 đại. Tính của sắc cùng khắp pháp giới, tính thấy của mắt cũng giống như thế, cho nên gọi là Kiến đại. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.30]. (xt. Thất Đại).

Kiến đạo

Dùng con mắt trí tuệ chân chánh, kiến giải ngay thật mà nhận ra tính chất khổ, bất tịnh của cuộc đời, và sự an lạc, giải thoát trong đời sống đạo hạnh. Đây là chỗ chứng đắc đầu tiên của người tu học, so trong bốn mức độ chứng đắc lần lượt là: Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo và Phật đạo. Do tỉnh giác về cuộc sống mà có thể Kiến đạo. Do Kiến đạo mà có thể khởi sự Tu đạo. Do Tu đạo mà được trí huệ Vô học đạo, tức là quả vị A-la-hán. Do được Vô học đạo mà tiếp tục tu hành các thánh hạnh để được Phật đạo, tức là quả vị Như Lai.

kiến đạo

1) Con đường của sự thấy biết chân lý: Darsanamarga (skt)—Ditthimagga (p)—The path of insight. 2) Ditthapada (p)—Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát (bậc đã thấy được chân lý)—Theory, the way or stage of beholding the truth, i.e. that of the Sravakas and the first stage of Bodhisattva (one who has seen the Truth). ** For more information, please see Tam Đạo (B). ; (見道) ..... Phạm: Darzana-marga. Cũng gọi: Kiến đế đạo, Kiến đế. Chỉ cho giai vị tu hành dùng trí vô lậu quán xét Tứ đế để thấy rõ chân lí. Là 1 trong 3 đạo. Từ Kiến đạo trở về trước là phàm phu, từ Kiến đạo trở về sau là bậc Thánh. Kế đến, hành giả đã đạt được giai vị Kiến đạo, đối với sự tướng lại tiếp tục tu tập một cách cụ thể thì gọi là Tu đạo, cùng với Kiến đạo gọi chung là Hữu học đạo. Đối lại là Vô học đạo, hay còn gọi là Vô học vị, Vô học quả, Vô học địa, nghĩa là đã giác ngộ cùng tột, rốt ráo không còn gì để học. Theo Phật giáo Tiểu thừa, tu Tam hiền, Tứ thiện căn (Thất phương tiện) có thể phát sinh trí vô lậu mà tiến vào Kiến đạo. Còn Đại thừa thì cho Sơ địa là vào Kiến đạo, cho nên gọi là Bồ tát sơ địa là Kiến đạo, địa thứ 2 trở lên là Tu đạo, đến địa thứ 10 là quả vị Phật mới có thể gọi là Vô học đạo. Mật giáo thì cho giai vị mới phát tâm tịnh Bồ đề là Kiến đạo, gọi trí vô lậu phán đoán đạo lí rõ ràng là Quyết trạch(quyết đoán lựa chọn), Kiến đạo là 1 phần của quyết trạch, cho nên gọi là Quyết trạch phần. Ngoài ra, Thánh đạo đạt đến Niết bàn là chính tính, cho nên Kiến đạo được gọi là Chính tính. Lại vì Thánh đạo đều xa lìa phiền não, gọi là Lí sinh, Kiến đạo xa lìa sinh tử của Dị sinh(phàm phu), cho nên gọi Kiến đạo là Li sinh, do đó, Kiến đạo cũng được gọi là Chính tính li sinh, Chính tính quyết định(quyết định đạt Niết bàn). Phiền não do Kiến đạo đoạn trừ gọi là Kiến hoặc. Những phiền não do Tu đạo đoạn trừ gọi là Tu hoặc. Về vấn đề này, các bộ phái giải thích có khác nhau. 1. Nhất thiết hữu bộ cho rằng trí vô lậu của Kiến đạo hiện quán Tứ đế(Khổ, Tập, Diệt, Đạo)có 2 loại: Trí vô gián đạo đoạn kiến hoặc và Trí giải thoát đạo chứng đoạn chân lí Tứ đế. Về đối tượng được quán xét thì có thể chia làm 16 tâm gồm 8 nhẫn và 8 trí; tức là Khổ pháp trí nhẫn(trí vô gián đạo) và Khổ pháp trí(trí giải thoát đạo)do quán xét Khổ đế ở cõi Dục mà được. Khổ loại trí nhẫn và Khổ loại trí do quán xét Khổ đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Tập pháp trí nhẫn và Tập pháp trí do quán xét Tập đế ở cõi Dục mà được; Tập loại trí nhẫn và Tập loại trí do quán xét Tập đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Diệt pháp trí nhẫn và Diệt pháp trí do quán xét Diệt đế ở cõi Dục mà được. Diệt loại trí nhẫn và Diệt loại trí do quán xét Diệt đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Đạo pháp trí nhẫn và Đạo pháp trí do quán xét Đạo đế ở cõi Dục mà được. Đạo loại trí nhẫn và Đạo loại trí do quán xét Đạo đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc mà được. Dùng 16 tâm trên đây mà quán xét rõ lí Tứ đế, gọi là Thánh đế hiện quán. Trong đó, 15 tâm trước thuộc về Kiến đạo, đặc biệt được gọi là 15 tâm Kiến đạo. Còn Đạo loại trí thì thuộc phạm vi Tu đạo (xem đồ biểu). Đối với Tu hoặc trong 3 cõi 9 địa, thì Tu đạo đều chia làm 9 phẩm: Thượng thượng phẩm, Thượng trung phẩm, cho đến Hạ hạ phẩm, tổng cộng thành 81 phẩm, đó là quá trình Tu đạo đoạn trừ Tu hoặc. Còn nói về thứ lớp tu chứng thì Kiến đạo là Dự lưu hướng, cho nên ở tâm thứ 16(Đạo loại trí) chứng Sơ quả(quả Dự lưu). Nhưng đối với những người tu chứng vượt qua vị Dị sinh (vị phàm phu) mà nói, thì những người ấy dùng trí thế tục tu 6 hành quán hữu lậu, nghiệp đã dứt, đoạn trừ 1 phần Tu hoặc, cho nên xét về trình độ của họ có thể ở nơi tâm thứ 16 chứng được quả thứ 1, quả thứ 2(quả Nhất lai), hoặc quả thứ 3(quả Bất hoàn) Tu đạo là giai đoạn ở khoảng giữa tính từ các quả vị kể trên cho đến A la hán hướng. Vô học học chứng quả A la hán, tùy theo năng lực và căn cơ hơn kém, có thể chia làm 7 loại A la hán, từ Thoái pháp A la hán cho đến Bất thoái pháp A la hán. Ngoài ra, lại thêm Độc giác, Phật, hoặc Tuệ giải thoát và Câu giải thoát nữa, thì gọi là Cửu vô học. Người độn căn ở giai vị Kiến đạo gọi là Tùy tín hành, ở giai vị Tu đạo, gọi là Tín giải, ở giai vị Vô học đạo gọi là Thời giải thoát. Còn những người lợi căn, thì ở các giai vị Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo lần lượt được gọi là Tùy pháp hành, Kiến chí và Bất thời giải thoát. 2. Kinh lượng bộ và luận Thành thực cho rằng 16 tâm (tức 8 nhẫn 8 trí) hoàn toàn thuộc về Kiến đạo. Còn Độc tử bộ thì cho rằng 12 tâm trước thuộc Kiến đạo, 4 tâm sau thuộc Tu đạo. 3.Tông Duy thức chia Kiến đạo làm 2 loại là: Chân kiến đạo và Tướng kiến đạo. Chân kiến đạo chứng lí Duy thức, có khả năng dẫn sinh trí căn bản vô phân biệt, chứng ngộ lí chân như. Còn Tướng kiến đạo thì chứng ngộ tướng Duy thức, là giai vị sau Chân kiến đạo phát sinh Hậu đắc trí vô phân biệt mà quán lí chân như, chia làm 2 loại là: Ba tâm tướng kiến đạo và 16 tâm tướng kiến đạo. Ba tâm Tướng kiến đạo: 1.Quán xét sắc thân của chính mình mà thể chứng ngã không. 2.Thể chứng pháp không, thấu suốt các pháp đều không có thực thể. 3.Quán xét hữu tình và tất cả các vật thuộc mình và người khác mà thể ngộ lí Ngã không và pháp không. Mười sáu tâm Tướng kiến đạo tức là 4 đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo; mỗi đế đều có 4 loại: Pháp trí nhẫn, pháp trí, loại trí nhẫn, loại trí, tổng cộng 16 tâm, quán xét biệt tướng của Tứ đế, đoạn trừ hết chủng tử của phiền não chướng và sở tri chướng mà chứng ngộ vị Vô học. [X. luận Câu xá Q.23; luận Đại tì bà sa Q.3, Q.54, Q.75; luận Thành thực Q.1, Q.15; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.73; luận Thành duy thức Q.6, Q.9; luận Du già sư địa Q.55; luận Hiển dương thánh giáo Q.17; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.9; Đại thừa pháp uyển châu lâm Q.2 phần cuối]. (xt. Tam Đạo, Tứ Hướng Tứ Quả, Hữu Học, Kiến Hoặc, A La Hán). Đồ Biểu: 8 ĐẾ 16 TÂM

kiến đảo

xem ba sự điên đảo.

kiến đế

Chứng ngộ chân lý—The realization of correct views. 1) Bậc Thánh chứng quả Dự Lưu trong Tiểu Thừa: The Hinayana stage of one who entered the stream of holy living. 2) Bồ Tát Kiến Địa trong Đại Thừa (trên bậc sơ địa): The Mahayana stage after the first Bodhisattva stage.

kiến địa

Thấy được chân lý Tứ Đế, vị thứ tư trong thập địa, tương đương với quả vị “Dự Lưu” trong Tiểu Thừa—The stage of insight—The discernment of reality of the four Noble Truths, the fourth in the ten stages of progress toward Buddhahood, agreeing with the fruit of stream-entry of Hinayana. ** For more information, please see Thập Địa Bồ Tát Tam Thừa. ; (見地) ..... Phạm: Darzana-bhùmi. Địa thứ 4 trong Thập địa bồ tát, tương đương với quả Dự lưu của Thanh văn thừa. Hành giả tu tập Bồ tát thừa ở giai vị này dứt hết 88 Kiến hoặc trong 3 cõi, phát sinh chân trí vô lậu, thấy rõ chân lí Tứ đế, tức là Đạo loại trí, tâm cuối cùng trong 16 tâm của Tứ đế. Cứ theo phẩm Phát thú trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, Bồ tát ở giai vị này phải thực hành 10 pháp bất xả (không bỏ): Không bỏ nơi ở vắng vẻ, ít muốn, biết đủ, không bỏ công đức đầu đà, không bỏ giới cấm, chán nghét các ham muốn, tâm nhàm chán thế gian ưa thích Niết bàn, bỏ tất cả vật sở hữu, tâm không đắm đuối, không tiếc mọi vật. (xt. Thập Địa).

kiến độc

xem bốn thứ độc. ; Chất độc hay sự độc hại của tà kiến—The poison of wrong views.

kiến ẩn quán tự tại

(見隱觀自在) Cũng gọi Bảo khiếp Quan âm. Vị Bồ tát được hóa hiện từ tay cầm Bảo khiếp(hộp báu)của ngài Quan âm nghìn tay. Là 1 trong 40 vị tôn Quan âm của Mật giáo. Theo kinh Thiên quang nhãn bí mật pháp, nếu muốn thấy kho báu được cất dấu trong lòng đất, thì nên tu pháp Bảo khiếp. Về hình tượng của vị Bồ tát này, thì tay trái cầm Bảo khiếp, tay phải ở tư thế mở nắp Bảo khiếp; còn các tướng hảo khác thì giống với ngài Dữ nguyện Quán tự tại. Về ấn khế, thì tay trái ngửa lên, tay phải úp lên tay trái. Chân ngôn là: Án (oô) phạ nhật la đạt ma (Vajradharma, Kim cương pháp) chước cụ sổ (cakwu, bản nhãn) già đà da (ghatàya, khai) a bát la để ha đá da (aprtihatàya, vô chướng ngại) sa phạ hạ (svàhà).

kiến, văn, giác, tri

Tức là trong lục căn: mắt chủ sự kiến, tai chủ sự văn, mũi, lưỡi và thân chủ sự giác, ý chủ sự tri (biết). Nói chung là kiến, văn, giác, tri.

Kiến-chí

S: sāñcī;|Một thành phố Trung Ấn. Giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ 1 sau Công nguyên, người ta xây dựng nhiều thánh tích Phật giáo nơi đây. Tất cả các dạng Bảo tháp sau này đều xuất phát từ đây.

Kiếp

劫 (刧); C: jié; J: kō; S: kalpa; P: kappa; dịch trọn âm là Kiếp-ba (劫波);|Một khái niệm Phật giáo nhằm chỉ một thời gian rất dài. Một thời kiếp được biểu diễn như sau: cứ trăm năm có người dùng một tấm khăn lụa chùi một khối đá lập phương mỗi bề một dặm (1,6 km = 1dặm), thì lúc khối đá mòn hết, đó là một kiếp. Mỗi kiếp có bốn giai đoạn sinh, thành, hoại, diệt của các thế giới. Trong giai đoạn sinh thành của thế giới, sinh vật bắt đầu sinh sôi nẩy nở. Trong giai đoạn hai, các thiên thể (mặt trời, mặt trăng) được sinh ra, sinh vật phát triển và bắt đầu có dạng đời sống xã hội. Trong giai đoạn hoại diệt, các yếu tố lửa, nước và gió phá huỷ toàn bộ thế giới.|Bốn giai đoạn nói trên hình thành một đại kiếp (s: mahākalpa), mỗi đại kiếp gồm 20 tiểu kiếp hợp lại. Mỗi tiểu kiếp lại được chia ra thành những thời kì sắt, đồng, bạc, vàng. Trong thời gian một tiểu kiếp thành hình, thọ mệnh của con người cứ kéo dài thêm, cứ mỗi trăm năm thêm một tuổi, cho đến lúc con người thọ 84000 năm. Thân thể con người cũng cao lớn đến 8400 bộ. Trong giai đoạn hoại diệt của một tiểu kiếp, đó là giai đoạn của chiến tranh, bệnh dịch, thiếu ăn lan tràn, thì thọ mệnh con người ngắn dần, chỉ còn 10 năm. Thân người lúc đó chỉ còn một bộ.

kiếp

hay kiếp-ba, phiên âm từ Phạn ngữ kalpa, chỉ một quãng thời gian rất dài, hầu như không thể tính đếm. Trong kinh luận có nhiều chỗ giải thích khác nhau về quãng thời gian này. Như có lần Phật dạy: “Như có quả núi lớn ở gần thành ấp, người dân ở đó cứ một trăm năm lại đến dùng một tấm vải quất vào quả núi, cho đến khi quả núi ấy mòn sạch đi vẫn chưa hết một kiếp.” Như vậy có thể hình dung thời gian một kiếp là rất lâu. ; Là thời gian rất dài. ; Kalpa (skt). (I) Nghĩa của Kiếp—The meanings of Kalpa: 1) Một khoảng thời gian rất dài: Aeon—Life—An infinitely long time. 2) Khoảng thời gian một ngày một đêm trên cõi Trời Phạm Thiên (tương đương với 4 tỷ 320 triệu năm): The length of a day and night of Brahma (4.320.000.000 years). 3) Khoảng thời gian từ lúc vũ trụ được thành lập, đến hoại diệt rồi lại được thành lập: A period of time between the creation and recreation of a world or universe. 4) Lấy áo trời vỗ vào một tảng đá dài 40 dậm, cứ mỗi trăm năm lại vỗ một lần, cứ thế cho đến khi áo trời rách nát, tiểu kiếp vẫn chưa hết—To pass a heaven cloth over a solid rock 40 li in size once in a hundred years, when finally the rock has been thus worn away a kalpa will not yet have passed. (II) Phân loại Kiếp—Categories of Kalpas: (A) Phân loại theo Phương cách, có ba loại—Methodologically speaking, there are three types of kalpas: 1) Tiểu Kiếp: Small kalpa—See Tiểu Kiếp. 2) Trung Kiếp: Middling Kalpa—See Trung Kiếp. 3) Đại Kiếp: Mahakalpa—See Đại Kiếp. (B) Phân loại theo sự cấu tạo vụ trụ—Có bốn loại kiếp—Categories based on the formation of the universe—The kalpa is divided into four parts: 1) Thành Kiếp: The period of world formation. 2) Trụ Kiếp: The period of world-continuation (stability or development). 3) Hoại Kiếp: The period of the world-dissolution. 4) Không Kiếp: The period of void. ; (劫) .. Phạm: Kalpa Pàli:Kappa. Hán âm: Kiếp ba, Kiếp bả, Kiếp pha, Yết lạp ba. Hán dịch: Phân biệt thời phần, Phân biệt thời tiết, Trường thời, Đại thời, Thời. Vốn là đơn vị thời gian rất dài của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa, về sau Phật giáo dùng theo và coi đó là thời gian không thể tính toán được bằng năm tháng. Có thuyết nói 1 kiếp tương đương với 1 ngày ở cõi trời Đại phạm, hoặc 1.000 thời (Phạm:Yuga), tức là bốn mươi ba ức hai nghìn vạn năm (243.000.000 năm) ở nhân gian, cuối kiếp có nạn lửa xảy ra, đốt cháy hết tất cả, sau đó thế giới được thành lập lại. Thuyết khác thì cho rằng 1 kiếp có 4 thời: 1. Viên mãn thời (Phạm: Kftayuga), tương đương với 1.728000 năm. 2. Tam phần thời (Phạm: Tretàyuga), tương đương với 1.296.000 năm. 3. Nhị phần thời (Phạm: Dvàyuga), tương với 864.000 năm. 4. Tranh đấu thời (Phạm: Kaliyuga), tương đương với 432.000 năm. Tất cả 4 thời gồm có 4.320.000 năm. Theo thuyết này thì thời gian chúng ta đang sống đây thuộc về thời Tranh đấu. Ngoài ra, căn cứ vào thuyết 1 kiếp có 4 thời nói trên, Bà la môn giáo cho rằng so sánh 4 thời với nhau, thì về mặt thời gian càng ngày càng ngắn đi, thân hình con người thấp bé dần và đạo đức mỗi ngày mỗi sa sút, nếu thời Tranh đấu kết thúc thì là mạt kiếp, thế giới sắp bị hủy diệt. Quan niệm về thời gian của Phật giáo lấy Kiếp làm cơ sở để thuyết minh quá trình hình thành và hủy diệt của thế giới. Về vấn đề phân loại các Kiếp, trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau: - Luận Đại trí độ quyển 38, cho rằng Kiếp có 2 loại: Đại kiếp và Tiểu kiếp. - Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá chia Kiếp làm 5 loại: Dạ, Trú, Nguyệt, Thời, Niên(đêm, ngày, tháng, giờ, năm). - Luận Đại tì bà sa quyển 135 cho rằng Kiếp có 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp. - Luận Câu xá quyển 12 nêu 4 loại: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp. - Luận Chương sở tri quyển thượng chia Kiếp thành 6 loại: Trung kiếp, Thành kiếp, Trụ kiếp, Hoại kiếp, Không kiếp và Đại kiếp. - Du già sư địa luận lược toản quyển 1 phần cuối nói có 9 loại Kiếp: 1. Nhật nguyệt tuế số(số ngày tháng năm). 2. Tăng giảm kiếp(tức Tiểu tam tai kiếp (đói, kém, tật bệnh, đao binh), gọi là Trung kiếp. 3. Hai mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm chúng thiên kiếp. 4. Bốn mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm tiền ích thiên kiếp. 5. Sáu mươi kiếp là 1 kiếp, tức Đại phạm thiên kiếp. 6. Tám mươi kiếp là 1 kiếp, tức Hỏa tai kiếp. 7. Bảy hỏa tai kiếp là 1 kiếp, tức Thủy tai kiếp. 8. Bảy thủy tai kiếp là 1 kiếp, tức Phong tai kiếp. 9. Ba đại a tăng kì kiếp. Trong các kinh luận còn có những tên gọi Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp. Tiểu kiếp, Trung kiếp đều được dịch từ tiếng PhạmAntara-kalpa, còn Đại kiếp thì được dịch từ tiếng Phạm Mahà-kalpa. Trong kinh Pháp hoa do ngài Cưu ma la thập dịch, đều gọi là Tiểu kiếp, nhưng trong phẩm Đề bà đạt đa do ngài Pháp ý dịch thì gọi là Trung kiếp. Kinh Đại lâu thán quyển 5 cho 3 tai ách: Binh đao, bệnh tật, đói kém là 3 tiểu kiếp, kinh Khởi thế quyển 9 thì gọi là 3 Trung kiếp. Luận Lập thế a tì đàm cho 80 tiểu kiếp là 1 Đại kiếp; luận Đại tì bà sa thì cho 80 trung kiếp là 1 Đại kiếp. Những sai biệt này đều có thể được xem là do sự phiên dịch khác nhau từ tiếng Phạm Antarakalpamà ra. Chữ Kiếp vốn biểu thị thời hạn, trong đó, tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng Kiếp biểu thị thời gian dài thì thường được dùng để thuyết minh sự sinh thành và hoại diệt của thế giới. Như đã trình bày ở trên, luận Đại tì bà sa chia Kiếp làm 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp; luận Câu xá chia làm 4 loại kiếp: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp, v.v... đều nói về sự thành hoại của thế giới. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 135, Trung gian kiếp cũng có 3 loại là: Giảm kiếp, Tăng kiếp và Tăng giảm kiếp. - Giảm kiếp: Thời gian từ lúc con người sống lâu vô lượng tuổi giảm xuống dần đến lúc chỉ còn 10 tuổi. - Tăng kiếp: Thời gian từ lúc con người chỉ sống có 10 tuổi tăng dần lên đến 80.000 tuổi. - Tăng giảm kiếp: Thời gian con người chỉ sống có 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, rồi lại từ 80.000 giảm xuống đến 10 tuổi. Ba loại kiếp trên nói về sự sai khác của 20 Trung kiếp trong kiếp Trụ, tức là trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ, thì kiếp thứ 1 là kiếp giảm, kiếp thứ 20 là kiếp tăng, còn 18 kiếp ở khoảng giữa là kiếp tăng giảm, thời gian của mỗi Trung kiếp đều bằng nhau. Sở dĩ như vậy là vì trong kiếp giảm đầu tiên, chúng sinh còn nhiều phúc đức nên sự giảm xuống còn tương đối chậm, trong kiếp tăng cuối cùng chúng sinh còn ít phúc đức nên sự tăng lên cũng chậm, còn trong 18 kiếp trung gian, thì thời gian luân lưu có chậm có nhanh, vì thế mà thời gian của 3 kiếp này bằng nhau. Trên đây là luận điểm của Tiểu thừa. Nhưng, theo luận Du già sư địa quyển 2, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 và Du già sư địa luận lược toản quyển 1, thì Đại thừa lập mỗi kiếp của 20 Trung kiếp đều có tăng giảm, cho nên không cần chia ra 3 thứ kiếp như luận Đại tì bà sa, tức cho mỗi Trung kiếp là tăng giảm kiếp duy nhất. Còn kinh Ưu bà tắc giới quyển 7 thì cho rằng từ 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, lại từ 80.000 tuổi giảm còn 10 tuổi, cứ tăng giảm như thế đủ 18 lần, gọi là Trung kiếp. Trong Trung kiếp nhất định có 3 tai ách xảy ra, gọi là Tiểu tam tai(đao binh, tật bệnh, đói kém). Thời gian xuất hiện của 3 tai ách này có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 134, thì vào kiếp giảm của mỗi Trung kiếp, mỗi khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi, thì 3 tai ách liền xuất hiện. Theo luận Đại tì bà sa, trong 1 kiếp, tam tai cùng khởi lên thì trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ đều có tiểu tam tai. Theo luận Lập thế a tì đàm, trong mỗi kiếp lần lượt xảy ra 1 tai ách, thì kiếp thứ nhất là kiếp Tật dịch (Phạm: Rogàntara-kalpa), kiếp thứ 2 là kiếp Đao binh (Phạm: Zastràntara-kalpa), kiếp thứ 3 là kiếp Cơ cận (Phạm: Durbhikwàntara-kalpa), cho đến thứ 19 là kiếp Tật dịch. Trong kiếp Trụ có 20 Trung kiếp như trên, trong các kiếp Hoại, kiếp Không, kiếp Thành... cũng đều có 20 Trung kiếp, cộng chung lại là 80 Trung kiếp. Trong 3 kiếp Hoại, Không, Thành tuy không có sự tăng giảm khác nhau, nhưng do thời gian của chúng bằng với kiếp Trụ, cho nên đều có 20 Trung kiếp. Tám mươi Trung kiếp là 1 Đại kiếp, 1 Đại kiếp bao gồm 4 kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không, là 1 chu kì sinh thành và hoại diệt của thế giới. Thời kì kiếp Hoại, khí thế gian hư hoại, có 3 tai ách xảy ra là: Lửa, nước, gió, gọi là Đại tam tai, để phân biệt với Tiểu tam tai đã nói ở trên. Trong đó, nạn lửa khởi lên thì 7 mặt trời xuất hiện, gió thổi, lửa cháy dữ dội, từ cõi Sơ thiền trở xuống đều bị thiêu rụi. Nạn nước xảy ra do mưa dầm dề, từ cõi Nhị thiền trở xuống đều bị ngập lụt. Nạn gió khởi lên do cuồng phong, từ cõi Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Theo thứ tự, đầu tiên thế giới bị nạn lửa hủy diệt 7 lần, kế đến bị nạn nước hủy diệt 1 lần, sau nạn nước lại có 7 lần nạn lửa. Đủ 7 lần nạn nước như thế rồi, lại xảy ra thêm 7 lần nạn lửa nữa, sau đó khởi lên 1 lần nạn gió, khí thế giới từ cõi trời Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Tính chung có 8 x 7 = 56 lần nạn lửa, 7 lần nạn nước, 1 lần nạn gió, tức là 64 chuyển đại kiếp. Như vậy, khí thế giới từ cõi Sơ thiền trở xuống, cứ trải qua 1 đại kiếp thì bị phá hoại 1 lần; cõi Tam thiền thì cứ mỗi 64 đại kiếp lại 1 lần bị phá hoại. Trong cõi Sắc, chỉ có cõi trời Tứ thiền không bị tam tai phá hoại. Tuổi thọ của trời Đại phạm ở cõi Sơ thiền là 60 Trung kiếp, tức 1 Đại kiếp (trừ 20 kiếp của kiếp Không), tuổi thọ của trời Nhị thiền là 8 đại kiếp, tuổi thọ của trời Tam thiền là 64 đại kiếp. Trong đây, 1 đại kiếp gọi là Hỏa tai kiếp. 7 hỏa tai kiếp gọi là Thủy tai kiếp, 7 Thủy tai kiếp gọi là Phong tai kiếp. Số tích lũy của Đại kiếp là một triệu, nhân lên cho đến A tăng kì thì gọi là 1 A tăng kì kiếp (Phạm: Asaôkhyeya-kalpa), nhân đến 3, gọi là A tăng tì kiếp. Nhưng sự tính toán về lượng thời gian của nó có nhiều thuyết khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 177 nêu ra 4 thuyết: Thuyết thứ 1 như trên, thuyết thứ 2 là nhân Trung kiếp đến A tăng xí da là 1 A tăng kì kiếp, thuyết thứ 2 là nhân với Thành kiếp, thứ 4 là nhân với Hoại kiếp. Kinh Bồ tát địa trì quyển 9 nói rằng kiếp có 2 thứ: 1. Ngày tháng, ban ngày ban đêm, thời tiết, số năm vô lượng nên gọi là A tăng kì. 2. Đại kiếp vô lượng nên gọi là A tăng kì. Thuyết thứ 1 nói theo kiếp số năm, tháng; thuyết thứ 2 giống với nghĩa chính thống của luận Đại tì bà sa. Tóm lại, thời lượng lâu dài của kiếp, toán số cũng khó lường tính được. Kinh Tạp a hàm quyển 34 có những thí dụ như Giới tử kiếp (Phạm: Sarwapopama-kalpa), Bàn thạch kiếp (Phạm: Parvatopama-kalpa). Đại tạng pháp số có tên gọi của 5 Đại kiếp là: Thảo mộc(cây cỏ),Sa tế(cát mịn), Giới tử (hạt cải), Toái trần(bụi nhỏ)và Phất thạch (lau tảng đá)... để nói về thời lượng lâu dài vô hạn của kiếp. Theo từ điển tiếngPàli của ông Cát nhĩ đắc tư (R.C. Childers) thì Kiếp có 2 loại Không và Bất không. Bất không kiếp lại có 5 thứ khác nhau: 1. Kiên kiếp (Phạm:Sàra-kalpa). 2. Đề hồ kiếp (Phạm: Maịđa-kalpa). 3. Diệu kiếp (Phạm:Vara-kalpa). 4. Kiên đề hồ kiếp (Phạm:Sàra-maịđakalpa). 5. Hiền kiếp (Phạm:Bhadra-kalpa). Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi và kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1, nói có 3 kiếp: Quá khứ trang nghiêm kiếp, Hiện tại hiền kiếp, Vị lai tinh tú kiếp, trong mỗi kiếp đều có 1.000 đức Phật ra đời. Ngoài ra, kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển), dùng lượng nước của biển cả để ví dụ cho số nhiều của số kiếp, gọi là Kiếp hải. [X. kinh Trung a hàm Q.2; kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.9; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.9; luận Thuận chính lí Q.32; luận Đại trí độ Q.7; Pháp hoa huyền luận Q.5; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần cuối. Đại nhật kinh sớ Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Du già luận kí Q.1 phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1; Phật tổ thống kỉ Q.30; Pháp uyển châu lâm Q.1].

kiếp ba

Kalpa (skt)—See Kiếp.

kiếp ba bôi

(劫波杯) ........ Phạm:Kapàla. Cũng gọi Kiếp ba la, Độc lâu bôi, Độc lâu khí. Cái chén được cầm ở tay trái của Phật Bản sơ (Phạm:Àdi-Buddha), của trời Y xá na (Phạm:Izàna) và của quỉ Tì xá xà (Phạm: Pizaca) trong Mật giáo. Cứ theo Lược bản du già hộ ma quĩ, Thập nhị thiên cũng nghi quĩ v.v... thì trời Y xá na ngồi trên lưng con bò vàng, tay trái cầm cái chén Kiếp ba đựng máu, tay phải thì cầm cây thương 3 mũi. Tay trời Y xá na cầm chén Kiếp 3 đựng máu là tượng trưng ý nghĩa muốn uống hết máu sinh tử lưu chuyển của chúng sinh. Có chỗ lầm cho rằng Kiếp ba bôi là cái chén được làm bằng gỗ cây Kiếp ba (Phạm:Kalpataru). [X. phẩm Phổ môn chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.3; Der Buddhismus (H.V.Glasenapp)].

kiếp ba thụ

(劫波樹) Phạm: Kalpataru. Cũng gọi Kiếp thụ. Hán dịch: Như ý thụ. Loại cây mọc trong vườn Hỉ lâm của trời Đế thích. Kiếp ba nghĩa là thời gian. Cứ theo kinh Kim cương đính quyển 4, cây kiếp ba có thể tùy thời sinh ra tất cả những vật cần dùng như: Y phục, đồ trang sức, vật dụng hàng ngày. Lại có thuyết cho rằng căn cứ vào lúc hoa nở, hoa tàn của cây này mà biết được thời gian ngày, đêm, cho nên gọi là cây Kiếp ba. Ngoài ra, tại Ấn độ còn có phong tục treo các thứ quí báu như hương hoa, anh lạc trên cây để bố thí cho mọi người. Cây dùng để treo vật báu gọi là Kiếp thụ hoặc Bảo thụ. Phong tục này có lẽ đã phỏng theo thuyết về cây Kiếp ba trong vườn Hỉ lâm nói trên. Còn trong hội Cúng dường của Pháp kim cương giới trong Mật giáo thì phải kết ấn khế và tụng chân ngôn Bảo thụ để biểu thị nghĩa cúng dường Kiếp thụ. [X. kinh Lục ba la mật Q.3].

kiếp bất hạnh

A wretched life

kiếp bố la

Karpura (skt)—Hương long não—Camphor, described as dragon-brain scent.

kiếp bố thản na quốc

(劫布坦那國) Kiếp bố thản na, Phạm:Kapotana. Hán dịch: Tào quốc. Tên một nước xưa tại Tây vực, gần với nước Táp mạt kiến(nay là Tản mã nhĩ can). Về địa thế, chiều đông tây rộng, chiều nam bắc hẹp, gồm 3 bộ tộc: Tào, Tây tào và Trung tào, thuộc dân tộc Thổ nhĩ kì, phong tục cũng giống như phong tục nước Táp mạt kiến. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].

kiếp bố đảm

Kapotana or Kebudhana (skt)—Vương quốc cổ, bây giờ là Kebud, về phía Bắc của Samarkand—An ancient kingdom, the modern Kebud, north of Samarkand.

kiếp bối thụ

(劫貝樹) Kiếp bối, Phạm: Karpàsa, Pàli: Kappasa. Cũng gọi: Kiếp ba dục thụ, Kiếp ma sa thụ, Kiếp bối sa thụ, Cổ bối thụ, Ca ba la thụ. Hán dịch: Thời phần thụ. Tên khoa học: Gosapium hebaceam. Một loại cây bông vải được trồng ở các miền đông châu Á, xứ Decan, Ấn độ, Trung quốc, Hi lạp, v.v... bông của nó được kéo thành sợi làm vải may áo, hạt của nó dùng để ép lấy dầu. Cứ theo luật Tứ phần quyển 39, thì áo kiếp bối (áo may bằng vải dệt từ bông của cây Kiếp bối), áo câu xá, áo khâm bạt la, v.v... đều là 1 trong 10 loại áo. Áo này tương đương với Mao cổ bối nói trong Câu xá thích luận quyển 9 và Mao điệp trong luận Câu xá quyển 12. [X. kinh Khởi thế Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.28; Thiện kiến luật tì bà sa Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.14, Q.17].

kiếp con người ngắn ngủi

The shortness of our lifespan on earth.

Kiếp cụ

劫具; C: jiéjù; J: kōgu;|Kiếp-ba-bà (劫波婆).

kiếp diệm

Kalpa-flames—See Kiếp Hỏa.

Kiếp diệm (diễm)

劫焰; C: jiéyàn; J: kōen;|Kiếp hoả.

kiếp giảm

thường được giải thích là từ khi tuổi thọ con người được 84.000 năm, cứ qua một trăm năm thì giảm đi một tuổi, cho đến lúc chỉ còn là 10 tuổi thì gọi là một kiếp giảm.

Kiếp hoả

劫火; C: jiéhuǒ; J: kōka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Mọi sinh vật ở phía dưới cõi Sơ thiền (初禪天) đều bị tiêu huỷ (s: yuga-anta-agni).

kiếp hoả

(劫火) Phạm:Kalpàgni. Pàli:Kappaggi. Cũng gọi Kiếp tận hỏa, Kiếp thiêu (Phạm: Kalpa-dàha). Nạn lửa khởi lên trong kiếp Hoại. Theo thế giới quan của Phật giáo, thì sự thành lập thế giới chia làm 4 kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không. Ở cuối kiếp Hoại, nạn lửa nạn nước và nạn gió chắc chắn xảy ra. Trong thời kì nạn lửa, trên trời có 7 mặt trời xuất hiện, từ cõi trời Sơ thiền trở xuống đều bị kiếp hỏa thiêu đốt. Phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa quyển 4 (Đại 9, 34 thượng), nói: Giả sử trong kiếp thiêu, ôm cỏ khô nhảy vào lửa mà không bị cháy cũng chưa phải là khó. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 261 thượng), nói: Các vị A la hán, Bích chi phật (...) sức trí tuệ yếu ớt như lửa của thế gian, còn sức trí tuệ của chư Phật thì mạnh mẽ như lửa của kiếp tận. Lại nạn lửa trong kiếp hỏa đốt cháy tất cả mọi vật gọi là Kiếp hỏa đỗng nhiên. Thiền tông thường lấy việc trong kiếp hỏa có vật gì còn sót lại chưa bị thiêu đốt không, để làm thoại đầu. Chương Đại tùy Pháp chân trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 286 thượng), nói: Có vị tăng hỏi thiền sư Đại tùy Pháp chân ở Ích châu rằng: Kiếp hỏa đỗng nhiên, cả đại thiên thế giới đều hoại, chẳng hay cái ấy có hoại không? Sư đáp: Hoại!. [X. phẩm Tam tai, kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; kinh Thất nhật trong Trung a hàm Q.2; phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa Q.5; kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch mới); luận Đại tì bà sa Q.132; luận Câu xá Q.12]. (xt. Hoại Kiếp).

kiếp hôi

Kiếp tro, thời kỳ chỉ toàn những tro, ngay sau sự tàn phá của kiếp hỏa—Kalpa-ash, the ash after the fire kalpa of destruction.

Kiếp hải

劫海; C: jiéhăi; J: kōkai;|Một »biển kiếp«, số lượng kiếp rất nhiều.

kiếp hải

Số lượng kiếp rất nhiều, ví như lượng nước biển—The ocean of kalpas, great in number.

kiếp hỏa

Kiếp Diệm—Kiếp Tận Hỏa—Kiếp Thiêu—Hỏa tai trong thời hoại kiếp, một trong đại tam tai (kiếp hỏa tai sẽ đốt hết từ mặt đất cho đến cõi sơ thiền)—The fire in the kalpa destruction, one of the three great calamities.

kiếp hỏa thiêu đáy biển, gió thổi núi đụng nhau

Là hình dung bản thể của đại Niết bàn như như bất động, kiếp hỏa chẳng thể thiêu hủy, gió bão chẳng thể lay động.

Kiếp khôi

劫灰; C: jiéhuī; J: kōkai;|Tro còn lại sau Kiếp hoả (劫火).

kiếp không chi hậu

(劫空之後) Kiếp không, đồng nghĩa với không kiếp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sau kiếp Không. Kiếp không là chỉ cho thời kì thế giới hoàn toàn bị tiêu diệt. Thiền tông thường dùng từ ngữ Sau kiếp Không để chỉ cho khoảng thời gian đến tận cùng vị lai. Tắc 83, Thung dung lục (Đại 48, 280 hạ), nói: Thuốc hay chưa từng qua miệng, thầy giỏi chẳng cần bắt mạch. Nếu là tồn tại, thì hắn vốn chẳng phải không; nếu là rỗng không thì hắn vốn chẳng phải có. Chẳng diệt mà sinh, chẳng chết mà sống, hoàn toàn vượt trước Phật Uy âm, một mình đi mãi đến sau kiếp Không. Trái lại, từ ngữ Kiếp không chi tiền (trước kiếp Không)biểu thị khi trời đất chưa có, lúc cha mẹ chưa sinh, thì được dùng để miêu tả cái trạng thái trước khi tất cả tình thức phân biệt đối đãi vẫn chưa hình thành. Đây là ví dụ chỉ cho bản lai diện mục của chính mình, Phật tính thanh tịnh sẵn có của chúng sinh.

kiếp kiếp

Generations after generations.

kiếp luân hồi

In Samsara.

kiếp người

Human life (condition). Những lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Human Life in the Dharmapada Sutra: 1) Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó—It is difficult to obtain birth as a human being; it is difficult to have a life of mortals; it is difficult to hear the Correct Law; it is even rare to meet the Buddha (Dharmapada 182). 2) “Mùa mưa ta ở đây, đông hạ ta cũng ở đây,” đấy là tâm tưởng của hạng người ngu si, không tự giác những gì nguy hiểm—Here I shall live in the rainy season, here in the winter and the summer. These are the words of the fool. He fails to realize the danger (of his final destination) (Dharmapada 286). 3) Người đắm yêu con cái và súc vật thì tâm thường mê hoặc, nên bị tử thần bắt đi như xóm làng đang say ngủ bị cơn nước lũ lôi cuốn mà không hay—Death descends and carries away that man of drowsy mind greedy for children and cattle, just like flood sweeps away a sleeping village (Dharmapada 287). 4) Một khi tử thần đã đến, chẳng có thân thuộc nào có thể thế thay, dù cha con thân thích chẳng làm sao cứu hộ—Nothing can be saved, nor sons, nor a father, nor even relatives; there is no help from kinsmen can save a man from death (Dharmapada 288).

kiếp người hữu hạn

Human life is limited.

kiếp người mong manh ngắn ngủi

Human life is uncertain and ephemeral.

kiếp nầy và nhơn quả

Kiếp nầy và nhơn quả theo Kinh Nhân Quả—Present life and cause and effect according to Cause and Effect Sutra. 1) Kiếp Nầy Canh Cô Quạnh Quẻ Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hãm Hại Người Khác: Being all alone in this life is the consequence of harming other people with a wicked mind in previous life. 2) Kiếp Nầy Câm, Điếc, Đui Mù Cũng Vì Kiếp Trước Hay Phỉ Báng (Người Tụng Đọc) Kinh Điển Đại Thừa: Being dumb, deaf, or blind in this life is the consequence of slandering (people who read or recite) Mahayana sutras in previous life. 3) Kiếp Nầy Chẳng Tu Còn Đợi Đến Kiếp Nào ? If we do not cultivate in this life, then when will we do so ? 4) Kiếp Nầy Có Xe Có Ngựa Vì Tiền Kiếp Hay Sửa Cầu Vá Lộ: Having the previlege to ride on a horse or travel in luxurous sedan cars in this life is the consequence of one's contribution made to public welfare by building the bridges and repairing the roads in his previous life. 5) Kiếp Nầy Con Cháu Đầy Đàn Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Having so many children and grandchildren in this life is the consequence of setting free birds, animals as well as doing good deeds to other beings in previous life. 6) Kiếp Nầy Được Kính Trọng Nể Vì Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Kính Trọng Nể Vì Người Khác: Being respectful in this life is the consequence of paying respect to other people in previous life. 7) Kiếp Nầy Hay Gây Hờn Chuốc Não Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Cọp Beo Rắn Hãm Hại: To create hatred and afflictions to other people in this life, next life will be harmed by tigers, bears or snakes. 8) Kiếp Nầy Hay Nói Thị Phi, Kiếp Sau Câm Điếc Không Ra Một Lời: Frequent gossip in this life, will be born dumb and deaf in the next life. 9) Kiếp Nầy Giàu Có Với Quần Là Áo Lụa Cũng Vì Tiền Kiếp Hay Cúng Dường Vải Và Áo Cho Chư Tăng Ni: Being so rich as to wear in silk fabrics or in satin dress in this life is the consequence of one's offerings of robes to the monks and nuns in his previous life. 10) Kiếp Nầy Hại Người Để Hưởng Lợi Thì Kiếp Sau Làm Thân Trâu Ngựa Để Đền Trả Và Cuối Cùng Bị Giết Làm Thịt: To benefit oneself by bringing harm to others, next life will become a buffalo or a horse to pay retribution and at the end of the life will be killed for meat. 10) Kiếp Nầy Hạnh Phúc Vì Kiếp Trước Không Làm Khổ Người Khác: Being happy in this life is the consequence of not causing physical or mental harm or damage to any being in previous life. 11) Kiếp Nầy Hay Khinh Miệt Người, Kiếp Sau Sanh Vào Chỗ Hạ Tiện Cho Người Miệt Khinh: To look down upon other people in this life, will be reborn in the mean and poor family and looked down by other people in the next life. 12) Kiếp Nầy Hay Ly Gián Đố Kỵ Kẻ Khác, Kiếp Sau Hôi Thúi Không Ai Tới Gần: To be jealous of others or to cause disputes among other people, will have a body with bad odour (nobody dares to come near) in the next life. 13) Kiếp Nầy Không Đau Ốm Bịnh Hoạn Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Giúp Đở Thuốc Men Cho Người Nghèo: Being free from illness in this life is the consequence of donating medicines to the poor in previous life. 14) Kiếp Nầy Không Tin Phật Pháp, Kiếp Sau Câm Điếc Để Không Nghe Gì: Don't believe in the Buddhist doctrines in this life, will be dumb and deaf (not be able to read and hear) in the next life. 15) Kiếp Nầy Làm Thân Làm Tôi Tớ Người Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hành Hạ Tôi Tớ Hay Nợ Nần Không Trả: Working as a servant in this life is the consequence of ill-treating servants or not paying debts in previous life. 16) Kiếp Nầy Làm Thân Trâu Ngựa Cũng Vì Kiếp Trước Ác Độc Và Giựt Nợ: Becoming a cow or horse in this life is the consequence of wicked deeds and not paying debts in previous life. 16) Kiếp Nầy Lường Gạt Giựt Tiền Chùa, Kiếp Sau Phải Làm Thân Trâu, Bò, Heo Chó Để Đền Trả: To deceive the monks and nuns to get the money from the temple in this life, will become a buffalo, a cow, a pig or even a dog to pay retribution in the next life. 17) Kiếp Nầy Ngược Đãi Súc Vật, Kiếp Sau Sanh Thân Súc Vật Đền Trả: To maltreat animals, will be reborn as animals to pay retribution in the next life. 18) Kiếp Nầy Nhà Cao Cửa Rộng Nhờ Tiền Kiếp Hay Cúng Dường Gạo Thóc Cho Chùa: Being so rich as to be able to live in luxurious life is the consequence of offerings rice to the temples in previous life. 19) Kiếp Nầy No Cơm Ấm Áo Vì Tiền Kiếp Hay Giúp Đở Người Nghèo: Being sufficient with food and dress in this life is the consequence of giving alms to the poor in one's previous life. 20) Kiếp Nầy Nói Xấu Người Tu, Kiếp Sau Mang Thân Làm Thằn Lằn Tắc Lưỡi Mỗi Đêm: To slander the monks and nuns (not to slander the Triratna) in this life, will be reborn as a lizard to click the tongue every night. 20) Kiếp Nầy Phú Quí Thịnh Vượng Vì Tiền Kiếp Hay Xây Chùa Cất Miễu Cũng Như Dựng Nhà Chẩn Tế: Being sufficient with luck, nobility and prosperity in this life is the consequence of one's generous offerings made in the construction of the temples and monasteries as well as building of the shelters for the needy in previous life. 21) Kiếp Nầy Thấy Nạn Mà Cười, Kiếp Sau Hoạn Nạn Triền Miên Một Đời: To feel happy when seeing the misfortunes of others in this life, will be in constant troubles and sicknesses in the next life. 22) Kiếp Nầy Thấy Nguy Không Cứu, Kiếp Sau Phải Mang Thân Tù Đày: To refuse to rescue others when they are in danger, will have the bad fate of staying in prison in the next life. 23) Kiếp Nầy Thông Minh Đại Trí Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Tụng Kinh Niệm Phật: Being full of great intelligence and wisdom in this life is the consequence of praying and reciting Amitabha Buddha's name in previous life. 24) Kiếp Nầy Trường Thọ Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Phóng Sanh Lợi Vật: Enjoying longevity in this life is the consequence of setting free animals as well doing good deeds to other people in previous life. 25) Kiếp Nầy Tướng Mạo Khôi Ngô Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Thành Tâm Dâng Hoa Cúng Phật: Being so beautiful and dignified in outer aspects in this life is the consequence of sincere offerings flowers to the Buddha (statue or image) in previous life. 26) Kiếp Nầy Vinh Hiển Làm Quan Cũng Vì Tiền Kiếp Đắp Vàng Tượng Phật: Holding the position of high ranking officer in this life is the consequence of one's decorating the statue of the Buddha with gold leaf in his previous life. 27) Kiếp Nầy Vu Oan Giá Họa Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Người Vu Oan Giá Họa Để Hãm Hại: To bring harm to others by spreading false rumours, will be harmed by false rumours in the next life.

kiếp phong

(劫風) ..... Tai nạn gió. Khi thế giới hoại diệt thì có 3 tai nạn xảy ra, Kiếp phong là 1 trong 3 tai nạn ấy. Vào thời kiếp Hoại, gió mạnh thổi lên gọi là Tăng già đa, thổi tan thế giới từ cõi trời Tam thiền trở xuống. (xt. Hoại Kiếp).

kiếp sau

Future life.

kiếp sơ

thuở ban sơ, kiếp sơ khai lúc mới hình thành của một thế giới. ; Thời kỳ đầu của Thành Kiếp hay lúc mới hình thành của thế giới—The beginning of the kalpa of formation. ; (劫初) Phạm:Kalpàpa. Chỉ cho lúc ban đầu của kiếp Thành. Tức lúc mới thành lập thế giới hữu tình của cõi Dục. Theo luận Câu xá quyển 12, thì lúc kiếp sơ, con người đều giống như ở cõi Sắc, thân thể đầy đặn, các căn trọn đủ, hình sắc xinh đẹp, thân có ánh sáng, bay đi trên không một cách tự tại, ăn uống hưởng lạc và được sống lâu. Đến khi đất đai dần dần sinh ra mùi vị ngon ngọt, mọi người tranh nhau ăn, gọi là Sơ thụ đoàn thực. Về sau, thân thể trở nên nặng nề, ánh sáng mất đi, mới sinh ra mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Kế đến, xuất hiện địa bính(lớp bánh mỏng sinh ra trên mặt đất), rừng cây; lại sinh nam căn, nữ căn, hình tướng khác nhau, rồi do tập khí đời trước, dục vọng của con người ở thời kì này bắt đầu phát sinh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.34; kinh Đại lâu thán Q.6; kinh Khởi thế Q.9; luận Đại tì bà sa Q.134; luận Chương sở tri Q.thượng; Pháp hoa kinh văn cú Q.4 phần cuối].

Kiếp tai

劫災; C: jiézāi; J: kōsai;|Kiếp hoả.

kiếp tai

Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp có ba tai nạn hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại hết thế giới)—The calamity of fire, wind and water during the kalpa of destruction.

kiếp thiêu

See Kiếp Hỏa.

kiếp thủy

Đại thủy tai sanh ra vào thời hoại kiếp, một trong tam đại tai—The flood in the kalpa of destruction, one of the three great calamities.

kiếp trước

Past life.

kiếp trược

(劫濁) ..... Phạm: Kalpa-kawaya. Thời đại xấu ác, làm cho thế giới hỗn loạn, con người ô trược. Một trong 5 trược. Trong kiếp giảm, những tai họa như: Đói kém, tật bệnh, chiến tranh, v.v... nổ ra, những nhu cầu của đời sống như áo mặc, thức ăn uống, v.v... đều suy tổn, đó là Kiếp trược. (xt. Ngũ Trược).

Kiếp trọc

劫濁; C: jiézhuó; J: kōjaku;|Thời kì hỗn loạn; thời kì vẫn đục. Một trong Ngũ trọc (五濁, theo Du-già luận 瑜伽論).

kiếp tân na

Kapphina (skt)—Kiếp Thí Na—Kiếp Tỷ Na—Kiếp Tỳ Nô—Một đệ tử của Phật Thích Ca, tên trong Tăng đoàn là Đại Kiếp Tân Na. Ngài rất giỏi về tinh tú, sau nầy sẽ thành Phật danh hiệu Phổ Minh Như Lai—A disciple of Sakyamuni, whose monastic name was Mahakappina. He was very good at astronomy and constellations. He is to be reborn as Samantaprabhasa Buddha.

kiếp tất la dạ xoa

(劫畢羅夜叉) .............. Kiếp tất la, Phạm:Kapila. Cũng gọi Kiếp tỉ la dạ xoa. Hán dịch: Hoàng sắc dạ xoa. Một trong 4 Dạ xoa ở phương đông trong 28 Thần Dạ xoa của Mật giáo. Cứ theo kinh Đại khổng tước chú vương quyển trung, thì có 4 vị Dạ xoa: Kiếp tất la, Địa lật già, Tô nê đát la và Bô luật noa, ở tại phương đông, che chở cho tất cả chúng sinh ở phương này xa lìa mọi nỗi lo khổ. [X. kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương Q.trung; Chuyển pháp luân bồ tát tồi ma oán địch pháp]. KIẾP THỦY Tai họa về nước xảy ra vào kiếp Hoại, 1 trong 3 tai nạn lớn nổi lên khi thế giới hoại diệt. Vào thời kì này, nước từ lớp thủy luân dưới lòng đất vọt lên, cộng với những trận mưa dữ dội như thác đổ, những hạt mưa rất to, hoặc như trục bánh xe, hoặc như cái chày, mưa suốt nhiều năm không ngớt, khí thế giới từ từng trời Nhị thiền trở xuống đều bị tràn ngập và phá hoại. [X. phẩm Tam tai kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; kinh Quán vô lượng thọ].

Kiếp tận

劫盡; C: jiéjìn; J: kōjin;|Tận cùng của kiếp nầy. Sự hoại diệt của chu kì thế giới hiện tại (s: kalpa-anta, yuga-anta).

Kiếp tận hoả

劫盡火; C: jiéjìnhuǒ; J: kōjinka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Như Kiếp hoả (劫火).

kiếp tận hỏa

See Kiếp Hỏa.

kiếp tỉ nã vương

(劫比拏王) Vị vua ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 23, Kiếp tỉ noa vương là vua nước Nam Kiều tát la, có nhân duyên rất sâu đậm với đức Phật, Phật từng biến hiện ra vô lượng Chuyển luân vương để điều phục ông vua này. [X. Phật địa kinh luận Q.1].

kiếp tỳ la

Kapila (skt). 1) Hoàng xích: Màu vàng đỏ hay nâu—Brown. 2) Vị Thánh Kiếp Tỳ La, người sáng lập ra Số Luận và trường phái Số Luận: The sage Kapila, founder of the classical Samkhya philosophy and the school of that name.

kiếp tỳ la phạt thốt đổ

Kapilavastu (skt)—Nước Kiếp Tỳ La Phạt Thốt Đô hay Kiếp Tỳ La Quốc, trước kia là Ca Tỳ La Vệ hay Ca La, đây là xứ sở của vua cha Tịnh Phạn của Đức Phật Thích Ca. Đất nước nầy bị tiêu diệt ngay khi Đức Phật còn tại thế. Theo truyền thuyết thì xứ nầy khoảng 100 dậm về phía Bắc của thành Ba La Nại, tây bắc của Gorakhpur bây giờ—Capital of the principality occupied by the Sakya clan; destroyed during Sakyamuni's life, according to legend; about 100 miles due north of Benares, northwest of present Gorakhpur.

kiếp tỳ la thiên

Tên của một loại chư thiên hay một loại quỷ—Deva or demon, called Kapila, or Kumbhira, or Kubera.

kiếp tỳ tha

Kapittha (skt). 1) Tăng Khư Thi: Một vương quốc cổ ở Trung Ấn—An ancient kingdom of Central India. 2) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vị Bà La Môn đối xử tệ với Phật tử, sau đó tái sanh làm một loài cá, và cuối cùng được Đức Thích Ca chuyển hóa: According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is a Brahman of Vrji who ill-treated the Budhists of his time, was reborn as a fish, and was finally converted by Sakyamuni.

kiếp tỳ xá dã

Nơi mà bây giờ người ta gọi là Kashmir—Said to be presently Kashmir.

kiếp độc

Kiếp bất tịnh, khi mà tuổi thọ giảm và bệnh hoạn hoành hành chúng sanh—The impure or turbid kalpa, when the age of life is decreasing and all kinds of diseases afflict men.

Kiếp-ba

劫波; C: jiébō; J: kōhi;|Kiếp (劫).

Kiếp-bá

劫簸; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).

Kiếp-bả

劫跛; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).

Kiếp-phỉ-na

劫庀那; C: jiépǐnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong những môn đệ trực tiếp của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).

Kiếp-tân-na

劫賓那; C: jiébīnnà; J: kōhinna; S: kapphi-ṇa.|Một trong những Đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni, nổi tiếng là nhà chiêm tinh (theo kinh Pháp Hoa 法華經).

Kiếp-tỉ-na

劫譬那; C: jiépìnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong các đệ tử chính của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).

Kiếp-tỳ-la

xem Ca-tỳ-la.

kiết

1) Da dê—Deer-skin. 2) Thiến: To castrate. 3) Tốt: Sri (skt)—Auspicious—Lucky—Fortunate.

kiết bệnh

See Kết Bệnh.

kiết bố la

Karpura (skt)—Long não—Dragon-brain scent—Camphor.

kiết già

Padmasana (skt)—Thế ngồi hoa sen, theo kiểu ngồi của Phật Tổ Thích Ca, hai chân tréo nhau, bàn chân ngửa lên—The Buddha's sitting posture with legs crossed and soles upward—To sit cross-legged. a) Hàng Ma Kiết Già: Chân trái tréo lên chân phải—The left leg is over right, the left hand is over the right hand for being subduing of demons. b) Cát Tường Kiết Già: Chân phải tréo lên chân trái, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái—The right leg is over left for blessing, the right hand is being placed over the left one.

kiết già bà sa

Khadga-visana (skt)—Kiết Già Tỳ Sa Nã—Sừng tê giác—A rhinoceros' horn.

kiết già phu tọa

See Kiết Già.

kiết giới

1) Kết thành giới luật để hộ trì—Bound by the commandments. 2) Bàn thờ Phật được đặt tại một nơi cố định, hay một vùng cố định trong tự viện: A fixed place, or territory; a definite area; to fix a place for a monastery, or an altar; 3) Một số nhất định cho buổi họp chúng Tăng: A determined number, e.g. for an assembly of monks. 4) Kiết Giới Ngũ Tướng: It is a term specially used by the esoteric sects for an altar and its area, altar being of five different shapes. • Phương Tướng: A square shape. • Viên Tướng: A round shape. • Cổ Tướng: Rectangular shape. • Bán Nguyệt Tướng: Semi-circle. • Tam Giác: Triangle.

kiết giới ngũ tướng

The five different shapes of an altar—See Kiết Giới (4).

kiết giới nhị bất định

Aniyata (skt)—Hai giới quan hệ tới vấn đề tình dục, nhưng sự vi phạm lại mơ hồ không rõ—Two offences which are connected with activities of sex, but the violation is not clear—See Nhị Bất Định Giới.

kiết giới thập tam tăng tàn

Sanghadisesa (skt)—Mười ba giới Tổn Hại Tăng Tàn khiến cho Tăng Ni phạm phải bị tạm thời trục xuất khỏi giáo đoàn—Thirteen offences which entail upon a monk temporary expulsion from the Order—See Thập Tam Giới Tăng Tàn.

kiết giới tứ ba la di

Parajika (skt)—See Tứ Đọa.

kiết hà

A river of bondage (suffering or illusion).

kiết hạ

Theo giới luật, Tỳ kheo mỗi năm phải nhập hạ ba tháng, từ 15 tháng 4 đến 15 tháng 7, cấm túc không được đi ra ngoài, gọi là kiết hạ. Khi mãn hạ phải cử hành một cuộc tự kiểm thảo liên tiếp ba ngày. Mỗi vị Tỳ kheo phải đứng ra hỏi đại chúng về kiến, văn, nghi. Về kiến nghĩa là “Có thấy tôi phạm giới?” Về văn nghĩa là “có nghe tôi phạm giới?” Về nghi nghĩa là “Không thấy, không nghe, nhưng có lý do nghi tôi phạm giới?”. Ấy gọi là mãn hạ tự tứ. ; Chấm dứt kỳ an cư kiết hạ—The end of the summer retreat.

kiết kinh

Chấm dứt bài—The end of a sutra.

kiết la nã tô phạt lạt na

Karnasuvarna (skt)—See Yết La Nã Tô Phạt Lạt Na.

kiết lật đà

Grdhra (skt)—Linh thứu (kênh kênh)—Vulture.

kiết lợi la

Một trong những vị Thế Tôn trong nhóm Kim Cang giới—One of the honourable ones in the Vajra-dhatu groups.

kiết lợi vương

Kaliraja (skt)—Tiền kiếp của Kiều Trần Như, khi còn làm quốc vương ông đã cắt tay chân của Ksanti-rsi vì những thê thiếp của ông đã lạc vào thiền thất của vị nầy. Do sự tự tại của vị ẩn sĩ nầy mà ông đã cải đổi và người ta đoán rằng về sau nầy ông sẽ là đệ tử của Phật Thích Ca—A former incarnation of Kaundinya, when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi because his concubines had strayed to the hermit hut. He was converted by the hermit's indifference, it was predicted that he would become a disciple of Buddha.

kiết ma

Karma (skt)—See Yết Ma.

kiết nghiệp

See Kết Nghiệp.

kiết nhật

A good or an auspicious day.

kiết ni ca

Kanaka (skt). 1) Tên của một vài loại cây màu vàng: Name of several yellow plants. 2) Táo gai: Thorn apple. 3) Một loại đàn hương: A species of sandalwood.

kiết nô bộc

Kanabhuj or Kanada (skt)—Người sáng lập trường phái Triết Lý Ấn Độ Vaisasika—Founder of Vaisesika school of Indian philosophy.

kiết phược

See Kết Phược.

kiết sử

Fetters. 1) Kiết và sử, hai tên gọi khác nhau của phiền não, kiết là trói buộc thân tâm kết thành quả khổ, sử là theo đuổi và sai sử chúng sanh—The bondage and instigators of the passions, two other names for afflictions. 2) Theo Thanh Tịnh Đạo, kiết sử là mười pháp khởi từ sắc tham; gọi là kiết sử vì chúng trói buộc các uẩn trong đời nầy với các uẩn đời kế tiếp, hoặc trói buộc nghiệp với quả, hoặc trói buộc hữu tình vào đau khổ. Vì bao lâu cái nầy còn hiện hữu thì cái kia không chấm dứt: The fetters are the ten states beginning with greed for the fine-material, so called because they fetter aggregates in this life to aggregates of the next, or karma to its fruit, or beings to suffering. For as so long the ones exist there is no cessation of the others—See Ngũ Hạ Phần Kết, and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section. ** For more information, please see Sử (3).

kiết thán

See Kết Thán.

Kiết thân

(孑身): đơn thân, độc thân, thân một mình. Như trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (淨土聖賢錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1549) quyển 9, phần Vãng Sanh Tạp Lưu (往生雜流) thứ 8, Ngô Kiêu Chúc (吳澆燭), có câu: “Kiết thân vô ngẫu, trường trai trú dạ niệm Phật (孑身無偶、長齋晝夜念佛, ông sống một mình không có bạn đời, trường trai đêm ngày niệm Phật).” Hay trong Thành Duy Thức Luận Tục Thuyên (成唯識論俗詮, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 50, No. 820) quyển 1 lại có đoạn: “Duy pháp sư bất khuất, kiết thân độc mại, biến lịch gian tân (唯法師不屈、孑身獨邁、遍歷艱辛, chỉ có pháp sư không chịu khuất phục, một mình đi xa, trãi qua gian khổ).”

kiết thất

Retreats.

kiết thất định kỳ

Periodic retreats.

kiết tra bố đảm na

See Yết Tra Bố Đảm Na.

kiết tường

See Cát Tường.

kiết tập

The collecting and fixing of the Buddhist canon. The first assembly was presided by Kasyapa (Ca Diếp), Ananda for the Sutras (Kinh) and the Adhidharma , and Upali for the Vinaya (Luật)—See Kết Tập.

kiết tặc

See Kết Tặc.

kiết xác

Very poor.

kiết đông

Thiền tông ngoài kiết hạ (mùa hạ) còn có kiết đông (mùa đông), để cho hành giả tham thiền tập trung đả thiền thất suốt mùa đông.

kiết địa lạc ca

Khadiraka (skt)—Vòng thứ ba trong bảy vòng quanh núi Tu-Di—The third of the seven circles or concentric mountains around Meru (Sumeru).

kiết ấn

Phép truyền trao của Mật Giáo (người nhận Kết Ấn phải phát Bồ Đề Tâm và phải thụ nhận phép quán đảnh)—A binding agreement sealed as a contract, employed by the esoteric sects.

kiếu hoán

See Khiếu Hoán.

kiềm chuỳ

(鉗錘) Kiềm là cái kìm sắt; Chùy là cái dùi sắt, cả hai được dùng để rèn kim loại. Thiền tông dùng từ này để ví dụ sự dạy dỗ, rèn luyện người học một cách nghiêm khắc. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 27 (Đại 47, 928 trung), nói: Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thuận hay nghịch, vị thầy cũng phải tỏ rõ bổn phận kiềm chùy. [X. Tắc 6 trong Bích nham lục Q.1; Gia thái phổ đăng lục Q.7].

Kiềm chùy

鉗鎚; J: kentsui; nghĩa là »Kềm và chày táng«;|Một cách diễn tả phương pháp giáo hoá »thô bạo« của các vị Thiền sư, như dùng gậy, tát vào mặt, vặn mũi, hét (Hát) được thuật lại trong các Ngữ lục, Công án.|Mặc dù nhìn qua thì thấy thô bạo, quái gở nhưng nó chính là biểu hiện của lòng từ bi vô lượng của các vị Thiền sư. Các vị dùng phương pháp kiềm chùy để giúp đệ tử phá bỏ tất cả những thành kiến, đánh thức tất cả những năng lượng tiềm tàng trong đệ tử và tiến xa như có thể trên con đường tu tập, chứng ngộ chân lí. Ðối nghịch với Kiềm chùy thiền là Lão bà thiền.

kiềm chế

To subdue—To master one's passions—To overcome.

kiềm chế dục vọng

To dominate one's passions.

kiềm hãm

To check—To control.

kiềm tỏa

To restrain—To bind.

kiền trĩ

(揵稚) Phạm,Pàli:Ghaịỉà. Cũng gọi: Kiền trì, Kiền trùy, Kiền để. Khí cụ dùng để đánh báo giờ trong các chùa viện. Theo luật Ngũ phần quyển 18 và Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ, vào những giờ như Bố tát, tụng kinh, hoặc tập họp chúng tăng thụ trai, v.v... đều có thể đánh kiền trĩ, giống như việc đánh bảng trong các tự viện ngày nay. Chữ Ghaịỉà, trong các kinh dịch không giống nhau, hoặc dịch là bảng, hoặc là chuông, khánh, linh báu, mõ, v.v... Về cách đánh kiền trĩ, theo Tứ phần luật sớ sức tông kí quyển 8 phần đầu, thì lúc đầu đánh nhẹ và khoan thai, sau nhanh và mạnh dần, khi đổ hồi cũng phải nhỏ dần cho đến khi dứt hẳn. Thông thường đánh 3 hồi 3 tiếng. Ba tiếng sau cùng đánh mạnh để báo đã kết thúc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.14; luận Đại trí độ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.1]. (xt. Chung).

kiền trắc

Kanthaka (skt & p)—Tên con ngựa mà Đức Phật đã dùng để cỡi khi Ngài rời bỏ cung điện để đi xuất gia—The name of the steed (horse) on which Sakyamuni Buddha was mounted when he left his palace to renounce the world (rode away from home). ; (犍陟) Phạm: Kaịỉhaka, Kanthaka. Pàli:Kanthaka. Cũng gọi: Kiền đức, Càn trắc, Kiển đặc, Ca tha ca. Tên con ngựa mà thái tử Tất đạt đa cỡi khi vượt thành xuất gia. Cứ theo kinh Phật bản hạnh tập quyển 20, sau khi đưa Thái tử đi xuất gia, Kiền trắc trở về thành, bị vua Tịnh phạn trách mắng nặng nề, trong lòng buồn bã, không bao lâu mệnh chung, sinh lên cõi trời Đao lợi. Về sau, biết Thái tử đã thành đạo. Kiền trắc(bây giờ là người cõi trời)bỏ mệnh, sinh xuống thành Na ba ở nước Trung thiên trúc, làm con của 1 người Bà la môn, lớn lên, người con Bà la môn ấy đến chỗ đức Phật nghe Ngài thuyết pháp, được giải thoát và vào Niết bàn. Trong những bức tranh khắc nổi miêu tả Thái tử cỡi ngựa Kiền trắc vượt thành xuất gia, thì bức khắc ở trên lan can của Đại tháp A ma la bà đề (Phạm:Amaràvatì) hiện còn là xưa nhất. Còn tại viện bảo tàng Calcutta có bức tranh khắc nổi đào được ở vùng Kiện đà la (Pàli, Phạm:Gandhàra) trong đó khắc 4 vị trời nâng 4 chân Kiền trắc, trời Đế thích cầm lọng che cho Thái tử đang ngồi trên lưng ngựa, có những người trời cung kính theo sau. Trong động thứ 2 của Linh nham quật tự tại Đại đồng, Trung quốc, cũng còn những bức khắc nổi loại này. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Lục độ tập Q.7].

kiền đà la nghệ thuật

(犍馱羅藝術) Cũng gọi: Hi lạp Phật giáo nghệ thuật. Trường phái nghệ thuật Phật giáo Ấn độ lấy khu vực Kiền đà la ở miền Tây bắc Ấn độ làm trung tâm phát triển, thịnh hành từ khoảng sau cuộc xâm lăng Ấn độ của Alexandre Đại đế cho đến khi vương triều Quí sương diệt vong. Sự biểu hiện của nền nghệ thuật Kiền đà la gồm có các kiến trúc cung điện, chùa miếu, các điêu khắc, hội họa tượng Phật Bồ tát, có giá trị lịch sử rất lớn, ảnh hưởng lan rộng đến các nước Ấn độ, Trung á, Trung quốc, Nhật bản, v.v... Vốn là nghệ thuật truyền thống của Ấn độ hấp thu phong cách của Hi lạp, Ba tư, Đại hạ, La mã, dung hòa làm một rồi phát triển thành trường phái riêng. Về phương diện kiến trúc thì lấy chùa, tháp của Phật giáo làm chính, về hình thức thì lấy kiến trúc truyền thống của Ấn độ làm mực thước, tháp Phật thì theo kiểu bát úp của Trung Ấn độ, nhưng ở phần đầu các cây cột ta có thể thấy ảnh hưởng của La mã, Hi lạp. Thân của tháp Phật rất cao lớn, chùa nói chung đều có tường cao hình vuông, bên trong có sân, chung quanh có phòng ốc liền nhau, vật liệu kiến trúc toàn bằng đá. Về phương diện điêu khắc thì có rất nhiều đề tài, như Phật, Bồ tát hoặc các câu truyện lấy từ truyện Phật, Bản sinh đàm, số lượng rất nhiều, phần lớn được biểu hiện bằng các bức khắc nổi, ít có tác phẩm khắc tròn; lưng tượng Phật được khắc bằng phẳng, tỉ lệ thân thể không được cân xứng lắm. Hình dáng phỏng theo thân tướng của người Hi lạp, tóc có dáng gợn như sóng, khác hẳn với kiểu tóc hình trôn ốc của người Trung Ấn độ; khuôn mặt cũng không giống người Ấn độ, trán cao, mũi nhọn, môi mỏng, nhân trung ngắn, nếp áo dày và nặng. Những nơi kế thừa phong cách điêu khắc này là Bắc Ấn độ và Turkistan (tức vùng Trung á) hiện nay. Nghệ thuật Kiền đà la vượt qua dãy núi Thông lĩnh ở phía bắc mà tiến vào khu vực Tân cương của Trung quốc hiện nay, từ đó truyền đến Trung nguyên, ảnh hưởng đến nền nghệ thuật Phật giáo của thời Bắc Ngụy, rồi từ Triều tiên truyền vào Nhật bản, ảnh hưởng rõ nét trong kiến trúc và điêu khắc của thời đại Phi điểu. Một chi phái khác của nền nghệ thuật này được du nhập Miến điện, Thái lan và Việt nam (Giao châu). Đến giữa thế kỉ V, quân Áp thát xâm lăng Ấn độ, nền nghệ thuật Kiền đà la cũng nhân đó mà suy vi. [X. Đại đường tây vực kí Q.2; Cao tăng Pháp hiển truyện; Lạc dương già lam kí Q.5; Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử; Tây vực văn minh sử khái luận; Le Coq: Die Buddhistische Sptantike in Mittelasien, Bd.I]. (xt. Kiền Đà La Quốc).

kiền đà la quốc

(犍馱羅國) Kiền đà la, Phạm:Gandhàra, Gàndhàra, Gandha-vati. Pàli:Gandhàra, Gàndhàsa. Cũng gọi: Kiền đà việt, Càn đà việt, Càn đà vệ, Càn đà la, Kiền đà, Kiền đà ha, Càn đà ba na hoặc Nghiệp ba la (Phạm:Gopàla). Dịch ý: Hương địa, Hương khiết, Diệu hương, Trì địa. Tên một nước nhỏ thuộc Ấn độ thời xưa, nằm về phía bắc lưu vực Ngũ hà, hạ du sông Kabul, thuộc Tây bắc Ấn độ hiện nay. Lãnh thổ nước này thường thay đổi, khi Á lịch sơn Đại đế (Alexander the Great) Đông chinh (thế kỉ IV trước TL.) thì kinh đô ở Bố sắc yết la phạt để (Phạm:Puwkaràvatì) nằm về phía đông bắc cách Bạch hạ ngõa (Phạm: Peshawar) hiện nay khoảng 19,6 km. Vào thế kỉ thứ I, vương triều Quí sương (Phạm:Kushan) nổi dậy ở phương bắc, dần dần mở rộng biên cương, thôn tính vùng Kabul, đến khi vua Ca nị sắc ca lên ngôi thì đóng đô ở Bố lộ sa bố la (Phạm:Puruwapura), tức Peshawar hiện nay. Sau khi vua băng, thế nước mỗi ngày một suy, đến thời vua Kí đa la thì dời thành Bạc la về phía tây, để con ở lại giữ phía đông, đó chính là Tiểu nguyệt chi. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì nước này chiều ngang đông tây hơn 1000 dặm, chiều dọc nam bắc hơn 800 dặm, phía đông tới sông Tín độ (Phạm: Sindhu), đô thành là Bố lộ sa bố la, Vương tộc tuyệt tự, lệ thuộc nước Ca tất thí, làng ấp hoang vắng, dân cư thưa thớt. Cứ đó mà suy thì vào thế kỉ thứ VIII nước này đã suy tàn. Trong các kinh điển Phật giáo như Bản sinh (Pàli: Jàtaka), Câu na la bản duyên trong truyện A dục vương quyển 3, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 55, phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi quyển 2, Đại trang nghiêm kinh luận quyển 1 và quyển 4, kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương, v.v... đều có nói đến nước Kiện đà la. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2, chương 8 trong Đảo sử và chương 12 trong Đại sử, thì sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ 3, vì muốn truyền bá Phật pháp ở vùng biên địa, nên vua A dục đã phái đại đức Mạt xiển đề (Pàli:Majjhantika) đến các nước Kế tân, Kiện đà la giảng nói kinh Độc thí dụ (Pàli:Àtivisopama-sutta) cho dân chúng nghe; nghe xong, có 80.000 người đắc quả, 1000 người xuất gia. Kiền đà la vốn là trung tâm của Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng tăng chúng nước này lại chịu ảnh hưởng của Đại chúng bộ và hấp thu tư tưởng Đại thừa. Cứ theo kinh Đạo hành bát nhã quyển 9 và luận Đại tì bà sa quyển 178, thì kinh Bát nhã đã được lưu hành ở nước này rất sớm. Dưới triều đại vua Ca nị sắc ca, có rất nhiều vị cao tăng ra đời như các ngài: Vô trước, Thế thân, Pháp cứu, Hiếp tôn giả, v.v... Đại thừa Phật giáo nhờ đó mà phát triển mạnh. Nhưng từ thế kỉ VI về sau, Phật giáo không còn được nhà vua hộ trì, nên rơi vào tình trạng suy đồi; về sau, tuy có vua Đột quyết khôi phục lại một thời gian, nhưng đến thế kỉ X lại bị tín đồ Hồi giáo bách hại, nên Phật giáo ở Kiện đà la cuối cũng đã bị tuyệt tích. [X. Hi lân âm nghĩa Q.3; Tuệ nhật truyện trong Tống cao tăng truyện Q.29; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Tuệ siêu vãng ngũ thiên trúc truyện tiên thích; A. Cunningham: Ancient Geography of India; V.A. Smith: Early History of India; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I].

kiền đà lợi chú

(犍陀利咒) Chú Kiền đà lợi, 1 trong 3 loại ác chú nói trong kinhĐại pháp cự đà la ni quyển 13. Chú này cùng với chú Cù lê, chú Ma đăng kì, đều là những chú thuật mà đức Phật cấm chỉ đệ tử không được hành trì; tu luyện các ác chú này phải mất 12 năm mới thành tựu. Nhưng khi trì tụng những tà chú này, dù chỉ 1 câu, sau khi mệnh chung, cũng sẽ rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ hoặc cõi Diêm ma.

kiền đà quốc vương kinh

(犍陀國王經) Kinh, 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại chuyện vua nước Kiền đà do nghe con bò nói mà tỉnh ngộ, dứt tâm bạo ác, tàn nhẫn, bỏ Bà la môn giáo mà qui y Phật. Đức Phật nhân đó mà nói cho nhà vua biết là ở thời Phật Câu na hàm mâu ni, bò và nhà vua là anh em.

kiền đạt bà

Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kiền để

(犍坻) Phạm: Ghaịtin. Con người anh của vua Ba tư nặc nước Xá vệ ở thời đức Phật còn tại thế. Kiền để có dung mạo đẹp đẽ, tính tình hiền hòa, Hoàng hậu thấy thế, sinh tà tâm, lén gọi Kiền để đến và bảo thuận theo ý muốn của mình, nhưng Kiền để không bằng lòng. Hoàng hậu ôm lòng oán hận, sàm tấu với vua, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, chặt đứt tay chân Kiền để rồi vứt vào bãi tha ma. Lúc Kiền để sắp chết thì đức Phật đến bên cạnh, ánh sáng của Phật chiếu vào thân, Kiền để liền bình phục như cũ. Đức Phật nói pháp cho nghe, nghe xong, Kiền để chứng quả A na hàm. Rồi tự nói rằng (Đại 25, 120 thượng): Thân ta đã bị chặt đứt và vứt bỏ, nhờ Phật phục hồi mệnh sống, nay ta nguyện trọn đời bố thí thân này cho Phật và tỉ khưu tăng. Từ đó, Kiền để đến tinh xá Kì hoàn hầu hạ đức Phật. [X. luận Đại trí độ Q.8].

kiền độ

Dịch là tụ, uẩn, kết… một kiền độ tức là một bài, một chương, một phẩm, hoặc một đoạn. ; (犍度) Phạm: Skandha Pàli: Khandhaka. Cũng gọi Kiến đà, Kiến đồ, Càn độ, Tắc kiến đà, Sa kiền đồ. Dịch ý: Uẩn, Tụ, Chúng, Phân đoạn. Phân loại, biên tập, sắp xếp, qui tụ những pháp cùng loại vào 1 chỗ, tương đương với phẩm hoặc tiết. Những nghi thức tác pháp trong Tăng đoàn như thụ giới, bố tát, an cư và những điều văn qui định sự sinh hoạt hàng ngày, do phân loại chỉnh lí mà thành: Đó là Kiền độ. Trong các bộ luậtPàli, có ghi 22 Kiền độ: 1. Thụ giới kiền độ(cũng gọi Đại kiền độ): Qui định phép tắc xuất gia thụ giới Cụ túc. 2. Bố tát kiền độ: Qui định phép tắc bố tát. 3. An cư kiền độ: Qui định phép tắc an cư. 4. Tự tứ kiền độ: Qui định phép tắc tự tứ. 5. Bì cách kiền độ: Qui định phép tắc sử dụng đồ dùng làm bằng da thuộc. 6. Dược kiền độ: Qui định phép tắc ăn uống, thuốc thang... 7. Ca hi na y kiền độ: Qui định phép tắc thụ lãnh áo Ca hi na (Pàli: Kaỉhinadussa). 8. Y kiền độ: Qui định phép tắc tỉ khưu mặc áo. 9. Chiêm ba kiền độ: Nói về việc khi đức Thế tôn ở nước Chiêm ba có qui định phương pháp hội nghị của chúng tăng. 10. Câu thiệm di kiền độ: Nói về sự rạn nứt trong nội bộ giáo đoàn xảy ra tại nước Câu thiệm di. Mười Kiền độ trên đây gọi là Đại phẩm, còn 12 Kiền độ kế tiếp gọi là Tiểu phẩm. Mười hai Tiểu phẩm này là những qui định liên quan đến hình phạt. Trong đó, 2 Tiểu phẩm cuối là những qui định liên quan đến cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất ở thành Vương xá và lần thứ 2 ở thành Tì xá li. Nhưng trong luật Tứ phần Hán dịch không có 2 Tiểu phẩm này. [X. luật Tứ phần Q.31; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.5, Q.18, Q.24]. (xt. Nhị Thập Kiền Độ).

kiền-thát-bà

xem càn-thát-bà.

Kiền-đà-la

xem Kế Tân.

kiều

1) Cầu: Bridge—Cross-beam. 2) Kiều Diễm: Beautiful.

kiều diễm

Charming—Graceful.

kiều lưu thuỷ bất lưu

(橋流水不流) Đồng nghĩa: Đông sơn thủy thượng hành. Thanh sơn thường vận bộ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cầu trôi nước không trôi. Trong Thiền lâm, câu nói này được dùng để diễn tả cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 27 (Đại 51, 430 trung), nói: Tay không cầm cán bừa Ngồi lưng trâu thả bộ Người đi qua trên cầu Cầu trôi nước không trôi. [X. Lăng già sư tư kí].

kiều lương

Nhẫn nại—A bridge, trampled on by all but patiently bearing them, a synonym for patience, or endurance. ; (橋梁) Cái cầu. Cầu thường bị người ta giẫm đạp lên để đi qua, được dùng để ví dụ người có đức khiêm cung nhẫn chịu sự khinh nhờn của người khác đối với mình. Chú duy ma cật kinh quyển 7 (Đại 38, 391 thượng), ghi: Nói lời khiêm nhường, bị người lăng nhục, dày đạp, nhẫn chịu không sân, giống như cái cầu.

kiều mỵ

Beautiful.

kiều nhi

Beloved daughter.

kiều nữ

See Kiều Nhi.

Kiều Phạm Ba Đề

(s: Gavāṃpati, p: Gavaṃpati, 憍梵波提): còn gọi là Kiều Phạm Bạt Đề (憍梵跋提), Cấp Phòng Bát Để (笈房鉢底), Già Bà Bạt Đế (伽婆跋帝), Già Phạm Ba Đề (伽梵波提), Kiều Hằng Bát (憍恆鉢), Phòng Bát Để (房鉢底); ý dịch là Ngưu Tích (牛跡), Ngưu Ha (牛呵), Ngưu Ty (牛司), Ngưu Chủ (牛主), Ngưu Vương (牛王), Ngưu Tướng (牛相), từng được Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) chỉ đạo. Tương truyền vào thời quá khứ ông từng ngắt một cọng lúa, làm rơi hạt lúa xuống đất, nên bị đọa làm thân con bò trong 500 kiếp, vì vậy khi làm thân người, ông vẫn còn tánh khí của con trâu, ăn xong thường ợ hơi ra, nhai lại. Hơn nữa, do ông tạo ác nghiệp khinh thường Sa Môn nên hiện đời phải thọ quả báo miệng thường há và ngáp như loài bò (牛呵), hay móng chân ông giống như chân bò. Chuyện kể rằng trong 500 kiếp đời quá khứ, ông là một chú Sa Di nhỏ, thấy một vị Tỳ Kheo già có hàm răng lung lay, rụng gần hết, nên mỗi khi ăn uống rất khó khăn, ông thấy vậy mà cười chế nhạo rằng: “Xem kìa, ông kia ăn cơm như bò nhai cỏ vậy.” Vị kia nghe vậy khuyên rằng: “Này chú Sa Di kia ! Chớ có nói lời như vậy. Tôi là bậc La Hán, chú hủy báng như vậy sẽ bị đọa địa ngục. Hãy nên phát tâm sám hối lời nói của mình đi !” Sau khi làm đệ tử của Đức Phật và chứng đạo rồi nhưng dư báo ấy vẫn không trị được. Thấy ông thường bị mọi người khinh khi hủy báng, đức Phật cho ông lên sống trên Thi Lợi Sa Viên (尸利沙園) của cung Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利) để tu tập Thiền định. Sau khi Đức Phật nhập diệt, lúc Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉) cùng với các Trưởng Lão khác kết tập kinh điển lần đầu tiên, họ sai người lên cung trời đón ông, lúc đó ông mới biết là đức Phật và Tôn Giả Xá Lợi Phất đã nhập diệt, cho nên tương truyền ông cũng tự đốt thân mình và nhập diệt. Ông được xem như là người Giải Luật Đệ Nhất.

kiều phạm ba đề

Gavampati (skt)—See Kiêu Phạm Ba Đề.

kiều thường tất

(喬嘗必) (1871-1947) Dharmananda Kosambi. Học giả Phật giáo Ấn độ. Thủa nhỏ, ông đã dốc chí học Phật, từng nhiều lần đến Tích lan, Miến điện nghiên cứu và học tập giáo pháp. Năm 1902, ông thụ giới Sa di ở Tích lan, rồi đến viện Phật học Trí tăng học tiếngPàli, sau đó ông tu tập Thiền định ở Miến điện nhiều năm. Năm 1906, ông bắt đầu giảng dạy tại các Đại học Calcutta, Đại học Cổ cát lạp đặc, Học viện Phố na phất cách sâm và nghiên cứu Phật học. Ông từng dùng tiếng Phạm viết theo thể chữ Deva-nagari, để in luận Thanh tịnh đạo và chú thích bằng tiếngPàli. Các tác phẩm của ông có: Phật đà, Bản sinh kinh cố sự, Tam ma địa đạo lộ, Ấn độ văn hóa dữ phi bạo lực, Kì na giáo đệ nhị thập tam tổ cận chủ chi tứ cấm giới pháp.

Kiều Thưởng Di

(s: Kauśāmbī, p: Kosambī, 憍賞彌): tên của một vương quốc cổ của Ấn Độ ngày xưa, thuộc một trong 16 quốc gia lớn đương thời, cũng là tên gọi của một trong 6 đô thị lớn, còn gọi là Kiều Hướng Di Quốc (憍餉彌國), Kiều Thiểm Tỳ Quốc (憍閃毘國), Câu Viêm Di Quốc (倶睒彌國), Câu Tham Tỳ Quốc (倶參毘國), Câu Xá Di (倶舍彌), Cự Thưởng Di (巨賞彌), Kiều Viêm Di (憍睒彌), Kiều Thưởng Di (憍賞彌), Kiều Thưởng Di Quốc (憍賞彌國), Kiều Thiểm Di (憍閃彌), Câu Diệm Di (拘剡彌), Câu Thâm Thành (拘深城), Câu Xá Di (拘舍彌), v.v. Quốc gia này có chu vi khoảng hơn 6 ngàn dặm, đất đai màu mỡ, khí hậu nóng bức, có hơn 10 ngôi già lam; tăng chúng đều tu tập theo truyền thống Nguyên Thủy. Trong thành đô có 10 ngôi tinh xá lớn, trong đó có tượng Phật do quốc vương Ưu Điền (s, p: Udayana, 優填) tạo dựng. Lúc đức Phật còn tại thế, quốc gia này đối lập với Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛), uy danh chấn động bốn phương. Trong thành lại có khu vườn cũ của trưởng giả Câu Sử La (p: Ghosita, 具史羅), là nơi tương truyền Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) đã từng soạn Duy Thức Luận (s: Vijñānamātrasiddhi-śāstra, 唯識論), và cũng là di tích xưa kia Vô Trước (s: Asaṅga, 無著) từng hiển dương thánh giáo luận. Căn cứ vào tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記), học giả A. Cunningham suy định vị trí của thành này nằm ở thôn Kosām, phía tây bắc Jumna, thuộc Allahabad.

kiều trần như

Kaundinya (skt). 1) Ajnata-Kaundinya (skt)—Kondanna (p)—Tên của một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Ông là người trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến lễ quán đảnh Thái Tử sơ sinh. Ông nguyên là thái tử xứ Ma Kiệt Đà, là cậu của Đức Phật, và cũng là bạn cùng tu khổ hạnh với Đức Phật khi Ngài mới xuất gia (Nhóm ông Kiều Trần Như có năm người, trước kia theo làm bạn tu khổ hạnh với Đức Phật. Sau khi thấy Đức Phật thọ nhận bát sữa của nàng Mục Nữ cúng dường, cho rằng Đức Phật đã thối tâm trên đường tìm đạo giải thoát nên họ đã ly khai với Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, năm vị nầy lại gặp Đức Phật tại vườn Lộc Uyển/Mrgadava trong thành Ba La Nại/Varanasi, được Phật thuyết giảng về Tứ Diệu Đế để độ họ trở thành những vị Tỳ Kheo đầu tiên. Đây là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật)—Name a prince of Magadha, uncle and one of the first five disciples of Sakyamuni. He was the youngest and cleverst of the eight brahmins who were summoned by King Suddhodana to name the infant prince. He used to practise ascetic practices with Prince Siddhartha when he just left home. 2) Vyakarana-Kaundinya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, thì Vyakarana-Kaundinya là vị tôn giả, xuất thân từ một gia đình Bà La Môn giàu có trong thành Ca Tỳ La Vệ, sanh ra trước Đức Phật. Người đã được Đức Phật bảo rằng một Đức Phật quả là quá thiêng liêng để mà để lại bất cứ xá lợi nào trên trần thế nầy—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vyakarana-Kaundinya, son of a very wealthy Brahman family near Kapilavastu, and was born before the Buddha. He was the one, who was told by the Buddha that a Buddha is too spiritual to leave any relics behind.

kiều tát la

Kosala (skt)—Còn gọi là Câu Sa La, Câu Tát La, hay Cư Tát La. 1) Bắc Kiều Tát La: Uttarakosala (skt)—Một vương quốc cổ mà bây giờ là vùng Oude, nằm về miền Trung Ấn Độ (theo Truyện Pháp Hiển, Bắc Kiều Tát La là tên một vương quốc cổ ở miền Trung Ấn, khác với nước Nam Kiều Tát La. Đây là một trong 16 vương quốc lớn thời Đức Phật còn tại thế, thủ phủ là thành Xá Vệ, nơi Đức Phật đã lưu trú trong một thời kỳ dài)—Northern Kosala—An ancient kingdom in Central India, the modern Oude. Its capital is Sravasti, where the Buddha and his order stayed for a long period of time—See Xá Vệ Quốc. 2) Nam Kiều Tát La: Daksinakosala (skt)—Vương quốc cổ mà bây giờ thuộc về các tỉnh trung tâm Ấn Độ (theo Tây Vực Ký thì ngài Huyền Trang cho rằng vùng nầy là vùng Trung Ấn. Theo Truyện Pháp Hiển, đây là nước Đạt Thân hay Nam Kiều Tát La, để phân biệt với Bắc Kiều Tát La, còn gọi là Đại Kiều Tát La. Đây là nơi mà ngài Long Thọ đã từng lưu trú, được vua Sa Đa Bà Ha rất kính trọng. Nhà vua đã cho xây một ngôi chùa lớn năm tầng tại Bạt La Vị La. Vị trí thủ phủ của nước nầy ngày nay chưa ai định rõ)—Southern Kosala—An ancient kingdom, also in Central India, part of the present Central Provinces.

kiều đàm ni

Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English Section.

Kiều-thi-ca

một trong các tên riêng của đức Đế-thích.

Kiều-thưởng-di

xem Câu-thiểm-di.

Kiều-trần-như

xem A-nhã Kiều-trần-như.

Kiều-tát-la

phiên âm từ Phạn ngữ là Kosala, cũng đọc là Câu-tát-la, Câu-tát-di-la, là một nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật, kinh thành là Xá-vệ.

kiểm

To check—To revise.

kiểm duyệt

To censor—Censorship.

kiểm hiệu

(撿校) Tên một chức quan ở đầu đời Đường, Trung quốc, có trách nhiệm kiểm điểm, xem xét các việc. Về sau, giới Tăng sĩ cũng dùng chức danh này để chỉ cho vị Giám tự hoặc Đô tự. Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 15 (Đại 55, 475 thượng), nói: Ngài Minh thuyên ở chùa Phật thụ kí giữ chức Đô kiểm hiệu để san định lại mục lục và kiểm điểm xem kinh nào là thật kinh nào là giả. [X. luật Tứ phần Q.58; Kim thạch tụy biên Q.73; Hà lạc thượng đô Long môn chi dương Đại lô xá na Phật tượng khám kí].

Kiểm Phi Vi Sứ

(檢非違使, Kebiishi): tên gọi một chức quan được đặt ra từ đầu thời Bình An để kiểm soát những việc làm phi pháp, sai phạm trong kinh đô, thi hành bắt bớ, tố tụng cũng như hành hình tội nhân. Hiện tại, chức này kiêm cả với Kiểm Sát Viên và Cảnh Sát Viên, có quyền hạn rất lớn. Sau này, chức quan này được đặt ở các tiểu quốc, quận huyện, cũng như ở Y Thế Thần Cung (伊勢神宮, Ise-jingū), Lộc Nhi Đảo Thần Cung (鹿兒島神宮, Kagoshima-jingū), v.v.

kiểm soát

Samyama or Sannama (p)—Control—Restraint—Self-control.

kiểm soát các căn

Samyatendriyah (p)—Control of senses.

kiểm soát và quân bình

Checks and balances

kiểm tra

To examine—To inspect.

Kiểm điểm

檢點; C: jiăndiăn; J: kenten; |Xem xét trình độ thâm nhập Phật pháp của một người.

kiển đồ

(蹇荼) Phạm: Khaịđa. Hán dịch: Sa đường, Bạch đường. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 7, Kiển đồ rất trắng và mịn, hễ chạm vào thì tan liền. Vào đời Đường, khi ngài Huyền trang sang Ấn độ, ngài thấy ở nước Kiện đà la người ta dùng mía chế biến thành đường cát. Sau khi về nước ngài tâu với vua Đường Thái tông về việc đó. Vua ban lệnh triệu người biết phương pháp làm đường đến, sau đó, đường được sản xuất tại Ích châu (Tứ xuyên). [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh nghĩa sớ Q.5; Đại đường tây vực kí Q.1; Tăng quảng bản thảo cương mục Q.15].

kiển-đà-la

xem càn-thát-bà.

kiểu nhiên

(皎然) ..... Vị tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường thành, họ Tạ, tự Thanh trú. Sư giao du rộng rãi với các ông Nguyên hạo ở núi Vũ khâu, Linh triệt ở Cối kê và kết bạn rất thân với các ông Vu địch, Quyền đức dư ở trong triều. Sư từng nhiều lần soạn văn bia cho các Tổ sư Thiền tông thời kì đầu, như: Đạt ma đại sư pháp môn nghĩa tán, Nhị tông thiền sư tán, Năng tú nhị tổ tán, Chí công tán, Đại thông hòa thượng pháp môn nghĩa tán, Hạc lâm hòa thượng pháp môn nghĩa tán, Hồ châu Phật xuyên tự cố đại sư tháp minh tinh tự, v.v... tất cả đều được đưa vào Toàn đường văn quyển 917, quyển 918. Tác phẩm: Trữ sơn tập 10 quyển. [X. truyện Đường Hồ châu Trữ sơn Kiểu nhiên trong Toàn đường văn Q.919; Tống cao tăng truyện Q.29; Thích môn chính thống Q.3].

kiện

1) Bò thiến: A gelded bull, an ox. 2) Chốt khóa hay chốt bánh xe: The bolt of a lock. 3) Khóa lại: To lock. 4) Kiện cáo: To sue—To have a law-suit against someone. 5) Mạnh mẽ: Strong—Sturdy—Hard—Unwearied. 6) Một loại động vật nửa người nửa báo: A creature half man, half leopard.

kiện chi

(健支) Cũng gọi Kiện tư, Kiến tư, Kiền tì. Loại bát nhỏ nhất trong 3 cái bát nhỏ của chư tăng. Ba cái bát này gọi chung là Bôn tử. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Bôn Tử).

kiện cáo

Law suit—Case.

kiện dũng tọa

Cách ngồi kiết già của Đức Phật, hai bàn chân tréo lên hai đùi—The heoric posture of the Buddha with his feet on his thighs soles upward.

kiện hoàng môn

Cung điện của quan thái giám—Palace eunuchs.

kiện khang

To be in good health—See Kiện (4).

kiện nam

1) Người bị thiến: Pandaka (skt)—A eunuch by castration (deprive of testes, or ovaries; render impotent). 2) Thời kỳ thứ tư trong năm thời kỳ của bào thai, tức là 47 ngày sau khi thọ thai (thời kỳ kiên hậu): Ghana (skt)—The fourth in the five periods of a foetus, a foetus of forty-seven days. 3) Vững chắc: Solid—Compact—Firm. ; (鍵南) Phạm,Pàli:Ghana. Cũng gọi: Già ha na, Kiện nam, Yết nam, Kiển nam. Dịch ý: Kiên, kiên hậu, ngưng hậu, ngạnh nhục. Vị thứ 4 trong 5 vị ở trong thai, nghĩa là từ khi gá vào thai đến tuần thứ 4, thai nhi dần dần hình thành 1 khối ngưng đặc. [X. kinh Tạp a hàm Q.49; luận Tập dị môn Q.9; Du già sư địa luận lược toản Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.23]. (xt. Thai Nội Ngũ Vị).

kiện từ

Kiến Chi—Kiến Từ—Kiền Từ—Thiển Thiết Bát hay chiếc bát cạn bằng sắt, loại bát sắt nhỏ, một trong 8 vật cần có của một vị Tỳ Kheo—A bowl, small almsbowl, one of the eight requisites of monks and nuns (attha-parikkhara). ** For more information, please see Tám Món Cần Dùng Của Phật.

kiện đà hộc tử ca sa

(健陀縠子袈裟) Cũng gọi Kiện đà cốc tử sa ca, Càn đà cốc tử. Áo ca sa may bằng lụa mỏng (hộc tử) mầu kiền đà (vàng sẫm)¡. Khi sư Không hải người Nhật bản đến Trung quốc đã học được cách may áo ca sa này từ hòa thượng Huệ quả ở chùa Thanh long, rồi truyền về Nhật bản. (xt. Càn Đà La Sắc).

kiện đà la

Gandhara (skt)—Tên vương quốc cổ Kiện Đà La ở vùng bắc Ấn Độ—Name of an ancient kingdom, north of India.

kiện đà lê

Gandhara (skt)—Loại mật chú cho ta khả năng bay được—A spell that gives power to fly. ; (健馱梨) Phạm:Gàndhàri. Pàli:Gandhàri. Một loại chú thuật được nói trong luận Câu xá quyển 27. Người trì chú này được sức Thần biến thị đạo trong Tam thị đạo, có khả năng đi trong hư không một cách tự tại. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 27, về tên Kiện đà lê có 2 thuyết: 1. Chú thuật này có nguồn gốc từ nước Kiện đà, nên gọi là Kiện đà lê. 2. Chú thuật này do Thiên nữ Kiện đà lê nói ra, nên gọi là Kiện đà lê. Nước Kiện đà tức là Kiện đà la, còn Thiên nữ Kiện đà lê thì trùng tên với vợ Thiên vương Trì quốc ở phương đông. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

kiện đạt

Gandha (skt). 1) Hương thơm: Smell—Scent. 2) Một loại cây làm nhang thơm: A tree producing incense.

kiện địa

Khanda (skt)—See Kiện Độ.

kiện độ

Khanda (skt). 1) Một miếng, một mảnh, một phần, một chương sách—A piece, a fragment, a portion, a section, a chapter. 2) Quy luật tự viện: Monastic rules.

kiện đức

See Kiền Trắc.

Kiện-đạt-phọc

健達縛; C: jiàndáfú; J: kendatsuba;|Phiên âm từ Gandharva trong tiếng Phạn (sanskrit). Xem Càn-thát-bà (乾闥婆).

kiệt

1) Đơn vị tương đương với một phần 32.000 do tuần—A unit equivalent to the 32,000th part of a yojana. 2) Kiệt sức: Exhausted—Used up—Finished. 3) Kiệt xuất: Utmost.

kiệt chi

See Tăng Kỳ Chi.

kiệt già tiên

(竭伽仙) Kiệt già, Phạm:Garga,Pàli:Gagga. Cũng gọi Yết già, Yết cù, Kiệt la già. Vị tiên xưa ở Ấn độ. Là 1 trong các vị tiên tạo ra Phệ đà. Cứ theo kinh Đại khổng tước chú vương quyển hạ, thì vị tiên này và các vị tiên khác đều là những vị tiên lớn thời xưa, đã cùng tạo ra Tứ minh luận (tức 4 bộ Phệ đà), giỏi về chú thuật. Phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, xếp vị tiên này vào hàng quyến thuộc của Hỏa thiên, ngồi ở viện Ngoài của Kim cương bộ, nhưng trong Hiện đồ mạn đồ la không có hình tượng vị tiên này. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16; Tuệ lâm âm nghĩa Q.36].

kiệt liệt

Very famous.

kiệt lực

To be exhausted.

kiệt quệ

Exhausted.

kiệt sức

To be burned out—To be worn out—To be exhausted.

kiệt tác

Masterpiece.

kiệt xoa

Một nơi trên núi Karakoram mà theo ngài Pháp Hiền, nơi đây các vương triều đã từng tổ chức những cuộc cúng dường Trai Tăng hay những chúng hội thật vĩ đại. Theo Eitel trong trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vùng Khasa, nơi trú ngụ của một bộ tộc cổ Kasioi trong vùng Paropamisus; trong khi những học giả khác thì cho rằng đây có lẽ là những vùng bây giờ là Kashmir, Iskardu, hay Kartchou—A place said to be in Karakoram mountains, where according to Fa-Hsien formerly great assemblies were held under royal patronage and with royal treatment. Eitel, in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives it as Khasa, and says an ancient tribe on the Paropamisus, the Kasioi of Plotemy; others give different places, i.e. Kashmir, Iskardu, Kartchou.

kiệt xoa quốc

(竭叉國) Tên một nước xưa nằm ở giữa cao nguyên Phạ mễ nhĩ (Pamir) thuộc Ấn độ. Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện, thì cứ 5 năm nước này mở Đại hội Vô già một lần vào mùa xuân, các vị sa môn từ khắp nơi về tham dự rất đông, vua và các quan cúng dường đúng như pháp. Đại hội kéo dài trong 1 tháng, 2 tháng hoặc 3 tháng, sau đó, vua lại khuyên các quan thiết trai cúng dường, hoặc 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 5 ngày, cho đến 7 ngày. Cúng dường xong, vua sai các quan chuyên trở các đồ trân bảo và những vật mà các vị sa môn cần dùng đến, rồi vua cùng với quần thần phát nguyện bố thí chúng tăng, sau khi bố thí lại xin chuộc về. Vì nước này có nhiều núi cao và thời tiết giá rét nên các thứ lúa khác không trồng được, chỉ có lúa mạch chịu được khí hậu ở đây. Nước này có hơn 1.000 vị tăng, tất cả tu học theo Tiểu thừa. Ngoài ra, ở xứ này còn có 1 cái ống nhổ bằng đá của đức Phật, mầu sắc giống như bát Phật và 1 tòa tháp thờ răng Phật.

kiệt xuất

Outstanding

kiệt đà la

Khadira or Karavira (skt)—Loại gỗ cứng—Hard wood.

kiệt đấu

(碣鬥) Cũng gọi Trách đẩu. Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Kiệt Đẩu. Chỉ cho những người tinh khôn, giảo hoạt, không biết phục thiện, không sẵn sàng thừa nhận khuyết điểm của mình, trái lại, cố tìm cách quỉ biện hòng lấn lướt người khác. Phần Giới quán vãn xuất gia nhân tâm hành pháp thứ 25 trong bộ Tịnh tâm giới quán pháp quyển hạ (Đại 45, 829 hạ), nói: Những người về già mới xuất gia có 10 lỗi: Lỗi thứ nhất là tâm tranh hơn mạnh mẽ, thói tục chưa bỏ, nói lời thô bạo để lấn lướt (kiệt đẩu)người, ý muốn hiếp đáp đồ chúng, không chịu ai quở trách. II. Kiệt Đẩu. Người lỗi lạc xuất chúng. Thứ trung Vô uẩn thiền sư ngữ lục quyển 3 (Vạn tục 123, 421 hạ), nói: Huyền sa chưa chịu lên non Thứu Quấy rối tùng lâm lắm chuyện rồi Chỉ bởi đây chưa là Kiệt đẩu (người xuất chúng) Linh vân mãi bị dối lừa thôi. [X. điều Phật sự trong Hư đường Trí ngu thiền sư ngữ lục Q.6; điều Đại phạm viên trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.23; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].

Kiệt-xà

xem Ma-kiệt-đà.

kiệu phan

(轎番) Cũng gọi Kiệu tòng. Phu khiêng kiệu, thay phiên nhau. Điều Nghinh thị tôn túc trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1122 trung), nói: Các Phương trượng hành giả, Chấp cục hành giả, Tham đầu và Lãnh chúng hành giả, người hầu, Kiệu phiên, lần lượt tham bái.

Ku-chi-pa

S: kucipa; »Du-già sư mang bướu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Long Thụ (Ma-ha Tất-đạt). Huyền sử nói rằng ông sống 700 năm.|Ông là nông dân, bị mọc một cục bướu nơi cổ rất đau nhức. Ông rút lui độc cư và gặp Long Thụ. Ông cầu khẩn xin Long Thụ chỉ cách đối trị cục bướu thì Long Thụ cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), khuyên ông nên quán niệm về cục bướu ngày càng lớn. Ðó là phép quán niệm để chứng sức mạnh của tư duy. Quả nhiên cục bướu chóng lớn, càng thêm đau nhức. Ông đau khổ báo cho Long Thụ biết, lần này vị Ðạo sư chỉ ông quán niệm cục bướu ngày càng nhỏ. Cục bướu nhỏ đi thật và biến mất. Long Thụ kết luận:|Ðau đớn hay hoan lạc,|do chấp nhận, chối bỏ.|Bỏ những cực đoan đó!|Vì chúng đâu khác nhau.|Hãy chứng thật tính Không,|trong tất cả tình huống.|Ku-chi-pa quán lời thầy và chứng thánh quả Tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Sa-ha-ja tuyệt đối,|sẽ sinh ra đau đớn,|Du-già sư lo sợ,|nhanh chóng và kích động|như mắt một thớt voi.|Nếu sợ hãi tan biến,|Du-già sư nhập định,|tự tại trước tham cầu.|Dưới lời dạy trong sáng,|ta mất hai thái cực,|của chấp nhận chối từ,|và thật tại mong manh,|đã biến thành tối hậu.|Với nhận thức tối hậu,|ta chứng đạt Thật tại.

Kuk-ku-ri-pa

S: kukkuripa; »Du-già sư nuôi chó«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là thầy dạy của Mã-nhĩ-ba (t: marpa), sống đầu thế kỉ thứ 11. Một nữ đệ tử ngộ đạo của ông cũng được nhắc đến, đó là Ma-ni Ba-đra.|Ông là người theo đạo Bà-la-môn nhưng sau trở thành một Khất sĩ. Ngày nọ ông bắt gặp một con chó đói gần chết. Ông mang về nuôi dưỡng. Sau 12 năm tu tập, ông đạt Tất-địa. Nhờ thần thông, ông viếng thăm cõi trời Tam thập tam (Ba thế giới) và được các vị thiên nhân chiêu đãi nồng hậu. Thế nhưng ông không quên con chó. Về lại động, ông vừa rờ đến con chó thì nó biến thành một vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và nói:|Lành thay, thật lành thay!|Ngươi chứng tỏ giá trị!|Ngươi vượt qua cám dỗ.|Ngươi trở về sẽ được,|nhận năng lực tối thượng.|Quyền lực của thiên nhân,|đó chỉ là mê vọng,|vì họ còn cái Ngã,|và hoan lạc sẽ dứt,|chúng chỉ là hữu hạn.|Không hành nữ của ngươi,|cho tri kiến tối thượng,|và an lạc vô nhiễm,|không có chút tì vết.||H 37: Kuk-ku-ri-pa (kukkuripa) vì chúng sinh trở về luân hồi|Sau đó Không hành nữ truyền cho ông tri kiến tối thượng. Người đời gọi ông là Kúc-ku-ri-pa, »Du-già sư nuôi chó.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Thật hết sức vô ích,|khi cầu khẩn đức Phật.|Chỗ có sự theo đuổi,|nơi đó không có Phật.|Chỉ chứng thật phép lành,|của Ðạo sư đích thật,|nơi đó Phật hiện tiền.|Nhưng liệu ai thấy được?

Kum-ba-ri-pa

S: kumbharipa; »Thợ gốm«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống lúc nào.|Ông là thợ gốm sống tại thành Jô-ma-na Sư-ri (s: jomanaśrī). Ông nhàm chán công việc hàng ngày, chỉ mong có dịp thay đổi. Ngày nọ có vị Du-già sư khất thực đi ngang, ông bèn cúng dường và kể lại sự tình. Vị này giảng cho ông nghe về tính chất Vô thường của cuộc đời, sau đó cho ông nhập môn và dạy cho ông phép quán tưởng:|Sứ của mọi đam mê,|và tất cả vọng tưởng,|làm bằng đất vô minh.|Trên tấm đĩa quay tròn,|tham lam và dục vọng,|trở thành sáu chủng loại,|làm bằng đất sét đó.|Hãy đốt chúng tiêu rụi,|trong tri giác thuần tịnh.|Người thợ gốm hiểu ý nghĩa lời khai thị này và chỉ sau sáu tháng quán tưởng, mọi ô nhiễm trong tâm biến mất. Sau đó ông chỉ cần ngồi thiền định mà đĩa tự quay tròn và vật dụng từ đất sét tự hiện thành hình. Người đời gọi ông là Du-già sư làm đồ sứ. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Thói quen như đĩa quay,|sản sinh hiện tượng sống;|Lửa tri kiến thuần tịnh,|đốt cháy mọi nhiễm ô.

kém

Less.

kém quan trọng

Of less importance.

kén chọn

To choose—To select.

kén ăn

To be fastidious about one's food.

1) Con gà: Kukkuta (skt)—A cock—A fowl—Chicken—Hen. 2) Kê cứu: To investigate. 3) Kê đầu kỉnh lễ: To prostrate oneself.

kê cẩu giới

Ngoại đạo vùng Bắc Ấn, có loại trí thủ kê giới, cẩu giới, kê thì suốt ngày đứng một chân, cẩu thì ăn phân nhơ bẩn—Heterodox sects in northern India follow cock or dog discipline, e.g. standing on a leg all day, or eating ordure, like certain ascetics. ; (雞狗戒) Giới gà và giới chó. Một trong các lối tu khổ hạnh của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này cho rằng khổ hạnh là con đường đưa đến giải thoát, cho nên người giữ giới gà thì đứng một chân suốt ngày; kẻ giữ giới chó thì ăn phân người. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10 phần 1]. (xt. Khổ Hạnh Ngoại Đạo).

kê dẫn bộ

Gokulikas, Kukkulikas, Kukkutikas, or Kaukkutikas (skt)—Một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, còn gọi là Khôi Sơn Trụ Bộ, Quật Cự Bộ, Cao Câu Lê Ca Bộ, một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, thành lập khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập diệt và biến mất ngay sau đó—One of the twenty Hinayana branches, a branch of the Mahasanghikas which established around 200 years after the Buddha's nirvana and early disappeared.

kê dận bộ

(雞胤部) Phạm: Kurkutika, Kaukkuỉika, Gaukulika, Gokulika. Pàli: Kukkuỉika, Gokulika. Cũng gọi Kiểu củ chi bộ, Cao câu lê ha bộ, Câu câu la bộ, Cứu cứu la bộ, Quật cư bộ, Khôi sơn trụ bộ. Bộ phái Phật giáo từ Đại chúng bộ tách ra vào khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Truyền thuyết cho rằng người sáng lập ra bộ phái này là hậu duệ của giòng dõi Kê nên mới có tên gọi như thế. Phái này chủ trương quá khứ, vị lai không có thực thể; trong 3 tạng thì coi trọng tạng Luận, còn Kinh, Luật chỉ là các giáo pháp phương tiện mà đức Phật thành lập để thích ứng với mọi căn cơ, cho nên được xem như thứ yếu. Trong 6 tông của Tiểu thừa, bộ phái này thuộc về Pháp vô khứ lai tông. [X. Dị bộ tông luân luận thuật kí].

kê khai

To enumerate—To make a list.

kê khương na

Kikana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Kê Khương Na là một dân tộc ở A Phú Hãn, trú ngụ khoảng giữa miền đông Kandhar và miền nam Ghazna, vào khoảng những năm 630 sau Tây Lịch được cai trị bởi những vị lãnh chúa độc lập, có lẽ theo niên kỷ của Ả Rập đây là dân tộc Kykanan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Kikana is a people in Afghanistan, east of Kandahar, south of Ghazna, ruled 630 A.D. by independent chieftains, perhaps identical with the Kykanan of Arabic chroniclers.

kê khương na quốc

(稽姜那國) Kê khương na, Phạm: Kikàịa. Tên một nước xưa ở Tây Ấn độ, nằm về mạn tây nước Phạt lạt noa, giữa núi cao sông rộng, theo chế độ Quân chủ, nhờ nuôi nhiều dê và ngựa mà nổi tiếng. Ngựa ở đây có thân hình to lớn, là giống ngựa quí hiếm. Nước Phạt noa tức nay là Pannu (Ban nô); còn nước Kê khương na tức là vùng đất nằm về mạn tây Waziristan. Có thuyết cho rằng chủng tộc Kì khang ở dẫy núi phía đông nước Afghanistan, ngày nay sản xuất nhiều ngựa tốt, chính là dòng dõi của nước Kê khương na. [X. Đại đường tây vực kí Q.12].

kê lâu cổ

(雞婁鼓) Cũng gọi Hề lâu tử, Kê lâu tử. Một loại trống bưng bằng da thuộc, hình dáng tròn trĩnh giống như cái vò (hũ), khi sử dụng thường đeo ở trước ngực và vỗ vào 2 đầu giống như trống cơm. Đây là nhạc khí của các nước Cưu tư, Sớ lặc, Cao xương, v.v... [X. Văn hiến thông khảo Q.136].

kê quý

1) Người Tây Trúc gọi nước Cao Ly là Câu Câu Tra-Y Thiết La (Câu Câu Tra là kê, Y Thiết La là quý)—Indian people called Korea by Kukkutesvara. 2) Tôn quý loài gà: Honouring or reverencing the cock.

kê quý quốc

(雞貴國) Kê quí, Phạm: Kurkuỉa-izvara. Dịch âm: Câu câu tra ế thiết la. Tên khác của nước Cao li. Câu câu tra nghĩa là gà(kê), Ế thiết la nghĩa là quí. Nhân dân nước này quí kính gà như thần, đầu đội lông gà làm vật trang điểm. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

kê thủ

Phủ phục—To make obeisance by prostration.

kê tác la

Kesara (skt). 1) Tóc hay lông: Hair. 2) Lông bờm của sư tử: Mane of a lion. 3) Lông quắn: Curly hair. 4) Tên một loại bảo châu: Name of a gem.

kê túc sơn

Kukkutapada (skt). 1) Núi Chân Gà, nơi tôn giả Ca Diếp nhập diệt ở xứ Ma Kiệt Đà, nhưng người ta tin ngài hãy còn sống: Cock's foot mountain, in Magadha, on which Kasyapa entered into nirvana, but where he is still supposed to be living. 2) Còn gọi là núi Lang Tích (dấu chó sói): Also called the Wolf-Track. 3) Tôn Túc Sơn: Gurupada (skt)—Buddha's Foot Mountain. ; (雞足山) I. Kê Túc Sơn. Phạm:Kukkuỉapàda-giri, Kurkuỉrapàda -giri. Pàli: Kukkuỉapada-giri, Kurkuỉapadagiri. Cũng gọi Kê cước sơn, Tôn túc sơn, Lang túc sơn, Lang tích sơn. Núi ở nước Ma kiệt đà thuộc Trung Ấn độ, là nơi ngài Ma ha ca diếp nhập tịch. Vị trí núi này cách Già da (Phạm:Gayà) hiện nay khoảng hơn 25 cây số về mạn bắc đông bắc và cách Phật đà già da (Phạm:Buddha-Gayà) về phía đông bắc 32 cây số. Đại đường tây vực kí quyển 9 (Đại 51, 919 trung) nói: Núi non cao chót vót, hang động sâu thăm thẳm, dòng suối uốn quanh co, cây cối mọc um tùm, che kín cả cửa động, ba ngọn cao sừng sững như lẫn trong mây (...). Tôn giả Đại Ca diếp nhập tịch nơi này, người đời tỏ lòng tôn kính nên gọi núi này là Tôn túc sơn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh A dục vương Q.7; Cao tăng Pháp hiển truyện]. II. Kê Túc Sơn. Núi ở huyện Tân xuyên, tỉnh Vân nam, Trung quốc, về phía tây bắc khoảng hơn 50 cây số. Cứ theo điều Sơn xuyên trong Đại thanh nhất thống chí quyển 378, thì núi Kê túc nằm về mạn tây bắc cách châu Tân xuyên 100 dặm, là chỗ giáp ranh giữa huyện Thái hòa và châu Đặng xuyên. Còn trong Đại minh nhất thống chí thì có nói đến núi Cửu khúc nằm về phía đông Nhĩ hà hơn 100 dặm, núi non trùng điệp xếp thành hình như 9 mâm hoa sen nên gọi là Cửu trùng nham sơn. Trong núi có động đá nhưng không thể đi vào được. Trong Du kí của ông Lí nguyên dương nói: Phía đông sông Diệp du, đi đường bộ 80 dặm, có một dẫy núi cao chót vót, hướng nam của đỉnh núi bằng phẳng; còn 3 hướng kia có 3 ngọn nhỏ như 3 cái chân trên đỉnh núi, nên gọi là Kê túc sơn(núi chân gà). Trên đỉnh núi có một động đá, tương truyền là nơi ngài Ma ha ca diếp nhập định, đợi ngài Di lặc ra đời để trao lại áo của Phật Thích ca, vì thế núi này cũng được coi là đạo tràng của ngài Ma ha ca diếp và là trung tâm của Phật giáo tỉnh Vân nam, rất đông tăng chúng trụ ở đây. Ở thời Tam quốc chỉ có một ngôi am nhỏ, đến đời Đường được mở rộng và vào thời hưng thịnh có tới hơn 100 chùa viện lớn nhỏ, trong đó có 5 ngôi lớn nhất là các chùa: Thạch tông, Tất đàn, Đại giác, Hoa nghiêm và Truyền y. [X. Điền thích kí Q.1; Tiểu phương hồ trai dư địa tùng sao, pho thứ 4; Điền nam bi truyện tập Q.32; Minh quí điền kiềm Phật giáo khảo (Trần viên)].

kê tử diện

(雞子面) Chỉ cho tượng của Bồ tát có gương mặt hình dáng như quả trứng. Cứ theo phần Tục bổ trong kinh Tạo tượng lượng đạc, thì búi tóc trên đỉnh đầu Ngài cao 8 ngón tay, đỉnh nhọn cao 2 ngón, mặt hình trứng hiền từ vui vẻ. Mắt dài 3 ngón tay, rộng một ngón tay, giống như cánh hoa sen. Tai dài 4 ngón tay : hình tướng đàn ông nhưng không có râu mép.

kê viên

Kukkutarama (skt)—Theo Tây Vực Ký, Kukkutarama còn gọi là Kê Đầu Ma Tự hay Kê Tước Tự, một ngôi chùa trên núi Kê Đầu do vua A Dục xây (ở phía đông nam cổ thành có ngôi già lam Quật Quật Tra A Lạm Ma mà đời Đường gọi là Kê Viên, do vua Vô Ưu xây dựng. Vua Vô Ưu tín ngưỡng Phật pháp, kính cẩn dựng chùa, chăm làm việc thiện, chiêu tập hàng ngàn Tăng chúng)—According to The Great T'ang Chronicles of the Western World, Kukkutarama, a monastery on the Kukkuta Mountain, built by Asoka.

kê viên tự

(雞園寺) Phạm: Kukkuỉàrma, Kurkuỉàràma. Pàli: Kukkuỉàràma. Hán âm: Khuất khuất tra a lạm ma. Hán dịch: Kê tự, Kê tước tự, Kê lâm tinh xá, Kê tước tinh xá, Kê đầu mạt tự, Kê ma tự, Tước viên tăng già lam. Ngôi chùa ở thành Ba tra li tử (Phạm: Pàỉaliputra), nước Ma kiệt đà thuộc Trung Ấn độ, do vua A dục xây dựng. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 99, thì tỉ khưu Đại thiên xuất gia ở chùa này. Về sau, một hôm sư thăng tòa bố tát, nhân nói về 5 việc mà gây ra cuộc tranh cãi suốt đêm giữa 2 chúng Thánh, phàm, khi vua đến chùa thì sự tranh cãi mới chấm dứt. Từ đó mới bắt đầu phân chia ra 2 bộ phái là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Vua A dục từng triệu tập cả nghìn vị tăng thuộc 2 chúng Thánh, phàm ở nơi này để cúng dường tứ sự, thỉnh ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli:Moggaliputta-tissa) kết tập kinh điển. Nhưng đến thời vua Phất sa mật đa la (Phạm: Puwyamitra) thì chùa bị phá hoại. [X. kinh Tạp a hàm Q.25; kinh Bát thành trong Trung a hàm Q.60; Thiện kiến luật tì bà sa Q.2; Đại đường tây vực kí Q.8].

kê độc

Thân Độc—India—Hindu. ; (雞毒) Phạm: Sindhu. Cũng gọi Hiền đậu, Thân độc. Chỉ cho Thiên trúc, tức Ấn độ ngày nay. (xt. Thiên Trúc).

kêu ca

To complain.

kêu cứu

To call (cry) for help.

kêu la

To yell—To shout.

kêu na

To beseech.

kêu oan

To claim one's innocence.

kêu rêu

To backbite.

kêu van

See Kêu nài.

kêu án

To convict—To sentence—To condemn.

Kì thọ

(琪樹): có mấy nghĩa. (1) Chỉ cây ngọc nơi cảnh tiên. Như trong bài thơ Khốc Lý Thương Ẩn (哭李商隱) của Thôi Giác (崔玨, ?-?) nhà Đường có câu: “Ưng du vật ngoại phàn kì thọ, tiện trước nghê y thướng ngọc đàn (應遊物外攀琪樹、便著霓衣上玉壇, rong chơi tự tại vin cây ngọc, mặc áo nghê thường lên ngọc đàn).” Hay trong bài thơ Tương Du Mao Sơn (將游茅山) của Tát Đô Lạt (薩都剌, khoảng 1272-1355) nhà Nguyên lại có câu: “Thác kỵ bạch hạc phỏng Mao quân, kì thọ thu thanh cách dạ văn (錯騎白鶴訪茅君、琪樹秋聲隔夜聞, lỡ cỡi hạc trắng thăm Mao quân, cây ngọc đêm thu vẳng tiếng vang).” (2) Tên một loại cây. Như trong bài Kim Tùng Phú (金松賦) của Lý Đức Dụ (李德裕, 787-849) nhà Đường có câu: “Kì thọ dĩ thùy châu nhi thiện danh, kim tùng dĩ tiềm quýnh nhi mạc địch (琪樹以垂珠而擅名、金松以潛熲而莫覿, cây Kì nhờ rũ ngọc mà nổi danh, tùng vàng nhờ giấu lửa mà chớ gặp).” Hay trong Lục Triều Sự Tích (六朝事跡), phần Bảo Lâm Tự (寶林寺), của Trương Quách Di (張敦頤, 1772-1818) nhà Tống, cũng có câu: “Bảo Lâm Tự hữu Kì thọ, tại Pháp Đường tiền (寶林寺有琪樹、在法堂前, Bảo Lâm Tự có cây Kì, ở trước Pháp Đường).”

Kì viên

祇園; S, P: jetavana;|Ðạo trường tại Xá-vệ (s: śrāvastī), do Cấp Cô Ðộc (s, p: anāthapiṇḍika), một thương nhân giàu có, tặng cho Phật Thích-ca. Ðây cũng là nơi Ngài lưu trú 19 mùa mưa. Ngôi chùa cổ nhất của Trung Quốc là Bạch Mã tự cũng được xây theo kiểu đạo trường này

kình du bát

(擎油鉢) Bưng bát dầu. Ví dụ việc giữ gìn chính niệm, cũng như người bưng bát dầu đầy, phải hết sức cẩn thận, không để rớt ra một giọt. Luận Đại trí độ quyển 15 (Đại 25, 173 hạ), nói: Bồ tát mong cầu thoát khỏi sinh lão bệnh tử và muốn cứu độ chúng sinh, phải thường tinh tiến một lòng chính niệm, không buông lung, như người bưng bát dầu đi giữa chỗ đông người. [X. kinh Tạp a hàm Q.24; kinh Niết bàn Q.22 (bản Bắc)].

kình âm

(鯨音) ..... Tiếng cá kình, dụ cho tiếng đại hồng chung. Tổ đình sự uyển quyển 4 (Vạn tục 113, 60 hạ), ghi: Vật loại tương cảm chí nói: Ở bờ biển có con thú tên là bồ lao, nó rất sợ cá kình, chỉ kiếm ăn ở ven bờ biển. Mỗi khi cá kình nhảy thì bồ lao liền kêu, tiếng kêu giống như tiếng chuông, vì thế người đời nay thường chạm hình con bồ lao trên chuông và đẽo dùi hình cá kình để đánh. Cá kình vốn không có tiếng kêu, nhưng vì khi cá kình nhảy thì bồ lao kêu nên gọi là Kình âm.

既; C: jì; J: ki, ke;|1. Từ khi, khi; đã rồi, trước đây, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.

Kí dĩ

既已; C: jìyĭ; J: kii;|1. Trước đây đã rồi, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.

Kí thành

既成; C: jì chéng; J: kijō;|Khi đã hoàn thành.

Kí thị nhậm ma

既是恁麼; C: jìshì rèn mó; J: kize inmo; |Đã như vậy rồi.

kích bác

To criticize—To find fault with.

Kích thiết

(激切): rất mãnh liệt, ngôn luận hùng hồn, mãnh liệt. Cổ Sơn Truyện (賈山傳) có đoạn rằng: “Kỳ ngôn đa kích thiết, thiện chỉ sự ý (其言多激切、善指事意, lời của vị ấy rất hùng hồn, chỉ rõ việc làm và tâm ý của ông).”

kích thạch hoả

(擊石火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tia lửa bắn ra khi người ta dùng búa đập vào hòn đá. Từ ngữ này được dùng để hình dung khoảng thời gian cực ngắn, hoặc để ví dụ căn cơ lanh lợi nhạy bén. Thiền tông dùng kích thạch hỏa để dụ cho người học trong khoảng nháy mắt đã dứt bặt mọi tư duy phân biệt. Tắc 5 Bích nham lục (Đại 48, 145 trung), nói: Đầu trâu biến mất(như ánh chớp, thoáng qua rồi), đầu ngựa quay về(như tia lửa bắn ra từ viên đá), gương Tào khê trong sáng dính bụi. [X. Tắc 39 Bích nham lục].

Kích Tiết Lục

(擊節錄, Gekisetsuroku): tức Viên Ngộ Kích Tiết Lục (圜悟擊節錄, Engogekisetsuroku), 2 quyển, do Thái Thuần Tông Cổ (太淳宗古) hiệu đính, san hành vào năm thứ 3 (1738) niên hiệu Nguyên Văn (元文). Nguyên bản là Tuyết Đậu Trùng Hiển Niêm Cổ Viên Ngộ Khắc Cần Kích Tiết (雪竇重顯拈古圜悟克勤節錄, Secchōjūkennenkoengokokugongekisetsu). Đây là tác phẩm Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤) thêm lời bình xướng, trước ngữ cho những niêm cổ của Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯). Bản san hành cũ (tức bản Minh Lịch) có khá nhiều sai nhầm, cho nên Thái Thuần Tông Cổ đã hiệu đính lại rất công phu, thêm vào lời tựa của Đại Thọ (大樹) và cho san hành. Thêm vào đó, Thái Thuần còn viết sách chú thích Kích Tiết Lục Dư Âm (擊節錄餘音) nữa.

kích tiết lục

(擊節錄) Cũng gọi Phật quả kích tiết lục, Viên ngộ kích tiết lục. Tác phẩm, 2 quyển, do thiền sư Viên ngộ Khắc cần (1063-1135) soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 117. Nội dung chia ra phần Niêm đề, gồm 100 tắc công án xưa của ngài Tuyết đậu Trùng hiển (980-1052) và phần Kích tiết (lời bình xướng)của ngài Viên ngộ Khắc cần. Một trăm tắc công án được chia như sau: Quyển thượng: Gồm 37 tắc: Đức sơn thị chúng, Tuyết phong phổ thỉnh, Bách trượng phất tử, Sùng thọ chỉ đặng, Vĩnh gia nhiễu tích, Ngưỡng sơn chi tuyết, Hương nghiêm thùy ngữ, Lỗ tổ khiết phạn, Tuyết phong cổ giản, Tây đường lạn khước, Khâm sơn thụ quyền, Mục châu thiều chửu, Tảo thụ hán quốc, Triệu châu thâu duẩn, Bảo thọ khai đường, Vô nghiệp vọng tưởng, Đức sơn tác ma, Bảo phúc thiêm qua, Nam tuyền thị chúng, Mã tổ đồ tướng, Hưng hóa phạt tiền, Trường khánh đào kim, Đại mai vô ý, Lâm tế hao chi, Sư tổ châu tàng, Kính thanh vấn tăng. Vân môn pháp thân, Tam thánh kim lân, Phục ngưu trì thư, Huyền diệu quá hoạn, Báo từ vấn tăng, Thuyền tử ti luân, Đầu tử nhất ngôn, Tổ sư lục trần, Bảnsính trụ trượng, An quốc y lan, Huyền sa kiến hổ. Quyển hạ: Gồm có 63 tắc: Động sơn tam đốn, Đại từ thị chúng, Hoàng bá bế môn, Kính thanh phương tiện, Hương lâm nạp y, Bản nhân thị chúng, Quốc sư tam hoán, Đầu tử ức bức, Vân môn thị chúng, Trí môn thảo hài, Tuyết phong ngũ bổng, Kính sơn nhất điểm, Mục châu đảm bản, Ba lăng thị chúng, Tắc xuyên trích trà, Vân môn liệt phá, Mục châu bát nang, Tuyết phong tam hạ, Nam tuyền xuất thế, Khâm sơn chẩm ma, Huyền sa vấn tăng, Trường khánh linh dương, Viên minh thị chúng, Nam viện chư thánh, Tuyết phong tương kiến, Quốc sư tịnh bình, Thù du khán tiễn, Lâm tế phó trai, Tam dác thị chúng, Nham đầu khoa môn, Thái nguyên cố thị, Vân môn tam bệnh, Cổ sơn thị chúng, Mục châu mao đoan, Ngưỡng sơn tọa thứ, Trí môn bát nhã, Ô cậu tham đường, Tuyết phong thiên sứ, Đại tùy phổ hiền, Vân môn tân la, Bắc thiền tư phúc, Mục châu thị chúng, Huyền sa viên tướng, Nam tuyền mại thân, Thù du nhất quyết, Giáp sơn sinh tử, Bảo phúc linh dương, Ba lăng tổ ý, Triệu châu đáp thoại, Đam nguyên từ sư, Qui sơn điền trung, Tuyết phong phúc thuyền, Bảo phúc phù lê, Đại mai ngô thử, Triệu châu bát nhã, Đức sơn thác bát, Tuyết phong cổ kính, Động sơn y bát, Đầu tử tam tinh, Lạc phố phục ưng, Hương nghiêm tiên đà, Phong huyệt li vi, Cổ đức sa thủy. [X. Thiền tịch chí Q.thượng; Thiền học yếu giám; Thiền học tư tưởng sư Q.hạ (Hốt hoạt cốc khoái thiên); Thiền tông biên niên sử]. (Bạch thạch phương lưu)].

kín

Secret.

kính

(鏡) Phạm: Darpaịa. Gương dùng để soi. Theo luật Ma ha tăng kỳ quyển 23, thì bình thường tỉ khưu không được dùng gương soi mặt, nhưng khi mới khỏi bệnh, vừa cạo tóc, hoặc khi trên đầu hay mặt có mụn nhọt, lở lói, thì được phép soi gương. Về sau, gương cũng được dùng để trang nghiêm Phật đường hoặc Quang bối(vòng hào quang sau lưng tượng Phật). Trong Mật giáo, gương còn được gọi là Huyền kính(gương treo), Đàn kính(gương bày trên đàn), Bảo kính (gương báu), v.v... Trong kinh điển, minh kính (gương sáng) thường được dùng để biểu thị cho đức Pháp thân thanh tịnh; trong Ngũ trí, kính tương đương với Đại viên kính trí. Thiền tông cũng thường dùng kính hoặc minh kính để ví dụ ai ai cũng có sẵn Phật tính, bởi vì tâm của người ta vốn trong sạch sáng láng, cũng như tấm gương vậy. Trong tùng lâm, ở chỗ ngồi Thiền, thường treo tấm gương sáng để giúp cho việc quán tâm.

kính cốc

(鏡穀) Kính nghĩa là hình bóng phản ánh trong tấm gương; Cốc nghĩa là tiếng vang dội lại trong hang núi. Hình bóng trong gương vốn không nắm bắt được, mà tiếng vang trong hốc núi cũng chẳng phải có thật. Cho nên Kính cốc là ví dụ cho muôn pháp chỉ là giả hữu, không có thực thể.

kính lễ

(敬禮) .... . Phạm,Pàli:Vandana. Hán âm: Mạt nại man, Mạt nễ đệ, Hòa nam, Bà nam. Cũng gọi Lễ, Lễ kính. Cung kính, lễ bái Tam bảo. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương (Đại 45, 316 trung), nói: Kính lễ có nghĩa là bày tỏ lòng thành là Kính, giữ phép tắc lễ nghi là Lễ. Dốc lòng thành khẩn, cúi đầu tán thán, gọi là Kính lễ. Khởi tâm thanh tịnh, tạo nghiệp thù thắng, chân thành qui ngưỡng, gọi là Kính lễ. [X. Tạp ngữ tạp danh; Huyền ứng âm nghĩa Q.18]. (xt. Hòa Nam, Lễ).

kính sơn

(徑山) Núi ở cách huyện Dư hàng, tỉnh Chiết giang về mạn tây bắc khoảng 29 cây số, cao khoảng 960 mét, chu vi khoảng 29 cây số, là ngọn ở phía đông bắc núi Thiên mục, vì từ đây có 1 con đường tắt (kính...) nhỏ dẫn đến núi Thiên mục nên gọi là Kính sơn. Bảy ngọn núi ở 4 phía là Lăng tiêu, Ngự ái, Thiên hiển, Đôi châu, v.v... như những ngón tay chĩa lên trời và đứng trên đỉnh núi này có thể thấy toàn bộ thắng cảnh tỉnh Chiết giang. Thật là cảnh đẹp kỳ lạ. Trong núi có nhiều chùa cổ, như chùa Hưng thánh vạn thọ thiền ở chân núi, là 1 trong Ngũ sơn tại Trung quốc, là ngôi chùa lớn thuộc tông Lâm tế. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742), thiền sư Đạo khâm (Pháp khâm) thuộc tông Ngưu đầu, đến đây cất am tu hành, người về theo học đạo rất đông. Năm Đại lịch thứ 4 (769), vua Đường Đại tông cảm mến đức độ của ngài nên ban cho ngài danh hiệu Quốc Nhất Thiền Sư và cho xây chùa Kính sơn ở trên nền am tranh của ngài. Về sau, các ngài Giám tông, Hồng nhân đến trụ ở chùa này. Vào đời Tống, các thiền sư Viên ngộ, Khắc cần, Duy lâm, Liễu nhất, v.v... cũng ở núi này. Năm Thiệu hưng thứ 7 (1137), đệ tử của ngài Viên ngộ là thiền sư Đại tuệ đến trụ chùa Kính sơn, người học theo về đến hơn 1.700 người. Hoàng thái hậu Hiển nhân (mẹ vua Cao tông) và hoàng đế Cao tông thường đến chùa này lễ Phật. Hoàng đế Hiếu tông tự tay viết các chữ: Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự để ban cho chùa cùng với bản chú giải kinh Viên giác. Về sau, các bậc long tượng của tông Lâm tế, như các ngài Vô chuẩn Sư phạm, Hư đường Trí ngu, v.v... cũng trụ chùa này, có thể nói đây là nơi tùng lâm bậc nhất trong nước. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; Cảnh đức truyền đăng lục Q4, Q.10, Q.11; Kính sơn chí; Đại minh nhất thống chí Q.68; Đại thanh nhất thống chí Q.126].

kính sơn chí

(徑山志) Tác phẩm, 14 quyển, do ông Tống khuê quang soạn vào đời Minh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san, tập 1. Kính sơn là ngọn núi ở phía đông bắc núi Thiên mục thuộc tỉnh Chiết giang, Trung quốc, vì có con đường tắt(kính)nhỏ ăn thông với núi Thiên mục, nên gọi là Kính sơn. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, thiền sư Quốc nhất vào đây khai sơn. Về sau, các bậc cao tăng các đời Tống, Nguyên, Minh tiếp tục mở mang núi này thành nơi đạo tràng hoằng dương Phật pháp nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Trung quốc. Nội dung bộ sách này sưu tập đầy đủ các nhân vật, danh thắng, sử tích Phật giáo... ở Kính sơn. Toàn núi có hơn 10 ngôi chùa trứ danh như: Chùa Tiếp đãi, chùa Đại an thiền, chùa Vạn thọ thiền, chùa Kính sơn, chùa An lạc, chùa Pháp hoa, chùa Vạn thọ chính tục, chùa Quảng hóa thiền, chùa Thuận khánh thiền, chùa Diệu tế thiền, v.v... Sách được chia làm 18 môn: Liệt tổ, Pháp lữ, Chế sắc, Tự văn, Tháp minh, Bi kí, Du kí, Thư khải, Kệ vịnh, Danh thập, Ngoại hộ, Điện vũ, Tĩnh thất, Danh thắng, Hạ viện, Cổ tích, Tự sản, Kỉ sự... Đây là bộ Sơn chí tập đại thành những sử tích Phật giáo ở Kính sơn từ năm Thiên khải (1621-1627) đời Minh trở về trước.

Kính Sơn Hồng Nhân

(徑山洪諲, Keizan Kōin, ?-901): vị Thiền tăng thuộc dòng Nam Nhạc, môn hạ của Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), xuất thân Ngô Hưng (呉興, Ngô Hưng, Tỉnh Triết Giang), họ Ngô (呉). Năm 19 tuổi, ông theo xuất gia với Vô Thượng Đại Sư (無上大師) ở Khai Nguyên Tự (開元寺); đến năm 22 tuổi, ông lên Tung Sơn (嵩山, Huyện Đăng Phong, Tỉnh Hà Nam) thọ Cụ Túc giới. Tiếp theo, ông đến tham yết Vân Nham (雲巖), nhưng không khế ngộ cơ duyên, cuối cùng trở về tham học với Quy Sơn và đại ngộ. Vào năm thứ 7 (866) niên hiệu Hàm Thông (咸通), gặp lúc Thầy viên tịch, thể theo lời cung thỉnh của đại chúng, ông kế thế Thầy làm trú trì đời thứ 3 của Kính Sơn (徑山). Ông được Ngô Việt Vương (呉越王) cũng như Võ Túc Vương (武肅王) hộ trì tối đa và được ban cho hiệu là Pháp Tế Đại Sư (法濟大師). Bên cạnh đó, Hoàng Đế Hy Tông (僖宗) còn ban sắc ngạch cho chùa. Ông thị tịch vào ngày 28 tháng 9 năm thứ 4 (901) niên hiệu Quang Hóa (光化).

Kính Sơn Pháp Khâm

(徑山法欽, Keizan Hōkin, 714-792): vị tăng của Ngưu Đầu Tông (牛頭宗) Trung Quốc, xuất thân Côn Sơn (崑山), Quận Ngô (呉郡, Tỉnh Triết Giang), còn gọi là Đạo Khâm (道欽), họ Chu (朱). Năm 28 tuổi, trên đường đi lên kinh đô, ông ghé qua tham yết Hạc Lâm Huyền Tố (鶴林玄素), rồi xuất gia ngay trong ngày ấy và về sau kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Tây Sơn (西山, tức Kính Sơn [徑山]) thuộc Dư Hàng (餘杭, Tỉnh Triết Giang) và trở thành sơ tổ của Phái Kính Sơn. Đến năm thứ 3 (768) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông vào cung nội, thuyết pháp cho vua Đại Tông, cho nên ông được ban tặng hiệu Quốc Nhất Đại Sư (國一大師) và tên chùa Kính Sơn Tự (徑山寺). Các vị Tướng Công Thôi Hoán (崔渙), Bùi Tấn Công Độ (裴晉公度), Đệ Ngũ Kỳ (第五琦), Trần Thiếu Du (陳少遊), v.v., đã từng bái ông làm thầy. Ngay chính như những nhân vật nổi tiếng của Nam Tông Thiền như Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟), Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), v.v., cũng đã từng đến tham vấn với ông. Vào năm thứ 6 (790) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông chuyển đến trú tại Tịnh Độ Viện (淨土院) của Long Hưng Tự (龍興寺) và đến tháng 12 năm thứ 8 (792) thì thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 50 hạ lạp. Vua Đức Tông ban cho thụy hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師); Lý Cát Phụ (李吉甫) soạn ra Hàng Châu Kính Sơn Tự Đại Giác Thiền Sư Bi Minh Tinh Tự (杭州徑山寺大覺禪師碑銘幷序).

kính sơn phật giám

(徑山佛鑒) (1178-1249) Vị Thiền tăng Trung quốc sống vào đời Tống, thuộc tông Lâm tế, người Tử đồng, tỉnh Tứ xuyên, họ Ung, tên Sư Phạm, hiệu Vô chuẩn. Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Đạo khâm xuất gia ở Âm bình và năm Thiệu hi thứ 5 (1194) sư thụ giới Cụ túc, 2 năm sau, hạ an cư ở chùa Chính pháp tại Thành đô. Năm 20 tuổi, sư vào cửa ngài Tú nham Sư thụy ở núi Dục vương, một pháp tòa nổi tiếng ở vùng Đông nam. Sư nghèo không có tiền cạo tóc, người đương thời gọi là Ô đầu tử (chú đầu đen). Về sau, sư đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu, tham yết ngài Tùng nguyên Sùng nhạc, rồi đến Nam sơn ở 6 năm. Bấy giờ sư nghe tin ngài Phá am Tổ tiên đang ở Tây hoa Tú phong tại Tô châu, sư liền đến đó xin y chỉ. Chưa bao lâu, sư lại đến chùa Hoa tạng ở Thường châu, theo học ngài Độn am Tông diễn, ít lâu sau, sư lại trở về chùa Linh ẩn. Lúc bấy giờ, quan Thị lang là Trương tư sáng lập chùa Quảng huệ, thỉnh ngài Phá am Tổ tiên trụ trì, sư cũng đến thị giả ngài 3 năm, rồi lại theo ngài Phá am lên Kính sơn. Lúc sắp tịch, ngài Phá am đem pháp y đính tướng của thầy mình là ngài Hàm kiệt truyền trao cho sư. Năm Thiệu định thứ 5 (1232), sư vâng sắc chỉ trụ trì chùa Kính sơn. Năm sau, sư phụng chiếu vào cung thuyết pháp, vua thâm cảm và ban cho sư danh hiệu Phật Giám Thiền Sư và vàng bạc châu báu để trùng tu chùa Kính sơn. Ngày 15 tháng 3 năm Thuần hựu thứ 9 (1249), sư họp đệ tử để dặn dò hậu sư, đến ngày 18 sư thị tịch, thọ 72 tuổi. Sư có tác phẩm: Vô chuẩn Sư phạm thiền sư ngữ lục, 5 quyển, Vô chuẩn hòa thượng tấu đối ngữ lục, 1 quyển. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4; Đại minh cao tăng truyện Q.8; Tục truyền đăng lục Q.35].

Kính Thanh Ðạo Phó

鏡清道怤; C: jìngqīng dàofù; J: kyōsei dōfu; 863-937; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư có 5 Pháp tự và Bích nham lục có nhắc đến Sư trong các Công án 16, 23 và 46.

Kính Thanh Đạo Phó

(鏡清道怤, Kyōsei Dōfu, 868-937): người Vĩnh Gia (永嘉), Ôn Châu (溫州, Tỉnh Triết Giang), họ là Trần (陳). Ông xuất gia từ lúc còn nhỏ, rồi đến Mân Châu (閩州) tham yết Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Kính Thanh Tự (鏡清寺), rồi Thiên Long Tự (天龍寺) cũng như Long Sách Tự (龍冊寺) ở Hàng Châu (杭州). Ông thị tịch vào năm thứ 2 niên hiệu Thiên Phước (天福) đời vua Cao Tổ nhà Hậu Tần, và được ban cho thụy hiệu là Thuận Đức Đại Sư (順德大師).

kính thiên tự

(敬天寺) Chùa ở trong núi Phù tô, quận Đạo phong, gần kinh đô Hàn quốc; được sáng lập vào năm Duệ tông thứ 8 (1113). Chùa được các vua Duệ tông, Nhân tông giúp đỡ nên rất hưng thịnh một thời. Về sau, điện đường suy đồi đổ nát dần, đến nay chỉ còn lại ngôi tháp 13 tầng, được xây cất vào năm Trung mục vương thứ 4 (1348). Tương truyền, tháp này được kiến tạo theo sự cầu nguyện của Thừa tướng Thoát thoát. Tháp xây bằng đá Đại lí (đá hoa), màu tro, đến nay vẫn còn nguyên vẹn và rất đẹp. Những hình tượng Phật, người, vật được chạm trổ trên tháp có nhiều hình thái khác nhau, đường nét rất rõ ràng, tinh xảo, có thể liệt vào hàng bậc nhất ở Hàn quốc. [X. Đông quốc dư địa thắng lãm Q.13, 14, 16; Hàn quốc kiến trúc điều tra báo cáo; Đông dương kiến trúc].

kính thượng từ hạ

(敬上慈下) ........... Trên cung kính cúng dường cha mẹ, tôn trưởng, dưới từ bi thương xót tất cả chúng sinh. Kinh Quán vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 341 hạ), nói: Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư trưởng, lòng thương không giết hại chúng sinh, tu tập 10 nghiệp thiện. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự Sư trưởng là hạnh Kính thượng, lòng thương không giết hại chúng sinh là hạnh Từ hạ. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.2 (Thiện đạo); Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn)].

kính thạch trích nhũ tập

(徑石滴乳集) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Sơn đạc Châu tại soạn vào đời Thanh, ngài Thạch nguyên Cơ vân biên tiếp, ấn hành vào năm Khang hi 21 (1682), được thu vào Vạn tục tạng tập 117. Nội dung trình bày về hệ thống truyền thừa của ngài Vô chuẩn Sư phạm, tông Lâm tế. Bắt đầu từ ngài Vô chuẩn Sư phạm và đệ tử nối pháp đời thứ nhất là ngài Đoạn kiều Diệu luân, chùa Tịnh từ tại Kính sơn, cho đến đời thứ 17. Ngoài 9 vị đã được thu chép riêng trong ngữ lục ra, còn lại 238 vị được ghi thuật trong Bản lục và Ngữ yếu.

kính tượng

(鏡像) Phạm: Àdarza, Pratibimba. Bóng dáng trong gương, 1 trong 10 thí dụ trong kinh Bát nhã. Luận Đại trí độ quyển 6 (Đại 26, 104 hạ), nói: Tất cả các pháp do nhân duyên sinh, không có tự tính, như bóng trong gương. (xt. Thập Dụ).

kính tượng viên dung

(鏡像圓融) Gương, bóng viên dung. Tông Thiên thai dùng từ ngữ này để ví dụ hiển bày nghĩa 3 đế Không, Giả, Trung viên dung vô ngại. Ma ha chỉ quán quyển 1 hạ (Đại 46, 9 thượng), nói: Ví như gương sáng, sáng dụ cho Tức không, bóng dụ cho Tức giả, gương dụ cho Tức trung, không hợp không tan, hợp tan tự nhiên, chẳng 1, 2, 3; 2, 3 không trở ngại. Tâm nhất niệm này, không dọc không ngang, không thể nghĩ bàn, chẳng những mình như thế, mà chư Phật và tất cả chúng sinh cũng đều như thế. [X. Chú kim cương ti luận; Chỉ quán vi chỉ chưởng trung phổ].

kính ái pháp

(敬愛法) Kính ái, Phạm: Vazìkaraịa. Hán âm: Bà thi ca la noa, Phạ nga yết na noa, Phạ thủy ca lỗ noa, Phạt thi ca ra noa. Cũng gọi Khánh ái pháp, Kính ý pháp, Ái kính pháp. Pháp tu cầu nguyện cho chính mình và người khác được Phật, Bồ tát xót thương che chở, hoặc muốn được vua chúa và mọi người kính mến. Là 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Đây là 1 trong 4 loại Đàn pháp, tức là pháp cầu nguyện cho sự hòa hợp thân thiện, gồm có: - Tín phục kính ái: Pháp tu cầu nguyện cho người chống trái trở lại tùy thuận với mình. - Hòa hợp kính ái: Pháp tu cầu nguyện cho vợ chồng ở thế gian hòa thuận thương kính lẫn nhau. - Câu triệu kính ái: Pháp cầu nguyện cho người không thuận theo mình, khiến cho họ sinh lòng kính mến. - Tất địa kính ái: Pháp cầu nguyện cho chúng sinh vì vô minh mà trái ngược với bản giác, đi theo 3 đường ác, cuối cùng, trở về với bản giác Phật quả. Bản tôn của các pháp tu Kính ái đều khác nhau. Pháp Kính ái chung cho cả pháp Niệm tụng, pháp Hộ ma và được chia ra từ pháp Tăng ích trong 3 pháp Tức tai, Tăng ích và Điều phục. Khi tu pháp Kính ái nên bắt đầu vào giờ Dần, vì giờ này là lúc âm dương hòa hợp. Hành giả phải mặc áo đỏ, mặt hướng về phía tây, tất cả vật cúng, pháp cụ đều dùng màu đỏ. Pháp đàn và lò Hộ ma(gọi là lò Kính ái) đều dùng hình hoa sen và màu đỏ, vì màu đỏ là màu tượng trưng cho sự hòa hợp kính ái. Pháp này thuộc về Liên hoa bộ trong 3 bộ, 5 bộ. [X. kinh Thất câu chi Phật mẫu chuẩn đề đại minh đà la ni; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].

kính điền

(敬田) Chỉ cho ruộng Phật, ruộng Thánh, ruộng Tăng trong 8 thứ ruộng phúc. Do cung kính mà sinh ra các công đức, giống như do ruộng tốt mà sinh ra ngũ cốc, cho nên gọi là Kính điền. Theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 3, thì Kính điền là ruộng công đức, 1 trong 3 loại ruộng phúc. Ma ha chỉ quán quyển 10, hạ (Đại 46, 138 thượng), nói: Trên không thấy Kính điền của kinh và Phật, dưới không thấy ân đức của người thân. [X. kinh Tượng pháp quyết nghi; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8].

Kô-ki-li-pa

S: kokilipa; »Thẩm mĩ gia tự phụ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là vua của nước Cham-bạt-na (s: campārṇa), sống xa hoa trong cung điện. Ngày nọ, lúc ông đang vui chơi thì một Du-già sư (yogin) đến xin khất thực. Ông cho vào và hỏi với giọng tự hào là đời sống ai có giá trị hơn. Vị Du-già sư liền bảo rằng, trẻ con mới cho rằng vua sướng, nhưng đối với bậc hiền nhân thì đời sống của vua là độc dược. Sau khi nghe vị này giáo hoá, nhà vua xin quy y, truyền ngôi cho con và xin được theo học. Vị này truyền cho ông năng lực của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và dạy phép quán tưởng. Biết vua hay ngắm trời mây, lưu luyến tiếng chim Kô-ki-la (s: kokilā) và vườn xoài trong cung điện, Du-già sư nói:|Mây đen kéo đầy trời,|mưa tưới nuôi cây cối.|Tai ham mê tiếng hót,|tâm chạy theo khái niệm.|Thụ tưởng đầy chất độc,|sẽ kéo theo tức thì.|Ðó là đạo người điên.|Từ Tự tính của Tâm,|trống rỗng tựa không gian,|vang lên Âm và Không,|hai thứ không hề lìa.|Tâm dấy lên lạc thụ,|như mây kéo vô tận,|mây đó biến thành mưa,|tưới Tự tính sáng rực.|Rồi Năm trí kết thành,|chỉ đợi ngày hái quả.|Ðó là đạo người trí.|Nhà vua nghe lời giáo hoá và quán tưởng thiền định. Chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Người đời gọi ông là Kô-ki-li-pa, tên của loài chim mà ông dùng tiếng chim để quán tưởng. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Không làm: lời khai thị,|Không dính: chứng thật đó.|Không trụ: phép thiền định|Không chứng: đích cao cả.

Kô-ta-li-pa

S: koṭālipa; »Ðạo sư nhà nông«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của San-ti-pa (s: śāntipa), sống khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kô-ta-li-pa là một nông phu. Lần nọ, lúc cuốc đất trên sườn núi thì gặp San-ti-pa trên đường từ Tích Lan (s: śrī laṅkā) về lại Ấn Ðộ. San-ti-pa khuyên ông lúc cày cuốc đất đai đừng quên »cày cuốc tâm thức với tri kiến sáng rực«, bởi vì:|Hạnh phúc hay đau khổ,|đều do tâm tạo tác.|Cày bừa miếng đất tâm,|bằng lời khai thị này.|Ngươi cày suốt cả đời,|miếng đất sỏi đá này.|Thế nhưng không bao giờ,|biết Tự tính, Ðại lạc.|Kô-ta-li-pa nghe lời, tu tập thiền định suốt 12 năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Khổ đau hay vui sướng,|đều sinh trưởng trong tâm.|Hãy nghe lời Ðạo sư,|cày xới lên Tự tính.|Trên sườn núi cát sỏi,|dù con người minh triết,|cũng không chứng được gì,|không bao giờ giải thoát.|Chỉ khi chứng được tâm,|Sáu thức thành dòng thác,|Dâng tràn đầy Ðại lạc.|Tất cả mọi ngôn từ,|đều chỉ gây sợ hãi.|Vì thế hãy hoà tan,|trong quán tưởng thiền định,|trong thanh tịnh hoàn toàn.

(記) . I. Ký. Ký hiệu. II. Ký. Gọi đủ: Thụ ký. Một thể tài văn kinh, nội dung nói về việc đức Phật thụ kí cho các đệ tử tu hành chứng quả trong tương lai. Là một trong 9 thể tài kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Thụ Ký). III. Ký. Cũng gọi Huyền ký, Vị lai ký, Thức ký. Lời dự đoán những việc sẽ xảy ra trong tương lai. IV. Ký. Ghi chú, giải thích kinh luận.

ký chạt

(寄褐) ..... Người thế gian cho hài nhi mặc áo tăng lữ để giữ gìn, che chở cho đứa trẻ. Cứ theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì vua Trung tông nhà Đường tức hoàng đế Hiếu hòa, lúc mới sinh ra thân tướng xinh đẹp lạ thường, hào quang rực sáng khắp cung điện nên đặt tên là Phật Quang vương và được thụ pháp Tam qui, mặc áo cà sa, đến khi đầy tháng, thỉnh pháp sư đến cạo tóc. Đây là nguồn gốc của phong tục Ký hạt tại Trung quốc.

ký chủ

(記主) ..... Tiếng tôn xưng các vị chú thích kinh, luật, luận. Chẳng hạn như ngài Trạm nhiên của tông Thiên thai, ngài Pháp tạng của tông Hoa nghiêm, ngài Nguyên chiếu của Luật tông... đều được tôn xưng là Ký chủ.

ký hiển

(寄顯) Cũng gọi là Ký tề, Ký tại, Ký thuyết. Không trực tiếp hiển bày 1 ý nghĩa nào đó mà gửi(ký) ý nghĩa ấy vào một sự việc khác để giải nói. Như tông Hoa nghiêm gửi thứ tự giai vị của Nhất thừa Biệt giáo vào Chung giáo, để rồi từ đó hiển bày sự sai biệt sâu cạn của giáo môn. Đặc biệt sự gửi gắm này được gọi là Ký vị. Giáo nghĩa tông Thiên thai thì mượn giai vị để hiển bày vị thứ của Viên giáo. Hoa nghiêm kinh thám huyền ký quyển 10 (Đại 35, 299 thượng), nói: Dựa vào phương tiện gửi nghĩa pháp để nêu rõ sự sai khác của các Địa, như: Sơ địa, Nhị địa, Tam địa đồng với thế gian, còn Tứ địa, Ngũ địa, Lục địa thì đồng với Nhị thừa. Ngoài ra cũng kí thác vào Thiền chi, Đạo phẩm và các đế duyên sinh để nêu bày sự khác biệt về các Địa, nhờ đó mọi người sẽ hiểu rõ nghĩa các Địa. Sự chứng quả của hàng Bồ tát Thập địa rất sâu xa, khó có thể phân biệt được, vì vậy phải mượn các pháp thế và xuất thế gian của 3 thế gian và 5 thừa để làm sáng tỏ cái tướng của nghĩa ấy. Lại Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3 thì mượn sự thô tế của 4 tướng: Sinh, Trụ, Dị, Diệt để phân biệt 4 giác là Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.6].

ký hiển tứ tướng

(寄顯四相) Mượn 4 tướng: Sinh, Trụ, Dị, Diệt từ thô(diệt, dị, trụ) đến đế(sinh) để nói rõ 4 giai vị đoạn hoặc của thủy giác. Tức Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3, mượn sự thô tế của 4 tướng: Sinh (tế), Trụ, Dị, Diệt(thô) để nêu rõ sự khác nhau của Bất giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. Hàng phàm phu trong giai vị Thập tín, nếu đứng về phương diện khởi nghiệp tướng trong tam tế và lục thô mà nói, thì họ đã biết được niệm trước khởi ác, nên chặn đứng được ác nghiệp, không để cho khởi lên ở niệm sau, như thế gọi là biết tướng Diệt. Nhưng, nếu đứng về phương diện ác nghiệp mà nói, thì giai vị này vẫn chưa biết được 1 phần hoặc Vô minh, cho nên vẫn còn gọi là Bất giác. Hàng Nhị thừa, Tam hiền đã biết được Kế danh tự tướng, Chấp thủ tướng, tức mới biết được tướng Dị, tuy đã biết 1 phần vô minh bất giác, nhưng vẫn còn ở giai vị Tỉ quán trước Thập địa, cho nên gọi là Tương tự giác. Bồ tát từ Sơ địa trở lên đã biết được tướng Trụ, tuy chưa dứt lìa được nghiệp tướng vi tế, nhưng đã biết rõ 2 chướng(Phiền não chướng và Sở tri chướng), cho nên gọi là Tùy phần giác. Bậc đã biết Nghiệp tướng, tức là biết tướng Sinh và như vậy đã biết được hoặc nghiệp cực kì nhỏ nhiệm, nên gọi là Cứu cánh giác. Ở đây mượn 4 tướng hiển bày 4 vị để khỏi lẫn lộn với 4 tướng sát na(4 tướng Sinh, Trụ, Dị, Diệt nối nhau từng sát na trong các pháp).

ký hoa ngũ tịnh

(寄花五淨) Gửi hoa nơi cõi trời Ngũ tịnh thuộc Tứ thiền. Từ cõi Tứ thiền trở lên không bị tam tai phá hoại, vì không có phong tai(nạn gió bão)nên hoa ở đây không bị khô héo. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 7 trung), nói: Gửi hoa nơi cõi trời Ngũ tịnh không bị nắng gió làm cho khô héo, gần nước sông Linh, hạn hán nơi thế gian không làm khô cạn được.

ký khố

(寄庫) ..... Lúc còn sống đốt giấy tiền gửi xuống âm phủ trước để mong sau khi chết sinh xuống đó có tiền tiêu dùng. Những loại giấy tiền đốt trong đời này, gọi là Ký khố tiền(tiền gửi vào kho). Long thư tăng quảng tịnh độ văn quyển 5 (Đại 47, 265 trang), nói: Ta xem khắp trong tạng kinh mà không thấy có chỗ nào nói về việc kí khố ở âm phủ. Vậy kính khuyên người đời hãy đem những khoản tiêu phí cho việc ký khố này thỉnh chư tăng cúng dường hồi hướng về Tây phương, vì nhất tâm hướng về cõi Tây phương thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. Nếu không làm như thế, mà chỉ lo chuyện Ký khố âm phủ thì sau khi chết chắc chắn vào âm phủ!. [X. môn Tiền tài trong Thiền lâm tượng khí tiên].

ký mộc tạo

(寄木造) Đối lại với Nhất mộc tạo. Tiếng dùng trong nghệ thuật Phật giáo Nhật bản. Tức khi tạc tượng Phật, nhiều mảnh gỗ được dùng để ráp nối với nhau mà thành tượng. Nghệ thuật này bắt đầu từ ngày Định triều(Tổ sư nghề tạc tượng Phật ở Nhật bản) sống vào giữa thời kì Bình an. Các bộ phận và phương pháp ráp nối trong Ký mộc tạo tùy theo các tông phái mà có khác, nhưng vẫn có một quy tắc nhất định. Lí do tại sao có nghệ thuật Ký mộc tạo là vì loại gỗ lớn rất hiếm, vả lại dùng loại gỗ nhỏ vừa tiết kiệm thời gian, vừa đạt hiệu suất cao, cho nên phương pháp tạc tượng Phật theo nghệ thuật Ký mộc tạo mới thịnh hành.

ký phụ

(寄附) Cũng gọi là Ký phó, Ký tiến. Quyên tặng tài vật cho chùa, chi dùng vào việc cúng dường Tam bảo để cầu cho đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, gia đình phồn vinh, hoặc cầu cho vong linh tiên tổ được siêu thoát. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 3 (Đại 24, 1048 hạ), nói: Của cải không nên giao gửi (ký phụ) vào 4 chỗ: người già, nơi xa xôi, người xấu ác và người có thế lực. [X. kinh Trung a hàm Q.47; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.4].

ký tâm luân

(記心輪) Cũng gọi Ý luân, Ức niệm luân. Tức là đức Phật dùng luân tướng soi xét căn cơ và ý muốn khác nhau của chúng sinh để tùy nghi nói pháp cho khỏi lầm lẫn. Là một trong 3 luân. Ký tâm luân gồm có 6 tướng sai biệt: 1. Tâm biết có triền phược, có tùy miên, lìa triền phược, lìa tùy miên. 2. Tâm biết tà nguyện có nhiễm, chính nguyện vô nhiễm. 3. Tâm biết 3 cõi, 5 đường có liệt, trung, thắng 4. Tâm biết 3 thụ ứng nhau. 5. Tâm dùng 1 biết 1, dùng 1 biết nhiều 6. Chư Phật, Bồ tát biết căn cơ thắng liệt của loài hữu tình, những thứ thắng giải và những thứ giới hạnh. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6 phần cuối]. (xt. Tam luân).

ký tăng danh

(寄僧名) ........ Sau khi vào chùa lễ bái cầu phúc, cha mẹ xin vị tăng đặt tên cho con của họ để mong con họ thoát khỏi bệnh hoạn hoặc chết yểu, gọi là Ký tăngdanh(gửi tên nơi vị tăng). Phong tục này thịnh hành ở vùng Thiên tân, Trung quốc. [X. điều Trực lệ Thiên tân tiểu nhi khiêu tường chi phong tục trong Trung hoa toàn quốc phong tục chí].

ký vị ngũ tướng

(寄位五相) Năm tướng kí vị trong phẩm Nhập pháp giới của kinh Hoa nghiêm. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, thì 5 tướng kí vị là: 1. Kí vị tu hành tướng: Đồng tử Thiện tài đầu tiên đến tham vấn bồ tát Văn thù là gửi giai vị Thập tín, là do trí tuệ sáng suốt sinh ra niềm tin, phát tâm bồ đề, khởi tu tịnh hạnh, rồi đi về phương nam tham vấn các bậc thiện tri thứ để tu pháp tự tính viên đốn. 2. Hội duyên nhập thực tướng: Duyên là tất cả sự pháp; Thực là lí Nhất chân. Nghĩa là đồng tử Thiện tài đi tham vấn từ phu nhân Ma da đến bồ tát Di lặc là gửi vào đó giai vị Đẳng giác, là hiện thân đại nguyện đầy khắp hư không, hàm nhiếp tất cả chúng sinh, chư Phật ba đời đều an trụ không lay động trong pháp của các Ngài, dung hội các sự duyên để qui về thực lí. 3. Nhiếp đức thành nhân tướng: Đức là quả đức; Nhân là tu nhân. Nghĩa là khi đồng tử Thiện tài tham vấn từ kỉ khưu Đức vân đến Cù ba nữ là gửi vào đó giai vị Tam hiền Thập thánh, là hiển bày đức tướng bất khả tư nghị, hàm nhiếp công hạnh của hết thảy Thánh hiền trong 3 đời, thành tựu nhân của 1 niệm mà đầy đủ tất cả. 4. Trí chiếu vô nhị tướng: Trí là thực trí; chiếu là soi tỏ. Nghĩa là đồng tử Thiện tài mới đầu tham vấn bồ tát Văn thù, sau đó, lần lượt tham vấn khắp 53 vị Thiện tri thức, cho đến khi trở lại tham vấn bồ tát Văn thù mà tâm nguyện lúc ban đầu vẫn không thay đổi, trước sau như một, lí trí hợp nhau. 5. Hiển nhân quảng đại tướng: Đồng tử Thiện tài ở trước đức Như lai, thấy các lỗ chân lông trên thân bồ tát Phổ hiền đều thị hiện những áng mây ánh sáng vô biên, bồ tát Phổ hiền đưa tay xoa đỉnh đầu của Đồng tử Thiện tài và giảng giải các pháp, đồng tử Thiện tài liền chứng được Nhất thiết Phật sát vi trần số Tam muội môn, sự chứng ngộ này đồng với chư Phật. (xt. Ngũ Thập Tam Tham, Kí Hiển).

ký xướng

(寄唱) Trong khi rao bán(xướng) các vật dụng như y phục... của vị tăng đã viên tịch, nhân tiện gửi(ký) bán kèm những vật của người khác hoặc của thường trụ. Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 457 hạ), nói: ... cũng không được tự tiện rao bán kèm(ký xướng) những y vật của mọi người và y vật của thường trụ, sợ người ta ngờ vực. Nếu như có vị Thường trụ hoặc Đường đầu nào trong chúng rao bán y, thì cho phép được ký xướng!.

Kātyāyana

(khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên): âm dịch là Ca Chiên Diên (迦旃延), nhà văn pháp học Sanskrit, nhà toán học và là tu sĩ Phệ Đà (s, p: Veda, 吠陀), sống ở Ấn Độ ngày xưa, khoảng thời đại của vương quốc Greco-Bactrian. Ông nổi tiếng với 2 tác phẩm: Varttika và Sulba Sūtra. Varttika là bản giải thích tỉ mỉ về văn phạm của Pāṇini. Cùng với tác phẩm Mahābhāsya của Patañjali, Varttika trở thành một phần trung tâm của điển tịch vyākarana (văn phạm). Đây là một trong 6 bộ Vedanga, hình thành nền giáo dục bắt buộc đối với các học sinh Bà La Môn trong 12 thế kỷ qua. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác một trong các bộ Sulba Sūtra, một loạt gồm 9 tác phẩm về hình học của cấu trúc bàn thờ, đề cập đến hình chữ nhật, hình tam giác, hình thoi, v.v. Quan điểm của Kātyāyana về sự liên quan nghĩa từ có xu hướng hướng về tính tự nhiên. Giống như Plato, Kātyāyana tin rằng mối quan hệ nghĩa từ không phải là kết quả của tập quán con người. Với ông, sự quan hệ nghĩa từ là siddha (vĩnh hằng). Mặc dầu đối tượng của từ đề cập đến không vĩnh hằng, nhưng giống như một thỏi vàng được dùng để làm các đồ trang sức khác nhau mà vẫn còn nguyên là vàng, bản chất ý nghĩa của từ ấy là thường hằng. Kātyāyana thuộc về trường phái các nhà văn pháp học Aindra và có thể sống ở phía Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ.

Kĩ nhi

伎兒; C: jìér; J: gini;|Ca sĩ, con hát, nữ ca sĩ (s: nata).

kẻ cướp

Robber .

kẻ cầu nguyện

Those who pray by dedicating of merit or by merit transference, or sharing one's own merits and virtues with others.

kẻ lừa đảo

Swindler.

kẻ thù

Adversary—Enemy.

kẻ trộm

Burglar—Thief

kẻ vạch

To get someone into trouble

kẻ xấu xa

Demon—Devil—Mara.

kẻ yếu hèn

The weak.

kẻ ăn mày

Beggar.

kẻ đào thoát

An escapist.

kẽ tóc chân tơ

In detail.

kế

1) Búi tóc: Topknot—Tuft—The hair coil on top. 2) Cỏ gai: A thistle. 3) Kế bên: Annex. 4) Kế thừa: To inherit—To adopt. 5) Kế tục: Tiếp tục hay tương tục—To continue. 6) Kế toán: Accounting—To reckon. ; (計) So đo tính toán, tức là dùng vọng tâm phân biệt của mình để suy tính phán đoán lí nghĩa của sự vật. Thành duy thức luận thuật kí quyển 3 phần đầu cho rằng Kế là tên khác của tâm phân biệt. Ở thời đại Phật giáo bộ phái, mỗi bộ phái đều có kiến giải chính thống của bộ mình, gọi là Bản kế; quan điểm trái với tông phái của mình, gọi là Dị kế. Ngoài ra, chấp trước hư vọng, gọi là Vọng kế, Tà kế; so đo tính toán đối với tất cả pháp, gọi là Biến kế. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.6; Nhiếp đại thừa luận thích Q.4, Q.8 (bản dịch đời Đường)].

kế bảo

Theo Kinh Pháp Hoa, “Kế Bảo” là hạt ngọc báu quý nhất cài trên mái tóc của vị quốc vương (theo Kinh Pháp Hoa thì có một người có công to, nhà vua bèn cởi viên minh châu cài trên tóc ban cho, để ví với việc Đức Phật giảng thuyết Kinh Pháp Hoa cho hạng người đã ra khỏi sinh tử phân đoạn, mà tinh tấn để lìa hẳn sinh tử biến dịch)—According to The Lotus Sutra, this is the precious stone worn in the coiled hair on top of the king's head. It is the king's most prized possession. ; (髻寶) Viên ngọc quí trong búi tóc của Luân vương, dụ cho lí chân thực Nhất thừa. Bài tựa trong Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện (Đại 50, 220 hạ), nói: Dùng viên ngọc quí trong búi tóc(Kế bảo) của Luân vương để chỉ bày hạt châu trong chéo áo, mượn 1 phá 3, gom ngọn về gốc. [X. Thích thị lục thiếp Q.7]. (xt. Kế Châu Dụ).

kế châu

See Kế Bảo.

kế châu dụ

(髻珠喻) Cũng gọi Đính châu dụ. Ví dụ về viên ngọc quí trong búi tóc của Luân vương. Là 1 trong 7 ví dụ nói trong phẩm An lạc hạnh, kinh Pháp hoa. Trong thí dụ này, Luân vương dụ cho Như lai, búi tóc dụ quyền giáo Nhị thừa, viên ngọc dụ thực lí Nhất thừa. Khi viên ngọc còn trong búi tóc giống như lí chân thực còn ẩn trong quyền giáo. Nghĩa là trên hội Pháp hoa đức Như lai khai quyền hiển thực, thụ kí cho hàng Nhị thừa trong vị lai đều được thành Phật, giống như Luân vương lấy viên ngọc quí trong búi tóc ra ban cho các công thần. (xt. Pháp Hoa Thất Dụ).

kế danh tự tướng

Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, đây là sự y vào vọng chấp mà lập ra danh từ hư giả (chỉ sự suy tính so đo giữa vật nầy với vật nọ)—According to The Awakening of Faith, this is the stage of giving names (to seeming things, etc.).

kế hoạch

Plan.

Kế Khởi Hoằng Trữ

(繼起弘儲, Keiki Kōcho, 1605-1672): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Kế Khởi (繼起), hiệu Thối Ông (退翁), xuất thân Thông Châu (通州), Giang Nam (江南, Tỉnh Giang Tô), họ Lý (李). Năm 25 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Hán Nguyệt Pháp Tạng (漢月法藏). Khi Pháp Tạng khai đường giáo hóa ở An Ổn Tự (安穏寺), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), ông triệt để khai ngộ được vấn đề muôn kiếp lâu xa vẫn chưa sáng tỏ, nên ở lại hầu thầy được 3 năm và cuối cùng được phó chúc đại pháp. Từ đó trở đi, ông bắt đầu hoạt động giáo hóa tại Tường Phủ Tự (祥府寺), Phu Tiêu (夫椒), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), rồi đến trú trì Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Tự (天台山國清寺). Sau đó, ông cũng từng sống qua một số ngôi danh sát khác như Linh Nham Sơn Sùng Báo Tự (靈巖山崇報寺), Nghiêu Phong Bảo Vân Tự (堯封寳雲寺), Hổ Kheo Sơn Vân Nham Tự (虎丘山雲巖寺) ở Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), Kim Túc Quảng Huệ Tự (金粟廣慧寺) ở Tú Châu (秀州, Tỉnh Triết Giang), Phước Nghiêm Tự (福嚴寺) ở Nam Nhạc (南岳), Hành Châu (衡州, Tỉnh Hồ Nam), Hoa Dược Tự (花藥寺), Cao Phong Lý Sơn Tự (高峰理山寺), Đông Nham Tự (東巖寺) ở Võ Xương (武昌, Tỉnh Hồ Bắc), Đại Biệt Sơn Hưng Quốc Tự (大別山興國寺) ở Hán Dương (漢陽, Tỉnh Hồ Bắc), v.v. Đến ngày 27 tháng 9 năm thứ 11 (1672) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi. Tháp của ông được an trí tại Nghiêu Phong Sơn (堯峰山) với tên gọi là Đại Quang Minh Tàng (大光明藏). Pháp từ của ông có hơn 70 người và trước tác cũng khá nhiều, đuợc lưu hành trên đời như Thối Ông Hoằng Trữ Thiền Sư Quảng Lục (退翁弘儲禪師廣錄) 60 quyển, Thối Ông Hoằng Trữ Thiền Sư Dư Lục (退翁弘儲禪師餘錄) 30 quyển, Giáp Thìn Lục (甲辰錄), Thọ Tuyền Tập (樹泉集), Báo Từ Lục (報慈錄), mỗi thứ 10 quyển. Hiện tồn có Nam Nhạc Kế Khởi Hòa Thượng Ngữ Lục (南嶽繼起和尚語錄) 10 quyển, Nam Nhạc Đơn Truyền Ký (南嶽單傳記) 5 quyển, Nam Nhạc Lặc Cổ (南嶽勒古) 1 quyển, Linh Nham Ký Lược (靈巖記略) 1 quyển.

kế lí cát la kim cương nữ

(計裏吉羅金剛女) Kế lí cát la, Phạm:Kelikila. Dịch ý: Thích duyệt kim cương nữ. Cũng gọi Kế lợi cát la kim cương nữ, Kế lê kế la kim cương nữ, Kế lí kế la kim cương nữ, Xúc kim cương nữ, Xuân kim cương nữ. Gọi tắt: Xúc nữ. Vị tôn này ngồi ở góc phía sau, bên phải của Kim cương tát đỏa, là 1 trong 17 vị tôn trong hội Lí thú mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo, 1 trong 4 vị minh phi của Kim cương tát đỏa. Lí thú thích quyển hạ (Đại 19, 617 thượng), nói: Vì muốn bình đẳng điều phục, khiến cho thế gian được thanh tịnh, nên vị tôn này điều phục từ cõi trời Hữu đính cho đến các đường ác trong tất cả các cõi, đây là hạnh Tam ma địa của minh phi Kim cương kế lê cát la, thuộc về nghĩa Đại tĩnh lự. Vị Bồ tát này biểu thị đại định trong 5 loại Tam ma địa của Kim cương tát đỏa. Về hình tượng của vị tôn này có nhiều chỗ nói khác nhau. Theo Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ, thì hình tượng vị tôn này mầu trắng, ôm Kim cương tát đỏa, còn theo Kim cương giới thất tập quyển hạ, thì hình tượng vị tôn này mầu vàng và cầm tràng hoa. Ngoài ra, cứ theo Thập thất thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật, thì vị tôn này dùng hoa giác Bồ đề để cúng dường khắp 10 phương, đó cũng là dùng phương tiện trao cho chúng sinh khiến họ làm các công đức lợi ích. Ngài cầm hoa làm ấn khế, chủng tử là (ja#) hoặc (jra). [X. kinh Phật thuyết tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương Q.3; Lí phú kinh văn cú ngu thảo Q.1; Kim cương giới mạn đồ la tôn vị hiện đồ sao tư Q.3].

kế lợi cát la

Kelikila (skt)—Kế Lợi Tích La—Kế Lý Kế La—Tên của một vị Kim Cang Thủ Bồ Tát—The attendant of a deva, one of the Vajrapanis. ; (髻利吉羅) Phạm:Kelikila. Dịch ý: Kim cương hỉ duyệt, Xúc kim cương. Gọi đủ: Kế lị cát la kim cương. Cũng gọi Kế lí cát la, Kế lị chỉ la. Vị tôn này ngồi ở bên phải của Kim cương tát đỏa, là một trong 17 vị tôn của hội Lí thú mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Tiếng PhạmKelikiladịch ý là xúc, nghĩa là nam nữ đụng chạm nhau. Cứ theo Bát nhã kinh nghĩa thuật, thì vì muốn cho chúng sinh đều được giải thoát nên vị tôn này chỉ dạy rõ rằng tính xúc chạm tức là Bồ đề. Hình tượng của vị tôn này toàn thân mầu trắng, đầu đội mũ báu Ngũ Phật, 2 tay tréo nhau để ở trước ngực, tay cầm chày 3 chĩa. [X. Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Lí thú thích Q.thượng].

kế lợi da

Surya (skt). 1) Mặt Trời: The sun. 2) Thần mặt trời: The sun-god.

kế lợi sa bàn

(罽利沙盤) Phạm:Kàrwàpaịa. Pàli: Kahàpaịa. Cũng gọi Cát lợi sa bát noa, Ca lợi sa bát na, Ca lí sa bàn noa, Kế lợi sa bàn, Kế lợi sa cổ na. Tên một loại tiền tệ của Ấn độ thời xưa, hoặc là đơn vị trọng lượng. Phiên Phạm ngữ quyển 1 giải thích rằng (Đại 54, 987 hạ): Kế lợi sa bàn đáng lẽ phải nói Kế lợi sa cổ na mới đúng, dịch là số tiền. [X. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.4 phần đầu; Kinh luật dị tướng Q.28]. (xt. Ca Lợi Sa Bát Na).

kế mẫu

Stepmother.

kế na thi khí phật

(罽那尸弃佛) Phạm: Ratnazikhi. Dịch ý: Bảo kế Phật, Bảo tích Phật, Bảo đính Phật. Cũng gọi Lạt na thi khí Phật. Danh hiệu của một đức Phật ở thời quá khứ. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 87 thượng), nói: Trong thời quá khứ từ đức Phật Thích ca văn đến Phật Kế na thi khí, là kiếp a tăng kì đầu tiên, lúc ấy Bồ tát không còn mang thân người nữ. Từ đức Phật Kế na thi khí đến Phật Nhiên đăng, là kiếp a tăng kì thứ 2, (...) bấy giờ Phật Nhiên đăng thụ kí cho Bồ tát rằng: Trong đời vị lai ông sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca mâu ni. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.1; luận Đại tì bà sa Q.177; luận Câu xá Q.18].

kế nghiệp

(繼業) Vị tăng Trung quốc sống vào đời Bắc Tống, người huyện Diệu, tỉnh Thiểm tây, họ Vương, ở tại viện Thiên thọ, Lạc dương. Vào năm Càn đức thứ 2 (964), vua Tống Thái tổ ban sắc cho 300 vị sa môn trong đó có ngài Kế nghiệp đến Thiên trúc thỉnh xá lợi Phật và kinh điển. Vào năm Khai bảo thứ 9 (976), sư trở về nước, đem kinh điển và xá lợi đã thỉnh được dâng lên vua Thái tông, vua cho phép sư được chọn nơi danh sơn để tu tập, sư bèn cất am Ngưu tâm trên núi Nga mi thuộc tỉnh Tứ xuyên để ở, gọi là chùa Ngưu tâm. Cuộc hành trình đến Tây vực của sư ghi chép từng phần ở cuối mỗi quyển trong hòm kinh Niết bàn (42 quyển) được cất giữ ở chùa này. Những kí sự của sư tuy không rõ ràng, nhưng vẫn là tư liệu quí báu về mặt địa lí.

kế ngã thực hữu tông

Kế Ngã Luận—Một trong 16 tông phái ngoại đạo. Tông nầy vọng chấp vào ngã ly uẩn và phi ngã phi ly uẩn (cho rằng cái ta là có thực, là thường nhất; do chấp có ta nên chấp có cuộc sống, từ đó mà sanh ra 5 cơ quan cảm giác)—The sect that reckons on, or advocates, the reality of personality, one of the sixteen heterodox sects.

kế nhiêu di quốc

(罽饒夷國) Kế nhiêu di, Phạm: Kanyakubja. Dịch ý: Khúc nữ thành, Diệu đồng nữ thành. Cũng gọi Yết nhã cúc xà quốc, Cát na cập quốc. Tên một nước xưa ở Trung Ấn độ, tức nay là vùngKanaujiở phía đông bờ sông Kàlì, một chi nhánh của sông Hằng, tây bắc Ấn độ. Đô thành nước này vốn có tên là Câu tô ma bổ la (Phạm: Kusumapura, dịch ý là Hoa cung). Vào đời vua Phạm thụ (Phạm, Pàli:Brahma-datta), nhà vua đã xúc phạm một vị tiên nhân, nên vị tiên ấy đã dùng ác chú làm cho 99 cung nữ bị còng lưng, vì thế thành này có tên là Khúc nữ (con gái còng lưng). Truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện quyển 2 cho biết, nước này có tên là Kiện noa cứu bát xà (Phạm: Karịakubja, Hán dịch: Nhĩ xuất thành). Vào khoảng thế kỉ thứ VII, khi ngài Huyền trang ở Ấn độ đã đến dự Đại hội Vô già do vua Giới nhật (Phạm:Zìlàditya) tổ chức tại thành Khúc nữ. Ngoài ra, theo điều Yết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5, thì kinh tế nước này dồi dào, nhân dân tin cả chính lẫn tà, có hơn 100 ngôi chùa với trên một vạn tăng chúng, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa. Có hơn 200 đền thờ trời và dị đạo hơn vài nghìn người. [X. kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; Cao tăng Pháp hiển truyện].

kế sa la hoa

(計娑羅華) Kế sa la, Phạm:Kesara. Dịch ý: Nhị, Hoa nhị. Cũng gọi Kế tát la hoa, Kê tát la hoa. Tên khoa học: Rottleria tinctoria hoặc Mimusops elengi hoặc Mesua ferrea. Tên một loại hoa. Nhưng kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản 80 quyển) thì cho rằng Kế sa la là tên của một loại ngọc báu, còn Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ thì cho là vằn lông xoáy tròn trên mình sư tử. Ngoài ra, hoa của cây Thiết đao, Thiết lăng sinh sản ở vùng Mã lai á cũng gọi là Kế sa la.

kế sinh nhai

Means of living.

kế thừa

To inherit something from someone.

kế tiếp

To succeed.

kế trung

(繼忠) (1012-1082) Danh tăng Trung quốc thuộc phái Sơn gia, tông Thiên thai, sống vào thời Bắc Tống, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang, họ Khâu, tự là Pháp thần, hiệu Phù tông. Năm 8 tuổi, sư xuất gia ở chùa Khai nguyên, khi lớn lên, sư học kinh luật. Sau, sư lâm bệnh, nhờ thành tâm tu sám Quan âm mà qua khỏi. Không bao lâu, sư đến chùa Diên khánh ở Nam hồ thụ pháp nơi ngài Quảng trí Thượng hiền, rất được ngài Quảng trí coi trọng, sư thường thay thế ngài giảng kinh, ngài Tuyết đậu thấy thế cũng khen ngợi. Sau, sư đến chùa Thiên trúc ở Hàng châu lễ bồ tát Quan âm, bỗng nhiên tỏ ngộ, thấu suốt lí nghĩa kinh điển. Sư lưu lại chùa này giảng kinh Pháp hoa trong một thời gian.Về sau, sư lần lượt trụ ở chùa Khai nguyên, Diệu quả, Tuệ an, rồi lại lui về ẩn cư tại chùa Giang tâm, tu tập Thiền quán, sau lại trụ tại viện Pháp minh ở Vĩnh gia. Sư có thân hình cao lớn, khỏe mạnh, tiếng nói vang như chuông, thuyết pháp không chuộng lời văn bóng bảy, chỉ cần rõ suốt kinh luận, biện tài thao thao vô ngại. Hàng năm, vào ngày mùng 8 tháng giêng sư mở đàn truyền giới Bồ tát, số giới tử thường tới vài vạn. Sư tu Tam muội Pháp hoa, Quang minh, Di đà, Quan âm không ngừng nghỉ, tụng chú cứu khổ rất linh nghiệm. Khi sư vào trong phố, hễ ngồi thì người nhường chỗ, đi thì người tránh đường, người thời bấy giờ tôn xưng sư là Giới sư. Năm 1082 sư thị tịch, thọ 71 tuổi, pháp lạp 64. Đệ tử của sư có tới mấy trăm người, trong đó, các vị Tòng nghĩa, Xử nguyên là nổi tiếng hơn cả. Sư có các tác phẩm: Phù tông tập 50 quyển, Nhị sư khẩu nghĩa 15 quyển, Thập gián thư, Chỉ mê, Quyết mạc, Phù tông kí, Thập môn tích nạn, Giải báng thư. [X. Thích môn chính thống Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.13, Q.25; Thích thị kê cổ lược Q.4].

kế tát la

Kesara (skt)—Tóc—Hair—Filament.

Kế Tân

tên nước, phiên âm từ Phạn ngữ là Gndhra, cũng phiên âm là Kiền-đà-la, là một nước thuộc Ấn Độ thời cổ, nằm ở phía bắc lưu vực Ngũ Hà, vùng hạ lưu sông Kabul, thuộc tây bắc Ấn Độ ngày nay.

kế tân

Vương quốc cổ Kế Tân, bây giờ là Kashmir, nằm về phía tây bắc Ấn Độ—Ancient Kashmir kingdom, situated in the north-east of India—See Kashmir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

kế tân quốc

(罽賓國) Cũng gọi Kiếp tân quốc, Yết tân quốc. Tên một nước xưa ở tây bắc Ấn độ, nay là vùng đấtKashmir. Về tên gọi của nước này, có nhiều thuyết khác nhau: Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 17 cho rằng Kế tân là tên gọi lầm của nước Ca tất thí (Phạm: Kapiza). Phạm ngữ tạp danh thì cho Kế tân là tên gọi tắt của Kiếp tỉ xá dã (Phạm:Karpizaya). Ông A. Rémusat thì bảo Kế tân là Hán âm của Kophes, tên cổ xưa của Kabul. Còn các ông S. Lévi và E. Chavannes thì cho rằng Kế tân là tên xưa của nước Ca thấp di la (Phạm:Kazmìra). Vì tên nước này từ xưa (thời nhà Hán) đã được ghi trong chính sử của Trung quốc, lại thường thấy trong kinh điển Phật giáo, theo thời đại bất đồng nên miền đất được chỉ ra cũng khác nhau. Nhưng đại khái thì Kế tân là tên cổ xưa của nước Ca thấp di la. [X. Lạc dương già lam kí Q.5; điều Ca tất thí quốc trong Đại đường tây vực kí Q.1; Tùy thư Tây vực liệt truyện 48; điều Kế tân quốc trong Đường thư Tây vực liệt truyện 146 thượng; S. Lévi, E. Chavannes: L’ Itinéraire d’ Ou-K’ oung (Journal Asiatique, 1895)]. (xt. Ca Thấp Di La Quốc).

kế tân quốc long trì

(罽賓國龍池) Ao rồng ở nước Kế tân. Thủa xưa ở nước Kế tân có vua rồng A la bà lâu (Phạm:Aravàđa) làm mưa to gió lớn khiến ruộng lúa biến thành ao nước mênh mông. Đến thời vua A dục có đệ tử của ngài A nan là Mạt điền để ca (Phạm: Madhyantika) chứng được 6 thần thông, đầy đủ 8 giải thoát, đến nơi ấy hóa đạo, tĩnh tọa trong rừng, hiện thần lực lớn, vua rồng thấy thế tín phục, hỏi Ngài cần điều gì xin làm theo ý muốn. Ngài Mạt điền để ca liền bảo vua rồng dùng sức thần rút hết nước trong ao ra, vua rồng liền làm theo rồi hiến đất cho Ngài. Sau đó, ngài Mạt điền để ca vận dụng sức đại thần thông xây dựng 500 ngôi chùa tại đây và giảng kinh Thí dụ khiến 8 vạn chúng sinh đắc đạo, hàng nghìn người xuất gia. Vùng đất ấy đến đời sau trở thành nước Ca thấp di la. [X. điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Thiện kiến luật tì bà sa Q.2].

kế tân vương tí đoạ

(罽賓王臂墮) Truyền thuyết về cánh tay vua nước Kế tân rơi xuống đất khi nhà vua giết hại tôn giả Sư tử. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2, tôn giả Sư tử, vị Tổ thứ 24 trong 28 vị Tổ của Thiền tông Ấn độ, đến nước Kế tân hóa đạo, bấy giờ vua nước ấy tên là Di la quật, tà kiến sâu nặng, hủy hoại các chùa tháp, sát hại chúng tăng. Di la quật dùng kiếm chém đầu tôn giả Sư tử, nhưng từ nơi cổ của Ngài không có máu chảy ra mà chỉ thấy một dòng sữa trắng vọt lên đến mấy thước, cùng lúc đó cánh tay phải của nhà vua cũng theo dòng sữa ấy mà rơi xuống đất, 7 ngày sau vua qua đời. [X. Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Phật tổ thống kỉ Q.5]. (xt. Sư Tử).

kế tục

To continue—To follow.

kế vị

To succeed to the throne.

kế đô

Ketu (skt). 1) Sao kế đô, tên của hai chòm sao nằm bên trái và phải của chòm sao Aquila: A comet, name of two constellations to the left and right of Aquila—See Cửu Diệu. 2) Bất cứ vẻ sáng rực nào: Any bright appearance.

Kế Đăng Lục

(繼燈錄, Keitōroku): 6 quyển, do Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢) nhà Minh trước tác, san hành vào năm thứ 8 (1651) niên hiệu Thuận Trị (順治). Nguyên Hiền biên thuật bộ này vào năm thứ 2 (1648), thứ 4 (1650) niên hiệu Vĩnh Lịch (永曆), và đặt tên là Kế Đăng Lục với ý nghĩa là tập thâu lục các Truyền Đăng Lục tiếp theo Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元). Chủ yếu tập trung vào hai tông Tào Động và Lâm Tế, thư tịch này thâu lục Tào Động Tông 41 người tính từ đời thứ 16 trở xuống thuộc môn hạ Thanh Nguyên (青原), Lâm Tế Tông 216 người kể từ đời thứ 18 trở xuống thuộc môn hạ Nam Nhạc (南岳), ngoài ra còn có 7 người khác, tổng cọng là 264 người. Vào năm thứ 5 (1692) niên hiệu Nguyên Lộc (元祿), bộ này được tái san hành.

kế đăng lục

(繼燈錄) Tác phẩm, 7 quyển, trong đó có 1 quyển Mục lục, do ngài Vĩnh giác Nguyên hiền (1578-1657) soạn vào đời Minh, Trung quốc, ấn hành vào năm Thuận trị thứ 8 (1651) đời Thanh, thu vào Vạn tục tạng tập 147. Ngài Nguyên hiền đã sưu tập các loại văn hiến và tham khảo các bộ Truyền đăng lục như: Ngũ đăng hội nguyên, Ngũ đăng hội nguyên tục lược, v.v... mà biên soạn thành sách này. Nội dung gồm cơ duyên lược truyện, pháp ngữ tông thừa của 264 vị lão túc trong Thiền lâm, trong đó gồm 41 vị thuộc tông Tào động từ ngài Thiên đồng Như tịnh đời thứ 16 trở xuống trong pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư, 216 vị thuộc tông Lâm tế từ ngài Tịnh từ Ngộ minh đời thứ 18 trở xuống trong pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng và 7 vị phụ lục không rõ pháp hệ như ngài Qui sơn Thái sơ...

kế độ

Tarka or Vitarka (skt)—Tính toán—Phân biệt—To calculate—To differentiate—To reckon.

kế độ phân biệt

(計度分別) Phạm:Abhinirùpaịà-vikalpa. Cũng gọi Suy đạc phân biệt, Phân biệt tư duy. Phân biệt, so lường, suy tính. Một trong 3 thứ phân biệt. Nghĩa là sự tính toán so lường đối với cảnh sở duyên, là tác dụng của tán tuệ tương ứng với ý thức. Luận A tì đạt ma câu xá quyển 2 (Đại 29, 8 trung), nói: Tán nghĩa là chẳng phải định. Tán tuệ tương ứng với ý thức gọi là Kế đạc phân biệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.42; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2]. (xt. Tam Phân Biệt).

kết

(A) Nghĩa của “Kết”—The meanings of “Bond” • Trói buộc: To tie a knot—Bound—Tie—Knot—Settle—Wind up—To form. • Trói buộc của luân hồi sanh tử: The bond of transmigration. (B) Phân loại “Kết”—Categories of “bonds” 1) Tam Kết: Three bonds—See Tam Kết. 2) Ngũ Kết: Five bonds to mortality—See Ngũ Kết. 3) Ngũ Hạ Phần Kết: The five bonds in the lower desire-realms or the lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết. 4) Ngũ Thượng Phần Kết: The five higher bonds of desire still exist in the upper realms of form and formlessness—See Ngũ Thượng Phần Kết. 5) Cửu Kết: The nine bonds that bind men to mortality—See Cửu Kết. ; (結) I. Kết. Phạm: Bandhana hoặc Saôyojana. Cũng gọi Kết sử. Trói buộc, chỉ cho phiền não. Vì phiền não trói buộc chúng sinh vào cảnh mê, khiến cho không thể thoát khỏi cái khổ sinh tử, nên gọi là Kết(trói buộc). Kết có nhiều loại: 1. Nhị Kết: Theo kinh Trung a hàm quyển 33, thì Kết có 2 loại là Khan (bỏn sẻn) và Tật(ghen ghét). 2. Tam Kết. - Kinh Tăng nhất a hàm quyển 17 nêu 3 loại kết là: Thân tà kết(cũng gọi Thân kiến kết), Giới đạo kết(cũng gọi Giới cấm thủ kiến kết) và Nghi kết. Sáu phiền não: 5 kiến và nghi cũng bao hàm 3 kết này. - Luận A tì đàm cam lộ vị và luận Câu xá quyển 31 thì gọi 3 thứ Ái, Khuể, Vô minh là Tam kết. Nếu dứt trừ 3 kết này thì đoạn được tất cả Kiến hoặc mà chứng quả Dự lưu. - Kinh Quang tán bát nhã quyển 2 thì gọi 3 thứ Tham thân, Hồ nghi và Hủy giới là Tam kết. 3. Tứ kết. - Kinh Tăng nhất a hàm quyển 20 nêu 4 loại Kết: Dục kết, Sân kết, Si kết và Lợi dưỡng kết. - Luận thành thực quyển 10, luận Đại tì bà sa quyển 2 và Đại thừa nghĩa chương quyển 5 phần đầu, nêu ra 4 loại thân kết: Tham tật thân kết, Sân khuể thân kết, Giới thủ thân kết và Tham trước thị thực thủ thân kết(cũng gọi Kiến thủ thân kết). 4. Ngũ kết. - Kinh Trung a hàm quyển 56, luận A tì đạt ma phát trí quyển 3, luận Tập dị môn túc quyển 12 và luận Câu xá quyển 21, chia Ngũ kết thành 2 loại: Ngũ hạ phần kết và Ngũ thượng phần kết. a) Ngũ hạ phần kết là 5 loại phiền não trói buộc chúng sinh trong cõi Dục, đó là: Hữu thân kiến kết, Giới cấm thủ kiến kết, Nghi kết, Dục tham kết và Sân khuể kết. b) Ngũ thượng phần kết là 5 loại phiền não trói buộc chúng sinh ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, đó là: Sắc tham kết, Vô sắc tham kết, Điệu cử kết, Mạn kết và Vô minh kết. - Thu tóm cả 5 kết của cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc nói trên là 5 món: Tham kết, Sân kết, Mạn kết, Tật kết và Khan kết. 5. Cửu kết. Kinh Tạp a hàm quyển 18, luận A tì đạt ma phát trí quyển 3 và luận Biện trung biên quyển thượng liệt kê 9 loại phiền não là Ái, Khuể, Mạn, Vô minh, Kiến, Thủ, Nghi, Tật và Khan. Cửu kết này là do 6 phiền não căn bản(chia Ác kiến thành 3 kiến: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, gọi là Kiến kết và gom chung 2 kiến: Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi là Thủ kết) rồi thêm vào Tật kết, Khan kết mà thành. Luận Đại tì bà sa quyển 50 nói rằng thể (tự tính) của 9 kết gồm có 100 loại. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; luận Đại tì bà sa Q.46, Q.49; phẩm Tạp phiền não trong luận Thành thực Q.10; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.6]. (xt. Cửu Kết, Tứ Kết). II. Kết. Phạm: Nigamana. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chi thứ 5 trong Ngũ chi tác pháp do Cổ nhân minh thành lập, tức kết luận toàn bộ luận thức, cũng tức là chi Tông(mệnh đề) được trình bày lại một lần nữa sau khi đã được khẳng định bằng luận cứ. Từ xưa, ở Ấn độ, luận lí Nhân minh đã được lưu hành một cách phổ biến. Thời bấy giờ một luận thức được tạo thành bởi 5 phần: Tông, Nhân, Dụ, Hợp và Kết. Đây gọi là Cổ nhân minh. Thí dụ: Tông: Âm thanh là vô thường Nhân: Vì là do sự tác động mà có ra. Dụ: Ví như cái bình, vân vân... Hợp: Cái bình là do sự tác động mà có ra, là vô thường; âm thanh cũng do sự tác động mà có ra, nên âm thanh cũng là vô thường. Kết: Vì thế nên biết được rằng âm thanh là vô thường. Trong 5 phần của luận thức Cổ nhân minh trên đây, ta nhận thấy chỉ có 3 phần đầu Tông, Nhân, Dụ là cần thiết mà thôi, còn 2 phần sau chẳng qua là lập lại nên không cần lắm. Vì vậy, đến thế kỉ VI Tây lịch, ngài Trần na mới bỏ 2 phần ấy của Cổ nhân minh ra và sửa đổi lại phần Nhân, Dụ mà biến thành Tân nhân minh. Bây giờ ta đem một luận thức của Tân nhân minh so sánh với luận thức trên để thấy sự khác nhau giữa Tân và Cổ: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự tác động mà có ra. Dụ: Những gì do sự tác động mà có ra đều là vô thường, ví như cái bình, vân vân... Ta thấy luận thức của Tân nhân minh chỉ còn có 3 phần, so với luận thức 5 phần của Cổ nhân minh, tuy là giản lược và vắn tắt hơn, nhưng lại rõ ràng và chính xác hơn nhiều. Đó là một đặc sắc lớn của Tân nhân minh. (xt. Ngũ Chi Tác Pháp).

kết bạn

To make friends.

kết bệnh

Bệnh của sự trói buộc vào dục vọng và sanh tử luân hồi—The disease of bondage to the passions and reincarnation.

kết cuộc

The end.

kết duyên

Kết duyên (với Phật Pháp) để được độ sau nầy. Căn bản 84.000 kiếp qua mà Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã dạy trong Kinh Pháp Hoa cho 16 vị đệ tử để trở thành 16 vị Phật, mà Phật Thích Ca là lần tái sanh thứ 16—To form a cause or basis, to form a connection, e.g. for future salvation. The basis or condition laid 84,000 kalpas ago by Mahabhijna-jnanabhibhu in his teaching of the Lotus Sutra to 16 disciples who became incarnate as 16 Buddhas, for the subsequent teaching of the Lotus scriptures by Sakyamuni, the last of the 16 incarnations, to his disciples. ; (結緣) Đời này tu hành tuy chưa được giải thoát nhưng đó là cơ duyên để đắc quả ở kiếp sau. Ma ha chỉ quán quyển 6 phần cuối (Đại 46, 80 thượng), nói: Hòa đồng với trần tục là đầu mối của sự kết duyên. Theo tông Thiên thai, kết duyên được ứng dụng chung cho cả Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, hạ(hội bản), cho rằng nếu kết duyên với Tạng giáo thì nói pháp sinh diệt; nếu kết duyên với Thông giáo thì nói pháp vô sinh; nếu kết duyên với Biệt giáo thì tuyên thuyết Phật pháp bất sinh sinh hằng sa; nếu kết duyên với Viên giáo thì tuyên dương pháp bất sinh bất sinh nhất thực tướng. Tông Thiên thai còn căn cứ vào căn cơ lợi độn của chúng sinh mà chia kết duyên làm 2 loại: Phiếm nhĩ kết duyên và Hạ chủng kết duyên. a) Phiếm nhĩ kết duyên, có 2 loại: 1. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ chậm lụt, nghiệp chướng sâu nặng, tuy nghe giáo pháp Viên đốn nhưng không giải ngộ được. 2. Kết duyên với hạng chúng sinh có căn cơ chậm lụt, nhưng nghiệp chướng nhẹ, nghe giáo pháp quyền thừa có thể ngộ giải được. b) Hạ chủng kết duyên, cũng có 2 loại: 1. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ lanh lợi nhưngnghiệp chướng còn nặng nề. 2. Kết duyên với hạng chúng sinh căn cơ lanh lợi, nghiệp chướng cũng nhẹ nhàng. Hai hạng chúng sinh này nghe giáo pháp Viên đốn có thể giải ngộ được, hạt giống Phật được huân vào bản thức. Ngoài ra, bỏ tiền bạc tài vật dùng vào việc xây dựng chùa tháp, tạo tượng đúc chuông, in ấn kinh sách, v.v... cũng gọi là Kết duyên. Về sau, giới Phật giáo thường dùng từ ngữ này để chỉ cho nghĩa kết duyên lành với nhau. Còn Phật giáo Nhật bản thì dùng nhóm từ Kết duyên ngũ trùng để chỉ cho 5 loại pháp hội là: Kết duyên quán đính, Kết duyên bát giảng, Kết duyên kinh, Kết duyên cúng dường và Kết duyên thụ giới. [X. Đại nhật kinh sớ Q.4; Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.6 phần 3].

kết duyên chúng

Một trong Tứ Chúng, do duyên kiếp trước còn nông cạn, chưa được độ nên kết nhân duyên đắc đạo sau nầy, với hy vọng cải thiện nghiệp chướng trong tương lai—The company or multitude of those who noe become Budhists in the hope of improved karma in the future, one of the four groups of disciples. ** For more information, please see Tứ Chúng (B) (4). ; (結緣衆) Chỉ cho thính chúng đời này thấy Phật nghe pháp, tuy chưa chứng ngộ nhưng đã kết duyên lành để được độ ở đời sau. Là 1 trong 4 chúng nghe pháp. [X. Pháp hoa văn cú Q.2 phần cuối; Đại minh tam tạng pháp số Q.15]. (xt. Tứ Chúng).

kết duyên quán đỉnh

(結緣灌頂) Cũng gọi Đầu hoa tam muội da (Tam muội da tung hoa). Nghi thức quán đính của Mật giáo được cử hành để kết duyên với Phật pháp. Là 1 trong 3 pháp quán đính, Tam muội da thứ 2 trong 5 loại Tam muội da. Pháp quán đính này được truyền trao cho mọi người không phân biệt độn căn, lợi căn, giữ giới, phá giới, không giới, v.v... Nghi thức cử hành rất giản đơn, tức trước tiên, vị A xà lê dùng 1 mảnh lụa sạch phủ lên mặt người thụ pháp, trao cho ấn và chú, rồi cầm đầu ấn có cắm 1 bông hoa dẫn người ấy bước qua lư hương đi vào trong Đại đàn, tung bông hoa vào Mạn đồ la trải trên đàn, tùy theo chỗ hoa rơi mà chọn được vị Bản tôn của mình. Bấy giờ vị A xà lê lấy mảnh lụa phủ mặt người thụ pháp ra, người ấy thấy được chỗ vị Bản tôn của mình đã chọn; kế đến là xướng tôn hiệu của Bản tôn, rồi lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu người thụ 3 lần và trao cho ấn và chú của vị Bản tôn. Người thụ nhờ sức gia hộ của Bản tôn mà không rơi vào 3 đường ác, diệt trừ tất cả tội chướng, được vô lượng công đức. Vào năm Thiên bảo thứ 5 (764), ngài Tam tạng Bất không từ nước Sư tử trở lại Trung quốc, vua Đường Huyền tông ban sắc triệu ngài Bất không vào cung lập đàn truyền pháp quán đính cho vua, đây là nghi thức quán đính kết duyên đầu tiên được cử hành tại Trung quốc. [X. kinh Kim cương đính Q.3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.1; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.15; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4; Tống cao tăng truyện Q.1]. (xt. Quán Đính).

kết duyên đậu

(結緣豆) Nấu đậu cúng dường đại chúng để kết duyên lành. Tức vào ngày mùng 8 tháng 12(có thuyết nói ngày mùng 8 tháng 4) âm lịch, các chùa viện thời xưa thường nấu đậu cúng dường đại chúng. Nghi thức được cử hành như sau: Buổi tối, đại chúng mang đậu lên chính điện đặt trước Phật, quì xuống nhặt đậu; mỗi lần nhặt một hạt đậu thì niệm Phật 1 tiếng. Khi nhặt xong, đậu được đem đi nấu; sáng hôm sau, dâng đậu ấy cúng dường đại chúng để kết thiện duyên, gọi là đậu kết duyên. [X. điều Tuế thời phong tục trong Tân môn tạp kí Q.thượng].

kết giao

Làm bạn với ai—To form a friendship with someone.

kết già

nói đủ là kết già phu tọa, Phạn ngữ là nyaṣỵdat-paryaṅkam bhujya, là cách ngồi theo tư thế tréo chân, vững chãi như hoa sen, nên cũng gọi là dũng kiện tọa hay liên hoa tọa. Dân gian quen gọi là ngồi xếp bằng. Đây là cách ngồi được áp dụng trong tất cả các pháp môn của đạo Phật, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, Tịnh độ hay Thiền tông, khi hạ thủ công phu trước hết đều phải dùng đến cách ngồi an ổn này. Nếu cả hai chân đều giao nhau thì là toàn già tọa; nếu chân này gác trên chân kia thì gọi là bán già tọa. Có hai cách áp dụng phổ biến: 1. Trước hết đặt chân phải trên đùi trái, sau đó đặt chân trái trên đùi phải, hai lòng bàn chân ngửa lên, nằm trên hai bắp vế, lòng bàn tay cũng ngửa lên, tay trái đặt trên tay phải. Cách ngồi này gọi là Hàng ma tọa. Các tông Thiên Thai, Thiền tông... và đa số các tông Hiển giáo đều theo cách ngồi này. 2. Trước hết đặt chân trái trên đùi phải, sau đó đặt chân phải trên đùi trái, lòng bàn tay phải đặt trên lòng bàn tay trái, tất cả bàn tay và bàn chân đều ngửa lên. Cách ngồi này gọi là Cát tường tọa. Mật tông gọi là Liên hoa tọa.

Kết già phu toạ

結跏趺坐; S: padmāsana; J: kekka-fusa; cũng được gọi là Liên hoa toạ (蓮花坐);|Tại Ðông, Ðông nam á, Kết già phu toạ được xem là cách ngồi thích hợp nhất để Toạ thiền. Phật và các vị Bồ Tát thường được trình bày dưới dạng Kết già phu toạ trong tranh tượng.|Theo thế ngồi này, hai chân chéo nhau, chân phải nằm trên bắp vế trái, chân trái nằm trên bắp vế phải. Lưng đứng thẳng và hai bàn tay nằm chồng ngửa lên nhau trên gót chân. Khác với phần lớn các tông phái khác, trong Thiền tông, người ta thường đặt bàn tay trái (tĩnh, thế bị động) nằm trên bàn tay phải (động, thế chủ động), một biểu hiện của quan niệm »dĩ tĩnh chế động« của trường phái này.

kết già phu toạ

(結跏趺坐) Phạm: Nyawìdat-paryaíkam àbhujya. Cũng gọi Kết gia phu tọa, Kết già phụ tọa, Già phu chính tọa, Già phu tọa, Gia phu tọa, Già tọa, Kết tọa, Dũng kiện tọa. Tư thế ngồi xếp bằng, tréo 2 chân, 2 bàn chân ngửa lên đặt trên 2 bắp vế, là cách ngồi vững chãi và an ổn nhất. Được chia làm 2 loại là Hàng ma tọa và Cát tường tọa. 1. Hàng ma tọa: Trước đặt chân phải đè lên đùi trái, sau đó đặt chân trái đè lên đùi phải, 2 bàn chân ngửa lên, tay trái để trên tay phải. Thiên thai tông, Thiền tông, v.v... thường ngồi theo tư thế này. 2. Cát tường tọa: Trước đặt chân trái đè lên đùi phải, sau đó đặt chân phải đè lên đùi trái, tay phải đặt trên tay trái. Chân phải biểu thị Phật giới, chân trái biểu thị chúng sinh giới. Chân phải đè lên chân trái là tượng trưng chân Phật giới thu lấy chúng sinh giới và chúng sinh giới trở về với Phật giới, tức là biểu thị ý nghĩa chúng sinh và Phật không hai. Khi thành đạo dưới gốc cây Bồ đề, đức Như lai đã ngồi trong tư thế này, Mật giáo gọi là Liên hoa tọa và thường sử dụng cách ngồi này trong các pháp tu Tăng ích hoặc Tức tai. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Bất không quyên sách Q.9; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh nghi quĩ; luận Đại trí độ Q.7; Đại thừa khởi tín luận sớ kí Q.6; điều Tọa thiền nghi trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.5; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Cát Tường Tọa).

kết giải

1) Trói buộc và giải thoát: Bị phiền não trói buộc và giải thoát tự tại—Bondage and release. 2) Giải thoát khỏi sự trói buộc: Giác ngộ được lý mà giải thoát—Release from bondage.

kết giảng

Kết thúc một bài thuyết trình trong buổi bế mạc (kỳ an cư kiết hạ hay buổi nhóm họp chư Tăng Ni)—Concluding an address, or the address, i.e. the final day of an assembly.

Kết giới

(s: sīmā-bandha, bandhaya-sīman, 結界): âm dịch là Bạn Đà Dã Tử Mạn (畔陀也死曼), tức nương vào tác pháp mà quy hoạch một khu vực nhất định nào đó; hay y cứ vào pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (白二羯磨), tùy nơi chỗ mà hoạch định giới vức để giúp cho tăng chúng không vi phạm lỗi biệt chúng (別眾, tách khỏi chúng), ly túc (離宿, lìa xa 3 y và nghĩ lại qua đêm ở một nơi nào đó), túc chử (宿煮, ở lại qua đêm và nấu ăn), v.v. Về phạm vi kết giới, các bộ Luật đều thuyết khác nhau; nay theo Tứ Phần Luật (四分律) thì đại thể có 3 loại: Nhiếp Tăng Giới (攝僧界), Nhiếp Y Giới (攝衣界) và Nhiếp Thực Giới (攝食界). (1) Nhiếp Tăng Giới nghĩa là chư Tỳ Kheo tập trung tại một nơi để tiến hành Bố Tát (s: poṣadha, upavasatha, upoṣadha, upavāsa; p: uposatha, posatha, 布薩), v.v.; được phân thành Tự Nhiên Giới (自然界) và Tác Pháp Giới (作法界). Tự Nhiên Giới, còn gọi là Bất Tác Pháp Giới (不作法界), là khu vực không cần phải quy định đặc biệt nào, mà chỉ căn cứ vào địa hình để hoạch định. Trong Tự Nhiên Giới lại được chia thành 4 loại là: (a) Tụ Lạc Giới (聚落界, khu vực làng xóm, tụ lạc), tụ lạc (làng xóm) ở đây có hai loại là tụ lạc có thể phân biệt và tụ lạc không thể phân biệt. Theo thuyết của Thập Tụng Luật (十誦律), trường hợp tụ lạc có thể phân biệt thì lấy một tụ lạc làm giới vức. Trong khi đó, theo thuyết của Ma Ha Tăng Kỳ Luật (摩訶僧祇律), trường hợp tụ lạc không thể phân biệt thì lấy 63 bộ (một bộ là 6 thước) làm giới vức. (b) Lan Nhã Giới (蘭若界). Nếu không có người mắng pháp phản đối, thì đây là giới vức của nơi nhàn tĩnh, yên lắng; cách cự ly với tụ lạc là một Câu Lô Xá (s: krośa, p: kosa, 拘盧舍, có thuyết cho là tương đương với 600 bộ; Tạp Bảo Tạng Kinh [雜寶藏經] cho là 5 dặm). Trường hợp nếu có người mắng pháp phản đối, thì giới hạn trong vòng 58 bộ (Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa [善見律毘婆沙] cho là tương đương với 7 Bàn Đà [槃陀, đơn vị đo lường của Ấn Độ, một Bàn Đà tương đương 28 khuỷu tay]). Những người phản đối thì tự tác pháp Yết Ma ngoài phạm vi này. (c) Đạo Hành Giới (道行界), khi vị tỳ kheo đi du hành, có thể tùy theo nơi mình ở mà lấy ngang dọc một Câu Lô Xá làm giới vức. Trong phạm vi này thì không được ăn riêng, Bố Tát riêng. (d) Thủy Giới (水界), tức là kết giới trên tàu thuyền khi rời khỏi đất liền. Tác Pháp Giới thì được phân thành 3 loại: (a) Đại Giới (大界), có các trường hợp người và pháp cùng nhau, pháp và thức ăn cùng nhau, pháp giống mà thức ăn khác. Trong đó, trường hợp người và pháp cùng nhau làm chủ, còn hai loại kia tùy duyên mà khai mở riêng. Người cùng nhau nghĩa là cùng chung một trú xứ, cùng chung một khu vực thuyết giới. Pháp cùng nhau nghĩa là mỗi nữa tháng cùng nhau tập trung tại một trú xứ để tiến hành pháp Bố Tát, thuyết giới. Phạm vi của Đại Giới lấy ngoại giới của một ngôi già lam nào đó làm giới hạn nhỏ nhất, rộng đến 10 dặm cho đến 100 dặm. Kết Đại Giới này với mục đích vào lúc chư tăng thuyết giới, v.v., khiến cho tăng chúng trong một khu vực rộng lớn tập trung lại, không ai trái phạm. Phàm Đại Giới nên lấy những sự vật có thể thấy rõ ở địa phương đó như núi, sông, cây cối, v.v., làm ranh giới; đó gọi là giới tướng (界相). Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙, Taishō Vol. 24, No. 1462) quyển 17 có nêu ra 8 loại giới tướng là sơn tướng (山相, hình dạng núi), thạch tướng (石相, hình dạng tảng đá), lâm tướng (林相, hình dạng khu rừng), thọ tướng (樹相, hình dạng cây), lộ tướng (路相, hình dạng con đường), giang tướng (江相, hình dạng dòng sông), nghị phong tướng (蟻封相, hình dạng ranh giới đàn kiến), thủy tướng (水相, hình dạng dòng nước). Về hình trạng của Đại Giới, các bộ Luật thuyết bất đồng. Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa quyển 17 lấy 5 loại hình vuông, hình tròn, hình trống, hình bán nguyệt và hình tam giác làm 5 tướng kết giới. Ngoài ra, khi kết Đại Giới, sau khi chúng tăng tập trung trong phạm vi giới tướng, vị tăng sống lâu tại đó nên tuyên xướng giới tướng của bốn phương mà tuyên bố rằng: “Đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới để làm kết giới.” Nghi thức này được gọi là xướng giới tướng. (b) Giới Trường (戒塲), trường hợp trong tăng chúng có người phạm giới, tiến hành pháp sám hối, hay thọ giới, v.v., cần phải hợp đủ chúng 4 người cho đến 20 người; để tránh làm cho tăng mệt mỏi, đặc biệt kết Giới Trường hình 4 phương, gọi là tứ phương giới tướng (四方界相, giới tướng bốn phương). Giới Trường này có thể chứa tối thiểu 20 người. Theo Giới Trường của Ấn Độ, nguyên là nơi vùng đất trống; trong phạm vi ấy không được lập phòng tăng, nhưng có thể dựng điện Phật cũng như cây Bồ Đề. Hơn nữa, vì Giới Trường là nơi truyền trao giới pháp, nên chủ yếu cần phải thô sơ, đơn giản. Ban đầu, Giới Trường được kết ở ngoài Đại Giới, về sau, do vì nạn cướp bóc, nên được phép kết trong phạm vi Đại Giới. Về thứ tự kết giới, trước kết Giới Trường, sau kết Đại Giới. Nếu như đã kết Đại Giới rồi, thì phải giải bỏ Đại Giới, kết lại Giới Trường, rồi mới kết Đại Giới. Nếu Đại Giới và Giới Trường cùng kết, khi giải giới thì phải trước giải Đại Giới rồi kế đến Giới Trường; không được đảo lộn thứ tự. (c) Tiểu Giới (小界), sợ các Tỳ Kheo ác ở trong gây trở ngại mà rút lui, phế bỏ pháp sự, nên đặc biệt giới hạn trong thời gian nào đó, kết một giới vức tạm thời. Loại này được chia thành 3 tùy theo trường hợp thọ giới, thuyết giới, Tự Tứ. Bên cạnh đó, Tiểu Giới còn được kết tạm thời khi gặp già nạn, không có giới hạn về phạm vi, hình trạng, v.v. Cho nên, không giống như tác pháp lâu dài của Đại Giới và Giới Trường, mà khi việc hoàn thành thì tiến hành giải giới ngay. Nói chung, trong phần Tự Nhiên Giới của Nhiếp Tăng Giới, tùy theo xứ sở mà nói, có 4 loại bất đồng; tùy theo phạm vi lớn nhỏ mà nói, có 6 loại khác nhau. Đại Giới, Tiểu Giới trong Tác Pháp Giới đều có 3 loại, lại cọng thêm Giới Trường, thành 7 giới. (2) Nhiếp Y Giới, còn gọi là Bất Thất Y Giới (不失衣界), Bất Ly Y Túc Giới (不離衣宿界); tức là hoạch định một phạm vi nào đó để tránh cho các Tỳ Kheo vi phạm sai lầm về việc ly túc (離宿). Ly túc ở đây có nghĩa là chỉ việc Tỳ Kheo xa lìa 3 y của mình mà trú qua đêm ở nơi khác. Nếu đã hoạch định một phạm vi nào đó, trong phạm vi ấy vị Tỳ Kheo có thể khôn cần phải mang theo 3 y thường xuyên. Điều thứ 2 trong 30 pháp Xả Đọa (s: naiḥsargika-prāyaścittika,p: nissaggiya pācittiya, 捨墮, âm dịch là Ni Tát Kì Ba Dạ Đề [尼薩耆波夜提]) của Ba La Đề Mộc Xoa (s: prātimokṣa, pratimokṣa,p: pātimokkha, pāṭimokkha, 波羅提木叉, ý dịch là Tùy Thuận Giải Thoát [隨順解脫], Xứ Xứ Giải Thoát [處處解脫], v.v.) có quy định về việc ly túc này. Loại Nhiếp Y Giới này cũng được phần thành 2 loại là Tự Nhiên Giới và Tác Pháp Giới. (3) Nhiếp Thực Giới, tức quy định kết giới nơi cất chứa thức ăn, là giới vức có thể nấu nướng thức ăn, giúp cho vị Tỳ Kheo không phạm phải lỗi gọi là túc chử. Vùng đất được quy định được gọi là tịnh địa (淨地), hay tịnh trù (淨廚). Nếu trong phạm vi này mà nấu nướng thì không phạm tội này. Thực tế tác pháp của Nhiếp Thực Giới được chia thành hai loại là Thông Kết (通結, kết giới chung) và Biệt Kết (別結, kết giới riêng). Như muốn giải trừ kết giới nói trên, thì khi kết giới, cũng phải nên trãi qua tác pháp gọi là Bạch Nhị Yết Ma (s: jñaptidvitiyā-karmavacanā, 白二羯磨, tức một lần thưa bạch và một lần Yết Ma) rồi mới có thể giải trừ. Tứ Phần Luật Hành Sự Sao Tư Trì Ký (四分律行事鈔資持記, Taishō Vol. 40, No. 1805) quyển Thượng giải thích rằng: “Y Giới giả, nhiếp y dĩ thuộc nhân, linh vô ly túc tội; Thực Giới giả, nhiếp thực dĩ chướng tăng, linh vô túc chử tội; Tăng Giới giả, nhiếp nhân dĩ đồng xứ, linh vô biệt chúng tội (衣界者、攝衣以屬人、令無離宿罪、食界者、攝食以障僧、令無宿煮罪、僧界者、攝人以同處、令無別眾罪, Nhiếp Y Giới là giữ gìn y luôn đi theo bên người, khiến cho không phạm tội ly túc; Nhiếp Thực Giới là giữ gìn thức ăn để ngăn chận chư tăng [khỏi sai phạm], khiến cho không phạm tội túc chử; Nhiếp Tăng Giới là giữ gìn mọi người cùng một trú xứ, khiến cho không phạm tội biệt chúng).” Trong Luật Học Phát Nhận (律學發軔, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1125) quyển Trung, phần Kết Giới (結界), có đoạn: “Tỳ Kheo trú xứ, tiên đương kết giới, cái Yết Ma, thuyết giới, thọ giới, trị tội đẳng sự, tất y giới lập; nhược vô giới, tắc chư pháp giai bất năng thành tựu dã (比丘住處、先當結界、蓋羯磨、說戒、授戒、治罪等事、悉依界立、若無界、則諸法皆不能成就也, trú xứ của Tỳ Kheo, trước phải kết giới, phàm các việc như Yết Ma, thuyết giới, truyền trao giới, trị tội, v.v., đều nương vào giới vức mà lập; nếu không giới vức, thì các pháp đều không thể thành tựu vậy).” Bên cạnh đó, kết giới còn có nghĩa là nữ nhân kết giới (女人結界), tức cấm chỉ người nữ ra vào khu vực quy định. Kết giới cũng chỉ cho phạm vi nội trận (內陣, bộ phận chính giữa an trí tượng Phật) và ngoại trận (外陣, chỉ chu vi của nội trận, hay phần bên ngoài khu vực tham bái) trong Chánh Điện thờ Phật. Ngoài ra, đây cũng chỉ cho pháp kết giới của Mật Giáo. Đối với Mật Giáo, khi tu pháp, để phòng ngừa ma chướng xâm nhập, một địa khu được hoạch định để bảo vệ cho đạo tràng và hành giả; đó gọi là kết giới hay kết hộ (結護, ý là kết giới hộ thân). Pháp kết giới của Mật Giáo có nhiều loại khác nhau. Theo Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空罥索神變眞言經, Taishō Vol. 20, No. 1092) quyển 2, Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 1, v.v., có thể lấy hạt cải trắng, rãi bốn phương trên dưới để kết giới. Tô Tất Địa Yết La Kinh (蘇悉地羯羅經, Taishō Vol. 18, No. 893b) quyển Hạ, Phẩm Cúng Dường (供養品), thì lấy giới vức địa phương, hư không, tường Kim Cang, thành Kim Cang, v.v., mà kết giới chơn ngôn. Thông thường, kết giới thường dùng của pháp tu Mật Giáo phần lớn y cứ chuẩn vào thuyết của Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經, Taishō Vol. 18, No. 901) quyển 3, Cam Lộ Quân Trà Lợi Bồ Tát Cúng Dường Niệm Tụng Thành Tựu Nghi Quỹ (甘露軍荼利菩薩供養念誦成就儀軌, Taishō Vol. 21, No. 1211), v.v., được phân thành 5 loại như sau: (1) Địa Kết (地結), còn gọi là Kim Cang Quyết (金剛橛), tức là dựng một cây cọc nơi đại địa, gốc cọc đó hoặc bảo là đến tận cùng Kim Luân (s: kāñcana-maṇḍala, 金輪), hay đến tận cùng Thủy Luân (s: jala-maṇḍala, 水輪), v.v., là pháp thứ 6 trong 18 đạo Khế Ấn (契印). (2) Tứ Phương Kết (四方結), còn gọi là Kim Cang Tường (金剛牆), tức lấy bốn phương làm giới vức để kết giới, là pháp thứ 7 trong 18 đạo Khế Ấn. (3) Hư Thất Võng (虛室網), còn gọi là Kim Cang Võng (金剛網); tức lấy lưới Kim Cang giăng ra giữa hư không, mép lưới rũ lên đàn Kim Cang, là pháp thứ 14 trong 18 đạo Khế Ấn. (4) Hỏa Viện (火院), còn gọi là Kim Cang Viêm (金剛炎), lấy lửa cháy rực xoay nhiễu quanh bốn góc hư không, có thể giúp đuổi lui chướng nạn của ma Ba Tuần (s: Māra-pāpman, 波旬), là pháp thứ 15 trong 18 đạo Khế Ấn. (5) Đại Tam Muội Da (大三昧耶), là tổng kết giới ngoại trừ Hỏa Viện vừa nêu trên.

kết giới

See Kiết Giới. ; (結戒) I. Kết Giới. Giữ gìn giới pháp sau khi đã thụ trì. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 225 thượng), nói: Chúng tăng như nước biển Kết giới làm bờ mé Nếu có người phá giới Không được ở trong tăng Ví như nước biển lớn Không dung chứa tử thi. II. Kết Giới. Đặt ra giới pháp. Luật Ngũ phần quyển 1 (Đại 22, 3 trung), nói: Vì có 10 điều lợi ích, nên kết giới cho các tỉ khưu. [X. kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ]. ; (結界) Phạm: Sìma-bandha hoặc Bandhayasìman. Dịch âm: Bạn đà dã tử man. Theo đúng tác pháp mà phân định một khu vực riêng biệt. I. Theo pháp Bạch nhị yết ma. Vạch ra một khu vực nhất định ở bất cứ chỗ nào để chúng tăng khỏi vi phạm các lỗi lầm như: Biệt chúng, Li túc(lìa áo pháp cách đêm), Túc chử(nấu ăn trong chỗ ở), v.v... Về phạm vi và phương pháp kết giới, các luật đều nói khác nhau. Theo luật Tứ phần thì kết giới có 3 loại: Nhiếp tăng giới, Nhiếp y giới và Nhiếp thực giới. 1. Nhiếp tăng giới: Khu vực được hoạch định để các tỉ khưu nhóm họp một chỗ, tiện lợi cho các việc làm như Bố tát(nghi thức ở chung mà thực hành thuyết giới sám hối), v.v... khỏi phải vất vả đi xa. Nhiếp tăng giới được chia ra làm 2 loại là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. - Tự nhiên giới cũng gọi là Bất tác pháp giới, là khu đất có ranh giới tự nhiên mà không cần phải ấn định qua tác pháp yết ma. Có 4 loại: a) Tụ lạc giới: Chỉ cho những xóm làng, thị trấn. Có 2 hình thái khác nhau: Nếu xóm làng có ranh giới rõ ràng thì lấy xóm làng làm giới hạn; còn nếu những làng xóm liên tiếp nối nhau không phân biệt được phạm vi của làng xóm này với làng xóm khác, thì lấy mỗi bề 36 bộ(1 bộ: 6 thước tàu) làm giới hạn. b) Lan nhã giới: Chỉ cho những khu rừng vắng vẻ không có dân ở. Ranh giới A lan nhã cũng có 2 hình thái. - Nơi nguy hiểm vì có các loài thú dữ, v.v... thì giới hạn được ấn định trong vòng 58 bộ(khoảng 84m). - Nơi không nguy hiểm thì giới hạn được ấn định rộng một câu lô xá(600 bộ: 1.800m). c) Đạo hành giới: Ranh giới tự nhiên lúc đi đường, tùy theo chỗ ở, lấy phạm vi dọc ngang một câu lô xá làm giới hạn. Trong phạm vi này, không được ăn riêng, bố tát riêng. d) Thủy giới: Tức kết giới trên sông nước khi đi thuyền. - Tác pháp giới chia làm 3 loại: a) Đại giới: Có 3 loại: Nhân pháp nhị đồng, Pháp thực nhị đồng và Pháp đồng thực biệt(cũng gọi Đơn pháp đồng). Trong đó, Nhân pháp nhị đồng là chính, còn 2 loại kia là tùy duyên mà lập. Nhân đồng chỉ cho các tỉ khưu cùng sống chung(đồng nhất trú xứ) và cùng thuyết giới chung(đồng nhất thuyết giới) trong một giới khu. Pháp đồng chỉ cho mỗi nửa tháng các tỉ khưu tụ tập để làm lễ Bố tát thuyết giới. Phạm vi của Đại giới là lấy ngoại giới của một ngôi chùa làm giới hạn nhỏ nhất, rộng từ 10 dặm cho đến 100 dặm. Kết Đại giới là tạo ra một khu vực rộng lớn để cho chúng tăng nhóm họp trong hòa hợp hầu làm tăng sự như thuyết giới, v.v... Phạm vi Đại giới phải lấy những vật có thể trông thấy rõ ràng như núi, sông, rừng cây, v.v... làm ranh giới, gọi là Giới tướng. Về hình tướng của Đại giới, các luật đều nói khác nhau. Theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 17 thì hình vuông, hình tròn, hình quả trống, hình bán nguyệt và hình tam giác là 5 loại hình được dùng để kết Đại giới. Ngoài ra, lúc kết Đại giới, sau khi chúng tăng ở trong giới tướng đã nhóm họp đông đủ, thì vị tăng biết rõ địa hình ranh giới phải xướng giới tướng của 4 phương và thông báo rằng lấy đồng nhất trú xứ, đồng nhất thuyết giới làm kết giới. b) Giới tràng: Là khu vực nhỏ nằm trong phạm vi Đại giới, có thể dung chứa ít nhất 21 vị tỉ khưu, được dành riêng cho việc cử hành các nghi thức sám hối hoặc thụ giới, v.v... Hình thức Giới tràng 4 bề vuông vức, gọi là Tứ phương giới tướng. Giới tràng tại Ấn độ vốn là khu đất trống, trong đó không được xây cất phòng tăng, chỉ được thiết lập điện Phật và trồng cây Bồ đề. Ban đầu, Giới tràng được kết ở ngoài phạm vi của Đại giới, nhưng sau vì nạn trộm cướp nên được phép kết bên trong Đại giới. Thứ tự kết giới như sau: Trước kết Giới tràng, sau kết Đại giới. Nếu trước đó đã kết Đại giới rồi, thì phải giải Đại giới để kết Giới tràng, sau mới kết Đại giới. Muốn kết Giới tràng trong phạm vi của Đại giới, trước hết phải lập 3 lớp tiêu tướng(xem hình vẽ). Tức là phía chung quanh Giới tràng lấy khoảng đất trống tự nhiên làm vòng khép kín, Đại giới lấy giới tự nhiên làm vòng bao bọc, ô vuông đen bên ngoài là bức tường lớn, ô vuông đen bên trong là bức tường nhỏ, hình chữ nhật ở trong cùng là Giới tràng. Hai mặt đông bắc ở phía trong lấy bức tường nhỏ làm tiêu tướng, tức chân tường và mặt đất là thể của tự nhiên giới; trong bức tường lớn của 2 mặt Nam, Tây nếu không có tiêu tướng thì cách bức tường lớn 1 thước 8 tấc (Tàu), lấy dây giăng 3 góc Đông nam, Tây nam và Tây bắc của Giới tràng để làm ranh giới của Giới tràng. Phía ngoài bức tường nhỏ và phía trong bức tường lớn là Đại giới. Dùng đường viền trong bức tường nhỏ và dây làm nêu để kết Giới tràng, gọi là tướng ngoài của Giới tràng là tiêu tướng bên trong của giới tự nhiên; dùng bức tường nhỏ và bức tường lớn để kết Đại giới, gọi là phía ngoài của giới tự nhiên là tiêu tướng bên trong của Đại giới; chung quanh bức tường lớn, gọi là tiêu tướng bên ngoài Đại giới. Nếu kết cả Đại giới và Giới tràng thì khi giải giới phải giải Đại giới trước, sau đó mới giải giới tràng, không được đảo lộn thứ tự. c) Tiểu giới: Khu vực được kết giới tạm thời vào một lúc nào đó dành cho những việc bất thường xẩy ra, như: Thụ giới, Thuyết giới, Tự tứ, v.v... Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2 (Đại 40, 14 trung) ghi: Trong lúc nguy cấp, sợ bỏ pháp sự, nên đức Phật tùy duyên, cho phép kết Tiểu giới, nhưng không có hạn lượng nhất định, chỉ tùy theo chỗ người ngồi tức là giới tướng. Có 3 lí do kết Tiểu giới. Một là thụ giới, trường hợp này phải theo Giới tràng, nhưng không có tướng ngoài. Hai là thuyết giới, chỉ cần đủ chỗ cho 4 người ngồi. Ba là tự tứ, cần đủ chỗ cho 5 người ngồi. Đây là những trường hợp lâm nạn mà phương tiện cho phép, không có hạn lượng nhất định, chỉ căn cứ vào số người nhiều hay ít mà kết giới, xong việc liền giải giới. Tóm lại, trong tự nhiên giới của Nhiếp tăng giới, nói về nơi chỗ thì có 4 loại bất đồng; nói về phạm vi lớn nhỏ thì có 6 loại khác nhau. Đại giới và Tiểu giới trong Tác pháp giới mỗi thứ giới đều có 3 loại, cộng thêm Giới tràng thành 7 loại giới. 2. Nhiếp y giới(cũng gọi Bất thất y giới, Bất li y túc giới): Tức là vạch ra một phạm vi nhất định để tránh cho các tỉ khưu khỏi phạm tội Li túc(Cách đêm). Theo luật định, các tì khưu đi đến đâu cũng mang theo 3 tấm áo pháp bên mình, nếu tì khưu lìa áo một đêm (li túc) thì phạm tội Xả đọa. Nhưng vì nhiều trường hợp không thể mang theo áo bên mình, nên phải vạch ra một phạm vi nhất định (kết giới nhiếp y) và nội trong phạm vi ấy, các tỉ khưu được phép nghỉ cách đêm mà không cần mang theo 3 áo. Giới thứ 2 trong 30 pháp Xả đọa của Ba la đề mộc xoa chính là qui định về việc này. Nhiếp y giới cũng chia làm 2 loại là: Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 3. Nhiếp thực giới: Kết giới qui định chỗ cất chứa các thức ăn và khu vực cho phép các tỉ khưu nấu nướng để khỏi phạm tội nấu ăn trong chỗ ở. Nơi được chỉ định gọi là Tịnh địa(hoặc Tịnh trù). Nấu nướng trong khu vực này thì không phạm tội. Về tác pháp thực hành được chia làm 2 loại: Thông kết và Biệt kết. Muốn giải Nhiếp thực giới, phải tác pháp bạch nhị yết ma cũng như lúc kết giới. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng phần 2 đoạn 1 (Đại 40, 202 hạ), nói: Y giới(Nhiếp y giới) là thu nhiếp áo để áo thuộc về người, khiến không phạm tội lìa áo cách đêm; Thực giới(Nhiếp thực giới) là thu nhiếp thực vật để ngăn cách thức ăn với chúng tăng, khiến không phạm tội nấu nướng trong chỗ ở; Tăng giới(Nhiếp tăng giới) là thu nhiếp chúng tăng để tăng ở chung, khiến không phạm tội ở riêng. [X. kinh Tì ni mẫu Q.2, Q.7, Q.8; luật Ma ha tăng kì Q.8; luật Ngũ phần Q.18; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.1; luật Tứ phần Q.43; Tứ phần luật san bổ tuy cơ yết ma Q. thượng phần 1, Q. thượng phần 2, Q. trung phần 2, Q. hạ phần 1, Q. hạ phần 2; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.2; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Ngũ Chủng Kết Giới Tướng). II. Chỉ cho nữ nhân kết giới: Tức là nơi ngăn cấm đàn bà không được ra vào. III. Nội trận, Ngoại trận. Nội trận: Phần chính giữa tôn trí tượng Phật. Ngoại trận: Khu vực chung quanh nội trận hoặc bên ngoài, nơi dành cho việc lễ bái. Thông thường 2 khu vực này có lan can bao quanh nên cũng gọi là Kết giới. IV. Phép kết giới của Mật giáo. Tức là một khu vực được hoạch định để phòng ngừa ma chướng xâm nhập trong khi tu pháp hầu bảo hộ đạo tràng và người tu hành. Khu vực này được gọi là Kết giới, Kết hộ(nghĩa là kết giới để hộ thân). Phép kết giới này có nhiều loại. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 2 và kinh Đà la ni tập quyển 1, thì có thể chú nguyện vào hạt cải trắng rồi đem rải khắp 4 phương, trên, dưới để kết giới. Còn theo phẩm cúng dường trong kinh Tô tất địa quyển hạ, thì dùng các chân ngôn: Địa phương giới, Không giới, tường Kim cương, thành Kim cương, v.v... để kết giới. Nói chung, Mật giáo thường căn cứ vào ý nghĩa trong kinh Đà la ni tập quyển 3 và Quân đồ lợi nghi quĩ, v.v... mà thực hành 5 loại kết giới sau đây: 1. Địa kết, cũng gọi Kim cương quyết (cọc kim cương), dựng cọc trên mặt đất, chân của cọc này có chỗ nói là đến mé Kim luân, có chỗ nói đến mé thủy luân, v.v... Là ấn thứ 6 trong 18 đạo khế ấn. 2. Tứ phương kết, cũng gọi Kim cương tường(bức tường kim cương). Nếu ở 4 phía không có tường thì dùng tam hồ làm tường. Đây là ấn thứ 7 trong 18 đạo khế ấn. 3. Hư không võng, cũng gọi Kim cương võng. Giăng lưới kim cương trong hư không, đầu lưới phủ trên đàn kim cương. Là ấn thứ 14 trong 18 đạo khế ấn. 4. Hỏa viện, cũng gọi Kim cương viêm. Dùng lửa bao vây chung quanh lưới hư không ấy thì diệt trừ được chướng nạn thiên ma Ba tuần. Là ấn thứ 15 trong 18 đạo khế ấn. 5. Đại tam muội da: Là tổng kết giới bên ngoài Hỏa viện nói ở trên. Đại tam muội da này, trong 18 đạo khế ấn và Như ý luân quĩ đều không thấy nói đến. Khi tu pháp, thì 5 loại kết giới trên đây mỗi loại đều tùy theo sự khác nhau của 3 bộ, 5 bộ mà kết tụng ấn tướng và chân ngôn của vị Minh vương chủ bộ bộ ấy. Tức là khi tu pháp Phật bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Bất động, tu pháp Liên hoa bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Mã đầu (hoặc Minh vương Đại uy đức); tu pháp Kim cương bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Hàng tam thế, tu pháp Bảo bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Quân đồ lợi và tu pháp Yết ma bộ thì dùng khế ấn và chân ngôn của Minh vương Vô năng thắng (hoặc Kim cương Dạ xoa). Còn về diện tích của khu vực kết giới, theo các kinh quĩ, thì lớn nhất có thể đến 1.000 do tuần, kế là 900, 700, 500, 300, 100, cho đến 1 do tuần; nhỏ nhất là 7 khỉu tay, 5 khỉu tay, 3 khỉu tay, 1 khỉu tay, cho đến 1 bàn tay, 1 móng tay. Tóm lại, tất cả đều căn cứ vào sự rộng hẹp của tự tâm hành giả mà kiến lập khu vực đạo tràng. Nhưng trên thực tế, lúc tu pháp, thường giới hạn ở chu vi của đàn tu pháp, hoặc lấy điện đường của đạo tràng làm khu vực kết giới. Về hình dáng kết giới thường căn cứ vào pháp sở tu mà có khác, nếu tu pháp Tức tai thì dùng hình tròn, tu pháp Tăng ích thì dùng hình vuông, tu pháp Hàng phục dùng hình tam giác, tu pháp Kính ái dùng hình hoa sen. Ngoài ra, Mật giáo cũng nương vào sự, lí mà chia kết giới làm 2 loại; như tác pháp cụ thể hoạch định khu vực, kết ấn tướng, tụng chân ngôn, v.v... như đã nói ở trên là thuộc về Sự kết giới; còn nếu hành giả chỉ dùng pháp quán tưởng mà hoàn thành kết giới, thì thuộc về Lí kết giới. [X. kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Chuẩn đề đại minh đà la ni; Đại nhật kinh sớ Q.10; Bí tạng kí sao Q.6; Thập bát đạo sao Q.thượng]. (xt. Thập Bát Ấn, Thập Bát Đạo).

kết giới căn bản tội

(結界根本罪) Cũng gọi Tứ trọng cấm. Chỉ cho 4 tội nặng: Giết hại, trộm cướp, dan dâm và nói dối. Bốn tội này là những tội nặng nhất trong kết giới, vì chắc chắn chúng sẽ mang lại quả báo đọa địa ngục nên cũng gọi là Cực trọng cảm đọa tội.

kết giới thạch

(結界石) I. Kết Giới Thạch. Chỉ cho tấm đá đánh dấu tướng bên ngoài của Đại giới thuộc Nhiếp tăng giới. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển thượng phần 2 (Đại 40, 16 thượng), nói: Lớp ngoài cùng là ngoại tướng của Đại giới. Cũng trong quyển thượng phần 2 của sách trên (Đại 40, 15 thượng) ghi: Kết giới xong, phải dựng Kết giới thạch để chỉ rõ chỗ ấy, khiến người đến sau thấy được, chủ khách đều biết, không còn hồ nghi. Trên tấm đá này có ghi Đại giới ngoại tướng hoặc Nhiếp tăng Đại giới. (xt. Kết Giới). II. Kết Giới Thạch. Cũng gọi Cấm bài thạch, Huân tửu bài. Tấm bảng đá khắc hàng chữ cấm người uống rượu, ăn thịt không được vào trong khu vực đã được kết giới để giúp cho tăng chúng tinh tiến đạo nghiệp. Điều Lão nhân dự chúc ngữ trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 780 hạ), nói: Bản sơn và các Thiền viện thuộc pháp hệ Hoàng bá đều không cho những người ăn thịt, uống rượu vào cửa chùa phá trọng giới của Phật. Trong hình vẽ các pháp cụ ở hình phụ lục của sách đã dẫn có hình tấm bảng đá cao 7 thước, rộng 1 thước 2 tấc (Tàu), trên khắc hàng chữ Bất hứa huân tửu nhập sơn môn (Cấm mang rượu thịt vào cổng chùa)dựng ở ngoài cửa Tam quan. Hiện nay, trước cửa các Thiền viện thuộc tông Hoàng bá, Tào động, v.v... ở Nhật bản cũng có dựng bảng đá này, có lẽ là noi theo truyền thống của ngài Ẩn nguyên Long kì, Tổ của tông Hoàng bá.

kết hà

Dòng sông trói buộc của khổ đau hay phiền não—The river of bondage, i.e. of suffering or illusion.

kết hạ

See Kiết Hạ.

kết hộ

(結護) Tác pháp hộ thân kết giới của hành giả Mật giáo, để dẹp trừ chướng nạn ác ma trước khi vào đàn tu pháp. Pháp kết hộ có nhiều loại khác nhau. Kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng, nêu ra 7 pháp kết hộ bí mật là: Bí mật tam muội da, Thanh tịnh pháp thân, Kim cương pháp luân, Kim cương giáp trụ, Pháp giới thanh tịnh, Trừ chướng đại hộ và Bất động uy nộ. Tô tất địa quĩ quyển thượng dùng Đại tam muội da làm ấn minh của pháp kết giới hộ thân; Hàng tam thế ngũ trùng kết hộ lấy ấn ngôn của Hàng tam thế minh vương làm kết hộ. Nhưng trong các kinh quĩ của Kim cương bộ và Thai tạng bộ Mật giáo thì sử dụng ấn minh của pháp Bất động uy nộ(tức kết hộ tịch trừ) nhiều nhất, ấn minh này cũng dùng chung cho tất cả các loại kết hộ. Tức khi tu Tam muội, kết ấn kiếm của Bất động minh vương và tụng chú Từ cứu; trước hết, chuyển ấn qua bên trái để dẹp trừ, kế đến, chuyển qua bên phải để kết giới , biểu thị ý nghĩa ngoài dẹp trừ ác ma, trong hộ trì tự thân. Uy lực của pháp kết hộ dẹp trừ này có khả năng bảo vệ Đại giới ở 10 phương, lại có năng lực hộ thân, làm sạch chỗ ở, hành giả tâm niệm chú và ấn, đi đến đâu cũng có năng lực khiến cho các loài khác và quyến thuộc của quỉ vọng lượng thấy uy lực mạnh mẽ của Kim cương giống như đống lửa lớn trùm khắp. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô tất địa yết la Q. hạ; Niệm tụng kết hộ pháp phổ thông chư bộ; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.6].

kết hợp

To associate—To unite—To combine.

kết kinh

See Kiết Kinh. ; (結經) Đối lại: Khai kinh. Đoạn kinh ở sau bộ kinh lớn thuật lại yếu chỉ của toàn bộ kinh đã nói ở trước. Như tông Thiên thai dùng kinh Vô lượng nghĩa làm kinh mở đầu cho kinh Pháp hoa và dùng kinh Phổ hiền quán làm kinh Kết thúc. Còn Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 10 phần cuối thì dùng kinh Tượng pháp quyết nghi làm kết kinh cho kinh Niết bàn. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.8 phần 4]. (xt. Khai Kinh).

kết liên

To League—To unite—To ally.

kết liễu

To finish—To conclude—To close—To end.

kết luận

To end—To conclude—To come to a conclusion (an end)—Conclusion.

kết lậu

Kết và lậu là tên gọi khác của phiền não. Trói buộc và luân hồi sanh tử là do bởi dục vọng—Bondage and reincarnation because of the passions.

kết nghiệp

Sự trói buộc của nghiệp, hay nghiệp là kết quả của sự trói buộc của dục vọng—The bond of karma, the karma resulting from the bondage to passions or delusions.

kết nghĩa

To make friends—To be friends with someone.

kết nguyện

1) Kết thúc hay hoàn thành lời nguyện: To conclude a vow. 2) Ngày bế mạc đại hội an cư kiết hạ: The last day of an assembly (of a summer retreat). ; (結願) I. Kết Nguyện. Lập thệ nguyện. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 536 thượng), nói: Nếu bốn chúng đệ tử tụng trì kinh này thì những điều kết nguyện đều được như ý. II. Kết Nguyện. Đối lại: Khai bạch. Tác pháp cầu nguyện viên mãn cử hành vào ngày cuối cùng của pháp tu hoặc ngày cuối cũng của pháp hội. Nhật bản đặc biệt coi trọng nghi thức tác pháp này.

kết nạp

To admit.

kết oán

To create enemies.

kết phát

(結髮) Cũng gọi Kết đính pháp, Kết đính kế. Phép tết tóc trên đỉnh đầu của hành giả Mật giáo sau khi tắm gọi. Phẩm Trì giới trong kinh Tô tất địa yết la quyển thượng (Đại 18, 607 thượng), nói: Tắm gội xong, (...) nếu là tại gia thì tết tóc trên đỉnh đầu, tụng 7 biến chân ngôn trong lúc đang tết tóc. Nếu là xuất gia thì nắm tay phải lại, để lên đỉnh đầu, tụng 7 biến chân ngôn: Án, tô tất địa yết lí sa ha. Theo kinh Tô tất địa bản Ứng vĩnh của Nhật bản thì ấn tướng kết phát là: Đầu ngón cái của quyền ấn tay phải bấm vào đầu ngón trỏ làm thành hình vòng tròn. [X. Tô tất địa yết la cúng dường pháp Q. thượng; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.2; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.2]. (xt. Chu La Phát).

kết phược

Tên khác của phiền não, dục vọng hay phiền não trói buộc thân tâm—To tie and knot, i.e. in the bondage of the passions, or delusion.

kết quả của nghiệp

Karmic results—The natural reward or retribution for a deed, brought about by the law of karma.

kết sanh

Sự trói buộc vào tái sanh hay thân trung hữu chết đi để thác sanh vào thai mẹ (theo Câu Xá Luận: “lúc lâm chung thì trung hữu đối với hai tâm niệm trái ngược nhau là yêu và ghét sẽ hiện khởi, đến khi nhập thai thì đẩy bỏ cái tâm ghét chỉ chừa lại cái tâm yêu, bảo đây là của mình, rồi từ đó sinh vui mừng, nên các uẩn lớn thêm lên, thân trung hữu liền mất đi và sinh hữu hay kết sanh đã thành)—The bond of rebirth.

kết sinh

(結生) Phạm: Pratisaôdhi. Chỉ cho thân Trung hữu gá sinh vào thai mẹ. Luận Câu xá quyển 9 (Đại 29, 46 hạ), nói: Thân trung hữu muốn đến chỗ thụ sinh, trước hết là khởi tâm điên đảo rồi hướng tới chỗ nào có hành dâm, nhờ nghiệp lực mà khởi nhãn căn, tuy ở một nơi nào đó thật xa, nhưng thân trung hữu cũng thấy được chỗ cha mẹ đang giao hội mà khởi tâm điên đảo. Nếu là thân trung hữu nam thì duyên theo mẹ mà khởi tâm dâm dục của người nam; nếu là thân trung hữu nữ thì duyên theo cha mà khởi tâm dâm dục của người nữ. Nếu trái với duyên này thì cả hai đều khởi lên tâm tức giận. (...) Do khởi hai tâm điên đảo ấy nên thân trung hữu cho rằng thân mình hợp với người mình yêu thích, khi chất dơ bẩn đáng ghét lọt vào thai thì cho là đã có, nên sinh tâm vui mừng, từ đấy thân ngũ uẩn thành hình, thân trung hữu liền mất, thân sinh hữu đã bắt đầu, gọi là đã kết sinh. Trên đây là nói về phàm phu kết sinh, vì chỉ có phàm phu mới sinh tâm điên đảo ấy, chứ Bồ tát thì không như thế. Khi Bồ tát vào thai mẹ, tâm không điên đảo, đối với cha thì biết là cha, đối với mẹ thì biết là mẹ, đều yêu mến như nhau, không có tâm phân biệt sai khác. [X. luận Đại tì bà sa Q.60; luận Du già sư địa Q.1, Q.66; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Thành duy thức luận diễn bí Q.3 phần cuối]. (xt. Trung Hữu).

Kết sử

結使; S, P: saṃyojana;|Trói buộc, Cái triền

kết sử

(結使, Phạn ngữ: saṃyojana): chỉ những sự trói buộc, ngăn trở người tu tập trên đường đạt đến sự giải thoát. Vì có sức trói buộc thân tâm, nên gọi là kết (thắt buộc, trói buộc). Vì có sức sai khiến, xúi giục người ta hành động sai trái, nên gọi là sử (sai khiến). Có 10 kết sử được kể ra là: 1. Thân kiến (身見; Phạn ngữ: satkya-dṛṣṭi; Pli: sakkyadiṭṭhi), chấp rằng có một bản ngã hình thành nơi thân thể; 2. Nghi (疑; Phạn ngữ: vicikits; Pli: vicikicc); 3. Giới cấm thủ (戒禁取; Phạn ngữ: ỵlavrata-parmarśa; Pli: sỵlabbata-parmsa) cố chấp vào giới luật một cách không chính đáng; 4. Dục tham (欲貪; Phạn ngữ: kma-rga); 5. Sân khuể (sân hận) (瞋恚; Phạn ngữ: vypda); 6. Sắc tham (色貪; Phạn ngữ: rpa-rga); 7. Vô sắc tham (無色貪; Phạn ngữ: arpa-rga); 8. Mạn (kiêu mạn) (慢; Phạn ngữ: mna); 9. Trạo cử (hồi hộp không yên) (掉舉; Phạn ngữ: auddhatyauddhacca); 10. Vô minh (無明; Phạn ngữ: avidyavijj). Cũng có cách phân loại cửu kết, thập sử, lại chia ra ngũ lợi sử và ngũ độn sử. Trong một số bản kinh luận, đôi khi cũng thấy đề cập đến thất sử bao gồm: dục ái, sân khuể, hữu ái, kiêu mạn, vô minh, tà kiến và nghi. Vì thế, nói một cách tổng quát nhất thì kết sử có thể xem như cách gọi tên khác của phiền não. ; See Kiết Sử. ; (結使) Tên khác của phiền não. Kết là các phiền não trói buộc chúng sinh, khiến cho không ra khỏi được sinh tử; Sử là các phiền não sai khiến làm não loạn chúng sinh. Kết có 9 thứ, Sử có 10 thứ, gọi là 9 kết 10 sử. Luận Đại trí độ quyển 1 (Đại 25, 58 hạ), nói: Tất cả chúng sinh bị bệnh kết sử làm cho phiền não, từ vô thủy sinh tử đến nay, không ai có thể chữa được bệnh này. [X. luận Đại trí độ Q.5; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu]. (xt. Cửu Kết).

kết thai ngũ vị

(結胎五位) Năm trạng thái của con người khi ở trong thai. Đó là: 1. Yết la lam: Nhơ nhớp lẫn lộn, nghĩa là 7 ngày đầu khi mới vào thai, tinh huyết mới kết đọng. 2. Át bộ đàm: Tức là bào thai, nghĩa là trong khoảng 14 ngày sau khi vào thai, thai trạng như sữa đặc 3. Bế thi: Tức ngưng kết lại, nghĩa là trong khoảng 21 ngày vào thai, thai nhi mới thành hình, thịt đã bắt đầu sinh và còn mềm. 4. Kiện nam: Tức là trong khoảng 28 ngày, khối thịt ngưng tụ và đã hơi cứng. 5. Bát la xa khư: Tức sau 35 ngày thai nhi đã hiện đủ các tướng chân tay và đầu. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.30; kinh Đại bát Niết bàn Q.38 (bản Bắc); luận Câu xá Q.9; Tuệ lâm âm nghĩa Q.14, Q.26; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

kết thành lệnh văn

(結城令聞) (1902- ?) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Binh khố. Năm 1929, ông tốt nghiệp ngành Triết học Ấn độ thuộc Văn khoa Đại học Tokyo. Ông từng là nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu thuộc học viện văn hóa Đông phương ở Tokyo và là giáo sư Đại học Tokyo. Năm 1963, ông về hưu. Sau, ông giữ chức Viện trưởng viện Truyền đạo chùa Bản nguyện thuộc phái Bản nguyện tự, Giảng sư Đại học Đông phương. Những tác phẩm quan trọng của ông gồm có: Duy thức tư tưởng sử, Duy thức tư tưởng dữ lịch sử, Thế thân duy thức chi nghiên cứu, Duy thức học điển tịch chí, Nhân gian tính chi thám cứu, Kiếm thiền nhất thư, Tịnh độ chân tông.

kết thán

Tán thán phần kết của bài kinh hay đoạn kinh—A sigh of praise at the close of a passage of a sutra.

kết thân

To join by marriage.

kết thúc

See Kết luận.

Kết thảo hàm hoàn

(結草含[銜]環): hay hàm hoàn kết thảo (含環結草、銜環結草), nghĩa là kết cỏ ngậm vành. Kết thảo (結草, kết cỏ) vốn phát xuất từ câu chuyện trong Tả Truyện (左傳), phần Tuyên Công Thập Ngũ Niên (宣公十五年). Ngụy Võ Tử (魏武子) là quan Đại Phu nhà Tần, có một người vợ lẽ rất đẹp. Tục lệ nước Tần, hễ chồng chết thì phải chôn người thiếp chết theo. Lúc bình thường, Ngụy Võ Tử dặn con trưởng Ngụy Khỏa (魏顆) rằng khi ông chết thì đừng chôn người thiếp đó theo, mà hãy tìm nơi tử tế gả nàng. Nhưng sau đó, khi Ngụy Võ Tử đau gần chết thì lại dặn con là chôn người thiếp ấy theo. Đến khi Ngụy Võ Tử chết, Ngụy Khỏa không chôn người thiếp của cha, sau đó lại tìm người tử tế gả nàng để nương nhờ tấm thân. Có người thắc mắc, Ngụy Khỏa đáp rằng: “Tật bệnh tắc loạn, ngô tùng kỳ trị dã (疾病則亂、吾從其治也, khi bị tật bệnh thì không sáng suốt, ta cứ theo lời dặn trước đây của người vậy).” Về sau, Ngụy Khỏa lên làm tướng nước Tần, đánh nhau với tướng của nước Tấn là Đỗ Hồi (杜回) rất vũ dũng, ít ai thắng nổi, Ngụy Khỏa thường thua. Có một hôm, Ngụy Khỏa và Đỗ Hồi ra trận, đánh nhau trên một bãi cỏ, Ngụy Khỏa thấy mường tượng như có một ông già đang cúi xuống kết cỏ thành từng vòng dưới chân ngựa của Đỗ Hồi, khiến cho ngựa của Đỗ Hồi vướng cỏ ngã lăn ra, Đỗ Hồi cũng ngã theo, bị Ngụy Khỏa bắt đem về, thắng trận vẻ vang. Đêm hôm ấy, Ngụy Khỏa mộng thấy ông già kết cỏ về bảo rằng: “Dư, nhi sở giá phụ nhân chi phụ dã, nhĩ dụng tiên nhân chi trị mệnh, dư thị dĩ báo (余、而所嫁婦人之父也、爾用先人之治命、余是以報, tôi là cha của người thiếp do ông đã gả chồng, ông biết theo lời dặn sáng suốt của tiền nhân để gả chồng cho con gái tôi, tôi lấy việc đó để báo ơn ông).” Do điển tích này, từ ngữ kết thảo thường được dùng để chỉ việc đền ơn đáp nghĩa. Từ hàm hoàn (銜環, 含環, ngậm vành) có xuất xứ từ câu chuyện trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 54, Truyện Dương Chấn (楊震傳) có chú dẫn Tục Tề Hài Ký (續齊諧記) của Ngô Quân (吳均, 469-520) nhà Lương thời Nam Triều. Chuyện kể rằng vào thời nhà Hán, có Dương Bảo (楊寶), lúc 9 tuổi, đi chơi đến phía bắc núi Hoa Âm (華陰), thấy một con chim sẻ vàng bị con chim cú đánh rơi xuống gốc cây, lại bị kiến lửa bu đốt. Dương Bảo lấy làm thương hại, bắt đem về nhà chăm sóc, nuôi cho đến khi chim sẻ khỏe mạnh, lông mọc đầy đủ mới thả cho bay đi. Đêm hôm ấy, Dương Bảo bỗng thấy một đứa bé mặc áo vàng ngậm một vòng ngọc, chạy vào trướng, đến trước mặt Dương Bảo nói: “Ngã Tây Vương Mẫu Sứ Giả, quân nhân ái cứu chửng, thật cảm thành tế (我西王母使者、君仁愛救拯、實感成濟, tôi là Sứ Giả của Tây Vương Mẫu, ông nhân ái cứu sống tôi, thực cảm đội ơn cứu mạng).” Rồi lấy bốn chiếc vòng ngọc trắng trao cho Dương Bảo và nói tiếp: “Linh quân tử tôn khiết bạch, vị đăng Tam Sự, đương như thử hoàn (令君子孫潔白、位登三事、當如此環矣, mong cho con cháu của ông luôn trong trắng, liêm khiết, sau này hiển đạt lên Tam Công [Thái Úy, Tư Đồ, Tư Không], giống như mấy chiếc vòng này).” Nói xong, cậu bé áo vàng để lại vòng ngọc, từ tạ bay mất. Thuật ngữ “kết thảo hàm hoàn” trở thành thông dụng và rất phổ biến trong văn học dân gian. Như trong tác phẩm Hôi Lan Ký (灰闌記) phần 1 của Lý Hành Đạo (李行道, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đa tạ đại nương tử, tiểu nhân kết thảo hoàn hàm, thử ân tất đương trọng báo (多謝大娘子、小人結草銜環、此恩必當重報, xin đa tạ đại nương tử, kẻ tiểu nhân kết cỏ ngậm vành, ơn này tất sẽ báo đáp).” Hay trong Tây Du Ký (西遊記), hồi 37 lại có đoạn: “Kim lai chí tâm bái khẩn, thiên khất đáo ngã quốc trung, chưởng trụ yêu ma, biện minh tà chánh, Trẫm đương kết thảo hàm hoàn, báo thù sư ân dã (今來志心拜懇、千乞到我國中、拿住妖魔、辨明邪正、朕當結草銜環、報酬師恩也, nay đến đây thành tâm lạy khẩn thiết, ngàn lần cầu xin Người đến nước tôi, dẹp trừ yêu ma, làm rõ chánh tà, Trẫm sẽ kết cỏ ngậm vành, báo đáp ơn của Đại Sư).” Ngay như trong Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) cũng có câu: “Rằng tôi bèo bọt chút thân, lạc đàn mang lấy nợ nần yến oanh, dám nhờ cốt nhục tử sinh, còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau.”

kết toà

(結座) Kết thúc thời thuyết giảng trong pháp hội. Ngoài ra, Kết tòa cũng chỉ cho ngày cuối cùng của pháp hội. Ngày cuối cùng của pháp hội thường cử hành nghi thức kết nạp những nguyện vọng của người tham dự pháp hội, nên cũng gọi là ngày kết nguyện. Điều Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1119 hạ), nói: Nêu lên những yếu ngữ của chư Tổ, giải thích tường tận những chỗ khó hiểu, nói lời cảm tạ rồi mới kết tòa. (xt. Kết Nguyện).

kết trụ

Làm dấu kim cang ái trụ, như dấu hiệu của Đức Tỳ Lô Giá Na để kiểm soát quỷ thần—Đây là một phương pháp của Mật Tông—To make the sign of the Vajra armour and helmet, i.e. of Vairocana, in order to control the spirits—A method of the esoteric sects. ; (結胄) Tác pháp kết tụng khế ấn và chân ngôn Kiên cố chú nguyện vào giáp trụ kim cương khi tu pháp Kim cương giới của Mật giáo, để dẹp trừ các ma, mau chóng thành tựu Tất địa. Cứ theo Kim cương đính Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ, thì hành giả Chân ngôn đối với chúng sinh hữu tình nên khởi tâm đại bi, thường mặc giáp trụ(áo và mũ của người chiến sĩ mặc khi ra trận) Đại nguyện của Như lai vào trong sinh tử vô tận hàng phục Thiên ma. Về cách kết ấn, 2 tay nắm lại thành kim cương quyền, mỗi tay duỗi ngón trỏ, cánh tay hơi co, đặt ở trước ngực, quán tưởng ở đầu ngón trỏ của tay phải có chữ (oô), đầu ngón trỏ của tay trái có chữ (ỉuô), lại quán tưởng từ 2 chữ này hiện ra 1 cái vòng dây mầu xanh, dùng vòng dây này gia trì ở 12 chỗ: Tim, lưng, đầu, gối phải, đầu gối trái, rốn, cạnh sườn, vai phải, vai trái, yết hầu, ót, trán và đỉnh đầu mỗi chỗ xoay 3 vòng, rồi từ từ buông xuống phía trước. Khi giải ấn, bắt đầu duỗi lần lượt từ ngón út tay phải, ngón út tay trái, v.v... Kết trụ như thế, có năng lực hộ trì tất cả, các Thiên ma không thể phá loại. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Du già Liên hoa bộ niệm tụng pháp; Kim cương đính du già tam ma địa pháp; Kim cương đính kinh Liên hoa bộ tâm niệm tụng thứ đệ].

kết tuyến

(結綫) Một loại chú pháp được sử dụng khi tu pháp Lục tự kinh của Mật giáo. Khi thực hành, tay cầm một nhúm 14 sợi tơ trắng, miệng tụng chân ngôn để cầu nguyện mong trói buộc được các oán địch và tai họa nguy hiểm, v.v... không cho sinh khởi. Sau khi cầu nguyện thành tựu thì thực hành pháp giải tuyến(cởi dây). Nhưng cũng có trường hợp phải đề phòng, không để cho oán địch phát sinh trở lại nên không thực hành pháp giải tuyến.

kết tán

(結贊) Sau khi tụng kinh, đọc bài kệ tán thán công đức của Phật để kết thúc thời khóa. Chương phúng tụng trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 772 trung) ghi: Đến trước bàn thờ vong linh, xướng kệ khen ngợi Tam bảo, tụng kinh Di đà(hoặc chú Đại bi), Tâm kinh, chú Vãng sinh, Chân ngôn biến thực, Kết tán, Hồi hướng.

kết tóc xe tơ

To get married.

Kết tập

結集; S, P: saṅgīti;|Có bốn lần kết tập trong lịch sử phát triển đạo Phật. Lần kết tập thứ nhất được tổ chức tại Vương xá (s: rājagṛha) ngay sau khi Phật diệt độ. Lần kết tập thứ hai được tổ chức tại Vệ-xá-li (s: vaiśālī), khoảng 100 năm sau Vương xá, tức là khoảng năm 386 trước Công nguyên. Lần thứ ba được tổ chức tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), ngày nay là Pat-na, trong thế kỉ thứ hai sau ngày Phật nhập Niết-bàn. Lần kết tập này không được Thượng toạ bộ (p: theravāda) công nhận. Thượng toạ bộ theo truyền thống riêng và xem lần kết tập thứ ba này được thực hiện qua trường phái Pāli trong thời gian A-dục vương (s: aśoka) trị vì. Lần kết tập thứ tư được tổ chức tại Kashmir, ý kiến về lần này cũng khác nhau. Có người cho rằng đó là lần kết tập toàn thể do vua Ca-nị-sắc-ca (s: ka-niṣka) tổ chức, có người cho rằng đó chỉ là kết tập của phái Nhất thiết hữu (s: sarvās-tivāda).|Mục đích các lần kết tập là giải quyết các ý kiến, quan niệm bất đồng trong tăng hội, thuyết minh các vấn đề và xác lập các kinh sách cơ bản.|Kết tập lần thứ nhất: Lần kết tập này được tường thuật trong Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka). Ðại hội này do Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) triệu tập, là người nhận thấy sau khi Phật diệt độ có nhiều khuynh hướng thoái hoá trong Tăng-già. Có 500 Tỉ-khâu – tất cả đều là A-la-hán – tham dự đại hội, khoảng năm 408 trước Công nguyên. Hội này được tổ chức tại Vương xá. Ca-diếp yêu cầu Ưu-ba-li (s, p: upāli) trình bày về giới luật và A-nan-đà (ānanda) về giáo pháp. Dựa trên trình bày của hai vị đó mà Luật tạng và Kinh tạng thành hình. Sau đó, các bản kinh được đại hội nhất trí được tụng đọc.|Tương truyền trong lần kết tập này, A-nan-đà bị Ca-diếp phê bình nặng nề vì lúc bắt đầu đại hội, Tôn giả vẫn chưa đạt quả A-la-hán và chính trong thời gian đó (đêm trước buổi kết tập), A-nan-đà đạt thánh quả này. Trong đại hội, A-nan-đà cũng bị chê trách là »quên« hỏi Phật một cách chính xác vài chuyện trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Một điểm khác mà A-nan-đà cũng bị chê trách là thái độ đồng tình khi Phật cho phép lập ni đoàn. Tuy nhiên, A-nan-đà bị chê trách nhất là đã không xin Phật trì hoãn việc nhập Niết-bàn. Ngày nay nhiều học giả phân vân không biết kết tập lần thứ nhất đúng như đã lưu truyền hay không, nhưng nhiều người đều nhất trí việc thống nhất kinh bản đã xảy ra rất sớm.|Kết tập lần thứ hai: lần này được tài liệu ghi rõ hơn lần thứ nhất nhiều và xem như một sự thật lịch sử. Lí do kết tập trong khoảng năm 386 trước Công nguyên là vì những khác biệt về giới luật. Lần đó, các tỉ-khâu ở Vệ-xá-li đã đi ngược giới luật, nhận vàng bạc cúng dường của Phật tử. Ðồng thời, một đệ tử của A-nan-đà là Da-xá (s: yaśa) chê trách các vị này phạm giới luật như ăn không đúng thời, rượu chè… Da-xá vì vậy mà bị trục xuất khỏi Tăng-già. Vị này cầu cứu các vị tăng khác. Cuối cùng một đại hội với 700 tỉ-khâu được triệu tập, bầu một hội đồng gồm mỗi vùng Ðông Tây bốn vị, lên án các vị tăng phạm luật ở Vệ-xá-li. Các vị tăng này cũng nhận lỗi. Biên bản đại hội này đã được ghi lại trong Luật tạng, bằng văn hệ Pā-li cũng như Phạn ngữ (sanskrit). Về sau, một số vị trưởng lão theo truyền thống Tích Lan cho rằng lần kết tập này đã dẫn đến sự chia rẽ giữa Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các vị này cho rằng các tăng sĩ Vệ-xá-li đã thực hiện một kết tập khác để thành lập Ðại chúng bộ.|Kết tập lần thứ ba: Trong Luật tạng không có tài liệu về lần kết tập này. Các biên bản về lần kết tập này khác nhau nhiều, nhưng phần lớn nguồn tài liệu cho rằng, lí do lần kết tập này là bàn bạc về tính chất một A-la-hán. Một tỉ-khâu tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) tên là Ðại Thiên (s, p: mahādeva) nêu lên năm điểm: 1. Dư sở dụ: A-la-hán còn có thể bị tham Ái chi phối bởi vì còn nhục thân, vấn đề sinh lí chưa đoạn nên khi thuỵ miên còn có thể lậu hoặc; 2. Vô tri: A-la-hán chưa hoàn toàn thoát khỏi Vô minh; 3. Do dự: A-la-hán chưa đoạn diệt nghi ngờ; 4. Tha linh nhập: A-la-hán còn cần trợ lực bên ngoài mới biết mình đạt Bồ-đề; 5. Ðạo nhân thanh cố khởi (Ðạo nương vào âm thanh mà sinh): A-la-hán cần những thanh âm đặc biệt để đạt Ðịnh, và ngộ chân lí.|Năm thuyết này của Ðại Thiên đã chia Tăng-già ra làm hai phái. Lần kết tập này có mục đích giảng hoà hai bên, nhưng cuối cùng chỉ còn xác nhận sự phân cực đó. Nhóm tăng sĩ ủng hộ lập trường của Ðại Thiên thuộc đa số và tự nhận mình là »Ðại chúng bộ«, trong lúc đó nhóm trưởng lão, đạo cao đức trọng, tự xác nhận mình là »Trưởng lão« (s: sthavira; p: theravāda). Trường phái Pā-li của Tích Lan (śrī laṅkā) không thừa nhận lần kết tập thứ ba này. Ðối với họ, kết tập lần thứ ba là đại hội của trường phái Pā-li tại Hoa Thị thành dưới thời vua A-dục, khoảng năm 244 trước Công nguyên. Nguyên nhân kết tập lần này lại cũng là sự tranh cãi ai là tu sĩ Phật giáo »đích thật«, ai chỉ là mạo danh để hưởng quyền lợi của Tăng-già. Theo lệnh của vua A-dục, một vị cao tăng tên Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) triệu tập đại hội và mỗi vị tỉ-khâu đều được »phỏng vấn«. Vị nào không đạt yêu cầu, đáp ứng mâu thuẫn với những quan niệm chính mình, đều bị trục xuất ra khỏi Tăng-già. Trong tác phẩm Luận sử (p: kathāvatthu), Mục-kiền-liên Tử-đế-tu phản đối những quan niệm Sư cho là ngoại đạo, không thể dung hoà được lần này. Trong lần kết tập này, toàn bộ kinh sách đều được sử dụng và lần này trở thành cơ sở thành lập của Thượng toạ bộ (p: theravāda).|Kết tập lần thứ tư: Có lẽ cũng chỉ là một đại hội của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) chứ không phải của toàn thể giáo hội. Lần này đại hội được triệu tập dưới thời vua Ca-nị-sắc-ca, nhằm mục đích luận giảng lại A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), trong đó người ta thấy những quan điểm phóng khoáng hơn. Theo nhiều tư liệu thì lần này có khoảng 500 vị A-la-hán và nhiều Bồ Tát tham dự. Trong đại hội này, Thế Hữu (s: vasumitra) đóng một vai trò quan trọng với một tác phẩm mang tên Dị bộ tông luân luận (s: samayabheda-vyūhacakra-śāstra) nói về các bộ phái thời kì này. Về sau Nhất thiết hữu bộ có ảnh hưởng lớn nên lần kết tập này cũng được sự thừa nhận chung.

kết tập

(結集) Kết là phiền não, Tập là tập khí. Kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung ghi, ở nơi tịnh thất của cư sĩ Duy ma cật, Thiên nữ đem hoa trời rải trên các vị Bồ tát, hoa đều rơi xuống, đến khi rải trên các Đại đệ tử Thanh văn thì hoa dính chặt không rơi. Do kết tập chưa hết nên hoa dính thân, nếu kết tập hết rồi thì hoa không dính thân. Chú Duy na cật kinh quyển 6 của ngài Tăng triệu đời Hậu Tần (Đại 38, 387 hạ), nói: Có hai loại tập khí: Một là kết tập, hai là ái tập. Khi được vô sinh pháp nhẫn thì kết tập đều hết, nhưng chưa đoạn trừ ái tập Phật pháp. ; (結習) Phạm,Pàli: Saôgìti. Cũng gọi Tập pháp, Tập pháp tạng, Kết kinh, Kinh điển kết tập, Hợp tụng. Tức là các vị tỉ khưu cùng tụ họp ở một nơi để đọc tụng, chỉnh lí và biên tập những lời dạy của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, nhằm xác định giáo quyền và phòng ngừa giáo pháp lâu ngày bị tán thất, gọi là Kết tập. Nội dung các cuộc kết tập như sau: I. Kết tập lần thứ nhất. Cũng gọi Ngũ bách kết tập, Ngũ bách tập pháp, Ngũ bách xuất. Vào năm đức Phật nhập diệt, dưới sự bảo hộ của vua A xà thế, 500 vị A la hán tập họp trong hang Thất diệp ở vùng ngoại ô thành Vương xá nước Ma kiệt đà, tôn ngài Ma ha Ca diếp làm Thượng thủ, cử hành kết tập kinh điển lần thứ nhất. Cứ theo luật Ngũ phần quyển 30 và luật Ma ha tăng kì quyển 32, thì trong lần kết tập này ngài A nan tụng kinh(Tu đa la hay Pháp tạng), ngài Ưu ba li tụng luật(Tì ni tạng), sau đó, các bậc Trưởng lão xem xét chỉnh lí rồi biên tập thành các kinh, luật Thuyết này được các nhà sử học cho là tương đối đáng tin. Ngoài ra còn có các thuyết như sau: 1. Kết tập 3 tạng: Kinh, Luật, Luận. Theo luận Tứ phần quyển thứ 54, luật Thập tụng quyển 60 và luận Đại trí độ quyển 2, thì ngài A nan tụng Kinh, Luận (A tì đàm tạng) ngài Ưu ba li tụng Luật. Còn Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 1 thì cho rằng ngài A nan tụng kinh, ngài Ưu ba li tụng Luật, ngài Ca diếp tụng Luận. Nhưng theo các bộ Ca diếp kết kinh, Soạn tập tam tạng và Tạp tạng truyện, v.v... thì nói 3 tạng đều do ngài A nan tụng ra. 2. Kết tập 5 tạng: Kinh, Luật, Luận, Tạp tập, Cấm chú. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 9 và Bộ chấp dị luận sớ, thì khi ngài Ca diếp triệu tập 500 vị A la hán cử hành kết tập lần thứ nhất, còn có vài trăm ngàn người suy tôn ngài Bà sư ba làm Thượng thủ, cử hành kết tập 5 tạng, gọi là Quật ngoại kết tập, Đại chúng bộ kết tập để phân biệt với Quật nội kết tập, Thượng tọa bộ kết tập của ngài Ca diếp. Nhưng đối với thuyết này, ý kiến giữa các học giả không giống nhau. Có người cho rằng thuyết này có lẽ đã do chúng tăng Thượng tọa bộ hư cấu ra sau khi các bộ phái phân hóa, cho nên không thừa nhận. 3. Kết tập kinh Đại thừa. Theo phẩm Xuất kinh trong kinh Bồ tát xử thai quyển 7, thì tôn giả Ca diếp sai ngài A nan tụng các tạng Bồ tát, Thanh văn, Giới luật, v.v... gồm tất cả 8 tạng là: Thai hóa tạng, Trung ấm tạng, Ma ha diễn phương đẳng tạng, Giới luật tạng, Thập trụ bồ tát tạng, Tạp tạng, Kim cương tạng và Phật tạng. Ngoài ra, theo luận Đại trí độ quyển 100 và luận Kim cương tiên quyển 1, thì đồng thời với ngài Ca diếp kết tập 3 tạng Tiểu thừa ở núi Kì xà quật, các ngài Văn thù, Di lặc và A nan cũng cùng nhau kết tập kinh điển Đại thừa ở núi Thiết vi, gọi là Thiết vi sơn Đại thừa kết tập, nhưng đây có lẽ là truyền thuyết sau khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi. II. Kết tập lần thứ hai. Cũng gọi Thất bách kết tập, Thất bách tập pháp, Đệ nhị tập pháp tạng, Đệ nhị tập. Lần kết tập này lấy Luật tạng làm chính, xác định 10 việc mà các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì thực hành là trái phép. III. Kết tập lần thứ ba. Sau khi đức Phật nhập diệt được 236 năm, dưới sự hộ trì của vua A dục, 1000 vị tỉ khưu nhóm họp ở thành Hoa thị nước Ma kiệt đà, tôn ngài Mục kiền liên tử đế tu làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ 3. Lần kết tập này lấy 3 tạng Kinh, Luật, Luận làm chính. Ngài Mục kiền liên tử đế tu tự soạn bộ Luận sư để phê bình và bác bỏ những dị nghị tà thuyết của ngoại đạo đương thời. Sau khi kết tập, một số vị tỉ khưu đã được Đại hội lựa chọn và phái đến những địa khu ngoài lưu vực sông Hằng và ngoài biên thùy Ấn độ để truyền bá Phật pháp. Cuộc kết tập lần thứ nhất và thứ hai đều được lưu truyền ở cả phương Bắc và phương Nam, nhưng cuộc kết tập thứ ba này chỉ được lưu truyền ở phương Nam mà thôi. IV. Kết tập lần thứ tư. Có 2 thuyết: Bắc truyền và Nam truyền. 1. Phật giáo Bắc truyền: Có 2 thuyết. a) Cứ theo Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện chép, thì sau đức Phật nhập diệt 500 năm, ngài Ca chiên diên thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ đến nước Kế tân ở Tây bắc Ấn độ, triệu tập 500 vị A la hán và 500 vị Bồ tát tiến hành kết tập, bồ tát Mã minh ghi chép và soạn thành Thuyết nhất thiết hữu bộ A tì đạt ma tì bà sa(tức luận Đại tì bà sa) gồm 100 vạn bài tụng. b) Theo Đại đường tây vực kí quyển 3, thì sau khi đức Phật nhập diệt 400 năm, dưới sự hộ trì của vua Ca nị sắcca (Phạm: Kaniwka), 500 vị tỉ khưu nhóm họp ở nước Ca thấp di la (Phạm:Kazmir, tức Kế đàn), suy tôn các ngài Hiếp tôn giả (Phạm: Parzva) và Thế hữu (Phạm: Vasumitra) làm Thượng thủ, tạo luận giải thích 3 tạng. Trước hết, tạo luận Ô ba đệ thước 10 vạn bài tụng, giải thích tạng Tố đát lãm(tạng Kinh); kế đến, tạo luận Tì nại da tì bà sa 10 vạn bài tụng giải thích Tì nại da(tạng Luật); sau cùng, tạo luận A tì đạt ma tì bà sa 10 vạn bài tụng, giải thích A tì đạt ma(tạng Luận). Tất cả gồm 30 vạn bài tụng, 960 vạn lời, vua Ca nị sắc ca cho đàn mỏng đồng đỏ thành từng lá để khắc các bộ luận nói trên, rồi cất trong hòm đá và xây tháp để thờ. Trong 2 thuyết trên đây, thuyết của Đại đường tây vực kí đáng tin hơn, tuy nhiên, Phật giáo Nam truyền thì hoài nghi. 2. Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền: Theo Đại sử, v.v... thì cuộc kết tập lần thứ 4 được cử hành trong động A lô ca (chùa A lô) ở thôn Mã đặc liệt tại nước Tích lan vào thời vua Bà tha già mã ni (Pàli: Vaỉỉagàmaịi), do Đại thượng tọa La hi đa chủ trì, có 500 vị tỉ khưu tham dự. Trong hội đã tụng 3 tạng của Phật giáo Thượng tọa bộ, sửa chữa các sách chú thích về 3 tạng, sắp đặt lại thứ tự các kinh điển, viết thành bộ Tam tạng đầu tiên bằng tiếngPàli và các bản chú thích bằng tiếng Tăng già la (Sinhalese = tiếng Tích lan). V. Kết tập lần thứ năm. Theo chương thứ 6 trong Giáo sử tiếng Pàli và lịch sử Miến điện... thì vào năm 1871, vua nước Miến điện là Mẫn đông (Mindon, ở ngôi 1853-1878) đã triệu tập 2400 vị Cao tăng, cử hành kết tập 3 tạng lần thứ 5 ở thủ đô Mạn đức lặc (Mandalay). Lần kết tập này lấy tạng Luật làm chủ yếu, hiệu đính đối chiếu chỗ đồng dị trong nguyên văn Thánh điển, cùng nhau hợp tụng suốt 5 tháng trời mới hoàn thành. Rồi đem toàn bộ văn tự của 3 tạng đã kết tập khắc trên 729 phiến đá hoa đại lí hình vuông, dựng trong chùa tháp Câu tha đà (Kuthodaw) ở chân núi Mạn đức lặc, phía ngoài có 45 ngôi tháp Phật vây quanh, hiện nay vẫn còn ở cố đô Mạn đức lặc. VI. Kết tập lần thứ sáu. Vào ngày 17 tháng 5 năm 1954, tức ngày lễ Phật đản(Visàkha Day, ngày Phật giáo thế giới), dưới sự giúp đỡ của nhà nước, Phật giáo Miến điện cử hành kết tập lần thứ 6. Ý nghĩa của cuộc kết tập lần này là đoàn kết Phật giáo đồ, đẩy mạnh sự phát triển Phật giáo Thượng tọa bộ, đề cao địa vị của nước Miến điện độc lập. Địa điểm kết tập là trên sườn núi Nghệ cố thuộc vùng ngoại ô phía bắc thủ đô Ngưỡng quang (Rangoon) của Miến điện, được kiến trúc phỏng theo hang Thất diệp nơi cử hành kết tập lần thứ nhất tại Ấn độ. Lần kết tập này lấy văn bản được khắc trên 729 phiến đá hoa đại lí của lần kết tập thứ 5 làm chỗ y cứ, đồng thời, sử dụng tất cả các loại bản in tiếngPàli của Hiệp hội Thánh điểnPàli ở Tích lan, Thái lan, Cao miên, Luân đôn và Miến điện để khảo đính một cách rõ ràng tỉ mỉ. Sau khi kết tập hoàn thành, toàn bộ văn bản được ấn hành để lưu thông. Lần kết tập này, ngoài các vị tỉ khưu thuộc các nước Phật giáo Nam truyền, các vị tỉ khưu của các nước Phật giáo Bắc truyền cũng được mời tham dự, ròng rã hơn 2 năm, đến ngày lễVisàkhanăm 1956 (Phật lịch 2500) mới hoàn thành. [X. kinh Phật ban nê hoàn Q.hạ; kinh Phúc cái chính hạnh sở tập Q.3; Cao tăng pháp hiển truyện; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung phần 1 đoạn 2; Nguyên thủy Phật giáo Thánh điển chi tập thành (Ấn thuận); A tì đạt ma luận nghiên cứu]. (xt. Thập Sự Phi Pháp).

kết tập kinh điển

Đức Phật đã nhập diệt, nhưng giáo lý của Ngài vẫn còn lưu truyền đến ngày nay một cách trọn vẹn. Mặc dù giáo huấn của Đức Thế Tôn không được ghi chép ngay thời Ngài còn tại thế, các đệ tử của Ngài luôn luôn nhuần nhã nằm lòng và truyền khẩu từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Vào thời Đức Phật còn tại thế, biết chữ là đặc quyền của giới thượng lưu ở Ấn Độ, vì thế truyền khẩu giáo lý là một dấu hiệu cho thấy dân chủ được coi trọng trong truyền thống Phật giáo đến mức cách trình bày giáo pháp bằng văn chương đã bị bỏ quên. Nhiều người không biết chữ, cho nên truyền khẩu là phương tiện phổ thông và hữu hiệu nhứt để gìn giữ và phổ biến giáo pháp. Vì có nhiều khuynh hướng sai lạc về giáo pháp nên ba tháng sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, các đệ tử của Ngài đã triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo để đọc lại di ngôn của Phật. Lịch sử phát triển Phật giáo có nhiều Hội Nghị kết tập kinh điển với những hoàn cảnh vẫn có phần chưa rõ. Lúc đầu các hội nghị nầy có thể là những hội nghị địa phương chỉ tập hợp vài cộng đồng tu sĩ. Sau đó mới có những nghị hội chung—The Buddha has passed away, but His sublime teaching still exists in its complete form. Although the Buddha's Teachings were not recorded during His time, his disciples preserved them, by committing to memory and transmitted them orally from generation to generation. At the time of the Buddha, literacy was a privilege of the elite in India, and this another indication of the premium placed on democracy within the Buddhist tradition that literary formulation of the teaching was neglected for so long. Many people were not literate, so word of mouth was the universal medium for preservation and dissemination of the Dharma. Three months after the Buddha's Parinirvana, there were some tendencies to misinterpret or attempts were being made to pollute His Pure Teaching; therefore, his disciples convened Councils for gathering Buddha's sutras, or the collection and fixing of the Buddhist canon. In the development of Buddhism, several councils are known, the history of which remains partially obscure. These Councils were originally probably localassemblies of individual monastic communities that were later reported by tradition as general councils. (I) Hội Nghị Kết Tập Lần Thứ Nhất—The First Council: Ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt (vào khoảng năm 543 trước Tây Lịch), do nhận thấy có khuynh hướng diễn dịch sai lạc và xu hướng suy yếu về giới luật trong nội bộ Tăng Già sau khi Phật nhập diệt, nên Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ nhất được vua A Xà Thế tổ chức tại hang Pippala, có sách lại ghi là hang Saptaparni, trong thành Vương Xá thuộc xứ Ma Kiệt Đà. Dù vị trí và tên của hang vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng không có gì nghi ngờ là Hội Nghị thứ nhất đã diễn ra tại thành Vương Xá. Các học giả đều thừa nhận rằng Hội Nghị Kết Tập lần thứ nhất nầy chỉ bàn về Kinh Tạng (Dharma) và Luật Tạng (Vinaya), phần Luận Tạng không được nói đến ở đây. Trong hội Nghị nầy có 500 vị Tỳ Kheo tham dự, trong đó có ngài Đại Ca Diếp, người được trọng vọng nhất và là bậc trưởng lão, và hai nhân vật quan trọng chuyên về hai lãnh vực khác nhau là Pháp và Luật là ngài A Nan và Ưu Ba Li đều có mặt. Chỉ hai phần Pháp và Luật là được trùng tụng lại tại Đại Hội lần thứ nhất. Tuy không có nhiều ý kiến dị biệt về Pháp, có một số thảo luận về Luật. Trước khi Đức Phật nhập diệt, Ngài có nói với ngài A Nan rằng nếu Tăng Đoàn muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ yếu cho hợp thời, họ có thể làm được. Tuy nhiên, vào lúc đó ngài A Nan vì quá lo lắng cho Đức Phật nên quên không hỏi những luật thứ yếu là những luật nào. Vì các thành viên trong Hội Nghị không đi đến thỏa thuận về những luật nào thuộc về thứ yếu nên ngài Ma Ha Ca Diếp quyết định không có luật lệ nào đã được đặt ra bởi Đức Phật có thể được thay đổi, và cũng không có luật lệ mới nào được đưa ra. Ngài Đại Ca Diếp nói: “Nếu ta thay đổi luật, người ta sẽ nói đệ tử của Đức Cồ Đàm thay đổi luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài chưa tắt.” Trong Hội Nghị nầy, Pháp được chia làm hai phần và mỗi phần được trao cho một vị trưởng lão cùng với đệ tử của vị ấy ghi nhớ. Pháp được truyền khẩu từ thầy đến trò. Pháp được tụng niệm hằng ngày bởi một nhóm Tỳ Kheo và thường được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm không có sự thiếu sót cũng như không có gì thêm vào. Các sử gia đều đồng ý truyền thống truyền khẩu đáng tin cậy hơn văn bản của một người viết lại theo trí nhớ của mình vài năm sau hội nghị. Nhiều người nghi ngờ hiện thực lịch sử của Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần đầu nầy, nhưng có thể là việc biên soạn những văn bản Kinh Luật thiêng liêng đầu tiên diễn ra tương đối sớm. Vào lúc Đại Hội sắp kết thúc, có vị Tăng tên là Purana được những người tổ chức mời tham gia vào giai đoạn bế mạc của Đại Hội, Purana đã khước từ và nói rằng ông chỉ thích nhớ lại những lời dạy của Đức Phật như ông đã từng nghe từ chính kim khẩu của Đức Phật. Sự kiện nầy cho thấy tự do tư tưởng đã hiện hữu từ thời khai mở của cộng đồng Phật giáo—Three months after the passing of the Buddha (in about 543 B.C.), detecting tendencies within the Sangha toward loss of discipline, as well as misinterpreting His Pure Teaching, the First Council was organized by King Ajatasatru, and held at the Pippala cave, some said near the Saptaparni cave, at Rajagriha in Magadha. Even though the site and name of the cave have not yet been definitely identified. Nonetheless, there is no dispute about the fact that it is at Rajagrha that the First Council met. It is accepted by critical scholars that the First Council settled the Dharma and the Vinaya, and there is no ground for the view that Abhidharma formed part of the canon adopted at the First Council. In this Council, there were 500 Bhiksus, among them Maha-Kasyapa was the most respected and elderly monk, and two very important persons who specialized in the two different areas which are sutras and vinaya were present. One was Ananda and the other was Upali. Only these two sections, the Dharma and the Vinaya, were recited at the First Council. Though there were no differences of opinion on the Dharma, there was some discussion about the Vinaya rules. Before the Buddha's Parinirvana, he had told Ananda that if the Sangha wished to amend or modify some minor rules, they could do so. However, on that occasion Ananda was so overpowered with grief because the Buddha was about to pass away, he forgot to ask the Master what the minor rules were. As the members of the Council were unable to agree as to what constituted the minor rules, Maha-Kasyapa finally ruled that no disciplinary rule laid down by the Buddha should be changed, and no new ones should be introduced. Maha-Kasyapa said: “If we changed the rules, people will say that the Buddha's disciples changed the rules even before his funeral fire has ceased burning.” At the Council, the Dharma was divided into various parts and each part was assigned to an Elder and his pupils to commit to memory. The Dharma was then passed on from teacher to pupil orally. The Dharma was recited daily by groups of people who often cross check with each other to ensure that no omissions or additions were made. Historians agree that the oral tradition is more reliable that a report written by one person from his memory several years after the event. The historicity of this Council is doubted by many. Nevertheless, it is likely that the first collection of writings took place relatively early. At the end of the First Council, a monk named Purana was invited by the organizers to participate in the closing phases of the council, but he declined, saying that he would prefer to remember the teachings of the Buddha as he had heard it from the Buddha himself. This fact indicates the freedom of thought existed at the time of the beginning of Buddhist community. a) Ngài Đại Ca Diếp, người được mọi người trọng vọng nhất mà cũng là bậc trưởng lão, là chủ tịch Hội Nghị—Maha Kasyapa, the most respected and elderly monk, presided at the First Council. b) Kế đó, ngài Đại Đức Ưu Ba Li/Upali trùng tụng lại những giới luật của Phật bao gồm luật cho cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Ngài Ưu Ba Li đã tụng đọc 80 lần các văn luật trong 90 ngày mới hoàn tất nên còn gọi là “80 tụng luật.” Đây cũng là giới luật căn bản cho Phật giáo về sau nầy bao gồm những văn bản sau đây—Then, Venerable Upali remembered and recited all the rules set forth by the Buddha (rules of the Order), including all rules for monks and nuns. Venerable Upali recited eighty times all these rules in 90 days. These rules include: • Luật Thập Tụng: Sarvastivada-Vinaya. • Luật Tăng Kỳ: Samghika-Vinaya. • Luật Tứ Phần: Dharmagupta-Vinaya. • Luật Ngũ Phần: Mahissasaka-Vinaya. c) Kế đó nữa là ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật nói, gồm những bộ kinh sau đây—Then, Venerable Ananda, the closest disciple and the attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with a remarkable memory. First Ananda was not admitted to the First Council. According to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision. They strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood, because of the high moral standard he had reached and also because he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines), including the following sutras: d) Năm bộ kinh A Hàm, còn gọi là A Kiệt Ma—Five Agamas. • Trường A Hàm: Dirghagama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp dài—Collection of Long Discourses. • Trung A Hàm: Madhyamaga Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp dài bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses. • Tăng Nhất A Hàm: Anguttara-agama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp sắp xếp theo số—Collection of Gradual Sayings. • Tạp A Hàm: Samyuktagama Sutra (skt)—Ghi lại những câu kinh tương tự nhau—Collection of Kindred Sayings. • Tiểu A Hàm: Khuddaka-agama (skt)—Ghi lại những câu kệ ngắn—Smaller Collection. *** For more information, please see A Nan Đà in Vietnamese-English Section. (II) Đại Hội Kết Tập Lần Hai—The Second Council: (A) Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức tại thành Xá Vệ (Tỳ Xá Ly), 100 năm sau ngày Phật nhập diệt. Đại Hội nầy được tổ chức để bàn luận về một số giới luật (có sự không thống nhứt về giới luật). Không cần thiết phải thay đổi những giới luật ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt vì lẽ không có gì thay đổi nhiều về chính trị, kinh tế và xã hội trong khoảng thời gian ngắn ngủi nầy. Nhưng 100 năm sau, một số chư Tăng (theo giáo lý nguyên thủy) nhận thấy cần phải có sự thay đổi một số giới luật thứ yếu. Các nhà sư thuộc phái Vaisali đã chấp nhận vàng và bạc của thí chủ cúng dường. Yasha, một môn đồ của A Nan, còn đưa ra chín điều trách cứ đối với các thành viên của cộng đồng Vaisali, nhứt là việc ăn uống vào những thời điểm bị cấm, về việc dùng rượu, về việc các nhà sư cùng một cộng đồng lại làm lễ Bố Tát một cách phân tán, vân vân. Hội Nghị lần thứ hai được mô tả cụ thể hơn nhiều trong các văn bản, nói chung được thừa nhận vững chắc về mặt lịch sử—The Second Council was held at Vaisali 100 years after the passing of the Buddha. This Council was held to discuss some Vinaya rules (there was some disunity concerning matter of discipline). There was no need to change the rules three months after the Buddha's Parinirvana because little or no political, economic or social changes took place during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need to change certain minor rules One hundred years after the First Council, the Second Council was held to discuss some Vinaya rules. There was no need to change the rules three months after the Parinirvana of the Buddha bcause little or no political, economic or social changes took place during that short interval. But 100 years later, some monks saw the need to change certain minor rules. The Second Council is considerably better documented in the texts that the first and is generally recognized as a historical event. The Vaisali monks had accepted gold and silver from lay adherents in violation of the Vinaya rules. Moreover, they were accused by Yasha, a student of Ananda's, of nine further violations, including taking food at the wrong time, separate observance of the Uposatha by monks of a community, and drinking alcoholic beverages. (B) Những nhà sư chính thống cho rằng không có gì nên thay đổi, trong khi những vị khác thuộc phái Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã khai trừ trưởng lão Da Xá (Yasha) ra khỏi cộng đồng với nhiều lời buộc tội ngài. Họ đã đề nghị mười điểm thay đổi như sau—The orthodox monks said that nothing should be changed, while the monks of the Vajji from Vaisali expelled Yasha from the community because of his accusations. They insisted on modifying some rules as follows: 1) Cho phép đựng muối trong sừng trâu hay các đồ chứa bằng sừng: Singilonakappa (p)—Gián tiếp cho phép sát sanh để lấy sừng, trong khi phái chính thống cho rằng việc mang muối đựng trong cái sừng rỗng bị coi như phạm giới cấm Ba Dật Đề thứ 38, về việc cấm tồn trữ thực phẩm và giới sát sanh—Allowing monks and nuns to store salt in buffalo's horns, while the orthodox monks considered carrying salt in a hollowed horn. This practice is contrary to Pacittiya 38, which prohibits (forbids) the storage of food and killing. 2) Buổi trưa khi mặt trời đã qua bóng hai ngón tay vẫn ăn được: Dvangulakappa (p)—Vẫn được phép ăn sau giờ ngọ. Việc nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 37 về giới không được ăn sau giờ ngọ—Allowing monks and nuns to eat in the afternoon: The practice of taking meals when the shadow is two fingers broad. This practice against Pacittiya 37 which forbids the taking of food after midday. 3) Được đi qua một làng khác ăn lần thứ hai: Gamantarakappa (p)—Sau khi ăn rồi, đi đến nơi khác vẫn ăn lại được trong cùng một ngày. Việc làm nầy coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 35 về giới cấm ăn quá nhiều—Allowing monks and nuns to eat the second time in a day: The practice of going to another village and taking the second meal there on the same day. This practice forbids in Pacittiya 35 which forbids over-eating. 4) Cho Bố tát ở riêng trong một khu: Avasakappa (p & skt)—Thực hiện nghi thức Bố Tát (Uposatha) tại nhiều nơi trong cùng một giáo khu. Điều nầy trái với các giới luật Mahavagga về sự cư trú trong một giáo khu—Allow retreats for spiritual refreshment in a private place: The observance of the Uposatha ceremonies in various places in the same parish. This practice contravenes the Mahavagga rules of residence in a parish (sima). 5) Được phép hội nghị với thiểu số: Anumatikappa (p). a) Dù không đủ số quy định như tam sư thất chứng, hội nghị vẫn có hiệu lực như thường—Allowing ordination to proceed even though there are not enough three superior monks and seven witnesses (see Tam Sư Thất Chứng). b) Được phép yêu cầu chấp nhận một hành động sau khi đã làm. Đây là vi phạm kỹ luật—Obtaining sanction for a deed after it is done. This also amounts to a breach of monastic discipline. 6) Cho làm theo các tập quán trước: Acinakappa (p)—Đây cũng là vi phạm kỹ luật—Allowing monks and nuns to follow their customs and habits (customary practices and precedents): This is also opposed to the rules. 7) Cho uống các loại sữa sau bữa ăn: Amathitakappa (p)—Cho phép uống các loại sữa dù chưa được lọc. Điều nầy trái với Ba Dật Đề thứ 35 về luật ăn uống quá độ—Allowing monks and nuns to drink unrefined milk after the meal. This practice is in contravention of Pacittiya 35 which prohibits over-eating. 8) Được uống rượu mạnh hòa với đường và nước nóng: Jalogim-patum (p)—Việc làm nầy trái với Ba Dật Đề thứ 51, cấm uống các chất độc hại—Allow monks and nuns to drink the drinking of toddy. This practice is opposed to Pacittiya 51 which forbids the drinking of intoxicants. 9) Được ngồi tự do khắp nơi: Adasakam-nisidanam (p) a) Được phép ngồi các chỗ rộng lớn, không cần phải theo quy định ngày trước của Đức Phật—Allowing monks and nuns to sit down wherever they like to, not to follow rules set forth by the Buddha before. b) Được dùng tọa cụ không có viền tua. Việc nầy trái với Ba Dật Đề thứ 89, cấm dùng tọa cụ không có viền—Allow using a rug which has no fringe. This is contrary to Pacittiya 89 which prohibits the use of borderless sheets. 10) Được giữ vàng bạc: Jataruparajatam (p)—Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni được phép cất giữ vàng bạc, cũng như được nhận vàng bạc từ đàn na tín thí. Điều nầy trái với giới luật thứ 18 trong Nissaggiya-pacittiya—Allowing monks and nuns to store gold and silver, and they are allowed to accept gold and silver. This practice is forbidden by rule 18 of the Nissaggiya-pacittiya. (C) Đại Đức Da Xá công khai tuyên bố những việc làm nầy là phi pháp. Sau khi nghe phái Bạt Kỳ phán xử khai trừ mình ra khỏi Tăng Đoàn, Da Xá (Yasha) liền đi đến Kausambi để tìm kiếm sự bảo hộ của các nhà sư có thế lực trong các vùng mà Phật giáo bắt đầu phát triển (Avanti ở phía tây và ở miền nam). Da Xá mời họ họp lại và quyết định để ngăn chận sự bành trướng của việc chà đạp đạo giáo và bảo đảm việc duy trì luật tạng. Sau đó Da Xá đi đến núi A Phù, nơi trưởng lão Tam Phù Đà đang sống để trình lên trưởng lão mười điều đề xướng của các tu sĩ Bạt Kỳ. Da Xá yêu cầu trưởng lão Tam Phù Đà xem xét tánh cách nghiêm trọng của vấn đề. Trong khoảng thời gian nầy có sáu mươi vị A La Hán từ phương Tây đến và họp lại tại núi A Phù, cũng như tám mươi tám vị khác từ Avanti và miền Nam cũng gia nhập với họ. Các vị nầy tuyên bố đây là vấn đề khó khăn và tế nhị. Họ cũng nghĩ đến trưởng lão Ly Bà Đa ở Soreyya, vốn là người nổi tiếng uyên bác và từ tâm. Nên họ quyết định cùng nhau đến gặp trưởng lão để xin sự hỗ trợ của ngài—The Venerable Yasha openly declared these practice to be unlawful. After the sentence of excommunication had been passed on him, he then went to Kausambi to seek support from influential monks in all areas to which Buddhism had spread (the western country of Avanti and of the southern country). He invited them to assemble and decide the question in order to stop the growth of irreligion and ensure the preservation of the Vinaya. Next, he proceeded to Mount Ahoganga where Sambhuta Sanavasi dwelt to show him the ten thesis advocated by the Vajjian monks. He asked the venerable to examine the question in earnest. About the same time, some sixty Arhats from the Western Country and eighty-eight from Avanti and the Southern Country came to assemble on Mount Ahoganga. These monks declared the question to be hard and subtle. They thought of the Venerable Revata who was at Soreyya and was celebrated for his learning and piety. So they proposed to met him and enlist his support. After a good deal of travelling they met the Venerable Revata at Sahajati. On the advice of Venerable Sambuta Sanavasi, Yasha approached the Venerable Revata and explained the issue to him. One by one, Bhikshu Yasha brought up the ten points and asked for his opinion. Each one of them was declared to be invalid by the Venerable Revata. (D) Trong khi đó, các tu sĩ Bạt Kỳ cũng chẳng ngồi yên. Họ cũng đến Câu Xá Di để xin được trưởng lão Ly Bà Đa ủng hộ. Họ dâng cho ông nhiều lễ vật hậu hỷ nhưng đều bị ông từ chối. Họ lại dụ dỗ được đệ tử của ông là Đạt Ma thỉnh cầu dùm họ, nhưng trưởng lão vẫn một mực chối từ. Trưởng lão Ly Bà Đa khuyên họ nên trở về Tỳ Xá Ly là nơi xuất phát vấn đề để mở ra cuộc tranh luận: Meanwhile, the Vajjian monks were not idle. They also went to Sahajati in order to enlist the support of the Venerable Revata. They offered him a lot of presents, but he refused with thanks. They also induced his disciple, Uttara, to take up their cause, but he failed. At the suggestion of Revata, the monks proceeded to Vaisali in order to settle the dispute at the place of its origin. (E) Cuối cùng, nghị hội Vaisali tập hợp 700 nhà sư, tất cả đều là A La Hán, còn gọi là hội nghị các trưởng lão. Tỳ Kheo A Dật Đa được chỉ định làm người tổ chức. Trưởng lão Sabbakhami được bầu làm chủ tịch ủy ban. Từng điểm một của mười điều cho phép của phái Bạt Kỳ được xem xét kỹ càng. Vì thấy 10 điều thay đổi trên hoàn toàn vô lý nên một phán quyết của hội nghị đồng thanh tuyên bố việc làm của các nhà sư Bạt Kỳ là phi pháp. Kết quả là các nhà sư Bạt kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã bị một ủy ban gồm bốn nhà sư thuộc cộng đồng phương tây và bốn vị thuộc cộng đồng phương đông coi là có tội. Họ đều chấp nhận sự phán quyết mà không phản kháng. Những thầy tu vi phạm giới luật coi như đã không tôn trọng luật chính thống và đã bị khiển trách tùy theo lỗi lầm. Do đó giới luật trong lần kết tập nầy hầu như không thay đổi. Trong văn bản tiếng Pali và Sanskrit của Luật Tạng đều có kể lại hội nghị nầy: Finally a council composed of 700 monks, all arhats, also called the Council of the Theras. Bhikshu Ajita was appointed the seatregulator. The Venerable Sabbakami was elected president. The ten points were examined carefully one by one. After seeing these above ten changes were so unreasonable. The unanimous verdict of the assembly declared the conduct of the Vajjian monks to be unlawful. As a result, they (Vajjian monks of Vaisali) were found guilty by a committee composed of four monks from eastern and four from western regions, respectively. The Vaisali monks accepted this judgment without any opposition. The erring monks were declared in violation of the orthodox code of discipline and censured accordingly. Thus, in this council, rules of monastic discipline have remained virtually unchanged. Records of this council are found in both the Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-Pitaka. (F) Nghị Hội lần thứ hai đánh dấu sự phân phái giữa phe bảo thủ và phe tự do. Người ta kể lại, nhóm sư Bạt Kỳ đã triệu tập một Hội Nghị khác có mười ngàn tu sĩ tham dự với tên là Đại Chúng Bộ. Vào thời đó, dù được gọi là Đại Chúng Bộ, nhưng chưa được biết là Đại Thừa: The Second Council marked a division between the conservative and the liberal. It is said that Vajjian monks of Vaisali held another Council which was attended by ten thousand monks. It was called The Great Council (Mahasangiti). Even though it was called Mahasanghika, it was not yet known as Mahayana at that time). (III) Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba—The Third Council: Hội nghị thứ ba được tổ chức tại thành Hoa Thị dưới sự bảo trợ của vua A Dục, một Phật tử tại gia nổi tiếng—The Third Council was held at Pataliputra, sponsored by King Asoka, a celebrated Buddhist layman. (A) Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị—Reasons for the Third Concil: a) Một nhà sư thuộc thành Hoa Thị tên là Đại Thiên đưa ra luận điểm cho rằng một vị A La Hán có thể để cho mình bị cám dỗ, nghĩa là có những sự xuất tinh ban đêm và không trừ bỏ được sự ngu si cũng như những nghi ngờ về giáo thuyết. Cuối cùng A La Hán có thể tiến bước theo con đường giải thoát, theo Đại Thiên, nhờ ở một sự giúp đở bên ngoài và nhờ gia tăng khả năng tập trung, do đó những cơ may cứu rỗi của người đó là nhờ ở việc lặp đi lặp lai một số âm thanh. Những ý kiến khác nhau về những luận điểm ấy dẫn tới sự phân chia các sư thành hai phe: A monk from Pataliputra, Mahadeva, put forward the following position: An arhat is still subject to temptation, that is, he can have nocturnal emissions. He is not yet free from ignorance. In addition, he is still subject to doubts concerning the teaching. Moreover, according to according to Mahadeva's view, an arhat can make progress on the path to enlightenment through the helpof others and, through the utterance of certain sounds, he can further his concentration and thus advance on the path. Differing views on these points led to division of the monks into two camps. b) Tự cho mình đông hơn, những người bảo vệ những luận điểm của Đại Thiên tự gọi mình bằng cái tên Mahasanghika hay cộng đồng lớn, còn những đối thủ của họ, do những người “Cũ” đại diện, đó là những vị nổi bậc về đại trí và đại đức, thì tự gọi mình là “Sthavira”: Those who affirmed these points of Mahadeva's, and who believed themselves to be in the majority, called themselves Mahasanghika or Great Community. Their opponents, represented by the “elders,” who were distinguished by outstanding wisdom and virtue, called themselves Sthavira. c) Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên, dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chịu thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về để tổ chức hội nghị: With the conversion of King Asoka, the material prosperity of the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere to their old faiths and practices and preached their doctrines instead of the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for seven years. The number of heretics and false monks became far larger than that of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their refusal to carry out the King's order. When this sad news reported to Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa to hold the Third Council. d) Do đó mà Hội Nghị thứ ba được tiến hành với nhu cầu thanh khiết hóa Phật pháp đang lâm nguy do sự xuất hiện của nhiều hệ phái khác nhau với những luận điệu, giáo lý và cách hành trì đối nghịch nhau: Thus the Third Council was held by the need to establish the purity of the Canon which had been imperilled by the rise of different sects and their rival claims, teachings and practices. (B) Thấy thế vua A Dục cho tổ chức Đại Hội kết tập kinh điển lần thứ ba tại thành Ba Tra Lợi Phất (Hoa Thị Thành, thủ đô cổ của Tích Lan), khoảng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Vua A Dục đã đích thân chọn 60.000 vị Tỳ Kheo tham dự Hội Nghị. Trong khi đó trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đã phụng mệnh vua A Dục chọn ra một ngàn vị Tăng tinh thông tam tạng kinh điển kết tập chánh pháp. Hội nghị đã bàn thảo trong chín tháng về những ý kiến dị biệt giữa những Tỳ Kheo của nhiều phái khác nhau. Tại Đại Hội nầy, sự khác biệt không chỉ hạn hẹp trong Giới Luật, mà cũng liên quan đến Giáo Pháp nữa. Đây không phải là một hội nghị toàn thể mà chỉ là một cuộc nhóm họp nhỏ thôi. Lúc kết thúc Hội Nghị, ngài Mục Kiền Liên Tư Đế Tu (see Mục Kiền Liên Tư Đế Tu), đã tổng hợp vào một cuốn sách gọi là Thuyết Sự Luận (Kathavatthupakarana), bác bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo cũng như những sai lầm của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn và chấp thuận bởi Đại Hội được biết là Theravada hay Nguyên Thủy. Vi Diệu Pháp được bao gồm trong Đại Hội nầy—Seeing this division, King Asoka organized the Third Council (in the Third Century B.C.) at Pataliputra, the old capital of Ceylon. King Asoka himself assigned 60,000 monks to participate in this Council. To obey the order of king Asoka, Thera Tissa thereafter elected a thousand monks who were well versed in the three Pitakas to make a compilation of the true doctrine. The Council lasted for nine months to discuss the different opinion among the Bhiksus of different sects. At this Council the differences were not confined to the Vinaya but also connected with the Dharma. This was not a general Council, but rather a party meeting. At the end of this Council, the President of the Council, Moggaliputtra-Tissa, compiled a book called the Kathavatthu refuting the heretical, false views and theories held by some sects. The teaching approved and accepted by this Council was known as Theravada. The Abhidharma Pitaka was included at this Council. • Bố Tát Thuyết Giới: Upavasatha-Sila. • Kết Tập Tam Tạng Kinh, Luật, Luận: Tripitaka, Sutra, Vinaya, and Abhidharma. (C) Một trong những thành quả quan trọng của Hội Nghị lần thứ ba là nhiều phái đoàn truyền giáo đã được gởi đi khắp các xứ để hoằng dương Phật pháp. Sau Đại Hội kết tập lần thứ ba, người con của Vua A Dục, ngài Hòa Thượng Mahinda,và người con gái tên Tăng Già Mật Đa, đã mang Tam Tạng Kinh Điển đến Sri-Lanka, cùng với những lời bình luận của Hội Nghị nầy. Họ đã đạt được thành công rực rỡ tại đảo quốc nầy. Những kinh điển được mang về Sri-Lanka vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay không mất một trang nào. Những kinh điển nầy được viết bằng chữ Pali, căn cứ vào ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt Đà là ngôn ngữ của Đức Phật. Chưa có gì gọi là Đại Thừa vào thời bấy giờ. Ngoài ra, qua những chỉ dụ của vua A Dục, chúng ta được biết thêm về những phái đoàn truyền giáo Phật giáo được nhà vua cử đi đến các nước xa xôi ở Á Châu, Phi Châu và Âu Châu. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo quan trọng của nhân loại phần lớn là nhờ ở các hoạt động của phái đoàn nầy—One of the important results of thei Council was the dispatch of missionaries to different countries of the world for the propagation of Buddhism. After the Third Council, Asoka's son, Venerable Mahinda, and the king's daughter, Sanghamitta, brought the Tripitaka to Sri-Lanka, along with the commentaries that were recited at the Third Council. They were extraordinarily successful in this island. The texts brought to Sri-Lanka were preserved until today without losing a page. The text were written in Pali which was based on the Magadhi language spoken by the Buddha. There was nothing known as Mahayana at that time. Besides, from the edicts of king Asoka, we know of various Buddhist missions he sent to far-off countries in Asia, Afirca, and Europe. It is to a large extent due to these missionary activities that Buddhism became one of the most important religions of mankind. (D) Sự xuất hiện của Đại Thừa—Coming of Mahayana: Giữa thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch và thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa xuất hiện trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Vào thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, Đại Thừa được định nghĩa rõ ràng. Ngài Long Thọ triển khai triết học “Tánh Không” của Đại Thừa và chứng minh tất cả mọi thứ đều là “Không” trong một bộ luận ngắn gọi là Trung Quán Luận. Vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây Lịch, hai ngài Vô Trước và Thế Thân viết nhiều tác phẩm về Đại Thừa. Sau thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, những nhà Phật giáo Đại Thừa giữ vững lập trường rõ ràng nầy, từ đó hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được nói đến. Chúng ta không nên lẫn lộn Tiểu Thừa với Nguyên Thủy, vì hai từ nầy hoàn toàn khác nhau. Nguyên Thủy Phật Giáo nhập vào Sri-Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, lúc chưa có Đại Thừa xuất hiện. Phái Tiểu Thừa xuất hiện tại Ấn Độ, có một bộ phận độc lập với dạng thức Phật Giáo tại Sri-Lanka—Between the First Century B.C. to the First Century A.D., the two terms Mahayna and Hinayana appeared in the Saddharma Pundarika Sutra or the Sutra of the Lotus of Good Law. About the Second Century A.D. Mahayana became clearly defined. Nagajuna developed the Mahayana philosophy of Sunyata and proved that everything is void in a small text called Madhyamika-karika. About the Fourth Century, there were As

kết tập sử

(結集史) Pàli: Saígìtivaôsa. Tác phẩm, do Thân vương Somadej Phra Vanarat người Thái lan soạn, hoàn thành năm 1789. Năm 1923, vua Rama VI ban sắc lệnh xuất bản. Tác phẩm này tổng kết 9 lần kết tập của Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Trong đó ghi chép 3 lần kết tập đầu được tổ chức tại Ấn độ, lần kết tập thứ 4 đến thứ 7 cử hành ở Tích lan, lần thứ 8, thứ 9 thì diễn ra ở Thái lan. Theo sự khảo chứng, nội dung của lần kết tập thứ nhất đến thứ 5 hoàn toàn phù hợp với những sự kiện được ghi trong Đại sử, v.v... của Tích lan, còn 4 lần kết tập sau vẫn chưa được các nước thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền thừa nhận.

kết tặc

Những kẻ trói buộc hay những tên giặc, ý nói dục vọng và phiền não—Binders and robbers, the passions, or delusion.

kết yếu phó chúc

(結要付屬) Cũng gọi kết yếu tứ cú. Qui kết phần quan trọng nhất của giáo pháp và truyền trao cho người. Phẩm Như lai thần lực trong kinh Pháp hoa quyển 6 nói rằng, đức Thích tôn đem tất cả pháp của Như lai, tất cả sức thần tự tại của Như lai, tất cả bí tàng của Như lai, tất cả việc sâu xa của Như lai phó thác cho bồ tát Thượng hạnh, v.v... dặn dò các Bồ tát này lưu truyền cho đời sau. Pháp hoa văn cú kí quyển hạ của ngài Trí khải cho rằng 4 câu Tất cả pháp, tất cả lực, tất cả bí tạng và tất cả việc sâu xa là biểu thị danh dụng(tác dụng), thể(bản chất) và tông(mục đích) thù thắng nhất của kinh Pháp hoa, cũng là tông chỉ(4 câu kết yếu) của 1 bộ kinh. Nhưng ngài Nhật liên người Nhật bản thì chủ trương trong 4 câu pháp yếu, quan trọng nhất cũng là 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh(5 chữ kết yếu) và tự nhận mình là bồ tát Thượng hạnh tái sinh, người được đức Phật phó chúc. Bởi thế ngài Nhật liên mới dạy chúng sinh trong thời mạt pháp chuyên niệm 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh này.

kết án

To condemn—To sentence—To convict.

kết ấn

(結印) Tức là 2 bàn tay và 10 ngón kết thành một hình tướng nào đó theo qui tắc để tiêu biểu cho bản thệ nội chứng của đức Như lai, là nghi thức rất quan trọng của Mật giáo. Kết ấn là sự khế hợp, phải do Thầy đích thân truyền trao, không để người khác thấy được. Theo kinh Nhất tự kì đặc Phật đính quyển thượng, nếu kết ấn không đúng pháp thì ma quỉ và Tì na dạ ca, v.v... sẽ gây các chướng nạn, khi chết ắt rơi vào địa ngục. Ngoài ra, đứng trước những người chưa thụ quán đính hoặc chưa phát tâm bồ đề thì không nên kết ấn. [X. kinh Tô bà hô đồng tử Q.thượng; kinh Đà la ni tập Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.13].

kềm chế

To refrain.

kềnh càng

Bulky.

kể

To count—To mention—To enumerate.

kể truyện

To tell story—To relate.

kể trên

Above-mentioned.

Kệ

偈; C: jié; J: ge, kei, ketsu; S, P: gāthā; gọi đầy đủ là kệ-đà, cũng được gọi là kệ tụng, tụng;|1. Là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những Tỉ-khâu, những Thiền sư, những Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), thố lộ cảm giác sung sướng, nhẹ nhàng khi đã vượt qua ải trần lao, đã hoàn thành những công việc mà con người phải làm. Trong những tập công án như Bích nham lục và Vô môn quan, những bài kệ của những vị biên soạn chính là cái tinh hoa, là cái then cửa để thiền sinh có thể mở được những công án khó chinh phục. Những bài kệ này có thể xem là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Quốc nói chung – không chỉ giới hạn trong thiền đạo. Kệ tụng sau đây của Thiền sư Vô Môn Huệ Khai ghi lại trong tác phẩm Vô môn quan, công án 19, cho hậu thế nếm vị của tịch tịnh (Trần Tuấn Mẫn dịch):|春有百花秋有月。夏有涼風冬有雪|若無閑事挂心頭。便是人間好時節|Xuân hữu bách hoa, thu hữu nguyệt|Hạ hữu lương phong, đông hữu tuyết|Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu|Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.|*Xuân có trăm hoa, thu có trăng|Hạ về gió mát, tuyết đông giăng|Ví lòng thanh thản không lo nghĩ|Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.|2. Nhanh chóng, vội vã; |3. Dũng cảm, hùng dũng.

kệ

Gatha (skt)—Già Đà—Già Tha—Phúng Tụng (gồm bốn câu với số chữ nhứt định trong mỗi câu)—Chant—Metrical hymn or chant—Poem—Stanza—Verse. ; (偈) Thể văn vần được dùng trong kinh điển Phật giáo. Có 2 loại là Già đà (Phạm:Gàthà) và Kì da (Phạm:Geya). Hai loại này đều là Kệ tụng, nhưng ý nghĩa của chúng thì khác nhau. Già đà: Cũng gọi Cô khởi kệ, tức là phần văn vần trực tiếp chuyên chở ý nghĩa của giáo pháp, trước nó không có văn xuôi (Trường hàng), mà nếu có thì ý nghĩa cũng không liên quan gì đến phần văn vần này. Kì dạ: Cũng gọi Trùng tụng kệ, tức là phần văn vần lập lại ý nghĩa đã được trình bày trong đoạn văn xuôi ở trước. Trên đây là nói theo nghĩa rộng, nhưng trong các kinh luận cũng có những trường hợp dùng lẫn lộn 2 loại kệ tụng này. Còn nói theo nghĩa hẹp, thì Kệ là chỉ riêng cho tiếng PhạmGàthà, dịch âm là già đà, già tha, kệ đà, kệ tha; dịch ý là phúng tụng, kệ tụng, tạo tụng, cô khởi tụng, bất trùng tụng kệ, tụng, ca dao. Là 1 trong 9 thể tài, 1 trong 12 thể tài kinh điển. Ngữ cú của thể văn này gọi là Kệ ngữ. Kệ có rất nhiều loại, loại thường được dùng nhất trong kinh Phật gồm 2 hàng, 16 âm tiết(2 câu, mỗi câu 8 âm tiết), gọi là Thủ lô ca (Phạm:Zloka) hoặc gọi là Thông kệ. Một loại kệ khác thì có 2 hàng từ 22 đến 24 âm tiết(2 câu, mỗi câu 11 đến 12 âm tiết), gọi làTriwỉubh(một loại âm luật). Ngoài ra, còn có loại kệ không hạn định số âm tiết, gọi làÀryà(một loại âm luật). Dưới đây là thí dụ loại kệ Thủ lô ca, 1 hàng: Anityà bata sàmskàrà, ùtpàdàvyaya-dhàrmiịa (kí hiệuV là âm tiết ngắn, kí hiệu– là âm tiết dài). Bài kệ trên đây được dịch ra tiếng Hán có loại 4 chữ, có loại 5 chữ, mỗi loại đều có 2 câu, 2 hàng; nhìn trên hình thức thì giống như bài thơ chữ Hán, nhưng không có vận luật. Trong bài kệ dài, không hẳn là một bài kệ 2 hàng, mà thường có 1 đến 4 hàng; số âm tiết của bài kệ tiếng Phạm không quan hệ trực tiếp với số chữ trong câu kệ sau khi được dịch sang Hán văn. Ngoài ra, loại kệ Thủ lô ca thường không hạn chế sự dài ngắn của âm tiết. Còn có 1 loại kệ nữa đem chia các đoạn văn xuôi thành từng nhóm 32 âm tiết để chỉ rõ độ dài của bài văn. Chẳng hạn như 400 quyển đầu của kinh Đại bát nhã bản Hán dịch tương đương với 400 quyển của bản tiếng Phạm, gọi làThập vạn tụng Bát nhã. Trong kinh điển Hán dịch, có nhiều chỗ đề cập đến kệ tụng, nhưng đều nói khác nhau. Luận Thuận chính lí quyển 44 bảo rằng kệ có 2, 3, 4, 5, 6 câu. Luận Đại trí độ quyển 33 thì nói tất cả các loại kệ đều gọi là Kì dạ, cũng gọi là già đà, có 3, 5, 6 câu, v.v... Luận Thành thực quyển 1 cho rằng Kì dạ (kệ) có 2 loại già đà và lộ già, lộ già lại được chia làm 2 thứ là thuận phiền não và bất thuận phiền não. Già đà trong 12 thể tài kinh là thuộc về loại bất thuận phiền não. Bách luận sớ quyển thượng thì cho rằng Kệ có 2 loại, một là thông kệ, tức Thủ lô ca, gồm 32 âm tiết tiếng Phạm; hai là biệt kệ, gồm 4 câu, mỗi câu 4, 5, 6, 7 chữ. Ngoài ra, thơ và văn trong Phật giáo được gọi là Kệ biệt; Kệ là thơ, biệt là văn. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.6; luận Đại tì bà sa Q.126; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2 phần đầu]. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Cô Khởi Kệ, Kì Dạ).

kệ huệ năng

The verse of Hui Neng. Bồ đề vốn không cây, Gương sáng cũng chẳng đài, Xưa nay không một vật, Chỗ nào dính bụi bặm? Originally Bodhi has no tree, The bright mirror has no stand. Originally there is not a single thing, Where can dust alight?

kệ khai kinh

Verse for opening a Sutra. • Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp (Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu) The unsurpassed, deep, profound, subtle wonderful Dharma. • Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ (Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu) In a hundred thousand million eons, it is difficult to encounter. • Ngã kim kiến văn đắc thọ trì (Con nay nghe được xin trì tụng) Now that I have come to receive and hold it, within my sight and hearing. • Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa (Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu) I vow to fathom the Thus Come One's true and actual meaning.

Kệ Phá Địa Ngục

(破地獄偈): Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo (若人欲了知、三世一切佛、應觀法界性、一切惟[唯]心造, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy do tâm tạo). Bài kệ này chủ yếu được tìm thấy trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279, tức Bát Thập Hoa Nghiêm [八十華嚴]) quyển 19, phẩm Dạ Ma Cung Trung Kệ Tán (夜摩宮中偈讚品) thứ 20, do Bồ Tát Giác Lâm (覺林) tụng. Ngoài ra, vì áo nghĩa của kệ này rất thâm sâu, vi diệu, nên xuất hiện trong khá nhiều thư tịch khác như Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), Phật Tổ Cương Mục (佛祖綱目, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1594) quyển 11, Thành Duy Thức Luận Diễn Bí (成唯識論演祕, Taishō Vol. 43, No. 1833) quyển 1, Thiên Trúc Biệt Tập (天竺別集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 57, No. 951) quyển Trung, Thích Môn Chánh Thống (釋門正統, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1513) quyển 3, Tử Bá Tôn Giả Biệt Tập (紫柏尊者別集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1453) quyển 4, Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 2, Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 4, Tịnh Độ Thánh Hiền Tư Lương Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 3, Trạm Nhiên Viên Trừng Thiền Sư Ngữ Lục (湛然圓澄禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1444) quyển 3, v.v. Bài này có công năng phá cửa Địa Ngục để cho các vong hồn được siêu thoát về thế giới an lành; cho nên được thâu lục trong Mông Sơn Thí Thực Văn (蒙山施食文) thuộc Công Phu Chiều của Thiền Môn Nhật Tụng (禪門日誦, như bản hiện hành tại Huế, ghi ngày Rằm tháng 10 năm 1898 [Thành Thái thứ 10]). Tuy nhiên, nội dung bài kệ có khác so với bản trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278, tức Lục Thập Hoa Nghiêm [六十華嚴]), quyển 10, Phẩm Dạ Ma Thiên Cung Bồ Tát Thuyết Kệ (夜摩天宮菩薩說偈品), do Bồ Tát Như Lai Lâm (如來林) thuyết: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng đương như thị quán, tâm tạo chư Như Lai (若人欲了知、三世一切佛、應當如是觀、心造諸如來, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, phải nên như vậy quán, tâm tạo các Như Lai).” Về uy lực không thể nghĩ bàn của bài Phá Địa Ngục Kệ này, trong Địa Tạng Bồ Tát Tượng Linh Nghiệm Ký (地藏菩薩像靈驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1638), phần Kinh Sư Nhân Tăng Tuấn Địa Tạng Cảm Ứng Ký (京師人僧俊地藏感應記) thứ 5, có ghi lại câu chuyện của Thích Tăng Tuấn (釋僧俊). Sư người vùng Kinh Sư (京師), họ Vương (王), sống dưới thời nhà Tống. Sau khi xuất gia, sư không giữ giới luật, cũng chưa từng tu nhân thiện. Cuối cùng, vì đau bệnh nhẹ mà qua đời. Chết được ba ngày thì xảy ra một điều kỳ lạ: sư bỗng nhiên sống lại. Sư khóc lóc thảm thiết, dập đầu xuống đất sám hối. Sư kể lại rằng ngay khi vừa mới tắt thở, có hai vị quan Minh Phủ, đuổi sư chạy đến trước một cổng thành lớn. Chợt có một vị tăng bảo rằng: “Ta là Địa Tạng Bồ Tát đây ! Nhà ngươi khi tại Kinh Thành, đã từng vẽ hình tượng ta, nhưng chẳng bày lễ cúng, rồi lại đem bỏ sau chùa. Ta muốn báo đáp công đức vẽ tranh tượng đó. Nhân ông là tu sĩ Hoa Nghiêm, nên ta sẽ chỉ cho ông một bài kệ.” Bèn đọc bài kệ rằng: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng đương như thị quán, tâm tạo chư Như Lai (若人欲了、知三世一切佛、應當如是觀、心造諸如來, nếu người muốn thông suốt, ba đời tất cả Phật, phải nên như vậy quán, tâm tạo các Như Lai).” Bồ Tát Địa Tạng đọc cho sư nghe bài kệ này xong, bảo rằng: “Nếu ông tụng được bài kệ này thì có thể đóng cửa Địa Ngục, mở ra con đường đến cõi Tịnh Độ và có thể thông được vận mạng.” Sau khi tụng được bài kệ này, Tăng Tuấn đi vào trong thành, diện kiến vua Diêm Ma. Vua hỏi: “Ngươi lúc còn sống làm việc công đức gì ?” Sư đáp: “Tôi ngu muội, phóng túng, không chịu tu thiện, lại chẳng giữ giới, mà chỉ thọ trì một hàng bốn câu kệ này.” Vua lại hỏi: “Nay ngươi tụng được không ?” Đáp: “Ghi nhớ lời tụng, tụng đủ kệ trên, tiếng vang đến nơi, người đang chịu khổ, đều được giải thoát.” Đến đây, nhà vua chợt bảo: “Thôi dừng lại ! Khỏi cần nói nữa.” Bèn cho thả sư trở về lại nhân gian. Nhờ nhân duyên được sống lại như vậy, sư bảo Sa Môn Nghĩa Học (義學), Pháp Sư về Hoa Nghiêm, kiểm tra lại bài kệ trên, mới biết rằng bài này vốn có trong Kinh Hoa Nghiêm. Sư kể lại câu chuyện cho chúng tăng nghe, ai cũng đều phát tâm, tin tưởng và thọ trì kinh này.

kệ phá địa ngục

Stanza that destroys hell: Nhược nhơn dục liễu tri. If people want to really know. Tam thế nhứt thiết Phật All Buddhas of all times. Ưng quán pháp giới tánh They should contemplate the nature of the cosmos. Nhứt thiết duy tâm tạo All is but mental construction (Everything is made from mind).

kệ sám hối

Verse of Repentance: Từ vô thỉ con tạo bao nghiệp ác From beginningless, I had done so many vicious deeds Do bởi tham, sân, si, Only because of Greed, Anger and Stupidity, Từ thân, khẩu, ý mà sanh ra They are coming from body, mouth and mind Nay con xin thành tâm sám hối tất cả. Now I sincerely ask for forgiveness in my repentance.

kệ tha

See Kệ.

kệ thần tú

The verse of Shen Hsiu. Thân là cội Bồ đề, Tâm như đài gương sáng. Luôn luôn phải lau chùi, Chớ để dính bụi bặm. The body is a Bodhi tree, The mind like a bright mirror stand. Time and again brush it clean, And let no dust alight.

kệ tán

Dùng câu kệ tán thán công đức của người khác—To sing in verse the praises of the object adored. ; (偈贊) Dùng kệ tụng khen ngợi công đức của chư Phật, Bồ tát hoặc của người khác. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao quyển 5 (Vạn tục 37, 58 hạ), nói: Lại dùng kệ tán kim cương để khen ngợi chư tôn.

Kệ tụng

偈頌; C: jié sòng; J: geju;|Có các nghĩa sau: 1. Bài kệ tán thán công đức của đức Phật. Thể thơ trong Kinh văn, khác với thể văn xuôi (trường hàng); 2. Trong luận giải kinh Viên Giác, sư Tông Mật đề ra 4 loại kệ tụng: a. A-nậu-đô-bà tụng (阿耨都婆頌): không kể văn trường hàng ở trước, bài kệ gồm 12 âm tiết; b. Già-đà tụng (伽陀頌), còn gọi là Phúng tụng (諷頌) và Trực tụng (直頌), giảng giải giáo pháp bằng thơ mà không cần phải lặp lại văn trường hàng trong đoạn trước; c. Kì-dạ tụng (祇夜頌): còn gọi là Ứng tụng (應頌); d. Tập thí tụng (集施頌): ngắn gọn với ý nghĩa nhiều nhất chỉ gồm trong vài chữ. Một trong 12 thể loại trong kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).

kệ tụng

Kệ đà—Hymn—Chant.

kệ tứ liệu giản của đại sư vĩnh minh

Four options or choices from Yung Ming Master: Có Thiền có Tịnh, như cọp mọc sừng, đời nầy làm thầy người, đời sau làm Phật. To practice bothe Zen and the Pure Land, one is like a tiger with horns, in the present life the cultivator is a teacher of man, in the future he will be a Buddha or a patriarch. Có Thiền không Tịnh, mười tu chín lạc đường To practice Zen without the Pure Land, nine out of ten seekers of the way will take the wrong road. Không Thiền có Tịnh, vạn tu vạn chứng. To practice the Pure Land without the Zen, ten thousand practice, ten thousand will go to the right way.

kệ tự tánh của lục tổ huệ năng

The verse on the Self-Nature of the Sixth Patriarch Hui neng. Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động, Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp. How unexpected! The self-nature is pure in itself. The self-nature is orginally neither produced nor destroyed. The self-nature is originally complete in itself. The self-nature is originally without movement, The self-nature can produce the ten thousand dharmas.

kệ vô tướng của lục tổ huệ năng

No-Mark Stanza from Hui-Neng Patriarch—Lục tổ muốn nhắc nhở người tu không nên tìm lỗi người, vì càng dùng thời gian để tìm lỗi người chúng ta càng xa đạo—Patriarch Hui-neng wanted to remind the cultivators try not to see anybody's faults, but our own because the more time we spend to find other people's faults the farther we are away from the Path: • Nhược kiến tha nhơn phi (nếu là bậc chân tu, chúng ta không bao giờ thấy lỗi đời) He who treads the path in earnest, see not the mistake of the world. • Tự phi khước thị tả (Nếu như thấy lỗi người, mình chê thì mình cũng là kém dỡ) If we find faults with others, we ourselves are also in the wrong. • Tha phi ngã bất phi (Người quấy ta đừng quấy). When other people are in the wrong, we should ignore it. • Ngã phi tự hữu quá (Nếu chê là tự ta đã có lỗi). For it is wrong for us to find faults. • Đản tự khước phi tâm. By getting rid of the habit of fault-finding, • Đả trừ phiền não phá (Muốn phá tan phiền não). We cut of a source of defilement. • Tắng ái bất quan tâm (Thương ghét chẳng để lòng). When neither hatred nor love disturb our mind. • Trường thân lưỡng cước ngọa (Nằm thẳng đôi chân nghỉ). Serenely we sleep.

kệ đà

Hymn—Chant—To hymn.

Kệ-đà

xem Già-đà.

kỳ bà

(耆婆) Phạm: Jìvaka Cũng gọi Kỳ bà già, Thì bà, Kỳ vực, Thì phược ca. Nhà danh y Ấn độ ở thời đại đức Phật. Ông từng đến nước Đức xoa thi la (Phạm: Takwazilà) học ngành Y, sau khi trở về thành Vương xá, ông được vua Tần bà sa la và vua A xà thế tuyển làm Ngự y. Ông rất kính tin Phật giáo và thường chữa bệnh cho các đệ tử Phật. Chính ông đã đưa vua A xà thế đến trước đức Phật cầu xin sám hối về tội giết cha. Tiếng tăm của ông có thể sánh ngang với Biển thước của Trung hoa ở thời đại Chiến quốc. [X. kinh Thế kỉ trong Trường a hàm Q.20; kinh Nại nữ kì vực nhân duyên; Thiện kiến luật tì bà sa Q.17]. (xt. Phật Giáo Y Thuật).

kỳ bà kỳ bà điểu

(耆婆耆婆鳥) Phạm, Pàli: Jìvajìva, Jìvajìvaka, Jìvaôjìva, Jìvaôjìvaka. Cũng gọi Kỳ bà kỳ bà ca điểu, Thì bà thì bà ca điểu Hán dịch: Mệnh mệnh điểu, Cộng mệnh điểu, Sinh sinh điểu, Phượng. Một giống chim chá cô có 2 đầu, sinh sản ở Nepal, Bắc Ấn độ, dựa vào tiếng hót của nó mà đặt tên. Kinh Niết bàn quyển 1 (bản Bắc) gọi loài chim này là Mệnh mệnh, kinh Thắng thiên vương bát nhã gọi là Sinh sinh điểu, còn kinh A di đà thì gọi là Cộng mệnh điểu. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].

kỳ bà thiên

(耆婆天) Vị trời sống lâu, hầu cận 2 bên trời Đế thích. Các nước Tây vực đều có miếu thờ Kỳ bà thiên. Theo phong tục các nước này, khi con lên 3 tuổi, cha mẹ đưa con đến miếu thờ vị trời này để cầu cho con sống lâu 100 tuổi. [X. kinh Lăng nghiêm Q.2].

kỳ bà thảo

(耆婆草) Loại cỏ, có 3 thứ: 1. Tiếng Phạm:Jìva. Loại cỏ mọc ở Ấn độ. 2. Tiếng Phạm:Jìvaka. Một trong 8 loại thuốc quí ở Ấn độ. 3. Tên khoa học: Ruta, tức Vân hương (cây màn tưới), mọc ở Nam âu, chuyên dùng làm thuốc, trị các chứng ghẻ lác, ngăn tránh trùng độc.

kỳ bàn thiên phật động

(棋盤千佛洞) Quần thể hang động ở phía Tây nam huyện Diệp thành, Tân cương, là 1 trong những động Thiên Phật ở vùng cực tây Trung quốc được tạo lập vào thời Tây Liêu. Tất cả gồm có 10 hang, mỗi hang chỉ mở một căn nhà hình chữ nhật. Hang lớn nhất dài 4,4 mét; rộng 3,9 mét; hang nhỏ nhất chỉ có 2 mét vuông. Trong động, những vật còn sót lại không nhiều, 2 hang cao nhất còn lại phần bích họa, nhưng đã mờ nhạt, chỉ có thể thấy phần hào quang và bóng cây ở phần tượng Phật. Ở vùng phụ cận những hang động này, người ta từng đào được những đồng tiền bằng đồng có khắc chữ Hán và chữ Ả rập, lọ 1 quai, lọ sành da lươn 2 quai, ...

kỳ chiếu tự diệu

(其照自妙) Từ ngữ biểu thị cảnh giới bất khả tư nghị của chư Phật Như lại và chư vị Tổ sư. Nhóm từ này có xuất xứ từ bài Tọa thiền châm của thiền sư Hoành trí Chính giác (1091- 1157) thuộc tông Tào động đời Tống. Chiếu là tác dụng thấy biết chân tướng của sự vật đúng như thực; Diệu là tác dụng ấy bất khả tư nghị, vượt ra ngoài vòng ngôn ngữ, văn tự và suy tư. Nói chung, người phàm phu đối với sự nhận thức về vũ trụ, sinh tử, mê ngộ,... hầu hết đều bị hạn cuộc nơi cảnh, không được giải thoát; nhưng đối với chư Phật Như lai và các vị Tổ sư đã chứng quả thì cảnh giới mà các Ngài nhận thức, chứng ngộ, tuy ở nơi cảnh, nhưng không mảy may bị cảnh làm chướng ngại, mà tự do tự tại, nhậm vận tự như, mầu nhiệm không thể diễn tả bằng lời. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8].

kỳ chủ

(期主) ..... Chỉ cho vị thí chủ tín tâm chuẩn bị đầy đủ các phẩm vật để cúng dường chúng tăng trong thời gian kết hạ an cư. Chương Tiết tự trong Hoàng bá thanh qui (Đại 82, 773 thượng) nói: Phàm gặp thời gian kết chế, trưởng giả có lòng tin muốn làm vị Kỳ chủ, trước hết bạch vị Đường đầu và Đô tự, sau đó Tri khách dẫn đến vị Khố ti giao nạp tịnh tài, mua sắm đầy đủ những phẩm vật cần dùng để cúng dường.

kỳ cựu

(耆舊) Cũng gọi Trưởng lão, Lão túc, Kỳ túc. Bậc trưởng lão đạo đức cao thâm. Luận Dị môn túc quyển 4 cho rằng bậc Tôn trưởng kỳ cựu tuổi tác cao, gọi là Thượng tọa. Kinh Tì ni mẫu, thì nói bậc có 50 tuổi pháp trở lên, được quốc vương, trưởng giả và giới xuất gia tôn trọng, thì gọi là Kỳ cựu trưởng túc. [X. điều Thiên hóa tế thứ, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui; môn Xưng hô trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỳ dạ

(祇夜) Phạm: Geya. Pàli:Geyya. Cũng gọi Kỳ dạ kinh. Dịch cũ (Hán): Trùng tụng, Trùng tụng kệ. Dịch mới: Ứng tụng Chỉ cho phần kệ thơ nhắc lại ý nghĩa đã được trình bày trong đoạn văn xuôi ở trước. Một trong 9 thể tài, 1 trong 12 thể tài của kinh điển Phật. [X. kinh Niết bàn Q.14 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.33].(xt. Kệ).

kỳ dạ đa

(祈夜多) Phạm:Jeyata. Vị A la hán, người nước Kế tân miền Bắc Ấn độ. Theo kinh Tạp bảo tạng quyển 7 chép, thì ngài Kỳ dạ đa ra đời ở nước Kế tân khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt. Vua nước Nguyệt thị (chi) nghe danh đức của Ngài nên cùng với các quan và đoàn tùy tùng đến thăm ngài, nhưng Kỳ dạ đa ngồi lặng thinh không đón rước, vua thấy uy đức của Ngài càng thêm kính tin bội phần, sau được Ngài chỉ dạy (Đại 50, 316 thượng): Trước đây nhà vua đã từ con đường thù thắng mà đến, nay trở về cũng nên theo đường ấy mà đi! Nghĩa là ở đời quá khứ vua đã gieo trồng nhiều phúc đức nên nay mới được làm vua; nếu đời hiện tại vua tiếp tục tu tập thiện nghiệp thì đời sau vua cũng sẽ được hưởng phúc lành. Nghe xong, nhà vua vui vẻ trở về nước. Ngài Kỳ dạ đa có thần thông, từng hàng phục rồng dữ A lợi na ở nước Kế tân. Trong kinh còn ghi rằng: Vào thời quá khứ lâu xa, sau khi đức Phật Tì bà thi nhập diệt, Kỳ dạ đa là con 1 trưởng giả lại cũng đã từng 500 kiếp đầu thai làm chó nên thường bị khổ não vì đói khát. Những sự kiện trên đây rất phù hợp với truyện ngài Đạt ma mật đa trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5. Lại theo Ấn độ Phật giáo sử chương 12 của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), thì nước Ca thấp di la có vua Sư tử xuất gia tên là Thiện kiến (Phạm:Sudarzana), chứng quả A la hán; bấy giờ có vua Ca nị sắc ca (Phạm:Kaniwka) nướcJàlaídhara(Phạm: Gandhàra, Kiện đà la) nghe danh đức của ngài bèn đến Ca thấp di la dự nghe Ngài thuyết pháp rồi cúng dường tháp pháp và chúng tăng. Căn cứ vào những ghi chép trên đây, ta có thể suy biết Kỳ dạ đa, Đạt ma mật đa, Thiện kiến có lẽ cùng là một người nhưng khác tên và từng là thầy của vua Ca nị sắc ca.

Kỳ Hoàn Tinh Xá

(p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍): còn gọi là Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍), tên gọi của tinh xá nằm ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), kinh đô của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, p: Kosala, 憍薩羅) vào thời Ấn Độ cổ đại. Lúc bấy giờ, trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達, còn có tên là Cấp Cô Độc [給孤獨]) của Thành Xá Vệ mua khu rừng của Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) để xây dựng tu viện cho giáo đoàn đức Phật. Tên gọi Kỳ Viên vốn phát xuất từ truyền thuyết này. Trưởng giả Tu Đạt là người thường bố thí vật phẩm ăn uống cho những người cô độc, nghèo nàn, cho nên nơi đây còn được gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (祇樹給孤獨園). Đức Phật đã trãi qua hơn 20 năm vào cuối đời ngài ở tại đây, và khoảng 7, 8 phần kinh điển hiện tại đều được ngài thuyết giảng tại nơi này. Tuy nhiên, ngay sau khi đức Phật diệt độ thì tinh xá này bị suy tàn. Về sau, khi Pháp Hiển (法顯, 340?-?) và Huyền Trang (玄奘, 602-664) sang du hành ở Ấn Độ, tinh xá này đã hoàn toàn hoang phế. Hiện tại nó chỉ còn là di tích rất rộng lớn ở phía Nam vùng Saheṭh-Maheth thuộc tiểu bang Uttar Pradesh. Trong Phật Thuyết Văn Thù Sư Lợi Bát Niết Bàn Kinh (佛說文殊師利般涅槃經, Taishō No. 463) do Cư Sĩ Nhiếp Đạo Chơn (聶道眞) nhà Tây Tấn dịch có đoạn: “Nhĩ thời, Thế Tôn tùng Tam Muội khởi, tức tiện vi tiếu, hữu ngũ sắc quang tùng Phật khẩu xuất, thử quang xuất thời, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành Lưu Ly (爾時、世尊從三昧起、卽便微笑、有五色光從佛口出、此光出時、祇洹精舍變成琉璃, lúc bấy giờ đức thế tôn từ trong Tam Muội đứng dậy, bèn mĩm cười, có ánh sáng năm sắc từ trong miệng Phật phóng ra, khi ánh sáng này phóng ra, Kỳ Hoàn Tinh Xá biến thành ngọc Lưu Ly).” Hay như trong Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh (中天竺舍衛國祇洹寺圖經, Taishō No. 1899), phần Trung Thiên Trúc Xá Vệ Quốc Kỳ Hoàn Tự Đồ Kinh Tự (中天竺舍衛國祇洹寺圖經序) lại có đoạn đề cập đến Kỳ Viên Tinh Xá như sau: “Vãng giả Thích Tôn tại Đao Lợi Thiên, thử tượng tại điện vi chư Tỳ Kheo giáo giới thuyết pháp, nãi chí chư vương chi bất kiến Phật tư mộ Thích Ca, thử tượng vi vương tam độ thuyết pháp; Kỳ Viên sơ lập giới đàn, thành thời thử tượng lãnh tiền đồ chúng, chí giới đàn sở nhiễu tam tráp dĩ, bộ bộ giai sanh kim sắc thiên diệp Liên Hoa; mỗi thọ giới thời hoa tự nhiên khai, trung hữu thiên đồng tấu ư thiên nhạc (徃者釋尊在忉利天、此像在殿爲諸比丘敎戒說法、乃至諸王之不見佛思慕釋迦、此像爲王三度說法、祇園初立戒壇、成時此像領前徒眾、至戒壇所遶三匝已、步步皆生金色千葉蓮花、每受戒時花自然開、中有天童奏於天樂, xưa kia khi đức Thích Tôn tại Trời Đao Lợi, tượng này tại chánh điện vì các Tỳ Kheo mà dạy bảo, thuyết pháp, cho đến các vua không thấy được Phật, nhớ nghĩ đến Thích Ca, tượng này cũng vì vua thuyết pháp ba lần; lúc ban đầu, Kỳ Viên Tinh Xá mới lập giới đàn, khi hình thành, tượng này dẫn các đồ chúng trước đây, đến giới đàn đi nhiễu quanh ba vòng xong, từng bước đều sanh hoa sen ngàn cánh có màu vàng kim; mỗi khi thọ giới, hoa ấy tự nhiên nở ra, bên trong có thiên đồng tấu khúc nhạc trời).”

kỳ hoàn tinh xá

(祇洹精舍) I. Kỳ Hoàn Tinh Xá. Tức tinh xá Kỳ hoàn ở vườn ông Cấp cô độc, rừng cây của thái tử Kỳ đà. (xt. Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên). II. Kỳ Hoàn Tinh Xá. Đoàn thể Phật giáo Trung quốc do cư sĩ Dương văn hội sáng lập vào cuối đời Thanh đầu đời Dân quốc theo sự đề xướng của cư sĩ Đạt ma ba la (Dhammapàla), Hội trưởng hội Ma ha bồ đề (Màha-Bodhi Society) ở Tích lan. Đoàn thể này lấy việc phục hưng Phật giáo Ấn độ và truyền bá giáo pháp trên toàn thế giới làm mục tiêu, tuyển chọn một số thanh niên tăng tục học tập và nghiên cứu Phật học, Hán học. Về chương trình giảng dạy, ngoài hai môn chính là Phật học và Hán học ra, còn dạy Anh văn để làm nền tảng cho việc học tiếng Phạm vàPàli. Ban giáo thụ gồm cư sĩ Dương văn hội giảng kinh Lăng nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, ngài Tô mạn thù dạy Anh văn, ngài Đế nhàn dạy Thiên thai giáo quán. Những học viên lúc bấy giờ gồm có: Mai quang hi, Âu dương Cánh vô, Khâu hư minh, Nhân sơn, Thái hư, Trí quang, Quán đồng,... Sau vì thiếu hụt kinh phí, nên chưa đầy 2 năm, khóa học phải tạm ngưng. [X. Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều); China Phật giáo cận thế sử nghiên cứu (Thủy dã Mai hiểu)].

kỳ lâm tự

(祇林寺) Chùa ở núi Hàm nguyệt, tỉnh Khánh thượng bắc, Hàn quốc, tương truyền do Quan hữu Thánh nhân nước Phạm ma la sáng lập, đặt tên là chùa Lâm tỉnh. Năm Tân la Thiện đức Nữ vương 12 (643), ngài Nguyên hiểu xây cất lại, đổi tên là chùa Kỳ lâm. Năm Tuyên tổ 12 (1578) triều Lí, ngài Trúc thiền làm lại một lần nữa. Về sau, 2 lần chùa bị phá hủy vì chiến tranh. Năm Hiển tông thứ 9 (1668), ngài Song thánh trùng tu và ngài Lại trạch sửa sang toàn bộ điện đường. Năm Giáng hi thứ 2 (1908) đời vua Thuần tông nhà Lí, toàn bộ hơn 100 gian nhà của chùa đều bị cháy trong một trận đại hỏa hoạn, sau đó, hòa thượng Độ hà xây dựng lại. Hiện nay còn điện Tịch quang, điện Lưu li, điện Ứng chân, ... [X. Đông quốc dư địa thắng lãm Q.21].

kỳ lạp

(耆臘) Kỳ nghĩa là già, Lạp nghĩa là tuổi của tăng sĩ. Kỳ lạp nghĩa là vị tăng sĩ đã cao tuổi. Thiền gia dùng chữ Lạp để tính tuổi của người xuất gia được độ, nhưng thời xưa thì tính tuổi bắt đầu từ năm thụ giới Cụ túc, chứ không tính từ năm xuất gia được độ. Cho nên, Kỳ lạp là đặc biệt gọi vị tỉ khưu (hoặc tỉ khưu ni) đã xuất gia và thụ giới Cụ túc lâu năm.

kỳ na

(耆那) Phạm:Jina. Hán dịch: Thắng giả. I. Kỳ Na. Danh từ tôn xưng đức Phật. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 1 (Đại 3, 655 thượng), nói: Như lai trụ nơi hạnh Phật; không còn phiền não, nên gọi Kỳ na. Ngài đạt được Nhất thiết trí, trụ nơi thiên hạnh, trụ nơi phạm hạnh, trụ nơi Thánh hạnh, tâm được tự tại. II. Kỳ Na. Vị giáo tổ của Kỳ na giáo sống vào thời đại đức Phật. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.19]. (xt. Kỳ Na Giáo)

kỳ na giáo

(耆那教) Phạm:Jaina. Một giáo phái ở Ấn độ, do ngài Ni càn đà nhã đề tử (Phạm: Nirgranthajĩàtaputra), cũng gọi Đại hùng (Phạm: Mahàvìra) sáng lập vào khoảng thế kỉ V, IV trước Tây lịch, chủ trương khổ hạnh, phi bạo lực. Giáo nghĩa căn bản là nghiệp báo luân hồi, linh hồn giải thoát. Tương truyền, trước ngài Ni càn đà nhã đề tử, còn có 23 vị Tổ sư, cho nên đời sau cho ngài là vị Tổ thứ 24 trung hưng Kỳ na giáo. Trong 24 vị Tổ thì chỉ có ngài Ba thấp phạt na đà (Phạm:Parzvanàtha) và Ni càn đà nhã đề tử là nhân vật có thật trong lịch sử, còn các vị Tổ khác e rằng đều là những nhân vật trong truyền thuyết. Ngài Ni càn đà nhã để tử chủ trương thuyết Vô thần, cải cách và tập đại thành giáo lí của 23 vị Tổ sư trước. Về phương diện giáo lí, ngài chia những yếu tố cấu thành vũ trụ làm 2 phần là Linh hồn (Phạm:Jìva) và Phi linh hồn (Phạm:Ajìva). Yếu tố Phi linh hồn bao gồm 4 thứ: Vận động nhân (Phạm: Dharma), Chỉ tĩnh nhân (Phạm: Adharma), hư không, vật chất, cộng thêm Linh hồn thành 5 cá thể thực tại. Vật chất do nguyên tử cấu tạo thành, có tính chìm xuống, còn Linh hồn là nhất thiết tri(biết tất cả)có tính bay lên, tự nó không có chướng ngại, vì thế được tự do. Còn sự hình thành vật chất là do nơi nghiệp, nên bị trói buộc, đây chính là nhân của sự luân hồi. Nếu muốn thoát khỏi luân hồi thì phải sống khổ hạnh và giữ gìn nghiêm ngặt 5 điều răn (5 thệ nguyện lớn)là: Không giết hại, không nói dối, không trộm cắp, không dâm dục, không sở đắc (Phạm:Anupalabhya). Nếu sống theo đúng 5 điều răn này, thì có thể tiêu trừ nghiệp lực, phát huy bản tính của linh hồn, đạt đến tịch diệt, tức được giải thoát, gọi là Niết bàn. Linh hồn, phi linh hồn, thiện nghiệp, ác nghiệp, lậu nhập, hệ phược, chế ngự, chỉ diệt, giải thoát... gọi là Cửu đế. Ngoài ra, Kỳ na giáo còn chủ trương chủ nghĩa Bất định (Phạm:Syàdvàda) tương đối có tính phán đoán và chủ trương Quan điểm luận (Phạm: Naya) quan sát mang tính phê phán, đây chính là đặc sắc của Kỳ na giáo. Thánh điển chủ yếu của Kỳ na giáo có 2 loại: Tất đàn đa (Phạm:Siddhanta), có 45 bộ, được thành lập vào khoảng từ thế kỉ thứ III trước Tây lịch đến thế kỉ thứ VI Tây lịch; Tứ phệ đà (Phạm:Veda), được thành lập vào thế kỉ thứ IX Tây lịch. Ngoài ra còn có Giáo lí tinh yếu và Ngũ nguyên lí tinh yếu do ông Khang đạt Khang đạt (Phạm:Kundakunda) soạn vào thế kỉ V và Đế nghĩa chứng đắc thư do ông Ô ma tư phạt thê (Phạm:Umàsvàti) sáng tác. Vào thời đại vị Giáo tổ, giáo đoàn kỳ na rất hưng thịnh, nhưng sau phân hóa làm phái Bạch y (Phạm:Zvetàmbara) theo chủ nghĩa khoan dung và phái Không y (Phạm: Digambara) theo chủ nghĩa nghiêm khắc. Phái Bạch y căn cứ theo Thánh điển Tất đàn đa, còn phái Không y thì căn cứ theo Thánh điển Tứ phệ đà. Đến thế kỉ thứ XII, tín đồ Hồi giáo xâm nhập Ấn độ và công kích Kỳ na giáo rất kịch liệt. Sau thế kỉ XVII, trong giáo đoàn phát sinh cuộc vận động cải cách, chủ trương dùng chủ nghĩa nhân đạo và quan điểm bác ái để giải thích giáo nghĩa cổ xưa của Kỳ na giáo. Đại biểu cho chủ trương cải cách có ông Động địa bì âu (Dhundibia) lãnh đạo cuộc vận động của phái Lang ca (Lokas), thế kỉ XVIII, có ông Duy lạp cát (Vìraji) lãnh đạo cuộc vận động của phái Tư đặc na ca ngõa tây (Sthànakavàsì). Đến nay, số tín đồ tuy không đông, nhưng họ vẫn giữ gìn giới luật rất nghiêm khắc trong sinh hoạt hàng ngày. [X. W. Schubring: Die Lehre der Jainas, 1935; Kỳ na giáo Thánh điển (Linh mộc Trọng tín)].(xt. Ni Càn Tử Ngoại Đạo, Ni Càn Đà Nhã Đề Tử).

kỳ na giáo thánh điển

(耆那教聖典) Kỳ na giáo, Phạm:Jaina. Kỳ na giáo Thánh điển, cũng gọi A cấp ma (Phạm: Àgama), Tất đàn đà (Phạm: Siddhànta). Kinh điển căn bản của Kỳ na giáo Ấn độ được kết tập lần đầu tiên vào khoảng 300 năm trước Tây lịch ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉaliputra), được viết bằng tiếng A đạt ma kiệt địa (Phạm: Ardharmàgadhi). Sau khi Giáo tổ Đại hùng (Phạm: Mahàvìra) qua đời được 980 năm, thì cuộc kết tập lần 2 được thực hiện tại Phạt lạp bỉ (Phạm: Valabhì) mới có nội dung như ngày nay. Tất cả có 46 thứ được chia làm 6 loại, đó là: 1. Mười một thứ Ương già (Phạm: Aíga), Hán dịch: Chi,(chi thứ 12 nay đã thất lạc). Nội dung gồm những lời chỉ dạy của Giáo tổ Đại hùng, phép tắc sinh hoạt của người xuất gia, sự tích của các Thánh nhân, 5 giới, những sự thực về quả thiện, quả ác ... 2. Mười hai thứ Ô phàm già (Phạm: Uvaíga): Nội dung bao gồm hành chỉ giải thoát và thứ tự Niết bàn, phương pháp phân biệt các loài chúng sinh, thế giới trung ương (Phạm: Jambudvìpa), Nhật nguyệt thiên thể, các nhân duyên về vua Tần bà sa la (Phạm:Bimbisàra) và vua A xà thế (Phạm: Ajàtazatru),... 3. Mười thứ Bát na (Phạm:Paiịịa): Bao gồm chết, bệnh, lượng thức ăn của người, trạng thái ở trong thai, sự cấu tạo của thân thể, các cõi trời ... 4. Bảy thứ Khư da tô đa (Cheyasutta): Bao hàm các hành vi chính tà, trạng thái của tâm, sự phạm giới, việc sám hối của người xuất gia, tại gia ... 5. Bốn thứ Ma lạp tô đa (Mùlasutta): Bao gồm những trứ tác về giáo lí, tín ngưỡng, lời dạy của chư Tổ và những nghi thức tông giáo cùng với việc tu hành hàng ngày ... 6. Hai thứ kinh (Sutta): Đứng về 4 phương diện để giải thích giáo lí, tri thức thông thường của Kỳ na giáo. Những trứ tác có quan hệ với bộ kinh điển căn bản này của Kỳ na giáo là: Giáo lí tinh yếu, Ngũ nguyên lí tinh yếu của Khang đạt Khang đạt (Phạm:Kundakunda) và Đế nghĩa chứng đắc thư của Ô ma tư phạt thê (Phạm:Umàsvàti). Bộ kinh này(A cấp ma hoặc Tất đàn đa) thuộc giáo nghĩa của phái Bạch y (Phạm: Zvetàmbara), còn đối với kinh điển mà phái Không y (Phạm: Digambara) sử dụng làm chỗ căn cứ thì người đời sau đã thêm vào những tác phẩm mới của phái Phệ đàn đa và tư tưởng của Bà la môn, còn nguyên tác thì đã bị thất lạc vào khoảng thế kỉ III, IV. [X. Suttàgame (Aíga and Upàíga of Jaina) 2 vols. Bombay 1954; W. Schubring: Die Lehre der Jainas, nach den alten Quellen dargestelst, GIAPHA III 7 Berlin 1935].

kỳ nguyện sở

(祈願所) Cũng gọi là Kỳ nguyện tự, Ngự nguyện tự. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chùa viện do Thiên hoàng Nhật bản xây dựng để cầu cho Hoàng gia được an ổn và thiên hạ thái bình. Như Thiên hoàng Thiên vũ kiến tạo chùa Dược sư cầu nguyện cho hoàng hậu khỏe mạnh. Còn Thiên hoàng Thánh vũ thì lập chùa Quốc phận để cầu cho quốc gia được bền vững. Những ngôi chùa thuộc loại này đều được gọi là Kỳ nguyện sở. Đến thời đại Mạc phủ, các Lãnh chúa cũng bắt chước việc làm này. Như năm Lịch ứng thứ 2 (1339) thời Bắc triều, Túc lợi Trực nghĩa lập chùa An quốc ở các nước để cầu vận mệnh nhà Võ được lâu dài, nhà cửa phồn vinh. Sau, để phân biệt với Kỳ nguyện sở của nhà Võ, nên gọi Kỳ nguyện sở của triều đình là Sắc nguyện sở, Sắc nguyện tự.

kỳ phụng hành

(祈奉行) Chức vụ chuyên phụ trách việc cầu nguyện được đặt ra trong 2 triều đại Mạc phủ Liêm thương và Thất đinh ở Nhật bản. Hoặc là chức vụ tạm thời được đặt ra để lo việc cúng tế khi xảy ra thiên tai, hạn hán, dịch bệnh... trong nước.

kỳ quang như lai

(奇光如來) Cũng gọi là Quang minh vương Như lai. Vị Phật hiện tại ở thế giới phương khác duy nhất được nói đến trong kinh A hàm. Cứ theo phẩm Lục trọng trong kinh Tăng nhất a hàm, thì tôn giả Mục liên vâng lời chỉ dạy của đức Phật đi đến một cõi Phật cách đây 7 hằng hà sa số thế giới, ở đó hiện có đức Phật hiệu là Kỳ quang Như lai, Chí chân đẳng chính giác. Giáo nghĩa của Tiểu thừa chỉ nói về chư Phật quá khứ và vị lai, chứ không thừa nhận có Phật hiện tại ngoài đức Thế tôn Thích ca, còn thuyết chư Phật hiện tại là chủ trương của Đại thừa. Nhưng kinh Tăng nhất a hàm lại nói ở phương Đông hiện có đức Kỳ quang Như lai, thì điều này khác hẳn với giáo nghĩa chung của Tiểu thừa, cho nên rất được các học giả cận đại nghiên cứu về sự quan hệ giữa Tiểu thừa và Đại thừa xem trọng. Có thuyết cho rằng đức Kỳ quang Như lai xuất hiện ở phương Đông là hóa thân hiện tại của Phật Thi khí ở quá khứ, mà giữa PhậtThi khí và Phạm thiên lại vốn có mối quan hệ mật thiết, cho nên suy luận rằng trong thuyết hiện tại có nhiều Phật của Đại thừa đã bao hàm tư tưởng Phạm thiên. Nhưng thuyết trong Tăng nhất a hàm (Hán dịch) không thấy được nói đến trong kinh điểnPàli Nam truyền. Hơn nữa, trong hội Mật tích Kim cương lực sĩ của kinh Đại bảo tích quyển 10 cũng nói Quang minh vương Như lai xuất hiện ở phương Tây, luận thuyết tuy giống nhau, nhưng không đề cập gì đến Phạm thiên. Bởi thế, nếu chỉ dựa vào kinh Tăng nhất a hàm để suy đoán về mối quan hệ giữa Phật Thi khí đời quá khứ và Kỳ quang Như lai thì chưa thể tin được. [X. Đại thừa Phật giáo sử luận; Mã minh bồ tát luận].

kỳ thệ

(祈誓) Trước hết lập thệ nguyện trong tâm, rồi sau mới cầu xin Thần Phật che chở, giúp đỡ, hoặc chứng cho lời thệ nguyện của mình có linh nghiệm hay không. Người đời sau gọi là trở (nguyện ước).

Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên

(祇樹給孤獨園): xem Kỳ Hoàn Tinh Xá(p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍) bên trên.

Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên

xem Tinh xá Kỳ-hoàn.

kỳ thụ cấp cô độc viên

(祇樹給孤獨園) Phạm:Jetavana-anàthapiịđasyàràma. Gọi tắt: Kỳ viên, Kỳ thụ, Kỳ viên tinh xá, Kỳ hoàn tinh xá, Kỳ đà lâm, Thệ đa lâm (nghĩa là rừng Tùng, rừng Thắng). Kỳ thụ là gọi tắt rừng cây của thái tử Kỳ đà; Cấp cô độc là tên khác của trưởng giả Tu đạt (Phạm: Sudatta) ở thành Xá vệ, vì ông thường giúp đỡ những người cô độc không nơi nương tựa, nên người đời gọi ông là Cấp cô độc. Vì trưởng giả Tu đạt xây cất tinh xá trong khu rừng của thái tử Kỳ đà rồi cả hai người cùng dâng cúng đức Phật, cho nên gọi là Kỳ thụ cấp cô độc viên. Đất trong khu rừng bằng phẳng, rộng khoảng 80 khoảnh (8.000 mẫu), trong đó có các kiến trúc như: Hương thất (Phạm: Gandha-kuỉi, tương đương với điện Phật ngày nay) ở chính giữa khu vườn, chung quanh có 80 phòng nhỏ, nhà giảng, nhà sưởi, nhà ăn, nhà bếp, nhà tắm, nhà dưỡng bệnh, các phòng xá, ao sen, chỗ đi kinh hành,... Hai bên tinh xá có ao nước trong mát, rừng cây xanh tốt, sum xuê, màu hoa rực rỡ. Vòng ngoài tinh xá có 18 tăng già lam. Còn chính tòa tinh xá vốn là một kiến trúc 7 tầng, nhưng vào thế kỉ thứ VII, khi ngài Huyền trang đến đây tham bái, thì vùng này đã hoang phế. Vị trí tinh xá ước chừng tương đương với khu di tích Tái hách đặc mã hách đặc (Sahet-mahet) còn lại ở bên bờ Nam sông Lạp bố đề (Rapti) hiện nay. [X. kinh Niết bàn Q.29 (bản Bắc); luận Ngũ phần Q.25; điều Thất la phạt tất để quốc trong Đại đường tây vực kí Q.6; Cao tăng Pháp hiển truyện; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Cấp Cô Độc Viên).

kỳ tích

(奇迹) Trong Phật giáo, Kỳ tích(dấu vết lạ lùng) được gọi là Thần thông (Phạm: Abhijĩà, Pàli:Abhiĩĩà), Thần biến (Phạm:Fddhi, Pàli: Iddhi). Là sức tinh thần siêu việt, bất khả tư nghị do tu Thiền định mà đạt được. Phật giáo xếp loại thần thông này vào 6 thông, 3 minh. Sáu thông là: Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông và Lậu tận thông. Trong đó, Thiên nhãn thông, Túc mệnh thông và Lậu tận thông gọi là Tam minh. Trong các đệ tử Phật, vị thần thông bậc nhất là tôn giả Mục kiền liên (Pàli: Mahà-moggallàna). Nhưng trong các thứ thần thông, đức Phật chỉ coi trọng Lậu tận thông. Có lần, tôn giả Thiện túc (Pàli: Sunakkhatta) bày tỏ sự bất bình đối với đức Phật vì Ngài không bao giờ hiển hiện thần thông, đức Phật trả lời rằng: Bất luận có thần thông hay không đều không quan trọng, nhưng điều quan trọng là phải nhận thức rằng giáo pháp mà ta chỉ dạy là để giúp mọi người đạt đến mục đích diệt trừ thống khổ. Thần thông có thể chia làm 3 loại: 1. Thần thông thần biến (Phạm:Fddhipràtihàrya,Pàli:Iddhi-pàỉihàriya). 2. Ký tâm thần biến(Phạm: Adezanapràtihàrya,Pàli:Àdesana-pàỉihàriya). 3. Giáo giới thần biến (Anuzasanapràtihàrya, Pàli: Anusàsanapàỉihàriya). Cứ theo kinh Trường bộ 11 tiếngPàli, thì đức Phật cho rằng Thần thông thần biến và Ký tâm thần biến giống như huyễn hóa (màyà-sahadhamma-rùpam viya), nên cần phải trừ bỏ, chỉ chấp nhận Giáo giới thần biến. Vì Giáo giới thần biến là 1 việc làm đúng với phép tắc và đạo đức, cần phải tinh tiến tu hành thực tiễn mới có thể đạt được. Tóm lại, thần thông chỉ là tác dụng phụ trong quá trình tu hành, như bóng trong gương, trăng dưới nước, không nắm bắt được. Nếu lấy thần thông làm mục đích tu hành, thì chẳng những khó tiến lên cảnh giới giải thoát mà còn thường có nguy cơ rơi vào ma thuật (Phạm:Màyà). (xt. Tam Chủng Thị Đạo, Thị Hiện).

Kỳ Viên

xem Tinh xá Kỳ-hoàn.

kỳ viên hội

(祇園會) Gọi đủ: Kỳ viên ngự linh hội. Cũng gọi: Lỳ viên tế, Thiên vương tế. Nghi thức cúng tế của Phật giáo Nhật bản. Tức là lễ cúng tế Thiên vương đầu bò để cầu trấn áp thần bệnh dịch và các ác thần tinh mị khác, được cử hành ở viện Kỳ viên cảm ứng, tại Đông sơn, Kinh đô (Kyoto) Nhật bản.

kỳ viên tự

(祇園寺) I. Kỳ Viên Tự. Chùa ở Nam kinh, tỉnh Giang tô, do tướng quân Phạm thái sáng lập vào niên hiệu Vĩnh sơ năm đầu (420) đời Vũ đế nhà Lưu Tống, để cúng dường cao tăng Tuệ nghĩa. Ngài Tuệ nghĩa hoan hỉ vì lòng tin chí thành thanh tịnh của cư sĩ Phạm thái, nên chỉ dạy các phép tắc, người đương thời thấy tướng quân Phạm thái kính tin Phật pháp giống như trưởng giả Tu đạt thủa xưa nên gọi chùa là Kỳ viên. Chùa là 1 đạo tràng nổi tiếng về dịch kinh hoằng pháp và rất nhiều vị cao tăng thạc học đã từng chú tích nơi đây, như: Ngài Tam tạng Cầu na bạt ma từ nước Kế tân đến Trung quốc vào năm Nguyên gia thứ 7 (430) và phụng sắc chỉ trụ ở chùa này giảng kinh Pháp hoa và Thập địa kinh luận; ngài Đàm ma mật đa ở đây dịch rất nhiều kinh điển. Về sau có các ngài Tăng thuyên, Đạo chiếu,... cũng lần lượt đến trụ chùa này, nghiên cứu kinh điển, hoằng dương giáo pháp, nổi tiếng một thời. Chùa hiện nay đã bị hoang phế. II. Kỳ Viên Tự. Chùa ở phía Đông chùa Hóa thành, núi Cửu hoa, mạn tây nam huyện Thanh dương, tỉnh An huy, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời Minh, tên là Kỳ thụ am, Kỳ viên. Vào đời Thanh, qua nhiều lần trùng tu và mở rộng thêm nên chùa có quy mô rất lớn, đứng đầu các chùa trong toàn núi Cửu hoa. Khoảng năm Gia khánh đời Thanh, ngài Long sơn mở đàn truyền giới ở đây, môn phong ngày càng thịnh, xây dựng thêm điện đường, bèn trở thành tùng lâm thập phương.

kỳ vũ

(祈雨) Cũng gọi Vũ khất, Thỉnh vũ, Khất vũ. Cầu mưa. Pháp tu cầu mưa khi trời hạn hán. Theo kinh Đại vân luân thỉnh vũ và kinh Đại khổng tước chú vương của Mật giáo, thì pháp tu cầu mưa có: Thỉnh vũ pháp, Kỳ vũ pháp, Khất vũ pháp. Nếu tu theo pháp của kinh Thỉnh vũ thì gọi là Thỉnh vũ kinh pháp, thông thường dùng Mạn đồ la của kinh Thỉnh vũ.

kỳ vực

(耆域) I. Kỳ Vực. Tên khác của ông Kỳ bà, một danh y người Ấn độ ở thời đại đức Phật còn tại thế. (xt. Kỳ Bà). II. Kỳ Vực. Cao tăng Ấn độ đến Trung quốc vào thời Tây Tấn. Ngài rất giỏi về Mật chú, vào năm cuối đời Huệ đế nhà Tấn, ngài đến Lã dương, lúc ấy gặp quan thái thú Đằng vĩnh văn ở Hoành dương, bị bệnh nên đến chùa Mãn thủy để chữa, nhưng mãi không khỏi, đến nỗi hai chân co rút lại, không đi được. Ngài đến thăm, dùng cành dương liễu rảy tịnh thủy, rồi xoa bóp hai chân, Đằng vĩnh văn liền khỏi bệnh. Ngài còn tùy bệnh cho thuốc hoặc chú nguyện để chữa trị, hoặc làm cho cây khô sống lại... và nhiều việc linh dị khác không thể kể hết. Sau ngài trở về Tây vực, không biết tịch lúc nào. [X. Lương cao tăng truyện Q.9; Pháp uyển châu lâm Q.61].

kỳ xà lục tông

(耆闍六宗) Sáu tông do pháp sư An lẫm chùa Kỳ xà phán định vào đời Trần thuộc Nam triều để phân biệt và giải thích giáo pháp của đức Phật. 1. Nhân duyên tông: Chỉ cho Tát bà đa bộ của Tiểu thừa. 2. Giả danh tông: Chỉ cho Kinh bộ của Tiểu thừa. 3. Bất chân tông: Chỉ chung cho các kinh Đại thừa nói về lí các pháp như huyễn như hóa. 4. Chân tông: Nói về lí chân không của các pháp. 5. Thường tông: Nói về chân lí thường hằng và đầy đủ hằng sa công đức. 6. Viên tông: Chỉ cho pháp môn Hoa nghiêm, pháp giới tự tại, duyên khởi vô ngại, đức dụng tròn đủ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10 thượng].

kỳ xà quật sơn

(耆闍崛山) Phạm:Gfdhrakùỉa. Pàli:Gijjha-kùỉa. Cũng gọi là Kỳ xà đa sơn, Quật sơn. Hán dịch: Linh thứu sơn, Thứu đầu, Linh sơn. Núi ở phía đông bắc thành Vương xá, thủ đô nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, là nơi đức Phật thường thuyết pháp rất nổi tiếng. Về nguyên do tên nước, có thuyết cho rằng vì đỉnh núi có hình giống con chim Thứu, lại có thuyết cho rằng vì trên đỉnh núi có rất nhiều chim Thứu đến đậu, nên gọi như thế. Chữ Phạm Gfdhra nguyên nghĩa là kẻ tham ăn, sau được dùng để chỉ cho chim Thứu. Loài chim này cánh hơi đen, đầu có mầu tro, ít lông, thích ăn xác chết, đậu nơi rừng hoang. Nhà khảo cổ học người Anh là ông A. Cunningham căn cứ vào những ghi chép trong Đại đường tây vực kí và Cao tăng Pháp hiển truyện mà đoán định vị trí núi này nằm ở Tái lạp cát lí(Saila-giri) phía đông nam Lạp tra cơ nhĩ (Rajgir) thuộc Tiểu bang Bối cáp nhĩ (Behar). Theo sự khảo sát thời gần đây cho biết, thì ở giữa khoảng thành Vương xá mới và thành Vương xá cũ có một dãy núi chạy dài theo hướng đông, phía bắc dãy núi này có một ngọn núi cao vút hơn nghìn thước, ở lưng chừng mặt nam ngọn núi này có một khoảng đất rộng độ 224 mét, trên đó có một cái nền nham thạch gọi là Tra tháp cát lí (Chata-giri), đây chính là núi Kỳ xà quật, nơi mà đức Phật đã nhiều lần diễn nói diệu pháp. Vua Tần bà sa la (Phạm: Bimbisàra) nước Ma yết đà, sống đồng thời với đức Phật, vì muốn nghe đức Phật nói pháp nên ông đã thực hiện một công trình to lớn, làm con đường từ sườn núi lên đến đỉnh núi, lấp các hang hốc, xếp đá làm thành bậc, rộng hơn 10 bước, dài khoảng 3 cây số, đi lại rất dễ dàng. Trên đỉnh núi có một cái đài mà thủa xưa đức Phật ngồi để thuyết pháp, nhưng đến nay chỉ còn nền móng tường gạch màu hồng. Ngoài ra, còn có nhiều di tích, như chỗ ông Đề bà đạt đa lăn đá hại Phật, thạch thất, là nơi đức Phật và ngài Xá lợi phất cùng các vị Thanh văn nhập định, nơi ngài A nan bị ma vương sách nhiễu, nơi đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Kim quang minh tối thắng vương, kinh Vô lượng thọ ... [X. luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.9; Pháp hoa kinh văn cú Q.1 thượng; Huyền ứng âm nghĩa Q.6].

kỳ đa lâm tự phái

(kỳ đa lâm tự phái ) Pàli:Jetavanàràma. Cũng gọi Kỳ viên tự phái (Pàli: Jetavana). Một trong những bộ phái Phật giáo Đại thừa có sớm nhất tại Tích lan. Ngưới sáng lập ra bộ phái này là Trưởng lão Tát ca lợi (Pàli:Sàgalithera, dịch là Hải), tin thờ giáo nghĩa của Đại thừa Phương đẳng bộ. Vì lấy chùa Kỳ đa lâm do vua Ma ha tư na (Pàli: Mahàsena, ở ngôi 334-362) dâng cúng làm trung tâm, cho nên có tên gọi như trên. Ngoài ra, tên vị Trưởng lão sáng lập phái này được dịch là Hải, nên cũng gọi là Hải phái, Hải bộ (Pàli:Sàgaliya). Phái này vốn từ phái Vô úy sơn tự tách riêng ra vào giữa thế kỉ IV, đến năm 1165, bị vua Ba lạc la ma bà ha đời thứ I (Pàli: ParakkamabàhuI) cấm chỉ nên đã rơi vào tình huống suy đồi.

kỳ đa mật

(祇多蜜) Phạm: Gìtamitra. Cũng gọi: Cát đa mật, Kỳ mật đa. Hán dịch: Ha hữu, Ca hữu. Nhà dịch kinh người Tây vực, đến Trung quốc vào đời Đông Tấn. Ngài bản tinh thông minh, am hiểu nội điển, chuyên tâm vào việc hoằng hóa, có chí viễn du. Ngài dịch các kinh: Kinh Bồ tát thập trụ, kinh Bảo Như lai tam muội, ... Về số lượng kinh do ngài dịch, theo Xuất tam tạng kí tập quyển 2 chỉ ghi có 1 bộ 1 quyển, còn Khai nguyên thích giáo lục thì ghi những 23 bộ 45 quyển. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5].

kỳ đà thái tử

(祇陀太子) Phạm,Pàli:Jeta. Cũng gọi Kỳ đa thái tử, Thệ đa thái tử, Chế đa thái tử. Hán dịch: Thắng thái tử, Chiến thắng thái tử. Hoàng thái tử con vua Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) nước Xá vệ (Phạm:Sràvasti), Trung Ấn độ. Thái tử là người dâng cúng rừng cây ở Kỳ viên cho đức Phật, là nơi trưởng giả Tu đạt đã kiến lập tinh xá Kỳ viên rất nổi tiếng. Về sau, Thái tử bị vua Tì lưu li (Phạm: Virùđhaka), là em khác mẹ, giết chết. [X. kinh Giáo hóa bệnh trong Trung a hàm Q.28; kinh Tăng nhất a hàm Q.26; kinh Pháp cú thí dụ Q.1].

Kỳ Đà Đại Trí

(祇陀大智, Gida Daichi, 1290-1366): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, xuất thân Trường Khi (長崎, Nagasaki), Vũ Thổ Quận (宇土郡, Udo-gun), Phì Hậu (肥後, Higo), biệt danh là Tổ Kế (祖繼, tuy nhiên cũng có thuyết cho rằng đây là nhân vật khác), sinh vào năm thứ 3 (1290) niên hiệu Chánh Ứng (正應). Năm lên 7 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Hàn Nham Nghĩa Duẫn (寒巖義尹) ở Đại Từ Tự (大慈寺, Daiji-ji), và được thầy đặt cho tên là Tiểu Trí (小智), nhưng ông lại tự đổi thành Đại Trí (大智). Sau khi Hàn Nham qua đời, ông đến tham học với Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), Thích Vận (釋運), v.v. ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), rồi lại chuyển đến làm môn hạ của Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daishō-ji) vùng Gia Hạ (加賀, Kaga, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]). Nỗ lực tu tập trong vòng 7 năm, ông lãnh hội được yếu chỉ của thầy. Đến năm thứ 4 (1311) niên hiệu Diên Khánh (延慶), ông lại đến tham yết Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日) khi vị này ở tại Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) vùng Tương Mô (相模, Sagami). Sau đó, ông sang Trung Quốc, tham học với một số vị tôn túc khác như Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Vân Ngoại Vân Tụ (雲外雲岫), Trung Phong Minh Bổn (中峰明本), Vô Kiến Tiên Đỗ (無見先覩), v.v. Khi hồi hương, theo chiếu chỉ của vua Anh Tông, ông được đưa về nước bằng thuyền Trung Quốc. Nhân đó, ông làm bài kệ “vạn lý Bắc triều tuyên ngọc chiếu, Tam Sơn Đông Hải tống quy thuyền, hoàng ân chí hậu tương hà báo, nhất chú tâm hương chúc vạn niên (萬里北傳宣玉詔、三山東海送歸船、皇恩至厚將何報、一炷心香祝萬年, ngàn dặm Bắc triều tuyên chiếu ngọc, Tam Sơn Đông Hải tiễn thuyền về, ơn vua quá nặng làm sao đáp, một nén hương lòng chúc vạn năm)” để bái tạ thâm ân của nhà vua. Khi về nước, ông liền đến tham yết Oánh Sơn ngay, và cuối cùng trở thành pháp từ của Trung Phong Tố Triết (中峰素哲). Về sau, ông làm ngôi thảo am ở Làng Cát Dã (吉野郷), vùng Gia Hạ, không bao lâu thì trở thành ngôi phạm vũ với tên gọi là Sư Tử Sơn Kỳ Đà Tự (獅子山祇陀寺). Đến cuối đời, ông trở về vùng Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]), sống tại Phụng Nghi Sơn Thánh Hộ Tự (鳳儀山聖護寺). Đến ngày mồng 10 tháng 12 năm thứ 21 (1366) niên hiệu Chánh Bình (正平, tức năm thứ 5 niên hiệu Trinh Trị [貞治]), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Ông có để lại tác phẩm Đại Trí Thiền Sư Kệ Tụng (大智禪師偈頌) 1 quyển.

kỳ đảo

(祈禱) Cũng gọi Kỳ nguyện, Kỳ niệm, Kỳ thỉnh, Tâm nguyện. Cầu xin chư Phật, Bồ tát thầm gia hộ để tránh khỏi tai nạn tăng thêm phúc đức. Ở Ấn độ, bắt đầu từ thời đại Phệ đà, việc dùng chú thuật để cầu nguyện tiêu trừ tai ách, chữa khỏi tật bệnh đã rất thịnh hành. Tại Trung quốc từ xưa cũng có phong tục cầu xin Thiên thần, Địa kì phù hộ. Phật giáo tuy không thực hành pháp này, nhưng tư tưởng thệ nguyện, bản nguyện và công đức dựng tháp, tụng kinh, hồi hướng,... đều có ý nghĩa tương tự, vì có cầu xin Phật lực gia hộ mới có các thuyết công đức và thuyết tiêu tai. Khoảng năm Thái khang đời Tây Tấn, ngài Trúc pháp hộ dịch kinh Hải long vương; về sau, các ngài Tăng già bà la, Huyền trang, Thực xoa nan đà, Bồ đề lưu chí,... nối tiếp nhau phiên dịch các kinh Mật giáo, thì việc trì chú, cầu nguyện dần dần hưng thịnh. Thời Đường Thái tông, vua ban sắc lệnh cho sa môn ở kinh thành vào tháng giêng, tháng 7 mỗi năm thì làm lễ cầu nguyện cho vụ lúa thu, vào ngày 27 hàng tháng thì tổ chức tụng kinh Nhân vương để cầu nguyện cho quốc thái dân an. Đến đây thì khắp trong nước từ vua quan đến dân chúng càng coi trọng pháp cầu nguyện. Từ đời Tống trở đi thì pháp cầu nguyện lại càng thịnh hành với các pháp tu cầu mưa, cầu tạnh, cầu tuyết, cầu trừ bệnh dịch, cầu nhật thực, nguyệt thực,... với quy mô lớn. Hơn nữa, sự cầu nguyện trong Mật giáo lấy Tam mật (thân, miệng, ý)tương ứng với Bản tôn làm pháp yếu, nghĩa là khi cầu nguyện thì miệng tụng chân ngôn của chư Tôn, tay kết ấn khế, tâm lóng lặng quán Du kỳ. Pháp tu này khiến cho hành giả được mãn nguyện và thích hợp cho đủ loại tai biến. [X. Tống cao tăng truyện Q.1; Đại đường tây vực kí Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.52; môn Báo đảo trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỳ đảo bích

(祈禱壁) Tấm bản gỗ có khắc 6 chữ chân ngôn Án ma ni bát di hồng treo trên vách (bích) để tiện việc niệm tụng cầu nguyện. Đây là pháp khí của chư tăng Tây tạng sử dụng khi cầu nguyện.

kỳ đảo chủ

(祈禱主) Phạm: Bfhaspati, Brahmaịaspati. Vị thần trừu tượng được Bà la môn giáo sùng bái. Lê câu phệ đà bảo rằng vị thần này là con của người tiên, hoặc là thần cách hóa của đàn tế lễ, nếu không có vị Kỳ đảo chủ này, thì việc cúng tế không thể thành công. Hình tượng vị thần này đầu có sừng nhọn, tay cầm búa sắt và cung, ngồi trên xe Trật tự (rta) đại chiến với La sát. Vị thần này có quan hệ mật thiết với Nhân đà la. Đến thời đại Vãng thế thư (Phạm:Puràịa, tức Thánh điển Phú lan đa, được soạn thành từ khoảng thế kỉ I đến thế kỉ X tr. TL), vị thần này chỉ có liên quan đến việc cúng tế mà thôi. Về sau, trong Ấn độ giáo, vị thần này trở thành thần Mộc tinh ngồi xe vàng 8 ngựa.

kỳ đặc phật đỉnh kinh

(奇特佛頂經) Cũng gọi Kỳ đặc kinh, Nhất tự kỳ đặc Phật đính kinh. Kinh, 3 quyển, do ngài Bất không (705 – 774) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về pháp tu của ngài Minh vương Nhất tự kỳ đặc Phật đính; uy lực của vị Minh vương này rất lớn, có thể chế phục các pháp tu khác. Kinh này lấy việc xua đuổi kẻ gây chướng ngại là Tì na dạ ca để thỏa mãn ý nguyện của người tu pháp làm chủ đề. Kinh này ở khoảng giữa thuần Mật giáo và tạp bộ Mật giáo, là pháp tu của người tại gia, đặc biệt thích hợp cho hàng vua chúa quí tộc.

kỳ đặc tối thắng kim luân phật đỉnh niệm tụng nghi quỹ pháp yếu

(奇特最勝金輪佛頂念誦儀軌法要) Nghi quĩ, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung nói về pháp tu của Nhất tự đính luân vương. Thứ tự của pháp tu này như sau: Tắm gội, Phật bộ tâm, Liên hoa bộ tâm, Kim cương bộ tâm, Giáp trụ hộ thân, Biệt sự, Át già, Phổ cúng dường, Tán, Phật nhãn, Bản tôn căn bản ấn minh, Đại từ phổ hộ, Chính niệm tụng,... Ở cuối quyển có phụ thêm Thủy đàn pháp.

Kỳ-bà

phiên âm từ Phạn ngữ là Jỵvaka, cũng đọc là Kỳ-vực, Kỳ-bà-già, là lương y nổi danh đương thời. Theo Phật thuyết Nại nữ Kỳ-bà kinh (Đại Chánh tạng quyển 12, kinh số 554) do ngài An Thế Cao dịch vào thời Hậu Hán thì Kỳ-bà là anh trai cùng cha khác mẹ với vua A-xà-thế, là con (không chính thức) của vua Tần-bà-sa-la (Bình Sa vương) với một người kỹ nữ. Ông theo học y thuật tinh thông, thường trị bệnh cho chúng tăng và là người am hiểu cũng như chí thành tin sâu Phật pháp.

Kỳ-bà-già

xem Kỳ-bà.

Kỳ-dạ

phiên âm từ Phạn ngữ là Geya, dịch nghĩa là trùng tụng, ứng tụng. Sau khi Phật thuyết giảng phần Khế kinh xong thì dùng những kệ tụng này để trùng tuyên, nói lại những nghĩa đã thuyết giảng, nên gọi là Trùng tụng. Xem thêm Mười hai bộ kinh.

Kỳ-vực

xem Kỳ-bà.

kỵ lư mịch lư

(騎驢覓驢) ........... Cỡi lừa tìm lừa. Đồng nghĩa với Kỵ ngưu mịch ngưu (cỡi trâu tìm trâu). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ví dụ người phàm phu không thấy được tính Phật nơi tâm mình, cứ rong ruổi tìm cầu bên ngoài, giống như người cỡi lừa đi tìm lừa, không biết rằng con lừa mình đang cỡi chính là con lừa mình muốn tìm. [X. Tắc 75 Thung dung lục, Thông huyền sao].

kỵ nguyệt

(忌月) I. Kỵ Nguyệt. Chỉ cho 3 tháng trường trai là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 88, thì trong 3 tháng này, trời Đế thích và Tứ thiên vương... thường xem xét thiện ác của nhân gian, bởi thế người đời phải giữ giới làm lành, không ăn sau giờ ngọ. [X. kinh Phạm võng Q.hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 4]. (xt. Tam Trường Trai Nguyệt). II. Kỵ Nguyệt. Tục gọi: Tường nguyệt. Chỉ cho tháng có ngày giỗ (kỵ). (xt. Tường Nguyệt).

kỵ ngưu quy gia

(騎牛歸家) Cõi trâu về nhà. Ví dụ người đã giác ngộ trở về với bản lai diện mục của chính mình, giống như mục đồng cỡi trâu về nhà. Đây là tên của bài tụng thứ 6 trong 10 bài tụng đề bức tranh Chăn trâu do ngài Khuếch am soạn, đã nói lên cái phong thái thung dung của người đạt đạo. Tụng rằng (Vạn tục 113, 460 thượng): Cỡi trâu lững thững trở về nhà, Tiếng địch chiều thu tiễn ráng xa Bát ngát bốn bề hương trầm tỏa Tri âm nào biết cõi lòng ta.

kỵ nhật

(忌日) Cũng gọi là Húy nhật, Mệnh nhật, Kỵ thần, Húy thần. Ngày tưởng nhớ người đã qua đời, tức ngày giỗ, ngày kị. Vào ngày này, thân nhân thường tránh các cuộc vui chơi, mà tổ chức pháp hội để tụng kinh làm những việc phúc thiện như bố thí, phóng sinh để cầu cho chân linh của người quá cố được siêu thoát. Ngày kị 1 tháng sau khi người chết gọi là Nguyệt nghị; sau 35 ngày gọi là Tiểu luyện kị; 49 ngày gọi là Đại luyện kị; ngày kị đúng tháng người chết hàng năm gọi là Chính kị, hoặc gọi là Tường nguyệt, Tường nguyệt mệnh nhật; ngày hôm trước của ngày Chính kị gọi là Túc kị; ngày Chính kị tròn một năm gọi là Tiểu tường kị; Nhất chu kị. Ngày chính kị tròn 2 năm gọi là Đại tường kị, Tam hồi kị. Ngoài ra, mỗi 7 ngày đặt trai hội, đến 49 ngày gọi là Trung ấm pháp yếu, đủ 100 ngày thiết trai hội gọi là Bách nhật. Nghi thức thiết trai tụng kinh vào ngày kị đã có từ thời xưa, trong kinh Phật ghi chép nhiều về pháp hội này. Như kinh Phạm võng quyển hạ nói, khi cha mẹ, anh em, Hòa thượng, A xà lê chết, trong vòng 21 ngày đến 49 ngày nên đọc tụng kinh luật Đại thừa. Danh từ Tiểu tường, Đại tường đã được ghi trong sách Lễ kí. Bởi vì Bách nhật và Đại, Tiểu tường kị, v.v... đều được Thiền gia mượn từ nghi lễ tang chế của Nho gia. Chẳng hạn như Đạt ma kị, Bách trượng kị, v.v... cũng có nghĩa là Kị nhật... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.33; Thích môn chính thống Q.4; Thích thị yếu lãm Q.hạ; Truyền pháp chính tông kí Q.5; điều Bách trượng kị trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Lễ ký lễ vấn truyện; Tề vương kỉ trong Ngụy chí Q.4; Hoàn huyền truyện trong Tấn thư liệt truyện thứ 69; Tăng đường thanh qui Q.4].

kỷ chứng

(己證) Cũng gọi là Tự chứng. Kiến giải hoặc cảnh giới mà mình tự chứng được và người khác khó có thể biết, pháp được mở bày từ kiến giải tự chứng này, gọi là Kỷ chứng pháp môn. Chỉ quán phụ hành quyền hoằng quyết quyển 3 phần 2 (Đại 46, 225 hạ), nói: Năm trăm vị tỉ kheo đều nói đúng chính pháp, mỗi vị đều nói lời tự chứng, lời nào cũng thuận theo ý mình. Luận Thành thực quyển 1 (Đại 32, 244 trung), nói: Phật pháp có thể tự chứng biết, nhưng không thể đem diều tự chứng biết ấy truyền cho người khác. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần trên]. (xt. Nội Chứng, Tự Chứng).

kỷ cương

(紀綱) I. Kỷ Cương. Cũng gọi Giám tự, Chấp sự. Chức vụ của vị tăng có trách nhiệm trông nom, xem xét tất cả các việc trong chùa. Phòng liêu của vị này gọi là liêu Kỷ cương. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. II. Kỷ Cương. Giềng mối, tức chức vụ của vị tăng nắm giữ kỷ cương, phép tắc trong tùng lâm. Là 1 trong tam cương. Ngoài ra, Kỷ cương còn là tên gọi khác của vị Duy na, cho nên liêu phòng của Duy na cũng gọi là liêu Kỷ cương. [X. môn điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

kỷ dã nhất nghĩa

(紀野一義) (1922 - ) Nhà học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Sơn khẩu. Năm 1948, ông tốt nghiệp môn Triết học Ấn độ tại Đại học Văn khoa Đông kinh. Ông từng giữ chức Tổng cán sự của hội Chân như, giáo sư Đại học Bảo tiên học viện. Ông được tặng bằng khen về việc truyền bá văn hóa Phật giáo. Ông có các tác phẩm: Pháp hoa kinh chi thám cầu, Đại thừa Phật giáo chi luân lí. Ngoài ra, ông còn dịch và chú thích Bát nhã tâm kinh, Kim cương bát nhã kinh và 3 bộ kinh Tịnh độ.

kỷ giới

(己界) I. Kỷ Giới. Đối lại với Chúng sinh giới. Chỉ cho Phật giới. Nghĩa là đối với chúng sinh, chư Phật cho mình là Kỷ giới. Đây là lời nói phương tiện tạm đặt ra để phân biệt giữa pháp nhiễm ô phiền não sinh tử của chúng sinh với pháp thanh tịnh giải thoát Niết bàn của chư Phật. II. Kỷ Giới. Chỉ cho tâm pháp. Kỷ giới cùng với pháp giới, chúng sinh giới hợp thành 3 pháp, hiển bày ý nghĩa Sinh(chúng sinh), Phật(chư Phật) là nhất như, bình đẳng không sai biệt. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao quyển 1 (Đại 37, 201 thượng), nói: Kỷ giới, pháp giới và chúng sinh giới bình đẳng. Kỷ giới tức là tâm pháp, pháp giới tức là Phật pháp, vì Phật lấy pháp giới làm thể cho nên đối với chúng sinh giới thành tựu 3 pháp. Tâm và chúng sinh ở tại nhân, còn Phật pháp ở tại quả, cả 3 không sai khác nên gọi là Nhất giới vô sai biệt giới(chỉ có 1 giới duy nhất không có giới nào khác).

kỷ hành

(紀行) Những đoạn kinh hoặc đoạn văn ghi chép về quá trình đi tham vấn, học đạo. Như trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27, đoạn ghi chép về cuộc hành trình của bồ tát Thường đề đến thành Chúng hương ở phương đông để cầu pháp Bát nhã ba la mật; phẩm Nhập pháp giới trong kinhHoa nghiêm đoạn nói về cuộc du hành của đồng tử Thiện tài đi tham vấn 53 vị thiện tri thức; bộ Phật quốc kí (Cao tăng Pháp hiển truyện) của ngài Pháp hiển, Sứ Tây vực ký của ngài Huệ sinh đời Bắc Ngụy, Nhập trúc kí của ngài Ngộ không đời Đường... đều thuộc về loại Kỷ hành.

kỷ tâm di đà

(己心彌陀) Cũng gọi Kỷ tâm tịnh độ, Tự tính di đà, Duy tâm di đà. Nghĩa là đức Phật A di đà và cõi Tịnh độ cực lạc của Ngài ở ngay trong tâm mình. Kinh Pháp bảo đàn (Đại 48, 352 trang) nói: Muốn làm Phật thì hướng vào tâm, chứ đừng tìm cầu bên ngoài. Đây là căn cứ vào lí Vạn pháp duy tâm, thập giới hỗ cụ để quán xét tâm mình mà hiển hiện được tự tính Di đà. Thông thường, nhóm từ này được dùng liền với Duy tâm Tịnh độ tức là: Kỷ tâm Di đà, duy tâm Tịnh độ(tâm mình là Di đà, chỉ có tâm là Tịnh độ). Đây là yếu lí mà các tông Thánh đạo như Thiên thai, Hoa nghiêm, Mật tông, Thiền tông... thường bàn luận. Nhưng quan điểm của Tịnh độ tông thì khác, đặt nặng về sự mà chủ trương Tịnh độ ở ngoài tâm. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao Q.1; Tông kính lục Q.29]. (xt. Duy Tâm Tịnh Độ).

kỷ tâm pháp môn

(己心法門) Pháp môn tu chứng trong tâm mình. Ma ha chỉ quán quyển 1 phần trên (Đại 46, 1 trung), nói: Pháp Chỉ quán này là pháp môn tu hành trong tâm mình do ngài Thiên thai Trí giả nói ra. Pháp môn mà chính mình thực sự cảm nhận được, thực sự chứng được nơi tâm mình, gọi là Kỷ tâm trung sở hành pháp môn.

kỹ nghệ thiên

(伎藝天) Cũng gọi là Kỹ nghệ thiên nữ. Vị Thiên nữ hóa thân từ chân tóc của trời Đại tự tại. Thiên nữ này giỏi về kỹ nghệ, hình tướng xinh đẹp, mặc áo trời, trang sức chuỗi ngọc anh lạc, 2 cổ tay đều đeo vòng xuyến, tay trái cầm 1 lẵng đầy hoa, tay phải đưa xuống làm như dáng nâng áo. Nếu người muốn cầu phúc đức thì phải tu pháp kỹ nghệ thiên nữ. Tại Nhật bản, từ xưa đến nay phần nhiều những người theo kỹ nghệ đều thờ cúng vị Thiên nữ này. Tượng Kỹ nghệ thiên ở chùa Thu tiểu tại Nhật bản, phần đầu được khắc vào thời đại Thiên bình, còn phần thân thì do Vận khánh làm vào thời Liêm thương. [X. Đồ tượng sao Q.9; Kỹ nghệ thiên nữ niệm tụng pháp].

kỹ nhạc

(伎樂) I. Kỹ Nhạc. Phạm:Vùdya. Âm nhạc. Kinh Thiệnsinh trong Trường a hàm quyển 11 cho rằng Kỹ nhạc có 6 điều lỗi, đó là: Cầu ca(thích hát), cầu vũ(ham múa), cầu cầm sắt(ưa gảy đàn), ba nội ti, đa la bàn, thủ ha na. Nhưng phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa quyển 1 và kinh Vô lượng thọ quyển hạ thì nói: Đem hương hoa, kỹ nhạc cúng dường. Như vậy, nếu kỹ nhạc được dùng với mục đích vui chơi giải trí, thì bị cấm chỉ, nhưng nếu dùng vào việc cúng dường thì được phép. [X. Đại đường tây vực kí Q.1]. II. Kỹ Nhạc. Cũng gọi Ngô nhạc. Một thứ nhã nhạc của Nhật bản. Vào thời đại Tam quốc, loại nhạc này từ nước Ngô được truyền qua Triều tiên rồi vào Nhật bản, vì thế gọi là Ngô nhạc. [X. Nhật bản thư kỉ Q.22, 29; Thánh đức thái tử truyện lịch Q.hạ]

la

1) Lưới bắt chim: A net for catching birds. 2) Sắp xếp theo thứ tự: To arrange in order. a) Nam La: Lara, Lata, or Lada (skt)—in Gujarat. b) Bắc La: Lara or Valabhi (skt)—On the western coast of Gujarat. 3) Chủng tử “Vô Úy Thí”: The seed of giving of “fearlessness.” 4) Bàn chuyện: To chatter. ; (邏) Cũng gọi Ha. Là chữ (la) trong 50 hoặc 42 chữ cái của tự mẫu Tất đàm. Phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 và phẩm Học tập kĩ nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 11, cho rằng chữ La trong tiếng Phạm latà có nghĩa là ái (yêu thương); khi hành giả Chân ngôn đọc chữ La này có thể dứt tất cả sự trói buộc của ân ái sinh tử. Tứ thập nhị tự quán môn trong kinh Hoa nghiêm cũng nói, khi xướng chữ La thì vào cửa Bát Nhã Ba La Mật thanh tịnh, giác ngộ tất cả pháp, ra khỏi thế gian, nhân duyên ái nhiễm không còn hiện khởi. Luận Đại trí độ quyển 48, giải thích chữ La trong tiếng Phạm Laghu nghĩa là khinh (nhẹ); tức là khi nghe chữ La thì biết tất cả pháp xa lìa tướng khinh trọng. Còn phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du Già Kim Cương Quán Đính và phẩm Cụ duyên trong kinh Đại Nhật quyển 2, thì cho rằng chữ La trong tiếng Phạm Laksana có nghĩa là hình tướng, tức là tất cả pháp, tất cả tướng đều bất khả đắc. Ngoài ra, phẩm Văn tự trong kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (Bản Nam) thì nói, La là Thanh văn thừa, chuyển động không ngừng, Đại thừa an định bất động, xả bỏ Thanh văn thừa mà tinh tiến tu tập pháp Đại thừa vô thượng. [X. phẩm Quán trong kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7; phẩm Tự mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng; Đại Nhật Kinh Sớ Q.7]. (xt. Tất Đàm Ngũ Thập Tự Môn). ; (攞) Phạm: La. Cũng gọi Trà. Là 1 trong 50 chữ cái của mẫu tự Tất đàm. Phẩm Tự mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Quyển thượng (Đại 14, 498 trung), nói: La là chữ cuối cùng trong 50 chữ cái Tất đàm, sau chữ này thì các pháp không thể diễn tả được nữa. Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển 8 (bản Nam) (Đại 12, 655 thượng), nói: La nghĩa là ma, vì vô lượng ác ma không thể phá hủy kho tàng bí mật của Như Lai nên gọi là La. Lại nữa, vì thị hiện tùy thuận thế gian mà có cha mẹ, vợ con nên gọi là La. Chữ màra, trong tiếng Phạm không có chữ La, nhưng trong kinh Phệ đà thì dùng chữ La, có khi biến hóa thành La. Chữ La này chính là từ ra (trong màra) chuyển hóa mà thành. ; (囉) Cũng gọi: Lạc, Lạt. Chữ Tất đàm (ra), 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái Tất đàm. Cứ theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính và phẩm Quảng thừa kinh Đại phẩm Bát Nhã quyển 5, thì chữ La nghĩa là tất cả pháp xa lìa nhiễm ô, trần cấu. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655 thượng), nói: Chữ La nghĩa là tất cả pháp lìa tất cả trần nhiễm. Tiếng Phạm La thệ nghĩa là trần nhiễm (bụi nhơ); trần là chỗ tạo tác của vọng tình, tức là sáu tình mắt, tai, v.v... tạo tác sáu trần sắc, thanh, v.v... Hễ thấy chữ La thì biết hết thảy pháp có thể thấy, nghe, chạm, biết đều là tướng trần, cũng như áo sạch bị bụi bặm làm bẩn. Như bụi trần lăng xăng dấy động, làm cho khoảng không mờ mịt, mặt trời, mặt trăng không sáng tỏ, đó là tướng của chữ La. Ngoài ra, theo phẩm Văn tự trong kinh Đại Bát Niết bàn quyển 8 (bản Nam), thì La có thể phá trừ 3 độc tham dục, sân hận và ngu si mà nói pháp chân thực. Lại theo phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4, thì La là tiếng nhàm chán sinh tử, ưa thích Đệ nhất nghĩa đế. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm Tự mẫu kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng].

la bà

Lava (skt)—Lạp Phược La Dự—Một khoảng thời gian ngắn (60 sát na bằng một hơi thở, 10 hơi thở bằng một la bà)—A division of time, an instant (60 ksanas are equivalent to a breath, 10 breaths are equal to one lava). ** For more information, please see Sát Na. ; (羅婆) Phạm: Lava. Cũng gọi Lạp phược, La dự, La dư. Đơn vị tính thời gian của Ấn độ. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, thì 120 sát na (Phạm:Ksana) là 1 đát sát na (tatksana), 60 đát sát na là 1 La bà, 30 la bà là 1 Tu du (muhùrta), 30 tu du là 1 ngày đêm. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17].

la bà hề đà thụ

(羅婆醯陀樹) Tên cây ở Ấn độ đời xưa. Cứ theo luật Tứ phần quyển 12, thì đức Phật đã từng ngăn cấm các tỉ khưu rang hột của cây La Bà Hê Đà để ăn, nếu ăn thì phạm tội Đột Cát La (tội nhẹ). Tuy luật Tứ phần nêu tên La Bà Hê Đà như trên, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được nó là loại cây gì. Trong Tứ Phần Luật sớ quyển 9, ngài Trí Thủ cho rằng La Bà Hê Đà tức là cây Bối Đa.

la bà na

Ravana (skt)—Vua của xứ Tích Lan trước đây, cai trị loài la sát, sau bị Ramacandra chế ngự—King of Ceylon and ruler of the Raksasas, overcome by Ramacandra.

la bị na

Ravana (skt)—Đòi hỏi—Demanding—Clamorous.

la bố lâm sá

(羅布林卡) Khu vườn ở bắc ngạn sông Lạp tát, ngoại ô thành phố Lhasa, thủ đô của Tây tạng. La bố, tiếng Tây tạng có nghĩa là bảo bối; Lâm ca nghĩa là vườn rừng. La bối lâm ca tức là vườn Bảo bối; cũng được dịch là Trân châu uyển(vườn châu báu). Năm Càn Long 20 (1755) đời Thanh, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 7 thiết lập khu vườn này làm nơi nghỉ ngơi trong mùa hạ. Về sau, khu vườn được mở mang rộng thêm và trở thành Hạ cung của các vị Đạt lai Lạt ma. Diện tích của khu vườn này là khoảng 360.000 mét vuông, bên trong có Tân cung, là nơi các vị Đạt lai Lạt ma giảng kinh.

la ca lăng

(羅迦陵) Người phụ nữ nổi tiếng ở Thượng Hải, Trung Quốc. Do chịu ảnh hưởng của các ông Khang Hữu Vi, Chương Thái Viêm, Địch Sở Khanh, v.v..., bà đã dốc sức làm việc Phật. Bà thỉnh Pháp sư Tông Ngưỡng chủ trì việc sắp chữ in tạng kinh Tần Già, lần đầu tiên ở Trung Quốc, Đại tạng kinh được in bằng lối sắp chữ, hết 4 năm công việc mới được hoàn thành. Sau đó, bà lại xin Pháp sư thiết kế kiến tạo thế giới Cực lạc trong vườn hoa Cáp Đồng đúng như thế giới Cực lạc được miêu tả trong kinh A Di Đà. Đây là một thắng cảnh của Phật giáo ở Thượng Hải. Rồi bà thỉnh Pháp sư Nguyệt Hà mở Đại học Hoa Nghiêm tại khu vườn này, tuy hoạt động không được bao lâu, nhưng là trường Đại học Phật giáo đầu tiên ở Thượng Hải.

la cà

To loiter—To loaf.

la cầu

Laghu (skt)—Ánh sáng—Light.

la duyệt

Rajagrha (skt)—La Việt—La Duyệt Kỳ Ca La—La Duyệt Yết Lê Hê—La Nha Ngật Bí Tư—Kinh đô Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà, nơi tổ chức Đại Hội Kết Tập Kinh Điển đầu tiên—The capital of Magadha, at the foot of the Grdhrakuta mountain, first metropolis of Buddhism and seat of the first synod. ** For more information, please see Vương Xá

la duyệt kỳ ca la

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la duyệt yết hê

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la dạ na

Maudgalyayana (skt)—See Ma Ha Mục Kiền Liên.

la hán

Arhan, arhat (skt)—A La Hán, quả vị cao nhất của Tiểu Thừa—Worthy, worshipful, an arhat, the saint, or perfect man of Hinayana. ** For more information, please see Arhat.

la hán giảng

(羅漢講) Cũng gọi La hán cúng, La hán hội, La hán bái. Pháp hội cúng dường, tán thán công đức của bậc La hán. Một trong 4 Tòa giảng. Cứ theo Phật Tổ Thống Kỉ quyển 33, thì lúc vào Niết bàn, đức Phật từng dặn dò 16 vị A la hán làm ruộng phúc cho các thí chủ. Các bậc A la hán ấy vâng lời đức Phật dạy, dùng thần thông kéo dài tuổi thọ. Nếu có thí chủ cung thỉnh chư tăng 4 phương mở hội Vô già nơi mình ở hoặc ở trong chùa, các bậc La hán cùng các quyến thuộc chia nhau đến tham dự, nhưng che giấu Thánh nghi, kín đáo nhận của cúng dường, khiến các thí chủ được quả báo thù thắng. Đây là nguồn gốc của pháp hội cúng dường La hán. Pháp hội này từ xưa đã lưu hành rộng rãi ở các chùa tại Trung Quốc. Như trường hợp Thiền sư Thúy Vi Vô Học đời Đường đã cử hành pháp hội Cúng dường La hán. Tại Nhật Bản, từ thời đại Liêm thương về sau, mỗi tháng, vào ngày Mồng 1 và Rằm đều có cử hành pháp hội cúng dường La Hán trong các chùa thuộc Tông Tào động. [X. Điều Thúy vi Vô học trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.14; Lâm an phủ Kính sơn Hưng thánh vạn thọ thiền tự ngữ lục kiến hội thướng đường trong Mật am Hàm kiệt Thiền Sư Ngữ Lục Q.thượng; môn Cúng tế trong Thiền lâm tượng khí tiên].

la hán hài

(羅漢鞋) Loại giày của chúng tăng sử dụng. Có nhiều loại: Hoặc bện bằng cỏ, hoặc may bằng vải, hoặc khâu bằng da, mặt giày trừ phần mũi ra, còn đều có lỗ vuông, cũng có khi không để lỗ. Về màu sắc thì có màu đen, màu xám tro, màu vàng, màu hạt dẻ, v.v... Khi đức Phật còn tại thế, Ngài đã cho phép chúng tăng mang giày. Cứ theo kinh Ương Quật Ma La quyển 4, tỉ khưu có thể mang giày làm bằng da bò. Cứ theo Thích Môn Qui Kính Nghi quyển hạ, tại Ấn Độ, khi chúng tăng vào tham yết bậc tôn trưởng, phải cởi giày để làm lễ. Ngoài giày ra, chúng tăng cũng được phép mang bí tất khi trời lạnh. [X. Luật Ngũ Phần Q.16; Luật Tứ Phần Q.16; Điều Trang bao trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui Q.5; điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui Q.6; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên].

La Hán Quế Sâm

(羅漢桂琛, Rakan Keichin, 867-928): tức Hòa Thượng Địa Tạng (地藏, Chizō), người vùng Thường Sơn (常山, Tỉnh Triết Giang), họ là Lý (李). Ông theo hầu Vô Tướng Đại Sư (無相大師) ở Thường Sơn Vạn Tuế Tự (常山萬歳寺), rồi sau đó có đến tham học Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺) và Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Nghĩa Tồn. Về sau, ông đến trú tại Địa Tạng Viện (地藏院) ở Tây Thạch Sơn (西石山), rồi sau chuyển đến La Hán Viện (羅漢院) ở Chương Châu (漳州, Tỉnh Phúc Kiến) và cử xướng Thiền phong của mình mạnh mẽ nơi đây. Chính vì vậy ông được gọi là La Hán Quế Sâm. Vào mùa thu năm thứ 3 (928) niên hiệu Thiên Thành (天成), ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 40 hạ lạp. Ông được ban cho thụy hiệu là Chơn Ứng Thiền Sư (眞應禪師).

la hán đường

Arhats Hall. ; (羅漢堂) Ngôi nhà thờ 16 hoặc 500 vị La hán. Bắt đầu từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, trong các chùa Thiền tông, Thiên thai tông đều có thiết lập La hán đường. Cứ theo Thích Thị Kê Cổ Lược quyển 4, vào năm Hi Ninh thứ 10 (1077) đời Bắc Tống, tượng của vị La hán thứ 13 trong 500 vị La hán thờ ở Sơn môn (cửa Tam quan) chùa Tướng Quốc được rước vào cung vua để cúng dường. Tại Nhật Bản cũng rất thịnh hành La hán đường.

la hầu (sao)

Rahu (skt)—La Hộ—La Hỗ—Tên của một ngôi sao che lấp mặt trời mặt trăng gây nên nhật thực và nguyệt thực—Name of a star, or a spirit (demon) that is supposed to seize the sun and moon and thus causes eclipses.

la hầu a tu la

Rahu-asura (skt)—La Hầu La A Tu La—Một loại A Tu La Vương hay đánh nhau với Trời Đế Thích để tranh giành và che lấp ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, gây ra cảnh nhật thực và nguyệt thực—The asura who in fighting with Indra can seize sun an moon, i.e. cause eclipses.

La Hầu La

(s, p: Rāhula, 羅睺羅): âm dịch là La Hỗ La (羅怙羅), La Hộ La (羅護羅), La Hống La (羅吼羅), Hạt La Hỗ La (曷羅怙羅), La Vân (羅雲,羅云), La Hầu (羅睺), v.v.; ý dịch là Phú Chướng (覆障), Chướng Nguyệt (障月), Chấp Nhật (執日), là con ruột của Đức Phật trước khi chưa xuất gia, một trong 10 vị đại đệ tử của Phật. Khi ông anh ra gặp lúc La Hầu La A Tu La Vương (羅睺羅阿修羅王) che đậy ăn mặt trăng và nhân vì ông ở trong bào thai mẹ 6 năm trường nên có tên là Chướng Nguyệt, Phú Chướng như vậy. Về mẫu thân của La Hầu La, các kinh điển đề cập không thống nhất với nhau, có kinh cho là Cù Di (瞿夷), hoặc có kinh cho là Da Du Đà La (s: Yaśodharā, p: Yasodharā, 耶輸陀羅). Theo Vị Tằng Hữu Nhân Duyên Kinh (未曾有因緣經) quyển thượng, sau khi thành đạo, Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), viếng thăm dòng họ Thích Ca. Lúc ấy, La Hầu La theo xuất gia, thọ giới, trở thành Sa Di, tôn Trưởng Lão Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) làm Hòa Thượng dẫn dắt, Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連) là A Xà Lê. Ông được xem như là vị Sa Di (s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera, 沙彌) đầu tiên của Phật Giáo. Khi đang tu tập với tư cách là Sa Di, cũng có xảy ra vài việc không đúng pháp, ông được Phật giáo huấn, chỉ bảo nên sau đó tuân thủ nghiêm mật, không sai phạm, tinh tấn tu tập và chứng quả A La Hán, được mọi người xưng tán là Mật Hạnh Đệ Nhất. Theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp Trú Ký (大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記, bản Hán ngữ là Pháp Trú Ký), ông được liệt vào hàng thứ 11 trong 16 vị La Hán, cùng với 1.100 A La Hán quyến thuộc, phần lớn trú tại Tất Lợi Dương Cù Châu (s: Priyaṅgu, 畢利颺瞿洲) để hộ trì chánh pháp và làm lợi ích cho chúng hữu tình.

la hầu la

Rahula (skt)—Còn gọi là La Vân, La Hống La, La Hầu, Hạt La Đỗ La, Hà La Hỗ La, hay La Hỗ La—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, La Hầu La là đứa con duy nhất của Đức Phật và công chúa Da Du Đà La. Người ta nói La Hầu La ở trong thai mẹ đến 6 năm, và được hạ sanh trong đêm Đức Phật thành đạo (ngày 8 tháng chạp âm lịch). Cha của ngài không thấy mặt ngài cho đến khi ngài được 6 tuổi. Lúc mới xuất gia ngài theo Tiểu Thừa, nhưng sau khi nghe Đức Phật thuyết tối thượng thừa pháp trong pháp hội Pháp Hoa, ngài đã theo Đại Thừa. Ngài luôn tái sanh làm con lớn của các vị Phật. Có chỗ cho rằng La Hầu La sanh ra trước khi Đức Phật xuất gia và sau nầy trở thành một trong mười đại đệ tử của Đức Phật—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Rahula was the only son of Sakyamuni and Yasodhara. He is supposed to have been in the womb for six years and born when his father attained Buddhahood; also said to have been born during an eclipse, and thus acquired his name, though it is defined in other ways; his father did not see him till he was six years old. He became a disciple of the Hinayana, but is said to have become a Mahayanist when his father preached this final perfect doctrine, a statement gainsaid by his being recognized as founder of the Vaibhasika school. He is to be reborn as the eldest son of every Buddha, hence is sometimes called the son of Ananda. Another source said that Rahula was born before the Buddha's renunciation of the world. Later he became one of the ten great disciples of the Buddha. ** For more information, please see Rahula in English-Vietnamese Section, Rahula in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Xuất Gia in Vietnamese-English Section. ; (羅睺羅) I. La Hầu La. Phạm: Ràhula. Cũng gọi La hộ la, La hỗ la, La hống la, Hạt la hỗ la, La vân. Hán dịch: Phú Chướng (ngăn che), Chướng Nguyệt (che mặt trăng), Chấp Nhật (nắm giữ mặt trời). Vị A La Hán mật hạnh đệ nhất, là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. Thân phụ Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa (tức là đức Phật khi chưa xuất gia), thân mẫu là Da Du Đà La. Khi sinh Ngài nhằm lúc La Hầu La, A Tu La vương lấy tay che mặt trăng, nên đặt tên là Chướng nguyệt; lại vì ở trong thai mẹ 6 năm, bị thai mẹ che lấp, nên có tên là Chướng nguyệt, Phú chướng. Còn về người sinh ra Ngài thì các kinh nói cũng khác nhau, có thuyết cho là bà Cù Di, có thuyết cho là bà Da Du Đà La. Cứ theo kinh Vị Tằng Hữu Nhân Duyên quyển thượng, thì đức Phật thành đạo sau 6 năm mới trở về thành Ca Tì La Vệ độ cho La Hầu La xuất gia thụ giới, y vào tôn giả Xá Lợi Phất làm Hòa thượng và tôn giả Mục Kiền Liên làm A xà lê. Ngài là vị Sa di đầu tiên trong giáo đoàn của đức Phật. Lúc còn là Sa di, Ngài làm nhiều điều không đúng pháp, được đức Phật răn dạy, phải nghiêm giữ giới luật, tinh tiến tu hành, sau Ngài chứng được quả A la hán. Cứ theo Đại A La Hán Nan Đề Mật Đa La Sở Thuyết Pháp trụ kí, thì Ngài được liệt vào vị trí thứ 11 trong 16 vị A la hán, cùng với 1100 vị A la hán quyến thuộc cùng ở tại châu Tất Lợi Dương Cù (Phạm: Priyaígu), giữ gìn chính pháp, làm lợi ích hữu tình. [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 8; kinh Phật bản hạnh tập Q.55; kinh Thập nhị du; luật Tứ phần Q.11; Chú duy ma cật kinh Q.3; Pháp hoa huyền tán Q.1]. II. La Hầu La. Gọi đủ: La hầu la bạt đà la. Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông Ấn Độ. (xt. La Hầu La Bạt Đà La).

la hầu la a tu la

Rahu-asura (skt)—See La Hầu A Tu La. ; (羅睺羅阿修羅) Phạm: Ràhuasura. Gọi tắt: La hầu a tu la. Hán dịch: Chướng nguyệt; Chấp nhật. Khi đánh nhau với trời Đế thích, A tu la vương dùng tay che ánh sáng của mặt trời mặt trăng, cho nên có tên là Chướng nguyệt. Là 1 trong 4 loại A tu la vương. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 18 đến quyển 21 có nói rõ chỗ ở, cung điện, vườn hoa, người hầu, thể nữ, nghiệp nhân và thọ mệnh của 4 Đại A tu la vương. Theo đó, thì La hầu la A tu la vương này ở trong thành Quang Minh, tầng đất thứ 1 dưới đáy biển, thân hình to lớn bằng Tu di sơn vương. Thành Quang Minh rộng 8.000 do tuần, vườn rừng phòng xá đều được trang hoàng bằng các thứ báu. Khi A tu la vương đưa tay che ánh sáng mặt trời thì thành nhật thực, che ánh sáng mặt trăng thì thành nguyệt thực. Còn về nghiệp nhân, trong đời quá khứ, khi còn là 1 người Bà la môn, trông thấy tòa tháp bị cháy liền dập tắt lửa vì thế tòa tháp không bị hư hại, nhờ phúc đức ấy mà được quả báo thân hình to lớn. Nhưng vì không tin chính pháp, chẳng chính tư duy, chẳng tu chính nghiệp, thường thích đánh nhau cho nên sau khi chết bị rơi vào đường A tu la. [X. phẩm A tu la kinh Khởi thế Q.5].

la hầu la bạt đà la

(羅睺羅跋陀羅) Phạm: Ràhulabhadra. Gọi tắt: La hầu la đa, La hầu la. Sư là người nước Ca tì la thuộc Ấn Độ, họ Phạm ma, sống đồng thời với ngài Long Thụ, là Tổ phó pháp thứ 16 của Thiền tông Ấn Độ. Tuổi niên thiếu, sư xuất gia ở chùa Na lan đà, y vào ngài Hắc giả (Tạng: Nag-po) thụ giới Cụ túc, học Thanh văn thừa. Sau, sư theo ngài Vô phân biệt giả (Tạng: Rnampar mi rtog-pa) học Đại thừa và Mật thừa, đồng thời, thông suốt tông nghĩa Trung quán. Sư thị giả tổ thứ 15 là Ca na đề bà, chứng được lí giai không và được truyền tâm ấn. Sau khi tổ Đề bà viên tịch, sư kế thừa Pháp tọa của Ngài, giáo hóa tăng chúng ở chùa Na lan đà. Sau, sư phó pháp cho ngài Tăng già nan đề. [X. Trung quán luận sớ Q.3 phần đầu; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2; Bảo lâm truyện Q.3; Ấn Độ triết học nghiên cứu Q.1].

la hầu la đa

Rahulata (skt)—La Hầu La Đa của thành Kapila, là vị tổ thứ 15, người đã tự di chuyển một cách kỳ diệu đến vương quốc Sravasti, nơi đó ngài đã thấy bóng năm vị Phật trên đỉnh Hiranyavati—Rahulata of Kapila, the sixteenth patriarch, who miraculously transported himself to the kingdom of Sravasti, where he saw on the Hiranyavati the shadow of five Buddhas.

la hống la

Rahula (skt)—See La Hầu La.

La Hồ Dã Lục

(羅湖野錄, Ragoyaroku): 2 quyển, do Trọng Ôn Hiểu Oánh (仲溫曉瑩) nhà Tống biên tập. Dựa trên tiêu chuẩn của bộ Tông Môn Võ Khố (宗門武庫) của thầy mình Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲), Hiểu Oánh thâu tập những cơ duyên nhập đạo của chư vị tiên đức tông sư và các giai thoại, hành trạng của những bậc hiền sĩ để hình thành nên tác phẩm này. Quyển thượng thâu lục 43 vị và quyển hạ 48 vị. Bộ này có lời tựa ghi năm thứ 25 (1155) niên hiệu Thiệu Hưng (紹興), kèm theo lời bạt của Vô Trước Ni Diệu Tổng Trưởng Lão (無著尼妙總長老).

la hồ dã lục

(羅湖野錄) Tác phẩm, 2 quyển, do sư Hiểu Oánh soạn vào đời Tống, được thu vào Vạn Tục Tạng tập 142. Nội dung sách này gồm có gần 100 thiên, ghi chép các công án Thiền môn đương thời và những cơ phong ngữ cú của sư gia, cùng những câu chuyện có thực của các vị tăng tục nên rất có giá trị lịch sử. Từ xưa, bộ sách này rất quan trọng trong chốn tùng lâm, là kim chỉ nam cho những người học. Nó được liệt vào 1 trong 7 bộ sách quí của Thiền môn. Sư Hiểu Oánh là đệ tử nối pháp của ngài Đại tuệ Tông cảo, sư từng đi tham vấn khắp các tùng lâm. Lúc về già, sư ẩn cư tại La Hồ, Lâm Xuyên, tỉnh Giang Tây để soạn bộ sách này, vì thế nên tác phẩm mang tên La Hồ Dã Lục. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Đại minh cao tăng truyện Q.8; Tục truyền đăng lục Q.32].

la hỗ

Rahu (skt)—See La Hầu.

la hộ

Rahu (skt)—See La Hầu.

la hộc

(羅縠) Một thứ vải lụa mà ta thường gọi là sa, the, rất mỏng. Trong Phật giáo, nó được dùng để ví dụ cho phiền não rất nhỏ nhiệm, tinh vi. Tổ Đình Sự Uyển quyển 1 (Vạn tục 113, 3 hạ), chép: Hoa Nghiêm kinh sớ nói: Trí của Bồ tát khác với trí của Phật, như người mắt sáng nhìn thấy cảnh tượng qua lớp the mỏng. Nghĩa là sự thấy tính của Bồ tát và Phật không giống nhau. Lâm Quang Lục quyển thượng (Vạn tục 148, 298 thượng), nói: Đến như bậc Thánh Thập địa thuyết pháp như mây, như mưa mà còn bị Phật quở trách là thấy tính còn cách 1 lớp the mỏng (la hộc).

la khất sái

See La Ngật Sái. ; (邏乞洒) Phạm: Laksana. Cũng gọi La khất tiêm noa. Hán dịch: Tướng(hình tướng của sự vật), đặc trưng. Đại Nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 655 thượng), ghi: Tiếng Phạm: La cật sái, Hán dịch là Tướng. (...) Các pháp tuy vô thường, vô ngã, nhưng mỗi mỗi đều có tướng. Như đất thì cứng chắc, nước thì ẩm ướt, lửa thì nóng, gió thì động, v.v... Xả là tướng của sự bố thí, không hối hận, không phiền não là tướng của sự trì giới. (...) Không tạo tác là tướng của Niết bàn.

la ma

Rama (skt). 1) Hỷ hay hỷ lạc: Delightful—Joyful. 2) Tên của một loài cây nhỏ: Name of a grove. ; (羅摩) Phạm: Ràma. I. La Ma. Nhân vật chủ chốt trong thiên Anh hùng ca La Ma Da Na (Phạm: Ràmàyaịa) của Ấn Độ thời xưa, là con trưởng của Quốc vương Đạt Tát Lạp Tháp (Phạm: Dazaratha) nước Kiêu Tát La (Phạm:Kauzala), bị đuổi vào rừng trong 14 năm, vợ là Tư Đa (Phạm: Zìtà) đi theo, giữa đường bị ma vương bắt mất, do đó đưa đến chiến tranh. Sau nhờ sự giúp đỡ của thần khỉ (Phạm: Hanumat) vợ chồng mới được đoàn tụ và trở về làm vua nước Kiêu Tát La. Cứ theo truyền thuyết, La Ma là hóa thân lần thứ 7 của thần Tì Thấp Nô, do nhận sự ủy thác của các thần, sinh xuống nhân gian để hàng phục ác quỉ. La Ma cùng với Tư Đa mở ra cuộc sống oai hùng xán lạn ở nhân gian, thể hiện tư tưởng vừa có tính luân lí lại vừa có tính lãng mạn của Ấn Độ cổ đại. Sau, La Ma trở thành một nhân vật điển hình cao nhất được toàn thể dân tộc Ấn Độ, nhất là giới Vương tộc, Vũ sĩ, sùng bái như vị thần được nhân cách hóa. Bởi vì người Ấn Độ coi La Ma là 1 vị anh hùng dân tộc cũng coi đó là hóa thân của thần Tì Thấp Nô, là đấng Phạm tối cao thường trụ, cho nên lại càng tôn kính để rồi sau đã hình thành 1 phái trong Ấn Độ giáo, gọi là phái La Ma. Giáo lí của phái này được xác lập vào khoảng thế kỉ XIII, XIV Tây lịch dựa trên bộ sách Adhyàtmaràmàyaịa. Phái này chủ yếu thịnh hành ở miền Nam Ấn Độ, sau do La Ma Nan Đà truyền bá ở miền Bắc. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; kinh Lục Độ Tập Q.5; kinh Đại Thừa Nhập Lăng Già Q.7; kinh Phật Bản Hạnh tập Q.7]. II. La Ma. Tên vị thần trong Ấn Độ giáo. Là một dũng sĩ xuất thân từ dòng Bà la môn, chuyên cầm một cây búa lớn nên gọi là Trì phủ La Ma (Phạm: Parazuràma, La ma cầm búa). Tương truyền, vị thần này là hóa thân lần thứ 6 của Tì Thấp Nô (Phạm:Visnu). III. La Ma. Anh của vị trời Cát Lật Sắt Noa (Phạm: Krsna, Hắc thiên), vị trời này thường dùng lưỡi cày làm vũ khí nên gọi là Đại Lực La Ma (Phạm: Balaràma).

la ma da na

(羅摩耶那) Phạm:Ràmàyaịa. Cũng gọi La ma diễn na. Hán dịch: La ma du kí, La ma truyện, La ma bình sinh, La ma sở hành truyện. Đại tự sự thi tiếng Phạm của Ấn Độ đời xưa, do thi nhân Ngõa Lặc Mễ Kì (Phạm: Vàlmìki), phỏng theo những đề tài thần thoại, truyền kì mà biên soạn thành vào khoảng thế kỉ V đến thế kỉ III trước Tây lịch. Toàn bộ sách có 7 thiên, 24.000 bài tụng, nhưng bản đã được hiệu đính kĩ lưỡng thì chỉ còn trên 19.000 bài tụng. Mỗi bài tụng có 2 hàng, mỗi hàng có 16 âm tiết. Trong 7 thiên thì thiên thứ 1 và thứ 7 có lẽ là ngụy tác được phụ thêm vào khoảng thế kỉ II Tây lịch. Nội dung viết về cuộc đời Vương tử La Ma nước Kiêu Tát La, vì Vương hậu ghen ghét nên bị đuổi đi suốt 14 năm, do đó mà mở ra cuộc sống anh dũng, mạo hiểm. Lấy tình yêu giữa La Ma và vợ là Tư Đa làm trung tâm, cùng với tình bạn của người em là La Thập Mạn Na (Phạm: Lakwmaịa), sự trung thành của thần khỉ Cáp Nô Man và hành động hung bạo của Ma vương La Phạt Noa (Phạm:Ràvaịa), v.v... đã tạo thành một sắc thái thần thoại và truyền kì rất sâu đậm. Nhờ thi phẩm này mà La Ma đã được toàn dân Ấn Độ sùng bái như 1 vị anh hùng dân tộc, đặc biệt được giáo phái Tì Thấp Nô cung kính, coi như hóa thân của thần Tì Thấp Nô. Sử thi này được lưu truyền ở lưu vực sông Hằng, Nam Ấn Độ, đến đảo Tích Lan, có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học, nghệ thuật Ấn Độ và vùng Đông Nam Á. [X. H. Jacobi: Das Ràmàyaịa, 1893; Baumgartner: Das Ràmàyaịa und die Ràmaliteratur der Inder, 1894; V. Fausbôll: Indian mythology, 1902; E.W. Hopkins: Epic mythology, 1915].

la ma già

Nhập pháp giới (phẩm Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm)—Entering the realm of the law. ; (羅摩伽) Hán dịch: Nhập pháp giới. Là dịch âm tiếng Phạm của phẩm Nhập Pháp Giới trong kinh Hoa Nghiêm. La, nghĩa là xa lìa sự cáu bẩn; Ma, nghĩa là chuyển biến; Già, nghĩa là hợp nhất. Tức là xa lìa cáu bẩn, hướng đến thế giới trong sạch. Còn hợp nhất nghĩa là nhập (vào). Ngoài ra, kinh La Ma Già (3 quyển) do ngài Thánh Kiên dịch vào đời Tây Tấn là bản dịch khác của phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm. [X. Hoa Nghiêm Huyền Đàm Q.8].

la ma khắc lợi tu na

(羅摩克利須那) (1834-1886) Phạm: Ramakrishna Paramahansa. Cũng gọi Lạp khắc lợi tu na. Vốn tên là Gadàdhar Chatterji, Cattopàdhyàya. Nhà cải cách tông giáo của Ấn Độ thời cận đại, Ông xuất thân trong 1 gia đình Bà la môn nghèo ở vùng Bengal, có niềm tin rất nhiệt thành đối với nữ thần Già Lê (Phạm: Kàlì). Ông từng tu hành trong rừng rậm 12 năm, thể chứng tam muội khế hợp với Thần. Ông còn tu Du già, thoát li trần tục, đổi tên là La Ma Khắc Lợi Tu Na (người học thức sâu rộng, vượt ra ngoài thế tục). Ông từng so sánh tư tưởng Hồi giáo, Cơ đốc giáo với tư tưởng Âu tây cận đại, rồi kết luận rằng: Tất cả chỉ là khác đường nhưng cùng đi đến 1 mục đích. Nghĩa là tôn chỉ tối cao của tông giáo đều là chân lí, đều đạt đến chỗ hợp nhất với thần, nếu có khác nhau thì chỉ là hình thức, tên gọi, sự lựa chọn và con đường đi tới mà thôi. Từ lập trường bao dung này ông chủ trương Tông giáo nhân loại và đề xuất 6 đặc điểm sau đây: 1. Tất cả tông giáo đều là chân và thiện. 2. Thần là phi nhân cách, không thể biết, phi lí luận, trùm khắp vũ trụ; linh hồn của nhân loại tức là thần thánh chân chính. 3. Sùng bái hình tượng là 1 hình thức sùng bái tinh thần toàn thiện. 4. Mỗi yếu tố của Ấn Độ giáo đều có giá trị của nó, không thể sửa đổi một cách khinh suất được. 5. Dân tộc Ấn Độ kế thừa di sản văn hóa tinh thần cổ xưa nhất, vượt cả thuyết vô lí tính của Âu tây hiện nay và không bao lâu sẽ lãnh đạo văn hóa tinh thần của toàn thế giới. 6. Nền văn minh vật dục lợi kỉ của Âu Mĩ khiến con người sa đọa, dân tộc Ấn độ nên giữ gìn nền văn hóa và tông giáo của mình, đồng thời tiếp thu rộng rãi văn hóa và giáo dục của Âu tây có chắt lọc để cùng đưa thế giới đến lí tưởng đại đồng. Sau khi ông qua đời, đệ tử của ông gom chép những lời dạy của ông mà biên tập thành bộ La Ma Khắc Lợi Tu Na Ngữ Lục gồm 4 thiên. Về sau, người đệ tử lớn của ông là Vivekànanda thừa kế chí của thầy mình, vào năm 1897 sáng lập Hội truyền đạo La Ma Khắc Lợi Tu Na (The Ramakrishna Mission), nhằm thực hiện được lí tưởng Tông giáo nhân loại của ông.

la ma khắc lợi tu na ngữ lục

(羅摩克利須那語錄) Sayings of Sri Ramakrishna Cũng gọi La Ma Khắc Lợi Tu Na Phúc Âm. Ngữ lục của ông Ramakrishna do Hội truyền đạo La Ma Khắc Lợi Tu Na biên tập và ấn hành, là tư liệu duy nhất để nghiên cứu tư tưởng của Khắc Lợi Tu Na. Nội dung gồm 1120 hạng mục được chia làm 4 thiên: Nhân loại và thế giới, Hướng đi lên của nhân loại, Nhân loại và Thần cách, Châm ngôn và Thí dụ. [X. Mahendranath Gupta: The Gospel of Sri Ramakrishna (in Bengali) 1912; Max Müller: Ramakrishna, his Life and Sayings].

la ma ấn độ

Sông La Ma phát nguồn từ A Phú Hãn—Helmend, a river rising in Afghanistan.

la môn

See Brahmana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

la mạn na phái

(羅曼那派) Pàli: Ràmaĩĩa-nikàya. Cũng gọi Lam man nặc phái, Mông tộc phái. Tông phái Phật giáo thuộc Nam truyền Thượng tọa bộ ở Tích Lan do Ambagahawatta indasabha, thuộc phái A Ma La Phổ La sáng lập. Là 1 trong 3 tông phái lớn của Phật giáo Tích Lan. Vì bất mãn với sự hạn chế về chủng tính trong việc thụ giới trong giáo đoàn, nên tỉ khưu Ambagahawatta indasabha mới đến vùng La Mạn Na của Miến Điện sáng lập ra phái này. Năm 1864, phái này từ hạ Miến Điện truyền vào Sri Lanka, có khoảng hơn 2000 tỉ khưu. Chùa viện chủ yếu của phái này hiện nay ở vùng phụ cận Ca Lô Tháp Lạp ở Sri Lanka. Hệ thống tổ chức của phái này là trên hết có 1 vị Đại trưởng lão làm chủ tịch, thống lãnh chúng tăng bản phái trong toàn quốc, dưới có 4 vị phó chủ tịch, kế đó chia làm 2 ban: Sự vụ nghị hội và Tăng già nghị hội. Phái này qui định tỉ khưu xuất gia trọn đời, không thực hành chế độ xuất gia trong thời gian ngắn, hơn nữa, người xuất gia không phân biệt chủng tộc, hòa hợp đoàn kết, giới luật tinh nghiêm; khi đi ra phải cầm lá đa la(lá bối)để che nắng; không được đi vào đền thờ của người Ấn Độ giáo và tham dự nghi lễ của họ; không được đến lễ bái chùa Phật nha (chùa thờ răng của đức Phật)ở thành phố Khảm Để (Kandy); không được bố thí cho các tỉ khưu thuộc giáo phái khác, không tin thờ bất cứ vị thần linh nào khác ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tăng chúng phái này rất sùng thượng học vấn nên đã sản sinh khá nhiều bậc thạc học. Về sau, phái này chia ra làm 3 chi phái là: A Lặc Sa (Akuresa), Am Nhĩ Yết Lợi Ngõa (Elgiriva) và Khả Luân Pha (Colombo).

la mắng

To rebuke—To scold.

la ngạ

Raga (skt)—Tham dục—Desire—Covetousness.

la ngật sái

Laksana (skt)—Tướng trạng của sự vật—A distinguishing mark, sign, or characteristic.

la ngộ không

(羅悟空) (1442-1527) Cũng gọi: La Nhân, La Thanh, La Tĩnh, La Thanh Am, tự Hoài Thanh, Ái Tuyền, hiệu Vô Vi Cư Sĩ, Tĩnh Khanh, Mạnh Hồng, Nhất Thanh đạo nhân, pháp hiệu Phổ Nhân, người Lao Sơn, Tức Mặc, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Là vị Khai tổ của Vô Vi Giáo, sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, 3 tuổi cha qua đời, 7 tuổi mất mẹ, nhờ được chú là La khuê nuôi nấng, đốn củi mưu sinh, nếm đủ mùi đắng cay nhân thế. Năm 14 tuổi sư thay thế cho chú đi theo quân dẹp loạn người Vu ở Vân vệ. Sau khi xuất ngũ về làng, có chí xuất thế, liền qui y Phật pháp. Mới đầu, sư tu theo pháp môn Tịnh độ, niệm Phật 8 năm, tự cảm thấy không khế hợp, bèn chuyển sang nghiên cứu khoa nghi Kim cương bát nhã và đi tham vấn khắp nơi. Sau, sư đến động Bạch Vân ở núi Cửu Hoa tại phủ Trì Châu lễ ngài Lí Đầu Đà thuộc tông Lâm Tế làm thầy, được ban cho pháp danh là Chân Tuệ, hiệu Ngộ Không. Từ đó, ngày đêm sư chuyên tâm tinh tiến tọa thiền. Năm 41 tuổi (có thuyết nói 52 tuổi, hoặc 67 tuổi)sư thấu suốt pháp môn tâm địa, tỏ ngộ được thực tướng các pháp. Sau, sư căn cứ vào tư tưởng kinh Kim Cương Bát Nhã tuyên dương pháp vô vi giải thoát, hoằng truyền tông phong tự học thanh tu, có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa. Đầu tiên, sư đến Bắc Kinh hóa độ nhóm các ông Lưu Mộc Thông, v.v... pháp duyên rất thịnh, từng được vua Vũ Tông nhà Minh ban hiệu là Tề Thiên Đại Đức Hộ Quốc Chân Nhân và được thỉnh thuyết pháp ở điện Kim loan. Không bao lâu, vì số người tin theo sư quá đông, bị ghen ghét và sàm tấu, nên sư bị bắt giam mấy năm. Sau khi ra tù, sư đến Bắc Kinh kiến lập đạo tràng bạch y. Sư mất vào năm Gia Tĩnh thứ 6. Sư có các tác phẩm: Khổ Công Ngộ Đạo, Thán Thế Vô Vi, Phá Tà Hiển Chính Thược Thỉ, Chính Tín Trừ Nghi Tự Tại, Ngộ Đạo Hành Cước Kí.

la nha ngật bí tư

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la nhã

Raja (skt)—Quốc vương—A king.

la phù sơn

(羅浮山) Núi ở phía tây bắc huyện Bác la, phía đông Quảng châu, tỉnh Quảng đông, Trung quốc. Núi này dài hơn 280 cây số, có hơn 400 ngọn, thắng cảnh ở vùng Lĩnh nam, nổi tiếng thiêng liêng linh dị. Trong núi có rất nhiều chùa viện Phật giáo và nhà thờ của Đạo giáo. Cứ theo Thái bình ngự lãm quyển 41, thì La phù là tên gọi chung 2 núi La sơn và Phù sơn, chính nơi đây ông Cát hồng đời Tấn đã được đạo tiên và nhà văn Tạ linh vận làm bài phú La phù sơn rất nổi tiếng. Về phương diện lịch sử Phật giáo, tương truyền, vào đời Đông Tấn, sa môn Đơn đạo khai ở Đôn hoàng là người đầu tiên đến núi La phù. Về sau, chư tăng đến đây ngày càng đông, như các ngài: Chi pháp phòng, Tăng cảnh, Đạo tiệm, Tuệ viễn, Tuệ trì, v.v... Đời Lưu Tống thuộc Nam triều, có ngài Tuệ lãm trụ trì chùa Thiên cung, đời Lương, ngài Trí dược sáng lập chùa Bảo tích ở núi này. Ngoài ra còn có các chùa Diên tường, Nam lâu, Long hoa, Tư phúc, Hoa thủ, Hoa nghiêm, Đại từ, Diên khánh, v.v... và các vị danh tăng các đời như: Hi thiên, Duy nghiễm, Đại điên, Hạnh minh, v.v...đều đã từng chú tích núi này. [X. La phù chí (do Trần liễn soạn vào đời Minh, Trần bá đào đời Thanh bổ sung thêm)].

la quí

Trưởng lão La Quí (852-936)—Senior Venerable La Quí (852-936)—Trưởng lão La Quí sanh năm 852 tại An Chân, Bắc Việt, pháp tử đời thứ mười dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư quê ở An Châu. Thuở nhỏ sư đi du phương tìm thầy học thiền. Sau sư gặp Thiền Sư Thông Thiện và trở thành một trong những đệ tử nổi tiếng của thiền sư Thông Thiện tại chùa Thiền Chúng. Sau khi Thầy thị tịch, sư dời về chùa Song Lâm ở Thiên Đức tiếp tục hoằng hóa đến khi thị tịch vào năm 936 sau Tây Lịch—Senior Venerable La Quí was born in 852 in An Chân, North Vietnam, the the Dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect, a Vietnamese monk from An Chân. He wandered to seek good and famous zen masters since he was young. Later he met Zen master Thông Thiện at Thiền Chúng Temple and became one of his most outstanding disciples. After his master passed away, he moved to stay at Song Lâm Temple in Phù Ninh, Thiên Đức to expand Buddhism until he died in 936 A.D.

La Quý An

羅貴安; 852-936|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Thông Thiện. Môn đệ kế thừa của Sư là Thiền Ông Ðạo Giả.|Sử sách chẳng viết nhiều về Sư, chỉ biết Sư họ Ðinh, tham vấn nhiều nơi nhưng không khế hợp. Sau, Sư đến Thiền sư Thông Thiện tại chùa Thiền Chúng và nơi đây nhân một câu của Thông Thiện ngộ đạo.|Thông Thiện sắp tịch gọi Sư đến dạy: »Thầy ta là Ðịnh Không từng dặn dò rằng: ›Con khéo giữ gìn pháp của ta, gặp người họ Ðinh hãy truyền‹. Ngươi gắng đảm đang lấy, nay ta đi«|Sau khi đắc pháp, Sư chu du tuỳ duyên giáo hoá và theo lời dạy của Thông Thiện hành đạo.|Niên hiệu Thanh Thái thứ 3 đời nhà Ðường, sau khi phó chúc cho đệ tử là Thiền Ông xong, Sư an nhiên thị tịch, thọ 85 tuổi.

la sát

Rakshas or Raksasa (skt). 1) Ma quỷ trông khiếp đảm, có thân hình đen ngòm, tóc đỏ, mắt xanh. La sát nổi tiếng sát hại sát hại con người—A terrifying ghost or demon with black body, red hair, and green eyes. Rakshas are reputed to be devoured of humans. 2) Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms: a) La Sát là tên chỉ chung các loài ác quỷ hung bạo; có lúc kém hơn Dạ Xoa, có lúc tương tự—Raksasa means harm, injury, maglinant spirits, demons; sometimes considered inferior to Yaksas, sometimes similar. b) La Sát là tên của một dân tộc man rợ thời cổ ở Ấn Độ: A barbarian race of ancient India. ; (羅刹) Phạm: Ràkwasa. Cũng gọi La sát sa, La xoa sa, La khất sát sa, A lạc sát sa. Hán dịch: Khả úy, Tốc tật quỉ, Hộ giả. Nữ tính thì gọi: La sát nữ, La xoa tư (Phạm: Ràkwasìcũng gọi La sát tư). Loại ác quỉ trong thần thoại Ấn độ, thấy được ghi sớm nhất trong Lê câu phệ đà. Tương truyền, La sát vốn là tên gọi thổ dân Ấn độ, sau khi người Nhã lợi an (Aryan) chinh phục Ấn độ, La sát bèn trở thành 1 đại danh từ chỉ cho kẻ ác, diễn biến dần dần được dùng làm tên gọi chung cho loài ác quỉ. Nam La sát có thân hình màu đen, tóc đỏ, mắt xanh, nữ La sát thì giống như người đàn bà tuyệt đẹp, đầy sức quyến rũ, chuyên ăn máu thịt loài người. Tương truyền, ở trong đảo Lăng già (tức Tích lan), có cõi nước của nữ La sát. Loài quỉ này được ghi trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 49, Hữu bộ tì nại da quyển 47 và Tuệ lâm âm nghĩa quyển 7, v.v... Quỉ La sát có sức thần thông có thể bay nhanh ở trong hư không hoặc lướt nhanh trên mặt đất, hung ác đáng sợ. La sát cũng còn chỉ cho loại ngục tốt ở địa ngục, phụ trách việc trừng phạt tội nhân. Cũng gọi là A bàng, A bàng la sát, A phòng, Bàng. Hình dáng của loài quỉ này, hoặc là đầu trâu tay người, hoặc có móng chân trâu, hoặc là người đầu nai, đầu dê, đầu thỏ, v.v... Ngoài các loại ác La sát nói trên, trong các kinh còn ghi 1 loại La sát là thần thủ hộ của Phật giáo, gọi là La sát thiên, là 1 trong 12 vị trời. Những La sát này có hình dáng Thần vương, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, tay cầm dao, cỡi sư tử trắng. Lại như 10 nữ La sát được nói trong phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa cũng đều là thần Thủ hộ... [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.6; luận Đại trí độ Q.16; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Đại đường tây vực kí Q.11].

la sát la

Aksara (skt)—Chữ—A syllable, word, letter.

la sát nhật

(羅刹日) Chỉ cho các ngày xấu. Nếu làm bất cứ việc gì vào những ngày đó cũng đều gặp trở ngại, khó thành tựu được. Theo kinh Tú diệu quyển hạ, có 7 ngày La sát là: 1. Thái dương trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Mạo. 2. Thái âm trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Quỉ. 3. Hỏa diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Dực. 4. Thủy diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Sâm. 5. Mộc diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Để. 6. Kim diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Khuê. 7. Thổ diệu trực nhật: Trong ngày này, mặt trăng hợp với sao Liễu.

la sát nữ

Raksasi (skt)—La Sát Tư—La Xoa Tư—Loại nữ quỷ. Đảo Tích Lan trước kia là nơi trú ngụ của 500 La Sát Nữ—Female demons. Lanka in Ceylon was the abode of 500 female demons.

la sát quốc

Một hòn đảo trong Ấn Độ Dương, người ta nói là đảo Tích Lan—An island in the Indian Ocean, supposed to be Ceylon. ; (羅刹國) Phạm:Ràkwasì-dvìpa. Chỗ ở của quỉ La sát ăn thịt người. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 hạ), nói: Nếu có người đi vào biển lớn, giả sử cuồng phong thổi thuyền bè của người ấy trôi giạt vào nước quỉ La sát... Còn Hữu bộ tì nại da quyển 47 và điều Tăng già la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 11, thì cho rằng nước nữ La sát tức chỉ cho đảo Tích lan(cũng gọi đảo Lăng già). Thuyết cho đảo Tích lan là chỗ ở của La sát được bắt nguồn từ sự tích trong thiên Anh hùng ca Ràmàyaịa của Ấn độ xưa, trong đó kể rằng, để cứu vợ mình là Tư đa (Phạm: Zìtà) Thái tử La ma (Phạm: Ràma) đánh phá đảo Lăng già, giết chết quỉ vương La sát là La phạt noa (Phạm:Ràvaịa). [X. phẩm Ngũ bách tỉ khưu nhân duyên trong kinh Phật bản hạnh tập Q.49; luận Đại tì bà sa Q.78].

la sát ta

La Sát Nam—A male deomn—See La Sát.

la sát thiên

Vị Trời kiểm soát hết thảy các La Sát, trấn giữ góc tây nam—The deva controlling these demons, who has his abode in the southwest corner of the heaven. ; (羅刹天) La sát, Phạm: Ràkwasa,Nairftì. Hán âm: Niết lí để, Niết lí đế, Nễ lí để. Vị trời ngồi ở góc tây nam của Kim cương bộ ngoài trên Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới Mật giáo. Là 1 trong các vị trời trấn giữ ở 8 phương, cũng là 1 trong 12 vị trời. Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, thân hình La sát thiên có màu đỏ, ngồi trên tòa tròn, mặc áo giáp, mắt có vẻ giận dữ, cánh tay trái hướng ra ngoài, ngón cái bấm lấy ngón út và ngón vô danh, còn ngón trỏ và ngón giữa dựng đứng, tượng trưng cho Đao ấn(ấn dao); tayphảicầm thanh kiếm, để ở cạnh sườn, mũi kiếm dựng đứng. Hai bên, mỗi bên có 2 vị đồng tử. Bên trái La sát thiên, vị đồng tử phía trước tay trái bưng bát, tay phải đặt ở miệng bát, vị đồng tử phía sau mình màu da người, tay trái nắm lại thành quyền, tay phải cầm cây gậy, ngồi tréo chân, đầu gối bên trái dựng đứng. Bên phải La sát thiên, phía trước là đồng nữ La sát, tay nắm lại đặt ở trước eo; phía sau là đồng nam La sát, thân màu da người, tay phải cầm cây gậy, tay trái nắm lại thành quyền, đưa lên ngang tai. Lại theo Thập nhị thiên cúng nghi quĩ, thì hình tượng vị trời này mình mặc giáp trụ, tay phải cầm dao, cỡi sư tử trắng. Ngoài ra, La sát thiên cai quản phương tây nam, vì thế nên phương tây nam cũng được gọi là phương Niết lí để. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 10, 14; Cúng dường hộ thế bát thiên pháp].

la sát tư

See La Sát and La Sát Nữ.

La Sơn Ðạo Nhàn

羅山道閑; C: luóshān dàoxián; J: rasan dōkan; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát. Môn đệ của Sư có Minh Chiêu Ðức Khiêm xuất sắc nhất.

la thập

See Kumarajiva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

la thập tháp

(羅什塔) Tháp thờ ngài Cưu ma la thập. Cũng gọi Đảo ảnh tháp. Tháp ở trong thành Vũ uy, tỉnh Cam túc, Trung quốc. Thành Vũ uy là nơi ngài Cưu ma la thập ở dịch kinh, tuyên dương Phật pháp trong 17 năm trước khi ngài được thỉnh về Trường an vào thời Tiền Tần. Tương truyền, trong tháp có chôn cái lưỡi của ngài Cưu ma la La Sát Thiên thập.

la thệ

Rajni (skt)—Hoàng hâu00Ạ queen—A princess—See La Nhã.

la trai

(羅齋) Cũng gọi Thác bát, Hành khất, Khất thực. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lần lượt đến từng nhà để xin thức ăn. La tức là khất thực theo thứ tự, không chọn nhà giàu bỏ nhà nghèo; hoặc cũng có nghĩa võng la, tức là đi khất thực khắp nơi, không bỏ sót nhà nào. La hán tán trong Nguyệt giang Chính ấn thiền sư ngữ lục quyển hạ (Vạn tục 123, 141 hạ), nói: Không phải chỉ xin thức ăn (la trai)cho chính mình, mà là muốn phá trừ tâm bỏn sẻn của chúng sinh. [X. môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên].

la tạo y

(羅皂衣) Áo ca sa may bằng vải màu đen. Tạo là màu đen do màu đỏ lợt và đen thẫm hòa lẫn với nhau mà thành, chứ không phải màu đen thuần chính. Là 1 trong 3 thứ hoại sắc.

la việt

Rajagrha (skt)—See La Duyệt and Vương Xá.

la vân

Rahula (skt)—See La Hầu La. ; (羅雲) I. La Vân. La hầu la, 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. (xt. La Hầu La). II. La Vân (542-616). Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người huyện Tùng tư, phủ Kinh châu, họ Hình. Cả 5 anh em trong gia đình đều xuất gia. Người anh cả là Đạo ngung, còn sư là em út. Sau khi xuất gia ở chùa Đông minh thượng, sư theo ngài Pháp lãng ở chùa Hưng hoàng tại Dương đô, học luận Đại trí độ, luận Trung quán, Bách luận và Thập nhị môn luận. Sau khi ngài Pháp lãng thị tịch, sư đến theo học Cắng pháp sư ở chùa Phúc duyên. Không bao lâu, nhận lời thỉnh của Thiền sư Trắc chùa Di thiền, sư trở về hoằng pháp ở quê nhà và sáng lập chùa Hoàn hương. Về sau, sư trụ trì chùa Long tuyền hơn 50 năm, tuyên giảng Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, v.v... giáo hóa chúng tăng khắp nơi. Đệ tử có 10 người như Tuệ thành, Đạo thắng, v.v... Năm Đại nghiệp 12 (616) sư tịch, thọ 75 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.9].

la võng

(羅網) Chỉ cho mạng lưới. Ở các cõi Phật, cõi trời đều có những mạng lưới được đính kết bằng các thứ châu báu, vì thế, trong các chùa viện La võng thường được dùng để trang nghiêm điện Phật hoặc treo ở trên tượng Phật. Kinh A di đà nói ở cõi Tịnh độ cực lạc có 7 lớp lan can, 7 lớp la võng, 7 lớp hàng cây đều làm bằng 4 thứ báu bao bọc chung quanh. [X. kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.20; phẩm Kiến bảo tháp kinh Pháp hoa Q.4; kinh Đà la ni tập Q.3].

la xa

Raja (skt)—Quốc vương—King.

la y

Tiết La Y—Y phục của người tu khổ hạnh nơi rừng núi—Coarse garments worn by ascetics. ; (蘿衣) Áo Tiết la, tức là áo cũ rách của chúng tăng mặc, hoặc là áo của những người tu khổ hạnh trong núi rừng.

la ó

To jeer—To boo.

la đà na

Ratna (skt)—Bảo vật—Anything precious, a gem.

La-bốc-tạng Gia-mục-thố, 5. Ðạt-lại Lạt-ma

T: losang gyatso [blobzaṅ rgya-mtsho]; S: suma-tisāgara; 22. 20. 1617 – 02. 04. 1682; Giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1622-1682; giữ quyền cai trị Tây Tạng từ 03. 05. 1642 – 02. 04. 1682;|Có lẽ là vị Ðạt-lại Lạt-ma nổi danh nhất: Sư vẫn còn được dân Tây Tạng tôn trọng gọi là »Ðại sư thứ năm«. Sư là vị Ðạt-lai đầu tiên khởi xướng chế độ »Tăng lữ chính quyền« (僧侶政權; e: theocracy), nắm giữ quyền cai trị Tây Tạng. Kể từ đây, Ðạt-lại Lạt-ma là người lĩnh đạo tinh thần tôn giáo cũng như chính trị Tây Tạng.|Thời đại của Sư là một khúc ngoặt lớn trong lịch sử Tây Tạng. Chiến tranh đẫm máu với các bộ lạc miền Tây Mông Cổ là những dấu hiệu chung cho thời đại này. Qua những cuộc tranh chấp, tông phái của Sư giành thắng lợi và từ đây, địa vị của một Ðạt-lại Lạt-ma càng thêm vững chắc. Dưới sự chỉ huy của Sư, việc xây dựng điện Pô-ta-la lại Lha-sa được bắt đầu vào năm 1645. Từ 1650-52, Sư nhận lời mời của Hoàng đế sang Trung Quốc thuyết pháp. Trong những năm cuối đời, Sư lâm bệnh nặng. Cái chết của Sư được giữ bí mật 13 năm liền và sự việc này đã đem đến cho Tây Tạng rất nhiều hoạ nạn sau này.

La-hán

羅漢; S: arhat; C: luóhàn; J: rakan;|Là một Thánh nhân; cần phân biệt A-la-hán (arhat) của Phật giáo nguyên thuỷ và La-hán của Phật giáo Trung Quốc. Thật ra thì La-hán xuất phát từ A-la-hán, nhưng đến Trung Quốc, ý nghĩa của A-la-hán đã biến đổi. La-hán đóng một vai trò quan trọng tại đây, nhất là khi trở thành một khái niệm của Ðại thừa. Khái niệm La-hán đã du nhập Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 7, nhưng qua thế kỉ thứ 10, La-hán mới được Thiền tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền tông tìm thấy nơi La-hán tính người và sự từ chối mọi Tha lực, dùng Tự lực để đạt đạo nên La-hán rất phù hợp tinh thần Thiền.|Người ta cho rằng, nhờ trí huệ siêu việt, La-hán đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong nhiều tranh tượng, người ta hay vẽ các vị mặt mày dữ tợn, hình dạng siêu nhiên; tuy thế cũng có nhiều vị mặt mày hiền hậu. Trong nhiều chùa ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, ta tìm thấy tượng của năm trăm La-hán, hay nhóm 16 hay 18 vị, được vẽ trên vách tường của chính điện. Mỗi vị thường thường có một hình dáng và khuôn mặt đặc biệt.|Tượng 500 La-hán được sáng tạo là để nhớ lại lần Kết tập thứ nhất với sự có mặt của 500 vị thánh. Lần kết tập thứ tư tại Kashmir cũng có 500 vị A-la-hán tham dự. Có nhiều tương truyền về 500 vị La-hán này: đó là các vị sống trong 500 hang động của núi Côn Luân, là các vị được Phật đưa về đó theo lời mời của Long vương. Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, người ta còn dựng lại hang động của 500 vị La-hán đó. Trong nhiều chùa, người ta hay xếp các vị La-hán thành từng nhóm 16 hay 18 vị. Ðiều này được truyền tụng như sau: Vị A-la-hán Nan-đề Mật-đà (s: nandimitra), 800 năm sau khi Phật nhập diệt, cho hay Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-la-hán. Các vị này bất tử và sống với học trò tại nhiều miền trên thế giới, nơi các thánh địa và giữ gìn giáo pháp. Tới thời mạt pháp, lúc mà Phật pháp bị tiêu diệt hoàn toàn, các vị đó sẽ họp nhau lại, góp xương cốt Phật vào trong một Tháp, rồi nhập Niết-bàn, còn Tháp sẽ chìm dưới đại dương.|Trong thế kỉ thứ 10, số lượng 16 vị được nâng lên thành 18. Người ta kể tên cụ thể các vị đó nhưng các danh tự không đóng vai trò gì. Người ta chỉ nhớ đến các vị với những cử chỉ đặc biệt như: La-hán với hình Phật nơi trái tim, La-hán mi dài, La-hán gãi tai, La-hán hàng phục rồng, hổ.

La-hán Quế Sâm

羅漢桂琛; C: luóhàn guìchēn; J: rakan keijin; 867/69-928, cũng được gọi là Ðịa Tạng; |Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị và là thầy của Pháp Nhãn Văn Ích, Khai tổ của dòng thiền Pháp Nhãn.|Sư họ Lí, quê ở Thường Sơn, lúc nhỏ chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm chay. Sau xin cha mẹ xuất gia, chuyên học luật. Sư nghĩ »Giữ giới luật chưa phải là chân giải thoát, dựa vào văn sinh hiểu không thể phát thánh trí« và đến tham vấn các Thiền sư. Sư đến yết kiến Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn ở Vân Cư, chăm chỉ tu học nhưng không hội, sau đến Huyền Sa nghe một câu bỗng dưng đại ngộ.|Huyền Sa hỏi Sư: »Tam giới (Ba thế giới) duy tâm phát ra, ngươi hiểu sao?« Sư chỉ cái ghế dựa, hỏi: »Hoà Thượng kêu là cái gì?« Huyền Sa đáp: »Ghế dựa.« Sư thưa: »Hoà thượng không hội tam giới duy tâm.« Huyền Sa hỏi lại: »Ta gọi cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?« Sư thưa: »Con cũng gọi ấy là tre gỗ.« Huyền Sa bảo: »Tận đại địa tìm một người hội Phật pháp cũng không có.«|Ðang cấy lúa, thấy tăng đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Tăng thưa: »Ở Nam Châu đến« Sư hỏi: »Nơi ấy Phật pháp thế nào?« Tăng thưa: »Bàn tán lăng xăng.« Sư bảo: »Ðâu có như ở đây, ta chỉ cấy lúa, nấu cơm ăn.« Tăng hỏi: »Thế nào là tam giới?« Sư hỏi lại: »Gọi gì là tam giới?«|Ðời Ðường niên hiệu Thiên Thành, năm thứ ba mùa thu, Sư có chút bệnh, tắm gội rồi từ giã chúng, ngồi thẳng viên tịch. Sư thọ 62 (60) tuổi, 40 tuổi hạ. Vua sắc phong là Chân Ứng Ðại sư.

La-hầu

tức vị vua của loài a-tu-la, tên là La-hầu. Trong quyển 24 kinh này, Phật có dạy: “Như thân hình vị La-hầu, vua của loài a-tu-la là to lớn nhất trong các thân hình to lớn.” (trang 589, Tập IV)

La-hầu-la

羅睺羅; S, P: rāhula; Hán dịch là Phú Chướng;|Tên người con trai của Phật (Tất-đạt-đa). Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Da-du Ða-la (s: yaśodharā). Tôn giả vừa được sinh ra thì đức Phật quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm đạo Giác ngộ. La-hầu-la được Xá-lị-phất (s: śāri-putra) đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ còn rất trẻ. Tôn giả được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật. ; 羅睺羅; S: rāhula; »Kẻ cải lão hoàn đồng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Trong lịch sử nước này có nhiều vị thánh tăng mang tên La-hầu-la, nên không rõ vị này sinh ở thời đại nào, có thể trong thời đại của Sa-ra-ha, thế kỉ thứ 8, 9.|Ông thuộc giai cấp thấp kém vùng Ka-ma-ru-pa (s: kāmarūpa). Ðến lúc già cả, ông không còn kiểm soát được các chức năng thân thể và khi bị bà con chê trách, ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Một vị Du-già sư (yogin) đi ngang khuyên bảo: »Ngươi đã già; ba thác nước Sinh, Bệnh, Lão đã huỷ hoại ông và Tử, thác thứ tư đang chuẩn bị đón ông, vậy ông có muốn chuẩn bị cho cái chết không?« Ông bèn cầu xin giáo hoá. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn:|Tự tính của tâm thức,|vốn không già không chết.|Lòng tin, thật sự quý,|không bao giờ thuyên giảm.|Muốn tu học diệu pháp,|hãy sẵn sàng theo ta.|Vị Du-già sư cho ông nhập môn và dạy cho ông một Nghi quỹ: quán tưởng chân âm A nằm trên đầu mình, từ đó phát ra mặt trăng. Quán tưởng mọi tư duy, khái niệm đều tan trong mặt trăng đó. Với phép quán tưởng này khái niệm về khách thể-chủ thể biến mất dần, nhường chỗ cho tâm Bất nhị chảy vào thân ông, biến thân ông già thành thiếu niên mười sáu tuổi. Ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa và giáo hoá cho dân vùng này. Chứng đạo ca của ông như sau:|La-hầu, thần đầu rồng,|đã ăn hết ánh trăng.|La-hầu, phi nhị nguyên,|của mọi vô biên xứ,|ăn hết tâm phân biệt.|(La-hầu [s: rāhu] ở đây tượng trưng cho Pháp thân tỉnh giác, có hình đầu rồng, ăn mặt trăng mặt trời).

La-hầu-la-đa

羅睺羅多; S: rāhulabhadra|Tổ thứ 16 của Thiền tông Ấn Ðộ.

La-kha Min-ka-ra

S: lakṣmīṅkarā; »Công chúa điên«;|Một Du-già ni Ma-ha Tất-đạt (s: yoginī ma-hāsiddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8. Bà là em gái của nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti), vị vua trị vì nước Ô-trượng-na.|Từ nhỏ bà đã nghe giáo pháp của Kam-ba-la (kambala) và thông hiểu nhiều loại Tan-tra. Bà được đính hôn với vua Ja-len-đra (s: jalendra), vua của Lan-ka-pu-ri (s: laṅkāpurī) và khi được đưa về nhà chồng, bà thấy chồng tương lai vừa đi săn về, trên vai mang xác hổ. Bà đau khổ ngất xỉu. Khi tỉnh dậy bà tự giam mình trong phòng, giả điên, nhưng thật tế bà chuyên tâm thiền quán không cho ai hay và mọi người nghĩ là bà mắc bệnh điên. Sau đó bà trốn khỏi cung điện, sống trên bãi thiêu xác, ăn đồ ăn dư thừa và thiền định không nghỉ. Sau bảy năm bà đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrā-siddhi). Bà giáo hoá cho một người chuyên lo cung cấp lương thực cho mình và vị này cũng đạt đạo.|Lần nọ chồng bà là vua Ja-len-đra lại đi săn, lạc đường và tình cờ đến động của bà. Ông tò mò nhìn vào thì thấy vợ mình toả hào quang, các vị nữ thần bao bọc xung quanh phục vụ và đỉnh lễ. Ngày hôm sau vua trở lên, xin thụ giáo, bà đọc câu kệ:|Tất cả loài hữu tình,|còn trong vòng Sinh tử,|đều phải chịu khổ đau.|Ngay cả loài cao cấp,|như chư Thiên, loài người,|cũng mang đầy khổ ải.|Còn các loài ác đạo,|khổ chính là bản chất,|ác thú ăn thịt nhau,|có loài khổ nóng lạnh.|Hỡi Hoàng thượng, thưa Ngài,|hãy tìm đạo giải thoát!|Và bà cho hay vua không phải đệ tử của bà. Ðạo sư của vua là một đệ tử của bà và vị này là người chuyên chùi thùng rác cho vua, cũng đã đạt thánh quả. Vua tìm ra vị này, đặt lên ngôi và phủ phục cầu pháp. Cuối cùng nhà vua cũng được truyền Nghi quỹ của nữ thần Kim cương Va-ra-hi (vajra vārāhī). La-kha Min-ka-ra và vị chùi thùng rác còn giáo hoá thêm cho nhiều người nữa. Bài kệ chứng đạo của bà có những câu sau:|Trước hết, người có trí,|tạo linh ảnh giác ngộ,|sau đó nhất tâm quán,|về Thật tại trống rỗng.|Làm như thế liên tục,|với chứng thật huyền diệu.|Tất cả chỉ cần là:|khiêm tốn và tinh tiến.|Bà có để lại một tác phẩm danh tiếng là Thành bất nhị luận (s: advayasiddhi), còn được lưu hành.

la-sát

Loài hung thần ác quỷ, dịch nghĩa là bạo ác, khả úy (đáng ghê sợ). Loài này hình tướng trông rất ghê sợ, thích ăn thịt, uống máu người.

Lai

來; C: lái; J: rai.|Có các nghĩa sau: 1. Đến, sự đến; đưa đến; mời đến. Đến đây (s: āgata, āgati, āya); 2. Từ, từ trước. Tương lai; 3. Khuyến khích bằng phần thưởng; 4. Khi đứng sau số từ, có nghĩa là »chừng hơn, trên, dư«; 5. Khách đến; 6. Rút lui, ẩn dật, lùi lại; 7. Từ quá khứ đến nay, từ trước đến nay; 8. Bổ ngữ dùng tăng thêm ý nghĩa cho từ khác.

lai

Agama (skt). 1) Đến: Coming. 2) Tương Lai: Future.

lai ba thiệm

(徠巴贍) Tạng: Ral-pa-can. Tức là Khất lật lai ba thiệm. Cũng gọi Nhiệt ba trung. Vua nước Tây tạng, vốn tên là Khả lê khả túc (Tạng: Khri-gtsug lde-brtsan) ở ngôi từ năm 815 đến 836 (hoặc 838). Lúc vua mới lên ngôi, mối quan hệ giữa Tây tạng và nhà Đường đang ở thời kì căng thẳng và vua từng đưa quân cướp phá vùng biên giới Trung quốc. Về sau, 2 nước Đường Tạng giao hảo lập bia liên minh (Đường Phồn hội minh), trong văn bia có ghi chép việc vua 2 nước thệ ước trước Tam bảo. Nhà vua tin Phật rất kiền thành. Tương truyền, vua từng cắt tóc làm tọa cụ để dâng cúng chư tăng, tên gọi Lai ba thiệm hàm ý là tóc dài. Trong thời gian ở ngôi, vua nhận thấy những kinh điển Phật giáo đã được dịch ở Tây tạng từ trước đến giờ chưa được hoàn mĩ, nên sai sứ đến Ấn độ lễ thỉnh các bậc thạc học Phật giáo và tập họp các vị cao tăng Tây tạng để thực hiện việc phiên dịch. Bấy giờ, phía Ấn độ có các ngài như: Thắng hữu (Phạm: Jina-mitra), Giới đế giác (Phạm: Surendra-bodhi), Thí giới (Phạm: Dana-zìla), Giác hữu (Phạm: Bodhimitra), Cát tường đế giác (Phạm: Zrìndrabodhi), Hỉ khánh giới (Phạm: Anant-zìla), Kim cương giới (Phạm: Vajra-zìla), v.v... Về phía Tây tạng thì có các học giả: Bảo tán, Pháp tính giới, Trí quân, v.v... Những vị này tổ chức 1 dịch trường chặt chẽ. Trước hết, họ đặt ra nguyên tắc dùng từ ngữ phiên dịch, sau đó, định tiêu chuẩn thẩm xét sự cấu trúc của những từ ngữ ấy sao cho đúng với văn phạm. Với sự chuẩn bị chu đáo như vậy, các học giả ấy đã soạn ra bộ sách nổi tiếng là Phạm Tạng Đối Chiếu Đại Từ Vựng Phiên Dịch Danh Nghĩa Đại Tập (Phạm: Mahàvyutpatti). Phần lớn các kinh điển trọng yếu của Hiển thừa(giáo) trong Đại tạng kinh Tây tạng hiện còn, cũng đã được phiên dịch vào thời gian này. Đôi khi cũng có những bản dịch cũ được đem ra hiệu đính, làm cho Phật giáo Tây tạng ở thời kì đầu đạt đến điểm cao. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

lai cơ

(來機) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho người đến tham học. Những người đến tham học, căn cơ có thượng, trung, hạ khác nhau, cho nên sư gia cũng phải căn cứ vào đó mà dùng phương pháp bất đồng để tiếp dẫn họ. Tắc 2, Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ), nói: Rỗng lặng không Thánh, căn cơ (lai cơ) khác nhau. [X. Bảo kính tam muội].

lai duy

(萊維) Lévi, Sylvain; 1863-1935. Cũng gọi Liệt duy. Nhà Đông phương học và Ấn độ học người Pháp, sinh ở Paris. Năm 1884, ông là hội viên của Hiệp hội Á châu, phụ trách việc điều tra về các bản sách cổ viết tay được tàng trữ ở Ấn độ. Năm 1889, ông nhận chức giáo sư tại Đại học Paris, dạy các môn tiếng Phạm, Ấn độ học, Ngôn ngữ học. Ông đã tìm được rất nhiều bản viết tay bằng tiếng Phạm ở Nepal, sau đó ông dốc sức vào công việc so sánh đối chiếu các Phạm thư, Tự sự thi, Lịch sử giao lưu văn hóa giữa Ấn độ và Hi lạp, văn học tiếng Phạm cho đến các văn hiến Phật giáo bằng tiếng Phạm, Tây tạng và Hán văn. Đặc biệt đối với việc nghiên cứu về tiếng Đột quyết, ông là người cống hiến rất lớn cho môn Tỉ giảo văn pháp học Ấn Âu. Sau năm 1913, ông được phái đến các nước Nga, Pakistan, Mĩ, v.v... để thực hiện công tác nghiên cứu. Vào những năm 1921-1922, nhận lời mời của ông Thái qua nhĩ (Rabindranath Tagore), ông lại đến Ấn độ diễn giảng. Sau khi từ Ấn độ trở về nước, ông nhận chức chủ nhiệm Học viện Cao đẳng nghiên cứu tông giáo học, lần lượt hiệu đính xuất bản các kinh Phật bằng tiếng Phạm. Ông cũng đã từng là Hội trưởng Hiệp hội Á châu, Hội trưởng Nhật Phật hội quán. Ông đã sang Nhật bản 3 lần để cùng với bác sĩ Cao nam Thuận thứ lang biên soạn từ điển Phật giáo bằng tiếng Pháp. Những năm cuối đời, ông làm chủ nhiệm Sở nghiên cứu Văn hóa Ấn độ (Iustitut de Civilisation Indienne) thuộc Đại học Paris. Năm 1935 ông qua đời, thọ 73 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Ấn độ diễn kịch, Mã minh chi nghiên cứu, Phạm thư chi tế tự giáo nghĩa, Đột quyết ngữ văn thư chi nghiên cứu, Dạ xoa chi địa lí mục lục (trong kinh Đại khổng tước vương chú), Duy thức luận thể hệ nghiên cứu tư liệu... Về các tác phẩm bằng tiếng Phạm được ông hiệu đính và xuất bản thì có: Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Đôn hoàng Phạm bản, Câu xá luận thích (Xứng hữu), Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập luận (ngài An tuệ chú thích). Ngoài ra, ông còn dịch và giải thích kinh Phân biệt thiện ác báo ứng.

lai nghênh

Những người tin và hành trì theo Phật, khi lâm chung sẽ được chư Phật và chư Bồ Tát từ cõi Cực lạc đến đón về Tịnh Độ—The coming of Buddhas to meet the dying believer and bid welcome to the Pure Land. ; (來迎) Cũng gọi Lai nghinh dẫn tiếp, Thánh chúng lai nghinh. Những người phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, lúc lâm chung, Phật, Bồ tát và các Thánh chúng đến nghinh đón. Tại Nhật bản, loại tranh Lai nghinh rất phổ biến, gọi là Nghinh tiếp mạn đồ la. Trong tranh LAI NGHINH, Tranh Lai Nghinh vẽ đức Phật A di đà và 2 vị bồ tát Quan thế âm, Đại thế chí trong tư thái nghinh đón, gọi là Lai Nghinh Tam Tôn. (xt. Thánh Chúng Lai Nghinh).

lai nghênh dẫn tiếp nguyện

(來迎引接願) Cũng gọi: Tu chư công đức nguyện, Hiện tiền đạo sinh nguyện, Chí tâm phát nguyện nguyện, Lai nghinh nguyện, Lâm chung tiếp dẫn nguyện, Lâm chung hiện tiền nguyện, Thánh chúng lai nghinh nguyện, Nhiếp thụ tu đức dục sinh nguyện, Hành giả mệnh chung hiện tiền đạo sinh nguyện. Là lời nguyện thứ 19 trong 48 lời nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Nếu ta được thành Phật, 10 phương chúng sinh phát tâm Bồ đề tu các công đức, dốc lòng phát nguyện muốn sinh về cõi nước của ta, tới lúc họ lâm chung, giả sử ta không cùng với đại chúng đến vây quanh trước mặt họ để đón rước, thì ta nguyện không lên ngôi Chính giác. Nguyện này thường được gọi là nguyện thứ 19 theo như sự sắp xếp thứ tự trong kinh Vô lượng thọ bản dịch đời Ngụy và Hội Vô lượng thọ Như lai bản dịch đời Đường, còn trong các bản dịch khác thì việc sắp xếp thứ tự của Nguyện này không giống nhau. Như: Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác (bản Hán dịch) thì xếp vào hàng nguyện thứ 18, còn trong kinh Đại A di đà (bản dịch đời Ngô) thì hợp chung 2 nguyện: Tu chư công đức thứ 6 và Lâm chung lai nghinh thứ 7 thành nguyện Lai nghinh tiếp dẫn. Kinh Vô lượng thọ trang nghiêm (bản dịch đời Tống) thì xếp là nguyện thứ 13, nhưng nội dung của văn nguyện lại tương đương với 2 nguyện 18 và 19 trong bản dịch đời Ngụy. Lại nữa, tuy văn nguyện trong các bản dịch trên có hơi khác nhau, nhưng tất cả lời nguyện đều là đón rước người tu tịnh nghiệp sinh về Tịnh độ. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vô lượng thọ kinh sao Q.3].

lai nghênh mĩ thuật

(來迎美術) Nghệ thuật vẽ tranh đức Phật A di đà và Thánh chúng đến đón rước người niệm Phật vãng sinh về Tịnh độ Cực lạc. Nghệ thuật này được hình thành từ các bức tranh Tịnh độ biến tướng và dần dần phát triển theo đà hưng thịnh của tông Tịnh độ. Những di phẩm biến tướng của Tịnh độ được phát hiện ở Đôn hoàng. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, Lai nghinh được vẽ chung trong Đương ma mạn đồ la, đến giữa thời Bình an, tranh Lai nghinh độc lập mới bắt đầu được lưu hành. Tượng Phật Lai nghinh đầu tiên ở Nhật bản là tượng A Di Đà Tam Tôn được cất giữ tại chùa Pháp hoa ở Nại lương (Nara), kế đến là: Tranh Thánh Chúng Lai Nghinh ở núi Cao dã, tranh Cửu Phẩm Lai Nghinh hiện được tàng trữ ở Phượng hoàng đường Viện Bình đẳng; Tranh Thánh Chúng Lai Nghinh ở viện Hưng phúc tại Nại lương, tranh Tảo Lai Nghinh và tranh Hoàn Lai Nghinh ở viện Tri ân...

lai nghênh tam phật

Có ba vị Phật lai nghênh—The three special welcomers: 1) A Di Đà: Amitabha. 2) Quán Âm: Avalokitesvara. 3) Thế Chí: Mahasthamaprapta.

lai nghênh tam tôn

See Lai Nghênh Tam Phật.

lai nghênh trụ

(來迎柱) Chỉ cho cây cột ở 2 bên bức vách vẽ tranh Lai nghinh. Trên bức vách phía sau đàn Tu di thường có vẽ tranh Phật A di đà lai nghinh, gọi là Lai nghinh bích; cây cột ở 2 bên Lai nghinh bích tức là Lai nghinh trụ.

lai nghênh ấn

(來迎印) Ấn tướng của đức Phật A di đà, biểu thị lúc đến đón rước người tu hành niệm Phật. Cứ theo Cửu phẩm vãng sinh trong kinh Quán vô lượng thọ, vì căn duyên của hành giả không giống nhau nên vãng sinh về cõi Tịnh độ cực lạc cũng có 9 phẩm khác nhau. Do đó, hình tượng và ấn tướng nghinh đón của đức Phật A di đà cũng được chia làm 9 phẩm bậc. Trong đó, ấn tướng Lai nghinh dùng để đón rước hàng Hạ phẩm thượng sinh là: Tượng Phật A di đà đứng, 2 tay đưa ra, tay phải đưa lên, tay trái duỗi xuống, đầu ngón cái và đầu ngón vô danh bấm vào nhau. (xt. Cửu Phẩm Ấn).

lai quả

Quả báo và điều kiện trong kiếp lai sanh được xem như là hậu quả của hiện tại—The fruit or condition of the next rebirth, regarded as the result of the present. ; (來果) (1881-1953) Vị Thiền tăng Trung hoa thời Dân quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, họ Lưu, hiệu Như tịnh, pháp danh Diệu thụ. Ngay từ nhỏ sư đã không ăn thịt cá, thông minh và nhớ giỏi. Năm lên 7, sư nghe vị tăng gần bên nhà tụng Bát nhã tâm kinh đến câu không trí cũng không đắc, thình lình tỉnh ngộ, liền có ý muốn xuất gia. Năm 18 tuổi, sư cắt gan chữa bệnh cho cha. Năm 19 tuổi, sư vâng mệnh song thân lấy vợ, cùng phòng nhưng không nhiễm dục vọng, thường cùng nhau đến Phật đường niệm Phật. Năm Quang tự 31 (1905), sư đến chiêm bái núi Phổ đà, gặp 5 vị tăng tu khổ hạnh, bèn tự ý xuất gia, bắt chước tu khổ hạnh, 13 ngày không ăn uống. Sau, sư đến núi Bảo hoa thụ giới, rồi về núi Ngũ đài lễ bái tháp bồ tát Văn thù. Năm Quang tự 33 (1907), sư đến Kim sơn, chuyên chú tham cứu câu thoại đầu Người niệm Phật là ai, lấy sự ngộ đạo làm hạn, nếu chẳng ngộ thề không ra khỏi Thiền đường. Đến chiều ngày 26 tháng 9 năm Quang tự 34 (1908) sau tuần hương thứ 6, khi nghe tiếng chuông khai tĩnh thì sư triệt ngộ. Sau đó, sư đến chùa Cao mân, giữ chức Ban thủ. Không bao lâu, sư vào ẩn cư trong động Tương tử, núi Chung nam, đến năm Dân quốc thứ 4 (1915) sư mới trở về chùa và được ngài Nguyệt tố, Trưởng lão của chùa Cao mân truyền pháp cho. Từ đó, sư ra sức khôi phục lại chùa Cao mân, xây dựng lại Bảo tháp, Đại điện, Thiền đường, Diên thọ đường, Như ý liêu, v.v... Sư từng phái người đến Nam dương khuyến hóa, thỉnh được pho tượng Phật bằng ngọc và 1 pho tượng đồng, nhờ đó, chùa Cao mân trở thành 1 trong những ngôi chùa qui củ nhất trong nước. Tháng 11 năm Dân quốc 42 (1953) sư tịch ở Thượng hải, thọ 73 tuổi, 49 tuổi đạo, di thể của sư được đưa về an táng trong vườn chùa Cao mân. Sư có tác phẩm: Lai quả thiền sư ngữ lục. [X. Lai quả thiền sư tự hành lục].

lai sanh

Kiếp tái sanh hay kiếp sau—Future rebirth—The future life.

Lai sinh

來生; C: láishēng; J: raishō.|Sinh mệnh kế tiếp của một chúng sinh; cuộc đời sắp tới, thật thể trong tương lai. Cuộc đời trong tương lai. Cũng như Lai thế (來世).

Lai thế

來世; C: láishì; J: raise.|Cuộc đời sắp đến, cuộc sống kế theo sau. Sinh mệnh kế tiếp mà chúng sinh sẽ trải qua sau khi từ bỏ kiếp sống nầy (s: agāgatādhvan). Sinh mệnh ở đời vị lai, kiếp sống tiếp theo sau sinh mệnh nầy. Cũng gọi là Lai sinh (來生).

lai thế

Kiếp tái sanh trong tương lai—Future world or rebirth. ; (來世) Gọi đủ: Vị lai thế. Cũng gọi: Lai sinh, Hậu sinh, Hậu thế. Chỉ cho đời sau khi đã từ bỏ thân hiện tại. Là 1 trong 3 đời. Cứ theo kinh Kim cương, vào thời quá khứ, đức Phật Nhiên đăng thụ kí cho đức Thích ca lai thế(đời sau)sẽ thành Phật. Trong phẩm Dược thảo dụ kinh Pháp hoa quyển 3 thì có câu (Đại 9, 19 trung): Đời nay an ổn, đời sau sinh nơi tốt lành. Ngoài ra, đời vị lai trực tiếp, gọi là Thuận lai sinh; Vị lai gián tiếp, gọi là Lai lai sinh; Vị lai vĩnh viễn thì gọi là Vị lai vĩnh kiếp, gọi tắt là Lai kiếp.Thông thường, chỉ cho vị lai sau khi chết. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết Q.4].

lai vãng

Coming and going.

Lai ý

來意; C: láiyì; J: rai-i.|Điểm căn bản, thực chất, dàn ý chính của một bản văn. Bản tóm tắt.

lai ứng

Đến theo lời câu nguyện—To come in response to an invitation—To answer prayer by a miracle.

lam

1) Dư thừa—Excess—Overflowing. 2) Màu lam: Màu chàm—Blue—Indigo. 3) Sương núi: Mountain mist or vapour.

lam ba

Lampaka (skt)—Quận Lam Ba, ở về phía bắc Ấn Độ—The district of Lamghan, northern India.

lam bà

Tên của một loài La Sát Nữ—Name of a raksasi. ; (藍婆) Phạm: Lambà. Một trong 10 nữ La sát giữ gìn, che chở người tụng trì kinh Pháp hoa. Phẩm Tổng trì trong kinh Chính pháp hoa dịch là Kết phược. Hình tượng của Lam bà giống như Dược xoa, mặc áo màu xanh, tay phải cầm cây chày 1 chĩa, tay trái cầm xâu chuỗi. [X. phẩm Đà la ni kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa thập la sát pháp]. (xt. Thập La Sát Nữ).

lam bột la

Lambura or Lambhara (skt)—Ngọn núi nằm về phía bắc Kabul—A mountain north of Kabul.

lam cát phú

(藍吉富) (1943-?) Ông là người Nam đầu, Đài loan, tốt nghiệp sở Nghiên cứu Sử học tại Đại học Đông hải, là giáo sư môn Lịch sử tại các Đại học Trung hưng, Đông hải, Văn hóa, v.v... Chủ giảng viện Nghiên cứu Phật giáo Trung quốc ở Phật quang sơn, sáng lập nhà Xuất bản Di lặc. Ông có các tác phẩm: Tùy đại Phật giáo sử thuật luận, Hiện đại Trung quốc triết học, Tứ đại Bồ tát Thánh đức tùng thư, Hiện đại Phật giáo đại hệ, Thế giới Phật giáo danh trứ dịch tùng...

lam ma

Rama or Ramagrama (skt)—Một vương quốc và thành phố cổ nằm về phía bắc Ấn Độ, giữa thành Ca Tỳ La Vệ và Câu Thi Na—An ancient kingdom and city Northern India between Kapilavastu and Kusinagara.

lam ma quốc

(藍摩國) Phạm: Ràmaràma. Pàli: Ràmagàma. Cũng gọi La ma thôn, La ma già quốc, A ma la quốc, Lam mạc quốc, La ma tụ lạc. Tên 1 nước xưa nằm về phía đông thành Ca tì la vệ, thuộc Trung Ấn độ. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, sau khi đức Phật nhập diệt, nước này được chia cho 1 phần xá lợi, xây tháp cúng dường gọi là tháp Lam ma. Trong cái ao ở bên cạnh tháp có rồng, thường giữ gìn tháp này. Khi vua A dục ra đời, muốn chia xá lợi của 8 tháp làm 84.000 tháp để thờ trên toàn cõi Ấn độ. Vua đã lấy xá lợi trong 7 tháp kia rồi, khi đến nước Lam ma thì rồng giữ tháp hiện lên cản trở việc mở tháp, từ đó tháp này trở thành hoang phế. Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 6, tháp Lam ma được xây cất ở phía đông nước Lam ma. Cách tháp này hơn 100 dặm là nơi Thái tử Tất đạt đa quyết chí xuất gia và cởi bỏ y phục quí giá, vòng ngọc cho Xa nặc mang về cung. Theo A. Cunningham, vị trí nước La ma xưa là vùng Deokali ở giữa 2 con sông Kohàna và Aumi, chi nhánh của sông Gogra hiện nay. Nhưng theo ông V. Smith thì nó ở vùng Dharmaurì, khoảng giữa Nepal và Gorakpur hiện nay. [X. Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, xxxi); kinh Trường a hàm Q.4; luật Thập tụng Q.60; Phiên Phạm ngữ Q.8; A. Cunningham: Ancient Geography of India; V. Smith: Kusinàrà, orKuzinagara, and other Buddhist holy places].

lam phong

Vairambhavata (skt)—Cơn bão dữ—A hostile or fierce storm.

lam tì ni viên

(藍毗尼園) Lam tì ni, Phạm, Pàli: Lumbinì. Cũng gọi Lưu di ni viên, Lâm vi ni viên, Long di nễ viên, Lạp phạt ni viên, Luận dân viên, Lâu tì viên, Long tần viên, Lân tì viên, Lâm nhi viên. Hán dịch: Hoa quả đẳng thắng diệu sự cụ túc, Lạc thắng viên quang, Giải thoát xứ, Khả ái, Hoa hương, Đoạn, Diệt, Diêm. Khu vườn hoa nằm ở khoảng giữa Câu lợi và Ca tì la vệ thuộc Trung Ấn độ đời xưa, do vua Thiện giác (Phạm: Suprabuddha) kiến tạo, dành cho Hoàng hậu Lam tì ni, cũng là nơi đức Phật đản sinh. Vườn này từng đã 1 thời bị bỏ hoang, mãi sau khi trụ đá của vua A dục được phát hiện, người ta mới biết đây là Thánh địa nơi đức Phật đản sinh, từ đó mọi người hết lòng giữ gìn bảo vệ. Vườn Lam tì ni hiện nay nằm trên lãnh thổ nước Népal. Diện tích vườn chiều đông tây khoảng 30 mét, chiều Nam bắc 20 mét, trong đó có ao tắm hình vuông và ngôi nhà bằng gạch, có tên là nhà thờ Lỗ mục mễ điệt, vách bên trong mặt chính có khắc tượng phu nhân Ma da bằng đá, là tác phẩm của thời đại Vương triều Cấp đa (Phạm:Gupta) hoặc sau đó. [X. Bản sinh kinh Phật truyện (Pàli: Jàtaka-nidàna); kinh Tạp a hàm tập 23; kinh Trường a hàm Q.4; phẩm Sinh trong Phật sở hành tán Q.1; kinh Bát đại linh tháp danh hiệu; A dục vương truyện Q.1; điều Kiếp tỉ la phạt tốt đổ quốc trong Đại đường tây vực kí Q.6; thiên Tây vực trong Đông Tây giao thiệp sử chi nghiên cứu; V. Smith: Azoka; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].

lam tỳ ni

See Lâm Tỳ Ni.

lam vũ

Sangharama (skt)—Chùa—Monastery—Monastery-buildings. ; (藍宇) Nói đủ là già lam, đường vũ, tức chỉ cho chùa viện của Phật giáo. (xt. Già Lam).

Lam-dre

T: lam-’bras; S: mārga-phala; nguyên nghĩa »Ðạo và quả«; |Tên dùng cho một loạt tác phẩm của Kim cương thừa trong dòng Tát-ca (t: sakyapa) tại Tây Tạng. Khuynh hướng của Kim cương thừa là »Ðường đi chính là mục đích« được nêu ra rất rõ trong các tác phẩm này. Gốc nguồn của các loại sách này là một Tan-tra rất cổ, được một người tên là Drog-mi phiên dịch và đem sang Tây Tạng thế kỉ 11. Vị Tổ đầu tiên của dòng Tát-ca viết nhiều luận giải về Tantra này và sáng lập truyền thống Lam-dre tại Tây Tạng.|Vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Vi-ru-pa (s: vi-rūpa) được xem là người sáng lập truyền thống Lam-dre. Ông truyền cho đệ tử là Nag-po-pa tác phẩm căn bản, được gọi là »Kim cương kệ.« Bản này rất ngắn và phải được khẩu thuyết thêm. Quan niệm chính của các Lam-dre là Niết-bàn và Luân hồi là một không hai. Muốn nhận thức được điều này, một Du-già sư (yogin) phải tu tập triệt để.|»Tâm« được mô tả như sau trong Lam-dre: 1. Trong sáng; 2. Không, trống rỗng và 3. Bao gồm cả hai tính chất 1. và 2.; khi Du-già sư chứng ngộ cả ba đặc tính này thì mới gọi là đạt giải thoát.

Lam-tì-ni

phiên âm từ Phạn ngữ là Lumbinỵ, là tên khu vườn nơi đức Phật Thích-ca Mâu-ni đản sanh. Trong bản Hán văn ngài Đàm-vô-sấm dùng林微尼(Lâm-tì-ni) để phiên âm tên khu vườn này. Hầu hết các kinh văn khác đều dùng藍毗尼(Lam-tì-ni). ; 藍 (嵐) 毗尼; S, P: lumbinī;|Một trong bốn thánh tích đạo Phật, nơi sinh của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Lam-tì-ni ở gần kinh đô Ca-tì-la-vệ, thuộc tiểu quốc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepāl. Các thánh tích khác là Lộc uyển (s: mṛgadāva) ở Tiên uyển (s: ṛṣipatana) bây giờ được đổi tên là Sārnāth, nơi Phật bắt đầu giáo hoá, Giác Thành (bodhgayā), nơi Phật đắc đạo, và Câu-thi-na (kuṣinagara), nơi Phật nhập Niết-bàn.|Tại Lam-tì-ni còn một trụ đá của vua A-dục, được dựng lên lúc ông đi hành hương năm 249 trước Công nguyên. Trên trụ đá này được ghi »20 năm sau ngày lên ngôi, Thiên Ái Thiện Kiến vương (devānapiya piyadasi, tức vua A-dục) đã đến đây và tỏ bày lòng tôn kính, vì Phật, con người minh triết dòng họ Thích-ca đã được sinh nơi đây. Nhà vua cho xây một trụ đá để nhớ rằng bậc giác ngộ đã được sinh tại đây. Làng Lam-tì-ni được miễn đóng thuế và phần triều cống nông lâm sản được giảm xuống còn một phần tám (từ một phần tư).«

lan

1) Hàng rào—A rail—Handrail. 2) Hoa Lan: The epidendrum—Orchid—Scented—Refined.

lan bồn hội

Ullambana, or Lambana, or Avalamba (skt)—See Vu Lan Bồn in Vietnamese-English Section, and Ullambana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (蘭盆會) Tức là hội Vu lan bồn, hội này bắt nguồn từ kinh Vu lan bồn. Theo Huyền ứng âm nghĩa quyển 13, Vu lan bồn, tiếng Phạm là:Ullambana, Hán dịch: đảo huyền, nghĩa là treo ngược. Hội Vu lan bồn được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 hàng năm. (xt. Vu Lan Bồn).

Lan cao

(蘭膏): có hai nghĩa. (1) Một thứ dầu được người xưa tinh chế từ hương hoa Lan, có thể dùng để đốt đèn, thắp sáng. Như trong Sở Từ (楚辭), phần Chiêu Hồn (招魂), có câu: “Lan cao minh chúc, hoa dung bị ta (蘭膏明燭、華容僃些, dầu thơm tỏ nến, dáng hoa sẵn rồi).” Vương Dật (王逸, khoảng 89-158), nhà văn học thời Đông Hán, giải thích rằng: “Lan cao, dĩ Lan hương luyện cao dã (蘭膏、以蘭香煉膏也, Lan cao là loại lấy hương hoa Lan để luyện thành cao dầu).” (2) Chỉ một loại dầu thơm làm mướt tóc.

lan cúc

1) Hoa lan và hoa cúc—Orchid and chrysanthemum. 2) Lan mùa Xuân và cúc mùa Thu (thứ nào mùa ấy): Orchid in spring and chrysanthemum in autumn. 3) Tượng trưng cho sự đẹp đẽ: Emblems of beauty.

Lan dịch

(蘭掖): nhà lan, chỉ nơi cư trú của các phi tần hậu cung. Như trong bài Phụng Hòa Thái Tử Nạp Phi Thái Bình Công Chúa Xuất Hàng (奉和太子納妃太平公主出降) của Quách Chánh Nhất (郭正一, ?-?) nhà Đường có câu: “Quế cung sơ phục miện, lan dịch tảo thăng kê (桂宮初服冕、蘭掖早升笄, cung quế mới đội miện, nhà lan sớm cài trâm).” Hay trong Cựu Đường Thư (舊唐書), chương Lễ Nghi Chí (禮儀志) 3 lại có câu: “Thiếp mậu xử tiêu vi, thao cư lan dịch (妾謬處椒闈、叨居蘭掖, thiếp lầm ở chốn hoàng cung, lạm sống nơi cao quý).”

Lan huệ

(蘭蕙): chỉ cho Lan và Huệ, đều thuộc loại cỏ thơm; phần lớn được dùng để dụ cho người hiền. Như trong Hán Thư (漢書), Truyện Dương Hùng (揚雄傳) có câu: “Bài ngọc hộ nhi dương kim phố hề, phát Lan Huệ dữ Khung Cùng (排玉戶而颺金鋪兮、發蘭蕙與穹窮, bỏ cửa ngọc mà bày tiệm vàng chừ, tốt Lan Huệ với Khung Cùng).” Hay trong bài thơ Bệnh Tà (疾邪) của Triệu Nhất (趙壹, ?-?) nhà Hán lại có câu: “Bị hạt hoài kim ngọc, lan huệ hóa vi sô (被褐懷金玉、蘭蕙化為芻, kẻ nghèo nhớ vàng ngọc, người hiền hóa thành rơm).” Hoặc trong bài thơ Tống Lý Sanh Nam Quy Ký Tải Lạp Vương Tích Xiển Nhị Cao Sĩ (送李生南歸寄戴笠王錫闡二高士) của Cố Viêm Võ (顧炎武, 1613-1682) nhà Thanh cũng có câu: “Phong xuy Lan Huệ sắc, nhất dạ lạc Quan Trung (風吹蘭蕙色、一夜落關中, gió thổi màu Lan Huệ, một đêm xuống Quan Trung).”

lan hương

Orchid fragrance.

lan hương sao

(蘭香梢) Cũng gọi A lê thụ chi. Đầu búp hoa lan hương. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 541 hạ), nói: Khi hoa lan hương nở thì ở đầu nụ hoa chia ra làm 7 cánh, đức Phật dùng để ví dụ thiện thần đập đầu tội nhân vỡ làm 7 mảnh, giống như đầu hoa kia. Xưa dịch A lê thụ chi là sai, vì ở Ấn độ không có cây A lê. [X. kinh Đại khổng tước vương Q.thượng]. (xt. A Lê Thụ Chi).

Lan Khê Ðạo Long

蘭溪道隆; C: lánxī dàolóng; J: rankei dōryū; 1208-1268/ 1213-1278;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc nhánh Dương Kì, tông Lâm Tế.|Sư người Tây Thục, 13 tuổi xuất gia, sau tham học với nhiều Thiền sư danh tiếng ở Chiết Giang. Năm 33 tuổi (1246), Sư sang Nhật truyền pháp. Trong thời gian này, các tông phái cũ ở Nhật đã có những triệu chứng suy bại, chỉ lo chạy theo danh lợi và vì vậy, phong cách của Thiền gia chất phác, không cầu kì ham muốn, nhẫn nhục tu hành rất được kính trọng. Sư được mời đến Liêm Thương (j: kama-kura), lập chùa Kiến Trường (j: kenchō-ji) nơi đây.|Sư là một trong những Thiền sư góp phần quan trọng cho sự hưng thịnh của Thiền tông tại Nhật. Sư tịch tại chùa Kiến Trường, được ban hiệu là Ðại Giác Thiền sư. Ðây là lần đầu Nhật Bản có danh hiệu Thiền sư.

Lan Khê Đạo Long

(蘭溪道隆, Ranke Dōryū, 1213-1278): vị tăng của Phái Dương Kì và Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ của Phái Đại Giác thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Lan Khê (蘭溪), xuất thân người Phù Giang (涪江), Tây Thục (西蜀, Tỉnh Tứ Xuyên), họ là Nhiễm (冉). Năm 13 tuổi, ông đến xuất gia ở Đại Từ Tự (大慈寺) vùng Thành Đô (成都), sau đến tham học với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道冲), Bắc Nhàn Cư Giản (北礀居簡), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Vô Minh Huệ Tánh (無明慧性). Vào năm thứ 4 (1246) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元), ông cùng với nhóm đệ tử Nghĩa Ông Thiệu Nhân (義翁紹仁), Long Giang Ứng Tuyên (龍江應宣) đến Thái Tể Phủ ở vùng Cửu Châu (九州, Kyūshū) Nhật Bản, được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) quy y theo, và trú tại Thường Lạc Tự (常樂寺, Jōraku-ji). Vào năm thứ 5 (1253) niên hiệu Kiến Trường (建長), ông đến làm tổ khai sơn Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Thể theo sắc mệnh, vào năm thứ 2 (1265) niên hiệu Văn Vĩnh (文永), ông chuyển đến trú trì Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở kinh đô Kyoto, nhưng sau ba năm ông lại quay trở về Kiến Trường Tự, rồi làm tổ khai sơn của Thiền Hưng Tự (禪興寺, Zenkō-ji). Chính ông là người đã tạo nên cơ sở vững chắc cho Thiền Tông ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau ông bị lưu đày đến vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]), rồi được tha tội, và đến sống ở Thọ Phước Tự (壽福寺). Vào năm đầu (1278) niên hiệu Hoằng An (弘安), ông trở về Kiến Trường Tự, và vào ngày 24 tháng 7 cùng năm đó, ông thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Quy Sơn Thượng Hoàng (龜山上皇, Kameyama Jōkō) ban tặng ông thụy hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), hiệu là Nhật Bản Thiền Sư (日本禪師); đây cũng được xem như là tước hiệu Thiền Sư đầu tiên của Nhật Bản. Ông có để lại Đại Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大覺禪師 語錄) 3 quyển.

lan nhã

Tên tắt của A Lan Nhã hay Viện tu khổ hạnh (chỗ vắng vẻ, thanh tịnh, an nhàn, và tĩnh mịch)—Hermitage—Monastery.

lan thuẫn

(欄楯) Lan là dọc, thuẫn là ngang, tức chỉ cho lan can quanh nhà, hoặc hàng rào bao bọc gốc cây. Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục 111, 467 hạ), nói: Nơi điện Phật tôn nghiêm để đốt hương, chiêm lễ, không được đứng dựa lan can, châu đầu nói, cười. Ngoài ra, kinh Di đà ghi, ở cõi nước Cực lạc, có 7 lớp lan thuẫn, 7 lớp lưới giăng, 7 lớp hàng cây, v.v...

lan thất

(蘭室) Tên gọi khác của chùa viện, tinh xá. Lan, hoặc là gọi tắt của A lan nhã, hoặc lấy nghĩa mùi thơm của hoa lan. Bài tựa của ông Trương thuyết trong Đại đường tây vực kí (Đại 51, 868 thượng), nói: Sự nghiệp của ngài cực kì xán lạn, hơn cả rừng chiên đàn, đức hạnh của ngài hợp với đạo trung dung, hương thơm ngào ngạt khắp lan thất.

lan xa

Một đặc ngữ của Mông Cổ hay Thổ Nhĩ Kỳ ám chỉ sự tán thán—A Mongol or Turkish word implying praise.

lan xa đãi

(蘭奢待) I. Lan Xa Đãi. Tiếng Ấn độ, có nghĩa là khen ngợi. Theo Chu tử ngữ lục, ông Vương đạo đời Đông Tấn thường gọi các vị tăng Ấn độ là Lan xa đãi. Có thuyết cho rằng Lan xa tức là Lan nhã, nghĩa là yên tĩnh, vắng lặng; Đãi nghĩa là chờ đợi. Bởi thế, Lan xa đãi cũng có hàm ý hướng tới chỗ an tĩnh. II. La Xa Đãi. Tên của hương Hoàng thục được cất giữ ở viện Chính thương tại chùa Đông đại ở Nại lương, Nhật bản. Về ý nghĩa của loại hương này thì không được rõ. Chỉ biết nó đã từ Bách tế (Đại hàn) được truyền vào Nhật bản trong năm Thiên bình (729-749) đời Thiên hoàng Thánh vũ.

lang

1) Chó sói—A wolf. 2) Dữ dằn: Fierce. ; (廊) Cũng gọi Tế điện, Độ điện. Tức là hành lang, một kiến trúc được thiết kế để tiện cho việc qua lại giữa các điện đường và phòng xá. Hành lang thông gió giữa các cây cột và câu lan, ở trên không có mái che, có thể thông suốt, gọi là Thấu lang. Nếu hành lang được thiết kế chung quanh điện đường và có hình cây cầu thì gọi là Kiều lang, hoặc Phản độ lang. Nếu hành lang uốn khúc quanh co, thì gọi là Tí chiết lang; nếu hành lang có nhiều khúc quanh liên tiếp nhau, thì gọi là Long vĩ đạo (đường đuôi rồng).

Lang Da Huệ Giác

(瑯琊慧覺, Rōya Ekaku, ?-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, nhân vật sống dưới thời nhà Tống. Cha là Thái Thú Hành Dương (衡陽, Tỉnh Hồ Nam), qua đời nơi vùng đất làm quan này, cho nên ông đến đem quan tài cha trở về quê hương mình, nhưng giữa đường ông lại ghé qua Dược Sơn (藥山) thuộc Lễ Dương (澧陽, Tỉnh Hồ Nam) và xuất gia tại chùa này. Về sau, ông đi ngao du khắp nơi tham vấn chư Thiền đức, cuối cùng kế thừa dòng pháp của Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭). Ông đến trú tại Lang Da Sơn (瑯琊山), thuộc Trừ Châu (滁州, Tỉnh An Huy) và nỗ lực cử xướng tông phong của Lâm Tế. Tuyết Đậu Trùng Hiển (雪竇重顯) là người đồng thời với ông, đã cùng nhau tuyên xướng Thiền đạo, vì vậy người đương thời gọi họ là Nhị Cam Lồ Môn (二甘露門, hai cửa cam lồ). Ông được sắc phong Quảng Chiếu Thiền Sư (廣照禪師). Đệ tử của ông có Định Tuệ Siêu Tín (定慧超信), Trường Thủy Tử Tuyền (長水子璿) là những nhân vật kiệt xuất đương thời.

lang da sơn giác hoà thượng ngữ lục

(琅琊山覺和尚語錄) Cũng gọi Lang gia Giác ngữ lục. Gọi đủ: Trừ châu Lang gia Sơn giác hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Lang gia Tuệ giác thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Tống, do các môn nhân biên tập và được ấn hành vào khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời Minh, được xếp vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 46 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung thu chép lời khai thị đại chúng, thướng đường, tiểu tham, niêm cổ, v.v... của ngài Tuệ giác.

Lang hàm

(瑯函、琅函): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Từ mỹ xưng của hòm thư, hộp thư. Như trong bài thơ Lý Thị Tiểu Trì Đình (李氏小池亭) của Vi Trang (韋莊, 836-910) nhà Tiền Thục có câu: “Gia tàng hà sở bảo, thanh vận mãn lang hàm (家藏何所寶、清韻滿瑯函, nhà chứa vật báu gì, văn chương khắp hòm thư).” (2) Chỉ cho thư tịch của Đạo Giáo. Như trong tác phẩm Nghệ Lâm Phạt Sơn (藝林伐山), phần Tiên Kinh (仙經) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có giải thích rằng: “Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm, giai chỉ Đạo thư dã (瓊文、藻笈、琳篆、瑯函、皆指道書也, Quỳnh Văn, Tảo Cấp, Lâm Triện, Lang Hàm đều chỉ cho các thư tịch của Đạo Giáo).” Trong Hoa Nghiêm Đạo Tràng Khởi Chỉ Đại Lược (華嚴道塲起止大略, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1474), phần Tùy Châu Đại Hồng Sơn Toại Thiền Sư Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn (隨州大洪山遂禪師禮華嚴經文), có đoạn: “Nam Mô Tỳ Lô Giáo Chủ, Hoa Tạng từ tôn, diễn bảo kệ chi kinh văn, bố lang hàm chi ngọc trục, trần trần hỗn nhập, sát sát viên dung (南無毗盧敎主、華藏慈尊、演寶偈之經文、布琅函之玉軸、塵塵混入、剎剎圓融, kính lạy đức Giáo Chủ Tỳ Lô, đấng từ tôn Hoa Tạng, tuyên diễn kinh văn kệ báu, bày khắp cuộn ngọc hòm thư, nơi nơi thâu nhập, chốn chốn viên dung).” Hay trong Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập (林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 67, No. 1304) quyển 5 lại có đoạn: “Ngọc trục lang hàm nghĩ phá đề, Phật ma ninh miễn lập giai thê, chỉ đề hoàng diệp tằng vi dụ, hà tất khu khu thủ ngộ mê (玉軸琅函擬破題、佛魔寧免立階梯、止啼黃葉曾爲喻、何必區區守悟迷, cuộn ngọc hòm thư nghĩ phá đề, Phật ma sao khỏi bậc thứ khoe, dừng thốt lá vàng làm thí dụ, đâu cần khư khư giữ ngộ mê).”

Lang Tuyền Tự

(瀧泉寺, Ryūsen-ji): ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc tại số 20-26 3 Chōme (三丁目), Shitameguro (下目黑), Meguro-ku (目黑區), Tokyo-to (東京都); hiệu núi là Thái Duệ Sơn (泰叡山); còn gọi là Mục Hắc Bất Động Tôn (目黑不動尊). Tượng thờ chính là Bất Động Minh Vương (不動明王). Tương truyền vào năm 808 (Đại Đồng [大同] 3), khi Viên Nhân (圓仁, Ennin) theo hầu thầy Quảng Trí (廣智) lên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), giữa đường được Bất Động Minh Vương (不動明王) báo mộng; bèn cho đấng chí tôn của Nhật Bản là Bất Động Minh Vương và kiến lập chùa này. Vào năm 860 (Trinh Quán [貞觀] 2), Thanh Hòa Thiên Hoàng (清和天皇, Seiwa Tennō) ban sắc ngạch cho chùa; vào năm 1624 (Khoan Vĩnh [寬永] nguyên niên), Tướng Quân Đức Xuyên Gia Quang (德川家光, Tokugawa Iemitsu) đặt trận thế thả chim ưng, cho tạo dựng các ngôi đường xá của chùa. Trong khuôn viên chùa có Thác Độc Cô (獨鈷瀧) tương truyền do Viên Nhân đào nên, và rất nhiều tín đồ đến tham bái nơi đây.

lang tích sơn

Tên khác của Kê Túc Sơn (nơi Ngài Ma Ha Ca Diếp nhập định)—Wolf track hill, another name for Cock-Leg Hill. ; (狼迹山) Tên khác của núi Kê túc (bên Ấn độ), là nơi ngài Ma ha Ca diếp nhập định. [X. kinh Ma ha ma da Q.hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Kê Túc Sơn).

lanh lợi

Clever.

lanh trí

Quick mind—Quick wits.

Lao

勞; C: láo; J: rō;|Có các nghĩa sau: 1. Khó nhọc, khổ. Vất vả, nỗ lực; 2. Theo kinh Duy-ma-cật sở thuyết thì lao có nghĩa là »ô nhiễm«, hoặc »trần ai«.

lao

Lao nhọc—Toil—Labour.

lao khổ

Hard and miserable.

lao kết

Trần lao và kiết sử đều là những tên khác của phiền não—The troublers, or passions, those which hold one in bondage.

lao lữ

Người đồng hành gây nhiều trở ngại, ý nói dục vọng (lúc nào cũng ở bên mình và gây trở ngại cho chính mình)—Troublesome companions, e.g. the passions. ; (勞侶) I. Lao Lữ. Chỉ cho người bị phiền não trói buộc. Lao là trần lao, tên khác của phiền não. Phẩm Đệ tử trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 540 hạ), nói: Vì cùng với bọn ma chung 1 tay, tạo các lao lữ, nên ngươi cùng với bọn ma và các trần, giống hệt như nhau. II. Lao Lữ. Chỉ cho những người làm công việc lao dịch, hoặc các nô bộc. [X. Chính pháp nhãn tạng hành trì Q.thượng].

lao oán

Nỗi oán hận của lao nhọc, hay lao nhọc và oán hận đều là những tên khác của phiền não—The annoyance or hatred of labour, or trouble, or the passions, or demons.

lao quan

(牢關) Cửa ải kiên cố khó vượt qua, ví dụ cảnh giới hướng thượng không thể dùng tư duy phân biệt mà đạt đến được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 331 trung), nói: Một câu cuối cùng mới đến lao quan, bít hết đường đi không thông phàm thánh.

lao sầu

Sorrowful—Dismal—Sad.

lao đao

Unsteady—Unstable.

len lỏi

To battle one's way through difficulties.

lenh đênh

Drifting—Floating.

leo lét

To burn unsteadily.

leo lẻo

Very limpid.

li bà đa

Revata.

li ti

Very small.

Li-la-pa

S: līlapa; »Nhà vua biết thưởng thức«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong cuối thế kỉ thứ 9, có người cho là một đệ tử của Long Thụ.|Li-la-pa là một nhà vua, quen sống nếp sống vương giả. Một hôm, ông tiếp một Du-già sư trong cung điện, thấy hoàn cảnh cơ hàn của vị này ông thấy tội, bèn nói: »Ông khổ quá, chẳng có tài sản gì, phải sống lang thang đây đó.« Vị Du-già sư liền đáp: »Tôi chẳng khổ chút nào, ông mới là một người đáng thương.« Li-la-pa hỏi một cách ngạc nhiên: »Tại sao ông nói như thế?« Ðạo sư trả lời: »Ông lúc nào cũng nơm nớp lo sợ vương quốc bị xâm chiếm, lúc nào cũng sợ quân thần phản bội và vì vậy ông khổ! Về phần tôi, ngay khi nhảy vào lửa tôi cũng không bị lửa thiêu, ăn chất độc cũng không chết. Tôi đã thoát khỏi sự trói buộc của sinh, già, bệnh, chết.« Nghe đây, nhà vua chợt tỉnh và khởi lòng tin vị Du-già sư, bảo: »Trong hoàn cảnh này Ta không thể nào đi lang thang học đạo như ông được, nếu ông có cách nào chỉ ta tu tập trong cung điện, ta sẽ tuân theo«.|Vị Du-già sư dạy phép quán đặc biệt dành cho Li-la-pa là phép thiền định chú tâm quán chiếc nhẫn trên bàn tay mặt của ông. Khi đã Nhất tâm quán nó, Li-la-pa cứ tưởng tượng thần Hô kim cương (s: hevajra) nằm trong nhẫn, xung quanh gồm có quần thần bao bọc. Sau khi đã thuần thục phép quán đó thì từ tình trạng nhất tâm đại định sẽ sinh ra tri kiến trực tiếp. Sau khi thực hiện những lời dạy này, Li-la-pa đạt năng lực và ý chỉ huyền diệu của phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) cùng chung với các thần thông khác. Bài thánh ca của Li-la-pa như sau:|Trong Bốn vô lượng tâm,|nhà vua đang trị vì,|như một sư tử chúa.|Vương miện năm bờm xanh,|là năm trí chư Phật.|Như mười móng sư tử,|rỉa xương thịt con bò,|Mười hạnh Du-già sư|chặt năng lực tối tăm|Ðó là tri kiến đưa,|Li-la-pa tự tại.

lia lịa

Rapidly and continuously.

lim dim

Half-closed eyes.

linh

Spirit—Spiritual—Clever. ; (鈴) I. Linh. Phạm: Ghaịỉà. Loại chuông đẩu nhỏ bằng đồng, hình cái chén, đường kính khoảng 10 phân tây, dùng để đánh trong các thời khóa tụng niệm. Thiền tông dùng loại pháp khí này đầu tiên. Còn Mật giáo gọi nó là Kim uyển. II. Linh. Cũng gọi Kim cương linh, Kim linh. Pháp khí bằng đồng, hình cái chuông, bên trong có quả lắc, trên có cán cầm. Trong Mật giáo, khi tu pháp, lắc linh để đánh thức các vị tôn hoặc làm cho các Ngài hoan hỉ. Linh có 3 nghĩa: Thức tỉnh, hoan hỉ, và thuyết pháp. Lắc linh để cúng dường chư tôn, gọi là Chấn linh. Lại vì cán linh là dùng một phần chày kim cương, cho nên gọi là Kim cương linh. Tùy theo hình dáng của cán cầm mà linh được chia làm 5 loại: Linh 1 chĩa, linh 3 chĩa, linh 5 chĩa, linh báu, linh tháp (linh suất đô bà)... Thông thường 5 loại linh và 5 loại chày kim cương được đặt ở những vị trí cố định trên đại đàn tu pháp. Số 5 là tượng trưng cho 5 trí 5 Phật, linh tiêu biểu cho thuyết pháp. Chày kim cương là hình Tam muội da của Kim cương tát đóa, vị tôn thứ nhất, 1 trong 37 vị tôn; còn Kim cương linh là hình Tam muội da của bồ tát Kim cương linh, là vị tôn cuối cùng. III. Linh. Loại chuông nhỏ, bên trong có con lắc, được treo trên màn báu hoặc trang nghiêm trên tàu mái trước điện Phật, mỗi khi gió thổi làm lay động thì linh phát ra âm thanh như trỗi nhạc. Kinh Di lặc thướng sinh (Đại 14, 419 trung), nói: Bấy giờ, trăm nghìn vị Phạm vương ở 10 phương, mỗi vị đều cầm một vật báu nhiệm mầu của Phạm thiên, lấy đó làm linh báu, treo trên bảo trướng.

linh biện

(靈辯) (477-522) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Bắc Ngụy, người Tấn dương, Thái nguyên (thuộc tỉnh Sơn tây). Sư xuất gia từ thủa nhỏ, thường đọc kinh Đại thừa và có chí nguyện chú thích kinh Hoa nghiêm. Sau, sư đến chùa Thanh lương trên núi Ngũ đài, niên hiệu Hi bình năm đầu (516) sư bắt đầu viết luận Hoa nghiêm, năm sau sư dời đến chùa Tung nham tại núi Huyền đoài; đến năm Thần qui thứ 3 (520) sư hoàn thành bộ luận Hoa nghiêm 100 quyển. Vua Hiếu minh đế thường thỉnh sư vào đại nội giảng kinh Đại phẩm bát nhã. Năm Chính quang thứ 3 (522) sư tịch ở chùa Dung giác, hưởng dương 46 tuổi. Luận Hoa nghiêm do sư soạn nay chỉ còn quyển thứ 10 là chú thích phẩm Như lai quang minh giác. [X. Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.1; Đại phương quảng Hoa nghiêm kinh cảm ứng truyện; Cổ thanh lương truyện Q.thượng].

linh bình

(linh bình ) Dáng đi thất thểu. Phẩm Tín giải kinh Pháp hoa (Đại 9, 17 trung), nói: Linh bình tân khổ ngũ thập dư niên (Đắng cay thất thểu hơn 50 năm).

linh bạc

(靈簿) Cũng gọi Quá khứ trướng, Linh danh bạ, Linh hội bạ, Trước quỉ bạ, Quỉ bạ, Thường lạc kí, Điện hương lục. Quyển sổ ghi chép danh hiệu Phật, Bồ tát để lễ bái và tên người chết để cầu nguyện hàng ngày. Đầu đời Đường, Giới thiền sư vâng mệnh vua đem phối hợp mỗi ngày trong 30 ngày của 1 tháng với danh hiệu của 1 vị Phật, ngày mùng 1 là Phật Định quang, cho đến ngày 30 là Phật Thích ca. Hàng ngày lễ bái danh hiệu Phật, Bồ tát là tu phúc báo nhân thiên. Người đời sau lập Linh bạ ghi chép danh hiệu Phật, Bồ tát để lễ bái, cúng dường hàng ngày, chính là đã bắt nguồn từ đó.

linh chi

Một loại cây tượng trưng cho điềm lành và trường thọ—The auspicious plant, emblem of good luck and long life. ; (靈芝) (1048-1116) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Bắc Tống, người Dư hàng (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), họ Đường, sư vốn tên là Nguyên chiếu, nhưng trụ trì chùa Linh chi ở Hàng châu trong 30 năm, nên người đời gọi là Linh chi tôn giả. (xt. Nguyên Chiếu).

Linh Chi Nguyên Chiếu

(靈芝元照, Reishi Genshō, 1048-1116): vị tăng của Luật Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống, người vùng Dư Hàng (餘杭, Huyện Hàng, Triết Giang), họ Đường (唐), tự là Trạm Nhiên (湛然), hiệu An Nhẫn Tử (安忍子). Lúc còn thiếu niên ông đã xa lánh thế tục, đến năm 18 tuổi thì xuất gia, theo Thần Ngộ Xử Khiêm (神悟處謙) học giáo lý Thiên Thai, nhưng chí ông lại thích về Luật. Về sau, ông thọ Bồ Tát giới với Quảng Từ (廣慈). Trong khoảng thời gian niên hiệu Nguyên Phong (元豐, 1078-1085), ông làm trú trì Chiêu Khánh Tự (昭慶寺), chuyên tâm truyền bá Luật tông và truyền giới. Đến cuối đời, ông chuyển về vùng Linh Chi (靈芝), dừng chân tại đây trong vòng 30 năm, cho nên người đời thường gọi ông là Linh Chi Tôn Giả (靈芝尊者). Vào tháng 9 năm thứ 6 (1116) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông thị tịch, được ban thụy hiệu Đại Trí Luật Sư (大智律師). Trước tác của ông có sách chú thích của các kinh Vô Lượng Thọ và A Di Đà cũng như một số tác phẩm khác.

linh chiếu

(靈照) I. Linh Chiếu. Nữ cư sĩ Phật giáo Trung quốc, là con gái của Bàng uẩn ở Tương châu. Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 31 hạ), ghi: Cư sĩ sắp nhập tịch, bảo Linh chiếu rằng: Hãy xem chừng mặt trời, hễ đến giờ ngọ thì báo cho ta biết. Linh chiếu liền thưa: Mặt trời đã đúng ngọ rồi, nhưng bị nhật thực. Cư sĩ vừa bước ra cửa để xem, Linh chiếu liền lên chỗ ngồi của cha, ngồi chắp tay mà hóa. Cư sĩ cười bảo: Con gái của ta nhanh thật!. Người sau dùng tên Linh chiếu để gọi chung cho các cô gái. [X. Phật tổ thống kỉ Q.40]. II. Linh Chiếu (870-947). Thiền sư Cao li, đến Trung quốc vào thời Ngũ đại. Đầu tiên, sư đến Mân (Phúc kiến), Việt (Chiết giang) tham lễ ngài Tuyết phong Nghĩa tồn và được nối pháp. Tính sư điềm đạm, sống đơn giản, chỉ giữ 1 áo nạp (áo vá), siêng làm mọi việc, người vùng Mân gọi sư là Chiếu Bá Nạp (Linh chiếu áo vải). Sư lần lượt ở núi Tề vân tại Vụ châu, viện Kính thanh ở Việt châu, viện Báo từ, người đến theo học rất đông. Sau, Trung hiến vương họ Tiền xây chùa Long hoa ở Hàng châu, thờ linh cốt của Phó Đại sĩ Kim hoa, ban sắc cho sư làm trụ trì. Năm Thiên phúc 12 (947) sư tịch, thọ 78 tuổi, thụy hiệu là Chân Giác Đại Sư. [X. Tổ đường tập Q.11; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18; Liên đăng hội yếu Q.24].

linh cung

(靈供) Cúng thức ăn chay trước bài vị của người chết. Trong vòng 49 ngày sau khi chết, người chết vẫn chưa đầu thai qua thế giới khác, còn là thân Trung ấm, cũng gọi Kiện đạt phược, Hán dịch là Tầm hương, tức là tìm mùi thơm mà ăn, bởi thế đặt cúng các thức ăn chay cho người chết hưởng mùi hương của thực vật. Nếu người phúc ít thì hưởng mùi hôi, người phúc nhiều thì hưởng mùi thơm. [X. luận Câu xá Q.9; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng].

linh cúng

Cúng vong linh người chết trong vòng 49 ngày (bảy thất đầu)—Offerings to the spirits who are about the dead during the forty-nine days of masses.

linh cốc tự

(靈穀寺) Chùa ở phía nam Chung sơn, đông bắc thành phố Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc, do thiền sư Bảo chí sáng lập vào thời Lưu Tống thuộc Nam triều, có tên là chùa Bảo lâm. Thời Lương vũ đế, chùa được đổi tên là Khai thiện, đến đời Tống gọi là chùa Thái bình hưng quốc, sau lại đổi là chùa Tưởng sơn, cửa sơn môn (Tam quan) có tấm biển đề dòng chữ: Đệ Nhất Thiền Lâm. Khoảng năm Hồng vũ (1368-1398) đời Minh, chùa được dời đến chân núi phía đông, được vua ban hiệu là chùa Linh cốc. Chùa này có qui mô rất lớn, từ sơn môn (Tam quan) đến Đại điện cách nhau khoảng 3 cây số, dọc đường nhà điện san sát, được xem là ngôi chùa nổi tiếng bậc nhất ở Kim lăng. Về sau, chùa bị giặc Thái bình thiên quốc phá hủy, chỉ còn lại Đại điện là kiến trúc đầu đời Minh. Năm Dân quốc 17 (1928), sau cuộc Bắc phạt, chính phủ có xây tháp để kỉ niệm các chiến sĩ trận vong ở chùa này và đặt tên là Linh cốc tự tháp. Hiện nay, trong chùa có tháp xá lợi thờ xương đầu của ngài Huyền trang và tàng trữ các di vật văn hóa Phật giáo được tìm thấy trong tháp Lôi phong như: Kinh Nhất thiết Như lai tâm bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni, di tích chép kinh của người đời Đường, v.v... [X. Kim lăng phạm sát chí Q.3; Đại minh nhất thống chí Q.6].

linh cốt

(靈骨) Phạm:Zarìra Hán âm: Xá lợi. Cũng gọi Cốt thân. Thông thường chỉ cho di cốt của Phật, tức là xá lợi Phật. Ngoài ra di cốt của người chết cũng được tôn xưng là Linh cốt. Trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3, có mục Linh cốt nhập tháp, tức nói về việc đưa di cốt của vị tăng quá cố vào tháp sau khi thiêu. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.5].

linh cữu

Coffin.

linh diệu

Mysterious—Abstruse—Clever. ; (靈妙) Thiêng liêng mầu nhiệm. Chỉ cho việc vi diệu bất khả tư nghị mà trí của con người không lường biết được. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển hạ phần 1 (Đại 48, 409 thượng), nói: Chỉ vì tâm ấy vốn linh diệu tự tại, nhưng Kinh Nhất thiết Như lai bí mật toàn thân xá lợi bảo khiếp ấn đà la ni và di bản chép kinh vào đời Đường được cất giữ ở chùa Linh cốc không giữ được tự tính, nên theo duyên mê ngộ, tạo nghiệp chịu báo thì gọi là chúng sinh, còn nếu tu đạo chứng được chân lí thì gọi là Phật.

linh dương quải giác

(羚羊掛角) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Dê rừng treo sừng mà ngủ. Thiền gia dùng nhóm từ này để ví dụ người đại ngộ, dứt bặt sự mê chấp, giống như con dê rừng khi ngủ treo sừng lên cành cây, chân không chạm đất, hoàn toàn không để lại dấu vết gì. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 328 trung), nói: Nếu ta nói đông nói tây, thì ông đuổi theo lời nói, còn nếu ta như linh dương quải dác thì ông tìm bắt chỗ nào?

linh dược

Effective drug

linh dụ

(靈裕) (518-605) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người huyện Khúc dương, Định châu (tỉnh Hà bắc), họ Triệu. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở chùa Ứng giác tại quận Triệu. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Đạo bằng học Địa luận, 3 năm sau, trở về Định châu, thụ giới Cụ túc. Năm 26 tuổi, sư theo ngài Ẩn công học luật Tứ phần, theo 2 ngài Tung, Lâm học luận Thành thực, theo 3 ngài An, Du, Vinh học luận Tạp a tì đàm tâm. Sau, sư theo học ngài Đại thống Pháp thượng (495-580), từ đó sư chuyên học Hoa nghiêm, Niết bàn, Địa luận, Luật bộ. Sư còn thông suốt cả ngoại điển, nổi tiếng ở đất nghiệp. Lúc học hỏi, sư thường tìm hiểu sâu rộng những cách giải thích xưa và phát hiện những điều mới lạ. Khi giảng thuyết thì sư chỉ nói về cương lĩnh, chứ không giảng từng câu từng chữ, do đó 7 chúng đều cảm phục, tôn sư là Dụ Bồ Tát. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật pháp, sư hướng dẫn hơn 20 vị tăng đồng học vào ở trong xóm làng vắng vẻ, ban ngày đọc sách đời, ban đêm bàn Phật lí. Đến đời Tùy giáo pháp được phục hưng, sư đi du hóa các vùng Yên, Triệu v.v... Năm Khai hoàng thứ 10 (590) sư đến chùa Linh thông ở Lạc châu, năm sau sư trụ ở chùa Đại từ tại Tương châu, rồi vâng sắc trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường an. Vua muốn trao chức Quốc thống cho sư, nhưng sư nhất định chối từ, rồi trở về trụ ở chùa Diễn không tại Tương châu, chuyên việc thuyết giảng. Niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) sư tịch, thọ 88 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thập địa kinh sớ, Duy ma kinh sớ, Bát nhã kinh sớ, Đại thừa nghĩa chương, Thánh tích kí, Phật pháp đông hành kí, An dân luận, Diệt pháp luận, Tế thế tam bảo kí. [X. Tục cao tăng truyện Q.9; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.2; Thích thị lục thiếp Q.hạ; Tân tu khoa phân lục học tăng truyện Q.13; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.2; Cựu đường thư kinh tịch chí thứ 27].

linh giác

(靈覺) Chỉ cho tính Phật giác ngộ sẵn có trong chúng sinh, hoặc chỉ cho trí tuệ linh diệu không thể nghĩ bàn. Ngoài ra, tính Phật sẵn có của chúng sinh với trí tuệ của Phật không khác, gọi là Linh giác bất nhị.

linh giới

The realm of departed spirits. ; (靈界) Chỉ cho thế giới tối tăm của vong linh. Diệm la vương cúng hành pháp thứ đệ (Đại 21, 376 thượng), nói: Với lòng kính cẩn, đem hương thơm, thức ăn uống, tiền của, vải vóc, v.v... trước dâng cúng chư Phật mười phương (...) tất cả Minh quan, Minh đạo, Tăng, Ni, 500 quỉ đói ở Linh giới.

linh hoạt

Lively—Vivid.

linh hà

(靈河) Cũng gọi Long tuyền. Sông có loài rồng ở. Nhờ sức của rồng, dù có hạn hán, nước sông vẫn không khô cạn. An lập tập quyển thượng (Đại 47, 7 trung nói: Gửi hoa nơi Ngũ tịnh, nắng gió không sợ héo; gửi nước nơi Linh hà, trời hạn không làm cạn.

linh hồn

Soul—See Thần Thức. ; (靈魂) Thông thường, linh hồn được xem là yếu tố làm chủ tể các hoạt động và tri giác của con người. Theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ học và nhân loại học cận đại, cách đây 50.000 năm về trước con người đã có quan niệm về linh hồn và cho rằng sau khi chết linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại. Nhưng nói chung thì quan niệm về linh hồn của người nguyên thủy rất đơn giản, chất phác, thường mang tính cách vật chất mạnh mẽ. Mãi đến sau khi tông giáo, triết học dần dần phát triển, thì quan niệm linh hồn của nhân loại mới hướng tới tinh thần thống nhất phi vật chất hóa. Chẳng hạn có những tông giáo, triết học tin rằng linh hồn có thể tồn tại độc lập sau khi nhục thể tan rã, rồi tiến bước nữa mà cho rằng linh hồn là thực thể tinh thần bất diệt. Tuy có nhiều tông giáo, triết học chủ trương linh hồn tồn tại, nhưng bàn về đặc tính, nguồn gốc, cứu cánh của linh hồn là gì thì lại có rất nhiều quan điểm khác nhau. Có thuyết chủ trương linh hồn đồng nghĩa với tinh thần hoặc tâm ý. Gần đây, trong triết học, người ta thấy xuất hiện những học thuyết như: Hiện tượng luận, Hiện thực luận, Duy vật luận v.v... đại khái đều phản đối thuyết linh hồn tồn tại, không thừa nhận nó là 1 thực thể. Phật giáo vốn không chủ trương Linh nhục nhị nguyên quan, Linh hồn bất diệt luận. Đối với vấn đề đồng, dị giữa linh hồn và nhục thể, đức Phật không giải đáp. Nghĩa là đức Phật đã không trả lời câu hỏi như linh hồn và thể xác là 1 hay khác nhau, mà Ngài cũng không thừa nhận linh hồn và thể xác là 2 cái hoàn toàn tách biệt hẳn nhau. Đức Phật vốn chủ trương thực tiễn, nên coi trọng sự tồn tại của tâm và triệt để đứng trên lập trường tâm, vật tương quan, chẳng coi cái nào là thực thể bất diệt, cũng chẳng coi cái nào là giả tướng sinh diệt, mà thừa nhận tâm, vật đều là không, không có tự tính. Nhưng, từ sau khi thuyết luân hồi chuyển sinh được Phật giáo sử dụng, thì vấn đề chủ thể của luân hồi đã dẫn đến cuộc tranh luận trọng đại trong Phật giáo, như Thần diệt bất diệt luận tranh ở thời Nam Bắc triều v.v... kết quả là chủ thể của luân hồi mang sắc thái giống như linh hồn. (xt. Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

linh hữu hội

(靈友會) Một giáo phái thuộc tông Nhật liên, Nhật bản, do ông Cửu bảo dác thái lang (1892- 1944) sáng lập. Linh hữu nghĩa là liên kết linh hồn của chính mình với vạn linh trong vũ trụ. Phái này chủ trương kết hợp tín ngưỡng kinh Pháp hoa với tập tục tế tổ và cho rằng thể hiện pháp Bồ tát của trí Phật là dạy người cúng dường tổ tiên; mà cúng dường linh hồn của tổ tiên cũng tức là cúng dường vạn linh trong vũ trụ, khiến cho Thần, Phật, Linh hợp làm một; nhờ lòng tin thành kính ấy mà Thần, Phật, Linh cảm ứng lẫn nhau rồi phát sinh linh nghiệm. Hội này lấy tín ngưỡng kinh Pháp hoa và cúng dường tổ tiên làm giáo nghĩa nền tảng. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, hội này lại chia ra nhiều giáo phái khác.

Linh Hựu

靈祐|Quy Sơn Linh Hựu

Linh Không

(靈空, Reikū, 1652-1739): vị Tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào đầu và giữa thời đại Giang Hộ, Tổ của Dòng An Lạc Viện (安樂院流); húy là Quang Khiêm (光謙), tự Linh Không (靈空), hiệu Huyễn Huyễn Am (幻幻庵), xuất thân vùng Phước Cương (福岡, Fukuoka), Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), họ Cương Thôn (岡村, Okamura). Vào năm 1665, ông xuất gia tại Tùng Nguyên Am (松源庵) ở vùng Trúc Tiền, đến năm 1668 thì lên tu học trên Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan). Năm 1678, ông thọ 10 điều cấm giới trong Phạm Võng Kinh (梵綱經), rồi năm sau thì thọ tiếp 48 giới khinh từ Diệu Lập (妙立, Myōryū). Đến năm 1689, ông viết cuốn Tịch Tà Biên (闢邪編) để bài xích pháp môn truyền khẩu gọi là Huyền Chỉ Quy Mạng Đàn (玄指歸命壇). Vào năm 1693, ông nhận lệnh của Công Biện (公辯) đến trú trì An Lạc Viện (安樂院), rồi chỉnh bị chỉnh bị nơi đây thành đạo tràng truyền bá Luật Tông, biến thành cứ địa của Phái An Lạc Luật (安樂律派), chuyên kiêm học cả Phạn Cương Đại Giới (梵綱大戒) và Tứ Phần Luật (四分律). Ông chuyển Tịnh Danh Viện (淨名院) ở Khoan Vĩnh Tự (寬永寺) vùng Giang Hộ (江戸, Edo) thành Luật Viện, kiến lập Hưng Vân Viện (興雲院) ở vùng Nhật Quang (日光, Nikkō), v.v., và tận lực phục hưng Thiên Thai Giáo Quán. Trước tác của ông có Tịch Tà Biên 1 quyển, Pháp Hoa Hoằng Truyền (法華弘傳) 2 quyển, Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao Tường Giải Ngạn Thuyên (十不二門指要抄詳解諺詮) 3 quyển, Tức Tâm Niệm Phật An Tâm Quyết Định Đàm Nghĩa Bổn (卽心念佛安心決定談義本) 1 quyển, v.v.

linh kiệu

(靈嶠) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Đường, là đệ tử của Ngài Mã tổ Đạo nhất. Sư từng ở ẩn trong hang động trước núi Cổ sơn ở huyện Mân, tỉnh Phúc kiến, tức nay là chùa Dũng tuyền ở chân ngọn núi Bạch vân thuộc Cổ sơn. Tương truyền, vùng đất này vốn là cái đầm sâu, trong đầm có con rồng độc, thường làm hại dân cư. Năm Kiến trung thứ 4 (783) đời Đường, viên quan ở quận này là Bùi trụ thỉnh sư chế phục rồng; sư đến bên bờ đầm tụng kinh Hoa nghiêm, rồng bèn bỏ đi. Dân chúng thâm cảm uy đức của sư, nên xây cất một ngôi chùa ở đầm này và thỉnh sư trụ trì, được vua ban tấm biển Hoa Nghiêm, gọi là chùa Hoa nghiêm. Sư ở đây hoằng pháp rất thịnh. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

Linh Mộc Chánh Tam

(鈴木正三, Suzuki Shōsan, 1579-1655): vị Thiền Tăng sống vào đầu thời kỳ Giang Hộ; húy là Chánh Tam (正三), Xương Tam (昌三), Thánh Tam (聖三), hay Trùng Tam (重三); thông xưng là Cửu Thái Phu (九太夫); hiệu Huyền Huyền Hiên (玄玄軒), Thạch Bình Đạo Nhân (石平道人); xuất thân vùng Túc Trợ (足助, Asuke), Tam Hà (三河, Mikawa, thuộc Aichi-ken [愛知縣]); trưởng nam của Linh Mộc Trùng Thứ (鈴木重次, Suzuki Shigetsugi), anh của Linh Mộc Trùng Thành (鈴木重成, Suzuki Shigenari). Ông đã từng phục vụ cho hai Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) và Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada), lập nhiều chiến công trong trận chiến Sekigahara (關ヶ原) cũng như trận công kích Thành Osaka; nhưng đến năm 42 tuổi, ông xuất gia. Ông từng đến tham Thiền học đạo với chư vị cao tăng của Lâm Tế Tông cũng như Tào Động Tông. Đến năm 1624, ông sáng lập Ân Chơn Tự (恩眞寺) ở vùng Tam Hà. Vào năm 1641, sau vụ Loạn Đảo Nguyên (島原の亂, Shimabara-no-ran), ông đến vùng Thiên Thảo (天草, Amakusa), viết cuốn Phá Cát Lợi Chi Đan (破吉利支丹) và nổ lực bài trừ Thiên Chúa Giáo. Đến cuối đời, ông chuyên tâm giáo hóa chúng đạo tục, khuyến khích hành Thiền ở Liễu Tâm Am (了心庵) vùng Thiển Thảo (淺草, Asakusa), Giang Hộ. Trước tác của ông có rất nhiều như Lô Án Kiều (驢案橋) 3 quyển, Nhị Nhân Tỳ Kheo Ni (二人比丘尼) 2 quyển, Vạn Dân Đức Dụng (萬民德用) 1 quyển, Manh An Trượng (盲安杖) 1 quyển, Phá Cát Lợi Chi Đan (破吉利支丹) 1 quyển, Niệm Phật Thảo Chỉ (念佛草紙) 2 quyển, Linh Mộc Chánh Tam Đạo Nhân Toàn Tập (鈴木正三道人全集) 1 quyển, Phản Cố Tập (反故集), Nhân Quả Vật Ngữ (因果物語), v.v.

linh mộc học thuật tài đoàn

(鈴木學術財團) Một tổ chức nghiên cứu học thuật do giới Phật giáo và giới kinh tế tài chính Nhật bản liên kết thành lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 với mục đích nghiên cứu tư tưởng Đông phương và tông giáo thế giới. Những vị lãnh đạo chủ chốt trong đoàn thể này gồm những học giả Phật giáo nổi tiếng quốc tế như: Linh mộc đại chuyết, Kim thương viên chiếu, Trủng bản thiện long, Sơn khẩu ích, Trường vĩ nhã nhân, Trung thôn nguyên, Cửu tùng chân nhất, v.v... Ngoài ra còn có 1 số các học giả, lãnh tụ các tông phái làm hội viên, nghiên cứu viên, bình luận viên, v.v... cho nên từ khi thành lập đến nay, tổ chức này được khen ngợi là đoàn thể nghiên cứu học thuật cao nhất trong giới văn hóa Phật giáo hiện nay. Hội trưởng là ông Linh mộc đại chuyết, Phó hội trưởng là ông Cửu tùng chân nhất. Sau khi ông Linh mộc đại chuyết qua đời thì chức vụ Hội trưởng bỏ trống. Từ ngày thành lập đến nay, ngoài việc đặt ra các khoản tiền khen thưởng để giúp đỡ các học giả nghiên cứu, Tài đoàn này còn xuất bản nhiều bộ sách lớn, các loại kinh điển nguyên bản của Phật giáo và các sách nghiên cứu chuyên đề. Trong đó, quan trọng nhất gồm các bộ: Ấn độ Phật giáo sử (nguyên văn Tây tạng, được dịch ra tiếng Đức) của Đa la na tha (Phạm: Tàranàtha), Phật giáo sử (bản dịnh tiếng Anh) của Bố đốn (Tạng: Bu-ston), Trung biên phân biệt luận thích sớ, Trung biên phân biệt Thế thân thích luận (bản tiếng Phạm), Phạm tạng Anh Bát nhã kinh điển từ điển, Tạng Hòa đối chiếu cứu cánh Nhất thừa bảo tính luận nghiên cứu, Phạm Hòa đại từ điển, Vọng nguyệt Phật giáo đại từ điển (bản tăng đính). Ngoài ra, tổ chức này còn in chụp bộ Đại tạng kinh Tây tạng bản Bắc kinh, gồm 168 quyển, bắt đầu in vào năm 1955 và hoàn thành vào năm 1961. Rồi từ năm 1964, mỗi năm Tài đoàn phát hành 1 kì Niên báo nghiên cứu, gồm những luận văn chuyên môn do các ủy viên văn hóa của Tài đoàn soạn, phần nhiều là việc báo cáo về việc nghiên cứu các văn hiến tiếng Phạm, Tây tạng và có phụ thêm hơn 10 bài phê bình sách với nội dung nghiêm túc, đều rất cần thiết cho việc nghiên cứu Phật giáo học đương đại. [X. Cận đại Nhật bản Phật giáo nghiên cứu đích phát triển (Lâm truyền phương)].

Linh Mộc Trùng Thành

(鈴木重成, Suzuki Shigenari, 1588-1653): quan chức vào đầu thời Giang Hộ, con trai thứ 3 của Linh Mộc Trùng Thứ (鈴木重次, Suzuki Shigetsugi); anh của Thiền tăng Linh Mộc Chánh Tam (鈴木正三, Suzuki Shōsan); thông xưng là Tam Lang Cửu Lang (三郎九郎). Ông từng phục vụ cho hai Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) và Đức Xuyên Tú Trung (德川秀忠, Tokugawa Hidetada). Trong vụ Loạn Đảo Nguyên (島原の亂, Shimabara-no-ran) bộc phát vào năm 1637 (Khoan Vĩnh [寛永] 14), ông đi theo Tùng Bình Tín Cương (松平信綱, Matsudaira Nobutsuna), lao vào chiến địa, tham gia công kích thành. Sau chiến loạn, vào năm 1641 (Khoan Vĩnh 18), ông được bổ nhiệm làm quan đại diện cho vùng Thiên Thảo (天草, Amakusa). Tại đây, ông đã tận lực cải cách cuộc sống người dân, đặc biệt kiến nghị lên chính quyền Mạc Phủ về chính sách giảm bớt cống nạp hằng năm; nhưng chẳng ai lắng nghe ông cả. Cuối cùng, vì quá bất mãn và đau xót trước thực trạng như vậy, ông để lại bức Tố Trạng và dùng đao tự vẫn tại tư gia của ông vào năm 1563 (Thừa Ứng [承應] 2), hưởng thọ 66 tuổi. Chính quyền Mạc Phủ vô cùng kinh ngạc trước việc làm của Trùng Thành, nên đã kiểm thảo lại tất cả và tiến hành cho miễn giảm cống nạp hằng năm. Người dân vùng Thiên Thảo tưởng nhớ đến ân đức ấy, đã lập đền thờ phụng ông.

linh mộc đại chuyết

(鈴木大拙) (1870-1966) Học giả Phật giáo Nhật bản, thuộc tông Lâm tế. Ông giỏi Anh văn, các sách Thiền viết bằng tiếng Anh của ông có tới vài mươi bộ. Ông có công rất lớn đối với việc truyền bá tư tưởng Đông phương và Thiền học sang các nước Âu Mĩ. Năm lên 5 tuổi, cha mất. Năm 21 tuổi ông vào trường chuyên môn ở Đông kinh (tiền thân của đại học Tảo đạo điền ở Đông kinh) để học Anh văn. Về sau, ông theo ngài Kim bắc Hồng xuyên học Thiền ở chùa Viên giác tại Liêm thương. Năm sau, ngài Kim bắc Hồng xuyên thị tịch, ông đến ngài Tông diễn tham thiền, chuyên tâm tu hành và đọc rất nhiều sách nói về Thiền, Phật học, triết học Tây phương, v.v... Trong thời gian này, ông liên tục phiên dịch các sách tiếng Anh và làm chủ biên tạp chí trong 11 năm. Năm 30 tuổi sau khi phiên dịch cuốn Phật Đà Chi Phúc Âm (The Buddha’s Gospel), ông lại hoàn thành bản dịch tiếng Anh bộ luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã minh (Azvaghowa’s Discourse on the Awakening of Faith in the Mahàyàna). Năm 35 tuổi, ông theo ngài Tông diễn đi giảng diễn ở các vùng thuộc miền Đông châu Mĩ. Năm 37 tuổi, ông cho ra đời cuốn Đại Thừa Phật Giáo Khái Luận (Out lines of Mahàyàna Buddhism) bằng tiếng Anh. Sau đó, ông du học ở các nước Anh, Đức, Pháp, Thụy sĩ... Sau khi về nước, ông làm giáo sư ở các trường Đại học Đế quốc ở Đông kinh, Đại học Đại cốc và chủ biên tạp chí Thiền Đạo. Ông lại cộng tác với ông Tá tá mộc nguyệt tiều phiên dịch các sách nói về giáo nghĩa Chân tông ra tiếng Anh. Năm 41 tuổi, ông kết hôn. Năm Chiêu hòa thứ 8 (1933), lúc đó ông đã 63 tuổi, đạt được học vị Tiến sĩ văn học qua luận án Nghiên cứu kinh Lăng già. Năm sau ông đến các nước Triều tiên, Trung quốc... tìm các di tích Phật giáo. Ông đã nhiều lần sang Mĩ dạy học và giảng diễn. Ông từng thành lập Hiệp hội tín đồ Phật giáo Đông phương ở trường Đại học Đại cốc, xuất bản tạp chí bằng tiếng Anh, phát hành liên tục trong 20 năm. Ông thiết lập văn khố Tùng Gia Cương ở chùa Đông khánh tại Liêm thương. Năm 79 tuổi, ông được tiến cử làm hội viên của viện Học sĩ Nhật bản và được tặng huân chương văn hóa. Ông từng tham dự Đại hội các nhà Triết học Đông Tây lần thứ 2, thứ 3 do trường Đại học Hạ uy di tổ chức. Năm 85 tuổi, ông thành lập và làm Hội trưởng hội Nghiên cứu Đại tạng kinh Tây tạng, xúc tiến việc in chụp Đại tạng kinh Tây tạng bản Bắc kinh, gồm 151 quyển (Cam châu nhĩ 45 quyển, Đan châu nhĩ 105 quyển, Mục lục bộ 1 quyển) và tham gia biên soạn Vọng Nguyệt Phật Giáo Đại Từ Điển. Năm 91 tuổi, ông lại ấn hành Tây Tạng Đại Tạng Kinh Tục Thiên bản Bắc kinh (Tông khách toàn thư, Chương gia toàn thư) gồm 13 quyển, Tây Tạng Đại Tạng Kinh Tổng Mục Lục và Sách Dẫn 4 quyển. Năm 92 tuổi, ông cải tổ hội Nghiên cứu thành Linh Mộc Học Thuật Tài Đoàn. Năm sau, ông hoàn thành Vọng nguyệt Phật giáo đại từ điển bổ di 2 quyển. Năm Chiêu hòa 41 (1966) ông qua đời, thọ 97 tuổi. Ông có các tác phẩm: Linh mộc đại chuyết tuyển tập, Linh mộc đại chuyết toàn tập. [X. Linh mộc đại chuyết đích sinh bình dữ tư tưởng (Thu nguyệt Long mân)].

linh mộc đại chuyết tuyển tập

(鈴木大拙選集) Tác phẩm, 26 quyển, do ông Linh mộc đại chuyết (1870-1966), người Nhật bản soạn. Trong các tác phẩm của Linh mộc đại chuyết, tuyển tập này là bộ sách tương đối phổ thông, dễ hiểu, mọi người đều có thể tiếp thu được. Nội dung sách này chia làm 4 phần: 1. Về Thiền, gồm các bộ luận: Tư tưởng thiền, Con đường vào thiền, Nghiên cứu kinh nghiệm thiền, Tư tưởng cơ bản của ngài Lâm tế, Thiền và văn hóa Nhật bản, Sinh hoạt thiền, Ý nghĩa sinh hoạt Thiền đường thời cận đại, v.v... 2. Về Tịnh độ, gồm các bộ luận nói về sự thực thể nghiệm tông giáo, về người cực tốt, về hệ thống tư tưởng Tịnh độ, v.v... 3. Về Phật giáo, gồm các luận nói về Phật giáo và Cơ đốc giáo, Đại ý của Phật giáo, Phật giáo Nhật bản, Điểm nổi bật của tư tưởng Phật giáo trên lịch sử văn hóa Viễn đông, Sinh hoạt Phật giáo, và tính bị động. 4. Tổng luận, gồm các luận nói về tông giáo với con người hiện đại, Đông phương và Tây phương, Tông giáo nhập môn, Linh tính Nhật bản, Tính phủ định văn hóa của tông giáo, Nói với thanh niên. [X. Linh mộc đại chuyết đích nhân dữ học vấn (Cổ điền Thiệu khâm)].

linh mộng

(靈夢) Giấc mộng linh nghiệm, không thể tưởng tượng. Thông thường, dân gian tin rằng mộng là do chư thiên, thần, Phật báo trước một việc gì sắp xảy ra, căn cứ vào điềm mộng lành, dữ, chính, tà có thể đoán được việc lành, dữ sắp xảy ra trong hiện thực, cho nên bất luận người báo mộng là thần, Phật hoặc tổ tiên, nếu như cảnh trong mộng đúng với hoàn cảnh thực tế ngày sau, thì gọi là Linh mộng. Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa cho linh mộng là có thật, nhưng Đại thừa thì bác bỏ và cho đó là vọng kiến. Trong kinh điển Phật có rất nhiều chỗ ghi chép về linh mộng, như kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1, v.v... có ghi linh mộng bạch tượng gá thai, kinh Đại phẩm bát nhã, kinh Bát chu tam muội quyển thượng, v.v... cũng có nói việc trong mộng quán thấy Phật A di đà và được cảm ứng. Ngoài ra, trong các bộ Cao tăng truyện Trung quốc, Nhật bản cũng có rất nhiều sự tích về linh mộng. [X. luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Mộng, Mộng Kinh).

linh mụ tự

(靈媽寺) Chùa ở thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên thuộc miền Trung Việt nam, do chúa Nguyễn hoàng sáng lập vào năm 1601, đây là ngôi chùa nổi tiếng của Việt nam. Trong cuộc nội chiến thế kỉ XVII, XVIII, chùa đã bị phá hủy nghiêm trọng. Năm 1815 chùa được sửa lại. Năm 1844, ngôi tháp Phúc duyên được xây cất trước chùa để ghi nhớ lại chư Phật 7 đời. Trong chùa có một quả chuông lớn, tiếng rất trầm hùng, là 1 trong những thứ Quốc bảo Việt nam.

linh mục

Catholic priest.

linh nghiệm

(靈驗) Cũng gọi Linh ứng, Linh cảm, Uy nghiệm. Gọi tắt: Nghiệm. Sự hiệu nghiệm mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, do nguyện cầu chư Phật, Bồ tát hoặc do thụ trì đọc tụng kinh điển mà có được. Theo Cao tăng Pháp hiển truyện, thủa xưa, vua A dục cất tinh xá trên thềm báu nơi đức Phật giáo hóa, ở phía sau tinh xá có dựng cột đá, trên đầu cột tạc tượng sư tử. Có 1 luận sư ngoại đạo tranh giành chỗ ở với 1 vị sa môn, vị sa môn viện lí lẽ để tự bênh vực, bấy giờ cùng nhau lập thệ rằng, nếu đây là chỗ ở của sa môn thì xin có ứng nghiệm. Lúc đó, tượng sư tử trên đầu cột rống lên một tiếng thật to để hiển hiện sự linh nghiệm, ngoại đạo kia liền rút lui. Trong các kinh điển Hiển giáo, Mật giáo cũng thường thấy những sự tích chư Phật, Bồ tát hoặc các vị Kim cương v.v... hiển hiện sự linh nghiệm. Đại nhật kinh sớ quyển 9 (Đại 39, 679 trung), nói: Nếu người trì Kim cương, thì những uy lực mạnh mẽ không dám cản trở, vì vị tôn này có sự linh nghiệm, nên hành giả làm các việc thiện đều được thành tựu. Ngoài ra, những bộ sách ghi chép các việc linh nghiệm, gọi là Cảm ứng truyện, Linh nghiệm kí. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].

linh nghiệm kí

(靈驗記) Cũng gọi Nghiệm kí, Cảm ứng truyện. Những bộ sách ghi chép những câu chuyện nói về sự linh nghiệm của thần, Phật, Bồ tát. Linh nghiệm kí trong Phật giáo được viết dưới dạng tiểu thuyết, thì như ở đời Tấn có: Minh tường kí của ông Vương diễm, Sưu thần kí của ông Vu bảo, v.v... Rồi đến: Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục 3 quyển của ngài Đạo tuyên đời Đường, Tam bảo cảm ứng yếu lược lục 3 quyển của ngài Phi trược đời Tống, v.v... đều thuộc loại Linh nghiệm kí. Còn Linh nghiệm kí chỉ riêng cho 1 bộ kinh nào đó, thì có: Kim cương kinh cưu dị 1 quyển của Đoàn thành thức đời Đường, Pháp hoa kinh hiển ứng lục 2 quyển của ngài Tông hiểu đời Tống, Hoa nghiêm kinh cảm ứng lược kí 1 quyển của ngài Châu hoành đời Minh, v.v...

Linh nguyên

(鴒原): vốn phát xuất từ trong Thi Kinh (詩經), Chương Tiểu Nhã (小雅), Đường Lệ (棠棣): “Tích linh tại nguyên, huynh đệ cấp nạn (鶺鴒在原、兄弟急難, chim chìa vôi ở đồng, anh em có hoạn nạn cùng cứu nhau).” Về sau, người ta thường dùng từ “tích linh tại nguyên (鶺鴒在原)” hay “tích linh nguyên (鶺鴒原)” “linh nguyên” để chỉ ví dụ tình cảm thương yêu đùm bọc của anh em ruột thịt. Như trong bài thơ Nhập Hạp Ký Đệ (入峽寄弟) của Mạnh Hạo Nhiên (孟浩然, 689-740) nhà Đường có câu: “Lệ triêm minh nguyệt hạp, tâm đoạn tích linh nguyên (淚沾明月峽、心斷鶺鴒原, lệ tuôn trăng sáng núi, tâm dứt tình anh em).” Hay như trong bài thơ Tống Tạ Võ Tuyển Thiếu An Khao Sư Cố Nguyên Nhân Hoàn Thục Hội Huynh Táng (送謝武選少安犒師固原因還蜀會兄葬) của Tạ Chăn (謝榛, 1495-1575) nhà Minh cũng có câu: “Nhất đối Bì Đồng trường dục đoạn, tích linh nguyên thượng thảo tiêu tiêu (一對郫筒腸欲斷、鶺鴒原上草蕭蕭, khi đến Bì Đồng ruột muốn đứt, anh em chia cách cỏ tiêu điều).” Trong bài Cát Tiên Ông Chước Đài (葛仙翁釣臺) của Hoa Trấn (華鎮, 1051-?) lại có câu: “Văn thuyết phong lưu tạ khách nhi, linh nguyên tương ứng nhật minh phi, tiên ông di tích vân thâm xứ, huề thủ hành ngâm tống lạc huy (聞說風流謝客兒、鴒原相應日鳴飛、仙翁遺跡雲深處、携手行吟送落暉, nghe bảo phong lưu tạ khách hay, anh em cùng ứng ngày xa bay, tiên ông lưu dấu mây cùng chốn, tay thỏng ngâm nga tiễn chiều về).” ; (靈源): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho căn nguyên của tất cả, tức Phật tâm, Phật tánh, chân như bình đẳng tuyệt đối. Như trong Tông Thống Biên Niên (宗統編年, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1600) quyển 12 có đoạn: “Nhân căn hữu lợi độn, đạo vô Nam Bắc tổ, linh nguyên minh kiểu khiết, chi phái ám lưu chú, chấp sự nguyên thị mê, khế lý diệc phi ngộ (人根有利鈍、道無南北祖、靈源明皎潔、枝派暗流注、執事原是迷、契理亦非悟, căn người có bén lụt, đạo không Nam Bắc tổ, Phật tâm sáng trong suốt, dòng phái tối chảy vào, chấp chặt nguyên là mê, khế lý cũng chẳng ngộ).” Hay trong Vĩnh Minh Trí Giác Thiền Sư Duy Tâm Quyết (永明智覺禪師唯心訣, Taishō Vol. 48, No. 2018) lại có đoạn: “Tam Thừa chi chánh triệt, nhập đạo chi yếu tân, Bát Nhã chi linh nguyên, Niết Bàn chi quật trạch (三乘之正轍、入道之要津、般若之靈源、涅槃之窟宅, Ba Thừa ấy lối chính, vào đạo ấy bến bờ, Bát Nhã ấy nguồn chơn, Niết Bàn ấy nhà động).” Hoặc trong Chứng Đạo Ca Chú (證道歌註, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1293) cũng có đoạn: “Nguyên phù linh nguyên trạm tịch, pháp hải uyên thâm, bổn vô danh tướng chi thù, an hữu thánh phàm chi dị (原夫靈源湛寂、法海淵深、本無名相之殊、安有聖凡之異, nguyên lai nguồn linh vẳng lặng, biển pháp uyên thâm, vốn không danh tướng chia sai, sao có thánh phàm tạo khác).”

linh nguyên

(靈源) I. Linh Nguyên. Nguồn thiêng, chỉ cho Phật tâm, Phật tính, chân như, v.v... Tham đồng khế (Đại 51, 459 trung), nói: Linh nguyên vốn sáng trong, Vẩn đục bởi chia dòng. Chấp sự thành mê tối.Khế lí cũng chẳng thông. II. Linh Nguyên (1902-1988). Danh tăng Trung quốc, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Truyền. Lúc nhỏ, sư thường đau yếu, nhưng được mẹ chỉ dạy, sư dốc lòng niệm danh hiệu bồ tát Quán thế âm, nhờ thế mà hết bệnh. Năm Dân quốc 11 (1932), sư từ giã cha mẹ, vợ con đến chùa Dũng tuyền, núi Cổ sơn, tỉnh Phúc kiến, xuất gia. Sư bái yết Hòa thượng Hư vân và xin được làm đệ tử. Mùa xuân năm sau, sư thụ giới Cụ túc, sau đó, sư theo giới sư của mình là pháp sư Ứng từ đến chùa Thiên minh kết hạ an cư và học kinh Phạm võng. Sau, sư trở về Cổ sơn, vào học viện Pháp giới, theo pháp sư Từ chu học kinh Hoa nghiêm và luật Tứ phần. Nhiều năm sau đó, sư tham học khắp nơi và tham bái các đại danh sơn. Năm Dân quốc 34 (1945), sư giảng luận Đại thừa khởi tín ở am Từ tu tại Thượng hải. Sau đó, vâng lời chỉ dạy của Hòa thượng Hư vân, sư đến trụ ở chùa Vân môn. Năm Dân quốc 38 (1949), sư dời đến Hương cảng; năm Dân quốc 43 (1954), sư ra Đài loan, sáng lập Thập phương Đại giác thiền tự. Năm Dân quốc 53 (1964), sư sáng lập Phật học viện Đại giác, khai giảng kinh Phạm võng, luận Khởi tín, Bát thức qui củ tụng, v.v... Những năm về già sư chuyên tu tịnh nghiệp. Sư có các tác phẩm: Tịnh nghiệp cương yếu, Phạm võng kinh tập nghĩa cú giải.

Linh Nguyên Duy Thanh

(靈源惟清, Reigen Isei, ?-1117): vị tăng của Phái Hoàng Long (黃龍派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Giác Thiên (覺天), hiệu là Linh Nguyên Tẩu (靈源叟), người Võ Ninh (武寧) thuộc Nam Xương (南昌, Tỉnh Giang Tây), họ là Trần (陳). Ngay từ nhỏ ông đã có tư chất thông mẫn, ban đầu học về giới luật, đến năm lên 17 tuổi, ông đến tham học với Pháp An (法安) ở Diên Tư Viện (延思院). Sau đó, ông đến tham yết Hối Đường Tổ Tâm (晦堂祖心) ở Hoàng Long Sơn (黃龍山) thuộc Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông đã từng giao du với rất nhiều văn nhân nổi tiếng đương thời như Hoàng Đình Kiên (黃庭堅). Theo lời thỉnh cầu, ông đến trú trì Thái Bình Thiền Viện (太平禪院) ở Thư Châu (舒州, Tỉnh An Huy), sau trở về Hoàng Long Sơn và lập nên Sùng Ân Tự (崇恩院). Nhân vì bệnh, ông đến sống tại Chiêu Mặc Đường (昭黙堂) trãi qua 15 năm. Vào ngày mồng 10 tháng 9 năm thứ 7 (1117) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông bắt đầu viết cuốn Vô Sanh Thường Trú Chơn Quy Cáo Minh (無生常住眞歸告銘) và đến ngày 18 thì thị tịch. Ông được ban cho hiệu là Phật Thọ Thiền Sư (佛壽禪師). Trước tác của ông có Linh Nguyên Thanh Thiền Sư Ngữ Yếu (靈源清禪師語要) 1 quyển.

linh nham sơn tự

(靈岩山寺) Chùa ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung quốc, tương truyền vốn là tư dinh của quan Tư không tên là Lục ngoạn đời Đông Tấn hiến cúng. Khoảng năm Thiên giám (502-519) đời Vũ đế nhà Lương, chùa được mở rộng và đặt tên là chùa Tứ phong. Theo truyền thuyết, chùa này là đạo tràng ứng hóa của bồ tát Trí tích nói trong kinh Đại ai (do ngài Trúc pháp hộ dịch). Khoảng năm Thiên bảo (742-755) đời vua Huyền tông nhà Đường, tổ Trung hưng tông Thiên thai là ngài Đạo tuân từng tu Pháp hoa tam muội tại đây. Đầu đời Tống, chùa này là tự viện của Luật tông. Khoảng năm Nguyên phong (1078-1085) được đổi thành Thiền viện. Trong chùa có một tòa tháp 9 tầng, do ông Tôn thừa hữu xây dựng vào khoảng năm Thái bình hưng quốc (976-983) đời Tống. Năm Vạn lịch 28 (1600) đời Minh, vì bị sét đánh nên bộ phận làm bằng gỗ của tháp đã đổ nát, nay chỉ còn thân tháp bằng gạch. Năm Hàm phong thứ 10 (1860) đời Thanh, trừ ngôi tháp 9 tầng còn quá nửa các kiến trúc trong chùa đã bị quân giặc Thái bình thiên quốc thiêu hủy. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911), ngài Chân đạt trụ trì chùa này, cùng với sự giúp sức của ngài Diệu chân, bắt đầu xây cất lại các phòng xá, điện đường, trở thành ngôi chùa nổi tiếng ở Giang nam. Năm Dân quốc 20 (1931), sau chiến tranh giữa Trung quốc và Nhật bản, vị cao tăng thuộc tông Tịnh độ Trung quốc đương thời là Đại sư Ấn quang thường trụ ở chùa này, kẻ tăng người tục xa gần đều tụ về rất đông. Ngài Ấn quang tham khảo, đối chiếu các loại qui ước của tùng lâm từ bộ Bách trượng thanh qui về sau, rồi lập ra các qui định nghiêm khắc về tu hành niệm Phật như: Linh nham sơn tự cộng trụ qui ước, Niệm Phật đường qui ước, Tăng trị qui ước v.v... Từ đó chùa này trở thành ngôi tùng lâm chuyên tu tịnh nghiệp vào bậc nhất của Trung quốc, hàng ngày chỉ xưng niệm danh hiệu Phật, mà không làm các Phật sự khác như giảng kinh, truyền giới, truyền pháp, thu nhận đồ chúng, kinh sám, v.v... Năm Dân quốc 29 (1940), ngài Ấn quang thị tịch, sau khi hỏa thiêu các đệ tử thu được xá lợi 5 màu và xây tháp tôn thờ. Hiện nay có nhà kỉ niệm Đại sư Ấn quang. Từ năm 1949 về sau, ngài Diệu chân làm Trụ trì, vẫn duy trì và tuân thủ các qui ước do ngài Ấn quang đặt ra. [X. Trung quốc Phật giáo phát triển sử (Trung thôn nguyên)].

linh nham tự

(靈岩寺) Chùa ở chân núi Phương sơn, mạn đông nam huyện Trường thanh, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, do ngài Pháp định sáng lập vào khoảng năm Chính quang đời Bắc Ngụy. Đất này vốn là nơi mà ngài Phật đồ trừng đời Hậu Triệu dộng tích trượng và ngay đó có dòng suối trong phun lên, cũng chính là nơi ngài Tăng lãng người Thiên trúc thuyết pháp khi xưa. Khoảng năm Khai hoàng đời Tùy, ngài Tuệ tiêu đến đây tu hành, không bao lâu vâng mệnh vua Văn đế, xây dựng chùa Hoa dương vương, rất hưng thịnh, các ngài Đạo nhân, Đạo biện đều đã từng trụ ở chùa này. Vào đầu đời Đường, ngài Tuệ sùng kiến tạo điện Thiên Phật, rồi khoảng năm Thiên bảo lại xây thêm tháp Bích chi phật. Khoảng năm Cảnh đức đời Tống, vua ban tấm biển Cảnh Đức Linh Nham Tự và ban cho ruộng vườn. Vào khoảng năm Thiên hựu, điện Ngũ hoa (nay không còn) được sáng lập, điện Thiên Phật được mở rộng thêm. Khoảng năm Gia hựu, tháp Bích chi phật được trùng tu, dựng bia kí điện Thiên Phật, cảnh quan chùa hoàn toàn mới. Khoảng năm Hi ninh thứ 3 (1070), chùa được đổi làm Thập Phương Tùng Lâm. Chùa này cùng với các chùa: Thê hà ở Nhuận châu, Quốc thanh ở Thai châu, Ngọc tuyền ở Kinh châu được gọi chung là Thiên Hạ Tứ Tuyệt. [X. Phật tổ thống kí Q.39; Thái sơn chí Q.15-18; Sơn đông thông chí Q.20; Cổ kim đồ thư tập thánh thần dị điển thứ 108; Sơn xuyên điển thứ 13, 15, 17].

linh phong phái

(靈峰派) Một trong các phái thụôc tông Tịnh độ ở đời Minh, Trung quốc, do Đại sư Ngẫu ích Trí húc (1599-1655) sáng lập. Vì phái này trụ ở núi Linh phong tại Hàng châu nên gọi là Linh phong phái. Phái này thừa kế thuyết Tính Tướng dung hội, Thiền Tịnh nhất trí của ngài Tử bá Chân khả, Vân thê Châu hoành, Hàm sơn Đức thanh, v.v..., chủ trương Tam học (giới định tuệ) 1 nguồn, Thiền tông, Giáo tông (các tông Thiên thai, Hoa nghiêm v.v...) và Luật tông phải kết hợp với nhau, không nên phân biệt và cho rằng Thiền là tâm Phật, Giáo là lời Phật, Luật là hạnh Phật. Đặc biệt phái này đem Thiền, Giáo, Luật thu nhiếp vào môn Tịnh độ, hoàn thành hệ thống tư tưởng Tam học 1 nguồn bằng luận Niệm Phật tam muội. Niên hiệu Thiên khải năm đầu (1621), ngài Ngẫu ích phát 48 nguyện cầu sinh Tịnh độ, về già, ngài soạn Tịnh độthập yếu, đề xướng việc niệm Phật vãng sinh. Tịnh độ thập yếu là tác phẩm quan trọng về giáo học của ngài Trí húc. Sau khi ngài tịch, đệ tử là Kiên mật Thành thời thu chép các tác phẩm của ngài để lại thành 10 quyển, tức là bộ Linh phong Ngẫu ích Đại sư tông luận. Sau sư Kiên mật, có sư Tỉnh am Tư tề phát triển đạo pháp khiến cho phái này cực thịnh. Từ giữa đời Minh trở đi, Phật giáo Trung quốc từ Tam học 1 nguồn lại diễn biến thành Nho Phật 1 mối, bèn có tổ chức Phật giáo cư sĩ ra đời và hưng thịnh. Tiền khiêm ích (1582-1664) có soạn Đại Phật đính thủ lăng nghiêm giải mông sao 10 quyển, Bát nhã tâm kinh lược sớ thiểu sao 2 quyển... có thể nói đã mở đường cho Phật giáo cư sĩ đời Minh. [X. Hữu học tập Q.40,50; Tịnh độ toàn thư; Linh phong chí (Chu khánh vân); Linh phong nhất thiền sư ngữ lục; Tân tục cao tăng truyện Q.9,10,45; Trung quốc Phật giáo sử Q.4 (Tưởng duy kiều); Ngẫu ích đại sư đích tịnh độ tư tưởng (Thánh nghiêm)]. (xt. Trí Húc).

linh pháp cửu trụ

(令法久住) Làm cho chính pháp của đức Phật được lưu truyền lâu dài ở thế gian. Giữ giới là nhân chủ yếu khiến cho chính pháp cửu trụ. Trong 10 điều lợi ích của việc kết giới nói trong luật Ngũ phần quyển 1, điều thứ 9 ghi là: Làm cho chính pháp được tồn tại lâu dài. Ngoài ra, Linh pháp cửu trụ pháp là 1 trong những pháp Văn thù thuộc sự tướng Mật giáo, tức là pháp tu bí mật căn cứ vào pháp Văn thù nhất tự. Pháp Vô danh của Đông tự ở Nhật bản chính là pháp tu này. [X. kinh Tạp a hàm Q.41; phẩm Kiến bảo tháp trong kinh Pháp hoa Q.4; phẩm Phó chúc kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.10; chương Thập thụ kinh Thắng man; A sa phược sao Q.102].

Linh quang

(靈光): ánh sáng, hào quang linh hiển; mọi người đều có Phật tánh, linh thiêng chiếu tỏ, thanh tịnh không ô nhiễm, thường phóng ra ánh sáng soi rọi. Như trong Bách Trượng Hoài Hải Thiền Sư Ngữ Lục (百丈懷海禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1322) có đoạn: “Linh quang độc diệu, huýnh thoát căn trần, thể lộ chơn thường, bất cẩu văn tự, tâm tánh vô nhiễm, bổn tự viên thành, đản ly vọng duyên, tức như như Phật (靈光獨耀、迥脫根塵、體露眞常、不拘文字、心性無染、本自圓成、但離妄緣、卽如如佛, linh quang sáng tỏ, thoát xa căn trần, thể bày chơn thường, chẳng kẹt chữ nghĩa, tâm tánh không nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ lìa giả duyên, là như như Phật).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 35 cũng có đoạn: “Cổ điện vô Phật Phạm âm hà lai, mộng trung hoán tỉnh lâu các môn khai, linh quang nhất điểm tuyệt trần ai, diệu cổ đằng kim biến cửu cai (古殿無佛梵音何來、夢中喚省樓閣門開、靈光一點絕塵埃、耀古騰今遍九垓, cổ điện không Phật Phạm âm từ đâu, trong mộng chợt tỉnh lầu gác cửa bày, linh quang một điểm dứt bụi trần, sáng xưa chiếu nay biến khắp nơi).” Hoặc trong Tiêu Thích Kim Cang Kinh Khoa Nghi Hội Yếu Chú Giải (銷釋金剛經科儀會要註解, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 467) quyển 7 lại có đoạn: “Nhất điểm linh quang tắc thái hư, dã phi Thiền giáo dã phi Nho, đả thành nhất phiến thùy nhân hội, cụ nhãn hoàn tha đại trượng phu (一點靈光塞太虛、也非禪敎也非儒、打成一片誰人會、具眼還他大丈夫, một điểm linh quang khắp hư không, chẳng phải Thiền giáo cũng chẳng Nho, đánh thành một mảnh ai hiểu được, thấy rõ hoàn ra đại trượng phu).”

linh quang

(靈光) Ánh sáng linh thiêng, thanh tịnh vô nhiễm, chiếu soi mầu nhiệm, tức là Phật tính sẵn có của chúng sinh. Chương Bách trượng trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 3 (Vạn tục 138, 44 hạ), nói: Linh quang độc chiếu, lìa khỏi căn trần, hiển lộ chân thường, không chấp văn tự, tâm tính không nhiễm, vốn tự thành tựu, chỉ lìa vọng duyên, tức Như như Phật.

linh quang tự

1) Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa được xây vào thời nhà Lý (1010-1224). Đến đời nhà Lê, tương truyền Chúa Trịnh cho đào đất đắp thành Thăng Long, thấy một pho tượng người nữ bằng đá, mới đem vào trước chùa để thờ. Tượng đá rất thiêng, vì thế mới đặt tên là chùa Bà Đá. Tượng nầy hiện nay không còn nữa. Đây là Tổ Đình của Thiền phái Lâm Tế miền Bắc—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm quarter, Hanoi City, North Vietnam. The temple was built in the Lý dynasty (1010-1224). It was said that in the Lê dynasty, when Lord trịnh had the ground dug to build Thăng Long citadel, a stone statue was discovered. He then decided to place the statue in the front yard of the temple for worshipping. The stone statue is very sacred, that's why the temple is called Bà Đá Temple, or Lady Stone. The stone statue was lost. The temple is the Patriarch House of the North Lin-Chi Sect. 2) Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa Linh Quang là do hợp nhất hai chùa Linh Giác và Viên Quang. Chùa Viên Quang vốn được thiết lập tại địa điểm nầy vào năm 1841 do Hòa Thượng Liễu Triệt Từ Minh khai sơn. Chùa được xây dựng bằng vật liệu đơn giản, nên sau năm 1882, Hòa Thượng viên tịch, chùa trở thành hoang phế. Năm 1885, đề đốc Tôn Thất Đính cùng một vài tín chủ khác đã quyên tiền để trùng tu chùa, nhưng cuộc binh biến tại kinh thành nên công trình dang dở. Trong khi chùa Linh Giác được quan Chưởng Vệ Hồ Công Thập cùng một số quan lại xây dựng có lẽ cũng cùng thời với chùa Viên Quang. Đầu đời vua Thành Thái, Thái Hoàng Thái Hậu Trang Ý Thuận Hiếu đã ban ý chỉ cho trùng tu hợp nhất hai ngôi chùa nầy. Bà lại sắc chỉ tháo gở cột kèo chùa Linh Giác đem về chùa Viên Quang tái thiết; phía trước là Linh Giác quán, phía sau là Viên Quang đường, gọi tên là chùa Linh Quang. Dưới thời Hòa Thượng Mật Nguyện, năm 1962, chùa được tái thiết kiên cố, gồm một tòa nhà vuông mỗi bề 20 mét, có tiền đường chính cao rộng, thoáng đãng. Phía ngoài vẫn giữ nguyên đường nết kiến trúc cổ kính. Phía sau cách 8 mét là nhà Tổ, vẫn còn mang bảng 'Viên Quang Đường.' Vào năm 1975, tại mặt tiền chánh điện đã thiết trí tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đồng cao hơn 2 mét, được chuyển từ chùa Quán Thế Âm sang—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is a combination of the two temples of Linh Giác and Viên Quang. Viên Quang temple was built in 1841 by Most Venerable Liễu Triệt Từ Minh. The temple was built with rudimentary construction materials. Therefore, after the headmonk' death in 1882, it began to fall apart. In 1885, Admiral Tôn Thất Đính along with some other lay Buddhists, raised funds for reconstruction. Their plan, however, was incomplete because of the crisis in the same year in Huế. While Linh Giác temple was built by Head of Eunuchs Hồ Công Thập and a number of other courtiers, probably at the same time with Viên Quang temple. After Hồ Công Thập's death, the temple deteriorated. During the early years of king Thành Thái's reign, the king's grandmother, Trang Ý Thuận Hiếu, gave order for reconstruction of the two temples, combined two temples into one with the name Linh Quang. She ordered Admiral Tôn Thất Đính to take apart the support frame of Linh Giác and moved to Viên Quang for a new combined temple, with Linh Giác Pavillion in front and Viên Quang qorship house in the back. During the Venerable Mật Nguyện's presidency, in 1962, the temple was solidly rebuilt, with a square house of the style 'two houses on a floor.' With its side 20 meters long, the house consists of a high and spacious main hall and antechambre. The outside shape still retaining its ancient architectural form. The back house located 8 meters back from the front, is dedicated to the temple's founder. It still keeps the panel with the name 'Viên Quang Đường.' In 1975, a bronze two-meter-high statue of Avalokitesvara Bodhisattva which was transferred fro Quán Thế Âm Tự, was installed in front of the main hall. ; (靈光寺) Chùa ở chân núi phía đông núi Giác sơn (nay là núi Thúy vi) tại Bắc bình, được sáng lập vào khoảng năm Đại lịch (766-779) đời Đường. Mới đầu chùa có tên là chùa Long tuyền; năm Đại định thứ 2 (1162) đời Kim, chùa được trùng tu, gọi là chùa Giác sơn. Mãi đến năm Thành hóa 14 (1478) đời Minh, chùa mới lại được trùng tu và đổi tên là chùa Linh quang như hiện nay. Điện đường chùa này cao rộng, cạnh chùa có ao nước, trên ao có nhà ngồi ngắm cảnh, rất yên tĩnh vắng vẻ. Bên hông chùa có am Qui lai, phía sau chùa vốn có am Thao quang, nhưng đã bị cháy trong hỏa hoạn. Chùa này vốn có tháp Chiêu tiên, được xây cất vào năm Hàm ung thứ 7 (1071) đời vua Đạo tông nhà Liêu, nhưng đã bị quân đội của 8 nước phá hủy, nay chỉ còn nền tháp. Từ năm 1958 đến mùa xuân năm 1964, người ta phát hiện được xá lợi răng của đức Phật Thích ca trong nền của ngôi tháp này, cho nên một tòa tháp mới hình bát giác, 13 tầng, cao 15 mét đã được xây cất trong khuôn viên của chùa để thờ xá lợi.

linh quán

(靈觀) I. Linh Quán (?-?). Thiền sư Trung quốc, sống với đời Đường, là đệ tử nối pháp của ngài Hoàng bá Hi vận. Sư trụ ở núi Ô thạch tại Phúc châu, thích sống ở nơi vắng vẻ, thường ở một mình trong phòng nên ít người được gặp mặt, chỉ đến giờ ngọ trai sư mới mở cửa phòng để một tín sĩ dâng cơm mà thôi. Người đời gọi sư là Lão quán hòa thượng. Sư có công án Lão quán bế hộ (Lão quán đóng cửa)truyền ở đời, nội dung là cơ duyên vấn đáp giữa sư và ngài Tuyết phong. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148,108 hạ), nói: Thiền sư Linh quán thường đóng cửa, nên ít người được gặp mặt. Một hôm, ngài Tuyết phong đến gõ cửa, sư mở cửa, ngài Tuyết phong chụp ngay lấy ngực áo, nói: Là phàm hay Thánh. Sư mắng rằng: Đồ con chồn thô lỗ! Rồi đẩy ra, đóng cửa lại. Ngài Tuyết phong nói: Chỉ cần biết lão huynh vậy thôi. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12]. II. Linh Quán (1485-1571). Cũng gọi Liên thuyền đạo nhân. Thiền sư Triều tiên, sống vào đời Lí, người Tấn châu, Lĩnh nam (tỉnh Khánh thượng nam), hiệu Ẩn am. Năm 17 tuổi, sư đến núi Đức dị xuất gia, học giáo thiền khắp nơi, thông cả học thuyết Lão-Trang. Sư ở nội viện tại ngọn Di lặc, núi Kim cương, tham thiền trong 9 năm và được tỉnh ngộ. Sau, sư đến tham yết ngài Bích tùng Trí nghiêm ở núi Trí dị và được nối pháp. Sau khi ngài Trí nghiêm thị tịch, sư kế thừa pháp tọa, trở thành bậc Đại tông sư ở vùng phía nam Lĩnh hồ. Năm Tuyên tổ thứ 4 (1571) sư tịch, thọ 87 tuổi.[X. Phù dung đường hành tích (được thu vào Thanh hư đường tập của ngài Hữu tỉnh); Triều tiên Phật giáo thông sử trung biên (Lí năng hòa); Lí triều Phật giáo (Cao kiều hanh); Triều tiên thiền giáo sử (Hốt hoạt cốc khoái thiên)].

Linh Sơn

(靈山): tiếng gọi tắt của Linh Thứu Sơn (靈鷲山), hay còn gọi là Thứu Phong (鷲峰), Thứu Lãnh (鷲嶺), tiếng phiên âm của nguyên ngữ Sanskrit là Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), tên ngọn núi nằm ở phía Đông Bắc Thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), hiện tại nằm ở phía Đông Rajgir của Ấn Độ. Đây là một trong những thánh địa của Phật Giáo, là nơi đức Phật đã từng thuyết pháp; cho nên người ta cho rằng phần lớn các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Vô Lượng Thọ, v.v., và cũng như câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu của Thiền Tông đều phát xuất từ đây. Trong bộ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông Luận (隆興佛敎編年通論) quyển 12 do Thạch Thất Sa Môn Tổ Tú (石室沙門祖琇) ở Phủ Long Hưng (隆興府) soạn, có đoạn: “Huyền Trang … sưu dương Tam Tạng tận Long Cung chi sở trữ, nghiên cứu Nhất Thừa cùng Thứu Lãnh chi di chỉ, tinh dĩ tải ư Bạch Mã hoàn hiến Tử Thần, tầm mông hạ chiếu sắc sứ phiên dịch (玄奘…搜揚三藏盡龍宮之所儲、研究一乘窮鷲嶺之遺旨、並已載於白馬還獻紫宸、尋蒙下詔敕使翻譯, Huyền Trang … tìm tòi Tam Tạng kinh điển tận chốn Long Cung tàng trữ, nghiên cứu giáo lý Nhất Thừa soi rõ yếu chỉ của Thứu Lãnh, cùng bỏ lên Bạch Mã mang về dâng Hoàng triều, mong trên hạ chiếu cho người phiên dịch).” Trong bài thơ Linh Ẩn Tự (靈隱寺) của thi sĩ Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) đầu thời nhà Đường có câu trứ danh là: “Thứu Lãnh uất thiều nghiêu, Long Cung tỏa tịch liêu, lâu quán thương hải nhật, môn đối Triết Giang triều, quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu (鷲嶺鬱岧嶢、龍宮鎖寂寥、樓觀滄海日、門對浙江潮、桂子月中落、天香雲外飄, Thứu Lãnh rậm vút cao, Long Cung mờ tịch liêu, trên lầu biển xanh ngắm, cửa tựa Triết Giang triều, hàng quế trăng thầm rụng, hương trời mây trắng bay).” Hoặc trong bài Hòa Vương Ký Thất Tùng Triệu Vương Xuân Nhật Du Đà Sơn Tự (和王記室從趙王春日遊陀山寺) của Lạc Tân Vương (駱賓王, khoảng 619-687) nhà Đường cũng có câu: “Điểu dư bồi phỏng đạo, Thứu Lãnh hiệp thê chơn, Tứ Thiền minh tĩnh nghiệp, Tam Không quảng thắng nhân, tường hà sơ điệp giản, huệ nhật kiểu trùng luân, diệp ám Long Cung mật, hoa minh Lộc Uyển xuân (鳥旟陪訪道、鷲嶺狎棲眞、四禪明靜業、三空廣勝因、祥河疏疊澗、慧日皎重輪、葉暗龍宮密、花明鹿苑春, cờ xí lên vấn đạo, Thứu Lãnh dưỡng nuôi chơn, Bốn Thiền sáng nghiệp lắng, Ba Không rõ duyên nhân, sông từ trong khe mát, trời tuệ tỏ thế nhân, lá che Long Cung thẳm, hoa tươi Lộc Uyển xuân).”

linh sơn

1) Linh Thứu Sơn: Grdhrakuta (skt)—See Thứu Sơn in Vietnamese-English Section, and Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở quận nhất, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây từ năm 1840, kiến trúc hiện nay là do đợt trùng tu năm 1968. Ngày 26 tháng 8 năm 1931, Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ra đời đặt trụ sở tại chùa. Đầu năm 1932, hội bắt đầu ra tạp chí Từ Bi Âm. Hiện nay bộ sưu tập tạp chí nầy vẫn còn được lưu giữ trong chùa. Trong Chánh điện có tượng Bồ Tát Quán Âm nghìn tay nghìn mắt, được tạc vào năm 1963—Name of a famous ancient pagoda, located in the first district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1840, and the present structure was from the rebuilding in 1960. On August 26, 1931, the South Vietnam Association of Buddhist Studies was established and the pagoda was served as its office. Since the beginning of 1932, the Từ Bi Âm Magazine had been issued by the association. Presently, the magazine collection has still been conserved in the pagoda. In the Main Hall stands the statue of One-Thousand-Arm and One-Thousand-Eye Avalokitesvara Bodhisattva, cast in 1963. 3) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng trong thành phố Vũng Tàu. Theo viện Bảo tàng Bà Rịa thì chùa được xây vào hậu bán thế kỷ thứ 19. Trong chùa có một pho tượng Phật Thích Ca bằng đá cũng được tạc vào thời nầy để lễ bái. Chùa được trùng tu năm 1959—Name of a famous ancient pagoda located in Vũng Tàu City, South Vietnam. According to the records conserved by Bà Rịa Museum, Vũng Tàu province, the pagoda was built in the second half of the nineteenth century. Since that time, the stone statue of Sakyamuni Buddha has been worshipped in the pagoda. It was rebuilt in 1959.

linh sơn hội thượng

(靈山會上) Trên hội Linh sơn. Tức pháp hội trên núi Linh thứu khi đức Thích tôn thuyết pháp độ chúng đệ tử. Có 2 thuyết: 1. Chỉ cho pháp hội lúc đức Phật diễn nói kinh Pháp hoa: Pháp hoa kinh khoa chú (Vạn tục 48, 355 hạ) nói: Thủa xưa, đức Thế tôn đã tuyên thuyết kinh Diệu pháp liên hoa trên hội Linh sơn. 2. Chỉ cho hội niêm hoa phó pháp: Cứ theo kinh Đại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi, thủa xưa, trên hội Linh sơn, đức Thích ca cầm một hoa sen đưa lên trước đại chúng, Tôn giả Ca diếp nhìn và mỉm cười, đức Thế tôn liền đem Chính pháp nhãn tạng phó chúc cho Ngài.

linh sơn tiên thạch

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, trên độ cao cách chân núi chừng 600 mét, trên núi Bà Đen, chùa cách thị xã Tây Ninh chừng 7 dậm. Đây là ngôi chùa do Tổ Thiện Hiếu, dòng Lâm tế thứ 38, đã dựng lên vào thế kỷ thứ 18. Theo sách Gia Định Thành Thông Chí, “Núi Bà Đen cao rộng, có cây cối xanh tươi, có suối nước ngọt, trên có chùa Linh Sơn, dưới có ao hồ, cảnh trí thật là u nhã.” Chùa được trùng tu năm 1960—Name of a famous ancient pagoda located on Mount Bà Đen, 600 meters from the fot of the mountain, about 7 miles from Tây Ninh town. The old pagoda was established in the eighteenth century by Patriarch Thiện Hiếu who belonged to the thirty-eighth line of the Lin-Chi Sect. According to “Gia Định Thành Thông Chí,” Mount Bà Đen is high, surrounded by fresh green trees and fresh ater springs. On the top of the mountain stands Linh Sơn Pagoda. At the bottom lie ponds and lakes. The scenery is really peaceful and quiet.” The pagoda was rebuilt in 1960 and is a beautiful landscape of Tây Ninh.

linh sơn tịnh độ

(靈山淨土) Linh sơn, gọi đủ là Linh thứu sơn, là nơi xưa kia đức Thế tôn Thích ca nói kinh Pháp hoa. Tức núi Linh thứu là Tịnh độ của báo thân đức Thích tôn thường cư trụ. Cứ theo phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5, vì hóa độ chúng sinh nên đức Thích tôn phương tiện thị hiện Niết bàn, chứ thực ra Ngài không diệt độ mà thường ở trên núi Linh thứu nói pháp. Khi hỏa tai ở kiếp mạt nổi lên, thế giới đều bị thiêu rụi, chỉ có Tịnh độ Linh sơn là không hề hấn gì, vẫn thường trụ an ổn, người, trời đông đảo. [X. phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.1; kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp; Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá Q.hạ; Pháp hoa huyền luận Q.9; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên].

Linh sảng

(靈爽): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ tinh khí. Như trong bài Giang Phú (江賦) của Quách Phác (郭璞, 276-324), học giả trứ danh nhà Đông Tấn, có câu: “Kỳ tướng đắc đạo nhi Trạch Thần, nãi hiệp linh sảng ư Tương Nga (奇相得道而宅神、乃協靈爽於湘娥, tướng lạ đắc đạo như Thần Nhà, bèn hợp tinh khí nơi Tương Phi [con gái thứ hai của vua Nghiêu]).” Hay trong tác phẩm Hoàng Tai Đối (隍災對) của Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh có đoạn: “Thổ mộc, thần chi thác dã, tiện dã; linh sảng, thần chi chân dã, quý dã (土木、神之托也、賤也;靈爽、神之眞也、貴也, đất cây là nơi thần mượn tạm, thì bình thường; tinh khí, là cái chân thật của thần, mới quý).” (2) Chỉ khí mây tự nhiên. Như trong bài thơ Tặng Trịnh Mạn Quý (贈鄭曼季) của Lục Vân (陸雲, 262-303) nhà Tấn có câu: “Huyền trạch trụy nhuận, linh sảng yên uân (玄澤墜潤、靈爽煙熅, ơn thánh thấm nhuần, khí mây khói tỏa).” (3) Chỉ thần linh, thần minh, linh thiêng. Như trong Hậu Hán Kỷ (後漢紀), chương Hiến Đế Kỷ (獻帝紀) 3, của Viên Hoành (袁宏, 328-376) nhà Tấn có đoạn: “Trẫm tao gian nan, việt tại Tây Đô, cảm duy tông miếu linh sảng, hà nhật bất thán (朕遭艱難、越在西都、感惟宗廟靈爽、何日不歎, trẫm gặp gian nan, qua đến Tây Đô, cảm kích nghĩ đến chư vị thần linh của tông miếu, ngày nào mà không than thở).” Hay trong tác phẩm Lý Viên Tùng Thoại (履園叢話), phần Mộng Huyễn (夢幻), Tần Cối Thiết Tượng (秦檜鐵像), của Tiền Vịnh (錢泳, 1759-1844) nhà Thanh, lại có đoạn: “Thiết niệm Nhạc Vương linh sảng tại thiên, nghịch Cối trầm luân Địa Ngục cửu hỉ (竊念岳王靈爽在天、逆檜沉淪地獄久矣, thiết nghĩ thần linh của Nhạc Vương ở trên trời, còn phản nghịch Tần Cối thì bị chìm dắm dưới Địa Ngục lâu rồi).” Trong Quan Âm Kinh Trì Nghiệm Ký (觀音經持驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1542) lại có câu: “Thỉ ngộ Bồ Tát linh sảng, tiền mộng bất hư, cạnh chí Phật tiền phu bái (始悟菩薩靈爽、前夢不虛、競至佛前臚拜, mới biết Bồ Tát linh thiêng, giấc mơ trước kia không dối, tranh nhau đến trước Phật vái lạy).”

linh thao

Ling-T'ao—Một Thiền sư nổi tiếng, đệ tử của Lặc Đàm Hoài Trừng Tổ Sư—A noted monk, a disciple of Le-T'an-Huai-Têng—Một hôm tổ hỏi ông hiểu sao về Tổ Đạt Ma đến từ phương Tây, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Linh Thao bày tỏ rằng không hiểu. Lặc Đàm nói: Trước khi xuất gia ông làm gì?” Linh Thao trả lời: “Chăn trâu.” Lặc Đàm hỏi: “Chăn như thế nào?” Linh Thao đáp: “Sáng sớm cưỡi đi, chiều tối cưỡi về.” Tổ nhận xét: “Ông thiệt ngu si quá đỗi.” Nhờ đó mà sư đại ngộ, và bày giải như sau: “Phóng khước ngưu thằng tiện xuất gia Thế trừ tu phát trước ca sa Hữu nhân vấn ngã Tây lai ý Trụ trượng hoành khiêu la lí la (Vứt bỏ giây chăn rồi xuất gia Cạo râu cạo tóc khóaa Ca sa Có ai hỏi ý từ Tây đến Vác gậy quơ ngang la lí la). When the master asked him what was the idea of the Patriarch, who, coming from the West, is said to have transmitted one single mind-seal, which, pointing directly to the human nature, makes one attain Buddhahood. Ling-T'ao confessed ignorance. Le-T'an said: “What were you before you became a monk?” Ling-T'ao said: “I used to be a cowherd.” Le-T'an asked: “How do you look after the cattle?” Ling-T'ao said: “I go out with them early in the morning and come home when it grows dark.” Le-T'an said: “Splendid is your ignorance.” This remark at once brought Ling-T'ao's mind to a state of enlightenment which was expressed thus: “Throwing up the tether I am a homeless monk, The head is shaved, so is the face, and the body wrapped in the kasaya. If someone asks, “What is the Patriarch's idea of coming from the West? Carrying the staff crosswise I sing out, La li la!”

linh thiêng

To have supernatural power.

Linh thông

(靈通): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Sự cảm ứng tương thông giữa người với thần linh. Như trong bản bút ký Túy Ông Đàm Lục (醉翁談錄), phần Vương Khôi Phụ Tâm Quế Anh Tử Báo (王魁負心桂英死報), của La Hoa (羅燁, ?-?) nhà Tống, có đoạn: “Khôi kim cô ân phụ ước, thần khởi bất tri ? Ký hữu linh thông, thần đương dữ Anh quyết đoán thử sự (魁今辜恩負約、神豈不知、旣有靈通、神當與英決斷此事, Vương Khôi phụ ơn bội ước, thần há chẳng biết sao ? Đã có cảm ứng, thần sẽ cùng với Quế Anh quyết định việc này).” (2) Lung linh, hoạt bát, cơ mẫn, lanh lợi.

Linh Thạch Như Chi

(靈石如芝, Rinshii Nyoshi, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Nguyên, thuộc Phái Dương Kì của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Linh Thạch (靈石), pháp từ của Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚). Ông khai mở đạo tràng bố giáo ở Hưng Thánh Tự (興聖寺) thuộc Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang), rồi chuyển đến Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang) cũng như Bổn Giác Tự (本覺寺) ở Phủ Gia Hưng.

Linh thần

(靈神): có hai nghĩa. (1) Thần linh. Như trong Tống Sử (宋史), chương Nhạc Chí (樂志) 12 có câu: “Linh thần tuấn mật, tự sự dần cung (靈神峻密、祀事寅恭, thần linh nghiêm mật, cúng tế cung kính).” (2) Linh nghiệm, linh ứng. Như trong tác phẩm văn nghệ Bạch Mao Nữ (白毛女) có đoạn: “Mục Nhân Trí dã thuyết quá: 'Bạch Mao tiên cô hữu linh thần, tứ phương lê dân mạc hồ hành' (穆仁智也說過、白毛仙姑有靈神、四方黎民莫胡行, Mục Nhân Trí cũng bảo rằng: 'Bạch Mao tiên cô có linh ứng, lê dân bốn phương chớ làm xằng bậy').”

linh thần

The spirit—Soul.

linh thứu hội

Vulture Peak Assembly.

Linh Thứu sơn

靈鷲山; S: gṛdhrakūṭa; P: gijjhakūṭa; dịch theo âm là Kì-xà-quật, có nghĩa là »núi Kên Kên«;

linh thứu sơn

Grdhrakuta (skt)—Gijjhakuta (p)—Núi Linh Thứu, gần thành Vương Xá ở miền Đông Bắc Ấn Độ, là nơi dùng làm an cư kiết hạ cho Phật và tăng già— Vulture Peak—A hill near Rajagriha in north east India which was one of the many Retreats given to the Buddha for the use of the Sangha. ** For more information, please see Thứu Sơn in Vietnamese-English Section, and Grdhrakuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (靈鷲山) I. Linh Thứu Sơn. Linh thứu, Phạm: Gfdhrakùỉa. Pàli:Gijjha kùỉa. Hán âm: Kì xà quật. Gọi tắt: Linh sơn, Thứu phong, Linh nhạc. Núi ở phía đông bắc thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Vì hình dáng núi này giống như đầu con chim thứu (kên kên) và trong núi cũng có nhiều chim thứu, nên đặt tên là Linh thứu. Đức Như lai từng tuyên thuyết các kinh Đại thừa như kinh Pháp hoa, v.v... ở đây, cho nên núi này đã trở thành Thánh địa của Phật giáo. Các núi Linh thứu hoặc Linh sơn ở Trung quốc đều được gọi theo tên của núi này. Như ngọn Thứu phong ở phía bắc huyện Phúc thanh, tỉnh Phúc kiến, hoặc ngọn Phi lai ở huyện Hàng, tỉnh Chiết giang cũng gọi là Linh thứu sơn, v.v... (xt. Kì Xà Quật Sơn). II. Linh Thứu Sơn. Cũng gọi Bồ tát đính. Núi ở phía đông nam Trung đài, thuộc núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Trên núi này có viện Chân dung, là chỗ ở của vị Lạt ma Trát tát khắc thuộc Hoàng giáo. (xt. Ngũ Đài Sơn).

linh thứu sắc tứ tự

Tên của một ngôi chùa tọa lạc gần chợ Xoài Một trong huyện Châu Thành tỉnh Long An, Nam Việt Nam. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí chùa Linh Thứu được diễn tả như sau: “Chùa nằm trong địa phận xã Thạnh Phú, huyện Kiến Hưng, chùa nầy là một ngôi già lam tối cổ mà lại còn có nhiều danh lam thắng cảnh. Năm Gia Long thứ 10 tức năm 1811, chùa được đổi tên là Long Tuyền Tự. Năm Thiệu Trị nguyên niên, chùa lại được đổi lại là Linh Thứu Tự.” Đến khoảng giữa thế kỷ thứ 18, Hòa Thượng Nguyệt Hiện trụ trì đã xây lại ngôi chùa tôn nghiêm, chùa được trùng tu nhiều lần, đáng kể nhất là vào thời Hòa Thượng Chánh Hậu trụ trì từ năm 1880 đến năm 1897, và các thời Sư Bà Thích Nữ Như Nghĩa, Thông Huệ, và Chơn Như trụ trì từ năm 1945 đến nay—Name of a pagoda located near Xoài Một market in Châu Thành district, Mỹ Tho province, South Vietnam. Linh Thứu Pagoda was described in Đại Nam Nhất Thống Chí as follows: “The temple located in the area of Thạnh Phú village, Kiến Hưng district, the pagoda is very old; however, it has many beautiful sceneries. In the tenth Gia Long year (1811), it was renamed Long Tuyền. In the first Thiệu trị year (1841), it was renamed Linh Thứu. In the middle of the middle of the eighteenth century, Most Veneable Nguyệt Hiện, Head of the pagoda, had it rebuilt solemnly. Since then, it has ben reconstructed many times, especially in the periods of heading of Most Venerable Chánh Hậu from 1880 to 1897, and Most Venerable Bikkhuni Như Nghĩa, Thông Huệ and Như Chơn from 1945 up to now. In the Main Hall, there is a statue of Amitabha Buddha, made of marble, 1 meter 6 high. The lotus pedestal is 0.6 meter high.

linh thứu tự

See Linh Thứu Sắc Tứ Tự. ; (靈鷲寺) Chùa ở dưới ngọn Linh thứu thuộc núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được sáng lập vào thời Minh đế nhà Đông Hán. Đời Bắc Ngụy, vua Hiếu văn đế đặt 12 viện, đổi tên là chùa Hoa viên. Đến đời Đường chùa được xây cất lại, trang nghiêm hoành tráng hơn xưa và được đổi tên là chùa Hoa nghiêm, qua các đời Hậu Liêu, Kim, Nguyên, Minh, chùa đều được trùng tu, trong năm Vạn lịch đời Minh, chùa lại được đổi tên là Hiển thông, là ngôi tùng lâm lớn nhất ở núi Ngũ đài. Vì vị tăng quan cai quản núi Ngũ đài trụ ở chùa này, nên gọi là Thủ tự, trong chùa có điện Vô lượng, trên nóc điện không có xà, vì thế cũng gọi là điện Vô lương ( ), còn có điện Đồng (được làm bằng đồng), phía trước điện có 5 ngôi tháp bằng đồng, tượng trưng 5 ngọn núi Ngũ đài, sắp xếp theo vị trí Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung. II. Linh Thứu Tự. Chùa ở bên cạnh Tây hồ tại Hàng châu, cũng gọi Linh ẩn tự. (xt. Linh Ẩn Tự).

linh tinh

Miscellaneous.

Linh tiêu

(靈霄): có 3 nghĩa. (1) Chỉ tiên cảnh. Như trong thư tịch Chơn Cáo (真誥), Vận Tượng Thiên (運象篇) của Phái Thượng Thanh (上清派) thuộc Đạo Giáo, do Đào Hoằng Cảnh (陶弘景, 456-536) nhà Lương thời Nam Triều biên tập, có câu: “Lương đức phi hà chiếu, toại cảm linh tiêu nhân (良德飛霞照、遂感靈霄人, đức cả ráng chiều tỏ, bèn cảm người cõi tiên).” (2) Chỉ trời cao. (3) Tên cung điện của Ngọc Đế trong truyền thuyết thần thoại. Như trong hồi thứ 80 của Thuyết Nhạc Toàn Truyện (說岳全傳) có đoạn: “Nhất nhật, giá tọa Linh Tiêu bảo điện, lưỡng bàng liệt trước tứ đại thiên sư, văn võ thánh chúng (一日,駕坐靈宵寶殿,兩傍列着四大天師,文武聖眾, một hôm, đức vua ngồi tại điện báu Linh Tiêu, hai bên có bốn đại thiên sư, văn võ thánh chúng).”

linh tri bất muội

(靈知不昧) Cái biết linh hoạt, mầu nhiệm, sáng suốt, không mờ tối. Trong Hoa nghiêm tâm yếu pháp môn, ngài Trừng quán dựa vào sự thể nghiệm Thiền mà mở bày tư tưởng Hoa nghiêm, trong đó Vô trụ tâm thể linh tri bất muội, là sự biểu hiện cùng tột về việc thể nghiệm ý chỉ Thiền. Linh tri bất muội biểu thị trạng thái tự giác cùng cực về Phật đạo và tâm; còn ngài Tông mật thì giải thích Linh tri bất muội là lí trong sáng thanh tịnh. Bản thể của linh tri bất muội là Như lai tạng tâm của chúng sinh; chữ tri này là chung cho cả phàm và Thánh, vì thế có sự sai khác với Thánh trí. Lại nữa, tri này chẳng phải là cái tri vọng tưởng phân biệt mà là chân tri vô niệm. Các sư phái Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Bắc Tống thích dùng 2 chữ Linh tri, do đó mà có các dụng ngữ như: Linh tri tâm tính, Chân tịnh linh tri, Linh tri nhất niệm, v.v... [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.15 (Trừng quán); Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng phần 2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.28, 30].

Linh Triệt

(靈澈, Reitetsu, 746-816): họ Thang (湯), tự Trừng Nguyên (澄源), xuất thân vùng Cối Kê (會稽, Tỉnh Triết Giang), đệ tử của Thần Ung (神邕), nổi tiếng với tư cách là thi tăng, vị tăng đại biểu cho sự giao bộ giữa Thiền và Luật. Ông thị tịch vào năm thứ 11 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), hưởng thọ 71 tuổi. Ông có mối thân giao bằng hữu với Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích qua cuộc Cách Tân Vĩnh Trinh (永貞革新), và cũng có giao lưu với Kiểu Nhiên (皎然) cũng như Quyền Đức Hưng (權德興). Người ta cho rằng có thể ông cùng tên với Linh Triệt (靈徹), người viết lời tựa cho Bảo Lâm Truyện (寳林傳).

linh tuân

(靈詢) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Hậu Ngụy, người Ngư dương (thuộc tỉnh Hà bắc) họ Phó. Sư xuất gia lúc còn niên thiếu, lớn lên chuyên nghiên cứu luận Thành thực và kinh Niết bàn. Sư đọc khắp các sách; văn chương bóng bảy, giỏi cả thư pháp và hội họa. Sư từng đến các vùng Yên, Triệu để giáo hóa. Mới đầu sư làm Quốc đô, vào những năm cuối đời Hậu Ngụy, sư giữ chức Tăng thống Tinh châu. Sư tịch vào năm đầu thời Bắc Tề (khoảng 550) thọ 69 tuổi. Sư có tác phẩm: Thành thực luận chú thích, Duy ma kinh sớ kí. [X. Tục cao tăng truyện Q.8].

linh tượng

Tượng Phật—Spirit-image, that of a Buddha. ; (靈像) Những hình tượng Phật, Bồ tát, thần già lam, được khắc hay vẽ, vì có ứng hiện sự linh nghiệm nên gọi là Linh tượng. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 859 hạ), nói: Tư duy hình ảnh, chỉ thấy bụi dày, nhướng mắt định thần, đều thấy linh tượng.

linh tạng

(靈藏) (519-586) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Ung châu (huyện Trường an, tỉnh Thiểm tây), họ Vương. Sư y vào Luật sư Dĩnh xuất gia từ thủa nhỏ, chuyên học tạng Luật. Vua Văn đế nhà Tùy nghe danh sư, ban sắc triệu sư về ở chùa Đại hưng thiện tại kinh đô Trường an. Sư và nhà vua kết giao rất thân. Văn đế từng viết sắc rằng (Đại 50, 610 trung): Đệ tử là vua của tục nhân, Luật sư là vua của đạo nhân, nếu có người muốn xa lìa thế tục, thì sư được tùy ý độ cho họ, do đó mà sư đã độ được mấy vạn người. Năm Khai hoàng thứ 6 (586) sư tịch, thọ 68 tuổi. [X. Tục cao tăng truyện Q.21].

linh từ

(靈祠) Đền miếu linh nghiệm. Chỉ cho chùa hật, hoặc đền miếu thờ cúng thổ thần...

linh vân

(靈雲) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Trường khê, tỉnh Phúc kiến; tức là Thiền sư Chí cần ở núi Linh vân thuộc Phúc châu, là đệ tử nối pháp của ngài Trường khánh Đại an. Mới đầu, sư trụ ở núi Đại qui, nhân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo. Sư làm bài kệ rằng (Đại 51, 285 thượng): Kiếm tìm ba chục năm qua, Cành trơ lá rụng phôi pha bấy chày; Hoa đào chợt thấy từ ngày, Đến nay vẫn chẳng mảy may nghi ngờ. Ngài Qui sơn Linh hựu xem kệ, gạn hỏi về điều sư ngộ, thấy khế hợp, ngài bèn nói: Từ duyên mà đạt ngộ, không bao giờ mà lui mất nữa, hãy tự giữ gìn cho khéo. [X. Tổ đường tập Q.19; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Thích thị kê cổ lược Q.3].

Linh Vân Chí Cần

(靈雲志勤[懃], Reiun Shikon, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Trường Khê (長溪), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến). Ông đã từng theo tham học với Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐), nhân thấy hoa đào mà ngộ đạo, nên ông trình câu kệ đạt ngộ của mình cho thầy nghe. Ông đã từng sống tại Đại Quy Sơn (大潙山), thuộc Đàm Châu (潭州, Tỉnh Hồ Nam), Linh Vân Sơn (靈雲山) thuộc Phúc Châu. ; 靈雲志勤; C: língyún zhìqín; J: reiun shigon; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Sư nổi tiếng với một bài kệ tụng, tả lại lúc triệt ngộ khi ngắm hoa Ðào nở. Bài kệ như sau (Thích Phước Hảo, Thích Thông Phương dịch):|三十年來尋劍客。幾回落葉幾抽枝|自從一見桃花後。直到如今不更疑|Tam thập niên lai tầm Kiếm khách*|Kỉ hồi lạc diệp kỉ trừu chi|Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu|Trực đáo như kim bất cánh nghi.|*Ba chục năm qua tầm kiếm khách|Bao lần lá rụng với cành trô|Từ khi được thấy hoa đào nở|Cho đến ngày nay chẳng chút ngờ.|*Xem chú giải »Kiếm khách« dưới bài kệ Hữu cú vô cú ở Trần Nhân Tông.

Linh văn

(靈文): văn chương linh nghiệm, linh thiêng. Như Đạo Giáo có Ngũ Thiên Linh Văn (五篇靈文) gồm: Ngọc Dịch Chương (玉液章, Chương Dịch Ngọc), Sản Dược Chương (產藥章, Chương Trồng Thuốc), Thái Dược Chương (採藥章, Chương Hái Thuốc), Đắc Dược Chương (得藥章, Chương Có Thuốc) và Ôn Dưỡng Chương (溫養章, Chương Dưỡng Ấm). Câu “thư triển linh văn, đốc khởi hiếu từ chi chí (舒展靈文、篤起孝慈之志)” có nghĩa là thong thả diễn bày lời văn linh thiêng để dốc hết lòng phát khởi chí nguyện hiếu từ của người con. ; (靈文): có 2 nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho kinh văn của tôn giáo. Như tác phẩm Nghệ Văn Loại Tụ (藝文類聚) quyển 77 có dẫn bài Nam Cung Thượng Quật Đắc Từ Giác Tự Chung Khải (東宮上掘得慈覺寺鍾啟) của Giản Văn Đế (簡文帝, tại vị 549-551) nhà Lương thời Nam Triều, trong đó có câu: “Khải di chung ư thù lí, ký linh văn ư phước địa (啟彝鐘於殊裡、記靈文於福地, mở chuông thiêng nơi sâu thẳm, ghi linh văn chốn đất phước).” (2) Chỉ cho những thư tịch hay văn tự trân quý nhưng hiếm có được truyền lại từ thời xa xưa. Như trong bài Kỷ Hợi Tạp Thi (己亥雜詩) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn: “Cổ nhân chế tự quỷ dạ khấp, hậu nhân thức tự bách ưu tập, ngã bất úy quỷ phục bất ưu, linh văn dạ bổ thu đăng bích (古人製字鬼夜泣、後人識字百憂集、我不畏鬼復不憂、靈文夜補秋燈碧, người xưa chế chữ quỷ đêm khóc, người sau biết chữ ưu buồn chất, ta chẳng sợ quỷ lại chẳng buồn, linh văn đêm thu đèn sáng tỏ).” Trong Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Thích Yếu (大乘止觀法門釋要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 55, No. 905) có câu: “Mục bất đỗ Tam Tạng chi linh văn, nhã bất văn Ngũ Tông chi huyền chỉ (目不睹三藏之靈文、耳不聞五宗之玄旨, mắt chẳng thấy Ba Tạng ấy linh văn, tai không nghe Năm Tông ấy huyền chỉ).” Hay trong Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 4, bài Ký Linh Nguyên Giảng Chủ (寄靈源講主), lại có đoạn: “Lão lai vạn sự dĩ đô vong, nhật nguyệt thăng trầm nhất nhậm mang, khiết phạn trước y tùy phận quá, liễu vô tâm niệm tưởng Tây phương, thất trục linh văn nhất triện yên, nhàn phòng tiêu tận thế gian duyên, dạ thâm đăng ám thử trùng xuất, phiên lạc trà phiêu ngọa sáp tiền (老來萬事已都忘、日月昇沉一任忙、喫飯著衣隨分過、了無心念想西方、七軸靈文一篆煙、閑房消盡世間緣、夜深燈暗鼠虫出、翻落茶瓢臥榻前, già đến muôn điều thảy hết quên, ngày tháng thăng trầm bận liên miên, mặc áo ăn cơm theo bổn phận, ngộ vô tâm niệm nhớ Tây phương, bảy cuộn linh văn khói tỏa trên, trong phòng rũ sạch thế gian duyên, đêm về đèn tối chuột sâu hiện, một chén trà thơm trước giường Thiền).”

linh đoan hoa

Hoa Ưu đàm, một loài hoa ba ngàn năm mới nở một lần, là một biểu tượng của Đức Phật—Udumbara flower, which appears but once in 3,000 years, a symbol of Buddha. ** For more information, please see Ưu Đàm Ba La Hoa.

linh đình

Magnificient (of banquet).

linh đơn

Medicine of fairy

linh đường

(靈堂) Điện đường thờ thần Phật có sự linh thiêng kì lạ, hoặc chỉ căn nhà cúng tế di thể người chết.

linh độ tự

(靈渡寺) Chùa ở núi Linh độ (núi Đại đầu), phía tây thôn Nguyên lãng hạ tại Tân giới, Hương cảng, đối diện với núi Bôi độ. Cứ theo thiên Thích lão trong Quảng đông khảo cổ tập yếu và mục Nhân vật lược trong Bảo an huyện chí, thì vào đầu năm Nguyên gia (424?) đời vua Văn đế nhà Lưu Tống thuộc Nam triều, Thiền sư Bôi độ đến trụ ở núi Đồn môn (tức núi Bôi độ), sau dời đến trụ ở 1 ngọn núi nhỏ cách phía ngoài núi Đồn môn vài dặm, gọi là núi Linh độ, trong núi có chùa, tức là chùa Linh độ. Hình dáng núi Linh độ giống như con mãnh hổ ngồi trên mặt đất, còn chùa này được xây dựng trên đầu con hổ. Bên cạnh chùa là cây rừng, hang đá, có dòng suối trong mát, gọi là giếng Bôi độ, nước ngọt, trong vắt, không bao giờ cạn. Trong chùa có một quả chuông được đúc vào khoảng năm Đạo quang. Chùa này không rõ được sáng lập bao giờ, chỉ biết là vào đời Tống và Minh chùa được trùng tu. Năm Đạo quang 20 (1840) đời Thanh, chùa được dời đến địa chỉ hiện nay, năm Hàm phong 11 (1861) chùa được xây dựng lại và năm Dân quốc 11 (1922) được trùng tu.

linh động

Lively—Lifelike—Full of life

linh ẩn sơn

(靈隱山) Cũng gọi Vũ lâm sơn, Linh uyển, Tiên cư. Tên núi, ở gần Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, là 1 trong 5 núi nổi tiếng của Phật giáo Trung quốc. Cứ theo Hoàn vũ kí thì các danh sĩ Hứa do, Cát hồng v.v... đều ẩn cư tại phía tây núi này. Núi có ngọn Bắc cao phong là cao nhất. Cùng với Nam cao phong gọi là Song phong sáp vân (2 ngọn núi cắm vào mây), là một trong 10 thắng cảnh ở Tây hồ. Dưới chân núi có chùa Linh ẩn, là ngôi chùa cổ nổi tiếng.

Linh Ẩn Tự

(靈隱寺, Rinnin-ji, Reiin-ji): hiện tọa lạc tại Linh Ẩn Sơn (靈隱山), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), gọi đủ là Bắc Sơn Cảnh Đức Linh Ẩn Tự (北山景德靈隱寺). Ban đầu vị tăng Huệ Lý (慧理) dựng am tu tập và dịch kinh. Sau đó, Ngô Việt Vương (呉越王) cho xây dựng Ngũ Bách La Hán Đường (五百羅漢堂), chỉnh trang lại các đường vũ, cung thỉnh Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽) đến khai đường thuyết giáo. Dưới thời nhà Tống, chùa được liệt vào hàng thứ 2 trong Ngũ Sơn. Minh Giáo Khế Tung (明敎契嵩), Phật Hải Huệ Viễn (佛海慧遠), Phật Chiếu Đức Quang (佛照德光), Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), v.v., đã từng chấn tích giáo hóa tại đây. Hơn nữa, dưới thời Nam Tống, Đại Xuyên Phổ Tế (大川普濟) đã từng soạn bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元) tại chùa này. Đến thời nhà Thanh, chùa được đổi tên thành Vân Lâm Tự (雲林寺). Trong Sơn Môn có các thắng địa như Phi Lai Phong (飛來峰, tức Tiểu Đóa Phong [小朶峰]), Trực Chỉ Đường (直指堂), Lãnh Tuyền Đình (冷泉亭), Bắc Cao Phong (北高峰), Hô Viên Động (呼猿洞, hay Bạch Viên Động [白猿洞]), Thạch Liên Phong (石蓮峰), Hợp Giản Kiều (合澗橋), Thứu Lãnh (鷲嶺), Cửu Lý Tùng Kính (九里松徑), Hác Lôi Đình (壑雷亭), Liên Phong Đường (蓮峰堂), Chiên Đàn Lâm (栴檀林), v.v.

linh ẩn tự

(靈隱寺) Cũng gọi Linh thứu tự. Chùa ở phía trước ngọn Phi lai, chân núi Linh ẩn ở Tây hồ, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Vào niên hiệu Hàm hòa năm đầu (326) đời Đông Tấn, có vị sa môn người Ấn độ tên là Tuệ lí đến đây, trông thấy ngọn Phi lai, khen rằng (Đại 49, 339 hạ): Ngọn núi nhỏ của Linh thứu ở Thiên trúc không biết đã bay đến đây bao giờ? Ngày đức Phật còn tại thế, có nhiều vị tiên linh ẩn cư tại núi này. Ngài bèn trụ lại đây và xây chùa, đặt tên là Linh ẩn. Năm Đại lịch thứ 6 (771) đời Đường, chùa được trùng tu, đến niên hiệu Hội xương (841-846), chùa bị phá hủy. Vào thời Ngũ đại, vua Trung ý nước Ngô việt xây dựng lại, toàn chùa có 9 lầu, 18 gác, 73 điện, hơn 1.300 gian phòng, 3.000 chư tăng, cực thịnh một thời. Năm Cảnh đức thứ 4 (1007) đời Tống, chùa được đổi tên là Cảnh đức Linh ẩn thiền tự. Cuối năm Kiến viêm (1127-1130), chùa bị giặc Hồ phá hủy, đến khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162) mới khôi phục lại được cảnh chùa như xưa, Thiền sư Tuệ viễn trụ trì, giáo hóa rất thịnh. Năm Chí chính 19 (1359) đời Nguyên, chùa bị phá hủy. Khoảng năm Hồng vũ (1368- 1398) đời Minh, chùa được tái thiết, đổi tên chùa là Linh ẩn như hiện nay. Khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, chùa được ban hiệu là Vân Lâm Thiền Tự, nhưng dân gian vẫn gọi theo tên cũ. Từ khi được sáng lập đến nay, chùa Linh ẩn đã trải qua hơn 1.600 năm, từng bị phá hủy 14 lần bởi chiến tranh, thiên tai. Những kiến trúc trong chùa mà ta thấy ngày nay phần lớn là do người đời sau xây cất lại, riêng 2 tòa tháp đá 8 góc 9 tầng trước Đại Hùng Bảo Điện và 2 cột đá khắc kinh trước điện Thiên vương đều là những di vật của thời Ngũ đại, do nước Ngô việt kiến tạo. Những nham thạch của ngọn Phi lai trước chùa đã do tạo hóa xếp đặt thành tầng thành lớp, đẹp một cách kì lạ, ở trong có nhiều hang động. Trên vách núi và trong, ngoài các hang động, có 338 pho tượng Phậtđược khắc vào các thời Ngũ đại, Tống và Nguyên. Trong đó, các tượng được khắc vào đời Nguyên là nhiều hơn cả, lại vì do thợ tạo tượng đời Nguyên đều sùng tín Lạt ma giáo, cho nên các tượng phần nhiều mang hình dáng tượng của Mật tông. [X. Tống cao tăng truyện Q.14, 15; Phật tổ thống kí Q.26, 36; Đại minh nhất thống chí Q.38; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 110; Sơn xuyên điển thứ 105].

Linh Ẩn Văn Thắng

(靈隱文勝, Rinnin Bunshō, ?-1026?): vị tăng của Pháp Nhãn Tông Trung Quốc, thông xưng là Từ Tế Thiền Sư (慈濟禪師), xuất thân vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), họ là Lưu (劉). Ông xuất gia thọ giới lúc còn nhỏ, rồi đến tham học với Đạo Tề (道齊) ở Vân Cư Sơn (雲居山), Hồng Châu (洪州, Tỉnh Giang Tây) và kế thừa dòng pháp của vị này. Về sau, ông đến trú tại Nam Viện (南院) của Linh Ẩn Sơn (靈隱山) thuộc Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), nhưng sau ông lui về ẩn cư tại Hưng Khánh Am (興慶庵), Hàng Châu. Đến năm thứ 4 (1026) niên hiệu Thiên Thánh (天聖), ngôi thảo am này được sắc phong là Từ Hiếu Tự (慈孝寺). Đến cuối đời ông ngã bệnh và thị tịch tại Sở Châu (楚州, Tỉnh An Huy).

linh ứng

Efficacious.

liêm

Câu liêm (lưỡi hái)—A sickle.

liêm chính

Honest and just.

liêm khiết

Upright—Honest—Uncorrupted.

liêm sĩ

Sense of shame.

liêm thương đại phật

(鐮倉大佛) Tượng Phật A di đà ngồi, xưa nhất, ở viện Cao đức, Trường cốc, Liêm thương, Nhật bản. Pho tượng Phật to lớn này đã được đúc lại nhiều lần, ban đầu là tượng bằng gỗ cao hơn 8 trượng (khoảng 25 mét), bị trận cuồng phong làm hư hại, nên được đúc lại bằng đồng cao 8 trượng (khoảng hơn 23 mét), đầy đủ tướng hảo, kĩ thuật đúc tượng tinh xảo, nổi bật những nét khác lạ của thời đại Liêm thương, có thể nói xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật hiếm có. N ă m 1495, điện Đại Phật bị 1 đợt sóng lớn đánh mạnh vào cuốn trôi đi mất, từ đó đến nay chỉ còn tượng Đại Phật lộ thiên.

liêm trực

Honest and righteous.

liêm tử

See Liêm.

liêm điền mậu hùng

(鐮田茂雄) (1927- ) Học giả Phật giáo Nhật bản, người thành phố Liêm thương. Năm 1955, ông chuyên nghiên cứu Triết học Ấn độ tại trường Đại học Đông kinh (Tokyo). Năm 1972, ông giữ chức giáo sư của Sở nghiên cứu Văn hóa Đông dương thuộc trường Đại học Đông kinh. Ông từng trình bày về ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với giáo lí của Đạo giáo, về Hoa nghiêm và Đạo giáo, về sự phát triển của Phật giáo Trung quốc và sự hình thành phạm vi Phật giáo Đông á, v.v... Ông có các tác phẩm: Trung quốc Hoa nghiêm tư tưởng sử chi nghiên cứu, Trung quốc Phật giáo tư tưởng sử nghiên cứu, Vô hạn chi thế giới quan, Nguyên nhân luận, Tông mật giáo học chi tư tưởng sử nghiên cứu, Trung quốc Hoa nghiêm tư tưởng sử, Trung quốc Phật giáo sử, Trung quốc Phật giáo sử từ điển.

liên

1) Bông sen: Pundarika (skt)—The lotus—See Liên Hoa. 2) Liên hệ: To connect. 3) Liên tục: To continue. 4) Thương xót: Pity—Sympathize—Comiserate—Charitable.

Liên Bang

(蓮邦): gọi đủ là Liên Hoa chi bang (蓮華之邦), nghĩa là quốc độ, đất nước hoa sen. Đây là tên gọi khác của thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂), vì tất cả chúng sanh trên cõi Cực Lạc đều an trú trong hoa sen. Như trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, CBETA No. 1215) có bài thơ rằng: “Đài đầu tận thị Hoàng Kim điện, cử nhãn vô phi Bạch Ngọc đường, Thất Bảo Diêu Trì phu hạm đạm, Bát Công Đức Thủy hý uyên ương, chư quân chơn đáo Liên Bang quốc, tiện thỉnh tri âm hòa nhất chương, thanh thanh Phật hiệu hữu vô trúng chỉ yếu hành nhân tín nguyện sung (抬頭盡是黃金殿、舉眼無非白玉堂、七寶瑤池敷菡萏、八功德水戲鴛鴦、諸君真到蓮邦國、便請知音和一章、聲聲佛號有無中、只要行人信願充, ngẩng đầu lên ấy vàng ròng điện, mở mắt nào hay ngọc trắng đường, bảy báu Diêu Trì phô sen nở, Tám Công Đức Nước giỡn uyên ương, mọi người đã đến Liên Bang cõi, xin thỉnh tri âm hòa một chương, mỗi danh hiệu Phật có không thảy, chỉ cần hành giả tín nguyện tròn).” Hay như trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, CBETA No. 1204) quyển 3 cũng có câu: “Ngũ lậu thân thành chướng cấu đa, vi nhi vi nữ khổ bôn ba, kim triêu phương thức trần trung huyễn, hàm tiếu liên bang thổ bích hà (五陋身成障垢多、爲兒爲女苦奔波、今朝方識塵中幻、含笑蓮邦吐碧荷, xấu xí thân hình tội chướng đa, làm thân người nữ khổ bôn ba, sáng nay mới biết trong trần huyễn, cười mĩm Liên Bang nở sen hoa).”

liên bang

Một tên khác của cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà (người ở cõi nầy lấy hoa sen làm nơi ở nên gọi là Liên Bang)—The Lotus Land—Another name for the Pure Land of Amitabha. ; (蓮邦) Cũng gọi Liên sát, Cực lạc thế giới. Chỉ cho cõi Tịnh độ ở phương Tây. Vì chúng sinh ở cõi ấy từ trong hoa sen hóa sinh ra, cho nên gọi là Liên bang (nước hoa sen). A di đà kinh sớ sao quyển 2 của ngài Vân thê Châu hoành (Vạn tục 33, 203 hạ), nói: Hoa sen là cung điện huyền diệu trong đó đã trút bỏ xác phàm, nơi an dưỡng của tuệ mệnh, là cõi nước dành cho người vãng sinh, gọi là Liên bang.

liên bát

(連鉢) Đối lại với Hiên bát. Phép khất thực vừa đi vừa đọc kinh. (xt. Hiên Bát).

liên can

Involved—Connected.

liên cung

Padmavimana (skt)—Lotus palace—The Pure Land of Sambhogakaya—The eight-leaved lotus of the heart.

liên du

Đứng trên Pháp Tòa Sen và bay đi khắp mười phương—To stand on the dharma lotus flower and fly in all ten directions.

Liên Giáo

(蓮敎, Renkyō, 1451-1492): vị tăng của Phái Hưng Chánh (興正派) thuộc Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng thời đại Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 4 của Hưng Chánh Tự (興正寺), húy là Nghiêu Viên (堯圓), Kinh Hào (經豪), Liên Giáo (蓮敎), thụy hiệu là Nguyện Thừa Viện (願乘院); con trai đầu của Tánh Thiện (性善), vị tổ đời thứ 12 của Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji). Năm 1469, ông kế thừa chức trú trì Phật Quang Tự và năm sau thì được bổ nhiệm làm chức Quyền Đại Tăng Đô. Năm 1482, ông nương cậy vào Liên Như (蓮如, Rennyo) ở Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), rồi cùng với chúng môn đồ bỏ chùa, đi theo Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派). Từ đó, ông được Liên Như đặt cho tên là Liên Giáo, rồi kết hôn với trưởng nữ của Liên Giác (蓮覺, Renkaku) ở Thường Lạc Đài; kế tiếp ông kế thừa Phật Quang Tự ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) và phục hưng đổi tên chùa thành Hưng Chánh Tự. Ông sáng tác bản Niệm Phật Hòa Tán (念佛和讚) để thay thế cho nghi thức Lục Thời Hòa Tán (六時和讚). Trước tác của ông có Chánh Tín Kệ Văn Thư (正信偈文書) 2 quyển.

liên hiệp

Tu unite—To ally.

Liên Hoa

(蓮花 hay 蓮華, renge): hoa sen. Ở Trung Quốc và Nhật Bản, người ta thường cho loại hoa sen mà có rễ (củ sen) là hoa sen, nhưng ở Ấn Độ còn có thêm một loại sen nước (thủy liên) khác nữa ngoài hai thứ trên, và khi nói đến hoa sen người ta thường ám chỉ loại sen nước này nhiều hơn. Tại Ấn Độ có nhiều loại hoa sen, nhưng trong kinh điển Phật Giáo có đề cập đến 5 loại. Đó là hoa sen trắng (s, p: puṇḍarīka, âm dịch là Phân Đà Lợi Ca [分陀利迦], 白蓮), hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], 青蓮), hoa sen hồng (s: padma, p: paduma, âm dịch là Bát Đầu Ma [鉢頭摩], 紅蓮), hoa sen vàng (s, p: kumuda, âm dịch là Câu Vật Đầu [拘物頭], 黃蓮), và loại hoa sen xanh khác (s, p: nīlotpala, 青蓮). Nhưng trên thực tế thì trừ loại hoa sen trắng (puṇḍarīka) ra, loại nào cũng có màu trắng và hồng cả. Từ ngàn xưa ở Ấn Độ người ta rất yêu chuộng loại hoa sen này. Trong đạo Bà La Môn có thần thoại cho rằng từ trong lỗ rún của thần Vishnu sinh ra hoa sen, trong hoa sen có Phạm Thiên là người sáng tạo ra vạn vật. Hoa sen vốn mọc trong bùn, nhưng trồi ra khỏi bùn để sống, không bị nhiễm mùi hôi tanh của bùn nhơ, mà còn có mùi thơm trong sạch, cho nên nó được ví như là Phật tâm vốn có cũng như chư Phật và Bồ Tát thanh tịnh. Một trong những kinh điển tiêu biểu của Đại Thừa nói về hoa sen là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka, 妙法蓮華經), ví diệu pháp của Phật như là hoa sen trắng lớn. Thế giới của Kinh Pháp Hoa là Liên Hoa Tạng Thế Giới (蓮華藏世界) hay nói cho đúng là Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải (s: Kusumatalagarbha-vyūhālaṃkāra-lokadhātu-samudra, 蓮華藏莊嚴世界海). Cổ Côn Pháp Sư (古崑法師) nhà Thanh có câu thơ rằng: “Nhất thanh Phật hiệu vi vi tụng, thất bảo Liên Hoa đại đại khai (一聲佛號微微誦、七寶蓮花大大開, một tiếng niệm Phật nhỏ nhỏ tụng, hoa sen bảy báu nở lớn dần).” Hay như tại Cửu Phong Thiền Tự (九峰禪寺) ở Vĩnh Gia (永嘉), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Hoàng kim địa thượng bảo thọ trùng trùng tận thị tu hành giả chủng, bạch ngọc trì trung Liên Hoa đóa đóa vô phi niệm Phật nhân tài (黃金地上寶樹重重盡是修行者種、白玉池中蓮花朵朵無非念佛人栽, trên đất vàng ròng cây báu hàng hàng thảy do người tu hành trồng, trong hồ ngọc trắng hoa sen đóa đóa đều là người niệm Phật gieo).”

liên hoa

Bông sen, có bốn loại—Lotus flower, there are four kinds: 1) Ưu Bát La Hoa: Utpala (skt)—Sen xanh—The blue lotus. 2) Câu Vật Đầu Hoa: Kumuda (skt)—Sen vàng—Yellow lotus. 3) Ba Đầu Ma Hoa: Padma (skt)—Sen hồng—Red lotus. 4) Phân Đà Lợi Hoa: Pundarika (skt)—Sen trắng—White lotus. ; (蓮華) Tên khoa học: Nelumbo nucifera. Hoa sen, thực vật thuộc loại túc căn thảo (loại cỏ nảy mầm từ củ của năm trước) mọc ở các đầm lầy hoặc ao hồ, mùi hoa thơm, thường nở vào mùa hạ, màu sắc rất đẹp. Tuy sinh trong bùn nhơ nhưng hoa rất thanh khiết. Từ ngàn xưa, người Ấn độ rất quý hoa này. Cứ theo Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ, khi trời đất mới mở, thì ngay rốn của Tì thấp nô (Phạm: Viwịu) mọc lên 1 hoa sen, giữa hoa có Phạm thiên ngồi kết già (xếp bằng), sáng tạo ra muôn vật. Tì thấp nô và vị thần phối ngẫu của mình đều dùng hoa sen làm biểu tượng; hoặc có thuyết cho hoa sen là 1 trong 7 thứ báu của trời Đa văn (Phạm: Kubera). Phật giáo cũng quí hoa sen, như Phật và Bồ tát phần nhiều dùng hoa sen làm tòa. Cứ theo luận Nhập Đại thừa quyển hạ, thì Bồ tát Thập địa sinh ở cung trời Ma hê thủ la ngồi trên tòa Bảo liên hoa vương mà thành Phật. Kinh Quán vô lượng thọ thì chép, đức Phật A di đà, các bồ tát Quan âm và Thế chí đều ngồi trên tòa hoa sen báu; chúng sinh nào được sinh về Tịnh độ phương Tây, khi lâm chung, đức Phật A di đà và các Bồ tát cầm đài sen đến đón. Tại Ấn độ, hoa sen được chia làm hai loại chính: 1. Hoa bát đầu ma (Phạm, Pàli: Padma), cũng gọi Bát đàm ma hoa, Bát đặc ma hoa, Bát nỗ ma hoa, Ba đàm hoa, Ba mộ hoa. Tên khoa học: Nymphaea alba. Tức hoa sen đỏ (Hồng liên hoa). 2. Hoa ưu bát la (Phạm:Utpala, Pàli: Uppala), cũng gọi Ưu bát hoa, Ô đát bát la hoa, Ưu bạt la hoa. Tên khoa học: Nymphaea tetragona. Tức hoa sen xanh (Thanh liên hoa). Cứ theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương), thì hoa sen có 4 đặc tính là: Thơm, sạch, mềm mại, dễ thương, được dùng để ví dụ 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của pháp giới chân như. Trong Mật giáo, hoa sen được dụ cho trái tim (nhục đoàn tâm) của con người, để biểu thị ý nghĩa chúng sinh vốn có tâm trong sạch như hoa sen, tức là tịnh Bồ đề tâm. [X. kinh Trung a hàm Q.23; kinh Hoa thủ Q.1; kinh Đại nhật Q.5; luận Đại trí độ Q.9; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.7 phần cuối; Đại nhật kinh sớ Q.5; Tông kính lục Q.28; Phật giáo mĩ thuật nghiên cứu; Mạn đồ la chi nghiên cứu; The Buddhism of Tibet (L.A Waddell)]. (xt. Thí Dụ).

liên hoa bộ

(蓮華部) Gọi tắt: Liên bộ. Cũng gọi: Quan âm bộ, Pháp bộ. Là 1 trong 3 bộ Thai tạng giới và 1 trong 5 bộ Kim cương giới của Mật giáo. Bộ này biểu thị lí nghĩa tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có của chúng sinh, cũng biểu thị Tam muội đại bi của Như lai. Bởi vì chúng sinh tuy bị lưu chuyển trong bùn lầy sinh tử nhưng tâm bồ đề thanh tịnh sẵn có vẫn không nhiễm ô, cũng như hoa sen tuy mọc giữa bùn nhơ nhưng không hôi tanh mùi bùn, cho nên gọi là Liên hoa bộ. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 632 thượng), nói: Tam muội đại bi của Như lai có năng lực nhuần thấm muôn gốc lành, cho nên gọi là Liên hoa bộ. Ngoài ra, Liên hoa bộ cũng chỉ cho viện Quan âm ở lớp thứ 2 bên phải trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Các vị tôn của viện Quan âm và viện Địa tạng đều thuộc bộ này. Vì Mã đầu Quan âm là chủ bộ và Bạch y Quan âm là bộ mẫu, cho nên Liên hoa bộ cũng được gọi là viện Quan âm. Ngoài ra, Liên hoa bộ của Mạn đồ la Kim cương giới lấy đức A di đà ở phương Tây làm chủ bộ, bồ tát Pháp ba la mật làm bộ mẫu, 4 vị Bồ tát thân cận là Pháp, Lợi, Nhân, Ngữ và bồ tát Kim cương tỏa trong 4 Nhiếp bồ tát, v.v... đều thuộc bộ này. Chư tôn của bộ này chủ về đức thuyết pháp của trí Diệu quán sát, vì thế, bộ Liên hoa còn được gọi là Pháp bộ. Lại nữa, quả vị và nhân vị của Phật A di đà và bồ tát Quan âm tuy khác nhau, nhưng đức của các Ngài thì giống nhau. Chủng tử của bộ này, ở 3 bộ Thai tạng giới là (sa), ở 5 bộ Kim cương giới là (hrì#), hình Tam muội da là hoa sen. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.2].

liên hoa diện kinh

(蓮華面經) Kinh, 2 quyển, do ngài Na liên đề da xá (490-589) dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này ghi lại những lời dự đoán của đức Phật về việc sau khi Ngài nhập diệt, tăng đồ Phật giáo sẽ đọa lạc, Phật pháp sẽ di chuyển vào nước Kế tân và hưng thịnh ở nước ấy. Về sau, lại có ông vua phá Phật xuất hiện và hủy diệt Phật giáo. Tên kinh Liên hoa diện là tên đời trước của ông vua phá Phật (giáo đồ Phú lan na). Điều đáng chú ý là tư tưởng mạt pháp đã được lưu hành ở Trung quốc ở khoảng thời Nam Bắc triều đến đời Tùy, mà kinh Liên hoa diện được dịch vào năm Khai hoàng thứ 4 (585) đời Tùy, cùng với kinh Đại tập nguyệt tạng (cũng do ngài Na liên đề da xá dịch) nên đã có ảnh hưởng rất lớn đối với lòng người đương thời. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12, Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10; Đại đường nội điển lục Q.5].

liên hoa giới

(蓮華戒) Phạm: Kammalazìla. Danh tăng Ấn độ thuộc phái Trung quán, sống vào khoảng thế kỉ thứ VIII, là đệ tử của ngài Tịch hộ (Phạm:Sànta-rakwita). Sư từng là giáo thụ Đát đặc la ở chùa Na lan đà tại Trung Ấn độ. Sau, nhận lời mời của vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sroí lde-btsan, 742-797), sư đến nước Tây tạng. Ở đây, sư đã từng cùng với Hòa thượng Đại thừa (Mahàyàna Hvozaí), người Trung quốc, tranh luận tại cung đình, sau Hòa thượng Đại thừa bị thua, phải rời khỏi Tây tạng. Cuộc tranh luận này được mệnh danh là Lạp tát luận tranh (Tranh luận ở cung Lha-sa) rất nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Tây tạng. Từ đó, hệ thống các phái Phật giáo Trung quốc bị suy tàn, tư tưởng Trung quán thịnh hành và đặt nền tảng cho Phật giáo Tây tạng sau này. Ảnh hưởng của tư tưởng Trung quán được biểu hiện rõ rệt nhất trong luận Bồ đề đạo thứ đệ của ngài Tông khách ba – Tổ khai sáng của phái Hoàng giáo. Sư có các tác phẩm: Bát nhã ba la mật đa thất bách tụng quảng chú, Kim cương bát nhã quảng chú, Nhất thiết pháp vô tự tính thành tựu, Tu tập thứ đệ (3 thiên), Chính lí trích tiền phẩm nhiếp. [X. History of Buddhism by Bu-ston, 1931, 1932 (E. Obermiller); Indian Pandits in Tibet (S.C.Das); Tibetan Buddhistology, 1953 (S.Yoshimura)].

liên hoa ngũ cổ ấn

(蓮華五股印) Cũng gọi Liên hoa chử ấn, Nhị trùng ngũ cổ ấn, Ngũ cổ trùng chử ấn, Bổ đà lạc sơn ấn, Bổ đà lạc sơn cửu phong ấn, Cửu phẩm tịnh độ ấn. Chỉ cho ấn Năm chĩa của Liên hoa bộ trong 5 bộ Kim cương giới Mật giáo. Theo Liên hoa bộ niệm tụng pháp thì ấn này là ấn Bộ tâm căn bản. Ấn tướng là 2 tay chắp lại kiểu hoa sen, đầu 2 ngón trỏ và 2 ngón áp út giao nhau, 2 ngón cái và 2 ngón út mở ra và dựng đứng. Trong Thiên thủ quĩ, ấn này được gọi là Thiên thủ căn bản ấn, ấn mẫu là Kim cương hợp chưởng, lòng bàn tay để rỗng, 2 ngón giữa mở ra và dựng đứng như hình cánh sen, cùng với 2 ngón cái và 2 ngón út hợp làm 5 chĩa, 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh cũng thành 4 chĩa, vì thế gọi là Nhị trùng ngũ cổ ấn (ấn 5 chĩa 2 lớp), cũng gọi Ngũ cổ trùng chử ấn. Lại vì Nhị trùng ngũ cổ là biểu trưng Ngũ Phật của Kim cương bộ và Thai tạng bộ, mà Ngũ Phật là căn bản của các tôn vị, cho nên ấn này là ấn chung cho chư tôn của cả 2 bộ. Ngoài ra, 2 ngón giữa dựng đứng và hợp nhau là biểu thị ý nghĩa Lí và Trí Đại nhật của 2 bộ thầm hợp nhau. Lại 2 ngón giữa và 8 ngón kia tạo thành hình 9 ngọn núi, nên gọi là Cửu phong ấn, Bổ đà lạc sơn ấn. Cửu phong cũng tượng trưng cho Cửu phẩm Tịnh độ. [X. kinh Ô xu sắt ma minh vương Q.hạ].

liên hoa nhãn

Thanh Liên Hoa Nhãn hay mật hiệu của Đức Quán Thế Âm (nhãn tướng của Đức Quán Thế Âm có hình hoa sen xanh từ bi)—The blue-lotus eyes of Kuan-Yin.

liên hoa quyền

(蓮華拳) Cũng gọi Thai tạng quyền, Thai quyền, Như lai quyền. Ấn tướng thường được thấy trong Mạn đà la Thai tạng giới, 1 trong 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Cách thức kết ấn này là bàn tay nắm lại thành nắm tay, nhưng ngón cái dựng thẳng bên ngoài, cạnh ngón trỏ, biểu thị cho pháp tính của 5 đại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

liên hoa quốc

Cõi Tịnh Độ của mỗi vị Phật, cõi cực lạc miên viễn—The pure land of every Buddha, the land of his eternal enjoyment.

Liên Hoa Sinh

蓮華生; S: padmasambhava hoặc padmakā-ra;|Ðại sư Ấn Ðộ, sống cùng thời vua Tây Tạng Tri-song Det-sen (755-797; Hán Việt: Ngật-lật-sang Ðề-tán). Sư truyền Phật giáo sang Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã (t: nyingmapa), một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là »Phật thứ hai.« Sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Sư rất đa dạng, từ cách sử dụng đao truỷ thủ (Phurbu) đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Ðại cứu kính (t: dzogchen). Sư thuộc dòng của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: ma-hāsiddha), để lại rất nhiều chuyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Hi-mã-lạp sơn, người ta tôn thờ gọi Sư là »Ðạo sư quý báu« (guru rimpoche).||H 39: Liên Hoa Sinh dưới dạng Nhật Quang Ðạo sư (s: sūryaraśmi-guru) đang mỉm cười. Trên đầu, Sư mang vương miện được kết với sáu sọ người. Sư ngồi trên một tấm lông nai (như phần lớn các vị Ma-ha Tất-đạt được trình bày trong tranh tượng), tay phải cầm cây gậy thần (s: khaṭvaṅga), ngón trỏ của tay trái đang giữ một tia nắng mặt trời. Sư mang tên Nhật Quang vì sau khi tu luyện năm năm nơi thiêu xác, Sư đạt Tất-địa (s: siddhi), có thể xoè tay bắt ánh sáng mặt trời.|Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo (Tan-tra). Trong thế kỉ thứ 8, Sư đến Tây Tạng, một nước còn nằm dưới ảnh hưởng của các tôn giáo thiên nhiên. Sư đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bôn (t: bon). Sư cũng cho xây tu viện Tang-duyên (t: samye) năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng Sư hoằng hoá ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là »Tám tuyên giáo«. Ngoài ra, Sư còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi (Ter-ma), chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Ðệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của Sư là bà Ye-she Tsog-yel.|Sư có nhiều bài dạy đệ tử tu tập theo con đường ngắn nhất, trực tiếp đến Giác ngộ. Những bài khuyên dạy thường xoay quanh sáu điểm cụ thể như sau:|1. Ðọc thật nhiều kinh sách, lắng tai nghe các vị Ðại sư dạy bảo để nhập tâm rồi sau đó ứng dụng để tự thấy hiệu quả, sai trái;|2. Chọn một trong tất cả học thuyết này và chú tâm vào nó, tất cả những thuyết khác đều phải bỏ qua, ví như con diều hâu săn từ trên cao, chỉ chọn một con mồi duy nhất;|3. Sống khiêm tốn cần kiệm, không bao giờ tự nâng mình, đưa mình ra trước, bỏ ý muốn đạt danh vọng, quyền uy trong thế gian. Sau cái bề ngoài vô nghĩa này thì lại đưa tâm thức lên cao vút, vượt qua tất cả các danh hiệu chói lọi của tục thế;|4. Giữ lòng Xả (s: upekṣā) đối với tất cả. Ăn uống như một con heo, con chó, không chọn lựa, có gì ăn nấy. Không được cố gắng để đạt hoặc né tránh bất cứ một cái gì. Chấp nhận mọi việc như chúng đến, giàu sang phú quý hay cơ hàn, lời chê bai hay tán thán. Không phân biệt giữa đúng sai, thiện ác, thành bại. Không hối tiếc và cũng không hãnh diện, vui mừng về bất cứ việc gì đã làm (Bát phong);|5. Với tâm vô tư, không thiên vị mà nghe và quán sát tất cả những hành động lời nói của mọi người. Cứ nghĩ rằng, nhân gian là như thế, người này như vậy, người kia thế đó. Quán sát thế gian như một người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống;|6. Cấp này không thể trình bày diễn tả. Nó tương ưng với sự trực giác tính Không, tương ưng với Không (s: śūnyatā).|Dòng Ninh-mã xem ngày 10 mỗi tháng là ngày vía của Liên Hoa Sinh và mỗi tháng có một ý nghĩa khác nhau. Ngày 10 tháng giêng là ngày xuất gia và quán tử thi, ngày 10 tháng 2 là ngày thụ giới, ngày 10 tháng 3 là ngày chuyển hoá lửa thành nước v.v… Bài dạy cầu Liên Hoa Sinh được ghi thành 7 dòng như sau:|Nơi miền Tây bắc Ô-trượng-na|Trong một đoá hoa sen|Ngài đã đạt Vô thượng bồ-đề|Ngài là Liên Hoa Sinh|Với nhiều nữ thần hộ vệ xung quanh|Con nguyện theo Ngài|Hãy đến đây độ trì cho đệ tử.

liên hoa sinh

(蓮華生) Phạm: Padma-saôbhava, Gurupadma, Urgyan-padma. Tạng: Padma-#byuí-gnas, Rin-poche. Hán âm: Ba đặc mã tát mộc ba ngõa. Tổ khai sáng của phái Hồng giáo Tây tạng, sống vào khoảng thế kỉ VIII, người nước Ô trượng na, Bắc Ấn độ (thuộc Pakistan ngày nay). Ban đầu sư trụ ở chùa Na lan đà, học thông kinh điển Đại Tiểu thừa. Sư bẩm tính cẩn trọng, khéo dùng các phương tiện trong việc giáo hóa. Năm 747, nhận lời thỉnh của vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sroí lde btsan, 742-797), sư cùng với các ngài Tịch hộ (Phạm: Zànta-rakwita) và Liên hoa giới (Phạm: Kamalasìla) cùng đến Tây tạng. Vua Tây tạng liền xây chùa Tang da (Tạng: Samyas) ở phía đông nam thủ đô Lạp tát (Lha-sa) để các ngài ở. Sư truyền bá pháp môn Du già bí mật ở Tây tạng, phiên dịch kinh chú, đồng thời thị hiện các kì tích thần bí để thu phục sự qui hướng của người Tây tạng. Pháp môn Du già bí mật là pháp quán đạt đến Thiền định Đại hỉ lạc. Sư là người đầu tiên truyền Mật giáo vào Tây tạng. Sư có 25 đệ tử chuyên việc phiên dịch kinh điển Phật từ Phạm, Hán sang tiếng Tây tạng, biên tập thành Đại tạng kinh Cam châu nhĩ của Tây tạng. Sư có các tác phẩm: Ngũ chủng tam ma da, Thánh kim cương thủ thanh y thành tựu pháp ưu ba đề xá quảng thích chú, Kim cương tồi phá đà la ni thích kim cương đăng, Cát tường thế gian tôn không hành thành tựu pháp, Bí mật thư trạng. [X. luận Chương sở tri Q.thượng; The Buddhism of Tibet (L.A. Waddell)].

liên hoa sắc

Lotus Flower Color. ; (蓮華色) Phạm: Utpalavarịà. Pàli: Uppalavaịịà. Cũng gọi Thanh liên hoa ni, Liên hoa sắc ni, Liên hoa sắc nữ, Liên hoa dâm nữ, Liên hoa nữ, Ôn la bật sô ni, Liên hoa tiên, Chuyên hoa sắc, Hoa sắc, Ưu bát la hoa sắc, Ưu bát hoa sắc. Vị tỉ khưu ni được khen ngợi là đệ nhất thần túc trong hàng ngũ tỉ khưu ni đệ tử của đức Phật. Trước khi xuất gia, Liên hoa sắc vốn là người ở thành Vương xá, có chồng là người nước Uất thiền, sinh được 1 con gái. Vì biết được chồng tư thông với mẹ, nên nàng bỏ nhà đến thành Ba la nại, lấy chồng khác là 1 Trưởng giả. Về sau, Trưởng giả đến nước Uất thiền buôn bán, lấy 1 thiếu nữ mang về thành Ba la nại, sau đó mới biết thiếu nữ ấy chính là con gái của nàng. Liên hoa sắc thâm cảm số phận bi đát của mình, trước kia chung chồng với mẹ, bây giờ lại chung chồng với con; nàng vô cùng đau khổ, chán ngán cuộc đời, tự vứt bỏ mình bằng cách đến thành Tì xá li làm nghề bán dâm. Một ngày kia, được nghe tôn giả Mục kiền kiên nói pháp, Liên hoa sắc cảm thấy sung sướng, bèn qui kính đức Phật, rồi cầu xin tỉ khưu ni Ma ha ba xà ba đề xuất gia và được chấp nhận. Về sau bà chứng quả A la hán, được 6 thần thông. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 23 và kinh Tăng nhất a hàm quyển 28, đức Phật lên cung trời Đao lợi thuyết pháp cho mẫu hậu nghe, khi trở lại nhân gian, Liên hoa sắc đã hóa làm thân Chuyển luân Thánh vương để đón rước đức Phật. Sau đó, Liên hoa sắc hiện nguyên hình đính lễ Ngài. Đến khi Đề bà đạt đa phản nghịch muốn làm hại đức Phật, Liên hoa sắc liền trách mắng, nên bị Đề bà đạt đa nổi giận, đánh vào đầu mà chết. [X. kinh Tạp a hàm Q.45; kinh Tăng nhất a hàm Q.3,4; kinh Tì ni mẫu Q.5; kinh Nghĩa túc Q.hạ; kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.12; kinh A la hán cụ đức; kinh Đại bảo tích Q.1; luật Tứ phần Q.6,12; Hữu bộ tì nại da Q.10, 30; Tát bà đa bộ luật nhiếp Q.14; luận Đại trí độ Q.13, 14; Đại đường tây vực kí Q.4; The Life of The Buddha (W.W. Rockhill)].

liên hoa tam dụ

(蓮華三喻) Cũng gọi Tích bản tam dụ. Ba ví dụ về hoa sen nhằm nói rõ ý chỉ Khai hiển trong kinh Pháp hoa theo thuyết của tông Thiên thai. Vì muốn trình bày rõ ý chỉ Khai hiển của kinh Pháp hoa, nên tông Thiên thai căn cứ vào Liên Hoa trong đề kinh, đối với Bản môn và Tích môn, mà thành lập mỗi môn 3 dụ. I. Ba dụ của Tích môn. 1. Vị liên cố hoa (Vì hạt mà có hoa): Ví dụ vì thực(chân thực) mà lập quyền (tạm thời), dùng liên ví dụ cho thực, dùng hoa ví dụ cho quyền. Nghĩa là để hiển bày nghĩa chân thực của Nhất thừa nên đức Phật mới tạm thời lập ra quyền giáo (giáo pháp phương tiện). Tức là đức Phật dùng sức phương tiện thị hiện nhiều pháp môn, chứ kì thực chỉ muốn chúng sinh qua các giáo pháp phương tiện ấy mà biết rõ đệ nhất tịch diệt của Nhất Phật thừa mà thôi. 2. Hoa khai liên hiện (Hoa nở hạt bày): Ví dụ khai quyền để hiển thực, dùng hoa khai ví dụ khai quyền (mở ra giáo pháp phương tiện tạm thời), dùng liên hiện ví dụ hiển thực (hiển bày giáo pháp Nhất thừa chân thực). Nghĩa là trên hội Pháp hoa, đức Như lai đã khai quyền phương tiện Tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) để hiển bày thực nghĩa Nhất thừa (một Phật thừa), tức là mở cửa phương tiện để hiển tướng chân thực. 3. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt thành): Ví dụ việc bỏ quyền lập thực, dùng hoa lạc ví dụ phế bỏ quyền, dùng liên thành ví dụ thiết lập thực. Nghĩa là khi thực giáo Nhất thừa đã hiển bày, thì quyền giáo Tam thừa tự phế bỏ, tức là bỏ ngay phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Ba ví dụ trên là ý trong 14 phẩm đầu của kinh Pháp hoa. II. Ba dụ của Bản môn. Vị liên cố hoa (Vì hạt có hoa): Ví dụ từ Bản mà thùy Tích, dùng liên ví dụ Bản (bản địa của đức Phật), dùng hoa ví dụ Tích (Hóa thân của đức Phật). Từ Bản thùy tích nghĩa là dùng Bản xét định Tích, tức là xét sự hóa hiện 8 tướng (thành đạo) của Tích môn để hiển bày Bản địa đã thành từ lâu xa. Nghĩa là Như lai đã thành Phật từ lâu xa lắm rồi, nhưng muốn giáo hóa chúng sinh mà thị hiện hóa tích (Tích) thiếu niên xuất gia, thành Đẳng chánh giác. Hoa khai liên hiện (Hoa nở hạt bày): Ví dụ khai Tích hiển Bản, dùng hoa khai ví dụ khai Tích, dùng liên hiện ví dụ hiển Bản. Nghĩa là trừ bỏ cái tình chấp của chúng sinh cho rằng Như lai mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng gần đây, chứ không biết rằng đó chỉ là Hóa thân Phật thị hiện thùy Tích để cứu độ chúng sinh, mà hiển bày Bản địa đã thành Phật từ lâu xa rồi. Hoa lạc liên thành (Hoa rụng hạt thành): Ví dụ phế Tích lập Bản, dùng hoa lạc ví dụ việc phế bỏ Tích, dùng liên thành ví dụ việc thiết lập Bản. Nghĩa là đức Phật thuyết pháp độ chúng sinh trước sau đều chân thực, không hư dối, cho nên hóa Tích mới thành Phật ở Bồ đề đạo tràng bấy lâu nay tự nhiên phế bỏ mà lập Bản địa thành Phật từ lâu xa. Ba ví dụ trên là ý trong 14 phẩm sau của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Huyền nghĩa thích tiêm giảng thuật Q.1]. (xt. Bản Tích Nhị Môn).

liên hoa thập dụ

(蓮華十喻) Mười ví dụ về hoa sen. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 9, hoa sen sinh ra từ bùn nhơ, nhưng không nhiễm mùi bùn mà lại có mùi thơm vi diệu lan tỏa, khiến người thấy sinh tâm vui mừng, nên dùng để ví dụ cho 10 thiện pháp tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Lìa tất cả ô nhiễm: Bồ tát tu hành, thường dùng trí tuệ quán xét các cảnh, chẳng sinh tâm tham đắm, tuy ở trong dòng sinh tử vẩn đục mà không bị nhiễm ô, ví như hoa sen mọc trong bùn nhơ mà chẳng dính bùn. 2. Không chung đụng với những pháp xấu ác: Bồ tát tu hành diệt ác sinh thiện, giữ gìn 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, không cùng chung với bất cứ điều xấu ác nào, ví như hoa sen chẳng hề dính một giọt nước bùn nhơ. 3. Giới hương đầy đủ: Bồ tát tu hành, kiên trì giới luật, có thể diệt trừ nghiệp ác của thân, khẩu, cũng giống hương thơm có thể đánh tan khí hôi thối, ví như mùi thơm vi diệu của hoa sen lan tỏa, khắp nơi đều nghe biết. 4. Bản thể trong sạch: Bồ tát tuy sống trong 5 cõi trọc ác, nhưng nhờ giữ giới, nên thân tâm được thanh tịnh, ví như hoa sen tuy sinh trong bùn nhơ mà thể tính tự nhiên thanh khiết. 5. Nét mặt tươi tắn, vui vẻ: Tâm của Bồ tát thường vui với thiền định, các tướng tròn đầy, khiến cho người thấy sinh tâm hoan hỉ, ví như hoa sen khi nở, ai thấy cũng đẹp lòng. 6. Mềm mại mịn màng: Bồ tát tu hạnh từ thiện, nhưng đối với các pháp cũng không trệ ngại, cho nên thể thường thanh tịnh, nhu hòa, không thô rít, ví như hoa sen mềm mại, trơn láng. 7. Người thấy đều an lành: Bồ tát thành tựu thiện hạnh, hình tướng trang nghiêm vi diệu, người thấy đều được tốt lành, ví như hoa sen đẹp đẽ, thơm ngát, người thấy hoặc nằm mộng thấy đều được an lành. 8. Hoa nở tròn đủ: Bồ tát tu hành viên mãn, công đức đầy đủ, phúc trí trang nghiêm, ví như hoa sen khi nở bày cả gương và hạt. 9. Thành thục thanh tịnh: Diệu quả của Bồ tát viên mãn thành thục, nên trí tuệ phát sáng, có thể khiến cho 6 căn của người thấy nghe đều được thanh tịnh, ví như hoa sen đã nở rộ, nếu mắt thấy màu hoa, mũi ngửi hương hoa, thì các căn khác cũng đều được thanh tịnh. 10. Mới sinh ra đã được nghĩ tưởng đến: Bồ tát mới sinh ra, trời, người đều vui vẻ hộ trì, vì biết chắc Bồ tát có khả năng tu tập thiện hạnh, chứng quả bồ đề, ví như hoa sen khi mới mọc lên, tuy chưa thấy hoa, nhưng mọi người đều nghĩ rằng sẽ có hoa sen.

liên hoa thủ bồ tát

Padmapani (skt)—Tên khác của Quán Thế Âm Bồ Tát tay cầm bông sen—Another name for Kuan-Yin or Avalokitesvara Bodhisattva who is holding a lotus flower.

liên hoa tinh tiến

(蓮華精進) Cũng gọi Vật đề đề tê ngư. Danh tăng Tây vực, sống vào đời Đường, người nước Cưu tư (Khố xa, Tân cương). Sư trụ trì chùa Liên hoa ngoài cửa tây thành Khuất chi. Ngoài ngôn ngữ của các nước Tây vực, sư còn thông thạo cả 2 thứ tiếng Phạm và Hán. Đầu năm Trinh nguyên (785-804), sư Ngộ không vốn ở chùa Chương kính tại Trường an, từng đi Ấn độ thỉnh kinh, khi từ Ấn độ trở về, sư có lưu lại thành Khuất chi hơn 1 năm, trong thời gian này, sư thỉnh ngài Liên hoa Tinh tiến phiên dịch bộ kinh Thập lực bằng tiếng Phạm mà sư mang về từ Ấn độ. Năm Trinh nguyên thứ 6 (786), sư Ngộ không về tới Trường an, đem bộ kinh Thập lực và răng Phật dâng lên triều đình. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].

liên hoa trí

Liên Hoa hay mật trí của Phật A Di Đà, một trong ngũ trí—The lotus or mystic wisdom of Amitabha, one of the five wisdoms. ** For more information, please see Ngũ Trí.

liên hoa tạng thế giới

Cõi Tịnh Độ báo thân của mỗi vị Phật do hoa sen báu tạo thành (của Đức Phật A Di Đà là Tây Phương Tịnh Độ, của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na là Mật Nghiêm Quốc)—The Lotus world or universe of each Buddha for his sambhogakaya. ; (蓮華藏世界) Phạm: Kusuma-tala garbhavyùhàlaôkàraloka-dhàtu-samudra, hoặc Padma-garbha-loka-dhàtu. Cũng gọi Liên hoa quốc. Chỉ cho thế giới hàm chứa vô lượng công đức trang nghiêm rộng lớn từ trong hoa sen sinh ra. Về tướng trạng của thế giới Liên hoa tạng này, trong các kinh đều nói khác nhau. 1. Theo kinh Hoa nghiêm, Liên hoa tạng thế giới còn được gọi là Hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Hoa tạng trang nghiêm cụ thế giới hải, Diệu hoa bố địa thai tạng trang nghiêm thế giới, Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Hoa tạng thế giới hải, Hoa tạng thế giới, Hoa tạng giới, Thập liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Thập liên hoa tạng thế giới, Thập hoa tạng. Thế giới này là thế giới trang nghiêm thanh tịnh do hạnh nguyện tu hành của đức Tì lô giá na Như lai ở vô lượng kiếp quá khứ mà thành tựu. Thế giới này được cấu tạo bởi vô số phong luân nhiều như bụi nhỏ, phong luân dưới cùng gọi là Bình đẳng trụ, phong luân trên cùng gọi là Thù thắng uy quang tạng. Phong luân trên cùng này có khả năng nâng đỡ biển Hương thủy, trong biển này có 1 hoa sen lớn gọi là Chủng chủng quang minh nhụy hương chàng; thế giới Liên hoa tạng nằm ở trong hoa sen lớn này, chung quanh có núi Kim cương luân bao bọc, mặt đất đều do kim cương tạo thành, bằng phẳng bền chắc, cực kì thanh tịnh trang nghiêm. Trong thế giới này cũng có các biển Hương thủy nhiều như bụi nhỏ không thể kể xiết, chung quanh mỗi biển Hương thủy có 4 Đại châu và vô lượng vô số sông Hương thủy. Trong mỗi biển Hương thủy cũng có bất khả thuyết vi trần số thế giới chủng; trong mỗi thế giới chủng lại có bất khả thuyết vi trần số thế giới. Biển Hương thủy ở chính giữa thế giới Liên hoa tạng gọi là Vô biên diệu hoa quang; từ trong biển Hương Thủy này mọc lên 1 hoa sen lớn, trong đó có 20 lớp bất khả thuyết vi trần số thế giới phân bố khắp 10 phương. Lấy thế giới chủng ở chính giữa này làm trung tâm, có tất cả 111 thế giới chủng nằm la liệt, tạo thành mạng lưới thế giới, đều được trang nghiêm bằng các thứ báu bao bọc chung quanh, trong đó có hiện cả chư Phật và chúng sinh. Thuyết thế giới Liên hoa tạng có nguồn gốc từ thuyết Thiên địa khai tịch (Trời đất hình thành) trong Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm: Mahàbhàrata) của Ấn độ. Như kinh Đại bi quyển 3, luận Đại trí độ quyển 8, luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn, v.v... đều cho rằng từ nơi rốn của thần Tì thấp nô (Phạm:Viwịu) mọc lên hoa sen, trong hoa sen có Phạm thiên vương, từ trong tâm, Phạm thiên vương sáng tạo ra trời đất, con người và muôn vật. So sánh thuyết này với thuyết Thế giới Hoa tạng trang nghiêm trong kinh Hoa nghiêm, tuy khác nhau rất nhiều về phạm vi rộng hẹp lớn nhỏ, sự cấu tạo trang nghiêm, nhưng giống nhau ở điểm có phong luân nâng đỡ thủy luân, hoa sen từ trong nước mọc lên và từ hoa sen ấy, trời đất muôn vật được thành lập. Lại nữa, thế giới Hoa tạng là do hạnh nguyện của đức Tì lô giá na mà được trang nghiêm thanh tịnh, ánh sáng chiếu khắp; còn Phạm thiên vương cũng có vô lượng quang minh, là đấng chúa tể sáng tạo muôn vật. Đem đối chiếu 2 thuyết này, ta thấy giữa thuyết Thế giới Liên hoa tạng và thuyết Thiên địa khai tịch của phái Tì thấp nô có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ngoài ra, thế giới Liên hoa tạng trong kinh Hoa nghiêm là thế giới Hoa tạng được hình thành bởi hoa sen thật, nhưng Nhiếp Đại thừa luận thích quyển 15 (bản dịch đời Lương) lại cho rằng hoa sen là ví dụ để hiển bày pháp giới chân như của Đại thừa, chứ không phải là hoa sen thật. 2. Theo kinh Phạm võng, thế giới Liên hoa tạng cũng gọi là Liên hoa đài tạng thế giới hải, Liên hoa hải tạng thế giới, Liên hoa đài tạng thế giới. Chỉ cho thế giới được chứa đựng trong hoa sen lớn nghìn cánh, mỗi cánh sen là 1 thế giới, mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, trăm ức 4 đại châu và trăm ức cõi Nam diêm phù đề. Đức Phật Lô xá na là nguồn gốc của thế giới này, Ngài ngồi kết già trên đài sen, tự biến hóa ra nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên một cánh sen; rồi mỗi mỗi trong nghìn Phật Thích ca lại biến hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi bồ tát Thích ca đều ngồi dưới gốc cây bồ đề ở cõi Nam diêm phù đề, tuyên thuyết pháp môn tâm địa của Bồ tát. Trong đó mỗi cọng cỏ là một đại thiên thế giới, có trăm ức núi Tu di và 4 đại châu, mỗi 1 thế giới 4 đại châu là chỗ giáo hóa của 1 vị bồ tát Thích ca; trăm ức 4 đại châu là 1 đại thiên thế giới, là chỗ giáo hóa của1bồ tát Đại Thích ca, 1 nghìn đại thiên thế giới là do đức Phật Lô xá na chủ lãnh, 10 vạn ức thế giới 4 đại châu, gọi là Thế giới liên hoa đài tạng. Về sự cấu tạo thế giới của thuyết này (tức kinh Phạm võng), có khác với cách cấu tạo thế giới Hoa tạng trang nghiêm trong kinh Hoa nghiêm và gọi là Liên hoa đài tạng thế giới, cũng là trú xứ của Phật Lô xá na. Thuyết này căn cứ vào kinh Hoa nghiêm mà có, nhưng hoa sen của thế giới này lại do 1 nghìn cánh hợp thành và đức Phật Lô xá na ngồi kết già trên đài hoa ấy. Còn thuyết của Tì thấp nô thì cho rằng Phạm thiên vương ngồi kết già trên hoa sen màu vàng nghìn cánh, như vậy 2 thuyết ăn khớp nhau. Cho nên, ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, thuyết Liên hoa đài tạng thế giới trong kinh Phạm võng đã trực tiếp kế thừa từ thuyết Thiên địa khai tịch trong Sử thi Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata). Ngoài ra, Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 3 nói, cảnh giới của 10 đức Phật có thể chia làm Quốc độ hải (quả phần bất khả thuyết) và Thế giới hải (nhân phần bất khả thuyết). Thế giới hải là các loại thế giới của 10 đức Phật nhiếp hóa, lại có thể chia làm Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, Tam thiên giới ngoại thập trùng thế giới hải và Vô lượng tạp loại thế giới hải. Vì căn tính của chúng sinh khác nhau nên quốc độ mà họ cảm thấy được cũng bất đồng; quốc độ mà giai vị Chứng nhập sinh cảm được tức là Liên hoa tạng thế giới. Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 thì, đối lại với Liên hoa tạng trang nghiêm thế giới hải, lập ra 3 loại thế giới là: Liên hoa đài tạng thế giới (thuyết của kinh Phạm võng), Hoa tạng biến pháp giới và Thụ hình đẳng tạp loại thế giới. Loại trước là thuyết của Đồng giáo Nhất thừa, 2 loại sau là thuyết của Biệt giáo. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh sớ quyển 11 của ngài Trừng quán thì căn cứ vào 2 nhân chúng sinh và Phật mà giải nói về Liên hoa tạng thế giới. Thuyết của tông Tịnh độ thì căn cứ vào luận Tịnh độ của ngài Thế thân mà chủ trương rằng thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà tức là Liên hoa tạng thế giới. Còn thuyết của tông Đông mật ở Nhật bản thì lấy Tịnh độ của Báo thân Phật A di đà làm thế giới Liên hoa tạng của thân Gia trì, lấy trú xứ của Pháp thân Đại nhật Như lai làm thế giới Liên hoa tạng của thân Bản địa, lấy Hãn lật đà (nhục đoàn tâm, tức trái tim) của chúng sinh làm thế giới Liên hoa tạng của thân hành giả. Về sau, theo đà mở rộng tín ngưỡng Hoa nghiêm mà bản đồ thế giới Liên hoa tạng cũng rất phổ biến. Tại Trung quốc, vào năm Hàm hanh thứ 3 (672) đời Đường, trên 3 lớp cánh sen chung quanh tòa sen của tượng Phật Lô xá na ở chùa Phụng tiên tại Long môn, đều có khắc tượng Phật Thích ca trên mỗi cánh để tượng trưng thế giới Liên hoa tạng. Lại nữa, trên các cánh sen của Đại Phật ở chùa Đông đại, Nhật bản, có khắc nghìn Phật Thích ca, trăm ức tiểu Thích ca, theo thuyết của kinh Phạm võng. [X. kinh Tạp thí dụ; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.2-4; Q.23, 26, 27; kinh Phạm võng Q.hạ; kinh Đại thừa du già kim cương tính hải mạn thù thất lợi thiên tí thiên bát đại giáo vương Q.9; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2; Tân hoa nghiêm kinh luận Q.6; Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm sớ sao Q.6; Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.31, 42].

liên hoa tọa

Padmasana (skt). 1) Ngồi kiểu Kiết Già: To sit with crossed legs. 2) Đài Hoa Sen (chư Phật thường lấy hoa sen làm chỗ ngồi): A lotus throne (on which Buddhas always take as a seat).

liên hoa tứ chủng

Four kinds of lotus flower—See Liên Hoa.

liên hoa tử

Đệ tử của Liên Hoa Bộ—Disciples or followers shown in the mandalas.

liên hoa vương

Kumuda-pati—Lotus lord.

liên hoa y

Liên Hoa Phục—Áo cà sa của chư Tăng Ni, lấy nghĩa hoa sen thanh tịnh để gọi tên—The lotus garment, or robe of purity, the robe of the monk or nun. ; (蓮華衣) Cũng gọi Liên hoa phục. Chỉ cho ca sa, nghĩa là chiếc áo thanh tịnh không nhiễm ô. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 268 trung), nói: Ca sa là áo lìa nhiễm ô (...), cũng gọi là Liên hoa y, nghĩa là không bị bùn nhơ của dục vọng làm ô uế. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

liên hoa đài

Liên đài để hình tượng Phật hay Bồ Tát—Lotus throne for images of Buddhas or Bodhisattvas.

liên hoàn

Linked together.

liên hà

Nairanjana (skt)—Sông Ni Liên Thiền—The Nairanjana River—See Ni Liên Thiền.

liên hệ

To be connected with—Family ties.

liên hựu

Hộ niệm viên trong Liên Hoa Tông—Mutual protectors or helpers of the Lotus sect, i.e. members.

liên kinh

The Lotus Sutra—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. ; (蓮經) Chỉ cho kinh Pháp hoa. Sách Dậu dương tạp trở ghi rằng, Hòa thượng Tố ở chùa Đại hưng thiện đã tụng 37.000 bộ kinh Pháp hoa, có 1 vị tăng làm thơ tặng Hòa thượng như sau: Tam vạn Liên kinh tam thập xuân. Bán sinh bất đạp viện môn trần. (Ba mươi năm ba vạn kinh sen. Nửa đời chẳng dính bụi bon chen).

liên kết với

To be associated with

liên lý

Mật giáo về niềm tin vãng sanh Liên Hoa—The mystic doctrine of the Lotus faith.

liên lạc

To communicate—Connected—Linked.

liên miên

Continuous—Unbroken—Unceasing.

liên môn

The Lotus sect—See Liên Tông.

liên mẫn

Thương xót—To pity—To comiserate.

liên mục tướng

(蓮目相) Cũng gọi Chân thanh nhãn tướng. Tướng mắt xanh biếc như hoa sen, 1 trong 32 tướng tốt của đức Phật và Chuyển luân Thánh vương. Vì mắt Phật xanh biếc như hoa sen xanh nên gọi là Liên mục. Đến đời sau, hễ mắt người nào thấy suốt chánh tà, cũng gọi là Liên mục.

Liên Nhãn

(蓮眼): mắt hoa sen, chỉ con mắt của chư Phật, Bồ Tát, một trong 32 tướng tốt của đức Phật, tức là mắt trong xanh (s: abhinīla-netta, 眞青眼) như hoa sen xanh (s: utpala, p: uppala, 青蓮, âm dịch là Ưu Bát La [優鉢羅], thanh liên). Các ngài thường có tâm từ bi, nhu hòa, lắng trong, thanh tịnh, nên con mắt của các ngài như hoa sen xanh. Vì vậy từ này thường dùng để chỉ cho Phật nhãn hay bản thân đức Phật. Trong Phẩm Phật Quốc (佛國品) của Duy Ma Kinh (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩經) có diễn tả về con mắt của chư Phật, Bồ Tát như sau: “Mục tịnh tu quảng như thanh liên, tâm tịnh dĩ độ chư Thiền định, cửu tích tịnh nghiệp xưng vô lượng, đạo chúng dĩ tịch cố khể thủ, kí kiến Đại Thánh dĩ thần biến, phổ hiện thập phương vô lượng độ (目淨脩廣如青蓮、心淨已度諸禪定、久積淨業稱無量、導眾以寂故稽首、旣見大聖以神變、普現十方無量國度, mắt sạch dài rộng như hoa sen xanh, tâm sạch chứng khắp các Thiền định, tích tập lâu vô lượng các tịnh nghiệp, dẫn dắt mọi loài giải thoát nên con cúi lạy, đã thấy Đại Thánh dùng thần biến, hiện khắp mười phương vô lượng cõi nước).” Trong Tánh Linh Tập (性靈集) quyển 8, Chiều Đề Tự Đát Sấn Văn (招提寺噠嚫文) có câu: “Nhĩ nãi vạn đức khai từ bi chi liên nhãn, nhất xa huy trí tuệ chi đao nhận (爾乃萬德開慈悲之蓮眼、一車揮智慧之刀刃, Người lấy vạn đức mở mắt sen từ bi, một xe rung lưỡi đao trí tuệ).” Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 大方廣佛華嚴經, Taishō No. 293) quyển 25 lại có câu: “Phật khai quảng đại thanh liên nhãn, diệu tướng trang nghiêm công đức thân, nhân thiên cọng tán bất năng lường, thí nhược vạn lưu quy đại hải (佛開廣大青蓮眼、妙相莊嚴功德身、人天共讚不能量、譬若萬流歸大海, Phật mở mắt sen xanh rộng lớn, tướng mầu trang nghiêm công đức thân, trời người xưng tán không thể lường, giống như muôn dòng về biển cả).” Hay trong Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經, Taishō No. 672) quyển 7 cũng có câu: “Thế gian đọa nhị biên, chư kiến sở mê hoặc, duy nguyện thanh liên nhãn, thuyết chư địa thứ đệ (世間墮二邊、諸見所迷惑、惟願青蓮眼、說諸地次第, thế gian rơi hai bên, chỗ thấy bị mê hoặc, xin nguyện đấng mắt sen, nói cảnh giới giải thoát).”

liên nhãn

1) Mắt của liên hoa xanh—The eye of the blue lotus. 2) Diệu Nhãn của Phật: The wonderful eye of Buddha. ; (蓮眼) Chỉ cho mắt của Phật và Bồ tát. Phật và Bồ tát từ bi nhu hòa, mắt của các Ngài sáng trong, vi diệu như hoa sen xanh, nên gọi là Liên mục. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14, 537 hạ), nói: Mắt trong dài rộng như sen xanh. Tâm sạch đã qua các thiền định. Chứa góp tịnh nghiệp không kể xiết. Tịch lặng độ chúng con cúi đầu. Đã thấy Thế tôn dùng thần biến. Mười phương cõi nước đều hiện tiền.

Liên Như

(蓮如, Rennyo, 1415-1499): con đầu của Tồn Như (存如, Zonnyo) đời thứ 7 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), húy là Kiêm Thọ (兼壽), hiệu là Tín Chứng Viện (信証院). Sống trong khoảng thời kỳ Bổn Nguyện Tự đang bị suy vi và trưởng thành lên trong khổ nạn, ông đã theo cha tận lực giáo hóa ở các địa phương phía Nam vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Đến năm 1457, ông kế thừa cha mình và trở thành vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự. Do vì đứng trên truyền thống của Tịnh Độ Chơn Tông mà tiến hành cải cách, nên vào năm 1471 ông bị đồ chúng của Tỷ Duệ Sơn phá tan Đại Cốc Bổn Nguyện Tự ở vùng Đại Cốc (大谷, Ōtani); khiến ông phải lánh nạn đến biệt sở phía Nam của Tam Tỉnh Tự (三井寺) vùng Đại Tân (大津), rồi xây dựng nhà riêng ở Cát Khi (吉崎, Yoshizaki) thuộc vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]) và chuyển đến đó ở. Ông đã tác thành rất nhiều văn bản, cho xuất bản các bài Hòa Tán cũng như Chánh Tín Kệ (正信偈) của Thân Loan, và tiến hành những hoạt động giáo hóa khắp nơi từ vùng Bắc Lục (北陸, Hokuriku) cho đến Đông Hải (東海, Tōkai), Đông Quốc (東國, Tōgoku) và Áo Châu (奥州, Ōshu). Tuy nhiên, do vì sự đối lập trong mối quan hệ lợi hại phát sanh giữa các môn đồ thọ nhận sự giáo hóa của ông với những lãnh chúa địa phương, nên ông lại phải rời khỏi địa phương Cát Khi và đến bố giáo ở các vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu), Hà Nội (河內, Kawauchi), Hòa Tuyền (和泉, Izumi) thuộc Osaka (大阪) ngày nay. Vào năm 1480, ông bắt đầu tái kiến Bổn Nguyện Tự ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina), mở rộng giáo hóa, cho nên người ta quy y theo phái ông nhiều hơn các phái khác. Vào độ tuổi 75, ông nhường lại mọi hậu sự cho người con trai thứ 5 là Thật Như (實如, Jitsunyo) và sống ẩn cư; nhưng sau đó ông vẫn tiếp tục bố giáo. Đến năm 1496, ông lại xây dựng nhà riêng ở vùng Thạch Sơn (石山, Ishiyama), Osaka và tiếp tục hoạt động truyền giáo cho đến 85 tuổi thì qua đời.

liên như

(蓮如) (1415-1499) Cao tăng Nhật bản, người Kinh đô (Kyoto), Tổ đời thứ 8 của phái chùa Bản nguyện thuộc Tịnh độ chân tông, tên Bố đại hoàn, Hạnh đình hoàn, húy Kiêm thọ. Năm 15 tuổi, sư bỗng có chí muốn trùng hưng tông phái. Năm 17 tuổi, sư y vào ngài Tôn ứng ở viện Thanh liên xuất gia. Không bao lâu, sư đến Đại cốc nghiên cứu tông nghĩa và lễ bái di tích của ngài Thân loan. Về sau, sư tận lực giáo hóa, thường dùng lời nói bình dị giảng diễn tông chỉ, nhờ thế giáo đoàn Chân tông phát triển rộng. Sau vì bản sơn Đại cốc bị tăng đồ chùa Diên lịch thiêu hủy, nên sư phải lánh đến chùa Cận tùng ở Đại tân. Sư lập riêng chùa Bản nguyện ở Sơn khoa, làm Thạch biệt viện ở Đại phản, hoàn thành chí nguyện trung hưng phái Bản nguyện tự. Năm Minh ứng thứ 8 (1499) sư tịch, thọ 85 tuổi. Vua ban thụy hiệu Tuệ Đăng Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Chính tín kệ đại ý, 1 quyển, Ngự văn ngũ thiếp, Chân tông lĩnh giải văn nhất thông. [X. Liên như thượng nhân truyện kí; Đại cốc Bản nguyện tự thông kỉ Q.2].

liên niệm

Sympathetic thoughts.

liên phái tự

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Chùa thuộc phái Lâm Tế do vị Lâm Giác Thượng Sĩ sáng lập vào năm 1726, dưới triều vua Lê Dụ Tông. Lâm Giác Thượng Sĩ tên là Trịnh Thập, con trai Tần Quang Vương, cháu nội Trịnh Căn, lấy con gái thứ tư vua Lê Hy Tông. Khi sai người đào gò ở sau nhà để xây bể cạn thì tìm thấy trong lòng đất cái ngó sen. Phò mã cho mình có duyên với đạo Phật nên đi tu, trở thành vị Tổ đầu tiên của chùa Liên Tông. Đến đời Tự Đức, chùa được đổi thành Liên Phái để tránh kỵ húy. Tháp Diệu Quang ở bên sau cổng chùa, hình lục lăng cao 10 tầng, xây vào khoảng thế kỷ thứ 19, trong đó đặt hài cốt tổ Diệu Quang cùng 5 vị sư khác—Name of an ancient temple, located in Hai Bà Trưng district, Hanoi City, North Vietnam. The temple belonged to the Lin-Chi sect, was founded by Master Lâm Giác Thượng Sĩ in 1726, under Emperor Lê Dụ Tông. Master Lâm Giác, so-called Trịnh Thập, is tần Quang Vương's son and Lord Trịnh Cán's grandson (1682-1709). He married to the fourth daughter of King Lê Hy Tông. When he had the ground of the heap dug to make a pond in the back yard of his house, he saw a lotus shoot underground. The prince consort thought that he had a fate with Buddhism, so he decided to enter the monkhood and later became the first patriarch of the temple named Liên Tông. During the Emperor Tự Đức, the name of the temple was changed into Liên Phái to taboo the royal family's name. In the backyard stands Diệu Quang stupa, an octagonal ten-storeyed one built in the nineteenth century. There stored the relics of Patriarch Diệu Quang and five other masters.

Liên phòng

(蓮房): có hai nghĩa chính:(1) Đài sen. Vì bên trong đài sen có hạt sen, mỗi hạt đều cách nhau bởi một lỗ hổng, nên gọi là “liên phòng (蓮房, phòng của đài sen).” Trong bài thơ Thu Hứng (秋興) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Lộ lãnh liên phòng trụy phấn hồng (露冷蓮房墜粉紅, hơi sương lạnh đài sen rơi phấn hồng).” Trong bài Thái Liên Phú (採蓮賦) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường lại có câu: “Thính lăng ca hề kỉ khúc, thị liên phòng hề kỉ chu (聽菱歌兮幾曲、視蓮房兮幾株, nghe bài ca hái ấu chừ mấy khúc, nhìn đóa sen chừ được mấy gốc).” Trong Tây Phương Phát Nguyện Văn Chú (西方發願文註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1161) có giải thích rõ rằng: “Kim Cang Đài, tức Liên Hoa Tòa, kỳ tòa Kim Cang sở thành, cố danh Kim Cang Đài; hựu hoa nội liên phòng, diệc danh vi đài, Thượng Phẩm Thượng Sanh, nãi hữu thử đài (金剛臺、卽蓮華座、其座金剛所成、故名金剛臺、又華內蓮房、亦名爲臺、上品上生、乃有此臺, Đài Kim Cang tức là Tòa Hoa Sen, tòa này do Kim Cang mà thành, nên có tên là Đài Kim Cang; lại trong hoa có liên phòng, cũng gọi là đài; hàng Thượng Phẩm Thượng Sanh sẽ có đài này).” Sau này, người ta thường dùng một số câu để chúc mừng sanh con nói chung, hay sanh con trai nói riêng như tử chủng liên phòng (子種蓮房, hạt gieo trong đài sen), liên phòng đắc tử đa (蓮房得子多, đài sen được nhiều hạt), v.v. (2) Chỉ cho phòng ở của chư tăng. Vì Phật Giáo lấy tượng trưng cho sự trong sạch, không nhiễm của hoa sen để ví dụ cho phòng ở của chư tăng. Như trong Tây Quy Trực Chỉ (西歸直指, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1173) quyển 2 có đoạn: “Bỉ tắc chất thác liên phòng, an tọa diệu hương cung điện, ký bất thọ bào thai chi ô uế, phục bất lụy mẫu thị chi cù lao (彼則質托蓮房、安坐妙香宮殿、旣不受胞胎之汙穢、復不累母氏之劬勞, vị ấy sẽ sinh ra nơi phòng sen, an tọa trên cung điệu hương thơm, đã không bị sự ô uế của bào thai, lại chẳng phải chịu sự nuôi nấng cực khổ của người mẹ).”

liên quan

Interrelated.

liên quan thế tục

Worldly concerns

liên quan đến

To refer to

liên sát

Cõi Tịnh Độ Tây Phương lấy hoa sen làm nơi ký thác vãng sanh—Lotus ksetra—Lotus land—The paradise of Amitabha.

liên thai

Người nào tin vào niệm Phật vãng sanh nơi cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà đều sanh ra từ trong hoa sen, giống như trong thai mẹ—The Lotus-womb in which the believers of Amitabha are born into his paradise. It is also described as the believer's heart in embryo. ; (蓮胎) Cũng gọi Liên hoa thai. Bào thai hoa sen. Những người niệm Phật vãng sinh Tịnh độ đều từ trong hoa sen hóa sinh, giống như trong thai mẹ, cho nên gọi là Liên thai. Liên tông bảo giám quyển 8 (Đại 47, 339 hạ), nói: Khi vãng sinh Tịnh độ, vào liên thai kia, hưởng thụ sự vui sướng. Quán kinh sớ quyển hạ của ngài Nguyên chiếu (Đại 37, 295 hạ) nói: Nên biết tâm tưởng Phật ngày nay, quả đức, tướng tốt ắt đã đầy đủ, liên thai nhen nhúm tức là tâm ấy, tự chứng bồ đề, chứ không do người khác mà được.

liên thắng vương

King of Successive Victories.

liên tiếp

Consecutive—Successive—Continuous.

Liên Trì

(蓮池): có ba nghĩa chính. (1) Chỉ hồ có trồng hoa sen. Như trong bài Vịnh Trì Biên Đào (詠池邊桃) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Liêu phùng thưởng giả ái, thê chỉ bàng liên trì (聊逢賞者愛、棲趾傍蓮池, nhờ gặp muốn thưởng thức, dừng chân bên hồ sen).” Hay như trong Pháp Hoa Kinh Đại Ý (法華經大意, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 609) có câu: “Nê ngưu phụ dạ đáo liên trì, mộc mã đà xuân lai liễu ngạn (泥牛負夜到蓮池、木馬馱春來柳岸, trâu bùn vác đêm đến hồ sen, ngựa gỗ cõng xuân về bờ liễu).” (2) Chỉ cho Liên Trì Đại Sư (蓮池大師), tức Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615), tự là Phật Tuệ (佛慧), hiệu Liên Trì (蓮池); từng sống tại Vân Thê Tự (雲棲寺) thuộc Ngũ Vân Sơn (五雲山), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省); xuất thân Phủ Nhân Hòa (仁和府), Hàng Châu, họ là Thẩm (沉). (3) Chỉ cho đất Phật, tức Cực Lạc Tịnh Độ. Như trong chương Đầu Am (投庵) của tác phẩm Ngọc Trâm Ký (玉簪記) do Cao Liêm (高濂, 1573-1620) nhà Minh sáng tác có câu: “Bất thị tam niên tằng hữu ước, thùy giáo kim nhật hội Liên Trì (不是三年曾有約、誰敎今日會蓮池, chẳng phải ba năm từng hẹn ước, ai bảo hôm nay gặp Liên Trì).” Hay trong chương Cùng Sĩ Phù Kê (窮士扶乩) của bộ tiểu thuyết Hài Đạc (諧鐸) do Thẩm Khởi Phụng (沉起鳳, 1741-?) nhà Thanh sáng tác, cũng có câu: “Niên lai thuyết pháp thành không tướng, nguyện chú Liên Trì hóa tửu bôi (年來說法成空相、願咒蓮池化酒杯, năm sau thuyết pháp thành không tướng, mong biến Liên Trì chén rượu thành).” Trong Thiền môn có bài Tán Liên Trì (蓮池讚) rất thông dụng: “Liên Trì hải hội, Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí tọa liên đài, tiếp dẫn thượng kim giai, đại thệ hoằng khai, phổ nguyện ly trần ai (蓮池海會、彌陀如來、觀音勢至坐蓮臺、接引上金階、大誓弘開、普願離塵埃, Liên Trì biển hội, Di Đà Như Lai, Quan Âm Thế Chí ngồi sen đài, tiếp dẫn lên vàng ngai, thệ nguyện rộng bày, khắp nguyện lìa trần ai).”

liên trì

Lotus pond.

liên trì hải hội

Liên trì hải hội tiêu biểu cho sự tập hợp của Phật A Di Đà, chư Bồ tát, các bậc thức giả, Thánh chúng, cùng các thượng thiện nhân câu hội nơi Tây Phương Cực Lạc. Gọi là Liên trì Hải Hội vì số người tham dự là vô số, trải dài ra như đại dương trong pháp giới—Ocean-Wide Lotus Assembly—Lotus assembly represents the gathering of Buddha Amitabha, the Bodhisattvas, the sages and saints and all other superior beings in the Land of Ultimate Bliss. This Assembly is called Ocean-Wide as the participants infinite in number, spreading as far and wide as the multitude of oceans in the Dharma Realm.

Liên Tông

(蓮宗): còn gọi là Liên Môn (蓮門), là tông môn tôn thờ ý chỉ của Liên Xã (蓮社) và nguyện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, tức Liên Bang (蓮邦); là tên gọi khác của Tịnh Độ Tông (淨土宗). Tông phái này vốn phát khởi từ việc Huệ Viễn (慧遠, 334-416) nhà Đông Tấn, sáng lập ra Bạch Liên Xã (白蓮社) ở Đông Lâm Tự (東林寺), Lô Sơn (廬山), phát nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ. Tác phẩm (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 1 do Ưu Đàm Phổ Độ (優曇普度) biên tập, cho biết rằng: “Đông Tấn Viễn Công Tổ sư, nhân thính Di Thiên Pháp sư giảng Bát Nhã Kinh, hoát nhiên đại ngộ, nhập ư vô lượng thậm thâm Tam Muội, du chỉ Lô Sơn, dữ cao tăng triều sĩ kết duyên tu hành; cố vân chư giáo Tam Muội kỳ danh thậm chúng, công cao dị tấn, niệm Phật vi tiên, nhân dĩ bạch liên danh kỳ xã yên (東晉遠公祖師、因聽彌天法師講般若經、豁然大悟、入於無量甚深三昧、遊止廬山、與高僧朝士結緣修行、故云諸敎三昧其名甚眾、功高易進、念佛爲先、因以白蓮名其社焉, Tổ sư Huệ Viễn nhà Đông Tấn, nhân nghe Pháp sư Di Thiên giảng Kinh Bát Nhã mà hoát nhiên đại ngộ, nhập vào vô lượng Tam Muội [Định] thâm sâu, đến dừng chân tại Lô Sơn, cùng với các cao tăng, nhân sĩ triều đình kết duyên tu hành; nên mới bảo rằng Tam Muội của các giáo phái tên gọi rất nhiều, [trong đó] công phu cao mà dễ tiến triển, chính niệm Phật là trên hết; nhân đó lấy hoa sen trắng đặt tên cho xã này vậy).” Hơn nữa, hoa sen là tượng trưng cho y báo của Cực Lạc, chúng sanh của quốc độ ấy đều lấy hoa sen làm nơi cư trú, lấy đài sen để nguyện sanh vào đó; cho nên có tên Liên Tông. Trong Tịnh Độ Tư Lượng Toàn Tập (淨土資糧全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1162) quyển 6 có đoạn rằng: “Thiền Tông mích tâm vô xứ, tức đăng Tổ vị; Liên Tông tâm Phật lưỡng vong, diệc tê Thượng Phẩm, dĩ thử chứng chi (禪宗覓心無處、卽登祖位、蓮宗心佛兩忘、亦躋上品、以此證之, Thiền Tông tìm tâm không nơi chỗ, liền chứng quả vị Tổ; Liên Tông thì tâm và Phật đều quên, cũng lên Thượng Phẩm, lấy đây làm chứng vậy).”

liên tông

Liên Hoa Tông được ngài Huệ Viễn khai sáng vào khoảng năm 300 sau Tây Lịch tại tự viện Bạch Liên Trì của ngài. Tông phái nầy không có liên hệ gì đến Bạch Liên Mật Xã khởi lên thời nhà Nguyên Mông. Ngài Huệ Viễn thời Đông Tấn nhân đọc (có sách nói ngài nghe pháp sư Di Thiên giảng) kinh Bát Nhã mà bỗng nhiên đại ngộ. Sau đó ngài chú tâm vào việc niệm Phật để được cứu độ. Tông phái của ngài trở thành Tịnh Độ Tông, mà những năm về sau nầy lan truyền rộng rãi khắp vùng viễn đông—The Lotus sect founded by Hui-Yuan around 300 AD. at his monastery, in which was a white lotus pond. It has no connection with the White Lily Secret Society which arose during the Mongol or Yuan dynasty. The Lotus sect is traced to the awakening of Hui-Yuan by the reading of the Prajnaparamita Sutra. He then turned his attention to calling on the name of Buddha to obtain salvation direct to his Pure Land. Th school became that of the Amitabha or Pure Land sect, which in later year developed into the principal Buddhist cult in the Far-East. ; (蓮宗) Cũng gọi Liên môn. Tức là tông Tịnh độ. Tông này bắt nguồn từ Bạch liên xã (hội Sen trắng) do ngài Tuệ viễn sáng lập ở chùa Đông lâm, Lô sơn, Trung quốc. Bài tựa trong Liên tông bảo giám của ngài Ưu đàm Phổ độ (Đại 47, 304 thượng), nói: Tổ Tuệ viễn đời Đông Tấn đến Lô sơn kết duyên tu hành cùng với các vị cao tăng và danh sĩ triều đình. Ngài nói rằng có rất nhiều tên của Tam muội trong các pháp môn, nhưng công hạnh cao mà dễ tiến thì chỉ có pháp môn niệm Phật là đứng đầu, vì thế mà ngài lập ra Bạch liên xã, chuyên niệm Phật cầu vãng sinh. Hoa sen tượng trưng cho y báo của cõi Cực lạc Tịnh độ, vì thế tông Tịnh độ cũng còn có tên là Liên tông. [X. Liên tông cửu tổ truyện lược; A di đà kinh sớ sao Q.2; Liên tông chư giới nghi]. (xt. Tịnh Độ Tông).

liên tông bảo giám

(蓮宗寶鑒) Cũng gọi Lô sơn liên tông bảo giám, Lô sơn liên tông bảo giám niệm Phật chính nhân, Niệm Phật bảo giám. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Ưu đàm Phổ độ soạn ở chùa Đông lâm, Lô sơn, vào đời Nguyên, Trung quốc. Ngài Ưu đàm Phổ độ cảm thương vì thời bấy giờ nhiều người gọi là Liên tông, nhưng không hiểu được ý chỉ của Sơ tổ Tuệ viễn, lại bị các tà thuyết mê hoặc, cho nên biên tập các lời nói trong các kinh sách rồi thêm bớt hoặc nhuận sắc mà thành sách này, để hoằng dương yếu chỉ niệm Phật chân chính hầu cứu vãn thời tệ. Nội dung chia làm nhiều chương và cương mục, thứ tự sau: niệm phật chính nhân 14 chương; niệm phật chính giáo 19 chương; niệm phật chính tông 8 chương; niệm phật chính phái 22 chương; niệm phật chính tín 6 chương; niệm phật chính hạnh 14 chương; niệm phật chính nguyện 7 chương; niệm phật vãng sinh chính quyết 12 chương; niệm phật chính báo 5 chương; niệm phật chính luận 25 chương. trong 10 quyển, đầu mỗi quyển là phần tổng thuyết, tiếp theo là chính văn của các kinh luận, hành trạng của các bậc cổ đức, giáo ngữ... [x. đại minh tam tạng thánh giáo bắc tạng mục lục q.4; đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục q.5; nguyên sử q.22].

liên tông cửu tổ

(蓮宗九祖) Chín vị Tổ của Liên tông. Từ khi ngài Tuệ viễn sáng lập Liên xã ở chùa Đông lâm trên núi Lô sơn, vào thời Đông Tấn, mới có tên Liên tông. Kể từ đó cho đến đời nhà Thanh, có tất cả chín vị Tổ tiếp nối đề xướng và truyền thừa pháp môn niệm Phật. Danh sách của các Ngài như sau: sơ tổ đông lâm tuệ viễn ở lô sơn; nhị tổ quang minh thiện đạo ở trường an; tam tổ bát chu thừa viễn ở hoành sơn; tứ tổ vân phong pháp chiếu ở hành châu; ngũ tổ ô long thiếu khang ở tân định; lục tổ vĩnh minh diên thọ ở hàng châu; thất tổ chiêu khánh tỉnh thường ở vũ lâm; bát tổ vân thê châu hoành ở cổ hàng; cửu tổ phạm thiên tỉnh an ở phượng sơn. [x. liên tông cửu tổ truyện lược.]

liên tông phái

(蓮宗派) Cũng gọi Trúc lâm liên tông. Một tông phái của Việt nam, do ngài Bạch mai Lân giác sáng lập ở chùa Bà đá tại Thăng long vào khoảng thế kỷ thứ XVII. Tông phái này bắt nguồn từ Bạch liên tông do ngài Từ chiếu Tử nguyên đời Nam Tống, Trung quốc, đề xướng, chủ trương Thiền Tịnh một mối, cho giáo là mắt Phật, Thiền là tâm Phật, lấy việc niệm Phật A di đà làm công án Thiền, pháp tu thực tiễn là chuyên niệm danh hiệu Di đà. Tông này thịnh hành ở miền Bắc Việt nam; các chùa chủ yếu của Tông này là chùa Hàm long ở Bắc ninh, chùa Nhật quang ở Kiến an, chùa Liên tông ở Hà nội, v.v...

liên tưởng

To hover over.

Liên tọa

(蓮座): tòa sen. Như trong bài thơ Quán Phật Tích Tự (觀佛迹寺) của Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường có câu: “Liên tọa thần dung nghiễm, tùng nhai Thánh tích dư (蓮座神容儼、松崖聖迹餘, tòa sen dung tướng uy nghiêm, cây tùng vách núi cõi Thiền còn đây).” Hay trong thiền lâm sớ ngữ khảo chứng (禪林疏語考證, 卍 Xuzangjing Vol. 63, No. 1252) quyển 2, phần Hỏa Hậu Hoàn Nguyện (火後還愿), có đoạn: “Phục nguyện nguy nguy liên tọa hiện nguyệt minh thủy thượng chi quang, vĩnh vĩnh bồng cư tuyệt yên diệt hôi phi chi huyễn (伏願巍巍蓮座現月明水上之光。永永蓬居絕煙滅灰飛之幻, cúi mong nguy nga tòa sen hiện trăng sáng trên nước hào quang, mãi mãi an cư dứt khói tuyệt tro bay giả huyễn).”

liên tọa

1) Đài sen hay tòa sen để đặt tượng Phật—The lotus throne on which are seated the images of the Buddha. 2) Tòa Phật: Buddha-throne.

liên tục

See Liên Tiếp.

liên tử

Lotus seeds.

Liên Vĩnh Tự

(蓮永寺, Renei-ji): ngôi tự viện có liên quan đến Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Aoi-ku (葵區), Shizuoka-shi (靜岡市), Shizuoka-shi (靜岡市); hiệu là Trinh Tùng Sơn (貞松山). Vào năm 1274 (Văn Vĩnh [文永] 11, có thuyết cho là 1275), khi Nhật Liên vào trong núi Thân Diên (身延), Tùng Dã Lục Lang Tả Vệ Môn (松野六郎左衛門), người đã từng quy y theo Thánh Nhân, mới xây dựng một ngôi chùa nhỏ, lấy hiệu là Tùng Vinh Sơn Phương Thọ Viện (松榮山芳樹院); và người đệ tử trực truyền của Nhật Liên là Nhật Trì (日持) làm Tổ khai sáng chùa. Về sau, do vì binh hỏa, chùa bị đốt cháy toàn bộ; nhưng vào năm 1615 (Nguyên Hòa [元和] nguyên niên), người vợ thứ của Tuớng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu) là Dưỡng Châu Viện (養珠院) cho dời chùa về vị trí hiện tại và tái kiến lại toàn bộ như cũ. Sau đó, bà cung thỉnh Nhật Càn Thượng Nhân (日乾上人) ở Cửu Viễn Tự (久遠寺), Thân Diên Sơn đến làm Tổ khai sơn thời Trung Hưng của chùa, và chùa được đổi tên thành Trinh Tùng Sơn Liên Hoa Viện Liên Vĩnh Tự (貞松山蓮華院蓮永寺). Sau đó, vào năm 1774 (An Vĩnh [安永] 3), chùa lại bị cháy lần nữa, rồi cũng được xây dựng lại cho đến ngày nay. Chính đây là ngôi chùa có liên quan đến bà Dưỡng Châu Viện, nên vẫn còn lưu giữ những di phẩm của bà như hộp đựng con ấn đỏ, trạng châu ấn cũng như nghiên mực, v.v. Trong khuôn viên chùa có ngôi tháp cúng dường do bà dựng lên trong lúc sinh tiền để cầu nguyện sau khi qua đời được siêu độ.

Liên Xã

(蓮社): tức Bạch Liên Xã (白蓮社), là đoàn thể tu pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ, do Huệ Viễn (慧遠, 334-416) ở Lô Sơn (廬山) đời Đông Tấn sáng lập ra vào năm 402 với một nhóm đồng chí 123 người. Cho nên Liên Xã còn có nghĩa là Tịnh Độ (淨土), thế giới của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀).

liên xã

Bạch Liên Tông—The White Lotus Sect—See Liên Tông.

liên ái

To pity—To love—To care for.

liên đoàn

Syndicate—League.

liên đài

Buddha's throne. ; (蓮臺) Cũng gọi Liên hoa đài, Hoa đài, Liên hoa tòa, Hoa tòa. Chỉ cho tòa ngồi bằng hoa sen của đức Phật, Bồ tát, hoặc chỉ riêng tòa sen của Phật A di đà. Bởi vì đặc tính của hoa sen là mọc trong bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn. Cho nên, tòa sen của Phật, Bồ tát biểu thị ý nghĩa các Ngài ở trong cõi nước ô uế mà xa lìa trần cấu, được thanh tịnh, thần lực tự tại. Theo luận Đại trí độ quyển 8, đức Phật và Bồ tát không ngồi trên giường mà ngồi trên hoa sen là vì những lí do sau đây: 1. Vì giường là chỗ ngồi của người bạch y (người thế tục). 2. Phật và Bồ tát muốn thị hiện thần lực, ngồi trên hoa sen mềm mại thơm sạch mà không tổn hại đến hoa. 3. Để trang nghiêm tòa diệu pháp. 4. Các hoa khác đều nhỏ, riêng hoa này to lớn, có mùi thơm thanh khiết. Luận đã dẫn còn cho rằng các loại hoa sen có lớn nhỏ khác nhau, như hoa sen ở cõi người thì to không quá 1 thước, còn hoa sen ở ao Mạn đà cát ni và ao A na bà đạt đa thì to bằng cái bánh xe và cái lọng; nhưng hoa sen báu trên cõi trời thì to hơn nhiều, có thể ngồi kết già trên đó. Tuy nhiên, so với các loại hoa sen nói trên, thì tòa sen của đức Phật còn trang nghiêm thanh tịnh và to lớn hơn gấp trăm nghìn vạn ức lần. [X. Vãng sinh yếu tập Q.thượng]. (xt. Lai Nghinh).

Liên Đăng Hội Yếu

(聯燈會要, Rentōeyō): xem Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) bên dưới.

liên đăng hội yếu

(聯燈會要) Cũng gọi Thiền tông liên đăng lục. Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Hối ông Ngộ minh soạn vào đời Nam Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 136. Nội dung sách này nói về 7 đức Phật quá khứ, pháp hệ truyền thừa của Ngũ gia Thiền tông cho đến dòng phái của ngài Thiên đồng Chính giác, đồng thời, theo thứ tự thu chép những cơ duyên vấn đáp quan trọng của các tông. Sách này được soạn vào năm Thuần hi thứ 10 (1183) đời vua Hiếu tông nhà Nam Tống, đầu quyển có bài tựa của Đạm tề Lí vịnh viết vào năm Thuần hi 16 (1189), bài tựa cho lần in lại của Tư trung soạn vào năm Chí nguyên 28 (1291) đời Nguyên và bài tựa của soạn giả viết vào năm Thuần hi thứ 10 (1183). Về niên đại soạn thuật sách này, còn có nhiều thuyết khác nhau: Phật tổ lịch đại thông tải quyển 32 cho rằng sách này được soạn vào năm Gia định 13 (1220) đời vua Ninh tông; Thích thị kê cổ lược thì nói nó được soạn vào năm Gia định thứ 10 (1227), v.v...Nhưng cả 2 thuyết này đều không chính xác. [X. Bài tựa trong Ngũ đăng hội nguyên (bản khắc lại); truyện Ngộ minh trong Tục truyền đăng lục Q.35; Thiền tịch chí Q.thượng].

liên đới

Jointly responsible—Liable.

liêu

Phòng—A hut—A study—A room.

liêu chủ

Liêu Nguyên—Liêu Trưởng—Vị sư trụ trì tự viện—The head, or manager of a monastery. ; (寮主) Cũng gọi Trực liêu. Chức vụ phụ tá cho vị Liêu nguyên trong Thiền lâm, có trách nhiệm giữ gìn áo bát cho chúng tăng. Chức vụ này y theo thời gian vào liêu trước sau mà lần lượt nhận lãnh, có người làm 1 tháng, có người làm nửa tháng, cũng có người làm 10 ngày, tùy theo qui định khác nhau của các chùa. Liêu chủ và Liêu phó ngày đêm không rời khỏi các liêu, lúc chư tăng ngồi thiền, thì Liêu chủ, Liêu phó và Liêu nguyên cùng ngồi trước bàn Phật. Điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng), nói: Liêu chủ, Liêu phó có phận sự xếp đặt chỗ ở cho chúng tăng, vị Liêu nguyên chiếu theo thứ bậc giới lạp, từ dưới lên trên mà thỉnh cử để sung vào 2 chức vụ trên, tên của 2 vị này được niêm yết trên bảng, 10 ngày thay 1 lần để giúp việc cho Liêu nguyên. Liêu chủ, Liêu phó trông coi chúng tăng sớm tối đi về tăng đường, soát trên các án kinh, xem có ai bỏ quên vật gì thì thu lấy để trả lại cho người ấy, để ý những vật lặt vặt trong liêu, trông coi việc hương đèn trà nước, chớ để cho người ngoài ngủ nhờ hoặc gửi các đồ vật buôn bán trong liêu. [X. Thiền uyển thanh qui Q.4]. (xt. Liêu Nguyên).

liêu nguyên

See Liêu Chủ. ; (寮元) I. Liêu Nguyên. Cũng gọi Tọa nguyên, Tòa nguyên, Liêu thủ tòa, Đệ nhất tòa. Chức vụ trông coi công việc các liêu trong Thiền lâm, 1 trong 6 vị Đầu thủ. Chức vụ này có trách nhiệm trông coi về kinh sách, phẩm vật, trà nước, củi than, quét tước, dọn dẹp và xin cấp nhu yếu phẩm cho các liêu. Dưới chức này, còn có Liêu trưởng, Liêu phó, Phó liêu, Vọng liêu v.v... giúp việc cho Liêu nguyên. Vì am hiểu các việc trong chùa, cho nên Liêu nguyên quán xuyến mọi việc như: Xem xét chúng tăng trong liêu xem kinh, đọc kinh, răn nhắc việc trái phạm luật lệ, dàn xếp việc tranh cãi nội bộ, hướng dẫn qui củ cho những người mới đến chùa, tóm lại, phải phụ trách xử lý tất cả các việc. Chỗ Liêu nguyên ở, gọi là Liêu nguyên liêu.[X. điều Liệt chức tạp vụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tăng đường thanh qui Q.5, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Chúng Liêu). II. Liêu Nguyên. Thời cận đại, các tùng lâm Thiền tông có đặt Vân thủy đường (nhà Thượng khách), Liêu nguyên là chức vụ trông coi các việc trong Vân thủy đường này.

liêu quốc phật giáo

(寮國佛教) Phật giáo nước Liêu (Lào). Liêu, xưa gọi là Lão qua, là 1 nước nhỏ nằm sâu trong lục địa của bán đảo Trung nam, Bắc giáp Trung quốc, Đông giáp Việt nam, Tây giáp Miến điện, Nam giáp Cao miên. Trong nước có nhiều chủng tộc, nhưng quan trọng thì có 3 chủng tộc: Lào, Kha và Mèo. Chủng tộc Lào vốn có nguồn gốc từ vùng Tây nam Trung quốc, từ đời Đường đến đời Nguyên khoảng hơn 600 năm, chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc và Ấn độ,từng tin thờ Phật giáo, nhưng cũng xem trọng việc cúng tế quỉ thần và mang nặng sắc thái dân tộc. Về sau, chủng tộc này dần dần tiến xuống phía nam rồi định cư ở nước Lào, chiếm 2/3dân số nước này. Phật giáo bắt đầu được truyền vào nước Lào từ sau khi vua Pháp ngang (Fia Nguon, ở ngôi 1353-1373) sáng lập nước Nam chưởng (Lang chang). Vua Pháp ngang thủa nhỏ từng theo cha lưu vong đến Cao miên, được Trưởng lão Ma ha ba sa mạn đa (Mahàpasamanta) dạy dỗ; Vương hậu là con gái của vua Cao miên, là tín đồ thuần thành của Phật giáo, vua Pháp ngang chịu ảnh hưởng của Vương hậu, liền cung thỉnh cao tăng, đúc tượng Phật, làm chùa Ba sa mạn (Pasamanarma), dân chúng Lào cũng dần dần chuyển sang tín ngưỡng Phật giáo. Vào năm Vĩnh lạc thứ 2 (1404) đời Minh, nước Nam chưởng được Trung quốc thừa nhận, phong là Lão Qua Tuyên Úy Ti, Bấy giờ nhằm đời vua Phạ du tam thành thái đang tại vị, vua từng làm chùa Ma na lan (Wat Manorom) và đề cao Phật học. Vua Duy tô (Visoun, ở ngôi 1501-1520) xây chùa Duy tô nổi tiếng để thờ xá lợi Phật. Đến đời vua Tất đạt đề lạp (Sethathirath) lại dựng tháp Đại xá lợi (Dhàtu Luang) lớn nhấtnước Lào ở phía bắc thủ đô Vĩnh trân (Viêng chăn). Giữa thế kỉ XVII, Lào trở thành trung tâm Phật giáo Đông nam á. Về sau bị rơi vào trạng huống phân chia lâu dài, đến đầu thế kỉ XIX thì Viêng chăn trở thành 1 tỉnh của Thái lan. Đến giữa thế kỉ XIX, nhờ Thái lan và Việt nam kèn cựa nhau nên Lào mới được an định, nhưng sau đó bị thế lực người Pháp xâm nhập, cuối cùng, vào năm 1893, Lào trở thành nước bảo hộ của Pháp. Thời kì Pháp thuộc, Phật giáo không còn được nhà nước hộ trì nữa nên rất khó phát triển, nhưng điều may mắn là tuyệt đại đa số nhân dân vẫn kính tin Phật giáo. Nền giáo dục cũ ở quá khứ lấy các chùa làm trung tâm; bây giờ dưới sự thống trị của người Pháp, chính phủ nắm quyền giáo dục. Nhưng vì nền giáo dục quốc dân không được phổ cập, nên chùa Phật vẫn là nơi quan trọng cho hàng trí thức cao thâm và những nhà nghiên cứu Phật giáo mà người Pháp không cách nào ngăn cấm được. Đầu thế kỉ XX, Phật giáo Lào thi hành tổ chức cơ cấu phân chia tầng cấp, dưới nhà nước là châu huyện, dưới châu huyện là xã thôn, các chùa Phật ở xã thôn đều có chư tăng cai quản. Cũng giống như Thái lan, Miến điện và Cao miên. Lào cũng thịnh hành tục lệ người con trai xuất gia 1 lần, tùy theo chí nguyện của mỗi người, hoặc tu 1 thời gian hoặc tu trọn đời. Sau ngày độc lập (1954) đến trước khi nội chiến bùng nổ (1960), Phật giáo Lào phát triển mạnh mẽ, chùa Phú sĩ ở cố đô Luang Brabang là trung tâm Phật giáo, trong chùa thờ pho tượng Phật bằng vàng, nặng hơn 400 ký, được đúc vào thế kỉ XV. Cách cố đô về mạn bắc khoảng 20 cây số, có động Bắc khư, trong động có vô số tượng Phật, được gọi là động Vạn Phật. Sự giáo dục của chư tăng hoàn toàn được nhà nước nâng đỡ, chia làm 3 cấp: Tiểu học, Trung học và giáo dục Phật giáo cao cấp (tương đương với Cao trung). Phật giáo cao cấp do bộ Giáo dục phụ trách, người tốt nghiệp được tôn xưng thêm 2 chữ Ma Ha (Phạm: Mahà). Tín đồ Phật giáo Hoa kiều ở Viêng chăn sáng lập Trung Lào Phật giáo xã. Việt kiều đa số tin theo Phật giáo Đại thừa, có cất chùa Bàng long (Wat Banglong) để hoằng dương Phật pháp. Nền Phật giáo mà người Lào tin thờ cũng giống như Phật giáo ở Miến điện và Thái lan, nghĩa là đều thuộc Phật giáo Nam truyền, dùng tiếng Pàli, như trong thư viện Hoàng gia tàng trữ các kinh điển viết bằng tiếng Pàli trên lá bối, cũng có nhiều loại viết bằng tiếng Thái lan. Nhưng không giống với các nước Nam truyền khác ở chỗ giáo dục Phật giáo và giới luật của tăng đoàn Lào không nghiêm khắc bằng các nước kia, như tỉ khưu được ngồi ăn cơm, uống rượu chung với người tại gia, được nhận đồ trực tiếp do người nữ trao tay và được làm việc chung với người nữ. Nhưng việc tỉ khưu được nhân dân tôn kính cúng dường thì cũng hệt như các nước khác. Nhân dân thường làm việc bố thí, thích vào chùa nghe chư tăng nói pháp và thụ trì trai giới. [X. Liêu quốc Phật giáo sử (Tịnh hải); ERE. Vol.7 Laos; The Pàli Literature of Burma, London, 1909 (M. Bode)].

liêu trưởng

See Liêu Chủ.

liêu tịch

Distant and deserted.

liêu đạo tông

(遼道宗) (1032-1101) Vị Hoàng đế đời thứ 8 của nhà Liêu, Trung quốc, họ Da luật, tên Hồng cơ, ở ngôi 1055-1100. Ông lên ngôi năm 24 tuổi, trong và ngoài nước tuy còn một vài cuộc phân tranh, nhưng nói chung thì tương đối đã hòa bình. Ông thừa kế chính sách của đời trước, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc Hán hóa. Ông là vị Hoàng đế sùng tín Phật giáo bậc nhất của đời Liêu, rất tinh thông học thuyết Hoa nghiêm. Tương truyền, mỗi năm vua thỉnh 3 vạn 6 nghìn vị sa môn để cúng dường trai tăng, mỗi ngày có3 nghìn người xuất gia. Vua còn xây cất nhiều chùa tháp điện đường, trong đó qui mô nhất là Đại điện đường của chùa Phụng phúc, được coi là bậc nhất ở nước Liêu. Trong năm Thanh ninh (1055-1064) vua còn kiến tạo Bạch tháp ở chùa Đại hoàng tế tại Cẩm châu, hiện nay vẫn còn. Tác phẩm: Hoa nghiêm kinh tán. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4].

Liễu Am Huệ Minh

(了庵慧明, Ryōan Emyō, 1337-1411): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Nam Bắc Triều và Thất Đinh, vị Tổ đời thứ 16 của Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), người sáng lập ra Phái Liễu Am (了庵派), húy Huệ Minh (慧明), đạo hiệu Liễu Am (了庵), xuất thân vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), người dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Ông đắc độ với Khế Văn (契聞) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), sau kế thừa dòng pháp của Tịch Linh (寂靈) ở Vĩnh Trạch Tự (永澤寺) vùng Đơn Ba (丹波, Tamba, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), và theo học với Thiều Thạc (韶碩) ở Tổng Trì Tự. Về sau ông đã từng sống qua một số chùa như Tổng Trì Tự (總持寺), Vĩnh Trạch Tự (永澤寺), Tổng Ninh Tự (總寧寺), Long Tuyền Tự (龍泉寺), v.v. Đến năm 1394, ông được dòng họ Thái Điền (太田) quy y theo, nên sáng lập ra Tối Thừa Tự (最乘寺) ở vùng Tương Mô. Dòng pháp từ của ông có Thiều Dương Dĩ Viễn (韶陽以遠), Đại Dương Minh Trung (大陽明中), Đại Cương Minh Tông (大綱明宗), v.v. Trước tác của ông có Thiên Đồng Tiểu Tham Sao Điểm Phá (天童小參抄点破), Chư Nhạc Nhị Đại Nga Sơn Hòa Thượng Hành Thật (諸岳二大峨山和尚行實), Liễu Am Huệ Minh Thiền Sư Ngữ Lục (了庵慧明禪師語錄), Liễu Am Huệ Minh Thiền Sư Pháp Ngữ (了庵慧明禪師法語).

liếc

To glance—To look askance.

liếc trộm

To glance furtively.

liến thoắng

Very fast.

liền tiền

Successive—Continuous.

liều

To risk—To venture.

liều chết

To risk one's life.

liều lĩnh

Venturesome—Foolishly bold.

liều mạng

To risk one's life.

Liễu

了; C: liǎo; J: ryō;|1. Biết, nhận biết, hiểu biết (s: upalabdhi, pratipatti, adhimokṣa); 2. Kiến giải, quan điểm (s: dṛṣṭi); 3. Thức tỉnh về một sự việc nào đó, thông hiểu (s: avabodha); 4. Chấm dứt, kết thúc, chung cuộc, cuối cùng.

liễu

1) Cây liễu: A willow. 2) Kết thúc: To end. 3) Liễu tri: Parijanati (p)—Parijna (skt)—Hiểu rõ hay biết chắc chắn—To ascertain—To comprehend—To know exactly—To perceive clearly—To recognize—To understand thoroughly or completely.

liễu am quế ngộ

(了庵桂悟) (1425-1514) Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người Y thế, huyện Tam trọng, hiệu Phật nhật thiền sư. Sư từng trụ trì chùa Đông phúc, chùa Nam thiền. Ngoài nội điển ra, sư còn tinh thông Chu dịch và Trang tử, cho nên hàng công khanh, học giả theo qui y rất đông. Sư đã từng là sứ giả của Mạc phủ phái đến Trung quốc (đời Minh). Khi ở núi Dục vương, sư từng giao thiệp với danh Nho Vương dương minh. Năm Vĩnh chính 11 (1514) sư tịch, thọ 90 tuổi. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục, 1 quyển, Nhâm thân nhập minh kí.

Liễu Am Thanh Dục

(了庵清欲, Ryōan Seiyoku, 1288-1363): vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Liễu Am (了庵), biệt hiệu Nam Đường (南堂), xuất thân Lâm Hải (臨海), Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang). Ông vốn là pháp từ của Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), đã từng sống qua một số chùa như Khai Phước Tự (開福寺) vùng Lật Thủy (溧水, Tỉnh Giang Tô), Bổn Giác Tự (本覺寺) vùng Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), Linh Nham Tự (靈巖寺) Tô Châu (蘇州). Ông được ban tặng hiệu là Từ Vân Phổ Tế Thiền Sư (慈雲普濟禪師). Vào ngày 25 tháng 8 năm thứ 23 niên hiệu Chí Chánh (至正), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Ông có để lại bộ Liễu Am Hòa Thượng Ngữ Lục (了庵和尚語錄) 9 quyển. Tống Liêm (宋濂) soạn ra Hành Đạo Ký (行道記), viết về hành trạng của ông.

Liễu biệt

了別; C: liǎobié; J: ryōbetsu;|1. Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; 2. Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành (s: vijñapti; t: rnam par rig ba); 3. Thấy, nhận biết (s: dṛṣṭi).

liễu biệt

Understanding and discrimination.

liễu bản sinh tử kinh

(了本生死經) Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Cứ theo Xuất tam tạng kí tập quyển 6, ngài Đạo an soạn bài tựa kinh Liễu bản sinh tử cho rằng yếu chỉ của kinh này là Tứ đế tứ tín được đức Phật nói trong lần chuyển pháp luân đầu tiên. Nội dung bao gồm: 1. Lấy nội duyên và ngoại duyên làm yếu tố duyên khởi. 2. Chỉ bày rõ nhân tướng phược và duyên tướng phược. 3. Qui nạp sự sinh khởi của nội duyên, ngoại duyên đều phải đợi sự sinh khởi của 5 việc: Chẳng phải thường, chẳng phải đoạn, chẳng tiến, hạt giống không hư mất, tướng dáng của sự vật... 4. Nói về 12 nhân duyên. Kinh này còn các bản dịch khác là: Phật thuyết đạo cán kinh, Từ thị bồ tát sở thuyết Đại thừa duyên sinh đạo cán dụ kinh, Đại thừa xá lê sa đảm ma kinh, Phật thuyết Đại thừa đạo cán kinh. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.5; Dịch kinh đồ kỉ Q.1].

liễu chi

Nhành dương liễu, dùng để rãi nước cam lộ trong các nghi lễ trừ ma quỷ—Willow branches put in clean water to keep away evil spirits.

liễu giáo

Tên của một đệ tử Phật nổi tiếng là Ajnata-Kaundinya, là thái tử của xứ Ma Kiệt Đà, và là cậu của Phật Thích Ca Mau Ni. Ông cũng tái sanh thành Phật dưới tên Samanta-Prabhasa—A famous disciple named Ajnata-Kaundinya, a prince of Magadha, a maternal uncle of Sakyamuni. He is to be reborn as Buddha under the name of Samanta-Prabhasa.

liễu giải

To understand clearly.

liễu kiến

Toàn kiến đạt được khi thân hoàn toàn yên nghĩ and tâm giải thoát khỏi mọi phiền toái hay quấy nhiễu hiện tượng nữa—Complete vision obtained when the body is in complete rest and the mind freed from phenomenal disturbance.

liễu kết

Kết liễu—To end—To finish.

Liễu nghĩa

了義; C: liǎoyì; J: ryōgi;|Một sự việc hoặc một nguyên tắc mà ý nghĩa của nó được hiểu trọn vẹn.

liễu nghĩa

Revelation of the whole meaning or truth—Complete understanding. ; (了義) Phạm:Nìtàrtha. Nghĩa của các pháp được trực tiếp hiển bày một cách rõ ràng. Giáo lí của đức Phật được trực tiếp trình bày một cách rõ ràng, tường tận, gọi là Liễu nghĩa giáo. Như các kinh Đại thừa nói sinh tử, Niết bàn không hai, không khác. Những kinh điển nói đạo lí này, gọi là kinh Liễu nghĩa, do đức Phật nói. Còn nếu thuận theo căn cơ, trình độ của chúng sinh, không trực tiếp hiển bày pháp nghĩa, mà dùng giáo tướng phương tiện dẫn dắt dần dần, thì gọi là Bất liễu nghĩa giáo (giáo chưa rõ nghĩa), như các kinh nói nhàm chán sinh tử, ưa thích Niết bàn. Những kinh điển nói về bất liễu nghĩa giáo này, gọi là Bất liễu nghĩa kinh (kinh chưa rõ nghĩa), do Bồ tát nói. Cũng như Liễu nghĩa và Bất liễu nghĩa, gọi chung là Nhị liễu. Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa kinh là một trong Tứ y. Nhưng, điều gọi là bất liễu nghĩa là do Đại thừa nói về Tiểu thừa, cho rằng so với Đại thừa thì Tiểu thừa kém cỏi hơn, cho nên gọi là Bất liễu nghĩa. Nhưng, theo chủ trương của Đại chúng bộ thuộc Tiểu thừa, thì học thuyết của các ngoại đạo là bất liễu nghĩa. Còn theo luận Thành thực, không thấy rõ ý trong kinh điển mà chỉ chấp vào mặt chữ để giải thích, thì là bất liễu nghĩa. Ngoài ra, theo luận Du già sư địa quyển 60, thì đức Thế tôn nói sơ lược về Khế kinh, Ứng tụng, Kí biệt v.v... nghĩa lí chưa được rốt ráo, cho nên gọi là bất liễu nghĩa, trái lại thì gọi là Liễu nghĩa giáo. [X. Quán vô lượng thọ kinh sớ tán thiện nghĩa; Viên giác kinh lược sớ Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần đầu, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Tam Thời Giáo).

liễu nghĩa giáo

Teaching of the whole truth.

Liễu nghĩa kinh

了義經; C: liǎoyì jīng; J: ryōgi kyō;|1. Kinh nói rõ ý nghĩa hoặc trình bày toàn vẹn. Chỉ một bộ kinh Đại thừa nêu ra và luận giải tất cả những khía cạnh của Phật pháp mà không nghiêng vào bên này hoặc bên kia như Đốn ngộ hoặc Tiệm ngộ, Trung quán hoặc Duy thức v.v… 2. Biểu thị này thường được dùng ám chỉ kinh Viên Giác (圓覺經).

liễu nghĩa kinh

The sutras containing the whole truth.

liễu nghĩa đăng

(了義燈) Gọi đủ: Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng. Cũng gọi: Duy thức liễu nghĩa đăng, Nghĩa đăng. Tác phẩm gồm 7 quyển (hoặc 13 quyển) do ngài Huệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 43. Sách này là 1 trong 3 bộ Chú sớ về Duy thức nổi tiếng, giải thích những câu văn và nghĩa lí khó hiểu trong bộ luận Thành duy thức (10 quyển) và bộ Thành duy thức luận thuật kí (20 quyển). [X. Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục Q.3].

Liễu Nguyên

(了源, Ryōgen, 1295-1336): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 7 của Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji), thuộc Phái Phật Quang Tự (佛光寺派), vị tổ đời thứ 7 của Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji) thuộc Phái Hưng Chánh (興正派), húy là Liễu Nguyên (了源), tục danh là Di Tam Lang (彌三郎), hiệu là Không Tánh (空性), húy là Quang Sơn Viện (光山院); con của Liễu Hải (了海), vị Tổ đời thứ 4 của Phật Quang Tự. Năm 1320, ông lên kinh đô, làm môn đệ của Giác Như (覺如, Kakunyo) ở Bổn Nguyên Tự (本願寺, Hongan-ji), nhưng lại trực tiếp theo hầu hạ Tồn Giác (存覺, Zonkaku). Vào năm 1324, ông kiến lập nên Hưng Chánh Tự (興正寺, ) ở vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina) thuộc Sơn Thành (山城, Yamashiro), rồi sau đó chuyển ngôi chùa này đến vùng Sáp Cốc (澀谷, Shibuya) thuộc Đông Sơn, và đổi tên thành Phật Quang Tự (佛光寺, Bukkō-ji). Ông đã nỗ lực giáo hóa khắp các địa phương như Cận Kỳ (近畿, Kinki), Tam Hà (三河, Mikawa), Vĩ Trương (尾張, Owari), v.v., và trở thành vị tổ thời Trung Hưng của Phái Phật Quang Tự. Tác phẩm của ông để lại có Nhất Lưu Tương Truyền Đồ (一流相傳圖) 1 bức, Sơn Khoa Sáng Tự Mộ Duyên Sớ (山科創寺募緣疏) 1 quyển, Toán Đầu Lục (算頭錄).

liễu nguyên

(了元) (1032-1098) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Tống, người Phù lương, tỉnh Giang tây, hiệu Phật ấn, tự Giác lão. Sư xuất gia ở chùa Bảo tích, sau khi thụ giới Cụ túc, sư đi tham học khắp các vị tôn túc. Năm 19 tuổi, sư theo ngài Thiện xiêm ở chùa Khai tiên tại Lô sơn, rồi lại tham học ngài Cư nột ở Viên thông. Sư có tài về thơ và biện luận. Năm 28 tuổi, sư ở chùa Thừa thiên tại Giang châu, qua đạo tràng nào sư cũng tận lực giáo hóa. Các danh sĩ đương thời như Tô đông pha, Hoàng sơn cốc, v.v... đều kết thân với sư và xướng họa thi ca. Vua Thần tông rất kính phục đạo phong của sư, ban cho sư áo Cao li, bình bát và hiệu là Phật Ấn Thiền Sư. Tháng giêng niên hiệu Nguyên phù năm đầu (1098) sư tịch, thọ 67 tuổi, pháp lạp 52, có ngữ lục để lại đời sau. [X. Tục truyền đăng lục Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.29; Thích thị kê cổ lược Q.4; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.29].

liễu ngộ

Anna (p)—Ajna or Ajnati (skt). • Hiễu rõ: To apprehend, perceive or understand clearly. • Sự hiểu rõ: Thorough enlightenment— Clear apprehension—Clear knowledge or understanding—Perfect knowledge—Complete enlightenment. ; (了悟) I. Liễu Ngộ. Chỉ cho sự giác ngộ thực tướng của các pháp, chân lí của vũ trụ. II. Liễu Ngộ(?-?). Vị Thiền tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Cô tô (huyện Ngô, tỉnh Giang tô), hiệu là Tiếu am, đệ tử nối pháp của ngài Mật am Hàm kiệt, thuộc phái Hổ khâu, tông Lâm tế, trụ trì chùa Linh ẩn tại Hàng châu. Sư có tác phẩm: Tiếu am Ngộ thiền sư ngữ yếu 1 quyển. [X. Cổ tôn túc ngữ yếu Q.4, Tăng tục truyền đăng lục Q.2].

liễu nhiên

(了然) (1077-1141) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang, họ Tiết, hiệu Chí dũng, đời gọi là Hổ khê Tôn giả. Sư xuất gia năm 7 tuổi, thờ ngài Tường phù Đạo trung làm thầy. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học giáo pháp Thiên thai nơi ngài An quốc tuệ. Sau khi ngài An quốc tuệ tịch, sư đến theo học ngài Diên khánh lập, được ngài Diên khánh lập dùng lễ tiếp đón rất trọng hậu. Lúc đầu sư ở Quảng nghiêm, sau dời đến Bạch liên tại Thai châu, ở đó 24 năm, người đến tham học rất đông. Năm Thiệu hưng 11 (1141) sư tịch, thọ 65 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chỉ quán viên tông kí, Giải thập bất nhị môn xu yếu, Hổ khê tiền hậu tập... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích môn chính thống Q.7].

Liễu nhân

了因; C: liǎoyīn; J: yōin;|»Nguyên nhân của sự nhận biết« (s: jñāpaka-hetu). Một sự nhận thức dẫn đến một kết quả ví như sự giác ngộ, đối nghịch với nguyên nhân phát sinh (sinh nhân 生因); 2. Nguyên nhân của một lí thuyết đối nghịch; 3. Hiểu, nhận thức khởi đầu.

liễu nhân

A revealing cause. ; (了因) Đối lại: Sinh nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong tác pháp 3 phần của Nhân minh, Liễu nhân thuộc về phần Nhân, là phần hiểu thấu được chủ trương của người lập luận, là 1 trong 6 Nhân. Chủ trương của người lập luận có thể làm phát sinh sự hiểu biết của người vấn nạn (địch luận), gọi là Sinh nhân, còn trí tuệ của người vấn nạn có thể lĩnh hội, liễu giải được chủ trương của người lập luận, thì gọi là Liễu nhân. Trong phần Nhân phải có đầy đủ hai điều kiện này. Vì thế, đứng về phương diện người lập luận, Sinh nhân có 3 thứ: 1. Trí sinh nhân: Trí tuệ của người lập luận. 2. Nghĩa sinh nhân: Nghĩa lí do trí tuệ ấy sinh ra. 3. Ngôn sinh nhân: Chủ trương ngôn luận để trình bày nghĩa lí ấy. Đứng về phương diện người vấn nạn (địch luận), đối với Liễu nhân, dĩ nhiên cũng phải như thế: Muốn hiểu rõ lập luận của người kia, thì cần phải có trí lực, trí lực ấy hiểu được nghĩa lí, mà biết được nghĩa lí là do ngôn luận. Do đó, Liễu nhân cũng có 3 thứ: 1. Ngôn liễu nhân: Hiểu rõ ngôn luận của người lập luận. 2. Nghĩa liễu nhân: Hiểu rõ nghĩa lí của ngôn luận ấy. 3. Trí liễu nhân: Trí tuệ để hiểu được nghĩa lí ấy. Đứng về cả 2 phương diện người lập luận và địch luận mà nói chung lại thì gồm có 6 Nhân. Nhưng thực ra không phải có 6 Nhân sai khác nhau, vì ngôn luận của người lập gọi là Ngôn sinh nhân, mà địch luận hiểu được là Ngôn liễu nhân; nghĩa lí của ngôn luận gọi là Nghĩa sinh nhân, mà địch luận hiểu được nghĩa ấy là Nghĩa liễu nhân; trí tuệ của người nêu ra nghĩa ấy là Trí sinh nhân, mà địch luận hiểu được tông nghĩa của trí ấy là Trí liễu nhân. Một bên làm cho phát sinh ra, một bên tiếp thu lấy, vì thế mà có sáu. Tóm lại, đứng trên lập trường Nhân minh, chỉ cần Ngôn sinh nhân và Trí liễu nhân là đủ. Vì Ngôn sinh nhân trực tiếp nói rõ ý tưởng của mình cho đối phương, còn Trí liễu nhân của đối phương hiểu được Ngôn sinh nhân ấy, thế là đủ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích; Đông phương luận lí học (Nhất hanh)]. (xt. Lục Nhân).

liễu nhân phật tánh

Tánh thứ nhì trong tam Phật tánh, hai tánh kia là Chánh nhân Phật tánh và Duyên nhân Phật tánh—The second of the three Buddha-nature (the revealing or lightening causes, associated with the Buddha-wisdom). The other two are: Chánh nhân Phật tánh (The direct cause of attaining the perfect Buddha-nature) and Duyên nhân Phật tánh (the environing cause, his goodness or merits which result in deliverance or salvation).

liễu nhân phật tính

(了因佛性) Chỉ cho quán trí soi rọi thấy rõ và hiển bày được chính tính sẵn có của chúng sinh, là 1 trong 3 tính Phật. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng, do ngài Trí khải soạn, cho rằng giác trí (Phật) chẳng phải thường, chẳng phải vô thường (tính), lí trí tương ứng, như người khéo biết kho vàng, trí này không thể bị phá hoại, nên gọi là Liễu nhân Phật tính. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.28 (bản Bắc); Pháp hoa văn cú Q.9 phần cuối; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần cuối]. (xt. Tam Phật Tính).

liễu nhứ

(柳絮) (1922- ) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang. Ông tốt nghiệp trường Đại học An huy. Năm 1969, ông ấn hành tập Phật giáo thánh ca và tổ chức đoàn hợp xướng Từ quang, dùng âm nhạc đưa người vào đạo. Ông có các trứ tác: Kim cương kinh giản chú, Nhật dụng Phật kinh giản chú, Viên giác kinh giản chú, Pháp hoa kinh tân giải tân chú...

Liễu Quán

了觀; 1667-1742|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Tử Dung Minh Hoằng, góp công rất nhiều cho việc truyền bá dòng Thiền này tại miền Trung và Nam.|Sư tên Lê Thiệt Diệu, quê huyện Ðồng Xuân tỉnh Phú Yên (Sông Cầu). Lúc sáu tuổi Sư mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn học với Hoà Thượng Tế Viên. Bảy năm sau Sư ra Thuận Hoá (Huế) học với Giác Phong Lão Tổ ở chùa Báo Quốc.|Năm 1702, Sư đến Hoà thượng Tử Dung tham thiền. Hoà thượng dạy Sư tham câu »Muôn pháp về một, một về chỗ nào?« (萬法歸一一歸何處; Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ). Sau bảy tám năm tham cứu chưa lĩnh hội, Sư ngầm hổ thẹn. Một ngày nọ, nhân lúc đọc Truyền đăng lục có câu »Chỉ vật truyền tâm mà người chẳng biết« (Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ), Sư hoát nhiên tỉnh ngộ và trở lại xin gặp Hoà thượng Tử Dung trình sở đắc. Sau khi được Ấn chứng, Sư hay vào ra Huế – Phú Yên giáo hoá. Năm 1733, 1734, 1735 Sư dự bốn lễ Ðại giới đàn tại Huế. Năm 1740, Sư về am ở núi Thiên Thai, dựng chùa Thuyền Tôn.|Mùa xuân 1742, Sư lại dự Ðại giới đàn ở chùa Viên Thông. Ðến mùa thu, Sư gọi đệ tử báo »Nhân duyên ta đã hết, ta sắp đi đây.« Cuối tháng hai năm 1743, Sư viết bài kệ:|七十餘年世界中。空空色色亦融通|今朝願滿還家裏。何必奔縵問祖宗|Thất thập dư niên thế giới trung,|Không không sắc sắc diệc dung thông|Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lí|Hà tất bôn man vấn tổ tông.|*Hơn bảy mươi năm ở cõi này,|Không không sắc sắc thảy dung thông.|Hôm nay nguyện mãn về quê cũ.|Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.|Ðến ngày 22 buổi sáng sau khi dùng trà, Sư hỏi giờ gì, đồ đệ đáp »giờ Mùi.« Sư liền an nhiên thị tịch. Vua sắc ban bia kí và tứ hiệu Ðạo Hạnh, thuỵ Chính Giác Viên Ngộ Hoà Thượng.|Sư là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn tại Huế, sau chùa còn tháp thờ Sư. Nhánh Thiền Lâm Tế tại miền Nam và Trung sau này được gọi theo tên Sư là Liễu Quán.

liễu quán

Thiền Sư Liễu Quán (?-1743)—Zen Master Liễu Quán—Thiền sư Việt Nam, quê ở Song Cầu, Phú Yên. He was born in Song Cầu town, Phú Yên province. He moved to Thuận Hóa vào cuối thế kỷ thứ 17. Vào lúc sáu tuổi ngài đã mồ côi mẹ, cha ngài đem ngài đến chùa Hội Tôn làm đệ tử của Hòa Thượng Tế Viên. Bảy năm sau, Hòa Thượng Tế Viên thị tịch, ngài đến chùa Bảo Quốc xin làm đệ tử Hòa Thượng Giác Phong Lão Tổ. Vào năm 1691, ngài trở về nhà để phụng dưỡng cha già. Năm 1695, ngài đi Thuận Hóa thọ giới Sa Di với Thiền Sư Thạch Liêm. Năm 1697, ngài thọ giới cụ túc với Hòa Thượng Từ Lâm tại chùa Từ Lâm. Năm 1699 ngài học thiền với Thiền sư Tử Dung. Ngài là Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Chúa Nguyễn rất mến trọng đạo đức của ngài nên thường thỉnh ngài vào cung giảng đạo. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Trung Việt. Ngài là vị khai sơn chùa Bảo Tịnh tại Phú Yên vào cuối thế kỷ thứ 17. Sau lần trở lại Huế lần thứ hai để cầu đạo, ngài đã khai sơn chùa Viên Thông vào khoảng năm 1697. Năm 1741, ngài đã mở đại giới đàn tại chùa Viên Thông. Ngài thị tịch năm 1743. Trước khi thị tịch, ngài để lại một bài kệ truyền thừa cho các đệ tử về sau nầy kế tiếp tuần tự theo đó mà đặt tên Pháp. Thật tế đại đạo, tánh hải thanh trừng Tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong Giới định phước huệ, thể dụng viên thông Vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công Truyền kỳ diệu lý, diễn sướng chánh tông Hạnh giải tương ưng, đạt ngộ chơn không. A Vietnamese Zen Master from Song Cầu, Phú Yên. He was born in Song Cầu town, Phú Yên province. His family moved to Thuận Hóa province in the late seventeenth century. When he lost his mother at the age of six, his father brought him to Hội Tôn Temple to become a disciple of Most Venerable Tế Viên. Seven years later, Tế Viên passed away. He went to Bảo Quốc Temple to study with Most Venerable Giác Phong Lão Tổ. In 1691 he returned home to take care of his old father. In 1695, he went to Thuận Hóa to receive Samanera's precepts with Most Venerable Thạch Liêm. In 1697, he receive complete precepts with Most Venerable Từ Lâm at Từ Lâm Temple. In 1699, he studied meditation with Most Venerable Tử Dung. He was the Dharma heir of the thirty-fifth generation of the Linn-Chih Zen Sect. Lord Nguyễn Vương greatly appreciated his virtues and often invited him to preach Dharma in the Royal Palace. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in Central Vietnam. He was the founder of Bảo Tịnh Temple in Phú Yên in the late seventeenth century. During the time when he came to Huế for the second time to seek the truth, he built Viên Thông temple in 1697. In 1741, he held a Vinaya-affirming ceremony at Viên Thông temple. He passed away in 1743. Before his death, he left a versified text to his Dharma offsprings to give the first word of the religious name. ; (了觀) (1670-1743) Thiền sư Việt nam, người làng Bạch mã, huyện Đồng xuân, tỉnh Phú yên, họ Lê, húy Thực diệu, tổ khai sáng môn phái Liễu quán. Sư từng tu tập thiền quán với ngài Thạch liêm ở chùa Linh mụ. Sau, sư đến trụ ở chùa Thiền tôn, núi Thiên thai, tỉnh Thừa thiên. Sư tông hợp giáo nghĩa tông Lâm tế với Thiền phái Nguyên thiều mà sáng lập ra môn phái Liễu quán, đặc biệt coi trọng việc lãnh ngộ chân tâm và lấy Bát nhã làm tâm ấn. Môn phái này lưu hành rất rộng ở miền Trung Việt nam. Sau khi sư tịch, triều đình ban thụy hiệu Chính Giác Viên Ngộ Hòa Thượng.

liễu sanh thoát tưû

To end the cycle of birth and death.

Liễu Thật

(了實, Ryōjitsu, 1303-1386): vị tăng của Phái Bạch Kỳ (白旗派) thuộc Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa hai thời đại Liêm Thương và Nam Bắc Triều, húy Liễu Thật (了實), hiệu là Thạnh Liên Xã (盛蓮社), Thành A (成阿). Lúc trẻ, ông theo xuất gia với Liên Thắng (蓮勝) ở Pháp Nhiên Tự (法然寺) vùng Thường Lục (常陸, Hitachi). Đến năm 1330 ông thọ Viên Đốn Giới với Định Huệ (定慧) ở Quang Minh Tự (光明寺) vùng Liêm Thương. Trong khoảng niên hiệu Diên Nguyên (延元, 1336-1340), ông được vị Thành chủ Tá Trúc Nghĩa Đôn (佐竹義敦, Satake Yoshiatsu) quy y theo, nên kiến lập ra Thường Phước Tự (常福寺) ở vùng Qua Liên (瓜連, Urizura), và nới đây đã trở thành cứ điểm phát triển giáo đoàn của Tịnh Độ Tông vùng Quan Đông. Môn đệ của ông có Thánh Quynh (聖冏), Lương Hựu (良祐), Liên Không (蓮空), v.v.

Liễu tri

了知; C: liǎozhī; J: ryōchi;|Hiểu trọn vẹn, rõ ràng; nhận thức đầy đủ, nhận biết; thấu hiểu (s: parijñāna, parijñā).

liễu tri

Parijna (skt)—Thorough knowledge.

Liễu Tông Nguyên

(柳宗元, 773-819): văn nhân và là chính trị gia sống dưới thời nhà Đường, một trong 8 nhân vật nổi tiếng của Đường Tống, xuất thân Hà Đông (河東), Tỉnh Sơn Tây (山西省), tự là Tử Hậu (子厚). Ông đã từng làm đến chức Giám Sát Ngự Sử, nhưng do vì liên lụy đến sự kiện Vương Thúc Văn (王叔文), ông bị chuyển sang làm Tư Mã của Vĩnh Châu (永州), rồi sắc sứ của Liễu Châu (柳州). Chính ông đã cùng với Hàn Dũ (韓愈) đề xướng phục hưng nền cổ văn. Trước tác của ông có Liễu Hà Đông Tập (柳河東集).

liễu tông nguyên

(柳宗元) (773-819) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hà đông (Vĩnh tế, Sơn tây), tự Tử hậu, người đời thường gọi ông là Liễu hà đông. Thủa nhỏ ông rất thông minh, có tài văn chương quán tuyệt. Sau khi đỗ Tiến sĩ 3 năm, ông giữ chức Giám điều úy. Về sau, ông lần lượt được thăng các chức như: Giám sát ngự sử lí hành, Giám sát ngự sử, Lễ bộ viên ngoại lang, v.v... Niên hiệu Vĩnh trinh năm đầu (805), nhân việc Vương thúc văn thất thế, ông bị liên lụy và giáng chức làm Thứ sử Thiệu châu. Nhưng đang trên đường đi đến nhiệm sở thì lại bị biếm làm Tư mã Vĩnh châu. Bị lưu đày ở vùng đất xa xôi, ông thường đến chỗ núi rừng hoang vắng, trời đất bao la, ông cảm thấy lòng thanh thản, lâng lâng và tự nhiên hướng tâm về Phật pháp. Từ đó ông thường giao du với các vị Thiền sư, những niềm cảm khái trong lòng bỗng tuôn trào ra thành một áng văn chương nổi tiếng, đó là thiên Trinh phù, rồi từ đó những văn bia của các vị Đại đức ở miền Nam đều do ông soạn. Năm Nguyên hòa thứ 10 (815), ông được triệu về kinh đô, tháng 3 năm đó, ông ra làm Thứ sử Liễu châu, sau đổi đến Liên châu, ông làm quan ở đây được 3 năm, nhân dân đều vui mừng, năm Nguyên hòa 14, ông qua đời hưởng dương 47 tuổi. Ông có các tác phẩm: Đông hải nhược giải 1 quyển; Liễu hà đông tập 45 quyển, Ngoại tập 2 quyển, Trinh phù 1 thiên. [X. Cư sĩ truyện Q.19].

liễu vi thiền định

The mastery of abstract contemplation.

liễu điền thánh sơn

(柳田聖山) (1922- ) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Tư hạ. Năm 1947, ông tốt nghiệp khoa Chân tông học tại trường Đại học Đại cốc. Sau đó, ông từng giảng dạy tại trường Đại học Hoa viên, Sở nghiên cứu Khoa học nhân văn thuộc trường Đại học Kinh đô (Kyoto). Ông có các tác phẩm: Nghiên cứu các sử liệu Thiền tông thời kì đầu, Lịch sử thiền thời kì đầu, Lăng già sư tư kí, Tư tưởng thiền, Thiền đích sơn hà, Đạt ma ngữ lục, Nhất hưu, Tư tưởng Phật giáo, Tìm hiểu nghĩa Không, Lâm tế lục...

Liễu đạt

了達; C: liǎodá; J: ryōdatsu; S: adhigama, adhi-mukti, avatāra|1. Tỉnh thức, giác ngộ; 2. Kết thúc, chấm dứt, hoàn tất.

liễu đạt

Clear understanding—Thorough penetration. ; (了達) Hiểu thấu mọi việc, sự lí đều thông suốt. Phẩm Đề ba đạt đa kinh Pháp hoa (Đại 9, 35 trung), nói: Thâm nhập thiền định liễu đạt chư pháp(vào sâu thiền định, thông suốt các pháp). Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 37 (Đại 10, 195 trung), nói: Liễu đạt tam giới y tâm hữu, Thập nhị nhân duyên diệc phục nhiên (Thấu suốt 3 cõi nương nơi tâm mà có, 12 nhân duyên cũng như thế).

liễu đạt thiệt thành

Thiền Sư Liễu Đạt Thiệt Thành (?-1823)—Vị sư Việt Nam vào thế kỷ thứ 19. Quê quán của ngài không rõ ở đâu. Ngài là Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế, là đệ tử của Hòa Thượng Minh Vật Nhất Tri. Từ năm 1744 đến năm 1821, ngài trụ tại chùa Từ Ân. Năm 1816, vua Gia Long gửi sắc chỉ triệu hồi ngài về kinh đô Huế để thuyết pháp cho nhà vua và hoàng gia. Ngài trở về Nam năm 1823 và thị tịch trong cùng năm ấy—A Vietnamese monk in the nineteenth century. His origin was unknown. He was the dharma heir of the thirty-fifth generation of the Linn-Chih Zen Sect, a disciple of Most Venerable Minh Vật Nhất Tri. From 1744 to 1821, he stayed at Từ Ân Temple. In 1816, King Gia Long sent an Imperial Order to summon him to Huế Capital to preach to the king anf the royal family. He went back to the South in 1823 and passed away in the same year.

liệm chung

(斂鍾) Thu chuông. Điều Niệm tụng trong Thiền uyển thanh qui quyển 2 (Vạn tục 111, 443 hạ): Đánh chuông triệu tập chúng tăng (...) từ vị Tri sự trở xuống đứng ở trên, từ vị Thủ tọa trở xuống đứng ở dưới, vị Duy na thu chuông (liễm chung) rồi tụng niệm.

liệm y

(斂衣) Đối lại với Đề y. Xếp áo ca sa lại. Trong Thiền lâm, khi vị Trụ trì làm lễ nhập tự, đắp áo ca sa do vị tổ khai sơn truyền lại, gọi là Đề y. Nếu thu hồi và xếp ca sa lại thì gọi là Liễm y. Như tịnh lục quyển thượng (Đại 48, 121 hạ), nói: Liễm y tựu tòa(xếp ca sa rồi lại đến chỗ ngồi).

liệp sư

(獵師) Thợ săn, ví dụ vị tăng phá giới. Nghĩa là người không có giới hạnh của 1 vị tăng mà lạm mặc áo tăng, phá hoại giới pháp của tăng đoàn và dùng tà kiến làm rối loạn chính pháp. Phẩm Tà chính trong kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 7 (Đại 12, 643 trung), nói: Phật bảo tôn giả Ca diếp: Sau khi ta vào Niết bàn 700 năm, bọn ma Ba tuần dần dần phá hoại chính pháp của ta, giống như tên thợ săn mặc áo pháp. [X. phẩm Tứ tướng trong kinh Đại bát niết bàn Q.4].

liệt

1) Đốt nóng: Burning. 2) Hạ liệt: Inferior—Vicious. 3) Xé rách: To rip—To split—To crack.

liệt cường

The great powers.

liệt huệ

(劣慧) Gọi đủ: Hữu lậu vô nhiễm liệt tuệ. Chỉ cho thể của trần sa hoặc. Vì thể của hoặc này là bất nhiễm ô vô tri, nên là hữu lậu, chẳng phải phiền não nhuận sinh, nên là vô nhiễm; không kham được việc độ người, cũng không siêng năng cầu sự hiểu biết, cho nên gọi là Liệt tuệ (trí tuệ kém cỏi). Ngoài ra, cứ theo Phật địa kinh luận quyển 1, thì trí tuệ yếu kém gọi là Liệt trí. [X. Ma ha chỉ quán Q.3 phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.3 (Đại bảo)].

liệt kê

To enumerate.

liệt phụ

Woman of virtue.

liệt sĩ trì

Tyagiharada or Jivakahrada (skt)—Hồ của bậc đại sĩ, gần Mrgadava—The lake of the renouncer, or of the hero, near to the Mrgadava.

liệt thường

Chiếc áo cà sa rách, truyện vua Tần Bà Sa La nằm mộng thấy chiếc áo cà sa bị xé làm 18 mảnh, điềm cho rằng sau khi Phật nhập diệt, Tiểu Thừa sẽ phân làm 18 phái—The torn robe, i.e. King Bimbisara's dream of Buddhism split into eighteen pieces, like the Hinayana sects.

liệt thường kim trượng

(裂裳金杖) Chỉ cho tấm áo rách (liệt thường) và cây gậy vàng (kim trượng). Đức Phật dùng hình tượng này để dự đoán việc Phật giáo Ấn độ bị phân hóa thành 18 bộ phái. Cứ theo Câu xá tụng sớ chú ghi chép, một hôm, vua Tần bà sa la mộng thấy 1 chiếc mền rách làm 18 mảnh, 1 cây gậy vàng gãy làm 18 khúc, nhà vua cảm thấy lo sợ, bèn đến thưa hỏi Phật, đức Phật nói: Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm, có vua A du ca ra đời, uy danh lừng lẫy khắp châu Nam thiệm bộ, bấy giờ bật sô chia thành 18 bộ phái, nhưng đều hướng tới cửa giải thoát. Đây là điềm báo trước cho sự phân phái ấy. [ X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

liệt trí

Trí tuệ thấp kém—Inferior mind—Harmful wisdom.

liệt tổ đề cương lục

(列祖提綱錄) Tác phẩm 42 quyển, do ngài Ngốc ông Hành duyệt (1619-1684) soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 112. Tác phẩm này là kết quả của hơn 20 năm vân du khắp 4 phương của ngài Hành duyệt. Trong sách ghi chép lời dạy và đức hạnh của các bậc Tổ sư, hoặc theo việc mà viết thành văn, hoặc theo lời kể mà ghi thành việc, tùy theo chỗ thấy biết mà ghi chép, không phân biệt xưa nay, tôn ti, tông phái hay thứ tự các thế hệ. Nội dung thu chép pháp ngữ của hơn 400 vị Thiền sư chính thống và bàng hệ từ thời Ngũ gia tông phái (Lâm tế, Tào động, Qui ngưỡng, Vân môn, Pháp nhãn) trở về trước, với hơn 3.000 tắc Tông tổ đề cương và hơn 300 việc trọng yếu trong chốn tùng lâm, như: Chúc li, báo bản, tôn tổ, thướng đường, tiểu tham, tiết lạp, nguyên đán, pháp khí, v.v... tất cả đều căn cứ theo chương Trụ trì nhật dụng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui mà giải thích rất rõ ràng. Bộ sách này là kim chỉ nam cho người tu đạo.

liệt tử

(列子) I. Liệt Tử (?-?). Danh nhân Trung hoa, sống vào thời Chiến quốc, người nước Trịnh, họ Liệt, tên Ngự khấu. Ông sinh sau Lão tử, trước Trang tử, tức khoảng thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Ông có soạn bộ sách Liệt tử. Nội dung bàn về tư tưởng của Đạo gia. Nhưng ngày nay đã chứng minh được rằng bộ sách này là do người đời sau ngụy tạo, ngay cả đến việc Liệt tử có là nhân vật thực hay không còn phải đợi khảo chứng. Tuy nhiên, về mặt tư tưởng và ảnh hưởng đối với văn học Trung quốc thì ông được xếp ngang hàng với Trang chu. Người đời gọi Lão tử, Trang tử, Quan tử, và Liệt tử là Đạo gia tứ tử, hoặc gọi là Tứ kinh. II. Liệt Tử. Cũng gọi Liệt tử xung hư chân kinh, Xung hư chí đức chân kinh. Kinh của Đạo giáo, 8 quyển, do Liệt ngự khấu soạn vào đời Chu, Trung quốc, Trương trạm chú giải vào đời Tấn. Nội dung tư tưởng trong sách này cho rằng chí hư vô cực là bản thể của vũ trụ, muôn vật từ đó mà sinh hóa không ngừng, đồng thời đề xướng thuyết luân hồi chuyển sinh, cho rằng sinh tử là sự biến hóa của bản thể. Về lí tưởng tối cao là đời sống vô vi tự nhiên, vượt ra ngoài sự khen chê, được mất của thế gian, mà dung hợp với bản thể vũ trụ rộng lớn sâu xa, mầu nhiệm tột bực. Trong sách có dùng nhiều ngụ ngôn, trùng ngôn. Qua khảo cứu, có người cho rằng nội dung sách này là phù hợp với thuyết của Trang tử, có nhiều chỗ do người đời sau góp nhặt lại mà thành. Nhưng hiện nay, nhiều học giả cho rằng sách này đã do học trò của Vương bật ngụy tạo vào thời Ngụy Tấn.

liệt vị

Gentlemen.

liệt ứng thân

(劣應身) Cũng gọi Trượng lục thân Phật, Liệt ứng trượng lục thân Phật. Thân 1 trượng 6 mà đức Phật thị hiện, ứng hóa cho hàng phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát trước Thập địa thấy được, là 1 trong 2 ứng thân ở cõi Phàm thánh đồng cư, do tông Thiên thai lập ra. Thiên thai tứ giáo nghi (Đại 46, 775 thượng), nói: Thị hiện từ cung trời Đâu suất giáng trần, gá thai nơi Hoàng hậu Ma da, rồi sinh, lớn lên, cưới vợ, sinh con, xuất gia, 6 năm tu khổ hạnh, ngồi trên tòa cỏ, thành đạo dưới gốc Bồ đề, đó là Liệt ứng thân. Ngoài ra, Thiên thai Tứ giáo nghi tập chú quyển Thượng cho rằng, Liệt ứng thân là đối lại với Thắng ứng thân của Đại thừa, chứ Liệt không phải là kém. Lại nữa, Tiểu thừa cho rằng thân của đức Thích tôn cũng do nghiệp sinh ra, cho nên gọi là Liệt ứng thân. (xt. Tam Thân, Ứng Thân).

liệu

1) Trị liệu—To heal—To cure. 2) Trù liệu: To measure—To calculate. 3) Vật liệu: Materials.

liệu bệnh

See Liệu.

liệu chước

To find a means.

liệu cách

To manage—To find a means to do something.

liệu giản

1) Giải thích hay giảng giải nghĩa lý: To expound, explain, comment upopn. 2) Tông Thiên Thai dùng từ nầy để chỉ vấn đáp trong nhà thiền: T'ien-T'ai used the term for question and answer. ; (料簡) Cũng gọi Liễu giản, Lượng giản, Lượng kiến, Liệu kiến. Khéo phân biệt, lựa chọn chính pháp. Từ ngữ này thấy rải rác trong các bộ chương sớ của các tông phái, nhưng cách dùng và ý nghĩa lại không giống nhau. 1. Nêu ra mọi quan điểm để làm sáng tỏ vấn đề, hoặc dùng phương thức vấn đáp để bàn luận một cách sâu sát, gọi là Liệu giản. 2. Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đưa ra 4 phương pháp tiếp hóa người học gọi là Tứ liệu giản: a. Đoạt nhân bất đoạt cảnh (đoạt người chứ không đoạt cảnh). b. Đoạt cảnh bất đoạt nhân (đoạt cảnh chứ không đoạt người). c. Nhân cảnh câu đoạt (người và cảnh đều đoạt). d. Nhân cảnh câu bất đoạt (người và cảnh đều chẳng đoạt). Ở đây Tứ liệu giản mang ý nghĩa 4 phạm trù của chân như thực tướng. 1. Tiếng dùng của tông Thiên thai Nhật bản.Vì trong văn kinh có những chỗ mâu thuẫn trái ngược nhau, nên phải đặt phương pháp để điều hòa và giải thích rõ ràng những mâu thuẫn ấy, gọi là Liệu giản. 2. Thông thường chỉ cho sự lí giải một cách rộng rãi, sâu xa.

liệu hồn

Be careful!

liệu lời

To weigh one's words.

liệu sức

To estimate one's strength.

liệu thế

See Liệu Cách.

liệu trước

To take precautions against something.

liệu đế sính

(廖帝聘) (1827-1893) Tổ sư của Chân không giáo, 1 tôn giáo dân gian do ông sáng lập vào khoảng năm Đồng trị (1862-1874) đời Thanh, người Tầm ô, Giang tây. Ông bắt đầu tu đạo ở tuổi trung niên, nghiên cứu Ngũ bộ lục sách của La tổ, lấy việc trở về nguồn gốc, về 1, về không làm tông chỉ, tu hành bằng phương pháp tĩnh tọa, tĩnh ngộ để đạt đến cảnh giới dung hợp giữa tự thân và bản thể chân không, chữa bệnh cho người bằng pháp tĩnh tọa, cấm hút thuốc phiện. Tín đồ của tông giáo này ở rải rác khắp các tỉnh Giang tây, Quảng đông, Phúc kiến, v.v... về sau còn được truyền đến vùng Đông Nam Á. Ông có các tác phẩm: Báo không, Vô tướng, Báo ân, Tam giáo.

lo liệu

To make arrangements.

lo lót

Bribery.

lo lắng

Anxious—Worried.

lo nghĩ

To worry.

lo ngại cho ai

To be concerned about someone.

lo sợ quá đáng

Unduly worrying

lo xa

Worry about the future.

lo âu

1) (a): To be disturbed—Worried. 2) (n): Disturbance—Worry.

loa

1) Con ốc: A snail—A conch—Spiral. 2) Đinh ốc: Screw.

loa kế

Búi tóc hình xoắn ốc trên đầu của Phạm Thiên vương—Tuft of hair on Brahma's head resembling a conch.

loa kế phạm chí

Tên của Phạm Vương và của Đức Phật—A name for Brahma, and for the Buddha—See Loa Kế Tiên Nhân.

loa kế phạm vương

(螺髻梵王) Cũng gọi Loa kế phạm. Vị Phạm vương có búi tóc hình xoắn ốc trên đỉnh đầu. Trên pháp hội Duy ma, vị Phạm vương này từng vấn đáp với ngài Xá lợi phất. Tịnh tâm giới quán pháp quyển thượng (Đại 45, 823 thượng) nói: Đức như Loa kế phạm vương, đi đâu cũng thấy Tây phương. [X. phẩm Phật quốc, kinh Duy ma].

loa kế tiên nhân

Trong tiền kiếp, Đức Phật là một vị Loa Kế Tiên Nhân tên là Thượng Xà Lê, trong khi ngài thiền định dài hạn, chim đã đến làm tổ trên búi tóc của ngài—A former incarnation of the Buddha, when a bird built its nest in his hair during his prolonged meditation. ; (螺髻仙人) Tiền thân của đức Phật Thích ca mâu ni. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 17, thủa xưa, đức Thích ca là vị tiên tên Thượng xà lê, vì có búi tóc hình trôn ốc trên đỉnh đầu nên gọi là Loa kế tiên nhân. Vị tiên này thường vào đệ tứ thiền, hơi thở ra vào đã dứt bặt, ngồi dưới gốc cây sừng sững bất động, chim trông thấy tưởng là khúc gỗ, liền làm tổ và đẻ trứng trong búi tóc. Sau đó, vị tiên này xuất định, muốn bước đi, nhưng biết trên đầu mình có ổ trứng chim đang ấp, liền tự nghĩ: Nếu ta đứng dậy bước đi, gây động, chim mẹ sẽ bay mất, trứng sẽ hư hết, nghĩ xong, ông vào định trở lại, đợi đến khi trứng nở, chim con bay đi ông mới đứng dậy. [X. Quan âm huyền kí Q.hạ].

loa phát

Tóc xoắn trên đỉnh đầu của Đức Phật, một trong 32 tướng hảo—The curly hair of the Buddha, one of the 32 good marks or characteristics. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật. ; (螺發) Cũng gọi là La phát, Lê phát. Tóc trên đầu xoắn lại xoay về bên phải giống như trôn ốc, là 1 trong 32 tướng tốt, 1 trong 80 vẻ đẹp của đức Phật. Tóc của đức Phật Thích ca bóng mượt, mềm mịn, xoay về bên phải giống như hình trôn ốc, cho nên tượng đức Thích tôn ở đời sau phần nhiều được tạo theo hình dạng này, cùng với Nhục kế ở trên đỉnh đầu đều là đặc trưng của tượng Phật. Trong những tượng Phật hiện còn ở Ấn độ, tượng được tìm thấy ở Trung Ấn độ phần nhiều có hình tóc xoắn. Nhưng, các tượng Phật được phát hiện ở Kiện đà la thuộc Bắc Ấn độ thì không có hình tóc xoắn, mà là hình gợn sóng. Tượng Phật Thích ca và tượng Phật Di đà của 2 tông Hiển giáo, Mật giáo ở Trung quốc, Triều tiên, Nhật bản, v.v... thông thường là hình xoắn ốc. Phật A súc (Bảo chàng),Phật Bảo sinh (Khai phu hoa) của Mật giáo cũng mang hình tóc xoắn này. [X. kinh Tăng già la sát sở tập Q.trung; kinh Đại bát nhã Q.381; kinh Quán Phật tam muội hải Q.1; Tổ đình sự uyển Q.4].

Loan phòng

(鸞房): phòng loan của người vợ. Trong bài kinh Huyền Thiên Thượng Đế Bách Tự Thánh Hiệu (玄天上帝百字聖號) của Đạo Giáo có quẻ xăm thứ 19, Đại Cát, tên Vân Hành Vũ Thí (雲行雨施), phần Hôn Nhân có đoạn: “Quy gia tiện bả loan phòng chỉnh, hảo thính minh cầm hữu phụng thanh, thiên phó nhân duyên cánh hòa hợp, y kim bất tát vấn tiền trình (歸家便把鸞房整、好聽鳴琴有鳳聲、天付姻綠更和合、伊今不必問前程, về nhà bèn chỉnh phòng loan tốt, khéo nghe đàn cầm có phụng reo, trời ban nhân duyên cho hòa hợp, hôm nay bất tất hỏi ngày mai).”

loanh quanh

To go around—To be undecided.

loay quay

To be busy with something.

Long

(s, p: nāga, 龍): rồng, âm dịch là Nẵng Nga (曩誐), Na Già (那伽), tên gọi của một trong 8 bộ chúng hộ trì Phật pháp. Trong thần thoại Ấn Độ, đây là động vật không tưởng thần cách hóa loài rắn; loại có uy đức gọi là Long Vương (龍王) hay Long Thần (龍神). Tương truyền loài này sống trong biển lớn, có ma lực có thể kêu mây và làm mưa gió. Trong thánh điển Phật Giáo có đề cập nhiều đến loài này, tỷ dụ như trong Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh (佛母大孔雀明王經) có nêu lên hơn 160 tên loài rồng này. Trong truyền thuyết về đức Phật kể lại chuyện khi ngài giáng sanh, có hai con rồng rưới nước thanh tịnh lên mình ngài; khi thành đạo thì con rồng đã bảo vệ, che chở thân ngài trong 7 ngày mưa bão; đức Phật đã từng chữa bệnh cho con rồng mù và hàng phục loài độc long, v.v. Trong Pháp Hoa Kinh (法華經) cho biết rằng 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp; hay như trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) của kinh này có câu chuyện vị long nữ 8 tuổi thành Phật. Trú xứ của rồng được gọi là Long Cung (龍宮), nằm sâu dưới lòng đáy biển, được trang hoàng lộng lẫy và của báu chất đầy như núi. Nó là vị hộ pháp của Đại Thừa Phật Giáo. Đối với Mật Giáo, đồ hình Thai Tạng Mạn Trà La (胎藏曼茶羅) có 2 vị Long Vương đại diện cho Nan Đà (難陀) và Ô Ba Nan Đà (烏波難陀), có quan hệ rất sâu với pháp cầu mưa. Câu chuyện Thiện Nữ Long Vương (善女龍王) xuất hiện trong khi Không Hải (空海, Kūkai) đang tu luyện pháp tại Thần Tuyền Uyển (神泉苑) là rất nổi tiếng. ; 龍; S: nāga;|Loài rồng, một loại thú linh, mùa xuân cất cánh bay cao, mùa đông ngủ trong lòng đất. Rồng mang lại mưa và bảo vệ bầu trời. Rồng hay Ðại long hay được dùng để biểu tượng đức Phật hay một Bồ Tát hạ sinh. Loài Thuỷ long được xem là vua của sông nước, biển cả. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta tin rằng Thuỷ long cất giữ các bộ kinh ở thuỷ cung và trao lại cho người một khi Nhân duyên đầy đủ.

long

Naga (skt). 1) Loài rồng, loài bán chư Thiên, có thân dài không có chân, thuộc loài rắn dài, là một trong tám bộ chúng, có thần lực biến hóa mây mưa. Loài rồng nầy vào mùa xuân thì bay lên cõi trời, và về mùa đông thì ẩn sâu dưới đất—Dragons, a beneficent half-divine being, dragon-like, which means snake, serpent, one of the eight groups of demons with supernatural powers which can create clouds and rains. In the spring the Naga climbs into heaven and in winter lives deep in the earth—See Na Già and Thiên Long Bát Bộ. 2) Long hay Đại Long thường được dùng đồng nghĩa với Phật hay những vị Thánh đã vượt thoát khỏi luân hồi sanh tử—Naga or Maha-naga is often used as a synonym for the Buddha or for the sages who have matured beyond rebirth. 3) Theo nhiều truyền thống Phật giáo, rồng là chư Thiên hộ trì kinh pháp từ những cung điện nơi biển cả, như Kinh Hoa Nghiêm chẳng hạn, đã được chư Long Thần hộ trì vì lúc ấy thời cơ chưa chín muồi cho chúng sanh thu nhiếp lý kinh—In many Buddhist traditions the nagas are water deities who in their sea palaces guard Buddhist scriptures, the Avatamsaka Sutra, for example, has been placed in their care because humanity, at the time, has not yet ripe for their reception. ; (龍) Phạm, Pàli:Nàga. Hán âm: Na già, Nẵng nga. Loài rồng, 1 trong 8 bộ chúng hộ trì Phật pháp. Rồng đứng đầu trong loài rồng, gọi là Long vương hay Long thần. Thông thường, rồng là loại quỉ (có thuyết cho là súc sinh) có thân hình giống rắn sống ở trong nước, có sức thần gọi gió kêu mưa. Trong thần thoại Ấn độ, rồng là một thứ nửa thần có mặt người, đuôi rắn, gồm 1.000 giống, do vợ của Ca diếp ba (Phạm: Kazyapa) là Ca đầu (Phạm: Kadru) sinh ra, ở trên đất hoặc dưới cung rồng (Phạm:Pàtàla). Theo phẩm Súc sinh trong kinh Chính pháp niệm xứ quyển 18, thì Long vương thuộc loài súc sinh, là quả báo của người ngu si, nóng giận, chỗ ở của rồng gọi là Hí lạc thành. Rồng có 2 loại: Pháp hành long vương và Phi pháp hành long vương. 1. Pháp hành long vương có 7 đầu, như các long vương Tượng diện, Bà tu cát, Đắc xoa ca, Bạt đà la, v.v... là loài ít sân si, hay làm việc phúc đức, cho nên không bị cái khổ cát nóng, do tâm tốt nên làm mưa đúng thời vụ, giúp cho ngũ cốc ở thế gian được mùa. 2. Phi pháp hành Long vương gồm có Ba la ma thê, Tì mưu lâm bà, Ca la, v.v... loài này thường làm những việc bất thiện, không kính Sa môn, Bà la môn, nên thường chịu cái khổ cát nóng, do tâm ác nên làm mưa to gió dữ, khiến ngũ cốc hư hại. Theo phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm quyển 19, thì rồng có 4 loại: Đẻ trứng, đẻ bọc, sinh nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh, thường bị 4 loại đại bang (chim cánh vàng) đẻ trứng, đẻ bọc, đẻ nơi ẩm ướt và tự nhiên hóa sinh nuốt ăn. Theo kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng, thì Long vương có loài đi trên mặt đất, hoặc thường ở trong hư không, hoặc trên núi Diệu cao, hoặc ở dưới nước. Có loại Long vương 1 đầu, 2 đầu, cho đến nhiều đầu; hoặc Long vương không chân, 2 chân, 4 chân cho đến nhiều chân, v.v... Còn trong tín ngưỡng của Trung quốc đời xưa, thì Long là chỉ cho loài động vật có vảy mình dài nói chung, vào tiết xuân phân thì lên trời, đến tiết thu phân thì xuống đất. Loài có vảy thì gọi là Giao long, loại có cánh gọi là Ứng long, loại có sừng gọi Cầu long, loại không sừng gọi Li long, loại không bay được gọi là Bàn long. [X. kinh Long tượng trong Trung a hàm Q29; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q1; kinh Phổ diệu Q 2; kinh Tu hành bản khởi Q thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q1; luận Đại trí độ Q3, 14, 30; Đại đường tây vực kí Q3, 8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.9].

long bát

Bát khất thực của một vị Tăng sĩ, để nhận nước mưa (loài rồng giáng vào cái bát ấy)—A begging-bowl formerly used by a certain monk for obtaining rain, the dragon descending into his bowl.

Long Bổn Lương Đức

(隆本良德, Ryūpon Ryōtoku, ?-?): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống giữa vào hai thời đại Thất Đinh và Chiến Quốc, húy là Lương Đức (良德), tự là Long Bổn (隆本), hiệu là Pháp Liên Xã (法蓮社). Ông theo học Tịnh Độ Giáo với Lương Vinh (良榮) ở Viên Thông Tự (圓通寺) vùng Hạ Dã (下野, Shimotsuke), rồi kế thừa dòng pháp của vị này và làm vị Tổ đời thứ 3 của chùa. Môn hạ của ông có Lương Hiến (良憲), Lương Điều (良調).

long châu

Loại ngọc dưới hàm rồng—Dragon pearls; pearls below the dragon's jaws; the sun or moon associated with the dragon and spring. ; (龍珠) Hạt châu ở dưới cằm con rồng. Cứ theo Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí quyển 5, xưa kia có Phạm chí Loa kế sống ở bờ sông Hằng, thường bị rồng quấy nhiễu, đức Phật bảo vị Phạm chí hãy xin hạt châu ở dưới cổ con rồng thì nó sẽ không đến quấy nhiễu nữa.

long châu tự

(龍珠寺) Chùa ở núi Hoa sơn, quận Hoa thành, tỉnh Kinh kì, Hàn quốc, do ngài Liêm cư sáng lập vào năm Văn thánh vương 16 (854). Ban đầu, chùa có tên là chùa Cát dương. Năm Chính tổ vương 14 (1790) chùa được trùng tu, vào ngày khánh thành, nhà vua nằm mộng thấy con rồng ngậm viên ngọc báu như ý bay lên trời, vua bèn ban sắc đổi tên chùa là Long châu. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, điện Minh phủ, điện Hộ thánh, lầu Thiên bảo, Cực lạc đại viên bảo điện, gác Phổ tín, v.v... Trong tháp thờ 2 viên xá lợi của Phật, bình báu cam lộ và bồ đoàn 5 sắc, v.v... các báu vật báu này đều từ Trung quốc truyền sang. Ngày nay, Long châu là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc, có 48 chùa phụ thuộc như chùa Thất trường, chùa Thanh long, chùa Phổ quang, v.v... [X. Triều tiên tự sát sử liệu Q.thượng; Triều tiên Phật giáo thông sử, Lí triều Phật giáo; Triều tiên tự sát tam thập nhất bản sơn tả chân thiếp].

long chương

Long Thư hay kinh điển, được gọi như vậy vì chữ Phạn giống với chữ Hán như hình thù của loài rắn hay rồng—Dragon books, i.e. the sutras, so called because the Sanskrit writing seemed to the Chinese to resemble the forms of snakes and dragons. ; (龍章) Chỉ cho kinh điển. Vì kinh tiếng Phạm, chữ viết cuộn tròn như hình rồng rắn, nên gọi là Long chương.

long chủ tiên

(龍主仙) Tiên làm chủ loài rồng. Nghĩa là hành giả y theo pháp Thánh ca ni kim cương đồng tử quĩ, trí tụng 60 vạn biến chân ngôn trước tháp xá lợi, sau đó, dùng bổ sa thiết làm sợi dây niệm tụng, thì thành Long chủ tiên. [X. Thánh ca ni kim cương đồng tử quĩ Q.thượng].

long chủng thượng trí tôn vương phật

(龍種上智尊王佛) Cũng gọi Long chủng tịnh trí tôn vương Phật, Long chủng thượng Phật, Long chủng tôn, Long tôn vương, Long tôn. Tên bản địa của bồ tát Văn thù, còn có rất nhiều tên khác nữa. [X. kinh Quán dược vương dược thượng nhị bồ tát; kinh Tâm địa quán Q.3; luận Đại trí độ Q.29]. (xt. Văn Thù Bồ Tát, Bản Địa).

long chủng thượng tôn vương phật

1) Long Chủng Thượng Như Lai: Theo Trí Độ Luận, đây là Long Chủng Trí Tôn Vương Phật—According to the Maha-Prajna-Sastra, this is the Buddha of the race of honourable dragon kings. 2) Danh hiệu của Ngài Văn Thù Sư Lợi: A title of Manjusri.

long cung

1) Cung điện của Long Vương ở đáy biển (do thần lực của Long Vương biến hóa ra): The dragon palace; palaces of the dragon kings. 2) Long cung nơi Ngài Long Thọ Bồ Tát viết Kinh Hoa Nghiêm: The dragon palace in which Nagarjuna recited the Hua-Yen Ching. ; (龍宮) Cũng gọi Long hộ. Chỗ ở của Long vương hoặc Long thần. Theo truyền thuyết, dưới đáy biển lớn, Long vương dùng sức thần hóa ra cung điện làm nơi giữ gìn của báu, kinh điển khi Phật pháp ẩn mất ở thế gian. Bởi vì con rắn giữ gìn của báu ở Ấn độ là Na già (Phạm: Nàga), tức là rắn mắt gương, còn được dịch là rồng. Nhưng theo truyện cổ Ấn độ, Na già là nửa thần mặt người đuôi rắn ở chốn Long cung (Phạm: Pàtàla) dưới mặt đất, mà Hòa tu cát (Phạm:Vàsuki) là vua các Na già. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 19, dưới đáy biển lớn có cung điện của Long vương Sa kiệt, giữa khoảng núi Tu di và núi Khư đà la có cung điện của 2 vị Long vương Nan đà và Bạt nan đà. Theo phẩm Nhật tạng phân tống sứ trong kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 43, thì khắp nơi trên thế giới này đều có Long vương, ở trong Long cung giữ gìn các vật: Đất, nước, lửa, gió, cây, hoa, quả. Theo phẩm Thỉnh Phật trong kinh Hải long vương quyển 3, Hải long vương đến núi Linh thứu, nghe đức Phật thuyết pháp, được lòng tin vui mừng, muốn thỉnh Phật đến Long cung trong biển để cúng dường, bèn dùng sức thần hóa làm cung điện. Kinh Liên hoa diện quyển hạ chép, tất cả bát Phật và xá lợi Phật, trong 10 phương của cõi Diêm phù đề đều cất giữ trong cung điện của Long vương Bà già la. Còn theo các kinh truyện như: kinh Bồ tát xử thai quyển 7, kinh Ma ha ma da quyển hạ, Long thụ bồ tát truyện, Hiền thủ Hoa nghiêm truyện quyển 1, v.v... thì trong Long cung có kinh điển thắng diệu. [X. kinh Đại bảo tích Q.86; kinh Lâu thán Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); kinh Khởi thế nhân bản Q.2; luận Thi thiết Q.6; luận Đại trí độ Q.3, 14; luận Du già sư địa Q.2; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1; Phó pháp tạng truyện Q.5].

long cung bảo tạng

Tàng kinh các nơi Long Cung của ngài Long Thọ Bồ Tát—A library of the sutras in the Dragon palace in the Nagarjuna's palace.

long cung chung

(龍宮鍾) Quả chuông bằng đá ở viện Tu đa la tại Ấn độ. Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 4, thì chuông này rất lớn, có màu ngọc bích. Chung quanh chuông khắc tượng Phật thành đạo trong 10 phương và tượng chư Thiên. Mỗi buổi sáng có các hóa Phật diễn nói 12 bộ kinh, các đồng nam, đồng nữ trong thành Xá vệ đều đến nghe pháp và chứng Thánh quả. Khi tiếng chuông được gióng lên thì trăm ức thế giới đều nghe trăm nghìn Phật Thích ca tuyên thuyết Tu đa la (kinh). Theo truyền thuyết, chuông này do đức Phật Câu lưu tôn tạo ra, sau khi Ngài nhập diệt, thì Long vương Sa kiệt thu giữ. Đến khi đức Thích ca ra đời, chuông mới xuất hiện trở lại, sau khi Phật Thích ca nhập diệt, Long vương Sa kiệt lại thu giữ ở Long cung.

long căn

(隆根) (1921- ) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô, họ Lữ. Sư theo ngài Trí tường ở am Quảng tế, Bắc thái, xuất gia, lần lượt tham học tại các Phật học viện Thượng hải, Vũ xương. Về sau, sư làm chủ biên các tạp chí Vô tận đăng ở Hương cảng, Hải triều âm ở Đài loan, Vô tận đăng ở Mã lai á; chủ nhiệm hoằng pháp của Tổng hội Phật giáo Tân gia ba - Mã lai á; sư cũng từng làm Giám viện chùa Thiện đạo ở Đài loan. Hiện nay sư đang chủ trì nhà xuất bản Phật giáo Nam dương và giảng đường Linh phong bát nhã tại Tân gia ba. Sư có các tác phẩm: Phật giáo bình nghị tập, Huyền trang Đại sư sinh niên chi nghiên cứu, Thánh tăng chưởng cố, Phật học thông giải, Thiện sinh kinh giảng kí.

long cốc đại học

(龍谷大學) Trường Đại học ở khu Hạ kinh tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản, do phái Bản nguyện tự thuộc Tịnh độ Chân tông sáng lập. Long cốc (hang rồng) là tấm bảng tên núi (tên bản sơn) do vị Tổ đời thứ 14 của chùa Bản nguyện là ngài Tịch như treo trước điện Phật của chùa này. Năm Khoan vĩnh 16 (1639), ngài Lương như Tông chủ sáng lập Học liêu(tiền thân của Đại học Long cốc) trong khuôn viên chùa Bản nguyện. Năm Đại chính 11 (1922), Học liêu được đổi tên là Đại học Long cốc, do ngài Linh mộc Pháp sâm làm Hiệu trưởng đầu tiên, đặt ra bộ Nghiên cứu, bộ Văn học, khoa Dự bị Đại học và bộ Chuyên môn. Năm Chiêu hòa 24 (1949), đổi theo chế độ Đại học mới và mở thêm Đại học ngắn hạn, chương trình Tiến sĩ, v.v... Ở đây lưu trữ rất nhiều sách vở. [X. Long cốc đại học tam bách niên sử; Học lâm diên cách sử; Học liêu tạo lập sự phó dĩ hậu pháp luận thứ đệ].

Long Hoa

(龍華): từ gọi tắt của Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Hội (龍華會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), xem chi tiết ở Long Hoa chi hội bên dưới.

long hoa

The Dragon and the Flower.

Long Hoa chi hội

(龍華之會): hay Long Hoa Hội (龍華會), Long Hoa Tam Hội (龍華三會), Long Hoa Tam Đình (龍華三庭), Di Lặc Tam Hội (彌勒三會), Từ Tôn Tam Hội (慈尊三會), Long Hoa (龍華), tức chỉ ba hội thuyết pháp của Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) sau khi thành đạo. Sau khi đức Phật diệt độ khoảng 56 ức 7 ngàn vạn năm (có thuyết cho là 57 ức 6 ngàn vạn năm), từ trên cung trời, Bồ Tát Di Lặc hạ sanh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa (s: nāga-puṣpa, 龍華樹, Mesuna roxburghii Wigh, Mesuna ferrea) trong vườn Hoa Lâm (華林), Thành Xí Đầu (翅頭城), và thuyết pháp trước sau 3 lần. Theo Tam Thế Đẳng Phẩm (三世等品) của Bồ Tát Xử Thai Kinh (菩薩處胎經) cho biết rằng trong 3 hội Long Hoa, hội thứ nhất Ngài thuyết pháp độ được 96 ức chúng sanh và truyền thọ Năm Giới của đức Thích Tôn; hội thứ hai độ được 94 ức và mọi người đều thọ trì ba pháp Quy Y; hội thứ ba độ được 92 ức và hết thảy đều niệm Nam Mô Phật. Tín ngưỡng đức Phật Di Lặc xuất thế vốn thịnh hành từ xưa cho đến nay, ai ai cũng khát ngưỡng chờ đợi sự xuất hiện của ngài để được dự vào pháp hội Long Hoa. Như trong Xuất Tam Tạng Ký Tập (出三藏記集) quyển 12, Nguyên Thủy Tập Mục Lục Tự (原始集目錄序) của Pháp Uyển Tạp Lục (法苑雜錄) có đề cập bản Tống Minh Hoàng Đế Sơ Tạo Long Hoa Thệ Nguyện Văn (宋明皇帝初造龍華誓願文), Kinh Sư Chư ấp Tạo Di Lặc Tượng Tam Hội Ký (京師諸邑造彌勒像三會記), Tề Cánh Lăng Văn Tuyên Vương Long Hoa Hội Ký (齊竟陵文宣王龍華會記), v.v. Hơn nữa, nơi bài minh sau lưng bức tượng Di Lặc do Tỳ Kheo Tăng Hân (僧欣) tạo lập vào tháng 12 năm thứ 23 (499) niên hiệu Thái Hòa (太和) nhà Bắc Ngụy có ghi lại lúc đức Phật Di Lặc xuất hiện; nguyện vọng của ông là được tái sanh làm người và trở thành vương tộc để tham dự vào hội thuyết pháp Long Hoa. Ngoài ra, pháp hội cúng dường Phật Di Lặc và Quán Phật Hội (灌佛會, Hội Tắm Phật) cũng được gọi là Long Hoa Hội. Từ xa xưa, Long Hoa Hội đã là một lễ hội rất thịnh hành được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch từ trong hoàng cung ra đến ngoài dân dã để kỷ niệm ngày Bồ Tát Di Lặc hạ sanh. Như trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記), Điều Long Hoa Hội (龍華會條) của Lương Tông Lẫm (梁宗懍, ?-?) thời Nam Triều có ghi lại rằng: “Tứ nguyệt bát nhật, chư tự các thiết hương thang dục Phật, cọng tác Long Hoa hội, dĩ vi Di Lặc hạ sanh chi chưng (四月八日、諸寺各設香湯浴佛、共作龍華會、以爲彌勒下生之徵, vào ngày mồng tám tháng tư, các chùa đều thiết hương, nước nóng tắm Phật, và tổ chức Hội Long Hoa để làm chứng cớ cho việc Bồ Tát Di Lặc hạ sanh).” Hay trong bài thơ Bồi Nguyên Thị Ngự Du Chi Hình Sơn Tự (陪元侍御遊支硎山寺) của Lưu Trường Khanh (劉長卿, ?-786?) nhà Đường có câu: “Chi công khữ dĩ cửu, tịch mịch Long Hoa Hội (支公去已久、寂寞龍華會, Ông Chi đi đã lâu, Hội Long Hoa vắng lặng).” Bên cạnh đó, trong Suy Bi Đồ (推碑圖) của Lưu Bá Ôn (劉伯溫, 1311-1375) nhà Minh cũng có câu: “Ngưu đầu thử vĩ triệt hạ tai, triêu bệnh mộ tử thậm bi ai, hữu nhân thâu đắc thiên Phật bảo, Long Hoa hộ hựu kiến đương lai (牛頭鼠尾撒下災、朝病暮死甚悲哀、有人收得天佛寶、龍華護佑見當來, đầu trâu đuôi chuột hết hung tai, sáng bệnh chiều chết quá bi ai, có người thu được báu trời Phật, Long Hoa phò hộ thấy tương lai).” Khi pháp môn sám hối thịnh hành, xuất hiện bộ Đắc Ngộ Long Hoa Tu Chứng Sám Nghi (得遇龍華修證懺儀, 4 quyển) do Sa Môn Như Tinh (如惺) của Từ Vân Tự (慈雲寺) trên Thiên Thai Sơn (天台山) soạn. Tại Thiên Vương Điện (天王殿) của Linh Ẩn Tự (靈隱寺), Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có hai câu đối về đức Phật Di Lặc rằng: “Bố Đại vô song phá nhan thùy tiếu nhĩ đẳng mạc đãi Long Hoa Tam Hội, pháp môn bất nhị đại phục năng dung lai nhân toàn bằng niệm Phật nhất tâm (布袋無雙破顔垂笑爾等莫待龍華三會、法門不二大腹能容來人全憑念佛一心, Bố Đại vô song tươi cười thương chúng các người chớ đợi Long Hoa Ba Hội, pháp môn chẳng khác bụng lớn chứa trùm kẻ đến đều nương niệm Phật nhất tâm).” Ngoài ra, tín ngưỡng Long Hoa còn được tìm thấy trong Đạo Giáo qua Tam Kỳ Phổ Độ Long Hoa Kinh (三期普度龍華經); như trong bài Hoàn Kinh Tán (完經讚) có câu: “Thiên Hoàng Ngọc Đế, phổ độ chúng sinh, Long Hoa Kinh Sám dĩ xiển minh, tín thọ nhi phụng hành, vạn sự hàm hanh, độ kiếp đắc thái bình (天皇玉帝、普度眾生、龍華經懺已闡明、信受而奉行、萬事咸亨、度劫得太平, Thiên Hoàng Ngọc Đế, độ khắp chúng sinh, Long Hoa Kinh Sám đã rõ rành, tin nhận đem tu hành, vạn sự thông hanh, vạn kiếp được thái bình).”

long hoa hội

Chúng hội của Đức Bồ Tát Di Lặc trong nội viện của cõi trời Đâu Suất (trong năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm Đức Di Lặc sẽ ra đời ở cõi nầy). Ngài Di Lặc sẽ ngồi dưới gốc cây Long Thọ, nơi vười Hoa Lâm mà mở Pháp Hội để phổ độ cho cõi trời và cõi người. Vào ngày mồng tám tháng tư các tự viện hay thiết trai lấy nước ngũ hương tắm Phật, tổ chức hội Long Hoa, tượng trưng cho việc Đức Di Lặc hạ sanh—The assembly of Maitreya to whom he preached the Buddha-truth. The eighth of the fourth moon, an occasion when the images are washed with fragrant water, in connection with the expected Messiah.

long hoa phái

(龍華派) Phái Long hoa, 1 trong 3 phái Trai giáo thuộc tông giáo dân gian ở Đài loan. Phái này có nguồn gốc từ Vô vi giáo (cũng gọi La tổ giáo) do ông La nhân(cũng gọi La tổ 1442-1527) pháp hiệu Phổ nhân, người Sơn đông sáng lập vào khoảng năm Gia tĩnh đời Minh. Khi La tổ truyền cho con gái thì gọi là La quảng nữ giáo, về sau cũng gọi là Cơ lưu nữ giáo. Nhị tổ Ân kế nam (pháp hiệu Phổ năng), Tam tổ Diêu văn (pháp hiệu Phổ thiện) cùng với La nhân gọi chung là Tam tổ phái Long hoa, cũng gọi Tam công. Đến khoảng năm Ung chính đời Thanh, có tổ thứ 10 là Trần phổ đồng thiết lập Giảng đường ở huyện Hưng hóa, tỉnh Phúc kiến làm Đại bản sơn. Đến tổ thứ 16 là Lư phổ đào mới đến huyện Đài nam, tỉnh Đài loan truyền giáo trong 6 năm, đến đệ tử của ông là Phổ tước mới sáng lập Đức thiện đường ở Đài nam, là hoạt động truyền giáo sớm nhất của phái Long hoa tại Đài loan. Nghi thức thờ phụng của phái này khác với Phật giáo. Chính đường thờ tượng bồ tát Quan thế âm, dưới thờ Tam công. Môn đồ phái này được chia làm 9 cấp bậc: Không không, Thái không, Thanh hư, Tứ kệ, Đại dẫn, Tiểu dẫn, Tam thừa, Đại thừa, Tiểu thừa. Người mới nhập môn gọi là Tiểu thừa, về sau dần dần lên cấp, nghi thức lên cấp rất chặt chẽ. Không không là cấp cao nhất, có thể đảm nhiệm chức Chưởng giáo truyền đăng của phái. Ở Đài loan hiện nay không có cấp Không không, mà chỉ do cấp Thái không thay quyền chưởng quản. Các nghi thức Quá công trường, Tọa pháp thuyền được tổ chức rất qui mô và trang nghiêm. Ngoài ra còn có pháp hội tế Phật, gọi là Biện cúng, được cử hành theo nghi thức ghi trong Long hoa chính giáo khoa nghi. Tín đồ thường ngày tu hành pháp thiền, phối hợp với thuật thần tiên của Đạo giáo, lấy việc tu luyện tinh, khí, thần làm căn bản. Trong 3 phái Trai giáo, phái này mang đậm màu sắc xã hội hơn cả, giới luật không nghiêm lắm, không cấm việc hôn nhân, ăn chay có định kì, gọi là hoa trai, cho nên tín đồ của phái này đông nhất trong 3 phái. Những kinh điển chủ yếu mà phái Long hoa y cứ gồm có: Ngũ bộ lục sách của La tổ, Ngũ bộ kinh bổ chú khai tâm pháp yếu, Minh tông hiếu nghĩa kinh, Long hoa hội tính mệnh môn giáo, Long hoa chính giáo khoa nghi... [X. Đài loan đích trai giáo do lai (Đình gia, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 87)]. (xt. Vô Vi Giáo, Trai Giáo, La Ngộ Không).

long hoa sám nghi

(龍華懺儀) Gọi đủ: Đắc ngộ long hoa tu chứng sám nghi.Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Như tỉnh soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 129. Nội dung sách này nói về nghi thức cầu nguyện bồ tát Di lặc, sám hối tội chướng. Gồm 12 phẩm: Khai phát chính tín, Quảng cầu lương hữu, Nghiêm trì giới luật, Phát bồ đề tâm, Minh kết đàn nghi, Lễ thỉnh Tam bảo, Sám hối vãng tội, Chuyên tụng Pháp hoa, Tam bảo phúc điền, Tổng quán Đâu suất, Biệt quán Long hoa và Niệm nhất thực tướng.

long hoa tam hội

(龍華三會) Cũng gọi Long hoa hội, Long hoa tam đình, Di lặc tam hội, Từ tôn tam hội. Gọi tắt: Long hoa. Ba hội thuyết pháp của bồ tát Di lặc sau khi Ngài thành Phật dưới gốc cây Long hoa. Sau khi đức Phật Thích ca nhập diệt 56 ức 7 nghìn vạn năm (có thuyết nói 57 ức 6 nghìn vạn năm, 56 ức vạn năm), bồ tát Di lặc từ cõi trời Đâu suất hạ sinh xuống nhân gian, xuất gia học đạo, ngồi dưới gốc cây Long hoa, trong vườn Hoa lâm ở thành Sí đầu, thành bậc Chính đẳng chính giác, trước sau thuyết pháp 3 lần. Những người trong giáo pháp của đức Phật Thích ca mâu ni thủa xưa, tu hành chưa giác ngộ thì đến hội của đức Phật Di lặc, tất cả đều đắc đạo. Cứ theo phẩm Tam thế đẳng trong kinh Bồ tát xử thai quyển 2, trong Long hoa tam hội, hội thứ 1 thuyết pháp độ 96 ức người thành đạo quả, hội thứ 2 độ 94 ức người và hội thứ 3 độ 92 ức người. Nhưng trong phẩm Ba bà lê kinh Hiền ngu quyển 12 và luận Đại trí độ quyển 3, nói số người được độ trong 3 hội có hơi khác. Từ xưa đến nay rất nhiều người lập thệ nguyện sinh lại trong nhân gian khi đức Phật Di lặc ra đời, để được gặp Long hoa tam hội. Vì, như đã nói ở trên, những người trong giáo pháp của đức Phật Thích ca tu hành chưa đắc đạo, thì đến hội Long hoa của đức Di lặc đều được giác ngộ thành Phật.[X. kinh Di lặc hạ sinh, kinh Di lặc đại thành Phật; kinh Quán Di lặc thướng sinh; kinh Nhất thiết trí quang minh tiên nhân từ tâm nhân duyên bất thực nhục; luận Đại tì bà sa Q.135].

long hoa thụ

Naga-puspa or puspanaga (skt)—Bôn Già Na—Loại cây bông rồng, là cây Bồ Đề mà Ngài Di Lặc ngồi dưới gốc khi thành đạo—The dragon-flower tree, which will be the bodhi-tree of Maitreya, the Buddhist Messiah, when he comes to earth. ; (龍華樹) Long hoa, Phạm: Nàga-puwpa. Cũng gọi Na già thụ, Long hoa bồ đề thụ. Gọi tắt: Long hoa. Tên khoa học: Mesuna roxburghü Wigh, hoặc Mesuna ferrea L. Cây Long hoa, nơi bồ tát Di lặc thành Phật.Cây Long hoa thuộc loại kiều mộc (cây cao, cành cong), họ cây đào, thân cây giống như cây Thiết đao (dao sắt), thẳng đứng, da cây bóng láng. Lá hình trứng và dài, đầu lá nhọn rủ xuống, cánh hoa màu trắng, quả to bằng quả hồ đào. Hoặc có thuyết cho rằng chùm hoa giống như đầu rồng, cành cây giống như mình rồng, vì thế gọi là cây Long hoa. Loại cây này thường mọc nhiều ở vùng Bengal, hoặc 2 bên bờ đông tây bán đảo Ấn độ và quần đảo An đạt mạn v.v... [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.44; kinh Di lặc hạ sinh; kinh Di lặc thành Phật; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.24].

long hoa tăng chủ

The Dragon and the Flower Chief Monk.

long hoa tự

(龍華寺) Chùa ở ngoại ô phía tây nam thành phố Thượng hải, do Ngô tôn quyền thời Tam quốc sáng lập vào năm Xích ô thứ 5 (242) đặt tên là chùa Long hoa. Đến năm Xích ô thứ 10 (247) tòa tháp 7 tầng thờ xá lợi Phật được hoàn thành. Ngài Khang tăng hội đã từng trụ ở chùa này. Trên đây chỉ là truyền thuyết, không biết thực hư thế nào, bởi vì chùa Tĩnh an ở Thượng hải cũng có truyền thuyết hệt như vậy. Mà truyện Khang tăng hội trong Lương cao tăng truyện quyển 1 cũng không thấy nói đến việc này. Lại nữa, theo Thượng hải huyện chí, thì vào năm Càn phù thứ 2 (875) đời Đường, Hoàng sào làm loạn, tháp Long hoa đã bị thiêu hủy trong binh lửa, nhưng đây cũng chỉ là truyền thuyết, không hơn không kém. Cứ theo Thiệu hi vân gian chí và Chí nguyên gia hòa chí, thì chùa này là do ông Trương nhân thái xin vua Trung ý Tiền hoằng thúc xây dựng, xưa gọi là chùa Long hoa, đến niên hiệu Trị bình năm đầu (1064) đời vua Anh tông nhà Tống, được đổi tên là chùa Không tướng. Theo Gia tĩnh thượng hải huyện chí, ngài Tăng quân (Pháp vân Phổ quân) là Tổ khai sơn chùa Long hoa. Qua các đời Tống, Nguyên, Minh đều có trùng tu và từ chùa Không tướng lại được đổi thành chùa Long hoa. Về sau, nhiều lần chùa bị phá hủy trong chiến tranh, rồi lại được trùng tu và qui mô vẫn như trước. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, Phương trượng thất lâu phòng, Kim cương điện, Tam thánh điện, Tổ sư điện v.v... là 1 trong những tự viện nổi tiếng ở Giang nam. Tháp chùa Long hoa bằng gỗ, hình bát giác, 7 tầng, cao khoảng 41 mét, là tòa pháp Phật duy nhất ở Thượng hải được kiến trúc vào năm Thái bình hưng quốc thứ 2 (977). Ruột tháp bằng gạch, chung quanh nền tháp là hồi lang bằng gỗ, tất cả kết cấu cũng như hình thức đều là kiểu kiến trúc đời Tống. [X. Doanh nhuyên tạp chí (Vương thao); Long hoa giảng thoại, Long hoa tự sử; Long hoa tự tàng kinh khảo; Long hoa tự lược chí (Thang nghĩa phương)].

long huê

Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Gò Vấp, thành phố Sài gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây từ thế kỷ thứ 18 bởi Tổ Nguyên Quán (pháp hiệu Đạo Thông, người xã Đại Hội, tỉnh Quảng Nam). Lúc đầu chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi ở và tu hành cho tổ. Chùa được vua Gia Long ban tặng bản “Sắc Tứ Long Huê Tự.” Chùa còn có nhiều tên hiệu khác như “Sắc Tứ Huệ Long Tự,” và “Ngự Tứ Quan Long Tự.” Dưới triều vua Thành Thái, chùa được trùng tu lại khang trang rộng rãi. Kiến trúc chùa hiện nay là mô hình trùng tu năm 1966. Hiện chùa vẫn còn giữ bản “Sắc Tứ Long Huê Tự” đời Gia Long và một dấu triện bằng ngà voi có khắc chữ “Tự Đức năm thứ 24”—Name of an ancient pagoda, located in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in the eighteenth century by Patriarch Nguyên Quán (his Dharma name is Đạo Thông; he was from Đại Hội village, Quảng Nam province). At first, the pagoda was only a small temple where the Patriarch stayed and worshipped the Buddha. It was offered the “Royal Recognized Long Huê Pagoda” Board by King Gia Long. Its other name are “Royal Recognized Huệ Long Tự,” and “Ngự Tứ Quan Long Tự.” Under King Thành Thái's reign, Long Huê Pagoda was rebuilt spaciously. The present structure results from the rebuilding in 1966. It still has conserved the “Royal Recognized Long Huê Pagoda” Board and an ivory sealon which are carved the words "T“enty-fourth year of King Tự Đức's reign.”

long hà

Tên khác của sông Ni Liên Thiền—Another name for the river Nairanjana. ; (龍河) Cũng gọi Ni liên thiền hà. Phạm:Nairaĩjanà. Pàli:Neraĩjarà. Chỉ cho sông Ni liên thiền, 1 chi nhánh của sông Hằng, cách nơi đức Phật thành đạo về phía đông không xa. Vì trong sông này có con rồng Già lăng già nên gọi là Long hà. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 229 hạ), nói: Nhặt ngọc châu trên Thứu sơn thì được điều chân thực, chọn của báu dưới Long hà thì gặp sự kì diệu. [X. Phá tăng sự Q.5]. (xt. Ni Liên Thiền Hà).

long hòa

Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Đất, Vũng Tàu Bà Rịa, Nam Việt Nam. Theo tài liệu của chùa thì chùa được xây dựng vào năm 1797, cùng thời với đình Thần Long Thạnh. Chùa đã trải qua các đời truyền thừa: Tổ Tâm Thông Huệ Liễu, tổ Hải Hội Chánh Niệm (1834-1905), tổ Thanh Kế Huệ Đăng (1873-1953). Chùa được tổ Huệ Đăng trùng tu vào năm 1929. Sau đó các vị trụ trì thuộc phái Lâm Tế—Name of a famous ancient pagoda located in An Thạnh hamlet, An Ngãi village, Long Đất district, Bà Rịa Vũng Tàu, South Vietnam. According to the documents of the pagoda, it was built in 1797, at the same time with the communal house of Long Thạnh village. It came through generations: Patriarch Tâm Thông Huệ Liễu, Patriarch Hải Hội Chánh Niệm (1834-1905), Patriarch Thanh Kế Huệ Đăng (1873-1953). It was rebuilt by Patriarch Huệ Đăng in 1929, then headed by the successive patriarchs of the Lin-Chi Sect.

long hưng

1) Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Sông Bé, chùa tọa lạc trong xã Hòa Định, huyện Bến Cát, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Đạo Trung Thiện Hiếu dựng lên vào thế kỷ thứ 18. Hồi xưa chùa chỉ là một cái am tranh nhỏ. Đến năm 1794 được nhân dân địa phương xây thành ngôi chùa lớn, thường gọi là Chùa Tổ. Tổ Thiện Hiếu còn được gọi là “Tổ Đỉa.” Theo lời truyền thì sư trị được đỉa trong vùng “Bưng Đỉa” để dân địa phương xuống bưng làm ruộng, biến vùng đất bỏ hoang thành ruộng lúa trù phú—Name of a famous ancient pagoda, located in Hòa Định village, Bến Cát district, South Vietnam. Long Hưng pagoda was founded by Patriarch Đạo Trung Thiện Hiếu in the eighteenth century. Formerly it was a thatched temple then turned into a big pagoda by the local people in 1794. At that time people called it Patriarch Pagoda, and gave Patriarch Thiện Hiếu a nickname that is “Patriarch Leech.” It was said that Patriarch knew how to treat the leeches from the leech swamp in order to help the local people go to the leech swamp for tilling. The uncultivated land, therefore, was changed into the fetile rice fields. 2) Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, chùa cách thị xã Long Xuyên chừng 54 dậm. Chùa còn có tên là chùa Giồng Thành. Chùa được Hòa Thượng Minh Lý xây dựng vào năm 1875 và đã được trùng tu nhiều lần để thành ngôi chùa khang trang rộng lớn như hôm nay. Chùa được xây theo chữ “Song Hỷ” gồm 3 gian: Chánh Điện, Giảng Đường và Hậu Tổ—Name of a temple, located in Long Sơn village, Phú Tân district, An Giang province, about 54 miles from Long Xuyên town. It is also called Giồng Thành Temple. It was first built by Most Venerable Minh Lý in 1875 and has been rebuilt many times before it became a magnificient and splendid one seen nowadays. The temple has its structure in “Song Hỷ” style, comprising three buildings: the Main Hall, the Auditorium or Lecture Hall, and the Patriarch Hall.

long hưng phật giáo biên niên thông luận

(隆興佛教編年通論) Cũng gọi Long hưng biên niên thông luận, Biên niên thông luận. Tác phẩm 29 quyển, do ngài Tổ tú soạn vào năm Long hưng thứ 2 (1164) đời Tống, được thu vào Vạn tục tạng tập 130. Nội dung sách này viết theo thể biên niên, nói về lịch sử truyền bá Phật giáo Trung quốc trong khoảng thời gian từ vua Minh đế (năm 65) nhà Đông Hán đến vua Hiếu tông (năm 1163) nhà Nam Tống. Đồng thời, tường thuật về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cao tăng qua các thời đại. Văn chính của sách này là 28 quyển, còn phụ thêm 1 quyển phần tựa do các vua: Thái tông, Chân tông, Nhân tông, Huy tông v.v... đời Tống ngự chế.

long hổ

Dragon and tiger.

long hộ

(龍戶) Long cung, nơi ở của loài rồng. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 205 thượng), nói: Luật hiển rõ thì tội lỗi tiêu mất; nếu như sân hận giảm thì phiền não nhẹ, sinh vào Long hộ.

Long Khoan

(隆寛, Ryūkan, 1148-1227): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu thời đại Liêm Thương, húy là Long Khoan (隆寛) vị Tổ của Đa Niệm Nghĩa (多念義) thuộc Dòng Trường Lạc Tự (長樂寺流), tên tục là Sơn Viễn Lý (山遠里, tên khi bị lưu đày), hiệu là Giai Không Phòng (皆空房), Vô Ngã (無我), Già Đà Ba La Ma (伽陀婆羅摩, ?), xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 3 của vị quan Thiếu Nạp Ngôn Đằng Nguyên Tư Long (少納言藤原資隆). Ông theo người chú Hoàng Viên (皇圓) và Phạm Nguyên (範源) ở trên Tỷ Duệ Sơn học Thiên Thai Tông, sau đó thì theo hầu Nguyên Không (源空), và đến năm 1204 thì được cho biên chép bộ Tuyển Trạch Tập (選擇集). Ông đến sống ở Trường Lạc Tự (長樂寺, Chōraku-ji) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), chủ trương về Đa Niệm Nghĩa, và đã từng cùng với Định Chiếu (定照) ở Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) luận tranh về Tuyển Trạch Tập. Vào năm 1227, ông bị đày tội và xử trảm. Trước tác của ông để lại có Di Đà Bổn Nguyện Nghĩa (彌陀本願義) 4 quyển, Nhất Niệm Đa Niệm Phân Biệt Sự (一念多念分別事) 1 quyển, Cụ Tam Tâm Nghĩa (具三心義) 2 quyển, Cực Lạc Tịnh Độ Tông Nghĩa (極樂淨土宗義) 2 quyển, Diệt Tội Kiếp Số Nghĩa (滅罪刼數義) 1 quyển, v.v.

long khám

(龍龕) Chỉ cho cỗ quan tài đặt di hài của bậc hiền thánh. Vì uy đức của bậc hiền thánh cũng như rồng, cho nên gọi là Long khám. Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ), nói: Truyền pháp xong (...) sau đó thị tịch, bốn chúng đặt chân thể của Đại sĩ vào long khám.

long khám thủ giám

(龍龕手鑒) Cũng gọi Long khám thủ kính. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Hành quân soạn vào đời Liêu, Trung quốc, được thu vào Tứ bộ tùng san tục biên kinh bộ. Nội dung sách này giải thích văn tự trong kinh luận, lấy bộ thủ và chữ của các bộ rồi theo 4 thanh mà xếp thứ tự trước sau, nói rõ hình chữ xưa và nay của các chữ cũng như phản thiết, tự nghĩa và chú thích âm nghĩa của từng chữ. Sách được hoàn thành vào năm Thống hòa 15 (997) đời vua Thánh tông nhà Liêu, gồm 26.430 chữ, chú giải 163.170 chữ. Vì sách này chưa được đưa vào Đại tạng kinh nên ít người biết đến. Năm Dân quốc 23 (1934), Thương vụ ấn thư quán ở Thượng hải xuất bản. Ngoài bản 4 quyển, còn có bản 8 quyển, được thu vào sách Tục Tự Hòa Dị Tự, thông dụng ở đời Tùy, Đường. Có thuyết cho rằng bản 8 quyển này được hoàn thành tại Triều tiên. [X. Kinh tịch phỏng cổ chí Q.2].

long kì

(隆琦) (1592-1673) Tổ khai sáng tông Hoàng bá Nhật bản, sống vào đời Minh, người Phúc châu, tỉnh Phúc kiến, họ Lâm, hiệu Ẩn nguyên. Năm 23 tuổi, sư đến núi Phổ đà lễ bồ tát Quán thế âm, rồi đến đạo tràng của Triều âm Động chủ giữ chức Trà đầu(người hầu trà). Niên hiệu Thái xương năm đầu (1620), sư đến núi Hoàng bá, y vào ngài Giám nguyên thọ xuất gia. Sau, sư đến chùa Hưng thiện ở huyện Gia hưng học kinh Pháp hoa, rồi đến chùa Bích vân ở núi Giáp thạch học kinh Lăng nghiêm. Năm Thiên khải thứ 4 (1624), sư được ngài Mật vân Viên ngộ truyền tâm ấn. Năm Sùng trinh thứ 6 (1633), sư nhận chức Tây đường ở núi Hoàng bá. Năm Sùng trinh thứ 10 (1637), sư kế thừa pháp tịch Hoàng bá, phát huy tông phong, phục hưng tổ đạo. Năm Thuận trị 11 (1654), đời Thanh, nhận lời mời của sư Dật nhiên, người Nhật, sư sang Nhật bản, trụ ở chùa Hưng phúc tại Trường kì (Nagasaki). Năm 1661, sư sáng lập chùa Vạn phúc ở núi Hoàng bá để xiển dương Thiền phong Hoàng bá. Sau, sư mở đàn truyền Đại giới. Sư được Nhật hoàng ban hiệu Đại Quang Phổ Chiếu Quốc Sư. Đệ tử nối pháp có 23 vị, như Vô đắc Tính ninh, Tuệ môn Tính bái, Tức phi Tính nhất, Tuệ lâm Tính cơ, v.v... Sư có các tác phẩm: Phổ chiếu quốc sư ngữ lục 3 quyển, Phổ chiếu quốc sư pháp ngữ 2 quyển, Tùng đường tập 2 quyển, Thái hòa tập 2 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.70; Chính nguyên lược tập Q.5; Phổ chiếu quốc sư niên phổ].

long lực bất khả tư nghị

(龍力不可思議) Năng lực không thể nghĩ bàn của loài rồng, 1 trong 5 bất khả tư nghị. Nghĩa là rồng có khả năng nổi mây làm mưa và thấm nhuần cả 4 thiên hạ bằng 1 giọt nước, cho nên gọi là Long lực bất khả tư nghị. [X. luận Đại trí độ Q.30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Bất Khả Tư Nghị).

long mãnh

See Nagarjuna.

Long Môn

龍門; C: lóngmén;|Hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, thuộc Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam. Cùng với Vân Cương và Ðôn Hoàng, Long Môn là một trong ba hang động có rất nhiều thánh tích Phật giáo. Năm 494 người ta đã bắt đầu xây dựng tại đây, sau khi dời đô về Lạc Dương. Long Môn có tổng cộng 2100 hang, 750 cốc với khoảng 40 ngôi chùa và 100.000 tượng. Các tượng trình bày Phật A-di-đà, Thích-ca Mâu-ni, các vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Di-lặc, Ðịa Tạng và nhiều vị Phật, Bồ Tát khác. Phần lớn tượng A-di-đà được khắc tạc vào đời Ðường, là lúc mà tông Tịnh độ thịnh hành nhất.

long môn

(龍門) Cửa rồng, nơi thiên nhiên hiểm yếu, do những ngọn núi đứng đối nhau tạo thành hình dáng cái cổng, nằm giữa dòng sông Hoàng hà thuộc địa phận huyện Tây an, tỉnh Thiểm tây và bờ sông Bình dương, thuộc tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Tương truyền, khi trị thủy, vua Vũ nhà Hạ đã cho đục dãy núi ở đây để nước sông Hoàng hà chảy qua. Lại theo truyền thuyết từ xưa, các loại cá hoặc ba ba trong sông, nếu có thể vượt qua được chỗ này thì sẽ hóa thành rồng, cho nên từ ngữ Long môn còn mang ý nghĩa là cửa lập thân xuất thế, hoặc được dùng để ví dụ danh vọng cao sang. Bởi thế tục ngữ đã có câu: Vượt được cửa rồng, danh dự gấp trăm. Trong Thiền lâm, Long môn được sử dụng để chỉ cho bậc thầy ưu việt, danh vọng lẫy lừng với cơ pháp hiểm yếu; nếu người học đạo có khả năng vào được cửa của bậc thầy này, thì tương lai chắc chắn sẽ thành Phật, làm Tổ. [X. phần Tuyết đậu niêm cổ trong Tổ đình sự uyển Q.2; Đại minh nhất thống chí Q.20; Đại thanh nhất thống chí Q.99; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.41].

long môn thanh viễn

Thiền sư Long Môn Thanh Viễn Phật Nhãn (?-1120)—Zen master Lung-Men-Ch'ing-Yuan-Fo-Yen. • Thiền sư Trung Hoa, trước theo học luật; về sau, nhân đọc kinh Pháp Hoa đến đoạn “Thị pháp phi tư lương phân biệt chi sở năng giải (pháp nầy vượt ngoài lãnh vực của tư duy và phân biệt).” Điều nầy gây xúc động ở sư, nên sư kiếm giảng sư của mình và hỏi pháp siêu việt tri thức đó là gì. Giảng sư không soi sáng nổi cho sư, sư mới thấy rằng nghĩa học và danh tướng không phải là duyên cớ để giải quyết việc lớn sinh tử—Chinese Zen master who was first a student of Vinaya; later, when reading the Lotus Sutra, he came across the passage, “This Dharma is something that goes beyond the realm of thought and discrimination.' This impressed him, so he came to his teacher and asked what was this Dharma transcending intelligence. The teacher failed to enlighten him, who then saw that mere learning and scholarship could not solve the ultimate problem of this existence subject to birth and death. • Rồi sau đó Phật Nhãn du hành sang Nam để tham kiến Pháp Diễn (see Pháp Diễn Thiền Sư). Nhân khi đi xin ăn ngang qua xứ Lư Châu, trợt chân té nhào xuống. Trong cơn đau đớn, thoảng nghe hai người chữi lộn nhau, người đứng can bảo, “Vậy là tôi thấy hai ông vẫn còn ôm ấp những phiền não.” Tức thì sư tỉnh ngộ. Nhưng hễ khi sư có điều gì muốn hỏi Pháp Diễn thì Pháp Diễn cứ trả lời: “Ta không thể hơn ngươi; cứ tự mình mà hiểu lấy.” Có khi Pháp Diễn bảo: “Ta không hiểu; Ta không thể hơn ngươi.” Lối nhận xét ấy càng khiến cho Thanh Viễn muốn biết về Thiền. Sư nhất định nhờ Nguyên Lễ thủ tòa giải quyết vấn đề, nhưng Nguyên Lễ kéo tai sư vừa đi quanh lò lửa vừa báo 'tốt hơn hết là ông cứ tự hiểu lấy.' Thanh Viễn gằng giọng: “Nếu thật có Thiền sao không khui bí mật ra cho tôi? Thế mà ông lại lấy làm trò đùa sao?” Tuy nhiên, Lễ bảo sư: “Mai sau ông sẽ tỏ ngộ mới hay cái quanh co nầy.”—Fo-Yen now travelled south in order to see Fa-Yen of T'ai-P'ing. While begging through the country of Lu, he stumbled and fell on the ground. While suffering pain, he overheard two men railing at each other, when a third one who interceded remarked, 'So I see the pasions stil cherished b both of you.' He then had a kind of enlightenment. But to whatever questions he asked Fa-Yen, the answer was, 'I cannot surpass you; the thing is to understand all by yourself.' Sometimes Fa-Yen said, 'I do not understand myself, and I cannot surpass you.' This kind of remark incited Ch'ing-Yuan's desire all the more to know about Zen. He decided get the matter settled by his senior monk Yuan-Li, but Li pulled him by the ear and going around the fire place kept on saying, 'The best thing is to understand all by yourself.' Ch'ing-Yuan insisted: 'If there is really such a a thing as Zen, why not uncover the secret for me? Otherwise, I shall say it is all a trick.' Li, however, told him: 'Some day you will come to realize all that has been going on today between you and me.' • Khi Pháp Diễn rời khỏi Thái Bình, Thanh Viễn từ giả ngài, và trải qua mùa kiết hạ ở Tương Sơn, ở đây sư kết bạn thâm giao với Linh Nguyên Thiền Sư. Bấy giờ Thanh Viễn xin chỉ giáo rằng: “Gần đây, tôi có biết một vị tôn túc ở đô thành, những lời của ngài hình như hợp với tri thức của tôi rất nhiều.” Nhưng Linh Nguyên khuyên sư hãy đến với Pháp Diễn, ngài vốn là vị tôn sư bậc nhất trong thiên hạ, và nói thêm rằng những ai mà lời nói nghe ra như dễ hiểu, họ chỉ là ông thầy tri giải chớ không phải là những Thiền sư thật sự—When Fa-Yen moved away from T'ai-P'ing, Ch'ing-Yuan left him, and spent the summer at Ching-Shan, where he got very well acquainted with Ling-Yuan. Ch'ing-Yuan now asked his advice, saying, 'Lately, I have come to know of a master in the city whose sayings seem to suit my intelligence much better.' But Ling-Yuan persuaded him to go to Fa-Yen who was the best of Zen masters of the day, adding that those whose words he seemed to understand best were merely teachers of philosophy and not real Zen masters. • Thanh Viễn theo lời khuyên của bạn, trở về với thầy cũ. Vào một đêm lạnh, sư ngồi một mình và cố khêu sáng đống tro trong lò lửa thử xem có còn lại một chút than đỏ nào không, sư thấy tận dưới đống tro có một cục than nhỏ xíu bằng hạt đậu. Sư tự nhủ rằng lý của Thiền cũng tự khơi mở y như đào sâu xuống tảng đá của tâm thức. Sư đặt quyển sử Thiền gọi là Truyền Đăng Lục trên bàn, mở mắt nhìn vào tiểu sử của Phá Táo Đọa, bỗng dưng tâm trí khai thông mà được chứng ngộ—Ch'ing-Yuan followed his friend's advice, and came back to is former master. One cold night he was sitting alone and tried to clear away the ashes in the fire-place to see if there were any piece of live charcoal left. One tiny piece as large as a pea happened to be discovered way down in the ashes. He then reflected the truth of Zen would also reveal itself as one dug down the rock-bed of consciousness. He took up the history of Zen known as the Transmission of the Lamp from his desk, and his eye fell upon the story of the P'o-Tsao-To (broken range), which unexpectedly opened his mind to a state of enlightenment. • Sau khi đại ngộ, sư làm một bài kệ như sau—After this great enlightenment, he composed the below verse: Chim rừng hót líu lo Khoát áo ngồi đêm thâu Khơi lửa, bình sinh tỏ Quẩn trí thành bếp đổ. Việc sáng nhưng người mù Khúc nhạc ai hòa ca Nghĩ đến khăng khăng nhớ Cửa mở, ít người qua. (Điêu điêu lâm điểu đề Phi y chung dạ tọa Bát hỏa ngộ bình sinh Sự hạo nhân tự mê Khúc đạm tùy năng họa Niệm chi vĩnh bất vong Môn khai thiểu nhân quá). The birds are too-tooing in the woods, with the garment covered up I sit alone all night. A tiny piece of live charcoal deeply buried in the ashes tells the secret of life: The cooking range is broken to pieces when the spirit knows where to return. Revealed everywhere shines the truth, but men see it not, confused is the mind; Simple though the melody is, who can appreciate it? Thinking of it, long will its memory abide with me; Wide open is the gate, but how lonely the scene! Sư thị tịch năm 1120—He passed away in 1120.

long môn thạch quật

(龍門石窟) Quần thể hang động núi Long môn. Những hang động này nằm ở núi Long môn(núi Tây)và núi Hòa hương(núi Đông) trên 2 bờ cửa sông Y hà, cách huyện Lạc dương, tỉnh Hà nam, Trung quốc, 14 cây số về phía nam. Đá núi Long môn thuộc loại đá hoa Đại lí, vì cửa hang núi có hình dáng giống như cái cổng nên từ xưa đã được gọi là Y khuyết thạch quật. Núi Long môn được xoi đục thành những hang động, trong hang động có khắc những cỗ khám và tượng Phật, cho nên cũng gọi là Long môn khám, Y khuyết Phật khám. Quần thể hang động này cùng với hang động Mạc cao, hang động Vân cương được gọi là 3 kho báu lớn về nghệ thuật hang động của Phật giáo Trung quốc đời xưa. Sự nghiệp xoi đục hang động trước tiên được bắt đầu ở núi Vân cương tại Đại đồng vào đầu đời Bắc Ngụy, đến năm Thái hòa 18 (494), sau khi Hiếu văn đế nhà Bắc Ngụy dời đô từ Đại đồng về Lạc dương và, để truy niệm công tích của Tiên đế, việc kiến tạo hang động cũng được dời từ Vân cương đến Long môn, từ đó, công tác khai mở hang động và tạc tượng Phật lại được bắt đầu tại núi Long môn. Trải qua các triều đại Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Bắc Tề, Tùy, Đường, Ngũ đại, Bắc Tống, Kim, cho mãi đến cuối đời Thanh, trước sau hơn 1.000 năm, trong các tác phẩm tượng đá được khắc tạo thì: Bắc Ngụy chiếm 30%, Đường chiếm 60%, được phân bố trên vách đá của 2 núi Đông và Tây. Có hơn 30 hang động lớn và phần nhiều nằm ở núi Tây, hiện còn 2.100 cỗ khám thờ Phật, hơn 10 vạn tượng Phật, 2.700 tấm bia và trên 40 tòa tháp Phật. Trong đó, tác phẩm đời Đường, nhất là thời Vũ tắc thiên, là nhiều nhất. Đa số các hang động ở đây đều có liên quan đến việc cầu phúc của các Đế vương. Như động Cổ dương (cũng gọi là động Lão quân) ở núi Tây, là hang động xưa nhất, được khai tạo vào khoảng năm Thái hòa đời Bắc Ngụy, là nơi tập trung công việc khai khám tạc tượng của các Vương công quí tộc và tướng lãnh cao cấp. Động này (Cổ dương) rộng khoảng 7 mét, cao, sâu khoảng 10 mét, phía sau động nửa hình tròn (demi-cercle). Trên vách bên trái có cỗ khám thờ tượng đức Di lặc được khắc vào năm Thái hòa 19 (495), bên trong khám có khắc bài minh, là bài văn khắc vào đá xưa nhất hiện còn tại Long môn. Động Tân dương do vua Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy khai tạo để hồi hướng công đức cho cha mẹ là vua Hiếu văn đế và Hoàng thái hậu Văn chiêu. Động này rộng khoảng 12 mét, sâu khoảng 11 mét, tượng đức Bản tôn Thích ca ngồi ở vách phía sau, nét mặt mỉm cười, tướng hảo uy nghi, vòng hào quang sau lưng có hình viên ngọc khuê và được trang nghiêm bằng hoa sen với các ngọn lửa. Trên mặt bức vách giữa động khắc 5 tượng Phật Thích ca ngồi, 3 tượng đứng, trên nóc động trang trí hoa văn hình hoa sen, tượng thiên thần bay, trên mặt đất cũng khắc hoa văn hình hoa sen, hình vằn rùa; trên vách phía trước khắc các bức tranh các Hoàng phi đứng xếp hàng lễ bái, nét chạm trổ rất sống động. Trên vách 2 bên cửa động có khắc tượng Nhân vương (vua nhân từ) khí thế rất hùng vĩ. Động Y khuyết (cũng gọi động Liên hoa) rộng khoảng 6 mét, sâu 10 mét, phía sau cũng nửa hình tròn giống như động Cổ dương. Ở giữa vòm nóc động khắc 1 hoa sen lớn, có 6 thiên thần bay vòng quanh, nét khắc rất tinh xảo đẹp đẽ, chính vì thế mà động này được gọi là động Liên hoa. Chùa Phụng tiên là hang đá lộ thiên, qui mô hoành tráng, chia làm 2 khu trong và ngoài. Khu trong rộng khoảng 38 mét, sâu 23 mét; khu ngoài rộng khoảng 36 mét, sâu 14 mét, là hang đá có qui mô lớn nhất, tiêu biểu cho nghệ thuật hang đá đời Đường. Ở chính giữa bức vách phía sau khắc tượng đức Phật Lô xá na ngồi, cao khoảng 16 mét, tướng hảo trang nghiêm, thân hình to lớn, tóc dợn sóng, nếp áo mềm mại, nhưng hiện nay 2 tay không còn, 2 chân cũng bị phá hại. Đài tòa gồm 3 tầng hoa sen, trên mỗi cánh sen có khắc tượng Phật nhỏ, tượng trưng cho Liên hoa tạng thế giới. Phía sau tầng hoa sen ở giữa, chung quanh có khắc hình nổi hóa Phật, phi thiên, hỏa viêm, cực kì tráng lệ, đây là pho tượng Phật đẹp nhất, lớn nhất ở Long môn. Hai vị Bồ tát, Ca diếp, A nan đứng hầu 2 bên Đại Phật cao hơn 11 mét, mũ báu, chuỗi ngọc của các vị Bồ tát rất tinh xảo. Trên 2 vách ở 2 bên cửa vào có tượng Kim cương lực sĩ cao khoảng 10 mét và tượng 2 thần vương cao khoảng 11 mét, khí tượng hùng hồn, oanh liệt, trông giống như thật. Nói tóm lại, đặc điểm phong cách của các hang động trên đây, hình dạng thì đơn thuần, ít biến hóa, đề tài cũng đơn giản sáng sủa, tập trung vào chủ đề đột xuất. Ngoài những hang động nêu ở trên, còn có động Dược phương, động chùa Kính thiện, Đại động, Phá động, Tháp động, động Vĩnh long (động Vạn Phật), động Nam cực, v.v... Trong các động ở núi Đông, nổi tiếng nhất là Thạch quật tự, có động bên trái và động bên phải. Động bên trái rộng khoảng 9 mét, sâu hơn 6 mét; động bên phải rộng độ 7 mét, sâu 6 mét, đều là tác phẩm đời Đường. Ngoài ra, ở phía bắc núi Đông còn có chùa Hương sơn rất nổi tiếng, thi hào Bạch cư dị từng đã trụ ở chùa này. Đá Long môn thuộc loại đá hoa cứng, nhẵn, lại nghiêng khoảng 30 độ, nên rất khó đục thành những hang động lớn, vì thế vòm nóc (thiên tỉnh: giếng trời) đều được tạo hình dáng khum khum. Hình thức tạo dựng chịu ảnh hưởng của Kiện đà la và Cấp đa của Ấn độ, được dung hòa với phong cách Trung quốc. Chẳng hạn như tượng Phật trong các hang động thời Bắc triều, chủ yếu là tượng Phật Thích ca, Phật Di lặc và tượng Phật Thích ca ngồi ngang hàng với Phật Đa bảo, Phật Tam thế và 7 Phật quá khứ. Tượng Phật nói chung, thân hình đều to lớn, môi dày, mũi cao, tuy biểu hiện phong cách họ Thác bạt, nhưng đã có khuynh hướng tạo hình dáng người Hán hơn là các tượng ở hang đá Đại đồng. Thời Tùy, Đường, tượng Phật ngồi phần nhiều là tượng A di đà, tượng Di lặc, tượng Lô xá na, tượng Dược sư, v.v... phảnánh sự hưng khởi của tông Tịnh độ đời Đường và xu hướng thông tục hóa nghệ thuật tạo tượng hang động. Vẻ mặt tượng Phật ởthời kì này rất đẹp, nếp áo mềm mại; tóc Phật phần nhiều là hình dáng nước xoáy, rất ít dợn sóng. Còn tượng đứng hầu 2 bên tượng Bản tôn, phần nhiều là 2 vị La hán, 2 vị Bồ tát đây là đặc sắc của nghệ thuật điêu khắc ở thời Tùy, Đường. Nghệ thuật Phật giáo Trung quốc từ thời Bắc Ngụy đến giữa đời Đường cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với mĩ thuật Phật giáo Nhật bản. Ngoài ra, những bài minh được khắc trên những tấm bia đá rải rác trong các hang động là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu chữ viết của Trung quốc, đồng thời cũng là 1 bộ biên niên sử về tư liệu hang động. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39, 44, 53; Lạc dương già lam kí Q.5; Quảng hoằng minh tập Q.2; Cổ kim đồ thư tập thành thần dị điển thứ 61; Chi na Phật giáo sử tích Q.2; Phật giáo nghệ thuật luận tập (Hiện đại Phật giáo học thuật tuần san 20)].

Long Nha Cư Độn

(龍牙居遁, Ryūge Kodon, 835-923): xuất thân vùng Nam Thành (南城), Phủ Châu (撫州, Tỉnh Giang Tây), họ là Quách (郭). Năm lên 14 tuổi, ông xuất gia ở Mãn Điền Tự (滿田寺), Cát Châu (吉州, Tỉnh Giang Tây). Sau đó, ông đến Tung Nhạc (嵩岳) thọ giới và đi tham quan các nơi. Ông đã từng đến tham vấn Thúy Vi (翠微), Đức Sơn (德山), sau đó đến tham vấn Động Sơn Lương Giới (洞山良价) và kế thừa dòng pháp của vị này. Thể theo lời thỉnh cầu của nhà họ Mã, ông đến sống tại Diệu Tế Thiền Uyển (妙濟禪苑) thuộc Long Nha Sơn, và được ban hiệu là Chứng Không Đại Sư (証空大師). Vào ngày 13 tháng 9 năm thứ 3 (923) niên hiệu Long Đức (龍德) nhà Lương, ông thị tịch, hưởng thọ 89 tuổi.

Long Nha Cư Độn

龍牙居遁; C: lóngyō jūxún; J: ryūge koton; 834/835-920/ 923;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. Môn đệ của Sư có 5 người đắc pháp.|Sư quê ở Giang Tây, xuất gia lúc còn nhỏ. Sau, Sư chu du đây đó, học hỏi các vị Thiền sư danh tiếng đương thời như Thuý Vi Vô Học, Ðức Sơn Tuyên Giám, Lâm Tế Nghĩa Huyền và cuối cùng dừng nơi Ðộng Sơn. Một hôm, Sư hỏi Ðộng Sơn: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Ðộng Sơn bảo: »Ðể khi nước suối Ðộng Sơn chảy ngược ta sẽ nói cho ngươi nghe.« Nhân câu này, Sư ngộ đại ý. |Sau khi dao du tám năm, Sư đến Long Nha trụ trì, môn đệ không dưới 500.

long nha tây lai ý

(龍牙西來意) Cũng gọi Long nha quá bản. Tên công án trong Thiền lâm. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa các ngài Long nha Cư độn, Thúy vi Vô học và Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Tắc 20 Bích nham lục nói, ngài Long nha hỏi ngài Thúy vi (Đại 48, 160 thượng): Ý của Tổ sư từ phương Tây đến là thế nào? Ngài Thúy vi đáp: Đưa Thiền bản lại đây cho ta. Long nha đưa Thiền bản cho Thúy vi, Thúy vi cầm Thiền bản liền đánh. Long nha nói:Đánh thì cứ đánh, nhưng chẳng có ý Tổ sư từ phương Tây đến. Long nha lại hỏi Thiền sư Lâm tế: Thế nào là ý của Tổ sư từ phương Tây đến? Ngài Lâm tế nói: Đưa bồ đoàn lại đây cho ta. Long nha đưa bồ đoàn cho Lâm tế, Lâm tế cầm bồ đoàn liền đánh. Long nha nói: Đánh thì cứ đánh, nhưng không có ý của Tổ sư từ phương Tây đến. [X. Tắc 80, Thung dung lục].

long nhiễu

Tên một ngôi chùa tọa lạc trong thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được khai sơn từ cuối thế kỷ thứ 19, là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của thành phố Sài Gòn. Kiến trúc chùa hiện nay là được xây vào năm 1968. Trong chùa có nhiều tượng cổ, trong đó có tượng Hộ Pháp cao 1 mét 7—Name of a temple located in Thủ Đức town, Thủ Đức district, Sài Gòn City, South Vietnam. Long Nhiễu Pagoda was founded in the late nineteenth century. It is one of the famous ancient pagoda of Saigon City. It has still kept a lot of old statues. The present architecture results from the construction in 1968. There are many old statues, including the statue of Dharma Guardian, 1.7 meters high.

long não bát vu

(龍腦鉢盂) Vốn là cái bát được làm bằng gỗ cây long não, sau, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho vị tăng giữ gìn giới luật nghiêm cẩn. Cứ theo Thần khuê các bi trong Đông pha tập 33, Thiền sư Hoài liễn (1009-1090) đời Tống, giữ giới rất nghiêm, vua Nhân tông ban cho sư 1 chiếc bát bằng gỗ long não, sư đem đốt ngay chiếc bát ấy trước mặt sứ giả và nói rằng: Người xuất gia mặc áo hoại sắc, dùng bát sắt, bát sành, bát long não không đúng pháp, vì thế phải đốt đi. Sứ giả về triều tâu lại, vua Nhân tông rất mực kính trọng sư. Từ đó, Long não bát vu được dùng để chỉ cho vị tăng giữ gìn giới luật một cách nghiêm cẩn.

long não hương

(龍腦香) Phạm:Karpùra. Pàli:Kappùra. Hán âm: Yết bố la, Kiếp bố la. Cũng gọi Phiến não. Tên khoa học: Dryobalanops camphora, hoặc Shorea camphorifera. Một loại hương liệu được chế từ cây long não. Loại cây này sinh sản ở miền Nam Ấn độ, Sumatra, bán đảo Đông nam và miền Nam Trung quốc. Long não thuộc loại cây cao từ 40 đến 60 mét, lá xanh quanh năm, hình tròn quả trứng, mọc cặp đôi, đầu lá nhọn, hoa màu trắng rất thơm. Điều Mạt la củ tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10, cho rằng cây Yết bố la giống như cây tùng nhưng lá thì khác, mùi thơm của nó gọi là Long não hương, dáng như vân mẫu (mica), màu trắng như tuyết. Loại tuyệt diệu gọi là Mai hoa long não. Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5 phần đầu của ngài Tuệ chiểu nói: Bà luật cao hương tức là dầu hương long não. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3; điều Long não hương trong Tăng quảng bản thảo cương mục Q.34; Giác thiền sao hương dược sao]. (xt. Ngũ Hương).

Long nữ

(龍女): nguyên là con gái của Long Vương Bà Kiệt La (s: Sāgara, 娑竭羅), là thị giả cho Bồ Tát Quán Thế Âm, thường xuyên hầu hạ hai bên Bồ Tát với Thiện Tài Đồng Tử. Trong Phẩm Đề Bà Đạt Đa (提婆達多品) thứ 12 của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (妙法蓮華經, Taishō Vol. 9, No. 262) quyển 4 cho biết rằng năm lên 8 tuổi Long Nữ đã thành thục căn lành, lên Linh Thứu Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 靈鷲山), dâng hạt châu báu cúng dường đức Phật, trãi qua mọi chất vấn của Tôn Giả Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) và hiện tướng thành Phật tại Hội Pháp Hoa. Long Nữ thể hiện tánh từ bi của Phật Giáo, thường phụ tá Bồ Tát Quán Thế Âm cứu độ chúng sanh trong Sáu Đường; thị hiện thân tiểu đồng nữ, giống như Thiện Tài. Dân gian cho rằng Long Nữ là rắn hóa thành rồng, nhưng thật sự không phải như vậy. Trong đồ hình Quán Âm, có hình tiên nữ tuyệt đẹp đứng hầu bên Bồ Tát, chính là Long Nữ. Thiện Tài Đồng Tử và Long Nữ được gọi chung là Kim Đồng Ngọc Nữ (金童玉女). Trong Hoa Nghiêm Kinh Hợp Luận Giản Yếu (華嚴經合論簡要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 4, No. 225) quyển 2 có câu rằng: “Tiệm tiệm dẫn chí Long Nữ Thiện Tài, nhất niệm chi trung đắc thành Phật giả (漸漸引至龍女善財、一念之中得成佛者, dần dần dẫn đến Long Nữ Thiện Tài, chỉ trong một niệm chứng đắc thành Phật).” Hay trong Pháp Hoa Kinh Đại Ý (法華經大意, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 31, No. 609) quyển 1 lại có đoạn: “Đốn kiến cổ Phật toàn thân, quán Long Nữ chi hiến châu, tật vãng Vô Cấu thế giới, hà sa chi giới bất cách (頓見古佛全身、觀龍女之獻珠、疾往無垢世界、河沙之界不隔, chợt thấy cổ Phật toàn than, quán thấy Long Nữ dâng châu, nhanh qua thế giới Vô Cấu, hà sa cõi nước không cách).”

long nữ

Nagakanya (skt)—Người con gái của Long Vương Sa Kiệt La dưới đáy biển; Long Nữ được Đức Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa, dù là nữ và mới có 8 tuổi, nàng đã thành Phật—Dragon-maid—A naga maiden, daughter of sagar-nagaraja, the dragon king at the bottom of the ocean; she is presented in the Lotus sutra, though a female and only eight years old, as instantly becoming a Buddha, under the tuition of Manjusri.

long nữ hiến châu

(龍女獻珠) Long nữ dâng viên bảo châu cúng đức Phật, biểu thị việc chứng quả viên mãn. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ có 1 viên ngọc báu, giá trị bằng 3 nghìn đại thiên thế giới, dâng lên cúng dường đức Phật, Phật liền nhận. Long nữ nói với bồ tát Trí tích và tôn giả Xá lợi phất rằng (Đại 9, 35 hạ): Tôi dâng cúng viên ngọc báu, đức Thế tôn nhận, việc ấy có mau không? Đáp: Mau lắm. Long nữ nói: Các ngài hãy dùng sức thần xem tôi thành Phật còn mau hơn việc ấy.

long nữ thành phật

A Naga maiden becomes a Buddha—See Long Nữ. ; (龍女成佛) Chỉ cho Long nữ 8 tuổi nhờ công đức thụ trì kinh Pháp hoa mà thành Phật. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ là con gái của vua rồng Sa kiệt la, mới có 8 tuổi mà trí tuệ sắc bén, có khả năng thụ trì bí tạng sâu xa của Phật, trong khoảng giây lát phát tâm bồ đề, liền được bất thoái chuyển (không sụt lui). Long nữ lại dâng cúng đức Phật 1 viên ngọc quí, nhờ công đức ấyliền được chuyển thân nữ thành thân nam, đầy đủ hạnh Bồ tát. Trong khoảng sát na, trụ ở thế giới Vô cấu tại phương Nam, ngồi trên hoa sen báu, thành Đẳng chính giác, đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, nói pháp cho tất cả trời người. Bồ tát, Thanh văn, Thiên long bát bộ, nhân, phi nhân, v.v... ở thế giới Sa bà, từ xa trông thấy Ngài đều vui mừng kính lễ. Ở Ấn độ cổ đại, địa vị của người phụ nữ rất thấp. Phật giáo Tiểu thừa cho rằng thân người phụ nữ nhơ nhớp, không thể thành Phật, nhưng Phật giáo Đại thừa thì chủ trương tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật, cho nên trong kinh nói người phụ nữ có thể chuyển thành thân nam mà thành Phật. Bởi thế, về phương diện lí luận tu hành, thuyết Long nữ thành Phật đã cho thấy rõ sự phát triển của Phật giáo Đại thừa. [X. kinh Tu ma đề bồ tát; phẩm Nữ bảo cẩm thụ quyết trong kinh Hải long vươngQ.3; phẩm Bát hiền thánh trai trong kinh Bồ tát xử thai Q.7; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.8 phần cuối]. (xt. Nữ Nhân Vãng Sinh).

long phương

The dragon-quarter. ; (龍方) Long phương (phương rồng) có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho phương Bắc, vì trong Ngũ hành, phương Bắc thuộc về thủy, cho nên được gọi là Long phương. 2. Tên khác của phương Tây. Trong Mật giáo, vị trời giữ gìn, che chở phương Tây là Thủy thiên, Thủy thiên là thủ lãnh của loài rồng, cho nên phương Tây (tức phương Thủy thiên) được gọi là Long phương. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 thượng), nói: Các Đại thần, Biện tài và Tì nữu (...) đều ở Long phương (phương Tây), khi vẽ không được bỏ sót và lầm lẫn.

long phấn tấn tam muội

Phép tam muội long phấn tấn. Sức của tam muội nầy mau lẹ, dũng mãnh như sức mạnh của loài rồng, hiện ra uy lực rất dũng mãnh—A samadhi powerful like the dragon; abstract meditation which results in great spiritual power. ; (龍奮迅三昧) Chỉ cho tam muội (chính định) hiện ra uy lực dũng mãnh, thần tốc như loài rồng. Chương Mã minh đại sĩ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 1 (Đại 51, 209 hạ) nói: Truyền trao pháp xong, Ngài liền vào Long phấn tấn tam muội.

long quang thuỵ tượng

(龍光瑞像) Tượng hiếm có thờ ở chùa Long quang. Chỉ cho pho tượng Phật Thích ca bằng gỗ chiên đàn, do vua Ưu điền, người Ấn độ, sai thợ tạc, được thờ ở chùa Long quang tại Trung quốc. Tương truyền, ngài Cưu ma la diễm, thân phụ của ngài Cưu ma la thập, muốn mang tượng nàytừ Ấn độđến Trung quốc, dọc đường đến nước Cưu tư thì sinh ra ngài La thập. Về sau, tượng này được ngài La thập mang đến Trung quốc, thờ ở chùa Long quang tại Giang nam, vì thế gọi là Long quang thụy tượng. Đến đời Tùy, tượng được rước về chùa Trường lạc. Về sau, trải qua nhiều đời, đến năm Diên hựu thứ 3 (1316) đời vua Nhân tông nhà Nguyên, tượng được cung nghinh về thờ ở điện Chiên Đàn Thụy Tượng của chùa Đại thánh vạn an tại Yên kinh. Hiện nay, không biết tượng được yên trí ở đâu. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 2; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ phần 3; Thích thị kê cổ lược Q.4]. (xt. Chiên Đàn Thụy Tượng, Long Quang Tự).

long quang tự

(龍光寺) Chùa ở chân núi Phúc chu, thuộc Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc, do Hoàng hậu Cung tư sáng lập vào đời Đông Tấn. Mới đầu, chùa có tên là Thanh viên. Năm Nghĩa hi thứ 5 (409), ngài Trúc đạo sinh từ Trường an trở về Kiến khang, được mời trụ ở chùa này. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, ngài Trúc đạo sinh và ngài Tuệ nghiêm thỉnh ngài Phật đà thập dịch Sa di tắc Ngũ phần luật. Vua Văn đế rất kính trọng ngài Đạo sinh, các nhà hiền sĩ như Vương hoằng, Phạm thái, Nhan diên chi, v.v... đều đến hỏi đạo. Về sau, ngài Đạo sinh đề xướng thuyết Xiển đề thành Phật, bị những tăng sĩ thủ cựu bài bác, nên ngài phải bỏ chùa mà đi. Mùa hạ năm ấy, điện Phật chấn động mạnh, có 1 con rồng bay lên trời, ánh sáng của rồng chiếu rọi vào bức vách phía Tây, từ đó chùa được đổi tên là Long quang. Năm Hàm thông thứ 2 (861), đời Đường, vua ban tấm biển chùa là Long Quang Viện. Tương truyền, pho tượng Phật Thích ca tạc bằng gỗ chiên đàn, đầu tiên do ngài Cưu ma la thập đưa đến Trung quốc, đến năm Nghĩa hi 11 (415), đời Đông Tấn, Lưu dụ tiến đánh Trường an lấy được và đem về thờ ở chùa này. [X. Phật tổ thống kỉ Q.15, 36; Lương cao tăng truyện Q.3, 7, 10, 13, 14; Tục cao tăng truyện Q.6,7,9; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Kim lăng phạm sát chí Q.48].

long quang vương phật

(龍光王佛) Phật Long quang vương ở quá khứ rất lâu xa. Cứ theo kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng, cách nay 10.000 kiếp vào thời đức Phật Long quang vương ở quá khứ, vua Ba tư nặc nước Xá vệ đã là Bồ tát Tứ địa và đức Thích tôn là Bồ tát Bát địa trong Chính pháp của đức Phật này.

Long Quân

龍軍; S, P: nāgasena;|Tên dịch nghĩa của Na-tiên tỉ-khâu.

long quân

See Nagasena in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

long súc

(龍畜) Chỉ cho loài rồng, thuộc loài súc sinh trong 6 đường nên gọi là Long súc. Bài tựa trong Kim sư tử chương (Đại 45, 667 trung), nói: Giả sử những người mang thân long súc mà ngộ đạo thì con số ấy có được 1 vạn chăng?

long thang

Hoàng Long Thang—Súp rồng, một vị thuốc chế ra từ phân và nước tiểu của người và gia súc, dùng cho cả Tăng lẫn tục—Dragon soup, a purgative concocted of human and animal urine and excrement. ; (龍湯) Cũng gọi Hoàng long thang, Đại hoàng thang, Hoàng thang. Loại thuốc làm bằng phân người, phân súc vật, là 1 trong các loại trần khí dược (thuốc người ta đã vứt bỏ). Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại54, 225 thượng), nói: Có nơi phong tục bỉ lậu, lưu hành đã lâu đời, hễ bị bệnh thì uống phân, nước tiểu; thân thể không được khỏe thì ăn phân lợn (heo), phân mèo đựng trong vò, hoặc trong hũ, gọi là Long thang. [X. Nam sơn yết ma sớ Q.3 hạ]. (xt. Trần Khí Dược).

long thiên

1) Rồng và Trời hay Long chúng và Thiên chúng: Dragon king and Devas—See Thiên Long Bát Bộ. 2) Long Thọ Bồ Tát: Nagarjuna Bodhisattva. 3) Thiên Thân Bồ Tát: Vasubandhu Bodhisattva. ; (龍天) I. Long Thiên. Danh hiệu của 1 đức Phật ở đời quá khứ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 hạ), chép: Đức Phật bảo tôn giả A nan: Thủa xưa, cách nay vô lượng số kiếp không thể nghĩ bàn (...) có đức Như lai tên là Quang viễn (...), đức Như lai kế tiếp hiệu là Long thiên. II. Long Thiên. Chỉ cho Long chúng và Thiên chúng trong 8 bộ chúng, là những vị thiện thần hộ trì Phật pháp. [X. kinh Thiên thủ Quan âm]. III. Long Thiên. Từ gọi chung 2 bồ tát Long thụ và Thiên thân (Thế thân).

long thiên bát bộ

See Thiên Long Bát Bộ.

long thiền

Tên một ngôi cổ tự, tọa lạc bên bờ sông Đồng Nai, thuộc ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên từ năm 1664. Theo bộ “Thiền Sư Việt Nam” của Hòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ, chùa được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 17, do Hòa Thượng Thành Nhạc Ẩn Sơn (đời thứ 34 phái Lâm Tế). Hiện tại vị trụ trì là Hòa Thượng Thích Huệ Thành, nguyên là Tăng Thống Phật Giáo Truyền Thống Việt Nam—Name of a famous ancient pagoda, located on the bank of Đồng Nai River, in Bửu Hòa quarter, Biên Hòa City, South Vietnam. The pagoda was built in 1664. According to “Thiền Sư Việt Nam” composed by Ch'an Master Thích Thanh Từ, the pagoda was built in the late 17 century by disciple of Most Venerable Thành Nhạc Ấn Sơn (from the 34th generation of the Lin-Chi Sect). Presently Most Venerable Thích Huệ Thành is Head of Long Thiền Pagoda. He was the Chairman of Vietnamese Traditional Buddhism.

long thí bồ tát bản khởi kinh

(龍施菩薩本起經) Cũng gọi Long thí kinh, Long thí nữ kinh, Long thí bản khởi kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này ghi chép việc bồ tát Long thí ở trước đức Phật thuật lại nhân duyên tiền kiếp của mình là nàng Long thí đã xả thân để cầu pháp Đại thừa. (xt. Long Thí Nữ Kinh).

long thí nữ kinh

(龍施女經) Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật đi đến vườn cây Nại thị ở thành Tì xá li, người con gái của Trưởng giả Tu phúc là nàng Long thí vừa thấy tướng hảo của đức Phật liền phát tâm bồ đề, tu hạnh Bồ tát. Lúc ấy, ma liền hóa làm cha nàng dụ dỗ tu theo Tiểu thừa, nhưng nàng không hề lay động. Ma lại nói: Người tu hạnh Bồ tát không được tham đắm thế gian, không tiếc thân mệnh, nếu có thể nhảy từ lầu cao xuống đất thì được thành Phật. Nàng Long thí liền nhảy từ trên lầu xuống, nhưng chưa chạm đất thì đã biến thành thân con trai. Về sau, được cha mẹ cho phép theo Phật xuất gia tu hành. Theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 2, kinh này là bản dịch khác của kinh Long thí bồ tát bản khởi. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.5].

long thơ tịnh độ

Lung-Shu Jing-Tu—Long Thơ Tịnh Độ (được viết bởi Vương Nhật Hưu) khuyên dạy về phép tu Niệm Phật. Đây là một trong những quyển sách quan trọng nhất về hoằng dương Tịnh Độ—Pureland Dragon Poetry (written by Wang-Jih-Hsiu) which taught and advised others the cultivated pathof Buddha Recitation. This Buddhist text was one of the most important books in propagating Pureland Buddhism—See Vương Nhật Hưu.

long thư tịnh độ văn

(龍舒淨土文) Tác phẩm, 12 quyển, do cư sĩ Vương nhật hưu người đất Long thư (An huy, Thư thành) soạn vào năm Thiệu hưng 30 (1160) đời Nam Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép các kinh luận, truyện, kí, v.v... có liên quan đến việc vãng sinh Tây phương Tịnh độ. Trong đó, nguyên tác của ông Vương nhật hưu chỉ có 10 quyển, tức 10 chương: Tịnh độ khởi tín, Tịnh độ tổng yếu, Phổ khuyến tu trì, Tu trì pháp môn; Cảm ứng sự tích, Đặc vị khuyến dụ, Chỉ mê qui yếu, Hiện thế cảm ứng, Trợ tu thượng phẩm và Tịnh trược như nhất. Đầu mỗi chương trình bày đại ý, sau đó chia thành các thiên để ghi chép những sự tích hữu quan. Người đời sau tăng thêm làm 11 quyển hoặc 13 quyển, tức là bộ Long thư tăng quảng tịnh độ văn lưu hành hiện nay. Ngoài ra, sách này còn có bản dịch tiếng Đức nhan đề là Laien Buddhismus in China (1924) của ông H. Hackmann (1864-1935). [X. Phật tổ thống kỉ Q.28,47; Lạc bang văn loại Q.3; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3; Phù tang tạng ngoại hiện tồn mục lục].

long thạnh

Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc tại quận Bình Chánh, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Nghiêm xây vào thế kỷ thứ 18. Trước năm 1945, chùa bị hoàn toàn sụp đổ. Đến năm 1959, Hòa Thượng Bửu Ý xây cất lại trên một khuôn viên nhỏ hơn. Trong Chánh điện có tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít, cao một thước ba, tòa sen cao 33 phân. Trong chùa còn có đại hồng chung cao một thước, đường kính nửa thước, được đúc dưới thời Tổ Từ Nhượng—Name of an ancient pagoda located in Bình Chánh district, Saigon City, South Vietnam. It was established in the eighteenth century by Most Venerable Trí Tâm. It was completely destroyed by 1945. In 1959, Most Venerable Bửu Ý rebuilt in a small scale. In the Main Hall, there is a statue of Amitabha Buddha, made of jacktree wood, 1.3 meters high, the lotus pedestal is .33 meter high. There is also a great bell, 1 meter high, 0.5 meter in diameter, cast in the Patriarch Từ Nhượng's period.

Long Thần

(s, p: nāga, 龍神): còn gọi là Long Vương (龍王), một trong 8 bộ chúng, thủ lãnh của rồng. Thông thường người ta cho rằng rồng sống dưới nước, có hình dáng con rắn, thuộc loại quỷ (hay có thuyết cho là thuộc loại súc sanh), có thần lực kêu mây làm mưa, cũng là hộ pháp đắc lực cho Phật pháp. Trong kinh điển Phật Giáo có khá nhiều câu chuyện liên quan đến rồng và có đủ loại hình tượng Long Vương khác nhau. Phạn ngữ nāga là từ thần cách hóa của loài rắn (mãng xà).

long thần

Long chúng, một trong tám bộ chúng—A dragon-god or spirit—Dragon Deity, one of the eight groups of demons. ** For more information, please see Thiên Long Bát Bộ. ; (龍神) Cũng gọi Long chúng. Thần rồng, 1 trong 8 bộ chúng, vì có đủ thần lực nên gọi là Long thần, hoặc gọi là Long vương (vua rồng). Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 3 hạ) nói: Chư thiên, long thần, nhân và phi nhân thường đem hương hoa, kĩ nhạc cúng dường.

long thần hộ pháp

Dragon of Buddhism—Any Buddhist or protector or Buddhism.

long thần tam nhiệt

(龍神三熱) Ba thứ khổ nhiệt não mà tất cả quyến thuộc của loài rồng ở cõi Diêm phù đề đều phải chịu, ngoại trừ Long vương của ao A nậu đạt. Ba thứ nhiệt não này cũng gọi là Tam hoạn, Tam nhiệt. Đó là: 1. Chịu cái khổ gió nóng, cát nóng thổi ập vào thân. 2. Chịu cái khổ cuồng phong thổi mạnh, áo báu trên mình tự nhiên biến mất, để lộ thân rồng. 3. Lo sợ chim cánh vàng (chim đại bàng) ăn thịt rồng con trong cung. [X. phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm Q.18].

long thọ

Nagarjuna (skt). 1) Cây Long Thọ: The dragon-arjuna tree. 2) Long Thọ Bồ Tát: Theo truyền thuyết thì vào thế kỷ thứ ba, ngài Long Thọ du hành xuống Long cung để chép kinh Hoa Nghiêm. Theo một truyền thuyết khác thì Ngài đã tìm thấy kinh nầy trong một tu viện bỏ hoang. Ngài là tổ thứ 14 của dòng Thiền Ấn Độ, là sơ tổ của phái Trung Quán hay Tam Luận và Tịnh Độ tông—According to one legend, in the 3rd century, Nagarjuna travelled to the sea dragon's palace beneath the ocean to retrieve the Avatamsaka Sutra. According to another legend, he discovered the sutra in an abandoned monastery. Nagarjuna was the fourteenth patriarch of Indian Zen. He was the founder and first patriarch of the Madhyamika (Middle Way) school, also the founder of the Pure Land Sect (Salvation School)—See Nagarjuna, and Bát Bất Trung Đạo.

long thọ bồ tát

Bodhisattva Nagarjuna—See Nagarjuna.

Long Thụ

龍樹; S: nāgārjuna; »Triết gia và nhà giả kim«; Long Thụ của hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ;|Là thầy của Thánh Thiên (s: āryadeva) và Sa-va-ri-pa (s: śavaripa). Long Thụ thuộc dòng Bà-la-môn, nhưng Sư đến Na-lan-đà để thụ giới trở thành một Tỉ-khâu. Sau đó Sư đến Vương xá (s: rājagṛha) tu luyện tại đó mười hai năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Trên đường du phương, Sư gặp một đứa trẻ chăn cừu giúp ông qua sông và vì đền ơn, Sư thi triển thần thông giúp đứa trẻ làm vua. Về sau khi Phạm Thiên xin đầu, Sư dùng ngọn cỏ cắt đầu hiến dâng. Người ta nói rằng thân của Long Thụ còn nằm tại chỗ mất đầu, đợi Phật Di-lặc hạ sinh sẽ sống lại giúp Ngài.|Như Long Thụ của thế kỉ thứ 2, tranh tượng của vị Long Thụ này cũng có hình rắn phủ quanh đầu. Chứng đạo kệ của Long Thụ có những dòng sau:|Ví như kẻ mê muội,|tự xưng là Tất-đạt,|thì như tên giặc cỏ,|đòi cướp giật ngôi vua.|Ví một bậc hiền nhân,|còn kẹt sự dại khờ,|thì như một thớt voi|còn bị đắm trong bùn.|Lịch sử của Tan-tra, nhất là Tan-tra tại Tây Tạng cho rằng Long Thụ này chính là Long Thụ của thế kỉ thứ hai, Luận sư nổi tiếng của Trung quán tông (s: mādhyamika) mặc dù giáo pháp của Mật tông được thành lập và phát triển sau này. Các Lạt-ma Tây Tạng cho rằng cả hai Long Thụ (và đương nhiên cùng với môn đệ là Thánh Thiên) đều là biểu hiện của một Tuyệt đối duy nhất, được nối tiếp bằng một sợi chỉ vô hình siêu thời gian và không gian, hoặc được nối tiếp qua các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku). ; 龍樹; S: nāgārjuna; dịch âm là Na-già Át-thụ-na (那伽閼樹那), tk. 1-2;|Một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo. Người ta xem sự xuất hiện của Sư là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca, lần thứ ba là sự xuất hiện của giáo pháp Tan-tra). Ðại thừa Ấn Ðộ xếp Sư vào »Sáu Bảo Trang của Ấn Ðộ« (năm vị khác là Thánh Thiên [s: āryadeva], Vô Trước [s: asaṅga], Thế Thân [s: vasubandhu], Trần-na [s: diṅnāga, dignā-ga], Pháp Xứng [s: dharmakīrti]), và trong tranh tượng, Sư là vị duy nhất sau đức Phật được trình bày với chóp trên đỉnh đầu (肉髻; nhục kế; s: uṣnīṣa), một dấu hiệu của một Ðại nhân (s: mahāpuruṣa). Sư là người sáng lập Trung quán tông (s: mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1-2. Có rất nhiều tác phẩm mang danh của Sư nhưng có lẽ được nhiều tác giả khác biên soạn. Những trứ tác được xem là quan trọng nhất và đích thân Sư viết soạn gồm có (Căn bản) Trung quán luận tụng, gồm 27 chương với 400 câu kệ, Thập nhị môn luận, Ðại trí độ luận. Sư cũng là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Ðộ. Truyền thống Tan-tra cũng xếp Sư vào 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).||H 40: Long Thụ (Lạt-ma Anāgārika Gô-vin-đa phóng hoạ).|Công lớn của Sư là hệ thống hoá các tư tưởng được nêu lên trong Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (s: pnajñāpāramitā-sūtra) và đào sâu các tư tưởng đó. Sư phát triển một phương pháp biện chứng (e: dialectic) rất đặc biệt, siêu phàm và nương vào đây chỉ rõ những nhược điểm, những điểm sơ xuất không thống nhất trong một lí thuyết mà chính đối thủ đưa ra. Từ sự nhận thức rằng, một sự thật chỉ tồn tại bởi sự hiện diện của cái đối nghịch, Sư luận rằng mọi sự đều tương đối, không có gì bất biến trường tồn nằm sau sự vật, tất cả đều là Không (s: śūn-yatā). Sư từ chối mọi quan điểm cực đoan và đây chính là điểm xuất phát của tư tưởng Trung đạo (s: mādhyamāpradipadā), giáo lí căn bản của Trung quán tông. Quan điểm Trung quán này được biểu hiện bằng kệ tụng Bát bất (tám phủ nhận) đầu bản Trung quán luận:|不生亦不滅。不常亦不斷|不一亦不異。不來亦不出|Bất sinh diệc bất diệt|Bất thường diệc bất đoạn|Bất nhất diệc bất dị|Bất lai diệc bất xuất.|*Không phải sinh cũng không phải diệt,|Không phải thường cũng không phải đoạn,|Không phải một cũng không phải khác,|Không phải đi cũng không phải đến.|Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo tạo dựng một »hệ thống« triết học hẳn hoi, trong đó Sư tìm cách minh chứng thế giới hiện tượng không thật hiện hữu. Ðó thật ra là kiến giải xuất phát từ kinh nghiệm tu hành – theo kinh Bát-nhã. Với những thành tựu to lớn, Sư đã đặt nền tảng đầu tiên cho Trung quán tông và cũng gây nhiều ảnh hưởng trong nền triết lí của các tông phái Phật giáo khác ra đời sau.|Long Thụ lấy thuyết Mười hai nhân duyên làm khởi điểm, vì đối với Sư, đó là quy luật nói lên bản chất của thế giới. Sư xem bản chất đó là Không – vì trong đó không có thành hay hoại, vô thường hay trường cửu.|Tính chất trống không của thế gian được Long Thụ chỉ rõ bằng sự tương đối của khái niệm. Các khái niệm chỉ dựa lên nhau mà có, không có khái niệm nào tồn tại độc lập. Từ đó Sư suy ra, sự vật cũng không có thật vì mỗi sự vật đều phải dựa lên trên những sự vật khác mà hiện hữu. Ðây là một trong những lí luận tối trọng về tính Không chính là Vô ngã.|Sư trình bày quan điểm của mình trong tác phẩm Hồi tránh luận (迴諍論; s: vigraha-vyāvartanī hoặc vigraha-vyāvartanīkārikā), thông qua một ví dụ – »Hai cha con«: |»Nếu đứa con được sinh thành bởi người cha, và người cha chỉ mới sinh thành với sự hiện diện của chính đứa con này – hãy nói thử xem ai sinh ra ai? Nói thử xem: Ai trong hai người này là cha, ai là con? Cả hai đều mang dấu hiệu của cha và dấu hiệu của một người con«. |Như thế thì, trước khi đứa »con« ra đời, người ta không thể nói đến một người »cha«. Và như vậy thì – theo Sư – trong đứa con phải có một cái gì đó dẫn khởi sự xuất hiện của một người cha – có thể gọi là một đặc tính trợ giúp một người nào đó trở thành một người cha. Trường hợp cũng tương tự như thế quy về đứa con. Trong bản chú giải bài luận này, Sư bảo rằng, cả hai – cha cũng như con – đều mang những đặc tướng của cái »thành tạo« và cái »được thành tạo.« Và như vậy có nghĩa rằng, người ta chỉ nói về một sự vật nào đó quy về một sự vật khác nào đó, trong mối quan hệ với một sự vật khác và trong »một sự vật nào đó« đã có »sự vật khác nào đó.« Nói một cách khác, không có một nguyên nhân cơ bản mà chỉ có nhưng mối kết cấu, một mạng lưới duyên khởi. Và nếu chỉ có thể nói về một mạng lưới duyên khởi thì cũng không thể nào tìm thấy được một cách tồn tại độc lập, tự sinh, tự khởi. Và như vậy người ta có thể kết luận là: Tất cả đều trống không (s: śūnya) cách tuyệt một tự tính (s: svabhāva), không có một tự tính nào cả.|Theo Sư, mọi hiện hữu đều vô ngã vì nếu chúng có tự tính (s: svabhāva), tự ngã, chúng phải trường tồn bất biến, một điều kiện mà chúng không đạt được. Thế giới hiện tượng chỉ gồm những sự vật chịu dưới sự hoại diệt nên thế giới đó chỉ có thể là Không.|Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thật tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.|Tên của Long Thụ gồm từ Long (rồng, s: nāga) và Thụ (một loại cây; s: arjuna). Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) ở Trung Ấn (s: vidarbha) và xuất gia lúc còn trẻ tuổi. Ðến Na-lan-đà (s: nālandā), một trung tâm Phật học danh tiếng thuộc thành Vương xá (s: rājagṛha), Sư tu tập nghiên cứu kinh điển dưới sự hướng dẫn của La-hầu-la Bạt-đà-la (s: rāhulabhadra). Sau đó Sư trở thành Pháp sư tại ngôi chùa vĩ đại này và tương truyền rằng, trong thời gian này Sư được Long vương đem về thuỷ cung giáo hoá. Vì vậy nghệ thuật Bắc Ấn và Tây Tạng thường vẽ những con rồng trong hào quang của Sư. Khi tuổi đã cao, Sư trở về quê hương ở Trung Ấn, sống trên núi Phạm thiên (s: brahmagiri) trên cao nguyên Śrīparvata, gần sông Kṛṣṇā. Ngọn đồi với ngôi chùa bây giờ vẫn còn và được mang tên của Sư »Ðồi Long Thụ« (s: nāgārjunakoṇḍa). Các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã xác định được khoảng thời gian Sư hoằng hoá vì người ta biết rằng vị vua có quan hệ với Sư ngự trị từ năm 106-130 (Vua xứ Śāta-vāhana, tên Gautamīputra Śatakarṇin, được dịch âm Hán Việt là Kiều-đạt-di Phổ-đặc-la Khả-nhĩ-ni). Sư đã viết thơ khuyên vị vua này và những lời khuyên đó còn được lưu truyền trong tập Khuyến giới vương tụng.|Các tác phẩm còn được lưu lại dưới tên Sư (trích): 1. Căn bản trung quán luận tụng ([mūla-] madhyama-ka-kārikā), cũng được gọi là Trung quán luận tụng, hoặc Trung quán luận (madhyamaka-śāstra); 2. Căn bản trung quán luận thích vô uý chú (mūlamā-dhyamikavṛtti-akutobhayā), được gọi tắt là Vô uý chú, chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Ðại trí độ luận (mahāprajñāpāramitā-śāstra, mahāprajñāpāramito-padeśa), 100 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 4. Thập nhị môn luận (dvādaśa-nikāya-śāstra, dvā-daśadvāra-śāstra), Cưu-ma-la-thập dịch; 5. Nhân duyên tâm luận tụng (pratītya-samutpāda-hṛdaya-kārikā), không biết người dịch; 6. Ðại thừa nhị thập tụng (mahāyāna-viṃśikā), Thí Hộ dịch; 7. Bảo hành vương chính luận (rājaparikathā-ratnāvalī, cũng được gọi là ratnāvalī, là Vòng bảo châu), 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch; 8. Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), bản Tạng ngữ vẫn còn; 9. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), Nguyệt Xứng (candrakīrti) và Parahita cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này; 10. Phương tiện tâm luận (upāya-hṛdaya), một tác phẩm về Luận lí học (nhân minh) được xem là của Sư, bản dịch Hán vẫn còn do Cát-ca-dạ dịch; 11. Tập kinh luận (sūtrasamuccaya); có hai tập dưới tên này: một tác phẩm có lẽ đã thất truyền của Tịch Thiên (śāntideva) và một tác phẩm được xem là của Sư; 12. Hồi tránh luận (vigraha-vyāvartanī, vigra-havyāvartanīkārikā), Tì-mục Trí Tiên và Cù-đàm Lưu-chi dịch chung; 13. Hồi tránh luận thích (vigraha-vyāvartanī-vṛtti); 14. Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng (ārya-nāgārjuna-bodhisattva-suhṛllekha), Nghĩa Tịnh dịch; 15. Quảng phá kinh (vaidalya-sūtra?), Quảng phá luận (vaidalyaprakaraṇa?), bản dịch Hán và Tạng ngữ vẫn còn; 16. Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), Thí Hộ dịch, cũng có bản Tạng ngữ; 17. Thập trụ tì-bà-sa luận (daśabhūmi-vibhāṣā-śāstra), 17 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 18. Bồ-đề tâm li tướng luận (lakṣaṇavimukta-bodhihṛdaya-śāstra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 19. Ðại thừa phá hữu luận (mahāyāna-bhavabheda-śāstra), 1 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch; 20. Tán Pháp giới tụng (dharmadhātu-stotra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 21. Bồ-đề tư lương luận (bodhisaṃbhāraka), 6 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch.

long thụ

(龍樹) Phạm: Nàgàrjuna. Hán âm: Na già ứ lạt thụ na, Na già a chu đà na. Cũng gọi Long mãnh, Long thắng. Tổ khai sáng của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ, sinh vào khoảng thế kỉ thứ II, thứ III, thuộc dòng dõi Bà la môn, Nam Ấn độ. Từ nhỏ ngài đã thông minh dĩnh ngộ, học 4 Phệ đà, thiên văn, địa lí, sấm vĩ, bí tạng và các đạo thuật đều thông suốt. Ngài từng cùng với 3 người bạn thân học phép tàng hình, lén vào cung vua chơi bời. Việc bại lộ, 3 người bạn bị vua chém đầu, riêng ngài thoát khỏi. Do việc này, ngài cảm ngộ ái dục là gốc của sự đau khổ, liền vào núi đến trước tháp Phật xuất gia thụ giới. Sau khi xuất gia, ngài nghiên cứu tam tạng, nhưng thấy chưa đủ, lại đến núi Hi mã lạp sơn, gặp 1 vị lão tỉ khưu trao cho kinh điển Đại thừa, mặc dầu biết thực nghĩa nhưng chưa thể thông suốt. Lại vì ngài từng phá giáo nghĩa của luận sư ngoại đạo, nên sinh tâm tà mạn, tự đặt ra giới mới, mặc áo mới, ở riêng trong căn phòng thủy tinh tĩnh mịch. Bấy giờ có bồ tát Đại long, thấy vậy thương xót, bèn dẫn ngài vào Long cung trao cho vô lượng kinh điển Đại thừa, ngài thấu hiểu hết giáo lí. Bấy giờ, vua Nam Thiên trúc tin theo Bà la môn giáo, công kích Phật giáo, ngài đến đó giáo hóa, khiến vua bỏ tín ngưỡng Bà la môn giáo mà qui y Phật giáo. Từ đó về sau, ngài tận lực hoằng pháp, soạn các sách để chú thích kinh điển Đại thừa, thiết lập hệ thống giáo học Đại thừa, khiến cho học thuyết Bát nhã tính không được truyền bá rộng khắp trên toàn cõi Ấn độ. Về già, ngài trụ ở núi Hắc phong thuộc miền Nam Ấn độ, có người đệ tử tên là Đề bà. Sự tích về ngài Long thụ theo Tây tạng truyền có nhiều chỗ khác nhau với những điều được trình bày ở trên. Chẳng hạn như trong quyển Thất Cao tăng (7 vị cao tăng) tiếng Tây tạng, tác giả Đa la na tha nói rằng, ngài Long thụ từng tu tập các loại Thành tựu (Tất địa) như: Vô lượng thọ đà la ni, Thành tựu đại khổng tước nữ, Cửu dạ xoa, v.v... khiến cho con gái của Long vương Đức xoa ca và quyến thuộc xây dựng chùa, tháp... Về sau, ngài và các nữ Dạ xoa ở núi Cát tường cùng tu Đát đặc la, v.v... Còn có thuyết cho rằng ngài từng dùng 7 hạt cải trắng mở tháp sắt ở Nam Ấn độ, lấy được kinh Kim cương đính. Đại khái những truyện trên đây đều là truyền thuyết của đời sau mang nặng sắc thái Mật giáo. Về niên đại xuất thế của ngài cũng có các thuyết khác nhau: 1. Theo bài tựa luận Đại trí độ của ngài Tăng duệ và các bài tựa Đại trí luận sao của ngài Lô sơn Tuệ viễn (chép trong Xuất tam tạng kí tập quyển 10), thì ngài ra đời khoảng 900 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 2. Theo Bách luận sớ quyển thượng, ngài sinh vào khoảng 530 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 3. Theo Tam luận du ý nghĩa, Nhị giáo luận của ngài Đạo an, Long thụ bồ tát truyện, v.v... thì ngài ra đời vào khoảng 880 năm sau khi đức Phật nhập diệt, tức là vào cuối thế kỉ thứ IV Tây lịch. Các học giả hiện đại như Pháp sư Ấn thuận, v.v... phần nhiều theo thuyết thứ 3. Còn về sự nhập diệt của ngài, theo Long thụ bồ tát truyện, có 1 pháp sư Tiểu thừa, vì ganh ghét, không muốn thấy ngài sống lâu, ngài biết được điều ấy liền vào tịnh thất thoát xác mà đi. Theo điều Kiêu tát la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10, thì vua nước này là Sa đa bà ha qui y ngài, ngài đem diệu dược tặng cho, 2 người cùng sống lâu không suy yếu. Con vua muốn lên ngôi sớm, nên thỉnh ngài tự tận, ngài dùng lá cỏ tranh khô tự cắt cổ chết, vua quá buồn sầu thương tiếc, nên không bao lâu cũng chết theo. Về tuổi thọ của ngài, theo Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí quyển thượng và Pháp uyển châu lâm quyển 53, thì ngài thọ đến 100 tuổi, thuyết này khó tin. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều Triêu tước xỉ mộc trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 và các sách khác nói về việc ngài chuyên về thuật trường sinh mà suy đoán, thì tuổi thọ của ngài cũng có thể ở mức 100 trở lên. Về tên tiếng Phạm và tên dịch của ngài, theo Long thụ bồ tát truyện, Đại đường tây vực kí quyển 8, Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí quyển thượng, kinh Bồ đề hạnh, Trung luận thích của ngài Nguyệt xứng, Bát nhã thích của ngài Sư tử hiền, v.v... đều ghi tên Phạm của ngài là Nàgàrjuna. Nhưng kinh Nhập lăng già bằng tiếng Phạm thì ghi tên Phạm của ngài là Nàgàhvaya, phải dịch là Long khiếu, Long mãnh, Long danh. Nhưng chương 17 trong Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha thì cho rằng Long thụ và Long khiếu là 2 người khác. Long khiếu và Đề bà (đệ tử của ngài Long thụ) là người đồng thời đại, trụ ở chùa Na lan đà. Trong tác phẩm Không Chi Thám Cứu, chương 4, phần 1, Pháp sư Ấn thuận căn cứ vào thuyết trên, cho rằng Long khiếu (hoặc Long mãnh) không phải là Long thụ, niên đại muộn hơn so với niên đại ngài Long thụ, có thể vào thời đại vua Chiên đà la cấp đa (từ 320 sau Tây lịch). Ngoài ra, ngài còn là Tổ phó pháp tạng thứ 13 của Thiền tông Ấn độ, đồng thời, tại Trung quốc và Nhật bản xưa nay ngài cũng được suy tôn làm Tổ của 8 tông. Ngài có các tác phẩm: Trung luận tụng, Thập nhị môn luận, Không thất thập luận, Lục thập tụng như lí luận, Đại thừa phá hữu luận, Đại trí độ luận, Thập trụ tì bà sa luận, Đại thừa nhị thập tụng luận, Bồ đề tư lương luận, Bảo hành vương chính luận, Nhân duyên tâm luận tụng, Bồ đề tâm li tướng luận, Phúc cái chính hành sở tập kinh, Tán pháp giới tụng, Quảng đại phát nguyện tụng. [X. kinh Nhập lăng già Q.9; Đại thừa huyền luận Q.5, Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.5; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5; Truyền pháp chính tông kí Q.3, Phật tổ thống kỉ Q.5; Pháp uyển châu lâm Q.38; The Life of Nàgàrjuna from Tibetan and Chinese Sources (M.Walleser)].

long thụ bản tích

(龍樹本迹) Chỉ cho bản địa và thùy tích của ngài Long thụ. Bản, nghĩa là bản địa đã thành từ lâu; Tích, nghĩa là dấu tích ứng hiện mới thành gần đây. Tức là thực thể và ảnh hiện của nó. Bản địa của bồ tát Long thụ là đức Phật Diệu vân tướng ở đời quá khứ, hoặc gọi là Diệu vân tự tại vương Như lai; còn ứng thân thùy tích hiện tại của ngài là Bồ tát Hoan hỉ địa. Tam bảo cảm ứng yếu lục quyển hạ (Đại 51, 856 thượng) nói: Hai vị bồ tát Mã minh và Long thụ cùng thị hiện bản tích lợi ích chúng sinh (...), ngài Mã minh thời quá khứ đã thành Phật hiệu là Đại quang minh Phật, ngài Long thụ cũng đã thành Phật hiệu là Diệu vân tướng Phật. [X. Bát tông cương yếu Q.thượng].

long thụ bồ tát khuyến giới vương tụng

(龍樹菩薩勸誡王頌) Phạm:Suhfl-lekha. Tạng:Bzes-pa#i sprií-yig. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là tác phẩm của ngài Long thụ nhằm khuyên răn vị Quốc vương ở Nam Ấn độ. Nội dung gồm 126 bài kệ tụng, theo thể 5 chữ 4 câu. Trong đó, 3 bài tụng đầu tiên nói rõ mục đích soạn thuật, 41 bài kế tiếp là nói về 6 Ba la mật, 8 chi Thánh giới, thiểu dục v.v..., 13 bài tiếp theo bàn về 5 Cái (phiền não), 5 pháp tối thắng, 3 kết, 3 học, v.v..., 50 bài tiếp theo nói về vô thường và những nỗi khổ não trong 6 đường như địa ngục, quỉ đói, v.v..., 13 bài tiếp đó là thuyết minh về 7 phần Bồ đề, 12 duyên khởi, 8 Thánh đạo, 4 Thánh đế, v.v..., 6 bài cuối cùng nêu danh hiệu của đức Phật A di đà và bồ tát Quán tự tại. Vị vua được nói đến trong sách này, ngài Nghĩa tịnh dịch là Thân Hữu Thừa Thổ Quốc Vương, ngài Cầu na bạt ma đời Lưu Tống dịch là Thiền Đà Ca Vương, ngài Tăng già bạt ma đời Lưu Tống dịch là Minh Thắng Công Đức Vương, Tây tạng dịch là Đức Tây Âu Đắc Vương (Tạng: Bde-spyod), Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 dịch hiệu là Sa Na Bà Hán Na, tên là Thị Dần Đắc Ca. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; History of Buddhism by Bu-ston (E. Obermiller)].

long thụ bồ tát truyện

(龍樹菩薩傳) Truyện kí, 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 50. Sách này ghi chép sự tích của ngài Long thụ, người sáng lập học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ đời xưa. Nội dung chia ra 7 đoạn, nói rõ dòng dõi xuất thân cho đến hành trạng và nguyên do tại sao đặt tên là Long thụ; câu văn giống với truyện Long thụ trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 do 2 ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy. Vì vậy, có thuyết cho rằng quyển sách này được trích từ Phó pháp tạng nhân duyên truyện mà thành. Về dịch giả, nếu cho rằng sách này do ngài Cưu ma la thập dịch thì còn có chỗ đáng ngờ. Bởi vì, Lịch đại Tam bảo kỉ quyển 8 và điều Cưu ma la thập trong Tây vực Thánh hiền truyện kí trong Pháp kinh lục quyển 6 đời Tùy, cho rằng Long thụ bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập phiên dịch. Nhưng, Xuất tam tạng kí tập quyển 2 và điều Cưu ma la thập trong Lương cao tăng truyện quyển 2 đời Lương đều không thấy nói đến việc này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.4; The Life of Nàgàrjuna from Tibetant and Chinese Sources (Asia Major, Introductory Volume by M.Walleser)].

long thụ sơn

(龍樹山) Phạm: Nàgàrjunikondà. Chỉ cho cái gò đất cao có hình dáng giống như cái đài nằm bên hữu ngạn khoảng giữa con sông Kistna ở miền Nam Ấn độ. Đến khoảng thế kỉ thứ XIV, gò đất này mới được gọi là Long thụ sơn(núi Long thụ). Năm 1926, ở chân núi phía đông nam, người ta đã phát hiện rất nhiều tháp và tăng viện trong tình trạng hoang phế, có thể sánh ngang với các di tích Phật giáo ở khu vực A la ma đề bà (Phạm: Amaràvati). Do bài minh khắc trên tấm bia đá mà người ta có thể biết nơi đây chính là nền cũ của thủ đô Tì gia nhã bố lí (Phạm:Vijayapurì), thuộc triều đại Y khắc tu ngõa khắc (Phạm: Ikwvàku) hưng thịnh vào thế kỉ thứ III. Các tăng viện hoang phế còn lại ở đây là các tự viện của các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa như: Đa văn, Hóa địa, Tây sơn, v.v... Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc chùa tháp đều được thực hiện vào thế kỉ thứ III. Học giả N. Dutt cho rằng di tích này có liên quan với phái Long thụ Đát đặc la (Phạm: Tantra) hoặc có liên quan với chính Ngài vì thế gọi là Long thụ sơn.

long thụ tông

(龍樹宗) Chỉ riêng cho tông Tam luận ở Trung quốc. Ngài Long thụ là vị Luận sư đầu tiên chủ xướng tư tưởng các phái đều không qua thuyết Bát bất trung đạo. Tại Trung quốc, tông Tam luận được thành lập và phát triển trên nền tảng của sự tập đại thành tông chỉ của ngài Long thụ, vì thế nên tông Tam luận cũng được gọi là tông Long thụ. Còn ở Ấn độ thì tông này là hệ thống Không tông thuộc Phật giáo Đại thừa, lưu hành song song với tông Du gia của ngài Di lặc. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Tam Luận Tông, Không Hữu Luận Tranh).

long thụ tứ giáo

(龍樹四教) Bốn giáo môn ngài Long thụ dùng để phán thích kinh luận. hữu môn: nói về các pháp nhân quả đều là có thật, như kinh a hàm; không môn: nói về lí chân không thực tướng, như kinh bát nhã; diệc hữu diệc không môn: nói cũng có cũng không như kinh giải thâm mật, v.v...; phi hữu phi không môn: nói tất cả pháp đều chẳng có chẳng không, đây là đệ nhất nghĩa, như trung luận. [x. hoa nghiêm kinh sớ sao q.6].

long toạ

(龍坐) Cách ngồi được sử dụng khi tu pháp Kim sí điểu. Kiểu ngồi như thế nào không được rõ, có thuyết cho là kiểu ngồi bó gối. Phẩm Kim sí điểu vương trong kinh Văn thù sư lợi căn bản đại giáo vương (Đại 21, 326 thượng) nói: Đối với tất cả hữu tình khởi tâm đại từ, ngồi theo pháp long tọa.

long trân vương

(龍珍王) Tên đức Phật A di đà ở đời quá khứ lúc còn làm vua, trước khi xuất gia làm tỉ khưu Pháp tạng. Cứ theo Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, Long trân vương vào núi tu đạo, hiệu là Pháp tạng, trụ ở phía nam núi; có 2 cô con gái tên Duyên ba na (cũng gọi Lộc ba na) và Tẩy trạch hà đi theo, trụ ở phía bắc núi. Long trân vương sau này đắc đạo là Phật A di đà, Duyên ba na tức là bồ tát Quan thế âm, Tẩy trạch hà tức là bồ tát Đại thế chí. Nhưng điển cứ căn bản của thuyết trên không được rõ. [X. Vô lượng thọ kinh sao kí (Liễu tuệ)].

Long Trí

龍智; S: nāgabodhi; »Kẻ trộm mọc sừng đỏ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử và truyền nhân của Long Thụ (s: nāgārjuna), sống trong thế kỉ thứ 9. |Ông thuộc dòng dõi Bà-la-môn và chuyên nghề ăn trộm. Khi Long Thụ ở Tinh xá Su-va-na (suvarṇa vihāra) thì ông đến rình xem. Thấy Long Thụ ăn bằng dĩa vàng, ông muốn trộm chiếc dĩa. Long Thụ nhờ tha tâm thông đọc được ý đó, ném cho ông chiếc dĩa. Ông ngạc nhiên và cảm phục, xin được theo tu học. Long Thụ Quán đỉnh, cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra) và dạy ông tự giải thoát khỏi lòng thèm khát:|Ðừng nghĩ phải làm gì,|hãy nhất tâm quán tưởng,|những gì ngươi thèm khát,|biến thành sừng màu đỏ,|mọc ở trên đỉnh đầu.|Long Thụ nói xong, cố ý để lại nhiều châu báu trong động rồi ra đi. Ông ở lại, ngồi quán tưởng thiền định. Nhưng lòng thèm khát của ông vẫn còn nên quả nhiên sau 12 năm đầu ông mọc một cái sừng trên đầu rất khó chịu. Sau 12 năm, Long Thụ trở lại, nói:|Sừng của lòng thèm khát,|làm ngươi thật khổ thân.|Vì dính mắc vật dụng,|mà con người khổ đau.|Sự vật con người biết,|chẳng có tự tính gì,|cũng thế Sinh, Già, Chết,|như đám mây trôi nổi,|tương can gì đến ta?|Cũng thế, Tâm thanh tịnh,|không biến thành tốt xấu,|khi người biết, vật biết,|cả hai đều không thật?|Cả hai, thật không sai,|đều trống không tất cả.||H 41: Long Trí (nāgabodhi) đang tu tập tại núi Śrī Parvata.|Long Trí nhân đây ngộ được tính Không là tự tính mọi sự. Sáu tháng liên tục, ông an trú trong chính niệm, chứng sự nhất thể giữa Niết-bàn và Sinh tử, đạt thánh quả. Long Thụ ấn chứng, nhận ông làm truyền nhân của mình. Kệ chứng đạo của ông như sau:|Vui thay cho tất cả,|được sống trên địa cầu.|Từ đáy sâu đại dương,|thoát khỏi cảnh nghèo khổ;|Niềm vui cao cả nhất,|được vung kiếm trí huệ.|Bạn bè ta gặp nhau,|tâm không chút sở cầu.

long trí

(龍智) Phạm:Nàgabodhi. Tạng: Klu#i byaí-chub. Cao tăng Ấn độ, là Tổ phó pháp thứ 4 của Mật giáo. Cứ theo Ấn độ Phật giáo sử của Đa la na tha do Tây tạng truyền, thì sư thuộc dòng Bà la môn, ở phía đông nước Mang ca lạp (Phạm: Bhaígala), nhà nghèo, được ngài Long thụ độ cho xuất gia. Chỉ trong 3 năm, sư đã thông suốt giáo pháp. Sau khi ngài Long thụ thị tịch, sư trụ ở núi Cát tường. Về cuộc đời của sư có rất nhiều thuyết khác nhau. Theo truyền thuyết của Mật giáo, thì sư từng học Mật giáo ở nơi ngài Long mãnh (Long thụ), thần lực khó lường, danh đức trùm khắp 5 cõi Ấn độ. Hoặc ở miền Nam Ấn độ hoằng pháp, hoặc sang nước Sư tử hóa độ chúng sinh. Truyền thuyết nói rằng sư trụ thế đến mấy trăm năm, vào đầu thế kỉ thứ VIII, sư truyền pháp cho sư Kim cương trí (Phạm:Vajra-bodhi). Sư có các tác phẩm: Cát tường bí mật tập hội mạn đồ la nghi quĩ 20 quyển (Tạng: Dpal-gsaí-ba-#dus-pa#i dkyil-#khorgyi cho-ga ĩi-su-pa shes-bya-ba), Ngũ thứ đệ nghĩa tác minh (Tạng: Rim-pa lía#i don gsal-bar-byed-pa shes-byaba),Cúng vật trang nghiêm (Tạng: Gtorma#i rgyan), A để du già tu tập pháp (Tạng: A-ti nnal-#byor-gyi sgom-pa#i thabs shes-bya-ba). [X. Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Bất không truyện trong Tống cao tăng truyện Q.1; Thiên vô úy truyện trong Tống cao tăng truyện Q.2; Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Bí mật mạn đồ la giáo phó pháp truyện Q.1 (Không hải); Bí mật phát đạt chí Q.1, 3; Tân Long thụ truyện chi nghiên cứu].

Long Trạch Tự

(龍澤寺, Ryūtaku-ji): ngôi chùa của Tông Tào Động, hiệu núi là Bình Điền Sơn (平田山), hiện tọa lạc tại Kanazu-chō (金津町), Sakai-gun (坂井郡), Fukui-ken (福井縣). Chùa được kiến lập vào năm 1382 (Vĩnh Đức [永德] 2), và vị Tổ khai sơn là Mai Sơn Văn Bổn (梅山聞本). Vị thí chủ Tiểu Bố Thí Chánh Thọ (小布施正壽) kiến lập các đường vũ của chùa để cầu nguyện cho ái thiếp của ông được siêu độ, rồi cung thỉnh Mai Thọ đến trú trì chùa này. Xưa kia, nơi đây có 7 ngôi đường vũ được hoàn thành rất trang nghiêm, nhưng chùa đã phải trải qua 3 lần bị binh hỏa vào năm 1428 (Văn Minh [文明] 14), 1504 (Vĩnh Chánh [永正] nguyên niên) và 1575 (Thiên Chánh [天正] 3), sau đó đất đai của chùa cũng bị thâu hồi luôn. Gần đây chùa mới được tái kiến lại. Tại Chánh Điện có an trí tôn tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.

long trọng

Solemnly.

long tu thằng

(龍須繩) Dây long tu, tức lấy cỏ râu rồng làm dây buộc vào mình, khi xuống nước thì dây xiết chặt lại, rất đau đớn. Trong Phật giáo, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cho người cầu đạo nếu vì lợi dưỡng thì chỉ thêm khổ cho thân tâm, vì lợi dưỡng hủy hoại giới, định, tuệ. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].

long tuyền

(龍泉) I. Long Tuyền. Suối có rồng ở. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 114 thượng), nói: Ví như long tuyền, do sức của rồng nên nước không khô cạn. II. Long Tuyền (?-1365). Danh tăng Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, tên Lãnh thốt, là con của Thiên hoàng Hậu Đề hồ. Thủa nhỏ, sư theo học ngài Hổ quan Sư luyện ở am Tế bắc tại Kinh đô (Kyoto). Niên hiệu Kiến vũ năm đầu (1334), sư được triệu vào cung giảng pháp yếu. Sau khi ngài Hổ quanSư luyện thị tịch, sư dời đến ở am Hải tạng. Sau, sư lần lượt trụ ở các chùa Lăng già, Viên thông, Thừa thiên, Vạn thọ, v.v... Năm Trinh trị thứ 4 (1365) sư tịch. Sư có tác phẩm: Tùng sơn tập, Hải tạng hòa thượng kỉ niên lục. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.12; Bản triều cao tăng truyện Q.31].

long tâm

(龍心) Đồng nghĩa: Long thú tâm (tâm loài rồng). Tâm nhiều tham muốn, không biết nhàm chán, là tâm thứ 17 trong 60 vọng tâm của phàm phu. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 3 hạ), nói: Thế nào là Long tâm? Nghĩa là tâm mong cầu nhiều của cải. Về cách đối trị tâm này, nên tư duy thiểu dục, tri túc, vô thường, v.v... [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Lục Thập Tâm).

Long Tôn

(隆尊, Ryūson, 702-760): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Long Tôn (隆尊). Ông theo Nghĩa Uyên (義淵, Gien) ở Đại Hòa Cương Tự (大和岡寺) học về Pháp Tướng, Duy Thức và Hoa Nghiêm; sau thể theo lời cung thỉnh của đại chúng, ông đến trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và năm 746 thì chuyển đến Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji). Vào năm 752, ông làm chủ lễ cho Lễ Cúng Dường Khai Nhãn Tượng Đại Phật tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Thể hiện nguyện vọng tha thiết muốn tổ chức thọ giới chính thức với Thập Sư như pháp, ông kiến nghị lên Xá Nhân Thân Vương (舍人親王) cho phép Vinh Duệ (榮叡, Yōei) và Phổ Tịch (普寂, Fujaku) sang nhà Đường, từ đó tạo nhân duyên cho Giám Chơn (鑑眞, Ganjin) qua Nhật.

long tôn

(龍尊) I. Long Tôn. Tiếng gọi tắt danh hiệu đức Phật Long chủng thượng trí tôn vương, là tên bản địa của bồ tát Văn thù sư lợi. (xt. Bản Địa). II. Long Tôn. Tiếng tôn xưng các Đại long vương. Đại nhật kinh sớ quyển 2 (Đại 39, 595 trung) nói: Long tôn là các vị Đại long, Câu phệ ra, v.v... đều là các vị Đại thiên mà thế gian tôn thờ. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1].

long tượng

Long tượng: con voi khỏe nhất trong loài voi, chỉ bậc kiệt xuất, vượt trội hơn cả. Như ngựa hay được gọi là long mã, con voi chúa trong loài voi cũng gọi là long tượng. Trong kinh Phật thường ví các vị Bồ Tát, A-la-hán là bậc long tượng, vì các vị là kiệt xuất, vượt trội hơn cả trong muôn loài chúng sanh. ; Naga (skt). 1) Loài rồng và loài voi: Để chỉ sự dũng mãnh và đại lực của các vị đại Thánh, chư Bồ Tát hay chư Phật—Dragon-elephant, or dragon and elephant, i.e. great saints, Buddhas, Bodhisattvas. 2) Loài voi to lớn: A large elephant is called a dragon elephant. 3) Sự kính trọng dành cho một vị Tăng: A respect applied to a monk. ; (龍象) Nguyên chỉ cho những con voi khỏe mạnh nhất trong loài voi. Từ ngữ này được dùng để ví dụ người có năng lực mạnh mẽ. Phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy ma quyển trung (Đại 14, 547 thượng), nói: Ví như bước đi của long tượng, con lừa không thể kham được. Trong Duy ma kinh nghĩa sớ quyển 4 của ngài Cát tạng nói, gọi long tượng chẳng phải là 2 con vật, mà như ngựa hay thì gọi là long mã, voi giỏi thì gọi là long tượng. Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Bắc) thì Bồ tát dứt trừ các kết lậu, gọi là Đại long tượng bồ tát ma ha tát. Kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ), đem long tượng ví dụ uy nghi của Bồ tát mạnh mẽ tốt đẹp không gì sánh bằng. Ngoài ra, tiếng Phạm của Long (rồng) là Nàga, cũng dịch là Tượng (voi), ý nói long, tượng đều là loài vật có sức mạnh lớn trên biển, trên đất liền. Về sau, danh từ Long tượng được dùng để chỉ cho vị Cao tăng có đầy đủ uy đức và Thiền định. [X. kinh Long tượng trong Trung a hàm Q.29; kinh Bi hoa Q.5; luận Đại trí độ Q.3].

long tượng chúng

(龍象衆) I. Long Tượng Chúng. Chúng Long tượng, 1 trong 4 chúng đệ tử Phật. Vào thời đại vua A dục của Ấn độ, đại chúng trong Phật pháp được chia làm 4 loại: Long tượng chúng (cũng gọi Đại quốc chúng), Biên bỉ chúng, Đa văn chúng và Đại đức chúng. Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí, Long tượng chúng có 3 thuyết: 1. Chỉ cho Đại thiên, tức người đã gây ra sự tranh luận. 2. Chỉ cho những người nghiêm trì giới luật, tức đồ chúng của Ưu ba li. 3. Chỉ cho những kẻ thích tranh cãi trong tăng đoàn, làm chỗ nương tựa cho tăng phá giới, hỗ trợ cho những người xấu ác. [X. luận Dị bộ tông luân; luận Bộ chấp dị]. (xt. Tứ Chúng). II. Long Tượng Chúng. Chỉ cho người tu hành Phật đạo có kiến thức, năng lực. Chương Phụng tiên thâm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 23 (Đại 51, 390 hạ) nói: Duy na bạch kiền chùy: Chúng long tượng trong pháp hội, nên quán đệ nhất nghĩa. Sư liền nói: Quả nhiên không biết, chậm lụt chết người.

long tượng kinh

(龍象經) Tên 1 bài kinh trong Trung a hàm quyển 29, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này tường thuật việc vị đệ tử Phật là Ô đà di đã làm bài kệ tụng Long tướng để khen ngợi đức Phật là bậc Đại long tượng.

long tạng

Long Tạng Các (thư viện), trước kia ở chùa Long Hưng tại Trường An, Trung Quốc—The Dragon treasury or library, formerly in the Lung-Hsing monastery at Ch'ang-An, China. ; (龍藏) I. Long Tạng. Chỉ cho kinh điển Đại thừa. Tương truyền, sau khi đức Phật nhập diệt, kinh điển Đại thừa được cất giữ tại Long cung nên có tên là Long tạng. Kinh Bồ tát xử thai quyển 7, kinh Ma ha ma da quyển hạ, đều nói kinh điển thắng diệu được tàng trữ ở Long cung. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 23 (Đại 51, 390 hạ), ghi: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh giới thắng diệu? Sư đáp: Khi Long tạng mở, kinh điển phân minh. [X. Long thụ bồ tát truyện; Hiền thủ Hoa nghiêm truyện Q.1; Quảng hoằng minh tập Q.19]. II. Long Tạng. Cũng gọi Thanh tạng. Tức là Đại tạng kinh bản khắc vào năm Càn long, đời Thanh. (xt. Thanh Tạng).

long tế thiệu tu thiền sư

Zen master Long-Ji-Shao-Xiu—See Thiệu Tu Long Tế Thiền Sư.

long tử

(龍子) Rồng con. Cứ theo phẩm Kim sí điểu trong kinh Hải long vương quyển 4, thì rồng con thường bị loài chim cánh vàng ăn thịt, nên vua rồng thỉnh cầu đức Phật cứu giúp, Phật liền cởi chiếc áo màu hoại sắc đang mặc trên mình, chia cho các vua rồng, vị nào cũng được một phần. Từ đó, nhờ có mảnh áo nhỏ ấy mà các rồng con trong Long cung đều thoát nạn.

long vu

(龍盂) Cũng gọi Long bát. Chiếc bát hàng phục rồng. Trước khi qui y theo đức Phật, tôn giả Na đề ca diếp (Phạm: Nadì-kàzyapa) thuộc ngoại đạo thờ lửa. Một hôm, đức Phật đến xin ngủ nhờ, Na đề đưa Ngài vào hang đá Đại long. Đến nửa đêm, Na đề cho rồng khạc lửa ra để hại đức Phật, Ngài khởi lòng thương xót, hiện ra lửa Tam muội, con rồng lửa chui vào trong bát của đức Phật để trốn. Na đề ca diếp thấy thế đem lòng cảm phục, bèn dẫn 500 đệ tử qui y đức Phật. Ngoài ra, còn có truyền thuyết về ngài Thiệp công đời Tấn cầu mưa, lúc gia trì kì đảo, ngài đã hàng phục 1 con rồng, khiến nó chui vào trong cái bát. [X. chương Thiệp công trong Lương cao tăng truyện Q.10].

Long Vương

(s: nāgarājaḥ, 龍王): âm dịch là Na Già La Nhã (那伽羅惹), là vị có uy đức nhất trong loài rồng. Tương truyền rằng khi đức Phật đản sanh, có 2 vị Long Vương tên Nan Đà (s: Nanda, 難陀) và Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀) xuất hiện rưới nước thanh tịnh tắm cho ngài. Trong Phẩm Tựa của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) có đề cập 8 vị Long Vương lớn đến nghe đức Phật thuyết pháp như Nan Đà (s: Nanda, 難陀), Bạt Nan Đà (s: Upananda, 跋難陀), Ta Già La (s: Sāgara, 娑伽羅), Hòa Tu Cát (s: Vāsuki, 和修吉), Đức Xoa Ca (s: Takṣaka, 德叉迦), A Na Bà Đạt Đa (s: Anavatapta, 阿那婆達多), Ma Na Tư (s: Manasvin, 摩那斯), Ưu Bát La (s: Utpalaka, 優鉢羅). Quyển 1 của Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經) thì nêu tên 7 vị Long Vương. Các vị này thường có thể làm cho mây nỗi và ban mưa, khiến cho chúng sanh tiêu tan sự nóng bức. Ngoài ra, theo Tăng Hộ Kinh (僧護經) cho biết rằng Hải Long Vương (海龍王) đã từng biến thành thân người nữ, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ không thể ẩn thân được nên hiện nguyên hình rồng; cho nên đức Phật dạy rằng con rồng lúc mới sanh ra, khi chết, giao cấu, sân hận, ngủ nghĩ thì vẫn giữ nguyên hình của nó, không thể biến hóa thành loài khác được. Đối với Long Vương có 3 điều lo âu: (1) nỗi khổ bị thiêu đốt bởi gió nóng và cát nóng; (2) nỗi lo sợ khi luồng gió ác thổi đến chỗ ở làm cuốn bay cả của báu và xiêm y; (3) nỗi lo sợ bị loài Kim Xí Điểu (金翅鳥, tức Ca Lâu La [s: garuḍa, 迦樓羅]) ăn thịt. Tuy nhiên, loại Long Vương sống trong hồ A Nậu Đạt (阿耨達) thì không có những nỗi khổ này. Ngoài ra, Long Vương còn là tên gọi của một vị thần trong Đạo Giáo Trung Quốc, một trong Tứ Linh, nguyên lai phát xuất từ việc sùng bái Long Thần (龍神) kết hợp với tín ngưỡng Hải Thần (海神). Đại Long Vương có 4 vị, được gọi là Tứ Hải Long Vương (四海龍王), gồm: Nam Hải Quảng Lợi Vương (南海廣利王, hay Nam Hải Long Vương Ngao Khâm [南海龍王敖欽]), Đông Hải Quảng Đức Vương (東海廣德王, hay Đông Hải Long Vương Ngao Quảng [東海龍王敖廣]), Bắc Hải Quảng Trạch Vương (北海廣澤王, hay Bắc Hải Long Vương Ngao Thuận [北海龍王敖順]) và Tây Hải Quảng Thuận Vương (西海廣順王, hay Tây Hải Long Vương Ngao Nhuận [西海龍王敖閏]). Trong đó, Đông Hải Long Vương là tối tôn. Trong Thái Thượng Động Uyên Thần Chú Kinh (太上洞淵神咒經) của Đạo Giáo có Phẩm Long Vương (龍王品), tùy theo phương vị mà gọi là Ngũ Đế Long Vương (五帝龍王), hay theo sông biển mà có tên là Tứ Hải Long Vương, theo thiên địa vạn vật mà nêu ra 54 tên Long Vương. Dưới thời vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, nhà vua có hạ chiếu thờ Long Trì (龍池), lập đàn cúng tế, lấy nghi thức tế mưa để cúng tế Long Vương. Đến thời vua Thái Tổ (太祖, tại vị 960-976) nhà Tống lại dùng quy chế nghi cúng tế Ngũ Long của nhà Đường. Vào năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀) đời vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, có chiếu chỉ phong tước vương cho Ngũ Long. Thanh Long Thần (青龍神) là Quảng Nhân Vương (廣仁王), Xích Long Thần (赤龍神) là Gia Trạch Vương (嘉澤王), Hoàng Long Thần (黃龍神) là Phu Ứng Vương (孚應王), Bạch Long Thần (白龍神) là Nghĩa Tế Vương (義濟王), Hắc Long Thần (黑龍神) là Linh Trạch Vương (靈澤王). Đến năm thứ 2 (1863) niên hiệu Đồng Trị (同治, 1862-1874) nhà Thanh, nhà vua lại phong cho Vận Hà Long Thần (運河龍神) là Diên Hưu Hiển Ứng Phân Thủy Long Vương Chi Thần (延庥顯應分水龍王之神) và hạ lệnh cho Tổng Đốc quản lý về sông nước lo việc cúng tế. Về chức năng, Long Thần chuyên trách về việc tạo mây ban mưa, làm cho con người được mát mẻ, tiêu trừ nóng bức, phiền não. Theo các sử liệu cho biết, ngày cúng tế Long Thần khác nhau tùy theo truyền thuyết dân gian các nơi. Xưa kia, phần lớn những ngôi đền thờ Long Vương đồng dạng với đền thờ của Thành Hoàng (城隍), Thổ Địa (土地). Mỗi khi gặp gió mưa không thuận hòa, hạn hán kéo dài, hay mưa lâu mà không dứt, người dân thường đến miếu thờ Long Vương dâng hương, cầu nguyện để được phong điều vũ thuận. Trong Bác Dị Ký (博异志), phần Hứa Hán Dương (許漢陽) của (谷神子) nhà Đường có đoạn: “Tác dạ Hải Long Vương chư nữ, cập di muội lục thất nhân quá quy Động Đình (昨夜海龍王諸女、及姨妹六七人過歸洞庭, đêm hôm qua các nữ nhân của Hải Long Vương cùng với chị em sáu, bảy người đi ngang về Động Đình).”

long vương

Nagaraja (skt)—Vị vua rồng, ngự trị nơi sông, hồ, biển cả—Dragon king, a title for the tutelary deity of a lake, river, sea, and other places—See Long. ; (龍王) Phạm: Nàgaràja. Hán âm: Na già la nhạ. Vua rồng, vì có uy đức hơn hết trong loài rồng nên gọi Long vương. Tương truyền, khi đức Phật Thích ca đản sinh, có 2 vua rồng Nan đà và Bạt nan đà phun nước tắm gội cho Ngài. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 nêu tên 8 vị Đại long vương là: Nan đà, Bạt nan đà, Sa già la, Hòa tu cát, Đức xoa ca, A na bà đạt đa, Ma na tư và Ưu bát la. Còn k i n h Kim quang minh tối thắng vương quyển 1 thì nêu 7 vị Long vương. Ngoài ra, theo kinh Tăng hộ, Hải long vương biến thành hình người, xuất gia tu hành, nhưng trong khi ngủ thì lộ thân rồng, cho nên đức Phật dạy: Khi mới sanh, lúc lâm chung, giao cấu, tức giận, ngủ, v.v... thì rồng trở lại thân rồng, chứ không thể hóa làm thân loài khác. [X. kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); phần Tu di tạng trong kinh Đại tập Q.58]. (xt. Long).

long vương chi hỉ

(龍王之喜) Phạm: Nàgànanda. Kịch bản Phật giáo do vua Giới nhật đệ nhị (Phạm: Harwa II), người Ấn độ soạn vào khoảng năm 606 đến năm 648. Nội dung vở kịch này gồm 5 màn, 3 màn trước trình bày về việc Vương tử của chủng tộc Vi đệ nhã đạt lạp (Phạm: Vidyàdhara,chủng tộc nửa thần trong núi Hi mã lạp sơn) tên là Vân thừa (Phạm: Jìmùtavàhana) và Công chúa Mã lạp nhã pháp địch (Phạm: Malayavatì) của chủng tộc Hi đạt (Phạm: Siddha, quyến thuộc của thần Thấp bà) thương yêu nhau, nhờ được nữ thần Cao li (Phạm: Gaurì) chấp nhận nên thành hôn. Còn 2 màn sau thì nói về việc Vương tử Vân thừa, vì muốn cứu Long vương thoát khỏi tai nạn nên đã tự nguyện để cho chim cánh vàng (Kim sí điểu) ăn thịt, sau nhờ nữ thần Cao li cứu giúp nên được tái sinh. Vở kịch này nói lên tinh thần vị tha, xả thân cứu giúp người của Bồ tát, bắt nguồn từ truyền thuyết Phật giáo, thêm vào tư tưởng của phái Tính lực (Phạm:Zakta) thuộc Ấn độ giáo. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 228 thượng) nói: Vua Giới nhật lấy câu chuyện bồ tát Vân thừa chết thay cho rồng, biên soạn thành ca kịch, hòa tấu đàn sáo, sai người viết nhạc, điệu múa để trình diễn, lưu truyền. Như vậy có thể biết vở kịch này rất được hoan nghinh ở đương thời. [X. Long vương chi hỉ (Cao nam Thuận thứ lang dịch)].

long vương huynh đệ kinh

(龍王兄弟經) Phạm: Nandopananda-nàga-ràjadhamana-sùtra. Cũng gọi Nan long vương kinh, Hàng long vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này gồm hơn 800 chữ, nói về việc tôn giả Mục kiền liên hàng phục 2 con rồng dữ là Nan đầu và Hòa nam. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.5; Đại đường nội điển lục Q.2].

long vương hống bồ tát

(龍王吼菩薩) Vị Bồ tát hiện tướng phẫn nộ chuyên giữ gìn che chở các quốc độ ở đời vị lai, kiến lập Chính pháp, thủ hộ Tam bảo, 1 trong 5 vị Đại lực bồ tát. Theo phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương quyển hạ (bản dịch cũ) thì tay vị Bồ tát này cầm đèn Kim luân. Còn phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương quyển hạ (bản dịch mới của ngài Bất không), thì gọi vị Bồ tát này là Nam phương Kim cương bảo bồ tát, tay cầm hạt ma ni (ngọc) kim cương. (xt. Ngũ Đại Lực Bồ Tát).

long vị

Holy tablet.

long vị thờ chư tổ

The Holy Tablet of the Patriarchs.

Long Ðàm Sùng Tín

龍潭崇信; C: lóngtán chóngxìn; J: ryūta sōshin; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thiên hoàng Ðạo Ngộ. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðức Sơn Tuyên Giám.|Sư con nhà bán bánh, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Ðạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, Ðạo Ngộ lại để lại một cái cho Sư, nói: »Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu.« và cứ thế một thời gian. Sư thấy lạ hỏi thì được trả lời: »Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?« Sư nghe hiểu diệu ý liền xin xuất gia. Ðạo Ngộ vì thấy Sư có hảo tâm cúng dường, ban pháp danh Sùng Tín.|Một hôm Sư thưa: »Từ ngày con đến đây chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.« Ðạo Ngộ đáp: »Từ ngày ngươi đến đây, ta chưa từng chẳng dạy ngươi.« Sư hỏi lại: »Chỉ dạy ở chỗ nào?« Ðạo Ngộ bảo: »Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi xá lui, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?« Sư nghe đây hội được đôi chút, lại hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Ðạo Ngô bảo: »Mặc tính tiêu dao, tuỳ duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác.« Sư nhân câu này triệt ngộ. Sau Sư đến trụ tại Long Ðàm, dạy môn đệ.|Có một vị ni đến hỏi: »Làm sao tu để thành Tăng?« Sư không đáp, hỏi: »Làm ni đã bao lâu?« Ni hỏi nữa: »Lại có khi làm tăng chăng?« Sư bảo: »Hiện nay ngươi là gì?« Ni đáp: »Hiện nay là ni ai chẳng biết!« Sư đáp: »Ai biết ngươi?«|Không biết Sư mất năm nào.

Long Đàm Sùng Tín

(龍潭崇信, Ryūtan Sōshin, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường. Ông xuất gia với Thiên Hoàng Đạo Ngộ (天皇道悟) và ngộ được huyền chỉ. Sau ông đến vùng Long Đàm (龍潭), Lễ Châu (澧州, thuộc Tỉnh Hồ Nam), dựng am tranh tu tập. Môn hạ của ông có Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑).

long đầu

(龍頭) Cũng gọi Long thủ. Đầu rồng, chỉ cho cái quai để treo chuông. Sách Chu lễ và Chu lễ sớ gọi là Chung huyền, Toàn trùng, Chung toàn. Sách Mạnh tử chú thì gọi là Chung nữu. Hoặc có thuyết cho rằng gọi Long đầu là vì nhận lầm hình con bồ lao là hình con rồng. Bồ lao là con vật sống ở bờ biển, rất sợ cá kình, mỗi khi bị cá kình tấn công thì nó kêu lên inh ỏi. Đỉnh chuông được đúc giống hình con bồ lao, dùng chày gỗ hình cá kình để đánh, chuông kêu như bồ lao. Đời sau gọi tiếng chuông là kình thanh, là do điển tích này.

long đầu quan âm

(龍頭觀音) Bồ tát Quan âm ngồi trên đầu con rồng, là 1 trong 33 hóa thân Quan âm. Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 57 trung) nói: Nếu cần dùng thân trời, rồng, dạ xoa (...) để độ thì liền hiện những thân ấy mà nói pháp. Vì rồng là vua trong các loài thú nên được dùng để ví dụ cho uy thần của bồ tát Quan thế âm. [X. Phật tượng đồ vậng Q.2; (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

long đổ lạt ma toàn thư

(隆睹喇嘛全書) Tác phẩm, 31 quyển, do Lạt ma Long đổ thuộc phái Cách lỗ soạn. Nội dung chủ yếu là chú thích các loại danh từ của Hiển tông, Mật tông và Ngũ minh của Đại thừa, Tiểu thừa.

long ứng

(龍應) Ứng hiện thân rồng, 1 trong 32 tướng ứng thân của bồ tát Quan âm. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 129 thượng), nói: Nếu có các rồng muốn ra khỏi kiếp rồng, ta sẽ hiện thân rồng để nói pháp khiến được toại nguyện. (xt. Tam Thập Nhị Ứng).

Long-chen-pa

T: kloṅ-chen-pa; 1308-1364;|Ðại sư Tây Tạng phái Ninh-mã (t: nying-mapa), được tặng danh hiệu »Nhất thiết trí giả.« Sư đóng một vai trò quan trọng trong giáo pháp Ðại cứu kính (t: dzogchen) vì đã phối hợp được nhánh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) với nhánh Tì-ma-la Mật-đa (vimalamitra), đưa vào một hệ thống chung. Trong một cuộc đời tương đối ngắn, Sư đã viết 270 tác phẩm mà những tác phẩm quan trọng nhất được gọi là »bảy món quý«. Ðặc điểm của các tác phẩm của Sư là chiều sâu của tư tưởng và tính chất rõ rệt, chính xác. Những tác phẩm này vẫn còn tác động trong dòng Ninh-mã.|Lên 11 tuổi, Sư đã được gia nhập giáo hội và sau đó chú tâm học tập. Ngoài trường phái mình, Sư còn học thêm giáo pháp của các phái Tát-ca (t: sakyapa) và là đệ tử của Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ ba (1284-1339). Sau đó hai biến cố lớn xảy ra cho Sư: sau khi chứng được linh ảnh của Liên Hoa Sinh và đệ tử là Ye-she Tsog-yel, Sư có quan hệ trực tiếp các Không hành nữ (s: ḍākinī), được truyền thụ giáo pháp Ðại cứu kính và có trách nhiệm ghi lại thành văn bản chôn dấu (Ter-ma). Sau đó Sư lại gặp Tì-ma-la Mật-đa (s: vimala-mitra), được chân truyền phép Ðại cứu kính và tổng hợp hai dòng Ðại cứu kính nói trên thành một hệ thống duy nhất.|Long-chen-pa là vị trụ trì chùa Tang-duyên (t: samye) tại Trung Tây Tạng. Tuy thế phần lớn thì giờ, Sư vẫn hay đi vân du và sống viễn li. Sư cũng là người sửa chữa lại nhiều chùa, nhất là những chùa tại Bhutan trong thời gian Sư phải biệt xứ tại đó hàng chục năm. Ðời sau, có Jig-me Ling-pa (1730-1798) nghiên cứu rõ về Sư và đưa Sư lên hàng Ðại sư của dòng Ri-mê (rime)

loài người

Humanity—Mankind—The human beings—The human race.

loài vật đáng thương

Poor animals.

loáng thoáng

Vaguely.

loăng quăng

See Loanh quanh.

loại

Class—Species—To classify.

loại bỏ

To get rid of—To disqualify—To eliminate.

loại suy

Upamana (skt)—Upamanam (p)—Giải thích bằng cách so sánh sự giống nhau giữa vật nây với vật khác—Analogy or resemblance.

loại trí

Trí tuệ quán xét Tứ Đế của Dục giới gọi là Pháp Trí, ví với trí tục hay loại trí quán xét tứ đế của hai giới cao hơn là Sắc giới và Vô sắc giới—Knowledge which is of the same order, e.g. the four fundamental dogmas applicable on earth which are also extended to the higher realms of form and non-form. ; (類智) Phạm: Anvaya-jĩàna. Cũng gọi Vị tri trí, Vô sinh trí. Trí vô lậu quán xét Tứ đế ở cõi Sắc và cõi Vô sắc, là 1 trong 10 trí, 1 trong 11 trí. Trí này đồng loại với Pháp trí, là trí quán xét Tứ đế ở cõi Dục. [X. luận Tập dị môn Q.7; luận Câu xá Q.23]. (xt. Thập Trí).

Loạn

亂; C: luàn; J: ran;|1. Không trật tự, rối loạn, thiếu thận trọng. sự mất trật tự, sự quấy rầy, sự bối rối, cuộc cách mạng; 2. Mất trật tự, lúng túng, khích động, bối rối, bừa bãi; 3. Tâm tán loạn, phản nghĩa với Tập trung hoặc Định.

loạn

To be in disorder—To disturb—Perturb—Confusion—Rebelion.

loạn dâm

Incestuous.

loạn hạnh

Disorderly conduct.

loạn luân

See Loạn dâm.

loạn lạc

Troubled times.

loạn thiện

Chúng sanh trong cõi dục giới đem tâm tán loạn làm thiện căn lễ Phật, tụng kinh—To disturb the good—The confused goodness of those who worship, etc., with divided mind. ; (亂善) Các hạnh lành như lễ Phật, tụng kinh được thể hiện bằng tâm tán loạn. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 861 thượng), nói: Loạn thiện cõi Dục, khiến chúng sinh bị trói buộc ở hạ giới.

loạn thuyết

Foolish talk.

Loạn thức

亂識; C: luànshì; J: ranjiki;|Thức phân biệt hư vọng (s: bhrānti-vijñāna). (Theo Trung biên phân biệt luận 中邊分別論).

loạn trí

To be deranged—Derangement of mind—To be mad.

loạn tâm

Tâm niệm tán loạn, không trụ một nơi—A perturbed or confused mind—To disturb or unsettle the mind.

loạn tăng

A disorderly monk.

loạn tưởng

Tư tưởng rối loạn, không định tĩnh—To think confusedly or improperly. ; (亂想) Tâm tưởng tán loạn, buông thả, tức chỉ cho tất cả phiền não. Kinh Lăng nghiêm quyển 7 (Đại 19, 138 hạ), nói: Hòa hợp với khí thành tám vạn bốn nghìn loạn tưởng bay lặn. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 552 hạ), nói: Diệt trừ các loạn tưởng để chứng quả Sa môn.

loạn động

Pamada—Loạn động trái ngược với chánh niệm—Heedlessness—Disturbance—Distraction—Mental sloth as opposite of right mindfulness—Filth of the precepts in which intoxicating drinks are prescribed as tending to lead to pamada.

Loạn Ứng Nhân

(應仁の亂, Ōnin-no-ran): vụ đại loạn kéo dài 10 năm, từ năm thứ nhất (1467) niên hiệu Ứng Nhân (應仁) cho đến năm thứ 9 (1477) niên hiệu Văn Minh (文明), xảy ra dưới thời cầm quyền của Tướng Quân đời thứ 8 của thời đại Thất Đinh là Túc Lợi Nghĩa Chính (足利義政, Ashikaga Yoshimasa). Từ nguyên nhân cuộc phân tranh giành giựt kéo dài liên tục giữa hai dòng họ của Tướng Quân Túc Lợi (足利, Asikaga) và dòng họ Tư Ba (斯波, Shiba), quan Quản Lãnh vùng Cối Sơn (畠山, Hatakeyama), Đông Quân Tổng Đại Tướng Tế Xuyên Thắng Nguyên (細川勝元, Hosokawa Katsumoto) và Tây Quân Tổng Đại Tướng Sơn Danh Tông Toàn (山名宗全, Yamana Sōzen) mỗi người thống lãnh các Đại Danh, lấy vùng Tế Xuyên (細川, Hosokawa) ở kinh đô Kyoto làm trung tâm cho cuộc kháng tranh.

loạng choạng

To stagger—To totter.

loằng ngoằng

In zigzags

lu mờ

To be on the decline—To eclipse.

Lu-chi-ka-pa

S: lucikapa; »Kẻ lánh đời«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông thuộc dòng Bà-la-môn, nhàm chán cảnh sinh tử, rút lui sống ẩn. Ngày nọ, có một Du-già sư đi ngang, ông cầu khẩn xin được theo học. Vị này cho ông bước vào Chakra samva-ra tan-tra và truyền cho ông các phép quán tưởng. Sau mười hai năm tu học, ông đạt thánh quả và bày tỏ như sau:|Niết-bàn và Sinh tử,|là hai mặt không đồng,|nhưng ta không thấy khác.|Giải thoát là Ðại lạc;|còn dính mắc điều gì,|nhất định không thể thoát.|Còn có những câu:|Ðã từ kiếp vô thuỷ,|lang thang khắp mọi nơi.|Chỉ có bậc Ðạo sư,|như con thuyền vượt sóng.|Hãy dám bước lên đường,|đi đến nơi Tự tại – ngay tức khắc!

Lu-i-pa

S: lūipa; »Người ăn ruột cá«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Lu-i-pa là đệ tử của Sa-va-ri-pa (s: śavaripa), được xem là sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một vị hoàng tử đã nối ngôi vua cha, nhưng từ ngôi sống cuộc đời không nhà. Nhờ dung mạo đẹp đẽ, Lu-i-pa luôn luôn được nhiều thức ăn cúng dường. Ngày nọ, ông gặp hoá thân của một Không hành nữ (s: ḍākinī). Vị này nhìn được tâm ông và nói rằng: »Ngươi đã tu sắp thành đạt, nhưng trong tâm vẫn còn một chút kiêu mạn« và cúng dường thức ăn hư thối cho ông. Lu-i-pa vứt bỏ thì vị nữ thần lại nói: »Làm sao ngươi vượt được nhị nguyên, đạt Niết-bàn nếu ngươi còn phân biệt thức ăn ngon dở?«.|Tỉnh ngộ, ông tu tập, hành trì một Nghi quỹ mười hai năm liên tục nhằm đối trị sự kiêu mạn, từ bỏ mọi giá trị thế gian, chỉ biết ăn ruột cá và cuối cùng đạt được diệu nghĩa Ðại thủ ấn. Lu-i-pa có nghĩa »người ăn ruột cá«, được kể là người đầu tiên trong 84 vị Tất-đạt. Bài ca ngộ đạo của Lu-i-pa như sau:|Như một con chó điên,|bị bôi mật vào mũi,|có gì ngấu nghiến đó.|Cho kẻ khùng thế gian,|nghe bí mật Ðạo sư,|nó đốt cháy tâm thức|và cả dòng truyền thừa.|Cho một kẻ nhạy cảm,|biết Thật tại bất sinh,|thì chỉ một thoáng nhìn,|nơi linh ảnh Ðạo sư,|về ánh sáng thanh tịnh,|đủ phá tan ảo giác;|như một con voi say,|xông vào hàng ngũ địch,|mang gươm báu trên vòi

lui

To move back—To step back—To draw back.

lui lại

See Lui.

lui tới

To frequent.

lui về

To go back—To return.

lum khum

Curved back due to old age.

lung

Cái lồng—A cage.

lung sơn

(籠山) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Ẩn tu trong chốn núi rừng. Vị tăng vào núi tu hành gọi là Lung sơn tỉ khưu, Lung sơn tăng. Phân định giới hạn của khu vực lung sơn để cách li với bên ngoài, gọi là Lung sơn kết giới. Qui định này là do ngài Tối trừng, Tổ của tông Thiên thai Nhật bản đặt ra, chủ trương các học tăng thuộc tông Thiên thai phải vào ở trong núi Tỉ duệ 12 năm để tu tập Chỉ quán và Già na. Trong thời gian này không được bước ra khỏi cổng chùa. Qui định 12 năm là căn cứ vào kinh Tô tất địa yết ra quyển trung, trong đó có nói (Đại 18, 680 trung): Nếu người định thời gian tụng niệm, trải qua 12 năm, thì dù tội nặng đến đâu cũng đều thành tựu.

lung tung

In confusion—In disorder.

lung đầu

Bộ giàn trùm ln đầu ngựa (dùng để điều khiển và chế ngự con ngựa)—Blinkers for a horse's head.

Lung-gôm

T: lunggom [rLung-sgom]; nghĩa là »kiểm soát những dòng năng lượng trong cơ thể.« |Phương pháp Du-già (yoga) của Phật giáo Tây Tạng nhằm kiểm soát năng lực. Ðây là một phép tu có gắn liền với sự kiểm soát hơi thở của hệ thống Du-già (s: prāṇāyāma) và Bốn niệm xứ (s: smṛtyupashāna) của Phật giáo nguyên thuỷ. Người tu tập Lung-gôm kiểm soát yếu tố »gió« trong các Trung khu khí lực (s: cakra). Tương tự như thế, phép tu Nội nhiệt (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug) dạy hành giả kiểm soát yếu tố »lửa«. Trong thuật ngữ của Kim cương thừa thì »gió« (tiếng Tây Tạng: lung) tượng trưng cho một số năng lực luân lưu trong thân thể. Trong một số nơi thuộc Tây Tạng, phương pháp Lung-gôm được áp dụng để vượt qua những khoảng cách lớn trong một thời gian ngắn.

Luy Lâu

羸樓|Trung tâm phát triển Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam, nay là tỉnh Bắc Ninh. Luy Lâu là một trong ba trung tâm Phật giáo thời thế kỉ thứ 1, 2 bên cạnh Lạc Dương và Bành Thành, hai trung tâm thuộc Trung Quốc. Theo một số nhà nghiên cứu, Luy Lâu được hình thành trước cả hai trung tâm kia, thậm chí là nơi xuất phát của Lạc Dương và Bành Thành. Luy Lâu là nơi các tăng sĩ Ấn Ðộ đến bằng đường biển trước khi họ vào Trung Quốc nên giả thuyết nói trên có thể đứng vững. Ðây là một cứ điểm quan trọng cho thấy Phật giáo Việt Nam ban đầu được du nhập trực tiếp từ Ấn Ðộ chứ không phải chỉ từ Trung Quốc truyền xuống.

luyến

To be fond of, hanker after—To cleave to.

luyến mộ

See Luyến.

luyến trước

(戀著) Luyến mộ cảnh thích ý, chấp trước không lìa bỏ. Như tham lam nữ sắc chính là gông cùm của sinh tử, phàm phu bám dính vào, không gỡ ra được. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 12 trung), nói: Các con còn nhỏ dại chưa có sự hiểu biết, nên luyến trước vào cảnh vui chơi của thế gian.

luyến ái

Ái mộ—Tham luyến—Trong Tứ Thánh Đế, Phật Thích Ca đã dạy rằng luyến ái là căn cội của khổ đau. Từ luyến ái nẩy mầm sầu khổ và sợ hãi. Người nào thoát khỏi luyến ái thì sẽ không còn sầu khổ sợ hãi nữa. Càng luyến ái thì càng khổ đau—Attachment—In the Four Noble Truths, Buddha Sakyamuni taught that attachment to self is the root cause of suffering. From attachment (craving) springs grief and fear. For him who is wholly free from attachment, there is no grief and much less fear—The more attachments one has, the more one suffers.

luyện

Huấn luyện—To drill—To exercise—To practice—To train.

luyện căn

(練根) Đồng nghĩa: Chuyển căn, Tăng tiến căn (Phạm:Indriya-vivfdhi). Tu luyện và điều hòa căn tính. Chỉ cho người tu hành ở giai vị Gia hạnh, điều luyện căn tính từ bậc hạ lên bậc trung, hoặc bỏ qua bậc trung mà lên thẳng bậc thượng, làm cho căn tính ngày càng thù thắng hơn. Theo luận A tì đạt ma thuận chính lí quyển 7, thì Luyện căn là ngăn chặn sự hiện hành của Bất nhiễm ô vô tri do Kiến hoặc và Tư hoặc dẫn khởi, khiến cho các căn trở nên thù thắng hơn. Trong đó, hành giả còn ở địa vị Hữu học dùng 1 gia hạnh, 1 vô gián và 1 giải thoát đạo để trừ bỏ cái vô tri do Kiến hoặc dẫn khởi; còn hành giả ở địa vị Vô học thì dùng 1 gia hạnh, 9 vô gián và 9 giải thoát đạo để trừ bỏ cái vô tri do Tư hoặc dẫn khởi để chuyển các căn. Năm chủng tính trước trong 6 chủng tính thuộc hàng phàm phu (dị sinh), Tín giải và Vô học đều tu luyện căn, nhưng hành giả Dục giới kinh sinh (sống trong cõi Dục) ở giai vị Kiến đạo và quả Bất hoàn thì không có Luyện căn. Là vì thời gian Kiến đạo hết sức nhanh chóng, không tu gia hạnh, nên không cần phải luyện căn. Còn bậc Thánh thuộc Dục giới kinh sinh thì căn tính đã rất thuần thục, nên cũng không cần tu luyện căn. Ngoài ra, cứ theo luận Du già sư địa quyển 57, thì hàng Độc giác và Bồ tát vốn có lợi căn, nên không cần tu luyện căn. [X. luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.56; luận Câu xá Q.21, 24; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13]. (xt. Chuyển Căn).

luyện hành

Tu hành bằng giới luật của tôn giáo—Religious training or discipline.

luyện ma

Mài dũa—Ba điều kiện để duy trì sự tiến bộ của Bồ Tát—To drill and grind. Three Bodhisattva conditions for maintaining progress: 1) Theo học và lắng nghe những vị đã đạt được giác ngộ: The fixing of attention on those who have attained enlightenment. 2) Luôn luôn theo dõi hay quán sát mục tiêu của chính mình: Examination of one's own purpose. 3) Nhận thức được khả năng của người để luôn giữ được tánh khiêm cung từ tốn: To be humble by the realization of the power or ability at work in others.

luyện nhã

Aranya (skt)—Tên gọi tắt của từ A Luyện Nhã—Hermitage—See A Luyện Nhã.

luyện thiền

(煉禪) Cũng gọi Cửu thứ đệ định. Chỉ cho loại thiền định thứ 2 trong 4 loại thiền định: Quán, Luyện, Huân, Tu. Tu Quán thiền thì được 8 thứ định của cõi Sắc và cõi Vô sắc, khi vào Luyện thiền thì 8 thứ định trên vẫn còn cặn bã nhơ nhớp sót lại, cho nên phải đi từ cạn đến sâu, lần lượt gạn lọc cho hết cặn bã để trừ bỏ cái nhơ. Tu hữu lậu định và vô lậu định để trừ bỏ cái nhơ đó gọi là Luyện thiền. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.hạ]. (xt. Cửu Thứ Đệ Định].

luyện điển

Luyện điển là lối tu luyện của tà đạo—To practice the “Balancing of body energy currents.” This is the way of heterodex practice.

luân

Cakra (skt)—Tra Yết La—Bánh xe—Wheel—Disc—Rotation—To revolve (v). ** For more information, please see Tam Luân, Ngũ Luân and Cửu Luân.

luân bảo

Bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương, giúp ngài du hành các nơi để hàng phục chúng sanh. Có bốn loại bằng vàng, bạc, đồng và sắt—A Cakravatin's wheel, either gold, silver, copper or iron, manifesting his rank and power: 1) Kim Luân Vương: Cakravatin's Gold Wheel. 2) Ngân Luân Vương: Cakravatin's Silver Wheel. 3) Đồng Luân Vương: Cakravatin's Copper Wheel. 4) Thiết Luân Vương: Cakravatin's Iron Wheel. ; (輪寶) Phạm: Cakra-ratna. Pàli: Cakka-ratana. Bánh xe báu, 1 trong 7 thứ báu của vua Chuyển luân Thánh vương. Phẩm Chuyển luân Thánh vương trong kinh Khởi thế quyển 2 (Đại 1, 317 thượng), nói: Vua Chuyển luân Thánh vương xuất hiện ở châu Diêm phù (...) vào ngày trăng tròn, quần thần vây chung quanh vua, lúc ấy trước mặt vua, có bảo luân hốt nhiên xuất hiện, đầy đủ 1.000 nan hoa, tự nhiên thành tựu, không do thợ tạo tác. Bảo luân có 4 loại: Kim luân bảo (bánh xe bằng vàng), Ngân luân bảo (bánh xe bằng bạc), Đồng luân bảo (bằng đồng) và Thiết luân bảo (bằng sắt). Ngoài ra, giáo pháp của đức Phật nói ra có thể phá tan vô minh phiền não, các điều xấu ác và tà kiến của ngoại đạo, cho nên giáo pháp ấy được ví như bánh xe của Luân vương đánh dẹp quân địch ở 4 phương và khi đức Phật thuyết pháp gọi là Chuyển pháp luân. Bánh xe có 8 nan hoa hoặc 12 nan hoa, tượng trưng cho 8 chính đạo và 12 nhân duyên. Ngoài ra, trong các vị tôn của Mật giáo, cũng có vị dùng Kim luân làm danh hiệu. Lại như Nhất tự kim luân, Tối thắng Phật đính, Kim cương luân trì Kim cương bồ tát, Chuyển pháp luân bồ tát, v.v... đều dùng Kim luân làm hình Tam muội da. Còn như Chuẩn đề Phật mẫu, Như ý luân Quan âm, Đại tùy cầu bồ tát, v.v... đều cầm Kim luân. Lại nữa, trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, thì tay cầm Kim luân được gọi là Kim luân thủ. [X. Tạp a hàm Q.27; kinh Đại thiện kiến vương trong Trung a hàm Q.14; kinh Chuyển luân vương trong Trung a hàm Q.15; kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành trong Trường a hàm Q.7; phẩm Chuyển luân Thánh vương trong Trường a hàm Q.18; kinh Tăng nhất a hàm Q.33, 48; phẩm Chuyển luân vương trong kinh Đại lâu thán Q.1; kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật; luận Câu xá Q.11, 12].

luân chuyển

1) Xoay vòng: To rotate. 2) Luân Chuyển trong Ba Cõi Sáu Đường: Samsara (skt)—The turning of the wheel—Transmigration in the three realms and six ways. 3) Bánh Xe Luân Hồi: The wheel of transmigration. 4) Vòng sanh Tử: The round of existence.

luân duyên

See Luân Mãn.

luân hoàn

To turn around.

luân hoán chủ thần giáo

(輪換主神教) Chỉ cho tông giáo chỉ thờ 1 vị thần linh làm chủ trong một thời kì nào đó rồi thay đổi để tôn thờ vị thần linh khác. Chẳng hạn như Đa thần giáo thường ở 1 thời kì nào đó, tôn thờ 1 vị chí tôn làm chủ, mà quên các thần khác. Rồi đến 1 thời kì nào đó, lại bỏ vị thần chí tôn này mà thay thế 1 vị chí tôn khác làm chủ, cho nên được gọi là Luân hoán chủ thần giáo. Hiện tượng này đã xuất hiện ở Cổ Ấn độ(như Phạm thiên, Thấp bà, Tì thấp nô) cũng như ở Cổ Hi lạp (như Trụ tư, Nhã điển na, A ba la), v.v...

Luân hồi

輪迴; S, P: saṃsāra; T: 'khor ba; nguyên nghĩa Phạn ngữ là »Lang thang, trôi nổi«; có khi được gọi là Vòng sinh tử, hoặc Sinh tử (生死);|Chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn. Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện (s: akuśala), gồm có Ái (s: tṛṣṇā), sân (s: dveśa) và Si (s: moha) hay Vô minh (s: avidyā). Nghiệp (s: karma) là động cơ tác động lên cơ chế của sự tái sinh. Trong Ðại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết-bàn.|Cội nguồn của luân hồi từ đâu, Hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Ngài, chúng chẳng giúp ít gì trên con đường tu tập. Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh.

luân hồi

Samsara—To revolve—To turn around the wheel of life. ; (輪回) Phạm: Saôsarà. Hán âm: Tăng sa lạc. Cũng gọi Sinh tử, Sinh tử luân hồi, Sinh tử tương tục, Luân hồi chuyển sinh, Lưu chuyển, Luân chuyển. Bánh xe quay vòng. Chúng sinh do hoặc nghiệp (tham sân si) chết trong kiếp này, rồi lại sinh vào kiếp khác, hệt như cái bánh xe, cứ quay vòng mãi mãi trong 3 cõi. Đây là 1 trong những giáo nghĩa chủ yếu của Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại, Phật giáo dùng theo và phát triển thêm thành giáo nghĩa Phật giáo. Nhưng có điểm khác nhau là: Bà la môn giáo cho rằng 4 giai cấp và tiện dân, trong quá trình luân hồi, đời đời kiếp kiếp vẫn y theo giai cấp ấy, không có gì thay đổi. Còn Phật giáo thì chủ trương rằng: Trước khi có nghiệp báo thì chúng sinh đều bình đẳng, nếu ở hạ đẳng mà kiếp này tu thiện đức, thì kiếp tới có thể sinh làm thượng đẳng, thậm chí có thể sinh lên cõi trời. Còn nếu kẻ ở thượng đẳng mà kiếp này làm ác, thì kiếp sau có thể sinh vào hạ đẳng, thậm chí sinh xuống địa ngục. Đây chính là nguyên nhân của sự bất bình đẳng ở nhân gian. Nếu muốn diệt cái khổ luân hồi trong 6 đường, thì trước hết phải tiêu trừ nhân tham, sân, si, vì đó chính là cái mầm mống khiến cho chúng sinh mãi mãi lưu chuyển trong 3 cõi. Nếu cắt đứt được ngã chấp và tham sân si, thì cái khổ luân hồi cũng sẽ chấm dứt. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2; kinh Phân biệt nghiệp báo Q.thượng; phẩm Quán vô lượng tâm trong kinh Quán Phật tam muội hải Q.6; kinh Pháp hoa Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.41; kinh Niết bàn Q.16 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.30, Q.77; luận Thành duy thức Q.4].

luân hồi là niết bàn, niết bàn là luân hồi

Reincarnation. • Luân là bánh xe hay cái vòng, hồi là trở lại; luân hồi là cái vòng quanh quẩn cứ xoay vần: Reincarnation means going around as the wheel turns around. • Thế giới nầy là Ta bà hay Niết bàn là hoàn toàn tùy thuộc vào trạng thái tâm. Nếu tâm giác ngộ thì thế giới nầy là Niết bàn. Nếu tâm mê mờ thì lập tức thế giới nầy biến thành Ta Bà—Whether the world is Samsara or Nirvana depends entirely on our state of mind. If our mind is enlightened, then this world is Nirvana; if our mind is unenlightened, then this world is Samsara. • Với những ai biết tu thì ta bà là Niết Bàn, và Niết Bàn là ta bà: For those who strive to cultivate, samsara is Nirvana, Nirvana is samsara.

luân hồi sanh tử

Samsara (p & skt)— The cycle of births and deaths (birth, deah, and rebirth)—Luân hồi sanh tử trong đó chúng sanh cứ lập đi lập lại sanh tử tử sanh tùy theo nghiệp lực của mình—The state of transmigration or samsara, where beings repeat cycles of birth and death according to the law of karma.

luân lý

Moral.

luân lý phật

The Buddha moral code

luân lý tông giáo

(倫理宗教) Nithi Dharma, Ethical Religion. Tác phẩm, do ngài Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) người Ấn độ soạn theo phương ngôn Gujarat. Nội dung sách bao gồm những hạng mục như: Nghĩa vụ đạo đức, Đạo đức tối cao, Định nghĩa đạo đức, Pháp tắc siêu việt vạn pháp, Đạo đức và điều thiện phổ biến v.v... Ngài Gandhi đã nêu vấn đề: Không ngừng phản tỉnh nội tâm một cách chân thành, đó là nghĩa vụ hàng đầu của mỗi người. Những việc làm thiện tự phát không mong cầu gì cả, mới chính là hành vi thiện cao cả nhất. Ngài cho rằng đạo đức giống như mặt trời, siêu việt thời, không và nhân chủng. Ngài cũng chủ trương giữa tông giáo và đạo đức không có ranh giới rõ rệt, hi vọng người đời phân biệt rõ ràng giữa chân lí và cái thiện giả dối. Cuối cùng, ngài kết luận rằng chỉ có kiên trì giữ tính chân thật, không để cho tư ngã làm ô nhiễm, cống hiến trọn vẹn cho cuộc sống thực tiễn, mới có thể hưởng được hạnh phúc chân chính. [X. Mahatma Gandhi, A Biography, 1958 (B.R. Nanda)].

luân lưu

In turn—By turns.

luân mãn

Luân Duyên—Vành xe hay vỏ xe—A felly or tire.

luân phiên

In turn—By turns—Alternate—To take turns (a rotation of duties).

luân phúc

Căm xe—Wheel-spokes.

luân sai

(輪差) Cũng gọi Luân phiên. Thay phiên nhau làm việc như bánh xe quay vòng. Môn Tạp hành trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Từ thượng vị lần lượt đến hạ vị, hết lượt lại bắt đầu từ thượng vị, như bánh xe quay vòng, cho nên gọi là Luân sai. Ngoài ra, còn có danh từ Luân sai tăng bạ là quyển sổ ghi tên của chư tăng theo thứ tự giới lạp. [X. điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

luân thường

Morals.

luân tướng

Vầng lọng trên đỉnh tháp, hoặc dưới chân của Chuyển Luân Thánh Vương hay Phật (vòng lộng thường có chín tầng gọi là cửu luân)—The wheel sign, on the top of a pagoda, or on the feet of a cakravartin or Buddha. ** For more information, please see Cửu Luân. ; (輪相) I. Luân Tướng. Cũng gọi Tướng luân, Thừa lộ bàn, Luân cái. Bộ phận kiến trúc hình cái lọng trên đỉnh tháp. Ở Nhật bản bộ phận này thường là 9 lớp nên gọi Cửu luân. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 226 hạ) nói: Đáy phẳng nhỏ bằng quả táo, trên đặt luân tướng, ngọn nhỏ như cây kim. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Thừa Lộ Bàn). II. Luân tướng. Dưới bàn chân của đức Phật có những vằn xoáy ốc như nghìn chiếc bánh xe, là 1 trong 32 tướng tốt của Phật. Đức Phật thường đi các nơi để hoằng dương diệu pháp, cũng như Quốc vương ngồi xe tuần du trong nước, vì thế có câu: Mỗi khi đức Phật bước đi, thì dưới chân Ngài có tướng nghìn bánh xe hiện lên.

luân tạng

Luân Tạng được xây giữa tầng tháp lớn với một cái trụ mở ra tám mặt, treo tất cả các bộ kinh lên đó, và làm bánh xe xoay vòng xung quanh, mỗi vòng quay là có công đức như đọc kinh (đây là phát kiến của Phó Đại Sĩ đời nhà Lương)—Revolving scriptures—A revolving stand with eight faces, representing the sacred canon—A praying wheel, the revolving of which brings as much merit to the operator as if he had read the whole scriptures. ; (輪藏) Cũng gọi Chuyển luân tạng, Chuyển quan kinh tạng. Cái giá sách để kinh trong lầu Đại tạng kinh. Cái giá này có hình dáng cái thạp 8 góc, chính giữa có 1 cái trục, ở dưới có bánh xe để dễ xoay chuyển, giúp người đứng ở một chỗ quay vòng cái giá mà có thể tìm ra quyển kinh mà mình cần ở trên đó. Mục Tháp miếu chí trong Thích môn chính thống quyển 3 (Vạn tục 130, 396 thượng), nói: Đầu đời Lương, Đại sĩ Thiện tuệ (Phó hấp, Huyền phong) thương xót người đời, tuy biết tin đạo, nhưng đối với Pháp bảo thì có người không biết chữ, hoặc biết chữ mà bận rộn nhiều việc, không có giờ rảnh để xem. Vì lẽ ấy, Đại sĩ dùng phương tiện, sáng chế ra tạng Chuyển luân, khiến cho người có lòng tin, xoay một vòng thì công đức cũng giống như người đọc kinh vậy. Đến đời Đường, hình thức Luân tạng được cải tiến đẹp đẽ hơn, có thiết trí khám thờ Phật, trang hoàng màu sắc, treo những tấm gương v.v..., khi quay vòng trông rất đẹp mắt. [X. Toàn đường văn Q.676]. (xt. Kinh Tạng).

luân tề

Trục hay trung tâm bánh xe—The navel or hub of a wheel.

luân tọa

Chỗ ngồi của vị Chuyển Luân Thánh Vương hay Phật—The throne of a Cakravatin or a Buddha.

luân vi sơn

Cakravala (skt)—Hai vòng núi đồng tâm tạo nên chu vi của thế giới—The double concentric circles of mountains forming the periphery of a world.

luân viên cụ túc

Mạn Đồ La như chiếc bánh xe (có đầy đủ vành, trục, nan hoa, tròn trịa đầy đủ), nói về công đức viên mãn của chư Phật không một chút khiếm khuyết (tập trung tất cả công đức chư Phật vào Mạn Đồ La để cho chúng sanh bước vào Phổ Môn)—A complete Mandala showing the Buddhas and others, symbolizing their works—A magic circle.

luân vương

Cakravartin (skt). 1) Tiếng Phạn là Chước Ca La Đại Cức Để Hạt La Xà hay Giá Ca Việt La—C(h)akravartin (skt). 2) Vị Chuyển Luân Vương vận chuyển luân bảo đi khắp nơi không trở ngại để hàng phục bốn phương—A ruler of the wheels of whose chariot roll everywhere without obstruction. 3) Vị quốc vương tối thượng cai trị thế giới—An emperor, a sovereign of the world, a supreme ruler. 4) Đức Phật với giáo thuyết phổ cập và pháp giới của Ngài—A Buddha whose truth and realm are universal (Buddha as universal spiritual king). 5) Dấu hiệu của Luân Vương là một cái dĩa gồm bốn thứ theo thứ tự—The symbol is the cakra or disc, which is of four kinds indicating the rank: • Kim Luân Vương: Gold cakra. • Ngân Luân Vương: Silver cakra. • Đồng Luân Vương: Copper cakra. • Thiết Luân Vương: Iron cakra. **For more information, please see Luân Bảo.

luân đa lợi hoa

1) Một loại ngọc quí thanh tịnh: A precious pearl that purifies. 2) Một loại hoa Luân Đa Lợi có mùi thơm: A specially fragrant flower.

luân đoá

(輪埵) Chỉ cho vành tai tròn trịa đẹp đẽ của đức Phật, là tướng thứ 42 trong 80 tướng tốt. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 381 (Đại 6, 968 trung), nói: Đức Thế tôn có vành tai dày, lớn và dài chấm vai, luân đóa thành tựu.

luân đóa

Vành tai tròn đầy, một trong những tướng hảo của Phật—Ears round and full, a mark of a Buddha. ** For more information, please see Tam Thập Nhị Hảo Tướng Của Phật.

Luận

論; S: śāstra;|Luận giải về giáo pháp đạo Phật, do các Luận sư Ðại thừa trình bày. Phần lớn các luận giải thích các Kinh (s: sūtra). Về mặt tính chất, luận khác kinh ở chỗ rất có tính lí luận đúng sai. Luận là một thành phần cơ bản trong Tam tạng của Phật giáo Trung Quốc.

luận

1) (v)—To comment—To discuss—To discourse upon—To reason over. 2) (n)—Sastra (skt)—Abhidharma—Upadesa—Discourses—Treatises on dogma—Philosophy—Discussions—Commentaries. 3) Luận Tạng: See Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section, and Abhdharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (論) I. Luận. Gọi đủ: Luận tạng. Phạm: Zàstra, Abhidharma. Pàli: Abhidhamma. Hán âm: A tì đạt ma, A tì đàm, Tì đàm. Hán dịch: Đối pháp. Phân biệt, chỉnh lí hoặc giải thuyết để chỉ rõ yếu nghĩa được nói trong kinh điển, là 1 trong 3 tạng. Trong Đại tạng kinh Hán dịch có 158 bộ luận, còn trong Đại tạng kinh Tây tạng (bản Bắc kinh) thì có tới 817 bộ. (xt. A Tì Đạt Ma). II. Luận. Chỉ cho Luận nghị, Luận nghĩa. Tức nhờ vào sự hỏi đáp qua lại mà nêu tỏ giáo nghĩa. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 15 thì Luận có 6 loại: 1. Ngôn luận: Dùng lời nói để luận bàn. 2. Thượng luận: Tôn trọng sự luận bàn. 3. Tranh luận: Chỉ sự luận bàn với thái độ nóng nảy. 4. Hủy báng luận: Luận bàn bằng lời lẽ thô bỉ. 5. Thuận chính lí luận: Chỉ cho sự luận bàn thuận theo lí luận chính xác. 6. Giáo đạo luận: Luận bàn với mục đích chỉ bảo chúng sinh. Trong 6 loại trên, 2 loại chót là luận chân thực. III. Luận. Chỉ cho các sách của Bà la môn Ấn độ học tập. Có 6 loại: 1. Thức xoa luận (Phạm: Zikwà): Sách dạy về âm thanh học. 2. Tì già la luận (Phạm: Vyàkaraịa): Sách dạy về văn pháp học. 3. Kiếp ba luận (Phạm: Kalpa): Sách dạy môn nghi lễ cúng tế. 4. Thụ để luận (Phạm: Jyotiwa): Sách dạy về các môn thiên văn, địa lí, toán số v.v... 5. Xiển đà luận (Phạm: Chandas): Sách dạy về môn vận luật học. 6. Ni lục đa luận (Phạm: Nirukta): Sách dạy về môn ngôn ngữ học.

luận a tỳ đạt ma câu xaù

Abhidharmakosa-Bhasya-Sastra—Bộ Luận “Kho Tàng Pháp Bảo” được Ngài Thế Thân soạn vào thế kỷ thứ năm sau Tây lịch. Đây là bộ luận quan trọng nhất, giải thích đầy đủ về tông phái Nhất Thiết Hữu Bộ của Phật giáo Tiểu Thừa, được Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The sastra of “Treasure Chamber of the Abhidharma” composed by Vasubandhu in the fifth century AD. This is the most important compilation of the Sarvastivada (Hinayana) teaching. It was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

luận biện trung biên

Madhyantavibhaga Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về Đức Phật Di Lặc—The sastra was composed by Vasubandhu on the Coming Buddha, Maitreya.

luận bàn

To discuss—To comment.

luận bản mẫu

(論本母) Pàli: Abhidhamma-màtikà. Cũng gọi Bản mẫu (Pàli:Màtikà). Tên bộ luận nằm ở đầu quyển của luận Pháp tập (Pàli: Dhamma-saígaịi), 1 trong 7 bộ luận lớn của Phật giáo Nam truyền. Nội dung Luận bản mẫu gồm 122 môn làm tiêu chuẩn cơ bản cho việc phân biệt các pháp, đại để có thể chia làm 2 loại: A. Tam tụ, có 22 môn: thiện pháp, bất thiện pháp, vô kí pháp; lạc thụ tương ứng pháp, khổ thụ tương ứng pháp, bất khổ bất lạc thụ tương ứng pháp.; dị thục pháp, dị thục pháp pháp, phi dị thục phi dị thục pháp pháp; dĩ thủ đương thủ pháp, bất dĩ thủ đương thủ pháp, bất dĩ thủ bất đương thủ pháp; dĩ nhiễm đương nhiễm pháp, bất dĩ nhiễm đương nhiễm pháp, bất dĩ nhiễm bất đương nhiễm pháp; hữu tầm hữu tứ pháp, vô tầm duy tứ pháp, vô tầm vô tứ pháp; hỉ câu hành pháp, lạc câu hành pháp, xả câu hành pháp; kiến sở đoạn pháp, tu sở đoạn pháp, phi kiến phi tu sở đoạn pháp; kiến sở đoạn nhân pháp, tu sở đoạn nhân pháp, phi kiến phi tu sở đoạn nhân pháp; lưu chuyển pháp, hoàn diệt pháp, phi lưu chuyển phi hoàn diệt pháp; hữu học pháp, vô học pháp, phi hữu phi vô học pháp; tiểu pháp, đại pháp, vô lượng pháp; tiểu sở duyên pháp, đại sở duyên pháp, vô lượng sở duyên pháp; liệt pháp, trung pháp, thắng pháp; tà định pháp, chính định pháp, bất định pháp; đạo sở duyên pháp, đạo nhân pháp, đạo tăng thượng pháp; dĩ sinh pháp, bất dĩ sinh pháp, đương dĩ sinh pháp; quá khứ pháp, vị lai pháp, hiện tại pháp; quá khứ sở duyên pháp, vị lai sở duyên pháp, hiện tại sở duyên pháp; nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp; nội sở duyên pháp, ngoại sở duyên pháp, nội ngoại sở duyên pháp; hữu kiến hữu đối pháp, vô kiến hữu đối pháp, vô kiến vô đối pháp. b. Nhị tụ, có 100 môn, có thể chia làm 13 loại: nhân: có 6 môn; tiểu và trung: có 7 môn; lậu: 6 môn; kết: 6 môn; hệ: 6 môn; bạo lưu: 6 môn; ách: 6 môn; cái: 5 môn; thủ trước: 5 môn; đại và trung: 14 môn; thủ: 6 môn; nhiễm: 8 môn; các nhị tụ khác: 18 môn. trong 122 môn nêu trên, nội pháp và ngoại pháp của 2 tụ đại và trung cùng 9 pháp của các nhị tụ khác là: kiến sở đoạn pháp, tu sở đoạn pháp, kiến sở đoạn nhân pháp, tu sở đoạn nhân pháp, hỉ câu hành pháp, lạc câu hành pháp và xả câu hành pháp, trùng lắp với các pháp trong tam tụ. tóm lại, luận bản mẫu là qui tắc làm tiêu chuẩn cho việc phân loại các pháp. các luận thư pàli phần nhiều dùng qui tắc này để phân biệt và giải thuyết các pháp. như phẩm tâm sinh khởi (phẩm 1) và phẩm sắc (phẩm 2) trong luận pháp tập đã căn cứ vào 3 pháp của môn thứ 1 trong 122 môn là: thiện, bất thiện và vô kí làm nền tảng để thuyết minh tâm, tâm sở và sắc. còn phẩm tổng thuyết (phẩm 3) và phẩm nghĩa thích (phẩm 4) thì dựa vào toàn bộ 122 môn làm cơ sở để giải thích tất cả pháp. các bộ luận về sau cũng áp dụng cách phân loại này. như các vấn nạn (pàli: paĩha-pucchà) trong các phẩm cuối của luận phân biệt (pàli:vibhaíga) và các danh mục được bàn đến trong các phẩm cuối của giới luận (pàli:dhàtukathà) cũng đều dùng 122 môn để phân biệt. luận phát thú (pàli:paỉỉhàna) thì nói rõ về mối quan hệ hỗ tương giữa 122 môn và 24 duyên. [x. nam phương thượng tọa bộ luận thư giải thuyết; a history of pàli literature, vol. ii (b.c.law)]. (xt. kinh bản mẫu).

luận chủ

(論主) Cũng gọi Luận sư. Chỉ cho tác giả của 1 bộ luận, là người thông suốt ý nghĩa của tạng Luận. Bài tựa trong Bách luận sớ (Đại 42, 234 hạ), nói: Ngài Thiên thân trước học Tiểu thừa, làm 500 bộ luận. (...) Sau chuyển sang Đại thừa,ngài lại tạo 500 bộ luận Đại thừa, cho nên người đương thời gọi ngài là Thiên bộ luận chủ(tác giả của1.000 bộ luận). (xt. A Tì Đàm Sư).

luận câu xá

Abhidharma Kosasastra.

luận cứu cánh nhất thừa bảo tánh luận

Ratnagotravibhagamahayanottara sastra—Bộ Luận Do Nặc Na Ma Đề soạn về Như Lai tạng trong Phật giáo Đại Thừa—The sastra was composed by Ratnamati on the Tathagatagarbha in Mahayana Buddhism.

luận du già sư địa

Yogacarabhumi Sastra—Bộ Luận được Ngài Di Lặc thuyết giảng và Ngài Huyền Trang dịch, nói về giáo lý căn bản của phái Du Già hay Duy Thức—The sastra was expounded by Maitreya and translated into Chinese by Hsuan-Tsang, about the doctrine of the Yogacara or Vijnanavada.

luận duy thức nhị thập

Vimsatika Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về Giáo Lý Duy Thức—The sastra was composed by Vasubandhu on the General Teaching of Consciousness.

luận duy thức tam thập tụng

Trimsika Sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về 30 câu kệ của giáo lý Duy Thức—The sastra was composed by Vasubandhu on the thirty stanzas of the Teaching of Consciousness.

luận gia

Sastra-writers—Interpreters—Philosophers. ; (論家) I. Luận gia. Người sáng tác luận, như các bồ tát Long thụ, Thiên thân v.v... soạn những bộ luận để tuyên dương giáo pháp của đức Phật. [X. Kim quang minh văn cú Q.4]. II. Luận Gia. Cũng gọi Thành luận nhân, Thành luận sư, Luận nhân, Luận sư. Chỉ cho Luận sư của tông Thành thực. Ma ha chỉ quán quyển 8 phần cuối của ngài Trí khải (Đại 46, 112 thượng), nói: Số luận sư cho rằng làm thân bồ câu, chim sẻ là báo quả, còn nhiều dâm dục là tập quả. Nhưng Luận gia thì nói thân bồ câu và dâm dục đều là báo quả, dâm dục do tham phát khởi, tham là tập quả. Theo Duy ma kinh sớ am la kí quyển 16 của ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản, trong các tác phẩm của các Tông tổ như Đại sư Trí khải, Đại sư Cát tạng v.v... thường đề cập đến các bậc thầy đời xưa như Số gia, Luận gia, Địa sư, Nhiếp sư v.v..., trong đó, Luận gia tức là Luận sư của tông Thành thực. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng, 8 thượng, hạ, 9 thượng, Pháp hoa huyền luận quyển 10, Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1, 7 v.v... có dùng từ Thành luận nhân, còn Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng, Ma ha chỉ quán quyển 3 thượng, Pháp hoa nghĩa sớ quyển 4,6 thì dùng từ Thành luận sư; Ma ha chỉ quán quyển 5 thượng dùng từ Luận nhân, Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng thì dùng từ Luận sư. (xt. Thành Thực Tông).

luận giải

To comment and explain.

luận khởi tín đại thừa

The treatise on the Awakening of Faith.

luận kim cang châm

Vajrasuci Sastra—Luận được soạn bởi Ngài Pháp Xứng, phê phán nghiêm khắc kinh Vệ Đà và địa vị tối thượng của Phạm Thiên—The sastra was composed by Dharmakirti, seriously criticized about the Veda sutra and the supreme position of Braham in Hinduism.

luận lực ngoại đạo

(論力外道) Tên 1 phái ngoại đạo ở thời đại đức Phật còn tại thế. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 thì ngoại đạo này thường tự khoe khoang về sức nghị luận của mình, cho nên tự xưng là Luận lực. Về sau, biết được đức Phật dùng chính hạnh giáo hóa nên cảm thấy xấu hổ mà dốc lòng qui y Phật. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 2 (Đại 46, 440 trung) nói: Đức Phật hỏi ngoại đạo Luận lực: –Những người trong đạo của các ông ai là bậc nhất? Đáp: Lộc đầu là bậc nhất. Phật nói: Ông ấy là bậc nhất, tại sao lại bỏ đạo mà theo làm đệ tử ta? Ngoại đạo Luận lực nghe vậy, hổ thẹn cúi đầu, qui y theo Phật.

luận nghĩa

(論義) Cũng gọi Luận nghị, Giảng luận, Pháp vấn, Vấn đáp. Mượn lối hỏi đáp để nêu rõ giáo nghĩa, hiển bày chân lí khiến cho đối phương hiểu rõ nghĩa lí. Phương thức luận nghĩa thông thường là dùng pháp Nhân minh, tức là giữa người lập luận và người vấn nạn tranh luận về nghĩa của tông chỉ đã được lập để phán quyết đúng sai. Như Luận quĩ, Luận thức của ngài Thế thân, Nhân minh chính lí môn luận của ngài Trần na, Nhân minh nhập chính lí luận của ngài Thương yết la chủ v.v... đều có qui định về luận thức này. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 1, đức Thế tôn dùng các phương pháp luận nghị để nói rõ A tì đạt ma cho các hữu tình. Sau khi đức Phật nhập diệt, giữa các đệ tử thực hành luận nghị, vấn đáp, phong trào học tập, nghiên cứu A tì đạt ma do đó mà được phát triển, phong trào giải thích và quyết định những điều còn nghi ngờ bỗng nhiên bộc phát. Đồng thời, các đệ tử của Phật cũng tranh luận với các luận sư ngoại đạo để làm sáng tỏ chính tà. Tại Trung quốc, từ thời Đông Tấn, ngài Chi độn giảng thuyết kinh Duy ma, cử ông Hứa tuân làm Đô giảng (người nêu câu hỏi) để luận nghĩa, thì giảng hội của các chùa phần nhiều cũng áp dụng phương thức này, có khi tranh luận cả với Nho giáo và Đạo giáo. Ở Nhật bản, bắt đầu từ hội Duy ma do vua ban sắc tổ chức, thì các pháp hội luận nghĩa được thiết lập ở các chùa lớn cũng dần dần được hình thức hóa, đồng thời cũng có sự trao đổi luận nghĩa giữa các tông và các phái khác. Về chủng loại, căn cứ vào mục đích có thể chia làm 2 loại là: Pháp lạc luận nghĩa và Khuyến học luận nghĩa, căn cứ vào trường sở thì có thể chia ra 3 loại là: Nội luận nghĩa (Điện thượng luận nghĩa); Tiên động luận nghĩa và Vũ gia luận nghĩa; còn dựa theo hình thức thì có thể chia làm 2 loại là: Phiên luận nghĩa (người hỏi và giảng sư mỗi người là một tổ) và Hướng vấn đáp(giảng sư và người hỏi thay nhau vấn đáp) v.v... Ngoài ra, người thi luận nghĩa, gọi là Thụ nghĩa. Thay phiên đọc kinh luận mà hỏi đáp và tiếp nhận sự phê bình của người giảng, gọi là Hội độc. Đề mục của luận nghĩa gọi là Luận đề; sách tham khảo luận nghĩa gọi là Luận nghĩa sách tử, Luận thảo. Thiền tông dùng phương thức vấn đáp để khiến người học xa lìa phân biệt, chứng nhập bồ đề, thì gọi là Thiền vấn đáp. [X. luận Đại trí độ Q.1, 33; luận Du già sư địa Q.15, 88; Lương cao tăng truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.6; Nhật bản thư kỉ Q.25]. (xt. Nhân Minh).

luận nghị

Upadesa (skt)—Luận về bộ kinh thứ 12 trong số 12 bộ kinh Phật—Dogmatic treatises, the twelve and the last section of the canon. ; (論議) I. Luận Nghị. Mượn sự hỏi đáp qua lại để bàn rõ về nghĩa lí của pháp môn. (xt. Luận Nghĩa). II. Luận Nghị. Phạm: Upadeza. Hán âm: Ưu bà đề xá, Ưu ba đề xá, Ưu ba thế da. Gọi đủ: Luận nghị kinh. Hán dịch: Pháp nghĩa, Thuyết nghĩa, Pháp thuyết. Sự luận bàn, phân biệt giữa đức Phật và các vị đệ tử để làm rõ nghĩa kinh, là 1 trong 12 thể tài kinh của kinh. Ngoài ra, đức Phật tự bàn luận, hỏi đáp để biện lí, hoặc các vị đệ tử bàn luận về lời đức Phật dạy, hoặc bàn về pháp tướng tương ứng với Phật, cũng gọi là Luận nghị. Luận Du già sư địa quyển 25 (Đại 30, 419 thượng) nói: Thế nào là luận nghị? Nghĩa là hết thảy A tì đạt ma (luận) nghiên cứu nghĩa sâu xa của Tố đát lãm (kinh), tuyên dương tất cả tông chỉ cốt yếu của khế kinh, đó gọi là Luận nghị. (xt. Ưu Ba Đề Xá).

luận nhiếp đại thừa

Mahayanasamgraha Sastra—Bộ Luận được Ngài Vô Trước soạn về Phật Giáo Đại Thừa—The sastra was composed by Asanga on the Mahayana Buddhism.

luận nhơn minh nhập chánh lý

Nyayapravesa Sastra—Bộ Luận được Ngài Do Thương Kiết La Chủ soạn, nói về Luận Lý học—The sastra was composed by Sankarasvamin, written on “Introduction to Logic.”

luận phật cốt biểu

(論佛骨表) Thư trần thỉnh của nhà văn học Hàn dũ đời Đường, Trung quốc, dâng lên vua Hiến tông. Năm Nguyên hòa 14 (819), vua Hiến tông muốn rước xá lợi của đức Phật đang thờ ở tháp Hộ quốc, chùa Pháp môn tại Phượng tường (tỉnh Thiểm tây) vào cung để cúng dường. Hàn dũ đứng trên lập trường của Nho giáo cực lực phản đối. Ông dâng Luận Phật cốt biểu (thư bàn về xương của Phật) lên vua Hiến tông. Vua cho rằng ông phạm tội khi quân, toan xử tử, nhưng nhờ các quan Đại thần xin tha tội cho ông, nên vua mới giáng chức và đày Hàn dũ đi làm Thứ sử Triều châu (Quảng đông). Trong thư tâu vua, Hàn dũ cho Phật giáo là tông giáo mọi rợ, trái với luân lí, đạo đức của Trung quốc. Vả lại, xương cốt là vật dơ bẩn, không nên để ở trong cung. Hơn nữa, thời kì ở ngôi của các vị Hoàng đế Trung quốc vốn lâu dài, nhưng sau khi đạo Phật được truyền vào thì tai họa cũng thường xảy đến, bởi thế không nên tin thờ Phật giáo.

luận phật địa kinh

Buddhabhumisutra-sastra—Bộ Luận chú giải về Kinh Phật Địa, được Ngài Thân Quang Đẳng soạn và Ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—The sastra explained the Buddhabhumi Sutra, composed by Bandhuprabha. It was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.

luận sa môn bất kính vương giả

Ordained Buddhists do not have to honor royalty—Thời vua An Đế nhà Tấn, vua xa giá từ Giang Lăng đến Giang Tây, quan Trấn Nam là Hà Vô Kỵ yêu cầu Đại Sư Huệ Viễn đích thân xuống núi nghinh tiếp đức vua. Đại sư lấy cớ đau yếu, khước từ không bái yết. Đến năm Nguyên Hưng thứ hai, quan Phụ Chánh Hoàn Huyền lại gởi cho Đại sư Huệ Viễn một văn thơ, trong đó có nhiều lý luận bắt buộc hàng Sa Môn phải lễ bái quốc vương. Đại sư soạn văn thư phúc đáp và quyển “Sa Môn Bất Kinh Vương Giả Luận” gồm 5 thiên được thành hình để hồi âm. Triều đình xem xong rất lấy làm nể trọng và phải chấp nhận quan điểm của ngài—During the time of Emperor An Đế, the emperor traveled from the Giang Lăng region to Jiang-Tsi; the Great General of the North named Hà-Vô-Kỵ requested the Great Master to descend the mountain to welcome the Emperor. The Great Master used the excuse he was ill and weak to decline this request. Then the second year of Nguyên Hưng reign period, Magistrate Hoàn Huyền once again sent the Greta Master another document. In it this magistrate gave many reasons why Buddhist Monks must bow and prostrate to the emperor. In response, the Great Master wrote a letter and the book with five volumes titled “Ordained Buddhists Do Not Have To Honor Royalty.” After the imperial court reviewed his writing, they highly repsected im and had no choice but to honor his views. **For more information, please see Huệ Viễn.

Luận sư

論師; S: ābhidharmika; P: ābhidhammika;|Chỉ một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni chuyên nghiên cứu A-tì-đạt-ma. Ðiều đó không có nghĩa rằng, họ không học Kinh và Luật của Tam tạng. Theo truyền thống, Phật Thích-ca được xem là Luận sư đầu tiên mặc dù Luận tạng được Kết tập sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Danh từ Luận sư được dịch theo cách dịch nghĩa của A-tì-đạt-ma là Luận, Luận tạng. Như thế người chuyên học Kinh tạng là một Pháp sư và vị chuyên học Luật tạng là một Luật sư.|Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ (Thượng toạ bộ), các vị Luận sư thường có nhiều uy tín hơn các vị tăng sĩ khác. Trong chuyến hành hương Ấn Ðộ, Pháp Hiển có kể lại về một Bảo Tháp chỉ được xây dựng nhằm tán thán A-tì-đạt-ma và được các Luận sư hành lễ trong những ngày nhất định.|Dần dần, danh từ Luận sư được dùng chỉ những Cao tăng với những bài luận giải (s: śāstra), đóng góp lớn cho sự phát triển của tư tưởng Phật giáo. Các vị như Long Thụ, Thế Thân, Vô Trước… đều được gọi là Ðại luận sư.

luận sư

See Luận Gia. ; (論師) Luận Sư. Phạm:Àbhidhàrmika. Hán âm: A tì đàm sư. Chỉ cho người thông suốt tạng Luận trong 3 tạng. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 13 có nêu ra sự khác biệt giữa Kinh sư, Luật sư và Luận sư. Điều Mạt thố la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 4 nói, chúng A tì đạt ma cúng dường ngài Xá lợi phất. Ở đây ý nói trong 3 tạng đặc biệt chú trọng tạng Luận và người giải thuyết tạng Luận được gọi là Luận sư hay A tì đàm chúng. Về sau, danh từ Luận sư cũng được dùng để chỉ cho những người sáng tác luận để xiển dương Phật pháp, chủ yếu chỉ cho các hành giả Đại thừa, như 10 vị Đại luận sư soạn Thành duy thức luận sớ. (xt. A Tì Đàm Sư). II. Luận Sư. Cũng gọi Luận gia. Chuyên chỉ cho các vị Luận sư của tông Thành thực. (xt. Luận Gia).

luận sớ

Phần giảng giải và phê bình Luận Tạng—Sastras with commentary.

luận sự

(論事) Pàli:Kathà-vatthu. Hán âm: Ca tha bạt thâu. Cũng gọi Luận sự thuyết (Pàli: Kathàvatthu-ppakaraịa). Tác phẩm theo lập trường của phái Đại tự ở Tích lan để đả phá các bộ phái dị chấp, tương truyền do ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-tissa), người chủ trì cuộc kết tập kinh điển lần thứ 3 soạn. Là 1 trong 7 bộ luận tiếng Pàli. Sách gồm 23 phẩm, 217 luận, cuối mỗi phẩm đều có phần Nhiếp tụng. Nội dung trình bày các cuộc tranh luận xảy ra trong tăng đoàn 3 thế kỉ trước (thời đại Phật giáo bộ phái), phê phán và bác bỏ 219 kiến giải của Đại chúng bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ v.v... mà chủ trương 7 quan điểm sau đây: 1. Quá khứ và vị lai không có thực thể. 2. Chẳng phải tất cả các pháp đều có thực. 3. Tứ đế có thể đạt được hiện quán nhanh chóng. 4. Không có Trung hữu. 5. Chứng đắc A la hán thì được Bất thoái chuyển. 6. Không có Bổ đặc già la (pudgala, cái ta) chân thực. 7. Sự tu đạo của Phật và hàng Nhị thừa có khác nhau. Tóm lại, đây là tác phẩm quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo bộ phái. Tên các bộ phái bị đả phá không được trực tiếp ghi trong sách này, nhưng được ghi bổ xung trong Luận sự chú (Pàli:Kathàvatthuppakaraịa-aỉỉhakathà) của ngài Phật âm (Pàli: Buddhaghosa), nhờ đó ta biết được có 16 bộ phái như Độc tử bộ, Chính lượng bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ v.v..., trong đó, phái Án đạt được đề cập đến nhiều nhất. Những điều được nói trong kinh Di lan vương sở vấn (Pàli: Milinda-paĩha) có liên quan mật thiết với sách này. Sách này hiện nay có xuất bản nguyên văn ( P.T.S. 1894-1897) bản dịch tiếng Anh (Points of Controversy, 1915), bản dịch tiếng Nhật (quyển 57, 58 trong Đại tạng kinh Nam truyền). Luận sự chú của ngài Phật âm được thu vào trong 5 bộ luận chú do chính ngài soạn. Một phần nguyên văn của Luận sự chú được ông Minayeff xuất bản (Journal of P.T.S. 1889). Luận sự hợp biên cũng được các ông Tá đằng Mật hùng và Tá đằng Lương trí dịch sang tiếng Nhật (Luận sự phụ Phật âm chú). [X. Rhys Davids: Question discussed in the Kathàvatthu (Journal of R.A.S. 1892); Mrs. Rhys Davids: Buddhist Psychology; B.C.Law: A History of Pàli Literature; G.P. Malalasekera: Dictionary of Pàli Proper names].

luận thuyết

Argumentation.

luận thành duy thức

Vijnaptimatratasddhi-sastra—Bộ Luận do Ngài Hộ Pháp Đẳng soạn về Tông phái Du Già và A Lại Da Thức—The sastra was composed by Dharmapala on the explanation about Yogacara and Alaya Consciousness.

luận thập trụ tỳ bà sa

Dasabhumika-Vibhasa-Sastra—Bộ Luận bàn về Thập Địa Phẩm, một chương quan trọng nhất trong Kinh Hoa Nghiêm, nói về hai giai đoạn đầu của quả vị Bồ Tát, đã tạo ảnh hưởng rất lớn với sự phát triển của các trường phái Tịnh Độ Trung Hoa. Cưu Ma La Thập dịch sang Hoa ngữ—The sastra was composed by Nagarjuna, discussed and explained the course of the development (ten stages) of a bodhisattva, one of the most important chapter in Avatamsaka Sutra, was the doctrinal basic of the early Chinese Pure Land schools. It was translated into Chinese by Kumarajiva.

luận trung quán

Madhyamaka Sastra (skt)— The Treatise on the Middle way or the Guide-Book of the School of the Middle Way—Bộ Trung Luận do Bồ Tát Long Thọ soạn, nhấn mạnh vào giáo lý Trung Đạo, giáo lý căn bản của trường phái Trung Quán của Phật giáo Đại thừa Ấn Độ. Theo Trung Quán, nghĩa chân thật của Tánh Không là Phi Hữu hay không thực chất—The sastra was composed by Nagarjuna. It stressed on the teaching of the Middle Way, the basic teaching of the Madhyamika school of the Indian Mahayana Buddhism. According to the Madhyamaka Sastra, the true meaning of Emptiness (Sunyata) is non-existence, or the nonsubstantiveness.

luận tránh

(論諍) Sự tranh luận trong nội bộ Phật giáo. Theo truyền thuyết, sau khi đức Phật nhập diệt, trong giáo đoàn đã phát sinh các cuộc tranh luận. Ngay từ cuộc kết tập kinh điển lần thứ 1(trong năm đức Phật nhập diệt), Phú lan na (Pàli:Puràịa) không tham dự nên đã phủ nhận kết quả của cuộc kết tập này. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, các tỉ khưu thuộc chủng tộc Bạt kì (Pàli: Vajjipttaka) tự đặt ra và thực hành Mười việc trái phép (Thập sự phi pháp) nên đã gây ra cuộc tranh luận với các vị Trưởng lão Da xá (Phạm: Yasa) v.v... thuộc Thượng tọa bộ, kết quả đã đưa đến cuộc kết tập lần thứ 2 để kiện toàn Luật tạng. Về sau, giữa phái Ca thấp di la và phái Kiện đà la thuộc Thuyết nhất thiết hữu bộ; giữa các ngài Phật hộ và Thanh biện trong phái Trung quán; giữa ngài Nguyệt quan (Phạm: Chandragomin) và ngài Giới hiền thuộc phái Du già và các ngài Nguyệt xứng (Phạm: Chandrakìrti) và Trí quang của phái Trung quán, đều đã có sự tranh luận. Ngoài ra, tại Tích lan, giữa Thượng tọa bộ thuộc phái Đại tự và Pháp hỉ bộ thuộc phái Vô úy sơn tự, cũng từng xảy ra tranh luận. Tại Miến điện, vào thế kỉ 18, giữa phái Thiên đản (Pàli: Ekaôsika, phái đắp y để trật 1 bên vai) và phái Thông y (Pàli: Pàrupaịa, phái đắp y phủ kín 2 vai) cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận. Tại Trung quốc, giữa phái Đông tháp với phái Tướng bộ thuộc Tứ phần luật tông đời Đường, giữa ngài Tuệ chiểu và ngài Viên trắc thuộc tông Pháp tướng; Nam tông thiền và Bắc tông thiền; giữa phái Sơn gia và phái. Sơn ngoại thuộc tông Thiên thai đời Bắc Tống; giữa phái Hổ khâu và phái Tam phong thuộc tông Dương kì cuối đời Minh v.v... tất cả đều đã có sự tranh luận nội bộ của Phật giáo. Vào thời đại Tam quốc, giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cũng xảy ra các cuộc tranh luận. Vào thời Tây Tấn, khi tranh luận với Phật giáo, Đạo giáo thường bị thua, cho nên đạo sĩ Vương phù đã ngụy tạo Lão tử hóa hồ kinh nhằm hạ uy tín Phật giáo. Rồi sang đời Đông Tấn thì nảy sinh các cuộc tranh luận liên quan đến những vấn đề trọng yếu như: Nhân quả báo ứng, Thần thức bất diệt, Sa môn bất kính vương giả v.v... Lại như những sự kiện phá hủy Phật giáo ở các thời Bắc Ngụy, Bắc Chu, Đường v.v... thường cũng do các cuộc tranh luận giữa Phật giáo, Đạo giáo hoặc Nho giáo dẫn đến, nhưng chủ trương Tam giáo dung hợp dần dần đã chiếm ưu thế. Tại Nhật bản, giữa các vị Tông tổ của các tông như các ngài Tối trừng, Nguyên không, Nhật liên v.v... cũng có sự tranh luận nội bộ. Còn về phương diện tranh luận với ngoại giáo, thì lúc Phật giáo mới truyền vào Nhật bản, đã va chạm với Thần đạo của bản xứ, đến cuối thời Bình an thì Thần Phật dung hợp. Nhưng đến thời đại Giang hộ thì những người Thần đạo và Nho gia đều có chủ trương bài Phật, nên thường xảy ra các cuộc tranh luận, để rồi đưa đến cuộc Thần Phật phân li, vào thời đại Minh trị.

luận trí độ

The Perfection of Wisdom Treatise.

luận tông

Tông phái Tam Luận—The Madhyamaka school of the San-Lun (Sanron)—The Abhidharma or sastra school. ; (論宗) Tông phái căn cứ vào Luận mà được thành lập. Cứ theo Đại nguyên đàm nghĩa tuyển yếu sao quyển thượng của sư Giác dự người Nhật bản, thì tông phái có 3 tông là Kinh, Luận và Thích; Kinh tông tức là tông Chân ngôn, kinh Hoa nghiêm v.v...; Luận tông tức là tông Câu xá, tông Thành thực, tông Pháp tướng, tông Tam luận v.v...; còn Thích tông thì như tông Thiên thai.

Luận tạng

論藏; S: abhidharma-piṭaka; P: abhidhamma-piṭaka;|Tên dịch ý của tạng thứ ba trong Tam tạng, dịch âm là A-tì-đạt-ma.

luận tạng

Abhidharma-Pitaka (skt)—A Tỳ Đạt Ma Tạng—Ưu Bà Đề Xá Tạng (Upadesa)—Luận Tạng là một trong ba tạng kinh điển. Luận Tạng bao gồm phần giải thích và biện luận kinh điển hay những lời Phật dạy. Luận Tạng đầu tiên được mọi người công nhận là của ngài Đại Ca Diếp, một đệ tử của Phật biên soạn, nhưng mãi về sau nầy mới hoàn thành. Bộ Luận tạng Hoa Ngữ gồm ba phần—Thesaurus of discussions or discourses, one of the three divisions of the Tripitaka. It comprises the philosophical works. The first compilation is accredited to Maha-Kasyapa, disciple of Buddha, but the work is of a later period. The Chinese version is in three sections: 1) Đại Thừa Luận: The Mahayana Philosophy. 2) Tiểu Thừa Luận: The Hinayana Philosophy. 3) Tống Nguyên Tục Nhập Tạng Chư Luận (960-1368 sau Tây Lịch): The Sung and Yuan Addenda (960-1368 AD).

luận vãng sanh

Rebirth Treatise—Commentary on the Longer Amitabha Sutra—Treatise on the Pure Land.

luận án

Dissertation—Thesis.

luận điểm phật pháp

From the view point (point of view) of the Dharma.

luận đàm

To converse.

luận đại thừa khởi tín luận

Mahayana-Sraddhotpada-Sastra, được Bồ tát Mã Minh soạn về lý thuyết và thực hành tinh yếu trong trường phái Đại Thừa—The sastra was composed by Asvaghosa, basic doctrines and practices in Mahayana.

luận đại thừa thành nghiệp

Karmasiddhiprakarana sastra—Bộ Luận được Ngài Thế Thân soạn về những hành vi của nhân loại—The sastra was composed by Vasubandhu on human beings' deeds.

luận đại thừa trang nghiêm

Mahayana-sutra-lamkara—Bộ Luận được Ngài Vô Trước soạn về những câu kệ của Ngài Di Lặc—The sastra was composed by Asanga on Maitreya's gatha (metrical hymn).

luận đại thừa tập bồ tát học

Siksasamuccaya Sastra—Bộ luận nói về giáo lý để tu tập Bồ Tát, được Ngài Pháp Xứng soạn—The sastra was composed by Dharmakirti about the doctrine and practices for Bodhisattvas.

luật

Vinaya or Uparaksa (skt)—Tiếng Phạn là Ưu Bà La Xoa hay Tỳ Ni, dịch là “luật” hay “giới luật.” Tên khác của Ba La Đề Mộc Xoa, tức là những quy luật của cuộc sống trong tự viện. Đây cũng là một trong ba tạng kinh điển. Người ta nói Ngài Ưu Ba Ly đã kết tập đầu tiên—Disciplines—Law—Rule—Other name for Pratimoksa, sila, and upalaksa. The discipline, or monastic rules; one of the three divisions of the Canon, or Tripitaka, and said to have been compiled by Upali—See Pratimoksa, and Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (律) Phạm: Vinaya. Hán âm: Tì nại da, Tì na da, Tị nại da. Cũng gọi: Tì ni, Tỉ ni. Hán dịch: Điều phục, diệt, li hạnh, thiện trị. Những qui luật do đức Phật chế định có liên quan đến đời sống đạo mà các tỉ khưu, tỉ khưu ni phải tuân thủ. Đệ tử Phật nếu phạm các điều ác thì Phật phải răn dạy, không được tái phạm nếu tái phạm thì phải bị xử phạt. Cho nên luật tất nhiên phải có thêm qui định xử phạt. Luật hay Giới tuy tên có khác nhau, nhưng cùng chung một thể, vì thế Luật thường được dùng chung với Giới mà gọi là Giới luật. (xt. Giới).

luật biến đổi

The law of transformation.

luật bộ ngũ luận

(律部五論) Năm bộ luận về giới luật của Tiểu thừa. 1. Kinh Tì ni mẫu, 8 quyển, được dịch vào khoảng đời Tần, không rõ dịch giả. 2. Kinh Tì ni ma đắc lặc già, 10 quyển, do ngài Tăng già bạt ma dịch vào đời Lưu Tống. 3. Thiện kiến luật tì bà sa, 18 quyển, do ngài Tăng già bạt đà la dịch vào đời Nam Tề. 4. Tát bà đa tì ni tì bà sa, 9 quyển, được dịch vào khoảng đời Tần, không rõ dịch giả. 5. Luận Luật nhị thập nhị minh liễu, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần thuộc Nam triều.

luật hành

Sự thi hành giới luật—The discipline in practice, to act according to the rules. ; (律行) Phụng hành giới luật. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 539 thượng), nói: Tuy là tại gia, nhưng vẫn vâng giữ luật hạnh thanh tịnh của bậc sa môn xuất gia.

luật hổ

(律虎) Chỉ cho người thông hiểu tạng Luật. Cao tăng Pháp nguyện ở chùa Đại hưng quốc vào đời Tùy, tinh thông Luật bộ, lời lẽ biện bác cao xa, người thời bấy giờ không ai dám đương đầu với sự biện luận sắc bén của ngài, do đó gọi ngài là Luật hổ. Lại nữa, khoảng thời Ngũ đại, ngài Trừng sở trụ trì chùa Tướng quốc tại Nam kinh, cũng do thông suốt tạng Luật mà được gọi là Luật hổ. [X. Tục cao tăng truyện Q.21; Thích thị yếu lãm Q.trung].

luật kinh căn bản thích

(律經根本釋) Cũng gọi: Thái dương đích quang minh thiện thích A hàm chi hải. Tác phẩm, do ngài Tuệ hiền (Tạng: Zesrab bzaí-po) soạn. Nội dung sách này là chú thích bộ Luật kinh (Tạng:Fdul-bai mdo) của ngài Đức quang (Tạng: Yon-tan od, sống vào khoảng thế kỉ VI), thuộc phái Hữu bộ của Tiểu thừa. Đây là bộ sách trọng yếu để nghiên cứu giới luật của Phật giáo Tây tạng và Mông cổ.

luật lệ

Rules and regulations.

luật lữ

(律呂) Dụng cụ điều chỉnh âm thanh. Cắt những ống trúc chia làm âm, dương, mỗi thứ 6 ống. Ống có dài, có ngắn. Do đó, khi phát ra âm thanh có trong, đục, trầm, bổng khác nhau. Ống dương là Luật, chia làm 6, gọi là Lục luật; ống âm là Lữ, cũng chia làm 6, gọi là Lục lữ, hợp chung lại gọi là 12 luật, được dùng làm qui tắc tiêu chuẩn để điều chỉnh âm thanh cho đúng. Ngoài ra, Luật lữ cũng được chỉ cho âm nhạc, còn gọi là Lữ luật. Tức là âm luật tiêu chuẩn cơ bản cho việc đọc canh (Phạm bái) và tấu nhạc. Khi âm điệu chuẩn mực, không rối loạn, thì gọi là Luật lữ bất sai. (xt. Thập Nhị Luật).

luật nghi

Luật pháp và quy tắc cho phép người Phật tử thuần thành hành động đúng trong mọi hoàn cảnh (pháp điều tiết thân tâm để ngăn ngừa cái ác gọi là luật, pháp giúp thích ứng với phép tác chân chính bên ngoài gọi là nghi)—Rules and ceremonies, an intuitive apprehension of which, both written and unwritten, enables devotees to practice and act properly under all circumstances.

luật nghi giới

Phần đầu trong Tam Tụ Tịnh Giới—The first of the three collections of pure precepts—See Tam Tụ Tịnh Giới (1).

luật nhân quả hiển nhiên không thể nghi ngờ hay nghĩ bàn

The truth of the law of Cause and Effect is self-evident, beyond doubt and inconceivable.

luật nhơn quả

Karma law—The law of causality—Law of Cause and Effect.

luật phái

Trường phái Luật tông—The discipline branch or school—See Luật Tông.

luật pháp

The laws or methods of the discipline; rules and laws.

luật sám

Phép sám hối mà giới luật đã trình bày—Repentance and penance according to the rules.

Luật sư

律師|Chỉ người chuyên tu học Luật tạng của Phật giáo. Danh hiệu này được sử dụng nhiều trong Phật giáo Trung Quốc khi Luật tông ra đời.

luật sư

Tu sĩ thông suốt giới luật của nhà Phật, gọi là Luật sư (chẳng phải là luật sư ngoài đời). ; Vị thầy giỏi giải thích về giới luật, nghĩa là biết được sự hành trì của luật, khéo giải thích khiến người nghe dễ hiểu và hành trì theo—Master and teacher of the rules of the discipline. ; (律師) I. Luật Sư. Phạm: Vinaya-dhara. Cũng gọi Trì luật sư, Luật giả. Người chuyên nghiên cứu, giải thích và đọc tụng môn Luật. Như các ngài Tuệ quang đời Bắc Ngụy, ngài Pháp lệ, Đạo tuyên, Hoài tố đời Đường... đều được gọi là Luật sư. Cứ theo kinh Bảo vân quyển 5 (Đại 16, 233 hạ), Bồ tát hội đủ 10 pháp được gọi là Luật sư, đó là: - Hiểu rõ nhân duyên sinh khởi Tì ni (Luật). - Hiểu rõ chỗ sâu xa của Tì ni. - Hiểu rõ những việc nhỏ nhiệm của Tì ni. - Hiểu rõ Tì ni việc này được, việc kia không được. - Hiểu rõ các giới có tính nghiêm trọng trong Tì ni. - Hiểu rõ nguyên do chế trọng giới trong Tì ni. - Hiểu rõ nhân duyên chế Tì ni. - Hiểu rõ Tì ni của Thanh văn. - Hiểu rõ Tì ni của Bích chi phật. - Hiểu rõ Tì ni của Bồ tát. [X. phẩm Kim cương thân trong kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.4; Hữu bộ tì nại da Q.13]. (xt. Luật Sư Tam Pháp). II. Luật Sư. Chức quan tăng lãnh đạo đoàn thể tăng ni. Về sau, chức này bị bãi bỏ để thiết lập Quyền Luật sư, là 1 trong các vị Tăng cương của Phật giáo Nhật bản. Luật sư, Tăng chính và Tăng đô gọi chung là Tam cương. Năm 1285, Luật sư được chuẩn nhận là Ngũ vị điện thượng nhân, từ sau thời Minh trị Duy tân thì được bãi bỏ. [X. Nhật bản thư kỉ Q.29; Hoằng an lễ tiết].

luật sư tam pháp

(律師三法) Ba pháp mà vị Luật sư phải thực hành. Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 6, thì 3 pháp ấy là: 1. Thực hành tạng Tì ni: Vị Luật sư phải thực hành luật, đọc tụng thông thạo, hiểu rõ văn nghĩa để sau dạy bảo người khác. 2. Kiên trì không lẫn lộn: Vị Luật sư phải giữ tâm khiêm tốn, kiên trì pháp luật, thông suốt tạng Tì ni và giải đáp cho người đúng theo thứ lớp, không được lẫn lộn. 3. Thụ trì không quên: Vị Luật sư phải ghi nhớ kĩ về tạng Tì ni đã được truyền thừa, nhân duyên trao truyền và pháp danh của những vị truyền nối theo thứ lớp v.v... (xt. Luật Sư).

luật thiên nhiên

Natural Law.

luật thiền

Hai tông phái Luật tông và Thiên tông—The two schools of Discipline and Intuition.

luật thiện kiến tỳ bà sa

Samantapasadika-Vinaya—Bộ Luật nói về những giới luật cho các Tăng sĩ thuộc phái Thượng Tọa Bộ, được Ngài Tăng Già Bạt Đà La dịch ra Hán tự—The Vinaya-Pitaka stressed on moral codes for the monks and nuns in the Theravada. It was translated into Chinese by Samghabhadra.

luật thừa

Cỗ xe giới luật, hay tông phái của giới luật. Giáo thuyết dạy về tu hành giải thoát bằng cách hành trì giới luật, hay nương theo tạng luật để tu hành giải thoát—The Vinaya-vehicle, the teaching which emphasizes the discipline.

Luật Tông

(律宗, Ris-shū): học phái chuyên nhấn mạnh về sự tu tập và nghiên cứu giới luật, do Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường thành lập nên ở Trung Hoa, lấy việc thọ trì Tứ Phần Luật (四分律) cũng như Tam Tụ Tịnh Giới (三聚淨戒) của Bồ Tát làm yếu nhân để thành Phật. Giới luật do đức Phật chế ra được thâu tập thành Luật Tạng; nhưng khi giáo đoàn phân liệt thì giới luật được truyền thừa khác nhau theo 20 bộ phái. Tại Trung Hoa, 4 bộ luật gồm Thập Tụng Luật (十頌律), Tứ Phần Luật (四分律), Tăng Kỳ Luật (僧祇律) và Ngũ Phần Luật (五分律) được lưu truyền. Trong đó, chỉ có Tứ Phần Luật là được phổ biến nhất, từ đó phân phái thành Tướng Bộ Tông (相部宗) của pháp Lệ (法礪, 560-635), Nam Sơn Tông (南山宗) của Đạo Tuyên (道宣, 596-667), Đông Tháp Tông (東塔宗) của Hoài Tố (懷素, 624-697). Học phái này cũng được truyền sang Nhật, và trở thành một trong 6 tông phái lớn vùng Nam Đô. Vào năm 754 (năm thứ 6 niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo [天平勝寳]), Giám Chơn (鑑眞, Ganjin)—cao đệ của Hằng Cảnh (恒景, Kōkei), đệ tử của Đạo Tuyên, đã từ Trung Quốc sang và truyền thừa tông này vào Nhật. Sau đó, ông thành lập 3 giới đàn tại Đông Tự (東寺, Tō-ji), Dược Sư Tự (藥師寺, Yakushi-ji), Quan Thế Âm Tự (觀世音寺, Kanzeon-ji) và khai sáng Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji) làm đạo tràng căn bản để nghiên cứu về giới luật cũng như làm ngôi chùa trung tâm chính cho tông phái này. Về sau, tông phái này trãi qua một thời suy vong, nhưng rồi được phục hưng lại nhờ nhóm Thật Phạm (實範, Jitsuhan), Giác Thạnh (覺盛, Kakujō) và Duệ Tôn (叡尊, Eison). Hơn nữa, nhóm Tuấn Nhưng (俊芿, Shunjō), Đàm Chiếu (曇照, Donshō) sang nhà Đường cầu pháp, rồi truyền giới luật vào Nhật và xác lập nên Bắc Kinh Luật (北京律) ở trung tâm Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Senjū-ji), đối lập với Nam Kinh Luật (南京律) của Giác Thạnh. Hiện tại, bên cạnh ngôi chùa Tổng Bản Sơn của Luật Tông là Đường Chiêu Đề Tự, còn có sự hiện hữu của giáo đoàn Chơn Ngôn Luật Tông (眞言律宗), lấy Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) làm Tổng Bản Sơn.

Luật tông

律宗; C: lǜzōng; J: ritsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc do Ðạo Tuyên (596-667) thành lập. Giáo pháp của phái này dựa trên Luật tạng của Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka), được ghi lại với tên Tứ phần luật. Chủ trương của giáo pháp này là giữ giới luật một cách nghiêm ngặt. Những quy luật này bao gồm 250 quy định cho tăng và 348 cho ni giới. Mặc dù các bộ Luật xuất phát từ Tiểu thừa, nhưng Ðại thừa Trung Quốc cũng đều tuân thủ nghiêm túc. Tông này được truyền qua Nhật năm 745.|Theo Ðạo Tuyên, việc giữ giới luật là một yếu tố quan trọng trong tu học. Sư nhấn mạnh đến tính quan trọng của việc quy y thế phát và ghi rõ các quy định của đời sống xuất gia.|Luật tông (j: ritsu-shū) Nhật Bản, xuất phát từ Luật tông Trung Quốc, được Giám Chân (鑒真; j: ganjin) Luật sư truyền qua Nhật năm 745. Ngày nay, Luật tông Nhật Bản vẫn còn tồn tại, nhưng không có ảnh hưởng tư tưởng nhiều trong nền Phật giáo tại đây.

luật tông

Vinayisme (skt)—The Vinaya school—Luật Tông là một nhánh Phật Giáo thoát thai từ phái Hóa Địa Bộ (Mahishasaka) và trở thành một bộ phận lớn của nhóm Sthavira, được sư Dharmagupta, người Tích Lan thành lập. Tuy nhiên, có nhiều người cho rằng người đầu tiên sáng lập ra Luật Tông tại Ấn Độ chính là ngài Ưu Ba Ly, một trong mười đệ tử lớn của Đức Phật. Ngài nổi tiếng với tác phẩm Luật Tứ Phần. Luật tông phát triển nhiều nhất ở miền nam Ấn Độ. Luật Tông là trường phái mà chủ thuyết dựa vào luật nghi tu hành của cuộc sống trong tự viện, một trường phái Phật giáo lớn của Trung Quốc và Nhật, nhấn mạnh đặc biệt việc tuân thủ nghiêm ngặt các qui tắc được Luật tạng đề ra. Tại Trung Quốc, Luật tông được ngài Đạo Tuyên sáng lập vào đời nhà Đường (theo tông nầy thì người ta chỉ cần tinh chuyên hành trì giới luật là được giải thoát, vì giữ giới trì luật mà sanh định, nhờ định mà sanh huệ). Văn bản chính yếu của phái nầy là “Tứ Phần Luật” —Vinaya school, or Discipline school, or Dhammaguttika literally means “protector of the teaching;” Buddhist school belonging to the larger grouping of Sthaviras. Developed out of the Mahishasaka school. It was founded by the Sinhalese monk Dhammagupta and was prevalent primarily in Southern India. However, Buddhist scholars believe that the founder of the school was Upali, one of the ten great disciples of the Buddha. He is known as the author of the “The Discipline of Four Divisions.” Vinaya School emphasizes the monastic discipline, a major school of Buddhism in China and Japan that primarily stresses strict observance of the rules laid down in the Vinaya-pitaka. The school was founded in China by T'ao-Hsuan of the T'ang dynasty. The main text of this school is the Four Parts of “Vinaya-Pitaka.”—See Luật Tứ Phần. ; (律宗) Tên một tông phái Đại thừa, y cứ vào bộ luật Tứ phần để truyền bá giới luật, lấy ngài Đàm vô đức (Ấn độ) làm khai tổ, do ngài Đạo tuyên (596-667) tập đại thành vào đời Đường, Trung quốc, lấy việc giữ giới thanh tịnh và diệu lí Nhất thừa viên đốn làm tông chỉ. Là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung quốc và 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật bản. Sau khi đức Phật nhập diệt, tôn giả Ưu ba li kết luật pháp, tụng 80 lần, gọi là Bát thập tụng luật. Sau đó, bộ Luật này được truyền cho 5 vị Đại tôn giả, trong đó, đến đời ngài Ưu bà cúc đa lại có 5 vị đệ tử, 5 vị này theo sự hiểu riêng của mình, rồi từ trong luật Thập tụng, mỗi vị rút ra những điều tương cận mà biên tập thành một bộ, đó chính là Ngũ bộ luật. Trong Ngũ bộ luật, bộ luật của ngài Đàm vô đức được gọi là Tứ phần luật. Thông thường nói đến Luật tông tức là chỉ cho Tứ phần luật tông, chuyên hoằng truyền luật Tứ phần, do ngài Đàm vô đức là Khai tổ, ngài Đạo tuyên đời Đường tập đại thành. Ngoại trừ Tứ phần luật, các bộ luật khác được truyền vào Trung quốc, còn có Thập tụng luật của Tát bà đa bộ, Ma ha tăng kì luật của Đại chúng bộ, Ngũ phần luật của Di sa tắc bộ, Ca diếp di bộ, chỉ truyền Giới bản, chứ Quảng luật thì chưa được dịch ra. Bởi vì, sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc, lúc đầu chỉ có các kinh điển Tiểu thừa được phiên dịch, đến ngài Cưu ma la thập, các kinh luận Đại thừa mới dần dần được dịch ra. Vào năm Hoằng thủy thứ 6 (404), ngài Cưu ma la thập và Tam tạng Phất nhã đa la cùng dịch luật Thập tụng của Tát bà đa bộ, nhưng mới được phân nửa; về sau, các ngài Đàm ma lưu chi và Ti ma la xoa tiếp tục hoàn thành, gồm 61 quyển. Đây là bộ Quảng luật đầu tiên được phiên dịch tại Trung quốc. Năm Hoằng thủy 12 (410), các ngài Phật đà da xá và Trúc phật niệm lại dịch luật Tứ phần của bộ Đàm vô đức, gồm 60 quyển. Đến năm Nghĩa hi 14 (418) đời vua An đế nhà Đông Tấn, các ngài Phật đà bạt đà la và Pháp hiển cùng dịch luật Ma ha tăng kì, gồm 40 quyển. Niên hiệu Cảnh bình năm đầu (423) đời Lưu Tống, ngài Phật đà thập (người Kế tân) và ngài Trí thắng (người Trung quốc) cùng dịch luật Ngũ phần của bộ Di sa tắc, gồm 30 quyển. Như vậy, trong 5 bộ luật, thì trước đời Lưu Tống, 3 bộ đã được truyền đến Trung quốc. Thời ấy các bộ luật tuy đều được hoằng dương ở Trung quốc, nhưng chỉ có luật Tứ phần là thịnh hành hơn cả. Năm Hoằng sơ thứ 2 (222) đời vua Văn đế nhà Ngụy, ngài Đàm ma ca la (Phạm: Dharmakàla) đặt chân đến Lạc dương vì thấy chư tăng Trung quốc chỉ cạo râu tóc, mặc áo thông thường, chứ không hành trì luật pháp, nên ngài phát nguyện hoằng dương luật pháp. Đến năm Gia bình thứ 2 (250) đời vua Thiếu đế nhà Ngụy, ngài mới dịch 1 quyển Tăng kì giới bản, cung thỉnh 10 vị Phạm tăng lập pháp yết ma truyền giới bản. Đây là hình thức truyền thụ giới pháp lần đầu tiên tại Trung quốc. Thời Hiếu văn đế (471-499) nhà Nguyên Ngụy, có ngài Pháp thông, mới đầu học luật Tăng kì, về sau nghiên cứu luật Tứ phần và tận lực hoằng dương, nhưng mới chỉ giới hạn ở việc truyền miệng, chứ chưa viết thành văn tự sách vở để lưu truyền. Đến Luật sư Đạo phú mới soạn sớ giải, nhưng cũng chỉ dùng phương thức vấn đáp mà thôi. Từ Luật sư Tuệ quang về sau mới có chương sớ, mở đầu việc sớ thích Tứ phần luật tạng. Lúc bấy giờ, các bộ Lược sớ (4 quyển) của ngài Tuệ quang, Đại sớ (20 quyển) của ngài Trí thủ và Trung sớ (10 quyển) của ngài Pháp lệ, được gọi là Tam yếu sớ. Tam yếu sớ vào thời ấy rất được phổ biến, nên từ đó hệ thống truyền thừa của Tứ phần luật tông cũng được hình thành và gồm có 9 vị tổ là: 1. Pháp chính tôn giả, tức Tứ phần luật chủ. 2. Pháp thời tôn giả, Sơ tổ của Tứ phần luật tông Trung quốc. 3. Pháp thông tôn giả, Nhị tổ của Tứ phần luật tông. 4. Đạo phú luật sư, soạn sớ vấn đáp lập nghĩa. 5. Tuệ quang luật sư, soạn Tứ phần chương sớ. 6. Đạo vân luật sư. 7. Đạo chiếu luật sư. 8. Trí thủ luật sư, soạn Quảng sớ 20 quyển. 9. Đạo tuyên luật sư, soạn Tứ phần luật hành sự sao. Từ Tổ thứ 6 là ngài Đạo vân bắt đầu có sự phân phái. Đệ tử của ngài có các sư Hồng tuân, Đạo hồng. Hồng tuân truyền cho Hồng uyên, Hồng uyên truyền cho Pháp lệ (569-635). Sư Pháp lệ ở Tướng châu, soạn Tứ phần luật sớ, 10 quyển, hệ thống của sư gọi là Tướng bộ tông. Pháp lệ lại truyền cho Đạo thành, Đạo thành truyền cho Mãn ý và Hoài tố. Sư Mãn ý ở Tây tháp, hoằng dương luật Tướng bộ của sư Pháp lệ; sư Hoài tố thì trụ ở Đông tháp hoằng dương luật Đông tháp. Còn tổ Đạo chiếu thứ 7 thì truyền cho sư Trí thủ, Trí thủ truyền cho Đạo tuyên, Đạo tuyên ở lâu tại Nam sơn, lập thành Nam sơn Luật tông. Ngài Đạo tuyên tuy là Tổ thứ 9, nhưng sau này Luật tông được hưng thịnh là nhờ các tác phẩm của ngài, nên ngài được tôn là tổ thứ 1 của Nam sơn Luật tông. Ngài soạn thuật rất nhiều, trong số các trước tác của ngài, 5 bộ Hành sự sao, Giới sớ, Nghiệp sớ, Thập tì ni nghĩa sao và Tỉ khưu ni sao, được đời sau tôn là 5 đại bộ của Nam sơn Luật tông. Bộ Tứ phần cũng do ngài soạn nên, gọi là tập đại thành. Ngài lại cùng với ngài Đạo thế soạn 1 quyển Tứ phần tì ni thảo yếu. Người phụng trì Tứ phần tì ni thảo yếu, gọi là Yếu gia, còn người phụng trì Tứ phần luật hành sự sao thì gọi là Sao gia. Sư Hoài tố từng soạn Tứ phần luật khai tông kí để phá 16 đại nghĩa của sư Pháp lệ. Tứ phần luật sớ do sư Pháp lệ soạn được gọi là Cựu sớ, còn Khai tông kí của sư Hoài tố thì gọi là Tân sớ. Đệ tử của ngài Mãn ý là sư Định tân cũng soạn 1 quyển Phá mê chấp kí để phản bác thuyết của sư Hoài tổ. Ngài Mãn ý lại trao pháp cho sư Đại lượng, sư Đại lượng truyền cho Đàm nhất. Sư Đàm nhất giảng luật Tứ phần được 35 lượt, đồng thời, hoằng dương Tướng bộ luật và Nam sơn luật. Sư còn soạn Phát chính kí để xiển dương nghĩa lí trong bộ Hành sự sao của ngài Đạo tuyên, nhờ thế mà Nam sơn Luật tông càng nổi tiếng. Lúc luật tạng mới được truyền vào Trung quốc, thì 4 bộ luật đều được hoằng dương, chứ không nhất định riêng 1 bộ nào, đến khi ngài Đạo tuyên thừa kế hệ thống của ngài Trí thủ, chỉ hoằng truyền luật Tứ phần, thiết lập qui phạm sinh hoạt đồ chúng, thì luật Tứ phần trở thành luật pháp trung tâm của Phật giáo Trung quốc và bộ Hành sự sao của ngài Đạo tuyên về sau có tới hơn trăm nhà soạn chú giải. Ở đời Đường có 3 tông phái Luật tông là Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ, Đông tháp tông của ngài Hoài tố và Nam sơn tông của ngài Đạo tuyên, tạo thành thế chân vạc và cùng nỗ lực hoằng truyền giới luật. Nhưng giữa 3 tông này có sự bất đồng căn bản về vấn đề Giới thể. Giới thể do người thụ giới phát được ở trong tâm khi nhận lãnh giới pháp. Tướng bộ tông của ngài Pháp lệ theo thuyết của luận Thành thực mà chủ trương rằng Giới thể là phi sắc phi tâm; Đông tháp tông của ngài Hoài tố thì y cứ vào luận Câu xá mà cho rằng Giới thể là vô biểu sắc; còn Nam sơn tông của ngài Đạo tuyên cũng theo thuyết luận Thành thực nên chủ trương Giới thể phi sắc phi tâm. Duy có điều khác với 2 tông trên chủ trương luật Tứ phần chỉ là Tiểu thừa, ngài Đạo tuyên dùng nghĩa Duy thức để giải thích luật Tứ phần và cho rằng luật Tứ phần tuy gốc Tiểu thừa, nhưng cũng có phần thông cả Đại thừa. Từ sau đời Đường, tông Tướng bộ và tông Đông tháp dần dần suy vi, chỉ còn Nam sơn Luật tông là thịnh hành. Và từ đó về sau, khi nói đến Luật tông tức là chỉ cho Nam sơn Luật tông. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), sư Vinh duệ và sư Phổ chiếu người Nhật bản đến Trung quốc thỉnh Luật sư Giám chân (hàng chắt của ngài Đạo tuyên) sang Nhật hoằng truyền luật pháp, được tôn là Tổ của Luật tông Nhật bản. Đệ tử của ngài Đạo tuyên là Chu luật sư (hoặc Tú luật sư) là Tổ thứ 2 của Nam sơn Luật tông. Từ đó về sau, các Tổ truyền thừa qua các đời: Ngũ đại, Tống, Nguyên, Minh, Thanh... đều có soạn chương sớ hoằng truyền, nên Nam sơn Luật tông lưu hành rất lâu. Tại Hàn quốc, phong trào học tập, nghiên cứu và hành trì luật pháp cũng phát triển rất sớm. Năm Trinh quán 11 (637), ngài Từ tạng đến Trung quốc, dừng ở chùa Vân tế tại Nam sơn. Khi trở về nước, ngài lập giới đàn ở chùa Thông độ hoằng truyền luật pháp. Ngoài ra, theo Luật sư Pháp bảo đời Đường cho biết, thì bộ Thập tì ni nghĩa sao do ngài Đạo tuyên soạn đã bị thất lạc hơn 200 năm. Mãi đến năm Hội xương thứ 5 (845) đời Đường, bộ sách này mới được tìm thấy tại nước Tân la. Luật tông tuy đã được truyền vào Hàn quốc từ đời Đường, nhưng đến năm Cao li Thái tổ 18 (935), chùa Khai quốc mới được xây dựng ở Khai thành để làm chùa chính của tông Nam sơn. Vào năm Nguyên phong thứ 8 (1085) đời vua Thần tông nhà Tống (Trung quốc), Vương tử của vua Cao li Văn tông là Nghĩa thiên đến Trung quốc, theo ngài Nguyên chiếu học luật, sau khi trở về nước, khai giảng bộ Hành sự sao. Đến năm Triều tiên Thái tông thứ 7 (1407), tông Nam sơn và tông Tổng trì (Chân ngôn) gọi chung là Tổng Nam tông. Năm Thế tông thứ 6 (1424), các tông bị xóa bỏ, chỉ còn lại Thiền tông và Giáo tông, Tổng Nam tông được đặt vào trong Thiền tông. Khoảng năm Hiến tông tại vị (1835-1849), Luật sư Đại ẩn Lãng ngũ được người đời khen là Đạo tuyên tái thế, cùng với đệ tử Thảo y là những bậc Luật sư danh tiếng cuối cùng của Triều tiên. Tại Nhật bản, như trên đã nói, ngài Giám chân đã truyền Nam sơn Luật tông vào. Năm Thiên bảo 13 (754) đời vua Đường Huyền tông, ngài Giám chân đến Nhật bản, sáng lập giới đàn ở chùa Đông đại để truyền trao giới pháp và thiết lập đạo tràng nghiên cứu giới luật ở chùa Đường chiêu đề, từ đó, Luật tông Nhật bản dần dần hưng thịnh. Chùa Dược sư ở Quan đông và chùa Quan âm ở Trúc tử cũng nối nhau thiết lập giới đàn, tăng ni Nhật bản phần nhiều đã thụ giới Cụ túc ở 3 chùa nói trên. Cũng như các tông phái khác, Luật tông Nhật bản cũng trải qua nhiều thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, đến thời Minh trị có ngài Vân chiếu v.v... đã tận lực phục hưng giới luật. Hiện nay có 2 phái Luật tông, 1 lấy chùa Đường chiêu đề làm trung tâm, 1 lấy chùa Tây đại tự làm trung tâm. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.3; Luật tông quỳnh giám chương Q.6; Truyền luật đồ nguyên giải tập Q.thượng; Thích thị kê cổ lược Q.3; điều Nam sơn Luật tông trong Bách trượng thanh qui Q.7 phần hạ; Tống cao tăng truyện Q.14-16; Phật tổ thống kỉ Q.29, 53; Luật uyển tăng bảo truyện Q.4-15; Triều tiên Phật giáo thông sử trung biên, hạ biên; Lí triều Phật giáo]. (xt. Tứ Phần Luật, Giới, Đông Tháp Tông, Nam Sơn Tông, Tướng Bộ Tông, Đạo Tuyên, Giám Chân).

luật tông cương yếu

(律宗綱要) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Ngưng nhiên, người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 74. Sách này dùng thể văn vấn đáp mà trình bày về giáo nghĩa và sự truyền thừa của Luật tông. Nội dung gồm 4 phần: 1. Luận về các điển cứ giải thích Tam tụ tịnh giới, mối quan hệ giữa 48 giới nhẹ và 84.000 uy nghi. 2. Giải thích tôn chỉ của Luật tông và sự phán đoán của ngài Đạo tuyên, đồng thời, nêu những kinh điển trọng yếu mà Luật tông y cứ. 3. Trình bày nguyên do đức Như lai chế định Tam tụ tịnh giới và giáo môn Tính không, Tướng không, Duy thức do ngài Đạo Tuyên lập ra. 4. Tường thuật quá trình hoằng truyền Luật tông và Luật tạng ở Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản.

luật tướng

Pháp tướng của giới luật—The discipline or its characteristics.

Luật tạng

律藏; S, P: vinaya-piṭaka;|Là phần thứ ba của Tam tạng, quy định về việc sống tập thể của chư tăng, chư ni. Luật tạng có nhiều hệ khác nhau (như Luật tạng của Thượng toạ bộ, Pháp Tạng bộ, Nhất thiết hữu bộ).|Luật tạng gồm có 3 phần: 1. Các quy định dành cho Tỉ-khâu (s: bhikṣuvibhaṅga); 2. Các quy định dành cho Tỉ-khâu-ni (s: bhik-ṣuṇīvibhaṅga); 3. Các quy định trong đời sống hàng ngày (乾度; Kiền độ; khandhaka) như ăn uống, áo quần…|Chi tiết các quy định như sau:|1. Quy định dành cho tỉ-khâu gồm có 8 chương: |a) Ba-la-di (波羅夷; s, p: pārājika): bị trục xuất nếu phạm các tội giết, trộm cắp, hành dâm, nói dối là đã đạt Thánh quả; b) Tăng tàn (僧殘; s: saṅ-ghāvaśeṣa; p: saṅghādisesa): Tạm thời trục xuất nếu phạm một trong 13 tội như vu cáo, gây bất bình, tà dâm với phụ nữ…; c) Bất định (不定; s, p: aniyata): Quy định về các lỗi không được ghi ra trước; d) Xả đoạ (捨墮; s: naihsargika; p: nissag-gika): 30 lỗi cần phải từ bỏ về quần áo, ăn uống, thuốc men; e) Ba-dật-đề (波逸提; s: pātayantika; p: pācittiya): 90 lỗi nhẹ cần phạt như la lối, không nghe lời, dối trá; f) Hối quá (悔過; s: prati-deśanīya; p: pātidesanīya): 4 lỗi xung quanh việc ăn uống; g) Chúng học (眾學; s: śikṣākaranīya, p: sekhiya): Các quy định về giao tiếp, xử sự; h) Diệt tránh (滅諍; s: adhikaranaśamatha): Các quy định về hoà giải tranh chấp.|2. Quy định dành cho tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī-vi-bhaṅga) cũng có các chương đó nhưng cụ thể thì nghiêm khắc hơn nhiều.|3. Các quy định về đời sống hàng ngày (khan-dhaka) của tỉ-khâu, tỉ-khâu-ni cũng như trong các ngày đặc biệt trong tháng, hay trong mùa mưa, các quy định khi sống không nhà.|Trong Luật tạng cũng có phần đúc kết các quy định và đọc lên trong những ngày lễ cho mọi người cùng nghe, mỗi vị tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni đều có bản phận nhận lỗi công khai nếu vi phạm (Ba-la-đề mộc-xoa; s: prātimokṣa).

luật tạng

Bộ tạng Luật, một phần trong ba bộ kinh điển—The Vinaya-pitaka, one of the three divisions of the Canon, or Tripitaka—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

luật tứ phần

Dharmaguptaka-Vinaya—Bộ Luật Phật giáo, gồm 250 giới Tỳ Kheo và 348 giới Tỳ Kheo Ni. Bộ Luật được các Ngài Phật Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch sang Hán tự—Buddhism vinaya contains 250rules for monks and 348 for nuns. It was translated into Chinese by Buddhayasas and Chu-Fo-Nien—See Luật Tông.

luật tỳ kheo

Luật dành riêng cho Tỳ Kheo trong tịnh xá, riêng biệt cho chư Tăng và chư Ni—Monastic disciplinary text included in the Vinaya and preserved in separate version for monks and nuns—For more information, please see Pratimoksa in Pali/Sanskrit Section.

luật tỳ kheo ni

See Pratimoksa in Pali/Sanskrit Section.

luật uyển sự quy

(律苑事規) Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Tỉnh ngộ biên soạn vào đời Nguyên, ngài Tự lương hiệu đính, bài tựa in sách được viết vào năm Thái định thứ 2 (1325), thu vào Vạn tục tạng tập 106. Nội dung sách này dựa theo Luật tạng mà nói rõ nghi thức hành sự của chư tăng thuộc Luật tông, đồng thời, căn cứ vào những tác phẩm của các ngài Nam sơn, Linh chi và tham khảo các bộ Thanh qui Thiền uyển, Hiệu định, Bị dụng v.v... mà được biên soạn thành.

luật uyển tăng bảo truyện

(律苑僧寶傳) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Tuệ kiên người Nhật bản soạn, hoàn thành vào năm Trinh hưởng thứ 2 (1678). Nội dung thu chép truyện kí của hơn 300 vị Đại đức trì luật ở Trung quốc và Nhật bản. Chín quyển trước nói về 220 vị tăng Trung quốc, từ tôn giả Đàm ma ca la đời Tào Ngụy đến Luật sư Tử vân Như thị tư đời Minh. Sáu quyển sau nói về 130 vị tăng Nhật bản, từ Đại sư Giám chân chùa Chiêu đề ở Nam đô, đến Luật sư Chân chính nhẫn chùa Thần phượng núi Đại điểu.

luật viện

(律院) Cũng gọi Luật tự. Nơi ở của những vị chuyên tu trì giới luật.Tại Trung quốc, từ sau đời Tống, 3 phái Thiền, Giáo, Luật cùng đứng ngang nhau, tự viện cũng được chia làm 3 loại Thiền, Giáo, Luật. Tự viện nào thuộc về Luật thì gọi là Luật viện. [X. điều Đường viên chiếu trong Tống cao tăng truyện Q.15; bài tựa Cổ thanh qui của Dương ức trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

luống tuổi

To be past the middle age.

luỵ

(誄) Điếu văn viếng người chết. Thể văn này, mở đầu là lời tựa, kế đến thuật lại hành trạng của người chết, sau cùng, đặt mấy chữ: Thương ôi! Thương thay! và kết thúc bằng 1 bài thơ kệ thể 4 chữ, 4 câu. Phần Chư tăng lụy hành trạng trong Quảng hoằng minh tập quyển 23, có thu chép những bài Lụy như: Đạo sĩ Chi đàm đế lụy của ngài Khưu đạo hộ soạn, Cưu ma la thập pháp sư lụy của ngài Thích Tăng triệu đời Đông Tấn, Vũ khưu Pháp cương pháp sư lụy của ngài Thích Tuệ lâm đời Lưu Tống, Đàm long pháp sư lụy và Lô sơn Tuệ viễn pháp sư lụy của ông Tạ linh vận đời Lưu Tống, Nhược tà sơn Kính pháp sư lụy của ông Trương sướng đời Lưu Tống và Tân an tự Thích Huyền vận pháp sư lụy của ngài Thích Tuệ lâm đời Nam Tề v.v... Trong đó, lời tựa trong bài Cưu ma la thập pháp sư lụy là tư liệu quí giá để suy biết năm ngài thị tịch.

Ly

(离): đồng nghĩa với Ly (離), tên gọi của quẻ Ly (☲) trong 8 hay 64 quẻ dịch, tượng trưng cho sự bảo vệ đức nhu thuận thì vạn vật đều thành.

ly

1) Phân ly: To separate—To part—Apart from. 2) Phân Tây: Millimeter. 3) Phế bỏ: To abandon—To leave.

Ly Bà Đa

(s: Revata, 離婆多): là em của Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), âm dịch là Ly Việt Đa (離越多), Cát Lệ Phiệt Đa (褐麗筏多); ý dịch là Thường Tác Thanh (常作聲), Sở Cúng Dường (所供養), Thất Tinh (室星), Thích Thời (適時). Là một đệ tử của Phật, ông thường tọa Thiền nhập định, tâm không bị loạn động, nên được xem như là Người Không Bị Loạn Động Số Một. Cha mẹ ông thường cầu nguyện sao Ly Bà Đa và hạ sanh được ông, nên đặt cho ông tên như vậy. Tương truyền ông từng đi hành hóa, gặp cơn mưa lớn, vào trú trong một ngôi miếu thờ thần, đến nữa đêm thì thấy có 2 con quỷ tranh giành một thây chết mà ăn; nhân đó ông mới cảm nhận được sự hư huyễn, giả tạm của thân người này. Sau đó, ông đến chỗ Phật, nghe được giáo lý dạy rằng thân người này vốn được hình thành từ 4 yếu tố (Tứ Đại, đất, nước, gió và lửa), bèn phát tâm xuất gia tu tập. Đến cuối đời, trong khi du hóa tại nước Đà Bà (陀婆), gặp tuyết lạnh, vì không mang dép che chân, ông bị lạnh cóng tê cứng bàn chân. Thấy vậy, đức Phật tán thán hạnh Thiểu Dục Tri Túc của ông; và cũng từ đó về sau, Ngài cho phép chư tăng được mang loại dép cỏ để bảo vệ chân khi đi hành hóa đến các xứ lạnh.

ly bà đa

Revata (skt)—Ly Ba Đa—Ly Bách Lê Bà Đa—Ly Việt. 1) Một trong thập nhị bát tú, sao mà người Ấn cầu đảo để được con cái trong nhà—One of the twenty-eight Indian constellations, corresponding with the “house.” 2) Tên của một vị đệ tử Phật: Name of a disciple of Sakyamuni. 3) Tên của một vị Tăng đã lãnh đạo cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhì: Name of a monk who led the second synod. 4) Tên của một vị Tăng, thành viên trong lần kiết tập kinh điển thứ ba: Name of a monk, a member of the third synod. ; (離婆多) Phạm: Revata. I. Li Bà Đa. Cũng gọi Li việt đa, Lệ bà đá, Lí phạ đế, Li bà, Li viết, Li việt, Hiệt li phạt đa, Hạt li phiệt đa. Hán dịch: Thường tác thanh, Sở cúng dường, Kim, Thất tinh, Thích thời. Tên một vị đệ tử Phật, em của ngài Xá lợi phất. Tương truyền, cha mẹ Ngài cầu đảo sao Li bà đa mà sinh được Ngài, cho nên lấy vì sao này đặt tên cho Ngài. Có lần Ngài gặp mưa, ngủ lại trong miếu thờ thần, đến khuya thấy 2 con quỉ tranh giành nhau ăn xác chết, Ngài suy nghĩ về thân người hư huyễn. Hôm sau, Ngài đến chỗ đức Phật, được nghe đức Phật nói về thân người do 4 đại giả hòa hợp mà có, Ngài liền xuất gia vào đạo. Từ đó ngài thường ngồi thiền nhập định, tâm không tán loạn. Khi du hành đến nước Bà đà, Ngài gặp tuyết lạnh, vì không mang giày dép nên chân Ngài bị thương tổn, đức Phật khen Ngài là người thiểu dục tri túc. Nhân đó, về sau, đức Phật cho phép các vị tỉ khưu ở xứ lạnh được mang Phú la (giày ống) hoặc giày dép. [X. kinh Trung a hàm Q.8; phẩm Đệ tử trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.47; luật Ngũ phần Q.21; Pháp hoa văn cú Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.6, 22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.8, 23, 26]. II. Li Bà Đa. Cũng gọi Lê bà đa, Li ba đa. Đệ tử của ngài A nan, có tuổi thọ rất cao, tinh thông giới luật, Ngài từng ở Tăng già xa (Pàli:Saíkassa). Sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm, các thầy tỉ khưu Bạt xà tử (Pàli: Vajjiputta) ở nước Tì xá li đề xướng 10 điều trái với giới luật mà cho là hợp pháp. Bởi thế, Trưởng lão Da xá (Pàli:Yassa) mới đến Tăng già xa thỉnh ngài Li bà đa cùng đến nước Tì xá li để quyết nghị 10 điều ấy là phi pháp.[X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luật Tứ phần Q.54; luật Ngũ phần Q.30; Đại đường tây vực kí Q.7]. (xt. Bạt Xà Tử).

ly bôi

Parting-cup.

ly bố uý như lai

(離怖畏如來) Phạm: Abhayaôkara-tathàgata. Danh hiệu của 1 trong 5 đức Như lai được thờ cúng trong pháp hội Thí ngã quỉ. Theo Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy pháp, nếu hành giả xưng niệm danh hiệu của 5 đức Như lai, thì có thể khiến tất cả ngã quỉ diệt trừ Vô lượng tội mà sinh Vô lượng phúc, những thức ăn uống đều biến thành vị cam lộ vi diệu. Sách Bí tạng kí đem 5 đức Như lai phối hợp với 5 đức Phật, trong đó, Vô bố úy Như lai tức là đức Phật Thích ca ở phương Bắc. Li bố úy Như lai là dụng của trí Thành sở tác, cho nên là thân Biến hóa, hóa hiện khắp trong 6 ngả, 4 loài làm các phương tiện khiến cho tất cả chúng sinh đều được yên vui, không còn gì phải sợ hãi, cho nên Ngài được gọi là Vô bố úy Như lai. [X. Du già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi].

Ly bố úy

Bậc đã lìa khỏi mọi sự sợ sệt, cũng như Vô úy hay Vô sở úy, đều là những cách nói tôn xưng đức Phật.

ly chư phiền não

Klesakayavivarjita (skt)—Được thoát ly những phiền não—Liberated from the evil passions.

ly cách

Separated.

ly cái

Từ bỏ được năm thứ phiền não che mất chân tâm—To abandon the five obscures, or hindrances to truth. ** For more information, please see Ngũ Triền Cái. ; (離蓋) Lìa các phiền não mà được thanh tịnh. Cái, chỉ cho Ngũ cái (Phạm: Paĩca àvaraịàni) là 5 thứ phiền não ngăn che tâm tính, hoặc chỉ chung cho các phiền não.[X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.48].

ly cơ hiềm danh nguyện

(離譏嫌名願) Cũng gọi Vô chư bất thiện nguyện. Nguyện trong cõi Tịnh độ không có những lời chê cười dèm pha và những tiếng độc ác xấu xa, là nguyện thứ 16 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 thượng), nói: Khi ta thành Phật, nhân dân trong đất nước của ta, nếu nghe đến một tiếng xấu, thì ta thề chẳng lên ngôi Chính giác.

ly cấu

Xa lìa nhiễm cấu của dục vọng phiền não—To leave the impure, abandon the defiling influence of the pasions or ilusion. ; (離垢) Phạm,Pàli:Vìta-mala. Cũng gọi Viễn trần li cấu. Xa lìa phiền não nhớp nhúa. Lí tứ đế và duyên khởi là nhân sinh quan, thế giới quan của Phật giáo.Nếu hiểu được tứ đế và duyên khởi một cách chính xác thì có thể thấy rõ chân lí, đạt được pháp nhãn, tức là đạt được đạo Tu đà hoàn (Dự lưu hướng). Có được pháp nhãn này thì xa lìa Kiến hoặc, cho nên gọi là Viễn li trần cấu (Phạm, Pàli:Viraja vìtamala, xa lìa bụi bẩn). Trong kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy, có rất nhiều người nghe đức Phật và các vị đệ tử của Ngài nói pháp mà được pháp nhãn viễn li trần cấu, như tỉ khưu Sai ma trong kinh Tạp a hàm quyển 5, Am bà bà lê nữ trong kinh Trường a hàm quyển 2. Về sau, kinh điển của Đại thừa cũng sử dụng từ ngữ này, như phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển 1 (Đại 14, 539 thượng), nói: Viễn trần li cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.15; Hữu bộ luật phá tăng sự Q.7; Chú duy ma cật kinh Q.1].

ly cấu nhãn

Rời bỏ uế nhiễm nhãn để đạt được thanh tịnh nhãn nhìn thấu suốt được chân lý của vạn hữu—To abandon the eye of impurity, or contamination, and attain the eye which beholds truth and reality. ; (離垢眼) Chỉ cho pháp nhãn thanh tịnh, xa lìa phiền não cáu bẩn mà thấy được Thánh đạo. Pháp uyển châu lâm quyển 86 (Đại 53, 918 hạ), nói: Thấy được đức Phật rồi, nguyện đắc Li cấu nhãn, thành Bồ đề vô thượng, độ khắp cả chúng sinh.

ly cấu thanh tịnh

Đạt được thanh tịnh bằng phương cách xa rời uế nhiễm—Acquired purity through avoiding pollution.

ly cấu thế giới

1) Thế giới không có cấu nhiễm: The word free from impurity. 2) Tên nước mà sau nầy Xá Lợi Phất được thành Phật: Name of Sariputra's Buddha-realm. ; (離垢世界) Thế giới thanh tịnh, xa lìa mọi cấu nhiễm, là cõi nước của ngài Xá lợi phất trong vị lai, khi Ngài thành Phật và làm giáo chủ trong thế giới ấy. Cứ theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa thì ngài Xá lợi phất, trong đời vị lai qua Vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường nghìn muôn ức Phật, vâng giữ chính pháp, đầy đủ đạo hạnh Bồ tát, sẽ được thành Phật hiệu là Hoa quang Như lai, tên nước là Li cấu, mặt đất bằng phẳng thanh tịnh, yên ổn phong nhiêu, trời người đông đảo. Bấy giờ, đức Hoa quang Như lai dùng cả 3 thừa giáo hóa chúng sinh.

Ly cấu địa

xem Mười địa vị.

ly cấu địa

See Thập Địa Phật Thừa (2). ; (離垢地) Phạm:Vimalà-bhùmi. Hán âm: Duy ma la phổ. Cũng gọi: Li cấu, Vô cấu địa, Tịnh địa, Cụ giới địa. Địa vị giữ gìn được giới hạnh thanh tịnh, xa lìa các phiền não nhơ nhớp, là địa thứ 2 của Thập địa trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Vì địa này đầy đủ 3 tụ tịnh giới nên cũng gọi là Cụ giới địa. [X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản 60 quyển); luận Thành duy thức Q.9].

ly diên kị

(離延忌) Cũng gọi Tiểu luyện kị, Tiểu phạn kị. Lễ truy tiến cầu phúc cho người chết vào tuần thất thứ 5, theo nghi thức của Phật giáo Nhật bản. Theo điều Truy kị danh số thứ đệ trong Chư hồi hướng thanh qui quyển 4, vào ngày này, thân quyến vì người chết làm lễ Truy thiện, cúng dường để cầu phúc và diệt tội cho vong linh, gọi là Li diên kị.

ly dị

To divorce.

ly dục

Từ bỏ dục vọng (của dục giới)—To leave or free from desire, or the passion.

ly dục thoái

(離欲退) Bậc Thánh đã dứt hết 9 phẩm Tu hoặc của cõi Dục, đạt được quả Bất hoàn, nhưng rồi lại khởi các phiền não ở cõi Dục mà thoái đọa (lui sụt), gọi là Li dục thoái. [X. luận Câu xá Q.6; Q.21].

ly dục địa

(離欲地) Phạm:Vìta-ràga-bhùmi. Cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si địa.Giai vị tu hành của Bồ tát, lìa tất cả tham dục, ô nhiễm, là địa thứ 6 trong Thập địa của Tam thừa. Bồ tát ở địa này có thể đoạn trừ Tư hoặc và xa lìa hết thảy phiền não của cõi Dục. Cứ theo phẩm Phát thú trong kinh Ma ha bát nhã ba la mật quyển 6, thì Bồ tát trụ ở địa thứ 6, đầy đủ lục Ba la mật, nhưng cũng còn có 6 pháp không nên làm. Đó là: 1. Không nên có ý muốn làm Thanh văn và Bích chi phật. 2. Khi bố thí, không nên sinh tâm lo buồn. 3. Khi có người đến cầu xin điều gì, không nên từ chối. 4. Không nên tích góp tài vật mà phải đem ra bố thí. 5. Không nên hối tiếc sau khi bố thí. 6. Không nên ngờ vực các pháp sâu xa.

ly gián

Schism.

ly gián ngữ

Ly gián ngữ là một trong mười ác nghiệp, nói lời làm cho hai người phải xa lìa hay không thân hòa với nhau—Talk which causes estrangement between friends; alienating words; one of the ten wicked things. ** See Thập Ác Nghiệp in Vietnamese-English Section. ; (離間語) Phạm: Paizunya. Pàli:Pisuịà-vàcà. Cũng gọi Lưỡng thiệt (nói 2 lưỡi). Lời nói chia rẽ giữa người này và người kia, là 1 trong 10 nghiệp ác. Luận Du già sư địa quyển 8 (Đại 30, 316 thượng), ghi: Li gián ngữ là lời nói có ý phá hoại, nghĩa là đem lời người này nói với người kia, đem lời người kia nói với người này, làm cho họ ghét bỏ nhau. [X. luận Tập dị môn Q.2; luận Câu xá Q.16]. (xt. Lưỡng Thiệt).

ly hí luận bồ tát

(離戲論菩薩) Li hí luận, Phạm: Nisprapaĩca. Hán âm: Nễ sắt ba la bán tả. Cũng gọi Trụ vô hí luận bồ tát. Vị Bồ tát thứ 5 ngồi ở bên phải hàng ngoài cùng của viện Kim cương thủ trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo.Vị Bồ tát này xa lìa tất cả vọng tưởng hí luận, hiển bày Nhất thực chân tri. Mật hiệu là Chân hành kim cương, chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là chày 1 chĩa. Hình tượng của Ngài thân màu da người, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải nắm lại dựng đứng ngang ngực, ngón trỏ duỗi thẳng đứng, lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái nắm lại úp xuống, cầm chày 1 chĩa hướng lên trên, đầu dưới cây chày chống trên tòa sen, đầu gối phải dựng đứng, bàn chân phải úp lên trên bàn chân trái. Chân ngôn của vị Bồ tát này là chân ngôn Nhất thiết trì kim cương trong phẩm Phổ thông chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật quyển 2. [X. phẩm Trụ tâm kinh Đại nhật Q.1; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.2; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].

ly hương

To leave one's native land.

ly hệ

(離系) Phạm,Pàli:Vi-saôyoga. Cũng gọi: Li diệt. Đồng nghĩa: Giải thoát. Chỉ cho Trạch diệt vô vi, nghĩa là do đoạn trừ phiền não mà xa lìa sự trói buộc của các pháp hữu lậu. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 hạ), nói: Trạch diệt lấy li hệ làm tính, xa lìa sự trói buộc của các pháp hữu lậu mà đạt được giải thoát, gọi là Trạch diệt. [X. luận Đại tì bà sa Q.31; luận Thuận chính lí Q.6]. (xt. Trạch Diệt).

ly hệ quả

Visamyoga-phala (skt)—Quả dựa vào đạo lực giải thoát của Niết Bàn mà chứng được, quả nầy tạo nên bởi lục nhân—Emanicipated effect produced by all the six causes—See Lục Nhân. ; (離系果) Phạm: Visaôyoga-phala. Cũng gọi Giải thoát quả. Do sức lựa chọn (giản trạch) của trí tuệ mà đoạn trừ các phiền não, xa lìa sự trói buộc (li hệ) của pháp hữu lậu, chứng được quả vị Niết bàn của Trạch diệt vô vi, gọi là Li hệ quả, là 1 trong 5 quả. Luận Câu xa quyển 6 (Đại 29, 35 trung), nói: Do trí tuệ đoạn trừ hết các pháp hữu lậu, nên gọi là Li hệ quả; Diệt nên gọi là Tận, Trạch nên gọi là Tuệ, tức Trạch diệt gọi là Li hệ quả. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Nhập a tì đạt ma Q.hạ; luận Thuận chính lí Q.18].

ly hệ tử

(離系子) Phạm: Nirgrantha-zràvaka. Cũng gọi Ni kiền tử, Vô tàm ngoại đạo. Ngoại đạo khỏa hình (ở truồng), chủ trương tu khổ hạnh, cởi bỏ tất cả mọi cái ràng buộc của thế gian. Li hệ chỉ cho thầy, Tử chỉ cho môn đồ. Vì chủ trương ở truồng, nên bị người đời gọi là Ngoại đạo không hổ thẹn (vô tàm). [X. Duy thức thuật kí Q.1 phần đầu; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4]. (xt. Ni Kiền Tử Ngoại Đạo).

ly hệ đắc

(離系得) Tức là được quả Li hệ. Tông Hữu bộ dùng từ Li hệ đắc để chỉ cho Trạch diệt vô vi. Nghĩa là dùng trí tuệ vô lậu giản trạch (chọn lựa) lí Tứ đế mà được pháp Niết bàn, gọi là Li hệ đắc. Theo luận Câu xá quyển 6, thì Li hệ cũng có nghĩa là đoạn, là giải thoát, chỉ cho Niết bàn; Đắc là tên của tâm sở bất tương ứng. Trạch là nhân lựa chọn, Diệt là quả Li hệ chứng được. Còn theo luận Thành duy thức quyển 8, thì Li hệ tức là pháp thiện vô vi nhờ đoạn trừ những pháp chướng ngại đạo vô lậu mà chứng được. Pháp này do xa lìa sự trói buộc (li hệ) của lậu hoặc mà chứng được, cho nên gọi là quả Li hệ; lại vì xa lìa sự trói buộc mà chứng được nên gọi là Li hệ đắc. [X. luận Câu xá Q.10; luận Hiển dương thánh giáo Q.18].

ly hỉ diệu lạc địa

(離喜妙樂地) Tức là cõi trời Thiền thứ 3 của Sắc giới, một trong 9 địa của Tam giới. Hành giả ở cõi trời Thiền thứ 3 này, đã xa lìa cảm thụ vui mừng thô động của cõi trời Thiền thứ 2, mà an trụ trong cảm thụ vui mừng tĩnh lặng, vi diệu, thù thắng. [X. luận Đại tì bà sa Q.31, 141; luận Câu xá Q.28].

ly hợp

Separation and reunion.

ly kỳ

Extraordinary—Strange.

Ly Lục Đường Tập

(離六堂集): bên cạnh các tác phẩm như Hùng Lục Đường Nhị Tập (雄六堂二集), Triều Hành Cận Thảo (潮行近草), Ly Lục Đường Cận Cảo (離六堂近稿), Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事), bộ này cũng là Thi Văn Tập do Thiền tăng Đại Sán (大汕) trước tác, được thâu lục vào trong quyển thứ 99 của Thiền Tông Toàn Thư (禪宗全書), quyển thứ 7 của Thiền Môn Dật Thư (禪門逸書); nguyên san bản của Hoài Cổ Lâu (懷古樓) trong khoảng thời gian Khang Hy (康熙, 1661-1722). Vốn là pháp từ của Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛, 1592-1659), vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, sống dưới thời nhà Thanh, Đại Sán kế thừa tông phong của Thầy và làm cho phát triển. Tư tưởng Thiền học của Đạo Thạnh khá đặc dị, từng đưa ra các quan niệm lấy Tào Động Tông chỉnh hợp học thuyết Thiền Tông Ngũ Gia (禪宗五家) với Tam Giáo Nho, Đạo, Thích; từ đó đề xuất lý luận gọi là “tôn hỏa vi tông (尊火爲宗, tôn sùng lửa làm tông chỉ).” Hơn nữa, tư tưởng này còn liên quan đến chủ trương Ngũ Vị Quân Thần Quyết (五位君臣訣) của Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂, 840-901) cũng như quan niệm lấy Ngũ Vị phối hợp với 5 quẻ trong 64 quẻ của Chu Dịch (周易). Việc Đại Sán lấy tên Ly Lục (離六) đặt tên cho nhà ông ở, cho danh tập, cũng đều có liên quan đến tư tưởng nói trên. Có nghĩa là Tào Động Tông lấy phẩm vị Kiêm Trung Đáo (兼中到) trong Ngũ Vị để phối hợp với quẻ Trùng Ly (重離) của 64 quẻ dịch. Theo giải thích của Đại Sán, Ly Lục có nghĩa là “dĩ nhất quy ngũ (以一歸五, lấy một quy về năm)”; lấy 6 quy về 5 tức là đạt đến Kiêm Trung Đáo của Ngũ Vị, là cảnh giới sự lý viên dung vô ngại. Ly Lục nghĩa là lìa nước được lửa, và đó cũng là “lấy lửa làm tông khí, tạo nên pháp mạch của Tào Động”. Được hình thành với 12 tập, trong phần đầu có khá nhiều bài Tựa của các danh nhân đương thời như Tằng Xán (曾燦), Hùng Nhất Tiêu (熊一瀟), Khuất Đại Quân (屈大均), Cao Tằng Vân (高層雲), Từ Hoàn (徐釚), v.v. Trong 12 quyển ấy, có 1 quyển chuyên về Phú, thơ 1 quyển. Trước sách có đồ hình 32 bức, mỗi bức đều có đề tán của các danh nhân. Trong sách có thuật lại những phong tục, tập quán xã hội Lĩnh Nam (嶺南), tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, v.v.

Ly mị

(魑魅): thời xưa chỉ cho thế lực thần quái của núi sông có thể gây hại người; cũng chỉ cho quỷ quái, yêu tinh trong gỗ đá hiện ra. Như trong Văn Tuyển (文選), bài Đông Kinh Phú (東京賦) của Trương Hành (張衡, 78-139) nhà Đông Hán, có câu: “Sao ly mị, trác húc cuồng (捎魑魅、斮獝狂, trừ yêu quái, chém điên cuồng).” Hay trong Đường Phạn Phiên Đối Tự Âm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (唐梵翻對字音般若波羅蜜多心經, Taishō Vol. 8, No. 256) cũng có đoạn: “Triêu hành tuyết hiến, mộ túc băng nhai, thọ quải viên nhu, cảnh đa ly mị (朝行雪巘、暮宿冰崖、樹掛猿猱、境多魑魅, sang đi đỉnh tuyết, tối ngủ bờ băng, khỉ vượn chuyền cây, cảnh nhiều quỷ quái).” Hoặc trong Lăng Nghiêm Kinh Thông Nghĩa (楞嚴經通議, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 12, No. 279) lại có đoạn: “Hoặc trước quỷ thần, hoặc tao ly mị, tâm trung bất minh, nhận tặc vi tử (或著鬼神、或遭魑魅、心中不明、認賊爲子, hoặc chấp quỷ thần, hoặc gặp yêu quái, trong tâm không sáng, nhận giặc làm con).”

ly ngôn

Chân như không thể nghĩ bàn, và không thể diễn tả được bằng lời, ngược lại với Y ngôn là chân như có thể diễn tả được---The bhutatathata in its inexpressible form—The bhutatathata is beyond definition, and cannot be described in words, in contrast with the bhutatathata in its expressible form (y ngôn).

ly ngôn chân như

Chân Như không diễn tả được bằng văn tự, phân biệt với Y Ngôn Chân Như hay chân như diễn tả được bằng văn tự—The bhutatathata in its inexpressible form, as distinguished from it as expressible. ** For more information, please see Nhị Chân Như. ; (離言真如) Cũng gọi: Tuyệt ngôn chân như. Đối lại: Y ngôn chân như. Pháp thể của chân như dứt tuyệt nói năng, suy nghĩ, là 1 trong 2 chân như. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng), nói: Tất cả các pháp từ xưa đến nay, lìa tướng nói năng, lìa tướng văn chữ, lìa tướng tâm duyên; rốt ráo bình đẳng, không có biến đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi chân như. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung].

ly ngôn thuyên

Không thể nắm bắt hay giải thích bằng lời—Beyong explanation.

ly ngôn trung đạo

(離言中道) Đối lại: Ngôn thuyên trung đạo. Chỉ cho Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không, tức ở trong Thắng nghĩa để dứt tuyệt mọi sự nói năng, suy tính, là 1 trong Nhị trùng trung đạo do tông Pháp tướng lập ra. (xt. Nhị Trùng Trung Đạo).

ly nhiễm

(離染) Phạm:Viràga. Cũng gọi Li tham, Li dục. Xa lìa tham nhiễm. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 28, nói theo nghĩa hẹp, Li nhiễm nghĩa là xa lìa tham dục, mà nói theo nghĩa rộng, thì là xa lìa phiền não, cho sự li nhiễm bao gồm tất cả thiện pháp hữu vi. [X. kinh Tạp a hàm Q.1, 2, 3; phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa; kinh Tứ thập nhị chương; luận Phát trí Q.1; luận Câu xá Q.23].

ly nhiễm phục

Áo cà sa của chư Tăng Ni—The monk's or nun's robe which separates him from contamination ; (離染服) Tên khác của áo ca sa, nghĩa là áo xa lìa phiền não tạp nhiễm. Theo kinh Tâm địa quán quyển 5, ca sa cứng chắc như áo giáp dù cho phiền não bén nhọn như mũi tên cũng không thể nào xuyên qua được. Còn theo Kim cương bát nhã sớ quyển 2, ca sa cũng gọi là Li trần phục (áo lìa bụi bặm), vì là hoại sắc (màu xấu xí) nên khi mặc vào không sinh lòng tham; cũng gọi là Tiêu sấu y (áo còm cõi), vì khi mặc áo này thì mọi phiền não đều tiêu tan hết. [X. Thích thị yếu lãm Q.thượng].

ly nhiễm đắc

(離染得) Đối lại: Thụ sinh đắc, Gia hạnh đắc. Nhiễm là chỉ cho phiền não. Khi người tu hành lìa khỏi các phiền não ở cõi dưới, thì chứng được định của cõi trên. Theo luận Câu xá quyển 28, thì Tịnh định, Vô lậu định và Vị định là do li nhiễm mà được. [X. luận Câu xá Q.5].

ly nhị biên phân biệt chỉ

(離二邊分別止) Cũng gọi Tức nhị biên phân biệt chỉ, Tức nhị biên chỉ. Pháp Chỉ hành chấm dứt mọi sự chấp trước phân biệt về 2 bên, là 1 trong 3 pháp Chỉ hành do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai dựa vào 3 pháp quán Không, Giả, Trung mà đặt ra 3 thứ Chỉ hành, trong đó, Li nhị biên phân biệt chỉ hành (lìa chấp trước 2 bên) là căn cứ vào pháp quán Trung đạo mà thành lập, tức là dứt hết các tướng phân biệt đối đãi 2 bên: Có, không; mê, ngộ; sinh tử, Niết bàn; v.v... (xt. Tam Chỉ).

ly phược tử

Ngoại đạo lõa thể Ni Kiền Đà hay Vô Hệ là phái đã lìa được sự trói buộc của mọi hệ phược—The Nirgrantha sect of naked devotees who abandon all ties and forms.

ly sanh

Lìa bỏ sống chết của luân hồi—To leave the chain of rebirth.

ly sanh hỷ lạc địa

Ngôi sơ thiền của cõi trời sắc giới. Đây là nơi đã lìa các phiền não xấu ác ở dục giới mà sanh vui mừng khi bước vào cõi sắc giới—The first dhyana heaven of form, where is experienced the joy of leaving the evils of life.

ly sanh tính

Chân tánh của bậc Thánh giả thoát lìa khỏi luân hồi sanh tử—The true nature of the holy man which leaves the round of mortality.

ly sinh

(離生) Vĩnh viễn thoát lìa sự đầu thai sinh ra trong 3 cõi. Người trong Tam thừa, khi vào được giai vị Kiến đạo, thấy rõ chân lí (Tứ đế), dứt hết Kiến hoặc, vĩnh viễn lìa sự thác sinh trong 3 cõi, gọi là Chính tính li sinh. Chính tính của các bậc Thánh thoát li sinh tử này, gọi là Chính tính li sinh tính, gọi tắt là Li sinh tính. Luận Câu xá quyển 23 (Đại 29, 120 hạ), nói: Người được pháp Thế đệ nhất, tuy trụ ở giai vị Dị sinh (phàm phu) tính, nhưng có thể tiến vào Chính tính li sinh. [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.6]. (xt. Chính Tính Li Sinh).

ly sinh hỉ lạc địa

(離生喜樂地) Nơi tu hành của những người xa lìa phiền não ở cõi Dục, phát sinh cảm giác vui mừng, là địa thứ 2 trong 9 địa, tức là cõi Sơ thiền của Sắc giới. Kinh Tạp a hàm quyển 17 (Đại 2, 123 thượng), nói: Tỉ khưu lìa tham dục, lìa ác và các pháp bất thiện, có giác, có quán, lìa cõi Dục, phát sinh cảm nhận vui mừng, đầy đủ điều kiện trụ ở cõi Sơ thiền. [X. luận Tập dị môn Q.5; luận Câu xá Q.12; Câu xá tụng sớ Q.10]. (xt. Cửu Địa).

ly tham tâm

(離貪心) Đối lại: Hữu tham tâm. Tâm xa lìa phiền não tham dục. Luận Câu xá quyển 26 (Đại 29, 35 hạ), nói: Li tham tâm nghĩa là đối trị tâm tham. Nếu tâm không tương ứng với tham, thì gọi là Li tham tâm (tâm lìa tham).

ly thân hành

(離身行) Đoạn trừ phiền não của cõi Dục, được quả Tứ thiền của cõi Sắc, thoát li khỏi sắc thân. Luận thành thực quyển 2 (Đại 32, 253 trung), nói: Dứt trừ phiền não ở cõi Dục, chứng được Tứ thiền ở cõi Sắc, gọi là Li thân hành.

ly tinh vô biệt phật

Rời tâm tánh sẽ không bao giờ thấy Phật, nghĩa là tâm tức Phật—Apart from mind, or the soul, there is no other Buddha, i.e. the mind is Buddha.

ly trung tri

(離中知) Đối lại: Hợp trung tri. Chỉ cho các căn (giác quan) không cần tiếp xúc sát với các cảnh(đối tượng) mà cũng nhận biết được, gọi là Li trung tri, nghĩa là cách xa mà biết, đó là: Mắt, tai, ý thức. Mắt có thể thấy màu sắc từ đàng xa, nhưng đối với thuốc nhỏ vào mắt thì không thấy được; tai có thể nghe những tiếng từ xa, nhưng nếu những âm thanh dội vào tai thì không nghe được. Trái lại, căn và cảnh phải tiếp xúc sát nhau mới có thể phát sinh nhận biết, thì gọi là Hợp trung tri, nghĩa là hợp lại mới biết. Như mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, v.v... (xt. Hợp Trung Tri).

ly trần phục

Kasaya (skt)—Áo cà sa của chư Tăng Ni, có nghĩa là áo mặc vào để nhắc mình nhớ để xa lìa lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)—The monk's robe or kasaya, freed from dusty world, i.e. free from contamination of the sense.

ly tác nghiệp quán đỉnh

(離作業灌頂) Đối lại: Tác nghiệp quán đính, Sự nghiệp quán đính, Cụ chi quán đính. Chỉ cho pháp Quán đính, khi tu, không cần phải thực hành các việc như: Lựa đất, đắp đàn, vẽ Mạn đồ la, tung hoa chọn Phật, v.v... tức là 2 pháp quán đính: Ấn pháp và Dĩ tâm trong 3 loại pháp Quán đính của Mật giáo. 1. Ấn pháp quán đính: Đối với các đệ tử có tâm thành tha thiết, nhưng không có khả năng thực hiện đầy đủ các loại sự nghiệp tác pháp, thì cho phép họ được thụ Quán đính bằng cách kết ấn và tụng chân ngôn để trao truyền. 2. Dĩ tâm quán đính: Đối với hành giả đã thông suốt, thì dùng tâm truyền tâm, mà không cần tất cả các tác pháp hình thức. Tuy nhiên, có thuyết cho rằng khi truyền trao Ấn pháp quán đính, người đệ tử vẫn cần sắm sửa chút ít lễ vật để cúng dường Tam bảo. Vả lại, Ấn pháp quán đính tuy là Li tác nghiệp quán đính, nhưng trong các kinh điển đều có ghi các việc như: Vị A xà lê hướng dẫn đệ tử vào trong đàn tung hoa, trao cho đạo cụ bí mật, v.v... Như vậy, Ấn pháp quán đính tuy được mệnh danh là Li tác pháp quán đính, nhưng trên thực tế, chưa hẳn đã không có tác pháp, mà nên hiểu là không được cử hành với đầy đủ các nghi thức như pháp Cụ chi quán đính mà thôi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.15].

ly tác pháp

(離作法) Phạm: Vyatireka. Đối lại: Hợp tác pháp. Cũng gọi Li, Già khiển. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong Nhân minh, khi áp dụng Đồng dụ thì gọi là Hợp tác pháp, còn khi áp dụng Dị dụ thì gọi là Li tác pháp. Đồng dụ là dụ về Đồng phẩm, Dị dụ là dụ về Dị phẩm. Trong một luận thức, đã dùng Đồng dụ để chứng minh, lại đưa thêm Dị dụ ra nữa, thì nghĩa của Tông lại càng rõ ràng hơn, làm cho đối phương (người vấn nạn) không còn nói quanh được nữa. Ví dụ: Hợp tác pháp: - Tông: Âm thanh là vô thường. - Nhân: Vì do sự tác động mà có. - Dụ: Nhữnggì do sự tác động mà có đều là vô thường, ví như cái bình, v.v... (đồng dụ). Li tác pháp: - Tông: Âm thanh là vô thường. - Nhân: Vì do sự tác động mà có. - Dụ: Những gì không phải là vô thường đều không phải do sự tác động mà có, ví như hư không (dị dụ). Như vậy, ta thấy sự khác nhau giữa Hợp tác pháp và Li tác pháp là hoàn toàn ở phần Dụ. Về phần Đồng dụ, trước hết phải nói Nhân– nghĩa là nói: Tất cả những gì có cái Nhân ấy thì đều là có tính cách của danh từ Sau (hậu trần) trong Tông. Về phần Dị dụ, trước hết phải nói danh từ sau– nghĩa là nói: Tất cả những gì không có tính cách của danh từ sau ấy thì đều không có tính cách Nhân. Cho nên, Đồng dụ, vì trước phải nói Nhân, sau mới nói Tông, nên thuật ngữ Nhân minh gọi là Nhân trước, Tông sau; Dị dụ, vì trước phải nói đến Tông (Tông đây là chỉ cho danh từ sau) rồi sau mới nói Nhân, nên gọi là Tông trước, Nhân sau. Khác với Đồng dụ, Dị dụ nói Không tức là nếukhôngcó tính cách của Tông thì cũng không có tính cách của Nhân. Vì thế, về Đồng dụ phải dùng Đồng phẩm của Tông để ví dụ, về Dị dụ phải dùng Dị dụ. [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.6 phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.7].

ly tâm bất khả đắc

Cittamatravinirmuktam-nopalabhyate (skt)—Ngoài cái tâm ra không có gì có thể được đạt, tức là ngoài tâm ra không có gì có thể hiểu được—Apart from mind nothing is attainable, that is, comprehensible.

ly tính vô biệt phật

(離性無別佛) Lìa tính không có Phật riêng, vì tính tức là Phật. Hoàng bá Đoạn tế thiền sư uyển lăng lục (Đại 48, 387 thượng), nói: Tự tính thiên chân vốn không mê ngộ, nó bao trùm tất cả 10 phương thế giới trong cõi hư không, từ xưa đến nay nó chính là tâm thể của chúng ta. Luận Đốn ngộ nhập đạo yếu môn quyển hạ, nói: Ngoài tâm ra, không có Phật. Luận Đạt ma đại sư huyết mạch (Vạn tục 110, 405 hạ), nói: Trong tất cả thời, ở tất cả chỗ, đều là tâm của ngươi, đều là Phật của ngươi. [X. Lục tổ đàn kinh].

ly tướng

Một trong tam tướng nói đến trong Kinh Pháp Hoa—One of the three forms or positions mentioned in the Lotus Sutra. ** For more information, please see Tam Tướng.

ly tướng giới

Vô Tướng Giới—Người giữ giới, tâm không bám víu, coi chư pháp cũng như hư không, hiểu rõ không có giữ giới và phạm giới, đối lại với Tùy Tướng Giới hay nghi thức lễ bái bên ngoài—The inner commands, or observance in the heart, in contrast with the external observance or rituals. ; (離相戒) Cũng gọi: Vô tướng giới. Đối lại: Tùy tướng giới. Người trì giới tâm không chấp trước, xem các giới cũng như hư không, xa lìa hết các tướng trì và phạm. [X. Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh sớ Q.5].

ly tạng

(麗藏) Cũng gọi Cao li bản, Cao li tạng, Li bản, Tiên bản. Đại tạng kinh do Vương triều Cao li, Triều tiên khắc in chia làm 4 loại: 1. Sơ điêu bản: Bản đầu tiên, tương truyền được khắc vào năm Cao li Hiển tông thứ 2 (1011). 2. Cao li tục tạng bản: Được khắc ở chùa Hưng vương vào năm Tuyên tông thứ 7 (1090). 3. Tái điêu bản: Bản khắc lại, tức là bản của chùa Hải ấn, được khắc vào năm Cao li Cao tông năm 23 đến năm 38 (1236-1251) để phòng ngừa sự xâm lăng của Mông cổ. 4. Cao li Khất đan tạng phỏng khắc bản: Bản phỏng theo tạng Cao li Khất đan, được khắc vào năm Văn tông 12 (1063). (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

ly vi

1) Xa lìa mọi thể tướng mà được tịch diệt gọi là “Ly,” tác dụng của pháp tính vi diệu, chẳng thể lường biết gọi là “Vi”—Apart from all the phenomenal, interpreted as spirit; “wei” as its subtle, mysterious functioning. 2) “Ly” là Niết Bàn, “Vi” là Bát Nhã: Ly means Nirvana, “Wei” means Pranja. ; (離微) Thể của pháp tính xa lìa các tướng, tịch diệt vô dư, gọi là Li; dụng của pháp tính vi diệu chẳng thể nghĩ bàn, gọi là Vi. Phẩm Li vi thể tịnh trong luận Bảo tạng (Đại 45, 147 thượng), nói: Không mắt, không tai gọi là Li, có thấy, có nghe gọi là Vi. Không có ta, không tạo tác gọi là Li, vẫn có trí, vẫn có dụng gọi là Vi. Không tâm, không ý gọi là Li, có thông, có đạt gọi là Vi. Li là Niết bàn, Vi là bát nhã. Vì là bát nhã nên khởi lên đại dụng; vì là Niết bàn nên tịch diệt vô dư. Vì là vô dư nên phiền não trừ sạch, vì là đại dụng nên thánh hóa vô cùng. [X. Tông kính lục Q.92; Vô môn quan].

ly xa

Licchavi (skt)—Lập Xướng—Lật Chiếm Bà—Lật Chiếm Tỳ—Lê Xa Tì—Lệ Xa—Lệ Xương—Luật Xa—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Ly Xa là tên của người sáng lập xứ Cộng Hòa Tỳ Xá Lê thuộc dòng Sát, một trong những vị đệ tử tại gia đầu tiên của Phật—Đế Lợi According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Licchavi is the ksatriyas who formed the republic of Vaisali, and were among the earliest followers of Sakyamuni.

ly xa tì

(離車毘) Phạm,Pàli:Licchavi, Lecchavi. Cũng gọi Li xa, Lật chiếp bà, Li xa tử, Lợi xa, Lê xương, Tùy xá lợi, Luật xa, Li xiết, Lí gia, Lật sa. Hán dịch: Bạc bì, Đồng bì, Tiên tộc vương, Biên địa chủ. Chủng tộc Sát đế lợi ở thành Tì xá li (Phạm:Vaizàli) thuộc Trung Ấn độ, là 1 bộ phận của chủng tộc Bạt kì (Phạm:Vfji). Cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 10, thủa xưa, phu nhân của nước Ba la nại sinh ra 1 bọc thịt, lấy làm xấu hổ vì nó khác thường nên cho người ném xuống sông. Bọc thịt ấy được 1 đạo sĩ vớt lên đem về để ở 1 chỗ, nửa tháng sau, bọc thịt tự nhiên chia làm 2 phần, nửa tháng sau nữa 1 phần biến thành con trai, 1 phần biến thành con gái, nhờ sức từ bi của đại sĩ, nên từ đầu ngón tay của ông tự nhiên chảy ra sữa để nuôi 2 đứa bé, khi chúng bú sữa này thì bụng của chúng trở nên trong suốt từ trong đến ngoài, đạo sĩ bèn đặt tên cho chúng là Li xa tử (nghĩa là da mỏng). Khi đến 16 tuổi, 2 đứa trẻ sống bằng nghề chăn bò, làm nhà ở chung, kết hôn với nhau, tôn đứa trai làm vua, bé gái là phu nhân. Về sau họ sinh ra nhiều vương tử và vì 3 lần xây nhà rộng thêm nên gọi là Tì xá li (nghĩa là rộng rãi trang nghiêm). Theo kinh Trường a hàm quyển 4, sau khi đức Phật vào Niết bàn, dân chúng Li xa cũng được chia 1 phần xá lợi Phật, xây tháp cúng dường. Có thuyết cho rằng chủng tộc này vốn đồng chủng với người Tây tạng, khi đức Phật còn tại thế, họ theo chế độ Cộng hòa, nước mạnh dân giầu, sánh ngang với nước Ma kiệt đà ở phía nam, về sau thế nước mỗi ngày một suy dần. Mãi đến khi ông Chiên đà la cấp đa (Phạm: Candragupta), người sáng lập Vương triều Khổng tước, kết hôn với các cô gái thuộc chủng tộc này từ đó thế lực của họ lại dần dần lớn mạnh trở lại. [X. kinh Sư tử trong Trung a hàm Q.4; kinh Đại pháp cổ Q.hạ; kinh Bát nê hoàn Q.hạ; phẩm Tựa kinh Thuyết vô cấu xưng; luật Tứ phần Q.42; luận Đại trí độ Q.18; Đại đường tây vực kí Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa Q.5, 29].

ly đàn

Separate altar.

Ly-xa

xem Lê-xa.

Lý Bột

(李渤, Ribotsu, 773-831): vị cư sĩ đã từng đến tham vấn Quy Tông Trí Thường (歸宗智常), tự là Tuấn Chi (濬之), em của Lý Thiệp (李渉). Trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (貞元, 785-805), ông sáng lập ra Bạch Lộc Động (白鹿洞) dưới chân Ngũ Lão Phong (五老峰) trên Lô Sơn (廬山). Đến khoảng năm đầu niên hiệu Nguyên Hòa (元和, 806), theo lời khuyên của Hàn Thối Chi (韓退之), ông ra làm quan với chức Gián Nghị Đại Phu, rồi sau đó trãi qua một số chức tước khác. Trong khoảng thời gian niên hiệu Bảo Lịch (寳曆, 825-827), ông làm Sắc Sứ Giang Châu (江州, thuộc Tỉnh Giang Tây). Sau đó ông lại quay trở về Bạch Lộc Động và được người đời gọi là Bạch Lộc Tiên Sinh. Ông theo Quy Tông Trí Thường đến trú tại Thê Hiền Tự (棲賢寺) và hằng ngày vấn pháp. Bên cạnh đó, ông còn dâng sớ tâu lên triều đình xin ban tặng thụy hiệu Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師) cho Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏). Ông qua đời vào năm thứ 5 (831) niên hiệu Thái Hòa (太和), hưởng thọ 59 tuổi.

làm

To do. 1) Làm Ác: To do evil. 2) Làm Ẩu: To do something in a careless way. 3) Làm Bạn: To make friends. 4) Làm Bậy: To do silly things. 5) Làm Bế Tắc: To obstruct-To block. 6) Làm Biếng: To idle—To loaf—To be lazy. 7) Làm Bộ: To pretend—To assume—To feign to do something. 8) Làm Bớt Đau: Soothing—To make less painful. 9) Làm Bớt Sợ: To still someone's fear. 10) Làm Càn: To do without thought of the possible results. 11) Làm Cao: To get on one's high horse. 12) Làm Cho Ai Can Đảm: To help give courage to someone. 13) Làm Chung: To collaborate—To work together with someone. 14) Làm Chứng: To witness—To be the witness. 15) Làm Duyên: To give oneself airs and graces. 16) Làm Đẹp: To beautify. 17) Làm Gan: To throw off one's shyness. 18) Làm Giàu: To enrich oneself. 19) Làm Giùm: To render—To do someone a service. 20) Làm Giúp: To give someone a hand. 21) Làm Gương: To set an example for. 22) Làm Hại: To harm. 23) Làm Khó: To make difficulties. 24) Làm Khổ: To torture. 25) Làm Khôn: To act as a wise man. 26) Làm Không: To work for nothing return. 27) Làm Lành: a) To make it up with someone. b) To perform good (wholesome) deeds. 28) Làm Lấy Có: To do something as a matter of form (for form's sake). 29) Làm Lén: To do something on the sly. 30) Làm Lễ: To celebrate—To start a ceremony. 31) Làm Lơ: To pretend not to know or see. 32) Làm Luật: To make laws. 33) Làm Mai: To arrange marriage. 34) Làm Mất: To lose. 35) Làm Mê: To bewitch—To fascinate. 36) Làm Mích Lòng: To hurt someone's feeling. 37) Làm Một Mình: To do by oneself. 38) Làm Ngã Lòng: To discourage—To dishearten. 39) Làm Nghiêm: To keep a straight face. 40) Làm Ngơ: To take no notice of one's wrong doing. 41) Làm Ngược: To do things in the wrong order—To start at the wrong end. 42) Làm Người: To behave like a human being—To be a man. 43) Làm Người Chính Đáng: To be a righteous person. 44) Làm Người Tốt: To be a good person. 45) Làm Nhẹ Đi: To alleviate. 46) Làm Nhục: To insult—To affront—To humiliate. 47) Làm Nhục Ai: To humiliate someone—To cause someone to feel ashamed or look foolish in front of other people. 48) Làm Ô Danh: To besmirch one's name. 49) Làm Ô Nhiễm: To pollute. 50) Làm Ồn: To make noise. 51) Làm Phách: To on airs. 52) Làm Phải: To do right. 53) Làm Phiền: To disturb—To trouble—To annoy. 54) Làm Quen: To make acquaintance with someone. 55) Làm Rộn: To disturb—To trouble. 56) Làm Tan: To dispel—To cause to disappear. 57) Làm Tắc Nghẽn: To obstruct—To block. 58) Làm Thăng Bằng: To stabilize. 59) Làm Thất Kinh: To terrify. 60) Làm Theo: To emulate. 61) Làm Thinh: To hold one's tongue—To keep silent—To be silent. 62) Làm Thịt: To kill animals for food. 63) Làm Tiền: To blackmail. 64) Làm Tỉnh: To keep a straight face (prevent oneself from laughing). 65) Làm Trở Ngại: To obstruct—To hinder. 66) Làm Trung Gian: To mediate—To intermediate. 67) Làm Việc Xây Dựng: To perform constructive works (good deeds). 68) Làm Vội: To something in a hurry.

làm chảy máu thân phật

To shed a Buddha's blood (one of the five grave sins).

làm chủ tâm mình

To gain control of one's own mind.

làm công đức

To perform merit.

làm không cầu phước

Deeds of no merit.

làm lành lánh dữ

To perform good deeds and avoid bad deeds (transgressions).

làm phúc

To do good—To give alms—To give charity.

làm phật

To become a Buddha.

làm phật sự

To perform Buddhist or dharma works.

làm thị giả

Làm người hầu hạ và giúp đở công việc hằng ngày cho một vị Tăng—To become an attendant to a monk and help him with his daily chores.

làm việc phước thiện

To practice charity.

làm vô biên phật sự

To accomplish countless Buddha deeds.

làm đường

To make or build a road—Trì Địa Bồ Tát (Road-Building Bodhisattva).

lành

1) To heal up a wound—Intact—Unbroken—Untorn. 2) Good—Wholesome.

lành dữ

Good and bad.

lành lạnh

A little chilly.

lành mạnh

Healthy—Sound

lành thay!

Good deed!

lá sen

Lotus leaf.

lánh mặt

To hide away from someone

lánh nạn

To shun danger.

lánh xa

To shun—To keep away.

láo lếu

Careless—Impertinent.

láo xược

Insolent—Impertinent

láu cá

Cunning—sharp.

lâm

1) Đến hay tới gần: To approach—To be about to. 2) Khu rừng—A wood or grove. 3) Tưới nước: To drip—To sprinkle—To soak. ; (林) I. Lâm. Rừng. Rừng vốn là nơi cây cối um tùm, vắng vẻ, yên tĩnh, về sau thường được dùng để chỉ nơi tu hành. II. Lâm. Từ phiên âm tiếng Tây tạng, người Tàu dịch là Châu, đảo, sau được dùng làm tên gọi chung chùa viện của Phật giáo Tây tạng. Chẳng hạn như: Cụ hỉ tôn thắng châu tức là chùa Cam đan, Sắc lạp Đại thừa châu tức là chùa Sắc lạp...

lâm biến

Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, sắc cây trong rừng Ta La biến thành màu trắng—The trees of the wood turned white when the Buddha died.

lâm bệnh

To fall ill.

Lâm Chung

(林鐘、林鍾): có hai nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Hoàng Chung (黃鐘, ōshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Sử Ký (史記), chương Luật Thư (律書) thứ 3 giải thích rằng: “Lâm Chung giả, ngôn vạn vật tựu tử, khí lâm lâm nhiên (林鍾者、言萬物就死、氣林林然, Lâm Chung nghĩa là vạn vật sắp chết, khí đông đúc như vậy).” Trong bài Đáp Lưu Bá Thằng Vấn Luật Lữ (答劉伯繩問律呂) của Hoàng Tông Hi (黃宗羲, 1610-1695) nhà Thanh có câu: “Lâm Chung trường lục thốn, tích tứ bách bát thập lục phân (林鍾長六寸、積四百八十六分, Lâm Chung dài 7 tấc, chứa 486 phân).” (2) Tên gọi khác của tháng 6 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Bạch Hổ Thông (白虎通), chương Ngũ Hành (五行) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán có ghi rõ rằng: “Lục nguyệt vị chi Lâm Chung hà ? Lâm giả, chúng dã; vạn vật thành thục, chủng loại chúng đa (六月謂之林鍾何、林者、眾也、萬物成熟、種類眾多, tháng Sáu gọi là Lâm Chung, vì sao ? Lâm nghĩa là chúng [số nhiều]; vạn vật thành thục, chủng loại rất nhiều).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm về Lâm Chung rằng: “Mùi vi Lâm Chung, lục nguyệt chi thần danh Mùi; Mùi giả, vị dã; ngôn thời vật hướng thành, giai hữu khí vị, cố vị chi Mùi (未爲林鍾、六月之辰名未、未者、味也、言時物向成、皆有氣味、故謂之未, Mùi là Lâm Chung, chi của tháng Sáu tên Mùi; Mùi nghĩa là vị [mùi vị]; nghĩa là muôn vật đã trưởng thành, đều có khí vị, nên gọi nó là Mùi).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 còn giải thích rằng: “Lục nguyệt kiến Mùi viết Hiệp Hợp, hựu viết Lâm Chung, hựu hiệu xưng Thả Nguyệt, Hà Nguyệt (六月建未曰協洽、又曰林鍾、又號稱且月、荷月, tháng Sáu kiến Mùi, gọi là Hiệp Hợp, còn gọi là Lâm Chung, lại có tên là Thả Nguyệt, Hà Nguyệt).” Trong Kim Cang Kinh Đại Ý (金剛經大意, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 484) có câu “Lâm Chung nguyệt Đại Sĩ Thành Đạo nhật Vương Khởi Long cẩn thức (林鍾月大士成道日王起隆謹識, Vương Khởi Long kính ghi vào ngày Đại Sĩ Thành Đạo, tháng Sáu).”

lâm chung

Sắp chết—To be about to die—In the hour of death—Approach the end—Dying. ; (臨終) Lúc hấp hối sắp chết. Trong tinh xá Kì hoàn tại Ấn độ có thiết lập viện Vô thường cho các vị tăng bị bệnh nặng không thể cứu chữa nằm an nghỉ, khiến họ lúc lâm chung xả bỏ tâm tham đắm đối với phòng xá, áo bát và các đồ dùng khác. Trong viện Vô thường thờ tượng Phật A di đà đứng, tay trái của Ngài rủ xuống, cầm lá phan 5 sắc, người lâm chung nắm lấy đầu lá phan, biểu thị ý nghĩa theo Phật vãng sinh. Nhà Diên thọ, gác Trọng bệnh, v.v... ở đời sau chính là phỏng theo mô thức viện Vô thường ngày xưa. Ngoài ra, lúc lâm chung, cần diệt trừ những ý niệm tạp nhạp mà chỉ chuyên chú niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ, đây gọi là Lâm chung chính niệm. [X. luận Câu xá Q.9, 10].

lâm chung chính niệm

(臨終正念) Người tu hành, lúc mệnh chung, xả bỏ tất cả tà niệm, chỉ chuyên tâm nhiếp ý vào việc tu trì Phật đạo. Tông Tịnh độ cho rằng lúc người ta hấp hối, không nên để cho cái khổ về chết làm cho tâm sinh điên đảo, mà chỉ một lòng niệm Phật cầu được sinh về cõi Tịnh độ. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo thuộc tông Tịnh độ nói rằng: Nếu lúc lâm chung mà để mất chính niệm thì quỉ thần có cơ hội làm não loạn, người bệnh chết trong sự điên cuồng và bị rơi vào 3 đường ác. Tại Nhật bản, niệm Phật lúc lâm chung gọi là Lâm chung niệm Phật, nhờ đó mà được vãng sinh thì gọi là Lâm chung nghiệp thành. Trái lại, nếu sự vãng sinh Tịnh độ nhờ vào tín nguyện lúc bình sinh mà được xác lập, thì gọi là Bình sinh nghiệp thành. [X. luận Câu xá Q.9; Long thư tịnh độ văn Q.4; Lạc bang văn loại Q.1; A di đà kinh lược kí; Thái bình kí Q.16].

lâm chung chính niệm quyết

(臨終正念訣) Cũng gọi Lâm chung yếu quyết, Lâm chung chính niệm kí, Thiện đạo hòa thượng lâm chung chính niệm quyết. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường được thu vào Long thư tịnh độ văn quyển 12 trong Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này nói rằng lúc lâm chung cần phải giữ chính niệm, một lòng chuyên niệm danh hiệu của Phật, thì chắc chắn sẽ được vãng sinh. Sách được chia thành 4 mục vấn đáp. 1. Lúc lâm chung phải dụng tâm như thế nào? 2. Tìm thầy uống thuốc có ích lợi gì không? 3. Cầu thần cầu phúc thì như thế nào? 4. Lúc bình thường trong cuộc đời không hề niệm Phật, đến lúc lâm chung mới niệm Phật thì công đức và quả báo ra sao?

lâm chung hiện tiền nguyện

(臨終現前願) Cũng gọi Lâm chung nghinh tiếp nguyện, Nhiếp thủ tu đức dục sinh nguyện, Lai nghinh dẫn tiếp nguyện, Thánh chúng lai nghinh nguyện, Hiện kì nhân tiền nguyện. Nguyện thứ 19 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Tức hành giả niệm Phật, phát tâm bồ đề, tu các công đức, nguyện sinh về Tịnh độ phương Tây, lúc lâm chung, đức Phật A di đà và các Thánh chúng cùng đến trước tiếp dẫn. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Quán niệm pháp môn; Vô lượng thọ kinh sao Q.3; Tịnh độ tông yếu tập Q.thượng (Lương trung); Tịnh độ thuật môn sao]. (xt. Lai Nghinh Tiếp Dẫn Nguyện).

lâm chung nghiệp thành

(臨終業成) Đối lại: Bình sinh nghiệp thành. Đến lúc lâm chung mới thành tựu sự nghiệp vãng sinh. Nghĩa là tin tưởng rằng đến lúc hấp hối, thì Phật A di đà và các Bồ tát hiện ra trước mắt, tiếp dẫn về cõi Tịnh độ. Từ ngữ Lâm chung nghiệp thành có xuất xứ từ tác phẩm Tán thiện nghĩa vấn đáp quyển 6 của ngài Long khoan ở chùa Trường lạc, Nhật bản. Nghiệp thành là nghiệp sự thành biện, nghiệp đạo thành biện, nghĩa là thành tựu sự nghiệp tu đạo. Bởi vì, đối với việc cầu vãng sinh Tịnh độ thì một niệm lúc lâm chung rất là quan trọng. Người tu hành, lúc bình sinh niệm Phật liên tục, không gián đoạn, đó là hành vi chuẩn bị cho việc lâm chung nghiệp thành, dẫu người ấy chưa thể thành tựu nghiệp nhân vãng sinh, nhưng vẫn tiếp tục siêng tu đến một niệm cuối cùng, thì chắc chắn cũng được lâm chung nghiệp thành. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần tha bút sao Q.hạ; Tịnh độ thuật văn sao; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập bí sao Q.5].

lâm gian lục

(林間錄) Gọi đủ: Thạch môn Hồng giác phạm lâm gian lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Giác phạm Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, được xếp trong Vạn tục tạng tập 148. Nội dung sách này ghi lại các cuộc đàm luận của ngài Tuệ hồng với các bậc cao sĩ trong chốn tùng lâm về công hạnh của các bậc tôn túc, những di huấn trong tùng lâm, ý chỉ vi diệu của chư Phật, Bồ tát và những lời nghị luận của các bậc hiền sĩ, đại phu, v.v...tất cả gồm hơn 100 thiên yếu ngữ. Đây là bộ sách chỉ nam cho người tham thiền học đạo, xưa nay được lưu truyền rộng rãi trong các tùng lâm. Ngoài ra, ngài Tuệ hồng còn trứ tác Lâm gian hậu lục 1 quyển, cũng gọi Lâm gian lục hậu tập, Tân biên lâm gian hậu lục, cũng được thu vào Vạn tục tạng tập 148. [X. Thiền tịch chí Q.hạ].

lâm hãn

1) Đổ mồ hôi: Dripping sweat. 2) Đổ nước lên mình để rửa sạch mồ hôi: To sprinkle or pour water on the body to cleanse sweat. ; (淋汗) Chỉ cho sự tắm gội trong khoảng 3 tháng mùa hạ, từ tháng 7 đến tháng 9. Điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 448 hạ), nói: Đến ngày tắm, đun nước nóng, treo bảng Khai dục (bảng báo giờ tắm gội) ở trước nhà Trai để thông báo cho đại chúng tắm rửa hoặc gội đầu. [X. môn Văn sớ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lâm hạ

(林下) Lâm chỉ cho tùng lâm hay Thiền lâm, còn hạ tức là ở trong tùng lâm. Ngoài ra, tại Nhật bản, những Thiền viện thuộc Ngũ sơn nằm dưới quyền thống trị của Mạc phủ (bọn quân phiệt) được gọi là tùng lâm, còn những Thiền viện nằm ngoài phạm vi thống trị của Mạc phủ thì được gọi là Lâm hạ. [X. chương Giáp sơn Thiện hội trong Tổ đường tập Q.7].

Lâm La Sơn

(林羅山, Hayashi Razan, 1583-1657): Nho gia của phái Chu Tử Học, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; Tổ của họ Lâm (林, Hayashi), Nho quan của chính quyền Mạc Phủ; tên là Tín Thắng (信勝); tăng hiệu là Đạo Xuân (道春); tự Tử Tín (子信); thông xưng là Hựu Tam Lang (又三郎); xuất thân kinh đô Kyoto. Ông từng xuất gia làm Tăng sĩ của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji); nhưng đã sớm học Chu Tử Học và trở thành môn đồ của Đằng Nguyên Tinh Oa (藤原惺窩). Năm 1605 (Khánh Trường [慶長] 10), ông đến yết kiến Tướng Quân Đức Xuyên Gia Khang (德川家康, Tokugawa Ieyasu), được vị này tín nhiệm và cho đảm trách về văn thư của Mạc Phủ. Sau đó, ông từng phục vụ cho Tú Trung (秀忠, Hidetada), Gia Quang (家光, Iemitsu), Gia Cương (家綱, Ietsuna), chuyên trách về văn thư ngoại giao cũng như thảo các văn kiện quan trọng, và cống hiến to lớn cho việc chỉnh bị chính quyền Mạc Phủ. Vào năm 1630 (Khoan Vĩnh [寛永] 7), ông mở trường Tư Thục ở Giang Hộ; và sau này trở thành trung tâm học vấn. La Sơn thông cả các điển tịch cổ kim của Nhật Bản cũng như Trung Quốc, là người bác học, kiến thức cao rộng, đã để lại những dấu ấn to lớn trong việc xuấn bản các thư tịch Hán văn và giảng thuật Kinh Thư. Về mặt tư tưởng, khác với Đằng Nguyên Tinh Oa, để làm sáng tỏ lập trường của Chu Tử Học, ông phân biệt với Dương Minh Học và tận lực bài xích Phật Giáo; chủ trương tư tưởng Thần Nho Nhất Trí Luận (神儒一致論). Trước tác của ông có Bản Triều Thông Giám (本朝通鑑) 310 quyển, Bản Triều Thần Xã Khảo (本朝神社考) 6 quyển, La Sơn Văn Tập (羅山文集) 150 quyển, v.v.

lâm ly

Moving.

lâm lê quang

(林藜光) (1902-1945) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Hạ môn, tỉnh Phúc kiến. Lúc còn ít tuổi, ông theo giáo sư Paul Damieville, một nhà Hán học người Pháp, nghiên cứu tiếng Phạm ở Đại học Hạ môn. Sau khi tốt nghiệp, ông đến Đại học Bắc kinh làm trợ giáo cho giáo sư Cương hòa thái. Ngoài việc giúp phiên dịch kinh điển ra, ông còn nghiên cứu tiếng Phạm và tiếng Tây tạng. Năm 1933, ông sang Pháp, nhận chức Giảng sư môn Trung văn ở Đại học Ngôn ngữ Đông phương tại Paris. Ở đây, ông theo học kinh điển Phật bằng tiếng Phạm với 2 vị giáo sư Ấn độ học người Pháp là S. Levi và L. Rerrou. Sau đó, ông đạt được học vị Tiến sĩ Quốc gia nước Pháp. Công trình nghiên cứu của ông chủ yếu là kinh Chư pháp tập yếu và kinh Chính pháp niệm xứ. Ngoài ra, ông còn xem tới hơn 200 bộ kinh điển trong tạng kinh Trung văn, chuyên tâm nghiên cứu, tìm tòi và so sánh văn học, và lí luận trong kinh điển. Những kết quả của việc nghiên cứu này đều được ghi chép trong phần phụ lục của luận án Tiến sĩ của ông. Rất tiếc công trình nghiên cứu của ông đang được tiến hành, thì không may ông lâm bệnh nặng và qua đời tại Paris. Sau khi ông mất, các di phẩm của ông được giáo sư Paul Damieville sửa chữa và lần lượt cho xuất bản, tất cả có 4 tập, do sở nghiên cứu khoa học và viện Bảo tàng nước Pháp ấn hành. Tập 1 là luận án Tiến sĩ của ông, trình bày mối quan hệ giữa kinh Chư pháp tập yếu với giáo nghĩa Tiểu thừa, rồi so sánh với kinh Chính pháp niệm xứ và bổ sung những chỗ thiếu sót của kinh này trong bản dịch Tây tạng, cũng như những điểm sai lầm trong bản Hán dịch hiện còn. Tập 2 đến tập 4 thì nghiên cứu và giải thích một cách rất tỉ mỉ rõ ràng 2500 bài tụng trong kinh Chư pháp tập yếu, đối chiếu với 4 thứ ngữ văn là: Hán, Phạm, Tạng, Pháp. Công trình này của ông được giáo sư Paul Damieville hết lời khen ngợi là: Bất thế Thánh tăng (Thánh tăng để tóc).

lâm mạng chung thời

To approach the end of life.

Lâm Nga Phong

(林鵞峰, Hayashi Gahō, 1618-1680): Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Hựu Tam Lang (又三郎), Xuân Thắng (春勝), Thứ (恕); tự Tử Hòa (子和), Chi Đạo (之道); hiệu là Xuân Trai (春齋), Nga Phong (鵞峰), Hướng Dương Hiên (向陽軒), v.v.; thân phụ là Lâm La Sơn (林羅山). Ông theo hầu hạ Na Ba Hoạt Sở (那波活所), và sau đó cùng với phụ thân phục vụ cho chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Vào năm 1657 (Minh Lịch [明曆] 3), ông kế thừa dòng họ Lâm và tham gia chính trị của Mạc Phủ. Đến năm 1663 (Khoan Văn [寬文] 3), ông giảng nghĩa Ngũ Kinh cho Đức Xuyên Gia Cương (德川家綱, Tokugawa Ietsuna), Tướng Quân đời thứ 4, được tặng cho danh hiệu Hoằng Văn Viện Học Sĩ (弘文院學士) và giao cho việc cơ mật ngoại giao của chính quyền Mạc Phủ cũng như quan hệ tố tụng. Là người rất tinh thông Nhật Bản Sử, ông cùng với phụ thân chủ đạo sự nghiệp biên tập các tác phẩm như Nhật Bản Vương Đại Nhất Lãm (日本王代一覽), Bản Triều Thông Giám (本朝通鑑), Khoan Vĩnh Chư Gia Hệ Đồ Truyện (寛永諸家系圖傳), v.v., và đã tạo ảnh hưởng to lớn cho Lịch Sử Học thời Cận Đại. Tổ chức trường học Tư Thục do Nga Phong chỉnh đốn thành hệ thống đã tạo thành cơ sở cho trung tâm học vấn Xương Bình Phản (昌平坂).

lâm nguy

To be in danger.

lâm ngạn minh

(林彥明) (1868-1945) Danh tăng kiêm học giả Nhật bản thuộc tông Tịnh độ, hiệu Hương dự, tự là Mai thụ, Qui đường. Sư xuất gia năm lên 8 tuổi, 19 tuổi sư đến Đông kinh thờ các ngài Y đạt Linh kiên và Hắc điền Chân động làm thầy, theo học Phật pháp ở trường Phật học của tông Tịnh độ. Về sau, sư lại chuyên nghiên cứu Duy thức học. Năm 27 tuổi, sư trụ trì chùa Đại tú ở Thiển thảo và giữ các chức vụ như: Giáo thụ và Hiệu trưởng trường Tịnh độ tông, Chủ nhiệm giáo học kiên giáo sư học viện Cao đẳng, Thượng thủ Đạo tràng Tổng bản sơn chuyên tu, Giảng sư môn Triết học của trường Đại học Đế quốc tại Đông kinh, Đại tăng chính, Tổng thư kí hội Nghiên cứu Phật giáo Nhật hoa, v.v... Sư sáng lập các tạp chí Phù tông công luận, Nhật Hoa Phật giáo nghiên cứu hội, ra sức phát triển sự giao lưu Phật giáo giữa 2 nước Nhật Trung; suốt đời chuyên nghiên cứu tông học của Tịnh độ và đặt nền tảng vững chắc cho sự nghiên cứu này. Ngoài ra, sư cũng thông hiểu Duy thức và Nhân minh. Năm Chiêu hòa 20 (1945) sư tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các trứ tác: Chuyển thức luận chi nghiên cứu, Tân đính thụ Bồ tát giới nghi. Niệm Phật Pháp hoa luận, Ất hợi phỏng Hoa lục, Kỉ mão phỏng Hoa lục, Đại thừa khởi tín luận tân nghiên cứu. [X. Mai thụ truy tưởng; Cận đại Tịnh độ tông tăng anh truyện].

Lâm Nhàn Lục

(林閒錄, Rinkanroku): 2 quyển, do Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống trước tác, Bổn Minh (本明) bút lục, san hành vào năm đầu (1107) niên hiệu Đại Quán (大觀). Tác giả là pháp từ của Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文), từng rong chơi trong làng văn chương, giao lưu với hàng sĩ phu thanh nhàn để luận đàm về đức hạnh cao vời của chư vị tôn túc, về những lời giáo huấn thâm uyên trong chốn tùng lâm, huyền chỉ của chư Phật, Bồ Tát, dư luận của hàng Sĩ Đại Phu. Trải qua trong vòng 10 năm trường, ông đã thâu lục lại hơn 300 sự việc qua những lần đàm luận, giao tế như vậy. Tạ Dật (謝逸) viết lời tựa cho tác phẩm này và cho san hành. Ngoài ra, còn có Lâm Nhàn Hậu Lục (林閒後錄) 1 quyển.

lâm nạn

To fall into calamity.

lâm sâm

(林森) (1868-1943) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Mân hầu, tỉnh Phúc kiến, tự Tử siêu, hiệu Thiên ba, biệt hiệu Thanh chi lão nhân. Năm Dân quốc 21 (1932), ông được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Quốc dân. Ông thường kinh lí các tỉnh, đến đâu cũng tỏ thái độ hòa nhã và dùng lời từ ái an úy vỗ về quân dân. Ông sống cuộc đời giản dị, cần kiệm, hâm mộ Phật pháp, ăn chay, không sát sinh. Ông thường cùng chư tăng đàm luận Phật pháp, ủng hộ và giao hảo thân thiện với các bậc danh đức đương thời như các ngài Thái hư, Từ hàng, Viên anh, v.v... Ông tận lực can thiệp để giữ gìn tài sản của chùa chiền, bảo vệ chúng tăng trong phong trào Miếu sản hưng lọcm(tài sản của chùa chiền biến làm trường học) do nhóm Chu phật hải và Cáp sảng thu, v.v... ở tỉnh Giang tô chủ xướng. Năm Dân quốc 21 (1932), lầu chứa kinh được xây cất ở trong vườn lăng Tôn trung sơn tại Nam kinh, ông cùng Đại sư Thái hư vận động in 15 bộ Long tạng gửi tặng cho các thư viện của các trường Đại học trong nước. Đối với sự nghiệp truyền bá Phật pháp, ông đã có những cống hiến rất lớn. Năm Dân quốc 32 (1943) ông qua đời tại Trùng khánh, thọ 75 tuổi.

lâm sự

On the point of doing something.

lâm thời

Provisional.

lâm trai

(臨齋) Đến giờ ngọ trai, hay khi tiếp nhận sự cúng dường của tín đồ. Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu quyển thượng (Vạn tục 112, 12 hạ), ghi: Hoặc đi xa vừa về, gặp giờ ngọ trai, thì đi thẳng vào Tăng đường để cùng thụ trai với đại chúng. Ngoài ra, vào giờ ngọ trai, tụng kinh hồi hướng cho người chết, gọi là Lâm trai phúng kinh. [X. môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lâm tuyền

Forest and stream.

Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đơn Hà Thuần Thiền Sư Tụng Cổ Hư Đường Tập

(林泉老人評唱丹霞淳禪師頌古虛堂集, Rinsenrōjinhyōshōtankajunzenjijukokidōshū): xem Hư Đường Tập (虛堂集, Kidōshū) ở trên.

Lâm Tuyền Lão Nhân Bình Xướng Đầu Tử Thanh Hòa Thượng Tụng Cổ Không Cốc Tập

(林泉老人評唱投子清和尚頌古空谷集, Rinsenrōjinhyōshōtōsuseioshōjukokūkokushū): xem Không Cốc Tập (空谷集, Kūkokushū) ở trên.

Lâm Tuyền Tùng Luân

(林泉從倫, Rinsen Jūrin, ?-?): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, hiệu là Lâm Tuyền (林泉). Ông đến tham vấn Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀) ở Báo Ân Tự (報恩寺), Yến Kinh (燕京), có chỗ khế ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông khai đường giáo hóa ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺), rồi kế thừa thầy mình trú trì Báo Ân Tự. Vào năm thứ 9 (1268) đời Thế Tổ nhà Nguyên, ông phụng chiếu vào cung nội cùng luận đạo với Đế Sư, phát huy áo nghĩa của Thiền học và giải thích tường tận lên triều đình bản Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập (禪源諸詮集) của Tông Mật (宗密). Đến năm thứ 18 đời vua Thế Tổ, khi Mẫn Trung Tự (憫忠寺) ở Đại Đô (大都) tiến hành thiêu hủy những ngụy kinh, chính ông là người được hạ lệnh châm ngòi lửa. Ông có viết trước ngữ cũng như lời bình xướng cho 100 tắc tụng cổ của Đầu Tử Nghĩa Thanh (投子義青) cùng 100 tắc tụng cổ của Đơn Hà Tử Thuần (丹霞子淳) và tạo thành Không Cốc Tập (空谷集), Hư Đường Tập (虛堂集).

lâm táng

Tống táng bằng cách bỏ xác trong rừng, hay nơi hoang dã, một trong bốn loại tống táng—Buried in the forest, or burial by abandoning the corpse in the wilds, one of the four forms of burial—See Tứ Táng (4). ; (林葬) Cũng gọi Dã táng. Bỏ xác chết trong rừng cho chim, thú ăn thịt, là 1 trong 4 cách chôn cất của người Ấn độ. Hiện nay, tín đồ Ba tư giáo ở Ấn độ còn có phong tục xây tháp cao, đem xác chết để lên trên cho chim đến rỉa ăn, đây là biến tướng của Lâm táng. (xt. Tứ Táng).

Lâm Tế Nghĩa Huyền

(臨濟義玄, Rinzai Gigen, ?-866): vị tổ của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người Nam Hoa (南華) thuộc Tào Châu (曹州, tỉnh Sơn Đông ngày nay), họ là Hình (郉). Lúc còn nhỏ ông rất thông minh, và nỗi tiếng là có hiếu với cha mẹ. Ông vốn có chí xuất trần nên xuống tóc xuất gia, thọ cụ túc giới, thường có mặt trong các buổi thuyết giảng và chuyên nghiên cứu sâu về kinh luật luận. Sau đó, ông đến tham vấn Hy Vận (希運) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), rồi lưu lại đây được 3 năm và rất nỗi tiếng với hạnh nghiệp thuần thục. Nhưng theo lời dạy của vị Thủ Tòa, ông đến hỏi Hy Vận về đại ý của Phật pháp và bị đánh ba lần. Về sau, ông lại đến tham yết Đại Ngu (大愚) ở Cao An Nạn Đầu (高安灘頭), rồi thấu triệt Thiền phong của Hy Vận, và cuối cùng được kế thừa dòng pháp của Thầy mình. Người ta cho rằng ông thường tự xưng là Đại Ngu. Ông lại đi lên phương Bắc, đến Trấn Châu (鎭州, tỉnh Hà Bắc ngày nay), rồi dựng lên một ngôi chùa nhỏ ở bên sông Hô Đà (滹沱), lấy tên là Lâm Tế Viện (臨濟院). Theo bài ký trong tháp của ông có ghi rằng ông đã từng rời khỏi chùa này để tránh nạn binh hỏa, nhờ có vị quan Thái Úy Mặc Quân Hòa (默君和) quy y theo nên ông đã dựng ở trong dinh cơ của vị này một ngôi Lâm Tế Viện, nhưng mà sự thật thì cần phải xác nhận lại. Ông cũng đã từng đến thuyết pháp cho vị Phủ chúa Phủ Hà Dương là Vương Thường Thị (王常侍), rồi lưu trú tại Đông Đường của Hưng Hóa Tự (興化寺), bàn đạo với Tam Thánh Huệ Nhiên (三聖慧然), và đến ngày 10 tháng 4 năm thứ 7 niên hiệu Hàm Thông (咸通, theo bài ký ở trong tháp thì ghi là ngày 10 tháng giêng năm sau) ông thị tịch, tuổi thọ và hạ lạp đều không rõ. Ông đuợc ban thụy hiệu là Huệ Chiếu Thiền Sư (慧照禪師), tháp có tên gọi là Trừng Linh (澄靈). Dòng pháp từ của ông ngoài Huệ Nhiên (慧然) ra còn có Hưng Hóa Tồn Tương (興化存獎), Ngụy Phủ Đại Giác (魏府大覺), Quán Khê Chí Nhàn (灌溪志閑), v.v. Lại nữa, còn có một số nhân vật kiệt xuất như Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗), Hạnh Sơn Giám Hồng (杏山鑑洪), Long Nha Cư Độn (龍牙居遁), Lạc Phố Nguyên An (洛浦元安), Ma Cốc Nhị Thế (麻谷二世), v.v.

lâm tì ni

Tên một hoa viên, gần kinh đô của thành Ca Tỳ La Vệ, nơi đản sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa, cách nay hơn 2.600 năm về trước, người đã thành Phật. Vị trí bây giờ là Rummindei thuộc Nepal, khoảng 15 dậm về phía đông của thành Ca Tỳ La Vệ, gần biên giới Nepal và Ấn Độ. Vua A Dục của Ấn Độ (khoảng 273-232 trước Tây Lịch), đã đến viếng nơi nầy và cho dựng lên một trụ đá ghi lại kỷ niệm chuyến hành hương chiêm bái của ngài. Lâm Tỳ Ni là một trong tứ động tâm hay Phật tích trong lịch sử Phật giáo. Ba Phật tích kia là Bồ Đề Đạo Tràng, Vườn Lộc Uyển, và thành Câu Thi Na—Lumbini, name of a park, which is the Birthplace of Siddartha Gautama, who became the Buddha, over 2,600 years ago. It was near the capital of Kapilavastu of the Sakya tribe. The site is now known as Rummindei in Nepal, 15 miles east of Kapilavastu, near the border of Nepal and India. Asoka, king of ancient India (273-232 BC) came here on a pilgrimage in 250 B.C. He erected a stone pillar here in commemoration of his visit. Lumbini is one of the four Holy Places of Buddhism history. The three other sacred places are Buddha Gaya, Sarnath, and Kusinara. ** For more information, please see Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

lâm tế

1) Trường phái Lâm Tế: Lin-Chi or Rinzai (Zen) school. Một trong những trường phái Thiền nổi tiếng của trung Quốc được Thiền sư Lâm Tế sáng lập. Lâm Tế là đại đệ tử của Hoàng Bá. Vào thời kỳ mà Phật giáo bị ngược đãi ở Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái thiền Lâm Tế, mang tên ông. Trong những thế kỷ kế tiếp, tông Lâm Tế chẳng những nổi bậc về Thiền, mà còn là một tông phái thiết yếu cho Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Tông Lâm Tế mang đến cho Thiền tông một yếu tố mới: công án. Phái Thiền Lâm Tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những phương tiện bất bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay những cọng án khác. Phái Lâm Tế tu tập theo các công án có hệ thống đã được các bậc thầy sưu tập, và xem nhẹ việc đọc tụng kinh điển cũng như thờ phượng tượng Phật, tìm về Phật Tánh trực tiếp bằng những công án và tu tập sống thực—One of the most famous Chinese Ch'an founded by Ch'an Master Lin-Chi, a disciple of Huang-Po. At the time of the great persecution of Buddhists in China from 842 to 845, Lin-Chi founded the school named after him. The Lin-Chi school of Ch'an. During the next centuries, this was to be not only the most influential school of Ch'an, but also the most vital school of Buddhism in China. Lin-Chi brought the new element to Zen: the koan. The Lin-Chi School stresses the importance of “Sudden Enlightenment” and advocates unusual means of achieving it, such as shouts, slaps, and the uses of koans. The Lin-Chi uses collections of koans systematically in its temples and downplays the reading of sutras and veneration of Buddha images in favor of seeking the Buddha Nature directly through the use of koans and practical living. 2) Tên một tự viện trong Trấn Định Phủ, xây dưới thời nhà Đường, nơi Sư Nghĩa Huyền đã sáng lập ra phái Lâm Tế: Name of a monastery during the T'ang dynasty in Chên-T'ing-Fu, from which I-Hsuan founded the Lin-Chi school. ** For more information, please see Lâm Tế Nghĩa Huyền.

lâm tế chân nhân

(臨濟真人) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền với 1 vị tăng trong khi Ngài đang dạy chúng. Lâm tế lục (Đại 47, 496 hạ), ghi: Sư lên pháp đường nói: Trong khối thịt đỏ au có 1 Vô vị chân nhân thường ra vào nơi mặt mũi của các ông, người chưa được chứng thấy, thì hãy xem! Hãy xem! Lúc đó có 1 vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là Vô vị chân nhân? Sư bước xuống giường Thiền, nắm lấy vị tăng bảo: Nói mau! Nói mau! Vị tăng suy nghĩ, sư xô ra, nói:Vô vị chân nhân là cái cục phân khô gì, rồi quay về phương trượng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Nhân thiên nhãn mục Q.thượng; tắc 38 trong Thung dung lục].

lâm tế hạt lư

(臨濟瞎驢) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền lúc sắp thị tịch với vị đệ tử của Ngài là Tam thánh Tuệ nhiên. Lâm tế lục (Đại 47, 506 hạ), nói: Lúc sắp tịch, sư ngồi trên tòa, dặn sau khi ta diệt độ, không được làm mất chính pháp nhãn tạng của ta. Tam thánh bước ra thưa: –Đâu dám để mất chính pháp nhãn tạng của Hòa thượng. Sư nói: –Sau này, nếu có người hỏi thì ngươi sẽ trả lời họ thế nào? Tam thánh liền hét. Sư nói: –Ai ngờ chính pháp nhãn tạng của ta bị con lừa mù(hạt lư) này diệt mất! Nói xong, sư ngồi ngay thẳng thị tịch. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Tổ đình sự uyển Q.2; Ngũ đăng hội nguyên Q.11; tắc 13 Thung dung lục].

lâm tế hạt đức sơn bổng

(臨濟喝德山棒) Cũng gọi Lâm tế kim cương vương, Đức sơn mộc thượng tọa. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho tiếng hét(hát) của Thiền sư Lâm tế và cây gậy(bổng) của Thiền sư Đức sơn ở đời Đường. Khi tiếp dẫn người học, Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền thường dùng tiếng hét, còn Thiền sư Đức sơn Tuyên giám thì hay dùng cây gậy đánh để khai ngộ. Trong Thiền tông, 2 tông phong này có 1 địa vị trọng yếu và 2 ngài Lâm tế, Đức sơn được xem như ngang nhau, xứng đáng là đại biểu cho các Thiền sư. Tắc 87 Bích nham lục (Đại 48, 212 thượng), nói: Đức sơn gậy đánh như mưa đổ, Lâm tế hát vang tựa sấm rền. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.15; Trung phong quảng lục Q.12 thượng; Viên ngộ tâm yếu Q.thượng; Đại tuệ pháp ngữ ngữ lục Q.20].

Lâm Tế Lục

(臨濟錄, Rinzairoku): bộ Ngữ Lục của Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) nhà Đường, được xem như là do đệ tử ông là Huệ Nhiên Tam Thánh (慧然三聖) biên tập, nhưng bản hiện hành thì do Viên Giác Tông Diễn (圓覺宗演) nhà Tống tái biên và trùng san vào năm thứ 2 (1120) niên hiệu Tuyên Hòa (宣和). Lâm Tế Lục này được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc và Nhật Bản, thỉnh thoảng được khai bản và tôn trọng như là "vua của các Ngữ Lục". Với đầu quyển có lời tựa của Mã Phòng (馬防), toàn thể bộ này gồm có 4 phần chính: Thượng Đường Ngữ (上堂語), Thị Chúng (示眾), Kham Biện (勘辨), Hành Lục (行錄). Ngoài ra, bài Chơn Định Thập Phương Lâm Tế Huệ Chiếu Huyền Công Đại Tông Sư Đạo Hạnh Bi (眞定十方臨濟慧照玄公大宗師道行碑) và Lâm Tế Chánh Tông Bi Minh (臨濟正宗碑銘) cũng được thâu lục vào đây. Trong phần Thượng Đường Ngữ tập trung những lời giáo huấn cho chúng đệ tử và những câu vấn đáp lấy lời giáo huấn ấy làm khế cơ. Phần Thị Chúng là Ngữ Lục giảng nghĩa, với ngôn từ rất khẩn thiết nhắn nhủ chúng đệ tử. Phần Kham Biện là phần ký lục ghi lại những lời vấn đáp qua lại giữa các Thiền tăng có nêu tên như Triệu Châu (趙州), Ma Cốc (麻谷), v.v. Và phần Hành Lục là phần ghi lại nhân duyên vì sao ông đã đạt ngộ với Hoàng Bá, quá trình tu hành với vị này như thế nào, quá trình đi hành cước các nơi, cho đến khi qua đời. Dưới thời nhà Đường có nhiều Ngữ Lục xuất hiện, mỗi Ngữ Lục đều phản ánh cá tánh của Thiền giả và cho ta thấy được sự rộ nở của trăm hoa. Thế nhưng qua những ngữ cú tản mạn khắp nơi trong bộ Ngữ Lục này như "bậc chân nhân không giai vị", "đạo nhân không nương tựa", "vô sự là quý nhân", "nếu tùy nơi làm chủ thì nơi nào cũng là chơn cả", "gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ", "ba thừa mười hai phần giáo thảy đều giấy cũ để chùi đồ bất tịnh", v.v., ta có cảm giác như có mặt thật sự ngay lúc ấy với biểu hiện rất giản dị của Lâm Tế, và có thể nói đó là đỉnh điểm của tư tưởng Thiền. Qua ký lục của Tổ Đường Tập (祖堂集) 19 cũng như Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) 12, ta có thể biết được rằng Ngữ Lục của Lâm Tế đã tồn tại từ rất xưa. Theo nghiên cứu gần đây cho thấy rằng lời của Lâm Tế được thâu lục vào trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄) 10-11. Sau lần trùng san của Tông Diễn, bản này cũng thỉnh thoảng được san hành, bản Tục Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (續古尊宿語要) 1 là san bản hiện tồn xưa nhất. Tại Nhật Bản cũng tồn tại rất nhiều bản như Bản Ngũ Sơn của năm thứ 2 (1320) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), năm thứ 9 (1437) niên hiệu Vĩnh Hưởng (永享), năm thứ 3 (1491) niên hiệu Diên Đức (延德); Bản Cổ Hoạt Tự (古活字本) vào năm thứ 9 (1623) niên hiệu Nguyên Hòa (元和); bản năm thứ 2 (1625), 4 (1627), 9 (1632), 10 (1633), 14 (1637) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), v.v.

lâm tế lục

(臨濟錄) Gọi đủ: Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục. Cũng gọi: Lâm tế Nghĩa huyền thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tam thánh Tuệ nhiên biên tập vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này thu chép các pháp ngữ của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền, được tông Lâm tế coi là bộ Ngữ lục quan trọng nhất. Sách này được chia làm 3 phần: Ngữ lục, Khám biện và Hành lục. Phần Ngữ lục trình bày về Tứ hát, Tứ tân chủ, Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản v.v...; phần Khám biện nói về cơ duyên vấn đáp với các bậc tôn túc khi Thiền sư Lâm tế du phương tham vấn các nơi; còn phần Hành lục thì nói về hành trạng và truyện kí của Ngài. Phần nổi tiếng nhất trong nội dung sách này là Tứ liệu giản, đó là: Đoạt nhân bất đoạt cảnh, Đoạt cảnh bất đoạt nhân, Nhân cảnh câu đoạt, Nhân cảnh câu bất đoạt... Sau khi Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền thị tịch được 254 năm, thì ngài Viên giác Tông diễn ở núi Cổ sơn thuộc Phúc châu mới khắc lại bộ Ngữ lục này vào năm Tuyên hòa thứ 2 (1120) đời Bắc Tống. Vấn đề nội dung bản Ngữ lục khắc lại này với bộ Ngữ lục trước năm Tuyên hòa thứ 2 có giống nhau hay không thì không thể khảo chứng được, vì thiếu tư liệu. Bản lưu hành hiện nay là bản khắc lại.

Lâm Tế Nghĩa Huyền

臨濟義玄: C: línjì yìxuán; J: rinzai gigen; ?-866/867; |Thiền sư Trung Quốc, là Tổ khai dòng thiền Lâm Tế. Sư là môn đệ xuất sắc nhất của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Môn đệ danh tiếng đắc pháp của sư có Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ðịnh Thượng Toạ.|Sư khai sáng dòng thiền Lâm Tế trong thời gian Phật giáo Trung Quốc đang bị đàn áp (842-845) và chính dòng này đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt trong thời gian sau, trở thành môn phái quan trọng nhất của Phật giáo Trung Quốc. Song song với dòng Tào Ðộng, dòng thiền của Sư được truyền bá tại Nhật Bản cho đến ngày nay gần như dưới dạng nguyên thuỷ.|Sư tiếp nối truyền thống hoằng hoá của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư bằng cách sử dụng tiếng hét (Hát; j: Katsu!), gậy đập (Trúc bề; j: shippei, kyosaku) và Phất tử (j: hossu).|Cách hướng dẫn môn đệ của Sư là sự phối hợp và hoàn chỉnh cách dạy của các vị tiền nhân kể từ Lục tổ Huệ Năng. Thành phần mới mà người ta có nói là xuất phát từ dòng thiền này là phép quán Công án, một phương pháp gần như dấu hiệu chính của thiền Lâm Tế và chính dòng thiền này đã giữ gìn truyền thống đó cho đến ngày hôm nay (Ðại Huệ Tông Cảo, Bích nham lục, Vô môn quan).|Sư họ Hình, quê ở Nam Hoa, Tào Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nghiên cứu giới luật, kinh điển, nhưmg không hài lòng với cái đạt được, tự nhủ »Ðây chưa phải là yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.« Sau đó, Sư đến Hoàng Bá (sau khi trải qua một chặng đường dài gần 2000 km!) cầu ngộ yếu chỉ.|Hoàng Bá vừa thấy Sư biết ngay là pháp khí thượng thặng nhưng vẫn để Sư học hỏi âm thầm trong ba năm. Thủ toạ (Mục Châu Trần Tôn Túc) thấy Sư chăm chỉ học liền khuyên đến thẳng Hoàng Bá hỏi đại ý Phật pháp. Sư ba lần đến hỏi, ba lần bị ăn gậy như bão táp nên thất vọng, muốn đi học nơi khác. Hoàng Bá khuyên Sư đến Thiền sư Ðại Ngu (nối pháp Quy Tông Trí Thường) ở Cao An.||H 38: Lâm Tế Nghĩa Huyền|Sư đến Ðại Ngu, Ðại Ngu hỏi: »Ở chỗ nào đến?« Sư thưa: »Ở Hoàng Bá đến.« Ðại Ngu hỏi: »Hoàng Bá dạy gì?« Sư thưa: »Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba phen đều bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?« Ðại Ngu cười lớn nói: »Hoàng Bá vì ngươi nói chỗ tột cùng, lại đến hỏi lỗi hay không lỗi!« Ngay câu nói này, Sư thông suốt, thưa: »Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có nhiều.« Ðại Ngu nắm lại: »Ðồ quỷ đái dưới sàng, vừa nói lỗi không lỗi bây giờ lại che Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo gì nói mau!« Sư liền cho Ðại Ngu ba thoi vào hông. Ðại Ngu buông Sư ra bảo: »Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng liên hệ gì với ta!« Từ giã Ðại Ngu, Sư về lại Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy liền bảo: »Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.« Sư thưa: »Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha nên nhân sự đã xong.« Nghe Sư thuật lại sự việc ở Ðại Ngu, Hoàng Bá bảo: »Lão Ðại Ngu đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn gậy.« Sư liền nói: »Ðợi làm gì, cho ăn ngay bây giờ«, và bước đến sau lưng Hoàng Bá tát một cái. Hoàng Bá cười to, bảo: »Có một gã điên dám vuốt râu cọp.«|Sau khi ngộ đại ý, Sư vẫn tiếp tục ở lại với Hoàng Bá và những cuộc Pháp chiến giữa Sư và Hoàng Bá vẫn còn vang vọng đến ngày nay.|Rời Hoàng Bá, Sư đến Hà Bắc, Trấn Châu, trụ trì thiền viện Lâm Tế. Sư bắt đầu thu nhận môn đệ và học giả đến ngày càng đông. Sách vở ít nhắc tới truyền nhân của Sư ngoài các vị đã nêu trên (có 21 vị đắc pháp), có lẽ vì lí do chính trị và xã hội tại miền Bắc Trung Quốc cuối đời Ðường không thuận lợi. Một trong những môn đệ của Sư là Am chủ Ðồng Phong, lên núi ẩn cư, không nhận học trò và vì vậy ít ai biết đến. Trong thời gian Phật giáo bị bức hại, Thiền tông là môn phái duy nhất không bị hao tổn bao nhiêu nhờ chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm«, với lối sống thanh đạm, không coi trọng hình thức tổ chức nặng nề.|Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Lâm Tế lục, một thiền ngữ quan trọng trong Thiền tông được lưu lại đến ngày nay. Qua đó người ta mường tượng được phong cách uy nghi dũng mãnh và cách dạy thần tốc của Sư.|Một vị tăng hỏi: »Thế nào là kiến giải chân chính?« Sư đáp: »Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, ….Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đi lại, tìm cái sinh tử của Ngài trọn không thể được, liền vào Pháp giới vô sinh; nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không Phật pháp, chỉ có đạo nhân vô y (không nơi nương tựa) nghe pháp. Ðó là mẹ chư Phật, bởi vì Phật từ vô y sinh. Nếu ngộ được vô y, Phật cũng không thể được. Nếu ngươi thấy được như thế, là kiến giải chân chính. Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại… Nếu các ngươi muốn trong sinh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người đang nghe pháp này. Hắn không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở mà hoạt bát rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi thế, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật…«|Sư sắp tịch, bảo chúng: »Sau khi ta tịch, chẳng được diệt mất Chính pháp nhãn tạng của ta!« Tam Thánh Huệ Nhiên bước ra thưa: »Ðâu dám diệt mất Chính pháp nhãn tạng của Hoà thượng.« Sư bảo: »Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?« Tam Thánh liền hét. Sư bảo: »Ai biết, Chính pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất« và làm bài kệ sau: |沿流不止問如何。真照無邊說似他|離相離名如不稟。吹毛用了急須磨。|Diên lưu bất chỉ vấn như hà|Chân chiếu vô biên thuyết tợ tha|Li tướng li danh như bất bẩm|Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.|*Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào|Chân chiếu khôn ngằn nói giống ai|Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận|Gươm bén dùng rồi gấp phải mài.|Nói xong, Sư viên tịch, nhằm ngày 10 tháng giêng năm Ðinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông. Vua sắc thuỵ là Huệ Chiếu.

lâm tế nghĩa huyền

Lin-Chi-I-Hsuan—Lâm Tế là môn đệ của Hoàng Bá. Ông là một trong những thiền sư Trung Hoa nổi tiếng vào đời nhà Đường. Không ai biết ông sanh vào năm nào. Một tông phái Thiền đặc biệt đã được đặt dưới tên ông. Ông nổi tiếng vì các phương pháp mạnh bạo và lối nói chuyện sống động với môn sinh. Ngài không tán thành lối nói pháp quanh co, sở trường của các pháp sư thiếu nhiệt huyết. Có lẽ do sư thừa hưởng phép Thiền trực chỉ ấy từ sư phụ Hoàng Bá, trước kia đánh sư ba lần khi ba lần sư đến tham vấn về yếu chỉ của Phật pháp. Lâm Tế được coi như là người đầu tiên chủ xướng tiếng hét, nhưng trước đó đã có Mã Tổ là vị cao Tăng (see Mã Tổ) đã mở một kỷ nguyên mới cho Thiền sử, đã hét to khi Bách Trượng đến tái vấn Thiền, tiếng hét ấy chát chúa đến nỗi Bách Trượng phải bị điếc tai đến ba ngày. Nhưng chính do Lâm Tế mà tiếng hét được đắc dụng và có hiệu năng nhất, và sau nầy biến thành một ngón tuyệt kỹ của Lâm Tế Tông. Thật sự, về sau nầy các đệ tử của ngài quá lạm dụng về tiếng hét đến nỗi ngài phải thốt ra: “Tôi nghe quí ông toàn học hét. Thử hỏi quí ông ví như mái tây có người ra, mái đông có người ra, cả hai người cùng hét. Các ông có phân biệt được tiếng hét nào là khách, còn tiếng hét nào là chủ không? Nếu các ông không phân biệt được, từ đây cấm học tiếng hét của lão Tăng.” —Lin-Chi was a disciple of Huang-Po. He was one of the famed chinese Zen masters during the T'ang dynasty. His year of birth is unknown. In China a special Zen sect was named after him “Lin-Chi” of which doctrine was based on his teachings. He was famous for his vivid speech and forceful pedagogical methods, as well as direct treatment of his disciples. He never liked those roundabout dealings which generally characterized the methods of a lukewarm master. He must have got this directness from his own mastewr Huang-Po, by whom he was struck three times for asking the fundamental principle of Buddhism. Lin-Chi is regarded as the author of “Kwats!” even though Ma-Tsu was an epoch-maker in the history of Zen, uttered “Kwats!” to his disciple, Pai-Chang, when the latter came up to the master for a second time to be instructed in Zen. This “Kwats!” is said to have deafened Pai-Chang's ear for three days. But it was principally due to Lin-Chi that this particular cry was most effectively and systematically made use of and later came to be one of the special features of the Lin-Chi school in distinction to the other schools. In fact, the cry came to be so abused by his followers that he had to make the following remark: “You are so given up to learning my cry, but I want to ask you this: 'Suppose one man comes out from the eastern hall and another from the western hall, and suppose both give out the cry simultaneously; and yet I say to you that subject and predicate are clearly discernible in this. But how will you discern them?' If you are unable to discern them, you are forbidden hereafter to imitate my cry.” • Trước nhất sư đến hội Hoàng Bá. Ở đây sư oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Thủ Tọa (Trần Tôn Túc) thấy khen rằng: “Tuy là hậu sanh cùng chúng chẳng giống.” Thủ Tọa bèn hỏi: “Thượng Tọa ở đây được bao lâu?” Sư thưa: “Ba năm.” Thủ Tọa hỏi: “Từng tham vấn chưa?” Sư thưa: “Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì?” Thủ Tọa bảo: “Sao không đến hỏi Hòa Thượng Đường Đầu, thế nào là đại ý Phật Pháp?” Sư liền đến hỏi, chưa dứt lời. Hoàng Bá liền đánh. Sư trở xuống. Thủ Tọa hỏi: “Hỏi thế nào?” Sư thưa: “Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa Thượng liền đánh, tôi chẳng biết.” Thủ Tọa nói: “Nên đi hỏi nữa.” Sư lại đến hỏi. Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, bị đánh ba lần. Sư đến bạch Thủ Tọa: “Nhờ lòng từ bi của thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa Thượng, ba phen hỏi bị ba lần đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi. Thủ Tọa lại bảo: “Khi thầy đi nên đến giã từ Hòa Thượng rồi sẽ đi.” Sư lễ bái xong trở về phòng. Thủ Tọa đến thất Hòa Thượng trước, thưa: “Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, khi người ấy đến từ giã, xin Hòa Thượng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát trong thiên hạ.” Sư đến từ giã. Hoàng Bá bảo: “Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ Thiền Sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói tốt.”—From the beginning of his residence at Huang-Bo, Lin-Chi's performance of his duties was examplary. At that time, Mu-Chou T'ao-Ming served as head monk. Mu-Chou asked Lin-Chi: “How long have you been practicing here?” Lin-Chi said: “Three years.” Mu-Chou said: “Have you gone for an interview with the master or not?” Lin-Chi said: “I haven't done so. I don' know what to ask him.” Mu-Chou said: “Why not ask him, 'What is the essential meaning of Buddhism?'” So Lin-Chi went to see Huang-Bo, but before he could finish his question Huang-Bo struck him. Lin-Chi went out, and Mu-Chou asked him: “What happened when you asked him?” Lin-Chi said: “Before I could get the words out he hit me. I don't understand.” Mu-Chou said: “Go ask him again.” So Lin-Chi asked Huang-Bo again, and Huang-Bo once again hit him. Lin-Chi asked a third time, and Huang-Bo hit him again. Lin-Chi revealed this to Mu-Chou, saying: “Before you urgeme to ask about the Dharma, but all I got was a beating. Because of evil karmic hindrances. I'm not able to comprehend the essential mystery. So, today I'm going to leave here.” Mu-Chou said: “If you're going to leave, you must say good-bye to the master.” Lin-Chi bowed and went off. Mu-Chou then went to Huang-Bo and said: “That monk who asked you the questions—although he's young he's very extraordinary. If he come to say good-bye to you, please give him appropriate instruction. Later he'll become a great tree under which everyone on earth will find refreshing shade.” The next day when Lin-Chi came to say good-bye to Huang-Bo, Huang-Bo said: “You don't need to go somewhere else. Just go over to the Kao' Monastery and practice with T'a-Wu. He'll explain to you.” • Sư đến chỗ Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: “Ở chỗ nào đến?” Sư thưa: “Ở Hoàng Bá đến.” Đại Ngu hỏi: “Hoàng Bá có dạy gì không?” Sư thưa: “Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?” Đại Ngu nói: “Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến trong ấy hỏi có lỗi không lỗi?” Ngay câu nói ấy, sư đại ngộ, thưa: “Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.” Đại Ngu nắm đứng lại, bảo: “Con quỷ đái dưới sàng, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau!” Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói: “Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta.” Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá—When Lin-Chi reached T'a-Wu, T'a-Wu said: “Where have you come from?” Lin-Chi said: “From Huang-Bo.” T'a-Wu said: “What did Huang-Bo say?” Lin-Chi said: “Three times I asked him about the essential doctrine and three times I got hit. I don't know if I made some error or not.” T'a-Wu said: “Huang-Bo has old grandmotherly affection and endures all the difficulty for your sake—and here you are asking whether you've made some error or not!” Upon hearing these words Lin-Chi was awakened. Lin-Chi then said: “Actually, Huang-Bo's Dharma is not so great.” T'a-Wu grabbed him and said: “Why you little bed-wetter! You just came and said: you don't understand. But now you say there's not so much to Huang-Bo's teaching. What do you see? Speak! Speak!” Lin-Chi then hit T'a-Wu on his side three times. T'a-Wu let go of him, saying: “Your teacher is Huang-Bo. I've got nothing to do with it.” Lin-Chi then left T'a-Wu and returned to Huang-Bo. • Hoàng Bá thấy sư về, liền bảo: “Kẻ nầy đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.” Sư thưa: “Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhơn sự đã xong, đứng hầu.” Hoàng Bá hỏi: “Đến đâu về?” Sư thưa: “Hôm trước vâng lời dạy của Hòa Thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về.” Hoàng Bá hỏi: “Đại Ngu có lời dạy gì?” Sư liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo: “Lão Đại Ngu nầy đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn.” Sư tiếp: “Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn.” Sư liền bước tới sau lưng Hoàng Bá tát một tát. Hoàng Bá bảo: “Gã phong điên nầy lại đến trong ấy nhổ râu cọp.” Sư liền hét. Hoàng Bá gọi: “Thị giả! Dẫn gã phong điên nầy lại nhà Thiền.”—Huang-Bo saw him and said: “This fellow who's coming and going. How can he ever stop?” Lin-Chi said: “Only through grandmotherly concern.” Lin-Chi then bowed and stood in front of Huang-Bo. Huang-Bo said: “Who has gone and returned?” Lin-Chi said: “Yesterday I received the master's compassionate instruction. Today I went and practiced at T'a-Wu's.” Huang-Bo said: “What did T'a-Wu say?” Lin-Chi then recounted his meeting with T'a-Wu. Huang-Bo said: “That old fellow T'a-Wu talks too much! Next time I see him I'll give him a painfuls whip!” Lin-Chi said: “Why wait until later, here's a swat right now!” Lin-Chi then hit Huang-Bo. Huang-Bo yelled: “This crazy fellow has come here and grabbed the tiger's whiskers!" Lin-Chi shouted. Huang-Bo then yelled to his attendant: “Take this crazy man to the practice hall!” • Một hôm sư ngồi trước trong Tăng đường, thấy Hoàng Bá đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá lấy tích trượng nện xuống sàn. Lâm Tế ngẫng đầu lên, thấy Hoàng Bá đứng đó, Lâm Tế bèn tiếp tục gục đầu xuống ngủ tiếp. Hoàng Bá làm thể sợ, liền trở về phương trượng. Sư theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ Tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: “Vị Tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này.” Thủ Tọa thưa: “Hòa Thượng già dưới gót chơn chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh.” Hoàng Bá liền vả trên miệng một cái. Thủ Tọa thưa: “Biết là được.”—One day, Lin-Chi was sleeping in the monk's hall. Huang-Bo came in and, seeing Lin-Chi lying there, struck the floor with his staff. Lin-Chi woke up and lifted his head. Seeing Huang-Bo standing there, he then put his head down and went back to sleep. Huang-Bo struck the floor again and walked to the upper section of the hall. Huang-Bo saw the head monk, who was sitting in meditation. Huang-Bo said: “There's someone down below who is sitting in meditation. What do you imagine you're doing?” The head monk said: “What's going on with this fellow ?” • Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Trên đống thịt đỏ lòm có một vô vị chân nhân thường ra vô theo lối cửa mở trên mặt các ngươi. Thầy nào sơ tâm chưa chứng cứ được thì nhìn đây.” Có một thầy bước ra hỏi: “Vô vị chân nhân ấy là cái gì?” Lâm Tế vụt bước xuống thiền sàng, nắm cứng vị sư hét lớn, 'Nói đi! Nói đi!'” Vị sư đang lính quýnh thì Tổ buông ra, trề môi nói: “Vô vị chân nhân, ồ chỉ là một cục phân khô.” Nói xong ngài đi thẳng vào phương trượng—One day, Lin-Chi entered the hall to preach, saying: “Over a mass of reddish flesh there sits a true man who has no title; he is all the time coming in and out from your sense-organs. If you have not yet testified to the fact, look, look!” A monk came forward and asked: “Who is this true man of no title?” Lin-Chi came right down from his straw chair and taking hold of the monk exclaimed: “Speak! Speak!” The monk remained irresolute, not knowing what to say, whereupon the master, letting him go, remarked, “What worthless stuff is this true man of no title!” Lin-Ch the went straight back to his room. • Một hôm, Định Thượng Tọa hỏi Lâm Tế: “Thế nào là đại ý của pháp Phật?” Lâm Tế bước xuống tòa, nắm lấy Thượng Tọc, xán cho một bạt tai, rồi xô ra. Định Thượng Tọa đứng khựng. Ông Tăng đứng bên nhắc: “Định Thượng Tọa, sao không lạy Hòa Thượng đi!” Định Thượng Tọa toan lạy thì ngay lúc ấy hốt nhiên đại ngộ—One day, Venerable Ting asked Lin-Chi: “What is the ultimate principle of Buddhism?” He came right down from his seat, took hold of the monk, slapped him with his hand, and pushed him away. Venerable Ting stood stupified. A bystander monk suggested: “Why don't you make a bow?” Obeying the order, Venerable Ting was about to bow, when he abruptly awoke to the truth of Zen. • Vào năm 867 khi sắp mất, Lâm Tế ngồi ngay thẳng, nói: “Sau khi ta tịch chẳng được diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta.” Tam Thánh thưa: Đâu dám diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của Hòa Thượng.” Lâm Tế bảo: “Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?” Tam Thánh liền hét! Sư bảo: “Ai biết Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất.” Nói xong sư ngồi thẳng thị tịch—In 867 A.D. when Lin-Chi wa about to die he sat upright and said: “After I'm gone, my Treasury of the True Dharma Eye cannot be destroyed.” Lin-Chi's disciple, San-Sheng, said: “How could we dare destroy the Master's Treasury of the True Dharma Eye?” Lin-Chi said: “In the future if someone ask about my teaching, what will you say to them?” San-Sheng shouted! Lin-Chi said: “Who would have thought that my Treasury of the true Dharma Eye would be destroyed by this blind ass!” Upon saying these words Lin-Chi passed away, sitting upright. ; (臨濟義玄) (?-867) Thiền sư Trung quốc, Tổ khai sáng của tông Lâm tế, sống vào đời Đường, người Nam hoa, Tào châu (Hà nam), họ Hình. Sư xuất gia từ thủa nhỏ và rất hâm mộ Thiền tông. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư đến Giang tây tham yết ngài Hoàng bá Hi vận, sau đó, tham lễ ngài Cao an Đại ngu, ngài Qui sơn Linh hựu, v.v..., cuối cùng lại trở về Hoàng bá và được ấn khả. Năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên tông nhà Đường, sư đến trụ ở viện Lâm tế tại Trấn châu thuộc tỉnh Hà bắc, đặt ra cơ pháp Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản, v.v... để tiếp dắt người học. Khi hướng dẫn người học, sư thường dùng tiếng hét để hiển bày đại cơ đại dụng. Đối với hành giả tham Thiền, sư rất nghiêm khắc, nhưng người học lại theo về rất đông, môn phong hưng thịnh, gây thành 1 phái thiền Lâm tế nổi tiếng ở Trung quốc. Sư tịch vào năm 867 Tây lịch, không rõ tuổi thọ, vua ban thụy hiệu Tuệ Chiếu Thiền Sư. Đệ tử nối pháp gồm có 22 vị như: Hưng hóa Tồn tưởng, Tam thánh Tuệ nhiên, Quán khê Chí nhàn, v.v... đều là những bậc tông tượng trong Thiền lâm. [X. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư tháp kí; Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Truyền pháp chính tông kí Q.7].

lâm tế phật pháp đại ý

(臨濟佛法大意) Cũng gọi Định thượng tọa trừ lập, Định thượng tọa vấn Lâm tế, Lâm tế thác khai, Cầm Định thượng tọa. Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền và Thượng tọa Định. Tắc 32, Bích nham lục (Đại 48, 171 trung), chép: Thượng tọa Định hỏi ngài Lâm tế: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Lâm tế bước xuống giường thiền, nắm chặt lấy Thượng tọa Định, đánh 1 tát, rồi buông ra. Thượng tọa Định đứng lặng thinh, vị tăng bên cạnh nói: –Thượng tọa Định sao không lễ bái đi! Thương tọa Định liền lễ bái, bỗng nhiên đại ngộ. [X. điều Khám biện trong Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Hoành trí thiền sư quảng lục Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

lâm tế tam cú

(臨濟三句) Tên công án trong Thiền tông. Ba câu nói rõ 3 phương pháp hướng dẫn người học của Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Ba câu ấy là: 1. Tam yếu ấn khai chu điểm trắc, vị dung nghĩ nghị chủ tân phân (Tam yếu mở bày tâm ấn Phật, chưa kịp nghĩ bàn thì địa vị chủ và khách đã phân chia rõ). Tam yếu, chỉ cho Phật chân thực trước khi có lời nói; Ấn khai là mở bày tâm ấn Phật. Tam yếu ấn khai chỉ cho 1 niệm khai ngộ thì Phật chân thực hiện tiền, cho đến thành Phật. 2. Diệu giải khởi dung Vô trước vấn, âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ (Thấu suốt không cần Vô trước hỏi, phương tiện được dùng diệt não phiền). Câu thứ 2 này chỉ bày sự liễu ngộ Phật chân thực hiện tiền trong câu thứ 1. Sự liễu ngộ này thuộc về tuyệt đối, không thể hỏi đáp, không cần bất cứ thứ phương tiện nào. Âu hòa là dịch âm tiếng Phạm Upàya, nghĩa là phương tiện; tiệt lưu cơ là đoạn trừ phiền não, được giải thoát, tức là dùng các phương tiện để cầu giải thoát tuyệt đối. 3. Khán thủ bằng đầu lộng ổi lỗi, trừu khiên đô lai lí hữu nhân (Hãy xem con rối đùa trên gác, cử động đều do người điều khiển). Câu thứ 3 này là nói về các pháp môn phương tiện được bày đặt ra, dành riêng cho những người độn căn cầu đạo, không giống với câu thứ 1 và thứ 2, có những pháp môn phương tiện giống như những người gỗ đầu thần mặt quỉ do ổi lỗi sư (người chuyên làm các con rối) chế tạo ra. [X. điều Thướng đường trong Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục; Nhân thiên nhãn mục Q.1].

Lâm Tế Tông

(臨濟宗, Rinzai-shū): tông phái tôn Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄, Rinzai Gigen) làm tổ, một trong Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗) của Trung Quốc. Trải qua 11 đời từ vị sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨[摩]) cho đến Nghĩa Huyền, từ đó trải qua 7 đời truyền thừa và xuất hiện Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓). Môn hạ của Thạch Sương có Hoàng Long Huệ Nam (黃龍慧南) và Dương Kì Phương Hội (楊岐方會), từ đó phát sanh ra hai phái Hoàng Long (黃龍), Dương Kì (楊岐). Đối với Thiền Tông Trung Quốc, nếu thêm 2 phái này vào trong 5 tông phái Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Tào Động (曹洞), Lâm Tế (臨濟), Quy Ngưỡng (溈仰) thì gọi là Ngũ Gia Thất Tông. Trừ Phái Hoàng Long của Minh Am Vinh Tây (明庵榮西) ra, Lâm Tế Tông đuợc truyền vào Nhật tất cả đều thuộc về hệ thống của Phái Dương Kì. Hàng cháu đời thứ 4 của Dương Kì Phương Hội có xuất hiện Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤); thế rồi từ môn hạ của Viên Ngộ có Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) và Hổ Kheo Thiệu Long (虎丘紹隆), từ đó ra đời hai phái Đại Huệ (大慧) và Hổ Kheo (虎丘). Hơn nữa, từ môn hạ của Mật Am Hàm Kiệt (密庵咸傑)—pháp hệ của Hổ Kheo—phát sinh dòng phái môn lưu của Tùng Nguyên Sùng Nhạc (松源崇岳), Phá Am Tổ Tiên (破庵祖先) và Tào Nguyên Đạo Sanh (曹源道生). Trước hết, người truyền thừa Thiền nhà Tống sang Nhật Bản đầu tiên là Duệ Sơn Giác A (叡山覺阿), vị tăng đã từng tham vấn Hạt Đường Huệ Viễn (瞎堂慧遠)—pháp từ của Viên Ngộ Khắc Cần. Tiếp theo đó là Minh Am Vinh Tây (明庵榮西), người đã sang nhà Tống lần thứ hai và kế thừa dòng pháp của Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞). Dòng pháp của Giác A bị dứt tuyệt; riêng Phái Hoàng Long (黃龍派) của Minh Am Vinh Tây vẫn kéo dài cho đến hiện tại thong qua hai chùa Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) và Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji). Người đồng thời đại với Vinh Tây là Đại Nhật Năng Nhẫn (大日能忍) thì trú tại Tam Bảo Tự (三寶寺, Sampō-ji), Nhiếp Tân (攝津, Settsu), nhân đọc các thư tịch Thiền mà độc ngộ, tự xưng là Đạt Ma Tông (達磨宗) và mở rộng giáo hóa khắp nơi, nhưng ông lại bị phê phán là “không thầy ngộ một mình”. Từ đó, ông giao phó cho đệ tử đem chỗ sở ngộ của ông sang nhà Tống trình lên cho Chuyết Am Đức Quang (拙庵德光)—đệ tử của Đại Huệ Tông Cảo—để nhận ấn khả. Sau đó, môn lưu của ông được giáo đoàn của Vĩnh Bình Đạo Nguyên (永平道元, Eihei Dōgen) hấp thu rồi đi đến đoạn tuyệt. Thiên Hựu Tư Thuận (天祐思順), v.v., sang nhà Tống cầu pháp, trải qua 13 năm trường, rồi được ấn khả của Kính Tẩu Cư Giản (敬叟居簡)—đệ tử của Chuyết Am Đức Quang, đến trú trì Thắng Lâm Tự (勝林寺) vùng Thảo Hà (草河), nhưng môn lưu của ông chẳng phát triển được chút nào. Viên Nhĩ (圓爾)—người theo học môn lưu của Vinh Tây, sang nhà Tống cầu pháp và đến tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) thuộc Phái Phá Am—cũng trở về nước vào năm thứ 2 (1241) niên hiệu Nhân Trị (仁治), khai sáng Thừa Thiên Tự (承天寺, Shōten-ji) và Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) ở vùng Bác Đa (博多, Hakata), rồi kiến lập Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) ở kinh đô Kyōto, được hàng công võ quy y theo và nỗ lực xây dựng cơ sở để phát triển một môn phái lớn. Đạo Hựu (道祐) ở Diệu Kiến Đường (妙見堂) vùng Lạc Bắc (洛北, Rakuhoku), Tánh Tài Pháp Thân (性才法身)—vị tổ khai sơn Viên Phước Tự (圓福寺) ở Tùng Đảo (松島, Matsushima), v.v., cũng là những người đồng môn của Viên Nhĩ. Kế đến, Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心)—vị tổ khai sơn Tây Phương Tự (西方寺, Saihō-ji) ở Do Lương (由良), Kỷ Y (紀伊, Kii)—cũng đã từng được Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇), Đạo Nguyên (道元), Thiên Hựu Tư Thuận (天祐思順) động viên và sang nhà Tống cầu đạo, thọ pháp với Vô Môn Huệ Khai (無門慧開)—người thuộc dòng phái của Đạo Giả Đạo Ninh (道者道寧), nhân vật huynh đệ với Viên Ngộ Khắc Cần (圜悟克勤), và trở về nước. Một loạt những người như vậy đều xuất thân từ hai tông Hiển Mật, đã truyền vào Nhật tôn giáo mới của nhà Tống để bổ sung thêm cho Phật Giáo cũ, nhưng lại mai danh ẩn tích ở các địa phương chứ không xuất hiện nơi chốn đô hội, và ý thức khai sáng giáo đoàn mới cũng rất mong manh. Tiếp theo, xuất hiện những vị tăng do vì tránh tình hình bất an dưới thời nhà Tống đã vượt biển sang Nhật Bản để tìm lẽ sống. Tỷ dụ như trường hợp của Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) sang Nhật vào năm thứ 4 (1246) niên hiệu Khoan Nguyên (寬元). Sau khi sống qua Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Bác Đa và Tuyền Dũng Tự (泉涌寺, Senyū-ji) ở kinh đô Kyōto, Lan Khê xuống vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), được Tướng Quân Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori) quy y theo và làm tổ khai sơn Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Đó là cuộc truyền thừa Thiền thuần túy, thoát xác khỏi các tông Hiển Mật. Thêm vào đó, thông qua môi giới của Viên Nhĩ, có đồng môn Ngột Am Phổ Ninh (兀庵普寧) sang Nhật, nhờ sự hộ trì của Thời Lại; nhờ vậy Thiền lâm Nhật Bản dần dần được chỉnh đốn, sản sinh ra nhiều môn đệ và các vị tăng Nhật Bản sang nhà Tống cầu pháp tăng thêm nhiều. Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và Cự Sơn Chí Nguyên (巨山志源)—những người truyền thừa dòng pháp của Phái Tùng Nguyên (松源派) cùng trở về nước, rồi Đại Hưu Chánh Niệm (大休正念)—đồng hàng huynh đệ với Vô Tượng Tĩnh Chiếu (無象靜照) cũng thuộc Phái Tùng Nguyên—quy quốc, được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông (北條時宗, Hōjō Tokimune) và anh em Tông Chính (宗政) quy y theo. Hơn nữa, đáp lời thỉnh cầu của Thời Tông, Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇) cũng đáp thuyền sang Nhật; nhưng sau khi Lan Khê Đạo Long viên tịch, ông lại trở về nước. Sau đó, có Vô Học Tổ Nguyên (無學祖元) và Kính Đường Giác Viên (鏡堂覺圓) sang Nhật. Được Tướng Quân Bắc Điều Thời Tông tín nhiệm và quy y theo, Vô Học trở thành tổ khai sơn của Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) ở vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Giống như Vô Học và Kính Đường, có Tiều Cốc Duy Tiên (樵谷惟僊)—người thuộc Phái Tùng Nguyên—trở về nước và truyền trao dòng pháp mới. Trong khi đó, có vị tăng sang Nhật là Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱). Đến thời nhà Nguyên, có hai nhân vật làm sứ tiết hòa bình của hai triều Văn Vĩnh (文永), Hoằng An (弘安) và làm Thông Sự hướng dẫn cho Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇), là Nhất Sơn Nhất Ninh (一山一寧) và Đông Lí Đức Hội (東里德會) của Phái Tào Nguyên (曹源派) cũng sang Nhật. Tiếp theo đó, có mấy người thuộc Phái Tào Nguyên lên thuyền sang Nhật như Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄) theo lời thỉnh cầu của tướng quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki); Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊), Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊), v.v., theo lời mời của dòng họ Đại Hữu (大友) ở vùng Phong Hậu (豐後). Đồng môn với Trúc Tiên có Nguyệt Lâm Đạo Kiểu (月林道皎), Thạch Thất Thiện Cửu (石室善玖) thì sang nhà Tống cầu pháp và trở về nước. Trong hệ thống Thiền nhà Nguyên, tông phong của các vị tăng theo Thiền Niệm Phật rất thịnh hành; vì mến mộ tông phong của Trung Phong Minh Bổn (中峰明本) trên Thiên Mục Sơn (天目山), nên nhiều tăng sĩ Nhật Bản đã đến đây cầu pháp và trở về nước. Tỷ dụ như Viễn Khê Tổ Hùng (遠溪祖雄), Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元), Phục Am Tông Kỷ (復庵宗己), Nghiệp Hải Bổn Tịnh (業海本淨), Minh Tẩu Tề Triết (明叟齊哲), Vô Ẩn Nguyên Hối (無隱元晦), Quan Tây Nghĩa Nam (關西義南), v.v. Bên cạnh đó, còn có mấy người kế thừa dòng pháp của Thiên Nham Nguyên Trường (千岩元長)—đệ tử của Trung Phong—như Đại Chuyết Tổ Năng (大拙祖能), Bích Nham Vi Xán (碧巖囗璨). Những người cùng dòng pháp của Vạn Phong Thời Úy (萬峰時蔚)—người đồng môn với Đại Chuyết và Bích Nham—có Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦) thuộc Phái Hoàng Bá (黃檗派). Tông phong mang tính ẩn dật chính là đặc trưng dưới thời đại này. Giống như những người kế thừa Thiền Niệm Phật, môn hạ của Phái Phá Am (破庵派) có Vô Văn Nguyên Tuyển (無文元選)—nhân vật kế thừa dòng pháp của Cổ Mai Chánh Hữu (古梅正友), hay Tịch Thất Nguyên Quang (寂室元光)—pháp tôn của Lan Khê Đạo Long. Họ thọ nhận tông phong phái này, trở về nước và truyền bá khắp các địa phương. Về Phái Đại Huệ, Trung Nham Viên Nguyệt (中巖圓月), Đông Truyền Chánh Tổ (東傳正祖), Vô Sơ Đức Thỉ (無初德始), v.v., truyền bá dòng pháp mới; riêng Ngu Trung Châu Cập (愚中周及) thì truyền thừa dòng pháp của Tức Hưu Khế Liễu (卽休契了) và hình thành nên một phái mới. Xưa nay, những người cầu pháp ở ngoại quốc có 24 dòng, 46 dòng hay 59 dòng; trong đó trừ 4 dòng của Tào Động Tông (曹洞宗, Sōtō-shū) ra, còn lại 55 dòng thuộc về Lâm Tế Tông. Trong số những nhà truyền pháp thuộc các dòng này, trừ những người bảo trì Thiền Niệm Phật mang tính ẩn dật ra, đại bộ phận các môn lưu đều được hàng công võ quy y theo, thường sống tại 5 ngôi danh sát lớn ở kinh đô Kyōto, Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và hình thành nên Phái Ngũ Sơn (五山派) với giáo đoàn phức hợp, đa dạng. Đó là hai chùa Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) cũng như Thọ Phước Tự (壽福寺, Jufuku-ji) của Vinh Tây; Tịnh Diệu Tự (淨妙寺, Jōmyō-ji) của Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇); Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji) của Viên Nhĩ; Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) của Lan Khê Đạo Long; Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji) của Vô Học Tổ Nguyên; Tịnh Trí Tự (淨智寺, Jōchi-ji) của Ngột Am Phổ Ninh (兀庵普寧) và Nam Châu Hoằng Hải (南洲宏海); Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji) của Đông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照); Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) của Vô Quan Huyền Ngộ (無關玄悟); Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji) và Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji) của Mộng Song Sơ Thạch (夢窻疎石), v.v. Ngoài Phái Ngũ Sơn chịu dưới sự quản chế của chính quyền Mạc Phủ, có xuất hiện Bạt Đội Đắc Thắng (拔隊得勝) và Từ Vân Diệu Ý (慈雲妙意)—pháp tôn của Vô Bổn Giác Tâm (無本覺心), người đi về bố giáo ở các địa phương ngay từ ban đầu. Bạt Đội sáng lập Hướng Nhạc Tự (向嶽寺, Kōgaku-ji) ở vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai); còn Từ Vân thì khai sáng Quốc Thái Tự (國泰寺, Kokutai-ji) ở Việt Trung (越中, Ecchū) và hình thành nên một dòng phái riêng. Ngoài ra, Vô Văn Nguyên Tuyển kiến lập Phương Quảng Tự (方廣寺, Hōkō-ji) ở Áo Sơn (奥山, Okuyama), Viễn Giang (遠江). Tịch Thất Nguyên Quang là hàng pháp tôn của Lan Khê Đạo Long, không có mối quan hệ gì với Phái Ngũ Sơn, chuyên tâm giáo hóa ở các địa phương và xây dựng Vĩnh Quang Tự (永光寺, Eikō-ji) ở vùng Cận Giang (近江). Những Thiền tăng tại các địa phương có Ngu Trung Châu Cập thoát ly khỏi Phái Mộng Song của Ngũ Sơn; ông khai sáng Phật Thông Tự (佛通寺, Buttsū-ji) ở An Nghệ (安芸), được sự ủng hộ đắc lực của dòng họ Tiểu Tảo Xuyên (小早川) và hình thành giáo đoàn nhỏ. Tại trưng ương kinh đô, trong số những người không chịu sự thống chế của chính quyền Mạc Phủ có Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超)—môn hạ của Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明), vị tăng truyền dòng pháp của mình dưới thời đại Liêm Thương. Bên cạnh đó, còn xuất hiện đệ tử của Tông Phong là Quan Sơn Huệ Huyền (關山慧玄). Tông Phong thì khai sáng Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) ở vùng Tử Dã (紫野, Murasakino); Quan Sơn thì kiến lập Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji) ở Hoa Viên (花園, Hanazono) và trở thành sơ tổ của chùa này.Cả hai thầy trò đều được Hoa Viên Pháp Hoàng (花園法皇, Hanazono Hōkō) thâm tín quy y theo. Đối với Thiền lâm Ngũ Sơn, những ngôi chùa Hướng nhạc, Quốc Thái, Phương Quảng, Vĩnh Nguyên, Phật Thông, Đại Đức, Diệu Tâm được gọi là Lâm Hạ Thiền Lâm (林下禪林), vẫn duy trì tông phong từ ngàn xưa, khắc kỷ, đạm bạc mà không hề nhận sự ủng hộ của chính quyền Mạc Phủ. Chính nhân tài của Ngũ Sơn cũng lưu nhập vào hệ thống này, làm cho hưng thạnh; cuối cùng nhờ những nhà Đại Danh thời Chiến Quốc (戰國, Sengoku) quy y theo, hơn nữa những ngôi chùa con ở các địa phương thuộc Phái Ngũ Sơn đã quy hướng về Phái Diệu Tâm Tự (妙心寺派) của Quan Sơn. Cuộc biến động cải cách vào cuối thời nhà Minh và đầu nhà Thanh đã đưa đẩy Ẩn Nguyên Long Kỷ (隱元隆琦), Đạo Giả Siêu Nguyên (道者超元), v.v., sang Nhật, đem lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với Thiền lâm trong nước. Từ các phái nhỏ xuất hiện Cổ Nguyệt Thiền Tài (古月禪才), Tuyệt Đồng Bất Nhị (絕同不二), v.v., những nhân vật thuộc Phái Linh Vân (靈雲派) trong Diệu Tâm Tây Phái (妙心西派); cho nên các Tăng Đường ở địa phương được phục hưng và làm cho hồi phục quy cũ tu hành của tập đoàn. Thêm vào đó, từ Phái Thánh Trạch (聖澤派) trong Diệu Tâm Tây Phái lại xuất hiện Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴)—người kế thừa dòng pháp của Đạo Kính Huệ Đoan (道鏡慧端); nhờ vậy đã quét sạch những tệ hại lâu năm và vãn hồi được tông phong. Vào năm thứ 7 (1874) niên hiệu Minh Trị (明治, Meiji), qua bản cáo bố của Bộ Tuyên Giáo, hai tông Lâm Tế và Tào Động được độc lập. Đến năm thứ 9 cùng niên hiệu trên, từ Lâm Tế Tông, môn hạ của Ẩn Nguyên Long Kỷ cũng được độc lập với tên gọi là Hoàng Bá Tông (黃檗宗, Ōbaku-shū), trở thành thế chân vạc ba phái Thiền Tông. Trong những Bản Sơn (本山, Honzan, ngôi chùa tổ) các phái của Lâm Tế Tông có 14 phái với các chùa như Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji), Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji), Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (圓覺寺, Enkaku-ji), Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), Hướng Nhạc Tự (向嶽寺, Kōgaku-ji), Quốc Thái Tự (國泰寺, Kokutai-ji), Phương Quảng Tự (方廣寺, Hōkō-ji), Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji) và Phật Thông Tự (佛通寺, Buttsū-ji). Vị Quản Trưởng (管長, Kanchō) thống lãnh trong phái, đặt đạo tràng chuyên môn để đào tạo đàn hậu tấn.

Lâm Tế tông

臨濟宗; C: línjì-zōng; J: rinzai-shū;|Một dòng thiền được liệt vào Ngũ gia thất tông – tức là Thiền chính phái – được Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền sáng lập. Tông này ngày nay là một trong hai tông của Thiền vẫn còn tồn tại ở Nhật Bản song song với tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū). Khoảng vài mươi năm đến bây giờ, tông Lâm Tế được truyền bá rộng rãi đến phương Tây.|Ðứng đầu tông này là hình tượng và phong cách xuất chúng của vị Khai tổ Lâm Tế (?-866/867) đời Ðường. Trong đời Tống (960-1279), môn phong của tông này vọt hơn hẳn các tông khác trong Ngũ gia. Nhưng trong khoảng thời gian giữa hai thời kì này thì một vài thế hệ nằm trong u mờ, khi ẩn khi hiện. Thế hệ thứ nhất (Hưng Hoá Tồn Tưởng) đến thứ sáu (Thạch Sương Sở Viên) đều giữ phong cách như vị Khai tổ, sống ẩn dật, đơn giản. Tiếng hét và gậy đập (Bổng hát), hai phương tiện giáo hoá của sư Lâm Tế vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay và được xem là những sắc thái bề ngoài của tông này. Giáo lí và pháp ngữ của sư Lâm Tế được lưu lại trong Lâm Tế lục (j: rinzairoku). Trong thế kỉ thứ 10 và 11 thì bộ này được hai vị Phong Huyệt Diên Chiểu và Phần Dương Thiện Chiêu hiệu đính và được lưu truyền đến bây giờ dưới dạng này.|Về giáo lí của tông này thì một »công thức« được xem là quan trọng nhất, đó là Tứ liệu giản (四料簡; j: shiryōken) – có thể dịch là »bốn phân biệt và chọn lựa«. Tứ liệu giản được xem là công thức trình bày giáo lí quan trọng nhất của tông này. Chính sư Lâm Tế là người trình bày lí thuyết này trước đại chúng. Sư dạy:|有時奪人不奪境。有時奪境不奪人|有時人境俱奪。有時人境俱不奪|Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh|Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân|Hữu thời nhân cảnh câu đoạt|Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt.|*Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh|Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân|Có khi nhân cảnh đều đoạt|Có khi nhân cảnh đều không đoạt.|Tứ liệu giản trình bày từng cấp bậc nhận thức nhìn theo chủ thể và khách thể, tương đối giống hình thái của Tứ cú phân biệt (s: catuṣkoṭikā). Về phần nội dung thì công thức này tương ưng với thuyết Tứ pháp giới của tông Hoa Nghiêm. Trong hai cấp đầu tiên thì Ảo ảnh, Vô minh được vượt qua bằng hai phương cách: một là dựa vào chủ thể (e: subject) – ở đây được gọi là »nhân« và hai là nương theo khách thể (e: object), là »cảnh« là thế giới hiện hữu. Cấp thứ ba phủ nhận cả hai, cả chủ lẫn khách nhưng đặc biệt là sự khác biệt của hai vẫn còn tồn tại. Trạng thái phủ định này tương ưng với một tâm trạng tập trung tuyệt đối. Chỉ ở cấp thứ tư – khi tâm thức đã vượt qua thế giới nhị nguyên, chủ thể và khách thể không còn tồn tại – thì Chân như mới được nhận diện một cách tột cùng. Trong Lâm Tế lục, Lâm Tế giảng về Tứ liệu giản như sau (Như Hạnh dịch):|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt nhân không đoạt cảnh?‹« Sư đáp:|煦日發生鋪地錦。嬰孩垂髮白如絲|»Hú nhật phát sinh phô địa cẩm|Anh hài thuỳ phát bạch như ti«|*»Mặt trời ấm hiện phó gấm vóc|Trẻ thơ rũ tóc trắng như tơ«|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt cảnh không đoạt nhân?‹« Sư đáp:|王令已行遍天下。將軍塞外絕煙塵|»Vương lệnh dĩ hành biến thiên hạ|Tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần«|*»Lệnh vua đã hành khắp thiên hạ|Tướng quân ngoài ải dứt khói bụi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều đoạt?‹« Sư đáp:|並汾絕信。獨處一方|»Tịnh Phần tuyệt tín, độc xử nhất phương«|*»Tịnh Phần (tên của hai miền đất nằm xa nhau) bặt tin tức, một mình ở một nơi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều không đoạt?‹« Sư đáp:|王登寶殿。野老謳歌|»Vương đăng bảo điện, dã lão âu ca«|*»Vua bước lên ngai, lão quê ca hát«.

lâm tế tông

Lin-Chi School—Một trong năm tông phái Thiền Phật Giáo của Trung Quốc được xiển dương bởi ngài Lâm Tế, pháp tử của Lục Tổ Huệ Năng—One of the five sects of Zen Buddhism in China, which was propagated by Lin-Chi, a Dharma heir of the Sixth Zen Patriarch Hui-Neng—See Lâm Tế. ; (臨濟宗) Gọi tắt: Tế tông. Tông Lâm tế, 1 trong Ngũ gia thất tông của Thiền tông Trung quốc, do ngài Lâm tế Nghĩa huyền (?-867) thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc Hoài nhượng sáng lập, cũng là 1 trong 13 tông phái của Phật giáo Nhật bản. Sau khi ngài Lâm tế Nghĩa huyền được Thiền sư Hoàng bá Hi vận ấn chứng, vào năm Đại trung thứ 8 (854) đời vua Tuyên tông nhà Đường, ngài đến trụ ở viện Lâm tế tại Trấn châu, đặt ra Tam huyền tam yếu, Tứ liệu giản, v.v... để tiếp dẫn đồ chúng, môn phong hưng thịnh và, từ thời Trung Đường về sau, đã phát triển thành 1 tông phái lớn, gọi là tông Lâm tế. Những phương pháp truyền giáo như: Tứ tân chủ, Tứ liệu giản, Tứ chiếu dụng, v.v... thường được tông này sử dụng. Tứ tân chủ là thông qua những câu vấn đáp giữa thầy và trò (hoặc chủ và khách) để so sánh, đánh giá sự sâu cạn về cảnh giới chứng ngộ của đôi bên, còn Tứ liệu giản, Tứ chiếu dụng là căn cứ vào trình độ liễu ngộ khác nhau của người học mà lập ra phương thức giáo hóa. Cơ phong của tông này rất bén nhạy và mạnh mẽ. Từ ngài Nghĩa huyền dùng phương pháp đánh hét, đến ngài Tông cảo đề xướng phương thức khán thoại đầu (tức tham cứu công án), đều dùng thủ đoạn thần tốc, mãnh liệt, hoặc những lời nói sắc bén, khiến người học ngay đó tỉnh ngộ. Nhờ có cơ phong thần tốc, mãnh liệt, cộng với phong cách tự do, nên Thiền pháp của tông Lâm tế rất được giới vũ sĩ, tướng quân và chính khách ưa thích và đến đời nhà Thanh thì tông này trở thành dòng phái chính yếu của Thiền tông Trung quốc. Các đệ tử nối pháp của ngài Nghĩa huyền có 22 vị, như các sư Hưng hóa Tồn tưởng, Tam thánh Tuệ nhiên, Quán khê Chí nhàn, v.v... Sư Tồn tưởng là Thủ tọa, sư Tuệ nhiên được ngài Nghĩa huyền phó chúc biên tập ngữ lục. Dưới sư Tồn tưởng, có sư Bảo ứng Tuệ ngung truyền đến sư Phong huyệt Diên chiểu. Năm Trường hưng thứ 2 (931) đời Hậu Đường, sư Phong huyệt Diên chiểu trụ ở chùa Quảng tuệ lãnh chúng tu học, đệ tử nối pháp là Thủ sơn Tỉnh niệm thường tu hạnh đầu đà. Môn phong của sư Thủ sơn rất hưng thịnh, lan ra khắp nước, đệ tử gồm có 16 người như: Diệp huyền Qui tỉnh, Quảng tuệ Nguyên liễu, Cốc ẩn Uẩn thông, Phần dương Thiện chiêu, v.v... Môn hạ của sư Qui tỉnh có 8 người, trong đó, Phù sơn Pháp viễn đề xướng thuyết Cửu đới, Thập lục hiển. Sư Thiện chiêu mới đầu, lần lược tham vấn 71 vị thiện tri thức, sau cùng, đến chỗ Thiền sư Thủ sơn Tỉnh niệm thì được khế ngộ, trụ chùa Thái bình ở Phần châu, dùng các cơ dụng như Tam cú tứ cú, Tam quyết, Thập bát xướng, v.v... để tiếp dẫn người học, được tôn xưng là Thiên Hạ Đệ Nhất, dưới cửa sư có rất nhiều nhân tài, như các vị: Thạch sương Sở viên, Lang da Tuệ giác, Đại ngu Thủ chi, v.v... Sư Tuệ giác và sư Tuyết đậu Trùng hiển được gọi chung là Nhị Cam Lộ Môn. Sư Sở viên nhờ dùng pháp lệnh nghiêm túc, cơ pháp hiểm hóc siêu tuyệt mà nổi tiếng, dưới cửa sư có các vị Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội là nổi bật hơn cả; sư Tuệ nam sáng lập phái Hoàng long, còn sư Phương hội thì sáng lập phái Dương kì, từ đời Tống về sau 2 phái này rất thịnh, sánh ngang với các tông Tào động, Vân môn, v.v... Vào thời Tống, vị tăng Nhật bản là Minh am Vinh tây đến Trung quốc tham yết pháp tôn đời thứ 7 của ngài Hoàng long là sư Hư am Hoài sưởng và được truyền Thiền pháp phái Hoàng long. Sau khi về nước, sư Vinh tây sáng lập chùa Kiến nhân ở Kinh đô (Kyoto), gồm tu cả Viên tông, Mật tông và Thiền tông. Ngoài ra, sư Tuấn nhận (1166-1227) cũng đến Trung quốc vào đời Tống, thụ pháp nơi ngài Mông am Nguyên thông đời thứ 7 thuộc phái Dương kì; sau khi trở về Nhật bản, sư Tuấn nhận truyền bá giới luật và Thiền pháp ở chùa Tuyền dũng. Vào những năm cuối đời Nam Tống, Thiền sư Trung quốc sang Nhật rất đông, phần nhiều hoằng truyền Thiền pháp của phái Dương kì. Trong 24 dòng phái Thiền tông của thời kì Liêm thương (1192- 1333) tại Nhật bản, thì có tới 20 dòng phái thuộc hệ thống phái Dương kì, còn phái Hoàng long thì chỉ có một dòng của sư Vinh tây. Rồi đến cuối đời Minh đầu đời Thanh, ngài Ẩn nguyên Long kì là đời thứ 24 thuộc phái Dương kì, vào năm Thừa ứng thứ 3 (1654) vượt biển sang Nhật lập riêng tông Hoàng bá. [X. Lâm tế tông chỉ; Ngũ đăng hội nguyên Q.11, 12, 17-20; Bản triều tăng bảo truyện; Diên bảo truyền đăng lục; Phù tang thiền lâm tăng bảo truyện].

lâm tế tông chỉ

(臨濟宗旨) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Giác phạm Tuệ hồng (1071-1128) soạn vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 111. Trong sách này, ngài Tuệ hồng viện dẫn những lời đề xướng của các bậc cổ đức, tôn túc mà bàn rõ về các pháp yếu: Tam huyền tam yếu, Thập trí đồng chân, Tứ tân chủ, v.v... để dắt dẫn người học ngộ được yếu chỉ đặc thù của tông Lâm tế.

lâm tế tải tùng

(臨濟栽松) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Hoàng bá Hi vận và ngài Lâm tế Nghĩa huyền đời Đường. Lâm tế lục (Đại 47, 505 thượng), chép: Một hôm, sư đang trồng tùng, ngài Hoàng bá hỏi: –Trong chốn núi sâu mà trồng nhiều tùng để làm gì? Sư đáp: –Một là để tạo cảnh đẹp cho chùa, hai là làm vật tiêu biểu cho người đời sau. Nói xong, sư dộng đầu cái mai xuống đất 3 cái. Thiền sư Hoàng bá nói: –Tuy nhiên như thế, nhưng ông đã ăn 30 gậy của ta rồi. Sư lại dộng đầu mai 3 cái nữa, miệng mấp máy: Hư, hư. Ngài Hoàng bá nói: –Tông của ta đến đời ông sẽ rất hưng thịnh. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.11].

lâm tế tứ hát

Bốn thứ tiếng hét của Lâm Tế—Four kinds of Lin-Chi's cry—Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập I, Lâm Tế phân biệt có bốn cách hét, tùy tiện mà dùng, gọi là 'Tứ Hát.”—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book I, Lin-Chi distinguishes four kinds of "cry.” 1) Tiếng hét thứ nhất như gươm báu vua Kim Cang: The first cry is like the sacred sword of Vajraraja. 2) Tiếng hét thứ nhì như bốn vó sư tử vàng trụ bộ trên mặt đất: The second cry is like the golden-haired lion squatting on the ground. 3) Tiếng hét thứ ba như cần câu quơ bóng cỏ: The third cry is like the sounding rod or the grass used as a decoy. 4) Tiếng hét thứ tư không có tác dụng của tiếng hét: The fourth cry is the one that does not at all function as a “cry.”

lâm tế tứ hạt

(臨濟四喝) Tên công án trong Thiền tông. Bốn tác dụng của tiếng hét mà Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền sử dụng để tiếp dẫn người học. Lâm tế lục (Đại 47, 504 thượng), chép: Sư nói với 1 vị tăng: Có khi 1 tiếng hét như thanh kiếm báu Kim cương vương, có khi 1 tiếng hét như sư tử lông vàng ngồi chồm hổm trên đất, có khi 1 tiếng hét như cần câu lùa dưới bóng bè cỏ, có khi 1 tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét. Ông có hiểu không? Vị tăng suy nghĩ, sư liền hét. Tiếng hét thứ nhất là tiếng hét phát ra đại cơ, khi đối với người học chấp trước vào sự hiểu biết, tính lường, mắc kẹt trong danh tướng, lời nói, câu văn, thì dùng tiếng hét này, lúc ấy tiếng hét giống như thanh bảo kiếm chặt đứt các vật. Tiếng hét thứ hai là tiếng hét đại cơ đại dụng, khi người học muốn thăm dò chỗ thấy biết của bậc thầy, mà bày tỏ cái kiến giải nhỏ hẹp, nông cạn của mình, thì bậc thầy hét tiếng hét này để dẹp trừ, như khi sư tử rống thì đầu cáo chồn bị vỡ. Tiếng hét thứ ba là tiếng hét dùng để trắc nghiệm sự tu hành của người học, hoặc người dùng tiếng hét này để trắc nghiệm sư gia. Tiếng hét thứ tư là tiếng hét hướng thượng, tuy không thuộc trong ba tiếng hét trước, nhưng lại có khả năng gồm thâu cả ba tiếng hét trước. [X. Nhân thiên nhãn mục Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.12].

Lâm Tế Tứ Liệu Giản

(臨濟四料揀, Rinzaishiryōken) và Động Sơn Ngũ Vị (洞山五位, Dōzangoi): Tứ Liệu Giản là từ có thể tìm thấy trong phần Thị Chúng (示眾) của Lâm Tế Lục (臨濟錄) do Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) trước tác, sau này đệ tử ông là Nam Viện Huệ Ngung (南院慧顒) mới lấy riêng phần này ra và được gọi tên như vậy. Trên lập trường 4 thị điểm về cách tiếp xúc trong khi thầy chỉ đạo cho đệ tử gồm Nhân (chủ quan đệ tử), Cảnh (khách quan), Đoạt (phủ định chăng) và Bất Đoạt (khẳng định chăng), nó được phân thành 4 loại. Cụ thể là: (1) Đoạt Nhân Bất Đoạt Cảnh (奪人不奪境, phủ định chủ quan và khẳng định khách quan), (2) Đoạt Cảnh Bất Đoạt Nhân (奪境不奪人, phủ định khách quan và khẳng định chủ quan), (3) Nhân Cảnh Câu Đoạt (人境倶奪, phủ định cả hai), (4) Nhân Cảnh Câu Bất Đoạt (人境倶不奪, khẳng định cả hai). Và trong Lâm Tế Lục chúng được biểu hiện qua các thi cú. Vì đây là thuyết của vị tông tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, nên nó rất được xem trọng trong Lâm Tế Tông. Đối với Tứ Liệu Giản này, trong Tào Động Tông cũng thỉnh thoảng có đưa ra thuyết Ngũ Vị (五位). Trước hết, trong Ngũ Vị Hiển Quyết (五位顯訣) của Động Sơn Lương Giới (洞山良价) có thuyết minh về thế giới giác ngộ thông qua các yếu tố Chánh (正, bình đẳng­=vô sai biệt), Thiên (偏, sai biệt) và Kiêm (兼, sự tương tức của hai cái này). Sau này đệ tử ông là Tào Sơn Bổn Tịch (曹山本寂) mới cải đổi rồi giải thích thêm vào và viết thành cuốn Chánh Thiên Ngũ Vị Tụng (正偏五位 頌, Shōhengoiju). Nội dung của nó gồm có 5 phần: (1) Chánh Trung Thiên (正中偏), (2) Thiên Trung Chánh (偏中正), (3) Chánh Trung Lai (正中來), (4) Thiên Trung Chí (偏中至), và (5) Kiêm Trung Đáo (兼中到). Mỗi phần như vậy được giải thích bằng các câu thơ, và nó được lưu bố rộng rãi do nhờ sự nỗ lực của Tào Sơn Huệ Hà (曹山慧霞, ?-?), đệ tử của Bổn Tịch. Ảnh hưởng của tư tưởng này rất to lớn, phần Thiên Trung Chí được cải biên thành Kiêm Trung Chí (兼中至), đến nỗi Phần Dương Thiện Chiêu (汾陽善昭, 947-1024), Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓, 986-1039), Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲, 1089-1163), v.v., của Lâm Tế Tông cũng đã từng dùng đến. Ngoài thuyết Ngũ Vị nêu trên, còn có Thiên Chánh Ngũ Vị tiêu biểu nhất, và 3 loại khác là Công Huân Ngũ Vị (功勲五位), Quân Thần Ngũ Vị (君臣五位) và Vương Tử Ngũ Vị (王子五位).

lâm tế tứ tân chủ

(臨濟四賓主) Cũng gọi Tế tông tứ tân chủ. Bốn câu nói về khách và chủ (tức là mối quan hệ giữa bậc thầy và người học) do Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền đề ra để hướng dẫn người học, là 1 trong các tư tưởng căn bản của Thiền Lâm tế. Bốn câu ấy là: 1. Tân khán chủ: Người học biết suốt kiến giải của thầy. 2. Chủ khán tân: Bậc thầy thấy rõ nội tâm của người học. 3. Chủ khán chủ: Hai người có đủ đạo nhãn gặp nhau. 4. Tân khán tân: Hai người không có đạo nhãn gặp nhau. Về sau, Thiền sư Phong huyệt Diên chiểu đổi 4 câu trên thành là Khách trong chủ, chủ trong khách, chủ trong chủ, khách trong khách, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13 (Đại 51, 303 hạ), chép: Hỏi: –Thế nào là khách trong chủ? Sư đáp: –Vào chợ 2 mắt mù. Hỏi: –Thế nào là chủ trong khách? Sư đáp: –Về cung mặt trời mặt trăng chiếu. Hỏi: –Thế nào là khách trong khách? Sư đáp: –Nhướng mày ngồi nhìn mây trắng. Hỏi: –Thế nào là chủ trong chủ? Sư đáp: –Mài dao trên cối đá, đợi chém người bất bình. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.8; Đầu tử nghĩa thanh ngữ lục Q.thượng; Nhân thiên nhãn mục Q.10]. (xt. Tứ Tân Chủ).

lâm tế tự

(臨濟寺) I. Lâm Tế Tự. Chùa Lâm tế, ở huyện Chính định, tỉnh Hà bắc, Trung quốc. Vốn có tên là viện Lâm tế, được sáng lập vào năm Hưng hòa thứ 2 (540) đời Hiếu tĩnh đế nhà Đông Ngụy. Khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà Đường, Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền về trụ chùa này, đại chấn Thiền phong, người học từ khắp nơi tụ về rất đông. Cứ theo Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục, thì chùa này ở góc Đông nam thành Trấn châu, tỉnh Hà bắc, mặt nhìn xuống (lâm) sông (tế) Hô đà, vì thế có tên là Lâm tế. Năm Hàm thông thứ 8 (867), ngài Nghĩa huyền thị tịch đệ tử xây tháp để thờ áo bát của Ngài, gọi là tháp Lâm Tế Thiền Sư. Đến các đời Kim, Nguyên, tháp được trùng tu nhiều lần. Khoảng năm Thiên thuận (1457-1464) đời vua Anh tông nhà Minh, có đúc thêm hồng chung. Hiện này chùa có Phật điện, tháp, hồng chung, v.v... Tháp được gọi là Thanh tháp, hình 8 góc, bằng gạch, 9 tầng, cao khoảng 100 thước. II. Lâm Tế Tự. Chùa ở núi Viên sơn, Đài bắc, Đài loan, được sáng lập vào năm 1909. Chùa này nguyên là đạo tràng trọng yếu của tông Lâm tế, Nhật bản. Năm Dân quốc 34 (1945), được pháp sư Bản viên ở núi Quan âm tiếp quản. Về sau, có các sư: Thịnh mãn, Tâm ngộ, Bạch thánh, v.v... lần lượt trụ trì, sửa sang, mở mang thêm mới có qui mô như ngày nay. Bắt đầu từ năm Dân quốc 71 (1982), chùa này là nơi họp hội nghị của Hội Tăng già Phật giáo Thế giới.

lâm tề

Gần giờ ngọ—Approaching the midday, or near noon.

Lâm Tỳ Ni

(s, p: Lumbinī, 藍毘尼): âm dịch là Lam Tỳ Ni (嵐毘尼), Lưu Tỳ Ni (流毘尼), Lưu Di Ni (流彌尼), Lâm Mâu Ni (林牟尼), Lưu Dân (流民), Luận Dân (論民), v.v., ý dịch là Lạc Thắng Viên Quang (樂勝圓光), Khả Ái (可愛), Hoa Hương (華香), Giải Thoát Xứ (解脫處), là khu rừng vườn nằm ở phía Đông thành Ca Tỳ La Vệ (迦毘羅衛城) thuộc miền Bắc, Trung Ấn Độ (hiện tại là Nepal). Đây là vùng đất nơi đức Thế Tôn đản sanh, là một trong bốn thánh địa lớn của Phật Giáo. Trong Cao Tăng Pháp Hiển Truyện (高僧法顯傳) có đoạn rằng: “cách 50 dặm về phía đông của thành Ca Tỳ La Vệ, có khu vườn của nhà vua, vườn tên là Luận Dân, Ma Da Phu Nhân đã vào tắm nơi hồ của khu rừng này, tắm rửa xong khi ra khỏi hồ, đi khoảng 20 bước trên bờ hồ, đưa tay vin lấy nhánh cây, mặt xoay về hướng Đông, hạ sanh thái tử Tất Đạt, khi thái tử bước xuống đất thì bước đi 7 bước”. Trong quyển 6 của Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) của ngài Huyền Trang (玄奘, 602-664) cũng có đoạn ký sự về khu vườn rừng này, trong đó kể rằng các tín đồ Phật Giáo đã đến đây chiêm bái không ngớt nhưng đời sau nó đã bị phế tuyệt và khu vực này không ai hề biết đến. Đến thời cận đại người ta đã phát hiện ra trụ đá của vua A Dục từ nơi khu vườn này và đã xác định được vùng đất này chính là di tích của vườn Lâm Tỳ Ni nhờ có bài minh khắc trên trụ đá. Di tích của khu vườn đã được khai quật, hồ tắm, đền tháp, v.v., phần nhiều đã được phát hiện và hiện tại đang được khôi phục lại như cũ.

lâm tỳ ni

See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Lâm Tì Ni in Vietnamese-English Section.

Lâm Xuân Trai

(林春齋, Hayashi Shunsai): xem Lâm Nga Phong (林鵞峰, Hayashi Gahō, 1618-1680) bên trên.

lâm đàn

(臨壇) Các vị Trưởng lão tăng hoặc ni lên đàn để cử hành nghi thức truyền giới. Các vị này được gọi là Lâm đàn đại đức. Lâm đàn đại đức bắt đầu được đặt ra vào niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời Đường, khi vua Đại tông ban sắc kiến lập giới đàn Phương đẳng (Đại thừa) ở chùa Đại hưng thiện tại Trường an, đồng thời, sắc lệnh cho tăng ni trong kinh thành mỗi bộ lập ra 10 vị Lâm đàn đại đức, tức là Tam sư thất chứng. Từ khoảng năm Hội xương đến năm Đại trung (841-859) lại chia ra Nội lâm đàn đại đức (những vị Đại đức đăng đàn truyền giới trong cung), Ngoại lâm đàn đại đức (những vị Đại đức đăng đàn truyền giới tại các chùa viện)và Nội ngoại lâm đàn đại đức. Ngài Huyền sướng là vị Đại đức nổi tiếng của Nội ngoại lâm đàn thời bấy giờ. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng phần 2; Đại Tống tăng sử lược Q.hạ; Tống cao tăng truyện Q.16, 17].

lâm đằng

Thức ăn của người kiếp sơ (không có thứ gì khác ngoài loại cây trong rừng “Lâm Đằng”)—Vegetable food, used by men at the beginning of a kalpa.

lâm ấp quốc

(林邑國) Tên một nước xưa nằm ở đông bộ bán đảo Trung nam, nay là vùng Trung và nam bộ Việt nam. Vùng đất này vốn là căn cứ địa của dân tộc Chàm. Nhà Tây Hán đặt huyện Tượng lâm, quận Nhật nam, gọi là Tượng lâm ấp, gọi tắt là Lâm ấp. Vào những năm cuối đời Đông Hán, có người tên là Khu liên, giết quan huyện, tự xưng là Lâm ấp quốc vương. Từ đời nhà Tấn về sau, Lâm ấp thường triều cống Trung quốc. Khoảng năm Đại nghiệp (605-616) đời Tùy, tướng nhà Tùy là Lưu phương đánh chiếm nước này đặt làm quận Lâm ấp. Khoảng năm Chí đức (756-757) đời Đường, đổi tên là Hoàn vương, đóng đô ở Chiêm thành (Chamthanh), vì thế Lâm ấp còn được gọi là Chiêm ba (Champa), Chiêm bà, Ma ha chiêm ba, Chiêm bất lao (Champura). Vào năm Thuần hóa thứ 2 (991) đời Bắc Tống, vị sa môn nước này tên là Tịnh giới đến Trung quốc dâng ngọc như ý, chuông đồng và hương long não. Ngoài ra, cứ theo văn bia Nhật bản Nam thiên trúc Bà la môn tăng chính và Đại an tự Bồ đề truyền lai kí trong Đông đại tự yếu lục quyển 2 ghi chép, thì vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, sa môn nước Lâm ấp tên là Phật triết (Phật triệt) cùng đi với ngài Bồ đề tiên na đến Nhật bản, truyền vào vũ điệu Bồ tát, Bạt đầu, nhạc Lâm ấp, v.v... Đến đời Minh, Chiêm thành bị Việt nam thôn tính. Vào năm Quang tự 12 (1886) thì trở thành thuộc địa của nước Pháp. Phật giáo được truyền vào Chiêm thành thời nào không được rõ. Nhưng theo Tùy thư Nam man liệt truyện thứ 47, thì phần đông nhân dân nước này tin theo Phật giáo, văn tự giống với văn tự Thiên trúc. Còn Cựu đường thư Nam man liệt truyện thứ 147 cũng cho biết, nhân dân đặc biệt tin Phật pháp và rất nhiều người xuất gia. Như vậy, ta có thể suy đoán trước đời Tùy, Phật giáo đã được truyền vào Chiêm thành rồi. Ngoài ra, cứ theo Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1, thì tại Chiêm thành Phật giáo Tiểu thừa, đặc biệt là Kinh lượng bộ, rất thịnh hành. [X. Đại đường tây vực kí Q.10; Đại đường cầu pháp cao tăng truyện Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.43; Lương thư chư di liệt truyện thứ 48].

lân

1) Láng giềng: Neighbor—Neighbouring. 2) Lân cận: Adjacent—Near. 3) Con Lân: A female unicorn.

lân a già sắc

(鄰阿伽色) Phạm: Agha-sàmantaka. Cũng gọi Lân ngại sắc, Lân a ca sắc. Màu sắc của hư không. Có 3 thuyết. 1. Thuyết thứ nhất: Chủ trương rằng Lân a già tức chỉ cho kẽ hở lấy sáng, tối làm thể của nó, mà kẽ hở thì tức là không giới, vì thế, Lân a già sắc tức là màu của hư không. 2. Thuyết thứ hai: A già (Phạm: Agha) chỉ cho sự tích tụ vật chất(sắc pháp) có hình tướng mà thô tạp; nó đã bị những vật chất khác làm trở ngại thì nó cũng sẽ làm cho những vật chất khác bị trở ngại. Cứ theo đó thì màu sắc của hư không gần kề với loại vật chất (A già) có tính chướng ngại, cho nên gọi là Lân a già sắc, nghĩa gần với màu sắc a già. 3. Thuyết thứ 3: A già (Phạm: Agha) nghĩa là không ngăn ngại, chỉ cho màu sắc của hư không vô hình nhỏ nhiệm, màu sắc này của hư không gần sát với những vật chất khác có tính chướng ngại, vì thế gọi là Lân a già sắc. Loại màu sắc hư không này, trong các kinh Phật chữ Hán thường được dịch là Lân a già sắc, hoặc dịch thẳng là Không giới sắc, nhưng chưa xác định nó thuộc nghĩa nào trong 3 nghĩa nêu trên, cho nên các bộ luận sớ hoặc các sách âm nghĩa đời sau, khi đề cập đến A già sắc hoặc Không giới sắc, thì cứ tự do chú giải. Nhưng luận Câu xá bản dịch Tây tạng thì dịch màu sắc a già là thogsmed-ĩe-#khor, nghĩa là Lân vô ngại, tức là dùng theo thuyết thứ ba. [X. Câu xá thích luận Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1; Câu xá luận bảo sớ Q.1 phần dưới; Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. A Già Sắc).

Lân chỉ trình tường

(麟趾呈祥): Lân chỉ (麟趾) là chân của con lân. Kỳ Lân là một linh vật; như trong Lễ Ký (禮記) có câu: “Lân, Phụng, Quy, Long vị chi Tứ Linh (麟、鳳、龜、龍謂之四靈, Lân, Phụng, Rùa, Rồng được gọi là bốn linh vật).” Như vậy, Kỳ Lân là linh vật đứng đầu trong Tứ Linh. Trong Mao Thi Thảo Mộc Điểu Thú Trùng Ngư Sớ (毛詩草木鳥獸蟲魚疏) của Lục Cơ (陸機) có giải thích rằng: “Lân, quân thân, ngưu vĩ, mã túc, hoàng sắc, viên đề, nhất giác, giác đoan hữu nhục, âm trung chung lữ, hành trung quy củ, du tất trạch địa, bất lí sanh trùng, bất tiễn sanh thảo, bất quần cư, bất lữ hành, bất nhập hãm tịnh, bất duy la võng (麟、麕身、牛尾、馬足、黃色、圓蹄、一角、角端有肉、音中鐘呂、行中規矩、遊必擇地、不履生蟲、不踐生草、不群居、不侶行、不入陷阱、不罹羅網, Lân có thân con hươu, đuôi trâu, chân ngựa, màu vàng, gót chân tròn, một sừng, đầu sừng có thịt, tiếng vang như chuông, khi đi có quy củ, đi chơi có chốn, không đạp côn trùng sống, chẳng dẫm lên cỏ sống, không sống thành đàn, chẳng sánh bạn cùng đi, không vào hầm nguy hiểm, chẳng sa lưới giăng).” Bên cạnh đó, trong Thi Tập (詩輯) của Nghiêm Xán (嚴粲) có giải thích thêm như sau: “Hữu túc giả nghi đệ, duy lân chi túc, khả dĩ đệ nhi bất đệ; hữu ngạch giả nghi để, duy lân chi ngạch, khả dĩ để nhi bất để; hữu giác giả nghi xúc, duy lân chi giác, khả dĩ xúc nhi bất xúc; nhân giả chí nhân tắc xuất (有足者宜踶、唯麟之足、可以踶而不踶、有額者宜抵、唯麟之額、可以抵而不抵、有角者宜觸、唯麟之角、可以觸而不觸、王者至仁則出, Loài có chân thì đi được, chỉ có chân của lân có thể đi mà không đi; loài có trán thì chống cự được, chỉ có trán của lân có thể chống cự mà không chống cự; loài có sừng thì húc được, chỉ có sừng của lân có thể húc mà không húc; bậc vương giả có đức nhân lớn tất xuất hiện.” Như vậy, Lân là một linh vật được cấu thành bởi 4 loại động vật là hươu, trâu, ngựa và cá. Loại động vật này vốn không tồn tại mà chỉ do người xưa tưởng tượng và sáng tạo thành. Cuộc sống của nó rất thanh cao, từ tâm rộng lớn, không hề làm tổn thương muôn vật; cho nên, đó cũng là điềm lành xuất hiện đấng minh quân. “Lân chi chỉ (麟之趾)” hay “Lân chỉ” là ví dụ để tán tụng điều chí cao chí mỹ; được tìm thấy trong Thi Kinh (詩經), phần Chu Nam (周南): “Nhiên tắc quan thư lân chỉ chi hóa, vương giả chi phong, cố hệ chi Chu Công (然則關雎麟趾之化、王者之風、故系之周公, vì vậy Quan Thư hóa thành chân lân, phong cách của vương giả, cho nên có liên quan đến Chu Công)”. Câu “Lân chỉ trình tường” có nghĩa là chân của con kỳ lân báo hiệu điềm lành. Câu này vốn xuất xứ từ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng nhân hữu lịnh tử viết lân chỉ trình tường (稱人有令子曰麟趾呈祥, Ca tụng người có con quý gọi là lân chỉ trình tường)”; được dùng trong dịp hôn lễ để chúc tụng sanh được quý tử nhân hậu, hay ví dụ cho con cháu hưng thạnh, đông đúc. Bên cạnh đó, còn có một số câu chúc tụng khác liên quan đến con lân như: “Lân tử phụng sồ (麟子鳳雛, Lân con phụng con)” để ví dụ cho con cháu quý tộc, “Lân can phụng tủy (麟肝鳳髓, gan lân tủy phụng)” để ví cho loại thực phẩm vô cùng hy hữu, “Phụng mao lân giác (鳳毛麟角, lông phụng sừng lân)” để xưng tán loại vật phẩm trân quý, v.v. Câu “thừa gia lân chỉ trình tường (承家麟趾呈祥)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là kế thừa gia đình có con cháu hiền lương, đông đúc.

lân cận

Near—Next to—Neighboring—Approaching—Adjoining—Approximate.

lân cận thích

(鄰近釋) Phạm: Avyayì-bhàva. Hán dịch: Bất biến hóa. Từ được dùng để giải thích những danh từ kép trong Tiếng Phạm, là 1 trong 6 hợp thích (Lục hợp thích). Khi giải thích về nghĩa Lân cận thích, thì Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 38 theo nghĩa lân cận (ở gần kề) mà lập danh; chẳng hạn như Tứ niệm trụ vốn lấy Tuệ làm thể, tức là dùng trí tuệ quán xét thân, thụ, tâm, pháp. Nhưng ở đây lại dùng Niệm, có nghĩa ghi nhớ rõ ràng không quên, còn Tuệ thì có nghĩa soi rọi chọn lựa.Vì nghĩa của Niệm và Tuệ gần kề nhau (tương tự như nhau) nên giấu Tuệ đi mà nói Tứ niệm trụ thay vì Tứ tuệ trụ, cũng như Ý và Thức đều thuộc loại này, cho nên gọi là Lân cận thích. Lân cận thích lại được chia làm 2 loại là: Y chủ lân cận và Hữu tài lân cận. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 38 (Đại 36, 288 trung) nói: Thứ nhất là Y chủ lân cận, như có người ở gần Trường an, người ta hỏi ở đâu thì ông ta trả lời là ở Trường an, chỉ vì ở gần Trường an mà nói ở Trường an, bởi thế gọi là Y chủ lân cận. Thứ 2 là Hữu tài lân cận, như hỏi: Người ở đâu? Đáp: Trường an. Vì lấy toàn địa danh để gọi tên người nên là hữu tài, vì gần Trường an nên là lân cận. [X. Câu xá luận quang kí Q.1; Tổng liệu giản ngữ trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Lục li hợp thích pháp thức lược giải (Trí húc)]. (xt. Lục Hợp Thích).

lân cực

(鄰極) Giai vị gần kề cực quả, như Đẳng giác gần sát với giai vị Diệu giác (tức là Phật quả) nên gọi là Lân cực. Ngoài ra, vị Đại đệ tử của đức Phật là ngài Xá lợi phất còn có tên là Lân Cực Á Thánh. [X. Tam luận huyền nghĩa]. (xt. Đẳng Giác).

lân già

(鄰伽) Phạm:Liíga. Cũng gọi Lâm già. Chỉ cho sinh thực khí của nam tính, là đối tượng sùng bái của phái Thấp bà và phái Tính lực ở Ấn độ. Các tín đồ của phái Tính lực thường đeo biểu tượng Lân già trong mình.

lân giác

1) Độc giác lân: Lân một sừng—The unicorn with its single horn. 2) Độc Giác Phật: Pratyeka-buddha.

lân giác dụ độc giác

(麟角喻獨覺) Cũng gọi: Lân giác độc giác, Lân dụ độc giác. Đối lại: Bộ hành độc giác. Chỉ cho bậc Duyên giác một mình tu hành chứng ngộ, là một trong 2 bậc Độc giác (Duyên giác). Cứ theo Câu xá luận quyển 12 và Câu xá luận quang kí quyển 12, thì bậc Lân giác dụ trong Độc giác cần phải tu 100 đại kiếp, tích tụ tư lương bồ đề mới thành Lân giác dụ độc giác. Vì ở 1 mình tu tập mà ngộ đạo, giống như con lân chỉ có 1 sừng, nên gọi là Lân giác dụ độc giác. (xt. Bộ Hành Độc Giác, Duyên Giác).

lân hư

1) Gần giống như hư không: Next to nothing. 2) Phần nhỏ nhất của vi trần hay nguyên tử: The minutest particle or an atom.

lân la

To get (come) near.

lân lý

Hamlet and village.

lân mẫn

See Liên Mẫn.

lân trân

Hạt minh châu của nhà láng giềng không giúp ích gì được ta—A neighbour's pearl which is no aid to me.

lân trí

Gần giống như trí huệ của Phật—Similar to the last entry or the Buddha's wisdom.

lân viên

Gần đến chỗ toàn giác, giai đoạn trước giai đoạn toàn giác—Near to perfect enlightenment, the stage before it.

lân đan

(鄰單) Cũng gọi Lân vị, Liên đơn, Lân kiên. Chỉ chỗ ngồi hoặc chỗ nằm 2 bên phải và trái của mình trong Tăng đường và Chúng liêu. Điều Nhật dụng quĩ phạm trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 6 (Đại 48, 1145 thượng), nói: Lúc ăn uống (...) không được gãi đầu, sợ gió làm bay gàu (vật dơ) vào trong bát của người ngồi bên cạnh(lân đơn). [X. môn Tọa vị trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Đơn).

lân đơn

Các vị sư chùa lân cận, ngồi bên phải hay bên trái thầy trụ trì mỗi khi có lễ—One's neighbouring monks, who seat in the right and left seats during a ceremony.

lâu

1) Thời gian dài: A long time—For a long stretch (span) of time—Long. 2) Nhà lầu: Storied building—Upper storey. 3) Một trong 18 địa ngục: One of the eighteen hells. 4) Xương sọ (cô lâu): Kapala (skt)—A skull.

lâu chí phật

Rucika (skt)—Lô Chí Phật—Lư Chí Phật—Lâu Do Phật—Vị Phật cuối cùng trong 1.000 vị Phật hiện kiếp—The last of the 1,000 Buddhas of the present kalpa. ; (樓至佛) Lâu chí, Phạm: Rudita, Rucika. Cũng gọi Lô già Phật, Lô chí Phật, Lỗ chi Phật, Lâu do Phật. Hán dịch: Ái nhạo Phật, Đề khốc Phật. Đức Phật ra đời sau cùng trong số 1.000 đức Phật thuộc kiếp Hiền. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 18, đức Phật này tức là thần Chấp kim cương (Lực sĩ Kim cương), nhưng thuyết này là do người đời sau truyền lầm. Thung dung lục tắc 77 (Đại 48, 276 hạ), ghi: Tiếng phạm là Lâu chí, Trung quốc dịch là Đề khấp. Một nghìn vị Phật ở kiếp Hiền là một nghìn vị Vương tử. Trong đó, vị Vương tử cuối cùng được thụ kí thành Phật là ngài Lâu chí, nên ngài khóc mà than rằng: Tại sao ta bạc phúc được thụ kí sau cùng? Nhưng rồi ngài bỗng cười mà nói: Ta sẽ được hưởng hết những phương tiện trang nghiêm của 999 vị Phật!. [X. Pháp uyển châu lâm Q.10; Tuệ lâm âm nghĩa Q.11]. (xt. Hiền Kiếp Thiên Phật).

lâu các

(樓閣) Phạm,Pàli:Kùỉàgàra. Lầu gác, hoặc dùng để tàng trữ kinh sách, tranh tượng, hoặc làm chỗ đứng nhìn ra xa để thưởng ngoạn cảnh vật. Kinh Trường a hàm quyển 20 (Đại 1, 131 thượng), nói: Thành có 4 cửa, cửa có lan can, trên thành có lầu gác, đài quan bao bọc chung quanh. Kinh A di đà (Đại 12, 347 thượng), nói: ... Trên có lầu gác, đều được trang sức bằng vàng bạc, lưu li, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não...

lâu di cắng la phật

Lokesvararaja (skt)—Thế Tự Tại Vương Phật hay Phật Nhiêu Thế là vị cổ Phật tiếp nối Định Quang Phật—An ancient Buddha, successor to Ting-Kuang Buddha.

lâu do

See Lâu Chí Phật.

lâu dài

Durable—Enduring—Lasting.

lâu khôi

Một cây cột than cháy, ví thế giới nầy như một đám cháy lớn vậy—A tower or a pile of charcoal, e.g. the world of conflagration.

lâu khôi kinh

Kinh nói về thế giới Ta Bà, đang bốc cháy thành tro than của chúng ta—The sutra mentioned about the Saha world, the world of conflagration.

lâu lê

Lưu ly—Lapis lazuli.

lâu man

Chuỗi đầu lâu được những người Lâu Man xâu lại và đội trên đầu—A chaplet or wreath of skulls, worn by Kapalikas, a Sivaitic sect; kapali is an epithet of Sivaas the skull-wearer.

lâu man ngoại đạo

(髏鬘外道) Một trong các ngoại đạo ở Ấn độ. Loại ngoại đạo này dùng xương đầu lâu của người làm vòng đeo quanh cổ. Thông thường họ ở những nơi cây khô, đống đá, gò mả, v.v... [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4].

lâu thán kinh

(樓炭經) Gọi đủ: Đại lâu thán kinh. Kinh, 6 quyển, do các ngài Pháp lập, Pháp cự cùng dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này nói về quá trình thành hoại của thế giới. Những bản dịch khác của kinh này còn có: Kinh Thế kí trong Trường a hàm, kinh Khởi thế, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, kinh Khởi thế nhân bản, do ngài Phạm ma cấp đa dịch vào đời Tùy.

lâu đà la

Rudra (skt)—Thần gió bão—The howler, or god of tempests.

lâu đời

A long time ago.

Lâu-đậu

xem A-na-luật.

lây lất

To live from day to day.

lãm

1) Nhìn: Thưởng lãm—To view—To look at. 2) Ôm vào lòng: To hold in the arms—To embrace. ; (覽) Cũng gọi Lạm. Là chữ (raô) Tất đàm. Chữ này được tạo thành bởi chữ (la) chủng tử của Hỏa đại trong 5 đại và thêm dấu chấm .(đại không), tượng trưng cho sự đốt cháy các bụi nhơ, là chủng tử của lửa trí tuệ diệt sạch các phiền não. Chữ này tương đối với chữ (Tông,biểu thị nước trí tuệ). Trong Mật giáo, khi tu pháp, hành giả dùng chữ Lãm quán tưởng các pháp y báo chính báo thanh tịnh, kết ấn, tụng chân ngôn Khi gia trì nước thơm thì dùng chữ Lãm, chữ Tông để gia trì. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8].

lãm thật thành quyền

(攬實成權) Đối lại: Dẫn quyền qui thực. Vận dụng chân thực thành tạm thời. Nghĩa là nắm giữ giáo pháp chân thực mà vận dụng thành phương tiện tạm thời một cách khéo léo. Đây là thuật ngữ phán giáo của tông Hoa nghiêm. Ngài Trí nghiễm, Pháp tạng, v.v... của tông Hoa nghiêm chia Thánh giáo Như lai nói trong 1 đời làm 2 loại là Tam thừa và Nhất thừa. Rồi trong Nhất thừa lại chia thành Đồng giáo và Biệt giáo, lấy thuyết Hội tam qui nhất (hội 3 về 1) của kinh Pháp hoa làm Đồng giáo nhất thừa, thuyết Thập thập vô tận của kinh Hoa nghiêm làm Biệt giáo nhất thừa. Trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, khi giải thích về Đồng giáo nhất thừa, ngài Pháp tạng chia làm 2 môn: Phân chư thừa môn và Dung bản mạt môn. Dung bản mạt tức là danh nghĩa của Đồng giáo là lấy Nhất thừa làm bản(gốc), lấy Tam thừa làm mạt(ngọn), rồi mới dung hợp Nhất thừa và Tam thừa. Kế đó lại chia làm 2 môn: Dẫn quyền qui thực (đưa tam thừa về chân thực) và Lãm thực thành quyền. Trong đó, Dẫn quyền qui thực tức là Nhất thừa, Lãm thực thành quyền tức là Tam thừa.

lãn

Lười biếng—Lazy—Negligent—Disinclined.

Lãn Am Đỉnh Nhu

(懶庵鼎需, Ranan Teiju, 1092-1153): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Lãn Am (懶庵), xuất thân vùng Trường Lạc (長樂, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lâm (林). Ban đầu ông rất nổi tiếng là Tiến Sĩ, đến năm 25 tuổi nhân đọc Kinh Di Giáo, ông phát tâm xuất gia. Sau hơn 10 năm trường đi khắp nơi tìm thầy học đạo, đến khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (紹興, 1131-1162), ông đến tham yết Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) ở Dương Tự Am (洋嶼庵, Tỉnh Phúc Kiến) và được ấn khả. Về sau, ông sống nơi đây trong vòng 8 năm, đến cuối đời ông chuyển đến sống tại Đông Thiền Tự (東禪寺) và Tây Thiền Tự (西禪寺). Vào tháng 7 năm thứ 23 (1153) niên hiệu Thiệu Hưng, ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 37 hạ lạp. Ông có để lại cho hậu thế cuốn Lãn Am Nhu Thiền Sư Ngữ Yếu (懶庵需禪師語要) 1 quyển.

Lãn nạp

(懶衲): vị tu sĩ lười biếng (nghĩa đen). Từ nạp (衲) ở đây có nghĩa là áo được ghép lại từ nhiều mảnh vải vụn. Như trong bài Tặng Tăng Tự Viễn Thiền Sư (贈僧自遠禪師) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Tự xuất gia lai trường tự tại, duyên thân nhất nạp nhất thằng hưu (自出家來長自在、緣身一衲一繩休, tự xuất gia nay luôn tự tại, suốt đời một dây một áo thôi).” Từ đó, áo của người tu sĩ được gọi là nạp y (衲衣). Như trong Thiền Tông Tạp Độc Hải (禪宗雜毒海, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 4 có câu: “Nhất lãnh nạp y Đông hựu Hạ, nhiệt lai thoát khước lãnh lai xuyên (一領衲衣冬又夏、熱來脫卻冷來穿, một mảnh nạp y Đông lại Hạ, nóng thì cởi bỏ lạnh mặc vào).” Cho nên, nạp cũng là tiếng tự xưng của vị tu sĩ, có nghĩa là người thường mặc áo có ghép nhiều mảnh vải vụn. Một số từ thường dùng như lão nạp (老衲), nạp tăng (衲僧), nạp tử (衲子), bá nạp (百納), v.v. Như trong bài thơ Đề Hoành Sơn Tự (題橫山寺) của Đái Thúc Luân (戴叔倫, 732-789) nhà Đường có câu: “Lão nạp cúng trà oản, tà dương tống khách thuyền (老衲供茶碗、斜陽送客舟, lão nạp dâng trà chén, chiều tà tiễn khách thuyền).” Hay trong Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1553) quyển 23 có đoạn: “Cử túc hạ túc giai thị đạo tràng, động tĩnh khứ lai vô phi Phật sự, nhược ư nạp tăng môn hạ, nhất ngôn tương khế, thiên địa huyền thù (舉足下足皆是道塲、動靜去來無非佛事、若於衲僧門下、一言相契、天地懸殊, nâng chân hạ chân đều là đạo tràng, động tĩnh đến đi thảy là Phật sự, nếu trong môn hạ nạp tăng, một lời khế hợp, trời đất sai khác).” Trong bài thơ Thu Nhật Ức Lan Thượng Nhân (秋日憶暕上人) của Lý Đoan (李端, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Vũ tiền phùng bá nạp, diệp hạ bế trùng quan (雨前縫百衲、葉下閉重關, trước mưa khâu bá nạp, dưới lá đóng cửa Thiền).” Hay trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), chương Cái Tăng (丐僧) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có diễn tả rằng: “Tế Nam nhất tăng, bất tri hà hứa nhân, xích túc y bá nạp (濟南一僧、不知何許人、赤足衣百衲, có một vị tăng ở Tế Nam, chẳng biết người vùng nào, đi chân không và mang áo bá nạp).” Trong Truy Môn Cảnh Huấn (緇門警訓, Taishō Vol. 48, No. 2023) quyển 5 có câu: “Vi chủ giả thảng tồn nhân nghĩa, cảm thập phương nạp tử chi vân trăn, nhược nãi tư thọ nhân tình, chiêu thiên lí ố danh chi viễn bá (爲主者倘存仁義、感十方衲子之雲臻、若乃私受人情、招千里惡名之遠播, làm người chủ nếu còn nhân nghĩa, cảm mười phương tăng chúng thảy quay về, nếu thọ nhân tình riêng tư, mang ngàn dặm tiếng xấu đi truyền bá).” Như vậy, lãn nạp ở đây là từ tự xưng rất khiêm tốn; như Thiền Sư Nhất Hưu Tông Thuần (一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481) của Nhật Bản có bút hiệu là Cuồng Vân Lãn Nạp (狂雲懶衲). Trong Lâm Gian Lục Hậu Tập (林間錄後集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1625) có câu: “Y phó tiểu nhi, đạo truyền lãn nạp, nãi nhĩ tương vi, cầu nhân vị pháp (衣付小兒、道傳懶衲、乃爾相違、求人爲法, y trao trẻ nhỏ, đạo truyền thầy lười, như vậy sai khác, tìm người vì đạo).” Hay trong Lô Sơn Thiên Nhiên Thiền Sư Ngữ Lục (廬山天然禪師語錄) quyển 15 có câu: “Vị liễu nhân duyên kim thượng tại, vô năng lãn nạp phó nhàn miên (未了因緣今尚在、無能懶衲付間眠, chưa rõ nhân duyên nay lại có, lão tăng phó mặc ngủ an nhàn).”

Lãn Toản

(懶瓚, Ransan, ?-?): tên gọi khác của Minh Toản (明瓚, Myōsan), tức ý muốn nói Hòa Thượng Minh Toản lười biếng, nhân vật sống dưới thời nhà Đường, vị tăng của Bắc Tông Thiền. Ông đến tham học với Tung Sơn Phổ Tịch (嵩山普寂) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến ẩn cư ở Nam Nhạc (南岳), Tỉnh Hồ Nam (湖南省), và do phát xuất từ phong cách sống rất lười biếng một cách thoát tục, nên người đời gọi ông là Lãn Toản (懶瓚) hay Lãn Tàn (嬾殘). Vào khoảng năm đầu (742) niên hiệu Thiên Bảo (天寳), ông đến ở tại Nam Nhạc Tự (南岳寺) suốt 20 năm ròng. Trong khoảng thời gian này ông có giao du với Lý Bí (李泌), vị Tướng Quốc nhà Nghiệp đang ẩn náu ở Nam Nhạc để lánh nạn Thôi Lý (崔李). Chính ông đã tiên đoán rằng 10 năm sau Lý Bí sẽ làm Tể Tướng. Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Đại Minh Thiền Sư (大明禪師).

lãn đọa

See Lãn.

lãng mạn

Romantic.

Lãng nhiên

朗然; C: lăng rán; J: rōnen; |Rõ ràng, sáng sủa. Hiển nhiên, sáng tỏ.

lãng phí

To fritter away

lãng tai

The ears have lost their acuity.

Lãng Vịnh

(朗詠, Rōei): hình thức hát lớn tiếng các bài thi ca của Nhật, cũng là loại hình ca hát của Nhã Nhạc độc đáo của Nhật. Người ta thường chọn những bài Hán thi trong Hòa Hán Lãng Vịnh Tập (和漢朗詠集), Tân Soạn Lãng Vịnh Tập (新撰朗詠集), v.v., rồi đọc lên hòa với sự hợp tấu của các nhạc cụ như sáo Long Trúc (龍笛, Ryōteki), kèn loa Tất Lật (篳篥, Hichiriki) và kèn Sanh (笙, Shō), vài người chỉnh âm luật rồi độc xướng hay cùng xướng. Đặc trưng của nó là không có phách tiết và không cố định âm cao.

lãng đạt ma vương

(朗達磨王) Tạng: Glaídar-ma. Cũng gọi Lãng đạt mã vương. Vua nước Tây tạng, ở ngôi năm 836-841 (hoặc 838-842). Ông vốn tên là Đạt ma (Tạng: Dar-ma), nhưng do tính tình tàn ác bạo ngược như con trâu mộng (Tạng:glaí) nên bị gọi là Lãng đạt ma(Đạt ma trâu mộng). Anh của ông là vua Lai ba thiệm vì hết sức bảo hộ Phật giáo nên bị tín đồ Bổng giáo giết hại. Sau khi lên nối ngôi, Lãng đạt ma liên kết với Bổng giáo đàn áp Phật giáo một cách khốc liệt. Ông ra lệnh cấm chỉ Phật giáo, đóng cửa chùa viện, bắt tăng ni hoàn tục, cưỡng bức họ trở thành thợ săn và đồ tể, ai không tuân lệnh đều bị giết chết; ông còn ra lệnh đốt hết toàn bộ kinh điển Phật giáo. Nền tảng của Phật giáo Tây tạng do vua Khất lật song đề tán xây dựng 100 năm qua và sự nghiệp 20 năm của vua Lai ba thiệm vun bồi làm cho hưng thịnh đều bị ông phá hủy. Tương truyền trong thời gian bị bách hại này, phần lớn kinh luận Phật giáo được chư tăng và tín đồ đem vào hang núi Lhasa cất giấu. Năm 841, vua Lãng đạt ma bị Lạt ma Cát tường Kim cương (Tạng: Dpal-gyi rdorje) ám sát. [X. Ch. Bell: The Religion of Tibet, 1931; G. Tucci: Tibetan Painted Scrolls, 1949]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo).

lãnh

Lạnh—Cold.

lãnh giáo

To receive instructions.

lãnh giải

To understand clearly. ; (領解) Cũng gọi Lãnh ngộ, Giải hội, Lãnh lãm, Lãnh đắc. Hiểu rõ những điều người khác chỉ dạy mà được khai ngộ, gọi là Lãnh giải. Cứ theo Pháp hoa văn cú kí quyển 5 phần 1, thì lãnh là bên ngoài lãnh nghe lời Phật dạy; giải là bên trong ngộ được ý Phật. [X. kinh Giải thâm mật Q.2]. (xt. Giải).

lãnh hà

Sita (skt)—The cold river.

lãnh hội

To understand—To comprehend—To digest.

lãnh noãn

Lạnh và ấm—Cold and warm

lãnh noãn tự tri

Ấm lạnh tự biết (thiền định tự biết chứ không ai biết dùm)—Only you yourself know cold and warm, i.e. only you know the progress of meditation. ; (冷暖自知) Cũng gọi Lãnh nhiệt tự tri. Nước nóng hay lạnh chỉ có người uống tự biết, chứ không có cách nào diễn tả cho người khác biết được. Trong Thiền tông, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cho cảnh giới đã đạt ngộ thì cũng chỉ có người tự đạt ngộ biết được mà thôi, ngoài ra, không thể giải thích cho người khác. Điều Mông sơn Đạo minh trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 4 (Đại 51, 232 thượng), nói: Nay nhờ sự chỉ dạy mà thấy được chỗ vào, như uống nước, lạnh nóng tự biết.

lãnh nạp

(領納) Thân tâm nhận lãnh những cảm giác vui hay buồn. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 11 hạ), nói: Thụ nghĩa là lãnh nạp những cảnh tượng thuận, nghịch, chẳng thuận, chẳng nghịch làm tính. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng phần 1, tiết 3].

lãnh quang thần

Sitamarici—The spirits with cool rays.

lãnh thọ

To receive—To accept.

lãnh toạ

(冷坐) Thân ngồi ngay thẳng, tâm không tán loạn, không dính mắc vào điều mình được, chỗ mình ngộ, mà chỉ chuyên chú ngồi thiền. Tắc 2 trong Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ), nói: Lặng lặng lãnh tọa Thiếu lâm, thầm thầm toàn đề chính lệnh.

Lãnh Trai Dạ Thoại

(冷齋夜話, Reisaiyawa): 10 quyển, do Giác Phạm Huệ Hồng (覺範慧洪) nhà Tống biên tập, được san hành dưới thời nhà Tống, là tác phẩm tạp ký về những điều mắt thấy tai nghe. Hơn nữa nội dung của nó là thi thoại. Ngoài san bản của Cấp Cổ Các (汲古閣), của Sơn Hải Tảo Diệp Sơn Phòng (山海掃葉山房), v.v., bộ này còn được thâu tập vào trong Thuyết Phu (說郛) 21, Bại Hải (稗海) 47-48, Tân Đãi Bí Thư (津逮祕書) 105, Học Tân Thảo Nguyên (學津討原) 141, v.v. Tại Nhật Bản, bên cạnh san bản dưới thời Nam Bắc Triều, bản dưới thời đại Thất Đinh, còn có bản cổ hoạt tự vào năm thứ 20 (1643) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永).

lãnh vực

Domain.

lãnh đạm

Indifferent—Cold—Apathy—Chilliness.

lãnh đạo

To guide—To conduct—To lead.

lãnh địa lý học khách thung

(冷地裏學客舂) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lãnh địa (nơi thanh nhàn, lạnh lẽo): Chỉ cho cảnh giới yên tĩnh, vắng vẻ. Khách thung (người giã gạo): Chỉ cho Lục tổ Tuệ năng giã gạo trong 8 tháng lúc mới đến tham học Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Hoàng mai. Lãnh địa lí học khách thung, nghĩa là Thiền giả trong cảnh tĩnh lặng, nương theo nghĩa lí mà tu hành, giống như tâm cảnh lúc ngài Tuệ năng giã gạo. Trái lại, nếu Thiền giả không theo nghĩa lí mà tu hành, chẳng lí hội việc bổn phận, xét cho rõ bản lai diện mục, mà chỉ 1 lòng mong cầu được phúc tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng thì cách Phật đạo còn xa. [X. Thiền quan sách tiến tiền tập].

lão

Jara (skt)—Old—Aging—Old age—Decay. ; (老) Phạm:Jarà. Già suy, chỉ cho các pháp sắc, tâm liên tục đổi khác, 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành của tông Duy thức. Sinh, lão, trụ, vô thường gọi là Tứ tướng, trong đó, Lão tướng đương với Dị tướng của Hữu bộ. Chi thứ 12 trong 12 duyên khởi là Lão tử. Ngoài ra, sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, được gọi là Tứ khổ. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Tâm Bất Tương Ứng Hành, Lão Tử).

lão bà

1) Một bà già: An old woman. 2) Lão Phu Nhân: My wife. ; (老婆) Cũng gọi Bà tử. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho thái độ thân thiết ân cần của người thầy chỉ dạy học trò, với tâm từ bi như bà dạy cháu. Phổ thông cho rằng giáo pháp của 2 ngài Hoàng bá Hi vận và Đại ngu Thủ chi thân thiết mà không hiềm sự phiền toái, nên được gọi là: Hoàng bá lão bà, Đại ngu nhiều lời. Lâm tế lục hành lục (Đại 47, 504 hạ), chép: Ngài Đại ngu nói rằng: Hoàng bá với tâm lão bà đã vì ngươi mà quá mệt mỏi. Ngoài ra, đối với tấm lòng cực kì thiết tha chỉ dạy người học của bậc thầy, gọi là Lão bà tâm thiết, gọi tắt là Bà tâm. [X. Lâm tế lục khám biện; tắc 11 trong Thiết địch đảo xuy].

Lão bà thiền

老婆禪; J: rōba-zen;|Chỉ một cách giáo hoá chúng rất nhẹ nhàng, thân mật, ngược lại với phương pháp Kiềm chùy. Nhiều vị Thiền sư sử dụng phương pháp Lão bà thiền bởi vì nó thích hợp với những thiền sinh nào đó hơn là phương pháp kiềm chùy hoặc có thể là các vị này cũng không quen sử dụng phương pháp »thô bạo« mặc dù nhiều lúc nó cũng là một yếu tố, thành phần cần thiết trong việc giáo hoá.

lão bà thiền

(老婆禪) Chỉ cho thiền phong của bậc thầy dùng thái độ ân cần thân thiết trong khi chỉ dạy người học. Từ ngữ Lão bà thiền có hàm ý khinh miệt, bởi vì bậc thầy nên dựa theo căn tính của người học mà dùng phương tiện khéo léo để tiếp dắt, chứ nếu cứ 1 mặt ân cần thiết tha chỉ dạy thì trở ngại cho việc người học tự tìm tòi, tham cứu, sẽ mất đi cơ hội khai phát trí tuệ; như vậy thực trái với tông chỉ bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền của Thiền tông. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 503 trung), chép: Ngài Phổ hóa đưa tay chỉ và nói: Hà dương là nàng dâu mới, Mộc tháp là lão bà thiền, Lâm tế là đứa trẻ thơ nhưng lại có đủ con mắt.

lão bịnh

Sickness of old age.

lão cổ truy

Lão Cổ Chùy. 1) Con cú già—An old owl. 2) Thiền sư có kinh nghiệm giảng đạo sắc bén (một từ tôn xưng): An experienced and incisive teacher.

lão giáo

Đạo Lão Trung quốc, được Lão Tử sáng lập vài ngàn năm trước đây. Tôn giáo nầy dựa vào Đạo hay con đường thiên nhiên. Những người theo Lão giáo dụng công tu hành bất tử trường sinh, mà theo những thí dụ cổ điển Phật giáo là loại trừ những luyến ái uế trược trong thân tâm—Taoism—Chinese religion founded by Lao Tzu several thousand years ago. This religion based on Tao or way of nature. Taoist practitioners traditionally strive for immortality, which in Buddhism is a classic example of deluded attachment to the body and the mind. ** For more information, please see Lão Tử.

lão hồ

Tên người bình dân gọi Đức Phật—Old Hun, a nickname for the Buddha. ; (老胡) Chỉ cho đức Phật Thích ca và Tổ Đạt ma. Ngoài ra còn có từ ngữ Hồ chủng tộc (dòng dõi Ấn độ) chỉ cho môn đệ của Tổ Đạt ma, hoặc chỉ chung cho hàng Phật tử. Đại tuệ Phổ giác thiền sư ngữ lục quyển 25 (Đại 47, 918 hạ), chép: Lão hồ nói rằng: Chân như không giữ tự tính, nhưng tùy theo nhân duyên mà thành tựu tất cả các pháp. (xt. Hồ Chủng Tộc).

lão khổ

(老苦) Phạm: Jarà-du#kha. Pàli: Jarà-dukkha. Những nỗi khổ não mà chúng sinh phải chịu khi thân thể đến lúc già suy. Là 1 trong 4 cái khổ, 1 trong 8 nỗi khổ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 61, con người đến lúc già sẽ có 5 tướng suy thoái: Sắc đẹp, khí lực, các căn (mắt lòa, tai điếc, v.v...), cảnh giới thụ dụng (ít ăn, kém ngủ, v.v...) và thọ lượng (tuổi thọ giảm dần). Năm tướng suy thoái này gọi là Khổ. Cứ theo kinh Phân biệt Thánh đế trong Trung a hàm quyển 7, chúng sinh đến lúc già thì tóc bạc, răng rụng, sức khoẻ suy giảm, lưng gù, gối mỏi, đi lại phải chống gậy, bắp thịt teo dần, các căn chậm lụt, nhan sắc xấu xí, thân tâm chịu nhiều khổ sở. Đó là Lão khổ. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.6, 18; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); luận Đại tì bà sa Q.78; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần đầu]. (xt. Bát Khổ, Tứ Khổ).

lão nạp

(老衲) Cũng gọi: Nạp tăng, Nạp tử, Dã nạp, Bố nạp, Tiểu nạp. Từ ngữ gọi chung các vị tỉ khưu, hàm ý nhún nhường. Nạp là áo vá, chúng tăng mặc áo vá nên tự xưng là Lão nạp. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục quyển 14 (Đại 47, 777 hạ), nói: Lão nạp thường giữ gìn giới luật để tự khế hợp với điều mình chứng được, tùy theo sức mà thụ dụng.

Lão sư

老師; J: rōshi;|Danh hiệu dùng cho một vị Thiền sư tại Nhật. Thông thường, người ta tu học thiền dưới sự hướng dẫn của một Lão sư và vị này có thể là một cư sĩ (nam, nữ), không nhất thiết phải là một vị tăng. Nhiệm vụ của một Lão sư là hướng dẫn và khuyến khích thiền sinh trên con đường Giác ngộ, Kiến tính, với điều kiện là vị này cũng đã đạt một cấp bậc giác ngộ thâm sâu.|Thời xưa tại Nhật, danh hiệu Lão sư rất khó đạt được. Danh hiệu này được người đời ban cho – không phải tự xưng – người nào đã tự trực tiếp chứng ngộ được chân lí mà Phật đã thuyết giảng trong các bộ Kinh, sống một cuộc sống theo chân lí này và có khả năng hướng dẫn người khác đến kinh nghiệm chứng ngộ này. Ðiều kiện tối thiểu phải là một đức tính trong sạch, một nhân cách chững chạc. Ðể trở thành một Lão sư với đầy đủ tất cả những khả năng, thiền sinh phải tu học nhiều năm dưới sự hướng dẫn của một vị thầy, kiến tính và được vị này Ấn khả. Sau đó, thiền sinh phải trau dồi kinh nghiệm giác ngộ của mình với nhiều vị Thiền sư khác qua những cuộc Pháp chiến (j: hos-sen).|Ngày nay, vì các vị Lão sư chân chính tại Nhật không còn bao nhiêu nên thước đo cũng không còn khắc khe như xưa. Một điều rất đáng tiếc cho những vị Lão sư trong một hệ thống truyền thừa nghiêm ngặt, chính tông là rất nhiều vị tăng được gọi là »Lão sư« – chỉ vì họ đứng đầu một ngôi chùa lớn hoặc giữ một chức vị cao.

lão thiếu bất định

(老少不定) Tuổi thọ không nhất định. Nghĩa là người già sinh ra trước, chưa hẳn đã chết trước, mà người trẻ sinh sau chưa hẳn đã chết sau, đây là hình dung sự sống chết của con người là vô thường, bất định. Nhưng người ta ở đời phần nhiều không rõ chân lí ấy, nên trong cảnh già trẻ bất định, biến hóa đổi dời như vậy, mà cứ mong muốn mình sống lâu nghìn tuổi.

Lão Tử

老子; C: lǎozǐ; tk. 6 (?) trước Công nguyên, cũng được gọi là Lão Ðam;|Một trong hai vị hiền triết nổi danh nhất của Ðạo giáo song song với Trang Tử. Sử kí viết rằng, Lão Tử người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân (Hồ Nam bây giờ). Ông họ Lí, tên Nhĩ, tự Ðam. Trong tất cả những tác phẩm triết học người ta đều gọi ông là Lão Tử hoặc Lão Ðam.|Theo nguồn tài liệu trên thì Lão Ðam giữ kho sách của nhà Châu và trong thời gian này ông có dịp gặp Khổng Tử. Cuộc gặp gỡ này thường được nhắc lại nhưng không thể xem là một sự kiện lịch sử. Thấy nước Châu suy, ông bỏ ra đi. Ðến cửa quan phía Tây, vị quan coi cửa là Doãn Hỉ biết ông sắp ẩn tích bèn cầu xin chỉ dạy. Thế là ông viết một quyển sách với khoảng 5000 chữ nói về Ðạo và đức, sau được gọi là Ðạo đức kinh, và sau đó đi mất tích.|Theo truyền thống thì Lão Tử là tác giả của Ðạo đức kinh nhưng các nhà nghiên cứu sau này đều nhất trí rằng, quyển sách này không thể ra đời trước thế kỉ thứ 4, 3 trước Công nguyên và vì vậy không phải là tác phẩm từ tay Lão Tử.|Theo Tư Mã Thiên, tác giả của Sử kí, thì Lão Tử trau dồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ dấu mình, ẩn danh. Quan niệm này được nêu rõ trong cuộc gặp gỡ giữa ông và Khổng Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): »Khổng Tử đến Châu, hỏi Lễ. Lão Tử nói: ›Lời nói của ông là lời nói của những kẻ xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vòn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng, kẻ buôn giỏi khéo giữ của quý như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, sắc thái và dâm chi ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo chô ông biết có bấy nhiêu thôi.‹ Khổng Tử về bảo đệ tử: ›Chim, ta biết nó bay thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy thì ta có lưới bắt nó; cá lội thì ta có dây câu ví nó; chim bay thì ta có bẫy gài nó. Chí như con rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay lượn như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con rồng!‹«|Các Lão gia sau này đã tôn thờ Lão Tử, gọi ông là Thái Thượng Lão Quân, Ðạo Ðức Thiên Tôn. Ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo. Nhiều huyền thoại về ông cũng được lưu lại. Việc mất tích của ông được các Lão gia giảng rằng, ông sang Ấn Ðộ gặp đức Phật và thâu nhận Phật làm đệ tử. Thuyết này được các Lão gia nêu ra trong những cuộc tranh luận với các vị tăng nhà Phật sau này.|Ðạo đức kinh bao gồm 81 chương ngắn, trong đó 37 chương đầu nói về »Ðạo«, 44 chương sau nói về »Ðức.« Nội cung của quyển sách này cũng không nhất quán bởi vì nó cũng chứa đựng những quan niệm triết lí khác song song với triết lí Ðạo giáo. Quan niệm trung tâm của quyển sách này – ngoài đạo và đức nêu trên – là vô vi, tức là làm mà không có tác ý (Bất hành nhi hành). Tư tưởng của Lão Tử cũng được các vị Cao tăng Trung Quốc hấp thụ và giảng trình theo cách nhìn của nhà Phật.

Lão tử

老死; S, P: jarāmaraṇa;|Là già và chết, một thành phần của Mười hai nhân duyên (Tử).

lão tử

chỉ sự già chết, là một trong 12 nhân duyên, vốn sanh khởi do sự hiện hữu hòa hợp của các hành. Vì thế, nếu hành giả đạt đến cảnh giới “phá trừ hết thảy các hành” thì không còn có sự già chết. ; 1) Jaramarana (skt)—Decreptitude and death. 2) Một trong thập nhị nhơn duyên, là một giáo lý quan trọng trong Phật giáo, lão tử là sản phẩm tất nhiên của sự thành thục (chín mùi) của ngũ uẩn: One of the twelve nidanas, a primary dogma of Buddhism that decreptitude and death are the natural products of the maturity of the five skandhas. 3) Lao-Tzu—Mặc dù người ta thường xem Lão Tử là một hiền triết vĩ đại nhất của Trung Quốc, song ít ai biết về cuộc đời Lão Tử. Người ta nói rằng ông sanh vào khoảng năm 604 trước Tây Lịch và là tác giả của bộ Đạo Đức Kinh, tức là Thánh Kinh của Đạo Giáo, tôn giáo phát xuất từ bộ sách nói trên. Đạo được định nghĩa như là nền tảng của toàn bộ cuộc sinh tồn, hay là năng lực của vũ trụ—Though Lao-Tzu is commonly regarded as one of China's greatest sages, little is known about his actual life. He is said to have been born in about 604 B.C. and to be the author of the Tao-Teh-Ching (The way and Its Power), which is the bible of Taoism, as the religion which grew up around the above mentioned book. The Tao has been defined as the ground of all existence, or as the power of the universe. ** For more information, please see Lão Giáo. ; (老死) Phạm, Pàli: Jarà-maraịa. Cũng gọi Lão tử chi. Già và chết, chỉ chung cho sự suy biến hoại diệt của chúng sinh, là 1 trong 12 nhân duyên. Theo thuyết Tam thế lưỡng trùng nhân quả, trong 12 chi nhân duyên, thì chi sinh và chi lão tử là 2 quả vị lai; sau khi xả bỏ thân mệnh đời hiện tại, thì ngay trong 1 sát na đầu tiên 5 uẩn tu tập để hình thành sự sống mới, gọi là sinh; trái lại, những sát na sau khi thức sinh khởi, danh sắc, lục nhập, thụ, ái dần dần tăng trưởng cho đến dị diệt, gọi là lão tử. Trong đó, lão là sự suy biến của sắc và tâm, tử là sự hoại diệt của thọ mệnh. Ngoài ra, các nhà Duy thức đem phối hợp Nhị thế nhất trùng nhân quả với 12 nhân duyên, cho rằng sinh và lão tử thuộc về chi sinh, còn sự suy biến của 5 uẩn dị thục do 3 chi ái, thủ, hữu sinh ra, cho đến thân hoại mệnh chung mới là chi lão tử. Lại theo luận Thành duy thức quyển 8, thì trong 4 thứ sinh, lão, bệnh, tử, lập riêng sinh làm 1 chi; còn lão và tử hợp chung lại làm 1 chi; bệnh thì không thể lập làm 1 chi, bởi vì bệnh chẳng phải tất cả chúng sinh nhất định đều có, còn lão tuy chẳng phải nhất định đều có, nhưng mà phổ biến tất cả, nên lập làm 1 chi. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Đại nhân trong kinh Trung a hàm Q.24; kinh Đại duyên phương tiện trong Trường a hàm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.9; luận Thuận chính lí Q.25, 26]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên).

lão tử hoá hồ kinh

(老子化胡經) Kinh của Đạo giáo, do Đạo sĩ Vương phù soạn vào khoảng những năm cuối đời Huệ đế nhà Tây Tấn, bản hiện còn chỉ có 2 quyển được thu vào Đại chính tạng tập 54. Vương phù thường tranh luận với ngài Bạch viễn về Đạo giáo và Phật giáo, nhưng Đạo giáo thường bị luận phá, Vương phù cảm thấy rất nhục nhã nên ngụy tạo kinh này, ý muốn đưa Đạo giáo lên trên Phật giáo.Nội dung kinh này nói rằng Lão tử qua Tây vực, rồi đến Ấn độ, chuyển sinh làm Thích ca mà giáo hóa người Hồ (tức người Ấn độ). Khi kinh này vừa xuất hiện, thì đầu tiên có luận Tiếu đạo (cười Đạo giáo) của quan Ti lệ đại phu là Chân loan đời Bắc Chu bắt bẻ; kế đến có các luận Phá tà, Biện chính, Tập cổ kim Phật đạo luận hành, v.v... ở đời Đường lần lượt phê phán kinh này. Niên hiệu Tổng chương năm đầu (668) đời vua Cao tông nhà Đường, kinh này bị thiêu hủy. Đến niên hiệu Thần long năm đầu (705) đời vua Trung tông, kinh này lại bị nghiêm cấm. Qua đời Tống, tuy có 1 thời gian kinh này được lưu truyền, nhưng sang đời Nguyên lại bị cấm ngặt, cho đến tuyệt tích. Thời gần đây, ông Bá hi hòa (P. Pelliot), 1 học giả người Pháp, đã tìm thấy kinh này ở Đôn hoàng, toàn bộ có 10 quyển, nhưng chỉ còn quyển thứ 1 và quyển thứ 10. Quyển thứ 1 của bản Đôn hoàng đề là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất, cuối quyển thứ 10 đề là Lão Tử Hóa Hồ Kinh Quyển Đệ Thập. Căn cứ vào sự nghiên cứu, thì nội dung của bản được xếp vào Đại chính tạng và nội dung của Lão Tử Hóa Hồ Kinh của Đạo sĩ Vương phù khác nhau rất xa, lí do như sau: 1. Hóa Hồ kinh của Vương phù chỉ có 1 quyển, nhưng bản Đôn hoàng lại có những 10 quyển. 2. Bản Đôn hoàng đề là: Lão tử tây thăng hóa Hồ kinh tự thuyết đệ nhất, nhưng bản của Vương phù thì không gọi là Lão tử tây thăng hóa Hồ kinh. 3. Bản Đôn hoàng có bao hàm tư tưởng Ma ni giáo khá sâu đậm, do đó, có thể suy đoán bản này được soạn sau khi Ma ni giáo đã được truyền vào Trung quốc ở đời Đường, chứ không phải Lão tử hóa Hồ kinh do Đạo sĩ Vương phù trứ tác. Ngoài ra, bản tìm thấy ở Đôn hoàng cùng với Dật văn khảo do Tưởng phủ thu chép, Bổ khảo và Hiệu khám kí của La chấn ngọc 4. Đều được đưa vào Đôn Hoàng Thạch Thất Di Thư. [X. Pháp hoa tam đại bộ bổ chú Q.13; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; Phật tổ thống kỉ Q.39; Pháp tổ truyện trong Xuất tam tạng kí tập Q.15; Đạo giáo chi cơ sở đích nghiên cứu (Phúc tỉnh Khang thuận)].

lão tử hoá hồ thuyết

(老子化胡說) Thuyết nói về việc Lão tử sang Ấn độ giáo hóa đức Phật, hoặc Lão tử chuyển sinh làm Phật. Đây là 1 thuyết đặc biệt khác lạ phát sinh vào thời gian tương tranh giữa Phật giáo và Đạo giáo. Cứ theo truyện Tương khải trong Hậu Hán thư liệt truyện thứ 20 hạ, thì Lão tử đến Di địch (ám chỉ Ấn độ với ý khinh miệt, vì Di địch là mọi rợ) làm Phù đồ (Phật đà); còn theo truyện Bùi chú dẫn Ngụy lược Tây nhung trong Tam quốc chí Ngụy thư thứ 30, thì Lão tử ra biên ải đi về hướng tây, qua Tây vực đến Thiên trúc giáo hóa người Hồ (người Ấn), Phù đồ cũng là đệ tử của ông. Trong những truyện trích dẫn trên đây tuy không nói đến 2 chữ hóa hồ nhưng là những ghi chép sớm nhất về thuyết Hóa Hồ. Hoặc giả, truyện Lão Trang trong Sử kí có nói Lão tử ra khỏi biên ải, sau đó không biết chết ở đâu, rồi những người hiếu sự dựa vào đó mà bịa ra thuyết Lão tử hóa hồ chăng? Có 2 nguyên nhân hình thành thuyết Lão tử hóa hồ: 1. Tín đồ của Đạo giáo muốn nâng địa vị Đạo giáo lên trên Phật giáo mà bịa ra thuyết này. 2. Tín đồ Phật giáo muốn tông giáo ngoại lai của mình bắt rễ vững chắc tại Trung quốc để tồn tại và phát triển lâu dài nên tạo ra thuyết này. Từ 2 nguyên nhân trên mà có nhiều tác phẩm liên quan đến kinh Lão tử hóa hồ xuất hiện, như: Văn thủy tiên sinh vô thượng chân nhân quan lệnh nội truyện và Hóa hồ kinh trong phẩm Tây hồ, sách Tam động châu nang quyển 9 (Đạo tạng 782), Lưu sa bát thập nhất quốc cửu thập lục chủng ngoại đạo trong truyện Do long quyển 4 (Đạo tạng 555), Hỗn nguyên thánh kí quyển 4, 5 (Đạo tạng 552), kinh Lão tử hóa hồ bản Đôn hoàng (Đại chính tạng tập 54), v.v... Thuyết Lão tử hóa hồ khởi đầu từ những năm cuối đời Lục triều, qua các đời Đường, Tống đều có phong mạo khác nhau, có thể chia làm 2 thuyết chính là: 3. Thuyết Lão tử đến nước Hồ giáo hóa người Hồ, nghĩa là Lão tử có đến nước Kế tân, nước Vu điền, nước Điều chi, v.v... truyền pháp. 4. Thuyết Lão tử chuyển sinh làm Phật. [X. Quảng hoằng minh tập Q.1; Pháp kinh lục Q.2; luận Biện chính Q.5; luận Tiếu đạo Q.hạ; Thích thị thông giám Q.1; Đôn hoàng thạch thất di thư tập 3; Minh sa thạch thất dật thư tục biên; Tảo đạo điền đại học Văn học bộ biên triết học niên chí Q.4].

Lão Tử Hóa Hồ Kinh

(老子化胡經, Rōshikekokyō): do Đạo sĩ Vương Phù (王浮) trước tác vào khoảng năm cuối đời vua Huệ Đế nhà Tây Tấn, tàn bản hiện được thâu lục vào trong Taishō quyển 54. Vương Phù thường cùng với Bạch Viễn (帛遠) luận tranh về hai tôn giáo Phật và Đạo, tuy nhiên Đạo Giáo thường bị luận phá thất bại; trước sự thất bại nhục nhã sâu xa như vậy, Vương Phù bèn viết kinh này với mục đích đề cao Đạo Giáo trên Phật Giáo. Nội dung thư tịch này thuật lại chuyện Lão Tử (老子) đến Tây Vức, Ấn Độ, chuyển sanh thành Thích Ca hóa độ người Hồ. Vào năm đầu (668) niên hiệu Tổng Chương (總章) đời vua Cao Tông nhà Đường, kinh này bị thiêu hủy, đến năm đầu (705) niên hiệu Thần Long (神龍) đời vua Trung Tông lại bị nghiêm cấm không được dùng; vào thời nhà Tống nó được lưu truyền rộng rãi, nhưng đến thời nhà Nguyên lại bị cấm chỉ và tuyệt tích luôn. Gần đây P. Pelliot, học giả người Pháp, phát hiện ra bản kinh này trong các thư tịch Đôn Hoàng (敦煌), toàn bộ có 10 quyển nhưng chỉ còn lại quyển 1 và 10 mà thôi. Đầu đề quyển 1 bản Đôn Hoàng là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất (老子西昇化胡經序說第一), đề phần cuối của quyển 10 là Lão Tử Hóa Hồ Kinh Đệ Thập (老子化胡經第十). Căn cứ vào nghiên cứu cho thấy rằng nội dung của bản Lão Tử Hóa Hồ Kinh thâu lục trong Taishō và bản do Vương Phù trước tác có quá nhiều điểm sai khác vì một số lý do như: bản do Vương Phù trước tác chỉ có 1 quyển, trong khi đó bản của Đôn Hoàng có 10 quyển; bản Đôn Hoàng có đề là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh Tự Thuyết Đệ Nhất (老子西昇化胡經序說第一), còn bản của Vương Phù là Lão Tử Tây Thăng Hóa Hồ Kinh (老子西昇化胡經); bản Đôn Hoàng có tư tưởng sâu đậm của Ma Ni Giáo (摩尼敎), cho nên chúng ta có thể suy ra biết được rằng bản Đôn Hoàng hiện tồn là trước tác có sau khi Ma Ni Giáo được truyền nhập vào, vì thế bản này cũng có thể không phải là Lão Tử Hóa Hồ Kinh của Vương Phù.

lão ấu

Old and young.

lén

Secretly—Stealthily—Furtively—Surreptitious—To be afraid to be seen.

lén lút

See Lén.

lén vào

To sneak in.

lén đi

To sneak away.

Trái lê—Pear.

lê chúng

Common people.

lê câu phệ đà

(棃 俱吠陀) Phạm: Fg-veda. Hán dịch: Tán tụng minh luận, Tác minh thực thuyết. Cũng gọi Hà lực bì đà, Ức lực tì đà. Kinh điển căn bản và xưa nhất của Bà la môn giáo Ấn độ, gồm 10 quyển, là 1 trong 4 bộ Thánh điển Phệ đà. Lê câu nghĩa là sáng sủa, rõ ràng. Nội dung sách này phần nhiều là những bài tán ca của dân tộc Aryan tán tụng thần thánh, không phải do 1 người làm, cũng chẳng phải làm trong 1 thời. Trong đó, quyển 9 Thu tập các tán ca của tế lễ Tô ma, được hoàn thành vào khoảng từ 1.400 năm đến khoảng 1.000 năm trước Tây lịch. Kinh Lê câu phệ đà hiện còn được hình thành vào khoảng 1.000 năm đến 800 năm trước Tây lịch. Những bài tán ca gồm 1017 thiên, sau tăng thêm 11 thiên, thành 1028 thiên, với tổng số 10580 bài. Đây là bản Phệ đà xuất hiện sớm nhất, trong 3 bản Phệ đà khác cũng có bản được trích dẫn từ bản này, hoặc do sửa đổi bản này mà ra. (xt. Tứ Phệ Đà, Phệ Đà).

lê da

Arya (skt)—Bậc Thánh—The sage—Saints.

lê dân

See Lê chúng.

lê nô bạch cổ

(黧奴白牯) Cũng gọi Li nô bạch cổ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lê nô là loài mèo đen, Bạch cổ là bò đực trắng, đều là động vật vô tri. Thiền tông dùng nhóm từ này để ví dụ những người căn cơ thấp kém, không hiểu Phật pháp. Điều Trì châu Cam chí hành giả trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 279 trung), ghi: Hành giả Cam chí sắp cháo cho ngài Nam tuyền xong, thưa: Thỉnh Hòa thượng niệm tụng. Ngài Nam tuyền nói: Hành giả Cam chí đã sắp cháo, mời đại chúng vì Li nô bạch cổ mà niệm Ma ha bát nhã ba la mật. Cam chí liền lễ bái rồi lui ra. [X. Thung dung lục tắc 69].

lê sư đạt đa phú na la

(棃 師達多富那羅) Lê sư đạt đa,Pàli:Isidatta. Hán dịch: Tiên thụ, Tiên thí, Tiên dư. Phú na la,Pàli:Puràịa. Cũng gọi Bố ra noa, Phú lan na. Hán dịch: Túc cựu, Cựu. Hai anh em quan đại thần của vua Ba tư nặc thời đức Phật còn tại thế, là những người giầu có nhất ở nước Câu tát la. Ông Phú lan na là anh của Lê sư đạt đa, cả hai anh em không kể gì đến tài sản sở hữu của mình, mà đem cúng dường đức Phật và 4 bộ chúng cùng thụ dụng. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 35, thì Phú lan na chuyên tu phạm hạnh, xa lìa dục lạc, không đeo hương hoa, không gần trần tục, lấy hạnh giữ giới làm đầu. Còn Lê sư đạt đa thì không chuyên tinh phạm hạnh, nhưng có đầy đủ trí tuệ, thông suốt Tứ thánh đế, cho nên lấy trí tuệ làm đầu. Sau khi họ mệnh chung, đức Phật thụ kí 1 người giỏi trì giới, 1 người giỏi trí tuệ, đều sẽ được quả Tư đà hàm ở đời sau và sinh lên cung trời Đâu suất. [X. kinh Tạp a hàm Q.30].

lê thê

Very long.

lê xa

Licchavi (skt)—Còn gọi là Ly Xa, một vương quốc cổ của Vaisali, dân ở đây là những đệ tử sớm nhất của Phật—The ancient republic of Vaisali, whose people were among the earliest followers of Sakyamuni.

Lê-bà-đa

梨波多; C: líbōduō; J: ribata; S: revata.|Li-bà-đa (離婆多).

Lê-da

梨耶; C: lí yé; J: riya;|Viết tắt của A-lê-da (阿梨耶), một cách Phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức.

Lê-da thức.

梨耶識; C: líyéshì; J: riyashiki; |Viết tắt phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức (阿頼耶識).

Lê-xa

phiên âm từ Phạn ngữ là Liçavỵ, cũng đọc là Ly-xa, Lực-sĩ, là một dòng họ lớn thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, đang rất có thế lực ở thành Câu-thi-na và thành Duy-da-ly vào thời bấy giờ.

lên bổng xuống trầm

To go up and down.

lên giọng

To raise one's voice.

lên lão

To reach the age of seventy.

lên mặt

To assume a high-and-mighty manner.

lên ngôi

To throne.

lên thác xuống ghềnh

To go up hill and down dale

lên tiếng

To raise one's voice

lên xe xuống ngựa

To live in luxury.

lên đường

To set out—To start on one's way—To start off

lênh láng

Watery.

lêu lỏng

To vegabondize—To go gaping about the streets.

lìa bỏ

Detachment—Leaving.

lìa bỏ dục lạc

Detachment from pleasure.

lìa trần

To pass away—To die.

lìa tướng

To detach from forms.

lìa tứ cú, tuyệt bách phi

Tứ cú là: có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không. Tất cả tứ tướng đều chẳng ngoài tứ cú này, nếu trụ thì chướng ngại sự dụng của bản thể tự tánh mà sanh ra bách phi (đủ thứ sai lầm), nếu lìa thì hiển bày đại dụng của tự tánh mà tuyệt bách phi.

lí nhí

To speak indistinctly

Lí Thái Tổ

李太祖; 974-1028|Một vị vua lừng danh của đất Việt, là người sáng lập triều Lí khi bước lên ngôi năm 1010. Dưới thời Lí Thái Tổ, đạo Phật hưng thịnh, khoảng trên 300 ngôi chùa được xây. Ðời này là thời gian phát triển rực rỡ của Phật giáo, là thời kì mà các nhà vua coi trọng đạo pháp, xây cất chùa chiền. Trong thời gian này, các kinh quan trọng như Kim cương, Dược sư, Diệu pháp liên hoa được in và phổ biến rộng.|Ông tên là Lí Công Uẩn, người làng Cổ Pháp. Cha mất trước khi ông ra đời và ngay sau khi sinh ra ông thì người mẹ cũng mất theo. Ông được một vị tăng trong chùa nuôi lớn. Ðến 8, 9 tuổi, vị này gửi ông theo học với Thiền sư Vạn Hạnh.|Nhờ những điềm linh báo trước, Thiền sư Vạn Hạnh biết là ông sẽ lên ngôi vua thành lập nhà Lí và vì vậy hết lòng phò tá. Khi Lê Long Ðĩnh mất, ông được các vị quan trong triều tôn lên làm Hoàng đế. Ông thấy cố đô Hoa Lư chật hẹp bèn dời đô về La Thành. Theo truyền thuyết, khi đến La Thành, ông thấy một con rồng vàng bay lên nên vì vậy đổi tên thành Thăng Long thành – thủ đô Hà Nội bây giờ, đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Ðức.

Lí Thánh Tông

李聖宗; 1023-1072|Vua thứ ba đời nhà Lí, nổi danh với tấm lòng từ bi, yêu nước thương dân như con. Ông chính là người phát hiện tài năng của Thiền sư Thảo Ðường và cũng được xem là người cùng khai sáng thiền phái Thảo Ðường, dòng thiền thứ ba sau hai hệ phái khác là Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông.|Mẹ của ông là Mai Thị, một hôm mơ thấy mặt trăng rơi vào bụng và biết rằng mình có mang. Ngày 25 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 14 (1023), Hoàng hậu sinh ông tại cung Long Ðức. |Thuở nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh đĩnh ngộ, văn võ toàn tài. Vì cung Long Ðức được xây ở ngoại thành và đã sống ở đây 27 năm trước khi lên ngôi, ông thấu hiểu nỗi khổ của bần dân, cảnh đói rét, sự bất công ở các miền thôn dã. Hai câu chuyện sau thường được nhắc lại: |»Một lần ông tham dự một buổi xử kiện với công chúa Ðộng Tiên. Phạm nhân là một chàng trai trẻ, vì không hiểu biết luật pháp nên lỡ vi phạm. Vua gọi quan toà lại, chỉ vào con gái của mình nói: Ta yêu con ta cũng như các bậc cha mẹ yêu con cái của họ. Trăm họ không hay biết nên tự phạm vào luật pháp, ta rất thương xót. Từ nay, các tội bất kì nặng nhẹ cần răn dạy kĩ lưỡng và nhất nhất đều phải khoan giảm.|Lần khác, gặp ngày trời rất lạnh. Nghĩ đến dân, vua chạnh lòng với tả hữu: Ta ở trong thâm cung, sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh vẫn còn thế này huống hồ những kẻ bị giam trong ngục thất, xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn gió lạnh thổi há chẳng bị chết rét ư? Ta rất đỗi thương xót.|Nói xong, vua sai tả hữu đem chăn chiên trong kho ban cho tù nhân và mỗi ngày phát cho tù nhân hai bữa cơm. Và vua xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa số thuế năm đó.« (trích Quỳnh Cư).|Ngoài những trách nhiệm đối với dân, nước, ông còn đặc biệt chú tâm đến đạo Phật, cho xây cất rất nhiều chùa chiền. Ông mời Thiền sư Thảo Ðường vào cung để hỏi về Thiền và kinh luận và phong cho Thảo Ðường danh hiệu Quốc sư. Tư tưởng thấm nhuần đạo lí của ông được ghi lại trong sử sách như sau:|»Khác với các triều đại trước, Lí Thánh Tông đem đạo vào đời, mà cuộc đời ấy, theo nhà vua, phải lấy việc phụng sự dân tộc, lấy sự đồng tâm nhất trí làm mục đích để tập trung vào hành động thiết thật, cứu thế bằng đức tin. Vua đã tìm thấy trong Phật học triết lí sinh thành dưỡng dục theo nghĩa dài lâu nối tiếp, là phương tiện dạy cho dân hiểu mình là ai, lấy ý chí tự cường để thắng số mệnh, phụng sự cho sự phồn vinh bền vững của quốc gia. Cũng do vậy, dân chúng Ðại Việt tìm thấy nguồn cảm hứng vừa sâu rộng vừa cao siêu của mình ở tình yêu hiện thật và đại đồng Phật giáo, ở lòng từ bi bác ái cứu khổ cứu nạn cứu vớt chúng sinh. Nhân dân đến với đạo không phải vì chán ngán cuộc đời mà vì muốn sống cuộc đời cao cả là đời sống tâm linh. Những nhà tu hành đời Lí không phải là những người chán đời đi ở ẩn mà là những người xuất thế để nhập thế, những người có học vấn để giúp đời và giúp người. Vì vậy, đời Lí người tu hành xuất hiện khắp nơi. Chùa và đình thất mọc lên khắp nước. Kiến trúc chùa chiền thời ấy rất giản dị, dịu mát ẩn dưới bóng đa linh thiêng và tôn kính.« (trích Quỳnh Cư).|Năm Nhâm Tí (1702), ông mất rất đột ngột, thọ 50 tuổi, trị vì được 17 năm.

Lí Thông Huyền

李通玄; C: lǐ tōngxuán; j: ri tsūgen; 635-730.|Cư sĩ học giả quan trọng của tông Hoa Nghiêm, cùng thời với Huyền Trang. Ban đầu chưa được công nhận, nhưng về sau được các Thiền sư tông Lâm Tế đánh giá cao. Các tác phẩm của ông, quan trọng nhất là luận giải Tân Hoa Nghiêm kinh luận (新華嚴經論), 42 cuốn, bản dịch của Thật-xoa-nan-đà (s: śikṣānanda), đã tạo nên ảnh hưởng sâu đậm cho Thiền tông và Hoa Nghiêm tông của Phật giáo Triều Tiên sau nầy; còn có một luận giải khá dài của Tri Nột về tác phẩm nầy. Còn có ảnh hưởng rất mạnh đến tông Hoa Nghiêm Nhật Bản.

líu quíu

Embarrassed.

lò thiêu

Lò hỏa táng—Crematorium.

lòng

Heart—Mind—Soul.

lòng bi mẫn

Compassion.

lòng biết ơn

Gratitude.

lòng bàn chân

Soles of the feet.

lòng can đảm

Courage.

lòng chân thật

Frankness.

lòng dạ

Heart.

lòng dục

Lusts of the flesh.

lòng ghen

Jealousy.

lòng ham muốn

Desire—Wish.

lòng hiếu thảo

piety.

lòng hy sinh

Self-sacrifice.

lòng hăng hái

Enthusiasm.

lòng mê muội đảo điên

Topsyturvy.

lòng mộ đạo

Devotion.

lòng nhân

Charity.

lòng nhân từ

Humanity—Compassion.

lòng nhẫn nại

Patience.

lòng rộng rãi

Generosity.

lòng tham vi tế

Deep-seated (subtle or profound) greed.

lòng thành

Sincerity—Honesty.

lòng thương hại

Commiseration—Pity—Compassion.

lòng trung thành

Loyalty—Faithfulness.

lòng trung tín

See Lòng trung thành.

lòng trắc ẩn

Compassion—Pity.

lòng tốt

Kindness—Kind heart.

lòng từ

See Từ.

lòng tự ái

Pride—To hurt someone's pride—Chạm lòng tự ái của ai.

lòng vàng

Heart of gold.

lòng vị tha

Altruism

lòng ích kỷ tham dục

Selfish-craving.

lóng cóng

Trembling.

lóng lánh

To glint (in the water).

lóng ngóng

To be waiting for something.

lóng xuống

To settle down.

(嚧) Cũng gọi Lê, Lâu, Lư. Chữ Tất đàm ( ), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Cứ theo phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính, thì chữ này có hàm nghĩa Tất cả pháp chìm mất chẳng thể được, cho nên xưa nay nó được gọi là chữ Lô chìm mất, nhưng chưa rõ nguyên ngữ của nó. Theo phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn quyển thượng, khi xướng tụng chữ Lô, hành giả có thể tránh khỏi những âm thanh ô nhiễm trong cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. [X. phẩm Như lai tính trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); Tất đàm tam mật sao Q.thượng phần đầu].

lô chí

(盧至) I. Lô Chí. Cũng gọi Lô già, Lô chí trưởng giả, Lưu chí trưởng giả. Vị Trưởng giả ở thành Xá vệ vào thời đại đức Phật, ông này tính vốn tham lam, keo kiệt, tuy giàu có nứt đố đổ vách, nhưng vẫn mặc áo rách ăn cơm hẩm, thường bị người đời chê cười. Một hôm, trong thành có lễ hội, mọi người đều trang hoàng nhà cửa, ăn uống linh đình, Trưởng giả Lô chí mở kho báu, lấy ra 5 đồng tiền mua miến, rượu và hành, đưa đến 1 nơi vắng vẻ ngoài thành, ăn uống một mình, say sưa, rồi đứng dậy múa hát, tự cho rằng trong lễ hội này, mình no say vui sướng còn hơn cả Tì sa môn và Thiên đế thích! Lúc bấy giờ, trời Đế thích đang trên đường đi đến chỗ đức Phật, bèn dùng thần thông hóa làm Lô chí, đến nhà Lô chí mở cửa kho báu, lấy hết tiền của ban phát cho mọi người. Khi Lô chí trở về nhà thì bị Lô chí kia đuổi đi, Lô chí liền đến chỗ vua Ba tư nặc xin giúp đỡ, nhà vua không biết phân xử ra sao, vì chẳng biết Lô chí nào là thật, Lô chí nào là giả, bèn cùng nhau đến bạch đức Phật. Phật thuyết pháp độ cho, về sau đắc đạo. [X. kinh Lô chí trưởng giả nhân duyên; Pháp uyển châu lâm Q.77]. II. Lô Chí. Tức là Phật Lâu chí, đức Phật cuối cùng trong 1.000 đức Phật ở Hiền kiếp. (xt. Lâu Chí Phật).

lô chí trưởng giả kinh

(盧至長者經) Gọi đủ: Lô chí trưởng giả nhân duyên kinh.Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung nói về nhân duyên đắc đạo của Trưởng giả Lô chí. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.5].

lô diệp đạt ma

(蘆葉達磨) Tên bức tranh vẽ sự tích Tổ Bồ đề đạt ma đứng trên chiếc lá lau vượt qua sông Dương tử.Vào niên hiệu Đại thông năm đầu (527) đời Lương, Sơ tổ Thiền tông Bồ đề đạt ma đến Trung quốc, gặp vua Vũ đế nhà Lương, nhưng vua không khế hợp cơ nghi của Ngài, Tổ bèn rời đất Lương vào ngày 19 tháng 11 cùng năm, đứng trên 1 chiếc lá lau để qua sông Dương tử, đến Lạc dương. Sang đời Tống, giới hội họa thường dùng sự tích này làm đề tài vẽ tranh. [X. tắc 1 Bích nham lục; Tổ đình sự quyển Q.8].

lô giá na

(盧遮那) I. Lô Giá Na. Phạm: Vairocana. Cũng gọi Tì lô giá na, Lô xá na, Lưu xá na, Tịnh mãn. Báo thân hoặc Pháp thân của Phật. heo tông Hoa nghiêm thì Lô xá na gọi đủ là Tì lô xá na, là Báo thân Phật, Giáo chủ của thế giới Liên hoa tạng. Còn tông Thiên thai thì cho Tì lô gia na là Pháp thân Phật, Lô xá na là Báo thân Phật, đức Thích ca là Ứng thân Phật. (xt. Tì Lô Giá Na). II. Lô Giá Na. Phạm: Rocana. Cũng gọi Lô chi na. Tên khoa học: Datura metel, Linn. Loại thực vật thân cỏ, thuộc họ cà (Solanaceae). Toàn gốc cây có chất độc, được dùng làm thuốc, mọc rải rác từ vùng núi Hi mã lạp sơn (Himalaya) ở phía tây đến miền tây bán đảo Đức can (Deccan). [X. kinh Quán thế âm bồ tát thụ kí].

lô hành giả

(盧行者) Tức là Thiền sư Tuệ năng, Tổ thứ 6 của Thiền tông. Sư họ Lô, mới đầu tu đạo dưới sự chỉ dạy của Ngũ tổ Hoằng nhẫn ở núi Bằng mậu, huyện Hoàng mai, Kì châu (Hồ bắc), nên được gọi là Lô hành giả, hoặc Lô cư sĩ. Hành giả nghĩa là người tu hành mà chưa cạo tóc. Chương Ngũ tổ trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 223 thượng) chép: Đại chúng hỏi: Ai được y bát? Tổ đáp: Người tên Năng được. Bấy giờ, mọi người bàn tán với nhau rằng Lô hành giả tên Năng, liền tìm kiếm nhưng người đã đi mất. [X. Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư Q.thượng].

lô hê đa ca

(盧醯多迦) Phạm: Rohitaka. Cũng gọi: Lô hê đát ca. Gọi tắt: Lô hê đa. Nghĩa là màu đỏ. Như Lô hê đa long vương, dịch là Xích long. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.18; Hiển sắc thiên trong Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

Lô Lăng mễ giá

(廬陵米價) Cũng gọi Thanh nguyên mễ giá. Tên công án trong Thiền tông. Giá gạo ở Lô lăng. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa 1 vị tăng và Thiền sư Thanh nguyên Hành tư. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 240 hạ) chép: Có 1 vị tăng hỏi Thiền sư Thanh nguyên Hành tư: Thế nào là đại ý Phật pháp? Thiền sư đáp: Gạo ở Lô lăng giá bao nhiêu? Đất Lô lăng ở tỉnh Giang tây, Trung quốc, là nơi sản xuất gạo ngon có tiếng. [X. tắc 5 trong Thung dung lục].

Lô Sơn

(廬山): ngọn đại hùng phong nổi tiếng nằm ở phía bắc Tỉnh Giang Tây (江西省), Trung Quốc; là chốn danh lam thắng cảnh đã được hàng ngàn bậc văn đàn cự tượng đến tham quan như Tư Mã Thiên (司馬遷), Đào Uyên Minh (陶淵明), Lý Bạch (李白), Bạch Cư Dị (白居易), Tô Thức (蘇軾), Vương An Thạch (王安石), Hoàng Đình Kiên (黃庭堅), Lục Du (陸游), Chu Hy (朱熹), Khang Hữu Vi (康有為), Hồ Thích (胡適), Quách Mạt Nhược (郭沫若), v.v.

Lô Văn Chiêu

(盧文弨, 1717-1795): tự là Chiêu Cung (召弓), hiệu Ki Ngư (磯漁), Bão Kinh (抱經), xuất thân vùng Dư Diêu (餘姚), Triết Giang (浙江). Ông đỗ Tiến Sĩ thời nhà Thanh, làm quan đến chức Thị Độc Học Sĩ (侍讀學士). Trước tác của ông có Quần Thư Thập Bổ (群書拾補), Nghi Lễ Chú Sớ Tường Hiệu (儀禮注疏詳校), Bão Kinh Đường Văn Tập (抱經堂文集), v.v.

lô xá na kinh

(盧舍那經) Đối lại: Thích ca kinh. Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, giáo pháp do đức Phật Lô xá na tuyên thuyết, là 1 trong 2 giáo pháp do Mẫn pháp sư ở Giang nam lập ra. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương, Mẫn pháp sư dựa theo Giáo chủ năng thuyết mà cho rằng kinh Lô xá na là kinh Hoa nghiêm, do đức Phật Lô xá na thuận theo pháp tính mà tuyên thuyết. Còn kinh Thích ca là các kinh Pháp hoa, Niết bàn, do đức Phật Thích ca tùy theo căn cơ của chúng sinh mà dùng phương tiện khéo léo để giảng nói. Hai giáo Lô xá na kinh và Thích ca kinh của pháp sư Mẫn có liên quan với Khuất khúc giáo và Bình đạo giáo, do pháp sư Ấn lập ra vào đời Đường. Giữa 2 giáo này có 4 điểm sai biệt: 1. Chủ dị: Nghĩa là Giáo chủ đều khác, Khuất khúc giáo do hóa thân của Phật Thích ca tuyên nói, vì thế cũng gọi là Thích ca kinh; Bình đạo giáo là do cả 10 thân của Phật Lô xá na tuyên thuyết, cho nên cũng gọi Lô xá na kinh. 2. Xứ dị: Khuất khúc giáo được tuyên thuyết dưới gốc cây Bồ đề, trên tòa cỏ ở thế giới Sa bà; còn Bình đạo giáo thì được tuyên thuyết dưới cây báu, trên tòa kim cương ở thế giới Liên hoa tạng. 3. Chúng dị: Khuất khúc giáo được nói cho hàng Thanh văn và Bồ tát; còn Bình đạo giáo thì được nói cho hàng Chuẩn bồ tát và bậc Đại giác cực vị. 4. Thuyết dị: Khuất khúc giáo chỉ nói ở 1 phương, còn Bình đạo giáo thì cả 10 phương cùng tuyên thuyết. Cứ theo sự khảo chứng của ngài Đạo đình thuộc tông Hoa nghiêm đời Tống, thì Mẫn pháp sư tức là ngài Pháp mẫn thuộc tông Hoa nghiêm đời Đường, ở chùa Tĩnh hưu tại Việt châu, tác giả bộ Hoa nghiêm kinh sớ 7 quyển (chú thích kinh Hoa nghiêm bản 60 quyển); còn Ấn pháp sư thì là đệ tử của ngài Pháp mẫn. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.4].

lô đầu

(爐頭) Chức vụ trông coi việc sưởi ấm trong nhà Tăng của Thiền lâm. Cứ theo Thiền uyển thanh qui quyển 4, chức Lô đầu tuy do vị Duy na thỉnh cử, nhưng cũng qua sự tuyển chọn của vị Thán đầu (người phụ trách việc củi than). Hàng năm, mở lò sưởi(khai lô)vào ngày mồng 1 tháng 10 và đóng lò(bế lô) vào ngày mồng 1 tháng 2 năm sau. Nhiệm vụ của Lô đầu là trước giờ phóng tham (hết giờ ngồi thiền)phải chuẩn bị các lò sưởi để chúng tăng sưởi ấm sau khi phóng tham, tùy lúc thêm bớt củi lửa. [X. Chức vị môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lôi

Garjita (skt)—Thunder—Thundering.

lôi cuốn

To attract

lôi phong tháp

(雷峰塔) Cũng gọi Hoàng phi tháp. Tòa tháp gạch ở Tây hồ, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang, Trung quốc, do Vương phi họ Hoàng nước Ngô Việt đời Ngũ đại xây dựng vào năm Khai bảo thứ 8 (975) đời vua Thái tổ nhà Tống, để thờ tóc của đức Phật, nên còn gọi là Hoàng phi tháp, trong tháp này có tàng trữ 84.000 quyển kinh do vua Ngô Việt khắc in. Trong các ngôi tháp danh tiếng tại Trung quốc, chỉ có tháp Lôi phong có hình dáng đặc biệt khác lạ, đó là hình 8 hướng có 8 cửa, mái cong, đắp vẽ rất tinh xảo, màu sắc rực rỡ; nền tháp xây bằng đá đỏ, thân tháp xây gạch màu vàng, cột giữa hình củ ấu, đứng một mình; mỗi buổi chiều tà, bóng tháp và mặt nước phảnánh lẫn nhau, tạo thành cảnh quan kì thú. Khoảng đời Nguyên, Minh, nền tháp bị lún, chỉ còn 5 tầng. Năm 1925, bỗng nhiên tháp sụp đổ, người ta phát hiện trong tháp có tàng trữ kinh Bảo khiếp ấn, được khắc vào thời Ngũ đại, nét chữ rất tinh vi, sắc xảo, được mọi người trân trọng.

lôi thôi

Untidy—Careless.

lôi thần

God of thunder.

lôi thứ tông

(雷次宗) (386-448) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Lưu Tống, thuộc Nam Bắc triều, người Nam xương, Dự chương, tự Trọng luân, là 1 trong 18 vị Cao hiền chùa Đông lâm ở Lô sơn. Thủa nhỏ, ông vào núi Lô sơn, thờ Đại sư Tuệ viễn làm thầy, học Tam lễ, Mao thi và tu tịnh nghiệp. Về sau, ông dựng nhà học ở phía đông chùa Đông lâm để tu học. Năm Nguyên gia 15 (438), vua Văn đế nhà Tống triệu ông đến kinh đô, ban sắc cho ông mở nhà học ở núi Kê long, nhóm họp 100 đồ chúng để giảng dạy. Năm Nguyên gia 25 (448), vua lại ép ông về kinh đô lập Chiêu ẩn quán ở phía tây núi Chung sơn. Ông cũng được mời đến Diên hiền đường ở phía đông vườn Hoa lâm giảng kinh cho Thái tử và các Vương hầu nghe. Trong năm ấy, ông không bệnh mà qua đời ở núi Chung sơn, thọ 63 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26; Tống thư Q.93; Nam sử Q.75].

lôi tất hỉ nhiêu

(雷必喜饒) Danh tăng Tây tạng, sống vào khoảng đời Tống, Trung quốc, họ Mã. Sư vâng mệnh Tiểu vương A lí, cùng với sư Nhân khâm tang ba (Bảo hiền), v.v... đến Ca thấp di la học Phật pháp. Sau khi trở về Tây tạng, sư chuyên việc dịch kinh, được gọi là Lạc cùng (Tiểu dịch sư). Ngoài ra, sư còn nhóm hợp đồ chúng để giảng dạy kinh điển. Những sách do sư phiên dịch trong sử gọi là Cựu nhân minh. Sư có các dịch phẩm: Lượng thích luận tụng, Pháp xứng tự thích, Thích ca tuệ sớ.

lôi đình

To be in a thundering rage.

Lông rùa sừng thỏ

Hán Việt: Quy mao thố giác (龜毛兔角); J: ki-mō-tokaku;|Chỉ một niềm tin mù quáng, một quan niệm sai lầm không thể có được. Ví dụ như cho rằng có một tự Ngã, các Pháp trường tồn là những quan niệm điên đảo và lời bình chỉ có thể là »Lông rùa sừng thỏ!«

lông rùa sừng thỏ

Tortoise (turtle's) hairs and rabbit horns (no such things really exist).

lông rùa, sừng thỏ

ví dụ rất thường dùng trong kinh điển, để chỉ những việc hoàn toàn không có thật, cũng như rùa chẳng hề có lông, thỏ chưa từng có sừng.

lõa

Trần truồng—Naked.

lõa hình ngoại đạo

Nirgrantha (skt)—Một trong 20 phái ngoại đạo ở Thiên Trúc trong thời Phật còn tại thế, khổ hạnh trần truồng—Naked ascetics, one of the twenty heretic (non-Buddhist) sects in India at the time of the Buddha. ; (裸形外道) Khỏa hình, Phạm: Nirgrantha, acelaka. Cũng gọi Lộ hình ngoại đạo, Vô y ngoại đạo, Vô tàm ngoại đạo. Ngoại đạo ở truồng, 1 trong 20 thứ ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 25 (Đại 10, 136 trung), nói: Nguyện cho tất cả chúng sinh, được áo hổ thẹn để che thân, lìa bỏ pháp xấu xa của tà đạo lộ hình. [X. kinh Khỏa hình phạm chí trong Trường a hàm Q.16; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; điều Ma kiệt đà quốc trong Đại đường tây vực kí Q.9].

lõa hình tượng

(裸形像) Cũng gọi khỏa Phật. Tượng không mặc áo, chỉ cho tượng đản sinh của đức Phật Thích ca xưa nay thường được điêu khắc hoặc đắp vẽ lộ hình. Ngoài ra, ở Nhật bản cũng có tượng Phật A di đà và tượng bồ tát Địa tạng lộ hình.

lõa đầu

(裹頭) Mũ đội đầu của chư tăng đời xưa. Cứ theo luật Tứ phần quyển 40, thì đức Phật cho phép các tỉ khưu được đội mũ để che đầu khi trời lạnh hoặc đau đầu, ngoài trường hợp này ra thì bị cấm. Tương truyền, Dượng đế nhà Tùy khi còn là Tấn vương, có thỉnh đại sư Trí khải trao giới Bồ tát cho ông, gặp lúc thời tiết giá rét, vua lấy tay áo trùm lên đầu Đại sư, gọi là Khỏa đầu. Tại Nhật bản, khi chư tăng đi tuần tra trong chùa thường dùng ca sa che đầu, gọi là Khỏa đầu chúng. [X. Hiển mật uy nghi tiện lãm Q.hạ; Trinh văn tạp kí Q.2; Đông tự tháp cúng dường kí].

lõi đời

Experienced in life.

lõm bõm

To know very little.

lùi

To step back—To draw back

Dull-brained.

lúc

Moment—When.

lúc đầu

At the beginning.

lúc ấy

At that moment (juncture).

lún

To subside—To sink—To fall in.

lúng túng

1) To embarrass—To perplex. 2) Awkward—Clumsy.

1) Làng: Village—Neighbourhood. 2) Dậm (Trung Quốc): Khoảng 1/3 dậm Anh: Chinese mile, third of an English mile. 3) Nguyên lý: Siddhanta (skt)—Ruling principle, fundamental law, intrinsicality, universal basis, essential element. 4) Lý do: Nidana (skt)—Reason. 5) Sắp đặt hay điều chỉnh cho đúng: Pramana (skt)—To regulate—To arrange—To rule—To rectify. 6) Theo đạo Phật, “lý” là nguyên lý, là cái toàn thể, cái nguyên khối, cái đại đồng, cái trừu tượng, vân vân: In Buddhism, “lý” means “a principle,” “reason,” “the whole,” “the all,” “totality,” “the universal,” “the abstract,” etc. ; (哩) Cũng gọi Lực, Lữ, Lô, Lâu, Lỗ. Chữ ( li hoặc ơ), 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả các pháp nhơ nhớp đều bất khả đắc. Bởi vì khi các pháp dấy sinh, tuy có các tướng nhơ nhớp và không nhơ nhớp, nhưng khi nhập vào chữ A thì sự nhơ nhớp và trong sạch đều không sinh, cho nên tướng nhơ nhớp liền biết không nhơ nhớp, đó là nghĩa bất khả đắc. Xưa nay gọi chữ này là chữ Lí nhiễm. Nhưng nguyên ngữ của nó không được rõ. [X. phẩm Như lai tính trong kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; Tất đàm tự kí; Tất đàm tam mật sao Q.thượng, Q.hạ]. ; (理) I. Li. Chỉ đạo lí, tức cái phép tắc làm chỗ y chuẩn cho sự tồn tại và biến hóa của tất cả sự vật. Lí có thể chia làm 4 thứ: Quan đãi đạolí, Tác dụng đạo lí, Chứng thành đạo lí và Pháp nhĩ đạo lí. [X. luận Dugià sư địa Q.30]. (xt. Đạo Lí). II. Lí. Đối lại với Sự. Đồng nghĩa: Lí thể, Lí tính. Chỉ cho Lí chân thực, bình đẳng nhất như, là bản thể của muôn tượng sai biệt…………. Lí có 2 đức tính tùy duyên và bất biến, tức là tùy duyên mà biến hóa ra vạn pháp sai biệt, nhưng tính của nó thì thường trụ bất biến. Vì nó vượt ra ngoài phạm vi tri thức tương đối của phàm phu, nên không thể dùng ngôn ngữ văn tự để diễn bày. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22]. (xt. Sự Lí). ; (哩) I. Lí. Chữ (f), một trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Li, Lỗ, Lữ, Hột lí. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả pháp thần thông bất khả đắc. Chữ f (lí) là chữ đầu của tiếng Phạm fddhi (dịch ý là thần thông) cho nên được giải thích như trên. Từ xưa đến nay nó được gọi là chữ Lí thần thông. [X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Tự mẫu trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng]. II. Lí. Chữ (), một trong 50 chữ cái Tất đàm. Cũng gọi Hột lê, li, lưu. Phẩm Tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 trung), nói: Chữ Lí nghĩa là tất cả pháp so sánh bất khả đắc. Từ xưa đến nay, chữ này được gọi là chữ Lí so sánh, nhưng nguyên ngữ của nó có hàm ý gì thì không được rõ. [X. phẩm Như lai tính trong Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc)].

lý bát nhã

The Prajan Truth.

lý bình sơn

(李屏山) (1185-1231) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Tương âm Hoằng châu (Dương nguyên, Hà bắc), tên Thuần phủ, tự là Chi thuần, sống vào đời Tống, vốn người nước Kim. Ông thi đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư Hữu ti đô sự, tính ưa rượu, khi say thì bàn nói hoạt bát, lại thích giao du với bọn thiếu niên tân tiến. Ông thông hiểu Trang tử, Liệt tử, Tả thị xuân thu, Chiến quốc sách. Lúc đầu ông công kích Phật giáo, nhưng về sau, nhờ nghiên cứu và thấu suốt được nghĩa lí sâu xa của các bộ kinh Thủ lăng nghiêm, Viên giác, Duy ma, Hoa nghiêm, v.v... nên ông đem lòng kính tin Phật pháp, rồi đề xướng thuyết dung hòa tam giáo Nho, Phật, Đạo. Ông có các tác phẩm: Minh đạo tập thuyết, Lão tử tập giải, Trang tử tập giải, Trung dung tập giải, Trung quốc tâm học, Lăng nghiêm tuyệt giải, Kim cương kinh giải. [X. Phật tổ lịch đại thông tải Q.35; Kim sử Q.126; Tống nguyên học án Q.100].

lý bí mật giáo

(理秘密教) Cũng gọi: Lí mật giáo. Đối lại: Sự lí câu mật giáo, Lí sự câu mật giáo.Giáo lí bí mật. Theo sự phán giáo của tông Thai mật Nhật bản, thì Lí bí mật giáo là tiếng dùng để chỉ cho pháp môn của Pháp hoa, Hoa nghiêm, Niết bàn... Vì những pháp môn này chỉ nói về lí bí mật của thế tục đế và thắng nghĩa đế là viên dung bất nhị, chứ không nói đến chân ngôn, mật ấn..., tức là Lí bí mật giáo chỉ nói về mặt lí, chứ không nói về mặt sự. Trái lại, Lí sự câu mật giáo thì nói cả lí lẫn sự đều là bí mật giáo. (xt. Sự Mật Lí Mật).

Lý Bỉnh Nam

(李炳南) (1889-1986) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Tế nam, Sơn đông, tên Diễm, tự Bính nam, hiệu Tuyết lư. Đầu tiên, ông học Duy thức với ông Mai quang hi, đối với Thiền, Tịnh, Mật đều từng tu tập, sau ông qui y Đại sư Ấn quang, chuyên tu Tịnh độ. Ông cũng giỏi về y học. Trong thời kháng chiến chống Nhật, ông làm Chánh thư kí cho Khổng phụng tự quan Đức thành tại Trùng khánh, đồng thời giúp đỡ Đại sư Thái hư trong công cuộc hoằng pháp. Sau khi Cộng sản Trung quốc chiếm toàn lục địa, ông dời ra Đài loan, làm giáo sư viện Y dược học Trung quốc và trường Đại học Trung hưng. Ngoài thì giờ dạy học, ông dốc sức vào việc hoằng dương Phật pháp. Ông giảng kinh thuyết pháp ở Đài trung mấy mươi năm và rất nổi tiếng trong giới Phật giáo Đài loan. Trước sau, ông sáng lập nhiều cơ quan hoằng pháp và từ thiện như: Đài trung Phật giáo liên xã, Bồ đề thụ tạp chí xã, Từ quang đồ thư quán, Từ quang dục ấu viện, Bồ đề y viện, Bồ đề cứu tế viện, v.v... Ngoài ra, ông còn mở các lớp Phật học chuyên khoa, giúp cho nhiều sinh viên Đại học học Phật. Ông là người ngay thẳng, nghiêm cẩn, thông hiểu tinh nghĩa của cả Nho và Phật một cách sâu sắc, cho nên rất được người đương thời kính trọng. Ngày 13 tháng 04 năm Dân quốc 75 (1986) ông qua đời, thọ 98 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Tuyết lư thi văn tập, Phật học vấn đáp, A di đà kinh nghĩa uẩn, Phật học thường thức khóa bản.

lý bột

(李渤) (773-831) Cư sĩ Phật giáo, đệ tử của ngài Qui tông Trí thường sống vào đời Đường, Trung quốc, tự là Tuấn chi. Khoảng năm Trinh nguyên (785-805), ông sáng lập động Bạch lộc(động Nai trắng) ở dưới ngọn Ngũ lão tại Lô sơn, sau dời đến núi Thiếu thất. Đầu năm Nguyên hòa, ông được Hàn dũ mời ra làm quan và giữ chức Gián nghị đại phu, về sau ông còn đảm nhiệm nhiều chức vụ khác. Trong năm Bảo lịch (825-827), ông làm Thứ sử Giang châu (Cửu giang, Giang tây). Ít lâu sau, ông lại trở về động Bạch lộc, người đời gọi ông là Bạch lộc tiên sinh. Khi ngài Trí thường trụ trì chùa Thê hiền, thì Lí bột thường đến hỏi về Phật pháp. Ông thường đem vấn đề Núi Tu di nằm trong hạt cải để hỏi ngài Trí thường về cái lí tương quan giữa một hạt bụi và muôn vật như thế nào. Đây chính là công án Lí bột hoài nghi. Năm Thái hòa thứ 5 (831) ông mất, hưởng dương 59 tuổi. [X. chương Qui tông Trí thường trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.7; Thiền uyển mông cầu Q.thượng; Bạch lộc động thư viện chí Q.4; Lô sơn chí Q.2].

lý cao

(李翱) Nho gia sống vào đời Đường, Trung quốc, đệ tử của Thiền sư Dược sơn Duy nghiễm, người quận Triệu (Ninh phổ, Hà bắc) hiệu là Tập chi. Ông từng làm quan đến các chức: Bác sĩ Quốc tử giám kiêm Quốc sử tu soạn, Hộ bộ thượng thư, Tiết độ sứ Đông đạo Sơn nam. Tuy học văn với ông Hàn dũ – người chủ trương bài Phật, nhưng Lí cao lại có tư tưởng Phật giáo rất sâu đậm, ông giải thích lại thuyết Tâm tính và nhờ bộ Phục tính thư mà ông được người đời kính trọng. Khi giữ chức Thứ sử Lãng châu, ông được gặp Thiền sư Duy nghiễm, đây là lần đầu tiên ông kết duyên với cửa Thiền. Từ đó, những lúc rảnh việc quan, ông thường đến tham phỏng các bậc tôn túc trong Thiền lâm, kết giao với chư tăng, cho nên trong Thiền giới rất nhiều người biết đến ông. Cứ theo chương Dược sơn Duy nghiễm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, thì có lần ông thưa hỏi ngài Duy nghiễm: Thế nào là đạo? Ngài Duy nghiễm đáp: Mây trên trời xanh, nước ở trong bình. Ông hoát nhiên khai ngộ. Đây chính là công án Lí cao vấn đạo. Sau khi tạ thế, ông được đặt thụy hiệu làVăn. Tác phẩm của ông gồm có: Luận ngữ bút giải, Ngũ mộc kinh, Lí văn công tập. [X. chương Thứ sử Lí cao trong Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Cựu đường thư Q.160; Tân đường thư Q.177].

lý chí

(李贄) (1527-1602) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Minh, người Tấn giang (Hạ môn, Phúc kiến), tự là Trác ngô. Đầu năm Vạn lịch, ông làm quan Tri phủ Diêu an, bẩm tính cao thượng, thông hiểu cả Phật và Nho, nhưng lại hướng về Không tông, thường chất vấn các ông Vương long khê, La cận khê, v.v..., vạch ra chỗ tình chấp sai trái của các nhà Nho. Lúc ở Diêu an, ông thích giao du với các vị tăng và thường làm việc quan ở chùa, sau ông vào ẩn trong núi Kê túc để xem Đại tạng, không ra ngoài nữa, vì thế ông bị buộc phải giải nhiệm. Trong thời gian ở Hoàng an, Ma thành, ông cạo tóc xuất gia, lên tòa thuyết pháp, nổi tiếng một thời, rất nhiều người đến qui y. Nhưng vì ông chỉ sùng tín Phật giáo, nên bị sĩ phu đương thời bất mãn, vu cáo ông là tả đạo. Sau, ông lên miền Bắc, đến Thông châu, bị quan địa phương là Trương vấn đạt bắt tội, cho rằng ông làm nhục Khổng tử. Vua ra lệnh bắt ông giam vào ngục. Ông không khuất phục, tự thắt cổ chết, thọ 76 tuổi. Ông có các tác phẩm: Tạng thư, Cửu chính dịch nhân. [X. Minh sử Q.221; Minh sử cảo Q.284]. LÍ CHÍ THƯỜNG (?-1256) Đạo sĩ người Trung quốc, sống vào đời Nguyên, tổ thứ 7 của phái Toàn chân thuộc Đạo giáo, tự là Hạo nhiên, hiệu là Chân thường tử. Ông là đệ tử của Trường xuân Chân nhân Khưu xử cơ, từng theo thầy Tây du, tác phẩm Trường xuân Chân nhân Tây du kí của ông là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu về địa lí đương thời. Sau khi kế nghiệp Doãn chí bình làm giáo tổ, trong vòng 6 năm tại chức, Lí chí thường đã tích cực mở rộng phạm vi hoạt động của giáo phái Toàn chân đến nỗi đưa đến cuộc đối kháng kịch liệt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Năm Hiến tông thứ 5 (1255), Khưu xử cơ và Lí chí thường cầm đầu đồ chúng đi chiếm chùa Phật, phá tượng Phật và hủy hoại cả Khổng miếu. Đồng thời, ấn hành kinh Thái thượng hỗn nguyên thượng đức hoàng đế minh uy hóa hồ thành Phật và Lão tử bát thập nhất hóa đồ. Ngài Phúc dụ, trụ trì chùa Thiếu lâm, dâng biểu tâu vua nói lên sự sai trái của nhóm Đạo sĩ này, vua Hiến tông liền ra lệnh cho Đạo sĩ Chí thường đối luận với ngài Phúc dụ, Chí thường bị đuối lí. Năm sau (1256), Chí thường qua đời. Năm Chí nguyên 18 (1281), chỉ trừ Đạo đức kinh, còn toàn bộ sách vở của Đạo giáo đều bị đốt hết. Đạo giáo thực sự gặp 1 đại nạn do chính những Đạo sĩ thiển cận gây nên. [X. Biện ngụy lục Q.3; Cam thủy tiên nguyên lục Q.4; Đại tông sư chân thường chân nhân đạo hạnh bi].

lý chướng

Chướng ngại gây nên bởi căn bản vô minh hay có tà kiến về chân lý làm trở ngại cho chánh tri kiến, ngược lại với sự chướng—Hindrances to truth—Hindrance caused by incorrect views of truth—Noumenal hindrances, in contrast with phenomenal hindrances (sự chướng). ** For more information, please see Nhị Chướng. Lý Có Đốn Tiệm, Sự Chỉ Từng Bước Và Từ Từ: Although noumenon can be understood in a flash (suddenly) or gradually, cultivation should only be practiced step by step and little by little. ; (理障) Đối lại: Sự chướng. Một trong 2 chướng. Chỉ cho sự mê lí, như vô minh căn bản, tà kiến, v.v... hay làm chướng ngại sự thấy biết chân chính, nên không thông suốt được bản giác chân như. [X. kinh Viên giác Q.hạ]. (xt. Nhị Chướng).

lý công lân

(李公麟) (1049-1134) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thư châu, tỉnh An huy, tự Bá thời, hiệu Long miên cư sĩ. Năm Nguyên hựu (1086-1094) ông đỗ Tiến sĩ, khoảng năm Nguyên phù (1098- 1100), ông được phong chức Ngự sử đại phu. Ông học rộng, thích khảo cổ, biết nhiều chữ lạ, giỏi thơ văn. Những đồ cổ như chuông, đỉnh từ đời Hạ, Thương đến nay, ông đều có thể khảo xét phân biệt rành rẽ. Ông cũng giỏi về hội họa, ông vẽ tranh sông núi, tượng Phật, người và vật rất sống động, có thể xem như đã đạt được tâm pháp của các nhà danh họa Ngô đạo tử, Lí tư huấn. Về già, ông qui y Phật, nguyện giữ giới, tu Thiền pháp và Tịnh độ, ẩn cư nơi Long miên sơn trang, ông thường đàm đạo với bậc cao tăng và kết đoàn niệm Phật. Năm Thiệu hưng (1134), biết trước giờ lâm chung, ông đem cho hết của cải, viết kệ xong, ngồi niệm Phật mà đi, thọ 86 tuổi. Ông để lại rất nhiều các bức tranh thủy mặc, được các họa gia đời sau xem là khuôn mẫu.

lý cương

(李綱) (1083-1140) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thiệu vũ (thuộc tỉnh Phúc kiến), tự Bá kỉ, hiệu Lương khê. Năm Chính hòa thứ 2 (1112), ông thi đỗ Tiến sĩ, sau làm quan đến các chức: Giám sát ngự sử, Binh bộ thị lang, Khu mật sử, v.v... Khi 2 nước Tống (Trung quốc) và Kim đối đầu, vì ông cực lực chủ chiến nên bị bãi chức và đày đi xa. Khi nhà Tống dời về phương Nam, thì vua Cao tông triệu ông về giữ chức Tể tướng. Ông là người thông suốt Nho học, giỏi văn chương thi phú, ông cũng rất kính tin Phật pháp, gần gũi các Thiền sư Phù dung Đạo khải, Đại tuệ Tông cảo, v.v..., ông đặc biệt hâm mộ giáo pháp Hoa nghiêm, từng so sánh Chu dịch với Hoa nghiêm mong tìm ra điểm tương đồng giữa 2 luồng tư tưởng. Vì ông có chủ trương hợp nhất Nho và Phật nên thường xảy ra sự tranh cãi giữa ông và các ông Chu hi (1093-1163), Trương tái là những người có tư tưởng bài Phật. Ông có các tác phẩm: Dịch truyện nội thiên 10 quyển, Dịch truyện ngoại thiên 12 quyển, Luận ngữ tường thuyết 10 quyển. [X. Phật tổ thống kỉ Q.47; Thích thị kê cổ lược Q.4].

lý cụ

Lý thể pháp tính của vạn hữu trong “Thâm Mật” Thiên Thai, đối lại với sự tạo của Thiên Thai Hiển Tông—Wholly noumenal, or all things as aspects of the absolute, a doctrine of the T'ien-T'ai “profounder” school, in contrast with the T'ien-T'ai “shallower” school, which considered all things to be phenomenally produced. ** For more information, please see Tánh Cụ.

lý cụ sự tạo

(理具事造) Lí cụ, chỉ cho bản tính như thực sẵn có trước trời đất, cũng gọi Bản cụ, Lí tạo, Tính cụ, Tính đức. Tính sẵn có này tùy theo nhân duyên hiển hiện mà tạo ra các hiện tượng, thì gọi là Sự tạo, cũng gọi là Biến tạo, Sự dụng, Tu khởi, Tu đức, Tu cụ. Tông Thiên thai cho rằng trong 1 tâm niệm có đủ 3 nghìn pháp, đây là thuyết Nhất niệm tam thiên. Bản tính của tâm viên mãn đầy đủ vạn hữu, gọi là Lí cụ tam thiên, Lí tạo tam thiên, Tính cụ tam thiên. Lí này thường tùy nhân duyên mà tạo thành thế giới hiện tượng với muôn vàn sự tướng sai biệt, gọi là Sự tạo tam thiên, Sự dụng tam thiên, Biến tạo tam thiên, Tu cụ tam thiên. Hợp chung cả lí và sự trên đây, thì gọi là Lí sự tam thiên, cũng gọi Lưỡng trùng tam thiên, Lưỡng chủng tam thiên. Sự lí này theo thứ tự biểu thị thể và dụng của các pháp. Nhưng trong tất cả các pháp đều có đủ 3 nghìn pháp, xưa nay không thiếu, cho nên Lí cụ và Sự tạo tên tuy khác nhau, nhưng cả 2 chỉ là 1 thể. (xt. Sự Lí Tam Thiên).

lý cụ tam thiên

Muôn vật đều có đủ tam thiên chư pháp, gọi là lý cụ tam thiên—The things of a great chiliocosm considered as noumenal throughout, or all dharmakaya.

lý cụ thành phật

(理具成佛) Gọi đủ: Lí cụ tức thân thành Phật. Ngay nơi tự tâm của tất cả chúng sinh đều có đầy đủ lí thể của Mạn đồ la thuộc 2 bộ Kim cương và Thai tạng. Lí thể này vượt ra ngoài nhân quả, tự nhiên đầy đủ, gọi là Lí cụ tức thân thành Phật, là 1 trong 2 loại Tức thân thành Phật do tông Chân ngôn Nhật bản thành lập. (xt. Tức Thân Thành Phật).

lý do

Reason—Cause.

lý dẫn đến sự

Doctrine or theory leads to practice.

lý giáo

(理教) I. Lí Giáo. Đối lại với Sự giáo. Chỉ cho Thông giáo và Viên giáo trong 4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai thành lập.Tông Thiên thai dựa vào phạm vi giải thích về Sự và Lí mà chia tam giới (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc) làm 2 phần là Giới nội và Giới ngoại. Thông giáo nói rõ lí Nhân duyên tức không nên gọi là Giới nội lí giáo; còn Viên giáo chủ trương lí Viên mãn dung tức nên gọi là Giới ngoại lí giáo. II. Lí Giáo. Một giáo phái ở Trung quốc do tiến sĩ Dương trạch sáng lập vào đầu đời Thanh. Mới đầu gọi là Tại lí giáo. Giáo nghĩa của giáo phái này do dung hợp nghĩa lí của 3 giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, thờ bồ tát Quan thế âm của Phật giáo và tôn Ngài là Thánh tông cổ Phật hoặc Lão Phật gia. Giáo nghĩa chủ yếu là bảo tồn thiên lí (lí tự nhiên), phụng thờ chân lí, tôn sùng luân lí, thực hành đạo trung hiếu, tín đồ phải giữ 5 giới: Tà dâm, trộm cắp, hút thuốc, nói dối, uống rượu. Từ khi được sáng lập, giáo phái này đã từng trải qua những lúc hưng suy, chủ yếu lưu hành ở miền Bắc Trung quốc nhưng thường bị coi là Bạch liên giáo dưới hình thức khác, cho nên đã bị cấm. Năm Dân quốc 38 (1949), Tổng lãnh Chính (người chủ trì) của giáo phái này là ông Triệu đông thư khôi phục giáo này ở Đài loan, sáng lập Lí giáo tổng công sở, Thanh tâm đường công sở và Thánh lí học viện...

lý giới

Lý giới đối lại với trí giới—The realm of fundamental principles or law, in contrast with the realm of knowledge (Trí giới).

lý hiến thành

(李憲誠) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, đệ tử của ngài Bất không. Ông được ngài Bất không truyền trao pháp Phổ hiền và vâng mệnh vua hộ trì sự nghiệp dịch kinh hoằng pháp của Thầy. Ngài Bất không trao cho ông những pháp khí của Mật giáo như: Yết ma bằng bạc, chày Kim cương, bánh xe, v.v... Khoảng năm Đại lịch thứ 6 đến thứ 10 (771- 775), nhờ ông tâu xin nên vua Đại tông đã ban lương thực cho đạo tràng truyền giới Phương đẳng ở chùa Đại hưng thiện và ban sắc cho đưa vào tạng các kinh điển do ngài Bất không phiên dịch. Sau khi ngài Bất không nhập tịch, ông lo liệu việc an táng và xây tháp thờ xá lợi của Ngài ở viện dịch kinh. Vua ban thụy hiệu cho ngài Bất không và tấm biển Văn Thù Các cho viện này, đồng thời, ra lệnh cho tăng ni trong nước đọc tụng Tôn thắng đà la ni. Năm Đại lịch 12 (777) ông dâng biểu tâu vua rằng sự hưng thịnh của Phật giáo là điềm tốt lành cho đất nước và năm sau ông dâng kinh Pháp hoa chữ viết bằng kim nhũ. [X. Bất không biểu chế tập Q.3-6].

Lý Hoa

(李華, Rika, ?-766?): tự là Hà Thúc (遐叔), xuất thân vùng Tán Hoàng (贊皇), Triệu Châu (趙州, Tỉnh Hà Bắc). Ông đậu Tiến Sĩ vào năm thứ 23 (735) niên hiệu Khai Nguyên (開元), rồi trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bảo (天寳, 742-755) ông làm Thị Ngự Sử và Lễ Sử Nhị Bộ Viên Ngoại Lang, và đến năm đầu (khoảng 766) niên hiệu Đại Lịch (大曆) thì qua đời. Trước tác của ông có Lý Hà Thúc Văn Tập (李遐叔文集). Ông có duyên sâu xa với Thiên Thai Học, thâm giao với nhiều vị cao tăng. Trong Tả Khê Đại Sư Bi (左溪大師碑) và Toàn Đường Văn (全唐文) 320, ông tự ghi mình là đệ tử của Ngưu Đầu Tông, môn hạ của Hạc Lâm Huyền Tố (鶴林玄素). Văn bia tháp ông viết có nhiều, hiện tồn rất ít như Nhuận Châu Hạc Lâm Tự Cố Kính Sơn Đại Sư Bi (潤州鶴林寺故徑山大師碑).

lý hoa

(李華) (715-766) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, người Tán hoàng, Triệu châu (tỉnh Hà bắc), tự Hà thúc, là đệ tử của Tam tạng Thiện vô úy. Khoảng những năm Khai nguyên, Thiên bảo, ông làm quan trong triều, thường bị kẻ dua nịnh ghen ghét. Thời loạn An lộc sơn, mẹ ông đang ở đất Nghiệp, ông đưa mẹ đi lánh nạn, nhưng không may bị bắt. Hết loạn, ông bị giáng chức làm Ti hộ tham quân Hàng châu; sau ông về ẩn tại Sơn dương, bảo các con em an phận nghèo và nỗ lực cày cấy để sống. Về già, ông kính tin Phật pháp, thờ ngài Thiện vô úy làm thầy, Ông rất giỏi văn chương, là tác giả bài Điếu cổ chiến trường (Thăm trận địa chiến tranh thủa xưa), từng đã làm mủi lòng không biết bao nhiêu người qua nhiều thời đại. Năm Khai nguyên 23 (735) ngài Tam tạng Thiện vô úy nhập tịch, ông soạn văn bia nói về hành trạng của Ngài. Đến niên hiệu Đại lịch năm đầu (766) thì ông cũng qua đời, hưởng dương 52 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Điếu cổ chiến trường, Lí Hà thúc văn tập 10 quyển. [X. Cựu đường thư Q.209; Tân đường thư Q.128].

lý hoặc

Những kiến hoặc như ngã kiến hay mê hoặc trước chân lý (cái hoặc vô minh căn bản che lấp các lý trung đạo, làm cho nó không sáng tỏ được là lý hoặc; kiến hoặc hay tư hoặc, hay cái hoặc trần sa có thể ngăn cản sự tướng hóa đạo, gọi là sự hoặc) thì gọi là lý hoặc, đối lại với sự hoặc hay mê hoặc trước sự tướng của thế gian—Illusions connected with principles—Illusion in regard to fundamental truth, i.e. the reality of the ego and things, in contrast with illusion in regard to things themselves.

lý hoặc luận

(理惑論) Gọi đủ: Mâu tử Lí hoặc luận. Cũng gọi: Mâu dung biện hoặc. Tác phẩm, 1 quyển, do Mâu tử bác (bản in đời Minh gọi là Mâu dung) soạn vào khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III, được thu vào Hoằng minh tập quyển 1 trong Đại chính tạng tập 52. Sách này được viết theo hình thức vấn đáp, nội dung tư tưởng nhằm luận chứng về giáo lí của Phật giáo và dung hòa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sau và là tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu về mối quan hệ tư tưởng giữa 3 giáo Nho, Phật, Đạo ở thời đại Ngụy Tấn Nam Bắc triều, đồng thời, là tư liệu có giá trị tham khảo đối với công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo truyền vào Trung quốc ở thời kì đầu. Về tác giả và niên đại soạn thuật sách này có nhiều thuyết khác nhau. Sách này được thu vào bộ Hoằng minh tập của ngài Tăng hựu, tác giả đề là Hán Mâu Dung soạn, rồi lại chua thêm: Có thuyết cho là Thương ngô Thái thú Mâu tử bác truyện. Nhưng Mâu dung là một nhà Nho sống vào thời vua Chương đế nhà Hán, căn cứ vào thân phận và thời đại của ông mà suy đoán, thì ông không thể là tác giả của sách Lí hoặc luận. Đã đành vậy, nhưng còn Mâu tử bác sống vào khoảng Đông Hán, Tào Ngụy, có phải là tác giả của sách này không? Về vấn đề này, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát. Còn về niên đại soạn thuật cũng có điểm ngờ. Theo sự khảo chứng của các học giả cận đại, như: Hồ thích, Chu thúc ca, Dư gia tích, Bá hi hòa (Pelliot), v.v... chủ trương sách này được soạn vào cuối đời Đông Hán (khoảng cuối thế kỉ II đầu thế kỉ III). Nhưng cũng có các học giả khác như: Lương khải siêu, Thường bàn Đại định, v.v... lại cho sách này là ngụy tác ở thời Tấn và Lưu Tống.

lý không

Sunyata-vada (skt)—The doctrine of emptiness.

Lý Kiêu

(李嶠, 644-713): thi nhân nhà Đường, tự là Cự Sơn (巨山), người vùng Tán Hoàng (贊皇), Triệu Châu (趙州, nay thuộc Hà Bắc [河北]). Năm lên 20 tuổi, ông thi đỗ Tiến Sĩ, đều làm quan suốt cả 4 triều Cao Tông (高宗, tại vị 649-683), Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705), Trung Tông (中宗, tại vị 683-710), Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường, làm đến chức quan Trung Thư Lệnh (中書令). Khi Tắc Thiên cho đúc trụ đồng có 8 góc, các sĩ thứ của triều đình đều dâng thơ lên, nhưng không ai có tài làm thơ như ông cả. Ông sánh ngang hàng với Tô Vị Đạo (蘇味道, 648-705), người bạn đồng hương, được gọi là Tô Lý (蘇李). Hơn nữa, ông cùng với Tô Vị Đạo, Thôi Dung (崔融, 653-706), Đỗ Thẩm Ngôn (杜審言, 648?-708), cả bốn người gọi là Văn Chương Tứ Hữu (文章四友). Thơ của ông được thâu lục vào trong bộ Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 60.

lý luận

Luận bàn sự bình đẳng của lý tính hay căn bản chân lý—Reasoning on, or Discussing of, principles, or fundamental truth. ** For more information, please see Sự Luận.

lý luận học

Logic.

lý luận nhị biên

Dualistic reasoning—Lý luận từ cái ta ý thức—Reasoning from I-consciousness.

lý môn

The philosophical teaching.

lý mạn đà la

Mạn Đà La của Thai Tạng Giới, làm hiển hiện cái đức của lý tính mà chúng sanh vốn có, đối lại với Trí Mạn Đà La là thuyết giảng trí tướng mới thành của Đức Như Lai—The noumenal mandala, i.e. the Garbhadhatuin contrast with the Vajradhatu mandala.

lý mạn đồ la

(理曼荼羅) Đối lại: Trí mạn đồ la. Chỉ cho Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Trong Mạn đồ la của 2 bộ Kim cương, Thai tạng, thì Mạn đồ la Kim cương giới biểu thị cho trí đức do tu hành mà phát sinh, còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì biểu thị cho lí đức sẵn có, vì thế nên gọi Mạn đồ la Kim cương giới là Trí mạn đồ la, mà gọi Mạn đồ la Thai tạng giới là Lí mạn đồ la.

lý nguyên tông

(李元琮) (?-776) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, đệ tử của Tam tạng Bất không. Ông làm quan đến các chức Quán tu công đức sứ, Tri quân sự thượng trụ quốc lương quốc công. Năm Thiên bảo 13 (754) tại Vũ uy, tỉnh Cam túc, ông được ngài Bất không truyền cho 5 bộ Quán đính, Kim cương giới đại mạn đồ la và trao cho các đạo cụ bằng bạc, chày Kim cương 5 chĩa, linh 3 chĩa, 1 chĩa, v.v... Ông theo học ngài Bất không hơn 30 năm, từng đến Hà tây, Nam hải hỏi đạo, đích thân cúng dường 2 chùa Tịnh ảnh và Hồng lô. Tháng 6 năm Đại lịch thứ 9 (774), ngài Bất không thị tịch, ông vâng mệnh vua trông coi việc an táng, rồi xây tháp thờ ngài Bất không tại viện dịch kinh chùa Hưng thiện. Tháng 11 năm Đại lịch 11 (776) ông mất. [X. Bất không biểu chế tập Q.3; Phó pháp truyện Q.hạ].

lý ngạn

(俚諺) Những tục ngữ và ngạn ngữ có quan hệ với Phật giáo được lưu hành trong dân gian. Có nhiều loại: - Các câu có xuất xứ từ kinh điển Phật giáo, như: Bần giả nhất đăng (một ngọn đèn của người nghèo), Nhập bảo sơn không thủ nhi qui (vào núi báu mà về tay không), Sư tử thân trung trùng (trùng trong mình sư tử), Không hoa thủy nguyệt (Hoa giữa hư không, trăng dưới đáy nước)... - Lấy lời nói trong kinh Phật rồi hơi thay đổi mà thành, như: Tự thằng tự phược (tự ràng tự buộc), Vô thằng tự phược (không dây mà tự trói mình)... - Những câu lấy ý từ kinh Phật, như: Long đầu xà vĩ (đầu rồng đuôi rắn)... - Những câu lấy từ sách ngoài làm câu của Phật giáo, như: Cách tường hữu nhĩ (cách vách có tai), Lũy noãn chi nguy (nguy như trứng chồng lên nhau), v.v... [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.6; Bích nham lục tắc 10; Tục truyền đăng lục Q.8; Thiền lâm bảo huấn Q.4]. (xt. Phật Giáo Ngạn Ngữ Lí Ngữ).

lý nhân duyên

Pratitya-samutpada (skt)—Đây là danh từ dùng cho Thập Nhị Nhân Duyên. Mọi vật trong thế giới hiện tượng, duyên khởi duyên sanh, là sự phối hợp của những nguyên nhân và điều kiện khác nhau (bởi Thập Nhị nhân duyên). Chúng hiện hữu tương đối và không có thực thể—Dependent Origination—A commonly accepted term for Twelve Nidanas—Interdependent origination—Dependent causation—Conditioned co-arising or co-production—All things in the phenomenal world are brought into being by the combination of various cause and conditions (Twelve links of Dependent Origination), they are relative and without substantially or self-entity.

lý nhập

Một trong hai nhập tùy thuộc lẫn nhau. Đi vào giáo thuyết hay lý luận thì gọi là lý nhập, đối lại với dực vào lý mà tu hành (hành nhập)—Entry by the truth or by means of the doctrine, or reason, in contrast with entry by conduct or practice, one of the two kinds of entry which are depending on one another. ** For more information, please see Nhị Nhập. ; (理入) Đối lại: Hạnh nhập. Tin sâu lí phàm thánh nhất như, không hề nghi ngờ. Cứ theo chương Bồ đề đạt ma trong Lăng già sư tư kí, thì Lí nhập là nhờ giáo nghĩa mà ngộ được tâm tông, tin một cách sâu sắc rằng chúng sinh phàm thánh đều cùng 1 chân tính, nhưng vì khách trần phiền não ngăn che, nên không thể hiển ra được. Nếu có thể bỏ vọng về chân, lắng tâm quán xét, không thấy có mình, có người, phàm thánh đồng nhất, kiên cố không dời đổi, không theo ngôn giáo, văn tự, như vậy tức thầm hợp với chân lí, không còn phân biệt, vắng lặng vô vi, gọi là Lí nhập. [X. kinh Kim cương tam muội Q.thượng]. (xt. Nhị Thập Tứ Hạnh).

lý pháp giới

Một trong bốn pháp giới, chúng sanh tuy có sai biệt về sắc thân nhưng đều cùng một thể tính—One of the four dharma-realms, that of the common essence or dharmakaya of all beings. ** For more information, please see Tứ Pháp Giới. ; (理法界) Muôn vật đều cùng 1 lí tính, chân như bình đẳng không sai biệt, là 1 trong 4 pháp giới do tông Hoa nghiêm thành lập. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.1; Hoa nghiêm pháp giới huyền kính]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).

lý pháp thân

Lý Pháp Thân là Phật tánh tuyệt đối trong lý thuyết hay lý thể được chứng, đối lại với “Sự Pháp Thân.”—The Dharmakaya as absolute being, in contrast with the Dharmakaya as wisdom—The Buddha-nature in principle or essence or the truth, in contrast with the Buddha-nature in practice (Sự pháp thân). ** For more information, please see Sự Pháp Thân.

lý phân biệt

Yuktivikalpa (skt)—Lý luận về sự hiện hữu của một cái ngã—Reasoning as to the existence of the ego.

lý phật

1) Tên khác của Pháp thân (báo thân và hóa thân là sự Phật): The fundamental or intrinsic Buddha, i.e. the Dharmakaya. 2) Lý Tức Phật do tông Thiên Thai lập ra, ngay cả chúng sanh trong tam ác đạo cũng có đủ lý pháp tính như Phật vậy: The T'ien-T'ai doctrine of Buddha as immanent in all beings, even those of the three lowest orders. 3) Tố Pháp Thân hay pháp thân chưa phát triển: The plain, or undeveloped Dharmakaya.

lý phật tính

Lý thể của Phật tính là lý tính Phật, đối lại với “Hành Phật Tính” hay hành nghiệp có thể triển khai phát huy Phật tính—The fundamental Buddha-nature in contrast with the Buddha-nature in action or development. ** For more information, please see Nhị Phật Tánh.

lý quán

1) Khái niệm chân lý tuyệt đối: The concept of absolute truth. 2) Sự tập trung tư tưởng vào chân lý: The concentration of the mind upon reality. 3) Suy tưởng về tánh chân lý: Contemplation (meditation) on the real or underlying nature. ** For more information, please see Nhị quán.

lý sám sự sám

(理懺事懺) Lí sám và Sự sám. Sám hối được chia làm 2 là: Lí sám và Sự sám. 1. Lí sám, cũng gọi là Quán sát thực tướng sám hối: Tất cả tội nghiệp đã gây ở quá khứ và hiện tại đều do tâm khởi, cho nên, nếu biết rõ tâm tính mình vốn vắng lặng, thì hết thảy tướng tội phúc cũng đều vắng lặng. Quán xét lí thực tướng như thế để diệt trừ tội nghiệp, gọi là Lí sám. 2. Sự sám, cũng gọi Tùy sự phân biệt sám hối: Thân cung kính lễ bái, miệng tụng niệm tán thán, ý quán tưởng Phật Bồ tát, bày tỏ tất cả tội lỗi do 3 nghiệp gây nên trong quá khứ và hiện tại, gọi là Sự sám. Thích Thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 2, Duy ma kinh văn sớ quyển 15 và Kim quang minh kinh văn cú kí quyển 3, căn cứ vào giáo thuyết của Đại thừa, Tiểu thừa mà chia sám hối làm 3 loại là: Tác pháp sám hối, Thủ tướng sám hối và Vô minh sám hối, trong đó, Tác pháp, Thủ tướng sám hối thuộc về Sự sám, còn Vô minh sám hối thì thuộc về Lí sám. [X. Ma ha chỉ quán Q.2 thượng]. (xt. Sám Hối).

lý sư chính

(李師政) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, ngườiThượng đảng (Trường trị, Sơn tây), là đệ tử của ngài Pháp lâm chùa Tế pháp. Khoảng năm Vũ đức (618-626) đời vua Cao tổ nhà Đường, Đạo sĩ Phó dịch đang giữ chức Thái sử nhiều lần tâu lên vua kiến nghị hủy diệt Phật pháp, đã đưa đến cuộc tranh luận kịch liệt giữa Phật giáo và Đạo giáo. Vì thế, Lí sư chính mới soạn Nội đức luận, gồm 3 thiên: Biện hoặc, Thông mệnh và Không hữu để nói rõ về sự lợi ích của Phật pháp đối với quốc gia và vạch ra những sai lầm của Phó dịch. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Quảng hoằng minh tập Q.14; luận Tam giáo bình tâm Q.thượng].

lý sự

• Lý và sự: Noumenal and phenomenal aspect. • Nguyên tắc và thực hành: Principle and practice. • Chân đế và tục đế: Tuyệt đối và tương đối—Absolute and relative. • Chân lý và kinh nghiệm thực tiển: Real and empirical. • Nhân quả: Cause and effect. • Tinh túy cơ bản và hoạt động bên ngoài: Fundamental essence and external activity. • Tiềm năng (khả năng) và thực lực: Potential and actual. • Sự tàng chứa và sự phân phối: Store and distribution. • Đại dương và sóng biển: Ocean and wave. • Tĩnh và động: Static and kinetic. • Theo nghĩa thông dụng trong đạo Phật, thì “lý” tức là Không, còn “sự” tức là sắc, hay hình thể sắc tướng: In Buddhist philosophy, “lý” corresponds to “Sunyata,” while “Sự” corresponds to “form.” • For more information, please see Lý, and Sự.

lý sự viên dung

Lý Sự viên dung vì Sự cũng chính là Lý và trong Sự đã có Lý hiện hữu rồi. Phật tử thuần thành chúng ta phải tinh chuyên tu hành sao cho Lý Sự Viên Dung, chớ không nên chấp Lý bỏ Sự, và cũng không nên chấp Sự bỏ Lý hay không thâm nhập và tận hiểu về phần lý thuyết. Sự tức là phần tướng, còn Lý tức là phần Chân Như hay Phật Tánh—Theory and Practice are in harmony because practice is theory and in practice there already exists theory. We, sincere Buddhists, should diligently cultivate so that both Theory and Practice are in harmony. Thus, do not get stuck in Theory or theoretical teachings and abandon Practice. Similarly, one should not apply only the Practice but not penetrate and understand Theory. Practice belongs to form or appearance; while Theory belongs to Emptiness or True Nature, or Buddha-Nature—See Tứ Pháp Giới (3).

lý sự vô ngại

Lý sự (nguyên tắc và thực hành) tác động lẫn nhau một cách vô ngại—Unimpeded interaction of noumenon and phenoumenon, principle and practice, etc (no barrier in either of the two)—See Tứ Pháp Giới (3).

lý sự vô ngại quán

(理事無礙觀) Pháp quán Lí sự bình đẳng vô ngại. Lí là tính của Nhất chân pháp giới, Sự là tướng của hết thảy thế gian. Tức là quán lí tính bình đẳng và sự tướng sai biệt hiển nhiên tồn tại, cả 2 tuy có thể hòa nhập vào nhau, thành tựu cho nhau, tổn hại lẫn nhau, tức là nhau, chẳng phải nhau, nhưng viên dung vô ngại. Là pháp giới Lí sự vô ngại trong 4 pháp giới. Cứ theo Hoa nghiêm pháp giới quán môn, thì Lí sự vô ngại quán có 10 môn: 1. Lí biến ư sự môn: Lí không có giới hạn, sự thì có sai biệt, nhưng trong mỗi sự đều hàm có lí. 2. Sự biến ư lí môn: Trong lí đã có sự thì trong sự cũng có lí, sự tuy có sai biệt, nhưng lí thì vô hạn, vì thế 1 mảy bụi cũng có thể trùm khắp pháp giới. 3. Y lí thành sự môn: Sự do duyên sinh khởi, không có thể riêng, phải nương vào lí mới được thành lập; đây là sự do lí mà thành. 4. Sự năng hiển lí môn: Sự là hư giả, lí là chân thực, cho nên lí trong sự hiển hiện rõ ràng, đây là lí do sự mà hiển lộ. 5. Dĩ lí đoạt sự môn: Sự do lí mà thành, khiến cho sự tướng đều mất, chỉ còn 1 chân lí bình đẳng hiển hiện. 6. Sự năng ẩn lí môn: Chân lí tùy duyên mà thành các sự tướng, do đó, sự hiển hiện mà lí thì ẩn kín, như pháp thân của chư Phật ẩn trong thân chúng sinh. 7. Chân lí tức sự môn: Chân lí không ở ngoài sự, toàn thể lí đều là sự. 8. Sự pháp tức lí môn: Sự do duyên khởi, không có tự tính, cho nên toàn thể sự tức là chân lí. 9. Chân lí phi sự môn: Lí là chỗ nương của sự, nhưng chẳng phải là sự, vì lí dứt tuyệt các tướng, nên không phải là sự. 10. Sự pháp phi lí môn: Sự là năng y chứ không phải sở y, sự có sai biệt, tính và lí khác nhau, cho nên sự chẳng phải là lí. Trong 10 môn trên, hai môn đầu sự và lí nhập vào nhau, môn 3, 4 là sự và lí thành tựu cho nhau, môn 5, 6 sự và lí tổn hại lẫn nhau, môn 7, 8 sự và lí tức là nhau, môn 9, 10 sự và lí chẳng phải là nhau. Nghĩa của 10 môn này tuy chỉ thú không giống nhau, nhưng thuận nghịch tự tại vô ngại, là pháp duyên khởi đồng nhất, sinh khởi đồng thời. [X. chú Hoa nghiêm pháp giới quán môn; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.2; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10; Hoa nghiêm pháp giới huyền kính]. (xt. Tam Trùng Quán Môn, Tứ Pháp Giới).

lý thiền

Vô lậu định hay thiền định tập trung chân lý tuyệt đối, thoát khỏi mọi hiện tượng nhiễm trược—The dhyana of or concentration on absolute truth free from phenomenal contamination.

lý thiền sự thiền

(理禪事禪) Lí thiền và Sự thiền. Lí thiền, cũng gọi Lí định, là Thiền định vô lậu, đã dứt sạch phiền não vọng tưởng. Trái lại, Sự thiền là Thiền định hữu lậu. Thiên thai tứ giáo nghi tập giải quyển trung (Vạn tục 102, 42 thượng), nói: Nên biết người tu 6 độ trải qua 3 A tăng kì cũng chỉ được sự thiền, sự trí mà thôi; ngay đến người dưới gốc cây ngộ đạo cũng phải duyên theo Lí thiền. Hoặc như luận Câu xá nói, người tu hành đã đoạn trừ Bát địa hoặc, nhưng còn Đính hoặc chưa đoạn, thì cũng chỉ được trí hữu lậu thôi.

lý thiện

(理善) Đối lại với Sự thiện. Điều thiện sâu xa mầu nhiệm khi diệt trừ được Lí hoặc. Dựa vào sự sâu cạn tương đối mà chia làm Sự và Lí. Như bỏ việc ác là cái thiện thiển cận, gọi là Sự thiện; diệt lí hoặc (mê lí) là điều thiện sâu xa vi diệu, gọi là Lí thiện. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5, đem chia 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên làm Sự thiện, Lí thiện của giới nội và Sự thiện, Lí thiện của giới ngoại, trong đó, Thông giáo là Lí thiện giới nội, Viên giáo là Lí thiện giới ngoại. (xt. Nhị Thiện).

lý thuyết

Academic theories.

lý thuỵ sảng

(李瑞爽) (1931- ) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Cát lâm, pháp danh Giác lãng, hiệu Tịch quang. Ông tốt nghiệp tại trường Đại học Đông kinh, Nhật bản. Sau đó ông du học Mĩ quốc và đạt được học vị Tiến sĩ Triết học tại trường Đại học Harvard, sau đó ông giảng dạy tại nhiều Đại học ở nước Mĩ. Trong thời gian này, ông đem sinh hoạt Thiền viện với xã hội làm đề tài giới thiệu văn hóa Trung quốc. Ông nghiên cứu rất sâu về tiếng Phạm và tôn giáo tỉ giảo học, nhất là về triết học Ấn độ và tư tưởng Trung quán. Ông có các tác phẩm: Tiểu thừa Niết bàn, Phật học chân tủy, Thiền viện sinh hoạt dữ Trung quốc xã hội, Bách trượng thanh qui nghiên cứu...

lý thân lý độ

Pháp thân trong tam thân an trụ và pháp thân nơi pháp thân, thí dụ như pháp thân Phật Tỳ Lô Giá Na trong ánh thường quang—The dharmakaya in the dharma-ksetra, e.g. the spiritual Vairocana in the eternal light.

lý thông huyền

(李通玄) (635-730) Học giả Hoa nghiêm Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thương châu (huyện Thương, Hà bắc), dòng dõi vua chúa. Ông bẩm tính thông minh, tinh thông cả Nho và Phật, ông thích nơi rừng núi, xa lánh sự ồn ào của thành thị. Năm Khai nguyên thứ 7 (719), ông ở ẩn trong căn nhà bằng đất trong núi Thọ dương phương thuộc phủ Thái nguyên, chuyên tâm nghiêm cứu kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới). Suốt mấy năm ở trong núi, hằng ngày ông chỉ dùng quả táo và lấy lá cây bách làm thức ăn, nên người đời gọi ông là Tảo bách Đại sĩ. Tháng 3 năm Khai nguyên 18 (730), ông ngồi trong khám thất mà hóa, thọ 96 tuổi. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu: Hiển Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả. Ông để lại các tác phẩm: Tân Hoa nghiêm kinh luận, 40 quyển, Hoa nghiêm kinh hội thích luận, 14 quyển, Lược thích tân Hoa nghiêm kinh tu hành thứ đệ quyết nghi luận, 4 quyển, Lược thích, 1 quyển, Thích giải mê hiển trí thành bi thập minh luận, 1 quyển, Thập huyền lục tướng, Bách môn nghĩa hải, Phổ hiền hành môn, Hoa nghiêm quán. [X. Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận tự cập hậu kí; Hoa nghiêm kinh hợp luận quyển thủ Lí trưởng giả sự tích; Hoa nghiêm luận tiết yếu quyển mạt hành trạng; Tống cao tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.40; Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Đường Lí trưởng giả Thông huyền hành tích kí; Chiêu hóa tự thiếp; Chiêu hóa tự Lí trưởng giả khám kí (3 bộ trên được thu vào Kim thạch tục biên Q.17)].

lý thú

Interesting.

lý thú hội

(理趣會) Hội ở phía tây bắc trong 9 hội Mạn đồ la thuộc Kim cương giới, Mật giáo. Hội này là hình thức của Nhất ấn Mạn đồ la. Kinh Hiện chứng tam muội đại giáo vương quyển 8, chỉ ghi có hội Nhất ấn của Kim cương tát đỏa. Đại nhật Như lai là tổng đức của quả vị, còn Kim cương tát đỏa là tổng đức của nhân vị, cả 2 chỉ khác nhau về phương diện nhân và quả, cho nên trong 9 hội Mạn đồ la có vẽ Nhất ấn Mạn đồ la của 2 tôn vị này. Nhất ấn Mạn đồ la của Đại nhật Như lai, gọi là Nhất ấn hội, còn Nhất ấn mạn đồ la của Kim cương tát đỏa thì gọi là Lí thú hội. Bản tôn của hội này là Kim cương tát đỏa, ngồi ở chính giữa, phối với 4 vị Bồ tát ở 4 phương là Dục, Xúc, Ái, Mạn cùng với 8 vị Bồ tát Cúng dường và 4 Nhiếp bồ tát... cộng chung là 17 vị tôn. [X. Thập bát hội chỉ qui].

lý thú kinh

(理趣經) Cũng gọi: Bát nhã lí thú kinh. Gọi đủ: Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không (Phạm: Amoghavajra) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này tương đương với phần Lí thú của kinh Bát nhã, tức là hội thứ 10 trong 16 hội Bát nhã của kinh Đại bát nhã quyển 578.Lí thú hàm ý là chỉ thú của đạo lí, do Trí pháp thân của Đại nhật Như lai nói cho bồ tát Kim cương tát đỏa (Phạm:Vajrasattva) nghe về cái lí thanh tịnh của Bát nhã lí thú. Trí pháp thân là trí cùng tận của thủy giác, khế hợp với lí bản giác thanh tịnh, mà hiển bày trí Thân tâm nhất như. Kim cương tát đỏa biểu thị cho nhân vị của Đại nhật Như lai, là tính Phật sẵn có của chúng sinh bắt đầu hiển phát, tức chúng sinh mới phát tâm bồ đề đều gọi là Kim cương tát đỏa. Đây là thuyết minh ý nghĩa cùng tột của Mật giáo. Kinh này có 5 bản dịch khác nhau: Kinh Tối - Bát nhã lí thú phần, 1 quyển, là hội thứ 10 trong kinh Đại bát nhã ba la mật, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. - Kinh Thực tướng bát nhã ba la mật, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường. - Kinh Kim cương đính du già lí thú bát nhã, 1 quyển, do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường. - Kinh Biến chiếu bát nhã ba la mật, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống. - Thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo. - Vương, 7 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Trong 5 bản dịch trên, 4 bản trước đại khái giống với bản dịch của ngài Bất không, còn bản dịch của ngài Pháp hiền thì quá dài. Kinh này cũng có nhiều kinh biệt sinh. Trong 17 chương nội dung, thì kinh biệt sinh của chương thứ 1 có 6 bộ: Đại lạc quĩ, Lược xuất quĩ, Lí thú hội quĩ, Phổ hiền quĩ, Phổ hiền Kim cương tát đỏa niệm tụng nghi, Kim cương đính Phổ hiền du già đại giáo vương kinh đại lạc bất không kim cương tát đỏa nhất thiết thời phương thành tựu nghi... đều lấy 17 câu thanh tịnh trong chương thứ 1 làm Bồ tát để nói về thứ tự tụng niệm cúng dường các vị Bồ tát này. Ngoài ra, Lí thú kinh thập thất tôn nghĩa thuật, cũng lấy 17 câu thanh tịnh làm Bồ tát để nói về bản thệ của các Ngài. Kinh Biệt sinh của chương 17 có Ngũ bí mật nghi. Kinh này đem 17 vị tôn nói trong chương thứ 1 xếp vào với 5 vị Bồ tát là Kim cương tát đỏa, Dục, Xúc, Ái, Mạn để thuyết minh về phương pháp tu hành niệm tụng. Trong các kinh quĩ của Mật giáo, kinh Lí thú đặc biệt được coi trọng. Không những trong các nghi thức hồi hướng, chú nguyện thành tựu, mà ngay cả khi cử hành các pháp hội, kinh này cũng thường được đọc tụng. Trong Mạn đồ la Kim cương giới cũng lấy 17 câu thanh tịnh làm 17 vị Bồ tát để tôn trí trong hội Lí thú.

lý thú kinh mạn đồ la

(理趣經曼荼羅) Cũng gọi Lí thú thích mạn đồ la. Mạn đồ la được vẽ theo nội dung kinh Lí thú. Tức là Mạn đồ la dựa theo Lí thú thích mà vẽ 17 đoạn trong kinh Lí thú, rồi cộng thêm hội Lí thú nữa mà thành là Mạn đồ la 18 hội.

lý thú kinh pháp

(理趣經法) Các pháp tu Diệt tội, Tức tai, Kính ái, v.v... thờ Mạn đồ la kinh Lí thú làm bản tôn.Về bản tôn của các pháp này, có nhiều thuyết khác nhau, hoặc thờ Ngũ bí mật làm bản tôn, hoặc lấy bản tôn của các đoạn, hoặc thờ bồ tát Bát nhã, hoặc thờ Đại nhật Như lai trong đoạn thứ 1 làm bản tôn. [X. Đại lạc kim cương tát đỏa nghi quĩ; Bí sao Q.6].

lý thú tam muội

(理趣三昧) Trong nghi thức đọc tụng kinh Lí thú, hành giả phải định tâm yên tĩnh, không để tán loạn. Đọc tụng kinh Lí thú trong trạng thái tinh thần định tĩnh như vậy, gọi là Lí thú tam muội. Ngoài ra, Lí thú tam muội thuộc về lễ sám (bái sám), nên còn gọi là Lí thú lễ sám. Nghi thức lễ sám chia làm 2 loại: - Hiển hành: Đọc phần Lí thú bát nhã do ngài Huyền trang dịch. - Mật hành: Đọc kinh Lí thú do ngài Bất không dịch.

lý thú thích kinh

(理趣釋經) Cũng gọi Đại lạc kim cương lí thú kinh, Bát nhã lí thú thích, Lí thú thích. Gọi đủ: Đại lạc Kim cương bất không chân thực tam muội da kinh bát nhã ba la mật đa lí thú thích. Kinh, 2 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung sách này giải thích kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da (kinh Lí thú). Kinh Lí thú gồm có 17 chương, quyển thượng của sách này theo văn giải thích 2 chương đầu, quyển hạ giải thích 15 chương sau. Bởi vì sách này giải thích về nguồn gốc của Kim cương đính, cho nên cùng với Đại nhật kinh sớ, đều là những tác phẩm quan trọng của Mật giáo. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 29].

lý thế kiệt

(李世杰) (1919- ) Học giả Phật giáo Trung quốc, người Tân trúc, Đài loan. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại thư viện Đại học Đài loan và giảng dạy triết học ở học viện Văn hóa Trung quốc. Ông cũng dạy Phật pháp tại hơn 10 viện Phật học. Ông có các tác phẩm: Hoa nghiêm triết học yếu nghĩa, Ấn độ Áo nghĩa thư triết học khái yếu, Ấn độ lục phái triết học, Mật tông đích lịch sử dữ giáo lí, Nguyên thủy, Bộ phái, Đại thừa Phật giáo tư tưởng sử...

lý thể

Bản thể của muôn sự muôn vật—The fundamental substance or body of all things.

lý trí

1) Lý: Đạo lý sở quán hay sự hiểu biết chân lý—Principle (faculty) and reasoning; the noumenal in essence and in knowledge; the truth in itself and in knowledge; the fundamental principle of the phenomenon under observation—The reality—The known object. 2) Trí: Trí huệ năng quán—The observing wisdom—The knower or knowing. **For more information, please see Ngũ Pháp. ; (理智) Lí sở quán và Trí năng quán. Lí chân như và trí tuệ chứng ngộ lí ấy tương ứng với nhau, gọi là Lí trí tương ứng. Trí năng quán và lí sở quán thầm hợp nhau, gọi là Lí trí minh hợp. Luận Câu xá quyển 18, nêu ra 2 loại trí: Sự trí là trí hữu lậu, Lí trí là trí vô lậu. ; (理致) Đối lại với Cơ quan. Hàm ý là chỉ dẫn hướng đến đạo lí. Là phương pháp mở bày đạo lí trong kinh luận để chỉ dẫn người học trong Thiền lâm. Phương pháp này cũng giống như lối y theo kinh giáo mà tu của Như lai thiền. [X. Pháp hoa du ý; Viên ngộ tâm yếu].

lý trí lượng

Sự suy lường hay tìm hiểu bằng lý trí—The guideline of reasoning.

lý trí ngũ pháp

See Ngũ Pháp (C).

lý trường vi tông

(理長爲宗) Lấy đạo lí làm tông chỉ. Nghĩa là không cố chấp vào tông nghĩa của bất cứ tông phái nào, mà chỉ vận dụng đạo lí một cách tự do để phê phán các tông, kể cả tông phái của chính mình. Thái độ phê phán như thế gọi là Lí trường vi tông. Ngài Thế thân viết luận Câu xá, lấy học thuyết của Thuyết nhất thiết hữu bộ làm chính, rồi chọn lấy những chỗ thù thắng của Kinh lượng bộ để giúp thêm cho việc làm sáng tỏ nghĩa lí của A tì đạt ma, đó là người mở đầu của chủ trương Lí trường vi tông.

lý tuân húc

(李遵勖) (?-1038) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, tự là Công vũ, sống vào đời Tống. Ông thi đậu Tiến sĩ, làm quan đến chức Đô úy phò mã. Ông tham yết thiền sư Cốc ẩn Uẩn thông hỏi về tông yếu, được ấn khả, có làm kệ rằng (Vạn tục 147, 443 thượng): Tham thiền tu thị thiết hán. Trứ thủ tâm đầu tiện phán Trực thú vô thượng bồ đề Nhất thiết thị phi mạc quản. (Tham thiền phải là trượng phu Ra tay tâm liền sáng tỏ Một đường thẳng tới Bồ đề Tất cả đúng, sai đều bỏ). Niên hiệu Bảo nguyên năm đầu (1038) ông qua đời. Ông có các tác phẩm: Thiên thánh quảng đăng lục, 30 quyển, Nhàn yếu tập, 20 quyển, Ngoại quán phương đề, 7 quyển. [X. bài tựa Thiên thánh quảng đăng lục; Liên đăng hội yếu Q.13; Gia thái phổ đăng lục Q.22; Cư sĩ phần đăng lục Q.thượng; Tống sử Q.464].

Lý Tuân Úc

(李遵勗, Rishunkyoku, ?-1038): tự là Công Võ (公武), ông nội là Lý Sùng Cự (李崇炬), cha là Lý Kế Xương (李繼昌). Ông đỗ Tiến Sĩ, sau đó làm quan Phụ Mã Đô Úy (駙馬都尉). Ông đã từng đến tham học với Cốc Ẩn Uẩn Thông (谷隱蘊聰), được đại ngộ và ấn khả của vị này. Từ đó, ông thường qua lại giao du với chư vị Thiền sư như Từ Minh Sở Viên (慈明楚圓), Dương Ức (楊億), v.v. Trong khoảng niên hiệu Thiên Thánh (天聖, 1023-1030), ông dâng lên triều đình bộ Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄) 30 quyển mà ông thâu lục được và làm sáng tỏ sự truyền thừa của Thiền tông. Vào năm đầu (1038) niên hiệu Bảo Nguyên (寳元), ông thị tịch. Trước tác của ông có Nhàn Yến Tập (閒宴集) 20 quyển, Ngoại Quán Phương Đề (外館芳題) 7 quyển.

lý tâm

(理心) Chỉ cho tâm tuyệt đối bình đẳng nhất như của chúng sinh và Phật. Chương Cầu na bạt đà la trong Lăng già sư tư kí, chia An tâm làm 4 loại: Bội lí tâm, Hướng lí tâm, Nhập lí tâm và Lí tâm. Trong đó, Lí tâm là chỗ rốt ráo cùng tột của sự an tâm. Sách vừa dẫn nói (Đại 85, 1284 trung): Lí tâm, nghĩa là chẳng phải lí ngoài lí, chẳng phải tâm ngoài tâm, lí tức là tâm. Tâm bình đẳng, gọi là lí; Lí soi sáng, gọi là tâm. Tâm lí bình đẳng, gọi là Phật tâm. Người thể hội được thực tính, thì không thấy có sự khác nhau giữa sinh tử và Niết bàn, phàm và thánh, cảnh và trí không hai, lí và sự dung hợp, nhiễm và tịnh nhất như, Phật và chúng sinh vốn nhất thể bình đẳng.

lý tính

Lý thể vốn đầy đủ không thay đổi—Absolute nature—Immutable reality—Fundamental principle or character. ; (理性) Bản tính chân thực của muôn vật trước sau không thay đồi. Tính là nhân chủng ( ) sẵn có, từ vô thủy đến nay vẫn tồn tại tự nhiên như thế. Như vô thường, khổ, không, vô ngã... là lí tính chung của hết thảy các pháp. [X. luận Đại trí độ Q.31].

lý tướng

Pháp vô vi vô sanh vô diệt—Noumenal which is neither being born nor being destructed.

lý tưởng

Ideal.

lý tưởng cao cả

Lofty ideal.

lý tại tuyệt ngôn

Chân lý triệt tiêu văn tự; chân lý độc lập với văn tự, hay nói cách khác, văn tự không diễn tả được chân lý—Truth is in eliminating words; it is independent of words; it does not require words to express it. ; (理在絕言) Chân lí vượt ngoài lời nói, suy tính. Hoặc là sự tồn tại của đạo lí không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả cho rõ ràng được. Vì chân lí là bản thể của vũ trụ vạn hữu, nó vượt ra ngoài phạm vi tri thức của phàm phu, cho nên không thể dùng ngôn ngữ hoặc chữ nghĩa mà diễn đạt được.

lý tắc duyên khởi

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, pháp giới duyên khởi là cực điểm của tất cả những thuyết nhân quả; thục sự đó là kết luận của thuyết duyên khởi bởi vì nó là lý tắc nhân quả phổ biến và đã nằm trong lý bản hữu, thông huyền của vũ trụ, hay nói thế nào cũng được. Lý tắc duyên khởi được giải thích trước tiên bằng nghiệp cảm duyên khởi, nhưng vì nghiệp phát khởi trong tạng thức, nên thứ đến chúng ta có A Lại Da duyên khởi. Vì A Lại Da, hay tạng thức, là kho tàng của chủng tử, sanh khởi từ một cái khác nên chúng ta có Như Lai Tạng duyên khởi, hay chân như. Từ ngữ kỳ lạ nầy chỉ cho cái làm khuất lấp Phật tánh. Do sự che khuất nầy mà có phần bất tịnh, nhưng vì có Phật tánh nên có cả phần tịnh nữa. Nó đồng nghĩa với Chân Như (Tathata—Không phải như thế nầy hay như thế kia) mà theo nghĩa rộng nhất thì có đủ cả bản chất tịnh và bất tịnh. Do công năng của những căn nhân tịnh và bất tịnh, nó biểu lộ sai biệt tướng của hữu tình như sống và chết, thiện và ác. Chân như bảo trì vạn hữu, hay nói đúng hơn, tất cả vạn hữu đều ở trong Chân như. Nơi đây, giai đoạn thứ tư, Pháp giới Duyên khởi được nêu lên. Đó là lý tắc tự khởi và tự tạo của hữu tình và vũ trụ, hoặc giả chúng ta có thể gọi nó là duyên khởi nghiệp cảm chung của tất cà mọi loài. Nói hẹp thì vũ trụ sẽ là một sự biểu hiện của Chân như hay Như Lai Tạng. Nhưng nói rộng thì đó là duyên khởi của vũ trụ do chính vũ trụ, chứ không gì khác—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Esentials of Buddhist Philosophy, the theory of causation by Dharmadhatu is the climax of all the causation theories; it is actually the conclusion of the theory of causation origination, as it is the universal causation and is already within the theory of universal immanence, pansophism, cosmotheism, or whatever it may be called. The causation theory was explained first by action-influence, but as action originates in ideation, we had, secondly, the theory od causation by ideation-store. Since the ideation-store as the repository of seed-energy must originate from something else, we had, thirdly, the causation theory explained by the expression “Matrix of the Thus-come” (Tathagata-garbha) or Thusness. This curious term means that which conceals the Buddha. Because of concealment it has an impure side, but because of Buddhahood it has a pure side as well. It is a synonym of Thusness (Tathatva or Tathata, not Tattva=Thisness or Thatness) which has in its broadest sense both pure and impure nature. Through the energy of pure and impure causes it manifests the specific character of becoming as birth and death, or as good and evil. Thusness pervades all beings, or better, all beings are in the state of Thusness. Here, as the fourth stage, the causation theory by Dharmadhatu (universe) is set forth. It is the causation by all beings themselves and is the creation of the universe itself, or we can call it the causation by the common action-influence of all beings. Intensively considered the universe will be a manifestation of Thusness or the Matrix of Tathagata (Thus-come). But extensively considered it is the causation of the universe by the universe itself and nothing more.

lý tức phật

Một trong Lục Tức Phật, Phật ở ngôi Lý Tức hay chỉ vào Đức Phật đã sẳn có đủ Phật tính thiên nhiên mà không cần giải hành gì cả (ngay kẻ phàm phu xấu xa, nhưng nói về lý tính thì so với Phật chẳng phải là hai)—The underlying truth of all things is Buddha; immanent reason; Buddhahood; the T'ien-T'ai Perfect or Final doctrine of essential universal Budhahood, or one of the six stages of Bodhisattva developments (the undeveloped Buddha in all beings). ** For more information, please see Lục Tức Phật. ; (理即佛) Cũng gọi Lí tức, Lí Phật, Tố pháp thân. Chỉ cho tính Phật sẵn có trong chúng sinh, nhưng vì không nhận ra được nên phải luân hồi sinh tử. Là một trong Lục tức vị của Viên giáo do tông Thiên thai lập ra. Từ phàm phu đến Thánh nhân chia làm 6 giai vị, Lí tức Phật là giai vị đầu tiên. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính trung đạo là Lí; Lí này cùng với quả Phật tương tức không hai, đó là Tức. Như chúng sinh trong 3 đường ác, tuy không một mảy may thiện, nhưng vốn có tính Phật, đó là Lí tức, vì thế, Lí tức Phật chỉ có lí thể, chứ không có công đức trang nghiêm. Ma ha chỉ quán quyển 1, phần cuối (Đại 46, 10 trung), nói: Lí tức, nghĩa là tâm 1 niệm tức Như Lai tàng lí, vì là Như nên tức không, vì là Tàng nên tức giả, vì là Lí nên tức trung; trong 1 tâm có 3 trí, đầy đủ không thể nghĩ bàn. Như trên đã nói, 3 đế 1 đế, chẳng phải 3 chẳng phải 1, 1 sắc 1 hương, tất cả pháp, tất cả tâm cũng đều như thế, đó gọi là Lí tức bồ đề tâm. [X. Thiên thai tứ giáo nghi]. (xt. Lục Tức Phật).

lý tử khoan

(李子寬) (1882-1973) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Ứng thành, tỉnh Hồ bắc, tên Cơ hồng, pháp danh Liễu không, là đệ tử của Đại sư Thái hư. Năm Dân quốc 35 (1946), ông được bầu làm đại biểu quốc hội. Ông từng giữ chức Hội trưởng hội Phật giáo chính tín Hán khẩu suốt 15 năm, là hộ trì viên Viện Phật học Vũ xương, Trị sự trưởng viện Hán Tạng giáo lí, Giám đốc Thế giới Phật học uyển, Ủy viên Thường vụ Ủy hội chỉnh lí Phật giáo Trung quốc; phụ giúp các ngài Thái hư và Chương gia trong công cuộc chấn hưng Phật giáo.Ông phát nguyện trọn đời hộ trì sự nghiệp hoằng pháp của Đại sư Thái hư, sau khi ngài Thái hư viên tịch, ông phụ trách công việc phát hành tạp chí Hải triều âm và Thái hư Đại sư toàn thư của cơ sở Văn hóa Phật giáo. Sau khi đến Đài loan, ông lấy chùa Thiện đạo ở Đài bắc làm đạo tràng chủ yếu cho sự nghiệp hoằng pháp và hỗ trợ nhiều mặt cho Hội Phật giáo Trung quốc. Ông tạ thế vào năm 1973 tại Đài bắc, thọ 91 tuổi. Ông có các tác phẩm: Thánh quĩ lục, Bách niên nhất mộng kí.

lý viên tịnh

(李圓淨) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, người Chiết giang, tên Vinh tường, pháp danh Viên tịnh. Ông qui y pháp sư Đế nhàn, chuyên tu Tịnh độ, dốc lòng kính tin bồtát Quan thế âm. Ông có tác phẩm: Phật pháp đạo luận, Diệu pháp liên hoa kinh Quan thế âm bồ tát phổ môn phẩm thích, Hoa nghiêm kinh sớ khoa văn biểu giải.

lý vô sanh

The truth of non-birth.

lý vô siểm

(李無諂) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, gốc người nước Lam ba thuộc Bắc Ấn độ, dòng dõi Bà la môn. Ông vốn thông minh, thông suốt cả nội điển và ngoại điển, giỏi cả Phạm ngữ lẫn Hán văn. Ông có tham dự công tác dịch kinh với các ngài A nễ chân na, Bồ đề lưu chí v.v... Tháng 3 năm Canh tí, niên hiệu Thánh lịch thứ 3 (700) đời Vũ hậu nhà Đường, theo lời thỉnh cầu của vị tăng người Tân la là Minh hiểu, ông phiên dịch bộ kinh Bất không quyên sách đà la ni, 1 quyển, ở chùa Phật thụ kí. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9]

lý vô thường

Impermanence.

lý xu

(李樞) Ông sống vào thời Mạt đế (Chu chấn) nhà Hậu lương, đời Ngũ đại, Trung quốc, làm quan đến chức Viên ngoại lang bộ Lễ. Tháng 3 niên hiệu Long đức năm đầu (921), ông dâng biểu tâu lên vua về điều lệ quản lí tăng ni, gồm có 4 hạng mục: 1. Cấm không được độ tăng ni riêng. 2. Hạn chế sắc ban sư hiệu, tử y cho chúng tăng. 3. Người muốn xuất gia phải qua cuộc thi kinh học. 4. Người muốn hoàn tục thì được chấp nhận vô điều kiện. 5. Vua Mạt đế chấp nhận lời tâu xin của ông và ban lệnh cải cách giáo đoàn. [X. Phật tổ thống kỉ Q.42].

lý độc tính độc

(理毒性毒) Cũng gọi Lí tính độc hại. Lí độc hay tính độc? Đây là nguyên nhân của sự tranh cãi giữa 2 phái Sơn gia và Sơn ngoại của tông Thiên thai Trung quốc. Trong Thỉnh Quan âm kinh sớ, khi giải thích đề mục: Tiêu phục độc hại đà la ni, ngài Trí khải cho rằng pháp có 2 nghĩa thể và dụng, Tiêu phục độc hại là nói rõ về lực dụng của pháp, còn Đà la ni là thuyết minh thể của pháp. Tác dụng của Tiêu phục độc hại có 3 phương diện: Sự, Hành, Lí. Sự tức các sự vật như hổ (cọp), chó sói, dao gươm..., Hành tức là Ngũ trụ địa phiền não, còn Lí là pháp giới vô ngại, vốn vô nhiễm mà nhiễm, tức là cái độc của lí tính. Về vấn đề này, ngài Trí viên thuộc phái Sơn ngoại chủ trương 2 thứ lí độc, tính độc không giống nhau, cho rằng chân như lấy vô minh làm duyên mà sinh ra các pháp, các pháp không nhiễm mà nhiễm, cho nên gọi là Lí độc. Cái độc này chẳng phải tính chân như sẵn có, vì thế Lí độc có thể diệt trừ. Còn tính độc là tính ác, không thể diệt trừ, vì vậy không nên cho tính ác tức là Lí độc. Ngài Tri lễ thuộc phái Sơn gia thì cho thuyết này là thuyết của Biệt giáo, còn Viên giáo thì thừa nhận Lí độc tức là Tính độc. Ngài Tri lễ căn cứ vào chữ tức trong tiêu đề Lí độc tức tính độc mà luận cứu, cho rằng nếu trong pháp giới mê lầm của chúng sinh không có sẵn tính nhơ nhớp của 3 chướng, mà do chịu sự huân tập biến đổi mới phát sinh 3 chướng, thì đây là nghĩa của Biệt giáo, chứ nghĩa của chữ tức không được thành lập; vì pháp giới mê lầm vốn đã có sẵn tính nhơ nhớp của 3 chướng, cho nên mới hiện 3 chướng, đến khi trở về nguồn gốc, thì cũng vẫn tự nhiên nhiễm độcv(tức tính độc), như thế mới phù hợp với nghĩa chữ tức, mới khế nhập ý chỉ của Viên giáo. [X. Thỉnh Quan âm kinh sớ xiển nghĩa sao Q.1; Thích thỉnh Quan âm sớ trung tiêu phục tam dụng trong Tứ minh tôn giả giáo hành lục Q.2; Thiên thai giáo học sử].

lăn lóc

To experience the hard way (hardships).

lăn đùng ra

To collapse—To fall suddenly.

lăng

Lăng miếu hay lăng tẩm—A mound—A tomb.

lăng già

Lanka (skt). 1) Một đỉnh núi nằm về phía đông nam đảo Tích Lan, bây giờ gọi là đỉnh A Đam ( về phía đông nam Sư Tử quốc có một ngọn núi tên Lăng Già, hang núi hiểm trở, quỷ thần thường đến chơi, Đức Phật xưa đã từng đến đây giảng kinh Lăng Già): A mountain in the south-east part of Ceylon, now called Adam's Peak. 2) Đảo Tích Lan: The island of Ceylon.

lăng già huyền kí

(楞伽懸記) Lời đoán trước của đức Thích tôn tại núi Lăng già. Lời huyền kí nói rằng: Sau khi Như lai nhập diệt, ở Nam Thiên trúc có Đại đức tỉ khưu tên là Long thụ, chứng Hoan hỉ địa, tuyên thuyết pháp Đại thừa vô thượng, được sinh về nước Cực lạc. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Lăng già quyển 9, bản dịch đời Ngụy và kinh Lăng già quyển 6, bản dịch đời Đường. Kinh Lăng già (bản dịch đời Ngụy) quyển 9 (Đại 16,569 thượng), chép: Ta theo trí nội chứng Chẳng phải cảnh vọng giác Sau khi ta diệt độ Ai sẽ vì ta nói? Như lai diệt độ rồi Vị lai sẽ có người Đại tuệ ông lắng nghe Có người trì pháp ta Tại phương nam Thiên trúc Có Đại đức tỉ khưu Tên Long thụ bồ tát Hay dẹp chấp Hữu, Vô Tuyên thuyết cho mọi người Pháp Đại thừa vô thượng Chứng được Hoan hỉ địa Sinh về nước An lạc.

lăng già kinh

Lankavatara sutra (skt)—See Kinh Lăng Già. ; (楞伽經) Phạm:Laíkàvatàrasùtra. Gọi đủ: Lăng già a bạt đa la bảo kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào năm 443 đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Lăng già là tên núi; A bạt đa la nghĩa là vào. Tức là đức Phật nói bộ kinh quí báu này khi Ngài vào núi Lăng già, là 1 trong 6 bộ kinh làm chỗ y cứ của tông Pháp tướng. Nội dung kinh này thuyết minh thế giới vạn hữu đều do tâm tạo, đối tượng nhận thức của người ta không phải ở bên ngoài mà là tại trong tâm. Kinh này kết hợp tư tưởng Như lai tạng và tư tưởng thức A lại da, là đại biểu cho các kinh thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa hậu kì ở Ấn độ. Niên đại thành lập kinh này vào khoảng trước sau năm 400 Tây lịch. Toàn bộ kinh đã nhiều lần nhấn mạnh đến nguồn gốc của si mê chính là do tập khí từ vô thủy đến nay đã không biết rõ các pháp là từ nơi tâm mình hiển hiện. Nếu có thể thấu triệt được bản tính của ý thức, xa lìa những đối lập năng thủ, sở thủ, thì có thể đạt đến cảnh giới vô phân biệt. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này được tìm thấy tại Nepal, học giả Nhật bản là các ông Nam điều Văn hùng và Hà khẩu Tuệ hải đã hiệu đính và xuất bản vào năm 1923. Có 3 loại bản Hán dịch đều được thu vào Đại chính tạng tập 16: 1. Lăng già a bạt đa la bảo kinh, 4 quyển, cũng gọi Tứ quyển Lăng già kinh, Tống dịch Lăng già kinh, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. 2. Nhập lăng già kinh, 10 quyển, cũng gọi Thập quyển Lăng già kinh, Ngụy dịch Lăng già kinh, do ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Bắc Ngụy. 3. Đại thừa nhập lăng già kinh, 7 quyển, cũng gọi Thất quyển Lăng già kinh, Đường dịch Lăng già kinh, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. Trong 3 loại bản dịch trên, bản Tứ quyển Lăng già kinh được Tổ Bồ đề đạt ma dùng để phó chúc cho ngài Tuệ khả, vì thế xưa nay rất được Thiền tông đặc biệt xem trọng. Cứ theo Pháp xung truyện trong Tục cao tăng truyện chép, thì sự thuyết giảng kinh Lăng già 4 quyển có thể chia làm 2 chi phái: Một phái từ ngài Tăng xán truyền xuống, thì y cứ vào Nhất thừa tông của Nam thiên trúc; một phái từ các ngài Đàm thiên, v.v... thì y cứ vào luận Nhiếp đại thừa. Tuy nhiên, vào thời đại Nam Bắc triều kinh này vẫn chưa được nghiên cứu một cách phổ biến. Đến đời Đường, với đà phát triển của Thiền tông, thì kinh này mới được chú trọng, lúc đó mới có những danh xưng như: Lăng già sư, Lăng già tông xuất hiện. Rồi từ những sách Lăng già nhân pháp chí của ngài Huyền di và Lăng già sư tư kí của ngài Tịnh giác mà chúng ta có thể biết được là vào thời ấy kinh này đã được dùng làm biểu tượng truyền thừa. Mãi đến khi các ngài Thần hội, v.v... đưa ra chủ trương dùng Bát nhã thay cho Lăng già thì kinh Kim cương mới dần dần được xem trọng. Ngoài các bản Hán dịch, kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng và bản dịch tiếng Nhật. Riêng bản dịch Tây tạng có 2 loại, một theo đúng nguyên văn chữ Phạm, một theo bản Hán văn. Kinh này có rất nhiều sách chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: - Nhập Lăng già kinh sớ, 5 quyển, của ngài Bồ đề lưu chi. - Lăng già kinh sớ, 7 quyển, của ngài Nguyên hiểu người Tân la. - Lăng già kinh sớ, 6 quyển, của ngài Đàm thiên đời Tùy. - Lăng già kinh chú, 5 quyển, của ngài Trí nghiêm đời Đường. - Nhập Lăng già tâm huyền nghĩa, 1 quyển, của ngài Pháp tạng đời Đường, và - Thánh nhập Lăng già kinh chú (Phạm: Àryalaíkavatàravftti) trong Đại tạng kinh Tây tạng. Ngoài ra, bộ Đại thừa nghĩa chương của ngài Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh là luận nghiên cứu quan trọng về kinh này. Sau hết, kinh này thu dụng rất nhiều học thuyết của các học phái Phật giáo, đồng thời, đứng trên lập trường của các học thuyết ấy mà trình bày về sự thể nghiệm tôn giáo. Những tư tưởng trọng yếu của kinh này là: 1. Kết hợp tư tưởng Như lai tạng với thức A lại da, mở đầu cho tư tưởng của luận Đại thừa khởi tín. 2. Kinh này chia Thiền làm 4 loại: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phan duyên như thiền và Như lai thiền. Đây là tư liệu về lịch sử Thiền tông rất được chú ý. 3. Đối với học thuyết Duy thức ở thời kì sau, nhất là Duy thức của ngài Hộ pháp, có ảnh hưởng rất lớn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường tây vực kí Q.11; Khai nguyên thích giáo lục Q.4, 5, 6, 9].

lăng già sơn

(楞伽山) Lăng già, Phạm,Pàli:Laíkà. Cũng gọi Lăng ca sơn. Hán dịch: Nam vãng sơn, Khả úy sơn, Hiểm tuyệt sơn. Tên núi, tương truyền là nơi đức Phật giảng kinh Lăng già. Về vị trí núi này có mấy thuyết khác nhau: Theo kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 1, núi này nằm ở bờ biển Nam hải. Theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển hạ, núi này nằm ở bờ biển thuộc biên giới phía nam của Nam thiên trúc. Theo Đại đường tây vực kí quyển 11 và Tục cao tăng truyện quyển 4, thì Lăng già là tên 1 ngọn núi ở đảo Tích lan. Theo Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa, i), Lăng già là tên riêng của Tích lan, nhưng đa số các học giả hiện nay không thừa nhận thuyết này. Cứ theo phẩm Chư Phật trong kinh Nhập lăng già quyển 1, núi này do các thứ quí báu tạo thành, ánh sáng chói lọi giống như trăm nghìn mặt trời cùng chiếu lên vàng. Trong núi có vô số vườn hoa, gió hiu hiu thổi, cành lá rung rinh, trăm nghìn hương hoa ngào ngạt cùng lúc lan tỏa, trăm nghìn âm thanh vi diệu đồng thời phát ra; ngọn núi trùng điệp, quanh co, có vô lượng điện đường, hang động, khám thờ đều do các thứ báu tạo thành, trong ngoài trong suốt, sáng rực, át cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Núi này thủa xưa là nơi các vị Tiên, Thánh đắc đạo nhập tịch. [X. kinh Hoa nghiêm Q.62 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh sớ Q.56; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Đông Nam Ấn độ chư quốc đích nghiên cứu].

lăng già sư tư kí

(楞伽師資記) Cũng gọi Lăng già sư tư huyết mạch kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tịnh giác biên tập khoảng năm Cảnh long thứ 2 (708) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung sách này tường thuật về 8 đời truyền thừa kinh Lăng già. Vào thời kì đầu, Thiền tông Trung quốc chia làm 2 tông Nam, Bắc và mỗi tông đều cho tông mình là chính thống nên có lịch sử truyền thừa khác nhau. Sách này đứng trên lập trường Thiền Bắc tông để ghi chép lịch sử truyền thừa của Thiền tông vào thời đó. Tông sư truyền pháp lúc bấy giờ đặc biệt coi trọng kinh Lăng già và dùng kinh này làm biểu tín để truyền pháp. Vì thế sách này lấy tên là Lăng già sư tư kí để nói về 8 đời truyền thừa thuộc hệ thống Thiền Bắc tông: 1. Cầu na bạt đà la, dịch giả kinh Lăng già. 2. Bồ đề đạt ma. 3. Tuệ khả. 4. Tăng xán. 5. Đạo tín. 6. Hoằng nhẫn. 7. Thần tú, Huyền trách, Lão an. 8. Phổ tịch, Kính hiền, Nghĩa phúc, Huệ phúc. Sách này là tư liệu cơ bản để nghiên cứu lịch sử Thiền tông Trung quốc thời kì đầu, không phải chỉ đơn thuần là truyện kí mà còn bao hàm nhiều tư tưởng Thiền, như trong truyện Cầu na bạt đà la có thuyết Tứ chủng an tâm, trong truyện Tăng xán có tư tưởng Hoa nghiêm Nhất tức nhất thiết, trong truyện Đạo tín có thuyết Tức tâm tức Phật, Nhất hạnh tam muội, Thủ nhất bất di. Ngoài ra, sách này còn bàn về công phu tọa thiền. Sau khi bộ truyện kí này được tìm thấy ở Đôn hoàng, thì sự nghiên cứu về Thiền Bắc tông phát triển rất nhanh. Sách này có điểm đặc biệt là tường thuật về Tổ Hoằng nhẫn truyền pháp rất khác với những điều được trình bày trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Thiền Nam tông. Tức sách này cho rằng Tổ Hoằng nhẫn có 10 vị đệ tử là: Thần tú, Trí tân, Huệ tạng, Huyền ước, Lão an, Pháp như, Huệ năng, Trí đức, Nghĩa phương và Huyền trách. Trong đó, 2 vị Thần tú và Huyền trách được Tổ Hoằng nhẫn đặc biệt xem trọng, còn địa vị của ngài Huệ năng thì không có gì nổi bật. Nguyên bản sách này hiện còn được cất giữ tại viện bảo tàng Đại Anh ở Luân đôn và thư viện Quốc dân ở Ba lê. [X. Lịch đại pháp bảo kí; Minh sa dư vận giải thuyết].

Lăng Già Sư Tư Ký

(楞伽師資記, Ryōgashijiki): 1 quyển, do Tịnh Giác (淨覺) ở Thái Hành Sơn (太行山) soạn, được thành lập vào khoảng năm thứ 4 (716) niên hiệu Khai Nguyên (開元) nhà Đường. Tác phẩm Đăng Sử Thiền Tông thuộc thời kỳ đầu của hệ Bắc Tông này nói lên truyền thống truyền thừa Kinh Lăng Già (s: Lankāvatāra-sūtra, 楞伽經) qua 8 đời, khởi đầu bằng Cầu Na Bạt Đà La (s: Guṇabhadra, 求那跋陀羅, 394-468)―người truyền dịch bộ kinh này―được xem như là đời thứ nhất; đời thứ 2 là Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨[摩]) cho đến Huệ Khả (慧可), Tăng Xán (僧璨), Đạo Tín (道信), Hoằng Nhẫn (弘忍), đến đời thứ 7 có 3 vị là Thần Tú (神秀), Huyền Trách (玄賾), Huệ An (慧安) và đời thứ 8 gồm 4 người môn hạ của Thần Tú như Phổ Tịch (普寂), Kính Hiền (敬賢), Nghĩa Phước (義福), Huệ Phước (惠福). Đặc biệt, trong phần Nhập Đạo An Tâm Yếu Phương Tiện Pháp Môn (入道安心要方便法門) có dẫn dụng lời của Đạo Tín khá dài. Hơn nữa, Huyền Trách, đệ tử của Hoằng Nhẫn, cũng kế thừa qua cuốn Lăng Già Nhân Pháp Chí (楞伽人法志) và có trích dẫn lời của Đạo Tín. Bản Đôn Hoàng có các ký số S2054, S4272, P3294, P3436, P3537, P3703 và P4564. Bản của Đại Chánh Đại Tạng Kinh (大正大藏經, Taishō) căn cứ vào bản S2054 thiếu chữ thủ đô, nhưng khi các bản P3294, P4564 xuất hiện thì chữ thủ đô được bổ sung vào và những phần thiếu mất trong văn lời tựa cũng phục nguyên lại được. Bên cạnh đó, người ta còn phát hiện dịch bản tiếng Tây Tạng.

lăng già tông

(楞伽宗) Tên riêng của Thiền tông Trung quốc ở thời kì đầu, vì Tổ Đạt ma truyền cho ngài Tuệ khả 4 quyển kinh Lăng già làm cốt tủy của Thiền pháp nên gọi là Lăng già tông. [X. Tăng khả truyện trong Tục cao tăng truyện Q.16].

lăng già đảo

(楞伽島) Phạm:Laíkà-dvìpa. Cũng gọi Sư tử châu, Chấp sư tử quốc, Tăng già la, Bảo chử. Tức là đảo Tích lan (nay là Sri Lanka) nằm ở cực nam bán đảo Ấn độ. Ngài Pháp hiển, vị cao tăng Trung quốc đời Đông Tấn, trên đường từ Ấn độ trở về nước, có ghé qua đảo này để chiêm bái các Thánh tích. Hoặc có thuyết cho rằng đức Phật đã từng nói kinh Lăng già tại đây, vì thế đảo này có tên là Lăng già. Đại đường Tây vực kí quyển 11 (Đại 51, thượng), nói: Ở góc Đông nam nước ấy (tức Tích lan) có núi Lăng ca, hang núi sâu thẳm, quỉ thần tụ tập; thủa xưa đức Như lai đã nói kinh Lăng ca ở đây. [X. Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4]. (xt. Tích Lan Phật Giáo).

lăng nghiêm hội

(楞嚴會) Trong Thiền lâm xưa, vào mùa kết hạ an cư thì tổ chức hội Lăng nghiêm. Từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 13 tháng 7 âm lịch, chúng tăng lên điện Phật mỗi ngày, trì tụng chú Thủ lăng nghiêm để cầu phúc, trừ tai. Ngài Chân yết Thanh liễu đời Nam Tống ở núi Phổ đà, trong mùa an cư, tụng chú cầu cho chúng tăng khỏi bệnh. Đây là nguồn gốc của hội Lăng nghiêm. Bản đồ vẽ vị trí chỗ ngồi của chúng tăng trên hội Lăng nghiêm gọi là Lăng nghiêm đồ. [X. hội Lăng nghiêm trong Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.3].

lăng nghiêm kinh

Lankavatara Sutra (skt)—See Kinh Lăng Nghiêm in Vietnamese-English Section. ; (楞嚴經) Gọi đủ: Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm kinh. Cũng gọi: Đại Phật đính Thủ lăng nghiêm kinh, Đại Phật đính kinh. Kinh, 10 quyển, do sa môn Bát lạt mật đế, người Trung Thiên trúc dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Thủ lăng nghiêm là tên của môn Tam muội mà đức Phật đã chứng được, cũng là tiếng gọi chung cho cả muôn hạnh. Kinh này nói rõ lí căn trần cùng một nguồn, trói buộc và giải thoát chẳng phải hai, đồng thời giải thích pháp Tam ma đề (Tam muội) và các giai vị của Bồ tát. Nội dung kinh này trước hết kể chuyện ngài A nan ra ngoại thành khất thực, bị nàng Ma đăng già cám dỗ, mê hoặc đến nỗi gần mất giới thể. Đức Phật biết A nan đang bị dâm thuật làm khốn, liền sai ngài Văn thù sư lợi đem thần chú đến hộ trì. Sau khi ngài A nan trở về tinh xá, nàng Ma đăng già cũng theo đến. Khi ấy đức Phật nói pháp chỉ dạy Ma đăng già và khiến nàng xuất gia học đạo. Phần nổi bậc nhất trong kinh này là 25 pháp môn viên thông ở quyển 5, trong đó, pháp môn thứ 24 bồ tát Đại thế chí trình bày về pháp niệm Phật viên thông, rất thường được tông Tịnh độ dẫn chứng. Kinh Lăng nghiêm nói về các yếu chỉ của pháp Thiền như: Khai thị tu thiền, Nhĩ căn viên thông, Ngũ uẩn ma cảnh, v.v... nhưng khác với kinh Thủ lăng nghiêm tam muội do ngài Cưu ma la thập dịch. Ở đầu mỗi quyển của bộ kinh này đều ghi rõ (Đại 19, 106 trung): Một tên là Trung Ấn độ Na lan đà đại đạo tràng kinh được chép riêng ra từ Quán đính bộ. Quyển 1 ghi (Đại 19, 106 trung): Ngày 23 tháng 5, năm Ất tị, niên hiệu Thần long năm đầu, đời Đường, sa môn người Trung Thiên trúc tên là Bát lạt mật đế dịch tại đạo tràng Chế chỉ ở Quảng châu, đệ tử Bồ tát giới, chức vụ Tiền chính gián đại phu, Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự thanh hà Phòng dung ghi chép, sa môn người nước Ô trành tên là Di già Thích ca dịch lời. Các sư thuộc tông Pháp tướng đều cho kinh này là ngụy tác, thời gần đây giới học giả cũng tranh luận về vấn đề thật, giả của kinh này, lí do là vì nó đã không được thu vào Đại tạng của 4 triều: Đường, Tống, Nguyên, Minh. Nhưng, cứ theo Khai nguyên thích giáo lục, thì đương thời (đời Đường) có kinh Đại Phật đính Như lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ tát vạn hạnh Thủ lăng nghiêm 10 quyển. Ngoài ra, Tống sử nghệ văn chí cũng có ghi tên kinh Thủ lăng nghiêm 10 quyển. Kinh này có nhiều sách chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: Nghĩa sớ chú kinh, 20 quyển, của ngài Tử tuyền, Nghĩa sớ thích yếu sao, 6 quyển, của ngài Hoài viễn, Nghĩa hải, 30 quyển, của ngài Hàm huy, Huyền nghĩa, 2 quyển, của ngài Trí húc, Mô tượng kí, 1 quyển, của ngài Châu hoành. [X. Đại thừa tam luận đại nghĩa sao Q.3; Đại đường nội điển lục Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14; Kinh lục môn trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lăng nghiêm đầu

(楞嚴頭) Chức vụ của vị tăng xướng Thánh hiệu, lời tựa, chú Lăng nghiêm trong pháp hội Lăng nghiêm. Chức vụ này thường chọn người có giọng tiếng tốt để đảm nhiệm. Điều Lăng nghiêm hội trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1151 trung), nói: Duy na chọn người có giọng tốt làm Lăng nghiêm đầu. [X. môn Chức vụ trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lăng nhục

To insult.

lăng sơn

(淩山) Tên núi ở phía Bắc huyện Ô thập, tỉnh Tân cương, Trung quốc, là ngọn Mục tạp nhĩ đặc thuộc dãy núi Thiên sơn, có lẽ là ngọn Bạt đạt (Ba da) hiện nay. Lăng nghĩa là băng giá, đóng băng. Theo Tây vực kiến văn lục quyển 1, Y lê và Ô thập giao nhau tại Mục túc lỗ tháp ban, núi ở vùng này tuyết phủ quanh năm, trắng xóa như bạc, là ngã tư đường nối liền Nam, Bắc. Khi Tam tạng Huyền trang sang Ấn độ cầu pháp có đi ngang qua núi này. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2].

lăng vân sơn đại phật

(淩雲山大佛) Cũng gọi Lạc sơn đại Phật. Tượng Phật lớn khắc vào núi Lăng vân, huyện Lạc sơn, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc. Khoảng năm Khai nguyên đời Đường, Cao tăng Hải thông, thấy dòng sông uốn khúc quanh co, nhiều chỗ nguy hiểm vì nước chảy xiết, dâng cao, rất nguy hại cho thành Lạc sơn, nên ngài kiến nghị khắc 1 pho tượng Phật thật lớn trên sườn núi cheo leo, ở giữa khoảng 2 dòng sông Đại độ và Mân giang giao nhau. Ròng rã suốt 90 năm trời, từ niên hiệu Khai nguyên năm đầu (713) đời Huyền tông, đến năm Trinh nguyên 19 (803) đời Đức tông nhà Đường công việc tạc tượng mới được hoàn thành. Pho tượng lưng tựa vào vách núi, mặt ngó ra sông, đầu ở đỉnh núi, chân ở chân núi, mắt nhìn xuống dòng nước đang chảy cuồn cuộn. Từ phần đầu gối của pho tượng trở xuống tạo thành hình chữ (ao) ngược, nước sông chảy vào chỗ chữ Ao thì dòng nước bị bẻ gập, thế nước yếu dần, chảy vòng ra phía sau rồi chầm chậm hòa theo dòng nước, nhờ thế mà tránh được nạn lũ lụt. Tượng Phật cao 71 mét, vai rộng 28 mét, mắt dài 3 mét 5, lỗ tai sâu như hang động, bề rộng của đỉnh đầu có thể đặt được 8 cái bàn, trên bàn chân của tượng có thể ngồi thành vòng tròn hơn 100 người.Đây là pho tượng Phật khắc vào đá lớn nhất thế giới, người dân Trung quốc thường dùng câu Núi là 1 tượng Phật, Phật là 1 ngọn núi để nói về sự cao lớn hùng vĩ của pho tượng.

lăng vân tự

(淩雲寺) Chùa ở huyện Lạc sơn, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc, nay gọi là chùa Đại Phật. (xt. Đại Phật Tự).

Lăng Xuyên Sư Tuyên

(菱川師宣, Hishikawa Moronobu, 1618-1694): nhà vẽ tranh Phù Thế Hội (浮世會, Ukyoe), sống vào khoảng đầu thời đại Giang Hộ, tục xưng là Cát Binh Vệ (吉兵衛), hiệu là Hữu Trúc (友竹); xuất thân vùng An Phòng (安房, Awa). Trong khoảng thời gian niên hiệu Vạn Trị (萬治, 1659-1661) hay Khoan Văn (寛文, 1661-1673), ông lên Giang Hộ, chế tác ra những loại tranh trên bảng gỗ và khai sáng ra lãnh vực mới của tranh Phù Thế Hội. trước tác của ông có rất nhiều như Mỹ Nhân Hội Tận (美人繪盡), v.v.

lăng xăng

To jump about.

Lăng-già a-bạt-đa-la bảo kinh

楞伽阿跋多羅寶經; C: lèngqié ābáduōluó băojīng; J: ryōga abatsutara hōkyō; |Bản dịch kinh Lăng-già của Cầu-na-bạt-đà-la (s: guṇabhadra), là bản dịch thứ 2 trong 4 bản dịch, theo truyền thống đánh giá là bản dịch hoàn chỉnh nhất. A-bạt-đa-la (阿跋多羅) có nghĩa là »nhập« (入). Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經).

Lăng-già a-bạt-đà-la bảo kinh

楞伽阿跋佗羅寶經; C: lèngqié ābátuóluó băojīng; J: ryōga abattara hōkyō;|Bản dịch kinh Lăng-già của Cầu-na-bạt-đà-la (s: guṇabhadra). Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經).

Lăng-già kinh

楞伽經; S: laṅkāvatāra-sūtra; C: lèng qié jīng; J: ryōgakyō; |Tên gọi ngắn của Nhập Lăng-già kinh.

Lăng-già sư tư kí

楞伽師資記; C: lèngqié shīzī jì; J: ryōga shiji ki; |1 quyển, của Tịnh Giác (淨覺).

lĩnh

1) Bâu áo: Collar. 2) Cổ: Neck. 3) Dẫn dắt: To lead—To direct. 4) Nhận lĩnh: To receive.

lĩnh giải

Thâu nhận vả giải thích—To receive and interpret.

lĩnh nạp

Chấp nhận—To receive—To accept.

lũ lượt

In crowds.

lũng đoạn

To monopolize.

lũy

Chất chồng—To accumulate.

lũy chướng

The hindrances of many vaxations, responsibilities, or affairs.

lũy hình

The body as involved in the distresses of life.

lũy kiếp

Nhiều kiếp lập đi lập lại chồng chất lên nhau (cứ mỗi thời kỳ thế giới thành lập rồi hoại diệt là một kiếp)—Repeated or many kalpas.

lũy thất trai

Còn gọi là Trai Nhất, là tuần trai đầu tiên cho người quá vãng (cứ bảy ngày là một thất trai, cứ thế cho hết 49 ngày mới thôi. Tại Việt Nam có nơi còn làm Tuần 100 ngày)—The sevenfold repetition of masses for the dead.

lơ là

Negligent—Indifferent.

lơ lửng

Hanging in mid air.

lơ mơ

Vague.

1) Cây lau: Reeds—Rushes. 2) Lò sưởi: A stove—Fireplace. 3) Lư Hương: Incense burner—Censer. 4) Cái chòi: A hut—A shelter. 5) Con Lừa: Khara (skt)—An ass—Donkey.

lư diệp đạt ma

Chiếc thuyền bằng lá cây lau mà người ta nói Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã dùng nó để vượt sông Dương Tử—Bodhidharma and his rush-leaf boat in which he is said to have crossed the Yangtse River.

lư hương

See Lư.

lư hề đa hà

(廬奚多河) Phạm, Pàli: Rohiịì. Cũng gọi Lô hê ninh hà. Dòng sông chảy qua vùng đất giữa bộ tộc Thích ca (Pàli:Sakkà) và bộ tộc Câu lợi (Pàli:Koơiya), thường dẫn đến tranh chấp giữa 2 bộ tộc. Cứ theo Pháp cú kinh chú (Pàli: Dhammapada Aỉỉhakathà, III, pp.250- 255), thì vào 1 mùa hạ đã xảy ra cuộc tranh giành dòng sông này, gây ra đổ máu bi thảm. Bấy giờ, đức Thế tôn ngồi thuyết pháp giữa hư không trên mặt sông, mới chấm dứt được cuộc chiến giữa 2 bộ tộc. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.3].

lư ngưu nhị nhũ

(驢牛二乳) Sữa lừa và sữa bò. Ví dụ những cái tựa hồ như đúng mà thực ra là sai. Sữa lừa và sữa bò màu sắc tuy giống nhau, nhưng sữa bò khuấy đông lại thì thành bơ, còn sữa lừa khuấy đông lại thì thành phân. Phật pháp và ngoại đạo tuy cùng có các giới điều răn cấm: Không được sát sinh, không được trộm cướp, thương xót chúng sinh, nhiếp tâm lìa dục v.v... nhưng ngoại đạo thì chấp trước ngã kiến, chỗ qui hướng rốt ráo là hư dối, cho nên không thể sánh với Phật pháp. [X. luận Đại trí độ Q.18].

lư nhang

See Lư.

lư niên

Năm con Lừa, ý nói không có kỳ hạn nào vì con lừa không có tên trong 12 con giáp (vô hội kỳ)—Donkey Year, without date or period because the ass does not appear in the list of cyclic animals. ; (驢年) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Năm con lừa. Trong 12 địa chi, mỗi địa chi đều được tượng trưng bằng 1 con vật, trong đó không có con lừa, tức là không có năm con lừa. Thiền tông dùng Lư niên để chỉ cho thời gian không bao giờ hi vọng có được. Chương Thần tán trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 9 (Đại 51, 268 thượng), ghi: Một hôm, sư ngồi xem kinh bên cửa sổ, một con ong chui đầu vào giấy của cửa sổ để tìm lối ra. Sư trông thấy liền nói: Thế giới bao la nhường kia mà chẳng chịu ra, lại đi chui đầu vào giấy thì đến năm con lừa (lư niên) họa may mới ra được.

Lư Sơn

廬山; C: lúshān;|Một trung tâm Phật giáo Trung Quốc thuộc tỉnh Giang Tây ngày nay, rất được thịnh hành trong khoảng năm 380. Trong số các Cao tăng từng sống tại Lư Sơn có Huệ Viễn và Ðạo Sinh. Huệ Viễn đã thành lập trên núi Lư Sơn Bạch liên hoa xã (hội hoa sen trắng) và khai sáng tông Tịnh độ với cách niệm Phật A-di-đà.|Ngôi chùa đầu tiên được xây dựng tại Lư Sơn vào khoảng năm 367, trước đó đây là một vùng tu tiên của các vị theo đạo Lão. Tương truyền rằng ở đây có một vị sống hơn 300 tuổi và sau đó đi vào thế giới bất tử. Một truyền thuyết khác kể rằng An Thế Cao trên đường du hành vào Lư Sơn đã gặp một con trăn thần, vốn là thú cai trị ngọn núi. Sư giáo hoá con trăn đó và sử ghi lại rằng, con trăn này chính là hậu kiếp của một người bạn cũ.

lư sơn

(廬山) Cũng gọi Khuông sơn, Nam chương sơn, Nam khang sơn, Khuông lô, Lô phụ, Phụ sơn, Tĩnh lô sơn. Tên núi, ở huyện Cửu giang, tỉnh Giang tây, Trung quốc, phía bắc giáp Trường giang, phía Đông giáp hồ Bà dương. Tương truyền, Hoàng đế từng đóng đô ở núi này, nên cũng gọi là Tam thiên tử đô, Tam thiên tử chương. Theo truyền thuyết, vào đời Ân Thương (hoặc đời Chu),có người tên Khuông kết am ở ẩn trong núi tu đạo tiên, sau mọc cánh bay đi, chỉ còn lại cái am trống (không lô),từ đó, núi có tên gọi là Lô sơn. Núi này có vài mươi ngọn như Ngũ lão, Hương lô, Hán dương, Bạch vân, Song kiếm, v.v... các hang động như Khang vương, Thê hiền, Hổ khê, Bạch lộc, Bạch vân, Liên hoa,... cùng với những sườn núi cheo leo đẹp lạ kì, rồi những khe đầm, dòng thác, tất cả đã tạo thành những thắng cảnh nổi tiếng khắp nơi từ xưa đến nay. Vào thời vua Linh đế nhà Đông Hán, ngài An thế cao thường đến núi này. Về sau, chư tăng đại đức đến đây rất đông. Vào đầu năm Thái nguyên (376-396), đệ tử của ngài Đạo an là sư Tuệ vĩnh đến đây làm chùa Tây lâm ở Hương cốc. Năm Thái nguyên 11 (386), thể theo lời mời của sư Tuệ vĩnh, ngài Tuệ viễn đến dựng chùa Đông lâm, sau người đời gọi 2 chùa Đông và Tây lâm là Lô sơn nhị lâm. Năm Thái nguyên 15 (390), tinh xá Bát nhã đài được thiết lập để thờ tượng Phật A di đà, ngài Tuệ viễn đề xướng pháp môn niệm Phật, cùng với hơn 20 vị tăng tục kết Bạch liên xã và lấy tinh xá Bát nhã đài làm đạo tràng căn bản để tu hành Tịnh độ giáo. Từ đó, kẻ tăng người tục đến núi này càng đông, dần dần trở thành Thánh địa của Tịnh độ giáo Trung quốc. Ngài Tuệ viễn cũng thỉnh nhiều sa môn Tây vực đến đây phiên dịch kinh điển, như ngài Tăng già đề bà dịch luận A tì đàm tâm, luận Tam pháp độ, ngài Phật đà bạt đà la dịch kinh Đạt ma đa la thiền. Học chúng từ khắp nơi qui tụ, có tới hơn 3.000 vị, cho nên, Lô sơnkhôngnhững trở thành 1 đạo tràng lớn để phiên dịch kinh điển ở miền Nam thời bấy giờ, mà còn phát triển thành 1 trung tâm lớn của Phật giáo nói chung. Về sau, khi Hoàn huyền hạ lệnh phế bỏ Phật giáo, bắt tăng ni hoàn tục, chỉ có núi này may mắn thoát nạn. Các danh sĩ nổi tiếng đương thời cũng vào ẩn cư ở núi này rất nhiều, như Đào uyên minh, Lôi thứ tông, v.v... Nhà đại thư pháp Vương hi chi cũng xây chùa Qui tông trong núi này và thỉnh ngài Phật đà da xá về trụ trì. Sau khi ngài Tuệ viễn thị tịch, ngài Đạo bính đứng đầu Bạch liên xã, ngài Đàm tân sáng lập chùa Đại lâm ở phía nam ngọn Đại phong, ngài Pháp tế xây dựng viện Từ vân (chùa Trúc lâm) ở phía đông bắc ngọn Ngọc loan; ngài Tuệ an đến trụ ở chùa Lăng vân, còn các ngài Đàm dực, Tuệ khánh thì ở chùa Lô sơn tại ngọn Hán dương. Khoảng năm Long an (397-401) đời Đông Tấn, ngài Đạo sinh đến đây ẩn cư và sau thị tịch ở núi này. Nguyên gia thứ 7 (430) đời Lưu Tống, các ngài Tăng du, Đàm ôn, Tuệ quang, v.v... cùng sáng lập chùa Chiêu ẩn(Chiêu đề) ở núi này. Năm Vĩnh minh thứ 10 (492) đời Nam Tề, ngài Tăng cảnh sáng lập chùa Hương lô phong. Đến đời Lương, ngài Pháp qui xây dựng chùa Phong đính ở ngọn Trịch bút. Khoảng năm Thái thanh (547-549), sau khi tuyên giảng kinh Kim quang minh, ngài Pháp qui kiến lập giới đàn ở phía nam chùa Đông lâm, thành là 1 trong 3 giới đàn ở Giang nam. Khoảng năm Khai hoàng (581- 600) đời Tùy, Đại sư Trí khải tông Thiên thai 2 lần đến Lô sơn khai giảng, số người nghe pháp lên tới 5.000. Vào cùng thời kì này, các ngài Đạo tín trụ ở chùa Đại lâm, ngài Trí khải ở chùa Tây lâm hơn 20 năm, tận lực giảng kinh Pháp hoa, Niết bàn và luật Thập tụng, v.v... Đến đời Đường, vị Cao tăng của tông Tịnh độ là ngài Thiện đạo từng đến Lô sơn để tìm di tích của ngài Tuệ viễn; ngài Trí thuấn giảng kinh Quán vô lượng thọ. Vua Đường Huyền tôn ban sắc xây tháp thờ ngài Tuệ vĩnh ở đây. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765), ngài Pháp chiếu vào đây lập Tây phương đạo tràng. Khoảng năm Đại lịch (766-779), ngài Thần thấu hoằng truyền Luật học ở chùa Đông lâm, ngài Pháp tạng mở đạo tràng trên ngọn Ngũ lão. Lí bạch cũng thường du ngoạn Lô sơn và có đề thơ phú. Năm Nguyên hòa thứ 2 (807), Bạch cư dị dựng nhà tranh ở gần chùa Di ái. Khoảng năm Bảo lịch (825-826), Thứ sử Lí bột kiến lập Thư viện ở động Bạch lộc. Thiền sư Trí thường đến đây xiển dương Thiền phong, không bao lâu bị pháp nạn Hội xương. Đến năm Đại trung thứ 6 (852), vua Tuyên tông sắc lệnh phục hưng chùa Đông lâm, thời Ngũ đại, có ngài Hành nhân hoằng pháp ở chùa Thê hiền. Thời Nam Đường, Lí trung chủ sáng lập chùa Khai nguyên ở chân núi phía đông nam, Lí hậu chủ thì xây chùa Viên thông ở chân núi phía tây. Khoảng năm Khánh lịch (1041-1048) đời Tống, ngài Cư nột trụ ở chùa Viên thông, cùng với các ông Âu dương tu, v.v... lập Thanh tùng xã phát huy Thiền pháp. Năm Nguyên phong thứ 2 (1079), vua Thần tông ban sắc đổi tên chùa Đông lâm thành Đông Lâm Thái Bình Hưng Quốc Thiền Viện và ngài Thường tổng vâng sắc trụ trì Thiền viện, giáo hóa rất thịnh, người đời gọi là Đông lâm Thường tổng. Năm Thiệu hưng 17 (1147), ngài Pháp đạo ở chùa Thái bình khắc lại bộ Đại Tống tăng sử lược. Khoảng năm Chí đại (1308-1311) đời Nguyên, ngài Phổ độ ở chùa Đông lâm biên soạn Lô sơn Liên tông bảo giám, hoằng truyền giáo nghĩa Tịnh độ. Năm Vạn lịch thứ 7 (1579), 2 ngài Nhân kính và Trí liên chung sức xây dựng chùa Thiên Phật. Năm Vạn lịch 42 (1614), ngài Đức thanh sáng lập chùa Pháp vân trên ngọn Ngũ nhũ. Từ đời Thanh trở đi, chùa viện dần dần suy đồi. Đến năm Dân quốc 13 (1924) Đại hội Phật giáo thế giới từng được triệu tập tại Lô sơn. Vào thời kì cực thịnh, Lô sơn có tới hàng trăm chùa viện, nay chỉ còn hơn 80 ngôi như Đông lâm, Tây lâm, Qui tông, Khai nguyên, Viên thông, Thiên trì, v.v... và những thắng tích như: Ngôi tháp gạch hình lục giác, ngôi tháp đá nhỏ 5 tầng, viện pháp của ngài Tuệ viễn, ngôi mộ cổ bằng đá hình lục giác, v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2, 10, 12-15; Lương cao tăng truyện Q.6; Lô sơn kí, Đông lâm thập bát cao hiền truyện; Lô sơn liên tông bảo giám Q.1, 4; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển thứ 137-144].

lư sơn kí

(廬山記) Tác phẩm, 5 quyển, do ông Trần thuấn du soạn thành vào năm Hi ninh thứ 5 (1072) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 51.Sách này có liên quan đến Tịnh độ giáo của Bạch liên xã Lô sơn và địa chí về các Thiền tự, Đạo quan nổi tiếng. Nội dung: - Quyển 1, 2 gồm các thiên: Trình bày về sơn thủy, sơn bắc, sơn nam, trưng dẫn những ghi chép thời xưa để nói rõ về hình thế địa lí, về các di tích và Thiền tự nổi tiếng. - Quyển 3 gồm: Sơn hành dị lãm và Thập bát hiền truyện, nêu rõ lộ trình, đồng thời ghi chép lược truyện của 18 người như: Tuệ viễn, Lôi thứ tông, v.v... đời Đông Tấn, vì người sau cho rằng 18 nhà Hiền sĩ lập ra Bạch liên xã là căn cứ chủ yếu cho việc hoằng truyền tín ngưỡng Tịnh độ. - Quyển 4: Thiên Cổ nhân lưu đề, ghi lại thơ văn của các tao nhân mặc khách có liên quan đến đất Lô sơn. - Quyển 5: Thu gom các đề danh của cổ nhân và mục lục các văn bia có liên quan đến Lô sơn.

lư sơn liên tông bảo giám

(廬山蓮宗寶鑒) Cũng gọi Lô sơn ưu đàm bảo giám, Lô sơn liên tông bảo giám niệm Phật chính nhân, Niệm Phật bảo giám, Liên tông bảo giám. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Phổ độ soạn vào đời Nguyên, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Ngài Từ chiếu Tử nguyên đời Nam Tống sáng lập Bạch liên tông theo đúng tông chỉ Niệm Phật tam muội của Bạch liên xã do ngài Lô sơn Tuệ viễn đời Đông Tấn chủ xướng. Sách này dựa theo tông chỉ ấy mà được soạn thành. Gồm 10 thiên: Niệm Phật chính nhân, Niệm Phật chính giáo, Niệm Phật chính tông, Niệm Phật chính phái, Niệm Phật chính tín, Niệm Phật chính hạnh, Niệm Phật chính nguyện, Niệm Phật vãng sinh chính quyết, Niệm Phật chính báo và Niệm Phật chính luận.Vào thời nhà Nguyên, những người tự nhận là Liên tông phần nhiều làm trái với tông chỉ của Tổ Tuệ viễn và bản ý của Tổ Tử nguyên, cho nên ngài Phổ độ mới sưu tập rộng rãi các tư liệu liên quan đến Liên tông mà soạn thành sách này, hoàn tất vào năm Đại đức thứ 9 (1305) đời vua Thành tông nhà Nguyên. Đến niên hiệu Chí đại năm đầu (1308), Bạch liên tông bị triều đình cấm hoạt động, ngài Phổ độ quyết chí phục hưngBạch liên tông, mới dâng sách này lên vua. Niên hiệu Hoàng khánh năm đầu (1312), vua ban sắc cho phép Bạch liên tông được hoạt động trở lại. Như vậy đủ biết sách này quan trọng đối với Bạch liên tông ra sao. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục Q.5; Nguyên sử Q.212].

lư sơn lưu

(廬山流) Cũng gọi Tuệ viễn lưu, Bạch liên xã niệm Phật môn. Chỉ cho Bạch liên xã ở Lô sơn do ngài Tuệ viễn sáng lập vào đời Đông Tấn, là 1 trong 3 dòng của tông Tịnh độ, Trung quốc. Vào khoảng năm Thái nguyên (376-396) đời vua Vũ đế nhà Đông Tấn, ngài Tuệ viễn đặt chân đến Lô sơn, lần lượt xây cất các chùa Long tuyền, Đông lâm, tinh xá Bát nhã đài, v.v... kiến lập đạo tràng niệm Phật, đào ao trồng hoa sen trắng(bạch liên)trước đạo tràng, rồi cùng với 123 người đồng hạnh, thệ nguyện kết lập Lô sơn Bạch liên xã. Thành viên của Bạch liên xã phần nhiều là các bậc long tượng trong Thiền môn và các bậc hiền tuấn của văn đàn như các ngài: Tuệ trì, Đạo sinh, Đàm thuận, Phật đà bạt đà la, Lưu di dân, Lôi thứ tôn, v.v... Trong đó, ông Lưu di dân soạn bài Tây phương phát nguyện văn, ông Vương kiều chi làm Niệm Phật tam muội thi(ngài Tuệ viễn viết lời tựa), v.v... Qua các văn phẩm trên, người ta có thể thấy rõ mục đích của Bạch liên xã là đặt niềm tin vào việc niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ và thực hành Thiền pháp Quán Phật tam muội. Trong bài tựa Niệm Phật tam muội thi, ngài Tuệ viễn nói (Đại 47, 166 thượng): Các pháp môn tam muội, Danh mục kể rất nhiều; Nhưng công cao dễ tiến, Niệm Phật là đứng đầu. Môn niệm Phật của dòng Lô sơn đối với Tịnh độ giáo ở đời sau, có ảnh hưởng rất lớn. Như Đạo tràng niệm Phật của ngài Pháp chiếu được kiến lập vào năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường; Tịnh hạnh xã của ngài Tỉnh thường được kết lập vào khoảng năm Thuần hóa (990-994) đời Tống, Liên hoa thắng hội của ngài Tông trách được sáng lập vào khoảng năm Nguyên hựu (1086-1093) đời Tống; Tịnh độ hệ niệm đạo tràng hội của ngài Đạo sâm được thành lập vào khoảng năm Thiệu hưng (1131-1162) đời Nam Tống, v.v... Những ngài trên đây đều hâm mộ gia phong của Lô sơn truyền lại mà kiến lập đạo tràng niệm Phật để đạo tục cùng tu. Tại Nhật bản, môn Tịnh độ cũng chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của dòng Lô sơn. Vào năm Diên hựu thứ 3 (1316) đời Nguyên, sư Trừng viên, người Nhật bản, đến Lô sơn bái yết ngài Phổ độ. Vài năm sau, sư trở về nước, cũng phỏng theo môn phong của ngài Phổ độ, kết lập Niệm Phật xã, từ đó trở đi, môn niệm Phật của dòng Lô sơn được lưu truyền trong giới Phật giáo Nhật bản. Đối tượng giáo hóa của dòng Lô sơn phần nhiều là bậc cao sĩ hoặc người ẩn cư, thái độ giảng dạy thường lấy tri thức nghĩa giải làm mục tiêu, xem Tịnh độ của Phật Di đà là cõi ứng hóa và cho rằng hạng phàm phu chỉ có thể vãng sinh Sự tịnh độ, chứ không đạt được Lí tịnh độ hoặc Chân tịnh độ. Về sau, quá thiên về mặt lí thuyết sâu xa khó hiểu, đánh mất cái đặc sắc tông giáo, cho nên dòng Lô sơn đã dần dần suy vi. [X. Lô sơn liên tông bảo giám Q.1,4; Lạc bang văn loại Q.2].

lư sơn thập bát hiền

(廬山十八賢) Cũng gọi Liên xã thập bát hiền. Mười tám vị hiền sĩ trong số 132 thành viên của Bạch liên xã, do ngài Tuệ viễn đời Đông Tấn sáng lập ở chùa Đông lâm tại Lô sơn, tỉnh Giang tây, Trung quốc, mà người đời sau gọi là Lô sơn thập bát hiền. Đó là các ngài: Tuệ viễn, Tuệ vĩnh, Tuệ trì, Đạo sinh, Đàm thuận, Tuệ duệ, Đàm hằng, Đạo bính, Đàm tân, Đạo kính, Phật đà da xá, Phật đà bạt đà la, Lưu di dân, Trương dã, Chu tục chi, Trương thuyên, Tông bính và Lôi thứ tôn. Truyện kí về Thập bát hiền đầu tiên được ghi chép trong truyện Liên xã cao hiền. Truyện này đã được thu chép trong Phật tổ thống kỉ quyển 26 (Tịnh độ lập giáo chí) của ngài Chí bàn. Vào đời Thanh, khi Hán Ngụy Tùng Thư được hiệu đính và tăng bổ, ông Vương mô cũng đem truyện này biên vào, nhưng truyện này không được xem là sách cổ đời Tấn, mà con số 18 ở đây cũng có người cho rằng đã chịu ảnh hưởng của thuyết 18 vị La hán lưu hành ở thời đại Đường Tống. Ngoài ra, nhà thờ Thập bát hiền từng được xây dựng ở Lô sơn, nhưng hiện nay không còn nữa.

lư sơn y

(廬山衣) Áo pháp của chư tăng Tịnh độ Nhật bản. Lô sơn y là biến tướng của áo An đà hội (áo 5 điều), điều tướng nhỏ và dài, cho nên cũng gọi là Uy nghi tế y. Áo này được mặc khi đi hành cước hoặc lúc làm việc, đắp trên vai trái rũ xuống đầu gối phải. Tương truyền, vào đời Tống, có sư Viên tâm (Húc liên xã Trừng viên), người Nhật bản, đến Trung quốc có mang theo loại áo này từ Lô sơn về Nhật bản, vì thế gọi là Lô sơn y.

lư thần

Kharostha (skt)— 1) Môi lừa: Kondey lips. 2) Tên của một hiền triết nổi tiếng về khoa chiêm tinh—Name of a sage celebrated for his astronomical knowledge.

lư tiền mã hậu

(驢前馬後) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lừa trước ngựa sau, nghĩa là người đầy tớ chạy theo sau chủ để hầu hạ. Trong Thiền tông, nhóm từ này được dùng để chỉ cho kẻ chỉ biết chạy theo lời nói và việc làm của người khác, còn chính mình thì chẳng có cơ dụng đặc biệt nào cả. Chương Lương giới trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 323 thượng), ghi: Sư nói: Khổ thay! Khổ thay! Người thời nay phần nhiều đều như thế cả, chỉ nhận lừa trước ngựa sau (lư tiền mã hậu) cho là mình. Phật pháp suy vi chính là vì lẽ ấy. [X. tắc 53 Bích nham lục].

lư xá na

Locana (skt). 1) Chiếu sáng: Illuminating. 2) Báo thân, một trong tam thân Phật: One of the forms of the Trikaya, similar to the sambhogakaya. 3) Đức Tỳ Lô Giá Na: Vairocana Buddha.

lư yên kiều

(驢鞍橋) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho mảnh xương của con lừa có hình dáng giống như cây cầu (kiều). Yên kiều chỉ cho cái yên ngựa, vì hình dáng của nó rất giống với cây cầu, cho nên mới gọi là Yên kiều. Vậy mà có người con khờ dại lại nhận lầm lư yên kiều là mảnh xương hàm dưới của cha mình, rồi kính cẩn rước về nhà để thờ phụng. Vì thế, Thiền lâm thường dùng từ ngữ này để ví dụ cho người mê muội không phân biệt được điều hư, thực. Chương Cốc ẩn Uẩn thông trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 11 (Vạn tục 138, 210 thượng), nói: Chớ nên nhận lầm mảnh xương con lừa (giống cái yên ngựa) là xương hàm dưới của cha mình!. [X. tắc 98 trong Bích nham lục; tắc 38 trong Thung dung lục]. (xt. A Da Hạ Hàm).

lư đàn

A fire-altar.

lư đồng

Bronze incense burner.

lưng

Back.

lưng chừng

Half-way.

lưng còm

Hunch-backed--Humpbacked.

Lưu

流; C: liú; J: ru;|1. Chảy, trôi giạt; dòng chảy, sự trôi chảy, dòng suối (s: drava); 2. Dòng chảy tâm thức (s: strotas); 3. Trôi nổi, trôi dạt, lang thang, sa ngã. Không ổn định; 4. Đồng nghĩa với Lậu (漏), có nghĩa là phiền não (煩惱); 5. Một lớp, nhóm, loại (chủng loại 種類).

lưu

1) Chảy (nước) hay lan rộng ra: Flow—Spread. 2) Lưu giữ: To keep—To detain. 3) Lưu truyền: To hand down. 4) Nổi trôi: To float—To wander.

lưu bằng

(劉馮) Danh sĩ Trung quốc sống vào đời Tùy, người Kinh dương, tỉnh Thiểm tây. Lưu bằng rất tinh thông về số học nội điển và ngoại điển. Ông nhận thấy các đơn vị số đếm như đại thiên, do tuần mà các nhà phiên dịch kinh luận tính toán đều khác nhau, vì thế ông soạn ra bộ sách Nội ngoại bàng thông tỉ giảo số pháp 1 quyển, ghi chép các đơn vị số đếm trong các kinh và các đơn vị số đếm có sẵn của Trung quốc rồi so sánh chỗ dị, đồng để làm tư liệu tham khảo cho người dịch kinh đời sau. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.12].

Lưu bố

流布; C: liúbù; J: rufu;|1. Phổ biến khắp thế gian, truyền bá Phật pháp khắp nơi (s: spharaṇa); 2. Từ hay thành ngữ thường được hiểu theo ngôn ngữ thế gian thường tình (s: vyapadeśa).

lưu chi

An abbreviation for Bodhiruci—See Bodhiruci in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Lưu chuyển

流轉; C: liúzhuăn; J: ruten;|1. Khả năng các pháp hữu vi tương tục trong vận hành nhân quả không ngừng nghỉ. Là một trong các pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức; 2. Luân hồi (s: saṃsāra). Luân chuyển trong vòng sống chết do mê lầm. Đồng nghĩa với Luân hồi (輪廻).

lưu chuyển

Samsara (skt)—Lưu chuyển có nghĩa là liên tục khởi dậy không ngừng, chỉ nhân quả của các pháp hữu vi liên tục mà sinh ra (tất cả phàm phu gây tội tạo nghiệp thiện ác, cảm thọ quả lạc khổ đều trong luân hồi trong sáu nẻo)—Transmigration, flowing and returning, flowing back again. ; (流轉) Phạm: Pravftti. Đối lại: Hoàn diệt. Trôi lăn xoay vòng, tức là sinh tử nối nhau không dứt, phải vòng quanh trong 3 cõi, 6 đường, là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành. Tông Duy thức cho rằng do tạo nghiệp thiện ác mà phải chịu quả báo sinh tử liên tục không gián đoạn, gọi là Nhiễm ô thanh tịnh lưu chuyển; các pháp hữu vi sinh diệt từng sát na nối nhau không dứt, gọi là Sát na triển chuyển lưu chuyển; sự sinh diệt chuyển biến liên tục của hữu tình trong 1 kì hạn, gọi là Sinh triển chuyển lưu chuyển, cũng gọi là Sinh thân triển chuyển lưu chuyển. [X. luận Du già sư địa Q.3, 56; luận Hiển dương thánh giáo Q.1, 14].

lưu chuyển chân như

Một trong hai loại chân như, dù lưu chuyển trong sinh tử, song thực tính của chân như thì chân thực như thường—One of the two kinds of bhutatathata, or absolute, in transmigratory forms. ; (流轉真如) Phạm: Pravftti- tathatà. Cũng gọi Sinh chân như, Sinh như như, Luân chuyển như như, Sinh khởi chân thực. Thực tính của tất cả hữu tình lưu chuyển trong cõi sinh tử. Chúng sinh tuy trôi lăn trong vòng sinh tử, nhưng thực tính của chúng sinh thì vẫn chân thực thường nhiên, không thay đổi, không trước sau. Giải thâm mật kinh sớ quyển 6 (Vạn tục 34, 441 hạ), nói: Tất cả các Hành không có tính trước sau. Về nghĩa này có 3 cách giải thích. Cách thứ 1 cho rằng chân như thực tính trong tất cả các Hành không có giới hạn trước sau, nên gọi là Vô tiền hậu tính. Cách thứ 2 cho rằng tất cả các Hành niệm niệm sinh diệt, từ chỗ không có mà có, gọi là Sinh, nên nói là Vô tiền; có rồi lại không, gọi là Diệt, nên nói là Vô hậu. Còn cách thứ 3 thì cho rằng vì các Hành lưu chuyển, không đầu không cuối, nên gọi là Vô tiền hậu. Trong đó, cách thứ nhất giải thích theo thực tính, còn 2 cách sau nói theo tùy tướng. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Du già sư địa Q.77]. (xt. Thất Chân Như).

lưu chuyển môn

Từ nầy đối lại với “tịch diệt môn” hay niết bàn (các nghiệp vô minh phiền não từ vô thủy đến nay, gây nghiệp thiện ác, khiến cảm thọ quả lạc khổ)—The way of transmigration, as contrasted with that of nirvana (Diệt môn).

lưu chú

1) Để ý đến: To pay attention to. 2) Tuôn chảy không ngừng: Continuous flow—Ceaseless. ; (流注) Dòng nước trôi chảy. Trong Phật giáo, danh từ này được sử dụng để ví dụ với các pháp hữu vi sinh diệt từng sát na, nối nhau không dứt. Hoặc ví dụ cho phiền não vọng tưởng liên tục không gián đoạn.

Lưu Cầu

劉虬; C: liúqiu; J: ryūkyū; 438-495.|Một nhà nghiên cứu Phật học thời Nam Bắc triều tại Trung Hoa. Ban đầu ông là một vị quan sứ, nhưng sau dành cuộc đời của mình cho việc nghiên cứu Phật học. Ông nổi danh vì những bài luận giải về những thuyết »Làm việc thiện không có nghiệp báo« và »Đốn giáo Tiệm giáo«. Ông cũng đưa ra một dạng phân chia thời gian thuyết pháp của đức Phật thành năm thời. Ngoài ra, ông cũng thuyết giảng và viết luận giải về kinh Pháp Hoa và Niết-bàn.

lưu cầu

(劉虬) (437- 495) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Niết dương, Nam dương, (phía nam huyện Trấn bình, tỉnh Hà nam hiện nay), tự là Linh dự, Đức minh. Ông là người cao thượng, liêm khiết và hiếu học, thông minh hơn người, trau dồi kinh sử, nhất là kinh Phật. Trong năm Thái thủy (465-471) đời Lưu Tống, ông được mời làm Kí thất cho Tấn vương, nhưng không bao lâu xin từ chức. Đầu năm Kiến vũ (494- 497), ông lại được mời ra làm quan nhưng không đến nhậm chức, chỉ ở nhà học Phật, ăn chay trường, tụng kinh, lễ bái, thông suốt tạng kinh, hiểu rõ pháp Thiền, thường đóng cửa phòng, ngồi một mình yên lặng. Vì mến cảnh vắng vẻ cách xa trần tục nên ông dời đến ở châu Tây sa tại Giang lăng. Ông thường giảng kinh Niết bàn, kinh Bát nhã (Đại phẩm, Tiểu phẩm), 4 chúng cung kính lắng nghe, thảy đều khen ngợi. Ông có tác phẩm Chú Pháp hoa kinh nhưng đã bị thất lạc, chỉ còn thấy những đoạn văn được trích dẫn trong các bộ Pháp hoa kinh văn cú của ngài Trí khải và Pháp hoa huyền luận, Pháp hoa nghĩa sớ của ngài Cát tạng mà thôi. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 1 và Tam luận du ý nghĩa có ghi thuyết Ngũ thời thất giai là phán giáo do ông Lưu cầu lập ra. Mùa đông năm Kiến vũ thứ 2 (495) đời Minh đế nhà Tề, ông qua đời thọ 59 tuổi. [X. truyện Pháp an trong Tục cao tăng truyện Q.9, Nam sử liệt truyện thứ 40].

lưu cầu phật giáo

(琉球佛教) Phật giáo xứ Lưu cầu. Lưu cầu xưa kia thuộc Trung quốc, cho mãi đến đời nhà Thanh vẫn còn triều cống, do đó đã trở thành vấn đề giữa Trung quốc và Nhật bản. Vào đầu năm Quang tự (khoảng 1875- 1908) đời Thanh, Nhật bản thôn tính đảo Lưu cầu, đổi tên là Xung thằng và đặt làm 1 huyện của Nhật bản, nhưng Trung quốc thì vẫn gọi là Lưu cầu. Theo truyền thuyết, Xung thằng là do Thiên thần A ma mĩ cửu sáng lập, vì địa thế ngoằn ngoèo uốn khúc như con rồng nổi trong nước nên gọi là Lưu cầu ( ), sau đổi thành Lưu cầu (.....). Phật giáo ở nơi này bắt đầu từ khi vua Anh tổ xây dựng chùa Cực lạc (khoảng năm 1265-1274) ở Phố thiêm. Không bao lâu, có sư Lại trọng Pháp ấn, người Nhật, sáng lập chùa Hộ quốc trên núi Ba thượng ở Na bá. Năm Tuyên đức thứ 5 (1430) đời vua Tuyên tông, hoạn quan Sài sơn xây Đại an Thiền tự. NămTuyên đức thứ 8 (1433) sáng lập Thiên Phật linh các. Vua Thượng thái cửu (1454-1460) ban sắc lần lượt kiến tạo 3 chùa: Quảng nghiêm, Phổ môn và Thiên long, thỉnh vị tăng người Nhật là ngài Giới ẩn Thừa hổ làm Trụ trì khai sơn. Nhà vua còn xây dựng chùa viện ở các nơi và đúc chuông lớn để cúng dường các chùa nổi tiếng như: Báo ân, Đại thánh v.v... cho nên trong sử sách, ông được gọi là Phụng Phật danh quân (vị vua nổi tiếng thờ Phật). Năm Thiên thuận thứ 2 (1458) đời vua Anh tông, vua Thái thượng cửu lại phái vị tăng người Nhật là Đạo an đến Triều tiên thỉnh Tạng kinh. Năm Thiên thuận thứ 6 (1462), vua Thượng đức cũng phái ngài Phổ tu cổ, thỉnh từ Triều tiên về 1 bộ Đại tạng kinh và các kinh điển khác như: Kim cương, Pháp hoa, Thiên thai tứ giáo nghi, Tâm kinh, Đại bi tâm kinh, Lăng nghiêm, Khởi tín luận, Phiên dịch danh nghĩa tập v.v... Về sau, Lưu cầu thường qua lại với giới Phật giáo Triều tiên. Năm Vạn lịch 31 (1603) đời Minh, vị tăng thuộc tông Tịnh độ Nhật bản là ngài Đại trung truyền bá kinh sách Phật giáo và xiển dương pháp môn niệm Phật tại Lưu cầu, đồng thời, ngài cũng soạn Lưu cầu thần đạo kí 5 quyển, nói rõ về tình hình chung và sự thay đổi của các chùa viện ở Lưu cầu. Năm Khang hi thứ 10 (1671) đời vua Thánh tổ nhà Thanh, vị Trụ trì chùa Hộ quốc là ngài Lại xương xin phép triều đình đổi 3 ngôi chùa Thần ứng, Vạn thọ và Thánh hiện của Thiền tông thành chùa Chân ngôn tông. Vào năm Đồng trị thứ 7 (1868), thời Minh trị Duy tân biến cách, chư tăng thuộc các phái Thiền tông đều cầu đảo Thần Phật xin chấm dứt sự tra khảo và giết chóc tại các nhà tù. Trong thời Minh trị Duy tân, các chùa viện ở Lưu cầu được chia làm Công tự và Hiếp tự. Sau thời Duy tân, các chùa viện không còn được sự bảo hộ của nhà vua nên bị suy đồi nhanh chóng. Và sau thế giới đại chiến lần thứ 2 thì Phật giáo Lưu cầu đã mất hẳn cái cảnh huống hưng thịnh của thế kỉ thứ 17. Phật giáo Lưu cầu chia làm 2 pháp hệ lớn là Nhật bản Chân ngôn tông và Lâm tế tông. Lễ hội Niệm Phật dũng được dân gian cử hành vào tháng 8 hằng năm, có thể nói đó là di phong tông Tịnh độ do ngài Đại trung truyền lại. Sau thời Minh trị, phần lớn các Thiền viện thuộc về phái Diệu tâm tự tông Lâm tế, còn các chùa tông Chân ngôn thì thuộc về phái Đông tự của tông Chân ngôn, chỉ ở Na bá có chùa Chân giáo của phái Đại cốc thuộc tông Chân ngôn. [X. Đông di liệt truyện trong Tùy thư Q.81; Ngoại quốc liệt truyện trong Minh sử Q.211; Trung sơn thế giám cổ; Kim đồ thư tập thành biên duệ điển thứ 100; Lưu cầu chi tông giáo (Thu sơn Khiêm tạng).

lưu danh

To leave a good name.

lưu di dân

(劉遺民) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Đông Tấn, người Bành thành (Đồng sơn, Giang tô), tên Trình chi, tự Trọng ân. Mới đầu, ông ra làm quan, giữ chức Phủ tham quân, rồi làm Huyện lệnh Nghi xương và Sài tang, sau ông từ chức và cùng với Chu tục chi, Đào uyên minh lui về sống ẩn dật, người đương thời gọi là Tầm dương tam ẩn (ba ẩn sĩ đất Tầm dương). Còn hiệu Di dân tương truyền là do vua Vũ đế nhà Lưu Tống đặt cho những người không vâng sắc lệnh của nhà vua để nêu cao tinh thần bất khuất của họ. Về sau, ông vào Lô sơn thờ ngài Tuệ viễn làm thầy, dựng 1 căn nhà riêng trong núi, chuyên tu Thiền pháp suốt 15 năm, nhiều lần cảm hào quang của Phật. Ông cùng với ngài Tuệ viễn kết Bạch liên xã ở chùa Đông lâm, thệ nguyện vãng sinh Tịnh độ, soạn Lô sơn Bạch liên xã thệ văn (được thu vào Lạc bang văn loại quyển 2), đến nay vẫn còn truyền tụng. Mùa đông năm Nghĩa hi thứ 6 (410), ông biết trước giờ lâm chung đã đến nên đốt hương lễ Phật, ngồi ngay thẳng quay mặt về hướng tây mà vãng sinh, hưởng thọ 59 tuổi. Ông có tác phẩm: Huyền phổ 1 quyển. [X. Lạc bang di cảo Q.thượng; Long thư Tịnh độ văn Q.5; Đông lâm thập bát cao hiền truyện; Tịnh độ thánh hiền lục Q.6; Lô sơn liên tông bảo giám Q.4, Toàn Tấn văn Q.142].

lưu di ni

See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Lâm Tì Ni in Vietnamese-English Section.

lưu duệ chi

(劉銳之) (1914-?) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Đông hoàn tỉnh Quảng đông. Ông xuất thân từ quân ngũ, từng học pháp nơi ngài Nặc na hô đồ khắc đồ. Năm 1949, ông ra ở tại Hương cảng. Năm 1959, ông đến Ấn độ ở tại tiểu bang Cát lâm, theo học Pháp vương Đôn châu thuộc phái Ninh mã ba của Hồng giáo Tây tạng lúc đó đang cư ngụ tại Ấn độ và được truyền trao pháp Quán đính, pháp danh là Thư nang trác (nghĩa là Phúc đức pháp chàng). Sau khi trở về Hương cảng, ông tích cực hoằng dương pháp môn Hồng giáo. Ông lần lượt thành lập Kim cương thừa học hội, Tam luân Phật học xã, Đôn châu tinh xá tại Hương cảng và Kim cương thừa học hội tại Đài loan, đồng thời, ấn hành các kinh điển Mật giáo. Ông có các tác phẩm: Tâm kinh mật nghĩa xiển thuật, Chư gia đại thủ ấn tỉ giáo nghiên cứu, Đại huyễn hóa đạo dẫn pháp.

lưu dụng

To maintain someone (a retired) in his or her post.

lưu hiệp

(劉勰) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Lương thuộc Nam triều, người Đông hoàn cử, tự Ngạn hòa, hiệu Vân môn tử. Sư mồ côi từ thủa nhỏ, nhà nghèo, ở núi Vân môn tại Thanh châu, tu học khắc khổ, thông suốt nội ngoại điển, có tài làm văn, đặc biệt giỏi ngâm vịnh, không nghĩ đến việc lập gia đình, chỉ thích bố thí. Sư theo ngài Tăng hựu hơn 10 năm, nghiên cứu các kinh luận rất sâu sắc. Bộ Xuất tam tạng kí tập 15 quyển do ngài Tăng hựu soạn, là bộ mục lục kinh Phật nổi tiếng ở Trung quốc, chính đã nhờ sự trợ giúp của sư trong việc biên soạn. Sư từng soạn Diệt hoặc luận rất được Thái tử Chiêu minh tán thưởng. Về sau, sư cùng với sa môn Tuệ chấn vâng mệnh vua sửa kinh ở chùa Định lâm, nhân đó xin xuất gia, pháp danh là Tuệ địa. Ít lâu sau sư tịch. Tác phẩm Văn tâm điêu long 10 quyển của sư, cùng với tập Thi phẩm của Chung vanh được xem là 2 viên ngọc trong loại sách phê bình văn học của Trung quốc. Trong tác phẩm của mình, sư dùng nhiều khoa mục của Phật giáo để qui định pháp tắc của văn chương, lại thường hội thông âm nghĩa của tiếng Phạm và Hán để nói rõ về tư tưởng văn nghệ. Bởi thế, cho đến ngày nay, bộ Văn tâm điêu long của sư vẫn còn được giới học thuật xem trọng. [X. Hoằng minh tập Q.8; Lương thư Q.50; Nam sử Q.72].

lưu hành

To circulate—To propagate.

lưu khách

To keep one's guest.

lưu kệ phó chúc cho đại chúng

A Patriarch leave a gatha to the assembly.

Lưu lai

流來; C: liúlái; J: rurai;|Sự luân chuyển liên tục trong sinh tử luân hồi từ vô thuỷ cho đến bây giờ.

lưu lai

Trôi nổi không ngừng, từ vô thủy chúng sanh đã trôi nổi trong biển đời sanh tử không ngừng cho đến hôm nay—Flowed or floated down; that which has come down from the past.

lưu lai sanh tử

Do bởi vô minh mà luân hồi sanh tử không ngừng—Transmigration which has come down from the state of primal ignorance.

lưu lai sinh tử

(流來生死) Cũng gọi Lưu nhập sinh tử. Sự sinh tử trôi chảy vòng quanh từ vô thủy đến nay, là 1 trong 7 loại sinh tử. Chúng sinh từ vô thủy đã mê mất chân tính, chạy theo vọng tưởng nên bị trôi lăn chìm nổi trong biển khổ sinh tử không dứt, gọi là Lưu lai sinh tử. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6]. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).

lưu luyến

To be attached to (fond of).

lưu ly

Lapis lazuli. ; (琉璃) Phạm:Viđùrya. Pàli:Veluriya. Hán dịch: Thanh sắc bảo,Viễn sơn bảo, Bất viễn sơn bảo. Cũng gọi Phệ nỗ li dã, Phệ lưu li da, Bề trù lợi dạ, Phệ lưu li, Tì lưu li, Phiệt lưu li, Tì đầu lê. Một loại đá quí có nhiều màu như: Xanh, trắng, đỏ, đen, lục v.v... trong suốt như mắt mèo, là 1 trong 7 thứ báu. Tính chất đặc biệt của lưu li là đồng hóa màu sắc của các vật khác. Tương truyền, màu xanh của da trời là do ngọc lưu li ở phía nam núi Tu di ánh hiện lên. Và Quan âm Lưu li trong 33 hóa thân của bồ tát Quan thế âm là biểu trưng đức đồng hóa lưu li mà ứng hiện ra đời để nhiếp hóa chúng sinh. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 1 (Đại 54, 317 trung), nói: Ngọc lưu li tỏa ra ánh sáng màu xanh trong suốt làm cho các vật gần đó đều trở thành màu xanh. Viên ngọc cài trong búi tóc của trời Đế thích chính là loại ngọc báu này. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24, phần chú thích trong Tiền Hán thư truyện 66, thượng].

lưu ly kim sơn bảo hoa quang chiếu cát tường công đức hải như lai

(琉璃金山寶花光照吉祥功德海如來) Danh hiệu đức Phật được ghi trong phẩm Cát tường thiên nữ kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 8. Vào thời đức Phật này xuất hiện ở quá khứ, thiên nữ Cát tường đã trồng các căn lành nên được quả báo giàu có, an lạc và tự tại. Nếu người nào chí thành đọc tụng kinh Kim quang minh tối thắng vương, hàng ngày đốt các thứ hương thơm, dâng hoa tươi cúng dường đức Phật này, rồi xưng niệm danh hiệu thiên nữ Cát tường thì cũng sẽ được giàu có yên vui.

lưu ly quan âm

(琉璃觀音) Cũng gọi Cao vương Quan âm, Hương vương Quan âm. Vị Bồ tát hay cứu chúng sinh khỏi các nỗi khổ ách, là 1 trong 33 ứng thân Quan âm. Cứ theo Khai nguyên thích giáo lục quyển 18, khoảng năm Thiên bình (534- 537), ông Tôn kính đức ở Định châu tạo tượng Quan âm, thường ngày thờ cúng lễ bái. Sau ông bị giặc bắt đi. Đêm hôm trước khi bị hành hình, ông nằm mộng thấy 1 vị tăng đến dạy ông đọc tụng kinh Cao vương Quan thế âm đủ 1 nghìn biến. Khi tỉnh dậy ông liền tụng 1 nghìn biến đúng như lời dạy của vị tăng. Đến khi ra pháp trường, ông bị chém 3 lần mà chỉ gãy dao chứ ông không hề hấn gì. Quan chức coi pháp trường lấy làm lạ, bèn tha tội chết. Ông trở về lễ bái tượng Quan âm, nhìn lên cổ của tượng thấy có 3 vết dao chém. Từ đó vị Bồ tát này được nhiều người tín ngưỡng. Tượng vị Bồ tát này thông thường được lưu hành là 2 tay bưng bình lưu li, đứng trong 1 cánh sen nổi trên mặt nước. [X. Đại đường nội điển lục Q.10; Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Phật tượng đồ vựng Q.2].

Lưu Ly Thế Giới

(琉璃世界): hay Tịnh Lưu Ly Thế Giới (淨琉璃世界), Đông Phương Tịnh Lưu Ly Thế Giới (東方淨琉璃世界), Lưu Ly Quang Thế Giới (琉璃光世界), Đông Phương Tịnh Độ (東方淨土), là cõi Tịnh Độ của đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師), lấy ngọc Lưu Ly (s: vaiḍūrya, 琉璃) làm đất. Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraṇidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經, Taishō No. 450), ngoài 10 hằng hà sa Phật độ có thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) và giáo chủ của thế giới đó là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Thế giới này được gọi là cõi Tịnh Độ ở phương Đông, cũng trang nghiêm như cõi nước Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂) của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Trong thời gian hành Bồ Tát đạo, vị Phật này có phát 12 lời nguyện lớn và nhờ lời nguyện này nên hiện tại ngài thành Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly, có hai vị Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光) thường xuyên hộ trì hai bên. Trong Bách Trượng Tùng Lâm Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈叢林清規證義記, CBETA No. 1244) quyển 2 có đoạn: “Do thị hiện suất chúng tăng, cẩn phát thành tâm, tề tụng Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát thánh hiệu, dụng thân cứu hộ (由是現率眾僧、謹發誠心、齊誦東方琉璃世界、日光遍照菩薩聖號、用伸救護, nhân đó hiện tại tập trung chúng tăng, dốc hết tâm thành, cùng tụng Đông Phương Lưu Ly Thế Giới, thánh hiệu Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, cầu xin cứu giúp).” Hay trong Phật Thuyết Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mạng Kinh (佛說北斗七星延命經, Taishō No. 1307) cũng có câu: “Nam Mô Phá Quân Tinh, thị Đông Phương Lưu Ly Thế Giới Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Phật (南無破軍星、是東方琉璃世界藥師琉璃光如來佛, Kính lễ Phá Quân Tinh, là đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ở Thế Giới Lưu Ly phương Đông).”

lưu ly đàn

(琉璃壇) Chỉ cho giới đàn làm bằng ngọc báu lưu li. Tống cao tăng truyện quyển 11 (Đại 50, 775 hạ), nói: Thích Tòng thẩm, người Lâm chuy, Thanh châu (...), xuất gia ở chùa Long hưng tại bản châu, sau đó đến đàn lưu li ở Tung sơn thụ giới. Ngoài ra, đàn thờ Phật có màu lưu li cũng được gọi là Lưu li đàn.

lưu ly đăng

(琉璃燈) Chỉ cho ngọn đèn thờ ở trước bồ tát Lưu li Quan âm. Trong kinh Dược sư lấy đức Dược sư Lưu li quang Như lai ở phương Đông làm Bản tôn, cho nên trong Pháp hội Dược sư thắp đèn lưu li cúng dường Phật Dược sư, gọi là Lưu li quang. Đến đời sau, đèn cúng dường trước bàn thờ Phật đều được gọi chung là Lưu li đăng. (X. Đại đường nội điển lục Q.10].

Lưu lãng

流浪; C: liúlàng; J: rūrō;|Đi lang thang không mục đích.

lưu lạc

Wandering.

lưu manh

Scoundrel.

Lưu Mật

(劉謐, Ryūhitsu, ?-?): vị luận sư chủ trương điều hòa Tam Giáo Nho-Thích-Đạo sống vào khoảng hai thời đại Tống và Nguyên, học giả đáng lưu ý nhất trong lịch sử quan hệ Tam Giáo. Chủ trương của ông cho rằng Nho Giáo thì đoan chánh, cang thường thể hiện luân lý đạo đức con người, Đạo Giáo sùng thượng tính thanh hư, vô vi, và Phật Giáo thì bỏ giả tìm chơn, tự lợi cho mình và đem lại lợi ích cho người, cho nên cả 3 tôn giáo đều có ý nghĩa và nhiệm vụ đối với nhân sinh, không thể thiếu cái nào cả. Trước tác của ông có Tam Giáo Bình Tâm Luận (三敎平心論) 2 quyển.

lưu mật

(劉謐) Học giả Trung quốc, sống vào thời đại Tống, Nguyên, người chủ trương điều hòa giữa Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo. Ông cho rằng Nho giáo là giềng mối dạy rõ đạo làm người, Phật giáo thì bỏ ngụy về chân, lợi mình lợi người, còn Đạo giáo thì chủ trương thanh tĩnh vô vi. Cho nên 3 giáo đều có ý nghĩa và lợi ích đối với đời sống con người trong xã hội, không thể thiếu một. Ông có soạn bộ Tam giáo bình tâm luận (2 quyển), đề là: Tĩnh trai học sĩ Lưu mật soạn. Trong sách này, ông cực lực bác bỏ luận điệu bài Phật của các nhà Nho đời Tống như: Âu dương tu, Chu hi, Trình minh đạo, Trình y xuyên v.v... mà chủ trương điều hòa 3 giáo.

lưu nan

Ma chướng che mất thiện nghiệp—The difficulty of one's good deeds being hindered by evil spirits. ; (留難) Tà ma đến ngăn cản việc làm thiện, đây là chướng nạn của người tu hành, nên gọi là Lưu nạn. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 832 hạ), nói: Thiên ma ở tầng trời thứ 6 cõi Dục thường đến chỗ đức Phật gây lưu nạn. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.3 (bản Bắc)].

lưu nã

Runna-pandakas (skt)—Bất nam—Castrated males. ; (留拿) Phạm: Ruịa. Người cắt bỏ nam căn, là 1 trong 5 loại bất nam. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 (Đại 54, 1083 thượng), nói: Lưu nã, Hán dịch là kiền, hoặc kịch. Dứt nam căn bằng dao. [X. luật Thập tụng Q.21]. (xt. Ngũ Chủng Bất Năng Nam).

lưu quán đỉnh

(流灌頂) Cũng gọi Lưu thủy quán đính, Lưu phan quán đính. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nghi thức đem lá phan quán đính hoặc tháp thả trôi trên sông biển để làm lợi ích cho các loài thủy tộc. Tức là làm 1 cái tháp, trên treo phan và những lá của cây mật rồi thả cho trôi trên mặt nước giúp cho các loài cá, cua, chim nước, quỉ tộc, xác chết v.v... được kết duyên với Phật. Nghi thức này không phải chính thức được nói trong các kinh điển, chỉ do các bậc cổ đức của Nhật bản dựa theo ý chỉ trong kinh mà đặt ra. Cách thực hành tùy theo các tông phái mà khác nhau. [X. Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập Q.5].

lưu quốc hương

(劉國香) (1926- ) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam, bút hiệu Viên hương. Ông tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân và phục vụ trong quân ngũ 13 năm. Ông tin Phật từ thủa nhỏ. Năm 1958, ông thụ giới Bồ tát và thờ ngài Đạo an làm thầy suốt 20 năm. Lúc đầu ông tu tập Thiền pháp, sau hướng tâm Tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sinh. Sau khi ra Đài loan, ông làm chủ biên nguyệt san Sư tử hống và là người sáng lập ra nguyệt san Thiện tri thức. Ông có các tác phẩm: Vũ hoa tập, Hồng lâu mộng dữ Thiền, Thánh tăng Huyền trang đại sư truyện.

lưu sa

1) Sự lưu chuyển của cát (vì gió thổi): Flowing or shifting sands. 2) Vùng đại sa mạc ở Mông Cổ: Desert regions in Mongolia. ; (流沙) Cũng gọi Sa hà, Đại lưu sa. Chỉ cho sa mạc Tháp khắc lạp mã can (Takla Makan) ở tây bộ tỉnh Tân cương, Trung quốc. Ngày xưa, các bậc Cao tăng Trung quốc sang Ấn độ cầu pháp, như các ngài: Pháp hiển, Huyền trang v.v... đều có đi qua sa mạc này. Điều Cù tát đát na quốc (Phạm: Kustana, Vu điền) trong Đại đường tây vực kí quyển 12 mô tả cảnh tượng trong sa mạc, gió thổi cát bay, 4 bề mù mịt, muốn tìm hướng đi nhưng không biết hướng nào, chỉ còn cách nhìn vào xương khô của người chết làm dấu mà đi! [X. Thích ca phương chí Q.thượng].

Lưu Thiết Ma

劉鐵磨; C: liú tiěmó; J: ryū tetsuma;|Một vị ni ngộ đạo thâm sâu, môn đệ của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Bà nổi tiếng trong những Pháp chiến được ghi chép lại. Ai đến bà mà sơ xuất đều bị »nghiền nát« (Thiết Ma nghĩa là »mài sắt«).|Một pháp chiến giữa bà và Thiền sư Quy Sơn được thuật lại trong Công án 24 của Bích nham lục: Lưu Thiết Ma đến Quy Sơn, Quy Sơn bảo: »Trâu cái già, ngươi mới đến.« Bà thưa: »Ngày mai Ðài Sơn có đại hội trai, Hoà thượng có đi dự chăng?« Quy Sơn buông thân nằm xuống, Bà liền đi ra.

lưu thiết ma

(劉鐵磨) Ni sư Trung quốc thuộc Thiền tông, sống vào đời Đường, họ Lưu không rõ pháp danh, vì cơ phong của sư rất sắc bén nên người đời gọi là Lưu thiết ma (Lưu mài sắt). Sư kết 1 ngôi am nhỏ cách Qui sơn, Đàm châu, 10 dặm, sư tham vấn ngài Qui sơn Linh hựu và được nối pháp của ngài. Sư cũng từng tham yết Thiền sư Tử hồ Lợi tung và thường cùng với các Thiền khách đương thời bàn về yếu chỉ của Thiền. Sư có công án Thiết ma lão tự ngưu rất nổi tiếng trong Thiền lâm. [X. chương Tử hồ Lợi tung trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; chương Qui sơn Linh hựu trong Liên đăng hội yếu Q.7; tắc 24 trong Bích nham lục].

lưu thuỷ trưởng giả tử

(流水長者子) Tiền thân của đức Phật khi tu hạnh Bồ tát. Cứ theo phẩm Lưu thủy trưởng giả tử trong kinh Kim quang minh quyển 4, có lần Trưởng giả tử cùng với 2 con tên là Thủy không và Thủy tạng đi du ngoạn các thành ấp, thôn làng; khi đến 1 vùng chằm rộng lớn, thấy 1 cái ao cạn hết nước, cá trong ao bị ánh nắng thiêu đốt, sắp bị chim thú ăn thịt. Bấy giờ Trưởng giả tử sinh tâm thương xót, liền đi tìm các cành cây che mát cho đám cá, rồi thuê 20 con voi lớn chuyên chở nước đến, nhờ thế mà đàn cá trong ao được sống lại. Trưởng giả tử lại mua thức ăn bố thí cho chúng và niệm danh hiệu Phật, nói pháp cho chúng nghe. Sau, Trưởng giả tử hội họp tân khách trong nhà, bày yến tiệc ăn uống. Bấy giờ mặt đất bỗng nhiên rúng động, 10 nghìn con cá cùng mệnh chung trong ngày ấy, chuyển đổi thân cá, sinh lên cõi trời Đao lợi. Lúc đó, Trưởng giả tử say rượu, đang nằm trên sân thượng, thấy có 10 nghìn vị thiên tử đến rải vô số trân châu, anh lạc xung quanh mình, rồi tung hoa trời để đền ơn cũ. Sau khi thuật lại nhân duyên ấy đức Phật nói: Trưởng giả tử Lưu thủy, nay chính là ta, Thủy không nay là La hầu la và Thủy tạng nay là A nan, còn 10 nghìn cá nay chính là 10 nghìn vị thiên tử. LƯU TÍCH Đối lại: Khởi đơn. Dừng lại ở 1 nơi. Khi chư tăng hành cước thường mang theo tích trượng, nên dừng lại ở 1 nơi nào gọi là Lưu tích. Ngoài ra, sau khi giải hạ mà còn ở lại tiếp tục an cư, cũng gọi là Lưu tích, hay Quải tích. [X. điều Niên phần hành pháp thứ tự trong Tăng đường thanh qui Q.3]. (xt. Khởi Đơn].

Lưu thông

流通; C: liútōng; J: ruzū;|Truyền bá sâu rộng Phật pháp.

lưu thông

Chảy đi khắp nơi không chướng ngại—Spread abroad; permeate; flowing through, or everywhere, without effective hindrances. ; (流通) Gọi đủ: Lưu truyền hoằng thông. Nhân vương bát nhã kinh sớ quyển thượng, phần 1, của ngài Cát tạng (Đại 33, 315 hạ), nói: Lưu nghĩa là tuyên bố; Thông nghĩa là không tắc nghẽn. Vì thế, truyền bá giáo pháp, làm cho giáo pháp được lưu hành phổ biến, gọi là Lưu thông. [X. kinh Tối thắng vương Q.3; Thập địa nghĩa kí Q.1].

lưu thông nhất niệm

(流通一念) Chỉ cho từ ngữ Nãi chí nhất niệm nói trong phần Lưu thông của kinh Vô lượng thọ. Đây là pháp tinh yếu mà đức Phật phó chúc cho bồ tát Di lặc.

Lưu thông phần

流通分; C: liútōng fēn; J: ruzūbun;|Phần cuối cùng trong 3 phần mà kinh điển Phật giáo thường được chia ra. Nội dung trong phần nầy là phân công lại cho những đệ tử đảm nhiệm công việc truyền bá kinh điển lại mẫi mãi cho đời sau. Trong kinh điển Đại thừa, phần nầy có đặc điểm là tán thán nội dung kinh và miêu tả chi tiết công đức đạt được do truyền bá và tu tập theo giáo lí trong kinh.

lưu thông phần

(流通分) Phần kết thúc của mỗi bộ kinh, trong đó ghi lời đức Phật dặn dò các vị đệ tử, phải truyền bá lưu thông rộng rãi kinh ấy cho đời sau. Ngài Đạo an đời Đông Tấn chia kinh điển làm 3 phần là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông gọi là Tam phần khoa kinh. (xt. Tam Phần Khoa Kinh).

lưu thù nguyên

(劉洙源) (1875-1950) Danh tăng Trung quốc, người huyện Trung giang, tỉnh Tứ xuyên, tên Phục lễ, tự Chu nguyên, biệt hiệu Li minh. Sư tốt nghiệp Đại học Kinh khoa tại Bắc kinh, giỏi văn học, thông tam lễ, từng làm giáo sư ở trường Sư phạm cao cấp ở tỉnh Tứ xuyên, Đại học Thành đô và trường Đại học Văn học Tứ xuyên. Sư tinh thông Duy thức, từng viết Duy thức học cương yếu. Sư đặc biệt hâm mộ ngài Vĩnh minh Diên thọ, nên vào năm Dân quốc 21 (1933), sư viết Tông kính lục đại khoa phán. Về già, sư ngưng viết sách, chỉ vui với Thiền. Tháng 3 năm Dân quốc 38 (1949), sư xuất gia ở chùa Diên tộ tại Hiếu tuyền, Đức dương, thụ Tam đàn cụ túc, pháp danh Xương tông. Sau đó ít lâu, sư nhận lời mời giảng kinh Lăng nghiêm và truyền pháp quán Tịnh độ. Sau, sư trở về Trung giang, trụ ở chùa Bạch vân, chuyên nghiên cứu giới luật. Năm Dân quốc 39 (1950) sư tịch, thọ 76 tuổi. Sư có các tác phẩm: Duy thức học cương yếu, Tông kính lục đại khoa phán, Tông kính lục tế khoa phán (5 quyển), Tông kính lục độc pháp (10 quyển), Tính tông pháp tạng (3 tập, tồn cảo).

lưu thủy

1) Nước chảy: Flowing water. 2) Tên của Đức Phật Thích Ca trong một tiền kiếp: Name of a former incarnation of Sakyamuni.

lưu truyền

To hand down—To hand on to posterity.

lưu trữ

To preserve—To conserve.

lưu tâm

To pay attention to—To mind.

lưu tương

Nước đồng sôi, hay những hòn sắt nóng chảy trong địa ngục—Liquid broth of molten copper, or grains of red-hot iron in one of the hells. ; (流漿) Uống nước đồng sôi, nuốt viên sắt nóng trong địa ngục. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 (Đại 54, 211 hạ), nói: Nếu không nghĩ đến cái khổ uống nước đồng sôi, nuốt viên sắt nóng ở địa ngục (lưu tương) về sau, thì ai biết hiện tại đang rước lấy cái họa của tội tặc trụ?.

lưu tống văn đế

(劉宋文帝) Vị Hoàng đế của nhà Lưu Tống thuộc Nam triều tên là Nghĩa long, trị vì từ niên hiệu Nguyên gia năm đầu đến năm 30 (424- 453); thời gian tại vị của ông được gọi là Nguyên gia trị thế. Nhà vua qui y Phật giáo và thường hỏi đạo vị cao tăng đương thời là ngài Tuệ nghiêm. Năm Nguyên gia thứ 8 (432), ngài Cầu na bạt ma, người nước Kế tân, đến kinh đô Kiến nghiệp, ở tại chùa Kì hoàn, giảng các kinh Hoa nghiêm, Pháp hoa, Thập địa kinh luận v.v..., ngài lại thiết lập giới đàn ở chùa Nam lâm, rồi phiên dịch kinh điển đến khi thị tịch mới thôi. Vua Văn đế rất kính trọng ngài. Nhà vua còn ban sắc cho vị tỉ khưu ni Bảo hiền làm Ni tăng chính tại Kinh ấp. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.14; Lương cao tăng truyện Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.8].

lưu tống vũ đế

(劉宋武帝) Vị Hoàng đế của nhà Lưu Tống thuộc Nam triều trị vì từ niên hiệu Vĩnh sơ năm đầu đến năm thứ 3 (420-422), tên là Dụ. Theo lời dự đoán của sa môn Pháp xứng, thì vua nhận lời thỉnh của vị thần ở Tung sơn mà lên ngôi Thiên tử, ngài Tuệ nghĩa cũng xác nhận thuyết này. Sau khi lên ngôi, vua thiết trai trong nội điện để cúng dường ngài Đạo chiếu (368-433).

lưu tỳ ni

See Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Lâm Tì Ni in Vietnamese-English Section.

lưu vong

Exile.

Lưu Vũ Tích

(劉禹錫, 772-842): thi nhân dưới thời nhà Đường, tự là Mộng Đắc (夢得), là thi hào được đánh giá ngang hàng với Bạch Cư Dị (白居易). Trước tác của ông có Lưu Tân Khách Tập (劉賓客集).

lưu xá na

Locana or Vairocana (skt)—Còn viết là Lô Giá Na, Lô Thác Na, Tỳ Lô Giá Na, đây là pháp thân của Phật Tỳ Lô Xá Na—Often regarded as the body of bliss of Vairocana.

lưu xả thọ hành

(留舍壽行) Từ gọi chung Lưu đa thọ hành và Lưu xả thọ hành. Nghĩa là đức Phật và các vị A la hán Câu giải thoát của Tứ thiền đều có năng lực kéo dài hoặc chấm dứt tuổi thọ của mình. Lưu đa thọ hành nghĩa là bậc A la hán vì giáo hóa chúng sinh, hộ trì Phật pháp mà dùng định lực kéo dài tuổi thọ của mình. Trái lại, xả đa thọ hành nghĩa là bậc A la hán tự xét thấy rằng mình sống ở đời chẳng mang lại lợi ích an vui cho người khác được bao nhiêu, hoặc bị các thứ khổ bệnh bức bách, cho nên các ngài chấm dứt tuổi thọ mà nhập diệt trước. Theo Câu xá luận quang kí quyển 3, thì vị A la hán phải có đủ 6 thắng duyên mới có thể lưu đa thọ hành, đó là: 1. Nhân thắng: Phải là bậc A la hán cực quả của Thanh văn. 2. Giải thoát thắng: Tuy là A la hán nhưng phải là bậc Thánh đã trừ sạch Phiền não chướng và Sở tri chướng. 3. Tu tập thắng: Vị A la hán Bất thời giải thoát trong các bậc Thánh Câu giải thoát, phải nhờ sự tu tập thiền định thù thắng, có khả năng xuất định, nhập định một cách tự tại thì mới có thể được lưu da thọ hành. 4. Phúc điền thắng: Bố thí các vật dụng như áo, bát cho chúng tăng để làm nhân cho lưu đa thọ hành. 5. Y chỉ thắng: Sau khi bố thí liền phát nguyện nhờ sức bố thí ấy nhất định chiêu cảm được quả dị thục sống lâu trong đời hiện tại, rồi vào định Biên tế của Tứ thiền, vì định này có chỉ và quán đồng đều. 6. Chuyển nghiệp thắng: Sau khi xuất định, tâm nghĩ miệng nói (Đại 41, 61 trung): Ta chiêu cảm được nghiệp dị thục giàu có, nguyện chuyển thành quả dị thục sống lâu. Xả đa thọ hành cũng giống như trước, chỉ có lời nguyện là khác, tức là: Ta chiêu cảm được nghiệp dị thục sống lâu, nguyện chuyển thành quả dị thục giàu có. Trên đây là nói về A la hán, còn Phật thì dĩ nhiên cũng có 2 thọ hành này. Như đức Thích tôn vốn có tuổi thọ nhất định là 120 tuổi, nhưng vì duyên hóa độ đã hết nên Ngài nhập Niết bàn vào lúc 80 tuổi, đó tức là xả đa thọ hành. Còn sau khi tuyên bố nhập diệt, Ngài lại kéo dài tuổi thọ thêm 3 tháng nữa, đó tức là lưu đa thọ hành. [X. luận Phát trí Q.12; luận Đại tì bà sa Q.26; luận Thuận chính lí Q.9; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8; Câu xá luận sớ Q.16].

lưu ý

To alert.

lưu ý đến

To draw attention to.

lưu đa thọ hành

(留多壽行) Phạm:Àyu-saôskàra. Cũng gọi Lưu đa mệnh hành. Các bậc A la hán nhờ định lực mà kéo dài tuổi thọ. Cứ theo luận Phát trí quyển 12, thì các bậc A la hán thành tựu thần thông, tâm được tự tại, vì hạnh nguyện lợi tha và làm cho chính pháp được tồn tại lâu dài, nên đem y bát và các vật dụng bố thí cho chúng tăng hoặc cho người khác, bố thí xong liền phát nguyện, rồi vào định Biên tế, sau khi xuất định, tâm nghĩ miệng nói (Đại 26, 981 thượng): Ta cảm được nghiệp dị thục giàu có, nguyện nghiệp dị thục này chuyển thành chiêu cảm quả dị thục sống lâu. Bấy giờ vị A la hán ấy chiêu cảm được nghiệp dị thục giàu có thì chuyển thành chiêu cảm quả dị thục sống lâu. [X. luận Câu xá Q.3; Câu xá luận kí Q.3; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.8]. (xt. Lưu Xả Thọ Hành).

lưu đày

To exile—To deport—To banish.

lươn lẹo

Crooked.

lương

Tốt—Good—Virtuous—Beneficial.

Lương Biện

(良辨, Rōben, 689-773): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, vị trú trì đời thứ nhất của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), húy Lương Biện (良辨), thông xưng là Căn Bổn Tăng Chánh (根本僧正), Kim Thứu Bồ Tát (金鷲菩薩), Kim Chung Hành Giả (金鐘行者), xuất thân vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣], cũng có thuyết cho là vùng Chí Hạ [志賀], Cận Giang [近江, Ōmi] ?), họ Tất Bộ (漆部, hay Bách Tế [百濟] ?). Ông học Pháp Tướng với Nghĩa Uyên (義淵, Giin), Hoa Nghiêm với Thẩm Tường (審祥, Shinjō). Năm 733, ông kiến lập Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji, tức Pháp Hoa Đường của Đông Đại Tự). Vào năm 740, ông cung thỉnh Thẩm Tường đến làm giảng sư tại chùa này, tận lực cống hiến cho Đông Đại Tự như sáng lập Pháp Hoa Hội, v.v., và đến năm 752 thì làm chức Biệt Đương đầu tiên của chùa. Ông từng làm Thiền Sư khán bệnh cho Thánh Võ Thượng Hoàng (聖武天皇, Shōmu Jōkō) và đến năm 756 thì được tiến chức Đại Tăng Đô. Năm 760, ông cùng với nhóm Từ Huấn (慈訓, Jikun) đề cử cải cách về chế độ giai cấp trong tăng lữ. Năm 773, ông làm Tăng Chánh và khai sơn Thạch Sơn Tự (石山寺) ở vùng Cận Giang. Câu chuyện lúc nhỏ ông bị chim ưng bắt đi, sau lớn lên gặp lại được song thân, đã trở thành truyền thuyết nổi tiếng trong dân gian.

lương bí

Vị Tăng đời Đường, người đã trợ giúp ngài Bất Không Tam Tạng Pháp Sư dịch bộ Kinh Nhân Vương—Liang-Pi (Pên), the T'ang monk who assisted Amogha in the translation of the Jên-Wang Ching. ; (良賁) (717-777) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Ngu hương, Hà trung (Sơn tây), họ Quách. Sư là người hiểu biết sâu rộng, phong cách cao thượng, học thông nội ngoại điển. Năm Thiên bảo thứ 8 (749), sư thụ giới Cụ túc, sau đó, trụ trì chùa Thanh long tại Trường an. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765), khi ngài Bất không dịch bộ kinh Nhân vương bát nhã, sư là người bút thụ và nhuận văn, đồng thời, sư vâng sắc soạn Nhân vương kinh sớ (bản dịch mới) 3 quyển, ở vườn Nam đào, cung Đại minh. Bộ sớ này lấy tên chùa nơi sư ở, nên gọi là Thanh long sớ. Sư từng truyền giới Bồ tát cho vua Đại tông. Về sau, sư dời đến chùa An quốc, mở đạo tràng thuyết giảng, người đến học rất đông. Tháng 3 năm Đại lịch 12 (777) sư thị tịch tại Phù dương thọ 61 tuổi. Sư có các tác phẩm: Đà la ni niệm tụng nghi quĩ, Mật nghiêm kinh đối ngự kí, 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Phật tổ lịch đại thông tải Q.18; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 16; Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.trung; Hi lân âm nghĩa Q.5].

lương bôn

See Lương Bí.

lương bằng

Good friend.

Lương Bội Lan

(梁佩蘭, 1629-1705): tự là Chi Ngũ (芝五), hiệu Dược Đình (藥亭), người Nam Hải (南海); đỗ kỳ thi Hương vào năm thứ 14 (1657) niên hiệu Thuận Trị (順治). Ông nổi danh về thi ca, cùng với Khuất Đại Quân (屈大均), Trần Cung Duẫn (陳恭尹) xưng là Lĩnh Nam Tam Đại Gia (嶺南三大家). Vào năm thứ 20 (1681) đời Khang Hy, ông lên miền Bắc, kết Thi Xã với nhóm phục hưng Chu Trúc Xá (朱竹垞), v.v. Đến năm thứ 27 (1688), ông trở về miền Nam. Ông có năng khiếu về thư pháp, vẽ tranh; thư thể có phong cách chữ Lệ, thư bút thì diễm tuyệt, nhàn hạ.

lương cửu

(良久) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nguyên ý là hồi lâu, nhưng trong Thiền tông, Lương cửu được dùng để chỉ cho trạng thái im lặng. Khi thầy chỉ dẫn cho người học, người học đưa ra nghi vấn, hoặc trình bày kiến giải của mình, hoặc trả lời câu thầy hỏi, thì thầy thường giữ thái độ lương cửu (im lặng) để biểu thị việc thừa nhận hoặc phản đối. Tắc 56, Bích nham lục (Đại 48, 95 hạ), ghi: Nhiều người bàn nói về công án này. Có người gọi là Lương cửu, có người gọi là cứ tọa (ngồi lì), có người gọi là mặc nhiên. Giả sử như không giao thiệp thì mấy ai từng tìm tòi được?

lương duyên

Happy marriage.

lương dân

Law-abiding citizens—Good citizens.

lương dược

Good medicine.

Lương Giới

良价|Ðộng Sơn Lương Giới

lương giới động sơn thiền sư

Thiền sư Lương Giới Động Sơn sanh năm 807 sau Tây Lịch tại Hội Kê, nay thuộc tỉnh Triết Giang. Thuở nhỏ theo thầy tụng kinh Bát Nhã đến câu “Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân…” Sư chợt hỏi thầy: “Con có mắt, tai, mũi…Cớ sao trong kinh lại nói là không?” Thầy kinh ngạc trả lời: “Ta chẳng phải là thầy của ngươi.” Thế rồi thầy gửi Lương Giới đến tham học với thiền sư Linh Mặc ờ núi Vũ Tiết. Sư thọ cụ túc giới năm 21 tuổi—Zen master Liang-Jie-Tung-Shan was born in 807 A.D. in Hui-Ji, in modern Zhe-Jiang province. As a youth, he followed his teacher to recite the Heart Sutra and came upon the words “No eyes, no ears, no nose, no tongue, no body…” He asked his teacher: “I have eyes, ears, a nose, and so on. So why does the sutra say there is none?” The teacher was so surprised and reportedly dumbfounded at the insight revealed by Liang-Jie's question, and replied to him: “I can't be your teacher.” He then sent the young Liang-Jie to study under Zen master Ling-Mo at Mount Wu-Tzie. At the age of twenty-one, Liang-Jie received full ordination. • Sư du phương, trước yến kiến Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kỵ trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng: “Cúng trai Mã Tổ có đến hay chăng?” Cả chúng đều không đáp được. Sư bước ra thưa: “Đợi có bạn liền đến.” Nam Tuyền bảo: “Chú nhỏ nầy tuy là hậu sanh rất dễ dũa gọt.” Sư thưa: “Hòa thượng chớ đè nén kẻ lành để nó trở thành nghịch tặc.”—Liang-Jie first went to see Zen master Nan-Xuan-Pu-Yuan. At that time the congregation was preparing a feast for the following day in honour of Nan-Xuan's late master, Ma-Tzu. Nan-Xuan asked the congregation: “Tomorrow we will have Ma-Tzu's feast, but will Ma-Tzu come or not?” The monks were unable to answer. Liang-Jie then stepped forward and said: “If he has a companion, he will come.” When Nan-Xuan heard this, he approved and said: “Though this child is young, he has a gem worthy of polishing.” Liang-Jie said: “Master, don't crush something good into something bad.” • Kế đến sư tham vấn với thiền sư Qui Sơn. Sư thưa: “Được nghe Quốc Sư Huệ Trung nói 'vô tình thuyết pháp' con chưa thấu hiểu chỗ vi diệu ấy?” Qui Sơn bảo: “Có nhớ những gì Quốc Sư nói chăng?” Sư thưa: “Con nhớ.” Qui Sơn nói: “Vậy thì lập lại xem sao!” Sư nói: “Có một vị Tăng hỏi Quốc Sư, 'Thế nào là tâm của chư Phật?' Quốc Sư trả lời, 'Một miếng ngói tường.' Sư hỏi, 'Một miếng ngói tường? Có phải miếng ngói tường là vô tình hay không?' Qui Sơn đáp, 'Đúng vậy.' Vị Tăng hỏi tiếp, 'Như vậy nó có thể thuyết pháp không?' Quốc Sư đáp, 'Miếng ngói ấy thuyết pháp một cách rõ ràng không vấp váp.' Vị Tăng hỏi, 'Tại sao con lại không nghe được?' Quốc sư bảo, 'Tự ngươi không nghe được, nhưng không có nghĩa là người khác không nghe được.' Vị Tăng lại hỏi, 'Như vậy ai nghe được?' Quốc Sư đáp, 'Các bậc Thánh nhân nghe được.' Vị Tăng lại nói, 'Vậy Thầy có nghe được không?' Quốc Sư đáp, 'Ta không nghe được. Nếu ta nghe được thì ta đã đồng là Thánh rồi còn gì! Làm gì ngươi có thể nghe ta thuyết pháp.' Vị Tăng hỏi, 'Như vậy tất cả chúng sanh không thể hiểu được những lời thuyết nầy.' Quốc Sư nói, 'Ta vì phàm phu mà thuyết pháp, chớ không vì Thánh mà thuyết.' Vị Tăng nói, 'Như vậy sau khi nghe được rồi thì sao?' Quốc Sư đáp, 'Sau khi chúng sanh đã nghe hiểu rồi thì họ đâu còn là phàm phu nữa.'—Next, Liang-Jie studied with Kui-Shan. One day he said: “I've heard that National teacher Hui-Zhong taught that inanimate beings expound Dharma. I don't understand this clearly.” Kui-Shan said: “Do you remember what he said or not?” Liang-Jie said: “I remember.” Kui-Shan said: “Please repeat it!” Liang-Jie said: “A monk asked the National Teacher, 'What is the mind of the ancient Buddhas?' The National Teacher responded, 'A wall tile.' The monk said, 'A wall tile? Isn't a wall tile inanimate?' The National Teacher said, 'Yes.' The monk asked, 'And it can expound the Dharma?' The National Teacher said, 'It expounds it brilliantly, without letup.' The monk said, 'Why can't I hear it?' The National Teacher said, 'You yourself may not hear it. But that doesn't mean others can't hear it.' The monk said, 'Who are the people who can hear it?' The National teacher said, 'All the holy ones can hear it.' The monk said, 'Can the master hear it or not?' The National teacher said, 'I cannot hear it. If I could hear it I would be the equal of the saints. Then you could not hear me expound the Dharma.' The monk said, 'All beings can't understand that sort of speech.' The National Teacher said, 'I expound Dharma for the sake of beings, not for the sake of the saints.' The monk said, 'After beings hear it, then what?' The National teacher said, 'Then they are not sentient beings.”—Later Liang-Jie went to see Yun-Yan and related to the master the story about the National Teache and asked Yun-Yan: “Who can hear inanimate things expound Dharma?” Yun-Yan asked him: “What is inanimate can hear it?” Liang-Jie asked: “Can the master hear it or not?” Yun-Yan said: “If I could hear it, then you could not hear me expound Dharma.” Liang-Jie said: “Why couldn't I hear you?” Yun-Yan held up his whisk and said: “Can you still hear me or not?” Liang-Jie said: “I can't hear you.” Yun-Yan said: “When I expound Dharma you can't hear me. So how could you hear it when inanimate things proclaim it?” Liang-Jie said: “What scripture teaches about inanimate things expounding Dharma?” Yun-Yan said: “Haven't you seen that in the Amitabha Sutra it says, 'The lakes and rivers, the birds, the forests, they all chant Buddha, they all chant Dharma'?” Upon hearing this, Liang-Jie experienced a great insight. He then wrote a verse: “How incredible! How incredible! Inanimate things proclaiming Dharma is inconceivable. It can't be known if the ears try to hear it, But when the eyes hear it, then it may be known.” • Sau đó sư làm thêm bài kệ thứ nhì: “Không môn hữu lộ nhân giai đáo, Đao giả phương tri chỉ thú trường. Tâm địa nhược vô nhàn thảo mộc, Tự nhiên thân thượng phóng hào quang.” Later he wrote the second verse: “There is a way to the gateless gate, everybody can come, Once you arrive there, you'll know how wonderful it is. If your mind is clear of idle weeds, Your body will automatically emit halo.” • Động Sơn hỏi Vân Nham: “Con còn dư tập chưa hết.” Vân Nham hỏi: “Ngươi từng làm gì?” Sư thưa: “Thánh Đế cũng chẳng làm.” Vân Nham hỏi: “Được hoan hỷ chưa?” Sư thưa: “Hoan hỷ thì chẳng không, như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng.”—T'ung Shan asked Yun-Yan: “Are there other practices I haven' completed ?” Yun-Yan said: “What were you doing before you came here?” T'ung-Shan said: “I wasn't practicing the Noble Truths.” Yun-Yan said: “Were you joyous in this nonpractice?” T'ung-Shan said: “It was not without joy. It's like sweeping excrement into a pile and then picking up a precious jewel from within it.” • Sư từ biệt Vân Nham để đi nơi khác. Vân Nham hỏi: “Đi nơi nào?” Sư thưa: “Tuy lìa Hòa Thượng mà chưa định chỗ ở?” Vân Nham hỏi: “Phải đi Hồ Nam chăng?” Sư thưa: “Không.” Vân Nham hỏi: “Phải đi về quê chăng?” Sư thưa: “Không.” Vân Nham hỏi: “Bao lâu trở lại?” Sư thưa: “Đợi Hòa Thượng có chỗ thì trở lại.” Vân Nham bảo: “Từ đây một phen đi khó được thấy nhau.” Sư thưa: “Khó được chẳng thấy nhau.” Sắp đi, sư lại thưa: “Sau khi Hòa Thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi 'Tả được hình dáng của thầy chăng?' Con phải đáp làm sao?” Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: “Chỉ cái ấy.” Sư trầm ngâm giây lâu. Vân Nham bảo: “Xà lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kỹ. Sư vẫn còn hồ nghi. Sau sư nhơn qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ trước, liền làm một bài kệ: “Thiết kỵ tùng tha mích, điều điều dữ ngã sơ Ngã kim độc tự vãng, xứ xứ đắc phùng cừ. Cừ kim chánh thị ngã, ngã kim bất thị cừ Ưng tu nhậm ma hội,Phương đắc khế như như.” (Rất kỵ tìm nơi khác, xa xôi bỏ lảng ta Ta nay riêng tự đến, chỗ chỗ đều gặp va Va nay chính là ta, ta nay chẳng phải va Phải nên biết như thế, mới mong hợp như như). As T'ung-Shan prepared to leave Yun-Yan, Yun-Yan said: “Where are you going?” T'ung-Shan said: “Although I'm leaving the master, I don't know where I'll end up.” Yun-Yan said: “You're not going to Hu-Nan?” T'ung-Shan said: “No, I'm not.” Yun-Yan said: “Are you returning home?” T'ung-Shan said: “No.” Yun-Yan said: “Sooner or later you'll return.” T'ung-Shan said: “When the master has an abode, then I'll return.” Yun-Yan said: “If you leave, it will be difficult to see one another again.” T'ung-Shan said: “It is difficult to not see one another.” Just when T'ung-Shan was about to depart, he said: “If in the future someone happens to ask whether I can describe the master's truth or not, how should I answer them?” After a long pause, Yun-Yan said: “Just this is it.” T'ung-Shan sighed. Then Yun-Yan said: “Worthy Liang, now you have taken on this great affair, you must consider it carefully.” T'ung-Shan continued to experience doubt. Later as he crossed a stream he saw his reflection in the water and was awakened to Yun-Yan's meaning. He then composed this verse: “Avoid seeking elsewhere, for that's far from the self. Now I travel alone, everywhere I meet it. Now it's exactly me, now I'm not it. It must thus be understood to merge with thusness.” • Một hôm nhân ngày thiết trai cúng kỵ Vân Nham, có vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng ở chỗ Tiên Sư được chỉ dạy gì?” Sư đáp: “Tuy ở trong ấy mà chẳng nhờ Tiên Sư chỉ dạy.” Tăng hỏi: “Đã chẳng nhờ chỉ dạy, lại thiết trai cúng dường làm gì, như vậy là đã chấp nhận giáo chỉ của Vân Nham rồi vậy?” Sư bảo: “Tuy nhiên như thế, đâu dám trái lại tiên Sư.” Tăng hỏi: “Hòa Thượng trước yết kiến Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao lại thiết trai cúng dường Vân Nham?” Sư đáp: Ta chỉ trọng Tiên Sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp,--T'ung-Shan hosted a feast of commemoration on the anniversary of Yun-Yan's death. A monk asked: “When you were at Yun-Yan's place, what teaching did he give you?” T'ung-Shan said: “Although I was there, I didn't receive any teaching.” The monk asked: “But you are holding a commemorative feast for the late teacher. Doesn't that show you approve his teaching?” T'ung-Shan said: “Half approve. Half not approve.” The monk said: “Why don't you completely approve of it?” T'ung-Shan said: “If I completely approved, then I would be disloyal to my late teacher.” • Sư bệnh, sai sa di báo tin Vân Cư hay. Sư dặn Sa di: “Nếu Vân Cư hỏi Hòa Thượng an vui chăng?” Ngươi chỉ nói xong phải đứng xa, e y đánh ngươi. Sa di lãnh mệnh đi báo tin, nói chưa dứt lời đã bị Vân Cư đánh một gậy. Có vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?” Sư đáp: “Có.” Tăng thưa: “Cái chẳng bệnh lại thấy Hòa Thượng chăng?” Sư bảo: “Lão Tăng xem y có phần.” Tăng thưa: “Khi lão Tăng xem chẳng thấy có bệnh.” Sư lại hỏi Tăng: “Lìa cái thân hình rỉ chảy nầy, ngươi đến chỗ nào cùng ta thấy nhau?” Tăng không đáp được. Sư bèn làm bài kệ: “Học giả hằng sa vô nhất ngộ Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ Dục đắc vong hình dẫn tung tích Nỗ lực ân cần không lý bộ.” (Kẻ học hằng sa ngộ mấy người Lỗi tại tầm y trên đầu lưỡi Muốn được quên thân bặt dấu vết Nỗ lực trong không bước ấy ngươi). T'ung-Shan became ill. He instructed a novice monk to go and speak to T'ung-Shan's Dharma heir, Zen master Yun-Zhu. T'ung-Shan told the novice: “If he asks whether I'm resting comfortably, you are to tell him that the lineage of Yun-Yan is ending. When you say this you must stand far away from himbecause I'm afraid he's going to hit you.” The novice monk did as T'ung-Shan instructed him and went and spoke to Yun-zhu. Before he could finish speaking Yun-Zhu hit him. The novice monk said nothing further. A monk asked: “When the master is not well, is there still someone who is well or not?" ”'T'ung-Shan said: "There is.” The monk asked: “Can the one who's not ill still see the master or not?” T'ung-Shan said: “I can still see him.” The monk asked: “What does the master see?” T'ung-Shan said: “When I observe him, I don't see any illness.” T'ung-Shan then said to the monk: “When you leave the skin bag, you inhabit, where will you go and see me again?” The monk didn't answer. T'ung-Shan the recited a verse: “Students as numerous as sands in the Gangs but more are awakened. They err by searching for the path in another person's mouth. If you wish to forget form and not leave any traces, Wholehartedly strive to walk in emptiness.” • Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: “Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?” Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Khi thọ trai, sư cũng tùng chúng thọ. Thọ trai xong, sư bảo chúng: “Tăng Già không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.” Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. Bấy giờ là tháng ba năm 869, đời nhà Đường. Sư thọ 63 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua phong sắc là “Ngộ Bổn Thiền Sư.”—T'ung-Shan then had his attendants help him shave his head, bathe and get dressed. He then had the bell rung to summon the monks so that he could bid them farewell. He appeared to have passed away and the monks began wailing piteously without letup. Suddenly T'ung-Shan opened his eyes and said to them: “Homeless monks aren't attached to things. That is their authentic practice. Why lament an arduous life and pitiful death?” T'ung-Shan then instructed the temple director to organize a “delusion banquet.” The monks adoration for T'ung-Shan was unending. Seven days later the food was prepared. T'u'g-Shan had a final meal with the congregation. He then said: "D“n't'make a big deal about it. When I pass away, don't'go carrying on about it.” T'ung-Shan then returned to his room, and sitting upright, passed away. It was the third month in 869. He was sixty-three years of age, he'd been an ordained monk for forty-two years. T'ung-Shan received the posthumous name “Enlightened Source.”

Lương Hiểu

(良曉, Ryōgyō, 1251-1328): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương, Tổ đời thứ 2 của Quang Minh Tự (光明寺) ở vùng Liêm Thương, Tổ của Phái Bạch Kỳ (白旗派) thuộc Dòng Trấn Tây (鎭西流); húy là Lương Hiểu (良曉), thông xưng là Bạch Kỳ Thượng Nhân (白旗上人), Phản Hạ Thượng Nhân (坂下上人); tự là Tịch Huệ (寂慧), hiệu Trí Tuệ Quang (智慧光); con của Lương Trung (良忠); xuất thân vùng Tam Ngung (三隅, Misumi), Thạch Kiến (石見, Iwami, thuộc Shimane-ken [島根縣]). Vào năm 1269, ông theo xuất gia với Tiên Hiểu (仙曉) ở Tỷ Duệ Sơn và tu học về Thiên Thai Tông. Đến năm 1270, ông xuống vùng Liêm Thương, học Tịnh Độ Giáo với Lương Trung, và được nhường lại chức Trú Trì của Ngộ Chơn Tự (悟眞寺, tức Quang Minh Tự). Đến năm 1276, ông theo Lương Trung lên Kinh Đô Kyoto, và cùng nhóm Tôn Quán (尊觀) truyền thừa Tông nghĩa ở vùng này. Năm 1286, ông trở thành người kế thừa tất cả dòng Thánh giáo, và tận lực làm cho hưng thạnh giáo đoàn của Dòng Trấn Tây. Ông đã cùng luận tranh với Tôn Quán của Phái Danh Việt (名越派), rồi chủ trương giáo nghĩa gọi là Đa Niệm Nghiệp Thành (多念業成); rồi sau đó ông tái hưng Thiện Đạo Tự (善導寺) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno), sáng lập ra Tịnh Lạc Tự (淨樂寺) và lấy nơi đây làm đạo tràng truyền bá Tịnh Độ Tông. Dòng phái của ông được gọi là Phái Bạch Kỳ, chiếm vị trí chủ lưu của Tịnh Độ Tông ngày nay. Trước tác của ông để lại có Quyết Nghi Sao Kiến Văn (決疑鈔見聞) 5 quyển, Thuật Văn Chế Văn (述聞制文) 1 quyển, Tịnh Độ Thuật Văn Sao (淨土述聞鈔) 1 quyển, Quán Kinh Sớ Truyền Thông Ký Kiến Văn (觀經疏傳通記見聞) 15 quyển, v.v.

lương hoàng sám

Lương Vũ Đế khi còn làm thứ sử Ung Châu, phu nhân của ngài là Hy Thị tánh tình hung ác, sau khi mất hóa thành một con mãng xà luôn về báo mộng cho vua biết. Nhà vua liền cho lập đàng tràng siêu độ, mời chư Tăng làm lễ sám hối. Nhờ đó mà Hy Thị được sanh về cõi trời, từ trên không trung cảm tạ nhà vua rồi bay đi—The litany of Liang-Wu-Ti for his wife, who became a large snake, or drago, after her death, and troubled the emperor's dreams. After the litany was performed, she became a devi, thanked the emperor and departed. ; (梁皇懺) Cũng gọi Lương vũ sám, Lương hoàng bảo sám. Sám pháp, 10 quyển, do vua Vũ đế nhà Lương soạn ra để cầu siêu cho phu nhân là Hi thị. Cứ theo truyện Lương vũ đức Hi hoàng hậu trong Nam sử, thì Hoàng hậu tính hay ghen ghét, chết rồi hiện thành hình rồng, vào cung báo mộng cho vua biết. Còn theo Thích thị kê cổ lược quyển 2, thì khi Lương vũ đế còn làm quan Thứ sử Ung châu, phu nhân là Hi thị tính đố kị, sau khi chết, hóa làm con trăn thật lớn, báo mộng cho vua biết, vua bèn soạn Từ bi đạo tràng sám pháp, 10 quyển, thỉnh chư tăng cử hành lễ sám hối, phu nhân liền hóa làm người trời, ở giữa hư không tạ ơn vua rồi bay đi. Sám pháp này được lưu thông ở đời, gọi là Lương hoàng sám. Nội dung sám pháp này là: Qui mệnh 6 đức Phật quá khứ, đức Phật Thích ca ở hiện tại và Phật Di lặc trong vị lai, bày tỏ ý sám hối, phát nguyện kính tín, dốc lòng lễ bái chư Phật trong 3 đời, cầu trừ tội sinh phúc, tế độ vong linh. Có thuyết cho rằng Cánh lăng vương Tiêu tử lương đời Tề thuộc Nam triều, từng soạn Tịnh trụ tử tịnh hành pháp môn, 20 quyển, đến đời Lương, các danh tăng biên soạn lại thành 10 quyển, nội dung gồm 40 phẩm, về sau vì có nhiều sai lầm, nên vào đời Nguyên, ngài Diệu giác trí mới hiệu đính và xem xét kĩ lại, thành bản Lương hoàng sám lưu hành hiện nay. [X. Trà hương thất tùng sao Q.13; Thái bình quảng kí].

lương hảo

Good—Excellent.

lương hữu

See Lương bằng.

Lương Không

(良空, Ryōkū, ?-1297): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, vị Tổ của Dòng Mộc Phan (木幡流), húy là Lương Không (良空), hiệu là Từ Tâm (慈心). Vào năm 1272, ông cùng với Nhiên Không (然空, Tổ của Dòng Nhất Điều [一條流]) xuống vùng Liêm Thương, rồi theo tu học với Lương Trung (良忠) trong vòng ba năm. Sau khi trở về Kinh Đô Kyoto, ông có ý đồ thống nhất Tông nghĩa của Nguyên Không, nhưng gặp quá nhiều trắc trở, nên năm 1276, ông khẩn thỉnh Nhiên Không và Lương Trung lên kinh đô, để bàn kế hoạch thống nhất tư tưởng theo Phái Trấn Sơn. Sau khi Lương Trung qua đời, ông lãnh đạo môn đệ, ông cùng với Nhiên Không biên tập bộ Đông Tông Yếu (東宗要) gồm 5 quyển từ bộ Tịnh Độ Tông Tập Yếu (淨土宗要集) của Lương Trung. Hơn nữa, ông còn sai Đạo Quang (道光) soạn bộ Vô Lượng Thọ Kinh Sao (無量壽經鈔) gồm 7 quyển. Vì ông lấy Tôn Thắng Tự (尊勝寺) ở vùng Mộc Phan (木幡), Vũ Trị (宇治), nên đời sau gọi là dòng phái của ông là Dòng Mộc Phan.

lương khải

(梁楷) Nhà thư họa Trung quốc, sống vào đời Nam Tống, người Đông bình (Sơn đông), tự là Bạch lương. Ông thích uống rượu, tính tình phóng khoáng, buông thả, nên được gọi là Lương phong tử. Khoảng năm Gia thái (1201- 1204), ông được vua ban đai vàng nhưng ông không nhận. Ông thờ nhà danh họa Giả sư cổ làm thầy, nét vẽ của ông phóng khoáng tự nhiên. Ông sở trường về loại tranh vẽ cảnh sơn thủy, nhân vật, quỉ thần. Các họa phẩm của ông giàu phong cách khải thư và thảo thể. Ông chỉ cần múa bút qua loa, chấm phá mấy nét là đã thấy có thần. Như những bức Tứ quỉ dạ di đồ (4 con quỉ đi trong đêm), Lưỡng mô đồ(2 con ếch), Bố đại hòa thượng(vị Hòa thượng mang đãy bằng vải), Lí bạch hành ngâm(Lí bạch vừa đi vừa ngâm thơ), Xuất sơn Thích ca đồ(Thích ca ra khỏi núi) v.v... đều là những tác phẩm rất giá trị trong lịch sử hội họa của Trung quốc.

lương khải siêu

(梁啓超) ( 1873- 1929) Danh nhân Trung quốc thời cận đại, người huyện Tân hội, tỉnh Quảng đông, tự Trác như, hiệu Nhiệm công, biệt hiệu là Ẩm băng thất chủ nhân. Lúc còn trẻ, ông tham gia cách mạng, đề xướng biến pháp, nhưng về già không bàn đến chính trị, chỉ chuyên viết sách và dạy học. Ông nghiên cứu Phật học một cách sâu rộng, biết đời người tuy là ảo, nhưng tinh thần quyết không rữa nát với thể xác, cho nên trọn đời phấn đấu, đến chết không biết mỏi mệt, được như thế đều là nhờ ở sức tu dưỡng Phật học của ông. Ông là người giữ chức Trị sự trưởng đầu tiên của viện Phật học Vũ xương. Trong bài nói về Sự quan hệ của Phật giáo với quần chúng, ông đã cực lực cải chính những quan niệm sai lầm của người đời cho rằng Phật giáo là tiêu cực, yếm thế, mê tín v.v... và chỉ rõ ra rằng Phật giáo là nền tín ngưỡng trí tín, kiêm thiện, nhập thế, bình đẳng và tự lực. Ông cũng là người đầu tiên ở thời Dân quốc dùng phương pháp học thuật để nghiên cứu Phật giáo. Ông mất năm 1929, thọ 57 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Ẩm băng thất văn tập, Trung quốc học thuật tư tưởng biến thiên sử, Thanh đại học thuật khái luận, Đại thừa khởi tín luận khảo chứng, Thuyết vô ngã, Phật giáo tâm lí học thiển trắc, Phật học thời đại, Phật học nghiên cứu thập bát thiên.

lương mẫu

Good mother.

Lương Nguyên

(良源, Ryōgen, 912-985): vị tăng của Thiên ThaiTông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, thụy hiệu Từ Huệ Đại Sư (慈慧大師), người đời thường gọi ông là Nguyên Tam Đại Sư (元三大師), Ngự Miếu Đại Sư (御廟大師), Giác Đại Sư (角大師), Đậu Đại Sư (豆大師), họ là Mộc Tân (木津), xuất thân vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Năm lên 12 tuổi, ông theo học pháp với Lý Tiên (理仙), và sau khi thầy qua đời, ông đến thọ giới với Thiên Thai Tọa Chủ Tôn Ý (尊意, Soni), rồi theo học với Hỷ Khánh (喜慶, Kikei), Giác Huệ (覺惠, Kakue) và Vân Tình (雲晴, Unsei). Vào năm 937, tại Duy Ma Hội của Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji), ông đã đối luận với Nghĩa Chiêu (義昭, Gishō) của Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji) và hàng phục được vị này. Đến năm 963, tại Pháp Hoa Hội ở Thanh Lương Điện, ông lại luận phá được Pháp Tàng (法藏, Hōzō) của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), nên thanh danh của ông vang khắp thiên hạ. Năm 964, ông được liệt vào hàng Nội Cúng Phụng (內供奉, hàng ngũ của 10 vị Thiền Sư), rồi năm sau thì làm Quyền Luật Sư, năm kế đến thì trở thành Thiên Thai Tọa Chủ. Trong thời gian làm Tọa Chủ được khoảng 20 năm, ông đã nỗ lực phục hưng Giảng Đường và giáo dưỡng đồ chúng. Chính ông đã định ra Nhị Thập Lục Điều Thức (二十六條式) để chỉnh đốn quy luật trongSơn Môn. Ông được sùng ngưỡng như là vị Tổ Sư thời Trung Hưng, và ngoài thế gian thì sùng bái như là hóa thân của Quan Âm, hay của Bất Động Minh Vương Bồ Tát. Môn hạ của ông có một số nhân vật kiệt xuất như Nguyên Tín (源信, Genshin), Giác Vận (覺運, Kakuun), Tầm Thiền (尋禪, Jinzen), Giác Siêu (覺超, Kakuchō) và hơn 3000 người. Trước tác của ông để lại có Bách Ngũ Thập Tôn Khẩu Quyết (百五十尊口訣), Cửu Phẩm Vãng Sanh Nghĩa (九品徃生義), Danh Biệt Nghĩa Thông Tư Ký (名別義通私記), Thai Kim Niệm Tụng Hành Ký (胎金念誦行記).

lương nguyên

(良源) (912- 985) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, người Cận đinh, huyện Tư hạ. Năm 18 tuổi, sư xuất gia ở núi Tỉ duệ, theo học Hiển giáo, Mật giáo với các ngài Hỉ khánh, Mãn hạ, và Giác tuệ. Sư từng dùng lí lẽ biện luận với ngài Nghĩa chiêu ở Nam đô trong hội Duy ma tổ chức tại chùa Hưng phúc, ngài Nghĩa chiêu cuối cùng chịu thua. Tiếp đến, trên hội Pháp hoa ở điện Thanh lương, sư luận phá tông Pháp tướng, người đời gọi sư là Ứng hòa tông luận, danh tiếng lừng lẫy một thời. Sau, sư kế thừa làm Tọa chủ đời thứ 18 của tông Thiên thai, làm đến chức Đại tăng chính. Vì sư phục hưng núi Tỉ duệ đang trong tình trạng hoang phế, đề cao việc học, tổ chức các pháp hội, làm sống lại cảnh hưng thịnh thời xưa, cho nên được tôn xưng là Tổ trung hưng tông Thiên thai. Môn hạ của sư gồm 3.000 người, nổi tiếng hơn cả là các vị Nguyên tín, Giác vận, khai sáng 2 dòng Tuệ tín, Đàn na, làm cho nền giáo học của tông Thiên thai Nhật bản đạt đến điểm cực thịnh. Vào niên hiệu Khoan hòa năm đầu (985), sư thị tịch, thọ 74 tuổi, vua ban thụy hiệu là Từ Tuệ Đại Sư, người đời thì gọi là Nguyên Tam Đại Sư, Ngự Miếu Đại Sư, Giác Đại Sư, Hàng Ma Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Bách ngũ thập tôn khẩu quyết, 10 quyển, Kim thai niệm tụng hành kí, 6 quyển, Cửu phẩm vãng sinh nghĩa.

lương nhân

See Lương dân.

Lương Nhẫn

(良忍, Ryōnin, 1072-1132): vị tăng sống cuối thời Bình An, vị tổ sư khai sáng Dung Thông Niệm Phật Tông của Nhật Bản, người vùng Vĩ Trương (尾張, Owari). Sau khi tu học ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji) trên Tỷ Duệ Sơn, ông lập nên Lai Nghênh Viện (來迎院) ở vùng Lạc Bắc Đại Nguyên (洛北大原). Bên cạnh đó, ông còn sáng lập ra Dung Thông Niệm Phật Tông, đi bố giáo khắp nơi và thành lập Đại Niệm Phật Tự (大念佛寺, Dainembutsu-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu). Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Thánh Ứng Đại Sư (聖應大師).

lương nhẫn

Vị sáng lập ra giáo phái Viên Thông Niệm Phật tại Nhật—Liang-Jen, founder of the Japanese named “Universally Penetrating via Praying to the Buddha.” ; (良忍) (1072- 1132) Danh tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, người quận Tri đa, huyện Vĩ trương (Ái tri), hiệu là Quang tĩnh phòng. Năm 12 tuổi, sư xuất gia ở núi Tỉ duệ, tu học giáo quán Thiên thai, 15 tuổi, học giới luật ở chùa Viên thành, sau thụ 2 bộ Quán đính tại chùa Nhân hòa. Năm 23 tuổi, sư lui về ở ẩn, chuyên học Thanh minh Phạm bái và tự lập thành 1 phái riêng. Về sau, sư sáng lập 2 viện Lai nghinh và Tịnh liên hoa ở Đại nguyên để hoằng truyền Phật pháp. Sư từng đi du hóa các nơi, đề xướng phương pháp Dung thông niệm Phật, được tôn xưng là Khai tổ của tông Dung thông niệm Phật và tổ Trung hưng môn Thanh minh. Niên hiệu Trường thừa năm đầu (1132), sư tịch ở viện Lai nghinh tại Đại nguyên, thọ 61 tuổi, vua ban thụy hiệu Thánh Ứng Đại Sư.

lương nhật

A good or an auspicious day.

lương pháp

Good method.

lương phước điền

The field of blessedness, cultivated by offerings to Buddha, the Law, and the Order.

lương sơn ngô xứ sĩ hoạch

(梁山吳處士畫) Tên công án trong Thiền tông. Bức vẽ của ông Ngô xử sĩ trở thành đề tài vấn đáp giữa Thiền sư Lương sơn Duyên quán và đệ tử nối pháp là ngài Đại dương Cảnh huyền. Ngũ đăng hội nguyên quyển 14 (Vạn tục 138, 261 thượng), chép: Thiền sư Cảnh huyền ở núi Đại dương tại Dĩnh châu (...), lần đầu đến chỗ ngài Lương sơn, hỏi: Thế nào là đạo tràng vô tướng? Thiền sư Lương sơn chỉ vào tượng Quan âm nói: Cái này là bức họa của Ngô xử sĩ. Sư đang nghĩ cách đáp thì ngài Lương sơn liền nói: Cái này là hữu tướng thì cái nào là vô tướng? Sư chợt tỉnh ngộ, liền lễ bái. Ngài Lương sơn hỏi: Sao không nói thử một câu xem? Sư đáp: Chẳng có lời nào, sợ làm tốn thêm giấy mực.

Lương Thiền

(良禪, Ryōzen, 1048-1139): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Kiểm Hiệu đời thứ 14 và 17 của Cao Dã Sơn, húy là Lương Thiền (良禪), thông xưng là Bắc Thất Thánh (北室聖), tự Giải Thoát Phòng (解脫房); xuất thân vùng Thần Khi (神崎, Kanzaki), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]), họ là Phản Thượng (坂上). Năm lên 11 tuổi, ông theo hầu Nhiệm Tôn (任尊) ở Cao Dã Sơn, đến năm 14 tuổi thì theo Hành Minh (行明) ở Bắc Thất Viện (北室院) tu Tứ Độ Gia Hành (四度加行). Vào năm 1088, ông thọ nhận hai bộ Quán Đảnh từ Minh Toán (明算) và truyền thừa Ngũ Bộ Bí Ấn (五部秘印). Năm 1099, ông nhậm chức Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn, rồi đến năm 1137 lại được bổ nhiệm lần nữa; nhân đó ông đã tập trung xây dựng khá nhiều ngôi đường tháp nơi đây. Chính ông đã tận lực làm cho Cao Dã Sơn phát triển cao độ. Đệ tử phú pháp của ông có Hành Tuệ (行慧), Lâm Hiền (琳賢), Nhật Thiền (日禪), Giáo Giác (敎覺), Kiêm Hiền (兼賢), v.v.

lương thiện

Honest—good. Theo Kinh Pháp Cú, câu 263, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 263, the Buddha taught: “Chỉ nhờ trừ diệt tận gốc lòng sân hận, mới là người lương thiện—Only he who eradicates hatred, is indeed called good-natured.”

lương toại

(良遂) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc Hoài nhượng. Sư từng tham yết Thiền sư Bảo triệt ở núi Ma cốc và được nối pháp. Sư phát huy Thiền chỉ ở Thọ châu, (phía Bắc huyện Thọ, tỉnh An huy) nên người đời gọi Thọ châu Lương toại. Sư 2 lần đến núi Ma cốc tham yết Thiền sư Bảo triệt, nhưng 2 lần Thiền sư đều vác bừa ra đồng bừa ruộng hoặc đóng cửa không tiếp, khiến sư 2 lần gặp bế tắc mà đã đưa đến nhân duyên sư ngộ đạo và trở thành công án: Ma cốc vác bừa bừa cỏ nổi tiếng trong Thiền lâm. Lại vì nhân duyên thấu suốt cùng tột Thiền chỉ của sư, nên trong chốn Thiền lâm, câu Lương toại biết hết đã được dùng để biểu thị Thiền giả đã đạt đến cảnh giới triệt ngộ. Liên đăng hội yếu quyển 7 (Vạn tục 136, 278 thượng), nói: Chỗ các người biết thì Lương toại biết hết, còn chỗ biết của Lương toại thì các người không biết hết được.

lương tri

Instinct.

Lương triều Phó đại sư tụng Kim cương kinh

梁朝傅大師頌金剛經; C: liángzhāo fù-dàshī sòng jīngāngjīng; J: ryōchō fudaishi ju kongōkyō;|Luận giải về kinh Kim Cương của Song Lâm Phó (雙林傅). Đây là một trong 5 luận giải có trong tập Ngũ gia giải thuyết nghị (五家解説誼, k: ogahae sŏrŭi).

Lương Trung

(良忠, Ryōchū, 1199-1287): vị tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào giữa thời Liêm Thương, Tổ khai sơn của Quang Minh Tự (光明寺, Kōmyō-ji); húy là Lương Trung (良忠), thông xưng Tá Giới Thượng Nhân (佐介上人), hiệu là Nhiên A (然阿), thụy hiệu là Ký Chủ Thiền Sư (記主禪師); xuất thân vùng Tam Ngung (三隅), Thạch Kiến (石見, Iwami, thuộc Shimane [島根]), con của Viên Tôn (圓尊). Vào năm 1214, ông theo xuất gia với Tín Xiêm (信暹) ở Ngạc Uyên Tự (鰐淵寺) vùng Thạch Kiến và học giáo học các tông phái trên Tỷ Duệ Sơn. Vào năm 1236, ông đến học Tịnh Độ Giáo với Biện Trường (辨長) ở Thiên Phước Tự (天福寺) vùng Trúc Hậu (筑後, Chikugo). Ông là người tương truyền Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn (末代念佛授手印) và trở thành người kế thừa của pháp môn này. Năm 1249, ông đến vùng Quan Đông (關東, Kantō), được nhóm Đích Mộc Cửu Lang (鏑木九郎, tức Tại A [在阿]) hộ trì cho; vì vậy ông tiến hành giáo hóa các địa phương Thường Lục (常陸, Hitachi), Thượng Tổng (上總, Kazusa) và Hạ Tổng (下總, Shimōsa). Đến năm 1259, ông đến Liêm Thương, được Đại Phật Triều Trực (大佛朝直) quy y theo, khai sáng Quang Minh Tự và hoằng truyền pháp môn Niệm Phật. Ông có công trong việc tạo cơ sở vững chắc cho giáo đoàn Dòng Trấn Tây (鎭西流) phát triển. Trước tác của ông có rất nhiều như Tuyển Trạch Truyền Hoằng Quyết Nghi Sao (選擇傳弘決疑鈔) 5 quyển, Quán Kinh Sớ Truyền Thông Ký (觀經疏傳通記) 15 quyển, Quyết Đáp Thọ Thủ Ấn Nghi Vấn Sao (決答授手印疑問鈔) 2 quyển, Lãnh Giải Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn Sao (領解末代念佛授手印鈔) 1 quyển, Tịnh Độ Tông Yếu Tập (淨土宗要集) 5 quyển, v.v.

lương tâm

Conscience.

lương tâm nhân loại

The conscience of humanity.

Lương Tôn

(良尊, Ryōson, 1279-1349): hay còn gọi là Pháp Minh (法明, Hōmyō), vị cao tăng của Dung Thông Niệm Phật Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nam Bắc Triều, xuất thân vùng Thâm Giang (深江), Hà Nội (河內, Kawachi, tức Ōsaka), trú trì đời thứ 7 của Đại Niệm Phật Tự (大念佛寺, Dainembutsu-ji); tục danh là Thanh Nguyên Đạo Trương (清原道張), tên lúc nhỏ là Tín Quý Thiên Đại (信貴千代); hiệu là Pháp Minh Phòng (法明房), con của Thanh Nguyên Hữu Kinh Lượng Thủ Đạo (清原右京亮守道). Ông mất cả song thân lúc mới lên 10 tuổi, sau đó thì có vợ con, nhưng vì cảm nhận được lẽ vô thường của đời người nên ông xuất gia. Đầu tiên ông lên tu học Mật Giáo trên Cao Dã Sơn (高野山, Kōyasan), rồi nghiên tầm giáo học của Thiên Thai Tông ở Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan), và ông tự nhận thức được rằng con đường mà có thể cứu rỗi kẻ phàm phu không gì hơn là nguyện sanh về cõi Tây Phương Tịnh Độ, cho nên ông bắt đầu chuyên tâm tu tập pháp môn Niệm Phật Tam Muội. Vào năm 1321, nhờ linh ứng báo mộng ở đền Thạch Thanh Thủy Bát Phan Cung (石清水八幡宮, Iwashimizuhachimangū) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), ông thọ trì linh bảo và pháp phái của Dung Thông Niệm Phật Tông từ Lương Trấn (良鎭, Ryōchin) và đến trú trì Đại Niệm Phật Tự ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu). Bên cạnh đó, một mặt ông chấp nhận sự quy y của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, tại vị 1318-1339), mặt khác thì cho ấn hành tranh Dung Thông Đại Duyên Khởi (融通念佛大緣起) và phân bố rộng rãi khắp toàn quốc. Ông đã giáo hóa hết thảy mọi người và nỗ lực làm cho tông môn hưng thạnh.

lương tú

(良秀) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Bồ tân, họ Quách. Chuyên chí lấy việc truyền pháp làm nhiệm vụ, dạy người không biết mỏi mệt. Năm Kiến trung thứ 2 (781), nhận lời thỉnh của vua nước Thổ phồn, sư cùng với ngài Văn tố đến Tây tạng giảng diễn và phiên dịch kinh Phật. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788) vâng mệnh vua cùng với Tam tạng Bát nhã, người Kế tân, cùng dịch kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật, 10 quyển, năm sau hoàn thành. [X. Tống cao tăng truyện Q.5].

lương túc

(梁肅) (751?-793) Danh nhân Trung quốc, sống vào đời Đường, người An định, tự Kính chi, Khoan trung, sinh sống ở Lục hồn (phía đông bắc huyện Tung, tỉnh Hà nam hiện nay). Ông nổi tiếng về Nho học. Trong thời kì phục hưng nền cổ học (khoảng những năm Đại lịch, Trinh nguyên) thì ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất. Khoảng năm Kiến trung, ông làm quan đến chức Hàn lâm học sĩ, Thủ hữu bổ khuyết, lại phụng chiếu làm chức Thị độc cho Hoàng thái tử. Ông qui y cửa Phật rất sớm, theo ngài Trạm nhiên học giáo pháp Thiên thai, hiểu sâu tâm yếu. Tác phẩm: Thiên thai chỉ quán, 6 quyển, Chỉ quán thống lệ, Văn tập, 20 quyển.

lương tử

Good son.

Lương Vũ Đế

梁武帝; C: liáng wŭdì; J: ryō butei, 464-549.|Vị Hoàng đế nổi tiếng ngưỡng mộ Phật pháp.

lương vũ đế

(梁武帝) (464-549) Vị vua lập quốc của nhà Lương thuộc Nam triều, Trung quốc, người Lan lăng (huyện Vũ tiến, tỉnh Giang tô hiện nay), họ Tiêu, tên Diễn, tự là Thúc đạt. Ông vốn là quan Thứ sử Ung châu đời Nam Tề, vì vua Tề tàn nhẫn vô đạo giết chết anh mình tên là Ý, nên ông đem quân về vây hãm Kiến khang, lập riêng Hòa đế. Đến năm Trung hưng thứ 2 (502), ông cướp ngôi, đặt quốc hiệu là Lương. Trong thời gian ở ngôi, ông sửa đổi văn hóa, giáo dục, thế nước nhờ đó mà hưng thịnh. Vũ đế rất sùng tín Phật giáo. Năm Thiên giám thứ 3 (504), ông tuyên bố bỏ Đạo giáo, năm Thiên giám 16 (517) ông ra lệnh dẹp các Đạo quan (chùa của Đạo giáo) trong nước, bắt các Đạo sĩ hoàn tục. Năm Thiên giám 18 (519), ông theo ngài Tuệ ước ở chùa Thảo đường tại Chung sơn thụ giới Bồ tát; các bậc danh tăng đương thời như các ngài: Tăng già bà la, Pháp sủng, Tăng thiên, Tăng mân, Pháp vân, Tuệ siêu, Minh triệt v.v... đều được nhà vua kính lễ. Ở thủ đô Kiến khang có hơn 700 ngôi chùa lớn, số giảng sư tăng ni thường nhóm hợp đến cả vạn người. Niên hiệu Đại thông năm đầu (527), khánh thành chùa Đồng thái, mở Đại hội Vô già và hội Vu lan bồn, đem tinh thần từ bi bình đẳng phổ cập đến muôn dân. Vũ đế trọn đời chuyên cần nghiên cứu giáo lí Phật giáo, kiên trì giới luật, giảng các kinh Niết bàn, Bát nhã, Tam tuệ, soạn Nghĩa kí các kinh: Niết bàn, Đại phẩm, Tịnh danh, Tam tuệ v.v... Về sau, do Hầu cảnh dấy binh làm phản, đánh chiếm Kiến khang, năm Thái thanh thứ 3 (549), Vũ đế nhịn đói mà chết ở Đài thành, trị vì được 48 năm, thọ 86 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.37; Phật tổ lịch đại thông tải Q.9].

lương y

Good physician

lưới quang minh

Net of lights.

lưới trời

Heaven's net—Divine justice.

lưới tình

Love net—Armorous net.

lưới đế châu

Jewelled nets.

lướt qua

To pass lightly over.

lười

Lazy.

lườm

To look askance at someone.

lường gạt giả dối

Fraud and deceit.

lưỡi

Tongue.

lưỡi rắn

Tongue of a snake.

lưỡng

1) Hai: Một cặp—Cả hai—Two—A couple—Both. 2) Một lượng: An ounce—A tael.

lưỡng bộ

See Lưỡng Giới.

lưỡng bộ bất nhị

(兩部不二) Kim cương giới và Thai tạng giới là 1 thể không 2, lí và trí là 1. Kim cương giới là Trí dụng, Thai tạng giới là Lí thể; Lí là thể của Trí, Trí là dụng của Lí, ngoài Lí không có Trí, ngoài Trí không có Lí; lìa Trí đức của Kim cương giới thì không có Lí đức của Thai tạng giới; lìa Lí đức của Thai tạng giới thì không có Trí đức của Kim cương giới, Lí và Trí thầm hợp, hệt như nước và sóng, cho nên gọi là Lưỡng bộ bất nhị. Căn cứ vào nghĩa Lưỡng bộ bất nhị thì Kim cương và Thai tạng có thể giải thích lẫn nhau. Vì chữ (vaô) tuy là chủng tử Trí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới, nhưng khi dùng 5 chữ bày ở 5 chỗ trên thân thì chữ thuộc về Thai tạng giới; còn chữ (a) tuy là chủng tử Lí pháp thân của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới, nhưng kinh Đại nhật nói chữ là Thắng tác kim cương luân, vì thế ở Thai tạng giới thiết lập Kim cương môn và ở Kim cương giới thiết lập Liên hoa môn. Lại Đạo tràng quán của Thai tạng giới, trước quán tưởng nguyệt luân, trên nguyệt luân quán tưởng hoa sen; còn Đạo tràng quán của Kim cương giới thì trước quán tưởng hoa sen, rồi trên hoa sen quán tưởng nguyệt luân, tức Kim cương giới và Thai tạng giới chẳng phải hai, lí và trí là một. Thuyết Lưỡng bộ bất nhị là do ngài Huệ quả, Tổ thứ 7 của Mật tông lập ra, đệ tử của ngài là sư Không hải, người Nhật bản, đem ý chỉ ấy truyền về nước Nhật. Sau, Đông Mật của Nhật bản cũng chủ trương thuyết Lưỡng bộ bất nhị, nhưng Thai Mật thì cho rằng Kim cương và Thai tạng là 2 bộ đối lập nhau. Do đó, ngoài 2 bộ này, Thai Mật lập ra bộ thứ 3, là bộ Tô tất địa, dùng pháp môn kinh Tô tất địa giải thích rõ về Lí trí nhất thể để dung hợp 2 bộ Kim cương và Thai tạng làm một.

lưỡng bộ hợp hành quán đỉnh

(兩部合行灌頂) Pháp quán đính của Kim cương giới và của Thai tạng giới Mật giáo được kết hợp làm 1 để tu hành. Nương theo pháp của Kim cương giới mà tu hành, gọi là Kim cương giới quán đính; nương theo pháp của Thai tạng giới mà tu hành, gọi là Thai tạng giới quán đính; hợp chung pháp của cả 2 bộ mà tu, thì gọi là Lưỡng bộ hợp hành quán đính. Ngoài ra, Quán đính của Kim cương giới chỉ nói rõ về Trí, còn Quán đính của Thai tạng giới thì chỉ nói về Lí, thành ra 2 pháp Quán đính này đối lập nhau. Trái lại, kinh Tô tất địa dung hòa cả 2, nói rõ Lí và Trí là nhất thể, Kim cương và Thai tạng chẳng phải 2, cho nên tu pháp này, gọi là Tô tất địa quán đính. Đây là thuyết của Thai Mật Nhật bản.

lưỡng bộ mạn đà la

Mạn Đà La của Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới. Tất cả pháp môn Mật giáo đều chia làm hai bộ Kim Cương và Thai Tạng (Thai Tạng Giới là pháp môn thuộc chúng sanh vốn có đầy đủ lý tính, phối hợp với lý, phối hợp với nhân. Kim cương Giới là pháp môn thuộc chư Phật mới thành quả tướng, phối hợp với trí, phối hợp với quả) —Mandala of the two sections, i.e. dual powers of the two groups symbolizing the Vajradhatu and Garbhadhatu.

lưỡng bộ đại pháp tương thừa sư tư phó pháp kí

(兩部大法相承師資付法記) Cũng gọi Lưỡng bộ phó pháp thứ đệ kí. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Hải vân soạn vào năm Thái hòa thứ 8 (834) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này nói về đại ý của 2 bộ Kim cương giới, Thai tạng giới và sự truyền thừa từ Ấn độ đến Trung quốc, đặc biệt nói rất rõ về ngài Bất không Tam tạng. Quyển thượng: Tường thuật thứ lớp truyền thừa phó pháp của kinh Kim cương giới. Quyển hạ: Tường thuật thứ lớp truyền thừa phó pháp của kinh Đại tì lô giá na thành Phật thần biến gia trì. [X. Chư tông chương sớ lục Q.3].

lưỡng câu bất thành quá

(兩俱不成過) Lưỡng câu bất thành, Phạm: Ubhayàsiddha.Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi về Nhân mà cả 2 bên người lập luận và người vấn nạn đều thấy rõ, là 1 trong 14 lỗi của Nhân, 1 trong 33 lỗi Nhân minh. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là con mắt thấy được. Luận thức Nhân minh qui định, Nhân phải hoàn toàn quan hệ với Tông, như vậy, cái Nhân Vì là con mắt thấy được trong luận thức trên không dính dáng 1 tí gì đến âm thanh cả, cho nên là lỗi. Và là lỗi mà cả 2 bên lập luận và đối phương đều công nhận nên gọi là Lưỡng câu bất thành. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.5]. (xt. Tứ Bất Thành Quá, Nhân Minh). LƯỠNG CẤU NHƯ NHƯ Chỉ cho Hữu cấu chân như và Vô cấu chân như. Như như là tên khác của chân như. Hữu cấu chân như là thể của tự tính thanh tịnh còn bị khuất lấp trong cái cấu nhiễm của phiền não, tức chỉ cho chân như tại triền, chưa thoát li được sự trói buộc của phiền não; là chân như ở nhân vị mà tất cả chúng sinh đều có. Vô cấu chân như là lí thể thanh tịnh do quả Phật hiển hiện, không còn bị cấu nhiễm che lấp, tức chỉ cho chân như xuất triền, đã thoát li sự trói buộc của phiền não, là chân như tự tính của chư Phật. Ngoài ra, theo luận Nhiếp đại thừa quyển 5, do Tam tạng Chân đế dịch, thì tính chân thực có 2: 1. Tự tính thành tựu, gọi là Hữu cấu chân như. 2. Thanh tịnh thành tựu, gọi là Vô cấu chân như. [X. luận Phật tính Q.3; luận Bảo tính Q.3; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ huyền nghĩa phần].

lưỡng cước sảo không

(兩脚捎空) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn có nghĩa là đứng mà 2 chân không chạm đất. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để trách người học chưa thực sự dụng tâm tham cứu, khiến việc tu hành định, tuệ khó đạt được kết quả, chỗ đắc, chỗ ngộ đều hư dối không thực. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong Cổ tôn túc ngữ lục quyển 12 (Vạn tục 118, 150 thượng), chép: Bậc lão túc Giang tây chỉ nói chẳng là tâm, chẳng là Phật, chẳng là vật, cần phải ngay đó thể hội rồi thực sự tu hành. (...) Lưỡng cước sao không (2 chân lướt trên không) chớ cho là phải, không hợp với đạo.

lưỡng cấu như như

The two kinds of Bhutatathata. 1) Hữu Cấu Chân Như: Tại Triền Chân Như—The contaminated Bhutatathata. 2) Vô Cấu Chân Như: Xuất Triền Chân Như—Uncontaminated Bhutatathata (Buddha-nature).

lưỡng diện

Double-faced—Two-faced.

lưỡng dực

Hai cánh Định và Tuệ—The two wings of meditation (định) and wisdom (huệ).

lưỡng giới

Two sections or two classes.

lưỡng giới mạn đồ la

(兩界曼荼羅) Cũng gọi: Lưỡng bộ mạn đồ la, Lưỡng giới mạn đà la. Gọi tắt: Lưỡng giới. Mật giáo dùng 2 bộ Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới để biểu thị pháp giới vô tận của nhất niệm nhất trần, còn tông Thiên thai và tông Hoa nghiêm thì mới chỉ nói về lí của pháp giới vô tận mà chưa hiển bày thực thể của nó. Lại nữa, Kim cương giới nương nơi trí đức mới thành của Như lai, còn Thai tạng giới thì y cứ lí đức sẵn có của chúng sinh, cho nên 2 bộ Mạn đồ la là thể tính lí trí của chư Phật và thực tướng sắc tâm của chúng sinh. Thập trụ tâm luận sao quyển hạ (Đại 77, 671 hạ), nói: Bí mật trang nghiêm trụ tâm tức là Cứu cánh giác, chứng biết được nguồn gốc của tự tâm một cách như thực, ngộ được số lượng của thân mình, đó là Thai tạng hải hội mạn đồ la, Kim cương giới hội mạn đồ la và Kim cương đính thập bát hội mạn đồ la. Đứng về phương diện Phật mà nói, thì 2 bộ Mạn đồ la là vô tận trang nghiêm tạng tâm địa bình đẳng của chư Phật, vì thế, thân tâm pháp tính giải thoát của chư Phật và sắc tâm bị trói buộc của chúng sinh đều là 2 bộ Mạn đồ la của lí lí vô số và trí trí vô biên. Sự sai khác của Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ la Thai tạng giới là: Kim cương giới là Mạn đồ la quả hiển bày trí, dùng 5 bộ xác định các tôn vị; còn Thai tạng giới là Mạn đồ la nhân hiển bày lí, chia thành 3 bộ. Kim cương giới là nghi thức trừ nghiệp chướng để thành Phật, chuyển 9 thức thành 5 trí, 5 trí tức là 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ. Còn Thai tạng giới là hành tướng hóa tha lợi vật, mở ra 3 đức: Đại định, Đại trí và Đại bi; thiết lập 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Một điểm khác nhau nữa là: Mạn đồ la Thai tạng giới lấy hướng Tây làm chính diện, còn Mạn đồ la Kim cương giới thì lấy hướng Đông làm chính diện.

lưỡng hà

Hai con sông—The two rivers. 1) Ni Liên Thiền: Nơi Phật thành đạo—The Nairanjana River, where the Buddha attained enlightenment. 2) Bạt Đề: Nơi Phật nhập Niết Bàn—The Hiranyavati River, where the Buddha entered Nirvana. ; (兩河) I. Lưỡng Hà. Chỉ cho sông Ni liên thiền và sông Bạt đề. 1. Ni liên thiền, Phạm: Nairaĩjanà, Pàli:Neraĩjara, cũng gọi Ni liên thiền giang, Ni liên giang thủy, Ni liên hà. Là chi nhánh của sông Hằng. Cứ theo phẩm Khổ hạnh trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 7, thì nước sông Ni liên trong mát, sạch sẽ, chảy xiết, 2 bên bờ bằng phẳng, cây cối lưa thưa, hoa cỏ tươi tốt; thôn ấp 2 bên bờ sông sầm uất, nhà cửa san sát, dân chúng đông đúc, giàu có. Ở 2 bên bờ sông có nhiều Thánh tích như: Núi Già da, cây Bồ đề, rừng Khổ hạnh, núi Chính giác v.v... 2. Bạt đề hà, gọi đủ: A thị đa phạt để hà. A thị đa phạt để, Phạm: Ajitavatì, Hán dịch: Vô thắng, ở nước Câu thi na yết la thuộc Trung Ấn độ. Đức Phật đã nhập Niết bàn bên bờ phía Tây con sông này, nhờ thế mà nó nổi tiếng. Đại đường tây vực kí quyển 6 (51, 903 trung), chép: A thị đa phạt để, Trung quốc (đời Đường) dịch là Vô thắng, hiện nay cũng gọi như thế. Xưa dịch A lợi la bạt đề là sai. Sách gọi là sông Thi lại noa phạt để, dịch là Sông có vàng. [X. kinh Thủy tịnh phạm chí trong Trung a hàm Q.23; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7, Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết]. (xt. Ni Liên Thiền Hà). II. Lưỡng Hà. Chỉ cho Hằng hà và Ấn độ hà. Cứ theo phẩm Diêm phù đề châu trong kinh Trường a hàm quyển 18, thì Hằng già hà (Phạm:Gaígà, cũng dịch là Căng già, nay là sông Hằng) và Tín độ hà (Phạm: Sindhu, nay là sông Ấn độ) là 2 con sông trong 4 sông lớn của Ấn độ. Người Ấn độ gọi 2 sông này là Lưỡng hà. [X. Cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].

lưỡng hội

(兩會) Hai hồi chuông trống. Trong tùng lâm, khi đánh 3 hồi chuông trống, thì hồi thứ 1 và hồi thứ 2 được gọi chung là Lưỡng hội. Điều Dục chủ trong Thiền uyển thanh qui quyển 4 (Vạn tục 111, 448 hạ), nói: Chuẩn bị đánh trống thỉnh chúng, 2 hồi (lưỡng hội) đầu, thì chúng tăng vào tắm, hồi chót thì hành giả vào tắm, sau cùng là Trụ trì, Tri sự vào tắm.

lưỡng kiên thần

Hai vị thần trên hai vai của mỗi người—The two recording spirits of every person. 1) Đồng Danh Thần: The spirit of the same name. 2) Đồng Sinh Thần: Đồng Tọa Thần—The spirit who was born at the same time (with the person).

lưỡng nan

A difficult and perplexing situation—Dilemma.

Lưỡng Nghi

(兩儀): xem Nhị Nghi (二儀) bên dưới.

lưỡng nhẫn tương thương

(兩刃相傷) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hai mũi dao bén nhọn làm hại lẫn nhau. Nghĩa là 2 bên đối lập không dung nhau, có thể gây tổn thương cho nhau. Nhưng Thiền tông thì dùng từ ngữ này để chỉ cho 2 bên đối lập cuối cùng có thể hợp tác để cùng tiến đến 1 hướng. Tắc 4 trong Bích nham lục (Đại 48, 144, trung), nói: Ngồi trong đám cỏ trên đỉnh núi trơ trọi, cha! cha! (Hiểu không? Lưỡng đao tương thương, nhóm 2 bọn 3 đi đường cũ, gõ phách theo nhau. Liền đánh). Ngoài ra, tông Tào động khi bàn về Thiên trung chí (Kiêm trung chí) trong thuyết Động sơn ngũ vị, cho rằng trong cái sát na (tích tắc) giao nhau giữa sáng (Thiên) và tối (Chính), vẫn chưa khởi tâm động niệm, không có mảy may cảnh giới phân biệt nghĩ lường, thì gọi là Lưỡng nhận giao phong (Hai mũi dao nhọn giao nhau). [X. Động thượng cổ triệt Q.thượng].

lưỡng quyền

Hai quyền thừa Thanh Văn và Duyên Giác, đối lại với Thực Thừa hay Nhất Thừa Bồ Tát của Phật Giáo Đại Thừa—The two temporary vehicles, Sravaka and Pratyeka-buddha, as contrasted with the completed Bodhisattva doctrine of Mahayana. ; (兩權) Chỉ cho Thanh văn quyền thừa và Duyên giác quyền thừa, đối lại với Nhất thực thừa là Bồ tát thừa. Bài tựa Pháp hoa huyền tán (Đại 34, 651 thượng), nói: Dựng Nhất thực thì gồm trọn thái hư, lập Lưỡng quyền thì bao trùm vạn tượng. Tông Tam luận thì căn cứ vào kinh Pháp hoa cho Nhị thừa là Quyền thừa, Bồ tát là Thực thừa, vì thế, Thanh văn quyền thừa và Duyên giác quyền thừa đối lại với Bồ tát Nhất thực thừa mà gọi là Lưỡng quyền. Quyền là quyền xảo, quyền giả, quyền nghi, tạm thiết lập; còn Thực là chân thực, thẩm thực, trí tuệ, vĩnh thi vi... Ngoài ra, tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm cũng lại y cứ theo kinh Pháp hoa mà nêu ra thuyết Tam thừa phương tiện, Nhất thừa chân thực, tức là ngoài Tam thừa còn lập riêng Nhất Phật thừa, cho rằng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là phương tiện Quyền thừa, chỉ có Phật thừa mới là Thực thừa... [X. kinh Đại bảo tích Q.94; luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương nghĩa uyển sớ Q.1] (xt. Tam Thừa).

lưỡng quyển kinh

Hai quyển Kinh—The two sutras.

lưỡng sám

(兩懺) Chỉ cho 2 thứ sám hối, có 2 thuyết: 1. Cứ theo Tứ phần luật yết ma sớ quyển 1, thì pháp Sám hối được chia làm 2 thứ là Hóa giáo sám hối và Chế giáo sám hối. Hóa giáo sám hối lại chia làm Lí sám và Sự sám. Tội thuộc về nghiệp đạo thì dùng pháp sám hối Hóa giáo, thích hợp chung cho các đối tượng: 7 chúng xuất gia tại gia, Đại thừa, Tiểu thừa, 3 đời, 10 nghiệp... Trái lại, tội vi phạm giới luật thì dùng pháp sám hối Chế giáo, chỉ thích hợp cho 5 chúng xuất gia hiện phạm. Chế giáo sám hối chia làm 3 loại: Chúng pháp sám, Đối thú sám và Tâm niệm sám. Chúng pháp sám là pháp sám hối được thực hành giữa chúng tăng từ 4 người trở lên; Đối thú sám là pháp sám hối được thực hành đối trước mặt 1 vị tăng; còn Tâm niệm sám là pháp sám hối bằng tâm niệm đối trước vị Bản tôn mà mình phụng thờ. 2. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 2, thượng, thì có 2 phương thức sám hối là Lí sám và Sự sám. Lí sám là quán tưởng tâm tính và tội chướng xưa nay vốn rỗng lặng, biểu thị lòng chí thành sám hối. Sự sám là đối trước đức Phật cung kính lễ bái, tụng kinh, niệm Phật cầu xin sám hối. [X. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ tế duyên kí Q.1].

lưỡng tam muội

Two kinds of samadhi—See Nhị Chủng Định.

lưỡng thiệt

Một trong mười ác nghiệp, ăn nói lật lọng, đổi trái làm phải, đổi mặt ra trái—Double-tongued, one of the ten forms of evil conduct. **For more information, please see Thập Ác Nghiệp. ; (兩舌) Phạm: Paizunya. Pàli:Pisuịà-vàcà. Cũng gọi Li gián ngữ, Lưỡng thiệt ngữ. Nói lưỡi 2 chiều, gây sự li gián, phá tình đoàn kết, là 1 trong 10 nghiệp ác. Theo luật Tứ phần quyển 11, Lưỡng thiệt là giới thứ 3 trong thiên Ba dật đề. Bồ tát giới nghĩa sớ quyển hạ của ngài Trí khải đem giới Lưỡng thiệt phối với giới thứ 19 trong 48 giới nhẹ của kinh Phạm võng. Nhưng phẩm Ngũ giới trong luận Thành thực quyển 8 thì không cho Lưỡng thiệt là 1 trong 5 giới, vì cho rằng Lưỡng thiệt thuộc lỗi nhỏ nhặt rất khó giữ. Vả lại, Lưỡng thiệt là từ Vọng ngữ chia ra, nếu nói Vọng ngữ là đã bao gồm Lưỡng thiệt trong đó rồi, vì thế không cho Lưỡng thiệt là giới. Tội Lưỡng thiệt khiến chúng sinh rơi vào 3 đường ác, nếu lại được sinh vào cõi người thì sẽ chịu quả báo gặp quyến thuộc xấu ác và bất hòa. [X. kinh Tạp a hàm Q.37; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.50; phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm Q.24 (bản 60 quyển); luật Thập tụng Q.9; luận Du già sư địa Q.8; luận Câu xá Q.16]. (xt. Thập Thiện Thập Ác).

lưỡng thải nhất tái

(兩彩一賽) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thải (ta quen đọc là Thái) nghĩa là đánh bạc được; Tái nghĩa là ganh đua hơn thua với nhau. Lưỡng thải nhất tái vốn có nghĩa là sau 1 hồi ganh đua, cuối cùng 2 người đều được cả, không phân biệt kẻ thắng người bại. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho 2 vị Thiền giả dùng cơ duyên vấn đáp để thăm dò cảnh giới chứng ngộ của nhau, nhưng bản lĩnh của 2 bên đều ngang nhau, không phân cao thấp. Lâm tế lục hành lục (Đại 47, 505 trung), chép: Qui sơn hỏi Ngưỡng sơn: Hoàng bá vào tăng đường là ý gì? Ngưỡng sơn đáp: Hai người bản lĩnh ngang nhau (Lưỡng thải nhất tái).

lưỡng thử

Hai con chuột, một trắng một đen, ví với ngày và đêm, thiện và ác—The two rats, white and black mice, compared with day and night, wholesome and unwholesome.

lưỡng toàn

Tài đức vẹn toàn—Perfect in both talent and virtue.

lưỡng triển tam bái

(兩展三拜) Cũng gọi Lưỡng triển tam lễ. Hai lần mở xếp tọa cụ và lạy 3 lạy, là 1 trong những cách lễ bái của Thiền tông. Điều Du phương tham thỉnh trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1140 trung), chép: Đứng dậy đến trước lò hương trải tọa cụ 2 lần lạy 3 lạy để tạ trà. Trải lần thứ nhất bạch rằng: Chúng con trân trọng tiếp nhận tách trà và xin lạy tạ với tấm lòng cảm kích vô cùng. Trải lần thứ hai bạch: Ngày hôm nay, trong giờ phút kính cẩn này, chung con cung nguyện Hòa thượng đàn đầu tôn thể an khang. Bạch xong, lui lại phía sau lạy 3 lạy sát đất. [X. Đại giám thiền sư tiểu thanh qui; điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui Q.1; điều Phương trượng đặc vị Tân cựu lưỡng tự thang trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4, môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lưỡng trọng công án

(兩重公案) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Giải thích 1 công án nhiều lần, hoặc nêu lại 1 công án nào đó lần nữa cho người học. Nhưng Lưỡng trùng công án cũng là lời châm biếm những Thiền giả tự mình không có sáng kiến, mà khi tham cứu ý chỉ của Thiền thì chỉ biết bắt chước công án của người khác, cũng bàn, giảng, cười, ho, trừng, ngó... ra vẻ ta đây, nhưng đó đều là đờm dãi của các bậc tiên hiền. Tắc 1 Bích nham lục (Đại 48, 141 thượng), nói: Người khắp nước đuổi theo cũng không trở lại. (Lưỡng trùng công án, đuổi theo làm gì?).

lưỡng trọng quan

(兩重關) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hai lớp cửa ải. Chỉ cho 2 lớp kiến giải đối đãi nhau như: Mê ngộ, hữu vô, nhân quả, phàm thánh v.v... Kẻ chấp trước danh tướng, cho mê ngộ, nhân quả v.v... đều khác nhau, không dung hợp nhau, là 2 pháp đối lập nhau. Nếu cởi bỏ được sự ràng buộc của những kiến chấp này, thì mới vào được cảnh giới tuyệt đối, lúc đó mới hiểu rõ mê ngộ, hữu vô, nhân quả v.v... đều chỉ là 2 mặt của 1 pháp, cùng 1 thể, làm thể và dụng lẫn nhau. Nhưng chừng nào còn kiến chấp thì không thể ngộ được chân lí này, cho nên ví dụ kiến chấp như cửa ải (quan), làm chướng ngại việc giác ngộ. Ngoài ra, đối với 2 kiến giải đối đãi này, Thiền tông còn gọi là Lưỡng đầu, Lưỡng ban, Lưỡng biên, Lưỡng cá. Người đã vượt ra ngoài 2 bên thị phi, thiện ác, hữu vô v.v... hoàn toàn không còn các chướng nạn đối lập ấy, được gọi là Lưỡng đầu tọa đoạn (2 đầu dứt hết), hoặc Lưỡng đầu tán khai (2 đầu mở toang). Trái lại, người mắc kẹt trong cảnh mê lầm đối đãi như được mất, mê ngộ, thánh phàm v.v... thì được gọi là Lưỡng đầu cơ (căn cơ 2 đầu),Thiệp lưỡng đầu cơ (rơi vào cơ 2 đầu)... Ngoài ra, còn có từ ngữ Lưỡng đầu tam diện (2 đầu 3 mặt) để châm biếm những người không nắm được giềng mối của tông chỉ, lúc nói thế này, khi nói thế kia, hoặc cùng1 vấn đề mà nhắc đi nhắc lại nhiều lần. [X. tắc 32 trong Thung dung lục; tắc 2 trong Bích nham lục; chương Phù dung Đạo khải trong Gia thái Phổ đăng lục Q.25].

lưỡng tài

The two rewards or talents from previous incarnations: 1) Nội tài: The inner or bodily personal conditions. 2) Ngọai tài: The external (wealth or poverty). ; (兩財) Nội tài và ngoại tài. Chúng sinh do nghiệp duyên mà sinh ra trong thế gian, trong đó, phần chính báo thì có thân thể là Nội tài; phần y báo có ruộng vườn, nhà cửa, tiền của để mưu sinh là Ngoại tài. Cứ theo A di đà kinh nghĩa sớ văn trì kí quyển thượng của ngài Nguyên chiếu đời Tống, thì Bồ tát dùng 6 độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và bát nhã để nhiếp hóa chúng sinh; trong đó, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định thuộc về Bi, bát nhã thuộc về Trí. Do lòng từ bi thương xót vô hạn nên bố thí nội tài cùng khắp như thân thể, tay chân, đầu mắt, tủy não, v.v...; vì có trí tuệ vô thượng nên bố thí ngoại tài cùng khắp như vàng bạc, ruộng vườn, nhà cửa v.v... tùy theo chỗ mong cầu của chúng sinh mà bố thí, không hề sẻn tiếc. [X. A di đà kinh nghĩa sớ (Nguyên chiếu)].

Lưỡng tông

兩宗; C: liǎngzōng; J: ryōshū;|›Hai tông phái‹ trước thời đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn) ở Hàn Quốc. Thiền tông (禪; k: sǒn) chú trọng về thiền định và Giáo tông (教; k: kyo) chú trọng việc học tập, nghiên cứu kinh luận. Do quyền lực chính trị khắt khe, hai tông nầy cuối cùng buộc phải kết hợp thành một tông chính của Phật giáo Hàn Quốc, gọi là tông Tào Khê (曹溪; k: cho-gye).

Lưỡng túc tôn

dịch từ Phạn ngữ Dvipadottama, trong nhiều kinh luận khác cũng gọi là Lưỡng túc chi tôn, Lưỡng túc trung tôn, Tối thượng Nhị túc tôn, Lưỡng túc Thế tôn hay Vô thượng Lưỡng túc tôn, nói chung đều là để chỉ đến bậc đáng tôn kính nhất thế gian, vì có đầy đủ phước đức và trí tuệ. Đây là một trong các danh xưng, tôn hiệu của Phật, vì duy nhất chỉ có Phật mới xứng đáng với danh hiệu này. Theo Phật Quang Đại từ điển thì Phật là bậc duy nhất trong thế gian có đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thành tựu Tận trí, Vô sanh trí và tất cả các pháp môn vô lậu vô học, tất cả các pháp không chung cùng với hàng Thanh văn, Duyên giác như Mười trí lực, Bốn vô sở úy... Vì thế, tôn hiệu này của Phật có đủ hai nghĩa: Thứ nhất, ở giữa chư thiên và nhân loại, là những loài sanh ra có hai chân (lưỡng túc) thì Phật là bậc đáng tôn quý nhất. Tuy nhiên, sách Đại thừa bản sanh tâm địa quán, quyển 2, phẩm Báo ân và Đại trí độ luận quyển 27 đều có nói rằng: “Trong tất cả các loài từ không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân cho đến hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng... tất cả chúng sanh thì Phật là bậc tôn quý nhất.” Vì thế nên biết rằng nghĩa thứ nhất này chỉ mang tính biểu trưng mà thôi. Thứ hai, dùng “lưỡng túc” để ví với các pháp quyền và thật; giới và định; phước đức và trí tuệ; thuyết giảng và thực hành... Phật có đầy đủ tất cả các yếu tố đó nên ngài có thể tùy duyên giáo hóa trong khắp Pháp giới không hề có sự chướng ngại.

lưỡng túc tôn

1) Bậc tôn quý giữa Trời và người, hay giữa những chúng sanh hai chân—The most honored among men and devas, or among two-footed beings. 2) Tôn hiệu của Đức Phật: An honoured title of the Buddha. 3) Lưỡng Túc—Two prongs: • Giới và Định: The commandments and Meditation. • Phước và Huệ: Blessing and Wisdom. • Quyền và Thực: Relative and Absolute teachings. • Tiểu Thừa và Đại Thừa: Hinayana and Mahayana. • Thiền và Hành: Meditation and Action. ; (兩足尊) Phạm: Dvipadottama. Pàli: Dvipada-seỉỉha. Cũng gọi Vô thượng lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn. Tôn hiệu của đức Phật, vì Ngài có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thành tựu các pháp vô học vô lậu như Tận trí, Vô sinh trí và các pháp bất cộng như 10 lực, 4 vô úy, nên tôn hiệu này có 2 nghĩa: 1. Phật là bậc tôn quí nhất trong các loài chúng sinh 2 chân ở cõi người và cõi trời. Cứ theo phẩm Báo ân trong kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 2 và luận Đại trí độ quyển 27, thì Phật là bậc nhất trong tất cả các loài chúng sinh không chân, 2 chân, 4 chân, nhiều chân, có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng v.v... 2. Lưỡng túc (đủ cả 2) ví dụ cho quyền và thực, giới và định, phúc và tuệ, giải và hành v.v..., đức Phật có đầy đủ lưỡng túc này. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại nhật Q.5; luận Du già sư địa Q.83; Pháp hoa huyền tán Q.3; Kim quang minh văn cú kí (hội bản) Q.3; Sa di thụ giới văn trong Thiền uyển thanh qui Q.9].

lưỡng tự

(兩序) Cũng gọi Lưỡng ban. Chỉ cho Đông tự và Tây tự. Hệ thống tổ chức Thiền viện của Phật giáo Trung quốc thời xưa cũng tương tự như tổ chức triều đình, tức là dưới chức Trụ trì lập ra 2 ban: Đông tự và Tây tự để giúp vị Trụ trì trông nom mọi việc trong Thiền viện theo chức năng của mình. Những người có học vấn và giới đức cao thì xếp vào Tây tự, gọi là Đầu thủ, Đầu thủ vị. Những người thông hiểu thế pháp thì được đặt ở Đông tự, gọi là Tri sự, Tri sự vị. Đông tự gồm có các chức vụ: Đô tự, Giám tự, Phó tự, Duy na, Điển tọa, Trực tuế v.v... trông nom các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế và sinh hoạt hằng ngày trong Thiền viện. Tây tự thì gồm có Thủ tọa, Thư kí, Tri tạng, Tri khách, Tri dục, Tri điện v.v... Trong số đó, có thể chọn người làm Trụ trì sau này. Hai ban trên đây được gọi là Lưỡng tự đại chúng. Hệ thống tổ chức Lưỡng tự này tùy theo sự sắp đặt của mỗi tông phái mà có khác nhau. Ngoài ra, tấm bảng có ghi tên các chức vụ của Lưỡng tự, được gọi là Lưỡng tự bài; nghi thức bàn giao chức vụ Lưỡng tự từ người cũ sang người mới khi hết nhiệm kì, gọi là Lưỡng tự tiến thoái. Sau hết, Đông tự được đặt ở phía đông Phật điện và Pháp đường nên gọi là Đông tự; còn Tây tự thì được đặt ở phía tây Phật điện và Pháp đường nên gọi là Tây tự. [X. chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên; Tùng lâm hiệu định thanh qui tổng yếu].

lưỡng ích

(兩益) Cũng gọi Nhị ngộ. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho sự tự ngộ (tự mình hiểu) và ngộ tha (làm cho người khác hiểu). Mục đích của luận lí học Nhân minh là nhằm đạt được 2 sự lợi ích này, cho nên gọi là Lưỡng ích. (xt. Bát Môn Lưỡng Ích).

Lưỡng đầu

兩頭; C: liǎngtóu; J: ryōtō;|1. Hai cực biên, hai khuynh hướng; 2. Một con rắn hai đầu; ai thấy nó sẽ bất đắc kì tử.

lược

1) Lược ra: To mark off—To define. 2) Tóm lược: To summarize in general—To outline—To sketch.

lược bày

To expose briefly.

lược chư kinh luận niệm phật pháp môn vãng sinh tịnh độ tập

(略諸經論念佛法門往生淨土集) Cũng gọi Tịnh độ từ bi tập, Vãng sinh tịnh độ tập, Từ mẫn tam tạng văn tập, Từ bi tập. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tuệ nhật soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Cứ theo bài kệ Qui kính trong quyển thượng, thì vì thương xót hết thảy chúng sinh, bị vô minh che lấp chân tâm nên không thấy được Tịnh độ, tham đắm 3 cõi chẳng cầu vãng sinh, sống chết trôi giạt vòng quanh 6 đường, cho nên soạn giả mới góp nhặt pháp môn Tịnh độ nói trong các kinh luận mà biên thành sách này. Nội dung như sau: Quyển thượng: Nói về dị kiến, dùng giáo và lí phá trừ những tư tưởng sai lầm (ở đây ám chỉ Thiền tông). Quyển trung: Dẫn rộng Thánh giáo, thành lập chính tông niệm Phật Tịnh độ. Quyển hạ: Dẫn chứng nhiều kinh luận để giải thích những mối nghi ngờ từ xưa đến nay. Những kinh điển mà sách này trích dẫn gồm có: Kinh Vô thượng y, kinh Niết bàn, kinh Duy ma, kinh Pháp hoa, kinh Nguyệt đăng tam muội, kinh Đại bảo tích, kinh Tịnh độ tam bộ, kinh Hoa nghiêm, kinh Quán Phật tam muội, kinh Văn thù bát nhã, kinh Kim cương bát nhã, kinh Phật báo ân, kinh Kim quang minh, kinh Tạo tượng, kinh Bồ tát giới, kinh Lăng già v.v... Sách này do ngài Nguyên chiếu khắc bản in lưu thông vào đời Tống, nhưng theo Phật tổ thống kỉ quyển 46, thì thời bấy giờ có 18 vị như: Tứ minh, Đại mai sơn, Pháp anh v.v... đã đưa ra kháng nghị, nhất trí cho rằng sách này do ngài Nguyên chiếu ngụy tác, mượn danh khuyên tu Tịnh nghiệp để hủy báng Thiền tông. Cuối cùng sách này đã bị nhà vua ban lệnh hủy bỏ bản in vào năm Thiệu thánh thứ 4 (1097). [X. Chi viên tập Q.hạ (Nguyên chiếu); Đông vực truyền đăng lục Q.hạ; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.3; Triều tiên Phật giáo thông sử trung biên (Lí năng hòa)].

lược giáo

Những lời dạy tổng quát của Đức Phật cho đệ tử trong 12 năm đầu sau khi Ngài thành đạo (trong 12 năm đầu hoằng hóa, về giới luật thì Đức Phật chỉ nói một cách khái quát về “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo,” chứ Ngài không nói chi tiết về giới luật; tuy nhiên, vì có quá nhiều người làm trái pháp, nên sau đó Ngài nói về “Quảng Giáo,” tức chế ra giới luật rõ ràng và chi tiết)—General or summarized teaching during his first 12 years after his enlightenment. ; (略教) Đối lại: Quảng giáo. Cũng gọi Lược giới. Sau khi đức Phật thành đạo, trong khoảng 12 năm đầu, hàng đệ tử chưa phạm giới, nên giới pháp mà Ngài răn dạy rất sơ lược như (Đại 22, 1022 hạ): Khéo giữ gìn lời nói, Tự tịnh ý chí mình; Thân không làm điều ác, Ba nghiệp đều thanh tịnh; Nếu làm được như thế, Là bậc đại tiên nhân. Những câu kệ trên đây gọi là Lược giáo. Về sau, việc tu hành dần dần trở nên buông thả, các đệ tử Phật bắt đầu làm các việc xấu ác, do đó đức Thế tôn tùy duyên chế giới nhiếp tăng, nên có Ngũ thiên, Thất tụ, gọi là Quảng giới, Quảng giáo. [X. phẩm Tựa trong kinh Tăng nhất a hàm Q.1; Tứ phần tăng giới bản].

lược giáo giới kinh

(略教誡經) Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật răn dạy các vị tỉ khưu một cách sơ lược về hạnh thiểu dục tri túc, đoạn trừ vô minh, không suy nghĩ về 3 thứ bất thiện, phải siêng năng tu tập để được giải thoát.

lược giới

Giáo thuyết của Đức Phật trong giai đoạn 12 năm sau ngày Phật thành đạo—The first period of general moral law, before the detailed commandments became necessary, i.e. the first twelve years of the Buddha's ministry.

lược hư đầu hán

(掠虛頭漢) Cũng gọi Lược hư hán. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lược là cướp lấy; Hư là giả dối không thực. Lược hư đầu hán là kẻ chỉ biết bắt chước lời nói và hành động của những người khác, chứ bản thân không có thực chất. Tắc 10, Bích nham lục (Đại 48, 150 thượng), chép: Triệu châu hỏi: Sau 3, 4 tiếng hét, ông hiểu như thế nào? Vị tăng không trả lời. Triệu châu liền đánh và nói: Đây đúng là gã Lược hư đầu hán! [X. Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục Q.thượng].

lược luận an lạc tịnh độ nghĩa

(略論安樂淨土義) Gọi tắt: An lạc tịnh độ nghĩa, An lạc độ nghĩa, Lược luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm loan soạn vào đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung luận này căn cứ vào ý nghĩa trong 3 bộ kinh (Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà) và 1 bộ luận (Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sinh kệ) để trình bày về quả tướng của cõi Tịnh độ an lạc và nguyên nhân được sinh về cõi ấy bằng 6 câu theo thể vấn đáp, đại khái như sau: 1. Sự hình thành của cõi Tịnh độ an lạc, không thuộc trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô sắc. 2. Nói về biệt tướng của quả thượng, nêu ra các loại công đức trang nghiêm. 3. Phân biệt về tam bối cửu phẩm. 4. Tướng thai sinh. 5. Thai sinh không rõ Phật trí, khởi nghi hoặc. 6. Chỉ rõ pháp 10 niệm tương tục. Trong đó, câu 1, 2 giải thích về nhân quả của người giáo hóa, từ câu vấn đáp thứ 3 trở xuống nói về quả tướng của chúng sinh. Về sách chú sớ của luận này có: Lí thư, 1 quyển, của Diệu quán, Đồng kiến văn, 1 quyển, của Thánh quán, Cú giải, 2 quyển, của Trí cập. [X. Liên môn loại tụ kinh tịch lục Q.thượng; Tịnh độ chân tông giáo điển chí Q.1].

lược niệm tụng pháp

(略念誦法) Cách tụng niệm vắn tắt trong pháp tu của Mật giáo. Cứ theo Kim luân thời xứ nghi quĩ, nếu hành giả bận rộn nhiều việc, tu pháp rộng sợ thiếu sót, thì có thể tu pháp này. Trước hết, kết ấn Trí quyền, tức thắng thân gia trì, kế đến, bày nghi thức cúng dường, xong, liền tụng niệm. Nếu thời gian quá gấp rút, thì chỉ cần bắt ấn Trí quyền, tụng mật ngôn của Bản tôn 7 biến hoặc 3 biến, rồi tùy ý tụng niệm trong lúc đi, đứng, ngồi...

lược tam bảo

(略三寶) Nghi thức lược tụng Tam bảo trong Thiền lâm, tức sau khi đọc kệ hồi hướng xong thì tụng: Thập phương tam thế nhất thiết Phật (tức là Phật bảo). Chư tôn Bồ tát ma ha tát (tức là Tăng bảo). Ma ha bát nhã ba la mật(tức là Pháp bảo). Còn lúc Chúc Thánh thì tụng những câu: Kim cương Vô lượng thọ Phật (Phật bảo). Nhân vương Bồ tát ma ha tát (Tăng bảo). Ma ha bát nhã ba la mật (Pháp bảo)... cũng là Lược Tam bảo. Cách đánh chuông để phân biệt Tam bảo: Thập phương, đánh 1 tiếng. Chư tôn, đánh 1 tiếng. Ma ha bát nhã, đánh 1 tiếng.

lược thuật kim cương đỉnh du già phân biệt thánh vị tu chứng pháp môn kinh

(略述金剛頂瑜伽分別聖位修證法門經) Cũng gọi Kim cương đính tam thập thất tôn phân biệt Thánh vị pháp môn, Kim cương đính phân biệt Thánh vị kinh, Phân biệt Thánh vị kinh, Thánh vị kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung kinh này nói rõ về tướng xuất hiện của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới của Mật giáo là: Ngũ Phật (5 vị), Tứ Ba la mật (4 vị), Thập lục Đại bồ tát (16 vị), Tứ nhiếp (4 vị) và Nội ngoại tứ cúng dường (8 vị). Đầu quyển có bài tựa nhưng không đề tên tác giả. Phần chính văn thì trước hết trình bày đại ý của tông Chân ngôn đà la ni, kế đến nói về sự lợi ích thuyết pháp khác nhau của Phật Thích ca mâu ni và Phật Tì lô giá na, sau hết nói về việc 37 vị tôn của Mạn đồ la Kim cương giới trở về nguồn gốc pháp thân là pháp giới Tốt đổ ba trùm khắp 10 phương pháp giới. Kinh này không có trong các tạng Tống và Nguyên, mà chỉ có trong các tạng Cao li và tạng đời Minh thôi. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

lược thặng đại phu

(掠剩大夫) Vị thần trông coi việc ăn uống của nhân loại. Môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Mở mắt bị cảnh bên ngoài cuốn hút, nhắm mắt theo mộng mị dẫn đi, nào người có biết phán quan Chú lộc và Lược thặng đại phu theo người từng bước, ghi chép mọi việc, có ngày mở sổ ra xem, bắt ngươi chịu khổ. [X. Vân ngọa kỉ đàm Q.hạ].

lược thụ tam quy ngũ bát giới tinh bồ tát giới

(略授三歸五八戒幷菩薩戒) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trừng chiếu soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 95. Nội dung sách này nói về nghi thức thụ Tam qui, Ngũ giới, Bát giới và Bồ tát giới, Ngũ giới và Bát giới mỗi khoa lập 8 môn, giới tướng của Bát giới y cứ theo kinh Trường trảo phạm chí, còn Bồ tát giới thì không lập môn riêng.

lược trung thuyết quảng

(略中說廣) Đối lại: Quảng trung thuyết lược. Dùng lời sâu rộng để hiển bày 1 pháp giản lược cơ bản. Kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) nói (Đại 12, 546 thượng): Thế nào gọi là Lược trung thuyết quảng? Như đức Phật bảo các tỉ khưu: Nay ta tuyên thuyết khổ, tập, diệt, đạo. Khổ là vô lượng các nỗi khổ; Tập là vô lượng các thứ phiền não; Diệt là vô lượng giải thoát và Đạo là vô lượng phương tiện. Trên đây đức Phật dùng từ vô lượng (rộng) để thuyết minh giáo pháp đơn giản mà cơ bản là Khổ, tập, diệt, đạo.

lược tự

(略字) Cũng gọi Tỉnh tự. Chữ viết tắt, hoặc mượn chữ âm để thay thế chữ chính trong Hán tự. Chữ viết tắt trong kinh Phật bắt đầu ở Trung quốc, như trong Phật điển chương sớ bản chép tay đào được ở Đôn hoàng, chữ Phật ( ) được viết thành (..), Bồ tát ( ..) viết thành ( ), Vô ngại (.....) viết thành ( ) v.v...Trong kinh điển Mật giáo của Nhật bản, từ Quán đính ( ) được viết thành (..), Viên trân ( ) viết thành ( ), Thất sinh sơn ( ) viết thành (........) v.v... Sử dụng chữ tắt có hàm ý ngăn ngừa kẻ khinh mạn đối với pháp đọc bậy.

lược yếu

Sơ lược những điểm quan trọng—An outline of the important points.

lượm

To gather—To pick up—To take up—To collect.

Lượng

量; S: pramāṇa; E: valid cognition;|Một danh từ quan trọng trong Nhân minh học của đạo Phật, có nghĩa là »nhận thức, lượng biết đối tượng.« Người ta phân biệt ba loại lượng:|1. Hiện lượng (現量; s: pratyakṣapramāṇa): là năng lực nhận thức cảm tính, trực tiếp thông qua các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.|Trong hiện lượng, người phân biệt hai loại:|1.1. Chân hiện lượng (真現量), là trí biết không tỏ ra sự phân biệt bao gồm ba đặc điểm: a) Hiện thức (現識; chỉ các giác quan), chỉ các thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân hiện tại khởi tác dụng; b) Hiện cảnh (現境), chỉ các cảnh, các đối tượng của các giác quan như sắc, âm thanh, hương, vị và vật được chạm xúc; c) Bất tư lự (不思慮), nghĩa là trong lúc đối cảnh thì trí biết và vật đều hiện diện rõ ràng đồng thời trí vừa đối vật thì biết ngay, nhưng chưa tỏ ra ý phân biệt. Chân hiện lượng ở đây chính là hiện lượng hoặc gọi ngắn là »lượng« (e: valid cognition) trong Nhân minh học (因明學; s: hetuvidyā).|1.2. Tự (tợ) hiện lượng (似現量), là trí nhận thức có phân biệt, có cùng điểm a) và b) của chân hiện lượng nhưng khác nhau ở điểm c), tức là có tư lự. »Có tư lự« ở đây được hiểu là lúc đối cảnh, trí người nhìn thấy sự vật có phân biệt vật này, tên nọ…|Hiện lượng đúng, có giá trị phải chú trọng đến năm trường hợp sau: 1. Không nương »ức tưởng«, suy ức quá khứ, tưởng tượng vị lai; 2. Không dựa vào »ảo giác«, ví dụ như không được cho là »mặt trăng chạy theo mình«, »bờ chạy« thay vì thuyền đi; 3. Không dựa vào »thố giác«, nghĩa là không cho rằng sợi dây là con rắn; 4. Không nương vào »loạn giác«, không nhắm, dụi mắt mà cho là có hoa đốm; 5. Không nương vào cái »tư lự«, cái »hiểu biết phân biệt«, so sánh danh tướng sự vật.|Các trường phái đạo Phật cho rằng có bốn loại chân hiện lượng, đó là: 1. Căn hiện lượng (根現量; s: pratyakṣa), nhận thức trực tiếp qua những giác quan; 2. Ngũ câu ý thức hiện lượng (五俱意識現量; s: mānasapratyakṣa), tức là ý thức với năm căn cùng lúc nhận thức năm trần; 3. Tự chứng phần hiện lượng (自證分現量; s: sva-saṃvedāna), tức sự nhận biết của thức tự chứng phần, ví dụ như cảm giác »tôi biết, tôi đang tự chủ rằng tôi đang nhìn«; 4. Ðịnh tâm hiện lượng (定心現量; dịch sát nghĩa là »hiện lượng của một Du-già sư«; s: yogipratyakṣa), tức là sự nhận biết cảnh tượng trong lúc thiền định của một thiền giả (Du-già sư). Ðịnh tâm hiện lượng này có giá trị hơn hết so với ba loại hiện lượng trên bởi vì qua đó, nội dung của Tứ diệu đế, tính Không, tính Bất nhị của Niết-bàn, Luân hồi trở thành đối tượng nhận thức trực tiếp và Thiền giả sẽ tự biết, tự chứng minh được sự chân chính của tất cả lí thuyết Phật giảng. Cái hiểu biết gián tiếp, trợ mượn đã trở thành một niềm tin vững chắc.|2. Tỉ lượng (比量; s: anumāṇapramāṇa): là khả năng nhận thức lí tính, gián tiếp thông qua các quá trình của tư duy, trừu tượng như phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ. Tỉ lượng chính là cái biết bằng so sánh. Do sự kiện đã được biết, được thấy mà suy ra những gì chưa trực tiếp biết đến, thấy đến. Ví dụ như »cách núi thấy khói biết có lửa, cách tường thấy sừng biết có trâu«.|Có hai loại tỉ lượng:|2.1. Chân tỉ lượng (真比量): là trí suy luận đúng đắn, có hai điểm a) và b) đồng với chân hiện lượng nhưng c) là ý phân biệt chính chắn và d) luận thức đầy đủ;|2.2. Tự tỉ lượng (似比量): là suy luận không đúng, những đặc điểm a)-d) của chân tỉ lượng thiếu, không được đáp ứng. Ngoài ra, tự tỉ lượng còn vướng phải ba lỗi sau: 1. Nhìn cái không phải có; 2. Không nhìn thấy cái có; 3. Nhìn sai cái có.|3. Phi lượng (非量; s: abhāvapramāṇa): chính là Tự hiện lượng (hiện lượng sai) và Tự tỉ lượng (tỉ lượng sai).

lượng

1) See Tông Nhân Dụ. 2) Cân lượng: Tael (gold). 3) Đo lường: Pramana (skt)—Measure—Capacity—Length—Ability—To measure. 4) Rộng lượng: Generous. 5) Số lượng: Quantity. ; (量) Phạm: Pramàịa. Theo nghĩa hẹp, Lượng chỉ cho tiêu chuẩn và căn cứ để nhận thức sự vật, còn theo nghĩa rộng thì chỉ cho hình thức, quá trình, kết quả của tác dụng nhận thức và tiêu chuẩn để xét đoán sự chân ngụy của trí thức. Tại Ấn độ từ xưa đến nay, trong phạm trù nhận biết, thông thường đều đem cái đối tượng mà mình lượng biết để luận chứng thêm về mặt nhận thức, gọi chung là Lượng. Chủ thể của sự lượng biết này gọi là Năng lượng, hoặc Lượng giả (Phạm:Pramàtf); còn sự vật bị lượng biết thì gọi là Sở lượng (Phạm: Prameya); kết quả, hoặc biết rõ kết quả của sự lượng biết, gọi là Lượng tri (Phạm: Pramiti) hoặc Lượng quả. Ba loại Lượng trên được gọi chung là Tam lượng. Thí dụ về Tam lượng và những phần tương đương của Ngoại đạo, Tiểu thừa, Đại thừa và Duy thức được biểu đồ như sau. (thiếu biểu đồ). Vì phải dựa vào nhiều phương pháp bất đồng để lượng biết đối tượng nên sinh ra nhiều lượng quả khác nhau, đại để có 4 loại: hiện lượng, tỉ lượng, thánh giáo lượng và phi lượng. 1. hiện lượng (phạm: pratijakwapramàịa): sự nhận biết bằng trực giác, khi ta dùng ngũ quan mà nhận thức cảnh vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi v.v... thì biết ngay, không cần suy xét, gọi là hiện lượng. 2. tỉ lượng (phạm:anumàna- pramàịa): sự nhận biết bằng suy xét, so sánh, tính lường, tức là tầng trên của hiện lượng. hiện lượng mới chỉ là cảm nhận thấy, nghe, như thấy khói nói khói, thấy mây nói mây; còn tỉ lượng là tác dụng phân biệt của tri thức khói ấy do đâu mà có, mây kia rồi sẽ ra sao v.v.... nói cách khác, đó là sự so sánh giữa cái này, cái kia, rồi suy ra một cái lí, một sự thực, một lời giải. chẳng hạn như thấy khói thì biết là có lửa, thấy mây trắng thì biết sẽ không có mưa, cái biết ấy gọi là tỉ lượng. 3. thánh giáo lượng (phạm:àgama, zabda), cũng gọi chính giáo lượng, chí giáo lượng, thanh lượng, thánh ngôn lượng. nghĩa là tin rằng lời dạy của bậc thánh là đúng chân lí, không sai lầm, rồi nương vào đó làm tiêu chuẩn để lượng biết các ý nghĩa. 4. phi lượng, cũng gọi tự lượng: tức là hiện lượng và tỉ lượng sai lầm. như trong lúc hấp tấp thấy sợi dây cho ngay là con rắn, đó là tự hiện lượng. lại như từ đàng xa thấy đám bụi, hoặc sương mù liền cho đó là khói v.v..., đó là tự tỉ lượng. ngoài hiện lượng, tỉ lượng và thánh giáo lượng ra, nếu thêm thí dụ lượng (phạm: upamàna) thì thành tứ lượng. nếu lại thêm nghĩa chuẩn lượng (phạm: arthàpatti) thì thành ngũ lượng. nếu lại thêm vô thể lượng (phạm: abhàva) thì thành lục lượng. ngoài ra, còn có tùy sinh lượng (phạm: saôbhava), tưởng định lượng (phạm:pratibhà), truyền thừa lượng (phạm:aitihya), thân chấn lượng (phạm: cewỉà) v.v... lập trường quan điểm cũng như sự thiên trọng của các học phái ở ấn độ thời xưa đối với các loại lượng luận phần lớn đều tùy theo tông nghĩa của mỗi phái mà khác nhau. chẳng hạn như ngoại đạo thuận thế chỉ thừa nhận hiện lượng; học phái thắng luận thừa nhận hiện lượng và tỉ lượng; kì na giáo, học phái số luận và du già phái thừa nhận hiện lượng, tỉ lượng và thánh giáo lượng; học phái chính lí thừa nhận hiện lượng, tỉ lượng, thánh giáo lượng và thí dụ lượng; phái cô lỗ (phạm:guru) thuộc hệ phái di mạn sa thì thừa nhận thêm nghĩa chuẩn lượng; phái phạ đạt (phạm:bhàỉỉa) thuộc hệ phái di mạn sa và học phái phệ đànđa cũng thừa nhận thêm vô thể lượng, tức là phái này thừa nhận cả 6 lượng. còn phật giáo thì thường dùng hiện lượng, tỉ lượng, thánh giáo lượng và thí dụ lượng. về phương diện nhân minh thì các bậc thầy của cổ nhân minh phần nhiều dùng 3 lượng là hiện lượng, tỉ lượng và thánh giáo lượng. đến thời đại luận sư trần na thế kỉ vi thì trong luận thức nhân minh, ngài chỉ dùng hiện lượng và tỉ lượng mà thôi. [x. kinh giải thâm mật q.5; luận đại tì bà sa q.71; luận đại thừa a tì đạt ma tạp tập q.16; luận nhân minh nhập chính lí; luận thành duy thức q.2; nhân minh nhập chính lí luận sớ q.thượng]. (xt. tam lượng, lượng luận).

lượng cú nghĩa minh hiển chú

(量句義明顯注) Tác phẩm về Nhân minh của Phật giáo Tây tạng, do ngài Bố đốn nhân khâm trát ba soạn. Nội dung sách này chú thích rất rõ ràng về nghĩa lí cũng như từ cú của bộ Thích lượng luận.

lượng cả

Generous.

lượng luận

(量論) Lượng, Phạm: Pramàịa. Lượng luận: Chỉ cho sự nghiên cứu về lượng. Chữ Phạm Pramàịa có thể giải là pramà (chính tri) và ana (tác cụ), vì thế, Lượng luận là phương pháp nhận biết chính xác và nhờ phương pháp ấy mà đạt được kết quả nhận thức đúng đắn. Sự nghiên cứu về Lượng được chia làm 2 lĩnh vực: Tri thức luận và Luận lí học. Tri thức luận là bàn thảo về nguồn gốc, chủng loại, tính chất và sự quan hệ hỗ tương của tri thức; còn Luận lí học thì nghiên cứu về hình thức, quá trình... của luận chứng. Trong các phái Triết học Ấn độ thủa xưa, học phái Chính lí (Phạm: Nyàya) lấy việc nghiên cứu về Lượng làm chủ đề, chữ nyàya có nghĩa là lấy lượng làm đối tượng thám cứu. Tuy nhiên, sự nghiên cứu về Lượng không phải chỉ có trong học phái Chính lí, mà nó còn bao hàm trong hệ thống học thuyết của các học phái khác. Nhân minh trong Phật giáo tương đương với Lượng luận này. Trong Nhân minh, Lượng luận không những chỉ bao hàm trong Luận lí học mà còn gồm cả Tri thức luận. Trong Cổ nhân minh (trước thời ngài Trần na), Lượng luận chỉ là 1 bộ phận của hệ thống Phật giáo; đến ngài Trần na đổi mới Cổ nhân minh, mở rộng thêm về ý nghĩa của Lượng luận mà sáng lập Tân nhân minh. Trong bài kệ Qui kính của Tập Lượng Luận (Phạm: Pramàịa-samuccaya), tác phẩm tiêu biểu về Lượng luận của mình, ngài Trần na đã tán thán đức Như lai là Người thể hiện của Lượng (Phạm: Pramàịa-bhùta), thì đủ biết ý của ngài Trần na, đại khái là lấy Lượng luận làm nghĩa căn bản của Phật giáo. Sau ngài Trần na, có các Đại luận sư như ngài Pháp xứng, Pháp thượng kế thừa hệ thống học thuyết này. Đó là học phái Luận lí của Phật giáo. Khi nghiên cứu về Lượng luận, có 3 yếu tố quan trọng nhất cần phải khảo xét là: Lượng giả, Sở lượng và Lượng quả (cũng gọi Lượng tri). Trong 10 loại Lượng (Hiện lượng, Tỉ lượng, Thánh giáo lượng, Thí dụ lượng, Nghĩa chuẩn lượng, Vô thể lượng, Tùy sinh lượng, Tưởng định lượng, Truyền thừa lượng và Thân chấn lượng) của các giáo phái Ấn độ, thì từ xưa Phật giáo đã dùng 4 lượng: Hiện lượng, Tỉ lượng, Thánh giáo lượng và Thí dụ lượng. Nhưng đến Tân nhân minh trong Phật giáo, vì nặng về phương diện lí luận nên chỉ dùng 2 lượng là Hiện lượng và Tỉ lượng. Hiện lượng biểu thị tri thức của sự nhận biết trực tiếp (tức trực giác), còn Tỉ lượng là khảo xét những suy lí hợp lí để trở thành tri thức diễn dịch làm then chốt cho luận cứ. Tân nhân minh trong Phật giáo đã lấy Hiện lượng và Tỉ lượng này làm nền tảng mà phát triển pháp luận chứng của mình một cách có hệ thống và hoàn chỉnh để trở thành Tri thức luận và Luận lí học độc đáo trong tư tưởng Triết học Đông phương. Từ thời ngài Túc mục (Phạm: Akwapàda), Tổ khai sáng của Cổ nhân minh đến nay, trong những kinh điển nghiên cứu về Lượng luận ở Ấn độ, có nhiều bộ nổi tiếng như: Chính lí kinh (Phạm: Nyàya- sùtra) của ngài Túc mục, Chính lí kinh luận (Phạm:Nyàya-bhàwya) của ngài Bà thố da na (Phạm:Vàtsyàyana), Nhân minh chính lí môn luận (Phạm:Nyàya-mukha) và Tập lượng luận của ngài Trần na, Padàrthadharmasaôgraha của ngài Prasastapàda, Nhân minh nhập chính lí môn luận (Phạm: Nyàya-praveza) của ngài Thương yết la chủ (Phạm: Zaôkarasvàmin), Nyàyavàrttika của ngài Ưu để hữu đạt ca la (Phạm: Uddyotakara), Thích lượng luận (Phạm:Pramàịa-varttika) của ngài Pháp xứng, Lượng quyết trạch luận (Phạm: Pramàịa-vinizcaya), Chính lí nhất trích luận (Phạm:Nyàya-bindu) cũng của ngài Pháp xứng v.v... [X. Màdhava: Sarvadarzanasaôgraha (English tr. by E.B. Cowell & A.E Gough, 1894; S.C.Vidyabhùsana: History of Indian Logic, 1921; A.B. Keith: Indian Logic and Atomism, 1921; Radhakrishnan: Indian Philosophy, vol.2, 1927; H.N. Randle: Indian Logic in the Early schools, 1930; Th. Stcherbatsky: Buddhist Logic, 1930-1932; S.C. Chaterjee:NyàyaTheory of Knowledge, 1950]. (xt. Nhân Minh).

lượng lý hải luận

(量理海論) Cũng gọi Lí hải đại sớ. Tác phẩm về Nhân minh của Phật giáo Tây tạng, do ngài Khải châu, Ban thiền đời thứ nhất, soạn. Nội dung chủ yếu của sách này là chú giải bộ Thích lượng luận của ngài Pháp xứng, người Ấn độ trước tác.

lượng lý trang nghiêm luận

(量理莊嚴論) Tác phẩm về Nhân minh của Phật giáo Tây tạng, do Đạt lai Lạt ma đời thứ nhất là Căn đôn châu ba soạn. Nội dung sách này giải thích khái luận về lượng lí trong bộ Thích lượng luận. Phái Cách lỗ xếp tác phẩm này vào loại sách nói về Nhân minh cần được mọi người đọc.

lượng quang

Brilliant.

lượng quả

Kết quả cuối cùng mà Pháp Tướng tông cho rằng cái tâm năng duyên, duyên theo cảnh sở duyên mà biết được—Conditioned by various external objects, diferent types of consciousness arise (alabana-pratyaya). The Dharmalaksana held that the percipient mind is conditioned by existing things, and when the two are in conjunction the ultimate consequence of any action may be known.

lượng thứ

To excuse—To forgive—To pardon.

lượng tình

To examine the situation and to forgive (excuse).

lượng xét

To examine and to judge.

lượng đẳng thân

Thân tướng của Như Lai ngang bằng với lượng của tất cả các pháp hữu vi và vô vi—The immanence of the Tathagata in al things, phenomenal and noumenal. ; (量等身) Thân tướng của Như lai ngang bằng với lượng của tất cả các pháp hữu vi, vô vi. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 52 (bản 80 quyển), khi đức Như lai thành Chính giác thì có đủ 13 Lượng đẳng thân là: Nhất thiết chúng sinh lượng đẳng thân, Nhất thiết pháp lượng đẳng thân, Nhất thiết sát lượng đẳng thân, Nhất thiết tam thế lượng đẳng thân, Nhất thiết Phật lượng đẳng thân, Nhất thiết ngữ ngôn lượng đẳng thân, Chân như lượng đẳng thân, Pháp giới lượng đẳng thân, Hư không giới lượng đẳng thân, Vô ngại giới lượng đẳng thân, Nhất thiết nguyện lượng đẳng thân, Nhất thiết hạnh lượng đẳng thân và Tịch diệt Niết bàn giới lượng đẳng thân.

lượt

Turn—Time.

lượt thượt

Dragging.

lạ kỳ

Strange—Unusual—Extraordinary

Lạc

樂; C: lè; J: raku;|1. Sự thoải mái, tiện nghi (s: sukha). Kết quả của một người được sinh ra trong hoàn cảnh đáng ao ước; niềm vui thích, một cảm giác dễ chịu. Niềm vui sướng phát xuất từ sự nhận biết của 5 giác quan được gọi là Lạc, trong khi niềm vui thích phát xuất từ sự nhận biết của ý thức (thức thứ 6) được gọi là Hỉ; 2. Một trong 5 uẩn, »thụ uẩn« (s: vedanā); 3. Niềm vui của sự giải thoát; 4. Theo Phật giáo tịnh độ, đó là cõi Cực lạc mà hành giả được vãng sinh; 5. Sự ham mê, thu hút.

lạc

1) Dadhi (skt)—Chất tinh chế ra từ sữa bò (Thanh Văn ví như sữa, Duyên Giác ví như Lạc)—A thick, sour milk which is highly esteemed as a food and as a remedy or preventive. 2) Vui vẻ: Joy—Joyful—Glad—Rejoice. 3) Âm nhạc tạo niềm vui: Music that causes joy. 4) Rụng: Falling—To fall—To drop—To descend. 5) Sukha (p): Happiness—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), lạc là một yếu tố thiền na có nghĩa là an lạc hay hạnh phúc yên tĩnh. “Sukha” đồng nghĩa với “Somanassa.” Đây là trạng thái thích thú không liên quan đến lạc thú vật chất. “Sukha” nầy chính là hậu quả của sự từ bỏ thú vui vật chất. Dù nghĩa của “Phỉ” và “Lạc” liên hệ mật thiết với nhau, chúng vẫn khác biệt nhau, “phỉ” thuộc về hành uẩn (tạo cho hành giả trạng thái cảm nghe hứng thú trong đề mục), còn “Lạc” là cảm giác giúp cho hành giả thỏa thích hưởng thọ đề mục. Phỉ được so sánh với một khách lữ hành đi trong sa mạc mệt mỏi thấy xa xa có một ốc đảo (trạng thái vui mừng trước khi thật sự thọ hưởng). Khi đến tận ốc đảo tắm rửa và uống nước thỏa thích là “Lạc.” Lạc giúp ta đối đầu với những triền cái trạo cử và lo âu trong thiền na—According to the Abhidharma, “Sukha” is a jhana factor meaning pleasant mental feeling. It is identical with “joy” or “bliss.” Sukha is identical with Somanassa, joy, and not with the sukha of pleasant bodily feeling that accompanies wholesome-resultant body-consciousness. This “Sukha” rendered as bliss, is born detachment from sensual pleausres; it is therefore explained as unworldly or spiritual happiness (niramisasukha). Though “Piti” and “Sukha” are closely connected, they are distinguished in that “Piti” is a conative factor belonging to the aggregate of mental formations, while “Sukha” is a feeling belong to the aggregate of feeling. “Piti” is compared to the delight a weary traveler would experience when coming across an oasis, “Sukha” to his pleasure after bathing and drinking. “Sukha” helps us encountering the hindrances of restlessness and worry. ; (樂) Phạm, Pàli: Sukha. Cũng gọi Lạc thụ, Lạc căn. Đối lại: Khổ. Cảm giác vui thích của thân và tâm, 1 trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ căn, 1 trong 22 căn. Nếu phân biệt từ thân và tâm, thì cảm giác vui thích nơi thân gọi là Lạc thụ, còn cảm giác vui thích nơi tâm thì gọi là Hỉ thụ, Lạc là quả báo chung của tất cả thiện nghiệp sinh ra, nên nghiệp ấy cũng gọi là Thuận lạc thụ nghiệp. Lạc có nhiều loại: 1.Tam lạc: a) Thiên lạc: Nhờ tu 10 điều thiện mà được niềm vui ở cõi trời. b) Thiền lạc: Niềm vui khi vào cảnh giới Thiền định. c) Niết bàn lạc (cũng gọi Tịch diệt lạc): Niềm vui trong trạng thái Niết bàn vắng lặng. Tam lạc còn có 1 thuyết nữa là: a) Ngoại lạc: Niềm vui do 5 thức trước (mắt, tai, v.v...) sinh ra. b) Nội lạc: Niềm vui do ý thức phát sinh khi vào Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền. c) Pháp lạc lạc: Niềm vui do trí tuệ vô lậu phát sinh. 2.Tứ lạc: a) Xuất li lạc(cũng gọi Xuất gia lạc): Niềm vui xuất gia cầu đạo mà được giải thoát. b) Viễn li lạc: Niềm vui ở cõi Sơ thiền, là niềm vui đã xa lìa tham dục và pháp bất thiện. c) Tịch tĩnh lạc: Niềm vui ở cõi Nhị thiền trở lên, là niềm vui khi dứt hết tầm tứ. d) Bồ đề lạc: Niềm vui do xa lìa phiền não mà được trí chân thực. Bốn loại lạc này cũng gọi là Tứ vị, Tứ vô tội lạc. Bốn niềm vui này cảm nhận được trong thế giới vắng lặng, siêu việt hơn thế gian. Bốn loại niềm vui này cộng thêm với niềm vui Niết bàn nữa mà thành 5 thức niềm vui. [X. luận Đại tì bà sa Q.14, 78; luận Câu xá Q.3, 15; luận Thành duy thức Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.13, 15 (bản dịch đời Lương); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.7; Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh sớ Q.26].

lạc ba la mật

Một trong bốn đức trong Phật giáo. Lạc Ba La Mật là niềm vui vĩnh hằng nơi niết bàn tịnh tịch, niềm vui không trụ vào nơi tướng của thân tâm—One of the four nirvana virtues in Buddhism. The paramita of joy is an eternal joy of the nirvana. ** For more information, please see Tứ Đức.

Lạc Bang

(樂邦): hay Lạc Quốc (樂國), Cực Lạc Quốc (極樂國), chỉ cho thế giới an lạc của đức Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀). Như trong Lạc Bang Di Cảo (樂邦遺稿, Taishō No. 1969B) do Sa Môn Tông Hiểu (宗曉, 1151-1214) nhà Nam Tống biên soạn, có đề cập rằng: “Lương do Di Đà ngộ ngã tâm chi bảo sát, ngã tâm cụ Di Đà chi Lạc Bang, tuy viễn nhi cận bất ly nhất niệm, tuy cận nhi viễn quá thập vạn ức sát (良由彌陀悟我心之寶剎、我心具彌陀之樂邦、雖遠而近不離一念、雖近而遠過十萬億剎, đều do Di Đà làm cho ngộ cõi báu trong tâm ta, tâm ta có đủ cõi Lạc Bang của Di Đà, tuy xa mà gần, chẳng rời một niệm, tuy gần mà xa, quá mười vạn ức cõi nước).” Hay như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh, tổ sư thứ 11 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, có câu: “Khổ hải vô biên hà nhật xuất, Lạc Bang hữu lộ kỉ thời hoàn (苦海無邊何日出、樂邦有路幾時還, biển khổ vô biên ngày nao thoát, Lạc Bang có lối lúc nào về).”

lạc bang

1) Đất nước yên vui: The joyful country. 2) Thế giới Tây Phương Cực Lạc: The paradise of the West.

lạc bang văn loại

(樂邦文類) Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Tông hiểu (1151-1214) biên soạn vào đời Nam Tống, hoàn thành vào năm Khánh nguyên thứ 6 (1200), được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung sách này là biên tập những bài văn trọng yếu trong các kinh luận có liên quan đến tông Tịnh độ cho đến các trước thuật, thi kệ, truyện kí, v.v... của các sư. Sách này chia làm 14 môn, gồm 220 thiên. Về sau, ngài Tông hiểu còn soạn bộ Tục biên Lạc bang di cảo, 2 quyển.

Lạc biến hoá thiên

樂變化天; C: lèbiànhuàtiān; J: rakuhengeten, gyōhengeten; S: nirmāṇa-ratayaḥ. |Cõi trời trong đó chúng sinh cảm nhận được cảm giác khoái lạc mỗi khi nghĩ đến điều ấy. Là tầng trời thứ 5 trong Lục dục thiên.

lạc biến hóa thiên

Sunirmita or nirmanarati (skt)—Tu Niết Mật Đà—Diệu Lạc Hóa Thiên—Hóa Tự Tại Thiên—Lạc Hóa Thiên—Cõi trời thứ năm trong sáu cõi trời dục giới, nơi các vị trời bằng thần thông tự tại biến ra những niềm vui tuyệt diệu và vui thích với những niềm vui ấy—The fifth of the six desire heavens, where every form of joy is attainable at will.

lạc ca

Naraka (skt)—Tên gọi bằng tiếng Phạn của Địa Ngục—See Địa Ngục.

lạc càn thát bà

Gandharvas (skt)—Indra's musicians—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

lạc căn

Những căn của lạc thú—The organs of pleasure (eyes, ears, nose, tongue, body)—See Ngũ Căn.

lạc cảnh

Paradise.

Lạc Dương

洛陽|Một trung tâm Phật giáo quan trọng của Trung Quốc trong thế kỉ thứ 1-2. Lạc Dương nằm ở phía Bắc, là kinh đô nhà Hán. Vua Hán Minh Ðế là người cho sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh Tứ thập nhị chương về và kinh này được dịch tại đây. Ðây là kinh đầu tiên được dịch qua chữ Hán và Phật giáo bắt đầu du nhập qua Trung Quốc tại đây.

lạc dương

Đế đô của Trung Quốc—Lo-Yang, the ancient capital of China. ; (洛陽) Cố đô của Trung quốc nằm về phía nam sông Hoàng thuộc tỉnh Hà nam, cùng với Trường an là những đô thành quan trọng trong lịch sử Trung quốc. Vào thời nhà Chu, Lạc dương được gọi là Lạc ấp, là đô thị trung tâm của toàn quốc lúc bấy giờ. Đến các đời Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, v.v... thì Lạc dương được đặt làm Thủ đô, sang đời Tùy, Đường thì trở thành Đông đô cực kì phồn thịnh, cũng có thể nói là nơi trung tâm của thời đại phát triển Phật giáo…………. Hơn nữa, có nhiều thuyết cho rằng Lạc dương là nơi Phật giáo được truyền vào đầu tiên. Cứ theo truyền thuyết, vào năm Vĩnh bình thứ 10 (67) đời Đông Hán, vua Minh đế phái sứ giả đến Tây vực thỉnh tượng Phật và kinh điển, thỉnh các vị Cao tăng như Ca diếp ma đằng, Trúc pháp lan đến Lạc dương. Sau đó, vua ban sắc xây chùa Bạch mã thỉnh 2 ngài Ca diếp ma đằng và Trúc pháp lan ở, đây là ngôi chùa đầu tiên tại Trung quốc. Đồng thời, 2 ngài phiên dịch kinh Tứ thập nhị chương tại chùa này; như vậy, kinh Tứ thập nhị chương cũng là kinh đầu tiên được truyền dịch tại Trung quốc. Những điều được trình bày trên đây, tuy còn nhiều điểm khả nghi, nhưng có thể xác định được rằng công việc dịch kinh từ thời Đông Hán đến Tây Tấn đều đã được thực hiện tại Lạc dương. Những kinh điển được phiên dịch vào thế kỉ V và các vị tăng Ấn độ đến Trung quốc như Khang tăng khải, Trúc pháp hộ, Phật đồ trừng, Bồ đề lưu chi, Lặc na ma đề, Phật đà phiến đa, v.v... đều có quan hệ mật thiết với Lạc dương. Sau khi nhà Bắc Ngụy mất, Lạc dương cũng theo đó mà suy vi. Mãi đến đời Đường, Lạc dương mới cùng với Trường an được gọi chung là Nhị kinh. Vũ tắc thiên xây dựng chùa Phật thụ kí và chùa Đại vân, các tông phái Phật giáo được phục hưng và phát triển; nhưng sau Pháp nạn Hội xương và các cuộc chiến loạn ở cuối đời Đường, Lạc dương lại rơi vào trạng huống suy vi và trở thành 1 đô thị bình thường.

lạc dương già lam kí

(洛陽伽藍記) Tác phẩm, 5 quyển, do ông Dương huyễn chi soạn vào thời Đông Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung nói về thành Lạc dương, thủ đô của thời Bắc Ngụy, về những ngôi chùa lớn ở vùng ngoại ô của thành phố này. Khoảng năm Vĩnh gia (307-311) đời Tấn, cả vùng Lạc dương chỉ có 42 ngôi chùa viện. Đến đời Bắc Ngụy, sau khi vua Hiếu văn đế dời đô về Lạc dương vào năm Thái hòa 17 (493), thì phong khí làm chùa thịnh hành, lúc hưng thịnh có tới 1367 ngôi chùa viện. Nhưng đến thời kì Hiếu vũ đế ở ngôi (532- 534), thì phần lớn chùa chiền đều bị phá hủy, chỉ còn 421 ngôi! Năm Vũ định thứ 5 (547) đời vua Hiếu tĩnh đế đời Đông Ngụy, ông Dương huyễn chi đến Lạc dương làm quan, thấy cảnh tượng điêu tàn ấy, rồi vì lòng cảm thương trước sự thịnh suy vô thường nên ông soạn bộ Lạc dương già lam kí ghi lại lịch sử của hơn 40 ngôi già lam ở trong và ngoại ô thành Lạc dương. Trong đó chủ yếu nói về nguyên do xây cất, địa thế, phong cảnh và qui mô kiến trúc của chùa viện, cho đến lịch sử Phật giáo hoặc chính trị, xã hội và sự giao lưu văn hóa với Tây vực. Bởi thế, bộ sách này không những là tư liệu giúp cho việc tìm hiểu về lịch sử Phật giáo và lịch sử chính trị, xã hội ở Lạc dương vào thời Bắc Ngụy, mà còn là tài liệu tham khảo quan trọng để nghiên cứu công trình xây dựng thành Lạc dương và kiến trúc chùa viện. Vì những điều được ghi trong sách là do chính tác giả tai nghe mắt thấy, cho nên nó có giá trị sử liệu rất cao, có thể bổ túc cho những thiếu sót trong chính sử. Sách này có rất nhiều bản khắc in, nhưng bản của Như ẩn đường và bản Cổ kim dật sử của Ngô quản đời Minh là xưa nhất. Về các bản hiệu đính sách này, thì trước hết phải kể đến Lạc dương già lam kí hiệu thích của Chu tổ mô là đầy đủ hơn cả. Ngoài việc tách riêng nguyên văn và chú thích ra, tác giả còn sử dụng nhiều sách khác để chú giải và hiệu đính thêm, là tư liệu tham khảo rất có giá trị. [X. Tục cao tăng truyện Q.1; Đường thư nghệ văn chí thứ 49].

Lạc Dương Già Lam Ký

(洛陽伽藍記, Rakuyōgaranki): 5 quyển, trước tác của Dương Huyễn Chi (楊衒之), được thành lập vào năm thứ 5 (547) niên hiệu Võ Định (武定) nhà Đông Ngụy, san hành dưới thời nhà Minh. Sau thời phế Phật của vua Võ Đế nhà Hậu Ngụy, nhờ các chính sách bảo hộ, Phật Giáo lần nữa đón chào thời đại hưng thịnh của mình. Tại kinh đô Lạc Dương (洛陽), thủ đô do vua Hiếu Văn Đế sáng lập, tương truyền có khoảng 1.300 ngôi tự viện lớn nhỏ. Tuy nhiên, do vì đối lập với nhà Tây Ngụy, vua Hiếu Tĩnh Đế phải dời đô về Nghiệp Đô (鄴都), cho nên đại bộ phận các tự viện ở Lạc Dương lần lượt bị hư phế. Dương Huyễn Chi lúc bấy giờ giữ chức Tư Mã của Phủ Phủ Quân (撫軍府) ở Đông Ngụy, nên nhìn thấy các tự viện ở Lạc Dương dần dần bị hoang phế, ông bèn chấp bút viết tác phẩm này để cho hậu thế biết được xuất xứ những ngôi danh sát như vậy. Quyển 1 ghi lại các tự viện trong thành, quyển 2 là các tự viện ở phía đông thành, quyển 3 phía nam thành, quyển 4 phía tây thành và quyển 5 phía bắc thành, tất cả gồm 58 ngôi tự viện danh tiếng. Cùng với Ngụy Thư Thích Lão Chí (魏書釋老志), bộ này là tư liệu không thể nào thiếu được đối với việc nghiên cứu Phật Giáo thời Bắc Ngụy. Đặc biệt, ký sự Tây Vức Sa Môn Bồ Đề Đạt Ma (西域沙門菩提達磨) được tìm thấy trong phần Vĩnh Ninh Tự (永寧寺) của quyển 1 là tư liệu mang tính lịch sử tối cổ liên quan đến Đạt Ma để khảo sát về lịch sử Thiền Tông. Truyện của tác giả Dương Huyễn Chi được thâu lục vào trong phần Tự Liệt Đại Vương Thần Trệ Cảm Giải (敍列代王臣滯感解) của Quảng Hoằng Minh Tập (廣弘明集) do Đạo Tuyên (道宣) biên soạn.

lạc dục

Ham muốn dục lạc trần thế—Desire for the pleasant or pleasure. ; (樂欲) Cũng gọi Dục lạc. Lòng mong cầu đạt được những điều mình muốn. Dục có 2 nghĩa: 1. Mong muốn được nghe pháp tu hành, tức là đối với Nhất thiết trí và các pháp tạng, sinh chí mong cầu không biếng nhác. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 4 thượng) nói: Bấy giờ trong hội chúng có 20 ức Bồ tát muốn được nghe pháp. 2. Lòng ham muốn tìm cầu các thú vui ngũ dục, đây là nguồn gốc của hết thảy phiền não. Kinh Tối thắng vương quyển 1 (Đại 16, 407 thượng), nói: Tất cả phiền não lấy dục lạc làm gốc, từ dục lạc sinh; chư Phật Thế tôn vì muốn dứt dục lạc nên gọi là Niết bàn. [X. kinh Đại bảo tích Q.4; Vu lan bồn kinh sớ (Tông mật)].

lạc hậu

Old fashioned.

lạc lỏng

Stray—Lost.

lạc lối

To go astray—To stray.

lạc mẫu đông

(洛姆東) (1005-1064) Tạng: Fbrom-ston, Dge-bzes ston-pa hoặc Ston-pa rin-po-che. Hán âm: Đôn ba bảo, Chủng đôn ba, Đông đốn. Thủy tổ của phái Ca đương (Tạng: Bka#-gdam-pa), người Đồ da luân phổ (Tạng:Stod-luns-phu) ở về mạn tây bắc Lạp tát (Lhasa). Ông thông minh từ thủa nhỏ, ham đọc sách, siêng năng cầu học nơi tôn giả Tiết chuẩn (Tạng:Jo-bo Se-btsun), lại theo ngài Tháp da tối lỗ mã (Tạng:Sgra#i tsher-ma) học ngôn ngữ. Khi học ở chỗ ngài Tháp da tối lỗ mã, ông được biết tên tuổi của ngài A đề sa (Phạm:Atìsa), ông rất hâm mộ. Sau, ông nhận thấy thứ tự tu hành trong giáo pháp có phần lộn xộn, Hiển Mật lại phân chia, nên vào năm 1054, khi nghe tin ngài A đề sa đến A lí (Tạng:Mía#-ris), ông được phép thầy học cho đi rước ngài A đề sa về Vệ tạng. Không bao lâu, ông được ngài A đề sa truyền trao quán đính và những lời giáo giới có liên quan đến Tam sĩ giáo, rồi từ đó ông theo ngài đi khắp nơi trên đất nước Tây tạng. Về sau, ông lại thỉnh ngài A đề sa đến Lạp tát (Lhasa) và dốc sức vào việc biên soạn các sách về Trung quán. Sau khi ngài A đề sa thị thịch (1054?), ông nối tiếp hoằng dương học thuyết của ngài để đối lại với Mật pháp cựu truyền vốn chỉ chuyên trọng chú thuật. Ông lập ra tông nghĩa riêng gọi là Cam Đan, hoặc Ca Đương. Cam là Thánh giáo, Đan là giáo giới, hợp cả 2 chữ lại thì có nghĩa là Tất cả Thánh giáo đều là giáo giới. Ông lại phán lập Tam Sĩ Giáo thu nhiếp tất cả pháp và thứ tự 4 mật pháp: Tác, Tu, Du già, Vô thượng du già. Hệ thống tư tưởng của ông rất tinh nghiêm, từ xưa không ai sánh kịp, nhờ đó phái Ca đương được sáng lập và mở đầu cho sự phân phái trong Phật giáo Tây tạng. Niên hiệu Gia hựu năm đầu (1056), ông xây dựng ngôi chùa Nhiệt chấn (Tạng: Rwasgreí) ở vùng Nhiệt chấn, hoằng pháp ở đây trong 9 năm…………. Ông một đời không xuất gia, nhưng thông hiểu cả Hiển giáo và Mật giáo, giáo đoàn do ông sáng lập về sau rất hưng thịnh. Ông có nhiều học trò, nhưng có 3 người nổi bật nhất là: Phác khung ngõa (Tạng:Phu- chuí-ba), Bác đóa ngõa (Tạng:Po-to-ba) và Cẩn nga ngõa (Tạng:Spyan-sía-ba). Năm 1064 ông qua đời, thọ 60 tuổi. Ông để lại các tác phẩm: Bát thiên tụng,Bát thiên đại chú (Phạm: Abhisamayàla= ôkàràloka), Bát thiên tiểu chú (Phạm: Abhisamayàlaôkarasphuỉàrtha), Nhị vãng ngũ thiên chú (Phạm: Paĩca= viôsatisàhasrikàbhisamayàlaôkàràloka). Dịch phẩm: Trí thành tựu (Phạm: Jĩànasidhi). [X. Deb-ther síon-po (The Blue Annals); Dpag-bsaml-jon-bzaí; Ch. Bell: The Religion of Tibet]. (xt. Ca Đương Phái).

lạc nghiệp

To enjoy one's work.

lạc pháp

Sự an lạc của Phật pháp—Delight in Buddha-truth or the religion.

lạc phát

Cắt tóc xuất gia tu hành—To shave or cut off the hair of the head, and become a monk.

lạc phát nhiễm y

Cắt tóc nhuộm áo để trở thành nhà tu (nhuộm xám màu trắng mà người Ấn thường mặc như quần áo bình thường)—To shave the head and dye the clothing, i.e. to dye grey the normal white Indian garments; to become a monk. ; (落發染衣) Xuống tóc nhuộm áo. Nghĩa là cạo bỏ râu tóc, mặc áo hoại sắc, xuất gia tu hành, cầu đạo giải thoát. [X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.9].

lạc phố hoàn hương

(洛浦還鄉) Lạc Phố về làng. Tên công án trong Thiền tông. Công án này thuật lại cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Lạc phố Nguyên an với 1 vị tăng. Chương Lạc phố Nguyên an trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 6 (Vạn tục 138, 102 thượng) ghi: Vị tăng hỏi: - Khi người học định trở về làng thì như thế nào? Sư đáp: - Nhà tan người mất, ông về đâu? Vị tăng đáp: - Vậy thì thôi, không về! Sư nói: - Tuyết sót ngoài sân nắng làm tan, bụi bám trong nhà nhờ ai quét? Rồi sư nói kệ rằng: Chí quyết trở về làng Dong thuyền vượt Ngũ hồ Chống sào trăng sao lặn Gác mái mặt trời nhô Nhổ neo rời bến tà Trương buồm ra chính lộ Tới nhà nhà tan biến Hết nhà hết cả ngu!

lạc phố lâm chung

(洛浦臨終) Tên công án trong Thiền tông. Công án này nói về sự tích Thiền sư Lạc phố Nguyên an lúc sắp tịch xét nghiệm cảnh giới của Thượng tọa Ngạn tòng. Chương Lạc phố Nguyên an trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 332 thượng), chép: Đến tối, sư bảo thị giả gọi Thượng tọa Ngạn tòng vào phương trượng, sư nói: Hôm nay Xà lê gặp lão tăng, là rất có lí, theo ông thì ý chỉ của Tiên sư thế nào? Tiên sư nói: Trước mắt không có pháp thì ý ở trước mắt, chứ chẳng phải pháp ở trước mắt, pháp ấy là cảnh giới mà tai mắt không thể thấu đáo được. Ông thử nói xem, câu nào là chủ ý của Tiên sư? Nếu chọn ra được, thì ta trao túi bát cho. Đáp: Ngạn tòng không hiểu. Sư nói: Ông hiểu, cứ nói đi!. Đáp: Ngạn tòng thật không biết. Sư hét, rồi đuổi ra và nói: Khổ! Khổ.

lạc phố đầu sư

(洛浦投師) Cũng gọi Lạc phố phục ưng. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại cơ duyên sư Lạc phố Nguyên an tham yết ngài Giáp sơn Thiện hội. Chương Lạc phố Nguyên an trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 ghi, một hôm sư Lạc phố đến tham yết ngài Giáp sơn, không khế hội được cơ ngữ, chỉ khoanh tay đứng nhìn. Ngài Giáp sơn quở sư vô lễ, chẳng phải người chân thực học đạo. Sư Lạc phố tự biết lỗi của mình, bèn khiêm nhường hỏi pháp và được đại ngộ.

lạc quan

Optimism.

lạc quyên

To subscribe—Offertory—Subscription—Collection.

lạc quán

(樂觀) (1902-1987) Vị tăng Trung quốc, người huyện Hán dương, tỉnh Hồ bắc, họ Lưu. Năm Dân quốc thứ 9 (1920), sư y vào ngài Linh nhất ở Sa thị, Hồ bắc xuất gia. Cùng năm đó sư thụ giới Cụ túc ở chùa Chương hoa. Sư từng theo học ở Đại học Hoa nghiêm tại Hán khẩu, Phật học viện Vũ xương của Đại sư Thái hư. Về sau, sư đi hoằng hóa khắp các vùng Hoàng hà, Giang nam, Giang bắc, Quảng đông, Quảng tây, Vân nam, v.v... Sư còn đến Nhật bản, các nước vùng Đông nam á và Ấn độ. Năm Dân quốc 41 (1952), sư nhận lãnh giới luật của Phật giáo Miến điện và ở tại thủ đô Ngưỡng quang, mãi đến năm Dân quốc 52 (1963) sư mới trở về Đài loan, rồi làm chủ biên nguyệt san Hải triều âm. Năm 1987 sư tịch, thọ 85 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lục thập niên hành cước kí, Trung quốc Phật giáo cận đại sử luận tập.

lạc quả

Quả an lạc của Niết Bàn, xa lìa mọi sinh diệt—Joyful fruit—Nirvana. ; (樂果) I. Lạc Quả. Diệu quả của Niết bàn. Quán kinh huyền nghĩa phần (Đại 37, 246 thượng), nói: Chỉ bày rõ cái nhân khổ trong nhiều kiếp, mà ngộ nhập vào quả vui (lạc quả) đời đời. II. Lạc Quả(1884-1979). Vị tăng Trung quốc, người Đông bắc Doanh khẩu, họ Lục, pháp hiệu Đại văn. Khi chưa xuất gia, sư theo nghề buôn bán, thường làm việc từ thiện, giảng diễn Phật pháp và xây chùa Hoa nghiêm có tiếng ở Doanh khẩu. Năm Dân quốc 28 (1939), sư lễ Hòa thượng Tâm triệt cầu xuất gia. Về sau sư thường giảng các kinh như Hoa nghiêm, Kim cương, Bát nhã tâm kinh, v.v... tại các thành phố lớn thuộc miền Đông bắc. Năm Dân quốc 38 (1949), sư dời đến Hồng kông góp phần vào việc xây dựng viện Phật học Hoa nam nhằm đào tạo tăng tài. Sau, sư lập tinh xá Văn tính ở Cửu long. Cuối đời, sư thường hoằng pháp ở Đài loan và vùng Đông nam á, đồng thời, sư còn sáng lập chùa Phật quang ở Bộ lí, Đài loan. Vì sư tuổi cao đức trọng nên được giới Phật giáo ở Hồng kông suy tôn là một trong Tam lão(3 bậc Trưởng lão) ở vùng Đông bắc. Năm Dân quốc 68 (1979) sư tịch ở Hồng kông, thọ 95 tuổi. Sư có các tác phẩm: Bát nhã tâm kinh giảng nghĩa, Kim cương kinh thích yếu.

lạc sinh thiên

(樂生天) Chỉ cho Sơ thiền, Nhị thiền và Tam thiền trong Tứ thiền (Tứ tĩnh lự) thuộc cõi Sắc. Theo luận Câu xá quyển 11, thì trong 3 cõi Tĩnh lự có 2 trạng thái an lạc. Đó là: 1. Li sinh hỉ lạc: Ở 3 cõi trời Phạm chúng, Phạm phụ và Đại phạm thuộc Sơ thiền, đã lìa các khổ của cõi Dục mà sinh hỉ lạc(vui mừng), nên gọi là Li sinh hỉ lạc. 2. Định sinh hỉ lạc:Ở 3 cõi trời Thiểu quang, Vô lượng quang và Cực quang thuộc Đệ nhị thiền, từ Sơ thiền sinh đến Nhị thiền và an trụ trong hỉ lạc, nên gọi là Định sinh hỉ lạc. 3. Li hỉ diệu lạc: Ở 3 cõi trời Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh và Cực quang tịnh thuộc Đệ tam thiền, lìa cái vui của Đệ nhị thiền mà cảm nhận niềm vui vi diệu của Đệ tam thiền, tên gọi Li hỉ diệu lạc.

lạc sơn tự

(洛山寺) Chùa ở xã Giáng hiện, quận Tương dương, tỉnh Giang nguyên, nước Đại hàn, do ngài Nghĩa tương sáng lập vào năm Văn vũ vương 11 (671). Tương truyền, sau khi từ Trung quốc trở về, Đại sư Nghĩa tương xây cất chùa này rồi dùng pho tượng Quan âm bằng gỗ chiên đàn do ngài tự tạo làm Bản tôn để tu Bách nhật hành. Đúng vào ngày trai giới thứ 7, Long vương từ biển Đông hiện lên trao tặng ngài Nghĩa tương chuỗi tràng bằng thủy tinh và hạt ngọc báu như ý. Vào ngày thứ 14, Bồ tát Quan âm ứng hiện, dạy Ngài nên dựng chùa ở chỗ có 2 cây trúc mọc. Đó là nguyên do sáng lập ngôi chùa này. Tại Đại hàn, phần nhiều các chùa viện được kiến trúc trong núi sâu, chỉ có chùa này được xây cất ở gần bờ biển, đây là trường hợp hiếm có. Công trình kiến trúc hiện còn là công trình làm lại sau chiến tranh năm 1950 giữa Nam và Bắc Hàn. Chùa gần biển, phong cảnh tráng lệ, pho tượng Quan âm rất lớn, cao đến tận mây; thêm vào đó là những truyền thuyết về ngài Nghĩa tương, đã làm cho chùa này trở thành một thắng cảnh nổi tiếng hiện nay.

lạc thanh tịnh tâm

Blissful pure mind.

lạc thiên

Deva musicians—See Lạc Càn Thát Bà.

Lạc thuyết

樂説; C: lèshuō; J: rakusetsu; |Tài thuyết pháp không ngăn ngại, năng lực thuyết pháp tự tại, không chướng ngại của đức Phật.

lạc thuyết

Vui vẻ thuyết pháp không biết chán, thuyết một cách vô ngại đúng nghĩa đúng chữ, là một trong tứ vô ngại—Pleasure in speaking—Pleasant speech—Joy in preaching or telling the way of salvation; joy in that which is preached. It is also called Pratibhana, bold and iluminating discourse, or freedom in expounding the truth with correct meaning and appropriate words, one of the four pratisamvids. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại.

lạc thuyết biện tài

See Lạc Thuyết and Tứ Vô Ngại.

lạc thuyết vô ngại biện

(樂說無礙辯) Phạm: Pratibhàna-pratisaôvid. Cũng gọi Biện vô ngại giải, Biện vô ngại trí, Nhạo thuyết vô ngại trí. Tùy theo những điều các chúng sinh ưa thích muốn nghe mà nói pháp và biện luận 1 cách lưu loát không vấp váp, là 1 trong 4 Vô ngại biện. Nói theo tâm, gọi là Nhạo thuyết vô ngại trí; nói theo miệng thì gọi là Nhạo thuyết vô ngại biện. Nhạo thuyết có 2 nghĩa: 1. Giải thuyết theo tâm vui của người nói: Bồ tát được pháp thù thắng, vui vẻ nói cho mọi người nghe, như cha mẹ có điều gì hay, muốn nói cho các con biết. 2. Giải thuyết theo ý muốn của người nghe: Bồ tát biết chúng sinh muốn nghe mình nói pháp thì tùy thuận mà nói cho họ. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 691 hạ) chép: Lời nói hợp với ý muốn của mọi người, gọi là nhạo thuyết. Phẩm Phân biệt công đức trong kinhPháp hoa quyển 5 (Đại 9, 44 thượng) nói: Lại có 1 thế giới có vi trần số đại Bồ tátđược nhạo thuyết vô ngại biện tài.[X. luận Câu xá Q.27; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng)]. (xt. Tứ Vô Ngại Giải).

Lạc thuyết vô ngại trí

xem Bốn trí không ngăn ngại.

lạc thí

1) Người bố thí với tràn đầy niềm vui: Joyful giver. 2) Tên Trưởng Giả Tu Đạt hay Cấp Cô Độc: Joyful giver, name of Sudatta or Anathapindika.

lạc thú

Pleasures.

lạc thảo

(落草) Cũng gọi Hướng hạ môn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lạc thảo(rơi xuống cỏ)nghĩa là hạ thấp địa vị. Trong phương pháp giáo hóa của Thiền lâm, người giáo hóa hạ thấp thân phận của mình, tùy thuận chúng sinh để giáo hóa gọi là Lạc thảo. Ngoài ra còn có những nhóm từ Lạc thảo hán (gã đê tiện), là tiếng khinh miệt gọi những người có hành vi hèn hạ; Lạc thảo đàm chỉ cho những lời bàn luận rơi vào đệ nhị nghĩa (trái với Đệ nhất nghĩa đế), hoặc chỉ cho những lời vì lòng từ bi thuận theo tình huống trước mắt mà phải miễn cưỡng nói ra giáo hóa một số người. Tắc 34, Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: Ngài Vân môn nói: Những lời nói này đều là vì lòng từ bi, cho nên có lạc thảo đàm. [X. chương Cát đằng trong Chính pháp nhãn tạng].

lạc thần

Deva musicians—See Lạc Càn Thát Bà in Vietnamese-English Section, and Gandharva in sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

lạc thọ

Khi nhận lãnh cảnh thuận tình thì thân tâm vui vẻ—The sensation or perception of pleasure.

lạc thụ

(樂受) Phạm, Pàli: Sukha-vedanà. Nhận lãnh cảnh vừa ý khiến cho thân tâm ưa thích, là 1 trong 3 thụ, 1 trong 5 thụ. Trong 3 thụ thì Lạc thụ là sự cảm nhận ưa thích của cả thân và tâm. Trong 5 thụ thì thân cảm thấy vui thích gọi là Lạc thụ, còn tâm cảm thấy vui thích thì gọi là Hỉ thụ. Nhưng luận Câu xá quyển 3 thì cho rằng ở cõi Tĩnh lự thứ 3(Đệ tam thiền)không có thân thụ, mà chỉ có tâm thụ, an tĩnh nhưng không có phân biệt, vì cảm giác vui thích rất mạnh nên gọi là Lạc thụ, chứ không gọi là Hỉ thụ. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12, 42; luận Thành duy thức Q.5; luận Thành thực Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.7].

lạc trám

Kẻ lừa đảo được ví như loài sâu bọ—A humbug—Trickster—Impostor—Deceiver.

lạc trú tứ thiền

Pleasant abiding in the four jhanas—See Tứ Thiền.

Lạc trước

樂着; C: lèzhāo; J: rakujaku; |Bị dính mắc vào niềm thích thú với trần cảnh, hoặc bị tuỳ thuộc vào sự vui sướng.

lạc trước

Tham đắm chấp trước vào dục lạc của cuộc sống hiện tượng—The bind of pleasure binding to the phenomenal life.

lạc tạ

(落謝) Tàn lụi. Chỉ cho pháp hiện tại đã mất tác dụng và rơi vào quá khứ. Trong chân lí Phật giáo, thế gian không Có pháp hữu vi nào thường hằng bất biến, cho nên biết các pháp hữu vi ấy nhất định đều bị tiêu hoại và rơi vào quá khứ trong mỗi sát na.

lạc vào tà kiến và không hiểu ý kinh

To go astray and to miss the intent of the sutras.

lạc vị

Vị bơ chua, một trong năm vị của sữa và phó sản của nó. Tông Thiên Thai so sánh nó với thời kỳ thứ hai của giáo thuyết Tiểu Thừa—Sour, one of the five tastes. T'ien-T'ai compared the second period of the Hinayana with this. **For more information, please see Thiên Thai Ngũ Thời Bát Giáo.

Lạc Xoa

(s: lakṣa, p: lakkha, 洛刹、洛叉): âm dịch là Lạc Xoa (洛叉), Lạc Sa (洛沙), La Sa (羅沙). Theo đơn vị số lượng của Ấn Độ thì 1 Lạc Xoa bằng 1/100 Câu Chi (s, p: koṭi, 倶胝).

lạc xoa

Laksa (skt)—Lạc Sa—Mười vạn—One hundred thousand. ; (洛叉) Phạm: Lakwa. Cũng gọi Lạc sa, La khất sử. Tên gọi số lượng đời xưa ở Ấn độ, tức là 10 vạn. Kinh Như ý luân đà là ni (Đại 20, 189 trung), nói: Một lạc xoa, Trung quốc gọi là 10 vạn. Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 nói rằng 1 lạc xoa tương đương với 10 vạn; 100 lạc xoa là 1 câu chi. Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1230 trung), nói: Tiếng Phạm La khất sử, nghĩa là 10 vạn. Còn luận Câu xá quyển 12 và Phạm ngữ thiên tự văn thì cho rằng lạc xoa là 1 ức. Ngoài ra, Mật giáo lập 2 nghĩa cạn và sâu. Nếu giải thích theo nghĩa cạn thì 1 lạc xoa là 10 vạn; còn nếu giải thích theo nghĩa sâu thì lạc xoa nghĩa là kiến chiếu hoặc là thành tựu. (xt. Tam Lạc Xoa).

lạc xoa đà la ni kinh

(洛叉陀羅尼經) Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về đà la ni Lạc xoa và cho rằng nếu thụ trì Đà la ni này thì cũng bằng với thụ trì Lạc xoa (10 vạn) danh hiệu chư Phật, có năng lực diệt trừ vô lượng trọng tội, tích tụ nhiều phúc đức.

lạc âm

The sound of music.

lạc âm thụ

Những cây trên cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, trổi nhạc trong cơn gió thoảng—The trees in Amitabha's paradise which give forth music to the breeze.

lạc đà toạ

(駱駝坐) Tư thế ngồi xổm, tức là ngồi dựng 2 đầu gối lên. Trong kinh chê cách ngồi này không đúng và bảo chúng tăng phải ngồi theo kiểu kết già. Thích môn qui kinh nghi quyển hạ (Đại 45, 863 hạ), nói: Ngồi dựng 2 đầu gối lên trong kinh gọi là Lạc đà tọa. Kiểu ngồi này làm cho thân tâm lười biếng. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 3].

lạc đường

To lose one's way—To go astray—To stray.

lạc độ

Quốc độ vui vẻ—A happy land.

Lạc-sa

洛沙; C: luòshā; J: rakusha;|Xem Lạc-xoa (洛叉; s: lakṣa).

Lạc-xoa

洛叉; S: lakṣa; C: luòchā; J: rakusha;|Một lạc-xoa, tên gọi lượng số vào thời Ấn Độ cổ đại, tương đương 100.000. Còn Phiên âm là Lạc-xoa (落叉), Lạc-sa (洛沙), và La-khất-sử (攞乞史).

lại

Ỷ lại—To rely upon—To depend upon—To throw the burden on.

Lại Bộ

(吏部): Bộ Lại là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, tương đương với cấp bộ ngày nay. Năm Kiến Thỉ (建始) thứ 4 (29 ttl.) thời Hán Thành Đế (漢成帝, tại vị 33ttl.-7ttl.) lập ra Thường Thị Tào (常侍曹), đến thời Hán Quang Võ Đế (漢光武帝, tại vị 25-57) đổi thành Lại Tào (吏曹). Đến thời Hán Linh Đế (漢靈帝, tại vị 168-189) thì đổi thành Tuyển Bộ (選部). Từ thời Tào Ngụy (曹魏, 220-265) và nhà Tấn (晉, 265-420) trở đi gọi là Lại Bộ. Dưới thời Tùy (隋, 581-619), Đường (唐, 618-907) và Ngũ Đại (五代, 907-960), bộ này là một trong sáu bộ của Thượng Thư Tỉnh (尚書省). Sau này, trong Lại Bộ mới đặt ra các Ty khác như Lại Bộ Ty (吏部司), Tư Phong Ty (司封司), Tư Huân Ty (司勳司), Khảo Công Ty (考功司), chủ quản các công việc của Quan Văn như quan tước, phong tước, ân ban, thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn, v.v. Thời kỳ đầu nhà Đường, Bộ này còn cai quản cả việc khảo thí khoa cử, đến năm Khai Nguyên thứ 24 (734), thời Đường Huyền Tông (唐玄宗, tại vị 712-756), công việc này được giao lại cho Bộ Lễ. Đến thời kỳ giữa của nhà Đường, các quyền xem xét quan viên và bổ nhiệm, bãi miễn bị thu hồi dần về Thượng Thư Tỉnh. Quan đứng đầu Bộ Lại gọi là Lại Bộ Thượng Thư (吏部尚書, hay Thượng Thư Bộ Lại) với hàm Chánh Tam Phẩm (正三品), cấp dưới lần lượt là Lại Bộ Thị Lang (吏部侍郎) gồm 2 người với hàm Chánh Tứ Phẩm Thượng (正四品上). Dưới nữa là Lang Trung (郎中) có 2 người với hàm Chánh Ngũ Phẩm Thượng (正五品上) và Viên Ngoại Lang (員外郎) gồm 2 người với hàm Tùng Lục Phẩm Thượng (從六品上). Có thời đổi thành Tư Liệt (司列), Thiên Quan (天官), Văn Bộ (文部), sau lại đổi về như cũ. Tất cả những quy định này được thâu lục chi tiết trong Tấn Thư (晉書), Phần Chức Quan Chí (職官志), hay Tân Đường Thư (新唐書), phần Bách Quan Chí (百官志). Quan Bộ Lại danh tiếng của Việt Nam là cụ Nguyễn Cư Trinh (阮居楨, 1716-1767). Ông là danh thần đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (阮福闊, tại vị 1738-1765), quê ở Thừa Thiên, Huế; vốn người văn võ song toàn, đỗ Hương Cống (鄉貢), làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Lại. Nhiều lần cầm binh đánh dẹp, khai hoang lập ấp, phát triển bờ cõi phía Nam, lập công lớn trong việc chiêu dụ, mở nước, an dân. Ông rất được trọng vọng nhờ am tường chính trị, doanh điền, ngoại giao, có bản tính liêm khiết và phong thái tao nhã. Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, độc đáo nhất là Độc Am Thi Tập và bài vè 340 câu Sãi Vãi.

lại da

Alaya (skt)—See A Lại Da Thức in Vietnamese-English Section.

lại da duyên khởi

(賴耶緣起) Cũng gọi A lại da duyên khởi, Duy thức duyên khởi. Thuyết Duy thức của tông Pháp tướng chủ trương hết thảy muôn pháp đều từ nơi thức A lại da duyên khởi ra. Một trong 4 loại Duyên khởi. Lại da, gọi đủ là A lại da, nghĩa là cái kho chứa đựng hạt giống(chủng tử)của tất cả các pháp, là chỗ nương tựa căn bản của hết thảy loài hữu tình, gọi là Tàng thức. Muôn tượng trong thế gian đều là chủng tửđược chứa đựng trong Tàng thức(A lại da) hiện hành ra, đây gọi là Chủng tử sinh hiện hành, đồng thời, những pháp do các chủng tử ấy hiện hành ra lại huân tập thành những chủng tử mới trong Tàng thức, đây gọi là Hiện hành huân chủng tử, cứ như thế xoay vần tương sinh, làm nhân làm quả cho nhau mà tạo thành quan hệ Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử. (xt. A Lại Da Thức).

lại da tam tướng

(賴耶三相) Ba tướng của thức A lại da. Tông Duy thức cho nhân và quả của các pháp vốn có đủ trong tự thể của thức A lại da, cho nên lập ra 3 tướng để nói rõ sự sai khác giữa thể và nghĩa của thức A lại da, tức là Tự tướng (sơ A lại da), Quả tướng (dị thục) và Nhân tướng (nhất thiết chủng), trong đó, lấy Tự tướng làm Thể tướng, còn 2 tướng kia là Nghĩa tướng. 1. Tự tướng: Tướng của tự thể thức A lại da, thức này có 3 nghĩa: Năng tàng, Sở tàng, Chấp tàng(gọi là Lại da tam tàng), nó cùng với các pháp tạp nhiễm(hữu lậu) làm duyên cho nhau, vì thế hữu tình chấp nó làm tự ngã, đây là nói rõ nghĩa tự tướng của thức Năng biến thứ nhất có năng lực giữ gìn nhân và quả. Bởi vì thức A lại da có thể giữ gìn chủng tử của các pháp tạp nhiễm, giống như kho chứa muôn vật, nên gọi là Năng tàng; vì thức A lại da là chỗ huân tập, nương ở của các pháp tạp nhiễm, cũng giống như kho tàng là chỗ của muôn vật được cất chứa, nên gọi là Sở tàng; vì thức A lại da thứ 8 này bị thức Mạt na thứ 7 luôn chấp làm tự ngã, cũng giống như kho tàng kiên cố cất giữ các vật, nên gọi là Chấp tàng. Do đó nên biết năng tàng là Nhân tướng, sở tàng là Quả tướng, 2 tướng nhân quả bị thức Mạt na chấp làm tự tướng của Lại da. Nếu lìa Tự tướng thì không có Nhân tướng, Quả tướng; mà nếu lìa Nhân tướng, Quả tướng thì không thể có Tự tướng. 2. Quả tướng: Quả thể tổng báo của loài hữu tình. Tức là quả Dị thục do nghiệp thiện ác của thức A lại da ở quá khứ dẫn sinh. Trong Tam tàng của Lại da thì Quả tướng là sở tàng; trong 3 vị của Lại da thì nó thuộc quả vị thiện ác nghiệp. 3.Nhân tướng: Tướng nguyên nhân của muôn pháp. Thức A lại da có khả năng giữ gìn tất cả chủng tử các pháp, không để mất mát, là nguyên nhân sinh ra muôn pháp. Trong Tam tàng Lại da nó là năng tàng, trong 3 vị Lại da, nó thuộc vị chấp trì tương tục (nắm giữ liên tục). [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).

lại da tam tạng

(賴耶三藏) Thức A lại da có 3 nghĩa là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng. 1.Năng tàng: Nói theo sự quan hệ giữa thức A lại da và chủng tử, thức A lại da là cái nhỏ nhiệm, sinh diệt liên tục, không đầu cuối cũng không gián đoạn, có năng lực cất chứa, gìn giữ chủng tử của các pháp, không để mất mát, nên gọi là Năng tàng, còn chủng tử là Sở tàng(cái bị cất chứa). 2. Sở tàng: Nói theo sự quan hệ của 7 chuyển thức năng huân với thức A lại da sở huân, thì Năng huân là Năng tàng, Sở huân là Sở tàng. Bảy chuyển thức có tác dụng hiện hành các pháp, ngay trong sát na hiện hành, các thức ấy đã lại huân tập chủng tử mới vào trong thức A lại da, gọi là Tân huân chủng tử. 3. Chấp tàng: Thức A lại da là cái kho cất chứa tất cả chủng tử của các pháp do 7 chuyển thức huân tập vào. Thức này sinh diệt liên tục và vô cùng nhỏ nhiệm nên giống như 1 chủ thể thường hằng bất biến. Chính vì thế mà thức thứ 7 chấp lầm là thực ngã, đó là căn nguyên của ngã kiến. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).

lại da tam vị

(賴耶三位) Tông Duy thức đem quá trình biến hóa của thức A lại da thứ 8 từ Nhân vị đến Quả vị chia làm 3 giai đoạn để thuyết minh, gọi là Lại da tam vị. Đó là: 1. Ngã ái chấp tàng hiện hành vị: Giai đoạn thức A lại da thứ 8 bị thức Mạt na thứ 7 chấp làm thực ngã, thực pháp. 2. Thiện ác nghiệp quả vị: Giai đoạn quả báo nghiệp thiện ác của thức A lại da nối nhau sinh khởi. 3. Tương tục chấp trì vị: Giai đoạn thức A lại da nắm giữ tất cả chủng tử của các pháp thiện, ác, vô kí, hữu lậu, vô lậu... [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối]. (xt. A Lại Da Thức).

lại da tứ phần

(賴耶四分) Bốn phần vị của thức A lại da. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 15, thì thức A lại da thứ 8 có thể cất chứa tất cả chủng tử thiện ác, có đủ nghĩa 4 phần như sau: 1. Tướng phần: Tướng tức là hình tướng; tướng phần có 3 loại: a) Cảnh tướng: Thức thứ 8 hay duyên với 6 thức mà có các cảnh giới. b) Tướng trạng: Các pháp hữu vi ở thế gian đều có tướng trạng, đều do thức thứ 8 biến hiện ra. c) Nghĩa tướng: Tướng của giáo năng thuyên và lí sở thuyên cũng đều là thức thứ 8 biến hiện. 2. Kiến phần: Kiến là chiếu rọi, gồm có 5 thứ: Chứng kiến, Chiếu xúc, Năng thuyên, Niệm giải và Suy đạc. 3. Tự chứng phần: Tự chứng tức là tự mình chứng biết các pháp sẵn có. Nghĩa là thức thứ 8 nắm giữ Tướng phần và Kiến phần mà vẫn có thể chứng biết Kiến phần của mình khi duyên với Tướng phần một cách rõ ràng chính xác. 4. Chứng tự chứng phần: Chứng tức là thể năng chứng; Tự chứng tức là pháp sẵn có. Nghĩa là thức thứ 8 duy trì Tự chứng phần, Kiến phần, Tướng phần làm bản thể của mình, mà vẫn chứng biết phần Tự chứng của mình khi duyên theo Kiến phần không hề lầm lẫn. (xt. Tứ Phần, A Lại Da Thức).

Lại Du

(賴瑜, Raiyu, 1226-1304): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, vị Tổ của Dòng Trung Tánh Viện (中性院流), húy là Hào Tín (豪信), Lại Du (賴瑜), tự là Tuấn Âm (俊音); xuất thân vùng Na Hạ (那賀, Naka), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山懸]), con của Thổ Sanh Xuyên Nguyên Tứ Lang Đại Phu (土生川源四郎大夫). Sau khi xuất gia, ông lên học giáo lý ở Truyền Pháp Viện (傳法院) trên Cao Dã Sơn; sau đó học về Tam Luận, Hoa Nghiêm ở Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), rồi Duy Thức ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) và Mật Giáo ở Chơn Ngôn Viện (眞言院, Shingon-in). Vào năm 1256, ông kế thừa Dòng Quảng Trạch từ Kinh Du (經瑜); rồi đến năm 1266 thì làm chức Học Đầu cho Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院) trên Cao Dã Sơn. Năm sau, ông chuyển đến trú tại Tam Bảo Viện (三寶院) ở Đề Hồ Tự (醍醐寺, Daigo-ji), rồi đến năm 1272 thì tái hưng Đại Truyền Pháp Viện và kiến lập Trung Tánh Viện (中性院). Vào năm 1284, nhân việc xây dựng nhà tắm nước nóng ở Đại Truyền Pháp Viện, ông tranh chấp với Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺, Kongōbō-ji); cuối cùng ông dời Đại Truyền Pháp Viện và Mật Nghiêm Viện (密嚴院) đến vùng Căn Lai (根來, Negoro), rồi sáng lập ra Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông (新義眞言宗). Ông được xem như là vị Tổ của Đại Truyền Pháp Viện thời Trung Hưng. Đệ tử phú pháp của ông có Thánh Trung (聖忠), Thánh Vân (聖雲), Thánh Tầm (聖尋), Lại Duyên (賴緣), v.v. Trước tác của ông để lại cho hậu thế có Bí Mật Vấn Đáp (秘密問答) 22 quyển, Chơn Tục Tạp Ký Vấn Đáp Sao (眞俗雜記問答鈔) 30 quyển, Tức Tâm Nghĩa Ngu Thảo (卽心義愚草) 4 quyển, Thập Trụ Tâm Luận Ngu Thảo (十住心論愚草) 38 quyển, v.v.

Lại Quang

(賴光, Raikō): xem Lễ Quang (禮光, Raikō, ?-?) bên dưới.

Lại Sơn Dương

(賴山陽, Rai Sanyō, 1780-1832): Nho gia, thi nhân, và là sử gia sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; tên là Tương (襄); thông xưng là Cửu Thái Lang (久太郎); tự Tử Thành (子成); biệt hiệu là Tam Thập Lục Phong Ngoại Sử (三十六峰外史); xuất thân vùng Đại Phản (大阪, Ōsaka); sau ông cùng với cha chuyển đến Quảng Đảo (廣島, Hiroshima). Phụ thân ông là Lại Xuân Thủy (賴春水), Nho quan của Phiên Quang Đảo (廣島藩, Hiroshima-han). Ban đầu, ông theo học với chú Lại Hạnh Bình (賴杏坪). Năm lên 18 tuổi, nhờ Vĩ Đằng Nhị Châu (尾藤二洲) giúp đỡ, ông rời khỏi Giang Hộ; đến năm 21 tuổi thì bỏ đi phóng lãng, rồi phạm tội nên cấm túc ở tư gia. Nhất thời ông có làm việc cho Quản Trà Sơn (菅茶山, Kan Sazan) phụ trách trường dạy học Tư Thục; đến năm 1811 (Văn Hóa [文化] 8), ông mở trường dạy học ở kinh đô Kyoto, và mở phòng đọc sách lấy tên là Sơn Tử Thủy Minh Xứ (山紫水明處). Từ đó trở về sau, ông lấy nơi đây làm cứ điểm hoạt động. Ông rất giỏi về thơ văn và Thư Đạo. Bộ Nhật Bản Ngoại Sử (日本外史) viết về lịch sử hưng vong của hàng Võ Gia do ông trước tác trong thời gian bế quan, đã được tầng lớp có chí khí cũng như văn nhân, trí thức đương thời rất thích đọc. Các tác phẩm khác có Nhật Bản Chính Ký (日本政記) Nhật Bản Lạc Phủ (日本樂府), Sơn Dương Thi Sao (山陽詩鈔), v.v.

lại tra hòa la

Rastrapala (skt). 1) Vị vua bảo vệ vương quốc: Protector of a kingdom,a king. 2) Tên của một vị Tăng nổi tiếng được Phật nói đến trong Kinh A Hàm (ngài xuất gia theo Phật, sau đó trở về thuyết pháp cứu độ mẹ cha): Name of a noted monk whom the Buddha mentioned in the Agama Sutra (he left home to follow the Buddha, then went back to preach to save his parents)

lại trá hoà la

(賴吒和羅) Phạm: Ràwỉrapàla. Pàli: Raỉỉhapàla. Cũng gọi La tra ba la, Lại tra bạt đàn. Hán dịch: Hộ quốc, Đại tịnh chí. Vị đệ tử của đức Phật, người nước Cư lâu (Phạm:Kura) ở phía Tây bắc Trung Ấn độ, là con của nhà phú hào Thâu lô tra thôn (Phạm: Thullakoỉỉhita). Khi đức Phật đến nước này hóa đạo, Lại tra hòa la xin theo Phật xuất gia, sau khi giác ngộ, trở về nước. Cha mẹ Ngài lập mưu dùng gái đẹp dụ dỗ Ngài hoàn tục, trái lại cô gái ấy nghe lời răn dạy của Ngài phát tâm qui Phật. Về sau, Ngài còn độ cho vua Câu lao bà (Phạm:Koravga). Sau này bồ tát Mã minh ở thành Hoa thị (Phạm: Pàỉiliputra) đem sự tích của Ngài soạn thành vở kịch Lại tra hòa la, rồi đích thân trình diễn, rất được dân chúng ưa thích và khen ngợi, khiến cho 500 vị Vương tử và nhiều thị dân bỏ tục xuất gia, do đó vở kịch bị nhà vua nghiêm cấm.[X. kinh Trung a hàm Q.31; kinh Soạn tập bách duyên Q.9; luật Tứ phần Q.3; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5].

lại trá hoà la kinh

(賴咤和羅經) I. Lại Tra Hòa La Kinh. Cũng gọi La hán lại tra hòa la kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Chi nghiêm dịch vào đời Ngô, được thu vào Đại chính tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc tôn giả Lại tra hòa la nghe đức Phật nói pháp mà lập chí xuất gia, chứng được quả A la hán. Mười năm sau trở về nhà thuyết pháp độ cho cha mẹ. Ngoài ra, kinh Lại tra hòa la trong Trung a hàm do ngài Tăng già đề bà dịch là cùng bản Phạm mà dịch khác của kinh này. II. Lại Tra Hòa La Kinh. Cũng gọi Lại tra hòa la sở vấn Đức quang thái tử kinh, Đức quang thái tử kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật dạy tôn giả Lại tra hòa la là Bồ tát phải vâng làm 4 việc thanh tịnh, đồng thời thuật lại quá trình học Phật của Thái tử Đức quang.

lạm ba quốc

(濫波國) Lạm ba, Phạm: Lampàka. Cũng gọi Lam bà quốc, Lãm ba quốc, Bà ca quốc. Tên một nước xưa ở vùng Tây bắc thuộc Bắc Ấn độ. Nước này tương đương với Laghman ở giữa Kabul (thuộc Afghanistan) và miền Tây bắc Ấn độ. Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, nước Lạm ba chu vi hơn 1000 dặm, nội thuộc nước Ca tất thí. Khí hậu ấm áp, không có tuyết; phong tục vui nhộn, dân thích hát xướng, ngâm vịnh, tính tình nhút nhát, dối trá, dáng người thấp bé, cử động nhẹ nhàng, phần nhiều mặc áo bằng lông thú mầu trắng. Có hơn 10 ngôi chùa, tăng chúng rất ít và hầu hết tu học theo giáo pháp Đại thừa. Có mấy mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo rất đông. Theo Vãng ngũ thiên trúc quốc truyện của ngài Tuệ siêu (546-622) người Tân la, thì Lạm ba lúc bấy giờ là thuộc địa của nước Kiện đà la. Ngoài ra, Hữu bộ tì nại da quyển 46; kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển trung và phẩm Thuyết mật ấn trong kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ quyển 2... đều có nói đến tên nước này. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; Thích ca phương chí Q.thượng; Tống sử liệt truyện thứ 249].

lạm dụng

To abuse—Abused: Bị lạm dụng.

lạn

Lấp-lánh—Glittering.

lạn ngư

1) Cá có màu lấp lánh—Iridescent fish. 2) Cá hư, mềm nhũn: Rotten and soft fish.

lạn thoát

(爛脫) Cũng gọi Loạn thoát. Có nghĩa là rối tung, đảo lộn. Vì muốn đề phòng kẻ có tâm kiêu căng ngạo mạn, cậy mình có trí tuệ mà giảng giải sai lầm, tự làm tổn hại mình và tổn hại người khác, cho nên bậc cao minh cố ý đảo lộn câu văn trong kinh điển, làm cho nghĩa lí không thông suốt, khiến kẻ kia không thể hiểu thấu mà bỏ tâm cống cao ngã mạn, phải nương theo bậc minh sư chỉ bảo mới hiểu được ý kinh. Đây là phương tiện khéo léo để ngăn ngừa nhân duyên phá pháp. Kinh Đại nhật và Đại nhật kinh sớ của Mật giáo thường dùng Lạn thoát. Lạn thoát trong các bộ sớ có rất nhiều loại, nếu muốn chỉ rõ thì có kí hiệu nhất định. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 18].

lạnh lùng

Chilly—Cold.

lạnh như cắt

Very cold.

lạp

1) Thịt khô: Dried flesh. 2) Sáp: Wax. 3) Cuối mùa an cư kiết hạ hằng năm: The end of the annual summer retreat. 4) Cuối năm: The end of the year 5) Săn bắn: To hunt. 6) Tháng 12 (chạp) của năm âm lịch—The twelfth lunar month of the year. 7) Tuổi hạ của Tăng Ni: A monastic year for monks and nuns. ** For more information, please see Hạ Lạp, and Pháp Lạp in Vietnamese-English Section. ; (臘) Cũng gọi Hạ lạp, Niên lạp. I. Lạp. Chỉ cho Giới lạp, Pháp lạp, là số tuổi của tỉ khưu tính từ khi thụ giới Cụ túc, sau đó, cứ mỗi một hạ an cư tính thêm 1 tuổi. Bài tụng Bách trượng qui thằng trong Thiền uyển thanh qui quyển 10 (Vạn tục 111, 465 hạ), nói: Người đầy đủ đức hạnh có đạo nhãn đáng được tôn trọng, gọi là Trưởng lão; bên Tây vực, các bậc đạo cao lạp trưởng được tôn xưng là Trưởng lão, như Trưởng lão Tu bồ đề, v.v... [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.14]. (xt. Pháp Lạp). II. Lạp. Gọi đủ: Lạp nguyệt(tháng chạp). Chỉ cho tháng 12 âm lịch. Lạp vốn là tên của lễ tế tự đời xưa ở Trung quốc, vì Trung quốc thời ấy thường lấy tháng 12 âm lịch làm tháng tế lễ, cho nên quen gọi tháng 12 là Lạp nguyệt. Viên thông đại ứng quốc sư ngữ lục quyển thượng (Đại 80, 106 trung), nói: Đến ngày 30 tháng chạp (Lạp nguyệt), cũng chỉ như thế; tháng chạp(lạp) qua, mùa xuân đến, vẫn y như cũ, thử nói xem, đó là cái gì?. ; (笠) Chiếc nón của vị tăng hành cước, gồm 2 loại: Nón tre và nón lá. Điều Nhập viện trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 3 (Đại 48, 1125 trung), nói: Người xưa lưng mang bao, đầu đội nón, đến sơn môn (cửa Tam quan) bỏ nón xuống, vào cửa đốt hương, nói pháp ngữ, đến trước Tăng đường, cởi bao xuống. Ngoài ra, câu Lạp trọng Ngô thiên tuyết (nón nặng tuyết trời Ngô), nghĩa bóng là dầm sương dãi tuyết, là ý khen ngợi phong cách của vị tăng hành cước, vai mang trọng trách tu hành Phật đạo.

lạp bát

Ngày hội thành đạo, ngày mồng tám tháng chạp, ngày Phật Thích Ca thành đạo—The 8th day of the last month (twelfth month), the day of the Buddha's enlightenment. ; (臘八) Ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch, ngày đức Phật thành đạo. Lạp vốn là tên của lễ cúng tế ở Trung quốc vào cuối năm; vì Trung quốc đời xưa thường lấy tháng 12 âm lịch làm tháng tế lễ, nên gọi tháng chạp là Lạp nguyệt, gọi ngày mồng 8 tháng 12 là Lạp bát. Điều Phật thành đạo Niết bàn trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 2 (Đại 48, 1116 thượng), nói: Ngày mồng 8 tháng chạp là ngày đức Bản sư Thích ca Như lai đại hòa thượng thành đạo, đại chúng phải chuẩn bị hương, hoa, đèn, nến, trà, quả cho trang nghiêm, thanh tịnh để cúng dường. Vào ngày này, Phật tử Trung quốc phỏng theo điển tích mục nữ (cô gái chăn bò) dâng sữa cúng Phật, nấu cháo bằng gạo với trái cây cúng dường đức Phật, gọi là Lạp bát chúc (cháo mồng 8 tháng chạp). Tại Nhật bản, kỉ niệm ngày đức Phật thành đạo, từ ngày mồng 1 đến mồng 8 tháng chạp, trong các chùa thuộc Thiền tông, suốt ngày đêm chư tăng chỉ tọa thiền tu hành chứ không làm bất cứ việc gì khác ngoại trừ việc ăn uống và vệ sinh. Đến sáng sớm ngày mồng 8, sau khi tụng chú Đại bi trước tượng Phật Thích ca là kết thúc pháp hội kỉ niệm Phật thành đạo. Pháp hội này được gọi là Lạp bát nhiếp tâm, Lạp bát đại nhiếp tâm, cùng với hội tắm Phật, hội Niết bàn, gọi chung là Tam đại hội. [X. kinh Trường a hàm Q.4; kinh Quán tẩy Phật hình tượng; Đại Tống tăng sử lược Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.3].

lạp bát chúc

(臘八粥) Cũng gọi Ngũ vị chúc, Hồng tao, Thất bảo chúc, Phật chúc. Cháo 5 vị dâng cúng Phật vào ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch hằng năm, trong các chùa viện. Cứ theo Đại Tống tăng sử lược quyển thượng và môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên, thì thời nhà Tống bên Trung quốc lấy ngày mồng 8 tháng chạp âm lịch làm ngày Phật đản, các chùa lớn ở kinh đô làm lễ tắm Phật, dùng các thứ trái cây, ngũ cốc nấu thành cháo 7 báu, 5 vị, gọi là Lạp bát chúc. Trong các kinh không thấy nói nên dùng những chất liệu gì để nấu cháo Lạp bát, mà chỉ thấy trong điều Nguyệt phần tu tri trong Bách trượng thành qui quyển 7 và môn Ẩm đạm trong Thiền lâm tượng khí tiên, bảo dùng các thứ hạt đậu màu hồng, v.v... trộn lẫn với nhau, rồi nấu thành cháo 5 vị, vì thế, Lạp bát chúc còn được gọi là Hồng tao (bã rượu đỏ). Nếu theo điều Lạp bát chúc trong Yên kinh tuế thời kí, thì Lạp bát chúc được nấu bằng hạt kê vàng, gạo trắng, gạo nếp, hạt dẻ, đậu đỏ, táo bỏ vỏ, củ ấu, v.v... Ngoài ra, còn dùng hạt hồng đào, hạnh nhân, hạt dưa, đậu lạc, trăn nhương (?), quả thông, đường trắng, đường đỏ, bồ đào, v.v... tán nhỏ rồi rắc lên trên. Không nên dùng hạt sen, đậu ván, ý dĩ (hạt bo bo), quế..., vì những thứ này sẽ làm mất vị ngon của cháo. Ngày 7 tháng chạp, các thứ phải được chuẩn bị đầy đủ, tối bỏ vào nồi nấu suốt đêm, đến sáng hôm sau, cháo vẫn còn sôi. Dâng cúng Phật, cúng Tổ xong, chia cho mọi người cùng ăn, nhưng không được quá giờ ngọ. [X. Chư kinh yếu tập Q.8; Tông môn vũ khố].

lạp mãn

(臘滿) Đồng nghĩa với Trưởng lão. Chỉ cho vị tăng có tuổi đời và tuổi đạo đều cao.

Lạp Nguyệt

(臘月、蠟月): tên gọi khác của tháng 12 Âm Lịch. Cách gọi như vậy có liên quan rất lớn với mùa màng tự nhiên, chủ yếu là với việc cúng tế trong năm. Từ lạp (臘) ở đây vốn là tên của một lễ tế cuối năm. Bộ Phong Tục Thông Nghĩa (風俗通義) của Ứng Thiệu (應劭, khoảng 153-196) nhà Hán giải thích rằng: “Hạ viết Gia Bình, Ân viết Thanh Tự, Chu dụng Đại Lạp, Hán cải vi Lạp. Lạp giả, lạp dã, ngôn điền lạp thủ cầm thú, dĩ tế tự kỳ tiên tổ dã (夏曰嘉平、殷曰清祀、周用大蠟、漢改爲臘、臘者、獵也、言田獵取禽獸、以祭祀其先祖也, nhà Hạ gọi là Gia Bình, nhà Ân gọi là Thanh Tự, nhà Chu dùng chữ Đại Lạp, nhà Hán đổi thành Lạp. Lạp nghĩa là săn bắn, tức săn bắn cầm thú, để cúng tế tổ tiên vậy).” Hay cho rằng: “Lạp giả, tiếp dã; tân cố giao tiếp, cố đại tế dĩ báo công dã (臘者、接也、新故交接、故大祭以報功也, Lạp nghĩa là hội họp; vì năm mới nên giao tiếp, cho nên cúng tế lớn để báo công vậy).” Nhân tháng 12 này thường có lễ cúng tế lớn nên được gọi là “Tháng Cúng Tế”. Người Tần gọi lễ Tế Thần vào cuối năm là Lạp. Tháng 12 là tháng cuối cùng của một năm, đúng vào tiết Đông giá buốt. Ngạn ngữ dân gian có câu: “Lạp thất, Lạp Bát, đống trạo hạ ba (臘七、臘八、凍掉下巴, mồng bảy tháng Chạp, mồng 8 tháng Chạp, lạnh buốt xương tủy)”; để diển tả cái lạnh tột cùng âm 20 độ C, mọi công việc đồng án đều phải đình trệ; cho nên tháng Chạp còn được gọi là Đông Nhàn (冬閑, mùa Đông nhàn hạ). Dưới thời nhà Chu, bất luận nhà quan quyền hay bá tánh thường dân, mỗi nhà đều phải cử hành lễ gọi là “tuế chung chi tế (歲終之祭, cúng cuối năm)”, rất long trọng, rầm rộ nhất trong năm; lễ cúng đó gọi là Lạp. Trong tác phẩm Độc Đoán (獨斷), quyển Hạ của Thái Ung (蔡邕, 132-192) nhà Đông Hán có ghi rằng: “Lạp giả, tuế chung đại tế (臘者、歲終大祭, Lạp nghĩa là cúng tế lớn cuối năm).” Hay như tác phẩm Ngọc Chúc Bảo Điển (玉燭寶典) của Đỗ Đài Khanh (杜臺卿, ?-?) nhà Tùy cũng ghi là: “Lạp, nhất tuế chi đại tế (臘、一歲之大祭, Lạp là lễ tế lớn trong một năm).” Kinh Sở Tuế Thời Ký (荊楚歲時記) do Tông Lẫm (宗懍, khoảng 501-565) nhà Lương thời Nam Triều cũng cho rằng: “Khổng Tử sở dĩ dự bồi tân, nhất tuế chi xuất, thạnh ư thử tiết (孔子所以預以陪賓、一歲之出、盛於此節, sở dĩ Khổng Tử chuẩn bị mọi thứ để tiếp khách, nội trong một năm, thịnh hành vào tiết này).” Về thời gian tiến hành cúng tế Lạp, từ thời nhà Chu trở đi, trãi qua các thời đại đều quy định tháng 12, nhưng ngày nào thì trước thời nhà Tần vẫn chưa có ký lục cụ thể. Sau thời nhà Hán, chư vị hoàng đế của các triều đại, nương vào lý luận Ngũ Hành tương sanh, có định ra một ngày Tuất nào đó trong tháng 12, nhưng cũng chẳng thống nhất. Đến thời Nam Bắc Triều (南北朝, 420-589), vua Lương Võ Đế (梁武帝, tại vị 502-549) định Tiết Lạp Nhật (臘日節) là ngày mồng 8 tháng Chạp. Vì ông là người sùng tín Phật Giáo, ngày mồng 8 tháng Chạp cũng đúng vào dịp Phật thành đạo, nên ông kết hợp đồng thời cúng tế tổ tiên, thần linh và đức Phật. Trong Hoàn Khê Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (環溪惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1388) quyển Hạ có câu: “Lạp Nguyệt tận thị tuế trừ dạ, minh triêu hựu thị chánh nguyệt nhất, niên khứ niên lai vô tận kỳ (臘月盡是歲除夜、明朝又是正月一、年去年來無盡期, tháng Chạp hết là đêm cuối năm, sáng mai lại là mồng một Tết, xuân đến xuân đi vô cùng tận).” Hay trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 33 có bài Tụng Cổ của Thiền Sư Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文, 1025-1102): “Lạp Nguyệt nhị thập ngũ, kỵ lư bất đả cổ, xuân phong bách thảo sanh, trũng thượng thiêm tân thổ (臘月二十五、騎驢不打鼓、春風百草生、塚上添新土, ngày hai lăm tháng Chạp, cỡi lừa không đánh trống, gió xuân trăm cỏ sinh, trên gò thêm đất mới).”

lạp phạ

Lava (skt)—Một khoảng thời gian ngắn, một phần 900 của ngày và đêm hay một phút 36 giây—A brief time; the 900th part of a day and night, or one minute thirty-six seconds.

lạp phạt ni

See Lâm Tỳ Ni in Vietnamese-English Section, and Lumbini in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

lạp phật

Ngày rằm tháng bảy làm lễ cúng Phật vào cuối khóa hạ, cũng là ngày lễ Vu Lan Bồn—The offerings to Buddha after the summer retreat, maintained on the 15th day of the seventh month; also All-Souls Day. ; (臘佛) Vào ngày rằm tháng 7 âm lịch (ngày kết thúc hạ an cư), thiết trai cúng dường chư Phật, gọi là Lạp Phật. Món bánh trôi làm bằng bột lọc dâng cúng Phật, Bồ tát trong ngày này gọi là Lạp bính. (xt. Vu Lan Bồn).

lạp sư

Người thợ săn, được ví với người giả trang, lại cũng được ví với nhà sư mặc áo Tăng mà phá giới (tuy bề ngoài mặc áo cà sa, mà trong lòng sát sanh hại vật như người thợ săn vậy)—A hunter, i.e. a disguised person, a monk who wears the robe but breaks the commandments.

lạp thứ

Thứ tự tuổi hay Pháp Lạp của chư Tăng Ni—In order of years of ordination of monks and nuns. ; (臘次) Thứ tự theo pháp lạp. Nghĩa là vị thứ của chúng tăng được ấn định theo số năm thụ giới Cụ túc nhiều hay ít. Ngoài ra, tấm thẻ bằng gỗ ghi rõ thứ tự giới lạp của chúng tăng, gọi là Lạp thứ bài. [X. điều Duy na trong Thiền uyển thanh qui Q.3; Nguyệt trung hành sự trong Oánh sơn thanh qui Q.thượng].

lạp tát

(拉薩) Tạng: Lha-sa. Cũng gọi là Lạt tát, Lạp tán, La ta. Thủ đô nước Tây tạng, nằm bên bờ sông Lạp tát, chi nhánh của sông Nhã lỗ tạng bố (Tạng:Yar-gtsaí-po), phía bắc núi Hi mã lạp nhã, do vua Khí tông lộng tán (Tạng: Sroí-btsan-sgam-po) xây dựng vào năm 639 Tây lịch. Lha-sa nằm trên vùng cao nguyên, cao hơn mặt biển 3600 mét, dân cư đông đúc, phố xá sầm uất, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Tây tạng, đồng thời cũng là trung tâm tín ngưỡng của tín đồ Lạt ma giáo. Phía bắc Lạp tát có cung Bố đạt lạp (Tạng:Potala), là nơi ở của Pháp vương, Đạt lại Lạt ma giáo. Ở chính giữa Lạp tát có chùa Đại chiêu rất cổ kính, là ngôi chùa nổi tiếng của Lạt ma giáo. Phía ngoài cửa chùa có tấm bia Đường Phồn Hòa Minh (Liên minh hòa bình giữa Trung quốc và Tây tạng), cao khoảng 5 mét, được dựng vào năm Trường khánh thứ 3 (823) đời vua Đường mục tông. Phía tây bắc Lạp tát có chùa Tiểu chiêu và phía tây có chùa Biệt bạng, là chỗ ở của cựu Pháp vương, có 1 khu vườn để Đạt lại tránh nắng. Tăng chúng trong chùa này phần nhiều là người Mông cổ. Phía đông Lạp tát có chùa Sắc lạp, nơi có tòa tháp hoàng kim và cây chày kim cương nổi tiếng. Lại có chùa Cam đan, chỗ ở của ngài Tông khách ba, khai tổ của phái Hoàng giáo thuộc Lạt ma giáo, nổi tiếng với pho tượng Phật Di lặc và tượng ngài Tông khách ba. Ngoài ra, trong Lạp tát còn có 30 ngôi chùa lớn và vô số chùa viện nhỏ. Những năm gần đây, vì Trung quốc cấm người nước ngoài vào Tây tạng, nên rất ít du khách đến nước này. [X. Schlagintweit: Buddhism in Tibet, 1863; L. A. Waddell: Lhasa and its Mysteries, with a Record of the Expedition of 1903- 1904; G. Tucci: To Lhasa and Beyond, Diary of the Expedition to Tibet in the Year 1948, 1956].

lạp ấn

1) Dán hay niêm lại bằng sáp: To seal with wax. 2) Dấu ấn bằng sáp: A wax seal. ; (蠟印) Con dấu bằng sáp ong. Khuân dấu sáp ong in trên đất sét, dấu sáp tuy chảy ra, nhưng cùng hòa hợp với đất mà thành hình chữ, ví dụ 5 ấm hiện tại tuy diệt nhưng sinh ra 5 ấm Trung hữu. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 29 (Đại 12, 535 hạ), nói: Ví như ấn sáp in trên đất sét, ấn và đất hòa hợp, ấn hoại thì văn thành, nhưng ấn không phải đã biến thành đất, mà hình các chữ cũng chẳng phải do đất sinh, cũng không phải từ đâu đến, mà do nhân duyên in vào đất sinh ra. Cũng thế, 5 ấm hiện tại diệt thì 5 ấm của thân Trung ấm sinh ra, 5 ấm của hiện tại diệt không phải biến thành 5 ấm của Trung ấm; 5 ấm của Trung ấm chẳng phải tự nhiên sinh, cũng chẳng phải từ cái khác sinh, nhưng vì có 5 ấm hiện tại mà sinh 5 ấm của Trung ấm, hệt như ấn sáp in vào đất sét, ấn hư hoại mà hình chữ đã thành. (xt. Ấn Hoại Văn Thành).

lạt lòng

Moved—Touched.

lạt ma

Lama (skt)—See Dalai-Lama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (喇嘛) Tạng:Bla-ma. Cũng gọi La ma Hán dịch: Thượng sư. Tiếng tôn xưng giới tăng lữ ở Tây tạng và Mông cổ. Tiếng Tây tạng Bla-mahàm nghĩa là bậc tối thượng, tương đương với chữ Uttara hoặc guru trong tiếng Phạm. Lạt ma vốn được dùng để gọi các bậc Trưởng lão, Thượng tọa, Cao tăng trong Phật giáo Tây tạng, còn đối với chư tăng bình thường thì gọi là Trát ba (Tạng: Grawa-pa). Nhưng, về sau, tất cả chúng tăng đều được gọi chung là Lạt ma. Người nổi danh hơn cả là Đạt lai Lạt ma và Ban thiền Lạt ma, tức ở địa vị Giáo chủ và Phó giáo chủ. Theo truyền thuyết, vị Lạt ma đầu tiên của Tây tạng là ngài Phạ nhĩ ban ân tư (Tạng:Pa-lbans), về sau có 7 vị Lạt ma nữa là các đệ tử của Đại sư Liên hoa sinh. Người Tây tạng gọi tín đồ của Lạt ma giáo là Nan ba(Tạng:Naípa, hàm ý là người trong đạo) còn gọi tín đồ các tông giáo khác là Kì ba (Tạng: Chipa, hàm ý là người ngoài đạo). Từ Lạt ma trong chữ Hán bắt đầu được lưu hành từ đầu đời Thanh của Trung quốc và được dùng để chỉ chung cho tất cả tăng ni. Theo giáo lí Phật giáo, xưa nay Tam bảo chỉ có Phật, Pháp, Tăng, nhưng Phật giáo Tây tạng, vì quá tôn sùng Lạt ma nên lại dựa trên Tam bảo mà tôn xưng Lạt ma là Lạt ma bảo. Sinh hoạt thường ngày của các vị Lạt ma là cầu nguyện, tụng niệm, lễ bái theo thời khóa trong chùa viện. Ngoài ra, Lạt ma còn có nhiệm vụ trọng yếu là nghiên cứu, học hỏi để mở mang kiến thức, cho đến việc giáo hóa dân chúng, phát triển các công tác xã hội, v.v... Trong chùa, viện, các vị Lạt ma 1 mặt giữ gìn giới luật nghiêm khắc, 1 mặt tu học Mật giáo, Hiển giáo và các môn học thế gian như thiên văn, y học, v.v... Vì thế, đời sống tu học của Lạt ma rất nghiêm cẩn, có thể nói Lạt ma là đại biểu điển hình cho nền văn hóa cao nhất ở Tây tạng. Nhưng trước thời ngài Tông khách ba, Tổ sư của phái Hoàng giáo, Lạt ma Tây tạng được xem là giai cấp đặc thù, về mọi phương diện, họ được hưởng địa vị, tài sản cho đến quyền lực mà mọi người phải tôn trọng, do đó đã sinh ra các mối tệ và đưa đến trụy lạc, hủ hóa. Vì thế, ngài Tông khách ba đã thực hiện 1 cuộc cách cải lớn lao để chấn chỉnh lại Lạt ma giáo. [X. Buddhism in Tibet, 1863 (E. Schlagintweit); The Buddhism of Tibet or Lamaism, 1895 (L. A. Waddell); Der Lamaismus, 1925 (O. Franke); Thế giới Phật giáo thông sử Tây tạng đích Phật giáo (Thánh nghiêm); Mông cổ học vấn tự (Trường vĩ Nhã nhân)]. (xt. Thượng Sư, Lạt Ma Giáo).

lạt ma giáo

Lama (tib)—Lạt Ma Giáo phần lớn tìm thấy ở Tây Tạng, Mông Cổ, và một vài nước nhỏ ở vùng Hy Mã Lạp Sơn. Tại Tây Tạng có hai trường phái, cựu phái mặc áo đỏ, và tân phái mặc áo vàng do ngài Tông Khách Ba sáng lập vào thế kỷ thứ 15. Những vị lãnh tụ hai tông phái nầy là Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma—The Lamaistic form of Buddhism found chiefly in Tibet, and Mongolia, and the smaller Himalayan States. In Tibet it is divided into two schools, the older one wearing red robes, the later, which was founded by Tson-Kha-Pa in the fifteenth century, wearing yellow; its chiefs are the Dalai Lama and the Panchen Lama, respectively—See Dalai-lama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (喇嘛教) Tạng: Bla-ma#i bstan-pa. Hán dịch: Vô thượng giáo. Giáo phái Phật giáo thịnh hành ở Tây tạng, sau được truyền vào Nội mông, Ngoại mông, Bhutan, Sikim, Nepal, v.v... Giáo chủ là Đạt lai Lạt ma, Ban thiền Lạt ma. Lạt ma, tiếng Tây tạng, có nghĩa là Thượng nhân, tức là người đạo cao đức trọng. Vì dân Tây tạng đặc biệt tôn sùng Lạt ma nên người nước ngoài mới gọi họ là Lạt ma giáo. Nhưng, thực ra tăng Tây tạng không phải vị nào cũng đều là Lạt ma, cũng không tự xưng là Lạt ma giáo. Người Tây tạng gọi Lạt ma giáo là Saís-rgyas-kyi chos, hàm ý là sự mở bày của đức Phật, hoặc tông giáo của Phật. Cũng có khi họ tự xưng là Naíschos, nghĩa là tông giáo chính thống, hoặc tông giáo nội đạo để phân biệt với Bổng giáo của ngoại đạo. Sau khi Phật giáo từ Ấn độ được truyềnvào Tây tạng, do hoàn cảnh địa lí đặc biệt của Tây tạng, kết hợp với Bổng giáo nguyên thủy mà hình thành Lạt ma giáo với phong cách đặc thù, chỉ thú khác xa với Phật giáo lưu truyền ở Trung quốc. Năm Trinh quán 15 (641) đời Đường thái tông, vua Tây tạng là Song tán tư cam phổ (Tạng:Sroí-btsan-sgam-po, tức Khí tông lộng tán) cưới công chúa Văn thành làm vợ và thỉnh kinh Phật từ Trung quốc, Ấn độ về mở đầu cho công cuộc truyền bá Phật giáo Tây tạng. Đến giữa thế kỉ VIII Tây lịch, dưới triều vua Khất lật song đề tán (Tạng: Khri-sron-lde-btsan), ngài Tịch hộ (Phạm: Zanta-rakwita), cùng với Thượng sư Liên hoa sinh, Khai tổ của Lạt ma giáo, người Bắc Ấn độ, đến Tây tạng phá dẹp ngoại đạo, sáng lập chùa viện, chế định giáo điều, phiên dịch kinh điển chữ Phạm, chữ Hán, biên tập thành tạng kinh Lạt ma giáo, tức là tạng Cam châu nhĩ (Tạng: Kàh-gyur). Một trăm năm sau, vào thời vua Lãng đạt ma (Tạng: Glaí-dar-ma), vì ông này là tín đồ Bổng giáo nên đã ra tay phá hoại Phật giáo, từ đó Lạt ma giáo suy vi. Năm 1038, vị tăng miền Đông Ấn độ là ngài A đề sa (Phạm:Atiza) đến Tây tạng, phiên dịch kinh điển, phục hưng giới luật, đổi mới Lạt ma giáo. Khi Thành cát tư hãn kiến lập Đế quốc Mông cổ, thì Tây tạng trở thành 1 phần của Đế quốc này. Niên hiệu Trung thống năm đầu (1260) đời Nguyên, vua Thế tổ suy tôn ngài Bát tư ba làm Quốc sư, phong tôn hiệu Đại Nguyên Đế Sư Đại Bảo Pháp Vương và Lạt ma giáo trở thành quốc giáo. Vào đầu thế kỉ XV, nhà cải cách Phật giáo Tây tạng là Tông khách ba, canh tân Lạt ma giáo, dựa theo giáo chỉ của Đại sư A đề sa, phục hưng giới luật, đổi mới phong khí, lập ra Tân giáo. Cựu giáo mang mũ áo màu đỏ, gọi là Hồng y phái, Hồng phái; để phân biệt, Tân giáo mang mũ áo màu vàng, gọi là Hoàng y giáo, Hoàng phái(cũng gọi Cách lỗ phái, Đức hạnh phái); 2 phái Tân, Cựu đối lập nhau. Hai người đệ tử lớn của ngài Tông khách ba là Căn châu đôn ba (Đạt lai) và Khải châu (Ban thiền) đời đời chuyển sinh làm Chánh, Phó, Giáo chủ, gọi là Hô tất lặc hãn (Mông:Hobilghan, Khubilghan). Còn có mấy chục vị đệ tử chuyển sinh làm Pháp vương, chia nhau giữ các giáo vụ tại các chùa viện địa phương, gọi là Hô đồ khắc đồ (Mông: Khutuktu). Vào thời Đạt lai lạt ma đời thứ nhất, Hồng giáo là quốc giáo, về sau Hoàng giáo hưng thịnh, phổ cập mọi nơi thì thế lực Hồng giáo suy yếu dần. Hiện nay Hoàng giáo là Lạt ma giáo chính thống, nắm toàn quyền tông giáo và chính trị ở Tây tạng. Lạt ma giáo hiện có 4 phái: Khố luân phái ở ngoại Mông cổ, Tát tư ca phái, Bát đan đạt cổ ba phái và Tán mẫu tỉnh ni tự phái. Còn Hoàng giáo thì có 4 chi hệ: Đạt lai Lạt ma ở cung Bố đạt lạp (Potala), Ban thiền Lạt ma ở chùa Trát thập luân bố, Chương gia hô đồ khắc đồ ở Đa luân nặc nhĩ thuộc nội Mông cổ và Triết bố tôn đan ba hô đồ khắc đồ ở ngoại Mông cổ. Sau khi ngài Bát tư ba được vua Thế tổ nhà Nguyên tôn làm Quốc sư, ngài đặt ra chữ Mông cổ mới và soạn bộ Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục. Thời vua Vũ tông, vị tăng Tây tạng là ngài Pháp quang (Tạng: Chos-kyi #od-zer) sửa chữa và bổ sung chữ Mông cổ mới, đồng thời, cùng với các học giả trong nước và các học giả Hồi cốt phiên dịch tạng kinh Tây tạng ra tiếng Mông cổ. Về sau, các triều vua Anh tông, Tấn tông, Minh tông, Văn tông, Thuận đế đều ưu đãi Lạt ma giáo bảo hộ chúng tăng, nên thế lực Lạt ma giáo cực kì hưng thịnh. Sau khi nhà Nguyên mất, chủng tộc Mông cổ lui về phía Bắc biên giới, Lạt ma giáo cũng theo đó mà tàn lụi, mãi đến hơn 100 năm sau mới hưng thịnh trở lại ở Mông cổ. Đến đời nhà Thanh, áp dụng chính sách ôn hòa đối với Mông cổ nên cũng ưu đãi chư tăng Lạt ma, triều đình đặt ra chế độ phong thưởngvà kiến thiết các chùa viện. Như vua Khang hi xây cất chùa Đa luân nặc nhĩ vựng tông cho Chương gia hô đồ khắc đồ, đệ tử của Đạt lai lạt ma đời thứ 5. Vua Ung chính cũng làm chùa Thiện nhân cho Hô tất lặc hãn là đệ tử nối pháp của Chương gia hô đồ khắc đồ và đổi cung Ung hòa ở Bắc kinh làm chùa Lạt ma. Hiện nay nội và ngoại Mông cổ có tất cả hơn 70 vị Phật sống. Lạt ma giáo phần nhiều lưu hành ở các vùng: Ô lan sát bố minh, Sát cáp nhĩ minh và Tích lâm quách lặc minh thuộc nội Mông cổ. Còn ở ngoại Mông cổ, thì vì các chùa viện ở miền Đông và Tây Mông cổ phần nhiều bị thiêu hủy trong chiến tranh, lại bị sự xâm nhập của tín đồ Hồi giáo, cho nên thế lực của Lạt ma giáo phải rơi vào tình trạng suy tàn. Vào đầu đời Đường, khi công chúa Văn thành đến Tây tạng có mang theo bộ Du già sư địa luận của ngài Vô trước, rồi ông Đoan mĩ tam bồ đề từ Ấn độ mang về Đại thừa Mật giáo, nhưng lúc bấy giờ giáo pháp của Phật giáo Tây tạng chủ yếu là truyền pháp Hiển giáo, như Bát nhã, Trung quán, v.v... Đến khi Thượng sư Liên hoa sinh đến Tây tạng mới truyền Mật giáo, đồng thời dung hợp với Bổng giáo, khai sáng Lạt ma giáo, mở ra cục diện Hiển Mật song hành, nhưng sau thời Mật giáo toàn thịnh. Tổ sư của Hoàng phái là ngài Tông khách ba dung hợp Du già Mật thừa với giáo nghĩa của luận Trung quán, dựa vào luận Trung quán để hoằng dương Bát bất trung đạo, lập ra thuyết 70 thứ vô ngã, y cứ vào luận Du già sư địa mà giải thích các thuyết Thập nhị nhân duyên và Lục đạo luân hồi, đồng thời thuyết minh tam đế Không Giả Trung và nhị đế Thế tục, Thắng nghĩa, chủ trương thắng nghiệp duy nhất của Niết bàn là trì tụng thần chú Quan âm Án ma ni bát di hồng, còn trợ nghiệp là luôn luôn cầu nguyện tiêu trừ tội nghiệp, vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Phật giáo Tây tạng sùng bái Bản sơ Phật (Phạm: Àdi-buddha) là thầy của chư Phật. Bản sơ Phật sinh ra 5 Phật gọi là Thiền định Phật (Phạm: Dhyàni-buddha). Năm Phật là: Phật Tì lô giá na ở Trung ương, Phật A súc ở phương Đông, Phật Bảo sinh ở phương Nam, Phật A di đà ở phương Tây và Phật Bất không thành tựu ở phương Bắc. Năm vị Phật này tương đương với ngũ trí Như lai của tông Chân ngôn. Năm Phật đều hóa thân xuất hiện ra đời: Phật Tì lô giá na hóa hiện Phật Câu lâu tần, bồ tát Phổ hiền; Phật Bảo sinh hóa hiện Phật Câu na hàm mâu ni, bồ tát Kim cương thủ, Phật A di đà hóa hiện Phật Thích ca mâu ni, bồ tát Quan âm; Phật Bất không thành tựu hóa hiện Phật Di lặc. Trong vô số các vị Bồ tát do Phật Thiền định hóa hiện, 3 vị: Văn thù, Kim cương thủ và Quan âm đặc biệt được tín đồ Lạt ma giáo tôn sùng, gọi là 3 vị giáo chủ. Về phương diện giáo nghĩa, Lạt ma giáo bao gồm cả Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng lấy Đại thừa làm chính. Trong Đại thừa có cả Hiển và Mật, nhưng đặc biệt trọng Mật tông và lấy Vô thượng Du già mật làm thứ bậc tu hành cao nhất, hình thành nên Tạng Mật. Ngoài ra, Lạt ma giáo cũng chịu ảnh hưởng hình thức và thần linh của Bổng giáo Tây tạng. Tây tạng là khu vực lấy tín ngưỡng Phật giáo làm nguồn sống của dân tộc, cho nên tất cả truyền thuyết cũng như lịch sử đều lấy Phật giáo làm trung tâm. Giữa các bộ lạc sở dĩ đoàn kết được là nhờ có chung một nền tín ngưỡng, quan niệm quốc gia và ý thức dân tộc rất mờ nhạt, ngoài chư Phật, Bồ tát và các vị tăng Phật giáo ra, không có Thánh hiền nào đáng kính, cũng không có luân lí nào đáng theo, do đó mà sự sùng bái Lạt ma trở thành tuyệt đối. Bởi thế trong Phật giáo Tây tạng có phong tục Qui y Tứ bảo, nghĩa là ngoài Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ra, còn có Lạt ma bảo. Vì Lạt ma là tổng thể của vạn thiện vạn đức, nên tôn sùng Lạt ma tức là cúng dường Tam bảo: Đây là 1 sắc thái đặc biệt của Phật giáo Tây tạng. Phật giáo là quốc giáo của Tây tạng cho nên có rất nhiều chùa viện, tổ chức các chùa viện và chế độ học kinh rất nghiêm mật, 3 tạng giáo điển đã hoàn toàn được dịch ra tiếng Tây tạng. Nhưng từ sau năm 1959, Cộng sản Trung quốc ra sức đàn áp Lạt ma giáo, tịch thu tài sản, chùa viện cũng như số tăng chúng giảm sút rất nặng nề. Cứ theo thống kê của cơ quan quản lí tông giáo ở Tây tạng của nhà nước Trung quốc, thì vào khoảng năm 1968, toàn cõi Tây tạng có hơn 1.700 ngôi chùa với khoảng 500.000 Lạt ma. Chùa, tháp của Lạt ma giáo được kiến trúc rất đặc biệt, tháp phần nhiều phụ thuộc vào chùa, nhưng cũng có khi được xây cất riêng biệt và cách cấu tạo rất giống kiểu tháp Ấn độ. Nền tháp hình vuông, có nhiều tầng, thân tháp hình cầu, phần đáy tháp thu nhỏ, trên tháp có từ 7 đến 13 luân bàn (hình cái mâm), trên chóp luân bàn có bảo cái (cây lọng báu), phía trên bảo cái lại có 1 hình tháp nhỏ, thường làm bằng gạch hoặc đá. Những tòa tháp hiện còn như tháp ở chùa Đại tháp viện và tháp ở chùa Cực lạc trên núi Ngũ đài, tháp ở chùa Vĩnh an tại Bắc bình, tháp ở Tam hà kiều thuộc Tây giao và 4 tòa tháp ở 4 ngôi chùa phía ngoài thành Thẩm dương... đều được kiến trúc theo kiểu tháp trên. Trong số các ngôi tháp vừa kể, tháp của chùa Đại tháp viện cao khoảng 89 mét, là tòa tháp to lớn nhất trong số tháp Lạt ma hiện còn. Chùa viện và cung điện thường làm bằng gỗ, trên chỗ đất cao, quay mặt hướng đông, trước chùa phần nhiều có hồ nước, nóc chùa đều bằng phẳng. Cung điện của Đạt lai Lạt ma ở Lhasa và cung điện củaBan thiền Lạt ma ở Trát thập luân bố có qui mô lớn nhất. Còn các ngôi chùa nổi tiếng khác thì có: chùa Tang da, chùa Đại chiêu, chùa Tiểu chiêu, chùa Cam đan, chùa Biệt bạng, chùa Sắc lạp, v.v... Chùa được chia làm 2 loại: Chùa chuyên việc cúng tế cầu nguyện và chùa chuyên nghiên cứu về học vấn. Việc nghiên cứu lại chia làm nhiều bộ: Hiển giáo học, Mật giáo học, Thiên văn học, Y học, v.v... Lạt ma giáo có rất nhiều pháp hội, quan trọng hơn cả thì có: 1. Truyền chiêu đại pháp hội: Được khai diễn vào ngày 15 tháng 01 hằng năm, là 1 pháp hội lớn có tính chất toàn quốc. Từ ngày mồng 3, mồng 4 tháng giêng, chúng tăng tập hợp ở 3 ngôi chùa lớn tại Lhasa, chọn ngày tụng kinh, thuyết giới Bố tát, tổ chức hội Cách tây thi tuyển biện luận, cho. 2. Đến khoảng 20 tháng giêng thì kết thúc. 3. Tiểu chiêu tự tập hội: Khai diễn vào tháng 2, về nghi thức, nhân số và trình tự đều giống với pháp hội ở chùa Đại chiêu. Nhưng học vị Cách tây được tuyển lựa ở đây thuộc bậc thứ 2 sau học vị được tuyển chọn ở Đại chiêu tập hội. 4. Dục Phật pháp hội: Lễ tắm Phật được tổ chức long trọng vào ngày Phật đản mồng 8 tháng 4(nay là rằm tháng 4)mỗi năm. 5. Bảo bối Phật Niết bàn Đại pháp hội: Được tổ chức vào ngày 25 tháng 10, kỉ niệm ngày Đại sư Tông khách ba thị tịch. Bảo bối Phật là tiếng tôn xưng ngài Tông khách ba. Các chùa cử hành đại lễ này còn trọng thể hơn cả ngày Phật đản. Vào dịp này, tất cả mọi nhà đều thắp đèn sáng trưng, cho nên cũng gọi là Đăng tiết. 6. Trai nguyệt: Tháng 1, tháng 2 là những tháng Đại trai nguyệt, cũng gọi là Đại tế nguyệt. Mồng 1 là tế Khiêu vũ, mồng 2 là tế Phi thằng, mồng 3 là tế Phiên chử, từ ngày mồng 6 đến ngày 21 là tế Đại thí, trong đó, ngày 15 là tế đèn, ngày 18 là tế Xu mị, ngày 20 là tế Quan binh, ngày 25 là tế Cạnh mã, ngày 30 là tế xua đuổi ma quỉ, ngày 27 tháng 2 là tế Vũ đạo. Vào những ngày trai tế này, bất luận trai gái già trẻ đều tụng thần chú Đại minh Án ma ni bát di hồng, trên mình đeo Hộ Phật, Xá lợi, kinh Phật, tràng hạt, hộ phù, v.v...; tay cầm bánh xe Ma ni (Tạng: Mani-hkhor), thỉnh chư tăng làm đại Phật sự. [X. luận Chương sở tri Q.thượng; Phật tổ lịch đại thông tải Q.22; Mông cổ du mục kí; Thánh vũ kí; Mông cổ địa chí Q.hạ; Nguyên sử bản kỉ; Minh sử bản kỉ; Đại thanh nhất thống chí; Cát lâm thông chí; Nhiệt hà chí; Cận đại Mông cổ sử nghiên cứu; Mongoliai Mongli (Pozdneyeff); Journey of Friar William of Rubruck (W. W. Rockhill); History of Mongols (Howarth)]. (xt. Tây Tạng Phật Giáo Sử).

lạt ma miếu

(喇嘛廟) Chùa viện của Lạt ma giáo. Thông thường, người Tây tạng dùng 2 chữ Dgon-pa (nơi yên tĩnh vắng vẻ, tương đương với chữ Araịya trong tiếng Phạm) và chữ Glií (tương đương với chữ Dvìpa trong tiếng Phạm, vốn có nghĩa là châu, được chuyển thành nghĩa chùa) để chỉ cho chùa viện. Ngoài ra, còn y cứ theo tính chất của các chùa viện mà có những chữ như Gtzuglag-khaí, tương đương với chữ Vihàra trong tiếng Phạm, nghĩa là học đường; Chos-sde là pháp bộ; Lha-khaí, nghĩa là điện Phật, điện thần, v.v... Tùy theo công dụng, chùa viện của Lạt ma giáo được chia làm 2 loại: 1. Sùng tự miếu: Chỗ ở của Phật sống, tức Hô đồ khắc đồ, là những chùa viện chuyên về việc thờ cúng, do cá nhân hoặc đoàn thể cúng dường duy trì. Một vị Phật sống có năng lực thường kiêm nhiệm mấy ngôi chùa viện, cho nên có quan hệ giữa chùa chính và chùa phụ thuộc. Trong chùa lấy cung điện của vị Phật sống làm trung tâm, ngoài ra, có một số các Thương (Tạng: Tshaí hoặc Spiy-sa, Phog, là cơ sở để chuẩn bị cho các công việc). Trong Sùng tự miếu, cung Po-ta-la (Bố đạt lạp) ở Lhasa (Lạp tát) là cung điện của Phật sống Đạt lai Lạt ma, là trung tâm chính trị và tông giáo của Tây tạng. Còn ở Đa luân thuộc nội Mông cổ thì lấy Chương gia hoạt Phật 2. Thương (từ gọi chung cung điện của Phật sống và các cơ quan làm việc) làm Đại tự miếu trung tâm. Ngoài ra, như cung Ung hòa và chùa Thừa đức ở Bắc kinh cũng đều thuộc Sùng tự miếu. Những Sùng tự miếu nhỏ thì không có Thương, phần nhiều vùng cao nguyên Tây tạng và thảo nguyên Mông cổ, là trung tâm tín ngưỡng tại địa phương. 3. Học vấn miếu: Chùa viện chuyên về việc nghiên cứu giáo học của Lạt ma giáo. Chư tăng ở đây chuyên tu hành, nghiêm trì giới luật, học tập và giảng diễn giáo pháp, cho nên Học vấn miếu xưa nay vốn là nơi bảo tồn cái nền tảng của Lạt ma giáo. Học vấn miếu cũng có Phật sống. Phần lớn các Lạt ma trong Học vấn miếu suốt đời làm học tăng, chuyên việc nghiên cứu giáo học, đôi khi cũng kiêm cả việc lễ bái và làm các pháp sự. Các Học vấn miếu thường có từ vài trăm đến vài nghìn Lạt ma sinh hoạt học tập; các môn học ở đây được chia làm 4 bộ: Hiển giáo bộ, Mật giáo bộ, Thời luân bộ (Thiên văn bộ), Dược học bộ(Y học bộ), mỗi học bộ chia ra 13 cấp. Như các chùa: Cam đan (Tạng:Dga#-ldan), Sắc lạp (Tạng:Sera), Biệt bạng (Phạm:Fbras-spuns), Trát thập luân bố (Tạng: Bkra-zis-lhun-po), 4. Kim ngõa (Tạng:Sku-hbum), Lạp bốc lăng (Tạng:Bla-braí), v.v... cùng với Ngũ đương triệu, Bối tử miếu đều là những chùa viện đại biểu cho Học vấn miếu. [X. The Buddhism of Tibet or Lamaism (L. A. Waddell); Religion of Tibet, 1931 (Ch. Bell); Mông cổ học vấn tự (Trường vĩ Nhã nhân)]. (xt. Lạt Ma Giáo).

Lạt-ma

喇嘛; T: lama [bla-ma]; S: guru;|Theo Phật giáo Tây Tạng, Lạt-ma là hiện thân của giáo pháp. Danh từ Lạt-ma cũng gần giống như guru, Ðạo sư của Ấn Ðộ, nhưng tại đây, Lạt-ma mang thêm nhiều ý nghĩa khác. Trong Kim cương thừa, Lạt-ma không phải chỉ là người giảng dạy giáo pháp mà còn là người thực hành các nghi lễ. Vị này thường là người lĩnh đạo các đạo trường và được xem thuộc về các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku). Những vị Lạt-ma uyên thâm, danh tiếng thường được mang danh hiệu Rinpoche (quý báu phi thường). Ngày nay, danh từ Lạt-ma hay được dùng để gọi các vị Cao tăng Tây Tạng, không kể trình độ chứng đạo của các vị đó.|Vì Lạt-ma đóng một vai trò quan trọng như thế nên có khi nền Phật giáo này cũng được gọi là Lạt-ma giáo. Người ta cũng không nên xem Lạt-ma như tăng sĩ bình thường, vì Lạt-ma đươc xem là hiện thân của Phật trong lúc tăng sĩ chỉ là người tu học trong chùa chiền hay tu viện. Trong Kim cương thừa, muốn theo học, hành giả phải được sự Quán đỉnh của một hay nhiều vị Lạt-ma. Trong các giáo pháp cao tột như Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) hay Ðại cứu kính (t: dzogchen) thì ngay từ đầu, mọi phép thiền quán đã phải tập trung lên một vị Lạt-ma dù cho vị đó không hiện diện. Một khi vị đó có mặt, thì thái độ của học trò lại càng tuân thủ theo nguyên tắc, nhất là sự vâng lời tuyệt đối. Vai trò gạch nối giữa Phật và tín đồ của Lạt-ma cho phép các vị này không những hướng dẫn học trò mà còn giáo hoá Phật pháp cho quần chúng, cũng như giúp Phật tử trừ tà hay cầu an cầu siêu. Các Lạt-ma có những thuật riêng để thực hiện nhiệm vụ đó, mà người ta hay nhắc đến nhất là những điệu múa đặc biệt và tụng niệm Tử thư.|Thời gian tu học của các vị Lạt-ma rất gian nan. Trước hết các vị học tập kinh điển giáo pháp và thực hành thiền định. Sau khi sống viễn li (nhập thất) ít nhất ba năm mới được mang danh Lạt-ma và giảng dạy.

Lạt-ma giáo

喇嘛教; E: lamaism;|Tên gọi chung của dạng Phật giáo Tây Tạng, Mông Cổ và Tây bắc Trung Quốc.

lạy

To bow down (prostrate—kowtow) before someone.

lạy phật

To pray to Buddha.

lạy trời

To pray to god.

lả tả

Incoherent.

lảm nhảm

To mumble.

lảng tránh

To evade.

lảo đảo

To stagger—To totter.

lấm la lấm lét

To glance furtively.

lấn

To trespass—To encroach.

lấp ló

To appear and disappear alternately.

lấy

Grasping.

lấy bỏ

Grasping and rejecting.

lấy có

For form's sake.

lấy của người làm của mình

To take property of others for one's own.

lấy khổ làm vui

To be mistaken suffering for happiness.

lấy lén

To take secretly.

lấy lòng

To try to please someone.

lấy lại

To take back—To retake.

lấy lệ

For form's sake—As a matter of form.

lấy lộn

To take wrongly—To take by mistake.

lấy mất

To take away.

lấy nhau

To be married.

lấy ra

To take out—To pull out.

lấy sức lại

To regain strength.

lấy thiện trả ác

To requite evil with good—See Lấy Thiện đối ác.

lấy thiện đối ác

Nếu chúng ta muốn hết kẻ thù, chúng ta nên giết chết sân hận là kẻ thù lớn nhất ngay trong chính ta. Nếu chúng ta có thể làm điều nầy tức là chúng ta có thể lấy thiện đối ác—Returning good for evil—If we want to get rid of our enemies, we should first kill our anger which is the greatest enemy within us. If we can do this, we then can return good for evil.

lấy đi

To take away.

lầm

To be mistaken—To be wrong—To confuse.

lầm chấp có

Errouneous attachment to the reality.

lầm chấp tánh không

Erroneous attachment to the emptiness.

lầm lầm lì lì

To look severe.

lầm lẫn

See Lầm.

lầm lỡ

To be at fault

lầm than

To be miserable—Wretched.

lần

Time.

lần chuỗi hạt

To tell one's beads—To finger the rosary.

lần hồi

Little by little—Gradually—Day to day.

lần lượt

By turn—In turn.

lần lữa

To delay—To linger—To drag.

lần lữa chờ khi lớn tuổi

To drag one's feet until old age.

lần mò

To feel one's way

lần theo

See Lần Mò.

lẩn lút

To conceal oneself.

lẩn mất

To disappear.

lẩn mặt

To keep out of sight.

lẩn trốn

To slip away.

Lẫm lẫm

(廩廩・廪廪): dáng uy nghi đứng đắn, lẫm liệt.

lẫn lộn

Confused—Mixed up

lận đận

Unsuccessful

lập

1) Đứng dậy: To stand up. 2) Thiết lập: To set up—To establish. ; (立) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Lập, tức là đưa ra chủ trương, đó là tiêu đích tranh luận của đôi bên. Nếu chủ trương ấy chính xác, cả hình thức và nội dung đều không phạm lỗi, có thể chứng minh sự thật, được đối phương thừa nhận, thì gọi là Năng lập hoặc Chân năng lập(lập luận đúng); còn nếu chủ trương ấy sai lầm, không chứng minh được chân lí, thì gọi Tự năng lập (lập luận sai). Người đề xuất chủ trương, gọi là Lập giả, tổ chức một luận thức hoàn chỉnh, gọi là Lập lượng. Lượng, tức là phương thức lập luận. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tự Năng Lập, Chân Năng Lập).

lập bá

Repa or Repha (skt)—A “low” garment or a “loin” cloth—Đồ lót của chư Tăng Ni. ; (立播) Phạm: Repha, Repa. Hán dịch: Lí phúc y, Lí phục y. Chỉ cho cái áo lót mặc bên trong. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 2 (Đại 54, 214 hạ), nói: Tiếng Phạm là Lập bá, Hán dịch là Lí phúc y.

Lập Chánh An Quốc Luận

(立正安國論, Risshōankokuron): 1 quyển, do Nhật Liên (日蓮, Nichiren) soạn, văn bản trình cho Bắc Điều Thời Lại (北條時頼, Hōjō Tokiyori) vào năm 1260; ngoài ra còn có bản Thiên Thai Sa Môn Nhật Liên Khám Chi (天台沙門日蓮勘之) của Diệu Pháp Hoa Tự (妙法華寺) do đệ tử của Nhật Liên là Nhật Hưng (日興) sao chép lại; và nguyên bản do chính tay Nhật Liên viết hiện còn bảo tồn tại Pháp Hoa Kinh Tự (法華經寺) ở Trung Sơn (中山, Nakayama). Trước đây có nguyên bản của Nhật Liên gồm 12 tờ ở Cửu Viễn Tự (久遠寺) vùng Thân Diên (身延, Minobu); và có một số bản khác do các đệ tử chân truyền của ông sao chép. Đây là tuyển tập thuộc một trong 5 bộ thư mục lớn của Nhật Liên, gồm Khai Mục Sao (開目抄), Quán Tâm Bổn Tôn Sao (觀心本尊抄), Soạn Thời Sao (撰時抄) và Báo Ân Sao (報恩抄). Từ năm 1257 trở đi, những thiên tai như dộng đất, mưa gió bão bùng, đói rét, dịch bệnh, v.v., xảy ra liên miên không ngớt; cho nên người chết, người đói, người bệnh xuất hiện rất nhiều. Đương thời, Nhật Liên mục kích được những thảm trạng này, đứng từ lập trường của nhà tôn giáo, ông soạn thuật ra luận thư này để đề xuất lên nhà cầm quyền lúc bấy giờ thông qua một người tín đồ của ông, rồi sau đó ông mới đến yết kiến Thời Lại. Thư tịch này đối xứng với bản Thủ Hộ Quốc Gia Luận (守護國家論) do ông viết vào năm trước. An Quốc Luận ở đây có nghĩa rằng do vì xem thường chánh pháp (giáo lý của Kinh Pháp Hoa) mà quy y theo tà pháp (Tịnh Độ Giáo của Nguyên Không), nên chư vị thiện thần thủ hộ quốc gia mới bỏ đi; thay vào đó, ác thần hoành hành làm cho tai ách xảy ra liên tục, không ngớt. Ông đã dẫn dụ lời văn trong các kinh như Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經), Dược Sư Kinh (藥師經), v.v.; rồi khẳng định rằng nếu như cứ để tình trạng như thế này thì thế nào cũng bị nội loạn bên trong và xâm lược từ bên ngoài vào; cho nên cần phải chấm dứt ngay sự viện trợ về kinh tế cho kẻ báng pháp như Nguyên Không, để mong cầu mọi người quay trở về với chánh pháp; và nếu như chánh pháp được thiết lập thì quốc gia được yên ổn, nhân dân được thái bình. Đó chính là ý nghĩa của an quốc. Tuy nhiên, do vì chủ trương phản bác Tịnh Độ Giáo, ông đã chuốc lấy sự phản kích và tấn công dữ dội của giáo đồ Tịnh Độ. Chính quyền Mạc Phủ thì xử tội lưu đày ông đến vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Về vấn đề tiên tri cho rằng sẽ có nội loạn và xâm lược như trong tác phẩm này có đề cập đến; quả nhiên sau đó quân Mông Cổ tiến vào xâm lược Nhật Bản và vụ loạn của Bắc Điều Thời Phụ (北條時輔, Hōjō Tokisuke) xảy ra đã trở thành hiện thực.

lập chí

To make up one's mind.

lập chính an quốc luận

(立正安國論) Gọi tắt: An quốc luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nhật liên, tổ khai sáng tông Nhật liên, Nhật bản, soạn vào năm 1243. Mục đích của luận này nhắm bài trừ tà pháp, xác lập chính pháp, tiêu trừ tai nạn, đem lại an ninh cho quốc gia. Từ các thiên tai địa biến, sư bàn về đạo trị nước an dân rồi đem trình lên Bắc điều thời lại, giới quân phiệt cầm quyền ở Nhật bản lúc bấy giờ. Trong luận, sư Nhật liên còn bài xích các tông phái khác ngoài tông Nhật liên, chủ trương chỉ hoằng dương kinh Diệu pháp liên hoa mà thôi. Về hình thức, luận này dùng thể biền ngẫu của Hán văn, triển khai thể tài chủ khách hỏi đáp, đứng trên lập trường tín ngưỡng cá nhân để trình bày về việc sửa đổi quốc gia xã hội. Luận này cùng với Khai mục sao và Bản tôn sao là 3 bộ lớn của sư Nhật liên, rất được người đương thời coi trọng. [X. Tổ sư cương yếu sách lược Q.2; Nhật liên tông tông học chương sớ mục lục].

lập chính giao thành hội

(立正佼成會) Một chi phái thuộc tông Nhật liên mới được thành lập trong Phật giáo Nhật bản, do các ông Trường chiểu Diệu giảo và Đình dã Nhật kính tách khỏi hội Linh hữu và sáng lập vào năm 1938. Lúc đầu gọi là Lập chính giao thành hội, lấy ý lập theo chính pháp, giao tiếp với người, thành tựu quả Phật. Đến năm 1960, để kỉ niệm ông Trường chiểu Diệu giảo, nên mới đổi tên hội như hiện nay. Hội này lấy kinh Pháp hoa làm giáo nghĩa cơ bản, đức Phật Thích ca là Bản tôn, lấy việc thực hiện Tịch quang độ (nước Phật) làm mục đích, coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, tin vào các phương thuật như: Cửu tự, Phương vị, Cửu diệu, Thất thần, v.v... chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thần đạo và tín ngưỡng dân tộc. Hội này cũng đề ra lí luận Diệu, Thể, Chấn, cho rằng Diệu (mầu nhiệm) là Thần, Phật không thể thấy được;Thể là tất cả hiện tượng mà Thần Phật hiển bày ở thế gian; còn Chấn là sự vận động của muôn vật. Con người thông qua Chấn mà biết được Thể, cảm đến sự tồn tại chân thực của Diệu; nhân duyên tạo thành sự thành công hay thất bại do hành vi của con người là Thể, nếu muốn tránh khỏi nhân duyên xấu, được nhân duyên tốt, thì nên tin thờ Thần Phật và cầu xin sự che chở của các Ngài.

lập chính đại học

(立正大學) Trường Đại học Tông lập của tông Nhật liên, nằm ở khu Phẩm xuyên, thủ đô Đông kinh, Nhật bản, được sáng lập vào năm Thiên chính thứ 8 (1580). Trường Đại học này là cơ cấu giáo dục của tông Nhật liên, mở các khoa bộ như Đại học viện Văn học khoa, gồm các môn Phật giáo, Xã hội, Quốc sử, Quốc văn, Địa lí. - Bộ thứ nhất (học ban ngày), gồm các môn; Phật giáo học (Phật giáo học, Tông học); Văn học (Triết, Sử, Quốc văn, Anh văn, Xã hội); Kinh tế học (Kinh tế). - Bộ thứ hai (học ban đêm), gồm: Phật giáo học (Tông học), Văn học (Sử, Quốc văn, Anh văn, Xã hội, Địa lí); Kinh tế học (Kinh tế); Đại học đoản kì (Tông học, Xã hội, Thương mại, Kinh tế). Ngoài ra, còn các trường Cao đẳng, trường Trung học, v.v... trực thuộc.

lập công

To accomplish a merit.

lập danh

To win fame.

lập gia đình

To get married—To marry.

lập giáo

Thành lập một tông phái (căn cứ trên những lời giáo thuyết của Đức Phật)—To establish a school or a sect. ; (立教) Các bậc Tổ sư xưa nay căn cứ vào giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời mà lập ra các giáo môn, gọi là Lập giáo. Như tông Thiên thai phán lập 5 thời, 8 giáo, tông Hoa nghiêm phán lập 5 giáo, v.v... Việc làm này gọi là Giáo tướng phán thích. Ngoài ra, khai sáng tông chỉ của giáo tướng, gọi là Lập giáo khai tông.

lập giáo khai tông

Thiết lập một trường phái và bắt đầu một tông môn—To set up a school and start a sect.

lập giáo thập ngũ luận

(立教十五論) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Vương trùng dương (1112-1170) soạn vào đời Tống, được thu vào Đạo tạng tập 789. Ông Vương trùng dương là người sáng lập Toàn chân giáo, sách này nói về tinh thần căn bản lập giáo khai tông của ông. Toàn sách chia làm 15 điều: Trụ am, Vân du, Học thư, Hợp dược, Cái tạo, Hợp đạo bạn, Đả tọa, Hàng tâm, Luyên tính, Thất phối ngũ khí, Hỗn tính mệnh, Thánh đạo, Siêu tam giới, Dưỡng pháp thân và Li phàm thế, vì nội dung có 15 điều nên gọi là Lập giáo thập ngũ luận. Có thuyết cho rằng sách này chưa chắc đã do chính ông Vương trùng dương soạn, mà là do các đệ tử dựa theo tinh thần lập giáo của ông mà biên soạn thành. Mục đích của sách này nhằm dung hòa tam giáo Nho, Phật, Đạo để xây dựng lại tinh thần Đạo giáo. Sách này chịu ảnh hưởng Phật giáo rất sâu đậm, nhất là ảnh hưởng của Thiền tông. [X. Nam Tống sơ Hà bắc tân đạo giáo khảo (Trần viên); Đạo giáo đích nghiên cứu (Cát cương Nghĩa phong); Sơ kì Toàn chân giáo đoàn đích nhất tính cách (Oa đức trung)].

lập hiến

To establish a constitution.

lập hạ

Summer begins.

lập hội

To found a society.

lập kỷ lục

To make (achieve) a record.

lập luận

To reason—To argue.

lập lượng

Lập tỷ lệ so sánh của ba chi tông, nhân, dụ—To state a syllogism with the proposition, reason, and example of the cult or sect.

lập lượng phá

(立量破) Đối lại với Hiển quá phá. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lập luận thức để bác bỏ chủ trương của đối phương. Trong Nhân minh, khi đôi bên tranh luận, nếu đối phương thấy luận thức (lượng) của người lập luận không chính xác, thì có thể tự mình lập ra một luận thức khác để bác lại, như thế gọi là Lập lượng phá. Còn nếu không cần lập luận thức khác, mà chỉ cần vạch ra những sai lầm trong luận thức của người lập luận để bác bỏ, thì gọi là Hiển quá phá. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Năng Phá, Hiển Quá Phá).

lập lệ

To establish a custom.

lập mưu

To draw up a scheme

lập nghiệp

To found (establish) a business.

lập nhân

(立因) Phạm:Sthàna. Chỉ cho cái nhân giữ gìn các sắc pháp do 4 đại chủng đất, nước, lửa, gió tạo thành, khiến chúng đứng vững, cũng giống như bức vách giữ gìn bức tranh, khiến không xiêu đổ, là 1 trong 5 nhân (Sinh nhân, Y nhân, Lập nhân, Trì nhân, Dưỡng nhân). Ngoài ra, các sắc pháp do các đại chủng tạo thành, có năng lực tạo tác 5 nghiệp: Sinh khởi, y chỉ, kiến lập, nhậm trì và tăng trưởng. Trong 5 nghiệp này, nghiệp kiến lập tức là Lập nhân. [X. luận Thuận chính lí Q.20; luận Du già sư địa Q.54]. (xt. Ngũ Nhân).

lập phá

Năng lập năng phá—To state and confute a proposition.

lập pháp

To make a law or rule—To set up or state a proposition. ; (立法) Đồng nghĩa với Hiển chính. Xác lập chính lí (pháp)sau khi phá trừ những kiến giải mê lầm về muôn pháp. (xt. Hiển Chính).

lập tham

(立參) Cũng gọi Vãn tham. Chỉ cho thời tham vấn ngắn trong lúc chiều tối,thông thường không có nơi chỗ nhất định, hoặc trong phòng ngủ, hoặc ở pháp đường, vị thầy nhóm chúng để khai thị. Môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Vì thường đứng để nói pháp nên gọi là Lập tham, tức chỉ cho thời tham vấn lúc chiều tối.

lập thành

To establish—To constitute.

lập thân

To establish oneself in life.

Lập Thạch Tự

(立石寺, Risshaku-ji): ngôi chùa của Thiên Thai Tông, tọa lạc tại Yamagata-shi (山形市), Yamagata-ken (山形縣), thường được gọi là Sơn Tự (山寺, Yama-dera), do Viên Nhân (圓仁, Ennin) sáng lập. Tại Căn Bổn Trung Đường của chùa vẫn còn giữ lại ngọn pháp đăng được chuyển từ Tỷ Duệ Sơn (比叡山, Hieizan) đến khi thánh địa này bị đốt cháy tan tành. Về sau, chùa cũng gặp phải nạn hỏa hoạn, nhưng nhờ sự viện trợ đắc lực của hai dòng họ Tối Thượng (最上) và Đức Xuyên (德川), chùa phục hưng và hưng thạnh trở lại. Căn Bổn Trung Đường và tháp nhỏ 3 tầng là các kiến trúc của thời đại Thất Đinh, và hiện tại chùa vẫn còn lưu giữ nhiều kiến trúc quan trọng khác. Trong những năm gần đây, người ta phát hiện ra tiêu tượng, hình đầu và di cốt của Viên Nhân trong hang nhập định của ông. Chính Ba Tiêu (芭蕉, Bashō), nhà Haiku nổi danh của Nhật, đã từng đến đây tham bái và để lại bài Haiku tuyệt tác về chùa này.

lập thế a tì đàm luận

(立世阿毗曇論) Cũng gọi Lập thế a tì đàm tạng, Thiên địa kí kinh, Thiên địa kí kinh lục. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này bàn giải về vũ trụ luận của Phật giáo, nói rõ nguồn gốc của thuyết núi Tu di (Phạm: Sumeruvàda), tức là trình bày sự thành lập thế giới và tướng trạng hữu tình ở thế gian. Toàn bộ luận chia làm 25 phẩm, bao gồm các vấn đề như: Pháp môn cộng thông của Đại thừa, bậc Thánh Trung bát Niết bàn, Trung ấm, các tầng trời cõi Sắc, vị trí các địa ngục, địa ngục lạnh, số lượng của kiếp và những quan hệ phân phái... Còn về chỉ thú của luận này thì đại khái cũng giống với kinh Thế kí trong Trường a hàm và phẩm Thế gian trong luận Câu xá, nhưng phần Kí sự của luận này thì tinh tường hơn. Riêng phẩm Vân hà dùng thể tài vấn đáp gạn hỏi nhiều lần là điểm đặc sắc của luận này. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận (Mộc thôn Thái hiền)].

lập thệ

To make (take) an oath—To swear.

lập trường

Standpoint—Point of view—View point—Opinion—Position and viewpoint.

lập trường vững chắc và sáng suốt

Clear and solid position and viewpoint.

lập tâm

To make up one's mind

lập tăng thủ toà

(立僧首座) Chỉ cho vị tăng có ngôi vị cao nhất trong hàng chúng tăng, sau vị Thủ tọa. Chức vụ này không nhất định là người nào, nghĩa là ngoài vị Thủ tọa chủ chốt ra, có thể thỉnh 1 vị tôn túc đạo cao đức trọng, học thức uyên bác ở Tây đường, ở Tiền đường, hoặc thỉnh 1 vị tôn túc ở nơi khác đến đảm nhiệm. Trách nhiệm của chức vụ này rất nặng nề. Điều Thỉnh lập tăng trong Thiền uyển thanh qui quyển 7 (Vạn tục 111, 457 thượng), nói: Vị tôn túc, Thủ tọa, Tạng chủ đã thoái viện (nghỉ việc), nếu như hợp với sự mong cầu của đại chúng, thì có thể thỉnh làm Lập tăng. Tức vị Trụ trì thăng tòa cử bạch xong, vị Tri sự và đại chúng đến liêu lễ thỉnh (Văn thỉnh như sau: Đại chúng hết lòng, từ lâu mong được dạy bảo, cúi mong ngài từ bi hứa khả cho), xem thế đủ biết việc lễ thỉnh rất là cẩn trọng. Ngoài ra, nơi vị Lập tăng thủ tọa ngồi thiền, gọi là Lập tăng sàng, Lập tăng thủ tọa sàng, Lập tăng bản đầu. Khi vị Lập tăng thủ tọa thuyết pháp xong, muốn lui về liêu Thủ tọa, thì đại chúng đưa 2 tấm bảng Phổ thuyết và Nhập thất vào phương trượng, gọi là Lập tăng nạp bài. [X. chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; các chương Lưỡng tự, Đông tự tri sự, Thỉnh lập tăng thủ tọa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường, môn Tọa vị, môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lập tăng thủ tọa

Vị Tăng với kiến thức uyên thâm, thường có vị thế quan trọng trong tự viện trong việc dẫn giáo Tăng thân—The learned monk who usually occupies the chief seat to edify the body of monks.

lập tướng trụ tâm

(立相住心) Đối lại với Vô tướng li niệm. Chỉ cho Sự quán, tức là kiến lập các tướng tốt đẹp của Phật rồi chú tâm vào đó mà quán tưởng thân Phật và các cõi Tịnh độ. Lập tướng là nói về cảnh sở quán, Trụ tâm là nói về tâm năng quán, đây là pháp môn quan trọng của Tịnh độ giáo. Đức Phật vì chúng sinh phàm phu đời mạt pháp, mà lập ra tướng sai biệt báo độ, báo thân, v.v... để cho họ an trụ nơi hữu tâm hữu niệm mà quán tưởng cảnh ấy. Quán kinh định thiện nghĩa (Đại 37, 267 trung), nói: Môn quán này duy có chỉ phương lập tướng, trụ tâm mà quán cảnh, chứ không nói đến vô tướng li niệm. Bởi vì đức Như lai đã biết trước, chúng sinh phàm phu ởđời mạt thế ô trược, lập tướng trụ tâm còn khó, huống hồ lìa tướng mà quán cảnh, thì cũng giống như người chẳng biết thuật gì mà muốn làm nhà giữa hư không.

lập tượng

(立像) Tượng Phật, Bồ tát nói chung trong tư thế đứng. Tượng 2 chân đều đứng thẳng gọi là Đẳng túc lập, đây là tư thế đứng của tượng Phật. Những tượng thị giả của Tam tôn, thân thường hơi nghiêng, còn các tượng thần Thủ hộ thì phần nhiều đứng trong tư thế đầu gối hơi co và đạp lên mình loài thú.

lập tụng bát ý

(立頌八意) Đức Phật nói kệ tụng có 8 ý nghĩa. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 5, thì 8 ý nghĩa là: 1. Kệ tụng có thể dùng ít chữ mà bao hàm nhiều nghĩa. 2. Dùng để khen ngợi công đức. 3. Dùng kệ lập lại ý nghĩa trong kinh cho người độn căn dễ hiểu. 4. Tùy thuận ý thích của chúng sinh muốn nghe kệ, nên đức Phật nói kệ. 5. Dùng kệ lập lại để cho người đến sau được nghe. 6. Những đoạn trường hàng (văn xuôi) khó nhớ, nên đức Phật dùng kệ cô đọng lại để cho dễ nhớ. 7. Nói kệ để làm rõ nghĩa mà văn trường hàng chưa nói hết. 8. Không dùng văn trường hàng, mà trực tiếp nói kệ tụng, đây là thể tụng cô khởi. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2].

lập tức

Immediately—At once—Right away.

lập tự

To appoint one's heir.

lập xuyên lưu

(立川流) Cũng gọi Lập hà lưu. Dòng Lập xuyên, 1 tà phái phát sinh từ tông Chân ngôn và tông Thiên thai của Phật giáo Nhật bản, do ông Nhân khoan sáng lập. Nhân khoan là đệ tử (hoặc là em ruột) của ông Thắng giác ở viện Đề hồ tam bảo thuộc tông Chân ngôn. Vào niên hiệu Vĩnh cửu năm đầu (1113), Nhân khoan bị lưu đày đến Y đậu, đổi tên là Liên niệm. Bấy giờ có vị thầy âm dương ở thôn Lập xuyên, quận Đa ma, phía tây nước Vũ tạng, theo Liên niệm học Mật pháp, rồi đem pháp âm dương vào Mật pháp. Đây là sự mở đầu cho việc tông Chân ngôn và đạo âm dương hỗn hợp thành 1 phái. Đến đời sau, lấy tên đất mà đặt tên phái, gọi là Lập xuyên lưu. Vào đầu thời kì Nam Bắc triều, Nhật bản, ông Văn quán Hoằng chân (1278-1357) đưa phái Lập xuyên đến chỗ hoàn bị. Giáo phái này chủ trương lấy việc giao hội nam nữ làm Phật sự, cho rằng dâm dục tức là đạo và lấy những bản kinh nói về việc này làm chứng cứ, mà phối thuộc nam nữ với 2 bộ Kim cương giới, Thai tạng giới, tức dùng đường âm dương nam nữ làm bí thuật tức thân thành Phật! Tư tưởng này cũng ảnh hưởng phần nào đến tông Tịnh độ và Chân tông Nhật bản. [X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.9].

Lập Xuyên Tự

(立川寺, Ryūsen-ji) hay Lập Sơn Tự (立山寺, Ryūsen-ji): ngôi chùa của Tông Tào Động, hiêu núi là Nhãn Mục Sơn (眼目山), hiện tọa lạc tại Kamiichi-machi (上市町), Nakaniikawa-gun (中新川郡), Toyama-ken (富山縣). Chùa do Đại Triệt Tông Lịnh (大徹宗令), đệ tử của Nga Sơn Thiệu Thạc (峨山紹碩), sáng kiến nên vào trong khoảng niên hiệu Kiến Đức (建德, 1370-1372). Do sự thị hiện của chư Phật ở Lập Sơn nên chùa mới lấy tên này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1428), vị Thành Chủ vùng này là Thổ Phì Di Thái Lang (土肥彌太郎) quy y theo chùa, nên ông phát tâm cúng dường đất đai cho chùa. Đương thời nơi đây cũng là ngôi chùa chính của Tông Tào Động. Về sau, nhóm Thượng Sam Khiêm Tín (上杉謙信) loạn nhập vào vùng này, nên chùa gặp phải nạn binh hỏa cháy tan tành. Đến năm 1633, vị Tổ thời trung hưng của chùa là Áo Sơn Thị Việt (拗山是越) thể theo mệnh của Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji) đến trú trì chùa này, rồi nỗ lực phục hưng chốn Thiền Lâm này, lập nên chánh điện tạm thời mà tu hành. Mãi đến thời Minh Trị thì chùa mới bắt đầu cải tu các ngôi đường vũ, và đến đầu niên hiệu Đại Chánh mới lạc thành. Ban đầu chùa lấy tên là Lập Sơn Tự, nhưng sau lại đổi thành Lập Xuyên Tự, và gần đây thì lấy lại tên cũ.

lập yếu xảo phương tiện

(立要巧方便) Chỉ cho phương tiện khéo léo mà Bồ tát thệ nguyện lập ra để dắt dẫn chúng sinh vào Phật đạo, 1 trong 6 thứ phương tiện thiện xảo của hàng Bồ tát. Bồ tát thệ nguyện ban phát cho chúng sinh những thứ cần dùng như: ruộng vườn, nhà cửa, của cải, v.v..., sau đó chỉ bảo họ làm những việc tốt lành rồi dần dần đưa dẫn họ vào Phật đạo. Yếu nghĩa là thề ước, tức là Bồ tát ước ban sự lợi ích cho chúng sinh nào biết giữ gìn thiện pháp. (xt. Lục Chủng Xảo Phương Tiện).

lập đông

Winter begins.

lập đề

To set a subject, or state a proposition.

lập địa

(立地) Có 3 nghĩa: 1. Đứng. Chương Vân nham Đàm thạnh trong Tổ đường tập quyển 5 chép: Động sơn đến, không rõ đứng đâu (bất thẩm lập địa), sư nói: Bên đó còn có cái này sao?. 2. Ngay đó, tức khắc (như lập địa thành Phật, nghĩa là ngay đó thành Phật). Chương Sơn cốc Hành sùng trong Tổ đường tập quyển 13 chép: Chỉ như ngay chỗ ấy nghiệm lấy biết lấy, thì có lỗi lầm gì. 3. Những Phật sự đơn giản (như khai quang, an tọa, niêm hương, nhập bài, v.v... chỉ cần thời gian rất ngắn, làm trong chốc lát là xong, cho nên gọi là Lập địa). Bài tựa trong sách Thập thiền chi lục của ngài Hổ quan nói: Khảo đính các sách Thiền xưa nay, thấy có đủ cả 10 môn: Khai đường, Thướng đường, Tiểu tham phụ thăng tòa, Thập đề, Phổ thuyết, Pháp ngữ, Đối cơ, Lập địa, Kệ tán, Bỉnh phất. [X. môn Thùy thuyết trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lật

Hạt dẻ—Chestnut.

lật đà

Hrd or Hrdaya (skt)—Quả tim—The heart. ; (栗馱) Phạm: Hfdaya. Cũng gọi Hãn lật đà. Hán dịch: Nhục đoàn tâm. Là trái tim, chỗ nương gá của ý căn. (xt. Nhục Đoàn Tâm).

lật đật

Pressed—Hurried—In a hurry.

Lậu

漏; C: lòu; J: ro;|1. Rò, rỉ; 2. Để cho rò rỉ, tiết lộ ra, bỏ sót; 3. [Phật học] Hành vi dựa trên vô minh, thế nên bị luân hồi, phiền não, nhiễm ô (s: āsrava; p: āsava; t: zag pa). Thuật ngữ thường dùng trong triết học Kì-na giáo, diễn tả sự phát triển của nghiệp gắn liền với linh hồn (s: jīva), sau đó được đưa vào Phật học với nghĩa có hơi khác.

lậu

dịch từ tiếng Phạn ngữ là rava (Pli: sava), cũng gọi là lậu hoặc, chỉ sự rỉ chảy làm cho ô nhiễm thân tâm. Chính do các phiền não phát sanh từ tham, sân, si, khiến sáu căn chạy theo sáu trần làm thân tâm ô nhiễm, giống như vật chứa bị rỉ chảy. Vì thế, đây cũng được xem là tên khác của phiền não. Khi chứng đắc quả A-la-hán thì các lậu (hay phiền não) đều dứt sạch nên gọi là vô lậu. ; Asrava (skt). (A) Nghĩa của Lậu—The meanings of Asrava: 1) Dột: Chỗ dột trên nóc nhà làm cho nước mưa chảy vào—Leakage—An opening on the roof allows rain water to descend through it—Flowing—Running—Discharge. 2) Phiền não: Distress—Pain—Affliction. (B) Phân loại Lậu—Categories of Asrava: 1) Tam Lậu: Three taints or affluences—See Tam Lậu in Vietnamese-English Section. ; (漏) Phạm:Àsrava. Pàli:Àsava. Hàm ý rò rỉ hoặc tiết ra ngoài, là tên khác của phiền não…………. Khi phiền não bị diệt hết, gọi là Lậu tận. Vì chúng sinh sống trong phiền não, cho nên từ 6 căn như mắt, tai, mũi, lưỡi... thường tiết ra những tội lỗi, khiến phải sống chết trôi lăn trong 3 cõi, do đó mà phiền não được gọi là Lậu. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 47, thì Lậu có 6 nghĩa: 1. Lưu trụ: Có năng lực khiến cho hữu tình ở mãi (lưu trụ) trong 3 cõi. 2. Yêm trữ (cất chứa): Hạt giống nghiệp được cất chứa trong phiền não, để dẫn sinh thân đời sau. 3. Lưu phái (trôi chảy): Phiền não từ 6 giác quan trôi chảy ra. 4. Cấm trì (giam giữ): Chúng sinh bị phiền não giam cầm khiến trôi lăn trong các cõi, không được tự do hướng tới Niết bàn. 5. Mị hoặc: Bị phiền não làm mê hoặc mà phát khởi 3 nghiệp ác. 6. Túy loạn (say loạn): Bị phiền não làm cho say loạn, giống như uống rượu say sưa, không biết hổ thẹn, điên đảo, buông thả. Bởi vì tiếng Phạm Àsrava(lậu) có hàm nghĩa là chảy, cho nên được cắt nghĩa là rỉ chảy, lại hàm nghĩa là ngồi cho nên được cắt nghĩa là lưu giữ, cất chứa. Về phân loại các Lậu, trong kinh điển có nhiều thuyết khác nhau. - Kinh Trường a hàm quyển 8 nêu ra 3 lậu. 1. Dục lậu: Chỉ cho các phiền não ở cõi Dục. 2. Hữu lậu: Chỉ cho phiền não ở cõi Sắc, cõi Vô sắc. 3. Vô minh lậu: Gọi chung phiền não vô minh trong 3 cõi. - Theo luận Đại tì bà sa quyển 47, các nhà Thí dụ chỉ lập 2 lậu là: 1. Vô minh lậu . 2. Hữu ái lậu. - Theo luận Đại tì bà sa quyển 48, các nhà Phân biệt luận lập 4 lậu: 1. Dục lậu. 2. Hữu lậu. 3. Kiến lậu. 4. Vô minh lậu. - Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 nêu ra 6 lậu: 1. Tự tính lậu. 2. Tương thuộc lậu. 3. Sở phược lậu. 4. Sở tùy lậu. 5. Tùy thuận lậu. 6. Chủng loại lậu. - Kinh Đại bát niết bàn quyển 22, 23 (bản Bắc) liệt kê 7 lậu: 1. Kiến lậu. 2. Tu lậu. 3. Căn lậu: Từ 6 căn tiết ra lỗi lầm. 4. Ác lậu: Những phiền não do vua ác, nước loạn lạc, tri thức ác mà sinh ra. 5. Thân cận lậu: Những phiền não do những vật dụng gần gũi như: y phục, phòng xá, v.v... gây ra. 6. Thụ lậu: Những phiền não do các cảm nhận sinh ra. 7. Niệm lậu: Những phiền não do tà niệm sinh ra. [X. luận Câu xá Q.20; phẩm Tạp phiền não trong luận Thành thực Q.10; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng]. (xt. Thất Lậu, Tam Lậu, Lục Lậu, Hữu Lậu, Vô Lậu, Phiền Não).

lậu chất

(漏質) Thể chất hữu lậu, chỉ cho thân chúng sinh có phiền não nhiễm ô. Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 500 thượng), nói: Không thể trói buộc đạo nhân vô trụ này, tuy mang thân ngũ uẩn lậu chất, nhưng lại có thần thông đi trên mặt đất.

lậu giới

Bỏ bê không giữ gìn giới luật hay phá giới—To make a leak in the commandments, i.e. beak them. ; (漏戒) Đánh mất giới luật không chịu giữ gìn, tức phá giới, phạm giới. Một vị tỉ khưu giữ gìn giới luật, một khi phá giới thì cũng giống như cái bồn chứa nước bị rò rỉ, giới thể liền mất. Kinh Đại tập quyển 9 (đại 13, 57 thượng), nói: Theo giới mà học là người mới phát tâm, không để lậu giới gọi là Tác (không phạm); hiểu rõ giới, chẳng chấp giới là khéo tư duy, theo giới trí tuệ mà an trụ đúng như pháp.

lậu hoặc

xem lậu. ; Asava (p)—Asrava (skt). (A) Theo Phật giáo Đại Thừa, Lậu Hoặc có những nghĩa sau đây—According to the Mahayana Buddhism, Asrava has the following meanings: • Điều ô uế: Taint. • Sự đồi bại: Corruption. • Ham mê: Mania. • Sự mê đắm: Anfatuation. • Nghiện (rượu và thuốc): Addiction (to alcohol or drugs). • Nhơ bẩn: Defilement. (B) Theo Thanh Tịnh Đạo, lậu hoặc là từ để chỉ dục tham, hữu tham, tà kiến và vô minh, vì những cấu uế nầy tiết lậu từ các căn môn không được phòng hộ, như nước rỉ từ bình chảy, hoặc vì chúng phát sanh những khổ sanh tử—Cankers, a term for greed for sense-desire, greed for becoming, wrong view, and ignorance, because of the exudingof these defilements from unguarded sense-doors like water from cracks in a pot in the sense of constant trickling, or because of their producing the suffering of the round of rebirths. 1) Bộc lưu: Càn quét, lùa vào biển hữu, khó vượt qua—The floods are so called in the sense of sweeping away into the ocean of becoming, and in the sense of being hard to cross. 2) Hệ Phược: Không cho phép gỡ ra khỏi một đối tượng, và không gỡ khỏi khổ: The bonds are so called because they do not allow disengagement from an object and disengagement from suffering. Both “Floods” and “bonds” are terms for the “Cankers” already mentioned.

lậu nghiệp

Nghiệp của phàm nhân trong dòng sinh tử luân hồi—Karma of ordinary rebirth—The deeds of the sinner in the stream of transmigration, which produces his karma.

lậu phọc

(漏縛) Lậu là rỉ chảy, phược là trói buộc, đều là tên khác của phiền não. Lậu phược nghĩa là thân tâm bị phiền não trói buộc. An lạc tập (Đại 47, 8 trung), ghi: Có người nói: Đại thừa vô tướng, không nên nghĩ đây, kia; nếu nguyện vãng sinh Tịnh độ thì là chấp tướng rồi, như vậy chỉ tăng thêm lậu phược, thì còn cầu làm gì?.

Lậu tận

漏盡; C: lòujìn; J: rojin;|Hết sạch sự rò rỉ; sự trừ sạch mọi phiền não; một cách khác để mô tả niết-bàn (s: āsrava-kṣaya, kṣina-āsrava).

lậu tận

Asravaksaya (skt)—Chấm dứt dục vọng phiền não, hay là cạn dòng sinh tử luân hồi—The end of the passions or the exhaustion of the stream of transmigration. ; (漏盡) Phạm: Àsrava-kwaya, Kwìna-àsrava. Đồng nghĩa: Vô lậu. Dùng Thánh trí dứt hết phiền não, gọi là Lậu tận. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 80 trung), nói: Ba lậu trong tam giới đã hết sạch, nên gọi là Lậu tận. [X. luận Du già sư địa Q.2; luận Câu xá Q.24, 25]. (xt. Vô Tận).

Lậu tận A-la-hán

漏盡阿羅漢; C: lòujìn āluóhàn; J: rojin arakan;|Oai lực của quả vị A-la-hán, hàm ý diệt trừ sạch mọi phiền não (lậu).

lậu tận chứng minh

Chứng lý Niết Bàn hay chứng thực sự chấm dứt của dòng luân hồi sanh tử và đạt được đạo quả Niết bàn—The assurance or realization that the stream of transmigration is ended and nirvana attained.

lậu tận minh

Thực chứng lướt thắng dục vọng cám dỗ và sự chấm dứt dòng luân hồi sanh tử—The realization that the stream of transmigration is ended—Nirvana insight into present mortal sufferings so as to overcome all passions or temptations—The deliverance of mind from passions.

Lậu tận thông

漏盡通; C: lòujìntōng; J: rojintsū;|Năng lực thần thông do khi đã trừ sạch mọi phiền não (s: āsrava-kṣaya-vijñāna). Là một trong Lục thần thông (六神通).

lậu tận thông

Một trong lục thông, thần thông hiểu thấu sự chấm dứt dòng luân hồi sanh tử—The supernatural insight into the ending of the stream of transmigration, one of the six abhijnas. ** For more information, please see Lục Thông.

Lậu tận trí

漏盡智; C: lòujìnzhì; J: rojinchi; S: āsrava-kṣaya-jñāna|Trí huệ của hàng Bồ Tát và A-la-hán trừ diệt mọi phiền não (lậu, s: āsrava-kṣaya-jñāna).

lậu tận trí

Trí huệ của bậc A La Hán (đã dứt bỏ hết phiền não)—The wisdom of the arhat (all passions and afflictions ended).

lậu tận trí chứng minh

(漏盡智證明) Phạm:Àsrava-kwaya-jĩàna-sàwàtkriya-vidyà. Pàli:Àsavàna-khaya-ĩàịa-vijjà. Cũng gọi Lậu tận trí minh, Lậu tận minh, Lậu tận trí. Trí tuệ biết rõ chắc chắn mình đã chứng được lí Tứ đế, đã xa lìa phiền não hữu lậu và dứt hết sự trói buộc của sinh tử trong 3 cõi, là 1 trong 3 loại trí sáng suốt mà đức Phật và các bậc A la hán đã đạt được. Lậu tận trí này có năng lực đối trị sự ngu mê trong đời hiện tại. Nếu phối hợp với sáu thần thông thì trí này thuộc về Lậu tận trí chứng thông. (xt. Tam Minh).

lậu tận trí chứng thông

(漏盡智證通) Phạm: Àsrava-kwaya-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà. Cũng gọi Lậu tận thần thông, Lậu tận thông chứng, Lậu tận thông. Thần thông dứt trừ tất cả phiền não hoặc nghiệp, vĩnh viễn xa lìa sanh tử luân hồi, tức là đã chứng được lậu tận trí, đoạn diệt hết thảy phiền não hữu lậu, an trụ trong thiền định mà hiển hiện đầy đủ uy đức, là 1 trong 6 thứ thần thông. Luận Xá lợi phất A tì đàm quyển 10 (Đại 28, 597 trung), nói: Nếu trí tuệ sinh, hữu lậu đã hết, đạt được vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, hiện đời tự chứng biết, công hạnh đã thành tựu, sự sinh của ta đã hết, phạm hạnh đã viên mãn, việc làm đã xong, không còn chịu thân sau nữa, thì đó gọi là Lậu tận trí chứng thông. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 27, trong 6 loại thần thông thì 5 loại trước, hàng phàm phu dị sinh cũng có thể chứng được, còn Lậu tận thông thì chỉ có bậc Thánh mới chứng được. Lại theo luận Đại trí độ quyển 28, Lậu tận thông có thể được chia làm 2 loại: 1. Lậu tập câu tận: Phiền não và tập khí đều đã dứt. Loại này chỉ có Phật chứng được. 2. Lậu tận nhi tập vị tận: Phiền não đã hết nhưng tập khí chưa dứt. Loại này hàng Bồ tát chứng được. [X. kinh Tăng nhất trong Trường a hàm Q.9; kinh Ca hi na trong Trung a hàm Q.20; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.14; luận Đại tì bà sa Q.102; luận Du già sư địa Q.37]. (xt. Lục Thần Thông).

lậu tận trí lực

(漏盡智力) Phạm:Àsrava-kwaya-jĩàna-bala. Cũng gọi Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực, Kết tận lực. Sức trí tuệ biết rõ tất cả phiền não hoặc nghiệp đều đã vĩnh viễn bị đoạn trừ, không còn chịu trôi lăn trong sinh tử nữa, là 1 trong 10 lực của đức Như lai. Trí lực của đức Như lai ngoài khả năng tự chứng biết đã dứt hết tất cả các phiền não, còn có thể biết rõ người khác đã đoạn trừ phiền não hay chưa. [X. luận Câu xá Q.29; luận Đại trí độ Q.25]. (xt. Thập Lực).

Lậu tận tỉ khâu

漏盡比丘; C: lòujìnbĭqiū; J: rojin biku;|Tỉ-khâu tu tập đã trừ sạch các phiền não (lậu). Thường chỉ cho hàng A-la-hán (阿羅漢).

lậu tận tỉ khâu

(漏盡比丘) Cũng gọi Lậu tận A la hán. Chỉ cho bậc A la hán đã dứt sạch phiền não, đối với hết thảy các pháp không bị dính mắc, không còn chấp trước, vĩnh viễn vào Niết bàn, không chịu quả báo sống chết nữa, vì thế gọi là Tỉ khưu lậu tận. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. (xt. A La Hán).

lậu tận tỳ khưu

Vị Tỳ Kheo đã dứt được dòng luân hồi sanh tử, tức đã chứng quả A La Hán—The monk who has ended the stream of transmigration—The arhat.

Lậu tận vô sở úy

xem Bốn đức chẳng sợ.

lậu tận ý giải

Khi dứt bỏ hết phiền não là tâm ý giải thoát, đó là quả vị A La Hán của Tiểu Thừa—The passions ended and the mind freed—The state of the arhat. ; (漏盡意解) Dứt sạch các phiền não, tâm được giải thoát, là sự chứng quả của bậc A la hán. Phẩm Phật quốc kinh Duy ma (Đại 14, 539 thượng), nói: Tám nghìn tỉ khưu không chấp trước các pháp, được lậu tận ý giải. [X. kinh Chính pháp hoa Q.4; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Chú Duy ma kinh phẩm Phật quốc].

lậu vô lậu

Hữu lậu pháp và vô lậu pháp hay chư pháp trong tam giới và Thánh đạo trong Tam thừa và Niết Bàn—Transmigration and nirvana. ; (漏無漏) Gọi đủ: Hữu lậu pháp vô lậu pháp. Các pháp trong 3 cõi là pháp hữu lậu, Thánh đạo và Niết bàn của Tam thừa là pháp vô lậu. Như trong Tứ đế, Khổ, Tập là pháp hữu lậu, Diệt, Đạo là pháp vô lậu. (xt. Hữu Lậu, Vô Lậu).

lậu vĩnh tân vô sở úy

Tin tưởng tuyệt đối nơi Phật là dòng luân hồi sẽ vĩnh viễn chấm dứt—Absolute confidence of Buddha that transmigration would cease forever.

lậu vĩnh tận vô sở uý

(漏永盡無所畏) Phạm: Àsrava-kwaya-jĩànavaisàradya. Cũng gọi Lậu tận vô sở úy, Nhất thiết lậu tận vô sở úy. Tự tin đã dứt hết tất cả phiền não, không còn gì để sợ hãi. Một trong 4 đức Vô sở úy của Phật. [X. luận Đại trí độ Q.25]. (xt. Tứ Vô SởÚy).

lắm khi

Many times.

lắm mồm

Talkative.

lắm phen

See Lắm khi.

lắm tiền

To have a great deal of money.

lắp bắp

To mumble.

lẳng lơ

Of immoral character.

lẳng lặng

To keep silent.

lặc

Sức mạnh—A force.

lặc cân

(勒巾) Cũng gọi Lặc bạch. Cái đai thắt lưng. Thiền uyển thanh qui quyển 9 (Vạn tục 111, 464 hạ), nói: Nên dùng Lặc cân để thắt lưng, không nên dùng buộc cánh tay.

lặc na bạt di

(勒那跋彌) Phạm: Ratnavarman. Hán dịch: Bảo khải. Phụ vương của đức Phật ở đời quá khứ. Thời ấy Phật là Thái tử Ca lương na già lê (Hán dịch:Thiện sự). Cứ theo phẩm Thiện sự thái tử nhập hải trong kinh Hiền ngu quyển 9, Đề bà đạt đa thường âm mưu hại đức Phật, nhưng Phật thì lúc nào cũng thương xót ông ta; tôn giả A nan trong lòng thắc mắc, bèn thỉnh vấn xin Phật chỉ dạy, do đó, đức Phật kể lại câu truyện bản sinh như sau: Vào thời quá khứ xa xưa, ở cõi Diêm phù có một vị Quốc vương tên là Lặc na bạt di, tuy có 500 phu nhân thể nữ nhưng không có con. Một đêm nọ, Hoàng hậu nằm mộng thấy 1 Thiên thần mách bảo mà cảm được 2 vị tiên trong khu rừng phía ngoài thành đầu thai vào nhà vua, một người tên là Ba bà già lê (Hán dịch:Ác sự), còn người kia tên là Ca lương na già lê. Vua Lặc na bạt di thường nghe theo lời tâu của Thái tử Thiện sự, đem thức ăn, áo mặc và của báu trong kho ra bố thí cho những người nghèo khổ, già lão, bệnh tật và cô đơn, nên Ác sự ghen ghét, thường mang tâm mưu hại. Thái tử Ca lương na già lê lúc bấy giờ là đức Thích ca mâu ni hiện nay, vua Lặc na bạt di là vua Tịnh phạn, Ba bà già lê là Đề bà đạt đa. [X. Phiên Phạm ngữ Q.4].

Lặc Na Ma Đề

(s: Ratnamati, j: Rokunamadai, 勒那摩提, ?-?): âm dịch là Lặc Na Bà Đề (勒那婆提), gọi tắt là Lặc Na (勒那), ý dịch là Bảo Ý (寳意), vị tăng dịch kinh thời Bắc Ngụy, người miền Trung Ấn Độ, học thức uyên bác, kiêm thông cả sự và lý, biết rành Thiền pháp, thường có chí ngao du phương Bắc. Vào năm thứ 5 (508) niên hiệu Chánh Thỉ (正始) đời vua Tuyên Võ Đế nhà Bắc Ngụy, ông đến Lạc Dương (洛陽), phụng sắc cùng Bồ Đề Lưu Chi (s: Bodhiruci, 菩提流支) dịch bộ Thập Địa Kinh Luận (十地經論) 12 quyển của Thế Thân (世親) cùng với Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luận Ưu Ba Đề Xá (妙法蓮華經優波提舍) 1 quyển. Không bao lâu sau ông dịch bộ Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận (究竟一乘寳性論) 4 quyển. Theo Truyện Bồ Đề Lưu Chi trong Lịch Đại Tam Bảo Ký (歷代三寳記) quyển 9, Tục Cao Tăng Truyện (續高僧傳) quyển 1, sau khi Lạc Na Ma Đề cùng với Bồ Đề Lưu Chi dịch bộ Thập Địa Kinh Luận xong, do không hợp ý kiến nhau nên cả hai chẳng qua lại gì với nhau nữa.

lặc na ma đề

Ratnamati (skt)—Còn gọi là Lặc Na Bà Đề, dịch là Bảo Y, một vị Tăng người miền trung nước Thiên Trúc, vào khoảng năm 500 sau Tây Lịch, người đã dịch ba bộ kinh—A monk from Central India, around 500 A.D., who translated three works. ; (勒那摩提) Phạm: Ratnamati. Cũng gọi: Lặc na bà đề. Gọi tắt: Lặc na. Hán dịch: Bảo ý. Cao tăng người Trung Ấn độ, đến Trung quốc vào thời Bắc Ngụy, chuyên việc dịch kinh. Ngài là người có học thức sâu rộng, thông suốt sự lí, đặc biệt giỏi về pháp thiền. Vào năm Chính thủy thứ 5 (508) đời Tuyên vũ đế nhà Bắc Ngụy, ngài đến Lạc dương, vâng mệnh vua, cùng với ngài Bồ đề lưu chi dịch Thập địa kinh luận 12 quyển của ngài Thế thân và Diệu pháp liên hoa kinh luận ưu ba đề xá 1 quyển, v.v... thời ấy có các vị Tăng lãng, Giác ý và quan Thị trung là Thôi quang làm bút thụ, sau ngài lại dịch luận Cứu cánh Nhất thừa bảo tính 4 quyển tại tư gia của Thiệu hân. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 9 và truyện Bồ đề lưu chi trong Tục cao tăng truyện quyển1 chép, thì sau khi Lặc na ma đề và Bồ đề lưu chi cùng dịch Thập địa kinh luận, vì ý kiến bất đồng nên không hợp tác với nhau nữa. Về sau, môn nhân của ngài Lặc na ma đề là sư Tuệ quang theo học thuyết của thầy, truyền bá tông Địa luận ở Nam bộ Tương châu (tức Nghiệp đô thuộc huyện An dương tỉnh Hà nam hiện nay) mà lập thành Tương châu Nam đạo phái; còn sư Đạo sủng đệ tử ngài Bồ đề lưu chi thì hoằng truyền tông Địa luận ở miền Bắc gọi là Tương châu Bắc đạo phái. Từ đó, tông Địa luận bèn hình thành 2 phái đối nhau. [X. Pháp kinh lục Q.5; truyện Đạo sủng trong Tục cao tăng truyện Q.7; Hoa nghiêm kinh truyện kí Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Thập Địa Kinh Luận, Địa Luận Tông).

lặc na thức chỉ

(勒那識只) Phạm: Ratnazikhi. Hán dịch: Bảo kế. Danh hiệu của đức Phật Bảo kế ở thời quá khứ, khi Ngài còn là Thái tử, chưa xuất gia học đạo. Cứ theo phẩm Bần nữ Nan đà trong kinh Hiền ngu quyển 3 chép, thì qua 2 a tăng kì 91 kiếp về quá khứ, ở cõi Diêm phù đề có 1 vị Quốc vương tên là Ba tắc kì, sinh được 1 người con là Thái tử Lặc na thức kì (Bảo kế), về sau Thái tử xuất gia tu đạo và thành Phật, hiệu là Phật Bảo kế. Lúc bấy giờ có vị tỉ khưu tên là A lê mật la, hằng ngày thắp đèn cúng dường Phật Bảo kế, Ngài bèn thụ kí cho vị tỉ khưu đương lai sẽ thành Phật hiệu là Định quang Như lai.

lặc na xà da

(勒那闍耶) Tên của đức Phật Thích ca ở thời quá khứ khi tu đạo Bồ tát. Lặc na xà da từng xả thân cứu giúp 5 người khỏi chết chìm trong biển. Cứ theo phẩm Lặc na xà da trong kinh Hiền ngu quyển 10 chép, thì 5 người ấy chính là 5 vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên sau khi Ngài thành đạo. Mà phẩm Lặc na xà da cũng chính là phẩm trong đó đức Phật thuật lại nhân duyên đời trước giữa Ngài và 5 vị tỉ khưu.

lặc sa

Laksa (skt)—Màu đỏ thẳm—A reddish colour.

lặc sa bà

Rsabha (skt)—Được diễn tả như một trong ba vị tiên ngoại đạo trong xứ Thiên Trúc, trước thời Phật Thích Ca. Lặc Sa Bà dịch nghĩa là lõa thể khổ hạnh Ni Kiền Tử—Described as one of the three famous rsi, before the days of sakyamuni, of the Nirgrantha type of naked ascetics ; (勒沙婆) Phạm: Fwabha, Fwabhanatha. Hán dịch: Ngưu tiên. Con của vua A du xà, nước Kiêu tát la, Trung Ấn độ, là 1 trong 3 vị tiên nhân của ngoại đạo thịnh hành ở Ấn độ trước khi đức Phật ra đời, tức là tổ khai sáng của ngoại đạo Ni kiền tử (Kì na giáo). Trong Kì na giáo, vị tiên này được tôn làm Sơ tổ của 24 đức Phật ở quá khứ. Lặc sa bà chủ trương lấy khổ hạnh làm pháp giải thoát, cho rằng nếu chịu các nỗi khổ của đời hiện tại hết rồi thì pháp vui tự sinh. Cứ theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, Lặc sa bà cho số học là thắng pháp, soạn 100.000 bài kệ. Lặc sa bà vốn nghĩa là bò, nhưng về sau được dùng để tôn xưng bậc Thánh, như Nhất bách ngũ thập Phật tán tụng và Phiên dịch danh nghĩa đại tập... đều cho rằng Lặc sa bà là tên khác của Phật. [X. phẩm Xả tội phúc trong Bách luận Q.thượng; Bách luận sớ Q.thượng phần giữa]. (xt. Ni Kiền Tử Ngoại Đạo, Kì Na Giáo).

lặc xoa na

(勒叉那) Phạm: Lakwaịa. Pàli: Lakkhana. Hán dịch: Hộ dã. Tên vị tỉ khưu đệ tử của đức Phật. Tỉ khưu Lặc xoa na có lần cùng với tôn giả Mục kiền liên vào thành Vương xá khất thực, đang đi trên đường bỗng ngài Mục liên mỉm cười, ngài Lặc xoa na trong lòng thắc mắc, sau ngài Mục liên cho biết là lúc ấy Ngài quán chiếu rõ suốt các pháp nhân duyên mà chúng sinh phải chịu khổ não trong 3 đường. Khi biết điều này, đức Phật đã khen ngợi tôn giả Mục kiền liên là trụ nơi thực nhãn, thực trí, thực nghĩa, thực pháp, quyết định thông suốt. [X. kinh Tạp a hàm Q.19].

Lặc Đàm Khắc Văn

(泐潭克文, Rokudon Kokubun): xem Chơn Tịnh Khắc Văn (眞淨克文, Shinjō Kokubun, 1025-1102) bên trên.

Lặc Đàm Văn Chuẩn

(泐潭文準, Rokutan Monjun, 1061-1115): xem Trạm Đường Văn Chuẩn (湛堂文準, Tandō Monjun) bên dưới.

lặc đàm văn chuẩn

See Văn Chuẩn Lặc Đàm.

Lặc-na Ma-đề

勒那摩提; C: lènàmótí; J: rokunamadai; S: ratnamati.|Dịch sang tiếng Hán nghĩa là Bảo Ý (寶意). Một vị Tăng học giả từ Trung Ấn đến Trung Hoa để thực hiện những công trình phiên dịch đáng kể. Sư đến Lạc Dương vào thời Bắc Nguỵ năm 508. Tại đây, sư cộng tác cùng Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) trong việc dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Dường như có sự bất đồng quan điểm lớn với Bồ-đề Lưu-chi trong tiến trình công việc dịch thuật, sư tách ra thực hiện những chương trình riêng, trong một bản mục lục, sư được xem như một cộng tác viên trong việc dịch thuật chừng 12 bộ kinh hoặc còn hơn thế nữa. Đệ tử lớn của sư là Huệ Quang (慧光), người sáng lập chi phái Địa luận tông ở phía Nam.|Lời bình của D. Lusthaus: »Sự tương truyền không có gì rõ ràng để chúng ta có thể biết chính xác về quan điểm khác nhau gây nên sự bất hoà giữa Bồ-đề Lưu-chi (chính là học giả Du-già hành tông) và Lặc-na Ma-đề, và cái được gọi là cuộc tranh luận của Địa luận tông vào thế kỉ thứ 6 làm tối nghĩa hơn là soi sáng sự bất đồng ấy. Vấn đề có lẽ – và cũng là – do khuynh hướng nghiên cứu tư tưởng Như Lai tạng của Lặc-na Ma-đề. Có lẽ không phải Bồ-đề Lưu-chi phản đối bản chất của tư tưởng Như Lai tạng, nhưng Sư muốn trả lại cho kinh văn một cách trung thật ý nghĩa như sư đã hiểu, trong ý nghĩa chính thống của Du-già hành tông (dù Địa luận hiển nhiên không chính xác là một văn bản thuộc học thuyết Du-già thuần tuý), và sư đã không bằng lòng sự xâm phạm của Lặc-na Ma-đề.

lặn lội

To go through a lot of trouble—To go up hill and down hill.

lặn ngụp trong biển đời sanh tử

To be sinking in the ocean of life and death (sufferings).

lặng im

To keep quiet.

lặng lẽ

Samin (skt)—Tranquil.

lặng ngắt

Dead silence.

lẻ loi cô quạnh

Lonely and isolated.

lẻ tẻ

Scattered.

lẽ

Reason.

lẽ dĩ nhiên

Of course—Naturally.

lẽ loi

Lonely.

lẽ phải

Reason.

lẽ sống

Ideal of life.

lẽ thường

Common sense.

lẽ tự nhiên

See Lẽ Dĩ Nhiên.

lẽo đẽo

To follow someone closely.

lếch thếch

Untidy.

lề thói

Custom—Habit.

lềnh bềnh

Drifting.

lểnh nghểnh

Many—A lot—A great deal.

Lễ

禮; S, P: pūjā; hoặc Nghi lễ;|Trong Thượng toạ bộ (p: theravāda), nội dung của một buổi lễ bao gồm có dâng phẩm vật, hương hoa và niệm Quy y Tam bảo (s: triśaraṇa). Các nghi lễ trong đạo Phật thay đổi từ nước này qua nước khác. Những buổi hành lễ trong Kim cương thừa gồm có tụng niệm Man-tra, tay bắt Ấn (s: mudrā), niệm danh hiệu các vị Phật cũng như thiết tưởng linh ảnh.

lễ

Nghi lễ—Ceremony—Feast. ; (禮) Cũng gọi Lễ bái, bái. Cử chỉ bày tỏ lòng cung kính đối với Phật, Bồ tát, Tôn giả, Trưởng giả, tháp Phật, v.v... Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, tại Ấn độ có 9 cách lễ bái, gọi là Thiên trú cửu nghi: 1. Cất lời thăm hỏi. 2. Cúi đầu tỏ vẻ cung kính. 3. Đưa tay lên cao vái chào. 4. Chắp tay cúi chào. 5. Co đầu gối. 6. Quì thẳng. 7. Hai tay và 2 đầu gối đặt sát đất. 8. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều co lại. 9. Hai khuỷu tay, 2 ống chân và trán đều sát đất. Thứ tự của 9 cách lễ trên cho thấy rõ cách lễ bái từ khinh đến trọng. Cách lễ quì cũng có nhiều hình thức: 1.Đầu gối bên phải quì sát đất. 2. Đầu gối bên phải sát đất, đầu gối bên trái dựng đứng. Tỉ khưu thường lễ theo cách này. 3. Hai đầu gối quì sát đất, các đầu ngón chân cũng sát đất. Cách lễ này dễ thực hành hơn cách thứ 2 và tỉ khưu ni thường lễ theo cách này. 4. Quì lạy, cách lễ này đơn giản nhất và được người các xứ Tây vực và Ấn độ quen dùng. 5. Trán, 2 khuỷu tay và 2 đầu gối đều đặt sát đất, đây là cách lễ bái biểu lộ lòng tôn kính cao nhất. Ở Ấn độ, khi tín đồ lễ Phật hay tháp Phật, trước hết lễ 1 lễ, sau đó chắp tay đi vòng quanh theo phía bên phải, gọi là Nhiễu Phật (hoặc hành đạo), Hữu nhiễu, Toàn hữu, Toàn táp. Hoặc đi quanh 1 vòng, hoặc 3 vòng. Đi 3 vòng gọi là Hữu nhiễu tam táp(3 vòng quanh bên phải). Ở Trung quốc thời xưa, trong Thiền lâm, các sư thường trải tọa cụ để lễ bái, gọi là Triển bái. Trải hết tọa cụ và lễ 3 lễ, gọi là Đại triển tam bái; nếu lễ 9 lễ thì gọi là Đại triển cửu bái. Chúng tăng đồng loạt trải tọa cụ lễ 3 lễ gọi là Đồng triển tam bái. Nếu không trải tọa cụ mà chỉ gấp tư lại rồi đặt trán lên đó mà lễ thì gọi là Xúc lễ. Ở Ấn độ thường chỉ lễ 1 lễ, nhưng ở Trung quốc thì lễ 3 lễ, thậm chí 9 lễ, 18 lễ, 100 lễ... Còn có cách lễ Hòa Nam (Phạm: Vandana), cũng gọi Bà nam, Bàn na mị, Bàn đồ vị. Hán dịch: Lễ, qui lễ. Tức là cách lễ bái bày tỏ lòng cung kính đối với bậc Trưởng thượng. Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 27, Hòa nan có 3 hình thức: 1. Thân lễ bái. 2. Miệng nói Hòa nam. 3. Tâm cung kính. Trong đó, hình thức thứ 2 là nguyên thủy nhất. Ngoài ra, khi cử người khác đi lễ thay cho mình, thì trước hết mình phải lễ người mình cử đi (tức là gửi lễ), đây gọi là Đại lễ (lễ thay). [X. phẩm Bất khả tư nghị trong kinh Văn thù sư lợi vấn Q.thượng; kinh Phạm võng Q.hạ; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.1; luận Thập trụ tì bà sa Q.10; Thích thị yếu lãm Q.trung; chương Tôn tổ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng]. (xt. Hòa Nam, Lễ Bái).

lễ an vị phật

Consecration of the Buddha statue.

lễ bàn

(禮盤) Cũng gọi Cao tòa, Sư tử tòa. Chỗ tòa cao để lên ngồi lễ Phật hay thuyết pháp. Lễ bàn đã có từ thời đức Phật còn tại thế. Chiều cao của tòa này không nhất định, hoặc vuông vức mỗi chiều 3 thước (Tàu), hoặc chiều dài 6 thước, chiều ngang 3 thước, trên tòa trải 1 tấm nệm. Trong Thiền lâm, khi ngồi thiền thường dùng tòa này. Trong Mật giáo, khi tu pháp, phần nhiều lễ bàn được đặt ở mặt chính của đàn Tu di, phía trước lễ bàn đặt án kinh, bên phải để khánh, bên trái để lư hương(có khi để lư hương ở chính giữa). Hành giả lên lễ bàn này, lạy Phật 3 lạy rồi tụng kinh hoặc làm lễ tác bạch. Bốn mặt của lễ bàn có chữ (a) xếp thành cờ xí của địa luân, tượng trưng của đại địa Bồ đề, ý nghĩa này khiến hành giả khi tu quán, làm cho 3 nghiệp của mình khế hợp với tam mật của bản tôn, mà an trụ nơi tâm đại Bồ đề thanh tịnh vốn sẵn có. Lễ bàn có 2 loại: Lễ bàn hình cái rương (hòm) và lễ bàn chân mèo. Lễ bàn hình cái rương lại có 2 kiểu: Lễ bàn 8 sư tử và lễ bàn 1 sư tử. Tức 4 mặt lễ bàn mỗi mặt đều có khắc (hoặc vẽ) 2 con sư tử, gọi là Lễ bàn 8 sư tử; ở mặt chính của lễ bàn chỉ khắc (hoặc vẽ) 1 con sư tử thì gọi là Lễ bàn 1 sư tử. Sư tử khắc tượng trưng cho tòa Sư tử. Sư tử có nghĩa là tâm Bồ đề cho nên tòa 1 sư tử biểu thị cho tâm Bồ đề của Độc nhất thực tướng; còn tòa 8 sư tử thì biểu thị 8 thức của tâm Bồ đề ở Nhân vị. Ngoài ra, cũng có thể dùng hình mẫu đơn, chim công thay cho sư tử. [X. Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ pháp; Hữu bộ tì nại da Q.28]. (xt. Sư Tử Tòa, Cao Tòa).

lễ bàn giao

Ceremony of transfer.

lễ bái

Vandana or Namas-kara (skt)—Ban Đàm—Hòa Nam—Ý tôn kính (Phật, Pháp, Tăng) biểu hiện ra ở thân tướng (nghi thức cung kính nầy gồm chín điểm: đưa lời thăm hỏi, cúi đầu tỏ ý cung kính, giơ tay lên cao để vái, chắp tay để ngang mặt, cúi gập đầu gối, quỳ, tay chân chạm đất, toàn thân cúi gập, đầu và chân tay lễ chạm xuống đất)—To worship—To pay reverence—To salute to the Triratna (Buddha—Dharma—Sangha)—To invoke the name of the object of worship ; (禮拜) Gọi tắt: Lễ, Bái. Cử chỉ chắp tay cúi đầu bày tỏ ý cung kính.Thân lễ bái, miệng đọc tụng, xưng niệm, tán thán và ý quán xét là 5 chính hành đối với Phật. Nhưng nói theo nghĩa rộng, đối tượng lễ bái không phải chỉ giới hạn đối với Phật, mà đối với tháp, Trưởng lão, Hòa thượng, v.v... đều có thể dùng lễ bái để biểu tỏ lòng tôn kính. Như kinh Phạm võng quyển hạ bảo: Nếu thấy Thượng tọa, Hòa thượng, A xà lê, người đồng học, đồng hành... đều phải nghinh tiếp, lễ bái, thăm hỏi. Còn Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 thì nói: Đức Phật từng dạy các đệ tử, phàm khi đứng trước Tam bảo và các tỉ khưu lớn tuổi đều phải lễ bái. Tuy nhiên, phép lễ bái không phải lúc nào cũng hợp nghi, mà theo luật, những lúc đại tiểu tiện, ở trần, cạo tóc, thuyết pháp, súc miệng, ăn, uống, v.v... đều không được làm lễ. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng nêu ra năm trường hợp không được làm lễ: 1. Đọc kinh: Khi vị Thượng tọa đang tụng kinh, không được làm lễ. 2. Thượng tọa ở dưới thấp, mình ở trên cao, không được làm lễ. 3. Thượng tọa ở phía trước, mình đi đàng sau, không được làm lễ. 4. Không được ngồi trên tòa ngồi của mình hướng về phía Thượng tọa để làm lễ. 5. Lúc đội mũ, không được lễ Phật. Phép lễ bái vốn để bày tỏ ý cung kính, vì thế không được mang lòng kiêu ngạo. Theo thiên Trí kính trong Pháp uyển châu lâm quyển 20, thì ngài Lặc na ma đề đời Bắc Ngụy có nêu ra 7 cách lễ như sau. 1. Ngã mạn kiêu tâm lễ: Lễ bái với tâm kiêu mạn. 2. Xướng họa cầu danh lễ: Lễ bái để cầu danh. 3. Thân tâm cung kính lễ: Lễ bái với tâm cung kính. 4. Phát trí thanh tịnh lễ: Lễ bái vì mong cầu phát trí tuệ thanh tịnh. 5. Biến nhập pháp giới lễ: Khi tâm của chúng sinh và Phật thông nhau mà đạt được lí pháp giới, thì lễ 1 đức Phật tức là lễ bái tất cả các đức Phật. 1. Chính quán tu thành lễ: Trong khi lễ Phật thông qua chính quán, thì cũng như lễ bái tính Phật trong chính mình vậy. 2. Thực tướng bình đẳng lễ: Lấy Không làm đối tượng lễ bái, đây là nghĩa lễ bái mình người không hai. Trong 7 trường hợp lễ bái trên, 2 trường hợp đầu được xem là tà lễ, còn trường hợp 5, 6, 7 là chính lễ. Về sau, trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 27, ngài Trừng quán thêm vào 3 cách lễ nữa là: Đại bi lễ, Tổng nhiếp lễ và Vô tận lễ, thành là 10 phép lễ. Trong đó, Vô tận lễ là phép lễ cao tột nhất. Như đã trình bày ở trên, chủng loại và nghi thức lễ bái tuy nhiều và khác nhau, nhưng nói một cách đại thể, thì trong các cách lễ bái được truyền từ Ấn độ, cách lễ 5 vóc gieo xuống đất (Ngũ thể đầu địa) là trịnh trọng và cung kính nhất. Ngoài ra, lễ bái Phật, Pháp, Tăng gọi là Tam bảo lễ; lễ bái 3 thân: Bản nguyện thành tựu, Quang minh nhiếp thủ, Lai nghinh tiếp dẫn của đức Phật A di đà, gọi là Tam thân lễ; lễ bái Phật Thích ca, Phật A di đà, chư Phật 10 phương cho đến tất cả Hiền Thánh, gọi là Thất kính lễ. Còn trong Mật tông, lễ khắp tất cả các đức Phật, gọi là Phổ lễ; bài chân ngôn được tụng khi thực hành Phổ lễ, gọi là Phổ lễ chân ngôn. [X. phẩm Tà tụ trong kinh Tăng nhất a hàm Q.27; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.15; luật Ma ha tăng kì Q.27, 35; Thiện kiến luật tì bà sa Q.18, môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Hòa Nam, Lễ).

lễ bái ngũ công đức

(禮拜五功德) Năm công đức của sự lễ bái. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 24, người cung kính lễ bái đức Như lai, do thấy thân tướng tốt đẹp của Ngài mà phát tâm hoan hỉ, sinh lòng khát ngưỡng, xưng niệm danh hiệu, rải hoa, thắp đèn, bố thí, cúng dường, nhờ đó mà đời sau sẽ được 5 thứ công đức thù thắng: 1. Hình tướng xinh đẹp. 2. Giọng nói hay. 3. Có nhiều của báu. 4. Sinh vào nhà cao sang. 5. Sinh lên các cõi trời. [X. Pháp uyển châu lâm Q.20].

lễ bái nhật

Sunday.

lễ bái phật

Worshipping the Buddhas.

lễ bái đường

Temple—Ceremonial Hall.

lễ chào cờ

Flag-rising ceremony.

lễ cầu siêu

Requiem.

lễ giáng phước

Benediction.

lễ giáo

Ceremony and education.

lễ hạ điền

Vào ngày nầy, Vua và ấu Hoàng thái tử, mẹ nuôi và triều thần xuống cày ruộng—Ploughing Festival—On this day, the King and the Baby Prince and his nurse and many other members of the Royal family went to the field to plough.

lễ hội

Religious observances

lễ khai mạc

Opening ceremony.

lễ khánh thành chùa

Inauguration ceremony (of a new temple)—Dedication ceremony.

lễ kính

To worship—To pay respect—Reverence. ; (禮敬) Cũng gọi Kính lễ. Tức là cung kính lễ bái chư Phật, là đại nguyện thứ nhất trong 10 hạnh nguyện của bồ tát Phổ hiền. [X. kinh Hoa nghiêm Q.13 (bản 40 quyển); kinh Đại bảo tích Q.43; luận Phương tiện tâm]. (xt. Hòa Nam, Kính Lễ, Lễ).

lễ kính phật

To prostrate respectfuly to Buddhas—See Lễ Kỉnh Chư Phật, and Phổ Hiền Hạnh Nguyện.

lễ kỉnh chư phật

Worshiping and respecting all Buddhas (prostrate and worship the Buddhas)—Đây là hạnh nguyện đầu tiên trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Lễ kỉnh chư Phật là luôn tín tâm tin và hiểu chư Phật in như các Ngài đang hiện diện trước mắt ta, là tam nghiệp thân, khẩu, ý hằng thanh tịnh. Hư không vô tận thì lễ kỉnh cũng vô cùng; chúng sanh vô lượng, phiền não vô tân thì lễ kỉnh cũng vô cùng vô tận không dứt—This is the first of the ten conducts and vows of Samantabhadra Bodhisattva (Universal Worthy Bodhisattva), means to have a mind of deep faith and understanding of all Buddhas as if they were before our eyes, and to keep our body, mouth and mind karma completely. The realm of space is inexhausted, our worshiping and respecting all Buddhas never end; the realm of living beings is inexhausted and the afflictions of living beings are inexhaustible, our worshiping and respecting all Buddhas never end—See Phổ Hiền Hạnh Nguyện, and Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện in Appendix A.

lễ kỷ niệm

Commemoration—Commemorative ceremony.

lễ lạc thành

See Lễ khánh thành.

lễ lạy

To prostrate.

lễ mạo

Courtesy—Politeness.

lễ nghi

Rites—Rituals—Ceremonies

lễ nghĩa

Politeness and reason.

lễ phép

Politeness—Courtesy.

lễ phóng sanh

Set-Life-Free Ceremony (to set life free).

lễ phật sám hối

Practice of repentance and bowing to the Buddhas.

lễ phật đản

Vesak (wesak)—Buddha's birthday anniversary (15th of the fourth month, Birthday, Enlightenment, and Nirvana of the Buddha)—See Phật and Phật Đản.

lễ phục

Formal dress—Formal uniform

Lễ Quang

(禮光, Raikō, ?-?): vị tăng của của Tam Luận Tông Nhật Bản, sống dười thời đại Nại Lương, húy là Lễ Quang (禮光) hay Lại Quang (賴光, Raikō). Ông theo hầu Trí Tạng (智藏, Chizō) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), cùng với Trí Quang (智光, Chikō) học về Tam Luận. Ông trú tại chùa này và xiển dương giáo học Tam Luận; đến cuối đời thì quay về với Tịnh Độ Giáo, chuyên tâm hành trì pháp môn Quán Tướng Niệm Phật và mấy năm sau thì viên tịch. Trí Quang mộng thấy Lễ Quang được vãng sanh về thế giới Cực Lạc, bèn cho vẽ đồ hình A Di Đà Tịnh Độ; đó chính là bức Trí Quang Mạn Trà La (智光曼茶羅).

lễ rửa tội

Ngoại đạo cho rằng dù họ có làm gì đi nữa, tội lỗi của họ sẽ được hoàn toàn rữa sạch bởi cái gọi là rữa tội—Externalists believe that no matter what they do, their sins will be completely washed by a so-called Baptism.

lễ siêu độ

Absolution.

lễ sám

Lễ bái Tam Bảo và sám hối những tội lỗi mà mình đã gây tạo—Worship and repentance, penitential offering. **For more information, please see Sám Hối in Vietnamese-English Section. ; (禮懺) Cũng gọi Bái sám. Lễ bái chư Phật, Bồ tát để sám hối những nghiệp ác mà mình đã gây ra. Ngài Trí thăng đời Đường đã tổng hợp các bản sám pháp từ trước mà soạn thành Tập chư kinh lễ sám nghi 2 quyển, gần đây, trong Thiền lâm thường dùng các bản lễ sám như: Lương hoàng bảo sám, Từ bi thủy sám, Dược sư sám, Tịnh độ sám, Kim cương sám, v.v... để lễ tụng và khá thịnh hành. Lễ sám thời xưa thì hoặc tự mình lễ sám, hoặc thỉnh chư tăng lễ thay. Còn hiện nay thì lễ sám phần nhiều thỉnh tăng, chứ ít khi tự mình lễ sám. (xt. Sám Pháp, Sám Hối).

lễ thoại

(禮話) Lời hỏi thăm sức khỏe trong Thiền lâm. Điều Quải đáp trong Thiền uyển thanh qui quyển 1 (Vạn tục 111, 440 hạ), ghi: Tham đầu cúi mình đến gần phía trước (...) vái 1 vái rồi thưa: Trong mùa lạnh (hay ấm tùy theo mùa) này, cúi mong tôn thể của Hòa thượng được bình an vạn phúc. [X. môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

lễ thất 49 ngày

Forty-Nine-Day Ceremony—Lễ mà gia đình người chết cử hành vào ngày cuối của thời kỳ “Thân Trung Ấm”—A memorial ceremony performed on behalf of a deceased on what is believed by Buddhists to be the final day of the Bardo Period (in the intermediate state between death and rebirth).

lễ trung thu

Mid-Autumn Festival.

lễ truyền giới

Ordination Ceremony.

lễ tuyên thệ

Sworn Ceremony

lễ tán

(禮贊) I. Lễ Tán. Cung kính, lễ bái và tán thán công đức của Tam bảo. Bài văn lễ tán gọi là Lễ tán văn, như Vãng sinh lễ tán của ngài Thiện đạo đời Đường, Thích ca Như lai Niết bàn lễ tán của ngài Nhân nhạc đời Tống, v.v... II. Lễ Tán. Gọi đủ: Vãng sinh lễ tán kệ. Cũng gọi: Lục thời lễ tán. Tác phẩm, do ngài Thiện đạo soạn vào đời Đường, nói rõ về nghi thức hành trì cầu vãng sinh Tịnh độ. (xt. Vãng Sinh Lễ Tán Kệ).

Lễ túc

(s: pāda-vandika, 禮足): lạy dưới chân; tức là lấy đảnh đầu, mặt lạy xuống chạm với chân Phật, để thể hiện sự quy kính tuyệt đối về thân và tâm; còn gọi là đảnh lễ (頂禮), tiếp túc tác lễ (接足作禮, lễ lạy chạm chân), đầu diện lễ túc (頭面禮足, đầu mặt lạy dưới chân), khể thủ lễ túc (稽首禮足, cúi đầu lạy dưới chân), đảnh lễ song túc (頂禮雙足, đầu lạy hai chân), khể thủ tiếp túc (稽首接足, cúi lạy chạm chân). Đây là hình thức thể hiện sự tôn kính tối thượng của Ấn Độ. Trong thân thể con người, đầu được xem là tối cao, tối thượng, nơi tôn kính và chân là chỗ thấp kém nhất, chạm đất; nên thành ngữ Việt Nam có câu: “đầu đội trời, chân đạp đất”. Thế nhưng, một khi lấy đầu hạ thấp xuống mà đảnh lễ sát chân của đấng tôn kính, hoặc lạy xuống đất; có nghĩa là tỏ bày sự cung kính tột bực. Cho nên, trong các kinh điển còn ghi lại cho biết rằng khi bất cứ người nào đến thăm viếng, thọ pháp với đức Thế Tôn, trước hết đều đảnh lễ dưới chân Ngài, rồi đi nhiễu quanh Ngài và ngồi qua một bên. Như trong Phật Thuyết A Nan Đồng Học Kinh (佛說阿難同學經, Taishō Vol. 2, No. 149) có đoạn: “Thị thời A Nan, chí Thế Tôn sở, đáo dĩ đầu diện lễ túc, tại nhất diện lập (是時阿難、至世尊所、到已頭面禮足、在一面立, lúc bấy giờ A Nan, đến chỗ của Thế Tôn, khi đến nơi thì đầu mặt cúi lạy dưới chân Ngài, rồi đứng qua một bên).” Hay như trong Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (重治毗尼事義集要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 719) quyển 15 có câu: “Cấp Cô Trưởng Giả, mỗi hướng Kỳ Viên thọ tân Tỳ Kheo kinh, đản tất tiên lễ túc nhi hậu thuyết pháp (給孤長者、每向祇園授新比丘經、但必先禮足而後說法, Trưởng Giả Cấp Cô Độc, mỗi khi đến Kỳ Viên giảng kinh cho các Tỳ Kheo mới, đều trước hết lạy dưới chân [họ] rồi sau đó mới thuyết pháp).” Trong Phước Cái Chánh Hành Sở Tập Kinh (福蓋正行所集經, Taishō Vol. 32, No. 1671) quyển 3 cũng có đoạn rằng: “Vãng nghệ Phật sở, đầu diện lễ túc, tâm hoài ưu não, thế lệ bi khấp, sám tạ tiên cữu (往詣佛所、頭面禮足、心懷憂惱、涕淚悲泣、懺謝先咎, đến thăm chỗ Phật, đầu mặt lạy duới chân, tâm lo sầu não, nước mắt ràn rụa, sám hối tội trước).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (毗尼日用切要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) có dẫn bài kệ Quán Tưởng Lễ Phật của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利): “Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì, ngã thử đạo tràng như đế châu, thập phương chư Phật ảnh hiện trung, ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, đầu diện tiếp túc quy mạng lễ (能禮所禮性空寂、感應道交難思議、我此道塲如帝珠、十方諸佛影現中、我身影現諸佛前、頭面接足歸命禮, người lạy đấng được lạy tánh vắng lặng, cảm ứng đạo giao tiếp khó nghĩ bàn, đạo tràng con đây như châu ngọc vua, mười phương chư Phật hình ảnh hiện ra, đầu mặt chạm chân quy mạng kính lạy).”

lễ túc

(禮足) Cũng gọi Đính lễ, Tiếp túc tác lễ, Đầu diện lễ túc, Khể thủ lễ túc, Đính lễ song túc.Người lễ đặt đỉnh đầu của mình chạm vào chân đức Phật, cách lễ này biểu thị thân tâm người lễ bái tuyệt đối qui y. Cứ theo Thích môn qui kính nghi quyển hạ, đầu mặt lễ chân Phật là nghi thức lễ bái chính. Trong các kinh luật phần nhiều gọi là Đầu diện lễ túc hoặc đính lễ Phật túc (đỉnh đầu lễ chân). Bởi vì chỗ cao nhất trong thân thể của mình là đỉnh đầu, chỗ thấp nhất trong thân thể của người là chân, cho nên đem chỗ cao nhất của mình tôn kính chỗ thấp nhất của người là bày tỏ sự kính lễ cùng tột. Luật Ma ha tăng kì quyển 33 (Đại 22, 496 thượng), nói: Đến chỗ đức Phật, đầu mặt lễ chân Ngài. [X. kinh Đại bát nhã Q.1; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; Hữu bộ bách nhất yết ma Q.1; luận Câu xá Q.1]. (xt. Tiếp Túc Tác Lễ, Lễ).

lễ tế

offerings.

lễ tục

Ceremony and custom.

lễ vu lan

Filiality Ceremony—See Ullambana.

lễ vật

Offering—Gift—Present.

lễ xá tội vong nhân

Absolution of the dead—See Ullambana.

lễ điểm đạo truyền giới

Initiation Ceremony.

lễ đường

Place of worship.

lễ độ

Politeness—Courtesy.

lệ

1) Mỹ lệ: Beautiful. 2) Nước mắt: Tears. 3) Thông lệ: Custom.

Lệ hành

(勵行): có hai nghĩa chính. (1) Mài giũa, trau dồi đức hạnh. Như trong bức Dữ Nột Trai Tiên Sinh Thư (與訥齋先生書) của Phương Hiếu Nhu (方孝孺, 1357-1402) nhà Minh có đoạn: “Do đương sức thân lệ hành, dĩ thiện quý tử tôn, tỉ bách tuế chi hậu, hương xưng thiện nhân (猶當飭身勵行、以善遺子孫、俾百歲之後、鄉稱善人, còn phải chỉnh sửa thân, trau dồi đức hạnh, lấy thiện để truyền lại cho con cháu, khiến sau khi trăm tuổi, xóm làng khen ngợi là người lành).” (2) Tận lực thực hành. Như trong Thanh Sử Cảo (清史稿), Hậu Phi Truyện (后妃傳) 1, phần Văn Tông Hiếu Khâm Hiển Hoàng Hậu (文宗孝欽顯皇后), có câu: “Thái Hậu lũ hạ chiếu: 'Mẫu tử nhất tâm, lệ hành tân chính' (太后屢下詔、母子一心、勵行新政, Thái Hậu nhiều lần ban chiếu rằng: 'Mẹ con một lòng, tận lực thi hành chính sách mới').”

lệ luật

Custom and law.

lệ làng

Village customs

lệ thuộc

Dependent—Subordinate.

lệ tháp

An elegant pagoda.

lệ thời tác pháp

(例時作法) Cũng gọi Lệ thời sám pháp, A di đà sám pháp, Niệm Phật sám pháp. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho pháp cúng dường được thực hành hàng ngày của tông Thiên thai và của phái Bản nguyện tự thuộc tông Chân ngôn, Nhật bản. Pháp tu này do ngài Viên nhân mang từ núi Ngũ đài của Trung quốc về Nhật bản và lần đầu tiên được tổ chức tu tập tại Thường hành tam muội đường ở trên núi Tỉ duệ. Pháp tu này lấy việc tụng kinh A di đà, hoặc niệm danh hiệu Phật theo nhịp điệu chậm rãi, khoan thai làm trọng tâm tu tập.

lệ trụy

Rơi lệ—Falling tears.

lệ trụy tôn giả

Tôn giả hay rơi lệ (sau khi Đức Phật diệt độ có vị tôn giả có lòng đại bi, thường thương xót chúng sanh lăn trôi chịu khổ trong ba đường nên hay khóc lóc)—“Falling-Tears” Honourable One (saint, sage, or arhat).

lệ tạng

Kinh Tạng của Triều Tiên—A Korean Tripitaka.

lệ đoạ tôn giả

(泪墮尊者) Tôn giả rơi lệ, tên tôn xưng 1 vị Đại A la hán sống sau thời đức Phật nhập diệt. Vị A la hán này chứng được Túc mệnh trí, (trí biết rõ các việc đời trước), tự thấy mình ở đời quá khứ phải chịu khổ trong 3 đường (địa ngục, quỉ đói, súc sinh) cho nên khởi tâm đại bi thương xót tất cả chúng sinh còn đang phải chịu khổ, vì thế mà Ngài thường bị rơi lệ, bởi vậy gọi Ngài là Lệ đọa tôn giả. [X. Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.1].

lệch

Crooked.

lệch hướng

To be side-tracked

lỉnh nghỉnh

A great deal—Many.

lịch

1) Calendar—Astronomical calculations. 2) Trải Qua: To pass through (over or to). ; (曆) Phương pháp suy tính theo sự vận hành của các thiên thể mà định ra năm, tháng, ngày, giờ, gọi là Lịch. Lịch Tàu tính theo mặt trăng mà định, gọi là Âm lịch; lịch Tây tính theo vòng trái đất quay quanh mặt trời mà định, gọi là Dương lịch. Vào khoảng thế kỉ thứ I trước Tây lịch, người Ấn độ đã dùng âm lịch. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì ngày trăng tròn gọi là Nguyệt sơ (đầu tháng). Mỗi tháng từ ngày trăng tròn (15) đến ngày không trăng (29, nếu là tháng thiếu, 30, nếu là tháng đủ) gọi là Hắc phần (phần đen, Phạm: Kfwịa-pakwa, tùy theo tháng thiếu, tháng đủ mà phần đen có 14 ngày, hoặc 15 ngày khác nhau); từ ngày trăng mới nhú đến ngày trăng tròn, gọi là Bạch phần (phần trắng, Phạm:Zukla). Trong 1 năm chia làm 6 mùa: 1. Tiệm nhiệt (nóng dần): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3. 2. Thịnh nhiệt (nóng gắt): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5. 3. Vũ thời (mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7. 4. Mậu thời (mùa cây cỏ mọc tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9. 5. Tiệm hàn (lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11. 6. Thịnh hàn (rét đậm): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng giêng. Phật giáo thì trong 1 năm chia làm 3 mùa: 7. Nhiệt thời (mùa nắng): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 5. 8. Vũ thời (mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9. 9. Hàn thời (mùa rét): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng giêng. Hoặc chia làm 4 mùa: Xuân,Hạ,Thu, Đông. Tên của 12 tháng trong 1 năm: Tháng Chế đát la (Phạm:Caitra): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 2. tháng phệ xá khư (phạm:vaizàkha)., tháng thệ sắt tra (phạm:jyewỉha). , tháng át sa đồ (phạm:àwàđha). , tháng thất la phạt noa (phạm: zravaịa). , tháng bà la bát đà (phạm: bhàdrapada). , tháng át thấp phược dữu xà (phạm: azvayuja). , tháng ca thích để ca (phạm: kàrttika). , tháng mạt già thủy la (phạm: margazìrwa). , tháng báo sa (phạm:pauwa). , tháng ma già (phạm:màgha). , tháng phả lặc lũ noa (phạm: phàlguna): từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 15 tháng giêng. tại trung quốc, từ niên hiệu thái sơ năm đầu (104 trước tây lịch) đời tây hán đến cuối đời thanh, đã có tất cả 46 lần đổi lịch. lịch pháp trung quốc giống với lịch pháp ấn độ, đại khái cũng sử dụng âm lịch, trong đó, lịch đại diễn do ngài nhất hạnh làm ra được dùng trong khoảng 33 năm bắt đầu từ năm khai nguyên 17 (729) đời đường. tại nhật bản, vào năm suy cổ thiên hoàng thứ 10 (602), vị tăng bách tế (triều tiên ngày nay) là ngàiquán lặc truyền lịch nguyên gia đời lưu tống, trung quốc, đến nhật bản và bắt đầu được sử dụng vào năm suy cổ thiên hoàng 12 (604). từ năm thiên bình bảo tự thứ 7 (763) trở đi, trong khoảng 94 năm, nhật bản dùng lịch đại diễn của trung quốc. cho mãi đến niên hiệu trinh hưởng năm đầu (1684), 1 người nhật tên là bảo tỉnh xuân hải làm ra lịch trinh hưởng, từ đó nhật bản mới dùng lịch của chính mình. nhưng từ minh trị duy tân năm thứ 5 (1872) cho đến nay thì sử dụng dương lịch. giữa lịch pháp và các ngày lễ của phật giáo có mối quan hệ mật thiết, như các ngày đức phật thích ca giáng sinh, thành đạo, nhập niết bàn, v.v... đối với ấn độ có nhiều thuyết khác nhau, đó là do sự sai khác về lịch pháp mà ra. như ngày kị tông tổ của các tông ở nhật bản hiện nay không vì đổi lịch mà có sai khác, đó là vì ngày tháng của lịch cũ được tính theo ngày tháng tương đương của lịch mới. chẳng hạn như ngày kị của ngài đạo nguyên tông tào động là ngày 28 tháng 8 của lịch cũ (âm lịch) được đổi thành ngày 29 tháng 9 của lịch mới (dương lịch), nhưng ở nông thôn thì vì lí do cày cấy, trồng trọt và các lễ hội như hội vu lan bồn v.v... vẫn dùng lịch cũ. ngoài ra, lựa chọn 1 số định tinh tương đối sáng tỏ hơn ở gần hoàng đạo (tức vòng tròn lớn giao nhau giữa quĩ đạo trái đất quay quanh mặt trời với thiên cầu) chia làm 28 tổ: mão, tất, tuy, sâm, tỉnh, quỉ, liễu (đều thuộc phương đông), tinh, trương, dực, chẩn, dốc, cang, đê (đều thuộc phương nam), phòng, tâm, vĩ, cơ, đẩu, ngưu, nữ (đều thuộc phương tây), hư, nguy, thất, bích, khuê, lâu, vị (đều thuộc phương bắc), gọi là nhị thập bát tú (28 vì sao). thuyết nhị thập bát tú đã thịnh hành ở ấn độ rất sớm, nhưng ấn độ cho rằng sao ngưu không có liên quan gì với sự vận hành của mặt trăng, như luận thụ để sa trong 6 bộ luận của ngoại đạo cũng chỉ nêu tên của 27 sao, do đó có thể biết đời sau ở ấn độ chỉ lưu hành thuyết 27 sao là chính. lại vì tính chất của 27 sao đều khác nhau, cho nên phương pháp tính lấy các ngày tương đương với 27 sao mà bàn về lành, dữ; hoặc đem ngày tháng năm sinh của người phối với 27 sao để đoán vận mệnh tốt, xấu v.v... đều gọi là phép chiêm tinh. hai mươi bảy sao này được chia làm 7 loại là: 1. an trùng tú: tất, dực, đẩu, bích. 2. hòa thiện tú: tuy, dốc, phòng, khuê. 3. độc hại tú: sâm, liễu, tâm, vĩ. 4. cấp tốc tú: quỉ, chẩn, vị, lâu. 5. hung ác tú: tinh, trương, cơ, thất. 6. khinh táo tú (hành tú): tỉnh, cang, nữ, hư, nguy. 7. cương nhu tú: mão, đê. tại các nước châu á từ xưa cũng đã lưu hành thuyết cho rằng sự vận hành của các vì tinh tú có liên quan đến ngày sinh của con người và có thể căn cứ vào đó mà tính toán để đoán lành dữ, tốt xấu. trong các kinh điển phật như kinh ma đăng già, kinh xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú, kinh phật mẫu đại khổng tước minh vương, kinh tú diệu v.v... cũng có những thuyết này. tại nhật bản, lấy ngày đầu năm theo lịch cũ là tiên thắng, kế đó là hữu dẫn, tiên phụ, phật diệt, đại an và xích khẩu, theo thứ tự thay nhau để biểu thị sự tốt, xấu trong các ngày đó, gọi là lục diệu nhật, phong tục này bắt nguồn từ trung quốc. những tên gọi của các ngày nói trên bắt đầu xuất hiện từ thời đại giang hộ, nhưng về nguyên do tại sao đặt các tên như thế thì không được rõ.

lịch bịch

To tread heavily.

lịch duyên đối cảnh

Những hoàn cảnh kinh qua hằng ngày (những cảnh mà các giác quan phải kinh qua)—Passing circumstances and the objects of the senses.

lịch duyên đối cảnh tu

(曆緣對境修) Cũng gọi: Lịch duyên đối cảnh tu chỉ quán. Một trong những phương pháp tu tập Chỉ quán. Duyên, chỉ cho 6 duyên: Đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc, nói năng; Cảnh, chỉ cho 6 trần cảnh (6 đối tượng): Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nghĩa là trong tất cả sinh hoạt hàng ngày, khi đối trước các trần cảnh, hành giả phải thường xuyên tu tập Chỉ quán (định và tuệ) thì mới có thể thông đạt được Phật pháp. Ma ha chỉ quán quyển 7 (Đại 46, 101 hạ), nói: Nếu quán hạnh sáng tỏ thì có thể lịch duyên đối cảnh và đối với cảnh nào cũng được tự tại. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2 phần 2].

lịch duyệt

Experienced.

lịch kiếp

1) Trải qua một kiếp: To pass through a kalpa. 2) Thời hạn thành hoại của một kiếp: In the course forming and destructing of a kalpa. ; (曆劫) Cũng gọi Kinh kiếp, Cửu viễn. Trải qua nhiều kiếp, hình dung thời gian lâu xa, dài dặc. Kiếp, là dịch âm của chữ Kalpatrong tiếng Phạm. Về phương diện thời gian, vũ trụ này trải qua 1 lần thành trụ hoại không gọi là 1 kiếp, cho nên sự thành hoại liên tục của vũ trụ vô cùng gọi là Lịch kiếp. Phẩm Phổ môn kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 57 hạ), nói: Thệ rộng sâu như biển, lịch kiếp chẳng nghĩ bàn; hầu nhiều nghìn ức Phật, phát đại nguyện thanh tịnh. Trong câu Lịch kiếp chẳng nghĩ bàn nghĩa là trải qua vô lượng vô số kiếp không thể tưởng tượng được. Trong các kinh còn có những dụng ngữ như: Lịch kiếp tu hành, lịch kiếp vu huýnh (trải nhiều kiếp xa lắc), lịch kiếp tật thành. Ngoài ra, sự chân thật tuyệt đối bất biến, bất sinh bất diệt, gọi là Lịch kiếp vô hà (trải qua nhiều số kiếp không lỗi lầm, không tì vết). [X. kinh Đại vô lượng thọ Q.thượng; phẩm Thập công đức kinh Vô lượng nghĩa; Phật sở hành tán Q.3; Ngu thốc sao Q.thượng; luận Thủ hộ quốc gia; Thập pháp giới minh nhân quả sao].

lịch kiếp vu hồi

(曆劫迂回) Pháp môn của Tiệm giáo. Nghĩa là trải qua 3 a tăng kì, 100 đại kiếp tu hành mới thành Phật, nên gọi là Lịch kiếp vu huýnh (trải qua nhiều kiếp lâu xa dằng dặc). Trái lại với pháp môn Đốn giáo, thành Phật chỉ trong một niệm.

lịch nhiên

Tình trạng phân biệt rõ ràng—Separately. ; (曆然) Phân biệt rõ ràng. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 119 thượng), nói: Hết thảy giáo pháp hiển thể chân như, không ngại sự tướng, lịch nhiên sai biệt. [X. Triệu luận].

lịch sử

History.

lịch sự

Polite—Civil—Courteous—Gallant—Elegant.

lịch thiệp

Gentleness.

lịch đại pháp bảo kí

(歷代法寶記) Cũng gọi Sư tư huyết mạch truyện, Định thị phi tồi tà hiển chính phá hoại nhất thiết tâm truyện, Tối thượng thừa đốn ngộ pháp môn.Tác phẩm, 1 quyển, được soạn vào đời Đường, không rõ soạn giả, thu vào Đại chính tạng tập 51. Nội dung sách này ghi chép sự tích và sự truyền thừa từ đức Thích ca đến 28 vị Tổ sư Ấn độ, 6 Tổ Trung hoa và các Thiền sư Trí tiển, Xử tịch, Vô tướng, Vô trụ cùng Thiền phái Bảo đường. Cuối sách có phụ thêm 1 bài chân tán và lời tựa do môn nhân của Hòa thượng chùa Bảo đường viết. Sách này được tìm thấy ở Đôn hoàng. Hiện nay, Bảo tàng viện nước Anh và Thư viện Quốc dân nước Pháp, mỗi nơi đều cất giữ 1 bản chép tay. [X. Minh sa dư vận giải thuyết].

Lịch Đại Pháp Bảo Ký

(歷代法寳記, Rekidaihōbōki): 1 quyển, thư tịch thuộc loại Đăng Sử Thiền Tông của hệ Tịnh Chúng Tông (淨眾宗) và Bảo Đường Tông (保唐宗) đã từng hưng thạnh một thời tại trung tâm Tịnh Chúng Tự (淨眾寺) cũng như Bảo Đường Tự (保唐寺) ở vùng Kiếm Nam (劍南), Tứ Xuyên (四川). Chẳng bao lâu sau khi Vô Trú (無住, 714-774) ở Bảo Đường Tự qua đời, tác phẩm này được đệ tử ông biên tập nên. Đối lập với Lăng Già Sư Tư Ký (楞伽師資記), loại Đăng Sử của hệ Bắc Tông, nó là loại sử thư trường thiên của Thiền Tông, chủ trương tương thừa từ vị tổ thứ nhất Bồ Đề Đạt Ma Đa La (菩提達磨多羅), trải qua Lục Tổ Huệ Năng (慧能) cho đến Trí Tiển (智銑), Xử Tịch (處寂), Vô Tướng (無相), Vô Trú (無住). Bản Đôn Hoàng có ký số S516, S162, S1776, S5916, P2125, P3717, Thạch Tỉnh Quang Hùng Cựu Tàng Bản (石井光雄舊藏本).

lịch đại tam bảo kỉ

(歷代三寶紀) Cũng gọi Khai hoàng Tam bảo lục, Khai hoàng lục, Tam bảo lục, Trường phòng lục, Phòng lục. Tác phẩm, 15 quyển, do ông Phí trường phòng soạn vào năm Khai hoàng 17 (597), đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này ghi chép về việc hoằng pháp từ sau khi Phật giáo được truyền vào Trung quốc cho đến đời Tùy và mục lục những kinh phiên dịch, các sáng tác và soạn thuật. Ngoài ra còn có phụ thêm các truyện kí trong nhà Phật. Toàn sách chia làm 4 phần: 1. Ba quyển đầu là nói về các Đế vương, gồm niên kỉ các triều đại từ nhà Chu đến nhà Tùy và các việc trọng đại trong lịch sử Phật giáo, như suy định năm đản sinh của đức Phật là năm Chu trang vương thứ 10 (689 trước Tây lịch). 2. Chín quyển kế tiếp là nói về sử biên niên các thời đại dịch kinh, gồm có: Quyển 4 ghi chép về đời Hậu Hán, quyển 5 ghi chép về đời Ngụy Ngô, quyển 6 ghi chép về đời Tây Tấn, quyển 7 ghi chép về đời Đông Tấn, quyển 8 ghi chép các đời Tiền Tần và Hậu Tần, quyển 9 ghi chép về các đời Tây Tần, Bắc Lương, Ngụy, Tề, Trần, quyển 10 ghi chép về đời Tống, quyển 11 ghi chép các đời Tề, Lương, Chu, quyển 12 ghi chép về đời Tùy. Đầu mỗi quyển có lời tựa, kế đến liệt kê mục lục các kinh và theo thứ tự phụ thêm lược truyện của người dịch. 3. Quyển 13 và quyển 14 lần lượt ghi chép mục lục của các kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa được đưa vào Tạng, tất cả có 1.076 bộ, 3.325 quyển. 4. Quyển 15 gồm biểu dâng bộ Khai hoàng Tam bảo lục này lên vua và tổng mục lục của toàn sách. Xuất tam tạng kí tập do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương ghi chép tường tận về các kinh được dịch ở thời Nam Triều, còn sách này thì ghi chép tỉ mỉ về các kinh được dịch vào thời Bắc Triều, đây là một đặc sắc của sách này, cũng là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo đời Tùy. Một điểm đặc biệt nữa của sách này là về niên đại thì coi trọng Tề, Lương thuộc Nam Bắc triều, mà xem nhẹ Bắc Ngụy. Thứ tự biên niên là: Tấn, Tống, Tề, Lương, Chu, Tùy. Thể lệ này khác với các sử gia thời Tư trị thông giám trở về trước, nhưng phản ánh được tâm lí chung của người đời Tùy. Cho nên, về phương diện lịch sử, sách này còn phải cần rất nhiều tư liệu để bổ túc. Ngoài ra, về mặt tư liệu, sách này có một số trích dẫn lầm lẫn. Vả lại, đối với chuẩn tắc biên soạn Nhập tạng lục, Đại tiểu thừa kinh lục, v.v... thỉnh thoảng cũng có sự thiên lệch, sai sót, vì thế mà bị Đại đường nội điển lục quyển 5 chê là vàng thau lẫn lộn, rồi Khai nguyên thích giáo lục quyển 10 cũng phê bình là sự thật bị lẫn lộn. Hơn nữa, sách này còn đưa quá phân nửa trong số hơn 1.000 bộ kinh điển mất tên người dịch được ghi trong 2 bộ kinh lục lớn trước đó, là Tông lí chúng kinh mục lục do ngài Đạo an biên soạn vào đời Phù Tần và Xuất tam tạng kí tập do ngài Tăng hựu biên soạn vào đời Lương, gán cho các nhà dịch kinh thời cổ như An thế cao, v.v... Vì việc làm này thiếu chứng cứ và trái với thường tình nên đã bị các học giả hiện đại như Tiểu dã Huyền diệu của Nhật bản, v.v... chê trách nặng nề. [X. truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục Q.9; Tùy thư kinh tịch chí 29; Đường thư văn nghệ chí 49; Phật thư giải thuyết đại từ điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 2 (Tiểu dã Huyền diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển).

lịnh

1) Command—Order. 2) Your.

lịnh huynh

Your elder brother.

lịnh lang

Your son.

lịnh muội

Your younger sister.

lịnh nghiêm

Your father.

lịnh nhạc

Your father-in-law.

lịnh nhạc mẫu

Your mother-in-law.

lịnh tỷ

Your older sister.

lịnh ái

Your daughter.

lịnh đường

Your mother.

lịnh đệ

Your younger brother.

lọc lừa

To choose carefully.

lọm khọm

Worn out with old age.

lỏng bỏng

Watery.

lố bịch

Ridiculous.

lối

1) Manner—Way—Method. 2) About—Approximately. 3) Proud—Haughty—To give oneself airs. 4) Path—Way.

lối sống

Way of life.

lối sống thế tục

Worldly life.

lối sống đạo thật sự

A real religious way of living.

lối tu

1) Phương pháp tu: Manner (way or method) of cultivation. 2) Pháp môn tu: Dharmar-door of cultivation.

lồi lõm

Convex and Concave.

lồng lộn

To be excited.

lồng lộng

Immense—High and large.

lỗ

Ngu khờ—Stupid—Vulgar.

Lỗ Ban

(魯般、魯班): xem Lỗ Thị (魯氏) bên dưới.

lỗ chỗ

Full of holes.

lỗ la bà

Raurava (skt)—Hiệu Kiếu Địa Ngục—See Địa Ngục (A) (a) (4).

Lỗ Thị

(魯氏): tức Lỗ Ban (魯般、魯班), người thợ kiến trúc kiệt xuất, nổi tiếng của nước Lỗ dưới thời nhà Chu, ông họ là Công Thâu (公輸), kỹ nghệ siêu tuyệt, có nhiều phát minh lạ, đời sau tôn sùng ông là tổ sư của nghề mộc. Có thuyết cho rằng Công Thâu Tử (公輸子) cùng nhân vật với Lỗ Ban này, nhưng cũng có thuyết cho là khác. Tương truyền ông chế ra cái thang dài đến tận mây xanh (vân thê [雲梯], dùng làm khí giới tấn công thành quách) và con diều gỗ (mộc diên [木鳶], có thể giống như chiếc máy bay). Như trong Mạnh Tử (孟子), phần Ly Lâu Thượng (離婁上) có câu: “Ly Lâu chi minh, Công Thâu Tử chi công, bất dĩ quy củ, bất năng thành phương viên (離婁之明、公輸子之巧、不以規矩、不能成方員, sự sáng suốt của Ly Lâu, tài khéo tay của Công Thâu Tử, nếu không theo quy củ, không thể thành vuông tròn).” Hay trong Nhật Dụng Tục Tự (日用俗字), phần Mộc Tượng (木匠) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có giải thích rằng: “Mộc tượng tổ sư thị Lỗ Ban, gia hỏa học thành tải nhất thuyền (木匠祖師是魯班、家伙學成載一船, tổ sư nghề mộc là Lỗ Ban, từ những điều góp nhặt học thành, chở đầy một thuyền).” Về lai lịch của ông, trong Tây Dương Tạp Trở (酉陽雜俎) Tục Tập, quyển 4 có ghi rằng: “Cứ Triều Dã Thiêm Tải vân: 'Lỗ Ban giả, Túc Châu Đôn Hoàng nhân, mạc tường niên đại, công mâu tạo hóa; ư Lương Châu tạo Phù Đồ, tác mộc diên, mỗi kích tiết tam hạ, thừa chi dĩ quy; vô hà, kỳ thê hữu nhâm; phụ mẫu cật chi, thê cụ thuyết kỳ cố; phụ hậu tứ đắc diên, kích tiết thập dư hạ thừa chi, toại chí Ngô hội; Ngô nhân dĩ vi yêu, toại sát chi; Ban hựu vi mộc diên thừa chi, toại hoạch phụ thi; oán Ngô nhân sát kỳ phụ, ư Túc Châu thành Nam tác nhất mộc tiên nhân, cử thủ chỉ Đông Nam, Ngô địa đại hạn tam niên; Bặc viết Ban sở vi dã; tê vật cụ thiên số tạ chi; Ban vi đoạn nhất thủ, kỳ nhật Ngô trung đại vũ; quốc sơ, thổ nhân thượng kỳ đảo kỳ mộc tiên; Lục Quốc thời, Công Thâu Ban diệc vi mộc diên dĩ khuy Tống thành' (據朝野僉載雲、魯般者、肅州敦煌人、莫詳年代、巧侔造化、於涼州造浮圖、作木鳶、每擊楔三下、乘之以歸、無何、其妻有妊、父母詰之、妻具說其故、父後伺得鳶、擊楔十余下、乘之遂至吳會、吳人以爲妖、遂殺之、般又爲木鳶乘之、遂獲父屍、怨吳人殺其父、於肅州城南作一木仙人、舉手指東南、吳地大旱三年、蔔曰般所爲也、賫物具千數謝之、般為斷一手、其日吳中大雨、國初、土人尚祈禱其木仙、六國時、公輸般亦爲木鳶以窺宋城, theo Triều Dã Thiêm Tải cho rằng: 'Lỗ Ban là người Đôn Hoàng, Túc Châu, không rõ niên đại, khéo tay nằng tạo hóa; tại Lương Châu ông từng dựng chùa Phật, làm diều gỗ; mỗi lần vỗ nó vào ba lần, cỡi lên diều trở về nhà; không hiểu vì sao, vợ ông mang thai, cha mẹ đều hỏi han; vợ ông kể rõ nguyên do; sau đó người cha dò xét xem sao và có được diều gỗ; ông vỗ vào hơn mười lần, rồi cỡi lên bèn đến đất Ngô; dân Ngô cho đó là yêu quái, liền giết chết ông; Lỗ Ban lại cỡi lên con diều gỗ, lấy được thi hà phụ thân, oán hận dân Ngô giết cha mình, bèn làm một hình tiên nhân bằng gỗ ở phía Nam thành Túc Châu, đưa tay chỉ về hướng Đông Nam, từ đó đất Ngô bị hạn hán ba năm; vua Bặc bảo rằng đó là do Lỗ Ban làm ra, bèn sai đem vật phẩm đủ số ngàn tạ ông; Lỗ Ban chém đứt một tay người gỗ, ngày hôm ấy trong nước Ngô mưa lớn; lúc mới lập quốc, người dân trong vùng vẫn thường cầu nguyện tiên nhân gỗ; đến thời Lục Quốc, Công Thâu Ban cũng dùng diều gỗ để thám thính thành nhà Tống').” Theo Lỗ Ban Kinh (魯班經), phần Lỗ Ban Tiên Sư Nguyên Lưu (魯班先師源流) của Đạo Giáo cho rằng ông húy là Ban, họ Công Thâu (公輸), tự là Y Trí (依智), người Thôn Đông Bình (東平村); cha húy là Hiền (賢), mẹ họ Ngô (吳), người nước Lỗ; nên được lấy tên nước làm họ; sanh vào năm thứ 13 (507 ttl.) đời Chu Kính Vương (周敬王) và mất năm thứ 25 (444 ttl.) đời vua Chu Trinh Định Vương (周貞定王). Lỗ Ban còn nổi tiếng về bùa, chú, ếm đối, nên thường có loại Bùa Lỗ Ban. Trong dân gian vẫn thường có thành ngữ “Ban môn lộng phủ (班門弄斧)”, nghĩa là múa búa trước cửa Lỗ Ban, hay múa rìu qua mắt thợ, là để chỉ người không biết liệu tài sức của mình, dám khoe tài trước mặt bực thầy, nên chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi. Như trong bài Dữ Mai Thánh Du Thư (與梅聖俞書) của văn học gia Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có câu: “Tạc tại Chơn Định, hữu thi thất bát thủ, kim lục khứ, Ban môn lộng phủ, khả tiếu khả tiếu (昨在 眞定、有詩七八首、今錄去、 班門弄斧、可笑可笑, hôm qua tại Chơn Định, có làm bảy tám câu thơ, nay xem lại, đúng là múa búa trước cửa Lỗ Ban, nực cười nực cười thay !).” Hiện tại vẫn lưu hành Thước Lỗ Ban (魯班尺), hay thường được gọi là Thước Văn Công (文公尺), dài 1 thước 4 tấc 1 phân, lấy 5 chữ sanh (生), lão (老), bệnh (病), tử (死), khổ (苦) làm cơ sở, chia thành 8 cách, mỗi cách có cát hung, tốt xấu, theo đó phân thành 8 cung: (1) Tài (財, tiền tài, tài năng), (2) Bệnh (病, bệnh hoạn, bất lợi), (3) Ly (離, Lục Thân ly tán, chia lìa) (4) Nghĩa (義, phù hợp chính nghĩa, quy phạm đạo đức, hay khuyên người làm việc thiện), (5) Quan (官, vận làm quan, chức quyền cao), (6) Kiếp (劫, bị cướp đoạt, áp bức), (7) Hại (害, hoạn nạn, nguy hại), (8) Bổn (本, bản vị hay bản thể của sự vật).

lỗ tổ gia phong

(魯祖家風) Cũng gọi Lỗ tổ diện bích. Chỉ cho gia phong của Thiền sư Bảo vân ở núi Lỗ tổ tại Trì châu sống vào đời Đường, Trung quốc. Lúc bình thường, ngài Bảo vân có tác phong tiếp dẫn người học rất đặc thù. Nếu có người đến hỏi đạo thì sư xoay mặt vào vách, không nói. Cử chỉ của sư xoay mặt vào vách, không nói là muốn khiến cho người hỏi nhờ đó mà có chỗ tỉnh ngộ, Thiền lâm coi tác phong này của sư là việc đặc biệt kì lạ, nên gọi là Lỗ tổ gia phong. Về sau, các bậc Cổ đức trong Thiền tông đều lấy đó làm cổ tắc công án (Niêm bình hạ ngữ). [X. chương Lỗ tổ Bảo vân trong Cảnh đức truyền đănglụcQ.7; Thiền uyển mông cầu Q.thượng; chương Lỗ tổ Bảo vân trong Ngũ đăng hội nguyên Q.3]. (xt. Cổ Đức Hỏa Sao).

lỗ vốn

To sell at a loss.

lỗ đa

Ruta (skt)—Tiếng nói lớn—A loud sound, or voice.

lỗ đạt la

1) Rudra (skt)—Lao Đạt La, hay Lỗ Nại La, nghĩa là bạo ác hay cực kỳ xấu ác—Terribly evil—Awful—Terrible. 2) Tên khác của Tự Tại Thiên: Another name for Mahesvara. ; (魯達羅) Phạm: Rudra. Cũng gọi Rô nại la, Lao đạt la, Lục đà la. Hán dịch: Bạo ác, Hắc thiên. Vị thần trông coi về mưa gió, sấm chớp trong tín ngưỡng Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, tức là trời Đại tự tại. Trong thời đại Lê câu phệ đà, vị thần này đại biểu cho chúng trời bạo ngược, khi thần này giận dữ thì các ma oán hiện ra, đất nước hỗn loạn, bão táp sấm chớp nổi lên, giết hại người, súc vật và cây cỏ, cho nên được coi là thần phá hoại. Đến thời đại A thát bà phệ đà, thần này được tôn là Chủ thần, chủ của loài súc sinh, là hình thức phôi thai của vị Đại thần Thấp bà sau này. Trong kinh điển Phật, vị thần này được gọi là Đại tự tại thiên. Câu xá luận quang kí quyển 7 (Đại 41, 139 hạ), nói: Đại tự tại thiên có 1.000 tên, hiện hành ở đời chỉ có 60 tên, trong đó có tên Lỗ đạt la, nghĩa là thích uống máu, ăn thịt chúng sinh. Về hình tượng của vị thần này có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Lê câu phệ đà, toàn thân thần này màu vàng sẫm, đầu tết bím tóc, tay cầm cung tên. Theo A thát bà phệ đà, bụng của thần này màu đen, lưng màu đỏ, có 1.000 mắt. Theo Dạ nhu phệ đà thì cổ vị thần này màu xanh, sống ở trong núi, có 2 tính thiện và ác; khi nổi giận thì làm tổn hại người, súc vật và cây cỏ, nhưng lại có cả nghìn thứ dược thảo để chữa bệnh cho người và súc vật, nên được người sùng kính. Còn Áo nghĩa thư và Vãng thế thư thì cho rằng hình tượng của vị thần này có tới 11 loại. Ngoài ra, vị thần này còn có các tên hiệu như: Súc chủ, Đại thiên, Y xá na, Hoang thần... [X. kinh Đại nhật Q.2; kinh Thủ hộ đại thiên quốc độ Q.hạ; luận Câu xá Q.7]. (xt. Đại Tự Tại Thiên, Thấp Bà Thiên).

lỗi

Fault. Những lời Phật dạy về “Lỗi” trong kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on “Fault” in the Dharmapada Sutra: 1) Thấy lỗi nguời thì dễ, thấy lỗi mình mới khó. Lỗi người ta cố phanh tìm như tìm thóc trong gạo, còn lỗi mình ta cố che dấu như kẻ cờ gian bạc lận thu dấu quân bài—It is easy to see the faults of others, but it is difficult to perceive our own faults. A man winnows his neighbor's faults like chaff, but hides his own, as a dishonest gambler conceals a losing dice (Dharmapada 252). 2) Nếu thấy lỗi người thì tâm ta dễ sinh nóng giận mà phiền não tăng thêm, nếu bỏ đi thì phiền não cũng xa lánh—He who sees others' faults, is easy to get irritable and increases afflictions. If we abandon such a habit, afflictions will also be gone (Dharmapda 253). 3) Lỗi biết rằng lỗi, không lỗi biết rằng không lỗi, giữ tâm chánh kiến ấy, đường lành thấy chẳng xa—Those who perceive wrong as wrong and what is right as right, such men, embracing right views and go to the blissful state (Dharmapada 319). ; (酹) Một thể văn chuyên được dùng để kể lại đức hạnh của người đã chết. Chẳng hạn như Cưu ma la thập pháp sư lỗi, Đàm long pháp sư lỗi, Lô sơn Tuệ viễn pháp sư lỗi, v.v...

lỗi hẹn

To break an appointment.

lỗi lạc

To be remarkably talented.

lỗi lầm

Mistake—Error—Fault.

lỗi nhẹ

Slight mistake.

lỗi nặng

Grave sins.

lỗi thời

Outmoded—Old fashioned.

lỗi đạo

To fail to complete one's filial duty toward parents.

lộ

1) Đường xá: Road—Street—Way. 2) Sương mai: Dew—Dewy. 3) Tiết lộ: To disclose—To reveal. 4) Tượng trưng cho sự ngắn ngủi vô thường: Symbol of transience. ; (露) I. Lộ. Sương mai, rất dễ tan biến. Phật giáo dùng từ này để ví dụ sự vô thường dời đổi của muôn vật. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung), nói: Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn bào ảnh, Như lộ diệc như điện, Ưng tác như thị quán. (Tất cả pháp hữu vi, Như mộng, huyễn, bọt, bóng, Như sương và tia chớp, Nên quán xét như thế). II. Lộ. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hiển bày ra, biểu thị tướng trạng của các pháp hiện ra trước mắt. Ngoài ra, Lộ cũng là tiếng mà Thiền tông quen dùng để biểu thị sự lí hiện ra rõ ràng ở trước mắt, phần nhiều được dùng trong các trường hợp dẫn đạo, pháp ngữ.

lộ bàn

(露盤) Cũng gọi Bàn cái, Luân đài, Tướng luân. Gọi đủ: Thừa lộ bàn. Kiểu kiến trúc hình tròn như cái mâm (bàn) đặt trên nóc tháp, Nhật bản gọi là Lộ bàn, tương đương với phần đầu bằng của kiểu tháp bát úp bên Ấn độ. Chẳng hạn như tháp 5 tầng của Nhật bản, bên trên lộ bàn, theo thứ tự là: Phục bát (bát úp), Thỉnh hoa (Thụ hoa), Cửu luân, Thủy yên, Long xa, Bảo châu (Bảo bình). Nhưng theo kiểu cổ của Ấn độ, thì Lộ bàn vốn được đặt ở trên bát úp. (xt. Thừa Lộ Bàn, Tháp, Phúc Bát).

lộ ca

Loka (skt)—Còn gọi là Lộ Già—Thế gian—The world, a region or realm, a division of the universe.

lộ ca bị

Lokavit or Lokavid (skt)—Còn gọi là Lộ Già Bị, dịch là “Tri Thế Gian,” hay “Thế Gian Giải,” một trong mười danh hiệu của Đức Phật—He who knows, or interprets the world, one of the ten titles of the Buddha.

lộ ca da để ca

Lokayatika (skt)—Còn gọi là Lô Kha Da Chi, Lộ Già Da, Lộ Già Da Đà, dịch là “Thuận Thế. Lăng Già Kinh, tứ quyển và thất quyển gọi là “Ác Luận” và “Thế Luận” hay là ngoại đạo, những kẻ không tin tưởng Phật giáo, những kẻ thuận theo thế tục, từ suy nghĩ, đến nói năng hành động—A materialist, follower of the Carvaka system, atheist, unbeliver; interpreted as worldly, epicurean, the soul perishes with the body, and the pleasures of the senses are the highest good.

lộ ca na tha

Lokajyestha or Lokanatha (skt)—Dịch là Thế Tôn, danh hiệu của Phạm Thiên và của Đức Phật—Most excellent of the world, lord of the world, epithet of Brahma and of a Buddha.

lộ chân tướng

To show one's true characteristics.

lộ diện

To show one's face.

lộ già bà la môn

(露遮婆羅門) Lộ già, Phạm: Lohitya,Pàli: Lohicca. Cũng gọi Lỗ hê già bà la môn. Tên 1 người Bà la môn được chép trong kinh Trường a hàm. Cứ theo kinh Lộ già trong Trường a hàm quyển 17, thì Bà la môn Lộ già sinh tâm ác kiến, cho rằng người đã biết rõ thiện pháp, đã đạt đạo quả, tự biết là được rồi, không nên nói pháp cho người khác nghe. Đức Phật bèn giải thích cho Bà la môn ấy hiểu rằng, có những người nhờ nghe pháp mà chứng được 4 quả Sa môn, nếu họ không nghe pháp thì do đâu mà được đạo quả. Cho nên, nếu can ngăn người nói pháp cho người khác nghe thì đó thật là tâm bất thiện, sẽ bị rơi vào đường ác. Sau khi nghe đức Phật nói pháp, Bà la môn Lộ già hoan hỉ tín thụ, qui y Tam bảo. [X. kinh Tạp a hàm Q.9].

lộ già bị

Lokavit or Lokavid (skt)—See Lộ Ca Bị.

lộ già kỳ dạ

Lokageya (skt)—Dịch là “trùng tụng,” hay tụng, là một trong 12 bộ kinh trong kinh điển Phật giáo—Interpreted as repetition in verse, but also as signing also as signing after common fashion.

lộ già đa

Lohita (skt)—Màu đỏ hay màu đồng—Red, copper-coloured.

lộ hình

Trần truồng như nhóm ngoại đạo Ni Kiền Tử—To expose form (appearance), naked, i.e. the Nirgrantha ascetics.

lộ hình ngoại đạo

(露形外道) Cũng gọi Khỏa hình ngoại đạo. Ngoại đạo ở truồng, 1 trong 2 thứ ngoại đạo tại Ấn độ. Đây chỉ cho ngoại đạo Ni kiền tử, họ cho lõa thể là phương pháp tu hành cao nhất, có thể sinh ra nhất thiết trí. Nhưng, theo luận Ngoại đạo Tiểu thừa Niết bàn, thì ngoại đạo Ni kiền tử chia ra làm 2 phái là Bạch y phái (Phạm:Zvetàmbara, phái mặc áo trắng) và Không y phái (Phạm: Digambara, phái ở truồng). Phái Bạch y là ngoại đạo Ni kiền tử, còn phái Không y thì gọi là ngoại đạo Khỏa hình.

lộ hạ

Loha (skt)—Kim loại, kể chung đồng vàng hay sắt—Copper, gold, or iron, etc.

lộ liễu

Obvious—Conspicious.

lộ mạn

(露幔) Tấm màn che ở phía ngoài tháp đường. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa].

lộ mệnh

Cuộc sống ngắn ngủi như sương—Dew-like life. ; (露命) Thọ mệnh như giọt sương mai. Ví dụ sự sống con của người vô thường giống như giọt sương buổi sớm. Kinh Lộc mẫu (Đại 3, 456 thượng), nói: Vô thường khó được lâu (...), sinh mệnh như giọt sương đọng trên đầu lá cỏ.

lộ ngưu

Theo Kinh Pháp Hoa, đại ngưu bạch xa được Phật dùng để ám chỉ Đại Thừa—According to the Lotus Sutra, the great white ox and ox-cart revealed in the open, i.e. the Mahayana.

lộ thân

To expose appearance.

lộ trụ

(露柱) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây cột ở ngoài điện Phật hoặc Pháp đường. Thiền tông dùng từ ngữ này để biểu thị vật vô tình. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục khám biện (Đại 47, 503 hạ) nói: Sư chỉ vào lộ trụ hỏi: Đây là phàm hay thánh? Viên liêu không đáp. Sư liền đánh cây cột và bảo: Dẫu có nói được thì cũng chỉ là cái cọc gỗ thôi.

lộ tẩy

To show one' true character or intention of something.

lộ vẻ vui mừng hớn hở

To show one's face of radiant and beaming with joy.

lộ đường đường

(露堂堂) Đối lại: Hắc man man. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hiện bày ra rõ ràng. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho đương thể của công án hiển bày.

lộ địa

Sương trên đất—Dewy ground—Like dew on the ground—Bare ground. ; (露地) I. Lộ Địa. Chỗ đất trống phía ngoài nhà. [X. kinh Tạp a hàm Q.39]. II. Lộ Địa. Chỉ cho chỗ ngồi ở khoảng đất trống. Một trong 12 hạnh đầu đà. III. Lộ Địa. Đất trống, ví dụ cảnh giới thoát li phiền não.Theo phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa. Các con của ông Trưởng giả vừa chạy ra khỏi ngôi nhà đang cháy, thì gặp được cỗ xe do trâu trắng lớn kéo đang đậu trên chỗ đất trống (phía ngoài nhà), do đó, Lộ địa được xem là cảnh giới an nhiên tự tại, đã trút bỏ hết các phiền não trong 3 cõi. IV. Lộ Địa. Đất trống. Chỉ cho cảnh giới không còn Kiến hoặc và Tư hoặc. [X. Pháp hoa văn cú Q.5 phần cuối]. V. Lộ Địa. Đất trống. Chỉ cho chỗ chúng tăng đi dạo trong Thiền lâm.

lộ địa bạch ngưu

(露地白牛) Lộ địa chỉ đất trống ở phía ngoài cửa, ví dụ nơi bình an vô sự. Bạch ngưu nghĩa là trâu trắng, chỉ cho trâu thanh tịnh. Trong phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa, trâu trắng được dùng để ví dụ giáo pháp Nhất thừa. Từ đó, Lộ địa bạch ngưu là chỉ cho cảnh giới thanh tịnh, đã dứt sạch phiền não ô nhiễm. Tắc 12 trong Thung dung lục (Đại 48, 334 hạ), nói: Nạp tăng tôi biếng nhìn lộ địa bạch ngưu.

lộ địa kệ

(露地偈) Bài kệ do vị Duy na đọc lúc Bố tát ngoài đất trống. Văn kệ như sau (Đại 82, 431 hạ): Hàng phục ma lực oán, Trừ sạch các kết sử, Lộ địa đánh kiền chùy, Tỉ khưu nên họp tập, Các vị muốn nghe pháp, Vượt qua biển sinh tử, Nghe tiếng màu nhiệm này, Nên tụ tập nơi đây. [X. Nguyệt trung hành sự trong Oánh sơn thanh qui Q.thượng].

lộ địa toạ

(露地坐) Ngồi thiền trên chỗ đất trống, 1 trong 12 hạnh đầu đà. Theo luận Đại trí độ, ngồi nơi đất trống có thể tránh tâm tham đắm, được mát mẻ yên vui, dễ vào không định. Còn theo Đại thừa nghĩa chương quyển 15, thì ngồi lâu dưới gốc cây ẩm thấp, dễ sinh bệnh hoạn, vì thế ngồi nơi đất trống.

lộc

1) Cái lọc nước: Filter. 2) Con nai: Mrga (skt)—A deer. 3) Lọc nước: To strain. ; (鹿) Phạm: Mfga, Zambara. Loài nai. Cứ theo Tì nại da tạp sự quyển 38, thì trong 1 kiếp quá khứ, đức Phật từng là vua của loài nai, vì cứu bầy nai mà bỏ thân mệnh; lúc sắp chết phát thệ nguyện rằng, đời sau nếu thành Chính đẳng chính giác thì sẽ độ loài nai thoát khỏi lưới sinh tử. Ngoài ra, đức Phật chuyển pháp luân Tứ đế lần đầu tiên ở vườn Nai, cho nên hình con nai được dùng làm hình Tam muội da chuyển pháp luân. [X. Tì nại da tạp sự Q.1].

lộc bồ tát

(鹿菩薩) Cũng gọi Cửu sắc lộc bồ tát. Nai có sừng trắng như tuyết, lông 9 màu (cửu sắc lộc), là sự tích bản sinh của đức Thích ca khi tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Thủa xưa, khi đức Thích ca còn làm nai chúa có lông 9 màu, Ngài từng cứu 1 người chết đuối. Người này sau khi trở về nhà, nghe tin vua sẽ ban trọng thưởng cho ai chỉ chỗ hoặc bắt được nai 9 màu để Hoàng hậu lấy da may áo. Người thoát chết đã quên ơn cứu mạng, chỉ chỗ nai ở cho nhà vua, vua sai người bắt được nai. Lúc sắp bị giết, nai nói với nhà vua rằng (Đại 3, 453 hạ): Tâu Đại vương! Người này bị rơi xuống sông, trôi theo dòng nước, khi nổi khi chìm, may mắn bám được khúc cây, ngửa mặt than rằng: Hỡi thần núi, thần cây, thần trời, thần rồng, sao không thương xót tôi? Lúc ấy, tôi đã không tiếc thân mệnh, nhảy xuống sông cứu người này và có yêu cầu là không được nói cho ai biết, nhưng người này vô ơn phản phúc, thực không bằng khúc gỗ nổi trong sông. Vua nghe xong rất cảm động, liền ra lệnh tha cho nai.

lộc dã uyển

(鹿野苑) Phạm: Mfgadàva. Cũng gọi Tiên nhân lộc dã uyển, Lộc dã viên, Lộc uyển, Tiên uyển, Tiên nhân viên. Vườn nai, nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên sau khi thành đạo, nay là Sa nhĩ na tư (Sàrnàth) nằm cách thành phố Ngõa lạp na tây (Varanasi) 6 cây số về mạn bắc, thuộc Bắc Ấn độ. Về nguồn gốc của địa danh này có nhiều thuyết khác nhau: Theo kinh Xuất diệu quyển 14, thì Lộc dã uyển là nơi các thần tiên và những người tu đạo được 5 thần thông thường lui tới, chứ không phải chỗ ở của phàm phu, vì thế gọi là Tiên nhân trụ xứ(chỗ ở của người tiên). Lại có thuyết cho rằng, xưa có vua nước Ba la nại đi săn đến đây, bắt được 1.000 con nai, sau do nai chúa xin vua mỗi ngày dâng 1con để vua ăn thịt, vua mới thả đàn nai ra, cho nên tên đất được đặt là Lộc dã uyển. Luận Đại tì bà sa quyển 183 tổng hợp các thuyết nói rằng, vì ở quá khứ, đức Phật là tiên nhân Tối thắng, từng chuyển pháp luân lần đầu tiên ở nơi này, nên gọi là Tiên nhân luận xứ (nơi người tiên đàm luận). Lúc đức Phật chưa ra đời hoặc đã ra đời, nơi đây thường có các vị thần tiên cư trú, nên gọi là Tiên nhân trụ xứ(nơi ở của các vị tiên). Vì thủa xưa có 500 tiên nhân bay trên hư không, đến chốn này thấy các thể nữ của nhà vua, động lòng dục, mất thần thông, rơi xuống chỗ này, nên gọi là Tiên nhân đọa xứ (chỗ tiên nhân rơi). Còn theo Đại đường tây vực kí quyển 7, vì Lộc vương xả thân chết thay cho mẹ đang có thai, làm cho vua nước Phạm đạt đa cảm động, khiến vua thả đàn nai và bố thí cho rừng cây, nên gọi là Thí lộc lâm (rừng cho nai). Bắt đầu từ vua A dục, vườn Lộc dã rất được kính ngưỡng sùng bái. Đầu thế kỉ thứ VIII, khi ngài Huyền trang đến Ấn độ, nơi này còn rất nhiều điện đường lầu gác, tường hoa bao bọc chung quanh, bên trong có tinh xá cao 200 thước, phía tây nam tinh xá có cột đá do vua A dục dựng cao hơn 70 thước, đá rất bóng, lấp lánh như có ngọc, tăng đồ hơn nghìn người, là thời rất hưng thịnh. Đến khoảng thế kỉ thứ XIII, vườn Lộc dã lần lượt bị tín đồ Hồi giáo và Ấn độ giáo tàn phá, trở thành hoang phế, nay chỉ còn 1 ngôi tháp tròn 2 tầng có khắc chữ ...(Vạn) chung quanh vách và cột đá của vua A dục đã gãy 1 nửa được bảo vệ bằng hàng rào sắt vây chung quanh. Hiện nay, ở vườn Lộc dã có rất nhiều chùa viện, như Trung hoa Phật tự do ông Lí tuấn thừa sáng lập, Miến điện Phật tự, Hiệp hội Ma ha bồ đề, viện bảo tàng Ấn độ giáo, Giáo đường Kì na giáo và Viện bảo tàng Phật giáo, có cất giữ tượng Phật cách đây 1.000 năm, các loại pháp khí và cột đá đều là những di vật trân quí của Phật giáo. [X. kinh Tạp a hàm Q.23, 39; kinh Đại bát niết bàn Q.trung (bản 3 quyển); kinh Hiền ngu Q.5; luật Tứ phần Q.32; luận Đại trí độ Q.16; A dục vương truyện Q.2; Cao tăng Pháp hiển truyện, Tuệ lâm âm nghĩa Q.1; A Guide to Sàrnàth, 1937 (B. Majumdar)].

lộc dã viên

Mrgadava (skt)—Còn gọi là Lộc Dã Uyển, Tiên Nhân Đoạn Xứ, Tiên Nhân Lộc Viên, Tiên Nhân Luận Xứ, Tiên Nhân Trụ Xư. Đây là nơi an cư kiết hạ nổi tiếng cũa Đức Phật, nơi mà Ngài đã thuyết bài pháp và thu nhận năm đệ tử đầu tiên. Tông Thiên Thai cho rằng đây là nơi mà trong 12 năm đầu Đức Phật đã thuyết những bộ kinh A Hàm. Khu vực nầy bây giờ gọi là Sanarth, gần thành Ba La Nại—The park, abode, or retreat of wise men, whose resort it formed; a famous park north-east of Varanasi, a favourite resort of Sakyamuni. The modern Sarnath, or Saranganatha, near Benares. This is the place where the Buddha reputed to have his first sermon and converted his first five disciples. T'ien-T'ai also counts it as the scene of the second period of his teaching, when during twelve years he delivered the Agama sutras—See Lộc Uyển.

lộc giác

Sừng hươu—Antlers of a deer.

lộc giới

Ngoại đạo tìm giải thoát bằng cách sống khổ hạnh như loài hươu—Deer morals, i.e. to live, as some ascetics; heretics who sought salvation by living like deer. **For more information, please see Cẩu Giới, and Ngưu Giới. ; (鹿戒) Cũng gọi Thụ trì lộc giới. Giới nai, tức sống theo lối sống của loài nai, cho đó là giới cần phải giữ, là nhân của sự giải thoát, sau khi chết được sinh lên cõi trời. Đây là 1 trong những Giới cấm thủ kiến (Phạm: Zìla-vrata-paràmarza). Ngoại đạo Ấn độ dùng sức thần thông xem thấy bò, chó, nai... sau khi chết được sinh lên trời, rồi chấp vào đó mà tu tập các hạnh trái đạo lí nhân quả, Phật giáo thì cho đó là tà kiến sai lầm nên cấm chỉ. [X. luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.7]. (xt. Ngũ Kiến).

lộc hình thần

Mrganka—The spirit with marks or form like a deer.

Lộc Môn Tự Giác

(鹿門自覺, Rokumon Jikaku, ?-1117): vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, xuất thân vùng Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông), họ là Vương (王). Trong khoảng niên hiệu Chiêu Thánh (紹聖, 1094-1098), ông theo xuất gia với Phù Dung Đạo Giai (芙蓉道楷) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 4 (1105) niên hiệu Sùng Ninh (崇寧), ông đến trú trì Phổ Nghiêm Tự (普嚴寺) ở Đại Thừa Sơn (大乘山) thuộc Dụ Châu (裕州), Phủ Nam Dương (南陽), Tỉnh Hà Nam (河南省), rồi đến Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện (十方淨人禪院). Vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa (政和), ông dời đến Lộc Môn Sơn (鹿門山). Ông được ban cho thụy hiệu là Định Tuệ Thiền Sư (定慧禪師).

lộc mẫu kinh

(鹿母經) Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 3. Kinh này ghi chép những truyện tích bản sinh của đức Phật, có 2 loại bản: Một loại nói đầy đủ, một loại nói sơ lược. Nội dung đức Phật thuật lại đời quá khứ, lúc Ngài làm nai mẹ có sinh 2 con. Một hôm, nai mẹ sơ ý bị sa lưới, vì thương con tha thiết nên van xin thợ săn cho phép trở về chỗ mình, đem 2 con đến nơi an ổn, rồi sẽ trở lại chịu chết. Người thợ săn bằng lòng. Nai mẹ lo cho các con được an toàn xong, trở lại chịu chết đúng như đã hứa, thợ săn cảm động liền thả nai mẹ cho về với con và xin Quốc vương ra lệnh cấm săn bắn nai. Vua cũng rất cảm động về hành vi nhân nghĩa của nai mẹ, nên cấm chỉ việc săn bắn nai. [X. Lịch đạiTam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

Lộc nang

漉嚢; C: lùnáng; J: rokunō;|Lộc thuỷ nang (漉水嚢).

lộc nhung

Tender horn of a deer.

lộc nữ phu nhân

(鹿女夫人) Người con gái do loài nai sinh ra. Cứ theo kinh Tạp bảo tạng quyển 1, thủa xưa, tại nước Ba la nại, có 1 vị Phạm chí ở trong núi Tiên sơn, hàng ngày tiểu tiện trên đá, nai cái đến liếm liền mang thai, sau sinh ra 1 cô gái rất xinh đẹp, chỉ đôi chân giống nai. Lớn lên, mỗi lần cô đặt chân đến đâu thì ở chỗ đó có hoa sen mọc. Chuyện Lộc nữ phu nhân này và chuyện Liên hoa phu nhân gần giống nhau, vì thế có thuyết cho 2 người là một.

Lộc thuỷ nang

漉水嚢; C: lùshuĭnáng; J: rokusuinō;|Hán dịch chữ pariśrāvaṇa trong tiếng Phạn. Là cái đãy lọc nước, một trong 6 vật cần thiết (六物) của tăng sĩ Phật giáo. Do chư tăng khi dùng nước có khả năng sẽ vô tình sát hại côn trùng sinh sống trong nước, nên trước khi dùng, họ phải lọc nước. Đây là một dụng cụ đặc biệt phải có khi đi đường. Còn viết là Lự thuỷ nang (濾水嚢).

lộc thuỷ nang

(漉水囊) Phạm:Parisràvaịa. Pàli:Parisàvana. Hán âm: Bát lí tát la phạt noa. Cũng gọi: Lộc thủy đại, Lự thủy nang, Thủy lự, Thủy la, Lự thủy khí, Lộc nang, Lự đại. Túi lọc nước, 1 trong 6 vật, 1 trong 18 vật của tỉ khưu. Giới luật qui định, người xuất gia, trước khi sử dụng nước, phải dùng túi lọc nước để loại bỏ những vi trùng lẫn lộn trong nước, vì lí do từ tâm không sát sinh. Theo luật Tứ phần quyển 52 (Đại 22, 954 trung) ghi: Không được dùng nước có lẫn trùng ở trong, được phép làm túi lọc nước (...) hình dáng như cái môi (phễu), hoặc 3 góc, hoặc lớn, hoặc nhỏ. Nếu sợ trùng nhỏ chui qua thì cho phép để cát vào trong túi mà lọc. Hoặc làm như bình lọc. Theo Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 11, túi lọc nước có 5 loại: Phương la, Pháp bình, Quân trì ca, Chước thủy la và Y dác. [X.luật Ngũ phần Q.26; luật Thập tụng Q.57; luật Ma ha tăng kì Q.18; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ phần 1; điều Thần đán quan trùng trong Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1].

lộc thủy nang

See Lộc Thủy Đái.

lộc thủy đái

Túi lọc nước của du tăng, dùng để lọc những sinh vật nhỏ li ti trong nước—A monk's filtering bag to strain off living creatures.

lộc tiên

Phật Thích Ca cũng từng là một Hươu Vương. Ngài và Đề Bà Đạt Đa cả hai đã từng là “Lộc Tiên” trong tiền kiếp—Sakyamuni as royal stag. He and Devadatta had both been deer in a previous incarnation.

lộc trượng phạm chí

(鹿杖梵志) Lộc trượng, Phạm: Mfgalaịđika. Hán âm: Vật lực già nan đề, Mật lợi già la. Cũng gọi Lộc trượng sa môn. Tên người Phạm chí ngoại đạo giết đệ tử Phật.Lúc đức Phật còn tại thế, có vị tỉ khưu nghe Phật nói về quán bất tịnh mà chán thân đang sống, cho nên mới nhờ Phạm chí Lộc trượng giết mình. Vị Phạm chí này sau khi giết vị tỉ khưu, đến bờ sông sám hối, rửa tội, nhưng vì tin lời tà kiến của ma thần cho rằng việc làm ấy là hạnh lành lớn độ cho vị tỉ khưu, nên Phạm chí Lộc trượng vẫn tiếp tục nhận lời của các vị tỉ khưu nhờ được giết. Do việc này mà đức Phật chế định giới cấm hủy hoại tự thân. [X. luật Tứ phần Q.2; luật Thập tụng Q.2; luật Thiện kiến Q.10; Ma ha chỉ quán Q.9].

lộc túc vương

(鹿足王) Lộc túc, Phạm: Kalmàwapàda. Hán âm: Ca ma sa ba đà, Kiếp ma sa ba đà. Cũng gọi Ban túc, Bác túc. Vị vua có chân loang lổ, có vằn như sư tử. Cứ theo kinh Hiền ngu quyển 11, ở thời quá khứ, có vua nước Ba la nại tên là Ba la ma đạt. Một hôm, vua vào rừng du ngoạn, giao hoan với sư tử, sau sinh được 1 con thân hình giống người, nhưng chân có vết loang giống như chân sư tử, nên gọi là Ban túc. Lớn lên, Ban túc có tài trí và dũng mãnh hơn người, lên nối ngôi cha. Về sau, vì thích ăn thịt trẻ con nên bị nhân dân đuổi bắt, Ban túc hóa làm La sát bay vào ở trong rừng, dự định bắt 1.000 ông vua để ăn thịt. Ban túc đã lần lượt bắt được 999 vua rồi, ông vua cuối cùng bị Ban túc bắt tên là Tu đà tố di (Phạm: Zrutasoma) cảm hóa, khiến Ban túc hối ngộ, từ đó không ăn thịt người nữa. [X. luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Tu Đà Tố Di Vương).

lộc tử mẫu

(鹿子母) Phạm:Mfgàra-màtf. Hán âm: Mật lợi già la ma đa. Hán dịch: Lộc mẫu, Lộc mẫu phu nhân. Cũng gọi: Di kha la mẫu, Di ca la trưởng giả mẫu, Tì xá kha mẫu, Tì xá kha di già la mẫu, Lộc tử mẫu tì xá kha. Lộc tử mẫu là con gái của 1 vị Trưởng giả ở nước Ương già, nghe đức Phật thuyết pháp chứng được quả Dự lưu. Bà từng phát 8 nguyện lớn trước đức Phật: - Cúng dường thức ăn cho tỉ khưu từ ngoài đến. - Cúng dường thức ăn cho tỉ khưu đi xa. - Cúng dường thức ăn cho tỉ khưu đang bệnh. - Cúng dường thuốc thang và các vật dụng khác cho tỉ khưu bị bệnh. - Cúng dường thức ăn cho người chăm sóc bệnh nhân. - Cúng dường cháo cho tỉ khưu. - Cúng dường áo mưa. - Cúng dường áo tắm. Ngoài ra, bà còn xây cất tòa giảng đường Đông viên Lộc tử mẫu (cũng gọi giảng đường Lộc mẫu) gồm 2 tầng, mỗi tầng có 500 phòng để cúng dường đức Phật và các đệ tử của Ngài ở. [X. kinh Trung a hàm Q.58; luật Tứ phần Q.10; luận Đại trí độ Q.8].

lộc tử mẫu đường

(鹿子母堂) Phạm:Mfgàra-màtf-pràsàda. Pàli:Migàra-màta-pàsàdà. Hán âm: Mạt lị già la ma đa bạt la sa đà. Cũng gọi Đông viên Lộc tử mẫu giảng đường, Lộc mẫu giảng đường. Tòa Đại giảng đường ở nước Xá vệ, Trung Ấn độ, do bà Lộc mẫu Tì xá kha cúng tiền xây cất. Khi Lộc mẫu kết hôn với Di già la (Pàli: Migàra), bà có chiếc áo cưới trị giá 9 ức tiền, sau bà bán chiếc áo cưới này lấy tiền cúng dường tôn giả Mục kiền liên để xây cất giảng đường, mất 9 tháng mới hoàn tất, gồm 2 tầng, mỗi tầng có 500 phòng. Đức Phật ở nơi giảng đường này nói kinh Trì trai cho bà Lộc tử mẫu nghe (kinh này được chép trong Trung a hàm quyển 55). [X. kinh Trung a hàm Q.49; Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Thích thị lục thiếp Q.21]. (xt. Lộc Tử Mẫu).

Lộc Uyển

(s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑): từ gọi tắt của Lộc Dã Uyển (鹿野苑), còn gọi là Lộc Viên (鹿園), Lộc Lâm (鹿林), Thí Lộc Viên (施鹿園), một trong bốn thánh địa của Phật Giáo, nằm tại nước Ba La Nại (波羅奈) thuộc trung Ấn Độ. Sau khi đức Thích Tôn thành đạo, lần đầu tiên Ngài đã đến đây thuyết pháp Tứ Đế, và hoá độ cho nhóm năm anh em Kiều Trần Như (憍陳如). Xưa kia nơi đây được xem như là trú xứ của thần tiên, khi quốc vương đi dạo chơi săn bắn đã thả rất nhiều con nai mà ông đã bắt được. Cho nên nó được gọi là Lộc Uyển. Đương thời khi ngài Huyền Trang (玄奘, 602-664) sang Tây Vức thỉnh kinh, nơi đây có nhiều ngôi già lam rất hoành tráng, và tương truyền tăng chúng có khoảng 1500 người. Hiện tại là vùng đất Sārnātha thuộc về phía Tây Bắc của Benarès. Kể từ cuối thế kỷ thứ 13 trở đi thánh địa này đã bị giáo đồ Hồi giáo và Ấn Độ giáo chiếm lãnh, hiện tại chỉ còn lại ngôi tháp Dhamek và vài trụ đá mà thôi, còn công viên thì vẫn được bảo tồn.

Lộc uyển

鹿苑; S: mṛgadāva;|Là vườn Lộc (con nai) nằm trong Tiên uyển (s: ṛṣipatana), ngày nay là Sār-nāth, nơi đức Phật Thích-ca Mâu-ni, sau khi đạt Vô thượng bồ-đề (anuttarasamyaksaṃbodhi), bắt đầu giáo hoá chúng sinh. Bài giảng đầu tiên của Ngài là Tứ diệu đế và Bát chính đạo. Bài giảng này được gọi là chuyển Pháp luân (quay bánh xe pháp).|Ngày nay Tháp Dha-mek cao 44m, được xây dựng trong thế kỉ thứ 4-6 còn nhắc lại chỗ đức Phật giảng bài pháp đầu tiên cho nhóm Năm tỉ-khâu. Tháp này còn chứa bên trong nó một tháp nhỏ bằng gạch từ thời vua A-dục. Tại Lộc uyển, ngày xưa còn có một tháp khác chứa Xá-lị của đức Phật, nhưng bị phá huỷ hồi thế kỉ 18. Cũng như đền Mū-la-gan-dha-kuti, nơi đức Phật ngồi thiền định, ngày nay chỉ còn nền trô trọi.

lộc uyển

Sarnath, or Mrgadava (skt)—Migadaya (p)—Mrgadava có nghĩa là “Vườn Nai” hay Vườn Lộc Uyển, một trong bốn nơi thiêng liêng của đạo Phật, nơi Đức Phật thuyết thời pháp đầu tiên (Kinh Chuyển Pháp Luân) cho năm đệ tử đầu tiên của Ngài và cũng là nơi thành lập giáo đoàn Phật giáo đầu tiên, nằm bên ngoài thành Ba La Nại. Tên cũ là Rsipatana, tên mới là Sarnath, cách thành Ba La Nại chừng bảy dậm, trong tiểu bang Uttar Pradesh, miền Bắc Ấn Độ. Lộc Uyển là nơi đánh dấu sự ra đời của đạo Phật, do đó nơi đây trở thành một trung tâm lớn của các hoạt động Phật giáo trong suốt hơn một ngàn năm trăm năm sau ngày Phật nhập diệt. Đây cũng là nơi mà Đức Phật trải qua mùa an cư kiết hạ đầu tiên. Theo Giáo Sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, các dòng chữ khác trên các bia đá, gọi nơi nầy là “Tu Viện Sơ Chuyển Pháp Luân” (Saddharmacakra-pravartana vihara), đây là cái tên mà các nhà văn Phật giáo thời xưa vẫn thường xử dụng. Dù rằng người ta không được biết nhiều về lịch sử Lộc Uyển trong các thế kỷ đầu tiên của Phật giáo, nhưng địa danh nầy đã trở nên nổi tiếng như các thánh địa Phật giáo khác kể từ thời vua A Dục. Ông vua thánh thiện nầy đã dựng lên một loạt tu viện, kể cả một trụ đá có ghi khắc một chỉ dụ cấm các Tăng Ni chia rẽ trong giáo hội. Các nhà hành hương Trung Quốc là Pháp Hiển và Huyền Trang đã lần lượt đến chiêm bái nơi nầy vào thế kỷ thứ năm và thứ bảy sau Tây lịch, họ đã để lại cho chúng ta những chi tiết có giá trị về địa điểm quan trọng nầy. Các di tích của Lộc Uyển trải ra trên một diện tích rộng. Các nhà khảo cổ đã thực hiện nhiều cuộc khai quật tại đây và đã phơi bày ra ánh sáng một số công trình kiến trúc và điêu khắc tuyệt mỹ. Trên đường đến đây từ thành Ba La Nại (Banares), điểm đập vào mắt người ta trước tiên là một gò cao xây bằng gạch, tên địa phương là Chaukhandi, trên chóp có một ngọn tháp hình bát giác. Đây là di tích của một ngọn tháp đặt trên một bệ cao, dựng lên để ghi dấu nơi Đức Phật trên đường đi từ Gaya đến Isipatana, đã gặp lại năm người bạn đồng tu trước kia và những người nầy sau đó đã được Ngài hóa độ để theo Chánh Pháp. Cách nửa dặm về phía Bắc là cảnh vườn Lộc Uyển, nơi đã có nhiều công trình kiến trúc nguy nga trong những ngày cực thịnh xa xưa. Tất cả bây giờ chỉ là những phế tích đổ nát, ngoại trừ ngôi tháp biến dạng Dhamekh đang vươn cao đỉnh nhọn lên khỏi vùng xung quanh gần 45 mét. Các công trình kiến trúc nầy được thực hiện vào các thời đại khác nhau, mà công trình sớm nhất có từ thời vua A Dục. Dù đã bị biến dạng nhưng tháp Dhamekh vẫn còn có độ cao 143 bộ Anh tính từ đáy. Đây quả là một kiến trúc kiên cố, xây bằng những tảng đá lớn ở tầng dưới, và bằng gạch ở các tầng trên. Tháp có hình lăng trụ, ở phần dưới có tám chỗ lồi ra, mỗi chỗ lồi ra là một bệ thờ với một pho tượng bên trong. Ngoài những phế tích đổ nát và di tích của thời quá khứ ra, còn có một địa điểm đáng được chú ý ngày nay, đó là nơi được Hội Đại Bồ Đề xây dựng để trang bị cho tu viện Mulagandhakuti nhằm mục đích thờ các xá lợi Phật tìm thấy ở Taksasila—Mrgadava literally means Deer Park, one of the four important sacred places of Buddhism, the place where the Buddha preached his first sermon, Dharmacakrapravartana-Sutra or Setting in Motion of the Wheel of the Law. to his first five disciples and where foundation of Buddhist Order was laid, located outside of Benares. Its ancient name is Rsipatana (skt) or Isipatana (p), the modern name is sarnath, situated at a distance of about seven miles from the present-day city of Benares or Varanasi, in the Uttar Pradesh state of northern India. Sarnath marks the birth of the religion of the Gautama Buddha. Hence it became a great center of Buddhist activities and remained so for more than fifteen hundred years after the death of the Buddha. This is also the place where the Buddha spent his first rainy season retreat. According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the inscription on the stone pillars refer to the site as the “Monastery of the Turning of the Wheel of Righteousness” (Saddharmacakra-pravartana vihara) by which name this sacred place was known to ancient Buddhist writers. Though very little is known of the history of the Deer Park during the early centuries of Buddhism, the place acquires celebrity, like the other holy places of Buddhism, from the time of Asoka. This saintly monarch erected a series of monuments including a pillar inscribed with an edict warning the resident monks and nuns against creating schisms in the temple. The Chinese pilgrims, Fa-Hsien and Hsuan-Tsang, visited the place in the fifth and seventh centuries A.D. respectively, and left us valuable information regarding this important site. The ruins of Sarnath cover an extensive area. The archaeologists have excavated at the site a number of interesting monuments and sculptures of exquisite beauty from Banares, the first landmark that attracts the eye is a lofty mound of brickwork, locally known as the Chaukhandi, surmounted by an octagonal tower at the top. The mound represents the ruins of a stupa on a terraced basement erected to mark the spot where the Buddha, on his way from Gaya to Ispatana, first met his five former comrades who were soon to become coverts to his Faith. Half a mile to the north is the site of the Deer Park, which must have had imposing buildings in the days of its gloriness. All is now in ruins, except a battered structure, the Dhamekh stupa, which rears its head to a height of nearly 150 feet above the surrounding country. These constructions belong to different periods, the earliest going back to the days of Asoka. Although the Dhamekh is battered by time, it still stands 143 feet high from its original foundations. Indeed, it is a solid structure, built of massive blocks of stone at the lower stage and of brick. It is of cylindrical shape and is relieved in the lower section by eight projecting bays, each with a large altar platform containing an image. Besides the ruins and relics of the past, a place of modern interest is furnished by the Mulagandhakuti Vihara, erected by the Mahabodhi Society where are enshrined certain Buddhist relics discovered at Taksasila, Nagarjunakonda and Mirpur-khas in Sindh. ** For more information, please see Lộc Dã Viên, and Tứ Động Tâm in Vietnamese-English Section.

lộc viên tự

(鹿園寺) Phạm: Mfga-sthàpana. Hán âm: Mật lật già tất tha bát na. ChùaVườn nai, ở Lộc dã uyển, nước Ba la nại, Đông Ấn độ. Cứ theo Cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng, chùa này cách chùa Na lan đà về phía đông khoảng 40 cây số, cứ đi xuôi men theo bờ sông Hằng là đến chùa này.

lộc xa

Lộc xa là một trong ba loại xe mà Kinh Pháp Hoa đã nói đến, ám chỉ “độc giác,” hay những vị một mình ẩn cư tu tập—Deer carts, one of the three kinds of vehicles referred to in the Lotus Sutra, implied pratyeka-buddhas, the medium kind—See Duyên Giác. ; (鹿車) Phạm: Mfga-ratha. Xe nai, dụ cho Duyên giác thừa, là 1 trong 3 xe được nói trong phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa quyển 2. Bậc Duyên giác thường ưa thích những nơi yên tĩnh, vắng lặng, sống 1 mình để tu đạo, giống như loài nai sống trong núi rừng. Còn xe có công dụng vận chuyển, nên dùng để ví dụ cho giáo pháp của đức Phật, có thể đưa chúng sinh từ sinh tử đến Niết bàn. Nếu có chúng sinh nào theo Phật, nghe pháp tin nhận, ân cần tinh tiến, cầu được trí tuệ, chỉ ưa thích nơi vắng lặng, thấu suốt nhân duyên các pháp, thì gọi là Duyên giác thừa hay Bích chi phật thừa. Đây chính là vì đức Như lai tùy theo căn cơ chúng sinh mà đặt bày các phương tiện, khiến họ dứt khổ trong 3 cõi và đạt được trí tuệ vô lậu, giải thoát. (xt. Tam Xa Tứ Xa).

lộc đầu nhân

(鹿頭人) Đối lại: Nhân đầu lộc. Tuy mang thân hình loài nai, nhưng có thể thấu hiểu đạo lí như người. Trái lại, tuy là thân người nhưng không biết đạo lí giống như loài nai, thì gọi là Nhân đầu lộc (người đầu nai). Luận Đại trí độ quyển 16 kể rằng, ở đời quá khứ, khi đức Phật Thích ca mâu ni làm nai chúa, từng khởi lòng đại bi cứu mạng nai mẹ sắp sinh bằng cách tự nguyện chết thay mẹ, tuy hình là loài thú, nhưng lòng từ bi không khác gì người, vì thế được khen ngợi mà gọi là Lộc đầu nhân (nai đầu người).

lội ngược dòng sinh tử đáo bỉ ngạn

To flow upwards against the stream of transmigration to parinirvana.

lộn

1) To mistake—To confuse. 2) Wrong.

lộn xộn

Confused—Chaotic—Disorder.

lộng quang ảnh hán

(弄光影漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Kẻ đùa bóng sáng. Nhóm từ này được Thiền tông sử dụng để chỉ cho người ngu chỉ thấy được bề ngoài của sự vật chứ không thấy được lí thể chân thực bên trong. Tắc 93, Bích nham lục (Đại 48, 217 thượng), nói: Tăng hỏi Đại quang: Trường khánh khen ngợi việc thiết trai, ý chỉ như thế nào? Đại quang liền múa, tăng lễ bái. Đại quang nói: –Ông thấy cái gì mà lễ bái? Tăng lại múa (y hệt con nít vẽ mèo, quả nhiên hiểu sai, đó là kẻ đùa bóng sáng– lộng quang ảnh hán) Đại quang nói: –Đồ cáo chồn ranh mãnh!

lộng vật bất tri danh

(弄物不知名) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đùa với sự vật mà không biết tên của sự vật.Thiền tông dùng nhóm từ này để chỉ cho phàm phu ngu mê, không biết mình vốn có sẵn tính Phật. Tắc 82, Bích nham lục (Đại 48, 208 trung), chép: Hỏi không biết(chẳng biết gì cả, đùa với vật mà không biết tên vật, mua mũ coi đầu); đáp cũng không hiểu, trăng lạnh gió cao, núi xưa cây rét.

lớn

Large.

lớn gan

Brave—Bold.

lớp lang

In order—In proper order.

lờ khờ

Stupid.

lờ mờ

Obscure and ambiguous.

lời

Vaci (p)—Vaca (skt)—Ngôn từ—Word—Speech.

lời an ủi

Comforting words—Words of comfort.

lời cầu nguyện tốt

A wholesome prayer.

lời dặn

Instructions.

lời dịu dàng

Fair (sweet) words.

lời hấp hối

Dying words.

lời hứa

Promise.

lời hứa hão

Empty promise.

lời khen

Compliment.

lời khiển trách

Words of reproach.

lời khuyên

Advice.

lời mời

Invitation.

lời nguyền rủa

Curse.

lời nguyện

A vow.

lời nói

Words.

lời nói danh dự

Words of honor.

lời nói thêu dệt

Malicious gossip.

lời nói đầu

Foreword—Preface.

lời phê bình

Comment.

lời phật dạy

Lời của Phật là lời của một bậc Tĩnh Thức: “Chớ làm các điều ác, nên làm những việc lành, giữ tâm ý thanh sạch.” Đó là lời chư Phật dạy. Lời Phật dạy dễ đến độ đứa trẻ lên ba cũng nói được, nhưng khó đến độ cụ già 80 cũng không thực hành nỗi—Teaching of the Buddha—Teaching of the Awakened One: “Not to commit any sin, to do good, to purify one's mind.” Buddha's teaching is so easy to speak about, but very difficult to put into practice. The Buddha's teaching is so easy that a child of three knows how to speak, but it is so difficult that even an old man of eighty finds it difficult to practice.

lời tha thiết

Earnest words.

lời thách đố

Challenge.

lời thô tục

Foul language—Coarse language—Bad language.

lời thề

Oath.

lời tiên tri

Prophecy.

lời trối

Last words of a dead person.

lời tục tỉu

See Lời Thô tục.

lời từ giả

Farewell words.

lời từ huấn

Compassionate teachings.

lời văn phát nguyện

Compositions of vows.

lời ăn tiếng nói

Spoken words—Language.

lời đường mật

Honeyed words.

lờn

Disrespectful—Too familiar.

lờn quá hóa khinh

Thân quá hóa lờn—Familiarity breeds contempt.

lởm chởm

1) Uneven—Rough. 2) Brushy (moustache).

lỡ dịp

To lose (miss) an opportunity.

lỡ lầm

To be at fault—To be mistaken.

lỡ lời

To blurt out a word.

lỡ tay

To be clumsy with one's hands.

lỡ thời

To have passed the marriageable age.

Lợi

利; C: lì; J: ri;|1. Lợi, lợi nhuận, tiền lời; 2. Bén, thông minh, nhạy bén, bút pháp cao cấp; 3. Phục vụ một mục đích.

lợi

1) Patu or tiksna (skt)—Clever—Sharp—Keen. 2) Hita (p & skt)—Gain—Profit—Benfit—Advantage—Profitable—Beneficial—Interest .

lợi ba ba

Revata or Raivata (skt)—Li Ba Đa—Lê Bà Đa. 1) Một vị ẩn sĩ Bà La Môn, là đệ tử của Đức Phật Thích Ca, về sau đắc thành Phổ Minh Như Lai: A Brahman hermit; one of the disciples of Sakyamuni, to be reborn as Samanta-prabhasa. 2) Vị chủ trì Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần hai: President of the second synod, a native of Sankasya. 3) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, Lợi Ba Ba là vị đương thời với vua A Dục, được nói đến trong lần kết tập kinh điển lần thứ ba: According to Eitel in the Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, composed by Professor Soothill, Revata, a contemporary of Asoka, mentioned in connection with the third synod.

lợi biện

Sự biện biệt nhanh lẹ, một trong bảy đặc tính của Bồ Tát—Sharp and keen discrimination, or ratiocination, one of the seven characteristics of the Bodhisattva.

Lợi căn

利根; C: lìgēn; J: rikon;|»Căn cơ nhạy bén«, chỉ những người bẩm chất lanh lợi, hiểu được những chân lí thâm mật, mau đạt được ngộ nhập (s: tīkṣna-indriya; t: dbaṅ po rno ba). Cũng được gọi là Thượng căn (上根), Nhuệ lợi (鋭利) và Đốn căn (頓根). Chúng sinh thường được phân loại một cách tổng quát thành Tam căn (三根): Lợi căn, Trung căn (中根) và Độn căn (鈍根; theo kinh Pháp Hoa).

lợi căn

Sự sắc xảo lanh lợi của ngũ căn—Keen—Able—Sharpness-Cleverness—Intelligence—Natural power—Endowment—Possessed of powers of the panca-indryani or the five sense-organs. ; (利根) Phạm:Tikwa-indriya. Căn cơ bén nhạy. Người có căn cơ bén nhạy, có khả năng hiểu Phật pháp một cách thấu suốt mà đạt được giải thoát. Cứ theo luận Đại tì bà sa thì hạng lợi căn không tin lời người khác, chỉ tự mình nghiên cứu giáo điển mà được ngộ đạo, theo pháp mà tu hành, nên gọi là Tùy pháp hành. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; luận Đại thừa khởi tín].

lợi căn và độn căn

Keen faculties and dull faculties.

Lợi cơ

利機; C: lìjī; J: riki;|Căn cơ nhạy bén; cũng như Lợi căn (利根).

lợi diệu

The wonder of Buddha's blessing, in opening the minds of all to enter the Buddha-enlightenment.

Lợi dưỡng

利養; C: lìyăng; J: riyō;|1. Những mời mọc ích lợi; 2. Một lợi nhuận, chỉ những vật được thâu nhập như lơi nhuận, lợi ích; 3. Tham lam, mê lợi nhuận.

lợi dưỡng

Lấy lợi để nuôi thân (lấy thức ăn thức uống mà nuôi thân hơn là lấy pháp để tu hành, hay những người xuất gia tu cốt được tiếng tăm, chứ không phải vì mục đích giải thoát)—To nourish oneself by gain, not to cultivate to attain emancipation.

lợi dưỡng phược

Phiền trược vì tham lam ích kỷ, một trong hai phiền trược, lợi và danh—The bond of selfish greed, one of the two bonds, gain and fame.

lợi dưỡng phọc

(利養縛) Danh vọng và lợi lộc trói buộc con người. Vì danh lợi dễ khiến người ta sinh tâm tham đắm, nhiễm trước, không tự chủ được, nên gọi là phược (trói buộc). [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4].

lợi dụng

To advantage of someone.

lợi hành mãn túc

(利行滿足) I. Lợi Hành Mãn Túc. Hoàn thành hạnh Bồ tát tự lợi, lợi tha mà chứng được quả Phật. Vì 2 hạnh tự lợi, lợi tha đều thành tựu viên mãn, nên gọi là mãn túc. II. Lợi Hành Mãn Túc. Một trong 10 chương giải nghĩa bộ luận Tịnh độ của ngài Thiên thân. Nội dung chương này nói về việc tu nhân 5 niệm môn có thể hiển bày 5 quả, nhờ đó mà chứng được bồ đề. Bởi vì 5 niệm môn chính là sự tu hành lợi mình, lợi người, trong đó 4 niệm môn trước (lễ bái, khen ngợi, tác nguyện, quán sát) thuộc hạnh lợi mình, còn 1 niệm môn sau (hồi hướng) thì thuộc hạnh lợi người. Thành tựu 2 hạnh này thì chứng được quả Phật. Trong bộ Vãng sinh luận chú cũng có danh mục Lợi hành mãn túc này. [X. Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá nguyện sinh kệ].

Lợi hành nhiếp

xem Bốn pháp thâu nhiếp.

lợi hành nhiếp

Sangraha-vastu (skt)—Nhiếp phục thân khẩu ý của chúng sanh, một trong tứ nhiếp pháp—The drawing of all beings to Buddhism through blessing them by deeds, words and will; one of the four ways of leading human beings to emancipation or four means of integration. ** For more information, please see Tứ Nhiếp Pháp.

lợi hại

1) Profit and loss—Advantage and disadvantage. 2) Dangerous.

lợi kiếm

Lưỡi kiếm bén nhọn, dùng theo nghĩa bóng ám chỉ trí tuệ, sự tư duy, hay hàng ma lực của Đức Phật A Di Đà và Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—A sharp sword, used figuratively for Amitabha and Manjusri, indicating wisdom, discrimination, or power over evil.

lợi kỷ

To think too much of one's own interests—Selfish.

lợi lạc

Lợi ích và an lạc. Lợi ích của đời sau thì gọi là lợi; lợi ích của đời nay thì gọi là lạc (lợi và lạc tuy có khác nhau nhưng cùng một thể)—Blessing and joy—The blessing being for the future life, the joy for the present, or aid for salvation and the joy of it. ; (利樂) Lợi ích và an lạc. Xét ra thì lợi và lạc chỉ khác tên gọi, chứ thực ra là nhất thể. Cũng có thuyết cho rằng có ích ở đời sau là lợi, có ích ở đời này là lạc. [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu].

lợi lạc hữu tình

Mang lại lợi ích cho chúng sanh, khiến họ được vui sướng an lạc. Đây là hạnh tu của một vị Bồ Tát—To bless and to give joy to the living, or sentient, the work of a bodhisattva.

lợi lộc

Gain—Profit.

Lợi nghiêm

利嚴; C: lìyán; J: rigen; K: iǒm.|Một trong những người truyền bá Thiền tông đầu tiên tại Hàn Quốc. Sư được xem là Khai tổ của trường phái Tu-di sơn (須彌山), một nhánh thiền có liên hệ mật thiết với tông Tào Động (曹洞) tại Trung Hoa.

lợi ngôn

(利言) Cao tăng Tây vực, sống vào đời Đường, Trung quốc, người nước Cưu tư, tên Địa chiến thấp la (Hán dịch: Chân nguyệt), tự Bố na tiện. Khi sa môn Pháp nguyệt từ Đông Ấn độ đến Cưu tư, sư liền đến yết kiến và xin theo học nội, ngoại điển. Sư từng nghe và thuộc lòng 7 nghìn bài kệ trong kinh Đại thừa nguyệt đăng tam ma địa (bản tiếng Phạm), 10 nghìn bài kệ trong Lịch đế kỉ và 5 nghìn bài kệ trong Du già chân ngôn. Năm Khai nguyên 14 (726), sư thụ giới Cụ túc, rồi nghiên cứu các kinh Đại, Tiểu thừa, Phạm thư, Hán thư, cho đến các ngôn ngữ Thạch hành tứ trấn, Hộ mật, Chiến vu, Thổ hỏa la. Năm Khai nguyên 18 (730), sư theo thầy Đông du; năm Khai nguyên 20 (732), thầy trò đến Trường an, Trung quốc, làm thông dịch viên cho thầy. Sư từng vào cung vua, đem Phương dược bản thảo dâng lên vua Đường Huyền tông, sư cũng tham gia công tác phiên dịch Bát nhã tâm kinh. Năm Khai nguyên 29 (741), sư cùng thầy trở về Tây vực, gặp lúc Thức nặc loạn lạc, đường xá bị ách tắc, nên phải qua nước Vu điền. Sau đó, khi thầy thị tịch, sư trở về chốn cũ. Năm Thiên bảo 13 (754), sư lại đến Trung quốc một lần nữa, tháng 2 năm sau, sư vào Vũ uy, trụ ở chùa Long hưng và chùa Báo ân, trợ giúp ngài Bất không dịch kinh. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư vâng sắc vua dịch kinh, khi nhiệm vụ hoàn thành được triều đình ban thưởng. Năm sau (789), sư theo hầu ngài Bát nhã Tam tạng, nhận việc dịch kinh Na la diên lực. Sau không biết sư tịch ở đâu. Sư có tác phẩm: Phạm ngữ tạp danh 1 quyển. Ngoài ra, ngài Viên chiếu chùa Tây minh thu tập những bài văn của sư để lại, làm thành bộ Phiên kinh đại đức Hàn lâm đãi chiếu Quang trạch tự Lợi ngôn tập 2 quyển. [X.Tống cao tăng truyện Q.2; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].

lợi nhuận

Profit.

lợi nhân

Làm lợi cho người—To benefit or profit men.

lợi phổ

(利普) Phạm: Fbhu. Tên chung của 3 vị thần do tín đồ Bà la môn giáo Ấn độ sùng bái. Thần lửa là anh em, thần sấm là bạn bè của họ. Những vị thần này được thành thần là vì họ có những kĩ thuật khéo léo linh dị vô cùng. Họ đã chế tạo cho Song mã đồng chiếc xe 3 bánh không cần ngựa kéo, mà đi được khắp nơi; họ làm cho trời Đế thích (Nhân đà la) một cặp ngựa tốt; họ còn dùng thịt và da bò để tạo ra 1 con bò mẹ, bò này có thể sản xuất ra chất cam lộ, uống vào được trường sinh bất tử. Ngoài ra, Lợi phổ còn làm cho cha mẹ già của mình trẻ trở lại, khiến đất hoang trở thành ruộng vườn xanh tốt...

lợi sanh

Làm lợi lạc cho hết thảy chúng sanh, không giới hạn vào con người hay chúng sanh trên trần thế nầy mà thôi—To benefit all beings (all he living), which is not limited to men or this earth life.

lợi sinh

(利生) Cũng gọi Lợi vật. Gọi đủ: Lợi ích chúng sinh. Chỉ cho sự cứu giúp làm lợi ích chúng sinh của Phật và Bồ tát. Câu xá luận thực nghĩa sớ quyển 1 (Đại 29, 325 trung), nói: Đức Phật tu tập phúc trí, hướng tới Bồ đề, là vì lợi sinh chứ chẳng vì chính mình. Vãng sinh yếu tập quyển thượng (Đại 84, 46 hạ), nói: Một vạn năm sau, vào thời mạt pháp, các kinh điển đều bị hủy diệt, chỉ còn một câu Nam mô A di đà Phật làm lợi ích cho chúng sinh. [X. kinh Giải thâm mật Q.3; kinh Tâm địa quán Q.7; An lạc tập Q.thượng].

lợi sinh phương tiện

(利生方便) Những phương tiện khéo léo làm lợi ích chúng sinh do trí tuệ thể ngộ được thực tướng mà có. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.11; Pháp hoa văn cú Q.2; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4].

lợi sử

Thể tính sắc xảo lanh lợi hay kiến hoặc như “ngã kiến” cho rằng tự ngã và những ý tưởng là thật, đây là một trong ngũ lợi sử—The sharp or clever envoy, i.e. the chief illusion of regarding the ego and its experiences and ideas as real, one of the five chief illusions.

Lợi tha

利他; C: lìta; J: rita;|Làm việc vì lợi ích của người khác. Làm những người khác giác ngộ (s: para-hita, para-artha).

lợi tha

Parahita (skt)—Benefitting others. • Làm lợi hay mang lại lợi ích cho tha nhân (người khác). Nghĩ đến hạnh phúc và lợi lạc của người khác: To benefit others—To think about the happiness and well-being of others. • Để làm lợi lạc cho chúng sanh, chư vị Bồ Tát mang lấy nhiều hình tướng khác nhau: In order to benefit other people the Bodhisatvas assume various forms.

lợi tha hành

(利他行) Hạnh làm lợi ích cho người khác, là hạnh tu của Bồ tát thừa, 1 trong Tứ nhiếp pháp. (xt. Tứ Nhiếp Pháp, Bồ Tát Thừa].

lợi tha nhất tâm

(利他一心) Nhờ 1 niệm tín tâm vào tha lực mà được sinh về Tịnh độ. Lợi tha nghĩa là tha lực, chỉ cho sức bản nguyện của đức Phật A di đà. Nguyện sinh kệ trong Vô lượng thọ kinh ưu ba đề xá (Đại 26, 230 hạ), nói: Thế tôn! Con dốc lòng, Qui mệnh khắp mười phương, Vô ngại Quang Như lai, Nguyện sinh nước An lạc. Nếu nói theo tư tưởng mở ra Tam thừa để đưa về Nhất Phật thừa của kinh Pháp hoa, thì tiếng Nhất tâm là chỉ cho 3 tâm: Chí tâm, Tín nhạo, Dục sinh, nói trong kinh Vô lượng thọ. Vì căn cứ vào bản nguyện của đức Phật A di đà mà được lập ra, cho nên gọi là Tam tâm tha lực. Nhưng đối với người tu hành thì 3 tâm với 1 tâm không khác nhau, tức là trong 3 tâm không có thứ tự sơ, trung, hậu sai biệt, bởi vì trong cái sát na qui mệnh không ngoài 1 niệm, nên không có sự phân chia 3 tâm hay 1 tâm. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối].

lợi tha nhứt tâm

Tâm Phật là tâm chuyên nhứt làm lợi cho chúng sanh—With single mind to help others—The Buddha's mind.

lợi thiệp

(利涉) Cao tăng, sống vào đời Đường, Trung quốc, người xứ Tây vực, thuộc dòng Bà la môn.Thủa nhỏ, sư thông minh mẫn tiệp, rất được dòng họ kính trọng. Về sau, kết bạn Đông du, đến núi Kim thoa ở Trung quốc, gặp được Tam tạng Huyền trang xin ngài xuất gia, chuyên nghiên cứu kinh luận, trở thành đệ tử ưu tú của ngài Huyền trang, được vua Trung tông và các quan rất kính trọng. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), sư giảng kinh ở chùa An quốc, 4 chúng đến nghe đông đảo, phẩm vật cúng dường vô số. Bấy giờ, quan Đại lí bình sự là Vi đinh thấy thế không vui, bèn tâu lên vua cho hai bên Phật giáo và Đạo giáo tranh luận với nhau để định hơn thua. Vua Huyền tong liền ban lệnh cho mỗi bên tuyển chọn 100 người vào nội điện tranh luận, sư cùng Vi đinh tranh luận, cuối cùng Vi đinh bị thua, vua bãi chức Vi đinh về làm thứ dân, còn ban thưởng cho sư tiền của, lụa là và xây chùa Minh giáo, thỉnh sư trụ trì. Người đương thời tôn sư là người giảng luận bậc nhất. Cuối đời, sư bị đày ở Hán đông, ít lâu sau được tha, sư trở về trụ ở chùa Long hưng tại Nam dương, rất được Quốc sư Tuệ trung kính nể. Sư có tác phẩm: Lập pháp chàng luận, 1 quyển. Ngoài ra, ngài Viên chiếu ở chùa Tây minh, thu chép các ngôn hạnh của sư mà biên tập thành bộ Đại Đường An quốc tự Lợi thiệp pháp sư truyện, 10 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.17].

lợi thế

To be on the safe side.

lợi tiện

Convenient—Comfortable.

lợi trí

Patava (skt)—Keen intelligence or wisdom.

lợi tung

(利踪) (800-880) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thiền châu (Hà bắc), họ Chu, là đệ tử nối pháp của ngài Nam tuyền Phổ nguyện. Sư xuất gia từ nhỏ, năm 20 tuổi thụ giới Cụ túc. Năm Khai thành thứ 2 (837), sư đến Cù châu (huyện Cù, tỉnh Chiết giang), núi Tử hồ, khai sáng viện Định nghiệp, cũng gọi là Tử hồ nham, người đương thời gọi sư là Tử hồ Lợi tung. Năm Hàm thông thứ 2 (861), viện này được ban bảng hiệu là An Quốc Thiền Viện. Niên hiệu Quảng minh năm đầu (880) sư tịch, thọ 81 tuổi, pháp lạp 61. Sư có tác phẩm: Tử hồ Lợi tung thiền sư ngữ lục, 1 quyển. [X. Tổ đường tập Q.18; Cảnh đức truyền đăng lục Q.10; Liên đăng hội yếu Q.6].

lợi vật

See Lợi Sanh.

Lợi ích

利益; C: lìyì; J: riyaku;|1. Lợi ích, hiệu nghiệm; đồng nghĩa với Nhiêu ích (饒益); 2. Một điểm mạnh, công đức, có tính chất thiện (s: anuśaṃsa); 3. Truyền trao lợi ích, công đức, hạnh phúc đến người khác (s: anugraha).

lợi ích

Advantage—Benefit—Aid—To bless. ; (利益) Phạm, Pàli: Upakàra. Cũng gọi: Nhiêu ích. Gọi tắt: Lợi, Ích. Thuận theo Phật pháp sẽ được ân huệ và hạnh phúc. Lợi ích có 2 loại: Lợi mình và lợi người. Lợi mình gọi là công đức, lợi người gọi là lợi ích. Lợi ích có được ở đời này gọi là Hiện ích, lợi ích có được ở đời sau gọi là Đương ích. Phổ thông cho rằng những sự lợi ích như chữa lành bệnh, thêm tuổi thọ, được tiền bạc, v.v... là lợi ích đời hiện tại. Tịnh độ Chân tông Nhật bản chủ trương, lúc sống ở thế gian, có được lòng tin chân thực, có thể đạt đến cảnh giới Phật, gọi là Hiện ích; sau khi chết được sinh về Tịnh độ, gọi là Đương ích. [X. kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.2; luật Tứ phần Q.38; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.6 phần cuối; Pháp hoa văn cú kí Q.6; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.5].

Lợi ích chúng sinh

利益衆生; C: lìyì zhòngshēng; J: rieki shūjō;|Đem lợi ích đến chúng sinh như những vị Bồ Tát thực hiện (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

lợi ích cá nhân

Personal advantage

lợi ích về tâm lý

Psychological help.

Lợi độn

利鈍; C: lìdùn; J: ridon;|Chỉ những người tu học lanh lợi và đần độn (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

lục

Sat or Sad (skt)—Sáu—Six.

lục ba

The six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật.

Lục Ba La Mật

(六波羅蜜): xem phần Lục Độ (六度) bên dưới.

lục ba la mật

The six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section. ; (六波羅蜜) Phạm:Wađ-pàramità, Waỉ-pàramità. Gọi đủ: Lục ba la mật đa. Hán dịch: Lục độ, Lục độ vô cực, Lục đáo bỉ ngạn. Sáu hạnh rốt ráo mà Bồ tát Đại thừa cần phải thực hiện để hoàn thành lí tưởng đạt đến Phật quả. Sáu hành ấy là: 1. Bố thí ba la mật (Phạm: Dànapàramità). Cũng gọi Thí ba la mật, Đàn na ba la mật, Bố thí độ vô cực. Nghĩa là bố thí một cách rốt ráo, viên mãn, gồm có tài thí (cho tiền của), pháp thí (giảng dạy chân lí) và vô úy thí (trừ sự sợ hãi khiến cho chúng sinh yên tâm). 2. Trì giới ba la mật (Phạm: Zìlapàramità). Cũng gọi Giới ba la mật, Thi la ba la mật, Giới độ vô cực. Giữ gìn giới luật một cách trọn đủ để đối trị nghiệp ác, khiến cho thân tâm thanh tịnh và an lạc. 3. Nhẫn nhục ba la mật (Phạm:Kwàntipàramità). Cũng gọi Nhẫn ba la mật, Sằn đề ba la mật, Nhẫn nhục độ vô cực. Nhịn nhục mà không chấp tướng, để đối trị sự sân hận, khiến tâm an trụ. 4. Tinh tiến ba la mật (Phạm:Vìryapàramità). Cũng gọi Tiến ba la mật, Tì lê da ba la mật, Tinh tiến độ vô cực. Thực hành 5 Ba la mật kia một cách liên tục không gián đoạn, để đối trị tâm biếng nhác, làm tăng trưởng pháp lành. 5. Thiền định ba la mật (Phạm: Dhyàna-pàramità). Cũng gọi Thiền ba la mật, Thiền na ba la mật, Thiền độ vô cực: Thiền định thù thắng nhất, Bồ tát tu tập Thiền định này có thể đạt đến cảnh giới hoàn toàn tịch lặng. 6. Trí tuệ ba la mật (Phạm: Prajĩàpàramità). Cũng gọi Tuệ ba la mật, Bát nhã ba la mật, Minh độ vô cực. Trí tuệ chân thực đối trị ngu si, nương vào trí tuệ này có thể đạt đến giải thoát tuyệt đối. Cứ theo kinh Giải thâm mật quyển 4, nếu phối hợp 6 Ba la mật này với tam học là giới, định, tuệ, thì Thí, Giới, Nhẫn, thuộc về Tăng thượng giới học, Thiền ba la mật thuộc về Tăng thượng tâm học, Bát nhã ba la mật thuộc về Tăng thượng tuệ học, còn Tinh tiến ba la mật thì thông cả tam học. Ngoài ra, tông Pháp tướng chia Trí tuệ ba la mật thành 6 loại là: Phương tiện thiện xảo, Nguyện, Lực, Trí, hợp với 6 Ba la mật thành 10 Ba la mật, để làm thắng hạnh của Bồ tát. [X. phẩm Tựa kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; kinh Bồ tát địa trì Q.1, 10; kinh Lục độ tập; kinh Đại bát nhã Q.579-600; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.5-10; luận Đại trí độ Q.11-18; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.8; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần trên].

Lục Ba La Mật Tự

(六波羅蜜寺, Rokuharamitsu-ji): ngôi chùa của Phái Trí Sơn (智山派) thuộc Chơn Ngôn Tông, hiện tọa lạc tại Matsubaradōri (松原通), Higashiyama-ku (東山區), Kyōto-shi (京都市), Kyōto-fu (京都府); hiệu núi là Bổ Đà Lạc Sơn (補陀洛山); tên gọi chính thức là Bổ Đà Lạc Sơn Phổ Môn Viện (補陀洛山普門院), là nơi tham bái hành hương thứ 17 trong số 33 nơi tham bái chính ở vùng Tây Quốc (西國, Saikoku). tượng thờ chính của chùa là Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音, quốc bảo). Vào năm thứ 5 (951) niên hiệu Thiên Lịch (天曆), dịch bệnh lưu hành ở Kinh Đô Kyoto, nơi chốn kinh thành thây người chết chồng chất lớp lớp, Không Dã Thượng Nhân (空也上人) thấy vậy mới lấy làm lo lắng, tự tay khắc hình tượng Thập Nhất Diện Quan Âm rồi mang tượng đi khắp kinh thành, lấy nước trà cúng cho tượng mà cho người bệnh uống; sau đó thì ai ai cũng được khỏi bệnh. Ngay như Thôn Thượng Thiên Hoàng (村上天皇, Murakami Tennō) cũng bị bệnh dịch, nên lấy trà này uống thì bệnh lành hẳn. Từ đó, Thiên Hoàng lấy làm cảm kích, mới lấy bức tượng này mà tôn thờ. Vào năm 963 thì xây dựng ngôi chánh điện để thờ tượng và đặt tên chùa này là Tây Quang Tự (西光寺). Thiên Hoàng cho thỉnh 600 vị cao tăng xa gần đến chùa, cúng dường 600 quyển Đại Bát Nhã Kinh. Đó chính là nguồn gốc của chùa. Sau đó, đệ tử của Không Dã là Trung Tín (中信) mới đổi tên chùa là Lục Ba La Mật Tự; mỗi ngày giảng nghĩa Kinh Pháp Hoa, rồi hằng đêm thì niệm Phật tam muội và nơi đây trở thành tự viện của Chơn Ngôn Tông. Từ câu chuyện trà Quan Âm mà ngôi chùa hình thành, cho nên kể từ thời Thôn Thượng Thiên Hoàng trở đi, có thông lệ hằng năm chùa đều mời những người trong Hoàng Thất đến để uống loại trà này. Chùa cũng thỉnh thoảng bị cháy rụi vì binh lửa chiến loạn, nhưng may thay ngôi Chánh Điện được xây dựng vào thời Thất Đinh (室町, Muromachi) thì vẫn còn nguyên vẹn, rồi đến năm 1967 thì được tu sửa hoàn chỉnh như xưa. Vào năm 1586, Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) cho xây dựng Phổ Môn Viện. Hiện chùa vẫn còn lưu lại rất nhiều bảo vật có giá trị tầm cỡ quốc gia như tuợng đứng Thập Nhất Diện Quan Âm, bằng gỗ, do Không Dã sáng tác; tuợng đứng Không Dã Thượng Nhân, bằng gỗ, do Khang Thắng (康勝), con trai thứ 4 của Vận Khánh (運慶) tạc vào thời Liêm Thương; tượng ngồi Bình Thanh Thạnh (平清盛, Taira-no-Kiyomori) theo hình dạng tăng sĩ, bằng gỗ; tượng ngồi Địa Tạng Bồ Tát, bằng gỗ, do Vận Khánh tạo; tượng ngồi vận khánh, bằng gỗ, v.v.

Lục ba-la-mật

六波羅蜜; C: liù pōluómì; J: ropparamitsu;|Sáu pháp Ba-la-mật (波羅蜜; s: pāramitā). Hạnh thanh tịnh của hàng Bồ Tát, đều lưu xuất từ quan điểm không vướng mắc vào lợi lạc của riêng mình (dựa trên trí huệ về tính không). Đó là: Bố thí (布施; s: dāna), Trì giới (持戒; s: śīla), Nhẫn nhục (忍辱; s: kṣānti), Tinh tiến (精進; s: vīrya), Thiền định (禪定; s: dhyāna), và Trí huệ (智慧; s: prajñā). Còn gọi là Lục độ (六度). Kinh văn đề cập sâu đến Lục Ba-la-mật là Thủ-lăng-nghiêm tam-muội kinh (首楞嚴三昧經; s: śūraṃgama-samādhi-sūtra).

Lục ba-la-mật-đa

六波羅蜜多; C: liùbōluómìduō; J: ropparamitta;|Lục Ba-la-mật (六波羅蜜).

lục ban thần túc

Còn gọi là Lục Thoại (Thụy) hay sáu điềm lành xuất hiện khi Đức Phật thuyết Kinh Pháp Hoa, vì do thần cảnh thông của Phật xuất hiện ra nên gọi là thần túc—The six supernatural signs—See Lục Thoại.

lục báo

Six retributions—Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nhắc nhở ngài A Nan về Lục Báo như sau: “Ông A Nan! Chúng sanh vì lục thức tạo nghiệp, bị chiêu lấy ác báo theo sáu căn ra.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha reminded Ananda about the six retributions as follows: “Ananda! Living beings create karma with their six consciousnesses. The evil retributions they call down upon themselves come from the six sense-organs.” 1) Kiến Báo—Retribution of Seeing: a) Kiến báo chiêu dẫn các nghiệp. Kiến nghiệp nầy giao kết thì lúc chết, trước hết thấy lửa đầy mười phương. Thần thức của người chết nương bay theo khói, sa vào địa ngục vô gián, phát hiện ra hai tướng—Retribution of seeing, which beckons one and leads one to evil ends. The karma of seeing intermingles, so that at the time of death one first sees a raging conflaration which fills the ten directions. The deceased one's spiritual consciousness takes flight, but then falls. Riding on a wisp of smoke, it enters the intermittent hell. There, it is aware of two appearances: • Một là thấy sáng thì có thể thấy khắp nơi các ác vật, sanh ra sợ hãi vô cùng—One is a perception of brightness in which can be seen all sorts of evil things, and it gives rise to boundless fear. • Hai là thấy tối, lặng lẽ chẳng thấy gì cả, sinh ra sợ hãi vô cùng—The second one is a perception of darkness in which there is total stillness and no sight, and it experiences boundless terror. b) Như vậy thấy lửa đốt—When the fire that comes from seeing burns: • Nơi thính căn, có thể làm những nước sôi trong chảo đồng: The sense of hearing. It becomes cauldrons of boiling water and molten copper. • Đốt nơi tỷ căn, có thể làm khói đen, hơi lửa: When it burns the breath, it becomes black smoke and purple fumes. • Đốt nơi tri vị căn, có thể làm những viên sắt nóng: When it burns the sense of taste, it becomes the scorching hot pellets and molten iron gruel. • Đốt nơi xúc căn, có thể làm cái lò tro than nóng: When it burns the sense of touch, it becomes white-hot ember and glowing coals. • Đốt nơi tâm căn, có thể sanh ra đống lửa, tung ra bay cả không giới: When it burns the mind, it becomes stars of fire that shower everywhere and whip up and inflame the entire realm of space. 2) Văn Báo—Retribution of Hearing: a) Văn báo chiêu dẫn ác quả. Văn nghiệp nầy giao kết, lúc chết thấy sóng chìm ngập trời đất, thần thức nương theo sóng trôi vào ngục vô gián. Phát hiện ra hai tướng—Retribution of hearing, which beckons one and leads one to evil ends. The karma of hearing intermingles, and thus at the time of death onr first sees gigantic waves that dorwn heaven and earth. The deceased one's spiritual consciousness falls into the water and rides the current into the unitermittent hell. There, it is aware of two sensations: • Một là nghe rõ, nghe nhiều tiếng ồn làm rối loạn tinh thần: One is open hearing, in which it hears all sorts of noise and its essential spirit becomes confused. • Hai là không nghe thấy gì, vắng lặng u trầm: The second is closed hearing, in which there is total stillness and no hearing, and its soul sinks into oblivion. b) Sóng nghe như thế chảy vào cái nghe làm thành sự trách phạt, gạn hỏi. Chảy vào cái thấy làm thành sấm sét và các khí độc. Chảy vào hơi thở, làm thành mưa sương, tưới các trùng độc khắp thân thể. Chảy vào vị làm thành mủ huyết và những đồ uế tạp. Chảy vào xúc, làm thành súc sinh, ma quỷ và phân. Chảy vào ý, làm thành sét và mưa đá phá hoại tâm phách: When the waves from hearing flow into the hearing, they become scolding and interogation. When they flow into the seeing, they become thunder and roaring the evil poisonous vapors. When they flow into the breath, they become rain and fog that is permeated with poisonous organisms that entirely fill up the body. When they flow into the sense of taste, they become pus and blood and every kind of filth. When they flow into the sense of touch, they become animal and ghosts, and excrement and urine. When they flow into the mind, they become lightning and hail which ravage the heart and soul. 3) Khứu Báo—Retribution of Smelling: a) Khứu báo chiêu dẫn ác quả, khứu nghiệp nầy giao kết, lúc chết thấy độc khí đầy dẫy xa gần. Thần thức nương theo khí vào vô gián địa ngục. Phát hiện ra hai tướng—The retribution of smelling, which beckons one and leads one to evil ends. The karma of smelling intermingles, and thus at the time of death one first sees a poisonous smoke that permeates the atmosphere near and far. The deceased one's spiritual consciousness wells up out of the earth and enters the unintermittent hell. There, it is aware of two sensations: • Một là thông khứu, bị các độc khí nhiễu loạn tâm thần: One is unobstructed smelling, in which it is thouroughly infused with the evil vapors and its mind becomes distressed. • Hai là tắc khứu, khí không thông, bức tức mà té xỉu xuống đất: The second is obstructed smelling, in which its breath is cut off and there is no passage, and it lies stifled and suffocating on the ground. b) Khi ngửi như thế xông vào hơi thở, làm thành nghẹt và thông. Xông vào cái thấy làm thành lửa và đuốc. Xông vào cái nghe làm chìm, đắm, sôi, trào. Xông vào vị, làm thành vị ương vị thối. Xông vào xúc làm thành nát, rũ, thành núi đại nhục có trăm nghìn con mắt mà vô số trùng ăn. Xông vào cái nghĩ làm thành tro nóng, chướng khí và cát bay mà đập nát thân thể: When the vapor of smelling invades the breath, it becomes cross examination and bearing witness. When it invades the seeing, it becomes fire and torches. When it invades the hearing, it becomes sinking and drowning, oceans, and bubbling cauldrons. When it invades the sense of taste, it becomes putrid or rancid foods. When it invades the sense of touch, it becomes ripping apart and beating to a pulp. It also becomes a huge mountain of flesh which has a hundred thousand eyes and which is sucked and fed upon by numberless worms. When in invades the mind, it becomes ashes, pestilent airs, and flying sand and gravel which cut the body to ribbons. 4) Vi Báo—Retribution of Tasting: a) Vị báo chiêu dẫn ác quả. Vị nghiệp nầy giao kết, lúc chết thấy lưới sắt phát ra lửa dữ, cháy rực khắp thế giới. Thần thức mắc lưới vào ngục vô gián phát hiện ra hai tướng—The retribution of tasting, which beckons and leads one to evil ends. This karma of tasting intermingles, and thus at the time of death one first sees an iron net ablaze with a raging fire that covers over the entire world. The deceased one's spiritual consciousness passes down through this hanging net, and suspended upside down, it enters the uninterminttent hell. There, it is aware of two sensations. • Một là hít khí vào, kết thành băng, thân bị nứt nẻ—One is a sucking air which congeals into ice so that it freezes the flesh of his body. • Hai là thở khí ra, bốc lên thành lửa dữ cháy tan cốt tủy—The second a spitting blast of air which spwes out a raging fire that roasts his bones and marrow to a pulp. b) Thứ vị nếm ấy trải qua cái nếm, làm thành sự thừa lĩnh, nhẫn chịu. Trải qua cái thấy, làm thành vàng đá nóng đỏ. Trải qua cái nghe, làm thành gươm đao sắc. Trải qua hơi thở, làm thành lồng sắt lớn trùm cả quốc độ. Trải qua xúc, làm thành cung, tên, nỏ. Trải qua ý, làm thành thứ sắc nóng bay trên hư không rưới xuống: When the tasting of flavors passes through the sense of taste, it becomes what must be acknowledged and what must be endured. When it passes through the seeing, it becomes burning metal and stones. When it passes through the hearing, it becomes sharp weapons and knives. When it passes through the sense of smell, it becomes a vast iron cage that encloses the entire land. When it passes through the sense of touch, it becomes bows and arrows, crossbows, and darts. When it passes through the mind, it becomes flying pieces of molten iron that rain down from out of space. 5) Xúc Báo—Retribution of Touching: a) Xúc báo chiêu dẫn ác quả. Xúc nghiệp nầy giao kết, lúc chết thấy núi lớn bốn phía họp lại, không có đường đi ra. Thần thức thấy thành lớn bằng sắt, các rắn lửa, chó lửa, cọp, gấu, sư tử, những lính đầu trâu, quỷ la sát đầu ngựa cầm thương đao, lùa người vào thành đến ngục vô gián. Phát hiện ra hai tướng—The retribution of touching which beckons and leads one to evil ends. The karma of touching intermingles, and thus at the time of death one first sees huge mountains closing in on one from four sides, leaving no path of escape. The deceased one's spiritual consciousness then sees a vast iron city. Fiery snakes and fiery dogs, wolves, lions, ox-headed jail keepers, and horse-headed rakshasas brandishing spears and lances drive it into the iron city toward the unintermittent hell. There, it is aware of two sensations. • Một là xúc hợp lại, núi giáp lại ép thân thể, xương thịt tuôn máu: One is touch that involves coming together, in which mountains come together to squeeze its body until its flesh, bones, and blood are totally dispersed. • Hai là xúc ly, gươm đao đâm chém vào người, tim gan tan nát: The second is thouch that involves separation, in which knives and swords attack the body, ripping the heart and liver to shreds. b) Thứ xúc ấy trải qua cái xúc, làm thành đường, quán, sảnh, án. Trải qua cái thấy làm thành thiêu đốt. Trải qua cái nghe làm thành đập, đánh, đâm, bắn. Trải qua hơi thở làm thành túi, đẫy, tra khảo, trói buộc. Trải qua cái nếm làm thành kiềm, kẹp, chém, chặt. Trải qua cái ý, làm thành sa xuống, bay lên, nấu, nướng: When this touching passes through the sensation of touch, it becomes striking, binding, stabbing, and piercing. When it passes through the seeing, it becomes burning and scorching. When it passes through the hearing, it becomes questioning, investigating, court examinations, and interrogation. When it passes through the sense of smell, it becomes enclosurs, bags, beating, and binding up. When it passes through the sense of taste, it becomes plowing, pinching, chopping, and severing. When it passes through the mind, it becomes falling, flying, frying, and broiling. 6) Tư Báo—Retribution of Thinking: a) Tư báo chiêu dẫn ác quả. Tư nghiệp nầy giao kết, lúc chết thấy gió dữ thổi hư nát quốc độ. Thần thức bị thổi bay lên hư không, theo gió rơi vào ngục vô gián. Phát hiện ra hai tướng—The retribution of thinking, which beckons and leads one to evil ends. The karma of thinking intermingles, and thus at the time of death one first sees a foul wind which devastates the land. The deceased one's spiritual consciousness is blown up into space, and then, spiraling downward, it rides that wind straight into the unintermittent hell. There, it is aware of two sensations. • Một là không biết, mê muội vô cùng, chạy mãi không thôi: One is extreme confusion, which causes it to be frantic and to race about ceaselessly. • Hai là không mê, biết cái khổ bị nấu, bị thiêu, đau đớn vô cùng: The second is not confusion, but rather an acute awareness which causes it to suffer from endless roasting and burning, the extreme pain of which is difficult to bear. b) Cái nghĩ bậy đó kết cái nghĩ, làm thành phương hướng, xứ sở. Kết cái thấy, làm thành nghiệp cảnh và đối chứng. Kết cái nghe, làm thành hòn đá lớn chụm lại, làm băng, làm sương, đất. Kết hơi thở, làm thành xe lửa lớn. Kết cái nếm, làm thành tiếng la, hét, khóc, than. Kết cái xúc, làm thành thân lớn, thân nhỏ, và trong một ngày vạn lần chết đi sống lại, cúi xuống, ngước lên: When this deviant thought combines with thinking, it becomes locations and places. When it combines with seeing, it becomes inspection and testimonies. When it combines with hearing, it becomes huge crushing rocks, ice, and frost, dirt and fog. When it combines with smelling, it becomes a great fiery car, a fiery boat, and a fiery jail. When it combines with tasting, it becomes loud calling, wailing, and regretful crying. When it combines with touch, it becomes sensations large and small, where ten thousand births and ten thousand deaths are endured every day, and of lying with one's face to the ground. ; (六報) Cũng gọi Lục giao báo. Sáu ác báo hiện ra lúc hấp hối, do 6 thức tạo nghiệp chiêu cảm ác quả. 1. Kiến báo: Giao báo về thấy, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp thấy giao báo, thì lúc hấp hối trước hết thấy lửa hừng hừng bốc cháy khắp 10 phương, thần thức người chết bay rơi theo khói vào địa ngục Vô gián, hoặc thấy sáng, hoặc thấy tối, sinh ra hoảng hốt, sợ hãi. 2. Văn báo: Giao báo về nghe, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp nghe giao báo, thì lúc hấp hối, trước hết, nghe tiếng sóng ầm ầm, cuồn cuộn chìm ngập trời đất, thần thức người chết sa xuống dòng nước bị cuốn vào địa ngục Vô gián, hoặc nghe rõ tiếng ồn ào, hoặc không nghe gì hết. 3. Khứu báo: Giao báo về ngửi, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp ngửi giao báo, thì lúc hấp hối, trước hết, thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ trong đất trào lên, vào địa ngục Vô gián, hoặc ngửi thấy hơi độc, hoặc ngạt mũi không thông. 4. Vị báo: Giao báo về mùi vị, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp vị giao báo, thì lúc hấp hối, trước hết thấy lưới sắt nung đỏ che khắp thế giới, thần thức người chết từ dưới tung lên, mắc vào lưới treo ngược đầu mà vào địa ngục Vô gián, hoặc hút hơi vào, hoặc nhả ra. 5. Xúc báo: Giao báo về xúc chạm, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp xúc chạm giao báo, thì lúc hấp hối, trước hết, thấy núi lớn từ 4 mặt sáp lại, không còn đường ra, thần thức người chết thấy thành sắt lớn, ngục tốt đầu trâu, la sát đầu ngựa, tay cầm thương, lùa vào cửa thành hướng về địa ngục Vô gián, hoặc hợp xúc, thì núi kẹp ép mình, xương thịt nát tan, hoặc li xúc thì dao gươm chạm vào mình, tim gan cắt xẻ. 6. Tư báo: Giao báo về ý nghĩ, chiêu cảm ác quả. Khi nghiệp ý giao báo, thì lúc hấp hối, trước hết thấy gió dữ thổi nát cõi nước, thần thức người chết bị thổi lên hư không, cuốn theo chiều gió, rồi rơi xuống mà vào địa ngục Vô gián, hoặc tỉnh, hoặc mê, người chết cảm thấy rất sợ hãi. [X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh hội giải Q.10].

lục bát hoằng thệ

The forty-eight great or surpassing vows of Amitabha—See Tứ Thập Bát Nguyện. ; (六八弘誓) Cũng gọi Lục bát siêu thế hoằng nguyện. Chỉ cho 48 thệ nguyện của đức Phật A di đà. (xt. Tứ Thập Bát Nguyện).

lục bất cung kinh pháp

Six kinds of disrespect—See Sáu Không Cung Kính Pháp.

lục bất định quá

(六不定過) Đối lại: Tứ bất thành, Tứ tương vi. Tiếng dùng trong Nhân minh. Sáu lỗi của người lập luận làm cho nghĩa của Tông không được xác định. 1. Cộng bất định: Nhân (lí do) có quan hệ toàn phần với Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. Lẽ ra Nhân phải không có dị phẩm mới đúng, vì thế là lỗi. 2. Bất cộng bất định: Nhân không có quan hệ toàn phần với Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. Lẽ ra Nhân phải có quan hệ với Tông đồng phẩm mới đúng, vì thế là lỗi. 3. Đồng phẩm nhất phần chuyển dị phẩm biến chuyển bất định: Nhân có quan hệ 1 phần với Tông đồng phẩm và quan hệ toàn phần với Tông dị phẩm. Lỗi này cũng như lỗi thứ nhất. 4. Dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định: Nhân có quan hệ 1 phần với dị phẩm và quan hệ toàn phần với đồng phẩm. Lẽ ra phải tuyệt đối không có quan hệ với dị phẩm mới đúng, nên là lỗi. 5. Câu phẩm nhất phần chuyển bất định: Nhân có 1 phần quan hệ với Tông đồng phẩm và Tông dị phẩm. Cũng giống như lỗi trên. 6. Tương vi pháp định bất định: Lỗi này do Tông (mệnh đề) của người lập luận và người vấn nạn tuy trái ngược nhau, nhưng Nhân của mỗi bên đều có đủ 3 tướng (3 điều kiện) nên 2 bên không thể quyết định được đúng hay sai.

lục bộ đại thừa kinh

Sáu bộ kinh mà Đại Sư Từ Ân đã chọn cho Pháp Tướng tông—The six works chosen by master Tz'u-En as authoritative in the Dharmalaksana school. 1) Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh: The Flower Adornment Sutra. 2) Giải Thâm Mật Kinh: 3) Như Lai Xuất Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh: 4) A Tỳ Đạt Ma Kinh: Abhidharma Sutra. 5) Lăng Già Kinh: Lankavatara Sutra. 6) Đại Thừa Mật Nghiêm Kinh: Kinh Hậu Nghiêm.

lục chu

(六舟) Sáu con thuyền, ví dụ cho 6 Ba la mật. Ba la mật (Phạm:Pàramità) nghĩa là đến bờ bên kia, vì vậy dùng thuyền để ví dụ. [X. luận Thập trụ tâm Q.6].

lục chuyển y

(六轉依) Chuyển y nghĩa là chuyển bỏ chỗ y chỉ thấp kém mà chứng được chỗ thanh tịnh thù thắng. Tông Pháp tướng căn cứ vào sự khác nhau giữa các giai vị đạt được mà chia Chuyển y làm 6 loại: 1. Tổn lực ích năng chuyển: Tức chuyển y của Tư lương vị và Gia hành vị. Hai giai vị này tu tập thắng giải và có tâm hổ thẹn, cho nên giảm thiểu được sức mạnh của chủng tử ô nhiễm, mà tăng cường thế lực của chủng tử thanh tịnh, tuy chưa đoạn diệt các chủng tử Phiền não chướng và Sở tri chướng, chưa chứng được chuyển y, nhưng đã dần dần chế phục được chủng tử hiện hành, nên cũng gọi Chuyển. 2. Thông đạt chuyển: Tức là chuyển y của giai vị Thông đạt. Dùng trí Vô phân biệt của Kiến đạo dứt trừ sự thô trọng của 2 chướng Phân biệt khởi mà chứng được 1 phần chuyển y chân thực. 3. Tu tập chuyển: Tức là chuyển y của giai vị Tu đạo. Do nhiều lần tu tập trí vô phân biệt của Thập địa, dần dần đoạn trừ sự thô trọng của 2 chướng Câu sinh khởi mà lần lượt chứng được chuyển y chân thực. 4. Quả viên mãn chuyển (gọi tắt: Viên mãn chuyển): Tức là chuyển y của giai vị Cứu cánh. Hoàn thành những việc khó làm trong 3 đại a tăng kì kiếp, khi Kim cương dụ định hiện tiền, đối với Vô gián đạo đoạn hết tất cả sự thô trọng, đối với Giải thoát đạo thì chứng được Bồ đề, Niết bàn, là thành tựu chuyển y viên mãn của quả Phật. 5. Hạ liệt chuyển: Tức là chuyển y của quả vị Nhị thừa. Hàng Nhị thừa do tâm tự lợi chán khổ thích vắng lặng, chỉ thông đạt được Sinh không chân như, đã dứt trừ chủng tử Phiền não chướng, nhưng chưa đoạn trừ được chủng tử của Sở tri chướng, chỉ chứng được Sinh không. 6. Quảng đại chuyển: Chuyển y của quả vị Đại thừa. Hàng Đại thừa vì lợi tha nên thú hướng tới Đại bồ đề, không nhàm chán sinh tử, không ưa thích Niết bàn, thông đạt lí Nhị không chân như, đoạn trừ tất cả chủng tử của 2 chướng, mau chứng Đại bồ đề, Đại niết bàn. [X. phần Quả đoạn trong Nhiếp đại thừa luận bản Q.hạ; luận Thành duy thức Q.10; Nhiếp đại thừa luận thích Q.9 (Vô tính); Thành duy thức luận thuật kí Q.10 phần cuối; Duy thức luận đồng học sao Q.10, phần 2; Bách pháp vấn đáp sao Q.8].

lục chính

(六正) Lời dạy của đức Phật lìa hết tà vọng, hàm có 6 ý nghĩa chân chính được ngài Thiện đạo nêu ra trong phần Tán thiện nghĩa của Quán kinh sớ. Đó là: Chính giáo, chính nghĩa, chính hạnh, chính giải, chính nghiệp, chính trí. Từ Lục chính là do ngài Thân loan người Nhật bản sử dụng trong Ngu thốc sao để gọi chung 6 nghĩa của ngài Thiện đạo.

lục chúng

The six kinds of bhiksus—See Lục Quần Tỳ Kheo.

lục chúng sanh

(A) Lục chúng sanh được ví với sáu con vật—The six creatures are compared with the six animals: 1) Chó: A dog. 2) Chim: A bird. 3) Rắn: A snake. 4) Linh Cẩu: A hyena. 5) Cá Sấu: A crocodile (sisumara). 6) Khỉ: A monkey. (B) Lục chúng sanh hay lục căn, chúng giống như những con thú hoang bị nhốt và lúc nào cũng muốn thoát ra. Chỉ khi nào chúng được thuần hóa thì chúng mới được hạnh phúc. Cũng như thế chỉ khi nào sáu căn được thuần lương bởi chân lý Phật, thì chừng đó con người mới thật sự có hạnh phúc—The six senses or six organs of sense. They are likened to six wild creatures in confinement and always struggling to escape. Only when they are domesticated will they be happy. So is it with the six senses and the taming power of Buddha-truth.

lục chúng sinh

(六衆生) Chỉ cho 6 con vật: Chó, chim, rắn độc, dã can, cá sấu và khỉ. Kinh Phật dùng 6 loại chúng sinh này để ví dụ 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Theo kinh Tạp a hàm quyển 43, đức Phật dùng 6 loại chúng sinh để ví dụ 6 căn, đồng thời, dùng cây cột vững chắc ví dụ than (Thân niệm xứ), rồi Ngài giải thích rằng 6 loại chúng sinh này bị buộc vào cây cột kia, tuy mỗi con cố sức muốn tìm đến nơi có sự vui thích, nhưng không thoát ra được. Đức Phật dùng thí dụ này để răn dạy các tỉ khưu nếu siêng tu Thân niệm xứ thì 6 căn sẽ không mong cầu những điều thuận ý, mà cũng không chán ghét những điều trái ý. Luận Câu xá quyển 30 có trích dẫn thí dụ này và gọi là Lục sinh dụ kinh.

lục chấn

See Lục Chủng Chấn Động. ; (六震) Sáu tướng chấn động. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 6, thì 6 tướng là: Động, khởi, dũng, chấn, hống, kích. Động là lay động không yên; Khởi là từ thấp dần dần lên cao; Dũng là thình lình vọt lên, ba thứ này chỉ cho hình thức địa chấn. Chấn là phát ra tiếng động âm ỉ, Hống là tiếng rống mạnh mẽ, Kích là phát ra tiếng dội ầm ầm, 3 thứ này chỉ cho âm thanh địa chấn. Hình (hình thức) và thanh (âm thanh) mỗi thứ đều nêu 1 loại, gọi là chấn động. Ngoài ra, 6 thứ này mỗi thứ đều có 3 tướng: Tiểu (độc), trung (biến), đại (phổ biến), vì thế cộng chung lại thì có 18 tướng chấn động. Độc là động ở 1 phương, Biến là 4 phương đều động, còn Phổ biến là động cả 8 phương. (xt. Lục Chủng Chấn Động).

lục chủng a la hán

(六種阿羅漢) Sáu loại A la hán. Do chủng tính hơn kém khác nhau nên A la hán được chia ra 6 loại: 1. Thoái pháp: Chỉ cho vị A la hán vì gặp các ác duyên như tật bệnh v.v... liền lui mất pháp đã chứng được, đây là chủng tính yếu kém nhất. 2. Tư pháp: Chỉ cho vị A la hán, vì lo sợ lui mất quả đã chứng được, nên thường nghĩ đến việc tự hại để vào Vô dư Niết bàn. 3. Hộ pháp: Chỉ cho vị A la hán có khả năng giữ gìn quả mà mình đã chứng được. 4. An trụ pháp: Chỉ cho vị A la hán không lùi không tiến, mà an trụ nơi quả vị của mình. 5. Kham đạt pháp: Chỉ cho vị A la hán nhờ khéo tu luyện các căn nên đạt được pháp bất động. 6. Bất động pháp: Chỉ cho vị A la hán có căn tính rất thù thắng, không thoái chuyển đối với pháp đã chứng được. [X. luận Tạp a tì đàm tâm Q.5; luận Đại tì bà sa Q.62; luận Câu xá Q.25]. (xt. Cửu Vô Học, A La Hán).

lục chủng bất sinh

(六種不生) Sáu loại sinh mà người đã được Nhẫn vị trong Tứ thiện căn thì không phải sinh vào. 1. Thú bất sinh: Không sinh vào các đường ác.n 2. Sinh bất sinh: Không sinh vào loài đẻ trứng, đẻ nơi ẩm ướt. 3. Xứ bất sinh: Không sinh vào cõi trời Vô tưởng, Bắc câu lư châu, trời Đại phạm v.v... 4. Thân bất sinh: Không sinh làm phiến sỉ (người không có nam căn),bán trạch ca (người nam có căn nhưng không đầy đủ), hai hình v.v... 5. Hữu bất sinh: Không sinh làm bậc Thánh quả Dự lưu trong cõi Dục. 6. Hoặc bất sinh: Không sinh các hoặc thuộc Kiến đạo. Người chứng đắc Hạ nhẫn vị trong Tứ thiện căn, chỉ được Thú bất sinh, đến khi chứng đắc Thượng nhẫn vị mới được 5 bất sinh còn lại. [X. luận Câu xá Q.23].

lục chủng chuyển vị

(六種轉位) Tùy theo giai vị chứng được, quả Chuyển y được chia làm 6 loại: 1. Tổn lực ích năng chuyển: Trong giai vị Tư lương và giai vị Gia hạnh, giảm dần thế lực của chủng tử hiện hành mà tăng thêm công năng của chủng tử vô lậu. 2. Thông đạt chuyển: Ở giai vị Thông đạt, đoạn 2 chướng Phân biệt khởi và chứng 1 phần chân như. 3. Tu tập chuyển: Ở giai vị Tu đạo, đoạn 2 chướng Câu sinh khởi, dần dần tiến tới chuyển y rốt ráo. 4. Quả viên mãn chuyển: Ở giai vị Diệu giác, đoạn tất cả chủng tử của 2 chướng, chứng đắc Phật quả. 5. Hạ liệt chuyển: Chuyển y của hàng Nhị thừa, chỉ chứng nhân không, đến khôi thân diệt trí. 6. Quảng đại chuyển: Chuyển y của hàng Bồ tát, chứng nhân không và pháp không, vào Niết bàn Vô trụ. [X. Nhiếp Đại thừa luận bản Q.hạ; luận Thành duy thức Q.10; Bách pháp vấn đáp sao Q.8]. (xt. Lục Chuyển Y).

lục chủng chánh hành

Sáu loại thực hành chánh đáng—The six kinds of proper practice. 1) Từ 1 đến 5 cũng giống như trong Ngũ Chánh Hạnh: From 1 to 5 are the same as in the five proper kinds of practice—See Ngũ Chánh Hạnh. 6) Cúng Dường: Making offerings.

lục chủng chính hành

(六種正行) I. Lục Chủng Chính Hạnh. Sáu chính hạnh của hàng Bồ tát. Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 12 cho rằng, 6 Ba la mật là chính hạnh của Bồ tát, tức là Bố thí chính hạnh, Giới chính hạnh, Nhẫn chính hạnh, Tinh tiến chính hạnh, Thiền định chính hạnh và Bát nhã chính hạnh. Còn luận Biện trung biên quyển hạ thì dựa vào hành tướng của 10 Ba la mật mà chia làm 6 thứ chính hạnh là: Tối thắng chính hạnh, Tác ý chính hạnh, Tùy pháp chính hạnh, Li nhị biên chính hạnh, Sai biệt chính hạnh và Vô sai biệt chính hạnh. (xt. Lục Ba La Mật). II. Lục Chủng Chính Hạnh. Chỉ cho 6 chính hạnh vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ, ngài Thiện đạo nêu 6 chính hạnh ấy là: Đọc tụng, Quán sát, Lễ bái, Xưng danh và Tán thán cúng dường. Ngài Pháp nhiên, người Nhật bản, đem chia chính hạnh Tán thán cúng dường làm 2 thứ là Tán thán chính hạnh và Cúng dường chính hạnh, thành là 6 chính hạnh.

lục chủng chướng

(六種障) Sáu chướng ngại gặp phải khi muốn vào tam muội Chân như. 1. Nghi hoặc: Còn nghi ngờ về lí. 2. Bất tín: Khởi tâm do dự làm mất căn lành. 3. Phỉ báng: Tin vào pháp tà, chê bai chính đạo. 4. Trọng tội nghiệp chướng: Phạm 5 tội nghịch, 4 tội trọng. 5. Ngã mạn: Cậy mình tự cao. 6. Giải đãi: Biếng nhác buông thả.

lục chủng chấn

See Lục Chủng Chấn Động.

lục chủng chấn động

xem sáu cách chấn động. ; Ba loại sáu thứ chấn động—The six earthquakes or earth-shakings of which there are three categories: (I) Sáu thời chấn động theo Kinh Trường A Hàm—Earthquakes in the six periods of a day, according to the Long Agama Sutra: 1) Lúc Phật nhập thai: At the Buddha's conception. 2) Lúc Phật xuất thai: At the Buddha's birth. 3) Lúc Phật thành đạo: At the Buddha's enlightenment. 4) Lúc Phật chuyển Pháp Luân: At the Buddha's first preaching. 5) Lúc thiên ma khuyến thỉnh Ngài sống: When Mara besought him to live. 6) Lúc Phật nhập Niết Bàn: At the Buddha's Nirvana. (II) Sáu phương chấn động theo Kinh Đại Bát Nhã. Khi Thế Tôn nhập sư tử du hý tam muội, thì sáu loại chấn động nổi lên—Earthquakes in six directions, according to the Maha-Prajna Sutra. The six different kinds of shaking of the chiliocosm, or universe, when the Buddha entered into the samadhi of joyful wandering: 1) Đông vọt lên thì Tây chìm xuống: East rose and West sank. 2) Tây vọt lên thì Đông chìm xuống: West rose and east sank. 3) Nam vọt lên thì Bắc chìm xuống: South rose and North sank. 4) Bắc vọt lên thì Nam chìm xuống: North rose and South sank. 5) Bốn bên vọt lên thì chính giữa chìm xuống: Surroundings (borders) rose the centre (middle) sank. 6) Chính giữa vọt lên thì bốn bên chìm xuống: Centre (middle) rose and surroundings (borders) sank. (III) (A) Sáu tướng chấn động, theo Kinh Hoa Nghiêm—Six laksanas or marks of earthquake, according to the Avatamsaka Sutra: 1) Động: Shaking. 2) Khởi: Rising. 3) Dũng: Waving. 4) Chấn: Reverberating. 5) Giác: Khuấy động—Arousing. 6) Hống: Roaring. (B) Sáu tướng chấn động, theo Kinh Bát Nhã—Six laksanas or marks of earthquake, according to the Maha-Prajna Sutra: 1) Động: Shaking. 2) Khởi: Rising. 3) Chấn: Reverberating. 4) Kích: Khua đập—Beating. 5) Hống: Roaring. 6) Nứt ra: Cracking. ; (六種震動) Cũng gọi Lục biến chấn động, Lục phản chấn động. Gọi tắt: Lục chấn, Lục động. Sáu tướng chấn động. Theo phẩm Tựa kinh Đại bát nhã quyển 1, sự chấn động của mặt đất tùy theo phương hướng mà có 6 tướng: Đông trồi tây sụt,tây trồi đông sụt,nam trồi bắc sụt, bắc trồi nam sụt, bên trồi giữa sụt và giữa trồi bên sụt. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 16 (bản dịch mới) và kinh Quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển luân quyển 1, thì 6 tướng động là: Động, khởi, dũng, chấn, hống, kích (dao). Sáu thứ này mỗi thứ lại chia làm 3 tướng: Tiểu (độc), Trung (biến), và Đại (phổ biến, đẳng biến), vì thế nên cộng chung lại thì có 18 tướng là: Động, biến động, đẳng biến động, khởi, biến khởi, đẳng biến khởi, dũng, biến dũng, đẳng biến dũng, chấn, biến chấn, đẳng biến chấn, hống, biến hống, đẳng biến hống, kích, biến kích và đẳng biến kích. Kinh Đại phương quảng đại trang nghiêm quyển 2 thì nêu 18 tướng chấn động là: Dao động, cực dao động, biến dao động, khấu kích, cực khấu kích, biến khấu kích, di chuyển, cực di chuyển, biến di chuyển, dũng phúc, cực dũng phúc, biến dũng phúc, xuất thanh, cực xuất thanh, biến xuất thanh, biên dũng trung một trung dũng biên một (bên trồi giữa sụt, giữa trồi bên sụt), đông dũng tây một tây dũng đông một (đông trồi tây sụt, tây trồi đông sụt), nam dũng bắc một bắc dũng nam một (nam trồi bắc sụt, bắc trồi nam sụt)... (xt. Lục Chấn).

lục chủng cung cụ

(六種供具) Sáu thứ phẩm vật cúng dường đức Phật: Nước, hương xoa, hoa, thức ăn uống, đèn và hương đốt. Nếu phối hợp 6 phẩm vật này với 6 độ, thì nước biểu thị cho bố thí, hương xoa biểu thị cho trì giới, hoa biểu thị cho nhẫn nhục, thức ăn uống biểu thị cho thiền định, đèn biểu thị cho trí tuệ và hương đốt biểu thị cho tinh tiến. [X. Chân tục Phật sự biên Q.2].

lục chủng câu sinh hoặc

Sáu loại mê hoặc thông thường với chúng sanh—The six deceivers common to all the living: 1) Tham: Greed. 2) Sân: Anger. 3) Vô Minh: Si—Ignorance. 4) Hôn trầm: Torpor. 5) Nghi hoặc: Doubt. 6) Bất Chánh Kiến: Tà kiến—Incorrect views.

lục chủng giới

(六種戒) Sáu loại giới luật do Bồ tát thụ trì: 1. Hồi hướng giới: Hồi hướng hết thảy chúng sinh cùng thành quả Phật. 2. Quảng bác giới: Thu nhiếp tất cả các giới đã học. 3. Vô tội hoan hỉ xứ giới: Xa lìa 5 dục, không hủy phạm các giới, được an lạc vì tâm hoan hỉ. 4. Hằng thường giới: Trọn đời không lìa bỏ các giới đã học. 5. Kiên cố giới: Không để lợi dưỡng, cung kính, phiền não, tùy phiền não v.v... làm mê hoặc mà hủy hoại giới cấm. 6. Thi la trang nghiêm cụ tương ứng giới: Đầy đủ tất cả sự trang nghiêm về giới. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.5; luận Du già sư địa Q.42].

lục chủng hồi hướng

(六種回向) Sáu ý nghĩa hồi hướng Tây phương. Theo An lạc tập quyển hạ của ngài Đạo xước, sự hồi hướng không ngoài 6 ý nghĩa sau đây: 1. Hồi hướng các thiện nghiệp đã tu về đức Phật A di đà, khi đã sinh về cõi nước kia được 6 thần thông, thì trở lại thế gian để cứu giúp chúng sinh, đó là Bất trụ đạo. 2. Hồi nhân hướng quả. 3. Hồi hạ hướng thượng. 4. Hồi trì (chậm) hướng tốc (nhanh),đó là Bất trụ thế gian. 5. Hồi thí chúng sinh, bi niệm hướng thiện. 6. Hồi nhập Sa bà, lìa bỏ tâm phân biệt.

lục chủng khảo

Six types of testing condition—Khảo là những ảnh hưởng diễn biến của nghiệp thiện ác, nhưng chúng có sức thầm lôi cuốn hành giả làm cho bê trễ sự tu trì. Khi mới tu ai cũng có lòng hảo tâm, nhưng lần lượt bị những duyên nghiệp bên ngoài, nên một trăm người đã rớt hết chín mươi chín. Cổ đức nói: “Tu hành nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật tại Tây Thiên, tam niên vấn Phật yếu tiền.” Nghĩa là 'sự tu hành năm đầu Phật như ở trước mặt, năm thứ hai Phật đã về tây, sang năm thứ ba ai muốn hỏi đến Phật hay bảo niệm Phật, phải trả tiền mới chịu nói tới, hoặc niệm qua ít câu.' Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, có sáu loại khảo—Testing conditions are the fluctuating effects of good and bad karma, which have the power to influence the practitioner and retard his cultivation. When first taking up cultivation, every practitioner has a seed of good intentions. However, as they encounter karmic conditions, one after another, both internal and external, ninety-nine cultivators out of a hundred will fail. The ancients had a saying: “In the first year of cultivation, Amitabha Buddha is right before eyes; the second year, He has already returned to the West; by the time the third year rolls around, if someone inquires about Him or requests recitation, payment is required before a few words are spoken or a few versess recited.” According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, there are six types of testing conditions: 1) Nội Khảo: Internal Testing Conditions—Có người trong lúc tu tập, bỗng khởi lên những tâm niệm tham lam, giận hờn, dục nhiễm, ganh ghét, khinh mạn, ngi ngờ, hoặc si mê dễ hôn trầm buồn ngủ. Những tâm niệm ấy đôi khi phát hiện rất mãnh liệt, gặp duyên sự nhỏ cũng dễ cau có bực mình. Nhiều lúc trong giấc mơ, lại thấy các tướng thiện ác biến chuyển. Trong đây những tình tiết chi ly không thể tả hết được. Gặp cảnh nầy hành giả phải ý thức đó là công năng tu hành nên nghiệp tướng phát hiện. Ngay lúc ấy nên giác ngộ các nghiệp tướng đều như huyễn, nêu cao chánh niệm, thì tự nhiên các tướng ấy sẽ lần lượt tiêu tan. Nếu không nhận thức rõ ràng, tất sẽ bị nó xoay chuyển làm cho thối đọa. Tiên đức bảo: “Chẳng sợ nghiệp khởi sớm, chỉ e giác ngộ chậm” chính là điểm nầy. Có người đang lúc dụng công, bỗng phát sanh tán loạn mỏi nhọc khó cưỡng nổi. Ngay khi ấy nên đứng lên lễ Phật rồi đi kinh hành, hoặc tạm xả lui ra ngoài đọc một vài trang sách, sửa năm ba cành hoa, chờ cho thanh tịnh sẽ trở vào niệm Phật lại. Nếu không ý thức, cứ cưỡng ép cầu cho mau nhứt tâm, thì càng cố gắng lại càng loạn. Đây là sự uyển chuyển trong lúc dụng công, ví như thế giặc quá mạnh tợ nước tràn, người chủ soáy phải tùy cơ, nên cố thủ chớ không nên ra đánh. Có vị tu hành khi niệm Phật, bỗng thấy cô tịch như bản đàn độc điệu dễ sanh buồn chán, thì không ngại gì phụ thêm trì chú, quán tưởng, hoặc tụng kinh—During cultivation, some people suddenly develop thoughts of greed, anger, lust, jealousy, scorn or doubt. They may also suffer delusion, leading to drowsiness and sleep. These thoughts sometimes arise with great intensity, making the practitioner feel annoyed and upset over, at times, trivial matters. Sometimes auspicious and evil events alternate in his dreams. The specific details of these events are too numerous to be described. Faced with these occurences, the practitioner should realize that these karmic marks have appeared as a consequence of his cultivation. He should immediately understand that all karmic occurences and marks are illusory and dream-like; he should foster right thought and they will disappear one after another. Otherwise, he will certainly be swayed, lose his concentration and retrogress. The ancients used to say in this respect: “Do not fear an early manifestation of evil karma, fear only a late Awakening.” Sometimes the practitioner, in the midst of intense cultvation, suddently becomes confused and weary, which is a state difficult to fight off. At that very moment, he should arise and bow to the Buddhas or circumambulate the altar. Or else, he may take a temporary break, read a few pages of a book or rearrange some flowers, waiting for his mind to calm down before returning to the altar to resume recitation. Otherwise, the more he tries to focus his mind, the more scattered it becomes. This is a case of flexibility in cultivation. It is similar to the situation of a commander-in-chief facing an invading army as powerful as a river overflowing its banks. In such a situation, the general should stay on the defensive, consolidating his position, rather than charging into battle. Some practitioners suddenly feel solitary and isolated when reciting the Buddha's name like a single-note musical piece, and grow melancholy and bored. In such cases, they should not hesitate to add mantra or sutra recitation or visualization to their practice. 2) Ngoại Khảo: External Testing Conditions—Đây là những chướng cảnh bên ngoài làm duyên khó khăn thối đọa cho hành giả. Những chướng cảnh nầy là sự nóng bức, ồn ào, uế tạp, hoặc chỗ quá rét lạnh, hay nhiều trùng kiến muỗi mòng. Gặp cảnh nầy cũng nên uyển chuyển, đừng chấp theo hình thức, chỉ cầu được an tâm. Chẳng hạn như ở cảnh quá nóng bức, chẳng ngại gì mặc áo tràng mỏng lễ Phật, rồi ra ngoài chỗ mát mà trì niệm, đến khi xong lại trở vào bàn Phật phát nguyện hồi hướng. Hoặc gặp chỗ nhiều muỗi, có thể ngồi trong màn thưa mà niệm Phật. Như ở miền bắc Trung Hoa vì thời tiết quá lạnh, các sư khi lên chánh điện tụng kinh, cũng phải mang giày vớ và đội mủ cẩn thận. Có hàng Phật tử vì nhà nghèo, làm lụng vất vả, đi sớm về khuya, hoặc nợ nần thiếu hụt, rách rưới đói lạnh, vợ yếu con đau, không có chỗ thờ cúng trang nghiêm. Trong những hoàn cảnh nầy sự tu tập thật ra rất khó, phải có thêm sự nhẫn nại cố gắng, mới có thể thành công được. Hoặc có người vì nhiều chướng nghiệp, lúc không tu thì thôi, khi sắp vào bàn Phật lại nhức đầu chóng mặt và sanh đủ chứng bệnh, hay có khách viếng thăm và nhiều việc bất thường xãy đến. Gặp những cảnh như thế, phải cố gắng và khéo uyển chuyển tìm phương tu hành. Sự cố gắng uyển chuyển tùy trường hợp sai biệt mà ứng dụng chớ không thể nói hết ra được. Nên nhớ gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ, phải chú trọng phần tâm, đừng câu nệ phần tướng, mới có thể dung thông được. Cõi Ta Bà ác trược vẫn nhiều khổ lụy, nếu không có sức cố gắng kham nhẫn, thì sự tu hành khó mong thành tựu—These are external obstacles creating difficult conditions which can make the practitioner retrogress. These obstacles include heat, noise, dirt and pollution, freezing weather, or an outbreak of mosquitoes and other insects. When faced with these conditions, the cultivator should be flexible and not become attached to forms and appearances. He should just seek tranquility and peace of mind. For instance, in sweltering heat, he should not mind donning a light robe to bow to the Buddhas, and then retiring to a shady spot outdoors to recite the Buddha's name. At the end of the session, he can return to the altar to make his vows and transfer the merit. If the practitioner happens to be living in a mosquito-infested area, he can sit inside a net while reciting the Buddha's name. As in northern China where the weather can be freezing, monks and nuns must dress carefully in socks, shoes and hats when going to the Buddha hall to recite sutras. As another example, some destitude laymen, living from hand to mouth, going to work early and coming home late, pursued by creditors, tattered, hungry and cold, with sickly wives and malnourished children, can hardly afford a decent place to practice. In such situations, cultivation is truly difficult. In order to succeed, the practitioner should redouble his efforts and have more patience and endurance. Other people, with heavy karmic obstructions, do not experience outward occurences as long as they do not cultivate, but as soon as they are ready to bow before the altar, they develop headaches, grow dizzy, and are afflicted with all kinds of ailments. Or else, they may receive sudden visitors or encounter unusual events. Faced with these occurences, the practitioner should redouble his efforts and find ways to cultivate flexibly. These ways depend on circumstances; they cannot all be described. One point, however, should always be kept in mind: when faced with difficult circumstances, pay attention to the mind, and do not cling to appearances and forms. The evil, turbid Saha World has always been full of suffering and tears. Without perseverance and forbearance, it is very difficult to succeed in cultivation. 3) Nghịch Khảo: Testing Conditions caused by Adverse Circumstances—Trên đường đạo, nhiều khi hành giả bị nghịch cảnh làm cho trở ngại. Có người bị cha mẹ, anh em hay vợ chồng con cái ngăn trở hoặc phá hoại không cho tu. Có vị thân mang cố tật đau yếu mãi không lành. Có kẻ bị oan gia luôn theo đuổi tìm cách mưu hại. Có người bị vu oan giá họa, khiến cho ngồi tù chịu tra khảo hoặc lưu đày. Có vị bị sự tranh đua ganh ghét, hoặc bêu rêu nhiều tiếng xấu xa, làm cho khó an nhẫn. Điều sau nầy lại thường xãy ra nhiều nhứt. Những cảnh ngộ như thế đều do sức nghiệp. Lời xưa từng nói: “Hữu bất ngu chi dự, hữu cầu toàn chi hủy,” nghĩa là 'có những tiếng khen, những vinh dự bất ngờ, không đáng khen mà được khen; và có những sự kiện thật ra không đáng khinh chê, lại diễn thành cảnh khinh hủy chê bai trọn vẹn.'—Practitioners on the path of cultivation are at times impeded by adverse circumstances. Some are prevented from cultivating or frustrated in their practice by parents, brothers and sisters, wives, husbands or children. Others suddenly develop a chronic disease, from which they never completely recover. Still others are continually pursued by oponents and enemies looking for ways to harm them. Others are slandered or meet misfortunes which land them in prison, subject to torture, or they are sent into exile. Others, again, victims of jealous competition or calumny, lose all peace of mind. This last occurrence is the most frequent. Such cases occur because of the power of evil karma. The ancients had a saying: “There are instances of sudden praise and unexpected honors which are underserved, and other instances, not deserving of blame, which create major opportunities for censure and contempt.” 4) Thuận Khảo: Testing Conditions caused by “Favorable Circumstances”—Có người không gặp cảnh nghịch mà lại gặp cảnh thuận, như cầu gì được nấy, nhưng sự thành công đều thuộc duyên ràng buộc chớ không phải giải thoát. Có vị khi phát tâm muốn yên tu, bỗng cảnh danh lợi sắc thanh chợt đến, hoặc nhiều người thương mến muốn theo phụng sự gần bên. Thí dụ người xuất gia khi phát tâm tu, bỗng có kẻ đến thỉnh làm tọa chủ một ngôi chùa lớn; hoặc như người tại gia, thì có thơ mời làm tổng, bộ trưởng, hay một cuộc làm ăn mau phát tài. Đây là những cảnh thuận theo duyên đời quyến rủ người tu, rồi dẫn lần đến các sự phiền toái khác làm mất đạo niệm. Người ta chết vì lửa thì ít, mà chết vì nước lại nhiều, nên trên đường tu cảnh thuận thật ra đáng sợ hơn cảnh nghịch. Cảnh nghịch đôi khi làm cho hành giả tỉnh ngộ, dễ thoát ly niệm tham nhiễm, hoặc phẫn chí lo tu hành. Còn cảnh thuận làm cho người âm thầm thối đạo lúc nào không hay, khi bừng tỉnh mới thấy mình đã lăn xa xuống dốc. Người xưa nói: “Việc thuận tốt được ba. Mê lụy người đến già.” Lời nầy đáng gọi là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Thế nên duyên thử thách của sự thuận khảo rất vi tế, người tu cần phải lưu ý—Some practitioner do not encounter adverse circumstances, but on the contrary, meet with favorable circumstances, such as having their wishes and prayers fulfilled. However, such successes belong to the category of 'binding' conditions, rather than conditions conducive to liberation. Thus, just as some practitioners set their minds to peaceful cultivation, they suddenly encounter opportunities leading to fame and fortune, 'beautiful forms and enchanting sounds.' Or else, family members, relatives and supporters seek to follow and serve them on their retreats. For example, a monk who has made up his mind to cultivate in earnest may suddenly be requested to become the abbot of a large temple complex. Or else, a layman may unexpectedly receive a letter inviting him to become a minister heading such and such a government department, or offering him a chance to participate in a business venture which promises a quick profit. These instances, all of which are advantageous under mundane circumstances, are seductive to the cultivator, and maygradually lead to other complications. Ultimately, he may forget his high aspirations and retrogress. As the saying goes, more lives are lost in a flood than in a fire. Thus, on the path of cultivation, favorable circumstances should be feared more than unfavorable ones. Unfavorable events sometimes awaken the practitioner, making it easier for him to escape thoughts of attachment and redouble his efforts in cultivation. Favorable events, on the other hand, may make him quietly retrogress, without being aware of it. When he suddenly awakens, he may discover that he has slipped far down the slope. The ancients have said: “Even two or three favorable circumstances may cause one to be deluded until old age.” This saying is trully a ringing bell to wake cultivators up. Therefore, challenge of favorable events is very subtle, practitioners need to pay close attention to them. 5) Minh Khảo: Testing Conditions of a Clear, Explicit Nature—Đây là sự thử thách rõ ràng trước mắt mà không tự tỉnh ngộ. Chẳng hạn như một vị tài đức không bao nhiêu, nhưng được người bưng bợ khen là nhiều đức hạnh, tài năng, có phước lớn, rồi sanh ra tự kiêu tự đắc, khinh thường mọi người, làm những điều càn dở, kết cuộc bị thảm bại. Hoặc có một vị đủ khả năng tiến cao trên đường đạo, nhưng bị kẻ khác gàn trở, như bảo ăn chay sẽ bị bệnh, niệm Phật trì chú nhiều sẽ bị đổ nghiệp, hay gặp nhiều việc không lành, rồi sanh ra e dè lo sợ, thối thất đạo tâm. Hoặc có những cảnh tự mình biết nếu tiến hành thì dễ rước lấy sự lỗi lầm thất bại, nhưng vì tham vọng hay tự ái, vẫn đeo đuổi theo. Hoặc đối với các duyên bên ngoài, tuy biết đó là giả huyễn nhưng không buông bỏ được, rồi tự chuốc lấy sự buồn khổ vào tâm. Kẻ dễ dãi nhẹ dạ thường hay bị phỉnh gạt. Khi chưa diệt được tham vọng thì dễ bị người khác dùng tiền tài, sắc đẹp hoặc danh vị lôi cuốn. Cho đến nếu còn tánh nóng nảy tất dễ bị người khích động, gánh lấy những việc phiền phức vào thân. Đây là những cạm bẫy của cả đời lẫn đạo, xin nêu ra để cùng nhau khuyên nhắc, nếu không dè dặt những điểm đó, sẽ vướng vào vòng chướng nghiệp. Đối với những duyên thử thách như thế, hành giả phải nhận định cho sáng suốt, và sanh lòng quả quyết tiến theo đường lối hợp đạo mới có thể thắng nó được—These are clear 'testing conditions' which occur right before the practitioner's eyes, without his realizing their implications. For instance, a monk of relatively mediocre talents and virtues becomes the object of adulation, praised for great merit, virtue and talent. He then develops a big ego and looks down on everyone; giving rise to thoughtless action resulting in his downfall. Or else we have the case of a layman with the potential to progress far along th Way. However, he is blocked and opposed by others, who advise him, for example, that vegetarianism will make him sick, or that overly diligent mantra and Buddha Recitation will 'unleash his evil karma,' causing him to encounter many untoward events. He then develops a cautious, anxious attitude, retrogressing in his determination to achieve the Way. There are also circumstances in which the practitioner realizes that to advance further is to invite failure and defeat, yet, out of ambition or pride, he continues all the same. Or else, even though the cultivator knows that external circumstances are illusory and dream-like, he cannot let go of them, and thus brings great suffering upon himself. The easy-going and credulous are often duped. When they have not eliminated greed, it is easy for others to deceive them with money, sex and fame. It also applies to those who have a temper and too much pride. Easily aroused, they bring a great deal of trouble and anguish upon themselves. These are trappings and the pitfalls of the outside world, which are also encounterd within the Order. I bring them up here as a warning to fellow cultivators. If they are not careful, they will become entangled in the cycle of obstructing karma. The practitioner should develop a clear understanding of these adverse condition and resolve to progress along a path consonant with the Way. Only then will he be able to overcome these obstacles. 6) Ám Khảo: Silent, Hidden Testing Conditions—Điều nầy chỉ cho sự thử thách trong âm thầm không lộ liểu, hành giả nếu chẳng khéo lưu tâm, tất khó hay biết. Có người ban sơ tinh tấn niệm Phật, rồi bởi gia kế lần sa sút, làm điều chi thất bại việc ấy, sanh lòng lo lắng chán nãn trễ bỏ sự tu. Có vị công việc lại âm thầm tiến triển thuận tiện rồi ham mê đeo đuổi theo lợi lộc mà quên lãng sự tu hành. Có kẻ trước tiên siêng năng tụng niệm, nhưng vì thiếu sự kiểm điểm, phiền não ở nội tâm mỗi ngày tăng thêm một ít, lần lượt sanh ra biếng trễ, có khi đôi ba tháng hay một vài năm không niệm Phật được một câu. Có người tuy sự sống vẫn điều hòa đầy đủ, nhưng vì thời cuộc bên ngoài biến chuyển, thân thể nhà cửa nay đổi mai dời, tâm mãi hoang mang hướng ngoại, bất giác quên bỏ sự trì niệm hồi nào không hay—This refers to silent challenges, inconspicuous in nature. If the practitioner is not skillful in taking notice, they are very difficult to recognize and defeat. Some people, who may have recited the Buddha's name diligently in the beginning, grow worried and discouraged by deteriorating family finances or repeated failures in whatever they undertake, and abandon cultivation. Others see their affairs quietly progressing in a favorable way; they then become attached to profit and gain, forgetting all about the way. Others diligently engage in Budha and Sutra Recitation at the beginning, but because they fail to examine themselves, the afflictions within their minds increase with each passing day. They then grow lethargic and lazy, to the point where they do not recite a single time for months, or even years. Still others, although their lives are progressing normally, see their living conditions continuously fluctuating with changing external circumstances. With their minds always in confusion and directed toward the outside, they unwittingly neglect recitation or abandon it together.

lục chủng khổ hạnh ngoại đạo

See Lục Khổ hạnh. ; (六種苦行外道) Sáu thứ ngoại đạo tu khổ hạnh ở Ấn độ cổ đại. Đó là: 1. Tự ngã ngoại đạo: Ngoại đạo chuyên nhịn đói. 2. Đầu uyên ngoại đạo: Ngoại đạo khi trời lạnh thì xuống vực sâu để chịu cái khổ giá rét. 3. Phó hỏa ngoại đạo: Ngoại đạo đốt thân mình bằng 5 nguồn nhiệt (nằm phơi mình dưới nắng nóng, 4 hướng chung quanh thì đốt lửa). 4. Tự tọa ngoại đạo: Ngoại đạo ở trần, ngồi chỗ đất trống, bất luận thời tiết nóng hay lạnh. 5. Tịch mặc ngoại đạo: Ngoại đạo thường ở các nơi nghĩa địa, gò mả, im lặng không nói. 6. Ngưu cẩu ngoại đạo: Ngoại đạo giữ các giới bò, giới chó để mong được sinh lên cõi trời. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16 (bản Bắc).

lục chủng luận

(六種論) Sáu thứ luận. Luận, nghĩa là quyết định sự đúng sai, nghị luận chỗ ưu khuyết. Theo luận Du già sư địa quyển 15 thì 6 thứ luận là: 1. Ngôn luận: Dùng tất cả lời nói để quyết định việc đúng sai, biện luận chỗ ưu khuyết. 2. Thượng luận: Thượng nghĩa là cao thượng, tôn quí. Tất cả sự lí thế gian, tùy theo chỗ tôn quí, tùy theo chỗ thấy nghe mà quyết định đúng sai, biện luận ưu khuyết. 3. Tránh luận: Tránh nghĩa là ngăn dứt. Dùng lời lẽ biện luận để ngăn dứt lỗi lầm của đối phương. 4. Hủy báng luận: Vì mang hận trong lòng nên dùng những lời thô bỉ, bất nhã, dối trá để hủy báng lẫn nhau. 5. Thuận chính luận: Tùy thuận chính pháp, vì chúng sinh mà nghiên cứu nghĩa lí để quyết định đúng sai, khiến dứt trừ ngờ vực. 6. Giáo đạo luận: Giáo là dạy bảo, đạo là dẫn dắt. Nghĩa là quyết định đúng sai, biện luận ưu khuyết để dạy bảo, dắt dẫn mọi người, làm cho họ mở tỏ được trí chân thực, người tâm chưa định thì khiến tâm được định, người tâm đã định thì giúp cho họ được giải thoát.

lục chủng lực

(六種力) Sáu thứ sức mạnh thông thường ở thế gian được nói trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 31 như sau: 1. Trẻ con lấy tiếng khóc làm sức mạnh: Đứa trẻ muốn đòi cái gì không nói được, nên chỉ dùng tiếng khóc. 2. Người đàn bà dùng sự giận hờn làm sức mạnh: Đàn bà vốn nhu mì, nếu cần tranh cãi, tất phải dùng sự giận hờn. 3. Vị sa môn lấy nhẫn nhục làm sức mạnh: Sa môn thường lấy sự nhẫn nhục làm sức mạnh, có thể chống đỡ nghịch cảnh mà không sân hận. 4. Quốc vương lấy kiêu mạn làm sức mạnh: Uy thế của Quốc vương được tôn trọng, có năng lực làm cho nhân dân qui phục. 5. Vị La hán lấy sự chuyên tinh làm sức mạnh: La hán tu hành dũng mãnh tinh tiến, tâm không buông thả. 6. Chư Phật lấy từ bi làm sức mạnh: Chư Phật vận dụng tâm từ bi làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh, không gì làm cho các Ngài trở ngại.

lục chủng mộng

(六種夢) Sáu trạng thái mộng được nói trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 50 là: 1. Chính mộng: Mộng tự hình thành, khi trong tâm không có gì xúc động. 2. Ngạc mộng: Mộng hình thành do trong tâm có sự kinh ngạc. 3. Tư mộng: Mộng hình thành vì trong tâm có chỗ tư duy. 4. Ngụ mộng: Do ban ngày thấy các sự vật, ban đêm thành mộng. 5. Hỉ mộng: Mộng hình thành do trong tâm có điều vui mừng. 6. Cụ mộng: Mộng hình thành do trong tâm có sự sợ hãi.

lục chủng ngoại đạo

The six kinds of ascetics—See Lục Khổ Hạnh and Lục Khổ Hạnh Ngoại Đạo.

lục chủng nhiếp

(六種攝) Nhiếp hàm ý là thu lấy, nhận lấy. Theo kinh Bồ tát địa trì quyển 11, Bồ tát dùng 6 pháp để thu nhiếp các chúng sinh ở quá khứ, hiện tại và mãi mãi về sau, không biết mỏi mệt. Sáu pháp đó là: 1. Đốn nhiếp: Đốn là nhanh chóng. Từ khi mới phát tâm, đối với các chúng sinh, Bồ tát có ý tưởng họ chính là cha mẹ, nên tùy theo sức mình, Bồ tát tạo mọi sự vui thích làm lợi ích để thu nhiếp họ. 2. Tăng thượng nhiếp: Sau khi phát tâm, đối với cha mẹ, Bồ tát khởi tâm tôn trọng, dùng các phương tiện khuyên cha mẹ tu thiện pháp, tùy thời cúng dường, nhớ ơn báo ơn. Đối với vợ con, họ hàng, dạy tu pháp lành, giúp họ thắng tiến. Nếu Bồ tát làm vua, thì nhiếp phục nhân dân theo đúng chính pháp, không xử phạt một cách trái phép, dùng tài pháp làm lợi ích cho họ, tùy theo khả năng, dạy các chúng sinh, siêng tu thiện pháp. 3. Thủ nhiếp: Bồ tát thường thu nhiếp chúng sinh bằng 2 pháp là: a) Xả tâm: Đem tiền của làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh, khiến họ không còn nghèo khổ. b) Từ bi tâm: Dùng chính pháp giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến họ xa lìa tà kiến. 4. Cửu nhiếp: Bồ tát nhiếp thủ chúng sinh trải qua nhiều số kiếp, giáo hóa lâu dài mới được thành thục. 5. Bất cửu nhiếp: Bồ tát nhiếp thủ chúng sinh, chỉ giáo hóa trong thời gian ngắn mà họ đã được thành thục. 6. Hậu nhiếp: Sau 5 Nhiếp pháp ở trước, cuối cùng, Bồ tát nhiếp thủ chúng sinh làm cho họ được thành thục ngay trong đời này.

Lục chủng nhiễm tâm

六種染心; C: liùzhǒng rănxīn; J: rokushu zen-shin;|Lục nhiễm tâm (六染心).

Lục chủng nhân

六種因; C: liùzhǒngyīn; J: rokushuin;|Lục nhân (六因).

lục chủng nhân

See Lục Nhân.

lục chủng phiền não

See Lục Đại Phiền Não.

lục chủng pháp sư

(六種法師) Cũng gọi Lục pháp sư. Sáu loại pháp sư. Pháp sư là người đối với diệu pháp có thể tự thể ngộ, lại có khả năng đem diệu pháp dạy bảo người khác. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16 thì 6 loại pháp sư là: 1. Tín lực cố thụ: Vị pháp sư đem lòng tin lắng nghe chính pháp, dù chỉ 1 câu kinh, 1 bài kệ cũng nhận lãnh trong tâm. 2. Niệm lực cố trì: Vị pháp sư nhờ sức ghi nhớ nên giữ gìn pháp đã được nghe, không quên mất. 3. Khán văn vi độc: Vị pháp sư xem văn kinh và tuyên đọc cho mọi người nghe. 4. Bất vong vi tụng: Vị pháp sư thuộc lòng văn kinh và đọc tụng tự nhiên, không có quên mất. 5. Tuyên truyền vi thuyết: Vị pháp sư đem pháp mình nhận lãnh được, lần lượt tuyên thuyết cho người khác nghe. 6. Nan hiểu tu thích: Những kinh giáo do đức Phật nói nghĩa lí sâu xa, khó hiểu rõ được, bởi thế, vị pháp sư cần phải giải thích cho mọi người, giúp họ liễu ngộ.

lục chủng quyết định

Theo Đại Thừa Trang Nghiêm Luận, đây là sáu loại quyết định hay tăng thượng lực của Bồ tát tu Lục Độ—The six kinds of certainty resulting from observance of the six paramitas: 1) Tài thành quyết định: Do lực bố thí mà được đại tài hay của cải lớn—The certainty of wealth. 2) Sinh thắng quyết định: Do lực trì giới nhất định thường được sanh vào nhà quý thắng (Sát Đế Lợi, Bà La Môn, trưởng giả…)—The certainty of rebirth in honourable families. 3) Bất thối quyết định: Do lực nhẫn nhục các thiện pháp đã tu nhất định chẳng bao giờ bị lùi mất—The certainty of no retrogression to lower conditions. 4) Tu tập quyết định: Nhờ luôn tu tập thiện pháp nhất định sẽ không bao giờ gián đoạn—The certainty of progress in practice. 5) Định nghiệp quyết định: Do định lực thiền định mà thành tựu chính định nghiệp vĩnh viễn chẳng bị mất—The certainty of unfailingly good karma. 6) Vô công dụng quyết định: Do trí huệ lực, chẳng thêm công hành vẫn trụ được nơi chân lý và trí tuệ—The certainty of effortless abode in truth and wisdom.

lục chủng quyền ấn

(六種拳印) Sáu loại quyền ấn được dùng làm ấn căn bản khi kết thủ ấn trong Mật giáo. Quyền là nắm tay. Vì hình dáng của 6 loại ấn này giống như nắm tay nên gọi là Quyền ấn. Đó là: 1. Kim cương quyền ấn: Đặt ngón tay cái vào trong lòng bàn tay, rồi nắm lại thành quyền. 2. Liên hoa quyền ấn (cũng gọi Thai quyền): Co 4 ngón út, vô danh, giữa và trỏ lại, đặt đầu ngón cái bên ngoài ngón trỏ, giữa lóng thứ 1 và thứ 2. 3. Nội phược quyền ấn (gọi tắt: Nội phược): Tréo tay thành quyền, 10 ngón đan vào nhau ở trong lòng bàn tay, ngón cái của tay phải đặt lên trên ngón cái của tay trái. 4. Ngoại phược quyền ấn (gọi tắt: Ngoại phược): Tréo tay thành quyền, 10 ngón đan vào nhau ở ngoài bàn tay, ngón cái của tay phải đặt lên trên ngón cái của tay trái. Bốn Quyền ấn trên đây là các ấn cơ bản thường dùng trong Mật giáo. 5. Phẫn nộ quyền ấn: Trước hết kết ấn Kim cương quyền, sau đó dựng đứng ngón trỏ và ngón út. 6. Như lai quyền ấn: Hai tay nắm lại chồng lên nhau, tay phải đặt phía trên, kết ấn Kim cương quyền; tay trái đặt phía dưới, kết ấn Liên hoa quyền, nhưng ngón cái của ấn Liên hoa quyền để trong lòng bàn tay phải. Trong 6 ấn nói trên, Liên hoa quyền còn được gọi là Như lai quyền, Thai tạng quyền.Trong các kinh quĩ nói về Như lai quyền phần nhiều là chỉ cho Liên hoa quyền. Có thuyết cho rằng trong 6 quyền ấn này chỉ có 4 loại trước là ấn căn bản, còn 2 quyền ấn sau thì không phải, nhưng vì 6 ấn đều có hình dáng giống như nắm tay, nên gọi chung là Lục chủng quyền ấn. Lục chủng quyền ấn và Thập nhị hợp chưởng đều là ấn cơ bản trong các ấn tướng của Mật giáo. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.10]. (xt. Tứ Chủng Quyền, Như Lai Quyền).

lục chủng tam bảo

(六種三寶) Sáu chủng loại Tam bảo. 1. Đồng thể tam bảo (cũng gọi Nhất thể tam bảo): Phật Pháp Tăng tên tuy có 3 nhưng thể tính thì là một. Tức Tam bảo cùng lấy pháp thân chân như của tịnh pháp giới làm thể. 2. Biệt thể tam bảo (cũng gọi Biệt tướng tam bảo, Hóa tướng tam bảo): Thể tướng của Tam bảo đều khác nhau. Như 3 thân của Phật là Phật bảo, giáo lí hành quả vô lậu của Tam thừa là Pháp bảo, Thánh chúng Tam thừa là Tăng bảo. 3. Nhất thừa tam bảo: Tam bảo thuộc về Nhất thừa giáo là phương tiện tu chứng của chủng tính bất định. Trong đó, Pháp thân cứu cánh là Phật bảo, pháp Nhất thừa là Pháp bảo, chúng Bồ tát Nhất thừa là Tăng bảo. 4. Tam thừa tam bảo: Tam bảo chung cho cả hàng Tam thừa. Trong đó, 3 thân Phật vì hàng Tam thừa mà ứng hiện là Phật bảo, pháp Tam thừa là Pháp bảo, chúng Tam thừa là Tăng bảo. 5. Chân thực tam bảo: Căn cứ vào giáo chỉ chân thực của Tam thừa mà bàn về thực nghĩa của Tam bảo đồng thể, biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa v.v... Trong đó, lấy 3 thân làm Phật bảo, lấy giáo, lí, hành, quả vô lậu làm Pháp bảo tam thừa, lấy tất cả chúng Thánh trụ hướng, trụ quả, trụ đạo v.v... làm Tăng bảo. 6. Trụ trì tam bảo: Xá lợi Phật, các loại tượng Phật, tranh Phật v.v... là Phật bảo, biểu thị cho Phật bảo vĩnh viễn trụ thế. Đại tạng kinh biểu thị cho Pháp bảo trụ thế bất diệt, những vị xuất gia là Tăng bảo, biểu thị Phật pháp lưu thông. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.6].

lục chủng thiện xảo phương tiện

Theo Bồ Tát Địa Trì Kinh, có sáu loại phương tiện thiện xảo—According to the Bodhisattva Practicing Ground Sutra, there are six able devices of Bodhisattvas: 1) Tùy Thuận Xảo Phương Tiện: Thuận theo căn cơ chúng sanh mà răn dạy, khiến họ tin tưởng ưa thích; thuyết pháp rất sâu mà dễ hiểu cho mọi người—Preaching deep truths in simple form to lead on people gladly to believe. 2) Lập Yếu Xảo Phương Tiện: Hứa cho chúng sanh tài sản ruộng nương (xe Hưu, xe Trâu) mà họ mong muốn, để dần dần khiến họ thực hành thiện pháp—Promising people every good way of realizing their desires, of wealth. 3) Dị Tướng Xảo Phương Tiện: Khi họ chẳng tòng thuận thì làm ra vẻ giận dữ quở trách khiến họ phải sợ mà sữa đổi—Showing a threatening aspect to the disobedient to induce reform. 4) Bức Bách Xảo Phương Tiện: Đối với những kẻ phạm giới thì có hình thức trừng phạt khiến họ lìa bỏ ác pháp—Rebuking and punishing people with a like object. 5) Báo Ân Xảo Phương Tiện: Cho tài vật để họ sinh tâm cúng dường bố thí—Granting wealth to induce grateful offerings and almsgiving. 6) Thanh Tịnh Xảo Phương Tiện: Từ trên cõi trời giáng sinh, rồi xuất gia học đạo, thành vô thượng Bồ Đề, khiến chúng sanh đều tín lạc và thanh tịnh—Descending from heaven, leaving home, attaining, and leading to joy and purity.

lục chủng thân phong

(六種身風) Chỉ cho 6 loại khí di chuyển trong thân con người. Cứ theo luận Hiển tông quyển 29 thì 6 thứ khí ấy là: 1. Nhập tức phong: Hơi gió bên ngoài đưa vào thân, tức là thời kì các chúng sinh còn ở trong thai noãn, trước hết trong rốn có gió nghiệp nổi dậy, xuyên qua thân thành huyệt, lại có gió ở bên ngoài lần lượt từ mũi, miệng nối nhau luồn vào. 2. Xuất tức phong: Hơi gió bên trong thoát ra, khi có hơi gió bên ngoài đưa vào. 3. Phát ngữ phong: Hơi gió phát ra tiếng nói. Nghĩa là gió sinh ra từ trong rốn, lưu chuyển qua cổ họng, rung động môi lưỡi mà phát ra âm thanh. 4. Trừ khí phong: Loại khí tẩy trừ những vật nhớp nhúa trong thân. Vì tâm sinh các cảm giác đau khổ, muốn trừ bỏ, dùng gió dẫn ra bên ngoài, sức gió này làm cho thân được yên ổn, nên gọi là Trừ khí phong. 5. Tùy chuyển phong: Loại khí chuyển khắp các lỗ chân lông của thân thể. 6. Động thân phong: Sự động chuyển của thân đều thuộc về gió.

lục chủng thực

(六種食) Sáu pháp thụ thực của tỉ khưu. 1. Khất thực: Tỉ khưu không dùng những phương thức bất chính để được thức ăn, cũng không nhận lời mời đến nhà cư sĩ thụ trai, mà chỉ thực hành pháp khất thực (xin thức ăn), tinh tiến tu đạo, tạo cơ hội cho người bố thí được hưởng phúc lợi. 2. Thứ đệ khất thực: Tỉ khưu đi khất thực không phân biệt giàu nghèo, phải có tâm bình đẳng từ ái đối với chúng sinh, theo thứ tự từng nhà để khất thực. 3. Bất tác dư thực pháp: Tỉ khưu không nên thụ thực nhiều lần trong ngày, cũng không nên tích trữ thức ăn còn lại (dư thực). 4. Nhất tọa thực: Chỉ thụ thực 1 lần vào đúng giờ ngọ. 5. Nhất sủy thực (cũng gọi Tiết lượng thực): Tiết giảm việc ăn uống để lợi cho việc tu đạo. 6. Bất trung hậu ẩm tương: Sau giờ ngọ không được uống nước đường, nước trái cây v.v... để khỏi mắc lỗi tà mệnh và gây chướng ngại cho việc tu đạo. [X. Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.thượng].

lục chủng thực phẩm

Six kinds of food—See Lục Trần.

lục chủng trụ

Sáu loại trụ vị của Bồ tát—The six bodhisattva-stages in the Bodhisattvabhumi Sutra (Bồ Tát Địa Trì Kinh): 1) Chủng tính trụ: The attainment of the Buddha-seed—See Thập Trụ. 2) Giải hành trụ: The attainment of discernments and practices in the ten necessary activities of a bodhisattva (see Thập Hạnh Bồ Tát). 3) Tịnh tâm trụ: The attainment of purity by attaining reality (see Sơ Địa trong Thập địa Bồ Tát). 4) Hành đạo tích trụ: The attainment of progress in riddance of incorrect thinking from the second to the seventh stages of Bodhisattva (see Thập địa Bồ Tát). 5) Quyết định trụ: Attainment of powers of correct decision and judgment in the eight and nine stages of Bodhisattva (see Thập Địa Bồ Tát). 6) Cứu cánh trụ: Giai đoạn đạt được Bồ tát toàn thiện trong Thập địa Bồ Tát, nhưng chưa tới Phật địa—Attainment of the perfect bodhisattva-stage in the ten stages of bodhisattva, but not including the Buddha-stage. ; (六種住) Sáu giai vị tu hành không thoái chuyển của Bồ tát được nói đến trong luận Bồ tát địa trì quyển 3 và Đại minh tam tạng pháp số quyển 26. Đó là: Chủng tính trụ, Giải hành trụ, Tịnh tâm trụ, Hành đạo tích trụ, Quyết định trụ, Cứu kính trụ. Trụ nghĩa là không chuyển lui. Sáu giai vị này đều là những giai vị không chuyển lui nên gọi làTrụ. 1. Chủng tính trụ: Chỉ cho giai vị Bồ tát Thập trụ, Thập hành. Bồ tát ở những giai vị này thành tựu nhân duyên Phật đạo, không hề chuyển lui mà tăng tiến mãi mãi. 2. Giải hành trụ: Chỉ cho Bồ tát ở giai vị Thập hồi hướng. Bồ tát ở giai vị này tu tập Trung đạo quán, làm phương tiện tiến vào Sơ địa. 3. Tịnh tâm trụ: Chỉ cho Bồ tát ở Sơ địa. Bồ tát ở giai vị này đoạn trừ Kiến hoặc căn bản, được tâm vô lậu, lìa tâm ngã tướng bất tịnh của phàm phu. 4. Hành đạo tích trụ: Chỉ cho hàng Bồ tát từ địa thứ 2 đến địa thứ 7. Bồ tát ở những giai vị này, đoạn trừ Tư hoặc căn bản, hiển bày dấu vết chứng nhập hành đạo. 5. Quyết định trụ: Chỉ cho hàng Bồ tát địa thứ 8, thứ 9. Bồ tát ở những giai vị này đã đạt được chân thực, quyết định không trở lui. 6. Cứu cánh trụ: Chỉ cho hàng Bồ tát Thập địa. Bồ tát ở giai vị này đã đạt được cứu cánh chân thực, giác và hạnh đều đầy đủ, rốt ráo không trở lui. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.12].

lục chủng tán loạn

(六種散亂) Sáu nguyên do làm cho tâm ý tán loạn. 1. Tự tính tán loạn: Tự tính của 5 thức trước là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân rong ruổi theo các cảnh tượng bên ngoài, không thể an định. 2. Ngoại tán loạn: Trong lúc tu thiện, bị cảnh ngũ dục mê hoặc nên tâm bị tán loạn. 3. Nội tán loạn: Khi tu thiền định, tâm bị động loạn, nên tham đắm trần cảnh, mà lui sụt công phu tu tập. 4. Tướng tán loạn: Giả tạo tướng tu thiện nên tâm bị lui sụt. 5. Thô trọng tán loạn: Lúc tu thiện pháp, tâm sinh khởi các chấp trước thô trọng như ngã, ngã sở, ngã mạn, nên thiện pháp tu tập không thanh tịnh. 6. Tác ý tán loạn: Nương theo ngoại giáo, gắng sức tu tập, đã không được chứng ngộ, trái lại còn sinh tâm tán loạn. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].

lục chủng tâm

Sáu loại tâm—Six kinds of mind—See Tâm.

lục chủng tính

Sáu loại chủng tính—Six germ-natures or roots of Bodhisattva development: 1) Từ 1 đến 5 thì giống như trong Ngũ Chủng Tính: From 1 to 5 are the same as in the five germ-natures—See Ngũ Chủng Tính. 6) Diệu Giác Tính: Giác ngôn viên mãn vi diệu—The Buddha stage of a wonderful enlightenment. ; (六種性) I. Lục Chủng Tính. Sáu chủng tính của A la hán. Tùy theo căn cơ lợi độn, A la hán được chia làm 6 loại: 1. Thoái pháp (Phạm: Parihàịadharman): Vị này gặp chút duyên ác liền lui sụt mất pháp đã chứng được. 2. Tư pháp (Phạm: Cetanà-dharman): Vị này vì lo sợ bị lui sụt mất quả đã chứng được, nên thường nghĩ đến việc tự hại. 3. Hộ pháp (Phạm: Anurakwaịàdharman): Đối với pháp đã chứng được, vị này hoan hỉ và có thể tự giữ gìn. 4. An trụ pháp(Phạm:Sthitàkaôpyadharman), cũng gọi Trụ pháp, Trụ bất động pháp. Vị này không lui nhưng cũng không tiến, mà an trụ ở địa vị của mình. 5. Kham đạt pháp (Phạm:Prativedhanàdharman), cũng gọi Thăng tiến pháp. Vị này khéo tu luyện các căn, mau đạt được pháp Bất động. 6. Bất động pháp (Phạm: Akopyadharman): Đối với pháp đã chứng được, vị này không hề bị lui sụt. Sáu chủng tính này, từ giai vị Tứ thiện căn trở lên đã có, vì thế đến giai vị Vô học cũng sinh ra 6 loại khác. Trong đó, 5 loại trước thuộc về độn căn, loại thứ 6 là Bất động pháp thì thuộc về lợi căn. Ở giai vị Kiến đạo, 5 loại trước gọi là Tín giải, Bất động pháp gọi là Kiến chí. Ở giai vị Tu đạo, 5 loại trước gọi là Tùy tín hành, còn Bất động pháp thì gọi là Tùy pháp hành. Ở giai vị Vô học đạo, 5 loại trước gọi là Thời ái tâm giải thoát, Thời giải thoát, còn Bất động pháp thì gọi là Bất thời giải thoát, Bất động tâm giải thoát. Ngoài ra, trong giai vị Hữu học Kiến đạo và Tu đạo thì Thoái pháp và Tư pháp thiếu 2 loại gia hạnh là Hằng thời và Tôn trọng, Hộ pháp chỉ có gia hạnh Hằng thời, An trụ pháp chỉ có gia hạnh Tôn trọng, còn 2 loại Kham đạt pháp và Bất động pháp thì có đủ cả 2 gia hạnh Hằng thời và Tôn trọng. Theo luận Đại tì bà sa quyển 62, 6 chủng tính này được phối với 9 phẩm: Hạ hạ, Hạ trung, Hạ thượng, Trung hạ, Trung trung, Trung thượng, Thượng hạ, Thượng trung, Thượng thượng. [X. luận Đại tì bà sa Q.7; luận Tạp a tì đàm tâm Q.5, luận Câu xá Q.25; luận Thuận chính lí Q.68; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.13]. (xt. Cửu Vô Học). II. Lục Chủng Tính. Cũng gọi Lục tính, Lục tuệ. Sáu chủng tính của hàng Bồ tát được phân biệt theo hành vị từ nhân đến quả. Đó là: 1. Tập chủng tính: Chỉ cho giai vị Thập trụ. Bồ tát ở giai vị này tu tập không quán, phá trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. 2. Tính chủng tính: Chỉ cho giai vị Thập hành. Bồ tát ở giai vị này không trụ ở không, mà có thể giáo hóa chúng sinh, phân biệt tất cả pháp. 3. Đạo chủng tính: Chỉ cho giai vị Thập hồi hướng. Bồ tát ở giai vị này, tu diệu quán Trung đạo, nhờ đó mà thông đạt tất cả Phật pháp. 4. Thánh chủng tính: Chỉ cho giai vị Thập địa. Bồ tát ở giai vị này tu diệu quán Trung đạo, phá 1 phần vô minh mà chứng nhập Thánh vị. 5. Đẳng giác tính: Chỉ cho giai vị Đẳng giác, Bồ tát ở giai vị này, tuy dưới Diệu giác 1 bậc, nhưng cao hơn 40 giai vị trước, nên gọi là Đẳng giác tính. 6. Diệu giác tính: Chỉ cho giai vị Diệu giác. Đây là giai vị Phật quả. [X. phẩm Chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì Q.1; Nhân vương kinh sớ Q.trung phần đầu (Viên trắc); Tứ giáo nghi Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ]. (xt. Chủng Tính).

lục chủng xảo phương tiện

The six able devices of Bodhisattvas—See Lục Chủng Thiện Xảo Phương Tiện. ; (六種巧方便) Sáu phương tiện khéo léo của Bồ tát dùng để hóa độ chúng sinh. 1. Tùy thuận xảo phương tiện: Bồ tát tùy thuận căn cớ chúng sinh mà dạy bảo, khiến cho họ sinh niềm tin tưởng, ưa thích, sau đó giảng nói các pháp sâu xa mầu nhiệm. 2. Lập yếu xả phương tiện: Yếu tức là thệ ước. Nghĩa là Bồ tát lập nguyện tùy theo sự mong cầu của chúng sinh mà cấp phát cho họ tiền của, ruộng vườn, nhà cửa v.v... rồi khuyên họ thụ trì giới cấm, tu hành thiện pháp. 3. Dị tướng xảo phương tiện: Khi răn dạy mà chúng sinh không thuận theo thì Bồ tát khởi tâm từ bi, tạm thời hiện tướng giận dữ, quở trách, khiến cho họ sợ hãi mà bỏ ác làm thiện. 4. Bức bách xảo phương tiện: Đối với kẻ phạm giới, Bồ tát cắt đứt mọi sự cung cấp những vật cần dùng, hoặc phải trách phạt để làm cho họ xa lìa ác pháp. 5. Báo ân xảo phương tiện: Bồ tát bố thí tài vật cho chúng sinh, hoặc giúp họ thoát khỏi khổ nạn, do đó chúng sinh khởi tâm báo ân, nhưng Bồ tát không mong cầu tài lợi thế gian ấy, mà dạy chúng sinh cúng dường cha mẹ và thụ trì giới cấm. 6. Thanh tịnh xảo phương tiện: Bồ tát từ cõi trời giáng sinh, xuất gia học đạo, thành vô thượng bồ đề, làm cho lòng tin tưởng, ưa thích của chúng sinh thêm bền chắc, khiến tất cả hoặc nhiễm đều thanh tịnh. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8].

lục chủng y chính vô ngại

(六種依正無礙) Sáu thứ y chính vô ngại. Y chính tức là Y báo và Chính báo. Y báo chỉ cho cõi nước thế gian, cõi này là nơi y chỉ(nương tựa)của thân, nên gọi là Y báo. Chính báo chỉ cho thân ngũ ấm, thân này là thể chính do nghiệp lực cảm báo, nên gọi là Chính báo. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, nhờ nghiệp vô lậu thanh tịnh mà chư Phật, Bồ tát cảm được thân pháp tính, cho nên các Ngài an trụ ở cõi nước thanh tịnh. Tuy an trụ ở cõi Thường tịch quang, nhưng vì nguyện hóa độ chúng sinh, nên các Ngài thị hiện Hạ tam quốc độ và Cửu giới thân, dùng sức thần thông chẳng thể nghĩ bàn, hoặc ở trong thân hiện ra cõi nước, hoặc ở trong cõi nước hiện ra thân; vì thân và cõi nước viên dung tự tại, nên gọi là Y chính vô ngại. Sự Y chính vô ngại này có thể được chia một cách tổng quát thành 6 loại là: 1. Y nội hiện y: Trong 1 cõi nước lại hiện tất cả cõi nước. 2. Chính nội hiện chính: Ở trong 1 thân lại hiện tất cả thân. 3. Chính nội hiện y: Trong 1 thân lại hiện tất cả cõi nước. 4. Y nội hiện chính: Ở trong 1 cõi nước lại hiện tất cả thân. 5.Y nội hiện y chính: Trong vi trần quốc độ hiện vô số Phật thân, lại hiện tất cả cõi Phật. 6. Chính trung hiện chính y: Trong thân mình hiện thân chư Phật, lại hiện cõi nước của chư Phật. (xt. Y Chính Nhị Báo).

lục chủng ý lạc

(六種意樂) Cũng gọi Tư tu lục ý. Sáu thứ ý nhạo. Ý nhạo nghĩa là trong tâm ưa thích khi muốn làm một việc gì. Theo luận Nhiếp Đại thừa, Bồ tát tu tập tất cả pháp môn trong tâm cần phải vui mừng. Sáu thứ ý nhạo là: 1. Quảng đại ý nhạo: Bồ tát dâng 7 thứ báu trong khắp các thế giới nhiều như số cát sông Hằng cúng dường Như lai, lại thực hành trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, cho đến hiện tại chứng được quả Phật cũng không thấy nhàm đủ. 2. Trường thời ý nhạo: Bồ tát thực hành 6 độ cho đến hiện đời chứng được quả Phật mà thường ưa thích không hề gián đoạn. 3. Hoan hỉ ý nhạo: Bồ tát thường đem lục độ làm lợi ích loài hữu tình, do làm việc ấy mà tâm sinh hoan hỉ. 4. Hạ ân ý nhạo (cũng gọi Hữu ân đức ý nhạo): Bồ tát thực hành 6 độ mang lại lợi ích cho hữu tình, nhưng không thấy mình có ban ơn cho họ. 5. Đại chí ý nhạo: Bồ tát đem công đức thiện căn do thực hành lục độ mà được, hồi hướng cho tất cả chúng sinh, khiến họ cùng được thắng quả. 6. Thuần thiện ý nhạo (cũng gọi Thiện hảo ý nhạo): Bồ tát với tâm thuần thiện không xen tạp, đem công đức thiện căn do thực hành lục độ mà có được hồi hướng cho chúng sinh để cùng cầu quả Phật.

lục chủng điều phục

(六種調伏) Sáu pháp của Bồ tát dùng để điều phục các sự chướng ngại: 1. Tính điều phục: Bồ tát vốn có chủng tính thiện căn, cho nên tu thiện pháp để điều phục các phiền não chướng của thân tâm. 2. Chúng sinh điều phục: Bồ tát điều phục tất cả chúng sinh, rõ biết sự sai khác giữa tính Thanh văn, tính Duyên giác, cho đến căn tính của người và trời, để khiến tất cả chúng sinh đều có thể đắc đạo. 3. Hạnh điều phục: Bồ tát tu muôn hạnh điều phục phiền não, vì chúng sinh mà tu khổ hạnh nên không hối hận. 4. Phương tiện điều phục: Bồ tát dùng mọi phương tiện điều phục chúng sinh, đối với người mới phát tâm, dạy giữ gìn giới cấm để thoát li sinh tử, đối với người đã phát tâm thì khiến gần gũi bạn lành, thụ trì kinh pháp. 5. Thục điều phục: Đối với chúng sinh không có thiện căn, Bồ tát nói về sự vui sướng ở cõi người, cõi trời, khiến phát tâm bồ đề; còn đối với chúng sinh có thiện căn, Bồ tát tuyên thuyết pháp xuất thế gian, khiến họ tăng trưởng thiện căn để thành thục thiện quả. 6. Thục điều phục ấn, Ấn là pháp ấn: Tự thân Bồ tát đã thành thục thiện pháp mà in vào tâm mình. Ấn có 3 thứ: a) Hạ thục điều phục ấn: Bồ tát chuyên niệm bồ đề, tâm tuy nhu nhuyến nhưng chưa được thanh tịnh. b) Trung thục điều phục ấn: Tâm Bồ tát tuy được thanh tịnh, nhưng chưa thể đạt tới trạng thái tĩnh lặng rốt ráo. c) Thượng thục điều phục ấn: Bồ tát tu hành nhiều kiếp, hoàn toàn thanh tịnh, tuyệt đối vắng lặng, đạo phẩm tròn đầy. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.3].

lục chủng ấn

The six seals or proofs—B La Mật. ; (六種印) Tức là 6 Ba la mật: Bố thí, Giới hạnh, Nhẫn nhục, Tinh tiến, Thiền định và Bát nhã (Trí huệ). Sáu Ba la mật là ấn khế chứng minh của Bồ tát nên gọi là Lục chủng ấn. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.1].

lục cung kính pháp

Six kinds of respect—See Sáu Cung Kính Pháp.

Lục cú nghĩa

六句義; C: liùjùyì; J: rokukōgi;|Sáu phạm trù (s: padārtha) hiện hữu do các trường phái ngoại đạo Ấn Độ như Thắng luận tông (勝論宗; s: vaiśeṣika) đề ra. Sáu phạm trù (s: padārtha) là: 1. Thật (實; s: dravya): thật thể các pháp; 2. Đức (徳; s: guṇa): Công năng, thuộc tính; 3. Nghiệp (業; s: karma): chỉ cho sự tạo tác, vận động; 4. Đồng (同; s: sāmānya): tính chất chung của các pháp; 5. Dị (異; s: viśeṣa): tính chất riêng của các pháp; 6. Hoà hợp (和合; s: sama-vaya): Sự nhiếp thuộc lẫn nhau giữa toàn thể và riêng biệt, giữa Thật và Đức, giữa Đồng và Dị. |Lục cú nghĩa không phái chỉ là những khái niệm, mà còn là thật thể (s: artha) được diễn đạt bằng ngôn ngữ (s: pada) tương ưng. Những điều nầy đều có trong bản Thắng luận (s: vaiśeṣika-sūtra), gồm 10 phẩm (s: adhyāya).

lục cú nghĩa

(六句義) Phạm:Wađ-padàrtha. Sáu phạm trù dùng để hiển bày thực thể, thuộc tính và nguyên lí sinh thành, hoại diệt của tất cả pháp, do Tổ của học phái Thắng luận ở Ấn độ cổ đại là Ưu lâu khư (Phạm: Ulùka) lập ra. 1. Thực cú nghĩa: (Phạm: Dravyapadàrtha), tức Chủ đế, cũng gọi Sở y đế. Chỉ cho thực thể của các pháp. Gồm 9 thứ: Địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, ngã và ý. 2. Đức cú nghĩa: (Phạm: Guịapadàrtha), tức Y đế, chỉ cho công năng và thuộc tính của Thực cú nghĩa. Kinh Thắng luận (Phạm: Vaizewikasùtra), nêu 17 đức: Sắc, hương, vị, xúc, số lượng, biệt thể, hợp, li, bỉ thế, thử thể, giác, lạc, khổ, dục, sân và cần dũng. Luận Thập cú nghĩa lại thêm 7 đức nữa là: Trọng thể, dịch thể, nhuận, hành, pháp, phi pháp, và thanh, tổng cộng thành 24 đức. 3. Nghiệp cú nghĩa: (Phạm: Karmapadàrtha), tức Tác đế (dụng đế), chỉ cho sự vận động của thực thể, có 5 thứ: Thủ, xả, khuất, thân, hành. 4. Đồng cú nghĩa: (Phạm:Sàmànyapadàrtha), tức Tổng tướng đế, cũng gọi Tổng đế. Chỉ cho tính chất chung của các pháp. 5. Dị cú nghĩa: (Phạm: Vizewapadàrtha), tức Biệt tướng đế, cũng gọi Biệt đế. Chỉ cho tính chất sai biệt của các pháp. Có chỗ gọi là Đồng dị cú nghĩa. 6. Hòa hợp cú nghĩa: (Phạm:Samavàyapadàrtha), cũng gọi Vô chướng ngại đế. Nghĩa là 5 cú nghĩa: Thực, đức, nghiệp, đồng, dị nhiếp thuộc lẫn nhau mà không lìa nhau. [X. phẩm Phá thần trong Bách luận Q.thượng; luận Thắng tông thập cú nghĩa; Thắng tông thập cú nghĩa luận thích]. (xt. Thập Cú Nghĩa, Đại Hữu).

Lục Cúng

(六供): hay Lục Cúng Cụ (六供具), là 6 loại vật phẩm cúng dường, gồm: hoa, hương xoa, nước, hương đốt, thức ăn, đèn sáng. Trong số 6 loại này, hoa, hương đèn là những thứ không thể thiếu được. Lục Cúng này tượng trưng cho Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度) là Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜), và Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜). ; (六供): Theo Đinh Phúc Bảo Phật Học Đại Từ Điển (丁福保佛學大詞典), căn cứ vào Tăng Đường Thanh Quy (僧堂清規) 3 do Diện Sơn Thụy Phương (面山瑞方, Menzan Zuihō, 1683-1769), tăng sĩ Tào Động Tông của Nhật Bản soạn, Lục Cúng là 6 phẩm vật dâng cúng lên chư Phật của Thiền lâm; gồm (1) hoa (華), (2) hương lô (香爐, lò hương), (3) chúc (燭, đèn nến), (4) thang (湯, nước nóng), (5) quả (果) và (6) trà (茶). Đối với Mật Tông, Lục Cúng cũng là pháp tu cúng dường căn bản, gồm (1) hoa (花), (2) linh (鈴), (3) thiêu hương (燒香, hương đốt), (4) phạn thực (飯食, thức ăn), (5) đồ hương (塗香, hương xoa), và (6) đăng minh (燈明, đèn). Sáu vật cúng này tượng trưng cho Sáu Trần là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp. Sáu vật này còn biểu tượng cho Lục Độ (s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度), tức Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), gồm Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜) và Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜). Theo bài tán “Nhân duyên tự tánh sở xuất sanh, sở hữu chủng chủng vi diệu, hoa hương đăng đồ quả nhạc, phụng hiến Thượng Sư Tam Bảo tôn, duy nguyện từ bi ai nạp thọ (因緣自性所出生、所有種種微妙、華香燈塗果樂、上獻上師三寶尊、惟願慈悲納受, nhân duyên tự tánh vốn sanh ra, vốn có các thứ mầu nhiệm, hoa hương đèn dầu quả nhạc, dâng cúng Thượng Sư Tam Bảo trên, cúi xin từ bi thương thọ nhận)” vốn thường được dùng trong các buổi lễ Cúng Ngọ hay trong đàn Lục Cúng Hoa Đăng (六供華燈), được tìm thấy trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080), Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ, Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Hạ, v.v.; Lục Cúng ở đây là hoa, hương, đèn, dầu, quả và âm nhạc. Như vậy, cho dầu định nghĩa về Lục Cúng có khác nhau đi chăng nữa, một số vật dâng cúng quan trọng không thể thiếu được như hoa quả, thức ăn, nước uống, đèn, hương, v.v. Như Mật Giáo giải thích về ý nghĩa và tầm quan trọng của 5 loại vật dâng cúng như sau: (1) Hoa là tâm của chư Phật; khi hoa khai mở thì tượng trưng cho vạn đức mật vận (萬德密運, muôn đức âm thầm chuyển vận), là công đức viên mãn của chư Phật. Lấy hoa dâng cúng chư Phật tức là làm cho trang nghiêm tâm của chính mình. (2) Hương là một loại thể giới tánh. Dùng hương dâng cúng các đấng Như Lai có nghĩa là trang nghiêm Giới Thể (戒體) của chính mình. Sự trang nghiêm của ngoại tướng kết hợp với sự trang nghiêm của nội tướng, hợp nhất thành trang nghiêm Năm Phần Pháp Thân. (3) Đèn là ánh sáng chiếu soi của chư Phật, tức chính là trí tuệ nội tâm. Lấy hết thảy ánh sáng mà dâng cúng lên các đấng Như Lai thì sẽ được ánh sáng chiếu rọi khắp, ánh sáng cùng giao nhau, chiếu tận đến bờ bên kia của trí tuệ và hiển hiện công đức trang nghiêm của trí tuệ nội tâm. (4) Trà bản nguyên là loại nước thanh tịnh, biểu thị cho Pháp Tánh (法性). Lấy trà dâng cúng Phật, tức là mười phương các đức Như Lai ứng hóa vào thân ta, dùng loại “nước thanh tịnh của Pháp Tánh” để trước rửa sạch khí bất tịnh của tự thân, biến thành Pháp Tánh Thân (法性身), Vô Cấu Thân (無垢身, thân không dơ bẩn) và trở thành trang nghiêm Pháp Tánh. (5) Quả tượng trưng cho thức ăn, lấy sự viên mãn to lớn của thức ăn vi diệu biểu thị cho một loại viên thành. Loại Thiền ý có vị thù thắng như vậy, có nghĩa lý vô cùng thâm sâu; cho nên dâng cúng thức ăn và quy y chư Phật thì sẽ có được thiện quả, tượng trưng cho sự viên thành pháp vị. Đó là một loại “quả công đức trang nghiêm nội tâm.” Trong Niệm Tụng Kết Hộ Pháp Phổ Thông Chư Bộ (念誦結護法普通諸部, Taishō Vol. 18, No. 904) có nêu một số câu thần chú khi dâng cúng các phẩm vật. Như Chơn Ngôn dùng cho hương đốt là: “Án bạt chiết la đỗ bệ a (唵跋折羅杜鞞阿).” Chơn Ngôn dùng cho rãi hoa là: “Án bạt chiết la bổ sắt bệ án (唵跋折羅補瑟鞞唵).” Chơn Ngôn dâng cúng đèn là: “Án bạt chiết la lô kế nễ (唵跋折羅盧計你).” Chơn Ngôn cho hương xoa là: “Án bạt chiết la kiền đề già (唵跋折羅犍提伽).” Trong Thánh Hạ Dã Hột Lí Phược Đại Uy Nỗ Vương Lập Thành Đại Thần Nghiệm Cúng Dường Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp Phẩm (聖賀野紇哩縛大威怒王立成大神驗供養念誦儀軌法品, Taishō Vol. 20, No. 1072A) có đoạn rằng: “Mỗi nhật thủ chủng chủng thời hoa tán đàn thượng, thiêu hương đồ hương đăng minh ẩm thực cập quả tử, gia trì phân bố tứ biên cúng dường, tùy lực sở biện trần thiết trang nghiêm, mỗi nhập đạo tràng kiền thành tác lễ, phát lộ sám hối tùy hỷ khuyến thỉnh hồi hướng phát nguyện (每日取種種時花散壇上、燒香塗香燈明飲食及果子、加持分布四邊供養、隨力所辦陳設莊嚴、每入道塲虔誠作禮、發露懺悔隨喜勸請迴向發願, mỗi ngày lấy các thứ hoa hiện thời rãi trên đàn, hương đốt, hương xoa, đèn sáng, thức ăn uống và bánh kẹo, gia trì phân chia bốn phía cúng dường, tùy sức bày biện, thiết trí trang nghiêm, mỗi khi vào đạo tràng thì chí thành đảnh lễ, phát lộ sám hối, tùy hỷ cung thỉnh, hồi hướng và phát nguyện).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 4 có nêu rõ 6 loại điệp cho Lục Cúng là: “Lục cúng điệp, hương nhất, hoa nhất, quả nhất, đồ nhất, tiểu thực nhất, pháp bảo nhất (六供牒、香一、華一、果一、塗一、小食一、法寶一, sáu loại điệp dâng cúng gồm hương một tờ, hoa một tờ, quả một tờ, đồ thoa một tờ, thức ăn một tờ, pháp bảo một tờ).” Trong Ư Mật Sấm Thí Thực Chỉ Khái (於密滲施食旨槩, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1082) lại có đoạn rằng: “Nhiên chư Phật tức ngã Hóa Thân, cố Quan Âm, phóng quang dĩ thỉnh chư Phật dã, Phật chí tắc thân Lục Cúng dĩ cúng dường chi, thử Phổ Hiền hạnh dã (然諸佛卽我化身、故觀音、放光以請諸佛也、佛至則伸六供以供養之、此普賢行也, như vậy chư Phật là Hóa Thân của ta, cho nên đức Quan Âm phóng hào quang để thỉnh chư Phật; khi Phật đến thì bày sáu món cúng mà cúng dường Ngài, đây là hạnh của đức Phổ Hiền).” Đàn Lục Cúng trong lòng văn Sớ nêu trên là Lục Cúng Hoa Đăng (六供華燈), một trong bộ ba của nghi thức Chạy Đàn: Lục Cúng, Khai Tịch và Bạt Độ (hay Chẩn Tế). Múa Lục Cúng Hoa Đăng là một điệu múa cổ xưa của Phật Giáo do các vị sư Ấn Độ truyền vào Việt Nam. Sau khi du nhập vào xứ Đàng Trong tại Thuận Hóa-Phú Xuân, được các vị Tổ sư trong chốn Thiền môn xứ Huế tiếp thu và phát triển lên đến đỉnh cao nghệ thuật, điệu múa Lục Cúng Hoa Đăng từ đó trở thành là một loại hình âm nhạc đặc thù của Phật Giáo xứ Huế. Điệu múa này được diễn múa theo sáu lần dâng cúng; tương ứng với mỗi lần cúng là một lễ vật cúng dường lên đức Phật gồm: hoa, hương, đèn, trà, quả, nhạc. Vì vậy môi trường diễn xướng của điệu múa này luôn được trình diễn trong những hoàn cảnh đặc biệt như lễ An Vị Phật, lễ Lạc Thành Chùa hay lễ hội, vía Phật. Hình thức này cũng được thể hiện với ý nghĩa nguyện cầu cho những người đã khuất giải thoát oan khiên trong các trai đàn Chẩn Tế, Giải Oan Bạt Độ, v.v. Do đó, điệu múa Lục Cúng Hoa Đăng tồn tại với thời gian theo sự phát triển của văn hóa Phật Giáo Việt Nam. Đến thời vua Minh Mạng (1820-1840), Lục Cúng Hoa Đăng đã được tiếp thu và cải biên thành một loại hình âm nhạc cung đình, trở thành một điệu múa đặc sắc được lưu truyền cho đến ngày nay. Trong quá trình tiến hành Lục Cúng Hoa Đăng, có một số bài tán theo các điệu tán cổ xưa trong kho tàng âm nhạc Phật Giáo như tán trạo, tán rơi, tán xấp và có cả Thài—một điệu tán rất cổ xưa—để dâng cúng trong nghi lễ cúng Phật cũng như chư Tổ, như bài Nhân Duyên ở trên, hay bài La Liệt (羅列) được đề cập trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Hạ: “La liệt hương hoa kiến bảo đàn, trùng trùng Phật cảnh nhất hào đoan, tâm dung diệu lí hư không tiểu, đạo khế chơn như pháp giới khoan, tướng hảo từ bi thu nguyệt mãn, hóa thân đằng xứ mộ vân phiền, hương yên đôi lí chiêm ứng hiện, vạn tượng sum la hải ấn hàm (羅列香花建寶壇、重重佛境一毫端、心融妙理虛空小、道契眞如法界寬、相好慈悲秋月滿、化身騰處暮雲繁、香煙堆裏瞻應現、萬象森羅海印含, la liệt hương hoa lập báu đàn, hàng hàng cảnh Phật sợi lông bằng, tâm thâu lí mầu hư không nhỏ, đạo hợp chơn như pháp giới tròn, tướng tốt từ bi trăng thu rọi, hóa thân khắp chốn mây chiều tan, trong làn mây khói chư Phật hiện, vạn pháp bao la biển trí hàm).” Hoặc bài Phật [Phù] Diện (佛面) được tìm thấy trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080), Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修習瑜伽集要施食壇儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển Thượng, Du Già Diệm Khẩu Chú Tập Toản Yếu Nghi Quỹ (瑜伽燄口註集纂要儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1084) quyển Thượng, v.v.: “Phật diện do như tịnh mãn nguyệt, diệc như thiên nhật phóng quang minh, viên quang phổ chiếu ư thập phương, hỷ xả từ bi giai cụ túc (佛面猶如淨滿月、亦如千日放光明、圓光普照於十方、喜捨慈悲皆具足, mặt Phật giống như trăng tròn lắng, cũng như ngàn trời tỏa hào quang, ánh sáng chiếu khắp cõi mười phương, hỷ xả từ bi thảy đầy đủ)”, v.v.

lục cúng cụ

Sáu món dành trong việc cúng kiến hay sáu món mà Thiền Lâm dâng để cúng Phật—The six articles for worship: (A) Theo Phật Giáo Đại Thừa—According to The Mahayana Buddhism: 1) Hoa: Flowers. 2) Lư hương: A censer. 3) Nến (Đèn): Lamp or candles. 4) Thang (Nước nóng): Hot water. 5) Quả (Trái cây): Fruits. 6) Trà: Tea. (B) Theo Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill—According to The Dictionary of Chinese Budhist Terms composed by Professor Soothill: 1) Hoa: Flowers. 2) Hương (đồ bôi): Unguents. 3) Nước: Water. 4) Nhang: Incense. 5) Thức ăn: Food. 6) Đèn: Light.

Lục Căn

(s: ṣaḍ-indriyāṇi, 六根): hay còn gọi là Lục Tình (六情), tức 6 cơ quan cảm giác hay năng lực nhận thức, là Sáu Xứ trong Mười Hai Xứ, Sáu Căn Giới trong Mười Tám Giới. Căn (s, p: indriya, 根) có nghĩa là cơ quan nhận thức. Sáu Căn gồm: (1) Nhãn (s: cakṣus, p: cakkhu, 眼, mắt, cơ quan và năng lực thị giác); (2) Nhĩ (s: śrotra, śrotas, p: sota, 耳, tai, cơ quan và năng lực thính giác); (3) Tỷ (s: ghrāṇa, p: ghāna, 鼻, mũi, cơ quan và năng lực khứu giác); (4) Thiệt (s: jihvā, p: jivhā, 舌, lưỡi, cơ quan và năng lực vị giác); (5) Thân (s, p: kāya, 身, thân thể, cơ quan và năng lực xúc giác); và (6) Ý (s: manaḥ, p: mano, manas, 意, ý, cơ quan và năng lực tư duy). Năm Căn đầu được gọi là Ngũ Căn (五根), thuộc về sắc pháp, có 2 loại: cơ quan sinh lý là Phù Trần Căn (浮塵根, hay Thô Sắc Căn [粗色根]), tức 5 căn này hiện hình trạng ra bên ngoài; còn Ý Căn là nơi nương tựa của tâm để sanh khởi tâm lý, nương vào Phù Trần Căn để có thể phát sinh tác dụng thấy, nghe, hiểu biết, v.v.; có tên là Thắng Nghĩa Căn (勝義根, hay Tịnh Sắc Căn [淨色根]). Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 6 có dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh, Lục Thức tạo nghiệp, sở chiêu ác báo, tùng Lục Căn xuất (一切眾生、六識造業、所招惡報、從六根出, hết thảy chúng sanh, Sáu Thức tạo nghiệp, ác báo nhận lấy, do Sáu Căn ra).” Hay trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) có giải thích về Lục Căn thanh tịnh rằng: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh đạt bỉ ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn; cố danh Ba La Mật (六波羅蜜者、卽淨六根也、胡名波羅蜜、漢名達彼岸、以六根清淨、不染六塵、卽是度煩惱河、至菩提岸、故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Ấn Độ gọi là Ba La Mật, người Trung Quốc gọi là qua bờ bên kia; do Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; nên được gọi là Ba La Mật).” Hoặc trong bài Di Sơn Phát Nguyện Văn (怡山發願文) của Thiền Sư Di Sơn Kiểu Nhiên (怡山皎然, ?-?) nhà Đường cũng có câu: “Đệ tử mỗ giáp, tự vi chơn tánh, uổng nhập mê lưu, tùy sanh tử dĩ phiêu trầm, trục sắc thanh nhi tham nhiễm; Thập Triền Thập Sử, tích thành Hữu Lậu chi nhân; Lục Căn Lục Trần, vọng tác vô biên chi tội (弟子某甲、自違眞性、枉入迷流、隨生死以飄沉、逐色聲而貪染、十纏十使、積成有漏之因、六根六塵、妄作無邊之罪, đệ tử …, tự sai chơn tánh, lầm nhập dòng mê, theo sanh tử để thăng trầm, đắm sắc thanh mà tham nhiễm; Mười Triền Mười Sử, tích thành Hữu Lậu nhân sâu, Sáu Căn Sáu Trần, lầm tạo vô biên tội lỗi).”

Lục căn

六根; S: ṣaḍindriya;|Chỉ sáu giác quan, đó là 1. Mắt (nhãn), 2. Tai (nhĩ), 3. Mũi (tỉ), 4. Lưỡi (thiệt), 5. Thân, 6. Ý (khả năng suy nghĩ; s: manas).

lục căn

(A) Nghĩa của Lục Căn—The meanings of the six senses—Sáu căn—The six organs (faculties)—The six roots of sensations—The six indriyas: 1) Mắt: Eye. 2) Tai: Ear. 3) Mũi: Nose. 4) Lưỡi: Tongue. 5) Thân: Body. 6) Ý: Mind. ** For more information, please see Lục Cảnh—Lục Nhập—Lục Tình—Lục Trần—Lục Xứ. (B) Lục Căn là những đối tượng của Thiền Tập—The six senses are objects of meditation practices—Theo Tỳ Kheo Piyananda trong Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, bạn phải luôn tỉnh thức về những cơ quan của giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và sự tiếp xúc của chúng với thế giới bên ngoài. Bạn phải tỉnh thức về những cảm nghĩ phát sinh do kết quả của những sự tiếp xúc ấy—According to Bikkhu Piyananda in The Gems Of Buddhism Wisdom, you must always be aware of the sense organs such as eye, ear, nose, tongue and body and the contact they are having with the outside world. You must be aware of the feelings that are arising as a result of this contact. • Mắt đang tiếp xúc với sắc: Eye is now in contact with forms (rupa). • Tai đang tiếp xúc với thanh: Ear is now in contact with sound. • Mũi đang tiếp xúc với mùi: Nose is now in conatct with smell. • Lưỡi đang tiếp xúc với vị: Tongue is now in contact with taste. • Thân đang tiếp xúc với sự xúc chạm: Body is now in contact with touching. • Ý đang tiếp xúc với những vạn pháp: Mind is now in contact with all things (dharma). ; (六根) Phạm:Wađ indriyàịi. Cũng gọi Lục tình. Sáu khí quan cảm giác, 6 xứ trong 12 xứ, 6 căn giới trong 18 giới. Sáu căn là: 1. Nhãn căn: Cơ quan thị giác và năng lực thấy biết. 2. Nhĩ căn: Cơ quan thính giác và năng lực nghe biết. 3. Tỉ căn: Cơ quan khứu giác và năng lực ngửi mùi. 4. Thiệt căn: Cơ quan vị giác và năng lực nếm biết. 5. Thân căn: Cơ quan xúc giác và năng lực chạm biết. 6. Ý căn: Cơ quan tư duy và năng lực nghĩ biết. Năm căn trước cũng gọi là Ngũ căn, thuộc về sắc pháp (vật chất), cho nên gọi là Sắc căn. Có 2 loại: 1. Phù trần căn: Cơ quan sinh lí, lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) làm thể, khi đối trước cảnh thì sinh ra thức, nhưng chỉ là tác dụng phụ trợ mà thôi. 2. Thắng nghĩa căn: Lấy tịnh sắc do 4 đại sinh ra làm tính, có tác dụng chính yếu khi căn đối cảnh sinh ra thức. Đối lại với 5 căn trước thuộc sắc pháp, Ý căn thuộc tâm pháp, là chỗ nương tựa của tâm để sinh khởi tác dụng tâm lí, tức là Vô sắc căn. Cứ theo thuyết của Hữu bộ, khi 6 thức của sát na trước rơi vào quá khứ, thì Ý căn liền dẫn khởi đẳng vô gián duyên của 6 thức vào sát na kế tiếp. Bởi thế, tác dụng của 6 thức thường phải lấy Ý căn làm chỗ nương (thông y). Nhưng ngoài Ý căn ra, còn có căn đặc biệt làm chỗ nương (biệt y) cho 5 thức trước. Còn Ý thức thì nương vào Ý căn, chứ không có căn đặc biệt nào khác. Hành phái Du già theo nghĩa Duy thức mà nói về 6 căn, chủ trương 6 căn, 6 cảnh đều là do thức bên trong biến hiện ra. Sáu căn có thể được xem là toàn thể thân tâm của con người, như kinh Pháp hoa cho rằng đọc tụng, biên chép kinh điển thì 6 căn được thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.1-3; luận Thành duy thức Q.1; luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Căn, Lục Cảnh, Lục Thức, Căn).

lục căn công đức

Công năng thành tựu của lục căn—The powers of the six senses (the achievement by purification of their interchange of function). ; (六根功德) Công đức đạt được khi 6 căn thanh tịnh. Theo kinh Thủ lăng nghiêm quyển 4, lấy 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) nhân với 4 hướng (đông, tây, nam, bắc) thành 12, lại nhân 12 với 10 thành 120, rồi nhân 120 với 10 thành 1.200. Số lượng 1.200 này là công đức lục căn, bởi vì căn và trần của chúng sinh đan dệt vào nhau, vọng thành các tướng, quan hệ với nhau, mà số lượng của cảnh sở duyên đều không vượt ra ngoài 3 đời 4 hướng. Nhưng, nói theo công dụng liễu biệt thì công đức của 6 căn có hơn, kém khác nhau: 1. Nhãn căn: Có 800 công đức, vì mắt không thấy được khắp cả mà chỉ thấy được 2 bên và phía trước mặt. 2. Nhĩ căn: Có 1.200 công đức, vì tai có khả năng nghe khắp 10 phương, âm thanh từ chỗ phát ra, tuy có xa gần khác nhau, nhưng nếu lắng nghe thì tất cả đều nghe được thông suốt. 3. Tỉ căn: Có 800 công đức, vì ngoài công năng ngửi mùi, mũi không có công năng nào khác. 4. Thiệt căn: Có 1.200 công đức, vì lưỡi có thể tuyên dương tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, lời nói tuy có hạn lượng, nhưng lí nghĩa thì vô cùng tận. Ở đây chỉ bàn về lời nói của lưỡi chứ không nói đến công dụng nếm mùi vị, vì công đức của lời nói thù thắng hơn. 5. Thân căn: Có 800 công đức, vì thân có công năng nhận biết đụng chạm, rõ biết các cảnh thuận nghịch khổ vui, nhưng chỉ khi có đụng chạm mới biết không thì không biết.6. Ý căn: Có 1.200 công đức, vì khi ý căn tĩnh lặng thì nó bao dung tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian. (xt. Lục Căn Thanh Tịnh).

lục căn hỗ dụng

(六根互用) Sáu căn dùng lẫn cho nhau, nghĩa là mỗi 1 căn đều có công dụng của cả 6 căn, khi đã xa lìa ô nhiễm mà được thanh tịnh. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 23 (bản Bắc), thì 1 căn của đức Như lai có thể thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi, phân biệt vị, cảm biết xúc chạm, rõ biết pháp. Các căn khác cũng như vậy, đó là Lục căn hỗ dụng. Theo phẩm Pháp sư công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6, Bồ tát khi vào ngôi vị lục căn thanh tịnh, thì cũng được Lục căn hỗ dụng, nhưng mới chỉ là Lục căn hỗ dụng tương tự mà thôi.

lục căn ngũ dụng

Dùng một căn thay thế cho căn khác, hoặc là chỉ dùng một căn để thay thế cho tất cả các căn khác, đây là Phật lực—Substitution of one of the organ for another, or the use of one organ to do the work of all the others, which is a Buddha's power.

lục căn nhân

Theo A Tỳ Đàm của tông Câu Xá, có sáu căn nhân trong thuyết nhân quả—According to the Abhidharma of the Kosa School, there are six chief causes in the Theory of Causal Relation. 1) Năng Tác Nhân: Karana-hetu (skt)—Năng tác nhân là yếu tố dẫn đạo trong sự phát sinh một hậu quả—The active cause as the leading factor in the production of an effect. 2) Câu Hữu Nhân: Sahabhu-hetu (skt)—Câu hữu nhân là loại nhân mà trên hai yếu tố luôn luôn cùng hành sự với nhau—The co-existent cause, more than two factors always working together. 3) Đồng Loại Nhân: Sabhaga-hetu (skt)—Là loại nhân trợ giúp những nhân khác cùng loại với nó—The similar-species cause, a cause helping other causes of its kind. 4) Tương Ưng Nhân: Saprayukta-hetu (skt)—Là loại nhân xuất hiện bất cứ lúc nào, từ bất cứ động lực nào, đối với bất cứ sự kiện nào, trong bất cứ cơ hội nào, và trong bất cứ trường hợp nào—The concomitant cause, appearing at any time, from any motive, with regard to any fact, on any occasion and in any environment. 5) Biến Hành Nhân: Sarvatgrata-hetu (skt)—Là nhân luôn luôn liên hệ với những tà kiến, hoài nghi hay vô minh, tạo ra tất cả những sai lầm của con người—The universally prevalent cause, a cause always connected with wrong views, doubts or ignorance which produces all the errors of men. 6) Dị Thục Nhân: Vipaka-hetu (skt)—Là nhân tạo ra kết quả của nó trong một đời sống khác, như khi những thưởng phạt nhận lãnh được trong trong đời kế tiếp sau khi chết—The cause ripening in a different life, a cause which produces its effect in a different life, as when retributions are obtained in the life after death.

lục căn nhân tứ trợ duyên

Bảy mươi lăm pháp trong A Tỳ Đàm của Câu Xá Tông, dù phân ly, đều liên kết nhau trong thế giới hiện thực. Hiện tượng nầy được cắt nghĩa bằng lý thuyết tương quan nhân quả hay thuyết về mười nhân, trong đó có sáu căn nhân và bốn trợ duyên—The seventy-five elements mentioned in the Abhidharma of the Kosa School, though separate from one another, are found linked together in the actual world. This phenomenon is explained by the theory of causal relation or combination, sometimes called the Doctrine of the Ten Causes, in which six Chief Causes (hetu) and four Sub-causes (pratyaya) are assumed. (A) Lục Căn Nhân—The Six Chief Causes—See Lục Căn Nhân. (B) Tứ Trợ Duyên: The Four Sub-causes—See Tứ Trợ Duyên.

lục căn sám hối

Sám hối tội lỗi của lục căn—A penitential service over the sins of the six senses. ; (六根懺悔) Sám hối tội lỗi của 6 căn. Tức khi hướng tới chư Phật lễ bái sám hối tội lỗi của mình, thì sám hối riêng từng tội chướng của 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Về nghi thức sám hối 6 căn, đều có nói trong các kinh như: Kinh Phân biệt, kinh Văn thù hối quá, kinh Hiện tại Hiền kiếp thiên Phật danh, kinh Phổ hiền bồ tát hành pháp v.v... [X. Từ bi thủy sám pháp Q.trung; Ma ha chỉ quán Q.2 phần trên; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2; Quán tâm luận sớ Q.3; Đại thừa lục tình sám hối; Đôn hoàng bản đại Phật lược sám; Lễ sám văn tam chủng cập pháp hoa tam muội hành sự vận tưởng bổ trợ nghi; Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni tam muội nghi].

lục căn thanh tịnh

Sáu căn thanh tịnh nghĩa là tiêu trừ tội cấu từ vô thủy để phát triển sức mạnh vô hạn (như trường hợp Đức Phật). Sự phát triển tròn đầy nầy làm cho mắt có thể thấy đươc vạn vật trong Tam thiên Đại thiên thế giới, từ cảnh trời cao nhất xuống cõi địa ngục thấp nhứt, thấy tất cả chúng sanh trong đó từ quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng như nghiệp lực của từng cá nhân—Six pure faculties—The six organs and their purification in order to develop their unlimited power and interchange (in the case of Buddha). This full development enables the eye to see everything in a great chiliocosm from its highest heaven down to its lowest hells and all the beings past, present, and future with all the karma of each. ; (六根清淨) Cũng gọi Lục căn tịnh. Tức là 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều thanh tịnh không bị nhiễm ô. Tông Thiên thai nói, giai vị Thập tín của Biệt giáo là Lục căn thanh tịnh vị. Còn phẩm Pháp sư trong Pháp hoa thì bảo, tu 5 hạnh như: Thụ trì, đọc, tụng, giải thuyết, viết chép kinh điển thì có thể nương theo năng lực của kinh điển mà khiến cho 6 căn được thanh tịnh. [X. luận Đại trí độ Q.11; Pháp hoa kinh luận Q.hạ; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên, Pháp hoa văn cú kí Q.10; Tứ giáo nghĩa Q.6; Ma ha chỉ quán Q.1 phần trên, Q.4 phần trên; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4 phần 2, Q.4 phần 3].

lục căn thanh tịnh vị

Trạng thái lục căn thanh tịnh mà tông Thiên Thai đã định nghĩa trong Thập Tín Vị của Biệt Giáo hay Tương Tự Tức của Viên Giáo—The state of the organs thus purified is defined by T'ien-T'ai as the semblance stage in the Perfect teaching. ; (六根清淨位) Cũng gọi Lục căn tịnh vị. Tức là giai vị Thập tín trong 52 vị của Biệt giáo do Đại sư Trí khải, tông Thiên thai lập ra, tương đương với giai vị Tương tự tức trong Lục tức vị của Viên giáo. Bồ tát ở giai vị này đã dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc, nên được Lục căn thanh tịnh. [X. Tứ giáo nghĩa Q.6; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4 phần 2].

lục căn thực

(六根食) Thức ăn của 6 căn. Tức căn mắt lấy việc ngủ làm thức ăn, căn tai lấy tiếng nói làm thức ăn, căn mũi lấy mùi thơm làm thức ăn, căn lưỡi lấy mùi vị làm thức ăn, căn thân lấy láng mịn làm thức ăn, căn ý lấy pháp làm thức ăn. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.31].

lục căn ô nhiễm

Six impure faculties—See Lục Căn Thanh Tịnh.

lục căn, lục trần, lục thức

Lục căn (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), mà sanh khởi sự phân biệt của lục thức, như xấu đẹp của sắc, tiếng lớn nhỏ của âm thanh, thơm thúi của mũi, ngọt đắng của vị, lạnh nóng của xúc, sanh diệt của pháp…

lục cảnh

Sáu cảnh đối lại với lục căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý là cảnh trí, âm thanh, vị, xúc, ý tưởng cũng như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và tâm phân biệt—The six objects—The six objective fields of the six senses of sight, sound, smell, taste, touch and idea or thought; rupa, form and colour, is the field of vision; sound of hearing, scent of smelling, the five flavours of tasting, physical feeling of touch, and mental presentation of discernment. ; (六境) Phạm:Wađ viwayà. Chỉ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đây là đối tượng của 6 căn, cũng là 6 cảnh giới của 6 thức. Sáu cảnh này giống như bụi bặm làm nhơ bẩn tâm tính con người, cho nên gọi là Lục trần. Vì chúng có khả năng dẫn dắt con người vào chỗ mê vọng nên cũng gọi là Lục vọng; vì có thể làm cho pháp lành bị suy giảm, nên cũng gọi Lục suy; vì chúng có thể cướp mất tất cả thiện pháp, cho nên còn được gọi là Lục tặc. Sắc cảnh có 12 hiển sắc là xanh, vàng, đỏ, trắng, mây, khói, bụi, sương, bóng, ánh sáng, sáng, tối, với 8 hình sắc là dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, ngay thẳng và không ngay thẳng. Thanh cảnh có 2 loại: Do chúng sinh hữu tình phát ra và do vật chất phát ra, mỗi mỗi đều có ngôn ngữ và âm thanh biểu thị cho lí của sự vật; như tiếng vỗ tay, tiếng khóc, tiếng đàn sáo, tiếng sấm vang v.v..., lại chia ra 2 loại là tiếng nhanh, tiếng chậm, tất cả có 8 thứ. Hương cảnh có 4 loại: Mùi thơm (như trầm hương), mùi hôi (như hành, hẹ), mùi thoảng nhẹ, mùi cực nặng. Vị cảnh có 6 thứ: Đắng, chua, mặn, cay, ngọt, lạt. Xúc cảnh có 11 thứ: Cứng, ướt, ấm, động (4 đại), trơn, ráp, nặng, nhẹ, lạnh, đói, khát... Pháp cảnh, rộng thì bao hàm tất cả pháp, hẹp thì chỉ cho tác dụng của ý căn, ý thức đối với toàn thể 6 cảnh; hoặc đặc biệt chỉ cho đối tượng tác dụng của ý căn, ý thức. Hữu bộ cho rằng pháp cảnh bao hàm Vô biểu sắc, Tâm sở, Bất tương ứng hành Vô vi. Ngoài ra, học thuyết Duy thức của Du già hành phái chủ trương thuyết Ngoài thức không có cảnh và cho rằng 6 cảnh đều do tâm biến hiện. [X. luận Duy thức; luận Câu xá Q.2; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng, luận Thuận chính lí Q.6].

lục cấu

Theo Câu Xá Luận có sáu điều làm ô uế tịnh tâm—According to the Kosa Sastra, there are six things that defile the pure mind: 1) Não (phiền muộn): Vexation. 2) Siểm (nịnh nọt): Flattery. 3) Kiêu (khi lờn người khác): Arrogance. 4) Cuồng (Dối gạt người khác): Exaggeration. 5) Hận: Hatred. 6) Hại (làm hại người khác): Malice. ; (六垢) Cũng gọi Lục cấu pháp, Lục phiền não cấu.Chỉ cho 6 pháp bất tịnh: Não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu, những pháp này hay làm cho tâm ta ô nhiễm, nên gọi là Cấu, tên khác của phiền não. Cứ theo luận Hiển tông quyển 21, thì 2 cấu Cuống, Kiêu từ Tham mà sinh khởi, 2 cấu Hại, Hận từ Sân mà sinh khởi, Não từ Kiến thủ mà sinh khởi, còn Siểm thì từ các Kiến chấp mà sinh khởi. [X. luận Câu xá Q.2, 21; luận Đại tì bà sa Q.47; luận Tạp tâm Q.4]. (xt. Vô Cấu).

lục cấu pháp

See Lục Cấu.

lục cốc

The six cereals: 1) Nếp: Glutinous rice. 2) Gạo: Ordinary rice. 3) Đậu: Beans. 4) Lúa mì: Wheat. 5) Lúa mạch: Millet. 6) Ngô: Corn.

lục di

(六夷) Gọi đủ: Lục ba la di. Sáu giới Ba la di trong 10 Ba la di của Đại thừa (trừ 4 Ba la di chung của Đại thừa và Tiểu thừa). Đó là: Giới bán rượu, giới nói lỗi của 4 chúng, giới tự khen ngợi mình chê bai người khác, giới bỏn sẻn và hủy nhục người khác, giới sân hận không chịu ăn năn, giới gièm chê Tam bảo.

lục diện tôn

See Lục Túc Tôn.

lục diệu hạnh

See Lục Hạnh Quán.

lục diệu môn

Sáu phương cách hay cửa ngõ kỳ diệu cho người tu Phật—Six wonderful strategies or doors for Buddhist cultivators: 1) Sổ Tức Môn: Phương pháp đếm hơi thở điều hòa thân tâm. Bạn có thể đếm từ một đến mười hay ngược lại (đây là một trong những phương pháp trọng yếu giúp ta định tĩnh)—Meditation by counting one's breaths. You van count from one to ten or vise-versa. 2) Tùy Tức Môn: Phương pháp theo dõi hay nương theo hơi thở (lắng tâm theo hơi thở, biết mình đang thở vào, biết mình đang thở ra)—Meditation by following one's breaths. 3) Chỉ Môn hay Tập Trung Tâm Ý: Tập trung vào chỉ quán để lắng tâm tĩnh lặng (đã quán sổ tức và tùy tức, hành giả phải cố gắng tu tập chỉ quán)—Meditation by concentrating the mind. 4) Quán Tưởng Môn: Quán tưởng vào một đề mục để trí tuệ sáng suốt và dứt trừ điên đảo mộng tưởng—Meditation by contemplating on any object to obtain wisdom and to eliminate delusions. 5) Hoàn Môn: Quay về chiếu rọi vào trong cái tâm năng quán của chính mình—Meditation by returning to the mind. 6) Tịnh Môn: Tâm thanh tịnh hay không dính mắc vào đâu, nghĩa là vọng động không sanh khởi (biết rõ mình chẳng trụ, chẳng đắm, nhờ đó sự sáng suốt chân thực khai phát và cắt đứt mọi phiền não)—Meditation by pacifying the mind. ; (六妙門) Sáu pháp môn để đạt đến Niết bàn, (Diệu chỉ cho Niết bàn), tức là 6 pháp thiền quán do tông Thiên thai lập ra. 1. Sổ tức môn: Đếm hơi thở (từ 1 đến 10) để nhiếp tâm, là phương pháp trọng yếu để vào định. 2. Tùy tức môn: Chỉ theo dõi sự ra vào của hơi thở, chứ không đếm số, như thế thì thiền định dễ phát sinh. 3. Chỉ môn: Chặn đứng tâm vọng tưởng thì thiền định tự phát. 4. Quán môn: Quán tưởng sự hư dối của 5 ấm, phá mọi vọng kiến điên đảo, thì trí phương tiện vô lậu có thể nhân đó mà khai phát. 5. Hoàn môn: Xoay tâm chiếu rọi trở lại, biết tâm năng quán chẳng phải thật, thì ngã chấp tự tiêu, trí phương tiện vô lậu tự nhiên sáng láng. 6. Tịnh môn: Tâm không dính mắc, hoàn toàn thanh tịnh, do đó đạt được trí vô lậu chân thực, tự nhiên đoạn hoặc chứng chân. Trong 6 diệu môn thì 3 môn đầu thuộc về định, 3 môn sau thuộc về tuệ; nương theo định, tuệ này thì chứng được bồ đề chân chính. [X. Lục diệu pháp môn; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng].

Lục diệu pháp môn

六妙法門; C: liù miàofǎ mén; J: roku myouhou mon;|Sách; 1 quyển; Trí Khải (智顗) soạn.

lục diệu pháp môn

1. Sổ tức môn: tức là khéo điều hòa thân tâm, số đếm (đếm hơi thở) từ một đến mười để nhiếp loạn tâm; 2. Tùy môn: tức là không miễn cưỡng cứ tùy theo hơi thở dài ngắn. Hít vào biết hít vào, thở ra biết ra, dài ngắn, lạnh ấm thảy đều biết cả; 3. Chỉ môn: tức là ngưng tâm tịnh lự (lắng niệm). Tâm an nhàn, sáng sủa, trong sạch, không chút lay động; 4. Quán môn: cần phải quán tâm rõ ràng, biết ngũ ấm là hư vọng, phá tất cả tri kiến điên đảo và chấp ngã… 5. Hoàn môn: tức xoay tâm phản chiếu cái tâm năng quán, biết tâm năng quán là hư vọng chẳng thật; 6. Tịnh môn: Tâm chẳng chỗ dựa, chẳng trụ chẳng khởi, chẳng chấp trước, trống rỗng trong sạch. Y theo sáu môn này tu tập sẽ đạt đến diệu cảnh Niết bàn Tiểu thừa, nên gọi là Lục diệu môn.

lục dung tự

(六榕寺) Chùa, ở thành phố Quảng châu, được xây cất vào thời đại Nam Bắc triều. Ban đầu chùa có tên là Bảo trang nghiêm, sau đổi là chùa Trường thọ, rồi lại đổi là chùa Tịnh từ. Năm Nguyên phù thứ 2 (1099) đời vua Triết tông nhà Bắc Tống. Ông Tô đông pha đi qua chùa này, thấy 6 cây dong (1 loại cây si) rất lớn bao quanh chùa, ông bèn cảm khái và tự tay đề 2 chữ Lục Dong, rồi từ đời Minh trở về sau chùa được đổi tên là Lục dong tự. Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông, sau khi được Ngũ tổ Hoằng nhẫn truyền y bát, có lần đã trụ ở chùa này. Sau khi thị tịch, đệ tử đã đúc tượng bằng đồng thờ Ngài trong Lục tổ đường. Trong chùa còn có các kiến trúc chủ yếu như Quan âm điện và tháp Xá lợi. Tháp xá lợi cũng gọi là Tháp Hoa, được xây dựng vào năm Đại đồng thứ 3 (537) đời Vũ đế nhà Lương, đây là tòa tháp cổ nổi tiếng xa gần, có 9 tầng, có hình bát giác, cao 27 trượng, là ngôi tháp cao nhất ở Quảng châu. Trong tháp thờ 88 pho tượng Phật. Tầng trên cùng dựng cây cột đồng nặng tới nghìn cân, có khắc 1 nghìn tượng Phật nhỏ ở chung quanh. Trên chóp tháp có cái trụ hình quả bầu màu vàng ròng, cao vài trượng. Trong chùa còn có thờ 3 pho tượng Phật và 1 pho Quan âm bằng đồng, do vua Thánh tổ nhà Thanh đúc vào năm Khang hi thứ 2 (1663) đều là những di vật văn hóa có giá trị lịch sử và nghệ thuật cao.

Lục dụ

六喩; C: liùyù; J: rokuyu;|Sáu ẩn dụ. 1. Trong kinh Kim Cương, sáu ví dụ về Không và Vô thường là: mộng, huyễn, bọt bóng, ảnh, sương móc, điện chớp; 2. Trong kinh Duy-ma-cật là: huyễn, điện chớp, mộng, lửa, ánh trăng chiếu trên mặt nước và hình ảnh phản chiếu trong gương; 3. Theo Quán Phật tam-muội hải kinh (觀佛三昧海經), 6 ví dụ tương ứng với những công đức khác nhau khi niệm danh hiệu Phật; 4. Trong Ngũ gia giải thuyết nghị (五家解説誼) của Kỉ Hoà, 6 dụ là 6 màu sắc biểu tượng cho sáu phương diện của tâm giác ngộ.

lục dụ

Sáu thì dụ về mộng huyễn—Six illustrations of unreality in the Diamond Sutra: 1) Mộng: A dream. 2) Huyễn: A phantom. 3) Bào: A bubble. 4) Ảnh: A shadow. 5) Sương Mai: Dew. 6) Điển Chớp: Lightning. ; (六喻) Sáu thí dụ thường được dùng trong các kinh. Có 2 loại: 1. Sáu thí dụ để nói về sự vô thường và không hư của các pháp thế gian, như: Chiêm bao, ảo thuật, bọt nước, bóng, sương mai, và ánh chớp (trong kinh Kim cương), hoặc là: Ảo thuật, tia chớp, chiêm bao, ánh lửa, bóng trăng dưới nước, hình ảnh trong gương (trong kinh Tịnh danh). 2. Sáu thí dụ nói về công đức thù thắng của tam muội Niệm Phật như: Vàng Diêm phù đàn na của Trưởng giả, ấn báu của vua, ngọc Như ý của Trưởng giả, thiện chú của Tiên nhân, hạt châu trên búi tóc của Lực sĩ và núi Kim cương ở kiếp mạt.

Lục Dục

(六欲): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho sáu loại dục vọng đối với người khác tánh, gồm: tham muốn về sắc, tham muốn về hình tướng, tham muốn về uy nghi, tham muốn về ngôn ngữ âm thanh, tham muốn về sự mềm mại, tham muốn về tướng người. (2) Chỉ sáu căn sản sinh ra dục vọng là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. (3) Từ gọi tắt của Lục Dục Thiên (六欲天, sáu tầng trời của cõi dục), gồm: Tứ Đại Vương Thiên (s: Cāturmahārājakāyika-deva, 四大王天, có bốn vị trời Trì Quốc [持國], Tăng Trưởng [增長], Quảng Mục [廣目], Đa Văn [多聞] cùng quyến thuộc của họ); Tam Thập Tam Thiên (s: Trayastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 三十三天, còn gọi là Đao Lợi Thiên [忉利天]); Diệm Ma Thiên (s: Yāma, 焰摩天, còn gọi là Dạ Ma Thiên [夜摩天], Viêm Ma Thiên [炎摩天], Thời Phân Thiên [時分天]); Đâu Suất Thiên (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率天, còn gọi là Đâu Suất Đà Thiên [兜率陀天], còn gọi là Đô Suất Thiên [都率天], Đâu Thuật Thiên [兜術天], Đâu Suất Đa Thiên [兜率多天], Đâu Sư Đà Thiên [兜師陀天], Đổ Sử Đa Thiên [覩史多天], Đâu Sử Đa Thiên [兜駛多天]); Hóa Tự Tại Thiên (s: Nirmāṇa-rati, 化自在天, còn gọi là Lạc Biến Hóa Thiên [樂變化天], Vô Kiều Lạc Thiên [無憍樂天], Vô Cống Cao Thiên [無貢高天], Ni Ma La Thiên [尼摩羅天]); và Tha Hóa Tự Tại Thiên (s: Paranirmita-vaśa-vartin, 他化自在天, còn gọi là Tha Hóa Tự Chuyển Thiên [他化自轉天], Tha Hóa Lạc Thiên [他化樂天], Hóa Ứng Thanh Thiên [化應聲天], Ba La Ni Mật Thiên [波羅尼蜜天]).

lục dục

Sáu dục—The six sensual attractions: 1) Sắc Dục: Colour. 2) Hình Mạo Dục: Form. 3) Uy Nghi Tư Thái Dục: Carriage. 4) Ngữ Ngôn Âm Thanh Dục: Voice or Speech. 5) Tế Hoạt Dục: Softness or Smoothness. 6) Nhân Tướng Dục: Features. ; (六欲) I. Lục Dục. Sáu thứ ham muốn của người đời đối với người khác giới tính: Đó là: Sắc dục, hình mạo dục, uy nghi dục, ngôn ngữ âm thanh dục, tế hoạt dục, và nhân tướng dục. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.27; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.9]. II. Lục Dục. Sáu thứ ham muốn do mắt tai, mũi, lưỡi, thân và ý (tâm) sinh ra. III. Lục Dục. Gọi đủ: Lục dục thiên. (xt. Lục Dục Thiên).

lục dục ngũ trần

The six desires and the five gunas (dusts)—See Lục Dục, and Ngũõ Trần.

Lục dục thiên

六欲天; C: liùyùtiān; J: rokuyokuten;|Sáu tầng trời cõi Dục. Phía trên núi Tu-di (s: sumeru) là 6 tầng trời, xếp cao lên dần, trãi dài về hướng cõi Sắc giới. Sáu tầng trời cõi Dục là:|1. Tứ đại vương chúng thiên (四大王衆天): canh giữ 4 khu vực của thế gian ở bên dưới. Bốn vị vua là: Trì quốc thiên (持國天; s: dhṛita-rāṣṭra) cai quản phương Đông, Tăng thượng thiên (増上天; s: virūḍhaka) cai quản phương Nam, Quảng mục thiên (廣目天; s: virūpākṣa) cai quản phương Tây và Đa văn thiên (多聞天; s: vaiśravanā) cai quản phương Bắc; |2. Tam thập tam thiên (三十三天; s: trāyas-triṃśa) còn gọi là Đao lợi thiên (忉利天): gồm 33 cõi trời do 33 vị vua trời cai quản; 3. Dạ-ma thiên (夜摩天; s: yāma): cõi trời do Tu-dạ-ma thiên cai quản; 4. Đố-sử-đa thiên (睹史多天) còn gọi là Đâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita), là cõi Hỉ túc thiên, nơi Bồ Tát Di-lặc chuẩn bị thị hiện ở thế gian để thành Phật trong kiếp kế sau; |5. Lạc biến hoá thiên (樂變化天; s: nir-māṇa-rati): cõi trời nơi ước muốn của mình được thành tựu như ý một cách kì diệu;|6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; s: paranirmita-vaśa-vartin): cõi trời mà chúng sinh ở đó có thể hưởng được những niềm vui từ những chúng sinh khác, cũng là nơi ma Ba tuần, vua của các loài Ma cư ngụ.

lục dục thiên

Sáu cõi trời Dục Giới (vẫn còn trong cảnh sắc dục). Đây là những cõi trời mà chúng sanh trong đó vẫn còn chấp trước vào luyến ái thân mật từ thấp đến cao. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật đã nhắc ngài A Nan về sáu cõi trời, hình dù khỏi động, nhưng tâm tích hãy còn giao kết, gọi là Trời Dục Giới—Six Desire Heavens or Heavens of Desires (they are still in the region of sexual desire). These are Heavens in which the Heavenly beings are still attached to intimate relations from low to high. In the Surangama, the Buddha reminded Ananda about the six heavens, although they have transcended the physical in these six heavens, the traces of their minds still become involved: 1) Tứ Thiên vương Thiên: Catur-maha-rajakayika (skt)—Catumaharajika (p). a) The Heaven of the four kings—Tứ Đại Thiên Vương là cảnh giới thấp nhất, nơi bốn vị Thiên Vương canh giữ bốn phương an trú với quần thần—The Four Heavenly Great Kings, the lowest realm, where guardian gods of the four quarters dwell with their followers. b) Có bốn vị thiên vương là Trị Quốc, Quảng Mục, Tăng Trưởng và Đa Văn. Cõi trời nầy ở giữa đường lên núi Tu Di—The Heaven of the four Kings. It is described as half-way up Mount Sumeru. c) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Tám, Đức Phật đã nói với ngài A Nan về Tứ Thiên Vương như sau: “A Nan! Những người ở thế gian, không cầu thường trụ, chưa bỏ được ân ái thê thiếp, tâm không chạy theo tà dâm, lòng yên lặng, sáng sủa, sau khi chết, sanh gần mặt trời mặt trăng. Gọi là Trời Tứ Thiên Vương.”—In the Surangama Sutra, book Eight, the Buddha explained to Ananda about the Heaven of the four kings as follows: “Ananda! There are many people in the world who do not seek what is eternal and who cannot renounce the kindness and love they feel for their wives, but they have no interest in deviant sexual activity and so develop a purity and produce light. When their life ends, they draw near the sun and moon and are among those born in the heaven of the four kings. 2) Đao Lợi Thiên: Trayastrimsha (skt)—Tavatimsa (p). a) Cõi trời ba mươi ba tầng, cảnh giới của ba mươi ba vị trời, nơi đó Đế Thích là Thiên Chủ—The Thirty-Three Heavens, the realm of the thirty-three gods, where Sakka is the Lord, or King of gods. b) Tam Thập Tam Thiên hay cõi Trời Ba Mươi Ba Tầng, cảnh trời thắng diệu tuyệt vời không sao kể xiết. Cõi trời nầy ở ngay đỉnh núi Tu Di—Trayastrimsha or the Trayastrimsha Heaven. It is described as at the summit of Mount Sumeru. c) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật nói: “Những người ít dâm dục, mà lúc tịnh cư, chưa được hoàn toàn trong sạch. Sau khi chết, vượt khỏi mặt trời, mặt trăng, ở đỉnh nhân gian. Gọi là Đao Lợi Thiên.”: In the Surangama Sutra, the Buddha said, “Those whose sexual love for their wives is slight, but who have not yet obtained the entire flavor of dwelling in purity, transcend the light of sun and moon at the end of their lives, and reside at the summit of the human realm. They are among those born in the Tryastrimsha Heaven.” ** Bốn cõi trời còn lại tọa lạc giữa núi Tu Di và những trời Phạm Giới—The rest four Heavens are located between Mount Sumeru and the Brahmalokas. 3) Tô Dạ Ma Thiên: Dạ Ma Thiên hay Tu Diệm Ma Thiên—Suyama (skt)—Yama (p). a) Dạ Ma Thiên là cõi trời diệt khổ của hội chúng Thiên Dạ Ma—Yama is the heaven that destroys pains, the realm of the Yama gods. b) Cõi Trời Khoái Lạc—The Suyama Heaven. c) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật nói: “Những người thỉnh thoảng có gặp cảnh dục, tạm thời có giao, qua rồi tâm không nhớ nghĩ đến nữa. Ở trong đời, động ií tĩnh nhiều. Sau khi chết, được rỡ ràng an trụ trong hư không. Ánh sáng mặt trời mặt trăng chiếu lên chẳng tới, tự chói sáng. Gọi là trời Tu Diệm Ma.”—In the Surangama Sutra, the Buddha said: “Those who become temporarily involved when they meet with desire but who forget about it when it is finished, and who, while in the human realm, are active less and quiet more, abide at the end of their lives in light and emptiness where the illumination of sun and moon does not reach. These beings have their own light, and they are among those born in the Suyama Heaven.” 4) Đâu Suất Thiên: Tushita (skt)—Tusita (p). a) Trời Hỷ Túc hay vui mừng thỏa mãn—The Tushita Heaven. b) Đâu Suất Thiên là cõi trời hoan lạc dành cho chư Thiên an trú trong hạnh phúc—Tusita is the heaven of delight, for happy dwellers. c) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy: “Những người thường thường yên tĩnh. Có cảnh dục đến chưa thể dứt hẳn. Sau khi chết, sanh lên trên nữa, không tiếp hạ giới cảnh nhân thiên. Đến kiếp hoại, ba tai họa là nước, lửa, gió không tới được. Gọi là Trời Đâu Suất.”—In the Surangama Sutra, the Buddha said: “Those who are quiet all the time, but who are not yet able to resist when stimulated by contact, ascend at the end of their lives to a subtle and ethereal place; they will not be drawn into the lower realms. The destruction of the realms of humans and gods and the obliteration of kalpas by the three disasters will not reach them, for they are among those born in the Tushita Heaven.” 5) Lạc Biến Hóa Thiên: Nirmanarati (skt)—Nimmanarati (p). a) Cõi trời hay thích biến hóa, còn gọi là Hóa Lạc Thiên: The transformation of Bliss Heaven. b) Hóa Lạc là cõi trời của chư Thiên tìm lạc thú ở công trình sáng tạo của chính mình—The realm of the devas who delight in creation of their own. c) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy: “Những người không có dâm dục tâm, đối với sự dục thấy vô vị không thiết. Lúc chết, sanh lên cảnh siêu việt biến hóa. Gọi là Trời Lạc Biến Hóa.”—In the Surangama Sutra, the Buddha said: “Those who are devoid of desire, but who will engage in it for the sake of their partner, even though the flavor of doing so is like the flavor of chewing wax, are born at the end of their lives in a place of transcending transformations. They are among those born in the Heaven of Bliss by Transformation.” 6) Tha Hóa Tự Tại Thiên: Parinimmita-vasavati (p). a) Cõi trời có thể khiến tự tại biến hóa từ sự hỷ lạc của người khác hay từ công trình sáng tạo của người khác—The heaven of devas who delight or gain the comfort from others' bliss (Comfort Gained From The Transformation of Others' Bliss), or delight in others' creation. b) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy: “Những người không có tâm thế gian, mà làm việc ở thế gian. Siêu việt không làm sự giao. Lúc chết siêu xuất cảnh biến hóa và không biến hóa. Gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.”—In the Surangama Sutra, the Buddha said: “Those who have no kind of worldly thoughts while doing what worldly people do, who are lucid and beyond such activity while involved in it, are capable at the end of their lives of entirely transcending states where transformations may be present and may be lacking. They are among those born in the Heaven of the Comfort from others' transformations.” ; (六欲天) Chỉ cho 6 tầng trời của cõi Dục. Đó là: 1. Tứ đại vương thiên (Phạm: Càturmahàràjakàyika-deva), cũng gọi: Đại vương thiên, Tứ vương thiên. Có 4 vua trời là: Trì quốc, Tăng trưởng, Quảng mục, Đa văn và các Thiên chúng. Người ở cõi trời này cao bằng ¼ câu lô xá, sống 500 tuổi; 1 ngày đêm ở đây bằng 50 năm ở trần gian. 2. Tam thập tam thiên (Phạm: Trayastriôza), cũng gọi: Đao lợi thiên. Gồm có 33 cõi trời: Trời Đế thích ở giữa, 4 phương mỗi phương đều có 8 cõi trời. Thân cao bằng ½ câu lô xá, sống 1.000 tuổi; 1 ngày đêm bằng 100 năm ở nhân gian. 3. Diệm ma thiên (Phạm:Yàma), cũng gọi Dạ ma thiên, Viêm ma thiên, Thời phần thiên. Đứng đầu cõi trời này là Tu dạ ma thiên (Phạm: Suyàma-devaràja), thân cao bằng ¾ của 1 câu lô xá, sống 2.000 tuổi; 1 ngày đêm ở cõi trời này bằng 200 năm ở nhân gian. 4. Đâu suất thiên (Phạm: Tuwita), cũng gọi Đổ sử đa thiên, Đâu suất đà thiên, Hỉ túc thiên. Đứng đầu cõi trời này là vua trời San đâu suất đà (Phạm: Saôtuwitadevaràja). Thân cao 1 câu lô xá, sống 4.000 tuổi, 1 ngày đêm bằng 400 năm ở nhân gian. 5. Hóa tự tại thiên (Phạm:Nirmàôarati), cũng gọi Lạc biến hóa thiên, Vô kiêu lạc thiên, Vô cống cao thiên, Ni ma la thiên. Đứng đầu cõi trời này là vua trời Thiện hóa (Phạm: Sunirmita-devaràja). Thân cao 1 câu lô xá ¼, sống 8.000 tuổi, 1 ngày đêm ở cõi trời này bằng 800 năm ở nhân gian. 6. Tha hóa tự tại thiên (Paranirmitavaza-vartin): Cũng gọi Tha hóa tự chuyển Thiên, Tha hóa lạc thiên, Hóa ứng thanh thiên, Ba la ni mật thiên. Đứng đầu cõi trời này là vua trời Tự tại (Phạm:Vazavarttidevaràja). Thân cao 1 câu lô xá ½, sống 16.000 tuổi, 1 ngày đêm tại đây bằng 1.600 năm ở nhân gian. Trong 6 tầng trời trên, trời Tứ thiên vương ở lưng chừng núi Tu di và trời Đao lợi ở trên đỉnh núi Tu di, vì thế 2 tầng trời này được gọi là Địa cư thiên (trời ở trên mặt đất). Còn 4 tầng trời từ trời Dạ ma trở lên và các tầng trời cõi Sắc đều trụ ở giữa hư không, nên được gọi là Không cư thiên (trời ở giữa hư không). Ngoài ra, 6 tầng trời cõi Dục này, đối với dục cảnh tuy có 3 cách thụ dụng khác nhau, nhưng vẫn thuộc về loại thụ dục, cho nên gọi là Dục sinh (Phạm: Kàmotpatti). [X. kinh Trường a hàm Q.20; luận Câu xá Q.8,11; luận Đại trí độ Q.9; luận Thành duy thức Q.5]. (xt. Tam Giới).

lục dục tứ thiền

Lục dục thiên của dục giới và Tứ thiền thiên của sắc giới. Tứ thiền là thanh tịnh thiên nơi đã lìa bỏ hẳn dâm dục—The six heavens where sexual desire continues, and the four dhyana heavens of purity above them free from such desire. ; (六欲四禪) Chỉ cho 6 tầng trời cõi Dục và 4 tầng trời cõi Sắc. Sáu tầng trời cõi Dục gồm: Tứ đại thiên vương, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất thiên và Hóa tự tại thiên. Bốn tầng trời cõi Sắc gồm: Sơ thiền thiên, Nhị thiền thiên, Tam thiền thiên và Tứ thiên. [X. luận Câu xá Q.8]. (xt. Tam Giới, Lục Dục Thiên).

Lục gia thất tông

六家七宗|Biểu thị chỉ các tông phái trong thời kì đầu của Phật giáo Trung Quốc, khoảng thế kỉ thứ 4. Các tông phái này đều xuất phát từ việc nghiên cứu kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (prajñāpāramitā-sūtra) và vì vậy phải lí giải tính Không (空; s: śūnyatā). Dưới ảnh hưởng của Lão giáo, các nhà Phật học Trung Quốc thời đó liên tưởng ngay đến khái niệm Vô (無) để tiếp cận chữ Không. Cuối cùng phát sinh rất nhiều tông phái, mỗi người hiểu Không một cách khác nhau, đó là Lục gia thất tông.

lục gia thất tông

(六家七宗) những chi phái của học phái bát nhã ở thời đại đông tấn. từ cuối đời hán cho đến thời lưu tống, kinh bát nhã đã lưu hành ở trung quốc, ngài chi lâu ca sấm đời đông hán truyền dịch kinh đạo hành bát nhã (lần đầu tiên học thuyết bát nhã của ấn độ được truyền vào trung quốc). ngài chu sĩ hành giảng kinh và ngài đạo an cũng bắt đầu nghiên cứu bát nhã. lúc bấy giờ, để hiểu được tư tưởng bát nhã, một mặt phải dựa theo nghĩa huyền học của lão trang để giải thích nghĩa kinh bát nhã, do đó đã hình thành cái gọi là cách nghĩa phật giáo(tức mượn nghĩa lí của đạo gia hoặc ngoại giáo để giải thích đạo lí của phật giáo), chính vì thế mà đối với tư tưởng không của bát nhã đã sản sinh ra nhiều chi phái. mặt khác, cũng có những phái lí giải được tư tưởng không của bát nhã một cách chân chính mà không cần dựa vào phật giáo cách nghĩa; tất cả những chi phái này được gọi chung bằng từ lục gia thất tông(6 nhà 7 tông). cứ theo luận lục gia thất tông (sách này đã mất, nay căn cứ theo lời trích dẫn trong triệu luận sớ của ngài nguyên khang đời đường) của ngài đàm tế chùa trang nghiêm thời lưu tống và trung luận sớ của ngài cát tạng đời tùy, thì lục gia thất tông là: 1. bản vô tông: gồm học thuyết của các ngài đạo an, tăng duệ, tuệ viễn v.v... 2. tức sắc tông: gồm tức sắc nghĩa của quan nội và tức sắc du huyền luận của ngài chi đạo lâm. 3. thức hàm tông: học thuyết của ngài vu pháp khai, đệ tử của ngài vu pháp lan. 4. huyễn hóa tông: chủ trương của ngài đạo nhất, đệ tử của ngài trúc pháp thải. 5. tâm vô tông: gồm học thuyết của các ngài trúc pháp ôn, đạo hằng, chi mẫn độ v.v... 6. duyên hội tông: có duyên hội nhị đế luận của ngài đạo thúy. 7. bản vô dị tông: là chi phái của tông bản vô, gồm học thuyết của các ngài trúc pháp sâm, trúc pháp thải. trong 7 tông nêu trên, thì tông bản vô, tông tức sắc và tông tâm vô là 3 phái chủ yếu của học thuyết bát nhã đương thời. [x. trung quán luận sớ q.2 phần cuối; thế thuyết tân ngữ giả quyệt thiên; chi mẫn độ học thuyết khảo (trần dần khác). hán ngụy lưỡng tấn nam bắc triều phật giáo sử q.thượng (thang dụng đồng); phật giáo học đích chư vấn đề (vũ tỉnh bá thọ)].

Lục Giác Định Lại

(六角定賴, Rokkaku Sadayori, 1495-1552): nhà Chiến Quốc Đại Danh ở phía Nam Cận Giang (近江, Ōmi); con của Lục Giác Cao Lại (六角高賴, Rokkaku Takayori); thông xưng là Tứ Lang (四郎); giới danh là Vân Quang Tự Điện Quang Thất Quy Công Đại Cư Sĩ (雲光寺殿光室龜公大居士); thụy hiệu là Giang Vân (江雲). Vào năm 1504 (Vĩnh Chánh [永正] nguyên niên), ông xuất gia làm Tăng sĩ ở Từ Chiếu Viện (慈照院) của Tướng Quốc Tự (相國寺, Sōkoku-ji) thuộc kinh đô Kyoto, với tên gọi là Cát Thị Giả (吉侍者). Tuy nhiên, do vì anh ông là Lục Giác Thị Cương (六角氏綱, Rokkaku Ujitsuna) đánh nhau với dòng họ Tế Xuyên (細川, Hosokawa), bị trọng thương và qua đời vào năm 1518 (Vĩnh Chánh 15); vì vậy ông buộc phải hoàn tục để kế tục gia nghiệp. Sau đó, ông làm Cận Vệ cho Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Trị (足利義稙, Ashikaga Yoshitane), nhưng lại bị vị này đuổi đi. Sau ông cùng với Tế Xuyên Cao Quốc (細川高國, Hosokawa Takakuni) ủng hộ đưa Túc Lợi Nghĩa Tình (足利義晴, Ashikaga Yoshiharu) lên làm Tướng Quân đời thứ 12; nhờ vậy, ông được Nghĩa Tình bổ nhiệm cho làm chức Quản Lãnh. Chính ông là người đã tạo nên thời kỳ hưng thịnh nhất cho dòng họ Lục Giác.

lục giáp bí chúc

(六甲秘祝) cũng gọi cửu tự pháp, tung hoành pháp. đây là chú thuật do 9 chữ: lâm, binh, đấu, giả, giai, trần, liệt, tại và tiền tạo thành. khi thực hành thì trước hết xướng 9 chữ trên đây, đồng thời vẽ 4 đường thẳng dọc và 5 đường thẳng ngang trong hư không để phối họp với sự xướng tụng 9 chữ. loại chú pháp trừ tai họa, cầu thắng lợi này vốn là thuật bí mật được thịnh hành trong giới đạo gia và binh gia ở trung quốc. sau khi được truyền sang nhật bản, thì pháp này được thêm vào 1 phần chân ngôn mật giáo mà trở thành chú pháp hiện nay được các hành giả sơn phục thuộc phái tu nghiệm đạo của nhật bản xem trọng. [x. vãng sinh luận chú q.hạ; vãng sinh luận chú kí q.4; thiên đăng thiệp trong bão phác tử nội thiên]. (xt. cửu tự).

lục giải nhất vong

(六解一亡) sáu cái nút sinh tử (tức 6 căn) được cởi mở thì 1 cái khăn (niết bàn) cũng mất. cứ theo kinh lăng nghiêm quyển 5, thì đức phật từng dùng 1 chiếc khăn hoa báu để ví dụ cho niết bàn; chiếc khăn hoa được thắt thành 6 cái nút, ví dụ cho 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, 6 căn nhóm họp lại mà có hiện tượng sinh tử. nhưng sinh tử và niết bàn là 2 thứ do đối đãi mà cảm được, nếu cởi mở 6 cái nút sinh tử (lục giải),thì 1 chiếc khăn niết bàn cũng theo đó mà mất (nhất vong).

lục giải nhứt vong

Khi mà sự trói buộc của sáu căn không còn nữa thì luân hồi sanh tử cũng tự nhiên biến mất và Niết bàn hiển lộ—When the six knots are untied the unity disappears. The six knots represent the six organs causing mortality, the cloth or cord tied in a series of knots represents nirvana.

lục giới

Six elements—See Lục Đại. ; (六界) phạm: wađ dhàtava. chỉ cho 6 đại: đất, nước, lửa, gió, không và thức, là những nguyên tố cơ bản tạo thành vạn hữu. vì 6 đại này mỗi thứ đều có giới hạn nên gọi là giới. x. độ kinh trong trung a hàm q.3]. (xt. giới).

lục giới tụ

Thân chúng sanh do lục đại giả hợp mà thành—The human body which is composed of the six elements. ; (六界聚) giới là giới hạn, tụ là tụ tập. nghĩa là 6 đại giả tụ tập (giả hòa hợp) trong thân của chúng sinh và mỗi thứ đều có giới hạn. cứ theo kinh thuyết xứ trong trung a hàm quyển 21, đức phật dạy ngài a nan phải vì các tỉ khưu trẻ tuổi giảng nói thân chúng sinh là do 6 đại giả hợp, khiến cho họ bỏ tham muốn mà tu phạm hạnh. sáu giới tụ là: 1. địa giới tụ: tính của đất là cứng và chất ngại. trong thân người, những bộ phận có tính cứng và chất ngại là do nội địa giới (tính đất bên trong) mà được hình thành, như: tóc, lông, móng, răng, da dày, da mỏng, xương, thịt, gân, thận, tim, gan, lá lách, phổi v.v... 2. thủy giới tụ: tính của nước là ướt, trong thân người, những thành phần có tính ướt là do nội thủy giới (tính nước bên trong) tạo thành, như: đờm, tủy, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mủ, mỡ, mỡ lá, máu, nước miếng v.v...3. hỏa giới tụ: tính của lửa là nóng. trong thân người, những thành phần có tính chất nóng là do nội hỏa giới (tính lửa bên trong) hình thành, như hơi nóng, hơi ấm trong thân. 4. phong giới tụ: tính của gió là chuyển động. trong thân người, những thành phần có tính chuyển động là do nội phong giới (tính gió bên trong) hình thành, như hơi thở ra vào v.v... 5. không giới tụ: tính của không là vô ngại. trong thân người, những thành phần trống không, không chướng ngại là do nội không giới (tính không bên trong) tạo thành, như mắt trống, tai trống, mũi trống, miệng trống, cổ họng lay động, thức ăn tiêu hóa v.v... 6. thức giới tụ: tính của thức là phân biệt, trong thân người, những cảm thức như: vui, buồn, mừng, lo v.v... đều do thức giả hợp.

Lục hiện quán

六現觀; C: liùxiànguān; J: rokugenkan;|Sáu phương pháp nhận thức rõ ràng cảnh giới hiện hữu căn cứ vào trí hữu lậu và trí vô lậu theo cách giải thích của Duy thức tông. Đó là: 1. Tư hiện quán (思現觀): Huệ phát sinh từ tư duy y cứ vào lòng hoan hỉ; 2. Tín hiện quán (信現觀): Tâm tịnh tín hữu lậu và vô lậu vào Tam bảo. Đây là niềm tin không có gì làm thối chuyển; 3. Giới hiện quán (戒現觀): giới vô lậu, làm cho nội quán càng thêm sáng; 4. Trí đế hiện quán (智諦現觀): Căn bản trí và hậu đắc trí quán sát chân như trong giai vị Kiến đạo và Tu đạo; 5. Biên trí đế hiện quán (邊智諦現觀): Thế trí và Xuất thế trí y cứ vào các tướng thuộc chân như (an lập đế); 6. Cứu cánh hiện quán (究竟現觀): 10 trí vô lậu (Thập trí 十智) có trong Cứu cánh vị. Hiện quán.

lục hiện quán

(六現觀) sáu phương pháp quán xét cảnh hiện tiền bằng trí hữu lậu, vô lậu do luận duy thức đặt ra. đó là: 1. tư hiện quán: tuệ do tư mà thành. tác dụng này nương vào tán địa của cõi dục, quán xét các pháp, rất là bén nhạy, có khả năng phân biệt các pháp. 2. tín hiện quán: lòng tin thanh tịnh hữu lậu, vô lậu của thượng phẩm có năng lực giúp đỡ hiện quán, làm cho không tụt lui. 3. giới hiện quán: vô lậu giới, tức đạo cộng giới. vì giới này có năng lực tiêu trừ tội cấu phá giới, khiến cho hiện quán thêm sáng. 4. hiện quán trí đế hiện quán: duyên trí căn bản và trí hậu đắc của phi an lập đế. pháp quán này thông cả kiến đạo và tu đạo. 5. hiện quán biên trí đế hiện quán: sau hiện quán trí đế hiện quán thì duyên theo các loại thế trí, xuất thế trí của an lập đế. pháp quán này chỉ chung cho kiến đạo, tu đạo của tất cả hữu lậu, vô lậu. 6. cứu cánh hiện quán: tất cả các trí trong vị cứu cánh. [x. luận du già sư địa q.71; luận thành duy thức q.9; luận hiển dương thánh giáo q.17].

lục hoà hợp

(六和合) sáu căn hòa hợp với 6 trần. tức là mắt hòa hợp với sắc, tai hòa hợp với tiếng, mũi hòa hợp với mùi, lưỡi hòa hợp với vị, thân hòa hợp với xúc và ý hòa hợp với pháp. [x. truyền tâm pháp yếu q.thượng].

Lục hoà kính

六和敬; C: liùhé jìng; J: rokuwakyō; S: śaḍ-sāramyadharma;|Sáu điều hoà đồng, kính ái mà những người tu học Phật pháp nên thực hiện để đạt Giác ngộ. Lục hoà kính bao gồm:|1. Thân nghiệp đồng (身業同): cùng một thân nghiệp hoà kính như lễ bái, làm việc thiện…; 2. Khẩu nghiệp đồng (口業同): cùng nói những lời hay…; 3. Ý nghiệp đồng (意業同): cùng chung ý chí; 4. Ðồng thí (同施): cùng chia xẻ vật chất với nhau; 5. Ðồng giới (同戒): cùng chuyên giữ giới luật; 6. Ðồng kiến (同見): cùng chung kiến giải.

lục hoà kính

(六和敬) cũng gọi lục úy lạo pháp, lục khả hi pháp, lục hòa, hành hòa kính, học hòa kính, sự hòa kính, thí hòa kính. chỉ cho 6 thứ hòa đồng, kính ái, tức 6 việc mà người cầu bồ đề và tu phạm hạnh phải thân yêu, kính trọng lẫn nhau; cũng tức là 6 thứ hòa đồng, kính ái giữa bồ tát và chúng sinh của phật giáo đại thừa. sáu việc ấy là: 1. thân hòa kính: chỉ cho thân nghiệp hòa kính cùng lễ bái v.v... 2. khẩu hòa kính: chỉ cho khẩu nghiệp hòa kính cùng tán vịnh v.v... 3. ý hòa kính: chỉ cho ý nghiệp hòa kính cùng lòng tin v.v... 4.giới hòa kính: chỉ cho sự hòa kính cùng giới pháp. 5. kiến hòa kính: chỉ cho sự hòa kính cùng kiến giải của thánh trí. 6. lợi hòa kính: chỉ cho sự hòa kính cùng lợi ích về y thực v.v.... theo đại thừa nghĩa chương quyển 12 lục hòa kính là: 1. thân nghiệp đồng. 2. khẩu nghiệp đồng. 3. ý nghiệp đồng. 4. đồng giới. 5. đồng thí. 6. đồng kiến. còn theo tổ đình sự uyển quyển 5 thì lục hòa là: 1. thân hòa cộng trụ. 2. khẩu hòa vô tránh. 3. ý hòa đồng sự. 4. giới hòa đồng tu. 5. kiến hòa đồng giải. 6. lợi hòa đồng quân. ngoài ra, theo pháp giới thứ đệ quyển hạ, thì lục hòa kính là: 1. đồng giới hòa kính: bồ tát thông đạt chính lí thực tướng, biết tội không thật có, nhưng vì muốn an lập chúng sinh nơi chính lí thực tướng, nên các ngài dùng phương tiện khéo léo cũng cùng giữ giới chứ không làm trái. bồ tát cũng biết chúng sinh cùng 1 tính thiện về giới này, đời vị lai chắc chắn chứng được đại quả bồ đề, cho nên kính chúng sinh như phật, vì vậy gọi là đồng giới hòa kính. 2. đồng kiến hòa kính: bồ tát thông đạt chính lí thực tướng, biết rõ các pháp vốn không có chỗ được, cũng không có cái thấy biết, nhưng vì muốn an lập chúng sinh nơi chính lí thực tướng, nên các ngài dùng phương tiện thiện xảo cùng hòa đồng với tất cả tri kiến, chứ không chống trái. bồ tát cũng biết chúng sinh nhờ tri kiến này, chắc chắn sẽ được chủng trí viên minh, cho nên kính chúng sinh như phật, vì vậy gọi đồng kiến hòa kính. 3. đồng hành hòa kính: bồ tát thông đạt chính hành thực tướng, vốn biết rõ vô tác vô hành, nhưng vì muốn an lập chúng sinh nơi chính hành thực tướng, nên dùng phương tiện khéo léo, cùng tu các hạnh mà không chống trái. 4. thân từ hòa kính: bồ tát trụ nơi bình đẳng đại từ vô duyên (vô điều kiện) để tu thân, thường đem đến cho chúng sinh tất cả việc vui thích, chứ không chống trái. bồ tát cũng biết chúng sinh đều có tính phật, đời vị lai chắc chắn sẽ được thân kim cương, cho nên kính chúng sinh như phật, vì vậy gọi là thân từ hòa kính. 5. khẩu từ hòa kính: bồ tát trụ nơi đại từ bình đẳng vô duyên để tu khẩu nghiệp, thường nói tất cả pháp cho chúng sinh nghe để họ được vui, chứ không chống trái. bồ tát cũng biết chúng sinh đều có tính phật, đời vị lai chắc chắn sẽ được khẩu nghiệp thanh tịnh vô thượng, cho nên kính chúng sinh như phật, vì thế gọi là khẩu từ hòa kính. 6. ý từ hòa kính: bồ tát trụ nơi đại từ bình đẳng vô duyên để tu ý nghiệp của mình, thường biết các căn tính dục của chúng sinh, đem đến cho chúng sinh những việc vui thích, chứ không chống trái. bồ tát cũng biết chúng sinh đều có tính phật, đời vị lai chắc chắn sẽ được tâm như tâm phật, cho nên các ngài kính chúng sinh như phật, vì thế gọi là ý từ hòa kính. [x. kinh chu na trong trung a hàm q.52; kinh tăng nhất a hàm q.29; kinh nhân vương bát nhã q.hạ; luật tứ phần q.50; đại thừa nghĩa chương q.12].

lục hoà tháp

(六和塔) tòa tháp trên núi nguyệt luân, bên sông tiền đường thuộc tỉnh chiết giang, trung quốc, được xây cất vào năm khai bảo thứ 3 (970) đời vua thái tổ nhà tống. ở nơi này vốn có ngôi chùa lục hòa nên dùng làm tên tháp.

lục huệ

Sáu loại trí huệ—The six kinds of wisdom: 1) Văn Huệ: Trí huệ mở ra do được nghe hiểu về chân lý trung đạo—The wisdom of hearing and apprehending the truth of the middle way—See Thập Trụ. 2) Tư Huệ: Trí huệ mở ra do tư duy về chân lý trung đạo—The wisdom of thought—See Thập Hạnh. 3) Tu Huệ: Nhờ tu tập chân lý trung đạo mà được tu huệ—Wisdom of observance—See Thập Hồi Hướng. 4) Vô Tướng Huệ: Trí huệ mở ra do chứng được lý trung đạo, lìa nhị biên—The wisdom of neither extreme—See Thập Địa. 5) Chiếu Tịch Huệ: Còn gọi là Tịch Chiếu Huệ, hay trí huệ của Bồ tát ở Đẳng Giác Vị đã quán triệt thực tánh và thực tướng của Niết Bàn—The wisdom of understanding of nirvana. Buddha-wisdom which comprehends nirvana reality and its functioning. 6) Tịch Chiếu Huệ: Trí huệ ở ngôi vị Phật chiếu khắp chúng sanh (từ cái thể của trung đạo mà khởi lên cái dụng của trung đạo)—The wisdom (associated with Buddha-fruition) of making nirvana illuminate all beings—See Phât Quả.

lục hà

(六河) sáu pháp được ví dụ như con sông trong kinh niết bàn. theo niết bàn kinh sớ quyển 27 của ngài quán đính thì lục hà là: sinh tử hà, niết bàn hà, phiền não hà, phật tính hà, thiện pháp hà, ác pháp hà. lục hà này được sắp thành từng cặp đối đãi nhau như: sinh tử đối với niết bàn, phiền não đối với phật tính và thiện pháp đối với ác pháp. [x. kinh niết bàn q.21, 30, 32 (bản nam)].

lục hành

(六行) 1. lục hành. sáu giai vị tu hành tiến đến quả phật. tức chỉ cho 6 giai vị thập tín, thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập địa và đẳng giác. [x. kinh kim cương tam muội; tính linh tập q.8]. 2. lục hành. gọi đủ: lục hành tướng. chỉ cho 3 hành tướng chán lìa: thô, khổ, chướng ở hạ địa và 3 hành tướng ưa thích: tĩnh, diệu, li ở thượng địa. theo thứ tự thực hành quán tưởng 6 hành tướng này, gọi là lục hành quán. 3. lục hành. sáu phương pháp tu hành của 6 loại ngoại đạo ở ấn độ cổ đại. tức là: nhịn đói, gieo mình xuống vực sâu, phơi mình dưới nắng cháy, lõa thể, ngồi ở chỗ vắng lặng, giữ giới bò, giới chó. [x. kinh niết bàn q.16 (bản bắc); luận đại trí độ q.5; đại minh tam tạng pháp số q.27].

lục hành quán

(六行觀) pháp quán chán hạ ưa thượng để đoạn trừ tư hoặc theo thứ lớp. ba cõi được chia làm 9 địa, gọi chung là thượng địa (cõi sắc và cõi vô sắc gồm 8 địa) và hạ địa (cõi dục, 1 địa). so với thượng địa thì hạ địa là thô, khổ, chướng, cho nên phải quán xét để nhàm chán; còn thượng địa là tĩnh, diệu, li, cho nên phải quán xét để mà ưa thích. nhờ sức ưa thượng địa, chán hạ địa này mà có thể lần lượt đoạn trừ các hoặc ở hạ địa, nên cũng gọi là hân yếm quán. theo thuyết nhất thiết hữu bộ, trước khi vào kiến đạo, hành giả có thể dùng lục hành quán để đoạn 1 phần tư hoặc mà vào kiến đạo. theo luận câu xá quyển 24, ở giai đoạn vô gián đạo, thì hành giả duyên theo các pháp hữu lậu của tự địa (địa vị của chính mình ở hiện tại) và thứ đến của hạ địa mà quán 1 trong 3 hành tướng: thô, khổ, chướng; ở giai đoạn giải thoát đạo thì duyên theo các pháp hữu lậu của thượng địa mà quán 1 trong 3 hành tướng: tĩnh, diệu, li, cứ như thế thì có thể đoạn trừ được các hoặc của hạ địa. cộng chung thượng địa, hạ địa thì phải quán cả 6 hành tướng, cho nên gọi là lục hành quán. ngoài ra, cứ theo thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 5, thì nhàm chán khổ, thô, chướng của hạ địa, ưa thích thắng, diệu, xuất của thượng địa, tu theo 6 pháp này, gọi là lục hành quán. pháp quán là: 1. yếm thô quán: tư duy 5 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) của cõi dục thường sinh ra các điều xấu ác, đó là cái thô về nhân. còn thân này là vật hôi thối được tạo thành bởi 36 thứ như phân, nước tiểu v.v..., đó là cái thô về quả. thô nhân và thô quả đều phải chán ghét. 2. yếm khổ quán: tư duy các tâm sở khởi lên trong thân thường duyên theo tham dục, không lìa ra được, đó là cái khổ về nhân. còn báo thân ở cõi dục thường bị nhiều nỗi bức bách như đói khát, nóng rét, bệnh tật, dao gậy v.v..., đó là cái khổ về quả. khổ nhân, khổ quả đều phải chán ghét. 3. yếm chướng quán: tư duy phiền não chướng ngăn che chân tính, đó là cái chướng về nhân. còn thân này là chất ngại, không được tự tại, đó là cái chướng về quả. chướng nhân, chướng quả đều phải chán ghét. 4. hân thắng quán: chán ghét cái khổ tham dục xấu xa, thấp hèn ở cõi dục, ưa thích cái vui thù thắng, cao thượng ở cõi sơ thiền. 5. hân diệu quán: chán ghét cái vui ham muốn 5 trần và tâm loạn động rong ruổi ở cõi dục, ưa thích cái vui thiền định, tâm định bất động ở cõi sơ thiền, đó là cái diệu về nhân. chán ghét thân hôi thối của cõi dục, ưa thích thân được sơ thiền, như bóng trong gương, tuy có hình sắc nhưng không chất ngại, đó là cái diệu về quả. nhân diệu, quả diệu đều nên ưa thích. 6. hân xuất quán: chán ghét phiền não trói buộc của cõi dục, ưa thích tâm được xuất li của sơ thiền, đó là sự xuất về nhân. chán ghét thân chất ngại mất tự do của cõi dục, ưa thích thân được 5 thần thông, tự tại vô ngại ở sơ thiền, đó là sự xuất về quả. nhân xuất, quả xuất đều nên ưa thích. nương vào sức ưa thượng địa, chán hạ địa này chỉ có thể đoạn trừ được cái hoặc ở 8 địa dưới, chứ không thể đoạn trừ các hoặc ở địa thứ 9 (hữu đính địa). muốn đoạn trừ các hoặc của hữu đính địa thì phải nhờ vào trí vô lậu quán tứ đế, vì thế lực của trí vô lậu rất mạnh, có khả năng đối trị các hoặc của tự địa và các hoặc của thượng địa. về thứ tự nhập quán của 6 pháp này là tùy theo ý của người đoạn hoặc mà quyết định, chứ không cần phải theo thứ tự đối ứng giữa yếm thô quán của vô gián đạo và hân tĩnh quán của giải thoát đạo. tông duy thức thì cho rằng, hiệu năng của lục hành quán chỉ có thể áp phục phiền não, không cho chúng khởi hiện hành, chứ không thể tiêu diệt được chủng tử của phiền não. [x. luận câu xá q.23, 24, 28; luận đại tì bà sa q.64, 165; thiên thai tứ giáo nghi tập chú q.trung, phần 4].

Lục Hòa

(六和): còn gọi là Lục Úy Lao Pháp (六慰勞法), Lục Khả Hỷ Pháp (六可憘法), Lục Hòa Kính (六和敬); chỉ cho 6 loại hòa đồng ái kính, 6 pháp môn một hành giả Phật Giáo Đại Thừa cầu đạo bồ đề, tu Phạm hạnh cần phải kính trọng, yêu thương lẫn nhau; gồm: (1) Thân Hòa Kính (身和敬): chỉ cho thân nghiệp cùng lễ lạy, v.v., thường hòa kính nhau. (2) Khẩu Hòa Kính (口和敬): chỉ cho khẩu nghiệp cùng tán tụng, v.v., thường hòa kính nhau. (3) Ý Hòa Kính (意和敬): chỉ cho ý nghiệp cùng tín tâm, v.v., thường hòa kính nhau. (4) Giới Hòa Kính (戒和敬): chỉ sự hòa kính cùng giới pháp. (5) Kiến Hòa Kính (見和敬): chỉ cho sự hòa kính cùng kiến giải của trí tuệ bậc Thánh. (6) Lợi Hòa Kính (利和敬): chỉ cho sự hòa kính cùng lợi ích về y phục, thức ăn, v.v. Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 12 còn nêu ra 6 loại hòa kính khác như: (1) Thân Nghiệp Đồng (身業同); (2) Khẩu Nghiệp Đồng (口業同); (3) Ý Nghiệp Đồng (意業同); (4) Đồng Giới (同戒); (5) Đồng Thí (同施); (6) Đồng Kiến (同見). Bên cạnh đó, Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1261) quyển 5 lại nêu ra Lục Hòa là: (1) Thân Hòa Cọng Trú (身和共住, thân hòa hợp cùng sống với nhau); (2) Khẩu Hòa Vô Tránh (口和無諍, miệng hòa hợp không tranh cãi nhau); (3) Ý Hòa Đồng Sự (意和同事, ý hòa hợp cùng nhau làm việc); (4) Giới Hòa Đồng Tu (戒和同修, giới hòa hợp cùng nhau tu tập); (5) Kiến Hòa Đồng Giải (見和同解, hiểu biết hòa hợp cùng nhau chia xẻ); (6) Lợi Hòa Đồng Quân (利和同均, lợi ích hòa hợp cùng nhau chia đều). Ngoài ra Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn (法界次第初門, Taishō Vol. 46, No. 1925) quyển Hạ cũng liệt kê 6 pháp hòa kính là: (1) Đồng Giới Hòa Kính (同戒和敬); (2) Đồng Kiến Hòa Kính (同見和敬); (3) Đồng Hạnh Hòa Kính (同行和敬); (4) Thân Từ Hòa Kính (身慈和敬); (5) Khẩu Từ Hòa Kính (口慈和敬); và (6) Ý Từ Hòa Kính (意慈和敬). Trong Hoa Nghiêm Cương Yếu (華嚴綱要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 8, No. 240 q.18) quyển 18 có đoạn: “Phục thứ tất năng xưng tán nhất thiết đại nguyện, thị cố năng linh Phật chủng bất đoạn, phân biệt diễn thuyết nhân duyên chi môn, thị cố năng linh Pháp chủng bất đoạn, thường cần tu Lục Hòa Kính Pháp, thị cố năng linh Tăng chủng bất đoạn (復次悉能稱讚一切大願、是故能令佛種不斷、分別演說因緣之門、是故能令法種不斷、常勤修習六和敬法、是故能令僧種不斷, tiếp theo tất có thể xưng tán hết thảy đại nguyện, cho nên có thể khiến cho hạt giống Phật không dứt đoạn; phân biệt diễn thuyết cửa nhân duyên, cho nên có thể khiến cho hạt giống Pháp không dứt đoạn; thường siêng năng tu sáu pháp hòa kính, cho nên có thể khiến cho hạt giống Tăng không dứt đoạn).” Hay trong Viên Giác Kinh Đạo Tràng Tu Chứng Nghi (圓覺經道塲修證儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1475) quyển 15, phần (至心發願), cũng có đoạn: “Nguyện ngã thường đắc hiến tối hậu cúng, ư chúng tăng trung, tu Lục Hòa Kính, đắc tự tại lực, hưng long Tam Bảo (願我常得獻最後供、於眾僧中、修六和敬、得自在力、興隆三寶, nguyện cho con thường được dâng hiến món cúng dường cuối cùng, trong chúng tăng tu Sáu Pháp Hòa Kính, được năng lực tự tại, hưng thịnh Tam Bảo).”

lục hòa

See Lục Hòa Kính.

lục hòa hợp

Sáu hòa hợp—Sự hòa hợp giữa sáu căn với sáu trần—The six unions of the six sense organs with the six objects of the senses: 1) Mắt phải hòa hợp với vật thấy: The eye is in union with the object seen. 2) Tai phải hòa hợp với âm thanh nghe: The ear is in union with the sound heard. 3) Mũi phải hòa hợp với mùi ngữi: The nose is in union with the smell smelt. 4) Lưỡi phải hòa hợp với vị được nếm: The tongue is in union with the taste tasted. 5) Thân phải hòa hợp với vật tiếp xúc: The body is in union with the thing touched. 6) Ý phải hòa hợp với điều suy nghĩ: The mind is in union with the thought.

lục hòa kính

xem sáu pháp hòa kính. ; 1. Thân hòa đồng trụ (ở); 2. Khẩu hòa vô tranh; 3. Ý hòa đồng duyệt (vui); 4. Giới hòa đồng tu; 5. Kiến hòa đồng giải (kiến giải); 6. Lợi hòa đồng quân (chia đều nhau), gọi chung là Lục hòa, là quy ước căn bản của Tăng chúng cùng sống chung trong Tăng đoàn.

lục hòa kính pháp

Theo Kinh Đại Bát Niết Bàn và Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu điểm sống chung hòa hợp trong tự viện—According to the Mahaparinibbana Sutta and Sangiti Sutta, there are six points of reverent harmony or unity in a monastery or convent—Sixfold rules of conduct for monks and nuns in a monastery: 1) Giới Hòa Đồng Tu: Precept concord. a) Luôn cùng nhau giữ giới tu hành—Moral unity in observing the commandments (Always observing precepts together). b) Vị Tỳ Kheo, trước mặt hay sau lưng, không phá giới, không vi phạm, mà kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm cho con người được giải thoát, được người tán thán, không uế tạp và hướng đến thiền định: A monk who, in public and in private, keeps persistently, unbroken and unaltered those rules of conduct that are spotless, leading to liberation, praised by the wise, unstained and conducive to concentration. 2) Thân Hoà Đồng Trụ: Living concord. a) Cùng một thân luôn cùng nhau lễ bái trong an tịnh—Bodily unity in form of worship (Always living together in peace). b) Vị Tỳ Kheo thành tựu từ ái nơi thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm: A monk who, in public and in private, shows loving-kindness to their fellows in acts of body. 3) Kiến Hòa Đồng Giải: Idea concord. a) Cùng nhau bàn luận và lý giải giáo pháp (cùng chung kiến giải)—Doctrinal unity in views and explanations (Always discussing and obsorbing the dharma together). b) Vị Tỳ Kheo sống đời được chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với chánh kiến như vậy với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt và sau lưng: A monk who, in public and in private, continues in that noble view that leads to liberation, to the utter destruction of suffering. 4) Lợi Hòa Đồng Quân: Beneficial concord. a) Cùng nhau chia đều những lợi lạc vật chất về ăn, mặc, ở và thuốc men (hay chia đều nhau về lợi, hành, học, thí)—Economic unity in community of goods, deeds, studies or charity. b) Đối với các đồ vật cúng dường một cách hợp pháp, cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng chứ không giữ riêng: They share with their virtuous fellows whatever they receive as a rightful gift, including the contents of their alms-bowls, which they do not keep to themselves. 5) Khẩu Hòa Vô Tranh: Speech concord. a) Cùng nhau tán tụng kinh điển hay nói những lời hay ý đẹp, chứ không bao giờ tranh cãi—Oral unity in chanting (never arguing). b) Vị Tỳ Kheo, trước mặt hay sau lưng, thành tựu từ ái nơi khẩu nghiệp đối với các vị đồng phạm: A monk who, in public and in private, shows loving-kindness to their fellows in acts of speech. 6) Ý Hòa Đồng Duyệt: Thinking concord. a) Cùng nhau tín hỷ phụng hành giáo pháp nhà Phật—Mental unity in faith (Always being happy). b) Vị Tỳ Kheo, trước mặt hay sau lưng, thành tựu từ ái nơi ý nghiệp đối với các vị đồng phạm: A monk who, in public or in private, shows loving-kindness to their fellows in acts of thought. ** Phật tử Việt Nam, xin xem thêm chi tiết trong Bộ “Phật Học Phổ Thông” khóa II, bài thứ chín, trang 137—For Vietnamese Buddhist believers, please see more detail in “Phật Học Phổ Thông” Volume II, Chapter 9, Page 137.

Lục hạnh

六行; C: liùxíng; J: rokugyō;|Có hai nghĩa: 1. Sáu công hạnh, sáu pháp tu (của hàng Bồ Tát), còn gọi là Lục độ (六度); 2. Theo kinh Kim Cương tam-muội (金剛三昧經), đó là sự tu tập hướng đến các giai vị Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行), Thập hồi hướng (十廻向), Thập địa (十地) và Đẳng giác (等覺).

lục hạnh

(A) Tu hành Lục Độ—The practice of the six paramitas—See Lục Độ Ba La Mật. (B) Lục Khổ Hạnh Ngoại Đạo: Sáu lối tu khổ hạnh của ngoại đạo—The six austerities of the six kinds of heretics—See Lục Khổ Hạnh.

lục hạnh quán

Sáu đối tượng thiền quán. Bằng thiền quán chúng ta có thể vượt qua mọi ảo tưởng dục vọng—The six subjects in meditation. By meditations on the distasteful and the delight, delusions and passions may be overcome: (A) The three lower practices or distasteful matters: 1) Thô tục lỗ mãng: Coarseness. 2) Khổ: Suffering. 3) Chướng: Resistance. (B) The three higher practices delight matters: 4) Tịnh: Calm. 5) Diệu: Mystic. 6) Ly: Free.

lục hảo nhật

(六好日) trong 1 năm, có 6 ngày tốt cho bản mệnh, gọi là lục hảo nhật. vào các ngày này, trong thiền lâm thường có tụng kinh, lễ tán để cầu cho quốc thái, dân an. [x. môn báo đảo trong thiền lâm tượng khí tiên].

lục hằng trú

Satata-vihara (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu hằng trú—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six stable states: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo, mắt thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, giác tỉnh: Here a monk , on seeing an object with the eye, is neither pleased (sumano) nor displeased (dummano), but remains equable (upekhako), mindful and clearly aware. 2) Ở đây vị Tỳ Kheo, tai nghe tiếng, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác: Here a monk, on hearing a sound with the ear, is neither pleased nor displeased, but remains equable, mindful and clearly aware. 3) Ở đây vị Tỳ Kheo, mũi ngửi hương, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác: Here a monk, on smelling a smell with the nose, is neither pleased nor displeased, but remains equable, mindful and clearly aware. 4) Ở đây vị Tỳ Kheo, lưỡi nếm vị, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác: Here a monk, on tasting a flavour with the tongue, is neither pleased nor displeased, but remains equable, mindful and clearly aware. 5) Ở đây vị Tỳ Kheo, thân xúc chạm, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác: Here a monk, on touching a tangible object with the body, is neither pleased not displeased, but remains equable, mindful and clearly aware. 6) Ở đây vị Tỳ Kheo, ý nhận thức pháp, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác: Here a monk, on cognising a mental object with the mind, is neither pleased nor displeased, but remains equable, mindful and clearly aware.

Lục hợp

六合; C: liùhé; J: rikugō;|Gồm sáu nơi: Trên trời, dưới đất và bốn hướng; nói cách khác, là toàn thể vũ trụ (theo Bích nham lục 碧巖録).

lục khổ hạnh

Lục Khổ Hạnh Ngoại Đạo—Sáu lối tu khổ hạnh của ngoại giáo—The six heretics of the six austerities which are referred to as outsiders': 1) Tự Ngã Ngoại Đạo: Lối khổ hạnh tự giảm ăn uống hoặc nhịn đói của ngoại đạo—Self-starvation. 2) Đầu Uyên Ngoại Đạo: Sống nơi hang đá trơ trọi hay tự gieo mình vào vực thẳm mà chết—Naked cave-dwelling or throwing oneself down precipices. 3) Phó Hỏa Ngoại Đạo: Thường dùng năm thứ lửa nóng để thiêu nướng thân mình, hay tự dùng lửa để hành xác—Self-immolation, or self-torturing by fire. 4) Tự Tọa Ngoại Đạo: Ngồi lõa thể trước công chúng, chẳng kể nóng lạnh mưa gió—Sitting naked in public. 5) Tịch Mặc Ngoại Đạo: Loại ngoại đạo thề nguyền thường ở giữa nơi tha ma mộ địa, lẳng lặng chẳng nói—Dwelling in silence among graves. Ascetics who vowed to silence who dwell among tombs or in solitude. 6) Ngưu Cẩu Ngoại Đạo: Loại trì ngưu giới cẩu giới, sống như thú vật—Living as animals.

lục khổ hạnh ngoại đạo

The six austerities of the six heretics among outsiders—See Lục Khổ Hạnh.

lục kiếm

Sáu thanh kiếm hay sáu mũi tên, chẳng hạn như sáu căn, được định nghĩa như sáu phẩm chất của sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp—The six swords or arrows, i.e. the six senses which are defined as the qualities of sight, sound, smell, taste, touch and mind.

Lục Kết

(六結): đức Phật lấy một cái khăn ví cho chơn tánh, lấy Sáu Kết dụ cho Sáu Căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý; biểu thị cho biết căn chỉ có một, nhưng do vì vọng tướng phân biệt sanh khởi mà có Sáu Căn. Như trong Lăng Nghiêm Kinh Chỉ Chưởng Sớ (楞嚴經指掌疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 16, No. 308) quyển 5 có câu: “Nhất thiết hữu tình Lục Kết khả giải cố, nhất nhất thế giới các các hữu Phật (一切有情六結俱可解故、一一世界各各有佛, Sáu Kết của hết thảy hữu tình đều có thể mở được, cho nên mỗi một thế giới đều có Phật).” Hay trong Phổ Năng Tung Thiền Sư Tịnh Độ Thi (普能嵩禪師淨土詩, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1215) lại có câu: “Giải khai Lục Kết vô dư kết, đãng tận phàm thai dữ Thánh thai (解開六結無餘結、蕩盡凡胎與聖胎, mở bày Sáu Kết không ràng buộc, quét sạch phàm thai với Thánh thai).”

lục kết

Theo Kinh Lăng Già, dây vải kết thành sáu vòng và sáu nút liên tục. Vải tượng trưng cho sự đồng nhất và những nút tượng trưng cho sự dị biệt—According to the Lankavatara Sutra, a cloth or cord tied in six consecutive double loops and knots. The cloth represents the fundamental unity, the knots the apparent diversity.

lục la hán

1) Sáu vị La hán—The six arhats. 2) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài trong vườn Lộc Uyển—Sakyamuni and his first five disciples in the Deer Park.

lục luân

Sáu luân vương, mỗi vị trị vì một phương—The six kinds of cakravarti, or wheel kings, each allotted to one of the six positions: 1) Thiết Luân cho Thập Tín Vị: The iron-wheel king to the ten faiths of a Bodhisattva. 2) Đồng Luân cho Thập Trụ: The copper-wheel king to the ten grounds. 3) Ngân Luân (bánh xe bạc) cho Thập Hành: The silver-wheel king to the ten necessary activities of a bodhisattva. 4) Kim Luân cho Thập Hồi Hướng: The gold-wheel king to the ten kinds of dedication. 5) Lưu Ly Luân cho Thập Địa: The crystal-wheel king to the ten stages. 6) Ma Ni Luân cho Đẳng Giác: The pearl-wheel king to the wonderful enlightenment.

lục luận

The six vedangas (skt)—Lục Luận Ngoại Đạo—Sáu bộ luận ngoại đạo, gồm bốn bộ Vệ Đà và sáu bộ luận—Works which are regarded as auxiliary to and even in some sense as part of the Veda, their objects being to secure the proper pronunciation and correctness of the text and the right employment of the Mantras of sacrifice as taught in the Brahmanas. 1) Thức Xoa Luận: Giải thích 64 năng pháp—Siksa Sastra. 2) Tỳ Già La Luận: Giải thích các pháp âm thanh—Vyakarana Sastra. 3) Kha Thích Ba Luận: Giải thích tên tuổi, nhân duyên của các thiên tiên từ xưa đến nay—Kalpa Sastra. 4) Thụ Để Sa Luận: Giải thích về các pháp thiên văn, địa lý và toán số—Jyotisa Sastra. 5) Xiển Đà Luận: Giải thích tiên thiên ngũ thông—Chandas sastra. 6) Ni Lộc Đa Luận: Giải thích nhân duyên đặt tên cho mọi vật—Nirukta Sastra.

lục ly hợp thích

Sat-samasa (skt)—Sáu cách giải thích những chữ kép—The six interpretations of compound terms, considered in their component parts or together: 1) Trì Nghiệp Thích: Đồng y thích—Karmadharaya (skt)—Nghĩa dẫu hai mà thể là một nên đồng tùy thuộc lẫn nhau như trong hai chữ “Đại Thừa,” thì hai chữ “Đại” và “Thừa” cùng quan trọng và thiết yếu như nhau để làm thành chữ “Đại Thừa” với nghĩa đặc biệt của nó—The equality of dependence of both terms, such as in Mahayana, “great” and “vehicle,” both equally essential to Mahayana with its specific meaning. 2) Y Chủ Thích: Y Sĩ Thích—Tatpurusa (skt)—Chứa đựng một từ chánh, như trong chữ “nhãn thức,” thì “nhãn” là từ chánh hay là sở y, còn “thức” là pháp năng y—Containing a principal term, such as in “Eye-perception,” where the “eye” is the qualifying term. 3) Hữu Tài Thích: Đa Tài Thích—Bahuvrihi (skt)—Chỉ sự sở hữu, như người thế gian thì có của thế gian, còn người tu hành thì có sự giác ngộ—The sign of possession, such as worldly people have wealth, but cultivator is he who has enlightenment.. 4) Tương Vi Thích: Dvandva (skt)—Hai thể trái nhau nhưng tập hợp mỗi thứ riêng biệt của mỗi thể mà thành một, như đặt “giáo” và “quán” thành một mà thành “giáo quán”—Placing two separate ideas into one, such as placing teaching and meditation into one. 5) Lân Cận Thích: Avyayibhava (skt)—Một danh từ kép hay từ ngữ liên hệ đến nơi chốn, như đem chữ “niệm” đặt trước chữ “xứ” để tạo thành chữ “niệm xứ”—An adverbial compound or a term resulting from neighbouring association, such as placing “remembering” in front of “place” to make it “remembering place. 6) Đái Số Thích: Dvigu (skt)—Danh từ có liên hệ đến số lượng như “ngũ uẩn”—A numerative term, such as five skandhas (pancaskandha).

lục môn

Tức là cửa của lục căn, Lục Tổ nói: “Lục thức ra lục môn, nơi lục trần vô nhiễm vô tạp, gọi là vô niệm”.

Lục môn đà-la-ni kinh

六門陀羅尼經; C: liùmén tuóluóníjīng; J: rokumon daranikyō; S: ṣaṇmukhī-dhāraṇī; T: ['phags pa] sgo drug shes bya ba'i gzungs; |Kinh, 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 645 tại chùa Hoằng Phúc (弘褔寺). Luận giải kinh nầy bằng tiếng Phạn: Lục môn đà-la-ni kinh luận (六門陀羅尼經論; s: ṣaṇmukhī-dhāraṇī-vyākhyāna). Sáu cửa là 6 giác quan; Đà-la-ni (s: dhāranī) giống như thần chú (s: mantra), dễ tụng đọc, cầu nguyện.

Lục môn đà-la-ni kinh luận

六門陀羅尼經論; C: liù mén tuóluóníjīng lùn; J: roku mon daranikyō ron; S: ṣaṇmukhī-dhāraṇī-vyākhyāna; T: sgo drug pa'i gzungs kyi rnam par bshad pa.|Luận, 1 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Dịch giả khuyết danh.

lục nan

Sáu điều khó—Six difficult things: 1) Ngộ Phật Thế Nan: Sanh ra nhằm thời có Phật là khó—To be born in the Buddha-age. 2) Văn Chánh Pháp Nan: Nghe được chánh pháp là khó—To hear the true Buddha-law. 3) Sanh Thiện Tâm Nan: Sanh được thiện tâm là khó—To beget a good heart. 4) Sanh Trung Quốc Nan: Được sanh ra trong xứ trung tâm là khó—To be born in the central kingdom. 5) Đắc Nhân Thân Nan: Được thân người là khó—To be in human form. 6) Toàn Căn Nan: Được đầy đủ các căn là khó—To be perfect.

Lục Nga phế độc

(蓼莪廢讀): bỏ không đọc phần Lục Nga (蓼莪) của Thi Kinh (詩經). Điển cố này phát xuất từ câu chuyện chí hiếu của Vương Bầu (王裒) nhà Ngụy thời Tam Quốc, như trong Bát Đức Cố Sự (八德故事), Hiếu Thiên (孝篇) có ghi lại như sau: “Vương Bầu khấp mộ, vị mẫu úy lôi, Lục Nga phế độc, khái niệm ai ai. Ngụy Vương Bầu, phụ Nghi, vi Tấn Văn Đế sở sát, Bầu chung thân vị hướng Tây tọa, thị bất thần Tấn. Mẫu úy lôi, mỗi văn lôi, tức bôn mộ tiền bái khấp cáo viết: 'Bầu tại thử, mẫu vật cụ'. Thường phàn mộ tiền bá thọ hiệu khấp, lệ trước thọ, thọ vị chi khô. Độc thi chí 'ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao', tất tam phục lưu thế, môn nhân tận phế 'Lục Nga' thiên (王裒泣墓、爲母畏雷、蓼莪廢讀、慨念哀哀。魏王裒、父儀、爲晉文帝所殺、裒終身未向西坐、示不臣晉。母畏雷、每聞雷、卽奔墓前拜泣告曰、裒在此、母勿懼。嘗攀墓前柏樹號泣、淚著樹、樹爲之枯。讀《詩》至「哀哀父母、生我劬勞」、必三復流涕、門人盡廢《蓼莪》篇, Vương Bầu khóc mộ, vì mẹ sợ sấm, Lục Nga bỏ đọc, xót nhớ bùi ngùi. Vương Bầu nhà Ngụy, cha là Nghi, bị Tấn Văn Đế giết, Bầu suốt đời chưa từng ngồi hướng về phía Tây, chứng tỏ không thần phục nhà Tấn. Mẹ ông sợ sấm sét, mỗi lần nghe sấm sét, ông liền chạy ra trước mộ mẹ, lạy khóc và thưa rằng: 'Bầu con ở đây, mẹ đừng sợ'. Ông thường vin vào cây bách trước mộ mà khóc thảm thiết, nước mắt dính cây, cây liền khô héo. Ông đọc Thi Kinh đến đoạn 'thương thay cha mẹ, sanh ta khổ nhọc', cả ba lần đều rơi lệ; môn nhân thấy vậy, phế bỏ đi thiên 'Lục Nga' ấy).” Sự cố này cũng được ghi lại trong Nhị Thập Tứ Hiếu (二十四孝), câu chuyện Văn Lôi Khấp Mộ (聞雷泣墓, nghe sấm khóc mộ). Từ đó, Lục Nga Phế Độc còn có nghĩa là cha mẹ đã qua đời.

lục ngoại xứ

Bahirani-ayatanani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu ngoại xứ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six external sense-spheres: 1) Sắc Xứ: Rupayatanam (p)—Sight-object. 2) Thanh Xứ: Sound-sense-sphere. 3) Hương Xứ: Smell-sense-sphere. 4) Vị Xứ: Taste-sense-sphere. 5) Xúc Xứ: Phottabbayatanam (p)—Tangible object. 6) Pháp Xứ: Dhammayatanam (p)—Mind-object.

Lục nhiễm

六染; C: liùrăn; J: rokuzen;|Lục nhiễm tâm (六染心).

Lục nhiễm tâm

六染心; C: liùrănxīn; J: rokuzenshin;|Sáu loại phiền não làm ô nhiễm tâm được chủ trương trong Đại thừa khởi tín luận. Mặc dù thể của tâm vốn là thanh tịnh, nhưng vô minh sinh khởi từ (một niệm) bất giác vọng động, nên tâm trở nên bị trói buộc trong phiền não, có thể thấy trong 6 phương diện: 1. Chấp tương ưng nhiễm (執相應染); 2. Bất đoạn tương ưng nhiễm (不斷相應染); 3. Phân biệt trí tương ưng nhiễm (分別智相應染); 4. Hiện sắc bất tương ưng nhiễm (現色不相應染); 5. Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm (能見心不相應染); 6. Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm (根本業不相應染).|Hai loại đầu tương ưng với 6 thức đầu (lục thức 六識), loại thứ 3 tương ưng với thức thứ 7, ba loại cuối cùng tương ưng với thức thứ 8 (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

lục nhiễm tâm

Sáu thứ nhiễm tâm trong Khởi Tín Luận—The six mental taints of the Awakening of Faith (Khởi Tâm Luận). Dù bản chất tâm là thanh tịnh không ô nhiễm, vô minh làm tâm ô nhiễm qua sáu thứ sau đây—Though mind-essence is by nature pure and without stain, the condition of ignorance or innocence permits of taint or defilement corresponding to the following six phrases: 1) Chấp tương ưng nhiễm: Chấp nhiễm cho rằng cái “dường như” là cái “thật.” Đây là giai đoạn cuối của Bích Chi Phật Địa (Thanh Văn và Duyên Giác) hay Tín Trụ Địa của Bồ Tát—The taint interrelated to attachment, or holding the seeming for the real—The final stage of sravakas and pratyeka-buddha—The stage of faith of bodhisattvas. 2) Bất đoạn tương ưng nhiễm: Nhiễm chấp dẫn đến những nguyên nhân của khổ lạc—Ly Cấu Địa—The taint interrelated to the persisting attraction of the cause of pain and pleasure—The stage of purity. 3) Phân biệt trí tương ưng nhiễm: The taint interrelated to the “particularizing intelligence” which discerns things within and without this world—The stage of spirituality. 4) Hiện sắc bất tương ưng nhiễm: The non-interrelated or primary taint (ignorant mind as yet hardly discerning subject from object, of accepting an external world—The stage of emancipation from the material. 5) Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm: The non-interrelated or primary taint of accepting a perceptive mind—The stage of emancipation from mental effort. 6) Căn bổn nghiệp bất tương ưng nhiễm: The non-interrelated or primary taint of accepting the idea of primal action or activity in the absolute—The highest bodhisattva stage, entering the Buddhahood.

Lục nhân

六因; C: liùyīn; J: rokuin;|Sáu loại nguyên nhân: Năng tác nhân (能作因), Câu hữu nhân (倶有因), Tương ứng nhân (相應因), Đồng chủng nhân (同種因), Biến hành nhân (遍行因), Dị thục nhân (異熟因).

lục nhân

Nhân đương có, nhân tương tục, nhân hình tướng, nhân tạo tác, nhân hiển thị, nhân truyền nhau. ; (A) Sáu nhân sanh ra các pháp hữu vi. Pháp hữu vi sanh ra đều do sự hòa hợp của nhân và duyên—The sixfold division of causes of all conditioned things. Every phenomenon depends upon the union of the primary cause and conditional or environmental cause. There are six kinds: 1) Năng tác nhân: Karanahetu (skt)—Lý do hiện hữu của mọi sự vật có thể có. Năng tác nhân có hai loại—The reason that makes the existence of anyhing possible. Effective causes of two kinds: a) Dữ lực nhân: Empowering cause. b) Bất chướng nhân: Non-resistant cause, as space does not resist. 2) Câu hữu nhân: Sahabhuhetu—Tứ đại cùng thay phiên nhau làm nhân duyên. Luật hỗ tương, tức là tình trạng hỗ tương ảnh hưởng làm điều kiện cho nhau—Co-operative causes, as the four elements in nature, not one of which can be omitted. The law of mutuality, that is, the state of being mutually conditioned. 3) Đồng loại nhân: Sabhagahetu—Luật gieo gì gặt nấy—The law that like produces like (causes of the same kind as the effect, good producing good, etc). 4) Tương ưng nhân: Samprayuktahetu—Luật tương ứng hay phối hợp—The law of association (mutual responsive or associated causes, i.e. mind and mental conditions, subject with object). 5) Biến hành nhân: Sarvatragahetu (skt)—Luật tổng quát có thể áp dụng vào một số đặc tính tâm thức làm căn bản chung cho các đặc tính khác, hay tà kiến là nhân ảnh hưởng mọi hành động—The law of generality, which is applicable to certain mental qualities making the common ground for others, or universal or omnipresent cause of illusion, as of false views affecting every act. 6) Dị thục nhân: Vipakahetu—Quả mang lại khác với nhân. Đây là luật báo ứng hay kết quả—Differential fruition, i.e. the effect different from the cause, as the hells are from evil deeds. This is the law of retribution, or fruition. (B) Sáu ngôi nhân địa—See Lục Vị (B). (C) Theo Kinh Lăng Già—According to the Lankavatara Sutra: 1) Thường Hữu Nhân: Bhavishayaddhetu (skt)—Sự khả hữu của một sự vật trở thành nguyên nhân cho các sự vật khác—The possibility of anything becoming cause to others. 2) Tương Tục Nhân: Sambandha-hetu (skt)—Sự tùy thuộc lẫn nhau—Mutual dependence. 3) Tướng Nhân: Lakshana-hetu (skt)—Tính tương tục không gián đoạn của các tướng trạng—Uninterrupted continuity of signs. 4) Năng Tác Nhân: Karana-hetu (skt)—Nhân tố tạo thành quyền lực tối cao như một đại vương—A causal agency that wields supreme power like a great king. 5) Hiển Liễu Nhân: Vyanjana-hetu (skt)—Điều kiện trong đó các sự vật được biểu hiện như là được ánh sáng chiếu rọi—The condition in which things are manifested as if illuminated by a light. 6) Quán Đãi Nhân: Upeksha-hetu (skt)—Luật về sự gián đoạn—The law of discontinuation.

lục như

The six “likes.”—See Lục Dụ.

lục nhẫn

Six kinds of enduance. 1) Tín Nhẫn: Faith patience—See Tín Nhẫn. 2) Pháp Nhẫn: Ability to bear external hardships—See Pháp Nhẫn. 3) Tu Nhẫn: Ability to bear endurance during practicing—See Tu Nhẫn. 4) Chánh Nhẫn: Right patience—See Chánh Nhẫn. 5) Vô Cấu Nhẫn: Undefiled endurance—See Vô Cấu Nhẫn. 6) Nhất Thiết Trí Nhẫn: Nhất thiết trí nhẫn của một một vị Phật—Omniscient endurance, that of a Buddha.

Lục nhập

六入|Lục xứ (六處).

lục nhập

xem ấm, nhập, giới. ; Sadayatana (skt). (A) Sáu chỗ xâm nhập hay căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý—The six entrances or locations, both the organ and the sensation (eye, ear, nose, tongue, body, mind; sight, hearing, smell, taste, touch, and perception)—See The six senses. (B) Một trong những mắc xích trong thập nhị nhơn duyên—One of the links in the chain of causation. (C) Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển Ba, Đức Phật đã nhắc ngài A Nan về Lục Nhập như sau: “Ông A Nan! Vì sao bản tính của Lục Nhập là Như Lai tạng?”—According to the Surangama Sutra, book Three, the Buddha reminded Ananda about the six entrances as follows: “Ananda! Why do I say the six entrances have their origin in the wonderful nature of true suchness, the treasury of the Thus Come One?” 1) Nhãn Nhập—The Eye-Entrance. a) Ông A Nan! Tôi đã từng nói, con mắt bị mệt mỏi trông thấy các hoa đốm lăng xăng. Mắt lành thấy rõ hư không không có hoa. Hoa đốm nhảy nhót ở hư không là do mắt bệnh. Hoa đốm và bệnh, đều trong phạm vi của hư không và mắt lành. Vậy có thể nói, con mắt và trần cảnh của chúng sanh đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Although the eye's staring causes fatigue, the eye and the fatigue originate in Bodhi. Staring gives rise to the characteristic of fatigue. • Nhân hai vọng trần tối và sáng, phát ra cái thấy nơi bề trong, để thu nạp các trần tượng đó, gọi là tính thấy: Because a sense of seeing is stimulated in the midst of the two false, defiling objects of light and dark, defiling appearances are taken in; this is called the nature of seeing. • Rời hai cái trần sáng tối kia, tính thấy đó không có thể: Apart from the two defiling objects of light and dark, this seeing is ultimately without substance. b) Đúng thế ông A Nan, tính thấy đó không từ nơi sáng hay nơi tối đến, không ở mắt ra, cũng chẳng ở hư không sinh. Vì sao?—Thus, Ananda, you should know that seeing does not come from light or dark, nor does it come forth from the sense organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ sáng tới, khi tối liền theo sáng diệt, đáng lẽ không thấy tối: If it came from light, then it would be extinguished when it is dark, and you would not see darkness. • Nếu từ tối tới, khi sáng liền theo tối diệt, đáng lẽ không thấy sáng: If it came from darkness, then it would be extinguished when it is light, and you would not see light. • Nếu từ con mắt sinh ra, hẳn không có sáng tối, như thế cái thấy vốn không có tự tính: Suppose it came from the sense organ, which is obviously devoid of light and dark, a nature of seeing such as this would have no self-nature. • Nếu do hư không mà ra, nhìn phía trước thấy các vật, quay trở lại đáng lẽ thấy con mắt. Vả lại nếu hư không tự thấy, còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?—Suppose it came forth from emptiness. When it looks in front of you, it sees the shapes of the defiling dust; turning around, it would see your sense-organ. Moreover, if it were emptiness itself which sees, what connection would that have with your entrance? c) Vậy nên biết rằng nhãn nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the eye enance is empty and false, since it neither depends upon causes and conditions for existence nor is spontaneous in nature. 2) Nhĩ Nhập—The ear entrance: a) Ông A Nan! Ví dụ có người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ tai, nghe tiếng trong đầu ù-ì. Tai và tiếng đó đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Consider, for example, a person who suddenly stops up his ears with two fingers. Because the sense-organ of hearing has become fatigued, a sound is heard in his head. However, both the ears and the fatigue originate in Bodhi. • Nhân hai vọng trần động và yên tĩnh phát ra cái nghe nơi bề trong, để thu nạp các trần tượng ấy, gọi là tính nghe: Because a sense of hearing is stimulated in the midst of the two false, defiling objects of movement and stillness, defiling appearances are taken; this is called the nature of hearing. • Rời hai cái trần động tĩnh kia, tính nghe đó không thể có: Apart from the two defiling objects of movement and stillness, this hearing is ultimately without substance. b) Đúng thế ông A Nan, tính nghe đó không từ nơi động tĩnh đến, không phải từ tai ra, chẳng ở hư không sinh. Vì sao?: Thus, Ananda, you know that hearing does not come from movement and stillness; nor does it come from the sense-organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ tĩnh lại, khi động liền theo tĩnh diệt, đáng lẽ không biết động: If it came from stillness, it would be extinguished when there is movement, and you would not hear movement. • Nếu từ động tới, khi tĩnh liền theo động diệt, đáng lẽ không biết tĩnh: If it came from movement, then it would be extinguished when there is stillness, and you would not be aware of this stillness. • Nếu từ lỗ tai sinh ra, hẳn không có động, tĩnh, như thế cái nghe vốn không có tự tính: Suppose it came from the sense-organ, which is obviously devoid of movement and stillness: a nature of hearing such as this would have no self-nature. • Nếu do hư không mà ra, thì hư không đã thành tính nghe, tức không phải là hư không. Vả lại, nếu hư không nghe được, còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?: Suppose it came from emptiness; emptiness would then become hearing and would no longer be emptiness. Moreover, would it have with your entrance? c) Vậy nên biết rằng nhĩ nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the ear-entrance is empty and false, since it neother depends upon causes and conditions for existence, nor is spontaneous in nature. 3) Tỷ Nhập—The nose entrance: a) Ông A Nan! Ví như có người bịt chặt hai lỗ mũi. Bịt lâu mũi nhọc và cảm thấy lạnh. Nhân cảm xúc phân biệt thông, nghẹt, trống, đặc, cho đến các mùi thơm thúi. Mũi và cái nhọc ấy đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Consider, for example, a person who inhales deeply through his nose. After he has inhaled for a long time it becomes fatigued, and then there is a sensation of cold in the nose. Because of that sensation, there are the distinctions of penetration and obstruction, of emptiness and actuality, and so forth, including all fragrant and stinking vapors. However, both the nose and the fatigue originate in Bodhi. • Nhân hai vọng trần thông và tắc phát ra cái ngửi nơi bề trong, để thu nạp các trần tượng, gọi là tính ngửi: Because a sense of smelling is stimulated in the midst of the two false, defiling objects of penetration and obstruction, defiling appearances are taken in; this is called the nature of smelling. • Rời hai cái trần thông, tắc kia, tính ngửi đó không thể có: Apart from the two defiling objects of penetration and obstruction, this smelling is ultimately without substance. b) Tính ngửi đó không từ nơi thông, hay tắc lại, không phải từ mũi ra, cũng chẳng ở hư không sinh. Vì sao?: You should know that smelling does not come from penetration and obstruction, nor does it come forth from the sense-organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ thông lại, khi tắc tính ngửi phải diệt mất, đáng lẽ không biết tắc: If it came from penetration, the smelling would be extinguished when there is obstruction, and then how could it experience obstruction? • Nếu nhân cái tắc mà có, khi thông không thể ngửi được, sao lại biết mùi thơm thúi?: If it existed because of obstruction, then where there is penetration there would be no smelling; in that case, how would the awareness of fragrance, stench, and other such sensations come into being? • Nếu từ lỗ mũi sinh ra, hẳn không có thông tắc, như thế cái ngửi vốn không có tự tính: Suppose it came from the sense organ, which is obviously devoid of penetration and obstruction. A nature of smelling such as this would have no self-nature. • Nếu do hư không mà ra, đáng lẽ cái ngửi ấy quay lại ngửi được mũi ông. Cái hư không có tính ngửi thì còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?: Suppose it came from emptiness; smelling itself would turn around and smell your own nose. Moreover, if it were emptiness itself which smelled, what connection would it have with your entrance? c) Vậy ông nên biết rằng tỷ nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the nose-entrance is empty and false, since it neither depends upon causes and conditions for existence nor is spontaneous in nature. 4) Thiệt Nhập—The tongue entrance: a) Ông A Nan! Ví như có người lấy lưỡi liếm mép, liếm mãi thành mỏi mệt. Người ốm thấy đắng, người khỏe thấy ngọt. Do vị ngọt và vị đắng, mới rõ có thiệt căn. Lúc bình thường chỉ thấy vị nhạt. Lưỡi và cái mỏi mệt ấy đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Consider, for example, a person who licks his lips with his tongue. His excessive licking causes fatigue. If the person is sick, there will be a bitter flavor; a person who is not sick will have a subtle sweet sensation. Sweetness and biterness demonstrate the tongue's sense of taste. When the organ is inactive, a sense of tastelessness prevails. However, both the tongue and the fatigue originate in Bodhi. • Nhân hai cái vọng trần ngọt và nhạt phát ra cái nếm nơi bề trong, để thu nạp các trần tượng ấy, gọi là tính nếm: Because of the two defiling objects of sweetness and bitterness, as well as tastelessness, stimulate a recognition of taste which in turn draws in these defiling sensations, it becomes what is known as a sense of taste. • Rời hai cái trần ngọt và nhạt kia, tính nếm đó không thể có: Apart from the two defiling objects of sweetnes and bitternes and apart from tastelessness, the sense of taste is originally without a substance. b) Đúng thế, ông A Nan, tính nếm đó không từ nơi ngọt đắng lại, , không từ lưỡi ra, cũng chẳng sinh từ hư không. Vì sao?: Thus, Ananda, you should know that the perception of sweetness, bitterness, and tastelessness does not come from sweetness or bitterness, nor does it exist because of tastelessness, nor does it arise from the sense organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ ngọt đắng lại, khi nhạt tính nếm phải diệt, đáng là không biết nhạt: If it came from sweetness and bitterness, it would cease to exist when tastelessness was experienced, so how cold it recognize tastelessness? • Nếu từ nhạt ra, khi ngọt tính nếm phải mất, sao lại biết ngọt đắng?: If it arose from tastelessness, it would vanish when the flavor of sweetness was tasted, so how could it perceive the two flavors, sweet and bitter? • Nếu từ lưỡi sinh ra, hẳn không có ngọt, nhạt và đắng, như thế tính nếm vốn không có tự tính: Suppose it came from the tongue which is obviously devoid of defiling objectssweetness and bitternes and of tastelessness. An essence of tasting such as this would have no self-nature. • Nếu do hư không mà ra, , thì hư không có tính nếm, chứ không phải miệng ông. Hư không mà biết nếm, thì còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?: Suppose it came from emptiness; the sense of taste would be experienced by emptiness instead of by the mouth. Suppose, moreover, that it was emptiness itself which tasted, what connection would that have with your entrance? c) Vậy nên biết thiệt nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the tongue entrance is empty and false, since it neither depends upon causes and conditions for existence, nor is it spontaneous in nature. 5) Thân Nhập—The body entrance: a) Ông A nan! Ví như có người lấy một bàn tay lạnh úp vào bàn tay nóng. Nếu lạnh nhiều thì nóng theo thành lạnh. Nếu nóng nhiều thì lạnh trở lại thành nóng. Biết nóng lạnh khi chạm tay, thì cái biết đó vẫn có từ khi chưa chạm tay. Thân và cái cảm giác đó, đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Consider, for example, a person who touches his warm hand with his cold hand. If the cold is in excess of warmth, the warm hand will become cold; if the warmth is in excess of the cold, his cold hand will become warm. So the sensation of warmth and cold is felt through the contact and separation of the two hands. Fatiguing contact results in the interpenetration of warmth and cold. However, both the body and the fatigue originate in Bodhi. • Nhân hai vọng trần ly và hợp phát ra cái cảm giác nơi bề trong, để thu nạp các trần tượng ấy, gọi là tính biết khi sờ mó: Because a physical sensation is stimulated in the midst of the two defiling objects of separation and union, defiling appearances are taken in; this is called the awareness of sensation. • Rời hai cái trần ly hợp, thích và không thích kia, tính biết đó không thể có: Apart from the two sets of defiling objects of separation and union, and pleasantness and unpleasantness, the awareness of sensation is orginally without a substance. b) Đúng thế, ông A Nan, tính biết đó không từ ly, hợp mà lại, chẳng phải từ thích, không thích mà có, không từ thân ra, cũng chẳng ở hư không sinh. Vì sao?: Thus, Ananda, you should know that this sensation does not come from separation and union, nor does it exist beause of pleasantness and unpleasantness, nor does it arise from the sense organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ hợp mà có, khi ly tính biết phải diệt, đáng lẽ không biết khi ly hay chưa tiếp xúc: If it arose when there was union, it would disappear when there was separation, so how could it sense the separation? • Đối với thích và không thích, cũng như vậy: The two characteristics of pleasantness and unpleasantness are the same way. • Nếu từ thân mà ra, hẳn không có ly hợp, thích và không thích. Như thế tính biết nhờ sờ mó, vốn không có tự tính: Suppose it came from the sense organ, which is obviously devoid of the four characteristics of union, separation, pleasantness, and unpleasantness; an awareness of physical sensation such as this would have no self- nature. • Nếu do hư không mà ra, thì hư không có tính biết, còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?: Suppose it came from emptiness; the awareness of sensations would be experienced by emptiness itself, what connection would that have with your entrance? c) Vậy nên biết rằng thân nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the body-entrance is empty and false, since it neither depends upon causes and conditions for existence, nor is spontaneous in nature. 6) Ý Nhập—The mind entrance: a) Ông A Nan! Ví như có người mệt mỏi ngủ thiếp đi, ngủ đã thức dậy, thấy trần cảnh thì nhớ, khi không nhớ gọi là quên. Các thứ điên đảo, sinh, trụ, dị, diệt, tập quen thu nạp vào bề trong, không lẫn lộn nhau, gọi là ý tri căn. Ý và cái mỏi mệt đó, đều ở trong phạm vi của Bồ Đề: Ananda! Consider, for example, a person who becomes so fatigued that he goes to sleep. Having slept soundly, he awakens and tries to recollect what he experienced while asleep. He recalls some things and forgets others. Thus, his upsidedownness goes through production, dwelling, change, and extinction, which are taken in and returned to a center habitually, each following the next without ever being over taken. This is known as the mind organ or intellect. The mind and fatigue are both Bodhi. • Nhân hai cái vọng trần sinh và diệt, tập khởi cái biết bên trong, để thu nạp các nội trần. Các cái thấy, nghe đi ngược vào trong mà không đến nơi, gọi là tính hay biết: The two defiling objects of production and extinction stimulate a sense of knowing which in turn grasps these inner sense data, reversing the flow of seeing and hearing. Before the flow reaches the ground it is known as the faculty of intellect. • Rời hai cái trần thức ngủ, sinh diệt kia, tính hay biết đó không thể có: Apart from the two sets of dwelling objects of waking and sleeping and of production and extinction, the faculty of intellect is originally without substance. b) Đúng thế ông A Nan, tính hay biết đó không từ thức ngủ tới, không từ sinh diệt mà có, không ở ý căn ra, cũng chẳng ở hư không sinh. Vì sao?: Thus, Ananda, you should know that the faculty of intellect does not come from waking, sleeping, production, or extinction, nor does it arise from the sense organ, nor is it produced from emptiness. Why? • Nếu từ thức mà có, khi ngủ liền diệt theo, lấy cái gì gọi là ngủ: If it came from waking, it would disappear at the time of sleeping, so how could it experience sleep? • Như chắc khi sinh là có, khi diệt tức là không, còn chi mà biết là diệt: If it came from production, it would cease to exist at the time of extinction, so how could it undergo extinction? • Như nhân cái diệt mà có, khi sinh tức không có diệt nữa, lấy gì mà biết là sinh: If it came from extinction it would disappear at the time of production, so how could it know about production? • Nếu từ ý căn mà ra, thì hai tướng thức ngủ theo nhau mà khai, mà hợp trong thân. Rời hai cái thể đó, tính biết kia giống như hoa đốm giữa hư không, không có tự tính: Suppose it came from the sense-organ; waking and sleeping cause only a physical opening and closing respectively. Apart from these two movements, the faculty of intellect is as unsubstantial as flowers in space, because it is fundamentally without a self-nature. • Nếu do hư không mà sinh, thì hư không có tính biết, còn có liên lạc gì với cái nhập của ông?: Suppose it came from emptiness; the sense of intellect would be experienced by emptiness instead of by the mind. Then what connection would that have with your entrance? c) Vậy nên biết rằng ý nhập hư vọng, vốn chẳng phải tính nhân duyên hay tính tự nhiên: Therefore, you should know that the mind entrance is empty and false, since it neither depends upon causes and conditions for existence, nor is spontaneous in nature. ** For more information, please see Lục Cảnh and Lục Xứ.

lục niên khổ hạnh

Sáu năm khổ hạnh của Đức Phật Thích Ca trước khi thành đạo—The six years of sakyamuni's austerities before his enlightenment.

lục niệm

The six thoughts to dwell upon—See Lục Niệm Pháp.

lục niệm pháp

Anussati-tthanani (p)—Sáu niệm pháp—The six thoughts to dwell upon or six objects of recollection: (A) 1) Niệm Phật: The Buddha. 2) Niệm Pháp: The Law. 3) Niệm Tăng: The Order. 4) Niệm Giới: The Commandments or morality. 5) Niệm Thí: The Almsgiving or renunciation. 6) Niệm Thiên: The Heaven (deva) with its prospective joys. (B) Niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”—The six recitations refer to the six syllables or words of “Na-mo A-mi-tabha Buddha.” ** For more information, please see Mười Đề Mục Suy Niệm.

lục niệm xứ

xem sáu chánh niệm. ; Sáu niệm xứ—The six stages of the six thoughts to dwell upon—See Lục Niệm Pháp.

lục nội xứ

Ajjhattikani ayatanani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu nội xứ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six internal sense-spheres: 1) Nhãn Xứ: Eye-sense-sphere. 2) Nhĩ Xứ: Ear-sense-sphere. 3) Tỷ Xứ: Nose-sense-sphere. 4) Thiệt Xứ: Tongue-sense-sphere. 5) Thân Xứ: Kayayatanam (p)—Body-sense-sphere. 6) Ý Xứ: Manayatanam (p)—Mind-sense-sphere.

Lục phiền não

六煩惱; C: liùfánnăo; J: rokubonnō;|Sáu phiền não căn bản, từ đó phát sinh các thứ Tùy phiền não (隨煩惱): Tham (貪, còn gọi là Ái 愛), Sân瞋, Si癡, Mạn (慢), Nghi (疑), và (tà) Kiến (見). Phiền não (煩惱).

lục phiền não

See Lục Đại Phiền Não.

Lục phàm

六凡; C: liùfán; J: rokubon;|Sáu cõi phàm phu (chúng sinh chưa giác ngộ) trong Thập giới (十界): Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người, Trời. Lục phàm tứ thánh (六凡四聖).

lục phàm

Six realms of Samsara—See Lục phàm Tứ Thánh.

Lục phàm tứ thánh

六凡四聖; C: liùfán sìshèng; J: rokubon-shishō;|Mười cõi. Sáu cõi đầu là cõi giới của phàm phu (chúng sinh chưa giác ngộ) gồm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người, Trời. Bốn cõi giới sau là cõi giác ngộ của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật.

lục phàm tứ thánh

Sáu phàm bốn Thánh. Theo tông Thiên Thai, mười cõi nầy tương dung tương nhiếp lẫn nhau, mỗi cõi mang trong nó chín cõi còn lại kia. Tỷ dụ như nhân giới sẽ bao hàm cả chín cõi khác, từ Phật cho đến địa ngục, và mỗi một trong mười cảnh vực kia cũng vậy. Ngay cả cảnh giới của chư Phật cũng bao gồm bản chất của địa ngục và các cõi khác, bởi vì một Đức Phật dù ở Ngài không còn bản chất của địa ngục, nhưng vì để cứu độ cúng sanh trong cõi nầy, nên cũng có địa ngục ngay trong tâm của Ngài. Trong ý nghĩa nầy Phật giới cũng bao gồm cả chín cõi khác—Six realms of the samsara (existence) and four realms of the saints—Six stages of rebirth for ordinary people, as contrasted with the four saints. These ten realms are mutually immanent and mutually inclusive, each one having in it the remaining nine realms. For example, the realm of men will include the other nine from Buddha to Hell, and so will any of the ten realms. Even the realm of Buddhas includes the nature of hell and all the rest, because a Buddha, though not helish himself, intends to save the depraved or hellish beings, and therefore also has hell in his mind. In this sense, the realm of the Buddhas, too, includes the other nine realms: (A) Lục phàm: Sáu nẻo luân hồi hay sáu thế giới của chúng sanh mê mờ—Tất cả chúng sanh trong sáu nẻo nầy đều phải chịu sanh tử luân chuyển không ngừng theo luật nhân quả, sanh vào nẻo nào tùy theo những hành động trong kiếp trước quyết định. Trong Phật giáo, các nẻo nầy được miêu tả bằng các tai họa hay các phần của bánh xe sanh tử. Bánh xe nầy do các hành động phát sanh từ vô minh của ta về chân tánh cuộc sinh tồn, do các nghiệp lực từ quá khứ vô thủy thúc đẩy, do sự thèm muốn khoái lạc của các thức giác của chúng ta, và sự bám víu của chúng ta vào những khoái lạc nầy tiếp tục làm nó xoay vần, đưa đến sự quay vòng bất tận của sinh tử và tái sanh mà chúng ta bị trói buộc trong ấy—Six realms of the samsara or the realms of the unenlightened. All creatures in these realms are tied to the ceaseless round of birth-and-death, that is, to the law of causation, according to which existence on any one of these planes are determined by antecedent actions. In Buddhism these planes are depicted as the spokes or segments of the “wheel of life.” This wheel is set in motionby actions stemming from our basic ignorance of the true nature of existence and by karmic propensities from an incalculable past, and kept revolving by our craving for the pleasures of the senses and by our clinging to them, which leads to an unending cycle of births, deaths, and rebirths to which we remain bound. 1) Realm of hells: Địa Ngục tượng trưng cho tham sân si, những loài bị hành tội ở cõi thấp nhất—Symbolizing ignorance, greed and aggression. Depraved men or “hellish beings” who are in the lowest stage. 2) Quỷ—Ghost: a) Realm of Hungry Ghosts: Pretas (skt)—Ngạ Quỷ, những loài đã chết hay các quỷ đói—Symbolizing greed. Departed beings, otherwise called “hungry spirits.” b) A Tu La: Asura (skt)—Những quỷ thần hiếu chiến. Dù một phần thuộc Thiên giới, nhưng chúng được đặt vào cõi thấp hơn—Fighting spirits, though partially heavenly, they are placed in the lower realm. 3) Súc Sanh: Realm of Animals--Những loài có bản chất mê muội, bao gồm tất cả các loài vật—Beasts—Symbolizing ignorance or innocent in nature, including the whole animal kingdom. 4) Realm of Titans (Asuras): A-Tu-La—Fighting demons—Symbolizing aggression. 5) Nhân: Realm of Humans (Men)—Nhơn giới có bản chất trung hòa—Human beings, neutral in nature—Symbolizing social virtue. 6) Thiên Giới: Realm of Celestials (Devas)—Mặc dù là siêu nhân, nhưng những chúng sanh nầy không thể giác ngộ viên mãn nếu không có giáo thuyết của Phật—Heavenly beings, though superhuman in nature they cannot get perfectly enlightened without the teaching of the Buddha—Symbolizing meditation abstractions. (B) Tứ Thánh: Bốn cõi Thánh là cõi mà nơi đó chúng sanh đã giác ngộ, đã biết sự an lạc bên trong và sự tự do sáng tạo bởi vì bằng tri thức họ đã chiến thắng vô minh và mê hoặc, họ đã thoát khỏi sự nô lệ vào các nghiệp lực phát sinh từ hành động mê lầm trong quá khứ và bây giờ không còn gieo những hạt giống mà chúng sẽ kết trái trong hình thức trói buộc mới của nghiệp. Song giác ngộ không làm gián đoạn luật nhân quả. Khi người giác ngộ tự cắt ngón tay mình, nó cũng chảy máu, khi người ấy ăn phải thức ăn xấu thì dạ dày vẫn đau. Người giác ngộ không thể chạy trốn được hậu quả của các hành động do chính mình tạo ra. Sự khác biệt là vì người đã giác ngộ chấp nhận, tức đã thấy rõ nghiệp của mình và không còn bị trói buộc nữa mà di động tự do bên trong nghiệp—Four Saints or the realms of the enlightened—The four realms of enlightened existence, sometimes called the “four holy states.” Unlike those in the lower six realms, the nelightened know the joy of inward peace and creative freedom because, having overcome their ignorance and delusion through knowledge, they are freed from enslavement to karmic propensities arising from past delusive actions, and no longer sow seeds which will bar fruit in the form of new karmic bondage. Enlightenment, however, does not suspend the law of cause and effect. When the enlightened man cuts his finger it bleeds, when he eats bad food his stomach aches. He too cannot escape the consequences of his actions. The difference is that because he accepts, that is, he sees into his karma he is no longer bound by it, but moves freely witihn it. 1) Duyên giác: Một vị Phật tự giác ngộ, không giảng dạy cho kẻ khác—A Buddha for himself, not teaching others—See Pratyeka-buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 2) Thanh Văn: Đệ tử trực tiếp của Phật—A direct disciple of the Buddha—See Sravaka, and Sravakayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 3) Bồ Tát: Một vị Phật tương lai—A would-be Buddha—See Bodhisattva, and Bồ Tát. 4) Phật: The realm of Buddhas—Một vị Phật không ở trong vòng mười cõi thế gian nầy, nhưng vì Ngài thị hiện giữa loài người để giảng dạy giáo lý của mình nên Ngài được kể vào đó—A Buddha is not inside the circle of ten, but as he advents among men to preach his doctrine he is now partially included in it—See Buddha, and Phật.

Lục pháp

六法; C: liùfǎ; J: roppō;|Có hai nghĩa: 1. Sáu pháp mà hành giả phải thường quán niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên; 2. Sáu điều giới hàng Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā) phải giữ.

lục pháp

Sáu giới cấm của một Thức Xoa Ma Na—The six prohibition rules for a female devotee—See Lục Pháp Giới.

Lục pháp giới

六法戒; C: liùfǎjiè; J: roppōkai;|Lục pháp sự (六法事).

lục pháp giới

Là sáu giới nên học cho mạnh thêm của Sa di ni để tiến lên Thức xoa. Sáu pháp là không dâm dục, không trộm cắp, không sát hại, không vọng ngữ, không ăn phi thời và học pháp bát kỉnh. ; Sáu giới pháp của Thức Xoa Ma Na—The six prohibition rules for a female devotee: 1) Bất Dâm: Chẳng dâm dục cũng chẳng chạm vào người nam—Not indelicacy of contact with a male. 2) Bất Đạo: Chẳng trộm đạo—Not purloining for cash. 3) Bất Sát: Không giết hại sinh vật—Not killing animals. 4) Bất Cuống Ngữ: Không nói lời dối trá—Not telling untruthfulness. 5) Bất Phi Thời Thực: Chẳng ăn sau ngọ—Not having food after midday meal. 6) Bất Ẩm Tửu: Không uống rượu—Not drinking wine or beer.

Lục pháp sự

六法事; C: liùfǎshì; J: roppōji;|Sáu điều giới hàng Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā; p: sikkhamānā) phải giữ (nữ học chúng xuất gia từ 18 đến 20 tuổi): không dâm dục, không trộm cắp, không sát hại, không nói dối, không uống rượu, không ăn phi thời.

lục phương

Six directions: 1) Phương Đông: East. 2) Phương Tây: West. 3) Phương Nam: South. 4) Phương Bắc: North. 5) Phương Trên: Above. 6) Phương Dưới: Below.

lục phương hành trì

Cultivation in six directions—Theo Kinh Thi Ca La Việt, tín đồ đạo Bà La Môn mỗi sáng thường hay tắm rữa sạch sẽ rồi lễ lạy sáu phương, để cầu sanh về cõi sướng; Đức Phật đã nhân đó thuyết kinh Lễ Lục Phương cho họ—According to the Sagalaka Sutra, the brahman morning act of bathing and paying homage in the six directions; observing the “well-born” do this; the Buddha is said to have given the discourse in the Worship in the Six Directions Sutra: 1) Phương Đông cần được hiểu là cha mẹ: The East denotes mother and father. a) Này gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông—There are five ways in which a son should minister to his mother and father as the Eastern direction. • Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ: He should think having been supported by them, I will support them. • Tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ: I will perform their duties for them. • Tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống: I will keep up the family tradition. • Tôi bảo vệ tài sản thừa tự: I will be worthy of my heritage. • Tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời: After my parents' deaths, I will distribute gifts on the their behalf. b) Này gia chủ tử, được con phụng dưỡng như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách—There are five ways in which the parents, so ministered to by their son as Eastern direction, will reciprocate: • Ngăn chận con làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích con làm điều thiện: They will support him in doing good. • Dạy con nghề nghiệp: They will teach him some skill. • Cưới vợ xứng đáng cho con: They will find him a suitable wife. • Đúng thời trao của thừa tự cho con: In due time, they will hand over his inheritance to him. c) Này gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Đông theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách. Như vậy phương Đông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Eastern direction is covered, making it at peace and free from fear. 2) Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng: The South denotes teachers. a) Này gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam—There are five ways in which pupils should minister to their teachers as the Southern direction: • Đứng dậy để chào: By rising to greet them. • Hầu hạ thầy: By serving them. • Hăng hái học tập: By being attentive. • Tự phục vụ thầy: By waiting on them. • Chú tâm học hỏi nghề nghiệp: By mastering the skills they teach. b) Này gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách—There are five ways in which their teachers, thus ministered to by their pupils as the Southern direction, will reciprocate: • Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyện: They will give thorough instruction. • Dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì: Make sure they have grasped what they should have duly grasped. • Dạy cho thuần thục các nghề nghiệp: Given them a thorough grounding in all skills. • Khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc: Recommend them to their friends and colleagues. • Bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt: Provide them with security in all directions. c) Này gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Southern direction is covered, making it at peace and free from fear. 3) Phương Tây cần được hiểu là vợ con: The West denotes wife and children. a) Này gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây—There are five ways in which a husband should minister to his wife as the Western direction: • Kính trọng vợ: By honouring her. • Không bất kính đối với vợ: By not disparaging her. • Trung thành với vợ: By not being unfaithful to her. • Giao quyền hành cho vợ: By giving authority to her. • Sắm đồ nữ trang cho vợ: By providing her with adornments. b) Này gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách—There are five ways in which a wife, thus ministered to by her husband as the Western direction, will reciprocate: • Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình: By properly organizing her work. • Khéo tiếp đón bà con: By being kind to the relatives. • Trung thành với chồng: By not being unfaithful. • Khéo gìn giữ tài sản của chồng: By protecting husband's property. • Khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc: By being skillful and diligent in all she has to do. c) Này gia chủ tử, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Western direction is covered, making it at peace and free from fear. 4) Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè: The North denotes friends and companions. a) Này gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc—There are five ways in which a man should minister to his friends and companions as the Northern direction: • Bố thí: By giving alms. • Ái ngữ: By kindly words. • Lợi hành: By looking after their welfare. • Đồng sự: By treating them like himself. • Không lường gạt: By keeping his words. b) Này gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè cũng có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách—There are five ways in which friends and companions, thus administered to by a man as the Northern direction, will reciprocate: • Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng: By looking after him when he is inattentive. • Bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị nầy phóng túng: By looking after his property when he is inattentive. • Trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm: By being a refuge when he is afraid. • Không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn: By not deserting him when he is in trouble. • Kính trọng gia đình của vị thiện nam tử: By showing concern for his children. c) Như vậy các bạn bè được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách, và bạn bè cũng có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Northern direction is covered, making it at peace and free from fear. 5) Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công: The Nadir denotes servants and helpers. a) Này gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới—There are five ways in which a master should minister to his servants and workpeople as the Nadir direction: • Giao công việc đúng theo sức của họ: By arranging their work according to their strength. • Lo cho họ ăn uống và tiền lương: By supplying them with food and wages. • Điều trị cho họ khi bệnh hoạn: By looking after them when they are ill. • Chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ: By sharing special delicacies with them. • Thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép: By letting them off work at the right time. b) Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách kia, có lòng thương đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau—There are five ways in which servants and workpeople, thus ministered to by their master as the Nadir, will reciprocate: • Dậy trước khi chủ thức dậy: They will get up before him. • Đi ngủ sau khi chủ đi ngủ: They will go to bed after him. • Tự bằng lòng với các vật đã cho: Take only what they are given. • Khéo làm các công việc: Do their work properly. • Đem lại danh tiếng tốt đẹp cho chủ: Be bearer of his praise and good repute. c) Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được các vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, họ cũng có lòng thương đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Nadir is covered, making it at peace and free from fear. 6) Phương Trên cần được hiểu là Sa Môn, Bà La Môn: The Zenith denotes ascetics and Brahmins. a) Này gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa Môn, Bà La Môn như phương Trên—There are five ways in which a man should minister to ascetics and Brahmins as the Zenith: • Có lòng từ trong hành động về thân: By kindness in bodily deed. • Có lòng từ trong hành động về khẩu: By kindness in speech. • Có lòng từ trong hành động về ý: By kindness in thought. • Mở rộng cửa để đón các vị ấy: By keeping an open house for them. • Cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết: By supplying their bodily needs. b) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, cũng có lòng thương vị thiện nam tử theo năm cách sau đây—The ascetics and Brahmins , thus ministered to by him as the Zenith, will reciprocate in six ways: • Ngăn không cho họ làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích họ làm điều thiện: They will encourage him to do good. • Thương xót họ với tâm từ bi: They will be benevolently compassionate toward him. • Dạy họ những điều chưa nghe: They will teach him what he has not heard. • Làm cho thanh tịnh điều đã được nghe: They will help him purify what he has heard. • Chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời: They will point out to him the way to Heaven. c) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, cũng có lòng thương thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Zenith is covered, making it at peace and free from fear.

lục phương hộ giới

See Kinh Lễ Lục Phương.

lục phương hộ minh

See Kinh Lễ Lục Phương.

lục phương hộ niệm

Lục Phương Hộ Minh—Lục Phương Hộ Giới—The praisees of Amitabha proclaimed by the Buddhas of the six directions—See Kinh Lễ Lục Phương.

lục phương lễ

Người tu theo đạo Bà La Môn mỗi sáng thường hay tắm rữa sạch sẽ rồi lễ lạy sáu phương, để cầu sanh về cõi sướng; Đức Phật đã nhân đó thuyết kinh Lễ Lục Phương cho họ—The brahman morning act of bathing and paying homage in the six directions; observing the “well-born” do this; the Buddha is said to have given the discourse in the Worship in the Six Directions Sutra—See Kinh Lễ Lục Phương in Appendix 1.

lục phương lễ kinh

Kinh Lễ Lục Phương—Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh—The Worship in the Six Directions Sutra—See Kinh Lễ Sáu Phương in Appendix A 1b.

lục phủ

The six internal organs.

lục quyết trạch phần tưởng

Nibbedha-bhagiya-sanna (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có sáu quyết trạch phần tưởng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six perceptions conducive to penetration: 1) Vô Thường Tưởng: The perception of impermanence. 2) Khổ Tưởng Trên Vô Thường: The perception of suffering in impermanence. 3) Vô Ngã Tưởng trên Khổ: The perception of impersonality in suffering. 4) Đoạn Tưởng: The perception of abandoning. 5) Vô Tham Tưởng: The perception of dispassion. 6) Diệt Tưởng: The perception of cessation.

lục quyết định

Six kinds of certainty—See Lục Chủng Quyết Định.

lục quán pháp

Theo trường phái Thiên Thai, có sáu quán pháp—According to the T'ien-T'ai Sect, there are six kinds of contemplation or six kinds of Kuan-Yin: 1) Đại bi: Most pitiful. 2) Đại từ: Most merciful. 3) Sư tử vô úy: Of lion-courage. 4) Đại quang phổ chiếu: Of universal light. 5) Thiên nhân trượng phu: Leaders among gods and men. 6) Đại phạm thâm viễn: The most omnipresent Brahma. ** Mỗi phẩm chất của Bồ Tát có công năng diệt trừ chướng ngại trong sáu đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên—Each of this Bodhisattva's six qualities (pitiful, merciful, lion-courage, universal light, leader among gods and men, brahma) breaks the hindrances respectively of the hells, pretas, animals, asuras, men, and devas.

lục quán âm

The six kinds of Kuan-Yin—See Avalokitesvara and Lục Địa Tạng.

lục quần tỳ kheo

Vào thời Đức Phật còn tại thế có sáu nhóm Tỳ Kheo xấu, kết đảng làm những chuyện trái với uy nghi. Giới luật mà Phật chế định ra phần nhiều duyên vào hành động của sáu nhóm tỳ kheo nầy mà đặt ra—The six common herd bhiksus, to whose improper or evil conduct is attributed the laying down of many of the laws by Sakyamuni. The generally accepted list indicating Nanda, Upananda, Asvaka, Punarvasu, Chanda, and Udayin.

lục quần tỳ kheo ni

Ngoài nhóm lục quần tỳ kheo ra, còn có lục quần tỳ kheo ni, cũng có tên giống như nhóm tỳ kheo—Beside the six common herd bhiksus, there were also the six common hed bhiksunis whose names were just the same as that of the bhiksus'.

lục quần tỳ-kheo

xem sáu tỳ-kheo xấu ác.

lục sanh loại

Abhijatiyo (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu loại sanh—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six species. 1) Có người hắc sanh và sống trong hắc pháp: Here one born in dark conditions, lives a dark life. 2) Có người hắc sanh và sống tạo bạch pháp: One born in dark conditions lives a bright life. 3) Có người hắc sanh và sống tạo Niết Bàn: One born in dark conditions attains Nibbana, which is neither dark nor bright: Attains Nibbana, which is neither dark nor bright. 4) Bạch sanh sống tạo hắc pháp: One born in bright conditions lives a dark life. 5) Bạch sanh sống tạo bạch pháp: One born in bright conditions lives a bright life. 6) Bạch sanh sống tạo Niết Bàn (Phi Hắc Pháp phi bạch pháp): One born in bright conditions attains Nibbana which is neither dark nor bright.

lục song nhất viên

Sáu cửa sổ một con vượn—Sáu căn được ví như sáu cửa sổ và tâm thức được ví với con vượn leo vào leo ra sáu cửa sổ nầy)—Six windows and one monkey climbing in and out these six windows. This is compared to the six organs of sense and the active mind which is thinking unceasingly.

lục suy

Hấp lực của lục căn hay lục trần cũng là sáu tên giặc hay lục tặc làm cho chúng sanh suy giảm tiêu hao—The six ruiners or the attractions of the six senses—See Lục Trần and Lục Tặc.

lục súc

Sáu loại gia súc—The six domestic animals: 1) Ngựa: Horse. 2) Trâu bò: Ox (buffalo). 3) Dê: Goat. 4) Gia cầm: Fowl. 5) Chó: Dog. 6) Heo:Pig.

lục sư

The six tirthikas or heterodox teachers—See Lục Sư Ngoại Đạo.

Lục sư ngoại đạo

六師外道; C: liùshī wàidào; J: rokushi gedō;|Sáu vị luận sư lớn chủ trương lí thuyết trái với Phật pháp ở miền Trung Ấn vào thời Phật Thích-ca Mâu-ni: 1. San-xà-da Tì-la-chi-tử (珊闍耶毘羅胝子; p: sañjaya-velaṭ-ṭhiputta): chủ trương chủ nghĩa hoài nghi; 2. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (阿耆多翅舍欽婆羅; p: ajita-kesakambarin): chủ trương duy vật luận; 3. Mạt-già-lê Câu-xá-lê (末伽梨拘舍梨; p: makkhali-gosāla): chủ trương thuyết định mệnh; 4. Phú-lan-na Ca-diếp (富蘭那迦葉; p: purāṇa-kassapa): phủ nhận giá trị chân thật của thiện ác, do vậy không quý trọng đạo đức; 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (迦羅鳩馱迦旃延; p: pakudha-kaccāyana): giải thích sự hiện hữu của thế giới thông qua 7 yếu tố cơ bản; 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử (尼乾陀若提子; p: nigaṇṭha-nātaputta): người sáng lập Kì-na giáo, theo chủ thuyết tương đối. Còn gọi là Ngoại đạo Lục sư (外道六師, theo kinh Tạp A-hàm quyển 43, kinh Tiễn mao thuộc Trung A-hàm quyển 57).

lục sư ngoại đạo

xem sáu thầy ngoại đạo. ; Chỉ sáu vị sư ngoại đạo ở Ấn Độ vào thời Đức Phật còn tại thế. Sáu vị nầy luôn tìm cách kình chống với Đức Phật—The six heretical masters—The six tirthikas or heterodox teachers in India at the time of the Buddha. These six always sought to rival Buddha: 1) Phú Lan Na Ca Diếp: Purana-Kasyapa (skt)—Người cho rằng không có tính không, phủ nhận hậu quả của hành động tốt xấu (không có đạo nghĩa vua tôi hay cha con)—Purana Kasyapa, who negated the effects of action, good or evil. 2) Mạt Già lê Câu Xa Lê: Maskari-Gosaleputra (skt)—Người phủ nhận luật nhân quả, cho rằng sướng khổ là tự nhiên chứ không do nhân duyên—Maskarin-Gosaliputra, who taught a theory of randomness, negating causality. 3) San Xà Da Tì La Hiền Tử: Sanjaya-Vairatiputra (skt)—Người cho rằng chẳng cần tu hành, cứ trải qua số kiếp hết khổ thì đến sướng—Sanjaya-Vairatiputra, who was agnostic in refusing to maintain any opinion about anything. 4) A Kỳ Đa Xí Xá Khâm Bà La: Ajita-Kesakambala (skt)—Người chủ trương mọi thứ đều đoạn diệt, cuối cùng chỉ còn lại tứ đại, nên tu hành khổ hạnh, để cho mọi thứ nóng bức thiêu đốt thân thể mà giải thoát—Ajita-Kesakambala, who taught a more extreme nihilism regarding everything except the four main elements. 5) Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên: Kakuda-Katyayana (skt)—Người chủ trương theo vật chất, không có người giết, cũng không có kẻ bị giết, mà chỉ có sự chuyển hóa của những yếu tố vật chất mà thôi (cho rằng pháp vừa hữu tướng vừa vô tướng. Nếu ai hỏi hữu thì đáp vô, mà ai hỏi vô thì đáp hữu)—Kakuda-Katyayana, who taught a materialism in which there was no such things as killer or killed, but only transformations of elements. 6) Ni Kiện Đà Nhã Đề Tử: Nirgrantha-Jnatiputra (skt)—Người cho rằng sướng, khổ, phúc, tội “có lẽ” đều do đời trước, ắt phải đền bồi, chứ chẳng phải do tu hành đời nay mà quyết định được—Nirgrantha-Jnatiputra, known as Mahavira, the founder of Jainism, who taught the doctrine of interdeterminism, considering all things in term of “maybe.”

lục sứ giả

Six messenges—See Lục Địa Tạng.

lục sự thành tựu

Sáu điều khiến cho một vị Bồ tát giữ tròn lục Ba La Mật—The six things which enable a bodhisattva to keep perfectly the six paramitas: 1) Cúng dường: Cúng dường để thành tựu đàn độ—Worshipful offerings. 2) Hành trì giới luật: Học và hành trì giới giới luật đề thành tựu giới độ—Study and practice the moral duties. 3) Bi mẫn: Bi mẫn để thành tựu nhẫn độ—Pity. 4) Tinh tấn hành trì thiện pháp: Siêng năng làm điều thiện để thành tựu tiến độ—Zeal in goodness. 5) Ở nơi cô liêu: Ở nơi cô liêu để thành tựu thiền độ—Isolation. 6) Pháp lạc: Vui học Phật pháp để thành tựu trí độ—Delight in the law.

lục thiên

The six devalokas, the heavens with sense organs above Sumeru, between Brahmalokas and the earth—See Lục Dục Thiên.

lục thiên tụ

Six kinds of wrong-doing. 1-5) See Ngũ Thiên Tụ. 6) Thâu Lan Gia: Sthulatyaya (skt)—Tội đáng đọa địa ngục, nhưng có thể tha được vì chỉ là những tư tưởng chưa làm ra hành động—Sins deserving hells which may be forgiven; however, thoughts not developed in action yet.

lục thoại

Sáu điềm kiết tường khi Phật thuyết kinh Pháp Hoa—The six auspicious indications attributed to the Buddha as a preliminary to his delivery of the Lotus Sutra: 1) His opening address on the infinite. 2) Phật tam ma địa: His samadhi. 3) Mưa hoa: The rain of flowers. 4) Mặt đất run chuyển: The earthquake. 5) The delight of the beholders. 6) Phật phóng quang: The Buddha-ray.

lục thuyền

Sáu chiếc thuyền hay sáu Ba La Mật đưa chúng sanh đáo bỉ ngạn vượt bờ sanh tử—The six boats or the six paramitas for ferrying to the bank beyond mortality—See Lục Độ Ba La Mật.

lục thuật

Sáu loại ngoại đạo trong thời Phật còn tại thế—The six kinds of heretics in India at the time of the Buddha—See Lục Khổ Hạnh.

lục thành bộ

Sannagarikah (skt)—Mật Lâm Sơn Bộ—Một trong hai mươi tông phái Tiểu Thừa, có quan hệ với Độc Tử Bộ—One of the twenty Hinayana sects, connected with Vatsiputtriyah.

lục thành tựu

Sáu loại thành tựu, thường mở đầu các kinh—Six perfections found in the opening phrase of each sutra: 1) Tín Thành Tự: Lấy chữ “Như Vậy” làm tín thành tựu— “Thus” implies perfect faith. 2) Văn Thành Tựu: Lấy hai chữ “Ngã Văn” hay “Tôi nghe” làm văn thành tựu—“I Have Heard” implies perfect hearing. 3) Thời Thành Tựu: Lấy hai chữ “Nhất Thời” hay “một thuở” làm thời thành tựu—“Once” implies the perfect time. 4) Chủ Thành Tựu: Lấy chữ “Phật” chỉ rõ vị chủ thuyết pháp làm chủ thành tựu—“the Buddha” implies the perfect lord or master. 5) Xứ Thành Tựu: Lấy các chữ như “Tại núi Kỳ Xà Quật” làm xứ thành tựu—“on Mount Grdhrakuta” implies the perfect place. 6) Chúng Thành Tựu: Lấy các chữ “Đại Tỳ Kheo Chúng” làm chúng thành tựu—“with the great assembly of bhiksus” implies the perfect assembly.

lục thân

Sáu người thân nhứt—The six closest relatives—The six immediate relations: 1) Cha: Father. 2) Mẹ: Mother. 3) Anh em trai: Elder or younger brothers. 4) Chị em gái: Elder or younger sisters. 5) Vợ hay chồng: Wife or husband. 6) Con cái: Children.

lục thí

Sáu thí dụ hay dẫn dụ—The six metaphors—See Lục Chúng Sanh.

Lục thô

六麁 (麤); C: liùcū; J: rokuso;|Sáu tướng thô của vô minh được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận: 1. Trí tướng (智相): tác dụng của hiện thức phát sinh ý phân biệt các pháp; 2. Tương tục tướng (相續相): Dựa vào sự phân biệt của trí tướng mà có sự sinh khởi các cảm giác vui khổ; 3. Chấp thủ tướng (執取相): sự chấp trước vào ý tưởng tương tục tướng; 4. Kế danh tự tướng (計名字相): định danh cho các ý tưởng chấp trước trên; 5. Khởi nghiệp tướng (起業相): tạo ra nghiệp thiện ác do các ý tưởng chấp trước trên; 6. Nghiệp hệ khổ tướng (業繫苦相): chịu luân hồi vì bị trói buộc trong nghiệp do những ý tưởng chấp trước nầy.|Sáu loại thô nầy được xem là đối nghịch với Tam tế (三細).

lục thô

The six coarser stages—See Lục Thô Tướng.

Lục thô tướng

六麁 (麤) 相; C: liùcūxiāng; J: rokusosō;|Lục thô (六麁).

lục thô tướng

Theo Khởi Tín Luận, có sáu loại thô tướng sanh ra bởi si mê—According to the Awakening of Faith, there are six coarser stages arising from the three finer stages which in turn are produced by original unenlightened condition of ignorance. 1) Trí Tướng: Ý thức do cảnh giới mê chấp mà chẳng biết đó là huyễn giả lại sanh tâm thích hay không thích khởi lên từ trạng thái tinh thần—Knowledge or consciousness of like and dislike arising from mental conditions. 2) Tương Tục Tướng: Dựa vào sự phân biệt của trí tướng mà có ý thức về khổ lạc (đau khổ và vui sướng)—Consciouness of pain and pleasure resulting from the knowledge or consciousness, causing continuous responsive memory. 3) Chấp Thủ Tướng: Đối vời cảnh khổ lạc chẳng biết đó là hư huyễn lại sanh niềm chấp thủ—Attachment or clinging arising from consciouness of pain or pleasure, or retention of memories of past joys and sorrows as if they were reality and not illusions. 4) Kế Danh Tự Tướng: Gắn tên cố định cho những thứ huyễn hão giả danh nên sanh khổ đau phiền não—Assigning names according to the seeming and unreal with fixation of ideas. 5) Khởi Nghiệp Tướng: Hậu quả của các thứ nghiệp thiện ác—The consequent activity with all the variety of deeds. 6) Nghiệp Hệ Khổ Tướng: Bị buộc vào nghiệp thiện ác mà cảm khổ quả sanh tử—The suffering resulting from being tied to deeds and their karma consequences.

Lục Thông

(六通): hay Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通), là 6 loại năng lực siêu nhiên diệu dụng, vô ngại, tự tại do chư Phật, Bồ Tát chứng đạt được nhờ sức mạnh của định và tuệ, gồm: (1) Thần Túc Thông (神足通, tên gọi chung của các năng lực siêu nhiên như bay trên trời, hóa thân, v.v., nhưng không thuộc 5 loại năng lực bên dưới), (2) Thiên Nhãn Thông (天眼通, năng lực biết được trạng thái chuyển sanh của chúng sanh), (3) Thiên Nhĩ Thông (天耳通, năng lực nghe được tất cả các âm thanh), (4) Tha Tâm Thông (他心通, năng lực biết được suy nghĩ của người khác), (5) Túc Mạng Thông (宿命通, năng lực nhớ rõ trạng thái sinh tồn trong đời quá khứ) và (6) Lậu Tận Thông (漏盡通, năng lực biết được phiền não của bản thân đã dứt sạch). Trong đó, Thiên Nhãn Thông, Túc Mạng Thông và Lậu Tận Thông được gọi là Tam Minh (三明), cọng lại gọi chung là Tam Minh Lục Thông. Trừ Thần Túc Thông ra, 5 loại thần thông còn lại được gọi là Ngũ Thông (五通). Theo Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), tổ sư sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, Lục Thần Thông này không phải là năng lực đặc thù, mà những gì của đời thường hằng ngày chính là thần thông. Từ đó, Lục Thông còn là tên gọi của những người chứng được 6 loại thần thông này như chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong bài thỉnh của Lễ An Vị Phật có câu: “Nhất tâm phụng thỉnh: Tam Minh, Bát Giải, Ngũ Quả, Lục Thông, phân thân ư thử độ tha phương, thuyết pháp ư nhân gian thiên thượng, quá hiện vị lai, vô lượng Tăng Già Da (一心奉請、三明、八解、五果、六通、分身於此土他方、說法於人間天上、過現未來無量僧伽耶, Một lòng phụng thỉnh: vô lượng chư tăng trong quá khứ, hiện tại, tương lai, đang thuyết pháp trên trời, nơi cõi người, phân thân nơi quốc độ này hay phương khác, đã chứng Ba Minh, Tám Giải, Năm Quả, Sáu Thần Thông).” Câu “nhất niệm thù ân, Lục Thông huyền giám (一念酬恩、六通玄鑒)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với một lòng chí thành muốn báo đáp thâm ân của tổ tiên, các đấng chứng quả Lục Thông như chư Phật, Bồ Tát đều chứng giám cho.

Lục thông

六通; C: liùtōng; J: rokutsū; S: ṣāḍabhijñāna; Thông, thắng trí: s: abhijñā; p: abhiññā;|Sáu thắng trí mà Phật, Bồ Tát hay A-la-hán đạt được. Trong sáu thắng trí đó, người ta phân ra hai loại: 1. Thế tục: đó là năm thắng trí đầu tiên, đạt được do Tứ thiền định (s: dhyāna) mang lại; 2. Xuất thế: thần thông thứ sáu, đạt được nhờ thâm nhập Quán (s: vipaśyanā).|Sáu thắng trí này đều được Tiểu thừa lẫn Ðại thừa công nhận. Ðó là : 1. Thần thông (神通) hoặc Như ý thông (如意通; s: ṛddhividdhi-abhijñā); 2. Thiên nhĩ thông (天耳通; s: divyaśrotam-abhijñā), nghe được tất cả mọi âm thanh; 3. Tha tâm thông (他心通; s: cetaḥpayyāya-abhijñā), tức là rõ được ý của kẻ khác; 4. Túc mệnh niệm (宿命念; s: pūrvanivāsānusmṛti-abhijñā), biết các tiền kiếp của chính mình; 5. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyacakṣur-abhijñā), nhìn thấy địa ngục, chư thiên…; 6. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣaya-abhijñā), biết rõ mình đã giải thoát, đoạn diệt ô nhiễm, là thắng trí xuất thế.

lục thông

Abhijna or Sadabhijna (skt)—Sáu thần thông mà chư Phật hay chư A La Hán đạt được qua tứ thiền—Six miraculous or transcendental powers—Six magical penetrations—Six superknowledges—Six supernatural or universal powers acquired by a Buddha, also by an arhat through the fourth degree of dhyana: 1) Thiên Nhãn Thông: Divyacaksus (skt)— Ability to see all forms—Clairvoyance—Deva-eye—Deva-vision—Divine sight—Penetration of the Heavenly Eye—Khả năng thấy được tất cả mọi thứ trong sắc giới. Khả năng thấy cái mà mình muốn thấy—Instantaneous view of anything anywhere in the form realm. Power to see what one wills to see anywhere. 2) Thiên Nhĩ Thông: Divyasrotra (skt)— Clairaudience—Deva-Ear—Divine hearing—Penetration of the Heavenly Ear—Khả năng nghe mọi âm thanh. Khả năng nghe và hiểu mọi ngôn ngữ—Ability to hear all sounds (ability to hear any sound anywhere). Power to hear and understand all languages. 3) Tha Tâm Thông: Paracitta-jnana (skt)— Mental telepathy—Tha Tâm Trí Thông hay khả năng đọc được tư tưởng của người khác mà các bậc giác ngộ đạt được cao hay thấp tùy theo sự thành đạt của bậc ấy—Penetration into others' minds or thoughts—Ability to know the thoughts of others or power to read thoughts, or knowledge of the minds of all living beings—Ability (power) to know the thoughts of all other minds which enlightened beings have to a greater or lesser extent depending on their spiritual achievements. 4) Thần Túc Thông: Rddhi-saksatkriya-jnana (skt)—Penetration of spiritual fulfillment (fulfillment of the spirit)—Psychic travel—Khả năng đi bất cứ đâu và làm bất cứ thứ gì tùy ý—Ability (power) to be anywhere and to do anything at will, or power to appear at will in any place and to have absolute freedom to do anything. 5) Túc Mạng Thông: Purvanivasanusmrti-jnana (skt)—Khả năng biết được quá khứ vị lai của mình và người—Knowledge of past and future of self and others or ability to penetrate into past and future lives of self and others (knowledge of all forms of former existences of self and others). 6) Lậu Tận Thông: Asravaksaya-jnana (skt)—Ability to end contamination—Power to deliver of the mind from all passions—Penetration of the exhaustion (extinction) of outflows—Khả năng chấm dứt nhiễm trược và đưa tâm đến chỗ giải thoát khỏi mọi dục vọng—Supernatural consciousness of the waning of vicious propensities, and the deliverance of mind from passions, or insight into the ending of the stream of transmigration.

Lục Thú

(六趣): tên gọi khác của Lục Đạo (s: ṣaḍ-gati, 六道), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra. Như trong Oanh Vũ Kinh (鸚鵡經, Taishō No. 79) có câu: “Phạm Chí tăng thượng mạn, thử chung sanh Lục Thú, kê trư cẩu dã cô, lô noãn Địa Ngục trung (梵志增上慢、此終生六趣、雞豬狗野狐、驢卵地獄中, Phạm Chí tăng thượng mạn, chết rồi sanh Sáu Đường, gà heo chó chồn hoang, trong Địa Ngục trứng lừa).”

Lục thú

六趣; C: liùqù; J: rokushu;|Sáu vận mệnh. Sáu dạng đầu thai trong cõi sinh tử luân hồi. Lục đạo (六道).

lục thú

xem lục đạo. ; Sáu nẻo luân hồi sanh tử—The six directions of reincarnation—See Lục Đạo.

lục thú luân hồi kinh

Kinh do Bồ Tát Mã Minh biên soạn—The Sutra on the six Directions of Reincarnation, composed by Asvaghosa Bodhisattva.

Lục thần thông

六神通; C: liùshéntōng; J: rokujinzū;|Sáu năng lực siêu nhiên (s: ṣaḍ abhijñāḥ) của một vị Phật, là sáu loại thần thông. Đó là: 1. Thần cảnh thông, Thân thông, Thân như ý thông, Thần túc thông (神境通,身通, 身如意通, 神足通); 2. Thiên nhãn thông (天眼通): có thể nhìn thấy toàn bộ tiến trình lưu chuyển của chúng sinh qua 6 cõi luân hồi; 3. Thiên nhĩ thông (天耳通): có thể nghe được toàn thể những tiếng khổ vui mà chúng sinh trải qua trong 6 cõi luân hồi; 4. Tha tâm thông (他心通): năng lực nhận biết tâm niệm của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi; 5. Túc mệnh thông, Túc trú thông (宿命通,宿住通): năng lực nhận biết mọi sự việc xảy ra trong vô lượng kiếp trước mà chúng sinh đã trải qua, cũng như biết được toàn bộ thọ mệnh của chúng sinh trong trong 6 cõi luân hồi; 6. Lậu tận thông (漏盡通): năng lực chuyển hoá toàn bộ phiền não trong ba cõi, thế nên không còn là đối tượng của sinh diệt trong ba cõi nữa. Còn gọi là Lục thông (六通). Trong đó, loại thứ 2, thứ 5 và 6 được gọi là Tam minh 三明. Ngũ thần thông.

lục thần thông

The six transcendental or magical powers—See Lục Thông.

lục thập

Sasti (skt)—Sáu mươi—Sixty.

Lục thập nhị kiến

六十二見; C: liùshíèr jiàn; J: rokujūniken;|Sáu mươi hai tà kiến. Nhiều bản dịch có nội dung khác nhau về Sáu mươi hai tà kiến được thấy trong các kinh Duy-ma (維摩經; s: vimalakīrti-nirdeśa-sūtra), kinh Đại Bát-niết-bàn (s: mahāparinirvāṇa-sūtra), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhāṣya) và trong nhiều bộ kinh khác.

lục thập nhị kiến

Sáu mươi hai loại kiến giải—The sixty-two views: (A) Theo Kinh Đại Bát Nhã—According to the Maha-Prajna Sutra: (I) (20) Năm uẩn duyên với bốn trạng thái làm thành hai mươi kiến giải—The five skandhas under four considerations of time, considered as time past, whether each of the five has had permanence, impermanence, both, and neither: 1) Bốn kiến giải của Sắc—Four views of Form: a) Sắc là thường: Form is permanent. b) Sắc là vô thường: Form is impermanent. c) Sắc là cả thường lẫn vô thường: Form is both permanent and impermanent. d) Sắc là không (phi) thường cũng không (phi) vô thường: Form is neither permanent nor impermanent. 2) Bốn kiến giải của Thọ—Four views of Sensation: a) Thọ là thường: Sensation is permanent. b) Thọ là vô thường: Sensation is impermanent. c) Thọ là cả thường lẫn vô thường: Sensation is both permanent and impermanent. d) Thọ là phi thường phi vô thường: Sensation is neither permanent nor impermanent. 3) Bốn kiến giải của Tưởng—Four views of perception: a) Tưởng là thường: Perception is permanent. b) Tưởng là vô thường: Perception is impermanent. c) Tưởng là cả thường lẫn vô thường: Perception is both permanent and impermanent. d) Tưởng là phi thường phi vô thường: Perception is neither permament nor impermanent. 4) Bốn kiến giải của Hành—Four views of Volition or Mental formation: a) Hành là thường: Mental formation is permanent. b) Hành là vô thường: Mental formation is impermanent. c) Hành là cả thường lẫn vô thường: Mental formation is both permanent and impermanent. d) Hành là phi thường phi vô thường: Mental formation is neither permanent nor impermanent. 5) Bốn kiến giải của Thức—Four views of consciousness: a) Thức là thường: Consciousness is permanent. b) Thức là vô thường: Consciousness is impermanent. c) Thức là cả thường lẫn vô thường: Consciousness is both permanent and impermanent. d) Thức là phi thường phi vô thường: Consciousness is neither permanent nor impermanent. (II) Năm uẩn duyên với tứ biên làm thành hai mươi kiến giải—Five skandhas under the four considerations to their space or extension, considered as present time, whether each is finite, infinite, both, or neither to make another 20 views: 1) Bốn kiến giải của sắc—Four views of Form: a) Sắc là hữu biên: Form is finite. b) Sắc là vô biên: Form is infinite. c) Sắc là cả hữu lẫn vô biên: Form is both finite and infinite. d) Sắc phi hữu phi vô biên: Form is neither finite nor infinite. 2) Bốn kiến giải của Thọ—Four views of Sensation: a) Thọ hữu biên: Sensation is finite. b) Thọ vô biên: Sensation is infinite. c) Thọ hữu lẫn vô biên: Sensation is both finite and infinite. d) Thọ phi hữu phi vô biên: Sensation is neither finite nor infinite. 3) Bốn kiến giải của Tưởng—Four views of Perception: a) Tưỡng hữu biên: perception is finite. b) Tưởng vô biên: Perception is infinite. c) Thọ là hữu lẫn vô biên: Perception is both finite and infinite. d) Thọ phi hữu phi vô biên: Perception is neither finite nor infinite. 4) Bốn kiến giải của Hành—Four views of Volition or Mental formation: a) Hành hữu biên: Volition is finite. b) Hành vô biên: Volition is infinite. c) Hành cả hữu lẫn vô biên: Volition is both finite and infinite. d) Hành phi hữu phi vô biên: Volition is neither finite nor infinite. 5) Bốn kiến giải của Thức—Four views of Consciousness: a) Thức hữu biên: Consciousness is finite. b) Thức vô biên: Consciousness is infinite. c) Thức cả hữu lẫn vô biên: Consciousness is both finite and infinite. d) Thức phi hữu phi vô biên: Consciousness is neither finite nor infinite. (III)Năm uẩn duyên với bốn chuyển làm thành hai mươi kiến giải—Five skandhas under the four considerations to their destination to make another 20 views: 1) Bốn kiến giải của Sắc—Four views of Form: a) Sắc như khứ (sắc kể như mất): Form is gone. b) Sắc chẳng như khứ (sắc kể như chẳng mất): Form is not gone. c) Sắc như khứ chẳng như khứ (sắc kể như mất mà cũng kể như chẳng mất): Form is both gone and not gone. d) Sắc phi như khư phi chẳng như khứ (sắc chẳng kể như mất, chẳng kể như chẳng mất): Form is neither gone nor not gone. 2) Bốn kiến giải của Thọ—Four views of sensation: a) Thọ như khứ: Sensation is gone. b) Thọ chẳng như khứ: Sensation is not gone. c) Thọ như khứ chẳng như khứ: Sensation is both gone and not gone. d) Thọ phi như khứ phi chẳng như khứ: Sensation is neither gone nor not gone. 3) Bốn kiến giải của Tưởng—Four views of Perception: a) Tưởng như khứ: Perception is gone. b) Tưởng chẳng như khứ: Perception is not gone. c) Tưởng như khứ chẳng như khứ: Perception is both gone and not gone. d) Tưởng phi như khứ phi chẳng như khứ: Perception is neither gone nor not gone. 4) Bốn kiến giải của Hành—Four views of Volition or mental formation: a) Hành như khứ: Volition is gone. b) Hành chẳng như khứ: Volition is not gone. c) Hành như khứ chẳng như khứ: Volition is both gone and not gone. d) Hành phi như khứ phi chẳng như khứ: Volition is neither gone nor not gone. 5) Bốn kiến giải của Thức—Four views of consciousness: a) Thức như khứ: Consciousness is gone. b) Thức chẳng như khứ: Consciousness is not gone. c) Thức như khứ chẳng như khứ: Consciousness is both gone and not gone. d) Thức phi như khứ phi chẳng như khứ: Consciousness is neither gone nor not gone. (IV)Đồng Nhất thân tâm: Unity of body and mind. (V) Dị Biệt thân tâm: Difference of body and mind. (B) Theo tông Thiên Thai, có 62 ngã kiến—According to the T'ien-T'ai scet, there are sixty-two views on personality. 1) Bốn kiến giải của sắc—Four views of Form or Rupa as its basis and consider each of the five skandhas under four aspects. a) Sắc là Ngã: Rupa, the organized body, as the ego. b) Lìa Sắc vẫn có Ngã: The ego as apart from the rupa. c) Sắc là lớn, ngã là nhỏ; ngã trụ trong sắc: Rupas as the greater, the ego the smaller or inferior, and the ego as dwelling in the rupa. d) Ngã là lớn, sắc là nhỏ; sắc trụ trong ngã: The ego as the greater, rupa the inferior, and the rupa in the ego. ** Cùng một tiến trình như vậy với Thọ, Tưởng, Hành Thức trong hiện tại, quá khứ và vị lai sẽ làm thành 60 kiến giải—The same process applies to Sensation, Perception, Volition, and Consciousness in the present, past and future to make 60 views. 2) Đoạn Kiến: Impermanence. 3) Thường Kiến: Permanence.

lục thọ

sáu thọ từ sáu căn—The six vedanas—The six receptions or senasations from the six organs—See Thọ and Lục Căn.

lục thọ thân

Vedana-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu thọ thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of feeling: 1) Nhãn xúc sở sanh thọ: Cakkhu-samphassaja-vedana (p)—Feeling based on eye-contact. 2) Nhĩ xúc sở sanh thọ: Feeling based on ear-contact. 3) Tỷ xúc sở sanh thọ: Feeling based on nose-contact. 4) Thiệt xúc sở sanh thọ: Feeling based on tongue-contact. 5) Thân xúc sở sanh thọ: feeling based on body-contact. 6) Ý xúc sở sanh thọ: Feeling based on mind-contact.

lục thời

Sáu thời, ba thời ban ngày, ba thời ban đêm—The six “hours” or periods in a day and night: 1) Sáng: Morning. 2) Trưa: Noon. 3) Chiều: Evening. 4) Chập Tối (đầu hôm): Night. 5) Nửa đêm: Midnight. 6) Bình minh (tảng sáng): Dawn.

lục thời bất đoạn

Ngày sáu thời tu hành không gián đoạn—The six daily periods of unintermitting devotions.

lục thời lễ tán (tụng)

Ngày đêm sáu thời lễ tán Đức Phật A Di Đà—The six daily periods of workship and of ceremonial.

Lục Thời Sám Hối

(六時懺悔, Rokujizange): Sáu Thời Sám Hối, trong một ngày đêm được chia làm sáu thời rõ rệt để tiến hành sám hối, tụng kinh, làm Phật sự. Ban ngày thì có ba thời vào buổi sáng, giữa ngày, cuối ngày. Ban đêm có ba thời vào đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm. Trong Kinh A Di Đà có dạy rằng ở cõi Tịnh Độ đêm ngày sáu thời mưa hoa Mạn Đà La. Thiện Đạo (善導, 613-681), người sáng lập ra Tịnh Độ Giáo Trung Quốc, có viết ra cuốn Vãng Sanh Lễ Tán (徃生禮讚) gồm những câu kệ văn để cho người cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ ngày đêm sáu thời lễ bái và xưng tán hồng danh. Đây là thánh điển vô cùng quan trọng về mặt nghi thức của Tịnh Đô Tông. Ở Nhật Bản, có cuốn Lục Thời Tán (六時讚) của Nguyên Tín (源信, Genshin) cũng rất nổi tiếng. Tại Việt Nam, trong tác phẩm Khóa Hư Lục (課虛錄) của vua Trần Thái Tông (陳太宗, 1218-1277) cũng có phần Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi (六時懺悔科儀), như trong bài Tựa có khẳng định rằng: “Tiện lợi việc đi lại dưới sông trên bộ, là nhờ xe, thuyền; tẩy sạch bụi nhơ nơi thân, tâm, là do sám hối. Muốn tẩy sạch thân tâm mà không dùng sám hối, khác nào muốn tiện lợi qua lại mà chẳng dùng xe, thuyền. Thế mới biết công dụng sám hối rất là to. Cho nên Kinh Đại Tập nói: 'Như áo nhơ hằng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được sạch sẽ. Như thế, trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt.'”

lục thời sám hối lục căn

Sáu thời sám hối tội lỗi lục căn—The six daily periods of penitential services over the sins of the six senses.

lục thời sám hối tội lỗi

The six daily periods of penitential services over the sins.

lục thời tam muội

See Lục Thời Thiền Định.

lục thời thiền định

The six daily periods of meditation.

Lục thức

六識; C: liùshì; J: rokushiki;|Sáu thức, là chức năng của 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp để có được các hoạt dụng thấy (nhãn thức), nghe (nhĩ thức), ngửi (tỉ thức), nếm (vị thức), xúc chạm (thân thức) và hay biết (ý thức). Theo Du-già hành tông thì còn có tiềm thức ngoài 6 thức nầy (Nhị thức 二識).

lục thức

Six conceptions (consciousnesses)—The perceptions and discernings of the six organs of sense: 1) Nhãn thức: Sight consciousness. 2) Nhĩ thức: Hearing consciousness. 3) Tỷ thức: Scent consciousness. 4) Thiệt thức: Taste consciousness. 5) Thân thức: Body consciousness. 6) Ý thức: Mana (skt)—Mind consciousness—See Ý Thức. ** For more information, please see Bát Thức.

lục thức thân

Vinnana-kaya (p)—Six groups of consciousness—See Lục Thức.

lục thức trung giới

xem ấm, nhập, giới.

lục tiển

The six arrows. These six senses are compared to the six senses—See Lục Kiếm.

lục trai nhựt

Sáu ngày ăn chay trong tháng (mồng 8, 14, 15, 23, 29 và 30). Trong những ngày nầy Tứ Thiên vương ghi lại tất cả phẩm hạnh, đồng thời ma quỷ cũng đang bận bịu việc quấy rối nhân thiên, nên việc giữ gìn trai giới là điều cần thiết, không nên ăn quá ngọ. Trí Độ Luận diễn tả những ngày nầy là những ngày nguy hiểm, vì vào những ngày nầy theo cổ tục thì có lệ cắt thịt ném vào lửa—The six monthly posadha or fast days (8th, 14th, 15th, 23rd, 29th, and 30th ). They are the days on which the Four Maharajas (Tứ Thiên Vương) take note of human conduct and when evil demons are busy to go around to disturb deva and men, so that great care is required and consequently nothing should be eaten after noon. The Maha-Prajna Sastra describes these days as evil or dangerous days, and says they arose from an ancient custom of cutting off the flesh and casting it into the fire.

Lục Tri Sự

(六知事): trong Thiền Tông, đây là 6 nơi hay tên chức vụ các vị tăng chuyên trách mọi công việc trong tự viện, gồm có: (1) Đô Tự (都寺, Tsūsu), người đảm đương chức vụ giám sát hết mọi việc trong chùa, trên cả Giám Tự (監寺). (2) Giám Tự (監寺, Kansu): người thay thế vị Trú Trì, quản đốc toàn bộ công việc trong chùa. (3) Phó Tự (副寺, Fūsu): người chuyên trách việc kế toán. (4) Duy Na (維那, Ino): vị chuyên trách và hướng dẫn mọi công việc liên quan đến chư tăng. (5) Điển Tòa (典座, Tenzo): người chuyên trách việc ẩm thực của chư tăng. (6) Trực Tuế (直歳, Shissui): người chịu trách nhiệm trông lo việc tu sửa các liêu xá, phòng ốc, chỉnh trang các đồ vật của sơn môn và giám sát nhân công , công sự, v.v. Tuy nhiên, trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) dưới thời Bắc Tống (北宋, 960-1127), chỉ có 4 vị Tri Sự là Giám Viện, Duy Na, Điển Tòa và Trực Tuế mà thôi. Trong Vĩnh Bình Điển Tòa Giáo Huấn (永平典座敎訓) có đề cập đến Lục Tri Sự này như: “Phật Giáo tùng bổn hữu Lục Tri Sự (佛敎從本有六知事, Phật Giáo từ xưa đã có Sáu Tri Sự).”

Lục Triều

(六朝, Rokuchō, 220-589): 6 vương triều gồm nhà Ngô (呉, 222-280) của thời đại Tam Quốc (三國), nhà Đông Tấn (東晉, 317-420), Tống (宋, 960-1127), Tề (齊, 479-502), Lương (梁, 502-557) và Trần (陳, 557-589) của Nam Triều (南朝). Tất cả lấy Kiến Khang (建康, tức Nam Kinh [南京] ngày nay) làm kinh đô. Ngoài ra, từ này còn dùng để chỉ cho thời đại bao gồm nhà Ngụy (魏, 220-265), Tấn (晉, 266-420), Nam Bắc Triều (南北朝, 220-589) và Tùy (隨, 581-618).

lục tránh căn

Vivada-mulani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu tránh căn—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six roots of contention: 1) Ở đây vị Tỳ Kheo PHẪN NỘ VÀ UẤT HẬN, sống không cung kính, không tùy thuận vị Đạo Sư; không cung kính, không tùy thuận Pháp; không cung kính, không tùy thuận Tăng; không thành tựu đầy đủ các Học Pháp, nên vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc, không an lạc; khiến chư Thiên và loài người không hạnh phúc, mà đau khổ. Nếu các vị thấy được tránh căn nơi các vị hay nơi người khác, các vị phải cố gắng đoạn trừ. Nếu các vị không thấy tránh căn, hãy gìn giữ đừng cho các tránh căn ấy có cơ hội làm hại trong tương lai: Here a monk who is angry and bears ill-will, he is disrespectful and discourteous to the Teacher, the Dhamma, and the Sangha, and does not finish his Training. He stirs up contention within the Sangha, which brings woe and sorrow to many, with evil consequences, misfortune and sorrow for devas and humans. Should you discover such a root of contention among yourselves or among others, you should strive to get rid of just that root of contention. . If you find no such root of contention, then you should work to prevent its overcoming you in the future. 2) Ở đây vị Tăng CHE DẤU và GIẢ DỐI—Here a monk is full DECEITFUL and MALICIOUS (the rest remains the same as in Lục Tránh Căn 1). 3) Ở đây vị Tỳ Kheo TẬT ĐỐ và XAN THAM—Here a monk is ENVIOUS and MEAN (the rest remains the same as in Lục Tránh Căn 1). 4) Ở đây vị Tỳ Kheo LỪA ĐẢO và LƯỜNG GẠT—Here a monk is CUNNING and DECEITFUL (the rest remains the same as in Lục Tránh Căn 1). 5) Ở đây vị Tỳ Kheo ÁC DỤC và TÀ KIẾN—Here a monk is full of evil desires and WRONG VIEWS (the rest remains the same as in Lục Tránh Căn 1). 6) Ở đây vị Tỳ Kheo CHẤP TRƯỚC SỞ KIẾN, kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ—Here a monk is opinionated, obstinate and tenacious (the rest remains the same as in Lục Tránh căn 1).

lục trước tâm

Sáu loại tâm chấp trước—The six bonds or the mind of the six bonds: 1) Tâm tham trước: Greedy mind. 2) Tâm ái trước: Mind of sensual love—Mind attached to love. 3) Tâm sân trước: Mind full of hate. 4) Tâm nghi trước: Mind full of doubt. 5) Tâm dục trước: Mind full of lust. 6) Tâm mạn trước: Mind full of pride.

lục trần

xem sáu trần.

lục trần (lục cảnh)

Sáu trần sanh ra bởi sáu căn và sáu đối tượng của căn là sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp—Six gunas—Six dusts—The six sense objects—Six objects (inherent qualities produced by the objects and organs of sense, i.e. sight or visible objects, sounds, smell, taste, touch, and idea, thought, or mental objects).

lục trần ngoại giới

xem ấm, nhập, giới.

lục trần thuyết pháp

Đức Phật vin vào chỗ lục trần để thuyết Phật pháp—The Buddha made use of the six gunas or qualities produced by objects to preach his law.

lục trụ

Trụ thứ sáu trong thập trụ—Six abodes (dwelling) in the ten abodes—See Thập Trụ.

lục tuệ

The six kinds of wisdom—See Lục Huệ.

Lục tuỳ niệm

六隨念; S: ṣaḍanusmṛtaya; cũng được gọi là Lục niệm xứ (六念處), Lục niệm (六念);|Sáu việc mà một tu sĩ luôn luôn tâm niệm, nghĩ nhớ đến. Lục tuỳ niệm gồm: 1. Phật (s: buddha); 2. Pháp (s: dharma); 3. Tăng (saṅgha); 4. Giới (s: śīla); 5. Bố thí (dāna); 6. Thiên (deva).

lục tài

Lục Xúc—Tâm sở của xúc tương ứng với lục thức mà nảy sanh—The six decisions or concepts formed through the mental contact of the six senses.

lục tâm

Chúng ta phần nhiều chỉ tu theo hình thức, mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm, thành thử lửa tam độc vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy. Muốn cho lòng Bồ Đề phát sanh một cách thiết thực. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Niệm Phật Thập Yếu, chúng ta nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu yếu điểm sau đây—Most of us merely engage in external forms of cultivation, while paying lip service to “opening the mind.” Thus, the fire of greed, anger and delusion continue to flare up, preventing us from tasting the pure and cool flavor of emancipation as taught by the Buddhas. According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism in Theory and Practice, we should pose the question of “How can we awaken the Bodhi Mind” or we should ponder and meditate on the following six points to develop a true Bodhi Mind. 1) Giác Ngộ Tâm: Chúng sanh thường chấp sắc thân nầy là ta, tâm thức có hiểu biết, có buồn giận thương vui là ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy giả dối, ngày kia khi chết đi nó sẽ tan về với đất bụi, nên thân tứ đại không phải là ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Ví dụ như một người trước kia dốt, nay theo học chữ Việt, tiếng Anh, khi học thành, có cái biết về chữ Việt tiếng Anh. Lại như một kẻ chưa biết Ba Lê, sau có dịp sang Pháp du ngoạn, thu thập hình ảnh của thành phố ấy vào tâm. Khi trở về bản xứ có ai nói đến Ba Lê, nơi tâm thức hiện rõ quang cảnh của đô thị ấy. Cái biết đó trước kia không, khi lịch cảnh thu nhận vào nên tạm có, sau bỏ lãng không nghĩ đến, lần lần nó sẽ phai lạt đến tan mất hẳn rồi trở về không. Cái biết của ta khi có khi không, hình ảnh nầy tiêu hình ảnh khác hiện, tùy theo trần cảnh thay đổi luôn luôn, hư giả không thật, nên chẳng phải là ta. Cổ đức đã bảo: “Thân như bọt tụ, tâm như gió. Huyễn hiện vô căn, không tánh thật.” Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn, không chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới “nhơn không” chẳng còn ngã tướng. Cái ta của ta đã không, thì cái ta của người khác cũng không, nên không có “nhơn tướng.” Cái ta của mình và người đã không, tất cái ta của vô lượng chúng sanh cũng không, nên không có “chúng sanh tướng.” Cái ta đã không, nên không có bản ngã bền lâu, không thật có ai chứng đắc, cho đến cảnh chứng thường trụ vĩnh cửu của Niết Bàn cũng không, nên không có “thọ giả tướng.” Đây cần nên nhận rõ, cũng không phải không có thật thể chân ngã của tánh chân như thường trụ, nhưng vì Thánh giả không chấp trước, nên thể ấy thành không. Nhơn đã không thì pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn thay đổi sanh diệ, không có tự thể. Đây lại cần nên nhận rõ chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà vì nó hư huyễn, nên đương thể chính là không, cả “nhơn” cũng thế. Cho nên cổ đức đã bảo: “Cần chi đợi hoa rụng, mới biết sắc là không.” (Hà tu đãi hoa lạc, nhiên hậu thỉ tri không). Hành giả khi đã giác ngộ “Nhơn” và “Pháp” đều không, thì giữ lòng thanh tịnh trong sáng không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề Tâm—The Enlightened Mind—Sentient beings are used to grasping at this body as “me,” at this discriminating mind-consciousness which is subject to sadness and anger, love and happiness, as “me.” However, this flesh-and-blood body is illusory; tomorrow, when it dies, it will return to dust. Therefore, this body, a composite of the four elements (earth, water, fore, and air) is not “me.” The same is true with our mind-consciousness, which is merely the synthesis of our perception of the six “Dusts” (form, sound, fragance, taste, touch, and dharmas). For example, a person who formerly could not read or write, but is now studying Vietnamese or English. When his studies are completed, he will have knowledge of Vietnamese or English. Another example is a person who had not known Paris, but who later on had the opportunity to visit France and absorb the sights and sounds of that city. Upon his return, if someone were to mention Paris, the sights of that metropolis would appear clearly in his mind. That knowledge formerly did not exist; when the sights and sounds entered his subconscious, they “existed.” If these memories were not rekindled from time to time, they would gradually fade away and disappear, returning to the void. This knowledge of ours, sometimes existing, sometimes not existing, some images disappearing, other images arising, always changing following the outside world, is illusory, not real. Therefore, the mind-consciousness is not “me.” The ancients have said: “The body is like a bubble, the mind is like the wind; they are illusions, without origin or True Nature.” If we truly realize that body and mind are illusory, and do not cling to them, we will gradually enter the realm of “no-self,” escaping the mark of self. The self of our self being thus void, the self of others is also void, and therefore, there is no mark of others. Our self and the self of others being void, the selves of countless sentient beings are also void, and therefore, there is no mark of sentient beings. The self being void, there is no lasting ego; there is really no one who has “attained Enlightenment.” This is also true of Nirvana, ever-dwelling, everlasting. Therefore, there is no mark of lifespan. Here we should clearly understand: it is not that eternally dwelling “True Thusness” has no real nature or true self; it is because the sages have no attachment to that nature that it becomes void. Sentient beings being void, objects (dharmas) are also void, because objects always change, are born and die away, with no self-nature. We should clearly realize that this is not because objects, upon disintegration, become void and non-existent; but, rather, because, being illusory, their True Nature is empty and void. Sentient beings, too, are like that. Therefore, ancient have said: “Why wait until flowers fall to understand that form is empty.” The practitioner, having clearly understood that beings and dharmas are empty, can proceed to recite the Buddha's name with a pure, clear and bright mind, free from all attachments. Only when he cultivates in such an enlightened frame of mind he be said to have “develop the Bodhi Mind.” 2) Bình Đẳng Tâm: Trong khế kinh, Đức Phật khuyên dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ đời quá khứ và chư Phật đời vị lai.” Chư Phật thấy chúng sanh là Phật, nên dùng tâm bình đẳng đại bi mà tế độ. Chúng sanh thấy chư Phật là chúng sanh, nên khởi lòng phiền não phân biệt ghét khinh. Cũng đồng một cái nhìn, nhưng lại khác nhau bởi mê và ngộ. Là đệ tử Phật, ta nên tuân lời Đức Thế Tôn chỉ dạy, đối với chúng sanh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng, bởi vì đó là chư Phật vị lai, đồng một Phật tánh. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính tu niệm, sẽ dứt được nghiệp chướng phân biệt khinh mạn, nảy sanh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of Equanimity—In the sutras, Sakyamuni Buddha stated: “All sentient beings possess the Buddha Nature; they are our fathers and mothers of the past and the Buddhas of the future.” The Buddhas view sentient beings as Buddhas and therefore attempt, with equanimity and great compassion, to rescue them. Sentient beings view Buddhas as sentient beings, engendering afflictions, discrimination, hatred and scorn. The faculty of vision is the same; the difference lies in whether we are enlightened or not. As disciples of the Buddhas, we should follow their teachings and develop a mind of equanimity and respect towards sentient beings; they are the Buddhas of the future and are all endowed with the same Buddha Nature. When we cultivate with a mind of equanimity and respect, we rid ourselves of the afflictions of discrimination and scorn, and engender virtues. To cultivate with such a mind is called “developing the Bodhi Mind.” 3) Tâm Từ Bi: Ta cùng chúng sanh sanh đều sẳn đủ đức hạnh, tướng hảo trí huệ của Như Lai, mà vì mê chân tánh, khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế, ta phải dứt tâm ghét thương phân biệt, kởi lòng cảm hối từ bi tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Nên nhận rõ từ bi khác với ái kiến. Ái kiến là lòng thương yêu mà chấp luyến trên hình thức, nên kết quả bị sợi dây tình ái ràng buộc. Từ bi là lòng xót thương cứu độ, mà lìa tướng, không phân biệt chấp trước; tâm nầy thể hiện dưới đủ mọi mặt, nên kết quả được an vui giải thoát, phước huệ càng tăng. Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng, ta nên từ nỗi khổ của mình, cảm thông đến các nỗi khổ khó nhẫn thọ hơn của kẻ khác, tự nhiên sanh lòng xót thương muốn cứu độ, niệm từ bi của Bồ Đề tâm chưa phát bỗng tự phát sanh. Trong Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền đã khai thị: “Đại Bồ Tát với lòng đại bi có mười cách quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanhtánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh đã bị ràng buộc, lại thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh bị chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật pháp mà khởi đại bi…” Đã phát tâm đại bi tất phải phát đại Bồ Đề tâm thề nguyền cứu độ. Thế thì lòng đại bi và lòng đại Bồ Đề dung thông nhau. Cho nên phát từ bi tâm tức là phát Bồ Đề tâm. Dùng lòng đại từ bi như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—Mind of Compassion—We ourselves and all sentient beings already possess the virtues, embellishment and wisdom of the Buddhas. However, because we are deluded as to our True Nature, and commit evil deeds, we resolve in Birth and Death, to our immense suffering. Once we have understood this, we should rid ourselves of the mind of love-attachment, hate and discrimination, and develop the mind of repentance and compassion. We should seek expedient means to save ourselves and others, so that all are peaceful, happy and free of suffering. Let us be clear that compassion is different from love-attachment, that is, the mind of affection, attached to forms, which binds us with the ties of passion. Compassion is the mind of benevolence, rescuing and liberating, detached from forms, without discrimination or attachment. This mind manifests itself in every respect, with the result that we are peaceful, happy and liberated, and possess increased merit and wisdom. If we wish to expand the compassionate mind, we should, taking our own suffering as starting point, sympathize with the even more unbearable misery of others. A benevolent mind, eager to rescue and liberate, naturally develops; the compassionate thought of the Bodhi Mind arises from there. As the Bodhisattva Samantabhadra taught in the Avatamsaka Sutra: “Great Bodhisattvas develop great compassion by ten kinds of observations of sentient beings: they see sentient beings have nothing to rely on for support; they see sentient beings are unruly; they see sentient beings lack virtues; they see sentient beings are asleep in ignorance; they see sentient beings do bad things; they see sentient beings are bound by desires; they see sentient beings drowning in the sea of Birth and Death; they see sentient beings have no desire for goodness; they see sentient beings have lost the way to enlightenment.” Having developed the great compassionate mind, we should naturally develop the Great Bodhi Mind and vow to rescue and liberate. Thus the great compassionate mind and the great Bodhi Mindinterpenetrate freely. That is why to develop the compassionate mind is to develop the Bodhi Mind. Only when we cultivate with such great compassion can we be said to have “developed the Bodhi Mind.” 4) Hoan Hỷ Tâm: Đã có xót thương tất phải thể hiện lòng ấy qua tâm hoan hỷ. Lòng tùy hỷ trừ được chướng tật đố nhỏ nhen. Lòng hỷ xả giải được chướng thù báo phục. Bởi tâm Hoan Hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng Bồ Đề. Hoan hỷ có hai thứ—The Mind of Joy—Having a benevolent mind, we should express it through a mind of joy. The rejoicing mind can destroy the affliction of mean jealousy. The “forgive and forget” mind can put an end to hatred, resentment, and revenge. Because the mind of joy cannot manifest itself in the absence of Enlightenment, it is that very Bodhi Mind. This mind is of two kinds: a rejoicing mind and a mind of “forgive and forget.” a) Tùy Hỷ là khi thấy trên từ chư Phật, Thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh, có làm được công đức gì , dù là nhỏ mọn cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh thành công, an ổn, cũng sanh niệm vui vẻ mừng dùm—A rejoicing mind means that we are glad to witness meritorious and virtuous acts, however, insignificant, performed by anyone, from the Buddhas and saints to all various sentient beings. Also, whenever we see anyone receiving gain or merit, or prosperous, successful and at peace, we are happy as well, and rejoice with them. b) Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy, hiểm độc, tổn hại cho người hoặc cho mình, cũng an nhẫn vui vẻ mà bỏ qua. Sự vui nhẫn nầy nếu xét nghĩ sâu, thành ra không thật có nhẫn, vì tướng người, tướng ta và tướng não hại đều không. Nên Kinh Kim Cang dạy: “Như Lai nói nhẫn nhục Ba La Mật, tức chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, đó gọi là nhẫn nhục Ba La Mật.”—A “forgive and forget” mind means that even if sentient beings commit nefarious deeds, show ingratitude, hold us in contempt and denigrate us, are wicked, causing harm to others or to ourselves, we calmly forbear, gladly forgiving and forgetting their transgressions. This mind of joy and forbearance, if one dwells deeply on it, does not really exist, because there is in truth no mark of self, no mark of others, no mark of annoyance or harm. As stated in The Diamond Sutra: “The Tathagata teaches likewise that the Perfection of Patience is not the Perfection of Patience; such is merely a name.” 5) Sám Nguyện Tâm: Trong kiếp luân hồi, mọi loài hằng đổi thay làm quyến thuộc lẫn nhau. Thế mà ta vì mê mờ lầm lạc, từ kiếp vô thỉ đến nay, do tâm chấp ngã muốn lợi mình nên làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp. Thậm chí đến chư Phật, Thánh nhơn, vì tâm đại bi đã ra đời thuyết pháp cứu độ loài hữu tình, trong ấy có ta, mà đối với ngôi Tam Bảo ta lại sanh lòng vong ân hủy phá. Ngày nay giác ngộ, ta phải hổ thẹn ăn năn, đem ba nghiệp chí thành sám hối. Đức Di Lặc Bồ Tát đã lên ngôi bất thối, vì muốn mau chứng quả Phật, mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy ta phải đem thân nghiệp kính lễ Tam Bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu được tiêu trừ, ý nghiệp thành khẩn ăn năn thề không tái phạm. Đã sám hối, phải dứt hẳn tâm hạnh ác, không còn cho tiếp tục nữa, đi đến chỗ tâm và cảnh đều không, mới là chân sám hối. Lại phải phát nguyện, nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, nguyện độ khắp chúng sanh để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ân nặng (ân Tam Bảo, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân thiện hữu tri thức, và ân chúng sanh). Có tâm sám nguyện như vậy tội chướng mới tiêu trừ, công đức ngày thêm lớn, và mới đi đến chỗ phước huệ lưỡng toàn. Dùng lòng sám nguyện như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of Repentance and Vows—In the endless cycle of Birth and Death, all sentient beings are at one time or another rlated to one another. However, because of delusion and attachment to self, we have, for countless eons, harmed other sentient beings and created an immense amount of evil karma. The Buddhas and the sages appear in this world out of compassion, to teach and liberate sentient beings, of whom we are a part. Even so, we engender a mind of ingratitude and destructiveness toward the Triple Jewel (Buddha, Dharma, Sangha). Now that we know this, we should feel remorse and repent the three evil karmas. Even the Maitreya Bodhisattva, who has attained non-retrogression, still practices repentance six times a day, in order to achive Buddhahood swiftly. We should use our bodies to pay respect to the Triple Jewel, our mouth to confess our transgression and seek expiation, and our minds to repent sincerely and undertake not to repeat them. Once we have repented, we should put a complete stop to our evil mind and conduct, to the point where mind and objects are empty. Only then will there be true repentance. We should also vow to foster the Triple Jewel, rescue and liberate all sentient beings, atone for our past transgressions, and repay the "fo“r great debts," w”ich are the debt to the triple Jewel, the debt to our parents and teachers, the debt to our spiritual friends, and finally the debt we owe to all sentient beings. Through this repentant mind, our past transgressions will disappear, our virtues will increase with time, leading us to the stage of perfect merit and wisdom. Only when we practice with such a repentant mind can we be said to have “developed the Bodhi Mind.” 6) Bất Thối Tâm: Dù đã sám hối phát nguyện tu hành, nhưng nghiệp hoặc ma chướng không dễ gì dứt trừ, sự lập công bồi đức thể hiện sáu độ muôn hạnh không dễ gì thành tựu. Mà con đường Bồ Đề đi đến quả viên giác lại xa vời dẫy đầy gay go chướng nạn, phải trải qua hằng sa kiếp, đâu phải chỉ một hai đời? Ngài Xá Lợi Phất trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại Bồ Đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ khoét một con mắt cho ngoại đạo, bị họ không dùng liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên, ngài còn thối thất Đại thừa tâm. Thế thì ta thấy sự giữ vững tâm nguyện là điều không phải dễ! Cho nên hành giả muốn được đạo tâm không thối chuyển, phải lập thệ nguyện kiên cố. Thề rằng: “Thân nầy dầu bị vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm điều ác, thối thất trên bước đường tu hành.” Dùng lòng bất thối chuyển như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ Đề tâm—The Mind of no Retreat—Although a practitioner may have repented his past transgressions and vowed to cultivate, his habitual delusions and obstructions are not easy to eliminate, nor is the accumulation of merits and virtues through cultivation of the six paramitas and ten thousand conducts necessarily easy to achieve. Moreover, the path of perfect Enlightenment and Buddhahood is long and arduous, full of hardship and obstructions over the course of untold eons. It is not the work of one or two life spans. For example, the Elder Sariputra, one of the main disciples of Sakyamuni Buddha, had reached the sixth abode of Bodhisattvahood in one of his previous incarnations and had developed the Bodhi Mind practicing the Paramita of Charity. However, when an externalist (non-Buddhist) asked him for one of his eyes and then, instead of using it, spat on it and crushed it with his foot, even Sariputra became angry and retreated from the Mahayana mind. We can see, therefore, that holding fast to our vows is not an easy thing! For this reason, if the practitioner wishes to keep his Bodhi Mind from retrogressing, he should be strong and frim in his vows. He should vow thus: “Although this body of mine may endure immense suffering and hardship, be beaten to death or even reduced to ashes, I shall not, in consequence, commit wicked deeds or retrogress in my cultivation.” Practicing with such a non-retrogressing mind is called “developing the Bodhi Mind.” ** For more information, please see Tâm (II) (E).

lục tình

Sáu tình khởi lên từ sáu căn—The six emotions arising from the six organs of sense: 1) Nhãn Tình: Tình khởi lên từ nhãn căn hay mắt—Emotions arising from the eyes. 2) Nhĩ Tình: Tình khởi lên từ nhĩ căn hay tai—Emotions arising from the ears. 3) Tỹ Tình: Tình khởi lên từ tỹ căn hay mũi—Emotions arising from the nose. 4) Thiệt Tình: Tình khởi lên tứ thiệt căn hay lưỡi—Emotions arising from the tongue. 5) Thân Tình: Tình khởi lên từ thân căn—Emotions arising from the body. 6) Ý Tình: Tình khởi lên từ ý căn—Emotions arising from the mind.

lục tín

Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ, trong phần Tín Hạnh Nguyện, thầy đã nhấn mạnh về Tín là tin ở nơi sáu điều—According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, he emphasized that to have Faith is to believe in the following six elements: 1) Tự Tin—Self-Faith: Sao gọi là tự tin hay tin nơi chính mình? Tin nơi chính mình tức là tin tất cả đều do nơi Tâm của mình tạo ra. Vì thế nếu mình niệm Phật, ắt sẽ được Phật tiếp dẫn không sai—What is self-faith or faith in one's self ? This is to have faith that everything is created within one's mind; therefore, if a practitioner recites Buddha, then, absolutely, Buddha will receive him or her. 2) Tha Tin—Faith in others: Sao gọi là tha tin hay tin ở nơi người? Tin nơi người là tin Đức Phật Thích Ca không bao giờ nói dối, Phật A Di Đà chẳng thệ nguyện suông. Cho nên nều như y theo pháp môn Tịnh Độ mà hành trì, tất cảm được Đức A Di Đà Thế Tôn tiếp dẫn sanh về Cực Lạc: What is faith in others? This is to have faith that Sakyamuni Buddha would never speak falsely and Amitabha Buddha did not make empty vows. Therefore, if cultivators practice according to Pureland teachings, then Amitabha Buddha will deliver them to the Ultimate World. 3) Tin Nhân—Faith in causation: Sao gọi là tin nhân? Tin nhân tức là tin rằng niệm Phật chính là nhân vãng sanh giải thoát—What is it to have faith in causation? This is to believe that reciting Buddha is the action or cause for gaining rebirth and enlightenment. 4) Tin Quả—Faith in effect: Sao gọi là tin quả? Tin quả tức là tin rằng sự vãng sanh và thành Phật là kết quả của công hạnh tu niệm Phật—What is it to believe in effect? To believe in effect means to believe that in the matter of gaining rebirth and attaining Buddhahood as the end result, or the consequence of reciting Buddha. 5) Tin Sự—Faith in practice: Sao gọi là tin sự? Tin sự tức là tin rằng cảnh giới Tây Phương Cực Lạc và tất cả sự tướng ở nơi cõi ấy đều có thật. Cõi nầy có thật như sự có thật của cõi Ta Bà nầy vậy—What is it to have faith in practice? To faith faith in practice means to believe in the existence of the Western Pureland and that the forms and characteristics in the Ultimate Bliss World that the Buddha spoke of it in the sutras are all true. It exists just as this Saha World really exists. 6) Tin Lý—Faith in theory: Sao gọi là tin lý? Tin lý tứ là tin điều “Lý tín duy tâm,” nghĩa là một chơn tâm của mình bao trùm hết cả mười phương quốc độ của chư Phật—What is it to have faith in theory? This is to believe that “all theories are within the mind;” thus, the mind encompasses all the infinite Buddha Lands in the ten directions.

lục tông trung hoa

Sáu tông phái ở Trung Hoa—The six schools in China: 1) Tam Luận Tông: Giáo thuyết Tam Luận Tông dựa theo Tam Luận—The Three-Sastra Sect, based on the Madhyamika-Sastra. 2) Pháp Tướng Tông: Dharmalaksana Sect. 3) Hoa Nghiêm Tông: Giáo thuyết Hoa Nghiêm Tông dựa trên bộ Kinh Hoa Nghiêm—Avatamsaka Sect, based on the Buddha-Avatamsaka-Sutra. 4) Luật Tông: Giáo thuyết Luật Tông dựa trên bộ Luật Tạng—Vinaya or Discipline Sect, based on the Vinaya-Pitaka. 5) Thành Thật Tông: Giáo thuyết Thành Thật Tông dựa trên bộ Thành Thật Luận-Satyasiddhi Sect, based on the Satyasiddhi Sastra. 6) Câu Xá Tông: Giáo thuyết Câu Xá Tông dựa trên bộ Câu Xá Luận—Abhidharma-Kosa Sect, based on the Abhidharma-Kosa Sastra.

lục tông đại thừa nhật bản

The six Mahayana schools in Japan. 1) (from 1 to 4) Bốn tông phái đầu cũng giống bốn tông phái đầu của Trung Hoa—The first four sects are the same as the first four schools of the six schools in China—See Lục Tông Trung Hoa. 5) Thiên Thai Tông: The T'ien-T'ai Sect or Tendai Sect. 6) Chân Ngôn Tông: The Shingon Sect.

lục túc luận

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Lục Túc Luận là bộ luận viết về Phát Trí Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử—According to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the Six Legs is the commentary on the Source of Knowledge (Jnana-prasthana). 1) Phẩm Loại Túc Luận, được viết bởi ngài Thế Hữu: Prakarana-pada (skt)—Category-leg, written by Vasumitra. 2) Thức Thân Túc Luận, được viết bởi ngài Đề Bà Thiết Ma: Vijnana-kaya (skt)—Consciousness-body, written by Devasarman. 3) Pháp Uẩn Túc Luận, được viết bởi ngài Xá Lợi Phất: Dharma-skandha (skt)—Element-group, written by Sariputra. 4) Thi Thiết Túc Luận, được viết bởi ngài Mục Kiền Liên: Prajnapti-pada (skt)—World-system, written by Maudgalyayana. 5) Giới Thân Túc Luận, được viết bởi ngài Phú Lâu Na: Dhata-kayapada (skt)—Mental-element-body, written by Purna. 6) Tập Dị Môn Túc Luận, được viết bởi ngài Đại Câu Thi La: Sangiti-paryayapada (skt)—Rehearsal-reading, written by Mahakausthila.

lục túc tôn

Một trong ngũ Minh Vương, vị hộ pháp cho Phật A Di Đà, là tái sanh của ngài Văn Thù Sư Lợi, có sáu đầu, sáu mặt, sáu tay, sáu cẳng; cỡi bò—The six-legged Honoured One, one of the five firece guardians of Amitabha. The one who has six heads, six faces, six arms, and six legs; rides on an ox; and is an incarantion of Manjusri.

lục túc tôn kim cang

Six-legged Honoured One—An emanation of Manjusri, who is an Emanation of Amitabha.

lục tư thân

Sancetana-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu tư thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of volition: 1) Săc Tư: Volition based on sights. 2) Thanh Tư: Volition based on sounds. 3) Hương Tư: Volition based on smells. 4) Vị Tư: Volition based on tastes. 5) Xúc Tư: Volition based on touches. 6) Pháp Tư: Volition based on mind-objects.

Lục tướng

六相; C: liùxiāng; J: rokusō;|Sáu tướng có thể thấy được nơi hữu tình chúng sinh theo giáo lí tông Hoa Nghiêm. Đó là: Tổng (總), Biệt (別), Đồng (同), Dị (異), Thành (成), Hoại (壞). Trong tư tưởng Hoa Nghiêm, 6 tướng nầy được xem hoàn toàn tương nhiếp lẫn nhau.

lục tướng

Theo tông Hoa Nghiêm, vạn hữu có sáu tướng—Taccording to the Avatamsaka School, everything (dharma) has six characteristics: 1) Tổng Tướng: Whole or Universality—Do năm uẩn họp thành. Tổng tướng là toàn thể của những bộ phận đặc biệt—Consisting of five aggregates. Universality is the total of special parts. 2) Biệt Tướng: Parts or Speciality—Những bộ phận đặc biệt tạo thành một toàn bộ hay. Các căn bản của các loại người khác nhau đều có riêng “đặc dị tính” theo nghĩa đặc trưng hay năng lực độc nhất. Mọi người đều có đôi mắt, nhưng không có đôi mắt nào có cùng năng lực như nhau cả—Speciality is the special parts constituting the whole. The organs of different human beings have 'speciality' in the sense of unique character or power. All have eyes, but not all eyes have the same power. 3) Đồng Tướng: Unity or Similarity—Tất cả các biệt tướng đều có năng tính một sinh thể có thể tiết điệu đồng đều như nhau khi tạo thành một toàn bộ. Các căn đều như nhau, đều là căn, trong nghĩa cộng đồng liên hệ trong một căn thể—Similarity means that all specialities have the capacity of being equally harmonious in constituting the whole. All organs are similar as organs, or in the sense of co-relation in one organism. 4) Dị Tướng: Diversity—Những biệt tướng, dù thể tính của chúng có tiết điệu với nhau, vẫn giữ nguyên những sắc thái riêng biệt của mình. Mỗi căn đều có 'sai biệt tính' ví nó có một quan hệ đặc biệt đối với toàn thể—Diversity means that specialities, in spite of their being mutually harmonious, keep their special features. Each organ also possesses 'diversity' since it has a special relation to the whole. 5) Thành Tướng: Entirety or Integration—Những biệt tướng, dù chúng đặc biệt, vẫn tạo thành tổng tướng bằng cách kết hợp nhau thành một. Tất cả các căn cùng tác động chung để hoàn thành một đơn thể toàn diện—Integration means that specialities, though they are special, make up Universality by uniting themselves. All organs work together to complete the whole unitary being. 6) Hoại Tướng: Fractions or Differentiation—Những biệt tướng, dù chúng kết hợp thành tổng tướng, vẫn không đánh mất những sắc thái riêng biệt của mình. Mỗi quan năng trong vị trí riêng biệt của nó thi hành nhiệm vụ đặc thù của nó—Differentiation means that specialities, though they make up universality, do not lose their own special features. Each organ, being in its own special position, performs its own differentiating function. ; (六相) Sáu tướng của sự vật trong vạn hữu được nói trong kinh Hoa nghiêm và kinh Thập địa. Đó là: 1. Tổng tướng: Một pháp duyên khởi có đầy đủ nhiều đức, như thân người có đủ các căn mà thành 1 tướng chung. 2. Biệt tướng: Ở trong nhiều đức ấy các pháp nương tựa nhau mà hợp thành 1 pháp; như thân người tuy là 1 nhưng các căn mắt, tai v.v... mỗi mỗi khác nhau. 3. Đồng tướng: Nhiều đức hòa hợp nương nhau tạo thành 1 pháp mà không chống trái nhau, như các căn mỗi căn có đặc tính riêng, có tác dụng khác nhau, nhưng không trở ngại nhau. 4. Dị tướng: Nhiều đức khác nhau cấu thành 1 pháp, như các căn khác nhau cấu thành thân người. 5. Thành tướng: Nhiều đức nương nhau mà hợp thành 1 pháp, như các căn nương nhau mà thành thân người. 6. Hoại tướng: Mỗi căn đều trụ nơi bản vị không dời đổi, thì không thành Tổng tướng. Như các căn đều ở vị trí mình và đều có dụng riêng thì không thành 1 thể. Hai tướng Tổng và Biệt đứng trên lập trường quan hệ tương đối, biểu thị 2 môn Bình đẳng và Sai biệt. Hai tướng Đồng và Dị là biện biệt ý nghĩa của 2 môn Bình đẳng và Sai biệt. Hai tướng Thành và Hoại là kết quả của việc dùng 2 tướng Đồng và Dị để biện biệt 2 tướng Tổng và Biệt. Đây gọi là 2 môn Bình đẳng, Sai biệt. [X. kinh Hoa nghiêm Q.43 (bản dịch mới); Thập địa kinh luận Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9; Đại thừa nghĩa chương Q.3]. (xt. Lục Tướng Viên Dung).

lục tướng viên dung

(六相圓融) Cũng gọi Lục tướng duyên khởi. Chỉ cho 6 tướng viên dung: Tổng tướng, Biệt tướng, Đồng tướng, Dị tướng, Thành tướng và Hoại tướng. Sáu tướng này dung hòa lẫn nhau mà không bị trở ngại, cùng với thuyết Thập huyền môn, gọi chung là Thập huyền Lục tướng, là giáo nghĩa quan trọng của tông Hoa nghiêm. Tông Hoa nghiêm dùng 6 tướng này làm nền tảng mà lập thuyết Lục tướng viên dung. Tức là các pháp đều đầy đủ 6 tướng này, dung hợp lẫn nhau mà không ngăn ngại nhau, toàn thể và bộ phận, bộ phận và toàn thể đều là 1 thể. Thập địa kinh luận quyển 1 của ngài Thế thân đối với hạnh Bồ tát nói có 6 tướng. Thập địa kinh luận nghĩa kí của ngài Tuệ viễn đời Tùy, tuy có giải thích về 6 tướng, nhưng mới chỉ nói đến thể và lí chứ chưa bàn về tướng và sự. Bắt đầu từ ngài Trí nghiễm thuộc tông Hoa nghiêm đời Đường, thuyết Lục tướng viên dung mới được hình thành, rồi sau do các ngài Pháp tạng, Trừng quán tập đại thành. Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 4 giải thích về danh nghĩa của Lục tướng viên dung như sau: Các pháp duyên khởi tất phải do các duyên tập hợp mà thành, vì thế Tổng tướng được thiết lập (1 gồm nhiều đức, chẳng hạn như ngôi nhà gồm cột, xà, đòn tay, rui mè v.v...) và Biệt tướng của các duyên giúp cho Tổng tướng thành lập (Biệt tướng nương vào vào Tổng tướng mà tồn tại, giúp cho Tổng tướng được viên mãn, giống như các bộ phận cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... trong 1 ngôi nhà). Biệt tướng này là đối với Tổng tướng mà nói, trên Biệt tướng lại có Đồng tướng(có nhiều nghĩa nhiều pháp, nhưng không chống trái lẫn nhau, mà cũng giúp thành lập Tổng tướng, giống như các bộ phận cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... hợp lực với nhau mà tạo thành ngôi nhà) và Dị tướng (nhiều nghĩa nhiều đức mỗi mỗi khác nhau, nhưng cùng giúp nhau, hệt như cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... đều khác nhau vậy). Đồng thời, Tổng tướng cũng đối với Biệt tướng mà nói, trên Tổng tướng còn có Thành tướng (do các nghĩa mà thành lập Tổng tướng, chẳng hạn như do cột, xà v.v... mà hoàn thành ngôi nhà) và Hoại tướng (nếu các Biệt tướng đều giữ bản vị riêng của mình thì không thành lập được Tổng tướng, chẳng hạn như cột, xà, đòn tay, rui mè v.v... mỗi mỗi tách riêng ra một nơi, thì không thể thành lập ngôi nhà), hợp chung lại thành là Lục tướng. Sự quan hệ của Lục tướng có thể chia làm thể, tướng, dụng. Hai tướng Tổng và Biệt là thể của duyên khởi, 2 tướng Đồng và Dị là tướng của duyên khởi và 2 tướng Thành và Hoại là dụng của duyên khởi. Cứ theo Ngũ giáo chương thông lộ kí quyển 27, thì pháp duyên khởi có 2 nghĩa chính là viên dung và hàng bố (sai biệt), trong đó, 3 tướng Tổng, Đồng, Thành thuộc môn Viên dung (3 tướng viên dung); còn 3 tướng Biệt, Dị, Hoại thì thuộc môn Hàng bố (3 tướng hàng bố). Tuy nhiên, Viên dung biểu thị vô sai biệt hoàn toàn không lìa khỏi Hàng bố biểu thị sai biệt, vả lại, Hàng bố cũng không lìa Viên dung, vì thế nói Viên dung tức Hàng bố, Hàng bố tức Viên dung, chính do đó mà nghĩa Vô tận pháp giới duyên khởi được thành lập. Ngũ giáo chương thông lộ kí còn nêu ra mối quan hệ giữa Lục tướng và Thập huyền là: Môn đầu tiên trong Thập huyền là Tổng tướng, 9 môn còn lại là Biệt tướng; hoặc lấy môn đầu làm Tổng tướng, rồi đem 9 môn còn lại phối hợp với 5 tướng kia mà thuyết minh. Còn Hoa nghiêm ngũ giáo chương khuông chân sao quyển 6 của ngài Phượng đàm, thì đem môn Đồng thời cụ túc tương ứng trong Thập huyền phối hợp với Tổng tướng trong Lục tướng; đem 4 môn: Nhất đa tương dung bất đồng, Chư pháp tương tức tự tại, Nhân đà la võng vi tế và Vi tế tương dung an lập, phối hợp với Biệt tướng và Đồng tướng; đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Thập thế cách pháp dị thành và Thác sự hiển pháp sinh giải phối hợp với Dị tướng; đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Chư tạng thuần tạp cụ đức và Duy tâm hồi chuyển thiện thành phối hợp với Thành tướng; sau hết, đem 3 môn: Bí mật ẩn hiển câu thành, Chư tạng thuần tạp cụ đức và Thác sự hiển pháp sinh giải phối hợp với Hoại tướng. [X. kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.9; Tân hoa nghiêm kinh luận Q.24; Hoa nghiêm kinh sớ Q.31, 34; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.53; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.1, 3; Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.hạ; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.1, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Lục Tướng).

lục tưởng

(六想) Chỉ cho 6 niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần. Cứ theo kinh Đại tập pháp môn quyển hạ, thì Lục tưởng là: 1. Nhãn tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi mắt trông thấy sắc. 2. Nhĩ tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi tai nghe tiếng. 3. Tị tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi mũi ngửi mùi. 4. Thiệt tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi lưỡi nếm vị. 5. Thân tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi thân có cảm giác đụng chạm. 6. Ý tưởng: Niệm tưởng tương ứng với thức mà sinh khởi khi ý căn phân biệt các pháp. [X. kinh Tạp a hàm Q.2].

lục tưởng thân

Sanna-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu tưởng thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of perception: 1) Sắc Tưởng: Rupa-sanna (p)—Perception of sights. 2) Thanh Tưởng: Perception of sounds. 3) Hương tưởng: Perception of smell. 4) Vị Tưởng: Perception of taste. 5) Xúc Tưởng: Perception of touch. 6) Pháp tưởng: Dhamma-sanna (p)—Perception of mind-objects.

Lục tặc

六賊; C: liùzéi; J: rokusoku;|»Sáu kẻ trộm«. Chỉ 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thường đem lại phiền não.

lục tặc

sáu tên giặc cướp. Sáu căn được ví với sáu tên mối lái cho giặc cướp, cướp đoạt hết công năng pháp tài hay thiện pháp. Sáu tên giặc kia mà đến thì lục căn sung sướng vui mừng. Cách đề phòng duy nhứt là đừng a tòng với chúng—The six cauras or robbers, such as the six senses, the six sense organs are the match-makers, or medial agents of the sic robbers. The six robbers are also likened to the six pleasures of the six sense organs. The only way to prevent them is by not acting with them: 1) Mắt đừng nhìn sắc đẹp: The eye avoiding beauty. 2) Tai đừng nghe tiếng du dương: The ear avoiding melodious sound. 3) Mũi đừng ngữi mùi thơm: The nose avoiding fragrant scent. 4) Lưỡi đừng nếm vị ngon: The tongue avoiding tasty flavour. 5) Thân đừng xúc chạm êm ái: The body avoiding seductions. 6) Ý nên kềm giữ tư tưởng: The mind should always control thoughts. ** For more information, please see Lục Căn and Lục Đại.

lục tế

Theo Trí Độ Luận, có sáu thứ chướng tế che đậy mất sáu Ba La Mật hay tịnh tâm—According to the Maha-Prajna-Sastra, there are six sins that smother the six paramitas or the pure mind. 1) Xan Tham: Tham lam bỏn xẻn—Grudging. 2) Phá Giới: Commandment-breaking. 3) Sân Nhuế: Nóng nảy giận dữ—Anger. 4) Liên Niệm: Thương nhớ luyến ái gia đình—Family attachment. 5) Tán Loạn: Confused thoughts or scattered mind. 6) Ngu Si: Ignorance or stupidity.

lục tổ huệ năng

The Sixth Patriarch Hui-Neng—See Hui-Neng and Huệ Năng.

lục tổ pháp bảo đàn kinh

Kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng—The Platform Sutra of the Sixth Patriarch's Dharma-Treasure—See Kinh Pháp Bảo Đàn in Vietnamese-English Section.

lục tổ thiền trung hoa

Sáu tổ dòng Thiền Trung Hoa—Six Chinese Patriarchs: 1) Nhứt Tổ Bồ Đề Đạt Ma: Bodhidharma—The First Patriarch in China—The founder of the Chinese Zen—See Bồ Đề Đạt Ma. 2) Nhị Tổ Huệ Khả: The Second Patriarch Hue-Ke (468-543 AD)—See Huệ Khả. 3) Tam Tổ Tăng Xán: The Third Patriarch Seng Tsan ( ? – 606 AD). 4) Tứ Tổ Đạo Tín: The fourth Patriarch Tao Hsin (580-651)—See Đạo Tín. 5) Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: The fifth Patriarch Hung-Jen ((601-675)—See Hoằng Nhẫn. 6) Lục Tổ Huệ Năng: Vị tổ thứ sáu, người đã nhận y bát từ ngũ tổ Hoằng Nhẫn, hoằng hóa về phương nam, nên còn gọi là dòng thiền phương nam—The Sixth Patriarch Hui-Neng, who received the transmission from Hung-Jen (fifth patriarch). Hui Neng propagated Zen in the Southern part of China; therefore, his lineage is called the southern school of Zen.

Lục tổ đàn kinh

六祖壇經; C: liùzǔ tánjīng; J: rokuso dankyō; E: the platform sutra of the sixth patriarch.|Tập trung vào lời giảng của Tổ sư Thiền tông Huệ Năng tại Thiều Châu (韶州), bản kinh nầy bao gồm toàn bộ pháp ngữ và hành trạng của Lục tổ. Điểm quan trọng nhất của các bài pháp nầy là giáo lí đốn ngộ, sự trực nhận ra tự tính chính mình và thể đồng nhất của giới (s: śīla), định (s: dhyāna), và huệ (s: prajñā). Cái gọi là Thiền Nam tông (đốn ngộ) của Phật giáo Trung Hoa căn cứ vào giáo lí của bản kinh rất có uy thế nầy. Philip Yampolsky đã dịch kinh nầy sang tiếng Anh.

lục tội nhân

Sáu loại gây tội—The six kinds of offender—Giống như trong Ngũ Nghịch thêm vào tội giết hay làm hại Thầy Tổ—They are similar to the five grave sins, plus the sin of killing or hurting teacher or master—See Ngũ Nghịch (A).

lục tụ

Sáu loại tội lỗi của Tăng chúng—The six kinds of wrong-doing: 1) Ba La Di Tội: Parajika (skt)—See Ngũ Tụ (1). 2) Tăng Tàn: Sanghavasesa (skt)—See Ngũ Tụ (2). 3) Thâu Lan Già Tội: Sthulatyaya (skt)—Đại chướng thiện đạo, phạm vào hai tội Ba La Di và Tăng Tàn nhưng chưa thành nên được xếp dưới hai tội đó—Associated with the prarajika and sanghavasesa sins; however, only implying thought, but not yet developed in action. 4) Ba Dật Đề Tội: Prayascitta (skt)—See Ngũ Tụ (3). 5) Ba La Đề Xà Ni Tội: Pratidessaniya (skt)—See Ngũ Tụ (4). 6) Đột Cát La: Duskrta (skt)—See Ngũ Tụ (5).

lục tức

See Lục Tức Phật. ; (六即) Cũng gọi Lục thị, Lục tuyệt, Lục như. Sáu hành vị của Bồ tát Viên giáo do tông Thiên thai thiết lập, tức là 6 giai đoạn hợp thành 1 thể với chân lí, gọi là Lục tức. 1. Lí tức: Hết thảy chúng sinh đều trụ trong Phật tính Như lai tạng. 2. Danh tự tức: Chỉ cho giai vị Bồ tát nghe đạo Bồ đề nhất thực rồi từ trong danh ngôn khái niệm mà được thông suốt rõ ràng. 3. Quán hạnh tức: Giai vị Bồ tát đã hiểu rõ danh tự rồi khởi tu quán hạnh, tâm quán sáng tỏ, lí và tuệ tương ứng. Ở giai vị này, tùy theo thứ tự cạn sâu mà chia ra 5 phẩm gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị: Tùy hỉ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành lục độ và chính hành lục độ. Đây tức là vị Ngoại phàm của Viên giáo, đồng với giai vị Thập tín của Biệt giáo. 4. Tương tự tức, cũng gọi Lục căn thanh tịnh vị: Chỉ cho giai vị Bồ tát đã được lục căn thanh tịnh, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, chế phục được vô minh, chỉ và quán trong sáng tĩnh lặng giống như thực chứng. Đây là giai vị Thập tín Nội phàm của Viên giáo, đồng với giai vị Tam hiền của Biệt giáo. 5. Phần chứng tức, cũng gọi Phần chân tức: Giai vị Bồ tát đã đoạn 1 phần vô minh mà chứng Trung đạo, tức là từ các giai vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác v.v... dần dần đã phá trừ được 1 phẩm vô minh mà chứng 1 phần Trung đạo. Những giai vị trên đều là Thánh vị, trong Biệt giáo, Thập địa tương đương với vị Thập trụ ở đây, vị Đẳng giác tương đương với Sơ hạnh trong Thập hạnh, vị Diệu giác tương với Đệ nhị hạnh trong Thập hạnh, còn từ hạnh thứ 3 trở lên trong Thập hạnh của Viên giáo thì Biệt giáo chưa bàn đến. 6. Cứu cánh tức: Giai vị Bồ tát đoạn trừ được phẩm vô minh cuối cùng, chứng được thực tướng của các pháp, tức là Diệu giác, quả vị rốt ráo cao nhất của Viên giáo. Sáu giai vị tuy có khác nhau nhưng thể tính thì là một, vị này vị kia tức là nhau. Vị Lí tức là vị Danh tự, cho đến tức là vị Cứu cánh. Lục tức này hoặc là hiển bày chỗ sâu cạn của pháp môn, hoặc là nêu rõ thứ tự tu hành. Dùng Lục để biểu thị sự cao thấp có thứ tự của giai vị, khiến cho người tu hành không sinh tâm thượng mạn; dùng Tức để biểu thị chỗ đầu tiên và cuối cùng của lí thể tất thảy đều giống nhau, khiến cho người tu hành không sinh tâm thụt lùi. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, hạ; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 5; Lục tức nghĩa; Quán kinh sớ Q.thượng; Quán kinh sớ diệu tông sao Q.thượng]. Đồ Biểu Lục Tức Lục Tức 8 Quả Vị 52 Giai vị Lí Tức (Chưa nghe Phật pháp) Danh Tự Tức (Đã nghe Phật pháp) Quán Hạnh Tức (Ngoại phàm) Tương Tự Tức (Nội phàm) Phần Chứng Tức (Phần chứng) Cứu Cánh Tức (Cực chứng) Ngũ phẩm đệ tử vị Thập tín vị Thập trụ vị Thập hạnh vị Thập hồi hướng vị Thập địa vị Đẳng giác vị Diệu giác vị

lục tức phật

Sáu giai đoạn phát triển của Bồ Tát được nói rõ trong Thiên Thai Viên Giáo, đối lại với sáu giai đoạn phát triển hay Lục Vị của Biệt Giáo—The six stages of Bodhisattva developments as defined in the T'ien-T'ai Perfect or Final Teaching, in contrast with the ordinary six developments as found in the Differentiated or Separated School (see Lục Vị): (I) Ngoại Phàm—External or Common to all: 1) Lý Tức Phật: Mỗi chúng sanh đều sẳn có Phật tánh—Theoretical—Realization that all beings are of Buddha-nature. 2) Danh Tự Tức Phật: Từ trong danh tự mà lý giải thông suốt, tất cả những ai nghe và tín thọ phụng hành đều có thể thành Phật—First step in practical advance—The apprehension of terms, that those who only hear and believe are in the Buddha-law and potentially Buddha. (II) Nội Phàm—Internal for all: 3) Quán hạnh Tức Phật: Chẳng những lý giải mà còn thiền quán và y giáo phụng hành—Advance beyond terminology to meditation, or study and accordant action. 4) Tương Tự Tức Phật: Đem thực chứng đến gần chân lý tương tự như ở giai đoạn vô lậu thực sự (dựa vào quán lực tương tự mà phát chân trí và thấy tánh Phật—Semblance stage, or approximation of truth and its progressive experiential proof. 5) Phần Chơn Tức Phật: Cái chơn trí lần hồi mở ra, vén từng bức màn vô minh, tâm trí càng sáng tỏ thêm, lần lần đi đến chỗ sáng suốt hoàn toàn, được phần nào tốt phần đó—The real wisdom is gradually opened, the screen of ignorance is gradually rolled up, the mind is clearer and clearer to totally clear. 6) Cứu Cánh Tức Phật: Phá trừ tất cả vô minh và phiền não để đạt tới toàn giác—Destroy all ignorance and delusions to attain Perfect enlightenment (Fruition of holiness). ; (六即佛) Tông Thiên thai căn cứ vào Phật tính mà lập ra Lục tức vị, gọi là Lục tức Phật. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh sớ diệu tông sao quyển thượng, thì Lục tức Phật là: 1. Lí tức Phật, cũng gọi Lí Phật. Chỉ cho tất cả chúng sinh. Bởi vì tất cả chúng sinh vốn đầy đủ lí Phật tính, cùng với chư Phật không hai không khác, đều tức là Phật, nên gọi Lí tức Phật. 2. Danh tự tức Phật, cũng gọi Danh tự Phật. Chỉ cho người hoặc được nghe từ nơi thiện tri thức, hoặc xem trong kinh điển mà biết được danh từ Lí tính tức Phật. Những người ấy từ nơi danh tự mà rõ suốt tất cả pháp đều là Phật pháp, nên gọi là Danh tự tức Phật. 3. Quán hạnh tức Phật: Chỉ cho người đã biết rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, từ đó nương theo giáo pháp mà tu hành, quán tâm được sáng tỏ, lí và tuệ tương ứng, quán hạnh tương tức, ngôn hành nhất như nên gọi là Quán hạnh tức Phật. Giai vị này được chia làm 5 phẩm vị: Tùy hỉ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành lục độ, chính hành lục độ. 4. Tương tự tức Phật: Chỉ cho người trong giai vị Quán hạnh tức nói trên, càng quán càng sáng, càng chỉ càng lặng, được 6 căn thanh tịnh, đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, chế phục được vô minh, giống như đã thực chứng, cho nên gọi là Tương tự tức Phật. 5. Phần chứng tức Phật, cũng gọi Phần chân tức Phật. Chỉ cho giai vị đoạn 1 phần vô minh mà chứng Trung đạo. Vô minh hoặc có 42 phẩm, từ các giai vị: Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, lần lượt phá trừ 1 phẩm vô minh mà chứng được 1 phần Trung đạo. 6. Cứu cánh tức Phật: Chỉ cho người đoạn trừ phẩm vô minh thứ 42 cuối cùng, phát được trí giác cứu cánh viên mãn, chứng nhập quả vị Phật Diệu giác cùng tột. Lục tức Phật này, do sự sâu cạn của trí (ngộ) tình (mê) mà có 6 loại khác nhau, nhưng thể tính thì không hai, đây kia tức là nhau, cho nên gọi là Tức.

Lục Tức Thành Phật

(六卽成佛): trong giáo nghĩa của Thiên Thai Tông có luận một cách có hệ thống về các giai vị từ sơ phát tâm cho đến khi đạt quả vị Phật và phân chia ra thành Bốn Giáo là Tạng, Thông, Biệt, Viên. Về bản chất thì chúng sanh tức là Phật, nhưng về mặt tu hành thì lại có Sáu Tức, gồm: (1) Lý Tức (理卽, về mặt bản lai thì có thật tại thành Phật), (2) Danh Tự Tức (名字卽, lấy đây làm lý niệm mà lý giải), (3) Quán Hành Tức (觀行卽, quán tâm tu hành để thể nghiệm), (4) Tương Tợ Tức (相似卽, sáu căn thanh tịnh tương tợ với chơn giác ngộ), (5) Phần Chứng [Chơn] Tức (分証[眞]卽, thể hiện bộ phận của chơn như) và (6) Cứu Cánh Tức (究竟卽, hoàn toàn giác ngộ).

Lục tự chú vương kinh

六字呪王經; C: liùzì zhòuwáng jīng; J: rokujijuō kyō;|Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經).

lục tự danh hiệu

Sáu chữ danh hiệu của Đức Phật A Di Đà—Six characters of Amitabha Buddha.

lục tự di đà

Sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật—Six characters of Amitabha Buddha.

lục tự hà lâm pháp

Phép sáu chử Quán Âm khi ở giữa sông—Six words connected with the six forms of Kuan-Yin when in the middle of a river.

lục tự quán âm

Lục Tự Chương Cú hay Lục Tự Pháp trong trường phái Chân Ngôn gắn liền với sáu hình thức của Bồ tát Quán Âm—The esoteric (Shingon) six words connected with the six forms of Kuan-Yin.

Lục tự thần chú vương kinh

六字神呪王經; C: liùzì shénzhòu wáng jīng; J: rokuji shinju ō kyō; S: ṣaḍakṣara-vidyā; t: yi ge drug pa'i rig sngags;|Sự cầu nguyện năng lực tiêu trừ tai chướng của Bồ Tát Quán Thế Âm. Gồm có các bản sau:|1. Lục tự chú vương kinh (六字呪王經), 1 quyển, không rõ người dịch, hoàn chỉnh năm 317-420; 2. Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經), 1 quyển, hoàn chỉnh năm 502-557, không rõ người dịch; 3. Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát tiêu phục độc hại đà-la-ni chú kinh (請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼呪經), 1 quyển. Gọi tắt là Tiêu phục độc hại kinh (消伏毒害經), Thỉnh Quán Thế Âm kinh (請觀世音經), Quán Âm kinh (觀世音經); Nan-đề (難提; s: nandi) dịch. Luận giải kinh nầy bằng tiếng Hán gồm có: Thỉnh Quán Âm kinh sớ (請觀音經疏) của Trí Khải (智顗), Thỉnh Quán Âm kinh sớ xiển nghĩa sao (請觀音經疏闡義鈔) của Trí Viên (智圓); 4. Thánh lục tự đại minh vương đà-la-ni (聖六字大明王陀羅尼經), 1 quyển, Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch.

lục tự tại vương

Sáu căn cũng chính là sáu kẻ cai trị chúng sanh—The six sovereign rulers or the six senses—See Lục Căn.

lục tự văn thù

Sáu chữ Đà La Ni của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Án, Phạ, Kẹ, Đạm, Nạp, Mạc)—The six-word dharani of Manjusri.

lục tự đà la ni

See Lục Tự Văn Thù.

lục vô giảm

(六無减) Sáu thứ công đức vĩnh viễn không sụt giảm sau khi đắc đạo, tức là 6 pháp trong 18 pháp bất cộng của Phật nói trong kinh Bát nhã. 1. Dục vô giảm: Tâm muốn cứu độ chúng sinh không bao giờ sụt giảm. 2. Tinh tiến vô giảm: Tâm tinh tiến siêng năng hóa độ chúng sinh không khi nào sụt giảm. 3. Niệm vô giảm: Tâm ghi nhớ các pháp trong 3 đời không bao giờ sụt giảm. 4. Tuệ vô giảm: Trí tuệ phân biệt tất cả pháp tướng vĩnh viễn không sụt giảm. 5. Giải thoát vô giảm: Phật đã diệt trừ tất cả tập khí phiền não mà chứng được giải thoát, cho nên không bao giờ sụt giảm. 6. Giải thoát tri kiến vô giảm: Tri kiến chứng được giải thoát vô biên và thanh tịnh vĩnh viễn không sụt giảm. [X. luận Đại trí độ Q.26]. (xt. Thập Bát Bất Cộng Pháp).

lục vô thường lục thí

See Lục Dụ.

lục vô thượng

Anuttariyani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong trường Bộ Kinh, có sáu vô thượng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six unsurpassed things: 1) Kiến Vô Thượng: Unsurpassed sights. 2) Văn Vô Thượng: Unsurpased things heard. 3) Lợi Đắc Vô Thượng: Unsurpassed gains. 4) Học Giới Vô Thượng: Unsurpassed trainings. 5) Hành Vô Thượng: Pari-cariyanuttariyam (p)—Unsurpassed forms of service. 6) Ức Niệm Vô Thượng: Unsurpassed objects of recollection.

lục vô uý

(六無畏) Sáu thứ công đức của tâm Bồ đề nhất niệm mà hành giả Chân ngôn đạt được ở 3 kiếp trước Thập địa, cũng là 6 nơi an ổn để hành giả Mật giáo tái sinh, cho nên gọi là Lục vô úy (6 nơi không sợ). 1. Thiện vô úy: Tu 10 nghiệp thiện, dứt 10 nghiệp ác, xa lìa khổ não trong 3 đường ác, thường sinh ở cõi người, cõi trời, đó là nơi tái sinh an ổn thứ nhất, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn nương vào hạnh tam mật để cúng dường Bản tôn. 2. Thân vô úy: Tu tập quán xét thân mình, không sinh tâm tham ái, tự thân xa lìa mọi sự ràng buộc, là nơi tái sinh an ổn thứ 2, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn nương vào quán hạnh hữu tướng, để quán các tướng hiện tiền của Bản tôn. 3. Vô ngã vô úy: Biết rõ ngã là sự tích tụ của thủ uẩn, không có thực thể, xa lìa sự trói buộc của ngã, đó là nơi tái sinh thứ 3; tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn ở trong tất cả phần đoạn của cảnh giới Du già, quán tâm không có thực thể, nên không sinh ái mạn. 4. Pháp vô úy: Quán xét các uẩn tức không, xa lìa sự trói buộc của các uẩn, đó là nơi tái sinh thứ 4, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn quán cảnh giới Du già vô tính vô sinh như bóng trong gương, trăng dưới nước. 5. Pháp vô ngã vô úy: Quán xét các pháp vô ngã, biết rõ lí vốn chẳng sinh, xa lìa sự trói buộc của pháp, là chỗ tái sinh an ổn thứ 5, tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn được tâm tự tại trong đạo Du già. 6. Nhất thiết pháp tự tính bình đẳng vô úy: Quán xét tự tâm rốt ráo là tính không; ngã, uẩn, pháp và vô duyên đều cùng 1 tính, tức biết rõ tự tính là vô tính mà phát sinh trí không, xa lìa 2 thứ trói buộc của hữu vi giới và vô vi giới, là nơi tái sinh an ổn thứ 6; tức là giai vị mà hành giả Chân ngôn quán xét thực tướng của tâm, trụ nơi tâm Bồ đề thanh tịnh như hư không. Nếu phối hợp 6 vô úy này với 3 kiếp, thì 4 vô úy trước thuộc về giai vị của kiếp đầu tiên, vô úy thứ 5 thuộc giai vị của kiếp thứ 2 và vô úy thứ 6 là giai vị của kiếp thứ 3. Duy chỉ có điểm khác nhau là 3 kiếp được căn cứ vào 3 vọng chấp (thô, tế, cực tế) sở độ mà thành lập, còn 6 vô úy thì căn cứ vào tâm Bồ đề thanh tịnh năng độ mà được thành lập. [X. phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.3; Chân ngôn danh mục; Đại nhật kinh sớ sao Q.1; Bí tông giáo tướng sao Q.5].

lục vô vi

(六無爲) Phạm: Wađasaôskfta. Sáu pháp vô vi căn cứ vào thức biến và pháp tính mà được giả lập, 1 trong 5 vị, 100 pháp của tông Duy thức. Đó là: 1. Hư không vô vi: Chân như được hiển hiện do đã xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng. Chân như này không có chướng ngại, giống như hư không, cho nên gọi là Hư không vô vi. 2. Trạch diệt vô vi: Chân lí hiển hiện do thoát li sự trói buộc của tất cả hữu lậu. Đây là căn cứ vào sự đoạn chướng mà đặt tên, vì trạch diệt nghĩa là xa lìa sự trói buộc, nên gọi là Trạch diệt vô vi. 3. Phi trạch diệt vô vi: Tự tính của Chân như xưa nay vốn là thanh tịnh, lìa các tạp nhiễm, vì nó không phải do sức lựa chọn của trí vô lậu nên gọi là Phi trạch diệt vô vi. Đây là theo sự giải thích của Đại thừa. Còn theo sự giải chung của Đại thừa lẫn Tiểu thừa, thì pháp hữu vi thiếu duyên nên không sinh, nếu cái không sinh này diệt thì chân lí hiển hiện, đây cũng chẳng phải do sức chọn lựa của trí vô lậu, nên gọi là Phi trạch diệt vô vi. 4. Bất động vô vi: Chỉ cho vô vi hiển hiện ở đệ Tứ thiền. Vì ở cõi này chỉ có xả thụ, chứ không có khổ thụ và lạc thụ, nên gọi là Bất động. Vì ở cảnh diệt khổ thụ và lạc thụ mà hiển hiện chân lí vắng lặng, nên gọi là Bất động vô vi. 5. Tưởng thụ diệt vô vi: Vô vi hiển hiện ở trong Diệt tận định. Vì ở trong Diệt tận định, diệt hết tâm tưởng 6 thức và 2 thụ khổ, lạc, cho nên gọi là Tưởng thụ diệt vô vi. 6. Chân như vô vi: Pháp vô vi vốn chân thực thường như, không hư vọng biến đổi, nên gọi là Chân như vô vi. Trong 6 vô vi, 5 vô vi trước là mượn tên để giải thích rõ tướng của pháp tính, còn vô vi thứ 6 là mượn tên để giải thích rõ thể của pháp tính. Sáu vô vi do thức biến, nghĩa là từng nghe nói đến tên hư không, lại theo sự phân biệt mà có tướng hư không, rồi do sức huân tập mà biến hiện ra tướng vô vi giống như hư không. Tướng sở hiện này trước sau giống nhau không thay đổi, nên giả nói là thường. Ngoài ra, các nhà Duy thức còn chia Chân như vô vi trong 6 vô vi nói trên thành 3 thứ là: Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân như và Vô kí pháp chân như, thêm vào 5 vô vi trước mà lập thuyết Bát vô vi (tám vô vi). [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Bách pháp vấn đáp sao Q.9]. (xt. Vô Vi).

lục vạn tạng

Sáu vạn câu kệ mà Đề Bà Đạt Đa đã học thuộc từ kinh Phật cũng không cứu nổi tự thân sa vào A Tỳ địa ngục—The sixty thousand verses of the Buddha-law which Devadatta could recite, an ability which did not save him from falling to the Avici Hell. ; (六萬藏) Tạng nghĩa là Pháp tạng, tức giáo pháp do đức Phật nói. Pháp tạng của đức Phật gồm 6 vạn bài kệ, gọi là Lục vạn tạng. Kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 4 (Đại 3, 147 thượng), nói: Đề bà đạt đa tuy theo Phật xuất gia, nhưng tâm ghen ghét rất sâu nặng, thường trông mong lợi dưỡng, nên dù có đọc tụng kinh Lục vạn hương tượng nhiều lần cũng không thoát khỏi tội địa ngục A tị. [X. luận Đại trí độ Q.14].

lục vật

Sáu vật mà Tỳ Kheo phải có—The six things which a monk must have: (I) Tam Y—Three robes or garments: 1) Tăng Già Lê: Đại y hay áo cửu điều (chín mảnh)—Sanghati (skt)—The nine-patched robe. 2) Uất Đa La Tăng: Trung y hay áo thất điều (bảy mảnh)—Uttara-sanghati (skt)—The stole of seven pieces or seven-patched robe. 3) An Đà Hội: Hạ y hay áo ngũ điều (năm mảnh)—Antara-vasaka (skt)—The skirk of inner garment of five pieces. (II) Tam Vật—Three things: 4) Thiết Đa La: Bát sắt—Patra (skt)—begging bowl. 5) Ni Sư Đàn: Vải lót ngồi hay ghế đẩu nhỏ—Nisidana (skt)—A stool. 6) Túi lọc nước: A water strainer. ; (六物) Gọi đủ: Tỉ khưu lục vật. Sáu vật dụng cần thiết mà đức Phật cho phép các vị tỉ khưu được cất giữ. Đó là: Tăng già lê (đại y), Uất đa la tăng (thượng y), An đà hội (trung y), bình bát, ni sư đàn (đồ dùng trải để ngồi nằm) và túi để lọc nước uống. Nếu bỏ bớt ni sư đàn và túi lọc nước, thì 4 thứ còn lại được gọi chung là Tam y nhất bát (3 áo 1 bát). Còn nếu thêm 2 dụng cụ nữa là cái kim dùng để khâu vá và cái ống đựng kim vào Lục vật thì gọi là Bát vật. Ngoài 6 vật dụng cần thiết ra, vị tỉ khưu cũng được phép cất giữ các vật khác, gọi là Trướng vật, Dư trướng vật (Phạm:Atireka, vật sở hữu ngoài qui định) trong 10 ngày, nếu quá thời hạn này thì phạm giới. [X. Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; luật Thập tụng Q.28; Thiện kiến luật tì bà sa Q.7; luật Tứ phần Q.41; Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.13; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Thập Bát Vật, Tăng Vật).

Lục Vị

(六味): tức 6 loại vị khác nhau; gồm đắng, chua, ngọt, cay, mặn, lạt, được tìm thấy trong Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1, v.v. Theo bản Đại Minh Tam Tạng Pháp Số (大明三藏法數) quyển 28, giải thích rằng: (1) Khổ (s: tikta, 苦, đắng), tánh của nó lạnh, có thể hóa giải cái nóng trong phủ tạng; (2) Thố (s: amla, 醋, chua như giấm), còn gọi là toan (酸), tạc (酢), tánh của nó mát, có thể giải vị của các chất độc; (3) Cam (s: madhura, 甘, ngọt), còn gọi là điềm (甜), tánh của nó hòa, có thể điều hòa lá lách, ruột; (4) Tân (s: kaṭuka, 辛, cay), tánh của nó nóng, vì vậy có thể hóa giải cái lạnh trong phủ tạng; (5) Hàm (s: lavaṇa, 鹹, mặn), tánh của nó thấm, nên có thể giúp thấm sâu vào da thịt; (6) Đạm (s: kaśāya, 淡, lạt), là thể để nhận các vị. Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh quyển 4 lấy 6 vị này thí dụ cho pháp nghĩa của kinh; Khổ là vị chua, Vô Thường là vị mặn, Vô Ngã là vị đắng, Lạc là vị ngọt, Ngã là vị cay và Thường là vị lạt. Trong Kinh Luật Giới Tướng Bố Tát Quỹ Nghi (經律戒相布薩軌儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1136), phần Thọ Thực Ngũ Quán Pháp (受食五觀法), có đoạn: “Tam Đức Lục Vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường (三德六味、供佛及僧、法界有情、普同供養, Ba Đức Sáu Vị, cúng Phật và tăng, pháp giới hữu tình, khắp cùng cúng dường).” Hay trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1452) quyển 1, phần Pháp Ngữ (法語), lại có đoạn: “Tam Đức bất giải, Lục Vị bất biện, kiêm tự kỷ thân khẩu ý Tam Nghiệp bất tịnh, tắc biện thực chi sở, bất danh Hương Tích Trù, vị chi Uế Tích Trù hĩ (三德不解、六味不辨、兼自己身口意三業不淨、則辦食之所、不名香積廚、謂之穢積廚矣, Ba Đức không hiểu, Sáu Vị chẳng rõ, cọng thêm Ba Nghiệp thân miệng ý của bản thân cũng không trong sạch, thì nơi chuẩn bị thức ăn, không gọi là Nhà Bếp Hương Tích, mà gọi là Nhà Bếp Ô Uế vậy).”

lục vị

xem sáu vị. ; (A) Sáu vị—The six tastes or flavours: 1) Cay: Acrid—Hot. 2) Đắng: Bitter. 3) Ngọt: Sweet. 4) Lạt: Insipid. 5) Mặn: Salt. 6) Chua: Sour. (B) Sáu ngôi vị hay giai đoạn trong tiến trình phát triển Bồ Tát đạo trong Thiên Thai Biệt Giáo—The six ordinary developments found in the T'ien-T'ai Differentiated or Separated School: 1) Thập Tín Vị: Ten grades of Bodhisattva faith—See Thập Tín Tâm. 2) Thập trụ Vị: Ten grounds—See Thập Trụ. 3) Thập Hồi Hướng Vị: See Ten Kinds of Dedications. 4) Thập Địa Vị: Ten Stages of Bodhisattva—See Thập Địa Bồ Tát. 5) Đẳng Giác vị: The fifty-first stage in the fifty-two stages towards the Buddha-bhumi. 6) Phật Địa Vị: Buddha-bhumi or Buddha stage—See Phật Địa. ; (六位) Sáu giai vị trong quá trình tu hành của Bồ tát. Theo kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) thì 6 giai vị ấy là: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa và Phật địa. Còn kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) thì thêm giai vị Đẳng giác vào sau Thập địa mà gọi là Thất vị. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.5]. ; (六味) Sáu mùi: Đắng, chua, ngọt, cay, mặn và lạt. Theo Đại minh tam tạng pháp số quyển 28, thì 6 vị là: 1. Đắng (Phạm:Tikta): Tính của vị này lạnh, có công năng giải nhiệt tạng phủ. 2. Chua (Phạm:Amla): Tính của vị này mát, có công năng giải các vị độc. 3. Ngọt (Phạm:Madhura): Tính ôn hòa có công năng điều hòa lá lách và dạ dày. 4. Cay (Phạm:Kaỉuka): Tính nóng, có công năng trị tạng phủ chân hàn. 5. Mặn (Phạm: Lavaịa): Tính nhuận, có công năng làm cho da tươi nhuận. 6. Lạt (Phạm:Kazàya): Là thể để tiếp nhận các vị khác. Kinh Đại bát niết bàn quyển 4 (bản Bắc) dùng 6 vị để ví dụ pháp nghĩa của kinh này, tức khổ là vị chua, vô thường là vị mặn, vô ngã là vị đắng, vui là vị ngọt, ngã là vị cay và thường là vị lạt. [X. Niết bàn kinh sớ Q.9; luận Cam lộ vị Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa đại tập].

lục vị tâm sở

(六位心所) Sáu loại tâm sở. Về tính chất của 6 loại tâm sở, sự phân biệt của tông Câu xá (Tiểu thừa) và tông Duy thức (Đại thừa) có khác nhau. A. Tông Câu Xá chia tâm sở làm 6 loại, 46 món như sau: 1. Đại địa pháp: Những tâm phẩm khởi lên trong khắp tất cả tâm phẩm, gồm 10 món: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa. 2. Đại thiện địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong khắp tất cả tâm thiện, gồm 10 món: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần (siêng năng). 3. Đại phiền não địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong tất cả các pháp phiền não như: Bất thiện, Hữu phú vô kí v.v... gồm 6 món: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và điệu cử. 4. Đại bất thiện địa pháp: Những tâm sở khởi lên trong tất cả tâm phẩm bất thiện, gồm 2 món: Vô tàm, vô quí. 5. Tiểu phiền não địa pháp: Những tâm sở tự thể bất thiện và hữu phú vô kí khởi lên không khắp tất cả tâm phẩm, gồm 10 món: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu. 6. Bất định địa pháp: Những tâm sở không nhất định thuộc loại nào trong 5 loại trước, gồm 8 món: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn và nghi. Đồ Biểu Như Sau: Đại địa pháp 10: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa Đại thiện địa pháp 10: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại Đại phiền não địa pháp 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, điệu cử Đại bất thiện địa pháp 2: Vô tàm, vô quí Tiểu phiền não địa pháp 10: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu Bất định địa pháp 8: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn, nghi B. Tông Duy Thức chia tâm sở làm 6 loại, 51 món như sau: 1. Biến hành tâm sở: Những tâm sở sinh khởi trong tất cả tính, tất cả địa, tất cả thời, tất cả đều khởi, gồm 5 món: Xúc, tác ý, thụ, tưởng, tư. 2. Biệt cảnh tâm sở: Những tâm sở sinh khởi trong tất cả tính, tất cả địa, nhưng đối với cảnh thì có khi khởi có khi không khởi, gồm 5 món: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. 3. Thiện tâm sở: Những tâm sở có tính thiện, chỉ sinh khởi với tâm thiện, gồm 11 món: Tín, tinh tiến, tàm quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành, xả, bất hại. 4. Phiền não tâm sở: Những phiền não căn bản, gồm 6 món: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. 5. Tùy phiền não tâm sở: Những tâm sở theo các phiền não căn bản mà sinh khởi, gồm 20 món: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật, khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri và tán loạn. 6. Bất định tâm sở: Những tâm sở không thuộc trong 5 loại trước gồm 4 món: Hối, miên, tầm, tứ... Đồ Biểu Như Sau: Lục Vị Biến hành 5: Xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư Biệt cảnh 5: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ Thiện 11: Tín, tinh tấn, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại Phiền não 6: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến Tùy phiền não 20: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật, khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, trạo cử, thất niệm, bất chánh tri, tán loạn Bất định 4: Hối, miên, tầm, tứ

lục vọng

Lục Vong—Chỉ sáu căn là những kẻ dẫn dắt chúng sanh đến chỗ mê lầm—The six misleaders, the six senses—See Lục Căn.

lục xuất ly giới

Nissaraniya-dhatuyo (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu xuất ly giới—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six elements making for deliverance: 1) Tu Tập Từ Tâm Giải Thoát—Having developed the emancipation of the heart through LOVING-KINDNESS: Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm cho thành cỗ xe, làm thành căn cứ an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta.” Vị ấy cần phải được bảo như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Đại Đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy.” Những lời nói của vị nầy là vô căn cứ và không thể nào như vậy được. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, sân tâm không thể nào ngự trị và an trú nơi kẻ ấy được—Here a monk might say “I have developed the emancipation of the heart by LOVING-KINDNESS (metta), expanded it, made it a vehicle and a base, established, worked well on it, set it well in train. And yet ill-will still grips my heart. He should be told :No! Do not say that!Do not misrepresent the Blessed Lord, it is not right to slander him thus, for he would not have said such a thing! Your words are unfounded and impossible. If you develop the emanicipation of the heart through loving-kindness, ill-will has no chance to envelop your heart. This emancipation through loving kindness is a cure for ill-will. 2) Tu Tập Bi Tâm Giải Thoát—Emancipation of heart through compassion: Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập tâm bi giải thoát, tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emanicipation of the heart through compassion (karuna), and yet cruelty still grips my heart.” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Giới 1). 3) Tu Tập Hỷ Tâm Giải Thoát—Emancipation of the heart through sympathetic joy (mudita): Ở đây vị Tỳ Kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emancipation of the heart through sympathetic joy,… and yet aversion (prati) still grips my heart.” (threst remains the same sa in Lục Xuất Ly Giới 1). 4) Tu Tập Xả Tâm Giải Thoát—Emancipation of the heart through equanimity: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Ta đã tu tập xẻ tâm giải thoát, tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta.”—Here a monk might say: “I have developed the emancipation of the heart through equanimity (upeka,…, and yet lust (rago) grips my heart.” 5) Tu Tập Vô Tướng Tâm Giải Thoát—The signless emancipation of the heart: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, tuy vậy tâm ta vẫn chạy theo các tướng.”—Here a monk might say: “I have developed the signless emancipation of the heart, and yet my heart still hankers after signs (nimittanusari-hoti).” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Tướng 1). 6) Tu Tập Khước Từ Sự Ngạo Mạn “tôi có mặt,” mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát—The emancipation of the heed to the idea: 'I am this,' means the emancipation of doubts, uncertainties, and problems: Ở đây vị Tỳ Kheo nói: “Quan điểm 'tôi có mặt,' 'tôi bị từ khước,' 'tôi là cái nầy,' không được tôi chấp nhận, tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú trong tôi.”—Here a monk might say: “The idea 'I am is repellent to me, I pay no heed to the idea: I am this.” Yet doubts, uncertainties and problems still grip my heart.” (the rest remains the same as in Lục Xuất Ly Giới 1).

lục xích đan

(六尺單) Chỉ cho đơn (cái giường) của mỗi vị tăng đặt trong nhà Thiền. Vì đơn này có chiều dài 6 thước (Tàu) và rộng 3 thước nên gọi là Lục xích đơn (giường 6 thước). Tấm ván gỗ ở trước giường gọi là Đơn bản; tấm ván này rộng khoảng 8 tấc, tính theo thước đời nhà Chu thì là 1 thước. Nếu lấy chiều dài của đơn là 6 thước cộng thêm với 1 thước đơn bản, thì gọi là Thất xích đơn. Vì thế, trong Thiền lâm thường dùng các từ ngữ Lục xích đơn, Thất xích đơn, hoặc Thất xích đơn tiền để gọi thay cho giường của chúng tăng. [X. chương Kế viên thiền sư trong Tục truyền đăng lục].

lục xúc

xem sáu xúc. ; See Lục Tài. ; (六觸) Chỉ cho 6 tác dụng tinh thần do 6 căn, 6 cảnh và 6 thức hòa hợp mà sinh ra. Đó là: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tị xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. 1. Nhãn xúc sinh ái: Mắt tiếp xúc với những màu sắc, hình dáng xinh đẹp ở thế gian mà sinh tâm ưa thích, không chịu lìa bỏ. 2. Nhĩ xúc sinh ái: Tai thường tiếp xúc với tất cả tiếng ca hát, đàn sáo, âm điệu du dương ở thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. 3. Tị xúc sinh ái: Mũi thường tiếp xúc với các mùi thơm ở thế gian như chiên đàn, trầm thủy v.v... mà tâm sinh ưa thích, không lìa bỏ. 4. Thiệt xúc sinh ái: Lưỡi thường tiếp xúc với tất cả hương vị thơm ngon của thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. 5. Thân xúc sinh ái: Thân tiếp xúc với làn da mịn màng trơn láng của người nam, người nữ mà sinh tâm ham thích, không lìa bỏ. 6. Ý xúc sinh ái: Ý thường duyên theo tất cả các pháp như sắc, thanh, hương, vị, xúc của thế gian mà sinh tâm ưa thích, không lìa bỏ. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; luận Câu xá Q.10; luận Thuận chính lí Q.29; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1].

lục xúc thân

Phassa-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu xúc thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of contacts: 1) Nhãn Xúc: Eye-contact. 2) Nhĩ Xúc: Ear-contact. 3) Tỷ Xúc: Nose-contact. 4) Thiệt Xúc: Tongue-contact. 5) Thân Xúc: Body-contact. 6) Ý Xúc: Mano-samphasso (p)—Mind-contact.

Lục xứ

六處; hoặc Lục nhập (六入); S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|»Sáu xứ« tức là sáu đối tượng của sáu giác quan (Lục căn): 1. Sắc xứ, đối tượng của mắt, 2. Âm thanh, đối tượng của tai, 3. Hương, đối tượng của mũi, 4. Vị, đối tượng của lưỡi, 5. Xúc, cảm xúc, đối tượng của thân, 6. Tâm Pháp (tâm pháp có thể là một ý nghĩ, một khái niệm…), đối tượng của ý. Trong Mười hai nhân duyên, sáu xứ chính là yếu tố thứ 5 – lục nhập – chúng là đối tượng cảm nhận của người vừa sinh ra (Danh sắc), chúng làm cho con người có Xúc (s: sparśa) với thế giới bên ngoài.

lục xứ

Sadayatana (skt)—Sáu nơi sinh thức, một trong mười hai nhân duyên. Chúng chính là Lục căn hay Lục Nhập—The six places or abodes of perception or sensation, one of the nidanas. They are the six organs of sense, but this term is also used for the six entrances—See Lục Căn, Lục Cảnh, and Lục Nhập.

lục y

Sáu giác quan hay sáu chỗ để nhận biết—The six senses on which one relies or from which knowledge is received: 1) Mắt: Eyes. 2) Tai: Ears. 3) Mũi: Nose. 4) Lưỡi: Tongue. 5) Thân: Body. 6) Ý: Mind. ** For more information, please see Lục Tình.

lục ác

(六惡) Chỉ cho 6 cái: Ác thời, Ác thế giới, Ác chúng sinh, Ác kiến, Ác phiền não, Ác tà vô tín thịnh thời. 1. Ác thời: Thời đại xấu ác, chỉ cho kiếp trược. 2. Ác thế giới: Thế giới xấu ác, tức thế giới Sa bà. 3. Ác chúng sinh: Chúng sinh xấu ác, tức Chúng sinh trược trong 5 trược ác. Nghĩa là do cái thấy vẩn đục, phiền não vẩn đục mà sinh ra tư tưởng xấu ác, phiền não xấu ác. 4. Ác kiến: Tức là kiến trược, lấy 5 lợi sử như thân kiến, biên kiến v.v... làm thể. 5. Ác phiền não: Phiền não vẩn đục, nghĩa là duyên theo cảnh ngũ dục mà khởi các phiền não tham, sân v.v... 6. Ác tà vô tín thịnh thời: Thời đại trong đó những điều gian tà bất tín thịnh hành. Từ gọi chung khi cường độ của 5 trược tăng lên kịch liệt.

lục ái thân

Tanha-kaya (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có sáu ái thân—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are six groups of craving: 1) Sắc Ái: Craving for sights. 2) Thanh Ái: Craving for sounds. 3) Hương Ái: Craving for smella. 4) Vị Ái: Craving for tastes. 5) Xúc Ái: Craving for touches. 6) Pháp Ái: Craving for mind-objects.

lục điểm tái sanh

Theo Kinh A Hàm thì Phật dạy rằng phàm một người khi đã chết thì thân thể trở nên lạnh giá vì hỏa đại đã tắt mất. Tuy nhiên, sau khi tắt thở rồi, nhưng trong thân thể cũng vẫn còn một chỗ nóng tối hậu trước khi hoàn toàn trở nên lạnh giá. Nơi nào Thần Thức thoát ra sau cùng thì nơi đó là nơi còn ấm sau cùng trong thân thể, và có sáu nơi tiêu biểu cho sáu đường tái sanh, hoặc nóng nơi đỉnh đầu, nóng ở mắt, nóng nơi ngực, nóng nơi bụng, nóng nơi đầu gối, hoặc nóng nơi hai lòng bàn chân. Thỉnh thoảng điểm nóng nầy vẫn còn nóng đến bốn năm tiếng đồng hồ sau khi chết. Có sáu điểm nóng tối hậu tiêu biểu cho sự tái sanh nơi lục đạo—The Buddha taught in the Agama sutra that once death arrives, the body will turn cold because the 'great fire' has already burned out. Even so, after all breathing has ceased, in the body there is one last warm spot before the entire body turns cold. The last warm spot represents the place where the conciousness of the deceased escaped the mortal body, and these warm spots may be at the crown of the head, the eye, the chest, the stomach, the knee, or the soles of both feet. Sometimes this warm spot will remain for as long as four to five hours after the person has died. There are six places in the body that represent the six paths of rebirth: 1) Đảnh Thánh—The crown (warm spot) stands for Sainthood or Corwn Enlightenment: Khi một người đã chết được vài giờ, khắp thân thể chỗ nào cũng giá lạnh như băng, nhưng vẫn còn điểm nóng trên đỉnh đầu, nghĩa là thần thức của người nầy do nơi đỉnh đầu mà xuất ra khỏi thân xác, tức là người ấy tái sanh vào cõi Thánh. Nói cách khác, khi thần thức của người chết xuất ra từ nơi đỉnh đầu, chúng ta biết chắc là thần thức của người ấy được siêu thoát về nơi Thánh cảnh—When the body of the deceased (a person who has died for three or four hours) is completely cold except for the crown. That means the spirit of the dead has left the body by the way of the crown and the person has been reborn in the realm of saint. In other words, if the spirit left the body through the crown of the head, we are absolutely certain the spirit of the person who has just died has attained liberation to the enlightened realm. 2) Mắt sanh Thiên: Khi điểm nóng sau cùng trên thân thể là hai mắt và trán thì thần thức của người ấy đã sanh về cõi trời—When the person's eyes and forehead are the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn in the celestial (heaven) realms. 3) Tim Người: Khi điểm nóng sau cùng nơi tim, là thần thức của người ấy đã sanh lại cõi người—When the person's heart is the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn back among human beings. 4) Bụng Ngạ quỷ: Khi điểm nóng sau cùng trong thân thể là bụng, thì thần thức của người ấy đã sanh làm ngạ quỷ—When the person's belly is the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn among hungry ghosts. 5) Đầu gối Bàng sanh: Khi điểm nóng sau cùng trong thân thể là đầu gối, thì thần thức của người ấy đã tái sanh vào loại bàng sanh (thú)—When the person's knees are the last to remain warm, the spirit of that person has been reborn among animals. 6) Lòng bàn chân Địa ngục: Khi điểm nóng sau cùng trong thân là lòng bàn chân, thì thần thức của người ấy đã bị đọa vào địa ngục—When the person's soles of the feet are the last to remain warm, the spirit of that person has been fallen in the hell.

Lục đáo bỉ ngạn

六到彼岸; C: liùdàobǐàn; J: rokutōhigan;|Sáu pháp Ba-la-mật. Lục Ba-la-mật (六波羅蜜).

lục đáo bỉ ngạn

Sáu Ba La Mật đưa chúng sanh qua bờ giác ngộ—The six things that ferry one to the other shore—See Lục Độ Ba La Mật in Vietnamese-English Section.

lục đại

Lục Giới—Sad-dhatavah (skt)—The six great or fundamental things or elements: 1) Địa Giới: Địa Đại—Đất—Earth element. 2) Thủy Giới: Thủy Đại—Nước—Water element. 3) Hỏa Giới: Hỏa Đại—Lửa—Fire element. 4) Phong Giới: Phong Đại—Gió—Wind or Air element. 5) Không Giới: Không Đại—Hư không—Space element. 6) Thức Giới: Thức Đại—Tâm Thức—Mind or Perception. ; (六大) Phạm:Wađ-dhàtu. Cũng gọi Lục giới. Chỉ chung cho 6 nguyên tố căn bản: Đất (Phạm:pfthivì), nước (Phạm: ap), lửa (Phạm:tejas), gió (Phạm:vàyu), không (Phạm:àkàza) và thức (Phạm:vijĩàna). Vì đây là 6 yếu tố cấu tạo thànhthế gian hữu tình, vô tình và có mặt ở cùng khắp pháp giới nên gọi là Đại. Cứ theo luận Câu xá quyển 1, đất, nước, lửa, gió là 4 đại chủng năng tạo, là chỗ nương của tất cả vật chất; Không đại (không giới) chỉ cho những khe hở trong ngoài, cũng là nhân sinh trưởng muôn vật; Thức đại chỉ cho các thức hữu lậu, là chỗ nương cho sự sống còn của các loài hữu tình. Năm đại trước thuộc về Sắc pháp (vật chất), đại thứ 6 thuộc Tâm pháp (tinh thần). Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 3 thêm Căn đại vào nữa thành là 7 đại. Mật giáo cho 6 đại này là bản thể của vạn hữu, rồi lập ra các thuyết Lục đại thể đại, Lục đại duyên khởi. Tức chủ trương cho rằng 6 đại hiện hữu khắp vũ trụ, trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ 6 đại, hết thảy vạn hữu đều do 6 đại tạo thành. Nói theo tính chất cùng khắp thì gọi là Lục đại, còn nói theo sở y (chỗ nương) của tất cả sự vật thì gọi là Thể đại. Sáu đại này hiện diện trong nhau, dung hòa khắp trong nhau không ngăn ngại, cho nên còn được gọi là Lục đại vô ngại. Mỗi một đại đều có đủ 5 đại kia dung nhập đều khắp, gọi là Dị loại vô ngại, còn 6 đại của A và 6 đại của B giống như đất với đất vô ngại, dung hòa vào nhau, tràn khắp trong nhau, thì gọi là Đồng loại vô ngại. Chẳng hạn như vật là tâm, tâm là vật, đó là nghĩa dị loại vô ngại (khác loài mà không trở ngại nhau); 6 đại của sự thành Phật cũng tức là 6 đại của sự đọa địa ngục, đó là nghĩa đồng loại vô ngại (cùng loài không ngăn trở nhau). Sáu đại dị loại, đồng loại dung hợp trong nhau, trùm khắp trong nhau là bản thể của vạn hữu, 6 đại vốn thường nhiên như thế (pháp nhĩ như thị). Sáu đại thường nhiên này nương theo nhân duyên mà hiện ra sum la vạn tượng, đó gọi là Lục đại tùy duyên. Căn cứ vào 6 đại mà bàn về sự duyên khởi của vạn hữu, thì gọi là Lục đại duyên khởi. Nhưng pháp nhĩ (thường nhiên, tự nhiên), tức tùy duyên, tùy duyên tức pháp nhĩ, cho nên đối với sự thực hiện tiền mà nói vạn tượng tức là thực tại. Mật giáo cũng căn cứ vào ý nghĩa về sắc, hình hoặc tác dụng để phân biệt 6 đại, như 5 đại trước là sắc pháp, là lí, thuộc Thai tạng giới, còn Thức đại thì là tâm pháp, là trí, thuộc Kim cương giới. Nhưng Kim cương giới và Thai tạng giới tuy là 2 mà chẳng phải là 2. Ngoài ra, 6 đại cũng có thể tạo ra 4 loại pháp thân, 3 loại thế gian, vì thế mà có thuyết Lục đại pháp thân, điều này cho thấy tất cả phàm thánh đều do 6 đại tạo thành, đều có đủ tính đức, nên có thể tức thân thành Phật [X. kinh Kim cương đính Q.1; phẩm Bí mật kinh Đại nhật Q.5; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Đại tì bà sa Q.75; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].

lục đại duyên khởi

(六大緣起) Thuyết Duyên khởi của Mật giáo. Thuyết này cho rằng hết thảy mọi hiện tượng trong vũ trụ đều do 6 đại sinh khởi. (xt. Lục Đại, Duyên Khởi Luận).

lục đại hữu tình

Chúng hữu tình quan hệ trực tiếp với lục đại—The animate are connected directly with the six great or fundamental things—See Lục Đại.

lục đại năng sinh

(六大能生) Sáu đại: Đất, nước, lửa, gió, không và thức sinh ra 4 loại pháp thân (Tự tính pháp thân, Thụ dụng thân, Biến hóa pháp thân, Đẳng lưu pháp thân), 4 loại Mạn đồ la (Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn đồ la), 3 loại thế gian (Khí thế gian, Chúng sinh thế gian, Trí chính giác thế gian) và hiển bày lí thường trụ của các pháp. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Bí tạng kí Q.cuối].

lục đại phiền não

Sáu phiền não lớn—The six great klesa, passion or distressers: 1) Tham Phiền Não: Raga (skt)—Phiền não gây ra bởi tham ái hay muốn có (nhiễm trước thành tính rồi sinh ra khổ nghiệp)—Afflictions caused by desire or desire to have—See Tham Ái. 2) Sân Phiền Não: Pratigha (skt)—Phiền não gây ra bởi sân hận (do căm ghét mà thành tính, dựa vào bất an và ác hành mà tạo thành nghiệp)—Afflictions caused by resentment or anger. 3) Si Phiền Não: Mudhaya (skt)—Phiền não gây ra bởi si mê (mê muội mờ ám về sự lý mà thành tính, dựa vào những nghi hoặc mà tác thành nghiệp)—Afflictions caused by stupidity or ignorance. 4) Mạn Phiền Não: Mana (skt)—Phiền não gây ra bởi kiêu ngạo (do thói cậy mình tài hơn người mà thành tính và sanh ra khổ nghiệp) —Afflictions caused by pride or self-conceit. 5) Nghi Phiền Não: Vicitiksa (skt)—Phiền não gây ra bởi nghi hoặc (do ngờ vực về chân lý mà thành tính, từ đó ngăn cản tín tâm rồi hành động tà vạy mà thành nghiệp)—Afflictions caused by doubt. 6) Ác Kiến Phiền Não: Drishti (skt)—Phiền não gây ra bởi ác kiến hay tà kiến (do ác kiến suy nghĩ đảo điên mà thành tính, ngăn cản thiện kiến rồi hành động tà vạy gây ra ác nghiệp)—Afflictions caused by False views. ** For more information, please see Tứ Đại Phiền Não.

lục đại pháp tánh (tính)

Có hai mặt tướng và tánh. Những thứ mà mắt của phàm phu trông thấy được chỉ là sự tướng của nhau, còn những thứ mà Thánh trí nhìn thấy mới chính là pháp tính nhất vị bình đẳng của lục đại—The unity in variety of the six elements and their products. Ordinary eyes see only the differentiated forms or appearances, the sage or philosopher sees the unity.

lục đại pháp tính

(六大法性) Trong con mắt của bậc thánh trí thì pháp tính của 6 đại: đất, nước, lửa,gió, không, thức là nhất vị bình đẳng. nhưng đối với phàm phu thì họ chỉ thấy ngàn sự tướng sai biệt.

lục đại quán

Pháp quán tưởng về lục đại—Meditation on the six elements. 1) Hiển giáo quán lục đại là không thật, là bất tịnh—The exoteric cult believes that they are unreal and unclean. 2) Mật giáo cho rằng lục đại ở Phật thế nào thì ở chúng sanh cũng thế ấy, nên họ chủ trương quán lục đại một cách viên dung vô ngại—The esoteric cult believes that the Buddha and human elements are of the same substance and interchangeable. ; (六大觀) pháp quán 6 đại: đất, nước, gió, lửa, không và thức. hiển giáo quán 6 đại là không, bất tịnh; còn mật giáo thì quán 6 đại là viên dung vô ngại.

lục đại thành

(六大城) sáu đô thành lớn nổi tiếng ở trung ấn độ vào thời đức phật còn tại thế. kinh niết bàn quyển 27 (bản nam) có nêu tên 6 đô thành lớn ấy là: thành xá bà đề (phạm: sràvastì), thành sa chỉ đa (phạm: sàketa), thành chiêm bà (phạm: campà), thành tì xá li (phạm: vaizàli), thành ba la nại (phạm: bàràịasì) và thành vương xá (phạm:ràjagriha). kinh trường a hàm quyển 2 thì lấy thành ca tì la vệ thay cho thành sa chỉ đa; kinh điển pàli đem thành kiêu thưởng di thay cho thành tì xá li. còn luật ma ha tăng kì quyển 33 thì thêm 2 thành: ca tì la vệ và kiêu thưởng di mà thành 8 đại thành.

lục đại thần

Sáu vị thần kiểm soát lục đại; mỗi vị kiểm soát một đại—The spirits of the six elements; each element controlled by a specific spirit: 1) Thần Đất: Vị Thần kiểm soát địa đại—The Earth Spirit who controls the earth. 2) Thần Nước: Vị Thần kiểm soát thủy đại—The Water Spirit who controls the water. 3) Thần Lửa: Vị Tần kiểm soát hỏa đại—The Fire Spirit who controls the fire. 4) Thần Gió: Vị Thần kiểm soát phong đại—The Wind Spirit who controls the wind. 5) Thần Hư Không: Vị Thần kiểm soát hư không đại—The Space Spirit who controls the space. 6) Thần Tâm Thức: Vị Thần kiểm soát thức đại—The Mind Spirit who controls the mind.

lục đại thể đại

(六大體大) lục đại: đất, nước, lửa, gió, không và thức là thể tính của các pháp. lục đại trùm khắp pháp giới, cho dù trong 1 hạt bụi, 1 mảy lông cũng có đủ lục đại, không 1 vật gì mà không do lục đại tạo thành. ở đây căn cứ vào nghĩa phổ biến mà gọi lục đại, còn căn cứ vào nghĩa sở y (chỗ nương) mà gọi là thể đại. đây là 1 trong 3 thuyết về tam đại (thể đại, tướng đại, dụng đại) do mật giáo thành lập. (xt. tam đại, lục đại).

lục đại tặc

See Lục Đại.

lục đại vô ngại

Lục Đại Thể Đại—Tự tính của lục đại là thông dung vô ngại—Lục đại vô ngại tuy gồm chung cho cả Hiển và Mật giáo, nhưng luận về lục đại thì Mật giáo cho rằng tự tính của lục đại vô ngại bình đẳng, nên lục đại của Phật và lục đại của chúng sanh thông dung với nhau mà không gián cách, phàm phu luôn tìm cách gián cách nên khởi lên vọng kiến phân biệt bỉ, thử, ta, người, nầy, nọ—The six elements unimpeded, or interactive—The six elements in their greater substance, or whole. The doctrine of the esoteric cult of transubstantiation, or the free interchangeability of the six Buddha elements with the human, like with like, whereby yoga becomes possible, such as the Buddha elements entering the possessing the human elements, for both are of the same elemental nature. ; (六大無礙) sáu nguyên tố viên dung vô ngại. lục đại là 6 nguyên tố lớn (đất, nước, lửa, gió, không, thức) tạo ra vạn hữu, vì 6 nguyên tố này rộng lớn, trùm khắp pháp giới, nên gọi là lục đại; lục đại này là thể tính của pháp giới, hòa nhập vào nhau, dung thông lẫn nhau mà không trở ngại nhau, nên gọi là lục đại vô ngại. đây là thuyết của mật giáo. (xt. lục đại).

Lục Đạo

(s: ṣaḍ-gati, j: rokudō, 六道): hay còn gọi là Lục Thú (六趣), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra, gồm có: (1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), (2) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), (3) Súc Sanh (s; tiryagoni, p: tiracchāna, 畜生), (4) Tu La (s, p: asura, 修羅), (5) Con Người (s: manuṣya, p: manussa, 人間) và (6) Cõi Trời (s, p: deva, 天). Cũng có truyền thuyết theo thứ tự Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và quan điểm gộp chung Tu La vào Địa Ngục để trở thành Ngũ Đạo (五道). Gati vốn phát xuất từ động từ √gam, nguyên ý là “sự đi, con đường”, được dịch là “đạo (道)” hay “thú (趣)”; tuy nhiên, trường hợp Lục Đạo thì có nghĩa là “cảnh giới, trạng thái sinh tồn”. Kết hợp với Tứ Sanh (四生), có dụng ngữ Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生). Lục Đạo là tông thể phân loại về 4 hình thức sanh ra gồm thai sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh, từ đó nó bao quát hết toàn bộ tồn tại luân hồi. Luân hồi trong Lục Đạo được gọi là Lục Đạo Luân Hồi (六道輪廻). Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc dưới thời Hậu Hán, quan niệm về Luân Hồi và Lục Đạo được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội nước này và trở thành tác động to lớn đối với người dân Trung Quốc vốn mang chủ nghĩa hiện thế trung tâm. Đặc biệt, sức mạnh báo động có hình ảnh Địa Ngục đã sản sinh ra những đồ hình biến tướng của Địa Ngục vốn miêu tả thảm cảnh ở cõi này, các Minh Báo Ký (冥報記) lưu truyền những câu chuyện bị đọa xuống Địa Ngục, hay văn học truyền khẩu, v.v; và tạo ảnh hưởng rộng rãi cho mỹ thuật cũng như văn học. Chính Đạo Giáo cũng lấy tư tưởng Lục Đạo của Phật Giáo để hình thành nên quan niệm Lục Đạo tương tợ như vậy. Hơn nữa, quan niệm cho rằng phạm tội ở đời này sẽ bị luân hồi trong Lục Đạo đã trở thành cơ duyên làm cho mọi người thức tỉnh về tội nghiệp của tự thân; cho nên, dưới thời đại Nam Bắc Triều, rất nhiều bản văn sám hối cầu nguyện cho tội lỗi tiêu trừ đã được sáng tác ra. Khi tư tưởng mạt pháp từ cuối thời Nam Bắc Triều cho đến thời Tùy Đường được quảng bá, niềm tin về đức A Di Đà Phật (阿彌陀佛), Địa Tạng (地藏), Quan Âm (觀音) cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ bị luân hồi trong Lục Đạo trở nên rất thịnh hành. Từ thời Ngũ Đại cho đến nhà Tống, trên các bức bích họa ở động Đôn Hoàng (敦煌) thỉnh thoảng xuất hiện hình Lục Đạo. Trong Thiên Thai Tông, tín ngưỡng về Lục Quan Âm (六觀音) được phối trí theo từng cảnh giới của Lục Đạo cũng khá phổ biến. Tại Nhật Bản, từ Lục Đạo, Địa Ngục, v.v., xuất hiện đầu tiên trong Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記, Nihonryōiki), nếu so sánh thì quan niệm về Lục Đạo rất lạc quan. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 10, theo đà băng hoại của Chế Độ Luật Lịnh, trong những biến động và chiến loạn của xã hội, tư tưởng mạt pháp và quán sát vô thường càng mạnh hơn thêm; từ đó, quan niệm về Lục Đạo trở nên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt, trong phần Lục Đạo Giảng Thức (六道講式徃生) của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) cũng như Nhị Thập Ngũ Tam Muội Thức (二十五三昧式), Nguyên Tín (源信, Genshin) có miêu tả về sự khủng khiếp của Lục Đạo và đã tạo ảnh hưởng khá lớn cho văn học cũng như mỹ thuật. Do đó, Bảo Vật Tập (寳物集, Hōbutsushū) nói về nỗi khổ của Lục Đạo và khai thị 12 cửa vãng sanh, Bình Gia Vật Ngữ (平家物語, Heikemonogatari) lấy sự sa thải của Lục Đạo trong Quán Đảnh Quyển (灌頂巻) để làm nội dung cho toàn quyển, hay Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) làm cho liên tưởng đến những nghiệp khổ trong ác đạo thông qua các thiên tai như hỏa tai, gió lớn, nghèo đói, động đất, v.v., đều là những tác phẩm có ảnh hưởng sâu đến tư tưởng Lục Đạo. Mặt khác, từ giữa và cuối thời Bình An trở đi, các bức tranh bình phong cũng như tranh vẽ về Lục Đạo được phổ biến rộng rãi. Hiện còn lại một số tác phẩm tiêu biểu như Địa Ngục Thảo Chỉ (地獄草紙, Jigokusōshi), Ngạ Quỷ Thảo Chỉ (餓鬼草紙, Gakisōshi), Bệnh Thảo Chỉ (病草紙, Yamaisōshi), v.v., thuộc hậu bán thế kỷ 12. Hơn nữa, vào thời kỳ biến động và chiến loạn, tín ngưỡng về Lục Quan Âm cũng như Địa Tạng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, Địa Tạng được gọi là “bậc có thể hóa độ chốn Lục Đạo”, đến thế kỷ thứ 11 thì tín ngưỡng Lục Địa Tạng cho rằng ngài có mặt khắp các cõi để cứu độ hết thảy chúng sanh, được hình thành. Đến cuối thời Liêm Thương trở đi, kết hợp với Thần Tạ Ơn, Thần Tổ Đạo, tại các ngã tư đường cũng như cửa vào mộ địa, người ta có đặt 6 bức tượng Địa Tạng. Những ngã tư như vậy được xem như là nơi người chết phân chia theo sáu đường, cho nên có tên gọi là “Ngã Tư Lục Đạo”. Như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, CBETA No. 21) có câu: “Bi tăng phổ hóa thị uy linh, Lục Đạo luân hồi bất tạm đình, giáo hóa yếm khổ tư an lạc, cố hiện Diêm La Thiên Tử hình (悲增普化示威靈、六道輪迴不暫停、敎化厭苦思安樂、故現閻羅天子形, buồn thêm hóa độ hiện oai linh, sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng, giáo hóa bỏ khổ vui an lạc, nên hiện Diêm La Thiên Tử hình).”

Lục đạo

六道; C: liùdào; J: rokudō; S: ṣaḍakula;|Sáu đường tái sinh; chỉ các dạng đời sống (gati) trong Luân hồi, trong Vòng sinh tử. Người ta phân biệt ba »thiện đạo« và ba »ác đạo« Ba thiện đạo gồm có cõi người (人; s: nāra), Thiên (天; s: deva) và A-tu-la (阿修羅; s: āsura). Ba ác đạo gồm Ngạ quỷ (餓鬼; s: preta), Ðịa ngục (地獄; s: nāraka) và súc sinh (畜生; s: paśu). Sáu cõi này nằm trong Ba thế giới.|Ba thế giới gồm có dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dục giới gồm sáu cõi thiên thấp nhất, loài người… Sắc giới gồm 17 tầng thiên giới và vô sắc giới gồm 4 tầng trời thiền định. Các thế giới này không khác nhau về thể tính, chỉ khác về nghiệp. Trong cả ba thế giới này thì thọ mệnh đều có hạn, tuy nhiên chỉ có loài người trong ba thế giới đó mới được giải thoát, vì thế đạo Phật coi trọng thân người hơn thiên giới và gọi là »thân người quý báu« Trong luân hồi, được sinh làm người được xem là hiếm hoi và là cơ hội quý báu để giác ngộ.

lục đạo

cũng gọi là lục thú, sáu đường luân hồi, sáu nẻo luân hồi, bao trùm tất cả mọi loài chúng sanh. Đó là: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Hết thảy chúng sanh trong vòng luân hồi đều rơi vào một trong sáu nẻo này, tùy theo nghiệp lực. ; Lục Thú—Sáu đường luân hồi của chúng sanh (chúng sanh tạo các nghiệp khác nhau rồi bị nghiệp lực thúc đẩy, dẫn dắt đến sáu loại đầu thai, qua lại trong sáu nẻo, sanh rồi tử, tử rồi sanh, như bánh xe xoay vần, không bao giờ dừng nghỉ, hoặc vào địa ngục, hoặc làm quỷ đói, hoặc làm súc sanh, hoặc A Tu La, hoặc làm người, hoặc làm trời, Đức Phật gọi đó là luân chuyển trong lục đạo)—Six paths—The six ways or conditions of sentient existence—Six miserable states (sentient beings revolve in the cycle of Birth and Death, along the six paths, life after life. These are paths of hell-dwellers, hungry ghosts, animals, titanic demons or asuras, human beings and celestials): (A) Hạ Tam Đồ hay ba đường dữ: Tri-Akusala (skt)—The three lower gatis, or three evil paths: 1) Địa Ngục Đạo: Naraka-gati (skt)—Hells—Tiếng Phạn là Naraka, nghĩa là lãnh đủ mọi sự khổ não, không an vui. Đây là cảnh giới địa ngục—The state of being in Hell. • Đây là điều kiện sống thấp nhất và khốn khổ nhất—This is the lowest and most miserable condition of existence. • Chúng sanh (A-Lại-Da thức) bị đọa vào địa ngục vì những hành vi độc ác làm nhiều điều tội lỗi hại người hại vật (loại nầy ở chỗ tối tăm, bị tra tấn thường xuyên do tội hành nghiệp chiêu cảm). Trong cõi địa ngục thì sự khổ không có bút mực nào mà tả cho xiết—Sentient being (alaya-consciousness) is condemned to stay in Hell due to his worse karma. In the hellish path, the sufferings there are so great that no words can describe them. • See Địa Ngục. 2) Ngạ Quỷ Đạo: Preta-gati (skt)—Tiếng Phạn là Preta. Đây là cảnh giới ngạ quỷ, nơi tái sanh của những kẻ tham lam, ích kỷ và dối gạt (trong các loài quỷ thì quỷ đói chiếm đa số. Các loài quỷ chịu quả báo không đồng, kẻ nào có chút ít phước báo thì được sanh nơi rừng núi, gò miếu; loài không có phước báo thì thác sanh vào những chỗ bất tịnh, ăn uống thất thường, bị nhiều nỗi khổ sở. Chúng sanh độc ác bị tái sanh vào ngạ quỷ, thấy suối nước như thấy máu mủ, cổ nhỏ như cây kim, bụng ỏng như cái trống chầu, có khi đồ ăn vừa vào đến miệng, đã trở thành than hồng, không thể nào nuốt được, chịu đại khổ não suốt đời cùng kiếp). Ở cõi ngạ quỷ chúng sanh thân thể xấu xa hôi hám, bụng lớn như cái trống, cồ nhỏ như cây kim, miệng phục ra lửa mỗi khi nuốc thức ăn, và chịu cảnh đói khát trong muôn ngàn kiếp—The state of hungry ghosts—Starved ghosts realm where greedy, selfish and deceitful souls are reborn. In the path of hungry ghosts, beings have ugly, smelly bodies, with bellies as big as drums and throats as small as needles, while flames shoot out of their mouths. They are subject to hunger and thirst for incalculable eons. 3) Súc Sanh Đạo: Tiryagyoni-gati (skt)—Tiếng Phạn là Tiryagyoni, nghĩa là loài chúng sanh sanh ra để bị người đời hành hạ và ăn thịt. Đây là cảnh giới súc sanh, nơi tái sanh của những kẻ si mê, sa đọa, tửu sắc, bài bạc, đối trá và tà dâm (trên từ rồng, thú, cầm, súc; dưới đến thủy tộc và loài côn trùng, không bao giờ đi thẳng được như con người hay chư Thiên. Loài nầy thường giết hại và ăn thịt lẫn nhau, đồng loại thì ỷ mạnh hiếp yếu. Ngoài ra, chúng còn bị con người sai sử chuyên chở và đánh đập). Cõi bàng sanh như loài trâu, bò, lừa, ngựa bị sự khổ chở kéo nặng nề. Loài dê, heo, vịt, gà, thì bị sự khổ về banh da xẻ thịt làm thức ăn cho loài người. Các loài khác thì chịu sự khổ về ngu tối, nhơ nhớp, giết hại và ăn uống lẫn nhau—Animality—The state of animals—Animals' realm reserved for those souls who are dull-witted, depraved, or have committed fornication. The path of animals, such as buffaloes, cattle, donkeys and horses, is subject to heavy toil. Other domestic animals, such as goats, pigs, chicken and ducks, are subject to be killed to make food for human beings. Still other animals suffer from stupidity, living in filth, and killing one another for food. (B) Thượng Tam Đồ hay ba đường lành:Tri-Kusala (skt)—The three upper gatis, or three good paths—Trong ba đường lành nầy thì hai đường người trời rất khó được sanh vào, trong khi bị đọa vào a-tu-la và hạ tam đồ thì lại dễ dàng và thông thường—Among the three upper gatis, rebirth in the celestial or human paths is difficult, while descend into Asura path and other three lower gatis is easy and common: 4) A-Tu-La Đạo: Asura-gati (skt)—Tiếng Phạn gọi là Asura, nghĩa là tánh tình xấu xa, cũng có nghĩa là phước báo không bằng chúng sanh ở hai cõi người và trời. Đây là cảnh giới của những chúng sanh xấu ác, hay giận dữ, tánh tình nóng nảy, thích bạo động hay gây gỗ, và si mê theo tà giáo (chúng sanh trong cảnh giới nầy cũng có phước báo, nhưng lại bị tham vọng, dối trá, kiêu mạn, là quả của những tiền nghiệp lấn lướt, nên tâm thường hay chứa đầy tức giận và chấp trước)—The state of angry demons—Asuras' realm where those who are wicked, hot-tempered, violent or are initiated into paganism (the path of asuras is filled with quarrelling and acrimonious competition). 5) Nhân Đạo: Manusya-gati (skt)—Cảnh giới của con người, hay thế giới của chúng ta, nơi mà những chúng sanh nào thọ trì ngũ giới sẽ được tái sanh vào (cõi nầy chúng sanh khổ vui lẫn lộn, tuy nhiên, thường bị cảnh khổ sở thiếu thốn, đói khát, lạnh nóng, sợ sệt, vân vân. Bên cạnh đó lại phải bị những lo âu sợ sệt về sanh, lão, bệnh, tử, chia ly, thương ghét. Khổ thì có tam khổ như khổ khổ, hoại khổ, hành khổ; hoặc ngũ khổ như sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, khổ vì phạm các tội mà bị trói buộc; hoặc bát khổ như sanh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm thạnh suy. Tuy cũng có những niềm vui, nhưng đây chỉ là niềm vui tạm bợ, vui để chờ buồn chờ khổ. Chúng sanh sanh vào cõi người, mà lại gặp được Phật pháp thì theo lời Phật dạy là một đại hạnh, vì đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho cuộc tu giải thoát)—The state of human-beings—Our earth, place where those who keep the basic five precepts are reborn. 6) Thiên Đạo: Deva-gati (skt)—Tiếng Phạn gọi là “Deva,” có nghĩa là sáng suốt, thanh tịnh, tự tại hay tối thắng. Thiên đạo hay cảnh giới chư thiên là nơi tái sanh của những chúng sanh nào giữ tròn năm giới, thực hành thập thiện nghiệp, và tránh thập ác (người sanh lên cõi trời thân được sáng suốt, vui nhiều hơn khổ, sự ăn mặc, cung điện, nhà cửa đều được sung sướng tốt đẹp, không thiếu thốn về vật chất). Cõi trời tuy vui vẻ hơn nhân gian, nhưng cũng còn tướng ngũ suy và những điều bất như ý—Celestials—The state of gods—Gods' realm is reserved to those who observe the five basic commandments and have practiced the Ten Meritorious Action and abstained to do the Ten Evil Deeds. Although the celestial path is blessed with more happiness than our world, it is still marked by the five signs of decay and the things that go against our wishes. ; (六道) cũng gọi lục thú. sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tùy theo nghiệp đã tạo. sáu đường ấy là: 1. địa ngục đạo (phạm: narakagati). 2. ngã quỉ đạo (phạm:preta-gati). 3. súc sinh đạo (phạm:tiryagyoni-gati). 4. tu la đạo (phạm:asura-gati). 5. nhân gian đạo (phạm:manuwya-gati). 6. thiên đạo (phạm: deva-gati). trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là tam ác đạo, 3 đường sau gọi là tam thiện đạo. sự thêm bớt đối với lục đạo tùy theo bộ phái mà có khác. theo luận đại tì bà sa quyển 172 và luận đại trí độ quyển 10, thì thuyết nhất thiết hữu bộ bỏ bớt a tu la đạo, chỉ nói ngũ đạo, độc tử bộ và các bộ khác thì lập lục đạo. trung quốc và nhật bản cũng theo thuyết lục đạo. ngoài ra, theo ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thêm thanh văn, duyên giác, bồ tát và phật vào lục đạo thì gọi là thập giới [x. kinh pháp hoa q.1; kinh đại bát niết bàn q.35 (bản bắc); luận đại trí độ q.30; câu xá luận quang kí q.8; vãng sinh yếu tập q.thượng]. (xt. ngũ thú a tu la).

lục đạo ca đà kinh

Hai bộ kinh nói về Lục đạo—The two Sutras dealing with the six ways of rebirth.

lục đạo luân hồi

(六道輪回) vòng quanh trong 6 đường sinh tử. sáu đường: địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, người, trời và a tu la. chúng sinh vì tạo các nghiệp, hoặc thiện hoặc ác, nên phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử mà chịu khổ trong 6 đường, nên gọi là lục đạo luân hồi. [x. kinh quá khứ hiện tại nhân quả q.2; luận đại tì bà sa q.172]. (xt. thập giới).

lục đạo nhân quả

The six states through which we pass according to the law of cause and effect—See Lục đạo in Vietnamese-English Section.

lục đạo năng hóa bồ tát

Bồ Tát có thể thay đổi vận mệnh của sáu đường sanh tử—Bodhisattvas who can change the lot of those in the six paths (gati)—See Lục Địa Tạng.

lục đạo phật bồ tát

The Buddhas and Bodhisattvas of the six gati, such as the six Ti-Tsang—See Lục Địa Tạng.

lục đạo tiền

(六道錢) tiền được chôn theo người chết, bắt đầu từ đời hán ngụy của trung quốc. theo sự vật kỉ nguyên quyển 9, vào đời hán, sau lễ an táng, lúc chiều tối, thân nhân đem tiền ra chôn ở nghĩa địa cho người chết tiêu dùng, gọi là hôn ngụ tiền (tiền gửi lúc chiều tối), đời sau, người ta đốt tiền giấy để thay thế. người nhật bản cũng bắt chước người trung quốc, khi liệm người chết, thường bỏ 6 đồng tiền bằng đồng vào trong quan tài, gọi là lục đạo tiền. thời gần đây cũng đã đổi dùng tiền giấy.

lục đạo tứ sanh

trong lục đạo có bốn loại chúng sanh hay bốn loại tái sanh—The four modes of the six rebirths or six gati: 1) Thai sanh: Sanh bằng tử cung—Womb. 2) Noãn Sanh: Sanh bằng trứng—Egg. 3) Thấp Sanh: Sanh nơi ẩm thấp—Moisture. 4) Hóa Sanh: Tự hóa ra—Transformation.

lục đạo tứ sinh

(六道四生) chỉ cho 6 đường thụ sinh: địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la, nhân gian và cõi trời, cùng với 4 hình thái sinh ra là: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh và hóa sinh, gọi chung là lục đạo tứ sinh. trong đó, người và súc sinh mỗi loài đều có đủ 4 hình thái sinh, ngạ quỉ thì có thai sinh và hóa sinh, còn địa ngục, cõi trời và trung hữu chỉ có hóa sinh. [x. luận câu xá q.8].

lục đạo tứ thánh

Sáu đường sanh tử và bốn nẻo Thánh—The six ways of rebirth and the four holy ways of rebirth: (A) Lục Đạo: The six gati—See Lục Đạo. (B) Tứ Thánh—The four holy ways of rebirth: 1) Thanh Văn: Sravakas. 2) Duyên Giác: Pratyeka-buddhas. 3) Bồ tát: Bodhisattvas. 4) Phật: Buddhas.

lục đạo xoay vần không mối hở, vô thường ập đến vạn duyên buông

Born and reborn endlessly in the six realms, when impermanence surges we must let go everything.

lục đầu thủ

(六頭首) chỉ cho 6 chức vụ đứng đầu 6 ban chuyên trách việc tu hành và giáo dục chúng tăng trong thiền lâm. tông lâm tế gọi 6 chức vụ: thủ tọa, thư kí, tạng chủ, tri khách, khố đầu, và dục chủ là lục đầu thủ. còn tông tào động thì gọi thủ tọa, thư kí, tri tạng, tri khách, tri dục và tri điện là lục đầu thủ. chỗ ngồi của 6 vị này được xếp ở bên vách phía tây (tây tự) của pháp đường. người ở địa vị cao nhất trong lục đầu thủ gọi là đại đầu thủ. [x. thiền uyển thanh qui q.5,6; bách trượng thanh qui q.hạ].

lục đế

Lục cú nghĩa pháp do Thắng Luận Sư (một trường phái ngoại đạo) đặt ra—The six logical categories of the Vaisesika philosophy (one of the heretic sects): 1) Thực: Bản thể—Dravya (skt)—Substance. 2) Đức: Thuộc tính—Guna (skt)—Quality. 3) Nghiệp: Tác dụng—Karman (skt)—Motion of activity. 4) Hữu: Samanya (skt)—Generality. 5) Dị Đồng: Visesa (skt)—Particularity. 6) Hòa Hợp: Samavaya (skt)—Inherence.

lục địa tạng

Sáu vị Bồ tát hóa thân của Ngài Địa Tạng trong nhóm Địa Tạng của Thai Tạng Giới, mỗi vị kiểm soát một trong sáu đường sanh tử—Six Bodhisattvas in the Ti-Tsang group of the Garbhadhatu, each controlling one of the six ways of sentient existence: 1) Đầu Đà Địa Tạng: Bồ tát Địa Tạng trong địa ngục tay cầm tràng phan hình đầu người—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the hells. 2) Bảo Châu Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi ngạ quỷ, tay cầm ngọc bảo châu—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of hungry ghosts. 3) Bảo Ấn Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ tát Địa tạng trong cõi súc sanh, duỗi tay kết bảo ấn Như Ý—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of animals. 4) Trì Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ tát Địa Tạng trong cõi A Tu La, hai tay thường nâng quả đất (biểu tượng của sự nâng đỡ)—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of Asuras. 5) Trừ Cái Chướng Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi người, trừ tám món khổ che lấp nhân loại—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with rebirth in the realm of human beings. 6) Nhật Quang Địa Tạng: Vị hóa thân của Bồ Tát Địa Tạng trong cõi trời, dùng ánh sáng soi rọi khiến cõi nhân thiên trừ được phiền não—Transformation body of Ti-Tsang Bodhisattva who deals with the realm of devas. ; (六地藏) chỉ cho 6 vị bồ tát địa tạng giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh trong 6 đường. về danh hiệu của 6 vị địa tạng trong các kinh quĩ ghi chép không giống nhau, nhưng trên đại thể thì đều có nguồn gốc từ 6 vị thượng thủ trong 9 vị tôn của viện địa tạng thuộc thai tạng giới nói trong đại nhật kinh sớ quyển 5. đó là: địa tạng, bảo xứ, bảo chưởng, trì địa, bảo ấn thủ và kiên cố ý. a. theo giác thiền sao, thì danh hiệu, vật cầm tay và cõi giáo hóa của 6 vị địa tạng như sau: 1. đại kiên cố: tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm kinh, giáo hóa cõi trời. 2. đại thanh tịnh: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn thí vô úy, giáo hóa cõi người. 3. thanh tịnh vô cấu: tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm phạm khiếp (hộp kinh), giáo hóa cõi a tu la. 4. đại quang minh:tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm ngọc như ý, giáo hóa cõi súc sinh. 5. đại đức thanh tịnh: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn dữ nguyện, giáo hóa cõi ngã quỉ. 6. đại định trí bi: tay trái cầm tích trượng, tay phải cầm bảo châu, giáo hóa cõi địa ngục. b. theo kinh thập vương, thì danh hiệu, vật cầm tay và cõi giáo hóa của 6 vị địa tạng như sau: 1. dự thiên hạ: tay trái cầm ngọc như ý, tay phải kết ấn thuyết pháp, giáo hóa cõi trời. 2. phóng quang vương: tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn dữ nguyện, giáo hóa cõi người. 3. kim cương chàng: tay trái cầm cờ kim cương, tay phải kết ấn thí vô úy, giáo hóa cõi a tu la. 4. kim cương bi: tay trái cầm tích trượng, tay phải kết ấn tiếp dẫn, giáo hóa cõi súc sinh. 5. kim cương bảo: tay trái cầm bảo châu, tay phải kết ấn cam lộ, giáo hóa cõi ngã quỉ. 6. kim cương nguyện: tay trái cầm cờ diêm ma, tay phải kết ấn thành biện, giáo hóa cõi địa ngục. [x. loại tụ danh vật khảo q.25; lạc dương thệ nguyện tự duyên khởi].

Lục Độ

(s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度): tức Lục Ba La Mật (六波羅蜜), Lục Ba La Mật Đa (六波羅蜜多), Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), còn gọi là Lục Độ Vô Cực (六度無極), Lục Đáo Bỉ Ngạn (六到彼岸). Ba La Mật (s, p: pāramitā, 波羅蜜) dịch là Độ (度), nghĩa là đáo bỉ ngạn (到彼岸, đến bờ bên kia), tức là đạt thành, hoàn thành lý tưởng. Đây là 6 pháp tu hành thật tiễn để thành Phật đạo của vị Bồ Tát, được giải thích rất rõ trong Phật Thuyết Bồ Tát Nội Tập Lục Ba La Mật Kinh (佛說菩薩內習六波羅蜜經, Taishō No. 778), gồm: (1) Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), còn gọi là Thí Ba La Mật (施波羅蜜), Đàn Ba La Mật (檀波羅蜜), Đàn Na Ba La Mật (檀那波羅蜜), Bố Thí Độ Vô Cực (布施度無極); có 3 loại bố thí là Tài Thí (財施, bố thí về tiền tài, vật chất), Pháp Thí (法施, bố thí lời dạy, giáo lý để tu tập và đạt được chân lý) và Vô Úy Thí (無畏施, bố thí sự không sợ hãi, giúp cho mọi người an tâm), để đối trị với sự tham lam, keo kiệt và tiêu trừ sự bần cùng. (2) Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), còn gọi là Giới Ba La Mật (戒波羅蜜), Thi La Ba La Mật (尸羅波羅蜜), Giới Độ Vô Cực (戒度無極); giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, thường tự tỉnh thức, có thể đối trị ác nghiệp, khiến cho thân tâm thanh tịnh. (3) Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), hay Nhẫn Ba La Mật (忍波羅蜜), Sàn Đề Ba La Mật (孱提波羅蜜), Nhẫn Nhục Độ Vô Cực (忍辱度無極); nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại, đối trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an trú. (4) Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), hay Tấn Ba La Mật (進波羅蜜), Tỳ Lê Da Ba La Mật (毘梨耶波羅蜜), Tinh Tấn Độ Vô Cực (精進度無極), nỗ lực tinh tấn tiến lên, bất khuất, không thối chí; giúp đối trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành. (5) Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜), hay Thiền Ba La Mật (禪波羅蜜), Thiền Na Ba La Mật (禪那波羅蜜), Thiền Độ Vô Cực (禪度無極); nghĩa là tu tập Thiền định, có thể đối trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định. (6) Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜), hay Tuệ Ba La Mật (慧波羅蜜), Bát Nhã Ba La Mật (般若波羅蜜), Minh Độ Vô Cực (明度無極). Sáu pháp này được thuyết đầu tiên trong kinh Bát Nhã và một số kinh điển Đại Thừa khác và được xem như là hạnh lý tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Đặc biệt, căn bản của các hạnh này có trong Bát Nhã Ba La Mật, và hạnh từ bi vốn căn cứ trên cở sở của Bát Nhã là nội dung của Lục Độ. Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論) có đoạn: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh Đạt Bỉ Ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn, cố danh Lục Ba La Mật (六波羅蜜者、卽淨六根也、胡名波羅蜜、漢名達彼岸、以六根清淨、不染六塵、卽是度煩惱河、至菩提岸、故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Hồ [Ấn Độ] gọi là Ba La Mật, người Hán [Trung Quốc] gọi là đạt đến bờ bên kia; vì Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua được sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; cho nên có tên là Sáu Ba La Mật).” Hay như trong Duy Tâm Tập (唯心集, CBETA No. 1208) có đoạn: “Nhất cú A Di Đà, vạn thiện đồng đăng; nhất cú A Di Đà, Lục Độ tề hành; nhất cú A Di Đà, tịnh uế trừng thanh; nhất cú A Di Đà, Đông Tây hợp tinh; nhất cú A Di Đà, bao quát cổ kim; nhất cú A Di Đà, hàm cái càn khôn; nhất cú A Di Đà, chứng nhập vô sanh (一句阿彌陀、萬善同登、一句阿彌陀、六度齊行、一句阿彌陀、淨穢澄清、一句阿彌陀、東西合并、一句阿彌陀、包括古今、一句阿彌陀、函蓋乾坤、一句阿彌陀、證入無生, một câu A Di Đà, vạn thiện cùng lên; một câu A Di Đà, Lục Độ cùng hành; một câu A Di Đà, sạch nhớp lắng trong; một câu A Di Đà, Đông Tây hợp lại; một câu A Di Đà, bao quát cổ kim; một câu A Di Đà, trùm khắp càn khôn; một câu A Di Đà, chứng vào vô sanh).”

Lục độ

xem bờ bên kia. ; 六度; C: liùdù; J: rokudo; S: ṣāḍpāramitā; cũng được gọi là Lục ba-la-mật-đa (六波羅蜜多);|Sáu hạnh Ba-la-mật-đa (độ) là: 1. Bố thí ba-la-mật-đa (s: dānapāramitā), 2. Giới b. (śīla-pāramitā), 3. Nhẫn nhục b. (kṣāntipāramitā), 4. Tinh tiến b. (vīryapāramitā), 5. Thiền định B. (dhyānapāramitā) và 6. Trí huệ b. (prajñāpāramitā). Có khi người ta kể thêm bốn hạnh nữa, gọi chung là Thập độ, đó là: 7. Thiện xảo Phương tiện b. (upāya-kauśalya-p.), 8. Nguyện b. (praṇidhāna-p.), 9. Lực b. (bala-p.) và 10. Trí b. (jñāna-p.).|Bố thí (布施) bao gồm việc chia xẻ của cải vật chất và tinh thần cho người khác. Muốn được như thế, cần có lòng từ bi hỉ xả, sẵn sàng nhường cả phúc đức cho người khác. Giới (戒) là thái độ sống đúng đắn, từng bước loại trừ mọi tham ái, quyết tái sinh vào một nơi thuận lợi, vì ích lợi của mọi chúng sinh. Nhẫn nhục (忍辱) xuất phát từ tri kiến rằng, mọi phiền não trên đời đều có nguyên nhân của chúng, cần kiên nhẫn và thông cảm chúng. Tinh tiến (精進) là lòng quyết tâm không gì lay chuyển. Thiền định (禪定) chỉ phương pháp thiền quán, nhờ đó từ bỏ được ngã chấp và cảm thụ được vui buồn của chúng sinh. Trí huệ (智慧) là đạt được cấp giác ngộ vô thượng.

lục độ

See Lục Độ Ba La Mật.

Lục Độ Ba La Mật

(六度波羅蜜): xem phần Lục Độ (六度) ở trên.

lục độ ba la mật

Six virtues of perfection—Ba La Mật, theo Phạn nhữ, có nghĩa là đáo bỉ ngạn. Sáu Ba La Mật đưa chúng sanh qua biển sanh tử để đi đến Niết bàn. Sáu giai đoạn hoàn thiện tinh thần của chư Bồ tát trong tiến trình thành Phật. Chẳng những Lục độ Ba La Mật là đặc trưng cho Phật Giáo Đại Thừa trong nhiều phương diện, mà chúng còn gồm những cơ bản đạo đức chung cho tất cả các tôn giáo. Lục độ bao gồm sự thực tập và sự phát triển khả dĩ cao nhất. Vì vậy, thực hành sáu Ba La Mật sẽ giúp hành giả vượt bờ mê qua đến bến giác—Six Paramitas—According to the Sanskrit language, Paramita means crossing-over. Six Paramitas mean the six things that ferry one beyond the sea of mortality to nirvana. Six stages of spiritual perfection followed by the Bodhisattva in his progress to Buddhahood. The six virtues of perfection are not only characteristic of Mahayana Buddhism in many ways, they also contain virtues commonly held up as cardinal by all religious systems. They consist of the practice and highest possible development. Thus, practicing the six paramitas will lead the practitioner to cross over from the shore of the unenlightened to the dock of enlightenment: 1) Đàn Na Ba La Mật hay Bố thí Ba la mật: Dana-paramita (skt)—Charity—Đây không chỉ có nghĩa là cho đi thứ gì mà người ta có thừa; nó còn bao gồm cả việc thí xả thân mệnh mình cho chính nghĩa. Đàn na bao gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí. Bố thí Ba la Mật được dùng để diệt trừ xan tham, bỏn xẻn—Charity does not merely mean to give away what one has in abundance, but it involves even the giving-up of one's whole being for a cause. Charity, or giving, including the bestowing of the truth and courage giving on others—The path of giving. Giving Paramita is used to destroy greed, selfishness, and stinginess. 1a) Đối nghịch lại với Bố Thí là bỏn xẻn keo kiết: The opposite of Charity is Meanness. 1b) Quả báo của Bố Thí là Phước: The reward stimulated by Dana is Enrichment. 2) Thi La Ba La Mật hay Trì giới Ba la mật: Sila-paramita (skt)—Discipline—Trì giới hạnh thanh tịnh nghĩa là thực hành tất cả các giới răn của đạo Phật, hay tất cả những thiện hạnh dẫn tới chỗ toàn thiện đạo đức cho mình và cho tất cả mọi người. Trì giữ giới hạnh thanh tịnh. Trì giới Ba La Mật được dùng để diệt trừ phạm giới và hủy báng Phật Pháp—Pure observance of precepts (keeping the commandments, upholding the precepts, the path of keeping precepts, or moral conduct, etc) is the practicing of all the Buddhist precepts, or all the virtuous deeds that are conducive to the moral welfare of oneself and that of others. Maintaining Precept Paramita is used to destroy violating precepts and degrading the Buddha-Dharma. 2a) Đối nghịch lại với Trì Giới là Quỷ Quyệt Phá Giới: The opposite of Keeping the Commandments is Wickedness. 2b) Quả báo mang lại do trì giới là sự Toàn Hảo (Cụ Sắc): The reward from Keeping the Commandments is Perfection in all things. 3) Sằn Đề hay Nhẫn nhục Ba La Mật: Ksanti-paramita (skt)—Patience—Nhẫn nhục đôi khi cũng được gọi là nhẫn nại, nhưng nhẫn nhục thì đúng nghĩa hơn. Vì rằng nó không chỉ là sự kiên nhẫn chịu những bệnh hoạn của xác thịt, mà nó là cảm giác về sự vô nghĩa, vô giới hạn, và xấu ác. Nói cách khác, nhẫn nhục là nín chịu mọi sự mắng nhục của các loài hữu tình, cũng như những nóng lạnh của thời tiết. Nhẫn nhục Ba la mật được dùng để diệt trừ nóng giận và sân hận—Humility is sometomes rendered patience, but humility is more to the point. Rather than merely enduring all sorts of ills of the body, it is the feeling of unworthiness, limitlessness, and sinfulness. In other words, humility or patience, or forebearance under insult of other beings as well hot and cold weather—The path of endurance. Tolerance Paramita is used to destroy anger and hatred. 3a) Đối nghịch lại với Nhẫn Nhục là Nóng Giận và Sân Hận: The opposite of Patience is Anger and Hatred. 3b) Quả báo mang lại do Nhẫn Nhục Năng Lực: The reward from Patience is Power. 4) Tì Lê Gia hay Tinh tấn Ba La Mật: Virya-paramita (skt)—Devotion—Tinh tấn là kiên trì thể hiện động lực chí thiện. Đời sống của các vị tu theo Phật giáo Đại Thừa là một cuộc đời hăng say tột bực, không chỉ trong đời sống hiện tại mà cả trong đời sống tương lai và những cuộc đời kế tiếp không bao giờ cùng tận. Tinh tấn còn có nghĩa là luôn khích lệ thân tâm tiến tu năm Ba La Mật còn lại. Tinh tấn Ba la mật được dùng để diệt trừ các sự giải đãi—Devotion or Striving means a constant application of oneself to the promotion of good. The Mahayanists' life is one of utmost strenuousness not only in this life, but in the lives to come, and the lives to come may have no end. Virya also means energy or zeal (earnestness—Diligence—Vigour—The path of endeavor) and progress in practicing the other five paramitas. Vigor Paramita is used to destroy laziness and procrastination. 4a) Đối nghịch lại với Tinh Tấn là Giãi Đãi: The opposite of Zeal or Progress is Sloth. 4b) Quả báo mang lại do Tinh Tấn là Thọ Mệnh: The reward from Zeal is Long Life. 5) Thiền Na hay Thiền Định Ba La Mật: Tịnh lự—Dhyana-paramita (skt)—Meditation—Thiền định có nghĩa là tư duy, nhựng không theo nghĩa tư duy về một phương diện đạo đức hay một cách ngôn triết học; nó là việc tu tập tĩnh tâm. Nói khác đi, thiền định là luôn tu theo pháp tư duy để đình chỉ sự tán loạn trong tâm. Thiền định Ba la mật được dùng để diệt trừ sự tán loạn và hôn trầm—Dhyana means meditation, not in the sense of meditating on a moral maxim or a philosophical saying, but the disciplining of oneself in tranquillization. In other words, Dhyana (meditation—Contemplation—Quiet thoughts—Abstraction—Serenity) means the path of concentration of mind to stop the scattered mind. Meditation Paramita is used to destroy chaos and drowsiness. 5a) Đối nghịch với Thiền Định là Tán Tâm hay tâm tán loạn: The opposite of Meditation or Contemplation is Distracted Mind. 5b) Quả báo mang lại do Thiền Định là An Tịnh: The reward from Meditation is Peace or calmness. 6) Bát Nhã hay Trí huệ Ba La Mật: Prajna-paramita (skt)—Wisdom—Bát Nhã là trí tuệ siêu việt, yếu tố giác ngộ. Nó là trực giác thông đạt mọi pháp để chứng đạt chân lý, hay để nhìn vào chân lý cứu cánh của vạn hữu, nhờ đó mà người ta thoát ra ngoài triền phược của hiện hữu và trở thành tự chủ lấy mình. Bát Nhã hay Trí huệ Ba la mật được dùng để diệt trừ sự hôn ám ngu si—Prajna (Wisdom—Knowledge—Real Wisdom—The path of wisdon) means transcendental knowledge. This is what constitutes enlightenment; it is an intuition into the power to discern reality or truth, or into the ultimate truth of things, by gaining which one is released from the bondage of existence, and becomes master of one's self. Wisdom Paramita is used to destroy ignorance and stupidity. 6a) Đối nghịch lại với Trí Huệ là Vô Minh hay ngu si: The opposite of Wisdom is Ignorance. 6b) Quả báo mang lại do Trí Huệ là sự biện biệt chân lý: The reward from Wisdom is discrimination or powers of exposition of the truth. ** For more information, please see Thập Độ Ba La Mật.

lục độ mãn tướng

(六度滿相) sáu tướng tu hành lục độ hoàn mãn. 1. mãn tướng bố thí: vua thi tì vì cứu chim bồ câu, nên đã cắt thịt mình cho chim ưng ăn. 2. mãn tướng trì giới: vua phổ minh giữ giới không nói dối, đủ thời gian 7 ngày thì bỏ nước mà chết. 3. mãn tướng nhẫn nhục: tiên nhân sằn đề bị vua ca lợi cắt đứt cả tay, chân, tai, mũi mà lòng không lay động, sân hận. 4. mãn tướng tinh tiến: thái tử đại thí vì cứu quốc dân nên tháo nước biển, cho dù đứt nát gân cốt cũng không hề biếng nhác. 5. mãn tướng thiền định: thượng xà lê tu thiền định thứ 4, ngồi sừng sững như gốc cây khô, đến nỗi chim khách làm tổ trên đầu mà tâm không lay động. 6. mãn tướng trí tuệ: đại thần cù tân chia cõi diêm phù đề ra làm 7 phần để dẹp yên sự tranh chấp. [x. luận câu xá q.18; chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết q.3 phần 2; quan âm huyền nghĩa q.hạ; thiên thai tứ giáo nghi].

lục độ mẫu

(綠度母) độ mẫu, phạm: tàrà. gọi đủ: thánh cứu độ phật mẫu. hóa thân của bồ tát quan âm, 1 trong 21 vị độ mẫu. trung quốc thời xưa gọi độ mẫu là đa la bồ tát, đa la quan âm, gồm có 21 vị tôn. hình tượng của vị tôn này là thiếu nữ, toàn thân màu xanh (lục), hiện tướng từ bi. đầu đội mũ báu ngũ phật, thân mang nhiều loại trang sức quí báu, mặc áo trời nhiều màu, ngồi trên tòa sen của bồ tát, chân phải hơi doãng ra, chân trái co lại; tay phải hướng ra ngoài, để trên đầu gối phải, kết ấn dữ nguyện, cầm hoa ô ba lạp; tay trái đặt ở trước ngực, cũng cầm hoa ô ba lạp. tu trì mật pháp của vị tôn này có thể cắt đứt vòng sinh tử luân hồi, tiêu trừ tất cả ma chướng, nghiệp chướng, bệnh khổ v.v... đồng thời tiêu tai, thêm phúc, sống lâu, mở mang trí tuệ, những điều mong cầu đều được toại nguyện, khi mệnh chung được sinh về thế giới cực lạc. [x. độ mẫu bản nguyên kí]. (xt. đa la bồ tát).

lục độ quả báo

Sáu quả báo thâu thập được do sự tu tập Lục Ba La Mật—The rewards stimulated by the six paramitas—See Lục Ba La Mật (b). ; (六度果報) quả báo chiêu cảm được khi tu hành lục độ. lục độ chỉ cho 6 ba la mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, và trí tuệ. theo kinh thiên giới, thực hành việc bố thí thì được giàu có, trì giới thì được thân hình đẹp đẽ, đầy đủ các căn; nhẫn nhục thì được sức mạnh, tinh tiến được sống lâu, thiền định thì được sự an lạc, trí tuệ được tài hùng biện... gọi là lục độ quả báo.

lục độ thuyết ý

(六度說意) ý nghĩa nói 6 pháp ba la mật. sáu pháp ba la mật có 2 nghĩa là đối trị và thứ đệ sinh. 1. đối trị: sáu pháp ba la mật đối trị 6 thứ: bỏn sẻn, ác nghiệp, nóng giận, lười biếng, loạn tâm, ngu si. vì 6 thứ này không đưa đến vô thượng bồ đề, nên giảng nói 6 pháp ba la mật để đối trị. 2. thứ đệ sinh: bồ tát xả bỏ tất cả tài vật của thế gian, xuất gia học đạo, gọi là đàn ba la mật; thụ giới bồ tát, gọi là thi la ba la mật; vì hộ trì giới pháp mà chịu đựng sự đánh đập, nhục mạ mà không báo thù, gọi là sằn đề ba la mật; giới đã được thanh tịnh mà siêng năng tu thiện đạo, gọi là tì lê da ba la mật; nhờ siêng năng tinh tiến mà điều phục được 5 căn, gọi là thiền na ba la mật; do 5 căn đã điều phục mà ngộ được chân như pháp giới, gọi là bát nhã ba la mật.

lục độ thí dụ

(六度譬喻) sáu thí dụ về lục độ được nói trong kinh hoa nghiêm, đó là: 1. trí tuệ ví dụ là người mẹ. 2. bố thí ví dụ là sữa mẹ. 3. trì giới ví dụ là mẹ nuôi. 4. nhẫn nhục ví dụ là đồ trang sức. 5. tinh tiến ví dụ là người nuôi dạy. 6. thiền định ví dụ sự tắm giặt.

lục độ tập kinh

(六度集經) cũng gọi lục độ vô cực kinh, lục độ vô cực tập, lục độ tập, tạp vô cực kinh. kinh, 8 quyển, do ngài khang tăng hội dịch vào đời ngô, tam quốc, được thu vào đại chính tạng tập 3. nội dung kinh này ghi chép 91 tích truyện bản sinh của đức phật khi tu đạo bồ tát ở đời quá khứ, phối hợp với lục độ của phật giáo đại thừa mà thành, nên gọi là lục độ tập kinh. - quyển 1-3 nói về bố thí độ. - quyển 4 nói về trì giới. - quyển 5 nói về nhẫn nhục. - quyển 6 nói về tinh tiến. - quyển 7 nói về thiền định. - quyển 8 nói về trí tuệ. điểm đặc sắc của bộ kinh này là xiển dương hạnh bồ tát của phật giáo đại thừa. ngoài truyện bản sinh của đức phật, còn có truyện bản sinh của bồ tát di lặc. phần lớn các truyện bản sinh trong kinh này có thể thấy trong các bản pàli và các bản hán dịch khác, còn nguyên bản của kinh này thì đã bị thất lạc. dựa theo nội dung của bộ kinh mà suy đoán, thì có lẽ lục độ tập kinh đã được thành lập vào thế kỉ thứ ii. [x. lịch đại tam bảo kí q.5; chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục q.3; đại tạng thánh giáo pháp bảo tiêu mục q.3; bản sinh kinh loại nghiên cứu (can tích long tường)].

lục độ vô cực

Sáu phương tiện vô biên đưa chúng sanh ra khỏi biển luân hồi sanh tử—The six infinite means of crossing the sea of mortality—See Lục Độ Ba La Mật. ; (六度無極) cũng gọi độ vô cực. chỉ 6 pháp ba la mật. ba la mật (phạm: pàramità), hán dịch: độ (dịch cũ). vì pháp tu lục độ của bồ tát là vô cùng, vô cực nên cũng gọi độ vô cực. [x. kinh tăng nhất a hàm q.1].

lục độ vạn hạnh

Six Paramitas and ten thousand conducts: (A) Lục Độ: Six Paramitas—Lục độ Ba La Mật hay Lục Đáo Bỉ ngạn của chư Đại Bồ Tát—Six Ways or six Paramitas (crossing over) of Maha-Bodhisattvas—See Lục Độ Ba La Mật. (B) Vạn Hạnh: Ten Thousand Conducts—Tất cả vạn hạnh mà một vị Bồ Tát cần phải tu tập để diệt trừ si mê và đạt thành quả vị Phật—All the practices a Bodhisattva must cultivate in order to eliminate ignorance and attain Buddhahood.

lục đục

Disagreement—Discord—Dissension.

lục đức

Sáu đặc tánh của từ Bạt Già Phạm, cũng là một trong những danh hiệu của Phật—The six charateristics of a Bhagavat, which is one of a Buddha's titles: 1) Tự Tại: Sovereign. 2) Cực Thịnh (Huy hoàng): Glorious. 3) Đoan Nghiêm: Majestic. 4) Danh Tiếng: Famous. 5) Cát Tường (tốt lành): Propitious. 6) Tôn Quý (cao quý): Honoured. ; (六德) chỉ cho 6 nghĩa của chữ bhagavat. bhagavat (hán âm: bạc già phạm, hán dịch: thế tôn), có đủ 6 nghĩa là: tự tại, xí thịnh, đoan nghiêm, danh xưng, cát tường và tôn quí, gọi là lục đức. [x. phật địa kinh luận q.1]. (xt. bạc già phạm).

lụm cụm

To walk in a shaky way due to old age.

lủi

To slip away.

lủi thủi

Lonely—Lonesome—Alone—Lone.

lủng củng

Disagreement.

lừa

To deceive—To cheat—To swindle.

lừa đảo

See Lừa.

lừa đảo và gạt gẫm hàng bạch y

Swindle and deceive the white-robed.

lừng khừng

Hesitating—Undecided—Wavering.

lừng lẫy

Famous—Celebrated—Well-known.

lửa dục

The fire of desire.

lửa giận

Access of anger .

lửa khư-đà-la

xem khư-đà-la.

lửa mừng

Bonfire.

lửa tam muội

Fire of samadhi—The fire that consumed the body of Buddha when he entered nirvana.

lửa tam độc vẫn hừng hực cháy trong ta

Fires of the three poisons are still faring up uncessantly in us.

lửa tham, sân, si đốt cháy hết rừng công đức

The fire of greed, anger and illusion burns up all the forest of merits and virtues.

lửa tình

The ardour of passion.

Lữ

侶; C: lǚ; J: ryo;|Môn đệ, đệ tử, bạn đồng hành (s: mitra, sa-hāya).

lữ bích thành

(呂碧城) (1886-1946) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Tinh đức, tỉnh An huy. Thủa nhỏ, ông học thân phụ, rất thông minh, giỏi thi ca, hội họa. Lớn lên, ông thông thạo các thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nhật. Năm 20 tuổi, ông làm Chủ biên Đại công báo, sau ông dạy tại Đại học Nữ tử ở Bắc dương. Vào đầu năm Dân quốc (1911), ông kinh doanh ở Thượng hải, không bao lâu trở nên giàu có, ông liền chu du các nước Âu Mĩ để truyền bá văn hóa Đông phương, hết sức đề cao nhân nghĩa, giới sát. Sau, ông về ở tại Hương cảng, tình cờ được đọc Văn sao của Đại sư Ấn quang, ông liền phát chính tín, bỏ hết xa hoa, ăn chay giữ giới. Về sau, ông lại đi Âu Mĩ giảng diễn Phật học, đồng thời, sưu tập các tư liệu về sự phát triển của Phật giáo tại các nước Âu Mĩ mà biên tập thành sách. Ông mất năm 1946 tại Hương cảng. Tác phẩm: Âu Mĩ chi quang, Mộng vũ thiên hoa thất tùng thư. Dịch phẩm: Pháp hoa kinh phổ môn phẩm (Anh Hán đối chiếu).

lữ hướng

(呂向) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Đường, có thuyết cho rằng ông là người ở huyện Kinh thủy, tự Tử hồi, là đệ tử tại gia của Tam tạng Kim cương trí. Ông giỏi về các thể chữ thảo, chữ lệ, thường đưa 1 nét bút viết vòng vèo thành trăm chữ, người đời gọi là Liên miên thư. Nhờ chăm học, nhớ dai, chuyên nghiên cứu về dược lí, đọc nhiều sách, nên ông thông suốt cổ kim. Năm Khai nguyên thứ 10 (722), ông vâng mệnh vua vào triều làm quan, theo hầu Thái tử. Ông thường đi lại thù đáp với các Vương hầu, làm văn, dâng thơ và nhiều lần dùng thiện đạo khuyên can vua. Ông làm quan đến chức Công bộ thị lang, sau khi qua đời, ông được truy tặng Hoa âm Thái thú. Ông có trứ tác: Kim cương trí tam tạng hành kí, 1 quyển. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.hạ; Tân đường thư Q.202].

lữ khách

Traveler.

Lữ trang

旅装; C: lǚ zhuāng; J: ryosō;|Vật dụng của các vị tăng (ni) hành cước.

lữ trừng

(呂澄) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, tự Thu dật, Thu nhất, là học trò của cư sĩ Âu dương tiệm. Thủa nhỏ, ông rất chăm học, từng đọc hết bộ Đại Anh bách khoa toàn thư. Sau khi tốt nghiệp Sư phạm sơ cấp, ông tiếp tục tự học và thông thạo các thứ tiếng: Anh, Phạm, Tạng, Đức v.v... Ông chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Nhật bản, Tây tạng. Ông từng đề xướng Nhân minh học thuyết và có nhiều phát kiến mới về Pháp tướng duy thức học. Ông là 1 trong số ít học giả mở ra phong trào nghiên cứu học thuật Phật giáo ở thời Dân quốc tại Trung hoa. Ông có các tác phẩm: Tạp a hàm kinh san định kí, Nhân minh cương yếu, Phật giáo nghiên cứu pháp, Ấn độ Phật giáo sử lược, Tây tạng Phật học nguyên luận, Quán sở duyên duyên luận thích. Và dịch phẩm: Tây tạng truyền bản Nhiếp đại thừa luận (dịch lại).

lững lờ

Wavering—Undecided.

lững thững

To walk slowly.

lự

Gạn lọc—To strain—To filter.

lự la

Lộc Thủy Đái—Túi lọc nước—A filtering bag, or cloth.

lự trí tâm

See Duyên Lự Tâm.

lựa

To choose—To select.

lựa chọn

To make choices.

Lực

力; C: lì; J: riki, ryoku;|1. Lực, sức mạnh, năng lực, khả năng; 2. Sự chuyển động, công năng; 3. Cố gắng, tinh tiến, nỗ lực; 4. Một quân sĩ, một kị sĩ (s: bala, sthāman); 5. Một trong 80 tướng đặc thù của một vị Phật; 6. Năng lực siêu nhiên; 7. Một trong Thập như thị (十如是) được dạy trong kinh Pháp Hoa.

lực

Bala—Power—Strength. ; (力) Phạm: Bala, Balàna. Hán âm: Ba la, Mạt lệ nang. Sức mạnh về thể chất hoặc sức mạnh tinh thần. (xt. Nhị Lực, Thập Ba La Mật, Tứ Lực).

lực ba la mật

The virya-paramita.

lực ba la mật bồ tát

(力波羅蜜菩薩) Vị Bồ tát trong viện Hư không tạng trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Dũng lực kim cương, 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Hình tượng vị Bồ tát này thân màu da người, mặc áo yết ma, ngồi trên hoa sen đỏ, 2 chân tréo vào nhau, chân phải bên trong, chân trái bên ngoài, khỉu tay phải đưa ra dựng thẳng, bàn tay nắm lá sen, trên lá sen có con sư tử. Tay trái nắm lại chống vào hông, mặt hướng về phía bên phải, nhìn vào vật đang cầm trong tay. Ấn khế là 2 tay tréo vào nhau, 2 ngón giữa, 2 ngón trỏ và 2 ngón cái đều sáp sát nhau và dựng thẳng. Chân ngôn là: Án na ma nính mẫu nễ đế hồng hạ hạ hạ hồng nhược. Nếu kết ấn này và tụng 3 biến chân ngôn thì có thể trừ diệt ý nghiệp kém cỏi, được tư trạch lực và tu tập lực, đồng thời, chế phục các phiền não, đoạn trừ hoặc nghiệp, khi tu đạo quyết định được thắng giải, tất cả thiên ma bạn ác chẳng thể lôi kéo, đạt được Thánh quả bất thoái chuyển. [X. Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Bí tạng kí].

Lực ba-la-mật

力波羅蜜; C: lìbōluómì; J: rikiharamitsu; S: bala-pāramitā.|Sự toàn hảo của năng lực tu hành và nhận thức, ví như có thể đạt giác ngộ một cách không lầm lạc. Một trong mười Ba-la-mật (Thập ba-la-mật 十波羅蜜).

Lực ba-la-mật-đa

力波羅蜜多; C: lì bōluómìduō; J: riki haramit-ta;|Lực ba-la-mật (力波羅蜜).

lực giả

(力者) Cũng gọi Lực giả pháp sư. Chỉ cho những vị tăng khiêng kiệu trong các tự viện. Thủa xưa, khi đức Phật nhập diệt, các lực sĩ thành Câu thi na khiêng kim quan của Ngài, vì thế, phu khiêng kiệu trong các chùa viện được gọi là Lực giả. Tại Nhật bản, những người xuất gia dùng sức lao động làm việc hàng ngày, thích đấu tranh, hoặc những vị tăng trụy lạc làm công việc của kẻ nô bộc, gọi là Lực giả pháp sư, như bọn Tăng binh thời Mạc phủ. Ngoài ra, người cảnh vệ cầm vũ khí để trang trí tòa giảng cũng gọi là Lực giả. (xt. Lực Sĩ).

lực giả pháp sư

A monk who degrades himself by becoming a fighter, a boxer or a slave.

lực sinh

Power-born—One who is born from the truth—A monk.

Lực sĩ

力士; C: lìshì; J: rikishi;|1. Một người có sức mạnh lớn, một anh hùng, một vị thần (s: vīra, mahābalavān); 2. Một chủng tộc sống ở nơi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập diệt.

lực sĩ

Vira (skt)—A strong or mighty man. ; (力士) I. Lực Sĩ. Người có sức mạnh. Đây chỉ cho giòng Mạt la ở thành Câu thi na yết la. Khi đức Phật nhập Niết bàn, giòng Mạt la này khiêng kim quan của Ngài, vì thế nên kinh Trường a hàm gọi Lực sĩ là Mạt la. (xt. Mạt La). II. Lực Sĩ. Gọi đủ: Kim cương lực sĩ. (xt. Na La Diên Thiên).

Lực sĩ Kim cang

cũng gọi là Chấp kim cang hay Chấp kim cang thần, là vị thần có thân hình to lớn, mạnh mẽ, phát nguyện hộ trì bảo vệ Phật pháp.

lực sĩ sinh địa

(力士生地) Nơi sinh sống của giòng Lực sĩ, tức chỉ cho thành Câu thi na yết la. Theo sự giải thích trong Đại bát niết bàn kinh sớ quyển 1, thì Lực sĩ là người có sức mạnh địch lại nghìn người. Nơi có 30 vạn người sống chung thành bầy đảng, không lệ thuộc ai, dùng pháp tự trị mà không nổi loạn, đó là vùng của Lực sĩ sinh sống, cho nên gọi là Sinh địa. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.1 (bản Bắc)]. (xt. Lực Sĩ).

lực vô sở uý

(力無所畏) Chỉ cho 10 trí lực và 4 vô sở úy của Như lai. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ), nói: Tri kiến của Như lai rộng lớn sâu xa, vô lượng vô ngại, lực vô sở úy, thiền định giải thoát tam muội. (xt. Thập Lực, Tứ Vô Sở Úy).

lực vô úy

Power of fearlessness.

Lực đáo bỉ ngạn

力到彼岸; C: lì dàobǐàn; J: riki tōhigan;|Sự toàn hảo của năng lực (thực hành và nhận thức). Lực ba-la-mật (力波羅蜜).

Lực-sĩ

xem Lê-xa.

Lựu hỏa

(榴火): hoa Thạch Lựu; vì màu hồng của loại hoa này rực rỡ như lửa nên có tên gọi như vậy. Trong bài từ Hoán Khê Sa Mạn (浣溪沙慢) của Chu Bang Ngạn (周邦彥, 1056-1121) nhà Tống có câu: “Nộn anh thúy ác, hồng hạnh giao Lựu hỏa (嫩英翠幄、紅杏交榴火, hoa non phủ màn biếc, mơ hồng cùng lựu đỏ).” Hay trong bài thơ Tạ Chu Hạc Cao Chiêu Ẩm (謝朱鶴皋招飲) của Tào Bá Khải (曹伯啟, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Mãn viện trúc phong xuy tửu diện, lưỡng châu Lựu hỏa phát thi sầu (滿院竹風吹酒面、兩株榴火發詩愁, đầy nhà gió trúc thổi mặt rượu, hai hàng hoa Lựu phát thơ buồn).” Trong Chánh Nguyên Lược Tập (正源略集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 85, No. 1587) quyển 9, phần Cô Tô Di Hiền Liên Phong Nguyên Thiền Sư (姑蘇怡賢蓮峰源禪師) có đoạn: “Tạc tiêu phong vũ quá viên lâm, tẩy xuất Uy Âm na bạn xuân, vô vị chân nhân mao cốt lãnh, liễu yên lựu hỏa nhất thời tân (昨宵風雨過園林、洗出威音那畔春、無位眞人毛骨冷、柳煙榴火一時新, đêm qua mưa gió đến rừng hoang, rửa sạch Oai Âm mấy kiếp xuân, vô vị chân nhân lông cốt lạnh, lựu hoa khói liễu vẫn mới toanh).”

ma

1) Cọ xát hay xúc chạm: To feel—To handle—To rub. 2) Từ dùng để đặt câu hỏi trong ngôn ngữ Trung Hoa: A term used to make questions in Chinese language. 3) Mara (skt)—Ma La—Lũ ác quỷ làm hại nhân mạng, có khả năng cướp đoạt nhân mạng, gây chướng ngại—Phantom—Ghost—Devil—Killing—Destroying—The destroyer—Evil One—Spirit—Murderer—Hinderer—Disturber— 4) Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển thì thiên ma có trăm tay, cưỡi voi, thường gởi ma nữ hay giả dạng để xúi dục kẻ xấu hay hù dọa người tốt (bậc Thánh)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, a deva often represented with a hundred arms and riding on an elephant. He often sends his daughter, or assumes monstrous forms, or inspires wicked men, to seduce or frighten the saints. 5) Ma Vương hay chủ cung trời dục giới thứ sáu: Lord of the sixth desire-heaven. ** For more information, please see Tha Hóa Tự Tại Thiên. ; (麽) I. Ma. Cũng gọi Ba, bà. Tức là chữ (ba) 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Du Già Kim Cương Đính (Đại 18, 339 thượng), nói: Chữ (ba) nghĩa là tất cả pháp trói buộc đều không thật có. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ Ba thì phát ra âm thanh cởi bỏ tất cả sự trói buộc. Bởi vì chữ Phạm Bandhana (ba đà) nghĩa là trói buộc, mà chữ này bắt đầu bằng chữ Ba ( ), cho nên xưa nay chữ này được gọi là chữ của sự trói buộc. Kinh Hoa Nghiêm (bản 60 quyển) quyển 57 (Đại 9, 765 hạ), nói: Khi xướng chữ Ba là vào cửa Bát Nhã Ba La Mật, gọi là Kim cương tràng. [X. phẩm Văn tự trong kinh Niết Bàn Q.8 (bản Nam); phẩm Quảng thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2; phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.11; phẩm Quán trong kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng]. II. Ma. 1. Trợ từ nghi vấn đặt ở cuối câu (phần nhiều dùng trong các bộ ngữ lục của Thiền tông). Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1101 thượng), nói: Ban ngày tỉnh táo làm chủ được chăng? (tác đắc chủ ma?). Đáp: Làm được! Lại hỏi: Trong giấc mộng làm chủ được chăng? Đáp: Làm được!. Chữ Ma cũng được dùng trong các câu nghi vấn, tức trong lời văn có hàm ý bất định, hoặc có ngữ khí phản vấn, phản ngữ. 2. Đặt ở cuối câu điều kiện, mang ngữ khí nhấn mạnh, giả định: Nếu như... thì... Chữ này cũng còn được dùng khi nêu lên chủ đề, như: Về... mà nói... thì... Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1098 hạ), nói: Nhĩ chư nhân yếu tham thiền ma? Tu thị phóng hạ trứ: Các ông muốn tham thiền chăng? Nếu thế thì phải buông bỏ hết!.3. Tiếp Vĩ ngữ: Như thậm ma, thập ma, na ma, nhẫm ma, tác ma, dữ ma.[X. chương Lục tổ Tuệ Năng trong Tổ đường tập Q.2]. II. Ma Cũng gọi Mãng, Minh. Là chữ (ma), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Kim Cương đính cho rằng, chữ Ma tức biểu thị nghĩa vào các pháp ngã sở là bất khả đắc. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 thì cho rằng, khi xướng chữ Ma có thể phát ra âm thanh tiêu diệt tất cả sự kiêu mạn. Kinh Hoa Nghiêm quyển 33 (bản dịch cũ) nói, khi xướng chữ Ma thì nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Còn phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh tập quyển 11 thì nói (Đại 3, 704 trung): Khi xướng chữ Ma thì phát ra âm thanh nói về sinh tử là tất cả sự khủng bố rất đáng sợ v.v... Sở dĩ chữ Ma có các nghĩa trên là vì những tiếng Phạm mamatà (ngã), mamakàra (ngã sở= của ta), mada (kiêu mạn) v.v... đều bắt đầu bằng chữ ma. [X. phẩm Quảng Thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2]. III. MA Phạm, Pàli: Màra. Gọi đủ: Ma la. Cũng gọi Ác ma. Hán dịch: Sát giả, Đoạt mệnh, Năng đoạt mệnh giả, Chướng ngại. Chỉ cho loại ác quỉ thần chuyên cướp lấy mệnh sống con người và làm trở ngại các việc thiện. Cứ theo phẩm Hàng ma trong kinh Phổ Diệu quyển 6, khi đức Phật thành đạo, ma vương Ba tuần sai 4 ma nữ tên là Dục phi, Duyệt bỉ, Khoái quan và Kiến tòng đến não loạn Đức Phật. Theo phẩm Đao Lợi Thiên trong kinh Trường A Hàm quyển 20 và kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển 3, thì Ma vương là Tha hóa tự tại thiên, trụ ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, là vị thần chuyên phá hoại chính pháp, được gọi là Thiên tử ma, hoặc Thiên ma Ba tuần. Còn theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 27, thì ma vương Ba tuần có đầy đủ 5 lực là sắc lực, thanh lực, hương lực, vị lực và tế hoạt lực. Kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 12 thì nêu ra 12 thứ ma quân là: Tham muốn, hay tức giận, đói khát lạnh nóng, tình ái đắm đuối, ngủ nghỉ, kinh hãi khiếp sợ, ngờ vực, sân hận phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không trí, tự cao khoe khoang và thường chê bai người khác. Nói theo nội quán thì tất cả những gì làm não loạn chúng sinh như phiền não, nghi hoặc, mê luyến v.v... đều gọi là ma; chướng ngại do thân tâm của mình sinh ra, gọi là nội ma, chướng ngại từ bên ngoài đến, gọi là ngoại ma, cả 2 gọi chung là Nhị ma. Theo luận Đại Trí Độ quyển 5 thì ngoài thực tướng các pháp, còn tất cả đều là ma. Luận Du Già Sư Địa quyển 29 nêu ra 4 loại ma: 1. Ngũ uẩn ma, cũng gọi Ấm ma, Uẩn ma, Ngũ chúng ma, Ấm giới nhập ma. Năm uẩn hay sinh ra các thứ khổ não, là nhân duyên cướp mất mệnh sống. 2. Phiền não ma: Phiền não thường mang lại khổ đau từ lúc sinh ra cho đến khi chết. 3. Tử ma: Chính cái chết được gọi là Tử ma. 4. Thiên tử ma, cũng gọi Thiên ma. Những cái làm chướng ngại sự giải thoát sinh tử. Tứ ma thêm tội ma thành Ngũ ma, hoặc Tứ ma thêm 4 tâm điên đảo như vô thường, vô ngã v.v... thành Bát ma. Hoa Nghiêm kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao quyển 29 thì nêu 10 loại ma: Uẩn, phiền não, nghiệp, tâm, tử, thiên, thiện căn, tam muội, thiện tri thức, bồ đề pháp trí. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 6, phần đầu, thì tổng hợp các loại ma chia thành 2 thứ: Phần đoạn ma và Biến dịch ma. Phần đoạn ma là Phiền não chướng, ngăn trở sự chứng đạo của hàng Nhị thừa, còn Biến dịch ma tức là Sở tri chướng, ngăn ngại sự chứng đạo của hàng Bồ tát. Phần đoạn và Biến dịch mỗi loại lại có 4 ma, cộng thành 8 ma. Ngoài ra, Ma Ha Chỉ Quán quyển 8, hạ, có nói rất rõ về các ma chướng sinh khởi trong khi tu thiền. Về phương pháp đối trị ma thì có thể niệm tam qui, ngũ giới hoặc tụng chú trừ ma, niệm Phật v.v... Trong pháp tu Mật giáo thường hạn chế 1 khu vực nhất định có kết giới pháp, để ngăn ngừa sự xâm nhập của ma chướng. [X. kinh Tạp A Hàm quyển 39; kinh Hàng Ma trong Trung A Hàm Q.30; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.26; phẩm Phá Ma trong Phật Sở Hành Tán Q.3; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.24; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.hạ, Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.12, 25]. (xt. Ác Ma).

ma ba tuần

Duratama Mara or Mara-papiman (skt)—Ma của tầng trời thứ sáu—Demons of the sixth heaven. ** For more information, please see Ba Tuần.

ma ca

(摩迦) Phạm: Màlikà. Cũng gọi Ma lỗ ca, Ma lâu ca, Ma lợi ca. Một loại dây leo như sắn, bìm, mây, song... thường quấn quanh các thân cây, ví dụ các dục, tham, sân v.v... trói buộc chúng sinh. Luận Du Già Sư Địa quyển 18 (Đại 30, 377 thượng), nói: Chúng sinh bị các dục tham, khuể, tầm, tư trói buộc, giống như dây leo ma lỗ ca ở thế gian quấn quanh thân cây rừng. [X. Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.26].

ma chay

Funeral ceremony.

ma chuyên

(磨甎 ) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mài gạch, người tu đạo mà còn có chỗ mong cầu thì rốt cuộc không thành tựu được gì, giống như mài gạch mong thành gương. Chương Nam Nhạc Hoài Nhượng trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 5, ghi: Mã tổ Đạo Nhất trọn ngày ngồi thiền, muốn cầu thành Phật. Một hôm, Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng đến trước cửa am của Mã tổ ngồi mài gạch, Mã tổ hỏi: Sư mài gạch để làm gì? Nam nhạc đáp: Để làm gương. Mã tổ nói: Mài gạch mà thành gương sao được? Nam nhạc nói: Nếu mài gạch không thành gương, thì ngồi thiền cũng chẳng thành Phật! (xt. Nam Nhạc Ma Chuyên).

ma chí lý ca

Matrka (skt)—Tên khác của A Tỳ Đạt Ma—Another name for the Abhidharma pitaka. **For more information, please see A Tỳ Đạt Ma, and A Tỳ Đạt Ma Tạng in Vietnaemse-English Section.

ma chướng

Mara-hindrances—Demonic obstacles. ; (魔障) Ma chướng làm trở ngại Phật đạo và việc tu tập các thiện pháp, vì muốn nhấn mạnh ý nghĩa chướng ngại nên dùng chung cả Phạm và Hán mà gọi là Ma chướng. Các phiền não thường ngăn ngại sự thành tựu Phật đạo nên cũng gọi là Ma chướng. Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 5, phần 1, dùng thí dụ về sáng và tối, bảo rằng ma chướng thường ngăn trở Chỉ quán. (xt. Ma, Ma Quân). MA CỐC BẢO TRIỆT (?-?) Thiền tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, pháp hiệu Bảo Triệt. Sau khi xuất gia, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo Nhất và được nối pháp của ngài. Về sau, sư đến ở núi Ma Cốc (cũng gọi núi Ma dục) tại Bồ Châu (Sơn Tây) xiển dương Thiền Phong. Sư có những công án nổi tiếng như: Ma cốc chấn tích, Ma cốc thủ cân, Phong tính thường trụ v.v... được lưu truyền trong Thiền Lâm. [X. Tổ Đường Tập Q.15; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q.7].

ma chướng luân phiên rình rập và hãm hại người tu

Demons (obstacles) always take turns watching and harming cultivators constantly.

ma chướng luôn chờ cơ hội lôi kéo người tu về phía chúng

Demons always wait for the opportune moment to attract and lure devoted cultivators to fall to the demonic nets.

ma chỉ

Một loại thuốc tẩy độc—A medicine that can eradicate poison.

ma cung

(魔宮) Chỗ ở của ác ma. Kinh Tâm Địa Quán quyển 5 (Đại 3, 314 trung), nói: Nếu phát tâm cầu xuất gia, nhàm chán thế gian tu Phật đạo, thì ma cung ở 10 phương đều rúng động, người ấy mau chứng thân Pháp vương.

Ma cảnh

魔境; J: makyō;|Danh từ chỉ những cảm giác và hiện tượng quái dị mà hành giả có thể trải qua trong khi Toạ thiền. Những hiện tượng này gồm: âm thanh, hình tượng lạ, hương vị, những hoạt động thân thể ngoài ý muốn… và đôi khi nhìn được việc sẽ xảy ra. Hành giả không nên coi trọng những hiện tượng này – kinh dị hay cám dỗ – và bất động, tiếp tục tu tập.|Trong một ý nghĩa bao quát hơn thì tất cả những cảnh mà phàm phu, người chưa thức tỉnh, nhận thức được đều là ma cảnh. Chỉ có những người Giác ngộ mới thấy được chân cảnh.|Ma Cốc Bảo Triệt|麻谷寶徹; C: māgǔ bǎochè; J: mayoku hōtetsu; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sử sách không ghi rõ về Sư ngoài vài Pháp chiến.|Sư cùng Mã Tổ đi dạo, nhân dịp hỏi: »Thế nào là Ðại niết-bàn?« Mã Tổ đáp: »Gấp!« Sư hỏi: »Gấp cái gì?« Tổ đáp: »Xem nước.«|Có vị tăng hỏi: »Mười hai phần giáo con chẳng nghi, thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Sư đứng dậy lấy trượng xoay quanh thân một vòng, đứng một chân, bảo: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Không hội.« Sư liền đánh. Một vị khác hỏi: »Thế nào là đại ý Phật pháp?« Sư im lặng.

ma cảnh

See Ma Giới. ; (魔境) Cảnh địa của Ma chướng. Tây Phương Hợp Luận quyển 5 (Đại 47, 402 hạ), nói: Vì thế nên biết, ngoài tâm mà thấy Phật thì đó là cảnh ma. Tại sao? Vì ngoài tâm không có 1 pháp nào.

Ma Cốc Bảo Triệt

(麻谷寳徹, Mayoku Hōtetsu, ?-?): nhân vật sống dưới thời nhà Đường, nguyên quán cũng như họ không rõ. Sau khi xuất gia, ông đến tham bái Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Ma Cốc Sơn (麻谷山), Bồ Châu (蒲州, Tỉnh Sơn Tây) và cử xướng Thiền phong của mình. Ông có giao du với Đơn Hà Thiên Nhiên (丹霞天然), môn hạ của Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷).

ma cốc bảo triệt thiền sư

Zen master Ma-Yu-Bao-Che—See Bảo Triệt Ma Cốc Thiền Sư.

ma cốc chấn tích

(麻穀振錫) Cũng gọi Ma cốc trì tích, Ma cốc lưỡng xứ chấn tích, Ma cốc chấn tích nhiễu sàng. Tên công án trong Thiền Lâm. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ma Cốc và 2 vị pháp huynh là Chương Kính Hoài Uẩn, Nam Tuyền Phổ Nguyện. Tắc 31, Bích Nham Lục (Đại 48, 236 hạ), nói: Ma Cốc cầm gậy đến ngài Chương Kính, đi quanh giường Thiền 3 vòng, dộng gậy xuống đất 1 cái, rồi đứng lặng yên. Chương Kính nói: Phải! Phải! Sau đó, Ma Cốc lại đến ngài Nam Tuyền, đi quanh giường Thiền 3 vòng, dộng gậy xuống đất 1 cái, rồi đứng lặng yên. Ngài Nam Tuyền nói: Không phải! Không phải! Ma Cốc hỏi: Vì sao Hòa Thượng nói không phải? Ngài Nam Tuyền đáp: Chương Kính thì phải, còn ông thì không phải. Đây là sức gió xoay chuyển, cuối cùng thành bại hoại.

ma cốc tự

(麻穀寺) Chùa ở Trung Thanh Nam, Hàn Quốc, hiệu là Thái Hoa Sơn, được sáng lập vào thời đại Hưng Đức Vương (826-835) nước Tân La. Có thuyết cho rằng chùa này do ngài Phổ Chiếu nước Tân La xây cất, nay là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn Quốc. Chùa hiện có các kiến trúc như: Đại hùng bảo điện, Đại quang bảo nghiêm, Linh sơn điện, Đại hương các, tháp đá 5 tầng và 8 ngôi am. Trong đó, tòa tháp đá 5 tầng thân thon cao, được xây trên cái nền 2 tầng, góc tháp treo những cái chuông gió, trên đỉnh đặt 1 bảo tháp nhỏ bằng đồng xanh theo kiểu tháp Lạt Ma, là di vật quí giá để nghiên cứu về tháp Lạt Ma. Hiện chùa này cai quản 99 tự viện phụ thuộc, trong đó, Giáp Tự ở núi Kê Long, do ngài Từ Tạng khai sáng vào thời Tân La cũng rất nổi tiếng.

ma da

Maya (skt)—See Ma Gia.

Ma Da Phu Nhân

(s, p: Māyā, 摩耶): mẹ của đức Thế Tôn, con gái của Thiện Giác Vương (善覺王) ở Thành Câu Lợi (拘利城), vợ vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯王) Thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), sau khi hạ sanh đức Thế Tôn được 7 ngày, bà qua đời. Sau khi chết, bà được sanh lên cõi Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利). Sau ngày thành đạo, đức Phật đã lên cõi trời này để thuyết pháp cho mẹ mình. Như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經), phẩm Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên (觀眾生業緣) thứ 3 có đề cập đến Phu Nhân Ma Da như: “Nhĩ thời Phật mẫu Ma Da Phu Nhân, cung kính hiệp chưởng vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn: 'Thánh giả, Diêm Phù chúng sanh, tạo nghiệp sai biệt, sở thọ báo ứng, kỳ sự vân hà ?' (爾時佛母摩耶夫人、恭敬合掌問地藏菩薩言:聖者、閻浮眾生、造業差別、所受報應、其事云何, lúc bấy giờ, mẹ của đức Phật là Ma Da Phu Nhân cung kính chấp tay hỏi Bồ Tát Địa Tạng rằng: 'Thưa bậc Thánh, chúng sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp khác nhau, chịu sự báo ứng, việc đó như thế nào ?').” Thiên Mục Văn Lễ (天目文禮, 1167-1250), vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, có bài tụng như sau: “Vị tằng chàng nhập Ma Da phục, lưỡng thủ tri tha thậm xứ an, tả hiếp xuất lai ma cảnh hiện, chỉ kham chù trướng bất kham khan (未曾撞入摩耶服、兩手知他甚處安、左脅出來魔境現、只堪惆悵不堪看, chưa từng đột nhập Ma Da bụng, có biết người ta chốn nào yên, vai trái ra rồi ma cảnh hiện, chỉ e rầu rĩ biết sao nhìn).”

ma da phu nhân

(摩耶夫人) Ma da, Phạm, Pàli: Mahàmàyà. Cũng gọi Ma ha ma da, Ma ha ma tà. Hán dịch: Đại huyễn hóa, Đại thuật, Diệu. Mẹ của Đức Thích Tôn, phu nhân của vua Tịnh Phạn (Phạm: Zuddhodana) ở thành Ca Tì La Vệ (Phạm:Kapilavastu) tại Ấn Độ thời xưa. Bà là con của vua Tu Bồ Đề (Phạm:Subhùti) ở thành Thiên Tí (Phạm:Devadaha), sau khi sinh Đức Thích Tôn được 7 ngày thì Bà qua đời. Theo truyền thuyết, Bà được sinh lên cõi trời Đao Lợi (Phạm: Tràyastriôza, tầng thứ 2 trong 6 tầng trời cõi Dục), có lần Đức Thích Tôn lên cung trời này nói pháp cho mẫu hậu nghe. [X. kinh Tạp A Hàm Q.19; Vị Tằng Hữu Pháp trong kinh Trung A Hàm Q.8; kinh Du Hành trong Trường A Hàm Q.4; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.28; phẩm Giáng Thân trong kinh Tu Hành Bản Khởi Q.thượng; kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Q.1; phẩm Hiền Kiếp Vương Chủng trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.5; phẩm Thụ Hạ Đản Sinh trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.8; kinh Chúng Hứa Ma Ha Đế Q.3].

ma diệt

(磨滅) Tiêu diệt, tiêu mất. Nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, mỗi ngày cứ hao mòn dần, cuối cùng thì tiêu diệt, không thường trụ. Kinh Đại Bảo Tích quyển 96 (Đại 11, 542 thượng), nói: Núi Tu Di cũng khô cháy, sông biển rồi cũng cạn kiệt, cuối cùng tất cả sẽ tiêu diệt mà trở về hư không. [X. Hồi Hướng Nghĩa Tam Môn Phân Biệt trong Đại Thừa Nghĩa Chương Q.9].

ma do la

Mayura (skt)—Khổng Tước Điểu (con công)—A Peacock.

ma du la già lam

masura-Sangharama (skt)—Một tịnh xá cổ vào khoảng 200 dậm về phía đông nam của thành Mongali—An ancient vihara about 200 miles southeast of Mongali.

ma duyên

Những chướng duyên làm trở ngại tu hành thiện nghiệp—Mara circumstances, conditions, or environments, or conditioning cause, i.e. hindering the good. ; (魔緣) Chỉ cho quyến thuộc của ác ma, chuyên gây trở ngại cho người tu hành Phật đạo, hoặc chỉ cho sự phương hại do ma vương tạo ra.

ma dà

Magha (skt). 1) An asterism, containing five stars figured like a house. 2) Tháng Ma Dà ở Ấn Độ giữa tháng giêng và tháng hai: The month of Magha between the months of January and February—See Thập Nhị Nguyệt.

ma dân

Marakayikas (skt)—Ma Tử—Ma Nữ—Mara's people, or subjects—See Ma Nữ.

ma dã

Maya (skt). 1) Phiền não: Illusion—Hallucination. 2) Thân thể: A body.

ma gia

Maya (skt & p)—Mẹ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và vợ vua Tịnh Phạn. Bà sống ở nước Câu Ly thời xưa, nay thuộc vương quốc Nepal—The mother of Sakyamuni Buddha and wife of king Suddhodana. She lived in the ancient country of Koliya which is now in Nepal. ** For more information, please see Ma Ha Ma Gia in Vietnamese-English Section.

ma giáo

(魔教) Danh từ do giai cấp địa chủ đời Tống, Trung Quốc, dùng để chê bai Minh giáo. Minh giáo là 1 tổ chức tông giáo bí mật phát triển từ Ma ni giáo mà thành, không thờ thần quỉ, chỉ thờ Ma ni, thời bấy giờ thường được phong trào nông dân khởi nghĩa lợi dụng. Giai cấp địa chủ liền đổi chữ Ma (..) thành chữ Ma (..), rồi vu khống Ma ni (.....) là Ma vương ( ), Minh giáo ( ) là Ma giáo ( ). Vì giáo phái này ăn chay, kiêng rượu nên cũng gọi là ăn chay thờ ma.

ma giới

1) Ma luật: Mara laws (rules). 2) Cõi ma: Ma đạo hay cảnh giới của ác ma—The realm of the maras. 3) Tỳ Kheo vì cầu cạnh danh tiếng, lợi dưỡng mà trì giới: Those of monks who keep commandments for gaining fame and luxury. ; (魔界) I. Ma Giới. Cũng gọi Ma đạo. Chỉ cho cảnh giới của ác ma. Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội quyển hạ (Đại 15, 639 hạ), nói: Ma giới như tức là Phật giới như; Ma giới như, Phật giới như, không hai không khác. II. Ma Giới. Chỉ cho các cõi trời: Tha hóa tự tại, Hóa lạc, Đâu suất và Dạ ma trong 6 tầng trời của cõi Dục. ; (魔戒) Giữ giới với mục đích cầu danh tiếng và lợi dưỡng. Nếu vì sợ hãi sức mạnh bên ngoài mà tu hạnh nhẫn nhục, thì gọi là Ma nhẫn; nếu vì cầu tiếng tăm lợi lộc mà tu hành tinh tiến, thì gọi là Ma tinh tiến; tà thiền trái với chính lí gọi là Ma thiền; tà tuệ sa vào lưới kiến giải phân biệt gọi là Ma tuệ. Ma Ha Chỉ Quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 hạ), nói: Từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, bị ma sai khiến, nên khởi ma đàn để cầu quả báo, trì ma giới để mong lợi dưỡng; thực hành ma nhẫn vì sợ người khác, tập ma tinh tiến để cầu tiếng tăm, được ma thiền vì lầm quỉ pháp, ưa thích ma tuệ vì mắc lưới kiến giải phân biệt. Ngoài ra, những việc khiến cho người ta sinh ra phiền não, phá tâm hoan hỉ, hủy hoại pháp thân tuệ mệnh, dấy lên niệm tưởng tà bậy, cướp đoạt công đức của người v.v... gọi là Ma bệnh. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.8, thượng].

ma giới tỳ kheo

Mara-law monk, who seeks fame and gains or luxury—See Ma Giới (3).

ma ha

Maha (skt)—Lớn—Vĩ đại—Large—Great. ; (摩呵) Phạm: Pàli: Mahà. Cũng gọi Mạc ha, Ma hạ, Ma hê. Hán dịch: Đại. Hàm ý là nhiều, lớn, thù thắng, mầu nhiệm. Luận Đại Trí Độ quyển 3 (Đại 25, 79 trung), nói: Ma ha, Trung Quốc dịch là đại (lớn), hoặc đa (nhiều), hoặc thắng (thù thắng).

ma ha ba xà ba đề

Maha Pajapati—Pajapati Gotami (skt)—Còn gọi là Câu Đàm Di, Kiêu Đáp Di, hay Kiều Đàm Ni—Hàng nữ của dòng họ Cù Đàm, tên là Ma Ha Ba Xà Ba Đề, bà là dì, là người chăm sóc, và cũng là kế mẫu của Phật, người đã nuôi nấng ông sau cái chết của mẹ ông (vài ngày sau khi ông đản sanh). Sau khi Vua Tịnh Phạn mất, bà đã nài nỉ Phật cho phép bà gia nhập giáo đoàn, Phật dường như đã không thuận; tuy nhiên, sau vì sự thỉnh cầu của A Nan, nên Ngài chấp thuận với lời tiên đoán rằng cơ cấu Ni chúng sẽ làm pháp Phật giảm thọ từ 500 đến 1000 năm. Bà đã trở thành vị Ni đầu tiên trong giáo đoàn. Theo Kinh Pháp Hoa thì bà sẽ thành Phật, hiệu là Ma Ha Bát Thích Xa Bát Để (theo Pháp Hoa Huyền Tán, tiếng Phạn Kiêu Đáp Na có nghĩa là giống “Nhật Trá,” giống cam giá hay mía, là tiếng gọi bên họ nội của Đức Phật, là bản vọng của dòng họ Thích Ca)—Gautami, faminine of the patronymic Gautama, the family name of Sakyamuni. Gautami is a name for Mahaprajapati, Siddhartha's aunt, nurse, and stepmother, by whom he was raised following the death of his mother (a few days after his birth). After the death of King Suddhadona, she requested the Buddha's consent to the establishment of an order of nuns. The Buddha was seemingly against the request; however, later one of his great disciples named Ananda repeatedly urged the Buddha to consent. He finally consented with a prediction that with the establishment of the order of nuns, period of survival of Buddha's teaching would shorten from 500 to 1000 years. She was the first nun (abbess) in the Sangha. Acording to the Lotus Sutra, she is to become a Buddha, under the title of Sarvasattva-priya-darsana. ; (摩呵波闍波提) Phạm: Mahàprajàpatì. Pàli: Mahàpajàpatì. Cũng gọi Ma ha bát lạt xà bát để, Ma ha ti da hòa đề. Gọi tắt: Ba xà ba đề, Ba đề phu nhân. Hán dịch: Đại ái đạo, Đại thắng sinh chủ, Đại sinh chủ, Đại thế chủ. Hoặc gọi: Ma ha pha la xà bát đề cù đàm di (Phạm:Mahàprajàpatì-gautamì, Pàli: Mahàpajàtì-gotamì). Hán dịch: Đại ái đạo cù đàm di, Cù đàm di đại ái. Gọi tắt: Cù đàm di. Là di mẫu của Thái tử Tất Đạt Đa, em gái của Hoàng hậu Ma Ha Ma Da, con của vua Thiện Giác thành Thiên Tí ở Ấn Độ cổ đại. Đức Thích Tôn sinh ra được 7 ngày thì mẹ Ngài là Ma Da phu nhân qua đời, Ngài được di mẫu thay thế nuôi nấng. Năm năm sau khi Đức Thích Tôn thành đạo thì vua Tịnh Phạn cũng mệnh chung, bà Đại Ái Đạo dẫn Da Du Đà La và 500 phụ nữ thuộc dòng họ Thích Ca đến xin Đức Thích Tôn được xuất gia và Đức Phật đã hứa khả. Đây là những vị Tỉ Khưu Ni đầu tiên trong giáo đoàn của Phật Giáo. Sau khi xuất gia, chính bà đã lãnh đạo các Tỉ Khưu Ni, trụ ở ni viện gần tinh xá, truyền giới Cụ túc cho nữ chúng, giúp đỡ Đức Phật rất nhiều trong việc hóa đạo. Về sau, vì không nỡ trông thấy Đức Phật nhập diệt, nên trước đó 3 tháng, bà ngồi kết già trong thành Tì Xá Li, vào Sơ thiền rồi dần dần vào đến Tứ thiền và xả bỏ thân mệnh, bấy giờ chư thiên trong cõi Dục đều tiếc thương than khóc. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.9; kinh Trung Bản Khởi Q.hạ; kinh Hiền Ngu Q.3, 12; luật Tứ Phần Q.12; luật Ngũ Phần Q.29; Câu Xá Luận Quang Kí Q.14].

ma ha bà la đa

(摩呵婆羅多) Phạm: Mahàbhàrata. Cũng gọi Bà la đa thư, Đại chiến thư. Là bộ Đại Tự Sự Thi được viết bằng tiếng Phạm của dân tộc Ấn Độ đời xưa. Tương truyền do tiên nhân Tì Da Sa (Phạm: Vyàsa) soạn, nhưng có thuyết cho rằng Tì Da Sa chỉ là người biên chép. Sử thi này được truyền miệng nhau hàng mấy thế kỉ trước Tây lịch, qua nhiều lần hiệu đính bổ sung, đến năm 200 Tây lịch mới có được phần khái yếu và đến thế kỉ thứ IV Tây lịch mới hoàn thành hình thức như hiện nay. Nội dung gồm 18 thiên, 10 vạn bài tụng, phần phụ lục có 1 thiên gồm 1 vạn 6 nghìn tụng, là bộ sử thi dài nhất thế giới. Bộ này cùng với bộ La Ma Da Na (Phạm: Ràmàyana) là 2 bộ sử thi lớn của Ấn Độ. Chủ đề của bộ sử thi này là nói về nhân vật Côi Đà Thập Đà (Phạm: Dhftaràwỉra), hậu duệ của dòng họ Bà La Đa, tranh giành ngôi vua với dòng họ Bàng Đô (Phạm: Pàịđu), gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 18 ngày. Về niên đại của cuộc chiến tuy không được minh xác, nhưng trên mặt sự thực lịch sử thì nó đã xảy ra, điều này không còn hồ nghi gì nữa. Tác phẩm sử dụng tiếng Phạm, lời văn bình dị, tao nhã. Ngoài chủ đề chính ra, tác phẩm còn bao gồm thần thoại, truyền thuyết, sự tích luyến ái, những lời dạy về cách xử thế v.v..., rồi đối với những vấn đề như: Đạo đức, phong tục, chế độ xã hội, triết học, tông giáo của Ấn Độ đương thời cũng trình bày một cách hết sức rõ ràng. Đây là 1 tư liệu quí giá về tư tưởng sử của Ấn Độ. Trong tác phẩm còn có các truyện cổ tích nổi tiếng như: Bạc già phạm ca (Phạm:Bhagavad Gita), Sa côn đát la (Phạm:Zakuntalì) v.v...Đối với văn học sử tiếng Phạm, bộ sách này có 1 giá trị bất hủ, cung cấp rất nhiều đề tài cho nền văn học đời sau, đến nay vẫn còn được người Ấn Độ ưa thích đọc tụng. Không những chỉ trong nội địa Ấn Độ, mà bất cứ nơi nào, nhất là các nước vùng Đông Nam Á, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, cũng đều có lưu truyền bộ sử thi này. [X. A. Holtzmann: Das Mahàbhàrata und seine Teile, 1892-1895; E.W. Hopkins: The Great Epic of India, 1901; V. Fausbôll: Indian mythology, 1902; H. Jacobi: Mahàbhàrata, 1903; E.W. Hopkins: Epic mythology, 1915; A. Holtzmann: Indische Sagen, 1921].

ma ha bát nhã

Maha-prajna (skt)—Đại tuệ, một trong ba đức của Niết Bàn—Great wisdom, great insight into all truth. One of the three charateristics of the nirvana. ; (摩呵般若) Phạm: Mahàprajĩà. Hán dịch: Đại trí tuệ. Tức là trí tuệ rốt ráo, thù thắng soi rõ thực tướng các pháp. Thiền Uyển Thanh Qui quyển 10 (Vạn tục 111, 465 thượng), nói: Nếu người chưa ngộ được Ma Ha Bát Nhã, thì cứ y theo lời Đức Phật dạy mà tu hành. [X. Duy Thức Xu Yếu Q.thượng, phần đầu].

ma ha bát nhã ba la mật kinh

(摩呵般若波羅蜜經) I. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh. Phạm: Paĩcaviôzati-sàhasrikàprajĩàpàramità. Cũng gọi: Đại phẩm bát nhã kinh, Tân đại phẩm kinh, Đại phẩm kinh, Ma ha bát nhã kinh. Kinh, 27 quyển (hoặc 30, 40 quyển), do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần, thu vào Đại Chính Tạng tập 8. Kinh này là phần thứ 2 (quyển 401-478) trong kinh Đại Bát Nhã. Nội dung thuyết minh về pháp Bát Nhã Ba La Mật. Đây là bộ kinh căn bản nói về Bát Nhã Không Quán ở thời kì đầu của Phật giáo Đại thừa. Kinh Quang Tán Bát Nhã, 10 quyển (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn) và kinh Phóng Quang Bát Nhã, 20 quyển (do ngài Vô Xoa La dịch vào đời Tây Tấn) đều là các bản dịch khác của kinh này. Ngoài ra, Trung Phẩm Bát Nhã bằng tiếng Phạm, tức là bộ Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhã, chia làm 8 phẩm, tương đương với kinh này. Sách chú thích kinh này là bộ luận Đại Trí Độ của bồ tát Long Thụ và nhiều sách chú thích khác của Trung Quốc và Nhật Bản. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập 2, 8; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.8; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4].II. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh. Phạm:Awỉasàhasrikà-prajĩàpàramità. Cũng gọi Tiểu phẩm Bát Nhã Ba La Mật Kinh, Tiểu phẩm Bát Nhã Kinh, Tân tiểu phẩm kinh. Kinh, 10 quyển, gồm 29 phẩm, do ngài Cưu La Ma Thập dịch vào đời Hậu Tần, được thu vào Đại Chính Tạng tập 8. Kinh này là phẩm thứ 4 (quyển 538-555) trong kinh Đại Bát Nhã. Nội dung thuyết minh về pháp Bát Nhã Ba La Mật. Về các bản dịch khác của kinh này thì có: Kinh Đạo Hành Bát Nhã 10 quyển (do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu Hán), kinh Đại Minh Độ Vô Cực 6 quyển (do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam Quốc), kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Sao 5 quyển (do các ngài Đàm Ma Tì và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào đời Tiền Tần). Ngoài ra, bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã bằng tiếng Phạm tương đương với kinh này và là 1 trong 9 Đại Kinh của nước Nepal. Sách chú thích kinh này là bộ Thích Luận bằng tiếng Phạm, do ngài Sư Tử Hiền (Phạm: Haribhadra) soạn. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4].

ma ha bát nhã ba la mật đa

Maha-prajna-paramita (skt)—Đại tuệ đáo bỉ ngạn hay trí tuệ lớn đưa chúng sanh sang bờ giác ngộ bên kia—The great wisdom method of crossing the stream (shore) to nirvana.

ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh

The Heart of MahaPrajan Paramita Sutra.

ma ha bát niết bàn na

Mahaparinirvana (skt)—Đại diệt độ hay đại viên tịch nhập (Niết Bàn cuối cùng, giải thoát và tịch tịnh)—The great complete nirvana—Final release—Perfect rest.

ma ha bát đặc ma

Mahapadma (skt). 1) Đại Hồng Liên Hoa: Great red lotus. 2) Đệ Bát Hàn Ngục: Địa ngục lạnh thứ tám—The eighth cold hell. 3) Bửu Tòa Bạch Sen của Phật: The great white lotus as the Budha's throne, purity and fragrance.

ma ha bồ đề hội

(摩呵菩提會) Mahàbodhi Society. Cũng gọi Ma ha bồ đề xã, Ma ha bồ đề hiệp hội, Đại bồ đề hội. Tổ chức quốc tế vận động phục hưng Phật giáo Ấn Độ, nguyên tên là Bồ Đề Già Da Ma Ha Bồ Đề Hội (Hội Đại Bồ Đề Già Da), do cư sĩ Đạt Ma Ba La (Dharmapàla), người Tích Lan và học giả Henrey Stell Olcott (1832-1907), người Hoa Kì, thành lập vào tháng 5 năm 1891. Ban đầu, Hội trù tính đặt trụ sở ở Bồ Đề Già Da, nơi Đức Phật thành đạo, nhưng sau quyết định chính thức thiết lập cơ sở của Hội ở Colombo, thủ đô nước Tích Lan (Sri Lanka). Mục đích đầu tiên của Hội là thu hồi Đại tháp Thánh tích ở Bồ đề đạo tràng mà từ lâu đã nằm trong tay những tín đồ Ấn Độ giáo, rồi phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ và các nơi khác trên thế giới. Hội nghị Phật Giáo Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức tại Bồ Đề Già Da vào tháng 10 năm 1891, gồm đại biểu các nước: Tích Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Miến Điện và Ấn Độ tham dự. Năm 1892, Hội xuất bản tạp chí Ma Ha Bồ Đề và Liên Hiệp Phật Giáo thế giới, sau được đổi tên là Ma Ha Bồ Đề; trụ sở được dời từ Colombo sang Calcutta, Ấn Độ. Năm 1920, Hội kiến thiết chùa Pháp Giới Tử tại Calcutta để đặt Tổng Bộ, thành lập các bộ Quản lí, Chấp hành ủy viên hội, Tài chính ủy viên hội v.v... Ở vườn Lộc Dã, Bombay và các nơi khác, Hội xây cất chùa, mở thư viện, trường học, phòng phát thuốc miễm phí, sửa lại các tháp Phật, giữ gìn các nơi Phật tích, làm các việc từ thiện xã hội, văn hóa, giáo dục, kiến thiết kí túc xá ở những nơi Phật tích, để Phật tử thế giới về chiêm bái có chỗ ăn ở, chỉnh lí, phiên dịch và xuất bản kinh sách Phật v.v... Ngoài ra, Hội Thanh niên Phật Giáo Tích Lan cũng phát động phong trào ủng hộ công cuộc phục hưng Phật Giáo, lần lượt thành lập các chi hội tại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, giúp cho Hội Ma Ha Bồ Đề ngày càng phát triển. Hiện nay, ở các nước Anh, Mĩ, Đức, Nhật, Tích Lan, Thái Lan, Ấn Độ đều có chi hội Ma Ha Bồ Đề, là những tổ chức đoàn thể chủ yếu trong sự nghiệp phục hưng Phật Giáo quốc tế hiện đại.

ma ha bồ đề tăng già lam

Mahabodhi-sangharama (skt)—See Ma Ha Bồ Đề Tự. ; (摩呵菩提僧伽藍) Phạm,Pàli: Mahàbodhi-saíghàrama. Cũng gọi Đại giác tự, Đại bồ đề tự. Ngôi chùa ở phía ngoài cửa Bắc của khu vườn cây Bồ đề thuộc nước Ma Yết Đà, Trung Ấn Độ, do vua nước Tích Lan sáng lập vào thế kỉ thứ IV, dành cho Phật tử Tích Lan hành hương, chiêm bái các nơi Phật tích ở Ấn Độ có chỗ nghỉ ngơi. Khi ngài Huyền Trang đến đây vào thế kỉ thứ VII, trong chùa có khoảng 1.000 vị tăng tu học giáo pháp Thượng Tọa Bộ. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 8 (Đại 51, 918 trung), nói: Nhà cửa 6 viện, lầu gác 3 tầng, tường xây chung quanh cao ba bốn trượng, kiến trúc rất kì công. (...) Các tốt đổ ba (tháp) cao rộng đẹp đẽ, trong có thờ xá lợi của đức Như Lai. Cầu Pháp Cao Tăng Truyện quyển thượng (Đại 51, 5 trung), nói: Nền chùa lúc ban đầu chỉ rộng hơn cái tháp vuông, con cháu đời sau của vua tiếp tục mở mang, chùa ngày càng to lớn, đến nay thì ở Châu Thiệm Bộ không có chùa nào hơn.

ma ha bồ đề tự

Mahabodhi-sangharama (skt)—Chùa Đại Giác, gần Bồ Đề Đạo Tràng thuộc xứ Ma Kiệt Đà—The monastery of the great enlightenment, a vihara near the Bodhidruma at Gaya, in Magadha.

Ma Ha Ca Chiên Diên

(s: Mahākātyāyana, p: Mahākaccāyana, Mahākaccāna, 摩訶迦旃延): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Ca Đa Diễn Na (摩訶迦多衍那), Ma Ha Ca Để Da Dạ Na (摩訶迦底耶夜那), Đại Ca Chiên Diên (大迦旃延), Ca Chiên Diên (迦旃延); ý dịch là Đại Tiễn Dịch Chủng Nam (大剪剔種男). Ông xuất thân nước A Bàn Đề (s: Avanti, 阿槃提) ở miền Tây Ấn Độ. Về dòng họ cũng như nhân duyên xuất gia của ông, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經) quyển 37, Phẩm Na La Đà Xuất Gia (那羅陀出家品), ông là người con thứ hai của Bà La Môn Đại Ca Chiên Diên trong bộ lạc ăn thịt khỉ, tên là Na La Đà (s: Nālaka, 那羅陀). Lần đầu tiên vào Tần Đà Sơn (頻陀山) trong Thành Ưu Thiền Da Ni (優禪耶尼城), ông theo học tập giáo nghĩa Phệ Đà (s: Veda, 吠陀) với tiên nhân A Tư Đà (s: Asita, 阿私陀). Về sau, A Tư Đà thấy tướng tốt trang nghiêm của Phật khi mới giáng sanh, tiên đoán rằng tương lai Ngài sẽ thành Phật và lúc mạng chung di ngôn rằng Ca Chiên Diên phải lễ bái đức Phật làm thầy. Sau khi xuất gia, ông siêng năng tu tập, không hề giải đãi, chứng đắc quả A La Hán. Sau khi đức Phật diệt độ, ông tiếp tục luận tranh với ngoại đạo, nên được gọi là Luận Nghị Đệ Nhất (Luận Nghị Số Một). Câu Xá Luận Quang Ký (具舍論光記) quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Thí Thiết Luận (阿毘達磨施設論) trong Lục Túc Luận (六足論) được xem như là do ông tạo ra. Trong Mật Giáo, ông được an trí ở bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La (現圖胎藏界曼茶羅).

ma ha ca chiên diên

Mahakatyayana (skt)—Một trong mười đại đệ tử của Đức Phật, được tôn kính là bậc đệ nhất nghị luận. Ông là người bản xứ của thành Avanti, thuộc miền tây xứ Ấn Độ. Ông sanh ra trong gia đình Bà La Môn, và giữ một địa vị cố vấn tôn giáo quan trọng cho vị vua của thành nầy. Ông được Đức Phật hóa độ và cho quy-y tại thành Xá Vệ, kinh đô của nước Cô Xa La, nơi mà nhà vua đã biệt phái ông tới để nghe ngóng về những báo cáo về Phật pháp. Sau khi trở thành đệ tử Phật, ông đã trở lại Avanti, và chính tại đây ông đã độ cho vị vua và nhiều người khác—One of Sakyamuni's ten great (principal) disciples, respected as the foremost in debate. He was a native of Avanti in western India. A Brahman by birth, he held a position as religious advisor to the local king. He was converted at Sravasti, capital of Kosala, where he had been sent by the ruler of Avanti, who had heard reports of Sakyamuni Buddha's teachings. After becoming Sakyamuni's disciple, he returned to Avanti, where he converted the king and many others. ; (摩呵迦旃延) Phạm: Mahàkàtyàyana. Pàli: Mahàccàyana, Mahàkaccàna. Cũng gọi Ma ha ca đa diễn na, Ma ha ca để da dạ na, Đại ca chiên diên, Ca chiên diên.Hán dịch: Đại tiễn dịch chủng nam. Tên vị A La Hán, 1 trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật, người nước A Bàn Đề (Phạm: Avanti) Tây Ấn Độ. Về dòng họ và nhân duyên quy y xuất gia theo Phật của Ngài có nhiều thuyết. Cứ theo phẩm Na La Đà Xuất Gia trong kinh Phật Bản Hạnh tập 37, thì Ngài là con thứ 2 của Bà La Môn Đại Ca Chiên Diên ở thôn Di Hầu Thực, tên là Na La Đà (Phạm: Nàlaka, cũng gọi Na La Ca, Na La Ma Nạp). Ban đầu, Ngài vào núi Tần Đà, gần thủ đô Ưu Thiền Da Ni, theo người cậu là tiên nhân A Tư Đà học tập giáo pháp Phệ Đà. Sau, tiên A Tư Đà thấy tướng hảo trang nghiêm của Đức Thích Tôn lúc mới sinh, đoán trước rằng trong tương lai chắc chắn Ngài sẽ thành Phật, bởi thế, khi lâm chung, ông căn dặn Na La Đà thờ Đức Thích Tôn làm thầy. Sau khi Na La Đà xuất gia quy y Phật, theo dòng họ của Ngài mà gọi là Đại Ca Chiên Diên. Ngài siêng năng tu hành không hề trễ nải, nên đã chứng được quả A la hán. Sau khi đức Phật nhập Niết bàn, Ngài vẫn còn sống, giáo hóa đồ chúng, thường luận chiến với ngoại đạo. Trong hàng đệ tử đức Phật, Ngài được tôn là Luận Nghị Đệ Nhất. Theo Câu Xá Luận Quang Kí quyển 1, thì A tì đạt ma thi thiết luận trong Lục túc luận là do Ngài soạn. Trong Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, Ngài được đặt ở vị trí thứ 6, hàng phía trên, bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni. Hình tượng của Ngài ngồi trên tòa lá sen, bàn tay phải dựng đứng, co ngón vô danh và ngón út; còn tay trái thì cầm 1 góc áo ca sa đặt ở trước ngực. [X. Trưởng lão kệ chú (tiếngPàli); kinh Tạp A Hàm Q.9, 19, 20; luật Ngũ Phần Q.21; luật Thập Tụng Q.25; Pháp Hoa Kinh Văn Cú Q.1, hạ; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.8; Thai Tạng Giới Thất Tập Q.thượng].

Ma Ha Ca Diếp

(s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉): còn gọi là Đại Ca Diếp (大迦葉), Ca Diếp Ba (迦葉波), Ca Nhiếp Ba (迦攝波); ý dịch là Ẩm Quang (飲光), là một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, vị tổ được truyền trao pháp tạng đầu tiên từ đức Phật, thường được gọi là Tây Thiên Thủ Truyền Ma Ha Ca Diếp Tôn Giả (西天首傳摩訶迦葉尊者). Ông sanh ra trong một gia đình Bà La Môn, gần ngoại ô Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城). Sau khi đức Phật thành đạo được 3 năm, ông theo làm đệ tử Ngài, rồi 8 ngày sau thì chứng nhập cảnh địa A La Hán, là người không chấp trước số một trong hàng đệ tử Ngài. Ông có nhân cách thanh liêm, được Phật rất tin tưởng, từng được Ngài chia nữa tòa cho mà ngồi. Sau khi Phật diệt độ, ông trở thành người lãnh đạo giáo đoàn, tiến hành triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên tại Thành Vương Xá. Về sau, ông truyền pháp lại cho Tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難). Tương truyền ông vào trong Kê Túc Sơn (s: Kukkuṭapādagiri, Kurkuṭapādagiri, p: Kukkuṭapadagiri, Kurkuṭapadagiri, 雞足山) nhập định để chờ đức Phật Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) xuất hiện. Thiền Tông xem ông là người đầu tiên hành trì pháp môn không chấp trước, đặc biệt xem ông là Đầu Đà Đệ Nhất (Khổ Hạnh Số Một). Câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu (拈華微笑) liên quan đến Tôn Giả Ca Diếp được truyền tụng mãi cho đến ngày nay. Ngoài ra, vị Phật thứ 6 trong 7 vị Phật thời quá khứ cũng có trùng tên là Ca Diếp. Trong số các đệ tử của đức Phật còn có Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (s: Uruvilvā-kāśyapa, p: Uruvela-kassapa, 優樓頻螺迦葉), Già Da Ca Diếp (s: Gayā-kāśyapa, 伽耶迦葉), v.v., đều có tên trùng Ca Diếp. Vị tổ của Ẩm Quang Bộ (s: Kāśyapīya, 飲光部) thuộc Thượng Tọa Bộ (s: Sthaviravāda, p: Theravāda, 上座部) cũng có tên giống vậy. Trong Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh (大梵天王問佛決疑經) có thuật lại truyền thuyết rằng xưa kia khi đức Phật Thích Ca đang ở trên Hội Linh Sơn, lúc ấy ngài cầm cành hoa Kim Ba La Hoa (金波羅華) do chư thiên đem dâng cúng, đưa ra trước hội chúng hơn 80.000 người. Đại chúng hết thảy đều ngẩn ngơ im lặng mà không thể nào hiểu được thâm ý của đức Như Lai thế nào. Khi ấy, chỉ có một mình Ma Ha Ca Diếp mĩm cười mà thôi. Thấy vậy đức Phật bèn dạy rằng: “Hữu ngã chánh pháp nhãn tạng Niết Bàn diệu tâm, tức phó chúc vu nhữ, nhữ năng hộ trì, tương tục bất đoạn (有我正法眼藏涅槃妙心、卽付囑于汝、汝能護持、相續不斷, ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, nay phó chúc cho ngươi; ngươi có thể giữ gìn, làm cho liên tục không dứt đoạn)”, và truyền trao chánh pháp cho vị này. Đây được xem như là khởi nguyên của Thiền Tông.

ma ha ca diếp

Maha-Kasyapa (skt)—Một người thuộc dòng dõi Bà La Môn tại Ma Kiệt Đà, đã trở thành một trong những môn đồ lớn của Đức Phật, nổi tiếng về kỷ luật khổ hạnh và đạo đức nghiêm khắc. Nhờ những đức tánh ấy mà Ngài đã được tứ chúng tín nhiệm chủ trì kiết tập kinh điển lần đầu cũng như trọng trách lãnh đạo Tăng già sau khi Phật nhập diệt. Ông được coi như là vị tổ thứ nhất trong 28 vị tổ của dòng Thiền cổ Ấn Độ (Ba anh em ông Ca Diếp Ba đều là người trước kia tu theo ngoại đạo, thờ thần Lửa. Ngài Đại Ca Diếp có 500 đệ tử, hai người em mỗi vị có 250 đệ tử. Sau khi tín phục giáo nghĩa của Đức Phật, ba vị đã mang hết chúng đệ tử của mình về quy-y Phật). Ông được coi như sơ tổ dòng thiền Ấn Độ từ câu chuyện “Truyền Tâm Ấn” về Ma Ha Ca Diếp mỉm cười khi Đức Phật đưa lên nhành kim hoa. Người ta nói Ma Ha Ca Diếp đắc quả A La Hán chỉ sau tám ngày theo Phật. Sau khi Ma Ha Ca Diếp thị tịch, ông ủy thác cho ngài A Nan làm chủ tịch hội đồng Tăng Già thời bấy giờ—Mahakasyapa—A Brahmin of Magadha who became a close disciple of the Buddha. He was renowned for his ascetic self-discipline and moral strictness. Thanks to the qualities right after the death of the Buddha, he was asked to reside at the First Council and to take over leadership of the Sangha. He was considered (reckoned) as the first of 28 Great Ancient Patriarchs Indian Zen. He was regarded as the First Patriarch from the story of the “transmission” of the Mind-seal when the Buddha held up a golden flower and Maha-Kasyapa smiled. Maha-Kasyapa is said to have become an Arhat after being with the Buddha for eight days. After his death he is reputed to have entrusted Ananda with leadership of the Order.

ma ha ca diếp ba

Mahakasyapa (skt)—See Ma Ha Ca Diếp.

ma ha ca la

Mahakala (skt)—Đại Hắc Thiên—The greta black deva.

ma ha chất đế tát đỏa

Mahacittasattva (skt)—Ma Ha Bồ Đề Chất Đế Tát Đỏa—Bồ Tát—A Bodhisattva—A great-mind being.

Ma Ha Chỉ Quán

(摩訶止觀, Makashikan): 10 quyển, một trong 3 bộ luận lớn của Thiên Thai Tông, do Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-597) giảng thuật trong mùa an cư năm 594 tại Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺), Kinh Châu (荆州); sau đó, Chương An Quán Đảnh (章安灌頂) hiệu đính và chấp bút cho bộ này. Nội dung của nó gồm 10 chương: Đại Ý của Chỉ Quán, Thích Danh (釋名), Hiển Thể (顯体), Nhiếp Pháp (攝法), Thiên Viên (偏圓), Phương Tiện (方便), Chánh Tu (正修), Quả Báo (果報), Khởi Giáo (起敎) và Chỉ Quy (止歸). Trong chương Chánh Tu chia đối tượng của phép quán ra làm 10 loại, dùng Thập Thừa Quán Pháp và lấy việc tu tập Tam Quán Không Giả Trung làm hệ thống tư tưởng để luận bàn.

ma ha chỉ quán

Chỉ Quán Huyền Văn—Chỉ Quán Luận—Bộ sách căn bản của tông Thiên Thai dạy về cách an dưỡng thân để tâm được trong sáng. Cũng được gọi là viên đốn chỉ quán, nghĩa là nhờ vào sự tập trung tinh thần mà ngưng bặt vọng niệm và đạt được chân trí tức thì (đây là phương pháp của tông Thiên Thai trong Kinh Pháp Hoa). Đây là một trong ba bộ sách lớn của Thiên Thai do đại sư Thiên Thai thuyết giảng và được đệ tử của ngài là Chương An ghi chép lại thành bộ—The foundation work on T'ien-T'ai's modified form of samadhi, rest of body for clearness of vision. It is also called the concentration or mental state, in which is perceived, at one and the same time, the unity in the diversity and the diversity in the unity (a method ascribed by T'ien-T'ai to the Lotus Sutra). It is one of the three foundation works of the T'ien-T'ai School; was delivered by Chih-I to his disciple Chang-An who committed it to writing. ; (摩呵止觀) Cũng gọi: Thiên Thai ma ha chỉ quán. Gọi tắt: Chỉ quán. Tác phẩm, 10 (hoặc 20 quyển), do Đại sư Thiên Thai Trí Khải (538-597) thuyết giảng vào năm Khai Hoàng 14 (594) đời Tùy, đệ tử là ngài Quán Đính (561-627) ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 46, cùng với Pháp Hoa huyền nghĩa và Pháp hoa văn cú gọi chung là Pháp Hoa tam đại bộ. Sách này do Đại sư Trí Khải giảng thuật vào cuối đời (3 năm trước khi ngài tịch) nên là tác phẩm trọn vẹn, đầy đủ nhất về mặt thể hệ trong các trứ tác của Ngài. Nội dung nói rõ về pháp Chỉ quán viên đốn, vốn là sự thể nghiệm và thực tiễn đặc biệt của ngài Trí Khải về đời sống tông giáo. Vì muốn trình bày quan điểm dùng tư duy Thiền quán để thể nghiệm Chỉ quán viên đốn, là cảnh giới tông giáo sâu xa kín nhiệm, vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường, nên ngài Trí khải đem chia pháp cụ thể thực tiễn của ngài làm 2 phần là: Tổng luận lược thuyết (5 lược) và Biệt luận quảng thuyết (10 quảng) để giải thích tỉ mỉ, rõ ràng. Năm lược chỉ cho 5 đoạn: Phát đại tâm, Tu đại hạnh, Cảm đại quả, Liệt đại võng và Qui đại xứ; còn Mười quảng thì chỉ cho 10 chương: Đại ý, Thích danh, Thể tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui. Hai phần này gọi chung là Ngũ lược thập quảng. Cứ theo Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 1, phần 1 thì sách này có 3 loại bản in: Bản 20 quyển, bản 10 quyển và bản hiện nay, cả 3 bản đều có tên là Viên đốn chỉ quán; theo truyền thuyết của người đương thời thì bản thứ 2 là Quảng bản, bản thứ 3 là Lược bản; thực ra bản thứ 3 là do sửa lại bản thứ 2 rồi đổi tên là Ma ha chỉ quán. Năm Thiên thánh thứ 2 (1024) đời Tống, theo sự tấu thỉnh của ngài Tuân Thức, vua ban sắc cho sách này được đưa vào tạng. Về các bản chú thích sách này thì có: Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết 40 quyển, Chỉ Quán Nghĩa Lệ 2 quyển, Chỉ Quán Đại Ý 1 quyển của ngài Trạm Nhiên, San Định Chỉ Quán 3 quyển của Lương Túc. [X. Đại Đường Nội Điển Lục Q.10; Phật Tổ Thống Kỉ Q.25; Đại Đường Hòa Thượng Đông Chinh Truyện; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q.3].

ma ha chỉ quán nghĩa lệ toản yếu

(摩呵止觀義例纂要) Cũng gọi Toản yếu, Chỉ quán nghĩa lệ toản yếu. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tòng Nghĩa soạn vào đời Tống, được đưa vào Vạn tục tạng tập 99. Đây là sách chú thích bộ Chỉ quán nghĩa lệ của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên. Nội dung trước hết nói về đại ý của Chỉ quán nghĩa lệ và về lí do soạn thuật, kế đến là giải thích chính văn, trích dẫn những câu văn chủ yếu trong sách để thành lập thuyết của mình. Sách cũng dẫn dụng nhiều nội và ngoại điển và giải thích Chỉ quán nghĩa lệ rất rõ ràng, tường tận.

ma ha chỉ quán phụ hành sưu yếu kí

(摩呵止觀輔行搜要記) Cũng gọi Ma ha chỉ quán hoằng quyết sưu yếu kí, Ma ha chỉ quán sưu yếu kí, Chỉ quán phụ hành sưu yếu kí. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Trạm Nhiên (711-782) soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 99. Nội dung sách này tóm tắt những điểm cốt yếu trong bộ Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, đồng thời, giải thích thêm những chỗ mà văn nghĩa chưa được sáng tỏ và sửa lại những chữ sai lầm, để cho những người tu hành Chỉ quán tiện sử dụng. Theo lời tựa ở đầu sách, tác phẩm này được soạn thuật khoảng ba, bốn năm trước khi tác giả thị tịch. [X. Trí Chứng đại sư thỉnh lai mục lục].

ma ha chỉ quán phụ hành truyện hoằng quyết

(摩呵止觀輔行傳弘决) Cũng gọi Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết, Chỉ quán phụ hành hoằng quyết, Chỉ quán phụ hành, Phụ hành, Hoằng quyết. Tác phẩm, 40 quyển, do ngài Trạm Nhiên (711-782) ở Kinh Khê soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung sách này là chú thích bộ Ma ha chỉ quán của ngài Trí Khải, tên sách là Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết đã nêu rõ chỉ thú của toàn bộ tác phẩm; nghĩa là dùng các giáo pháp mà đức Phật đã nói trong 1 đời để phụ (giúp) cho việc tu hành chỉ quán mầu nhiệm, rồi lại nương vào sự tu hành chỉ quán mà truyền hoằng giáo chỉ của Phật; cho nên trong toàn bộ 40 quyển đều dùng các quyết như: Tư bẩm khẩu quyết, Thẩm lí yếu quyết v.v... để làm sáng tỏ ý nghĩa giáo, hành giúp đỡ lẫn nhau. Từ trước đến nay, những người giảng Ma ha chỉ quán đều dùng sách này làm bằng cứ. Trong sách có rất nhiều chỗ dẫn dụng ngoại điển, điều này chứng tỏ tác giả là người xem nhiều đọc rộng. Sách này được lưu hành riêng trong thời gian khá lâu, mãi đến năm Thiên Thánh thứ 2 (1024) đời Bắc Tống mới được đưa vào tạng. Về các sách chú thích thì có: Ma ha chỉ quán phụ hành sưu yếu kí, 10 quyển, của ngài Trạm Nhiên, Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết trợ lãm, 4 quyển, của ngài Hữu Nghiêm, Ma ha chỉ quán luận hoằng quyết toản nghĩa, 8 quyển, của ngài Đạo Thúy. [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 11, 25; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27].

Ma Ha Câu Hy La

(s: Mahākauṣṭhila, p: Mahākoṭṭhita, 摩訶俱絺羅): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Sắt Xã La (摩訶瑟社羅), Câu Sắt Để La (俱瑟底羅), gọi tắt là Câu Hy La (s: Kauṣṭhila, p: Koṭṭhita, 俱絺羅); ý dịch là Đại Tất (大膝), Đại Đỗ Trì (大肚持), Đại Thắng (大勝). Sau khi theo Phật xuất gia, ông đắc quả A La Hán, chứng được lý Năm Uẩn là không, nên có tên là Ngộ Không (悟空). Căn cứ vào Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經) quyển 12, khi Câu Hy La đang trú tại Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗) đến hỏi về nghĩa Thập Nhị Nhân Duyên (s: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, p: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda, 十二因緣), Câu Hy La đều trả lời rõ ràng từng chi tiết; vì vậy Xá Lợi Phất tán thán ông có trí tuệ thông suốt như viên châu báu vô giá trên đỉnh đầu. Hơn nữa, trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經) quyển 3 cho rằng Ma Ha Câu Hy La có đủ 4 biện tài. Ngoài ra, trong Soạn Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經) quyển 10, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1, Hữu Bộ Tỳ Nại Da Xuất Gia Sự (有部毘奈耶出家事) quyển 1, 2, v.v., đều cho rằng Câu Hy La là Trường Trảo Phạm Chí (長爪梵志), cậu của Xá Lợi Phất.

ma ha câu hy la

Mahakaushtila (skt)—Một trong những đại đệ tử của Đức Phật—One of the great disciples of the Buddha.

ma ha da na đề bà

Mahayanadeva (skt)—Danh hiệu của Ngài Huyền Trang tại Ấn Độ—A title given to Hsuan-Tsang in India.

ma ha diễn

(摩呵衍) Phạm: Mahà-yàna. I. Ma Ha Diễn. Gọi đủ: Ma ha diễn na. Chỉ cho giáo pháp Đại thừa. (xt. Đại Thừa). II. Ma Ha Diễn. Đức hiệu của ngài Cầu Na Bạt Đà La, vị Cao tăng ở đời Lưu Tống thuộc Nam Triều. Vì ngài chuyên hoằng truyền giáo pháp Đại thừa nên người đời tôn xưng là Ma Ha Diễn. (xt. Cầu Na Bạt Đà La). III. Ma Ha Diễn. Cũng gọi Ma Ha Diễn Na, Đại thừa Hòa Thượng. Thiền sư Trung Quốc, sống vào đời Đường. Vào thời vua Đức tông (ở ngôi 780-805), sư vào đất Tây Tạng hoằng pháp, ra sức xiển dương yếu chỉ Trực chỉ nhân tâm kiến tính thành Phật của Thiền tông, nên đã có 1 thời chư tăng Tây tạng đều theo học và nhiều Phật tử Tây Tạng theo sư xin xuất gia, trong đó có hàng quí tộc. Về sau, vua Khất Lật Song Đề Tán (ở ngôi 742-797) thỉnh đệ tử của ngài Tịch Hộ là Liên Hoa Giới từ Nepal đến Tây Tạng để truyền bá giáo pháp Ấn Độ. Ngài Liên Hoa Giới tinh thông Trung Quán, lại giỏi về Nhân Minh, trái hẳn với Thiền chỉ mà ngài Ma Ha Diễn hoằng truyền trước nay tại Tây Tạng, vì thế 2 bên tranh luận đã lâu mà không bên nào quyết được, vua Tây Tạng bèn triệu tập chúng tăng mời 2 vị biện luận, ngài Liên Hoa Giới dùng lời lẽ để luận nạn, sư không ứng đối được nên bị trả về Trung Quốc, từ đó giáo pháp Trung Quán thay thế cho Thiền pháp ở Tây Tạng. Trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng, sự kiện này được gọi là Lạp tát luận tranh (cuộc tranh luận ở Lhasa), cũng gọi là Đốn tiệm chi tranh (cuộc tranh luận về đốn và tiệm) rất nổi tiếng. Hòa thượng Đại thừa rập khuôn theo truyền thống Thiền tông Trung Quốc, chủ trương đốn ngộ trực chỉ để hóa độ rộng rãi, xem thường việc diễn dịch giáo nghĩa trên bình diện tư duy phân biệt; pháp môn đốn ngộ trực chỉ này chỉ hợp với sự tham cứu, dùng mặc chiếu điểm phá khiến tâm lãnh hội, nhưng sư lại dùng biện luận để chứng minh, thì tránh sao khỏi thất bại? Phật giáo Ấn Độ từ ngài Thế Thân, Tăng Hộ trở đi, đặc biệt xem trọng kĩ xảo biện luận. Trong trường hợp này, ngài Liên Hoa Giới sử dụng thành thạo luận lí học Nhân Minh, mà Thiền thì chủ trương bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, cho nên sự thất bại của Hòa thượng Đại thừa chỉ là việc tất nhiên. Tuy vậy, không phải vì sự kiện này mà ảnh hưởng của Thiền tông đã mất hẳn ở Tây tạng. Hiện nay, trong các thư tịch Tây tạng vẫn có nhiều chỗ nói về Thiền tông. [X. Tây tạng Phật học nguyên luận; Đốn ngộ Đại thừa chính lí quyết (Vương tích)].

ma ha diễn tạng

(摩呵衍藏) Chỉ cho kinh điển Đại thừa, tức là những kinh nói về đạo Bồ tát như: Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Niết Bàn v.v...Luận Đại Trí Độ quyển 100 (Đại 25, 756 trung), nói: Tuy cùng cầu một môn giải thoát, nhưng có tự lợi, lợi tha khác nhau, cho nên có Đại thừa, Tiểu thừa sai biệt, (...) Tam Tạng là pháp Thanh Văn, Ma Ha Diễn là pháp Đại thừa.

ma ha dạ na

Mahayana (skt)—Đại Thừa, đối lại với Tiểu Thừa—The Great Vehicle, in contrast with the Lesser Vehicle.

Ma Ha Kiếp Tân Na

(s: Mahākalpina, p: Mahākapphiṇa, 摩訶劫賓那): còn gọi là Ma Ha Kiếp Tân Ninh (摩訶劫賓寧), Ma Ha Kiếp Tỷ Noa (摩訶劫比拏), Ma Ha Kế Tân Na (摩訶罽賓那), Ma Ha Ca Thất Na (摩訶迦匹那), Ma Ha Kim Tỳ La (摩訶金毘羅), hay Đại Kiếp Tân Na (大劫賓那), Kiếp Tân Na (劫賓那); ý dịch là Hoàng Sắc (黃色), Phòng Túc (房宿), Đại Phân Biệt Thời (大分別時), v.v. Ông là một trong các đại đệ tử của Phật, rất tinh thông thiên văn, lịch số, biết được sự vận hành của các vì sao, được gọi là Tri Tinh Tú Đệ Nhất (知星宿第一). Theo phẩm Đại Kiếp Tân Ninh (大劫賓寧), Hiền Ngu Kinh (賢愚經) 7, ông là con của đức vua Kiếp Tân Ninh nước Kim Địa Quốc (金地國), bẩm tánh thông minh, có sức mạnh cường tráng. Sau khi vua cha qua đời, ông kế thừa ngôi vị, binh lửa dẹp yên, đất nước an bình, uy phong chấn động khắp nơi; từ đó ông muốn chế ngự miền trung Ấn Độ, bèn sai sứ đến Thành Xá Vệ cầu viện vua Ba Tư Nặc (s: Prasenajit, p: Pasenadi, 波斯匿). Lúc bấy giờ đức Phật đang trú tại Tinh Xá Kỳ Hoàn (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), tự biến hóa thành vị Chuyển Luân Thánh Vương, dùng thần thông biến hiện làm cho Kiếp Tân Na quy phục. Từ đó, ông phát tâm xuất gia, thường tinh tấn dõng mãnh tu tập, trú định Tam Muội. Về sau ông chứng đắc Pháp Nhãn thanh tịnh và A La Hán quả. Lại căn cứ vào Quang Trạch Pháp Hoa Nghĩa Sớ (光宅法華義疏) quyển 1, Pháp Hoa Huyền Tán (法華玄贊) quyển 1 cho biết rằng Kiếp Tân Na có tên là Phòng Túc. Lúc mới xuất gia, ông chỉ nghe danh Phật chứ chưa từng được diện kiến Ngài, vì vậy ông khát khao muốn được gặp Ngài, bèn lên đường đến trú xứ Phật. Ban đêm gặp trời mưa to, ông phải tá túc qua đêm tại một nhà làm đồ gốm. Chủ nhà dành cho ông một căn phòng tá túc qua đêm. Tuy nhiên, Kiếp Tân Na lại trãi cỏ mà nằm, đến nữa đêm bỗng nhiên có một vị Tỳ Kheo già đến xin tá túc. Ông nhường chỗ cho lão Tỳ Kheo kia và tự mình ngồi. Nhân đó, lão Tỳ Kheo thuyết pháp cho ông nghe, và đêm ấy ông ngộ đạo. cuối cùng ông mới biết được vị kia chính là đức Phật đã hóa hiện ra để hóa độ mình. Hay theo Pháp Hoa Văn Cú (法華文句) quyển 1, nhân vì cha mẹ ông kết hôn đã lâu năm mà chẳng sanh con, nên thành tâm cầu nguyện các vì sao để mong có con, từ đó cảm ứng được sao thứ tư Phòng Túc trong 28 ngôi sao giáng sanh.

ma ha kiếp tân na

Mahakaphina. ; (摩呵劫賓那) Phạm: Mahàkalpina. Pàli: Mahàkapphiịa. Cũng gọi Ma ha kiếp tân ninh, Ma ha kiếp tỉ noa, Ma ha kế tân na, Ma ha ca thất na, Ma ha kim tì la, Đại kiếp tân na. Gọi tắt: Kiếp tân na. Hán dịch: Hoàng sắc, Phòng tú, Đại phân biệt thời. Vị A La Hán đệ tử của Đức Phật, tinh thông thiên văn, lịch số, chiêm tinh bậc nhất trong chúng tăng. Cứ theo phẩm Đại kiếp tân ninh trong kinh Hiền Ngu quyển 7 chép, thì ngài là con của vua Kiếp Tân Ninh nước Kim Địa, bẩm tính thông minh, khỏe mạnh, sau khi phụ vương băng hà, ngài lên nối ngôi, quân lực hùng mạnh, uy thế lừng lẫy; vì muốn áp chế Trung Ấn Độ nên ngài sai sứ đến nước Xá Vệ xin triều cống vua Ba Tư Nặc. Bấy giờ Đức Phật đang trụ ở tinh xá Kì Hoàn, hóa làm Chuyển luân Thánh vương, dùng thần thông biến hiện làm cho Kiếp Tân Na tin phục. Từ đó, vua Kiếp Tân Na xa lìa trần tục, xuất gia tu trì, luôn dũng mãnh tinh tiến, thường an trụ trong định. Sau được pháp nhãn thanh tịnh và chứng đắc quả A La Hán. Ngoài ra, cứ theo Quang Trạch Pháp Hoa Nghĩa Sớ quyển 1 và Pháp Hoa Huyền Tán quyển 1 chép, thì vì đức Như Lai biết trước nhân duyên thành đạo của Kiếp Tân Na, nên hóa hiện làm 1 vị Tỉ Khưu già ngủ trong tăng phòng và nói pháp cho Kiếp Tân Na nghe, ngay đêm đó ngài Kiếp Tân Na đắc đạo nên gọi ngài là Phòng Túc. Còn theo Pháp Hoa văn cú quyển 1, thượng, thì vì cha mẹ ngài cầu nguyện sao Phòng mà sinh được ngài, cho nên đặt tên là Phòng Tú. [X. kinh Tăng Nhất A Hàm Q.22; kinh Bản Sự Q.6; kinh Hiền Ngu Q.6; Pháp Hoa Nghĩa Kí Q.8; Phiên Phạm Ngữ Q.2, 4; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.23].

ma ha kiều đàm ni

Mahagautami (skt)—Dì và cũng là người nuôi dưỡng Phật Thích Ca—Aunt and nurse of Sakyamuni. ** For more information, please see Ma Ha Ba Xà Ba Đề.

ma ha la

Mahallakas (skt)—Ngu đần—Stupid—Ignorance.

ma ha la xa

Maharaja (skt)—Một vị vua tài giỏi—A great or superior king.

ma ha lô sắt nã

Maharosana (skt)—Sân Hận Thiên—The angry deva.

ma ha lạt đà quốc

(摩呵剌佗國) Ma ha lạt đà, Phạm: Mahà-ràwỉra; Pàli: Mahà-raỉỉha. Cũng gọi Ma ha la sá quốc, Ma ha lặc trá quốc, Ma ha lại tra quốc. Hán dịch: Đại quốc. Tên 1 nước xưa ở phía nam nước Ma Lạp Bà thuộc Nam Ấn Độ. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 chép, thì nước này chu vi hơn 6.000 dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác, tính người hiếu học và kiêu hùng, mang ân thì đền, có oán phải trả, quân đội rất mạnh. Thời xưa, vua Giới Nhật chinh phạt đông tây, chỉ có nước này không chịu thần phục. Trong nước có hơn 100 ngôi chùa với hơn 5.000 tăng đồ, tu học cả Đại thừa và Tiểu thừa, có mấy trăm đền thờ trời, rất nhiều ngoại đạo. Trong cũng như ngoài đô thành có rất nhiều tháp. Trong hang núi phía đông có 1 ngôi chùa lớn, do A La Hán A Chiết La xây cất để hồi hướng cho mẹ. Chùa cao hơn trăm thước, bên trong khắc pho tượng Phật bằng đá cao hơn 70 thước, thưở xưa, bồ tát Trần Na thường trụ ở đây. Ngôi chùa này hiện nay là động đá A Chiên Đa (Phạm: Ajantà) nổi tiếng. [X. kinh Trường A Hàm Q.5; kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Q.55; Phiên Phạm Ngữ Q.8].

ma ha ma da kinh

(摩呵摩耶經) Cũng gọi: Phật thăng Đao Lợi thiên vị mẫu thuyết pháp kinh, Phật lâm bát Niết Bàn mẫu tử tương kiến kinh. Gọi tắt: Ma da kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Đàm Cảnh dịch vào đời Bắc Tề, được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung kinh này được chia làm 2: Nửa bộ trước tường thuật việc Đức Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu là Ma Da phu nhân nghe, khiến cho phu nhân chứng Sơ quả, nửa bộ sau thuật lại việc Đức Phật đi hóa đạo các nước, cuối cùng, đến rừng Sa La song thụ gần thành Câu Thi Na Yết La vào Niết Bàn, phu nhân Ma Da từ cung trời Đao Lợi xuống than khóc thảm sầu, lúc ấy Đức Phật liền mở kim quan từ biệt thân mẫu. Sau hết, kinh này còn thuật lại việc Đức Phật huyền kí (dự đoán) về tình hình pháp trụ, pháp diệt. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 6; Duyệt tạng tri tân Q.25].

ma ha ma gia

Maha Maya (skt). 1) Đại huyễn (làm cho cả vũ trụ vật chất dường như hiện thực và làm cho giác quan nhận ra như thế)—Great deceit or illusion, worldly illusion, the divine power of illusion (which makes the material universe appear as if really existing and renders it recognizable by the senses). 2) Hoàng Hậu Ma Ha Ma Da: Ma Ha Phu Nhân—Bà sống trong vương quốc cổ tên Câu Ly, nay thuộc vương quốc Nepal. Bà là trưởng nữ của vua Thiện Giác, và là vợ của vua Tịnh Phạn, mẹ ruột của Phật Thích Ca. Thái Tử Sĩ Đạt Đa sanh ra nơi hông phải của hoàng hậu, bảy ngày sau thì hoàng hậu qua đời, em gái hoàng hậu là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề trở thành mẹ nuôi của Thái Tử—Mahamaya lived in the ancient kingdom of Koliya, which is now in Nepal. She was the wife of Suddhodana, and mother of Sakyamuni (Siddhartha). Siddhartha was born from her right side, and she died seven days later, her sister Mahaprajapati becoming his foster mother. ** For more information, please see Ma Ha Ba Xà Ba Đề.

ma ha mạn thù sa hoa

Mahamanjusaka (skt)—Một loại hoa đỏ giống như hoa thiền thảo ở vùng Băng Gan—A red flower yielding the madder (munjeed of Bengal).

ma ha mạn đà la hoa

Mahamandarava (skt)—Một loại sen trắng lớn—A large white lotus.

ma ha mục chi

Mahamucillinda (skt)—Tên của một vị vua rồng—Name of a Naga-king.

ma ha mục kiền liên

Mahamaudgalyayana (skt)—Mục Kiền Liên—Mục Liên—La Dạ Na—Đại Mục Liên—Đại Mục Kiền Liên—Một trong mười môn đồ lớn của Phật, xuất thân từ một gia đình Bà La Môn. Ông gia nhập giáo đoàn cùng lúc với Xá Lợi Phất, một người bạn lúc thiếu thời. Ông đã giao kết với Xá Lợi Phất, nếu ai tìm được chân lý trước thì phải nói cho người kia cùng biết. Xá Lợi Phất tìm về với Đức Phật và bèn mang Mục Kiền Liên đến gặp Phật để cùng trở thành đệ tử Phật. Ông đã nhanh chóng nổi tiếng nhờ vào những năng lực thần thông. Về sau nầy ông bị ám hại bởi những kẻ thù ghét Phật giáo. Ông thường đứng bên trái Đức Phật, trong khi Xá Lợi Phất bên phải. Bên Trung Hoa người ta nói Mục Kiền Liên là hiện thân của Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát. Mục Kiền Liên được Phật thọ ký sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Tamala-patra-candana-gandha—One of the ten most important (chief) disciples of the Sakyamuni Buddha, who came from a Brahmin family. He entered the Buddhist order at the same time with Sariputra, a friend since youth. He agreed with Sariputra that whoever first found the truth would reveal it to the other. Sariputra found the Buddha and brought Maudgalyayana to him; the former is placed on the Buddha's right, and the latter on his left. He soon became famous (noted) for his supernatural (miraculous) powers or abilities. Later he was murdered shortly before the death of the Buddha by enemies of Buddhism. He is always standing at the left of Sakyamuni, while Sariputra being on the right. In China, Mahasthamaprapta is said to be a form of Mahamaudgalyayana. The Buddha predicted that when Maudgalyayana is reborn, he is the Buddha with his title of Tamal-patra-candana-gandha.

ma ha na bát

Mahasthamaprapta (skt)—Đại Thế Chí Bồ Tát.

ma ha na dà

Mahanaga (skt). 1) Danh hiệu của Phật: A title of a Buddha. 2) Danh hiệu của một vị A La Hán: A title of an arhat. 3) Đại Long Tượng bảo hộ thế giới: The great nage, one of the elephants hat supports the world.

ma ha na ma

Mahanama (skt)—Ma Ha Nam—Một trong năm vị tỳ kheo được Phật độ đầu tiên—One of the first five of sakyamuni's converts.

ma ha nam

Mahanama (skt)—Se Ma Ha Na Ma. ; (摩呵男) Phạm, Pàli: Mahàmàna. I. Ma Ha Nam. Cũng gọi: Ma ha na ma. Hán dịch: Đại hiệu, Đại danh. Tên của vị đệ tử Phật, là 1 trong 5 Tỉ Khưu được Đức Phật hóa độ đầu tiên. Trong kinh Trung Bản Khởi ghi tên ngài là Ma Nam Câu Lợi (Phạm: Mahànàma- Koơiya), trong Phật sở hành tán, ngài được gọi là Thập Lực Ca Diếp. Ngài là 1 trong 5 người của hoàng tộc được vua Tịnh Phạn chọn đi theo hầu Thái tử Tất Đạt Đa khi Thái tử vượt thành xuất gia; sau khi Thái tử đắc đạo thành Phật, chuyển pháp luân lần đầu tiên ở vườn Lộc Dã, để độ cho ngài và 4 vị kia đều đắc đạo, chứng quả A La Hán. Về sau, ngài hộ trì đức Phật giáo hóa chúng sinh. Phẩm Đệ tử trong kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 (Đại 2, 557 thượng), nói: Mau chóng thành tựu thần thông, trong đó không có hối tiếc, chính là Tỉ Khưu Ma Ha Nam. [X. kinh Thị giả trong Trung A Hàm Q.8; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; luật Tứ phần Q.32; luận Đại tì bà sa Q.182; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng, Đại đường tây vực kí Q.7]. II. Ma Ha Nam. Cũng gọi Thích chủng ma ha nam (Phạm: Sakkamahànàma), Ma ha nam thích, Thích ma nam. Vị cư sĩ Phật tử thuộc dòng họ Thích Ca ở thành Ca Tì La Vệ, Trung Ấn Độ. Luật Ngũ Phần quyển 15 và Hữu Bộ Tì Nại Da Phá Tăng Sự quyển 2, đều nói ngài là con của vua Hộc Phạn. Còn luận Đại Trí Độ quyển 3 và Đại Sự (Phạm:Mahàvastu) thì cho rằng ngài là con vua Cam Lộ Phạn. Sau khi người em là A Na Luật xuất gia thì ngài đảm trách các việc trong nhà, rất kính trọng giáo pháp của Phật, thường cúng dường thuốc thang, y phục và thức ăn uống cho chúng tăng. Bài kinh Khổ Ấm trong kinh Trung A Hàm là do ngài thỉnh Đức Phật tuyên thuyết. Cứ theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 26 chép, thì lúc vua Tì Lưu Li thành Xá Vệ đánh giết dòng họ Thích Ca ở thành Ca Tì La Vệ, ngài Ma Ha Nam đã tự nguyện chết trong nước để cứu dòng họ Thích. Có thuyết cho rằng Thích Chủng Ma Ha Nam này chính là Tỉ Khưu Ma Ha Nam nói ở trên. [X. kinh Tạp A Hàm Q.29, 30; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.3, 35; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.11, 58; luật Ngũ Phần Q.3].

ma ha nhân đà la

Mahendra (skt)—Ma Ê Nhân Đà La—See Ma Thẩn Đà.

ma ha nhạ dà na

Mahanagna (skt)—See Ma Ha Nặc Dà Na.

ma ha ni la

Mahanila (skt)—Ma Ha Nê La—Ngọc bích màu trong xanh, được diễn tả như là viên ngọc lớn của Trời Đế Thích—Dark-blue, a sapphire, described as the large blue pearl of Indra, perhaps the Indranila.

ma ha nê la

Mahanila (skt)—See Ma Ha Ni La.

ma ha nặc dà na

Mahanagna (skt)—Đại Lộ Thân—Tên của một vị Thần khỏa thân—Quite-naked—Great naked powerful spirit.

ma ha sa la

Mahasara (skt)—Ma Ha Bà La—Một thành phố cổ mà bây giờ là Masar, cách Patna chừng 30 dậm—An ancient city in central India, the present Masar, about 30 miles west of Patna.

ma ha thiền sư

Thiền sư Ma Ha—Zen Master Mahamaya—Thiền sư Ma Ha, thuộc đời thứ mười dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, gốc người Chiêm Thành. Sư đã tinh thông cả chữ Phạn lẫn chữ Hán. Sau sư gặp và trở thành một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Pháp Thuận. Năm 1014, sư dời về núi Đại Vân ở Trường An chuyên tu “Tổng Trì Tam Muội.” Năm 1029 sư về trụ trì chùa Khai Thiên, nhưng đến năm 1035 sư bỏ đi du phương không biết về đâu—Zen master Mahamaya, a dharma heir of the tenth lineage of the Vinitaruci Sect. He was a Champa monk, but good in both Sanskrit and Chinese. Later he met Zen Master Pháp Thuận and became one of the most outstanding deisciples of Pháp Thuận. In 1014, he moved to Mount Đại Vân in Trường An to focus on practicing “Dharani” or “Absolute Control.” In 1029 he went to Khai Thiên Temple and stayed there for six years, but in 1035 he left Khai Thiên and became a wandering monk. Since then his whereabout was unknown.

ma ha thích đà

Maharastra (skt)—Vương quốc cổ về phía tây bắc của cao nguyên Đề Căng—The Mahratta country, an ancient kingdom in the north-west corner of the Deccan.

ma ha tát

Mahasattva (skt)—See Ma Ha Tát Đỏa.

ma ha tát đoá

(摩呵薩埵) Phạm: Mahàsattva. Pàli: Mahàsatta. I. Ma Ha Tát Đóa. Gọi tắt: Ma ha tát. Hán dịch: Đại hữu tình, Đại chúng sinh. Từ gọi chung bậc Bồ tát hoặc Đại sĩ. Tức là bậc có Nguyện đại, Hạnh đại, Độ chúng sinh đại, là bậc tối thượng trong các chúng sinh ở thế gian và không bao giờ lui sụt đại tâm ấy, cho nên gọi là Ma ha tát đóa. [X. luận Đại Trí Độ Q.5; Pháp Hoa Nghĩa Sớ Q.2; Pháp Hoa Huyền Tán Q.2]. II. Ma Ha Tát Đóa. Cũng gọi Tát Đóa Vương Tử. Tên của Đức Phật ở đời quá khứ khi tu hạnh Bồ tát. Ở đời quá khứ xa xưa, có 1 vị vua tên là Ma Ha La Đà (Phạm:Mahà-ratha, Hán dịch: Đại xa), siêng tu các pháp lành. Vua có 3 người con, đều tướng hảo đoan nghiêm, người con thứ 1 tên là Ma Ha Ba Na La (Phạm: Mahà-praịàda), người thứ 2 tên là Ma Ha Đề Bà (Phạm:Mahàdeva) và người thứ 3 tên là Ma Ha Tát Đóa. Một hôm, 3 vương tử vào chơi trong rừng trúc, thấy con hổ mẹ sinh 7 hổ con, các hổ con đang vây quanh hổ mẹ, đói lả tiều tụy, thân thể gầy ốm, sinh mệnh sắp dứt, 3 vương tử trông thấy đều thương tâm mà bỏ đi. Nửa đường, Ma Ha Tát Đóa, động lòng thương quá, bảo 2 anh về trước, còn 1 mình trở lại khu rừng, đến chỗ hổ đói, phát nguyện vì cầu đạo Vô Thượng Bồ đề mà xả bỏ cái thân nhơ nhớp này; nguyện rồi, cởi y phục vắt lên cành tre, gieo mình vào trước những con hổ đói. Nhưng hổ sợ uy lực từ bi của Tát Đóa không dám ăn thịt; Tát Đóa thấy thế liền leo lên ngọn cây gieo mình xuống đất, bấy giờ thần đất đưa tay đỡ lấy Tát Đóa nên không bị thương tổn. Tát Đóa lại dùng khúc tre khô đâm vào cổ, ngay lúc ấy mặt đất rúng động, hoa từ trên hư không rơi xuống, hổ đói thấy máu của Tát Đóa chảy ra, đi đến liếm máu và ăn thịt, chỉ còn bộ xương. Bảy hổ con lúc bấy giờ, sau này là tôn giả Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất và 5 vị Tỉ Khưu khi Đức Phật còn tại thế. Đức Thế Tôn cũng nhân công đức này mà thành Phật trước 11 kiếp. X. kinh Hiền Ngu Q.1; kinh Kim Quang Minh Q.4; kinh Đại Bảo Tích Q.80; kinh Bồ Tát Bản Hạnh Q.hạ; luận Phân Biệt Công Đức Q.2].

ma ha tát đỏa

Mahasattva (skt)—Đại chúng sinh hay đại hữu tình. Những chúng sinh có lòng đại bi và năng lực lớn, muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh—A Bodhisatva—Great being one with great compassion and energy, who wants to become a Buddha and brings salvation to all living beings.

ma ha tát đỏa vương tử

Mahasatva-kumara-raja (skt). 1) Thái Tử: The noble and royal prince. 2) Phật Thích Ca: Sakyamuni Buddha.

ma ha tì la

(摩呵毗羅) Phạm: Mahàvìra. Hán dịch: Đại hùng. Tức là Ni Càn Đà Nhã Đề Tử, Tổ khai sáng Kì Na Giáo ở Ấn Độ, một trong Lục sư ngoại độ. Ông sống cùng thời đại với Đức Phật. Ông xuất gia năm 30 tuổi, tu khổ hạnh ròng rã 12 năm mới ngộ đạo. Để đối kháng với những mối tệ lâu đời của Bà La Môn Giáo nên ông sáng lập ra tông giáo mới, gọi là Kì Na Giáo. (xt. Ni Càn Đà Nhã Đề Tử).

ma ha tăng kì luật

(摩呵僧祇律) Phạm: Mahàsaíghavinaya. Gọi tắt: Tăng kì luật. Hán dịch: Đại chúng luật. Luật, 40 quyển, do các ngài Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển cùng dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 22. Đây là bộ Luật của Đại chúng bộ trong thời Phật giáo bộ phái. Toàn bộ sách được chia làm 2 phần: Tỉ Khưu giới pháp (35 quyển đầu) và Tỉ Khưu Ni giới pháp (05 quyển sau). Phần đầu nêu rõ 218 giới, Tạp tụng bạt cừ pháp, Uy nghi pháp, tường thuật các nguyên do chế giới, giải thích các giới điều và tình hình ứng dụng thích hợp. Trong đó, pháp Tạp tụng bạt cừ và pháp Uy nghi tương đương với phẩm Kiền độ của luật Tứ Phần, tức nói về các qui định liên quan đến nghi thức hành sự, yết ma và sự sinh hoạt hàng ngày của tăng chúng như: ăn, mặc và ở v.v... Phần 2 thì liệt kê 277 giới và Tạp bạt cừ pháp. Sách này cùng với luật Tứ Phần, luật Ngũ Phần và luật Thập Tụng, từ xưa đến nay, được gọi là Tứ Quảng Luật. Nếu so với 3 bộ luật kia thì sách này đặc sắc hơn nhiều, vì các điểm sau đây: 1. Về thời gian chế định 4 pháp Ba La Di được suy định vào khoảng từ nửa tháng thứ 5 mùa đông năm thứ 5 sau khi Đức Phật thành đạo, đến nửa tháng thứ 4 mùa đông năm thứ 6. 2. Những điều được ghi trong Thất Bách Kết Tập Luật tạng, không nêu ra 10 việc phi pháp, mà chỉ nói đến Ngũ Tịnh pháp. Hơn nữa, cũng không đề cập gì đến chủ trương phủ nhận của các Tỉ Khưu Bạt Kì. 3. Nội dung sách có chép hơn 40 loại Bản sinh đàm và viện dẫn hơn 20 loại kinh Bản sinh v.v...Cứ theo điều Ngũ bách Tỉ Khưu tập pháp tạng trong quyển 32 của bộ luật này, thì luật Ma Ha Tăng Kì là do ngài Ưu Ba Li vâng mệnh ngài Ma Ha Ca Diếp mà tụng ra, kế đến, điều đã dẫn, ghi rõ tên của 27 vị truyền thừa luật này, bắt đầu từ các Ngài: Đà Sa Bà La, Thụ Đề Đà Sa, Kì Đa v.v... Đây là tư liệu về sự truyền thừa của luật này. Lại theo Pháp Hiển truyện chép, thì mục đích của ngài Pháp Hiển đến Ấn độ là để tìm cầu giới luật, nhưng giới luật ở các nước Bắc Thiên Trúc thì đều thầy trò truyền miệng cho nhau, không có bản văn để có thể sao chép lại. Mãi đến khi ngài Pháp Hiển tới chùa Ma Ha Diễn tại Trung Thiên Trúc mới có được 1 bộ luật, tức là luật Ma Ha Tăng Kì chúng, được truyền ở tinh xá Kì Hoàn, là bộ luật được đại chúng hành trì sớm nhất, lúc đức Phật còn tại thế. Ngoài ra, Xuất tam tạng kí tập quyển 3 và Thập tì ni nghĩa sao quyển 1, cho rằng luật Tăng Kì là do Độc tử bộ truyền, thuyết này e có sự lầm lẫn. [X. Đại đường tây vực kí Q.9; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.3, 4, 5; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, 3, 15].

ma ha tăng kỳ bộ

Mahasanghikah or Mahasanghanikaya (skt)—Đại Chúng Bộ, một trong bốn tông phái của Vaibhasika, được thành lập sau lần kết tập kinh điển thứ nhì. Sau lần kết tập kinh điển thứ ba, trường phái nầy chia làm năm tông—One of the four branches of the Vaibhasika, said to have been formed after the second synod in opposition to the sthaviras, marking the first division in the Buddhist temple. Followers of Mahakasyapa. After the third synod this school split into five sects (Purvasaila, Avarasaila, Haimavata, Lokottaravadinas, Prajnaptivadinas).

ma ha tăng kỳ luật

Bộ luật Ma Ha Tăng Kỳ (luật thiền môn) do Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hoa ngữ thành 40 quyển—The great canon of monastic rules, translated into Chinese by Buddhabhadra and Fa-Hsien in 40 books.

ma ha tất lợi đa pháp hội

(摩呵畢利多法會) Mahàpirita. Pháp Hội cầu phúc của Phật giáo Tích Lan.Tại Tích Lan, khi tín đồ Phật giáo gặp những việc vui mừng, đau buồn hoặc bệnh tật v.v... thì thường thỉnh các vị Tỉ Khưu đến nhà tụng kinh cầu bình an, phúc lợi. Nghi thức Pháp Hội này gần giống như Pháp Hội Tì La Tất Lợi Đa (Tích Lan: Veilpirita, Hán dịch: Tiểu bảo hộ, Tiểu kì phúc pháp hội), nhưng khác ở chỗ thời gian tụng kinh lâu hơn.

ma ha tỳ ha la

Mahavihara (skt)—Một tự viện gần cố đô Anuradhapura của Tích Lan, nơi ngài Pháp Hiển đã tìm thấy 3.000 tăng ni vào khoảng năm 400 sau Tây Lịch—A monastery near Anuradhapura, ceylon, where Fa-Hsien found 3,000 inmates in about 400 AD.

ma ha tỳ ha la trụ bộ

Mahaviharavasinah (skt)—Một hệ phái thuộc Mahasthavira, chống lại hệ thống Đại Thừa—A subdivision of Mahasthavira school, which combated the Mahayana system.

ma ha tỳ lô giá na

Mahavairocana (skt)—See Đại Nhựt Như Lai and Vairocana.

ma ha đản đặc

Mahatantra (dharani) (skt)—Đại lực Đà La Ni giúp vượt qua ma chướng—Great spell power for overcoming the evil and cleaving to the good.

ma ha đề bà

Mahadeva (skt). 1) Đại Thiên: The great deva. 2) Tên của một vị A La Hán: Name of an arhat. 3) Tiền thân Đức Phật: A former incarnation of Sakyamuni. 4) Ma Hê Thủ La Thiên: Mahesvara, Siva.

ma hi hà

(ma hi hà) Ma hi, Phạm,Pàli: Mahì. Cũng gọi Ma xí hà, Mạc hi hà. Sông nằm về phía bắc sông Hằng, là 1 trong 5 chi nhánh của sông Hằng, tức nay là con sông chảy qua khu vực Bombay ở Tây Ấn Độ rồi đổ vào Ấn Độ dương. Trong kinh điển có rất nhiều chỗ nói về con sông này. Kinh Thất Nhật trong Trung A Hàm quyển 2 (Đại 1, 428 hạ), chép: Các nguồn suối lớn đều phát xuất từ 5 sông lớn của châu Diêm Phù, thứ 1 là sông Hằng (...), thứ 5 là sông Ma Xí; các nguồn suối lớn ấy đều sẽ cạn khô hết, không tồn tại mãi, cho nên biết tất cả các hành đều vô thường (...), nên cầu xả li, nên cầu giải thoát. Điều Ma Lạp Bà quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 (Đại 51, 935 hạ), nói: Nước Ma Lạp Bà chu vi hơn 6.000 dặm, thủ đô rộng hơn 30 dặm, nằm về phía đông nam sông Mạc Hi.

ma hê nhân đà la

Mahendra (skt)—See Ma Thẩn Đà.

ma hê thủ la thiên

Mahesvara (skt)—Đại Tự Tại Thiên—The great sovereign ruler or deva.

ma hê thủ la thiên vương

Mahesvara-raja (skt)—Đại Tự Tại Thiên Vương—Vua của chư đại tự tại thiên, chúa tể đại thiên, vị có tám tay ba mắt, cỡi bò trắng. Theo ngài Huyền Trang thì người ta thờ vị nầy tại Panjab—King of devas, lord of one great chiliocosm, a deity with eight arms, three eyes, riding on a white bull. Hsuan-Tsang says specially worshipped in the Panjab.

ma hê xa sa ca

Mahisasakah (skt)—See Ma Ê Xa Sa Ca.

ma hô

See Ma Hầu La.

ma hô lạc ca

Mahoraga (skt)—Ma Hô Lạc Già—Hưu Lặc—Ma Hầu La Dà. 1) Một loại đại mãng thần (mình người đầu rắn): Described as large bellied; a class of demons shaped like the boa (human body and snake-liked head). 2) Một vị tôn ở Thai Tạng Giới, cũng là quyến thuộc của Đức Thích Ca Như Lai: An honoured one in the Garbhadhatu, also a spirit in the retinue of Sakyamuni.

ma hưu lặc

Ma Hầu La Dà—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ma hương

(魔鄉) Đối lại: Tịnh độ. Làng ma. Chỉ cho thế giới Sa Bà, trong đó, chúng sinh luân hồi trong 6 đường, toàn là ô trược và mê hoặc. Quán kinh sớ định thiện nghĩa (Đại 37, 263 thượng), nói: Về đi thôi, Ma hương không thể dừng, trôi lăn từ nhiều kiếp đến nay, 6 đường đều từng trải, chẳng đâu có chút vui, toàn nghe tiếng than sầu.

ma hầu la

Ma Hầu Lặc—Ma Hô. 1) Muhurta (skt)—Một giây lát—A moment. 2) Mahoraga (skt)—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ma hầu la ca

(摩睺 羅迦) Phạm: Mahoraga. Cũng gọi Ma hầu la già, Ma hộ la nga, Mạc hô lặc già, Ma hưu lạc, Ma phục lặc. Hán dịch: Địa long, Đại mãng thần, Đại mãng xà, Đại hung hành, Đại phúc hành, Đại hung phúc hành. Quỉ thần đầu rắn, mình người, là 1 trong 8 bộ Thiên Long. Cứ theo Duy Ma kinh lược sớ quyển 2, thì Ma Hầu La Già là vị thần không có chân, đi bằng bụng như loài bò sát. Khi làm người, vì phá hủy giới cấm, dối trá, nhiều sân hận, ít bố thí, tham ưa rượu thịt, nên sau khi chết, bị rơi vào đường quỉ thần, trong thân thể có rất nhiều trùng độc rúc rỉa ăn thịt, đau đớn vô cùng. Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 11 thì cho rằng, Ma Hầu La Già là loại thần âm nhạc, có hình đầu rắn. Trong Hiện Đồ Mạn Đồ La Thai Tạng Giới của Mật Giáo có an trí 3 vị tôn Ma Hầu La Già, vị tôn ở giữa co 2 tay, nắm tay thành quyền, ngón trỏ duỗi thẳng, để ở trước ngực, ngồi co chân phải, đầu gối trái dựng đứng; vị tôn bên trái đội mũ rắn, mặt hướng về bên phải; còn vị tôn bên phải thì mặt hướng về bên trái, trong tư thế đang thổi sáo. [X. phẩm Phổ Thông Chân Ngôn Tạng trong kinh Đại Nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10; Phiên Phạm ngữ Q.7; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, 25, 27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.4].

ma hầu la dà

Mahoraga (skt)—Ma Hưu Lặc—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ma hầu lặc

Mahoraga (skt)—See Ma Hầu La.

ma hệ

See Ma Phược.

ma hổ la thần

(摩虎羅神) Tạng: Sgra-dsin. Cũng gọi Ma hô la thần, Ma hưu la thần, Ma hầu la thần, Bạc hô la thần. Hán dịch: Chấp ngôn thần. Vua thần Dược Xoa thủ hộ Phật pháp, là vị thứ 9 trong 12 vị thần tướng của đức Phật Dược sư. Cứ theo Dược Sư Lưu Li Quang Vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp nói, thì thần Ma Hổ La, thân màu trắng, tay cầm búa báu, thống lĩnh 7 ức Dược Xoa, thệ nguyện giữ gìn giáo pháp của Như Lai. Về hình tượng của vị tôn này, trong Tu Dược Sư nghi quĩ bố đàn pháp và Tịnh Lưu Li Tịnh độ tiêu, còn có các thuyết khác nhau. [X. kinh Quán đính Q.12, kinh Dược sư Như lai bản nguyện; Dược sư thập nhị thần tướng đồ].

ma khư

(磨祛) Phạm: Màgha. Cũng gọi: Ma già, Mạc già. Hán dịch: Quí đông, Tinh nguyệt, Thất tinh, Thất tinh nguyệt. Chỉ cho tháng 11 trong lịch Ấn Độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12 âm lịch. Màgha vốn là tên của 1 ngôi sao trong Nhị thập bát tú, vào ngày 15 tháng 11 mặt trăng gặp sao này mới tròn, cho nên sao này được dùng làm tên của tháng 11. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 2 (Đại 51, 876 thượng), nói: Ba tháng mùa đông gọi là Báo sa nguyệt, Ma khư nguyệt, Phả lặc lũ nã nguyệt, tương đương từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 15 tháng giêng của Trung Quốc. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42; kinh Tú diệu Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.136].

ma kiệt

Ma Khư La—Hải quái—A sea monster—See Ma Kiệt La.

ma kiệt la

Makara (skt)—Ma Già La—Một loài hải quái, hoặc trong lốt cá voi, hoặc trong lốt rùa—A sea monster, either in the form of a great fish, a whale, or a great turtle.

ma kiệt ngư

(摩竭魚) Ma kiệt, Phạm, Pàli: Makara. Cũng gọi Ma già la ngư, Ma ca la ngư. Hán dịch: Đại thể ngư, Kình ngư, Cự ngao. Một loại cá lớn được nói đến nhiều trong các kinh luận và được xem là cùng loài với cá sấu, cá giao (cá sạ) và lợn biển. Hoặc là loại cá trong giả tưởng. Trong thần thoại Ấn Độ, cá này là vật cỡi của Thủy Thần (Phạm: Varuịa), trên lá cờ cầm tay của Ái Thần (Phạm: Kàma-deva) cũng có vẽ hình cá ma kiệt. Ngoài ra, 1 trong 12 cung, gọi là cung Ma Kiệt, đầu và chân trước giống con linh dương (dê rừng), mình và đuôi là hình cá. Còn trong Quán Tự tại bồ tát a ma lai pháp thì cá Ma kiệt là vật cầm tay của bồ tát Quan Âm A Ma Lai. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.59 (bản dịch cũ); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.2; luận Đại Trí Độ Q.7; luận Thập Trụ Tì Bà Sa Q.7; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.6].

Ma Kiệt Đà

(s, p: Magadha, 摩掲陀): tên gọi của 1 trong 16 nước thời Ấn Độ cổ đại, là quốc gia có mối quan hệ rất sâu xa với Phật Giáo, là vùng đất nơi đức Thế Tôn thành đạo và truyền đạo. Các vị vua Tần Bà Sa La (s, p: Bimbisāra, 頻婆娑羅), A Xà Thế (s: Ajātaśatru, p: Ajātasattu, 阿闍世) đã từng lấy Vương Xá Thành của nước này để làm kinh đô, A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) lấy Thành Hoa Thị làm kinh đô và cai trị toàn Ấn Độ, lấy quốc gia này làm trung tâm.

ma kiệt đà

Magadha (skt & p)—Ma Ha Đà—Ma Kiệt Đề—Ma Già Đà—Một trong mười sáu vương quốc cổ ở Ấn Độ trong thời Phật còn tại thế, nằm về phía Đông Bắc Ấn, trong đó có Bồ Đề Đạo Tràng, một trung tâm Phật giáo thời cổ, nơi có nhiều tịnh xá gọi là Bahar. Thời Đức Phật còn tại thế, Ma Kiệt Đà là một vương quốc hùng cường, dưới quyền cai trị của vua Tần Bà Sa La (khoảng từ năm 543-493 trước Tây Lịch), có kinh đô trong thành Vương Xá. Sau đó Ma Kiệt Đà dưới quyền của vua A Xà Thế. Vua A Dục cũng đã từng ngự trị xứ nầy vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch. Nước Ma Kiệt Đà xưa kia nay thuộc các quận Patna và Gaya, tiểu bang Bihar, miền đông bắc Ấn Độ. Thành Vương Xá, núi Linh Thứu, và Trúc Lâm Tịnh xá đều nằm trong xứ Ma Kiệt Đà—One of the sixteen major kingdoms of ancient India during the Buddha's time (northeast India). Nalanda and Buddha Gaya lay within this kingdom, the headquarters of ancient Buddhism, covered with viharas and therefore called Bahar. Magadha was the most powerful kingdom, ruled by the king Bimbisara (543-493 B.C.) with its capital in Rajagaha. Later, Magadha was ruled by Ajatasatru (son of Bimbisara). King Asoka of Maurya dynasty also ruled this kingdom in the third century B.C. The old country of Magadha is now the modern Patna and Gaya districts of Bihar state in the northeast India. Rajagriha, Vulture Peak and the Bamboo Grove Monastery were located here. ** For more information, please see Magadha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ma la

1) Mala (skt)—Tràng Hoa—A wreath—A garland—A chaplet—Head-dress. 2) Makara (skt)—See Ma Kiệt La. ; (麽羅) Phạm: Màlà. Hán dịch: Man, Hoa man. Hoa được xâu vào sợi dây làm thành cái vòng rồi quấn lên đầu làm vật trang sức. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.18; Phạm ngữ tạp danh]. ; (懡㦬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là sỉ nhục, hổ thẹn. Tắc 1, Bích Nham Lục (Đại 48, 140 thượng), nói: Đạt Ma liền qua sông đến đất Ngụy (dã hồ tinh ấy không khỏi 1 phen hổ thẹn (ma la), từ tây qua đông, từ đông qua tây). [X. tắc 28, 44, Bích Nham Lục].

ma la ca đà

See Mạt La Kiết Đa.

ma la da

Đồi Ma La Da nổi tiếng với những cây đàn hương—Malaya, the Malabar hills, noted for their sandalwood.

ma la dà

Marakata (skt)—Ngọc bích—The emerald.

ma la dữu

(麽羅庾) Phạm: Malayù. Tên khoa học: Ficus oppositifolia. Một loại hương liệu từ cây bạch đàn. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 7 (Đại 39, 658 trung), nói: Hương bạch đàn, Ấn Độ gọi là Ma La Dữu, vốn là tên núi. Luận Đại Trí Độ cho rằng, ngoài núi Ma Lê (tức Ma La Dữu) ra, không nơi nào có bạch chiên đàn. Cứ theo Tuệ Uyển Âm Nghĩa quyển hạ, cây bạch chiên đàn mọc ở núi Ma La Da (Phạm: Malaya, tức núi Ma lê). Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 26 thì nói, núi Ma La Da ở Nam Ấn Độ có loại bạch chiên đàn, ai vào đây cũng cảm thấy từ trong thân mình tỏa ra mùi thơm trong sạch, vì thế nên núi này còn được gọi là núi Trừ cấu. [X. luận Đại Trí Độ Q.2].

ma la nan đà

(摩羅難陀) Phạm: Màlànanda. Cũng gọi Ma la nan đề. Hán dịch: Đồng học. Cao tăng Ấn Độ, là 1 trong 3 vị tăng đầu tiên truyền Phật giáo vào nước Bách Tế. Vào năm 384, khi vua Chẩm Lưu đời thứ 15 nước Bách Tế lên ngôi, ngài Ma La Nan Đà cùng với ngài Thuận Đạo nước Cao Li và ngài A Đạo nước Tân La, từ Trung Quốc đến Triều Tiên và hoằng dương Phật pháp ở nước Bách Tế lần đầu tiên. [X. Tam quốc di sự Q.3; Hải đông cao tăng truyện Q.1; Tam quốc sử kí Q.18; Đông quốc thông giám Q.4; Tam quốc Phật giáo sử].

ma la quốc

(摩羅國) Ma la, Phạm, Pàli: Malla. Cũng gọi Mạt la quốc, Mãn la quốc, Bạt la quốc, Mạt lao quốc, Mạt lợi quốc. Hán dịch: Lực sĩ quốc, Tráng sĩ quốc, Hoa quốc. Tên 1 nước trong 16 nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật còn tại thế. Vị trí nước này ở về phía bắc sông Hằng, phía đông thành Ca Tì La Vệ, Trung Ấn Độ, thủ đô là Câu Thi Na Yết La (Phạm: Kuzinagara) và các thành ấp khác như: Ba Bà (Phạm: Pàvà), A Nô Di (Phạm: Anupriyà) v.v...Ma La vốn là tên của 1 chủng tộc. Trong luật Ma Ha Tăng Kì có những danh xưng như: Thích chủng nữ, Li xa nữ, Ma la nữ v.v... Cứ theo pháp điển Ma Nô thì chủng tộc này là hậu duệ của dòng Sát Đế Lợi, từ xưa đã nổi tiếng nhờ có sức lực mạnh mẽ. Tương truyền từng có việc lạ kì là hơn 500 lực sĩ cùng nhấc 1 tảng đá rất lớn, cho nên nước này được gọi là Mạt La Lực Sĩ Quốc. Khi đức Phật nhập Niết Bàn ở rừng Sa La thì 500 người thuộc chủng tộc Mạt La ở thành Câu Thi Na Yết La than khóc thảm thiết, rồi khiêng kim quan của Phật đến chùa Thiên Quan, cúng dường trong 7 ngày, sau đó mới trà tì. Chủng tộc này và chủng tộc Mạt La ở nước Ba Bà đều được chia cho 1 phần xá lợi của Phật để xây tháp cúng dường. Đây đều là những sự thực lịch sử nổi tiếng. [X. kinh Tạp A Hàm Q.32; kinh Trường A Hàm Q.4; kinh Tăng Nhất A Hàm Q.36; luật Tứ Phần Q.41; Hữu Bộ Tì Nại Da Tạp Sự Q.38; Phiên Phạm Ngữ Q.8].

ma la vũ

Malaya (skt)—Hương thơm của loài cây bạch đàn thuộc vùng núi Ma La Vũ ở Malabar—A kind of incense from the Malaya mountains in Malabar.

ma la đề

Malayadesa (skt)—Ma La Da Đề Số—Ma Ly—Nước Mã Lai Á—Malaya country.

ma lạp bà

Malava (skt)—Một vương quốc cổ ở Trung Ấn Độ, bây giờ là Gujarat—An ancient state in Central India, in the present Gujarat.

ma lạp bà quốc

(摩臘婆國) Ma lạp bà, Phạm: Màlava. Cũng gọi Ma la bà quốc, Ma la la quốc. Tên 1 nước xưa ở Nam Ấn Độ, nằm về phía tây nước Ô Xà Diễn Na, mạn đông nam sông Mạc Hi. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, thì nước này đất đai màu mỡ, lúa mạ xanh tốt, có vài trăm ngôi chùa và hơn 2 vạn tăng đồ, học tập giáo pháp Chính Lượng Bộ. Thưở xưa, vua Giới Nhật thương yêu nhân dân, sùng kính Tam Bảo, hàng năm mở Đại hội Vô Già, cung thỉnh chư tăng từ khắp nơi về để tứ sự cúng dường. Ở nơi cách kinh đô về phía tây bắc hơn 20 dặm có 1 cái hố sâu, trong đó Bà La Môn Đại Mạn tâm bị chôn vùi. Truyền thuyết nói rằng, người Bà La Môn kiêu mạn này, sau khi bị Tỉ Khưu Hiền Ái hàng phục, vì căm phẫn nên hủy báng Đại thừa, khinh miệt các bậc hiền thánh, nên đất tự nứt ra, người Bà La Môn rơi xuống và bị chôn vùi. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; kinh Đại phương quảng bồ tát tạng Văn Thù Sư Lợi căn bản nghi quĩ Q.18; On Yuan Chwang, vol. II (T. Watters); Early History of India (V.A. Smith); Cunnigham’s Ancient Geography of India (S.N. Majumdar)].

ma lợi

Mallika (skt). 1) Một loại hoa có mùi thơm như hoa lài: A fragrant flower variously described as jasmine, aloes, musk. 2) Tên của vị hoàng hậu của vua Ba Tư Nặc (Mạt Lợi Phu Nhân): Name of the wife of king Prasenajit.

ma lợi chi

Marici (skt)—Mạt Lợi Chi. 1) Lấy hình tướng của Thiên nữ để đặt tên. Thiên nữ nầy thường bay đi trước mặt trời, là vị thiên thần có tự tại thông lực. Nếu niệm tên vị thần nầy thì sẽ lìa xa được mọi tai ách. Đó là vị thần thủ hộ mà Mật Giáo truyền tụng. Theo huyền thoại Bà La Môn, đây là vị thần do nhân cách hóa ánh sáng, là con cháu của Phạm Thiên, là cha mẹ của Mặt trời (nội thần của vua Trời Đế Thích). Trong số những Phật tử Trung Quốc, Ma Lợi Chi là biểu trưng của một người nữ tám tay, hai tay đưa cao với hai dấu hiệu mặt trời và mặt trăng, vị nầy được người ta tôn sùng như là vị Thần Ánh Sáng và Thần Bảo Quốc, che chở dân chúng khỏi những tai ách binh đao. Bà cũng còn được dân Trung Quốc gọi là Thiên Hậu—A goddess independent and sovereign, protectress against all violence and peril. In Brahmanic mythology, the personification of light, offspring of Brahma, parent of Surya. Among Chinese Buddhists Maritchi is represented as a female with eight arms, two of which are holding aloft emblems of sun and moon, and worshipped as goddess of light and as the guardian of all nations, whom she protects from the fury of war. She is addressed by the Chinese people as Queen of Heaven. 2) Tia sáng mặt trời (không thể trông thấy và cũng không thể thủ đắc được)—Rays of light, the sun's rays, said to go before the sun. 3) Bóng ma: A mirage. 4) Vòng hoa hay chuỗi hoa: A wreath.

ma lợi chi thiên

(摩利支天) Ma lợi chi, Phạm: Marìci. Cũng gọi Ma lí chi thiên, Mạt lợi chi thiên, Mạt lợi chi đề bà, Mạt lợi chi thiên bồ tát. Hán dịch: Uy quang thiên, Dương diệm thiên. Vị trời có sức thần thông tự tại, khéo ẩn mình, thường tiêu trừ các chướng nạn, mang lại lợi ích cho mọi người. Hình tượng của vị trời này là hình thiên nữ nói trong kinh Mạt lợi chi đề bà hoa man và hình tượng 3 mặt 6 tay cỡi heo (lợn) nói trong kinh Đại ma lí chi bồ tát quyển 1. Vị trời này vốn là vị thần được dân gian Ấn Độ đời xưa sùng bái, sau được Phật giáo tiếp thu và xếp vào hàng Thiên bộ. Hiện nay ở chùa Na Lan Đà tại Ấn Độ vẫn còn pho tượng cổ của vị trời này. Pháp tu thờ vị trời này làm bản tôn gọi là Ma lợi chi thiên pháp, có các công năng như: Hộ thân, ẩn thân, phát tài, tranh luận thắng lợi v.v...Tại Nhật Bản, vị trời này chỉ được các vũ sĩ tin thờ. [X. kinh Ma lợi chi bồ tát đà la ni; Ma lợi chi bồ tát lược niệm tụng pháp; A sa phược sao Q.145; Chân tục Phật sự biên Q.1].

ma lục đa

(摩錄多) Phạm: Murut. Vị thần gió, đặc biệt chỉ cho thần bão, trong Bà La Môn Giáo Ấn Độ, được nói đến trong Lê câu phệ đà và Sử thi La ma da na. Theo Lê câu phệ đà thì cha của thần này là Lỗ đạt la (Phạm: Rudra), nhưng Sử thi La ma da na lại bảo thần này là con của Để đề (Phạm: Diti). Về hình tượng thì toàn thân vị thần này màu hồng, ngồi xe bằng vàng, tóc lóe sáng như lửa, mình mặc áo giáp bằng vàng, ngực trang sức vàng, vai vác giáo dài, thường đi theo vị thần Nhân đà la đánh dẹp ác ma, khi tiến quân thì như mãnh thú ra uy, cát bay đá chạy, trời đất tối tăm mù mịt, núi non rúng động, hung hãn đáng sợ; còn khi lui bình thì hệt như đứa trẻ chơi dỡn, rất dễ thương. Có thuyết cho rằng vị thần này có liên quan đến việc làm mưa.

ma ma

Mama (skt)—Cái của tôi—My—Mine, genitive case of the first personal pronoun. ; (麽麽) Phạm: Mama. Hán dịch: Ngã sở, Ngã đích. Nghĩa là cái tôi, vật của tôi v.v..., là sở hữu cách về tôi, thuộc nhân xưng ngôi thứ nhất trong thuộc cách theo văn pháp (grammar) của tiếng Phạm. Tuy nhiên, trong kinh cũng có khi ma ma được gọi là ngã(tôi). Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1229 trung), nói: Ngã là ma ma.

ma ma kê

Mamaki (skt)—Còn gọi là Ma Mạc Tích, Mang Mang Kê, Mang Mãng Kê, Mang Mãng Kế—Kim Cương mẫu hay mẹ của kim cương, là một vị tôn trong Kim Cương Thủ Viện. Trí tuệ của các vị Kim Cương đều nảy sinh từ đây—The Vajra mother, mother of the vajra or of wisdom in all the vajra group.

ma ma kê bồ tát

(麽麽鶏菩薩) Ma ma kê, Phạm: Màmakì. Cũng gọi Mang mãng kê bồ tát, Mang mãng kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Ma mạc chỉ bồ tát. Hán dịch: Kim cương mẫu. Vị Bồ tát bộ mẫu của Kim cương bộ Mật giáo, ngồi ở viện Kim cương thủ trong Mạn đồ la Kim cương giới, là mẹ của tất cả Bồ tát. (xt. Mang Mãng Kê Bồ Tát).

ma men

Ma chướng lúc say rượu—The demon of drunkenness.

ma mê

(麻迷) Tiếng dùng trong Thiền Lâm. Ma (..) đồng nghĩa với Ma ( ), tức không cảm giác; Mê (..) là Mị (..), nghĩa là do một vật gì đó như cát, dằm bay vào mắt, không mở mắt ra được, do đó không thấy được gì. Trong Thiền Lâm, từ ma mê thường được sử dụng để miêu tả cái trạng thái lờ mờ, thấy không được rõ ràng, hoặc chê những người không có kiến giải rốt ráo. Đông Lâm hòa thượng Vân Môn Am Chủ Tụng Cổ (Vạn tục 118, 399 thượng), nói: Người câm nằm mộng nói cùng ai? Tỉnh dậy đối diện nhau mắt lại mờ (ma mê). [X. Cổ tôn túc ngữ lục Q.47].

ma na bà

Manatta (skt)—See Ma Na Đỏa.

ma na kỳ

Manasa or Manasvati (skt). 1) Hồ trên rặng Hy Mã Lạp Sơn, một trong bốn hồ được thành hình từ khi biển rơi xuống từ trời trên đỉnh Tu Di—A lake in the Himalaya, one of the four lakes formed when the ocean fell from heaven upon Mount Meru. 2) Tên của một loài rồng bảo hộ hồ Ma Na Kỳ: The dragon who is the tutelary deity of this lake.

ma na tô tất đế

Manasa or Manasvati (skt)—See Ma Na Kỳ.

ma na tư long vương

(摩那斯龍王) Ma na tư, Phạm: Manasvati. Cũng gọi Ma na tô bà đế long. Hán dịch: Đại thân long vương, Từ tâm long vương, Đại lực long vương, Cao ý long vương, Đại ý long vương. Vị vua rồng coi về việc làm mưa, là 1 trong 8 vị Đại long vương. Rồng này mình dài có thể quấn chung quanh núi Tu Di 7 vòng, vì thế gọi là Đại thân. Lúc sắp làm mưa thì trước hết nổi mây đen trong 7 ngày, đợi cho nhân gian sắp xếp mọi việc xong xuôi, đâu vào đấy rồi mới trút mưa xuống. Vì khi nổi mây làm mưa đều phát xuất từ lòng thương, cho nên gọi là Từ tâm long vương. Pháp hoa văn cú quyển 2, hạ (Đại 34, 24 hạ), nói: Ma na tư (...) A tu la dâng nước biển làm ngập thành Hỉ kiến, rồng này quấn mình quanh thành để ngăn nước biển. Vì rồng này có uy đức nên trở thành vua của tất cả các loài tôm tép có hình giống rồng. [X. Pháp Hoa quang trạch sớ Q.1; Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí Q.2].

ma na đoá

(摩那埵) Phạm, Pàli: Manatta. Cũng gọi Ma na đóa, Lục dạ ma na đỏa, Ma na đỏa yết ma. Hán dịch: Duyệt chúng ý, Ý hỉ, Hảo, Hạ ý, Biến tịnh, Chiết phục cống cao. Phương pháp diệt tội và sám hối của vị Tỉ Khưu khi phạm tội Tăng tàn. Khi phạm tội Tăng tàn, phải phát lộ sám hối ngay, trong vòng 6 ngày 6 đêm ở riêng 1 chỗ, làm các việc khó nhọc thay cho chúng tăng, như quét tước tháp, tăng phòng, dọn dẹp cầu tiêu, nhà tắm, tuy vào trong tăng nhưng không được nói bàn với người khác; trong thời gian này, chí thành sám hối, khiến chúng tăng được hoan hỉ. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 1 (Đại 40, 47 hạ), nói: Ma ha đỏa, Hán dịch là Duyệt chúng ý (làm đẹp lòng mọi người), tức là thuận theo lời dạy bảo của chúng tăng, làm cho chúng tăng đều hoan hỉ. Kinh Tì ni mẫu quyển 2 (Đại 24, 811 trung), nói: Ma na đỏa, trước chỉ có tự mình hoan hỉ và sinh tâm hổ thẹn nên cũng làm cho chúng tăng hoan hỉ; do muốn được hoan hỉ trước nên mới dành cho vị ấy ít ngày để sám hối, do ít ngày sám hối mới được gọi là Hỉ. Còn chúng tăng hoan hỉ là vì xét thấy người ấy không còn hành vi tái phạm nữa, nên khen ngợi nói rằng: Nhờ sự sám hối này mà người phạm tội dứt hết phiền não, thành người thanh tịnh, vì thế chúng tăng hoan hỉ. Tuệ lâm âm nghĩa gọi Ma na đỏa là biến tịnh (thanh tịnh khắp cả) chính là ý này. [X. luật Tứ Phần Q.45; Yết ma pháp trong luật Ngũ Phần Q.23; luật Thập Tụng Q.32; luật Ma Ha Tăng Kì Q.25, 26].

ma na đỏa

Manatta (skt)—Ma Na Bà. 1) Duyệt ý hay làm vui. Tỳ kheo phạm tội Tăng Tàn, thực hành sám hối, nhờ đó mà tẩy được tội lỗi, nên tự mình vui và làm cho chúng Tăng được vui theo—Joy to the penitent and his felow monks caused by confession and absolution. 2) Một hình phạt trong Tăng chúng: Penance or punishment for offences involving reprimand.

ma nghịch kinh

(魔逆經) Phạm:Maĩjuzrì-vikurvàịa-parivarta. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 15. Nội dung kinh này ghi lại cuộc vấn đáp về ma sự giữa Đại Quang Thiên Tử và ngài Văn Thù Sư Lợi. Lúc ấy ma đến quấy nhiễu, ngài Văn Thù dùng sức Tam muội trói buộc ma và biến ma thành thân Phật, bàn luận về Phật pháp với các Tỉ Khưu, cuối cùng Ma Ba Tuần lo buồn, khóc lóc bỏ đi. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này đã thất lạc, lại không có bản Hán dịch nào khác, chỉ còn bản dịch Tây tạng đề là: Thánh Văn Thù Sư Lợi Thần biến phẩm chi Đại thừa kinh, hoàn toàn khác với tên kinh của bản Hán dịch.

ma ngoại đạo

Externalist demons (evils).

ma ngưu

(磨牛) Vốn chỉ cho con trâu kéo cày, ví dụ tăng ni chưa tu hành một cách chân chính. Con trâu kéo cày, ngày ngày gắng sức cực nhọc mà không hề dụng tâm, chỉ khổ thân và luống công vô ích; ma ngưu được dùng để ví dụ cho tăng ni tu hành Phật đạo, thân tuy hành đạo mà tâm không hành đạo. Tứ thập nhị chương kinh chú (Vạn tục 59, 39 hạ), nói: Sa môn hành đạo không nên như con trâu kéo cày; thân tuy hành đạo nhưng tâm đạo chẳng hành. Tâm đạo nếu hành thì cần gì thân phải hành đạo? [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.2].

ma nhai

(摩崖) Cũng gọi Ma nhai thạch khắc. Làm phẳng bề mặt vách đá của sườn núi hoặc mài nhẵn mặt những tảng đá lớn, rồi khắc chìm hoặc khắc nổi những văn tự, thi phú hoặc tượng Phật v.v... gọi là Ma nhai. Những Ma nhai xưa nhất là những Pháp sắc của vua A Dục được khắc vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, hiện còn để lại rải rác ở nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ. Những Ma nhai mà ngày nay đã tìm thấy được gồm có: Đại ma nhai pháp sắc 7 chỗ và Tiểu ma nhai pháp sắc 8 chỗ. Nội dung chủ yếu của các Pháp sắc là chính sách, chính lệnh lấy giáo thuyết Phật giáo làm nền tảng. Ngoài ra cũng có sự tích của vua A Dục và những qui định về quản lí hành chính nói chung. Còn ở Ba Mễ Dương (Bàmiyan) tại nước A Phú Hãn còn 2 pho tượng Phật lớn nhất thế giới bằng đá trong khám được khắc vào thế kỉ thứ V.Tại Trung Quốc thì như động Vân cương tỉnh Sơn Tây, các hang động ở huyện Củng Tỉnh Hà Nam, sườn núi Hoàng Thạch ở Lịch Thành, tỉnh Sơn Đông v.v... cũng có 1 số ít tượng Phật Ma nhai. Còn các kinh được khắc trên đá theo hình thức Ma nhai thì có: Kinh Kim Cương Bát Nhã ở khe núi Kinh Thạch, huyện Thái Sơn, tỉnh Sơn Đông, kinh Đại Phẩm Bát Nhã ở động Ánh Phật, núi Tồ Lai, tỉnh Sơn Đông, kinh Hoa Nghiêm ở núi Ốc Lai, huyện Liêu Xuyên, tỉnh Sơn Tây v.v...Tại Nhật Bản cũng có nhiều tượng Phật Ma Nhai như: Phật Ma Nhai Đại Cốc ở thị trấn Vũ Đô Cung, huyện Lệ Mộc, Phật Ma Nhai ở quận Lật Thái, huyện Tư Hạ, Phật Ma Nhai ở thị trấn Cậu Chử, huyện Đại Phản và Phật Ma nhai ở thị trấn Phong Hậu Cao Điền ... đều được xem là những di tích lịch sử đặc biệt. (xt. A Dục Vương Khắc Văn).

ma nhiễu loạn kinh

(魔嬈亂經) Kinh, 1 quyển, không rõ dịch giả, được thu vào Đại Chính Tạng tập 1. Nội dung kinh này thuật lại việc ma vương Ba Tuần Hóa thân chui vào bụng tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài Mục Kiền Liên vào định khám phá được, ma vương liền từ miệng của Ngài chui ra đứng phía trước Ngài. Ngài Mục Kiền Liên giải thích về mối oan thân giữa Ngài và ma vương Ba Tuần ở đời quá khứ, rồi nói về giáo pháp thiện ác quả báo để khuyên răn. Ma vương nghe xong, buồn rầu lo sợ, thu hình biến mất. Kinh này và kinh Tệ ma thí Mục Liên (do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô) đều là các bản biệt dịch của kinh Hàng ma trong Trung A Hàm. Ngoài ra, nội dung bài kinh thứ 50 (Màratajaniya. S.) trong Trung bộ tiếng Pàli cũng tương đương với kinh này. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

ma nhĩ phạt đa phái

(摩爾伐多派) Malwatta-nikàya. Cũng gọi Mạn nhĩ ngõa đa phái. Phái Xiêm La, 1 phái chủ yếu thuộc Thượng tọa bộ trong Phật giáo Tích Lan được thành lập vào giữa thế kỉ XIX. Tổng bộ do hơn 20 ngôi chùa Ma Nhĩ Phạt Đa ở Kandy(miền Trung Tích Lan) hợp lại mà thành; Tỉ Khưu thuộc phái Phật giáo thôn cú (Gàmavàsina), dòng họ Cù Duy Già Mẫu, bộ tộc Tăng Già La, chủ yếu nghiên cứu Phật học và chú thích kinh điển. Đã có khá nhiều tác phẩm Phật giáo bằng tiếng Phạm, Pàli và tiếng Tích Lan do phái này biên soạn. Phái này giữ vai trò chủ chốt trong việc tổ chức giáo dục và cơ cấu nghiên cứu ở viện Phật học Tăng Vương, tham dự việc quản lí các viện Phật học Trí Tăng, Trí Nghiêm ở Tích Lan và cùng với phái A Tư Yết Lợi (Asgiri, cũng gọi A kì lê phái) trông coi chùa Răng Phật tại Kandy. Các vị tăng trưởng của phái này được gọi là Ma Ha Da Na Ca (Đại đạo sư) và A Nỗ Na Da Ca (Phó đạo sư), do hội đồng thường vụ Tăng già tuyển chọn, giữ chức trọn đời. Chức Trụ trì những ngôi chùa trọng yếu thì do La đạt la (quí tộc xưa), một dòng họ cao quí trong tộc Cù Duy Già Mẫu đảm nhiệm. Phái này cũng thiết lập các trung tâm Phật giáo tại Ấn Độ và các nước khác.

ma nhẫn

Nhẫn hạnh của ma đạo, như người bị ma sai khiến hay vì sợ người khác mà tu nhẫn nhục—Mara-servitude, the condition of those who obey mara.

Ma Ni

(s: maṇi, 摩尼): Hán dịch là Bảo Châu (寳珠), Ma Ni Châu (摩尼珠), hay Ma Ni Bảo Châu (摩尼寳珠), v.v. Ma Ni là tên gọi chung của loại ngọc cũng như đá quý. Trong kinh điển Phật Giáo cũng thỉnh thoảng có đề cập đến từ Ma Ni này để ám chỉ công lực bất khả tư nghì. Trên đỉnh đầu của Long Vương có tàng chứa loại bảo châu này, và Ma Ni cũng được liệt vào một trong 7 loại báu của Chuyển Luân Thánh Vương. Đặc biệt Như Ý Bảo Châu (s: cintā-maṇi, 如意寳珠) là một loại ngọc có rất nhiều công lực như làm lành ác bệnh, tiêu trừ nọc độc của rắn, làm cho nước đục thành trong, v.v. Bên cạnh đó, Nhật Tinh Ma Ni (日精摩尼, hay còn gọi là Nhật Ma Ni) là vật mà Bồ Tát Quan Âm Ngàn Tay thường cầm trên tay, và tương truyền rằng nếu người mù cầu nguyện thì sẽ được sáng mắt. ; (s, p: maṇi, 摩尼): còn gọi là Mạt Ni (末尼), ý dịch là châu (珠), bảo châu (寳珠), Ma Ni Châu (摩尼珠), v.v. Ma Ni là tên gọi chung của loại ngọc cũng như đá quý. Trong kinh điển Phật Giáo cũng thỉnh thoảng có đề cập đến từ Ma Ni này để ám chỉ công lực bất khả tư nghì. Trên đỉnh đầu của Long Vương có tàng chứa loại bảo châu này, và Ma Ni cũng được liệt vào một trong 7 loại báu của Chuyển Luân Thánh Vương. Đặc biệt Như Ý Bảo Châu (s: cintā- maṇi, 如意寳珠), âm dịch là Chân Đà Ma Ni (眞陀摩尼), Chấn Đa Ma Ni (振多摩尼、震多摩尼); ý dịch là Như Ý Bảo (如意寶), Như Ý Châu (如意珠), Như Ý Ma Ni (如意摩尼), Ma Ni Bảo Châu (摩尼寳珠), Mạt Ni Bảo (末尼寶), Vô Giá Bảo Châu (無價寶珠); là một loại ngọc có rất nhiều công lực như làm lành ác bệnh, tiêu trừ nọc độc của rắn, làm cho nước đục thành trong, v.v. Bên cạnh đó, Bồ Tát Quan Âm Ngàn Tay thường cầm trên tay phải là Nhật Tinh Ma Ni (日精摩尼, hay còn gọi là Nhật Ma Ni [日摩尼]). Tương truyền rằng nếu người mù cầu nguyện ngọc Ma Ni này thì sẽ được sáng mắt. Tay trái của Bồ Tát là Nguyệt Tinh Ma Ni (月精摩尼, hay Nguyệt Quang Ma Ni [月光摩尼], Minh Nguyệt Ma Ni [明月摩尼], Minh Nguyệt Chân Châu [明月眞珠], Nguyệt Ái Châu [月愛珠]); có thể tiêu trừ sự bức não của con người, làm cho mát mẻ. Trong A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 102 có nêu ra 5 loại Ma Ni như Quang Minh Mạt Ni (光明末尼), Thanh Thủy Mạt Ni (清水末尼), Phương Đẳng Mạt Ni (方等末尼), Vô Giá Mạt Ni (無價末尼), Như Ý Châu (如意珠). Lục Thập Hoa Nghiêm (六十華嚴, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 47 có liệt kê một số ngọc Ma Ni khác như Thanh Lưu Ly Ma Ni (青琉璃摩尼), Dạ Quang Ma Ni (夜光摩尼), Nhật Tạng Ma Ni (日藏摩尼), Nguyệt Tràng Ma Ni (月幢摩尼), Diệu Tạng Ma Ni (妙藏摩尼), Đại Đăng Ma Ni (大燈摩尼), v.v. Tại bảo tháp của Sư Bà Diên Trường, Chùa Trúc Lâm Huế, có câu đối: “Thạch tàng Xá Lợi nan danh tướng, châu hiện Ma Ni trạm sắc không (石藏舍利難名相、珠現摩尼湛色空, đá tàng Xá Lợi đâu danh tướng, ngọc hiện Ma Ni sạch sắc không).”

ma ni

Cintamani (skt)—Ngọc Ma Ni—Ngọc Như Ý có khả năng làm ra bất cứ thứ gì mình muốn. Ngọc nầy tiêu biểu cho sự vĩ đại và công đức của Phật và Kinh Phật—Wish-fulfilling gem—A jewel (bright luminous pearl) said to possess the power of producing whatever one desires. It symbolizes the greatness and virtue of the Buddha and the Buddhist scriptures (his doctrines). ; (摩尼) Phạm, Pàli: Maịi. Cũng gọi Mạt ni. Hán dịch: Châu, Bảo châu.Từ gọi chung các loại ngọc quí.Truyền thuyết phổ thông cho rằng ma ni có thể tiêu trừ tai nạn, tật bệnh, lắng nước đục thành trong và đổi màu sắc của nước. Còn tiếng Phạm Cintà-maịi (Hán âm: Chân đà ma ni, Chấn đà ma ni) thì Hán dịch là: Như ý bảo, Như ý châu, Như ý ma ni, Ma ni bảo châu, Mạt ni bảo, Vô giá bảo châu. Vì loại châu này có khả năng làm thỏa mãn ý muốn và sự mong cầu của con người, cho nên gọi Bảo châu như ý. Có thuyết cho rằng ma ni được lấy ra từ óc cá Ma kiệt hoặc bảo nó là mảnh vỡ từ vật cầm tay của trời Đế thích; lại có thuyết nói từ xá lợi của Phật biến thành. Trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm thì tay phải cầm ma ni Nhật tinh, tay trái cầm ma ni Nguyệt tinh. Ma ni Nhật tinh cũng gọi là Nhật ma ni là loại ma ni tự nhiên phát ra ánh sáng nóng nực, chói lọi; còn ma ni Nguyệt tinh cũng gọi là Nguyệt quang ma ni, Minh nguyệt ma ni, Minh nguyệt chân châu, Nguyệt ái châu, là loại ma ni có năng lực tiêu trừ sự nóng bức đem lại sự mát mẻ cho mọi người.Trong các kinh luận có nói đến nhiều loại ma ni, theo luận Đại tì bà sa quyển 102 thì Mạt ni bảo có 5 loại: Quang minh mạt ni, Thanh thủy mạt ni, Phương đẳng mạt ni, Vô giá mạt ni và Như ý châu. Theo kinh Hoa nghiêm quyển 47 (bản dịch cũ) thì có 6 loại ma ni: Thanh lưu li ma ni, Dạ quang ma ni, Nhật tạng ma ni, Nguyệt chàng ma ni, Diệu tạng ma ni và Đại đăng ma ni. Còn kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 47 thì nêu: ma ni Tì lăng già của trời Đế thích, ma ni Đăng tộ của chư thiên cầm, ma ni Quang chàng và ma ni Diễm quang của Phạm thiên v.v...[X. kinh Di nhật ma ni; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); kinh Đại phẩm bát nhã Q.10; kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản dịch cũ); phẩm Chuyển luân thánh vương trong kinh Khởi thế Q.2; luận Đại trí độ Q.59; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27].

ma ni bạt đà la

Manibhadra (skt). 1) Một trong tám vị tướng trong Thai Tạng Giới: One of the eight generals in Garbhadhatu. 2) Vua Dạ Xoa: Vị bảo hộ khách lữ hành và thương nhân—A king of Yakshas, the tutelary deity of travellers and merchants.

ma ni giáo

(摩尼教) Anh: Manicheism. Đức: Manichismus. Pháp:Manichéisme. Cũng gọi Mạt ni giáo, Mâu ni giáo, Minh giáo, Minh tôn giáo. Tông giáo do ông Ma ni (Mani, Manes, Manichaeus) người Ba tư sống vào thế kỉ thứ III Tây lịch tổng hợp các thuyết của Bái hỏa giáo (Zoroastrianism, cũng gọi Thiên giáo, tông giáo của Ba tư cổ đại), Cơ đốc giáo và tư tưởng của Phật giáo mà thành lập ra. Giáo nghĩa của Ma ni giáo lấy thiện, ác nhị nguyên luận của Bái hỏa giáo làm nền tảng, tóm thu tất cả mọi hiện tượng vào thiện và ác, thiện là ánh sáng, ác là bóng tối, mà ánh sáng thì chắc chắn đánh tan bóng tối, nếu nhân loại nương theo chân lí của tông giáo và chí hướng của thần linh thì chắc chắn sẽ đi đến thế giới tươi sáng và hạnh phúc yên vui. Nhưng từ vô thủy đến nay, sáng và tối giao nhau; ác ma thường ở trong thế giới tối tăm gây nhiễu loạn, do đó thế giới hiện tại vẫn lẫn lộn thiện và ác, bởi thế loài người phải nỗ lực hướng thiện, để tạo nên một thế giới tươi sáng. Đó chính là lí do mà tông giáo này còn được gọi là Minh giáo. Thần của Ma ni giáo có 10 đức: Ái, tín, thành, kính, trí, thuận, thức, giác, bí và sát. Công phu tu dưỡng của tín đồ lấy sự cấm dục và im lặng làm chính. Công khóa hàng ngày là trai giới, cầu nguyện (4 lần mỗi ngày). Tính chất đơn giản, sáng sủa và trực tiếp của tông giáo này rất được người đương thời đón nhận, cho nên đã truyền bá ở vùng Trung á, Đế quốc La mã (khoảng thế kỉ IV), Ấn độ, Trung quốc v.v... một cách rộng rãi, cho đến thế kỉ XIII Ma ni giáo vẫn còn hưng thịnh. Ma ni giáo được truyền đến vùng Tân cương thuộc Trung quốc vào khoảng từ thế kỉ VI đến thế kỉ VII, rồi từ Tân cương truyền đến Hồi hột ở phía bắc sa mạc và thịnh hành ở vùng này. Vào năm Đại lịch thứ 3 (768) đời Đường, đáp lời thỉnh cầu của nước Hồi hột, vua Đại tông cho phép xây chùa Ma ni giáo ở vùng Giang hoài. Năm Hội xương thứ 5 (845), Đường vũ tông phá diệt Phật pháp, Ma ni giáo cũng bị đả kích nghiêm trọng, vì thế mà chuyển thành tông giáo bí mật, đồng thời, tiếp thu Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, cũng từ đó đổi tên là Minh giáo. Minh giáo tin chắc rằng bóng tối sẽ qua đi và ánh sáng tất phải đến, cho nên dám tạo phản, thường tỏ dấu hiệu chống lại chính phủ. Bắt đầu từ cuối đời Bắc Tống, ở các tỉnh Chiết giang, Giang tây, An huy v.v... thường xảy ra việc Minh giáo làm loạn. Về sau, Minh giáo lại liên kết với Di lặc giáo và Bạch liên xã mà biến thành Bạch liên giáo vào cuối đời Minh. Danh từ Minh giáo tuy không còn được thấy trong các văn hiến, nhưng thuyết Minh vương xuất hiện vẫn còn lưu truyền trong dân gian. [X. Phật tổ thống kỉ Q.29; Liễu tử hậu tập Q.28].

ma ni kiện đại long vương

Maniskandhanaga (skt)—Vị long vương trong tay ai là ngọc hộ mệnh cho người ấy—The naga king in whose hand is the talismanic pearl.

ma ni kì

(嘛呢旗) Cũng gọi Kinh phan. Một thứ cờ pháp được dùng để cầu nguyện của Phật giáo Tây tạng. Tức là sử dụng vải trắng hoặc giấy màu cắt thành mảnh dài giống như lá cờ nhỏ, rồi viết lên đó bài chân ngôn 6 chữ: Án ma ni bát di hồng và các kinh văn khác, sau đó kết thành xâu dài, treo vào cây sào cắm trên các nóc nhà, hoặc dựng ở đầu núi và trên những Ma ni đôi để cầu nguyện.

ma ni luân

(嘛呢輪) Một loại pháp khí của tín đồ Phật giáo Tây tạng được sử dụng trong lúc cầu nguyện. Hình dáng pháp khí này giống như cái thùng nhỏ, chung quanh khắc thần chú 6 chữ Án ma ni bát di hồng, chính giữa đặt 1 cái trục, bên trong có dán giấy in văn kinh. Khi cầu nguyện thì tay cầm pháp khí quay tròn, đồng thời miệng niệm 6 chữ thần chú.

ma ni đôi

(嘛呢堆) Đống đá được xếp thành do những phiến đá hoặc tảng đá trên có khắc 6 chữ chân ngôn Án ma ni bát di hồng. Tín đồ Phật giáo Tây tạng khắc thần chú 6 chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng trên đá rồi đặt ở trên đường vào núi, tín đồ qua đường tiếp tục xếp thêm những phiến đá khác lên, lâu ngày thành đống (đôi); vì lấy 2 chữ Ma Ni trong thần chú 6 chữ mà gọi là Ma ni đôi. Những người đi ngang qua đây, tùy theo thời gian, phương hướng mà nhiễu quanh 1 vòng để tích lũy công đức.

ma noa la

(ma noa la) Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn độ, con trai thứ của vua nước Na đề, thuộc dòng Sát đế lợi. Năm 30 tuổi, Ngài gặp tôn giả Bà tu bàn đầu, liền xin xuất gia và sau được nối pháp. Ban đầu, Ngài thường hành hóa ở miền Tây Ấn độ, sau đến nước Đại nguyệt chi, truyền pháp cho ngài Hạc lặc na rồi thị tịch.[X. Bảo lâm truyện Q.4; Tổ đường tập Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.2].

ma nô

Manusya (skt)—See Ma Nô Sa. ; (摩奴) Phạm: Manu. Thủy tổ của loài người trong truyền thuyết Ấn độ. Cứ theo truyền thuyết thì có 14 đời, mỗi đời là 432 vạn năm. Ma nô đời thứ nhất tên là Tư bà diêm bồ bà (Phạm:Svayaôbhava), có thuyết cho rằng vị này là cháu của Phạm thiên, sáng tạo ra 10 vị Sinh chủ gọi là Đại tiên (Phạm: Mahàfwi); lại có thuyết cho rằng ông là con của Phạm thiên và Xá đa rô ba (Phạm: Zatarùpà). Bộ Ma nô pháp điển trứ danh của Ấn độ thời xưa đã mượn tên ông làm tựa đề. Ma nô đời thứ 7 tên là Tì bà tư bà đa (Phạm:Vaivasvata) là con của Thái dương, vua Cam giá (Phạm:Ikwvàku) trong lịch sử truyền thuyết của Ấn độ là con của vị này. Truyền thuyết về trận hồng thủy nói trong Bách đạo phạm thư và Ma ha bà la đa là miêu tả sự tích của ông.

ma nô la

Manorhita or Manorhata (skt)—Một vị hoàng tử Ấn Độ trở thành đệ tử của ngài Thế Thân và kế vị ngài để trở thành Tổ thứ 22 của Thiền Tông Ấn Độ. Ông là tác giả của bộ Tỳ Bà Sa Luận. Ông làm việc và tịch ở miền đông Ấn vào khoảng năm 165 sau Tây Lịch—An Indian prince who became disciple and successor to Vasubandhu as 22nd patriarch. Author of the Vibhasa-Sastra. He laboured in Western India and Ferghana where he died in 165 AD.

ma nô mạt da

Manomaya (skt)—Ma Nô—Ma Nô Ma. 1) Ý: Consisting of spirit or mind—Spiritual—Mental. 2) Ý sinh thân: Mind produced body. 3) Chư Phật, chư Bồ Tát và chư Thiên có thân thể do ý mình hóa sinh ra nên gọi là Ma Nô Ma: Buddhas, Bodhisattvas and devas can use their minds to produce their bodies, or forms at will (any appearance produced at will).

ma nô pháp điển

(摩奴法典) Phạm: Manu-smfti. Bộ sách quan trọng của Bà la môn giáo Ấn độ được căn cứ vào Ma nô pháp kinh (Phạm: Mànava-dharma-sùtra) mà soạnthành vào khoảng từ thế kỉ thứ II trước Tây lịch đến thế kỉ thứ II sau Tây lịch. Đây là bộ Pháp điển xưa nhất trong các bộ Pháp điển của Ấn độ. Cứ theo trong sách nói thì sách này do Phạm thiên trứ tác, rồi truyền cho Ma nô (Phạm: Manu), thủy tổ của loài người, về sau lại do ngài Ba lợi hỗ (Phạm: Bhfgu) truyền đến nhân gian. Toàn bộ sách có 12 chương, gồm 2685 bài kệ. Nội dung nói về những phong tục, tập quán của Phệ đà và các điều văn về pháp luật. Trong đó, những qui tắc về pháp tố tụng, dân pháp rất hời hợt, thiếu sót, đủ để chứng tỏ mức độ cổ xưa của pháp điển này. Xưa nay Pháp điển Ma nô là mẫu mực về phép tắc sinh hoạt của người Ấn độ. Pháp điển của Phật giáo Miến điện (Dhammasaỉỉham), Pháp điển Thái lan, Pháp điển Indonesia xưa đều căn cứ theo Pháp điển Ma nô mà soạn khảo, đặc biệt đảo Bali thuộc Indonesia hiện nay vẫn còn ứng dụng luật Ma nô trong thực tế.

ma nô sa

Manusya or Manusa (skt)—Người—Man—Any rational being.

ma nô thị nhược

Manojna (skt)—Vừa ý—Attractive—At will—Agreeable to the mind.

ma nạp

Manavaka (skt). 1) Ma Nạp Bà—Ma Nạp Bà Ca—Ma Nạp Bà Phược Ca—Ma La Ma Na (naramana)—Một người trẻ Bà La Môn hay một thiếu niên—A Brahman youth—A youth—A man. 2) Tên của một loại áo cà sa cho Tăng Ni: Name of a robe for monks and nuns. ; (磨衲) Một loại ca sa may bằng lụa rất mịn, tương truyền do nước Cao Li sản xuất. Phẩm Tuyên chiếu trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 360 thượng), nói: Thâm cảm ân đức của Thầy, xin đê đầu đính lễ, đồng thời dâng tấm ca sa ma nạp và bát thủy tinh cúng dường. Còn theo bài tựa Ma Nạp Tán trong Đông Pha toàn tập, thì khi ngài Phật Ấn Liễu Nguyên đến kinh đô, vua nghe danh đức của ngài, ban cho chiếc áo ma nạp do nước Cao Li triều cống. Lại môn Chương phục trong Thiền lâm tượng khí tiên trích dẫn lời trong Kê lâm chí rằng, những vị tăng Cao Li mặc áo ma nạp là Thiền pháp sư, loại áo này rất mịn và đẹp.

ma nạp bà

(摩納婆) I. Ma Nạp Bà. Phạm: Mànava. Hán dịch: Thắng ngã. Là cái ngã (ta) thù thắng mầu nhiệm mà ngoại đạo Tì nữu thiên chấp rằng trong thân của mỗi hữu tình đều có. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.19 (bản dịch mới); kinh Đại Bảo Tích Q.35; Đại Nhật Kinh Sớ Q.2]. II. Ma Nạp Bà. Phạm: Màịava hoặc Màịavaka. Cũng gọi Ma nạp phược ca, Ma nạp, Ma na bà. Hán dịch: Nho đồng, Thiếu niên, Nhân đồng tử, Niên thiếu, Niên thiếu tịnh hành, Tịnh trì.Tức là thanh thiếu niên, đặc biệt chỉ cho thanh thiếu niên Bà la môn. [X. Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.14; luật Ngũ phần Q.15].

ma nạp tiên

Đức Phật Thích Ca Như Lai trong tiền kiếp khi còn đang ở địa vị cõi người—Sakyamuni in a previous incarnation. ; (摩納仙) Ma nạp, Phạm, Pàli: Màịava. Hán dịch: Nho đồng. Vị tiên trong thời quá khứ, là tiền thân của Phật Thích Ca. Khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thích Ca Như Lai là tiên nhân Ma Nạp, lúc hết kiếp A tăng kì thứ 2 Ngài gặp đức Phật Nhiên Đăng ra đời, bấy giờ, tiên nhân Ma Nạp dâng 5 cành sen cúng dường đức Phật, đồng thời, trải tóc của mình lên chỗ bùn lầy để Phật bước qua; nhờ nhân duyên tinh tiến ấy mà tiên nhân Ma Nạp được thụ kí thành Phật trong đời vị lai, vượt qua 8 kiếp sinh tử trong bể khổ. [X. kinh Tâm địa quán Q.1].

ma nữ

Con gái thiên ma chuyên dụ dỗ và phá hại con người (nam giới)—The daughters of mara who tempt men to their ruin.

ma nữ ma đăng già

Matanga—Người đã dụ dỗ Ngài A Nan vào nhà—The one who lured Ananda into her home.

ma oán

Ma quân, kẻ thù của Đức Phật—Mara enmity, the enemy of Buddha. ; (魔怨) Chỉ cho ác ma, vì ác ma thường gây ra những tai họa cho con người, nên bị loài người coi là oán địch. Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 8 (Đại 8, 900 thượng), nói: An trụ bất động giống như kim cương, dùng gươm trí tuệ chém đầu giặc phiền não, phá tan lũ quân sinh tử, dẹp sạch bọn ma oán, gánh vác tất cả, khiến cho chúng sinh đều được giải thoát.[X. kinh Thuyết vô cấu xứng Q.2, 6].

ma phược

Hệ phược hay sự trói buộc của thiên ma—Mara-bonds (attachments). ; (魔縛) Không được tự do, vì bị vọng tưởng trong tâm và sự vật bên ngoài trói buộc. Kinh Đại niết bàn quyển 17 (bản Bắc) (Đại 12, 462 trung), nói: Bị trói buộc gọi là Ma phược, nếu không bị trói buộc thì thoát ra khỏi Ma phược. Ví như ở thế gian, kẻ có tội sẽ bị vua trói, còn người vô tội thì vua không thể trói.

ma phạm

Mara and Brahma. 1) Ma vương, chủ cõi trời dục giới thứ sáu: Mara, lord of the sixth desire-heaven. 2) Ma phạm, chủ cõi trời sắc giới: Brahma, lord of the heavens of form. ; (魔梵) Từ chỉ chung cho Thiên ma ở tầng trời Tha hóa cõi Dục và Phạm thiên vương ở cõi Sắc. Câu xá luận kí quyển 3 (Đại 41, 61 thượng), nói: Ma chỉ cho Tha hóa tự tại thiên ma; Phạm chỉ cho Phạm vương.

ma phật

(魔佛) Chỉ cho Thiên ma và Phật, là nêu lên sự đối lập giữa cực ác và cực thiện. Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 trung), nói: Cõi ma tức là cõi Phật, nhưng vì chúng sinh không biết nên mê mất cõi Phật mà lặn hụp trong cõi ma; ở trong bồ đề mà sinh ra phiền não.

ma quang

Ánh sáng huyễn ảo của ma quân—Mara's delusive light.

ma quái

Ghost—Devil.

ma quân

Quân ma, quân binh ma ác—The army of mara. ; (魔軍) Ma, Phạm:Màra. Gọi đủ: Ma la. Hán âm: Ma la. Cũng gọi Ác ma. Hán dịch: Sát giả, Chướng ngại. Quân lính của ác ma. Vì dùng quân để ví dụ thế lực của các ma nên gọi là Ma quân. Khi đức Phật sắp thành đạo, Ma vương và bọn thuộc hạ đến quấy nhiễu, gây chướng ngại, nhưng đều bị Ngài hàng phục và rút lui. Kinh Phật bản hạnh tập quyển 25 thì coi phiền não là Ma quân, bảo có 12 loại: Tham muốn, không vui vẻ, đói khát lạnh nóng, yêu thương đắm đuối, thích ngủ nghỉ, lo lắng sợ hãi, ngờ vực mê hoặc, giận dữ phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không biết, tự kiêu tự đại và thường chê bai người khác. Trong các kinh luận Đại thừa ở thời kì sau cũng thấy có thuyết này, như luận Đại trí độ quyển 5 nói có 10 loại quân phiền não là: Ham muốn, lo buồn, đói khát, tình ái, ngủ nghỉ, sợ hãi, ngờ vực, tâm độc hại, thích tiếng tăm lợi lộc và khen mình chê người... Tóm lại, các kinh luận đều dùng các loại phiền não nói trên để ví dụ cho thế lực của bọn Ma quân và cho rằng Bồ tát nhờ đã hàng phục được bọn Ma quân này mà thành đạo.

ma quỷ

Ghosts and devils.

ma ra

See Ma.

ma sa

Mamsa (skt)—Thịt—Flesh.

ma sái

(磨灑) Phạm: Màwa. Pàli: Màsa. Cũng gọi Ma sa, Ma sa ca (Phạm: Màwaka,Pàli: Màsaka). Hán dịch: Tiền, Đồng tiền. Loại tiền tệ thông dụng ở Ấn độ vào thời cổ đại. Về giá trị thì 80 bối xỉ (Phạm: Kaparda) là 1 ma sái, 20 (hoặc 12, 16, 40) ma sái là 1 ca lợi sa bát na (Phạm: Kàwàpaịa). Theo sự qui định của Luật bộ, nếu tỉ khưu lấy trộm 5 (hoặc 3, 4, 10) ma sái (tức ¼ ca lợi sa bát na) trở lên thì phạm tội Ba la di, bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Tỉ lệ giữa ca lợi sa bát na và ma sái nói trên tùy theo thời đại và địa phương mà có khác nhau. Theo luật Tứ phần quyển 1, thì 1 ma sái tương đương với 1 tiền đời xưa của Trung quốc; như vậy, nếu lấy trộm 5 ma sái, số tiền rất nhỏ, mà phạm trọng cấm thì e rằng điều này có chỗ lầm lẫn. Bởi thế, trong Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 60, ngài Tuệ lâm đời Đường bác bỏ thuyết này và chỉ ra rằng, 1 ma sái tương đương với 80 tiền của Trung quốc, mà 5 ma sái thì tương đương với 400 tiền, chứ không phải 5 tiền. Ngoài ra, Màsa tức là loại đậu thúc mà tên khoa học là Phaseolus radiatus. Do đó suy ra thì 1 ma sái tương đương với giá trị của 1 hạt vàng to bằng hạt đậu thúc. [X. Căn bản tát bà đa bộ luật nhiếp Q.2; Thiện kiến luật tì bà sa Q.8; luật Thập tụng Q.52; Câu xá luận bảo sớ Q.22; Huyền ứng âm nghĩa Q.21].

ma sư sơn

(摩師山) Phạm: Matsikasaịđa. Pàli: Macchikàsaịđa. Một đô thị ở Ấn độ đời xưa cách thành Xá vệ (Pàli: Sàvatthì) 30 do tuần. Đô thị này là nơi cư ngụ của Trưởng giả Chất đa (Pàli: Citta), 1 người nổi tiếng được nói đến trong kinh điển. Một hôm, Trưởng giả đến thành Xá vệ, nghe tỉ khưu Ma ha nam thuyết pháp mà chứng được quả Dự lưu. Sau, Trưởng giả cúng dường vườn cây ăn trái của mình để làm tinh xá cho ngài Ma ha nam. [X. kinh Tạp a hàm Q.21; phẩm Thanh văn trong kinh Tăng nhất a hàm Q.20; Pháp cú kinh chú thích 2].

ma sấn đà

(摩哂陀) Phạm: Mahendra. Pàli:Mahinda. Cũng gọi Ma hi nhân đà la. Vị Khai tổ của Phật giáo Tích Lan, người đời gọi là Tổ truyền luật thứ 6. Ngài là con của vua A Dục thuộc Vương Triều Khổng Tước ở Ấn Độ đời xưa. Ngài sinh ra tại Ô Xà Diễn Na (Phạm: Ujayana), thân mẫu là bà Đới Phỉ (Pàli: Devì), con gái của 1 thương gia giàu có ở làng Ti Địa Tả (Pàli:Vedisa) tại Tây bắc Ấn Độ. Năm 20 tuổi ngài xuất gia, thờ tôn giả Mục Kiền Liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta- Tissa) làm thầy, theo ngài Ma Ha Đề Bà thụ giới Sa Di và y vào ngài Mạt Xiển Đề thụ giới Cụ túc, thụ giới xong liền chứng được quả A La Hán. Vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, ngài vâng mệnh phụ vương, đến đảo Tích Lan truyền bá Phật giáo, được vua nước Tích Lan tôn sùng và bảo hộ. Ngài sáng lập đạo tràng Đại Tự (Pàli: Mahàvihàra) ở thủ đô A Nâu La Đà Bổ La (Phạm,Pàli:Anuràdhapura), hoằng truyền Bình đẳng tâm kinh (Pàli: Samacitta-suttanta), đồng thời, tạo lập động đá để kết hạ an cư, đặt nền tảng vững chắc cho Phật giáo Tích Lan sau này. Về sau, em gái của ngài là Tỉ Khưu Ni Tăng Già Mật Đa (Phạm: Saôghamitrà, Pàli: Saíghamittà) đem 1 cành cây Bồ đề từ nơi Đức Thích Tôn thành đạo đến trồng ở Tích Lan và truyền giới cho các Tỉ Khưu Ni Tích Lan. Ngài triệu tập đại hội Tỉ Khưu ở tháp Đổ Ba La Ni, chính thức thành lập Tăng đoàn Phật giáo, do Trưởng lão A Lợi Đa làm Thượng thủ, dùng tiếng Tích Lan để giảng diễn và chú thích Tam tạng Pàli. Hai anh em ngài chung sức hoằng dương Phật pháp trong hơn 30 năm. Ngài thị tịch tại Tháp Sơn (Pàli:Cetiyagiri) ở Tích Lan, thọ 60 tuổi. [X. luận Phân biệt công đức Q.2; Đại đường tây vực kí Q.11].

Ma Sẩn Đà

(s: Mahendra, p: Mahinda, 摩哂陀): còn gọi là Ma Hê Nhân Đà La (摩酼因陀羅), Mã Hân Đạt (馬欣達), vị khai tổ của Phật Giáo Tích Lan, thường được gọi là tổ truyền Luật thứ 6, con của A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王) thuộc vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀), sanh tại Ujayana (鄔闍衍那, Ổ Xà Diễn Na, thuộc Ma Kiệt Đà [s, p: Magadha, 摩掲陀], tiểu bang Bihar ngày nay), miền tây bắc Ấn Độ; mẹ là Devī (戴蜚, Đới Phi), con gái của nhà phú thương Vedisa (卑地寫, Ty Địa Tả). Năm lên 20 tuổi, ông xuất gia, bái Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (p: Moggaliputta Tissa, 目犍連子帝須) làm thầy, thọ Sa Di giới với Ma Ha Đề Bà (摩訶提婆), Cụ Túc giới với Mạt Xiển Đề (末闡提) và chứng đắc quả A La Hán. Vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, ông vâng mệnh cha đến Tích Lan truyền bá Phật Giáo. Tại đây, ông được vua Tích Lan đương thời là Devānaṃpiyatissa (天愛帝須, Thiên Ái Đế Tu) sùng kính và bảo hộ, xây dựng Đại Tự (p: Mahāvihāra, 大寺) ở thủ đô Anurādhapura để phổ biến Bình Đẳng Tâm Kinh (p: Samacitta-suttanta, 平等心經), và tạo hang đá để an cư kiết hạ, từ đó thành lập cơ sở cho Phật Giáo Tích Lan. Kế tiếp, tu viện Cetiyavihāra được thành lập ở Mihintale. Về sau, em gái Ma Sẩn Đà là Tỳ Kheo Ni Tăng Già Mật Đa (s: Saṃghamitrā, p: Saṅghamittā, 僧伽密多) mang nhánh cây Bồ Đề từ nơi đức Phật thành đạo sang trồng tại Tích Lan và truyền thọ giới pháp Tỳ Kheo Ni. Ông còn triệu tập Đại Hội Tỳ Kheo tại tháp Đỗ Ba La Mi (睹波羅糜), chính thức sáng lập tăng đoàn Phật Giáo đầu tiên của nước này do trưởng lão A Lợi Đa (p: Arittha, 阿利多) lãnh đạo, dùng ngôn ngữ địa phương để giảng giải Tam Tạng Thánh Điển Tiếng Pāli. Cả ông và em gái đều tận lực cống hiến cho Phật Giáo Tích Lan trong vòng hơn 30 năm, và cuối cùng qua đời ở độ tuổi 80, thọ hơn cả vua Devānaṃpiyatissa. Vua Uttiya, người kế thừa ngôi vị của anh mình, đã tổ chức tang lễ long trọng cho Ma Sẩn Đà và cho xây dựng một ngôi tháp tại Mihintale để an trí xá lợi của ông. Wapola Rahula, tu sĩ nổi tiếng của Tích Lan ở thế kỷ 20, có miêu tả Ma Sẩn Đà là “cha đẻ của nền văn học Tích Lan”, vì ông đã chuyển dịch và viết luận thư Tam Tạng bằng tiếng Tích Lan, chuyển ngôn ngữ kinh điển thành ngôn ngữ văn học. Ông còn được công nhận là người đưa văn hóa của đế quốc Khổng Tước vào quần đảo này.

ma sự

1) Việc ma: Demonic actions. 2) Việc làm của ác ma, gây chướng ngại cho đạo Phật: Mara-deeds, especially in hindering Buddha-truth. ; (魔事) Những hành vi tư tưởng làm chướng ngại việc tu hành và xa rời chính đạo. Kinh Ma nghịch (Đại15, 112 trung), nói: Có ý tưởng gây dựng sự nghiệp mà có tạo tác, đó là ma sự. Nếu để cho chí nguyện bị vướng mắc, bị cướp đoạt, đó là ma sự. Giả sử khởi tư tưởng tham dục, cầu mong, thì là ma sự. [X. Ma ha chỉ quán Q.4, hạ; Vạn thiện đồng qui tập Q.thượng].

ma sự cảnh

(魔事境) Cũng gọi Ma cảnh. Những cảnh tượng do Thiên ma phát khởi ra, để phá hoại người tu hành, là cảnh thứ 5 trong 10 cảnh, tương ứng với 10 quán pháp (Thập thừa quán pháp) do tông Thiên thai lập ra. Người tu hành sau khi quán xét 4 cảnh trước là ấm cảnh, phiền não cảnh, bệnh hoạn cảnh và nghiệp tướng cảnh, cũng vẫn chưa phá được hoặc chướng; còn Thiên ma thì sợ rằng nếu người tu hành phá hết hoặc chướng, cứu độ người khác thì dân ma của nó sẽ bị tổn thất. Hơn nữa, nếu người tu hành được đại thần thông, đại trí tuệ thì chắc chắn nó sẽ bị điều phục, khống chế, cho nên Thiên ma phát động nhiều thứ ma sự để phá hoại người tu hành. Trong trường hợp ấy, trước hết người tu hành nên quán xét và quở trách nó, không để cho nó xâm nhập; kế đến quán xét thân tâm mình từ đầu đến chân đều hư giả, khiến cho ma không có chỗ bám víu; quán xét 3 lần như thế mà ma vẫn không chịu bỏ đi, thì phải lấy cái chết làm kì hạn, nhất tâm quán tưởng, khiến đạo hạnh được thành tựu. [X. Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

ma tam cân

(麻三斤) Ba cân gai. Gọi đủ: Động sơn ma tam cân. Cũng gọi: Đáp ma tam cân, Ma tam cân thoại, Động sơn Phật ma tam cân. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Động sơn Thủ sơ đầu đời Tống với 1 vị tăng. Tắc 12, Bích nham lục (Đại 48, 152 hạ), chép: Tăng hỏi Động sơn: Thế nào là Phật? Sơn đáp: Ba cân gai. [X. tắc 18 trong Thiền tông Vô môn quan; Liên đăng hội yếu Q.26; Ngũ đăng hội nguyên Q.15].

ma thiên

Mara-deva (skt)—Thiên ma trên đỉnh dục giới—The god of lust, sin, and death. ** For more information, please see Tha Hóa Tự Tại Thiên. ; (魔天) Chỉ cho cõi trời Tha hóa tự tại, là tầng trời thứ 6, cao nhất trong cõi Dục, cũng là chỗ ở của Thiên ma, cho nên gọi là Ma thiên. [X. luận Đại trí độ Q.56].

ma thiền

Mara-dhyana (skt)—Những tư tưởng ác độc hay loạn động khởi lên trong lúc thiền hay tu thiền định để hành động tà vạy như sai khiến quỷ thần—Evil or distracted thoughts arise during meditation—Wrong and harmful meditation. ; (魔禪) Cũng gọi Tà thiền. Tu thiền định nhằm mục đích sai khiến quỉ thần, trái với chính lí, làm hại chính đạo, gọi là Ma thiền. Ma ha chỉ quán quyển 8, hạ (Đại 46, 116 hạ), nói: Tu theo ma tinh tiến, vì mong được nổi tiếng, thì chỉ chứng đắc Ma thiền, mê nơi quỉ pháp, vui với ma tuệ, sa vào lưới kiến chấp phân biệt.

ma thuật

Magic.

ma thâu

Madhu (skt). 1) Ngọt: Sweet. 2) Một loại nước có chất làm say: An intoxicating liquor.

ma thâu la

Mathura or Madhura (skt)—Ma Độ La—Ma Đột La—Ma Đầu La—Một vương quốc cổ (tên hiện đại là Muttra) nằm bên bờ sông Jumna, một trong bảy Thánh thành, gọi là Khổng Tước Thành, nổi tiếng với những tháp trong thành—An ancient kingdom and city, the modern Muttra on the bank of Jumna; the reputed birthplace of Krsna, one of the seven sacred cities, called Peacock City (Krsna-pura) famous for its stupas.

ma thẩn đà

Mahindra (skt)—Mahinda (p)—Con trai của vua A Dục, có tội với nhà vua nhưng về sau tu chứng quả A La hán, người ta nói ông nổi tiếng như là vị sáng lập nền Phật Giáo ở Tích Lan, khoảng 200 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn. Theo Tích Lan Đại Thống Sử, vua A Dục muốn phát triển Phật Giáo thành một tôn giáo của thế giới nên ngài đã phái con trai của Ngài là Ma Thẩn Đà làm trưởng đoàn Truyền Giáo Tích Lan vào khoảng năm 250 trước Tây Lịch. Ma Thẩn Đà đã độ cho vua Tissa, và được nhà vua cấp cho một khoảng đất để xây ngôi “Đại Tịnh Xá. Một nhánh cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng cũng được mang sang trồng ở Tích Lan, đến nay hãy còn xanh tươi. Trong một thời gian ngắn, các giáo đoàn được thành lập. Hiện nay Tích Lan là địa cứ của Phật Giáo Nguyên Thủy—Son of the Indian King Asoka, on repenting of his dissolute life, became an arhat, and is said to be reputed as founder of Buddhism in Ceylon, around 200 years after the Buddha's Nirvana. According to The Ceylon Mahavansa, King Asoka sought to expand Buddhism from the region around Magadha into a “world” religion. As such, he sent his son Mahinda to Sri Lanka in hopes of establishing the Dharma on the island. Mahinda converted the King, Devanampiya Tissa, and received a site on the island to build a monastery. This site eventually developed into a Mahavihara or “Great Monastery.” A branch of the Bodhi Tree was brought from Bodhgaya and planted in Sri Lanka as well, and it is still living well at this time. In a short time, a valid ordination lineage for monks was established, and the religion began to grow on the island, remaining today as a stronghold of Theravada Buddhism.

ma trá

(麽咤) Cũng gọi Biến thị, Biến quán, Chiêm thị, Biến thị ma tra, Biến thị chiêm đổ. Là ấn tướng và chân ngôn thành tựu do tịnh nhãn của định tuệ nhật nguyệt, mà hành giả Chân ngôn Mật giáo sử dụng khi vào đạo tràng. Chữ (ma) là chủng tử của nguyệt (mặt trăng), tượng trưng cho Tuệ; chữ (ỉha, Hán âm: Tra) là chủng tử của nhật (mặt trời), tượng trưng cho Định. Khi hành giả Chân ngôn vào đạo tràng thì mắt phải quán chữ Ma, mắt trái quán chữ Tra, rồi quán tưởng chữ Ma biến thành mặt trăng, chữ Tra biến thành mặt trời, nhờ tịnh nhãn (con mắt trong sạch) của định tuệ này mà thành tựu ấn tướng và chân ngôn. Tịnh nhãn này có 2 công dụng là thấy Phật và trừ chướng; vì thế, khi hành giả dùng 2 con mắt định tuệ này mà quan sát đạo tràng thì các ma đều tiêu tan và chư tôn thì đều hiển hiện. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Liên hoa bộ tâm quĩ; Lí thú hội quĩ; Kim cương giới phát tuệ sao Q.thượng].

ma trơi

Jack-o'-lantern.

ma trất lí chế tra

(ma trất lí chế tra) Phạm: Màtfceỉa. Danh tăng kiêm học giả Phật giáo, người Trung Ấn độ sống vào khoảng cuối thế kỉ II đến thế kỉ III. Cứ theo Đa la na tha Phật giáo sử và điều Tán vịnh chi lễ trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4, thì sư vốn tin thờ trời Đại tự tại (Phạm: Mahezvara) của Bà la môn giáo, tính kiêu căng và thích tranh luận. Sau, nhân nằm mộng được Thánh đa la mẫu (Tạng: Sgrol-ma) thụ kí, sư mới hối hận những việc làm sai trái trước kia, nên qui y Phật giáo và xuất gia. Sư sáng tác nhiều bài thơ bằng tiếng Phạm tán thán vô lượng trí đức của Phật, trình bày hạnh lục độ và công đức thù thắng của đức Thế tôn với lời văn trong sáng đẹp đẽ. Các bồ tát Vô trước, Thế thân khi đọc các bài tán này cũng khen ngợi hết lời. Những thi phẩm của sư về sau không những chỉ lưu truyền ở Ấn độ, mà còn được thịnh hành ở các nước Trung á, Trung quốc, Nhật bản v.v... và rất được tín đồ Phật giáo ưa thích. Ngoài ra, ở Tây tạng có thuyết cho rằng sư và bồ tát Mã minh là cùng một người. Các tác phẩm của sư gồm có: Tứ bách tán, Nhất bách ngũ thập tán, Tam bảo cát tường tán, Đẳng chính giác giả danh tán, Tam thập ngũ thiện thệ danh bảo nghiêm sức, Thánh đa la mẫu tán...[X. Nam hải kí qui nội pháp truyện giải lãm sao Q.4, phần 1].

ma túy

Narcotic.

ma tẩy

Masa (skt)—Một tháng—A month. ; (ma tẩy) Phạm: Màsa. Hán dịch: Nguyệt. Nghĩa là tháng. Theo lịch pháp Ấn độ, từ ngày 16 âm lịch đến ngày 15 tháng sau là 1 tháng; từ ngày đầu tháng (mồng 1) đến ngày cuối cùng của nửa tháng trước (ngày 15) là lúc mặt trăng tròn, cho đến dần dần khuyết đi và cuối cùng mất hẳn, gọi là Hắc phần (phần đen); từ khi mặt trăng bắt đầu xuất hiện đến lúc tròn gọi là Bạch phần (phần trắng).

ma viện

(磨院) Cũng gọi Ma ti, Ma hạ, Đôi phòng. Nhà dùng để giã gạo xay thóc trong thiền lâm.Vị tăng trông coi Ma viện gọi là Ma đầu. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên].

ma võng

Lưới ma—The net of mara. ; (魔網) Lưới ma. Chỉ cho những thứ nghiệp tà ác do ma tạo tác, chúng giống như tấm lưới bao trùm khó thoát ra được. Tức là chúng sinh bị các ma phiền não, Thiên ma mê hoặc, trói buộc, cũng như chim, cá bị mắc trong lưới khó gỡ ra được. Luận Đại trí độ quyển 8 (Đại 25, 118 thượng), nói: Có niệm thì rơi vào lưới ma, không niệm thì thoát ra được.

Ma vương

魔王; S, P: māra; nguyên nghĩa là »kẻ phá huỷ«; |Hiện thân của thần chết, tượng trưng cho kẻ ngăn cản con người muốn Giác ngộ, muốn tạo Thiện (s: kuśala) nghiệp, muốn tiến bộ trên đường giác ngộ. Ma vương được xem là vua của tầng trời thứ sáu của dục giới (Tha hoá tự tại thiên, Ba thế giới, Thiên). Hình tượng của Ma vương được vẽ có trăm cánh tay, cưỡi voi.|Tương truyền lúc Phật Thích-ca sắp thành đạo, Ma vương tìm cách ngăn cản, không cho Ngài chuyển bánh xe pháp. Trước hết Ma vương hiện hàng trăm ngàn ma quỷ để trấn áp nhưng Ngài không sợ hãi, bất động. Sau đó Ma vương cho các ái nữ đẹp nhất tìm cách khuyến dụ nhưng dưới mắt Phật các nàng đó biến thành các con người xấu ác. Cuối cùng Ma vương đành khuất phục.

ma vương

Mara-raja (skt)—Ma vương , chủ cõi trời dục giới thứ sáu, hay cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Tất cả những danh từ dùng cho Ma vương đều tiêu biểu cho dục vọng đã quấn lấy chúng sanh làm cản trở cho sự khởi phát thiện nghiệp và tiến bộ trên đường cứu độ và đại giác—The king of maras, the lord of the sixth heaven of the desire-realm, or the Lord of the Paranirmita-vasavartin. All the terms for “Mara-raja” represent Satan, or Mara, the personification of evil and temper of man. Mara-raja also means the Evil One, the Temper, the God of Lust, or Sins. All of the above symbolize the passions that overwhelmed human beings as well as everything that hinders the arising of the wholesome roots and progress on the path of salvation and enlightenment. ** For more information, please see Mara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (魔王) Vua trong các thiên ma, tức là chủ cõi trời Tha hóa tự tại của cõi Dục, tên là Ba tuần, thường cầm đầu các quyến thuộc gây trở ngại cho người tu hành đạo Phật. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 6 chép, nếu người không dứt được dâm dục, thì chắc sẽ rơi vào đường ma, thượng phẩm là Ma vương, trung phẩm là ma dân, hạ phẩm là ma nữ. Nhưng nói theo pháp môn Đại thừa thì Ma vương thực ra là bậc Bồ tát ở địa vị cao thâm, dùng sức đại phương tiện mà thị hiện ra, nhằm mục đích giáo hóa chúng sinh. Có thuyết cho rằng trên từng trời thứ 6 có cung điện riêng của ma, Ma vương ở đó, chứ không phải là chủ cõi trời Tha hóa tự tại. [X. phẩm Bất tư nghị trong kinh Duy ma cật sở thuyết Q.trung].

ma yết đà quốc

(摩揭陀國) Ma yết đà, Phạm;Pàli: Magadha. Cũng gọi Ma già đà quốc, Ma kiệt đà quốc, Ma kiệt đề quốc, Mặc kiệt đà quốc, Mặc kiệt đề quốc, Ma ha đà quốc. Hán dịch: Vô hại quốc, Bất ác xứ quốc, Trí cam lộ xứ quốc, Thiện thắng quốc. Tên 1 nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1 trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, lấy thành Hoa thị (Patna ngày nay) và Phật đà già đa làm trung tâm, có quan hệ rất thâm thiết với Phật giáo. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 8 chép, thì nước Ma yết đà chu vi hơn 5 nghìn dặm, đất đai phì nhiêu, phong tục thuần phác, sùng kính Phật pháp, có hơn 50 ngôi chùa với hơn 1 vạn chư tăng, phần nhiều tu học giáo pháp Đại thừa; còn có vài mươi đền thờ trời, ngoại đạo cũng nhiều. Ở khu vực phụ cận thành Hoa thị còn có những di tích nổi tiếng của Phật giáo như: tháp A dục vương, phiến đá có lốt chân của Phật, nền cũ chùa Kê viên, nơi đức Phật tu khổ hạnh, nơi 3 anh em ngài Ca diếp qui Phật v.v... Vua Tần bà sa la xây dựng thành Vương xá mới (nay là Rajgir) ở phía bắc cố đô và qui y đức Phật. Từ đó về sau, thành Vương xá là nơi đức Phật thườngthuyết pháp. Đến vua A dục đời thứ 3 của Vương triều Khổng tước–thống nhất toàn cõi Ấn độ, thế nước hưng thịnh, vua phái các sư đi khắp nơi cả trong nước và hải ngoại, để truyền bá Phật giáo, xây cấtchùa tháp, tạo dựng trụ đá, làm cho Phật giáo cực thịnh 1 thời. Sang triều đại Cấpđa ở thế kỉ IV, Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Vua Đế nhật sáng lập chùa Na lan đà vào đầu thế kỉ thứ V, là trung tâm của Phật giáo Ấn độ đương thời. Đến thế kỉ VII, Vương triều Cấp đa suy vong thì Phật giáo cũng bắt đầu suy vi. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.thượng, phần 1; Huyền ứng âm nghĩa Q.1,21; Tuệ uyển âm nghĩa Q.1].

ma ái dục

Demons of sexual lust.

ma ám

To be possessed by the evil.

ma ê nhân đà la

Mahendra (skt)—Se Ma Ha Thẩn Đà La.

ma ê xa sa ca

Mahisasakah (skt)—Lưu Phái hay Bộ Hóa Địa trong 18 bộ Tiểu Thừa—One of the eighteen subdivisions of the Sarvastivadah school.

ma đa

Matr (skt). 1) Mẹ: Mother. 2) Người thợ: A maker—A former. 3) Người đo lường: A measurer.

ma đa la thần

(摩多羅神) Cũng gọi Ma đát la, Ma đô la. Vị thần thủ hộ Thường Hành Tam Muội Đường ở chùa Diên Lịch tại Nhật Bản, cũng là Bản Tôn của đàn Huyền chỉ qui mệnh. Về nguồn gốc của vị thần này không được rõ. Nhưng theo truyền thuyết thì là vị thần mà vị Đại sư Từ Giác Viên Nhân thuộc tông Thiên Thai, Nhật Bản cảm được khi ngài đáp thuyền trên đường từ Trung Quốc trở về Nhật Bản. Người tu niệm Phật lúc sắp mệnh chung được vị thần này giữ gìn che chở, giúp cho được chính niệm vãng sinh. Về hình tượng, vị thần này đầu chít khăn kiểu đời Đường, Trung Quốc, mình mặc áo thợ săn kiểu Nhật Bản, 2 tay đánh trống; 2 đồng tử hầu 2 bên, đầu đội mũ phong chiết màu đen, tay cầm búp lá sen với tư thế đang nhảy múa, trong áng mây trên đỉnh có vẽ 7 ngôi sao Bắc đẩu. [X. Ma Đát Lợi Thần Kí; Nhật Bản Thiên Thai Sử Biệt Sách; Ma Đa La Thần Khảo (Đông Dương Triết Học 26, phần 12].

ma đa lợi thủ

(摩多利首) Phạm:Màtarizvan. Tên vị thần được nói đến trong kinh Lê Câu Phệ Đà của Bà La Môn Giáo Ấn Độ. Theo truyền thuyết thần thoại của Bà La Môn Giáo thì vị thần này ở trong hư không, phát hiện được lửa ẩn giấu và dùng phương pháp ma sát mà lấy được lửa từ trên trời, rồi giao lại cho tiên nhân Ba Lợi Hỗ (Phạm: Bhfgu). Vì vị thần này là vị đầu tiên lấy lửa từ nơi thiên thần cung cấp cho loài người, nên cũng được gọi là thần lửa.

ma đa thể văn

(摩多體文) Từ ngữ gọi chung các mẫu tự Tất đàm. Ma đa là phiên âm của chữ Phạm: Màtfkà, nghĩa là nguyên âm, có tất cả 16 chữ, được chia làm 2 phần: 1. Mười hai âm (cũng gọi 12 vần): Từ chữ (a) đến (a#). 2. Nguyên âm riêng: Gồm 4 âm, từ chữ (f) trở xuống, tính chất khác với những chữ trước. Thể văn là Hán dịch từ tiếng Phạm Vyaĩjana, tức là phụ âm, có tất cả 35 chữ, cũng được chia làm 2 phần: 1. Năm loại thanh: Gồm 25 âm. Năm loại thanh này chỉ cho 5 âm: Cổ họng, hàm ếch, lưỡi, răng và môi, gồm các chữ từ (ka) trở xuống đến chữ (ma). 2. Thanh biến khẩu, cũng gọi Thanh mãn khẩu: Gồm 10 chữ từ chữ (ya) trở xuống. Ma đa (nguyên âm) và Thể văn (phụ âm) cùng với chữ Hán dịch của chúng có nói trong phẩm Thích Tự Mẫu của kinh Du Già Kim Cương Đính do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.[X. kinh Đại Bát Niết Bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Q.4; Đại Bát Niết Bàn kinh Nghĩa Kí Q.4; Tất Đàm Tự Kí; Tất Đàm Tạng Q.5; Đại Đường Tây Vực Kí Q.2]. (xt. Tất Đàm).

ma đà na quả

(摩陀那果) Ma đà na, Phạm, Pàli: Madana. Cũng gọi Mạt đạt na, Ma đạt na, Ma đà la. Hán dịch: Túy nhân quả. Tên khoa học: Datura metel. Một loại thực vật thuộc họ cà, quả nó ăn vào có thể làm cho người ta say. Loại cây này phần nhiều mọc ở vùng cao nguyên miền Tây Ấn Độ, vỏ và nhựa cây đều có chất độc, có thể dùng làm thuốc. Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 18 (Đại 54, 419 hạ), nói: Quả Mạt đạt na là tên quả ở các nước Tây Vực, Trung Quốc không có loại quả này. Quả to bằng quả cau. Vì ăn vào khiến người ta say nên cũng gọi là Túy nhân quả (quả làm người say). Có thể được dùng làm thuốc. [X. kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật Q.7; Phiên Phạm Ngữ Q.10; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23].

ma đàn

Mara-gifts, in contrast with those of Buddha. ; (魔檀) Đối lại: Phật đàn. Nghĩa là làm việc bố thí (đàn) mà phương hại cho chính đạo thì đó là hạnh bố thí của ma. Tâm có phiền não nhiễu loạn mà làm việc bố thí, hoặc vì mong cầu quả báo trong 3 cõi mà bố thí thì đều gọi là Ma đàn. Luận Đại trí độ quyển 12 (Đại 25, 145 trung), nói: Đàn có 2 loại: Ma đàn và Phật đàn. Nếu bị giặc phiền não xâm đoạt, lo buồn sợ hãi mà bố thí thì đó là Ma đàn (...). Nếu có tâm thanh tịnh mà bố thí, Ma Đa Thể Văn không có giặc phiền não, không có gì sợ hãi, được đến Phật đạo, thì đó là Phật đàn. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.8 hạ].

ma đát lí ca

(摩呾理迦) Phạm: Màtfkà. Pàli: Màtikà. Cũng gọi Ma trất lí ca, Ma đế lợi ca, Ma đắc lạc già, Ma di. Hán dịch: Mẫu, Bản mẫu, Trí mẫu, Hành mẫu, Luận mẫu, Hành cảnh giới. Danh từ gọi chung cho Ưu Ba Đề Xá trong 12 thể tài kinh và A Tì Đạt Ma Tạng trong Tam Tạng là bộ phận chuyên nghiên cứu và phân tích kĩ tính tướng của các pháp để làm cho giáo nghĩa chân chính của Phật giáo sáng tỏ. Cứ theo luận Du Già Sư Địa quyển 81, thì trong các kinh, bộ phận mà Đức Thế Tôn phân biệt tính tướng của các pháp, rồi giải thích rõ ràng thấu đáo ý nghĩa của chúng, thì gọi là Ma đát lí ca. Còn những tác phẩm trong đó các bậc Thánh đệ tử tường thuật việc các Ngài chứng đắc Đế lí và luận giải rõ ràng về tính tướng các pháp, thì gọi là A tì đạt ma tạng (Luận tạng), cũng gọi Ma đát lí ca. Huyền ứng Âm Nghĩa quyển 16, 23 cho rằng vì Ma đát lí ca có năng lực sinh ra trí và hành nên dịch là Mẫu (mẹ). Du Già Luận Kí quyển 5, thượng (Đại 42, 403 trung), nói: Ma đát lí ca, Hán dịch là Bản mẫu, tức là tập hợp ý nghĩa các kinh để bàn giải rõ ràng, làm phát sinh nghĩa đặc biệt trong các kinh, vì thế gọi là Bản mẫu. Ngoài ra, trong các luận thư của Phật giáo Nam Truyền, phần đặt ở đầu bộ luận, hoặc ở đầu chương để nêu rõ cương yếu, cũng gọi là Ma đát lí ca. [X. luật Ma Ha Tăng Kì Q.13; luận Du Già Sư Địa Q.85; luận A Tì Đạt Ma Thuận Chính Lí Q.44; Đại thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q.2]. (xt. A Tì Đạt Ma, Ưu Ba Đề Xá).

ma đát lý

Matr (skt)—Mẹ—Mother.

ma đăng già

Matanga (skt). 1) Giai cấp thấp nhứt—The lowest caste. 2) Tên của một phụ nữ trong giai cấp thấp đã dụ dỗ ngài A Nan. Sau nầy trở thành một trong những đệ tử trung thành của Phật: Name of the low-caste woman who inveigled Ananda. Later she became one of the most devoted disciples of the Buddha. ; (摩登伽) Phạm, Pàli: Màtaíga. Cũng gọi Ma đặng già. Gọi tắt: Ma trừng. Hán dịch: Hữu chí, Kiêu dật, Ác tác nghiệp. Từ gọi chung những người đàn ông thuộc giai cấp tiện dân ở Ấn Độ. Trái lại, những người đàn bà tiện dân thì gọi là Ma đăng kì (Phạm, Pàli: Màtaígi). Du Già Luận Kí Q.23 thượng (Đại 42, 829 hạ), nói: Ma đăng kì tức là những tiện dân đàn bà, còn những tiện dân đàn ông thì gọi là Ma đăng già, đây là 2 danh từ chung. Những người đàn bà này chỉ sống bằng nghề quét rác. Trong kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm quyển 1, có chép truyện 1 Ma Đăng Già Nữ tên là Bát Cát Đế, từng dụ dỗ ngài A Nan; dâm nữ này xuất thân từ chủng tộc Chiên Đà La, là giai cấp tiện dân thấp nhất. [X. Nhị Thập Duy Thức Thuật Kí Q.hạ; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.22].

ma đăng già a lan nhã

Matanga-aranyakah (skt)—Một trong ba xứ A Lan Nhã, trụ xứ thứ nhì của Tỷ Kheo, trong những nghĩa địa, cách xa thôn xóm một khoảng 3.000 bộ—One of the three Aranyakah, the second class of hermits (probably called after the lowest caste), living in cemeteries, at a distance of 3,000 feet from a village.

ma đăng già chú

Chú Ma Đăng Già làm lễ với máu—The Matanga spell which is performed with blood.

ma đăng già kinh

Kinh Ma Đăng Già nói về việc Đức Phật độ cho cô gái Ma Đăng Già và nói về tinh tú—A sutra on Matangi, and on the stars, two books.

ma đăng già tiên nhân

(摩蹬伽仙人) Cũng gọi Mạt đăng già tiên nhân. Vị tiên tu thiền định trong rừng núi ở thời quá khứ. Cứ theo Duy Thức Nhị Thập Luận Thập Kí quyển hạ, thì thưở xưa có tiên nhân Ma đăng già, hình dáng rất xấu xí, tu được 5 thứ thần thông, thường ngồi thiền định trong núi. Bấy giờ, có 1 dâm nữ được vua yêu quí, nhưng vì xúc phạm nhà vua nên bị đuổi. Dâm nữ đi vào trong núi, thấy tiên nhân xấu xí, cho vị tiên nhân là điềm chẳng lành, lại nghĩ mình bị vua đuổi cũng là chẳng lành, nếu trả lại điềm chẳng lành này thì chắc sẽ được tốt lành. Nghĩ rồi, dâm nữ liền sai thị tì lấy nước phân dội lên mình tiên nhân, vị tiên nhẫn chịu, không hề có ý sân hận, ngay lúc ấy có vị đệ tử Bà La Môn tắm giặt cho tiên nhân, còn dâm nữ kia hôm sau lại được vua yêu dấu. Không bao lâu, vị Quốc sư cũng có việc buồn rầu, dâm nữ kia liền nói với Quốc sư là nếu trả lại việc chẳng lành cho tiên nhân thì sẽ có được điều tốt lành. Quốc sư làm theo lời nàng, đem nước phân dội lên người tiên, vị tiên nhân lại nhẫn chịu, người đệ tử Bà La Môn cũng lại tắm giặt cho tiên nhân, sau đó Quốc sư được điều tốt lành. Về sau, nhà vua muốn xâm lăng nước khác, Quốc sư khuyên vua, nếu đem điều chẳng lành đến cho vị tiên nhân thì chắc chắn được việc tốt lành. Nhà vua liền đi vào núi, dội nước phân lên đầu tiên nhân, rồi về cất quân chinh phạt nước khác, quả nhiên thắng lợi. Từ đó, hễ gặp việc trái ý, vua lại sai người dội nước phân lên mình tiên nhân. Và cũng từ đó, tiên nhân không còn nhẫn chịu được nữa, tâm sinh sân hận, bèn hóa phép tuôn mưa đá xuống, người trong nước đều chết hết, chỉ có người đệ tử Bà La Môn thường chăm sóc, hầu hạ tiên nhân là may mắn được sống sót, trong giây lát, cả nước biến thành rừng núi, gọi là rừng Ma đăng già.

ma đăng kỳ

Matangi (skt)—See Ma Đăng Già.

ma đạo

Black (mara) path or way. ** For more information, please see Ma Giới. ; (魔道) Cũng gọi Ma la đạo. Chỉ cho hành vi của ác ma, hoặc thế giới của ác ma. Kinh Lăng Nghiêm quyển 6 (Đại 19, 131 hạ), nói: Cho dù có đa trí và thiền định hiện tiền mà không đoạn dâm thì chắc chắn cũng sẽ rơi vào Ma đạo.

ma đạt quốc

(摩達國) Ma đạt, Phạm: Madra, Pàli: Madda. Tên 1 vương quốc ở Ấn Độ cổ đại, thủ đô là Sa Kiệt La (Pàli:Sàgala). Cứ theo Trưởng Lão Ni Kệ Kinh Chú (Pàli: Thìg. A.), thì có 1 vị Tỉ Khưu Ni, dòng dõi vua chúa, tên là Sấm Ma (Pàli: Khemà) sinh ở Sa Kiệt La tại nước Ma Yết Đà (Phạm, Pàli: Magadha). Nhưng theo kinh Thí Dụ (Pàli: Apadàna), được dẫn dụ trong bản chú này thì vì có câu Tại Sa Kiệt La của nước Ma Đạt nên có thuyết suy đoán rằng nước Ma Đạt là 1 nước dưới quyền bảo hộ của nước Ma Yết Đà.

ma đầu

(磨頭) Cũng gọi Ma chủ. Chức vụ vị tăng trông nom nhà giã gạo trong Thiền Lâm. Điều liệt chức tạp vụ trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng), nói: Ma chủ đứng đầu nhà giã gạo, là chức vụ quan trọng đối với việc cung cấp gạo và mì cho đại chúng, phải chọn người có đạo tâm, am hiểu công việc xay giã để giữ chức này. [X. Điều Ma Đầu Viên Đầu Trang Chủ giải Viện Chủ Trong Thiền Uyển Thanh Qui Q.4; Môn Chức Vị Trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên].

ma đầu cưu la sơn

(摩頭鳩羅山) Ma đầu cưu la, Phạm, Pàli:Madhukula. Hán dịch: Mật chủng sơn. Núi ở nước Ma Yết Đà (Phạm, Pàli: Magadha) thuộc Trung Ấn Độ. Thưở xưa, khi Đức Thế Tôn giáo hóa Ca Diếp, được 1 chiếc áo phẫn tảo trong rừng, bấy giờ trời Đế Thích biết Đức Thế Tôn muốn giặt chiếc áo ấy, liền đến núi Ma Đầu Cưu La, mang về 1 tảng đá lớn và đặt ở bên bờ ao, để tiện cho việc Đức Thế Tôn giặt áo. [X. luật Tứ Phần quyển 11, 33; Phiên Phạm Ngữ Q.9].

ma đề

Mati (skt)—Hiểu—Understanding.

ma đỉnh

Để tay lên đầu, một thói quen mà Phật hay dùng để dạy đệ tử, có lẽ những chấm đốt trên đầu chúng Tăng cũng bắt nguồn từ đó—To lay the hand on the top of the head, a custom of Buddha in teaching his disciples, from which the burning of the spots on the head of a monk is said to have originated. ; (摩頂) Đức Phật dùng tay xoa đỉnh đầu các vị đệ tử để phó chúc Đại pháp hoặc thụ kí việc thành Phật trong vị lai. Phẩm Chúc Lụy trong kinh Pháp Hoa (Đại 9, 52 hạ), nói: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ tòa ngồi đứng dậy, hiện đại thần lực, đưa tay phải xoa đỉnh đầu của vô lượng Đại Bồ tát. Truyền Pháp Thất Nội Mật Thị Văn Kí cũng chép, Đức Phật nhỏ 3 giọt nước của 4 biển lớn trên đỉnh đầu ngài Ca Diếp, rồi xoa đầu mà phó chúc Đại pháp.

ma độ la

Mathura or Mutra (skt)—See Ma Thâu La.

Ma-da

hoàng hậu của vua Tịnh Phạn, phiên âm từ tiếng Phạn là Mahmy, gọi đủ là Phu nhân Ma-ha Ma-da. Bà là người sanh ra thái tử Tất-đạt-đa.

Ma-du-la

S: mathurā;|Ma-thâu-la.

Ma-già-đà

xem Ma-kiệt-đà.

Ma-ha

摩訶; ~ tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 11. Có lẽ Sư nối pháp Thiền sư Pháp Thuận.|Sư gốc người Chiêm Thành, thông minh từ thuở nhỏ và am hiểu cả hai thứ tiếng Phạn và Hán. Sau, Sư đến chùa Cổ Sơn thụ giáo với Thiền sư Pháp Thuận. Năm 1015, Sư dời về núi Ðại Vân ở Trường An, ngày ngày tu tập, đạt được Tổng trì tam-muội cùng các pháp thuật khó lường. Sư chu du đây đó hoằng hoá, thường hay thi triển thần thông làm phương tiện giáo hoá, người đời rất mến phục.|Năm Thiên Thành thứ 2 (1029), Sư được mời về trụ trì chùa Khai Thiên, phủ Thái Bình. Ở đây được sáu năm, Sư ra đi biệt tích, không ai biết Sư đi đâu, tịch ở đâu.

Ma-ha Ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di

摩訶波闍波提瞿曇彌; P: mahāprajāpatī gautamī;|Dì và sau là mẹ nuôi của đức Phật Thích-ca. Sau khi chồng qua đời, bà đến xin đức Phật thành lập Tỉ-khâu-ni đoàn. Lúc đầu Phật không cho phép vì lo ngại việc giữ Giới luật, nhưng cuối cùng vì lời khẩn cầu của A-nan-đà mà Ngài đồng ý và tiên đoán rằng vì sự có mặt của tỉ-khâu-ni mà Giáo pháp thay vì tồn tại 1000 năm chỉ còn 500 năm.

Ma-ha Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di

phiên âm từ Phạn ngữ là Mah Prajpati Gautamỵ: ma-ha nghĩa là “lớn”, “đại”, ba-xà-ba-đề dịch nghĩa là “ái đạo”, kiều-đàm-di dịch nghĩa là “nữ thanh”. Vì thế tên vị này cũng thường được gọi là Đại Ái Đạo. Vị tỳ-kheo ni này là dì ruột của Phật, là người hết lòng xin cho nữ giới được xuất gia, và cũng là một trong những vị tỳ-kheo ni đầu tiên.

Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh

摩訶般若波羅密多經; S: mahāprajñāpā-ramitā-sūtra;|Xem Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh.

Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh

摩訶般若波羅密多心經; S: mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya-sūtra;|Kinh ngắn nhất chỉ gồm hơn hai trăm năm mươi chữ (bản tiếng Việt) và »trái tim« của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tâm kinh là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Ðại thừa, được lưu hành rộng khắp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và được hầu hết các tăng ni tụng niệm nằm lòng. Tâm kinh đóng vai trò quan trọng trong Thiền tông vì nói rõ về tính Không (s: śūnya-tā) và sự trực nhận tính Không đó một cách rõ ràng, cô đọng chưa hề có.||H 42: Nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của Tâm kinh, viết theo chữ Devanāgarī, được Mithila Institute tại Darbhaṅga, Ấn Ðộ, xuất bản năm 1961.|Câu kinh căn bản của Tâm kinh là »Sắc chính là Không, Không chính là Sắc« (tạm hiểu: hiện tượng chính là bản thể, bản thể chính là hiện tượng), một điều mà Thiền tông luôn luôn nhắc nhở.|Toàn văn Tâm kinh:|प्रज्ञापारमिताहृदयसुत्रम्|(संक्षिप्तमातृका)|आर्यावलोकितेश्वरबोधिसत्त्वोगम्मीरायांप्रज्ञापारमितायांचर्यांचरमाणोव्यवलोकयतिस्म।पञ्चस्कन्धाः, |तांश्चखभावशून्यान्पश्यतिस्म।।|इहशारिपुत्ररूपंशून्यता, शून्यतैवरूपम्।रूपान्नपृथक्शून्यता, |शून्यतायानपृथग्रुपम्।यद्रूपंसाशून्यता, याशून्यतातद्रूपम्।।|एवमेववेदयासंज्ञासंकारविज्ञानानि।।|इहशारिपुत्रसर्वधर्माःशून्यतालक्षणाअनुत्पन्नाअनिरुद्धोअमलानविमलनोनानपरिपूर्णाः।|तस्माच्छारिपुत्रशून्यतायांनरूपम्, नवदना, |नसंज्ञा, नसंकाराः, नविज्ञानानि।नचक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनासि, |नरूपशब्दगन्दरसस्प्रष्टव्यधर्माः।नचक्षुर्धातुर्यावन्नमनोधातुः।।|नविद्यानाविद्यानविद्याक्षयोनाविद्याक्षयोयावन्नजरामरणंनजरामरणक्षयोनदुः|खसमुदयनिरोधमार्गानज्ञानंनप्राप्तित्वम्।।|बोधिसत्त्वस्य (श्च ?) प्रज्ञापारमितामाश्रित्यविहरतिचित्तावरणः. |चित्तवरणनास्तित्वादत्रस्तोविपर्यासातिक्रान्तोनिष्ठनिर्वाणः|त्र्यघ्वव्यवस्थिताःसर्वबुद्धाःप्रज्ञापारमितामाश्रित्यअनुत्तरांसम्यक्संबोधिमभिसंभुद्धाः।।|तस्माज्ज्ञातव्यःप्रज्ञापारमितामहामन्त्रोमहाविद्यामन्त्रोऽनुत्तरमन्त्रोऽसमसममन्त्रःसर्वदुः|खप्रशमनःसत्यममिथ्यत्वात्प्रज्ञापारमितायामुक्तोमन्त्रः।|तद्यथागतेगतेपारगतेपारसंगतेबोधिस्वाहा।।|prajñāpāramitāhṛdayasūtram|(saṃkṣiptamātṛkā)|— āryāvalokiteśvarabodhisattvo gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma. pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.|iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam. rūpānna pṛthak śūnyatā, śūnyatāyā na pṛthag rūpam. yadrūpaṃ sā śūnyatā, yā śūnyatā tadrūpam.|evameva vedayāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni|— iha śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā na vimalā nonā na paripūrṇāḥ. tasmācchāriputra śūnyatāyāṃ na rūpam, na vedanā, na saṃjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni. na cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ. na cakṣurdhāturyāvanna manodhātuḥ|na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvanna jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptitvam.|— bodhisattvasya (śca?) prajñāpāramitāmāśritya viharati cittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvādatrasto viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ. tryaghvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāra-mitāmāśritya anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhi-saṃbuddhāḥ.|— tasmājjñātavyaḥ prajñāpāramitāmahāmantro mahāvidyāmantro 'nuttaramantro 'samasama-mantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyamamithyatvāt prajñāpāramitāyāmukto mantraḥ. tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.|摩訶般若波羅密多心經|觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時照見五蘊皆空度一切苦厄舍利子色不異空空不異|色色即是空空即是色受想行識亦復如是舍利子是諸法空相不生不滅不垢不淨不增不減|是故空中無色無受想行識無眼耳鼻舌身意無色聲香味觸法無眼界乃至無意識界無無明|亦無無明盡乃至無老死亦無老死盡無苦集滅道無智亦無得以無所得故菩提薩埵依般若波羅蜜多|故心無罣礙無罣礙故無有恐怖遠離顛倒夢想究竟涅槃三世諸佛依般若波羅蜜多|故得阿耨多羅三藐三菩提故知般若波羅蜜多是大神咒是大明咒是無上咒是無等等咒|能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜多咒即說咒曰揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶|Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh|Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-lợi-tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thụ tưởng hành thức diệc phục như thị.|Xá-lợi-tử! Thị chư pháp không tướng: Bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc vô thụ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề Tát-đoá y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn li điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết đế, Bồ-đề Tát-bà-ha.|»Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tu chứng đại trí huệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách.|Này Xá-lị tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc chính là Không, Không chính là Sắc; thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.|Xá-lị tử! Tướng Không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong Không không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí huệ, cũng không chứng đạt vì không có gì để chứng.|Bồ Tát nương trí huệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ sệt, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt Niết-bàn. Các Phật ba đời nương trí huệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, đúng đắn và cao nhất.|Vì thế nên biết rằng trí huệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí huệ siêu việt rút ra nghĩa tinh yếu như sau:|Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.«|(Dịch giả khuyết danh).

Ma-ha Câu-hy-la

tên Phạn ngữ là Mah-kauṣṭhila, cũng đọc là Ma-ha Câu-sắt-sỉ-la, là một trong các đệ tử chứng quả A-la-hán vào thời đức Phật còn tại thế. Trong quyển 12 kinh Tạp A-hàm có nhắc đến chuyện ngài Câu-hy-la khi ở núi Kỳ-xà-quật, Xá-lợi-phất đến thưa hỏi về ý nghĩa của Mười hai nhân duyên, được ngài trả lời tường tận mọi điều, nên Xá-lợi-phất hết lời ngợi khen, tán thán. Trong kinh Tăng nhất A-hàm, quyển 3, phẩm Đệ tử có nói về ngài Câu-hy-la đạt được đầy đủ Bốn pháp biện tài (Tứ biện tài). Tuy nhiên, không thấy kinh điển nào nói chi tiết về cuộc đời vị A-la-hán này, trừ ra trong Đại Trí độ luận (quyển 1), Soạn tập bách duyên kinh (quyển 10, Trường Trảo Phạm-chí duyên) đều nói rằng ngài Câu-hy-la chính là cậu ruột của ngài Xá-lợi-phất, trước khi xuất gia theo Phật đã từng tu theo ngoại đạo, có hiệu là Phạm chí Trường Trảo (móng tay dài), vì ông không bao giờ cắt móng tay.

Ma-ha Câu-sắt-sỉ-la

xem Ma-ha Câu-hy-la.

Ma-ha Tất-đạt

摩訶悉達; S: mahāsiddha; dịch nghĩa là Ðại thành tựu giả;|Danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh, đã đạt cốt tuỷ của giáo pháp Tan-tra của Phật giáo (Vô thượng du-già) một cách siêu việt. Người ta nhắc đến nhiều nhất 84 vị Ma-ha Tất-đạt của thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ thứ 12 tại Ấn Ðộ, là những vị tu học khác hẳn truyền thống tu tập ở các Tinh xá (s, p: vihāra) của Ðại thừa. Ðó là những vị nam nữ, thuộc tầng lớp xã hội khác nhau, là những người đã để lại cho Phật giáo Bắc Ấn Ðộ và Tây Tạng một ảnh hưởng quyết định.|Tất-đạt (s: siddha) là các vị đã đạt thần thông, thần thông này được gọi là Tất-địa (s: siddhi). Người Xuất gia hay Cư sĩ đều có thể đạt Tất-địa. Trong thời đức Phật còn tại thế, người ta đã thừa nhận trong quá trình tu tập, hành giả có thể đạt thần thông nhất định, nhưng các thần thông đó đều vô ích, không đáng quan tâm. Chính đức Phật cũng không cho phép đệ tử mình thi triển thần thông, trừ khi cần phải thi triển vì mục đích giáo hoá. Thế nhưng Mật tông, nhất là truyền thống Tan-tra có khuynh hướng khuyến khích việc thi triển thần thông, xem nó như một trong những Phương tiện thiện xảo để giáo hoá. Vì thế phần lớn các vị Tất-đạt hay xiển dương thần thông như bay trên không, đi dưới nước, xuyên qua tường hay kéo dài thọ mệnh. Các vị đạt một ít thần thông nhất định được gọi là Tất-đạt, các vị đạt được nhiều thần thông được gọi là Ma-ha Tất-đạt. Người ta kể ra khoảng 34 thần thông khác nhau. Các vị đạt Tất-địa không nhất thiết là đã giải thoát. Trong sách vở truyền lại, ít có vị nào được ghi là »nhập Niết-bàn«. Phần lớn được gọi là »đi vào cõi của Không hành nữ«, được hiểu là nơi không còn tái sinh, tiếp tục tu học để giải thoát hoàn toàn.|Chuyện về 84 vị Ma-ha Tất-đạt do Abhayadatta Śrī, một cao tăng Ấn Ðộ ghi lại trong thế kỉ 11,12 trong một tập dưới tựa Lịch sử của 84 Tất-đạt (s: caturraśīti-siddha-pravṛtti, bản dịch của Keith Dowman và H.-W. Schumann). Truyền thống Tây Tạng cũng có những tập nói về chư vị nhưng có khác đôi chút. Trong quyển sách này, sự tích các vị là dựa vào tập của Abhayadatta. Ða số 84 vị này đều sống trong khoảng từ thế kỉ thứ 8 đến 12 và truyền thừa cho nhau. Các vị thường có rất nhiều tên khác nhau, phần lớn dựa vào tính chất đắc đạo hay nghề nghiệp các vị đó. Các câu chuyện truyền lại với những thần thông khác nhau có thể được thêm bớt, nhưng người ta cho rằng tất cả các vị đó đều là những nhân vật lịch sử, đã sống thật trên trái đất này.|Ngày nay người ta còn tìm thấy tiểu sử của 84 vị Ma-ha Tất-đạt trong kinh sách Tây Tạng như Cha-tra-ba (s: catrapa), người hành khất; Kan-ta-li-pa (s: kantalipa), thợ may và Kum-ba-ri-pa (s: kumbharipa), thợ gốm. Người ta cũng phải kể các vị như nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) và người em gái La-kha Min-ka-ra (s: lakṣmīṅkarā) cũng như Luận sư San-ti-pa (s: śāntipa). Ðời sống các vị đó khác nhau rất nhiều nhưng tất cả đều có chung một điều là các vị đều phải trải qua một cơn khủng hoảng trong đời, gặp một lời khai thị của một vị Ðạo sư và biến khủng hoảng đó thành đạo giải thoát. Các vị thường có thái độ khó hiểu và ưa dùng nghịch lí để diễn tả cái không thể lĩnh hội được của sự thật vô thượng. Trong tiểu sử của vị Ma-ha Tất-đạt Tan-tê-pa (s: taṅtepa), người ta thấy sự hoà nhập giữa một cuộc đời tối tăm nhất và sự giác ngộ cao cả. Ông là người đánh bạc, phá tan gia sản và chỉ nhờ câu khai thị – thế giới thật ra cũng trống rỗng như túi tiền của mình – ông đạt giác ngộ và thực hiện Niết-bàn.|Các bài kệ ca tụng Chân như, trong đây được tạm dịch là chứng đạo kệ (s: dohā; Hán âm là Ðạo-bả, 道把) của các vị Ma-ha Tất-đạt thường rất thi vị và kích thích sức tưởng tượng. Tại Tây Tạng, truyền thống ca hát đó được Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và Drug-pa Kun-leg tiếp nối. Bài ca sau đây của người thợ rèn Sa-ra-ha, một trong những vị Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất, để lại ấn tượng khó quên: »Ai thấu hiểu rằng, đầu đuôi chẳng có tâm thức nào cả, người đó đã thực hiện tâm Phật ba đời.«

ma-ha-lăng-già

phiên âm từ Phạn ngữ Mahraṅga, dịch nghĩa là đại giá y, chỉ các loại áo tốt đẹp, đắt tiền.

ma-ha-na-già

phiên âm từ Phạn ngữ mahng, Hán dịch là đại hương tượng, chỉ con voi sung sức, khỏe mạnh nhất trong đàn voi. Ma-hê-thủ-la: phiên âm từ Phạn ngữ là Maheśvara, cũng gọi là Ma-hê-thủ-la Thiên vương, Đại tự tại Thiên vương, là vị thiên thần mà đạo Bà-la-môn thờ kính, ở cảnh trời cao nhất trong cõi Sắc giới.

Ma-ha-đà

xem Ma-kiệt-đà.

Ma-hi-pa

S: mahipa; »Người vĩ đại nhất«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10. Ma-hi-pa là người xứ Ma-kiệt-đà (s: magadha).|Ông là người có sức mạnh vô địch, luôn luôn tự hào về sức mạnh đó. Ngày nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này đọc được ý nghĩ đầy kiêu mạn của ông làm ông khâm phục. Ông xin theo học. Vị Du-già sư bèn dạy:|Mọi hiện tượng là tâm,|quán tưởng thật kiên cố,|rằng tâm là tính Không,|bất sinh và bất tử.|Thế mới là sức mạnh.|Nghe qua ông không hiểu, vị Du-già sư đổi cách nói:|Nếu ngươi biết rõ rằng,|sức mạnh: sự trống rỗng,|thì ngươi thật sự là,|một con người vô địch.|Hãy dán các hiện tượng,|năng lực và nhận thức,|trên không gian mênh mông|của đất trời vô tận.|Nhà vô địch nghiêng đầu cảm tạ. Ông tìm cách lấy tâm làm đối tượng quán tưởng thì tâm chạy đi đâu mất, ông tìm sự nhận thức để quán sát thì cũng không nắm bắt được nó. Ngày trước nó là trở ngại của ông thì bây giờ nó chính là phương tiện cho ông. Nhờ thế mà ông đạt thánh quả, sống thêm 300 trăm năm nữa và giáo hoá cho người đời thấy rằng sức mạnh đích thật chính là tự tính cuối cùng của tâm. Thánh đạo ca của ông có những dòng sau:|Dưới ngọn núi kiêu mạn,|là viên ngọc Như ý|của thật chứng giác ngộ.|Hành động đầy giác ngộ|của con người tài tình,|thoả ước vọng của ta,|vì người đó đã đạt,|đã nếm vị duy nhất.

Ma-hi-đà

摩呬陀; S, P: mahinda;|Cao tăng Phật giáo thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, con trai của A-dục vương (s: aśoka). Năm 250 trước Công nguyên, ông cầm đầu phái đoàn đi Tích Lan và thuyết phục nhà vua xứ này là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) theo Phật giáo. Sau đó, nhà vua cho xây dựng Ðại Tự (p: mahāvihā-ra) trong kinh đô A-nu-ra-đa-pu-ra (p: anurā-dhapura), trồng một nhánh cây Bồ-đề do Ma-hi-đà mang theo. Ông chết năm 60 tuổi tại Tích Lan.

Ma-kiệt-đà

(摩竭陀), phiên âm từ Phạn ngữ Magadha, cũng đọc là Kiệt-xà, hay Ma-già-đà, là tên nước do vua Tần-bà-sa-la cai trị, sau bị con trai là A-xà-thế giết chết để cướp ngôi. Ma-kiệt-đà là một trong 16 nước lớn ở Ấn Độ vào thời đức Phật, kinh đô là thành Vương-xá (Rjagṛha). Vị trí hiện nay của Ma-kiệt-đà là thuộc về Nam Bihar, miền Bắc Ấn Độ. Tên nước này còn được phiên âm là Ma-ha-đà (摩訶陀),Ma-kiệt-đề (摩竭提)... ; 摩竭陀; S, P: magadha;|Vương quốc ở Bắc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca tại thế. Các kinh đô lần lượt là Vương xá (s: rājagṛha) và Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Vua nước Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) và con trai là A-xà-thế (s: ajātaśatru), sau đó đến A-dục vương (s: aśoka). Ma-kiệt-đà được xem là nơi phát sinh Phật giáo, sau hội nghị Kết tập lần thứ 3, giáo pháp đã từ đây truyền qua các vùng khác của Ấn Ðộ.|Dưới thời A-dục vương, Ma-kiệt-đà có diện tích lớn nhất. Ngôn ngữ ở đây là Mā-ga-dhī, và mối liên hệ của nó với ngôn ngữ của Phật giáo nam truyền là một điều ngày nay người ta vẫn chưa hiểu hết.

Ma-kiệt-đề

xem Ma-kiệt-đà.

Ma-la-da

phiên âm từ Phạn ngữ là Malaya, cũng đọc là Ma-la-diên, là tên một ngọn núi nằm ở miền nam Ấn Độ, thuộc nước Ma-la-da. Nơi đây có nhiều gỗ thơm chiên-đàn, đặc biệt là loại chiên đàn trắng.

ma-ni

phiên âm từ Phạn ngữ là mani, dịch nghĩa là ly cấu (lìa khỏi sự dơ nhớp), là như ý (theo đúng như ý muốn). Hạt châu ma-ni là loại châu báu quý nhất, được tin là có thể làm cho người chủ sở hữu nó muốn gì cũng được như ý, nên gọi là như ý châu.

Ma-ni Ba-đra

S: maṇibhadrā; »Bà nội trợ hạnh phúc«; |Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Tại thành A-gạt-chê (agarce) có một thương nhân nọ có người con gái 13 tuổi tên là Ma-ni Ba-đra. Nàng được gả chồng nhưng theo tục lệ thời đó, nàng vẫn ở với cha mẹ cho đến tuổi làm vợ. Trong thời gian đó thì Ðạo sư Kuk-ku-ri-pa (s: kukkuripa) đi qua nhà khất thực. Thấy vị Du-già sư, nàng liền bố thí cúng dường và xin học đạo, Kuk-ku-ri-ba nhận lời và hẹn nàng đến bãi thiêu xác trong thành. Suốt ngày nàng chỉ nhớ lời vị Ðạo sư dặn và khi đêm đến, nàng lén đi đến chỗ hẹn. Thấy căn cơ nàng đã chín muồi, vị Ðạo sư cho nàng nhập môn Cha-kra sam-va-ra tan-tra, Quán đỉnh và hướng dẫn nàng phép thiền quán. Nàng ở liên tiếp bảy ngày tu tập, và khi về nàng bị cha mẹ la rầy đánh đập nhưng sau đó vẫn tiếp tục tu tập. Một năm sau chồng tới rước về, nàng đi theo không hề phản đối, làm trọn vẹn bản phận người vợ. Nàng sinh hạ một trai một gái. |Mười hai năm trôi qua sau khi gặp Ðạo sư, ngày nọ nàng đi xách nước, lỡ vấp chân và bình nước bị vỡ. Cả nhà đợi hoài không thấy đi tìm thì thấy nàng nhập định, người bất động, mắt đăm đăm nhìn bình nước bị vỡ. Ðến tối nàng mới xuất thiền, đọc bài kệ:|Từ vô thuỷ xa xưa,|loài hữu tình đánh vỡ,|bình chứa nước đời sống,|nhưng không hiểu tại sao|họ vẫn về lại nhà?|Hôm nay ta đánh vỡ,|bình chứa nước của ta,|nhưng ta không trở lại,|chốn Tử sinh này nữa.|Ði tiếp tới Ðại lạc,|huyền diệu thay, Ðạo sư!|Các ngươi muốn hạnh phúc,|hãy biết tôn kính Ngài!|Nói xong Ma-ni Ba-đra nhấc mình lên không và giáo hoá cho quần chúng 21 ngày liên tục. Sau đó bà biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).|Người ta còn nhắc thêm các dòng chứng đạo ca sau đây của bà:|Khi vô minh bao phủ,|thì mỗi một âm thanh,|kéo theo một phân biệt.|Khi Thật tại phơi bày,|thì Tự tính mọi chuyện,|lại chính là Thật tại.|Một câu chuyện gần giống như trên được Trúc Thiên thuật lại trong bản dịch Thiền luận (quyển thượng, trang 506-507) của Su-zu-ki: Thiền sư Lang Gia Huệ Giác (琅邪慧覺; thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Phần Dương Thiện Chiêu) có một vị nữ đệ tử. Sư trao cho cô ba chữ »tuỳ tha khứ« (隨他去; nghĩa là ›theo nó mà đi‹ hoặc ›mặc kệ nó‹) làm Thoại đầu tham quán. Cô chú tâm vào ba chữ này đến nỗi nhà cháy cô cũng không lo, cứ niệm »tuỳ tha khứ.«… Ngày nọ, chồng cô chiên bánh, liệng miếng bột vào chảo dầu sôi một tiếng xèo. Cô giật mình như tỉnh cơn mê, nhắc chảo dầu sôi đổ xuống đất, tay phủi miệng cười và hét to: »tuỳ tha khứ.« Chồng cô tưởng cô điên, không ngờ cô đã ngộ đạo.

Ma-ni-bạt-đà

(Maṇibhadra), một trong tám vị Đại tướng Dạ-xoa, được dịch nghĩa là Bảo Hiền (寶賢).

Ma-nô-la

摩拏羅; S: manorata;|Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn Ðộ.

Ma-thâu-la

摩愉羅; S: mathurā;|Một thành phố Ấn Ðộ nằm bên phải của sông Ya-mu-na (s: yamunā), tiểu bang Uttar-Pradesh. Giữa 150 và 250, đây là một trung tâm văn hoá, nghệ thuật Phật giáo quan trọng. Song song với Càn-đà-la (gandhāra), những tượng Phật đầu tiên được kiến tạo tại đây. Phật được trình bày dưới dạng một Dạ-xoa (s: yakṣa) đang đứng.|Thân của đức Phật được trình bày gọn, lực lưỡng, Ngài mang một ca-sa láng trơn nằm sát người, không có nếp xếp và để lộ nhiều phần của thân thể. Tượng Phật tại đây được trình bày không như tại Càn-đà-la – nghĩa là chỉ hướng nội – mà là một vị Thánh sẵn lòng cứu giúp, thuyết pháp vì chúng sinh.|Dưới ảnh hưởng của Càn-đà-la, thân thể của đức Phật được trình bày mềm mại và gầy hơn, ca-sa trở thành một y phục nhẹ nhàn với những nếp xếp song song mà qua nó, thân của Ngài hiện ra rõ ràng. Tượng Phật tại đây phát ra một nét dung hoà và nhân cách cao quý.

mai

Cây mận—The plum.

mai danh

Mai danh ẩn tích hay lui về sống dấu tên ẩn mặt—To conceal one's name—To live in retirement.

mai kia

In the future.

mai một

Để cho mất đi tài năng—To lose one's talent—To wrap up one's talent in a napkin.

mai nguyên chân long

(梅原真隆) Học giả Phật giáo Nhật bản, tốt nghiệp Đại học Long cốc. Ông từng là viên chức chủ chốt trong Khuyến học liêu đầu và Hiển chân học uyển. Ông có các trứ tác: Thán dị sao giảng nghĩa, Giác như thượng nhân, Chân tông đề yếu, Văn thư tuyển sao, Nhất thừa chi đạo, Giáo hành tín chứng tân dịch, Mai nguyên soạn tập 35 quyển.

Mai Nguyệt

(梅月): chỉ cho tháng 4 Âm Lịch, và cũng chỉ chung cho thời tiết Mai Vũ (梅雨). Như trong bài thơ Ký Vương Địch (寄王滌) của Quán Hưu (貫休, 832-912) nhà Đường có câu: “Mai Nguyệt đa khai hộ, y thường nhuận dục trích, tịch liêu tuy vô hình, bất thị tiểu thù địch (梅月多開戶、衣裳潤欲滴、寂寥雖無形、不是小讎敵, tháng Tư cửa bày mở, áo quần ướt đẩm giọt, vắng vẻ chẳng bóng hình, chẳng phải nào thù địch).” Hay như trong bài thơ Tàng Mặc Quyết (藏墨訣) của Lý Đình Khuê (李廷珪, ?-?) nhà Nam Đường lại có câu: “Tị thử huyền cát nang, lâm phong độ mai nguyệt (避暑懸葛囊、臨風度梅月, tránh nóng treo túi dây, gặp gió qua tháng Tư).” Trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) quyển Hạ có đoạn: “Dữ Mai Nguyệt tùng phong, kết tận đa thiểu khẩu nghiệp, thử nghiệp thâm hậu, bất tự giác tri (與梅月松風、結盡多少口業、此業深厚、不自覺知, cùng gió tùng tháng Tư, kết tận ít nhiều khẩu nghiệp, nghiệp này sâu dày, chẳng tự biết được).” ; (梅月): chỉ cho tháng 4 Âm Lịch, và cũng chỉ chung cho thời tiết Mai Vũ (梅雨). Như trong bài thơ Ký Vương Địch (寄王滌) của Quán Hưu (貫休, 832-912) có câu: “Mai Nguyệt đa khai hộ, y thường nhuận dục trích, tịch liêu tuy vô hình, bất thị tiểu thù địch (梅月多開戶、衣裳潤欲滴、寂寥雖無形、不是小讎敵, tháng Tư cửa bày mở, áo quần ướt đẩm giọt, vắng vẻ chẳng bóng hình, chẳng phải nào thù địch).” Hay như trong bài thơ Tàng Mặc Quyết (藏墨訣) của Lý Đình Khuê (李廷珪, ?-?) nhà Nam Đường lại có câu: “Tị thử huyền cát nang, lâm phong độ mai nguyệt (避暑懸葛囊、臨風度梅月, tránh nóng treo túi dây, gặp gió qua tháng Tư).” Trong Tây Nham Liễu Huệ Thiền Sư Ngữ Lục (西巖了慧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1391) quyển Hạ có đoạn: “Dữ Mai Nguyệt tùng phong, kết tận đa thiểu khẩu nghiệp, thử nghiệp thâm hậu, bất tự giác tri (與梅月松風、結盡多少口業、此業深厚、不自覺知, cùng gió tùng tháng Tư, kết tận ít nhiều khẩu nghiệp, nghiệp này sâu dày, chẳng tự biết được).”

mai quang hi

(梅光羲) Học giả Phật giáo Trung quốc, thuộc tông Pháp tướng, sống vào khoảng đầu năm Dân quốc, tự là Hiệt vân. Cả cuộc đời, ông dốc sức vào việc nghiên cứu Phật học. Ông từng đến tinh xá Kì hoàn theo học ông Dương nhân sơn và có tình đồng môn với ông Âu dương tiệm, đối với môn Pháp tướng Duy thức học ông nghiên cứu rất sâu. Năm Dân quốc 20 (1931), ông công bố bài khảo luận: Tướng tông tân cựu lưỡng dịch bất đồng luận (bàn về 2 bản dịch mới và cũ khác nhau của Tướng tông), trong đó, ông chỉ ra rằng, các ngài Bồ đề lưu chi và Chân đế là các nhà dịch cũ, còn ngài Huyền trang là nhà dịch mới; điểm này rất được giới Phật học đương thời chú ý. Ông có các tác phẩm: Tướng tông cương yếu, Tướng tông cương yếu tục biên, Tướng tông sử truyện lược lục, Pháp uyển nghĩa lâm chương Duy thức chương chú, Đại thừa tướng tông thập thắng luận.

mai sau

Later.

mai tàng

To hide in the ground.

mai táng

To bury.

mai tử thục dã

(梅子熟也) Hạt (giống) mai chín rồi. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là ngữ yếu của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất đời Đường ấn khả cho đệ tử nối pháp là sư Đại mai Pháp thường. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 7 (Đại 51, 254 hạ), chép: Thiền sư Đại tịch nghe tin sư ở núi, bèn sai 1 vị tăng đến hỏi rằng: Hòa thượng yết kiến Mã đại sư được cái gì mà đến trụ ở núi này? Sư đáp: Mã sư nói với ta là tức tâm tức Phật, ta liền đến ở đây. Vị tăng nói: Gần đây Phật pháp của Mã đại sư lại khác rồi. Sư hỏi: Khác thế nào? Vị tăng đáp: Gần đây lại nói phi tâm phi Phật. Sư nói: Lão già ấy làm mê loạn người ta mãi không thôi, mặc cho ông ta nói phi tâm phi Phật, còn ta đây chỉ cốt tức tâm tức Phật. Vị tăng ấy về bạch lại với ngài Mã tổ, Tổ nói: Đại chúng! Hạt mai chín rồi! (mai tử thục dã). Nhưng Tống cao tăng truyện quyển 11 và Tổ đường tập quyển 15 thì cho rằng Mai tử thục dã là lời bàn của ngài Diêm quan Tề an, đồng môn với ngài Đại mai Pháp thường.

mai đát lê

Maitreya (skt)—See Mai Đát Lợi Da.

mai đát lợi

Maitreya (skt)—See Mai Đát Lợi Da.

mai đát lợi da

Maitreya (skt)—Còn gọi là Mai Đát Lê hay Mai Đát Lợi, dịch là Từ Thị, là vị Phật Hạ Sanh sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—Benevolent—Friendly—The expected Buddhist Messiah—See Maitreya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

Mai Ốc Niệm Thường

(梅屋念常, Baioku Nenjō, 1282-?): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Hoa Đình (華亭, Tỉnh Giang Tô), họ Hoàng (黃), hiệu là Mai Ốc (梅屋). Năm 12 tuổi, ông xuống tóc xuất gia ở Viên Minh Viện (圓明院) vùng Bình Giang (平江, Tỉnh Giang Tô) và đến năm đầu niên hiệu Chí Đại (至大), ông theo tham học và đắc pháp với Hối Cơ Nguyên Hy (晦機元熙) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺). Vào năm thứ 3 (1316) niên hiệu Diên Hựu (延祐), ông đến trú trì Đại Trung Tường Phù Tự (大中祥符寺) ở Phủ Gia Hưng (嘉興府, Tỉnh Triết Giang). Ông là tác giả bộ Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載) 3 quyển.

Mai-tre-ya-na-tha

S: maitreyanātha;|Một trong những người sáng lập Duy thức tông, được xem là sống ở thế kỉ 4-5. Các dữ liệu gần đây cho rằng đây chính là thầy của Vô Trước (s: asaṅga). Mặt khác, người ta xem Vô Trước là người được học hỏi trực tiếp từ đức Di-lặc (s: maitreya). Như vậy, có thể Mai-tre-ya-na-tha (maitreyanātha) chính là Bồ Tát Di-lặc. Vì vậy có người cho rằng Di-lặc là Sơ tổ của Duy thức tông.|Các tác phẩm sau đây được xem là của Mai-tre-ya-na-tha hoặc của Vô Trước: A-tì-đạt-ma tập luận (s: abhidharma-samuccaya) được trình bày theo dạng của Duy thức tông, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Trung biên phân biệt luận (mādhyānta-vibhāga-śāstra), một bài luận ngắn có tính giáo khoa và bộ luận Du già sư địa (yogācārabhūmi-śāstra) nổi tiếng.

man

1) Vòng hoa đội đầu: A chaplet—A head-dress—A coiffure. 2) Chuỗi ngọc: Jade necklace. 3) Hoa Mạt Lợi (hoa lài): Jasmine.

man mác

1) Vague. 2) Immense—Very large—Vast.

Man mạch

(蠻貊, 蠻貉, 蠻貃): tên gọi của một bộ tộc lạc hậu ở phương Nam và phương Bắc; đôi khi nó còn được dùng chỉ cho những bộ tộc lạc hậu ở khắp nơi. Trong lòng sớ trên, từ này có nghĩa là mọi người. Trong bài Bồi Địch Viên Ngoại Tảo Đăng Phủ Tây Lâu Nhân Trình Viện Trung Chư Công (陪狄員外早秋登府西樓因呈院中諸公) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Uy thanh chấn man mạch, huệ hóa chung Hoa Dương (威聲振蠻貊、惠化鍾華陽, uy thanh chấn mọi rợ, ân huệ động Hoa Dương).” Hay như trong Trà Hương Thất Tùng Sao (茶香室叢鈔), phần Bao Thuận (包順) của Du (俞樾, 1821-1907) nhà Thanh cũng có đoạn: “Án Bao Công tại đương nhật dĩ danh động man mạch như thử (按包公在當日已名動蠻貊如此, theo như ông Bao Thuận vào ngày này đã gây tiếng tăm động đến đám mọi rợ như vậy).”

man trá

Fraudulent.

Man-tra

S: mantra;|Là một số âm, chứa đựng sức mạnh đặc biệt của vũ trụ hoặc biểu hiện của một khía cạnh nào đó của Phật tính. Trong nhiều trường phái Phật giáo, Man-tra hay được lập lại trong các buổi tu tập hành trì, đặc biệt trong Kim cương thừa ở Tây Tạng. Ở đây Man-tra trở thành phương tiện trợ giúp tâm thức hành giả. Trong ba ải Thân, khẩu, ý thì Man-tra thuộc về khẩu và tác động thông qua âm thanh rung động do sự tụng niệm Man-tra phát sinh. Hành giả luôn luôn vừa đọc Man-tra vừa quán tưởng một đối tượng và tay giữ một Ấn (s: mudrā) nhất định như Nghi quỹ (s: sādhana) chỉ dẫn.|Trong các trường phái tại Tây Tạng thì chức năng của các Man-tra của mỗi cấp Tan-tra khác nhau. Có khi, trong lúc niệm Man-tra hành giả phải tập trung lên mặt chữ của Man-tra này hay tập trung lắng nghe âm thanh của nó. Nếu hành giả tập trung lên mặt chữ, thì các chữ đó hiện thành linh ảnh. Nếu tập trung lên âm thanh thì hành giả cần niệm thành tiếng hay tưởng tượng ra thanh âm của nó. Chương 5 của tác phẩm Subāhuparipṛcchā có ghi:|Lúc đọc Man-tra,|Ðừng quá gấp rút,|Ðừng quá chậm rãi,|Ðọc đừng quá to tiếng,|Ðừng quá thì thầm,|Không phải lúc nói năng|Không để bị loạn động.

Man-đa-la

S: maṇḍala; nguyên nghĩa là »vòng tròn, vòng cung«;|Một khái niệm quan trọng của Phật giáo Tây Tạng và Kim cương thừa. Ðó là biểu tượng của vũ trụ và lực lượng trong vũ trụ diễn tả bằng những tranh vẽ. Người ta sử dụng Man-đa-la để tập trung thiền định, nó là xuất phát điểm của nhiều phương pháp Quán đỉnh. Tại Tây Tạng, người ta hiểu Man-đa-la là »trung tâm và ngoại vi«, là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Vì vậy trong một Man-đa-la, người ta thường thấy vô số cảnh vật, hình tướng khác nhau, nhưng chúng nằm trong một tranh vẽ duy nhất với thứ tự trên dưới rõ rệt.|Trong Kim cương thừa, Man-đa-la không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để thiền giả bày biện các lễ vật hay pháp khí. Tuy thế muốn được làm như thế, hành giả phải được một vị đạo sư thừa nhận và cho phép thực hiện Nghi quỹ (s: sādhana) đó. Mỗi Man-đa-la đều nhắm đến một vị Phật nhất định và vì thế lễ vật hay pháp khí đều phải phù hợp. Kim cương thừa xem mọi thứ đều có thể là Man-đa-la, từ thế giới ngoại cảnh đến chính bản thân hay tâm thức mình. Tuy nhiên theo truyền thống người ta hay xem Man-đa-la là một lâu đài hình vuông có bốn cửa nhìn ra bốn phía. Có 4 cách để xây dựng một Man-đa-la: 1. Bằng một bức hoạ (Thăng-ka), 2. Bằng cát nhuộm màu, 3. Bằng từng đống gạo nhỏ và 4. Bằng vật thể ba chiều, thường là kim loại. Nếu trung tâm của Man-đa-la vẽ một vị thần mặt mày dữ tợn, thường Man-đa-la đó hay chỉ tính vô thường của vạn sự, được vẽ với tử thi vây tròn chung quanh. Có khi Man-đa-la được vẽ với biểu tượng của các Phật gia (buddhakula).

mang

To wear—To carry.

mang mang

Very far.

mang mang lục đạo

Bustling about and absorbed in the six paths of transmigration. ; (忙忙六道) Sáu ngả mịt mờ. Người ở thế gian suốt đời bận rộn, rong ruổi ngược xuôi, mải mê danh lợi, gây bao nghiệp ác, một khi vô thường ập đến, phải gánh chịu nỗi khổ luân hồi sinh tử trong 6 đường. Bài kệ trong Vãng sinh lễ tán nói (Đại 47, 440, hạ): Người đời bận rộn ngược xuôi. Chẳng hay tuổi thọ vụt trôi từng giờ Như đèn trước gió lập lờ Sáu đường thăm thẳm mịt mờ về đâu? Thế gian là cuộc bể dâu Gắng công thức tỉnh ngỏ hầu thoát ra.

mang máng

Vaguely—Dimly.

mang mãng kê bồ tát

(忙莽鶏菩薩) Mang mãng kê, Phạm: Màmakì. Cũng gọi: Mang mạc kế bồ tát, Mãng ma kế bồ tát, Ma mạc chỉ bồ tát, Mang mãng kế bồ tát, Mang mang kê bồ tát, Mãng mạc chỉ bồ tát, Ma ma kê bồ tát, Ma mạc kê kim cương mẫu bồ tát, Mang mạc kế minh phi. Hán dịch: Kim cương mẫu, Đa mẫu. Mẹ Kim cương của tất cả chư Phật, Bồ tát, tiêu biểu cho trí tuệ Bát nhã. Vì là mẹ của Kim cương bộ trong Mật giáo, cho nên các Mạn đồ la thuộc Kim cương bộ đều có bài trí vị Bồ tát này. Về hình tượng của vị Bồ tát này, trong các kinh nói có khác nhau. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật, thì Ngài cầm chày Kiên tuệ, đeo chuỗi anh lạc. Theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, thì Ngài ngồi bán già, tay trái ngửa lên đặt ở dưới rốn, tay phải cầm chày kim cương. Theo kinh Bồ đề tràng quyển 2, thì thân Ngài màu xanh nhạt, trang sức bằng các thứ ngọc anh lạc, ngồi trên hoa sen, thân an tĩnh, trụ nơi tự tính bát nhã ba la mật, tay phải cầm quyển kinh chữ Phạm, tay trái cầm hạt châu Chân đa trong tư thế kết ấn Thí nguyện. Chủng tử là (tri), ở trong định Như như vô cấu, nghĩa là các Kim cương từ định này sinh ra; hình Tam muội da là chày 3 chẽ, tượng trưng cho việc sinh trí tuệ kiên cố. Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới cho rằng, bồ tát Kim cương thủ trì kim cương trong viện Kim cương thủ chính là vị tôn này. [X. phẩm Họa tượng trong kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.thượng; kinh Đà la ni tập Q.7; Đại nhật kinh sớ Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7]. (xt. Kim Cương Thủ Trì Kim Cương Bồ Tát).

mang nợ

To be in debt (indebted).

mang theo

To carry on—Nothing anyone did ever lost, but was carried on from life to life, either happiness or pain.

mang tiếng

To suffer a bad reputation—To have a bad name.

mang xuống

To carry down.

mang xuống tuyền đài

To carry down to the hades.

mang đi

To carry away.

mang đến

To bring along.

mang ơn

To owe a debt of gratitude to someone—Owing thanks.

manh

1) Mù—Blind. 2) Miếng: Mảnh—Piece.

manh bả

Mù và què, ý nói một vị thầy hôn ám—Blind and lame, an ignorant teacher.

manh long

Con rồng mù, xuất hiện trước Phật và được Phật cho biết rằng cái mù của nó là do bởi kiếp trước nó làm một vị tăng tội lỗi—The blind dragon who appealed to the Buddha and was told that his blindness was due to his having been formerly a sinning monk.

manh minh

Sự đuôi mù và trong bóng tối, không thấy được đâu là chân lý—Blind and in darkness, ignorant of the truth. ; (盲冥) Đui mù, tối tăm. Người bị phiền não vô minh ngăn che, không thấy được chân lí, giống như người mù không thấy các vật. Luận Đại trí độ quyển 40 (Đại 25, 355 thượng), ghi: Ngài Xá lợi phất nói: Nếu Thầy ta không xuất hiện, thì chúng ta mãi mãi ở trong chỗ mù mịt tối tăm(manh minh). Kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 trung), nói: Vì tham ái tự che, nên mù mịt không thấy đạo. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.16].

manh mục

Blind.

manh nhân thuyết nhũ

(盲人說乳) Người mù nói sữa. Người mù chấp bậy vào ấn tượng của mình để biểu đạt sự nhận thức về màu sắc của sữa, ví dụ ngoại đạo chấp chặt thiên kiến của mình, vĩnh viễn không có cách gì hiểu được chân lí Phật pháp. Kinh Đại bátniết bàn quyển 14 (bản Bắc) cho rằng, các ngoại đạo ngây ngô như trẻ con, lại không có tuệ phương tiện, vì thế khó thấu suốt được những nghĩa lí của Phật dạy như: Thường và vô thường, ngã và vô ngã, thực và phi thực, hữu và phi hữu, khổ và lạc, tịnh và bất tịnh v.v... rốt cuộc cứ bám vào mặt chữ trong kinh mà chấp bậy là có thường, lạc, ngã, tịnh mà thực thì chẳng biết chân nghĩa của thường, lạc, ngã, tịnh (4 đức của Niết bàn) là gì, hệt như người mù bẩm sinh, chẳng biết màu sắc của sữa, bèn hỏi người khác, họ bảo sữa trắng như con sò, người mù liền cho màu sữa như tiếng con sò phát ra; họ lại nói sữa trắng như bột gạo, người mù liền cho màu sữa mềm dẻo như bột gạo; họ lại bảo sữa trắng như tuyết, người mù liền cho màu sữa lạnh như tuyết; họ lại nói màu sữa trắng như hạc, nhưng đến đây thì người mù mờ mịt không biết. Tuy người mù nghe 4 cách thí dụ nhưng vẫn không làm sao biết được màu sắc đích thực của sữa là thế nào. Kinh Niết bàn lấy đó ví dụ cho ngoại đạo chẳng bao giờ liễu ngộ được quả đức Đại niết bàn thường, lạc, ngã, tịnh một cách chân chính. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 3].

manh quy

Rùa mù gặp khúc gổ trôi giữa biển đã là khó, ví với sanh làm người và gặp được Phật Pháp lại càng khó hơn (ý nầy ví với một con rùa mù giữa biển khơi mà vớ được khúc gỗ nổi. Theo Kinh Tạp A Hàm, trong biển cả có một con rùa mù, sống lâu vô lượng kiếp, cả trăm năm mới trồi đầu một lần. Có một khúc cây, trên có một lỗ lỏng, đang trôi dật dờ trên mặt nước, rùa ta khi trồi lên đến mặt nước cũng vừa chạm vào bọng cây. Kẻ phàm phu lăn trôi trong biển đời sanh tử, muốn trở lại được thân người quả là khó hơn thế ấy)—It is as easy for a blind turtle to find a floating log as it is for a man to be reborn as a man, or to meet with a Buddha and his teaching (The rareness of meeting a Buddha is compared with the difficulty of a blind sea-turtle finding a log to float on, or a one-eyed tortoise finding a log with a spy-hole through it).

manh quy phù mộc

(盲龜浮木) Rùa mù gỗ nổi. Con rùa mù giữa biển cả, gặp được khúc gỗ nổi, ví dụ được làm thân người, gặp Phật nghe pháp là rất khó. Kinh Tạp a hàm quyển 15 (Đại 2, 108 hạ), nói: Lúc ấy, đức Thế tôn bảo các tỉ khưu: Ví như mặt đất biến thành biển cả, có một con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm năm mới ló đầu ra một lần, giữa biển có khúc gỗ nổi với 1 lỗ hổng duy nhất, bình bồng theo chiều gió, lúc dạt sang đông, lúc trôi sang tây, con rùa mù liệu có gặp được cái lỗ hổng trong khúc gỗ kia mà chui vào không? Ngài A nan thưa: Bạch Thế tôn! Khó lắm, vì sao? Vì nếu rùa mù bơi về phía đông thì khúc gỗ lại theo gió trôi về phía tây, hoặc nam, bắc 4 phía xoay vòng cũng vậy, nên khó gặp được nhau. Đức Phật bảo ngài A nan: Rùa mù và khúc gỗ nổi tuy 2 ngã trái nhau, nhưng may ra còn có khi gặp được, chứ phàm phu ngu si trôi dạt trong 5 đường, cơ may được lại thân người còn khó hơn việc rùa mù gặp gỗ nổi rất nhiều. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 5 phần 4 (Đại 46, 303 thượng), nói: Được sinh làm người khó, Gặp Phật pháp khó hơn. Giống như giữa biển khơi Rùa mù gặp gỗ nổi. Thí dụ trên đây rất nổi tiếng, thường được nói đến trong kinh luận. Nhưng Manh qui là chỉ cho rùa mù 1 mắt, chứ không phải mù cả 2 mắt, cho nên phẩm Diệu trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa quyển 7 và kinh Tạp a hàm đều gọi là Nhất nhãn qui (rùa 1 mắt). Lại có thuyết nói 1 mắt này nằm ở bụng con rùa, nhưng không rõ xuất xứ. [X. kinh Chứng khế đại thừa Q.thượng; kinh Đại thừa đồng tính Q.thượng; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc); kinh Đại bảo tích Q.54]. (xt. Nhất Nhãn Chi Qui).

manh tâm

To mean to—To intend to.

mao

1) Lông mao: Hair. 2) Lông vũ: Feather. 3) Rơm: Thatch.

mao bệnh

Bệnh hoạn—Ailment—Flaw.

mao cái đầu

1) Một bó cỏ rơm dùng làm nón che đầu: A handful of thatch to cover one's head. 2) Một mái tranh: A hut. 3) Một tự viện: A monastery.

mao huệ tú

(毛惠秀) Họa sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người Dương vũ (Hà nam). Ông đã cùng với người anh là Huệ viễn theo họa sĩ Cố khải học vẽ, chuyên vẽ tượng Phật và các nhân vật có thật ở đời xưa. Ông từng theo ý trong các kinh, cất 1 ngôi điện đường thờ các pho tượng, trong đó ông bài trí hàng trăm tượng Phật, Bồ tát, người trời v.v... trông hiền hòa, sống động, tinh tế, trang nhã, những bức vẽ biến tướng đời sau đều phỏng theo những tác phẩm này. Khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời Vũ đế nhà Tề, ông mất ở nhà riêng.

mao khổng

Lổ chơn lông—Hair-hole—Pore.

Mao luân

毛輪; C: maó lún; J: mōrin; S: keśa-uṇduka.|Sự ví von được dùng như nghĩa của Không hoa (空華). Ẩn dụ cho ảo giác mê lầm khi nhìn lên trời lâu, khiến mắt bị suy yếu mỏi mệt nên thấy những hình tượng như vậy.

mao lăng vân

(毛淩雲) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Thông thành, tỉnh Hồ bắc, hiện là Dịch viên. Ông tốt nghiệp Luận khoa Đại học Bắc kinh. Ông từng giữ nhiều chức vụ trong hội Phật giáo Trung quốc, tích cực góp sức vào công cuộc hoằng pháp lợi sinh. Như mở trường giảng dạy Phật học, in ấn Đại tạng kinh v.v...Ông có các tác phẩm: Tịnh độ tùng thư, Tục tịnh độ thập yếu, Tịnh độ Thánh hiền lục tứ biên, Quan âm linh cảm lục tục biên, Niệm Phật pháp yếu, Niệm Phật tam yếu, Tại gia giới nghi lục yếu, Khổ hải mộng.

mao phường chủ

(毛坊主) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho người tại gia thay thế chư tăng làm các Phật sự ở những nơi xa xôi hẻo lánh, không có chùa cảnh và các sư hành đạo.

Mao Thi

(毛詩): tên gọi khác của Thi Kinh (詩經), có nhiều hệ thống về việc truyền thọ Thi Kinh này. Bản mà do Mao Hanh (毛亨, ?-?, tức Đại Mao Công [大毛公]) người nước Lỗ (魯), truyền vào đầu thời nhà Hán thì gọi là Mao Thi. Mao Hanh viết nên Cổ Huấn Truyện (詁訓傳), rồi truyền cho môn nhân của ông là Mao Trường (毛萇, tức Tiểu Mao Công [小毛公]), và lưu hành trong thế gian. Thi Kinh hiện tại chính là Mao Thi này.

mao thằng

A hair rope (tied up by the passions, as with an unbreakable hair rope. ; (毛繩) Sợi dây trói buộc thân thể làm cho sây da, ê xương; ví dụ danh lợi thế gian trói buộc con người, làm cho đứt nát cội gốc công đức, khiến người ta không được giải thoát. [X. kinh Biệt dịch Tạp a hàm Q.7; luận Đại trí độ Q.5].

Mao Tế Khả

(毛際可, 1633-1708): tự là Hội Hầu (會侯), hiệu Hạc Phang (鶴舫); cuối đời lấy hiệu là Tùng Cao Lão Nhân (松皋老人); xuất thân vùng Toại An (遂安, nay thuộc Triết Giang [浙江]), đỗ Tiến Sĩ vào năm thứ 15 (1659) niên hiệu Thuận Trị (順治). Ông đã từng quan ở Phủ Chương Đức (彰德府, nay là Phố An Dương [安陽市]), Hà Nam (河南); có công trạng hiển hách, nên sau đổi làm Huyện Lịnh của Thiểm Tây (陝西). Đến năm thứ 18 (1679) đời Khang Hy, ông trúng cử Khoa Bác Học Hồng Từ (博學鴻詞科); đến năm thứ 23 (1682) thì tu chỉnh bộ Triết Giang Thông Chí (浙江通志). Ông cùng với Mao Kỳ Linh (毛奇齡), Mao Nhã Hoàng (毛稚黃) xưng là Tam Mao (三毛); và người đương thời gọi họ là Triết Trung Tam Mao (浙中三毛), Văn Trung Tam Hào (文中三豪). Vào năm thứ 47 (1707) đời Khang Hy, ông nhuốm bệnh và qua đời tại tư gia. Trước tác của ông có rất nhiều như Xuân Thu Tam Truyện Khảo Dị (春秋三傳考異) 12 quyển, Tùng Cao Văn Tập (松皋文集) 10 quyển, An Tự Đường Văn Sao (安序堂文鈔) 30 quyển, Thập Dư Thi Cảo (拾余詩稿) 4 quyển, Kiềm Du Nhật Ký (黔游日記) 1 quyển, Hội Hầu Văn Sao (會侯文鈔) 20 quyển, v.v.

Mao đoan

(毛端): trong lỗ chân lông. Trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 2 có đoạn: “Ư nhất mao đoan, biến năng hàm thọ thập phương quốc độ (於一毛端、遍能含受十方國土, trong một lỗ chân lông, có thể chứa đựng khắp mười phương quốc độ).” Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 11 giải thích rằng: “Mao đoan, tức thâm mao khổng trung, chánh báo chi tối tiểu giả dã; thập phương quốc độ, y báo chi tối đại giả dã; mao đoan hàm thập phương, tức tiểu nhiếp đại, thập phương tại mao đoan, tức đại nhập tiểu, mao trung khán quốc (毛端、卽身毛孔中、正報之最小者也、十方國土、依報之最大者也、毛端含十方、卽小攝大、十方在毛端、卽大入小、毛中看國, Mao đoan, tức là trong lỗ chân long của thân, là cái chánh báo nhỏ nhất; cõi nước trong mười phương, là cái y báo lớn nhất; trong lỗ chân lông chứa đựng mười phương là cái nhỏ thâu nhiếp cái lớn; mười phương ở trong lỗ chân lông, tức là cái lớn thâu vào trong cái nhỏ, trong lông có thể thấy cõi nước).” Như trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (普賢行願品) của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經) có câu: “Ư nhất mao đoan cực vi trung, xuất hiện tam thế trang nghiêm sát, thập phương trần sát chư mao đoan, ngã giai thâm nhập nhi nghiêm tịnh (於一毛端極微中、出現三世莊嚴剎、十方塵剎諸毛端、我皆深入而嚴淨, trong một lỗ chân lông cực nhỏ, xuất hiện ba đời cõi trang nghiêm, mười phương các lỗ chân lông nhỏ như hạt bụi, ta đều vào sâu trong để làm cho trang nghiêm, trong sạch).” Trên cơ sở “tiểu nhiếp đại (小攝大, cái nhỏ dung nhiếp cái lớn)” hay “trong một pháp hiện hữu tất cả các pháp” của giáo lý Duyên Khởi, trong Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目) quyển 1 có câu: “Mao thôn cự hải, giới nạp Tu Di (毛吞巨海。芥納須彌, sợi lông nuốt chửng biển lớn, hạt cải nạp Tu Di).” Thiền Sư Khánh Hỷ (慶喜, 1066-1142) của Việt Nam cũng có câu tương tợ như vậy: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng, nhật nguyệt bao hàm giới tử trung (乾坤盡是毛頭上、日月包含芥子中, càn khôn thâu trọn trên đầu lông, trời trăng gộp thâu trong hạt cải).” Hay trong Thiền Lâm Cú Tập (禪林句集) cũng có câu: “Truy đại bàng ư ngẫu ty khiếu trung, nạp Tu Di ư tiêu minh nhãn lí (追大鵬於藕絲竅中、納須彌於蟭螟眼裏, đuổi đại bàng vào trong lỗ sợi lông ngó sen, nạp cả núi Tu Di vào trong tròng mắt con ruồi).” Câu “Mao đoan chi nội, bao hàm trần sát chi dư (毛端之內、包含塵刹之餘)” có nghĩa là trong lỗ chân lông có thể chứa đựng nhiều cõi nước như hạt bụi.

mao đạo

See Mao Đầu. ; (毛道) Phạm: Vàlapatha. I. Mao Đạo. Cũng gọi: Mao đoan, Mao đầu. Tức là đầu sợi lông, ví dụ một nơi cực nhỏ. II. Mao Đạo. Cũng gọi: Mao đầu. Chỉ cho phàm phu, nghĩa là tâm hành của phàm phu không định, giống như những sợi lông nhẹ vật vờ bay theo gió. Nhưng bản tiếng Phạm thì có 2 âm là Bà la (bàla) nghĩa là ngu; Phạ la (vàla) nghĩa là lông. Trong kinh Kim cương bát nhã do ngài Bồ đề lưu chi dịch, phàm phu được dịch là Mao đạo phàm phu đây là dịch ngữ của nửa trước từ Anh ngu phàm phu (Phạm:Bàlapfthag-jana) đã bị truyền lầm là Vàlapatha, nghĩa là dịch lầm Anh ngu phàm phu ra Mao đạo phàm phu. Căn cứ vào đây, các bản dịch khác của kinh Kim cương cũng giải nghĩa là Tiểu nhi phàm phu (bản dịch của ngài Cấp đa), hoặc Anh nhi phàm phu (bản dịch của ngài Chân đế). [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu; Huyền ứng âm nghĩa Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.10].

mao đầu

tên khác của phàm phu—A name for ordinary people (phàm phu, non-Buddhists, or the unenlightened). ; (毛頭) I. Mao Đầu. (xt. Mao Đạo). II. Mao Đầu. Cũng gọi Thế đầu hành giả. Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc cạo sạch râu tóc cho đại chúngtrong Thiền lâm. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên loại thứ 7].

mao đầu phàm phu

An ignorant, gullible person.

mau

Quick—Rapid.

mau như chớp

As quick as (a streak of) lightning.

mau như tên bay

As quick as an arrow.

mau tay

Quick-handed.

mau trí

Quick-witted.

may

1) Lucky—Fortunate. 2) To sew—To stitch.

may mắn

See May (1).

may phước

Luckily—Fortunately.

may rủi

Risky—Chancy.

may sao

See May phước.

maï

Lăng nhục hay chửi bới—To curse—To scold.

maø

But.

Mã Tổ Đạo Nhất

(馬祖道一, Baso Dōitsu, 709-788): vị Thiền tăng thuộc môn hạ của Nam Nhạc, họ Mã (馬), người vùng Thập Phương (什邡), Hán Châu (漢州, Tỉnh Tứ Xuyên). Khi vừa mới sanh ra ông đã có những dị tánh khác người, lưỡi kéo dài lên đến mũi. Mới lên 9 tuổi mà ông đã thông làu kinh luận, nên được đưa vào La Hán Tự (羅漢寺) trong làng để tu, sau xuất gia với Xử Tịch (處寂) ở Tư Châu (資州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), và thọ cụ túc giới với Viên Luật Sư (圓律師) ở Du Châu (渝州, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay). Sau đó ông trãi qua cuộc sống sơn cư tu hành tại Trường Tùng Sơn (長松山) vùng Ích Châu (益州, Tỉnh Tứ Xuyên) cũng như Minh Nguyệt Sơn (明月山) vùng Kinh Nam (荆南, Tỉnh Hồ Bắc). Ông nghe có Hoài Nhượng (懷讓), môn hạ của Lục Tổ Huệ Năng (慧能), đang tu hành tại Nam Nhạc (南岳, Tỉnh Hồ Nam), nên ông đến bái kiến, nghe được câu chuyện “Nam Nhạc Ma Chuyên (南嶽磨磚, Nam Nhạc Mài Ngói)” thì hoát nhiên đại ngộ, đạt được tâm ấn. Vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (天寶) nguyên niên (742), ông bắt đầu khai mở đạo tràng giáo hóa tại Phật Tích Nham (佛跡巖) vùng Kiến Dương (建陽, thuộc Tỉnh Phúc Kiến ngày nay); rồi ông đến sống qua các nơi như Tân Khai Tự (新開寺) bên bờ bắc Hồ Bà Dương (鄱陽湖) vùng Nam Khang (南康, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), Tây Lí Sơn (西裏山) vùng Phủ Châu (撫州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), Cung Công Sơn (龔公山) vùng Kiền Châu (虔州, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay). Vào năm thứ 4 (769) niên hiệu Đại Lịch (大曆), ông trú tại Khai Nguyên Tự (開元寺, có thuyết cho là Hựu Thanh Tự [佑清寺]) vùng Chung Lăng (鍾陵, thuộc Tỉnh Giang Tây ngày nay), và nổ lực cử xướng Thiền phong của mình tại đây. Đến cuối đời, ông đến trú tại Bảo Phong Tự (寳峰寺) thuộc Thạch Môn Sơn (石門山) vùng Lặc Đàm (泐潭), và xem như đó là nơi cuối cùng của đời mình. Vào ngày mồng 1 tháng 2 năm thứ 4 niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi đời. Môn nhân của ông là Quyền Đức Dư (權德輿) soạn ra bài tựa văn bia Đường Cố Hồng Châu Khai Nguyên Tự Thạch Môn Đạo Nhất Thiền Sư Tháp Minh Tinh Tự (唐故洪州開元寺石山道一禪師塔銘幷序), và dựng tháp cho Mã Tổ tại Thạch Môn Sơn. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), ông được vua Hiến Tông (憲宗) ban cho thụy hiệu là Đại Tịch Thiền Sư (大寂禪師). Trước tác Mã Tổ Thiền Sư Ngữ Lục (馬祖禪師語錄, 1 quyển) hiện còn lưu hành. Vì ông giáo hóa chủ yếu vùng Giang Tây (江西) làm trung tâm, nên ông cùng với Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) ở Hồ Nam (湖南) được xem như là cặp song bích của Thiền giới đương thời. Thiền phong của ông lấy tư tưởng “bình thường tâm thị đạo”, “tức tâm thị Phật” làm tiêu chỉ, là Thiền của đại cơ đại dụng, không y cứ vào bất cứ kinh điển hay quán tâm nào cả. Hơn 130 nhân vật kiệt xuất ra đời từ môn phong của ông như Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Tây Đường Trí Tàng (西堂智藏), Nam Đường Phổ Nguyện (南堂普願), Diêm Quan Tề An (塩官齊安), Đại Mai Pháp Thường (大梅法常), Quy Tông Trí Thường (歸宗智常), Phần Châu Vô Nghiệp (汾州無業), v.v., và chính họ đã làm cho môn phong Nam Nhạc độc bá thiên hạ.

men

1) Ferment (of wine). 2) Enamel (of teeth). 3) Varnish (earthenware). 4) To come near—To approach—To go along.

men theo

See Men (4).

men xứ

See Men (3).

mi

Lông mày—Eyebrows.

mi gian bạch hào tướng

Urna (skt)—Chùm lông trắng ở giữa hai chân mày của Đức Phật, một trong 32 tướng tốt của Đức Phật—The curl of white hairs, between the eyebrows of the Buddha, one of the thirty-two signs of Buddhahood. ; (眉間白毫相) Phạm: Bhrù-vivaràntarorịà-keza. Cũng gọi My gian hào tướng, My gian bạch mao trường hảo hữu toàn tướng, Khiết bạch hữu oanh tướng. Gọi tắt: Hào tướng, Bạch mao tướng, Bạch hào tướng. Sợi lông trắng mọc giữa khoảng 2 đầu chân mày của Phật và Bồ tát, là 1 trong 32 tướng của đức Như lai. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 nói rằng, từ sợi lông trắng ở giữa khoảng 2 đầu chân mày của Phật phóng ra luồng ánh sáng soi khắp 1 vạn 8 nghìn thế giới ở phương đông. Sợi lông này rất mềm mại, thanh tịnh, xoắn tròn theo chiều bên phải. Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 (Đại 24, 1040 thượng), nói: Khi còn tu hạnh Bồ tát, trong vô lượng kiếp, Ngài đã tuyên thuyết chính pháp, là pháp chân thực không hư dối, cho nên kiếp này cảm quả báo được tướng lông trắng phóng ra hào quang. Xưa nay, giữa 2 đầu chân mày của những tượng Phật đắp hoặc chạm trổ, phần nhiều người ta nạm bạch ngọc hoặc thủy tinh để biểu trưng cho tướng này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.9; kinh Vô thượng y Q.hạ; Vãng sinh yếu Tập Q.trung].

mi gian quang

Theo Kinh Pháp Hoa, mi gian quang là ánh sáng trắng phát ra từ giữa cặp chân mày của Đức Phật, luồn sáng nầy chiếu sáng khắp các cõi—According to the Lotus Sutra, this is the ray light which issued therefrom lighting up all worlds.

mi phân bát tự

(眉分八字) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàng lông mày hai bên trông giống như hình chữ bát (...); đó là điều rõ ràng, bởi vậy, Thiền tông dùng nhóm từ My phân bát tự (lông mày chia làm chữ bát) để biểu thị cho lí đương nhiên. Tắc 30 trong Bích nham lục (Đại 48, 169 hạ) chép: Vị tăng hỏi ngài Triệu châu: Nghe nói Hòa thượng đã tận mắt thấy ngài Nam tuyền, có đúng thế không? (nghìn nghe không bằng 1 thấy, đương nhiên là như vậy (my phân bát tự!).

mi sa ca sơn

(眉沙迦山) Pàli: Missaka. Núi ở miền Bắc đảo Tích lan, cách cố đô A nâu la đà bổ la về phía đông khoảng 12 cây số, là ngọn núi linh thiêng bậc nhất trên đảo. Khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt, vua A dục phái vương tử là tỉ khưu Ma hi đà và sa di Tu ma na đến Tích lan truyền pháp. Lúc bấy giờ, vua nước Tích lan là Thiên ái Đế tu đang săn bắn ở núi này, đã gặp ngài Ma hi đà, được ngài giáo hóa, vua liền qui y và rước ngài về đô thành. Sau đó, Hoàng hậu và các quan đều qui y Phật đạo. Về già, ngài Ma hi đà ở ẩn tại núi này. Sau khi ngài thị tịch, để ghi nhớ công đức của Thầy, các vị đệ tử đã đổi tên núi My sa ca thành Di hi đà la (Mihintale). Khi ngài Pháp hiển đời Đông Tấn, từ Trung quốc đến đây, ngài thấy ở phía đông chùa Vô úy sơn có 1 dãy núi, tên là Bạt đề, có lẽ là núi Di hi đà la, trên đó còn có 1 ngôi tinh xá. Chỗ cách mặt nước biển hơn 300 mét, có 1 ngọn núi đứng trơ trọi, từ chân núi lên đến đỉnh núi gồm 1.800 bực thềm đá. A bạt sa la (Ambatthala) trên đỉnh núi tương truyền là di tích lúc ngài Ma hi đà mới đặt chân lên đất nước Tích lan. Tại Y tì ha la (Etvihara) hiện còn 1 tòa tháp thờ tóc của đức Phật, là do vua Bạt đế da (Bhatia) xây dựng vào thế kỉ I Tây lịch. Ở chỗ vua Thiên ái Đế tu và ngài Ma hi đà gặp nhau, hiện còn được ghi dấu bằng 1 ngôi tháp bằng đá hình tròn, tên là tháp A bố tư (Ambustella), chung quanh có lan can bằng đá hình bát giác bao bọc. Từ 1 mặt của sườn núi, người ta có thể thấy thành cũ của nhà vua từ đằng xa, nơi ấy gọi là giường Ma hi đà. Ngoài ra, trên mặt đá khắp nơi trên núi này đều có khắc những bài minh nói về sự tích nhân từ của nhiều đời vua.

Mi-na-pa

S: mīnapa; »Người cá«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là một nhân vật thần kì không xác định được trong lịch sử. |Ông là một ngư phủ, ngày nọ ông bị cá nuốt vào bụng nhưng ông vẫn tiếp tục sống trong bụng cá. Ngày nọ, vua trời Ðại Thiên (s: mahādeva, maheśvara, śiva) giảng pháp thâm diệu cho hoàng hậu Ô-ma Ðề-vi (s: umādevī) tại đáy biển để không ai nghe lén. Mi-na-pa nghe được và sau khi vua trời biết thế, ông truyền pháp luôn cho ông. Sau 12 năm tu trong bụng cá, Mi-na-pa đạt chính kiến. Sách chép rằng ông giáo hoá đến 500 năm, làm nhiều phép thần thông, để dấu chân lên đá v.v…|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Ngư phủ Mi-na-pa,|lạc trên biển số phận,|sống sót trong bụng cá.|Nhờ học phép Du-già,|tưởng chỉ dành Ô-ma Ðề-vi.|Sau đó, ngay đá tảng,|không mang nổi sức nặng,|đầy minh triết trong ta.

Minh

明; C: míng; J: myō; |1. Biết, sự hiểu biết; 2. Kinh Vệ-đà (veda); 3. Trí tuệ giác ngộ. Sự giác ngộ (s: vidyā); 4. Chiếu sáng (s: prabhā, āloka, avabhāsa); 5. Khéo léo, tài giỏi (s: kauśala); 6. Ngày mai. ; 冥; C: míng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Tối, đặc biệt trong ẩn dụ về Vô minh; 2. Liên kết toàn bộ; hợp nhất; 3. Huyền bí, thần bí.

minh

1) Che mờ, đối lại với hiển: Secret, invisible, in contrast with open, manifest. 2) Khắc chữ trên gỗ hay trên đá: To engrave on wood or stone. 3) Trí huệ: Vidya (skt)—Thông minh—Knowledge—Bright—Clear—Wise—Understanding—Enlightenment. 4) Trí Tuệ Phật: The Buddha-wisdom. 5) Chân Ngôn hay Minh do khẩu phát ra (nếu do thân phát ra như hào quang thì gọi là minh): Chân ngôn có khả năng phá trừ hôn ám—True word which can destroy the obscurity of illusion. 6) Nhà Minh bên Trung Quốc khoảng từ 1368 đến 1644: The Ming dynasty in China, around 1368 to 1644 A.D. 7) Sắp tới: Next (day and year). 8) U đồ: Địa ngục tối tăm—Hades. 9) U minh: Darkness—Obscurity. 10) Vô minh: Ignorance—Stupidity. ; (冥) Đối lại: Hiển. Tối tăm, sâu kín, không thể thấy nghe được. Trái lại, Hiển tức hiện rõ, có thể thấy nghe được. Mắt thịt của người phàm không thể thấy được chư Phật, Bồ tát, nhưng trong tối tăm, Phật và Bồ tát vẫn thường thấy chúng ta. Đây gọi là Minh kiến (thấy trong tối tăm). Chư thiên, thiện thần và mắt người trần tục không thể thấy được, gọi là Minh chúng. Chư Phật và Bồ tát dùng nhiều phương tiện quyền xảo âm thầm làm lợi ích chúng sinh, gọi là Minh quyền; thường kín đáo gia hộ cho những ai có lòng tin chân thật, gọi là Minh hộ; âm thầm thêm sức, giúp đỡ, chỉ dẫn chúng sinh, gọi là Minh trợ, Minh hựu, Minh ứng hoặc Minh gia. Chư Phật, Bồ tát trừng phạt ngầm những kẻ làm ác, gọi là Minh phạt; những lợi ích được chư Phật, Bồ tát ban cho một cách kín đáo, gọi là Minh lợi. ; (明) Phạm: Vidyà. Pàli: Vijjà. Hán âm: Phí đà, Bật đà. Sự thấy biết sáng tỏ, thấu suốt. Chỉ cho trí tuệ của bậc Thánh, có năng lực phá trừ tối tăm, ngu muội mà tỏ ngộ chân lí. Cứ theo Phật địa kinh luận thì Minh hay phá trừ sự tối tăm, vì thế lấy tuệ làm tự tính. Vì minh trái với vô minh nên lấy thiện căn vô si làm tự tính. Cứ theo kinh Tam chuyển pháp luân thuộc kinh điển Phật giáo nguyên thủy, thì tu 8 Thánh đạo, hiểu lí 4 đế, sẽ thành tựu nhãn (mắt), trí, minh, giác (đều là những chữ chỉ cho trí tuệ), đạt được Niết bàn. Luận Đại tì bà sa quyển 102 cho rằng tuệ hữu lậu thiện vốn có khả năng thông suốt, hiểu rõ, nhưng không thể nào quyết nghi, phân biệt và hiện quán được 4 Thánh đế, vì thế không được gọi là minh, mà chỉ có Thánh tuệ vô lậu mới gọi là minh. Sở dĩ như thế là vì giữa bậc Thánh Hữu học và Vô học có khác nhau. Đối với bậc Thánh Vô học có năng lực thù thắng thì Túc trụ thông, Sinh tử thông và Lậu tận thông trong 6 thần thông có thể phá trừ sự ngu tối trong 3 đời quá khứ, vị lai và hiện tại, đây gọi là Tam minh của Vô học. Trong đó, Lậu tận thông là chân minh thắng nghĩa; còn Túc trụ thông và Sinh tử thông cũng gọi là Minh, vì 2 thông này thuận theo Chân minh vô lậu (Lậu tận minh), do đó có chút ảnh hưởng của tướng minh, nên tạm gọi là Minh. Chữ PhạmVidyà là do ngữ căn Vid (tri, biết) mà ra, vì thế Minh cũng chỉ cho tri thức, học vấn. Ở Ấn Độ, tất cả học vấn đều thuộc trong Ngũ minh như Thanh minh, Nhân minh v.v... Ngoài ra, các Chân ngôn đà la ni có năng lực phá trừ si ám, tiêu diệt chướng nạn, nên cũng được gọi là Minh. Mật giáo gọi chung ấn khế và chân ngôn là Ấn minh. Theo luận Đại tì bà sa quyển 2 thì thế gian có các luận chú như: Chi minh, Sự minh, Thú minh, Khổng tước minh, Chú long xà minh, Hỏa minh, Thủy minh, Mê loạn minh v.v... Đức Phật là bậc đã trọn đủ 3 minh và hạnh nghiệp của thân khẩu, cho nên ngài được tôn xưng là Minh hạnh túc trong 10 tôn hiệu của Ngài. Hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên, do quán xét thực tướng các pháp trong 3 đời mà tỏ ngộ tự tâm, cho nên trong 5 thứ Bồ đề thì Bồ đề minh tâm là Bồ đề mà hàng Bồ Tát Sơ địa trở lên tỏ ngộ. Theo phẩm Thập minh trong kinh Hoa Nghiêm quyển 28 (bản 60 quyển), thì hàng Bồ Tát Thập địa có đủ 10 loại trí minh như sau:1. Tha tâm trí minh. 2. Thiên nhãn trí minh. 3. Túc mệnh trí minh. 4. Vị lai tế trí minh. 5. Thiên nhĩ trí minh. 6. Thần lực trí minh. 7. Phân biệt ngôn âm trí minh. 8. Sắc thân trang nghiêm trí minh. 9. Chân thực trí minh. 10. Diệt định trí minh. Nhưng kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) dịch là Thần thông, vì thế mười trí minh cũng gọi là mười thông. [X. kinh La Ma trong Trung A Hàm Q.56; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.18 (bản Bắc); luận Câu Xá Q.27; luận Tập dị môn túc Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.20 phần đầu].

Minh Am Vinh Tây

(明庵榮西, Myōan Eisai, 1141-1215): vị tăng của phái Hoàng Long, vị tổ sư khai sáng ra Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu Minh Am (明庵), còn gọi là Diệp Thượng Phòng (葉上房) hay Thiên Quang Quốc Sư (千光國師), người vùng Bị Trung (僃中, Bicchū, thuộc Okayama-ken [岡山縣] ngày nay), xuất thân gia đình dòng họ Cát Bị Tân Cung Thần Chủ Hạ Dương (吉僃津宮神主賀陽). Xuất gia năm lên 14 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới ở Tỷ Duệ Sơn và có sở trường về Thai Mật (台密, tức Thiên Thai và Mật Giáo), nhưng lại ta thán về sự suy vong của Thiền học, nên ông đã 2 lần nhập Tống cầu pháp. Lần đầu vào tháng 4 năm 1168 (năm thứ 3 niên hiệu Nhân An [仁安]), ông đi tham bái khắp Thiên Thai Sơn (天台山) và Dục Vương Sơn (育王山), gặp vị tri khách của Quảng Huệ Tự (廣慧寺), thâm đắc lý giải về Thiền Tông. Tháng 8 cùng năm đó, ông trở về nước mang theo hơn 30 bộ Thiên Thai Chương Sớ, đem trình cho vị Tọa Chủ của Thiên Thai Tông lúc bấy giờ là Minh Vân (明雲). Lần thứ 2 ông nhập Tống cầu pháp vào năm 1187 (năm thứ 3 niên hiệu Văn Trị [文治]), chính lần này ông dự định vào Ấn Độ nhưng không được và cuối cùng lưu lại Trung Quốc. Ông thọ giáo Thiền Lâm Tế ở Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞) trên Thiên Thai Sơn, được chấp nhận vào hệ đồ đời thứ 53 của Lâm Tế Tông. Vào tháng 7 năm 1191 (năm thứ 2 niên hiệu Kiến Cửu [建久]), ông trở về nước, kiến lập Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji) ở vùng Bác Đa (博多, Hakata), rồi Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở kinh đô Kyoto, và bắt đầu xiển dương Thiền Tông. Ông có viết bộ Hưng Thiền Hộ Quốc Luận (興禪護國論). Ông cũng có đem loại trà đặc biệt từ Trung Quốc sang Nhật để trồng, từ đó ông trước tác cuốn Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký (喫茶養生記). Bên cạnh đó ông còn có các tác phẩm khác như Nhật Bản Phật Giáo Trung Hưng Nguyện Văn (日本佛敎中興願文), Nhập Đường Duyên Khởi (入唐緣起). Vào ngày mồng 5 tháng 7 năm thứ 3 (1125) niên hiệu Kiến Bảo (建保), ông thị tịch, thọ 75 tuổi. ; 明菴榮西; J: myōan eisai; 1141-1215;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Hoàng Long. Sư được xem là vị Tổ khai sáng Thiền tông tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc hai lần và lần thứ hai, Sư được Thiền sư Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞) ở chùa Vạn Niên trên núi Thiên Thai ấn chứng. Sư cũng là thầy đầu tiên của Ðạo Nguyên Hi Huyền, người khai sáng dòng Thiền Tào Ðộng tại Nhật.|Việc khai sáng Thiền tông tại Nhật được xem là thành tựu của Vinh Tây nhưng sự kiện này phải được đính chính lại một ít bởi vì sự thành lập Thiền tông tại Nhật – nếu nhìn một cách tổng quát – là một quá trình lâu dài, qua nhiều cấp bậc. Sư là người – có thể nói – thực hiện những bước quan trọng đầu tiên để Thiền tông được hưng thịnh tại đây.|Sư sinh ra trong một gia đình mộ đạo tại Bitchū (bây giờ là Okayama), học hỏi Phật pháp từ nhỏ. Năm 14 tuổi, Sư xuất gia trên núi Tỉ Duệ (j: hiei) tại Kinh Ðô (kyōto), trung tâm của Thiên Thai tông tại Nhật Bản. Sư chú tâm học hỏi tất cả những lí thuyết căn bản của Thiên Thai tông và cả Mật giáo của tông này (台密; Thai mật; j: taimitsu) trong thời gian ở tại đây.|Sau đó, Sư quyết định sang Trung Quốc để học hỏi thêm. Lần sang Trung Quốc đầu tiên (1168) đã mang đến cho Sư một ấn tượng về Thiền tông tại đây. Chuyến du học này kéo dài không lâu (7 tháng) và kết quả chỉ là những bài luận của Thiên Thai tông tại Trung Quốc mà Sư mang trở về quê nhà. Chuyến du học thứ hai xảy ra gần hai mươi năm sau đó (1187) và chuyến đi này là mốc ngoặt quan trong trong cuộc đời của Sư. Ban đầu, Sư có ý định đến tận Ấn Ðộ để thăm những thánh tích của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni và sau khi đặt chân lên đất Trung Quốc, Sư liền xin phép đi từ đây sang Ấn Ðộ nhưng sự từ chối của chính quyền lúc bấy giờ buộc Sư phải ở lại. Ðây chính là cơ hội để Sư tham vấn các vị Thiền sư Trung Quốc. Dưới sự hướng dẫn của Hư Am Hoài Sưởng – một vị Thiền sư thuộc đời thứ tám dòng Hoàng Long Huệ Nam tông Lâm Tế – Sư đạt yếu chỉ Thiền và được Ấn khả. Sau bốn năm du học, Sư trở về Nhật, tuyên truyền giáo lí của Thiền tông tại đây. Trong thời gian sau (1198), Sư soạn bộ Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論; j: kōzen gokokuron) để xiển dương Thiền tông và để chống đối lại sự phản bác mạnh mẽ của các vị tăng thuộc Thiên Thai tông. Sư viết như sau trong Hưng thiền hộ quốc luận: »Tổ Tối Trừng (j: saichō) của Thiên Thai tông đã từng dạy Thiền; nếu Thiền tông chẳng có ý nghĩa gì thì Ðại sư Tối Trừng cũng chẳng có ý nghĩa gì và – nếu Ðại sư Tối Trừng chẳng có ý nghĩa gì thì Thiên Thai tông cũng chẳng có ý nghĩa gì.«|Sư không những là một Thiền sư lỗi lạc mà còn rành về cả y thuật, đặc biệt là cách dưỡng sinh bằng trà. Sư có viết Khiết trà dưỡng sinh kí (喫荼養生記; j: kissa yōjōki), nói về tác dụng của trà và chính từ đây Trà đạo bắt đầu có tại Nhật. Tác phẩm khác của sư là Bồ-đề tâm luận khẩu quyết (菩提心論口訣, j: bodaishinron kōketsu), Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論, j: kōzengokoku ron), Xuất gia đại cương (出家大綱, j: shukke daikō), còn thêm những luận giải về tông Thiên Thai và Mật giáo. |Trong những năm cuối đời, Sư hoằng hoá tại hai trung tâm Kinh Ðô (京都; j: kyōtō) và Liêm Thương (鎌倉; j: kamakura). Sư tịch năm 1215, thọ 75 tuổi.

minh ba

(溟波) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Vũ thanh, tỉnh Hà bắc, họ Quách. Năm 7 tuổi, sư được cha mẹ đưa đến chùa Thiên tiên xin xuất gia. Lớn lên, sư đến Thiên tân tham học ngài Đại Bác Hành Càn, y chỉ 3 năm mới được ấn khả. Sau, sư dựng am tranh ẩn tu ở Tây sơn 10 năm mới ra khai đường thuyết pháp, xiển dương tông phong. Sư có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư Vân)].

Minh Biến

(明遍, Myōhen, 1142-1224): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, húy là Minh Biến (明遍), thông xưng là Liên Hoa Cốc Tăng Đô (蓮華谷僧都), tự là Nhập Phật (入佛), hiệu Không A (空阿); xuất thân vùng Kyoto, con của Đằng Nguyên Thông Hiến (藤原通憲). Ông theo học Tam Luận cũng như Mật Giáo với Mẫn Giác (敏覺) và Minh Hải (明海) ở Đông Nam Viện (東南院) của Đông Đại Tự (東大寺). Sau ông được bổ nhiệm làm Giảng Sư của Duy Ma Hội (維摩會), rồi Luật Sư; nhưng ông từ chức và lui về ẩn cư ở Quang Minh Sơn (光明山), vùng Đại Hòa (大和, Yamato). Vào năm 1162, ông sáng lập Liên Hoa Tam Muội Viện (蓮華三昧院) ở Liên Hoa Cốc (蓮華谷) trên Cao Dã Sơn, rồi theo học Dòng Trung Viện (中院流) với Giác Hải (覺海), Dòng Tiểu Dã (小野流) với Ý Giáo (意敎); và trong khoảng thời gian niên hiệu Thừa An (承安, 1171-1175) thì học Tịnh Độ Giáo với Nguyên Không (源空). Về sau ông đến trú tại Diệu Trí Phường (妙智坊) của Nhất Tâm Viện (一心院) và chuyên tu pháp môn Niệm Phật. Vì vậy ông được xem như là người tiên phong Niệm Phật Thánh của Cao Dã Sơn. Trước tác của ông có Vãng Sanh Luận Ngũ Niệm Môn Lược Tác Pháp (徃生論五念門略作法) 1 quyển, Niệm Phật Vãng Sanh Đắc Tiên Nghĩa (念佛徃生得先義) 1 quyển.

minh biện

To distinguish clearly.

minh báo kí

(冥報記) Tác phẩm, 3 quyển (có thuyết nói 2 quyển), do ông Đường lâm soạn vào đời Đường, được thu vào Vạn tục tạng tập 150. Nội dung sách này nói về những chuyện nhân quả báo ứng. Đầu quyển là lời tựa của tác giả, trình bày về lý do soạn thuật, đặc biệt nhấn mạnh hễ có sự sống là có thức, có thức thì có hành động, đã có hành động thì tùy theo thiện ác mà nhận lấy quả báo, đó là lí tự nhiên của sự vật, không còn nghi ngờ. Trong lời tựa, tác giả cũng nhắc đến các ông: Tạ phu đời Tấn, Phó cao, Trương diễn đời Tống, Lục quả đời Tề v.v... đều có soạn Quan thế âm ứng nhiệm kí và Tiêu tử lương đời Tề soạn Tuyên nghiệm kí, Vương diệm viết Minh tường kí v.v... đều là những tác phẩm nói rõ những chuyện nhân quả báo ứng có thật. [X. Kim tích vật ngữ tập nghiên cứu (Phiến kì Chính nghĩa)].

minh bạch

Apparent—Clear—Explicit.

minh bản

(明本) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Nguyên, người huyện Tiền đường, tỉnh Chiết giang, họ Tôn, hiệu Trung phong, Huyễn trụ đạo nhân. Sư thông minh, mẫn tiệp, năm 15 tuổi đã có chí xuất gia. Năm Chí nguyên 22 (1286), sư tham yết ngài Cao phong Nguyên Diệu ở viện Sư tử, núi Thiên mục. Một hôm tụng kinh Kim cương, sư bỗng nhiên mở tỏ. Năm Chí nguyên 24 (1287), lúc ấy đã 24 tuổi, sư xin ngài Nguyên Diệu cho xuống tóc, năm sau, sư thụ giới Cụ túc. Sau khi ngài Nguyên Diệu thị tịch, sư ẩn tu ở am Huyễn trụ tại Biện sơn thuộc Hồ châu. Sư cũng từng ở tại các vùng Ngô giang, Lô châu, núi Lục an v.v... Năm Diên hựu thứ 5 (1318), theo lời thỉnh cầu của đồ chúng, sư trở về núi Thiên mục, xiển dương Thiền phong, tăng tục các nơi đều qui ngưỡng và tôn xưng sư là Giang Nam Cổ Phật (Phật xưa ở vùng Giang nam). Vua Nhân tông dùng lễ triệu thỉnh, nhưng sư từ chối, vua ban hiệu cho sư là Phật Từ Viên Chiếu Quảng Tuệ Thiền Sư và đổi viện Sư tử thành chùa Sư tử chính tông. Năm Chí trị thứ 3 (1323) sư tịch, thọ 61 tuổi. Năm Thiên lịch thứ 2 (1329), vua ban thụy hiệu là Trí Giác Thiền Sư, hiệu tháp là Pháp vân. Năm Nguyên thống thứ 2 (1334), lại được truy tặng thụy hiệu là Phổ Ứng Quốc Sư. Đệ tử nối pháp gồm có: Thiên như Duy tắc, Thiên nham Nguyên trường, Vô chiếu Huyền giám, Cửu phong thọ (Trung quốc), Cổ tin Ấn nguyên, Phục am Tông kỉ, Vô ẩn Nguyên hối (Nhật bản). Sư có các tác phẩm: Quảng lục 30 quyển (được vua ban sắc cho nhập Tạng), Tạp lục 3 quyển. [X. Phật từ Viên Chiếu Quảng Tuệ thiền sư Trung phong hòa thượng hành lục; Phật tổ lịch đại thông tải Q.36; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống Q.21].

Minh Chiêu Ðức Khiêm

明招德謙; C: míngzhāo déqiān; J: meishō hoặc myōshō tokken; tk. 10; |Thiền sư Trung Quốc dòng Ðức Sơn Tuyên Giám. Sư nối pháp Thiền sư La Sơn Ðạo Nhàn. Vì Sư chột mắt bên trái nên cũng được thời nhân gọi là Ðộc Nhãn Long (獨眼龍). Sư giáo hoá lại núi Minh Chiêu hơn 40 năm và những lời dạy của Sư được truyền bá rộng rãi thời đó. Tương truyền Sư ấn khả cho năm môn đệ.

Minh Chiêu Đức Khiêm

(明招德謙, Myōshō Tokken, ?-?): nhân vật sống vào cuối đời nhà Đường. Ông được ấn ký của La Sơn Đạo Nhàn (羅山道閑), sau đó bắt đầu cử xướng tông phong của mình rất mạnh mẽ, nên được chư vị lão túc cũng như hậu học kính nể. Ban đầu ông đến trú tại Trí Giả Tự (智者寺) ở Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang), sau chuyển đến Minh Chiêu Sơn (明招山) và suốt 40 năm tiếp hóa đồ chúng tại đây. Vì con mắt trái của ông bị tật nên ông còn được gọi là Độc Nhãn Long (獨眼龍, Rồng Một Mắt).

minh chung

(鳴鍾) Thỉnh chuông, Dóng chuông. Chung(chuông) có Đại chung và Tiểu chung. Đại chung lại chia ra Thần chung (chuông buổi sớm), Trai chung (chuông thụ trai) và Hôn chung (chuông chiều tối). Thần chung và Hôn chung dóng 108 tiếng, Trai chung dóng 18 tiếng. Còn Tiểu chung thì có: Phật điện chung, Pháp đường chung, Tăng đường chung, dùng để đánh khi lên chính điện, vào nhà pháp, nhà tăng. Điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 thượng) nói: Đến tối, dóng 3 tiếng chuông trước Thiền đường báo hiệu hết giờ tham thiền buổi tối. Bài kệ niệm thầm khi dóng chuông, gọi là Minh chung kệ, Văn chung kệ. Ngoài ra, Thiền tông có Minh chung Phật sự, thường được gọi là Chung cúng dường, tức là lễ Khai chuông. [X. Hư đường lục Q.10; điều Nhật phần hành trì trong Hành trì quĩ phạm Q.1]. (xt. Chung).

Minh châu

(明珠): viên ngọc sáng, còn gọi là Minh Nguyệt Châu (明月珠), Minh Nguyệt Ma Ni (明月摩尼); là viên ngọc báu sáng như mặt trăng, nên có tên gọi như vậy. Viên ngọc này có đức tánh của nước đục lắng trong. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 9, Phẩm Như Lai Tánh (如來性品) thứ 4, có đoạn: “Thí như minh châu trí trọc thủy trung, dĩ châu uy đức, thủy tức vi thanh (譬如明珠置濁水中、以珠威德、水卽爲清, ví như viên ngọc sáng đặt trong nước đục, nhờ oai đức của viên ngọc, nước liền trở thành trong).” Hay trong Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (無異元來禪師廣錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 16, bài Thị Hồ Băng Lăng Huyện Duẫn (示胡冰稜縣尹), lại có câu: “Ngạch thượng minh châu quang xán lạn, dạ vô ác mộng nhật vô kinh (額上明珠光燦爛、夜無惡夢日無驚, trên trán minh châu chiếu sáng rực, đêm không ác mộng ngày an tâm).” Hoặc trong Quốc Thanh Bách Lục (國清百錄, Taishō Vol. 46, No. 1934) quyển 4, phần Sắc Tạo Quốc Thanh Tự Bi Văn (敕造國清寺碑文) thứ 93, Thiên Thai Quốc Thanh Tự Trí Giả Thiền Sư Bi Văn (天台國清寺智者禪師碑文), cũng có câu: “Hộ giới như minh châu, an tâm như chỉ thủy (護戒如明珠、安心若止水, giữ giới như châu sáng, an tâm giống nước dừng).”

minh châu

The bright-moon mani or pearl, emblem of Buddha.

minh châu a dục vương sơn chí

(明州阿育王山志) Tác phẩm, 10 quyển, do ông Quách tử chương soạn vào đời Minh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung sách này nói về nhân vật, thắng cảnh, Phật sự, văn hóa, nghệ thuật của chùa và núi A dục vương ở huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. Về hình thức, tác giả dựa theo cách sắp đặt trong Phổ đà sơn chí mà lập 10 môn, mỗi môn 1 quyển, được trình bày theo các câu kệ 4 chữ như: Địa dư dung kết, Xá lợi duyên khởi, Tháp miếu qui chế, Vương thần sùng sự, Thần minh hiệu linh, Thụy ứng nan tư, Phúc điền thường trụ, Cao tăng truyền pháp, Đề xương tông thừa, Ngọc kỉ xã vịnh. Chùa A dục vương được sáng lập vào niên hiệu Nghĩa hi năm đầu (405) đời Tấn. Chùa hiện còn 1 tòa tháp Xá lợi, bên trong thờ 1 viên xá lợi thật của đức Phật Thích ca được truyền từ Ấn độ đến Trung quốc. Viên xá lợi này thường phóng ra ánh sáng.

minh châu nhạc lâm tự chí

(明州岳林寺志) Tác phẩm, 6 quyển, do ông Đới minh tông soạn vào đời Thanh, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung sách này nói về nhân vật, danh thắng, văn hóa của chùa Nhạc lâm ở huyện Phụng hóa, tỉnh Chiết giang. Toàn tác phẩm chia làm 10 môn: Tự đồ, Phạm vũ, Danh thắng, Cổ tích, Pháp sản, Pháp hệ, Nghệ văn, Thi phú, Danh thích và Tháp minh. Chùa Nhạc lâm ở huyện Phụng hóa, tỉnh Chiết giang, được sáng lập vào khoảng năm Đại trung (847-859) đời vua Tuyên tông nhà Đường. Có 1 vị tăng du phương đến đây tá túc, thường mang cái đãy bằng vải đi xin ăn, người đời gọi sư là Hòa thượng Hoan hỉ, sư tự gọi là Trường đinh tử. Sau, sư ngồi ngay thẳng trên phiến đá lớn ở cuối hành lang phía đông mà tịch, chúng tăng trong chùa đều lấy làm lạ. Từ đó, chùa này nổi tiếng là đạo tràng Di lặc, là 1 trong 3 Thánh địa lớn của Phật giáo Trung quốc ở Minh châu. (xt. Bố Đại Hòa Thượng).

minh châu thiên tử

The moon-deva.

Minh Châu Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục

(明州大梅山常禪師語錄, Meishūdaibaizanjōzenjigoroku): 1 quyển, còn gọi là Đại Mai Sơn Thường Thiền Sư Ngữ Lục (大梅山常禪師語錄, Daibaizanjōzenjigoroku), do Đại Mai Pháp Thường (大梅法常) soạn, Huệ Bảo (慧寳) biên, tả bản. Là bản thâu tập những truyền ký, lời vấn đáp cũng như lời dạy thượng đường của Đại Mai Pháp Thường―pháp từ của Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一), phần cuối của tác phẩm này có thêm các bài Thiên Cư Tụng (遷居頌) và tán của Trí Giác Thiền Sư Vĩnh Minh Diên Thọ (智覺禪師永明延壽). Tả bản vào khoảng thế kỷ thứ 13 được thâu tạng vào Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko). Về mặt nội dung, tác phẩm này cũng thâu lục các vấn đáp với hình thức khá phát triển và được xem như biên tập vào khoảng trước hay sau (1004) thời kỳ thành lập của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄); đặc biệt trong 5 đoạn của phần Thượng Đường Ngữ bao hàm luôn những phần hoàn toàn không tìm thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, Tông Kính Lục (宗鏡錄), v.v. Đây quả là thư tịch rất quan trọng để nghiên cứu về Ngữ Lục Thiền Tông thời kỳ đầu do Mã Tổ khởi xướng. Tuy nhiên, Thiên Cư Tụng là những bài thơ của Hứa Tuyên Bình (許宣平), ẩn sĩ dưới thời nhà Đường, trả lời cho Lý Bạch (李白) khi vị này dến thăm.

minh chính

Clear and uprught.

minh chú

(明咒) Cũng gọi Thần chú, Cấm chú, Chân ngôn, Đà la ni. Chỉ cho những lời bí mật linh diệu, được trì niệm khi tu hành Mật pháp. (xt. Chân Ngôn).

minh chúng

Những sức mạnh vô hình, như Phạm Thiên, Thiên Vương, Dạ Ma Thiên, nói chung là những lực vô hình—The invisible powers, Brahma, Sakra, Yama, the spirits in general. ; (冥衆) Chỉ cho các chúng Phạm thiên, Đế thích, quỉ thần, vua Diêm ma v.v... vì những loại tồn tại này ẩn khuất, mắt người thường không thể thấy được, cho nên gọi là Minh chúng. Các chúng này thường ngầm hộ trì những người làm việc thiện. Người tu hành niệm Phật A Di Đà, hiện đời này được 10 điều lợi ích, 1 trong đó là Minh chúng hộ trì ích. [X. Hán quang loại tụ Q.2].

Minh chủ

明主; C: míngzhŭ; J: myōshu;|Người lĩnh đạo thông thái và trung thực.

minh cơ

(冥機) Nhờ thiện căn tu tập ở đời trước, có thể cảm được sự linh nghiệm của Phật và Bồ tát ở đời này một cách kín đáo, cho nên gọi là Minh cơ (cơ ngầm).

Minh Cực Sở Tuấn

(明極楚俊, Minki Soshun, 1262-1336): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, vị tổ đời thứ 24 của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), vị tổ đời thứ 23 của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji), vị tổ đời thứ 13 của Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji), Tổ của Phái Minh Cực (明極派), húy Sở Tuấn (楚俊), đạo hiệu Minh Cực (明極), thụy hiệu Phật Nhật Diệm Huệ Thiền Sư (佛日燄慧禪師); xuất thân Phủ Khánh Nguyên (慶元府), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang), họ Hoàng (黃). Năm lên 12, ông theo xuất gia với Trúc Song (竹窻) ở Phủ Khánh Nguyên. Sau đó, ông đến tham Thiền với Hoành Xuyên Như Củng (横川如珙) ở Dục Vương Sơn (育王山) và trình bày chỗ sở ngộ của mình cho vị này. Tiếp theo, ông lại theo làm môn hạ của Hổ Nham Tịnh Phục (虎巖淨伏) ở Linh Ẩn Tự (靈隱寺), quên ăn uống mà chỉ chuyên tham yếu chỉ Thiền, nên cuối cùng thì được nối dòng pháp của vị này. Sau ông rời khỏi nơi đây mà đến Thiên Đồng (天童), theo hầu Chỉ Hoằng Đạo Giám (止弘道鑑). Về sau, ông cũng đã từng đến sống ở hai chùa Thoại Nham (瑞巖) và Phổ Tuệ (普慧), và chủ yếu là hoạt động giáo hóa ở Song Lâm Tự (雙林寺) thuộc vùng Vụ Châu (婺州, Tỉnh Triết Giang). Vào năm 1329, thể theo lời cung thỉnh của Đại Hữu Minh Tông (大友明宗), ông cùng với nhóm Trúc Tiên Phạn Tiên (竺仙梵僊) sang Nhật. Ông được Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki) thỉnh đến trú tại Kiến Trường Tự vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Sau khi chính quyền Mạc Phủ bị diệt vong, ông được Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō) quy y theo, và ông chuyển đến sống qua các chùa như Nam Thiền Tự, Kiến Nhân Tự vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro). Sau ông khai sáng ra Quảng Nghiêm Tự (廣嚴寺, Kōgan-ji) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]). Về sau, ông trở về sống an dưỡng tuổi già ở Thiếu Lâm Viện (少林院) thuộc Nam Thiền Tự. Đến ngày 27 tháng 9 năm thứ 3 niên hiệu Kiến Võ (建武), ông thị tịch ở tại phương trượng của Kiến Nhân Tự, hưởng thọ 75 tuổi đời và 63 pháp lạp. Trước tác của ông có Minh Cực Sở Tuấn Hòa Thượng Ngữ Lục (明極楚俊和尚語錄), Thương Hải Dư Ba (滄海余波), Mộng Song Minh Cực Xướng Hòa Thiên (夢窻明極唱和篇), v.v. Đàm Ngạc (曇噩) soạn bài Minh Cực Tuấn Đại Hòa Thượng Tháp Minh (明極俊大和尚塔銘).

minh cự

Cây đuốc đang cháy, so sánh với Minh Đắc Định của Bồ Tát—A shining torch, compared to a samadhi in the Bodhisattva's four good roots. ** For more information, please see Minh Đắc Định.

minh dương hội

Minh ám chỉ loài quỷ nơi cõi âm, dương ám chi chư thiên nơi cõi trời hay chúng Bà La Môn. Minh Dương Hội là hội cúng dường cho hai loại chúng sanh vừa kể trên—The assembly for offerings of the spirits below and above, pretas, etc. ; (冥陽會) Pháp hội bố thí cúng dường cho chúng sinh ở Minh giới (ngã quĩ ở cõi âm) và ở Dương giới (các vị tiên Bà la môn), vì thế gọi là Minh dương hội.

minh dục

(明昱) Danh tăng Trung quốc, thuộc tông Pháp tướng, sống vào đời Minh, người đất Ngô, tự là Cao nguyên. Khoảng năm Vạn lịch, theo lời thỉnh cầu của danh Nho Vương khẳng đường, sư giảng bộ luận Thành duy thức, khi giảng giải, sư viện dẫn rộng rãi, dùng lời dễ hiểu mà diễn đạt được ý nghĩa sâu xa. Giảng xong, sư biên tập lại thành bộ Thành duy thức luận tục thuyên 10 quyển, được lưu hành rất phổ biến. Về sau, sư tịch ở Mân trung. Sư còn có tác phẩm: Tướng tông bát yếu giải 8 quyển.

minh gia

Lợi ích do sức mạnh tâm linh hay do sự cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát đem lại không thấy biết—The invisible aid of the spiritual powers. ; (冥加) I. Minh Gia. Cũng gọi Minh ứng, Minh trợ. Chư Phật, Bồ tát thường âm thầm gia hộ cho những người chí thành tu đạo và làm các việc tốt lành. Sự cảm ứng của Phật và Bồ tát phần nhiều là minh gia, chứ ít khi có hiển gia (gia hộ một cách rõ ràng). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 nói: Nếu thường tự ngộ thì ắt được minh gia. [X. Pháp hoa đại sớ sao huyền đàm Q.3; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.10]. II. Minh Gia. Hiến cúng tiền bạc vào việc làm chùa, tô tượng, đúc chuông, in kinh sách ấn tống để cầu phúc. Tiền bạc hiến cúng ấy gọi là Minh gia kim, Minh gia tiền, Minh gia ngân. [X. Khảo tín lục Q.3 (Huyền trí)]. (xt. Minh).

minh giác thiền sư ngữ lục

(明覺禪師語錄) Cũng gọi Tuyết Đậu Minh Giác thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 6 quyển, do ngài Tuyết Đậu Trùng Hiển soạn vào đời Tống, các vị Duy cái trúc v.v... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung bộ lục này bao gồm: Quyển 1: Thướng đường ngữ, Tiểu tham khi ở Thúy phong Thiền tự tại Động đình, Tô châu và ở Tư thánh Thiền tự tại Tuyết đậu, Minh châu. Quyển 2: Cử cổ, Khám biện, Ca tụng. Quyển 3: Niêm cổ bách tắc. Quyển 4: Bộc tuyền tập, gồm Thướng đường thị chúng, Châu tán. Quyển 5, 6: Tổ anh tập, gồm thơ văn của ngài Trùng hiển.

Minh Giác Tự

(明覺寺, Myōkaku-ji): ngôi tự viện của Tịnh Độ Chơn Tông; hiện tọa lạc tại số 77 Gofuku-chō (呉服町), Fukuchiyama-shi (福知山市), Kyōto-fu (京都府). Vào năm 1584 (Thiên Chánh [天正] 12), sau khi Tướng Quân Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉, Toyotomi Hideyoshi) xây dựng Thành Đại Phản (大阪城, Ōsaka-jō), vị Trưởng Quan Kami vùng Việt Hậu (越後, Echigo), họ Cao Kiều (高橋, Takahashi) phát tâm xuất gia, trở thành tu sĩ của Chơn Tông, pháp danh là Thích Tây Nguyện (釋西願), hay Cao Việt Viện Thích Tây Nguyện (高越院釋西願). Ông kiến lập một ngôi tự viện tại vùng Trường Điền (長田, Nagata), Lục Nhân Bộ Thôn (六人部村, Nakamutohe-mura), Quận Thiên Điền (天田郡, Amata-gun). Về sau, vị trú trì đời thứ 2 của chùa là Thích Minh Thuần (釋明淳) mới dời chùa về vị trí hiện tại.

minh giám

Tấm gương sáng—A clear and bright mirror.

minh giáo

(明教) I. Minh Giáo.Tổ chức tông giáo bí mật được triển khai từ Ma ni giáo, do ông Trương giác làm giáo chủ. Tông giáo này thờ kính Ma ni làm thần ánh sáng và sùng bái mặt trời, mặt trăng. Giáo đồ chuộng y phục màu trắng, đề cao ăn chay, không uống rượu, khi chết chôn cất không mặc quần áo, coi trọng sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, chủ trương thiên hạ 1 nhà. Đồng thời tin rằng trên đời, lực lượng ánh sáng cuối cùng nhất định sẽ chiến thắng các thế lực đen tối. Vào đời Nam Tống và Bắc Tống, tông giáo này lưu hành ở các vùng Hoài nam, Lưỡng chiết, Phúc kiến v.v... II. Minh Giáo(1852-1932). Cao tăng Trung quốc thời cận đại, người huyện Vĩnh phong, tỉnh Hồ nam, họ Tiêu, pháp hiệu Đạo Hương. Sư thông minh dĩnh ngộ từ thủa nhỏ, tướng mạo kì vĩ, phong cách hơn người, năm 17 tuổi xuất gia, 20 tuổi thụ giới Cụ túc ở chùa Chúc thánh tại Nam nhạc và lưu lại đây trong 8 năm chuyên tâm niệm Phật; sư cũng tập viết chữ lệ, chữ triện để thuận theo thế duyên. Năm 28 tuổi, sư du phương tham vấn, tình cờ gặp vị tăng người Nhật tên là Đạt ma Sơn thôn thỉnh sư sang Nhật bản, từ đó dấu chân sư in khắp nước Nhật, sáng lập hơn 100 Liên xã (đoàn thể niệm Phật), rất được triều đình và dân gian kính trọng. Sau khi trở về Trung quốc, sư lần lượt trụ trì các chùa Lộc sơn, Thượng lâm và Khai phúc, đồng thời giảng kinh thuyết pháp ở các nơi. Năm Dân quốc 21 (1932) sư tịch, thọ 78 tuổi.Sư có các tác phẩm: Cảnh thế gia ngôn lục, Thướng đường kí lục, Giảng kinh kí lục, Giới đàn giáo thụ pháp ngữ, Tham phương du kí, Nhật bản du lịch kí, Liên xã khai thị lục, Trà tì pháp ngữ, Thất kì niệm Phật khai thị lục, Linh dị kí, Tùy duyên thuyết pháp ngữ lục...

minh giáo đại sư

(明教大師) I. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng người Tây vực, sống vào đời Đường, tên Lợi thiệp, vốn thuộc dòng dõi Bà la môn, sau theo ngài Huyền trang xuất gia. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), trong cuộc tranh luận về sự hơn kém giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, sư đã hàng phục được các đối thủ Nho gia và Đạo gia, nên được vua phong cho hiệu Minh Giáo Đại Sư và xây chùa Minh giáo sắc sư trụ trì. [X. Tống cao tăng truyện Q.17]. II. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng người Ca thấp di la, Ấn độ, tên Thiên tức tai, sống vào đời Tống. Năm Thái bình Hưng quốc thứ 5 (980), sư đến Biện kinh, năm thứ 7 (982), sư cùng với các ngài Thí hộ, Pháp thiên vào ở trong viện Dịch kinh, chuyên phiên dịch kinh điển. Sau, vua lần lượt phong hiệu cho sư là Minh Giáo Đại Sư, ngài Pháp thiên là Truyền Giáo Đại Sư và ngài Thí hộ là Hiển Giáo Đại Sư. [X. Đại trung tường phù pháp bảo lục Q.3-8; Phật tổ thống kỉ Q.43]. III. Minh Giáo Đại Sư. Cao tăng Trung quốc, tên là Khế tung, sống vào đời Tống, người Đàm tân, Đằng châu (huyện Đằng, tỉnh Quảng tây). Năm Gia hựu thứ 7 (1062), các tác phẩm Truyền pháp chính tông kí và Phụ giáo thiên của sư được vua Nhân tông nhà Tống sắc cho nhập Tạng, đồng thời phong cho sư hiệu là Minh Giáo Đại Sư. [X. Đàm tân Minh giáo đại sư hành nghiệp kí]. (xt. Khế Tung).

minh giải

To explain clearly.

Minh giới

冥界; C: míngjiè; J: myōkai;|Cõi tối tăm, thường nói đến ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Đặc biệt là nói đến địa ngục.

minh giới

1) Cõi U minh: Hades. 2) Hạ Tam Đồ hay ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh: The three lower forms of incarnation, i.e. hell, preta, and animal. ; (冥界) Cũng gọi Minh đạo, Minh độ. Danh từ gọi chung cho 3 đường ác là địa ngục, ngã quĩ và súc sinh, hoặc chỉ riêng cho địa ngục. Dân gian cho rằng Minh giới là nơi do vua Diêm ma và quyến thuộc cai quản. [X. Diệm la vương cúng hành pháp thứ đệ; Quang minh kinh văn cú Q.3].

minh hiển

1) Rõ ràng: Clear—Explicit—Evident. 2) U minh và sáng tỏ: Darkness and brightness. ; (冥顯) Minh là tối tăm, sâu kín, không thể thấy nghe được. Hiển là hiển hiện rõ ràng, có thể thấy nghe được. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.6 thượng].

minh hiển lưỡng giới

Chỉ hai cõi Minh Giới và Hiển Giới. Minh giới là thế giới của người chết, hay âm cảnh; hiển giới là thế giới của người sống, hay dương gian—The two regions of the dead and of the living. ; (冥顯兩界) Tức là Minh giới và Hiển giới. Minh giới: Chỉ cho thế giới sau khi chết sẽ sinh đến. Hiển giới: Chỉ cho thế giới Sa bà.

minh hoằng tử dung

See Tử Dung Minh Hoằng.

minh huân

Còn gọi là Nội Huân, ở trong cái chân như của bản giác, lặng lẽ nung đốt huân tập vọng tâm để sinh ra Bồ Đề Tâm—Fumigation within, inner influence—See Nội Huân. ; (冥薰) Cũng gọi Nội huân. Thiện tâm âm thầm huân tập (xông ướp) trong thân thể chân như của bản giác khiến cho tâm bồ đề nảy sinh. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 4 phần 3 (Đại 46, 268 thượng) nói: Nếu chẳng phải do sức nội huân thì làm thế nào chứng ngộ được? Cho nên biết chứng ngộ là nhờ ở sức chân như; bởi thế lấy Minh huân làm ngoại hộ vậy. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].

minh huệ

Tam minh hay tam huệ—The three Enlightenments—The thre wisdoms. ** For more information, please see Tam Minh and Tam Huệ. ; (明惠) Cũng gọi Minh tuệ. Cao tăng Nhật bản, là Tổ sư trung hưng tông Hoa nghiêm, tên Cao biện, người Kỉ y (huyện Hòa ca sơn). Sư thờ ngài Văn giác ở núi Cao hùng làm thầy, học Hoa nghiêm, Mật giáo nơi các bậc danh tăng và khổ tu trên ngọn Bạch thượng ở Kỉ y. Về sau, sư tuyên giảng Hoa nghiêm ở núi Cao hùng. Sư lại theo ngài Vinh tây thuộc tông Lâm tế của Nhật bản học Thiền. Sau Thượng hoàng Điểu vũ sắc ban núi Mẫu vĩ, xây chùa Cao sơn làm đạo tràng nhằm thực hiện việc phục hưng tông Hoa nghiêm. Vì được triều đình và Bắc điều Thái thời qui y nên sư được mọi người rất tôn kính, tin theo. Khi Tịnh độ giáo của ngài Pháp nhiên khai tông, sư từng soạn Tồi tà luân (bánh xe phá tà) để phê phán và bác bỏ. Niên hiệu Trinh vĩnh năm đầu (1232) sư tịch, thọ 60 tuổi. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm duy tâm nghĩa thích 2 quyển; Tồi tà luân trang nghiêm kí 1 quyển, Niết bàn giảng thức, Xá lợi giảng thức, Tọa thiền thứ đệ... [X. Nguyên hanh thích thư Q.5; Bản triều cao tăng truyện Q.14].

minh hành

Zen Master Minh Hành (1596-1659)—Thiền Sư Trung Quốc, quê ở Kiến Xương, Tỉnh Giang Tây. Ngài theo sư phụ là Hòa Thượng Chuyết Chuyết qua Việt Nam và đến Thăng Long vào năm 1633. Họ trụ tại chùa Ninh Phúc (Bút Tháp) hơn 11 năm. Sau khi Hòa Thượng Chuyết Chuyết thị tịch năm 1644, Thiền sư Minh Hành trở thành Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Cùng năm ấy, Thiền Sư Minh Hành và bà Hoàng Thái Hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc dựng lại chùa Bút Tháp thành ngôi chùa có quy mô to lớn hơn. Thiền sư Minh Hành tiếp tục trụ tại chùa Ninh Phúc để hoằng dương Phật pháp đến khi ngài thị tịch năm 1659—Zen Master Minh Hành, a Chinese monk from Kiến Xương, Giang Tây. He followed his master, Most Venerable Chuyết Chuyết to go to Vietnam. They arrived at Thăng Long in 1633. They stayed at Ninh Phúc (Bút Tháp) Temple for more than 11 years. After Zen Master Chuyết Chuyết passed away in 1644, Zen Master Minh Hành became the Dharma heir of the thirty-fifth lineage of the Linn-Chih Zen Sect. On the same year, the temple was rebuilt on a larger scale by Zen Master Minh Hành and the Queen Mother Trịnh Thị Ngọc Trúc. He continued to stay at Ninh Phúc Temple to expand the Buddha Dharma until he passed away in 1659.

minh hành túc

(明行足) Phạm: Vidyà-caraịa-saôpanna. Pàli: Vijjà-caraịa-sampanna. Hán âm: Tì xỉ già la na tam bát na. Cũng gọi Minh thiện hạnh, Minh hạnh thành, Minh hạnh viên mãn, Minh hạnh. Minh và Hạnh trọn đủ, là 1 trong 10 danh hiệu của Phật. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển 18 (bản Bắc) thì Minh là Vô thượng chính đẳng chính giác; Hạnh túc là giới, định và tuệ; đức Phật nhờ có đầy đủ giới, định, tuệ mà được Vô thượng chính đẳng chính giác, cho nên gọi là Minh hạnh túc . Còn theo luận Đại trí độ quyển 2 thì Minh là Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh; còn Hạnh tức là thân nghiệp và khẩu nghiệp; vì đức Phật thành tựu đầy đủ 3 minh, 2 nghiệp, cho nên gọi là Minh hạnh túc. [X. kinh Trường a hàm Q.3]. (xt. Thập Hiệu).

Minh hạnh túc

明行足; C: míngxíngzú; J: myōgyōsoku;|Trí tuệ và công hạnh viên mãn. (s: vidyā-carana-saṃpanna; t: rig pa daṅ shabs su ldan pa). Người đã hoàn mãn trí tuệ và công hạnh tu tập. Là 1 trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Vốn là một thuật ngữ của Kì-na giáo mà Phật giáo đã quen sử dụng.

minh hạnh túc

Vidya-carana-sampanna (skt). (A) Theo Kinh Niết Bàn—According to the Nirvana Sutra: 1) Phổ giác tối thượng của Phật dựa trên giới luật, thiền định và trí huệ (giới, định, tuệ). Một trong mười danh hiệu Phật—Knowledge-conduct-perfect—The unexcelled universal enlightenment of the Buddha based upon the discipline, meditation and wisdom. 2) Một trong mười danh hiệu của Phật: One of the ten titles of the Buddha. (B) Theo Trí Độ Luận giải thích thì Minh Hạnh Túc là đầy đủ tam minh, tam hạnh, tam nghiệp—According to the Commentaries on the Prajna Paramita Sutra: 1) Tam Minh: Three insights—See Tam Minh. 2) Tam Hành: Three lines of action that affect karma—See Tam Hành. 3) Tam Nghiệp: Three kinds of karma—See Tam Nghiệp.

Minh Hạnh Túc / Minh Hành Túc

(s: vidyā-caraṇa-saṃpanna, p: vijjā-caraṇa-sampanna, 明行足): một trong 10 hiệu của đức Phật; âm dịch là Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na (鞞侈遮羅那三般那); còn gọi là Minh Thiện Hành (明善行), Minh Hành Thành (明行成), Minh Hành Viên Mãn (明行圓滿), Minh Hành (明行). Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (北本大般涅槃經) quyển 18 cho biết rằng Minh tức là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (阿耨多羅三藐三菩提, Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật trí); Hành Túc (行足, chân bước đi) là Giới, Định và Tuệ. Đức Phật nương vào bước chân đi của Tam Vô Lậu Học này để chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; nên gọi là Minh Hành Túc. Bên cạnh đó, Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 2 còn giải thích rằng: “Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tần ngôn Minh Hành Cụ Túc [Minh và Hành đầy đủ]; vân hà danh Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, danh vi Tam Minh (鞞侈遮羅那三般那、秦言明行具足、云何名明行具足、宿命、天眼、漏盡、名爲三明, Tì Xỉ Già La Na Tam Bát Na, Tàu gọi là Minh Hành Cụ Túc; thế nào là Minh Hành Cụ Túc; Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận, gọi là Ba Minh)”; và “Hành danh thân khẩu nghiệp; duy Phật thân, khẩu nghiệp cụ túc, dư giai hữu thất; thị danh Minh Hành Cụ Túc (行名身口業、唯佛身、口業具足、餘皆有失、是名明行具足, Hành gọi là nghiệp của thân và miệng; chỉ có nghiệp thân và miệng của Phật mới đầy đủ [không sai lầm], còn lại đều sai lầm, cho nên gọi là Minh Hành Cụ Túc).”

minh hắc

Ánh sáng giác ngộ khắc phục vô minh, cũng như hương tỏa mùi xuyên khắp—The inner light, enlightenment censing and overcoming ignorance, like incense perfuming and interpenetrating.

minh hộ

(明護) Phạm: Paritràịa. Pàli: Paritta,Parittà. Hán dịch: Chú, Ủng hộ. Vốn chỉ cho thần chú ủng hộ người tu hành đạo Phật, về sau chỉ chung cho các kinh nói về loại thần chú này. Kinh Tì sa môn thiên vương do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống (Đại 21, 217 thượng) nói: Lành thay Thế tôn! Có kinh A tra nẵng chi có thể làm Minh hộ (thần chú hộ trì). Cứ theo đây, nếu 4 chúng thụ trì kinh A tra nẵng chi hộ (Pàli:Àỉànàỉiya-rakkha) thì không bị quỉ thần não hại. Kinh Minh hộ có nhiều chủng loại; Vấn nạn 2, đoạn 4, trong kinh Di lan vương vấn (Pàli:Milinda-paĩha) liệt kê 6 loại: 1. Bảo kinh (Pàli: Ratana-sutta), 2. Uẩn minh hộ (Pàli: Khandhaparitta). 3. Khổng tước minh hộ (Pàli: Moraparitta). 4. Chàng đính minh hộ (Pàli:Dhajaggaparitta). 5. A tra nẵng chi minh hộ (Pàli: Àỉànàỉiya-paritta). 6. Ương quật ma la minh hộ (Pàli: Aígulimàla-paritta). Phẩm 13 trong luận Thanh tịnh đạo (Pàli: Visudhi-magga) chỉ nêu 5 loại trên mà lược bỏ Ương quật ma la minh hộ thứ 6. Còn Tiểu tụng (Pàli: Khuddaka-pàỉha) trong Tiểu bộ kinh (Pàli: Khuddakanikàya) thì nêu 3 kinh Minh hộ là kinh Cát tường (Pàli: (Maígala-sutta), kinh Bảo và kinh Từ bi (Pàli: Metta-sutta). Các kinh Minh hộ ghi trên vốn nằm trong Tăng chi bộ kinh (Pàli: Aíguttaranikàya), Trung bộ kinh (Pàli:Majjhimanikàya) hoặc là những bài kinh ngắn trong Kinh tập (Pàli: Sutta-nipàta) thuộc Tiểu bộ kinh. Kinh A tra nẵng chi, kinh Từ bi, kinh Đại cát tường trong Cam châu nhĩ thuộc Đại tạng Tây tạng đều là những kinh Minh hộ. Ngoài ra, về sự lưu truyền các kinh Minh hộ thì tại các nước Tích lan, Miến điện v.v... xưa nay rất phổ biến; những kinh này lấy việc tiêu trừ tật bệnh, tai họa của cá nhân hoặc của quốc gia làm mục đích, cho nên rất được tôn trọng và đọc tụng. [X. Hồ nguyệt toàn tập Q.thượng; Tây tạng ngữ văn pháp (Tự bản Uyển nhã); Tây tạng Đại tạng kinh Cam châu nhĩ mục lục; A History ofPàli Literature, vol. II, (B. C. Law); The Pàli Literature of Burma (Mabel Bode); The History of Buddhist Thought (E.J. Thomas)].

Minh Hữu

明友; C: míngyŏu; J: myōyū;|Hán dịch tên của Prabhākaramitra, thường phiên âm là Ba-la-ca Phả-mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).

minh khiêm hoằng ân

Thiền Sư Minh Khiêm Hoằng Ân (1850-1914)—Zen Master Minh Khiêm Hoằng Ân—Thiền sư Minh Khiêm Hoằng Ân, một trong những đệ tử nổi tiếng của Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh. Năm 1869 ngài trụ trì chùa Viên Giác. Ngài là Pháp tử đời thứ 38 dòng Thiền Lâm Tế. Năm 1875, ngài được cử làm giáo thọ khi mới 26 tuổi. Sau khi thầy ngài thị tịch, hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã trùng tu và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam nước Việt. Ngài thị tịch năm 1914—A Vietnamese monk, one of the outstanding disciples of Zen Master Tiên Giác Hải Tịnh. In 1869 he stayed at Viên Giác Temple. He was the Dharma heir of the thirty-eighth generation of the Linn-Chih Zen Sect. In 1875, he became the Acarya (see Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section) when he was only 26 years old. When his master passed away, he spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. He passed away in 1914.

minh khoáng

(明曠) I. Minh Khoáng(? -623). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Tùy, người Lạc dương, họ Mạnh. Sư thông minh, tài trí, chân thật, tiết tháo, chuyên nghiên cứu luận Đại trí độ và luật Ma ha tăng kì. Sư ở chùa Tịnh độ trong nhiều năm, số học chúng thường tới vài trăm người. Năm Vũ đức thứ 6 (623) sư tịch. II. Minh Khoáng (? - ?). Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hoàng nham, Thai châu (Hoàng nham, Chiết giang). Ban đầu, sư đến Đông nam hỏi đạo, năm 20 tuổi trụ ở ấp Diệm, sau khi thụ giới Cụ túc, sư vào chùa Quốc thanh, núi Thiên thai, theo ngài Kinh khê Trạm nhiên tu học gíáo pháp Thiên thai, miệt mài hơn 10 năm. Lúc bấy giờ, Mật giáo do các ngài Bất không và Nhất hạnh hoằng dương rộng rãi, nên sư cũng chuyển sang học Mật giáo. Sư có các trứ tác: Bát nhã tâm kinh sớ quyển 1, Phạm võng sớ 3 quyển, Kim ti luận khoa văn, Thiên thai bát giáo đại ý, Pháp hoa kinh Quan âm phẩm khoa văn, Pháp hoa kinh đại ý ... [X. Phật tổ thống kỉ Q.10, 25; Đông vực truyền đăng lục Q.thượng].

minh khái

(明槩) Danh tăng Trung quốc, sống vào đời Đường. Vào năm Vũ đức thứ 4 (621) đời vua Cao tổ nhà Đường, Đạo sĩ Phó dịch dâng biểu trình bày kế sách ích quốc lợi dân, chủ trương giảm bớt chùa tháp, tăng ni. Bấy giờ ngài Minh khái trụ trì chùa Chấn hưởng ở Miên châu (nay là huyện Miên dương, tỉnh Tứ xuyên) liền dâng biểu Quyết đối Phó dịch phế Phật pháp tăng sự (Quyết chống đối việc Phó dịch phế bỏ Phật pháp tăng). Ngài phân biệt sự khác nhau giữa Nho gia và Đạo gia và cho rằng Nho gia hơn hẳn Đạo gia, rồi xếp Nho gia, Đạo gia vào hàng Cửu lưu thập gia. Ngoài ra, khi phê phán Đạo giáo, ngài Minh khái đặc biệt chú trọng vào Thiên sư đạo của Phó dịch, cho nên tờ biểu văn của ngài là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về Thiên sư đạo ở đầu đời Đường.

Minh Không

明空; 1076-1141|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Không biết Sư nối pháp ai, chỉ biết rằng Sư kết bạn cùng với hai vị Ðạo Hạnh và Giác Hải.|Sư tên tục là Nguyễn Chí Thành, quê ở làng Loại Trì, huyện Chân Ðịnh, tỉnh Nam Ðịnh. Năm lên 29 tuổi, Sư cùng với hai vị Giác Hải và Ðạo Hạnh sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) học đạo, đạt được thần thông. Trở về quê, Sư kiến lập chùa Diên Phúc và chuyên trì chú Ðại bi tại đây.|Sư rất có công trong việc thu thập vật liệu để tạo »Ðại Nam tứ khí«, đó là tượng Phật, hồng chung, cái đỉnh, cái vạc. Tượng Phật A-di-đà được đúc và thờ tại chùa Quỳnh Lâm, huyện Ðông Triều tỉnh Hải Dương; cái đỉnh được đúc tại kinh đô, nơi tháp Báo Thiên; Ðại hồng chung được đúc tại Phổ Loại, vạc tại Minh Ðảnh.|Sư thường thi triển thần thông để giáo hoá chúng và tương truyền rằng, Sư cũng là người chữa bệnh hoá cọp của vua Lí Thần Tông.|Niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 2 (1141), Sư viên tịch. Tượng của Sư và bia kí vẫn được tôn thờ tại chùa Lí Quốc Sư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

minh không

Thiền sư Minh Không (1076-1141)—Zen master Minh Không—Thiền sư Việt Nam, quê ở Nam Định, Bắc Việt. Ngài là Pháp tử đời thứ 13 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Năm 29 tuổi, ngài theo Giác Hải và Đạo Hạnh du hành sang Thiên Trúc. Khi trở về quê hương ngài xây chùa Diên Phước và tinh chuyên tụng chú Đại Bi. Ngài được vua Lý Nhân Tông tôn làm Quốc Sư. Ngài thị tịch năm 1141—A Vietnamese Zen master from Nam Định, North Vietnam. He was the Dharma heir of the thirteenth generation of the Vinitaruci Zen Sect. At the age of 29, he accompanied Giác Hải and Đạo Hạnh to travel to India. When he returned he built Diên Phước Temple and focused in reciting Great Compassion Mantra. He was honored by King lý Nhân Tông as the National Teacher. He passed away in 1141.

minh khổng cát tiệt

(明孔割截) Hai phương pháp cắt may áo ca sa. Theo điều Minh khổng trong Thích thị yếu lãm quyển thượng, Minh khổng nghĩa là khi may ca sa sắp hoàn thành, thì để lại một cái lỗ nhỏ, chứ không may kín, giống như cái lỗ hổng ở bờ ruộng để cho nước chảy vào, gọi là Minh khổng. Cát tiệt nghĩa là cắt tấm vải thành từng mảnh nhỏ, sau đó ráp lại, giống như thửa ruộng vuông vức, cuối cùng may thành ca sa, gọi là Cát tiệt y. Luật Tứ phần quyển 40 (Đại 22, 855 trung), nói: Đệ tử không nhiễm trước của các đức Như lai đã mặc áo như thế, giống ta ngày nay, dùng dao cắt vải thành những mảnh nhỏ để may áo sa môn, sẽ không bị bọn giặc cướp bóc.

minh kỳ

(冥祇) Thần ở cõi âm, như 10 vua cõi âm là: Tần quảng, Sơ giang, Diêm la, Thái sơn v.v... được nói trong kinh Thập vương. Và 5 sứ giả của vua Diêm la là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử và Hình phạt, được nói trong kinh Diêm la vương ngũ thiên sứ, đều là những thần ở cõi âm. [X. Đại đường tây vực kí Q.2].

Minh liễu

明了; C: míngliăo; J: myōryō; S: uttāna-kriyā. |Sáng sủa dễ hiểu. Hiểu rõ.

minh liễu

Am hiểu tường tận—To understand thoroughly.

minh luận

(明論) Cũng gọi Vi đà luận, Phệ đà luận. Kinh điển của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa. Vi đà, Phạm: Veda, Hán dịch là Minh. Minh nghĩa là Trí. Bà la môn giáo lập 4 Minh luận, còn Phật giáo thì lập 5 Minh luận. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần cuối; Thắng man bảo quật Q.trung phần đầu]. (xt. Phệ Đà).

minh lâm

(明林) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, người Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, họ Chu, hiệu là Tú dã. Năm 8 tuổi, sư lễ ngài Tinh thiên ở chùa Cửu long làm thầy. Năm Sùng trinh thứ 6 (1633), lúc ấy 20 tuổi, sư đi tham học các nơi, năm sau sư đến Kim lăng học tập 4 năm. Năm Sùng trinh 11 (1638), sư lần lượt đến tham lễ ngài Hán nguyệt Pháp tạng ở Cô tô, ngài Tuyết kiệu Viên tín ở Kính sơn và ngài Mật vân Viên ngộ ở núi Thiên đồng. Năm Sùng trinh thứ 12 (1639), sư thụ giới Cụ túc, năm sau đến Kinh châu lánh nạn, rồi vào tỉnh Hồ bắc, ở tại chùa Vĩnh an, huyện Kiến thủy, chích máu viết các kinh Pháp hoa, Phạm võng. Năm Thuận trị thứ 6 (1649), sư xuống Giang nam, tham yết ngài Kì nhiên Siêu trí ở núi Vân đài tại Nam chương. Năm Khang hi 19 (1680), sư tiếp nối trụ trì chùa Hoàng long ở Nhương châu. Sư có tác phẩm: Ngữ lục 3 quyển. [X. Tú dã lâm thiền sư ngữ lục phụ hành diêu].

minh lâu

(明樓) Lầu cao xây trước nhà Tăng để lấy ánh sáng và thông gió. Kiến trúc nhà Tăng thường rộng và sâu, phía trước lại có nhà ngoài che chắn, nên nhà Tăng rất tối tăm, vì thế phải xây thêm lầu cao mở cửa sổ để thông gíó và lấy ánh sáng ở giữa khoảng nhà Tăng và nhà ngoài, gọi là Minh lâu, còn chỗ trống ở 2 bên phía trước Minh lâu thì gọi là Minh đường. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Minh Lương

明良; tk. 16-17|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Chuyết Công. Môn đệ đắc pháp nổi tiếng của Sư là Thiền sư Chân Nguyên Huệ Ðăng.|Không rõ họ và quê quán Sư ở đâu. Chỉ biết khi nghe tin Hoà thượng Chuyết Công từ Trung Quốc sang, Sư tìm đến tham vấn.|Sư hỏi: »Khi sinh tử đến làm sao trốn tránh?« Chuyết Công đáp: »Chọn lấy nơi không sinh tử trốn tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là nơi không sinh tử?« Chuyết Công đáp: »Ở trong sinh tử nhận lấy mới được.« Nghe vậy, Sư vẫn chưa ngộ. Chuyết Công bảo: »Hãy lui đi, đợi chiều hãy đến.«|Chiều, Sư lại đến. Chuyết Công bảo: »Ðợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng.« Sư nghe đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, quì sụp xuống lạy. Sư được Chuyết Công Ấn khả và truyền tâm ấn.|Sau đó, Sư rời thầy trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Lương ở Phù Lãng. Nơi đây, Sư dốc lòng giáo hoá đồ chúng.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho Chân Nguyên và nói kệ:|美玉藏頑石。蓮花出淤泥|須知生死處。悟是即菩提|Mĩ ngọc tàng ngoan thạch|Liên hoa xuất ứ nê|Tu tri sinh tử xứ|Ngộ thị tức Bồ-đề.|*Ngọc quý ẩn trong đá|Hoa sen mọc từ bùn|Nên biết chỗ sinh tử|Ngộ vốn thiệt Bồ-đề.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta trở về«. Vừa dứt lời, Sư viên tịch.

minh lương

Zen Master Minh Lương—Thiền sư Minh Lương, một vị cao Tăng người Việt Nam, quê ở Phù Lãng. Ngài gặp Hòa Thượng Chuyết Công và trở thành đệ tử khi Hòa Thượng từ bên Tàu sang Việt Nam. Sau đó ngài trở thành Pháp tử đời thứ 35 dòng Thiền Lâm Tế. Sau khi Thầy thị tịch vào năm 1644, ngài dời về chùa Vĩnh Phúc trên núi Côn Cương, Phù Lãng để hoằng dương Phật pháp. Trước khi thị tịch ngài truyền pháp lại cho Thiền Sư Chân Nguyên—A Vietnamese famous monk from Mount Phù Lãng. He met and became a disciple of Most Venerable Chuyết Công when the latter arrived in Vietnam. Later he became the Dharma heir of the 35th generation of the Linn Chih Zen Sect. After his master passed away in 1644, he moved and stayed at Vĩnh Phúc Temple on Mount Côn Cương in Phù Lãng to expand the Buddha Dharma. Before he passed away, he transmitted the Dharma to Zen Master Chân Nguyên.

Minh lộ

(冥路): đồng nghĩa với minh đồ (冥途), nghĩa là con đường tối tăm (thường ví cho Địa Ngục), hay còn có nghĩa ám chỉ lúc chết. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Đại Mục Càn Liên Minh Gian Cứu Mẫu Biến Văn (大目乾連冥間救母變文) có đoạn: “Hồn phách phiêu lưu minh lộ gian, nhược vấn Tam Đồ hà xứ khổ, hàm ngôn Ngũ Đạo quỷ môn quan (魂魄飄流冥路間、若問三塗何處苦、咸言五道鬼門關, hồn phách phiêu lưu u tối gian, nếu hỏi Ba Đường nơi nào khổ, đều cho Năm Nẻo quỷ môn quan).” Hay như trong bài từ Thu Nhụy Hương Dẫn (秋蕊香引) của Liễu Vĩnh (柳永, ?-1053) nhà Tống lại có câu: “Hướng tiên đảo, quy minh lộ, lưỡng vô tiêu tức (向仙島、歸冥路、兩無消息, người thì hướng đảo tiên, người thì trở về minh lộ, cả hai đều mất tin tức).” Trong Toàn Đường Thi (全唐詩) quyển 865, bài Tặng Đậu Thừa (贈竇丞) của Lưu Khái (劉溉, ?-?) nhà Đường có đoạn: “Minh lộ tra tra nhân bất tri, bất dụng khổ thuyết sử nhân bi, hỷ đắc phùng quân truyền gia tín, hậu hội mang mang hà xứ kỳ (冥路杳杳人不知、不用苦說使人悲、喜得逢君傳家信、後會茫茫何處期, lối mờ mù mịt người có hay, chẳng cần giải thuyết khiến buồn lo, may gặp được anh tin nhà nhắn, mai này mênh mang chốn nào đây ?).” Về nghĩa chỉ lúc gần chết, trong Liêu Trai Chí Dị (聊齋誌異), thiên Liên Hương (蓮香) của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh có đoạn: “Liên nhập viết: 'Quân đãi hỉ, thị chơn quỷ vật, kỳ nật mỹ nhi bất tốc tuyệt, minh lộ cận hỉ' (蓮入曰:君殆矣、是眞鬼物、暱其美而不速絕、冥路近矣, Liên Hương đi vào nói: 'Ngươi nguy rồi ! Quả đúng là quỷ vật thứ thiệt, gần cái đẹp mà không dứt sớm, cái chết gần kề rồi đó !').”

Minh lợi

明利; C: mínglì; J: myōri;|1. Nhạy bén, sắc sảo, thường thấy ở những người có trí tuệ, hay thường thấy ở tri giác của người có kiến văn hoàn hảo v.v…; 2. Xuất sắc, ưu tú.

minh lợi

1) Những công đức hay lợi lạc tâm linh không nhìn thấy được: Invisible benefit, or merit, i.e. witihn spiritual. 2) Thông minh và lanh lợi (có khả năng xuyên thủng những sự việc huyền bí)—Clear and keen (be able to penetrate all mysteries). ; (冥利) Cũng gọi Minh ích, Minh ứng. Sự lợi ích mà chư Phật, Bồ tát âm thầm gia bị cho. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 7 hạ (Đại 33, 771 thượng) nói: Sự truyền bá kinh luận ở cõi này, về công đức ấy, xem văn thì chỉ thấy nói đến minh lợi (lợi ích ngầm) chứ không thấy nói đến hiển ích(lợi ích rõ ràng).

minh lự

Sự chăm sóc không lường của chư Phật và chư Bồ Tát là không thể nghỉ bàn, nó vượt ra ngoài sự hiểu biết của chúng sanh—The unfathomable thought or care of the Buddhas and Bodhisattvas, beyond the realization of men.

minh minh

1) Ánh sáng và bóng tối: Light and darkness. 2) Sức mạnh của ánh sáng và bóng tối: The power of light and darkness. 3) Chư Thiên và ma quỷ: Gods and demons—Devas and Yama. 4) Hữu hình và vô hình: Visible and invisible.

minh mẫn

Sighrabodhi (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Minh Mẫn (Sighrabodhi) là một nhà sư nổi tiếng của tu viện Na Lan Đà—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms composed by Professor Soothill, Sighrabodhi was a famous priest of the Nalanda monastery.

minh mục

Bright eyes.

minh nguyệt

Trăng sáng—The bright moon.

minh nguyệt châu

See Minh Nguyệt Ma Ni.

Minh Nguyệt Ký

(明月記, Meigetsuki): còn gọi là Chiếu Quang Ký (照光記); bộ nhật ký của nhà Công Khanh Đằng Nguyên Định Gia (藤原定家, Fujiwara-no-Sadaie, 1162-1241) dưới thời Liêm Thương. Tên gọi Minh Nguyệt Ký không phải do bản thân Định Gia đặt, mà người đương thời gọi nó là Ngu Ký (愚記). Sau khi ông qua đời, hàng mạt duệ dùng danh xưng như Trung Nạp Ngôn Nhập Đạo Điện Nhật Ký (中納言入道殿日記); trong khi đó, những người ngoại tộc thì gọi là Định Gia Khanh Ký (定家卿記); nhưng tên gọi Minh Nguyệt Ký được bắt đầu thịnh hành từ thời Nam Bắc Triều (1336-1392) trở đi. Truyền bản lên đến vài chục bản, số quyển và nội dung của nó cũng khác nhau nhiều. Nguyên bản tự bút 45 quyển được Lãnh Tuyền Gia Thời Vũ Đình Văn Khố (冷泉家時雨亭文庫) lưu giữ. Định Gia rất ưu tú với tư cách là ca nhân, có mối quan hệ rất sâu xa với những nhân vật trọng yếu trong triều đình cũng như chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương; cho nên nội dung của tác phẩm này ghi lại những sự kiện trên phạm vi rộng lớn từ các động hướng về chính cuộc của triều đình và chính quyền Mạc Phủ cho đến cuộc triều nghị, ca luận, v.v. Đây quả là sử liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử thời Liêm Thương.

minh nguyệt ma ni

Minh Châu—Ngọc châu ma ni trong sáng như ánh trăng—The bright-moon mani or pearl. 1) Tượng trưng cho Đức Phật: The emblem of the Buddha. 2) Tượng trưng cho Phật Giáo: The emblem of Buddhism. 3) Tượng trưng cho Giáo điển Phật giáo: The emblem of Buddhist scriptures. 4) Tượng trưng cho sự thanh tịnh: The emblem of purity.

minh nguyệt thiên tử

Nguyệt Thiên Tử trong cõi trời Đế Thích—The moon-deva, in Indra's retinue. ** For more information, please see Nguyệt Thiên Tử.

Minh Nguyệt viện

明月院; C: míngyuèyuàn; J: myōgetsuin;|Viện Minh Nguyệt năm ra đời năm 1160 với tên Minh Nguyệt am (j: meigetsu-an) do Yamanouchi Tsunetoshi (山ノ内經俊) thành lập để cầu siêu cho thân phụ mình là Toshimichi, bị chết trong chiến trận Heiji vào năm trước. Năm 1256, Hojo Tokiyori chọn nơi nầy để kiến trúc chùa Phật giáo tên là Saimyōji (phía Tây bắc Viện Minh Nguyệt ngày nay). Năm 30 tuổi, Tokiyori xuất gia làm Tăng sĩ với pháp danh Giác Liễu Phòng Đạo Sùng (覺了房道崇 j: kakuryōbō dosū). Khi thị tịch vào 7 năm sau, sư viết bài thi kệ nầy khi dang trong tư thế toạ thiền:|Suốt 37 năm,|Ta giương cao tấm gương nghiệp.|Nay với một cú đập mạnh, ta phá ra từng mảnh.|Và đại đạo biến mất.|Về sau Saimyōji trở thành người kế vị ngôi chùa mới tên là »fukugenzan zenkōkōshōzenji« (zenkōji) do Tokimune con trai của Hojo Tokiyori thành lập. Vị trú trì đầu tiên là Mật Thất Thủ Nghiêm (密室守嚴, j: misshitsu shugon), đệ tử truyền pháp thứ 5 của Thiền sư Đại Giác (j: daikaku), người sáng lập chùa Kenchōji. Năm 1380, Tướng quân Ashikaga Ujimitsu thăng cấp cho Zenkōji do việc kiến trúc những cung điện mới, mở rộng lãnh thổ và xây dựng thêm chùa chiền. Trong cương vị thứ ba trong hàng tướng quân, Ashikaga Yoshimitsu xếp hạng chùa Zenkōji đứng hàng thứ nhất trong 10 ngôi đại tự ở vùng Kanto. Trong khi đó, Minh Nguyệt am được đổi tên thành Minh nGuyệt viện và được công nhận là chi nhánh của chùa Zenkōji. Tượng thờ chính ở điện Phật là Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát của tình thương. Một bộ tranh minh hoạ cổ mang tên »Meigetsuin Ezu« cho cái nhìn tổng quát về tu viện nầy trong thời hoàng kim. Chùa Zenkōji bị rơi vào hoang phế chẳng bao lâu sau thời Minh Trị Phục hưng (1867), và chỉ còn Meigetsu-in đến ngày nay. Viện nầy thuộc chi nhánh Kenchōji trong dòng thiền Lâm Tế.

Minh Nhiệm

(明任, Myōnin, 1148-1229): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng cuối thời Bình An và đầu thời Liêm Thương, Kiểm Hiệu đời thứ 39 của Cao Dã Sơn, húy là Minh Nhiệm (明任), tự là Chứng Quang (証光), Thắng Quang (勝光); xuất thân vùng Thần Cung (神宮), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]). Ông thọ phép Quán Đảnh với Định Kiêm (定兼) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn, rồi sau đó lên kinh đô, tham học với chư tôn đức khác, rồi học giáo nghĩa của hai dòng Tiểu Dã (小野) cũng như Quảng Trạch (廣澤). Sau khi Định Kiêm qua đời, ông đến trú tại Chánh Trí Viện, và năm 1226 thì làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn. Đệ tử của ông có Pháp Tánh (法性), Đạo Phạm (道範), v.v.

Minh Nhất

(明一, Myōichi, 728-798): vị tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống giữa hai thời đại Nại Lương và Bình An, húy Minh Nhất (明一), xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]), họ Đại Trạch (大宅). Ông có học thức cao rộng, trú tại Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) và tuyên dương Pháp Tướng Tông; nhưng đến cuối đời thì hoàn tục. Ông nỗ lực khảo cứu truyền ký của Thánh Đức Thái Tử (聖德太子, Shōtoku Taishi) và các kinh điển hộ quốc như Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經), v.v. Trước tác của ông có Thánh Đức Thái Tử Truyện (聖德太子傳), Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Chú Thích (金光明最勝王經註釋) 10 quyển, Pháp Hoa Lược Ký (法華略記) 3 quyển, v.v.

Minh nhất

冥一; C: míngyī; J: myōichi;|Hợp nhất một cách hài hoà thế nên khó phân biệt được.

minh nhất

Hoàn toàn tối ám—Entire obscurity, pristine darkness. ; (冥一) Trong trạng thái hỗn mang, không thể phân biệt đây kia, gọi là Minh nhất (1 trạng thái mờ tối). Cũng tức là chủ thể và đối tượng hợp nhất, không còn phân biệt. Ma ha chỉ quán quyển 1 hạ, (Đại 46, 9 hạ) nói: Trí vô duyên duyên theo cảnh vô tướng, cảnh vô tướng cùng với trí vô duyên thầm hợp làm một, gọi là Cảnh trí minh nhất.

minh nhựt

Minh thiên—Ngày mai—Tomorrow.

minh niên

Năm tới—Next year.

minh nội

See Minh Huân.

minh oan

To explain that someone is innocent.

minh phi

Vidya-raja (skt) 1) Một tên khác của Đà La Ni. Vị hoàng hậu có kiến thức kỳ diệu, có thể vượt qua mọi ác nghiệp—Another name for dharani as the queen of mystic knowledge and able to overcome all evil. 2) Bậc tôn nữ làm bộ chủ phối ngẫu trong các hộ Mạn Đồ La: The female consorts shown in the mandalas.

Minh Phong Tố Triết

(明峯素哲, Meihō Sotetsu, 1277-1350): vị Tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, người vùng Gia Hạ (加賀, Kaga, có thuyết cho rằng ông người vùng Năng Đăng [能登, Noto], thuộc Ishikawa-ken [石川縣]), họ là Phú Kiên (富樫), hiệu là Minh Phong (明峯). Ban đầu ông xuất gia trên Tỷ Duệ Sơn, rồi thọ cụ túc giới và học giáo học Thiên Thai, sau ông đổi y đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) tham vấn Thiền yếu. Tiếp theo ông đến làm thị giả cho Oánh Sơn Thiệu Cẩn (瑩山紹瑾) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji). Theo thầy học đạo được 8 năm trường, sau đó ông được khai ngộ. Từ ấy về sau, ông đi du phương hành hóa khắp nơi. Rồi lần thứ hai ông lại quay trở về với Oánh Sơn tại Vĩnh Quang Tự (永光寺), và đến tháng 6 năm 1323 thì nhập thất tu hành. Trong khoảng thời gian đầu niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘, 1321-1323), khi thiên hạ xảy ra đại loạn, triều đình sắc phong cho Vĩnh Quang Tự thành ngôi chùa sắc nguyện. Vào đầu niên hiệu Lịch Ứng (曆應, 1338-1341), ông chuyển đến sống ở Đại Thừa Tự, rồi đến cuối đời thì sáng lập ra Quang Thiền Tự (光禪寺) ở vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]), và đến sống ở đó. Vào ngày 28 tháng 3 năm đầu (1350) niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 58 hạ lạp. ; 明峰素哲; J: meihō sotetsu; 1277-1350;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin) và là bạn đồng học của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki).

minh pháp

The law or method of mantras, or magic formulae.

minh pháp sư

(明法師) Cũng gọi Đại minh pháp sư, Quang pháp sư. Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Tam luận, sống vào đời Tùy Đường. Sư từng tu học ở Dương đô (Nam kinh) dưới tòa ngài Pháp lãng (507-561) chùa Hưng hoàng, sau khi sư vào Mao sơn (huyện Cú dung, tỉnh Giang tô) hoằng dương Trung luận, trọn đời không ra khỏi núi. Có thuyết cho rằng Thiền sư Pháp dung, Tổ khai sáng tông Ngưu đầu, cũng từng theo Pháp sư Minh học Tam luận. Lại có thuyết cho rằng Pháp sư Quang mà Thiền sư theo học không phải là Pháp sư Đại minh, học giả Tam luận. [X. chương Ngưu đầu Pháp dung trong Tục cao tăng truyện Q.20].

minh phúc

Sự phúc độ của người chết (như bố thí, cúng dường, hay tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng)—The happiness of the dead. ; (明澓) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người huyện Cối kê, tỉnh Chiết giang, họ Vương, tự Nhĩ mật, hiệu Tán y. Sư bẩm tính sáng suốt, ngay thẳng, năm 22 tuổi, y vào Đại sư Trinh bạch chùa Khai nguyên xuất gia, học thông tính tông, tướng tông. Năm 27 tuổi, lúc đang ở trong thuyền, tình cờ nghe tiếng thanh la (1 loại nhạc khí), sư hoát nhiên tỉnh ngộ. Sau sư thờ ngài Trạm nhiên Viên trừng, chùa Hiển thánh, núi Vân môn ở Việt châu làm thầy, năm Thiên khải thứ 3 (1623) được phó pháp. Sư từng tham yết ngài Vô dị Nguyên lai ở chùa Thiên giới tại Kim lăng, biện luận về ý chỉ vật bất thiên. Về sau, sư trùng hưng chùa Quốc khánh ở Đông sơn thuộc tỉnh Chiết giang. Năm Sùng trinh thứ 9 (1636), sư dời đến chùa Di đà ở Mai dã. Năm Sùng trinh 15 (1642) sư tịch, thọ 53 tuổi. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2; Kế đăng lục Q.1; Ngũ đăng nghiêm thống Q.25; Tục đăng chính thống Q.39; Ngũ đăng toàn thứ Q.63].

minh phương

(明方) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào đời Minh, người phủ Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trần, tự Thạch vũ, người đời gọi là Thạch vũ Minh phương Thiền sư. Năm 22 tuổi, sư y chỉ vào ngài Tây trúc tông ở chùa Song tháp, núi Nam cao tại Hàng châu xuất gia. NămVạn lịch 43 (1615), sư tham yết ngài Trạm nhiên Viên trừng ở chùa Thạch Phật tại Gia hưng, khổ tu 7 năm mới được ấn chứng. Về sau, sư lần lượt trụ ở các chùa: Tượng sơn, Thiên hoa ở Thiệu hưng, Hiển thánh ở núi Vân môn, Quang hiếu ở núi Bảo thọ tại Hàng châu, Tây thiền, Tuyết phong ở Di sơn tại Phúc châu, Linh sơn tại Đinh châu, Phổ minh ở phủ Kiến ninh, tỉnh Phúc kiến, Linh phong ở Khảo đình, Ngộ không ở núi Long môn thuộc Hàng châu, Quảng phúc ở Đông tháp tại phủ Gia hưng, Phật nhật ở núi Cao đình tại Hàng châu và sau cùng là chùa Lan ngạc sơn ở phủ Thiệu hưng. Năm Thuận trị thứ 4 (1647) đời Thanh, một hôm sư bỗng nói với đồ chúng (Vạn tục 144, 473 thượng): Thế giới chẳng yên, chi bằng ta đi về. Năm Thuận trị thứ 5 (1648) sư tịch, thọ 56 tuổi, pháp lạp 35. Sư có tác phẩm: Thạch vũ thiền sư pháp đàm 20 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên tục lược Q.2; Tục đăng chính thống Q.39; Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.3 (Hư vân)].

minh phật luận

(明佛論) Cũng gọi Thần bất diệt luận. Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Tông bỉnh soạn vào đời Lưu Tống thuộc Nam triều, được thu vào Hoằng minh tập quyển 2 trong Đại chính tạng tập 52. Nội dung sách này nói rõ về thần thức luân hồi bất diệt, thần thức ấy tức là pháp thân thường trụ; nếu diệt trừ dục tình, còn lại thần thức thanh tịnh vốn có, thì liền trở về pháp thân mà thành Phật. Điều này cho thấy tư tưởng của tác giả Tông bỉnh là dung hợp pháp thân, Phật tính của Phật giáo với quan niệm thần, tính của Đạo gia. (xt. Tông Bỉnh, Thần Diệt Bất Diệt Luận Tranh).

Minh Phủ

(冥府): còn gọi là Âm Phủ (陰府), là cơ sở hành chánh của thế giới bên kia sau khi chết, văn phòng của vua Diêm Ma. Người thống trị Minh Phủ là Minh Vương Áo Tây Lí Tư (冥王奧里斯); vị này là đại thần của toàn quốc, sau A Mông (阿蒙). Vị trí của Áo Tây Lí Tư thậm chí còn cao hơn cả ông cố là Thái Dương Thần (太陽神). Theo nghiên cứu cho biết rằng ban đầu ông là Hồng Thủy Thần (洪水神, Thần Nước Lũ) của Sông Ni La (尼羅河, Nile), và về sau được cách hóa thành Minh Vương. Đồng thời, ông cũng có thần cách như Thái Dương Thần; tuy nhiên vẫn giữ thân Minh Vương. Mặt khác, ông không phải là đại diện cho sự tối tăm, mà là thần của ánh sáng. Về sau, A Nỗ Tỷ Tư (阿努比斯), người giữ gìn các vong linh, được xem như là con của Áo Tây Lí Tư, được phong chức trợ lý cho cha. Sở dĩ Áo Tây Lí Tư được xem như là vị đại thần của toàn quốc, vì nó có liên quan đến quan điểm tử vong của người Ai Cập. Họ cho rằng chết đi không phải là kết thúc sinh mạng, mà đạt đến con đường sống mãi; cho nên người chết được sống lại nơi thế giới do Áo Tây Lí Tư thống trị và vĩnh viễn sinh tồn. Đó là lý do vì sao người Ai Cập cổ xưa đã xây dựng các Kim Tự Tháp cũng như mộ đế vương cho những vị quốc vương họ. Căn cứ vào thuyết của Kim Chi (金枝), Áo Tây Lí Tư cùng với vợ là Y Hy Tư (伊希斯) trở lại làm thần cây. Sự phục hoạt của Áo Tây Lí Tư có ý nghĩa tương đồng với sự phục hoạt thần cây của Tây Á và Hy Lạp. Theo quan điểm tín ngưỡng của Trung Quốc, dưới Minh Phủ có 10 vị Minh Vương cai quản 10 ngôi điện, được gọi là Thập Điện Minh Vương (十殿冥王) hay Thập Điện Từ Vương (十殿慈王). Theo Địa Phủ Thập Vương Bạt Độ Nghi (地府十王拔度儀) thuộc kinh điển của Đạo Giáo, dưới Minh Phủ có 10 cung, mỗi cung có 1 vị Chơn Quân cai quản, gồm: (1) Cung thứ nhất của Tần Tố Diệu Quảng Chơn Quân (秦素妙廣眞君), còn gọi là Tần Quảng Đại Vương (秦廣大王); (2) Cung thứ hai của Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (陰德定休眞君), còn gọi là Sơ Giang Đại Vương (初江大王); (3) Cung thứ ba của Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (洞明普靜眞君), còn gọi là Tống Đế Đại Vương (宋帝大王); (4) Cung thứ tư của Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (玄德五靈眞君), còn gọi là Ngỗ Quan Đại Vương (仵官大王); (5) Cung thứ năm của Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (最聖妙靈眞君), còn gọi là Diêm La Đại Vương (閻羅大王); (6) Cung thứ sáu của Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (寳肅昭成眞君), còn gọi là Biến Thành Đại Vương (變成大王); (7) Cung thứ bảy của Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (泰山玄妙眞君), còn gọi là Thái Sơn Đại Vương (泰山大王); (8) Cung thứ tám của Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (無上正度眞君), còn gọi là Bình Đẳng Đại Vương (平等大王); (9) Cung thứ chín của Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (飛魔演化眞君), còn gọi là Đô Thị Đại Vương (都市大王); (10) Cung thứ mười của Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (五靈威德眞君), còn gọi là Chuyển Luân Đại Vương (轉輪大王). Qua đó, ta thấy rằng 10 cung này tương đương với 10 điện và tên gọi của các vị chủ quản các cung cũng gần tương tự với 10 vị Minh Vương (xin xem thêm chi tiết ở phần Minh Vương và Diêm Ma Thập Điện). Trong Hiện Quả Tùy Lục (現果隨錄) quyển 2 có câu: “Ngô tinh phi tà, tiền tại Minh Phủ kiến nhất kỳ sự, cấp dục vãng bỉ khám nghiệm nhĩ (吾並非邪、前在冥府見一奇事、急欲徃彼一勘驗耳, tôi chẳng nói bậy đâu, trước kia ở dưới Minh Phủ có thấy một việc kỳ lạ, muốn mau đến ông ấy khám nghiệm thử đúng không).” Hay Trong Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện (禪林僧寶傳) quyển 8, truyện Nam An Nham Nghiêm Tôn Giả (南安巖嚴尊者) lại có đoạn: “Hữu tăng tự Huệ Châu lai, viết: 'Hà Nguyên hữu cự chu trước sa, vạn ngưu hoán bất khả động, nguyện đắc dĩ tải chuyên, kiến tháp vu nam hải, vi chúng sanh phước điền.' Công viết: 'Thử Âm Phủ chi vật' (有僧自惠州來、曰河源有巨舟著沙、萬牛挽不可動、願得以載磚、建塔于南海、爲眾生福田、公曰此陰府之物, có vị tăng từ Huệ Châu đến bảo rằng: 'Tại Hà Nguyên có một chiếc thuyền lớn bị mắc cát, vạn con trâu kéo cũng không nhúc nhích, xin ngài đến chở ngói gạch, xây tháp nơi Nam Hải để làm ruộng phước cho chúng sanh.' Ông [Nham Nghiêm Tôn Giả] nói rằng: 'Đó là đồ của Âm Phủ').”

minh phủ

Cung điện nơi âm phủ hay địa ngục—The palace of darkness, Hades.

minh phủ điện

(冥府殿) Cũng gọi Thập vương điện. Cung điện của 10 vị vua ở cõi âm. Các chùa ở Trung quốc, Đại hàn và Nhật bản thường thiết lập thêm Minh phủ điện, nhưng ở Nhật bản thì điện này được gọi là Diêm ma đường.

minh quan

Những chức quan nơi cõi địa ngục—The rulers of Hades. ; (冥官) Những quan thuộc hạ ở cõi u minh, phụ tá cho vua Diêm ma, phán xét tội lỗi của các tội nhân ở địa ngục và quyết định hình phạt thích đáng. Đó là các vị như là Thái sơn phủ quân.

minh quang

Brilliant.

minh quang tâm

The illuminated mind.

minh quyền

(冥權) I. Minh Quyền. Chỉ cho những phương tiện quyền xảo được chư Phật, Bồ tát ứng dụng để giáo hóa chúng sinh [X. Bài tựa kinh Duy ma]. II. Minh Quyền. Chỉ cho Pháp thân và Ứng thân của Phật. Lí và trí thầm hợp với nhau gọi là Minh, tức là Pháp thân Phật; phương tiện độ sinh là Quyền, tức là Ứng thân Phật.

minh quân

Clear-sighted king.

minh sa dư vận

(鳴沙餘韵) Tác phẩm, 1 pho, do ông Thỉ xuy Khánh huy (1879-1939) người Nhật biên soạn. Toàn sách có chính thiên và thiên ngoại. Chính thiên: Biên chép hơn một trăm mấy mươi bản kinh xưa của Phật giáo đã bị thất lạc trong số mấy nghìn văn kiện cổ bản đào được ở Đôn hoàng, do ông A. Stein sưu tập và tàng trữ tại viện Bảo tàng nước Anh. Thiên ngoại:Thu gom những bức Mặc bảo (bút tích của cổ nhân) quí hiếm và hơn 40 quyển sách viết tay khác. Ngoài ra, để giải thích rõ sách này, ông Khánh huy còn soạn thêm 1 thiên Minh sa dư vận giải thuyết.

minh sát

To examine clearly.

minh sát tuệ

Vipassana (p)—Insight—Intuitive vision—Hệ thống thiền định của Phật giáo Nguyên Thủy—A Buddhist system of meditation practiced in the Theravada.

minh sơ

Sự tối ám nguyên sơ của vạn hữu—The primitive darkness at the beginning of existence.

minh sứ

Sứ quan hay sứ giả của Diêm Vương—Lictors, or messengers of Hades.

Minh Sử

(明史, Minshi): một loại sử thư, gồm 336 quyển, một trong Chánh Sử diễn thuyết về lịch sử nhà Minh. Thể theo sắc mệnh của vua Khang Hy (康熙), Vương Hồng Tự (王鴻緒) bắt đầu biên tập bộ sử thư này. Đến thời vua Ung Chính (雍正), Trương Diên Ngọc (張延玉) làm Tổng Biên Tập, trước sau trải qua hơn 60 năm, mãi cho đến năm 1739 (Càn Long [乾隆] tứ niên) mới hoàn thành.

minh sử

(冥使) Sứ giả của Minh quan, tức chỉ cho ngục tốt (lính của Diêm vương). Cứ theo luận Đại trí độ quyển 16, trong địa ngục, thân hình của ngục tốt mang những loại đầu chim thú đáng sợ như đầu trâu, ngựa, dê, hươu, nai, cáo, chồn, chó, hổ, chó sói, sư tử, chim ưng, chim ó v.v... thường quát mắng, nạt nộ và trừng phạt các người chết tùy theo tội nghiệp của họ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.17]. (xt. Ngục Tốt).

minh thiện

Clear sky.

minh thoát

Enlightenment from ignorance and release from desire.

minh thái tổ

(明太祖) Vị vua sáng lập triều Minh, Trung quốc, người Hào châu (nay là huyện Phượng dương, tỉnh An huy), họ Chu, tên Nguyên chương, tự Quốc thụy, miếu hiệu Thái tổ, thụy hiệu Cao hoàng đế. Năm 17 tuổi, cha mẹ qua đời, ông vào chùa Hoàng giác xuất gia làm tăng được 7 năm. Đến cuối đời Nguyên, loạn lạc nổi lên, ông bỏ chùa, đi theo ông Quách tử hưng làm thân binh, dần dần thăng đến Đại tướng. Sau khi Quách tử hưng mất, ông kế nghiệp thống lãnh quân sĩ tiêu diệt quần hùng, xưng Đế tại Kim lăng, đổi quốc hiệu là Minh, niên hiệu là Hồng vũ. Sau đó, ông đánh đuổi nhà Nguyên, thống nhất Trung quốc. Trong thời gian đầu, triều chính rất tốt đẹp, nhưng về già ông trở nên hà khắc đa nghi, giết cả công thần hào tộc đến hơn vài mươi vạn người. Ông ở ngôi được 31 năm thì qua đời, hưởng thọ 71 tuổi. Vì mới đầu, vua từng làm tăng tu tập Phật pháp, nên sau khi lên ngôi, ông nhận thấy kỉ cương của chúng tăng vào cuối đời Nguyên đã quá lỏng lẻo, không hiểu Thánh ý, nên ông mời các bậc Cao tăng, cùng nhau lập ra chế độ, biên soạn, sửa đổi thanh qui, sám nghi, chú sớ để làm mực thước cho thiên hạ noi theo. Đồng thời đặt ra chế độ giáo dục chúng tăng, chia chùa viện Phật làm 3 loại: Thiền, Giảng và Giáo. Năm Hồng vũ thứ 4 (1371), vua thỉnh cử 8 vị tăng gồm các ngài Tổ xiển, Khắc cần v.v... làm sứ thần đưa tiễn sứ Nhật bản về nước. Vua có ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Trung quốc. [X. Minh sử Q.1, 2, 3; Minh thái tổ thực lục Q.68].

minh thông

Siêu lực vượt ngoài sự diễn tả của ngôn ngữ hay hình tượng—Mysterious, supernatural, omnipresent power. ; (冥通) Danh từ tán thán chân lí. Minh là vắng lặng, lìa các tướng; Thông là dung thông tất cả không trở ngại. [X. Giới bản sớ Q.1 thượng; Tứ phần luật sớ hành tông kí Q.1 thượng].

minh thần

The bright spirits devas, gods, demons).

minh thệ

To swear.

minh thị

Explicitly—Clearly.

minh tinh

Sao Thái Bạch và Thiên Tử trị vì tại đó—Venus and the deva-prince who dwells in that planet.

Minh Toàn

(明全, Myōzen): tức Phật Thọ Phòng Minh Toàn (佛樹房明全, Butsujubō Myōzen, 1184-1225), là vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào khoảng đầu thời đại Liêm Thương, húy là Minh Toàn (明全), hiệu là Phật Thọ Phòng (佛樹房), người vùng Y Thế (伊勢, Ise, thuộc Mie-ken [三重懸]). Năm 16 tuổi, ông theo xuất gia với Trí Điển (智典) ở Lai Nghênh Tự (來迎寺) thuộc vùng Phong Cang (豐岡, Toyooka), Đản Mã (但馬, Tajima), rồi thọ Bồ Tát Giới với Giới Trần (戒陳) ở Huệ Chiếu Viện (惠照院). Năm 1766, ông làm trú trì đời thứ 22 của Lai Nghênh Tự, thường mỗi ngày xướng tụng 30.000 biến niệm Phật. Sau ông dời đến Trí Huệ Quang Viện (智惠光院) ở kinh đô Kyoto, chuyên giảng cứu về giáo học Tông phái và Nho thư, rồi đến năm 1788, ông tận lực phục hưng lại ngôi viện này sau lần bị cháy rụi. Ông đã từng làm trú trì Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in), rồi trú trì đời thứ 16 của Chuyên Niệm Tự (專念寺), thường bố thí thức ăn cho những người nghèo khó và khuyên họ niệm Phật hằng ngày. Trước tác của ông để lại có Nhật Khóa Niệm Phật Khuyến Đạo Ký (日課念佛勸道記) 1 quyển, Nhật Khóa Niệm Phật Đầu Túc Biên (日課念佛投宿編) 1 quyển, Tục Liên Môn Trú Trì Huấn (續蓮門住持訓) 1 quyển, Cảnh Chung Lục (警鐘錄), Giác Thụy Thảo (覺睡草), Nhật Khóa Tinh Tu Ký (日課精修記), v.v.

Minh Toán

(明算, Meizan, 1021-1106): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, vị Kiểm Hiệu đời thứ 12 của Cao Dã Sơn, vị Tổ của Dòng Trung Viện (中院流), húy là Minh Toán (明算), thông xưng là Cao Dã Trung Viện A Xà Lê (高野中院阿闍梨), Trung Viện Ngự Phòng (中院御房); xuất thân vùng Thần Khi (神崎), Kỷ Y (紀伊, Kii, thuộc Wakayama-ken [和歌山縣]), họ Tá Đằng (佐藤). Năm 1031, ông được Định Dự (定譽) dẫn lên Cao Dã Sơn xuất gia, tu học ở Đông Thất, đến năm 1040 thì chuyển sang Trung Viện, và đến năm 1049 thì thọ phép Quán Đảnh với Lại Tầm (賴尋) ở Thích Vương Tự (釋王寺). Sau ông theo học pháp với Thành Tôn (成尊) ở Mạn Trà La Tự (曼荼羅寺, Mandara-ji), vùng Tiểu Dã (小野, Ono), rồi đến năm 1072 thì được truyền trao phép Quán Đảnh, và góp sức làm rạng rỡ Dòng Tiểu Dã (小野流). Năm sau, ông trở về núi và sáng lập Dòng Trung Viện. Năm 1075, ông khai sáng Long Tạng Viện (龍藏院) ở vùng Kỷ Y; đến năm 1090 thì được bổ nhiệm làm Kiểm Hiệu của Cao Dã Sơn; từ đó ông tận lực phục hưng Sơn Môn, xây dựng các ngôi đường tháp và độ chúng. Đệ tử phú pháp của ông có Lương Thiền (良禪), Giáo Chơn (敎眞), Minh Phạm (明範), Chơn Dự (眞譽), Minh Tịch (明寂), v.v.

Minh Toản

(明瓚, Myōsan, ?-?): xem Lãn Toản (懶瓚, Ransan, ?-?) bên trên.

Minh Trí

明智; ?-1196|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Tô, tên Thiền Trí, quê ở làng Phù Cầm. Sư bẩm chất thông minh, nhân lúc gặp Thiền sư Ðạo Huệ liền xin xuất gia. Nơi Ðạo Huệ, Sư đạt yếu chỉ thiền, thông hiểu các bộ kinh luận lớn như Viên giác, Pháp hoa và Truyền đăng lục. Vua thấy vậy kính phục, phong hiệu là Minh Trí.|Niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 11, sắp thị tịch, Sư nói kệ:|隨風水月明。無影亦無形|色相這箇是。空空尋響聲|Tuỳ phong thuỷ nguyệt minh|Vô ảnh diệc vô hình|Sắc tướng giá cá thị|Không không tầm hưởng thanh.|*Theo gió trăng nước sáng|Không bóng cũng không hình|Sắc tướng chỉ thế ấy|Trong không tìm tiếng vang.|Nói xong, Sư lặng lẽ viên tịch.

minh trí thiền sư

Zen Master Minh Trí (?-1196)—Thiền sư Việt Nam, quê ở Phù Cầm, Bắc Việt. Lúc hãy còn trẻ, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Đạo Huệ. Ngài là pháp tử đời thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Về sau, ngài trụ tại chùa Phúc Thánh để hoằng hóa cho đến khi ngài thị tịch vào năm 1196—A Vietnamese Zen master from Phù Cầm, North Vietnam. When he was young, he met and became a disciple of Zen master Đạo Huệ. He was the dharma heir of the tenth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he stayed at Phúc Thánh Temple to expand Buddhism until he passed away in 1196.

minh tuyết

(明雪) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Tào động, sống vào cuối đời Minh, người huyện Đồng thành, tỉnh An huy, họ Dương, hiệu Thụy bạch. Sư xuất gia ở am Tụ long, núi Cửu hoa, thụ giới Cụ túc ở chùa Vân thê. Sau, sư tham yết các bậc thầy như: Trạm nhiên Viên trừng, Bác sơn, Hoàng bá, Mật vân Viên ngộ v.v... Năm Thiên Khải thứ 6 (1626) sư được ngài Viên trừng ấn khả. Về sau, sư lần lượt trụ ở Biện sơn, chùa Hộ quốc, núi Không đồng ở Giang tây. Sau, sư dời đến núi Bách trượng ở Nam xương tỉnh Giang tây, sửa đổi toàn bộ thanh qui, người đời gọi sư là Đại trí (Bách trượng Hoài hải) tái thế. Năm Sùng trinh thứ 14 (1641) sư tịch, thọ 58 tuổi. Ông Dư đại thành soạn bài minh trên tháp thờ sư. Sư để lại tác phẩm: Thụy bạch thiền sư ngữ lục 18 quyển.

minh tuệ

See Minh Huệ.

Minh Ty

(冥司): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cõi âm. Như trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (敦煌變文集), phần Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Biến Văn (妙法蓮花經變文), có đoạn: “Sanh tiền bất tằng tu di, tử đọa A Tỳ Địa Ngục, vĩnh thuộc minh ty, trường thọ khổ độc (生前不曾修移、死墮阿毗地獄、永屬冥司、長受苦毒, khi sống chưa từng tu sửa, chết đọa A Tỳ Địa Ngục, mãi thuộc cõi âm, chịu hoài khổ sở).” (2) Chỉ vị Trưởng Quan của cõi âm. Như trong tác phẩm Tân Tề Hài (新齊諧), phần Đường Phối Thương (唐配滄), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh, có đoạn: “Trưởng tức Quách thị tại hàng bệnh kịch, hốt tác Tư Mã Công ngữ vân: 'Minh Ty niệm ngã cư quan thanh chánh, sắc vi Võ Xương Phủ Thành Hoàng' (長媳郭氏在杭 病劇、忽作司馬公語云、冥司念我居官清正、敕爲武昌府城隍, người dâu trưởng Quách thị khi đi trên thuyền bị bệnh nguy kịch, chợt nói tiếng của Tư Mã Công, bảo rằng: 'Quan Minh Ty niệm tình ta làm quan liêm chính, nên sắc ta làm Thành Hoàng của Phủ Võ Xương').”

Minh Tâm

明心; ?-1034|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7, nối pháp Thiền sư Ðịnh Hương (xem thêm dưới Bảo Tính).

minh tâm

Tâm giác ngộ—The enlightened heart—To engrave something in one's memory. ; (冥心) Tâm thầm khế hợp với Như lai tạng thanh tịnh sẵn có. Thiền giới thiên ghi: Mười giới, 3 tụ không phân biệt thể tài, đều trở về nơi Tam bảo như đã thệ nguyện. Khi chân thật trở về rồi, thì thầm hợp với nguồn tâm (minh tâm), giới tâm không đâu khác, chỉ là con người ấy thầm hợp nguồn tâm (minh tâm) thôi, tất cả đều bình đẳng.

minh tín phật trí

Tin tưởng rõ ràng nơi trí huệ của Phật là con đường dẫn đến vãng sanh Tịnh Độ—To believe clearly in Buddha's wisdom as leading to rebirth in the Pure Land.

minh tăng thiệu

(明僧紹) Cũng gọi Minh trưng quân. Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Ngụy Tấn thuộc Nam Bắc triều, người Bình nguyên (thuộc tỉnh Sơn đông), tự Thừa liệt. Ông là người học rộng nghe nhiều, tính tình cao khiết, nổi tiếng thanh liêm. Ông từng ở Lao sơn, tụ tập đồ chúng dạy học, sau ở ẩn tại Nhiếp sơn (núi Thê hà), Kim lăng ròng rã hơn 20 năm, trong thời gian này ông ở chùa Định lâm và thờ ngài Tăng viễn làm thầy. Có lần vua Cao đế nhà Nam Tề nhờ ngài Tăng viễn giới thiệu để vua được gặp, nhưng ông nhất định không chịu. Đến vua Vũ đế cũng đã 7 lần mời ông vào cung, ông đều từ chối, không bao lâu thì ông qua đời. Lúc Tăng thiệu còn sống, có lần ngài Pháp độ đến Nhiếp sơn giảng kinh Vô lượng thọ, ông đã hiến cúng ngôi nhà của ông cho ngài Pháp độ. Sau khi ông mất, vào khoảng năm Vĩnh minh (483-493), ngài Pháp độ sửa ngôi nhà ấy thành chùa, đặt tên là Thê hà tinh xá, tức là chùa Thê hà sau này. Ông có tác phẩm: Chính nhị giáo luận.

minh tư

1) See Minh Lự. 2) Sở hữu của người chết, là hạnh phúc được tái sanh vào cõi cao hơn: Possessions of or for the dead; their happiness of being reborn in higher realms. ; (冥資) Tu tạo phúc đức cho người đã chết, gọi là Minh tư. Như vào ngày người thân qua đời, nên thỉnh các sư tụng kinh, thuyết pháp, làm các việc thiện như bố thí, phóng sinh v.v... để hồi hướng, cầu nguyện cho vong linh được siêu thoát... ; (冥思) Sư suy nghĩ thâm trầm, người khác không thể lường được. Tức chỉ cho sự tư duy mầu nhiệm bất khả tư nghị của Phật và Bồ tát, là chỗ mà hạng phàm phu không thể nào biết được.

minh tướng

Brightness. ; (明相) Bình minh ló rạng, bầu trời dần dần hiện rõ. Luật điển qui định, bắt đầu từ lúc sáng sớm (minh tướng) đến giữa ngày, là thời gian tỉ khưu nhập chúng khất thực, thụ trai. Còn trước lúc minh tướng xuất hiện và sau giữa ngày (sau giờ ngọ) gọi là Phi thời, không được đi khất thực và thụ thực, nếu trong khoảng thời gian này mà thụ thực thì gọi là Phi thời thực. Ngoài ra, trong khi nhập định, sám hối, tự thệ đắc giới... mà cảm được ánh sáng trắng chiếu rọi, giống như minh tướng, gọi là Hảo tướng, đó là điềm lành hiện ra do sức cảm ứng của bậc Thánh.

minh tường kí

(冥祥記) Truyện kí, do ông Vương diễm soạn vào đời Nam Tề. Sách này sưu tập những sự tích Phật giáo, ghi chép về sự linh nghiệm của bồ tát Quan thế âm và nói về những vấn đề luân hồi chuyển sinh, địa ngục v.v... Qua sách này, người ta có thể biết một cách đại khái về tình hình tín ngưỡng Phật giáo ở thời đại Lục triều. Bộ truyện kí này không được lưu truyền đầy đủ, chỉ có một phần nội dung thấy tản mạn trong các bộ Pháp uyển châu lâm, Thái bình quảng kí v.v... Đến đời Dân quốc, ông Lỗ tấn mới thu tập những đoạn rời rạc còn lại và ghi vào sách Cổ tiểu thuyết câu trầm.

minh tạng

(明藏) Gọi đủ: Minh bản Đại tạng kinh. Cũng gọi: Minh bản. Đại tạng kinh được khắc bản vào đời Minh. Gồm 5 bản như sau: 1. Hồng vũ Nam tạng (cũng gọi Sơ khắc Nam tạng): Tạng kinh do vâng mệnh vua Thái tổ nhà Minh được khắc vào khoảng năm Hồng vũ thứ 5 đến niên hiệu Vĩnh lạc năm đầu (1372-1403), có thuyết nói đến năm Hồng vũ 31 (1398), gồm 1.612 bộ hoặc 1.625 bộ Kinh Luật Luận. Bản in mẫu còn được cất giữ ở chùa Báo ân tại Nam kinh. Đại tạng kinh được tàng trữ ở chùa Khoái hữu tại thôn Quốc chi, quận Phong phố, huyện Sơn khẩu, Nhật bản, phần nhiều thuộc Tạng kinh này. 2. Vĩnh lạc Nam tạng (thường gọi Nam tạng): Tạng kinh được khắc in từ năm Vĩnh lạc thứ 10 đến năm 15 (1412-1417) tại Nam kinh, là bản khắc lại của Hồng vũ Nam tạng, nhưng có hơi thay đổi; gồm 6.331 quyển, 1.625 bộ Kinh Luật Luận. Bản in kiểu bản xếp, mỗi tờ 30 dòng, mỗi dòng 17 chữ. 3. Bắc tạng (cũng gọi Vĩnh lạc Bắc tạng): Tạng kinh do vua Thành tổ ban lệnh khắc vào năm Vĩnh lạc 18 đến năm Chính thống thứ 5 (1420-1440) vào đời vua Anh tông, gồm 1.615 bộ Kinh Luật Luận, kiểu bản xếp, 1 tờ 25 dòng, mỗi dòng 15 đến 17 chữ. Về sau, vâng mệnh mẫu hậu của vua Thần tông khắc thêm 36 bộ nữa như Hoa nghiêm huyền đàm hội huyền kí v.v... đưa vào Đại tạng, cho nên Bắc tạng tổng cộng có 678 hòm, 6.771 quyển. Hai tạng Nam Bắc trên đây ít được lưu truyền. 4. Vũ lâm tạng: Tạng kinh khắc vào khoảng năm Gia tĩnh (1522-1566) đời vua Thế tông, ở huyện Vũ lâm, tỉnh Chiết giang, là tạng kinh đầu tiên đổi từ chiết bản (bản xếp) thành bản phương sách (bản đóng gáy). 5. Lăng nghiêm tự bản (cũng gọi Vạn lịch bản, Mật tạng bản, Gia hưng bản, Minh bản, Kính sơn bản): Tạng kinh do các ngài Mật tạng Đạo khai, Chân khả, Đức thanh, Huyễn dư v.v... phát nguyện khắc bản ở núi Ngũ đài vào năm Vạn lịch 14 (1586), sau được dời đến Kính sơn (huyện Dư hàng, tỉnh Chiết giang), cuối cùng tập trung các bản khắc về in ở chùa Lăng nghiêm, huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang và hoàn thành vào khoảng cuối năm Vạn lịch (1620). Tổng cộng có 210 hòm, kiểu bản phương sách in 1 tờ 20 dòng (1 mặt 10 dòng) mỗi dòng 20 chữ, xem rất tiện, loại bản này, ngày nay còn lại cũng rất nhiều. Đầu đời Thanh khắc bổ sung Tục tạng 237 bộ, sau lại khắc Hựu tục tạng 189 bộ nữa. Bản Đại tạng chùa Lăng nghiêm này lưu truyền rộng rãi nhất trong các bản Đại tạng đời Minh. [X. Đại minh tam thánh giáo mục lục; Đại thanh tam tạng thánh giáo mục lục; Thích thị kê cổ lược tục tập Q.3; Anh văn Đại minh tam tạng thánh giáo mục lục; Minh sử nghệ văn chí thứ 74]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

Minh Tịch

(明寂, Myōjaku, ?-?): vị học tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào cuối thời Bình An, húy là Minh Tịch (明寂), thông xưng là Ẩn Kì Thượng Nhân (隱岐上人), tự là Giác Tuấn (覺俊) hay Giác Thuấn (覺舜); con của vị trưởng quan Kami vùng Ẩn Kì (隱岐, Oki) là Đại Giang An Thành (大江安成). Ông theo Minh Toán (明算) ở Trung Viện trên Cao Dã Sơn học về Mật Giáo, rồi theo hầu Lương Thiền (良禪) ở Cao Thất Viện (高室院). Sau đó, ông thọ pháp với Lương Nhã (良雅) và Thắng Nhân (勝因) của Dòng Tiểu Dã (小野流), rồi khai sáng Nhất Tâm Viện (一心院) cũng như Tối Thiền Viện (最禪院) trên Cao Dã Sơn. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Trị (寬治, 1087-1094), khi Bạch Hà Pháp Hoàng (白河法皇) lên tham bái Cao Dã Sơn, tương truyền ông được tặng cho bản truyền thừa của dòng họ Thiên Hoàng là Du Kỳ Bí Văn (瑜祇秘文). Vào năm 1114, ông truyền trao Cầu Văn Trì Pháp (求聞持法) cho Giác Noan (覺鑁).

minh tịch

(冥寂) Danh từ hình dung lí chân không. Minh là vắng lặng, không thấy 1 vật; Tịch là dứt bặt các tướng.

minh vi mật hạnh

Thiền Sư Minh Vi Mật Hạnh (1828-1898)—Zen master Minh Vi Mật Hạnh—Thiền sư Minh Vi Mật Hạnh, đệ tử của Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh. Năm 1850, ngài trụ tại chùa Giác Lâm và là Pháp tử đời thứ 38 của dòng Thiền Lâm Tế. Sau khi sư phụ ngài thị tịch, phần lớn cuộc đời còn lại của ngài, ngài đã trùng tu và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam nước Việt. Ngài thị tịch năm 1898, thọ 72 tuổi—A Vietnamese monk, a disciple of Zen master Tiên Giác Hải Tịnh. In 1850, he stayed at Giác Lâm temple in Gia Định. He was the dharma heir of the thirty-eighth generation of the Linn-Chih Zen Sect. After his master passed away, he spent most of the rest of his life to revive and expand Buddhism in the South until he passed away in 1898, at the age of 71.

minh vãng

1) Đi về cõi u đồ: Going into the shades. 2) Chết: Death. ; (冥往) Đi trong tối tăm, nghĩa là lặng lẽ đi đến nơi khác hoặc thế giới khác, tức là chết. Theo thuyết luân hồi chuyển sinh của Phật giáo, sự tan hoại của thể xác chỉ là sự kết thúc sinh mệnh trong đời này, rồi đợi 1 nhân duyên khác hòa hợp để lại bắt đầu mệnh sống của 1 thời kì khác, cho nên tử vong là bao hàm ý nghĩa thú vãng (đi tới) chứ không như kiến giải thông thường của người đời cho rằng chết là hết. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. (xt. Tử).

Minh Vương

(冥王): tục xưng của Diêm La (閻羅), đấng chủ tể của cõi âm. Như trong Tân Tề Hài (新齊諧), phần Tạ Đàn Hà (謝檀霞), của Viên Mai (袁枚, 1716-1797) nhà Thanh có đoạn: “Hốt mộng lại sổ nhân đột chí kỳ gia, trách dĩ thoát miễn chi tội, vị Minh Vương hách nỗ, tương trùng án kỳ sự (忽夢吏數人突至其家、責以脫免之罪、謂冥王赫怒、將重按其事, chợt mộng thấy quan lại mấy người đột nhiên đến nhà ông ấy, tra hỏi về tội được thoát miễn, bảo rằng Minh Vương đùng đùng nổi giận, đem xét xử lại việc này).” Hay như trong Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1541) quyển Hạ, phần Ngô Việt Vĩnh Minh Tự Trí Giác Thiền Sư (吳越永明寺智覺禪師), lại có đoạn: “Niên cửu thập bát, phần hương già phu nhi tịch, tháp ư Đại Từ Sơn, Minh Vương hội tượng đảnh lễ (年九十八、焚香跏趺而寂、塔於大慈山、冥王繪像頂禮, năm 98 tuổi, Thiền Sư xông hương ngồi xếp bằng mà tịch diệt, tháp dựng tại Đại Từ Sơn, Minh Vương vẽ tượng đảnh lễ).”

minh vương

The rajas—King of hell—Các Minh Vương thân giáo lệnh, nhận giáo lệnh của Đức Tỳ Lô Giá Na, hiện Phẫn Nộ thân để hàng phục chúng ma—Fierce spirits who are the messengers and manifestation of Vairocana's wrath against evil spirits. ** For more information, please see Đại Minh Vương. ; (明王) Phạm: Vidyà-ràja. Cũng gọi Trì minh vương, Phẫn nộ tôn, Uy nộ vương. Minh nghĩa là ánh sáng trí tuệ phá trừ bóng tối ngu si, tức chỉ Chân ngôn đà la ni. Tiếng PhạmVidyà-raja, về mặt văn pháp, là danh từ nam tính, còn danh từ nữ tính làVidyà-ràjĩì, thì gọi là Minh phi, như Hư không tạng minh phi, Vô năng thắng minh phi v.v... Minh vương còn có 2 nghĩa: 1. Vua của Chân ngôn đà la ni, như Phật đính nhất tự chân ngôn là Minh vương của Phật bộ. 2. Chỉ cho các Minh vương phổ thông trong các vị tôn của Mật giáo, như Hàng tam thế minh vương. Minh vương Hàng tam thế là luân thân giáo lệnh của Như lai, hiện tướng phẫn nộ để giáo hóa, hàng phục những chúng sinh cứng cỏi, ương ngạnh khó dạy, về mặt văn pháp, là chân ngôn thuộc nam tính, có đầy đủ uy lực phá dẹp các chướng nạn, vì thế gọi là Minh vương. Còn như Phật nhãn minh phi v.v... thì hiện tướng người nữ để nhiếp thủ những chúng sinh ngoan ngoãn, tức biểu thị chân ngôn nữ tính, có đầy đủ công đức nhu hòa, cho nên gọi là Minh phi. Ngoài ra, về mặt văn pháp, chân ngôn có 2 tính nam, nữ, cho nên Minh chủ cũng có 2 vị thần nam và nữ, nhờ thế mới có đủ công năng thể hiện 2 môn Chiết phục và Nhiếp thủ. Trong Mật giáo, các vị tôn vâng lãnh giáo lệnh của đức Như lai, thị hiện hình tướng phẫn nộ để giáo hóa, hàng phục những chúng sinh ương ngạnh khó dạy, hầu thu nhiếp họ, thì ngoài Minh vương Hàng tam thế ra, còn có các vị Minh vương khác như: Mã đầu, Bất động, Ái nhiễm, Quân đồ lợi, Đại uy đức, Đại luân, Bộ trịch, Kim cương dạ xoa, Vô năng thắng và Đại nguyên soái. Trong đó, 5 vị Minh vương: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa, gọi là Ngũ đại minh vương; nếu thêm Mã đầu, Đại luân và Bộ trịch vào thì gọi là Bát đại minh vương. Lại nữa, trong số các Minh vương, như Minh vương Mã đầu cũng là tên của Bồ tát; còn như Kim cương dạ xoa, Nguyên soái và Bất động thì phần nhiều là chỉ cho Dạ xoa. Ngoài ra, kinh Tô bà hô đồng tử thỉnh vấn quyển hạ, có nêu 8 vị Minh phi của Liên hoa bộ, đó là: Minh phi Mục tình, Minh phi Diệu bạch, Minh phi Cư bạch, Minh phi Quan thế, Minh phi Độc kế, Minh phi Kim nhan, Minh phi Danh lợi xưng và Minh phi Bật lị câu chi. [X. kinh Đại nhật quyển 1; kinh Tô tất địa yết la Q.trung; kinh Nhuy hi da Q.thượng; kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương Q.1, 5; kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5].

minh vật nhất tri

Thiền Sư Minh Vật Nhất Tri (?-1786)—Zen Master Minh Vật Nhất Tri—Thiền sư Việt Nam, quê tại Đồng Nai, Nam Việt. Ngài là đệ tử của Tổ Nguyên Thiều Siêu Bạch. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại miền Nam. Ngài thị tịch năm 1786. Một vài đệ tử xuất sắc của ngài như Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt ở chùa Thiên Mụ, Huế; Thiền sư Thiệt Thoại Tánh Tường, khai sơn chùa Hoa Nghiêm ở Thủ Đức, Gia Định; Thiền sư Phật Chí Đức Hạnh, khai sơn chùa Long Nhiễu ở Thủ Đức, Gia Định—A Vietnamese Zen master from Đồng Nai, South Vietnam. He was a disciple of Patriarch Nguyên Thiều Siêu Bạch. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the South. He passed away in 1786. Some of his most outstanding disciples are: Zen master Thiệt Thành Liễu Đạt at Thiên Mụ Temple in Huế, Zen master Thiệt Thoại Tánh Tường, founder of Hoa Nghiêm temple in Thủ Đức, Gia Định, Zen master Phật Chí Đức Hạnh, founder of Long Nhiễu Temple in Thủ Đức, Gia Định.

minh xác

To confirm clearly.

minh xứ

The regions or realms of study which produce wisdom.

Minh ám

明暗 (闇); C: míngàn; J: myōan;|Sáng và tối. Sự chiếu sáng và bóng tối (s: āloka-tamas).

minh ích

See Minh Lợi. ; (冥益) Cũng gọi Minh lợi. Lợi ích do Phật và Bồ tát ngầm gia bị mà phàm phu không thể biết được. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6 thượng (Đại 33, 748 trung) nói: Tuy không hiển hiện linh ứng, nhưng được pháp thân ban cho sự lợi ích một cách âm thần kín đáo, dù không thấy không nghe nhưng vẫn cảm biết được, vì thế gọi là Minh ích.

Minh Ðế

明帝; C: míngdì;|Hoàng đế cai trị nhà Hán từ năm 58-75, còn gọi là Hán Minh Ðế. Theo truyền thuyết, Minh Ðế nằm mộng mà sau đó cho truyền đạo Phật tại Trung Quốc. Ông nằm mơ thấy một vị thần áo vàng lơ lửng trước điện. Hỏi các đại thần, có người cho hay có thánh nhân xuất hiện ở Ấn Ðộ, là người giác ngộ đạt Phật quả. Người đó có »màu da vàng tuyền và biết bay«. Sau đó Minh Ðế gởi một phái đoàn đi Ấn Ðộ. Phái đoàn về mang theo bộ kinh Tứ thập nhị chương. Minh Ðế cho xây hẳn một lâu đài để thờ kinh đó. Ðó là bộ kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán và đạo Phật được truyền vào Trung Quốc bắt đầu từ đây.

minh đoán

To judge clearly.

minh đăng quang

Một Đại Tăng quan trọng của Phật giáo Việt Nam vào tiền bán thế kỷ 20. Ngài sanh vào năm 1923 và vắng bóng vào năm 1954. Ngài là nhà cải cách Phật giáo trong lúc luân lý và đạo đức Phật giáo đang cơn nghiêng ngửa, và là người sáng lập ra Giáo Hội Phật giáo Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam. Ngài đã khéo léo phối hợp giữa hai truyền thống giáo lý Bắc và Nam tông để làm thành giáo lý căn bản cho giáo hội. Không bao lâu sau khi thành lập, hàng triệu tín đồ đã theo Ngài tu tập. Vào giữa thập niên 70s, một đệ tử lớn của Ngài là Hòa Thượng Thích Giác Nhiên đã thành lập Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới với số tín đồ khắp nơi trên thế giới—An important Vietnamese Monk in the first half of the twentieth century. He was born in 1923 and considered missing on the way to preach in 1954. When moral and traditions of Vietnamese Buddhism were in rapid decline, he was a key Monk in the revival and reformation of Vietnamese Buddhism during that time; he was also the founder of the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist school. Most Honorable One Minh Đăng Quang cleverly combined both doctrines from Mahayana and Theravada (Hinayana) to make the doctrine for the Vietnamese Sangha Bhikshu Buddhist Sect. Not long after the day he founded the school, millions of followers followed him to practice. In mid 70s, one of his great disciples, Most Venerable Thích Giác Nhiên, founded the International Sangha Bhikshu Buddhist Association in the United States of which followers are all over the world nowadays.

minh đường

(明堂) Chỉ cho khoảng trống ở 2 bên minh lâu. Trên mái trước của tăng đường làm 1 cái lầu nhỏ để lấy ánh sáng và thoáng khí, gọi là Minh lâu. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Minh Lâu).

minh đạo

Còn gọi là Minh Đồ hay Minh Độ. 1) Con đường sáng: The bright or clear way;. 2) Con đường của thần chú Đà La Ni: The way of the mantras and dharanis. 3) Con đường u tối: The dark way. 4) Cõi u minh tối ám: Land of darkness, the shades—Hades. 5) Nơi ở của Diêm Ma Vương: The abode of the Yama King.

minh đạo cung

(冥道供) Cũng gọi Diêm la vương cúng. Pháp tu cúng dường vua Diêm la và quyến thuộc, để cầu dứt trừ tai ương, bệnh hoạn. Về nghi thức thực hành pháp tu này đã được ghi trong sách: Diêm la vương cúng hành pháp thứ đệ 1 quyển.

minh đạo tập thuyết

(鳴道集說) Tác phẩm, 5 quyển, (có thuyết nói 1 quyển), do ông Lí thuần phủ (hiệu là Bình sơn cư sĩ) soạn vào đời Kim, Trung quốc. Nội dung tác phẩm này nhằm phê bình và bác bỏ luận điểm bài Phật trong sách Chư Nho minh đạo tập được viết ra vào đời Tống. Chư Nho minh đạo tập (gọi tắt: Minh đạo tập)gồm 12 quyển, 217 thiên, là bộ sách tập đại thành các luận thuyết bài xích Phật giáo của Nho gia đời Tống. Trong đó có các danh Nho như: Chu đôn di, Tư mã quang, Trương tải, Trình di, Trình hạo, Trương cửu thành, Dương thời, Trương thức, Tạ hiển đạo, Lưu an thế v.v... Trong sách này, tuy tác giả Lí thuần phủ thường nêu lên những điểm đồng và dị giữa Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, nhưng phần nhiều tác giả đã căn cứ vào Phật học làm nền tảng để lập luận, cho nên, đối với lịch sử tư tưởng của Phật giáo đời Tống, bộ sách này có ý nghĩa rất quan trọng. Ngoài ra, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 20 có chép lại bài luận văn 19 thiên trong sách này nói về các ông Da luật Sở tài, Tư mã quang, Trương tải và lời Bạt của tác giả Lí thuần phủ. Lại nữa, luận Tam giáo bình tâm của Lưu mật đời Nguyên và Phật pháp kim thang lục của Đồ long đời Minh, khi viện dẫn những luận điểm bài bác Phật giáo của các Nho gia đời Tống, chủ yếu đều chuyển dụng kiến giải của sách này. [X. Cư sĩ truyện Q.35; Hàn uyển anh hoa trung châu tập Q.4; Qui tiềm chí Q.1, 9, 10 (Lưu kì); Nguyên sử nghệ văn chí].

minh đạt

Giác ngộ, biết được sự tái sanh quá khứ vị lai của mình và người và trong kiếp hiện tại chấm dứt phiền não để đạt được đại giác—Enlightenment—With the knowledge of future incarnation of self and others, of past incarnations of self and others, and that the present incarnation will end illusion (Minh), and thorough or perfect enlightenment (Đạt). 1) Tam Minh: Three insights—See Tam Minh. 2) Tam Đạt: Three aspects of the omniscience of the Buddha—See Tam Đạt.

Minh đắc

明得; C: míng dé; J: myōtoku;|Tên gọi khác của món đầu tiên trong Tứ thiện căn, đó là Noãn (煖). Như cách ánh sáng hiện ra trước khi mặt trời mọc, người tu cũng có sự báo trước của trí tuệ giác ngộ. Giai vị nầy gọi là »Minh đắc«.

minh đắc định

Minh Đắc—Thiền định mà tứ gia hạnh của bậc Bồ Tát được ở Noãn Vị (thiền định đạt được ở mức Minh Đắc là lúc thiền giả đạt được trí huệ vô lậu)—A samadhi in the Bodhisattva's four good roots (catus-kusala-mula) in which there are the bright beginnings to release from illusion. ; (明得定) Thiền định do hàng Bồ tát Noãn vị trong 4 gia hạnh (4 thiện căn) chứng được. Thiền định này là bước đầu của giai đoạn tu định tuệ, có khả năng quán xét 4 đối cảnh: Danh, nghĩa, tự tính và sai biệt, đều do tự tâm biến hiện, đều là có giả. Luận Thành duy thức quyển 9 (Đại 31, 49 trung) nói: Nương vào Minh đắc định mà phát khởi tầm tư, quán vô sở thủ, lập làm Noãn vị. Nghĩa là trong giai vị này, bắt đầu quán xét 4 pháp sở thủ là danh, nghĩa, tự tính và sai biệt, do nơi tự tâm biến hiện, chỉ là giả lập chứ chẳng phải có thật. Đầu tiên được hành tướng trước Tuệ nhật (mặt trời tuệ), cho nên đặt tên là Minh đắc (được sáng), cũng từ đó đạt được tướng trước Đạo hỏa, vì thế gọi là Noãn (ấm, làm cho ấm).

minh đế

Còn gọi là Minh Tính hay Tự Tính. Phái Số Luận ngoại đạo lập ra đế thứ nhất trong 25 đế, lẽ đúng về cái mờ mịt không rõ ràng, không biết được, là nguồn gốc khởi lên vạn hữu—The Sankhya doctrine of primordial profundity, beyond estimation, the original nature out of which all things arose. ; (冥諦) Cũng gọi Minh tính, Minh sơ, Tự tính đế, Tự tính. Chỉ cho trạng thái tối tăm khi vũ trụ chưa hình thành, là nguồn gốc của muôn vật, đế thứ 1 trong 25 đế do học phái Số luận trong 6 phái Triết học của Ấn độ cổ đại lập ra. Vì đế này là nguyên nhân căn bản làm cho các pháp sinh diệt biến dị, cho nên cũng gọi là Minh tính (tính tối tăm), Tự tính. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Bách luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.1phần cuối]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế).

minh địa

Phát Quang Địa, địa thứ ba trong thập địa—The stage of illumination, the third of the ten stages.

Minh Đồ

(冥途、冥塗): chỉ cho thế giới mê ám, tối tăm của người chết; còn gọi là Minh Thổ (冥土), Minh Phủ (冥府), Minh Giới (冥界), U Đồ (幽塗), Huỳnh Tuyền (黃泉), Minh Lộ (冥路). Theo Tịnh Độ Tam Muội Kinh (淨土三昧經), Thập Vương Kinh (十王經), v.v., nơi cõi Minh Đồ có vua Diêm Ma (閻魔), rất nhiều minh quan, Thập Vương như Tần Quảng Vương (秦廣王), v.v., chuyên trừng phạt tội lỗi của phạm nhân. Tại Trung Quốc, tín ngưỡng Minh Phủ của Thái Sơn Phủ Quân (太山府君) thời cổ đại cũng có cùng tư tưởng như vậy. Đối với Nhật Bản, từ thời Trung Đại trở về sau, rất thịnh hành tín ngưỡng cho rằng giữa đường đi qua Minh Phủ có Tam Đồ Xuyên (三途川, sanzugawa) và Tái Hà Nguyên (賽の河原, sai-no-kawara, nơi người con bất hiếu chịu những cực hình, hằng ngày chất đá làm tháp cúng dường song thân đã quá vãng). Về phía Phật Giáo, Minh Đồ chỉ cho chốn Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Như trong Tú Nhu Ký (繡襦記), phần Dịch Mục Khuyến Học (剔目勸學) của Từ Lâm (徐霖, 1462-1538) nhà Minh có câu: “Ngã tại Minh Đồ hồi chuyển, thượng ngột tự tâm đầu hỏa nhiên (我在冥途回轉、尚兀自心頭火燃, tôi ở cõi Minh Đồ xoay quanh, lại ngớ ngẩn tự trong tâm bốc lửa).” Hay trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1294) lại có câu: “Tiền lộ vị Minh Đồ, Ngũ Thú mang mang, sở trú vô định (前路謂冥途、五趣茫茫、所往無定, đường phía trước là Minh Đồ, năm cõi mờ mịt, chỗ ở vô định).”

minh đồ

See Minh (3). ; (冥途) Cũng gọi Minh độ, Minh phủ, Minh giới, U đồ, Hoàng tuyền. Chỉ cho thế giới tối tăm mờ mịt mà con người sau khi chết sẽ đi đến. Cứ theo kinh Tịnh độ tam muội và kinh Thập vương, thì trong cõi Minh đồ, có vua Diêm ma và rất nhiều quan lại hoặc có 10 vị vua như vua Tần quảng v.v... trừng phạt các tội nhân. Tín ngưỡng Minh phủ của Thái sơn Phủ quân ở Trung quốc đời xưa cũng tương tự như thuyết Minh đồ này. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.thượng (Tông mật); Pháp uyển châu lâm Q.6, 7].

minh đồ điểu

(冥途鳥) Cũng gọi Đỗ quyên. Loài chim có tiếng kêu thê lương, buồn thảm, khiến người lữ khách chạnh lòng thương nhớ quê hương.

minh độ

See Minh (4).

minh độ vô cực

Cách dịch cũ là Bát Nhã Ba La Mật (Bát là minh, độ là Ba La Mật), cái tuệ đưa chúng sanh đến chỗ giác ngộ—An old interpretation of Prajna-paramita means the wisdom that ferries to the other shore without limit.

minh đức

High virtue.

minh ước

Treaty—Pact.

minh ứng

Sự cảm ứng của chư Phật và chư Bồ Tát không thể thấy biết được—Response from the invisible, i.e. that of Buddhas and Bodhisattvas.

miên

1) Nhắm mắt lai: To close the eyes. 2) Ngủ: Làm cho thân không còn tự tại, tâm bị hôn muội, gây trở ngại cho phép quán)—Sleep. 3) Nước Miên: Cambodia. ; (眠) Phạm: Middha. Cũng gọi là Thụy miên. Ngủ mê, thân tâm hôn ám trầm trọng, thuộc tâm sở pháp, 1 trong 75 pháp của Câu Xá, 1 trong 100 pháp của Duy Thức. [X. luận Thành Duy Thức Q.7; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.2].

miên hoa

xem đâu-la.

miên man

Unceasing—Contnual—Never-ending—Ceaseless.

miên ngoạ kệ

(眠臥偈) Bốn câu kệ phải niệm tụng trước khi ngủ. Tì ni nhật dụng thiết yếu (Vạn tục 106, 68 thượng) chép: Trước khi ngủ, xoay mặt về hướng Tây, chắp tay quán tưởng, niệm danh hiệu Phật 10 tiếng, hoặc niệm trăm, nghìn, vạn tiếng rồi tụng bài kệ: Khi sắp ngủ nghỉ. Nguyện cho chúng sinh. Thân được an ổn.Tâm không động loạn.

miên ngoạ thời tác pháp

(眠臥時作法) Phương pháp nằm ngủ của hành giả Chân ngôn thực hành mỗi đêm trong thời gian tu pháp để tránh sự biếng nhác. Cứ theo phẩm Trì Chân Ngôn Pháp trong kinh Tô Tất Địa quyển thượng, thì lúc ngủ, không được nằm trên giường lớn quá hay nhỏ quá, cũng không được nằm chung giường với người khác, phải thanh tịnh, trầm tư mặc tưởng, không nằm ngửa, không nằm sấp, mà nằm nghiêng bên hông phải dáng như sư tử vương, không được mở mắt. Ngoài ra, có thuyết nói nửa đêm trải cỏ tranh, dùng để kết giới 4 phía. Nếu tu pháp Tăng ích thì nằm 2 chân xếp chồng lên nhau, nằm nghiêng bên hông phải, đầu hướng về Nam, mặt xoay hướng Đông, dùng tay làm gối. Tu pháp Tức tai, đầu hướng Đông, mặt xoay hướng Bắc. Tu pháp Hàng phục, đầu hướng Tây, mặt xoay về hướng Nam, quán tưởng thân vô thường, vô ngã, khổ, không, bất tịnh, miệng tụng chú: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra,kim cương) xa để (zanti,tịch tĩnh) hồng (hùô), tụng xong, bắt đầu ngủ. Nếu hành giả Chân ngôn làm theo tác pháp này, thì tất cả ác mộng đều tiêu trừ, mau thành tựu pháp tu.

miên sàng

Bed.

miên thuỵ đối trị pháp

(眠睡對治法) Cũng gọi Thụy miên đối trị pháp. Phương pháp trừ diệt ngủ gục và ngủ li bì. Đang khi tụng niệm hoặc quán tưởng, nếu hành giả cảm thấy buồn ngủ, hoặc đã ngủ gục, sợ mất chính niệm, thì có thể đứng dậy đi dạo để thư giãn tinh thần, hoặc rửa mặt bằng nước lạnh, hoặc lại tụng niệm chân ngôn Phật nhãn, hoặc tụng chú Bi sinh nhãn. Khi tinh thần đã tỉnh táo như thường, thì lại tiếp tục tọa thiền, trì tụng hoặc quán tưởng. [X. kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thụy Miên trong Trung A Hàm].

miên trường tịch tịnh

Eternal rest.

miên tạng

A monastery sleeping room. ; (眠藏) Phòng ngủ trong Phương trượng của Thiền viện Nhật Bản. Theo thông lệ, trong Phương trượng chia ra: Gian giữa, gian sau (gian giữa thứ 2) là trung tâm; hai bên trái phải mỗi bên cũng có 2 gian, hợp làm 6 gian tạo thành Phương trượng (căn nhà mỗi bề 1 trượng vuông vức). Vách sau của gian giữa thứ 2 kê 1 cái tủ, trên mặt tủ lập bàn thờ Phật, sau bàn thờ Phật có 1 căn nhỏ làm chỗ ngủ nghỉ, đó là Miên tạng.

miên viễn

Durable—Lasting—far-off.

miên đan

(眠單) Vật để trải hoặc đắp khi nằm nghỉ, 1 trong các loại ngọa cụ do đức Phật chế định. Tổ Đình Sự Uyển quyển 8 (Vạn tục 113, 121 hạ) nói: Khi đức Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, có 1 vị tỉ khưu để mình trần nằm ngủ, không dùng mền, ngọa cụ giữ gìn thân thể, mọi người đều chê cười. Phật dạy: Phải nên đắp ngọa cụ. Tức là miên đơn dùng trong nhà Thiền vậy.

miêu tả

To describe.

miến

1) Burma (a country east of India). 2) Vermicelli.

miến kì viên

(緬祇園) Phạm: Vaidhanya. Pàli: Vedhaĩĩa. Khu vườn cây Am bà ở nước Ca Tì La Vệ. Theo kinh Thanh Tịnh (Pàli: Pàsàdikasuttanta) trong Trường bộ kinh 29, thì khi đức Thích Tôn dừng lại ở khu vườn này, là lúc ông Ni Càn Đà Nhã Đề Tử (Pàli: Nigaịỉha Nataputta), Tổ sư của Kì na giáo nhập diệt ở Ba ngõa (Pàli: Pàvà), nhân đó mà giáo đoàn Kì na chia làm 2 phái, đưa đến sự kiện đối kháng nhau. [X. kinh Trường A Hàm Q.12].

miến điền phật giáo

(緬甸佛教) Miến Điện (Burma) là 1 nước ở vùng Đông nam châu Á, phía Đông Bắc, giáp các tỉnh Tây Khang, Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp Ấn Độ Banghladesh, phía Đông giáp Thái Lan, Lào, phía Nam giáp vịnh Bengal. Tiếng Pàli của danh từ Miến Điện là Maramma (Hán âm: Ma la ma), là chuyển lầm từ chữ Phạm Brahma (Hán dịch: Phạm ma, Phạm thiên). Theo âm Miến Điện Maramma-desa, có nghĩa là đất nước của Phạm thiên. Chủng tộc nhập cư sớm nhất là chủng tộc Talaing (Đắc lăng), kế đến là các chủng tộc Burman (Miến) và chủng tộc Shan (Đàn). Cứ theo Đảo sử của Tích Lan thì vào thế kỉ III trước Tây lịch, vua A Dục của Ấn Độ phái các ngài Tu Na (Pàli: Soịa) và Uất đa la (Pàli:Uttara) đến nước Kim địa (Pàli: Suvaịịa-bhùmi) truyền giáo, có thuyết cho rằng Kim địa tức là dải đất Đả Đoan ở hạ Miến Điện hiện nay. Nhà chú thích Phật Âm (Pàli: Buddhaghowa) sống vào giữa thế kỷ thứ V được Miến Điện nhiều lần xác định ngài xuất thân từ vùng Đả Đoan. Tương truyền, 2 thương gia cúng dường thức ăn đầu tiên cho đức Phật lúc Ngài mới thành đạo, chính là người Miến Điện và cũng theo truyền thuyết thì có lần bản thân đức Phật đã đến Bồ Cam (Pagan) truyền pháp v.v... tất cả những việc này còn phải chờ sự khảo chứng. Căn cứ vào những di vật đào được, có thể suy đoán rằng thượng Miến Điện thuộc hệ thống văn hóa Bắc Ấn Độ, còn hạ Miến Điện thì hấp thu văn hóa từ nam Ấn Độ. về tông giáo được truyền vào Miến Điện thì đầu tiên là Bà la môn giáo Ấn Độ, kế đến là Phật giáo. Theo các văn hiến quan trọng đào được cho thấy, thì mới đầu Phật giáo Thượng tọa bộ được du nhập, từ thế kỉ X về sau, Phật giáo Đại thừa và Mật giáo mới dần dần được truyền vào. Vào thế kỉ XI trước đó, tại Miến Điện đã có phái Đại thừa A lợi tăng (Ari) hiện diện, tăng chúng phái này mặc áo pháp màu lam, để tóc, sinh hoạt phóng túng, cho rằng nếu làm điều ác thì chỉ cần niệm tụng chú cứu hộ là có thể thoát khỏi sự báo ứng nhân quả. Phái này lại chia làm 2 chi là: Trụ lâm (ở trong rừng) và Trụ thôn (ở trong làng xóm). So với phái Tính lực của Ấn Độ thì phái này cực đoan hơn, có thuyết cho rằng phái này là sự hỗn hợp giữa Lạt ma Mật giáo đọa lạc và Phật giáo Đại thừa. Trước thời vua A Nô Luật Đà (Pàli: Anuruddha), phái này có thế lực mạnh nhất trong các giáo phái ở vùng Bồ Cam; trung tâm điểm của phái này là Sa ma để (Samati). Sau khi Vương triều Bồ Cam (1044-1287) nổi lên, các phái Phật giáo Miến Điện thời kì đầu và phái A Lợi Tăng lần lượt suy vong. Năm 1044, vua A Nô Luật Đà thống nhất toàn quốc, đặt thủ đô ở Bồ Cam. Năm 1057, chinh phục Đả Đoan, thỉnh về các Tỉ khưu, 3 tạng kinh điển, xá lợi Phật, các bảo vật, lại ban sắc chỉ cho Cao tăng A la hán (Arhan) lãnh đạo cuộc cải cách tăng đoàn, kính tin Phật giáo Thượng tọa bộ, còn các phái đã có trước kia như Thượng tọa bộ, Phật giáo Đại thừa, Mật giáo và Bà la môn giáo dần dần tiêu diệt. Ít lâu sau, vua cho xây ngôi tháp Phật Thụy đức cung (Shwe Dagon) ở Bồ Cam, trải qua 2 đời vua mới hoàn thành. Vua nước Tích Lan là Tì Xá Da Bà Ha Đệ Nhất (Vijayabàhu I) từng sai sứ đến Miến Điện, xin ban Tam tạng, thỉnh chư tăng, bỗng chốc, Miến Điện trở thành trung tâm của Phật giáo Nam truyền. Vào thời kì toàn thịnh của Phật giáo Bồ Cam, ở miền thượng Miến điện có 1 vạn 3 nghìn tòa tháp và Tăng viện. Về sau, Phật giáo Tích Lan hưng thịnh, phái Đại tự có thế lực mạnh, cho nên có nhiều vị tăng đến Tích Lan tham học. Trong đó, có sư Xa Ba Đa thụ giới ở Đại tự, ở lại tu học 10 năm (1170-1180) mới cùng với 4 vị Tỉ khưu trở về nước. Vào thế kỉ XII, Tăng đoàn Miến Điện chia thành Tích Lan tông phái (Sìhalasaôgha) và Miến Điện tông phái (Maramma-saôgha, phái này vốn đã có từ trước). Ít lâu sau, phái Tích Lan lại chia ra 3 tăng đoàn là: Thi Bà Lợi, Đa Ma Lăng Đà và A Nan Đà. Có điều đáng quí là tuy chia rẽ, nhưng các phái đều nỗ lực hoằng dương Phật pháp, cho nên Phật giáo nói chung vẫn rất hưng thịnh. Năm 1277, quân Mông Cổ xâm chiếm phía nam, vương triều Bồ Cam sụp đổ, 10 năm sau chính quyền rơi vào tay dân tộc Đàn và từ đó Miến Điện không còn là 1 vương quốc thống nhất cho mãi đến giữa thế kỉ XVI. Trong khoảng hơn 200 năm, bất luận là vương triều A Ngõa (Ava) ở phương Bắc hay vương triều Tì Cổ (Pegu) ở phía nam, đều coi trọng sự phát triển Phật giáo, Danh nghĩa minh đăng (Abhidhà= nappadipikà), Thanh Vận Tinh Nghĩa (Saddasàratthajàlinì) và Ca Chiên Diên Văn Pháp Chú là những tác phẩm thuộc thời kì này. Giữa thế kỉ XV, phía nam có 6 tông phái và hơn 1 vạn 5 nghìn tỉ khưu. Về sau, qua cuộc cải cách của vua Đạt Ma Tất Đề (Dhammazedi, 1472-1492), tăng đoàn Miến Điện lại được thống nhất. Người lãnh đạo dân tộc Đàn nổi lên vẫn là người Miến Điện, kiến lập vương triều Đông cố (Toungoo, 1531-1752). Hai bộ luật điển Đạt Ma Tha Kiêu (Dhammathakyaw), Câu Tăng Thù (Kosaungchok), luận Ma Ni Châu, luận Pháp Vương Thất Sư, A Tì Đạt Ma Tụng, luật Trang Nghiêm Sớ, luận Dự Tăng v.v... đều được biên soạn vào thời kì này. Đồng thời còn hoàn thành việc xây dựng các ngôi tháp Phật như: Tháp Ma ha ma ni (Mahàmani), tháp Du xá ma ni tu la (Yasamanisula), tháp Gia đa kì (Ngatakyi) v.v... Còn Cao tăng ở thời kì này thì có các ngài: Tì Đà La Tì Na Bà Tư (Badaravanavàsì), Nhã Lợi An Lăng Già La (Ariyàlaíkara), Tối Thắng Pháp, (Aggadhammàlaíkara), Trí Nguyện (Ĩaịavara) v.v... Vào thế kỉ thứ XVIII, nội bộ Phật giáo phát sinh cuộc tranh luận về cách mặc áo ca sa mà hình thành 2 phái đối lập: Phái Thiên đản (Pàli:Ekaôsika,chủ trương mặc ca sa để trật 1 bên vai) và phái Thông kiên (Pàli: Pàrupana,chủ trương mặc trùm kín cả 2 vai), mãi 100 năm sau phái Thông kiên mới thắng thế. Bấy giờ, vương triều Đông cố đã diệt vong và vương triều Cống bảng (Konbaung, 1752-1885) nổi lên thay thế. Trong khoảng hơn 100 năm, Phật giáo vẫn được nhà vua bảo hộ và các kinh điển tiếng Pàli lần lượt được dịch ra chữ Miến Điện. Lúc này, các thế lực phương Tây cũng nhân việc Miến Điện mở cửa giao thương mà không ngừng xâm nhập. Năm 1886, Miến Điện bị người Anh đô hộ, mãi đến năm 1947 mới tuyên bố độc lập. Trong khoảng hơn 60 năm thống trị, người Anh không can thiệp vào tôn giáo, nhờ thế, Hội Thanh niên Phật giáo Miến Điện được thành lập (1906), hô hào đòi độc lập cho Miến Điện, từ đó về sau có rất nhiều vị tăng tham dự cuộc vận động này. Hiện nay tăng đoàn Phật giáo Miến Điện có 3 phái chủ yếu là: Phái Đa đạt ma (Thudhamma), phái Thụy cảnh (Shwegyin) và phái Đạt bà la (Dvara). Về phương diện giáo học thì 3 tạng Thánh điển mà 3 phái này tôn thờ đều giống nhau, nhưng về giới luật, đặc biệt về những vật dụng được giữ, cách đắp ca sa và phép tắc sinh hoạt hàng ngày thì có vài điểm khác nhau. Hai phái trước là các tông phái truyền thống, tổ chức rất rộng, số chúng tăng tương đối đông, còn phái Đạt bà la thì mới được thành lập vào cuối thế kỉ XIX do cải cách phái cựu Đa đạt ma mà thành; về mặt giới luật, phái này chủ trương nghiêm khắc, thực tiễn, tăng chúng rất ít. Phật giáo Miến Điện chỉ có Tỉ khưu, Sa di, tín sĩ nam, tín sĩ nữ và số ít Tỉ khưu ni, không có Sa di ni và chính học ni. Tập tục phổ thông của Miến Điện là thiếu niên 14, 15 tuổi phải vào chùa xuất gia trong 1 thời gian ngắn. Trong các nước Phật giáo, chế độ thi cử ở Miến Điện là nghiêm ngặt nhất. Người dự thi thông qua được Luật tạng, gọi là Trì luật giả (Vinayadhara), người thông qua toàn bộ 3 tạng thì được gọi là Tam tạng sư (Tipiỉakadhara), là vinh dự cao nhất. Hiện nay, Phật giáo Miến Điện chiếm 1 địa vị rất quan trọng trong Phật giáo Nam truyền. [X. Burmese Buddhism ( J. George Scott); ThePàli Literature of Burme, London, 1909 (Mabel Bode); History of Burma, London, 1925 ( G. E. Harvey); Hinduism and Buddhism, London, 1921, Vol. III, P. 47ff ( Sir Ch. Eliot)].

miếng

Piece—Fragment.

miếng khi đói bằng gói khi no

One mouthful when hungry is better than a full bowl when not hungry.

miết

At a stretch.

miết mưu hầu can

(鱉謀猴肝) Ba ba lập mưu lấy gan của vua khỉ, là 1 trong những truyện tiền thân của đức Phật. Lúc đức Phật còn tại thế, có vị Tỉ khưu ni tên là Bạo chí theo Phật học đạo, nhưng cuối cùng lại vi phạm giới luật, hủy báng Phật pháp, khinh miệt chúng tăng. Các vị Tỉ khưu thắc mắc và cùng nhau bàn tán về việc này, đức Phật biết được, Ngài bèn thuật lại sự tích Ba ba lập mưu lấy gan vua khỉ, để cho các Tỉ khưu thấy rõ nguyên nhân Bạo chí phạm giới. Vào thời quá khứ vô lượng kiếp xa xưa, có 1 con ba ba rất thân quen với con vua khỉ ở trong rừng. Vua khỉ có đầy đủ trí tuệ và thông hiểu nghĩa lí, nên ba ba thường đến cùng vua khỉ bàn luận nghĩa kinh. Nhưng vợ ba ba đa nghi, hay ghen, không muốn chồng mình thường ra khỏi nhà, nên lập kế hại vua khỉ. Một hôm, vợ ba ba giả vờ bệnh nặng, phải dùng gan khỉ làm thuốc mới cứu sống được. Do vợ bày mưu nên ba ba mời vua khỉ đến chỗ ở của mình, nói dối để đãi tiệc. Vì vua khỉ không lội nước được nên ba ba phải cõng qua sông, khi ra giữa dòng, ba ba nói rõ sự thật, vua khỉ nói rằng gan của mình treo trên ngọn cây và bảo ba ba quay trở lại đất liền để lấy gan. Khi đến đất liền, khỉ bèn nhảy thẳng lên cây, từ đó về sau 2 bên không qua lại với nhau nữa. Trong mẩu truyện trên, vợ ba ba thủa xưa, nay chính là Tỉ khưu ni Bạo chí phạm giới; ba ba là Đề bà đạt đa phạm trọng tội ngũ nghịch và thường chống đối đức Phật, còn vua khỉ là tiền thân của Phật. [X. Sinh kinh Q.1].

miết địa

(瞥地) Đồng nghĩa: Nhất miết, Miết nhiên. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là mau chóng. Miết là thoắt, liếc qua, xem qua; địa là trợ từ. Đại Tuệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục quyển 25 (Đại 47, 920 trung), nói: Công án của người xưa vốn đã mịt mờ, bây giờ lại nhìn qua (miết địa), tự mình chẳng khỏi mờ mịt.

miếu

Caitya (skt)—Small temple. ; (廟) Cũng gọi Linh miếu, Tháp miếu, Tổ miếu. Nơi thờ tự Phật tổ, Thánh hiền, Thần linh v.v... Bộ Hưng tạo 3 trong Pháp uyển châu lâm quyển 37 (Đại 53, 580 thượng) nói: Âm Phạm chính xác là Tốt đổ ba, Hán dịch: Miếu, tức linh miếu, là nơi thờ phụng lễ kính. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 8 hạ) nói: Sau khi Phật diệt độ (...) có người xây tháp bằng đá hoặc làm bằng chiên đàn, trầm thủy (...) hoặc ở giữa đồng trống, đắp đất làm miếu Phật, cho đến trẻ con chơi đùa, vun cát làm thành đống làm tháp Phật v.v...,những người làm như thế, đều đã thành Phật đạo. Các nhà Nho Trung Quốc, vì cảm nhớ tình thân và công lao của các bậc cổ thánh tiên hiền nên cũng lập miếu thờ phụng, như Thái miếu là nơi thờ cúng tổ tiên nhà vua, Văn miếu (Tiên sư miếu) là nơi thờ cúng đức Khổng tử, Vũ miếu là nơi thờ tự các vị võ tướng như Quan vũ v.v...[X. kinh Quán đính Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.55; Huyền ứng âm nghĩa Q.5; Thi thanh miếu tự tiên (Bội văn Vận phủ sở dẫn)]. (xt. Tháp).

miếu sản hưng học

(廟産興學) Phong trào chủ trương chiếm dụng chùa và tài sản của các chùa viện trên toàn cõi Trung Hoa để làm trường học, được phát động vào cuối đời Thanh đến đầu thời Dân quốc trở đi. Do sự thiếu hiểu biết của 1 số phần tử trí thức và quan chức nhà nước đối với Phật giáo, cùng với những kẻ cường hào, ác bá dã tâm, thấy của chùa thì thèm muốn, bèn mượn tiếng chấn hưng việc học để chiếm đoạt tài sản và nhà cửa của các chùa viện, Tăng ni bị cưỡng ép hoàn tục, Phật giáo bị bách hại nặng nề. Miếu sản chỉ cho tất cả tài sản của các tự miếu, như ruộng chùa, nhà chùa và các pháp vật phụ thuộc khác. Năm Quang tự 24 (1898), vì không có kinh phí giáo dục nên quan Tổng đốc tỉnh Hồ quảng là Trương chi động dâng tờ biểu Khuyến học thiên tâu vua, cực lực chủ trương biến chùa miếu làm trường học và sử dụng tài sản của các tự viện trên toàn quốc để làm kinh phí chấn hưng việc học. Tờ biểu này được vua Đức tông phê chuẩn, cho nên trong hạn 100 ngày là thời gian Duy tân đã thi hành chính sách Miếu sản hưng học mở đầu cho phong trào. Sau khi Duy tân thất bại, tuy Từ hi Thái hậu xuống lệnh cấm thi hành Miếu sản hưng học, nhưng các tự viện vẫn còn bị uy hiếp, bọn thổ hào, thân sĩ bất lương ở các tỉnh đua nhau mượn tiếng hưng học chiếm đoạt ruộng chùa, còn quân đội, cảnh sát và các cơ quan đoàn thể ở địa phương thì chiếm cứ tự miếu và vơ vét tài sản của chùa. Do cấp lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ kém cỏi nên địa vị của Phật giáo bị hạ thấp quá mức, đến nỗi không còn bảo vệ được quyền lợi của Phật giáo. Nhưng giữa Phật giáo và lịch sử văn hóa vốn có mối quan hệ gắn bó lâu đời và được nể trọng, điều này khiến cho các bậc danh sĩ và học giả nổi tiếng trong nước không thể không lên tiếng. Bởi vậy, năm Quang tự 31 (1905), ông Chương Thái Viêm đã đăng bài Cáo Phật tử thư (Thư ngỏ gửi các vị Phật tử), trong đó, một mặt ông kêu gọi chư tăng hãy nhận thức rõ thời đại, phải tự mở các trường học để góp phần vào việc phát huy nền văn hóa và giáo dục của nước nhà, mặt khác ông khuyến cáo các nhân sĩ trí thức không nên hành động theo cảm tính mà phạm sai lầm quá đáng đối với Phật giáo, trái lại, phải giúp cho Phật giáo phát triển. Đồng thời, Tịnh độ Chân tông của Nhật Bản liên tiếp xây dựng các chùa Bản nguyện tại Thượng hải, Nam kinh, Hàng châu, Tô châu v.v... Vị tăng người Nhật Bản là Thủy dã Mai hiểu nhân cơ hội ấy, khuyến dụ hơn 30 tự miếu ở Hàng châu gia nhập Chân tông, hễ gặp trường hợp chiếm cứ miếu sản thì liền xin Lãnh sự Nhật Bản đứng ra che chở, điều này khiến cho quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Nhật Bản trở nên căng thẳng. Kết quả là Chân tông Nhật Bản hủy bỏ sự che chở đối với các tự viện Trung Quốc, vì chính phủ nhà Thanh đã ra lệnh bảo hộ Phật giáo. Từ đó, các huyện thị thành lập hội Giáo dục tăng, tự phát triển giáo dục, xây dựng trường học để bảo vệ tài sản của chùa viện. Dân quốc năm đầu (1912), Viên thế khải ban bố điều lệ Quản lí tự miếu gồm 31 điều, ý muốn thu hết tài sản của các chùa viện Phật giáo trên toàn quốc xung vào công quĩ để làm các việc lợi ích chung. Cùng năm ấy, các ngài Kí thiền (Kính an) và Đạo hưng trụ ở chùa Lưu Vân tại Thượng Hải; đứng ra vận động triệu tập Đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo Trung Hoa và hoạch định kế sách bảo vệ miếu sản. Năm Dân quốc thứ 10 (1921), chính phủ sửa đổi bản điều lệ, rút lại còn 24 điều, nhưng mục đích thì đại khái vẫn giống nhau. Năm Dân quốc 16 (1927), Phùng ngọc tường mượn cớ đả đảo mê tín, đến chiếm các chùa Bạch Mã, Thiếu lâm, Tướng quốc v.v.. ở tỉnh Hà nam, đồng thời xua đuổi 30 vạn tăng ni, buộc phải hoàn tục. Ở các tỉnh Chiết giang, Giang tô, Hồ bắc, Hồ nam cũng thế. Năm Dân quốc 17 (1928), Bộ trưởng Nội chính là Tiết đốc bật đề nghị đổi chùa tăng làm trường học. Năm Dân quốc 18 (1929), Điều lệnh quản lí tự miếu gồm 21 điều được ban bố, liền bị các ngài Thái hư, Viên anh, Đế nhàn và cư sĩ Vương nhất đình triệu tập Đại hội phản đối, nên Điều lệnh quản lí tự miếu bị hủy bỏ, nhưng chính phủ lại công bố Điều lệnh giám đốc tự miếu gồm 13 điều để thay thế. Nhưng không ngăn chặn được phong trào cướp đoạt tài sản của chùa, các tỉnh vẫn dựa vào Điều lệnh cũ, tích cực tiến hành chính sách chiếm dụng chùa viện. Năm Dân quốc 18 (1929), Tổng hội Phật giáo Trung Hoa đổi tên gọi, cải tổ cơ cấu, thành lập Hội Phật giáo Trung hoa, tôn Đại sư Thái Hư làm Trị sự trưởng. Cuối năm Dân quốc 19 (1930) giáo sư Đại học Trung ương là Cáp sảng thu, 1 lần nữa, lại đưa ra phương án Miếu sản hưng học mà ông ta đã đề xuất năm Dân quốc 17 (1928), chủ trương Đả đảo tăng phiệt, giải tán tăng chúng, phân chia miếu sản, chấn hưng giáo dục. Tín đồ Phật giáo toàn quốc liền triệu tập hội nghị ở Thượng hải để tìm biện pháp đối phó, ngài Thái hư bèn soạn Thướng Quốc dân hội nghị đại biểu chư công ý kiến thư (Thư góp ý kiến gửi đến quí vị đại biểu hội nghị Quốc dân) gửi cho chính phủ, nhờ thế mới dẹp được phương án của Cáp sảng thu, đồng thời, chính phủ Quốc dân công bố huấn lệnh bảo hộ tự sản, từ đó phong trào miếu sản hưng học mới cáo chung. Biến pháp (nhà nước đổi lại các thứ chế độ) đã đẻ ra chế độ miếu sản hưng học, đem lại cho Phật giáo vô hạn khốn khổ, nhưng cũng mang đến cho tăng đoàn Phật giáo cơ hội tự giác, tự cứu. Các tỉnh huyện thành lập những hội giáo dục tăng, dùng tài sản của các chùa để phát triển giáo dục, các nhà lãnh đạo Phật giáo ở các địa phương cũng ý thức rõ rằng nếu không xây dựng trường học để mở mang giáo dục thì không thể bảo vệ được tài sản của chùa. Ngài Thủy dã Mai hiểu mở trường học tăng ở Trường sa, ngài Văn hi mở trường Phổ thông ở chùa Thiên Ninh tại Dương châu. Các ngài Kí Thiền, Tùng Phong, Hoa Sơn ở Chiết giang và ngài Giác Tiên ở Bắc Bình đều thiết lập học đường, trở thành những nhân vật lãnh đạo công cuộc mở mang học vấn cho chư tăng trong 1 thời. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử (Đông sơ)].

miền

Region.

miễn

To exempt—To excuse.

miễn chấp

To excuse—To forgive.

miễn cưỡng

Unwillingly—Reluctantly

miễn là

Provided that.

miễn nhân sự

(免人事) Lược bớt những lễ nghi chúc mừng hoặc thăm hỏi của đại chúng trong Thiền lâm, gọi là Miễn nhân sự. Tấm bảng dùng để dán tờ yết thị Miễn nhân sự hầu thông báo cho đại chúng biết, gọi là Miễn nhân sự bảng. Nếu vị Trụ trì làm thành bài tụng để báo cho đại chúng biết việc miễn nhân sự, thì gọi là Miễn nhân sự tụng. Điều Đông Niên Nhân Sự Trong Thiền Uyển Thanh Qui quyển 2 (Vạn 111, 444 hạ) chép: Trước tết 1 ngày, nếu Đường đầu có Miễn nhân sự thì nên dán thông cáo trước Tăng đường, đến tối, Khố ti tổ chức uống trà trong Tăng đường. [X. điều Khố ti tứ tiết đặc vị Thủ tọa đại chúng thang trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui Q.7].

miễn phí

Free of charge—No cost—No fee.

miễn thứ

To excuse—To forgive.

miễn trừ

See Miễn.

miễn tăng

Vị Tăng được miễn trong các buổi họp chúng hàng ngày vì bận các Phật sự khác—A monk whose attendance at the daily assembly is excused for other duties. ; (免僧) Những vị tăng vì bận rộn công vụ hoặc vì bệnh hoạn, được miễn tọa đường gọi là Miễn tăng. Trong Thiền lâm, trước khi thướng đường hành lễ, chúng tăng phải tọa thiền 1 thời gian ngắn trong Tăng đường để thu nhiếp tâm ý, gọi là Tọa đường. Nhưng vì công việc nên các chức vụ như: Phạn đầu (trông nom việc ăn uống), Trà đầu (phụ trách việc trà nước), Tịnh đầu (quét dọn nhà vệ sinh) v.v...hoặc những vị tăng bị bệnh, thì đặc biệt được miễn tọa đường. [X. môn Chức vị trong Thiền lâm tượng khí tiên loại 7].

miễn tố

To discharge—To acquit.

miễn tội

To pardon a fault.

miễn viễn nghênh phê

(免遠迎批) Miễn viễn nghinh, nghĩa là miễn cho đại chúng khỏi phải ra xa để đón rước; Phê chỉ cho mẩu giấy nhỏ trong đó có ghi việc cần thiết vắn tắt. Miễn viễn nghinh phê nghĩa là bức thư vắn tắt báo cho vị Trụ trì chùa nào đó biết trước khỏi phải cử đại chúng ra xa để đón rước, khi có vị tăng chuyên sứ đến. Theo điều Nhập viện trong Sắc tu Bách Trượng Thanh Qui quyển 3, khi vị chuyên sứ định đến 1 chùa nào đó, phải gửi thư báo trước vị Trụ trì biết và yêu cầu miễn cho đại chúng khỏi phải ra xa đón rước.

Miễn xuất

勉出; C: miǎnchū; J: mensui;|Cứu thoát ra khỏi, sự thoát khỏi, trả lại.

miễn đinh tiền

(免丁錢) Cũng gọi Thanh nhàn tiền. Tiền thuế do giới tăng sĩ và đạo sĩ nộp cho nhà nước để được miễn dịch vào thời Nam Tống, Trung Quốc. Miễn đinh nghĩa là miễn trừ đinh dịch. Phàm con trai đến 20 tuổi (tuổi đinh) phải thi hành nghĩa vụ quân dịch, nhưng tăng sĩ, đạo sĩ được phép nộp tiền hàng năm để thay thế. Từ đời Đường trở đi, chư tăng, đạo sĩ vốn được hưởng đặc quyền miễn nộp cả tô lẫn thuế. Nhưng vào năm Thiệu Hưng 15 (1145) đời vua Cao tông nhà Tống, quan dân phản đối việc này, nên từ đó tăng sĩ, đạo sĩ đều phải nộp thuế để lấy tiền khai khẩn tài nguyên mới. Thuế qui định Luật tăng mỗi năm nộp 5 quan, Thiền tăng, Đạo sĩ mỗi năm nộp 2 quan, Trụ trì, Trưởng lão, Pháp sư, Tử y, Tri sự v.v... lần lượt gia tăng, đến 15 quan là cao nhất. Tờ chứng minh thư mà nhà nước cấp cho những tăng sĩ đã nộp tiền miễn đinh, gọi là Miễn đinh sao, hoặc Miễn đinh do. Những vị tăng du phương tạm trú các nơi, phải mang theo Miễn đinh sao, nếu không xuất trình giấy này sẽ không được phép ở lại. [X. điều Thiệu Hưng Thập Ngũ Niên Trong Phật Tổ Thống Kỉ Q.17; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Tống hội yếu cảo Q.66; Kiến viêm dĩ lai hệ niên yếu lục Q.153].

miễu

Small shrine.

miệng

Mouth.

miệt

1) Vùng: Region. 2) Không: Without—Not. 3) Nhỏ: Small—Minute.

miệt lệ xa

Mleccha (skt). 1) Không phải chủng tộc Arya: Non-Aryan. 2) Những người man rợ: Barbarians.. 3) Những bộ tộc ở vùng biên địa: Frontier tribes.

miệt mài

To devote onseself to.

miệt thị

To disdain—To despite—To scorn.

mong

To expect and desire—To hope.

mong chờ

To wait for.

mong manh

Mỏng Mảnh—Không chắc chắn: 1) Small—Slender—With little hope. 2) Slim—Faint—Uncertain.

mong mỏi

To desire eagerly—To expect—To aspire.

mong đợi

See mong chờ.

mong ước

To wish—To hope.

mua

To buy—To purchase.

mua bán

To buy and sell.

mua danh

To buy a false reputation. (honour).

mua sầu chuốc não

To give oneself a lot of pains.

mua thù chuốc oán

To incur hatred.

Muraji

(連, Liên): một trong những dòng họ xưa nhất của Nhật, vào thời đại triều đình Đại Hòa (大和, Yamato), phần lớn các họ Shinbetsu (神別, Thần Biệt, dòng họ xem mình là con cháu của Thần) đều xưng như vậy. Các vị hào tộc có thế lực rất nhiều, có thể sánh ngang hàng với quan triều, nên hai họ Đại Bạn Muraji (大伴連) và Vật Bộ Muraji (物部連) thì được giao cho làm Ōmuraji (大連) và đảm đương việc triều chính.

muôn dân

All the people.

muôn phần

Extremely.

muôn thuở

Forever—Eternally.

muôn vàn

Countless—Inumerable—numberless.

muối

1) Salt. 2) To pickle—To salt.

muốn

To want—To desire—To wish.

muốn ăn ngon

To want to enjoy good food.

muồi

Ripe—To grow ripe.

muỗi

Mosquito.

muỗng

Spoon.

Muội

昧; C: mèi; J: mai; |1. Tối, mờ, không rõ, mờ mịt; 2. Bình minh, rạng đông; 3. Nén, che giấu, dành riêng (dùng làm việc gì); 4. Cắt.

muội

Ngu muội—Stupid—Fishy—Dark.

muộn

1) Muộn màng: Late—Tardy. 2) Phiền muộn: Melancholy (sầu muộn)—Depressed—Oppressed—Sad.

muộn màng

Late.

muộn sầu

See Sầu Muộn.

muời bốn phép vô úy

Fourteen Fearlessnesses—See Thập Tứ Vô Úy.

muời chỗ an trụ của chư đại bồ tát

(The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ an trụ của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được an trụ nhứt thiết trí vô thượng—According to The Flower Adornement Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of abiding of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the Buddhas' supreme abiding in omniscience. 1) An trụ tâm Bồ Đề, chưa từng quên mất: Abiding in the will for enlightenment, never forgetting it. 2) An trụ Ba La Mật, vì chẳng nhàm trợ đạo: Abiding in the transcendent ways, not tiring for fostering enlightenment. 3) An trụ thuyết pháp, vì tăng trưởng trí huệ: Abiding in the teaching of truth, increasing wisdom. 4) An trụ nơi bình thản vô tư, vì chứng đại thiền định: Abiding in dispassion, realizing great meditational concentration. 5) An trụ tùy thuận—Abiding in conformity to: • Nhứt thiết trí: Universal knowledge. • Đầu đà: Austerity. • Tri túc: Contentment. • Điều tiết trong ăn, mặc, và ở: Moderation in food, clothing, and dwelling. • Diệt bỏ những điều ác: Getting rid of evil. • Few desires mean few concerns: Thiểu dục thiểu sự. 6) An trụ thâm tín, vì gánh vác chánh pháp: Abiding in deep faith, bearing the true Teaching. 7) An trụ thân cận các Đức Như Lai, vì học Phật oai nghi: Abiding in the company of the enlightened, to learn the conduct of Buddhas. 8) An trụ xuất sanh thần thông, vì viên mãn đại trí: Abiding in generation of spiritual powers, to fulfill great knowledge. 9) An trụ đắc nhẫn, vì viên mãn thọ ký: Abiding in attainment of acceptance, fulfilling the forcast of enlightenment. 10) An trụ đạo tràng, vì đầy đủ thập lực, vô úy và tất cả Phật pháp: Abiding in the site of enlightenment, fulfilling powers, fearlessness, and all aspects of Buddhahood.

muời hai con giáp

The twelve animals which represent the twelve months of a year, which also represent the 24 hours of a day—See Thập Nhị Thú.

muời lưỡi của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lưỡi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát thành tựu những pháp nầy thời được lưỡi vô thượng trùm khắp tất cả Phật độ của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of tongue of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who accomplish these will acquire the supreme tongue of Buddhas, which covers all Buddha lands. 1) Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận hạnh chúng sanh: A tongue that reveals and explains the acts of infinite sentient beings. 2) Lưỡi khai thị diễn thuyết vô tận pháp môn: A tongue that reveals and explains infinite doors to truth. 3) Lưỡi tán thán công đức vô tận của chư Phật: A tongue that sings the praises of the infinite virtues of Buddhas. 4) Lưỡi diễn xướng từ biện vô tận: A tongue of infinite eloquence. 5) Lưỡi khai xiển Đại thừa trợ đạo: A tongue that expounds aids to the Path of the Great vehicle. 6) Lưỡi trùm khắp hư không: A tongue that covers all space. 7) Lưỡi chiếu khắp tất cả cõi Phật: A tongue that illuminates all Buddha-fields. 8) Lưỡi làm cho tất cả chúng sanh được tỏ ngộ: A tongue that awakens the understanding of all sentient beings. 9) Lưỡi làm cho chư Phật hoan hỷ: A tongue that causes all to praise the Buddhas. 10) Lưỡi hàng phục chúng ma ngoại đạo, diệt trừ tử sanh phiền não, và làm cho đến Niết bàn: A tongue that defeats all demons and false teachers, destroys all afflictions of birth and death, and fosters arrival at nirvana.

mà cả

Mặc cả—To bargain.

mài

To sharpen.

mài miệt

To be absorbed in—To give oneself up to something—To devote oneself to.

màn

Curtain.

màn che

Protective screen.

màn khói

Black screen (curtain).

màn sương

Curtain (veil) of mist.

màn đen

Black curtain.

màng

To take into account.

mành mành

Blind—Curtain.

màu

Color.

màu mè

To give oneself airs.

mày

Eyebrows.

mày mạy

Vaguely.

mày râu

1) Eyebrows and beard. 2) Man.

1) Chửi mắng: To scold—To blame. 2) Gò má: Cheek. 3) Mẹ: Mother.

má hồng

1) Rosy cheeks. 2) Woman.

má lúm đồng tiền

Dimpled cheeks.

mái

1) Mái nhà: Roof. 2) Con mái (gà): Female (hen).

mánh lới

Trick.

mát

Cool—Fresh.

mát mẻ

See Mát.

máu

Blood.

máu mặt

Fairly rich.

máu mủ

Kinship.

máy

Machine.

mâm

Tray.

mân nam phật học viện

(閩南佛學院) Viện Phật học ở chùa Nam Phổ đà, thành phố Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, Trung quốc, được sáng lập vào năm 1925 là một trong những Phật học viện hiện đại tại Trung quốc. Viện tổ chức chế độ học tập mỗi khóa 3 năm. Viện trưởng đầu tiên là ngài Hội tuyền, trụ trì chùa Nam Phổ đà. Năm Dân quốc 16 (1927), sau khi giữ chức vụ Viện trưởng kế tiếp, Đại sư Thái hư thành lập thêm Tích lan lưu học đoàn ở chùa Nam sơn, Chương châu và đổi trường Nam sơn thành Phật học viện Mân nam thứ 2. Năm Dân quốc 19 (1930) lại lập thêm Bộ Nghiên cứu. Sau khi Đại sư Thái hư từ chức thì ngài Thường tỉnh (1896-1939) kế nhiệm Viện trưởng.

mâu hô lạc

Mahoraga (skt)—Ma Hưu Lặc—Ma Hầu La Già—See Mahoraga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mâu hô lật đa

Muhurta (skt). 1) Khoảng thời gian một ngày một đêm: A period of a day and a night. 2) Khoảng thời gian 48 phút: A period of forty-eight minutes. 3) Một khoảng thời gian ngắn: A brief space of time.

mâu la tam bộ lư

Mulasthanapura (skt)—Vùng mà bây giờ gọi là Multan—The modern Multan.

Mâu Ni

(s, p: muni, 牟尼): âm dịch là Tịch Mặc (寂默), Thánh Giả (聖者), Hiền Nhân (賢仁), hay người thực hành hạnh im lặng. Trong Phật Giáo, Thích Ca Mâu Ni (s: Śākyamuni, p: Sakyamuni,釋迦牟尼) là bậc thánh của dòng họ Thích Ca; cho nên khi dùng chữ Mâu Ni thì có nghĩa là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

mâu ni

Muni or Mahamuni (skt)—Sakyamuni—See Thích Ca Mâu Ni Phật. ; (牟尼) I. Mâu Ni. Phạm: Pàli: Muni. Cũng gọi Văn ni, Mậu nê. Hán dịch: Tịch mặc, Tịch, Hiền nhân, Nhân, Tiên. Chỉ cho bậc Thánh hoặc tiên nhân tôn quí, thù thắng. Từ Mâu Ni đã thấy xuất hiện vào cuối thời đại Lê câu phệ đà ở Ấn Độ xưa, nghĩa là nhận lãnh linh cảm, hoặc chỉ cho bậc Thánh, người ẩn dật, người tiên, người tu hạnh vắng lặng v.v... Đến thời đại Áo nghĩa thư thì từ Mâu Ni được dùng để chỉ cho người tu hành ở thời kì lâm thê (ẩn tu trong rừng) thứ 3 và đặc biệt chỉ cho bậc Thánh đã khai ngộ ở thời kì du hành khất thực thứ 4 trong 4 Trụ kì (Phạm: Àzrama) của Bà la môn giáo. Trong Mật giáo, từ Mâu Ni cũng có các nghĩa: Bậc Thánh, tiên nhân, người tu hạnh vắng lặng... Theo sự giải thích trong Huyền ứng âm nghĩa quyển 18, thì Mâu Ni là người tu tâm học đạo, đã thông suốt nội ngoại, ẩn cư lâu ngày trong rừng núi. Trong Pháp sắc của vua A Dục có khuyên người xuất gia, tại gia đọc tụng 7 kinh, trong đó, Mâu Ni kệ (Phạm: Muni-gàthà) có lẽ là Mâu Ni kinh (Munisutta) trong Kinh Tập bảnPàli, cho rằng Mâu Ni là Tỉ khưu chân thực. Còn kinh Pháp cú thứ 268, 269 bản Pàli thì gọi người làm thiện lánh ác là Mâu Ni. Tiểu bộ kinh nghĩa thích bản Pàli cho rằng người có trí tuệ, tri giải là Mâu Ni và phân biệt 6 bậc Mâu Ni: Tại gia Mâu Ni, Phi tại gia Mâu Ni, Hữu học Mâu Ni, Vô học Mâu Ni, Bích chi Mâu Ni và Mâu Ni Mâu Ni. II. Mâu Ni. Phạm: Mauna. Pàli:Mona. Cũng gọi Mâu na. Là hình dung từ Mâu Ni. Cũng chỉ cho trí, tức là tính chất của Mâu Ni. Theo Tiểu bộ kinh nghĩa thích, trí Mâu Ni bao gồm: Tuệ, tri giải, giản trạch, tư sách, hiền minh, thiện xảo, biện biệt, tuệ đăng, chính kiến v.v... [X. kinh Ưu Ba Li trong Trung bộ bản Pàli]. III. Mâu Ni. Phạm: Mauneya.Pàli: Moneyya. Cũng gọi Mâu Ni Vị, Mâu Ni Tính, Mâu Ni Hạnh, Tịch Mặc. Tức là lí Mâu Ni. Trung Quốc và Nhật Bản xưa nay thường cho rằng Muni thuộc về sự Mâu Ni, còn Mauneya thuộc về lí Mâu Ni. Về lí Mâu Ni thì từ thời Phật giáo nguyên thủy đến nay có thuyết Tam Mâu Ni (Pàli: Tìni moneyyàni), Hán dịch là Tam tịch mặc, đó là: Thân Mâu Ni, ngữ Mâu Ni và ý Mâu Ni. Cứ theo sự giải thích trong luận Tập dị môn túc quyển 6, thì thân luật nghi của bậc Vô học là thân tịch mặc, ngữ luật nghi của bậc Vô học là ngữ tịch mặc và tâm của bậc Vô học là ý tịch mặc. [X. luận Câu Xá Q.16; luận Thành Duy Thức Q.10; Đại Nhật Kinh Sớ Q.1,12; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q.10 phần cuối; Tông Luân Luận Thuật Kí].

mâu ni thất lợi

Munisri (skt)—Tên của một vị cao Tăng thuộc vùng Bắc Ấn vào thế kỷ thứ năm—Name of a noted monk from northern India in the fifth century. ; (牟尼室利) Phạm: Munizrì. Cũng gọi Tịch mặc. Cao tăng, người miền Bắc Ấn Độ, đến Trung Quốc vào đời Đường. Sư là người có độ lượng, chân thật, tinh thần cao thượng. Năm Trinh nguyên thứ 9 (793) đời vua Đức tông, sư từ chùa Na Lan đà đến Trung Quốc. Năm Trinh nguyên 16 (800) sư trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường An. Năm Trinh nguyên 19 (803) sư dời đến chùa Sùng Phúc, chùa Lễ Tuyền, sau, sư lại trụ ở chùa Đại Từ Ân. Trong các bản kinh tiếng Phạm do ngài Huyền Trang thỉnh về, sư dịch được bộ kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni 10 quyển. Sư còn dâng lên vua bức Lục trần thú đồ, nhà vua vui mừng và cúng dường rất trọng hậu. Niên hiệu Nguyên Hòa năm đầu (806) sư tịch ở chùa Đại Từ Ân. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q.13].

mâu ni vương

Vua của chư Tăng, một danh hiệu của Phật—The monk-king, a title of the Buddha.

mâu sa lạc

Musaragalva (skt)—Ma Sa La. 1) Một loại san hô trắng: A kind of white coral. 2) Mã Não: Corneilian—Agate (mother of pearl). It is one of the seven kinds of precious stone (sapta-ratna).

mâu thuẫn

Vipratishedha (skt)—Conflict—Contradictory—Contrariety—Mâu thuẫn cá nhân: Personal conflict

mâu tông tam

(牟宗三) Học giả người Trung Quốc, quê ở huyện Thê Hà, tỉnh Sơn Đông, tự là Li Trung. Ông từng dạy triết học tại các trường Đại học: Hoa Tây, Trung Ương, Kim Lăng, Chiết Giang, Đài Loan sư phạm, Đông Hải và Đại học Trung văn Hương cảng. Ông không những giỏi về triết học Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo mà còn có kiến giải độc đáo về triết học Tây phương như Hegel, Kant v.v... Ông có các tác phẩm: Nhận thức tâm chi phê phán, Tài tính dữ huyền lí, Tâm thể dữ tính thể, Phật tính dữ Bát Nhã.

Mâu Tử

牟子|sinh khoảng năm 165-170, được xem là Luận sư đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm quan trọng của Sư còn được nhắc lại là Lí hoặc luận (luận giải cho những nghi ngờ về đạo Phật).

mâu tử

(牟子) I. Mâu Tử. Danh nhân Trung Quốc, người quận Thương ngô, sống vào cuối đời Đông Hán, họ Mâu, tên Dung. Ban đầu ông học Nho, nghiên cứu các kinh truyện, ông cho rằng các sách nói về thần tiên đều là những truyện hư cấu hoang đường. Sau khi vua Linh đế nhà Đông Hán băng hà (189), thiên hạ loạn lạc, ông cùng thân mẫu lánh nạn sang đất Giao chỉ (nay là Bắc bộ của Việt nam), năm 26 tuổi ông mới trở về Thương ngô. Sau khi thân mẫu qua đời, ông phát tâm qui y Phật giáo, đồng thời nghiên cứu Lão tử, Ngũ kinh. Bấy giờ, các nhà Nho thấy ông học Phật, nhiều người bàn tán về ông, ông liền soạn sách Lí Hoặc Luận để biện bác. Cứ theo Hoằng Minh tập quyển 1, thì tác giả của Lí Hoặc Luận là Mâu Tử Bác, Thái thú quận Thương Ngô. Thành ra, vấn đề Mâu Tử Bác và Mâu Dung có phải cùng là 1 người hay không thì vẫn chưa có định luận. [X. Phật Tổ Thống Kỉ Q.35]. II. Mâu Tử. Tên sách. Gọi đủ: Mâu Tử Lí Hoặc Luận. (xt. Lí Hoặc Luận).

mâu đà la

Mardala or Mrdanga (skt)—Một loại trống được diễn tả là có ba mặt—A kind of drum described as having three faces.

Mâu-ni

牟尼; S, P: muni; nghĩa là Thánh nhân, Trí giả, người có trí huệ; |Danh từ chỉ người đã đạt được thánh quả, đã đắc đạo. Thời đức Phật Thích-ca, danh từ Mâu-ni cũng được sử dụng chỉ người tu hạnh không nói (tịnh khẩu).

mây

Cloud.

mây ngũ sắc

Clouds of five colors—Mây năm màu. Người ta nói mây nầy chỉ hiện ra nơi nào có bậc Thánh Nhân trú ngụ mà thôi—It is said that this type of cloud appears only in area where there is a saintly being.

1) Con ngựa: Asva (skt)—A horse. 2) Mã não (một trong thất bảo): Agate, one of the seven treasures. 3) Vẻ bề ngoài: Appearance.

mã bảo

(馬寶) Ngựa quí, 1 trong 7 thứ báu của Chuyển luân Thánh vương. Cứ theo sự ghi chép thì Mã vương bà la hê ở trong biển lớn, có 8 nghìn quyến thuộc, nếu Chuyển luân Thánh vương ra đời thì sẽ nhận được của báu nhỏ nhất là Mã bảo. Hoàng hậu Vũ tắc thiên đời Đường từng bắt chước việc này mà đặt 7 vật báu trong triều đình. [X. kinh Tứ châu trong Trung a hàm Q.11; Kinh luật dị tướng Q.47]. (xt. Thất Bảo).

mã chủ quốc

(馬主國) Một vùng đất ở phía bắc núi Tuyết. Cứ theo Thích ca phương chí quyển thượng chép, thì vùng đất ở mạn bắc Hi mã lạp sơn, khí hậu rất lạnh, thích hợp cho loài ngựa sinh trưởng, có nhiều ngựa hay, nên gọi là Mã chủ quốc. Người dân xứ này tính tình hung bạo, tàn nhẫn, phần nhiều mặc áo may bằng da và lông của động vật. [X. Đại đường tây vực kí Q.1].

mã lai tây á phật giáo

(馬來西亞佛教) Mã lai tây á, Phạm: Malaya. Hán âm: Ma lại da. Cũng gọi Mã lai á. Hán dịch: Sơn (núi). Vào thế kỉ thứ V, IV trước Tây lịch, người Ấn độ đã đến vùng Đông Namá để buôn bán, du nhập và truyền bá văn hóa. Vào thời vua A dục, Phật giáo Ấn độ cực thịnh, vua A dục phái các đoàn Pháp quan đi truyền giáo các nơi, theo truyền thuyết, 2 ngàiTu na và Uất đa la được phái đến nước Kim địa, tức nay là vùng đất từ hạ Miến điện đến Mã lai á. Truyện Phù nam trong Lương thư quyển 54, truyện Bàn bàn trong Cựu đường thư quyển 197 và Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 1 chép rằng, nước Bàn bàn rất kính tin Tiều thừa. Nước Bàn bàn nói ở đây có lẽ là bán đảo Mã lai hiện nay. Ngoài ra, các nội, ngoại điển đều ghi những khu vực Phật giáo thịnh hành như: Đan đan,Yết đồ, Phật la an, Cát lan đan, Bồng phong v.v... tất cả đều ở trên bán đảo Mã lai ngày nay. Vào đầu thế kỉ XV, do vương triều Ma lục giáp nổi lên, sùng tín Hồi giáo nên Phật giáo thời kì đầu ở Mã lai suy vong. Năm 1887, pháp sư Diệu liên sáng lập chùa Cực lạc ở Tân thành, là người tiên phong chính thức mở ra phong trào hoằng truyền Phật pháp. Rồi đến Pháp sư Bản trung thành lập Niệm Phật Liên Xã, là Liên xã đầu tiên ở quần đảo Nam dương. Pháp sư Phương liên sáng lập học viện Bồ đề, đồng thời mở các trường Tiểu học, Trung học Bồ đề, cổ xúy nền giáo dục Phật hóa. Pháp sư Từ hàng từng giảng dạy ở học viện Bồ đề, đứng ra thành lập hội Phật học, mở rộng việc nghiên cứu Phật học. Hòa thượng Hư vân cũng từng đến Mã lai hoằng pháp, có hơn vạn người qui y ngài. Pháp sư Tô mạn ca la người Hoa kì là người đầu tiên tổ chức đoàn Thanh niên Phật giáo và trường học dạy Phật học định kì hàng tuần ở xứ này. Năm 1955, pháp sư Trúc ma tổ chức hội Phật giáo Mã lai á, đến năm 1969 đổi tên là Tổng hội Phật giáo Mã lai á. Hiện nay pháp sư Kim minh là Hội trưởng Tổng hội Phật giáo Mã lai. Năm 1970, Tổng hội Thanh niên Phật giáo Mã lai được thành lập, là tổ chức Phật giáo có tính cách toàn quốc rất quan trọng ở Đại mã, hiện là tổ chức năng động nhất và có hơn 100 chi hội hoạt động trên khắp nước. Viện Phật học Mã lai xuất bản tạp chí Vô tận đăng, mở các phòng phát thuốc miễn phí, thư viện và hội hoằng pháp có định kì vào các ngày chủ nhật. Ở Bắc Mã lai thì có Phật học viện Tân thành, Phật học viện Cát đả, ở bờ biển phía đông thì có hội Phật giáo Cát lan đan, hội Phật giáo Đinh gia nô, phía Đông Mã lai có hội Phật giáo Sa lao việt, hội Từ vân Phật giáo chính truyền. Các nước Phật giáo Nam truyền như: Tích lan, Thái lan, Miến điện đều có các sư đến Mã lai hoằng pháp. Năm 1962, lễ Phật đản được chính phủ phê chuẩn là ngày nghỉ chung cả nước, tín đồ Phật giáo trên toàn quốc đều long trọng tổ chức mừng ngày lễ lớn này. [X. Mã lai tây á tảo kì Phật giáo khảo lược (Tịnh hải); Độc lập hậu đích Mã lai tây á Phật giáo khái huống (Kế trình, Phổ môn tạp chí số 42)].

mã lang phụ quan âm

(馬郎婦觀音) Hóa thân của bồ tát Quan âm làm vợ chàng họ Mã, là 1 trong 33 tướng ứng hóa của Ngài. Dân chúng vùng Thiểm tây Trung quốc chỉ quen cỡi ngựa bắn cung chứ chưa từng nghe nói đến Tam bảo. Năm Nguyên hòa 12 (817, có thuyết nói năm thứ 4-809) đời vua Hiến tông nhà Đường, một hôm có người con gái xinh đẹp xách giỏ cá đi bán, nhiều người tranh nhau xin lấy làm vợ. Cô gái nói rằng (Đại 49, 833 trung): Nếu ai trong 1 buổi chiều tụng được phẩm Phổ môn thì tôi xin theo hầu người ấy. Sáng hôm sau có 20 người tụng được. Cô gái lại trao cho họ kinh Kim cương và cũng hứa như trên, vẫn còn 10 người tụng được, nàng lại đưa cho họ bộ kinh Pháp hoa và hẹn trong 3 ngày phải tụng được. Đến kì hạn, chỉ có chàng họ Mã là tụng được, đúng theo nghi lễ, chàng họ Mã đến rước cô gái về nhà, nhưng nàng viện cớ có bệnh, xin được nằm ở phòng riêng. Chốc lát sau, nàng chết, thân thể rữa nát, Mã lang đành mang đi chôn. Mấy hôm sau, có vị lão tăng mặc áo đỏ đến nơi chôn cất người con gái và bảo mọi người đào lên xem thì chỉ thấy bộ xương sườn màu vàng ròng còn lại trong quan tài. Lão tăng nói với mọi người rằng: Đây là Quan âm Đại sĩ, vì thương xót các người nghiệp chướng sâu nặng nên Ngài dùng phương tiện để giáo hóa đó thôi. Nói xong lão tăng bay mất. Từ ngày ấy, vùng Thiểm tây có nhiều người tin theo Phật và từ đời Tống trở đi tín ngưỡng Mã lang phụ Quan âm rất thịnh hành. Nhưng đời sau thường lầm lẫn Mã lang phụ Quan âm với Ngư lam Quan âm. [X. Pháp hoa kinh hiển ứng lục Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.41].

mã luận

(馬論) Chỉ cho luận Đại thừa khởi tín, vì bộ luận này do ngài Mã minh soạn. (xt. Đại Thừa Khởi Tín Luận).

mã lạp lạp tây khắc lạp

(馬拉拉西克拉) Gunapala Piyasena Malalasekera (1899-1973) Học giả Phật giáo Tích lan, đậu Tiến sĩ Văn học, Triết học tại Đại học Luân đôn, nước Anh. Ông là vị Đại sứ Tích lan đầu tiên tại Liên xô và là chuyên viên cao cấp của Tích lan tại Luân đôn nước Anh.Về sự nghiệp Phật giáo, ông từng làm giáo sư ở Đại học Tích lan và Viện trưởng viện Đông phương học. Năm 1950, ông triệu tập đại biểu Phật giáo của 29 quốc gia trên thế giới đến tham dự Đại hội Phật giáo đồ thế giới lần thứ nhất diễn ra tại thủ đô Colombo của Tích lan, để thành lập hội Liên nghị Phật giáo đồ thế giới (World Fellowship of Buddhists) và ông được bầu làm Hội trưởng của tổ chức này. Về sau ông được bầu lại làm Hội trưởng 4 nhiệm kì liên tiếp, làm cho hội này phát triển đến các quốc gia trên thế giới. Sau khi về hưu, ông du hành đến các nước như: Anh, Ấn độ, Thái lan, Nhật bản, Hạ uy di, Âu châu, Mĩ châu để giảng diễn về Phật học. Ông là nhân vật quan trọng trong phong trào vận động chấn hưng Phật giáo ở Tích lan thời hiện đại. Ông có các trứ tác: Tích lan Pàli ngữ văn hiến, Pàli ngữ danh từ tự điển, Phật giáo dữ chủng tộc vấn đề. Ngoài ra, ông còn chủ biên bộ Phật giáo bách khoa toàn thư (Encyclopedia of Buddhism) bằng tiếng Anh, nhưng rất tiếc là chưa hoàn thành thì ông đã qua đời vào năm 1973.

Mã Minh

馬鳴; S: aśvaghoṣa;|Nhà thơ và luận sư Ðại thừa người Ấn Ðộ, sống giữa thế kỉ 1 và 2, được xem là một trong những luận sư quan trọng nhất của Phật giáo. Tác phẩm quan trọng nhất của Mã Minh là bộ Hi khúc Xá-lị tử, Phật sở hạnh tán, một tác phẩm diễn tả cuộc đời đức Phật, bộ Tôn-già-lợi Nan-đà. Sư cũng đươc xem là tác giả của bộ Ðại thừa khởi tín luận.|Ðầu tiên, Mã Minh theo đạo Bà-la-môn và được một vị tăng tên là Bà-lật-thấp-bà (s: pārśva) đưa vào đạo Phật. Các tác phẩm của Sư đọc rất dễ hiểu và có nhiều ẩn dụ. Thí dụ như chuyện Tôn-già-lợi Nan-đà »chàng trai tuấn tú Nan-đà« người tuy đã vào chùa đi tu nhưng vẫn còn thương yêu người vợ. Chỉ sau nhiều lần giảng dạy của Phật, chàng mới hết nghiệp yêu thương và sống viễn li. Mã Minh được xem là một trong bốn vị minh triết Phật giáo, được xếp vào »bốn mặt trời chiếu rọi thế giới«. Ba vị kia là Thánh Thiên, Long Thụ và Cưu-ma-la-đa (s: kumāralāta), một Ðại sư của Kinh lượng bộ.|Các tác phẩm được liệt kê dưới tên Mã Minh: 1. Ðại thừa khởi tín luận (mahāyānaśraddhotpāda-śāstra); 2. Phật sở hạnh tán (buddhacarita-kāvya); 3. Ðại tông địa huyền văn bản luận (mahāyānabhūmiguh-yavācāmūla-śāstra); 4. Ðại trang nghiêm kinh luận (mahālaṅkāra-sūtra-śāstra); 5. Ni-kiền tử vấn vô ngã nghĩa kinh; 6. Thập bất thiện nghiệp đạo kinh (daśaduṣṭakarmamārga-sūtra); 7. Sự sư pháp ngũ thập tụng; 8. Lục đạo luân hồi kinh; 9. Hi khúc Xá-lị tử (śāriputraprakaraṇa); 10. Tôn-già-lợi Nan-đà (saudarananda-kāvya).

mã minh

(馬鳴) Phạm: Azvaghowa. Đại thi hào Phật giáo, người ở thành Sa chỉ đa, nước Xá vệ, Trung Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ II Tây lịch, Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn độ, có quan hệ rất sâu đậm với vua Ca nị sắc ca của Vương triều Quí sương. Ngài xuất thân từ dòng dõi Bà la môn, trong 1 gia đình bác học truyền thống. Mới đầu, ngài tu tập theo pháp ngoại đạo, sau, trong 1 cuộc tranh luận với Hiếp tôn giả, do có chỗ cảm ngộ mà qui y Phật giáo. Ngài học hết Tam tạng, thông suốt nội ngoại điển, là người tiên phong trong nền văn học tiếng Phạm cổ điển, mở đầu nền văn học Văn thể (Phạm: Kàvya) đẹp đẽ, để lại danh tiếng bất hủ trong lịch sử văn học tiếng Phạm. Ngoài văn tài, ngài còn có đức hạnh cao siêu, nên được tôn xưng là Bồ tát. Hành trạng của ngài được ghi chép rõ ràng trong Mã minh bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập dịch và được thu vào Đại chính tạng tập 50. Ngài để lại các tác phẩm: Phật sở hành tán, Tôn đà la nan đà thi, Xá lợi phất chi sở thuyết, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Kim cương châm luận, Kiền trĩ Phạm tán. Ngoài ra, theo Phật giáo Tây tạng thì ngài Ma trất lí chế đa (Phạm: Màtfceỉa) nói trong Đa la na tha Phật giáo sử cũng là bồ tát Mã minh. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.7; Mã minh bồ tát truyện; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.5].

mã minh bồ tát

See Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (馬鳴菩薩) Mã minh, Phạm: Azvaghowa. I. Mã Minh Bồ Tát. Cũng gọi: Tàm thần (thần tằm). Vị Bồ tát được Mật giáo tôn thờ, trông coi che chở cho sự sinh nở của tằm để tạo ra tơ lụa may y phục cho những chúng sinh không có y phục. Về hình tượng thì vị thần này hiện tướng Bồ tát, mình màu da người, chắp 2 tay, ngồi trên hoa sen trắng, cỡi ngựa trắng, mặc áo trắng, đeo chuỗi anh lạc, đầu đội mũ hoa, chân phải thõng xuống. Còn theo A sa phược sao, Tôn dung sao và Biệt tôn tạp kí thì hình tượng vị tôn này ngồi trên hoa sen xanh, cỡi ngựa trắng, có 6 tay, tay thứ nhất bên trái đặt trên đầu gối, cầm cái guồng quay tơ; tay thứ 2, ngửa lòng bàn tay, bấm ngón cái vào ngón giữa và ngón vô danh, tay thứ 3 đặt cạnh vai, cầm sợi tơ; tay thứ nhất bên phải ngửa lòng bàn tay, cầm ống sáo, tay thứ 2 kết ấn Dữ nguyện, tay thứ 3 cầm cái cân. Phép cúng tế vị thần này gọi là Mã minh pháp. [X. Tất đàm tạng Q.1; điều Tàm mã đồng bản trong Thử phác Q.hạ]. II. Mã Minh Bồ Tát (khoảng 100-160). Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn độ. Ngài là vị đại luận sư và là thi nhân nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. (xt. Mã Minh).

mã minh tự

(馬鳴寺) Chùa ở huyện Bác hưng, tỉnh Sơn đông, Trung quốc, do pháp sư Căn (?-523) sáng lập. Cứ theo Ngụy cố Căn pháp sư bi thì pháp sư Căn nổi tiếng ngang với các vị Cao tăng như: Cưu ma la thập, Tăng lãng v.v... Học trò ngài nhóm họp nghiên cứu nghĩa học và tu tập thiền định ở đây. Điều đáng chú ý là tên chùa Mã minh, vì ngài Chân đế dịch bộ luận Đại thừa khởi tín của ngài Mã minh vào năm Thừa thánh thứ 2 (553) đời vua Nguyên đế nhà Lương, thì chùa này đã được sáng lập trước đó 30 năm rồi. Cứ đó suy ra thì biết tên ngài Mã minh đã được các vị Cao tăng dịch kinh như các ngài: Phật đà phiến đa, Bồ đề lưu chi v.v... truyền vào Trung quốc trước khi chùa Mã minh được xây cất, cho nên người Trung quốc mới biết tên của vị Đại luận sư Mã minh của Ấn độ, chứ không phải sau khi ngài Chân đế dịch bộ luận Đại thừa khởi tín mới biết đến 2 chữ Mã minh.

mã minh tỳ kheo

Se Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mã minh đại sĩ

See Asvaghosa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mã mạch

Lúa mạch làm thức ăn cho ngựa. Vào một mùa hè, Đức Phật nhận lời của một vị vua Bà La Môn là A Kỳ Đạt cùng 500 vị Tỳ Kheo đến để an cư trong nước của vị vua nầy. Trong ba tháng đó nhà vua chỉ cho Phật và Tăng đoàn ăn lúa mạch của ngựa. Đây là một trong 10 khổ nạn của Đức Phật—Horse-grain, Buddha's food when he spent three months with the Brahmin ruler Agnidatta with 500 monks, one of his ten sufferings. ; (馬麥) Lúa dùng cho ngựa ăn. Đức Phật từng nhận lời thỉnh cầu của vua A kì đạt đến nước ấy kết hạ an cư, nhưng nước ấy gặp nạn mất mùa đói kém, lúa gạo rất hiếm, cho nên Phật và 500 đệ tử phải ăn lúa nuôi ngựa trong 3 tháng an cư do người buôn bán ngựa cúng dường. Đây là 1 trong 10 nạn của đức Phật. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6; Thiện kiến luật tì bà sa Q.5].

mã nhĩ ba

(馬爾巴) Tạng: Mar-pa. Cao tăng Tây tạng, người La lạp cách (Tạng:Lho-brag), Nam Tạng, là tổ khai sáng của phái Ca nhĩ cư (Tạng:Bka-brgudpa), trong Phật giáo Tây tạng. Lúc còn nhỏ, sư lễ ngài Bát xá tinh làm thầy, nhưng đến năm 15 tuổi thì ông thân sinh đưa sư đến xin làm đệ tử ngài La khắc di (Tạng: Fbrog-mì). Vì muốn trở thành vị tăng dịch kinh nên sư chuyên tâm học tiếng Phạm và du học Ấn độ. Sau khi trở về Tây tạng, sư lại đến Nepal ở 3 năm. Trong thời gian này, sư cố gắng học tập các loại Đát đặc la (Phạm: Tantra). Lại nhờ sự chỉ dẫn của ngài Phan đạt phạ đề ca (Phạm: Paiịđapàtika) ở Nepal, sư tôn ngài Na lạc ba (Tạng: Nà-ro-pa) làm thầy, được ngài trực tiếp trao truyền các nghĩa bí mật như: Hô kim cương (Phạm: Hevajra), Thành tựu pháp, Cứu cánh thứ đệ (Phạm: Utpanna- Krama) v.v... Ngoài ra, sư và ngài Kiệt nhã na cát lỗ ba (Phạm: Jĩànagarbha) là giáo thụ sư Đại thừa, cùng học Đát đặc la của Tập hội bí mật (Phạm: Guhyasamàja), rồi sư lại được ngài Na lạc ba giảng dạy cho các nghĩa bí áo như: Đăng tác minh (Phạm: Pradìpodyotana-nàma-ỉìkà), cho đến Đại huyễn luân (Phạm:Mahàmàyà-cakra). Sau khi thành tựu việc học, sư trở về Tây tạng sáng lập phái Ca nhĩ cư. Sau, sư nghe danh tiếng ngài Di đặc lợi (Phạm: Maitrì), sư lại đến Ấn độ học giáo pháp Đại thủ ấn (Phạm: Mahàmudrà ) và chứng được trí trực quán. Sau khi về nước, sư lại đến Nepal tìm cầu các bậc danh sư học được các giáo nghĩa. Trên đường trở về quê hương, sư mộng thấy ngài Sa la ha (Phạm: Saraha) truyền cho nghĩa bí mật, sư liền phát sinh chân trí và tỏ ngộ toàn thế giới là nhất vị. Năm 1097 sư thị tịch, thọ 86 tuổi. Đệ tử nối pháp là Mật lặc nhật ba (Tạng:Mi-laras-pa). [X. J.Bacot: La Vie de Marpa; G.N. Roerich: The Blue Annals, 2 vols.; S.C.Das: Pag Sam Jon Zang; Ch.Bell: The Religion of Tibet (Kiểu bản Quang bảo dịch: Lạt ma giáo Tây tạng)].

mã nhĩ sơn

Asvakarna (skt)—Tiếng Phạn âm là Ngạch Thấp Phược Yết Nô, tức núi Cửu Sơn, dáng núi hình như tai ngựa, một trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu-Di—One of the seven concentric rings around Mount Meru. ; (馬耳山) Phạm: Azvakarịa. Là 1 trong 9 núi, 1 trong 7 núi vàng theo thế giới quan của Ấn độ thời xưa. Vì hình dáng của núi giống như tai ngựa nên gọi là Mã nhĩ sơn. (xt. Cửu Sơn Bát Hải).

Mã Não

(瑪瑙, agate): tên gọi của một trong 7 loại trân báu (vàng [金], bạc [銀], Lưu Ly [琉璃], Xa Cừ [硨磲], Mã Não [瑪瑙], San Hô [珊瑚] Hổ Phách [琥珀]). Có thuyết cho rằng ngoại hình nguyên thạch của mã não giống y hệt não bộ con ngựa, nên có tên gọi như vậy. Trong kinh điển Phật Giáo hay Cựu Ước Thánh Kinh đều có ghi rõ sự tích của mã não. Nó là một loại khoáng vật, thuộc loại Ngọc Tủy (玉髓). Từ xưa đến nay, Mã Não được con người rất ưa chuộng, yêu thích, được xếp vào một trong 7 loại báu. Do nó có vân và sắc màu mỹ lệ, từ ngàn xưa người ta đã dùng nó làm đồ trang sức; như trong một số di vật được khai quật lên, thường thấy có những xâu chuỗi hột Mã Não tròn. Tại Trung Quốc, hầu hết các tỉnh đều có loại khoáng vật quý hiếm này, nhiều nhất là ở các địa phương Hắc Long Giang (黑龍江), Liêu Ninh (遼寧), Hồ Bắc (湖北), v.v. Trên thế giới, có nhiều ở Âu Châu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á. Nơi nổi tiếng nhất về Mã Não là Ấn Độ, Ba Tây (Brazil), v.v. Sắc màu của nó rất phong phú, nhiều loại khác nhau, nhưng màu hồng là quý hiếm nhất; cho nên trong Cách Cổ Yếu Luận (格古要論) có câu rằng: “Mã Não vô hồng nhất thế cùng (瑪瑙無紅一世窮, Mã Não không hồng một đời hết).” Tuy là màu hồng nhưng nó vẫn có các màu khác nhau như thuần hồng, hồng tía, hồng đậm, hồng nhạt, hồng vàng, hồng trắng, v.v. Từ đó, người xưa thường gọi Mã Não là Xích Ngọc (赤玉, ngọc đỏ) hay Quỳnh (瓊). Hiện tại, một số màu sắc của Mã Não được phân loại thành: Hồng Mã Não (紅瑪瑙, Mã Não Hồng), Lam Mão Não (藍瑪瑙, Mã Não Lam), Tử Mão Não (紫瑪瑙, Mã Não Tía), Lục Mão Não (綠瑪瑙, Mã Não Xanh), Hắc Mã Não (黑瑪瑙, Mã Não Đen), Bạch Mã Não (白瑪瑙, Mã Não Trắng), v.v. Trong Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm (觀世音菩薩普門品) của Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 妙法蓮華經) có đề cập đến loại trân báu này: “Nhược hữu bách thiên vạn ức chúng sanh, vị cầu kim, ngân, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, chân châu đẳng bảo (若有百千萬億眾生、爲求金銀琉璃硨磲瑪瑙珊瑚琥珀眞珠等寶, nếu có trăm ngàn ức chúng sanh, vì đi tìm các loại của báu, châu ngọc thật như vàng, bạc, Lưu Ly, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách, v.v.).” Hay như trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經) cũng có đoạn rằng: “Thượng hữu lâu các, diệc dĩ kim, ngân, Lưu Ly, Pha Lê, Xa Cừ, Xích Châu, Mã Não nhi nghiêm sức chi (上有樓閣,亦以金、銀、琉璃、玻璃、硨磲、赤珠、瑪瑙而嚴飾之, trên có lầu gác, cũng lấy vàng, bạc, lưu ly, pha lê, ngọc đỏ, mã não để trang trí thật trang nghiêm).”

mã não

Carnelian. ; (瑪瑙) Phạm: Azmagarbha. Pàli: Asama. Hán âm: A thấp ma yết lạp bà, A xá ma yết bà; A thấp phạ yết ba, Át thấp ma yết bà, A thâu ma kiệt bà. Cũng gọi Thạch tạng, Thai tạng, Xử tạng. Loại đá ngọc màu đỏ, 1 trong 7 thứ báu vật. Điều Mã não trong Tuệ lâm âm nghĩa quyển 27 (Đại 54, 483 hạ), nói: Át thấp ma yết bà, Hán dịch là Xử tạng, hoặc gọi là Thai do nghĩa bền chắc của nó; gọi là Mã não là vì nó có màu sắc như óc ngựa. Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng và Huyền ứng âm nghĩa quyển 22 đều gọi là Mã não, nhưng riêng Huyền ứng âm nghĩa quyển 21 thì lại cho là Mã não cùng loại với Hổ phách. Còn các bộ tự điển gần đây thì phần nhiều dịch chữ Azmagarbha là đá Kim cương. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.24]. (xt. Thất Bảo).

Mã Sư

tức Mã Túc (馬宿), cùng với Mãn Túc (滿宿) là hai vị tỳ-kheo đứng đầu trong Lục quần tỳ-kheo. Nhóm sáu tỳ-kheo này thường làm nhiều việc sai trái, quấy nhiễu Phật pháp, phạm vào cấm giới.

mã sư

(馬師) I. Mã Sư. Tức là Thiền sư Đạo nhất ở tỉnh Giang tây, đời Đường, Trung quốc, vì ngài họ Mã nên gọi Mã tổ, cũng gọi Mã sư, Mã đại sư. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.6]. (xt. Mã Tổ Đạo Nhất). II. Mã Sư. Phạm:Azvajit. Hán dịch: Mã thắng. Là 1 trong 5 vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên tại Lộc dã. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3]. (xt. Mã Thắng). III. Mã Sư. Phạm: Azvaka. Hán âm: A thuyết ca. Cũng gọi Mã túc. Một trong đám 6 tỉ khưu (Lục quần tỉ khưu) thời đức Phật còn tại thế, thường kết bè đảng làm các việc xấu ác. (xt. Lục Quần Tỉ Khưu).

mã thắng

Asvajit (skt)—Còn gọi là Mã Sư, âm tiếng Phạn là Ngạch Tỳ, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật (ngài Mã Thắng có phong thái đoan chính uy nghi, như người thầy hướng dẫn cho mọi người. Ngài Xá Lợi Phất lúc bị mất thầy dạy đang đi thất thểu ngoài đường thì gặp được ông Mã Thắng với vẻ uy nghi, bèn đến gần hỏi đạo. Một lần khi Tăng đoàn đang đi vào thành khất thực, một vị trưởng lão nhìn thấy ngài Mã Thắng, liền sanh lòng hoan hỷ, bèn phát tâm dựng 60 phòng ở cho Tăng đoàn)—Horse-breaker or Horse-master. The name of several persons, including one of the first five disciples. ; (馬勝) Phạm:Azvajit. Pàli:Assaji. Cũng gọi Mã sư, A thuyết thị. Đệ tử của đức Phật, là 1 trong 5 vị tỉ khưu được Phật hóa độ đầu tiên ở vườn Lộc dã. Ngài có thân tướng uy nghi đoan chính, ai cũng thích nhìn. Ngài Xá lợi phất mới đầu tu theo pháp ngoại đạo, một hôm gặp ngài Mã thắng ở thành Vương xá, thấy thân tướng trang nghiêm của ngài, ngài Xá lợi phất sinh tâm kính ngưỡng, liền hỏi ngài Mã thắng thờ ai làm thầy và giáo pháp thế nào. Ngài Mã thắng nói là đệ tử của đức Phật và đọc bài kệ duyên sinh do đức Phật dạy cho ngài Xá lợi phất nghe, nghe xong, ngài Xá lợi phất liền tỏ ngộ và theo ngài Mã thắng về tinh xá Trúc lâm qui y đức Phật, sau thành vị đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25, 34, 48; luận Đại tì bà sa Q.129].

mã toà

(馬座) Phạm: Azva-àsanama. Tòa ngồi bằng hoa sen đặt trên lưng ngựa. Ngựa là con vật được quí trọng và tượng trưng cho điềm tốt lành ở thế gian, cho nên trong các loại tòa ngồi thì Mã tòa thuộc về Bảo bộ, là tòa ngồi của đức Bảo sinh Như lai phương Nam. Ngoài ra, bồ tát Mã minh trong Mã minh bồ tát nghi quĩ do ngài Kim cương trí dịch và Nhật thiên trong Thập nhị thiên của Mật giáo cũng đều ngồi trên loại tòa này. (xt. Ngũ Bộ Tòa).

mã tế

(馬祭) Phạm: Azvamedha. Cũng gọi Mã từ, Mã tự, Mã từ tế. Một pháp tế Tô ma của Bà la môn giáo Ấn độ, giết ngựa làm vật dâng cúng nên gọi là Mã tế. Hai vị thần chính được hưởng Mã tế là Sinh chủ (Phạm: Prajàpati) và Nhân đà la (Phạm: Indra). Pháp tế này bắt đầu từ thời đại Phệ đà, do các giáo sĩ Bà la môn làm chủ tế, nhưng về sau thì chỉ có Quốc vương mới đủ tư cách cử hành lễ tế này.

mã tổ

Mã Tổ Đạo Nhất—See Ma-Tsu in English-Vietnamese Section.

Mã Tổ Ðạo Nhất

馬祖道一; C: măzǔ dàoyī; J: baso dōitsu; 709-788; |Thiền sư Trung Quốc vĩ đại đời Ðường, môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo không kém uy dũng như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Ðại Mai Pháp Thường, Ðại Châu Huệ Hải…|Sau Lục tổ Huệ Năng, Sư là người đã đem lại cho Thiền Trung Quốc một sắc thái đặc biệt. Sư chuyên sử dụng những phương pháp quái dị để dạy học trò như hét, im lặng, dựng phất tử, hay thình lình đánh gậy. Có khi Sư xô học trò xuống đất, vặn mũi bức tóc, tung ra những câu hỏi bất ngờ và cho những câu trả lời mâu thuẫn. Mục đích của mọi hành động đó là nhằm kéo thiền sinh ra khỏi mọi thói quen lí luận, dùng những cú sốc mạnh mẽ để giúp học trò khỏi vòng vây bọc của khái niệm để có một kinh nghiệm trực tiếp của Giác ngộ.|Sức giáo hoá của Sư mãnh liệt tới mức để lại được 139 đệ tử được truyền ấn. Mã Tổ được nhắc đến trong công án thứ 30 và 33 của Vô môn quan và công án thứ 3, 53 và 57 của Bích nham lục. Người đời sau vì quý trọng Sư quá nên gọi là Mã Tổ, tức là vị Tổ họ Mã. Sư cũng được phong danh là Giang Tây Pháp chủ. Tương truyền rằng Sư có những dấu hiệu đặc biệt của Thánh nhân (Ba mươi hai tướng tốt): mắt sáng như hổ và dáng đi như trâu, thè lưỡi đến mũi và dưới gan bàn chân có hình bánh xe.|Sư họ Mã, quê ở huyện Thập Phương. Lúc nhỏ, Sư vào chùa La Hán xin xuất gia với Hoà thượng Ðường ở Từ Châu, sau thụ giới cụ túc ở Du Châu. Sau, Sư đến Hoành Nhạc sống viễn li và ngày ngày tu tập thiền định. Cũng tại núi này, Sư gặp Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và đắc pháp.|Cảnh Ðức truyền đăng lục kể câu chuyện sau về cách hoằng hoá của Sư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Ðặng Ẩn Phong đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ẩn Phong nói đi gặp Thạch Ðầu. Sư nói: »Ðường Thạch Ðầu trơn.« Ẩn Phong nói có cây gậy tuỳ thân, không sao. Ẩn Phong đến gặp Thạch Ðầu, dộng cây gậy xuống đất hỏi: »Ấy là tông chỉ gì?« Thạch Ðầu nói: »Trời xanh! Trời xanh!« Ẩn Phong không biết trả lời sao, về thuật lại Sư. Sư khuyên Ẩn Phong trở lại Thạch Ðầu, nếu Thạch Ðầu lại nói »Trời xanh« thì chỉ nên khòt mũi »Hư! Hư!«. Ẩn Phong nghe lời, đến Thạch Ðầu, dộng gậy, lại hỏi như trước. Lần này Thạch Ðầu chỉ khòt mũi »Hư! Hư!« Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thuật lại, Sư nói: »Ta đã bảo ngươi đường Thạch Ðầu trơn.«|Có vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào được ngộ Ðạo?« Sư đáp: »Ta sớm chẳng ngộ Ðạo.« Tăng lại hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Sư liền nắm cây gậy đập và nói: »Nếu ta không đánh ngươi, các nơi sẽ chê ta.«|Lịch sử Thiền tông còn nhắc nhở những câu trả lời đặc biệt của Mã Tổ về »Phật là gì?« Những cuộc pháp chiến lừng danh của Sư với cư sĩ Bàng Uẩn được ghi lại trong Bàng cư sĩ ngữ lục. Các mẩu chuyện về Mã Tổ phần lớn được ghi trong Giang Tây Ðạo Nhất Thiền sư ngữ lục.|Ðời Ðường, niên hiệu Trịnh Nguyên, mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua sắc thuỵ là Ðại Tịch.

mã tổ đạo nhất

(馬祖道一) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hán châu (huyện Quảng hán, tỉnh Tứ xuyên ngày nay), họ Mã, người đời gọi là Mã đại sư, Mã tổ, tên Đạo nhất, là đệ tử nối pháp của ngài Nam nhạc Hoài nhượng. Sư có dung mạo rất kì dị, đi như trâu, nhìn như hổ, lưỡi thè ra đưa lên đến mũi, dưới bàn chân có 2 đường vân tròn như 2 bánh xe. Sư theo Hòa thượng Đường (tức ngài Xử tịch) ở Tư châu xuất gia và y vào Luật sư Viên ở Du châu thụ giới Cụ túc. Khoảng năm Khai nguyên, sư đến học tập Thiền pháp Tào khê nơi ngài Hoài nhượng, khế ngộ tông chỉ và được truyền tâm pháp. Lúc đầu, sư trụ ở núi Phật tích tại Kiến dương, không bao lâu, sư lại dời đến ở núi Nam khang và núi Cung công tại Lâm xuyên. Năm Đại lịch thứ 4 (769), sư trụ ở chùa Khai nguyên tại Chung lăng (huyện Tiến hiền, tỉnh Giang tây), lúc này người học qui tụ đông đảo, hóa duyên rất thịnh. Sư dùng yếu chỉ Bình thường tâm thị đạo, Tức tâm thị Phật để phát huy thiền phong. Đệ tử đạt đạo có tới 139 người như các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Đại mai Pháp thường v.v... Lúc Thiền tông ở giai đoạn sơ khai thì các vị Thiền tăng đều phải ở tạm trong các viện Luật, chưa có cơ sở riêng, nên không thuận tiện cho việc tham thiền, bởi thế ngài Mã tổ mới sáng lập các tùng lâm để các Thiền tăng có nơi yên tâm tu tập, nhờ vậy mà tông môn ngày càng được mở rộng.Thiền phái của sư phát triển rất mạnh, gọi là tông Hồng châu. Vì sư xiển dương Thiền phong hệ Nam nhạc ở Giang tây, cũng gọi Giang tây Thiền, cho nên sư nổi tiếng và người đời gọi là Giang Tây Mã Tổ. Tháng giêng năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư lên núi Thạch môn ở Kiến xương, lúc kinh hành trong rừng, sư phó thác mọi việc rồi thị tịch, thọ 80 tuổi, vua Hiến tông nhà Đường ban thụy hiệu Đại Tịch Thiền Sư. Sư có tác phẩm: Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6; Truyền pháp chính tông kí; Ngũ đăng hội nguyên Q.3].

mã tổ đạo nhất thiền sư quảng lục

(馬祖道一禪師廣錄) Tác phẩm, 1 quyển, do Thiền sư Mã tổ Đạo nhất soạn vào đời Đường, được thu vào Tứ gia ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng tập 119. Nội dung sách này thu chép về lược truyện của ngài Mã tổ, công án Ma chuyên (mài gạch) của ngài Hoài nhượng và các cơ duyên vấn đáp giữa ngài Mã tổ và các đệ tử: Tây đường Trí tạng, Bách trượng Hoài hải, Nam truyền Phổ nguyện, Đại châu Tuệ hải v.v... Những yếu ngữ dạy chúng, nêu lên ý chỉ Bình thường tâm thị đạo; bình thường tâm là tâm không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Ngoài ra, còn có Mã tổ Đạo nhất thiền sư ngữ lục 1 quyển, cũng gọi là Đại tịch thiền sư ngữ lục, Mã tổ ngữ lục, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 1 trong Vạn tục tạng tập 118, là sao chép lại phần hành nghiệp và các cơ duyên ngữ cú của ngài Mã tổ trong bộ Quảng lục mà thành.

mã tự

Asvamedha (skt)—Phép tu ngoại đạo lấy ngựa làm vật hiến tế vì muốn cầu xin lên cõi trời hay những mục đích đặc biệt khác (vì muốn cầu xin ở cõi trời, nên dùng phép mã tự . Chọn lấy một con ngựa bạch, thả ra 100 ngày, hoặc ba năm, rồi tìm theo vết chân của nó mà rắc vàng vào, để bố thí cho mọi người. Sau đó bắt lấy con ngựa và giết đi. Phái nầy tin rằng con ngựa sau khi bị giết cũng được sanh lên cõi trời)—The horse sacrifice, either as an annual oblation to Heaven, or for specific purposes.

mã uyển

Vườn ngựa—The horse park—See Bạch Mã Tự. ; (馬苑) Chỉ cho chùa Bạch mã ở đời Hán, tương truyền là ngôi chùa xưa nhất tại Trung quốc. Khoảng năm Vĩnh bình (58-75) đời vua Minh đế nhà Đông Hán, 2 ngài Nhiếp ma đằng và Trúc pháp lan, người Ấn độ, dùng ngựa trắng (bạch mã) mang kinh Phật từ Tây vực đến Trung quốc, vua Minh đế ban lệnh xây cất tinh xá ở phía ngoài cửa Tây ung thành Lạc dương, đặt tên là chùa Bạch mã để các ngài Nhiếp ma đằng và Trúc pháp lan ở đó dịch kinh. Lịch sử Phật giáo Trung quốc bắt đầu từ đây. (xt. Bạch Mã Tự).

mã vương kế

(馬王髻) Chỉ cho túi tóc (kế) trên đỉnh đầu của các vị Minh vương Hàng tam thế, Đại uy đức, Phẫn nộ tôn v.v... trong Mật giáo. Khi con ngựa hí thì lông bờm của nó dựng ngược lên, lọn tóc trên đỉnh đầu của các Minh vương cũng giống như thế nên gọi là Mã vương kế, là biểu thị nghĩa phẫn nộ.[X. phẩm Đại kim cương diệm khẩu hàng phục nhất thiết ma oán trong kinh Du kì].

mã âm tàng

Nam căn dấu kín trong bụng chỉ khi nào tiểu tiện mới xuất hiện, một trong 32 tướng tốt của Đức Phật—A retractable penis, e.g. that of a horse, one of the thirty-two signs of a Buddha.

mã âm tàng tam ma địa

(馬陰藏三摩地) Cũng gọi Trừ cái chướng viện tam muội. Nghĩa là tự phát tâm bồ đề mà chứng ngộ thực tướng của tự tâm. Vì dương căn của loài ngựa thường ẩn kín trong bụng, khi phát dục thì dương căn mới trồi ra, dục dứt thì dương căn lại ẩn vào. Ví như người tự phát tâm bồ đề, tự cầu chứng ngộ, nên gọi là Mã âm tàng tam ma địa. Đức Đại nhật Như lai thường ở trong Tam ma địa này để nói về pháp ái nhiễm. [X. phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Du kì; Du kì kinh xả cổ sao Q.thượng].

mã âm tàng tướng

(馬陰藏相) Phạm: Kozopagata-vasti-guhya. Cũng gọi Âm mã tàng tướng, Âm tàng tướng, Mã vương ẩn tàng tướng, Thế phong tàng mật tướng. Nam căn ẩn kín không lộ ra ngoài, là 1 trong 32 tướng đặc biệt của đức Phật. Vì tướng này giống như dương căn của loài ngựa (mã) nên gọi là Mã âm tàng. Cứ theo kinh Bảo nữ sở vấn quyển 4 chép, thì Mã âm tàng của Như lai là tướng bậc đại nhân, nhờ các kiếp quá khứ, Ngài giữ mình nghiêm túc, xa lìa sắc dục mà nay có được tướng này. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 54 hạ), nói: Âm tàng của Như lai bằng phẳng như trăng tròn, có ánh sáng màu vàng giống như vầng mặt trời. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.8; luận Đại tì bà sa Q.117].

mã đại sư dã áp tử

(馬大師野鴨子) Cũng gọi Bách trượng dã áp tử. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này ghi lại cuộc vấn đáp giữa Thiền sư Mã tổ Đạo nhất và đệ tử là ngài Bách trượng. Một hôm, Đại sư Mã tổ và đệ tử là ngài Bách trượng Hoài hải đang đi trên đường, bỗng thấy 1 đàn vịt trời bay qua, Đại sư hỏi (Đại 48, 187 hạ): Cái gì thế? Ngài Bách trượng đáp: Đàn vịt trời. Đại sư hỏi: Chúng bay đi đâu rồi? Ngài Bách trượng đáp: Chúng bay đi mất rồi! Đại sư liền véo vào mũi ngài Bách trượng, đau quá, ngài Bách trượng kêu: Ới! Ới! Đại sư nói: Từng bay mất đâu! [X. tắc 53, Bích nham lục; Cổ tôn túc ngữ lục Q.1; Tổ đình sự uyển Q.1, 3; Liên đăng hội yếu Q.4].

mã đầu

Đầu ngựa—Horse-head.

mã đầu kim cương

(馬頭金剛) Vị thần hộ pháp trong Thượng mật viện và Hạ mật viện của Phật giáo Tây tạng, là hóa thân của bồ tát Từ bi Quan âm, hoặc có thuyết cho là hóa thân của Phật và các Bồ tát khác. Hình tượng của vị thần này là đầu ngựa mình người, có tượng 8 đầu, 6 đầu hoặc có cánh khác nhau. Trong đó, Mã đầu kim cương 8 đầu, 6 đầu được phái Cách lỗ sùng bái; còn phái Ninh mã thì tôn thờ Mã đầu kim cương có cánh.Vị thần này được thờ trong điện Mã đầu kim cương ở chùa Sắc lạp rất tôn nghiêm.

mã đầu la sát

Loại quỷ La Sát mình người đầu ngựa, cai ngục nơi Diêm La—The horse-head raksasa in Hades. ; (馬頭羅刹) Chỉ cho ngục tốt đầu ngựa mình người ở địa ngục Vô gián. Kinh Lăng nghiêm quyển 8 (Đại 19, 144 hạ), nói: Thần thức người chết trông thấy thành sắt rất lớn, trong đó, chó lửa, rắn lửa, hổ, chó sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, la sát đầu ngựa, tay cầm giáo mác, đuổi người chết đến cửa thành, rồi lùa vào địa ngục Vô gián.

mã đầu minh vương

Hayagriva (skt)—The horse-head Dharmapala—See Mã Đầu Quan Âm.

mã đầu quan âm

Hayagriva (skt)—Còn gọi là Mã Đầu Đại Sĩ hay Mã Đầu La Sát, tiếng Phạn âm là Hà Da Yết Lợi Bà, là một vị tôn nơi Quan Âm Viện trong Thai Tạng giới, tức vị Sư Tử Vô Úy Quan Âm, có đầu và cổ ngựa, có hình dáng rất uy nghi khiến cho ma quân phải chịu thần phục—The horse-neck or horse-head Kuan-Yin in awe-inspiring attitude towards evil spirits. ; (馬頭觀音) Phạm:Hayagrìva. Hán âm: A da yết lị bà, Hà da yết lị bà. Cũng gọi Mã đầu đại sĩ, Mã đầu minh vương, Mã đầu kim cương minh vương. Phổ thông gọi là Mã đầu tôn. Chỉ cho Minh vương Phẫn nộ trì của Liên hoa bộ trong 3 bộ Minh vương thuộc Thai tạng giới Mật giáo, ngồi ở vị trí thứ 7 hàng thứ 1 trong viện Quan âm trên Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới, mật hiệu là Đạm thực kim cương, Tấn tốc kim cương, là 1 trong 8 vị Đại minh vương. Vị tôn này là 1 trong những hóa thân của bồ tát Quán tự tại, hiện tướng phẫn nộ, trên đỉnh có đầu ngựa, hoặc 1 mặt 4 tay, 3 mặt 8 tay, 3 mặt 2 tay, 4 mặt 8 tay v.v... Vị tôn này lấy từ bi làm trọng tâm, tiêu diệt các ma chướng, chiếu phá sự tối tăm của chúng sinh bằng vầng mặt trời đại uy đức và diệt hết vô minh phiền não cho chúng sinh.Vị Minh vương này là giáo chủ trong đường súc sinh, được phối với Sư tử vô úy Quan âm nói trong Ma ha chỉ quán. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7].

mã đầu quán tự tại bồ tát chân ngôn ấn

(馬頭觀自在菩薩真言印) Cũng gọi Tối thắng căn bản ấn. Chân ngôn và ấn khế tiêu trừ các ma chướng, 1 trong 18 ấn khế. Ấn tướng là: Chắp 2 tay, co 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh vào trong lòng bàn tay, lưng móng tay áp vào nhau, 2 ngón cái dang ra và dựng đứng. Nếu dùng ấn này xoay về bên trái 3 vòng, trong tâm quán tưởng tiêu trừ các chướng, thì tất cả các ma thấy ấn này liền tháo chạy; nếu xoay ấn về bên phải 3 vòng thì liền thành hỏa giới kiên cố. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật thì chân ngôn của vị tôn này là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm (nama samantabuddhànàm, qui mệnh khắp các đức Phật) khư na dã (khàdàya, ăn nuốt) bạn nhạ (bhaôja, đánh phá) sa phá tra dã (sphaỉya, phá sạch) sa ha (svàhà, thành tựu). Nghĩa là sự thực hành về không của Mã đầu phẫn nộ tôn tức là cái không của thực tướng các pháp, ăn nuốt tất cả pháp làm chướng ngại bồ đề, phá hết sinh tử của 3 đời. Nếu nhớ nghĩ vị tôn này, kết ấn tướng và tụng chân ngôn của Ngài thì đoạn trừ được tất cả những cái gây ra chướng nạn. Và trong vòng 40 dặm, nơi người tu hành ở, không có ma sự và các quỉ thần. Ngoài ra, tu pháp này còn có thể khiến cho các súc vật nuôi trong nhà (nhất là ngựa) được bình an.

mã đầu đại sĩ

Hayagriva (skt)—See Mã Đầu Quan Âm.

Mã-nhĩ-ba

馬爾波; T: marpa; 1012-1097;|Ðạo sư nổi tiếng của Nam Tây Tạng. Mã-nhĩ-ba đi Ấn Ðộ và mang về Tây Tạng giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-lạc lục pháp (t: nāro chodrug). Ông là thầy của Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyu-pa). Mặc dù tu hành tích cực nhưng Mã-nhĩ-ba vẫn tham gia công việc thế tục một cách hài hoà.|Thời trẻ tuổi, ông đã học Phạn ngữ (sanskrit) và sau đó ông đổi toàn bộ sản nghiệp lấy vàng bắt đầu chuyến du hành Ấn Ðộ. Tại đây, ông gặp Na-rô-pa (t: nāropa), một vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) và được vị này hướng dẫn 16 năm. Trở lại Tây Tạng, ông dùng hết thời giờ để phiên dịch kinh sách, sống cuộc đời của một nông dân, lập gia đình với Dag-me-ma và có nhiều con. Sau đó, trên đường tìm những chú giải của những Mật kinh, ông lại đi Ấn Ðộ một lần nữa và sau khi về lại Tây Tạng, ông nhận Mật-lặc Nhật-ba làm đệ tử. Sau nhiều lần thử thách khắc nghiệt, ông mới chịu truyền bí pháp cho Mật-lặc Nhật-ba.|Lúc tuổi đã cao, Mã-nhĩ-ba lại đi Ấn Ðộ lần thứ ba vì một bí pháp khác. Tại đây, ông gặp A-đề-sa và thầy Na-rô-pa lần cuối. Mã-nhĩ-ba ưa thích dùng giấc mộng để quyết đoán trước tương lai và từng tiên tri sẽ có tông Ca-nhĩ-cư ra đời.

mãi

1) Mãi mãi: Continually. 2) Mua: To purchase—To buy

mãi danh

Mua danh—To purchase honour.

mãi học

To devote oneself to study.

mãi lâm

Vikritavana (skt)—Tự viện cách kinh thành của Kashmere chừng 200 dậm về phía tây bắc—A monastery about 200 miles northwest of the capital of Kashmere.

mãi mãi

Forever—Ever-lasting.

mãi nghĩ

To be lost in thought.

mãi nhìn

To let one's glance rest on something.

mãi tu

To devote oneself to cultivate.

mãn

Purna (skt)—Hoàn tất hay chấm dứt—To expire—To come to an end.

mãn châu phật giáo

(滿洲佛教) Phật giáo Mãn châu. Mãn châu tức là 9 tỉnh ở đông bắc Trung quốc hiện nay, ngày xưa gọi là Liêu đông. Vào đầu thế kỉ thứ IV Phật giáo đã được truyền đến khu vực này. Cuối năm Thái nguyên (376-396) đời vua Hiếu vũ nhà Đông Tấn, ngài Thích đàm thủy đã đưa mấy mươi bộ kinh luật từ Quan trung vào Liêu đông, rồi ngài đến Cao cú li truyền bá Phật giáo, cho mãi đến đầu năm Nghĩa hi (405-417) đời vua An đế mới trở về Quan trung. Trước đó vào niên hiệu Vĩnh hòa năm đầu (345) đời Đông Tấn, vua Mộ dung hoàng của nước Tiền yên thiết lập cung Hòa long trên núi Long sơn gần thủ đô Long thành (Triều dương, Nhiệt hà); rồi lại xây cất chùa Long tường ở trên núi. Đây là ghi chép sớm nhất về tự viện Phật giáo ở Mãn châu. Về sau, triều Bắc Ngụy chiếm lấy đất Tiền yên, tiếp tục tạo mở các động đá Vân cương và Long môn; vào năm Thái hòa 23 (499) đời vua Hiến văn, lại bắt đầu mở hang đá Vạn Phật Đường ở tả ngạn sông Đại lăng phía tây bắc ngoại thành huyện Nghĩa, tỉnh Liêu ninh hiện nay. Đến đời Đường thì Phật giáo Mãn châu lại càng hưng thịnh, như trong Sách phủ nguyên qui quyển 971 có chép việc nước Bột hải tiến cống tượng Phật vào thời Huyền tông và Hiến tông nhà Đường; ngoài ra, trong kinh thành cũng phát hiện được những di tích Phật giáo. Các triều đại vua chúa Liêu, Kim cũng rất kính tin Phật pháp, xây dựng nhiều chùa viện và tháp Phật khiến cho Phật giáo phổ cập trong dân gian. Rồi đến đời Nguyên, người Mông cổ xâm chiếm Mãn châu, lập nên Đế quốc lớn, đồng thời truyền Lạt ma giáo vào Mãn châu, làm cho Phật giáo ở đây cũng chịu ảnh hưởng phần nào, nhưng phải đợi đến đời Thanh thì nền tảng của Lạt ma giáo tại Mãn châu mới được củng cố và lúc đó chùa, tháp Lạt ma giáo được xây dựng ở nhiều nơi, như chùa Bác nhân, chùa Phổ lạc, miếu An viễn, chùa Phổ ninh, chùa Phổ hựu, miếu Tu di phúc thọ, miếu Phổ đà tông thừa, chùa Thù tượng, La hán đường v.v... ở Thừa đức đều rất nổi tiếng. Đây là những chùa miếu lớn có cảnh quan đặc biệt, khác hẳn với lối kiến trúc phổ thông của Trung quốc. Ngoài ra, cứ theo ý kiến của các học giả cận đại, thì nhà Thanh có mối quan hệ gắn bó với Lạt ma giáo, đặc biệt vua Thái tổ triều Thanh được xem là có quan hệ trực tiếp với bồ tát Văn thù, vả lại, họ cũng cho rằng Mãn châu là đất phát tích của nhà Thanh, danh xưng Mãn châu có nguồn gốc từ tiếng Phạm: Maĩjuzrì (Hán âm: Mạn thù sư lợi, tức bồ tát Văn thù). Lại nữa, cứ theo Mãn châu nguyên lưu khảo bộ chương, thì vào những năm đầu triều Thanh, nước Tây tạng dâng quốc thư đến nhà Thanh đều tôn xưng là Mạn thù sư lợi đại Hoàng đế. Đến nay, tuy giới học giả chưa có kết luận hoàn toàn nhất trí về quan điểm này, nhưng trên đại thể thì đều thừa nhận đất Mãn châu đã có 1 nguồn gốc Phật giáo rất sâu xa. Và nguồn gốc này cũng là điểm then chốt khiến cho nhà Thanh tin thờ Lạt ma giáo. [X. Khâm định thịnh kinh thông chí; Liêu đông chí Q.1; The Blue Annals, 2 vols. (N.Roerich); Pag Sam Jon Zang (S.C. Das); The Religion of Tibet (Ch. Bell)].

mãn cuộc

the end of an affair.

Mãn Giác

滿覺; 1052-1096|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền sư Quảng Trí và truyền tâm ấn lại cho đệ tử là Bản Tịnh.|Sư họ Nguyễn, thân phụ là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Lúc Lí Nhân Tông còn làm Thái tử, Sư được tuyển vào cung tham gia học thuật cùng với vua. Về sau, khi lên ngôi, Lí Nhân Tông ban cho Sư hiệu Hoài Tín.|Sau, Sư dâng biểu xin xuất gia, học với Thiền sư Quảng Trí và vân du khắp nơi. Sư là bậc lĩnh tụ pháp môn trong một thời, được vua Lí Nhân Tông cùng hoàng hậu hết sức kính nể và dựng chùa Giáo Nguyên thỉnh làm trụ trì.|Năm 1096 cuối tháng 11, Sư gọi chúng đọc bài kệ:|春去百花落。春到百花開|事逐眼前過。老從頭上來|莫謂春殘花落盡。庭前昨夜一枝梅|Xuân khứ bách hoa lạc|Xuân đáo bách hoa khai|Sự trục nhãn tiền quá|Lão tòng đầu thượng lai|Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận|Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.|*Xuân đi trăm hoa rụng|Xuân đến trăm hoa cười|Trước mắt việc đi mãi|Trên đầu, già đến rồi|Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết|Ðêm qua – sân trước – một cành mai.|Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 45 tuổi. Sau lễ hoả táng, Xá-lị được thu lại thờ tại chùa Sùng Nghiêm, vua thuỵ hiệu là Mãn Giác.

mãn giác

Thiền Sư Mãn Giác (1052-1096)—Zen Master Mãn Giác—Thiền sư nổi tiếng Việt Nam, quê ở Thăng Long, Hà Nội, Bắc Việt. Ngài là đệ tử của Thiền sư Quảng Trí và là Pháp tử đời thứ tám dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng hóa tại Thăng Long. Ngài thị tịch năm 1096, vào tuổi 45—A Famous Vietnamese Zen master from Thăng Long, Hanoi, North Vietnam. He was a disciple of Quảng Trí. He became the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. He spent most of his life to expand Buddhism in Thăng Long. He passed away in 1096, at the age of 45.

mãn hạn

At the end of time allowed—To come to an end.

mãn kiếp

During one's lifetime.

mãn kỳ

Thời hạn đã hoàn tất—The time fulfilled.

Mãn nghiệp

滿業; C: mănyè; J: mangō;|Nghiệp đặc thù, chi tiết; còn gọi là Biệt báo (別報). Những hành vi tạo thành nghiệp – liên quan tức thời đến những nghiệp làm phát sinh các chi tiết khác biệt nhau giữa loài người, như sinh trong gia đình giàu hoặc nghèo, xấu hay đẹp, v.v… Điều này khác với kết quả tổng thể của nghiệp, như được sinh ra trong chủng loại nào,v.v… được gọi là Dẫn nghiệp (引業).

mãn nghiệp

See Mãn Quả. ; (滿業) Cũng gọi Viên mãn nghiệp, Biệt báo nghiệp. Đối lại: Dẫn nghiệp. Chỉ cho các nghiệp thiện ác làm cho chúng đồng phận của hữu tình đầy đủ và hình lượng các căn của mỗi người đều khác nhau. Trong tất cả các nghiệp thiện, ác, tà, chính mà mỗi con người tạo tác trong 1 đời, chỉ có 1 nghiệp quan trọng nhất có năng lực mang lại quả báo đời sau sinh trong các đường: Quỉ đói, súc sinh, người, trờiv.v... đó là Dẫn nghiệp. Còn tất cả các nghiệp khác thì có năng lực quyết định sự sai biệt của quả báo như 6 căn có đầy đủ không, thân thể khỏe mạnh hay yếu đuối, thọ mệnh lâu hay mau và những sự giàu, nghèo, sang, hèn khác v.v... thì gọi là Mãn nghiệp. Ví dụ như 1 họa sĩ vẽ hình người, thì trước hết phác họa dáng người để làm tổng thể, việc này tương đương với Dẫn nghiệp; sau đó mới vẽ tỉ mỉ từng bộ phận như mắt, lông mày, tai, mũi, miệng, đẹp, xấu khác nhau v.v..., các việc này tương đương với Mãn nghiệp. [X. luận Đại tì bà sa Q.19; luận Thuận chính lí Q.43; luận Câu xá Q.17; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Dẫn Nghiệp).

Mãn nguyện

滿願; C: mănyuàn; J: mangan;|1. Mãn nguyện, nguyện vọng thành tựu; 2. Hán dịch tên của Phú-lưu-na (富留那, pūrṇa) từ tiếng Phạn. Phú-lâu-na.

mãn nguyện

Contented—Satisfied. ; (滿願) I. Mãn Nguyện. Nguyện vọng đã đầy đủ. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 835 trung), nói: Danh hiệu của đức Như lai Vô ngại quang có năng lực phá trừ vô minh cho hết thảy chúng sinh, làm cho tất cả ước nguyện của họ được viên mãn. Ngoài ra, trong thời gian dự định bao nhiêu ngày đến nơi Thần Phật để cầu nguyện, số ngày đã hết, gọi là Mãn nguyện nhật. II. Mãn Nguyện. Gọi đủ: Mãn nguyện tử. Chỉ cho tôn giả Phú lâu na (Phạm: Pùrna, Pàli: Puịịa), 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật. (xt. Phú Lâu Na).

Mãn nguyệt

滿月; C: mănyuè; J: mangetsu; S: candra-aṃśu|1. Trăng tròn (s: candra-aṃśu); 2. Mãn Nguyệt, tên một vị Bồ Tát.

mãn nguyệt

(滿月) Vị tăng dịch kinh, người Tây vực, đến Trung quốc vào đời Đường. Ngài tinh thông pháp môn Du già và chú thuật. Khoảng năm Khai thành (836-840), ngài đến Trung quốc tiến dâng hòm kinh tiếng Phạm, muốn phiên dịch và truyền bá những kinh điển ấy nhưng không thành tựu. Về sau, nhận lời thỉnh của Quốc sư Ngộ đạt Tri huyền, ngài cùng với bồ tát Phạ nhật la Kim cương tất địa dịch lại bộ Đà la ni tập 4 quyển và kinh Phật vị Tì tuất đà thiên tử thuyết tôn thắng 1 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.3].

mãn nguyệt quang minh phật

Perfect Moon Light Buddha. 1) Mãn nguyệt quang minh có nghĩa là ánh sáng của đêm trăng rằm. Ánh sáng đó vừa thanh tịnh vừa an lạc, có công năng chữa lành sự loạn động của thân tâm. Ban ngày thân tâm chúng ta bị ánh mặt trời thiêu đốt, nhưng dưới ánh trăng huyền diệu ban đêm, chúng ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu. Đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh cũng như chư Phật đều có cùng một thứ ảnh hưởng như vậy đối với chúng sanh mọi loài: Perfect Moon Light means the light of full moon. Such a light is pure, peaceful, and able to heal mind and body. During the day under the sun's fury, our mind and body burn, but under the softness of the moonlight, we feel at ease and relax. Thus, similarly this Buddha and all Buddhas have the same affect on all sentient beings. 2) Về phía Đông của thế giới Ta Bà có cõi Phật tên là Bất Động, trong nước đó có Phật tên là Mãn Nguyệt Quang Minh làm giáo chủ—To the East of the Saha World, there is a Budhaland called Unditurbed, in that world there is a Buddha named 'Perfect Moon Light' ruling over it.

mãn nguyệt tôn

Danh hiệu khác để gọi Đức Phật—The full-moon honourd one, Buddha. ; (滿月尊) Đức hiệu của Phật, vì đức của Ngài tròn đầy không thiếu khuyết, giống như mặt trăng tròn, nên ví dụ là Mãn nguyệt. Vãng sinh thập nhân (Đại 48, 98 thượng), nói: Nhân duyên các pháp chẳng thể nghĩ bàn, nếu nước định lắng trong, thì tự thấy Mãn nguyệt tôn.

mãn nê

(滿泥) Phạm: Vande. Cũng gọi: Mạn đề. Hán dịch: Lễ bái. Quán tự tại như ý luân bồ tát du già pháp yếu (Đại 20, 211 hạ), nói: Hành giả mặt hướng về tây, lễ bái (mãn nê) Tự tại vương, kế đến, lễ chư Phật ở các phương khác. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 36 giải thích từ ngữ Mãn nê Tự tại vương như sau (Đại 54, 549 thượng): Tiếng Phạm Mãn nê, Trung quốc dịch là lễ bái, còn Tự tại vương là đức Phật Vô lượng thọ.

mãn phần

To pass away—To die.

mãn phần giới

Tên khác của cụ túc giới, để so sánh với người tại gia hay Sa Di chỉ thọ ngũ hay bát giới—The whole of the commandments, i.e. a full-ordained monk as compared with lay people or a sramanera, who only receive either five or eight commandments. ; (滿分戒) I. Mãn Phần Giới. Chỉ cho giới Cụ túc của tỉ khưu và tỉ khưu ni, đối lại với 5 giới, 8 giới và 10 giới của tại gia và sa di. Chương Tuệ năng trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 5 (Đại 51, 235 hạ), nói: Ngày mồng 8 tháng 2 đến Luật sư Trí quang ở chùa Pháp tính lãnh thụ Mãn phần giới. II. Mãn Phần Giới. Tín đồ nam, nữ tại gia, sau khi thụ Tam qui, lại thụ 1 giới trong 5 giới thì gọi là Nhất phần giới; thụ 2 giới gọi là Thiểu phần giới; thụ 3 giới, 4 giới gọi là Đa phần giới, còn nếu thụ cả 5 giới thì là Mãn phần giới. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.3].

mãn phần thanh tịnh giả

(滿分清淨者) Nguyên nghĩa là chỉ cho bậc hoàn toàn thanh tịnh, nhưng theo sự giải thích xưa nay thì Phật là bậc Mãn thanh tịnh; Bồ tát là bậc Phần thanh tịnh, cả Phật và Bồ tát được gọi chung là Mãn phần thanh tịnh giả. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 1 thượng), nói: Cúi lạy Duy thức tính, Mãn phần thanh tịnh giả, nay con giải nghĩa ấy, vì lợi lạc chúng sinh.

mãn quả

Còn gọi là Biệt Báo Nghiệp, Mãn Nghiệp, hay Viên Mãn Nghiệp. Nghiệp dựa vào nhau để đưa đến những chi tiết của cái quả trong kiếp tái sanh, như lục căn thiếu đủ, thân thể mạnh yếu, sang hèn, thọ mệnh dài ngắn, vân vân, để phân biệt với “dẫn nghiệp” hay tổng báo là nghiệp chủ yếu tạo thành quả báo, khiến chúng sanh phải tái sanh vào cõi nào, như trời, người, hay thú, vân vân (dẫn nghiệp được ví như người thợ vẽ, trước vẽ tổng thể trời, người hay súc sanh; mãn nghiệp được ví như là sự hoàn tất bức họa, phải tô điểm các nét đẹp xấu)—The fruit or karma, which fills out the details of any incarnation, as distinguished from the integral or direction of karma which determines the type of that incarnation, i.e. deva, man, or animal, etc. ; (滿果) I. Mãn Quả. Chỉ cho quả báo do mãn nghiệp mang lại. Tông kính lục quyển 50 (Đại 48, 711 hạ), nói: Sáu thức trước gọi là Mãn quả, vì có 1 phần riêng của nghiệp báo thiện ác mang lại làm cho đầy đủ. [X. Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Mãn Nghiệp). II. Mãn Quả. Chỉ cho quả vị Như lai. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng (Đại 44, 245 trung), nói: Quả cũng có 2 loại: 1. Phần quả: Vào địa vị Bồ tát. 2. Mãn quả: Thành quả vị Như lai.

mãn tang

The end of mourning.

mãn thành

Fully complete, or perfect.

mãn thù thi lợi

Manjusri (skt)—See Văn Thù Sư Lợi in Vietnamse-English Section, and Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mãn toà

(滿座) Có 2 nghĩa. 1. Chỉ cho ngày cuối cùng của pháp hội. Chữ mãn ở đây nghĩa là viên mãn, hoàn mãn. 2. Cũng gọi Mãn tọa: Chỉ cho toàn số người hiện diện. Chữ mãn ở đây nghĩa là đông đủ, đầy đủ.

mãn tài trưởng giả

(滿財長者) Tên của 1 vị Trưởng giả ở Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế. Cứ theo kinh Tu ma đề nữ, thì Tu ma đề là con gái của Trưởng giả A na bân trì (Cấp cô độc) ở thành Xá vệ, lấy chồng là Mãn phú thành, con trai của Trưởng giả Mãn tài. Người con gái này đêm đêm thường niệm Phật, giữ gìn trai giới, khiến cả nhà chồng lìa bỏ ngoại đạo, tin thờ Phật giáo.

mãn tán

(滿散) Đối lại: Khải kiến. Thời gian pháp hội đã hoàn mãn, mọi người giải tán. Huyễn trụ thanh qui Thánh tiết mãn tán sớ (Vạn tục 111, 489 hạ), nói: Mở (khải kiến) đạo tràng Kim cương vô lượng thọ 1 tháng, hàng ngày chư tăng luân phiên nhau lên điện Phật đọc tụng kinh văn, hôm nay là Mãn tán. Tấm bảng thông báo ngày giờ mãn tán, gọi là Mãn tán bài; những bộ kinh được đọc tụng, gọi là Tán kinh. [X. điều Lăng nghiêm hội, chương Tiết lạp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Mãn tán tuyên sớ trong Tăng đường thanh qui Q.3; môn Phúng xướng trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Mãn Túc

xem Mã Sư.

Mãn túc

滿足; C: mănzú; J: manzoku;|1. Sự hoàn thành (ham muốn hay mục đích). Đáp ứng, thoả mãn, đáp lại, làm vừa lòng. Hoàn thành, hoàn chỉnh; 2. Giáo lí toàn hảo.

mãn túc

Full—Satisfied—Contented--Completed.

mãn túc nguyện

(滿足願) Bản nguyện mong cầu thành tựu tất cả đại nguyện một cách trọn vẹn đầy đủ, là tâm nguyện viên mãn của đức Phật A di đà, 1 trong 5 nguyện lực của Ngài. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng), nói: Đây đều là do sức uy thần, sức bản nguyện, nguyện đầy đủ (mãn túc nguyện), nguyện hiển bày, nguyện bền chắc, nguyện rốt ráo của đức Phật A di đà. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q. hạ (ngài Tuệ viễn đời Tùy)]. (xt. Ngũ Chủng Lực).

mãn túc đại bi nhân

(滿足大悲人) Từ tôn xưng đức Phật, tâm đại bi của Ngài xót thương cả mọi loài. Theo luận Đại trí độ quyển 27, so với đức Phật thì tâm đại bi của Bồ tát nhỏ hơn. Còn theo Quán kinh sớ phần Tán thiện nghĩa thì đại từ bi của đức Phật đã viên mãn cụ túc, nên gọi là Mãn túc Đại bi nhân.

mãn tọa

1) Một chúng hội đủ đầy (khi thọ giới đàn phải có tam sư thất chứng)—A complete, or full assembly. 2) Ngày cuối cùng của chúng hội (an cư kiết hạ): The last day of a general assembly.

Mãn tự

滿字; C: măn zì; J: manji;|1. Giáo lí viên mãn của Đức Phật; 2. Trong tiếng Phạn, chỉ cho sự kết hợp của một nguyên âm và phụ âm để tạo thành một chữ hoàn chỉnh.

mãn tự

(滿字) Chỉ cho những chữ Phạm đã trọn vẹn (mãn) có đầy đủ nghĩa lí do các nguyên âm (Ma đa) và phụ âm (Thể văn) kết hợp lại mà thành. Cứ theo điều Hồ Hán dịch kinh âm nghĩa đồng dị kí trong Xuất tam tạng kí tập quyển 1, thì cách cấu tạo văn tự trong sách tiếng Phạm chia làm Bán tự và Mãn tự. Vì Bán tự nghĩa chưa đầy đủ, cho nên thể chữ chỉ có 1 nửa (bán), giống như chữ nguyệt trong Hán văn, thiếu 1 bên; còn Mãn tự thì lí đã rốt ráo, cho nên thể chữ đầy đủ, giống như chữ nhật trong tiếng Hán, hình chữ đầy đặn. Bởi thế, Bán tự có nghĩa ác, lấy phiền não làm thí dụ; Mãn tự có nghĩa thiện, lấy thường trụ làm thí dụ. [X. kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); Pháp hoa văn cú Q.3, hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Niết bàn kinh nghĩa kí Q.4, thượng (ngài Tuệ viễn đời Tùy)]. (xt. Bán Tự Mãn Tự).

mãn tự giáo

(滿字教) Giáo nghĩa viên dung đầy đủ của Đại thừa, giống như 1 chữ Phạm đã hoàn thành, gọi là Mãn tự giáo. Mãn tự giáo và Bán tự giáo gọi chung là Bán Mãn nhị giáo. Cách chia Bán Mãn nhị giáo đại khái cũng giống như sự phân loại Tiểu thừa và Đại thừa. Bởi vì trong tiếng Phạm, nguyên âm (Ma đa) và phụ âm (Thể văn) còn rời nhau thì chưa hoàn toàn thành 1 chữ, gọi là Bán tự, khi cả 2 hợp lại để hoàn thành 1 chữ thì gọi là Mãn tự. Từ đó dẫn đến quan điểm cho nghĩa lí Tiểu thừa giáo chưa rộng khắp, giống như chữ chưa đầy đủ, nên gọi là Bán tự giáo; còn nghĩa lí Đại thừa giáo tròn đầy, giống như chữ đã hoàn thành, cho nên gọi là Mãn tự giáo. Cách chia Phật giáo làm 2 giáo Bán, Mãn này đã bắt đầu từ kinh Đại bát niết bàn do ngài Đàm vô sám dịch vào thời Bắc Lương, về sau, đến đời Tùy, ngài Tuệ viễn ở chùa Tịnh ảnh cũng đồng quan điểm với thuyết này. Về vấn đề này, ngài Bồ đề lưu chi nói rõ hơn. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, thượng, thì ngài Bồ đề lưu chi đời Bắc Ngụy cho rằng, sau khi đức Phật thành đạo, Ngài nói giáo nghĩa Tiểu thừa hữu tướng trong 12 năm là thuộc Bán tự giáo; từ 12 năm ấy trở về sau, Ngài vì những người Đại thừa mà nói lí không, Bát nhã vô tướng, thì thuộc Mãn tự giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Bán Mãn Nhị Giáo).

mãn ý

See Mãn túc. ; (滿意) Cao tăng Trung quốc, thuộc Luật tông, sống vào đời Đường. Sư là người có phong cách cao thượng, học thức sâu rộng. Sau khi thụ giới Cụ túc, sư chuyên tâm nghiên cứu Luật học, thông suốt cả kinh Luận. Vào cuối những năm Vũ đức (618-626) đời vua Cao tổ nhà Đường, sư nghe tin ngài Pháp lệ ở chùa Nhật quang tại Nghiệp đô soạn bộ Tứ phần luật sớ và hoằng truyền Tướng bộ tông, sư liền đến xin y chỉ. Sau, sư lại theo học ngài Đạo thành ở chùa Hằng tế ở tại Trường an, sớm hôm siêng năng học hỏi nên đã đắc pháp. Sau đó, sư trụ ở chùa Sùng phúc tại Trường an, hoằng dương Luật học suốt 30 năm. Sư nổi tiếng ngang hàng với bạn đồng môn là Luật sư Đông tháp Hoài tố, người đời gọi sư là Tây tháp luật sư. Đệ tử nối pháp của sư có 16 vị như: Đại lượng, Định tân, Pháp tạng v.v...[X. Tống cao tăng truyện Q.14; luật Tông cương yếu Q.hạ].

mãn đà

(滿馱) Phạm: Bandha. Cũng gọi Phược đà. Nghĩa là trói buộc. Tô tất địa yết la cúng dường pháp quyển thượng (Đại 18, 694 thượng), nói: Câu mãn đà mãn đà, tức là 3 ngón của 2 tay nắm lại, ngón út để nguyên như cũ không cử động, thì những tai nạn ấy liền bị trói buộc. [X. Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao].

mãn đát la

See Mạn Đà La in Vietnamese-English Section.

mãn đô khư da tụng

(滿都佉耶頌) Phạm: Màịđùkya-kàrikà. Cũng gọi Thánh truyện luận (Phạm: Àgama-zàstra), Cao đạt phạ đạt tụng (Phạm:Gauđapàdìya-kàrikà). Kinh điển của học phái Phệ đàn đa (Phạm:Vedànta) trong 6 phái Triết học của Ấn độ, do ngài Cao đạt phạ đạt (Phạm: Gauđapàda) biên soạn vào khoảng năm 640 đến 690Tây lịch. Sách chia làm 4 chương 215 bài tụng, đó là: Chương Thánh truyện, chương Hư vọng, chương Bất nhị và chương Toàn hỏa tịch tĩnh. Mỗi chương đều có những tư tưởng và sự bố cục đặc thù, cho thấy rõ là do tập thể sáng tác. Nhưng phần nội dung thì đã dung nhập những giáo lí Phật giáo như: Không quán, chủng tử Duy thức, thuyết Nhị đế v.v... với 1 số thuật ngữ riêng của Phật giáo và những thí dụ mà Phật giáo quen dùng, đồng thời cũng tôn xưng người thể ngộ chân lí là Phật. Ngoài ra, dựa vào những quan điểm vô luận tránh, hựu hòa mà sách này chủ trương, cũng có thể xác định nó đã chịu ảnh hưởng kinh Pháp hoa. Đứng trên lập trường học thuật mà nói thì sách này là tư liệu tốt nhất cho việc nghiên cứu về học phái Phệ đàn đa và về ảnh hưởng của Phật giáo đối với phái này. Về phương diện địa vị trong hệ thống kinh điển Phệ đàn đa, thì sách này chỉ đứng sau Phạm kinh (Phạm: Brahmasùtra) mà thôi. [X. Bhattacharyya: The Àgama Zàstra of Gauđapàda, 1943].

mãn đồ

Manda (skt)—Kim Cang Tòa—The diamond throne. ; (滿荼) Phạm: Maịđa. Hán dịch: Kiên cố, Bất động, Vô đẳng tỉ, Chu biến pháp giới. Tức là tòa Kim cương, tòa Bồ đề. Đại nhật kinh sớ quyển 12 (Đại 39, 709 hạ), nói: Bấy giờ các bồ tát Kim cương liền hiện ra các tòa Bồ đề. Nói theo ý thế gian thì đây chỉ là chỗ ngồi, nhưng bên Ấn độ thì gọi tòa này là Mãn đồ.

mãn đời

To the end of one's life—During one's lifetime.

mãng

1) Con trăn: A boa—Python. 2) Lỗ mãng—Rude—Coarse. 3) Quỷ Ma Hầu La Già trông giống loài trăn: (Mahoraga (skt)—A class of demon ressembling a python.

mãnh

Strong—Fierce—Violent—Determined.

mãnh dũng

Dũng mãnh (mạnh mẻ và can trường)—Strong and courageous.

mãnh hỏa

Lửa mạnh—Fierce fire.

Mãnh Hỷ

xem Uất-đầu-lam-phất.

mãnh lợi

Fierce—Sudden.

Border—Edge.

méc

To tell stories (tales).

méo

Out of shape—Distorted—Deformed.

mét chằng

Pale as death.

Maya (skt)—Mê muội—Deluded—Misleading ideas—Confuse—Delusion—Illusion. ; (迷) Phạm: Bhrànti. Đối lại: Ngộ. Chấp chặt vào sự lí sai lầm, không nhận biết rõ được chân tính của sự vật, gọi là Mê. Trái lại, từ trong mê tỉnh thức, thấu suốt lí chân thực, gọi là Ngộ. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 2 (bản dịch đời Lương) cho rằng, trong mê có 3 hoặc: Vô tri, Nghi tri, Điên đảo tri, nếu khởi 3 hoặc này thì sẽ sinh ra 2 thứ tà kiến: Hoặc chấp vào nhân bất bình đẳng, hoặc chấp vào vô nhân. Đó đều là do mê sự lí mà khởi lên vọng chấp điên đảo. [X. luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.14; phẩm Minh Tín trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Q.4].

mê chấp

(迷執) Mê hoặc chấp trước, nghĩa là đối với chân lí của các Pháp, hiểu biết sai lầm, lại chấp sự sai lầm ấy cho là đúng, trở thành điên đảo. Luận Đại Tì Bà Sa quyển 139 (Đại 27, 718 trung) nói: Đây là lời của ngoại đạo, vì trong đó có sự mê chấp.

mê già thất lợi

(迷伽室利) Phạm: Meghazri. Hán dịch: Đức vân, Công đức vân, Cát tường vân. Vị tỉ khưu trụ ở nước Thắng lạc (Phạm: Ràmàvarànta) tại phương Nam, là 1 trong 53 vị thiện tri thức mà Đồng tử Thiện tài tìm đến tham học. Khi đến nước này, Đồng Tử Thiện Tài được tỉ khưu Đức vân giảng cho nghe về pháp môn: Nhớ nghĩ tới tất cả cảnh giới bình đẳng của chư Phật với trí tuệ thấy cùng khắp không bị trở ngại. [X. phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm; Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Kí Q.18].

mê giới

World of delusion—Any world of illusion. ; (迷界) Cũng gọi Mê cảnh. Cõi mê muội, tức là 3 cõi, 6 đường luân hồi của chúng sinh. (xt. Mê Đồ).

mê hoặc

Hư Vọng—Mê hoặc hay hư vọng là bị lừa dối hoàn toàn. Mê hoặc còn ám chỉ một niềm tin vào một điều gì đó trái với thực tại. Mặt khác, mê hoặc gợi ý rằng điều được thấy có thực tại khách quan nhưng bị giải thích lầm hay thấy sai. Theo Phật Giáo, mê hoặc là vô minh, là không biết chân tánh của vạn hữu hay ý nghĩa thật sự của sự hiện hữu. Chúng ta bị các giác quan của mình (kể cả lý trí và tư tưởng phân biệt) làm cho lầm lạc đến khi nào chúng còn khiến chúng ta chấp nhận thế giới hiện tượng như là toàn thể thực tại, trong khi thật ra nó chỉ là một khía cạnh giới hạn và phù du của thực tại, và tác động tựa hồ như là ở bên ngoài đối với chúng ta, trong khi nó chính là phản ảnh của chính chúng ta. Điều nầy không có nghĩa là thế giới tương đối không có thực thể gì cả. Khi các vị thầy nói rằng tất cả mọi hiện tượng đều là hư vọng, các thầy muốn nói rằng so với tâm, thì thế giới do giác quan nhận biết chỉ là một khía cạnh giới hạn và phiến diện của chân lý, cũng giống như là mộng ảo mà thôi—Deluded and confused—To charm—To entice—To enchant—To be deluded is to be totally deceived—Deceived in regard to reality—Delusion also implies a belief in something that is contrary to reality. Illusion, on the other hand, suggests that what is seen has objective reality but is misinterpreted or seen falsely. In Buddhism, delusion is ignorance, an unawareness of the true nature of things or of the real meaning of existence. We are deluded or led astray by our senses (which include the intellect and its discriminating thoughts) insofar as they cause us to accept the phenomenal world as the whole of reality when in fact it is but a limited and ephemeral aspect of reality, and to act as though the world is external to us when in truth it is but a reflection of ourselves. This does not say all phenomena are illusory, they mean that compared with Mind itself the world apprehended by the senses is such a partial and limited aspect of truth that it is dreamlike. ** For more information, please see Vô Minh. ; (迷惑) Lầm lẫn sự lí là mê, không hiểu rõ sự lí là hoặc. Cảnh giới của Phật, Bồ Tát không có mê hoặc, còn kẻ phàm phu thì thường mê lầm sự lí, khởi nghiệp phiền não. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.5 (bản dịch đời Đường); phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa].

mê hồn

Bewitched.

mê li da

(迷麗耶) Phạm: Maireya. Cũng gọi Muội na dã. Hán dịch: Mộc tửu. Loại rượu tạp được nấu bằng rễ, cuống, hoa, quả của các loại thực vật. Đối lại với Tốt la là loại rượu được nấu bằng gạo. Rượu mê lệ da có đủ cả màu sắc và hương vị, khiến người uống say túy lúy. Theo luật Tứ Phần quyển 16 thì rượu mê lệ da có các loại như: Rượu lê, rượu diêm phù, rượu mía, rượu xá lâu già, rượu nhuy trấp, rượu nho v.v...[X. Luật Thập Tụng Q.17; Luận Pháp Uẩn Túc Q.11].

mê lê ma la

(迷黎麻羅) Cũng gọi Mê lí ma la, Mị lê ma la, Di lê ma la, Mê lưu một loạn. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sự mê loạn của con mắt. Tắc 51, trong Bích Nham Lục (Đại 48, 186 thượng) chép: Nếu thình lình con mắt bị mê loạn (mê lê ma la), thì bất cứ đến nơi nào hễ gặp hỏi liền hỏi, gặp đáp liền đáp, đâu biết rằng lỗ mũi ở trong tay người khác.

mê lí

(迷理) Đối lại: Mê sự. Cũng gọi Mê lí hoặc. Mê mờ đối với chân lí Tứ đế, tức chỉ cho Kiến hoặc. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).

mê lô

(迷盧) Phạm: Sumeru. Gọi đủ: Tô mê lư. Tức là núi Tu di. Núi Tu di cao 8 vạn do tuần, cho nên cũng gọi là Mê lư bát vạn. (xt. Tu Di Sơn).

mê lý

Bị mê muội trong nguyên lý hay mê muội về lý “không”—Deluded theory—Deluded in regard to fundamental principle, i.e. ignorant of reality.

mê ma giác phật

Delusion is demon, enlightenment is Buddha.

mê man

1) To be in a coma. 2) Indefinite—Vague.

mê muội

Stupid.

mê mải

To be absorbed in.

mê một

Mê muội và chìm đắm trong dục vọng—Delusion and sunk in the passions. ; (迷沒) Mê mờ chìm đắm, tức là vì mê vọng chấp trước mà chìm đắm trong chỗ sai lầm. Kinh Vô Lượng Thọ quyển hạ (Đại 12, 275 thượng) nói: Không thấu suốt đạo đức, nên đắm chìm (mê một) trong sân hận. (xt. Mê Tình).

mê ngạn

Bờ mê tối—The shore of delusion.

mê ngộ

Illusion and enlightenment. ; (迷悟) Mê và ngộ. Phiền não hoặc nghiệp trói buộc, gọi là Mê; thoát khỏi hoặc nghiệp, rõ suốt chân lí, gọi là Ngộ. Mục đích của Phật giáo là chỉ dẫn chúng sinh chuyển mê thành ngộ, từ phàm phu đến quả Phật. Mê thì luân hồi tái sinh, ngộ thì giải thoát niết bàn. Thực ra, mê và ngộ chỉ là 2 mặt của 1 đồng tiền, chẳng phải 1 cũng không phải khác. Như khi vội vàng, thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn, đó là mê; sau nhận ra chẳng phải con rắn mà là sợi dây, đó là ngộ. Sợi dây trước sau không khác, chỉ vì sự mê ngộ của người thấy mà thành ra dây và rắn khác nhau, đó chính là cái lí mê ngộ bất nhị mà Thiền tông thường nói đến. [X. Cổ Tôn Túc Ngữ Lục Q.30; Vĩnh Bình Quảng Lục].

mê ngộ bất nhị

Mê và ngộ trên căn bản không sai khác. Chúng chỉ là một tánh—Delusions and enlightenment (delusion and awareness) are fundamentally the same. They are of the one Buddha-nature—See Bất Nhị.

mê ngộ nhân quả

Nhân và quả của mê và ngộ. Nói theo Tứ Diệu Đế thì nhân của mê vọng là tập đế, quả của nó là khổ đế. Nhân của chứng ngộ là đạo đế, quả của nó là diệt đế—The the four axioms, that of “accumulation” is caused by illusion, with suffering as effect; that of “the way” is caused by enlightenment, with extinction of suffering. ; (迷悟因果) Nhân quả của mê và ngộ. Mê ngộ đều có nhân quả; nếu nói theo pháp Tứ đế, thì nhân của mê vọng là Tập đế, quả của mê vọng là Khổ đế; nhân của chứng ngộ là Đạo đế, quả của chứng ngộ là Diệt đế.

mê ngộ nhất như

Mê ngộ chỉ là những khía cạnh của chân lý, chứ không phải khác nhau, như nước với băng đều cùng một thể (ở thể lỏng là nước, ở thể đặc là băng)—Delusion and enlightenment are aspects of the one reality, as water and ice are the same substance. ; (迷悟一如) Cũng gọi Mê ngộ nhất đồ, Mê ngộ bất nhị. Mê không có tự tính, không có tự tính nên là không; bởi vậy, mê là không, mà ngộ cũng là không. Thể của không là đồng nhất, nên gọi là Nhất như, đó là theo nghĩa của Không tông. Lại nữa, mê như băng giá, ngộ như nước, mê ngộ đồng thể, gọi là Nhất như, đó là theo nghĩa của Tính tông.

mê nhân chú

Bùa chú làm mê hoặc người khác—Incantations to delude or confuse others. ; (迷人咒) Một loại chú thuật của ngoại đạo, làm cho người ta mê loạn. [X. Luật Ngũ Phần Q.26].

mê nhũ

(迷乳) Không nhận ra (mê) màu sắc của sữa (nhũ), ví dụ ngoại đạo vì mê chấp nên không hiểu được lí của 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh Niết Bàn quyển 14 (bản Bắc) nêu ví dụ người mù không biết màu trắng của sữa, tuy có nêu ra 4 vật có màu trắng là vỏ sò, bột gạo, tuyết, con hạc để ví dụ, nhưng rốt cuộc người mù vẫn chẳng thể biết được màu sắc đích thực của sữa. Ngoại đạo cũng vậy, cuối cùng vẫn không thể nào hiểu được lí thường, lạc, ngã, tịnh là thế nào. [X. Ma Ha Chỉ Quán Q.5].

mê sinh

Tất cả những chúng sanh mê muội—All deluded beings. ; (迷生) Chỉ cho chúng sinh mê chấp, vì mê chấp không tỉnh giác, nên cứ phải lưu chuyển mãi trong 3 cõi, không lúc nào dừng.

mê sảng

Delirium.

mê sự

Delusive phenomena or affairs—Deluded in regard to phenomena. ; (迷事) Đối lại: Mê lí. Cũng gọi Mê sự hoặc. Mê chấp sự tướng của 5 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc), tức chỉ cho Tu hoặc. [X. Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao Q.1 thượng]. (xt. Kiến Hoặc, Tu Hoặc).

mê tâm

A deluded mind. ; (迷心) Tâm mê lầm sự lí, là 1 trong 60 vọng tâm nói trong phẩm Trụ tâm của kinh Đại Nhật. Kinh Đại Nhật quyển 1 (Đại 18, 3 thượng) nói: Thế nào là mê tâm? Nghĩa là chỗ chấp trước sai khác, chỗ suy nghĩ sai khác. Đại thừa nhập đạo thứ đệ (Đại 45, 460 thượng) nói: Mê tâm chẳng ngộ thì dù một hạnh cũng chẳng có chỗ nương. Pháp đối trị là tâm chuyên nhất thẩm xét kĩ lưỡng. [X. kinh Đại Phật Đính Thủ Lăng Nghiêm Q.10].

mê tân

Cảnh giới mê muội (ba cõi sáu đường)—Deluded realms—The ford of delusion, i.e. mortality—See Lục Đạo, and Tam Giới in Vietnamese-English Section. ; (迷津) Bờ bến mê vọng. Chỉ cho cảnh giới 3 cõi, 6 đường của chúng sinh. Bài tựa Đại Đường Tây Vực Kí (Đại 51, 867 hạ) nói: Phá hoài nghi trên biển tính, mở diệu giác ở bến mê. Bài tựa của vua Thần Tông nhà Minh trong Tục nhập tạng kinh cũng nói: Tạm mượn bè nơi bến mê để vượt sang bờ giác.

mê tình

Vì chấp thật mà mê hoặc chánh lý, gọi là mê tình. ; (迷情) I. Mê Tình. Đồng nghĩa: Mê tâm. Chỉ cho tâm mê hoặc của phàm phu, vì phàm phu không biết rõ thực tướng của vạn hữu, bám dính vào các sự vật khách quan, vọng niệm nối tiếp không dứt, cho nên tâm của phàm phu gọi là Mê tình. II. Mê Tình. Chỉ cho chúng sinh (hữu tình) mê hoặc. Chương Bồ Đề Đạt Ma Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ), chép: Ta vốn đến đất này, Truyền pháp cứu mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành.

mê tín

(迷信) Niềm tin lầm lạc của người đời. Phật giáo là tông giáo chính tín, lấy việc chuyển mê khai ngộ làm mục đích, hiểu biết tất cả pháp một cách như thực, xa lìa sự hư dối, đạt đến chính đẳng giác là lí tưởng. Do đó, Phật giáo chủ trương bài trừ những điều không hsssợp lí và hoàn toàn không chấp nhận những điều mê tín, dị đoạn. Ngay như sự kì đảo của Mật giáo cũng là dùng tam mật của hành giả và tam mật của bản tôn gia trì lẫn nhau mà thành tựu căn nguyên Tất địa, khác hẳn với các hình thức mê tín. Mặc dầu như thế, nhưng với sự thay đổi của thời gian, các tập tục tín ngưỡng dân gian như chiêm tinh, tướng số, bói toán, bùa chú v.v... đã dần dần trà trộn vào, từ đó đã sinh ra mê tín có hại cho xã hội. Như căn cứ vào kinh Tú diệu mà xem ngày giờ lành dữ, căn cứ vào kinh Chiêm sát mà hành pháp Tháp sám (rất thịnh hành ở đời Tùy), căn cứ vào kinh Du kì quyển hạ mà thực hành pháp A vĩ xa, dùng bùa phép chữa bệnh chứ không dùng thuốc v.v... Tất cả những việc làm trên đều thuộc loại mê tín.

mê tín dị đoan

Đây là lối mê tín như thờ đầu cọp, đầu trâu, hay thờ thần rắn rít, bình vôi ông táo, xin xâm, bói quẻ, vân vân. Đạo Phật là đạo của trí tuệ, thế nên, đạo Phật không bao giờ chấp nhận mê tín dị đoan; tuy nhiên, những tín ngưỡng và nghi lễ mê tín đã được đưa vào nhằm tô son điểm phấn cho tôn giáo để lôi kéo quần chúng, nhưng một lúc sau thì những dây leo được trồng để trang hoàng lăng tẫm đã leo phủ cả lăng tẫm, và kết quả là giáo lý tôn giáo bị gạt ra nhường chỗ cho những nghi thức mê tín—Superstition—This is a belief or rite unreasoningly upheld by faith such as venerating the head of tiger, and buffalo, the snake and centipede deities, the Lares, consulting fortunteller, reading the horoscope, etc. Buddhism means wisdom, therefore, Buddhism never accept superstitions; however, superstitious beliefs and rituals are adopted to decorate a religion in order to attract the multitude. But after some time, the creeper which is planted to decorate the shrine outgrows and outshines the shrine, with the result that religious tenets are relegated to be the background and superstitious beliefs and rituals become predominent .

mê tín tà đạo

To have improper belief.

mê tử

Mê tử là kẻ có tiền trong tay mà vẫn chết đói, giống như chúng sanh có Phật tánh mà không biết dùng đến (theo Kim Cang Tam Muội Kinh)—The deluded son who held a gold coin in his hand while starving in poverty, such is the man with Buddha-nature, but fails to use it. ; (迷子) Người không biết rõ sự lí. Trong kinh Kim Cương Tam Muội có 1 thí dụ về Mê tử như sau: Gã mê cầm tiền vàng trong tay mà không biết tiêu dùng, cứ sống vất vưởng, khốn khổ quanh năm. Ví dụ người phàm phu vốn có tính Phật mà không tự biết, nên cứ mãi trôi lăn trong 3 cõi, khổ não vô cùng.

mê vọng

Tối tăm trong việc phân biệt sự và lý thì gọi là mê, hư dối chẳng thực thì gọi là vọng—Deluded and misled; deluding and false. ; (迷妄) Không rõ sự lí là mê, hư dối không thực là vọng. Vì chúng sinh mê vọng nên phải chịu vô lượng thống khổ. [X. kinh Hoa Nghiêm Q.4 (bản dịch đời Đường); Nhân Vương Kinh Hợp Sớ Q.trung].

mê xí la đại tướng

(迷企羅大將) Mê xí la, Phạm: Mihira. Cũng gọi Di khư la đại tướng, Mê khư la đại tướng. Vị thần tướng phát nguyện bảo vệ Phật pháp, là 1 trong 12 thần tướng của đức Phật Dược Sư. Về hình tượng của vị thần này, có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ tiêu, thì Hộ pháp Đại tướng Mê Xí La A Yết Noa Phương, thứ 3, toàn thân rực lửa, trên có khói xanh, cỡi rồng bay đi, trong tay cầm cây mâu, trên mâu có cờ ánh lửa. Còn theo kinh Dược Sư Lưu Li Quang Vương Thất Phật Bản Nguyện Công Đức Niệm Tụng Nghi Quĩ quyển hạ, thì Đại tướng Dược Xoa Mê Xí La mình màu vàng, tay cầm gậy báu, thống lãnh 7 ức chúng Dược Xoa, thệ nguyện giữ gìn giáo pháp của đức Như Lai. [X. kinh Quán Đính Q.12].

mê đảo

Làm mê mờ và điên đảo—Deluded—Confused—To delude and upset. ; (迷倒) Bị mê hoặc mà hiểu sự lí một cách đảo lộn.Kinh Hoa Nghiêm (bản 80 quyển) quyển 49 (Đại 10, 261 trung) nói: Bồ tát xa lìa mê đảo, tâm thanh tịnh thường tương tục. [X. Hữu Bộ Tì Nại Da Q.47].

mê đầu nhận ảnh

(迷頭認影) Không hiểu được lí chân thật mà tìm cầu ảo tưởng. Đây là ví dụ trong kinh Lăng Nghiêm quyển 4. Trong thành Thất la phiệt có 1 kẻ ngu si tên là Diễn Nhã Đạt Đa, một buổi sáng nọ, nhìn vào gương thấy đầu mình có đầy đủ mặt mũi tai mắt, nhưng khi lìa khỏi gương thì không thấy đầu mình đâu nữa, anh ta liền hoảng sợ, điên cuồng chạy đi tìm đầu! Trong đoạn văn trên, đầu ví chân tính, hình ảnh trong gương ví dụ tướng hư ảo không thật.

mê đồ

(迷途) Cảnh giới mê tối, tức chỉ cho 3 cõi, 6 đường mà chúng sinh đang sống chết vòng quanh trong đó. Ba cõi chỉ cho cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc; 6 đường tức là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người và trời... [X. Luận Bồ Đề Tâm]. (xt. Tam Giới, Lục Đạo).

Mê-kha-la

S: mekhalā;|Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Một gia đình nọ tại Ðê-vi Kốt-ta (devīkoṭṭa) có hai cô con gái, Mê-kha-la và Ka-na Kha-la (kanakhalā). Hai cô này sớm được gả cho hai công tử, nhưng hai ông chồng sớm chê trách hai nàng, mặc dù hai nàng không có lỗi lầm gì. Lần đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa) du hoá, có bảy trăm Không hành nam (s: ḍāka), nữ thần theo hộ tống, thiên nhạc trỗi lên vang lừng, ai cũng thấy cũng nghe được. Hai nàng liền quyết đi theo để xin học hỏi. Vị Ðạo sư chấp nhận và hướng dẫn vào Kim cương Va-ra-hi (vajra-vārāhī) và dạy cho nàng cách quán tưởng.|Mười hai năm liên tục, hai nàng tu tập thiền định và sau đó tìm gặp lại thầy. Vị Ðạo sư hỏi các nàng là ai và đòi phẩm vật cúng dường. Khi nghe thầy đòi cúng dường »bản thân« thì hai nàng biến lưỡi thành kiếm, tự cắt đầu dâng thầy và đọc bài kệ:|Nhờ Ðạo sư khai thị,|đã thực hiện thiền quán,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa Niết-bàn, Sinh tử.|Tri Hành đã hợp nhất,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa việc Cho, việc Nhận.|Không vô biên đã cùng,|Tâm tỉnh giác thanh tịnh,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa cái Ta và Người.|Xin cúng dường vật này,|dấu hiệu của Vô tâm.|Vị Ðạo sư không ngờ đệ tử mình đã ngộ đạo, nhưng khuyên:|Hãy nhìn Du-già-ni|đạt niềm vui giải thoát!|Hãy tạm quên hạnh phúc,|sống phục vụ tha nhân.|Căng-ha-ba đặt đầu lại trên vai họ, thân hai nàng đều nguyên vẹn như cũ. Những người chứng kiến đều rất khâm phục, gọi hai nàng là »Du-già-ni mất đầu«. Khi cả hai cúi đầu chạm chân vị Du-già sư thì họ đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Bài ca thành đạo của Mê-kha-la (người chị) như sau:|Mọi hiện tượng trong ngoài,|đó chính là Tâm hiện.|Thiền định không vướng mắc,|tất cả đều một vị.|Trong thiền định tối thượng,|không chút tâm sở cầu,|ta đã chứng Bất nhị,|và Phật quả hoàn toàn.

Mê-kô-pa

S: mekopa; »Ðạo sư với cặp mắt nhìn trừng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Ông là một người bán thức ăn rong tại Bengalen, có thói quen tốt là luôn luôn cúng dường thức ăn cho một Du-già sư nọ. Một hôm, vị Du-già sư hỏi tại sao ông cứ cúng dường thức ăn, ông cho hay là muốn thu thập Phúc đức cho đời sau. Nghe vậy, vị này dạy ông về tính nhất thể của Luân hồi và Niết-bàn. Tuỳ nơi tư duy con người mà Niết-bàn hay Sinh tử hiện ra là một hay khác và giải thoát cũng nằm nơi con người. Sau lời khai thị đó, Mê-kô-pa chỉ cần 6 tháng để đạt tri kiến về tự tính muôn vật, đạt Tất-địa. Sau đó ông đi lang thang trên bãi thiêu xác, hay vào thành mở mắt thật lớn nhìn người qua kẻ lại, như một người điên. Người đời gọi là ông là »Du-già sư trợn mắt.« Bài kệ thành đạo của ông như sau:|Ðạo sư há dạy rằng:|»Hãy liễu ngộ tự tính,|Từ bỏ óc phân biệt,|làm quen pháp Bất nhị,|sống trên bãi thiêu xác.|Ðã ngộ tính Bình đẳng,|thõng tay vào thế gian,|như một tên điên khùng«.

Mê-đi-ni

S: medhini; »Nông gia kiệt sức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là một nông dân ở Hoa Thị thành (s: pāṭalipu-tra). Ngày nọ, một vị Du-già sư dạy ông phép thiền quán, nhưng cố gắng tới mấy đầu óc ông vẫn vương vấn chuyện cày cấy. Ông thú nhận điều đó với vị này, vị này dạy ông quán tưởng như sau:|Lưỡi cày ví tâm thức,|Trâu bị ví cảm thụ,|vui sướng và khổ đau,|hãy cày bừa đồng ruộng,|của cuộc đời thế gian.|Hãy gieo hạt nhận thức,|rồi gặt hái quả chín,|của niềm vui thanh tịnh,|phúc hạnh ngập đầy tràn,|suối nguồn của thật tại.|Sau mười hai năm quán tưởng, những khái niệm ràng buộc ông bấy lâu nay tự tan biến, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Nhờ nhận thức toàn diện,|về tri kiến tiên thiên,|nhờ phương tiện khéo léo,|của trí óc phân biệt;|mà Tự tính nổi lên,|từ chiều sâu thăm thẳm.|Lành thay, đã chứng đạt.

mênh mông

Vast—Immense.

mình

1) Body. 2) Oneself.

mình làm tổn người là hại, người làm tổn mình là phước

Harming others brings misfortunes; being harmed is to receive merits.

mích lòng

See Mếch Lòng.

mím

To tighten.

mít đặc

Completely ignorant.

To grop—To feel about with the hand as one does in the dark.

mò mẫm

See Mò.

mò ra

To grop out.

mòn

To wear.

mòn chí

Discouraged—Broken-spirited—Despondent.

mòn hơi

Out of breath.

mòn mắt

To be tired of waiting.

mòn sức

To wear oneself out.

món

Article—Thing—Item.

móng

1) Talon—Claw (móng vuốt). 2) Foundation—Base (nền móng). 3) Nail (móng tay chân).

mót

To glean—To gather what has been left over.

1) Lần mò (như người mù mò đường): To feel, or to grope, e.g. as a blind man. 2) Mô đất: Mound. 3) Mưu mô: Plans—Schems—Counterfeit—Forge.

mô bái

(膜拜) Chắp tay quì lạy biểu thị sự tôn kính. Tức là giơ 2 tay lên rồi quì lạy sát đất. Đây là nghi thức chủ yếu trong sự lễ kính của tông giáo. Một số ít dân tộc ở vùng Tây bắc Trung quốc đời xưa phần nhiều thực hành nghi thức lễ lạy này đối với bậc tôn trưởng của họ. Ngày nay, Mô bái chỉ chung cho sự sùng kính, lễ bái các thần linh.

mô hạ

See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mô phạm

Model—Pattern—Example.

mô phỏng

To copy—To imitate.

mô tượng

Kinh Niết Bàn nói đến người mù diễn tả voi bằng cách rờ voi (hễ rờ ngà thì nói voi cứng như đá và nhọn như mũi tên)—The Nirvana Sutra mentioned about the blind man who tried to describe an elephant by feeling it. ; (摸象) Cũng gọi Môn tượng, Chúng manh, Quần manh, Bình tượng. Xẩm sờ voi. Tức là mỗi một người mù chỉ sờ biết 1 bộ phận của con voi, rồi ai cũng cho mình biết rõ con voi; ví dụ hàng ngoại đạo, dị học, chẳng biết nghĩa chân thực của các pháp, mà cứ cùng nhau tranh chấp thị phi; cũng dụ cho những người học Phật chỉ một mặt chấp nê vào câu văn trong kinh luận mà không biết nghĩa đích thực của Phật pháp. Phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm quyển 19 kể rằng, xưa kia vua Kính diện sai người hầu cận dắt 1 con voi đến, bảo những người mù sờ vào. Người sờ vòi voi, cho rằng voi giống càng xe; người sờ ngà voi, bảo voi giống cái chày; người sờ tai voi, nói voi giống cái vỉ; người sờ đầu voi, cho rằng voi như cái đỉnh; người sờ lưng voi, bảo rằng voi giống như gò đống; người sờ vào bụng voi, nói voi giống như bức vách; người sờ vào chân, cho rằng voi giống như cây cột v.v... rồi cùng tranh cãi với nhau, ai cũng cho mình là nhận biết đúng! Nhà vua thấy vậy, cười lớn và đọc kệ rằng (Đại 1, 129 thượng): Bọn người mù tụ tập, Cùng tranh cãi nơi đây; Thân voi vốn một thể, Chấp tướng sinh phải quấy. Kinh Đại bát niết bàn quyển 32 (Đại 12, 556 thượng) nói: Thiện nam tử! Những người mù kia không nói đúng hình thể của voi, cũng chẳng phải không nói đúng. Vì nếu chấp những tướng ấy thì chẳng tướng nào là voi, nhưng ngoài toàn thể tướng ấy ra thì cũng không có voi nào khác! Thiện nam tử! Vua dụ cho Như lai chính biến tri, Thần dụ cho kinh Phương đẳng đại niết bàn, voi dụ Phật tính, những người mù dụ tất cả chúng sinh vô minh. Thí dụ này từ xưa đã rất nổi tiếng, thường được sử dụng làm tên tác phẩm, như Lăng nghiêm kinh mô tượng kí của ngài Châu hoành đời Minh, Đương ma mạn đồ la môn tượng của ngài Trí viên người Nhật. Nhưng đó đều là lời khiêm nhường của tác giả, đồng nghĩa với Quản kiến (thấy trong ống). [X. kinh Đại lâu thán Q.3; kinh Nghĩa túc Q.thượng; kinh Lục độ tập Q.8; kinh Bồ tát xử thai Q.3; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.62].

mô tả

Describe.

môi giới

To go between—Intermediary.

môn

1) Cửa: Cửa ra vào của mọi nhà—Gate—Door—Entrance. 2) Tông Phái: Sect—School. 3) Giáo Thuyết: Đặc biệt là giáo thuyết dẫn đến cứu độ hay Niết Bàn—Teaching, especially one leading to salvation or nirvana. 4) Subject (study). 5) Event (sport). ; (門) I. Môn. Phạm: Dvàra. Cổng chùa (thường gọi cửa Tam quan). Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 8, thì Bồ tát tại gia khi đến ngoài cổng chùa, phải lễ sát đất và tâm niệm: Đây là nơi ở của các bậc thiện nhân rồi mới được tiến vào trong chùa. Các già lam, tinh xá cổ xưa đều có kết giới, 4 phía xây tường bao quanh, phải qua cổng chính mới vào giới nội, như Đại tháp Sơn kì ở Ấn độ, 4 mặt đều có cổng. Còn kiến trúc chùa viện kiểu Trung quốc thì thường mở cổng ở hướng chính Nam. [X. kinh Tu hành bản khởi Q. hạ; phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa]. II. Môn. Thuật ngữ dùng để phân biệt pháp tướng và nghĩa lí, như: Bình đẳng môn và Sai biệt môn, Hữu môn, Không môn, Diệc hữu diệc không môn và Phi hữu phi không môn (4 môn), Thánh đạo môn và Tịnh độ môn (2 môn) v.v... Vì sự giáo hóa của Phật giáo là thích ứng với đối tượng, tuy có nhiều sai biệt nhưng đều là cửa đưa người vào đạo Bồ đề, cho nên gọi là Pháp môn. III. Môn. Nương vào 1 pháp môn mà lập tông chỉ của 1 tông phái, gọi là Tông môn; đồ đệ của tông môn gọi là Môn đồ, Môn đệ, hoặc dùng cànhlá làmví dụ thì gọi là Môn diệp, Môn mạt.

môn bài

License.

môn chủ

Vị kiểm soát cửa hay coi tổng quát một tông phái—The controller of a gate, or sect.

môn hoả

(門火) Ở Trung quốc từ xưa đến nay, vào những dịp đội mũ (con trai đến tuổi trưởng thành), cưới hỏi, ma chay, cúng tế v.v... đều đốt lửa ở sân hoặc trước cửa gọi là Đình liệu hay Môn liệu. Phật giáo Nhật bản cũng phỏng theo phong tục này, nên trong hội Vu lan bồn hay lễ tống táng thường đốt đống trấu hoặc cây gai ở trước cửa gọi là Môn hỏa. Dân gian thì đốt lửa vào buổi chiều hôm trước ngày lễ Vu lan ở trước cửa để đón rước linh hồn tổ tiên về, gọi là Nghinh hỏa. Rồi lúc kết thúc hội Vu lan, cũng đốt lửa để tiễn đưa vong linh, gọi là Tống hỏa. Như đêm 16 tháng 8 tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản, có đốt ngọn lửa hình chữ.. (đại), là lửa tiễn đưa đại qui mô. [X. Chu lễ; Thi tiểu nhã đình liệu; Nhan thị gia huấn; Hòa Hán tam tài đồ hội].

môn kinh

Bài Kinh về tang lễ và đọc ngay tại cửa trước nhà—The funeral service and read at the house-door. ; (門經) Tụng kinh trước cửa nhà. Có 2 nghĩa: 1. Đứng trước cửa nhà tụng kinh khi quan tài được khiêng ra cửa để đưa đi chôn. 2. Vị tăng vân thủy (hành cước)đứng trước cửa nhà của thí chủ tụng kinh khi tiếp nhận vật cúng dường.

môn luật

(門律) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Trương dung (444-497) soạn vào khoảng năm Vĩnh minh (483-493) đời NamTề, được thu vào Hoằng minh tập quyển 6 trong Đại tạng tập 52. Nội dung tác phẩm này mang tính chất 1 bài gia huấn. Tác giả là người thuộc 1 dòng họ danh tiếng ở quận Ngô, vì thương cảm sự đối lập giữa Phật giáo và Đạo giáo nên ông soạn sách này nêu lên chủ trương của ông là Phật Đạo gồm tu, Phật Đạo hợp nhất để khuyên bảo người trong thân tộc.

môn lưu

See Môn Phái, and Môn Tích.

môn lữ

Bạn cùng học hay cùng tu—Disciple—Fellow-student.

Môn mi

(門楣): cái xà ngang gác trên cửa, cho nên cửa to hay nhỏ nói lên sự vinh hiển, giàu sang, cao quý, bề thế của nhà đó; từ đó, môn mi là từ dùng để đề cao địa vị xã hội của gia đình. Trong Phong Tục Nghị (風俗議) của Tống Ứng Tinh (應星, 1587-1666) nhà Minh có câu: “Vi sĩ giả, nhật tư cư quan thanh yếu, nhi quyến mẫu thứ nhân, nhật đốc kỳ trĩ ngoan tử đệ Nho quan Nho phục, mộng tưởng khoa đệ, cải hoán môn mi (爲士者、日思居官清要、而畎畝庶人、日督其稚頑子弟儒冠儒服、夢想科第、改換門楣, là kẻ sĩ, ngày thường nghĩ đến việc làm quan trong sạch, lo cấp ruộng đất cho muôn dân, hằng ngày đốc thúc lớp con em khờ dại để biết mũ quan áo quan, mơ tưởng thi đỗ để cải đổi môn phong).” Câu “tụy đường nhất tự dận môn mi (萃堂一嗣胤門楣)” có nghĩa là sum họp cả nhà con cháu đời sau kế thừa gia phong bề thế của tiên tổ.

môn môn kiến phật

(門門見佛) Tu tập bất cứ 1 pháp môn nào đều có thể thấy Phật. Trong Bát chu tán (Đại 47, 448 thượng) có nói: Sở dĩ đặt ra nhiều phương tiện, nhiều giáo môn, là vì chúng ta là hạng phàm phu đảo điên tà kiến; nếu y theo chính pháp tu hành, thì tu bất cứ 1 pháp môn nào cũng đều có thể thấy Phật, được vãng sinh Tịnh độ.

môn phái

Sect—School ; (門派) I. Môn phái. Hệ thống dòng phái của 1 tông hay 1 phái nào đó, phần nhiều chỉ cho các chi phái của Thiền tông. II. Môn Phái. Pàli: Dvàranikàya. Hán âm: Đạt bà la ni kha da. Cũng gọi Đạt bà la phái. Một chi phái trong Phật giáo Thượng tọa bộ ở Miến điện, do Pháp sư Áo ba (vốn tên là Ngô áo can tát, 1817-1905) sáng lập vào năm 1855 ở vùng Hưng thực tháp. Phái này chủ trương dùng giáo nghĩa 3 môn (thân môn, ngữ môn, ý môn) để thay cho giáo nghĩa 3 hành (thân hành, ngữ hành, ý hành) và nương vào đó mà qui y Tam bảo Phật, Pháp, Tăng. Phái này cũng chủ trương chỉ thừa nhận uy quyền của giới luật chứ không thừa nhận quyền uy của thế tục. Vị thủ lãnh tối cao gọi là Ma ha na da ca(Đại đạo sư), kế đó chia ra A nỗ na da ca(Phó đạo sư), Trụ trì chùa Trung tâm, Già na (Hội nghị tỉ khưu) v.v... Giới luật rất nghiêm, như cấm ngặt không được tiếp xúc hoặc ăn cơm chung với tỉ khưu thuộc phái khác, không được che ô (dù), cấm chỉ cầm giữ tiền bạc và xem nghe múa hát, v.v... Sau khi sư Áo ba qua đời, phái này chia thành 2 phái là phái Hưng thực tháp và phái Anh gia bố. Đến năm 1944 mới lại thống nhất. Phái này có hệ thống truyền thừa giữa thầy và trò rất chặt chẽ. Những vị tiêu biểu chủ yếu gồm có: Áo can tát, Mã lạp, Khoa lạp tháp ôn tháp v.v...

môn sinh

See Môn đệ.

môn sư

Vị sư được công nhận như vị Thầy của gia đình—Preceptor—The monk who is recognized as teacher by any family. ; (門師) Chỉ cho vị thầy chứng minh lúc thiện nam, tín nữ tại gia qui y Tam bảo (Môn tức là pháp môn Tam bảo chân chính, thanh tịnh cứu giúp thế gian). Pháp uyển châu lâm quyển 84 (Đại 53, 905 hạ) nói: Lúc đó có vị sa môn ở Lương châu là Thích Tuệ sùng làm môn sư cho quan Thượng thư đời Ngụy là ông Hàn vạn đức.

môn thần

Vị Thần giữ cửa—The gate-gods or guardians.

môn thủ

See Môn Chủ. ; (門首) I. Môn Thủ. Cũng gọi Môn chủ. Chỉ cho vị thượng thủ của 1 môn phái, cũng tức là vị trụ trì 1 ngôi chùa. II. Môn Thủ. Phía trước cổng chùa. Tắc 4, Bích nham lục (Đại 48, 144 thượng) ghi: Đức sơn bèn ra cổng chùa, ý muốn nhổ sạch gốc, nên tự nói: Không được qua loa.

môn trạng

Tham Bảng—Tham Trạng—Danh Thiếp—A name paper, card, or visiting card.

Môn Tích

(門跡, monzeki): nguyên lai đây là từ dùng để chỉ những di tích được đặc biệt quy định như Môn Tích của Hoằng Pháp Đại Sư (弘法大師, Kōbō Daishi, tức Không Hải [空海, Kūkai]), Môn Tích của Từ Giác Đại Sư (慈覺大師, Jikaku Daishi, tức Viên Nhân [圓仁, Ennin]), hay Môn Tích của Trí Chứng Đại Sư (智証大師, Chishō Daishi, tức Viên Trân [圓珍, Enchin]), v.v. Nhưng sau này tầng lớp Hoàng tộc xuất gia, chùa họ ở cũng được gọi là Môn Tích, đặc biệt còn dùng từ kính xưng như Ngự Môn Tích (御門跡). Vào năm 899, đầu tiên Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō) xuất gia và sống ở Nhân Hòa Tự (仁和寺, Ninna-ji), và từ xưng hô Môn Tích có thể tìm thấy qua bộ Nguyên Bình Thạnh Suy Ký (源平盛衰記) hay Bình Gia Vật Ngữ (平家物語), được phát xuất từ đầu thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura, 1185-1333). Còn Tự Viện Môn Tích là nơi Hoàng tộc cũng như con quan Nhiếp Chính đến xuất gia và cư trú, nơi có tư cách chùa tối cao và được mọi người tôn sùng tối đa. Đến thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573), Môn Tích trở thành ngôn từ thể hiện cách thức của tự viện; đến thời Mạc Phủ thì có đặt ra chức quan Môn Tích Phụng Hành (門跡奉行, Monzekibugyō) để quản lý việc chính trị liên quan đến các Tự Viện Môn Tích. Những Tự Viện Môn Tích dưới thời đại Thất Đinh gồm Nhân Hòa Tự (仁和寺), Đại Giác Tự (大覺寺), Tùy Tâm Tự (隨心寺), Khuyến Tu Tự (勸修寺), Tam Bảo Viện (三寶院), Liên Hoa Quang Viện (蓮華光院), An Tường Tự (安祥寺), Thiền Lâm Tự (禪林寺), Thắng Bảo Viện (勝寶院), Kim Cang Vương Viện (金剛王院), Bồ Đề Viện (菩提院), v.v., của Chơn Ngôn Tông; Viên Dung Viện (圓融院), Thanh Liên Viện (青蓮院), Diệu Pháp Viện (妙法院) của Thiên Thai Tông; về phía Phái Tự Môn thì có Thánh Hộ Viện (聖護院), Thật Tướng Viện (實相院), Viên Mãn Viện (圓滿院); Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) có Nhất Thừa Viện (一乘院) và Đại Thừa Viện (大乘院); Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji) có Đông Nam Viện (東南院), v.v. Ngoài ra, còn có Chiếu Cao Viện (照高院), Bình Đẳng Viện (平等院), Pháp Trú Tự (法住寺), Bản Giác Tự (本覺寺), v.v., cũng được xếp vào hạng Môn Tích. Trường hợp Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) cũng đã bao lần xin được xếp vào hạng chùa Chuẩn Môn Tích, và mãi đến năm 1559 mới được công nhận; sau đó, Chuyên Tu Tự (專修寺) ở vùng Cao Điền (高田) cũng được liệt vào hạng Chuẩn Môn Tích. Đến thời đại Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), vào năm 1607, Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) được xếp vào hàng Tự Viện Môn Tích. Đến năm 1655, Luân Vương Tự (輪王院), Tư Hạ Viện (滋賀院) được liệt vào hạng Chùa Môn Tích. Dưới thời đại Giang Hộ, các Tự Viện Môn Tích được chế độ hóa rõ ràng, phân chia thành nhiều loại khác nhau như Cung Môn Tích (宮門跡), Thanh Hoa Môn Tích (清華門跡), Nhiếp Gia Môn Tích (攝家門跡), Chuẩn Môn Tích (准門跡, tức Hiếp Môn Tích [脇門跡, wakimonzeki]), v.v. Cung Môn Tích là những ngôi tự viện do các vị Thân Vương sống ở đó, gồm có Thánh Hộ Viện (聖護院), Luân Vương Tự (輪王院), Nhân Hòa Tự (仁和寺), Diệu Pháp Viện (妙法院), Chiếu Cao Viện (照高院), Thanh Liên Viện (青蓮院), Tri Ân Viện (知恩院), Khuyến Tu Tự (勸修寺), Nhất Thừa Viện (一乘院), Viên Dung Viện (圓融院), Mạn Thù Viện (曼殊院), Tỳ Sa Môn Đường (毘沙門堂), Viên Mãn Viện (圓滿院), v.v. Còn Nhiếp Gia Môn Tích là nơi do con của những vị công khanh đến xuất gia và trú ngụ, gồm Tùy Tâm Viện (隨心院), Tam Bảo Viện (三寶院), Đại Thừa Viện (大乘院), Đại Giác Tự (大覺寺), Liên Hoa Quang Viện (蓮華光院), v.v. Còn như trường hợp Viên Mãn Viện, Thật Tướng Viện, Nhất Thừa Viện, v.v., được gọi là Công Phương Môn Tích (公方門跡). Các ngôi chùa Thanh Hoa Môn Tích có Khuyến Tu Tự, Tỳ Sa Môn Đường, v.v. Những ngôi chùa được xếp hạng Chuẩn Môn Tích có Đông Tây Bổn Nguyện Tự (東西本願寺), Chuyên Tu Tự (專修寺), Phật Quang Tự (佛光寺), Cẩm Chức Tự (錦織寺), v.v. Đến năm 1871, dưới thời Minh Trị (明治, Meiji), hiệu Môn Tích bị phế bỏ, nhưng sau đó thì được sử dụng lại cho đến ngày nay. Trong số các ngôi chùa Môn Tích này có chư tăng xuất gia, cũng có nhiều hạng người để phục dịch như Tăng quan; họ cũng xuống tóc xuất gia, mặc y phục tu sĩ nhưng mang đao kiếm, ăn thịt, có vợ con; lại có đại đồng tử, tiểu đồng tử, v.v. Chính vì tên gọi Môn Tích thể hiện toàn bộ tính cách ngôi chùa như thế nào, nên sau này mỗi khi dùng đến từ này (hay Môn Chủ), người ta còn ám chỉ đến vị Trú Trì chùa ấy nữa. Thêm vào đó, ngôi chùa nào có các vị Nội Thân Vương xuất gia và cư trú, cũng được xếp vào hạng Chuẩn Môn Tích. Về nguồn gốc phát sinh từ Môn Tích, có tác phẩm Môn Tích Truyện (門跡傳), 1 quyển, thuật lại rất chi tiết, đầy đủ. Thư tịch này ghi rõ lịch đại chư vị trú trì cũng như ngày tháng năm qua đời của họ ở các chùa Môn Tích. Không rõ ai là người biên tập nên tác phẩm này.

môn tích

Môn đồ hay sự phát triển của môn phái—The followers, or development of any sect. ; (門迹) Cũng gọi Ngự môn tích. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Vốn chỉ cho pháp tích (Tổ tích) của 1 môn phái, nghĩa là vị chủ tăng của 1 tự viện thống lãnh môn đồ tu tập 1 pháp môn, về sau chuyển dụng để chỉ cho những chùa viện dành riêng cho những vị tăng xuất thân từ hoàng gia hay quí tộc cư trú. Thiên hoàng Vũ đa xuất gia ở chùa Nhân hòa vào năm Xương thái thứ 2 (899), chùa Nhân hòa bèn được gọi là Ngự môn tích. Từ đó về sau, Môn tích được dùng để gọi các chùa. Những vị trụ trì cũng được gọi là Môn tích hoặc Môn chủ. Thông thường, Môn tích được chia loại như sau: 1. Cung môn tích: Chùa viện dành cho các vị thân vương xuất gia cư trú. 2. Nhiếp gia môn tích: Chùa viện dành cho các vị tăng xuất gia là con em của các quan Đại thần nhiếp chính cư trú. 3. Thanh hoa môn tích: Chùa viện dành cho các vị tăng xuất gia thuộc gia đình quí tộc, hào phú cư trú. 4. Chuẩn môn tích (cũng gọi Hiếp môn tích): Những chùa viện được lập theo tiêu chuẩn Môn tích. Vào đầu năm Minh trị (1868), tất cả các tên gọi trên đều bị xóa bỏ, về sau chỉ dùng tên chùa riêng.

môn đình

(門庭) Trong Thiền lâm có 3 nghĩa: 1. Chỉ cho tùng lâm, đạo tràng tu tập của Thiền tông hoặc là am, cốc, trụ xứ của Thiền sư. 2. Chỉ cho pháp phương tiện, tức giai đoạn đầu tiên đưa người học vào chỗ sâu xa. Môn đình là cơ pháp phương tiện do các bậc thầy lập bày để dắt dẫn người học, cho nên lời môn đình là lời phương tiện tạm thời, tức là Đệ nhị nghĩa môn. Trái lại, Đệ nhất nghĩa môn là thể nhập chân lí, dứt bặt nói năng. 3. Chỉ cho tông phong hay tông chỉ của Thiền tông. Chương Vân môn Văn yểu trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 19 (Đại 51, 356 hạ) nói: Xưa kia, cổ nhân lập ra môn đình để giáo hóa, vậy hãy thử nhìn đông trông tây xem đó là đạo lí gì? Ông muốn hiểu không? [X. tắc 88, Bích nham lục].

môn đăng hộ đối

Marriage of the same (equal) class or property.

môn đầu

(門頭) Gọi đủ: Môn đầu hành giả. Chức vụ của vị tăng chuyên trách việc đóng mở, trông coi và quét tước cổng chùa trong Thiền lâm. Thông thường, tầng trên của cổng chùa thờ tượng 16 vị La hán, tầng giữa thờ tượng bồ tát Quan âm, có trưởng giả Nguyệt cái hoặc đồng tử Thiện tài đứng hầu bên cạnh. [X. La hồ dã lục Q.hạ].

môn đệ

Follower—Disciple.

môn đồ

See Môn đệ. ; (門徒) Cũng gọi Môn bối, Môn diệp. Hàng hậu học của 1 tông phái hoặc đệ tử của 1 bậc thầy đã dạy dỗ. Theo kinh Đại thừa kim cương kế châu bồ tát tu hành phần, thì bậc thầy có đầy đủ đức nghiệp, mọi người đều theo về, môn đồ vân tập đến, tất cả đều được chỉ dạy. Ngoài ra, ở Nhật bản, Tịnh độ Chân tông được gọi là Môn đồ tông. [X. kinh Phạm ma du; Hữu bộ tì nại da Q.23; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3].

mông

1) Bao trùm: To cover. 2) Mông muội: Stupid—Ignorant.

mông cốt vương

(蒙骨王) Mongkut. Quốc vương Thái lan, Tổ khai sáng phái Pháp tương ứng bộ (Dhammayuttikanikàya,cũng dịch là Pháp tông phái), con của vua Lạp mã đời thứ 2 thuộc vương triều Mạn cốc. Năm 14 tuổi, ông vâng sắc xuất gia làm sa di, trụ ở chùa Đại xá lợi; năm 21 tuổi, thụ giới Cụ túc ở chùa Ma ha tha đặc, học tập Thiền định và kinh luật luận. Ông học thông 3 tạng và các thứ tiếng Pàli, Phạm, Anh văn, v.v..., đề xướng giới luật nghiêm khắc. Năm 1829, ông sáng lập Pháp tương ứng bộ. Năm 1836, ông trụ trì chùa Bồ vọng ni vi. Năm 1851, ông hoàn tục lên ngôi, trở thành Quốc vương của vương triều Mạn cốc, đó là Lạp mã đời thứ 4 (Rama IV). Trong thời gian ở ngôi, ông đặt ra nhiều qui tắc để duy trì tăng đoàn Phật giáo, khuyến cáo chúng tăng nghiêm trì giới luật, tăng cường giáo dục tăng chúng, hết lòng hộ trì phái Pháp tương ứng bộ, lần lượt xây dựng các chùa Mẫu vượng ni vực (Wat Bovoranives), chùa Hoàng miện (Wat Mongkut), chùa Lực phạ đề (Wat Rajaphradis), chùa Ba thông ôn (Wat Patumwan) v.v... Năm 1853, ông lại ra lệnh xây cất Đại tháp Phật thống (Paỉhama Cetiya), cao hơn 120 mét, có đường kính 240 mét, mãi đến đời vua Lạp mã thứ VI mới hoàn thành, là tòa tháp Phật lớn nhất ở Thái lan. Năm 1840 và năm 1843, ông lần lượt phái chư tăng đến Tích lan, Ấn độ thỉnh về Tam tạng tiếng Pàli bản 40 quyển và bản 30 quyển, triệu tập các vị cao tăng tiến hành nghiên cứu và phiên dịch sang tiếng Thái lan. Ông lại truyền Pháp tương ứng bộ đến Kampochia. Ông có ảnh hưởng rất lớn đối với việc cải cách Phật giáo Thái lan. Ông có tác phẩm: Giới đàn quyết nghi luận (Sìmàvicàraịa). [X. Nam truyền Phật giáo sử chương 5 (Tịnh hải)].

mông cổ

Nước Mông Cổ—Mongolia—Mongol.

mông cổ nguyên lưu

(蒙古源流) Erdeni yin Tobci. Tác phẩm, 8 quyển, do ông Tản cương Tái quận (Sagan Secen) soạn vào năm 1662. Đây là 1 bộ sử thoại của dân tộc Mông cổ, trong đó, tư tưởng Phật giáo xuyên suốt toàn sách. Nội dung quyển 1 trình bày lịch sử từ khi khai thiên lập địa đến khi hoằng dương Phật giáo ở Ấn độ, là tư liệu trọng yếu về phương diện lịch sử tư tưởng của Phật giáo. Quyển 2 nói về quá trình Phật giáo truyền vào Tây tạng và sự hưng phế của nó. Quyển 3 nói về sử thoại dựng nước, từ khi Thành cát tư hãn lên ngôi đến ngày sáng lập đế quốc Mông cổ. Quyển 4 nói về sự hưng vong của triều Nguyên. Quyển 5 nói về sự tích của Khả hãn Đạt diên phục hưng Phật giáo. Quyển 6, 7 nói về người cháu của Khả hãn Đạt diên là A cốt đả và về tình hình phục hưng Phật giáo ở Nội Mông và Ngoại Mông của ông. Quyển 8 nói về quá trình xây dựng chùa viện và phiên dịch kinh điển Phật giáo ở nội và ngoại Mông cổ. Cuối cùng kết luận với lời tán thán Phật giáo. Nguyên bản sách này vốn đã thất lạc từ lâu, xưa nay chỉ có các bản dịch chữ Hán và chữ Mãn châu, nhưng gần đây đã tìm thấy mấy bản tiếng Mông cổ.

mông cổ phật giáo

(蒙古佛教) Phật giáo được truyền đến Mông cổ vào thời vua Hiến tông (ở ngôi 1251-1259) triều nhà Nguyên và trở thành tín ngưỡng phổ biến bắt đầu vào thời Hốt tất liệt. Vào năm Chí nguyên 22 (1285), vua Thế tổ nhà Nguyên là Hốt tất liệt ban lệnh cho ngài Bát tư ba xem xét đối chiếu 2 tạng kinh Hán và Tạng soạn thành bộ Chí nguyên Pháp bảo Khám đồng tổng lục. Vua Thành tông nhà Nguyên rất tin Phật nên có ngài Tất lan nạp thức lí xuất gia thay vua và vâng mệnh phiên dịch kinh Phạm ra tiếng Mông cổ. Năm Chí đại thứ 3 (1310) đời vua Vũ tông, vị Cao tăng người Tây tạng là ngài Pháp quang đến Mông cổ bổ sung và hiệu đính những chữ Mông cổ mới, lại có các học giả Trung quốc, Hồi cốt dịch tạng kinh Tây tạng ra tiếng Mông cổ. Do đó, các triều vua nối tiếp như Nhân tông, Anh tông, Tấn tông, Minh tông, Văn tông và Thuận đế đều sùng tín Phật giáo Tây tạng. Sau, vua Thái tổ nhà Minh nổi lên (1368), Thuận đế nhà Nguyên thua trận lui về phương Bắc, thì Phật giáo Mông cổ cũng 1 thời suy vi, trải hơn 1 trăm mấy mươi năm sau, nhờ có Hoàng giáo Tây tạng truyền vào, Phật giáo Mông cổ mới được hồi phục. Năm Vạn lịch thứ 5 (1577) đời Minh, Khả hãn Yêm đáp của Nội Mông cổ sai sứ đến Tây tạng thỉnh Đạt lai lạt ma đời thứ 3 đến Mông cổ, từ đó Hoàng giáo bắt đầu thịnh hành ở Nội Mông cổ. Còn ở Ngoại Mông cổ, thì Khả hãn A ba đại từng thỉnh vị đại đệ tử của Đạt lai Lạt ma đời thứ 3 là ngài Đại từ mại đạt lí hô đồ khắc đồ tuyên dương Phật pháp ở 1 ngôi chùa bên bờ sông Khách nhĩ Khách đồ lạp, rất được người Mông cổ sùng kính. Đến khi ngài Triết bố tôn đan ba, Hô đồ khắc đồ (Tạng: Rjebtsun dam-pa, 1635-1723) đời thứ 1 xuất hiện, thì Phật giáo ở Ngoại Mông cổ lại càng thêm rực rỡ. Năm Càn long 22 (1757) đời Thanh, ngài Triết bố tôn đan ba (1724- 1757) đời thứ 2, sáng lập học viện Cao đẳng tông giáo Trát ni đặc tại Khố luân, từ đó Khố luân trở thành trung tâm chính trị tông giáo của Ngoại Mông, cũng là Thánh địa giáo dục của Lạt ma Mông cổ. Nói chung, các đời Hoàng đế nhà Thanh đều rất tôn kính các bậc Triết bố tôn đan ba, nhưng vào năm Quang tự thứ 4 (1878), tình hình bỗng thay đổi: Quan Đại thần Mãn châu ở Khố luân là ông Chí cương bắt buộc ngài Triết bố tôn đan ba (1870-1924) đời thứ 8 phải đứng dậy đón rước quan Đại thần Biện sự, đã gây ra sự bất bình. Sau biến cố này, quan hệ giữa nhà Thanh và Mông cổ trở nên xấu đi, triều đình nhà Thanh trắng trợn phá hoại thế lực của Phật giáo Mông cổ. Khi nhà Thanh sụp đổ, Ngoại Mông liền tuyên bố độc lập (1912). Còn Triết bố tôn đan ba hô đồ khắc đồ ở Khố luân thì tự xưng Hoàng đế, thành lập nước Đại Mông cổ. Lãnh tụ tông giáo Nội Mông đồng thời với Triết bố tôn đan ba là Chương gia hô đồ khắc đồ (Tạng: Lcaí-skya), đệ tử của ngài Đạt lai Lạt ma đời thứ 5, được rước từ Tây tạng đến. Các đời Chương gia thường phụ giúp nhà Thanh và chính phủ Dân quốc. Những vị này thường trú ở Đa luân, Bắc kinh và núi Ngũ đài. Vị Chương gia đời thứ 19 thị tịch ở Đài bắc vào năm Dân quốc 46 (1958), ngài đã từng giữ các chức Ủy viên trong Mông Tạng Ủy viên hội, Mông kì tuyên hóa sứ, Ủy viên chính phủ Quốc dân, Tư chính phủ Tổng thống v.v... Thời kì thịnh nhất của Phật giáo Mông cổ là khoảng đầu thế kỉ XX, lúc bấy giờ Lạt ma chiếm1/3 dân số; Thánh địa là chùa Ách đan ni châu (Erdenì Dzu), được xây dựng vào năm 1584, cách Ulan Bator 250 dặm. Vì Phật giáo Mông cổ được du nhập từ Tây tạng, cho nên những nghi lễ tông giáo, hình thức tổ chức chùa viện, hệ thống Hoạt Phật v.v... phần nhiều đều giống với Tây tạng. [X. Thế giới Phật giáo thông sử tập thượng (Thánh nghiêm)].

mông cổ phật giáo sử

(蒙古佛教史) Tạng: Hor chos-byuí. Gọi đủ:Chen-po hor-gyi yul-du dampai chos ji-ltar byuí-bai tshul bzadpa rgyal-bai bstan-pa rin-po-che gsalbar byed-pai sgron-me. Sử, do ngài Fjigs-med nam-mkha soạn. Nội dung sách này chia làm 2 thiên là Vương thống sử và Phật giáo sử, Vương thống sử lại chia làm 4 chương và Phật giáo sử chia làm 3 chương. Trong đó, Phật giáo sử là phần chủ yếu, được căn cứ vào sách sử, kinh điển, truyện kí v.v... của Tây tạng mà soạn thành. Chương thứ 1 nói về lược sử Phật giáo Mông cổ, trước hết trình bày về giáo nghĩa, kế đến nói về việc hoằng dương Phật giáo ở Ấn độ, sau truyền đến Trung quốc, rồi du nhập Mông cổ. Chương thứ 2 nói về lịch sử Hoàng giáo của ngài Tông khách ba. Chương thứ 3 trình bày về lược sử của các đạo tràng và tự viện nổi tiếng của Phật giáo. Ngoài ra, ở cuối sách có giảng thêm về giáo nghĩa luân hồi giải thoát và nguyên do viết tác phẩm này. [X. Ấn độ Phật học nghiên cứu 4, phần 1; Author of the Hor chos byuí, JRAS, 1941, by G. N. Roerich].

mông cổ phật điển

(蒙古佛典) Từ gọi chung các Thánh điển Phật giáo đã được dịch ra tiếng Mông cổ. Từ khi qui y Phật giáo từ thế kỉ XIII đến nay, ngoài việc phiên dịch kinh điển Phật giáo từ tạng kinh của Tây tạng ra tiếng Mông cổ, các nhà Phật học Mông cổ còn dịch được 1 số kinh Phật ngoài tạng kinh Tây tạng; hơn nữa cũng đã soạn các bản chú thích hoặc trứ thuật bằng tiếng Mông cổ, vì thế mà kinh điển Phật giáo tiếng Mông cổ khá đầy đủ. Kinh điển Phật giáo Mông cổ lấy Đại tạng kinh Tây tạng làm gốc; tạng kinh Tây tạng được chia làm Cam châu nhĩ (Chính tạng) và Đan châu nhĩ (Tục tạng). Còn Đại tạng kinh Mông cổ, có thể căn cứ vào thời gian thành lập mà chia làm 3 thời kì: Thời thứ 1 (1271-1368) phiên dịch Cam châu nhĩ, thời kì này lấy những kinh điển mà Cổ phái (Tạng:Rĩin-ma-pa) y cứ làm chính. Thời kì thứ 2 (1368-1627), hiệu đính những bản dịch của tạng Cam châu nhĩ và phiên dịch được 1 phần tạng Đan châu nhĩ. Hai thời kì này lấy dịch cũ làm chính. Thời kì thứ 3 (1616-1911) thay đổi cách phiên dịch và sử dụng bản gỗ để ấn hành, thời kì này hoàn thành các bộ sách chỉ dẫn cách dùng văn cũng như phương pháp phiên dịch và các loại từ điển như: Đồng văn vận thống, Đại tạng toàn chú, Mông văn đối chiếu phiên dịch danh nghĩa tập v.v... phương pháp và dịch ngữ phiên dịch thống nhất, có sự khảo chứng toàn diện. Những kinh điển được phiên dịch ở thời kì này gọi là dịch mới. Nội dung kinh điển Phật giáo Mông cổ đại khái cũng giống với Đại tạng kinh Tây tạng, tuy nhiên, cũng có những điểm khác nhau, hoặc thêm bớt. Đại tạng kinh Mông cổ, đặc biệt là bản dịch cũ đời Nguyên, đã phản ánh rõ những nét văn hóa phức tạp của dân tộc này. Ngoài ra, những ngữ vựng của các nước vùng Trung á, Cận đông, Âu châu như Syria, Hi lạp v.v..., được sử dụng trong bản dịch, đã trở thành 1 trong những đặc tính của Đại tạng kinh tiếng Mông cổ. [X. Les Mongols et papauté, Rev. de l’Orient chrétien 1923, par P.Peltiot; Histoire des Mongols, 4 tomes, 1834-1835, par d’ Ohsson; Lạt ma giáo sử (Kiều bản Quang bảo dịch và xuất bản)]. (xt. Tây Tạng Đại Tạng Kinh).

mông hoặc

Stupid and deluded.

mông mênh

Immense—Vast.

mông nhuận

(蒙潤) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Nguyên, người Gia hòa (huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang), họ Cố, hiệu Ngọc cương. Năm 14 tuổi, sư lễ ngài Cổ nguyên Vĩnh thanh ở chùa Bạch liên hoa xin xuất gia và được học Chỉ quán, luận Kim cương ti, luận Thập bất nhị môn v.v... hiểu rõ nghĩa lí. Sau khi ngài Vĩnh thanh thị tịch, sư theo hầu ngài Trúc đường Truyền công, siêng năng khắc khổ. Sau, sư đến chùa Diễn phúc ở Nam Thiên trúc xiển dương tông phong được 6 năm, rồi lại đến am Bạch liên trên ngọn Phong hoàng tại Long tỉnh chuyên tu niệm Phật tam muội. Người nghe tiếng đến tham học ngày một đông, sư vẫn giảng nói diệu nghĩa Chỉ quán. Sau, vâng lệnh viện Tuyên chính, sư kế vị trụ trì chùa Linh sơn ở hạ Thiên trúc, được 3 năm lại trở về am Bạch liên. Năm Chí chính thứ 2 (1342), sư thị tịch, thọ 68 tuổi. Đệ tử có các vị: Đại dụng Tất tài, Ấn hải Tử thực, Tuyết lâm Diên thụy. Sư có các tác phẩm: Tứ giáo nghi tập chú 3 quyển, Tứ giáo nghi tập chú khoa văn 1 quyển. [X. Tục Phật tổ thống kỉ Q.thượng; Vãng sinh tập Q.1; Đại minh cao tăng truyện Q.1; Thích giám kê cổ lược tập tục Q.1; Cao tăng trích yếu Q.4].

mông quạnh

Desert.

Mông Sơn

(蒙山): tên gọi của một ngọn núi hiện nằm tại Huyện Danh Sơn (名山縣), Tỉnh Tứ Xuyên (四川省), Trung Quốc. Dưới thời nhà Tống có vị tăng người Thiên Trúc (Ấn Độ) tên Bất Động Thượng Sư (不動上師), người đời thường gọi là Cam Lồ Đại Sư (甘露大師) hay Kim Cang Thượng Sư (金剛上師), tinh thông các học vấn của Hiển Giáo cũng như như Mật Giáo, đầu tiên đến nước Tây Hạ (西夏), dừng chân trú tại Hộ Quốc Tự (護國寺), chuyên dịch các kinh điển Mật Giáo. Sau ông chuyển đến Mông Sơn này, dịch lại bản Du Già Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽施食儀軌) của Kim Cang Trí (金剛智), lấy tên là Du Già Diệm Khẩu (瑜伽焰口), hay còn gọi là Tiểu Thí Thực Pháp (小施食法), Cam Lồ Pháp (甘露法), hay Mông Sơn Thí Thực Pháp (蒙山施食法). Đây là nghi thức tụng niệm và hành trì không thể thiếu được trong nhà Phật. Đến thời cận đại này có Hưng Từ Đại Sư (興慈大師) chủ xướng pháp môn Mông Sơn Thí Thực, thêm vào 6 loại khai thị, nên có tên gọi là Đại Mông Sơn Thí Thực. Ảnh hưởng tinh thần đó, sau này Mông Sơn Đức Dị (蒙山德異, 1231-?), vị tăng của Phái Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc sống dưới thời nhà Minh, có viết cuốn Mông Sơn Hòa Thượng Lục Đạo Phổ Thuyết (蒙山和尚六道普說).

mông đường

(蒙堂) Nhà liêu an dưỡng trong Thiền lâm dành cho các chức vụ từ Đô tự trở xuống đã mãn nhiệm, như Tri sự v.v...; hoặc dùng để chỉ cho chúng tăng ở Mông đường. Mông có hàm ý tĩnh dưỡng. Người trông coi Mông đường gọi là Mông đường liêu chủ. Thiền sư Đại giác Hoài liễn đời Nguyên ở núi A dục vương tại Minh châu là người đầu tiên mở ra Mông đường, các đời sau đều làm theo. [X. điều Thánh tiết, chương Chúc li trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.thượng; điều Đông tự Tri sự, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.4].

mông đồng tam bách đảm

(懞懂三百擔) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mông đồng, nghĩa là mù mờ, không phân biệt được sự lí, phải quấy. Tam bách đảm, nghĩa là vác trên lưng vật rất nặng. Ví dụ nghiệp thức mênh mang, cực kì ngu si tăm tối. Bích nham lục tắc 25 (Đại 48, 166 trung) nói: Cát bụi phủ mắt, đất lấp lỗ tai, ù ù cạc cạc (mông đồng tam bách đảm), biết đến bao giờ? Vẫn có kẻ như thế.

See Mộc Ngư.

Blind—Sightless—Eyeless.

mù chữ

Illiterate.

mù lòa

See Mù.

mù quáng

To be blinded.

mù tịt

To ignore completely---As blind as a bat.

mùa gặt

Harvest—Reaping season.

mùa hạ

Summer.

mùa thu

Autumn—Fall.

mùa xuân

Spring.

mùa đông

Winter.

mùi

Smell—Odour.

mùi hôi

Bad smell.

mùi khai

Smell of amonia.

mùi khét

Smell of burning.

mùi thúi

Nasty smell—Bad odour.

mùi thơm

Pleasant smell.

mùi vị

Taste.

mùi đời

pleasures of life.

mùng

1) Chinese denotion of the first ten days of the month. 2) Mosquito-net.

múa

To dance.

múa rìu qua mắt thợ

To brag excessively.

múc

To dip (lade or draw) water.

mút

1) Extremity. 2) To suck.

măng

1) Bamboo shoot. 2) Very young.

mĩ quốc phật giáo

(美國佛教) Phật giáo ở nước Mỹ là 1 tông giáo mới, do sư Diệu nhật Thương long, người Nhật bản, đầu tiên truyền đến Hạ uy di vào năm 1889, rồi từ đó dần dần du nhập Mỹ quốc. Tổ chức Phật giáo sớm nhất ở nước Mỹ là Hội Phật giáo Mỹ quốc, vốn là 1 đoàn thể Phật giáo Nhật Mỹ mà người Nhật gọi là Phái Chân Tông Tây Bản Nguyện Tự, có hơn 60 ngôi chùa và trên 100 viên chức cai quản. Năm 1893, nước Mỹ mời các nhà lãnh đạo tông giáo của các quốc gia đến dự hội nghị Tông giáo thế giới tại Chicago. Sau khi tham dự hội nghị trở về, ngài Tông diễn, người Nhật, liền phái ông Linh mộc Đại chuyết (Suzuki) đến Mỹ in ấn và xuất bản sách vở Phật giáo bằng tiếng Anh. Năm 1899, tông Tịnh độ của Nhật bản thành lập Mỹ Thức Phật Giáo Đường, nhưng đến nay vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động của Nhật kiều. Năm 1930, ông Tá tá mộc chỉ nguyệt, đệ tử tại gia của ngài Tông diễn, sáng lập Mỹ Quốc Đệ Nhất Thiền đường (First Zen Institute of America). Sau năm 1945, người Mỹ đến Nhật bản nghiên cứu Phật giáo và người chính thức tu hành ngày càng nhiều. Khoảng 1950 đến 1958, ông Linh mộc Đại chuyết khai giảng Thiền học tại trường Đại học Colombia, tạo ảnh hưởng rất sâu đậm, cũng có nhiều người Mỹ học Thiền ở Nhật bản, rồi trở về Mỹ truyền lại. Do ảnh hưởng này, nên vào cuối thập niên 50 xuất hiện Phi đầu tộc (Beat Generation), nhiều nhà sáng tác, hội họa, âm nhạc v.v... bất mãn với truyền thống Tây phương, nên sinh ra hứng thú đối với thiền, hình thành trào lưu cuồng nhiệt của Phi đầu thiền (Beat Zen). Năm 1965 lại có Hippi Thiền (Hippis Zen), sùng bái phong cách tự nhiên của Hàn sơn. Hai phái này đều khác với Thiền chính thống, nhưng nhiều người trong phái Hippis về sau lại trở thành người tu hành Thiền chính thống. Vào thập niên 60, Thiền sư An cốc Bạch vân thuộc dòng Lâm tế và Tào động, nhiều lần đến Mỹ dạy thiền. Năm 1966, đệ tử của ngài Bạch vân là Philip Kapleau sáng lập trung tâm Thiền ở thành phố Rochester thuộc tiểu bang Nữu ước. Một vị tăng Nhật bản khác nữa là ngài Tiền tế Thái thiện sáng lập trung tâm thiền Los Angeles vào năm 1956, đệ tử người Do thái của ngài cũng thành lập Thiền Đoàn Khế ở thành phố Nữu ước. Hiện nay, số người Nhật bản tu thiền nhiều nhất là ở 2 trung tâm Zen Mountain Center và Tassajara Hot Springs ở California do ông Linh mộc Sinh long sáng lập. Năm 1964, ngài Đảo dã Vinh đạo thuộc tông Lâm tế Nhật bản, đến Nữu ước chủ trì Thiền đường New York (do ông Linh mộc Đại chuyết sáng lập). Năm 1968, ngài Vinh đạo lại sáng lập chùa Kim cương Đại bản sơn ở tiểu bang New york. Năm 1853, Phật giáo Trung quốc truyền đến Mỹ, người Mỹ bắt đầu có hứng thú đối với tông Thiên thai và Thiền của Trung quốc. Năm 1929, Đại sư Thái hư đến Mỹ hoằng pháp, sau đó có các vị cư sĩ Trần hữu đạo và Đặng tiếp vinh. Hiện nay, tăng ni Trung quốc đến nước Mỹ ngày càng đông, phần nhiều ở các tiểu bang California và New york, trong đó, các vị có khả năng đi sâu vào xã hội nước Mỹ thì có: 1. Pháp sư Tuyên hóa, năm 1959 thành lập hội Phật giáo Trung Mỹ; năm 1975 sáng lập Đại học Pháp giới ở chùa Vạn Phật thành. 2. Pháp sư Tinh vân, năm 1977 sáng lập chùa Tây lai ở Los Angeles, theo định kì hàng tuần tổ chức nhóm họp tu tập và giảng kinh, hoằng pháp. 3. Pháp sư Thánh nghiêm, năm 1977 sáng lập trung tâm Thiền ở New york, hướng dẫn các thanh niên trí thức Trung quốc và Mỹ, xuất bản tạp chí Thiền bằng tiếng Anh. Ngoài ra, còn có các vị cư sĩ tại gia hoằng pháp tại Mỹ như: Trần gia Trinh, Ứng kim Ngọc đường v.v... Năm 1966, pháp sư Thiên ân truyền Phật giáo Việt nam đến Mỹ, năm 1970 thành lập trung tâm Thiền, 1973 sáng lập Đại học Đông phương. Năm 1970, Thiền sư Sùng sơn Hạnh nguyện của Nam hàn đến nước Mỹ, nhằm vào người Mỹ làm đối tượng chính để truyền đạo, hiện có 5 trung tâm ở rải rác tại các nơi trên đất Mỹ. Năm 1966, tỉ khưu người Tích lan, thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền, sáng lập Vihara Society of Washington D.C. tại thủ đô Hoa thịnh đốn. Hiện cũng có vài ngôi chùa nhỏ của người Thái lan ở California và ở New york. Còn Miến điện thì có 2 vị U Genka và U Bakhin truyền dạy pháp môn chỉ quán cho người Mỹ. Năm 1959, có 3 vị Lạt ma truyền Phật giáo Tây tạng vào nước Mỹ, đó là các ngài: 1. Chogyan Trungpa (Xuyên ba): Đến Mỹ năm 1970, thành lập Tail of the Tiger ở Barnet thuộc Vermont, sáng lập Karmadyong Meditation Center ở Boulder thuộc Colorado. Hiện nay, đã có mấy mươi chi nhánh, là Trung tâm phát triển nhanh nhất; ngoài chức năng truyền dạy Phật pháp, Trung tâm còn thiết lập các cơ cấu giáo dục và phúc lợi xã hội. 2. Tarthang Tulka: Đến nước Mỹ năm 1968, năm sau, sáng lập đạo tràng Phật giáo Tây tạng ở California, là nơi đầu tiên hướng dẫn người Mỹ tu hành. Năm 1973, sư thành lập Học viện không có tính cách tông giáo, mà nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật và y học của Tây tạng. Năm 1975, sư lại mở thêm trung tâm Odiyan Tibetan Nyingma Culture Center, trên khoảng đất rộng 900 mẫu Anh làm nơi cư trú cho dân Tây tạng tị nạn và giúp cho người Mỹ tu hành, đồng thời cũng là một nông trường sản xuất. 3. Kamapa: Lãnh tụ của Bạch giáo, năm 1970 dẫn các đệ tử đến nước Mỹ, sau đó, một số vị Lạt ma của giáo phái này thiết lập đạo tràng ở thành phố Nữu ước, đồng thời, mở 1 học viện ở Gia nã đại. Các đối tượng tu học Phật giáo Tây tạng phần nhiều là người Mỹ. Hiện nay, Mật tông Tây tạng phát triển rất bồng bột, còn Thiền Trung quốc và Nhật bản thì có tiềm lực nhiều hơn. Các Đại học như Berkeley, Harvard, Wiscounsin, Colombia v.v... đều có phân khoa Phật học. Những sách về Phật học hiện giờ được người Mỹ đọc và nghiên cứu rộng rãi nhất là: Phật pháp dịch tùng của ông Warren, Ánh sáng Á châu của ông Edwin Arnold, Giáo thuyết của đức Phật của ông Paul Carus, kinh Pháp cú của ông Irving Babbit, Phật giáo của ông Christmas Humphrey, Giáo nghĩa của đức Phật Đại bi của ông Burtt và các sách Thiền học của Suzuki. [X. Mỹ châu Phật giáo (Thánh nghiêm); Âu Mỹ Phật giáo chi phát triển (Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 84)].

mĩ thực bất trung bão nhân ngật

(美食不中飽人吃) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là thức ăn dù có ngon bao nhiêu đi nữa thì cũng không thể làm cho người đã no bụng thèm muốn. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để chỉ cho cảnh giới của người tu hành đã viên mãn. Tắc 61 trong Bích nham lục (Đại 48, 193 hạ) nói: Già quê này từ nay chẳng nhướng mày (ngoài ba nghìn dặm có một người, thức ăn ngon chẳng hợp người no bụng (Mỹ thực bất trúng bão nhân khiết)

mũi

1) Point—Cape. 2) Nose.

Mũi tên nhọn ba độc

(tam độc lợi tiễn): xem ba mũi tên độc.

mơ hồ

Ambiguous—Vague.

mơ màng

To sleep slightly.

mơ mộng

Daydreaming

mơ ngủ

To drop off to sleep.

mơn mởn

Tender—Young.

mơn trớn

To caress.

mơû

To open.

mưa

To rain.

Mưu du

(謀猷): mưu kế, mưu lược. Như trong Đoạn Kiều Diệu Luân Thiền Sư Ngữ Lục (斷橋妙倫禪師語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 70, No. 1394) có câu: “Thái Sư từ đường, hoằng thi thao lược, mật triển mưu du, hung trung hạo khí (太師祠堂、宏施韜略、密展謀猷、胸中浩氣, từ đường Thái Sư, rộng bày thao lược, ngầm tính mưu mô, trong lòng cương trực).”

mười ba la mật của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười Ba La Mật của chư đại Bồ Tát. Mười Ba La Mật Của Chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ tát an trụ trong mười Ba La Mật nầy thì được đầy đủ đại trí Ba La Mật vô thượng của chư Phật—According o the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten transcendent ways possesed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings abide by these principles will attain the supreme transcendent knowledge of the Buddhas. 1) Thí Ba La Mật, vì xả bỏ tất cả sở hữu: Transcendent giving, relinquishing all they have. 2) Giới Ba La Mật, vì thanh tịnh Phật giới: Transcendent discipline, keeping the precepts of Buddhas pure. 3) Giới Ba La Mật, vì thanh tịnh Phật giới: Transcendent tolerance, abiding in the tolerance and forbearance characteristic of the enlightened. 4) Tinh tấn Ba La Mật, vì tất cả chỗ làm chẳng thối chuyển: Transcendent vigor, not regressing whatever they do. 5) Thiền Ba La Mật, vì chỉ tập trung vào một cảnh: Transcendent meditation, focusing their minds on one point. 6) Bát Nhã Ba La Mật, vì như thật quán sát tất cả chư pháp: Transcendent wisdom, observing all things as they truly are. 7) Trí Ba La Mật, vì nhập Phật lực: Transcendent knowledge, entering into the powers of Buddhas. 8) Nguyện Ba La Mật, vì đầy đủ những đại nguyện Phổ Hiền: Transcendent vowing, fulfilling the great vows of Universal Good. 9) Thần thông Ba La Mật, vì thị hiện tất cả công dụng tự tại: Transcendent spiritual powers, demonstrating all autonomous actions. 10) Pháp Ba La Mật, vì vào khắp tất cả Phật pháp: Transcendent teaching, penetrating all Buddhas' teachings.

mười ba tổ tịnh độ trung hoa

Thirteen Chinese Pure Land patriarchs: 1) Lỗ Sơn Huệ Viễn: Hui-Yuan (334-416 AD). 2) Quang Minh Thiện Đạo: Shan Tao (613-681 AD). 3) Bát Châu Thừa Viễn: Tzu-Min (680-748 AD). 4) Ngũ Hộ Pháp Chiếu: Fa Chao. 5) Đại Nham Thiếu Khang: Tsiao-Kang. 6) Vĩnh Minh Diên Thọ: Yung-Ming Yenshou. 7) Chiêu Khánh Tĩnh Thường: Tseng-Shang. 8) Vân Thê Châu Hoằng Liên Trì: Chu Hung Liench'ih (1535-1616 AD). 9) Trí Húc Ngẫu Ích: Ou-I (1599-1655 AD). 10) Phổ Nhãn Hành Sách Triệu Lưu: Tsao Liu. 11) Tiên Lâm Thúc Hiền Tĩnh Am: Tseng-an. 12) Từ Phúc Tế Tĩnh Triệt Ngộ: Tz'ie-Wu. 13) Linh Nhan Ấn Quang: Yin Kuang (1861-1940 AD).

mười ba yếu tố của sự giác ngộ

Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười ba yếu tố dẫn đến sự giác ngộ tối thượng—According to the Avatamsaka Sutra, there are thirteen elements of supreme enlightenment. 1) Tâm đại bi là yếu tố dẫn đầu: A great compassionate heart which is the chief factor of the desire. 2) Trí siêu việt là yếu tố chỉ đạo: Knowledge born of transcendental wisdom which is the ruling element. 3) Phương tiện là yếu tố hộ trì: Skilful means which works as a protecting agent. 4) Thâm tâm là chỗ nương tựa: The deepest heart which gives it a support. 5) Bồ Đề tâm là kho tàng đồng đẳng với oai lực của Như Lai: The Bodhicitta of the same measure with the Tathagata-power. 6) Bồ Đề Tâm có khả năng phân biệt lực và trí của hết thảy chúng sanh: The Bodhicitta endowed with the power to discern the power and intelligence of all beings. 7) Bồ Đề tâm hướng tới trí vô ngại: The Bodhicitta directed towards the knowledge of non-obstruction. 8) Bồ Đề tâm tùy thuận với trí tự nhiên: The Bodhicitta in conformity with spontaneous knowledge. 9) Bồ Đề tâm có thể giáo hóa Phật đạo cho hết thảy chúng sanh tùy thuận với trí siêu việt: The Bodhicitta which is capable of instructing all beings in the truths of Buddhism according to knowledge born of transcendental wisdom. 10) Bồ Đề tâm trải rộng khắp biên tế của pháp giới rộng lớn như hư không: The Bodhicitta which is extending to the limits of the Dharmadhatu which is as wide as space itself. 11) Trí huệ nơi quả vị Phật, trí đó thấy hết mọi sự trong không gian và thời gian; cái trí vượt ngoài cảnh giới tương đối và sai biệt vì nó thâm nhập khắp mọi biên tế của vũ trụ và trực nhận cái chân thường trong chớp mắt: The knowledge which belongs to Buddhahood, and which see into everything that is in space and time, the knowledge which goes beyond the realm of relativity and individuation because it penetrates into every corner of the universe and surveys eternity at one glance. 12) Năng lực ý chí đốn ngã mọi chướng ngại nằm cản trở đường đi khi nó muốn đạt tới mục đích tối hậu, nó giải thoát tất cả thế gian ra khỏi sự trói buộc của sống và chết: The will-power that knocks down every possible obstruction lying athwart its way when it wishes to reach its ultimate end, which is the deliverance of the whole world from the bondage of birth-and-death. 13) Đại từ và đại bi song song với trí và lực không ngớt thi thiết phương tiện đem lại an lành cho hết thảy chúng sanh: An all-embracing love or compassion which, in combination with knowledge and will-power, never ceases from devising all means to promote the spiritual welfare of every sentient being.

mười biến nhập của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp biến nhập của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp biến nhập đại trí vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of universal entry of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme door of liberation of Buddhas. 1) Vào khắp chúng sanh: Universal entry among sentient beings. 2) Vào khắp quốc độ: Universal entry into lands. 3) Vào khắp các loại hình tướng của thế gian: Universal entry into various features of worlds. 4) Vào khắp hỏa tai: Universal entry into fires. 5) Vào khắp thủy tai: Universal entry into floods. 6) Vào khắp Phật: Universal entry into Buddhahood. 7) Vào khắp trang nghiêm: Universal entry into arrays of adornments. 8) Vào khắp thân vô biên công đức của Như Lai: Universal entry into the embodiments of boundless virtues of Buddhas. 9) Vào khắp tất cả sự thuyết pháp: Universal entry into all kinds of explanations of truth. 10) Vào khắp những sự cúng dường tất cả Như Lai: Universal entry into all kinds of offerings to Buddhas.

mười biến xứ

Kasinayata-nani (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Biến Xứ. According to the Sangiti-Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten objects for the attainment of absorption. 1) Địa Biến Xứ: Earth-Kasina. 2) Thủy Biến Xứ: Water-Kasina. 3) Hỏa Biến Xứ: Fire-Kasina. 4) Phong Biến Xứ: Wind-Kasina. 5) Thanh Sắc Biến Xứ: Blue Kasina. 6) Hoàng sắc Biến Xứ: Yellow Kasina. 7) Xích Sắc Biến Xứ: Red Kasina. 8) Bạch Sắc Biến Xứ: White Kasina. 9) Hư Không Biến Xứ: Space Kasina. 10) Thức Biến Xứ (trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng): Consciousness Kasina (above, below, on all sides, individed, unbounded).

mười biện tài của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ biện tài của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trong trong pháp nầy có thể đạt được biện tài xảo diệu vô thượng của chư Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of intellectual power of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain supremely skillful intellectual powers of Buddhas. 1) Biện tài vô phân biệt nơi tất cả các pháp: The intellectual power of not arbitrarily discriminating among things. 2) Biện tài vô sở tác nơi tất cả các pháp: The intellectual power of not fabricating anything. 3) Biện tài vô sở trước nơi tất cả các pháp: The intellecual power of not being attached to anything. 4) Biện tài thấu rõ tánh không nơi tất cả các pháp: The intellectual power of realizing emptiness. 5) Biện tài không u tối nghi hoặc nơi tất cả các pháp: The intellectual power of freedom from the darkness of doubt. 6) Biện tài Phật gia bị nơi tất cả các pháp: The intellectual power of receiving support from Buddha in all things. 7) Biện tài tự giác ngộ nơi tất cả các pháp: The intellectual power of spontaneous awareness of all truth. 8) Biện tài văn cú sai biệt thiện xảo nơi tất cả các pháp: The intellectual power of skill in differentiation of expressions of all truths. 9) Biện tài chơn thật nơi tất cả các pháp: The intellectual power of truthfully explaining all things. 10) Biện tài tùy theo của tất cả chúng sanh làm cho họ hoan hỷ: The intellectual power of gladdening all sentient beings according to their mentalities.

mười bình đẳng của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ bình đẳng của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ pháp nầy thời được pháp vô thượng bình đẳng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of impartiality possessed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these principles will attain the supreme impartiality of Buddhas. 1) Nơi tất cả chúng sanh bình đẳng: Impartiality toward all sentient beings. 2) Nơi tất cả pháp bình đẳng: Impartiality toward all things. 3) Tất cả cõi bình đẳng: Impartiality toward all lands. 4) Tất cả thâm tâm bình đẳng: Impartiality toward all determinations. 5) Tất cả thiện căn bình đẳng: Impartiality toward all roots of goodness. 6) Tất cả Bồ Tát bình đẳng: Impartiality toward all enlightening beings. 7) Tất cả nguyện bình đẳng: Impartiality toward all vows. 8) . Tất cả Ba La Mật bình đẳng: Impartiality toward all transcendence 9) Tất cả hạnh bình đẳng: Impartiality toward all practices. 10) Tất cả Phật bình đẳng: Impartiality toward all Buddhas.

mười bất hoại tín của chư bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười bất hoại tín của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được bất hoại tín đại trí huệ vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of indestructible faith of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme indestructible faith of great knowledge of Buddhas. 1) Bất hoại tín đối với chư Phật: Have indestructible faith in all Buddhas. 2) Bất hoại tín đối với tất cả Phật pháp: In all Buddhas' teachings. 3) Bất hoại tín đối với tất cả Thánh Tăng: In all wise and holy mendicants. 4) Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát: In all enlightening beings. 5) Bất hoại tín đối với tất cả thiện tri thức: In all genuine teachers. 6) Bất hoại tín đối với tất cả chúng sanh: In all sentient beings. 7) Bất hoại tín đối với đại nguyện của tất cả Bồ Tát: In all great vows of enlightening beings. 8) Bất hoại tín đối với tất cả Bồ Tát hạnh: In all practices of enlightening beings. 9) Bất hoại tín đối với sự cung kính cúng dường tất cả chư Phật: In honoring and serving all Buddhas. 10) Bất hoại tín đối với phương tiện thiện xảo giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh của Bồ Tát: In the skillful mystic techniques of enlightening beings.

mười bất không mà chư đại bồ tát đạt được khi chứng quang minh tạng trí

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 27—Thập Định, có mười thứ bất không mà chư đại Bồ Tát đạt được khi chứng Quang Minh Tạng Trí—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 27, there are ten kinds of fruitfulness Great Enlightening Beings attain when they realize the treasury of light of knowledge: 1) Kiến bất không, vì làm cho chúng sanh phát triển thiện căn: Fruitful seeing, because of causing sentient beings to develop roots of goodness. 2) Văn bất không, vì làm cho chúng sanh được thành thục: Fruitful hearing, causing sentient beings to gain maturity. 3) Đồng trụ bất không, vì làm cho tâm chúng sanh được điều phục: Fruitful association, causing sentient beings' minds to be pacified. 4) Phát khởi bất không, vì làm cho chúng sanh thực hành đúng như lời nói, thông đạt tất cả pháp nghĩa: Fruitful aspiration, causing sentient beings to do as they say and master the meanings of all the teachings. 5) Hạnh bất không, vì làm cho vô biên thế giới đều thanh tịnh: Fruitful action, causing boundless worlds to be purified. 6) Thân cận bất không, vì ở chỗ vô lượng chư Phật dứt nghi cho vô lượng chúng sanh: Fruitful companionship, cutting off countless beings' doubts in the presence of the Buddhas of countless worlds. 7) Nguyện bất không, vì theo sở niệm của chúng sanh khiến làm việc cúng dường thù thắng thành tựu các nguyện: Fruitful vows, causing whatever sentient beings are thougth of to make excellent offerings and accomplish undertakings. 8) Thiện xảo pháp bất không, vì làm cho tất cả có thể trụ nơi trí thanh tịnh giải thoát vô ngại: Fruitful skillful methods, causing all to be able to abide in pure knowledge of unobstructed liberation. 9) Mưa pháp vũ bất không, vì nơi vô lượng căn tánh của chúng sanh, phương tiện khai thị hạnh nhứt thiết trí khiến trụ Phật đạo: Fruitful showering of the rain of Teaching, expediently revealing the practice of universal knowledge to countless beings of various faculties and causing them to abide in the path of Buddhahood. 10) Xuất hiện bất không, vì hiện vô biên tướng, làm cho tất cả chúng sanh đều được soi sáng: Fruitful appearance, manifesting boundless forms, causing all sentient beings to be bathed in illumination.

mười bất khả tư nghì của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, có mười Bất Khả tư nghì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp Bất Tư Nghì nầy thời được pháp bất tư nghì vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of inconceivability of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain the supreme inconceivable qualities of all Buddhas. 1) Tất cả thiện căn bất tư nghì: All their roots of goodness are inconceivable. 2) Tất cả thệ nguyện bất tư nghì: All their vows are inconceivable. 3) Biết tất cả pháp như huyễn bất tư nghì: Their knowledge that all things are like illusions is inconceivable. 4) Tâm Bồ Đề, tu hạnh Bồ Tát, thiện chẳng mất, không chỗ phân biệt bất tư nghì: Their arousal of aspiration for enlightenment and cultivation of enlightening practice without losing roots of goodness and without arbitrary notions id inconceivable. 5) Dầu thâm nhập tất cả pháp cũng chẳng lấy diệt độ, vì tất cả nguyện chưa thành mãn, bất tư nghì: Their not grasping extinctionand liberation in spite of having profoundly penetrated all things, because all their vows are not fulfilled, is inconceivable. 6) Tu Bồ Tát Đạo, thị hiện giáng thân, nhập thai, đản sanh, xuất gia, khổ hạnh, đến đạo tràng, hàng phục chúng ma, thành tối chánh giác, chuyển chánh pháp luân, nhập đại Niết Bàn, thần biến tự tại, không thôi nghỉ, chẳng bỏ bi nguyện cứu hộ chúng sanh, bất tư nghì: They cultivate the Path of Enlightening Beings and manifest the appearances of incarnation, birth, leaving home, austere practices, going to the site of enlightenment, conquering demons, achieving supreme enlightenment, teaching and passing away, their spiritual transformation free, unceasing, not abandoning their vow of compassion, saving and protecting sentient beings, all of this is inconceivable. 7) Dầu hay thị hiện thập lực thần biến tự tại của Như Lai mà chẳng bỏ tâm khắp pháp giới giáo hóa chúng sanh, bất tư nghì: Though they are able to manifest the ten powers of Buddhas and their freedom of mystical projection, yet they do not give the mind equal to the cosmos, and teach sentient beings, this is inconceivable. 8) Biết tất cả các pháp vô tướng là tướng, tướng là vô tướng, vô phân biệt là phân biệt, phân biệt là vô phân biệt, phi hữu là hữu, hữu là phi hữu, vô tác là tác, tác là vô tác, phi thuyết là thuyết, thuyết là phi thuyết, bất tư nghì: They know that in all things signlessness is their sign, their signs are signless, nondiscrimination is discrimination, discrimination is nondiscrimination, nonexistence is existence, existence is nonexistence, inaction is action, action is inaction, nonexplanation is explanation, explanation is nonexplanation, , this is inconceivable. 9) Biết tâm cùng Bồ Đề không khác, biết Bồ Đề cùng tâm không khác, Biết tâm và Bồ Đề cùng chúng sanh không sai khác. Cũng chẳng sanh tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo bất tư nghì: They know their mind is equal to enlightenment, they know enlightenment is equal to mind, they know mind and enlightenment are equal to sentient beings, yet they do not give rise to confusion of mind, confusion of thoughts, or confusions of views, this is inconceivable. 10) Ở trong mỗi niệm nhập diệt tận định, sạch hết tất cả hữu lậu, mà chẳng chứng thực tế, cũng chẳng hết thiện căn hữu lậu. Dầu biết tất cả pháp vô lậu, mà biết lậu tận cũng biết lậu diệt. Dầu biết Phật pháp tức thế gian pháp, thế gian pháp tức Phật pháp, mà chẳng ở trong Phật pháp phân biệt thế gian pháp, chẳng ở trong thế gian pháp phân biệt Phật pháp. Tất cả pháp đều nhập pháp giới vì vô sở nhập. Biết tất cả pháp đều không hai vì không biến đổi: From the moment to moment they enter absorption in extinction and exhaust all contamination, yet they do not experience ultimate reality and do not end roots of goodness with contamination; though they know all things are free from contamination, yet they know the end and extinction of contaminations; though they know the principles of Buddhas are identical to the things of the world, and the things of the world are identical to the principles of Buddhas, yet they do not form notions of worldly things within the principles of Buddhas, and do not form notions of principles of Buddhas in the things of the world. All things enter the realm of reality because there is nothing entered; they know all things are nondual because there is no change.

mười bất phóng dật

Mười điều bất phóng dật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 18)—Ten kinds of nonindulgence (The Flower Adornment Sutra—Chapter 18). When enlightening beings persist in nonindulgence, they attain ten kinds of purity (See Ten kinds of purity A). 1) Giữ gìn giới cấm:To keep the behavioral precepts. 2) Xa lìa ngu si, tâm Bồ Đề thanh tịnh: To abandon folly and purify the will for enlightenment. 3) Lòng thích ngay thẳng, chối bỏ dua nịnh: Straightforwardness and reject flattery and deception. 4) Siêng tu căn lành không thối chuyển: To earnestly cultivate virtues without regressing. 5) Luôn khéo tư duy tâm mình đã phát nguyện: To continually reflect on one's aspiration. 6) Chẳng thích gần gủi phàm phu, dù tại gia hay xuất gia: Not to enjoy association with ordinary people, whether they be householders or monks. 7) Tu những nghiệp lành mà chẳng mong cầu quả báo thế gian: To do good deeds without hoping for worldly rewards. 8) Lìa hẳn nhị thừa mà tu theo Bồ Tát hạnh: To forever leave lesser vehicles and practice the Path of Enlightening Beings. 9) Thích tu tập điều lành, chẳng để đoạn tuyệt: To gladly practice what is good, not letting goodness be cut off. 10) Luôn khéo quán sát sức tương tục của mình: To always examine one's own perseverance.

mười bất thiện nghiệp đạo

Akusala-kammapathi (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Bất Thiện Nghiệp Đạo—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten unwholesome courses of action. 1) Sát Sanh: Taking life. 2) Trộm Cắp: Taking what is not given. 3) Tà Dâm: Sexual misconduct. 4) Vọng Ngôn: Lying speech. 5) Lưỡng Thiệt: Slandering. 6) Ác Khẩu: Rude speech. 7) Ỷ Ngữ: Idle chatter. 8) Tham: Greed. 9) Sân: Hatred or Malevolence. 10) Si Mê hay Tà Kiến: Ignorance or Wrong views.

mười bốn loại cúng dường

Theo Trung Bộ, Kinh Phân Biệt Cúng Dường, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người—According to The Middle Length Discourses of the Buddha, Dakkhinavibhanga Sutra, there are fourteen kinds of personal offering. 1) Cúng dường cho các Đức Như Lai, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác: One gives offering to the Tathagata, accomplished and fully enlightened. 2) Cúng dường cho các vị Độc Giác Phật: One gives offering to a pratyeka-buddha. 3) Cúng dường cho các bậc đệ tử A La Hán của Phật: One gives offering to an arahant disciple of the Tathagata. 4) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả A La Hán: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of Arahanship. 5) Cúng dường cho các vị chứng quả Bất Lai: One gives offering to to a Non-Returner. 6) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Bất Lai: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of Non-Returner. 7) Cúng dường cho các vị chứng quả Nhất Lai: One gives offering to a Once-Returner. 8) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Nhất Lai: One gives offering to one who has entered upon the way to realization of the fruit of Once-Returner. 9) Cúng dường cho các vị chứng quả Dự Lưu: One gives offering to a Stream-Enterer. 10) Cúng dường cho các vị đang trên đường chứng quả Dự Lưu: One gives offering to one who has entered upon the way to the realisation of the fruit of stream-entry. 11) Cúng dường cho các vị ngoại học đã ly tham trong các dục vọng: One gives offering to one outside who is free from lust for sensual pleasures. 12) Cúng dường cho những phàm phu gìn giữ giới luật: One gives offering to a virtuous ordinary person. 13) Cúng dường cho nhũng vị phàm phu theo ác giới: One gives offering to an immoral ordinary person. 14) Cúng dường cho các loại bàng sanh: One gives offering to an animal.

mười bốn loại sắc

Thập Tứ Sắc—Fourteen kinds of rupa—See Sắc (D).

mười bốn tâm sở bất thiện

Theo Vi Diệu Pháp, có mười bốn tâm sở bất thiện—According to The Abhidharma, there are fourteen unwholesome factors. 1) Si: Moho (p)—Delusion—Ignorance—Si hay moha đồng nghĩa với vô minh. Bản chất của nó là làm cho tinh thần chúng ta mù quáng hay chẳng biết gì. Nhiện vụ của nó là làm cho chúng ta không thấu suốt được bản chất thật của sự vật. Nó hiện đến khi chúng ta không có chánh kiến. Nó chính là gốc rễ của tất cả những nghiệp bất thiện—Delusion or moha is a synonym for avijja, ignorance. Its characteristic is mental blindness or unknowing. Its function is non-penetration, or concealment of the real nature of the object. It is manifested as the absence of right understanding or as mental darkness. Its proximate cause is unwise attention. It should be seen as the root of all that is unwholesome. 2) Vô Tàm: Ahirikam (p)—Shamelessness—Tự mình không biết xấu hổ khi thân làm việc xằng bậy, khi khẩu nói chuyện xằng bậy—Shamelessness is the absence of disgust at bodily and verbal misconduct. 3) Vô Quý: Anottappam (p)—Vô quý là không biết hổ thẹn với người khi thân khẩu làm và nói chuyện xằng bậy. Vô quý xãy ra khi chúng ta thiếu tự trọng chính mình và thiếu kính trọng người—Fearlessness of wrong doing, or moral recklessness is the absence of dread on account of bodily and verbal misconduct. This happens due to lack of respect for self and others. 4) Phóng Dật: Uddhaccam (p)—Restlessness—Unrestrained—Loose—Distracted—Agitation. Đặc tánh của phóng dật là không tỉnh lặng hay không thúc liễm thân tâm, như mặt nước bị gió lay động. Nhiệm vụ của phóng dật là làm cho tâm buông lung, như gió thổi phướn động. Nguyên nhân gần đưa tới bất phóng dật là vì tâm thiếu sự chăm chú khôn ngoan—It has the characteristic of disquietude, like water whipped up by the wind. Its function is to make the mind unsteady, as wind makes the banner ripple. It is manifested as turmoil. Its proximate cause is unwise attention to mental disquiet. 5) Tham: Lobho (p)—Tham là căn bất thiện đầu tiên che đậy lòng tham tự kỷ, sự ao ước, luyến ái và chấp trước. Tánh của nó là bàm víu vào một sự vật nào đó hay tham lam đắm nhiễm những gì nó ưa thích. Nghiệp dụng của nó là sự bám chặt, như thịt bám chặt vào chảo. Nó hiện lên áp chế khi chúng ta không chịu buông bỏ. Nguyên nhân gần đưa đến tham là vì chúng ta chỉ thấy sự hưởng thụ trong sự việc—Greed, the first unwholesome root, covers all degrees of selfish desire, longing, attachment, and clinging. Its characteristic is grasping an object. Its function is sticking, as meat sticks to a hot pan. It is manifested as not giving up. Its proximate cause is seeing enjoyment in things that lead to bondage. 6) Tà Kiến: Ditthi (p)—Wrong view—Tà kiến là thấy sự vật một cách sai lầm. Tánh và nghiệp dụng của nó là giải thích sai lầm mà cho là trúng. Nguyên nhân gần của nó là không chịu tin theo tứ diệu đế—False view means seeing wrongly. Its characteristic is unwise or unjustified interpretation or belief. Its function is to preassume. It is manifested as a wrong interpretation or belief. Its proximate cause is unwillingness to see the noble ones. 7) Ngã Mạn: Mano (p)—Conceit—Pride. Tánh của tâm sở nầy là cao ngạo, ỷ tài ỷ thế của mình mà khinh dễ hay ngạo mạn người. Nó được coi như là tánh điên rồ—Conceit has the characteristic of haughtiness. Its function is self-exaltation. It is manifested as vainglory. Its proximate cause is greed disassociated from views. It should be regarded as madness. 8) Sân: Doso (p)—Hatred—Ill-will—Tánh của tâm sở nầy là ghét hay không ưa những cảnh trái nghịch. Nghiệp dụng của nó là tự bành trướng và đốt cháy thân tâm của chính nó—Doso, the second unwholesome root, comprises all kinds and degrees of aversion, ill-will, anger, irritation, annoyance, and animosity. Its characteristic is ferosity. Its function is to spread, or burn up its own support, i.e. the mind and body in which it arises. It is manifested as persecuting, and its proximate cause is a ground for annoyance. 9) Tật Đố hay Ganh Tỵ: Issa (p)—Envy—Tánh của tật đố hay ganh tỵ là ganh ghét đố kỵ những gì mà người ta hơn mình hay sự thành công của người khác. Nguyên nhân đưa đến tật đố là không muốn thấy sự thành công của người khác—Envy has the characteristic of being jalous of other's success. Its function is to be dissatisfied with other's success. It is manifested as aversion towards that. Its proximate cause is other's success. 10) Xan Tham: Macchariyam (p)—Avarice—Tánh của xan tham hay bỏn xẻn là muốn che dấu sự thành công hay thịnh vượng của mình vì không muốn chia xẻ với người khác—The characteristic of avarice or stinginess is concealing one's own success when it has been or can be obtained. Its function is not to bear sharing these with others. It is manifested as shrinking away from sharing and as meanness or sour feeling . Its proximate cause is one's own sucess. 11) Lo Âu: Kukkuccam (p)—Lo âu khi làm điều sai phạm —Worry or remorse after having done wrong. Its characteristic is subsequent regret. Its function is to sorrow over what has or what has not been done. It is manifested as remorse. 12) Hôn Trầm: Thinam (p)—Tánh của hôn trầm là làm cho tâm trí mờ mịt không sáng suốt—Sloth is sluggishness or dullness of mind. Its characteristic is lack of driving power. Its function is to dispel energy. It is manifested as the sinking of the mind. Its proximate cause is unwise attention to boredom, drowsiness, etc. Sloth is identified as sickness of consciousness or cittagelanna. 13) Thụy Miên: Middham (p)—Tánh của thụy miên là buồn ngủ hay gục gật làm cho tâm trí mờ mịt không thể quán tưởng được—Torpor is the morbid state of the mental factors. Its characteristic is unwieldiness. Its function is to smother. It is manifested as drooping, or as nodding and sleepiness. Sloth and torpor always occur in conjunction, and are opposed to energy. Torpor is identified as sickness of the mental factors or kayagelanna. 14) Hoài Nghi: Vicikiccha (p)—Doubt—Hoài nghi có nghĩa là hoài nghi về mặt tinh thần. Theo quan điểm Phật giáo thì hoài nghi là thiếu khả năng tin tưởng nơi Phật, Pháp, Tăng—Doubt signifies spiritual doubt, from a Buddhist perspective the inability to place confidence in the Buddha, the Dharma, the Sangha, and the training.

mười bốn điều không thể thuyết minh được

Fourteen inexpressible things—See Im Lặng Cao Quí.

mười bồ tát địa

Ten stages of a Mahayana Bodhisattva—See Thập Địa Bồ Tát Đại Thừa.

mười bổn phận của một phật tử

Ten duties of a Buddhist—Theo Kinh Thi Ca La Việt, một Phật tử phải chu toàn mười bổn phận quan yếu đối với gia đình và xã hội—According to the Sigalaka Sutra, a Buddhist must perform the following ten duties toward his family and society. 1) Cha mẹ đối với con cái—Duties of parents toward children: a) Cha mẹ phải khuyên con cái giữ đạo hạnh Phật, tạo bầu không khí thân mật giữa các con các cháu, gần gũi bạn bè tốt, nhắc nhở cần mẫn học hành, hướng dẫn tìm vợ chồng cho vừa đôi đúng lứa và bàn thảo chung công việc gia đình—Parents should advise children to maintain Buddhist behavior, create an intimate atmosphere among children and grandchildren, and frequent loyal friends, encourage them in their study and guide them in the choice of a suitable husband or wife. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which the parents should treat their children.” • Ngăn chận con làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích con làm điều thiện: They will support him in doing good. • Dạy con nghề nghiệp: They will teach him some skill. • Cưới vợ xứng đáng cho con: They will find him a suitable wife. • Đúng thời trao của thừa tự cho con: In due time, they will hand over his inheritance to him. 2) Con đối với cha mẹ—Duties of children toward parents: a) Con cái phải hết lòng hiếu kính với cha mẹ, phải giữ danh dự gia đình, gánh vác công việc nhọc nhằn, săn sóc cha mẹ khi ốm đau hơn là khóc thương, cúng giỗ linh đình, đặt vòng hoa trên mộ người đã khuất; không nên theo vợ con mà bỏ rơi cha mẹ, con mà bất hiếu với cha mẹ thì không còn một việc xấu xa nào mà không làm được—Children should be respectful toward their parents, preserve the honors of the family, assume full charge of heavy, strenuous works, and nurse their parents when they become sick rather than letting them to die and afterward crying frantically, laying a big wreath at their tomb or celebrating sumptuous death anniversaries. They should not listen to their wives' opinion to abandon their own parents, because it is too bad to be undutiful toward them. b) Theo Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Đông”—According to the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “There are five ways in which a son should minister to his mother and father as the Eastern direction.” • Được nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ: He should think having been supported by them, I will support them. • Tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ: I will perform their duties for them. • Tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống: I will keep up the family tradition. • Tôi bảo vệ tài sản thừa tự: I will be worthy of my heritage. • Tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời: After my parents' deaths, I will distribute gifts on the their behalf. 3) Chồng đối với vợ—Duties of the husband toward his wife: a) Chồng đối với vợ phải tương kính, phải là người cột trụ có tinh thần trách nhiệm cao độ, gánh vác những việc nặng nề khó khăn, không to tiếng nặng lời, cư xử nghiêm túc, ăn uống đơn giản, không keo bẩn, không ngoại tình, và tin vợ những công việc nhà—Being the pillar of the family, the husband must be closely related to his wife and both must develop mutual affection. He should have a great sense of responsibility, take charge of difficult work, and know how to deal correctly with others. He should lead a sober life and should not be stingy, nor commit fornication. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a husband should minister to his wife as the Western direction.”: • Kính trọng vợ: By honouring her. • Không bất kính đối với vợ: By not disparaging her. • Trung thành với vợ: By not being unfaithful to her. • Giao quyền hành cho vợ: By giving authority to her. • Sắm đồ nữ trang cho vợ: By providing her with adornments. 4) Vợ đối với chồng—Duties of the wife toward her husband: a) Vợ đối với chồng phải kính nể, dịu dàng, chân thật, không đôi co, nhà cửa gọn gàng, chi tiêu cần kiệm, giữ gìn tiết hạnh, bảo vệ gia phong, giáo dục con cái, là hiền mẫu của con cái, vui vẻ với bà con quyến thuộc, và bạn bè—The wife must respect her husband, be sweet, sincere, economical, and faithful. She must protect her family customs and habits, and be good mannered toward her children and amiable toward relatives and friends. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a wife, thus ministered to by her husband as the Western direction.” • Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình: By properly organising her work. • Khéo tiếp đón bà con: By being kind to the relatives. • Trung thành với chồng: By not being unfaithful. • Khéo gìn giữ tài sản của chồng: By protecting husband's property. • Khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc: By being skilful and diligent in all she has to do. c) Này gia chủ tử, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Western direction is covered, making it at peace and free from fear. 5) Đối với anh chị em, bà con, thân thích, và láng giềng—Duties of the head of the family toward relatives, kinfolk and neighbors: Thương yêu và hòa thuận với anh chị em, biết làm điều lợi ích chung cho gia đình, xã hội, tránh sự ganh tỵ, óc đố kỵ, gây chia rẽ làm không khí gia đình thiếu đầm ấm an vui. Giúp đỡ thân thích nghèo, kẻ đau yếu, người nạn tai tật nguyền, không cố chấp giận hờn dù có ý kiến bất đồng, tránh dữ làm lành, cần giao thiệp hòa nhã với láng giềng, nhờ cậy nhau lúc tắt lửa tối đèn—He must get along with brothers and sisters and relatives, be useful to his family, and society, and shun jealousy. He must not sow division among family and members and must help his poor, sick, disabled kinfolk. He should not be unforgiving or angry against others. He must be courteous toward neighbors who would help him in case of an emergency. 6) Thầy đối với trò—Duties of the teacher toward his students: a) Thầy phải hết lòng dạy dỗ, chăm sóc trò sao cho tăng tiến cả phần trí dục cũng như đức dục; phải để ý giảng dạy những điều mà trò chưa lãnh hội đầy đủ; phải luôn luôn cởi mở, rộng rãi, lắng nghe những khó khăn mà trò gặp phải—The teacher is devoted to his students by explaining carefully what they do not understand yet, being overt and paying sharp attention wo what they say. b) Theo Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách—In The Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which their teachers care for their students.” • Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyện: They will give thorough instruction. • Dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì: Make sure they have grasped what they should have duly grasped. • Dạy cho thuần thục các nghề nghiệp: Given them a thorough grounding in all skills. • Khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc: Recommend them to their friends and colleagues. • Bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt: Provide them with security in all directions. c) Này gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Southern direction is covered, making it at peace and free from fear. 7) Trò đối với thầy—Duties of the students to their teacher: a) Trò phải kính mến thầy như cha mẹ, vâng lời thầy dạy, siêng năng học tập, giúp đỡ thăm nom thầy khi ốm đau hoặc hoạn nạn—Student should respect their teacher as they do toward their parents. They must obey, help him in case of illness and be diligent in their study. b) Này gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam—There are five ways in which pupils should minister to their teachers as the Southern direction: • Đứng dậy để chào: By rising to greet them. • Hầu hạ thầy: By serving them. • Hăng hái học tập: By being attentive. • Tự phục vụ thầy: By waiting on them. • Chú tâm học hỏi nghề nghiệp: By mastering the skills they teach. 8) Chủ đối với công nhân—Duties of employer toward employee: a) Chủ phải chăm sóc sức khỏe người làm, công bình mà phân công việc, trả lương thích đáng. Nếu người làm phạm lỗi, phải xét do cố ý hay vô tình mà thưởng phạt; khi họ tích cực làm việc đưa đến lợi lộc thêm phải thưởng đúng mức, không keo kiệt—The employer must take care of his employees' health. He must be impartial when distributing services to them and pay them their due salary. If the employee makes a mistake, he must carefully examine if it is done voluntarily or involuntarily before inflicting any punishment. In case of a reward, it should be relevant to the gains he has gotten. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a master should minister to his servants and work people as the Nadir direction.” • Giao công việc đúng theo sức của họ: By arranging their work according to their strength. • Lo cho họ ăn uống và tiền lương: By supplying them with food and wages. • Điều trị cho họ khi bệnh hoạn: By looking after them when they are ill. • Chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ: By sharing special delicacies with them. • Thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép: By letting them off work at the right time. 9) Công nhân đối với chủ—Duties of employees toward their employer: a) Người làm phải cố gắng phục vụ sao cho công việc được tốt hơn; phải chuyên cần, lương thiện, không làm hư hao, phí tổn và không nên chỉ trích hay nói lén, nói xấu chủ nhân với người ngoài—Employees should do their best to improve their output. They must be diligent and honest. They should not waste raw material, criticize or bite back their employer with others. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách kia, có lòng thương đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “Oh son of Sigalaka, there are five ways in which servants and workpeople, thus ministered to by their master as the Nadir.” • Dậy trước khi chủ thức dậy: They will get up before him. • Đi ngủ sau khi chủ đi ngủ: They will go to bed after him. • Tự bằng lòng với các vật đã cho: Take only what they are given. • Khéo làm các công việc: Do their work properly. • Đem lại danh tiếng tốt đẹp cho chủ: Be bearer of his praise and good repute. c) Này gia chủ tử, các hàng nô bộc được các vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, họ cũng có lòng thương đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Nadir is covered, making it at peace and free from fear. 10) Đối với Tăng Ni và các thành viên của tôn giáo khác—Duties of Buddhist adepts toward monks, nuns, and members of other religions: (A) Đối với chư Tăng Ni—Duties of Buddhist adepts toward monks and nuns: a) Đối với Tăng Ni phải cung kính vâng lời, thành thật và chăm chỉ nghe lời giảng dạy của các thầy; cần học hành để mỗi ngày thêm tinh tiến—They should be deferential, obedient and sincere toward their master and listen carefully to the explanations of the latter. They should read and try to understand the Buddha's teachings in order to make spiritual progress. b) Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy: “Phương Trên cần được hiểu là Sa Môn, Bà La Môn. Này gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa Môn, Bà La Môn như phương Trên.”—In the Sigalaka Sutra, the Buddha taught: “The Zenith denotes ascetics and Brahmins. Oh son of Sigalaka, there are five ways in which a man should minister to ascetics and Brahmins as the Zenith.” • Có lòng từ trong hành động về thân: By kindness in bodily deed. • Có lòng từ trong hành động về khẩu: By kindness in speech. • Có lòng từ trong hành động về ý: By kindness in thought. • Mở rộng cửa để đón các vị ấy: By keeping open house for them. • Cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết: By supplying their bodily needs. (B) Chư Tăng Ni đối với Phật tử tại gia—Duties of monks and nuns toward lay people: a) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, cũng có lòng thương vị thiện nam tử theo năm cách sau đây—The ascetics and Brahmins, thus ministered to by him as the Zenith, will reciprocate in six ways: • Ngăn không cho họ làm điều ác: They will restrain him from evil. • Khuyến khích họ làm điều thiện: They will encourage him to do good. • Thương xót họ với tâm từ bi: They will be benevolently compassionate towards him. • Dạy họ những điều chưa nghe: They will teach him what he has not heard. • Làm cho thanh tịnh điều đã được nghe: They will help him purify what he has heard. • Chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời: They will point out to him the way to Heaven. b) Này gia chủ tử, các vị Sa Môn, Bà La Môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, cũng có lòng thương thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi: In this way the Zenith is covered, making it at peace and free from fear. (C) Đối với các tôn giáo khác—Duties toward other religions: Đối với tôn giáo thì không bài xích tôn giáo của người khác, làm như vậy thêm mâu thuẫn và cũng là đào huyệt chôn chính tôn giáo mà mình đang theo—They should not disparage other religions since it could create more conflicts.

mười bụng của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười bụng của chư Đại Bồ Tát. Chư Đại Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được bụng rộng lớn vô thượng của Như Lai, đều có thể dung thọ tất cả chúng sanh—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of guts of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can acquire the supreme vast guts of Buddhas, able to contain all sentient beings. 1) Bụng lìa tà vạy, vì tâm thanh tịnh: Guts free from deception, their hearts being pure. 2) Bụng lìa huyễn ngụy, vì tánh chất chơn thật: Guts free from falsehood, being honest by nature. 3) Bụng chẳng hư giả, vì không hiểm dối: Nonprevericating guts, having no crookedness. 4) Bụng không thi đoạt, vì không tham đối với tất cả vật: Nonswindling guts, having no greed for anything. 5) Bụng dứt phiền não, vì đầy đủ trí huệ: Guts cutting off afflictions, being full of wisdom. 6) Bụng thanh tịnh tâm, vì rời các điều ác: Pure-minded guts, being free from all evils. 7) Bụng quán sát ăn uống, vì nhớ đến pháp chơn thật: Guts examining food and drink, remembering reality. 8) Bụng quán sát vô tác, vì giác ngộ duyên khởi: Guts observing noncreation, being aware of interdependent origination. 9) Bụng ngộ tất cả đạo xuất ly, vì khéo thành thục thâm tâm: Guts aware of all ways of emancipation, fully developing the will. 10) Bụng xa rời tất cả cấu nhơ biên kiến, vì làm cho tất cả chúng sanh nhập vào bụng Phật: Guts rid of the defilement of all extreme views, enabling all sentient beings to enter into the guts of Buddha.

mười chân của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười chưn. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được những chưn vô thượng tối thắng của Đức Như Lai, khi cất chưn một bước là có thể đến khắp tất cả thế giới—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of feet of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme feet of Buddhas, which can reach all worlds in one step. 1) Chưn trì giới, vì đại nguyện thù thắng đều thành tựu viên mãn: The feet of discipline, fulfilling all higher aspirations. 2) Chưn tinh tấn, vì tích tập tất cả pháp Bồ Đề phần không thối chuyển: The feet of energy, assembling all of enlightenment without regreesing. 3) Chưn thần thông, vì tùy theo dục lạc của chúng sanh làm cho hoan hỷ: The feet of spiritual knowledge, gladdening all sentient beings according to their desires. 4) Chưn thần lực, vì chẳng rời một cõi Phật mà qua đến tất cả cõi Phật: The feet of psychic powers, going to all Buddha-lands without leaving one Buddha-land. 5) Chưn thâm tâm, vì nguyện cầu tất cả pháp thù thắng: The feet of determination, seeking all higher laws. 6) Chưn kiên thệ, vì tất cả việc làm đều rốt ráo: The feet of resolute commitment, fulfilling all their tasks. 7) Chưn tùy thuận, vì chẳng trái lời dạy của các bậc tôn túc: The feet of accord, not opposing the teachings of all the honorable. 8) Chưn lạc pháp, vì nghe và thọ trì tất cả pháp của chư Phật nói không mỏi lười: The feet of delight in truth, Tirelessly hearing and holding all teachings spoken by Buddhas. 9) Chưn pháp vũ, vì đại chúng thuyết pháp không khiếp nhược: The feet of rain of teaching, lecturing to the masses without timidity. 10) Chưn tu hành, vì tất cả các điều ác đều xa lìa: The feet of cultivation, getting rid of all evils.

mười chỗ ngồi của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười chỗ ngồi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi mười chỗ ngồi nầy thời được chỗ ngồi chánh giác vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sitting of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the Budhas' supreme sitting of true awareness. 1) Chỗ ngồi chuyên luân vương, vì phát khởi mười thiện đạo: The sitting of universal mornarchs, promoting all vrituous behavior. 2) Chỗ ngồi Tứ Thiên vương, vì ở tất cả thế gian tự tại an lập Phật pháp: The sitting of guardian deities, independently establishing the Buddha teaching in all worlds. 3) Chỗ ngồi Đế Thích, vì làm thắng chủ cho tất cả chúng sanh: The sitting of Indra, king of gods, being superior lords of all sentient beings. 4) Chỗ ngồi Phạm vương, vì ở người và mình tâm đều được tự tại: The sitting of Brahma, being in control of their own and others' minds. 5) Chỗ ngồi sư tử, vì hay thuyết pháp: The sitting of lions, being able to expound the truth. 6) Chỗ ngồi chánh pháp, vì dùng sức tổng trì biện tài mà khai thị: The sitting of right teaching, holding forth by means of mental command and intellectual powers. 7) Chỗ ngồi kiên cố, vì thệ nguyện rốt ráo: Steadfast sitting, Vowing to reach the ultimate end. 8) Chỗ ngồi đại từ, vì làm cho các chúng sanh hung dữ đều hạnh phúc: The sitting of great benevolence, bringing happness to all evil sentient beings. 9) Chỗ ngồi đại bi, vì nhẫn chịu tất cả đau khổ chẳng mỏi nhàm: The sitting of great compassion, tirelessly enduring all pains. 10) Chỗ ngồi kim cang, vì hàng phục ma quân và ngoại đạo: Adamantine sitting, Conquering demons and false teachers.

mười chỗ nằm của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười chỗ nằm của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười chỗ nằm nầy thời được chỗ nằm đại pháp vô thượng của Như Lai, đều có thể khai ngộ tất cả chúng sanh—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of reclining of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can atain the supreme reclining of the great teaching of Buddhas and be able to awaken all sentient beings. 1) Chỗ nằm tịch tịnh, vì thân tâm yên lặng: The reclining of silent tranquility, because of practicing in accord with principle. 2) Chỗ nằm thiền định, vì tu hành đúng lý: The reclining of meditation, because of practicing in accord with the truth. 3) Chỗ nằm tam muội, vì thân tâm nhu nhuyễn: The reclining of concentration, because of body and mind being supple. 4) Chỗ nằm thiện nghiệp, vì về sau chẳng ăn năn: The reclining of good works, because of not having regrets afterward. 5) Chỗ nằm Phạm thiên, vì chẳng não hại mình và người: The reclining of Brahma, because of not disturbing self or others. 6) Chỗ nằm chánh tín, vì chẳng bị khuynh động: The reclining of true faith, because of being unshakable. 7) Chỗ nằm chánh đạo, vì thiện hữu khai giác: The reclining of the right path, because of awakening by good companions. 8) Chỗ nằm diệu nguyện, vì thiện xảo hồi hướng: The reclining of sublime aspirations, because of skillful dedication. 9) Chỗ nằm tất cả việc đều xong, vì việc làm đều hoàn mãn: The reclining of completion of all tasks, because of having accomplished all that is to be done. 10) Chỗ nằm bỏ qua những công dụng vì tất cả đều quen thuộc: The reclining of relinquishment of all effort, because of thorough training.

mười chỗ sở hành của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ sở hành của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được chỗ sở hành đại trí huệ vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sphere of action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the supreme sphere of action of great wisdom of Buddhas. 1) Dùng chánh niệm làm chỗ sở hành, vì đầy đủ niệm xứ: They take right mindfulness as their sphere of action, as they fulfill the points of mindfulness. 2) Dùng những xu hướng làm chỗ sở hành, vì xu hướng pháp chánh giác: They take all realms of beings as their sphere of action, as they become truly aware of this implications of the Teaching. 3) Dùng trí huệ làm chỗ sở hành, vì được Phật hoan hỷ: They take wisdom as their sphere of action, gaining the joy of Buddhas. 4) Dùng Ba La Mật làm chỗ sở hành, vì đầy đủ nhứt thiết chủng trí: They take the transcendent ways as their sphere of action, as they fulfill omniscience. 5) Dùng tứ nhiếp pháp làm chỗ sở hành, vì nhờ đó mà giáo hóa chúng sanh: They take the four integrative practices as their sphere of action, as they educate sentient beings. 6) Dùng sanh tử làm chỗ sở hành, vì chứa nhóm thiện căn: They take birth and death as their sphere of action, as they accumulate roots of goodness. 7) Dùng sự nói chuyện đùa tạp với chúng sanh làm chỗ sở hành, vì tùy nghi giáo hóa và khiến cho chúng sanh được giải thoát: They take bantering with all sentient beings as their sphere of action, as they teach them according to their needs and cause them to become free. 8) Dùng thần thông làm chỗ sở hành, vì biết cảnh giới các căn của tất cả chúng sanh: They take spiritual powers as their sphere of action, as they know the realms of the senses of all sentient beings. 9) Dùng phương tiện thiện xảo làm chỗ sở hành, vì tương ưng với Bát Nhã Ba La Mật: They take skill in means as their sphere of action, uniting them with transcendent wisdom. 10) Dùng đạo tràng làm chỗ sở hành, vì thành nhứt thiết trí mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát: They take the site of enlightenment as their sphere of action, as they attain universal knowledge, without stopping the practices of Enlightening Beings.

mười chỗ sở trụ của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười chỗ sở trụ của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được chỗ sở trụ vô ngại vô thượng của Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of abode of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can reach the supreme abode of Buddhas where there is no obstruction. 1) Dùng đại từ làm chỗ sở trụ, vì tâm bình đẳng với tất cả chúng sanh: The abode of great goodwill, being impartial toward all sentient beings. 2) Dùng đại bi làm chỗ sở trụ, vì chẳng khinh người chưa học: The abode of great compassion, not slighting the uncultivated. 3) Dùng chỗ đại hỷ làm chỗ sở trụ, vì rời tất cả ưu não: The abode of great joy, aloof from all vexations. 4) Dùng đại xả làm chỗ sở trụ, vì nơi hữu vi vô vi đều bình đẳng: The abode of great equanimity, regarding the created and uncreated equally. 5) Dùng tất cả Ba La Mật làm chỗ sở trụ, vì lấy Bồ Đề tâm làm đầu: The abode of transcendent ways, being led by the aspiration for enlightenment. 6) Dùng nhứt thiết không làm chỗ sở trụ, vì thiện xảo quán sát: The abode of universal emptiness, by virtue of skillful analysis. 7) Dùng vô tướng làm chỗ sở trụ, vì chẳng ra hỏi chánh vị: The abode of signlessness, not leaving the absolute state. 8) Dùng vô nguyện làm chỗ sở trụ, vì quán sát thọ sanh: The abode of wishlessness, examining the experience of taking on life. 9) Dùng niệm huệ làm chỗ sở trụ, vì nhẫn pháp thành tựu viên mãn: The abode of recollection and awareness, by virtue of full development of recognition of truth. 10) Dùng tất cả pháp bình đẳng làm chỗ sở trụ, vì được thọ ký: The abode of equality of all things, by virtue of having gained the prediction of Budhahood.

mười cung điện của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)

Ten kinds of palace of great enlightening beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38)—Chư Bồ Tát an trụ trong đây thời được pháp quán đảnh nơi tất cả thế gian thần lực tự tại—Enlightening Beings who abide by these can attain coronation by truth and freedom of spiritual powers in all worlds. 1) Bồ Đề tâm là cung điện của Bồ Tát vì hằng không quên mất: The determination is a palace of Enlightening Beings because they never forget it. 2) Thập thiện nghiệp đạo phước đức trí huệ là cung điện của Bồ Tát vì giáo hóa chúng sanh cõi dục: The blessing and wisdom of virtuous conduct are a palace for Enlightening Beings because they civilize sentient beings in the realm of desire. 3) Tứ phạm trụ thiền định là cung điện của Bồ Tát vì giáo hóa chúng sanh cõi sắc: The meditative concentrations of pure benevolence, compassion, joy, and equanimity are a palace of Enlightening Beings because they teach the sentient beings in the realm of form. 4) Sanh Tịnh Cư Thiên là cung điện của Bồ Tát, vì tất cả phiền não chẳng nhiễm: Birth in the heaven of pure abodes is a palace of Enlightening Beings because no afflictions can affect them. 5) Sanh vô sắc giới là cung điện của Bồ Tát vì khiến tất cả chúng sanh lìa chỗ nạn: Birth in the formless realm is a palace of Enlightening Beings because they enable sentient beings to escape difficult situations. 6) Sanh vào thế giới tạp nhiễm là cung điện của Bồ Tát, vì khiến tất cả chúng sanh dứt phiền não: Birth in the world of defilement is a palace of Enlightening Beings because they enable all sentient beings to cut off afflictions. 7) Thị hiện ở nội cung thê tử quyến thuộc là cung điện của Bồ Tát, vì thành tựu chúng sanh đồng hạnh thuở xưa: Appearing to abide in a mansion with spouse, children, and retinue, is a palace of Enlightening Beings, because they develop their past associates. 8) Thị hiện ở ngôi luân vương, tứ thiên vương, đế thích, phạm vương là cung điện của Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh tâm tự tại: Appearing to dwell in the rank of ruler, celestial world guardian, Indra, or Brahma is a palace of Enlightening Beings, in order to tame beings with the mentality of controllers. 9) Tất cả Bồ Tát hạnh du hí thần thông đều được tự tại là cung điện của Bồ Tát, vì giỏi du hí các thiền, giải thoát, tam muội trí huệ: Persisting in all practices of Enlightening Beings, freely exercising spiritual powers and attaining mastery of them all, is a palace of enlightening beings because they autonomously and skillfully exercise the knowledge of meditations, liberations, and concentrations. 10) Tất cả chư Phật thọ ký nhứt thiết trí, quán đảnh tự tại vô thượng là cung điện của Bồ Tát, vì trụ thập lực trang nghiêm, làm việc tự tại của Pháp Vương: The guarantee that all Buddhas receive of coronation as a mornach of all knowledge, supremely independent, is a palace of Enlightening Beings because they abide among the adornments of the ten powers and perform the autonomous deeds of all mornachs of truth.

mười cách chuyển pháp luân của các đức như lai

Theo Kinh Hoa Nghiêm, các Đức Như Lai có mười cách chuyển Pháp Luân—Ten aspects of the turning of the turning of the great wheel of teaching by truly awakened Buddhas (The Flower Adornment Sutra) 1) Thanh tịnh đầy đủ bốn trí vô úy: They are imbued with the knowledge of the four pure fearlessness. 2) Xuất sanh bốn biện tài tùy thuận âm thanh: They produce utterances consonant with the four intellectual powers. 3) Khéo có thể khai triển tướng của bốn chân đế: They are able to expound the characteristics of the four truths. 4) Tùy thuận chư Phật vô ngại giải thoát They accord with the unobstructed liberation of all Buddhas. 5) Có thể làm cho chúng sanh phát tâm tin thanh tịnh: They are able to provoke pure faith in the minds of all sentient beings. 6) Những lời nói ra đều không luống công, đều có thể nhổ trừ tên độc đau khổ cho tất cả chúng sanh: Whatever they say is not in vain, being able to extract the poison arrows of suffering from sentient beings. 7) Đại bi nguyện lực gia trì: They are supported by the power of great compassionate commitment. 8) Khi phát âm sẽ vang vọng khắp cùng tất cả thế giới mười phương: Their utterances pervade all worlds. 9) Trong vô số kiếp chẳng ngớt thuyết pháp: Teach endlessly for incalculable eons. 10) Lời thuyết nào cũng đều có thể giúp phát khởi những pháp căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát và tam muội: The teachings they utter are all able to produce spiritual faculties and powers, ways of awakening, meditations, liberations, concentrations and such phenomena.

mười cách nhập kiếp của chư bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm. Có mười cách mà chư Bồ tát nhập kiếp được Phật nói đến. Điều nầy có nghĩa là chư Bồ Tát nhập vào khắp tất cả các kiếp—According to The Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of entry into ages by Enlightening Beings mentioned by the Buddha. This means they enter all ages. 1) Nhập kiếp quá khứ: They enter into past ages. 2) Nhập kiếp vị lai: They enter into future ages. 3) Nhập kiếp hiện tại: They enter into present ages. 4) Nhập kiếp đếm được: They enter into countable ages. 5) Nhập kiếp không đếm được: They enter into uncountable ages. 6) Nhập kiếp đếm được cùng là kiếp không đếm được:They enter into countable ages as uncountable ages. 7) Nhập kiếp không đếm được cùng là kiếp đếm được: They enter into uncountable ages as countable ages. 8) Nhập tất cả kiếp cùng là phi kiếp: They enter all ages as not ages. 9) Nhập phi kiếp cùng là nhập tất cả kiếp: They enter nonages as all ages. 10) Nhập tất cả kiếp cùng một niệm: They enter all ages as one instant.

mười cách nhập thế giới của chư bồ tát

Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, chư Đại Bồ Tát có mười cách nhập thế giới hay nhập mười phương thế giới—According to the Buddha in the Flower Adornment Sutra, Great Enlightening Beings have ten kinds of entry into worlds or ten directions. 1) Nhập thế giới nhiễm: They enter defiled worlds. 2) Nhập thế giới tịnh: They enter pure worlds. 3) Nhập thế giới nhỏ: They enters small worlds. 4) Nhập thế giới lớn: They enter large worlds. 5) Nhập thế giới vi trần: They enter worlds within atoms. 6) Nhập thế giới vi tế: They enter subtle worlds. 7) Nhập thế giới đảo lộn (úp): They enter inverted worlds. 8) Nhập thế giới ngữa: They enter upright worlds. 9) Nhập thế giới có Phật: They enter the worlds where there are Buddhas. 10) Nhập thế giới không Phật: They enter the worlds where there are no Buddhas.

mười cách sanh của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cách sanh của chư Đại Bồ Tát. Mười cách tái sanh của đại Bồ Tát, vì điều phục chúng sanh mà thị hiện như vậy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of birth of Great Enlightening Beings which they manifest in order to pacify sentient beings. 1) Xa lìa ngu si, mà sanh với chánh niệm chánh tri: Birth with right awareness and right knowledge, free from folly and delusion. 2) Phóng lưới đại quang minh chiếu khắp đại thiên thế giới mà sanh: Birth radiating great networks of light beams illuminating the whole universe. 3) Trụ tối hậu hữu, chẳng còn thọ thân sau mà sanh: Birth in the final existence, never to be reincarnated. 4) Bất sanh bất khởi mà sanh: Unborn, unoriginated birth. 5) Biết tam giới như huyễn mà sanh: Birth knowing the triple world to be like an illusion. 6) Khắp hiện thân nơi thập phương thế giới mà sanh: Birth appearing corporeally everywhere in all worlds in the ten directions. 7) Chứng thân nhứt thiết chủng trí mà sanh: Birth in a body realizing omniscience. 8) Phóng tất cả Phật quang minh khắp giác ngộ tất cả thân chúng sanh mà sanh: Birth in a body emanating the lights of all Buddhas and awakening all sentient beings. 9) Nhập đại trí quán sát tam muội thân mà sanh: Birth in a body entering contemplative concentration with great knowledge. 10) Điều sanh thứ mười của chư Đại Bồ Tát: The tenth birth of Great Enlightening Beings: a. Bồ Tát lúc sanh, chấn động tất cả các cõi Phật: When Great Enlightening Beings are born, they shake all Buddha-lands. b. Giải thoát tất cả chúng sanh: Liberate all sentient beings. c. Diệt trừ tất cả ác đạo: Annihilate all states of misery. d. Che chói tất cả chúng ma: Eclipse all demons. e. Chư Bồ Tát đến nhóm họp: Innumerable enlightening beings come and gather around them.

mười công đức của tu tập thân hành niệm

Ten merits od the cultivation of the mindfulness of the body—Theo Kinh Tu Tập Thân Hành Niệm trong Trung Bộ, tu tập thân hành niệm là khi đi biết rằng mình đang đi; khi đứng biết rằng mình đang đứng; khi nằm biết rằng mình đang nằm; khi ngồi biết rằng mình đang ngồi. Thân thể được xử dụng thế nào thì mình biết thân thể như thế ấy. Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và các tư duy về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy mà nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất và định tĩnh. Như vậy là tu tập thân hành niệm. Có mười công đức của tu tập Thân Hành Niệm—According to the Kayagatasati-Sutta in the Middle Length Discourses of the Buddha, cultivation of mindfulness of the body means when walking, a person understands that he is walking; when standing, he understands that he is standing; when sitting, he understands that he is sitting; when lying, he understands that he is lying. He understands accordingly however his body is disposed. As he abides thus diligent, ardent, and resolute, his memories and intentions based on the household life are abandoned. That is how a person develops mindfulness of the body. There are ten merits of the cultivation of the mindfulness of the body: 1) Lạc bất lạc được nhiếp phục, và bất lạc không nhiếp phục vị ấy, và vị ấy sống luôn luôn nhiếp phục bất lạc được khởi lên; khiếp đảm sợ hãi được nhiếp phục, và khiếp đảm sợ hãi không nhiếp phục được vị ấy, và vị ấy luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm sợ hãi được khởi lên: One becomes a conqueror of discontent and delight, and discontent does not conquer oneself; one abides overcoming discontent whenever it arises. 2) Vị ấy kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, mặt trời, các loài rắn rết, các cách nói khó chịu, khó chấp nhận: One becomes a conqueror of fear and dread, and fear and dread do not conquer oneself; one abides overcoming fear and dread whenever they arise. 3) Vị ấy có khả năng chịu đựng được những cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, thô bạo, chói đau, bất khả ý, bất khả ái, đưa đến chết điếng: One bears cold and heat, hunger and thirst, and contact with gadflies, mosquitoes, wind, the sun, and creeping things; one endures ill-spoken, unwelcome words and arisen bodily feelings that are painful, racking, sharp, piercing, disagreeable, distressing, and menacing to life. 4) Tùy theo ý muốn, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức, vị ấy chứng được Tứ Thiền, thuần túy tâm tư, hiện tại lạc trú: One obtains at will, without trouble or difficulty, the four jhanas that constitute the higher mind and provide a pleasant abiding here and now. 5) Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể thân có thần thông bay cho đến Phạm Thiên; với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, ở xa hay ở gần: One wields the various kinds of supernormal power: having been one, he becomes many; having been many, he becomes one; he appears and vanishes; he goes unhindered through a wall, through an enclosure, through a mountain as though through space; he dives in and out of the earth as though it were water; he walks on water without sinking as though it were earth; seated cross-legged, he travels in space like a bird; with his hand he touches and strokes the moon and sun so powerful and mighty; he wields bodily mastery even as far as the Brahma-world. 6) Với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của các chúng sanh, các loại người; tâm có tham, biết tâm có tham; tâm không tham, biết tâm không tham; tâm có sân, biết tâm có sân; tâm không sân, biết tâm không sân; tâm có si, biết tâm có si; tâm không si, biết tâm không si; tâm chuyên chú, biết tâm chuyên chú; tâm tán loạn, biết tâm tán loạn; tâm đại hành, biết tâm đại hành; tâm không đại hành, biết tâm không đại hành; tâm chưa vô thượng, biết tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng, biết tâm vô thượng; tâm thiền định, biết tâm thiền định; tâm không thiền định, biết tâm không thiền định; tâm giải thoát, biết tâm giải thoát; tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát: One understands the minds of other beings, of other persons, having encompassed them with one's own mind. He understands the mind of other beings, of other persons, having encompassed them with his own mind. He understands a mind affected by lust as affected by lust and a mind unaffected by lust; he understands a mind affected by hate as affected by hate and a mind unaffected by hate as unaffected by hate; he understands a mind affected by delusion as affected by delusion and a mind unaffected by delusion as unaffected by delusion; he understands a contracted mind as contracted and a distracted mind as distracted mind; he understands an exalted mind as exalted and an unexalted mind as unexalted; he understands a surpased mind as surpassed and an unsurpassed as unsurpassed; he understands a concentrated mind as concentrated and an unconcentrated mind as unconcentrated; he understands a liberated mind as liberated and an unliberated mind as unliberated. 7) Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời, vân vân, vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ với các nét đại cương và các chi tiết: One recollects one's manifold past lives, that is, one birth, two births…, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of world-contraction, many aeons of world-expansion, many aeons of world-contraction and expansion: “There I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my nutriment, such my experience of pleasure and pain, such my life-term; and passing away from there, I reapppeared elsewhere; and there too I was so named, of such an appearance, such was my nutriment, such my experience of pleasure and pain, such my life-term; and passing away from there, I reappeared here. Thus with their aspects and particulars one recollects one's manifold past lives. 8) Với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, vị ấy thấy sự sống và sự chết của chúng sanh: With the divine eye, which is purified and surpasses the human. 9) Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, nguời đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ: One sees beings passing away and reappearing, inferior and superior, fair and ugly, fortunate and unfortunate, and one understands how beings pass on according to their actions. 10) Với sự diệt trừ các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng tri với thượng trí, vị ấy chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát không có lậu hoặc: By realizing for oneself with direct knowledge, one here and now enters upon and abides in the deliverance of mind and deliverance by wisdom that are taintless with the destruction of the taints.

mười công đức lớn thanh tịnh hoàn toàn rời lỗi của chư phật

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười công đức lớn hoàn toàn rời lỗi thanh tịnh của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of great virtue that are impeccably pure of all Buddhas. 1) Chư Phật đủ oai đức lớn rời lỗi thanh tịnh: All Budhas are endowed with great spiritual powers, impeccably pure. 2) Chư Phật đều sanh nơi nhà tam thế Như Lai, chủng tộc điều thiện rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas are born in the families of the enlightened ones of past, present and future, of people harmonious and good, impeccably pure. 3) Chư Phật vĩnh viễn tế tâm vô sở trụ, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' minds are free from obsession forever, impeccably pure. 4) Chư Phật nơi pháp tam thế đều vô sở trước, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas are free from attachment to anything in the past, present and future, impeccably pure. 5) Chư Phật biết những loại tánh, đều là một tánh, không từ đâu đến, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas know all kinds of natures are one nature, coming from nowhere, impeccably pure. 6) Chư Phật từ quá khứ đến hiện tại vị lai phước đức vô tận đồng với pháp giới, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' virutes, past, present and future, are inexhaustible, equal to the cosmos, impeccably pure. 7) Chư Phật vô biên thân tướng khắp mười phương cõi, tùy thời điều phục tất cả chúng sanh, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas' boundless physical forms pervade all lands of the ten directions, teaching all sentient beings at the appropriate time, with impeccable purity. 8) Chư Phật được bốn đức vô úy lìa những khủng bố, ở trong chúng hội đại sư tử hống, phân biệt rành rẽ tất cả các pháp, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas acquire the fourfold fearlessness, are free from all fears, and roar the grat lion's roar among the masses, clearly discerning all things, impeccably pure. 9) Chư Phật trong vô lượng kiếp nhập niết bàn, chúng sanh nghe danh hiệu được phước vô lượng như Phật hiện tại công đức không khác, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas enter final nirvana in untold ages, and when sentient beings hear their names they gain immeasurable benefit, same as if the Buddhas were presently existing, impeccably pure. 10) Chư Phật ở xa trong vô lượng thế giới, nếu có chúng sanh nhứt tâm chánh niệm thời đều được thấy, rời lỗi thanh tịnh: All Buddhas though in untold distant worlds, can be seen by sentient beings who correctly meditate on them single-mindedly, impeccably pure.

mười căn của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười căn. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được căn đại trí viên mãn vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of faculties of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme faculties of fulfillment of great knowledge of Buddhas. 1) Hoan hỷ căn, vì thấy tất cả chư Phật với lòng tin chẳng hư hoại: Joyful faculties, seeing all Buddhas, with faith indestructible. 2) Hi vọng căn, vì những Phật pháp đã nghe đều tỏ ngộ tất cả: Hopeful faculties, understanding whatever Buddha teachings they hear. 3) Bất thối căn, vì tất cả tác sự đều rốt ráo:Nonregressing faculties, consummating all their tasks. 4) An trụ căn, vì chẳng dứt tất cả Bồ Tát hạnh: Steadfast faculties, not stopping the practices of Enlightening Beings. 5) Vi tế căn, vì nhập lý vi diệu Bát Nhã Ba La Mật: Subtle faculties, entering the subtle principle of transcendent wisdom. 6) Bất hưu tức căn, vì rốt ráo sự việc tất cả chúng sanh: Unceasing faculties, consummating the tasks of all sentient beings. 7) Như Kim Cang căn, vì chứng biết tất cả những pháp tánh: Adamantine faculties, realizing the nature of all things. 8) Kim Cang quang diệm căn, vì chiếu khắp tất cả cảnh giới Phật: Indestructible glowing faculties, illuminating all spheres of Buddhahood. 9) Vô sai biệt căn, vì tất cả Như Lai đồng một thân: Undifferentiated faculties, being the same one body as all Buddhas. 10) Vô ngại tế căn, vì thâm nhập mười trí lực của Như Lai: Unobstructed faculties, deeply penetrating the ten powers of the enlightened.

mười cảnh giới chưa giác ngộ

Ten realms of unenlightened: 1) Bồ Tát: Chỉ đạt được phần giác chứ chưa toàn giác—Bodhisattva who only attains partial enlightenment, not ultimate enlightenment of Buddhahood. 2) A La Hán chỉ được phần giác, chứ không phải là toàn giác của Phật: Arhat who only attains partial enlightenment, not ultimate enlightenment of Buddhahood. 3) Thanh Văn: Chỉ đạt được phần giác chứ không toàn giác như chư Phật—Hearer who only attained partial enlightenment, not the ultimate enlightenment of Buddhahood. 4) Duyên giác chỉ được phần giác, chứ không phải toàn giác của Phật: Pratyeka-buddha who only attains partial enlightenment, not the ultimate enlightenment of the Buddha. 5) Thiên: Heaven. 6) Nhân: Human. 7) A-tu-la: Asura. 8) Súc sanh: Animal. 9) Ngạ quỷ: Hungry ghost. 10) Địa ngục: Hell.

mười cảnh giới của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cảnh giới của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được cảnh giới đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten spheres of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain the supreme sphere of great knowledge of Buddhas. 1) Thị hiện môn vô biên pháp giới, làm cho chúng sanh được nhập: Showing infinite ways of access to the realm of reality so that sentient beings can enter. 2) Thị hiện tất cả thế giới vô lượng diệu trang nghiêm làm cho chúng sanh được nhập: Showing the infinite wonderful arrays of all worlds, so that sentient beings can enter. 3) Hóa hiện qua đến tất cả chúng sanh giới, đều phương tiện khai ngộ: Traveling by projection to the realms of all sentient beings to enlighten them all by appropriate means. 4) Nơi thân Như Lai xuất hiện thân Bồ Tát, nơi thân Bồ Tát xuất hiện thân Như Lai: Producing embodiments of Enlightening Beings from the body of Buddhas, producing embodiment of Buddha from the body of an enlightening being. 5) Nơi hư không hiện thế giới, nơi thế giới hiện hư không: Manifesting the world in the realm of space, manifesting the realm of space in the world. 6) Nơi sanh tử hiện Niết bàn giới, nơi Niết bàn giới hiện sanh tử giới: Manifesting the realm of nirvana in the realm of birth and death, manifesting the realm of birth and death in the realm of nirvana. 7) Ở trong ngôn ngữ của một chúng sanh xuất sanh ngôn ngữ của tất cả Phật pháp: Producing verbalizations of all Buddha teachings in the language of one sentient being. 8) Đem vô biên thân hiện làm một thân, một thân hiện làm tất cả thân sai biệt: Showing all bodies as one body, one body as all different bodies. 9) Đem một thân đầy khắp tất cả pháp giới: Filling all universe with one body. 10) Ở trong một niệm làm cho tất cả chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đều hiện vô lượng thân thành chánh đẳng chánh giác: In one instant causing all sentient beings to rouse the will for enlightenment, each manifesting infinite bodies attaining enlightenment.

mười cảnh giới vô ngại dụng của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)

Ten kinds of unimpeded function relating to realms (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Tại cảnh giới pháp giới mà chẳng bỏ cảnh giới chúng sanh: Abide in the realm of reality without abandoning the realm of sentient beings. 2) Tại cảnh giới Phật mà chẳng bỏ cảnh giới ma quỷ: Abide in the realm of Buddhas without abandoning the realm of demons. 3) Tại cảnh giới Niết bàn mà chẳng bỏ cảnh giới sanh tử: Abide in the realm of nirvana without abandoning the realm of birth and death. 4) Nhập cảnh giới nhứt thiết trí mà chẳng dứt Cảnh giới Bồ Tát chủng tánh: Enter the realm of omniscience without putting an end to the realm of the nature of Enlightening Beings. 5) Trụ nơi cảnh giới tịch tịnh mà chẳng bỏ cảnh giới tán loạn: Abide in the realm of tranquility and calm without abandoning the realm of distraction. 6) Trụ nơi cảnh giới hư không, nơi—Abide in the spacelike realm where: (A) a. Không đi không đến: There is no coming or going. b. Không hý luận: No conceptualization. c. Không tướng trạng: No form. d. Không thể tánh: No essence. e. Không ngôn thuyết: No verbalzation. (B) Dầu vậy chư Bồ Tát vẫn không lìa bỏ cảnh giới hý luận của tất cả chúng sanh: Yet Enlightening Beings still do not abandon the realm of all sentient beings, conceptual representations. 7) Trụ nơi cảnh giới những trí lực, giải thoát mà chẳng bỏ cảnh giới của tất cả những phương sở: Dwell in the realm of occult powers and liberation, yet without abandoning the realm of specific locations. 8) Nhập cảnh giới vô chúng sanh tế, mà chẳng bỏ giáo hóa tất cả chúng sanh: Enter the realm of ultimate nonexistence of sentient beings, yet they do not give teaching all sentient beings. 9) Trụ nơi cảnh giới tịch tịnh thiền định, giải thoát, thần thông, minh trí, mà ở tất cả thế giới thọ sanh: Dwell in the realm of meditation, liberation, spiritual powers, and higher knowledges, quiet and peaceful, yet they manifest birth in all worlds. 10) Trụ nơi cảnh giới Như Lai tất cả hạnh trang nghiêm thành chánh giác, mà hiện oai nghi tịch tịnh của tất cả Thanh văn, Bích Chi Phật: Dwell in the realm of realization of true enlightenment adorned by all the deeds of Buddhas, yet they manifest the composed, tranquil comportment of the personally liberated and individually illuminated.

mười cảnh giới vô tỷ của chư bồ tát

Mười thứ cảnh giới vô tỉ bất tư nghì của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of peerless inconceivable realms of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chapter 33). 1) Tất cả chư Phật một lần ngồi kiết già cùng khắp mười phương vô lượng thế giới: All Buddhas, once sitting, pervade infinite worlds in the ten directions. 2) Tất cả chư Phật nói một cú nghĩa đều hay khai thị tất cả Phật pháp: All Buddhas, uttering one logical statement, can express all Buddha teachings. 3) Tất cả chư Phật phóng một quang minh đều chiếu khắp tất cả thế giới: All Buddhas, emanating one light, can illuminate all worlds. 4) Tất cả chư Phật ở nơi một thân đều hay thị hiện tất cả thân: All Buddhas, in one body, can manifest all bodies. 5) Tất cả chư Phật ở trong một xứ đều hay thị hiện tất cả thế giới: All Buddhas can show all worlds in one place. 6) Tất cả chư Phật ở trong một trí đều hay quyết rõ tất cả các pháp không bị ngăn ngại: All Buddhas can ascertain all things within one knowledge without any impediment. 7) Tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hay qua khắp mười phương thế giới: All Buddhas can travel to all worlds in the ten directions in a single moment of thought. 8) Tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hiện Như Lai vô lượng oai lực: All Buddhas can manifest the infinite spiritual powers of the enlightened in a single instant. 9) Tất cả chư Phật ở trong một niệm duyên khắp tam thế Phật và chúng sanh, tâm không tạp loạn: All Buddhas can focus on all Buddhas and sentient beings of past, present and future in a single instant without confusion of mind. 10) Tất cả chư Phật ở trong một niệm cùng với tam thế tất cả Phật đồng một thể không hai: All Buddhas are in one instant essentially the same as all Buddhas of past, future and present.

mười cảnh thiền định

See Ten stages or objects in meditation.

mười cảnh vực

Theo tông Thiên Thai, toàn thể vũ trụ được coi như là sự tập thành của “tam thiên,” nhưng lý thuyết nầy khác hẳn những hệ thống đa nguyên khác. Nó không phải là một lối liệt kê tất cả các pháp, cũng không phải là thế giới hệ của ba đại thiên thế giới vũ trụ. Ba nghìn không phải chỉ cho một tính chất bao la của danh số hay bản thể, mà để nói lên sự tương dung của tất cả các pháp và nhất thể cứu cánh của toàn thể vũ trụ. Với căn bản “ba nghìn” nầy, tông Thiên Thai đề ra một thế giới hệ gồm mười cảnh vực, tức là thế giới của hữu tình được chia thành mười cõi hay Lục Phàm Tứ Thánh—According to the T'ien-T'ai Sect, the whole universe is said to have the constituency of “three thousand,” but the theory is quite different from other pluralistic systems. It is not an inumeration of all dharmas; nor is it the world system of the three chiliocosms. The expression of “three thousand” does not indicate a numerical or substantial immensity, but is intended to show the inter-permeation of all dharmas and the ultimate unity of the whole universe. As the basis of “three thousand” the school sets forth a world-system of ten realms. That is to say, the world of living beings is divided into ten realms or the six stages of rebirth for ordinary people and the four saints—See Lục Phàm Tứ Thánh.

mười cửa giải thoát của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười cửa giải thoát của chư Đại Bồ tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được môn giải thoát vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of doors of liberation of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme door of liberation of Buddhas. 1) Môn giải thoát một thân cùng khắp tất cả thế giới: Pervading all worlds with one body. 2) Môn giải thoát thị hiện vô lượng những loại sắc tướng nơi tất cả thế giới: Showing infinite various forms in all worlds. 3) Môn giải thoát đem tất cả thế giới vào một cõi Phật: Putting all worlds in one Buddha-field. 4) Môn giải thoát khắp gia trì tất cả chúng sanh giới: Universally supporting all realms of sentient beings. 5) Môn giải thoát dùng thân trang nghiêm của tất cả Phật đầy khắp tất cả thế giới: Filling all worlds with the adornment bodies of all Buddhas. 6) Môn giải thoát trong thân mình thấy tất cả thế giới: Seeing all worlds in one's own body. 7) Môn giải thoát trong một niệm qua tất cả thế giới: Seeing all worlds through one thought. 8) Môn giải thoát thị hiện tất cả Như Lai xuất thế: Showing the emergence of all Buddhas in one world. 9) Môn giải thoát một thân đầy khắp cả pháp giới: Filling all worlds with one body. 10) Môn giải thoát trong một niệm thị hiện tất cả Phật du hí thần thông: Showing the free play of spiritual powers of all Buddhas in a single instant.

Mười danh hiệu

Hán Việt: Thập hiệu (十號);|Mười danh hiệu của một vị Phật, thường được nhắc đến trong những bài kinh, luận:|1. Như Lai (如來; s, p: tathāgata), là »Người đã đến như thế«; 2. A-la-hán (阿羅漢; s: arhat), dịch nghĩa là Ứng Cung (應供), là »Người đáng được cúng dường«; 3. Chính Biến Tri (正遍知; s: samyaksaṃbuddha), dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà (三藐三佛陀), là »Người hiểu biết đúng tất cả các pháp«; 4. Minh Hạnh Túc (明行足; s: vidyācaraṇasaṃpanna), nghĩa là »Người có đủ trí huệ và đức hạnh«; 5. Thiện Thệ (善逝; s: sugata), là »Người đã đi trên con đường thiện«; 6. Thế Gian Giải (世間解; s: lokavid), là »Người đã thấu hiểu thế giới«; 7. Vô Thượng Sĩ (無上士; s: anuttarapuruṣa), là »Ðấng tối cao, không ai vượt qua«; 8. Ðiều Ngự Ðại Trượng Phu (調御大丈夫; s: puruṣadamyasārathi), nghĩa là »Người đã điều chế được mình và nhân loại«; 9. Thiên Nhân Sư (天人師; s: devamanuṣyānāmśās-tṛ), là »Bậc thầy của cõi người và cõi trời«; 10. Phật Thế Tôn (佛世尊; s: buddhaloka-nātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān), là »Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính«.

mười danh hiệu phật

See Ten epithets of a Buddha, and Thập Hiệu.

mười danh hiệu đại trượng phu của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, sau khi thành tựu tu tập mười đạo xuất sanh Phật pháp, chư Bồ Tát sẽ đạt được mười danh hiệu đại trượng phu—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, after accomplishing cultivating ten ways of generating the qualities of Buddhahood, Enlightening Beings will attain these ten appellations of greatness (See ten ways of generating the qualities of Buddhahood). 1) Hiệu là Bồ Đề Tát Đỏa, vì do Bồ Đề trí sanh ra: They are called Beings of Enlightenment because they are born of knowledge of enlightenment. 2) Hiệu là Ma Ha Tát Dỏa vì an trụ trong Đại Thừa: They are called Great Beings because they dwell in the Great Vehicle. 3) Hiệu là Đệ Nhứt Tát Đỏa, vì chứng pháp đệ nhứt: They are called Foremost Beings because they realize the foremost truth. 4) Hiệu là Thắng Tát Đỏa vì giác ngộ pháp thù thắng: They are called Superior Beings because they are aware of high laws. 5) Hiệu là Tối Thắng Tát Đỏa, vì trí huệ tối thắng: They are caled Supreme Beings because their knowledge is supreme. 6) Hiệu là vô thượng Tát Đỏa, vì khai thị pháp vô thượng: They are called Exalted Beings because they reveal the unexcelled teaching. 7) Hiệu là Lực Tát Đỏa, vì biết rộng thập lực: They are called Beings of Power because they have extensive knowledge of the ten powers. 8) Hiệu là Vô Đẳng Tát Đỏa, vì thế gian không sánh được: They are called Incomparable Beings because they have no peer in the world. 9) Hiệu là Bất Tư Nghì Tát Đỏa, vì nơi một niệm mà Thành Phật: They are called Inconceivable Beings because they become Buddhas in an instant. 10) Chư Bồ Tát được danh hiệu nầy thời được thành tựu Bồ Tát Đạo: Enlightening beings win these appellations accomplish the Paths of Enlightening Beings.

mười giai đoạn phát triển tâm của tông chân ngôn

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Mật giáo hay Kim Cang Thừa Phật Giáo là một từ ngữ dùng để chỉ cho tông chỉ bí mật cao siêu, vượt hẳn cả Tiểu Thừa và Đại Thừa. Theo Đại Sư Hoằng Pháp, có mười giai đoạn phát triển tâm. Những giai đoạn nào từ thấp lên cao, cho thấy sự tiến triển của tâm thức con người theo thời gian, còn những giai đoạn cùng phát triển đồng thời như trong 6 và 7, 8 và 9, cho thấy tình trạng của thế giới hướng thượng—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the Mystic Doctrine School or the Buddhist Diamond Vehicle Vajrayana is a name given to a higher mystic doctrine, transcending all Hinayana and Mahayana doctrines. Such Diamond Vehicle is only represented by Great Master Kobo with his proposal of the ten stages of spiritual development. These stages coming one above the other, show the timely progress of the human mind, while those which stand co-ordinated at one time as in 6 and 7, 8 and 9, show the state of the progressive world. 1) Dị Sanh Kỳ Dương Tâm: Những nẻo đường của cuộc sống mù quáng do bản năng điều khiển. Đây là giai đoạn của phàm ngu—Various paths of blind life driven by the instinctive impulse. This is the stage of common people. 2) Ngu Đồng Trì Trai Tâm (nhân thừa): Cố gắng vượt lên sống đời đạo đức, như trường hợp của Khổng Giáo—The Vehicle of human beings striving to have a moral life, the satge of Confucianism. 3) Anh Đồng Vô Úy Tâm (Thiên thừa): Giai đoạn chúng sanh ở cõi trời, nỗ lực cho một sức mạng siêu nhiên, như Lão giáo và Bà La Môn giáo—The Vehicle of heavenly beings striving to have a supernatural power, the stage of Taoism and Brahmanism. 4) Duy Uẩn Vô Ngã Tâm (Thanh Văn thừa): Đây là thừa của các đệ tử trực tiếp của Phật, vươn lên đời sống tâm linh cao đẳng như trong các bộ phái Tiểu thừa, Câu Xá và Thành Thật tông—The Vehicle of the dirct pupils of the Buddha, or sravaka, striving for higher spiritual life as in Hinayana schools, Kusala, and the Satyasiddhi schools. 5) Bạt Nghiệp Nhân Chủng Tâm (Độc Giác thừa): Thừa nầy thọ hưởng giác ngộ riêng tư, nhưng còn vị kỷ—The Vehicle of the self-enlightened ones (pratyeka-buddha) enjoying self-enlightenment yet falling into egoism. 6) Tha Duyên Đại Thừa Tâm: Cho rằng ba thừa là chân thật, giai đoạn của Tam Luận và Pháp Tướng tông—The doctrine of the three Vehicles, holding the three Vehicles as real, the stage of San-Lun and Dharmalaksana schools. 7) Giác Tâm Bất Sanh Tâm: Như (6)—Same as in (6). 8) Nhất Đạo Vô Vi Tâm: Nhất Thừa, cho rằng chỉ có một thừa là chân thật, giai đoạn của Hoa Nghiêm và Thiên Thai—The doctrine of One Vehicle, holding the one Vehicle as real, the stage of Hua-Yen and T'ien-T'ai schools. 9) Cực Vô Tự Tánh Tâm: Như (8)—Same as in (8). 10) Bí Mật Trang Nghiêm Tâm: Tông chỉ của Chân Ngôn tông hay Kim Cang Thừa. Theo quan điểm của Chân Ngôn tông, Kim Cang thừa đứng trên các thừa khác, đó là tối thượng thừa về Mật Giáo—The Diamond Vehicle as held by the Shingon School. According to the Shingon idea, the Diamond Vehicle stands above all others; it is the supreme Vehicle of mysticism.

mười giới

Ten realms—See Thập Giới.

mười giới bất hối

Mười giới không đưa đến sự hối hận—Ten rules which produce no regrets. 1) Không sát sanh: Not killing. 2) Không trộm cắp: Not stealing. 3) Không tà dâm: Not committing sexual misconduct. 4) Không nói dối: Not lying. 5) Không nói lỗi của người: Not telling a fellow-Buddhist's sins. 6) Không uống rượu: Not drinking wine. 7) Không tự cho mình hay và chê người dở: Not praising oneself and discrediting others. 8) Không hèn hạ: Not being mean to other beings. 9) Không sân hận: Not being angry. 10) Không hủy báng Tam Bảo: Not defaming the Triratna.

Mười giới của sa-di

1. Không giết hại; 2. Không trộm cắp; 3. Không dâm dục; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu; 6. Không cài hoa, xức dầu thơm, thoa phấn đẹp; 7. Không đàn ca múa hát; 8. Không nằm ngồi trên giường rộng, ghế cao; 9. Không ăn sai giờ, nghĩa là chỉ ăn mỗi ngày một lần trước giờ ngọ; 10. Không sở hữu, sử dụng tiền, vàng, đồ trang sức quý báu.

mười giới sa di

Bước đầu tiên trên đường tu tập—Ten commandments of Sramanera Precepts, the first step in cultivation the Way—Mười Giới Sa Di: Ten virtues—Ten basic prohibitions binding on novice monks and nuns: 1) Không sát sanh hại vật: Not Killing living beings. 2) Không lấy của nếu không được cho: Not taking what has not been giving. 3) Không tà hạnh: Not committing Misconduct in sexual matters. 4) Không nói dối: Not telling lies. 5) Không uống rượu: Not drinking liquor. 6) Không đeo trang sức và sức các loại nước hoa: Not wearing adornments and perfume. 7) Không ca hát nhảy múa: Not enjoying singing and dancing. 8) Không nằm giường cao rộng: Not sleeping in large raised beds. 9) Không ăn sái giờ: Not eating out of regulated hours. 10) Không cất giữ hay sở hữu quí kim bảo thạch: Not possessing gold, silver, and other precious metals and stones. *** For more information, please see Thập Giới.

mười giới trọng

The ten major precepts—See Mười Giới Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng.

mười giới trọng của chư bồ tát trong kinh phạm võng

Phật đã dạy chúng đệ tử rằng: “có Mười giới trọng cho Bồ Tát. Nếu ai thọ giới mà không giữ, người đó không phải là Bồ tát, người đó cũng không có chủng tử Phật. Ngay cả Phật mà còn Phải trì tụng những giới nầy. Tất cả chúng Bồ tát đã học giới trong quá khứ, sẽ học trong tương lai, hay đang học trong lúc nầy. Ta đã giải thích những điểm chánh của Bồ Tát giới. Mấy ông phải học và hành Bồ tát giới trong chính tâm mình.”—The Ten Major Precepts or the ten weighty prohibitions—In the Brahma-Net Sutra, the Buddha said to his disciples, “There are ten major Bodhisattva precepts. If one receives the precepts but fails to keep (observe/practice) them, he is not a bodhisattva, nor he is a seed of Buddhahood. I, too, recite these precepts. All Bodhisattvas have studied them in the past, will study in the future, and are studying them now. I have explained the main characteristics of the Bodhisattva precepts. You should study and observe them with all your heart.” 1) Giới Sát Sanh: First Major Precept on Killing—Là Phật tử, không tự mình giết, không xúi người giết, không phương tiện hay khen tặng ai giết, không thấy giết mà tùy hỷ, không dùng bùa chú giết, không nhơn, duyên, hay cách thức mà giết, không nghiệp giết. Phàm tất cả loài hữu tình có mạng sống đều không được cố ý giết. Là Phật tử, phải luôn phát đại bi tâm và lòng hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng sanh-, mà trái lại tự phóng tâm nỡ lòng sát sanh, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not himself kill, encourage others to kill, kill by expedient means, praise killing, rejoice at witnessing killing, or kill through incantation or deviant mantras. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of killing, and shall not intentionally kill any living creature. As a Buddha's disciple, he ought to nuture a mind of compassion and filial piety, always divising expedient means to rescue and protect all beings. If instead, he fails to restrain himself and kills sentient beings without mercy, he commits a Parajika offense. 2) Giới Trộm Cướp: Second Major Precept on Stealing—Là Phật tử, không tự mình trộm cướp, không bảo người trộm cướp, không phương tiện trộm cướp, nhẫn đến không dùng bùa chú mà trộm cướp; không nhơn trộm cướp, duyên trộm cướp, cách thức trộm cướp hay nghiệp trộm cướp. Tất cả tài vật, dù là của quỷ thần, từ cây kim ngọn cỏ đều có chủ, không đặng trộm cướp. Là Phật tử, phải luôn có lòng từ bi hiếu thuận thường giúp cho mọi người được phước đức an vui. Trái lại, lại sanh tâm trộm cướp tài vật của người, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself steal or encourage others to steal, steal by expedient means, steal by means of incantation or deviant mantras. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of stealing. No valuables or possessions, even those belonging to ghosts and spirits or thieves and robbers, be they as small as a needle or a blade of grass, may be stolen. As a Buddha's disciples, he ought to have a mind of mercy, compassion, and filial piety, always helping other people to earn merits and achieve happiness. If instead, he steals the posessions of others, he commits a Parajika offense. 3) Giới Dâm: Third Major Precept on Sexual Misconduct (not to lust)—Là Phật tử, không tự mình dâm dục, không bảo người dâm dục, với tất cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ cùng phi đạo mà hành dâm; không nhơn dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, hay nghiệp dâm dục. Là Phật tử, đối với tất cả không được dâm dục, mà phải có lòng hiếu thuận cứu độ tất cả, phải đem pháp thanh tịnh mà khuyên dạy người. Dâm giới cũng là một trong ngũ giới cho Phật tử tại gia (một trong năm điều giới của hàng Phật tử tại gia là phải diệt trừ tà dâm. Một trong mười giới trọng của hàng xuất gia là phải hoàn toàn cắt đứt dâm dục). Trái lại nếu không có tâm từ, làm cho mọi người sanh việc dâm dục, không lựa súc sanh, cho đến hành dâm với mẹ, con, chị, em trong lục thân, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not engage in licentious acts or encourage others to do so. He (a monk) should not have sexual relations with any female; be she a human, animal, deity or spirit, nor create the causes, conditions, methods, or karma of such misconduct. Indeed, he must not engage in improper sexual misconduct with anyone. A Buddha's disciple ought to have a mind of filial piety, rescuing all sentient beings and instructing them in the Dharma of purity and chastity. Sexual misconduct is also one of the five basic precepts for householders. If instead, he lacks compassion and encourages others to engage in sexual relations promiscuously, including with animals and even their mothers, daughters, sisters, or other close relatives, he commits a Parajika offense. 4) Giới Vọng: Fourth Major Precept on Lying and False Speech—Là Phật tử, không vọng ngữ, không bảo người vọng ngữ, không phương tiện vọng ngữ, không nhơn vọng ngữ, duyên vọng ngữ, cách thức vọng ngữ, nghiệp vọng ngữ. Nhẫn đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, hoặc thân vọng ngữ, tâm vọng ngữ. Là Phật tử, phải luôn luôn chánh ngữ chánh kiến, và cũng làm cho tất cả chúng sanh có chánh ngữ chánh kiến, mà trái lại làm cho mọi người tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself use false words and speech, or encourage others to lie or lie by expedient means. He should not involve himself in the causes, conditions, methods, or karma of lying, saying that he has seen what he has not seen or vice-versa, or lying implicitly through physical or mental means. As a Buddha's disciple, he ought to maintain Right Speech and Right Views always, and lead all others to maintain them as well. If instead, he causes wrong speech, wrong views or evil karma in others, he commits a Parajika offense. 5) Giới Uống Rượu và Bán Rượu: Fifth Major Precept on Drinking or Selling Alcohol Beverages—Là Phật tử, không tự mình uống hay bán rượu, không bảo người uống hay bán, không duyên uống hay bán, không cách thức uống hay bán, không nghiệp uống hay bán rượu. Tất cả rượu đều không được uống hay bán vì rượu là nhơn duyên sanh tội lỗi. Là Phật tử phải làm cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt, mà trái lại đem sự mê say điên đảo cho tất cả chúng sanh, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not drink or trade in alcohol beverages or encourage others to do so. He should not create the causes, conditions, methods or karma of drinking or selling any intoxicant wnatsoever, for intoxicants are the causes and conditions of all kinds of offenses. As a Buddha's disciple, he ought to help all sentient beings achieve clear wisdom. If instead, he cayses them to have upside-down, topsy-turvy thinking, he commits a Parajika offense. 6) Giới Rao Lỗi của Tứ Chúng: Sixth Major Precept on Broadcasting the Faults of the Assembly (not to discuss the faults of other Buddhists)—Là Phật tử, không tự mình rao lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, không bảo người rao lỗi; không nhơn rao lỗi, duyên rao lỗi, cách thức rao lỗi, nghiệp rao lỗi. Là Phật tử, khi nghe kẻ ác, kẻ ngoại đạo, cùng kẻ nhị thừa nói những điều phi pháp trái luật, phải luôn có lòng từ bi giáo hóa những kẻ ấy, khiến cho họ sanh lòng lành với Đại thừa, mà trái lại Phật tử tự mình rao nói những lỗi trong Phật pháp, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not himself broadcast the misdeeds or infractions of Bodhisattva-clerics or Bodhisattva-laypersons, or of ordinary monks and nuns, nor encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of discussing the offenses of the Assembly. As a Buddha's disciple, whenever he hears evil persons, externalists or followers of the Two Vehicles speak of practices contrary to the Dharma or contrary to the precepts within the Buddhist community, he should instruct them with a compassionate mind and lead them to develop wholesome faith in the Mahayana. If instead, he discusses the faults and misdeeds that occur within the assembly, he commits a Parajika offense. 7) Giới Tự Khen Mình và Chê Người: Seventh Major Precept on Prasing Oneself and Disparaging Others (not to praise onself and disparage others)—Là Phật tử, không tự khen mình chê người, không bảo ai khen mình chê người; không nhơn chê người, không duyên chê người, không cách thức chê người, không nghiệp chê người. Là Phật tử, nên sẳn sàng nhận lấy những khinh chê cho tất cả chúng sanh và nhường tất cả việc tốt cho người, chứ không bao giờ tự phô trương tài đức của mình mà dìm điều hay tốt của người, nếu không Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not praise himself and speak ill of others, or encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of prasing himself and disparaging others. As a disciple of the Buddha, he should be willing to stand in for all sentient beings and endure humiliation and slander, accepting blame and letting sentient beings have all the glory. He should never display his own virutes and conceal the good points of others, thus causing them suffer slander, he commits a Parajika offense. 8) Giới Bỏn Xẻn và Lợi Dụng Người Khác: Eighth Major Precept on Stinginess and Abuse of others—Là Phật tử, không tự mình bỏn xẻn hay lợi dụng người khác, không xúi người bỏn xẻn, không nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn. Là một Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, khi thấy người bần cùng đến cầu xin, phải bằng mọi cách giúp đở theo nhu cầu của họ, chứ không đem lòng giận ghét không cho một mảy may; hoặc có người đến cầu học giáo pháp, đã chẳng nói một kệ một câu mà còn mắng đuổi, là phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha must not be stingy or encourage others to be stingy. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of stinginess. As a Bodhisattva, whenever a destitute person comes for help, he should try his best to help, not to refuse. Besides, he must try to help others understand and practice Dharma. If instead, out of angerand resentment, he denies all asistance, refusing to help even a penny, a needle, a blade of grass, even a single sentence or verse or a phrase of Dharma, but instead scolds and abuses that person, he commits a Parajika offense. 9) Giới Giận Hờn không nguôi: Ninth Major Precept on Anger and Resentment (not to get angry)—Là Phật tử, không tự mình hờn giận, không bảo người hờn giận; không nhơn giận, duyên giận, cách thức giận, nghiệp giận. Ngược lại, phải luôn có lòng từ bi hiếu thuận, khiến giúp cho chúng sanh, cho đến loài phi chúng sanh luôn được lợi lạc. Nếu đối với tất cả các loài chúng sanh, cho đến trong loài phi chúng sanh mà đem lời ác mạ nhục, còn thêm dùng tay chân, dao gậy để đánh đập mà vẫn chưa hả dạ, cho đến nạn nhân kia lấy lời nhỏ nhẹ xin lỗi, cầu sám hối tạ tội, nhưng vẫn không hết giận, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A disciple of the Buddha shall not harbor anger or encourage others to be angery. He should not create the causes, conditions, methods, or karma of anger. In the contrary, As a disciple of the Buddha, he ought to be compassionate and filial, helping all sentient beings, or even transformation beings (deities and spirits) be happy at all times. If instead, he insults and abuses sentient beings, or even transformation beings such as dieties and spirits, with harsh words, hitting them with his fists or feet, or attacking them with a knife or club, or harbors grudges even when the victim confesses his mistakes and humbly seeks forgiveness in a soft, conciliatory voice, the disciple commits a Parajika offense. 10) Giới Hủy Báng Tam Bảo: Tenth Major Precept on Slandering the Triple Jewel (not to insult the Three Treasures)—Là Phật tử, không bao giờ tự mình hủy báng Tam Bảo, không xúi ai hủy báng; không nhơn hủy báng, duyên hủy báng, cách thức hủy báng, nghiệp hủy báng. Là Phật tử thuần thành, một khi nghe ngoại đạo hay kẻ ác hủy báng Tam Bảo dù chỉ một lời, thì đau đớn chẳng khác chi trăm ngàn đao kiếm đâm vào tâm, huống là tự mình hủy báng? Là Phật tử chẳng những luôn đem lòng tôn kính Tam Bảo, mà còn khiến cho người người đều đem lòng tôn kính. Ngược lại, không có đức tin và lòng hiếu thuận đối với Tam Bảo, lại còn giúp sức cho những kẻ ác, kẻ tà kiến hủy báng nữa, Phật tử nầy phạm “Bồ Tát Ba La Di Tội.”—A Buddha's disciple shall not himself speak ill of the Triple Jewel or encourage others to do so. He must not create the causes, conditions, methods, or karma of slandering. As a devoted Buddhist, when hearing a single word of slander against the Triple Jewel from externalists or evil beings, he experiences a pain similar to that of hundreds of thousands of spears piercing his heart. How then could he possibly slander the Triple Jewel himself ? As a disciple of the Buddha, we are not only always revere the Triple Jewel ourselves, but we also help others understand and revere the Triple Jewel. On the contrary, if a disciple lacks faith and filial piety towards the Triple Jewel, and even assists evil persons or those of aberrant views to slander the Triple Jewel, he commits a Parajika offense.

Mười hai bộ kinh

(Thập nhị bộ kinh): Bao gồm: 1. Tu-đa-la (Phạn ngữ: Stra), dịch nghĩa: khế kinh, pháp bổn, là những lời Phật dạy thích hợp với từng căn cơ chúng sanh; 2. Kỳ-dạ (Phạn ngữ: Geya), dịch nghĩa: ứng tụng, trùng tụng, là những lời dạy trong kinh được lặp lại để người nghe ghi nhớ và thực hành; 3. Hòa-ca-la-na (Phạn ngữ: Vyakarana), dịch nghĩa: thọ ký, là lời dạy của Phật về kết quả tu tập trong tương lai của các vị đệ tử, nói trước về sự chứng đắc quả vị của mỗi người căn cứ vào nỗ lực tu tập, hành trì của họ; 4. Già-đà (Phạn ngữ: Gth), dịch nghĩa: phúng tụng, cô khởi tụng hay kệ tụng, là những lời dạy của Phật được diễn đạt theo thể kệ tụng để dễ ghi nhớ, thường là lặp lại phần ý nghĩa đã diễn thuyết trong khế kinh; 5. Ưu-đà-na (Phạn ngữ: Udana), dịch nghĩa: tự thuyết, hay vô vấn tự thuyết, là những kinh điển do đức Phật quán xét căn cơ chúng sanh rồi tự nói ra, không cần có nhân duyên dẫn khởi, không cần đợi người thưa hỏi; 6. Ni-đà-na (Phạn ngữ: Nidna), dịch nghĩa: nhân duyên, là những nhân duyên dẫn khởi sự thuyết dạy của Phật, như do có việc thế này nên thuyết dạy pháp như thế này...; 7. A-ba-đà-na (Phạn ngữ: Avadna), dịch nghĩa: thí dụ, là những lời dạy bằng phương thức thí dụ, dẫn dụ, so sánh nghĩa là so sánh các sự việc; 8. Y-đế-mục-đa-già (Phạn ngữ: Itivrtaka), dịch nghĩa: bổn sự, là những lời dạy về tiền thân tu tập của các vị đệ tử Phật, được dẫn ra như những bài học cho thính chúng; 9. Xà-đà-già (Phạn ngữ: Jtaka), dịch nghĩa: bổn sanh, là lời dạy về các tiền thân của chính đức Phật, cũng được dẫn ra vì mục đích giáo hóa; 10. Tỳ -phật-lược (Phạn ngữ: Vaipulya), dịch nghĩa: Phương quảng, là chỉ chung các kinh điển truyền dạy giáo pháp Đại thừa; 11. A-phù-đà-đạt-ma (Phạn ngữ: Adbhutadharma), dịch nghĩa: Vị tằng hữu, là những kinh điển thuyết giảng những điều bất khả tư nghị, xưa nay chưa từng có, như nói về thần lực, phước đức của chư Phật, Bồ Tát...; 12. Ưu-ba-đề-xá (Phạn ngữ: Upadçsa), dịch nghĩa: Luận nghị, là những lời dạy mang tính luận thuyết, bàn giải, để giúp người nghe nắm hiểu được giáo pháp cũng như các pháp môn tu tập. Trong 12 bộ kinh này thì 9 bộ trước là thuộc về giáo nghĩa quyền thừa, nhằm dẫn dắt mọi chúng sanh sơ cơ, (Xem Chín bộ kinh), 3 bộ cuối cùng giảng thuyết những ý nghĩa cứu cánh rốt ráo, đưa đến quả vị Phật.

mười hai bộ kinh

Twelve Sutras which are classifications of the Buddha's teachings—See Thập Nhị Bộ Kinh.

mười hai loại chúng sanh

Twelve categories of living beings—See Thập Nhị Loại Chúng Sanh.

mười hai lời nguyện của đức dược sư lưu ly quang phật

The twelve vows of Bhaishajya-Guru-Buddha—Theo Kinh Dược Sư, Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng ở phương Đông cách cõi Ta Bà hơn mười căn dà sa cõi Phật, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Luu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Khi còn tu hạnh Bồ Tát, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khẳng định với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Dầu ta có nói đến mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào nói cho hết được. Tuy nhiên, ta có thể nói ngay rằng cõi Phật kia không có đàn bà, không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không.”—According to The Medicine Buddha Sutra, the Buddha said to Manjusri Bodhisattva: “East of this world, past countless Buddha-lands, more numerous than the grains of sand in ten Ganges Rivers, there exists a world called Pure Lapis Lazuli. The Buddha of that world is called the Medicine Buddha Lapis Lazuli Radiance Tathagata, Arhat, the Perfectly Enlightened, Perfect in Mind and Deed, Well Gone, Knower of the World, Unsurpassed Being, Tamer of Passions, Teacher of Gods and Men, Buddha, World Honoured One. When the World Honoured Medicine Buddha was treading the Bodhisattva path, he solemnly made Twelve Great Vows to grant sentient beings whatever they desired. Sakyamuni Buddha confirmed Manjusri Bodhisattva: “I cannot possibly describe them all, not even if I were to speak for an eon or more. However, this Buddha-land is utterly pure. You will find no temptations, no Evil Paths nor even cries of suffering there.” 1) Đại Nguyện thứ nhất—The First great Vow: Nguyện đời sau, khi chứng được đạo Chánh Đẳng Chánh Giác, thân có hào quang sáng suốt, rực rỡ chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới, để soi sáng giác ngộ cho mọi chúng sanh, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy—I vow that in a future life, when I have attained Supreme, Perfect Enlightenment, my brilliant rays will radiate to all beings or to shine upon all beings with the light from my body, illuminating infinite, countless boundless realms. This body will be adorned with the Thirty-Two Marks of Greatness and Eighty Auspicious Characteristics. Furthermore, I will enable all sentient beings to become just like me. 2) Đại Nguyện thứ hai—The Second Great Vow: Nguyện đời sau, khi được đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, my body, inside and out, will radiate far and wide the clarity and flawless purity of lapis lazuli. This body will be adorned with superlative virtues and dwell peacefully in the midst of a web of light more magnificent than the sun or moon. The light will awaken the minds of all beings dwelling in darkness, enabling them to engage in their pursuits according to their wishes. 3) Đại Nguyện thứ ba—The Third Great Vow: Nguyện đời sau, khi được đạo Bồ Đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ các vật dụng, chớ không ai phải chịu sự thiếu thốn—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will, with infinite wisdom and skillful means, provide all sentient beings with an inexhaustible quantity of goods to meet their material needs. They will never want for anything. 4) Đại Nguyện thứ tư—The Fourth Vow: Nguyện đời sau khi được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề, hoặc có những người tu theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác thì ta cũng lấy phép Đại Thừa mà dạy bảo họ: I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will set all who follow heretical ways upon the path to Enlightenment. Likewise, I will set those who follow the Sravaka and Pratyeka-Buddha ways onto the Mahayana path. 5) Đại Nguyện thứ năm—The Fifth Vow: Nguyện đời sau khi được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh, thì ta khiến cho tất cả đều giữ được pháp giới hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will help all the countless sentient beings who cultivate the path of morality in accordance with my Dharma to observe the rules of conduct (Precepts) to perfection, in conformity with the Three Root Precepts. Even those guilty of disparaging or violating the Precepts will regain their purity upon hearing my name, and avoid descending upon the Evil Paths. 6) Đại Nguyện thứ sáu-The Sixth Vow: Nguyện đời sau khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng nghịu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu ta liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bệnh khổ ấy nữa—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, sentient beings with imperfect bodies, whose senses are deficient, who are ugly, stupid, blind, deaf, mute, crippled, hunchbacked, leprous, insane or suffering from various other illnesses, will, upon hearing my name, acquire well-formed bodies, endowed with intelligence, with all senses intact. They will be free of illness and suffering. 7) Đại Nguyện thứ bảy—The Seventh Great Vow: Nguyện đời sau, khi được chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng sanh nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, sentient beings afflicted with various illnesses, with no one to help them, nowhere to turn, no physicians, no medicine, no family, no home, who are destitute and miserable, will, as soon as my name passes through their ears, be relieved of all their illnesses. With mind and body peaceful and contented, they will enjoy home, family and property in abundance and eventually realize Unsurpassed Supreme Enlightenment. 8) Đại Nguyện thứ tám—The Eighth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy mà hễ nghe danh hiệu ta rối thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, those women who are extremely disgusted with 'hundred afflictions that befall women' and wish abandon their female form, will, upon hearing my name, all be reborn as men. They will be endowed with noble features and eventually realize Unsurpassed Supreme Enlightenment. 9) Đại Nguyện thứ chín—The Ninth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề thì khiến cho chúng sanh hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần khiến họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát được mau chứng đạo Chánh Đẳng Bồ Đề—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, I will help all sentient beings escape from the demons' net and free themselves from the bonds of heretical paths. Should they be caught in the thicket of wrong views, I will lead them to correct views, gradually inducing them to cultivate the practices of Bodhisattvas and swiftly realize Supreme, Perfect Enlightenment. 10) Đại Nguyện thứ mười—The Tenth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo quả Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rứt, hễ nghe đến danh hiệu ta thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenement, those sentient beings who are shackled, beaten, imprisoned, condemned to death or otherwise subjected to countless miseries and humiliations by royal decree, and who are suffering in body and mind from this oppression, need only hear my name to be freed from all these afflictions, thanks to the awesome power of my merits and virtues. 11) Đại Nguyện thứ mười một—The Eleventh Great Vow: Nguyện đời sau khi ta được chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, if sentient beings who are tormented by hunger and thirst, to the point of creating evil karma in their attempts to survive, should succeed in hearing my name, recite it singlemindedly and hold fast to it, I will first satisfy them with most exquisite food and drink. Ultimately, it is through the flavor of the Dharma that I will establish them in the realm of peace and happiness. 12) Đại nguyện thứ mười hai—The Twelfth Great Vow: Nguyện đời sau khi ta chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: Nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả các bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa, tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả—I vow that in a future life, when I have attained Supreme Enlightenment, if sentient beings who are utterly destitute, lacking clothes to protect them from mosquitos and flies, heat and cold, and are suffering day and night, should hear my name, recite it singlemindedly and hold fast to it, their wishes will be fulfilled. They will immediately receive all manner of exquisite clothing, precious adornments, flower garlands and incense powder, and will enjoy music and entertainment to their heart's content.

mười hai lời nguyện của đức quán thế âm bồ tát

The Twelve Great Vows of Avalokitesvara Bodhisattva. 1) Nam Mô hiệu Viên Thông, danh Tự Tại, Quán Âm Như Lai quảng phát hoằng thệ nguyện: Ngài được xưng tặng là “hiểu biết đầy đủ,” “thong dong hoàn toàn.” Ngài đem phép tu hành mà khuyến độ khắp cùng chúng sanh—Namo, the Greatly Enlightened, well known for great spiritual freedom, the Avalokitesvara Tathagata's vow of immense propagation. 2) Nam Mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quán Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện: Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài thường ở bể phương Nam để cứu độ chúng sanh—Namo, single-minded in liberation, Avalokitesvara Tathagata's vow to often dwell in Southern Ocean. 3) Nam Mô Ta Bà U Minh giới Quán Âm Như Lai tầm thanh cứu khổ nguyện: Ngài luôn ở cõi Ta Bà và cõi U Minh để cứu độ kẻ nào kêu cứu tới Ngài—Namo, the dweller of Saha World, the Underworld, Avalokitesvara Tathagata's vow to follow the prayer sounds of sentient beings to alleviate pains and sufferings. 4) Nam Mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như Lai năng trừ nguy hiểm nguyện: Ngài có khà năng trừ khử loài tà ma yêu quái, và đủ sức cứu người gặp nguy hiểm—Namo, the destroyer of evil spirits and demons, Avalaokitesvara Tathagata's vow to eliminate dangers. 5) Nam Mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lộ sái tâm nguyện: Ngài lấy nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới tất cả lửa lòng cùa chúng sanh—Namo, the holy water bottle and willow branch, Avalokitesvara Tathagata's vow to provide comfort and purification of sentient beings' minds with sweet holy water. 6) Nam Mô Đại Từ Bi năng Hỷ Xả, Quán Âm Như Lai thường hành bình đẳng nguyện: Thương xót người đói và sẳn lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả Ngài đều coi như nhau—Namo, the greatly compassionate and forgiving Avalkitesvara Tathagata's vow often to carry out conducts with complete fairness and equality. 7) Nam Mô trú dạ tuần vô tổn hại, Quán Âm Như Lai thệ diệt tam đồ nguyện: Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh—Namo, in all times without abandonment, Avalokitesvara Tathagata's vow to try to eliminate the three realm. 8) Nam Mô vọng Nam nham cầu lễ bái, Quán Âm Như Lai, già tỏa giải thoát nguyện: Nếu ai quay về núi hướng Nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi—Namo, Potala Mountain, essential to worship, Avalokitesvara Tathagata's vow to break from the bondage of shackles and chains to find liberation. 9) Nam Mô tạo pháp thuyền du khổ hãi, Quán Âm Như Lai độ tận chúng sanh nguyện: Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi củng khắp trong biển khổ để độ hết chúng sanh—Namo, the creator of the dharma-vessel traveling the ocean of sufferings, Avalokitesvara Tathagata's vow to rescue and aid all sentient beings. 10) Nam Mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quán Âm Như Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện: Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân nầy thì sẽ có phướn dài đi trước, tràng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương—Namo, the holder of flags and parasols, Avalokitesvara Tathagata's vow to protect and deliver sentient beings to the Western Pure Land. 11) Nam Mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quán Âm Như Lai Di Đà thọ ký nguyện: Ở cảnh giới của Đức Vô Lượng Thọ, tức Đức A Di Đà, Ngài đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó—Namo, the world of the Infinite Life Buddha, Avalokitesvara Tathagata's vow to have Amitabha Buddha give the prophecy of Buddhahood. 12) Nam Mô đoan nghiêm thân vô tỷ trại, Quán Âm Như Lai quá tu thập nhị nguyện: Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai nguyện lớn nầy—Namo, the incomparable adorning body in the three worlds, Avalokitesvara Tathagata's vow to complete the twelve vows to rescue sentient beings.

Mười hai nhân duyên

(Thập nhị nhân duyên), cũng gọi là thuyết Duyên khởi hay Nhân duyên sanh, nhưng vì bao gồm mười hai nhân duyên nên thường được gọi là Mười hai nhân duyên. Đó là: 1. Vô minh (avidy), chỉ sự ngu si không thấu hiểu chân lý, cụ thể là Tứ diệu đế; 2. Hành (saṃskra), chỉ mọi hành động tạo nghiệp, có thể là tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý; 3. Thức (vijđna), là yếu tố nền tảng cho đời sống sắp tới. Thức sẽ quy định nơi thọ sanh và tính chất tốt xấu của đời sống mới, tùy theo hành tốt, xấu; 4. Danh sắc, (nma-rpa), là toàn bộ mọi biểu hiện tâm lý và vật lý của chúng sanh, do năm uẩn (hay năm ấm) tạo thành; 5. Căn, hay sáu căn, cũng gọi là lục xứ (ṣaḍ-yatana) chỉ năm giác quan (nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn và thân căn) và khả năng suy nghĩ (ý căn); 6. Xúc (sparśa), hay lục xúc, là sự xúc chạm giữa sáu căn với sáu trần, tức là toàn bộ mọi biểu hiện của thế giới bên ngoài; 7. Thọ (vedan), hay cảm thọ, là cảm xúc, cảm giác của chúng sanh khi xúc chạm với thế giới bên ngoài, gồm có những cảm xúc vui thích (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) và không vui không khổ; 8. Ái (tṛṣṇ), chỉ sự luyến ái xuất phát từ ham muốn, vô minh; 9. Thủ (updna), sự chấp giữ, chiếm hữu mọi đối tượng làm của mình; 10. Hữu (bhava), là toàn bộ những biểu hiện của sự tồn tại, như sự sống, thế giới. 11. Sanh (jti), sự ra đời của một chúng sanh, hay nói đúng hơn là sự bắt đầu một đời sống mới sau khi đã kết thúc đời sống trước đó; 12. Lão tử (jar-maraṇa), hay già chết, là tiến trình không thể tránh khỏi của mọi chúng sanh sau khi đã bắt đầu một đời sống mới, nghĩa là phải già chết theo thời gian, tùy theo thọ mạng của mình. ; S: pratītya-samutpāda; P: paṭicca-samuppāda; Hán Việt: Thập nhị nhân duyên (十二因緣); nguyên nghĩa là Duyên khởi (緣起), Nhân duyên sinh (因緣生), nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai nhân duyên (điều kiện, s: nidāna) nên gọi là Mười hai nhân duyên (s: dvādaśanidāna hoặc dvādaśāṅga-pratītyasa-mutpāda).|Một trong những giáo lí quan trọng nhất của đạo Phật. Nguyên lí này chỉ rõ, mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm loài hữu tình cứ mãi vướng mắc trong Luân hồi (s: saṃsāra).|Nguyên lí mười hai nhân duyên và giáo pháp Vô ngã (s: anātman; p: anattā) là hai giáo pháp làm rường cột cho tất cả các tông phái Phật giáo. Các nhân duyên (nguyên nhân chính và điều kiện phụ) này gồm có 12 yếu tố như sau:|1. Vô minh (無明; s: avidyā; p: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống;|2. Vô minh sinh Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng, Thân, khẩu, ý;|3. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññā-ṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định; |4. Thức sinh Danh sắc (名色; s, p: nā-marūpa), là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do Ngũ uẩn (s: pañcaskandha; p: pañca-khandha) tạo thành;|5. Danh sắc sinh Lục căn (六根; s: ṣaḍāya-tana; p: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu); |6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (觸; s: sparśa; p: phassa);|7. Xúc sinh Thụ (受; s, p: vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;|8. Thụ sinh Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā), luyến ái xuất phát từ ham muốn, vô minh;|9. Ái sinh Thủ (取; s, p: upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm hữu cho mình;|10. Thủ sinh ra Hữu (有; s, p: bhāva), là toàn bộ điều mà ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.|11. Hữu sinh ra Sinh (生; s, p: jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi;|12. Sinh sinh ra Lão tử (老死; s, p: jarāma-raṇa), vì có Sinh nên có hoại diệt.|Người ta có thể nhìn mười hai nhân duyên dưới nhiều cách phân tích khác nhau. Cách phân tích thông thường có tính thời gian là: yếu tố 1-2 thuộc về đời sống cũ, yếu tố 3-7 là điều kiện và nguyên nhân sinh thành của đời sống mới, yếu tố 8-10 là kết quả trong đời sống hiện tại, yếu tố 11-12 chỉ đời sống tương lai.|Mười hai nhân duyên chỉ rõ tính chất liên hệ lẫn nhau của dòng chảy »Tâm«, »Vật« của thế giới hiện tượng, trong đó những khái niệm quan trọng nhất là »Ta«, »Người«, »Sinh vật«. Nếu thuyết vô ngã chỉ rõ thế giới và con người do các yếu tố giả hợp kết thành với nhau, thật chất là trống rỗng; thì thuyết nhân duyên có tính chất tổng hợp các yếu tố đó, chỉ ra rằng mọi hiện tượng thân tâm đều bắt nguồn từ những hiện tượng khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó có thể nhìn dưới khía cạnh đồng thời hoặc có thứ tự thời gian.|Thuyết Mười hai nhân duyên được các trường phái Phật giáo giải thích khác nhau. Tiểu thừa cho rằng thuyết này đã giải thích nguyên nhân của khổ và tất cả mọi pháp hữu vi (s: saṃskṛta) đều có nguyên nhân và điều kiện mới sinh ra nên chúng vô ngã – không có một tự tính nào. Như thế thuyết Mười hai nhân duyên nhằm dẫn đến quan điểm vô ngã.|Trong Ðại thừa, Mười hai nhân duyên được sử dụng để chứng minh sự không thật của sự vật và đặc biệt trong Trung quán tông (s: mādhyamika), Mười hai nhân duyên được định nghĩa là tính Không. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa nhấn mạnh rằng, Mười hai nhân duyên không nên hiểu theo thứ tự thời gian. Thuyết này nói lên sự liên hệ của vạn vật một cách tổng quát.

mười hai nhập

do sáu căn thiệp nhập với sáu trần mà thành. Xem ấm, nhập, giới.

mười hai tháng trong năm của ấn độ

The twelve months in India—See Thập Nhị Nguyệt.

mười hai tâm vô sắc giới

Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có mười hai tâm thiện trong cõi vô sắc—According to the Abhidharma, there are twelve kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: (A) Bốn Tâm Thiện Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: 1) Tâm Thiện trong Không Vô Biên Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of infinite space. 2) Tâm Thiện trong Thức Vô Biên Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 3) Tâm Thiện trong Vô Sở Hữu Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of nothingness. 4) Tâm Thiện trong Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ: Wholesome consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. (B) Bốn Tâm Thiền Quả thuộc Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere-Resultant Consciousness: 5) Tâm Thiền Quả trong Không Vô Biên Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of infinite space. 6) Tâm Thiền Quả trong Thức Vô Biên Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 7) Tâm Thiền Quả trong Vô Sở Hữu Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of nothingness. 8) Tâm Thiền Quả trong Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: Resultant consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. (C) Bốn Tâm Hành Vô Sắc Giới—Four kinds of Immaterial-Sphere Consciousness: 9) Tâm Thiền Hành trong Không Vô Biên Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of infinite space. 10) Tâm Hành Thiền trong Thức Vô Biên Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of infinite consciousness. 11) Tâm Thiền Hành trong Vô Sở Hữu Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of nothingness. 12) Tâm Thiền Hành trong Phi Tưởng Phi Phi Tường Xứ: Functional consciousness pertaining to the base of neither perception nor non-perception. ** For more information, please see Tứ Không Xứ.

Mười hai xứ

Xứ: s, p: āyatana; Hán Việt: Thập nhị xứ (十二處); |Gồm Lục căn (nội xứ; p: ajjhattāyatana) tức là sáu giác quan và Lục xứ, hay lục nhập, lục cảnh (ngoại xứ; p: bāhirāyatana), sáu đối tượng của chúng: 1. Nhãn xứ (mắt) và 2. Sắc xứ (thấy được); 3. Nhĩ xứ (tai) và 4. Âm thanh (nghe được); 5. Tỉ (mũi) và 6. Hương; 7. Thiệt (lưỡi) và 8. Vị; 9. Thân và 10. Xúc; 11. Ý xứ hay tầm và 12. Tâm pháp.

mười hoài bảo của chư bồ tát

Ten cherishing desires of Bodhisattvas—Trong Kinh Hoa Nghiêm, Hải Vân Tỳ Kheo tán dương mười hoài bảo của Thiện Tài Đồng Tử—In the Avatamsaka Sutra, Sagaramegha Bhiksu praises Sudhana's ten cherishing desires—See Mười Phẩm Hạnh Của Chư Bồ Tát.

mười hoàn cảnh khởi tâm đại bi

Ten circumstances in which Bodhisattvas develop their compassionate minds—Theo Kinh Hoa Nghiêm, ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã khai thị các vị Bồ Tát về tâm đại bi phải quán sát thấy như sau—According to the Avatamsaka Sutra, Samantabhadra Bodhisattva shed light on why Bodhisattvas developed the compassionate mind as follows: 1) Bồ Tát quán sát thấy các chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they do not have any place to lean on to develop great compassion. 2) Bồ Tát quán thấy chúng sanh tâm tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are not kind and good-natured to develop great compassion. 3) Bồ Tát quán thấy chúng sanh nghèo cùng khốn khổ, không có căn lành mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they suffer in poverty without wholesome karma to develop great compassion. 4) Bồ Tát quán thấy chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi tâm đại bi: Bodhisatvas observe sentient beings and seeing that they sleep soundly in the long night of binding ignorance to develop great compassion. 5) Bồ Tát quán thấy chúng sanh làm những điều ác mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they carry out wicked actions to develop great compassion. 6) Bồ Tát quán thấy chúng sanh làm những điều ác mà còn thích lao mình thêm vào trong các sự ràng buộc khác nữa, mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are already bound and tied down but are still fond of other bondage to develop great compassion. 7) Bồ Tát quán thấy chúng sanh bị chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi tâm: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are drowning in the ocean of life and death to develop great compassion. 8) Bồ Tát quán thấy chúng sanh bị vương mang tội khổ lâu dài mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are trapped enduring sufferings for an extensive period of time to develop great compassion. 9) Bồ Tát quán thấy chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are not fond of wholesome dharma to develop great compassion. 10) Bồ Tát quán thấy chúng sanh xa mất Phật pháp mà khởi tâm đại bi: Bodhisattvas observe sentient beings and seeing that they are far away and have lost the Buddha Dharma to develop great compassion.

mười hạng người khi lâm chung không niệm phật được

See Ten types of people who cannot recite the Buddha's name at the time of death in English-Vietnamese Section.

mười hạnh bồ tát

Ten kinds of practice of great enlightening beings. (A) Mười hạnh Bồ Tát mà chư Phật đã tuyên thuyết trong tam thế (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 21—Thập Hạnh)—Ten kinds of practices, which are expounded by the Buddhas of past, present and future (The Flower Adornment Sutra—Chapter 21—Ten Practices): 1) Hoan hỷ hạnh: The practice of giving joy. 2) Nhiêu ích hạnh: Beneficial practice. 3) Vô vi nghịch hạnh: Practice of nonopposition. 4) Vô khuất nhiễu hạnh: Practice of indomitability. 5) Vô si loạn hạnh: Practice of nonconfusion. 6) Thiện hiện hạnh: Practice of good manifestation. 7) Vô trước hạnh Practice of nonattachment. 8) Nan đắc hạnh: Practice of that which is difficult to attain. 9) Thiện pháp hạnh: Practice of good teachings. 10) Chơn thiệt hạnh: Practice of truth. (B) Mười hạnh của chư Bồ Tát—Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm thì chư Bồ Tát có mười thứ hạnh giúp họ được đại trí huệ vô thượng của chư Như Lai—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra, Great Enlightening Beings have ten kinds of practice which help them attain the practice of the unexcelled knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Hạnh vì tất cả chúng sanh, vì nhờ đó mà làm cho khắp cả được thành thục: Practice dealing with all sentient beings, to develop them all to maturity. 2) Hạnh cầu tất cả các pháp, vì nhờ đó mà tu học tất cả: Practice seeking all truths, to learn them all. 3) Hạnh làm tất cả các thiện căn và khiến cho chúng tăng trưởng: Practice of all roots of goodness, to cause them all to grow. 4) Hạnh Tam muội vì nhờ đó mà được nhứt tâm bất loạn: Practice of all concentration, to be single-minded, without distraction. 5) Hạnh thực hành trí huệ vì nhờ đó mà không có chi là chẳng rõ chẳng biết: Practice of all knowledge, to know everything. 6) Hạnh tu tập tất cả, do đó mà không chi là không tu được: Practice of all cultivations, to be able to cultivate them all. 7) Hạnh nương nơi tất cả Phật sát (Phật độ—Phật quốc), vì thảy đều trang nghiêm: Practice dealing with all Buddha-lands, to adorn them all. 8) Hạnh tôn trọng và hỗ trợ tất cả thiện hữu tri thức: Practice dealing with all good companions, respecting and supporting them. 9) Hạnh tôn kính và cúng dường chư Như Lai: Practice dealing with all Buddhas, honoring and serving them. 10) Hạnh tu tập thần thông biến hóa, vì nhờ đó mà có thể biến hóa tự tại để hóa độ chúng sanh: Practice all supernatural powers, to be able to transform anywhere, anytime to help sentient beings.

mười hạnh của chư đại bồ tát

(A) Thập Hạnh Bồ Tát—Ten Bodhisattva practices: 1) Hoan hỷ hạnh: The practice of giving joy—Làm cho chúng sanh hoan hỷ. 2) Nhiêu ích hạnh: Beneficial practice—Thường làm lợi lạc cho chúng sanh. 3) Vô sân hận hạnh: The practice of non-opposition—Hạnh không sân hận với chúng sanh mọi loài. 4) Vô tận hạnh: The practice of indomitability—Nết hạnh lợi tha không bao giờ dứt. 5) Ly si loạn hạnh: The practice of non confusion—Hạnh tu hành xa lìa si loạn. 6) Thiện hiện hạnh: The practice of good manifestation—Hạnh thị hiện là người tốt giáo hóa chúng sanh. 7) Vô trước hạnh: The practice of nonattachment—Hạnh không bao giờ chấp trước. 8) Nan đắc hạnh: The practice of that which is difficult to attain—Thực hành những hạnh khó đạt được. 9) Thiện pháp hạnh: The practice of good teaching—Hạnh tu hành thiện pháp. 10) Chân thật hạnh: The practice of truth—Hạnh tu hành theo chân lý của Đức Phật. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười hạnh của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được hạnh vô lai vô khứ của Đức Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the action of Buddhas that has no coming or going. 1) Hạnh nghe chánh pháp, vì ưa thích chánh pháp: Hearing the Teaching, out of fondness for truth. 2) Hạnh thuyết pháp vì lợi ích chúng sanh: Expounding the Teaching to benefit sentient beings. 3) Hạnh rời tham, sân, si và sợ hãi, vì biết điều phục tự tâm: Getting rid of covetousness, anger, delusion, and fear, by taming their own minds. 4) Hạnh dục giới vì muốn giáo hóa chúng sanh cõi dục: Action in the realm of desire, to teach beings in that realm. 5) Hạnh chánh định sắc giới và vô sắc giới, vì làm cho họ mau xoay trở lại: Concentration in the realm of form and formlessness, to foster quick return to noncontamination. 6) Hạnh xu hướng pháp nghĩa vì mau được trí huệ: Aiming for the meaning of the Teaching, to quickly attain wisdom. 7) Hạnh thọ sanh tất cả xứ, vì tự tại giáo hóa chúng sanh: Action in the realm of life, to freely edify sentient beings. 8) Hạnh tất cả cõi Phật, vì lễ bái cúng dường chư Phật: Action in all Buddha-lands, honoring all Buddhas. 9) Hạnh Niết bàn, vì chẳng dứt sanh tử nối tiếp: Nirvanic action, not cutting off the continuity of birth and death. 10) Hạnh thành tựu viên mãn tất cả Phật pháp, vì chẳng bỏ pháp hạnh của Bồ Tát: Fulfilling all qualities of Buddhahood without giving up application of the principles of Enlightening Beings.

mười hộ trì nhân pháp

Natha-karana-dhanna (p)—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười hộ trì nhân pháp—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourse of the Buddha, there are ten things that give protection: 1) Giới Bổn Tỳ Kheo: Patimokkha (p)—Moral—Ở đây, vị Tỳ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp—Here a monk is moral, he lives restrained according to the restraint of the discipline, persisting in right behavior, seeing dnager in the slightest fault, he keeps to the rules of training. 2) Đa Văn Tỳ Kheo: Ở đây vị Tỳ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên lý quan sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến—Here a monk who has learned much, and bears in mind, and retained what he has learnt. In these teachings, beautiful in the beginning, the middle and the ending, which in spirit and in letter proclaim the absolutely perfected and purify holy life, he is deeply learned, he remembers them, recites them, reflects on them and penetrates them with vision. 3) Thiện Hữu Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện bạn đảng—A monk is a friend, associate and intimate of good people. 4) Thiện Ngôn Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo là thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính—A monk is affable, endowed with gentleness and patience, quick to grasp instruction. 5) Phục Vụ Tỳ Kheo: Khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh mà niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ để làm, vừa đủ để tổ chức—Whatever various jobs there are to be done for his fellow monks, he is skilful, not lax, using foresight in carrying them out, and is good at doing and planning. 6) Ái Thuyết Pháp Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng Pháp, Thắng Luật—Here a monk who loves the Dhamma and delights in hearing it, he is especially fond of the advanced doctrine (abhidhamme) and dicipline (abhivinaye). 7) Tri Túc Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược—Here a monk who is content with any kind of requisites: robes, alms-food, lodging, medicine in case of illness. 8) Tinh Tấn Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp—Her a monk who ever strives to arouse energy, to get rid of unwholesome states, to establish wholesome states, untiringly and energetically striving to keep such good states and never shaking off the burden. 9) Chánh Niệm Tỳ Kheo: Vị Tỳ Kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu—Here a monk who is mindful, with a great capacity for clear recalling things done and said long ago. 10) Huệ Trí Tỳ Kheo: Vị Tỳ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ—Here a monk who is wise, with wise perception of arising and passing away, that Ariyan perception that leads to the complete destruction of suffering.

mười khí giới của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ khí giới của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi pháp nầy thời có thể diệt trừ những phiền não, kiết sử đã chứa nhóm từ lâu của tất cả chúng sanh—Enlightening Beings who abide by these can annihilate the afflictions, bondage, and compulsion accumulated by all sentient beings in the long night of ignorance. 1) Bố thí là khí giới của Bồ Tát, vì có thể diệt trừ tất cả xan lẫn: Giving is a weapon of enlightening beings, destroying all stinginess. 2) Trì giới là khí giới của Bồ Tát, vì vứt bỏ tất cả sự hủy phạm: Self-control is a weapon of enlightening beings, getting rid of all crime. 3) Bình đẳng là khí giới của Bồ Tát, vì dứt trừ tất cả phân biệt: Impartiality is a weapon of enlightening beings, removing all discrimination. 4) Trí huệ là khí giới của Bồ Tát, vì tiêu diệt tất cả vô minh phiền não: Wisdom is a weapon of enlightening beings, dissolving all ignorance and afflictions. 5) Chánh mạng là khí giới của Bồ Tát, vì xa rời tất cả tà mạng: Right livelihood is a weapon of enlightening beings, leading away from all wrong livelihood. 6) Thiện xảo phương tiện là khí giới của Bồ Tát, vì thị hiện tất cả xứ: Skill in means is a weapon of enlightening beings, manifesting in all places. 7) Tham, sân, si và tất cả phiền não là khí giới của Bồ Tát, vì dùng môn phiền não để độ chúng sanh: All afflictions, wrath, and folly are weapons of enlightening beings because they liberate sentient beings through afflictions. 8) Sanh tử là khí giới của Bồ Tát, vì chẳng dứt hạnh Bồ Tát và luôn giáo hóa chúng sanh: Birth-and-death is a weapon of enlightening beings because they continue enlightening practices and teach sentient beings. 9) Nói pháp như thật là khí giới của Bồ Tát vì hay phá tất cả chấp trước: Teaching the truth is a weapon of enlightening beings, able to break up all clinging. 10) Nhứt thiết trí là khí giới của Bồ Tát, vì chẳng bỏ hạnh môn của Bồ Tát: All knowledge is a weapon of enlightening beings because they do not give up the avenues of practice of enlightening beings.

mười không dính mắc

Theo Kinh Hoa Nghiêm, chư đại Bồ Tát có mưới thứ không dính mắc—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of nonattachment of Great Enlightening Beings. (A) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 27, chư Đại Bồ Tát trụ trong nhứt thiết trí chúng sanh sai biệt thân đại tam muội có thể đạt được mười thứ vô sở trước—According to the Flower Adornement Sutra, Chapter 27, Great enlightening beings abide in the concentration of the differentiated bodies of all sentient beings can attain ten kinds of non-attachment: 1) Nơi tất cả cõi vô sở trước: Non-attachment in all lands. 2) Nơi tất cả phương vô sở trước: Non-attachment in all places. 3) Nơi tất cả kiếp vô sở trước: Non-attachment in all times. 4) Nơi tất cả chúng sanh vô sở trước: Non-attachment in respect to all beings. 5) Nơi tất cả pháp vô sở trước: Non-attachment in respect to all phenomena. 6) Nơi tất cả Bồ Tát vô sở trước: Non-attachment in respect in respect to all Enlightening Beings. 7) Nơi tất cả Bồ Tát nguyện vô sở trước: Non-attachment in respect to all Enlightening Beings' vows. 8) Nơi tất cả tam muội vô sở trước: Non-attachment in respect to all concentrations. 9) Nơi tất cả Phật vô sở trước: Non-attachment in respect to all Buddhas. 10) Nơi tất cả địa vô sở trước: Non-attachment in respect to all the stages of enlightenment. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời có thể mau chuyển tất cả tưởng và được trí huệ thanh tịnh vô thượng—Ten kinds of nonattachment of great enlightening beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): Muời pháp vô trước của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Enlightening Beings who abide by these can quickly overturn all concepts and attain supreme pure wisdom. 1) Vô trước nơi tất cả thế giới: Non-attachment to all worlds. 2) Vô trước nơi tất cả chúng sanh: Non-attachment to all sentient beings. 3) Non-attachment to all phenomena. 4) Vô trước nơi tất cả các pháp: Non-attachment to all actions. Vô trước nơi tất cả sở tác: 5) Non-attachment to all roots of goodness. 6) Non-attachment to all place of birth. Vô trước nơi tất cả chỗ thọ sanh: 7) Vô trước nơi tất cả nguyện: Non-attachment to all vows. 8) Vô trước nơi tất cả hạnh: Non-attachment to all practices. 9) Non-attachment to all Enlightening Beings. 10) Vô trước nơi tất cả chư Phật: Non-attachment to all Buddhas.

mười loại người không niệm phật được lúc lâm chung

Ten types of people who cannot recite the Buddha's name at near-death time—Sở dĩ hàng phàm phu nghịch ác khi lâm chung biết niệm Phật là do từ trước họ đã có căn lành, phước đức, nhân duyên, nên đời nầy mới gặp thiện hữu tri thức và khởi lòng tin tưởng phụng hành, chứ những kẻ một đời tạo ác, khi lâm chung mong gì có được được một câu niệm Phật để được vãng sanh? Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi Hoặc Vấn Luận, câu hỏi số 20, có mười hạng người không thể niệm Phật lúc cận tử. Những sự kiện nầy có thể xãy đến với bất cứ ai, bất kể là xuất gia hay tại gia. Chúng xãy ra do bởi nghiệp đời trước hay đời nầy (túc nghiệp hay hiện nghiệp) và xãy ra bất thần không tránh được. Chúng ta không phải là bậc Thánh nhân chứng túc mạng thông, lại cũng chẳng phải là bậc đủ tha tâm, thiên nhãn, biết mình khi mạng chung chết tốt hay xấu, mà bình thời không niệm Phật, đến khi lâm chung nếu rủi mắc phải một trong mười ác duyên, chừng đó dù có Phật sống hay bao nhiêu thiện hữu tri thức cũng không thể nào cứu được. Lúc đó thần thức sẽ tùy theo nghiệp mà đi vào chốn tam đồ bát nạn, nhiều kiếp chịu khổ:The reason perverse and evil beings manage to recite the Buddha's name at the time of death is that they have 'good roots, causes, conditions, merits, and virtues' from the past. That is why they are able to encounter good spiritual advisors, believe in them and act accordingly. How can those who commit evil deeds throughout their lives be reborn in the Pure Land with just a single recitation of the Buddha's name? According to Most Venerable Thích Thiền Tâm in the Treatise on The Ten Doubts, question number 20, there are ten types of people who cannot recite the Buddha's name at the time of death. These are common occurrences which can befall anyone, clergy or laypeople. They are due to previous or current karma and occur suddenly and unavoidably. We are not sages who have attained the 'knowledge of previous lives,' and who can thus know in advance whether or not we will encouter karmic retribution at the moment of death. Neither do we have the faculty of reading other people's Minds nor supernatural vision, to know whether we will die peacefully or not. Thus, if we do not recite the Buddha's name in daily life, how will we react if, at the time of death, we inadvertently meet with one of these calamities? At such time, even if a living Buddha or a multitude of good spiritual advisors surround us, they will have no way to save us. Our consciousness will then follow our karma and descend upon the Three Evil Paths, subject to eight adversities and enduring many eons of suffering. 1) Những kẻ không gặp bạn lành hay thiện hữu tri thức nên chẳng ai khuyên họ niệm Phật: Those who fail to meet spiritual friends or good advisors and thus have no one to urge them to recite. 2) Những kẻ bị bức thiết bởi khổ nghiệp, nên không yên ổn rổi rảnh để niệm Phật: Those who are oppressed by karmic suffering and lack both peace of Mind and free time to practice Buddha Recitation. 3) Những kẻ bị trúng phong thình lình trở nên á khẩu hay khuyết tật ăn nói nên không thể niệm Phật được: Those stricken by sudden illness and become dumb or speech impaired, which prevents them from actually reciting the Buddha's name aloud. 4) Những kẻ mất trí nên không thể chú tâm niệm Phật được: Those who are insane and cannot focus the Mind on invoking the Buddha's name. 5) Những kẻ bất đắc kỳ tử bởi lửa nước nên không có đủ bình tỉnh chí thành niệm Phật: Those who meet with sudden death by fire or drowning and lose their calmness and utter sincerity. 6) Những kẻ thình lình bị hại bởi dã thú: Those who are suddenly injured by ferocious beasts. 7) Những kẻ lúc cận tử gặp thầy tà bạn ác phá hoại lòng tin: Those who encounter wicked teacher and evil friends at the time of near death, as such friends destroy their faith. 8) Những kẻ gặp bạo bịnh, hôn mê bất tỉnh rồi qua đời: Those stricken by fatal illness and become unconscious when passing away. 9) Những kẻ thình lình trúng thương chết trận: Those who are wounded and die suddenly on the battlefield. 10) Những kẻ té từ trên cao mà vong mạng: Those who lose their lives falling from high places.

mười loại thiện hữu tri thức

Mười loại thiện hữu tri thức— Theo lời Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm 38 (Ly Thế Gian), chư Đại Bồ Tát có mười loại thiện hữu tri thức giúp họ trên đường đi đến đại giác—According to the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38 Detachment From The World), Great Enlightening Beings have ten kinds of spiritual friends who help them along the path to enlightenment. 1) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát an trụ Bồ đề tâm: Spiritual friends who cause them to persist in the determination for enlightenment. 2) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát sanh trưởng thiện căn: Spiritual friends who cause them to generate roots of goodness. 3) Thiện tri thức giúp chư Bồ Tát thực hành hạnh của các môn Ba La Mật: Spiritual friends who cause them to practice the way of transcendence. 4) Thiện tri thức khiến giải thoát tất cả pháp: Spiritual friends who enable them to to analyze and explain all truths. 5) Thiện tri thức khiến thành thục được tất cả chúng sanh: Spiritual friends who enable them to develop all sentient beings. 6) Thiện tri thức khiến được quyết định biện tài: Spiritual friends who enable them to attain definitve analytic and expository powers. 7) Thiện tri thức khiến chẳng nhiễm trước tất cả thế gian: Spiritual friends who cause them not to be attracted to any world. 8) Thiện tri thức khiến trong tất cả kiếp tu hành không nhàm mỏi: Spiritual friends who cause them to practice tirelessly in all ages. 9) Thiện tri thức khiến an trụ trong Hạnh Phổ Hiền: Spiritual friends who establish them in the practice of Universal Good. 10) Thiện tri thức khiến nhập nơi trí của chư Phật đã nhập: Spiritual friends who introduce them to the reaches of knowledge of all Buddhas.

mười loại viên lâm của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa nghiêm, Phẩm 38, có mười loại viên lâm của chư đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại hạnh an lạc lìa ưu não vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of grove of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the Buddhas' unexcelled peaceful, happy action, free from sorrow and afflication. 1) Sanh tử là viên lâm của Bồ Tát vì không nhàm bỏ: Birth and death is a grove for Enlightening Beings because they do not reject it. 2) Giáo hóa chúng sanh là viên lâm của Bồ Tát vì không mỏi mệt: Teaching sentient beings is a grove for Enlightening Beings because they do not tire of it. 3) Trụ tất cả kiếp là viên lâm của Bồ Tát, vì nhiếp những hạnh lớn: Living in all ages is a grove of Enlightening Beings because they embrace all great deeds. 4) Thanh tịnh thế giới là viên lâm của Bồ Tát vì là chỗ dừng ở của Bồ Tát: Purifying the world is a grove for Enlightening Beings because it is where they themselves sojourn. 5) Tất cả cung điện của ma là viên lâm của Bồ Tát, vì hàng phục được chúng ma: All abodes of demons are agrove for Enlightening Beings because they conquer them all. 6) Tư duy pháp đã được nghe là viên lâm của Bồ Tát, vì đúng như lý quán sát: Thinking about the teaching they hear is a grove for Enlightening Beings because they examine them truthfully. 7) Sáu pháp Ba-La-Mật, tứ nhiếp pháp, và ba mươi bảy phẩm trợ đạo là viên lâm của Bồ Tát vì là cảnh giới tiếp nối của Đức Phật: The six ways of transcendence, four means of integration, and thirty-seven aids to enlightenment are a grove for Enlightening Beings because they succeed to the domain of the Buddha. 8) Thập lực, tứ vô úy, mười tám pháp bất cộng, nhẫn đến tất cả Phật pháp đều là viên lâm của Bồ Tát vì chẳng niệm nhớ những pháp khác: The ten powers, four fearlessnesses, eighteen unquie qualities, and all other aspects of Buddhahood are a grove for Enlightening Beings because they do not think of anything else. 9) Thị hiện tất cả Bồ Tát oai lực tự tại thần thông là viên lâm của Bồ Tát, vì dùng đại thần lực chuyển pháp luân điều phục chúng sanh không thôi nghỉ: Manifesting the autonomous spiritual capacities of all Enlightening Beings is a grove for enlighening beings because they use great spiritual powers to turn the wheel of teaching unceasingly and civilize sentient beings. 10) Một niệm ở tất cả xứ vì tất cả chúng sanh thị hiện thành chánh giác là viên lâm của Bồ Tát, vì pháp thân cùng khắp hư không tất cả thế giới: Instantly showing all sentient beings the attainment of true enlightenment in all places is a grove of Enlightening Beings because the body of reality pervades all worlds in space.

mười luật nghi của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười luật nghi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được luật nghi đại trí vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of rules of behavior of great enlightening beings. Enlightening beings who abide by these can attain the supreme discipline of great knowledge. 1) Chẳng hủy báng Phật pháp: Should not slander any enlightening teachings. 2) Tín tâm nơi chư Phật chẳng hoại diệt: Faith in the Buddhas should be indestructible. 3) Tôn trọng cung kính tất cả Bồ Tát: Should honor and respect all enlightening beings. 4) Chẳng bỏ tâm mến thích tất cả thiện tri thức: Should never give up their friendship with wise people. 5) Chẳng móng lòng ghi nhớ những Thanh Văn Độc Giác: Should not think of those who seek individual salvation. 6) Xa lìa tất cả những thối chuyển Bồ Tát đạo: Should avoid all regression on the path of enlightening beings. 7) Chẳng khởi tất cả tâm tổn hại chúng sanh: Should not give rise to any malice toward sentient beings. 8) Tu tất cả thiện căn đều khiến rốt ráo: Should cultivate all roots of goodness to perfection. 9) Có thể hàng phục chúng ma: Should be able to conquer all demons. 10) Làm cho đầy đủ tất cả Ba-La-Mật: Should fulfill all the ways of transcendence.

mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện khổ hạnh

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lý do khiến chư Đại Bồ Tát thị hiện khổ hạnh. Chư Bồ Tát dùng phương tiện khổ hạnh nầy để điều phục và làm cho chúng sanh an lạc—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten reasons Great Enlightening Beings practice austerities. Enlightening Beings use these expendient means of austerities to pacify all sentient beings. 1) Vì muốn thành tựu những chúng sanh có trình độ hiểu biết kém mà thị hiện khổ hạnh: To develop sentient beings with low understanding. 2) Vì muốn trừ tà kiến cho chúng sanh mà thị hiện khổ hạnh: To remove false views from sentient beings. 3) Vì muốn làm cho những chúng sanh chẳng tin nghiệp báo thấy được nghiệp báo, mà thị hiện khổ hạnh: To show the consequences of action to sentient beings who do not believe in consequences of action. 4) Vì muốn tùy thuận pháp phải có của thế giới tạp nhiễm mà thị hiện khổ hạnh: To do so in accord with the adulterated and polluted world. 5) Vì muốn cho thấy khả năng chịu đựng nhẫn nhục mà thị hiện khổ hạnh: To show the ability to endure toil and diligently work on the way. 6) Vì muốn làm cho chúng sanh thích cầu pháp mà thị hiện khổ hạnh: To cause sentient beings to want to seek the truth. 7) Vì những chúng sanh say đắm dục lạc và ngã lạc mà thị hiện khổ hạnh: For the sake of sentient beings who are attached to sensual pleasures and selfish pleasure. 8) Vì muốn hiển bày Bồ Tát khởi hạnh là tối thượng, nên nhẫn đến đời sau cùng mà chẳng bỏ siêng năng tinh tấn, nên thị hiện khổ hạnh: In order to show that enlightening beings' effort is supreme, continuing to the very last life. 9) Vì muốn làm cho chúng sanh thích pháp tịch tịnh, tăng trưởng thiện căn, mà thị hiện khổ hạnh: To induce sentient beings to enjoy the state of calm and tranquility and increase roots of goodness. 10) Vì muốn chờ đến khi thế nhơn căn tánh được thành thục, mà thị hiện khổ hạnh: To wait until the time is ripe to develop people's immature faculties.

mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện vi tiếu, tâm tự thệ điều phục chúng sanh

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) cho họ được an lạc-- Ten reasons why Great Enlightening Beings smile and make a promise in their hearts to tame and pacify sentient beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Chư đại Bồ Tát nghĩ rằng tất cả thế gian chìm tại vũng bùn ái dục, trừ chư Bồ Tát ra, không ai có thể cứu họ được: Great Enlightening Beings think that all worldlings are sunk in the mire of craving, and no one but Enlightening Beings can rescue them. 2) Tất cả thế gian bị dục vọng phiền não làm mù, chỉ có chư Bồ Tát là có trí huệ: All worldlings are blinded by passion and afflictions, and only Enlightening Beings have wisdom. 3) Chư Bồ Tát do thân giả danh sẽ được pháp thân vô thượng sung mãn tam thế của các Đức Như Lai: Based on this so-called body, Enlightening Beings will attain the supreme reality-body of Buddhas, which fills all times. 4) Bấy giờ Bồ Tát dùng mắt vô chướng ngại quán sát tất cả Phạm Thiên nhẫn đến Đại Tự Tại Thiên trong mười phương mà nghĩ rằng: Những chúng sanh nầy đều tự cho rằng mình có đại trí lực: Then the Enlightening Beings, with unobstructed eyes, look over all the Brahma heavens and all the controlling heavens, and think: These sentient beings all think they have the power of knowledge. 5) Bấy giờ Bồ Tát quán sát các chúng sanh từ lâu gieo trồng thiện căn, nay cũng đều thối mất: The Enlightening Beings observe sentient beings who have long planted roots of goodness and who now are regressing and sinking. 6) Bồ Tát quán sát thấy thế gian chủng tử gieo trồng dù ít mà được quả rất nhiều: The Enlightening Beings observe that though the seeds sown in the world be few, the fruits reaped are many. 7) Bồ Tát quán sát thấy tất cả chúng sanh được Phật giáo hóa đều chắc được lợi ích: The Enlightening Beings see that all sentient beings who receive the teaching of Buddha will surely gain benefit. 8) Bồ Tát quán sát thấy trong đời quá khứ chư Bồ Tát đồng hành nhiễm trước việc khác, nên chẳng được công đức quảng đại của Phật pháp: The Enlightening Beings see that Enlightening Beings who were their colleagues in past ages have become obsessed with other things and cannot attain the great virtues of the Buddha teaching. 9) Bồ Tát quán sát thấy rong đời quá khứ, hàng nhơn thiên cùng mình tập hội, mà nay vẫn còn ở bực phàm phu, không xả ly được, mà cũng nhàm mỏi: The Enlightening Beings see that the celestials and humans who were in the same communities with them in the past still are in mundane states, unable to detach from them, and not tiring of them either. 10) Bấy giờ Bồ Tát được quang minh của tất cả Như Lai chiếu đến càng thêm hân hoan vui vẻ: Then Enlightening Beings are bathed in the lights of all Buddhas and are even more joyful.

mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện đi bảy bước

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười lý do khiến chư đại Bồ Tát thị hiện đi bảy bước. Chư Đại Bồ Tát vì muốn điều phục cho chúng sanh được an lạc nên thị hiện đi bảy bước như vậy—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten reasons Great Enlightening Beings show the act of walking seven steps. For these ten reasons they show the act of walking seven steps after birth; they manifest this to pacify sentient beings. 1) Vì hiện Bồ Tát lực mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the power of enlightening beings. 2) Vì hiện xả thí bảy thánh tài mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the giving of the seven kinds of wealth. 3) Vì cho Địa Thần thỏa nguyện mà thị hiện đi bảy bước: To satisfy the wishes of the spirits of the earth. 4) Vì hiện tướng siêu tam giới mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the appearance of transcending the three worlds. 5) Vì hiện bước tối thắng của Bồ Tát hơn hẳn bước đi của tượng vương, ngưu vương, sư tử vương mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the supreme walk of the enlightening being, beyond the walk of the elephant, the bull, or the lion. 6) Vì hiện tướng kim cang địa mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the characteristics of adamantine ground. 7) Vì hiện muốn ban cho chúng sanh sức dũng mãnh mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the desire to give sentient beings courageous strength. 8) Vì hiện tu hành thất giác bửu mà thị hiện đi bảy bước: To manifest the practice of the seven jewels of awakening. 9) Vì hiện pháp đã được chẳng do người khác dạy nên thị hiện đi bảy bước: To show that the truth they have realized does not come from the instruction of another. 10) Vì hiện là tối thắng vô tỉ ở thế gian nên thị hiện đi bảy bước: To manifest supreme peerless in the world.

mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện ở thân đồng tử

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) Ten reasons Enlightening Beings appear as children (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Vì hiện để thông đạt tất cả nghệ thuật khoa học thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of all worldly arts and sciences. 2) Vì hiện thông đạt những nghề nghiệp vũ thuật binh trận thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of riding military arts and various worldly occupations. 3) Vì hiện thông đạt tất cả những văn bút, đàm luận, cờ nhạc thế gian mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the learning of all kinds of worldly things such as literature, conversation, games, and amusements. 4) Vì hiện xa lìa những lỗi lầm của ba nghiệp thân, khẩu ý mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest the shedding of errors and faults of word, thought, and deed. 5) Vì hiện môn nhập định trụ niết bàn khắp cùng mười phương vô lượng thế giới mà thị hiện ở thân đồng tử: To manifest entering concentration, staying in the door of nirvana, and pervading infinite worlds in the ten directions. 6) Vì hiện sức mạnh siêu quá thiên long bát bộ, trời, người, phi nhơn, mà thị hiện ở thân đồng tử: To show that their power goes beyond all creatures, celestials, human, and nonhuman. 7) Vì hiện sắc tướng oai quang của Bồ Tát siêu quá long thần hộ pháp mà thị hiện ở thân đồng tử: To show that the appearance and majesty of enlightening beings goes beyond all deities. 8) Vì muốn làm cho những chúng sanh tham đắm dục lạc mến thích pháp lạc mà thị hiện ở thân đồng tử: To cause sentient beings addicted to sensual pleasures to joyfully take pleasure in truth. 9) Vì tôn trọng chánh pháp, siêng tu cúng dường chư Phật mà thị hiện ở thân đồng tử: To show the reception of truth and respectfully make offerings to all Buddhas. 10) Vì hiện được Đức Phật gia bị, được pháp quang minh mà thị hiện ở thân đồng tử: To show empowerment of Buddhas and being bathed in the light of truth.

mười lý do khiến chư đại bồ tát thị hiện ở vương cung

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten reasons Enlightening Beings appear to live in a royal palce (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Vì muốn làm cho những chúng sanh đồng tu hành với Bồ Tát đời trước được thành thục thiện căn mà thị hiện ở vương cung: To cause roots of goodness of their colleagues of the past to develop to maturity. 2) Vì muốn hiển thị sức thiện căn của chư Bồ Tát mà thị hiện ở vương cung: To show the power of roots of goodness of Enlightening Beings. 3) Vì nhơn thiên tham đắm nơi đồ vui thích mà hiển hiện đồ vui thích đại oai đức của Bồ Tát nên thị hiện ở vương cung: To show the comforts of great spiritual power of enlightening beings to humans and celestials who are obsessed with comforts. 4) Vì muốn tùy thuận tâm chúng sanh đời ngũ trược mà thị hiện ở vương cung: To adapt to the minds of sentient beings in the polluted world. 5) Vì muốn hiện sức oai đức của Bồ Tát có thể ở thâm cung nhập tam muội mà thị hiện ở vương cung: To manifest the spiritual power of Enlightening Beings, able to enter concentration in the heart of the palace. 6) Vì muốn làm cho chúng sanh đồng nguyện ở đời trước được thỏa mãn ý nguyện mà thị hiện ở vương cung: To enable those who had the same aspiration in the past to fulfill their aims. 7) Vì muốn khiến cha mẹ, gia đình và bà con được thỏa nguyện mà thị hiện ở vương cung: To enable their parents, family and relatives to fulfill their wishes. 8) Vì muốn dùng kỹ nhạc phát ra tiếng diệu pháp cúng dường tất cả chư Như Lai mà thị hiện ở vương cung: To use music to produce the sounds to the sublime teaching to offer to all Buddhas. 9) Vì muốn ở tại trong cung trụ tam muội vi diệu, từ thành Phật nhẫn đến Niết bàn đều hiển bày mà thị hiện ở vương cung: To dwell in the subtle concentration while in the palace and show everything from the attainment of Buddhahood to final extinction. 10) Vì tùy thuận thủ hộ Phật pháp mà thị hiện ở vương cung: To accord with and preserve the teaching of the Buddhas.

mười lý do khiến chư đại bồ tát xuất gia

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten reasons enlightening beings appear to live in a royal palce (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Nhàm chán tại gia: To reject living at home. 2) Khiến chúng sanh nhàm chán sự tham đắm tại gia: To cause sentient beings attached to their homes give up their attachment. 3) Tùy thuận tin mến đạo Thánh: To follow and appreciate the path of Saints. 4) Tuyên dương và tán thán công đức xuất gia: To publicize and praise the virtues of leaving home. 5) Hiển bày lìa hẳn kiến chấp nhị biên: To demonstrate enternal detachment from extreme views. 6) Khiến chúng sanh lìa xa dục lạc và ngã lạc: To cause sentient beings to detach from sensual and selfish pleasures. 7) Hiện tướng xuất tam giới: To show the apearance of transcending the world. 8) Hiện tự tại chẳng lệ thuộc người khác: To show indepedence, not being subject to another. 9) Vì hiển bày sẽ được thập lực và vô úy của các Đức Như Lai: To show that they are going to attain the ten powers and fearlessnesses of Buddhas. 10) Vì hậu thân Bồ Tát phải thị hiện xuất gia: It is natural that Enlightening Beings in their final life should do so.

mười lý do liên hệ đến đời sống khiến hành giả mong cầu giác ngộ

Theo Kinh Hoa Nghiêm, vấn đề ước vọng giác ngộ tối thượng cần thiết cho hành giả, có mười lý do liên hệ đến đời sống khiến hành giả mong cầu giác ngộ—According to the Avatamsaka Sutra, the desire for supreme enlightenment is so necessary for practitioners, and there are ten reasons related to our daily life which lead practitioners desire for enlightenment. 1) Để chứng được Phật trí: Buddha-Jnana (skt)—For the realization of Buddha-knowledge. 2) Để đạt được mười oai lực: Dasabala (skt)—For the attainment of the ten powers. 3) Để đạt được đại vô úy: Mahavaisaradya (skt)—For the attainment of great fearlessness. 4) Để đạt được pháp bình đẳng của Phật: Samatabuddhadharma (skt)—For the attainment of the truth of sameness which constitutes Buddhahood. 5) Để hộ trì cứu bạt cả thế gian: Sarvajagatparitrana (skt)—For protecting and securing the whole world. 6) Để làm thanh tịnh tâm từ bi: Kritpakaruna (skt)—For the purification of a pitying and compassionate heart. 7) Để đạt được vô phân biệt trí: Asesajnana (skt)—Khắp mười phương thế giới không gì là không biết đến—For the attainment of a knowledge which leaves nothing unknown in the ten directions of the world. 8) Để làm thanh tịnh Phật độ khiến cho tất cả không còn vướng mắc: Asamga (skt)—For the purification of all the Buddha-lands so that a state of non-attachment will prevail. 9) Để trong khoảng một niệm mà tri nhận cùng khắp quá khứ, hiện tại và vị lai: Ksanabodha (skt)—For the perception of the past, present, and future in one moment. 10) Để chuyển đại pháp luân trong tinh thần không khiếp sợ: Dharmacakrapavarta (skt)—For the revolving of the great wheel of the Dharma in the spirit of fearlessness.

mười lý do phát tâm bồ đề

Ten reasons to cause sentient beings to develop Bodhi Mind—Theo Thiệt Hiền Đại Sư, Tổ thứ mười một trong Liên Tông Thập Tam Tổ, có mười lý do khiến chúng sanh phát tâm Bồ Đề—According to Great Master Sua-Sen, the eleventh Patriarch of the Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, there are ten reasons that cause sentient beings to develop Bodhi Mind. 1) Vì nghĩ đến ơn Phật—Because of remembering of the grace of the Buddha: Đức Thích Tôn, khi mới phát tâm, vì độ chúng ta, tu Bồ Tát đạo trải qua vô lượng kiếp, chịu đủ các sự khổ—Take our Sakyamuni Buddha as an example, from the time He first developed the mind to cultivate for the Ultimate Bodhi Mind or Buddhahood, to aid and escue sentient beings, he had endured endless sufferings. a) Lúc ta tạo nghiệp, Đức Phật xót thương dùng đủ mọi phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si không chịu tin theo: When we create karma, owing to the Buddha's compassion and mercy, He creates infinite skillful methods to teach and transform us, but because of our ignorance and stupidity we refuse to listen. b) Ta đọa ác đạo, Phật lại càng thương, muốn thay ta chịu khổ, nhưng ta nghiệp nặng không thể nào cứu vớt được: When we get condemned to the Evil Paths, the Buddha expands his compassion, wanting to take our place of suffering. But because of our heavy karma, it is not possible to rescue us. c) Đến khi ta làm người, Phật dùng phương tiện khiến ta gieo căn lành, nhiều kiếp theo dõi, lòng không tạm bỏ: When we become humans, the Buddha uses various skillful means influencing us to plant good cultivated karma, following us through infinite reincarnations without ever abandoning us. d) Chúng ta phước mỏng nghiệp dầy, sanh nhằm thời mạt pháp, khó lòng gia nhập giáo đoàn, khó lòng mà thấy được kim thân Đức Phật. May mà còn gặp được Thánh tượng. May mà đời trước có trồng căn lành, nên đời nầy nghe được Phật Pháp. Nếu như không nghe được chánh pháp, đâu biết mình đã thọ Phật Ân. Ân đức nầy biển thẳm không cùng, non cao khó sánh. Nếu ta không phát tâm Bồ Đề, giữ vững chánh pháp, cứu độ chúng sanh, thì dù cho thịt nát xương tan cũng không đền đáp được: Sentient beings with few virtues and heavy karma, born in the Dharma Ending Age. It is extremely difficult to become a member of the Sangha. It is impossible to witness the Buddha's Golden Body. Fortunately, owing to our planting good roots in former lives, we still are able to see the Buddha's statues, still be able to hear and learn proper dharma. If we have not heard the proper dharma teaching, how would we know that we often receive the Buddha's Blessings? For this grace, no ocean can compare and no mountain peak can measure. Thus, if we do not vow to develop Bodhi Mind, or to cultivate the Bodhisattva's Way to attain Buddhahood, firmly maintain the proper dharma, vow to help and rescue all sentient beings, then even if flesh is shredded and bones are shattered to pieces, it still would not be enough to repay that great grace. 2) Vì nhớ ân cha mẹ—Because of remembering of the grace of the parents: Cha mẹ sanh ta khó nhọc! Chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm. Đến khi ta được nên người, chỉ mong sao cho ta nối dõi tông đường, thừa tự tổ tiên. Nào ngờ một số trong chúng ta lại xuất gia, lạm xưng Thích tử, không dâng cơm nước, chẳng đở tay chân. Cha mẹ còn ta không thể nuôi dưỡng thân già, đến khi cha mẹ qua đời, ta chưa thể dìu dắt thần thức của các người. Chừng hồi tưởng lại thì: “Nước trời đà cách biệt từ dung. Mộ biếc chỉ hắt hiu thu thảo.” Như thế đối với đời là một lỗi lớn, đối với đạo lại chẳng ích chi. Hai đường đã lỗi, khó tránh tội khiên! Nghĩ như thế rồi, làm sao chuộc lỗi? Chỉ còn cách “Trăm kiếp, ngàn đời, tu Bồ Tát hạnh. Mười phương ba cõi độ khắp chúng sanh.” Được như vậy chẳng những cha mẹ một đời, mà cha mẹ nhiều đời cũng đều nhờ độ thoát. Được như thế chẳng những cha mẹ một người, mà cha mẹ nhiều người, cũng đều được siêu thăng—Childbirth is a difficult and arduous process with nine months of the heavy weight of pregnancy, then much effort is required to raise us with a minimum of three years of breast feeding, staying up all night to cater our infantile needs, hand feeding as we get a little older. As we get older and become more mature, our parents invest all their hopes we will succeed as adults, both in life and religion. Unexpectedly, some of us leave home to take the religious path, proclaiming ourselves as Buddha's messenger and, thus are unable to make offerings of food, drink nor can we help our parents with day to day subsistence. Even if they are living, we are unable to take care of them in their old age, and when they die we may not have the ability to guide their spirits. Upon a moment of reflection, we realize : “Our worlds are now ocean apart, as grave lies melancholy in tall grass.” If this is the case, such is a great mistake in life, such a mistake is not small in religion either. Thus, with both paths of life and religion, great mistakes have been made; there is no one to bear the consequences of our transgressions but ourselves. Thinking these thoughts, what can we do to compensate for such mistakes? Cultivate the Bodhisattva Way in hundreds and thousands of lifetimes. Vow to aid and rescue all sentient beings in the Three Worlds of the Ten Directions. If this is accomplished, not only our parents of this life, but our parents of many other lives will benefit to escape from the unwholesome paths. And not just the parents of one sentient being, but the parents of many sentient beings will benefit to escape from evil paths. 3) Vì tưởng nhớ đến ơn sư trưởng—Because of remembering of the grace of the teachers: a) Đành rằng cha mẹ sanh dục sắc thân, nhưng nếu không có thầy thế gian, ắt ta chẳng hiểu biết nghĩa nhân. Không biết lễ nghĩa, liêm sĩ, thì nào khác chi loài cầm thú?: Even though our parents give birth to our physical beings, if not the worldly teachers, we would not understand right from wrong, virtue, ethics, etc. If we do not know right from wrong, know how to be grateful, and have shame, then how are we any different from animals? b) Không có thầy xuất thế, ắt ta chẳng am tường Phật pháp. Chẳng am tường Phật pháp, nào khác chi hạng ngu mông? Nay ta biết chút ít Phật pháp là nhờ ai? Huống nữa, thân giới phẩm đã nhuận phần đức hạnh, áo cà sa thêm rạng vẻ phước điền. Thực ra, tất cả đều nhờ ơn sư trưởng mà được: If there were no spiritual teachers for guidance, obviously, we would not be able to understand the Buddha-Dharma. When we do not understand the Buddha-Dharma, the Doctrine of Cause and Effect, then how are we different from those who are ignorant and stupid? Now that we know a little bit of virtue, how to be grateful, having shame, and somewhat understand the Buddha-Dharma, where did such knowledge come from? Moreover, some of us are fortunate enough to become Bhiksus and Bhiksunis, showering ourselves with precepts, cultivating and understanding the virtuous practices, wearing the Buddhist robe, and gaining the respect of others. Thus none of this would happen if not for elder masters. c) Đã hiểu như thế, nếu như ta cầu quả nhỏ, thì chỉ có thể lợi riêng mình. Nay phát đại tâm, mới mong độ các loài hàm thức. Được như vậy thì thầy thế gian mới dự hưởng phần lợi ích, mà thầy xuất thế cũng thỏa ý vui mừng: Knowing this, if we pray for the “Lesser Fruits,” then we can benefit only ourselves. Therefore, we must develop the Great Bodhi Mind of a Maha-Bodhisattva to wish to rescue and aid all sentient beings. Only then would our worldly teachers truly benefit, and our Dharma Masters truly be happy. 4) Vì nghĩ ân thí chủ—Because of remembering to be grateful to the benefactors: Kẻ xuất gia hôm nay, từ đồ mặc, thức ăn đến thuốc men giường chiếu đều nhờ đàn na tín thí. Đàn na tín thí làm việc vất vả mà vẫn không đủ sống, Tỳ Kheo sao đành ngồi không hưởng thụ? Người may dệt cực nhọc ngày đêm, mà Tỳ Kheo y phục dư thừa, sao lại không mang ơn đàn na tín thí cho đặng? Thí chủ có lắm người quanh năm nhà tranh, không giây phút nào được an nhàn, trong khi Tỳ Kheo ở nơi nền rộng chùa cao, thong thả quanh năm. Đàn na tín thí đã đem công cực nhọc cung cấp sự an nhàn, thì chư Tỳ Kheo lòng nào vui được? Đàn na tính thí phải nhín nhút tài lợi để cung cấp cho chư Tỳ Kheo được no đủ, có hợp lý không? Thế nên Tỳ Kheo phải luôn tự nghĩ: “Phải vận lòng bi trí, tu phước huệ trang nghiêm, để cho đàn na tín thí được phước duyên, và chúng sanh nhờ lợi ích.” Nếu chẳng vậy thời nợ nần hạt cơm tất vải đền đáp có phân, phải mang thân nô dịch súc sanh để đền trả nợ nần—Nowadays, Bhiksus cultivating the Way are all dependent on the people who make charitable donations, from clothing, food, to medicine and blankets. These charitable people work hard, and yet they don't have enough to live on. Bhiksus do nothing except enjoy the pleasure these gifts, how can Bhiksus find comfort in their doing so? People work assiduously to sew robes, not counting all the late nights. Bhiksus have abundance of robes, how dare we not appreciate them? Laypeople live in huts, never finding a moment of peace. Bhiksus live in high, big temples, relaxing all year round. How can Bhiksus be happy in receiving such gifts knowing laypeople have suffered so? Laypeople set aside their earnings and profits to provide services to Bhiksus. Does this make sense? Therefore, Bhiksus must think: “I must be determined to cultivate for enlightenment, practice to find the Budhist wisdom so charitable beings and sentient beings may benefit from it. If this is not the case, then every seed of rice and every inch of fabric shall have their appropriate debts. Reincarnated into the realm of animals, debts must be repaid. 5) Vì biết ơn chúng sanh—Because of remembering to be grateful to the sentient beings: a) Ta cùng chúng sanh từ vô thỉ đến nay, kiếp kiếp, đời đời , đổi thay nhau làm quyến thuộc nên kia đây đều có nghĩa với nhau: From infinite eons to this day, from generation to generation, from one reincarnation to another, sentient beings and I have exchanged places with each other to take turns being relatives. b) Vì thế trong một đời chúng ta là quyến thuộc, mà đời khác lại làm kẻ lạ người dưng, nhưng cuối cùng chúng ta vẫn liên hệ nhau trong vòng sanh tử luân hồi. Nay dù cách đời đổi thân, hôn mê không nhớ biết, song cứ lý mà suy ra, chẳng thể không đền đáp được?—Thus, in one life, we are family and in another we are strangers, but in the end we are all connected in the cycle of rebirths. Thus, though it is now a different life, our appearances have changed, having different names, families, and ignorance has caused us to forget; but knowing this concept, we realize we are all family, so how can we not demonstrate gratitude to all sentient beings? • Vật loại mang lông, đội sừng ngày nay, biết đâu ta là con cái của chúng trong kiếp trước?—Those animals with fur, bearing horns and antlers in this life, it is possible we may have been their children in a former life. • Loài bướm, ong, trùng, dế hiện tại, biết đâu chúng là cha mẹ đời trước của mình?—Insects such as butterflies, bees, worms, crickets of this life, may for all we know, be our parents of a former life. • Đến như những tiếng rên siết trong thành ngạ quỷ, hay giọng kêu la nơi cõi âm ty; tuy ta không thấy, không nghe, song họ vẫn van cầu cứu vớt: What about those who scream in agony in the realm of Hungry Ghosts; and those who cry in sufferings from the abyss of Hell. Even though our eyes cannot see and our ears cannot hear, they still pray and ask for our assistance. c) Cho nên Bồ Tát xem ong, kiến là cha mẹ quá khứ. Nhìn cầm thú là chư Phật vị lai. Thương nẻo khổ lâu dài mà hằng lo cứu vớt. Nhớ nghĩa xưa sâu nặng, mà thường tưởng báo ân: Therefore, the Bodhisattvas look upon bees and ants as their parents of the past; look upon animals as future Buddhas; have great compassion for those in the suffering realms, often finding ways to aid and rescue them; Remember the kindness of the past, and often think about finding ways to repay such kindness. 6) Vì tưởng khổ sanh tử—Because of thinking of the pain and suffering of life and death: a) Ta cùng chúng sanh nhiều kiếp đến nay, hằng ở trong vòng sanh tử, chưa từng được thoát ly, khi ở cõi nầy, lúc thế giới khác, khi sanh thiên cảnh, lúc sống nhơn gian. Siêu đọa trong phút giây, xuống lên ngàn muôn nẻo. Cửa quỷ sớm đi, rồi chiều trở lại. Âm ty nay thoát, bỗng mai vào. Lên non đao rừng kiếm, thân thể đứt lìa. Nuốt sắt nóng dầu sôi, ruột gan rã cháy. Khóc than trong lửa, rên siết trong băng. Muôn lần sống chết nội trong một ngày đêm mà giây phút khổ đau bằng cả thế kỷ. Lúc đã bị đọa, dù biết tội khổ, nhưng ăn năn đâu còn kịp nữa. Đến khi ra khỏi, vội liền quên mất, vẫn gây tội tạo nghiệp như thường—For innumerable lives, I and all sentient beings have existed in the cycle of rebirths, unable to find enlightenment, sometimes living in this world, sometime in another, sometimes in Heaven, sometimes as a human, etc. Condemned to lower realms in seconds, traveling up and down on a thousand paths. Left the gate of evil in the morning, only to return in the evening. Today escaping the gate of hell, only to come back tomorrow. Going up to the mountain, getting slashed to pieces, i.e., hell. Swallow burning metal balls, get fried in oil, body deteriorates and burns to ashes. Agonize in fire and scream in pain from being frozen. Every day and night hundreds and thousands of rebirths occur; every second of suffering seems like a million years. At that time, even if realizing the evil deeds committed, it'' too late to repent and find salvation. When finally free, everything is quickly forgotten, continuing to commit evil deeds as before. • Tâm như lữ khách ruỗi dong: Mind being similar to a hurried distant traveler, is never at peace. • Thân dời hết nhà nầy đến nhà khác, chứ chẳng bao giờ chịu ngừng lại: Body never at rest, moving from one house to another. • Cát bụi cõi đại Thiên, không tính nổi số thân luân chuyển: Every speck of dust of the universe cannot even begin to compare to the constant movements of the body. • Nước đầy trong bốn biển, chẳng nhiều bằng giọt lệ biệt ly: The water in the four great oceans is not enough to account for the tears cried. b) Nếu không có lời Phật dạy, thì việc nầy ai thấy ai nghe?—If Buddha did not preach such matters, who would know or hear of this? • Nếu cứ luyến mê như trước, thì e rằng vẫn luân hồi nẻo cũ: If we continue as before, we can't avoid being as we always were, drowning in the cycle of life and death. • Trăm ngàn kiếp tái sanh có tiếc cũng muộn màng: Hundreds and thousands of reincarnations and rebirths have occurred, it is too late to have regrets. • Mỗi kiếp cứ qua đi, không có giờ đâu mà nuối tiếc vì luôn muộn màng. Giờ tốt vội qua mà chẳng lại: Once each life passed by, there is no time for regrets because it will be too late. The good hours pass quickly and never again returns. • Thân người dễ mất khó tìm: Losing the opportunity to be a human being is easy, yet having the chance to be human is extremely difficult. • Âm cảnh mịt mù, xót nỗi biệt ly dày đặc. Tam đồ ác đạo, thương thay nỗi thống khổ có ai thay thế được: How dark and gloomy hell is, the agonies from eternal separations of loved ones. The world's hatred and revenge. No one is here to take your place. c) Vì vậy cho nên phải dứt nguồn sanh tử; phải tát cạn bể dục si; phải tự độ, độ tha, đồng lên giác ngạn. Muôn đời siêu hay đọa là do phút giây nầy quyết định, không thể nào bê trễ được: Therefore, put an end to the origin of life and death; empty out all ignorance and stupidity. Help yourself and others to find liberation. Finally, to realize the Ultimate Enlightenment. A thousand lives in Heaven or Hell depends on this very moment. At this moment, the wise must realize this truth without hesitation. 7) Vì tôn trọng tánh linh—Because of the respect for the True-Nature: a) Tâm tánh của chúng ta cùng Đức Thích Ca Như Lai không hai, không khác—Our Mind-Nature and that of Sakyamuni Buddha's are not two and not different. • Tại sao Đức Thích Ca đã thành Chánh Giác, sáng suốt tự tại, mà chúng ta vẫn còn là phàm phu điên đảo hôn mê: Why has Sakyamuni Buddha already attained enlightenment, greatly shining and free. Yet we are still unenlightened common mortals filled with delusions and ignorance. • Đức Thích Tôn có đủ vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, còn chúng ta thì đầy vô lượng phiền não, nghiệp duyên, lụy trần ràng buộc: Sakyamuni Buddha is complete with infinite spiritual powers, wisdom, and adorned with endless merits and virtues, but we are complete with infinite afflictions, karmic destinies, and desires binding us tightly? b) Chúng ta và Phật, tâm tánh tuy vẫn đồng một, nhưng vì mê ngộ nên cách nhau một trời một vực—The Mind-Nature may be the same, but the separation between enlightenment and ignorance is oceans apart: • Chúng ta thì ví như hạt bảo châu vô giá bị vùi dưới bùn nhơ, bị người ta xem như cát đá: This is similar to a priceless jewel covered in mud; seeing it people will think it rock and sand. • Phật đã dùng vô lượng pháp lành đối trị phiền não để tánh đức hiển bày. Ví như hạt bảo châu được rữa sạch, lau khô, treo để trên tràng cao, liền phóng quang rực rỡ: The Buddha already used infinite wholesome dharmas to tame and oppose afflictions so the true nature will shine through. This is similar to washing, cleaning, and drying a priceless jewel and then set high above, it will shine through. c) Chỉ có cách nầy mới không uổng công Phật giáo hóa, chẳng phụ tánh linh của chính mình, và xứng đáng là bật đại trượng phu: Only this way, it will not be a waste of Buddha's teaching, not disappoint our own true nature, and we will fit as a person with Buddhist wisdom. 8) Vì sám hối nghiệp chướng—Because of repentance for karmic obstructions: Đức Phật dạy: “Dù phạm một giới nhỏ cũng phải đọa địa ngục bằng tuổi thọ của Tứ Thiên Vương.”—The Buddha taught: “To be guilty of a small transgression, must be condemned to hell equal to the life of a heavenly being in Tushita Heaven.” a) Lỗi nhỏ còn phải như vậy, huống là lỗi nặng. Chúng ta mỗi ngày, một cử động thường sai giới luật. Lúc ăn uống thường phạm điều răn. Tính ra trong một ngày cũng đã nhiều tội, huống chi là trọn đời cho đến vô lượng kiếp về trước. Nay cứ lấy ngũ giới ra mà xét, thì mười người đã hết chín người phạm. Phạm ít thì còn phát lồ sám hối, chứ phạm nhiều thì che dấu: If a lesser transgression is already in that way, what about greater offenses? In each day, with each movement we violate precepts. When eating and drinking more Buddha's silas are broken. Thus if counted each day, we have already committed many transgressions, let alone a lifetime or infinite lives in the past. If we use the five precepts to examine, then nine out of ten people have already violated them; only lesser transgressions are confessed, but the greater ones will be hidden. b) Tại gia năm giới còn như thế, huống chi là các giới Sa Di, Tỳ Kheo và Bồ Tát: The five precepts for laypeople are already practiced in that way, what about the Sramana, Bhiksu, and Bodhisattva Precepts? c) Nay ta phải phát lòng thương mình, thương người. Lệ rơi theo tiếng, thân khẩu thiết tha, cùng với chúng sanh mà cầu sám hối. Nếu còn chẳng phát lồ sám hối thì muôn kiếp ngàn đời, ác báo khó trừ, làm sao thoát khổ cho được: Now we must have pity for ourselves and for others. With sincere mind and body, tears fall with sounds, together with all sentient beings pray for repentance. If this is not practiced, then in a thousand lifetimes and ten thousand reincarnations, evil retributions will be difficult to eliminate. How will liberation from suffering be found? 9) Vì cầu sanh Tịnh Độ—Because of praying to gain rebirth in the Pureland: a) Ở cõi Ta Bà việc tu tập tiến đạo rất khó khăn. Vì khó khăn như vậy nên dù tu tập nhiều kiếp vẫn chưa thành: Remaining in this saha World to cultivate and make progress is a difficult task. It is so difficult that so many lifetimes passed, yet enlightenment is not attained. b) Về Tây Phương Cực Lạc hành trì thì sự thành Phật dễ dàng hơn. Vì dễ nên một đời liền đắc quả. Chính vì vậy mà sự tu hành trong thời mạt pháp nầy thật không gì hơn pháp môn Tịnh Độ: Going to the Ultimate Bliss or Western Pureland to cultivate and practice, then with this right condition the matter of attaining Buddhahood is easy. It is so easy that even in a lifetime of cultivation, one can attain enlightenment. This is why in this Dharma Ending Age, no other dharma door surpasses the Pureland Dharma Door. c) Đức Phật dạy trong Kinh A Di Đà: “Ít căn lành, khó được vãng sanh. Nhiều phước đức mới được về cõi Tịnh. Nhưng nhiều phước đức không gì bằng chấp trì danh hiệu; nhiều căn lành chẳng chi hơn phát tâm Bồ Đề. Cho nên, tạm trì danh hiệu Phật, thắng hơn bố thí trăm năm; một phát đại tâm, vượt qua tu hành nhiều kiếp. Bởi vì niệm Phật vẫn mong thành Phật, mà đại tâm không phát, thì niệm Phật làm chi? Còn phát tâm để tu hành, mà Tịnh Độ chẳng cầu về, thì dù cho có phát tâm rồi cũng dễ bề thối chuyển”: The Buddha taught in The Amitabha Sutra: “With little wholesome karma, it is difficult to gain rebirth. One must have many merits and virtues before being born in the Pure Worlds. However, having abundance of merits and virtues can never equal the Buddha's name; having abundance of whoelsome karma can never equal developing the Bodhi Mind. Therefore, it is necessary to understand that temporarily reciting the Buddha's name is greater than making donations for one hundred years. . With one development of the great mind or Ultimate Bodhi, leaps over cultivation of many lifetimes. Because reciting Buddha is to continue to vow to be Buddha. But if the greater Bodhi mind is not developed, what is the point of reciting Buddha? As for developing the mind to cultivate, but do not pray for the Pureland, then even if that mind is developed, it is easy to regress. • Vì thế gieo giống Bồ Đề mà cày lưỡi niệm Phật thì đạo quả tự nhiên tăng tiến: Therefore, planting the Bodhi seed, cultivate the tongue to practice Buddha Recitation, then the enlightenment fruit will increase naturally. • Nương thuyền Đại Nguyện vào biển mầu Tịnh Độ, ắt Tây Phương quyết định được sanh về: Rely on the vessel of great vows or Amitabha's forty-eight great vows to enter the magnificent ocean of the Pureland, then gaining rebirth to the Western World is an absolute guarantee. 10) Vì hộ trì Chánh Pháp—Because of upholding the Proper Dharma: a) Như Đức Thế Tôn từ vô lượng kiếp đến nay, vì chúng sanh mà tu đạo Bồ Đề—Just as Sakyamuni Buddha, from infinite eons until now, for our benefit, cultivated the Bodhi ways: • Ngài đã làm việc khó làm, nhịn điều khó nhịn: He has accomplished tasks that are difficult to accomplish, tolerated things that are difficult to tolerate. • Vì thế mà Ngài đã công viên quả mãn, thành đấng Như Lai: For this reason, he attained the fullness of all practices, became a Tathagata. b) Sau khi thành Phật, nhơn duyên giáo hóa đã xong, liền vào Niết Bàn. Nay Chánh Pháp đã qua, Tượng Pháp lại hết, chỉ còn lại thời Mạt Pháp. Tuy có kinh giáo, mà không kẻ đắc thành vì những lý do sau đây—After becoming a Buddha, when His time to teach and transform came to an end, He entered Nirvana immediately. Now, the Proper Dharma Age has passed and the Dharma Semblage Age has ended, there is only left the Dharma Ending Age. Even though many sutra teachings are still available, no one attains enlightenment for many reasons. • Thời này thì tà chánh chẳng phân, thị phi lẫn lộn, tranh đua nhân ngã, đeo đuổi lợi danh: In this period, right and wrong are no longer divided, gossips are rampant, everyone is fiercely competing with one another, lusting after fame and fortune. • Cho nên Tam Bảo chẳng còn thiệt nghĩa, suy tàn tồi tệ không thể thốt lời. Chúng ta là Phật tử, mà không báo được ân Phật, trong không ích cho mình, ngoài không ích cho người, sống không ích cho dương thế, chết không ích cho đời sau. Suy nghĩ như vậy nên cảm thấy đau lòng xót dạ mà phát tâm Bồ Đề, nguyện nguyện độ sanh, tâm tâm cầu Phật, thề hết báo thân, sanh về Cực Lạc. Những mong sau khi chứng quả, trở lại Ta Bà khiến cho Phật nhựt rạng soi, Pháp môn mở rộng, Tăng đoàn làm thanh cõi trược, người người đều tu đức phương Đông, kiếp vận nhờ đó mà tiêu trừ, và Chánh pháp do đây được bền vững: Therefore, the Triple Jewels no longer have their true meanings. Having deteriorated so greatly that it is unbearable to speak of it. We are Buddhists, yet we are unable to show gratitude to Buddha's blessings. Intrinsically, we can't benefit ourselves; extrinsically, we can't benefit others. When alive we do not benefit the world; when dead we do not benefit the future. Thinking this way, it hurts from the core of our beings. Thus we must develop quickly the Bodhi Mind. Vows after vows, vowing to rescue sentient beings and thoughts afetr thoughts praying to Buddha so that once this karmic body ends, we will gain birth to the Ultimate Bliss World, hoping and wishing once we become enlightened, we will return to this saha World in order to influence and lead the Buddha's'sun to shine brightly, the Dharma Door to open widely, the Sangha to flourish in this turbid world, everyone cultivates virtues in the East, relying on this the present age will end, and the Proper Dharma will be firmly maintained as the result.

mười lý do vạn hữu hòa điệu trong pháp giới duyên khởi

Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, có mười lý do khiến vạn hữu hòa điệu trong pháp giới duyên khởi—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, there are ten reasons that all things in the real world ought to have harmony among themselves. 1) Vì vạn vật đồng thời hiện khởi: Because of the simultaneous rise of all things. 2) Vì vạn vật hỗ tương ảnh hưởng lẫn nhau: Because of the mutual permeation of the influence of all things. 3) Vì vạn vật thiết yếu hỗ tương đồng nhất (tương hủy và tương thành) để thể hiện sự hòa điệu: Because of the necessity of reciprocal identification between all beings (mutual self-negation to agree with each other) for the realization of harmony. 4) Vì chủ và bạn thiết yếu là nhất thể, hay hòa điệu, để thành tựu mục đích: Because of the necessity of unity, or harmony, between the leaders and the followers for the attainment of a purpose. 5) Vì vạn vật khởi nguyên từ ý thể, do đó một ý niệm tương đồng phải được phản ảnh trong tất cả: Because all things have their origin in ideation, therefore a similar ideal ought to be expected of all. 6) Vì vạn vật là kết quả của nhân duyên, do đó chúng hỗ tương phụ thuộc nhau: Because all things are the result of causation and therefore are mutually dependent. 7) Vì vạn vật không định tính nhưng cùng hỗ tương phụ trợ, do đó chúng tự do hiện hữu trong sự hòa điệu với tất cả: Because all things are indeterminate or indefinite in character but mutually complementary, therefore they are free to exist in harmony with all things. 8) Vì vạn vật đều có Phật tánh tiềm ẩn bên trong: Because of the fact that all beings have the nature of Buddha dormant in them. 9) Vì vạn hữu, từ tối cao đến tối thấp, đều cùng chung trong một vòng tròn trọn vẹn (mandala): Because of the fact that all beings, from the highest to the lowest, are parts of one and the same Mandala (circle). 10) Vì có sự hỗ tương phản chiếu tất cả mọi tác dụng, như trong một căn phòng dựng các mặt kính chung quanh, sự vận động của một ảnh tượng tạo ra sự vận động của hằng nghìn phản chiếu: Because of mutual reflection of all activities, as in a room surrounded by mirrors, the movement of one image causes the movement of the thousand reflections.

mười lăm tâm thiện thuộc sắc giới

Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), có mười lăm tâm thiện thuộc sắc giới—According to the Abhidharma, there are fifteen kinds of fine-material-sphere wholesome consciousness: (A) Năm Tâm Thiện Thuộc Sắc Giới. Mỗi tầng trong năm hạng Thiền Sắc Giới nầy đều là nhân tạo quả tương xứng cho hành giả trong cảnh Sắc Giới sau khi từ bỏ xác thân nầy—Five kinds of fine-material-sphere consciousness, or rupa jhanas. These jhanas have their corresponding effects in the realms of form: 1) Tâm thiện sơ thiền cùng với Tầm, sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm hay Trụ: First jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 2) Tâm Thiện nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 3) Tâm Thiện tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: Third jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 4) Tâm Thiện tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 5) Tâm Thiện ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana moral or wholesome consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness (B) Năm Loại Tâm Quả Thuộc Sắc Giới—Five kinds of fine-material-sphere resultant consciousness: 6) Tâm Quả sơ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Naht Điểm: First jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 7) Tâm Quả nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 8) Tâm Quả tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Third jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 9) Tâm Quả tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 10) Tâm Quả ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana resultant consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. (C) Năm Loại Tâm Hành Thuộc Sắc Giới—Five kinds of fine-material-sphere functional consciousness: 11) Tâm Hành sơ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: First jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 12) Tâm Hành nhị thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Second jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 13) Tâm Hành tam thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Third jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 14) Tâm Hành tứ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fourth jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. 15) Tâm Hành ngũ thiền cùng với Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: Fifth jhana functional consciousness together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. ** For more information, please see Tầm, Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm.

mười lầm lạc thiền giả có thể bị rơi vào

Ten wrong ways into which the Yogin may fall—Theo Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Lục, được Vô Dị Nguyên Lai viết vào đầu thế kỷ thứ 17, phái Thiền Bác Sơn đã đưa mười phương pháp thuần thục nghi tình và 10 lầm lạc mà Thiền giả có thể bị rơi vào—In Po-Shan's Admonition Regarding the Study of Zen, written by Wu-I-Yuan-Lai in the beginning of the seventeenth century, in which Po-Shan Zen Sect recommended ten methods of maturing doubts and ten wrong ways into which the Yogin may fall. 1) Duy Trí, ở đây nó ép buộc công án khoác những nội dung luận lý: Intellectualism, wherein the koan is forced to yield up its logical contents. 2) Mô dạng bi quan của tâm trí; nó khiến hành giả né tránh những hoàn cảnh không thích ý, trốn vào sự mặc nhiên tọa thị: A pessimistic frame of mind whereby the Yogin shuns such environments as are unfavorable to quiet contemplation. 3) Chủ trương tịnh mặc, nó khiến hành giả trấn áp các ý tưởng và cảm giác hầu chứng trạng thái tịch tĩnh hay ngoan không: Quietism, by which he tries to suppess ideas and feelings in order to realize a state of tranquilization or perfect blankness. 4) Cố phân loại hay phê phán, tùy theo giải thích duy trí riêng biệt của mình, tất cả những công án do cổ nhân để lại: The attempt to classify or criticize according to his own intellectualistic interpretation all the koans left by the ancient masters. 5) Cái hiểu biết cho rằng chẳng có gì hết trong sắc thân giả hợp nầy, mà trí thức của nó rọi xuyên qua các quan năng: The understanding that there is something inside this body of the various combinations, whose intelligence shines out through the several sense-organs. 6) Và trí thức nầy nương vào sắc thân mà tạo tác những hành vi thiện hay ác: And which by means of the body functions to perform deeds good or bad. 7) Chủ trương khổ hạnh, nó luống công bắt sắc thân chịu mọi hình thức ép xác: Asceticism, in which the body is uselessly subjected to all forms of mortification. 8) Cái ý tưởng tích chứa phúc báo, nhờ đó hành giả mong đạt tới Phật quả hay giải thoát rốt ráo: The ida of merit by the accumulation of which the Yogin desires to attain Buddhahood or final deliverance. 9) Chủ trương phóng dật, không chịu ghép mình vào đạo hạnh, luân lý: Libertinism, in which there is no regulation of conduct, moral or otherwise. 10) Khoa trương và kiêu mạn: Grandiosity and self-conceit.

mười lời khuyên về công án thiền của thối ẩn

Ten advices regarding the Zen koan from T'ui-Yin—Thực tập công án lẩn lộn với Thiền định, nhưng theo tất cả những cảnh giác nầy do một vị tôn túc đề ra về việc thực tập công án, thì rõ ràng Thiền không phải là thực tập Thiền định hay tư duy hay kham nhẫn thụ động. Nếu những người học Thiền đều hiểu đúng đắn, thì phải hiểu trọn vẹn nét đặc sắc nầy. Thiền có một chủ đích rõ: “bừng tâm tỏ ngộ;” và để đi đến tâm trạng nầy, phải nhìn thẳng công án bằng đôi mắt của tâm, không tư duy, không chấp trước, chỉ coi nó như một cây sào, nhờ đó mà nhảy khỏi dòng sông tương đối để qua bờ tuyệt đối bên kia. Cái đặc sắc của đạo Phật Thiền tông là mọi thành quả không qua trung gian của khái niệm tôn giáo như tội lỗi, đức tin, ân sủng, cứu chuộc, vân vân. Vì thế, mà Thiền sư Thối Ẩn có mười lời khuyên về công án cho hành giả tu thiền như sau—The koan exercise is confused with so-called meditation, but from all these warnings given by an old master regarding the exercise it is evident that Zen is not an exercise in meditation or in passivity. If Zen is to be properly understood by its students, this characteristic aspect of it must be fully comprehended. Zen has its definite object, which is 'to open our minds to enlightenment' as we say, and in order to bring about this state of consciousness a koan is held out before the mental ey, not to meditate on, nor to keep the mind in a state of receptivity, but to use the koan as a kind of pole with which to leap over the stream of relativity to the other side of the Absolute. And the unique feature of Zen Buddhism is that all this is accomplished without restoring to such religious conceptions as sin, faith, grace, salvation, etc. Therefore, Zen master T'ui-Yin had ten advices for those who practice koan as follow. 1) Không tính toán theo trí tưởng tượng: Do not calculate according to your imagination. 2) Không phóng tâm xao lãng khi minh sư nhướng mày hay nhắm mắt: Let not your attention be drawn where the master raises his eyebrows or twinkles his eyes. 3) Không quy định công án để rút ra một ý nghĩa: Do not try to extract meaning from the waythe koan is worded. 4) Không bộc bạch bằng lời: Do not try to demonstrate on the words. 5) Không đặt ý nghĩa công án làm đối tượng cho tư tưởng: Do not think that the sense of the koan is to be grasped where it is held out as an object of thought. 6) Đừng coi Thiền như một trạng thái chỉ thụ động: Do not take Zen for a state of mere passivity. 7) Không phán đoán công án theo tiêu chuẩn “Hữu và Vô”: Do not judge the koan with dualistic standard of existence and non-existence. 8) Không coi công án như là chỉ điểm cho ngoan không (tuyệt đối trống rỗng): Do not take the koan as pointing to absolute emptiness. 9) Không lẫm nhẫm công án: Do not ratiocinate on the koan. 10) Đừng đem lòng chờ đợi chứng ngộ: Do not keep your mind in the attitude of waiting for enlightenment to turn up.

mười lợi ích cho những ai tô vẽ hay tạc tượng thờ ngài địa tạng bồ tát

Ten kinds of benefits for those who sculpt or paint an image of Earth Store Bodhisattva, either in gold, silver, copper, or iron—Theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Phẩm thứ Mười Một, ngài Kiên Lao Địa Thần bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau nầy, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất. Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng , bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích. Những gì là mười điều?”—According to the Sutra of the Past Vows of Earth Store Bodhisattva, Chapter eleven, the Dharma Protection of an Earth Spirit, the Earth Spirit Firm and Stable spoke to the Buddha and said: “World Honored One! As I regard the living beings of the present and future, I see those who make shrines of clay, stone, bamboo, or wood and set them on pure ground in the southern part of their dwellings. They place within the shrines an image of Earth Store Bodhisattva, either sculpted, painted, or made of gold, silver, copper, or iron. They then burn incense, make offerings, behold, worship, and praise him. Such people will receive ten kinds of benefits. What are these ten?” 1) Một là đất cát tốt mầu—First, their lands will be fertile. 2) Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi—Second, their families and homes will always be peaceful. 3) Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời—Third, their deceased ancestors will be born in the heavens. 4) Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích—Fourth, those still alive will have benefit and will have their lifespan increased. 5) Năm là cầu chi cũng toại ý cả—Fifth, they will obtain what they want. 6) Sáu là không có tai họa về nước và lửa—Sixth, they will not encounter the disasters of water and fire. 7) Bảy là trừ sạch việc hư hao—Seventh, they will avoid unforeseen calamities. 8) Tám là dứt hẳn ác mộng—Eighth, their nightmares will cease. 9) Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ—Ninth, they will be protected by spirits during their comings and goings. 10) Mười là thường gặp bậc Thánh Nhơn—Tenth, they will encounter many causes of Sagehood.

Mười lực

S: daśabala; P: dasabala; Hán Việt: Thập lực (十力);|Mười năng lực hiểu biết, mười trí của một vị Phật:|1. Thi thị xứ phi xứ trí lực (知是處非處智力; s: sthānāsthānajñāna; p: ṭhānāṭhāna-ñāṇa); Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp; 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (知三世業報智力; s: karmavipākajñāna; p: kammavipāka-ñāṇa): Biết rõ luật nhân quả, quả báo, tức là Nghiệp nào tạo quả nào; 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực (知一切所道智力; s: sarvatra-gāminīpratipajjñāna; p: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa): Biết rõ nguyên nhân nào dẫn đến con đường tái sinh nào; 4. Tri chủng chủng giới trí lực (智種種界智力; s: anekadhātu-nānādhātujñāna; p: ane-kadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố thành lập của nó; 5. Tri chủng chủng giải trí lực (知種種解智力; s: nānādhimukti-jñāna; p: nānādhimutti-katāñāṇa): Biết rõ cá tính của chúng sinh; 6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (知一切眾生心性智力; s: indriyapārapara-jñāna; p: indriyaparopariyatta-ñāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mọi chúng sinh; 7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (知諸禪解脫三昧智力; sarva-dhyāna-vimokṣa-…-jñāna; p: jhāna-vimok-kha-…-ñāṇa): Biết tất cả các cách thiền định; 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (知宿命無漏智力; pūrvanivāsānusmṛti-jñāna, pub-bennivāsānussati-ñāṇa): Biết rõ các tiền kiếp của chính mình; 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (知天眼無礙智力; cyutyupa-pādajñāna, cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự tiêu huỷ và tái xuất của chúng sinh; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (知永斷習氣智力; āśravakṣayajñāna, āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các Ô nhiễm (s: āśrava) sẽ chấm dứt như thế nào.|Ba lực 8, 9, 10 được Phật nhắc đến khi Ngài thuật về sự đạt Bồ-đề của mình (Tất-đạt-đa Cồ-đàm). Chúng được gọi chung là Tam minh.

mười lực của chư phật

Mười thứ lực của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of might with enormous power of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chapter 33). 1) Tối thượng lực: Supreme power. 2) Vô lượng lực: Measureless power. 3) Quảng đại lực: Grandiose power. 4) Đại oai đức lực: Awesome power. 5) Nan hoạch lực: Power difficult to acquire. 6) Bất thối lực: Undiminishing power. 7) Kiên cố lực: Stable power. 8) Bất hoại lực: Indestructible power. 9) Tất cả thế gian bất tư nghì lực: Power inconceivable to any worldlings. 10) Tất cả chúng sanh vô năng động lực: Power that all living beings cannot shake.

mười lực của chư đại bồ tát

Ten kinds of power possessed by Great Enlightening Beings. I. Mười thứ lực trong Phẩm 27 Kinh Hoa Nghiêm—Ten kinds of power in Chapter 27, Flower Adornemtn Sutra: (A) Để đạt được mười thứ lực nầy, chư Bồ Tát phải—To attain these ten kinds of power, Enlightening Beings must: a. An trụ trong Pháp giới tự tại Đại Tam muội: Abide in the concentration of freedom in the elemental cosmos. b. Có mười thứ hải: See Ten kinds of Ocean. c. Có mười thứ thù thắng: See Ten kinds of excellence. (B) Mười thứ lực nào?—What are these ten kinds of power? 1) Sức dũng kiện, vì điều phục thế gian: The power of courageous strength, because they tame worldlings. 2) Sức tinh tấn, vì hằng chẳng thối chuyển: The power of energy because they never backslide. 3) Sức vô trước, vì lìa các cấu nhiễm: The power of nonattachment, because they get rid of defiling obsessions. 4) Sức tịch tịnh, vì không tranh luận nơi tất cả pháp: The power of silent calm, because they have no disputes about anything. 5) Sức nghịch thuận, vì nơi tất cả pháp tâm tự tại: The power to oppose or conform, because they are free in the midst of all things. 6) Sức pháp tánh, vì trong các nghĩa được tự tại: The power of the nature of things, because they attain mastery of all truths. 7) Sức vô ngại, vì trí huệ quảng đại: The power of nonobstruction, because their knowledge and wisdom is immensely vast. 8) Sức vô úy, vì khéo thuyết pháp: The power of fearlessness, because they can explain all truths. 9) Sức biện tài, vì khéo thọ trì các pháp: The power of intellect, because they can hold all truths. 10) Sức khai thị, vì trí huệ vô biên: The power of revelation, because their knowledge and wisdom is boundless. II. Thập Lực Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Ten kinds of powers (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38): (A) Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời có đủ năng lực vô thượng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can acquire the supreme power of Buddhas. 1) Năng lực nhập tự tánh của chư pháp: The power to comprehend the inherent essence of all things. 2) Năng lực nhập tất cả các pháp như hóa: The power to comprehend that all things are like phantoms. 3) Năng lực nhập tất cả các pháp như huyễn: The power to comprehend that all things are like illusions. 4) Năng lực nhập tất cả các pháp đều là Phật pháp: The power to comprehend that all things are Buddha's teachings. 5) Năng lực nơi tất cả các pháp không nhiễm trước: The power to have no attachments to anything at all. 6) Năng lực hiểu rõ chư pháp: The power to clearly understand all things. 7) Năng lực nơi tất cả thiện tri thức hằng chẳng bỏ rời tâm tôn trọng: The power of the respectful mind never abandoning spiritual teachers. 8) Năng lực làm cho tất cả thiện căn thuận đến trí vô thượng Bồ Đề: The power to cause all roots of goodness to reach supreme knowledge. 9) Năng lực nơi tất cả Phật pháp thâm tín chẳng hủy báng: The power of deep faith in all Buddhas' teachings without rejection. 10) Năng lực làm cho nhứt thiết trí tâm bất thối thiện xảo: The power of skill in preventing the will for omniscience from backsliding. (B) Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được thập lực nhứt thiết trí vô thượng của chư Phật—Enlightening beings who abide by these can attain the Buddhas' ten powers of omniscience. 1) Thâm tâm lực vì chẳng tạp tất cả thế tình: Power of the profound mind, not getting mixed up in worldly feelings. 2) Tăng thượng thâm tâm lực, vì chẳng bỏ tất cả Phật pháp: Power of overmastering profound mind, not giving up the ways of enlightenment. 3) Phương tiện lực, vì tất cả công hạnh đều rốt ráo: Power of means, consummating whatever they do. 4) Trí lực vì biết tất cả tâm hành: Power of knowledge, comprehending the activities of all minds. 5) Nguyện lực, vì tất cả mong cầu đều làm cho viên mãn: Power of vows, fulfilling all aspirations. 6) Hạnh lực vì cùng tột thuở vị lai chẳng dứt: Power of practice, continuing forever. 7) Thừa lực vì hay xuất sanh tất cả thừa mà chẳng bỏ đại thừa: Power of vehicle of liberation, able to produce all vehicles of liberation without abandoning the great universal vehicle. 8) Thần biến lực, vì ở trong mỗi lỗ lông đều thị hiện tất cả thế giới thanh tịnh, tất cả Như Lai: Power of miraculous transformations, showing all pure worlds and all Buddhas appearing in the worlds in each pore. 9) Bồ Đề lực, vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm thành Phật không đoạn tuyệt: Power of enlightenment, inspiring all sentient beings to seek enlightenment and become Buddhas, without end. 10) Chuyển Pháp Luân lực, vì nói một câu pháp đều xứng những căn tánh dục lạc của tất cả chúng sanh: Power of turning the wheel of the teaching, explaining one expression of truth in accord with the faculties, temperaments, and inclinations of all sentient beings. *** For more information, please see Thập Lực Bồ Tát.

mười lực trì của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38, có mười pháp lực trì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát trụ trong pháp nầy thời nơi tất cả các pháp được lực trì tự tại vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of support of power of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can gain the support of the power of supreme mastery of all truth. 1) Phật lực trì: Support by the power of Buddhas. 2) Pháp lực trì: Support by the power of truth. 3) Chúng sanh lực trì: Support by the power of sentient beings. 4) Nghiệp lực trì: Support by the power acts. 5) Hạnh lực trì: Support by the power of practices. 6) Nguyện lực trì: Support by the power of vows. 7) Cảnh giới lực trì: Support by the power of the environment. 8) Thời lực trì: Support by the power of time. 9) Thiện lực trì: Support by the power of good. 10) Trí lực trì: Support by the power of knowledge.

mười lực vô ngại dụng

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38) Ten kinds of unimpeded function relating to power (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Chúng sanh lực vô ngại dụng, vì giáo hóa điều phục chẳng bỏ rời: Unimpeded function of power relating to sentient beings, teaching and taming them without abandoning them. 2) Sát lực vô ngại dụng, vì thị hiện bất khả thuyết trang nghiêm để trang nghiêm: Power relating to lands, manifesting untold adornment and arraying them. 3) Pháp lực vô ngại dụng, vì làm cho tất cả thân vào một thân: Power relating to phenomena, causing all bodies to enter the bodiless. 4) Kiếp lực vô ngại dụng, vì giác ngộ thùy miên: Power relating to oens, cultivating practices unceasingly. 5) Phật lực vô ngại dụng, vì giác ngộ thùy miên: Power of enlightenment, awakening those who are asleep. 6) Hành lực vô ngại dụng, vì nhiếp thủ tất cả Bồ Tát hạnh: Power of action including all practices of enlightening beings. 7) Như Lai lực vô ngại dụng, vì độ thoát tất cả chúng sanh: Power of Buddhas, liberating all sentient beings. 8) Vô sư lực vô ngại dụng, vì tự giác tất cả các pháp: Teacherless power, spontaneously awakening to all truth. 9) Nhứt thiết trí lực vô ngại dụng, vì dùng nhứt thiết trí thành chánh giác: Power of omniscience, attaining true enlightenment by omniscience. 10) Đại bi lực vô ngại, vì chẳng bỏ tất cả chúng sanh: Power of great compassion, not abandoning sentient beings.

mười ma nghiệp

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ ma nghiệp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát nên mau xa lìa mười ma nghiệp nầy mà siêng cầu Phật nghiệp—According to The Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of demons' actions of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings should quickly get away from to seek enlightened action. 1) Quên mất Bồ Đề tâm, tu các thiện pháp, đây là ma nghiệp: Cultivating roots of goodness while forgetting the aspiration for enlightenment. 2) Ma nghiệp thứ nhì—The second demons' actions: a) Ác tâm bố thí: Giving with ill-will. b) Sân tâm trì giới: Keeping precepts with hatred. c) Chối bỏ người có tánh ác: Rejecting people of bad character. d) Xa kẻ lười biếng: Rejecting the slothful. e) Khinh mạn kẻ loạn ý: Slighting the confused. f) Khinh kẻ si mê: Despising the ignorant. 3) Ma nghiệp thứ ba—The third demons' actions: a) Nơi pháp thậm thâm sanh tâm xan lẫn (ganh ghét bủn xỉn): Being jealous and stingy with the profound teaching. b) Không thuyết pháp cứu độ những người có thể cứu độ được: Not explaining the truth to those who are capable of being enlightened. c) Khi được tài lợi và cung kính thì gượng thuyết pháp, dầu người không cầu nghe cũng như không có khả năng nghe: Insisting on on explaining it to people without the capacity for it as long as wealth and honor are thereby available. 4) Ma nghiệp thứ tư—The fourth demons' actions: a) Chẳng thích lắng nghe ác môn Ba La Mật: Not liking to hear about the ways of transcendence. b) Dầu có nghe nói đến, cũng chẳng màng đến việc tu hành: Not practicing them even when hearing about them. c) Dầu cũng tu hành nhưng lại giải đãi: Tending to negligence even when practicing them. d) Vì lười biếng nên chí ý hèn kém chẳng cầu pháp đại Bồ Đề vô thượng: Becoming narrow and mean in spirit because of laziness, and not seeking supreme enlightenment. 5) Những ma nghiệp thứ năm—The fifth demons' actions: a) Xa thiện tri thức: Avoiding good companions. b) Gần ác tri thức: Associating with bad companions. c) Cầu tự giải thoát: Craving personal release. d) Chẳng thích thọ sanh: Not wanting to accept life. e) Chỉ chuộng Niết bàn ly dục tịch tịnh: f) Wishing for the desirelessness and tranquility of nirvana. 6) Ma nghiệp thứ sáu—The sixth demons' actions: a) Khởi tâm sân hận với chư Bồ Tát: Arousing hatred and anger toward enlightening beings. b) Nhìn chư Bồ Tát với ác nhãn: Looking at Enlightening Beings with malevolent eyes. c) Nhìn ngó tìm cầu lỗi lầm của chư Bồ Tát: Looking for faults in enlightening beings. d) Nói lỗi lầm của chư Bồ Tát: Talking of the faults of Enlightening Beings. e) Ngăn dứt tài lợi cúng dường đến chư Bồ Tát: Cutting off their support. 7) Ma nghiệp thứ bảy—The seventh demons' actions: a) Phỉ báng và chẳng thích lắng nghe chánh pháp: Repudiating true teaching and being averse to hearing it. b) Giả sử có được nghe cũng liền sanh lòng hủy báng: Immediately criticizing true teaching when hearing it. c) Thấy người thuyết pháp chẳng sanh lòng tôn trọng: Having no respect for those who expound true teaching. d) Cho mình đúng còn tất cả người khác thì sai: Claiming oneself to be right and others all wrong. 8) Ma nghiệp thứ tám—The eighth demons' actions: a) Thích học thế luận xảo thuật văn từ: Indulging in the study of secular literature. b) Xiển dương nhị thừa che mờ Phật pháp thậm thâm: Expounding the vehicles of individual salvation while obscuring the profound Teaching. c) Dùng diệu nghĩa truyền dạy cho người chẳng đáng dạy: Giving subtle doctrines to unsuitable people. d) Xa rời Bồ Đề, trụ nơi tà đạo: Straying from enlightenment and persisting in false paths. 9) Ma nghiệp thứ chín—The ninth demons' actions: a) Thường thích gần gũi cúng dường với những người đã được giải thoát an ổn: Always liking to associate with those who are already liberated and at peace, and giving them offerings. b) Chẳng chịu gần gủi giáo hóa người chưa giải thoát chưa an ổn: Not being willing to approach or edify those who have not yet attained liberation or peace. 10) Ma nghiệp thứ mười—The tenth demons' actions: a) Thêm lớn ngã mạn: Developing conceit. b) Không tôn kính: Having no respect. c) Làm nhiều sự não hại với các chúng sanh: Often troubling or hurting sentient beings. d) Chẳng cầu chánh pháp trí huệ chơn thiệt: Not seeking genuine knowledge of truth. e) Tâm ý tệ ác khó khai ngộ được: Being mean and difficult to awaken.

mười minh túc của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười minh túc của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại quang minh vô thượng nơi tất cả Phật pháp của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of sufficiency of insight of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme illumination of all teachings of the Buddhas. 1) Khéo phân biệt các pháp: Skillfully analyzing all things. 2) Chẳng chấp trước các pháp: Not grasping or clinging to anything. 3) Lìa điên đảo kiến: Divorcing all deluded views. 4) Trí huệ quang chiếu các căn: Illuminating all senses with the light of knowledge. 5) Khéo phát khởi chánh tinh tấn: Skillfully generating rightly directed energy. 6) Hay thâm nhập chơn đế trí: Being able to penetrate knowledge of absolute truth. 7) Minh túc thứ bảy—The seventh sufficiency of insight: a. Diệt nghiệp phiền não: Extinguishing the actions of afflictions. b. Thành tựu tận trí và vô sanh trí: Developing the knowledge of extinction and knowledge of birthlessness. 8) Thiên nhãn trí khéo quan sát: Observing everywhere with the knowledge of the celestial eye. 9) Túc trụ niệm biết thuở trước thanh tịnh: Knowing the purity of the past by recollection of past states. 10) Lậu tận thần thông trí dứt những lậu của chúng sanh: Annihilating the contaminations of sentient beings by the spiritual knowledge of ending contamination.

mười món cúng dường

Ten Offerings—Cúng dường đến chư Phật và chư Bồ Tát để tỏ lòng biết ơn. Điều nầy cũng giống như con cái tỏ lòng cung kính cha mẹ, hay như học trò tôn kính thầy vậy—Offerings to the Buddha and Bodhisattvas mean to express respect and gratitude to them. It is similar to children paying respect to their parents, as well as students showing gratitude toward their teachers: 1) Hương—Incense: Cúng dường hương nhang với nghĩa đạt được an bình nội tại và làm cho phong phú sự nhận biết về chư pháp—To offer incense means to achieve our inner peace and enrich our Dharma perception. 2) Hoa—Flowers: Cúng dường hoa có nghĩa là mong loại trừ những thứ không vui nơi thân và cũng mong hương hoa làm cho những người quanh ta được an vui—To offer flowers means to clean and rid our body of what is unpleasant and to give pleasure to the people around us. 3) Anh lạc--Chuỗi tràng hạt: Cúng dường chuỗi anh lạc có nghĩa là làm vừa lòng và làm tăng oai nghi tướng hảo—To offer beads means to satisfy and dignify our appearance. 4) Đèn—Lamps: Cúng dường đèn có nghĩa là muốn làm tăng tuệ giác và đưa chúng ta đến trí tuệ tuyệt đối—To offer lamps means to brighten our vision and lead us to absolute wisdom. 5) Quả—Fruits: Cúng dường quả trái có nghĩa là mong muốn toại nguyện và tiến nhanh đến quả vị Phật—To offer fruits means to fulfill our wishes and hasten our path toward Buddhahood. 6) Trà—Tea: Cúng dường trà có nghĩa là làm tươi mát hơi thở và xa lìa những lo âu—To offer tea means to freshen our breath and distance us from worries. 7) Thực phẩm—Food: Cúng dường thực phẩm có nghĩa là mong trường thọ và làm dễ dàng những kinh nghiệm tu hành—To offer food means to extent the longevity of our lives and facilitate our articulation skills. 8) Âm nhạc Phật—Buddhist music: Cúng dường âm nhạc Phật mong làm vui thế đầy phiền não—Buddhist music to rejoyce the whole afflicted world. 9) Chấp tay--Folding palms: Cúng dường cái chấp tay có nghĩa là bày tỏ lòng khiêm nhường tôn kính chư Phật và chư Bồ Tát—To offer folding palms means to humble our selves in front of the Buddhas and Bodhisattvas. 10) Quần áo—Clothes: Cúng dường quần áo là mong được trang nghiêm ngoại tướng cũng như làm cho chúng ta cảm thấy an ổn hơn—To offer clothes means to make us look magnificent and remorse and to provide us with security.

mười môn diễn thuyết vô lượng của chư phật

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười môn diễn thuyết vô lượng của chư Phật. Chư Phật diễn thuyết vô lượng nhứt thiết chư Phật trí môn—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of exposition of the inumerable facets of the Teaching of the Buddhas. All Buddhas expound the ways of knowledge of all Buddhas. 1) Chư Phật diễn thuyết vô lượng giải thoát môn: All Buddhas expound innumerable facets of the realms of sentient beings. 2) Chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh hạnh môn: All Buddhas expound innumerable facets of the activities of sentient beings. 3) Chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh nghiệp quả môn: All Buddhas expound innumerable facets of effects of acts of sentient beings. 4) Chư Phật diễn thuyết vô lượng giáo hóa chúng sanh môn: All Buddhas expound innumerable facets of teaching sentient beings. 5) Chư Phật diễn thuyết vô lượng tịnh chúng sanh môn: All Buddhas expound innumerable facets of purifying sentient beings. 6) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát nguyện môn: All Buddhas expound innumerable facets of vows of enlightening beings. 7) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát hạnh môn: All Buddhas expound innumerable facets of practices of enlightening beings. 8) Chư Phật diễn thuyết tất cả thành kiếp-hoại kiếp môn: All Buddhas expound innumerable facets of the ages of becoming and decay of all worlds. 9) Chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát thâm tâm tịnh Phật sát môn: All Budhas expound innumerable facets of enlightening beings devotedly purifying Buddha-lands. 10) Chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới tam thế chư Phật nơi những kiếp đó thứ đệ xuất hiện môn: All Buddhas expound innumerable facets of successive emergence in each age of the past, present and future Buddhas in innumerable worlds.

mười môn du hý của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười môn du hí của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí du hý vô thưỡng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can attain the versality of great knowledge of Buddhas. 1) Đem thân chúng sanh làm thân quốc độ, mà cũng chẳng hoại thân chúng sanh: Make the body of sentient beings the body of lands, without destroying the body of sentient beings. 2) Đem thân quốc độ làm thân chúng sanh mà cũng chẳng hoại thân quốc độ: Make the body of lands the body sentient beings, without destroying the body of lands. 3) Nơi Phật thân thị hiện thân Thanh văn, thân Độc giác, mà chẳng giảm thân Phật: In the body of Buddha they show the body of disciples and self-illumined ones, without diminishing the body of Buddha. 4) Nơi thân Thanh văn, thân Độc giác thị hiện Phật thân, mà chẳng tăng trưởng thân Thanh văn, thân Độc giác: In the body of disciples and self-illumined ones they show the body of Buddha, without augmenting the body of disciples and self-illumined ones. 5) Nơi thân Bồ Tát hạnh thị hiện thân thành chánh giác mà chẳng đoạn thân Bồ Tát hạnh: In the body of practices of enlightening beings they show the body of attainment of enlightenment, without cutting off the body of practices of Enlightening Beings. 6) Nơi thân thành chánh giác thị hiện thân tu hành Bồ Tát hạnh, mà chẳng giảm thân thành chánh giác: In the body of attainment of enlightenment they manifest cultivation of the body of practices of Enlightening Beings, without diminishing the body of attainment of enlightenment. 7) Nơi cõi Niết bàn thị hiện thân sanh tử, mà chẳng nhiễm trước sanh tử: Show the body of birth and death in the realm of nirvana, without clinging to birth and death. 8) Nơi cõi sanh tử thị hiện Niết bàn, mà chẳng rốt ráo nhập nơi Niết bàn: Show nirvana in the realm of birth and death, yet without finally entering nirvana. 9) Nhập tam muội mà thị hiện tất cả nghiệp, nhưng chẳng bỏ rời tam muội chánh thọ: Enter into concentration, yet manifest all ordinary action, without relinquishing the correct reception of concentration. 10) Ở chỗ một Đức Phật nghe pháp thọ trì, thân chẳng động mà dùng sức tam muội ở trong bất khả thuyết Phật hội đều hiện thân mà chẳng phân thân cũng chẳng khởi định, mà nghe pháp thọ trì tương tục chẳng dứt, niệm niệm như vậy nơi mỗi thân tam muội đều xuất sanh bất khả thuyết thân tam muội. Tất cả kiếp còn có cùng tận mà thân tam muội của Bồ tát chẳng thể cùng tận: In the prsence of one Buddha they hear and absorb the teaching, not moving physically yet by the power of concentration appearing physically in the audiences of untold Buddhas, neither dividing their bodies not rising from concentration, continuously hearing and absorbing the teachings, in this way moment to moment producing untold concentration-bodies in each concentration-body, going on this way, so that the ages of time may be exhausted but the concentration-bodies of enlightening beings are inexhaustible.

mười môn kiến phật của chư đại bồ tát

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười môn kiến Phật nầy thời thường được thấy Đức Như Lai vô thượng—Ten ways of seeing Buddhas of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these always see the supreme Buddha. 1) Vô trước kiến, đối với Phật thành chánh giác an trụ thế gian: See by nonattachment the Buddha of abiding in the world attaining true enlightenment. 2) Xuất sanh kiến đối với nguyện Phật: See the Buddha of vows by production. 3) Thâm tín kiến đối với nghiệp báo Phật: See the Buddha of rewards of action by deep faith. 4) Tùy thuận kiến đối với trụ trì Phật: See the Buddha of preservation by following the Teaching. 5) Thâm nhập kiến đối với Niết bàn Phật: See the Buddha of Nirvana by deeply entering it. 6) Phổ chí kiến đối với pháp giới Phật: See the cosmic Buddha everywhere. 7) An trụ kiến đối với tâm Phật: See the Buddha of mind by peaceful stability. 8) Vô lượng vô y kiến đối với tam muội Phật: See the Buddha of concentration by infinite independence. 9) Minh liễu kiến đối với bổn tánh Phật: See the Buddha of fundamental essence by clear comprehension. 10) Phổ thọ kiến đối với tùy lạc Phật: See the Buddha of adaptation by universal awareness. *** For more information, please see Ten Ways of Getting Rid of Demons.

mười môn nhập tam muội sai biệt trí

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 10—Thập Định, có mười môn nhập tam muội sai biệt trí—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 27, there are ten kinds of knowledge of differentiation of entry into concentration of Great Enlightening Beings. 1) Đông phương nhập định Tây phương khởi: Entering concentration in the east and emerging in the west. 2) Tây phương nhập định đông phương khởi: Entering concentration in the west and emerging in the east. 3) Nam phương nhập định Bắc phương khởi: Entering concentration in the south and emerging in the north. 4) Bắc phương nhập định nam phương khởi: Entering concentration in the north and emerging in the south. 5) Đông bắc phương nhập định, tây nam phương khởi: Entering concentration in the northeast and emerging in the southwest. 6) Tây nam phương nhập định đông bắc phương khởi: Entering the concentration in the southwest emerging in the northeast. 7) Tây bắc phương nhập định, đông nam phương khởi: Entering the concentration in the northwest and emerging in the southeast. 8) Đông nam phương nhập định tây bắc phương khởi: Entering the concentration in the southeast and emerging in the northwest. 9) Hạ phương nhập định thượng phương khởi: Entering the concentration in the nadir and emerging in the zenith. 10) Thượng phương nhập định hạ phương khởi: Entering the concentration in the zenith and emerging in the nadir.

mười mũi của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười mũi của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát thành tựu những pháp nầy thời được vô lượng vô biên thanh tịnh tỹ của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of nose of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who accomplish these will acquire the infinite, boundless nose of Buddhas. 1) Nghe những vật hôi, không cho đó là hôi: When they smell foul things, they do not consider them foul. 2) Khi nghe những hơi thơm, không cho đó là thơm: When they smell fragrances, they do not consider them fragrant. 3) Thơm hôi đều nghe, nhưng tâm Bồ Tát vẫn bình đẳng: They smell both fragrance and foulness, their minds are equanimous. 4) Chẳng thơm chẳng hôi, an trụ nơi xả: Neither fragrance nor foulness, abiding in relinquishment. 5) Nếu nghe y phục, giường ngủ và thân thể của chúng sanh thơm hôi, thời biết được họ khởi lòng tham, sân hay si: If they smell the gragrance and foulness of people's clothes, bedding, or bodies, they can discern their conditions of greed, anger, and delusion. 6) Nếu nghe hơi của cây cỏ, vân vân, thời biết rõ ràng như đối trước mắt: If they smell the scents of hidden repositories, plants and trees and so on, they can discern them as if they were right before their eyes. 7) Nếu nghe mùi của chúng sanh trên trời đến địa ngục thời biết hạnh nghiệp quá khứ của họ đã gây tạo: If they smell scents from the hells below to the heaven above, they know the past deeds of the beings there. 8) Nếu nghe hơi bố thí, trì giới, đa văn, trí huệ của hàng Thanh Văn thời an trụ tâm nhứt thiết trí chẳng cho tán động: If they smell the fragrance of generosity, morality, learning, and wisdom of Buddhas' disciples, they remain steady in the will for omniscience and do not let it be distracted. 9) Nếu nghe hơi của tất cả Bồ Tát hạnh, thời dùng trí huệ bình đẳng nhập Phật địa: If they smell the fragrance of all enlightening practices, they enter the state of Buddhahood by impartial wisdom. 10) Nghe hơi cảnh giới trí huệ của tất cả Phật, cũng chẳng phế bỏ những hạnh Bồ Tát: If they smell the fragrance of the sphere of knowledge of all Buddhas, they still do not give up the practices of Enlightening Beings.

mười mạn nghiệp của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười mạn nghiệp. Chư Bồ Tát lìa được mười mạn nghiệp nầy thời được mười trí nghiệp—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of conceited action of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who can get rid of these ten kinds of conceited action will attain ten kinds of actions of knowledge. 1) Đối với Sư, Tăng, cha mẹ, sa môn, bà la môn trụ nơi chánh đạo, hoặc hướng về chánh đạo, là những phước điền đáng tôn trọng mà chẳng cung kính, là mạn nghiệp: Not respecting teachers, parents, mendicants, people on the right Path, people aiming for the right Path, or honorable fields of blessings, is conceited action. 2) Hoặc có Pháp Sư được pháp tối thắng, ngồi Đại thừa, biết đạo xuất yếu, đắc Đà La Ni, diễn thuyết pháp quảng đại trong khế kinh không thôi nghỉ. Lại phát khởi tâm cao mạn cũng như chẳng cung kính các bậc ấy, là mạn nghiệp: If there are teachers who have attained to supreme truth, who ride the Great Vehicle of universal enlightenment, who know the way to emancipation, who have attained mental command and expound the great principles of the scriptures, to be haughty toward them or their teachings and to be disrespectful is conceited action. 3) Trong chúng hội nghe thuyết diệu pháp mà chẳng chịu khen cho người khác tin thọ, là mạn nghiệp: When in an audience hearing the sublime Teaching expounded, to be unwilling to laud its excellence and cause others to believe and accept it, is conceited action. 4) Mạn nghiệp thứ tư—The fourth conceited action: a. Ưa sanh lòng quá mạn: Habitually conceiving the illusion of superiority. b. Tự cao và khinh người: Elevating onself and looking down on others. c. Not seeing one's own faults. d. Chẳng thấy lỗi mình: Not knowing one's own shortcoming: Chẳng biết mình dở. 5) Mạn nghiệp thứ năm—The fifth conceited action. a. Ưa sanh lòng quá mạn, tưởng mình giỏi hơn người: Habitually imagining that one is beter than those who are better than onself. b. Chẳng tán thán người đạo đức đáng được tán thán: Not praising virtuous people who are praiseworthy. c. Chẳng vui khi có người tán thán người đạo đức: Not being happy when others praise virtuous people. 6) Ưa sanh lòng quá mạn. Thấy có Pháp sư và người thuyết pháp, biết là pháp, là luật, là chơn thiệt, là lời Phật dạy, mà vì ghét người nên cũng ghét pháp, tự mình hủy báng, bảo người hủy báng, đây là mạn nghiệp: When seeing someone preach, in spite of knowing it is the norm, the rule, the truth, the word of Buddha, to despise the teaching because of disliking the person, to slander it and incite others to slander it, is conceited action. 7) Mạn nghiệp thứ bảy—The seventh conceited action: a. Tự cầu tòa cao: Seeking a high seat for oneself. b. Tự xưng Pháp Sư: Declaring onself to a teacher. c. Tư xưng ưng thọ nhận cúng dường: Declaring onself to be worthy of receiving offerings. d. Chẳng ưng làm việc: Not supposed to work. e. Chẳng ưng làm việc: Failing to rise to greet old people who have cultivated spiritual practice for a long time. Thấy bực tu hành lâu năm kỳ cựu, chẳng chịu đứng dậy tiếp rước: f. Chẳng chịu hộ trì cúng dường chư Bồ Tát: Being unwilling to serve and make offerings to enlightening beings. 8) Thấy người có đức thời nhíu mày chẳng vui, nói lời thô lỗ, tìm tòi lỗi lầm của bực ấy, là mạn nghiệp: Frowning unhappily on seeing people with virtue, speaking to them harshly and looking for faults in them, is conceited action. 9) Mạn nghiệp thứ chín—The ninth conceited action—When seeing intelligent people who know the truth: a. Chẳng chịu gần gũi: not being willing to approach and attend them. b. Chẳng chịu cung kính cúng dường: Not respecting and honoring them. c. Chẳng chịu hỏi han gì là thiện, gì là bất thiện, những gì nên làm, những gì chẳng nên làm, hoặc làm những công hạnh gì mà được lợi ích an lạc: Being unwilling to ask them what is good and what is not good, what should be done and what should not be done, what acts result in various benefits and comforts in the long night. d. Là kẻ ngu si ngoan cố, chìm trong ngã mạn, chẳng bao giờ thấy được đạo giải thoát: Being foolish and deluded, stubborn and contentious, swallow by self-importance, never able to see the way of emancipation. 10) Mạn nghiệp thứ mười—The tenth conceited action: a. Tâm khinh mạn che đậy: Minds shrouded by conceit. b. Khi chư Phật xuất thế chẳng có thể thân cận, cung kính, cúng dường: When Buddhas appear in he world are unable to approach, respect, and honor them. c. Thiện căn mới chẳng sanh, thiện căn cũ tiêu mất: No new good airses, and goodness from the past evaporates and vanishes. d. Nói những điều chẳng nên nói: They say what they should not. e. Cãi lại những điều chẳng nên cãi: They contend where they should not. f. Trong kiếp vị lai tất đọa hầm sâu hiểm nạn: In the future they will surely fall into a deep pit of danger and. g. Chẳng còn gặp Phật: Will not even encounter Buddha. h. Trong trăm ngàn kiếp chẳng còn được nghe pháp: i. Chỉ do từ trước đã từng phát tâm Bồ Đề nên trọn tự tỉnh ngộ: Much less hearing the Teaching for hundreds of thousands of eonsThough because of having once conceived the aspiration for enlightenment they will in the end wake up on their own. **See Ten kinds of actions of knowledge.

mười mật ngữ thiện xảo của chư đại bồ tát

Mười xảo mật ngữ của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được vi mật ngữ thiện xảo vô thượng của Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can master the unexcelled skillful esoteric speech of the Buddhas. 1) Xảo mật ngữ ở trong tất cả Phật kinh: The skillful esoteric sayings in all the discourses of Buddhas. 2) Xảo mật ngữ nơi tất cả chỗ thọ sanh: Skillful esoteric sayings about all places of birth. 3) Xảo mật ngữ nơi tất cả Bồ Tát thần thông biến hiện thành đẳng chánh giác: Skillful esoteric sayings about all enlightening beings' spiritual manifestations and attainment of enlightenment. 4) Skillful esoteric sayings about the consequences of actions of all sentient beings. 5) Skillful esoteric sayings about the Xảo mật ngữ nơi tất cả chúng sanh phát khởi nhiễm tịnh: defilement and purity produced by all sentient beings:. 6) Xảo mật ngữ rốt ráo vô chướng ngại nơi tất cả các pháp: Skillful esoteric sayings about how to be ultimately unobstructed in the midst of all things. 7) Xảo mật ngữ nơi tất cả hư không giới, mỗi nơi mỗi chỗ đều có thế giới hoặc thành hoặc hoại, trong đó không có chỗ trống: Skillful esoteric sayings about how in every place in space are worlds, some becoming, some decaying, without any gaps in between. 8) Xảo mật ngữ nơi tất cả pháp giới tất cả mười phương nhẫn đến chỗ vi tế, đều có Như Lai thị hiện sơ sanh nhẫn đến thành Phật nhập đại niết bàn đầy khắp pháp giới, đều phân biệt thấy: Skillful esoteric sayings about how everywhere in all places in all universes, in all phenomena, even in microscopic points, there are Buddhas manifesting birth, attainment of Buddhahood, and entry into final nirvana, filling the cosmos, each distinctly seen. 9) Xảo mật ngữ ở chỗ thấy tất cả chúng sanh bình đẳng niết bàn vì không biến đổi mà chẳng bỏ đại nguyện, vì tất cả trí nguyện chưa được viên mãn làm cho viên mãn: Skillful esoteric sayings about seeing all sentient beings as equally nirvanic, being unchanged, yet not giving up great aspirations, causing them to be fulfilled by the vow for omniscience. 10) Xảo mật ngữ ở chỗ dầu biết tất cả pháp tỏ ngộ chẳng do người khác mà chẳng rời bỏ các bậc thiện tri thức, đối với Như Lai càng thêm tôn kính, cùng thiện tri thức hòa hiệp không hai. Nơi những thiện căn thời tu tập gieo trồng hồi hướng an trụ. Đồng một sở tác, đồng một thể tánh, đồng một xuất ly, đồng một thành tựu: Skillful esoteric sayings about not abandoning teachers in spite of knowing that truths are not realized through the agency of another, honoring the enlightened even more, becoming one with spiritual friends in cultivating, dedicating, and living by virtues, with the same actions, the same essence, the same emancipation, the same fulfillment.

mười mắt của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười mắt. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ nhãn vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of eye of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these attain the eye of supreme knowledge of Buddhas. 1) Nhục nhãn, vì thấy tất cả hình sắc: The flesh eye, seeing all forms. 2) Thiên nhãn, vì thấy tất cả tâm niệm của tất cả chúng sanh: The celestial eye, seeing the minds of all sentient beings. 3) Huệ nhãn, vì thấy tất cả những căn cảnh giới của tất cả chúng sanh: The wisdom-eye, seeing the ranges of the faculties of all sentient beings. 4) Pháp nhãn, vì thấy tướng như thật của tất cả pháp: The reality-eye, seeing the true characters of all things. 5) Phật nhãn, vì thấy thập lực của Như Lai: The Buddha-eye, seeing the ten powers of the enlightened. 6) Trí nhãn, vì thấy biết các pháp: The eye of knowledge, knowing and seeing all things. 7) Quang minh nhãn, vì thấy quang minh của Đức Phật: The eye of light, seeing the light of Buddha. 8) Xuất sanh tử nhãn, vì thấy Niết Bàn: The eye of leaving birth-and-death, seeing nirvana. 9) Vô ngại nhãn, vì chỗ thấy không chướng ngại: The unobstructed eye, its vision without hindrance. 10) Nhứt thiết trí nhãn, vì thấy phổ môn pháp giới: The eye of omniscience, seeing the realm of reality in its universal aspect.

Mười một pháp không

(Thập nhất không), bao gồm: 1. Nội không, 2. Ngoại không, 3. Nội ngoại không, 4. Hữu vi không, 5. Vô vi không, 6. Vô thủy không, 7. Tánh không, 8. Vô sở hữu không, 9. Đệ nhất nghĩa không, 10. Không không, 11. Đại không. Các pháp không này được đức Phật giảng rõ trong quyển 16 của kinh này. Xem lại từ trang 409, Tập III.

mười một phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người nữ trong thế gian nầy và trong cảnh giới kế tiếp

Theo Kinh Tạp A Hàm, Đức Phật đã đề cập về mười một phẩm hạnh đem lại tình trạng an lành cho người nữ trong thế giới nầy và trong cảnh giới kế tiếp như sau—In the Samyutta Nikaya Sutta, the Buddha mentioned about eleven virtues that would conduce towards the well-being of women both in this world and in the next as follows: 1) Đạo tâm nhiệt thành: Saddho (p)—Religious devotion. 2) Biết hổ thẹn và kinh vì tội lỗi: Hirima-ottapi (p)—A sense of shame and fear of evil deds. 3) Không buông lung phóng túng theo chiều hướng độc hiểm, thù oán và sân hận: Akkodhanao-anupanahi (p)—Not disposed towards malice, animosity, and anger. 4) Không ganh tỵ: Anissuki (p)—Not jealous. 5) Không keo kiết bỏn xẻn mà quảng đại rộng rãi: Amacchari (p)—Not niggardly or stingy, but largehearted or generosity. 6) Đức hạnh trong sạch: Anaticari (p)—Pure in conduct. 7) Sống đạo đức và thích hợp với thuần phong mỹ tục: Silava (p)—Virtuous and moral. 8) Trau dồi học vấn và kiến thức thâm sâu: Bahussuto (p)—Learned and steeped in knowledge. 9) Hăng say và nhiệt thành: Araddhaviriyo (p)—Arden and zealous. 10) Cảnh giác và lanh lẹ: Upatthita-sati (p)—Mentally alert and nimble. 11) Sáng suốt và khôn ngoan: Pannava (p)—Wise and sagacious.

mười một sắc pháp

Thập Nhất Sắc—The Eleven Form Dharmas: A. Năm căn—Five Faculties: 1) Mắt: Cakshus (skt)—Eyes. 2) Tai: Shrotra (skt)—Ears. 3) Mũi: Ghrana (skt)—Nose. 4) Lưỡi: Jihva (skt)—Tongue. 5) Thân: Kaya (skt)—Body. B. Sáu trần—Six external sense objects or dusts: 1) Sắc trần: Rupa (skt)—Forms. 2) Thanh trần: Shabda (skt)—Sounds. 3) Hương trần: Gandha (skt)—Smells. 4) Vị trần: Rasa (skt)—Tastes or flavors. 5) Xúc trần: Sprashtavya (skt)—Objects of touch. 6) Pháp trần: Dharmayatanikani rupani (skt)—Dharmas pertaining to form.

mười một tâm dẫn đến giác ngộ

Theo Kinh Hoa Nghiêm, có 11 tâm dẫn đến giác ngộ—According to The Avatamsaka Sutra, there are elven minds that lead to enlightenment (desire for enlightenment is really arouse from these minds). 1) Tâm Đại Bi: Maha-karuna-citta (skt)—Mong bảo bọc hết thảy chúng sanh—A great loving heart which is desirous of protecting all beings. 2) Tâm Đại Từ: Maha-maitri-citta (skt)—Luôn luôn muốn làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh—A great compassionate heart which ever wishes for the welfare of all beings. 3) Tâm An Lạc: Sukha-citta (skt)—Mong làm cho kẻ khác hạnh phúc, vì thấy họ chịu đựng đủ mọi hình thức khổ não—The desire to make others happy, which comes from seeing them suffer all forms of pain. 4) Tâm Lợi Ích: Hita-citta (skt)—Mong làm lợi ích cho kẻ khác, cứu rỗi họ thoát khỏi những hành vi sai quấy và tội lỗi—The desire to benefit others, and to deliver them from evils and wrong deeds. 5) Tâm Ai Mẫn: Daya-citta (skt)—Mong bảo bọc hết thảy chúng sanh thoát khỏi những tâm tưởng khốn quẫn—A sympathetic heart which desires to protect all beings from tormenting thoughts. 6) Tâm Vô Ngại: Asamga-citta (skt)—Muốn dẹp bỏ tất cả chướng ngại cho kẻ khác—An unimpeded heart which wishes to see all the impediments removed for others. 7) Tâm Quảng Đại: Vaipula-citta (skt)—Tâm đầy khắp cả vũ trụ—A large heart which fills the whole universe. 8) Tâm Vô Biên: Ananta-citta (skt)—Tâm vô biên như hư không—An endless heart which is like space. 9) Tâm Vô Cấu Nhiễm: Vimala-citta (skt)—Tâm thấy hết thảy chư Phật—A spotless heart which sees all the Buddhas. 10) Tâm Thanh Tịnh: Visuddha-citta (skt)—Tâm ứng hợp với trí tuệ của quá khứ, hiện tại, và vị lai—A pure heart which is in conformity with the wisdom of the past, present, and future. 11) Tâm Trí Tuệ: Jnana-citta (skt)—Tâm nhờ đó có thể bước vào biển lớn nhất thiết trí—A wisdom-heart by which one can enter the great ocean of all-knowledge.

mười một điều đức phật dạy về bổn phận của người vợ trong cuộc sống hôn nhân

Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Đức Phật có mười một lời khuyên rất có giá trị cho những người con gái trước khi đi lấy chồng—In the Anguttara Nikaya, the Buddha has eleven valuable advices for girls on their role in their married life: 1) Không nên nuôi tư tưởng tội lỗi đối với chồng: Should not harbour evil thoughts against her husband. 2) Không nên độc ác, thô bạo hay lấn át chồng: Should not be cruel, harsh or domineering. 3) Không nên phung phí mà nên tằn tiện sống trong phạm vi lợi tức kiếm được: Should not be a spendthrift but should be economical and live within her means. 4) Nên canh chừng và gìn giữ tài sản và của cải do người chồng vất vả kiếm được: Should zealously guard and save her husband's property and hard-earned wealth. 5) Luôn luôn đức hạnh và trong sạch trong tâm và hành động: Should always be virtuous and chaste in mind and action. 6) Phải trung thành và không nuôi tư tưởng hay hành động ngoại tình nào: Should be faithful and harbour no thoughts of any adulterous acts. 7) Phải nên cẩn trọng về lời nói và lễ phép trong hành động: Should be refined in speech and polite in action. 8) Phải nên tử tế, cần cù và siêng năng: Should be kind, industrious and hard-working. 9) Phải nên quan tâm và từ bi với chồng và thái độ đối xử với chồng phải như người mẹ thương yêu và bảo vệ đứa con trai của mình: Should be thoughtful and compassionate towards her husband and her attitude should equate that of a mother loving and protecting her son. 10) Phải nên nhũn nhặn và lễ độ: Should be modest and respectful. 11) Phải nên trầm tĩnh, bình tĩnh và hiểu biết phục vụ không những như một người vợ mà cũng như người bạn và người cố vấn cho chồng khi cần thiết: Should be cool, calm and understanding serving not only as a wife but also as a friend and adviser to her husband when the need arises.

mười mục đích thị hiện hàng ma của chư đại bồ tát

theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười mục đích thị hiện hàng ma của chư Đại Bồ Tát—Coording to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten purposes of conquering of demons. 1) Vì chúng sanh đời ngũ trược thích chiến đấu, nên chư Bồ Tát muốn hiển bày sức oai đức mà thị hiện hàng ma: Because sentient beings in times of confusion are bellicose, enlightening beings want to show their spiritual power. 2) Chư Thiên và thế nhơn có những kẻ hoài nghi, vì muốn dứt trừ lòng nghi ngờ cho họ mà thị hiện hàng ma: To cut off the doubts of people in celestial and mundane states who have doubts. 3) Giáo hóa và điều phục chúng ma: To civilize and tame the armies of demons. 4) Vì muốn cho những kẻ thích quân trận trong hàng Thiên nhơn đến xem để tâm họ được điều phục: To cause people who like the military to come and observe demon quelling, so their minds will be subdued. 5) Vì hiển bày oai lực Bồ Tát, trong đời không ai địch nổi: To show that no one in the world can oppose the powers of enlightening beings. 6) Vì muốn phát khởi sức dũng mãnh của tất cả chúng sanh: To arouse the courage and strength of all sentient beings. 7) Vì thương xót chúng sanh trong đời mạt thế: Out of pity for sentient beings of degenerate times. 8) Vì muốn hiển bày ngay đến chốn đạo tràng mà còn có ma quân quấy nhiễu, từ đó về sau mới siêu được cảnh giới ma: To show that even up to the site of enlightenment there are still hordes of demons who come to create disturbance, and only this does one finally manage to get beyond the reach of demons. 9) Vì muốn hiển bày nghiệp dụng của phiền não yếu kém so với đại bi và đức hạnh: To show that the force of afflictions is weak and inferior compared with the mighty power of great compassion and virtue. 10) Tùy thuận pháp hành của thế gian ác trược, mà thị hiện hàng ma: To do what must be done in a polluted, evil world.

mười nghiệp của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghiệp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được nghiệp quảng đại vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of activity of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the supremely great activity of Buddhas. 1) Tất cả thế giới nghiệp, vì đều có thể trang nghiêm thanh tịnh: Activity related to all worlds, able to purify them all. 2) Tất cả chư Phật nghiệp, vì đều có thể cúng dường: Activity related to all Buddhas, able to provide offerings to them all. 3) Tất cả Bồ Tát nghiệp vì đồng gieo thiện căn: Activity related to all enlightening beings, planting the same roots of goodness. 4) Tất cả chúng sanh nghiệp, vì đều có thể giáo hóa: Activity related to all sentient beings, Able to teach and transform them all. 5) Tất cả vị lai nghiệp, vì nhiếp thủ tột thuở vị lai: Activity relating to the future, able to take in the whole future. 6) Tất cả thần lực nghiệp, vì chẳng rời một thế giới đến khắp tất cả thế giới: Activity of all spiritual powers, able to reach all worlds without leaving one world. 7) Tất cả quang minh nghiệp, vì phóng quang minh vô biên màu, trong mỗi quang minh có tòa liên hoa đều có Bồ Tát ngồi kiết già trên đó. Dùng đây để thị hiện: Activity of all light, emanating lights of infinite colors, with an Enlightening Being sitting on a lotus seat appearing in each light beam. 8) Tất cả giống Tam Bảo chẳng đoạn nghiệp, vì sau khi Đức Phật diệt độ thời thủ hộ trụ trì những Phật pháp: Activity perpetuating the lineage of the three treasures, preserving and sustaining the Budhas' teachings after the demise of the Buddhas. 9) Tất cả biến hóa nghiệp, vì ở tất cả thế giới thuyết pháp giáo hóa các chúng sanh: Activity of all miraculous transformations, expounding the truth and teaching the sentient beings in all worlds. 10) Tất cả gia trì nghiệp, ở trong một niệm tùy tâm sở thích của cá chúng sanh đều vì họ mà thị hiện, làm cho tất cả nguyện vọng đều thành mãn: Activity of all empowerments, instantly appearing to sentient beings according to their mental inclinations, causing all aspirations to be fulfilled.

Mười nghiệp lành

xem Mười điều lành.

mười nghiệp lành tạo quả trổ sanh trong dục giới

Ten kinds of good kamma or meritorious actions which may ripen in the sense-sphere—See Thập Thiện Nghiệp (B).

Mười nghiệp ác

xem Mười điều ác.

mười nghĩa của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghĩa của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ tát an trụ trong pháp nầy thời được nhứt thiết trí vô thượng nghĩa—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of principle of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme principle of omniscience. 1) Đa văn nghĩa vì kiên cố tu hành: Principle of great learning, steadfastly putting it into practice. 2) Pháp nghĩa, vì khéo suy gẫm lựa chọn: Principle of truth, skillfully thinking about it and discerning it. 3) Không nghĩa, vì đệ nhứt nghĩa không: Principle of emptiness, the ultimate truth being emptiness. 4) Tịch tịnh nghĩa, vì xa rời những ồn náo của chúng sanh: Principle of silence and calm, being detached from the clamor and confusion of sentient beings. 5) Bất khả thuyết nghĩa, vì chẳng chấp tất cả ngữ ngôn: Principle of inexpressibility, not clinging to words. 6) Như thiệt nghĩa, vì thấu rõ tam thế bình đẳng: Principle of according with truth, realizing that past, present and future are equal. 7) Pháp giới nghĩa, vì tất cả các pháp đồng một vị: Principle of the realm of reality, all things being one in essence. 8) Chơn như nghĩa, vì tất cả Như Lai thuận nhập: Principle of true Thusness, as all who realize Thusness enter it. 9) Thiệt tế nghĩa, vì biết rõ rốt ráo chơn thiệt nghĩa của pháp tối thượng: Principle of the limit of reality, realizing ultimate truth. 10) Đại Bát Niết Bàn nghĩa, vì diệt tất cả khổ để tu những hạnh Bồ Tát: Principle of great ultimate nirvana, extinguishing all suffering yet carrying out the practices of Enlightening Beings.

mười nghĩa mà chư như lai quán sát khi đã thực hành xong phật sự

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nghĩa mà chư Như Lai quán sát khi đã thực hành xong Phật sự. Các Đức Như Lai vì quán sát mười nghĩa nầy nên thị hiện nhập Niết bàn— According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten considerations when Buddhas have done their Buddha-work, they manifest final extinction. These are ten points of consideration because of which the Buddhas manifest ultimate extinction in nirvana. 1) Vì chỉ bày tất cả hành pháp thật là vô thường: To show that all activities are really impermanent. 2) Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng phải là pháp an ổn: To show that all created things are unstable. 3) Vì chỉ bày đại niết bàn là chỗ an ổn, vô bố úy: To show that ultimate nirvana is the abode of peace, without fear. 4) Vì hàng nhơn thiên tham đắm sắc thân, nên vì họ mà thị hiện sắc thân là pháp vô thường, khiến họ phát nguyện trụ pháp thân thanh tịnh: To show those (human and celestial beings) attached to the physical body that the physical body is impermanent, so that they will aspire to dwell in the pure body of reality. 5) Vì chỉ bày sức vô thường không thể chuyển được: To show that the power of impermanence cannot be overturned. 6) Vì chỉ bày tất cả pháp hữu vi chẳng tự tại, chẳng trụ theo tâm: To show that all created things do not remain as one wishes and are not under one's control. 7) Vì chỉ bày tất cả những hiện hữu đều như huyễn hóa, chẳng bền chắc: To show that all existents are like magical productions and are not hard and fast. 8) Vì chỉ bày tánh niết bàn rốt ráo bền chắc, chẳng thể hư hoại: To show that the nature of nirvana is ultimately stable and indestructible. 9) Vì chỉ bày tất cả pháp vô sanh vô khởi, mà có tướng tụ họp và tán hoại: To show that all things have no birth or origin, yet have the appearance of assemblage and dissolution. 10) Một khi chư Phật—Once the Buddhas: a. Thực hành xong Phật sự: Have finished their Buddha-work. b. Bổn nguyện đã mãn: Have fulfilled their vows. c. Đã chuyển xong pháp luân: Have turned the wheel of teaching. d. Người đáng được hóa độ, đều đã hóa độ xong: Have enlightened and liberated those who could be enlightened and liberated. e. Sự thọ ký đã thành, theo pháp phải như vậy nhập nơi bất biến đại niết bàn: Have made predictions of Buddhahood of the enlightening beings who become honored ones, as a matter of course they enter unchanging, great, ultimate nirvana.

mười nguyện thanh tịnh của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 18, có mười nguyện thanh tịnh của chư Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 18, there are ten pure vows of Enlightening Beings. 1) Nguyện thành thục chúng sanh không mỏi nhàm: Vow to develop living beings to maturity, without wearying. 2) Nguyện làm đủ điều lành để nghiêm tịnh thế giới: Vow to fully practice all virtues and purify all worlds. 3) Nguyện thừa sự và tôn kính Như Lai: Vow to serve the enlightened, always engendering honor and respect. 4) Nguyện hộ trì chánh pháp, chẳng tiếc thân mạng: Vow to keep and protect the true teaching, not begrudging their lives. 5) Nguyện dùng trí quán sát vào các Phật độ: Vow to observe with wisdom and enter the lands of the Buddhas. 6) Nguyện cùng các Bồ Tát đồng một thể tánh: Vow to be of the same essence as all Enlightening Beings. 7) Nguyện vào cửa Như Lai và biết rõ các pháp: Vow to enter the door of realization of Thusness and comprehend all things. 8) Nguyện người thấy sanh tín tâm và được lợi lạc: Vow that those who see them will develop faith and all be benefited. 9) Nguyện thần lực trụ thế tận kiếp vị lai: Vow to stay in the world forever by spiritual power. 10) Nguyện đủ Phổ Hiền hạnh tu tập môn nhứt thiết chủng trí: Vow to fulfill the practice of Universal Good and master the knowledge of all particulars and all ways of liberation.

mười nguyện vô ngại dụng của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38)

Ten kinds of unimpeded function relating to vows (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). 1) Đem nguyện của tất cả Bồ Tát làm nguyện của mình: Make the vows of all Enlightening Beings their own vows. 2) Đem nguyện lực thành Bồ Đề của tất cả chư Phật, thị hiện tự mình thành chánh giác: Manifest themselves attaining enlightenment by the power of the vow of attaining of enlightenment of all Buddhas. 3) Tùy chúng sanh được hóa độ, tự mình thành vô thượng chánh đẳng chánh giác: Attain supreme perfect enlightenment themselves in accordance with the sentient beings they are teaching. 4) Đại nguyện chẳng dứt nơi tất cả vô biên tế kiếp: Never end their great vows, throughout all eons, without bounds. 5) Xa lìa thức thân, chẳng chấp trí thân, dùng nguyện tự tại hiện tất cả thân: Detaching from the body of discriminating consciousness and not clinging to the body of knowledge, they manifest all bodies by free will. 6) Xả bỏ thân mình để thành mãn nguyện của người: Give up their own bodies to fulfill the aspirations of others. 7) Giáo hóa khắp chúng sanh mà chẳng bỏ đại nguyện: Edify all sentient beings without giving up their great vows. 8) Ở tất cả các kiếp thực hành Bồ Tát hạnh mà đại nguyện chẳng dứt: Cultivate the deeds of Enlightening Beings in all ages, yet their great vows never end. 9) Nơi một lỗ lông hiện thành chánh giác, do nguyện lực nên đầy khắp tất cả Phật độ. Ở vô lượng thế giới vì mỗi chúng sanh mà thị hiện như vậy: Manifest the attainment of true enlightenment in a minute point (a pore), pervade all Buddha-landsby the power of vowing, and show this to each and every sentient beings in untold worlds. 10) Nói một câu pháp khắp tất cả pháp giới, nổi mây lớn chánh pháp, chói điển quang giải thoát, nổ tiếng sấm thiệt pháp, rưới mưa vị cam lồ, dùng nguyện lực lớn thấm nhuần khắp tất cả chúng sanh giới: Explain a phrase of teaching, throughout all universes, raising great clouds of true teaching, flashing the lightning of liberation, booming the thunder of truth, showering the rain of elixir of immortality, fulfilling all sentient beings by the power of great vows.

mười ngữ ngôn của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười ngữ ngôn của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được vi diệu ngữ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of speech of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme subtle speech of Buddhas. 1) Nhu nhuyễn ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều an ổn: Gentle speech, causing all sentient beings to be calm. 2) Cam lồ ngữ, vì làm cho tất cả chúng sanh đều thanh lương: Sweet elixir speech, causing all sentient beings to be clear and cool. 3) Bất cuống ngữ, vì bao nhiêu lời nói đều chân thật: Nondeceptive speech, everything they say being true. 4) Chơn thiệt ngữ, vì nhẫn đến trong chiêm bao cũng không vọng ngữ: Truthful speech, not lying even in dreams. 5) Quảng đại ngữ, vì khắp tất cả chư thiên đều tôn kính: Great speech, being honored by all the gods. 6) Thậm thâm ngữ, vì hiển thị pháp tánh: Profound speech, revealing the essence of things. 7) Kiên cố ngữ, vì thuyết pháp vô tận: Steadfast speech, expounding truth inexhaustibly. 8) Chánh trực ngữ, vì phát ngôn dễ hiểu: Straightforward speech, their statements being easy to understand. 9) Chủng chủng ngữ, vì tùy thời thị hiện: Various speech, being spoken according to the occasion. 10) Khai ngộ tất cả chúng sanh ngữ, vì tùy theo chỗ dục lạc của họ mà làm cho họ hiểu rõ: Speech enlightening all sentient beings, enabling them to understand according to their inclinations.

mười nhân duyên khiến bồ tát phát tâm bồ đề

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười nhơn duyên phát tâm Bồ Đề của Đại Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of causes of Great Enlightening Beings's development of the will for enlightenment. 1) Vì giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to educate and civilize all sentient beings. 2) Vì diệt trừ tất cả khổ cho chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to remove the mass of suffering of all sentient beings. 3) Vì ban cho tất cả chúng sanh sự an lạc mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to bring complete peace and happiness to all sentient beings. 4) Vì dứt sự ngu si của tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to eliminate the delusion of all sentient beings. 5) Vì ban Phật trí cho tất cả chúng sanh mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to bestow enlightened knowledge on all sentient beings. 6) Vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to honor and respect all Buddhas. 7) Vì thuận theo Phật giáo cho chư Phật hoan hỷ mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to follow the guidance of the Buddhas and please them. 8) Vì thấy sắc tướng hảo của tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to see the marks and embellishments of the physical embodiments of all Buddhas. 9) Vì nhập trí huệ quảng đại của tất cả Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to comprehend the vast knowledge and wisdom of all Buddhas. 10) Vì hiển hiện lực vô úy của tất cả chư Phật mà phát tâm Bồ Đề: They become determined to reach enlightenment to manifest the powers and fearlessnesses of the Buddhas.

mười nhân duyên khiến chúng sanh phát tâm bồ đề

Nếu chúng ta không phát Bồ Đề tâm một cách cao rộng, và không phát nguyện một cách kiên cố, chúng ta sẽ mãi mãi lăn trôi trong vòng luân hồi sanh tử trong vô lượng kiếp. Cho dù chúng ta có chịu tu hành đi nữa, cũng chỉ là phí công vô ích. Vì vậy chúng ta nên luôn nhận rõ rằng tu theo Phật, là phải rộng phát tâm Bồ Đề ngay chứ không chần chừ. Theo Kinh A Di Đà, “Người thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, không thể sanh về cõi nước Cực Lạc được.” Muốn được nhiều căn lành không chi hơn là phát tâm Bồ Đề; muốn được nhiều phước đức không chi hơn là trì danh hiệu Phật. Nhiếp tâm niệm Phật giây phút hơn bố thí nhiều năm, chân thật phát lòng Bồ Đề hơn tu hành nhiều kiếp. Giữ chắc hai nhân duyên nầy, quyết định được vãng sanh Cực Lạc. Trong “Phát Bồ Đề Tâm Văn,” Đại Sư Tỉnh Am đã khuyên tứ chúng nên nghĩ đến mười nhân duyên khiến chúng sanh phát tâm Bồ Đề như sau—If we do not develop the broad and lofty Bodhi Mind and do not make firm and strong vows, we will remain as we are now, in the wasteland of Birth and Death for countless eons to come. Even if we were to cultivate during that period of time, we would find it difficult to persevere and would only waste our efforts. Therefore, we should realize that in following Buddhism, we should definitely develop the Bodhi Mind without delay. According to The Amitabha Sutra, “You cannot hope to be reborn in the Pure Land with little merit and virtue and few causes and conditions or good roots. Therefore, you should have numerous merits and virtues as well as good roots to qualify for rebirth in the Pure Land. However, there is no better way to plant numerous good roots than to develop the Bodhi Mind, while the best way to achieve numerous merits and virtues is to recite the name of Amitabha Buddha. A moment of singleminded recitation surpasses years of praticing charity; truly developing the Bodhi Mind surpasses eons of cultivation. Holding firmly to these two causes and conditions assures rebirth in the Pure Land.” In the commentary of “Developing the Bodhi Mind,” Great Master Hsing-An encouraged the fourfold assembly to remember ten causes and conditions when developing the Bodhi Mind as follows: 1) Vì nghĩ đến ân Phật: Owing to our debt to the Buddha. 2) Vì công ân cha mẹ: Owing to our debt to the parents. 3) Vì nhớ ân sư trưởng: Owing to our debt to the teachers. 4) Vì tưởng ân tín thí đàn na: Owing to our debt to the benefactors. 5) Vì biết ân chúng sanh: Owing to our debt to other sentient beings. 6) Vì lo khổ sanh tử: Owing to our concerns about sufferings of Birth and Death. 7) Vì tôn trọng tánh linh: Owing to the respect for our Self-Nature. 8) Vì sám trừ nghiệp chướng: Owing to the repentance and elimination of evil karma. 9) Vì hộ trì Chánh Pháp: Owing to upholding the correct Dharma. 10) Vì cầu sanh Tịnh Độ: Owing to seeking rebirth in the Pure Land. ** For more information, please Tám Cách Phát Bồ Đề Tâm, and Mười Lý Do Phát Tâm Bồ Đề.

mười như thiệt trụ nơi vô thượng bồ đề

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười thứ như thiệt trụ nơi vô thượng Bồ Đề. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ bửu vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of jewel-like state in unexcelled complete perfect enlightenment. Enlightening Beings who abide by these can attain the jewel of supreme great knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Như thiệt trụ thứ nhất—The first jewel-like state: a. Chư Đại Bồ Tát đều có thể qua đến chỗ chư Phật nơi vô số thế giới: They go to the Buddhas in countless worlds. b. Chiêm ngưỡng chư Phật: Behold all Buddhas. c. Hầu hạ chư Phật: Pay obeisance to all Buddhas. d. Tôn vinh và cúng dường chư Phật: Serve and honor all Buddhas with offerings. 2) Như thiệt trụ thứ nhì—The second jewel-like state: a. Ở chỗ bất tư nghì của chư Phật lắng nghe chánh pháp: Listen to true teaching from inconceivably many Buddhas. b. Thọ trì ghi nhớ không để quên mất chánh pháp: Absorb and remember the true teaching. c. Phân biệt và tư duy chánh pháp: Analyze and ponder the true teaching. d. Tăng trưởng sự tỉnh giác và trí huệ: Increase in awareness and wisdom. e. Thực hành chánh pháp khắp mọi nơi: Carry out the true teaching everywhere. 3) Như thiệt trụ thứ ba—The third jewel-like state: Mất nơi cõi nầy mà hiện sanh nơi cõi khác, mà với Phật pháp không mê lầm—Disappear from this land and appear to be born elsewhere, yet have no confusion about the Buddha teaching. 4) Như thiệt trụ thứ tư—The fourth jewel-like state: a. Biết từ một pháp xuất sanh tất cả pháp bởi những nghĩa của tất cả pháp rốt ráo đều là một nghĩa: Know how to elicit all principles from one principle, for the various meanings of all principles are ultimately all one meaning. b. Có khả năng riêng biệt diễn thuyết từng pháp một: Be able to analyze and explain each of the principles. 5) Như thiệt trụ thứ năm—The fifth jewel-like state: a. Biết nhàm lìa phiền não: Know how to reject afflictions. b. Biết ngăn dứt phiền não: Know how to stop afflictions. c. Biết phòng hộ phiền não: Know how to prevent afflictions. d. Biết đoạn trừ phiền não: Know how to exterpate afflictions. e. Tu hạnh Bồ Tát: Cultivate the practices of Enlightening Beings. f. Chẳng chứng pháp tuyệt đối, nhưng rốt ráo đáo bỉ ngạn: Do not experience absolute truth but ultimately arrive at the further shore of ultimate truth. g. Với phương tiện thiện xảo chư Bồ Tát học giỏi những cái cần học: With expedient skill they learn well what is to be learned. h. Làm cho hạnh nguyện xưa đều được thành mãn: Cause their past vows to reach fulfillment. i. Thân chẳng mỏi nhọc: Without physical fatigue. 6) Như thiệt trụ thứ sáu—The sixth jewel-like state: a. Dầu biết rằng những tâm phân biệt của chư Bồ Tát đều không có xứ sở, mà vẫn nói có những phương xứ để làm thêm phương tiện cứu độ chúng sanh: Know that all objects of mental discriminations of Enlightening Beings have no locations, yet they still say there are various locations to make more means to save sentient beings. b. Dầu không phân biệt, không tạo tác, nhưng vì muốn điều phục tất cả chúng sanh, nên có tu hành có sở tác: Though they have no discrimination and do not create anything, yet because they want to tame all sentient beings, they do cultivate practices and do act. 7) Như thiệt trụ thứ bảy—The seventh jewel-like state: a. Biết tất cả tánh đều đồng một tánh, nghĩa là—Know all things are of one and the same essence, which is: • Vô tánh: No essence. • Không các thứ tánh: No variety. • Không vô lượng tánh: No infinity. • Không khả toán sổ tánh: No calculability. • Không khả xứng lượng tánh: No measurability. • Không sắc: No form. • Không tướng: No characteristics. • Hoặc một hoặc nhiều đều bất khả đắc: Whether one or many, all are ungraspable. b. Quyết định những điều trên đây là—Know for certain all of the above are the norms of: • Đây là Phật pháp: Buddhas' teachings. • Đây là Bồ Tát pháp: Enlightening beings'. • Đây là Độc giác pháp: Individual illuminates'. • Đây là Thanh văn pháp: Hearers'. • Đây là phàm phu pháp: Ordinary people's. • Đây là thiện pháp: What things are good. • Đây là bất thiện pháp: What things are not good. • Đây là thế gian pháp: What is mundane. • Đây là xuất thế gian pháp: What is supramundane. • Đây là pháp lỗi lầm: What is error. • Đây là pháp không lỗi lầm: What is without error. • Đây là pháp hữu lậu: What is contaminated. • Đây là pháp vô lậu: What is uncontaminated. • Đây là pháp hữu vi: What is compounded. • Đây là pháp vô vi: What is uncompounded. 8) Như thiệt trụ thứ tám—The eighth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát thấy rằng—Great enlightening beings find that: a. Cầu Phật bất khả đắc: The Buddhas cannot be grasped. b. Cầu Bồ Tát bất khả đắc: Enlightening Beings cannot be grasped. c. Cầu pháp bất khả đắc: Phenomena cannot be grasped. d. Cầu chúng sanh bất khả đắc: Sentient beings cannot be grasped. (B) Dầu vậy chư Đại Bồ Tát vẫn không—Great Enlightening Beings do not: a. Chẳng bỏ nguyện điều phục chúng sanh: Give up the vow to tame sentient beings. b. Khiến cho chúng sanh nơi các pháp mà đạt thành chánh giác: Enable sentient beings to attain true enlightenment. (C) Tại sao?—Why? a. Vì chư Đại Bồ Tát khéo quán sát: Great enlightening beings are skillful observers. b. Biết tất cả chúng sanh tâm tánh phân biệt: Know the mentalities of all sentient beings. c. Biết tất cả cảnh giới của chúng sanh: Know the perspective of all sentient beings. d. Tùy phương tiện hóa đạo khiến chúng sanh đạt được Niết bàn: Guide sentient beings accordingly, so that they can attain nirvana. (D) Hoàn mãn nguyện giáo hóa chúng sanh bằng cách mạnh mẽ tu hành Bồ Tát hạnh: They practice the deeds of Enlightening Beings zealously in order to fulfill their vow to enlighten sentient beings. 9) Như thiệt trụ thứ chín—The ninth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát biết thiện xảo thuyết pháp, thị hiện niết bàn. Vì độ chúng sanh nên bao nhiêu phương tiện đã có, tất cả đều là tâm tưởng kiến lập, chẳng phải điên đảo, cũng chẳng hư dối: Great Enlightening Beings know that tactful instructions, manifestation of nirvana, and all means of liberating sentient beings are construed by mind and thought, and are not aberrant or false. (B) Bồ Tát biết rõ các pháp tam thế bình đẳng, như như bất động vô trụ: Enlightening Beings realize that all things are equal in all times, they do not move from Thusness, yet do not abide in ultimate truth. (C) Chư Bồ Tát chẳng thấy có một chúng sanh đã được hóa độ, sẽ được hóa độ hay nay được hóa độ: Enlightening Beings do not see there are any sentient being who ever have received, will receive or do receive teaching. (D) Chư Bồ Tát biết rõ—Enlightening Beings know: a. Không chỗ tu hành nơi chính họ: Themselves have nothing to practice. b. Không có chút pháp gì hoặc sanh hoặc diệt mà có thể được: There being nothing at all born or persihing that can be grasped. c. Như vẫn nương nơi tất cả pháp khiến sở nguyện chẳng luống không: They still cause their vows not to be in vain by means of all things. 10) Như thiệt trụ thứ mười—The tenth jewel-like state: (A) Chư Đại Bồ Tát nơi bất khả tư nghì vô lượng chư Phật, ở chỗ mỗi Đức Phật nghe vô lượng thọ ký danh hiệu đều khác, kiếp số chẳng đồng: Great Enlightening Beings hear from countless Buddhas predictions of future Buddhas, each with different names, living in different ages. (B) Từ một kiếp nhẫn đến vô lượng kiếp, chư Bồ Tát thường nghe như vậy, nghe rồi tu hành chẳng kinh chẳng sợ, chẳng mê chẳng hoặc vì—They listen to this for untold eons and, having heard, cultivate practice, not startled or frightened, not lost or confused because: a. Biết Phật trí bất khả tư nghì: Enlightening Beings know the knowledge of Buddhas is inconceivable. b. Như Lai thọ ký không hai lời: The predictions of the Buddhas have no ambiguity in their words. c. Tự thân hạnh nguyện sức thù thắng: The extraordinary power of their own active commitment. d. Tùy nghi thọ hóa khiến vô thượng Bồ Đề thành mãn tất cả nguyện đồng pháp giới: Foster perfect enlightenment in all who are capable of being taught, fulfilling all their vows, equal in extent to the cosmos.

Mười nhất thiết nhập

(Thập nhất thiết nhập), cũng gọi là Mười pháp nhất thiết xứ, Thập nhất thiết xứ hay Thập biến xứ, chỉ cảnh giới của hành giả khi tư tưởng có thể biến hiện khắp mọi cảnh giới. Nếu kể chi tiết thì bao gồm Địa nhất thiết nhập xứ, Thủy nhất thiết nhập xứ, Hỏa nhất thiết nhập xứ, Phong nhất thiết nhập xứ, Thanh nhất thiết nhập xứ, Hoàng nhất thiết nhập xứ, Xích nhất thiết nhập xứ, Bạch nhất thiết nhập xứ, Không nhất thiết nhập xứ và Thức nhất thiết nhập xứ. Tuy nhiên, nói khái quát thì có thể hiểu là do một tư tưởng có thể biến hiện khắp nơi, không phân biệt phương hướng nên gọi là nhất thiết nhập xứ.

mười nhất thiết trí mà chư phật hằng truï

Mười điều trụ nơi nhứt thiết trí của chư Phật (Kinh Hoa nghiêm—Phẩm 38)—Ten stations of omniscience of all Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chpater 38). 1) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm tất cả chúng sanh và tâm sở hành trong tam thế: All Buddhas instantly know the minds and mental patterns of all sentient beings of past, present and future. 2) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh chứa nhóm các nghiệp và nghiệp báo: All Buddha instantly know the acts and the resulting consequences of those acts amassed by all sentient beings in the past, present and future. 3) Chư Phật trong một niệm đều biết tất cả chúng sanh tùy sở nghi mà dùng tam luân giáo hóa điều phục: All Buddhas instantly know the needs of all sentient beings and teach and civilize them by means of correct diagnosis, prescription, and occult influence. 4) Điều trụ nơi nhứt thiết trí thứ tư—The fourth station of omniscience: a. Chư Phật ở trong một niệm biết hết pháp giới tất cả chúng sanh chỗ có tâm tướng: All Buddhas instantly know the mental characteristics of all sentient beings in the cosmos. b. Ở tất cả xứ khắp hiện Phật xuất thế: Manifest the emergence of Buddhas in all places. c. Khiến những chúng sanh nầy đều được phương tiện nhiếp thọ: Take those beings into their care by expedient means. 5) Chư Phật ở trong một niệm tùy khắp tâm nhạo dục giải của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà thị hiện thuyết pháp cho họ được điều phục: All Buddhas instantly manifest expositions of teaching according to the mental inclinations, desires, and understanding of all sentient beings in the cosmos, causing them to become civilized. 6) Chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm sở thích của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà vì đó hiện thần lực: All Buddhas instantly know the inclinations of the minds of all sentient beings in the cosmos and manifest spiritual powers for them. 7) Chư Phật ở trong một niệm khắp tất cả chỗ tùy theo tất cả chúng sanh đáng được hóa độ mà thị hiện xuất thế, vì họ mà nói thân Phật chẳng nên thủ trước: All Buddhas instantly manifest appearance in all places according to all the sentient beings who may be taught, and explain to them that the embodiment of Buddha is not graspable. 8) Chư Phật ở trong một niệm đến khắp pháp giới tất cả chỗ, tất cả chúng sanh, tất cả lục đạo: All Buddhas instantly reach all places in the cosmos, all sentient beings, and their particular paths. 9) Chư Phật ở trong một niệm tùy các chúng sanh có ai nhớ tưởng, không chỗ nào mà chư Phật không đến: All Buddhas instantly go in response to any beings who think of them, wherever they may be. 10) Chư Phật ở trong một niệm đều biết chỗ hiểu và ý muốn của tất cả chúng sanh, và vì họ mà thị hiện vô lượng sắc thân: All Buddhas know the understanding and desires of all sentient beings and manifest immeasurable physical forms for their benefit.

mười niệm niệm xuất sanh trí của chư phật

Mười thứ niệm niệm xuất sanh trí của chư Phật (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 33)—Ten kinds of instantly creative knowledge of the Buddhas (The Flower Adornment Sutra—Chpater 33). 1) Trong một niệm, tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, từ cõi trời giáng xuống: All Buddhas ca, in a single instant, appear to descend from heaven in infinite worlds. 2) Trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, Bồ Tát thọ sanh: All Buddhas can, in a single instant, manifest birth as Enlightening Beings in infinite worlds. 3) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, xuất gia học đạo: Manifest renunciation of the mundane and study of the way to liberation in infinite worlds. 4) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới, dưới cội Bồ Đề thành Chánh Đẳng Chánh Giác: Manifest attainment of true enlightenment under enlightenment trees in infinite worlds. 5) Tất cả chư Phật hay thị hiện vô lượng thế giới chuyển diệu pháp luân: Manifest turning the wheel of the Teaching in infinite worlds. 6) Tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, giáo hóa chúng sanh, cúng dường chư Phật: Manifest education of sentient beings and service of the enlightened in infinite worlds. 7) Tất cả chư Phật trong một niệm, đều hay thị hiện vô lượng thế giới, bất khả thuyết nhiều loại thân Phật: All Buddhas, in a single instant, manifest untold variety of Buddha-bodies in infinite worlds. 8) Tất cả chư Phật, trong một niệm, thị hiện vô lượng thế giới, nhiều thứ trang nghiêm, vô số trang nghiêm, tất cả trí tạng tự tại của Như Lai: All Buddhas can, in a single instant, manifest all kinds of adornments in infinite worlds, innumerable adornments, the freedom of the enlightened, and the treasury of omniscience. 9) Tất cả chư Phật, trong một niệm, đều thị hiện vô lượng thế giới, vô lượng vô số chúng sanh thanh tịnh: All Buddhas can, in a single instant, manifest countless of pure beings in infinite worlds. 10) Trong một niệm, tất cả chư Phật—All Buddhas can, in a single instant: a. Đều hay thị hiện vô lượng tam thế chư Phật: Manifest the Buddhas of past, present and future in infinite worlds. b. Nhiều loại căn tánh: With various faculties and characters. c. Nhiều cách tinh tấn: Various energies. d. Nhiều thứ hạnh giải: Various practical understandings. e. Ở trong tam thế thành Chánh Đẳng Chánh Giác: Attaining true enlightenment in the past, present and future.

mười niệm vãng sanh

Khi lâm chung mà còn tự tại niệm được mười niệm thành tựu, tức là được vãng sanh—At the time of death, one will achieve rebirth in the Pure Land with only ten perfect utterances.

mười pháp biến hóa của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp biến hóa của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đầy đủ tất cả các pháp biến hóa vô thượng—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of magical displays of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can acquire all means of supreme magical displays. 1) Tất cả chúng sanh biến hóa: Magical display of all sentient beings. 2) Tất cả thân biến hóa: Magical display of all bodies. 3) Khắp các cõi biến hóa: Magical display of all lands. 4) Tất cả cúng dường biến hóa: Magical display of gifts. 5) Tất cả âm thanh biến hóa: Magical display of all voices. 6) Tất cả hạnh nguyện biến hóa: Magical display of all practical undertakings. 7) Tất cả giáo hóa và điều phục chúng sanh biến hóa: Magical display of education and civilization of sentient beings. 8) Tất cả thành chánh giác biến hóa: Magical display of all attainment of true enlightenment. 9) Tất cả thuyết chân pháp biến hóa: Magical display of explanation of all truth. 10) Tất cả gia trì biến hóa: Magical display of all empowerments.

mười pháp biết tam thế của chư bồ tát

Mười pháp biết tam thế của chư Bồ Tát được Phật giảng trong Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm 38—Ly Thế Gian)—Enlightening beings know all things in all times—Chư Bồ Tát biết tất cả những pháp trong tam thế—Ten ways of knowing the worlds of past, present and future of all Enlightening Beings mentioned by the Buddha in The Flower Adornment Sutra (Chapter 38—Detachment from The World): 1) Biết những an lập: They know their definitions. 2) Biết những ngôn ngữ: They know their speech. 3) Biết những luận nghị: They know their deliberations. 4) Biết những quy tắc: They know their rules. 5) Biết những xưng tán: They know their appellations. 6) Biết những chế lịnh: They know their orders. 7) Biết những giả danh: They know their provisional names. 8) Biết kia vô tận: They know their endlessness. 9) Biết kia tịch diệt: They know their quiescence. 10) : Biết tất cả là “không.”—They know their total emptiness.

Mười pháp bất thiện

xem Mười điều ác.

mười pháp chư đại bồ tát đạt được khi trụ vào vô ngại luân tam muội

Mười pháp mà chư Bồ Tát đạt được khi trụ vào Vô Ngại luân Tam muội. Đại Bồ Tát trụ trong tam muội nầy thời được mười pháp đồng tam thế chư Phật—Ten things that Enlightening Beings attain when they abide in the Unimpeded wheel concentration (The Flower Adornment Sutra—Chapter 27). Great enlightening beings in this concentration attain ten things that are the same as in all Buddhas, past, present and future. 1) Được tướng hảo trang nghiêm đồng với chư Phật: They acquire the same variegated arrays of marks and refinements as all Buddhas. 2) Phóng đại quang minh thanh tịnh đồng với chư Phật: They are able to emanate networks of pure light, the same as all Buddhas. 3) Thần thông biến hóa điều phục chúng sanh đồng với chư Phật: They perform miracles and displays of spiritual power to attune and pacify sentient beings, the samw as all Buddhas. 4) Sắc thân vô biên, thanh âm thanh tịnh đồng với chư Phật: Their boundless physical bodies and universal voices are the same as those of all Buddhas. 5) Tùy chúng sanh nghiệp mà hiện tịnh cõi Phật đồng với chư Phật: They manifest pure Buddha-lands according to the action of sentient beings, the same as all Buddhas. 6) Bao nhiêu ngôn ngữ của tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp trì chẳng quên chẳng mất đồng với chư Phật: They are able to remember the speech of all sentient beings. 7) Biện tài vô tận tùy tâm chúng sanh mà chuyển pháp luân cho họ sanh trí huệ đồng với chư Phật: With inexhaustible intellectual powers they teach in accord with the mentalities of sentient beings, developing wisdom in them, the same as all Buddhas. 8) Đại sư tử hống không khiếp sợ, dùng vô lượng pháp khai ngộ chúng sanh đồng với chư Phật: Their lion's roar is fearless as they enlighten living beings by innumerable teachings, the same as all Buddhas. 9) Trong khoảng một niệm dùng đại thần thông vào khắp tam thế đồng với chư Phật: By great spiritual power they enter past, present and future in a single instant, the same as all Buddhas. 10) Khắp khai thị cho tất cả chúng sanh chư Phật trang nghiêm, chư Phật oai lực, chư Phật cảnh giới, đồng với chư Phật: They are able to show all sentient beings the adornment of all Buddhas, the powers of all Buddhas, and the states of all Buddhas, the same as all Buddhas.

mười pháp chẳng bỏ tâm thâm đại của chư bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38—ly thế gian)

Ten kinds of profound great determinations that enlightening beings do not abandon (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38—Detachment from the World)—Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời chẳng bỏ tất cả Phật pháp—Enlightening Beings who abide by these will be able not to abandon all principles of Buddhahood. 1) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thành tựu viên mãn tất cả Phật Bồ Đề: They do not abandon the profound great determination to fullfil the enlightenment that all Buddhas realize. 2) Chẳng bỏ tâm thâm-đại giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh: To edify and civilize all sentient beings. 3) Chẳng bỏ tâm thâm-đại chẳng dứt chủng tánh của Phật: To perpetuate the lineage of Buddhas. 4) Chẳng bỏ tâm thâm-đại gần gủi tất cả thiện tri thức: To associate with all good spiritual friends. 5) Chẳng bỏ tâm thâm-đại cúng dường tất cả chư Phật: To honor and service all Buddhas. 6) Chẳng bỏ tâm thâm-đại chuyên cầu tất cả pháp công đức đại thừa: To wholeheartedly seek all the virtuous qualities of the Great Vehicle of universal salvation. 7) Chẳng bỏ tâm thâm-đại ở chỗ chư Phật tu phạm hạnh, hộ trì tịnh giới: To cultivate religious practice in the company of all Buddhas and maintain pure conduct. 8) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thân cận tất cả Bồ Tát: To associate with all enlightening beings. 9) Chẳng bỏ tâm thâm đại cầu tất cả Phật pháp phương tiện hộ trì: To seek the means of applying and preserving all Buddha teachings. 10) Chẳng bỏ tâm thâm-đại thành nguyện tất cả Bồ Tát hạnh nguyện, chứa nhóm tất cả Phật pháp: To fulfill all practices and vows of Enlightening Beings and develop all qualities of Buddhahood.

mười pháp của chư đại bồ tát

Ten kinds of laws of Great Enlightening Beings. (A) Mười pháp (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 36). Chư Đại Bồ Tát muốn mau đầy đủ hạnh Bồ Tát phải siêng tu mười pháp nầy—Ten principles (The Flower Adornment Sutra—Chpater 36). Great Enlightening Beings who want to quickly fulfill the pactices of enlightening beings shold diligently practice these ten principles. 1) Tâm chẳng xa bỏ tất cả chúng sanh: In their mind they should not abandon sentient beings. 2) Đối với chư Bồ Tát phải xem như Phật: They should think of Enlightening Beings as Buddhas. 3) Trọn chẳng hủy báng Phật pháp: They should never slander any teachings of the Buddhas. 4) Biết các quốc độ không cùng tận: They should know that there is no end to different lands. 5) Rất có lòng tin mến nơi Bồ Tát hạnh: They should be profoundly devoted to enlightening practices. 6) Chẳng bỏ tâm bình đẳng hư không pháp giới Bồ Đề: They should not give up the cosmic, spacelike, impartial mind of enlightenment. 7) Quán sát Bồ Đề nhập Như Lai: They should contemplate enlightenment and enter the power of Buddhas. 8) Siêng năng tu tập vô ngại biện tài: They should cultivate unobstructed intellectual and expository powers. 9) Giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi: They should teach unenlightened beings tirelessly. 10) Trụ nơi tất cả thế giới mà tâm không nhiễm trước: They should live in all worlds without attachment in their minds. (B) Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp nầy thời được pháp quảng đại vô thượng của Đức Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of law of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these ten laws can attain the supremely great law of Buddhas. 1) Chơn thiệt pháp, vì như thuyết tu hành: The law of truth, practicing what they teach. 2) Pháp thứ hai, ly thủ pháp—The second law of detachment from clinging: a. Lìa năng thủ: Detaching from the clinger. b. Lìa sở thủ: Detaching from that which is clung to. 3) Vô tránh pháp, vì không mê lầm gây gỗ: The law of noncontention, being free from all confusing conflicts. 4) Tịch diệt pháp, vì trừ diệt tất cả nhiệt não: The law of silent extinction, extinguishing all irritations. 5) Ly dục pháp, vì tất cả tham dục đều dứt trừ: The law of dispassion, all covetousness being ended. 6) Vô phân biệt pháp, vì dứt hẳn phan duyên phân biệt: The law of freedom from false notions, all arbitrary conceptualization clinging to objects permanently ceasing. 7) Vô sanh pháp, vì dường như hư không bất động: The law of birthlessness, being immovable as space. 8) Vô vi pháp, vì lìa những tướng sanh trụ diệt: The law of uncreated, being detached from appearances of origin, subsistence, and anihilation. 9) Bổn tánh pháp, vì tự tánh vô nhiễm thanh tịnh: The law of basic essence, being inherently pure. 10) Xả bỏ tất cả Niết bàn hữu dư, vì hay sanh tất cả Bồ Tát hạnh tu tập chẳng dứt: The law of abandoning all nirvana in which there is still suffering, to be able to generate all practices of Enlightening Beings and carry them uninterruptedly. (C) Đại Bồ Tát nói mười pháp (Kinh Hoa nghiêm—Phẩm 38). Chư Đại Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được pháp xảo thuyết vô thượng của Như Lai—Ten kinds of teaching expounded by Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can accomplish the supremely skillful preaching of the Buddhas. 1) Nói pháp thậm thâm: The teaching of profundity. 2) Nói pháp quảng đại: The teaching of enormity. 3) Nói các loại pháp: The teaching of variegation. 4) Nói pháp nhứt thiết trí: The teaching of omniscience. 5) Nói pháp tùy thuận Ba La Mật: The teaching of following the ways of transcendence. 6) Nói pháp xuất sanh Như Lai lực: The teaching of generating the powers of the enlightened. 7) Nói pháp tam thế tương ưng: The teaching of the interrelation of past, present and future. 8) Nói pháp làm cho Bồ Tát chẳng thối chuyển: The teaching of causing enlightening beings not to be regress. 9) Nói pháp tán thán công đức Phật: The teaching of praising the virtues of Buddhas. 10) Nói pháp tất cả Bồ Tát học tất cả những khoa học của chư Bồ Tát: The teaching of the sciences of all Enlightening Beings.

Mười pháp lành

xem Mười điều lành.

Mười pháp nhất thiết xứ

xem Mười nhất thiết nhập.

mười pháp đại hoan hỷ và an ủi của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp đại hoan hỷ và an ủi của chư đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được trí huệ đại hoan hỷ và an ủi vô thượng chánh đẳng chánh giác—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of great joy and solace of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain unexcelled great joy and solace of the knowledge and wisdom of true enlightenment. 1) Tột đời vị lai có bao nhiêu chư Phật xuất thế đều được theo gần hầu hạ làm cho chư Phật hoan hỷ; suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy: Determined to follow, serve, and please all Buddhas that emerge in the world throughout the futue; thinking of this, they become very happy. 2) Đem đồ cúng dường vô thượng mà cung kính dâng lên chư Phật: Determined to honor those Buddhas with the best offerings. 3) Ở chỗ chư Phật, lúc cúng dường chư Như Lai đó tất dạy chánh pháp cho tôi, tôi đều dùng thâm tâm cung kính nghe nhận, tu hành đúng theo lời Phật dạy, nơi bực Bồ Tát tất được đã sanh, nay sanh, sẽ sanh. Suy nghĩ như vậy tâm rất hân ủy: Determined to make offerings to those Buddhas, they will surely teach me, and I will faithfully listen with respect and practice according to the teaching, and will surely always be born in the state of Enlightening Beings, and thinking this, they become very happy. 4) Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành Bồ Tát hạnh, thường cùng tất cả chư Phật Bồ Tát ở chung: Determined to carry out the practices of Enlightening Beings for untold eons and always be with the enlightening beings and Buddhas. 5) Thuở chưa phát tâm Bồ Đề, có những nỗi lo sợ, sợ chẳng sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa vào ác đạo, sợ oai đức của đại chúng, vân vân. Từ khi một phen phát tâm thời đều xa lìa chẳng còn kinh sợ. Tất cả chúng ma và các ngoại đạo không phá hoại được: The fears I had in the past before I set my heart on supreme enlightenment, fear of not being able to live, fear of bad reputation, fear of death, fear of falling into miserable conditions, fear of the authority of the crowd, and so on, have all gone since I set my mind on enlightenment, so that I no longer fear, am not afraid, cannot be intimidated, and cannot be hurt by any demons or cultists. 6) Làm cho Tất cả chúng sanh thành vô thượng Bồ Đề. Thành Bồ Đề rồi, tôi sẽ từ nơi đức Phật đó tu hạnh Bồ Tát, trọn đời dùng lòng tin lớn sắm sửa những đồ đáng cúng dường chư Phật để dâng cúng. Sau khi chư Phật nhập diệt, tôi đều dựng vô lượng tháp để cúng dường xá lợi và thọ trì thủ hộ pháp của Phật để lại: Determined to enable all sentient beings to attain supreme enlightenment; after they attain enlightenment, I shall cultivate the practices of Enlightening Beings in the company with those Buddhas for as long as they live, faithfully provide them with offerings appropriate to Buddhas, and after they pass away, set up innumerable monuments to each of them, honor their relics, and preserve the teachings they leave. 7) Dùng đồ vô thượng trang nghiêm để trang nghiêm mười phương thế giới, làm cho đầy đủ các thứ kỳ diệu bình đẳng thanh tịnh. Lại dùng những sức đại thần thông trụ trì chấn động quang minh chói sáng cùng khắp tất cả: I shall array all words with the finest adornments, filling them with all kinds of marvels, equally pure. I also cause all kinds of spiritual powers, sustaining forces, tremors, and shining lights to pervade them all. 8) Tôi phải dứt nghi hoặc cho tất cả chúng sanh, làm sạch tất cả dục lạc của chúng sanh, mở tâm ý, và diệt phiền não cho tất cả chúng sanh, đóng cửa ác đạo và mở cửa thiện đạo cho tất cả chúng sanh, phá hắc ám và ban quang minh cho tất cả chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh rời ma nghiệp mà đi đến chỗ an ổn: I shall put an end to all doubts and confusions of all sentient beings, purify all sentient beings' desires, open up all sentient beings' minds, annihilate all sentient beings' afflictions, close the doors of the states of misery for all sentient beings, open the doors of the states of felicity for all sentient beings, break throught the drakness of all sentient beings, give lights to all sentient beings, cause all sentient beings to get free from the action of demons, and cause all sentient beings to reach the abode of peace. 9) Chư Phật như hoa ưu đàm hiếm và khó gặp, trong vô lượng kiếp chẳng được thấy một lần, tôi phải ở đời vị lai muốn thấy Như Lai thời bèn được thấy. Chư Như Lai thường chẳng bỏ tôi, mà hằng ở chỗ cho tôi được thấy, thuyết pháp cho tôi không dứt mất, đã nghe pháp rồi tâm ý tôi thanh tịnh, xa rời xiểm khúc, chất trực không hư ngụy, trong mỗi niệm thường thấy chư Phật: The Buddhas are as rare and difficult to meet as the udumbara flower, which one can hardly get to see once in countless ages. In the future, when I want to see a Buddha, I will immediately be able to do so; the Buddha will never abandon me, but will always be with me, allow me to see them, and constantly expound the teaching to me. After I have heard the teaching, my mind will be purified, free from deviousness, straightforward, and free from falsehood, and I will always see the Buddhas in each moment of thought. 10) Tôi thuở vị lai sẽ được thành Phật, do thần lực của Phật nơi tất cả thế giới vì tất cả chúng sanh đều riêng thị hiện thành chánh đẳng chánh giác, thanh tịnh vô úy, đại sư tử hống, do bổn đại nguyện cùng khắp pháp giới, đánh đại pháp cổ, mưa đại pháp vũ, làm đại pháp thí. Trong vô lượng kiếp thường diễn chánh pháp, đại bi nhiếp trì, thân ngữ ý ba nghiệp không nhàm mỏi: I shall attain Buddhahood and by the spiritual power of the enlightened will show the attainment of enlightenment individually to all sentient beings in all worlds, pure and fearless, roaring the great lion's roar, pervading the cosmos with my original universal undertaking, beating the drum of truth, showering the rain of truth, performing the giving of true teaching, perpetually expounding the truth with physical, verbal and mental action, sustained by great compassion, untiring.

mười pháp ấn (kinh hoa nghiêm—phẩm 27)

Ten kinds of truth seal (The Flower Adornment Sutra—Chapter 27). 1) Đồng thiện căn bình đẳng với tam thế chư Phật: Having the same roots of goodness equal in all Buddhas of past, present and future. 2) Đồng được trí huệ pháp thân vô biên tế với chư Phật: Attaining the reality body with boundless knowledge, same as all Buddhas. 3) Đồng chư Như Lai trụ pháp bất nhị: Abiding in nonduality, same as the Buddhas do. 4) Đồng chư Như Lai quán sát tam thế vô lượng cảnh giới thảy đều bình đẳng: Seeing the infinite objects of all times as all equal, same as the Buddhas do. 5) Đồng chư Như Lai liễu đạt pháp giới vô ngại cảnh giới: Gaining comprehension of the unobstructed realm of the cosmos of reality, same as that of the Buddhas. 6) Đồng chư Như Lai thành tựu thập lực thực hành vô ngại: Achieving the ten powers, same as the Buddhas, being unhindered in function. 7) Đồng chư Như Lai tuyệt hẳn hai hạnh, trụ pháp vô tránh: Having forever cut off opinions and passions, dwelling in the state of freedom from conflict, same as the Buddhas. 8) Đồng chư Như Lai giáo hóa chúng sanh hằng chẳng thôi nghỉ: Ceaselessly teaching sentient beings, same as the Buddhas do. 9) Đồng chư Như Lai ở trong trí thiện xảo, nghĩa thiện xảo hay khéo quán sát: Having ability to observe adaptive skill in knowledge and meaning, same as the Buddhas. 10) Đồng chư Như Lai cùng với tất cả Phật bình đẳng không hai: Being equal to all Buddhas, same as all Enlightened Ones.

mười phương

(thập phương): bao gồm các phương đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam, cùng với phương trên (thượng phương) và phương dưới (hạ phương).

Mười sáu hạnh

(Thập lục hạnh): còn có các tên gọi khác như Thập lục hạnh quán (十六行觀), Thập lục hạnh tướng quán (十六行相觀), Thập lục thánh hạnh (十六聖行), Thập lục đế (十六諦), Tứ đế thập lục hạnh tướng (四諦十六行相). Hành giả khi tu tập quán xét Tứ đế thấy được mỗi chân đế đều có bốn hình tướng khác nhau, tổng cộng là 16 tướng. Nhờ quán xét rốt ráo 16 tướng này mà dứt trừ được mọi mối mê lầm, đạt được giải thoát. Cụ thể, theo Câu-xá luận quyển 26 thì Khổ đế có 4 tướng: một là vô thường (anitya), hai là khổ (duḥkha), ba là không (nya), bốn là vô ngã (antman); Tập đế có 4 tướng: một là nhân (hetu), hai là tập (samudaya), ba là sanh (prabhava), bốn là duyên (pratyaya); Diệt đế có 4 tướng: một là diệt (nirodha), hai là tĩnh (nta), ba là diệu (pranỵta), bốn là ly (niḥsaraṇa); Đạo đế có 4 tướng: một là đạo (mrga), hai là như (nyya), ba là hạnh (pratipad), bốn là xuất (nairyṇika).

Mười sáu tâm

(Thập lục tâm): Người mới vào địa vị Kiến đạo, nhờ quán Tứ Thánh đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà sanh ra mười sáu tâm, hợp thành bởi tám pháp nhẫn vô lậu và tám pháp trí vô lậu: 1. Khổ pháp nhẫn, 2. Khổ pháp trí, 3. Khổ loại nhẫn, 4. Khổ loại trí, 5. Tập pháp nhẫn, 6. Tập pháp trí, 7. Tập loại nhẫn, 8. Tập loại trí, 9. Diệt pháp nhẫn, 10. Diệt pháp trí, 11. Diệt loại nhẫn, 12. Diệt loại trí, 13. Đạo pháp nhẫn, 14. Đạo pháp trí, 15. Đạo loại nhẫn, 16. Đạo loại trí.

Mười sắc nhập

(Thập sắc nhập): bao gồm nhãn nhập, nhĩ nhập, tỉ nhập, thiệt nhập, thân nhập, sắc nhập, thanh nhập, hương nhập, vị nhập và xúc nhập. Nói một cách khái quát là các phạm vi thiệp nhập giữa năm căn và năm trần, không bao gồm ý căn và pháp trần vì các pháp này thuộc về danh, không thuộc về sắc. Xem thêm ấm, nhập, giới.

Mười sức (của Phật)

(Thập lực), cũng gọi là Mười trí lực (Thập trí lực) bao gồm: 1. Tri thị xứ phi xứ trí lực: Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp; 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực hay Nghiệp dị thục trí lực (業異熟智力): Biết rõ luật nhân quả, quả báo, tức là nghiệp nào tạo quả nào; 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực: Biết rõ nguyên nhân nào dẫn đến con đường tái sanh nào; 4. Tri chủng chủng giới trí lực: Biết rõ các thế giới với những yếu tố thành lập của nó; 5. Tri chủng chủng giải trí lực: Biết rõ căn tánh riêng biệt của mỗi chúng sanh; 6. Tri nhất thiết chúng sanh tâm tánh trí lực: Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mọi chúng sanh; 7. Tri chư thiền giải thoát Tam-muội trí lực: Biết tất cả các cách thiền định; 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực: Biết rõ các tiền kiếp của chính mình; 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Biết rõ sự hoại diệt và tái sanh của chúng sanh; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Biết các pháp ô nhiễm sẽ chấm dứt như thế nào.

Mười trí lực

xem Mười sức.

Mười trụ

(Thập trụ): chỉ 10 trụ vị của hàng Bồ Tát, bao gồm: 1. Phát tâm trụ; 2. Trì địa trụ; 3. Tu hành trụ; 4. Sanh quý trụ; 5. Phương tiện cụ túc trụ; 6. Chánh tâm trụ; 7. Bất thối trụ; 8. Đồng chân trụ; 9. Pháp vương tử trụ; 10. Quán đảnh trụ.

Mười tám giới

(Thập bát giới): gồm sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) trong cơ thể, gọi là nội giới; sáu trần (hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm, các pháp) bên ngoài, gọi là ngoại giới; sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) ở giữa giúp sáu căn nhận biết sáu trần, gọi là trung giới. Xem thêm ấm, nhập, giới.

Mười tám nghĩa không

(Thập bát không): Theo Đại thừa nghĩa chương (quyển 4) và Trí độ luận (quyển 20, quyển 31 và quyển 46) thì 18 nghĩa không gồm có: 1. Nội không, 2. Ngoại không, 3. Nội ngoại không, 4. Không không, 5. Đại không, 6. Đệ nhất nghĩa không, 7. Hữu vi không, 8. Vô vi không, 9. Tất cánh không, 10. Vô thủy không, 11. Tán không, 12. Tánh không, 13. Tự tánh không, 14. Chư pháp không. 15. Bất khả đắc không, 16. Vô pháp không, 17. Hữu pháp không, 18. Vô pháp hữu pháp không.

Mười Tám Pháp Bất Cọng

(s: aṣtādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ, 十八不共法): còn gọi là Mười Tám Pháp Phật Bất Cọng. Từ Bất Cọng ở đây có nghĩa là không cọng thông. Tùy theo mỗi kinh điển mà sự giải thích về 18 pháp này có khác nhau; nhưng thông thường thì chúng gồm có 10 Lực, 4 Vô Úy, 3 Niệm Trú (ba điều mà tâm không lay chuyển trước đối tượng thuyết pháp, tức là đối tượng ấy có chuyên tâm lắng nghe, hay không chuyên tâm lắng nghe, hoặc cả hai thì tâm vẫn không lay chuyển) và kết hợp thêm Tâm Đại Bi để trở thành 18 pháp.

Mười tám pháp không chung cùng với hai thừa

(Thập bát bất cộng pháp),: là mười tám pháp chỉ đấng Như Lai mới có, A-la-hán và Duyên giác không có, cũng gọi là Thập bát bất cụ pháp, gồm: 1. Thân vô thất (Thân không có lỗi); 2. Khẩu vô thất (Lời nói không có lỗi); 3. Niệm vô thất (Ý tưởng không có lỗi); 4. Vô dị tưởng (Không có tư tưởng khác biệt, tâm luôn bình đẳng không phân biệt); 5. Vô bất định tâm (Tâm thường an định); 6. Vô bất tri dĩ xả (Rõ biết tất cả mọi chuyện nhưng đều buông bỏ); 7. Dục vô diệt (Lòng mong muốn cứu độ chúng sanh không dứt mất); 8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn cứu độ chúng sanh không dứt mất); 9. Niệm vô diệt (Đối với Chánh pháp của ba đời chư Phật, tất cả trí tuệ đều đầy đủ, không có sự thối chuyển); 10. Huệ vô diệt (Trí huệ đầy đủ không cùng tận); 11. Giải thoát vô diệt (Có đủ hai loại giải thoát là giải thoát hữu vi và giải thoát vô vi, dứt trừ hoàn toàn mọi phiền não); 12. Giải thoát tri kiến vô diệt (Đối với giải thoát tri kiến trí tuệ sáng suốt, phân biệt vô ngại); 13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của thân được thực hành theo trí huệ); 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của lời nói được thực hành theo trí huệ); 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của ý được thực hành theo trí huệ); 16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời quá khứ không ngăn ngại); 17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời vị lai không ngăn ngại); 18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ rõ biết đời hiện tại không ngăn ngại).

mười tướng

(thập tướng): bao gồm tất cả các tướng của pháp hữu vi, đó là: 1. tướng hình sắc, 2. tướng âm thanh, 3. tướng mùi hương, 4. tướng vị nếm, 5. tướng xúc chạm, 6. tướng sanh ra, 7. tướng trụ lại, 8. tướng hoại diệt, 9. tướng nam, 10. tướng nữ.

mười ác nghiệp

See Thập Ác nghiệp.

mười ân phật

Ten kinds of Buddha's grace—See Thập Phật Ân.

mười điều biết hết tất cả các pháp không thừa sót của chư phật

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười điều biết hết tất cả các pháp không thừa sót của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten exhaustive knowledges of all Buddhas. 1) Biết hết tất cả pháp quá khứ không thừa sót: They know all things of the past exhaustively. 2) Biết hết tất cả pháp vị lai không thừa sót: They know all things of the future exhaustively. 3) Biết hết tất cả pháp hiện tại không thừa sót: They know all things of the present exhaustively. 4) Biết hết tất cả pháp ngôn ngữ không thừa sót: They know all principles of language exhaustively. 5) Biết hết tất cả tâm chúng sanh không thừa sót: They know all sentient beings' minds exhaustively. 6) Biết hết tất cả những phần vị thượng trung hạ thiện căn của chư Bồ Tát không thừa sót: The know all the various ranks, high, middling, and low of the roots of goodness of Enlightening Beings. 7) Biết hết tất cả trí viên mãn và công đức của chư Phật không thừa sót: They know all Buddhas' complete knowledge and virtues do not increase or decrease. 8) Biết hết tất cả pháp đều từ duyên khởi không thừa sót: They know all phenomena come from interdependent origination. 9) Biết hết tất cả đạo thế gian không thừa sót: They know all world systems exhaustively. 10) Biết hết tất cả thế giới chủng, trong tất cả pháp giới những sự sai biệt như lưới Thiên Đế không thừa sót: They know all the different phenomena in all worlds, interrelated in Indra's net.

mười điều bị ma nhiếp trì của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều bị ma nhiếp trì của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát rời bỏ được mười điều ma nhiếp trì nầy thời được mười điều chư Phật nhiếp trì—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of possession by demons of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who can leave these ten can attain the supreme supportive power of Buddhas. 1) Tâm lười biếng: Laziness. 2) Chí nguyện hèn kém: Narrowness and meanness of aspiration. 3) Nơi công hạnh chút ít lại cho là đủ: Satisfaction with a little practice. 4) Lãnh thọ một hạnh, từ chối những hạnh khác: Exclusivity. 5) Chẳng phát đại nguyện: Not making great vows. 6) Thích nơi tịch diệt, dứt trừ phiền não, nên quên mất Bồ Đề tâm: Liking to be in tranquil extinction and annihilating afflictions, forgetting the Bodhi mind. 7) Dứt hẳn sanh tử: Permanently annihilating birth and death. 8) Bỏ hạnh Bồ Tát: Giving up the practices of enlightening beings. 9) Chẳng giáo hóa chúng sanh: Not edifying sentient beings. 10) Nghi báng chánh pháp: Doubting and repudiating the truth. ** For more information, please see ten kinds of support by Buddhas.

mười điều cha dạy con gái

Mười điều răn dạy mà một người cha khôn ngoan dạy con gái—Ten admonitions a wise father should instruct his daughter—See Nghiêm Đường Huấn Nữ Thập Giáo.

mười điều chẳng lỗi thời của chư phật

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33, có mười điều chẳng lỗi thời của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 33, there are ten kinds of proper timing of all Buddhas. 1) Tất cả chư Phật thành chánh đẳng chánh giác chẳng lỗi thời: All Buddhas attain Anuttara Samyak Sambodhi at the proper time. 2) Tất cả chư Phật thành thục kẻ có duyên chẳng lỗi thời: All Buddhas develop and mature those with afinity at the appropriate time. 3) Tất cả chư Phật thọ ký cho chư Bồ Tát chẳng lỗi thời: All Buddhas give enlightening beings instructions for the future at proper time. 4) Tất cả chư Phật theo tâm chúng sanh mà thị hiện thần lực chẳng lỗi thời: All Buddhas show spiritual powers in accord with sentient beings' minds at the proper time. 5) Tất cả chư Phật theo chỗ hiểu của chúng sanh mà thị hiện thân Phật chẳng lỗi thời: All Buddhas show Buddha-bodies in accord with sentient beings' understandings at the proper time. 6) Tất cả chư Phật trụ nơi đại xả chẳng lỗi thời: All Buddhas persist in great relinquishment at the proper time. 7) Tất cả chư Phật vào các tụ lạc chẳng lỗi thời: All Buddhas go into inhabited places at appropriate time. 8) Tất cả chư Phật nhiếp thọ các chúng sanh tịnh tín chẳng lỗi thời: All Buddhas receive the pure and faithful at the proper time. 9) Tất cả chư Phật điều phục những chúng sanh ác chẳng lỗi thời: All Buddhas tame evil sentient beings at the appropriate time. 10) Tất cả chư Phật hiện bất tư nghì Phật thần thông chẳng lỗi thời: All Buddhas reveal the inconceivable occult powers of the enlightened at the proper time.

mười điều chứng tri của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều chứng tri của những đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được tất cả phương tiện thiện xảo—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of realizational knowledge possessed by Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain skillful use of all the teachings. 1) Biết tất cả pháp một tướng: They know the unity of all things. 2) Biết tất cả pháp vô lượng tướng: They know the infinity of all things. 3) Biết tất cả pháp tại một niệm: They know the presence of all things in a single instant. 4) Biết chúng sanh tâm hành vô ngại: They know the interpenetration of mental activities of all sentient beings. 5) Biết tất cả chúng sanh các căn bình đẳng: They know the equality of faculties of all sentient beings. 6) Biết tất cả chúng sanh phiền não tập khí hiện hành: They know the impassioned habitual activities of all sentient beings. 7) Biết tất cả chúng sanh tâm sử hiện hành: They know the mental compulsions of all sentient beings. 8) Biết tất cả chúng sanh thiện và bất thiện hiện hành: They know the good and bad acts of all sentient beings. 9) Biết tất cả Bồ Tát nguyện hạnh, tự tại, trụ trì, biến hóa: They know all enlightening beings' vows and practices, mastery, preservation of the teaching, and mystical transfigurations. 10) Biết tất cả Như Lai đầy đủ thập lực thành Chánh Đẳng Chánh Giác: They know all Buddhas' fulfillment of the ten powers and attainment of true enlightenment.

mười điều cầu pháp của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều cầu pháp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ tất cả Phật pháp chẳng do người khác dạy—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain great knowledge of all elements of Buddhahood without being instructed by another. 1) Trực tâm cầu pháp, vì không dua nịnh phỉnh phờ: Quest for truth with a straightforward mind, being free from dishonesty. 2) Tinh tấn cầu pháp, vì xa lìa lười biếng khinh mạn: Diligent quest for truth, being free from laziness. 3) Nhứt hướng cầu pháp, vì chẳng tiếc thân mạng: Wholly devoted quest for truth, not begrudging their lives. 4) Vì muốn trừ phiền não cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng vì danh, lợi hay sự cung kính: Quest for truth to destroy all sentient beings' afflictions, not doing it for fame, profit, or respect. 5) Vì lợi mình, lợi người, cũng như lợi tất cả chúng sanh mà cầu pháp, chứ chẳng vì tư lợi: Quest for truth to benefit self and others, all sentient beings, not just helping themselves. 6) Vì nhập trí huệ mà cầu pháp, chẳng vì văn tự: Quest for truth to enter knowledge of wisdom, not taking pleasure in literature. 7) Vì thoát sanh tử mà cầu pháp, vì chẳng tham thế lạc: Quest for truth to leave birth and death, not craving worldly pleasures. 8) Vì độ chúng sanh mà cầu pháp, vì phát Bồ Đề tâm: Quest for truth to liberate sentient beings, engendering the determination for enlightenment. 9) Vì dứt nghi cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì làm cho họ không do dự: Quest for truth to resolve the doubts of all sentient beings, to free them from vacillation. 10) Vì đầy đủ Phật phát mà cầu pháp, vì chẳng thích những thừa khác: Quest for truth to fulfill Buddhahood, not being inclined to lesser aims.

mười điều của chư phật mà chư đại bồ tát hằng ghi nhớ

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều của chư Phật mà chư Bồ Tát phải hằng ghi nhớ—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of pure things of Buddhas that should always be remembered by Enlightening Beings. 1) Tất cả Bồ tát phải thường ghi nhớ về nhơn duyên quá khứ của chư Phật: All Buddhas' past events should always be remembered by Enlightening Beings. 2) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ hạnh thanh tịnh thù thắng của chư Phật: All Buddhas' pure superior actions should always be remembered. 3) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật đầy đủ Ba La Mật: All Buddhas' fulfillment of the ways of transcendence should be always remembered. 4) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ đại nguyện thành tựu của chư Phật: All Buddhas' accomplishment of great undertakings should always be remembered. 5) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ sự chứa nhóm công đức của chư Phật: All Buddhas' accumulation of virtues should always be remembered. 6) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật đã đủ đầy phạm hạnh: All Buddhas' embodiment of spiritual practice should always be remembered. 7) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ chư Phật hiện thành chánh giác: All Buddhas' actualization of true enlightenment should always be remembered. 8) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ vô lượng sắc thân của chư Phật: The infinity of all Buddhas physical forms should always be remembered. 9) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ thần thông vô lượng của chư Phật: The infinity of all Buddhas' spiritual powers should be always remembered. 10) Tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ thập lực của chư Phật: All Buddhas' ten powers of confidence should be always remembered.

mười điều kiện khởi đầu đưa đến hoài bảo giác ngộ tối thượng

Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười điều kiện khởi đầu đưa đến ước vọng giác ngộ tối thượng—According to the Avatamsaka Sutra, there are ten preliminary conditions that lead to the cherishing of the desire for supreme enlightenment. 1) Đầy đủ thiện căn: Kusalamula (skt)—The stock of merit is well-filled. 2) Tu tập các thiện hạnh: Carana (skt)—Deeds of goodness are well practiced. 3) Chứa nhóm đầy đủ các tư lương: Sambhara (skt)—The necessary moral provisions are well stored up. 4) Cung kính cúng dường chư Phật: Paryupasita (skt)—The Buddhas have respectfully served. 5) Thành tựu đầy đủ các tịnh pháp: Sikla-dharma (skt)—Works of purity are well accomplished. 6) Thân cận các thiện tri thức: Kalyanamitra (skt)—There are good friends kindly disposed. 7) Tâm hoàn toàn thanh tịnh: Visuddhasaya (skt)—The heart is thoroughly cleansed. 8) Tâm quảng đại được kiên cố: Vipuladhyasaya (skt)—Broad-mindedness is firmly secured. 9) Tín căn được bền vững: Adhimukti (skt)—A deep sincere faith is established. 10) Sẳn sàng tâm đại bi: Karuna (skt)—There is the presence of a compassionate heart.

Mười điều lành

(Thập thiện), cũng gọi là Mười pháp lành, Thập thiện đạo, Thập thiện Chánh pháp, bao gồm các pháp là: 1. Không sát sanh, thường làm việc tha thứ và phóng sanh. 2. Không trộm cắp, thường tu hạnh bố thí, giúp đỡ, san sẻ với mọi người. 3. Không tà dâm, luôn giữ lòng chung thủy một vợ một chồng. 4. Không nói dối, luôn nói lời chân thật. 5. Không nói lời trau chuốt, thô tục, thường nói những lời có ý nghĩa, có ích lợi. 6. Không nói đâm thọc, gây chia rẽ, thường nói những lời tạo ra sự đoàn kết, thương yêu nhau. 7. Không nói lời độc ác, gây tổn hại, thường nói những lời ôn hòa, nhu thuận. 8. Không tham lam, luôn quán xét rằng mọi thứ của cải vật chất đều chỉ là giả tạm, không thường tồn. 9. Không sân khuể, thường tu tập hạnh từ bi, nhẫn nhục. 10. Không ngu mê, tà kiến, thường sáng suốt tu tập theo chánh kiến.

mười điều lành mà chư bồ tát làm lợi ích cho chúng sanh ở cõi ta bà

Ten Bodhisattvas' excellent deeds in the Saha world—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm thứ Mười, Duy Ma Cật nói: “Bồ Tát ở cõi Ta Bà này đối với chúng sanh, lòng đại bi bền chắc thật đúng như lời các ngài đã ngợi khen. Mà Bồ Tát ở cõi nầy lợi ích cho chúng sanh trong một đời còn hơn trăm ngàn kiếp tu hành ở cõi nước khác. Vì sao? Vì cõi Ta Bà nầy có mười điều lành mà các Tịnh Độ khác không có.”—According to the Vimalakirti, Chapter Tenth, Vimalakirti said: “As you have said, the Bodhisattvas of this world have strong compassion and their lifelong works of salvation for all living beings surpass those done in other pure lands during hundreds and thousands of aeons. Why? Because they achieved ten excellent deeds which are not required in other pure lands. 1) Một là dùng bố thí để nhiếp độ kẻ nghèo nàn: Charity (dana) to succour the poor. 2) Hai là dùng tịnh giới để nhiếp độ người phá giới: Precept-keeping (sila) to help those who have broken the commandments. 3) Ba là dùng nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ: Patient endurance (ksanti) to subdue their anger. 4) Bốn là dùng tinh tấn để nhiếp độ kẻ giải đãi: Zeal and devotion (virya) to cure their remissness. 5) Năm là dùng thiền định để nhiếp độ kẻ loạn ý: Serenity (dhyana) to stop their confused thoughts. 6) Sáu là dùng trí tuệ để nhiếp độ kẻ ngu si: Wisdom (prajna) to wipe out ignorance. 7) Bảy là nói pháp trừ nạn để độ kẻ bị tám nạn: Putting an end to the eight distressful conditions for those suffering from them. 8) Tám là dùng pháp đại thừa để độ kẻ ưa pháp tiểu thừa: Teaching Mahayana to those who cling to Hinayana. 9) Chín là dùng các pháp lành để cứu tế người không đức: Cultivation of good roots for those in want of merits. 10) Mười là thường dùng tứ nhiếp để thành tựu chúng sanh.”: The four Bodhisattva winning devices for the purpose of leading all living beings to their goals (in Bodhisattva development).

mười điều phấn tấn của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều phấn tấn của chư Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được nơi tất cả pháp phấn tấn tự tại vô thượng của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of springing of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can achieve the supreme springing of Buddhas in the midst of all things. 1) Ngưu vương phất tấn, vì che mát tất cả thiên long bát bộ: The springing of a majestic bull, overshadowing all dragons, yakshas, kinnaras, gandharvas, and other creatures. 2) Tượng vương phấn tấn—The springing of a majestic elephant: a. Tâm khéo điều phục và nhu nhuyễn chúng sanh: Their minds well tamed and gentle all sentient beings. b. Gánh vác tất cả những chúng sanh: Carrying all sentient beings. 3) Long vương phấn tấn—The springing of a great water spirit: a. Nổi mây dầy đại pháp: Producing dense clouds of the great teaching. b. Chiếu điển quang giải thoát: Flashing the lightning of liberation. c. Chấn sấm nghĩa như thật: Reverberating with the thunder of truth. d. Rưới mưa cam lồ căn, lực, giác phần, thiền định, giải thoát, tam muội: Showering the sweet rain of the spiritual faculties and powers, the elements of enlightenment, meditations, liberations, and concentrations. 4) Đại Kim Sí Điểu vương phấn tấn—The springing of the great golden- winged bird: a. Làm cạn nước tham ái: Evaporating the water of covetousness. b. Phá vỏ ngu si: Breaking the shell of delusion. c. Chụp bắt những ác độc long phiền não: Catching the evil poisonous dragon of affliction. d. Khiến chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử: Lifting beings out of the ocean of suffering of birth and death. 5) Đại sư tử vương phấn tấn—The springing of great majestic lion: a. An trụ trong đại trí vô úy: Resting secure in fearless. b. Lấy bình đẳng làm khí giới: Using impartial great knowledge as a weapon. c. Xô dẹp chúng ma và ngoại đạo: Crushing demons and false teachers. 6) Dũng kiện phấn tấn, vì có thể ở trong chiến trận lớn sanh tử, xô diệt tất cả phiền não oán thù: Springing of spirit and strength, able to destroy the enemy and afflictions on the great battlefront of birth and death. 7) Đại trí phấn tấn—The springing of great knowledge: a. Biết thân tâm và cảm giác: Knowing the elements of body, mind, and sense experience. b. Biết các duyên khởi: Knowing other interdependent productions. c. Tự tại khai thị tất cả pháp: Freely explaining all things. 8) Đà La Ni phấn tấn—The springing of mental command: a. Dùng sức niệm huệ thọ trì chánh pháp chẳng quên: Retaining teachings by the power of recollection and awareness. b. Tùy theo căn tánh của chúng sanh mà vì họ tuyên thuyết: Expounding the teachings according to the faculties of sentient beings. 9) Biện tài phấn tấn—The springing of intellectual powers: a. Vô ngại và chóng phân biệt tất cả các pháp: Uninhibited and swift analyzing everything. b. Làm cho tất cả chúng sanh được lợi ích: Causing everyone to receive benefit and be happy. 10) Như Lai phấn tấn—The springing of realization of Thusness: a. Nhứt thiết chủng trí những pháp trợ đạo đều thành tựu viên mãn: Fulfilling all aids to the way to omniscience. b. Dùng một niệm tương ưng huệ, những chỗ đáng được đều được tất cả: With instantaneous wisdom attaining all that can be attained. c. Những chỗ đáng ngộ tất cả đều ngộ: Understanding all that can be understood. d. Ngồi tòa sư tử: Sitting on a lion throne. e. Hàng phục chúng ma: Conquering hostile demons. f. Thành vô thượng chánh đẳng chánh giác: Realizing unexcelled, complete achieve perfect enlightenment.

mười điều ràng buộc

Ten bonds. 1) Vô tàm (có lỗi mà không biết tự hổ thẹn): Shamelessness. 2) Vô quý (có lỗi mà không biết mắc cở với người)—Unblushingness. 3) Tật đố (ghen ghét): Envy. 4) Xan (bỏn xẻn hèn hạ): Meanness. 5) Bất Hối ( không biết ăn năn những tội lỗi đã làm): Regretlessness. 6) Thùy miên (hôn mê hay thân tâm không thức tỉnh): Torpidity. 7) Trạo cử (tâm niệm xao động): Unstableness—Excitability. 8) Hôn trầm (thần thức hôn mê, không biết chi cả): Gloominess. 9) Sân hận: Anger. 10) Phú (che dấu tội ác): Covering sins.

mười điều rời bỏ ma nghiệp của chư đại bồ tát

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp nầy thời có thể ra khỏi tất cả ma đạo—Ten ways of getting rid of demons' actions of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can escape all demonic ways. 1) Gần thiện tri thức, cung kính cúng dường: Associating with the wise and honoring and serving them. 2) Chẳng tự cao tự đại, chẳng tự khen ngợi: Not elevating themselves or praising themselves. 3) Tin hiểu thâm pháp của Phật mà chẳng hủy báng: Believing in the profound teaching of Buddha without repudiating it. 4) Chẳng bao giờ quên mất tâm nhứt thiết trí: Never ever forgetting the determination for omniscience. 5) Siêng tu diệu hạnh, hằng chẳng phóng dật: Diligently cultivating refined practices, never being lax. 6) Thường cầu tất cả pháp dành cho Bồ Tát: Always seeking all the teachings for enlightening beings. 7) Hằng diễn thuyết chánh pháp, tâm không nhàm mỏi: Always expounding the truth tirelessly. 8) Điều rời bỏ ma nghiệp thứ tám—The eighth way of getting rid of demons' actions: a. Quy y tất cả chư Phật mười phương: Taking refuge with all the Buddhas in the ten directions. b. Nghĩ đến chư Phật như những vị cứu hộ: Thinking of them as saviors and protectors. 9) Tin thọ ức niệm tất cả chư Phật thần lực gia trì: Faithfully accepting and remembering the support of the spiritual power of the Buddhas. 10) Cùng tất cả Bồ Tát đồng gieo căn lành bình đẳng không hai: Equally planting the same roots of goodness with all enlightening beings.

Mười điều thiện

xem Mười điều lành.

mười điều thành như lai lực của chư đại bồ tát

Ten kinds of attainment of powers of the enlightened of enlightening beings— Chư Bồ Tát có đủ mười Như Lai lực nầy thời gọi là Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Enlightening Beings who acquire these ten powers are called Buddhas, truly awake. 1) Vì siêu quá tất cả những ma phiền não nghiệp nên thành Như Lai lực: Attain the powers of the enlightened because they transcend the afflictive activities of all demons. 2) Vì đầy đủ tất cả Bồ Tát hạnh và tự tại du hý tất cả Bồ Tát tam muội: Fulfill all enlightening practices and master all concentrations of enlighening beings. 3) Đầy đủ tất cả Bồ Tát quảng đại thiền định: Accomplish all the far-reaching meditations of enlightening beings. 4) Viên mãn tất cả pháp trợ đạo bạch tịnh: Fulfill al the pure means of fostering enlightenment. 5) Được tất cả pháp trí huệ quang minh khéo tư duy phân biệt: Attain illumination of knowledge of all things and can think and analyze well. 6) Thân cùng khắp tất cả thế giới: Their bodies pervade all worlds. 7) Có thể dùng thần lực gia trì tất cả: Can support all by spiritual powers. 8) Ngôn âm phát ra đều đồng với tâm của tất cả chúng sanh: Their utterances are equal to the minds of all sentient beings. 9) Vì ba nghiệp thân ngữ ý đồng với tất cả tam thế chư Phật, trong một niệm biết rõ những pháp trong tam thế: They are physically, verbally, mentally equal to the Buddhas of all times, and can comprehend the things of all times in a single thought. 10) Được thiện giác trí tam muội, đủ Như Lai thập lực, những là thị xứ phi xứ trí lực đến lậu tận trí lực: Attain concentration of precisely aware knowledge and are imbued with the ten powers of the enlightened, from knowledge of what is so and what is not so up to knowledge of extinction of contaminations.

mười điều thối thất phật pháp mà chư đại bồ tát nên tránh

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều thối thất Phật pháp mà chư Bồ Tát nên tránh. Chư Bồ Tát tránh được mười điều nầy thời nhập được đạo ly sanh của Bồ Tát—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten things that cause enlightening beings to regress from the Buddha teachings, which they should avoid. Enlightening Beings who avoid these ten things will enter the Enlightening Beings' paths of emancipation. 1) Khinh mạn thiện tri thức: Slighting the wise. 2) Sợ khổ sanh tử: Fearing the pains of birth and death. 3) Nhàm tu hạnh Bồ Tát: Getting tired of practicing the acts of enlightening beings. 4) Chẳng thích trụ thế gian: Not caring to remain in the world. 5) Say đắm tam muội: Addiction to concentration. 6) Chấp lấy thiện căn: Clinging to roots of goodness. 7) Repudiating the truth: Hủy báng chánh pháp. 8) Đoạn Bồ Tát hạnh: Putting an end to the practices of enlightening beings. 9) Thích đạo nhị thừa: Liking the ways of individual liberation. 10) Hiềm hận chư Bồ Tát: Having aversion to Enlightening Beings.

mười điều thủ lấy của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười điều thủ lấy, do đây mà không dứt hạnh Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ nơi mười điều thủ lấy nầy thời có thể chẳng dứt Bồ Tát hạnh, và được pháp vô sở thủ vô thượng của tất cả Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of grasping by which they perpetuate the practices of Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can perpetuate the practices of Enlightening Beings and attain the Buddhas' supreme state of not grasping anything. 1) Thủ lấy tất cả chúng sanh giới, vì rốt ráo giáo hóa chúng sanh: They grasp all realms of sentient beings, to ultimately enlighten them. 2) Thủ lấy tất cả thế giới vì rốt ráo nghiêm tịnh: They grasp all worlds , to ultimately purify them. 3) Thủ lấy Như Lai vì tu hạnh Bồ Tát để cúng dường: They grasp Buddha, cultivating the practices of Enlightening Beings as offerings. 4) Thủ lấy thiện căn vì chứa nhóm tướng hảo công đức của chư Phật: They grasp roots of goodness, accumulating the virtues that mark and embellish the Buddhas. 5) Thủ lấy đại bi, vì diệt khổ cho tất cả chúng sanh: They grasp great compassion, to extinguish the pains of all sentient beings. 6) Thủ lấy đại từ, vì cho tất cả chúng sanh những trí lạc: They grasp great benevolence, to bestow on all beings the happiness of omniscience. 7) Thủ lấy Ba La Mật, vì tích tập những trang nghiêm của Bồ Tát: They grasp the transcendent ways, to accumulate the adornments of Enlightening Beings. 8) Thủ lấy thiện xảo phương tiện, vì đều thị hiện ở tất cả mọi nơi: They grasp skill in means, to demonstrate them everywhere. 9) Thủ lấy Bồ Đề, vì được trí vô ngại: They grasp enlightenment, to obtain unobstructed knowledge. 10) Thủ lấy tất cả các pháp, vì ở mọi nơi đều dùng minh trí để hiện rõ: They grasp all things, to comprehend them everywhere with clear knowledge.

mười điều tu của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều tu của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời tu được đạo quả vô thượng và đạt được tất cả các pháp—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of cultivation of Great Enlightening Beings. Enlightening beings who abide by these can achieve the supreme cultivation and practice all truths. 1) Tu các môn Ba La Mật: Cultivate the ways of transcendence. 2) Tu học: Learning. 3) Tu huệ: Wisdom. 4) Tu nghĩa: Purpose. 5) Tu pháp: Righteousness. 6) Tu thoát ly:Emancipation. 7) Tu thị hiện:Manifestation. 8) Tu siêng thực hành chẳng lười: Diligence. 9) Tu thành chánh đẳng chánh giác: Accomplishment of true awakening. 10) Tu chuyển chánh pháp luân: Operation of right teaching.

mười điều tu tinh chuyên của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười điều tu tinh chuyên. Chư Bồ Tát an trụ trong những pháp nầy thời được siêng tu đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of diligent practices of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme practice of great knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Siêng tu bố thí, vì đều xả thí tất cả mà không cầu báo đáp: Diligent practice of giving, relinquishing all without seeking reward. 2) Siêng tu trì giới, vì đầu đà khổ hạnh, thiểu dục tri túc: Diligent practice of self-control, practicing austerities, having few desires, and being content. 3) Siêng tu nhẫn nhục, vì rời quan niệm ta và người (tự tha), nhẫn chịu tất cả điều khổ não, trọn không sanh lòng sân hại: Diligent practice of forbearance, detaching from notions of self and other, tolerating all evils without anger or malice. 4) Siêng tu tinh tấn, vì thân ngữ ý ba nghiệp chưa từng tán loạn, tất cả việc làm đều chẳng thối chuyển mãi đến khi rốt ráo: Diligent practice of vigor, their thoughts, words and deeds never confused, not regressing in what they do, reaching the ultimate end. 5) Siêng tu thiền định, vì giải thoát , tam muội xuất hiện thần thông, rời lìa tất cả quyến thuộc, dục lạc, phiền não, và mãn nguyện: Diligent practice of meditation, liberations, and concentrations, discovering spiritual powers, leaving behind all desires, afflictions, and contention. 6) Siêng tu trí huệ, vì tu tập chứa nhóm tất cả công đức không nhàm mỏi: Diligent practice of wisdom, tirelessly cultivating and accumulating virtues. 7) Siêng tu đại từ, vì biết tất cả chúng sanh không có tự tánh: Diligent practice of great benevolence, knowing that all sentient beings have no nature of their own. 8) Siêng tu đại bi, vì biết các pháp đều không, thọ khổ cho tất cả chúng sanh không nhàm mỏi: Diligent practice of great compassion, knowing that all things are empty, accepting suffering in place of all sentient beings without wearying. 9) Siêng tu giác ngộ thập lực Như Lai, vì rõ thấu vô ngại chỉ bày cho chúng sanh: Diligent practice to awaken the ten powers of enlightenment, realizing them without obstruction, manifesting them for sentient beings. 10) Siêng tu pháp luân bất thối, vì chuyển đến tâm của tất cả chúng sanh: Diligent practice of the non receding wheel of teaching, proceeding to reach all sentient beings.

mười điều tâm niệm

Ten Non-Seeking Practices: 1) Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ, vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sinh: We should not wish (yearn) that our bodies be always free of diseases, because a disease-free body is prone to desire and lust (because with a disease-free body, one tends to be tempted with desire and lust). This will lead to precept-breaking and retrogression:. 2) Ở đời thì đừng cầu không hoạn nạn, vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy. Nếu như chúng ta cứ sống mãi trong cảnh thanh nhàn, như ý, không bị đời dằn vặt, lại chẳng bị vướng ít nhiều sự khổ não, ưu phiền, tất tâm sẽ sanh ra các niệm khinh mạn, kiêu sa; từ đó mà kết thành vô số tội lỗi. Phật tử chơn thuần phải nhân nơi hoạn nạn mà thức tỉnh cơn trường mộng và chiêm nghiệm được lời Phật dạy là đúng. Do đó mà phát tâm tinh chuyên tu hành cầu giải thoát: We should not wish that our lives be free of all misfortune, adversity, or accident because without them, we will be easily prone to pride and arrogance. This will lead us to be disdainful and overbearing towards everyone else. If people's lives are perfect, everything is just as they always dreamed, without encountering heartaches, worries, afflictions, or any pains and sufferings, then this can easily give way to conceit, arogance, etc.; thus, becoming the breeding ground for countless transgressions and offenses. Sincere Buddhists should always use misfortunes as the opportunity to awaken from being mesmerized by success, fame, fortune, wealth, etc. and realize the Buddha's teachings are true and accurate, and then use this realization to develop a cultivated mind seeking enlightenment. 3) Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo: We should not wish that our mind cultivation be free of all obstacles because without obstacles, we would not have opportunities to excell our mind. This will lead to the transgression of thinking that we have awakened, when in fact we have not. 4) Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường: We should not wish that our cultivation be free of demonic obstacles, because our vows would not be then firm and enduring. This leads to the transgression of thinking that we have attained, when in fact we have not. 5) Việc làm thì đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng hay khinh thường kiêu ngạo: We should not wish that our plans and activities meet with easy success, for we will then be inclined to thoughts of contempt and disrespect. This leads to the transgression of pride and conceit, thinking ourselves to be filled with virtues and talent. 6) Giao tiếp thì đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đi đạo nghĩa: We should not wish for gain in our social relations. This will lead us to violate moral principles and see only mistakes of others. 7) Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng: We should not wish that everyone, at all times, be on good terms and in harmony with us. This leads to pride and conceit and seeing only our own side of every issue. 8) Thi ân thì đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân có mưu đồ: We should not wish to be repaid for our good deeds, lest we develop a calculating mind. This leads to greed for fame and fortune. 9) Thấy lợi thì đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động: We should not wish to share in opportunities for profit, lest the mind of illusion arise. This leads us to lose our good name and reputation for the sake of unwholesome gain. 10) Oan ức không cần biện bạch, vì còn biện bạch là nhân ngã chưa xả: When subject to injustice and wrong, we should not necessarily seek the ability to refute and rebut, as doing so indicates that the mind of self-and-others has not been severed. This will certainly lead to more resentment and hatred. Luận Bảo Vương Tam Muội của Đức Phật—Thus, the Buddha advised all of us to consider: 1) Lấy bịnh khổ làm thuốc thần—Turn suffering and disease into good medicine (consider diseases and sufferings as miraculous medicine). 2) Lấy hoạn nạn làm giải thoát—Turn misfortune and calamity into liberation (take misfortune and adversity as means of liberation). 3) Lấy khúc mắc làm thú vị—Turn obstacles or high stakes into freedom and ease (take obstacles as enjoyable ways to cultivate ourselves). 4) Lấy ma quân làm bạn đạo—Turn demons or haunting spirits into Dharma friends (take demonic obstacles as our good spiritual advisors). 5) Lấy khó khăn làm thích thú—Turn trying events into peace and joy (consider difficulties as our joy of gaining experiences or life enjoyments). 6) Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đở—Turn bad friends into helpful associates (treat ungrateful people as our helpful aids). 7) Lấy người chống đối làm nơi giao du—Turn apponents into “fields of flowers” (consider opponents as our good relationships). 8) Coi thi ân như đôi dép bỏ—Treat ingratitude as worn-out shoes to be discarded (consider merits or services to others as ragged slippers). 9) Lấy sự xả lợi làm vinh hoa—Turn frugality into power and wealth (take frugality as our honour). 10) Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh—Turn injustice and wrong into conditions for progress along the Way (consider injustice or false accusations as our virtuous gate to enlightenment).

mười điều tịnh tu ngữ nghiệp của chư đại bồ tát

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38)—Ten ways of purifying speech of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). (A) Mười pháp tịnh tu ngữ nghiệp—Ten ways of purifying speech: 1) Tịnh tu ngữ nghiệp, thích lắng nghe âm thanh của Đức Như Lai: Joyfully listening to the voice of Buddhas. 2) Tịnh tu ngữ nghiệp, nghe nói công đức của Bồ Tát: Joyfully listening to the explanations of the virtues of Enlightening Beings. 3) Tịnh tu ngữ nghiệp, chẳng nói những lời mà chúng sanh chẳng thích nghe: Not saying anything unpleasant to sentient beings. 4) Tịnh tu ngữ nghiệp, xa lìa những lỗi lầm của lời nói: Truly avoiding all faults of speech. 5) Tịnh tu ngữ nghiệp, hoan hỷ tán thán Như Lai: Joyfully praising the enlightened. 6) Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ tháp Như Lai to tiếng khen ngợi công đức như thiệt của chư Phật: Signing the praises of Buddhas aloud at the monuments of deceased Buddhas. 7) Tịnh tu ngữ nghiệp, dùng tâm thanh tịnh ban bố chánh pháp cho chúng sanh: Giving teachings to sentient beings with profound, pure mind. 8) Tịnh tu ngữ nghiệp, dùng âm nhạc ca tụng để tán thán Đức Như Lai: Praising Buddha with music and song. 9) Tịnh tu ngữ nghiệp, ở chỗ chư Phật lắng nghe chánh pháp chẳng tiếc thân mạng: Listening to the true teaching without worrying about one's body or life. 10) Tịnh tu ngữ nghiệp, xả thân thừa sự tất cả Bồ Tát và các pháp sư để lãnh thọ diệu pháp: Giving oneself up to serve all enlightening beings and teachers of truth, and receiving the sublime teaching from them. (B) Chư Bồ Tát an trụ trong mười pháp tịnh tu ngữ nghiệp nầy sẽ được mười điều thủ hộ—Enlightening Beings who abide by these ten ways of purifying speech can gain ten kinds of protection: 1) Được thiên vương cùng thiên chúng thủ hộ: They are protected by all celestial beings. 2) Được long vương và long chúng thủ hộ: By all nagas. 3) Được Dạ xoa vương cùng dạ xoa chúng thủ hộ: By all yakshas. 4) Được Càn thát bà vương cùng Càn thát bà chúng thủ hộ: By all Gandharvas. 5) Được A tu la vương và A tu la chúng thủ hộ: By all titans. 6) Được Ca lâu la vương và Ca lâu la chúng thủ hộ: By all Garudas. 7) Được Khẩn na la vương và Khẩn na la chúng thủ hộ: By all kinnaras. 8) Được Ma hầu la già vương cùng Ma hầu la già chúng thủ hộ: By all Maharagas. 9) Được Phạm vương và Phạm chúng thủ hộ: By all Brahmas. 10) Được Như Như Lai Pháp vương và tất cả pháp sư thủ hộ: By all teachers of truth, beginning with the Buddhas. (C) Được sự thủ hộ nầy rồi, chư Đại Bồ Tát có thể thành tựu mười đại sự—Having received this protection, great enlightening beings are able to accomplish ten great works. 1) Làm cho tất cả chúng sanh hoan hỷ: Gladdening all sentient beings. 2) Có thể qua lại tất cả thế giới: Going to all worlds. 3) Tất cả căn tánh đều có thể rõ biết: Knowing all faculties. 4) Tất cả thằng giải đều làm cho thanh tịnh: Purifying all devotions. 5) Tất cả phiền não đều làm cho đoạn trừ: Exterminating all afflictions. 6) Tất cả tập khí đều làm cho xả ly: Getting rid of all habit energy. 7) Tất cả dục lạc đều làm cho sáng sạch: Purifying all inclinations. 8) Tất cả thâm tâm đều làm cho tăng trưởng: Increasing all profound determinations. 9) Tất cả pháp giới đều làm cho cùng khắp: Causing all to pervade al universes. 10) Tất cả Niết bàn khắp làm cho thấy rõ: Causing all nirvanas to be clearly seen.

mười điều vui thích của chư đại bồ tát (kinh hoa nghiêm—phẩm 38—ly thế gian)

Ten kinds of enjoyment (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38—Detachment from the World)—Bồ tát trụ trong pháp nầy thời được pháp lạc vô thượng của chư Như Lai—Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme enjoyment of truth of all Buddhas. 1) Thích chánh niệm vì tâm chẳng tán loạn: They enjoy right mindfulness because their minds are not distracted. 2) Thích trí huệ vì phân biệt các pháp: They enjoy knowledge, distinguishing all things. 3) Thích qua đến tất cả chỗ Phật, vì nghe pháp không nhàm: They enjoy visiting all Buddhas, listening to the teaching tirelessly. 4) Thích chư Phật, vì đầy khắp mười phương không biên tế: They like the Buddhas because they fill the ten directions without bound. 5) Thích Bồ Tát tự tại, vì tất cả chúng sanh dùng vô lượng môn mà hiện thân: They like enlightening beings because they freely appear in infinite ways for the benefit of sentient beings. 6) Thích các môn tam muội vì nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội: They enjoy the doors of concentration because in one door of concentration they enter all doors of concentration. 7) Thích Đà La Ni vì thọ trì pháp chẳng quên để dạy lại cho chúng sanh: They enjoy mental command of mnemonic formula because they hold all the doctrines without forgetting and hand them on to others. 8) Thích vô ngại biện tài, vì nơi một đoạn một câu, phân biệt diễn thuyết trải qua bất khả thuyết kiếp không cùng tận: They enjoy unhindered powers of analysis and elucidation, expounding a single saying inexhaustibly. 9) Thích thành chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà dùng vô lượng môn thị hiện thân để thành chánh giác: They enjoy attaining true enlightenment, manifesting bodies in infinite ways, attaining true enlightenment for the sake of sentient beings. 10) Thích chuyển pháp luân, vì dẹp trừ tất cả pháp dị đạo: They enjoy turning the wheel of true teaching, destroying all misleading doctrines.

mười điều vô nhị thực hành pháp tự tại của chư phật

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 33), có mười điều vô nhị thực hành pháp tự tại của chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of mastery of nondual action of all Buddhas. 1) Tất cả chư Phật đều hay khéo nói lời thọ ký, quyết định không hai: All Buddhas can speak words of prediction of enlightenment, definitively, without duality. 2) Tất cả chư Phật đều hay tùy thuận tâm niệm của chúng sanh, làm cho ý họ được thỏa mãn, quyết định không hai: All Buddhas can satisfy sentient beings according to their wishes, definitely, without duality. 3) Chư Phật đều hay hiện giác tất cả pháp, diễn thuyết ý nghĩa, quyết định không hai:All Buddhas can manifest be awake to all truths and expound their meanings, definitively, without duality. 4) Chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai: All Buddhas have all the wisdom and knowledge of the Buddhas of past, future and present, definitively, without duality. Chư Phật luôn có đầy đủ tam thế Phật trí huệ, quyết định không hai: 5) Chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai: All Buddhas know that all instants, past, future and present, are one instant, definitely, without duality. 6) Chư Phật đều biết tam thế tất cả cõi Phật, vào một cõi Phật, quyết định không hai: All Buddhas know that all past, future and present Buddha-lands inhere in one Buddha-land, definitively, without duality. 7) Chư Phật đều biết tam thế tất cả lời Phật, là một lời Phật, quyết định không hai: All Buddhas know the words of all Buddhas of all times are the words of one Buddha, definitely, without duality. 8) Chư Phật đều biết tam thế tất cả chư Phật, cùng tất cả chúng sanh được giáo hóa thể tánh bình đẳng, quyết định không hai: All Buddhas know that all Buddhas of all times and all the beings they teach are essentially equal, definitely, without duality. 9) Chư Phật đều biết thế pháp và Phật pháp, tánh không sai khác, quyết định không hai: All Buddhas know that worldly phenomena and Buddhist principles are essentially not different, definitely, without duality. 10) Chư Phật đều biết tất cả tam thế chư Phật có bao nhiêu thiện căn đều đồng một thiện căn, quyết định không hai: All Buddhas know that the roots of goodness of all Buddhas of all times are the same one root of goodness, definitely, without duality.

Mười điều ác

(Thập bất thiện): cũng gọi là Thập ác, Mười nghiệp ác, Mười pháp bất thiện, bao gồm: 1. Sát sanh, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Vọng ngữ, 5. Ỷ ngữ, 6. Lưỡng thiệt, 7. Ác khẩu, 8. Tham dục, 9. Sân khuể, 10. Tà kiến. Không làm những điều này là Mười pháp lành hay Mười điều lành.

mười điều được chư phật nhiếp trì

Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười điều được chư Phật nhiếp trì. Nếu chư Bồ Tát rời bỏ được mười điều bị ma nhiếp trì thời được mười điều được chư Phật nhiếp trì—According to the Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of support by Buddhas. If Enlightening Beings can get rid of the ten possessions by demons, they can gain ten kinds of support by Buddhas (see ten kinds of possession by demons). 1) Ban sơ có thể phát tâm Bồ Đề được Phật nhiếp trì: They are supported by Buddhas in first being able to aspire to enlightenment. 2) Trong nhiều đời gìn giữ tâm Bồ Đề không để quên mất, được chư Phật nhiếp trì: In preserving the will for enlightenment life after life without letting it be forgotten. 3) Rõ biết được ma sự và có thể xa lìa, được chư Phật nhiếp trì: In being aware of manias and being able to avoid them. 4) Nghe các môn Ba La Mật rồi tu hành đúng pháp, được chư Phật nhiếp trì: In learning the way of transcendence and practice them as taught. 5) Biết khổ sanh tử mà chẳng nhàm ghét, được chư Phật nhiếp trì: In knowing the pain of birth and death, yet not rejecting them. 6) Quán pháp thậm thâm được vô lượng quả, được chư Phật nhiếp trì: In contemplating the most profound truth and gaining immeasurable reward. 7) Vì chúng sanh nói pháp nhị thừa, mà chẳng chứng lấy quả giải thoát nhị thừa, được chư Phật nhiếp trì: In expounding the principles of the two lesser vehicles of salvation for the benefit of sentient beings without actually grasping the liberation of those vehicles. 8) Thích quán pháp vô vi mà chẳng trụ trong đó, đối với hữu vi và vô vi không tưởng là hai, được chư Phật nhiếp trì: In happily contemplating the uncreated without dwelling therein and not thinking of the crated and the uncreated as dual. 9) Đến chỗ vô sanh mà vẫn hiện thọ sanh, được chư Phật nhiếp trì: In reaching the realm of birthlessness, yet manifesting birth. 10) Dầu chứng được nhứt thiết trí mà khởi hạnh Bồ Tát chẳng dứt giống Bồ Đề, được chư Phật nhiếp trì: In realizing universal knowledge, yet carrying out the practices of enlightening beings and perpetuating the seed of Enlightening Beings.

mười điều được pháp nhiếp trì của chư bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có muời điều được pháp nhiếp trì của chư Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp nhiếp trì vô thượng của tất cả chư Phật—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of support by truth of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme support of truth of all Buddhas. 1) Biết tất cả hành pháp là vô thường: Knowing all conditioned states are impermanent. 2) Biết tất cả hành pháp là khổ: Knowing all conditioned states are painful. 3) Biết tất cả hành pháp là vô ngã: Knowing all conditioned states are identyless egoless). 4) Biết tất cả pháp là tịch diệt niết bàn: Knowing all phenomena are quiescent nirvana. 5) Biết tất cả pháp theo duyên mà phát khởi, không có duyên thời không khởi: Knowing all phenomena arise from conditions and do not come to be without conditions. 6) Biết vì do tà tư duy nên sanh khởi vô minh. Vì do có vô minh khởi nên có lão tử phát khởi. Một khi tà tư duy bị diệt, thì vô minh diệt, vô minh diệt thì lão tử cũng diệt: Knowing that ignorance comes from wrong thought, and finally old age and death come from ignorance, so if wrong thought is extinguished, ignorance is extinguished, and finally old age and death are extinguished. 7) Biết ba môn giải thoát xuất sanh Thanh văn thừa, chứng pháp vô tránh xuất sanh Độc giác: Knowing the three doors of liberation and generating the vehicle of hearers, realizing the state of noncontention and generating the vehicle of individual illuminates. 8) Biết lục pháp lục Ba La Mật và tứ nhiếp pháp xuất sanh Đại thừa: Knowing the six transcendent ways and the four means of integration, generating the Great Vehicle. 9) Biết tất cả cõi, tất cả pháp, tất cả chúng sanh, tất cả cả thế là cảnh giới của Phật trí: Knowing that al lands, all phenomena, all sentient beings and all times are spheres of knowledge of Buddhas. 10) Biết dứt tất cả niệm, bỏ tất cả thủ, rời trước rời sau, tùy thuận niết bàn: Knowing how to cut off all thoughts, abandon all grasping, detach from before and after, and accord with nirvana.

mười điều đức phật khuyên người cha dạy con gái

Theo Kinh Thi Ca La Việt, có mười điều Đức Phật khuyên bất cứ người cha nào cũng nên dạy dỗ con gái mình trước ngày xuất giá—According to the Sigalaka, there are ten things which the Buddha advises any father to educate his daughter before she gets married. 1) Không nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài, cũng không đem chuyện xấu bên chồng mà thuật lại cho người ngoài: A wife should not speak ill of her husband and parents-in-law to others, nor does she report shortcomings or household quarrels elsewhere. 2) Không nên ngồi lê đôi mách, nghe ngóng những chuyện xấu của người ngoài rồi đem về nhà bàn tán: A wife should not gossip, nor listen to or discuss stories of other families. 3) Đồ trong nhà chỉ nên đưa cho những người nào mượn rồi trả lại: Things should only be lent to those who do return them. 4) Không nên đưa cho những người mượn đồ mà không trả lại: No household utensils should be lent to those who do not return tem. 5) Phải giúp đở thân bằng quyến thuộc nghèo khó, dầu họ có trả lại được hay không: A wife should help poor relatives and friends even if they do not have the ability to repay. 6) Phải luôn ngồi đúng chỗ thích nghi. Khi thấy cha mẹ chồng đến phải đứng dậy chào hỏi: A wife should always sit in an appropriate place. On seeing her parents-in-law or husband, she should stand up to greet them. 7) Trước khi ăn cơm phải xem coi có dọn đầy đủ cho cha mẹ chồng và chồng hay chưa. Người vợ cũng phải xem chừng chăm sóc người ăn kẻ ở trong nhà: Before taking her meals, a wife should first see that her parents-in-law and husband are served. She should also see that her servants are well cared for. 8) Trước khi đi ngủ phải quan sát nhà cửa, cửa đóng then gài cẩn thận. Xem coi những người giúp việc trong nhà đã làm tròn bổn phận chưa, và cha mẹ chồng đã đi ngũ chưa. Người vợ cũng phải luôn thức khuya dậy sớm; trừ khi đau ốm, không nên ngủ ngày: Before going to sleep, a wife should see that all doors are closed, furniture is safe, servants have performed their duties, and make sure that parents-in-law have retired. A wife should also rise early in the morning and, unless unwell, she should not sleep during the day. 9) Phải xem chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ chồng và chồng phải hết sức cẩn thận như khi làm việc với lửa: Parents-in-law and husband should be regarded as fire. A wife should deal carefully with them as one would deal with fire. 10) Cha mẹ chồng và chồng phải được tôn kính như những vị trời trong nhà: Parents-in-law and husband should be regarded as divinities (The Buddha himself refers to parents-in-law as divinities).

mười đà la ni

See Thập Chủng Đà La Ni.

Mười đại luận sư

Hán Việt: Thập đại luận sư (十大論師); |Mười luận sư danh tiếng của Duy thức tông tại Ấn Ðộ sau thế hệ của Trần-na (陳那; s: dignāga) và Pháp Xứng (法稱; s: dhar-makīrti), viết luận giải về Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā) của Thế Thân (世親; s: vasuban-dhu), đó là: 1. Thân Thắng (親勝; s: bandhuśrī), 2. Hoả Biện (火辨; s: citra-bhāṇa), 3. Ðức Huệ (德慧; s: guṇamati), 4. An Huệ (安慧; s: sthiramati), 5. Nan-đà (難陀; s: nanda), 6. Tịnh Nguyệt (淨月; s: śuddhacandra), 7. Hộ Pháp (護法; s: dhar-mapāla), 8. (Tối) Thắng Tử ([最]勝子; s: jinaputra), 9. Thắng Hữu (勝友; s: viśeṣami-tra), 10. Trí Nguyệt (智月; s: jñānacan-dra).

mười đại sự rốt ráo của chư đại bồ tát

(Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được sự rốt ráo đại trí huệ vô thượng Bồ Đề—Ten ultimate great tasks of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these can accomplish the ultimate great task of the knowledge of unexcelled complete perfect enlightenment. 1) Rốt ráo cung kính cúng dường tất cả Như Lai: Honor and provide for all Buddhas. 2) Rốt ráo tùy nghĩ nhớ đến chúng sanh nào có thể cứu hộ: Be able to save all sentient beings they think of. 3) Rốt ráo chuyên cầu tất cả Phật pháp: To single-mindedly seek all facets of Buddhahood. 4) Rốt ráo chứa nhóm tất cả thiện căn: Accumulate all roots of goodness. 5) Contemplate all Buddha teachings: Rốt ráo tư duy tất cả Phật pháp. 6) Rốt ráo đầy đủ tất cả thệ nguyện: Fulfill all vows. 7) Rốt ráo thành tựu tất cả hạnh Bồ Tát: Accomplish all enlightening practices. 8) Rốt ráo phụng sự tất cả thiện tri thức: Serve all genuine teachers. 9) Rốt ráo qua đến thế giới của chư Phật: Visit the Buddhas in all worlds. 10) Rốt ráo nghe và thọ trì chánh pháp của chư Phật: Hear and remember the true teachings of all Buddhas.

Mười đại đệ tử

Hán Việt: Thập đại đệ tử (十大弟子);|Mười đệ tử quan trọng của Phật, hay được nhắc nhở trong kinh sách Ðại thừa (s: mahā-yāna):|1. Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāś-yapa): Ðầu-đà đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Ðộ; 2. A-nan-đà (阿難陀; ānanda): Ða văn đệ nhất, người »nghe nhiều« được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Ðộ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ca-diếp; 3. Xá-lị-phất (舍利弗; s: śāriputra): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (; p: hīnayāna); 4. Tu-bồ-đề (須菩提; subhūti): Giải Không (s: śūnya-tā) đệ nhất; 5. Phú-lâu-na (富樓那; s: pūrṇa): Thuyết Pháp (dharma) đệ nhất; 6. Mục-kiền-liên (目犍連; s: mahāmaud-galyāyana): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lị-phất; 7. Ca-chiên-chiên (迦旃延; s: katyāyana): Biện luận đệ nhất; 8. A-na-luật (阿那律; s: aniruddha): Thiên nhãn đệ nhất; 9. Ưu-ba-li (優波離; upāli): Giới luật đệ nhất; 10. La-hầu-la (羅羅; rāhula): Mật hạnh đệ nhất.

Mười đại địa

(Thập đại địa): cũng gọi là Đại địa pháp hay Thập đại địa pháp, tức là mười trạng thái tâm thức khác nhau, làm nền tảng cho tất cả mọi tâm niệm. Vì tất cả tâm niệm đều từ đây sanh ra nên gọi là “đại địa”, cũng giống như các thứ cây cỏ đều từ đất sanh ra. Trong Nhị giải giới thân túc luận (二解界身足論), quyển thượng, tờ 1 có kể rõ 10 trạng thái tâm thức căn bản này: Một là thọ (受), hai là tưởng (想), ba là tư (思), bốn là xúc (觸), năm là tác ý (作意), sáu là dục (欲), bảy là thắng giải (勝解), tám là niệm (念), chín là tam-ma-địa (三摩地) và mười là tuệ (慧).

mười đạo của chư bồ tát

Mười đạo của chư Đại Bồ Tát (Kinh Hoa Nghiêm—Phẩm 38). Chư Bồ Tát an trụ trong mười đạo nầy thời được đạo phương tiện thiện xảo vô thượng của tất cả Như Lai—Ten kinds of path of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Enlightening Beings who abide by these ten paths can attain the path of unexcelled skill in means of all Buddhas. 1) Nhứt đạo là Bồ Tát đạo, vì chẳng bỏ Bồ Đề tâm độc nhứt: One path is a Path of Enlightening Beings because they do not give up the sole determination for enlightenment. 1) Nhị đạo là Bồ Tát đạo, vì xuất sanh trí huệ và phương tiện: Two paths are a Path of Enlightening Beings because they develop wisdom and skill in means. 2) Tam đạo là Bồ Tát đạo vì chư Bồ Tát thực hành những pháp sau đây—Three paths are a Path of Enlightening Beings because they practice the following dharmas: a. Không: Emptiness. b. Vô tướng: Signlessness. c. Vô nguyện: Wishlessness. d. Chẳng nhiễm trước tam giới: Are not attached to the three worlds. 4) Tứ hạnh là Bồ Tát đạo—Four practices are a Path of Enlightening Beings: a. Sám trừ tội chướng không thôi nghỉ: Ceaselessly removing the barriers of wrongdoing by repentance. b. Tùy hỷ phước đức không thôi nghỉ Ceaselessly rejoicing in virtue. c. Cung kính tôn trọng khuyến thỉnh Như Lai không thôi nghỉ: Ceaselessly honoring the enlightened and request them to teach. d. Thiện xảo hồi hướng không thôi nghỉ: Skillfully practicing dedication ceaselessly. 5) Ngũ căn là Bồ Tát đạo—The five faculties are a Path of Enlightening Beings: a. An trụ tịnh tín: They rest on pure faith, steadfast and imperturbable. b. Khởi đại tinh tấn, việc làm rốt ráo: They generate great energy, finishing their tasks. c. Một bề chánh niệm, không phan duyên khác lạ: They are single-minded in right collection, without wandering attention. d. Khéo biết tam muội, nhập xuất phương tiện: They know the techniques for entering and emerging from concentration. e. Hay khéo phân biệt cảnh giới trí huệ: They are able to distinguish spheres of knowledge. 6) Lục thông là Bồ Tát Đạo—The six psychic powers are a Path of Enlightening Beings: a. Thiên nhãn thấy rõ những hình sắc của tất cả thế giới, biết các chúng sanh chết đây sanh kia: With celestial eye they see all forms in all worlds and know where sentient beings die and are born. b. Thiên nhĩ nghe rõ chư Phật thuyết pháp, thọ trì ghi nhớ, rộng vi chúng sanh tùy căn cơ để khai diễn: With the celestial ear they hear all Buddhas teaching, absorb and remember their teachings, and expound them widely to sentient beings according to their faculties. c. Tha tâm thông hay biết tâm người tự tại vô ngại: With telepathic knowledge they are able to know the minds of others freely, without interference. d. Túc mạng thông, nhớ biết rõ tất cả kiếp số quá khứ, thêm lớn căn lành: With recollection of past life they are able to remember all ages of the past and increase roots of goodness. e. Thần túc thông, tùy theo những chúng sanh đáng được hóa độ, vì họ mà biến hiện nhiều thứ cho họ thích mến chánh pháp: With the power of psychic travel they are able to appear variously to beings capable of being enlightened, to induce them to delight in truth. f. Lậu tận trí hiện chứng thực tế khởi Bồ Tát hạnh chẳng đoạn diệt: With knowledge of extinction of contamination they actually realize the ultimate truth, while carrying out the deeds of enlightening beings without ceases. 7) Thất niệm là Bồ Tát đạo—Seven remembrances are a Path of Enlightening Beings: a. Niệm Phật ở một lỗ lông thấy vô lượng Phật khai ngộ tất cả tâm chúng sanh: They remember Buddhas because they see infinite Buddhas in a single pore opening the minds of all sentient beings. b. Niệm Pháp, chẳng rời chúng hội của các Đức Như Lai: They remember the Teaching because they do not leave the assemblies of all Buddhas. c. Ở trong chúng hội của tất cả Như Lai, thân thừa diệu pháp, tùy căn tánh dục lạc của các chúng sanh mà diễn thuyết cho họ được ngộ nhập: They personally receive the sublime Teachings in the asemblies of all Buddhas and expounded to sentient beings according to their faculties, temperaments and inclinations, to enlighten them. d. Niệm Tăng, luôn nối tiêp thấy không thôi dứt, nơi tất cả thế gian thấy Bồ Tát: They remember the harmonious Community because they continually see enlightening beings in all worlds. e. Niệm xả, biết rất rõ tất cả Bồ tát hạnh xả tăng trưởng, tâm bố thí rộng lớn: They remember relinquishment because they know all enlightening beings' practices of relinquishment increase magnanimous generosity. f. Niệm giới, chẳng bỏ tâm Bồ Đề, đem tất cả thiện căn hồi hướng chúng sanh: They remember precepts because they do not give up the aspiration for enlightenment, and dedicate all roots of goodness to sentient beings. g. Niệm thiên, thường ghi nhớ Bồ Tát Nhứt Tâm Bổ Xứ tại Đâu Suất Thiên cung: They remember heaven because they always keep in mind the enlightening beings in the heaven of happiness who are to become Buddhas in the next lifetime. h. Niệm chúng sanh, trí huệ phương tiện giáo hóa điều phục đến khắp tất cả không gián đoạn: They remember sentient beings because they teach and tame them with wisdom and skill in means, reaching them all, without interruption. 8) Tùy thuận Bồ Đề Bát Thánh Đạo là Bồ Tát đạo—Following the Holy Eightfold Path to Enlightenment is a Path of Enlightening Beings: a. Thực hành đạo Chánh kiến, xa lìa tất cả tà kiến: They travel the path of right insight, getting rid of all false views. b. Khởi chánh tư duy, bỏ vọng phân biệt, tâm thường tùy thuận nhứt thiết trí: They exercise right thought, abandoning arbitrary conceptions, their minds always follow universal knowledge. c. Thường thực hành chánh ngữ, rời lỗi ngữ nghiệp, tùy thuận Thánh ngôn: They always practice right speech, getting rid of faults of speech and following the words of sages. d. Hằng tu chánh nghiệp, giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ được điều phục: They always cultivate right action, teaching sentient beings to make them peaceful and harmonious. e. An trụ chánh mạng, đầu đà tri túc, oai nghi thẩm chánh, tùy thuận Bồ Đề, thực hành Thánh chủng, tất cả lỗi lầm đều rời hẳn: They abide by right livelihood, being frugal and content, careful and correct in behavior, eating, dressing, sleeping, eliminating evil, and practicing good, all in accord with enlightenment, forever getting rid of all faults. f. Khởi chánh tinh tấn, siêng tu tất cả khổ hạnh của Bồ Tát, nhập thập lực của Phật không chướng ngại: They arouse right energy, diligently cultivating all difficult practices of enlightening beings, entering the ten powers of Buddhas without hindrances. g. Tâm thường chánh niệm, đều có thể ghi nhớ tất cả những ngôn âm, trừ diệt tâm tán động của thế gian: Their minds always recollect correctly, able to remember all messages, eliminating all mundane distraction. h. Tâm thường chánh định, khéo nhập môn Bồ tát bất tư nghì giải thoát, ở trong một tam muội xuất sanh tất cả môn tam muội: Their minds are always correctly concentrated, they enter the door of inconceivable liberation of enlightening beings, and in one concentration they produce all concentrations. 9) Nhập cửu thứ đệ định là Bồ Tát đạo—Entering the nine successive concentrations is a Path of Enlightening Beings: a. Rời dục nhiễm sân hại mà dùng tất cả ngữ nghiệp thuyết pháp vô ngại: They detach from craving and ill-will, and expound the truth without inhibition in all they say. b. Diệt trừ tư duy (giác), mà dùng tất cả trí tư duy (giác) giáo hóa chúng sanh: They extinguish thought and reflection, yet teach sentient beings with the thought and reflection of omniscience. c. Dầu trừ quán sát, mà dùng tất cả trí quán sát giáo hóa chúng sanh: They extinguish reflection, yet teach sentient beings with the reflection of omniscience. d. Xả ly hỷ ái mà thấy tất cả chư Phật lòng rất hoan hỷ: They give up joy and emotion, yet they are most joyful when they see all Buddhas. e. Rời thế gian lạc mà tùy thuận Bồ Tát đạo xuất thế lạc: They give up worldly enjoyments and follow the transcendent enjoyment of the Path of enlightening beings. f. Nhập sắc định mà chẳng bỏ thọ sanh nơi dục giới: They enter concentration in the realm of form, yet without abandoning life in the realm of desire. g. Nhập vô sắc định mà chẳng bỏ thọ sanh nơi dục giới và sắc giới: They are unshakable and enter formless concentration, yet without abandoning life in the realms of desire and form. h. Dầu trụ trong diệt tưởng định, mà cũng chẳng dứt Bồ Tát hạnh: Though they abide in concentration in which all perceptions are extinguished, they do not stop the activity of enlightening beings. i. Dầu trụ trong diệt thọ định, mà cũng chẳng dứt ồ Tát hạnh: Though they abide in concentration in which all sensations are extinguished, they do not stop the activity of enlightening beings. 10) Học thập Phật lực là Bồ Tát đạo—Learning the ten powers is a Path of Enlightening Beings: a. Trí khéo biết thị xứ phi xứ: Knowledge of what is so and what is not so. b. Trí khéo biết nghiệp báo nhân quả, quá khứ, vị lai và hiện tại của tất cả chúng sanh: Knowledge of the causes and effects, deeds and consequences, past, future, and present, of all sentient beings. c. Trí khéo biết căn cơ của tất cả chúng sanh chẳng đồng mà tùy nghi thuyết pháp: Knowledge of the differences in faculties of all sentient beings and explaining the truth to them as is appropriate. d. Trí khéo biết tất cả chúng sanh có vô lượng tánh: Knowledge of infinite different natures of sentient beings. e. Trí khéo biết tất cả chúng sanh kiến giải sai biệt, mà làm cho họ nhập vào pháp phương tiện: Knowledge of differences in weak, middling, and superior understanding of all sentient beings, and means of introducing them to truth. f. Trí biết khắp tất cả thế gian, tất cả cõi, tất cả tam thế, tất cả kiếp, hiện khắp hình tướng oai nghi của Như Lai, mà cũng chẳng bỏ việc làm của Bồ Tát: Knowledge of manifesting the appearance and conduct of Buddha throughout all worlds, all lands, all times, all ages, without abandoning the pactics of enlightening beings. g. Trí khéo biết tất cả thiền, giải thoát, và các tam muội, hoặc cấu hoặc tịnh, thời cùng phi thời, chỉ là những phương tiện xuất sanh cho Bồ Tát giải thoát môn: Knowledge of all meditations, liberations, and concentrations, whether defiled or pure, timely or not, expediently producing door of liberation for enlightening beings. h. Trí biết tất cả chúng sanh ở trong các loài chết đây sanh kia sai khác nhau: Knowledge of distinctions in all sentient beings's death in one place and birth in another in the various states of existence. i. Trí ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả kiếp số: Instantaneous knowledge of all ages in past, present and future. j. Trí khéo biết tất cả chúng sanh lạc dục, phiền não, nghi hoặc, tập khí đều diệt hết, mà chẳng rời bỏ hạnh Bồ Tát: Knowledge of extinction of all sentient beings' deisres, compulsions, delusions, and habits, without abandoning the practices of Enlightening Beings.

mười đạo ly sanh của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười đạo ly sanh của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được pháp quyết định của Bồ Tát (see Ten qualities of Great Enlightening Beings)—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten Paths Of Emancipation Of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these will attain qualities of certainty of Enlightening Beings. 1) Xuất sanh Bát Nhã Ba La Mật, mà luôn quán sát tất cả chúng sanh: Evoking transcendent wisdom, yet always observing all sentient beings. 2) Xa rời những kiến chấp mà độ thoát tất cả chúng sanh bị kiến chấp ràng buộc: Detaching from all views, yet liberating all sentient beings bound by views. 3) Chẳng tưởng niệm tất cả tướng, mà chẳng bỏ tất cả chúng sanh chấp tướng: Not minding any appearances, yet not abandoning sentient beings attached to appearances. 4) Siêu quá tam giới, mà thường ở tại tất cả thế giới: Transcending the triple world, yet always being in all worlds. 5) Rời hẳn phiền não, mà ở chung với tất cả chúng sanh: Forever leaving afflictions, yet living together with all sentient beings. 6) Đắc pháp ly dục mà thường dùng đại bi thương xót tất cả chúng sanh nhiễm trước dục lạc: Attaining desirelessness, yet always most compassionately pitying all sentient beings attached to desires. 7) Thường thích tịch tịnh, mà luôn thị hiện tất cả quyến thuộc: Always enjoying tranquility and serenity, yet always appearing to be in company. 8) Rời sanh thế gian, mà chết đây sanh kia khởi hạnh Bồ Tát: Being free from birth in the world, yet dying in one place and being reborn in another, carrying on the activities of enlightening beings. 9) Chẳng nhiễm tất cả pháp thế gian, mà chẳng dứt tất cả việc làm của thế gian: Not being affected by any worldly things, yet not stopping work in the world. 10) Chư Phật Bồ Đề đã thị hiện ra trước mà chẳng bỏ tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát: Actually realizing full enlightenment, yet not abandoning the vows and practices of Enlightening Beings.

mười đạo trang nghiêm của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười đạo trang nghiêm của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đạo đại trang nghiêm vô thượng của Như Lai, cũng chẳng bỏ Bồ Tát Đạo—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of way of adornment of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme way of great adornment of Buddhas, without leaving the Ways of Enlightening Beings. 1) Đại Bồ Tát chẳng rời dục giới mà nhập sắc giới, vô sắc giới thiền định, giải thoát và các tam muội, cũng chẳng nhơn đây mà thọ sanh: Without leaving the realm of desire, they enter the meditations, liberations, , and trances of the realms of form and formlessness, yet they are not thereby born in those realms. 2) Trí huệ hiện tiền nhập Thanh Văn đạo, nhưng chẳng do đạo nầy mà chứng lấy quả xuất ly: Their knowledge appears to enter the path of personally liberated saints, yet they do not take emancipation by this route. 3) Trí huệ hiện tiền nhập Bích Chi Phật đạo, mà phát khởi đại bi chẳng thôi dứt: Their knowledge appears to enter the path of individual illumination, yet they do not cease to generate great compassion. 4) Dầu có quyến thuộc nhơn thiên vây quanh, trăm ngàn thể nữ ca múa hầu hạ, mà chưa từng tạm bỏ thiền định, giải thoát, và các tam muội: Though they have human and celestial retinues surrounding them, hundreds and thousands of concubines and troupes of singers and dancers, they never for a moment leave meditation, liberation, and concentration. 5) Cùng tất cả chúng sanh thọ những dục lạc, cùng nhau vui đùa, mà vẫn chưa từng tạm trong một niệm rời bỏ Bồ Tát bình đẳng tam muội: They take part in amusements and expeirence pleasure and happiness with all sentient beings, but they never for a moment leave the concentration of equanimity of Enlightening Beings. 6) Đã đến bỉ ngạn, không còn chấp trước thế gian pháp, mà cũng chẳng bỏ hạnh cứu độ chúng sanh: They have already transcended all worlds and have no attachments to anything, yet they do not abandon efforts to liberate sentient beings. 7) An trụ trong chánh đạo, chánh trí và chánh kiến, mà hay thị hiện vào tất cả tà đạo, chẳng lấy làm thiệt, chẳng chấp làm tịnh, làm cho chúng sanh đó xa rời tà pháp: They live by the right path, right knowledge, and right insight, yet they can appear to enter false paths, without taking them to be true or pure, to cause the sentient beings involved in them to abandon false principles. 8) Thường khéo hộ trì tịnh giới của Như Lai, ba nghiệp thân, khẩu, ý không lầm lỗi, vì muốn giáo hóa chúng sanh phạm giới nên thị hiện làm tất cả hạnh phàm phu. Dầu đã đầy đủ phước đức thanh tịnh trụ bực Bồ Tát, mà thị hiện sanh nơi tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, cùng những chỗ hiểm nạn bần cùng, làm cho những chúng sanh đó đều được giải thoát. Kỳ thật, Bồ Tát chẳng sanh vào những loài đó: They always maintain the Buddha's pure precepts, and their thoughts, words, and deeds are faultless, but because they want to edify immoral sentient beings, they appear to perform the acts of ordinary ignorant people; though they are already filled with pure virtues and abide in the course of Enlightening Beings, yet they appear to live in such realms as hells, animality, ghosthood, and in difficulty and poverty, in order to enable the beings therein to gain liberation; really the Enlightening Beings are not born in those states. 9) Chẳng do người dạy mà được vô ngại biện, trí huệ quang minh, có thể chiếu rõ khắp cả Phật pháp, được thần lực của tất cả Như Lai hộ trì đồng một pháp thân với tất cả chư Phật, thành tựu tất cả pháp kiên cố, bí mật, minh tịnh của bực đại nhân, an trụ những thừa giải thoát bình đẳng, cảnh giới chư Phật đều hiện ra, đầy đủ tất cả thế trí quang minh, soi thấy tất cả chúng sanh giới, có thể vì chúng sanh mà làm tri pháp sư, thị hiện cầu chánh pháp không thôi dứt, dầu thật làm vô thượng sư cho chúng sanh mà thị hiện tôn kính a-xà-lê. Vì đại Bồ Tát thiện xảo phương tiện trụ Bồ Tát đạo, tùy theo sở nghi đều vì chúng sanh mà thị hiện: Without being taught by another, they attain unhindered intellect and the light of knowledge, are able to illumine and understand all Buddha teachings, are sustained by the spiritual power of all Buddhas, are one of the same body of reality with all Buddhas, accomplish all incorruptible mystic states of clarity and purity of great people, abide in all equal vehicles of liberation, are aware of all spheres of Buddhahood, are endowed with the light of all worldly knowledge, and clearly see all realms of sentient beings; they are able to be truth-knowing teachers for sentient beings, yet they make the appearance of ceaseless search for truth; though they are actually unexcelled teachers of sentient beings, they show respect to preceptors and religious mentors, because great enlightening beings, by skillful expedients, abide in the path of enlightening beings, yet manifest whatever is necessary. 10) Đạo trang nghiêm thứ mười—The tenth way of adornment: (A) a. Thiện căn đầy đủ: Their roots of goodness are sufficient. b. Công hạnh rốt ráo: Their practices are completed. c. Tất cả Như Lai cùng chung quán đảnh: They are coronated by all Buddhas together. d. Đến bỉ ngạn tất cả pháp tự tại: Reach the furthest extent of mastery of all the teachings. e. Lụa pháp vô ngại dùng đội trên đầu: Their heads crowned with the turban of the state of nonobstruction. f. Thân hình đến khắp tất cả thế giới, hiện khắp thân vô ngại của Như Lai: Their bodies reach all worlds and everywhere they show the body of Buddha that has no resistance. g. Nơi pháp tự tại rốt ráo tối thượng: Masters of the teachings, they attain supreme fulfillment. h. Chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh: Turn the unimpeded pure wheel of teaching. i. Tất cả pháp tự tại của Bồ Tát đều đã thành tựu: They have already accomplished all manner of freedom of enlightening beings. (A) Nhưng vì chúng sanh nên thị hiện thọ sanh nơi tất cả các quốc độ: But for the sake of sentient beings they appear to be born in all lands. (B) Đồng một cảnh với tất cả chư Phật trong ba đời: They are in the same realm as all Buddhas. a. Nhưng vẫn chẳng phế hạnh Bồ Tát: Yet they do not abandon the practices of Enlightening Beings. b. Chẳng bỏ pháp Bồ Tát: Yet they do not give up the principles of Enlightening Beings. c. Chẳng xao lãng nghiệp Bồ Tát: Yet they do not neglect the works of enlightening beings. d. Chẳng rời đạo Bồ Tát: Yet they do not leave the path of Enlightening Beings. e. Chẳng lơi oai nghi Bồ Tát: Yet they do not slacken the conduct of Enlightening Beings. f. Chẳng dứt những chấp thủ của Bồ Tát: Yet they do not cut off the grasping of Enlightening Beings. g. Chẳng thôi phương tiện thiện xảo Bồ Tát: Yet they do not cease the skillful methods of Enlightening Beings. h. Chẳng tuyệt việc làm của Bồ Tát: Yet they do not stop doing the tasks of enlightening beings. i. Chẳng nhàm hoạt động phát triển của Bồ Tát: Yet they do not tire of the developmental activities of Enlightening Beings. j. Chẳng dừng sức trụ trì của Bồ tát: Yet they do not put an end to sustaining power of Enlightening Beings. (C) Tại sao?—Why? Vì Bồ Tát muốn mau chóng chứng vô thượng Bồ Đề nên—Because Enlightening Beings want to quickly realize unexcelled, complete perfect enlightenment, so: a. Quán môn nhứt thiết trí: They examine the ways of access to omniscience. b. Tu hạnh Bồ tát không thôi nghỉ: Cultivate the practices of Enlightening Beings unceasingly.

mười đạo xuất sanh phật pháp của chư đại bồ tát

(Kinhy Hoa Nghiêm—Phẩm 38). —Ten ways of generating the qualities of Buddhahood of Great Enlightening Beings (The Flower Adornment Sutra—Chapter 38). Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được mười danh hiệu đại trượng phu (see Ten appellations of greatness)—Enlightening Beings who abide by these will gain ten appellations of greatness. 1) Tùy thuận thiện hữu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì họ đồng gieo căn lành: Following good friends is a way of generating qualities of Buddhahood, because they plant roots of goodness together. 2) Thâm tâm tin hiểu là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết Phật tự tại: Profound devotion is a way of generating qualities of Buddhahood, because they know the masteries of Buddhas. 3) Phát thệ nguyện lớn là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tâm họ rộng rãi: Making great vows is a way of generating qualities of Buddhahood, because their minds become broad. 4) Nhẫn thọ thiện căn của mình là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết nghiệp chẳng mất: Recognizing their own roots of goodness ia a way of generating qualities of Buddhahood, because they know their action is not wrong. 5) Tất cả kiếp tu hành không nhàm đủ là đạo xuất sanh Phật pháp, vì biết đến tột thuở vị lai: Tirelessly cultivating practice in all ages is a way of generating qualities of Buddhahood, because it comprehends the future. 6) Vô số thế giới đều thị hiện là đạo xuất sanh Phật pháp, vì thành thục chúng sanh: Appearing in countless worlds is a way of generating qualities of Buddhahood, by maturing sentient beings. 7) Chẳng dứt Bồ Tát hạnh là đạo xuất sanh Phật pháp, vì tăng trưởng Đại bi: Not stopping the practices of enlightening beings is a way of generating qualities of Buddhahood, by increasing great compassion. 8) Vô lượng tâm là đạo xuất sanh Phật pháp, vì một niệm khắp tất cả hư không giới: Infinite awareness is a way of generating qualities of Buddhahood, by pervading all of space in a single moment of thought. 9) Hạnh thù thắng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì công hạnh đã tu không hư mất: Excellent action is a way of generating qualities of Buddhahood, because what has been put into practice is not lost. 10) Như Lai chủng là đạo xuất sanh Phật pháp, vì làm cho tất cả chúng sanh thích phát tâm Bồ Đề dùng tất cả pháp lành giúp đỡ giữ gìn: The potential of enlightenment is a way of generating qualities of Buddhahood, causing all sentient beings to gladly set their minds on enlightenment and sustain this will by all virtues.

mười đầu của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm,Phẩm 38, có mười đầu của Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đầu đại trí huệ vô thượng của Như Lai—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of head of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can attain the supreme head of knowledge and wisdom of Buddhas. 1) Đầu Niết bàn vì không ai thấy được đảnh: The head of nirvana, as no one can see the top. 2) Đầu tôn kính, vì tất cả nhơn thiên đều kính lễ: The head of honor, respected by all humans and celestials. 3) Đầu thắng giải quảng đại, vì tối thắng trong đại thiên thế giới: The head of universal higher understanding, being supreme in the universe. 4) Đầu đệ nhứt thiện căn, vì tam giới chúng sanh đều tôn kính cúng dường: The head of formost roots of goodness, honored by the sentient beings of the three worlds. 5) Đầu gánh đội chúng sanh, vì thành tựu tướng nhục kế trên đảnh: The head bearing sentient beings, developing an indestructible crown. 6) Đầu chẳng khinh tiện người, vì ở tất cả chỗ đều là bực tôn thắng: The head of not despising others, in all places always respectful. 7) Đầu Bát Nhã Ba La Mật, vì trưởng dưỡng tất cả pháp công đức: The head of transcendent wisdom, nurturing all virtuous qualities. 8) Đầu tương ưng phương tiện trí, vì hiện khắp tất cả thân đồng loại: The head of union of knowledge and skill in means, everywhere appearing in compatible forms. 9) Đầu giáo hóa tất cả chúng sanh, vì thâu nạp tất cả chúng sanh làm đệ tử: The head of teaching all sentient beings, taking all sentient beings as disciples. 10) Đầu thủ hộ pháp nhãn của chư Phật, vì làm cho Tam bảo chủng chẳng đoạn tuyệt: The head of preservation of the eye of reality of Buddhas, able to perpetuate the seeds of the three treasures.

mười đặc tính của bồ tát trong chúng hội hoa nghiêm

Ten characteristics of Bodhisattvas in the Gandavyuha Assembly—See Bồ Tát (C).

mười đặc tính của thanh văn chúng trong chúng hội hoa nghiêm

Ten Characteristics of Sravakas in the Gandavyuha Assembly: 1) Họ đã tự ngộ về tự tính của sự thật và lý tánh: They are enlightened in the self-nature of truth and reason. 2) Họ đã soi tỏ giới hạn của thực tại: They have an insight into the limit of reality. 3) Họ đã thâm nhập yếu tánh của chư pháp: They have entered into the essence of things. 4) Họ đã vượt ngoài biển sanh tử: They are out of the ocean of becoming. 5) Họ đã an trụ trong kho tàng phước đức của Phật: They abide where the Buddha-merit is stored. 6) Họ đã giải thoát khỏi sự trói buộc của những kiết sử và phiền não: They are released from the bondage of the knots and passions. 7) Họ đã cư ngụ trong ngôi nhà vô ngại: They dwell in the house of non-attachment. 8) Tâm họ tịch tĩnh như hư không: They stay in serenity of space. 9) Họ đã hoàn toàn dứt sạch những nghi hoặc đối với Phật: They have their desires, errors, and doubts wiped off by the Buddha. 10) Họ đã hiến mình một cách chân chính và trung thành cho biển Phật trí: They are rightly and faithfully devoted to the Buddha-ocean.

mười đặc điểm của bồ đề tâm

Ten characters of Bodhicitta—Bồ Tát Di Lặc trút hết biện tài của ngài để tán dương sự quan trọng của Bồ Đề tâm trong sự nghiệp của một vị Bồ Tát. Bởi vì nếu Thiện Tài Đồng Tử không in đậm sự kiện đó trong lòng, đã không dễ gì bước vào cung điện Tỳ Lô Giá Na. Cung điện đó tàng ẩn tất cả những bí mật trong đời sống tâm linh của người Phật tử cao tuyệt. Nếu đồng tử đó chưa được chọn kỹ để bắt đầu, những bí mật ấy không có nghĩa gì hết. Chúng có thể bị hiểu lầm nghiêm trọng và hậu quả cố nhiên là khốc hại. Vì lý do đó, Ngài Di Lặc chỉ cho Thiện Tài thấy đủ mọi góc cạnh đâu là ý nghĩa đích thực của Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm có mười đặc điểm sau đây—Evidently Maitreya exhausted his power of speech in order to extol the importance of the Bodhicitta in the career of a Bodhisattva, for without this being dully impressed on the mind of the young Buddhist pilgrim Sudhana, he could not have been led into the interior of the Tower of Vairocana. The Tower harbors all the secrets that belong to the spiritual life of the highest Buddhist. If the novice were not quite fully prepared for the initiation, the secrets would have no signification whatever. They may even be grossly misunderstood, and the result will be calamitous indeed. For this reason, Maitreya left not a stone unturned to show Sudhana what the Bodhicitta really meant. There are ten characteristics of the Bodhicitta (Essays in Zen Zen Buddhism, vol. III): 1) Bồ Đề tâm khởi lên từ tâm đại bi—The Bodhicitta rises from a great compassionate heart: • Nếu có đại bi tâm, chẳng thể là Phật pháp. Coi nặng đại bi tâm (Mahakaruna) là nét chính của Đại Thừa. Chúng ta có thể nói, toàn bộ tính chất của giáo thuyết đó quay quanh cái trụ chốt nầy. Nền triết lý viên dung được miêu tả rất gợi hình trong Hoa Nghiêm thực sự chính là cái bùng vỡ của công năng sinh động đó: Without the compassionate heart there will be no Buddhism. This emphasis on Mahakaruna is characteristic of the Mahayana. We can say that the whole panorama of its teachings revolves on this pivot. The philosophy of Interpenetration so pictorially depicted in the Avatamsaka Sutra is in fact no more than the outburst of this life-energy • Nếu chúng ta vẫn còn dây dưa trên bình diện trí năng, những giáo thuyết của Phật như Tánh Không (Sunyata),Vô Ngã (Anatmya), vân vân, dễ trở thành quá trừu tượng và mất hết sinh lực tâm linh vì không kích thích nổi ai cái cảm tình cuồng nhiệt. Điểm chính cần phải nhớ là, tất cả giáo thuyết của Phật đều là kết quả của một trái tím ấm áp hằng hướng tới tất cả các loại hữu tình; chứ không là một khối óc lạnh lùng muốn phủ kín những bí mật của đời sống bằng lý luận. Tức là, Phật pháp là kinh nghiệm cá nhân, không phải là triết học phi nhân: As long as we tarry on the plane of intellection, such Buddhist doctrines as Emptiness (sunyata), Egolessness (anatmya), etc., may sound so abstract and devoid of spiritual force as not to excite anyone to fanatic enthusiasm. Thus main point is to remember that all the Buddhist teachings are the outcome of a warm heart cherished towards all sentient beings and not of a cold intellect which tries to unveil the secrets of existence by logic. That is to say, Buddhism is personal experience and not impersonal philosophy. 2) Phát Bồ Đề tâm không phải là biến cố trong một ngày—The raising of the Bodhicitta is not an event of one day: Phát Bồ Đề tâm đòi hỏi một cuộc chuẩn bị trường kỳ không phải trong một đời mà phải qua nhiều đời. Đối với những người chưa hề tích tập thiện căn, tâm vẫn đang ngủ vùi. Thiện căn phải được dồn lại để sau nầy gieo giống trở thành cây Bồ Đề tâm hợp bóng. Thuyết nghiệp báo có thể không phải là một lối trình bày có khoa học về các sự kiện, nhưng các Phật tử Đại Thừa hay Tiểu Thừa đều tin tưởng tác động của nó nơi lãnh vực đạo đức trong đời sống của chúng ta. Nói rộng hơn, chừng nào tất cả chúng ta còn là những loài mang sử tính, chúng ta không trốn thoát cái nghiệp đi trước, dù đó có nghĩa là gì. Bất cứ ở đâu có khái niệm về thời gian, thì có sự tiếp nối của nghiệp. Nếu chấp nhận điều đó, Bồ Đề tâm không thể sinh trưởng từ mảnh đất chưa gieo trồng chắc chắn thiện căn—The raising of the Bodhicitta requires a long preparation, not of one life but of many lives. The Citta will remain dormant in those souls where there is no stock of merit ever accumulated. Moral merit must be stored up in order to germinate later into the great overshadowing tree of the Bodhicitta. The doctrine of karma may not be a very scientific statement of facts, but all Buddhists, Mahayana and Hinayana, believe in its working in the moral realm of our lives. Broadly stated, as long as we are all historical beings we cannot escape the karma that proceded us, whatever this may mean. Whenever there is the notion of time, there is a continuity of karma. When this is admitted, the Bodhicitta could not grow from the soil where no nourishing stock of good ness had ever been secured. 3) Bồ Đề tâm phát sinh từ thiện căn—Bodhicitta comes out of a stock of good merit: Nếu Bồ Đề tâm phát sinh từ thiện căn, chắc chắn nó phải là phì nhiêu đủ tất cả các điều tốt đẹp của chư Phật và chư Bồ Tát, và các loài cao đại. Đồng thời nó phải là tay cự phách diệt trừ các ác trược, bởi vì không thứ gì có thể đương đầu nổi sấm chớp kinh hoàng giáng xuống từ lưỡi tầm sét Đế Thích của Bồ Đề tâm—If the Bodhicitta comes out of a stock of merit, it cannot fail to be productive of all the good things that belong to the Buddhas and Bodhisattvas and other great beings. At the same time it must also be the great crusher of evils, for nothing can withstand the terrible blow inflicted by the thunderbolt of the Citta-Indra. 4) Phát Bồ Đề tâm diễn ra từ chỗ uyên ảo của tự tánh, đó là một biến cố tôn giáo vĩ đại—The awakening of the Bodhicitta which takes place in the depths of one's being, is a great religious event: Tính chất cao quý cố hữu của Bồ Đề tâm không hề bị hủy báng ngay dù nó ở giữa mọi thứ ô nhiễm, ô nhiễm của tri hay hành, hoặc phiền não. Biển lớn sinh tử nhận chìm tất cả mọi cái rơi vào đó. Nhất là các nhà triết học, họ thỏa mãn với những lối giải thích mà không kể đến bản thân của sự thực, những người đó hoàn toàn không thể dứt mình ra khỏi sự trói buộc của sống và chết, bởi vì họ chưa từng cắt đứt sợi dây vô hình của nghiệp và tri kiến đang kềm hãm họ và cõi đất nhị nguyên do óc duy trí của mình—The intrinsic nobility of the Bodhicitta can never be defamed even when it is found among defilements of every description, whether they belong to knowledge or deeds or passions. The great ocean of transmigration drowns every body that goes into it. Especially the philosophers, who are satisfied with interpretations and not with facts themselves, are utterly unable to extricate themselves from the bondage of birth and death, because they never cut asunder the invisible tie of karma and knowledge that securely keeps them down to the earth of dualities because of their intellectualism. 5) Bồ Đề tâm vượt ngoài vòng chinh phục của Ma vương—Bodhicitta is beyond the assault of Mara the Evil One: Trong Phật pháp, Ma vương tượng trưng cho nguyên lý thiên chấp. Chính nó là kẻ luôn mong cầu cơ hội tấn công lâu đài kiên cố của Trí (Prajna) và Bi (Karuna). Trước khi phát tâm Bồ Đề, linh hồn bị lôi kéo tới thiên chấp hữu và vô, và như thế là nằm ngoài ranh giới năng lực hộ trì của tất cả chư Phật và Bồ Tát, và các thiện hữu tri thức. Tuy nhiên, sự phát khởi đó đánh dấu một cuộc chuyển hướng quyết định, đoạn tuyệt dòng tư tưởng cố hữu. Bồ Tát bây giờ đã có con đường lớn thênh thang trước mắt, được canh chừng cẩn thận bởi ảnh hưởng đạo đức của tất cả các đấng hộ trì tuyệt diệu. Bồ Tát bước đi trên con đường thẳng tắp, những bước chân của ngài quả quyết, Ma vương không có cơ hội nào cản trở nổi bước đi vững chãi của ngài hướng tới giác ngộ viên mãn—In Buddhism, Mara represents the principle of dualism. It is he who is always looking for his chance to throw himself against the solid stronghold of Prajna and Karuna. Before the awakening of the Bodhicitta the soul is inclined towards the dualism of being and non-being, and is thus necessarily outside the pale of the sustaining power of all Buddhas, Bodhisattvas, and good friends. The awakening, however, makrs a decisive turning-away from the old line of thought. The Bodhisattva has now an open highway before him, which is well guarded by the moral influence of all his good protectors. He walks on straightway, his footsteps are firm, and the Evil One has no chance to tempt him away from his steady progress towards perfect enlightenment. 6) Khi Bồ Đề tâm được phát khởi, Bồ Tát được quyết định an trụ nơi nhất thiết trí—When the Bodhicitta is aroused, the Bodhisattva's hold on all-knowledge is definite and firm: Bồ Đề tâm có nghĩa là làm trổi dậy khát vọng mong cầu giác ngộ tối thượng mà Phật đã thành tựu, để rồi sau đó Ngài làm bậc đạo sư của một phong trào tôn giáo, được gọi là đạo Phật. Giác ngộ tối thượng là nhất thiết trí (Sarvajnata), thường được nhắc nhở trong các kinh điển Đại Thừa. Nhất Thiết trí vốn là yếu tính của đạo Phật. Nó không có nghĩa rằng Phật biết hết mọi thứ, nhưng Ngài đã nắm vững nguyên lý căn bản của hiện hữu và Ngài đã vào sâu trong trọng tâm của tự tánh—The Bodhicitta means the awakening of the desire for supreme enlightenment which was attained by the Buddha, enabling him to become the leader of the religious movement known as Buddhism. Supreme enlightenment is no other than all-knowledge, sarvajnata, to which reference is constantly made in all the Mahayana texts. All-knowledge is what constitutes the essence of Buddhahood. It does not mean that the Buddha knows every individual thing, but that he has grasped the fundamental principle of existence and that he has penetrated deep down into the center of his own being. 7) Phát Bồ Đề tâm đánh dấu đoạn mở đầu cho sự nghiệp của Bồ Tát—The rise of Bodhicitta marks the beginning of the career of a Bodhisattva: Trước khi phát Bồ Đề tâm, ý niệm về Bồ Tát chỉ là một lối trừu tượng. Có thể tất cả chúng ta đều là Bồ Tát, nhưng khái niệm đó không được ghi đậm trong tâm thức chúng ta, hình ảnh đó chưa đủ sống động để làm cho chúng ta cảm và sống sự thực. Tâm được phát khởi, và sự thực trở thành một biến cố riêng tư. Bồ Tát bấy giờ sống tràn lên như run lên. Bồ Tát và Bồ Đề tâm không thể tách riêng. Bồ Đề tâm ở đâu là Bồ Tát ở đó. Tâm quả thực là chìa khóa mở tất cả cửa bí mật của Phật pháp—Before the rise of the Bodhicitta, the idea of a Bodhisattva was no more than an abstration. We are perhaps all Bodhisattvas, but the notion has not been brought home to our consciousness, the image has not been vivid enough to make us feel and live the fact. The Citta is aroused and the fact becomes a personal event. The Bodhicitta is now quivering with life. The Bodhisattva and the Bodhicitta are inseparable; where the one is there the other is. The Citta indeed is the key that opens all the secret doors of Buddhism. 8) Bồ Đề tâm là giai đoạn thứ nhất trong hạnh nguyện của Bồ Tát—The Bodhicitta is the first stage of the Bodhisattva's life of devotion and vow: Trong Kinh Hoa Nghiêm, chủ đích đi cầu đạo của Thiện Tài là cốt nhìn ra đâu là hạnh và nguyện của Bồ Tát. Rồi nhờ Đức Di Lặc mà Thiện Tài trực nhận từ trong mình tất cả những gì mình săn đuổi giữa các minh sư, các đạo sĩ, các Thiên thần, vân vân. Cuối cùng được ngài Phổ Hiền ấn chứng, nhưng nếu không có giáo huấn của Đức Di Lặc về Bồ Đề tâm và được ngài dẫn vào lầu các Tỳ Lô, Thiện Tài hẳn là không mong gì thực sự bước lên sự nghiệp Bồ Tát đạo của mình. Hạnh và nguyện, xác chứng một Phật tử có tư cách là Đại Thừa chứ không phải là Tiểu Thừa, không thể không phát khởi Bồ Đề tâm trước tiên—In the Avatamsaka Sutra, the chief object of Sudhana's quest consists in finding out what is the Bodhisattva's life of devotion and vow. It was through Maitreya that the young Buddhist pilgrim caem to realize within himself all that he had been searching for among the various teachers, philosophers, gods, etc. The final confirmation comes from Samantabhada, but without Maitreya's instruction in the Bodicitta and is admision into the Tower of Vairocana, Sudhana could not expect to start really on his career of Bodhisattvahood. The life of devotion and vows which stamps a Buddhist as Mahayanist and not as Hinayanist is impossible without first arousing the Bodhicitta. 9) Đặc chất của Bồ Tát sinh ra từ Bồ Đề tâm là không bao giờ biết đến mệt mỏi—The characteristic of Bodhisattvahood born of the Bodhicitta is that He never know what exhaustion means: Kinh Hoa Nghiêm mô tả Bồ Tát như là một người không hề mệt mỏi sống cuộc đời dâng hiến, để làm lợi ích hết thảy chúng sanh, về tinh thần cũng như vật chất. Đời sống của ngài trải rộng đến tận cùng thế giới, trong thời gian vô tận và không gian vô biên. Nếu ngài không làm xong công nghiệp của mình trong một đời hay nhiều đời, ngài sẳn sàng tái sinh trong thời gian vô số, cho đến bao giờ thời gian cùng tận. Mỗi trường hành động của ngài không chỉ giới hạn trong thế gian của chúng ta ở đây. Có vô số thế giới tràn ngập cả hư không biên tế, ngài cũng sẽ hiện thân khắp ở đó, cho đến khi nào đạt đến mức mà mọi chúng sanh với mọi căn cơ thảy đều thoát khỏi vô minh và ngã chấp—The Avatamsaka Sutra describes the Bodhisattva as one who never becomes tired of living a life of devotion in order to benefit all beings spiritually as well as materially. His life lasts till the end of the world spatially and temporarily. If he cannot finish his work in one life or in many lives, he is ready to be reborn a countless number of times when time itself comes to an end. Nor is his field of action confined to this world of ours. As there are innumerable worlds filling up an infinite expanse of space, he will manifest himself there, until he can reach every being that has any value at all to be delivered from ignorance and egotism. 10) Khái niệm Bồ Đề tâm là một trong những tiêu chỉ quan trọng phân biệt Đại Thừa và Tiểu Thừa—The notion of Bodhicitta is one of the most important makrs which label the Mahayana as distinct from the Hinayana: Tính cách khép kín của tổ chức Tăng lữ làm tiêu hao sinh lực Phật pháp. Khi thế hệ đó ngự trị, Phật pháp hạn chế ích lợi của nó trong một nhóm khổ tu đặc biệt. Nói đến Tiểu Thừa, không phải chỉ chừng đó. Công kích nặng nhất mà nói, Tiểu thừa chận đứng sự sinh trưởng của hạt giống tâm linh được vun trồng trong tâm của mọi loài hữu tình; đáng lẽ phải sinh trưởng trong sự phát khởi Bồ Đề tâm. Tâm đó khát vọng không bao giờ bị khô héo vì sương giá lạnh lùng của cái giác ngộ trí năng. Khát vọng nầy kết chặt gốc rễ, và sự giác ngộ phải thỏa mãn những yêu sách của nó. Các hoạt động không hề mệt mỏi của Bồ Tát là kết quả của lòng ngưỡng vọng đó, và chính cái đó duy trì tinh thần của Đại Thừa vô cùng sống động—The exclusiveness of the monastic organization is a death to Buddhism. As long as this system rules, Buddhism limits its usefulness to a specific group of ascetics. Nor is this the last word one can say about the Hinayana; the weightiest objection is that it stops the growth of the spiritual germ nursed in the depths of every sentient being, which consists in the arousing of the Bodhicitta. The Citta has its desire never to be nipped by the cold frost of intellectual enlightenment. This desire is too deep-seated, and the enlightenment itself must yield to its dictates. The Bodhisattva's untiring activities are the outcome of this desire, and this is what keeps the spirit of the Mahayana very much alive.

mười đề mục bất tịnh

Theo Vi Diệu Pháp, có mười loại tử thi, bất tịnh, hay mười giai đoạn tan hoại của tử thi. Đây là những đề mục hành thiền được đề nghị cho những người ham mê sắc dục—According to The Abhidharma, there are ten kinds of foulness, impurities, or corpses in different stages of decay. This set of meditation subjects is especially recommended for removing sensual lust. 1) Tử thi sình: Uddhumataka (p)—A bloated corpse. 2) Tử thi đã đổi màu: Vinilaka (p)—A livid or discoloured corpse. 3) Tử thi đã tan rã chảy nước: Vipubhaka (p)—A festering corpse. 4) Tử thi bị đứt lìa: Vicchiddaka (p)—A dismembered or dissected corpse. 5) Tử thi bị đục khoét: Vikkhayitaka (p)—An eaten corpse. 6) Tử thi bị văng vụn ra thành từng mảnh: Vikkhittaka (p)—A scattered-in-pieces corpse. 7) Tử thi rã rời vung vảy tản mác: Hata-vikkhittaka (p)—A mutilated and scattered-in-pieces corpse. 8) Tử thi đẩm đầy máu: Lohitaka (p)—A bloody corpse. 9) Tử thi bị dòi tửa đục tan: Pulavaka (p)—A worm-infested corpse. 10) Bộ xương: Atthika (p)—A skeleton.

mười đề mục suy niệm

Anussati (p)—The ten recollections. 1) Niệm Phật: Buddhanussati (p)—Suy niệm về Đức Phật—The recollection of the Buddha. 2) Niệm Pháp: Dhammanussati (p)—Suy niệm về giáo pháp—The recollection of the Dharma. 3) Niệm Tăng: Sanghanussati (p)—Suy niệm về Tăng—The recollection of the Sangha. 4) Niệm Giới: Silanussati (p)—Suy niệm về Giới Luật. Tỉnh thức về việc tu hành trì giữ giới luật—The recollection of Morality. The practice of mindfully recollecting the special qualities of virtuous conduct. 5) Niệm Thí: Caganussati (p)—Suy niệm về Tâm Bố Thí. Tỉnh thức về việc tu hành hạnh bố thí—The recollection of generosity which involves mindful reflection on the special qualities of generosity. 6) Niệm Thiên: Devatanussati (p)—Suy niệm về chư Thiên—Thực tập bằng cách suy niệm như vầy: “Chư Thiên được sanh ra trong những trạng thái siêu việt vì họ có những phẩm hạnh tín, giới, bố thí, và trí huệ. Ta cũng có những phẩm hạnh ấy.” Đề mục hành thiền nầy là đề mục tu thiền tỉnh thức về những phẩm hạnh đặc biệt với sự chứng kiến của chư Thiên—The recollection of the devas, practised by mindfully considering: “The deities are born in such exalted states on account of their faith, morality, learning, generosity, and wisdom. I too possess these same qualities.” This meditation subject is a term for mindfulness with the special qualities of one's own faith, etc., as its objects and with the devas standing as witnesses. 7) Niệm Lạc: Upasamanussati (p)—Suy niệm về trạng thái thanh bình an lạc. Quán chiếu về sự an lạc của Niết Bàn: The recollection of peace. The contemplation on the peaceful attributes of Nibbana. 8) Niệm Tử: Marananussati (p)—Suy niệm về sự chết. Quán tưởng về cái chết là chắc chắn, cái chết đến bất ngờ, và khi chết người ta phải bỏ hết mọi thứ—The recollection of death. The contemplation on the fact that one's own death is absolutely certain, that the arrival of death is utterly uncertain, and that when death comes one must relinquish everything. 9) Niệm Thân: Kayagatasati (p)—Suy niệm hay tỉnh thức về thân. Quán tưởng về 32 phần của thân thể như tóc, lông, móng, răng, da, xương, tủy, vân vân—Mindfulness occupied with the body. The contemplation of the thirty-two repulsive parts of the body, hair of the head, hairs of the body, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, marrow, etc. 10) Niệm Tức: Anapanasati (p)—Suy niệm về hơi thở. Tỉnh thức về cảm giác xúc chạm của những vùng phụ cận hai lổ mũi hay môi trên khi không khí ập đến lúc ta thở vào thở ra—Mindfulness of breathing. The attentiveness to the touch sensation of in-breath and out-breath in the vicinity of the nostrils or upper lip, whether the air is felt striking as one breathes in and out.

mười đệ tử lớn của đức phật

See Ten chief disciples of Sakyamuni.

Mười địa vị

(Thập địa): vị Bồ Tát tu tập lần lượt chứng đủ 10 địa vị từ thấp đến cao gọi là Thập địa (十地, Phạn ngữ: daśabhmi), được kể như sau: 1. Hoan hỷ địa (歡喜地, Phạn ngữ: pramudit-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi (saṃsra), không còn nghĩ đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí (dna) không cầu phước đức, chứng được thực tính vô ngã (antman) của tất cả các pháp (dharma). 2. Ly cấu địa (離垢地, Phạn ngữ: vimal-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát nghiêm trì giới luật (ỵla) và thực hành thiền định (dhyna, samdhi). 3. Phát quang địa (發光地, Phạn ngữ: prabhkrỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát chứng được luật vô thường (anitya), tu trì tâm mình, thực hành nhẫn nhục (kṣnti) khi gặp chướng ngại trên đường hóa độ chúng sanh. Ở địa vị này, Bồ Tát trừ được ba độc là tham, sân, si và được bốn cấp định an chỉ (dhyna) của bốn xứ, chứng đạt năm phần trong lục thông (abhijđ). 4. Diệm huệ địa (燄慧地, Phạn ngữ: arciṣmatỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát trừ dứt mọi quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ (prajđ) và 37 pháp Bồ-đề phần (bodhipkṣika-dharma), cũng gọi là 37 phẩm trợ đạo. 5. Cực nan thắng địa (極難勝地, Phạn ngữ: sudurjay-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát nhập định, đạt được trí huệ, từ đó liễu ngộ được pháp Tứ diệu đế và chân như, diệt hết các mối nghi ngờ và phân biệt, lại tiếp tục hành trì 37 giác chi. 6. Hiện tiền địa (現前地, Phạn ngữ: abhimukhỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát liễu ngộ tất cả pháp là vô ngã, chứng được lý mười hai nhân duyên và chuyển hóa trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức được tánh không. Bồ Tát ở địa vị này đã đạt trí huệ Bồ-đề (Phạn ngữ: bodhi). Bồ Tát nhờ đó có thể nhập Niết-bàn thường trụ (Phạn ngữ: pratiṣṭhita-nirvṇa) vì lòng từ bi thương xót chúng sanh mà trụ lại thế gian, nhưng không bị sanh tử ràng buộc. Cảnh giới này gọi là Niết-bàn vô trụ (Phạn ngữ: apratiṣṭhita). 7. Viễn hành địa (遠行地,Phạn ngữ: ddraṅgam-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát có đầy đủ mọi khả năng, phương tiện (Phạn ngữ: upya) để giáo hóa chúng sanh. Ở địa vị này, Bồ Tát có thể tùy nguyện lực hóa thân ở bất kỳ hình tướng nào. 8. Bất động địa (不動地,Phạn ngữ: acal-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát không còn bị dao động bởi bất kỳ một cảnh ngộ nào, và biết chắc khi nào mình sẽ đạt quả vị Phật. 9. Thiện huệ địa (善慧地, Phạn ngữ: sdhumatỵ-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát đạt trí huệ viên mãn, có đủ Thập lực (Phạn ngữ: daśabala), lục thông (Phạn ngữ: ṣaḍabhijđ), bốn tự tín và tám giải thoát, thông đạt mọi giáo pháp và giảng dạy cho chúng sanh. 10. Pháp vân địa (法雲地, Phạn ngữ: dharmamegh-bhmi): Đạt địa vị này, Bồ Tát chứng đạt nhất thiết trí (Phạn ngữ: sarvajđat), đại hạnh. Ở địa vị này, Bồ Tát có Pháp thân viên mãn, ngự trên tòa sen với vô số Bồ Tát chung quanh trên cung trời Đâu-suất. Quả vị Phật lúc này đã được chư Phật ấn chứng. Kinh điển có nói đến các vị Bồ Tát đã đạt đến địa vị này là Bồ Tát Di-lặc (Phạn ngữ: Maitreya), Bồ Tát Quán Thế Âm (Phạn ngữ: Avalokiteśvara) và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (Phạn ngữ: Mađjuśrỵ).

mười ấn của chư đại bồ tát

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, chư đại Bồ Tát có mười ấn. Bồ Tát dùng mười ấn nầy mau thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, đầy đủ trí ấn nhứt thiết pháp vô thượng của Như Lai—According to The Flower Adornment Sutra, there are ten kinds of definitive mark of Great Enlightening Beings. Enlightening Beings who abide by these can quickly achieve supreme perfect enlightenment and become endowed with the mark of Buddhas' unexcelled knowledge of all truths. 1) Ấn thứ nhứt—The forst definitive mark: a. Biết khổ khổ: Knowing the suffering of pain. b. Biết hoại khổ: Knowing the suffering of disintegration. c. Biết hành khổ: Knowing the suffering of transitoriness. d. Nhứt tâm chuyên cầu Phật pháp chẳng sanh tâm giải đãi: Single-mindedly seek the way of enlightenment, without becoming lazy. e. Thực hành Bồ Tát hạnh không mỏi lười, chẳng kinh sợ: Carry out practices of enlightening beings, unwearied, without fear of apprehension of anxiety. f. Chẳng bỏ đại nguyện cầu nhứt thiết trí: Not giving up this great undertaking. g. Kiên cố, bất thối, rốt ráo vô thượng Bồ Đề: Seeking omniscience steadfastly, not retreating, ultimately attaining unexcelled, complete perfected enlightenment. 2) Ấn thứ hai—The second definitive mark: Bồ Tát thấy có chúng sanh ngu si cuồng loạn, hoặc dùng lời ác thô tệ để hủy nhục, hoặc dùng dao gậy ngói đá để làm tổn hại, trọn không vì việc nầy mà bỏ tâm Bồ Tát, chỉ nhẫn nhục nhu hòa chuyên tu Phật pháp, trụ đạo tối thắng, nhập ngôi ly sanh—Seeing that there are sentient beings who are foolish and deluded to the point of madness, reviling, attacking, and injuring one another by words and weapons, do not abandon the attitude of an enlightening being because of these scenes; they just forbear with tolerance and gentility, concentrate on cultivating the way of enlightenment, abide in the supreme Path, and enter the state of detachment. The third definitive mark. 3) Ấn thứ ba—The third definitive mark: . Chư Đại Bồ Tát nghe Phật pháp thậm thâm tương ưng với nhứt thiết trí, có thể dùng tự trí thâm tín, nhẫn khả hiểu rõ, xu nhập—When Great Enlightening Beings hear explanation of the most profound teaching of Buddhas relating omniscience, they are able by their own knowledge to deeply believe and accept it, to understand and enter into it. 4) Ấn thứ tư—The fourth definitve mark: Chư Đại Bồ Tát cũng nghĩ rằng—Great Enlightening Beings also think: a. Phát thâm tâm cầu nhứt thiết trí: Having made the profound determination to seek omniscience. b. Sẽ thành Phật được vô thượng Bồ Đề: Shall become a Buddha and attain supreme complete perfect enlightenment. c. Tất cả chúng sanh lưu chuyển trong thế giới hữu vi, chịu vô lượng khổ; chính vì thế mà chư Bồ Tát cố gắng làm cho họ phát tâm Bồ Đề thâm tín hoan hỷ, siêng tu tinh tấn, kiên cố, bất thối: All sentient beings are flowing in the world of mundane conditions, suffering immeasurable pains; therefore, they try to set their minds on enlightenment, to believe and delight in it, and to cultivate it diligently and steadfastly without regressing. 5) Ấn thứ năm—The fifth definitive mark: a. Biết Như Lai trí vô biên nên chẳng dùng chừng ngằn đo lường: Knowing the knowledge of Buddhas is boundless and do not try to access it in limited terms. b. Nghe được vô biên trí Phật từ vô lượng Phật, không thể đánh giá được: Having heard of the boundlessness of Buddhas' knowledge from innumerable Buddhas, are able to make limited assessments. c. Tất cả văn tự thế gian nói ra đều có chừng ngằn, đều chẳng biết được Như Lai trí huệ: Everything written or said in all words has limitations and cannot comprehend the knowledge of Buddhas. 6) Chư Đại Bồ tát nơi vô thượng Bồ Đề được—In regard to unexcelled, complete perfect enlightenment, Great Enlightening Beings have. a. Sự mong muốn tối thắng:Supreme desire. b. Sự mong muốn thậm thâm: Profound desire. c. Sự mong muốn rộng lớn: Vast desire. d. Sự mong muốn vĩ đại: Great desire. e. Nhiều sự mong muốn: Complex desire. f. Sự mong muốn không gì hơn: Insuperable desire. g. Sự mong muốn vô thượng: Unsurpassed desire. Steadfast desire. h. Sự mong muốn kiên cố:Desire that cannot be destroyed by any demons or false teachers or their cohorts. i. Sự mong muốn mà chúng ma ngoại đạo và quyến thuộc không phá hoại được: j. Sự mong muốn cầu nhứt thiết trí không thối chuyển: Unyielding desire to seek omniscience. k. Bồ Tát an trụ trong những sự mong muốn nầy nơi vô thượng Bồ Đề rốt ráo bất thối: Dwelling in such desire, ultimately never turn back from supreme enlightenment. 7) Ấn thứ bảy—The seventh mark: Bồ Tát thực hành Bồ Tát hạnh chẳng kể thân mạng không gì trở ngại được—Great Enlightening Beings carry out enlightening actions without concern for their own bodies or lives. No one can discourage or frustrate them. a. Vì phát tâm xu hướng nhứt thiết trí: Because they proceed with determination toward all-knowledge. b. Vì nhứt thiết trí tánh thường hiện tiền: Because the essence of omniscience is always apparent to them. c. Vì được tất cả Phật trí quang minh: Because they have the light of knowledge of all Buddhas. d. Trọn chẳng bỏ rời Phật Bồ Đề, trọn chẳng rời bỏ thiện tri thức: Never give up on the enlightenment of Buddhas and never abandon the wise. 8) Ấn thứ tám—The eighth mark: Chư Đại Bồ Tát nếu thấy thiện nam tử thiện nữ nhân xu hướng Đại thừa thời—When Great Enlightening Beings see good men and women aiming for great Vehicle of universal enlightenment. a. Tăng trưởng tâm cầu Phật pháp: Foster the growth of their determination to seek Buddhahood. b. Khiến họ an trụ tất cả thiện căn: To stabilize all foundations of goodness. c. Khiến họ nhiếp thủ tâm nhứt thiết trí: Internalize the determination for omniscience. d. Khiến họ bất thối vô thượng Bồ Đề: Never to turn back the quest for supreme enlightenement. 9) Ấn thứ chín—The ninth definitive mark: a. Great enlightening beings cause all sentient beings to achieve an impartial mind and induce them to cultivate the path of universal knowledge: Bồ Tát làm cho tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng, khuyên họ siêng tu đạo nhứt thiết trí. b. Dùng tâm đại bi mà vì họ thuyết pháp, khiến họ trọn chẳng thối chuyển nơi vô thượng chánh đẳng chánh giác: They explain the truth to sentient beings compassionately and cause them never turn back on the Path of Enlightenment. 10) Ấn thứ mười—The tenth definitive mark: a. Đại Bồ tát dùng tam thế chư Phật đồng một thiện căn: Great Enlightening Beings have the same foundations of goodness as all Buddhas. b. Chẳng dứt chủng tánh của chư Phật, rốt ráo được đến nhứt thiết chủng trí: They perpetuate the seed of Buddhahood and ultimately reach omniscient knowledge.

mạc

1) Đừng: Not to—Do not—No. 2) Màng: A membrane. ; (幕) Cũng gọi Mạn mạc, Trướng duy. Màn trướng, tức là 1 tấm vải dài dùng để trang trí hoặc để ngăn chia không gian. Màn may dọc là mạn, màn may ngang gọi là mạc. Kinh Đà la ni tập quyển 3 nêu ra 21 loại vật cúng dường, trong đó, loại thứ 7 là Bảo trướng (trướng báu). Trong các kinh điển, danh từ màn trướng thường được nói đến, như kinh Quán vô lượng thọ nói (Đại 12, 343 thượng): Màn báu trên Bảo chàng, giống như cung trời Dạ ma. Ngoài ra, cứ theo điều Thiên hóa trong Bách trượng thanh qui quyển 3 thì gian trên, gian giữa và gian dưới của Pháp đường đều có giăng màn và bày hương hoa đèn nến v.v... Ngày nay, trong các lễ hội, màn thường được dùng để ngăn che phía trước và 2 bên cạnh của Phật đường.

mạc bang

Đưa hai tay lên khỏi đầu tỏ ý quy phục (đầu hàng)—To raise the hands to the head in making obeisance.

mạc chính hi

(莫正熹) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc , người Trung sơn, tỉnh Quảng đông. Năm Dân quốc 25 (1936), ông qui y pháp sư Từ hàng, được đặt pháp danh là Tịnh hi. Ông tinh thông quốc học và kính tin Phật pháp. Ông qua đời vào tháng 12 năm Dân quốc 75 (1986), thọ 88 tuổi. Ông có các tác phẩm: Kinh kì tập, Kiến tính thành Phật, Kinh kì tạp tập; Lăng nghiêm thiển thích.

mạc da kiếm

(鏌耶劍) Cũng gọi Mạc tà kiếm. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn là 1 loại kiếm nổi tiếng đời xưa do 2 vợ chồng anh thợ đúc kiếm người nước Ngô (có thuyết cho là người nước Sở hoặc nước Hàn) tên là Mạc da và Can tương làm ra. Hai vợ chồng người thợ danh tiếng này hợp lực giúp vua Ngô Hạp lư đúc 2 thanh kiếm âm và dương, kiếm dương gọi là Can tương, kiếm âm gọi là Mạc da. Trong Thiền lâm, kiếm Mạc da được dùng để chỉ cho trí tuệ xưa nay sẵn có của chính mình, hoặc trí kiến bát nhã của bậc thầy chỉ dẫn người học 1 cách tự do tự tại. Tắc 9, Bích nham lục (Đại 48, 149 thượng), nói: Gương sáng trên đài, đẹp xấu tự rõ, kiếm Mạc da trong tay, sống chết tùy thời.

mạc già

Magha (skt). 1) Của cải: Wealth. 2) Cúng dường: Donation. 3) Thất tinh: Chòm thất tinh hay chòm sao bảy cái—Seven stars.

mạc ha

1) Lớn: Maha (skt)—Great. 2) Dòng sông Mahanada trong xứ Ma Kiệt Đà, chảy vào vịnh Cambay: Mahanada, a small river in Magadha, flowing into the gulf of Cambay.

mạc ha diễn tích

(莫呵衍磧) Cũng gọi Mạc hạ diên thích. Chỉ cho Đại mạc (sa mạc lớn) là từ ghép chung Phạm và Hán. Tức là sa mạc Gobi, xưa gọi là Sa hà (sông cát). Cứ theo Cao tăng Pháp hiển truyện và Từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 1, thì sa mạc này dài hơn 800 dặm, trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, cây cỏ không mọc được vì không có nước, là vùng đất mà các nhà truyền giáo thủa xưa phải trải qua khi truyền Phật pháp sang phương Đông. (xt. Qua Bích).

mạc ha tăng kỳ ni già da

Mahasanghika-nikaya (skt)—See Mahasanghika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mạc quy hương kệ

(莫歸鄉偈) Bài kệ do Thiền sư Mã tổ Đạo nhất (709- 788) đời Đường cảm tác khi ngài về thăm lại quê hương. Sau khi được Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng truyền tâm pháp cho, ngài Mã tổ Đạo nhất đến vùng Giang tây hoằng dương tông chỉ của Thiền, chủ trương tâm bình thường là đạo, tâm tức là Phật, cùng với ngài Thạch đầu Hi thiên hoằng pháp ở vùng Hồ nam, được xem là 2 viên ngọc quí của Thiền lâm thời bấy giờ. Một hôm, ngài Mã tổ trở về thăm làng quê ở tỉnh Tứ xuyên, người làng rất vui mừng đón tiếp, nhưng có 1 bà già biết ngài từ lúc còn nhỏ lại nói (Vạn tục 135, 454 hạ): Tưởng ai xa lạ, thì ra là thằng nhỏ con nhà họ Mã làm nghề đan nia! Ngài Mã tổ nghe được than rằng: Ở quê nhà khó truyền Phật pháp, rồi làm bài kệ để khuyên mọi người: Khuyên ông chớ về làng Về làng khó hành đạo Bà già ven dòng suối Gọi tên ta thủa nào! (Khuyến quân mạc hoàn hương Hoàn hương đạo bất thành Khê biên lão bà tử Hoán ngã cựu thời danh). Sau đó, ngài liền trở về Giang tây. Nhưng có thuyết cho rằng bài kệ này là của ngài Nam nhạc làm và tặng ngài Mã tổ, khi Mã tổ trên đường về quê ghé thăm lễ bái vấn an, nhưng lời kệ có thêm bớt chút ít. [X. chương Mã tổ Đạo nhất trong Ngũ gia chính tông tán Q.1; Chính pháp nhãn tạng hành trì thiên Q.hạ].

mạc tác

Đừng làm—Not committing.

mạc vọng tưởng

(莫妄想) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng hét làm cho người khác đừng khởi lên vọng tưởng. Là lời nói nghiêm khắc để ngăn chặn ý thức chấp trước phân biệt. Nếu không khởi vọng tưởng thì có thể ngay đó được quả bồ đề. Dụng ngữ này thịnh hành trong chốn Thiền lâm Trung quốc ở đời Đường. Chương Trường sa Cảnh sầm trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 41, 275 hạ), chép: Có vị tăng hỏi: Con giun đứt làm 2 khúc, 2 đầu đều ngọ ngoạy, không biết tính Phật ở đầu nào? Sư đáp: Tưởng bậy làm gì!(Vọng tưởng tác ma!) Liên đăng hội yếu quyển 6 cũng chép hệt như thế, nhưng câu sau cùng thì ghi: Chớ tưởng bậy! (Mạc vọng tưởng!). [X. Phần dương Vô đắc thiền sư ngữ lục Q.trung; Ngũ tổ Pháp diễn thiền sư ngữ lục Q.trung; Cảnh đức truyền đăng lục Q.18].

Mạch Nguyệt

(麥月): vào tháng 4 Âm Lịch là lúc lúa mạch chín, vì vậy tháng này được gọi là Mạch Nguyệt. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) cho biết rằng: “Mạnh Hạ chi nguyệt mạch thu chí (孟夏之月麥秋至, tháng đầu Hạ lúa mạch chín đến).” Trong bài Nguyệt Lịnh Chương Cú (月令章句) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bách cốc các dĩ kỳ sơ sanh vi Xuân, thục vi Thu, cố mạch dĩ Mạnh Hạ vi thu (百穀各以其初生爲春、熟爲秋、故麥以孟夏爲秋, trăm loại lúa đều lấy lúc mới sinh trưởng là mùa Xuân, chín là mùa Thu, cho nên lúa mạch lấy đầu Hạ là mùa lúa chín).” ; (麥月): vào tháng 4 Âm Lịch là lúc lúa mạch chín, vì vậy tháng này được gọi là Mạch Nguyệt. Trong Lễ Ký (禮記), chương Nguyệt Lịnh (月令) cho biết rằng: “Mạnh Hạ chi nguyệt mạch thu chí (孟夏之月麥秋至, tháng đầu Hạ lúa mạch chín đến).” Trong bài Nguyệt Lịnh Chương Cú (月令章句) của Thái Ung (蔡邕, 133-192) nhà Đông Hán giải thích rằng: “Bách cốc các dĩ kỳ sơ sanh vi Xuân, thục vi Thu, cố mạch dĩ Mạnh Hạ vi thu (百穀各以其初生爲春、熟爲秋、故麥以孟夏爲秋, trăm loại lúa đều lấy lúc mới sinh trưởng là mùa Xuân, chín là mùa Thu, cho nên lúa mạch lấy đầu Hạ là mùa lúa chín).”

mạch tích sơn

(麥積山) Núi ở cách huyện Thiên thủy, tỉnh Cam túc, Trung quốc, 46 cây số về phía đông nam. Núi này từ lâu đã bị lãng quên, mãi đến năm Dân quốc 41 (1952) mới được người ta biết tới. Hình dáng núi rất đặc thù, cao hơn 140 mét, đỉnh núi tròn, dốc thẳng xuống, trông giống như đống lúa ở thôn quê, cho nên gọi là Mạch tích sơn (núi đống lúa). Trong núi có suối rừng đẹp đẽ, là Thánh cảnh thâm u, tịch mịch ở khu Tây bắc Trung quốc. Qua các thời đại, nhiều vị Thiền tăng đã vào đây tĩnh tu, như cácngài Huyền cao, Đàm hoằng v.v... Các bậc Đế vương thời Bắc triều thích đến sườn núi này để tạo tượng, khắc kinh, nhưng niên đại tạo khắc không thể khảo xét được, chỉ ước tính bắt đầu vào khoảng cuối thời kì 16 quốc gia, đến các thời Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu đều có các kiến tạo rất qui mô. Rồi đến các đời Tùy, Đường, Tống cũng không ngừng mở rộng, qua các đời Minh, Thanh thì các việc tu bổ cũng rất được quan tâm. Về thời gian kiến tạo thì chỉ kém các hang động ở Đôn hoàng mà thôi, nhưng do những trận động đất và gió mưa xói mòn, nên bộ phận ở giữa bị cắt lìa, những hang đá thì chia thành 2 sườn Đông và Tây. Đề tài ghi được khắc trên đá sớm nhất hiện còn là bài văn phát nguyện tạo tượng của ông Trương bá nguyên, được khắc vào năm Cảnh minh thứ 2 (501) đời vua Tuyên vũ nhà Bắc Ngụy. Ngoài ra, vẫn còn 194 chỗ khắc hang khám và ma nhai rải rác ở 2 sườn Đông và Tây. Đỉnh núi có ngôi tháp hình 8 góc 5 tầng, chân núi phía đông có chùa Thụy ứng, vì núi đá này không thích hợp cho việc điêu khắc, nên phần lớn các tượng đều được đắp bằng đất. Các hang đá và ma nhai phần nhiều đã đổ nát, nhưng trong các hang vẫn còn 1 nghìn pho tượng đắp bằng đất, được tạo từ thời Bắc Ngụy đến Bắc Tống. Còn ở sườn núi phía đông, thì Niết bàn nhai, Thiên Phật lang, Tán hoa lâu, Thất Phật các, Ngưu nhi đường v.v... trông rất đẹp; trong đó, Thiên Phật lang còn 258 pho trong số 1 nghìn pho tượng ngồi đắp bằng đất, cũng có tượng đắp đất cao tới 6,15 mét. Ở giữa sườn núi phía tây, có Vạn Phật đường, trên mặt vách có tượng Hiền kiếp thiên Phật được tạo lập vào các thời đại từ Bắc Ngụy trở về sau, trên xà ngang và các cửa có khắc tượng người cúng dường và sơn thủy khắc nổi, rất tiếc là phần lớn đã bị bóc trộm mất. Mặt tây của Vạn Phật đường có tượng Tam tôn đứng khắc vào sườn núi rất lớn, hang nhỏ ở phía trên có các bức bích họa thời Bắc Ngụy, đẹp ngang với bích họa ở động đá Đôn hoàng, trong đó có bức vẽ Xả thân cho hổ đói. Quần thể động đá ở núi này và động đá chùa Bỉnh linh ở huyện Vĩnh tĩnh cũng thuộc tỉnh Cam túc, đều được tìm ra từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2.

mại tăng

(賣僧) Cũng gọi Đọa lạc tăng. Tăng buôn bán, chỉ cho các ông tăng ở trong chốn Thiền lâm mà còn theo việc kinh doanh, thương mãi. Về sau, từ ngữ này được dùng để chỉ cho hạng tăng chỉ biết dua nịnh người khác để cầu tiếng tăm, lợi dưỡng chứ không có đạo tâm.

Mạn

慢; S, P: māna;|Sự kiêu mạn tự cho ta bằng người (s: māna) hoặc hơn người (s: atimāna). Mạn là một trong mười Kết sử trói vào Luân hồi, chỉ hoàn toàn tan rã khi chứng quả A-la-hán. Mạn là một trong những Tuỳ miên (s: anuśaya; p: anusaya) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa).

mạn

(A) Nghĩa của Mạn—The meanings of Arrogance or Haughtiness: 1) Kiêu mạn: Mana (skt)—Cậy tài mình cao hơn mà khinh miệt người khác—Proud—Pride—Arrogance—Self-conceit—Looking down on others—Superlicious—Mạn là tự nâng cao mình lên, dương dương tự đắc. Họ có khuynh hướng lấn át người trên, chà đạp người dưới, không học hỏi, không lắng nghe lời khuyên hay lời giải thích, hậu quả là họ phạm phải nhiều lỗi lầm đáng tiếc—Haughty people are self-aggrandized and boasting. They tend to bully their superiors and trample the inferior. They refuse to learn any more or listen to advice or explanations; and as a result commit regretable errors. 2) Tràn lan: Overflowing—Boundless—Prolonged—Extended—Widespread. (B) Phân loại Mạn-Categories of Arrogances: 1) Thất Mạn: Seven arrogances—See Thất Mạn. 2) Cửu Mạn: Nine arrogances—See Cửu Mạn. ; (慢) Phạm,Pàli: Màna. Tức là tâm tự phụ, so sánh sự cao thấp, hơn kém, tốt xấu v.v... giữa mình với người khác rồi cậy mình hơn mà khinh miệt người, là 1 trong 46 tâm sở theo tông Câu xá và 1 trong 51 tâm sở theo tông Duy thức. Mạn có rất nhiều loại: Luận Đại tì bà sa quyển 43 và luận Câu xá quyển 19 nêu 7 loại mạn: 1. Mạn: Đối với người kém mình thì cho mình là tài giỏi hơn; còn đối với người ngang bằng mình, thì lại cho mình là không thua kém mà sinh tâm kiêu căng ngạo mạn. 2. Quá mạn (Phạm: Ati-màna): Người ngang bằng mình thì lại ương ngạch cho rằng mình vượt hơn; còn người ta hơn mình thì ngang ngược bảo họ bằng mình. 3. Mạn quá mạn (Phạm: Mànàtimàna): Người ta hơn mình thì ngược lại cho mình hơn người ta. 4. Ngã mạn (Phạm: Àtma-màna): Là gốc nguồn của 7 mạn. Trong thân do 5 uẩn giả hòa hợp, chấp trước có ta (ngã), của ta (ngã sở), rồi cậy ta mà sinh ra ngạo mạn. Bên trong chấp có ta, thì tất cả mọi người không ai bằng ta; bên ngoài chấp có cái của ta, thì phàm là cái của ta đều có giá trị cao hơn cái của những người khác. 5. Tăng thượng mạn (Phạm: Adhimàna): Chưa chứng được quả vị mà tự nhận mình đã chứng đắc. 6. Tị mạn (Phạm: Ùna-màna): Đối với người tài đức vượt trội, thì tự cho mình chỉ kém hơn người ấy chút ít; hoặc tuy thừa nhận người ấy hoàn toàn cao hơn, mình thực sự thấp kém, nhưng dứt khoát không chịu hạ mình học tập người ta. 7. Tà mạn (Phạm: Mithyà-màna): Chẳng có đức hạnh gì mà lại tự khoe mình là có. Còn 8 loại mạn thì gồm: Mạn, Đại mạn, Mạn mạn, Ngã mạn, Tăng thượng mạn, Bất như mạn, Tà mạn và Ngạo mạn. Luận Câu xá quyển 19 thì căn cứ vào luận Phát trí quyển 20 mà nêu ra 9 loại mạn: 1. Ngã thắng mạn loại: Đối với người bằng mình thì sinh tâm quá mạn mà cho mình hơn người. 2. Ngã đẳng mạn loại: Đối với người bằng mình mà sinh khởi tâm mạn cho rằng Tôi bằng người ấy (nghĩa là không thua kém). 3. Ngã liệt mạn loại: Đối với người vượt hơn mình, sinh tâm ti mạn Tôi kém cỏi. 4. Hữu thắng ngã mạn loại: Đối với người vượt hơn mình, sinh khởi tâm ti mạn người ấy hơn tôi. 5. Hữu đẳng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm mạn người ấy và tôi bằng nhau. 6. Hữu liệt ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm quá mạn người ấy kém tôi. 7. Vô thắng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình, sinh khởi tâm mạn cho rằng người ấy chưa chắc đã vượt hơn mình. 8. Vô đẳng ngã mạn loại: Đối với người bằng mình mà sinh tâm quá mạn cho rằng người ấy kém hơn mình. 9. Vô liệt ngã mạn loại: Đối với người hơn mình nhiều phần mà sinh tâm ti mạn cho rằng mình chỉ kém người ấy ít phần v.v...Chín loại mạn này gồm trong 3 loại là Mạn, Quá mạn và Ti mạn trong 7 mạn ở trên. Tức là Ngã đẳng mạn loại, Hữu đẳng ngã mạn loại và Vô thắng ngã mạn loại thuộc về Mạn; Ngã thắng mạn loại, Hữu liệt ngã mạn loại và Vô đẳng ngã mạn loại thuộc về Quá mạn; còn Ngã liệt mạn loại; Hữu thắng ngã mạn loại và Vô liệt ngã mạn loại thì thuộc về Ti mạn. Luận Phẩm loại túc quyển 1 có giải thích rõ về 9 mạn, trong đó, nêu ra trường hợp của Ngã thắng mạn, cho rằng Ngã thắng mạn là từ Mạn, Quá mạn và Mạn quá mạn mà ra, đây là do căn cứ vào quán cảnh kém, bằng và hơn mà phân biệt: Nếu quán cảnh kém mà cho mình là hơn, đó là Mạn; nếu quán cảnh bằng mà bảo mình hơn, đó là Quá mạn; còn nếu quán cảnh hơn mà bảo là mình hơn thì đó là Mạn quá mạn. Còn 8 mạn kia cũng có thể suy đây mà biết. Trong Phạm võng Bồ tát giới bản sở quyển 5, ngài Pháp tạng nêu ra 10 loại mạn là: Thông minh, thế trí, cao quí, kì niên (cao tuổi), đại tính (dòng họ lớn), cao môn (nhà cửa cao sang), giải (hiểu biết), phúc, phú (giàu có) và bảo (của báu). Pháp hoa kinh luận quyển hạ lại đem 7 ví dụ trong kinh Pháp hoa phối với 7 loại Tăng thượng mạn. Ngoài ra, vọng hoặc của tâm kiêu mạn, gọi là Mạn hoặc, là 1 trong 10 hoặc lớn; tự mạn mà phát ra nơi tâm, gọi là Mạn cử. [X. luận Đại tì bà sa Q.49, 50; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.4; Câu xá luận quang kí Q.4, 19; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.6, phần cuối].

mạn cúng

Cúng dường bông Mạn Đà La hay Viên Hoa lên chư Phật—Offerings of mandarava flowers.

mạn cử

Tỏ ra kiêu mạn—To hold oneself arrogantly.

mạn hoặc

Delusion of pride.

mạn khanh

(慢坑) Hố kiêu mạn, ví dụ tâm kiêu mạn như cái hố sâu. Ma ha chỉ quán quyển 10, hạ (Đại 46, 136 trung), nói: Kẻ được rơi xuống hố kiêu mạn, người thua thì đọa vào ngục ưu sầu.

mạn kim cương

(慢金剛) Phạm: Màna-vajra. Cũng gọi: Kim cương mạn, Kim cương ngạo, Ý khí kim cương, Kim cương dục tự tại.Vị tôn ngồi trong nguyệt luân ở phía trái Kim cương tát đỏa, trong hội Lí thú, là 1 trong 17 vị tôn của hội Lí thú trong Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Cứ theo Lí thú kinh thập thất Thánh đại mạn đồ la nghĩa thuật, thì vị Bồ tát này dùng trí Vô quá thượng (không trí nào vượt qua được trí này) khiến cho tất cả chúng sinh đều chứng được Thể của Tì lô giá na Như lai, đối với thế gian và xuất thế gian đều được tự tại, cho nên trụ ở uy nghi ngạo mạn, hiển hiện trí thân bình đẳng, ngã và vô ngã đều là huyễn. Như vậy thì biết vị Bồ tát này biểu thị cái đức hóa tha tự tại, cho nên gọi là Mạn kim cương. Hình tượng của vị tôn này là thân màu vàng, 2 tay khuỳnh ra và nắm lại để ở 2 bên bẹn, đầu hơi nghiêng về phía trái. Chủng tử là (kha), hình Tam muội da là 2 ấn Kim cương quyền. Cứ theo Ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quĩ, thì vị tôn này dùng 2 Kim cương quyền đặt ở nơi bẹn là biểu thị ý nghĩa thân chất ngại của 5 thức đã thanh tịnh, khởi đại dũng mãnh tinh tiến, làm cho thân 5 thức của hết thảy hữu tình đều thanh tịnh, đạt được trí Thành sở tác, mau chóng thành Phật. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Phổ hiền kim cương tát đỏa lược du già niệm tụng nghi quĩ].

mạn kiến

Một trong mười loại tà kiến, lòng kiêu mạn, đối với việc gì cũng cho là mình hơn người kém—Pride, regarding oneself as superior, one of the ten wrong views. ** For more information, please see Thập Tà Kiến in Vietnamese-English Section. ; (慢見) Đồng nghĩa: Mạn. Tâm kiêu mạn, tự cho mình là hơn người khác, xem những người khác thấp kém hơn mình, là 1 trong 10 kiến. Tông Câu xá Tiểu thừa và tông Duy thức Đại thừa đều cho Mạn kiến là phiền não thông cả Kiến đạo sở đoạn và Tu đạo sở đoạn. [X. luận Du già sư địa Q.8]. (xt. Thập Tùy Miên).

mạn kết

Mạn kết, một trong cửu kết trói cột con người trong sanh tử—The bondage of pride, one of the nine bonds that bind men to mortality. ** For more information, please see Cửu Kết.

mạn nhụ

Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mạn quá

Khởi tâm kiêu mạn cho rằng mình hơn hẳn người hơn mình—Regarding oneself as superior to superior. ** For more information, please see Thất Mạn and Cửu Mạn in Vietnamese-English Section.

mạn sơn

Ví lòng kiêu ngạo như núi cao—To compare the pride with a lofty mountain. ; (慢山) Núi Kiêu mạn, vì dụ tâm ngạo mạn cao như núi, coi khinh tất cả mọi người. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 856 thượng), nói: Núi Mạn cao ngất, nhìn xuống người và vật, nhà Ngã che mờ 4 phía, phủ kín trong Kiến ái.

mạn sử

Mạn Sứ—Thập mạn sứ có thể sai khiến hay ảnh hưởng thân tâm con người, bao gồm cả ngũ độn sử và ngũ lợi sử—The messenger, or lictor of pride. Ten messengers that affect the mind, including five envoys of stupidity and five wholesome deeds. ** For more information, please see Ngũ Độn Sử, and Ngũ Lợi Sử in Vietnamese-English Section. ; (慢使) Sự sai khiến của tâm kiêu mạn, 1 trong 10 sử. Mạn hoặc thường sai khiến thân tâm người ta nên gọi là Mạn sử. Trong 10 sử thì 5 sử là: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến hễ động niệm thì chúng sinh liền, tính chất của chúng rất bén nhạy, nên gọi là Ngũ lợi sử. Trái lại, 5 sử: Mạn, Tham, Sân, Si, Nghi thì đều do Thân kiến, Biên kiến v.v... sinh ra, vì tính chất của 5 sử này chậm chạp, cùn lụt, cho nên gọi là Ngũ độn sử.

mạn thù

Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Majusri—See Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (曼殊) I. Mạn Thù. Phạm: Maĩju. Cũng gọi: Mãn nhu, Mạn nhũ. Hán dịch: Diệu. Gọi đủ: Mạn thù thất lợi (Phạm: Maĩjuzrì, Hán dịch: Diệu cát tường, Diệu đức). Chỉ cho bồ tát Văn thù sư lợi nói trong kinh Duy ma. Sau khi đức Phật nhập diệt, bồ tát Mạn thù thất lợi ra đời tại Ấn độ, tuyên dương giáo nghĩa Đại thừa. Trong Thai tạng giới của Mật giáo, Ngài thị hiện hình đồng tử, gọi là Mạn thù đồng tử, Mạn thù thất lợi đồng tử (Phạm: Maĩjuzrì Kumàrabhùta). [X. Đại tì lô giá na kinh đại nghi quĩ Q.trung]. (xt. Văn Thù Bồ Tát). II. Mạn Thù (1884-1918). Danh tăng Trung quốc, người Hương sơn Quảng đông, nhưng sinh ở Hoành tân, Nhật bản, vốn tên là Tô tiển, tự Tử cốc, sau đổi là Huyền anh, hiệu Mạn thù. Mẹ tên Nhã tử, người Nhật bản, cha tên là Tô kiệt sinh, 1 thương gia người Trung quốc. Năm 6 tuổi sư về Lịch khê tại Quảng đông học tiếng Anh, năm 15 tuổi sư học trường Đại đồng ở Hoành tân, Nhật bản, sau khi tốt nghiệp, sư vào khoa dự bị Cao đẳng của trường Đại học Tảo đạo điền (Wasada) ở Đông kinh, sau lại chuyển đến trường Thành thành, từng tham gia cuộc vận động cách mạng. Sau, sư về Thượng hải, xuất gia ở Huệ châu. Từ đó, sư vân du khắp vùng Đông Nam á như: Java, Ấn độ, Thái lan, Kuala Lumpur. Sư sở trường về thi văn hội họa, tự ví mình như 1 thi nhân. Sư theo Trưởng lão Kiều tất ma học tiếng Phạm, sư từng là dịch sư của hội Phạm học và làm chủ giảng ở tinh xá Kì hoàn. Năm Dân quốc thứ 7 (1918) sư tịch ở Thượng hải, hưởng dương 35 tuổi. Sư có các dịch phẩm: Phạm văn điển 8 quyển, Phạm thư ma đa thể văn, Sa côn đa la, Pháp hiển Phật quốc kí, Huệ sinh sứ tây vực kí địa danh kim thích cập lữ trình đồ, Ai cập cổ giáo khảo, Anh dịch yếu tử tiên, Vô đề thi tam bách thủ, Yến tử khám tùy bút; Bái luân thi tuyển, Bi thảm thế giới, Văn học nhân duyên, Đoạn hồng linh nhạn kí, Phần kiếm kí, Tô mạn thù toàn tập. [X. Mạn thù đại sư toàn tập; Tô mạn thù niên phổ cập kì tha].

mạn thù ngũ tự tâm đà la ni phẩm

(曼殊五字心陀羅尼品) Gọi đủ: Kim cương đính kinh Mạn thù thất lợi bồ tát ngũ tự tâm đà la ni phẩm. Kinh, 1 quyển, do ngài Kim cương trí dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nói về pháp Văn thù ngũ tự trong nghi quĩ của Kim cương giới. Trước hết, nêu lên công đức của pháp này, kế đến, nói rõ về 5 chữ thần chú: A, la, bả, giả, na và ý nghĩa của mỗi chữ; sau hết, trình bày về công đức tụng trì đà la ni này và chỉ bày rõ pháp yếu tu hành.

mạn thù sa

Manjusaka (skt)—Tên của loài hoa Xích Đoàn trong vùng bắc Ấn—Name of a type of flower in north India.

mạn thù sa hoa

(曼殊沙華) Mạn thù sa, Phạm: Maĩjùwaka. Pàli: Maĩjùsaka. Cũng gọi: Nhu nhuyến hoa, Bạch viên hoa, Như ý hoa, Hạm hoa, Mạn thù nhan hoa. Loại hoa trời có màu trắng tươi, mềm mại mà chư thiên thường rắc xuống để trang nghiêm đạo tràng thuyết pháp. Loại hoa to gọi là Ma ha mạn thù sa hoa, là 1 trong 4 loại hoa trời. Trong Pháp hoa nghĩa kí quyển 1, do ngài Pháp vân soạn vào đời Lương thuộc Nam triều có ghi rằng: Mạn thù sa hoa, Hán dịch là Xích đoàn hoa (hoa tròn, màu đỏ), tên khoa học là Lycoris radiata, Herb, là loại thực vật thân thảo sống nhiều năm. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.2].

mạn thù sư lợi bồ tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh

(曼殊師利菩薩咒藏中一字咒王經) Cũng gọi Mạn thù nhất tự chú vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này nói về tác pháp thần chú đàn tràng của đồng tử Mạn thù thất lợi do đức Thích tôn tuyên thuyết trên cung trời Tịnh cư cho chư Thiên nghe. Trước hết, nêu bài chú Nhất tự Án sất lạc hê diệm và thuật về công đức của bài chú; kế đến, nói rõ về chân ngôn này và pháp cầu tài thành tựu, pháp trừ quỉ và các chứng bệnh v.v...

mạn thù thất lợi

Manjusri (skt)—See Văn Thù Sư Lợi in Vietnamese-English Section, and Manjusri in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mạn thù thất lợi chú tạng trung hiệu lượng sổ châu công đức kinh

(曼殊室利咒藏中校量數珠功德經) Cũng gọi Sổ châu công đức kinh, Giáo lượng sổ châu công đức kinh, Mạn thù sổ châu công đức kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về công đức trì niệm lần chuỗi tràng hạt. Trước hết, ngài Mạn thù sư lợi căn cứ vào các loại tràng hạt mà nói về sự sai khác của phúc phần lợi ích, kế đến Ngài khen ngợi công đức tối thắng của hạt Bồ đề. Bản dịch khác của kinh này là kinh Giảo lượng sổ châu công đức, do ngài Bảo tư duy dịch vào đời Đường. (xt. Niệm Châu).

mạn thù thất lợi diệm mạn đức ca vạn ái bí thuật như ý pháp

(曼殊室利焰曼德迦萬愛秘術如意法) Cũng gọi Đại uy đức vạn ái pháp, Diệm mạn đức ca vạn ái như ý pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Nhất hạnh soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung sách này, trước hết, nói tỉ mỉ về hình tượng 6 mặt, 6 tay, 6 chân, cỡi trâu, kế đến nói về pháp Đồ thị sở thành tựu, Nhất ấn chân ngôn, về địa phù, thiên phù của Mạn đồ la và pháp thành tựu.

mạn thù đồng tử

Tên khác của Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—Another name for Manjusri—See Manjusir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mạn thắng tôn

Danh hiệu của vị Phật—A title of a Buddha.

Mạn Trà La hay Mạn Đà La

(s: Maṇḍala, 曼茶羅 hay 曼陀羅): theo nguyên ngữ Sanskrit là maṇḍala, ngữ căn maṇḍa có nghĩa là "chơn tủy, bản chất", và vì tiếp vĩ ngữ la có nghĩa là "có được", cho nên từ này có nghĩa là "có được bản chất", tức là đạt được giác ngộ tối cao gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác của Phật. Chính vì đó là cảnh địa sung thật, đầy đủ như vòng tròn, nên từ này còn được dịch là "Luân Viên Cụ Túc" (輪圓具足, vòng tròn đầy đủ). Về mặt ngữ nguyên học, từ maṇḍala vẫn chưa được giải thích một cách trọn vẹn cho lắm, nhưng trong văn bản bình thường nó có nghĩa là "hình thức giống như vòng tròn". Trong Chơn Ngôn Mật Giáo, nó có nghĩa là "nơi đắc ngộ" hay "đạo tràng". Vì trong đạo tràng có thiết lập đàn tràng để cho chư Phật và Bồ Tát vân tập, nên từ này còn có nghĩa là "đàn" hay "sự tập hợp", từ đó nó được dùng để gọi những hình đồ vẽ các hình tượng tập trung. Quan niệm mang tính trừu tượng một cách thuần túy thì được gọi là Tự Tánh Mạn Trà La (自性曼茶羅). Theo đà phát triển về quán tưởng Phật, hình thức Quán Tưởng Mạn Trà La phản ánh thế giới của Phật trong tâm mang tính cụ thể bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, theo thường tình thì việc quán Phật rất khó khăn, nên hiện tại các hình tượng được vẽ rất cụ thể. Trong Kinh Ngưu Lê Mạn Đà La Chú (牛梨曼陀羅呪經) được dịch vào thời nhà Lương (502-557), có đề cập đến cách vẽ tượng Bổn Tôn ở giữa trung tâm của đàn, và các tượng quyến thuộc nằm chung quanh tượng Bổn Tôn này. Gần đây nguyên bản chép bằng tiếng Sanskrit (thế kỷ thứ 5-6) của kinh này được phát hiện ở Kashmir, và điều này chứng tỏ rằng vào thời ấy ở Ấn Độ cũng đã xuất hiện hình thức Mạn Đà La rồi. Từ thời Nam Bắc Triều (420-589) cho đến thời nhà Tùy (581-619), hình thức vẽ các họa tượng như Phép Cầu Mưa (請雨法), Thập Nhất Diện Quan Âm (十一面觀音), v.v., đã trở nên rõ ràng. Vào đầu thời nhà Đường thì trong Đà La Ni Tập Kinh (陀羅尼集經) do A Địa Cù Đa (阿地瞿多) dịch có đề cập đến Tập Hội Đàn (集會壇). Đến thế kỷ thứ 8, trong Bất Không Quyên Sách Kinh (不空羂索經) hay Nhất Tự Phật Đảnh Luân Vương Kinh (一字佛頂輪王經) do Bồ Đề Lưu Chí (菩提流志) dịch đã thấy xuất hiện hình thức Thai Tạng Mạn Trà La (胎藏曼茶羅). Ở Ấn Độ, vào khoảng giữa thế kỷ thứ 7, và từ thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ thứ 8 thì Đại Nhật Kinh (大日經), Kim Cang Đảnh Kinh (金剛頂經) đã được thành lập, cho nên trong Thai Tạng Mạn Trà La và Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼茶羅) đã xuất hiện Đại Nhật Như Lai (大日如來) làm đấng Trung Tôn. Chính vì lẽ đó, trong Mật Giáo gọi hình thức trước là Tạp Mật (雜密) và hình thức sau là Thuần Mật (純密). Cả hai đều được truyền vào Trung Hoa và được chỉnh bị thống nhất lại với nhau, hoàn thành nên Lưỡng Giới Mạn Trà La (兩界曼茶羅). Rồi cả hai bộ này cũng được Không Hải sang Trung Hoa thỉnh về Nhật và lưu bố với tư cách là Hiện Đồ Mạn Trà La (現圖曼茶羅).

Mạn Trà La Tự

(曼荼羅寺, Mandara-ji): còn gọi là Tùy Tâm Viện (隨心院), Ngưu Bì Sơn Mạn Trà La Tự (牛皮山曼荼羅寺), Tùy Tâm Viện Môn Tích (隨心院門跡), Tiểu Dã Môn Tích (小野門跡); ngôi chùa trung tâm của Phái Thiện Thông Tự (通善寺派) thuộc Chơn Ngôn Tông; hiện tọa lạc tại Onogorei-chō (小野御靈町), Yamashina-ku (山科區), Kyoto-shi (京都市), nơi hành hương thứ 72 trong số 88 ngôi danh lam ở vùng Tứ Quốc (四國, Shikoku). Chùa do Không Hải Đại Sư sáng lập, xuất phát từ nhân duyên Đại Sư nằm mộng thấy mẹ mình sành làm thân con trâu, bèn đến thăm và đem con trâu ấy về nuôi. Khi trâu chết, Đại Sư lấy da trâu vẽ đồ hình Mạn Trà La dâng cúng. Đây là nơi xuất phát của Dòng Tiểu Dã (小野流). Sau này Tăng Tuấn (僧俊) lại phân phái thành Dòng Tùy Tâm Viện (隨心院流). Trong vụ loạn Ứng Nhân (應仁), chùa bị hoang phế, rồi Tăng Hiếu (僧孝) tiến hành phục hưng chùa, và nhóm Thiên Chơn Viện (天眞院) tạo dựng các ngôi đường tháp. Bảo vật của chùa có đồ hình Mạn Trà La thêu bằng chỉ ngũ sắc, tượng gỗ A Di Đà Như Lai ngồi, v.v.

mạn tràng

Lòng ngã mạn bốc cao như cờ phướng treo cao trong gió—Pride as a banner rearing itself aloft. ; (慢幢) Cây cột phướn dựng ở trước chùa, dùng để ví dụ cho tâm kiêu mạn. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 355 trung), nói: Lễ bái vốn để bẻ gãy mạn chàng, tại sao đầu không đặt sát đất.

mạn trực lâm

(曼直林) Pàli: Maddakucchi-migadaya. Tức là khu vườn Lộc dã của Mạn đạt khố trực (Pàli: Maddakucchi) ở thành Vương xá. Cứ theo Tương ứng I, 4.8 và Tương ứng IV, 2.3 thuộc Tương ứng bộ Nam truyền, thì tại khu vườn này đức Phật đã giẫm lên 1 mảnh đá vỡ làm chân Ngài chảy máu. Phần chú thích trong Tương ứng I, 4.8 ghi rằng, khu vườn này là do phu nhân Vi đề hi (Pàli: Vedehì) kiến tạo. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q.2].

mạn tưởng

Tư tưởng kiêu mạn—Proud, or arrogant thoughts. ; (慢想) Ý tưởng kiêu mạn. Tây phương yếu quyết thích nghi thông qui (Đại 47, 110 thượng), nói: Khởi tâm cung kính, chớ sinh mạn tưởng. Kinh Đại bát niết bàn (bản Nam) quyển 22 (Đại 12, 753 hạ), nói: Tâm ấy lúc đầu không có ý tưởng kiêu mạn (mạn tưởng).

mạn y

(縵衣) Phạm: Paỉỉa. Hán âm: Bát tra. Cũng gọi: Mạn điều y, Mạn điều, Lễ sám y. Loại áo mặc của hàng Sa di và tín chúng tại gia thụ trì Ngũ giới, Bồ tát giới, không có điều tướng (hình vuông vức giống như mảnh ruộng). Luật Tứ phần quyển 40 chép: Đức Phật cho phép chúng tăng mặc áo An đà hội (loại mạn y, tức là tấm vải để nguyên, chứ không cắt thành những mảnh nhỏ). [X. luật Thập tụng Q.46; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Thích thị yếu lãm Q.thượng; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tam Y).

mạn đa la chú thuật kinh

(曼哆邏咒術經) Tên 1 bản kinh của ngoại đạo, do 1 người tiên nói, được ghi trong kinh Tự tại vương bồ tát quyển hạ.

Mạn Đà

(曼陀): tên một loài hoa, gọi đủ là Mạn Đà La (s: māndāra, māndārava, māndāraka, 曼陀羅), ý dịch là thiên diệu (天妙), duyệt ý (悅意), thích ý (適意), bạch (白). Nó còn được gọi là Mạn Đà Lặc Hoa (曼陀勒華), Mạn Na La Hoa (曼那羅華), Mạn Đà La Phạn Hoa (曼陀羅梵華), Mạn Đà La Phàm Hoa (曼陀羅帆華). Đây là một trong 4 loại hoa trời và là tên loài hoa trên thiên giới. Hoa có màu đỏ, rất đẹp làm cho người nhìn thấy sanh tâm vui mừng. Cây của nó giống như cây Ba Lợi Chất Đa (s: pārijāta, pārijātaka, pāriyātraka, p: pāricchattaka, 波利質多, tên loại cây trên cung trời Đao Lợi [s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa,忉利]). Tên khoa học của loài hoa này là Erythrina indica (Coral tree), sanh sản ở Ấn Độ, nở hoa vào mùa hè, đến khoảng tháng 6, 7 thì kết trái, lá rất sum sê. Bên cạnh đó, nó còn có tên khoa học khác là Calotropis gigantean, là loài thực vật thuộc Mã Lợi Cân (馬利筋), cũng được gọi là Mạn Đà La, thường dùng để dâng cúng cho thần Thấp Bà (s: Śiva, p: Siva, 濕婆). Tại Bồ Tát Đảnh Văn Thù Điện (菩薩頂文殊殿) ở Ngũ Đài Sơn (五臺山), Tỉnh Sơn Tây (山西省), Trung Quốc có câu đối: “Bách đạo tuyền phi giản lưu công đức thủy, ngũ phong vân dũng thiên vũ Mạn Đà hoa (百道泉飛澗流功德水、五峰雲湧天雨曼陀花, trăm lối khe bay suối chảy nước công đức, năm núi mây tuôn trời mưa hoa Mạn Đà).” Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 大般涅槃經, Taishō No. 374) có đoạn: “Thiện Kiến Thái Tử kiến dĩ, tức sanh ái tâm, hỷ tâm, kính tín chi tâm, vi thị sự cố nghiêm thiết chủng chủng cúng dường chi cụ nhi cúng dường chi; hựu phục bạch ngôn: 'Đại Sư thánh nhân, ngã kim dục kiến Mạn Đà La hoa.' Thời Điều Bà Đạt Đa tức tiện vãng chí Tam Thập Tam Thiên, tùng bỉ thiên nhân cầu tác chi (善見太子見已、卽生愛心、喜心、敬信之心、爲是事故嚴設種種供養之具而供養之、又復白言、大師聖人、我今欲見曼陀羅花、時調婆達多卽便徃至三十三天、從彼天人而求索之, Thái Tử Thiện Kiến thấy xong, tức sanh tâm yêu thích, tâm vui mừng, tâm kính tín, vì việc này nên trang nghiêm thiết bày các vật phẩm cúng dường để cúng dường; rồi lại thưa rằng: 'Thưa Đại Sư thánh nhân, con nay muốn thấy hoa Mạn Đà La.' Khi ấy Điều Bà Đạt Đa bèn qua đến cõi Trời Ba Mươi Ba, theo thiên nhân ở đó mà cầu xin hoa).” Hay trong Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh (佛說觀彌勒菩薩上生兜率天經, Taishō No. 452) cũng có đoạn: “Bách thiên thiên tử tác thiên kỷ nhạc, trì thiên Mạn Đà La hoa, Ma Ha Mạn Đà La hoa, dĩ Tán Kì thượng, tán ngôn: 'Thiện tai ! Thiện tai ! Thiện nam tử, nhữ ư Diêm Phù Đề quảng tu phước nghiệp lai sanh thử xứ, thử xứ danh Đâu Suất Đà Thiên; kim thử chủ danh viết Di Lặc, nhữ đương quy y' (百千天子作天伎樂、持天曼陀羅花、摩訶曼陀羅華、以散其上、讚言、善哉善哉善男子、汝於閻浮提廣修福業來生此處、此處名兜率陀天、今此天主名曰彌勒、汝當歸依, trăm ngàn thiên tử tấu các kỷ nhạc trời, mang hoa trời Mạn Đà La, hoa Ma Ha Mạn Đà La để rãi lên vị ấy, rồi tán thán rằng: 'Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử, ngươi đã rộng tu phước nghiệp nơi Diêm Phù Đề mà sanh về cõi này; cõi này tên là Đâu Suất Đà Thiên; chủ nhân hiện tại tên là Di Lặc, ngươi nên quy y người').”

mạn đà cát ni trì

(曼陀吉尼池) Mạn đà cát ni, Phạm: Mandàkinì. Cũng gọi Ma đà diên trì, Mạn đà kì ni trì, Mạn na cát nễ trì, Mạn đà chỉ ni trì, Ma na ma trì. Hồ Mạn đà cát ni, 1 trong 7 cái hồ nước ở núi Hi mã lạp sơn. Cứ theo phần chú thích từ câu 673 đến câu 688 trong kinh Trưởng lão kệ (Pàli: Thera-gàthà) Nam truyền, thì ngài A nhã kiều trần như từng trụ ở khu rừng Lục nha (Pàli: Chaddanta) gần hồ này trong 12 năm, được các con voi cúng dường. Trước khi nhập diệt, Ngài đến tinh xá Trúc lâm bái yết đức Phật, rồi trở về nơi này nhập tịch. Nhất thiết kinh âm nghĩa quyển 41 cho rằng, Mạn đà cát ni là hồ tắm của vua rồng và voi chúa. Còn kinh Khởi thế và luận Lập thế a tì đàm đều nói hồ này nằm về phía bắc núi Đại tuyết, là hồ tắm của voi chúa Thiện trụ. Nhưng theo ý kinh mà suy thì Mạn đà cát ni phải là hồ tắm của chư thiên.

mạn đà la

Mandala (skt)—Vòng tròn diễn tả môi trường hoạt động của chư Phật trong Mật Giáo—A ritual or magic circle—A diargram used in invocations, meditation and temple sevices—See Mandala in English-Vietnamese Section.

mạn đà la hoa

Madarava flowers. ; (曼陀羅華) Mạn đà la, Phạm:Màndàra, Màndàrava, Mandàraka. Cũng gọi Mạn đà lặc hoa, Mạn na la hoa, Mạn đà la phạm hoa, Mạn đà la phàm hoa. Hán dịch: Thiên diệu, Duyệt ý, Thích ý, Tạp sắc, Viên, Nhu nhuyến thanh, Khuých, Bạch.Tên khoa học: Erythrina indica (Coral tree) hoặc Calotropis gigantea. Loại cây hoa mọc ở Ấn độ, là rất rậm rạp và xanh tốt, hoa nở vào tháng 5 và khoảng tháng 6, 7 thì kết trái. Đây là loại thực vật thuộc giống Mã lợi cân, hoa dùng để dâng cúng thần Thấp bà. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; kinh A di đà; Pháp hoa nghĩa sớ Q.2 (Cát tạng); Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

mạn đà la vương

Chữ “A” trong trường phái Mật tông được xem như là Mạn Đà La Vương—The word “A” is styled the great Mandala-king.

mạn đát la

Còn gọi là Mãn Đát La hay Mạn Đặc La, dịch là chân ngôn, thần chú hay lời nói bí mật của chư Phật—Also used for mantra, an incantation, spells, magical formula, muttered sound, or secret words of Buddhas.

mạn đồ la

(曼荼羅) Phạm: Maịđala. Tạng: Dkyil-khor. Cũng gọi Mạn đà la, Mạn tra la, Mạn noa la, Mãn đồ la, Mãn noa la. Hán dịch: Đàn, Đàn tràng, Luân viên cụ túc, Tụ tập. Một khu vực được vạch ra theo hình tròn hoặc hình vuông để đề phòng ác ma xâm nhập khi tu pháp bí mật của Mật giáo. Hoặc cái nền (đàn) đắp bằng đất trên đó vẽ các tượng Phật, Bồ tát, tu pháp xong thì xóa bỏ các hình tượng. Bởi thế, trong khu vực Mạn đồ la thường được xem là có rất nhiều Phật và Bồ tát, nên cũng gọi là Tụ tập, Luân viên cụ túc. Trong luật cũng có những trường hợp làm Mạn đồ la để ngăn ngừa những việc bất tịnh. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì Mạn đồ la có nhiều nghĩa: Theo nghĩa Luân viên cụ túc thì các vị tôn vây quanh đức Đại nhật Như lai của Phổ môn để giúp sức Ngài làm cho chúng sinh tiến thẳng vào Phổ môn; theo nghĩa phát sinh thì Mạn đồ la có công năng nuôi dưỡng hạt giống Phật để sinh ra quả Phật (Phật thụ vương). Lại vì chữ Phạm Maịđa nghĩa là tinh chế sữa bò thành phó mát (đề hồ), cho nên Mạn đồ la còn bao hàm ý nghĩa diệu vị vô thượng, không mùi vị nào sánh kịp, tượng trưng cho sự vi diệu thuần tịnh của quả Phật. Nhưng Mật giáo đời sau thì cho rằng ý nghĩa chính của Mạn đồ la là tụ tập, cũng tức là nơi cư trụ của chư Phật, Bồ tát, Thánh nhân. Tại Ấn độ, Mạn đồ la thường được đắp bằng đất, hoặc làm bằng gỗ, trên đó vẽ hình tượng các vị tôn, tu pháp xong thì xóa bỏ. Nhưng Trung quốc và Nhật bản thì thường dùng giấy hoặc vải lụa để vẽ hình các vị tôn. Mạn đồ la của Đông Mật Nhật bản là chỉ cho Mạn đồ la của 2 bộ (tức Mạn đồ la của 2 giới): Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ la Thai tạng giới; còn Thai Mật thì dùng Tạp mạn đồ la của pháp Tô tất địa. Về cách vẽ hình Mạn đồ la của 2 bộ thì vì kinh và nghi quĩ có khác nhau nên hình vẽ cũng bất đồng, hình vẽ Mạn đồ la hiện nay đang lưu hành, gọi là Hiện đồ mạn đồ la. Mạn đồ la có 4 loại, gọi là Tứ chủng Mạn đồ la, Gọi tắt là Tứ mạn. Theo kinh Kim cương đính thì 4 loại Mạn đồ la là: 1. Đại mạn đồ la (Tôn hình Mạn đồ la): Bức vẽ các vị tôn với đầy đủ dung mạo tướng hảo, tương đương với hội Thành thân của Mạn đồ la Kim cương giới. 2. Tam muội da mạn đồ la: Bức vẽ hình Tam muội da của các vị tôn, tức là hình những vật cầm tay của chư tôn như: Gậy, dao, gươm v.v... hoặc hình những ấn tướng tượng trưng cho bản thệ của các vị tôn, tương đương với hội Tam muội da. 3. Pháp mạn đồ la (chủng tử mạn đồ la): Bức vẽ của các chủng tử và chân ngôn của các vị tôn, hoặc viết chữ Phạm của các chủng tử ở vị trí của chư tôn, hoặc dùng tam ma địa của Pháp thân và văn nghĩa của tất cả kinh luận, tương đương với hội Vi tế. 4. Yết ma mạn đồ la: Bức vẽ về những uy nghi sự nghiệp và các hình tượng được tạo thành đúng theo uy nghi sự nghiệp của các vị tôn, tương đương với hội Cúng dường. Bốn loại Mạn đồ la trên đây, mỗi loại lại gồm có 3 thứ Mạn đồ la, đó là: 1. Đô hội (Đô môn, Phổ môn) mạn đồ la: Các vị tôn nhóm họp ở 1 chỗ, như 2 bộ Mạn đồ la lấy Đại nhật Như lai làm Trung tâm.2. Bộ hội mạn đồ la: Các vị tôn chia ra từng bộ, như Phật đính mạn đồ la của Phật bộ, Thập nhất diện Quan âm mạn đồ la của Liên hoa bộ. 3. Biệt (Nhất môn) mạn đồ la: Lấy 1 vị tôn làm trung tâm, như Thích ca mạn đồ la, Như ý luân mạn đồ la. Theo kinh Đại nhật thì tất cả các Mạn đồ la có thể được qui vào 3 thứ thân bí mật là: 1. Tự: Pháp mạn đồ la. 2. Ấn: Tam muội da mạn đồ la. 3. Hình: Đại mạn đồ la. Ba thân này mỗi thân đều có đầy đủ uy nghi sự nghiệp, gọi là Yết ma mạn đồ la. Bốn loại Mạn đồ la tuy tròn đầy muôn đức nhưng đều qui về một và vượt ra ngoài tương đối, gọi là Thể đại mạn đồ la, đầy đủ các tướng sai khác, gọi là Tướng đại mạn đồ la, đầy đủ nghiệp dụng của Tam mật, gọi là Dụng đại mạn đồ la. Bốn loại Mạn đồ la thu nhiếp hết tất cả tướng trạng tồn tại, cho nên đối lại với Lục đại thể đại và Tam mật dụng đại mà gọi đó là Tứ mạn tướng đại. Ngoài ra, còn có thuyết 3 loại Tứ mạn đồ la. 1. Tự tính hội tứ mạn: Nói về đời quá khứ thì Thánh chúng tập trung trong hội thuyết pháp của Pháp thân Đại nhật Như lai. 2. Thế gian trụ trì tứ mạn: Nói về đời vị lai thì là ảnh tượng và các bức vẽ. 3. Hành giả tu thành tứ mạn: Nói về đời hiện tại thì là hành giả Du già. Còn Tứ mạn và Tứ trí ấn (Tứ ấn: Đại trí ấn, Tam muội da trí ấn, Pháp trí ấn, Yết ma trí ấn) thì thể là 1 mà tên khác nhau; hoặc Tứ mạn là chung cho cả hữu tình và vô tình, còn Tứ ấn thì chỉ có ở hữu tình mà thôi. Lại có thuyết cho rằng Tứ mạn từ Thể mà đặt tên, còn Tứ ấn là đối với Dụng mà đặt tên. Mạn đồ la Kim cương giới (Kim cương giới, Phạm:Vajra-dhàtu) cũng gọi Quả mạn đồ la, Trí mạn đồ la, Tây mạn đồ la, Nguyệt luân mạn đồ la, là những bức tranh được vẽ theo kinh Kim cương đính, biểu trưng Trí pháp thân của đức Đại nhật Như lai. Đông Mật Nhật bản sử dụng Cửu hội mạn đồ la hình thành từ 9 hội; còn Thai Mật thì sử dụng Mạn đồ la của Nhất hội là hội Thành thân. Cửu hội mạn đồ la là thuyết Tùy nghi của Ấn độ. Biểu đồ như sau: Bị chú:Những chữ trong ngoặc đơn là tên gọi khác. Hiện đồ mạn đồ la có tất cả 1461 vị tôn. Sáu hội từ hội Yết ma trở xuống tương đương với 6 Mạn đồ la: Kim cương giới Đại mạn đồ la, Đà la ni mạn đồ la, Vi tế kim cương mạn đồ la, Nhất thiết Như lai quảng đại cúng dường yết ma mạn đồ la, Tứ ấn mạn đồ la và Nhất ấn mạn đồ la được nói trong phẩm Kim cương giới của kinh Kim cương đính. Còn kinh điển y cứ của 3 hội còn lại (tức 7, 8, 9) thí không có thuyết nhất định. Mạn đồ la Kim cương giới vốn là 1 hội Thành thân, còn 9 hội thì là sự tập hợp của 9 thứ Mạn đồ la. Về nghĩa của đồ tướng thì Kim cương là biểu thị thể của trí tuệ Bồ đề bền chắc không hư nát, lại có công năng phá dẹp tất cả. Còn thứ tự sắp xếp đồ tướng thì đứng đầu là hội Yết ma và sau cùng là hội Hàng tam thế tam muội da; đây là biểu thị ý nghĩa Như lai khởi tác dụng hóa tha chỉ dạy chúng sinh, là môn hạ chuyển tứ quả hướng tới nhân. Bốn hội từ hội Yết ma trở xuống đến hội Cúng dường là biểu thị cho Tứ mạn, hội Tứ ấn biểu thị nghĩa Tứ mạn không lìa nhau, hội Nhất ấn thì biểu thị nghĩa Tứ mạn là 1 thực tướng tuyệt đối dung nạp cả 6 đại. Sáu hội trên là Mạn đồ la của Tự tính luân thân trong Tam luân thân. Hội Lí thú là Mạn đồ la của Chính pháp luân thân Kim cương tát đỏa, biểu thị tướng dục, xúc, ái, mạn. Còn hội Hàng tam thế yết ma và hội Hàng tam thế tam muội da thì biểu thị nghĩa đối với những chúng sinh ương ngạnh, cứng đầu khó dạy, thị hiện ra Minh vương Hàng tam thế của Giáo lệnh luân thân với tướng mạo phẫn nộ dữ tợn, khiến chúng phải khuất phục. Ngoài ra, từ hội Hàng tam thế tam muội da hướng ngược lên đến hội Yết ma là biểu thị thứ tự tu hành của Bồ tát theo giai vị thuận, tức là theo môn thượng chuyển từ nhân đến quả. Hội Hàng tam thế tam muội da là tượng trưng nghĩa dùng cung tên đại bi bắn vào kẻ oán địch là vô minh, phát khởi thệ nguyện thượng cầu bồ đề hạ hóa chúng sinh, cho đến hội Yết ma là biểu thị ý nghĩa Đại nhật Như lai (tức thân Yết ma) đã hoàn thành đầy đủ mọi uy nghi sự nghiệp. Đồ tướng biểu thị hội Yết ma (hội Thành thân) trong 9 hội là ở chính giữa vẽ 1 vòng tròn lớn, trong vòng tròn này vẽ 5 nguyệt luân, nguyệt luân ở giữa an trí Đại nhật Như lai và 4 bồ tát Ba la mật, còn các nguyệt luân ở 4 phương thì an trí 4 vị Phật và 16 vị Đại bồ tát thân cận. Ngoài ra, còn vẽ 8 vị bồ tát Cúng dường (4 vị bên trong, 4 vị bên ngoài), 4 Nhiếp bồ tát, 1.000 đức Phật kiếp Hiền, 20 vị trời của Kim cương bộ ngoài, 4 vị Đại thần v.v...Mạn đồ la Kim cương giới chia làm 5 bộ: Phật bộ (lí trí đầy đủ, giáo đạo viên mãn), Kim cương bộ (trí), Bảo bộ (phúc đức), Liên hoa bộ (lí) và Yết ma bộ (tác dụng hóa tha). Năm đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu là bộ chủ của 5 bộ trên. Vì 4 đức Phật (trừ Đại nhật Như lai) là do 4 vị bồ tát Ba la mật (4 bồ tát thân cận của Đại nhật) xuất sinh ra, cho nên 4 vị Bồ tát này được gọi là Bộ mẫu. Mạn đồ la Thai tạng giới (Thai tạng giới, Phạm:Garbha-dhàtu) cũng gọi Nhân mạn đồ la, Lí mạn đồ la, Đông mạn đồ la, Đại bi mạn đồ la, biểu thị Lí pháp thân của Đại nhật Như lai, là căn cứ vào kinh Đại nhật mà được vẽ ra. Hình vẽ của Mạn đồ la này có nhiều loại như: Kinh sớ mạn đồ la, A xà lê sở truyền mạn đồ la, Thai tạng cựu đồ dạng, Thai tạng đồ tượng, Hiện đồ mạn đồ la v.v... Còn các bộ viện và sự bài trí các vị tôn cũng đều khác nhau. Truyền thuyết cho rằng Hiện đồ mạn đồ la là do vị tăng người Nhật bản tên là Huệ quả vẽ và lập 13 viện lớn, nhưng trong Bí tạng kí của sư Không hải–cũng là vị tăng Nhật bản– bỏ bớt 4 viện, chỉ còn 12 viện. Sau lại bỏ bớt viện Tô tất địa mà còn 11 viện lớn. Hiện đồ mạn đồ la đang lưu hành ở Nhật bản gồm có 12 viện lớn. Hình vẽ Mạn đồ la biểu thị nghĩa hiển bày cái đức nhân sẵn có của chúng sinh, cũng tức là hạt giống tâm bồ đề nhờ thai mẹ (tức Thai tạng) muôn hạnh đại bi nuôi nấng cho đến khi thành quả Phật. Từ Phật bồ đề tự chứng thị hiện thân thai Đại nhật trong Bát diệp, từ đức của Đại nhật thị hiện ra chư tôn từ lớp thứ 1 đến lớp thứ 4, đây đều là tượng trưng cho từng phần đức của Đại nhật. Trong đó, hình vẽ của viện Bát diệp là: Đại nhật Như lai ngồi trên đài hoa sen 8 cánh ở chính giữa (Trung đài bát diệp), trên mỗi cánh hoa an trí 1 vị tôn: Phật Bảo sinh ở phương đông, Phật Khai phu hoa vương ở phương nam, Phật Vô lượng thọ ở phương tây, Phật Thiên cổ lôi âm ở phương bắc, bồ tát Phổ hiền ở đông nam, bồ tát Văn thù ở tây nam, bồ tát Quan âm ở tây bắc và bồ tát Di lặc ở đông bắc. Trên đây, Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí, 4 vị Phật biểu thị 4 trí (Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí), 4 vị Bồ tát biểu thị 4 hạnh (Bồ đề, Phúc đức, Trí tuệ, Yết ma). Mạn đồ la Thai tạng giới được chia làm 3 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ và Liên hoa bộ. Ở trong tâm chúng sinh thì biểu thị cho 3 đức Đại định, Đại trí và Đại bi là thực tướng của 3 vọng chấp: Thô vọng chấp, Tế vọng chấp và Cực tế vọng chấp. Viện Trung đài và 6 viện Đông Tây tương đương với Phật bộ; viện Quan âm và viện Địa tạng ở phương bắc tương đương với Liên hoa bộ; viện Kim cương thủ và viện Trừ cái chương ở phương nam tương đương với Kim cương bộ; còn Ngoại kim cương bộ thì thuộc cả 3 bộ và gọi chung là Kim cương bộ. Trong Thai Mật, ngoại trừ Đại nhật Như lai ở 2 bộ, các Mạn đồ la (tức các Mạn đồ la ngoài Mạn đồ la của Kim cương giới và Thai tạng giới) lấy các vị tôn khác làm Trung tôn gọi là Tạp mạn đồ la, cũng gọi Chư tôn mạn đồ la, Biệt tôn mạn đồ la với nhiều loại khác nhau như: Như lai, Phật đính, Chư kinh, Quan âm, Bồ tát, Phẫn nộ, Thiên... Các vị tôn của Mạn đồ la Thai tạng giới nhóm họp đông đủ ở bản vị mình, gọi là Đô hội đàn mạn đồ la, Phổ môn mạn đồ la. Trái lại, những Mạn đồ la lấy các vị tôn như: Phật Dược sư, Phật Di đà, bồ tát Quan âm v.v... làm trung tâm mà kiến lập, thì gọi là Đô ngoại biệt đàn, Biệt tôn mạn đồ la, Nhất môn mạn đồ la. Mạn đồ la vẽ để tu pháp Tôn thắng, gọi là Tôn thắng mạn đồ la. Mạn đồ la lấy Minh vương Bất động làm bản tôn, gọi là Bất động mạn đồ la. Mạn đồ la có đặt chữ Hột câu lợi, chủng tử chung của Phật Di đà và bồ tát Quan âm vào Trung đài bát diệp trong hoa sen nở, gọi là Cửu tự mạn đồ la. Ngoài ra, Mạn đồ la vẽ Thánh chúng trong hội nói kinh Pháp hoa, gọi là Kinh pháp mạn đồ la. Mạn đồ la vẽ Tam tôn Thích ca và các vị Tổ truyền luận Câu xá, gọi là Câu xá mạn đồ la. Khi tu pháp, chỉ dùng hình tượng để quán tưởng chư tôn, gọi là Đạo tràng quán mạn đồ la. Còn như quán tưởng tự thân là Mạn đồ la và bày xếp các vị tôn của Mạn đồ la ở nơi tứ chi, thì gọi là Chi phần sinh mạn đồ la. Trong Chi phần sinh mạn đồ la, đem viện Trung đài bát diệp của Thai tạng giới phối hợp với đầu, các nội quyến thuộc của lớp thứ 1 phối hợp với cổ họng và tim, các Đại bồ tát ở lớp thứ 2 phối hợp với các chỗ từ rốn trở xuống, gọi là Tam trùng lưu hiện mạn đồ la. Ngũ luân địa, thủy, hỏa, phong, không phối hợp với đầu gối, bụng, ngực, mặt và chỏm đầu, gọi là Ngũ luân thành thân mạn đồ la. Ngoài ra, 9 hội của Kim cương giới thì phối hợp với các chi phần trong thân thể. Khi quán đính, Mạn đồ la được dùng trải trên đàn để hành giả tung hoa được Phật, gọi là Phu mạn đồ la. Còn thông thường Mạn đồ la được dùng làm đối tượng để lễ bái cúng dường thì gọi là Mạn đồ la cúng, gọi tắt là Mạn cúng; khi xây cất điện đường xong, làm lễ khánh thành, phần nhiều tu pháp Mạn đồ la này. Mạn đồ la vẽ tướng trạng cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà và cung trời Đâu suất của bồ tát Di lặc, gọi là Tịnh độ mạn đồ la, hoặc Đâu suất mạn đồ la, nhưng trường hợp này nên gọi là Biến tướng. Hình vẽ nội dung thuyết kinh Pháp hoa, gọi là Pháp hoa biến tướng và Pháp hoa mạn đồ la. Nhưng trong Mật giáo, khi tu kinh Pháp hoa thì có riêng Pháp hoa mạn đồ la. Vị A xà lê truyền pháp, kiến lập mạn đồ la để trao quán đính cho đệ tử, gọi là Mạn đồ la a xà lê. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.13; Ngũ bí mật nghi quĩ]. (xt. Biến).

mạn đồ la bồ tát

(曼荼羅菩薩) Mạn đồ la, Phạm: Mahà-cakra. Hán âm: Ma ha chước yết la. Hán dịch: Đại luân. Vị Bồ tát ngồi ở ngôi thứ nhất phía nam hàng dưới trong viện Hư không tạng trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, mật hiệu là Bí mật kim cương, Đại luân kim cương, Luân viên kim cương, Tập khởi kim cương. Vị tôn này lấy việc thành tựu Mạn đồ la làm bản thệ, nên gọi là bồ tát Mạn đồ la. Hình tượng của vị tôn này màu đen, ngồi trên tòa sen, mặt hiện tướng giận dữ, tóc dựng ngược, có 3 mắt 6 tay; tay phải thứ nhất nắm lại đặt ở trước ngực, cầm chày 3 chĩa, tay thứ 2 cầm kiếm hướng về bên phải, tay thứ 3 nắm lại thành quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân, đặt trên đỉnh đầu. Tay trái thứ nhất thõng xuống hướng về bên trái, tay thứ 2 cầm bánh xe hướng về bên trái, co ngón trỏ, cầm lấy đầu cây chày 1 chĩa, tay thứ 3 nắm lại thành quyền, kết ấn Tiểu kim cương luân, đặt trên đỉnh đầu. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là bánh xe. [X. Thanh long tự nghi quĩ Q.trung; Thai tạng giới thất tập Q.trung; Bí tạng kí].

mạn đồ la chủng tính thập trụ tâm

(曼荼羅種姓十住心) Đối lại: Phổ môn vạn đức thập trụ tâm. Mười trụ tâm hiển bày tâm bình đẳng sẵn có của chúng sinh đồng nhất với pháp thân. Thuộc về Hoành thập trụ tâm trong Nhị song tứ trùng thập trụ tâm do sư Hựu khoái người Nhật lập ra.

mạn đồ la cung

(曼荼羅供) Cũng gọi: Mạn đà la cúng. Gọi tắt: Mạn cúng. Pháp hội cúng dường 2 bộ Đại mạn đồ la. Thông thường khi khánh thành pháp đường, khai quang tượng Phật mới tạo, hoặc kỉ niệm ngày khai sáng các chùa viện v.v... phần nhiều cử hành pháp hội này. Khi hành lễ, treo 2 bộ Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới, rồi thỉnh vị Đại sư Cúng dường tu chung pháp bí mật của 2 bộ.

mạn đồ la giáo

Tên khác của tông Chân Ngôn—Mandala doctrine, mantra teaching, magic, yoga, the true word or Shingon sect

mạn đồ la quán

(曼荼羅觀) Pháp quán tưởng Mạn đồ la, Bản tôn và quyến thuộc trong Đạo tràng quán khi tu pháp Mật giáo. Đạo tràng quán có 3 thứ: Quảng, Trung và Lược, đều thực hành Mạn đồ la quán. Mạn đồ la quán nói trong các kinh và nghi quĩ tuy có hơi khác nhau, nhưng đại khái thì như sau: Theo pháp Kim cương giới: Trước hết, kết ấn Như lai quyền, kế đến, quán tưởng đàn tràng Đại mạn đồ la trong lầu gác báu, trên đàn có vừng trăng tròn, trên vừng trăng có hoa sen lớn. Theo pháp Thai tạng giới: Trước hết, quán tưởng hoa sen và mặt trăng, trên hoa sen quán tưởng sự biến chuyển thành chủng tử, hình Tam muội da và hình tượng của Bản tôn, cho đến quán tưởng Thánh chúng quyến thuộc vây quanh. (xt. Đạo Tràng Quán).

mạn đồ la thân

(曼荼羅身) Từ nơi thân thị hiện ra Mạn đồ la chư tôn. Theo pháp Thai tạng giới của Mật giáo, sau khi đệ tử thụ quán đính, vị A xà lê gia trì (chú nguyện) chữ (aô, ám) trên đỉnh đầu của đệ tử, từ đó hiện ra Mạn đồ la chư tôn của Thai tạng giới. Tức là quán chữ trên đỉnh đầu là Trung thai tạng, từ chữ sinh ra 3 lớp lửa đỏ, 1 lớp bao quanh cổ họng, trong ánh lửa hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ nhất; 1 lớp lửa kế tiếp bao quanh trái tim, hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ 2; lớp ánh lửa sau cùng bao quanh trên rốn, hiện ra Mạn đồ la chư tôn lớp thứ 3. [X. Đại nhật kinh sớ Q.8].

mạn đồ la thông tam đại

(曼荼羅通三大) Mạn đồ la dung thông cả thể đại, tướng đại và dụng đại. Mạn đồ la trong Mật giáo được dùng để miêu tả quả Phật là cảnh giới Bồ đề tròn đầy muôn đức. Tuy nhiên, ý nghĩa và cách dùng Mạn đồ la không phải chỉ giới hạn ở đó, mà còn nhiều dịch ngữ khác rất thường thấy như: Luân viên cụ túc (tròn trịa đầy đủ), Cực vô tỉ vị (không mùi vị nào sánh kịp), Vô quá thượng vi (mùi vị vô thượng không gì vượt qua), Tụ tập, Phát sinh, Đàn, Đạo tràng v.v... Thông thường, Mật giáo đem Lục đại, Tứ mạn và Tam mật, theo thứ tự, phối với Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. Nghĩa là đất, nước, lửa, gió, không, thức (Lục đại) là nguồn gốc sinh ra các pháp, trùm khắp tất cả pháp giới; đây gọi là Lục đại thể đại. Đại mạn đồ la, Tam muội da mạn đồ la, Pháp mạn đồ la, Yết ma mạn đồ la (Tứ mạn), từ ngoại giới có thể nhận biết tướng trạng khác nhau và trong 1 pháp cũng đủ các tướng, cũng trùm khắp muôn pháp; đây gọi là Tứ mạn tướng đại. Nghiệp dụng của thân, ngữ, ý (Tam mật) tròn đầy, trùm khắp tất cả các pháp; đây gọi là Tam mật dụng đại. Nhưng, theo Bí tạng kí quyển cuối thì Tứ mạn không những chỉ phối với Tướng đại, mà còn dung thông với cả Thể đại và Dụng đại, nghĩa là Mạn đồ la cũng hàm có nghĩa Tam mật viên mãn, cho nên Mạn đồ la cũng là Dụng đại của Tam mật. Lại nữa, Mạn đồ la là nguồn gốc sinh ra các pháp, tức là nghĩa chữ (a) vốn chẳng sinh lục đại thể đại, vì thế nên lấy Mạn đồ la làm Thể đại. Thêm vào đó, Mật giáo thường nói Tứ mạn tướng đại thì mỗi Mạn đồ la trong Tứ mạn đều dung thông cả Thể đại, Tướng đại và Dụng đại. (xt. Tứ Mạn Tướng Đại).

mạn đồ la tiên

(曼荼羅仙) Phạm: Mandra. Cũng gọi: Mạn đà la tiên. Hán dịch: Nhược thanh, Hoằng thanh. Danh tăng người nước Phù nam (Cao miên xưa) sang Trung quốc dịch kinh vào thời Nam triều. Năm Thiên giám thứ 2 (503) đời Vũ đế nhà Lương, sư đến Trung quốc tiến cống kinh tiếng Phạm và tượng Phật bằng san hô. Sau ít lâu, sư vâng sắc cùng với ngài Tăng già bà la dịch kinh Bảo vân 7 quyển, kinh Pháp giới thể tính vô phân biệt 2 quyển và kinh Văn thù sư lợi sở thuyết Ma ha bát nhã ba la mật 2 quyển. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.11; truyện Tăng già bà la trong Tục cao tăng truyện Q.1; Phật tổ thống kỉ Q.37].

mạn đồ la tứ luân

(曼荼羅四輪) Bốn luân: Kim, thủy, hỏa, phong làm nơi ý cứ để tạo thành 4 loại Mạn đồ la. Cứ theo kinh Tì lô giá na thành đạo thì sự tu hành có thắng nghĩa đế và thế tục đế; tu hành theo thế tục đế thì nương vào 4 luân: Kim, thủy, hỏa, phong để kiến lập Mạn đồ la, ấy là: 1. Kim luân: Bản tôn màu vàng, ở trong Mạn đồ la địa luân hình vuông. 2. Thủy luân: Bản tôn màu trắng, ở trong Mạn đồ la thủy luân hình tròn. 3. Hỏa luân: Bản tôn màu đỏ, trụ ở Mạn đồ la hỏa luân hình tam giác. 4. Phong luân: Bản tôn màu đen, trụ trong Mạn đồ la phong luân hình bán nguyệt. [X. Chư bộ yếu mục]. (xt. Tứ Luân).

Mạn-thù ngũ tự tâm đà-la-ni kinh

曼殊五字心陀羅尼經; C: mànshū wŭzì xīntuóluóní jīng; J: manju goji shindarani kyō; |Tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).

Mạn-thù Sư-lợi Bồ Tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh

曼殊師利菩薩呪藏中一字呪王經;; C: mànshūshīlì púsàzhòuzàng zhōng yīzì zhòuwáng jīng; J: manjushiri bosatsujuzō chū ichiji juō kyō; |1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch năm 703. Tương đương phẩm thứ 9 của Văn-thù Sư-lợi căn bản nghi quỹ (s: mañjuśrīmūlakalpa).

Mạn-đát-la

曼怛羅; C: màndáluó; J: mantara; |Phiên âm chữ mantra trong tiếng Phạn, là lời nói mang một năng lực huyền nhiệm. Chân ngôn (眞言).

Mạn-đồ-la

曼荼羅; C: màntúluó; J: mandara; |Biểu tượng tượng trưng cho năng lực vũ trụ qua sắc thái hai hoặc 3 chiều, đặc biệt thường được dùng trong Mật tông Phật giáo, hỗ trợ cho pháp tu thiền định.

Mạn-đồ-la tập

曼荼羅集; C: màntúluó jí; J: mandara shū; |3 quyển, do Hưng Nhiên (興然, j: kōzen) sưu tập vào năm 1173. Là tuyển tập các hình tượng dành riêng cho mạn-đà-la, Trong một vài trường hợp, có một số đồ hình bổ khuyết cho kinh văn cùng nguồn gốc và là đối tượng cho việc thờ phượng. Nhiều hính tượng miêu tả trong tác phẩm nầy không được tìm thấy trong bản tuyển tập các hình tượng khác.

mạng

1) Veil. 2) Life.

mạng bạc

Bad destiny.

mạng chung

To pass away—To die.

mạng căn

Root of life.

mạng lệnh

Command—Order.

mạng mạng

tên một loài chim, dịch từ Phạn ngữ jỵvajỵvaka, dịch âm là kì-bà-kì-bà-ca (耆婆耆婆迦), cũng dịch là chim sanh sanh. Trong kinh A-di-đà gọi loài chim này là chim cộng mạng.

mạng một

To die.

mạng sống con người trong hơi thở

Human life is only in one breath—Đức Phật đã nhiều lần dạy: “Mạng sống con người trong hơi thở, thở ra mà không thở vào là đã mạng một và bước sang kiếp khác”—The Buddha taught on many occasions: “Human life is only as long as one breath, for breathing out (exhaling) without breathing (inhaling) means we have already died and stepped over into a new lifetime.

mạng sống mong manh, nếu không tu bây giờ sẽ không còn kịp nữa

Life is fragile, if we don't cultivate now, we never have any other opportunities.

mạng vận

Externalists believe that there is a so-called “Destiny” or “Fate.”

mạng ý

To pay attention to—To mind.

mạnh

Strong.

mạnh bà thần

(孟婆神) Thần bà họ Mạnh trong truyện tích thần thoại và truyền thuyết dân gian Trung quốc. Tương truyền, vào đời Hán, có 1 bà già họ Mạnh người đời gọi là Mạnh bà A nãi tuổi thọ rất cao, suốt đời không lấy chồng. Thủa nhỏ bà đọc sách Nho, lớn lên thì siêng năng tụng kinh Phật, khuyên người đời ăn chay, không sát sinh. Bấy giờ có người biết được nhân duyên kiếp trước, nhận bà là họ hàng đời trước, tiết lộ âm cơ. Thượng đế bèn ban lệnh cho bà làm thần cõi U minh, lập quán Cháo lú, hái các vị thuốc ở thế gian trộn lẫn thành 1 thứ nước giống như rượu, gọi là Mạnh bà thang, chia làm 5 vị: Ngọt, đắng, chua, cay và mặn. Mạnh bà thần đem loại nước này cho các quỉ thần uống để quên những việc đời trước.

mạnh bát lang

(孟八郎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho kẻ không làm việc theo đạo lí. Mạnh nghĩa là thô lỗ; Bát lang nghĩa là thứ lớp, hàng lối. Trong Thiền lâm, Mạnh bát lang được sử dụng để chỉ cho kẻ thô tháo, ngang ngược. Chương Nam tuyền Phổ nguyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 257 hạ), nói: Mạnh bát lang (kẻ thô tháo ngang ngạnh) lại cứ như thế!. [X. tắc 28 trong Bích nham lục].

mạnh bạo

Strong and brave.

mạnh chân khỏe tay

To enjoy good health—To be well.

mạnh cảnh dặc

(孟景翼) Đạo sĩ Trung quốc, sống vào đời Nam Tề, người quận Ngô hưng (nay là huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang). Văn tuyên vương Tiêu tử lương từng triệu ông đến lễ Phật, nhưng ông từ chối. Ông có tác phẩm: Chính nhất luận (nội dung cho rằng Phật giáo và Đạo giáo là một).

mạnh giỏi

See Mạnh chân khỏe tay.

mạnh khỏe

Healthy—Strong.

mạnh tử

Meng-Tzu (Mencius 372-289 B.C.)—Người sanh ra trong gia đình khoa bảng tại nước Lỗ, sanh vào khoảng năm 372 trước Tây Lịch vào thời vua Châu Liệt Vương, và mất khoảng năm 289 trước Tây Lịch vào thời vua Châu Noản Vương. Ngài mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ hiền dạy dỗ. Lớn lên theo học với Thầy Tử Tư, được chơn truyền về Đạo Học của Thầy Khổng Tử. Ngài có tài hùng biện, thường đi du thuyết ở các nước Lương, Tề, Tống, vân vân để đem đạo nhân nghĩa ra cứu đời. Nhưng các vua thời ấy chỉ lo thôn tính lẫn nhau, chớ không ai chịu coi trọng điều nhân nghĩa, hoặc thực hành theo đạo lý của Thánh Hiền. Khi về già, cũng như Khổng Tử, nhận thấy không ai chịu thực hành những lời dạy của mình, ông về quê cùng các hàng môn đệ ghi chép lại những lời đối đáp với các vua cùng những lời bình thành bộ sách Mạnh Tử gồm bảy quyển—Meng-Tzu belonged to one of the aristocratic families in the state of Lu. He was born in 372 B.C. during the time of King Chou-Lieh-Wang, and died in 289 during the time of King Chou-Nan-Wang. He lost his father during his childhood and was cared for and educated by a kind and devoted mother. When he grew older, a teacher named Tzi-Tsu taught him the proper philosophical teachings of Confucius. He had the great ability to teach and often traveled abroad to other states such as Liang, Tsih, Tsung, etc. to use the teachings of virtues and ethics to help others. However, al the kings of those days cared only about competing and battling with one another, none of them was concerned or had any respect for virtues and ethics (right and wrong) nor did they follow the teachings of past saintly teachers. At old age, just as Confucius, he saw his teachings were not being applied, he returned home, together with his students to write the various experiences he had had while debating with the kings of the countries he visited as well as lessons he had taught his students. This was collected into seven volumes and it also included his criticism of other philosophical teachings. The series was self-titled Meng-Tzu.

Mạnh Xuân

(孟春): tên gọi của tháng đầu tiên của mùa Xuân, tên gọi khác của tháng Giêng. Như trong bài Đại Đường Thượng Ca Hành (代堂上歌行) của Bào Chiếu (鮑照, 414-466) nhà Tống có câu: “Dương xuân Mạnh Xuân nguyệt, triêu quang tán lưu hà (陽春孟春月、朝光散流霞, đầu xuân tháng Giêng tiết, sáng sớm rực ráng hồng).” Hay trong Tông Giám Pháp Lâm (宗鑑法林, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1297) quyển 61 có đoạn: “Mạnh Xuân do hàn đệ nhất nguyệt, Trọng Xuân tiệm noãn đệ nhị nguyệt, nhược vô nhàn sự quải tâm đầu, tiện thị nhân gian hảo thời tiết (孟春猶寒第一月、仲春漸暖第二月、若無閒事挂心頭、便是人間好時節, đầu Xuân còn lạnh tháng thứ nhất, giữa Xuân dần ấm tháng thứ hai, nếu chẳng có việc nhàn rỗi nào mang trong tâm, ấy chính là thời tiết tốt của con người).”

Mạnh Đông

(孟冬): chỉ cho tháng đầu tiên của mùa Đông, tức tháng 10 Âm Lịch. Một số thi từ liên quan đến từ Mạnh Đông này như trong bài Bộ Xuất Hạ Môn Hành (步出夏門行), phần Đông Thập Nguyệt (冬十月) của Tào Tháo (曹操, 155-220) có câu: “Mạnh Đông thập nguyệt, Bắc phong bồi hồi (孟冬十月、北風徘徊, đầu Đông tháng Mười, gió Bắc bồi hồi).” Trong bài thơ Thư Dị (書異) của Nguyên Chẩn (元稹, 779-831) nhà Đường có câu: “Mạnh Đông sơ hàn nguyệt, chử trạch bồ thượng thanh (孟冬初寒月、渚澤蒲尚青, Mạnh Đông tháng mới lạnh, cỏ bên đầm còn xanh).” Hay trong bài Minh Binh Bộ Thượng Thư Tiết Hoàn Viên Công Mộ Chí Minh (明兵部尚書節寰袁公墓誌銘) của Khổng Trinh Vận (孔貞運, 1574-1644) nhà Minh lại có đoạn: “Chí Mạnh Đông nguyệt, hốt Tây Nam hữu cự tinh trụy địa, nhi công khạp nhiên thệ hỉ (至孟冬月、忽西南有巨星墜地、而公溘然逝矣, đến tháng 10, chợt phía Tây Nam có ngôi sao lớn rơi xuống đất, rồi ông [Viên Khả Lập] đột nhiên qua đời vậy).” Trong Phật Tổ Tông Phái Thế Phổ (佛祖宗派世譜, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1602) cũng có đoạn: “Uyên Hồ Diệu Dụng, Hải Diêm Trịnh thị tử, sanh vu Vạn Lịch Đinh Hợi niên, Sùng Trinh Nhâm Ngọ Mạnh Đông thập nhất nhật thư kệ nhi thệ, tháp Hưng Thiện Phổ Minh (鴛湖妙用、海鹽鄭氏子、生于萬曆丁亥年、崇禎壬午孟冬十一日書偈而逝、塔興善普明, Uyên Hồ Diệu Dụng, con nhà họ Trịnh ở Hải Diêm, sanh vào năm Đinh Hợi [1587] niên hiệu Vạn Lịch; vào ngày 11 tháng 10 năm Nhâm Ngọ [1642] niên hiệu Sùng Trinh, ông viết kệ rồi qua đời; tháp tên Phổ Minh ở Chùa Hưng Thiện).” Hay trong Hoằng Giới Pháp Nghi (弘戒法儀, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1126) quyển 1 lại có câu: “Thiên Khải Quý Hợi Mạnh Đông sóc đán Tam Phong Bồ Tát Giới đệ tử Pháp Tạng thư vu Bắc Thiền Tự Cấm Oa Đường trung (天啟癸亥孟冬朔旦三峰菩薩戒弟子法藏書于北禪寺禁蛙堂中, vào sáng mồng một tháng 10 năm Quý Hợi [1623] niên hiệu Thiên Khải, đệ tử thọ Bồ Tát Giới ở Tam Phong tên Pháp Tạng viết trong Cấm Oa Đường của Bắc Thiền Tự).”

mạo

1) See Mạo Hiểm. 2) Giả Mạo: Counterfeit.

mạo hiểm

To venture—To adventure—To risk.

mạo nhận

To assume falsely.

mạo tử

(帽子) Cũng gọi Đầu cân, Đầu tụ, Thiền cân, Bồ tát cân. Gọi tắt: Mạo. Loại mũ may bằng vải hoặc lông thú của chư tăng chít đầu vào mùa đông. Cứ theo luật Tứ phần quyển 40 thì vào mùa đông giá rét, đức Phật cho phép các vị tỉ khưu dùng lông thú hoặc các loại bông để chít trên đầu; đời sau dùng theo. Vào thời đại Tiêu Tề thuộc Nam triều, Trung quốc, ngài Bảo chí là người đầu tiên đội mũ vải, đời sau gọi là Chí công mạo (mũ ngài Bảo chí) được sử dụng rộng rãi trong Thiền lâm. Về kích thước may mũ (tức Chí công mạo), cứ theo truyện Sơ sơn Quang nhân đời Đường trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17, thì chiều dài là 1 thước 5 tấc (Tàu); còn theo điều Tống chung Thiên đầu cân trong Thích thị yếu lãm quyển hạ, thì toàn bộ mũ dài 5 thước 3 tấc, mặt trước dài 2 thước 8 tấc, sau lưng dài 2 thước 5 tấc. Các tông phái ở Nhật bản phần nhiều sử dụng mũ Chí công, cũng gọi mũ Thát đà, nhưng cách may có hơi khác, như tông Tịnh độ dùng mũ hình ống tròn, mũ của tông Nhật liên thì có hình chóp núi, còn phái Tu nghiệm đạo thì dùng khăn gấp nếp, nhưng tất cả đều được cải biến từ mũ Chí công mà ra. Ngoài ra, còn có loại mũ gọi là Thủy quan (cũng gọi Thiền mạo tử, Ô mạo tử, tức là loại mũ mà trên nếp gấp ở trước trán có chữ Thủy) của Thiền tông và mũ lụa của các tông Thiên thai, Chân ngôn, Tịnh độ v.v... Mật tông thì dùng mũ có hình đuôi chim én. [X. Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi Q.thượng; luật Tứ phần Q.41; điều Thánh tiết trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1; truyện Đào hoằng cảnh trong Nam sử liệt truyện 66; môn Phục chương trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Phiếu Mạo).

mạo địa

Bồ Đề—Bodhi.

mạo địa chất đa

Bodhicitta (skt)—Bố Đề Tâm—The enlightened mind

mạo địa tát đát la

Bodhisattva (skt)—Bồ Tát.

mạt

1) Chà xát: To rub out or on. 2) Chấm Dứt: End. 3) Cho ngựa ăn: To feed a horse. 4) Mạt Cưa hay Mạt Sắt: Sawdust. 5) Ngọn: Branch.

mạt ca trá hạ la đà

(末迦咤賀邏馱) Phạm: Markaỉa-hrada. Hán dịch: Di hầu trì. Ao ở ngoài thành Tì xá li thuộc Trung Ấn độ đời xưa. Huyền ứng âm nghĩa quyển 14 nói: Mạt ca tra, Hán dịch là Hầu (khỉ); Hạ la đà, Hán dịch là Trì (ao). Thủa xưa, có 1 đàn khỉ đào cái ao này ở cạnh vườn Am la tại thành Tì xá li để cúng dường đức Phật nên gọi là ao Di hầu. Điều Phệ xá li quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 7 chép, cách phía tây của ao không xa có 1 tòa tháp là chỗ ngày xưa Di hầu lên cây lấy mật; cách phía nam ao không xa cũng có ngôi tháp là chỗ Di hầu dâng mật cúng Phật. Góc tây bắc ao vẫn còn tượng Di hầu. [X. luận Đại trí độ Q.2].

mạt già

Marga (skt). 1) Đạo—Track—Path—Way—The way. 2) Đạo Đế hay đế thứ tư trong Tứ Diệu Đế: The fourth of the four dogmas. 3) Bát Thánh Đạo hay cửa ra đau khổ để bước vào niết bàn: The eight holy or correct ways, or gates out of suffering into nirvana. 4) Đạo là nhân giải thoát, giác ngộ Bồ Đề là quả: Marga is described as the cause of liberation, bodhi as its result. ** For more information, please see Đạo.

mạt già lê

Maskari-Gosaliputra (skt)—Mạt Già Lê Câu Xá Lê, một trong lục sư ngoại đạo. Ông ta cho rằng kiếp hiện tại không phải là hậu quả của những việc làm trong những đời quá khứ, và kinh Lăng Già nói rằng ông ta dạy về sự hoàn toàn hoại diệt vào cuối đời nầy—One of the six tirthikas. He denied that present lot was due to deeds done in previous lives, and the Lankavatara sutra says he taught total annihilation at the end of this life.

mạt già lê câu xa lê tử

(末伽梨拘賒梨子) Phạm: Maskarì-gozàliputra. Pàli: Makkhali-gosàlaputta. Cũng gọi Mạt yết lị cù xà li tử, Mạt tắc yết lợi cù xa lợi tử, Mạt già lê câu xá lê tử, Mạt khư lê cù xa li tử. Gọi tắt: Mạt già lê, hoặc Mạt khư lê. Vị Luận sư ngoại đạo rất có thế lực ở Trung Ấn độ vào thời đức Phật còn tại thế, là 1 trong Lục sư ngoại đạo. Mạt già lê câu xa lê tử là người chủ trương tự nhiên luận, cho rằng sự khổ vui của con người chẳng có nguyên nhân nào cả, mà chỉ tự nhiên sinh ra. Mạt già lê, cũng gọi Mạt tát yết lê, nghĩa là thường đi; ngoại đạo này thường đi, không đứng, nên gọi Mạt già lê. Còn Câu xa lê là tên của người mẹ, vì thế gọi là Câu xa lê tử. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.38; Chú Duy ma cật kinh Q.3; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Lục Sư Ngoại Đạo).

mạt già thuỷ la

(末伽始羅) Phạm: MfgazirashoặcMàrgazìrwa. Hán âm: Ma lăng nga thi lí sa, Ma la nga thủy la. Hán dịch: Mạnh đông, Lộc thủ, Tuy nguyệt. Tên gọi tháng thứ 9 theo lịch Ấn độ, tương đương với khoảng thời gian từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch. Trong tháng này, khi mặt trăng gặp sao Tuy thì tròn, vì thế gọi là Tuy nguyệt. Đại đường tây vực kí quyển 2 (Đại 51, 876 thượng), nói: Ba tháng mùa thu gọi là tháng Áp thấp phược dữu xà, tháng Ca lạt để ca và tháng Mạt già thủy la, tương đương với khoảng từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 10 âm lịch. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.42; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Ma đăng già Q.hạ; kinh Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú; luận Đại tì bà sa Q.136].

mạt già thất la

Malyasri (skt)—Công chúa của vị vua cuối cùng của xứ Kosala—Daughter of the last king of Kosala.

mạt già thủy la

Margasiras (skt)—Tháng giữa tháng mười một và mười hai (từ 16th tháng chín đến 15th tháng mười âm lịch)—The month between November and December (from 16th of the 9th month to the 15th of the 10th month lunar calendar). ** For more information, please see Thập Nhị Nguyệt.

mạt giáo

(末教) Gọi đủ: Trục cơ mạt giáo. Đối lại: Xứng tính bản giáo. Chỉ cho Tam thừa giáo và Tiểu thừa giáo là giáo pháp chi mạt (cành ngọn), 1 trong Nhị giáo. Tông Hoa nghiêm chủ trương pháp môn Biệt giáo nhất thừa của Hoa nghiêm là giáo thuyết căn bản khế hợp với pháp tính, cho nên gọi là Xứng tính bản giáo, còn đức Phật vì thích ứng với căn cơ Tiểu thừa, Tam thừa mà nói giáo pháp chi mạt, thì gọi là Trục cơ mạt giáo. Bởi vì Tam thừa, Tiểu thừa đều từ Biệt giáo nhất thừa mà ra. Nếu lấy cứu cánh và phương tiện để phân biệt, thì Biệt giáo nhất thừa là giáo cứu cánh chung cực; còn Tam thừa, Tiểu thừa là giáo phương tiện dẫn dụ. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Nhị Giáo, Bản Giáo).

mạt hoá

(末化) Gọi đủ: Chi mạt hóa chủ. Chỉ cho Phật Thích ca do đức Phật Lô xá na trong thế giới Liên hoa tạng biến hóa ra. Kinh Phạm võng (bản 2 quyển) do ngài Cưu ma la thập dịch có miêu tả tỉ mỉ rõ ràng thế giới Liên hoa đài tạng rộng lớn trang nghiêm, do hoa sen lớn nghìn cánh cấu tạo nên, trong mỗi cánh hoa có 1 thế giới, trong mỗi thế giới có trăm ức núi Tu di, trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức cõi Nam diêm phù đề. Đức Phật Lô xá na là cội nguồn của thế giới Liên hoa đài tạng, Ngài ngồi kết già trên đài hoa sen, từ thân Ngài lại biến hóa ra 1 nghìn Phật Thích ca, mỗi Phật Thích ca ngồi trên 1 cánh hoa sen trong thế giới nghìn cánh sen. Rồi nghìn Phật Thích ca mỗi vị lại hóa ra trăm ức bồ tát Thích ca, mỗi mỗi đều ngồi dưới gốc cây Bồ đề ở châu Nam thiệm bộ tuyên nói pháp môn Tâm địa của Bồ tát. Tông Thiên thai căn cứ vào sự ghi chép trên đây để xiển minh ý chỉ Phật tính thường trụ Nhất thừa và qui nạp vào Đốn giáo trong Ngũ thời bát giáo mà nêu ra các thuyết 3 lớp bản mạt thành Phật, 2 lớp Bản và Tích, bất luận nói 3 lớp hay 2 lớp, đều là từ đối đãi bản mạt, bản tích mà lập danh. Tức Phật Lô xá na ngồi trên đài hoa sen là bản (gốc), còn thân Phật Thích ca Như lai ngồi trên cánh hoa sen là mạt (ngọn), là tích (dấu vết). Phật Lô xá na là nguồn gốc, là bản thể của nghìn Phật Thích ca; nghìn Phật Thích ca là tích dụng thùy hóa của Phật Lô xá na. Truyền thuật nhất tâm giới văn quyển hạ (Đại 74, 652 thượng), nói: Nghìn hoa trăm nghìn ức, Lô xá na là Bản thân, 10 trọng 48 khinh, Thích ca văn là Mạt hóa. (xt. Phạm Võng Tam Trùng Bản Mạt, Liên Hoa Tạng Thế Giới).

mạt hóa

1) Phật hóa thân làm nhành hay lá kè: Buddha transformed into (palm) branches or leaves. 2) Sự hóa thân của Phật trong hình thái kinh điển: The transformation of the Buddha in the shape of the sutra.

mạt hương

Giã trầm hương thành bột để rắc trên hình tượng (Phật)—Powdered incense to scatter over images (Buddhas). ; (抹香) Phạm: Cùrịa. Loại hương bột dùng để rắc lên tượng Phật và nơi chùa, tháp. Theo phẩm A tu la vương thụ kí trong kinh Đại bảo tích quyển 62, thì có các loại hương bột như: Chiên đàn, Ưu bát la, Trầm thủy, Đa ma la bạt, A tu la v.v...[X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa Q.5; phẩm Phân biệt công đức trong kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; luận Đại trí độ Q.93; Pháp hoa kinh huyền tán Q.7].

mạt hạng

The lowest class.

Mạt hậu

末後; C: mòhòu; J: matsugo; |Sau cùng; lúc cuối cùng; điểm kết thúc.

mạt hậu cú

Tức là lời nói của chư Tổ, cũng như nói: “Một câu cuối cùng (mạt hậu) mới đến lao quan (ngộ triệt để)”, để kẻ đã ngộ nghe rồi tự biết, kẻ chưa ngộ nghe rồi không hiểu thì từ đó khởi lên nghi tình để đi đến chỗ ngộ.

mạt hậu nhất cú

(末後一句) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu nói cuối cùng, tức là lời nói rất mực được thốt ra khi đã đạt đến chỗ tột cùng của cảnh giới đại ngộ, không có câu hoặc lời nói nào khác có thể vượt lên được. Chương Lạc phổ Nguyên an trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 16 (Đại 51, 331 trung), chép: Sư dạy đại chúng rằng: Một câu sau cùng, mới đến cửa ải, bứt khóa tới bờ, chẳng chung phàm thánh. [X. tắc 9, Bích nham lục; luận Vô tận đăng Q.thượng].

mạt kiếp

Last existence.

mạt kiếp mạt kiến

(末劫末見) Đối lại: Bản kiếp bản kiến. Kiến chấp phân biệt về đời vị lai. Trái lại, kiến chấp phân biệt về đời quá khứ thì gọi là Bản kiếp bản kiến. Những kiến chấp sai lầm của ngoại đạo Ấn độ đời xưa đại khái có thể chia làm 2 loại: Bản kiếp bản kiến và Mạt kiếp mạt kiến. Trong đó, Mạt kiếp mạt kiến, theo kinh Phạm động trong Trường a hàm quyển 14, thì có 5 loại, gồm 44 kiến chấp. Đó là: Hữu tưởng luận 16 thứ, Vô tưởng luận 8 thứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng luận 8 thứ, Đoạn diệt luận 7 thứ, Hiện tại nê hoàn luận 5 thứ. Hợp chung lại với 5 loại, 18 kiến chấp thuộc Bản kiếp bản kiến thì tổng cộng có 10 loại, 62 kiến chấp. [X. luận Đại tì bà sa Q.199]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến).

mạt kiền nã

(末犍拏) Cũng gọi Mạt kiến noa. Quyến thuộc của Hỏa thiên. Cứ theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, thì Mạt kiện noa và Cù đàm tiên đều là quyến thuộc của Hỏa thiên. Đại nhật kinh sớ quyển 16 (Đại 39, 744 thượng), nói: Mạt kiện noa chính là người tọa thiền, khi xuất định, thấy kiến bu khắp mình, vì sợ làm tổn hại kiến nên lại nhập định tiếp.

mạt la

Malla (skt)—Ma La—Một từ chỉ cư dân vùng Câu Thi Na và Pava—A term for inhabitants of Kusinagara and Pava. ; (末羅) Phạm,Pàli:Malla. Hán dịch: Lực sĩ. Cũng gọi Ma la, Bà lí ti. Một chủng tộc sống ở thành Ca thi na kiệt, thành Ba bà v.v... về phía bắc sông Hằng thuộc Trung Ấn độ, là 1 trong 16 chủng tộc lớn thuộc dòng Sát đế lợi ở Ấn độ đời xưa. Kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2 (Đại 1, 24 trung), nói: Lúc bấy giờ, đức Thế tôn ở thành Câu thi na kiệt, giữa khoảng 2 cây trong rừng Sa la, sắp diệt độ, bảo A nan rằng: Ngươi vào thành Câu thi na kiệt báo cho các Mạt la. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản 3 quyển); Giới đàn viên kinh; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12]. (xt. Ma La Quốc).

mạt la củ tra

Malakuta (skt)—Vương quốc cổ nằm về phía nam Ấn Độ, nơi trổi dậy của ly hệ ngoại đạo Ni Kiền Đà vào khoảng những năm 600 sau Tây Lịch—An ancient kingdom of Southern India, the coast of Malabar, about 600 A.D. a noted haunt of the Nirgrantha sect.

mạt la củ trá quốc

(秣羅矩咤國) Mạt la củ tra, Phạm: Malakùỉa. Cũng gọi Chỉ mạt la quốc. Tên một nước xưa ở cực nam bán đảo Ấn độ, là căn cứ địa của Vương triều Phan để á (Phạm:Pàịđya), tương đương với vùng đất Mã đỗ lạp (Madura) và Đình ni phất lợi (Tinnvelly) ngày nay. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 10, thì nước này chu vi hơn 5.000 dặm, kinh đô rộng hơn 40 dặm, đất đai cằn cỗi, nông nghiệp khó phát triển, nhưng bù lại, có rất nhiều hải sản quí giá. Nhân dân xứ này tính tình cứng cỏi, tin thờ cả tà lẫn chính, không chuộng nghệ thuật, chỉ thích trục lợi. Nền chùa cũ thì nhiều, nhưng chùa còn lại rất ít, tăng đồ cũng không có bao nhiêu. Đền thờ trời có tới vài trăm ngôi, rất nhiều ngoại đạo, phần lớn là ngoại đạo khỏa hình. Ở phía đông kinh đô có ngôi chùa cũ do ngài Ma hi đà (Phạm:Mahendra) sáng lập và tháp vua A dục. Ở bờ biển phía nam nước này có núi Mạt lại da, trong đó có nhiều loại cây chiên đàn sinh trưởng. Núi này thường được nói đến trong các kinh. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; luận Đại trí độ Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].

mạt la du

Malaya (skt)—Vương quốc nằm về phía đông rặng núi Malaya, bán đảo Mã Lai—The western Ghats in Deccan (the mountains abound in scandal trees); the country that lies to the east of Malaya range, Malabar—The Malay peninsula.

mạt la kiết đa

Marakata (skt)—Ma La Ca Đà—Ngọc Bích—The emerald.

mạt la mẫu ma tăng già phái

(末羅姆摩僧伽派) Pàli: Marammasaíghanikàya. Cũng gọi Tiền tông, Miến điện tông phái (Pàli: Marammanikàya). Một chi phái thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ thời kì đầu ở Miến điện, được hình thành vào cuối thế kỉ XII, chủ yếu thịnh hành ở miền Thượng Miến điện. Các tỉ khưu của phái này cố thủ khuôn phép của Phật giáo Thượng tọa bộ, bài xích giới pháp của phái Đại tự Tích lan do sư Xa ba da (Chapaỉa) truyền thụ. Vào năm 1180, Quốc sư Miến điện là ngài Uất đa la kì bà (Phạm:Uttarajìva), nhân hâm mộ nền Phật giáo Tích lan, nên ngài hướng dẫn 1 đoàn tăng chúng Miến điện, trong đó có sư Xa ba đa, khi ấy còn là sa di, đến Tich lan cầu pháp. Ít lâu sau, ngài Uất đa la kì bà cùng đoàn tùy tùng trở về nước, chỉ còn lại sư Xa ba đa ở chùa Đại tự (Pàli: Mahàvihàra), sau khi thụ giới tỉ khưu, sư tiếp tục học tập trong 10 năm. Đến năm 1190 sư trở về Miến điện. Sư không những có kiến thức uyên bác mà còn có tài biện luận, được Quốc vương Miến điện tín phục. Sư xây dựng 1 ngôi chùa tháp kiểu Tích lan ở Nhượng ô (Chaugu) bắc bộ Bồ cam, đặt tên là tháp Xa ba đa và theo giới pháp của Đại tự mà truyền thụ giới Tỉ khưu, chứ không tuân thủ qui định của tăng đoàn truyền thống ở Miến điện. Do đó đã đưa đến cuộc tranh luận trong nội bộ Phật giáo Miến điện. Tăng đoàn Thượng tọa bộ thuộc dòng Mãnh tộc trước nay ở Miến điện, thấy sư Xa ba đa được Quớc vương ủng hộ, phát triển mau chóng, vì lo cho địa vị và tiền đồ của bản thân, nên đã cực lực chứng minh Phật giáo Thượng tọa bộ bắt nguồn từ luật pháp được truyền thừa từ tăng đoàn do vua A dục phái sang, để chống lại sư Xa ba đa theo giới luật đổi mới của Tích lan. Cuộc tranh luận kéo dài đến năm 1192 thì phái Phật giáo Thượng tọa bộ truyền thống của Miến điện gọi là Tông phái Miến điện để phân biệt với Tông phái Tích lan (Pàli: Siôhaơanikàya) của sư Xa ba đa. Từ đó Phật giáo Miến điện rơi vào tình trạng phân hóa. [X. Miến điện Phật giáo sử (Tịnh hải, Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san 83)].

mạt la sa

Malasa (skt)—Một thung lũng nằm trên vùng thượng du Pundjab—A mountain valley in the upper Pundjab.

mạt la vương kinh

Kinh nói về vua hành Mạt La. Thuở ấy có một tảng đá lớn chắn giữa đường đi của quốc vương, mà không ai có thể dời đi được. Dân trong thành không thể di chuyển được. Đức Phật bèn hiện thần thông dời hòn đá đi (nhân đó Phật thuyết về bốn lực để độ cho nhân dân vùng nầy)—The sutra of the king of Malla, whose road was blocked by a rock, which his people were unable to remove, but which the Buddha removed easily by his miraculous powers. ** For more information, please see Tứ Lực. ; (末羅王經) Kinh, 1 quyển, do cư sĩ Thư cừ kinh Thanh dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật khi ở nước Mạt la, đã hiển hiện sức thần thông dời 1 tảng đá lớn nằm chắn ngang đường, đồng thời, vì nhà vua và 9 ức dân chúng nước ấy tuyên thuyết về sức tinh tiến, sức nhẫn nhục, sức bố thí, sức cha mẹ v.v... để hóa độ họ. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.10; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].

mạt lê

Bali (skt)—Một vị vua A Tu La—An asura king.

mạt lưu

People of the low class.

mạt lạt da sơn

(秣剌耶山) Mạt lạt da, phạm: Malayagiri. Cũng gọi Ma la da sơn, Ma la diên sơn, Ma lợi sơn. Tên dãy núi ở bờ biển phía nam nước Mạt la củ tra (Phạm: Malakùỉa) tại cực nam bán đảo Ấn độ. Điều Mạt la củ tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 932 thượng), nói: Ở bờ biển phía nam nước này có núi Mạt lại da. Núi này cao chót vót, có nhiều hang động sâu thẳm, khe suối quanh co; trong núi có cây bạch đàn hương, cây chiên đàn nễ bà (Phạm: Candaneva). Núi này cũng tức là núi Ma la da nói trong kinh Niết bàn quyển 15 (bản Bắc) và kinh Đại thừa nhập Lăng già quyển 1. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.68; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26].

mạt lật giả

(末栗者) Phạm:Marìca. Cũng gọi Ma lí giả. Hồ tiêu. Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ Bách nhất yết ma quyển 8 (Đại 24, 491 thượng), chép: Đức Phật nói có 5 loại quả (...) loại thứ 4 là Mạt lật giả (hồ tiêu). (...) Năm loại quả này hoặc đúng giờ (ăn) hoặc không đúnggiờ, hoặc có bệnh hoặc không bệnh, đều tùy ý được dùng.

mạt lật sa ca

Varsika (skt)—See Mạt Sư Ca.

mạt lộ

1) To be at the end of one's resources. 2) Cul-de-sac.

mạt lợi

Mallika (skt)—Ma Lợi—Mạt La. 1) Mạt Lợi Hoa: Bông lài Trung Quốc—Jasminum—The Chinese jasmine. 2) Man Hoa: Loài hoa có thể kết thành xâu chuỗi—Chaplet flower, as its flowers may be formed into a chaplet. 3) Trái cây được pha chế cúng dường trong các các buổi lễ: A concoction of various fruits mixed with water offered in worship.

mạt lợi phu nhân

Phu nhân của vua Ba Tư Nặc nước Xá Vệ, được gọi như vậy là vì bà hay dệt, hay mang hoa lài, hoặc bà đến từ vườn lài—The wife of Prasenajit, king of Kosala, so called because she wove or wore jasmine chaplets, or came from a jasmine garden. ; (末利夫人) Mạt lợi, Phạm,Pàli: Mallikà. Cũng gọi Ma lợi phu nhân, Ma lợi ca phu nhân. Hán dịch: Thắng man phu nhân. Phu nhân của vua Ba tư nặc, người thành Ca tì la vệ, Trung Ấn độ, tên Minh nguyệt, cha là Ma nạp bà, mẹ là dòng dõi Bà la môn. Cứ theo Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 7, sau khi cha mẹ mất, bà rơi vào hoàn cảnh khó khăn, trôi nổi, rồi làm đầy tớ cho ông Ma ha nam (Pàli: Mahànàma), có lần Ma ha nam sai bà vào vườn hái hoa kết tràng, bà làm rất đẹp, Ma ha nam hài lòng và bảo bà hàng ngày chuyên làm công việc này, vì thế bà lại có tên Thắng man (tràng hoa đẹp). Về sau, nhờ công đức cúng dường bữa cơm cho đức Phật mà thoát khỏi thân phận tôi đòi, trở thành phu nhân của vua Thắng quang (tức vua Ba tư nặc (Phạm: Prasenajit) nước Kiêu tát la, sinh ra Thái tử Ác sinh (tức Thái tử Tì lưu li (Phạm: Viđùđabha). Nhưng kinh Tăng nhất a hàm quyển 26 thì cho rằng vua Ba tư nặc cầu hôn với con gái dòng họ Thích, dòng họ Thích bèn đem con của người tớ gái của ông Ma ha nam gả cho vua. Còn luật Tứ phần quyển 18 thì cho rằng Mạt lợi phu nhân vốn là đầy tớ gái của Bà la môn Da nhã đạt ở thành Xá vệ, tên là Hoàng đầu, thường giữ vườn Mạt lợi (vườn Mạt la). Một hôm, đức Như lai vào thành khất thực, bà Hoàng đầu trông thấy tướng hảo của Phật liền sinh lòng kính tin, dâng cơm cúng dường Ngài, cầu mong thoát khỏi thân phận tôi tớ mà được làm phu nhân của vua. Về sau, gặp vua Thắng quang cùng đoàn tùy tùng đi săn, vì trời nóng bức, nhà vua vào vườn tránh nắng, Hoàng đầu đưa vua đến chỗ mát, trải áo mình ra cho vua ngồi, rồi tận tình hầu hạ vua, vua rất đẹp lòng, biết là người thông minh nên đưa về cung làm phu nhân. Vì Hoàng đầu được đưa từ vườn Mạt lợi về, cho nên gọi là Mạt lợi phu nhân. Ngoài ra, cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 8 phần cuối, thì con gái của Mạt lợi phu nhân tên là Mạt lợi thất la, tức Thắng man. Như vậy thì biết Mạt lợi phu nhân là Hoàng hậu của vua Ba tư nặc, sinh ra Thái tử Ác sinh và Thắng man phu nhân, sau trở thành Vương phi nước A du xà. X. phẩm Thanh tín nữ trong kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Pháp cú thí dụ Q.2; kinh Hiền ngu Q.2; luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Thắng Man Phu Nhân).

mạt ma

Marman (skt)—Phần trọng yếu (sinh tử)—Mortal spot—A vital part. ; (末摩) Phạm: Marman. Hán dịch: Tử tiết, Chi tiết, Tử huyệt. Tức là chỗ hiểm yếu trên thân thể con người mà nếu bị thương tổn 1 chút thôi cũng có thể đưa đến tử vong. Cứ theo Du già luận kí quyển 1 thượng, thì thân thể con người có 64 hoặc 120 tử tiết. Theo luận Đại tì bà sa quyển 190 và luận Câu xá quyển 10, trong 3 đại thủy, hỏa, phong, lúc người ta sắp chết, nếu có 1 đại tự tăng lên mạnh mẽ, mà ngay lúc đó chạm vào mạt ma thì toàn thân rất đau đớn, cuối cùng dứt mệnh căn mà chết. Đây gọi là Đoạn mạt ma. Luận Thuận chính lí quyển 31 (Đại 29, 514 trung), nói: Nếu thủy, hỏa, phong duyên hợp không bình thường, chống trái lẫn nhau, hoặc cả 3 đại, hoặc riêng từng đại, thế lực tăng mạnh, làm thương tổn đến điểm Mạt ma thì đau đớn vô cùng, như lấy dao mà cắt xẻ thân thể chân tay, chỉ trong chốc lát là bỏ thân mệnh, vì thế nên gọi Đoạn mạt ma. [X. luận Câu xá Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

mạt na

Manah or manas (skt). 1) Ý: The active mind or consciousness as the will-to-be. 2) Ýù Căn: Làm cho con người trở thành một sinh vật có trí khôn và đạo đức—The sixth of the Chadayatana, the mental faculty which constitutes man as an intelligent and moral being.

mạt na thức

1) Ý Thức—Manas Consciousness. 2) Mạt Na hoạt động như một trạm thâu thập tất cả những hoạt động của sáu thức kia. Mạt Na chính là thức thứ bảy trong tám thức, có nghĩa là “Tư Lường.” Nó là Ý thức hay những hoạt động của Ý Căn, nhưng tự nó cũng có nghĩa là “tâm.”—This acts like the collection station for the first six consciousnesses. The seventh of the eight consciousnesses, which means thinking and measuring, or calculating. It is the active mind, or activity of mind, but is also used for the mind itself. ; (末那識) Mạt na, Phạm: Manas. Hán dịch: Ý, Tư lương. Thức nhiễm ô, luôn chấp thức thứ 8 A lại da làm ngã, là thức thứ 7 trong 8 thức tâm của loài hữu tình do tông Duy thức lập ra. Vì để phân biệt với thức thứ 6 cũng là Ý thức (Phạm: Mano-vijĩàna: Thức của ý) nên dùng âm Phạm là Mạt na làm tên gọi. Thức này tương ứng với các phiền não ngã si, ngã kiến, ngã ái và ngã mạn, lúc nào cũng thẩm xét, chấp trước kiến phần của thức A lại da làm ngã và ngã sở (ta và của ta), vì thế đặc chất của nó là hằng thẩm tư lương (luôn suy lường tính toán). Lại vì thức này là gốc của ngã chấp, nếu chấp trước mê vọng thì tạo các ác nghiệp, trái lại, thì đoạn trừ phiền não ác nghiệp, triệt ngộ chân lí nhân không, pháp không, cho nên gọi là Nhiễm tịnh thức, cũng gọi là Tư lương thức, Tư lương năng biến thức. Hơn nữa, từ vô thủy đến nay, thức này ngấm ngầm tương tục, không dùng sức bên ngoài, chỉ tự nhiên sinh khởi, cho nên tính chất của nó là Hữu phú vô kí. Thức này không dẫn sinh ra quả dị thục nhưng lại thường chướng ngại Thánh đạo, che lấp chân tính. Tông Pháp tướng căn cứ theo sự cạn sâu của các giai đoạn tu hành mà lập ra 3 vị về thức Mạt na, gọi là Mạt na tam vị. Đó là: 1. Bổ đặc già la ngã kiến tương ứng vị (Bổ đặc già la, Phạm: Pudgala, tức là người): Giai vị thức Mạt na duyên với thức A lại da mà sinh khởi kiến chấp về nhân ngã. Như tâm hữu lậu của phàm phu, Hữu học nhị thừa và Bồ tát từ Thất địa trở xuống. 2. Pháp ngã kiến tương ứng vị: Thức Mạt na duyên với thức dị thục thứ 8 mà sinh khởi kiến chấp về pháp ngã. Đây là chỉ cho hàng phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát chưa chứng trí pháp không. 3. Bình đẳng tính trí tương ứng vị: Giai vị khởi Bình đẳng tính trí vô lậu, tức là Bồ tát quán pháp không mà vào Kiến đạo, lại ở giai vị Tu đạo sinh khởi quả trí pháp không và quả Phật. Trong 3 vị trên đây, 2 vị trước thuộc hữu lậu, vị thứ 3 thuộc vô lậu. Theo luận Thành duy thức quyển 5, thì sự tồn tại của thức Mạt na có thể dùng 2 giáo thuyết của kinh Nhập lăng già, kinh Giải thoát và 6 đạo lí để chứng minh. Đây gọi là Hai giáo sáu lí. Hai giáo: 1. Kinh Nhập lăng già quyển 9 cho rằng tính tư lương gọi là Ý. 2. Theo kinh Giải thoát thì Ý nhiễm ô cùng với các hoặc thường hằng sinh diệt. Sáu lí: 1. Bất cộng vô minh chứng: Tác dụng của thức thứ 6 tuy không gián đoạn, nhưng Bất cộng vô minh (cũng gọi Độc đầu vô minh, loại vô minh chỉ khởi một mình, chứ không tương ứng với các phiền não khác) của phàm phu thì không có gián đoạn mà thường tương tục, cho nên phải có thức Mạt na. 2. Lục nhị duyên chứng: Năm thức trước lấy 5 căn trước làm chỗ nương, lấy 5 cảnh trước làm chỗ duyên, cho nên thức thứ 6 cũng phải có thức Mạt na làm Ý căn là chỗ nương của nó. 3. Ý danh chứng: Mạt na gọi là Ý, vì là hằng thẩm tư lương nên nó phải thường tồn tại. 4. Nhị định sai biệt chứng: Bậc Thánh vào định Diệt tận có khác với các ngoại đạo vào định Vô tưởng, vì định Diệt tận không còn thức Mạt na, mà định Vô tưởng thì vẫn còn. 5. Vô tưởng hữu nhiễm chứng: Tu định Vô tưởng được sinh lên cõi trời Vô tưởng, ở đây tuy không còn thức thứ 6 nhưng vẫn có ngã chấp, bởi thế cần phải có thức Mạt na. 6. Hữu tình ngã bất thành chứng: Người phàm phu làm các việc thiện như bố thí v.v... nhưng không thể trở thành vô lậu, không thoát li được ngã chấp, là bởi vì còn có thức Mạt na. [X. kinh Nhập lăng già Q.8; luận Du già sư địa Q.63; luận Hiển dương Thánh giáo Q.1; luận Thành duy thức Q.4, 5; Thành duy thức luận xu yếu Q.hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối].

mạt nghệ

Lowest trade.

mạt ni

Mani (skt)—Ma Ni. 1) Viên Ngọc hay Bảo Châu: Jewel—A crystal—A pearl. 2) Biểu tượng của sự thanh tịnh: A symbol of purity. 3) Biểu tượng của Đức Phật hay giáo pháp của Ngài: A symbol of the Buddha and/or his doctrine. 4) Được dùng trong câu thần chú Úm Ma Ni Bát Di Hồng: Used in Om-mani-padmi-hum.

mạt ni giáo

Mạt Ni Hỏa Ảo Giáo—Tôn giáo thờ thần lửa, đầu tiên được ngài Huyền Trang nói đến trong nhựt ký của ngài khoảng từ 630 đến 640 sau Tây Lịch. Giáo đoàn Mạt Ni lần đầu tiên đến trung Quốc từ Đại Tần vào năm 694. Vào năm 732, một chiếu chỉ của triều đình tuyên bố là tà giáo, mạo nhận qua tên của Phật giáo. Tuy nhiên, Mạt Na giáo vẫn tiếp tục phát triển ở nhiều nơi bên Trung Hoa mãi cho đến cuối đời nhà Minh, đặc biệt ở vùng Phúc Kiến. Nhiều văn sĩ Trung Hoa lầm lẫn với Hỏa Tiên Giáo—The Manichean religion, first mentioned in Chinese literature by Hsuan-Tsang in his Memoirs, between 630 and 640 A.D. The first Manichean missionary from Ta-Ch'in reached China in 694. In 732, an imperial edict declared the religion of Mani a perverse doctrine, falsely taking the name of Buddhism. It continued, however, to flourish in parts of China, especially Fukien, even to the end of the Ming dynasty. Chinese writers have often confused it with Mazdeism.

mạt nô hạt lạt tha

Manorhita or Manoratha (skt)—Một thái tử Ấn Độ, con vua Nadai, xuất gia vào tuổi 30. Ông trở thành đệ tử và người nối nghiệp ngài Thiên Thân, làm tổ thứ 22 dòng Thiền Ấn Độ. Ông nổi tiếng vì là tác giả của bộ luận Tỳ Ba Sa—An Indian prince, son of the king of Nadai, became a monk at the age of 30. He became the disciple and successor of Vasubandhu, reputed author of the Vibhasa sastra and the twenty-second patriarch. ** For more information, please see Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (22). ; (末笯曷剌他) Phạm: Manoratta. Cũng gọi Ma nâu la tha, Mạt nô hạt lợi tha. Hán dịch: Như ý, Tâm nguyện. Cao tăng Ấn độ, người nước Kiện đà la, ra đời sau đức Phật nhập diệt khoảng 1.000 năm. Theo điều Kiện đà la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 2, thì thủa nhỏ ngài hiếu học, có tài biện luận, đạo tục đều kính ngưỡng. Ngài từng soạn luận Bà sa. Theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 6, đệ tử nối pháp của Pháp sư Bà tẩu bàn đậu là ngài Ma nô la, làu thông 3 tạng, từng hoằng dương Phật pháp ở Nam thiên trúc. Mạt nô hạt lạt tha và ngài Ma nô la này phải chăng là 1 người? Chưa có tư liệu xác minh. Ngài có tác phẩm: Luận Bà sa. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.8; Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Câu xá luận pháp nghĩa Q.1].

mạt nô nhã cụ sa

Manojnaghosa (skt)—Một vị Tỳ Kheo Ấn Độ thời xưa—An ancient Indian monk.

mạt nô sa

Manusa or Manusya (skt)—Loài người (chúng sanh có nhân tính và trí tuệ) —Man—Human (man and mind or intelligence).

mạt nô thị nhã táp phược la

Manojnasvara (skt). 1) Như Ý Âm—Nhạc Âm—Lovely sounds—Music. 2) Vua của loài Càn Thát Bà: A king of the Gandharvas. 3) Những nhạc công của vua trời Đế Thích: Indra's musicians.

mạt nại nam

Vandana (skt)—Sự thờ phụng hay tôn kính—Worship—Reverence.

Mạt pháp

末法; C: mòfă; J: mappō;|Thời sau cùng của chính pháp, vốn có tên gọi khác là mạt thế (末世), là thời gian sau khi Đức Phật nhập niết-bàn; do người Trung Hoa hệ thống vào cuối thế kỉ thứ 6 như là thời kì thứ 3 và là thời cuối cùng trong 3 thời kì của Phật pháp. Chính tượng mạt (正像末).

mạt pháp

The Degenerate Age of Dharma—The Dharma Ending Age—The Decadence of the Law—The period of the end of Dharma. 1) Thời mạt pháp (thời kỳ mà giáo pháp suy vi vì cách xa thời Phật quá lâu), thời kỳ cuối cùng của Phật pháp khoảng 3000 năm sau thời Chánh Pháp. Vào cuối thời kỳ nầy, sẽ không còn giảng dạy Phật pháp nữa, có nghĩa là Phật pháp chấm dứt một ngày nào đó. Tuy nhiên, Phật Di Lặc hay Phật Cười (Hạnh Phúc) sẽ xuất hiện và tái tạo tất cả—The final period of teaching of Buddhism which lasted 3000 years after the formal period. Toward the end of this period, there won't be any more teaching of Buddhism which means the Buddhadharma will end (vanish from the world) one day. However, Buddha Maitreya or Laughing (Happy) Buddha is to appear to restore all things. 2) Thời kỳ cuối cùng của ba thời kỳ Phật pháp (Chánh, Tượng, và Mạt Pháp), thời kỳ suy vi và bị tiêu diệt của giáo pháp. Trong thời gian nầy, đạo đức suy đồi, pháp nghi tu hành hư hoại. Tà ma ngoại đạo lẫn lộn vào phá hư Phật pháp. Tuy có giáo lý, có người tu hành, nhưng không một ai hành trì đúng pháp, huống là tu chứng? Trong Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, Đức Phật đã có lời huyền ký rằng: “Trong thời Mạt Pháp, ức ức người tu hành, song không có một ai chứng đắc.”: The last of the three periods (The Proper Dharma Age, The Dharma Semblance Age, and The Dharma Ending Age), the age of degeneration and extinction of the Buddha-law. In this age, the Dharma and precepts are weakened significantly. Many othe religions, non-Buddhists, and evil spirits will enter and blend in with Buddhism, destroying the Buddha Dharma. Thus, the Dharma still exists and there are cultivators, but very few practitioners are able to grasp fully the proper Dharma or awakened to the Way, much less attain enlightenment. In the Great Heap Sutra, the Buddha made this prophecy: “In the Dharma Ending Age, in hundreds of thousands and hundreds of thousands of cultivators, as the result, no one will attain enlightenment.” 3) Trong Kinh Pháp Diệt Tận, Đức Phật cũng có huyền ký rằng: “Về sau, khi Pháp của ta sắp diệt, nơi cõi ngũ trược nầy, tà đạo nổi lên rất thạnh. Lúc ấy có những quyến thuộc của ma trá hình vào làm Sa Môn để phá rối đạo pháp của ta. Họ mặc y phục y như thế gian, ưa thích áo Cà Sa năm màu, thay vì mặc áo ba màu luốc của hàng Tăng sĩ. Họ ăn thịt, uống rượu, sát sanh, tham trước mùi vị, không có từ tâm tương trợ, lại còn ganh ghét lẫn nhau; sư nầy ghét sư kia, chùa nầy ghét chùa kia. Bấy giờ các vị Bồ Tát, Bích Chi, La Hán vì bổn nguyện hộ trì Phật Pháp nên mới hiện thân ra làm Sa Môn hay cư sĩ, tu hành tinh tấn, đạo trang nghiêm, được mọi người kính trọng. Các bậc ấy có đức thuần hậu, từ ái, nhẫn nhục, ôn hòa, giúp đỡ kẻ già yếu cô cùng, hằng đem kinh tượng khuyên người thọ trì, đọc tụng, giáo hóa chúng sanh một cách bình đẳng, tu nhiều công đức, không nệ chi đến việc tổn mình lợi người. Khi có những vị tu hành đạo đức như thế, thì các Tỳ Kheo Ma kia ganh ghét, phỉ báng, vu cho các điều xấu, dùng đủ mọi cách lấn áp, xua đuổi, hạ nhục, vân vân, khiến cho các vị chân tu nầy không được ở yên. Từ đó, các ác Tỳ Kheo kia càng ngày càng thêm lộng hành, không tu đạo hạnh, bỏ chùa chiền điêu tàn, hư phế. Họ chỉ biết tích tụ tài sản, làm các nghề không hợp pháp để sanh sống, đốt phá rừng núi, làm tổn hại chúng sanh không chút từ tâm. Lúc ấy, có nhiều kẻ nô tỳ hạ tiện xuất gia làm Tăng Ni, họ thiếu đạo đức, dâm dật, tham nhiễm, nam nữ sống chung lẫn lộn. Phật Pháp suy vi chính là do bọn nầy! Lại có những kẻ trốn phép vua quan, lẫn vào cửa đạo, rồi sanh tâm biếng nhác, không học, không tu. Đến kỳ bố tác tụng giới, họ chỉ lơ là, gắng gượng, không chịu chuyên chú lắng nghe. Nếu có giảng thuyết giới luật, họ lược trước bỏ sau, không chịu nói ra cho hết. Nếu có đọc tụng kinh văn, họ không rành câu chữ, không chịu tìm hỏi nơi bậc cao minh, tự mãn cầu danh, cho mình là phải. Tuy thế, bề ngoài họ cũng làm ra vẻ đạo đức, thường hay nói phô trương, để hy vọng được mọi người cúng dường. Các Tỳ Kheo Ma nầy sau khi chết sẽ bị đọa vào trong tam đồ ác đạo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trải qua nhiều kiếp. Khi đền xong tội, họ sẽ thác sanh làm người ở nơi biên địa, chỗ không có ngôi Tam Bảo.”—In the Dharma Extinction Sutra, the Buddha prophesized: “In the future, when my Dharma is about to end, in this world of the five turbidities, false religions will arise to become very powerful. During those times, the evil's relatives will take form, appearing as Bhikshus, to destroy the Buddha Dharma. They will eat, sleep, and wear ordinary clothing of lay persons, fond of five exotic assorted colorings worn on their robes, instead of the three solid indigo blue, brown and gold colored robes which Bhikshus are supposed to wear. They eat meat, drink alcohol, kill, lust for fragrances and aromas, with non-helping conscience. Instead, they will become jealous of and hateful toward one another; this monk will hate or be jealous with the other monk, this monastery will hate or be jealous with the other monastery. At that time, Bodhisattvas, Pratyeka-buddhas, and Arhats who had vowed previously to protect and defend the Buddha-Dharma, will appear in life, taking on human form as Bhikshus or lay people. These saints will be devoted cultivators; their religious conduct and behavior will be very honorable, earning everyone's admiration and respect. They will have virtuous qualities such as kindness and peace, have no impure thoughts, great tolerance, good will, help the old, the weak, the lonely, and often bring statues and sutras to encourage everyone to worship, read, and chant. They will teach sentient beings in a fair and objective manner and will cultivate many merits and virtuous practices. They will be altruistic always practicing the concept of 'self-loss for others' gain.' With the appearance of such religious and virtuous people, other demonic Bhikshus will develop much hatred and jealousy. They will slander, make wicked and false accusations, do everything possible so these kind and virtuous people cannot live in peace. From that point forth, those demonic Bhikshus will become even more reckless and wild, never practicing Dharma, leaving temples to rot, ruined and desolate. Their only interest will be to build their private fortune, having careers that are unacceptable in Buddhism, such as burning mountains and forests, without a good conscience, killing and hurting many sentient beings. In such times, there will be many servants taking the opportunity to become Bhikshus and Bhikshunis; they will be neither religious nor virtuous. Instead, they will be lustful and greedy, where Bhikshus and Bhikshunis live with one another. The Buddha-Dharma will be destroyed in the hands of these people. Also, there will be many criminals entering the religious gate, increasing the consciousness of laziness and laxity, refusing to learn or to cultivate the Way. When the reading of precepts comes around the middle of every month, they will act passively, reluctantly, and refuse to listen carefully. If teaching and expounding the precepts and doctrines, they will go over them briefly, skipping different sections, refusing to state all of them. If reading and chanting sutra-poetry, and not familiar with the lines, words, or their deep meanings, they will refuse to search or ask for answers from those who have great wisdom, but instead they will be narcissistic and conceited, seek fame and praise, and think they are all-knowing. Even so, on the outside, they will act religious and virtuous, often prasing themselves, hoping everyone will make offerings or charitable donations to them. After these demonic Bhikshus die, they will be condemned into the realm of hell, hungry ghost, and animal, and must endure these conditions for many reincarnations. After repaying for these transgressions, they will be born as human beings, but far away from civilization, places that do not have the Triple Jewels. 4) Theo Kinh Đại Bi, Đức Phật bảo Ngài A Nan: “Nầy A Nan! Khi ta nhập Niết Bàn rồi, trong thời gian 2.500 năm sau, nhóm người giữ giới, y theo chánh pháp, lần lần tiêu giảm. Các bè đảng phá giới, làm điều phi pháp, ngày càng tăng thêm nhiều. Bấy giờ có nhiều Tỳ Kheo đắm mê danh lợi, không chịu tu thân, tâm, trí huệ; họ tham trước những y bát, thức ăn, thuốc men, sàng tọa, phòng xá, chùa chiền, rồi ganh ghét tranh giành phỉ báng lẫn nhau. Thậm chí, kiện thưa nhau ra trước công quyền: In the Great Compassion Sutra, the Buddha taught Ananda: “Look here Ananda! Two thousand five hundred years after I entered the Nirvana, those who maintain, practice according to the proper dharma teachings will gradually diminish; those who violate precepts, engage in activities contrary to the Dharma teachings will increase with each passing day. In such times, many Bhikshus will be mesmerized by fame and fortune, not cultivating their minds, bodies, and for wisdom. They will be greedy for Buddhist robes, bowls, food, medicine, housing, temple, and then become jealous, competing and insulting one another, taking one another to the authorities. ; (末法) Phạm: Saddharma-vipralopa. Đồng nghĩa: Mạt thế, Mạt đại. Chỉ cho thời đại Phật pháp suy đồi, là 1 trong 3 thời kì Chính, Tượng và Mạt, tức là giáo pháp ở đời có 3 thời kì biến thiên Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 6, phần đầu, căn cứ vào giáo (giáo pháp), hành (tu hành), chứng (chứng quả) có đầy đủ hay không đầy đủ để bàn về 3 thời Chính, Tượng, Mạt. Nghĩa là sau khi đức Phật diệt độ, giáo pháp ở đời, nếu nương theo giáo pháp mà tu hành thì liền được chứng quả, gọi là Chính pháp; tuy có giáo pháp và người tu hành nhưng không thể chứng quả, gọi là Tượng pháp (tượng nghĩa là tương tự). Tuy có nhiều người lãnh thụ giáo pháp, nhưng không tu hành chứng quả, gọi là Mạt pháp. Đời mạt pháp cũng gọi là Mạt thế. Thời đại mà chính pháp của Phật suy đồi thì chúng tăng trược loạn. Trong Ngũ trược bộ của Pháp uyển châu lâm quyển 98 (Đại 53, 1005 hạ), nói: Sau khi đức Phật Niết bàn sẽ có 5 thứ loạn: 1. Tỉ khưu tương lai sẽ theo bạch y (người tại gia) để học pháp. 2. Bạch y ngồi trên, tỉ khưu ngồi dưới. 3. Tỉ khưu nói pháp không ai thực hành vâng theo, bạch y nói pháp thì cho là không gì hơn. 4. Tỉ khưu sinh vào nhà ma, cho pháp thế gian là đạo đế chân chính, đối với chính pháp của Phật thì chẳng hiểu gì, lấy dối trá làm tin. 5. Các tỉ khưu trong tương lai nuôi dưỡng vợ con, tôi tớ, tranh giành kiện cáo lẫn nhau, không còn tuân theo lời Phật dạy. Về thời hạn của 3 thời kì có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng sau khi đức Phật nhập diệt, chính pháp trụ thế 500 năm, tượng pháp 1.000 năm. Lại có thuyết nói chính pháp và tượng pháp đều trụ 1.000 năm, sau đó mới đến thời kì mạt pháp; thời kì này trải qua 10.000 năm, sau đó thì Phật pháp diệt hết. Lại có thuyết cho rằng chính pháp 1.000 năm, tượng pháp và mạt pháp mỗi thời 10.000 năm. Nhưng nhìn chung thì các kinh luận phần nhiều đều cho thời kì mạt pháp là 10.000 năm. [X. kinh Tạp a hàm Q.25, 32; kinh Phật lâm niết bàn kí pháp trụ; phẩm Sơ phần nan văn công đức trong kinh Đại bát nhã Q.302; kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; phẩm An lạc hạnh kinh Pháp hoa; kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản 80 quyển); kinh Pháp diệt tận; kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. (xt. Chính, Tượng, Mạt).

mạt pháp tư tưởng

(末法思想) Chỉ cho tư tưởng về thời kì mạt pháp. Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo pháp của Ngài trải qua các thời kì chính pháp, tượng pháp, người tu hành chứng ngộ dần dần giảm thiểu, cuối cùng, đến thời kì mạt pháp thì chỉ còn giáo pháp mà thôi, tuy có nhiều người lãnh thụ giáo pháp nhưng không thể tu hành chứng quả. Thời kì này kéo dài 10 nghìn năm, gọi là thời mạt pháp. Loại tư tưởng mạt pháp này được thấy rải rác trong các kinh điển. Tư tưởng mạt pháp này đã thôi thúc và tạo nên 1 thời kì giáo đồ phản tỉnh, khiến họ bắt đầu suy tư, tìm ra phương pháp để giải quyết và cứu vãn. Trong các văn hiến của Trung quốc, tư tưởng này được thấy sớm nhất trong bài Nam nhạc Tư thiền sư lập thệ nguyện văn của ngài Tuệ tư (515 - 577) đời Bắc Tề. Kế đến là ngài Tín hành (540 - 594) đời Tùy, đề xướng Tam giai giáo (giáo pháp của 3 bậc); ngài Tín hành cho rằng thời kì chính pháp trụ thế là bậc thứ 1, tượng pháp là bậc thứ 2, mạt pháp là bậc thứ 3, trong đó, mỗi bậc đều có giáo pháp tương ứng. Nhất thừa là pháp của bậc thứ 1, Tam thừa là pháp của bậc thứ 2, Phổ pháp là pháp của bậc thứ 3. Ngài Tín hành cho rằng thời bấy giờ (đời nhàTùy) đã tiến vào thời kì mạt pháp, nếu nương theo giáo pháp của 2 bậc trước mà tu hành thì thực rất khó khăn, nên cần phải tu hành theo Phổ pháp (pháp Phổ cập toàn thể Phật giáo) là qui y Tam bảo, dứt trừ tất cả điều ác, tu trì tất cả điều thiện thì mới dễ thành tựu. Đến đời Đường, các ngài Đạo xước (562- 645), Thiện đạo (613-681) v.v... cho rằng Tịnh độ giáo tương ứng với thời mạt pháp, nên các ngài nhấn mạnh sự tu hành thực tiễn là sám hối, niệm Phật v.v...Tại Nhật bản, vào giữa thời kì Bình an, các ngài Nguyên tín (942-1017), Nguyên không (1133-1212) cũng kế thừa tư tưởng này, đề cao tông Tịnh độ. Ngài Nhật liên (1222-1282) sáng lập tông Nhật liên cũng là thuận theo tư tưởng mạt pháp. Cuốn Mạt pháp đăng minh kí ở cuối thời đại Bình an của Nhật bản là tác phẩm có hiệu lực nhất trong việc cổ động tư tưởng mạt pháp. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Thiện kiến luật tì bà sa Q.18; Vãng sinh lễ tán; Pháp uyển châu lâm Q.98]. (xt. Tam Giai Giáo, Chính Tượng Mạt).

mạt pháp đăng minh kí

(末法燈明記) Tác phẩm, 1 quyển, tương truyền do ngài Tối trừng người Nhật bản soạn vào năm Diên lịch 20 (801). Nội dung sách này dựa theo 3 thời kì chính, tượng, mạt để nói về qui chế giáo hóa khác nhau. Vào cuối thời kì tượng pháp, vì sắp đến thời mạt pháp, nên Phật pháp ở thời kì này không được hành trì theo qui định, kỉ cương tăng ni cũng trái với qui chế, giới luật không được tuân theo, nhưng vẫn chủ trương tôn kính Tăng bảo. Sách này được các Tổ sư của phái Tân Phật giáo ở thời Liêm thương như các vị: Vinh tây, Nguyên không, Thân loan, Nhật liên v.v... dẫn dụng, cho nên được xem là tác phẩm có hiệu lực nhất trong việc cổ động tư tưởng mạt pháp ở Nhật bản, có ảnh hưởng rất lớn về sau.

mạt sát

To criticize too severely.

mạt sư ca

Varsika (skt)—Còn gọi là Mạt Lật Sa Ca, tên một loài “Vũ Thời” hoa, hay hoa nở về mùa mưa, có sắc trắng và mùi rất thơm—A flower that blooms during the rainy season, described as of a white colour, and very fragrant; the aloe.

mạt ta la

Matsara (skt)—Bỏn xẻn tham lam—Grudging—Stingy—Greedy.

mạt tha

(末蹉) Phạm: Matsya. Pàli: Maccha. Cũng gọi Ma sa, Ma tha. Từ gọi chung các loài cá. Thần thoại Ấn độ cho rằng cá là 1 trong 10 hóa thân của thần Tì nữu noa (Phạm: Viwịu) [X. kinh Đại uy đức đà la ni Q.7; kinh Lục độ tập Q.6; phẩm Vô thường trong kinh Pháp cú Q.thượng; Phạm ngữ tạp danh].

mạt thâu la

Mathura (skt)—See Ma Thâu La.

mạt thê đề xá

(末睇提舍) Phạm: Madhyadeza. Hán dịch: Trung quốc. Nước ở trung ương, tức là dải đất ở trung du sông Hằng, trung tâm của nền văn minh Bà la môn Ấn độ cổ đại. Phần chú thích trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 3 (Đại 54, 222 thượng) ghi: Mạt thê là trung, đề xả là quốc, Mạt thê đề xả là trung tâm của trăm nước. (xt. Trung Quốc).

mạt thượng

Lần cuối cùng—The last time—At Lat—Finally. ; (末上) Cuối cùng, sau cùng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 (Đại 51, 278 thượng ), chép: Có người hỏi: –Hòa thượng còn vào địa ngục không? Sư đáp: Lão tăng vào sau cùng. Hỏi: Bậc đại thiện tri thức vì sao còn vào địa ngục? Sư đáp: Nếu không vào, ai giáo hóa ông?

Mạt thế

末世; C: mòshì; J: masse; S: paścima-kāla. |Thời tương lai. Đời sau. Giai đoạn chính pháp bị suy yếu. Thời đại cuối cùng.

mạt thế

Thời cuối cùng hay thời Mạt Pháp—Last age—The third and the last period of a Buddha-kalpa—See Mạt Pháp.

mạt thế ngũ pháp lệnh chính pháp bất diệt

(末世五法令正法不滅) Năm phương pháp làm cho chính pháp không diệt mất ở thời mạt do Đại minh tam tạng pháp số căn cứ vào luật Thập tụng quyển 49 mà nêu ra. Đó là: 1. Tôn trọng chính giáo:Các tỉ khưu nên y theo chính giáo mà tiến tu, lánh xa Tiểu thừa và các ngoại đạo tà giáo. 2. Chỉ tức sân ác: Các tỉ khưu thường tu hạnh nhẫn nhục, không sinh tâm tức giận thì đức độ vang xa, khiến mọi người qui ngưỡng. 3. Kính sự thượng tọa: Các tỉ khưu phải cung kính, vâng lời, siêng năng cầu học với các bậc Đại đức, Thượng tọa. 4. Ái nhạo chính pháp: Đối với diệu pháp được bậc Đại đức, Thượng tọa nói cho nghe, các tỉ khưu phải sinh lòng tin sâu, ưa thích và vui mừng làm theo. 5. Thiện hối sơ tập (dẫn dắt người mới học): Các tỉ khưu nên nói pháp Đại thừa phương tiện cho những người mới học, khiến cho họ có chỗ nương tựa để tiến tu đạo nghiệp. [X. Đại minh tam tạng pháp số].

mạt thể đề xá

Madhyadesa (skt)—Vương quốc trung tâm (trung tâm Ấn Độ)—The central kingdom (in Central India).

mạt thố la phật giáo nghệ thuật

(秣菟羅佛教藝術) Nghệ thuật chạm trổ và đắp tượng Phật ở nước Mạt thố la (Phạm: Mathurà) tại lưu vực sông Diêm mâu na (nay là sông Chu mộc na) thuộc Trung Ấn độ thủa xưa. Vào năm 340 Tây lịch, vua Sa mẫu đà la cấp đa (Phạm: Samudragupta, ở ngôi 335- 375) thuộc vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta), khuyến khích phát triển văn học nghệ thuật và tông giáo vốn có, lại hấp thu nền nghệ thuật Phật giáo Kiện đà la mà hình thành phong cách nghệ thuật mới, được gọi là Nghệ thuật Phật giáo Mạt thố la. Các pho tượng Phật được điêu khắc có lớp áo mỏng lộ rõ thân hình bên trong, nếp áo mịn màng và đều đặn.

mạt thố la quốc

(秣菟羅國) Mạt thố la, Phạm: Mathurà, Madhurà. Cũng gọi Ma thâu la quốc, Ma độ la quốc, Ma đột la quốc. Tên một nước xưa ở Trung Ấn độ, là 1 trong 16 nước lớn ở thời đức Phật còn tại thế, tương đương với vùng đất phía tây nam sông Chu mộc na (Jumna) ngày nay, kinh đô là thành Mạt thố la, nằm về phía nam thành phố Ma đặc lạp (Muttra). Theo Đại đường tây vực kí quyển 4 thì khí hậu nước này nóng bức, phong tục thuần thiện, thích làm phúc, chuộng đạo đức, học vấn. Toàn quốc có hơn 20 ngôi chùa, 5 đền thờ trời, nhiều phái ngoại đạo; cũng có rất nhiều di tích của 4 đức Phật đời quá khứ, cũng là nơi xưa kia đức Phật thường đến thuyết pháp và các vị Bồ tát, A la hán đến ở ẩn tu tập thiền định. Sau khi đức Phật nhập diệt, có ngài Ưu ba cúc đa (Phạm: Upagupta) ra đời, nỗ lực chấn hưng Phật giáo. Nước này vốn là 1 trung tâm lớn của nghệ thuật Phật giáo Ấn độ. Hiện nay vẫn còn các di tích như: Ba ngôi tháp do vua A dục xây dựng, ngôi chùa thờ ngài Ưu ba cúc đa, xá lợi và tháp Di hầu. Gần đây lại đào được rất nhiều di vật ở phía nam thành phố Ma đặc lạp như: Tượng Phật, văn khắc vào thời vương triều Khổng tước, trụ đá, điêu khắc vào thời vương triều Cấp đa, tượng vua Ca nị sắc ca v.v...[X. kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Bắc); kinh Tăng già la sát sở tập Q.hạ; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ].

mạt tự

Những dãy nhà phụ trong tự viện—Subsidiary buildings of a monastery. ; (末寺) Đối lại: Bản tự. Chỉ cho những ngôi chùa trực thuộc bản tự (chùa chính). Tại Nhật bản từ thời Giang hộ trở đi, chế độ Bản Mạt được xác lập thì tính chất của Mạt tự mới cố định. Trước đó, sự quan hệ giữa Bản và Mạt tự hoàn toàn lấy chính trị và kinh tế làm cơ sở, chứ chưa hẳn liên kết theo mối quan hệ tông phái. Cho đến khi các tông phái qui định pháp tắc là cần phải giữ nghiêm sự quan hệ Bản Mạt thì mới hình thành mối quan hệ thống thuộc, trên dưới rõ ràng giữa các Bản sơn, Bản tự, Trung bản tự, Trực bản tự, Tôn bản tự v.v... Mãi đến sau thế chiến thứ 2, do thi hành lệnh Pháp nhân của tông giáo, thể chế thống thuộc mới bắt đầu suy vi. Và cũng từ đó Mạt tự mới được độc lập. [X. Bách luyện sao Q.7].

mạt đa lợi

Bắc Sơn Bộ, một trong những bộ của hệ phái Tiểu Thừa—One of the divisions of the Sarvastivadah school.

mạt điền

Madhyantika (skt)—Còn gọi là Mạt Đàn Đia, Mạt Điền Đạc Ca, Mạt Điền Đề, Mạt Điền Địa, Mạt Điền Địa Na, Mạt Xiển Đề, tên của một trong hai đệ tử lớn của ngài A Nan Đa, người được ngài A Nan truyền lại giáo pháp của Phật, và nổi tiếng vì đã đến hoằng hóa tại vùng Kế Tân (Kashmir); người khác là ông Thương Na Hòa Tu, đã đến vùng Trung Quốc (những xứ Trung Ấn) dù được hiểu là Trung Hoa—One of the two chief disciples of Ananda, to whom he handed down the Buddha's doctrine. He is reputed to have been sent to convert Kashmir, the other, Sanakavasa, to convert Middle Lands, which is probably Central India, though it is understood as China.

mạt điền để ca

Madhyantika (skt)—See Mạt Điền. ; (末田底迦) Phạm: Madhyantika. Pàli: Majjhantika. Cũng gọi Mạt điền, Mạt điền đề, Mạt xiển đề, Mạt điền địa, Mạt điền địa na, Mạt điền đạc ca, Mạt đàn địa, Ma thiền đề. Hán dịch: Trung, Nhật trung, Thủy trung, Kim địa, Hà trung. Vị A la hán người Đà phả la thuộc Ấn độ, tương truyền là vị đệ tử sau cùng của tôn giả A nan, tổ phó pháp thứ 3 của Thiền tông Ấn độ, là 1 trong Ngũ sự vị thế. Cứ theo Ma ha Ca diếp niết bàn nhân duyên trong truyện A dục vương quyển 4, khi tôn giả A nan nhập diệt thì ngài Mạt điền thụ giới ở sông Hằng, chứng quả A la hán. Cứ theo Phó pháp tạng quyển 2, thì trong số các vị đệ tử của tôn giả A nan có 2 vị là Mạt điền đề và Thương na hòa tu được tôn giả phó pháp tạng. Nhưng, cứ theo kinh A dục vương quyển 7, thì đệ tử của tôn giả A nan là ngài Mạt điền địa, còn Thương na hòa tu thì là đệ tử của ngài Mạt điền địa. Theo đây, thì từ Tổ Ma ha Ca diếp đến ngài Ưu bà cúc đa, thầy trò truyền nhau tất cả có năm người, cho nên gọi là Dị thế ngũ sư. Về niên đại xuất thế của ngài Mạt điền để ca có nhiều thuyết khác nhau. Cứ theo Ưu bà cúc đa nhân duyên trong truyện A dục vương quyển 3 và Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 40, thì Ngài ra đời 100 năm sau đức Phật nhập diệt. Còn theo điều Ca thấp di la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 3, thì Ngài xuất sinh vào năm thứ 50 sau đức Phật nhập diệt. Về nguyên nhân Ngài du hóa nước Ca thấp di la, theo truyện A dục vương quyển 4, là do di chúc của tôn giả A nan. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 2 và Đại sử (Pàli: Mahàvaôsa, XII) ghi rằng: Sau Đại hội kết tập lần thứ 3, vua A dục phái các vị Đại đức đến các nước lân cận truyền bá Phật pháp, ngài Mạt điền địa được phái đến nước Ca thấp di la. Tại đây, Ngài hàng phục Long vương, rồi tuyên giảng kinh Độc thí dụ cho dân chúng nghe, có 8 vạn người hiểu đạo và 1 nghìn người xuất gia. [X. kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng; phẩm Trì chính pháp trong kinh Đại bi Q.2; điều Tát bà đa bộ sư tông tương thừa trong Xuất tam tạng kí tập Q.12; điều Ô trượng na quốc trong Đại đường tây vực kí Q.3; Phiên Phạm ngữ Q.2].

mạt đà

Madhya (skt). 1) Chất cay độc: Intoxicating liquor—Intoxicating. 2) 100.000: One hundred thousand. ; (末陀) I. Mạt Đà. Phạm: Madhya. Đơn vị chỉ số lượng của Ấn độ đời xưa, là bội số thập phân của câu chi. (xt. Câu Chi). II. Mạt Đà. Phạm: Mada hoặc Madya. Cũng gọi Mạt đồ, Ma thâu. Hán dịch: Tửu. Từ ngữ gọi chung các loại rượu có nồng độ rất mạnh, như rượu Tốt la, rượu Mê li da v.v... tương đương với rượu nho. [X. luận Thuận chính lí Q.38; luận Câu xá Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.23; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.9].

mạt đà ma

(末陀摩) Phạm: Madhyama. Cũng gọi Ma đà ma. Không chấp trước nghĩa Trung đạo. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 4 (Đại 54, 1126) hạ), nói: Mạt đà ma, bản kinh chú giải: Mạt nghĩa là không, chẳng, đừng; Đà ma nghĩa là trung. Không chấp Trung đạo gọi là Mạt đà ma. Ngoài ra, kinh Văn thù vấn quyển thượng thì cho rằng, các pháp không hai là Mạt đa ma. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2].

mạt đăng sao

(末燈抄) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tòng giác, vị tăng Nhật bản biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung sách này thu chép lại những thư tín của ngài Thân loan, tổ khai sáng Chân tông Nhật bản, gửi các môn đồ. Toàn sách gồm có 22 chương được chia thành các mục: Hữu niệm vô niệm sự, Tự nhiên pháp nhĩ sự, Thệ nguyện danh hiệu đồng nhất sự v.v...

mạt đại thục mệnh niết bàn

(末代贖命涅槃) Cũng gọi Thục mệnh Niết bàn, Đối trị vô thường Niết bàn. Chỉ cho kinh Niết bàn. Tông Thiên thai chủ trương: Đức Phật thương xót những chúng sinh độn căn ở đời mạt pháp dễ phá hủy giới pháp, sinh khởi ác kiến (cho rằng Như lai là vô thường), đánh mất pháp thân tuệ mệnh, cho nên trong kinh Niết bàn đức Phật giảng nói về giới luật để giúp đỡ cho giới môn và nói lí Phật tính thường trụ để phù trợ cho thừa môn (giáo thừa). Phật đồng thời nói về Giới môn và Thừa môn như thế, tông Thiên thai gọi là Phù luật đàm thường, còn kinh Niết bàn thì chính là giáo phù luật đàm thường vậy. Lại vì kinh này là của báu vô giá để cứu chuộc lại pháp thân tuệ mệnh của chúng sinh đời mạt pháp nên gọi là Mạt đại thục mệnh Niết bàn. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.10, thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, thượng; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.2, hạ; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng]. (xt. Phù Luật Đàm Thường).

mạt đạt na

Madana (skt)—Túy quả—A fruit called the intoxicating fruit.

mạt để

Mati (skt)—Ma Đề—devotion—Discernment—Understanding by wisdom. ; (末底) Phạm:Mati. Cũng gọi Ma đề. Tức là tuệ, tên khác của Bát nhã. Thành duy thức luận thuật kí quyển 6 phần cuối (Đại 43, 445 thượng), nói: Mạt để là tên khác của tuệ, đồng thể với Bát nhã. Ngoài ra, Mạt để cũng có nghĩa là ý kiến, kiến giải. (xt. Bát Nhã).

mạt để bổ la

Matipura (skt)—Tên của một vương quốc và thành phố cổ, mà vị vua vào khoảng năm 600 sau Tây Lịch, xuất thân từ dòng hạ tiện Thủ Đà La. Nơi đây là quê hương của nhiều nhà truyền giáo nổi tiếng. Bây giờ là Rohilcund, nằm giữa dòng Hằng Hà và Ramaganga—An ancient kingdom and city, the king of which in 600 A.D. belonged to the Sudra caste, the home of many famous priests. The present Rohilcund (Rohilkhand) between the Ganges and the Ramaganga.

mạt để tăng ha

Matisimha (skt). 1) Sư tử của sự thông minh: The lion of intelligence. 2) Một tôn hiệu rất danh dự: An honorific title.

mạt độ ca

Madhuka (skt)—Một loại trái rất ngon—Bassia latifolia, a fine or pleasant fruit.

mạt độ ca quả

(末度迦果) Mạt độ ca, Phạm,Pàli:Madhùka. Cũng gọi Ma đầu (Phạm,Pàli:Madhu). Hán dịch: Mật quả. Tên khoa học: Bassia latiforia, thuộc họ Xích thiết. Loại quả có vị ngọt. Cứ theo luận Câu xá quyển 18 và Câu xá luận quang kí quyển 18, quả Mạt độ ca có mùi vị rất ngon, hình dáng giống như quả táo, thân cây gần giống như cây bồ kếp, có thể cao tới 15 mét, tán rộng hơn 3 mét. Hoa có vị ngọt, ăn được, cũng có thể làm rượu, hạt có thể ép lấy dầu, gỗ thì được dùng vào việc kiến trúc. [X. Phiên Phạm ngữ Q.9, 10; Huyền ứng âm nghĩa Q.24].

mạt đời

The nd of one's life.

Mạt-già-lê Câu-xá-la

xem Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử.

Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử

Phiên âm từ Phạn ngữ là Maskarỵ-goliputra, cũng đọc là Mạt-già-lê Câu-xá-la, Mạt-già-lê Câu-xá-lợi... Mạt-già-lê là họ, Hán dịch là “thường hành”; Câu-xá-ly là tên người mẹ, nên gọi là Câu-xá-ly tử, Hán dịch là “ngưu xá”. Vị này là một trong 6 thầy ngoại đạo (lục sư) vào thời đức Phật.

Mạt-già-lê Câu-xá-lợi

xem Mạt-già-lê Câu-xá-ly tử.

Mạt-na

末那; C: mònà; J: mana; S: manas; P: mano;|Phiên âm chữ manas từ tiếng Phạn, thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo giáo lí Duy thức, mạt-na là thức thứ 7 trong 8 thức. Nó được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên. Mạt-na thức (末那識).

Mạt-na thức

末那識; C: mònàshì; J: manashiki; S: manas. |Thức mạt-na, thức thứ 7 trong 8 thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ 8 (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra ngã chấp. Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác nhau giữa nó và thức thứ 6. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường sinh khởi những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức, và không ngừng chấp dính vào bản ngã. Vì nó còn được xem là sự hoạt dụng của tâm thức con người – một tâm thức thấy được hạn cuộc của sự biến đổi trong vòng giới hạn – cho nên, điều tất yếu cho sự tồn tại của nó chính là việc con người có một vài điều chủ yếu tương tục biến chuyển không ngừng, mang công năng như một cơ sở của thức thứ 6. Du-già sư địa luận nói: »Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y 末那任持意識令分別轉是故説爲意識所依« nghĩa là: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức. Thức nầy còn được gọi là nơi cùng tích chứa thiện ác, và nói theo lí thuyết thì nó là lĩnh vực kết nối giữa ý thức và A-lại-da thức. Gọi là »căn bản phiền não«, còn được gọi là »nhiễm ô thức«, có liên quan đến bốn loại ngã chướng nhiễm ô: ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.

Mạt-nô-sa

末奴沙; C: mònúshā; J: manusha;|Phiên âm từ chữ manuṣya trong tiếng Phạn, có nghĩa là con người, sự hiện hữu của con người, đặc biệt là trong 6 nẻo luân hồi (lục thú 六趣).

mả

Mộ—Grave—Tomb.

mải miết

To become absorbed—See Mài miệt.

mảng

Piece.

mảnh

See Mảng.

mảnh dẻ

Slender—Thin—Slim.

mảnh khảnh

See Mảnh dẻ.

mảnh mai

See Mảnh khảnh.

mảy may

Little bit—Tiny bit.

mấp máy

To move gently.

mấp mé

To reach almost up to.

mất

Loss.

mất công

To waste one's efforts.

mất dạy

Ill-bred—Badly brought-up.

mất giá trị

To become debased.

mất hồn

To be like a lost soul.

mất hứng

To lose interest.

mất lòng

To displeased.

mất lần

To disappear gradually.

mất lợi

To lose in interest.

mất mùa

To lose (have a bad) crop.

mất mạng

To lose one's life.

mất mặt

To lose face.

mất ngủ

Lack of sleep.

mất sức

To lose strength.

mất thì giờ

To waste (lose) time.

mất thăng bằng

To lose one's balance.

mất trí

Lunatic.

mất việc

To lose one's job (position).

mấu

Notch—Tie.

mấy

How much (many) ?

mầm

Seed.

mần thinh

To keep quiet.

mầu nhiệm

Supernatural—Miraculous.

mẩu

1) Một miếng: Piece. 2) Một mẫu (đất): Acre.

mẫn

1) Bỏ: To depart. 2) Minh mẫn: Clever—Ingenious—Witty. 3) Phế tích: Ruin. 4) Thương xót: Grieve for—Mourn—Sympathize.

mẫn cán

Industrious—Diligent.

mẫn câu lý

Hingula (skt)—Nước Cao Ly (người Ấn Độ gọi nước Cao Ly là Hingula, phiên theo âm Hán là Mẫn Câu Lý)—Korea.

mẫn kỵ

Ngày tưởng nhớ kỷ niệm sinh nhật của bậc trưởng lão đạo đức—A day of remembrance for a virtuous elder on the anniversary of his birthday. ; (愍忌) Chỉ cho ngày sinh của bậc tôn túc (bậc tuổi cao đức trọng) đặc biệt dùng để gọi ngày sinh sau khi vị ấy thị tịch. Trai soạn được cúng dường vào ngày này, gọi là Mẫn kị trai. Môn Báo đảo, loại thứ 16 trong Thiền lâm tượng khí tiên nói: Bậc thiện tri thức vì thương xót (ai mẫn) chúng sinh mà ứng thế ra đời, cho nên ngày sinh của Ngài gọi là Mẫn kị.

mẫn na da phu

(閔那耶夫) Minayeff, Ivan Pavlovitch (1840-1890) Học giả Ấn độ học người Nga. Ông thông hiểu các thứ tiếng Phạm,Pàli, Trung quốc, Mãn châu. Vì chịu ảnh hưởng của ông Hoa tây lí da phu (Vasiliev, V.P.1818-1900) nên ông chuyên nghiên cứu Ấn độ học cổ đại và tôn ông Vi bá (Weber) làm thầy. Ông từng biên soạn mục lục tiếng Pàli (bản viết tay) hiện được tàng trữ ở Thư viện Quốc gia tại Paris. Năm 1868, ông ấn hành nguyên văn bộ Ba la đề mộc xoa (Pàtimokkha) và Thi luận (Vuttodaya) tiếng Pàli. Năm 1873, ông làm giáo sư trường Đại học S.Peterburg, từng đến Ấn độ, Tích lan (1874), Miến điện (1885) v.v... Năm 1887, ông bắt đầu đăng các bài nghiên cứu về Phật giáo và các công trình có liên quan đến việc nghiên cứu các nguyên điển tiếng Phạm vàPàli, đã đạt được thành quả to lớn. Ông và ông Chu lợi an (Julien, Stanislas, 1799-1873) cùng đảm nhiệm công việc hiệu đính phần tiếng Phạm trong bộ Phiên dịch danh nghĩa đại tạp (Phạm: Mahàvyutpatti). Ông có các tác phẩm: Nàmasaôgìti (Diệu cát tường chân thực danh kinh); Bodhicaryàvatàra (Bồ đề hành kinh), 1890; Kathàvatthu; Pàli Grammar (Pàli văn ngữ pháp), 1872; Grammaire Palie, 1874.

mẫn quyền quy thật

(泯權歸實) Đưa (tiêu hết) giả về thực. Đối lại với Lãm thực thành quyền (nắm cả thực đặt thành giả). Thuật ngữ phán giáo của tông Hoa nghiêm. Tông này chia Thánh giáo của đức Phật làm ba thừa và một thừa, rồi trong một thừa lại chia làm Đồng giáo và Biệt giáo, lại lấy ý chỉ Họp ba về một trong kinh Pháp hoa mà nhận định là Một thừa đồng giáo. Sau đó, chia lập hai môn gốc và ngọn; gốc là một thừa, ngọn là ba thừa, rồi dung hợp ba thừa vào một thừa. Sau nữa, lại chia hai môn Dẫn quyền qui thực và Lãm thực thành quyền. Quyền là phương tiện tạm thời; Thực là rốt ráo chân thực. Dẫn quyền qui thực là bỏ giáo phương tiện mà về giáo chân thực. Như ví dụ Nhà lửa ba xe trong phẩm Thí dụ của kinh Pháp hoa. Trong ví dụ này, ông Trưởng giả tuần tự dùng xe dê, xe hươu, và xe trâu để dụ dỗ các con khiến chúng thoát ra ngoài ngôi nhà đang cháy. Đây là ví dụ dùng ba thừa làm giáo pháp phương tiện.Sau khi các con ra khỏi nhà cháy và ngồi ngoài cổng trên chỗ đất trống, lúc đó Trưởng giả mới trao cho các con một cỗ xe to lớn do trâu trắng kéo. Đây là ví dụ một Phật thừa là giáo pháp chân thực rốt ráo. Các tông phái Phật giáo như: Tam luận, Duy thức,Thiên thai, Hoa nghiêm v.v... khi phán giáo thường hay viện dẫn thí dụ trên đây, chỉ khác ở điểm mỗi tông nhấn mạnh một khía cạnh. Trong đó, đặc biệt tông Hoa nghiêm lập riêng thuyết Đồng giáo, Biệt giáo, và dùng các thuật ngữ Dẫn quyền qui thực, Lãm thực thành quyền để nói rõ căn cơ chúng sinh tuy có bén nhạy, chậm lụt khác nhau, nhưng sự giáo hóa dẫn đạo của Như lai hoặc quyền hoặc thực đều khế hợp, cũng chính là nhân duyên có khác,danh mục không đồng, nhưng cả hai dung hợp làm một thể. [X. Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.3, Q.4]. (xt. Tam Xa Tứ Xa, Dung Bản Mạt).

mẫn quyền quy thực

Từ bỏ quyền giáo Tiểu Thừa để tìm về ngôi nhà chân thực Đại Thừa—To depart from the temporary and find a home in the real, i.e. forget Hinayana, partial salvation, and turn to Mahayana for full and complete salvation.

mẫn tiệp

Smart.

mẫn tuyệt vô ký tông

(泯絕無寄宗) Dứt bặt tất cả, không để bị dính mắc vào bất cứ vật gì. Một trong ba tông Thiền do ngài Khuê phong Tôn mật phân chia. Tông này chủ trương các pháp phàm thánh đều như mộng huyễn, vì thế nên phải trút bỏ tất cả, mọi sự chấp trước, oán thân khổ vui tất cả đều không dính mắc, thấu suốt bản lai vô sự, xa lìa điên đảo, chứng đắc giải thoát. Các Thiền sư thuộc tông này là các ngài: Thạch đầu Hi thiên, Ngưu đầu Pháp dung, Kính sơn v.v... Còn đệ tử của các ngài Hà trạch Thần hội, Mã tổ Đạo nhất, Thiên thai Trí khải v.v... tuy cũng nói đạo lý ấy nhưng không thuộc về tông này. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q. thượng].

mẫn viên

(閔園) Khu vườn ở huyện Thanh dương, tỉnh An huy, phía bắc ngọn Thiên thai núi Cửu hoa, Trung quốc. Khu vườn này vốn là trang trại của ông Mẫn nhượng hòa sống vào đời Đường, ông thích làm việc bố thí, thường cúng dường trai tăng hàng trăm vị, nhưng lúc nào cũng dành 1 tòa trống, đó là tòa của ngài Kim kiều giác tu khổ hạnh ở trên núi, ông Mẫn thường từ xa lễ thỉnh ngài về tham dự. Cứ theo truyền thuyết thì ngài Kim kiều giác–vương tử nước Tân la– là hóa thân của bồ tát Địa tạng, ngài ngồi mà hóa lúc 99 tuổi; đêm trước khi hóa, ngài Kim kiều giác hướng về ông Mẫn nhượng hòa xin 1 mảnh đất rộng bằng tấm áo ca sa, khi trải ra thì ca sa trùm hết núi Cửu hoa, ông Mẫn vui lòng cúng dường. Về sau, con ông Mẫn cũng xuất gia, tức là Pháp sư Đạo minh, rồi ông lại lễ ngài Đạo minh làm thầy. Hiện nay 2 bên tòa của bồ tát Địa tạng ở núi Cửu hoa có 2 người đứng hầu, đó là ông Mẫn nhượng hòa và Pháp sư Đạo minh.

Mẫn Đạt Thiên Hoàng

(敏達天皇, Bidatsu Tennō, tại vị 572-585): vị Thiên Hoàng sống vào cuối thế kỷ thứ 6, con thứ 2 của Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō), tên là Dịch Ngữ Điền Đình Trung Thương Thái Châu Phu (譯語田渟中倉太珠敷).

mẫu

1) Kiểu Mẫu: Sample—Pattern—Model. 2) Mẹ: Matr (skt)—Mother—Mommy.

mẫu chủ

1) Bà mẹ có khả năng sinh sản—The mother lord. 2) Trong Thai Tạng Giới, Phật Tỳ Lô Giá Na là gốc hay là bộ chủ trong Mạn Đà La. Bốn vị Phật khác đều có “Bộ Mẫu” và đều phải nảy sinh ra Ba La Mật cho mẫu chủ: In the mandala of Vajradhatu and Garbhadhatu; Vairocana, being the source of all things, has no “mother” as progenitor, and is the lord of the mandala. The other four dhyani-buddhas have “mothers” who are supposed to arise from the paramitas: a) A Súc bệ Phật có Kim Cang Ba La Mật cho mẫu chủ: Aksobhya Buddha has vajra-paramitas for mother. b) Nam Phật có Bảo Ba La Mật cho mẫu chủ: Ratnasambhava Buddha has jewel-paramitas for mother. c) A Di Đà Phật có Pháp Ba La Mật cho mẫu chủ: Amitabha-Buddha has dharma-paramitas for mother. d) Bất Không Phật có Yết-Ma Ba La Mật cho mẫu chủ: Amogha-siddhi Buddha has precept-paramitas for mother. ; (母主) Cũng gọi Bộ mẫu. Đối lại: Bộ chủ. Vị Bản tôn sinh ra các Bộ chủ hoặc các vị tôn khác. Năm bộ Kim cương giới và 3 bộ Thai tạng giới trong Mật giáo, mỗi bộ đều lập Bộ chủ và Bộ mẫu. Bộ chủ như Quốc vương, là bản tôn trung tâm của các bộ; Bộ mẫu như Quốc mẫu sinh thành các vị tôn. [X. Bí Tạng Kí Q.cuối]. (xt. Bộ Chủ Bộ Mẫu).

mẫu giáo

Kindergarten.

mẫu lục thân

(母六親) Cũng gọi Mẫu thân. Chỉ cho 6 bậc thân thuộc bên mẹ. Tam tạng pháp số quyển 27 nói rằng, đức Phật muốn cho các tỉ khưu tránh được sự chê cười của thế gian, nên Ngài qui định tỉ khưu không được nhờ người nữ và tỉ khưu ni không phải là thân thuộc giặt y áo cũ, mà có thể nhờ người thân thuộc của cha mẹ giặt giúp, do đó mới chế định Phụ lục thân, Mẫu lục thân. Mẫu lục thân là: 1. Cậu của mẹ: Tức anh em của bà ngoại, là ông cậu của chính mình. 2. Dì của mẹ:Tức chị em của bà ngoại, là bà dì của chính mình. 3. Anh chị của mẹ:Là cậu hoặc dì của chính mình. 4. Em của mẹ:Là cậu hoặc dì của chính mình. 5. Con gái con trai của mẹ:Là chị em, anh em của chính mình. 6. Cháu của mẹ:Tức con của anh em ruột, là cháu gái, cháu trai của chính mình. [X. Thiện Kiến Luật Tì Bà Sa Q.14]. (xt. Phụ Lục Thân).

mẫu nghi

1) Mother's virtue. 2) Queen.

mẫu thân

See Mẫu (2).

mẫu tính

Maternal.

mẫu tử

Mother and child.

mẫu đan thảo

(牡丹草) Những hoa văn hình cỏ mẫu đơn được vẽ trên đường viền bên ngoài của Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vì cỏ mẫu đơn vốn được trải ra để bày các thức ăn, cho nên vẽ loại cỏ này trên đường viền bên ngoài của Mạn đồ la để tượng trưng chỗ đặt các thực vật cúng dường. Ngoài ra, những hoa văn hình cỏ vẽ trên đường viền bên ngoài Mạn đồ la Kim cương giới, gọi là Bảo tính thảo. Đây là dùng loại cỏ bò lan trên mặt đất, không rễ mà vẫn sinh trưởng để biểu thị ý nghĩa Mạn đồ la viên dung vô ngại, lớp lớp không cùng tận. Hoặc có thuyết cho rằng Mạn đồ la tượng trưng thành quách, Bảo tính thảo tượng trưng cho vườn hoa ở ngoài thành. Đại Thánh diệu cát tường bát tự nghi quĩ có nói rõ về Mẫu đơn thảo và Bảo tính thảo.

mẫu đà la

(母陀羅) Phạm: Mudrà. Cũng gọi Mục đà la, Mẫu nại la. Hán dịch: Ấn tướng, Khế ấn, Mật ấn. Gọi tắt: Ấn. Là phương tiện hiển bày đức nội chứng của chư Tôn trong hải hội Mạn đồ la Mật giáo. (xt. Thủ Ấn, Ấn Tướng).

mẫu đà ma nô sa

(母陀摩奴沙) Phạm: Mfta-manuwya. Cũng gọi Mẫu na ma nô sa. Hán dịch: Tử nhân, Tử thi. Người chết, thây chết. Kinh Để lí tam lang muội (Đại 21, 11 trung), nói: Vào đêm mồng 8, đến bãi tha ma, tìm 1 Mẫu đà ma nô sa (thây chết), ngồi trên thây chết ấy niệm tụng đủ 1 vạn biến (thần chú), thây chết liền cử động, không được sợ hãi; rồi từ miệng của thây chết ấy mọc ra 1 hoa sen lớn nở rộ, hành giả liền nắm lấy, tự nhiên thân mình giống như 16 vị đồng tử, tóc như móc xích, bay lên hư không, đến cõi trời Phạm Thiên, làm chủ các Đại Minh Vương.

mẫu đạo

Mother's duty.

mập mờ

Foggy—Dim.

mật

1) Đóng kín: Closed in—Close together. 2) Mật: Gall—Bile. 3) Mật ong: Honey. 4) Mật Tông, đối lại với Hiển tông: Occult—Esoteric—Secret, contrasted with open or exoteric. ; (榓) Phạm:Deva-dàru. Cũng gọi Mộc mật, Mật hương, Một hương. Tên khoa học: Pinus devadàru, hoặc Avaria longifolia, hoặc Erythrosylon sideroxyloides. Loại cây thuộc họ trầm hương. Cây này cao hơn 3 mét, vỏ màu xanh lợt, lá giống như lá hòe nhưng dài hơn, hơi có mùi hồ tiêu. Tháng 6 hoa nở trắng giống hoa cây quít, quả như quả thầu dầu, khi chín vỏ nứt ra, ở trong có 5, 6 hạt, to bằng hạt đậu, màu đen, vị chua ngọt, ăn được, nhưng ăn nhiều thì say. Gốc cây to dày, sau khi chặt 4, 5 năm, người ta lấy những chỗ không mục nát của cây chế thành hương, vị của nó cay nồng, có thể trừ mùi hôi và mùi của xác chết. Cành cây có thể cúng Phật, vỏ và lá cây sau khi phơi khô có thể dùng làm hương đốt, gọi là Mạt hương. Ngoài ra, cây mật sinh sản tại Nhật bản thuộc họ Mộc lan, lá xanh quanh năm. Tên khoa học là Ilicium anisatum, e là khác họ với cây Mật nói trên. Cũng gọi là cây Nhãn vu, lá nó giống với lá cây mật nhưng hơi dày, cao từ 0,5 đến 1 mét, cây mọc trong núi sâu nhưng ở chỗ có ánh mặt trời, khoảng tháng 4, 5 nở hoa kết trái. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa nghĩa sớ Q.4 hạ; Huyền ứng âm nghĩa Q.7; Hòa Hán tam tài đồ hội Q.82; Nhũ vị sao Q.1].

mật am hoà thượng ngữ lục

(密庵和尚語錄) Cũng gọi Mật am Hàm kiệt thiền sư ngữ lục, Mật am lục. Tác phẩm, 1 quyển (hoặc 2 quyển), do ngài Mật am Hàm kiệt (1118-1186) soạn vào đời Tống, các ngài Tùng nguyên Sùng nhạc và Tiếu am Liễu ngộ biên tập, được ấn hành vào năm Thuần hi 15 (1188), thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung thu chép các ngữ lục của Thiền sư Mật am Hàm kiệt trong 7 hội: Càn minh thiền viện, Thái bình Hưng quốc thiền tự, Hoa tạng thiền tự, Thiên đồng Cảnh đức thiền tự... và tiểu tham, phổ thuyết, tụng tán, kệ tụng, pháp ngữ, tháp minh... Đầu quyển có lời tựa của Trương tư.

Mật Am Hàm Kiệt

(密庵咸傑, Mittan Kanketsu, 1118-1186): vị tăng của Phái Hổ Kheo và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Mật Am (密庵), người vùng Phước Thanh (福清), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), họ là Trịnh (鄭). Ông đã từng đến tham học với Tri Thức (知識), rồi được ấn khả của Ứng Am Đàm Hoa (應庵曇華) ở Minh Quả Am (明果庵), Cù Châu (衢州, Tỉnh Triết Giang). Sau đó, ông đến trú tại Ô Cự Sơn (烏巨山) ở Đồng Châu (同山), rồi chuyển đến các nơi như Thiền Phù (禪符), Tương Sơn (蔣山), Hoa Tạng (華藏). Bên cạnh đó, ông còn sống qua mấy ngôi chùa lớn như Kính Sơn (徑山), Linh Ẩn (靈隱), Thiên Đồng (天童), và vào ngày 12 tháng 6 năm thứ 13 niên hiệu Thuần Hy (淳熙), ông thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi đời và 52 hạ lạp. Ông có để lại Mật Am Hòa Thượng Ngữ Lục (密庵和尚語錄) 1 quyển.

mật am sa bồn

(密庵沙盆) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên Thiền sư Mật am Hàm kiệt được thầy là ngài Ứng am Đàm hoa ở chùa Thiên đồng ấn chứng. Ngũ đăng hội nguyên quyển 20 (Vạn tục 138, 414 hạ) chép: Một hôm, ngài Ứng am hỏi: Thế nào là chính pháp nhãn? Sư đáp ngay: Chậu đất vỡ (phá sa bồn)! Ngài Ứng am liền gật đầu.

mật báo

To report (warn) secretly.

mật chú

Mật chú Đà La Ni, hay mật chú tổng trì—A dharani or esoteric incantation.

mật chú viên nhân vãng sinh tập

(密咒圓因往生集) Tác phẩm, 1 quyển, do các ngài Trí quảng, Tuệ chân biên tập vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 46. Sách này thu tập 33 bài (hoặc 29 bài) mật chú linh nghiệm trong các bộ kinh do ngài Kim cương chàng dịch, bao gồm: Quán tự tại bồ tát lục tự đại minh tâm chú, A di đà Phật căn bản chú, Đại Phật đính bạch tản cái tâm chú v.v... trong đó phần nhiều được coi là có công năng khiến người trì tụng được vãng sinh thành Phật. Sách nhấn mạnh cần tụng niệm đúng như pháp bất cứ 1 đà la ni nào trong số đó, thì đều được vãng sinh Tịnh độ. Cùng với Hiển mật viên thông thành Phật tâm yếu tập là 2 bộ sách mà người muốn hiểu rõ về Mật giáo Hoa nghiêm ở núi Ngũ đài cần phải đọc.

mật chúng

Tín đồ Phật giáo Mật tông—The followers of the esoteric school.

mật cung

(密供) Từ gọi chung pháp tắc cúng dường theo nghi quĩ của Mật giáo. Tức là những nghi thức tông giáo được Mật giáo dần dần phát triển ra để thực hiện lí tưởng về giáo nghĩa. Loại nghi thức tông giáo này đều được chép vào kinh điển giáo nghĩa. Về sau, pháp thực hành dần dần trở nên phức tạp, nên đã sản sinh những kinh chuyên môn nói rõ về các phép tắc, loại kinh điển này đặc biệt được gọi là Nghi quĩ (Phạm: Kalpa). Pháp cúng dường là 1 phần sự tướng (đối lại với giáo tướng) rất quan trọng của Mật giáo, theo với đà phát triển của kĩ thuật tạo tượng mà pháp cúng dường cũng dần dần trở nên phiền toái. Đối tượng để lễ bái của Phật giáo nguyên thủy chỉ là tốt đổ ba (tháp Phật), cây Bồ đề, pháp luân, những di vật của Phật, lốt chân Phật v.v... Mãi sau khi mĩ thuật tượng thần kiểu Hi lạp bột phát ở Kiện đà la, cùng với ảnh hưởng tượng thần của Ấn độ giáo, thì Phật giáo mới bắt đầu tạo tượng Phật. Các bản Nghi quĩ của Mật giáo phần lớn vốn miêu tả phương pháp tạo tượng Phật, song song với việc tạo tượng, những phép tắc tụng chú và cúng dường trước tượng Phật cũng dần dần phát triển, để rồi hình thành một bộ phận riêng của nghi quĩ Mật cúng. Nhưng trên thực tế, Mật cúng chỉ là pháp cúng dường, khác với pháp tạo tượng. Kinh Hoa tích đà la ni thần chú, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô (Đại 21, 875 thượng) nói: Nếu thiện nam tử đọc tụng thần chú Hoa tích này, thì nên tụng vào các tháng 3, 4, 9 từ ngày mồng 8 đến 15, nhất tâm nhớ tưởng Như lai tướng hảo; nửa đêm tụng 3 lần, giữa trưa cũng 3 lần, dâng hương hoa, đèn nến trước tượng Phật tu pháp Cúng dường. Đây là ghi chép sớm nhất về phép tu Cúng dường trước tượng Phật.Về sau, Mật cúng dần dần phát triển, như kinh Mâu lê mạn đà la chú được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều đã ghi chép. Khi tu Mật cúng, trước hết 3 nghiệp phải thật thanh tịnh, tạo 1 tháp xá lợi, chọn ngày, tháng, giờ tốt, từ ngày mồng 1 đến 15 tháng trắng (bạch nguyệt) là ngày giờ tốt. Nếu chỉ tu 1 ngày cũng được, trong trường hợp này thì nên chọn ngày 15 hàng tháng là tốt nhất. Hành giả phải dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch sẽ, thắp 4 ngọn đèn, dâng hoa tươi tùy theo mùa, cúng dường chư Phật, Bồ tát và các vị Kim cương; nên ăn 3 loại bạch thực (thức ăn có màu trắng), nhiễu 1 vòng quanh tháp và Mạn đà la, tụng 1 biến chú, cứ thế tụng đủ 108 biến thì thành tựu pháp cúng dường này. Do đó có thể thấy nghi thức Mật cúng dần dần đã phát triển đầy đủ các phép tắc. Đến Vô lượng thọ Như lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ do ngài Bất không dịch vào đời Đường thì lại thấy Mật cúng đã chịu ảnh hưởng của phong tục Ấn độ, rồi vì sáng kiến cũng như sự giải thích của các vị A xà lê khác nhau mà đã phát sinh những dòng phái bất đồng.

mật cơ

Cơ hội học mật chú của tông Chân Ngôn—The motive power, or fundamental element, in the esoteric; the opportunity of learning a mantra. ; (密機) Căn cơ có khả năng tu tập chân ngôn bí mật.Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 125 hạ), nói: Ẩn chứa mật cơ, mong Phật thầm truyền.

mật diệm tháp

(mật diệm tháp) Một loại bảo tháp hoặc tháp Phật đời xưa. Loại tháp này phần nhiều được xây bằng gạch, thông thường có hình 8 góc hoặc 12 góc, nền tháp là tòa Tu di, tầng dưới cùng của thân tháp tương đối cao, phía trên là 9 tầng, 11 tầng, 13 tầng, mái nhô ra, thân tháp ở khoảng giữa 2 mái rất ngắn, không để cửa sổ, chỉ có 1 lỗ nhỏ, ruột tháp phần nhiều là đặc.

mật gia tam tạng

(密家三藏) Cũng gọi Mật giáo tam tạng. Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Mật giáo, tức những bộ kinh lớn của Kim cương giới và Thai tạng giới là Kinh tạng, kinh Tô bà hô đồng tử và các luật điển của Đại thừa, Tiểu thừa là Luật tạng, còn luận Bồ đề tâmvà luận Thích ma ha diễn là Luận tạng.

mật già xà

(蜜伽闍) Phạm: Mfgajà. Hán dịch: Lộc tử, Lộc vương, Lộc dưỡng. Một trong 3 vị phu nhân của Thái tử Tất đạt đa khi chưa xuất gia. [X. Hữu bộ tì nại da Q.18].

mật giáo

Mật giáo hay Phật giáo Mật tông, phát triển đặc biệt nơi Chân Ngôn tông, thờ Đức Đại Nhật Như Lai, Thai Tạng và Kim Cương Giới; đối lại với Hiển giáo. Mật giáo gồm các kinh nói về mật tánh gắng sức dạy về mối tương quan nội tại của thế giới bên ngoài và thế giới tâm linh, sự đồng nhất của tâm và vũ trụ, các phương thức được Mật giáo xử dụng trong các phép quán tưởng như sau—The esoteric method. The esoteric Mantra, or Yogacara sect, developed especially in Shingon, with Vairocana as the chief object of worship, and the Mandalas of Garbhadhatu and Vajradhatu—The esoteric teaching or Tantric Buddhism, in contrast with the open schools (Hiển giáo). The Buddhist tantra consists of sutras of a so-called mystical nature which endeavor to teach the inner relationship of the external world and the world of spirit, of the identity of Mind and universe. Among the devices employed in tantric meditational practices are the following: 1) Mạn Đà La có nghĩa là “vòng tròn,” “hội,” hay “hình.” Có nhiều loại Mạn Đà La, nhưng có hai thứ thông thường nhất trong Mật giáo—Mandala (skt)—Mandala means “circle,” “assemblage,” “picture.” There are various kinds of mandala, but the most common in Esoteric Buddhism are of two types: a) Một hình kết hợp vẽ chân dung nhiều loại khác nhau, quỷ, thần, Phật và Bồ Tát, biểu thị năng lực, sức mạnh và các hoạt động chung trong các hình vuông tròn—A composite picture graphically portraying different classes of demons, deities, Buddhas and Bodhisattvas, representing various powers, forces, and activities, within symbolic squaes and circles. b) Ngay tại trung tâm là Phật Tỳ Lô Giá Na, vị Phật Quang Minh Biến Chiếu; và một lược đồ tiêu biểu vài mẫu âm thiêng liêng của tiếng Phạn gọi là “bija” hay “chủng tử,” tiêu biểu cho các hình tượng—In the center of which is a figure of the Buddha Vairocana, the Great Illuminator; and a diagrammatic representation wherein certain sacred Sanskrit letters, called “bija” or “seeds” are substituted for figures. ** For more information, please see Mandala in English-Vietnamese Section. 2) Chơn Âm: Mantra (skt)—Các âm thiêng liêng như âm OM chẳng hạn, được truyền từ thầy sang đệ tử trong lúc khải thị. Khi tâm người đệ tử đã được điều hợp đúng đắn, người ta nói là các chấn động của biểu tượng ngôn ngữ này cùng với sự phối hợp của nó trong tâm thức của người khải thị để mở tâm thức của người đệ tử đến các chiều kích cao hơn—These sacred sounds, such as OM, for example, are transmitted from the master to his disciple at the time of initiation. When the disciple's mind is properly attuned, the inner vibrations of this word symbol together with its associations in the consciousness of the initiate are said to open his mind to higher dimension—See Mantra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. 3) Thủ Ấn: Mudra (skt)—Đây là điệu bộ của thân thể, đặc biệt là các cử động tượng trưng của bàn tay, được thực hiện để trợ giúp kêu gọi những tâm thái song hành nhất định của chư Phật và chư Bồ Tát—These are physical gestures, especially symbolical hand movements, which are performed to help evoke certain states of mind parallel to those of Budhas and Bodhisattvas—See Mudra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mật giáo cương yếu

(密教綱要) Tác phẩm, 4 quyển, do Quyền điền Lôi phủ người Nhật bản soạn, Vương hoằng nguyện dịch vào đời Dân quốc. Nội dung sách này chia làm 3 thiên: Thiên đầu nói về Mật giáo Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Thiên thứ 2 nói về giáo lí Mật giáo. Thiên thứ 3 giải thích về nghi thức tác pháp của Mật giáo. Đây là tác phẩm nêu rõ những cương yếu và là bộ sách nhập môn để hiểu giáo pháp của Mật giáo. (xt. Vương Hoằng Nguyện).

mật giáo mĩ thuật

(密教美術) Mĩ thuật đặc biệt của Mật giáo. Xưa nay, Mật giáo lấy pháp tu của các vị Bản tôn làm trọng điểm, về mặt tạo tượng và vẽ tranh y cứ vào nghi quĩ mà có những qui định đặc thù, cho nên, để thích ứng với nhu cầu tu pháp mà về phương diện Tôn tượng, pháp khí, mạn đồ la v.v... đã dùng mĩ thuật để biểu hiện một cách rất đặc sắc. Vì chịu ảnh hưởng sự sùng bái đa thần của Ấn độ giáo nên trong Mật giáo có rất nhiều loại tượng Phật, tượng các Tôn vị và phần lớn thuộc về cách tạo hình siêu nhân loại, như có nhiều mắt, nhiều mặt (3 mặt, 11 mặt), nhiều tay (4 tay, 6 tay, 42 tay, 1.000 tay), hiện tướng giận dữ, cầm các loại vũ khí v.v... Ý nghĩa của các hình tượng này không ngoài việc tượng trưng cho nhân loại vì muốn đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, nên người tu hành ở hiện thế phải hàng phục các ma, khắc phục các chướng ngại ở nội tâm và ngoại cảnh mà biểu hiện cảm giác cường lực và thần bí sâu kín. Về pháp khí, thông thường có chày kim cương, chuông kim cương, mâm kim cương, bánh xe báu, yết ma, lò hương, bình hoa, 6 thứ khí cụ, 4 cây cọc, đồ đựng thức ăn, thùng chứa nước sạch, lò đốt củi hộ ma v.v...Lấy Mật giáo Tây tạng (Lạt ma giáo) làm điển hình, có thể chia làm 6 loại: 1. Dùng để kính lễ: Như ca sa, tràng hạt, dây lụa... 2. Dùng để tán tụng: Như chuông, chuông lắc, mõ, não bạt, kèn, trống, ống sáo (làm bằng xương người), đàn 6 dây v.v... 3. Dùng để cúng dường: Như lư hương, đế đèn, bát đựng nước, bình, mâm, chậu, bát, cờ, phan, phướn, chuỗi anh lạc, tràng hoa, lẵng hoa v.v... 4. Dùng để trì niệm: Như mạn đồ la, tràng hạt, bạt chiết ra (tức các loại chày kim cương 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, bằng vàng, bàng gỗ thơm v.v...), linh chử (1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa), giả cát la (tức bánh xe), trống, khánh, mõ gỗ hình con cá, hồ quán đính v.v... 5. Dùng cho pháp tu Hộ ma: Như mạn đồ la, lò đốt, Phật hộ thân, phù ấn bí mật v.v... 6. Dùng để khuyên dạy: Bánh xe ma ni, ống kì đảo, cờ kì đảo, vách kì đảo, đá kì đảo v.v... Trong các loại pháp khí nêu trên, 2 bộ Mạn đồ la Thai tạng giới và Kim cương giới là hình thức biểu hiện mĩ thuật đặc hữu của Mật giáo đầy đủ nhất. Mạn đồ la (Phạm: Maịđala, Hán dịch: Đàn, Luân đàn) là bức tranh tượng Phật để thờ khi tu pháp Mật giáo. Mạn đồ la Thai tạng giới và Mạn đồ la Kim cương giới tượng trưng 2 thế giới Lí và Trí, còn tượng các vị tôn nhóm họp thì biểu hiện thế giới quan luân viên cụ túc của Mật giáo, về hình thức thì hoặc vuông hoặc tròn. Ở chính giữa Mạn đồ la Thai tạng giới vẽ tượng 1 đức Phật hoặc 1 vị Bồ tát để làm Bản tôn; ở phía trên phía dưới, 2 bên tả hữu, 4 phương cho đến 4 góc chung quanh vị Bản tôn đều vẽ tượng 1 đức Phật hoặc 1 vị Bồ tát, hình thành 1 đóa hoa sen nhìn xuống, trên đài (gương) sen ở chính giữa là vị Bản tôn, trên 8 cánh sen chung quanh đài sen mỗi cánh đều có tượng của 1 vị tôn, tạo thành viện ở chính giữa (viện Trung đài bát diệp). Ở phía ngoài lại vẽ 1 lớp hoặc 2 lớp tượng các vị Bồ tát hoặc chư thiên hộ pháp tạo thành viện ngoài. Mạn đồ la Kim cương giới thì do 9 hội Mạn đồ la tổ chức thành. Hình bức tranh lấy đầu trên làm phương Tây, dọc ngang chia làm 3 ô, ô ở chính giữa là hội Thành thân, từ đó tính xuống theo thứ tự chiều bên trái là: hội Tam muội da, hội Vi tế, hội Cúng dường, hội Tứ ấn, hội Nhất ấn, hội Lí thú, hội Hàng tam thế và hội Hàng tam thế tam muội da. Trong đó, hình vẽ của hội Lí thú thì hoàn toàn như bức vẽ Mạn đồ la Kim cương giới được thu nhỏ lại, hội Nhất ấn thì chỉ do Đại nhật Như lai ở trong vòng tròn lớn mà thành, 1 hội chỉ đơn thuần có 1 vị tôn nên gọi là hội Nhất ấn. Bảy hội còn lại thì hình thức đại khái giống nhau, đều do vị Chủ tôn ở chính giữa và 4 đức Phật ở 4 phương (hoặc các vị Bồ tát, Kim cương), 4 Bồ tát Cúng dường ở 4 góc tạo thành. Khi vẽ Mạn đồ la phải tuân theo những phép tắc được qui định trong các kinh và nghi quĩ. Như vẽ Mạn đồ la Thai tạng giới thì phải y cứ vào kinh Đại nhật, còn vẽ Mạn đồ la Kim cương giới thì phải căn cứ vào kinh Kim cương đính. Trong một bức tranh có nhiều Phật và Bồ tát hàng hàng lớp lớp phân bố ra, gọi là Phổ môn mạn đồ la, hoặc Đô hội mạn đồ la, Phổ môn hội mạn đồ la. Cũng có những bức Mạn đồ la lấy Phật Dược sư, Phật A di đà, hoặc bồ tát Quan thế âm làm trung tâm, hình thức tương đối đơn giản, thì gọi là Nhất môn mạn đồ la, hoặc Biệt môn mạn đồ la. Ngoài ra, hành giả tu Mật giáo, trì tụng các kinh của Hiển giáo như kinh Pháp hoa, kinh Nhân vương bát nhã v.v... mà vẽ thành Pháp hoa mạn đồ la, Nhân vương mạn đồ la thì gọi chung là Kinh pháp mạn đồ la. Tóm lại, Mật giáo cho rằng giáo lí của mình là pháp môn bí mật phát xuất từ cảnh giới nội chứng của Pháp thân Đại nhật Như lai, cho nên dùng lưỡng giới Mạn đồ la cụ thể để biểu hiện. Tức Mạn đồ la Kim cương giới tượng trưng cho thế giới ngoại hiện, còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì tượng trưng cho thế giới nội tại. Kết hợp 2 loại Mạn đồ la này mới thành chân lí. Đem nhân cách hóa 2 loại Mạn đồ la này thì Đại nhật Như lai từ lưỡng giới lại diễn hóa ra các vị tôn của lưỡng giới Mạn đồ la, vì thế mà thông thường các chùa viện của Mật giáo đều thờ Đại nhật Như lai ở địa vị Chủ tôn. Nhưng sức diệu dụng mà Mật giáo thường giải thích hiển bày là ở 5 vị Đại tôn Minh vương Giáo lệnh luân thân: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức, Kim cương dạ xoa và Ái nhiễm minh vương, trong đó Bất động minh vương là thân biến hóa của đức Đại nhật Như lai (hiện tướng phẫn nộ), các loại tu pháp đều lấy vị tôn này làm trung tâm. Về tượng Phật, đặc trưng của sự tạo hình là ở chỗ màu sắc và hình dáng, cả 2 đều có ý nghĩa trọng yếu. Mĩ thuật Mật giáo muốn biểu hiện con người nhờ tu hành mà đạt đến cảnh giới tức thân thành Phật, cho nên người ta phải khắc phục các chướng ngại ở bên trong cũng như bên ngoài và vì phải hàng phục các chướng ngại ấy nên phải dùng nhiều phương pháp biểu hiện. Chẳng hạn tạo hình thể hiện hiệu quả 1 cách mạnh mẽ như: làm nổi bật chức năng của các cảm quan trong thân thể, hoặc biểu lộ ra ngoài bằng hình tướng giận dữ, bậm môi, trừng mắt ... thường thấy ở các tôn tượng. Các vị tôn trong Mật giáo, ngoài việc thần cách hóa tôn tượng, còn thần cách hóa chim thú. Phương pháp biểu hiện thần cách hóa, có những tạo hình đặc thù như: 3 mắt, 11mặt, 8 tay, 6 chân v.v... như Thập nhất diện Quan âm, Như ý luân Quan âm, Mã đầu Quan âm, Khổng tước minh vương và Ngũ đại tôn minh vương. Lại tiến thêm bước nữa bằng cách xác lập, qui định những tư thái, hình tướng, vật cầm v.v... của các vị tôn đã được thần cách hóa mà đặt ra các nghi quĩ. Trong Mật giáo, các bức họa, điêu khắc và những pháp cụ được biểu hiện đều mang vẻ thần bí, sâu kín hoặc kì dị làm cho người ta kinh hãi, đó là đem cái cảm giác vừa sợ hãi, vừa tôn kính đối với sức thần bí mà khái niệm hóa, tổ chức hóa để hiển bày cái hình thái nghệ thuật có phong cách đặc biệt khác lạ. Do đó, các tác phẩm nghệ thuật của Mật giáo thường mang tính đả phá những khuôn phép tạo hình đối xứng cân bằng của nghệ thuật truyền thống mà biểu hiện cái khí thế mạnh mẽ khiến người sợ hãi và tràn đầy lực cảm. (xt. Mạn Đồ La, Mật Giáo Pháp Khí).

mật giáo ngũ đại

(密教五大) Năm đại: Đất, nước, lửa, gió và hư không trong giáo nghĩa Mật giáo. Khác với Hiển giáo cho 5 đại là các pháp hữu vi, vô thường. Mật giáo thì lại chủ trương 5 đại được lập ra từ bản thể của các pháp , là thân Tam muội da của Như Lai. Tam muội da có nghĩa là bản thệ (thệ nguyện xưa), tiêu biểu, tức 5 đại tiêu biểu cho nội dung cảnh giới nhiệm mầu tam mật vô tướng và bản thệ của Pháp thân Như Lai. Thai tạng giới của Mật giáo lấy 5 đại sắc pháp làm lí pháp thân của Đại nhật Như Lai, chủng tử là (a), (vi), (ra), (hùô), (khaô), hoặc (a), (va), (ra), (ha), (kha), tức là chủng tử của 5 đức Phật ở 5 phương, cũng tức là 5 đại được phối hợp với 5 Phật ở 5 phương. Tôn thắng nghi quĩ do ngài Thiện vô úy dịch vào đời Đường, theo thứ tự phối hợp 5 đại đất, nước, lửa, gió, hư không với 5 phương Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương, tức là nghĩa Đông nhân Kim cương giới tu sinh của thủy giác thượng chuyển. Còn kinh Tú diệu do ngài Bất không dịch vào đời Đường thì phối hợp không, gió, lửa, nước, đất với Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương, tức là theo nghĩa Trung nhân Thai tạng giới bản hữu của bản giác hạ chuyển. 1. Tôn thắng nghi quĩ: Năm đại theo nghĩa của Tôn thắng nghi quĩ là nương vào Đông nhân phát tâm (phát tâm tu nhân từ phương Đông): a) Đất (địa đại), phối hợp với Phật A súc ở phương Đông, là giai vị phát tâm, tức lấy tâm bồ đề tu sinh làm Nhân (..), sinh khởi muôn hạnh đại bi, cũng giống như đất là cội gốc sinh ra muôn vật; lại vì tâm bồ đề vững chắc không lay động, giống như đất, cho nên kí hiệu của Phật A Súc là bất động. Trí đại viên kính gìn giữ tất cả pháp tương ứng với đất gìn giữ muôn vật; Đất ở phương Đông biểu thị của sự bắt đầu của tu sinh; màu vàng là màu không thay đổi, tương ứng với tính bất biến của tâm bồ đề. b) Nước (thủy đại): Phối hợp với Phật Di Đà ở phương Tây, là giai vị thành tựu bồ đề; tự tính thanh tịnh của tâm bồ đề và sự tròn sáng rốt ráo của Vô lượng quang (Phật Di Đà) giống như tính trong sáng của nước; đức thuyết pháp đoạn nghi của trí Diệu quán sát giống như công năng rửa sạch bụi nhơ của nước; Nước ở phương Tây, tương ứng với chỗ cuối cùng của sự hành chứng (tu hành chứng quả); màu trắng tương ứng với Vô lượng quang (ánh sáng vô lượng). c) Lửa (hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo Sinh ở phương Nam, là giai vị tu hành; tu hành thành tựu muôn hạnh, giống như tính nóng của lửa có công năng nấu chín muôn vật; trí Bình đẳng tính diệt trừ tất cả sự phân biệt hư vọng, khiến cho bình đẳng nhất như, giống như công năng của lửa đốt cháy hết muôn vật. d) Gió (phong đại): Phối hợp với Phật Bất Không Thành Tựu ở phương Bắc, là giai vị nhập Niết Bàn, tức biểu thị trong Niết Bàn, muôn vật hoàn toàn vắng lặng, giống như gió bão có công năng phá hoại muôn vật; Gió ở phương Bắc, tương ứng với địa vị cao tột của Niết Bàn; màu đen tương ứng với sự mầu nhiệm sâu kín của Niết Bàn. e) Hư không (không đại): Phối với Phật Đại Nhật ở Trung ương, là giai vị phương tiện cứu cánh; biểu thị đã viên thành 4 đức, hàm chứa tất cả công đức tự lợi lợi tha, giống như hư không dung nạp hết thảy muôn vật; trí pháp giới thể tính của đức Đại Nhật, cũng giống như hư không, rộng lớn vô biên, trùm khắp pháp giới; Hư không ở Trung ương, tương ứng với sự trùm khắp pháp giới; màu xanh tương ứng với sự dung nạp hết. 2. Kinh Tú diệu: Năm đại theo nghĩa của kinh Tú Diệu là nương vào Trung nhân phát tâm (phát tâm tu Nhân từ Trung ương): a) Đất (địa đại): Phối với Đại Nhật Như Lai ở Trung ương, là giai vị phát tâm. Đây là biểu thị tâm bồ đề vốn có, vững chắc không lay động, là thể tính bản nguyên của các pháp, tính ấy giống như mặt đất; cũng như trí pháp giới thể tính là nguồn gốc của các pháp; Đất màu vàng, tương ứng với tính bất biến của tâm bồ đề. b) Hư không (không đại): Phối hợp với Phật A Súc ở phương Đông, là giai vị tu hành; tu muôn hạnh đều đầy đủ không thiếu, giống như hư không hàm chứa muôn vật, cũng như trí đại viên kính chiếu soi hết thảy. Hư không ở phương Đông là chỗ bắt đầu của muôn vật, vì thế nên tương ứng với chỗ bắt đầu của muôn hạnh; màu xanh hàm chứa cả 5 màu, cho nên tương ứng với sự hàm chứa muôn hạnh. c) Gió (phong đại): Phối với Phật Di Đà ở phương Tây, là quả vị Niết Bàn. A Di Đà, Hán dịch là Vô lượng quang, biểu thị cho đức của Niết Bàn. Trí diệu quan sát và công dụng thuyết pháp đoạn nghi sinh tín của trí này tương ứng với 2 công năng phá hoại và sinh thành của gió. Đối lại với phương Đông là chỗ bắt đầu của muôn vật thì phương Tây là chỗ chung cuộc của muôn vật, tức là quả Niết Bàn. Màu trắng tương ứng với Vô lượng quang. d) Lửa (hỏa đại): Phối hợp với Phật Bảo Sinh ở phương Nam, là giai vị thành tựu bồ đề, vì giai vị này thành tựu muôn hạnh, làm nở hoa bồ đề, giống như tính nóng của lửa làm cho muôn vật thành thục, cho nên phối với phương Nam là màu đỏ. e) Nước (thủy đại): Phối hợp với Phật Bất không Thành Tựu ở phương Bắc, là giai vị phương tiện cứu cánh; ở giai vị này, dùng phương tiện lợi tha để thành tựu diệu nghiệp hóa tha, có năng lực tùy thuận căn cơ để đoạn trừ mê vọng cho chúng sinh, giống như nước có công năng rửa sạch bụi nhơ, có hình vuông hay tròn đều tùy theo vật chứa. Theo tục Ấn Độ, phương Bắc là hướng tốt, cho nên tương ứng với giai vị cứu cánh; màu đen là màu chí cực, tương ứng với chỗ chí cực của giai vị cứu cánh. [X. phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại Nhật Q.3; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại Nhật Q.5]. (xt. Trung Nhân Phát Tâm, Đông Nhân Phát Tâm, A Tự Ngũ Chuyển).

mật giáo pháp khí

(密教法器) Những pháp khí của Mật giáo sử dụng trong các khóa tu trì hoặc trong pháp hội. Một trong những nét đặc sắc của Phật giáo Tây Tạng là chú trọng về nghi quĩ phiền tạp và pháp khí đặc định. Về nguồn gốc pháp khí, chủ yếu là Phật giáo Ấn Độ vào thời kì sau cùng đã hấp thụ các pháp khí của Ấn Độ giáo rồi truyền vào Tây Tạng, đồng thời khi đến Tây Tạng lại du nhập thêm một số pháp khí của Bổng giáo truyền thống, cho nên danh mục rất nhiều. Nay căn cứ vào những trường hợp sử dụng khác nhau, có thể chia ra 6 loại: I. Pháp khí được sử dụng khi lễ kinh:1. Ca sa: Giống như miếng lụa vuông 1 lớp, quấn quanh mình, để trần vai bên phải, hình thức tuy khác nhưng về ý nghĩa thì cũng giống như loại áo của Trung quốc. 2. Quải châu: Xâu chuỗi gồm 108 hạt, có nhiều loại như hạt bồ đề, hạt kim cương, hạt sen, hạt thủy tinh, hạt chân châu, hạt san hô, hạt hổ phách, hạt mã não, hạt pha lê, hạt vàng xanh, hạt vàng trắng, hạt cây mộc hoạn, hạt làm bằng xương sọ người v.v... tùy theo mỗi pháp tu mà được sử dụng. 3. Cáp đạt: Tấm sa (lụa mỏng) hình chữ nhật có nhiều màu như: Đỏ lợt, vàng, lam, loại lớn khoảng hơn 3 mét, loại nhỏ khoảng 1,4 mét, hay nhỏ hơn nữa, dùng làm quà tặng, biếu cho khách, Yết kiến Lạt ma, hoặc trao đổi với bạn bè để tỏ lòng quí kính. Màu sắc, kích thước phải tùy theo địa vị, giai cấp khác nhau mà có qui chế nhất định, không được dùng lẫn lộn. II. Những pháp khí được sử dụng khi xưng tán. 1. Chuông: Có đủ các kiểu lớn nhỏ. 2. Đạc: Cái linh lớn có con lắc bằng kim loại hoặc bằng gỗ. 3. Trống: Có các loại như: Trống lớn, trống cơm, trống yết (loại nhạc khí của giống Yết, 1 chi của rợ Hung nô đến ở đất Yết thất, nên gọi là Yết), trống đồng v.v... 4. Linh: Chuông nhỏ cầm tay. 5. Não bạt: Chập chọe, loại lớn gọi là Não, loại nhỏ gọi là Bạt. 6. Tất lật: Kèn loa hình dáng giống cái ống sáo, phát ra âm thanh trầm buồn, vì thế cũng gọi là Bi lật. 7. Cốt địch: Ống sáo làm bằng xương người. 8. Lục huyền cầm: Đàn 6 dây. III. Pháp khí sử dụng khi cúng dường: 1. Lư hương. 2. Đế đèn. 3. Chén đựng nước. 4. Đồ dâng cúng: Bình, mâm, bát, li, chén v.v... 5. Lá cờ: Hình dáng giống như cờ tiết, làm bằng lông vũ, đá quí, vàng, lụa v.v... 6. Lá phan: Như loại cờ gió mà những người đi thuyền thường sử dụng. Có nhiều cỡ: lớn, nhỏ, dài, ngắn. 7. Lá phướn: Lớn và dài hơn lá phan nhiều, trên đầu có tàn (cái), thường được treo trong chính điện. 8. Anh lạc: Vòng trang sức được xâu bằng những hạt ngọc quí. Đội ở trên đầu gọi là Anh, đeo ở trên mình gọi là Lạc. 9. Hoa man: Tràng hoa, dùng hoa kết thành vòng tròn hoặc dây dài. 10. Hoa lung: Lẵng đựng hoa, được làm bằng các chất liệu như: Vàng, bạc, tre, gỗ v.v... IV. Pháp khí sử dụng khi trì nghiệm. 1. Mạn đồ la, cũng gọi Đạo tràng, Đàn thành, Luân đàn, Luân viên cụ túc: Đàn được sử dụng khi tu trì mật pháp, có nhiều hình thức như vuông, tròn, 3 góc v.v... 2. Niệm châu, cũng gọi Sổ châu, Phật châu: Chuỗi tràng hạt nhỏ hơn Quải châu, số hạt không cố định, có thể từ 14 đến 1.080 hạt. 3. Kim cương chử: Chày kim cương, có 3 loại: 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa, làm bằng kim loại quí hoặc gỗ thơm. 4. Linh chử: Cũng chia làm 3 loại: 1 chĩa, 3 chĩa, 5 chĩa. 5. Luân, cũng gọi Giả cát la: Bánh xe. 6. Cổ: Trống, có 2 thứ trống lớn và trống nhỏ.7. Dẫn khánh: Cái kiểng, kiểu giống kiểng của Trung Quốc. 8. Mộc ngư: Mõ bằng gỗ có hình con cá, cũng giống kiểu mõ của Trung Quốc. 9. Quán đính hồ: Bình đựng nước được dùng khi tu pháp truyền Quán đính cho đệ tử. V. Pháp khí được sử dụng khi tu pháp Hộ ma. 1. Mạn đồ la. 2. Lư: Lò đốt, chia làm 3 loại: Vuông, tròn, tam giác, được dùng tùy theo pháp tu. 3. Hộ thân Phật: Tượng Phật bằng đồng đặt trong 1 cái hộp bằng bạc, hoặc đội trên đầu hoặc đeo ở ngực. 4. Bí mật phù ấn: Lá bùa và ấn, chia làm 3 hình thức: Vuông, tròn, tam giác, gồm có các loại: Hộ thân, hộ nhà, bảo hộ đất nước, đuổi ma quỉ, trừ tai họa, tăng phúc thọ v.v... VI. Pháp khí được dùng khi khuyên dạy.1. Ma ni luân: Bánh xe có hình dáng như cái thùng gỗ, ở giữa có cái trục, có thể xoay vòng, trên khắc câu thần chú Lục tự Quan Âm. 2. Kì đảo đồng: Ống kì đảo, hình thức giống như Ma ni luân nhưng lớn hơn, được quay bằng sức gió, sức nước hoặc máy móc. 3. Kì đảo bích: Tấm ván mỏng trên có khắc câu chú 6 chữ, được treo trên vách. 4. Kì đảo chàng: Lá cờ trên có viết câu chú 6 chữ, buộc vào cây sào cắm trên nóc nhà.5. Kì đảo thạch: Tấm đá trên có khắc câu chú 6 chữ, đặt ở chân núi hoặc bên cạnh đường.

mật giáo sám pháp

(密教懺法) Pháp lễ Phật sám hối được thực hành trong Mật giáo. Thai tạng giới tu Cửu phương tiện sám hối và Kim cương giới tu Ngũ hối sám hối. I. Cửu Phương Tiện. Chín pháp nương vào sức phương tiện như kết ấn, tụng chú để diệt trừ tội lỗi, thành tựu chân thực. Có thuyết cho rằng 9 pháp này là những phương tiện được thực hành trước khi tu pháp. Cửu phương tiện là: 1. Tác lễ phương tiện: Cung kính lễ bái qui mệnh Tam Bảo trong 10 phương và 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai. 2.Xuất tội phương tiện: Sám hối các tội lỗi đã phạm từ vô thủy đến nay. 3. Qui y phương tiện: Qui y Tam Bảo. 4. Thí thân phương tiện: Hành giả dâng thân mình cúng dường các vị tôn. 5. Phát bồ đề tâm phương tiện: Phát tâm bồ đề và sinh khởi tâm đại bi làm lợi ích chúng sinh. 6. Tùy hỉ phương tiện: Thấy chư Phật, Bồ Tát, Nhị thừa và chúng sinh tu phúc trí thiện căn, hành giả đều tùy hỉ. 7. Khuyến thỉnh phương tiện: Tức thỉnh chư Phật, Bồ Tát trụ lâu nơi đời và thường chuyển pháp luân. 8. Phụng thỉnh pháp thân phương tiện: Khiến chúng sinh an trụ nơi Pháp thân. 9. Hồi hướng phương tiện: Hành giả đem phúc đức thiện căn mà mình đã tu được, hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Cửu phương tiện biểu thị ý nghĩa hành giả chuyển 9 thức mà hiển bày pháp nội chứng của 9 vị tôn ở Trung đài Bát Diệp, hoặc biểu thị ý nghĩa Tam tam bình đẳng. Có thuyết cho rằng Thai tạng giới là Nhân mạn đồ la, cho nên căn cứ vào 9 thức của Nhân vị ( ) mà lập 9 phương tiện; hoặc cho rằng Thai tạng giới được kiến lập từ Tam bộ, cho nên dựa theo ý nghĩa Tam tam bình đẳng mà lập Cửu phương tiện. II. Ngũ Hối. Nêu lên những hạnh nguyện chung của tất cả Phật, Bồ Tát để biểu thị ý thú lễ bái sám hối. Mà hạnh nguyện của chư Phật. Bồ tát thì không ngoài 10 Đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, Ngũ hối và 10 đại nguyện tuy khác nhau nhưng pháp thể thì chỉ là một, vì thế Ngũ hối cũng được gọi là Phổ Hiền hạnh nguyện. Ngũ hối là: 1. Chí tâm qui mệnh: Với 3 nghiệp thanh tịnh, thành tâm lễ kính qui mệnh Tam Bảo. 2. Chí tâm sám hối: Dốc lòng sám hối những tội nghiệp đã tạo ra ở đời quá khứ. 3. Chí tâm tùy hỉ: Thấy chư Phật, Bồ Tát, Nhị thừa và tất cả hữu tình tu tập phúc đức thiện căn và trí tuệ, hành giả đều dốc lòng tùy hỉ. 4. Chí tâm khuyến thỉnh: Một lòng khuyến thỉnh chư Phật hiện tại trong 10 phương, thường trụ ở thế gian, không bỏ nguyện đại bi, mãi mãi chuyển pháp luân làm lợi ích cho chúng sinh. 5. Chí tâm hồi hướng: Đem tất cả những công đức đã thành tựu được như: Công đức không mất 4 pháp nêu trên, không thoái chuyển tâm bồ đề, thường tu học theo chư Phật, thường sinh vào các chủng tộc cao quí, được 4 biện tài, 6 thần thông, 10 tự tại và các cảnh giới thiền định v.v... dốc lòng hồi hướng đến Vô lượng bồ đề. Có thuyết cho rằng Kim cương giới là Quả mạn đồ la, cho nên biểu thị 5 trí của Quả vị ( ); hoặc cho rằng vì Kim cương giới được cấu thành từ 5 bộ cho nên lập Ngũ hối. [X. kinh Đại Nhật Q.7; kinh Yếu Lược Niệm Tụng; kinh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương Q.thượng, hạ; Liên hoa bộ tâm nghi quĩ, Như ý luân nghi quĩ].

mật giáo tam tam muội môn

(密教三三昧門) Ba môn giải thoát của Mật giáo, cũng tức là pháp quán tưởng mà hành giả thực hiện vào các giai đoạn đầu, giữa và cuối pháp tu. Tam tam muội là Tam ma địa của chữ Hồng, chữ Hồng này có 3 đức giải thoát. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, thì chân ngôn lấy chữ Hồng (hùô) cuối cùng làm thể, đầy đủ 3 môn giải thoát bí mật. Nghĩa là trên chữ có cái chấm Không (.), tức là nghĩa Đại không, là Không giải thoát môn; bản thể là chữ (ha), vì lìa nhân duyên nên là Vô tướng giải thoát môn; dưới có chữ (ù) với chấm tam muội, vì vốn chẳng sinh nên là Vô tác giải thoát. Ba môn này, tất cả các chướng ngại đều không thể xâm nhập được. Cứ theo Bí Tạng Kí Sao quyển 4, ở giai đoạn đầu của pháp tu, thực hành pháp quán Tam muội này; cuối cùng, khi tu pháp đã xong cũng lại thực hành pháp quán này. Cái chấm Không biểu thị cho tâm thái xa lìa Hữu và Không, quán các pháp bình đẳng, không nguyện dứt sống chết, mong chứng được Niết Bàn, cho nên đạt đến Không giải thoát môn. Bản thể chữ Ha biểu thị vô tướng, tức là nghĩa Không cũng Không, đoạn trừ chấp trước về Không. Chữ Ù nghĩa là vốn không sinh, cho nên chẳng cầu mong điều gì, tức là Vô tác giải thoát môn. Đối với việc kiến lập Tam tam muội, Hiển giáo thường nói theo việc quán xét ngăn dứt tình chấp, còn Mật giáo thì nói theo nghĩa sâu kín về mặt biểu đức; hoặc cho rằng Không, Vô tướng là ngăn dứt tình chấp, Vô nguyện là biểu đức. Nếu nói theo nghĩa biểu đức, thì Không nghĩa là tất cả các pháp dung thông vô ngại; Vô tướng nghĩa là muôn đức tròn đầy vô tận; Vô nguyện nghĩa là hành giả xưa nay vốn có đầy đủ công đức của Mạn đồ la Kim cương bộ và Thai tạng bộ, cho nên không còn cầu mong điều gì. [X. Bí tạng kí Q.đầu]. (xt. Tam Tam Muội).

mật giáo thuần bộ

Phái mà ta mệnh danh là Mật Giáo Thuần Bộ hay Thuần Mật khởi đầu với ba vị pháp sư Ấn Độ đến Trung Quốc vào thời nhà Đường (713-765)—What we can designate as 'Pure Mystic' begins with some able Indian teachers who arrived in China during the T'ang period (713-765). 1) Vị đầu tiên là Thiện Vô Úy (Subhakarasimha 637-735): See Thiện Vô Úy. 2) Vị thứ hai là Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): See Kim Cang Trí. 3) Vị thứ ba là Bất Không (Amoghavajra 705-774): See Bất Không. 4) Vị thứ tư là Nhất Hành (I-Hsing 683-727): See Nhất Hành.

mật giáo tạp bộ

Phái Mật Giáo Tạp Bộ có kinh điển được dịch rất sớm vào thế kỷ thứ 4 sau Tây Lịch. Cát Hữu (Srimitra) người xứ Qui-Tư, một bộ lạc da trắng, đã dịch một vài bản kinh sang Hán văn. Đó là những bùa chú thường gồm có một vài mật chú và những bài tán thần hay thánh ở thượng giới, nhưng thật ra chúng không thể đuợc xem như là biểu dương cho những ước vọng cao—What we designate as “Miscellaneous Mystic” of which mantras were translated early in the fourth century A.D. Srimitra of Kucha, a Central Asian state inhabited by a white race, translated some texts into Chinese. These were charms, cures, and other sorts of sorcery, often containing some matra prayers and praises of gods or saints of higher grades, but generally speaking they could not be regarded as expressing a high aspiration.

mật giáo tứ ba la di

(密教四波羅夷) Bốn giới nặng mà hành giả Mật giáo phải giữ gìn. Thông thường, trong giới Tỉ khưu có 4 tội Ba la di: Giết hại, trộm cắp, dâm dục và nói dối, nhưng Mật giáo thì căn cứ vào Phật tính tam muội da giới mà lập riêng 4 trọng cấm là: 1. Bất xả chính pháp giới: Tất cả Thánh giáo của Như Lai đều phải tu tập, không được xả bỏ. 2. Bất xả li bồ đề tâm giới: Tâm bồ đề là tiêu biểu cho muôn hạnh Bồ Tát, nếu xả bỏ thì muôn hạnh không có chỗ nương, cho nên không được xa lìa tâm bồ đề. 3. Bất ưng khan lận pháp giới: Không được bỏn sẻn pháp, vì chính pháp là di sản của bậc Đại thánh truyền lại, nếu Bồ Tát bỏn sẻn không bố thí pháp thì cũng đồng với tội ăn trộm tài vật của Tam Bảo. 4. Nhiêu ích hành giới: Phải làm tất cả những việc lợi ích, nhiếp hóa chúng sinh làm nhân duyên vào đạo. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 17 (Đại 39, 757 trung), nói: Không bỏ Tam Bảo, cũng không xa lìa tâm bồ đề, đó là 4 trọng cấm chân thực của Bồ Tát. Vì không bỏ Tam Bảo là 3, cộng với không xa lìa tâm bồ đề là 4 Ba la di. Nếu phạm 4 giới này thì mất mệnh căn của Chân ngôn thừa, hệt như mất đầu. Vì đã dứt mất cội gốc của nghiệp thiện thì tất cả công đức không nảy sinh được, nên mọi sự tu hành đều không có kết quả. Khi cử hành lễ quán đính, ở đàn giới tam muội da, vị A xà lê truyền trao 4 giới trọng này. Bài kệ nói về 4 giới trọng này trong phẩm Cụ duyên kinh Đại Nhật gọi là Tam muội da kệ; cũng kinh Đại Nhật, phẩm Học xứ thì gọi là Tứ chủng căn bản tội. Còn Đại Nhật kinh sớ quyển 9 thì gọi là Tứ ba la di. (xt. Tứ Chủng Trọng Cấm).

mật giáo tứ môn

The four doors in esoteric sect—See Tứ Môn Mật Giáo.

mật giáo tứ vô lượng quán

(密教四無量觀) Cũng gọi Mật giáo tứ vô lượng tâm quán. Chỉ cho pháp quán tưởng 4 tâm từ, bi, hỉ, xả của đức Phật mà hành giả Mật giáo tu tập.Theo kinh Thiên thủ thiên nhãn nghi quĩ quyển thượng chép: 1. Từ vô lượng quán: Tam ma địa của Bồ Tát Phổ Hiền ở phương đông. Hành giả ở trong định Từ vô lượng, với tâm thanh tịnh, ân cần quán xét tất cả hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo đều đầy đủ 6 đại, 4 mạn của Như Lai và 3 kim cương thân, khẩu, ý. Rồi khởi niệm đại từ tu công đức của Tam mật, khiến hết thảy hữu tình cũng được giống hệt như bồ tát Phổ Hiền. Quán như thế xong liền tụng chân ngôn Đại từ tam ma địa: Án (oô,qui mệnh) ma ha muội đát la dạ (mahàmàitraya,đại từ) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm đại từ trùm khắp tất cả. 2. Bi vô lượng quán: Tam ma địa của bồ Tát Hư Không Tạng ở phương nam. Hành giả ở trong định Bi vô lượng, với tâm thương xót, quán xét tất cả hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo, đang chìm đắm trong biển khổ sinh tử, chẳng ngộ tự tâm, vọng khởi phân biệt, sinh ra các thứ phiền não, do đó không đạt được chân như bình đẳng, có hằng sa công đức vượt qua hư không, vì thế nguyện làm cho hết thảy hữu tình cũng được giống hệt như Bồ Tát Hư Không Tạng. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Đại bi tam ma địa: Án (oô, qui mệnh) ma ha ca lỗ noa dạ (mahà-kàroịaya, đại bi) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm đại bi trùm khắp tất cả. 3. Hỉ vô lượng quán: Tam ma địa của bồ Tát Quán Tự Tại ở phương tây. Hành giả ở trong định Đại hỉ vô lượng, với tâm thanh tịnh, quán xét tất cả chúng sinh khắp trong tứ sinh lục đạo, xưa nay vốn thanh tịnh, giống như hoa sen không nhuốm bùn nhơ, tự tính trong sạch, nên nguyện dùng sức công đức tu Tam mật của mình làm cho hết thảy hữu tình được giống hệt bồ tát Quán Tự Tại. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Đại hỉ tam ma địa: Án (oô,qui mệnh) truật đà bát la mô na (zuddha pramàda, hỉ vô lượng) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm Đại hỉ trùm khắp tất cả. 4. Xả vô lượng quán: Tam ma địa của Bồ Tát Hư Không khố ở phương bắc. Hành giả ở trong định Xả vô lượng, với tâm bình đẳng, quán xét hết thảy hữu tình khắp trong tứ sinh lục đạo, đều lìa ngã, ngã sở, đối với pháp bình đẳng tâm vốn chẳng sinh, nên nguyện dùng công đức tu Tam mật của mình khiến cho hết thảy chúng sinh đều được giống như Bồ Tát Hư Không khố. Quán như thế rồi tụng chân ngôn Xả vô lượng tam ma địa: Án (oô, qui mệnh) ma hộ bế khất sái (mahopekwa, xả li) sa phả la (sphara, phổ biến), nghĩa là làm cho tâm Xả vô lượng bao trùm khắp tất cả. [X. Bí tạng kí Q.đầu].

mật hiệu

Mật danh của Đức Tỳ Lô Giá Na—The esoteric name of Vairocana; also any true word or esoteric spell. ; (密號) I. Mật Hiệu. Danh từ ẩn chứa chân nghĩa sâu xa không thể qua hình dạng văn tự mà có thể hiểu thấu được. Như ví dụ núi có nghĩa là tâm bồ đề thanh tịnh không động chuyển, hoặc ví dụ đất có nghĩa chọc thủng vô minh trụ địa và trừ bỏ sự nhơ nhớp của tâm vọng tưởng. Ý nghĩa sâu xa trong 2 thí dụ này, những người tầm thường không thể theo mặt chữ để suy lường mà biết được, cho nên gọi là Mật hiệu. Lại như câu nói: Hãy giết hết hữu tình trong 3 cõi. Theo ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu nói ấy là phải diệt trừ hết hoặc nghiệp làm nhân cho sinh tử trong 3 cõi. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 4 (Đại 39, 620 hạ) nói: Pháp môn mạn đồ la này cũng lại như thế, Như Lai dùng các nhân duyên sự tướng của thế gian ví dụ cho pháp giới chẳng thể nghĩ bàn để dẫn dắt các căn cơ. Nếu nhận ra điều này thì có thể tin hiểu được Phổ môn, dũng mãnh tiến tu, được Tam mật gia hộ. Khi nguồn tâm đã sáng, mới biết tất cả danh ngôn đều là Mật hiệu của Như Lai, những người thường tình không thể biết được. Như nói trì tụng 3 tháng, cho đến phương tiện 3 chuyển trong tính thanh tịnh viên minh, há có thể hiểu là 9 tuần thôi sao? Lại như Phật Bảo chàng ở phương đông, là nghĩa mới phát tâm bồ đề, há chỉ hiểu là 4 phương được sao? II. Mật Hiệu. Cũng gọi Kim cương danh, Quán đính hội. Danh hiệu Kim cương mà Phật và Bồ Tát thuộc Mật bộ đều có. Như Đại Nhật Như Lai mật hiệu là Biến chiếu kim cưong, Minh vương Ô xu sa ma mật hiệu là Hỏa đầu kim cương, đức Phật A Di Đà mật hiệu Thanh Tịnh Kim Cương. Ngoài ra, khi hành giả Mật giáo nhận lãnh pháp Quán đính cũng được gọi bằng mật hiệu này. III. Mật Hiệu. Tên khác của chân ngôn Mật giáo. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q.1]. (xt. Chân Ngôn).

mật hoằng tổ ấn

See Tổ Ấn Mật Hoằng.

mật hành

Esoteric practice or discipline, the origin of which is attributed to Rahula. ; (密行) Hộ trì giới hạnh một cách tinh vi, tức là có thể giữ gìn đầy đủ 3 nghìn uy nghi và 8 vạn tế hạnh không thiếu sót. Ngài La hầu la đã nhờ giữ gìn giới luật một cách kiên cố mà trở thành người giữ mật hạnh bậc nhất trong hàng đệ tử của đức Phật. Nhưng theo tông Thiên Thai thì mật hạnh của Đại thừa và Tiểu thừa có khác nhau. Giữ gìn giới luật một cách tinh vi là mật hạnh Tiểu thừa, theo kinh Pháp Hoa, ngài La Hầu La vốn là 1 vị Bồ Tát pháp thân, an trụ trong diệu giới viên đốn, nhưng nay thị hiện thân Thanh văn, giữ gìn giới thô của Tiểu thừa mà ẩn kín giới viên đốn vi diệu của bản địa, cho nên gọi là Mật hạnh. [X. phẩm Thụ Học Vô Học Nhân Kí Trong Kinh Pháp Hoa Q.4; Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm Q.8].

mật hành nhẫn thiền sư ngữ lục

(密行忍禪師語錄) Gọi đủ: Hành châu khai phong Mật hạnh nhẫn thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mật hạnh Tịch nhẫn soạn vào đời Minh, ngài Minh Quảng biên tập, ấn hành vào khoảng năm Khang Hi (1662-1722) đời Thanh. Nội dung: Quyển 1 là Thướng đường ngữ. Quyển 2 gồm các mục Pháp ngữ, cơ duyên có liên quan đến Thướng đường ngữ, Chức sự bảng, An thiền bảng. Quyển 3 thu chép các bài tụng cổ, thi kệ, tán...

mật hạnh

Phương cách thực hành bí mật—Inconspicuous practice.

mật hội

Secret society.

mật hữu

Intimate.

mật khẩu

Password.

mật kinh

Kinh điển Mật tông—The foundation texts of the esoteric school Đại Nhật kinh.

mật lâm sơn bộ

See Lục Thành Bộ. ; (密林山部) Phạm: Waịđagàrikà. Hán âm: Sa na lợi ca, Sơn đà già lê kha. Cũng gọi Mật lâm trụ bộ, Mật sơn trụ bộ, Nhận sơn bộ, Lục thành bộ. Một chi phái chia ra từ Độc tử bộ thuộc Thượng tọa bộ, được hình thành vào khoảng 300 năm sau đức Phật nhập diệt, là 1 trong 20 bộ phái Tiểu thừa. Dị bộ tông luân luận thuật kí (Vạn tục 83, 220 thượng), nói: Mật lâm sơn là vùng rừng núi, cây cối um tùm rậm rạp, vì chủ bộ của phái này ở tại đây nên lấy tên là Mật lâm sơn bộ. Kinh Văn Thù vấn thì gọi bộ này là Nhận sơn bộ. Giáo nghĩa của bộ phái này đại khái cũng giống với giáo nghĩa của Độc tử bộ, nhưng nguyên nhân dẫn đến việc phân phái là vi bất đồng quan điểm về bài tụng: Dĩ giải thoát cánh đọa. Đọa do tham phục hoàn. Hoạch an hỉ sở lạc. Tùy lạc hành chí lạc. Phái này chủ trương có 6 loại Vô học: Thoái pháp, Tư pháp, Hộ pháp, An trụ, Kham đạt và Bất động. Và cho rằng Dĩ giải thoát (đã giải thoát) là Tư pháp, cánh đọa (lại bị đọa) là Thoái pháp; Đọa do tham (đọa là tại vì tham) ở câu thứ 2 là Hộ pháp, phục hoàn (trở lại) là An trụ; câu thứ 3 là Kham đạt và câu thứ 4 là Bất động. [X. kinh Xá Lợi Phất Vấn; Bộ Chấp Dị Luận; Thập Bát Bộ Luận]. (xt. Bộ Phái Phật Giáo, Độc Tử Bộ).

mật lập

(密立) Đối lại: Hiển lập. Nghi thức pháp hội được tổ chức y theo pháp thức thuần túy của Mật giáo. Hiển lập nghĩa là đem nghi thức của Hiển giáo mà dùng cho Mật giáo. Còn pháp hội đặc hữu của Mật giáo thì gọi là Mật lập.

mật lật già tất tha bát na

Mrga-sthapana, or Mrgadava (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Mật Lật Già Tất Tha Bát Na, là khu vườn Lộc Dã nổi tiếng, nằm về phía đông bắc thành Ba La Nại, nơi Đức Phật thích về an cư kiết hạ. Bây giờ là Sarnath gần Benares—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Mrga-sthapana, a famous park north-east of Varanasi, a favourite resort of Sakyamuni. The modern Sarnath, near Benares.

mật lặc nhật ba

(密勒日巴) Tạng: Mi-la-ras-pa. Cao tăng Tây Tạng, người ở Kya-ía-tsa gần Népal, là đệ tử chính truyền của ngài Mã Nhĩ Ba (Tạng:Mar pa), tổ khai sáng phái Ca Nhĩ Cư. Sư mồ côi cha từ năm 7 tuổi, vì hận chú và cô chiếm đoạt gia sản nên sư học phép chú thuật giết người và làm mưa đá, do đó đã gây nên nhiều nghiệp ác. Về sau, sinh tâm hối hận, sư theo chính pháp tu tập thiện nghiệp. Để giúp sư tiêu trừ tội chướng, ngài Mã Nhĩ Ba dạy sư tu tập nhiều pháp tu khổ hạnh của Đại Tiểu thừa; sau khi diệt trừ ác nghiệp, sư được thụ quán đính và khẩu quyết tu trì. Sư nổi tiếng về khổ hạnh và giỏi ca vịnh. Vì sư thường đi nhiều nơi giáo hóa làm lợi ích chúng sinh nên được tôn xưng là Mật Lặc Tôn Giả. Giáo lí do sư truyền lại rất gần chủ nghĩa thần bí. Sư có rất nhiều đệ tử, trong đó có 25 người được đại thành tựu và người tập đại thành học thuyết của sư là Đạt bảo cáp giải (Tạng: Dwag-po lha-rje, 1077-1152). Sư có các tác phẩm: Bồ đề đạo thứ đệ tùy phá tông trang nghiêm kinh, Thập vạn ca tập.

mật lặc đại sư toàn tập

(密勒大師全集) Gọi đủ: Mật Lặc Nhật Ba Đại Sư Toàn Tập. Tác phẩm, do ngài Mật Lặc Nhật Ba, người Tây Tạng soạn, cư sĩ Trương Trừng cơ dịch vào thời Dân Quốc, Trung Quốc, nhà xuất bản Tuệ Cự ấn hành. Nội dung sách này có 2 phần: Mật Lặc Nhật Ba Tôn Giả Truyện và Mật Lặc Đại Sư Thập Vạn Ca Tập. Về phần trước, họ Trương chỉ dựa vào nguyên bản Tây Tạng mà biên dịch, có rất nhiều chỗ lược bớt, còn phần sau thì tuyệt đại bộ phận được dịch từng câu theo nguyên văn. Ngài Mật Lặc Nhật Ba là người đại biểu cho nền Phật pháp thực tiễn, đồng thời cũng là 1 nhà thơ lớn của Phật giáo Tây Tạng. Sách này tuy chưa thu tập được toàn bộ tư liệu hoằng pháp của ngài Mật Lặc, nhưng trên đại thể, có thể được xem là tác phẩm chủ yếu đại biểu cho tư tưởng và sự hành trì Phật pháp của ngài.

mật lợi già la

Mrga (skt)—Con nai—A deer.

mật lợi xa

Mleccha (skt)—Những xứ không Phật giáo và hãy còn man rợ—Non-Buddhist nations, the barbarians.

mật nghiêm hoa tạng

(密嚴華藏) Từ chỉ chung cho cõi nước Mật Nghiêm được nói trong kinh Mật Nghiêm và thế giới Hoa tạng được nói trong kinh Hoa Nghiêm; tức chỉ cho các cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh. Kinh Du Kì quyển thượng (Đại 18, 254 thượng) nói: Chỉ có cõi Phật này là Mật nghiêm hoa tạng được cấu tạo thành bởi tự tính kim cương thanh tịnh. (xt. Mật Nghiêm Tịnh Độ).

mật nghiêm hải hội

(密嚴海會) Tịnh độ của chư Phật được trang nghiêm bằng tam mật thân, khẩu, ý. Hải hội, ví dụ thính chúng trong pháp hội nhiều như nước biển. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 (Đại 39, 608 trung) nói: Nhờ phương tiện tam mật mà tự tâm lắng trong, cho nên Mật nghiêm hải hội của chư Phật thảy đều hiển hiện trong đó.

mật nghiêm kinh

(密嚴經) Gọi đủ: Đại thừa Mật Nghiêm kinh (Phạm:Ghana-vyùha-sùtra). Kinh, 3 quyển, do ngài Nhật Chiếu (Địa bà ha la) dịch vào đời Đường, được thu vào Đại Chính Tạng tập 16. Nội dung kinh nhằm nói rõ tất cả pháp đều do tâm thức biến hiện. Toàn kinh chia làm 8 phẩm: Mật Nghiêm hội, Diệu thân sinh, Thai sinh, Hiển thị tự tác, Phân biệt quán hạnh, A lại da kiến lập, Tự thức cảnh giới, A lại da vi mật. Trước hết, nói về việc đức Phật ra khỏi 3 cõi, trụ ở nước Mật Nghiêm (Tịnh độ của Đại Nhật Như Lai), theo lời thỉnh cầu của 2 vị Bồ Tát là Như thực kiến và Kim cương tạng, đức Phật tuyên nói pháp yếu, chỉ bày lí Như Lai tạng bất sinh bất diệt; kế đến, Bồ Tát Kim Cương Tạng nói cho các Bồ Tát trong pháp hội nghe về công năng của thức A lại da biến hiện ra các pháp nhiễm tịnh, làm chỗ nương cho các pháp, lại vì thức này duyên theo mê ngộ mà có phàm thánh khác nhau. Kinh này cũng thuyết minh về các nghĩa của 5 pháp, 8 thức, 3 tính, nhị vô ngã, 2 phần nhiễm và tịnh của thức A lại da, lại dùng biển để ví dụ cho thức A lại da, dùng gió ví dụ cảnh giới... cho đến thuyết 8 thức, 9 thức v.v...đại khái đều tương đồng với kinh Lăng Già đã nói. Kinh này giống với kinh Hậu Nghiêm, nhưng kinh này nói về thức thứ 9, còn kinh Hậu Nghiêm thì nói về Ngũ tính các biệt. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch của ngài Bất Không, dịch vào đời Đường và cũng thu vào Đại Chính Tạng tập 16, nhưng ít được lưu hành. Còn bản dịch Tây Tạng gồm 4 quyển 9 phẩm, nội dung có hơi khác với bản Hán. Về chú sớ của kinh này thì có bộ Mật Nghiêm kinh sớ của ngài Pháp Tạng. [X. Đại Chu San Định Chúng Kinh mục lục Q.1; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.9; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q.3,4].

mật nghiêm kinh sớ

(密嚴經疏) Cũng gọi Đại thừa Mật Nghiêm Kinh Sớ. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Pháp Tạng (643-712) soạn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 34. Hiện quyển 1 đã bị thất lạc. Đây là sách chú thích bộ kinh Đại thừa mật Nghiêm do ngài Địa Bà Ha La dịch. Đối với các phẩm trong kinh Mật Nghiêm, tác giả đã phân chia tỉ mỉ từng khoa và giải thích rõ ràng. Nhưng vì quyển đầu đã bị thất lạc, cho nên khó hiểu rõ được chỉ thú của bộ sớ này và cũng khó đoán định được giá trị chính xác của tác phẩm.

mật nghiêm quốc

1) Cõi Tịnh Độ của Đức Tỳ Lô Giá Na: Pure Land of Vairocana. 2) Hoa tạng hay giáo thuyết trong kinh Hoa Nghiêm: The doctrine in the Flower Adornment Sutra.

mật nghiêm tịnh độ

(密嚴淨土) Cũng gọi Mật Nghiêm quốc, Mật Nghiêm Phật độ, Mật Nghiêm Phật quốc, Mật Nghiêm thế giới, Mật Nghiêm đạo tràng. Chỉ cho cõi Tịnh Độ Chân như pháp tính tự thụ dụng được trang nghiêm bằng tam mật thân, khẩu, ý, là nơi y chỉ của Như Lai. Tịnh độ này là quả viên mãn do tu mà đạt được, xa lìa các tội lỗi, có đầy đủ trí tuệ, thần thông và cũng là nơi nương tựa của người tu quán hạnh. Tịnh độ này lấy thức vô cấu nhiễm Như Lai tạng làm thể, Mật giáo đặc biệt chỉ cho Tịnh độ của Pháp thân Đại Nhật Như lai; bởi vì, nếu phối hợp 9 thức với Ngũ Phật, thì thức vô cấu Am ma la thứ 9 tương đương với Đại Nhật Như Lai, cho nên lấy thức vô cấu là Tịnh độ của thể tính làm trụ xứ của đức Đại Nhật Như Lai. Tịnh độ này còn là chỗ y chỉ của pháp thân 2 bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới nói trong kinh Mật Nghiêm, cũng tương đương với thế giới Hoa tạng nói trong kinh Hoa Nghiêm và thế giới Cực Lạc nói trong pháp môn Tịnh độ. [X. phẩm Hiển Thị Tự Tính trong kinh Đại thừa mật Nghiêm Q.trung; luận Phát bồ đề tâm; Mật Nghiêm Tịnh Độ Lược Quán; Mật Nghiêm Kinh Sớ (Pháp tạng) Q.3; Đại Nhật Kinh Sớ Q.3].

mật nghĩa

Nghĩa bí mật của giáo pháp—The esoteric meaning or doctrine. ; (密義) Nghĩa lí sâu xa kín nhiệm. Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 1 (Đại 19, 106 trung) nói: Kính vâng lời đức Từ nghiêm, mong cầu mật nghĩa. Lúc ấy, đức Như Lai liền trải tọa cụ ngồi yên, rồi giảng nói cho thính chúng trong hội nghe về nghĩa lí sâu xa kín nhiệm.

mật nghị

To talk secretly.

mật ngưu cung

(密牛宮) Phạm: Bfiwa. Hán âm: Tì lê sa. Cũng gọi Ngưu mật cung, Kim ngưu cung, Ngưu cung. Cung ở phía đông viện Ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo,1 trong 12 cung, tương đương với vị trí của mặt trời vào tháng 4 trong đường Hoàng đạo. Kinh Tú Diệu quyển thượng (Đại 21, 387 hạ) nói: Sao Mão thứ 10, 3 chân, sao Tất 4 chân, sao Tuy 2 chân, là vị trí của Thái bạch; hình vị thần này giống như con bò, vì thế được gọi là Ngưu cung. Trong các Mạn đồ la, hình tượng của cung này đều được vẽ hình con bò đực đang nằm.

mật ngữ

lời nói vi mật, hàm súc nhiều ý nghĩa, được dùng để chỉ lời dạy sâu xa nhất của chư Phật, vì chỉ có bậc Bồ Tát trí huệ lớn mới hiểu thấu được. ; Samdha (skt)—Ngôn ngữ bí mật của tông Chân Ngôn—Occult or esoteric expression—Secret language—Secret meaning. ; (密語) I. Mật Ngữ. Chỉ cho ngôn ngữ và giáo chỉ của đức Phật có ẩn chứa chân nghĩa bí mật. Ví dụ như câu Như Lai đã vào Niết Bàn là lời nói ẩn chứa ý nghĩa Như Lai thường trụ. II. Mật Ngữ. Chỉ cho chân ngôn đà la ni của Mật giáo. [X. Bí Tạng Kí Q.đầu]. (xt. Đà La Ni, Chân Ngôn).

mật nhân

Nhân bí mật—The esoteric, occult, recondite cause. ; (密因) I. Mật Nhân. Nhân hạnh để đạt đến Bí mật tạng (tức là quả đức liễu nghĩa mà Như Lai đã chứng ngộ được). Lăng Nghiêm Kinh Sớ quyển 8 phần 2 (Đại 39, 933 thượng) nói: Người đã đạt đến quả vị trong 3 đời vào Bí mật tạng, lấy đó làm Nhân, là Mật nhân vậy. Hơn nữa, đại định này đủ tất cả hạnh, chẳng phải chỗ mà hàng phàm phu và Tiểu thừa có thể biết được, cho nên gọi là Mật. Mật tức là Nhân vậy. [X. bài Tựa kinh Thủ Lăng Nghiêm; kinh Đại Nhật Q.5]. II. Mật nhân. Chỉ cho bản địa của Phật và Bồ Tát. Lăng Nghiêm Kinh Sớ quyển 6 phần 2 (Đại 39, 914 hạ) nói: Việc mà bậc Thánh chí chân làm lợi ích cho chúng sinh, rốt cuộc không thể suy lường được; đó là cái nhân chính của bậc Thánh, chỉ có Ngài chứng biết, cho nên gọi là Mật nhân. [X. kinh Thủ Lăng Nghiêm Q.6].

mật pháp

Những phương pháp bí mật—Esoteric methods.

mật phó

Mật truyền hay chỉ truyền bằng miệng chứ không bằng văn tự—To pass down esoterically, or by word of mouth. ; (密付) Cũng gọi Mật thụ, Mật phụ, Mật truyền. Bậc thầy đích thân truyền trao Phật pháp cho đệ tử một cách kín đáo. Cũng tức là phương thức dùng tâm truyền tâm của Thiền tông. Khi người tu học tỏ ngộ được mày mặt thật xưa nay của chính mình và được thầy chứng minh, ấn khả thì gọi là Mật truyền mật phó. Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục bảo kính tam muội (Đại 47, 525 hạ) nói: Pháp ấy như thế, Phật Tổ mật phó (kín đáo trao cho), nay ông đã được, phải khéo giữ gìn. [X. Viên ngộ tâm yếu].

mật phùng ấn

See Hỏa Ấn, Hỏa Giới, Hỏa Viện, and Kim Cang Đàm.

mật quán

Lễ quán đảnh theo truyền thống Mật tông—The baptism of the esoteric sect.

mật sư bạch thố

(密師白兔) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cuộc đối thoại giữa Thiền sư Mật Sư (Thần Sơn Tăng Mật) và Tổ của tông Tào Động là Thiền sư Động Sơn Lương Giới. Tắc 56 trong Thung Dung Lục quyển 4 (Đại 48, 262 hạ) chép: Một hôm, Mật sư bá đang đi với ngài Động Sơn, chợt thấy 1 con thỏ trắng (bạch thố) chạy qua trước mặt, Mật sư nói: Tài thật! Ngài Động sơn hỏi: Sư hiểu thế nào? Mật sư bá đáp: Như kẻ nghèo hèn được làm quan to. Ngài Động sơn bảo: Đã già đời rồi mà còn nói năng như vậy à! Mật sư bá lại hỏi: Vậy còn ông thì hiểu thế nào? Ngài Động sơn đáp: Bao đời quyền quí, bây giờ nổi trôi!.

mật thiết

Intimately.

mật thành biệt ích

(密成別益) Cũng gọi Minh thành biệt ích. Tiếng dùng nói về Lợi ích của sự đào thải trong thời Bát Nhã thuộc 5 thời do Tổ thứ 9 của tông Thiên Thai là ngài Trạm Nhiên đặt ra. Nghĩa là ở thời Bát Nhã có sự dung thông giữa pháp môn Đại thừa và Tiểu thừa, tuy tự thân hành giả không biết, mà người khác cũng không hay, nhưng trong sự âm thầm kín nhiệm ấy đã có những căn cơ thành thục để nhập vào giáo pháp chân thực, thậm chí thành tựu ngang bằng với Biệt giáo. Về nghĩa Mật thành biệt ích, trong Tứ Giáo Nghi Tập Chú Bán Tự Đàm quyển 1, ngài Si Không, người Nhật Bản, giải thích rằng Mật nghĩa là âm thầm kín đáo, mình và người khác đều không hay biết; thành biệt ích tức là Nhất thừa, đại biểu cho pháp Đại thừa, là pháp môn rõ suốt giới nội, giới ngoại. Bởi vậy, nếu căn cứ vào sự thành thục của các căn cơ chân thực bên trong thì tương đương với giáo nghĩa của Biệt giáo giải thích về pháp môn giới nội, giới ngoại, cho nên gọi là Thành biệt ích, chứ không phải chỉ cho pháp môn tu hành của Biệt giáo. [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng (Mông nhuận)]. (xt. Chuyển Giáo Dung Thông).

mật thành thông ích

(密成通益) Cũng gọi Mật thành thông nhân. Tiếng dùng nói về Lợi ích của sự quở trách trong thời Phương Đẳng do Tổ thứ 9 tông Thiên Thai là ngài Trạm Nhiên đặt ra. Nhị thừa Tạng giáo tuy bị Phật quở trách trong thời Phương đẳng, nhưng trong sự chẳng hay chẳng biết đã có những căn cơ thành thục để nhập vào giáo pháp chân thực, cho nên được sự lợi ích của Thông giáo, là cửa đầu tiên của Đại thừa. Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết quyển 10 phần 2 (Đại 46, 446 trung), nói: Phương đẳng dùng Tam tạng làm phụ, dùng Tam giáo làm chính để bài bác Nhị thừa, làm cho hàng Nhị thừa Mật thành Thông giáo. [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng (Mông nhuận); Tứ Giáo Nghi Tập Chú Bán Tự Đàm Q.1 (Si Không)].

mật thôn

(密村) Một đơn vị tăng chúng trực thuộc Khang Thôn trong các chùa viện của phái Cách lỗ, Phật giáo Tây tạng. Thông thường, chư tăng cùng 1 địa phương hoặc cùng 1 bộ lạc tập hợp lại thành đơn vị, số người từ 5 vị đến 50, 60 vị không nhất định. Trong đó cử ra 2 chức Chấp sự là Mật thôn cách cán và Mật thôn cát mễ. Mật thôn cách cán là vị Trưởng lão của Mật thôn, giám sát và chỉ đạo về giới luật và học vấn của chúng tăng trong Mật thôn, còn chức Mật thôn cát mễ thì phụ trách việc quản lí kinh tế trong Mật thôn.

mật thất

(密室) I. Mật Thất. Nhà đóng cửa kín mít. Ma Ha Chỉ Quán quyển 7 thượng (Đại 46, 89 trung), nói: Trí quán trong định như đèn trong nhà kín (mật thất) soi tỏ các vật. II. Mật Thất. Ví dụ cảnh giới tuyệt đối. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 16 (Đại 51, 330 trung), chép: Hỏi: Thế nào là mật thất? Sư đáp: Gấp gáp quá thì không tới được. Hỏi: Thế nào là người trong mật thất? Sư trả lời: Chẳng ngồi trên lưng trâu!. III. Mật Thất. Chỉ cho nhà tu học Mật giáo. Ngoài ra, trong Thiền lâm cũng có câu:Mật thất bất thông phong (Nhà kín không thoáng gió), là chỉ cho cảnh giới không có sự ứng dụng linh hoạt của Thiền, hoặc ví dụ sự thân mật giữa thầy và trò. Nhân Thiên Nhãn Mục quyển 6 (Đại 48, 329 thượng), chép: Ngài Vân Môn nói: Nhà kín chẳng thoáng gió, về nhà ngồi một mình.

mật tích

Dấu tích bí mật—Secret or invisible tracks.

mật tích kim cang lực sĩ

Vajrapani (skt)—Vị lực sĩ hộ trì Đức Phật—A guardian of Buddhas, driving away all yaksa disturbers—See Kim Cang Mật Tích.

mật tích kim cương lực sĩ ai luyến kinh

(密迹金剛力士哀戀經) Gọi đủ: Phật nhập Niết Bàn Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ Ai Luyến Kinh. Cũng gọi Phật Nhập Niết Bàn Ai Luyến Kinh, Lực Sĩ Ai Luyến Kinh. Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Tiền Tần, không rõ dịch giả, được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung kinh này tường thuật việc khi đức Phật sắp vào Niết Bàn, Lực sĩ Kim Cương Mật Tích buồn rầu thương xót, than rằng: Đức Như Lai giống như vị thuyền trưởng vĩ đại trong biển cả sinh tử, lại sắp lìa bỏ chúng sinh để nhập diệt; lòng Lực sĩ xúc động, luyến thương, sầu khổ quá đến nỗi tâm thần hôn mê. Lúc bấy giờ đại địa chấn động, núi lở sao rơi, 4 phương lửa dậy; sau nhờ trời Đế Thích ngăn chặn lại, đức Phật liền dạy (Đại 12, 1117 hạ): Các hành đổi dời, không lúc nào dừng nghỉ, không nên tin vào thân này, vì nó là pháp vô thường, sớm còn tối mất.

mật tích kim cương lực sĩ hội

(密迹金剛力士會) Cũng gọi Mật tích Kim cương lực sĩ kinh, Mật tích kinh. Kinh, 7 quyển, do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại Chính Tạng tập 11, tức là phần kinh từ quyển 8, đến quyển 14 trong kinh Đại Bảo Tích. Nội dung kinh này trước hết nói rõ về thân mật, ngữ mật, ý mật của Bồ Tát và Như Lai; sau đó là lời thỉnh cầu của Bí mật chủ xin hộ trì kinh này trong 500 năm sau Phật nhập diệt. Ngoài ra, bản dịch khác của kinh này là kinh Như Lai bất tư nghị bí mật đại thừa. (xt. Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh).

mật tích lực sĩ

Vajrapani (skt)—See Kim Cang Mật Tích. ; (密迹力士) Phạm: Guhyapada vajra, Saịđa. Hán âm: Tán đa. Cũng gọi Chấp kim cương thần, Mật tích kim cương, Kim cương mật tích, Kim cương lực sĩ, Mật tích sĩ, Mật tích. Vị thần Dạ xoa tay cầm chày Kim cương bảo vệ Phật pháp. Cứ theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 thì Mật Tích Lực Sĩ là vua Dạ xoa, thân, khẩu, ý, rất linh hoạt bí ẩn, khó biết được nên gọi là Mật tích. Lại vì được gần gũi đức Phật mong được nghe những sự tích bí mật của Phật nên gọi là Mật tích. Ngoài ra, vì vị thần này tay cầm chày kim cương để thủ hộ Phật pháp nên cũng gọi là Kim cương thần, Kim cương thủ, Chấp kim cương. Thông thường Mật Tích Lực Sĩ là 1 trong 2 vị tôn được thờ ở 2 bên cửa chùa. [X. hội Mật Tích Kim Cương Lực Sĩ trong kinh Đại Bảo Tích Q.9; Đại Đường Tây Vực Kí Q.6; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.1].

Mật tông

密宗; C: mì-zōng;|Trường phái Mật giáo tại Trung Quốc, do ba Cao tăng Ấn Ðộ đưa vào trong thế kỉ thứ 8. Ðó là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākāra-siṃha, 637-735), Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi, 663-723) và Bất Không Kim Cương (不空金剛; s: amoghavajra, 705-774). Thiện Vô Uý được phong là Quốc sư, là người dịch kinh căn bản của tông này là Ðại Nhật kinh (s: mahāvairocana-sūtra) ra chữ Hán, Bất Không dịch các Man-tra và Ðà-la-ni của bộ kinh đó.|Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm Man-tra, phép bắt Ấn (s: mudrā) và sử dụng Man-đa-la cũng như các lần Quán đỉnh (灌頂; s: abhiṣeka). Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lí do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Bất Không là thầy của ba nhà vua Trung Quốc và sau khi Sư mất thì Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Ấn Ðộ đến nữa.|Trường phái này được Ðại sư Không Hải (空海; j: kūkai) đưa qua Nhật dưới tên Chân ngôn tông (j: shingon-shū), là một trong những tông phái quan trọng của nền Phật giáo Nhật Bản. Không Hải là môn đệ của Ðại sư Huệ Quả, một môn đệ của Bất Không.

mật tông

Mantrayana (skt)—Tên gọi chung Phật giáo Mật tông được dùng để chỉ các hình thức Phật giáo về sau nầy tại Ấn Độ, như tông Chân Ngôn (Mantrayana), Kim Cang thừa (Vajrayana), hay Câu Sinh Khởi thừa (Sahajayana). Người sáng lập ra Mật Tông tại Trung Quốc là ngài Thiện Vô Úy (see Thiện Vô Úy) vào khoảng năm 720 sau Tây Lịch. Du Già có nghĩa là 'định trí,' và cũng mang ý nghĩa 'chứa đựng những mật thuyết.' Tông phái nầy dạy cho Phật tử những sự hành trì bí hiểm trong việc tu tập đạo Phật. Tông phái nầy có một thời kỳ phồn thịnh đến nỗi đồng hóa cả Bát Nhã tông và Tứ Luận tông. Tuy nhiên, trong tất cả các xu hướng của Phật giáo thì giáo lý Mật tông cho đến ngày nay vẫn còn bị xem thường và ngộ nhận. Các phép tu luyện Mật tông (tantras) bị nhiều người kết tội, bắt nguồn chủ yếu từ những truyền thống Ấn Độ giáo suy đồi và những việc làm bất chính mà các truyền thống nầy gây ra trong đám người ngu dốt. Thành kiến chống lại mọi cái gì thuộc về Mật tông như thế mạnh mẽ đến nỗi ngay cả các học giả cũng từ bỏ không muốn dính dáng gì đến nó, kết quả là mọi sự nghiên cứu vô tư về giáo phái nầy đã bị gác bỏ suốt một thời gian dài—The general name of Tantric Buddhism is given to the later aspects of Buddhism in India, i.e., esoteric, mantra, or esoteric school, or the Tantra School. It is also called the True Word sect (Chân Ngôn tông—Mantrayana), or the secret teachings, the Vajrayana, or the Sahajayana. The founder of the Esoteric school in China was Subhakara (Shan-Wu-Wei) around 720 A.D. Yoga means 'to concentrate the mind,' and also means 'containing the secret doctrines.' This sect, which taught the magic observances in Buddhist practices. At one time, this school was so prosperous that the prajna school and the Four Madhyamika Treatises school were absorbed in it. However, among all the aspects of Buddhism, its Tantric teachings have until now been the most neglected and misunderstood. The Tantras against which accusations have been hurled originated mostly from the decadent forms of late Hindu tradition and the malpractices which they gave rise to among the ignorant. The prejudice, which in this way grew against everything Tantric, was so strong that even scholars refused to have anything to do with it, and consequently any impartial investigation or research was neglected for a long time—For more information, please see Chân Ngôn Tông, and Câu Sinh Khởi Tông. ; (密宗) Cũng gọi Chân ngôn tông, Du Già tông, Kim Cương Đính tông, Tì Lô Giá Na tông, Khai Nguyên tông, Bí mật thừa. Tông phái Đại thừa nương vào pháp môn Chân ngôn đà la ni, tu diệu hạnh Ngũ tướng, Tam mật, để mong cầu thành Phật ngay nơi thân này, là 1 trong 13 tông của Phật giáo Trung Quốc và 1 trong 8 tông của Phật giáo Nhật Bản. Tông này chủ yếu lấy kinh Kim Cương Đính làm Kinh tạng, kinh Tô Bà Hô làm Luật tạng và luận Thích Ma Ha Diễn làm Luận tạng. Các kinh điển của Mật giáo được gọi chung là Mật kinh. Tông này được gọi là Mật giáo (đối lại với Hiển giáo) là vì hiển bày giáo lí của mình là rất sâu xa bí mật, mà coi các giáo phái Đại thừa khác là nông cạn hời hợt. Hơn nữa, tông này còn cho rằng giáo pháp của 2 bộ Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới do Pháp thân Phật Đại Nhật Như Lai tuyên thuyết mới chính là cảnh giới tự nội chứng của Phật, rất huyền nhiệm bí mật, cho nên tự xưng là Mật. Vả lại, vì không được truyền dạy pháp này cho những người chưa thụ quán đính, cho nên gọi là Mật. Về giáo nghĩa hiển bày chân lí thì không có sự sai biệt giữa Hiển giáo và Mật giáo, nhưng về mặt hành trì thì Mật giáo có những nghi quĩ đặc thù, khác với các tông phái khác, nên thích hợp với danh xưng Mật tông. Lại nữa, sự học vấn và tu hành của Mật giáo, gọi là Mật học. Bậc tông sư hoặc tăng đồ tu học Mật giáo, gọi là Mật gia. Đồ chúng tu hành Mật giáo, gọi là Mật chúng; đạo tràng tu học Mật giáo, gọi là Mật tràng. Mật tông Ấn Độ bắt nguồn từ kinh điển Phệ đà cổ xưa, về sau lưu hành trong các tầng lớp dân gian. Trong quá trình phát triển lâu dài, Phật giáo dần dần đã thấm vào tín ngưỡng dân gian và chịu ảnh hưởng cũng như tiếp thu, ứng dụng những chú thuật Mật pháp này để bảo vệ giáo đồ, tiêu trừ tai chướng, xưa nay thông thường gọi những mật pháp này là Tạp mật. Mật tông cũng du nhập các vị thần của Phệ đà vào Phật giáo, nên đã xuất hiện rất nhiều các vị Minh Vương, Bồ Tát, chư thiên, chân ngôn chú ngữ v.v... Bởi vậy, trong các kinh điển Đại thừa ở thời kì sau lại thấy xuất hiện 1 loại kinh điển lấy Đà la ni (Phạm: Dhàraịi) làm chủ. Trong Kinh tạng và Luật tạng Pàli có kinh điển nói những bài kệ Hộ thân mà Phật giáo đồ ở các vùng Tích Lan biên tập thành kinh gọi là kinh Minh hộ (Pàli: Paritta), cho đến nay vẫn còn truyền tụng; lại có kinh Đại hội (được thu vào Trường A Hàm) là kinh điển liệt kê tên các hội chúng nghe pháp. Các kinh điển này được cho là khởi nguồn của Mật giáo đà la ni và Mạn đồ la sau này. Đến khoảng thế kỉ IV, mới xuất hiện kinh điển độc lập chuyên nói về chú pháp như kinh Khổng Tước Minh Vương, cho rằng miệng niệm chân ngôn, trong tâm thống nhất, kiến lập đàn bằng đất hình vuông, hình tròn, cúng dường các vị tôn, nghiêm tu nghi lễ v.v... sẽ được công đức bất khả tư nghị. Đến hậu bán thế kỉ VII, Phật giáo Ấn Độ tiến vào thời kì toàn thịnh. Lúc này đã có kinh, giáo, quĩ, nghi. Mật giáo chân chính mới khai triển, dùng chân ngôn, Đà la ni làm trung tâm để phát triển triết học Phật giáo Đại thừa, đặt định nền tảng vững chắc. Đây là Mật tông thuần chính (thuần mật), lấy kinh Đại nhật và kinh Kim cương đính làm chủ. Kinh Đại nhật được thành lập tại Ấn độ ở nửa sau thế kỉ VII, lấy Đại nhật Như lai làm trung tâm, cùng với các vị tôn đã được nói trong các kinh điển Tạp mật mà tập đại thành Thai tạng giới mạn đồ la. Kinh Đại Nhật kế thừa giáo thuyết kinh Hoa Nghiêm, chủ trương dựa trên sự tướng hiện thực mà trực tiếp quán xét chân tướng của vũ trụ. Kinh Kim Cương Đính được thành lập muộn hơn, lưu hành ở Nam Ấn Độ, kế thừa học thuyết của phái Phật giáo Du Già, đề xướng pháp quán Ngũ tướng thành thân(trong thân tâm có đủ 5 tướng đồng nhất với Bản tôn). Thuần mật lấy 2 bộ kinh trên làm nền tảng, không bao lâu đã bị suy đồi tại Ấn Độ. Vào thế kỉ thứ VIII, Thuần mật được ngài Thiện vô úy truyền đến Trung Quốc, rồi sau được truyền đến Nhật Bản trở thành tông Chân ngôn. Mật giáo hưng khởi vào thế kỉ VII, đến thế kỉ XI, Phật giáo Ấn Độ suy vong thì Mật giáo cũng rơi vào tình trạng đình đốn. Tuy nhiên, tại Trung Ấn Độ, Mật giáo vẫn hưng thịnh và sau khi dung nhập với giáo thuyết của phái Tính lực (Phạm: Zàktà) thì trở thành Mật giáo tả đạo, đặc biệt chú trọng thuyết Đại lạc (Phạm:Mahàsukha- vàda) trong kinh Kim Cương Đính của Thuần mật. Từ đầu thế kỉ VIII trở đi, Mật giáo được truyền vào Tây Tạng, trở thành nền tảng của Lạt ma giáo. Đến thế kỉ X và XI, 1 phần kinh điển của Mật giáo được lưu truyền và phiên dịch ở Trung Quốc, nhưng chưa có ảnh hưởng về mặt tư tưởng. Tóm lại, theo lịch sử phát triển của Mật giáo mà nhận xét, thì Tạp mật hưng khởi trước, kế đến là Thuần mật và sau cùng là Mật giáo tả đạo. Cứ theo truyền thuyết, Đại Nhật Như Lai, cùng 1 lúc vượt qua 3 thời, ở nơi cung điện Pháp giới tâm tại cõi trời Sắc cứu kính, đối với các nội quyến thuộc như ngài Kim Cương Tát Đỏa v.v... từ trong tâm lưu xuất pháp nội chứng, tự thụ pháp lạc mà tuyên thuyết kinh Đại Nhật, rồi lại ở cung Chân ngôn mà tuyên thuyết kinh Kim Cương Đính, sau do Kim Cương Tát Đỏa kết tập (Thai Mật của Nhật Bản cho rằng ngài A Nan cũng tham dự). Sau Phật nhập diệt khoảng 800 năm, Bồ Tát Long Mãnh (Long thụ) trì chú vào 7 hạt cải trắng để mở tháp sắt cao 16 trượng (biểu thị 16 vị Bồ Tát trong Kim Cương Giới) ở Nam Thiên trúc, đích thân nhận 2 bộ Đại kinh này từ ngài Kim Cương Tát Đỏa (Thai Mật thì cho rằng bộ kinh Đại Nhật ở ngoài tháp sắt và do Bồ Tát Văn Thù trao cho). Về sau, ngài Long Mãnh truyền cho ngài Long Trí. Trải qua khoảng 700 năm (tương truyền, ngài Long Trí Thọ 7, 8 trăm tuổi) sau, Đại kinh lại được truyền cho ngài Thiện Vô Úy. Vì vậy, Mật giáo tôn ngài Long Mãnh là Tổ sư khai sơn, kinh Đại Nhật và kinh Kim Cương Đính là Thánh điển căn bản và vị Giáo chủ là đức Đại Nhật Như Lai (Phật Tì Lô Giá Na). Vì việc thuyết pháp khác với đức Thích Tôn nên gọi là Kim Cương Thừa. Kim Cương Thừa, ở Nhật Bản là chỉ cho Thuần mật, ở Ấn Độ và người Âu châu thì quen chỉ cho Mật giáo tả đạo (Kim cương thừa, tiếng Anh là Tantric Buddhism). Kim cương thừa, theo nghĩa rộng, được chia làm 2 phái: 1. Phái hữu: Lấy kinh Đại Nhật làm chủ, tức chỉ cho Thuần mật, mang đậm sắc thái chủ nghĩa thần bí, muốn nhờ vào chú thuật để thực hiện sự hợp nhất giữa vũ trụ và tinh thần, hầu chi phối thế lực tự nhiên và vận mệnh con người; phái này còn được gọi là Chân ngôn thừa (Phạm: Mantrayàna) và được truyền từ Trung quốc đến Nhật bản, trở thành Chân ngôn tông, gọi là Đường Mật hoặc Đông Mật. Còn Mật giáo do tông Thiên Thai truyền ở Nhật Bản thì gọi là Thai Mật. 2. Phái tả: Lấy kinh Kim Cương Đính làm chủ, tức là Mật giáo tả đạo, khẳng định bản năng của con người, muốn ngay nơi bản năng ấy mà tìm ra lẽ chân thực, nên gọi là Kim cương thừa, Dị hành thừa, (Phạm: Shahajì-yàna) hoặc gọi là Tính lực phái, nói theo lập trường của Phật giáo nguyên thủy thì phái này là bàng môn tả đạo. Phái này coi trọng pháp Song thân và từ thế kỉ IX trở đi, kết hợp với Ấn Độ giáo nên ngày càng thêm hưng thịnh. Về sau, phái này được truyền vào Tây Tạng, trở thành nòng cốt của Tạng Mật. Tạng Mật tức là Mật tông của Phật giáo Tây Tạng do các ngài Liên Hoa Sinh và Tịch Hộ truyền vào từ thế kỉ VIII. Ở giai đoạn đầu sau khi du nhập, Mật pháp Tây Tạng phần nhiều thực hành theo 2 bộ Hành và Sự mà trong sử gọi là Cựu mật pháp. Đến đầu thế kỉ XI, các ngài Nhân Khâm Tang Ba v.v... phiên dịch các loại kinh điển của Mật giáo Du Già, trong sử gọi là Tân mật pháp. Từ đó, Mật pháp của 2 bộ Du Già và Vô Thượng Du Già được thịnh hành và truyền thừa trong các phái Phật giáo Tây Tạng. Mật tông truyền sang Trung Quốc cũng trải qua 2 giai đoạn này. Mật tông truyền đến Trung Quốc bắt đầu vào thời Tam Quốc, khi ấy ngài Chi Khiêm ở nước Ngô đã dịch nhiều bộ kinh Mật giáo rất nổi tiếng như: Bát Cát Tường Thần Chú Kinh, Vô Lượng Môn Vi Mật Trì Kinh, Hoa Tích Đà La Ni Thần Chú Kinh, Trì Cú Thần Chú Kinh, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Chú Kinh, Thất Phật Thần Chú Kinh v.v... Sang đời Đông Tấn thì có ngài Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch kinh Đại Quán Đính Thần Chú, kinh Khổng Tước Vương; ngài Trúc Đàm Vô Lan dịch 25 bộ như: Kinh Đà Lân Bát Chú, kinh Ma Ni La Chiên Thần Chú v.v... Đến đời Đường, ngài Nghĩa Tịnh cũng dịch hơn 10 bộ kinh Mật giáo như: Kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Như Ý Tâm Đà La Ni, kinh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Chú Tạng Trung Nhất Tự Chú Vương, Xưng tán Như Lai công đức thần chú v.v... Ngoài ra, trong các kinh điển của Hiển giáo cũng có rất nhiều chú đà la ni, không thể kể hết. Nhưng từ trước đến đây chỉ là những kinh Tạp mật được truyền dịch mà thôi. Đến khoảng năm Khai Nguyên (713- 741) đời vua Đường Huyền Tông, ngài Thiện Vô Úy và ngài Kim Cương Trí là 2 vị Đại sư thuộc Thuần mật, ở Trường An, lần lượt phiên dịch và truyền bá các kinh điển căn bản, thiết lập đạo tràng Quán đính, Mật tông Trung Quốc đến đây mới thực sự có hệ thống. Ngoài ra, còn có các ngài Bất Không, Nhất Hạnh, Huệ Quả, Biện Hoằng, Tuệ Nhật, Duy Thượng, Nghĩa Viên, Nghĩa Minh, Không Hải, Nghĩa Tháo, Tuệ Tắc v.v... đều truyền trì Thuần mật. Trong đó, ngài Không Hải (Đại sư Hoằng pháp) người Nhật Bản, đến Trung Quốc vào năm Trinh nguyên 20 (804) đời Đường, theo ngài Huệ quả thụ pháp, sau trở về nước, hoằng dương Mật giáo và trở thành vị Tổ của tông Chân ngôn Nhật Bản. Sau Pháp nạn Hội xương, tiếp đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại, chiến tranh loạn lạc kéo dài, kinh sớ của Mật tông hầu hết đều bị thiêu hủy. Từ đó về sau, nói đến Du Già chỉ còn là hình thức pháp sự mà thôi. Đến đời Tống tuy có các ngài Pháp hiền, Thí hộ, Pháp thiên v.v... truyền dịch kinh điển, nghi quĩ Mật giáo nhưng chưa thể phục hưng được. Vả lại, Mật tông ở thời này đã khác với Mật tông đời Đường. Mật tông đời Đường có thể nói Mật tông thống nhất, có hệ thống truyền thừa. Còn Mật tông đời Tống thì phân hóa, thông tục, lấy việc sùng bái vị Bản tôn đặc định và tụng trì chân ngôn đà la ni của Ngài làm chủ. Là vì đời Tống du nhập Thời luân đát đặc la của Mật tông Ấn Độ nên đã lập ra nhiều vị Bản tôn Minh vương Phẫn nộ rất uy mãnh. Đời Nguyên ấn định Lạt ma giáo làm Quốc giáo, mà Lạt ma giáo thực ra chỉ là Phật giáo Tây Tạng lấy Mật tông làm nền tảng. Về sau, vì các vua chúa nhà Nguyên quá ưu đãi Lạt ma giáo, nên đã đưa đến tình trạng thối nát của phái Hồng giáo, khiến ngài Tông Khách Ba phải ra tay làm cuộc cải cách và thành lập phái Hoàng giáo để phục hưng nền Phật giáo thuần túy của Tây Tạng. Điểm bất đồng lớn nhất giữa Hiển tông và Mật tông là ở sự truyền thừa và nghi quĩ tu trì. Đối với Hiển tông, về giáo lí thì cố nhiên phải có thầy truyền trao, nhưng về pháp môn tu trì thì không nhất định có thầy truyền trao và nghi quĩ nghiêm khắc, như Ngũ Trùng Duy Thức Quán của Du Già, Đại tiểu chỉ quán của tông Thiên Thai, dù không có thầy truyền thụ cũng có thể tự mình tu tập. Trái lại, nghi lễ của Mật tông thì rất phiền phức, các tông giáo trên thế giới không có tông giáo nào sánh kịp. Từ lúc mới qui y thụ Quán đính đến bậc Kim cương Thượng sư có 1 trình tự nhất định, không thể vượt qua được, khác rất xa với phương tiện giản dị của Hiển giáo. Nói về giáo nghĩa thì Hiển tông cho rằng Ứng thân Phật thuyết pháp, Mật tông thì lại cho rằng Pháp thân Phật thuyết pháp. Hiển tông cho rằng người tu hành phải trải qua 3 đại a tăng kì kiếp, tu lục độ vạn hạnh mới chứng được quả Phật, còn Mật tông thì chủ trương chỉ cầu tu diệu hạnh Tam mật cũng có thể thành Phật ngay ở kiếp này. Ngoài ra, còn có thuyết Lục đại duyên khởi, lục đại tức là 6 yếu tố đất, nước, lửa, gió, không và thức, 6 yếu tố này là bản thể của tất cả các pháp, có năng lực tạo ra tất cả, từ chư Phật cho đến căn thân, thế giới của hết thảy chúng sinh, tức là 4 thứ pháp, 3 loại thế gian đều do 6 yếu tố này sinh ra. Căn cứ vào Lục đại duyên khởi này mà lập nghĩa chúng sinh và Phật bình đẳng, 4 thứ Mạn đồ la Đại, Tam, Pháp, Yết cũng do Lục đại duyên khởi mà hiển hiện đức tướng của pháp thân. Nếu chúng sinh tu trì theo diệu hạnh tam mật, khi khế chứng tích đức thì liền thành Phật ngay ở đời hiện tại này. Tam mật gia trì diệu hạnh tức là tay kết khế ấn, miệng tụng chân ngôn của chư Phật và tâm trụ nơi Tam ma địa. Nếu tu hành đúng như lời dạy, thân khẩu ý (tam mật) của hành giả có thể tương ứng với thân khẩu ý của chư Phật, thì mau chóng được thành Phật. Thân khẩu ý của chư Phật tức là 4 thứ Mạn đồ la Đại, Tam, Pháp, Yết: Đại mạn đồ la là thân của chư Phật, Tam ma da mạn đồ la là ý mật, Pháp mạn đồ la là khẩu mật, còn Yết ma mạn đồ la là nghiệp dụng của 3 Mạn đồ la kia. Tóm lại, 4 thứ Mạn đồ la đầy đủ tam mật của chư Phật và bao nhiếp tất cả Mạn đồ la. Mạn đồ la được y cứ vào kinh Đại Nhật mà kiến lập, gọi là Mạn đồ la Thai tạng giới; Mạn đồ la được y cứ vào kinh Kim Cương Đính mà kiến lập, gọi là Mạn đồ la Kim Cương Giới. Mạn đồ la Thai tạng giới biểu thị cho lí bản giác, cho nên cũng gọi là Nhân mạn đồ la; Mạn đồ la Kim Cương Giới biểu thị cho trí thủy giác, cho nên cũng gọi là Quả mạn đồ la. Đối với các Mạn đồ la được y cứ vào các kinh khác mà kiến lập như Biệt tôn mạn đồ la v.v... thì 2 bộ Mạn đồ la Kim Cương Giới và Thai tạng giới này được gọi là Tổng đức mạn đồ la. Ngoài ra, tất cả Phật, Bồ Tát đều là những Tôn vị cá biệt được phát xuất từ Pháp thân Đại Nhật Như Lai, mỗi vị đại biểu cho đức riêng của mình, là bản tôn của 1 môn. Trái lại, Đại Nhật Như Lai biểu thị cho đức chung, là bản tôn của phổ môn. Trong các Tôn vị của 1 môn, thì 4 đức Phật như A Súc, Bảo Sinh v.v... tượng trưng cho 4 trí như Đại viên kính v.v... Bốn vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát thân cận, hợp lại thành 16 vị Đại Bồ Tát, lại cộng chung với 4 Bồ Tát Ba La Mật, 4 Nhiếp Bồ Tát và 8 Bồ Tát cúng dường thì có tất cả 37 tôn vị, đều phát sinh từ trí Pháp giới thể tính của đức Đại Nhật Như Lai. Nếu hành giả thường dùng tín tâm thanh tịnh, an trụ nơi tam muội Kim cương tát đỏa, tu trì diệu hạnh Ngũ tướng thành thân, thì liền được khế chứng Phật trí, viên mãn Phật thân, thành tựu sự nghiệp lợi tha. Mật tông còn y cứ vào kinh Đại Nhật và luận Bồ đề tâm mà lập thuyết Thập trụ tâm. Chín tâm từ Dị sinh đê dương đến Cực vô tự tính là trụ tâm của thế gian, xuất thế gian, Tiểu thừa, Đại thừa, Nhị thừa, Nhất thừa ... còn tâm Bí mật trang nghiêm thứ 10 là trụ tâm của Chân ngôn Mật tông. Cũng tức là Mật tông chủ trương phàm thánh không 2, 1 mảy bụi, 1 pháp đều trụ nơi nguồn trí lúc ban đầu, tất cả đều là đất tâm của Tam ma địa, cho nên đối với bậc thượng căn thượng trí, thì những động tác như đi đứng ngồi nằm, mở miệng nói năng, cho đến lòng nhớ niệm tưởng, tất cả đều thành Tam mật vô tướng. Còn đối với những người căn cơ yếu kém thì nương vào pháp môn Tam mật hữu tướng mà tu trì, cũng có thể tương ứng với đức của các tôn vị thuộc Tam bộ, dùng ngay thân hiện tại mà chứng Phật bồ đề. Tóm lại, đặc chất tư tưởng của Mật tông là: Về phương diện Giáo chủ, Mật tông cho rằng Hiển giáo do Ứng thân Thích Ca nói ra, còn Mật giáo là do Pháp thân Đại nhật Như Lai nói. Về phương diện Pháp thân thì Pháp thân của Hiển giáo là lí thể không hình không tướng, còn Pháp thân của Mật giáo thì có hình có tướng và có thể nói pháp. Về phương diện pháp được nói ra, thì cảnh giới Bát bất trung đạo vắng lặng của tông Tam luận, cảnh giới Thắng nghĩa đế lìa lời nói của tông Pháp tướng, cảnh giới Một niệm ba nghìn chẳng thể nghĩ bàn của tông Thiên Thai, cảnh giới Thập Phật tính hải quả phần bất khả thuyết của tông Hoa Nghiêm v.v... rốt ráo đều có thể nói được. Về phương diện biểu hiện chân lí, thì tất cả các pháp đều là tượng trưng cho chân lí, mà biểu hiện một cách cụ thể loại tượng trưng này, chính là nghi quĩ của Mật tông. Về phương diện thành Phật mau hay chậm, ngoại trừ Thiền tông, còn các tông khác thì đều phải trải qua 3 a tăng kì kiếp, nhưng Mật tông thì chủ trương thành Phật ngay nơi thân này. Về phương diện tông giáo, thì 2 bộ Mạn đồ la của Mật tông biểu hiện thế giới quan, lấy tư tưởng chủ nghĩa nhân cách làm nền tảng, do vô lượng vô số chư Phật, Bồ Tát tạo nên thế giới viên dung đầy đủ: Một tức tất cả, tất cả tức một. Về phương diện hệ thống giáo nghĩa, thì Mật tông là 1 loại vũ trụ nhân sinh quan hợp nhất: Lí và Trí không hai, đức Đại Nhật Như LAI có đầy đủ nhân cách vĩ đại ấy; thế giới của Trí pháp thân gọi là Kim cương giới và thế giới của Lí pháp thân gọi là Thai tạng giới. Nhờ sức tu trì có thể khuếch đại thế giới Trí hợp nhất với thế giới Lí, đó chính là Lí, Trí không hai. (xt. Lục Đại, Tứ Mạn Tướng Đại, Tức Thân Thành Phật, Chân Ngôn Tông).

mật tông đạo thứ đệ luận

(密宗道次第論) Tạng: Gnags-rim chen-po. Cũng gọi Chân ngôn đạo thứ đệ, Mật tông đạo thứ đệ. Thăng biến chủ đại kim cương trì đạo thứ đệ khai hiển nhất thiết mật yếu luận. Tác phẩm, do ngài Tông khách ba soạn vào năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) đời Minh, Trung Quốc. Nội dung sách này chia thứ tự tu tập Mật thừa làm 5 phẩm: 1. Thanh tịnh bồ đề tâm: Phẩm này giống với Hiển giáo. 2. Bốn loại quán đính: Phẩm này chung cho cả 4 bộ Mật điển. 3. Thủ hộ luật nghi và tam muội da: Luật nghi là giới chung của hàng Bồ Tát như 18 giới nặng và 46 giới nhẹ nói trong luận Bồ Tát Địa và Tập Bồ Tát Học Xứ. Còn Tam muội da là giới riêng của Mật thừa, tùy theo các loại kinh sách nói về mật chú mà có các thuyết khác nhau về giới này. 4. Thứ tự sinh khởi để thành thục căn khí. 5. Thứ tự trọn đủ, thành tựu Tất địa đạt giải thoát: Chủ yếu lấy các pháp Thời luân và Mật tập của Vô Thượng Du Già làm chỉ thú. Bộ luận này và bộ Bồ đề đạo thứ đệ là 2 bộ luận lớn của ngài Tông khách ba, đại biểu cho cách nhìn hoàn chỉnh và hệ thống tư tưởng của ngài về Phật giáo. Sách giải thích về bộ luận này là Tục bộ Đổng Kiến Lập Quảng Thích của Đại sư Khắc Chủ, đệ tử của ngài Tông Khách Ba soạn.

mật tại nhữ biên

(密在汝邊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Pháp do Phật và Tổ truyền đều chẳng phải là bí mật mà bí mật chính ở nơi thân mình. Tắc 23 trong Vô Môn Quan (Đại 48, 296 thượng) nói: Nếu ông chiếu rọi trở lại mặt mũi của chính mình, thì bí mật ở liền ngay bên ông.

Mật tạng

kho tàng bí mật. Kinh điển Đại thừa do Phật thuyết giảng ý nghĩa rất sâu rộng. Vì hàng tiểu căn, trung căn không thể hiểu nổi, không thể làm theo cho nên gọi là Mật tạng, nhưng đối với hàng trí giả thì không phải là bí mật.

mật tạng

Tạng kinh điển của Mật tông—The esoteric canon. ; (密藏) I. Mật Tạng. Chỉ cho giáo pháp bí mật, tức là giáo pháp trực tiếp hiển bày các pháp vốn tự nhiên như thế (Pháp nhĩ tự nhiên); giáo pháp này vượt ngoài giáo pháp do Phật nhục thân (sinh thân Phật) tuyên thuyết. Giáo pháp này chỉ có Phật pháp thân với Phật pháp thân mới hiểu được, nên gọi là Mật tạng. II. Mật Tạng. Chỉ cho 3 tạng Kinh, Luật, Luận của Mật giáo.

mật tạng khai thiền sư di cảo

(密藏開禪師遺稿) Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Mật Tạng Đạo Khai soạn vào đời Minh. Nội dung: -Quyển thượng gồm 50 thiên: Thướng Từ Thánh Hoàng Thái Hậu, Mộ Khắc Đại Tạng Văn, Khắc Đại Tạng Nguyện Văn v.v... -Quyển hạ gồm 64 thiên: Thướng Bản Sư Hòa Thượng, Dữ Từ Hải Quán Cư Sĩ v.v...

mật tịnh độ

The Pure Land of Vairocana.

mật tự

Chữ bí mật của Đức Tỳ Lô Giá Na, hay của chư Phật và chư Bồ Tát—The esoteric letter of Vairocana, or of Buddha or bodhisattva. ; (密字) Chỉ cho những chữ chủng tử của các vị tôn, vì nghĩa lí của những chữ này rất sâu xa kín nhiệm, nên gọi là Mật tự. Phẩm Nhất thiết Như Lai nội hộ ma Kim cương nghi quĩ trong kinh Du Kì (Đại 18, 265 hạ), nói: Tụng trì ngôn ngữ Kim cương, Mật tự hóa thành mưa đá, đánh phá các thần Tu la, cho đến tất cả trăng sao. Chữ Mật trong câu kinh trên chỉ cho chữ (raô), là chủng tử của Bồ Tát Kim cương ngữ. Mật tức là Ngữ mật, dùng lửa chữ thiêu đốt tất cả ngôn ngữ có tướng mà trở về với vô ngôn.

mật viện

(密院) Cũng gọi Cử ba. Học viện chuyên tu Mật tông trong hệ thống 3 ngôi chùa lớn ở Lạp Tát (Tạng: Lhasa), Tây Tạng. Mật viện được chia làm Thượng viện và Hạ viện, mỗi viện gồm 500 người. Thượng Mật viện cũng gọi là Cư đôi, Hạ mật viện cũng gọi là Cư mạch, coi trọng khổ hạnh, chủ yếu tu tập 3 Kim cương (Tập mật, Thắng lạc, Đại uy đức) và các mật pháp khác như Kim cương hộ pháp v.v... Chúng tăng trong Mật viện đại khái có thể chia làm 2 bậc: 1. Những người chưa thi đậu học vị Cách tây ở 3 chùa lớn mà vào thẳng Cử ba, thì gọi là Cát nhiên ba, lấy việc học tập nghi quĩ sự tướng của Mật bộ làm chính, ít nghiên cứu giáo lí hơn. 2. Những người tu học ở học viện Hiển giáo trong 3 ngôi chùa lớn, đã hoàn tất 13 khóa trình và thi đậu học vị Cách tây, lại phải qua cuộc khảo thí của tự viện mà đậu, thì trao cho học vị Đa nhiên ba; kế đến, qua cuộc khảo thí Đại pháp hội tại Lạp Tát mà đậu, thì lại trao học vị Lạp nhiên ba. Chỉ có những người đã được học vị Lạp nhiên ba cách tây, mới được xét theo niên hạn và tư cách trong Mật viện để thăng cấp. Sau khi đảm nhiệm các chức vụ duy trì trật tự trong Cử ba như Cách quí, Ông tắc, thì mới có thể mong lên chức Kham bố, rồi thăng Pháp vương v.v...

mật vân thiền sư ngữ lục

(密雲禪師語錄) Tác phẩm, 13 quyển, do ngài Mật Vân Viên Ngộ (1566-1642) soạn vào đời Minh, ngài Sơn Ông Đạo Mân biên tập, được ấn hành vào đời Minh. Nội dung sách này như sau: - Từ quyển 1 đến quyển 4 là Thướng đường ngữ, quyển 5 là Thướng đường khai thị, Tiểu tham; quyển 6 là Vấn đáp cơ duyên; quyển 7 là Khám biện cơ duyên, Pháp ngữ, Thư vấn (thượng), quyển 8 là Thư vấn (hạ) quyển 9 là Cử cổ, Niêm cổ, quyển 10 là Đại cổ, Tụng cổ (thượng), quyển 11 là Tụng cổ (hạ), Phật Tổ tán, Tự tán, quyển 12 là kệ, Phật sự, quyển 13 thu chép các bài minh tháp, hành trạng, niên phổ v.v...

Mật Vân Viên Ngộ

(密雲圓悟, Mitsuun Engo, 1566-1642): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Mật Vân (密雲), người Huyện Nghi Hưng (宜興縣), Phủ Thường Châu (常州府, Tỉnh Giang Tô), họ Tương (蔣), sinh tháng 11 năm thứ 45 niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) nhà Minh, tánh tình ngay thẳng, chuyên làm nghề nông. Khi nhìn thấy cuốn Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經), ông bắt đầu hiểu được tông môn, có hôm nọ khi nhìn thấy người ta chất củi, chợt tỉnh ngộ. Năm 29 tuổi, ông xuống tóc xuất gia với Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳). Đến năm thứ 30 (1602) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), ông đi theo thầy đến Yến Đô (燕都, Tỉnh Hà Bắc) và làm Giám Viện của Long Trì Viện (龍池院) ở Thường Châu (常州). Một ngày kia, khi đi ngang qua Đồng Quan Sơn (銅棺山), ông hoát nhiên đại ngộ. Đến tháng 2 năm thứ 39, lúc 46 tuổi, ông được truyền thừa y bát của Chánh Truyền. Đến tháng 2 năm thứ 42, gặp lúc thầy qua đời, ông chuyên hầu hạ bên tháp thầy suốt 3 năm và đến tháng 4 năm thứ 45 thì kế thừa trú trì Long Trì Viện. Vào năm thứ 3 (1623) niên hiệu Thiên Khải (天啓), ông chuyển đến Thông Huyền Tự (通玄寺) ở Thiên Thai Sơn (天台山), rồi đến tháng 3 năm sau thì dời sang Quảng Huệ Tự (廣慧寺) ở Hải Diêm (海塩), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Phúc Kiến). Đến tháng 3 năm thứ 3 (1630) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông xây dựng Vạn Phước Tự (萬福寺) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến), rồi đến làm trú trì Quảng Lợi Tự (廣利寺) ở Dục Vương Sơn (育王山), Minh Châu (明州, Tỉnh Triết Giang) và chuyển sang Cảnh Đức Tự (景德寺) trên Thiên Đồng Sơn (天童山). Vào năm thứ 14 (1641) niên hiệu Sùng Trinh, ông đến trú trì Đại Báo Ân Tự (大報恩寺) ở Kim Lăng (金陵). Năm sau ông trở về Thông Huyền Tự và vào ngày 7 tháng 7 thì thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Ông có để lại bộ Mật Vân Thiền Sư Ngữ Lục (密雲禪師語錄) 12 quyển.

mật vương

(密王) Chỉ cho đức Đại Nhật Như Lai, Giáo chủ của Mật giáo. Vì Đại Nhật tượng trưng cho tâm vương, cho nên gọi là Mật Vương.

mật ý

(密意) Ý kín đáo, tức chỉ cho ý chỉ đặc thù của Phật ẩn kín sau những lời nói mà chúng sinh không thể hiểu được, cho nên gọi là Mật. Chẳng hạn như ý thực Như Lai thường trụ ẩn kín sau từ Niết Bàn. [X. kinh Tối Thắng Vương Q.1].

mật đa la

(密多羅) Phạm: Mitra. Hán dịch: Bằng hữu. Vị thần trông coi về ban ngày được nói đến trong sách Phệ đà của Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. Uy lực và trí tuệ của vị thần này cũng ngang với Bà lâu na (Phạm:Varuịa), 2 thần này được xem như vợ chồng, thường gọi là Mật đa la bà lâu na. Bà lâu na trông coi ban đêm, 2 vợ chồng cùng thống trị trời và đất, bảo vệ thế giới, trừng phạt tội ác, cho nên được tôn xưng là Vũ trụ đại vương, Chân lí chúa tể.

mật điển

Esoteric (tantric—occult) scripturs.

mật đà hội

(密陀繪) Cũng gọi Mật đà tăng. Tranh sơn dầu. Trong nghệ thuật hội họa của Phật giáo cũng có loại tranh này. Mật đà tăng là phiên âm của chữ Murdasen, 1 thứ tiếng địa phương ở nước Ba tư.

mật đàm

Secret talk.

mật đàn

(密壇) Gọi đủ: Bí mật đàn. Đối lại: Đại đàn. Chỉ cho đàn dùng để tu hành Mật pháp. Nói theo nghĩa rộng thì Đại đàn cũng gọi là Mật đàn, nhưng thông thường, Mật đàn là đàn hình chữ nhật được đặt ở trước tượng Phật, trên có bày các vật trang trí như mâm Kim cương, lò hương, 6 thứ đồ đựng, đồ đựng thức ăn uống, đế đèn, bình hoa v.v... mỗi thứ 1 cặp, không thể chưng bày Tứ diện khí như Đại đàn được.

mật đặc la giáo

(密特羅教) Mithraism Tông giáo của nước Ba tư (Iran) thời xưa, là 1 trong những tông giáo được lưu truyền bí mật trong thời Đế quốc La mã, thuộc hệ thống Thiên giáo. Theo Thánh điển A phàm sĩ tháp (Zend Avesta) thì vị chủ thần của tông giáo này là thần cách trọng yếu trực thuộc Mã triết đạt (Ahura Mazda). Chủ thần ấy chính là Mật đặc la (Mithra), vì thế nên gọi là Mật đặc la giáo. Ma ni giáo bắt nguồn từ tông giáo này. Mật đặc la vốn là 1 trong những vị thần linh của Ba tư và Ấn độ thời thượng cổ, bắt đầu vào khoảng 2.000 năm trước Tây lịch, có thể thấy trong Lê câu phệ đà. Sau khi Thiên giáo nổi lên thì Mật đặc la không thấy nói đến nữa. Nhưng sau lại thấy được lưu hành ở vùng Mesopotamia rồi từ đó truyền sang phương Tây. Vào khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, ở Ba tư và Ấn độ, Mật đặc la được tin thờ như là vị thần chúa tể của thiên không, rồi dần dần được coi là thần Thái dương, thần Ánh sáng, thần làm cho muôn vật tốt tươi và rất được sùng bái. Đối chiếu với Mật đa la (Phạm:Mitra) trong thần thoại Phệ đà, ta thấy Ấn độ và Ba tư có chung 1 thần Thái dương. Đây là đề tài rất thú vị cho những môn Tỉ giảo ngôn ngữ học, Tỉ giảo thần thoại học Ấn Âu v.v...Căn cứ vào nội dung giáo nghĩa và tín ngưỡng mà nhận xét, có thể nói tông giáo này trực thuộc hệ thống Thiên giáo. Do đề xướng thuyết bình đẳng, ăn bánh thánh, nên mọi tín đồ đều được phúc âm như nhau mà đạt đến cảnh giới sống lại. Thế giới hiện thực đấu tranh nhị nguyên thiện và ác, cũng do sự giáng lâm của thần Mật đặc la mà có thuyết Người thiện chết được sống lại, kẻ ác chết bị tiêu diệt. Năm 67 trước Tây lịch, tín ngưỡng Mật đặc la được truyền vào La mã, đến thời Đế quốc La mã hưng thịnh, vì Mật đặc la là chủ thần nên tín ngưỡng Mật đặc la trở thành tông giáo Mật đặc la. Đến thế kỉ II Tây lịch, tông giáo này dựa vào thế lực mạnh mẽ của Đế quốc La mã mà truyền bá ở châu Âu và có xu thế phát triển thành tông giáo thế giới. Nhưng về sau, do sự nổi lên của Cơ đốc giáo nên vào khoảng thế kỉ IV, Mật đặc la giáo suy vi và tín đồ của tông giáo này hoặc cải tín theo Cơ đốc giáo, hoặc theo Ma ni giáo.

mật ước

Secret agreement.

mật ấn

Mật ấn của Phật và Bồ Tát ám chỉ hạnh nguyện của các ngài—The esoteric digital sign of a Buddha or bodhisattva indicative of his vow. ; (密印) I. Mật Ấn. Dấu ấn bí mật, sâu kín. Cứ theo giáo nghĩa căn bản của Mật giáo, chư Phật và Bồ tát đều có bản thệ, để nêu tỏ bản thệ ấy, các ngài thường dùng 10 ngón tay, hoặc 1 động tác đặc biệt nào đó của thân thể để hiển bày thành các thứ tướng, đó là ấn tướng ấn khế của bản thệ, cho nên gọi là ấn; lại vì cái nghĩa lí chỉ thú được nêu ra đó rất là sâu kín mầu nhiệm, cho nên gọi là mật. Phẩm Mật ấn kinh Đại nhật (Đại 18, 30 thượng), nói : Nên biết thân thể cử động hay bất động đều là Mật ấn; những lời uyển chuyển nói ra đều là Chân ngôn. II. Mật Ấn. Trong Thiền tông, 1 lúc nào đó, người học chợt thấy suốt bản tính mà tỏ ngộ cội nguồn sinh tử mê vọng, bậc thầy bèn nhân cơ duyên ấy mà ấn khả cho. Cảnh giới được ấn khả chứng minh ấy chính là tâm ấn trực tiếp, thân thiết giữa thầy và trò, người khác không thể nào thấy biết được, nên gọi là Mật ấn. III. Mật Ấn. Pháp hiệu của Thiền sư Chân truyền thuộc tông Lâm tế sống vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. (xt. Mật Ấn Chân Truyền).

mật ấn chân truyện

(密印真傳) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào cuối đời Minh, đầu đời Thanh, người Tự châu (tỉnh Tứ xuyên), họ Lí, hiệu Mật ấn, là đệ tử nối pháp của ngài Linh ẩn Ấn văn. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, một hôm nghe 1 vị lão tăng nói về tông chỉ giáo ngoại biệt truyền nên qui hướng Thiền tông và thờ ngài Linh ẩn làm thầy. Sau sư trụ ở chùa Thắng giác, núi Quảng phúc, huyện Kiềm dương, tỉnh Hồ nam, Xiển dương tông phong. Năm Khang hi 17 (1678) sư tịch, thọ 54 tuổi. Sư có tác phẩm: Mật ấn thiền sư ngữ lục.

mật ấn như lai

The secret seal from Tathagata.

mật ấn quán đỉnh

(密印灌頂) Pháp Quán đính này không thực hành các tác pháp của Cụ chi quán đính mà chỉ truyền trao ấn khế chân ngôn, là pháp Quán đính đặc biệt chỉ thực hành đối với các đệ tử có căn tính ưu việt. Pháp quán đính này tương đương với Ấn pháp quán đính hoặc Dĩ tâm quán đính (là quán đính chỉ ở trong tâm tưởng). Còn Cụ chi quán đính là pháp Quán đính được truyền trao cho các đệ tử có tư cách thâm sâu, có năng lực mạnh mẽ, được quả báo phúc thí vô tận và đầy đủ các điều kiện cần thiết mới thụ được. (xt. Cụ Chi Quán Đính).

mật ấn thiền sư ngữ lục

(密印禪師語錄) Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Mật ấn Chân truyền (1625-1678) soạn vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, các ngài Như vĩ v.v... biên tập, được thu vào Đại tạng đời Minh. Nội dung 12 quyển được chia ra như sau: Quyển 1 đến quyển 3 là phần Thướng đường, quyển 4 là phần Tiểu tham, quyển 5, quyển 6, là phần Khai thị, quyển 7 là phần Pháp ngữ, Mục ngưu tụng, Thập vô ngữ tụng, quyển 8 là phần Cơ duyên, Khám biện, Niêm vấn đại tụng, quyển 9 là phần Tụng cổ, quyển 10 là phần Sơn cư, Tập thi, Thủy cư, quyển 11 là phần Tạp kệ, Chư tán, Chân tán, quyển 12 là phần Tạp kệ, Sớ dẫn, Tháp lục...

mật ấn tự

(密印寺) Chùa ở núi Đại qui, phía tây huyện Ninh hương, tỉnh Hồ nam, do ngài Qui sơn Linh hựu (771-853) sáng lập vào khoảng năm Nguyên hòa (806-820) đời Đường, theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Bùi hưu. Khi ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch, đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu, kế thừa pháp vị tiếp hóa người học, thì chùa này trở thành nơi phát tích của tông Qui ngưỡng. Trước kia, trong chùa có các di tích nổi tiếng như: Lầu chứa kinh, am Bùi công, mộ Bùi công, cư thất của ngài Ngưỡng sơn, động Hương nghiêm, cầu Hồi tâm, Bàn đà thạch v.v..., nhưng rất tiếc chùa đã hoàn toàn bị hủy diệt trong chiến tranh thời cận đại! [X. Đại thanh nhất thống chí Q.277].

Mật-lặc Nhật-ba

蜜勒日波; T: milarepa [mi-la-ras-pa]; 1052-1135, có nghĩa là »Mật-lặc, người mặc áo vải khổ hạnh«;|Một trong những thánh nhân nổi tiếng nhất của Tây Tạng. Ông là đệ tử của Mã-nhĩ-ba (t: marpa) và bị thầy thử thách khắc nghiệt. Cuối cùng ông được truyền giáo pháp Ðại thủ ấn và Na-rô lục pháp (nāro chodrug), sáng lập tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng vẫn còn nhắc nhở lại cuộc đời phiêu bồng và những bài ca của ông.||H 43: Mật-lặc Nhật-ba đang lắng tai nghe âm thanh của chư thiên và pháp. Cũng có thuyết nói rằng, tay phải của ông đang ở trong một tư thế tu tập của Ðại cứu kính (t: dzogchen). Dây nịt quàng vai và đầu gối (s: yogapaṭṭa) của ông được nhiều Du-già sư (s: yogin) sử dụng trong những chu kì thiền định nhọc nhằn, giúp thiền giả ngồi vững, không ngả ra phía trước hoặc phía sau.|Mật-lặc Nhật-ba sinh tại Tây Tạng, gần biên giới Nepal. Lúc lên bảy, cha mất, gia sản bị chiếm đoạt, gia đình ông bị đối xử tàn tệ. Nhằm trả thù nhà, Mật-lặc Nhật-ba đi học huyền thuật, dùng phép hô phong hoán vũ giết hại nhiều người. Ăn năn về hành động đó, ông tìm gặp một vị Ðạo sư của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) là Rong-ton xin học nhưng vị này khuyên nên gặp Mã-nhĩ-ba. Ông trở thành môn đệ của Mã-nhĩ-ba lúc 38 tuổi, nhưng suốt sáu năm chỉ được xem là kẻ hầu, và Mã-nhĩ-ba thử thách khắc nghiệt làm ông hầu như kiệt sức và gần muốn tự vận.|Với thời gian đó, ác nghiệp của ông đã được trả xong, Mã-nhĩ-ba bắt đầu dạy pháp cho ông bằng cách sống viễn li cô tịch, truyền cho giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa) và đặc biệt chú trọng phép phát triển Nội nhiệt (Na-rô lục pháp). Chỉ với một chiếc áo vải mỏng manh, ông sống năm này qua năm khác trong cái lạnh của Hi-mã-lạp sơn, chỉ chuyên tâm thiền định trong các hang động. Sau chín năm độc ẩn, ông bắt đầu thu nhận môn đệ, trong đó có vị y sĩ Ðạt-bảo Cáp-giải (t: dvags-po lharje) là người quan trọng nhất. Mật-lặc Nhật-ba để lại nhiều bài ca bất hủ cho đời sau và những bài ca này được ghi lại trong một tập dưới tên Thập vạn ca (100.000 bài hát của Mật-lặc Nhật-ba).

Mậu

(戊): tên gọi 1 trong 10 can, ở vị trí thứ 5; trong ngũ hành nó là Thổ; về phương hướng nó ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng.

mậu

1) Tươi tốt thịnh vượng: Flourishing. 2) Cung thứ năm trong mười cung: The fifth of the ten stems.

mậu già thụ

(茂遮樹) Mậu già, Phạm: Moca. Cũng gọi Sơn quì, Hản thái (Horse ruddish tree). Tên khoa học: Moringa Pterygosperma, Gat. Loại thực vật thuộc họ Moringeae, mọc hoang ở vùng rừng núi Hi Mã Lạp Sơn ở Ấn độ và được trồng tại các khu vực nhiệt đới trên thế giới. Thân cây thấp, gỗ mềm, vỏ cây mịn láng, rễ rất cay, có thể ăn được, lá hình bầu dục, dài từ 32 đến 64 phân tây, là loại lá kép trên có 4 đến 6 lá nhỏ, dàn xếp giống như cánh chim; hoa có đường kính 1 tấc, màu trắng, bầu nhụy có quả giống như quả đậu, dài khoảng hơn 30 phân, rũ xuống. Nước trái cây này là 1 trong 8 thứ nước uống. Bách nhất yết ma quyển 5 chú thích (Đại 24, 478 thượng): Nước trái cây ấy giống như nước chuối chín.

Mậu Kỷ

(戊己): tên gọi 2 can trong 10 can (Giáp [甲], Ất [乙], Bính [丙], Đinh [丁], Mậu [戊], Kỷ [己], Canh [庚], Tân [辛], Nhâm [壬], Quý [癸]). Mậu (戊) ở vị trí thứ 5, Kỷ (己) ở vị trí thứ 6; trong Ngũ Hành hai can này thuộc về Thổ; về phương hướng chúng ở vị trí trung ương; về thời khắc thì trước giờ ngọ 4 tiếng, hay trước sau giờ ngọ hai tiếng. Cho nên, Mậu Kỷ là tên gọi khác của Thổ. Như trong bài Tư Vô Tà Trai Tán (思無邪齋贊) của Tô Thức (蘇軾, 1036-1101) nhà Tống có câu: “Bồi dĩ Mậu Kỷ, canh dĩ Xích Xà (培以戊己、耕以赤蛇, bồi thêm đất tốt, canh nơi rắn đỏ).” Theo tín ngưỡng của Đạo Mẫu, Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (中央戊己土德黃虎神官) còn là tên gọi của một trong 5 vị quan Ngũ Hổ. Trong Tế Công Thiền Sư Độ Thế Diệu Pháp Kinh (濟公禪師度世妙法經) của Đạo Giáo có câu: “Đông phương Giáp Ất Mộc, nhân chi dức dã; Nam phương Bính Đinh Hỏa, lễ chi đức dã; trung ương Mậu Kỷ Thổ, tín chi đức dã; Tây phương Canh Tân Kim, nghĩa chi đức dã; Bắc phương Nhâm Quý Thủy, trí chi đức dã (東方甲乙木、仁之德也、南方丙丁火、禮之德也、中央戊己土、信之德也、西方庚辛金、義之德也、北方壬癸水、智之德也, phương Đông là Giáp Ất thuộc về Mộc, là đức của lòng nhân; phương Nam là Bính Đinh thuộc về Hỏa, là đức của lễ; ở trung ương là Mậu Kỷ thuộc về Thổ, là đức của niềm tin; phương Tây là Canh Tân thuộc về Kim, là đức của nghĩa; phương Bắc là Nhâm Quý thuộc về Thủy, là đức của trí).”

mậu la tam bộ lô

(茂羅三部盧) Phạm:Mùlasthànapura. Một vùng đất nằm bên Đông Ngạn sông Sindh (Ấn hà) thuộc Tây bắc Ấn Độ. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 và Từ Ân truyện quyển 4, thì vùng đất này thời bấy giờ (thế kỉ VII) lệ thuộc nước Trách ca, dân cư phần nhiều thờ thiên thần, ít tin Phật pháp. Ở đây có hơn 10 ngôi chùa nhưng phần lớn đã đổ nát; rất ít tăng đồ, mà học tập cũng không chuyên. Có 8 ngôi đền thờ trời, ngoại đạo xen lẫn, đặc biệt cúng tế pho tượng bằng vàng của thần Mặt trời; các bậc Vương hầu, quí tộc ở Ấn Độ thời ấy đều đưa các thứ trân quí đến đây cúng thần để cầu phúc. Thành phố Multan ở Pakistan hiện nay chính là nền cũ của kinh đô xứ Mậu la tam bộ lư ngày xưa. Thành phố Multan là thủ phủ của người Mallies vào thế kỉ thứ IV trước Tây lịch. Khi Alexander Đại đế chinh phục Ấn Độ, tương truyền ông ta đã bị trọng thương ở gần thành phố này.

mậu đạt la

Thủ Đà La—Sudra (skt)—Giai cấp nông nô—The caste of farmers and slaves.

mậu địa

Parthia—Tây An Quốc—An Tây Quốc.

mắc

1) Busy—Occupied. 2) To be caught in.

mắc cỡ

1) To be ashamed. 2) Mimosa (flower).

mắc kẹt

To be busy.

mắc lừa

To be cheated.

mắc nạn

To meet with an accident—To fall into misfortunes.

mắc nợ

To be in debt (indebted).

mắng

To reproach—To blame—To scold—To curse.

mắng chửi

To scold and curse.

mắng nhiếc

To scold severely.

mắt

Eye.

mắt dữ

Wicked eyes.

mắt ganh tỵ

Jealous eyes.

mắt láo liên

Shifty eyes—Dishonest eyes.

mắt nhìn xuống

Eyes cast down

mắt thường

Naked eyes.

mắt thịt

(nhục nhãn): là con mắt hữu hình mà chúng sanh hiện có, cũng gọi là mắt phàm. Xem thêm năm thứ mắt.

mắt thụt sâu

Eyes were sunk

mắt tinh

Sharp eyes.

mắt tâm

Drishti (skt)—The mind's eye—Wisdom—Insight.

mặc

1) Mặc quần áo: To dress—To wear. 2) Trầm mặc: Silent—Profound—Secret—Dark.

mặc bất nhị

(默不二) Cũng gọi Mặc nhiên vô ngôn, Duy ma nhất mặc. Cư sĩ Duy ma cật im lặng để biểu thị ý chỉ Bồ tát vào pháp môn bất nhị. Cứ theo phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung, thì 32 vị Bồ tát như ngài Văn thù sư lợi v.v... đàm luận về vấn đề vào pháp môn Bất nhị với cư sĩ Duy ma cật. Trong đó, đối với nguyên lí tương đối sinh và diệt, thiện và ác v.v... mỗi vị Bồ tát đều đưa ra đáp án vượt ngoài vấn đề tuơng đối này và cho đó là pháp môn bất nhị. Bồ tát Văn thù thì cho rằng tất cả pháp vô ngôn vô thuyết, vô thị vô thức, lìa các vấn đáp, đó mới là vào pháp mônbất nhị. Trái với sự giải thích của các vị Bồ tát như ngài Văn thù v.v...cư sĩ Duy ma lặng thinh không nói (mặc bất nhị) để hiển bày chân lí cao siêu nhất của việc vào pháp môn bất nhị, ngài Văn thù liền khen như thế mới chân chính vào pháp môn bất nhị. Phẩm Nhập bất nhị pháp môn trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển trung (Đại 14, 551 hạ), nói: Bồ tát Văn thù sư lợi hỏi cư sĩ Duy ma: Chúng tôi đều đã nói quan điểm của mình rồi, bây giờ xin Nhân giả cho biết thế nào là Bồ tát vào pháp môn bất nhị? Cư sĩ Duy ma lặng thinh không nói. Ngài Văn thù sư lợi khen rằng: Hay thật! Hay thật! Cho đến chỗ không còn văn tự ngôn ngữ, thế mới là chân thực vào pháp môn bất nhị. (xt. Nhập Bất Nhị Pháp Môn).

Mặc chiếu thiền

默照禪; C: mòzhǎo-chán; J: mokushō-zen; nghĩa là »Thiền của sự giác ngộ thầm lặng«;|Danh từ này xuất hiện và được sử dụng trong thời Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác (1091-1157) trong tông Tào Ðộng để phân biệt với phương pháp Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế. Theo phương pháp Mặc chiếu thiền, thiền sinh không cần phải dùng Công án mà chỉ việc ngồi trầm tĩnh tu tập Thiền định.|Như Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế, danh từ Mặc chiếu thiền được sử dụng ám chỉ dòng Tào Ðộng. Nói đến Mặc chiếu thiền là người ta nghĩ ngay đến Tào Ðộng.

mặc chiếu thiền

Dùng cái tâm năng quán im lặng (mặc) nhìn hẳn một điểm (sở quán) gọi là Mặc chiếu, nghĩa là im lặng chiếu soi một chỗ. Cũng như im lặng khán chữ “vô” là lọt vào mặc chiếu tà thiền, vì trụ nơi im lặng chẳng thể đạt đến nơi kiến tánh, nên cũng thuộc vào thiền bệnh. ; Mặc Chiếu Thiền (của tông Tào Động), nhấn mạnh đến sự chuyển hóa và giác ngộ từ bên trong. Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, những chứng cớ có thẩm quyền mà các nhà mặc chiếu thiền lấy làm chỗ tựa cho tin tưởng của mình như sau—Silent illumination Zen, emphasizes on inner transformation and inner realization. According to Zen Master D.T. Suzuki in the Essays in Zen Buddhism, Book II, the authoritative facts upon which the Zen quietists based their belief are mentioned as follows: Khi Đức Thích Ca Mâu Ni ở Ma Kiệt Đà, Ngài đóng cửa không lên tiếng trong ba tuần. Đây há không phải là một điển hình về lối mặc chiếu của Phật hay sao? Khi ba mươi hai vị Bồ Tát tại thành Tỳ Xá Li bàn bạc với ngài Duy Ma cật về pháp môn bất nhị, cuối cùng Duy Ma Cật im lặng không nói một lời và Đức Văn Thù khen hay (See Appendix K—Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát). Đây há không phải là im lặng mặc chiếu của một vị đại Bồ Tát hay sao? Khi Tu Bồ Đề ngồi trong hang đá không nói một lời, không thuyết một câu về Bát Nhã Ba La Mật. Đây há không phải là sự im lặng của một vị đại Thanh Văn hay sao? Khi thấy Tu Bồ Đề ngồi lặng lẽ như thế trong hang đá, Thiên Đế Thích bèn rãi hoa trời cúng dường, cũng không nói một lời. Đây há không phải là sự im lặng của phàm phu? Khi Bồ Đề Đạt Ma dạo đến Trung Quốc, ngài ngồi suốt chín năm trên Thiến Lâm, lãnh đạm với tất cả những ngôn giáo. Đây há không phải là sự im lặng của tổ sư hay sao? Và Lục Tổ mỗi khi thấy một vị Tăng đến, ngài liền quay mặt vào tường ngồi lặng lẽ. Đây há không phải là sự im lặng của thiền sư hay sao?—“When Sakyamuni was in Magadha he shut himself up in a room and remained silent for three weeks. Is this not an example given by the Buddha in the practice of silence? When thirty-two Bodhisattvas at Vaisali discoursed with Vimalakirti on the teaching of non-duality, the latter finally kept silence and did not utter a word, which elicited an unqualified admiration from Manjusri. Is this not an example given by a great Bodhisattva of the practice of silence? When Subhuti sat in the rock-cave he said not a word, nor was any talk given out by him on Prajnaparamita. Is this not an example of silence shown by a great Sravaka? Seeing Subhuti thus quietly sitting in the cave, Sakrendra showered heavenly flowers over him and uttered not a word. Is this not an example of silence given by an ordinary mortal? When Bodhidharma came over to China he sat for nine years at Shao-Lin forgetful of all wordy preachings. Is this not an example of silence shown by a patriarch? Whenever the Sixth Patriarch saw a monk coming, he turned towards the wall and sat quietly. Is this not an example of silence shown by a Zen Master? Nhưng Thiền sư Đại Huệ bảo rằng chỉ mặc tọa không thôi thì chẳng được việc gì cả, vì nó chẳng đưa đến đâu, vì sự chuyển y không khởi lên trong tâm của mình, để nhờ đó mà người ta bước vào thế giới đa thù bằng một nhãn quan khác hăn bây giờ. Những thiền gia mặc tọa nào mà chân trời tâm trí không vương lên tới cái trình độ gọi là im lặng tuyệt đối khôn dò, họ quờ quạng trong hang tối vĩnh viễn. Họ không thể mở ra con mắt trí tuệ. Vì vậy họ cần được dắt dẫn bởi bàn tay của một thiền sư—But Ta-Hui declares that mere quiet sitting avails nothing, for it leads nowhere, as no turning-up takes place in one's mind, whereby one comes out into a world of particulars with an outlook different from the one hitherto entertained. Those quietists whose mental horizon does not rise above the level of the so-called absolute silence of unfathomability, grope in the cave of eternal darkness. They fail to open the eye of wisdom. This is where they need the guiding hand of a genuine Zen master. Rồi sau đó Đại Huệ tiếp tục nêu lên những trường hợp chứng ngộ do một minh sư hướng dẫn; đồng thời lưu ý sự cần thiết tham cần một bậc đã tỏ ngộ và lật đổ hẳn toàn bộ thủ thuật im lặng vốn cản trở sự tăng trưởng tâm linh Thiền. Sự lật đổ toàn bộ cơ cấu này ở đây được. Đại Huệ nói theo một thuật ngữ của kinh là 'nhập lưu vọng sở,' nghĩa là bước vào dòng và bỏ mất cái chổ trú,' ở đó mãi mãi không còn ghi dấu sự đối đãi của động và tĩnh nưa. Ông nêu lên bốn trường hợp—Ta-Hui then proceeds to give cases of enlightenment realized under a wise instructor, pointing out how necessary it is to interview an enlightened one and to turn over once for all the whole silence-mechanism, which is inimical to the growth of the Zen mind. This up-turning of the whole system is here called by Ta-Hui after the terminology of a sutra: 'Entering into the stream and losing one's abode, where the dualism of motion and rest forever ceases to obtain. He gives four examples: • Hòa Thượng Thủy Lạo nhân khi đang tỉa cây đằng, hỏi Mã Tổ, 'Ý của Tổ từ Tây đến là gì?' Mã Tổ đáp, 'Lại gần đây ta bảo cho.' Rồi khi Thủy Lạo vừa đến gần, Mã Tổ tống cho một đạp té nhào. Nhưng cái té nhào nầy khiến cho tâm của Thủy Lạo hoát nhiên đại ngộ, bất giác đứng dậy cười ha hả, tuồng như xãy ra một việc không ngờ, nhưng rất mong mỏi. Mã Tổ hỏi, 'Nhà ngươi thấy cái đạo lý gì đây?' Thủy Lạo đáp, 'Quả thật, trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa, chỉ trên đầu một sợi lông mà biết ngay được cả căn nguyên. Rồi Đại Huệ bàn: :Khi đã chứng ngộ như vậy Thủy Lạo không còn chấp trước vào sự im lặng của Chánh định nữa, và vì ngài không còn dính mắc vào đó nên vượt hẳn lên hữu vi và vô vi; ở trên hai tướng động và tĩnh. Ngài không còn nương tựa những cái ở ngoài chính mình nữa mà mở ra kho tàng tự kỷ, nên nói: 'Ta đã thấy suốt căn nguyên rồi!' Mã Tổ biết thế và không nói thêm gì nữa. Về sau, khi được hỏi về kiến giải Thiền của mình, ngài chỉ nói: 'Từ thuở nếm cái đạp nặng nề của Tổ cho đến giờ, ta vẫn cười hoài không thôi.”—When Shui-Lao was trimming the wistaria, he asked his master, Ma-Tsu, 'What is the idea of the Patriarch's coming over here from the West?' Ma-Tsu replied, 'Come up nearer and I will tell you.' As soon as Shui-Lao approached, the master gave him a kick, knocking him right down. This fall, however, all at once opened his mind to a state of enlightenment, for he rose up with a hearty laugh, as if an event, most unexpected and most desired for, had taken place. Asked the master, 'What is the meaning of all this?' Lao exclaimed, 'Innumerable, indeed, are the truths taught by the Buddhas, all of which , even down to their very sources, I now perceive at the tip of one single hair.' Ta-Hui then comments: “Lao, who had thus come to self-realization, is no more attached to the silence of Samadhi, and as he is no more attached to it he is at once above assertion and negation, and above the dualism of rest and motion. He no more relies on things outside himself but carrying out the treasure from inside his own mind exclaims, 'I have seen into the source of all truth.' The master recognizes it and does not make further remarks. When Shi-Lao was later asked about his Zen understanding , he simply announced, 'Since the kick so heartily given by the master, I have not been able to stop laughing.' • Vân Môn hỏi Động Sơn: “Ở đâu đến đây?” “Tra Đô.” “Mùa hạ ở đâu?” “Ở Báo Từ, Hồ Nam.” “Rời khỏi núi ấy lúc nào?” “Thánh tám, ngày hai mươi lăm.” Vân Môn kết luận, “Tha ngươi ba chục hèo, dù ngươi đáng tội.” Về cuộc thăm hỏi của Động Sơn với Vân Môn, Đại Huệ bảo rằng: “Động Sơn thật là thuần phát biết bao! Ngài cứ thật mà trả lời, nên đương nhiên là phải nghĩ rằng: 'Mình đã thật tình mà trả lời, thế thì có lỗi gì mà phải bị ba chục hèo?' Ngày hôm sau lại đến kiếm thầy mà hỏi: 'Hôm qua nhờ Hòa Thượng tha cho ba chục hèo, nhưng chưa hiểu là có lỗi gì?' Vân Môn bảo: 'Ôi phường giá áo túi cơm, vì vậy mà nhà ngươi đi từ Giang Tây đền Hồ Nam đấy!' Lời cảnh giác ấy bỗng làm sáng mắt của Động Sơn, rồi thì chẳng có tin tức nào đáng thông qua, chẳng có đạo lý nào đáng nêu lên nữa. Ngài chỉ lạy mà thôi và nói: 'Từ đây về sau, tôi sẽ dựng thảo am ở nơi không có dấu vết người; không cất lấy một hột cơm, không trồng một cọng rau, và tiếp đãi khách mười phương lai vãng; tôi sẽ vì họ mà nhổ hết những đinh những móc; tôi sẽ cởi bỏ cho họ những chiếc nón thoa dầu, những chiếc áo hôi nách, khiến cho họ được hoàn toàn sạch sẽ và thành những vị Tăng xứng đáng.' Vân Môn cười và nói; 'Cái thân như một trái dừa bao lớn mà có cái miệng rộng vậy thay!'—Yun-Men asked Tung-Shan: 'Whence do you come?' 'From Chia-Tu.' 'Where did you pass the summer session?' 'At Pao-Tzu, in Hu-Nan.' 'When did you come here?' 'August the twenty-fifth.' Yun-Men concluded, 'I release you from thirty blows, though you rightly deserve them.' On Tung-Shan's interview with Yun-Men, Ta-Hui comments: “How simple-hearted Tung-Shan was! He answered the master straightforwardly, and so it was natural for him to reflect, 'What fault did I commit for which I was to be given thirty blows when I replied as truthfully as I could?' The day followinghe appeared again before the master and asked, 'Yesterday you were pleased to release me from thirty blows, but I fail to realize my own fault.' Said Yun-Men, 'O you rice-bag, this is the way you wander from the west of the River to the south of the Lake!' This remark all of a sudden opened Tung-Shan's eye, and yet he had nothing to counicate, nothing to reason about. He simplybowed, and said, 'After this I shall build my litle hut where there is no human habitation; not a grain of rice will be kept in my pantry, not a stalk of vegetable will be growing on my farm; and yet I will abundantly treat all the visitors to my hermitage from all parts of the world; and I will even draw off all the nails and screws that are holding them to a stake; I will make them part with their greasy hats and ill-smelling clothes, so that they are toroughly smiled and said, 'What a large mouth you have for a body no larger than a coconut!'” • Yến quốc sư khi còn là một học Tăng, qua nhiều năm học hỏi với Tuyết Phong. Một hôm, Tuyết Phong biết cơ duyên của ngài đã chín mùi, liền nắm chặt ngài và hỏi cộc lốc: “Cái gì đây?” Yến như vừa chợt tỉnh cơn mê và được liễu ngộ. Ngài chỉ nhắc cánh tay lên đưa qua đưa lại. Phong nói: “Nhà ngươi làm gì thế?” Vị đệ tử này trả lời nhanh nhẩu: “Nào có gì đâu?”—Yen, the national teacher of Ku-Shan, when he was still a student monk, studied for many years under Hsueh-Feng. One day, seeing that his student was ready for a mental revolution, the master took hold of him and demanded roughly, 'What is this?' Yen was roused as if from a deep slumber and at once comprehended what it all meant. He simply lifted his arms and swung them to and fro. Feng said, 'What does that mean?' No meaning whatever, sir, came quickly from the disciple. • Một hôm Hòa Thượng Quán Khê thăm Lâm Tế. Lâm tế bước xuống ghế rơm, không nói không rằng, nắm chặt nhà sư lại; Quán Khê liền nói: “Tôi hiểu, tôi hiểu.”—One day Kuan-Ch'i saw Lin-Chi. The latter came down from his straw chair, and without saying a word seized the monk, whereupon Kuan-Ch'i said, ' I know, I know.' ; (默照禪) Thiền phong do Thiền sư Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động đời Tống đề xướng. Mặc là lặng yên, chuyên tâm ngồi thiền; Chiếu là dùng trí quán chiếu tâm tính linh tri xưa nay vốn thanh tịnh. Ngài Chính giác cho rằng thực tướng tức là tướng mà vô tướng, chân tâm tức là tâm mà vô tâm, chân đắc tức là đắc mà vô đắc, chân dụng tức là dụng mà vô dụng, cho nên ngài chủ trướng tọa không trần lự (ngồi mà không suy tư) để yên lặng quán chiếu, không cần phải cầu đại ngộ, chỉ tọa thiền với thái độ vô sở đắc, vô sở ngộ. Thiền phong này bị ngài Đại tuệ Tông cảo, 1 bậc danh đức thuộc tông Lâm tế đương thời đả kích mạnh mẽ và chê bai bằng những từ ngữ như: Mặc chiếu tà thiền, Vô sự thiền, Khô mộc tử khôi thiền(Thiền cây khô tro lạnh) v.v... Bởi vì Thiền phong của ngài Tông cảo khác xa với Thiền phong của ngài Chính giác,ngàiTông cảo chủ trương tham cứu cổ tắc công án để có cơ khế nhập tâm tính mà triệt ngộ, cho nên cực lực phê bình phái Chính giác chủ trương im lặng ngồi thiền xoay mặt vào vách mà bỏ việc tham ngộ tu chứng. Về phần mình, ngài Chính giác soạn 1 bài minh Mặc chiếu (toàn bài gồm 72 câu, mỗi câu 4 chữ, tất cả có 288 chữ) để phản bác, cho rằng tọa thiền im lặng có công năng làm cho tác dụng của trí tuệ được hoạt bát, tự nhiên chiếu suốt tự đáy nguồn tâm tính, là Thiền chân thực, chính truyền của Phật Tổ; trong văn cũng chê pháp Thiền Khán thoại đầu của ngài Tông cảo là chỉ chấp chặt vào công án mà thôi. [X. Hoành trí thiền sư quảng lục Q.5, 6, 8; Đại tuệ tông môn vũ khố].

mặc cảm

Inferiority complex.

mặc dầu

Although—Though.

mặc kệ

To be careless—To care nothing for someone's advice.

mặc lãng đạo gia

(默朗道嘉) Một nghi thức xua đuổi ma quỉ với qui mô lớn được tổ chức vào ngày 24 tháng giêng hàng năm theo lịch Tây tạng, khi pháp hội Truyền đại triệu cử hành tại Lạp tát (Lhasa) kết thúc. Đạo gia là tiếng Tây tạng, nghĩa là trừ quỉ. Khi cử hành nghi thức này, chúng tăng ở Cam đan trì ba, Trát Phương Lãng Kiệt thuộc cung Bố đạt lạp, viện Mật tông của Trát thương Ngạc ba chùa Triết bạng, đều về nhóm họp tại Lạp tát, rồi 500 người hóa trang làm các kị sĩ Mông cổ thời xưa, xếp thành hàng ngũ diễu hành, đốt các đống cỏ và bắn súng để xua đuổi tất cả tai họa trong năm.

mặc lí

(默理) Diệu lí lặng yên không lời (mặc nhiên vô ngôn). Nghĩa là cư sĩ Duy ma cật dùng mặc nhiên vô ngôn để biểu thị chân lí sâu xa mầu nhiệm không thể dùng lời nói mà diễn tả được. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Mặc Bất Nhị).

mặc lý

Giáo pháp im lặng của ngài Duy Ma Cật, vì ngài cho rằng chân lý bất khả luận (trong pháp hội, các vị Thánh đều nói về Pháp Tướng Bất Nhị, Ngài Văn Thù nói về vô ngôn vô thuyết, trong khi ngài Duy Ma chỉ mặc nhiên không nói)—The principle of silence, that the absolute is indefinable, the doctrine of Vimalakirti.

mặc mai y

(墨梅衣) Chỉ cho loại áo ca sa đã biến dạng hoặc trái với hình thức ca sa. Nguyên do có mặc mai (mai đen) là vì đem cành mai tháp vào cây xoan, khi hoa mai nở thì có màu đen, cho nên về sau từ ngữ này được dùng để chỉ cho những vật đã thay hình đổi dạng.

Mặc nhiên

默然|Là sự lặng thinh, không trả lời. Biểu thị này thường được thấy trong hai trường hợp:|1. Chỉ sự im lặng của Phật Thích-ca Mâu-ni trước những câu hỏi về những chủ đề siêu nhiên, vượt khỏi tầm nhìn, vô bổ.|Các đệ tử của Ngài thường đặt những câu hỏi như »Có một Ngã hay không«, »Một Giác giả có tồn tại sau khi nhập Niết-bàn hay không«, »Thế giới vĩnh hằng hay không«. Ðức Phật giải thích sự im lặng của mình là những câu trả lời dành cho các câu hỏi này chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập – bởi vì chúng không trợ giúp khắc phục tham ái, thành đạt trí huệ. Ngài lo ngại các vị đệ tử chỉ chú tâm vào những nghi vấn này mà xao lãng công trình tu tập.|Ðức Phật trình bày quan điểm của mình qua một ẩn dụ nổi tiếng: một người bị trúng tên. Người này được đưa đến y sĩ, và vị y sĩ muốn rút mũi tên ra lập tức. Nhưng kẻ bị trúng tên lại bảo: »Mũi tên này không được rút ra cho đến khi nào ta biết được kẻ nào đã bắn trúng ta, hắn thuộc về gia đình nào, thân thể lớn, bé hay vừa, da trắng, nâu hay đen.«|Và như người bị trúng tên chết trước khi nhận được những câu giải đáp – cũng như thế, các vị đệ tử sẽ bị những nỗi khổ thế gian đàn áp, sẽ chết trước khi nhận được những lời giải đáp về những vấn đề siêu nhiên, vô bổ nêu trên.|2. Chỉ sự im lặng như sấm sét (默如雷; mặc như lôi) của Cư sĩ Duy-ma-cật dành cho Bồ Tát Văn-thù, được ghi lại trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết.

mặc nhiên

Yên lặng không nói—Tacitly—Silent—Without words.

mặc như

(默如) Danh tăng Trung quốc, người huyện Đông đài, tỉnh Giang tô. Năm Dân quốc thứ 3 (1914), sư xuất gia ở am Như lai cùng huyện, sau thụ giới ở núi Bảo hoa tại Nam kinh, học Thiền ở chùa Cao mân và chùa Thiên đồng, học Phật pháp tại trường Sư phạm Phật giáo và Phật học viện Mân nam. Về sau, sư dạy học tại Phật học viện Mân nam, Phật học viện chùa Kim lăng và Phật học viện Thiên minh ở Thường châu. Năm Dân quốc 38 (1949) sư đến Đài loan, dạy học và hoằng pháp tại các chùa viện. Hiện nay sư trụ ở chùa Pháp vân tại Đài bắc. Sư nghiên cứu sâu rộng về Pháp tướng Duy thức học. Sư có các trứ tác: Đại thừa tam hệ luận tùng, Duy thức học khái luận, Bút thuyết bát thức qui củ tụng.

mặc phả

(墨譜) Cũng gọi Bác sĩ. Âm phổ ghi chép về Phạm bái. Vì loại âm phổ này cho thấy rõ sự khác nhau giữa năm âm nên gọi là Ngũ âm mặc phổ. Lại vì người ta dùng bút đỏ mà ghi chép thành nên cũng gọi là Chu mặc phổ, hoặc Chu bác sĩ. Tại Nhật bản, từ Thanh minh tập của Hiển giáo, Mật giáo cho đến Lãng vịnh và Thôi mã nhạc... phần nhiều đều được ghi vào Mặc phổ.

mặc sấn

Brahmananda (skt)—Phạm Đàn—Đối với các Tỳ Kheo hung bạo sẽ được đưa đến “Mặc Sấn,” nơi đó không ai được giao du với hạng người nầy—To send to coventry an obnoxious monk, all intercourse with him being forbidden.

mặc truyền

Giáo pháp tâm truyền tâm, chứ không bằng lời nói hay văn tự—Silent teaching or propagation, i.e. from mind to mind, without words or writing.

mặc truyện

(默傳) Đồng nghĩa: Mặc truyền tâm ấn. Trong Thiền tông, khi thầy truyền pháp cho đệ tử, không dùng ngôn ngữ, hoặc văn tự trực tiếp chỉ bày, mà dùng tâm truyền tâm, khiến đệ tử tự ngộ được thực nghĩa sâu kín của Phật pháp, kiến tính thành Phật. Mặc nghĩa là chỉ hiểu biết trong im lặng, chứ chẳng phải hoàn toàn không có 1 lời. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 351 trung), nói: Nhưng phải truyền trao, như từ xưa đến nay vẫn mặc truyền phân phó, không được giấu giếm chính pháp. [X.Thiền nguyên chư thuyên tập đô tựQ.2].

mặc trí kí

(默置記) Phạm:Sthàpanìya-vyàkaraịa. Pàli: Ỉhapanìya-vyàkarịa. Cũng gọi Xả trí kí, Mặc nhiên kí, Chỉ kí luận. Đối với các câu hỏi thuộc loại không nên đáp thì im lặng gác qua một bên, là 1 trong 4 cách trả lời. Nghĩa là đối với những câu hỏi không nên đáp hoặc không thể đáp vì phi lí, thì đức Phật mặc nhiên không trả lời, khiến cho người hỏi không tăng thêm hí luận vô nghĩa. Chẳng hạn như có người hỏi: Con của thạch nữ (người đàn bà đá) là màu đen hay màu trắng? thì gác vấn đề này qua 1 bên, im lặng không đáp. [X. Phật địa kinh luận Q.6; luận Câu xá Q.19]. (xt. Tứ Kí Đáp).

Mặc tích

墨跡; J: bokuseki; nghĩa là dấu mực;|Danh từ dùng để chỉ các tác phẩm, những lời văn, những chữ được các Thiền sư hoặc các vị tăng viết. Nội dung của các ›Dấu mực‹ thường là một pháp ngữ (j: hōgo) của các vị Thiền sư, Tổ sư. Một mặc tích được thực hiện không phải với tâm trạng ›muốn tạo‹ một tác phẩm nghệ thuật mà chính nó là một biểu hiện của một sự thật sinh động, xuất phát từ kinh nghiệm thiền.|Các mặc tích được các vị Thiền sư – đặc biệt là các vị thực hành Thư đạo (j: shodō) – trứ tác để cổ vũ, khuyến khích môn đệ, thường là được các môn đệ thỉnh cầu thực hiện. Khi thầy tặng môn đệ một mặc tích có nghĩa là vị thầy này ›cho đệ tử biết tâm trạng của mình‹. Có khi mặc tích chỉ là một chữ duy nhất, một chữ đặc biệt, có giá trị trung tâm cho Thiền, hoặc là một bài kệ ngộ đạo hoặc một câu pháp ngữ. Các mặc tích của các Ðại thiền sư Nhật Bản như Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki, 1275-1351), Nhất Hưu Tông Thuần (ikkyū sōjun, 1394-1481), Bạch Ẩn Huệ Hạc (hakuin ekaku, 1685-1768) và Tiên Nhai Nghĩa Phạm (sengai gibon) chính là những kiệt tác của nghệ thuật Thiền và nền nghệ thuật Nhật nói chung (xem sự tích về việc viết một mặc tích dưới Hành-trụ-toạ-ngọa).

mặc tích

(墨跡) Cũng gọi Thư tích, Thủ tích. Chỉ cho những bút tích của người xưa viết bằng mực trên giấy hoặc lụa. Trong trà đạo của Nhật bản, Mặc tích đặc biệt chỉ cho thủ bút (mặc bảo) của các vị Thiền sư. Ban đầu, ông Thôn điền Châu quang đến chùa Đại đức tham yết ngài Nhất châu Tông thuần (1394-1481), 1 Thiền sư lỗi lạc của tông Lâm tế. Do thấy trong trà thất có treo mặc tích của Thiền sư Viên ngộ Khắc cần thuộc tông Lâm tế đời Tống, Trung quốc mà ông ngộ được lí Trà thiền nhất vị. Về sau, mặc tích của các Thiền sư đời Tống, Nguyên Trung quốc như: Đại tuệ Tông cảo, Mật am Hàm kiệt, Si tuyệt Đạo xung, Hư đường Trí ngu, Thanh chuyết Chính trừng, Cổ lâm Thanh mậu và mặc tích của các ngài Vinh tây, Đạo nguyên, Mộng song Sơ thạch, Tông phong Diệu siêu, Nhất hưu Tông thuần v.v... tại Nhật bản đều được quí trọng.

mặc tưởng

To fall into deep thought.

mặc tấn

(默擯) Phạm, Pàli: Brahma daịđa. Hán âm: Phạm đàn, Phạm đát. Chúng tăng giữ thái độ im lặng, không chuyện trò giao du là phương thức trừng phạt vị tỉ khưu vi phạm giới luật mà không chịu sự điều phục. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 303 thượng), nói: Mặc sấn nghĩa là chúng tăng không qua lại nói chuyện với người ấy. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2, đoạn 2]. (xt. Phạm Đàn).

mặn

Salty.

mặn lạt

Salty and flavourless.

mặn mà

Hearty—Warm—Cordial.

mặt

Face.

mặt dày

Shameless (unblushing) face.

mặt dày mày dạn

See Mặt dày.

mặt dữ

Wicked face.

mặt phải

Right side.

mặt tiền

Facade—The front.

mặt trái

Reverse (side).

mặt trăng

The moon.

mặt trời

The sun.

mặt ủ mày châu

Sad face.

mẹ

See Mẫu (2).

mẹ con

See Mẫu Tử.

mếch lòng

To displease someone—To hurt someone's feelings.

mến

To be fond of—To love—To cherrish.

mến phục

To love and admire.

mếu

To twist the face.

mềm

Soft.

mềm dẻo

Flexible.

mềm lòng

To be moved.

mềm mỏng

Flexible.

mễ

See Mễ Cốc.

mễ cốc

Cereals.

mễ lệ da

Maireya (skt)—Một loại thức uống ngọt, nhưng có thể làm cho người ta say, vì được rút ra từ bông Lythrum fructicosum—A kind of intoxicating drink, extracted from the blossoms of Lythrum fructicosum with sugar.

mễ mạch nhai phường

(米麥街坊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chức vụ phụ trách việc ra phố phường hoặc đến xóm làng khuyến hóa tín đồ cúng dường thóc gạo cho chúng tăng. Điều Nhai phường Thủy đầu Thán đầu Hoa Nghiêm đầu trong Thiền Uyển Thanh Qui quyển 4 (Vạn tục 111, 44 hạ) nói: Chúc nhai phường, Mễ mạch nhai phường, Thái nhai phường, Tương nhai phường, đều là các chức vụ, bên ngoài thì đi khuyến hóa đàn việt (tín đồ) tăng trưởng ruộng phúc, bên trong thì hỗ trợ Thiền lâm, giữ gìn đạo quả. (xt. Hóa Chủ).

mễ đầu

Người giữ tiệm—Keeper of the stores.

mệnh

1) Sanh mạng: Jivita (skt)—Life—Length of life. 2) Số mạng: Fate. 3) Mệnh lệnh: Decree. ; (命) I. Mệnh. Chỉ cho mệnh căn thường được nói đến trong các kinh điển của Phật giáo. (xt. Mệnh Căn). II. Mệnh. Phạm: Jìva. Chỉ cho linh hồn theo học thuyết căn bản của Kì na giáo ở Ấn Độ. Kì na giáo chia Mệnh làm 2 loại là bị vật chất trói buộc và không bị vật chất trói buộc. Mệnh bị vật chất trói buộc có động, tĩnh khác nhau. Loại động tồn tại trong những vật thể có sinh mệnh như động vật và người, còn loại tĩnh thì tồn tại trong các vật thể không có sinh mệnh như đất, lửa, gió v.v... Mệnh không bị vật chất trói buộc chỉ cho mệnh giải thoát. Kì na giáo coi mệnh là nguyên lí của sự sống còn trong vũ trụ, chủ trương trong mệnh có tính hoạt động, khả năng nhận biết và 5 thứ trí: Tư trí (Phạm: Mati), Văn trí (Phạm: Zruta), Tự giác trí (Phạm: Avadhi,cũng gọi Tha giới trí), Tuệ trí (Phạm: Manaparyàya,cũng gọi Tha tâm trí) và Nghĩa trí (Phạm: Kevala,cũng gọi Tuyệt đối trí). Mệnh này cùng với Vô mệnh (Phạm: Ajìva) là 2 yếu tố lớn cấu tạo nên vũ trụ. [X. phẩm Minh Tạo Luận Trong Luận Phương Tiện Tâm]. (xt. Vô Mệnh).

Mệnh (mạng)

命; C: mìng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Đời sống, tính mệnh; 2. Số phận hoặc định mệnh của con người, đặc biệt được ân định bởi mệnh trời (thiên mệnh 天命); 3. Luật lệ, nguyên tắc, trật tự. Vận, đạo, sử (運, 道, 使).

mệnh bảo

Sự quý báu của cuộc sống (sống để tu tập giải thoát)—The precious posession of life.

Mệnh chung

命終; C: mìngzhōng; J: myōjū; P: maraṇa; S: maraṇa, kṛta-āyus, mṛtyu, cyuti. |Giờ phút cuối cùng của đời người; chết; qua đời.

mệnh chung

Lúc chết hay lúc gần chết—Life's end or nearing the end of life.

Mệnh chung tâm

命終心; C: mìngzhōngxīn; J: myōshūshin; |Trạng thái tâm của người sắp qua đời. Sinh khởi 4 tâm trạng bám víu vào sự tồn tại của kiếp người, với tài sản sở hữu, gia đình thân thuộc và với sự hiện hữu trong tương lai. Tam ái (三愛)

Mệnh căn

命根; C: mìnggēn; J: myōkon; S: jīvita-indriya.|Một trong 14 pháp Tâm bất tương ưng hành trong Câu xá luận (倶舎論); một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành theo Duy thức tông. Tiềm lực mệnh sống của đời người trong một khoảng thời gian nhất định, nơi mà A-lại-da thức, – như là kết quả ảnh hưởng phổ quát của nghiệp lực – có năng lực tồn tại trong 50 đến 70 năm. Lực tiềm tàng nầy được duy trì trong danh ngôn chủng tử của A-lại-da thức.

mệnh căn

Theo Tiểu Thừa giáo thì căn bản của cuộc sống hay sự tái sanh là phi sắc phi tâm, mà là do nghiệp của quá khứ sinh ra, Đại Thừa chấp nhận cái nầy mượn tên là mệnh căn, chứ không phải là thực thể riêng có bổn mệnh—A root or basis for life or reincarnation, the nexus of Hinayana between two life-periods, accepted by Mahayana as nominal but not real. ; (命根) Phạm: Jìvitendriya. Thọ mệnh của các loài hữu tình, cũng thuộc về pháp Tâm bất tương ứng hành, 1 trong 75 pháp của Câu Xá, 1 trong 100 pháp của Duy thức. Do sức nghiệp ở quá khứ dẫn sinh, thân tâm hữu tình tiếp nối trong 1 khoảng thời gian (từ lúc đầu thai đến khi chết), cái thể duy trì hơi ấm (trong thân) và thức (tâm) là thọ. Nói cách khác, cái nương vào hơi ấm và thức mà duy trì thân này trong 1 khoảng thời gian, tức gọi là Mệnh căn. Về vấn đề Mệnh căn là có giả hay có thật, thì quan điểm của các phái Phật giáo không giống nhau. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ trong Phật giáo bộ phái cho rằng mệnh căn là có thật, nhưng Kinh bộ và Phật giáo Đại thừa thì lại cho mệnh căn là giả chứ không phải có thật. Như luận Thành Duy Thức quyển 1 nói: Nương vào Chủng tử danh ngôn của thức thứ 8, cùng với sức nghiệp quá khứ dắt dẫn, mà nắm giữ thân mệnh ở đời này, công năng ấy quyết định thời gian tồn tại của sắc, tâm có dài ngắn khác nhau, vì thế giả lập làm mệnh căn. [X. luận Phẩm Loại Túc Q.1; luận Phát Trí Q.14; luận Đại Tì Bà Sa Q.126; luận Câu Xá Q.5]. (xt. Thọ).

mệnh giả

Một trong 16 tà kiến cho rằng thọ mệnh của cái ta là có thực—The living being; the one possessing life; life, one of the sixteen wrong views believing that life is real.

mệnh mệnh điểu

Jivajiva (skt)—See Cộng Mệnh Điểu. ; (命命鳥) Phạm:Jivaô-jivaka. Hán âm: Kì bà kì bà, Kì bà kì bà ca, Thời bà thời bà ca. Cũng gọi Cộng mệnh điểu, Sinh sinh điểu. Loại chim trĩ sống ở Bắc Ấn Độ, được đặt tên theo tiếng hót. Loài chim này có hình dáng kì quái: Một thân 2 đầu, mặt người hình chim, bay liệng nhanh chóng và nhẹ nhàng, tiếng hót rất hay, vì 2 đầu chung 1 thân, cùng sống chết nên gọi là Cộng mệnh. Trong kinh Phật, loại chim này và chim Ca lăng tần già đều được xem là chim có tiếng hót hay. [X. kinh Tạp Bảo Tạng Q.3].

mệnh nan

Những khó khăn trở ngại trong cuộc sống—Life's hardships; the distress of living.

mệnh như phong trung đăng

(命如風中燈) Sự sống của con người như ngọn đèn trước gió. Thích Môn Qui Kính Nghi quyển thượng nói: Mệnh sống con người như ngọn đèn trước gió, không biết bị thổi tắt lúc nào; ngày qua ngày, khó mà biết được cái chết sẽ đến; rồi cứ theo nghiệp chuyển sinh, trong chỗ mịt mờ, chẳng biết đi đâu.

mệnh phạm

Mệnh nạn và phạm nạn hay tai nạn liên quan đến sự mất còn của tính mệnh (mệnh nạn) và tai nạn liên quan đến việc kiên trì hay không kiên trì tu hành phạm hạnh (phạm nạn)—Mệnh Phạm là tai nạn hay trở ngại cho tính mệnh và sự tu trì phạm hạnh của bản thân mình—Life and honour, i.e. perils to life and perils to noble character. ; (命梵) Mệnh nạn và Phạm nạn. Mệnh nạn là những tai nạn có liên quan đến sự còn mất của thân mệnh con người. Còn Phạm nạn là những tai ách có liên quan đến sự xúc phạm hạnh thanh tịnh của con người.

mệnh quang

The light of a life, i.e. soon gone. ; (命光) Chỉ cho thọ mệnh của con người, vì thọ mệnh tùy theo ngày tháng (quang âm) mà trôi chảy, tàn tạ nên gọi là Mệnh quang. Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển 4 (Đại19, 124 thượng) nói: Hình hài tiêu tan, mệnh quang tàn lụi (...) Căn trần thức tâm, lúc đó cũng tiêu, tưởng tướng bụi bặm, tình thức nhớp nhúa, cả 2 đều xa lìa.

mệnh quang điểu

Jivajivaka or Jivamjiva (skt)—Sinh Sinh Điểu—Cộng Mệnh Điểu—Loài lưỡng thủ điểu hót rất hay—A bird with two heads, asweet songster—See Cộng Mệnh Điểu.

mệnh thằng

Sợi dây sinh mệnh luôn bị gậm nhấm bởi chuột vô thường ngày và đêm—The rope of life, always gnawed by the two rats, i.e. night and day.

mệnh trọc

(命濁) Phạm: Àyu-kawàya. Cũng gọi Thọ trược. Tuổi thọ của con người bị các phiền não uế trược rút ngắn, là 1 trong 5 trược. Vào đời mạt pháp, do các ác nghiệp phiền não, tà kiến tăng trưởng mạnh mẽ, nên tuổi thọ con người dần dần rút ngắn. Trược nghĩa là nhớp nhúa vẩn đục, mà phiền não và tà kiến lại là bản thể của trược, tuổi thọ con người bị rút ngắn là do kết quả của 2 thứ này gây ra, cho nên gọi là Mệnh trược. [X. kinh Diệu Pháp Liên Hoa Q.1; kinh Bồ Tát Địa Trì Q.7]. (xt. Ngũ Trược).

mệnh vận

(命運) Số mệnh của con người. Phật giáo vốn không nói đến Mệnh vận (Vận mệnh, số mệnh) mà chỉ nói về nghiệp quá khứ (Túc nghiệp). Tức là do nhân đã tạo tác ở quá khứ mà đưa đến quả được hưởng hay phải chịu ở hiện tại, cái mắt xích nối liền(nhân duyên) giữa nhân và quả này được gọi là nghiệp. Từ quá khứ đến hiện tại cho mãi đến vị lai đều chịu 1 sức nghiệp chi phối, mỗi người tùy theo sức nghiệp của mình mà lưu chuyển, không thể cưỡng lại được. Hơn nữa, nghiệp của các nhân đôi khi tuy nhỏ, nhưng cũng có thể bị sức ép mà rơi vào dòng nghiệp tương đối lớn hơn. Thuyết này gần giống với mệnh vận nhưng cũng có chỗ khác nhau, tức nếu cá nhân có ý chí mạnh mẽ thì có thể nhờ vào ý chí ấy mà xoay chuyển dòng nghiệp của chính mình, mà nếu chuyển được thì thoát khỏi quả báo của nghiệp. Đây chính là tinh thần cơ bản của Phật giáo xác nhận con người có ý chí tự do. (xt. Nghiệp).

mệnh đạo sa môn

Vị Sa Môn lấy giới luật, thiền định và trí huệ làm cuộc sống cuộc tu, như Ngài A Nan đã làm—A sramana who makes the commandments, meditation and knowledge his very life, as Ananda did.

mệnh độc

Mệnh trược, một trong ngũ trược—Turbidity or decay of the vital principle, reducing the length of life, one of the five turbidities. ** For more information, please see Ngũ Trược.

mệt lả

See Mệt Đừ.

mệt mỏi

Tired.

mệt nhoài

See Mệt Đừ.

mệt đừ

To be exhausted—Tired to death—Tired out—Dead tired.

mỉa mai

Ironical.

mỉm cười

To smile.

mị

Yêu quái—An orge—Evil spirit.

mị nữ

Một thiếu nữ được dùng như phương tiện làm tổn hại người khác—A young woman used as a means (medium) for such a spirit to injure others.

mọi

1) Slave. 2) Every.

mọi người

Everybody.

mọi nơi

Everywhere.

mọi việc

See Mọi vât.

mọi vật

Everything.

mọn

1) Little—Small. 2) Mean—Humble (hèn mọn).

mọt

Wood-eater.

mỏi

Tired—Weary.

mỏi chân

To be tired of walking.

mỏi miệng

To talk oneself tired.

mỏng

Slender—Thin—Slim.

mỏng mảnh

Fragile.

mỏng tanh

Very thin.

mối

1) Con mối: Termite. 2) Đầu mối: Cause.

mối họa

Cause of misfortune.

mối lợi

Advantage.

mối nguy hại

A nuisance.

mối thù

A feud.

mống

Rainbow.

mốt

1) The day after tomorrow. 2) Fashion.

mồ

Tomb—Grave.

mồ côi

To be orphaned.

mồ côi cha

Fatherless.

mồ côi mẹ

Motherless.

mồ hôi nước mắt

Sweat and tears.

mồi

Bait—Lure.

mổ

1) To peck (birds). 2) To operate (dissect). 3) To kill an animal for food.

Mỗ

某; C: mŏu; J: bō;|Người hay vật nào đó.

Mỗ giáp

某甲; C: mŏu jiă; J: bōkō; |Một người nào đó, một ai khác;

mỗi

Each—Every.

mỗi nhật chúc tán

(每日祝贊) Mỗi ngày, vào thời cơm, cháo, tụng 3 biến chú Vô lượng thọ ở điện Phật, để cầu cho vua được an khang và nước nhà thịnh vượng. [X. điều Mỗi nhật chúc tán trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.1].

mỗi nhật tam thời phúng kinh

(每日三時諷經) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cử hành nghi thức tụng kinh vào 3 thời: Sáng (trước hoặc sau khi ăn cháo), trưa (trước hoặc sau khi thụ trai) và chiều (trước khi dùng bữa tối hoặc sau khi kết thúc giờ tham thiền) mỗi ngày trong Thiền lâm. Trong Cổ thanh qui của Trung quốc, hoàn toàn không thấy có qui định rõ ràng về Tam thời phúng kinh; các Thiền viện ở đời Đường tuy có tác pháp tụng 1 biến chú Đại bi sau bữa cháo buổi sáng và trong các bộ Thanh qui đời Nguyên về sau, tuy có nghi thức tụng kinh sau khi dùng cháo và thụ trai... nhưng tất cả đều không thấy qui định rõ ràng về Tam thời phúng kinh. Còn ở Nhật bản, từ sau khi bộ Oánh sơn thanh qui được ấn hành (khoảng 1661-1681) đến nay, thì các tự viện thuộc tông Lâm tế và tông Hoàng bá nói chung, đều có thực hành nghi thức này.

mỗi đát lý

Maitreya (skt)—Di Lặc.

mỗi đát lý mạt na

Maitrimanas (skt)—Kindly mind—Merciful.

mộ

1) Ái mộ: To love—To long for. 2) Luyến ái: To love—To hanker after. 3) See Mồ. ; (墓) Mồ mả. Nơi chôn cất di hài người chết hoặc an trí di cốt sau khi hỏa táng. Người xưa rất tôn trọng mồ mả, đối với họ, mồ mả có ý nghĩa thật sâu xa thận chung truy viễn, tự vong nhi tồn, nghĩa là cẩn thận đối với người đã khuất, ghi nhớ ơn sâu của tổ tiên, thờ phụng lúc chết cũng như khi còn sống. Thông thường trong khuôn viên các chùa viện hoặc ngoài nghĩa địa, người ta xây cất mồ mả, mỗi khi đến ngày giỗ, họ hàng thân tộc mang hương hoa phẩm vật đến dâng cúng. Về tên gọi thì tùy quốc độ và xứ sở mà có khác. Chẳng hạn Ấn độ gọi là Thi đà lâm (Sitavana) hoặc Thi ma xa na (Phạm:Zimàsyyàna), Trung quốc và Nhật bản thì gọi là Phần mộ, Oanh thành, Trủng, Mộ... Về phong tục, ở phía bắc thành Vương xá cũ và phía nam thành Vương xá mới của nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, có Thi đà lâm (Hàn lâm: rừng lạnh) là nơi vứt bỏ thi thể của những tội nhân, còn di hài của các Đế vương hoặc quí tộc thì được xây tháp để an trí ở các nơi khác, các bậc Cao tăng cũng được dựng tháp thờ. Tại Trung quốc, trong các sách xưa như: Sử kí, Hậu Hán thư đều có nói về mộ. Thông thường, đặt di hài vào quan tài đưa xuống huyệt rồi lấp đất lên trên, làm thành hình cái nón, tùy theo hình dáng hoặc lớn hay nhỏ mà có lăng mộ, phần mộ, khâu mộ, trủng mộ khác nhau; gần mộ có trồng cây, làm bia, hoặc chôn chung với quan tài, hoặc dựng bên cạnh mộ, nếu bia mộ của quan thì gọi là mộ biểu, của dân thường thì gọi là mộ kiệt. Sau khi Phật giáo truyền đến Trung quốc thì có phong tục xây tháp trên mộ, gọi là Phần tháp, Trủng tháp, Nhạn tháp. Như Lạc dương già lam kí quyển 4 ghi: Sau khi vua Minh đế nhà Hậu Hán băng hà, trên lăng có xây kì hoàn (chùa). Tuy nhiên, việc xây chùa trên lăng vua Minh đế có thật hay không thì không được rõ. Ngoài ra, tháng 8 năm Nghĩa hi thứ 10 (416) đời vua An đế nhà Đông Tấn, ngài Tuệ viễn thị tịch, quan Thái thú Tầm dương là Nguyễnkhản xây mộ ở ngọn phía tây Lô sơn và thi nhân Tạ linh vận soạn văn bia ghi lại công đức của sư. Rồi đến ngài Huyền trang đời Đường, sau khi viên tịch, cũng được xây tháp cúng dường. Và từ giữa đời Đường về sau, đối với các bậc sa môn cao tăng thị tịch thì được vua phong thụy hiệu hoặc ban tên tháp, như Qui châu chi tháp của Thiền sư Thanh nguyên Hành tư, Tối thắng luân chi tháp của Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng, Linh chiếu chi tháp của Thiền sư Tào khê Tuệ năng v.v... Ngoài ra, cũng có khi vị tăng chưa tịch mà đã xây tháp trước, gọi là Thọ tháp, Thọ lăng, cũng có trường hợp xây tháp để thờ linh cốt của nhiều người, gọi là Phổ đồng tháp, Hải hội tháp. [X. kinh Ô điểu dụ trong Trung a hàm Q.13; kinh Bất không quyên sách thần biến chân ngôn Q.28; luận Đại trí độ Q.22; truyện Trí nghiêm trong Cao tăng truyện Q.3]. (xt. Tháp).

mộ chí

(墓志) Bài văn nói về sự tích lúc sinh tiền của người quá cố được khắc trên bia mộ, gọi là Mộ chí. Về mặt Kim thạch học và Khảo cổ học thì Mộ chí là văn khắc tiểu sử người qua đời lên đá hoặc vàng rồi chôn chung với quan tài.

mộ duyên

To collect subscription (of Buddhist monk).

mộ duyên sớ

(募緣疏) Văn sớ khuyến hóa tín đồ cúng dường tài vật để thực hiện các Phật sự như tạo tượng, đúc chuông, xây dựng chùa tháp, in ấn kinh điển, hoặc làm các việc phúc thiện như đắp đường, xây cầu, lập bệnh viện, giúp đỡ những người bệnh hoạn, nghèo khổ, v.v...[X. điều Mộ duyên sớ trong Văn thể minh biện].

mộ hoá

(募化) Cũng gọi Cầu hóa, Phụng gia, Khuyến tài. Khuyến hóa tín đồ cúng dường tiền của để làm chùa, tạo tượng, xây tháp, sửa sang đồ thờ tự v.v...Vì sự mộ hóa cũng để khuyên người đời kết duyên lành với Phật pháp, nên cũng gọi là Mộ duyên, Khuyến duyên, Hóa duyên.

mộ hà

Moha (skt)—Ngu si—Unenlightened—Stupid—See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mộ la

Mula (skt)—Căn—Fundamental—Root—See Mula in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mộ la tát bà tất để bà đà ni ca

Mula-sarvastivadah-nikaya (skt)—Căn bản thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—The fundamental works, original texts of the Hinayana school of Sarvastivadah.

mộ nại la

Mudra (skt)—Dấu ấn—A seal—A sign—Token—hand or finger signs—See Mudra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

mộ phách thái tử

(慕魄太子) Cũng gọi Mộc phách thái tử. Tên của đức Phật Thích ca mâu ni khi còn tu hạnh Bồ tát ở đời quá khứ. Thưở xưa, ở nước Ba la nại có vị Thái tử tên là Mộ phách, dung mạo đoan chính, thông minh rất mực, không ai sánh bằng. Năm 13 tuổi, bỗng nhiên Thái tử không nói, giống như người câm, cha mẹ lo âu, mời các Phạm chí đoán xem thế nào, họ cho đó là việc chẳng lành, phải chôn sống Thái tử. Quốc vương và Hoàng hậu rất đau lòng nhưng vẫn nghe theo lời các Phạm chí, sai người đưa Thái tử vào rừng để chôn. Khi Thái tử đứng bên miệng hố bỗng nhiên nói thành lời, quan Đại thần sai người về bẩm báo với Quốc vương, Quốc vương và nhân dân đều vui mừng, nhưng lấy làm kì lạ, bèn đến gặp Thái tử. Thái tử cúi đầu lễ bái Quốc vương và nói cho mọi người biết rằng, xưa kia mình từng làm vua nước Ba la nại, tên là Tu niệm, ròng rã 25 năm, tự thân vâng làm 10 điều thiện, dùng tâm từ bi giáo hóa nhân dân, được nhân dân ngưỡng vọng. Nhưng vì mỗi khi xuất du, sai rất nhiều người theo hầu, nên sau khi chết rơi vào địa ngục, chịu báo rất khổ. Đời này tuy muốn nói nhưng sợ lại phạm lỗi, cho nên giữ im lặng. Nói xong, Thái tử phát tâm làm sa môn đi khất thực để giữ hạnh vô dục, cuối cùng được Quốc vương chấp thuận và Thái tử xuất gia. Sau đó, Quốc vương về thành, dùng chính đạo trị nước, thiên hạ thái bình, nhân dân no ấm, hòa vui, vận nước hưng thịnh. [X. kinhThái tử Mộ phách trong Lục độ tập kinh Q.4].

Mộ Xuân

(暮春): cuối Xuân, chấm dứt mùa Xuân. Như trong Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法, Taishō Vol. 19, No. 928) có đoạn: “Nhất Phật xử thai nhật, hệ Kỷ Mùi Trọng Hạ thập ngũ nhật; nhị Phật giáng sanh nhật, hệ Canh Dần tứ nguyệt thất nhật; tam Phật xuất gia nhật, hệ Mậu Tý Mộ Xuân bát nhật; tứ Phật thành đạo nhật, hệ Giáp Ngọ tứ nguyệt thập ngũ nhật; ngũ Phật ư Lộc Uyển chuyển Tứ Đế Pháp Luân nhật, hệ thành đạo bổn niên Quý Hạ lục nguyệt tứ nhật; lục Phật tùng Đao Lợi Thiên hạ hoàn nhật, hệ Canh Tý Trọng Thu nhị thập nhị nhật; thất Phật bát Niết Bàn nhật, hệ Canh Thìn tứ nguyệt thập ngũ nhật (一佛處胎日、係己未仲夏十五日、二佛降生日、係庚申四月七日、三佛出家日、係戊子暮春八日、四佛成道日、係甲午四月十五日、五佛於鹿苑轉四諦法輪日、係成道本年季夏六月四日、六佛從忉利天下還日、係庚子仲秋二十二日、七佛般涅槃日、係庚辰四月十五日, thứ nhất ngày đức Phật nhập vào thai đích xác là ngày rằm tháng 5 năm Kỷ Mùi; thứ hai ngày đức Phật giáng sanh đích xác là ngày mồng 7 tháng 4 năm Canh Dần; thứ ba ngày đức Phật xuất gia đích xác là ngày mồng 8 tháng 3 năm Mậu Tý; thứ tư ngày đức Phật thành đạo đích xác là ngày rằm tháng tư năm Giáp Ngọ; thứ năm ngày đức Phật chuyển Pháp Luân Tứ Đế đích xác là ngày mồng 4 tháng 6 cùng năm Ngài thành đạo; thứ sáu ngày đức Phật từ cung Trời Đao Lợi trở về đích xác là ngày 22 tháng 8 năm Canh Tý; thứ bảy ngày đức Phật nhập Niết Bàn đích xác là ngày rằm tháng 4 năm Canh Thìn).” Hay trong bài Bát Nhã Vô Tri (般若無知) của Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1556) quyển 30 có câu: “Bát Nhã hiệu Vô Tri, tương phùng thoại sở chi, khứ niên Sơ Hạ nguyệt, kim nhật Mộ Xuân thì, lâm thủy tinh thần kiện, đăng sơn khí lực suy, ân cần thoại tiêu tức, mi thượng cánh sanh mi (船若號無知、相逢話所之、去年初夏月、今日暮春時、臨水精神健、登山氣力衰、慇懃話消息、眉上更生眉, Bát Nhã hiệu Vô Tri, gặp nhau nói chuyện gì, năm ngoái tháng đầu Hạ, năm nay cuối xuân khi, đến nước tinh thần mạnh, lên non khí lực suy, ân cần thăm hỏi đủ, trên mi mọc lông mày).”

mộ đạo

To devote oneself to religion affairs—To be devout.

mộc

1) Cây: Wood—A tree. 2) Kastha (skt)—A piece of wood—Timber. 3) Tắm: To bathe

Mộc Am Tính Thao

木菴性瑫; C: mùān xìngtāo; J: mokuan shōtō; 1611-1684;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Hoàng Bá (j: ōbaku-shū). Sư nối pháp Thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì, và cùng với thầy sang Nhật giáo hoá.|Tại Nhật, Ẩn Nguyên khai sáng tông Hoàng Bá và cử Sư làm vị Tổ thứ hai (1664). Sư thành lập Thuỵ Thánh tự (zuishō-ji) tại Ðông Kinh (tōkyō), góp công rất nhiều trong việc truyền bá tông này tại Nhật.

mộc diệu

Mộc tinh, một trong cửu diệu, nằm về phía nam Kim Cang Viện, bên ngoài Thai tạng Mạn Đà La—Jupiter, one of the nine luminaries, on the south of the Diamond hall, outside the Garbhadhatu mandala. ; (木曜) Phạm: Bfhaspati. Cũng gọi Tuế tinh, Nhiếp đề. Vị tôn ngồi ở phía nam trong viện Ngoại kim cương bộ trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Là 1 trongThất diệu, 1 trong Cửu diệu. Trong Thai tạng hiện đồ mạn đồ la thì hình tượng của vị tôn này ngồi tréo chân, bàn tay phải ngửa lên, co ngón giữa, ngón vô danh mà bấm vào ngón cái, còn tay trái nắm lại thành quyền để ở ngang ngực. Trong Thai tạng cựu đồ dạng (Mạn đồ la kiểu cũ) thì vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa hình tròn, bàn tay phải ngửa lên, tay trái cầm gậy, trên đầu gậy có bán nguyệt. Ngoài ra, theo Phạm thiên hỏa la cửu diệu, thì Mộc diệu là hình người già đang đứng, đội mũ đầu lợn, tay trái cầm cành cây. Hình Tam muội da là ngôi sao miệng bình, chủng tử là chữ (bf). [X. kinh Tú diệu; Đại nhật kinh sớ Q.4].

mộc dục

(沐浴) Cũng gọi Mộc tháo, Tháo dục, Tẩy dục. Tắm rửa cho thân thể sạch sẽ. Từ xưa đến nay, người Ấn độ tin rằng tắm gội ở sông Hằng sẽ gột rửa được sự nhớp nhúa, tiêu trừ các tội chướng. Trái lại, đức Phật đã phê phán quan niệm này trong kinh Tự thuyết (Pàli: Udàna, I, 9) như sau: Mọi người dù có tắm gội ở đây (sông Già da) thì cũng không thể nhờ nước mà được thanh tịnh; nếu người nào chân thực, có pháp, thì được thanh tịnh, người ấy chính là Bà la môn. Về việc tắm gội thì giáo đoàn đã có qui chế chặt chẽ, khiến mọi người không buông thả. Nhà tắm đầu tiên được thiết lập là để giữ gìn sức khỏe cho các vị tăng bị bệnh. Tùy thời có thể tắm bằng nước lạnh, nước nóng, nước thơm v.v... Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 11 (bản 40 quyển), thì tắm bằng nước thơm có 10 công đức: 1. Trừ được gió độc. 2. Trừ được li mị. 3. Tinh khí sung mãn. 4. Tăng thêm tuổi thọ. 5. Hết mệt nhọc, được khoan khoái. 6. Thân thể dịu dàng. 7. Trừ sạch nhơ nhớp. 8. Khí lực mạnh mẽ. 9. Làm cho người hăng hái. 10. Trừ hết nóng bức. Về thời gian tắm rửa, thì ngoại trừ lúc nóng, lúc bệnh, lúc làm việc, lúc mưa gió, lúc đi đường v.v..., đức Phật có qui định chung cho tỉ khưu là nửa tháng tắm 1 lần. Còn chế độ thiền lâm ở Trung quốc, cứ theo điều Tri dục, chương Lưỡng tự trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển hạ, thì vào mùa lạnh 5 ngày tắm 1 lần, mùa nóng thì mỗi ngày mỗi tắm. Trước khi vào nhà tắm, chúng tăng phải lễ bái tượng bồ tát Bạt đà bà la (Phạm: Bhadrapàla) trong Tăng đường, đó là căn cứ theo nhân duyên vào nhà tắm mà ngộ đạo của ngài Bạt đà bà la được ghi trong kinh Đại Phật đính Thủ lăng nghiêm quyển 5. Các Thiền viện ở Trung quốc và Nhật bản đều có qui định phải giữ im lặng ở 3 nơi là Tăng đường, Tây tịnh (hoặc Đông ti, tức nhà xí) và Dục thất (nhà tắm). Trước khi tắm rửa, phải đọc bài kệ (Đại 10, 71 hạ): Tắm gội thân thể, nguyện cho chúng sinh, thân tâm không nhơ, trong ngoài đều sạch. [X. kinh Hoa nghiêm Q.14 (bản 80 quyển); kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng; luật Ma ha tăng kì Q.18; luật Thập tụng Q.16, 41; Đại đường tây vực kí Q.4, Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.3; Thiền uyển thanh qui Q.10; Thiền lâm bị dụng thanh qui Q.7].

mộc dục tác pháp

(沐浴作法) Pháp tu của Mật giáo được thực hành trong khi tắm rửa để thanh tịnh thân tâm, tiêu trừ bệnh tật, ngăn dứt chướng nạn. Theo pháp tu này, thì khi tắm gội, phải quán tưởng trên đỉnh đầu có chữ (raô), 2 bên hông có chữ (hùô), có ngọn lửa bao quanh, tay trái nắm lại thành Kim cương quyền, tay phải kết ấn Kim cương quyền, ngón cái dựng thẳng, đồng thời tụng chân ngôn Án củ rô đà nẵng hồng nhược gia trì ở 5 chỗ. Kế đến, gia trì Quân đồ lợi tiểu tâm ấn chú vào nước trong thùng tắm, quán tưởng chủng tử của thủy đại và ao Hoan hỉ trên cõi trời, rồi múc nước tắm trong thùng, dùng ấn và chân ngôn Át già chú nguyện vào đó, 7 biến rồi hướng về 4 phía của đạo tràng rảy khắp để cúng dường Bản tôn, quán tưởng tắm gội thân vô cấu của bậc Thánh. Gia trì vào nước nóng để làm cho thanh tịnh, cũng thực hành như thế. Khi tắm gội thì đọc bài kệ (Đại 10, 71 hạ): Tắm gội thân thể, nguyện cho chúng sinh, thân tâm không nhơ, trong ngoài đều sạch.

mộc hoa lâm

Papaya forest—See Khổ Hạnh Lâm.

mộc hoạn tử

Vô Hoạn Tử—Một loại cây có khả năng tránh được tà quỷ. Hạt của nó có thể dùng làm tràng hạt. Cây còn mang ý nghĩa bất hại hay an toàn. Nó còn là tên của một loại trái dâu dùng làm xà bông—A tree whose wood can exorcise evil spirits, or whose seeds are used as rosary beads. It is said to be the arista, which means unharmed, secure; it is the name of the soap-berry and other shrubs. ; (木患子) Cũng gọi Vô hoạn tử. Tên khoa học: Koelreuteria paniculata. Cây hoạn tử, thân cao hơn 1 trượng, đầu mùa hạ nở hoa nhỏ màu vàng và kết trái; khi trái chín thì nứt làm ba, bên trong có hạt giống như hạt châu, màu đen và cứng chắc. Xưa nay Ấn độ thường dùng loại hạt này xâu làm chuỗi tràng để xứng niệm danh hiệu Phật, nên kinh Mộc hoạn tử dạy: Nếu muốn diệt trừ phiền não chướng và nghiệp báo chướng thì phải xâu 108 hạt mộc hoạn, thường mang theo bên mình. Tại Trung quốc, vào đầu đời Đường, hạt mộc hoạn cũng đã được dùng để xâu chuỗi niệm Phật. Điều Vô hoạn tử trong Bản thảo cương mục có nêu ra 7 tên gọi khác nhau của hạt mộc hoạn, đó là: Hoàn, mộc hoạn tử, cấm lâu, phì châu tử, du châu tử, bồ đề tử và quỉ kiến sầu. Còn theo lời chú thích trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni thì A lị sắt ca sài tức là mộc hoạn tử; mà A lị sắt ca sài, có lẽ là dịch âm của chữ Phạm Ariwỉakàkwa, nhưng tên khoa học của Ariwỉaka là: Sapindus detergens, khác với cây Koelreuteria panicula ta nói ở trên. [X. Công đức thiên tượng pháp trong kinh Đà la ni tập Q.10; truyện Đạo xước trong Tục cao tăng truyện Q.2; Tuệ lâm âm nghĩa Q.37; điều Vô hoạn tử trong Tăng quảng bản thảo cương mục Q.35].

mộc hương

Kunduruka or Putchuk (skt)—Căn Hương—Huân Lục Hương—Đa Già La—Một loại trầm hương—An incense-yielding tree—The resin of the plant.

mộc khư bao chiết na

(木佉褒折娜) Phạm: Mukha-proĩchana. Hán dịch: Thức diện cân. Tức là khăn lau mặt, 1 trong 13 vật dụng của tỉ khưu. [X. Hữu bộ ni đà na mục đắc ca Q.3].

mộc lan sắc

(木蘭色) Màu đỏ sẫm, 1 trong 3 màu hợp pháp dùng để nhuộm áo ca sa của các vị tỉ khưu. Người Ấn độ gọi mộc lan sắc là càn đà sắc (đỏ nhiều đen ít). Cứ theo luật Ma ha tăng kì quyển 18, thì màu mộc lan, màu xanh và màu đen gọi chung là 3 thứ hoại sắc. Nghiền nát các trái cây a lê lặc, tì hê lặc, a ma lặc v.v..., rồi trộn lẫn với nhau và hòa vào nước thì thành màu mộc lan. Còn theo Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển hạ phần 1, thì vỏ cây mộc lan giống như vỏ quế, hơi có mùi thơm, màu đỏ sậm nhưng tươi sáng; nếu dùng màu này nhuộm Pháp y(ca sa) thì gọi là Mộc lan y. Đến đời sau, các vị trì luật phần nhiều mặc ca sa màu mộc lan, nên gọi là Luật y. [X. luật Tứ phần Q.16; luật Thập tụng Q.15; Hữu bộ tì nại da Q.39; luật Ma ha tăng kì Q.28; luật Ngũ phần Q.9; Bản thảo cương mục Q.37].

mộc loan tử

Seeds used for rosary beads. ; (木欒子) Hạt cây mộc loan, là 1 trong các loại mộc hoạn tử, dùng để xâu tràng hạt niệm Phật. [X. Tục cao tăng truyện Q.20]. (xt. Mộc Hoạn Tử).

mộc luật tăng

A rigid formalist—A wooden pettifogging monk. ; (木律僧) Vị luật tăng giống như tượng gỗ, chỉ cho những người chỉ biết 1 mặt trì luật giữ giới mà không biết cơ dụng linh hoạt.

mộc mã

Con ngựa gỗ, một biểu tượng của sự giải thoát—A wooden horse—A symbol of emancipation. ; (木馬) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Ngựa gỗ. Ngựa gỗ không có tác dụng suy tư, tính toán. Thiền tông dùng từ ngữ này ví dụ trạng thái tương đương giải thoát vô tâm vô niệm. Kinh Niết bàn quyển 18 (bản Nam) (Đại 12, 729 thượng) nói: Bò gỗ, ngựa gỗ, đàn ông gỗ, đàn bà gỗ, đứa trẻ trông thấy cũng tưởng là đàn ông, đàn bà, liền nín khóc. Thiền tông còn có câu Mộc mã du xuân tuấn bất ki (Ngựa gỗ dạo chơi xuân không có dây buộc); dạo chơi xuân biểu thị sự hoạt động, tức chỉ cho sức diệu dụng của sự vô tâm.[X. tắc 3 Thung dung lục].

mộc ngư

Mõ cá bằng cây hay khúc gỗ tròn, móc bọng ruột, làm theo hình cá, với một khe đục nằm ngang để tạo âm hưởng, được dùng để gõ nhịp tụng kinh trong các tự viện. Khi được gõ bằng cái dùi có đầu bọc vải, sẽ phát ra những âm thanh rõ ràng và đặc biệt. Mõ được dùng đầu tiên bên Trung Quốc, nhưng lý nguyên thủy của việc dùng mõ gỗ vẫn chưa được biết rõ. Mõ lớn có thể cao một thước hay mõ nhỏ có thể để được trong lòng. Mõ thường được đánh bóng bằng sơn mài màu đỏ sáng. Người ta nói rằng vì cá luôn mở mắt cả ngày lẫn đêm (không bao giờ ngủ), nên đây là một thí dụ điển hình cho sự tỉnh thức và chăm chú trong nhà Thiền. Có hai loại mõ—The wooden fish is a hollowed-out roundish wooden block, fashioned after some sort of sea creature, with a long horizontal slit for resonance, employed as an accompaniment to sutra chanting in Buddhist temples. When struck by a padded stick it emits a clear and distinctive sound. Wooden fish was first used in China, but the origin of the use of a wooden fish is unknown. This wooden drum may be as large as three feet in height or small enough to hold in the lap. Usually it is lacquered bright red. It is said that a fish always has its eyes open day and night (never sleep), so it is a good example for alertness and watchfulness in Zen. There are two kinds: 1) Hình tròn như vãy cá dùng để gõ khi tụng đọc: A round one for use to keep time in chanting. 2) Một loại giống như hình cá dựng đứng thường treo ở nhà trù, đánh lên khi tới giờ cơm: A long one hanged in front of the mess hall for calling to meals. ; (木魚) Xưa gọi là Ngư cổ, Ngư bản. Pháp khí hình con cá làm bằng gỗ, bên trong rỗng, gõ phát ra tiếng, tức là loại mõ gỗ được dùng trong các chùa hiện nay. Mộc ngư dùng khi tụng kinh thì tròn, khắc thành hình rồng 2 đầu 1 thân, 2 đầu hướng vào nhau, cùng ngậm 1 hạt châu; còn mộc ngư được sử dụng để báo hiệu khi triệu tập đại chúng thì gọi là Ngư bang ( ), có hình con cá dài, thông thường được treo ở hành lang nhà trai, nhà kho, khi thụ trai thì đánh. Sở dĩ tạo hình cá là do sự tích Trương hoa đời Tấn dùng cái dùi bằng gỗ cây vông có khắc hình cá để đánh trống đá; hoặc có thuyết cho rằng vì loài cá ngày đêm đều mở mắt, cho nên làm mộc ngư để gõ, hầu cảnh giác người tu hành không được biếng nhác. Đời sau thì đổi hình cá khắc hình rồng, là do thuyết cá hóa rồng, tượng trưng ý nghĩa từ phàm phu trở thành bậc Thánh. [X. môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên; điều Pháp khí môn Mộc ngư trong Tăng tu giáo uyển thanh qui Q.hạ].

mộc phách thái tử

Một trong những tiền thân của Đức Phật Thích Ca—One of the former incarnations of Sakyamuni.

mộc phật

Tượng Phật bằng gỗ—A Buddha of wood—An image of wood. ; (木佛) Tượng Phật được khắc bằng gỗ. Ở Ấn độ, thời đức Phật còn tại thế, vua Ưu điền đã mời thợ giỏi khắc tượng đức Phật bằng gỗ chiên đàn, đó là pho tượng Phật bằng gỗ đầu tiên trong lịch sử. Thời cận đại, nhiều tượng Phật bằng gỗ được khắc vào thời xưa cũng đã được phát hiện ở các nước vùng Trung á như : Cưu tư (Kizil), Cao xương (Chotscho) v.v...(xt. Mộc Điêu, Phật Tượng).

mộc thôn thái hiền

(木村泰賢) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Nham thủ. Ông tốt nghiệp khoa Triết học Ấn độ trường Đại học Đông kinh. Đầu tiên ông làm Giảng sư, sau ông thăng chức Giáo sư tại trường Đại học Đông kinh. Ông hợp tác với học giả Cao nam thuận thứ lang cùng soạn bộ Ấn độ Triết học Tông giáo sử; sau nhờ bộ Ấn độ lục phái triết học mà ông được viện Học sĩ khen thưởng. Ông có các tác phẩm: A tì đạt ma luận chi nghiên cứu, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận và các sách về Phật học nhập môn, toàn bộ 6 tập.

mộc thượng toà

(木上座) Chỉ cho cây gậy. Cứ theo Sơn đường tứ khảo thì có lần ngài Giáp sơn hỏi ngài Phật ấn: Hòa thượng xà lê cùng đến với ai? Đáp: Mộc thượng tọa! (cây gậy).

mộc thượng tòa

1) Cây già: The elder with the tree. 2) Người thâm niên (trưởng lão): The elder's staff.

mộc thực

Living on wild fruits and nuts. ; (木食) Chỉ cho thức ăn bằng rau quả. Những người tu hành Phật đạo, ẩn dật trong chốn núi rừng, xa lìa ngũ dục thế gian, không ăn những thức ăn nấu nướng, chuyên hành khổ hạnh để mong cầu thành tựu bồ đề. Truyện Trí phong trong Tống cao tăng truyện quyển 8 (Đại 50, 759 hạ) nói: Cấm túc 10 năm, ăn rau quả (mộc thực) uống nước suối.

Mộc Tinh

(木精): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tuế Tinh (歲星), như trong Hậu Hán Thư (後漢書), Truyện Tương Hài (襄楷傳) có câu: “Kim niên Tuế Tinh cửu thủ Thái Vi, nghịch hành Tây chí Dịch Môn, hoàn thiết Chấp Pháp; Tuế vi Mộc Tinh, háo sanh ác sát, nhi yêm lưu bất khứ giả, cữu tại nhân đức bất tu, tru phạt thái khốc (今年歲星久守太微、逆行西至掖門、還切執法、歲爲木精、好生惡殺、而淹留不去者、咎在仁德不修、誅罰太酷, năm nay Tuế Tinh giữ lâu nơi Thái Vi, đi ngược về phía Tây đến Dịch Môn, rồi trở lại đi ngang qua sao Chấp Pháp; Tuế là Mộc Tinh, thích giết vật sống, mà lại ở lâu không đi, cũng tại không tu nhân đức, giết phạt rất khốc liệt).” (2) Linh hồn của cây cối, đồng nghĩa với Mộc Linh (木靈), như trong Thuật Dị Ký (述异記) của Nhiệm Phưởng (任昉, 460-508) nhà Lương thời Nam Triều, có câu: “Thiên niên mộc tinh vi thanh ngưu (千年木精爲青牛, linh hồn cây cối ngàn năm biến thành con trâu xanh).” (3) Con Lân, như trong Cổ Vi Thư (古微書), phần Xuân Thu Diễn Khổng Đồ (春秋演孔圖) có câu: “Lân, mộc chi tinh dã (麟、木之精也, con Lân là linh hồn của cây cối).” Tống Quân (宋均, ?-?) nhà Ngụy (魏, 220-266) thời Tam Quốc chú giải rằng: “Lân, mộc tinh, mộc sanh vu thủy cố viết âm, mộc khí hảo thổ, thổ hoàng mộc thanh, cố Lân sắc thanh hoàng (麟、木精、木生于水故曰陰、木氣好土、土黃木青、故麟色青黃, Lân là linh hồn cây cối; cây cối sanh nơi nước nên gọi là âm; khí cây cối thích đất; đất màu vàng, cây màu xanh, cho nên màu con Lân là xanh vàng).”

mộc tinh

Brhaspati (skt). 1) Lord of increase. 2) The planet Jupiter.

Mộc Trần Đạo Mân

(木陳道忞, Mokuchin Dōbin, 1596-1674): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Mộc Trần (木陳), thường gọi là Sơn Ông (山翁), xuất thân Trà Dương (茶陽), Hồ Châu (湖州, Tỉnh Quảng Đông), họ Lâm (林). Lúc nhỏ ông đã khác với các đứa trẻ bình thường, lớn lên đọc Đại Huệ Lục (大慧錄) và có chí muốn xuất gia. Ông đến tham học và xuất gia với Nhã Vị Minh (若味明) ở Khai Tiên Tự (開先寺), Khuông Lô (匡廬, Lô Sơn), sau đó đi tham yết các bậc danh túc như Hám Sơn Đức Thanh (憨山德清), v.v. Rồi ông đến tham vấn Mật Vân Viên Ngộ (密雲圓悟) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 15 (1642) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), khi Viên Ngộ viên tịch, ông được cung thỉnh làm trú trì Thiên Đồng Sơn (天童山). Về sau, ông sống qua một số nơi khác như Linh Phong Thiền Tự (霛峰禪寺) ở Ngũ Lỗi Sơn (五磊山), Vân Môn Tự (雲門寺) ở Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang), Quảng Nhuận Thiền Tự (廣潤禪寺) ở Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), Đại Năng Nhân Thiền Tự (大能仁禪寺) ở Việt Châu, Đạo Tràng Sơn Vạn Thọ Thiền Tự (道塲山萬壽禪寺) ở Hồ Châu (湖州, Tỉnh Triết Giang), Pháp Khánh Thiền Tự (法慶禪寺) ở Thanh Châu (青州, Tỉnh Sơn Đông), rồi lại trở về Thiên Đồng Sơn. Trong khoảng thời gian này, vào năm thứ 16 (1659) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông vào cung nội thuyết pháp và được ban tặng hiệu là Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師). Đến ngày 27 tháng 6 năm thứ 13 (1674) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 55 hạ lạp. Một số tác phẩm của ông để lại gồm Hoằng Giác Mân Thiền Sư Ngữ Lục (弘覺忞禪師語錄) 20 quyển, Hoằng Giác Mân Thiền Sư Tấu Đối Lục (弘覺忞禪師奏對錄) 3 quyển, Hoằng Giác Mân Thiền Sư Bắc Du Tập (弘覺忞禪師北遊集) 6 quyển, Bố Thủy Đài Văn Tập (布水臺文集) 3 quyển, Ngũ Tông Tịch (五宗闢) 1 quyển, v.v.

mộc xoa

Moksa (skt)—Giải thoát—Deliverance—Emancipation. ** For more information, please see Pratimoksa.

mộc xoa cúc đa

Moksagupta (skt)—A monk of Karashahr, protagonist of the Madhyamayana school whose ignorance Hsuan-Tsang publicly exposed.

mộc xoa đề bà

Moksadeva (skt)—Môn đồ Tiểu Thừa ở Tây Trúc tôn kính ngài Huyền Trang nên gọi ngài là Mộc Xoa Đề Bà hay là Giải Thoát Thiên—A title given by Hinayanists in India to Mahayanadeva, such as Hsuan-Tsang. ; (木叉提婆) Phạm: Mokwadeva. Hán dịch: Giải thoát thiên. I.Mộc Xoa Đề Bà. Từ ngữ do chư tăng Tiểu thừa dùng để tôn xưng Tam tạng Huyền trang khi ngài đang ở Ấn độ. Mộc xoa đề bà, nghĩa là người đã đạt được sự giải thoát tối thắng. [X. Đại đường tây vực kí Q.12]. II.Mộc Xoa Đề Bà. Danh tăng Việt nam, người Giao châu (Bắc Việt nam ngày nay). Sư từng sang Ấn độ cầu pháp, trải qua các nước, đến chùa Đại giác, rồi chiêm bái khắp các Thánh tích và thị tịch tại đây. Lúc đó sư mới hơn 20 tuổi. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng].

mộc xà

(木蛇) I. Mộc Xà. Chỉ cho Ba la đề mộc xoa (Biệt giải thoát). Triều dã quần chép 12 vị luật sư tuyên sắc: Phải siêng năng tu tập, giữ gìn giới pháp (mộc xà). II. Mộc Xà. Chỉ cho thanh Trúc bề (thầy cầm khi hướng dẫn người học để cảnh giác) có khắc hình con rắn. Cảnh đức truyền đăng lục 17 chép, Thiền sư Sơ sơn Quang nhân đang cầm mộc xà, có vị tăng hỏi (Đại 51, 339 hạ): Trong tay sư là cái gì? Sư đưa lên và nói: Tào gia nữ. Tào gia nữ là gọi tắt của Tào khê gia, tức chỉ cho Thiền tông. Có thuyết cho rằng Tào gia nữ là thần Thổ địa hình rắn.

mộc điêu

(木雕) Tượng Phật được chạm trổ bằng gỗ. Gỗ dùng để tạc tượng Phật có nhiều loại, trong đó gỗ chiên đàn là loại quí nhất, kế đến là gỗ chương, gỗ giẻ; cây cối cũng là thứ gỗ khó kiếm, ít bị mối mọt đục được; kế đến nữa là cây nam, cây sam v.v... Ở Ấn độ tư xưa đã thịnh hành việc tạc tượng Phật bằng gỗ. Còn ở Trung quốc thì tượng gỗ được khắc sớm nhất là tượng thờ ở chùa Linh bảo phía bắc núi Cối kê do ông Đới quì tạc vào đời Đông Tấn. Ở Nhật bản thì tượng Tam tôn thờ ở chùa Tỉ tằng tại Cát dã là tượng đầu tiên được khắc bằng gỗ. Có 2 cách tạc tượng gỗ: Khắc cả 1 khối gỗ nguyên vẹn thành pho tượng; hoặc khắc từng bộ phận một, sau đó ráp nối lại với nhau mà thành tượng. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục Q.trung; Lạc dương Thệ nguyện tự duyên khởi].

mộc đầu

1) Người đần độn: Block-head—A stupid person. 2) Kẻ phá giới: One who breaks the commandments. ; (木頭) Đầu bằng gỗ, ví dụ người phạm giới hoặc người không biết mảy may dung thông sự lí. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1009 thượng) nói: Người phạm giới không khác súc sinh, giống như cái đầu bằng gỗ.

mộc đắc la

Mudra (skt)—A seal—Mystic signs with the hands.

mộc đề

Mukti (skt)—Mộc Để—Mục Đế La—Deliverance (giải thoát)—Liberation—Emancipation—The getting rid of evils one by one.

mộng

1) Giấc mộng: Những cái hiện ra trong mộng là không có thực—A dream. 2) Sự huyễn giả của chư pháp: Chư pháp thế gian không có thực tính—A simile of the things of the world. ; (夢) Phạm: Svapna. Pàli: Supina. Tức là những sự tướng mà tâm và tâm sở đã đối cảnh duyên theo lúc ban ngày, bây giờ hiện lại rõ ràng trong giấc ngủ, giống như thấy cảnh hiện thực, gọi là Mộng. Theo kinh Di lan vương vấn tiếng Pàli thì có 6 nguyên nhân khiến người ta thấy mộng trong giấc ngủ, đó là: Bệnh phong, bệnh có nước trong túi mật, bệnh đờm, quỉ thần cám dỗ, thói quen và điềm báo trước. Theo luận Đại tì bà sa quyển 37, thì Mộng mà sau khi tỉnh dậy còn có thể ghi nhớ, kể lại cho người khác nghe, gọi là Mộng hoàn toàn. Còn nếu bàn về tự tính (bản chất) của Mộng thì có các cách nói như: Ý, niệm, ngũ thủ uẩn, tâm, tâm sở v.v... Về lí do thấy mộng, thì luận Đại tì bà sa cũng nêu ra các thuyết trong sách Phệ đà như 5 duyên (lo nghĩ, thói quen, phân biệt, thay đổi ý niệm, loài ma quỉ cám dỗ; hoặc do tha lực, thay đổi ý niệm, đương có, phân biệt, các chứng bệnh) và 7 duyên (thấy, nghe, nhận, mong cầu, phân biệt, đương có, các chứng bệnh). Trong 3 cõi thì mộng chỉ phát sinh ở cõi Dục, không có trong cõi Sắc và cõi Vô sắc. Nhưng trong cõi Dục thì chỉ có Phật là không mộng, còn từ hàng Dị sinh (phàm phu) cho đến các bậc Thánh quả Dự lưu đều có mộng. Theo thuyết của tông Duy thức, trong giấc ngủ say thì hoàn toàn không có ý thức, còn lúc mơ mơ màng màng thì vẫn có ý thức và do có tác dụng ý thức mà có mộng. Tông Duy thức cũng dùng Mộng để ví dụ cái không, vô, hư dối của tính Biến kế sở chấp trong 3 tính Duy thức. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng tất cả việc thấy trong mộng đều là thật, cho nên có tác dụng sinh quả báo. Nhưng các sư thuộc phái Thí dụ thì phủ nhận thuyết này. Luận Đại trí độ quyển 6 cũng gọi mộng là việc chẳng thật, tất cả đều thuộc về vọng kiến. Nhưng mộng cũng có thể dự đoán việc sẽ xảy ra trong vị lai, cho nên ở Ấn độ từ xưa đã có thuật xem mộng rất thịnh hành. Còn trong kinh điển Phật cũng có nhiều bộ ghi chép về mộng, như kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 chép, khi đức Thích tôn gá thai, phu nhân Ma da mộng thấy Bồ tát cỡi voi trắng đi vào trong thai; kinh Ma ha ma da quyển hạ và kinh Đại bát niết bàn hậu phần quyển hạ thì ghi những điềm mộng liên quan đến việc đức Phật nhập diệt. Kinh Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự chép rằng, vua Ba tư nặc đã dựa vào 10 việc thấy trong mộng mà dự đoán về trạng thái xã hội trong vị lai. Kinh Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên và luận Câu xá quyển 9 ghi chép 10 việc mà vua Ngật lật chỉ thấy trong mộng cũng ám chỉ việc sau khi đức Thích tôn nhập diệt, Phật giáo sẽ phát triển mạnh mẽ. Kinh Bát chu tam muội quyển thượng cũng ghi việc thấy Phật trong mộng. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 thì chia mộng thành 4 loại: 1. Mộng do 4 đại không điều hòa, mất quân bình, thì thấy núi lở, thấy mình bay bổng trong hư không, hoặc bị giặc cướp, ác thú rượt đuổi. 2. Mộng thấy trước những việc đã trải qua. 3. Mộng thấy trời người, tùy theo việc đã làm hoặc thiện hoặc ác mà mộng thấy trời người nêu rõ hành vi thiện ác của chính mình. 4. Mộng do tưởng, tưởng đến những hành vi thiện ác đã qua mà mộng thấy các việc thiện ác. Sách đã dẫn còn cho rằng, trong 4 điềm mộng nói trên, chỉ có mộng thấy trời người và mộng do tưởng là thật, còn mộng do 4 đại không điều hòa và mộng thấy trước là hư giả không thật, đồng thời cho rằng không hẳn tất cả mộng đều chịu quả báo. Kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1 chép rằng, 12 vị Mộng vương Đản đồ la là người bảo vệ kinh Đà la ni, thường hiện ra ở trong giấc mộng của những người thụ trì kinh này mà gia hộ. Theo kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2, thì bồ tát Diệu chàng ở trong mộng, thấy quả trống vàng to lớn, rực rỡ, chói lọi, tuyên thuyết phẩm Sám hối, đây chính là sự tích Trống vàng nói pháp. Kinh Xuất sinh bồ đề tâm thì nêu ra 4 loại mộng tốt lành, đó là: Mộng thấy hoa sen, lọng che, mặt trăng tròn và tượng Phật. Trong kinh Phật, những điềm mộng nổi tiếng phần nhiều thuộc về mộng dự đoán vị lai, như kinh A nan thất mộng, ngài A nan từng mộng thấy 7 việc chẳng lành như: 1. Lửa trong ao bốc lên ngút trời. 2. Mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều lặn hết. 3. Các tỉ khưu xuất gia lặn hụp trong hố sâu bẩn thỉu, những người tại gia bạch y bước lên đầu mà ra khỏi hố. 4. Những đàn lợn rừng húc đổ những cây chiên đàn trong rừng. 5. Đầu đội núi Tu di mà không thấy nặng. 6. Voi lớn bỏ voi nhỏ. 7. Trên đầu sư tử có 7 sợi lông dài, nằm chết trên mặt đất, chim thú trông thấy đều sợ hãi, sau thấy trùng từ trong mình sư tử bò ra ăn thịt. Tất cả các việc mộng trên đây đều là điềm báo trước Phật pháp suy diệt trong vị lai. Ngoài ra, kinh Bát mộng trong kinh Tạp bảo tạng quyển 9, kinh Đại mộng bản sinh (kinh Thập lục mộng) trong kinh Bản sinh v.v... đều có ghi những điềm mộng mà về mặt thực tế rất khó lí giải, nhưng đều có ý nghĩa tượng trưng. Nói chung, kinh điển Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa đều có quan điểm và cách giải thích khác nhau về mộng. Kinh điển Tiểu thừa phần nhiều xuyên qua điềm mộng mà ám thị những sự kiện và sự chuyển biến trọng đại, như trường hợp đức Phật trước khi gá thai, phu nhân Ma ha ma da mộng thấy Bồ tát cỡi voi trắng vào thai; trước khi đức Phật nhập diệt, phu nhân Ma ha ma da mộng thấy 5 điềm mộng rất dữ, như núi Tu di lở, nước 4 biển cạn khô v.v... Hoặc như 10 điềm mộng của vua Ba tư nặc, 10 điềm mộng của vua Ngật lật chỉ, 7 điềm mộng của ngài A nan nói trên, đều là quan điểm nguyên thủy và tự nhiên. Còn kinh điển Đại thừa thì phần nhiều giải thích về bản chất của mộng, đồng thời bàn đến vấn đề căn bản là thực thể của mộng có hay không, thiện hay ác...; hoặc căn cứ vào tính chất hư vọng không thực của mộng để ví dụ các pháp hữu vi như huyễn như bóng. Đây là thuộc về quan điểm có tính phê phán, tính siêu hình. [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Đại bảo tích Q.73, 74; luận Đại trí độ Q.6, 64]. (xt. Thập Mộng, Mộng Kinh).

mộng cảm hảo tướng

(夢感好相) Mộng thấy tướng tốt. Cứ theo phẩm An lạc hạnh trong kinh Pháp hoa, nếu người thành tựu 4 hạnh An lạc, thì trong mộng có thể thấy được 5 tướng tốt. Đó là: 1. Mộng thấy đức Phật thuyết pháp. 2. Mộng thấy chính mình thuyết pháp. 3. Mộng thấy tự mình nghe pháp, hiểu suốt nghĩa lí, chứng được trí bất thoái và được Phật thụ kí cho thành Phật ở đời vị lai. 4. Mộng thấy mình sau khi được thụ kí, liền ở nơi rừng núi vắng vẻ tu đạo Bồ tát. 5. Mộng thấy 8 tướng thành đạo của chính mình và chuyển Đại pháp luân. Ngoài ra, theo kinh Xuất sinh bồ đề tâm, nếu trong mộng mà thấy hoa sen, lọng che, mặt trăng tròn và tượng Phật... thì cũng đều là những tướng mộng tốt lành. (xt. Mộng).

mộng du

Sleep-walking.

mộng huyễn

Tính chất của mọi hiện tượng là không thực như mộng như huyễn—Dream and illusion, the characteristics of all phenomena. ; (夢幻) Tức là những vọng tưởng hiện ra trong giấc ngủ (mộng) và những vật giả tạo do nhà ảo thuật biến ra (huyễn). Kinh điển Phật giáo thường dùng mộng và huyễn để ví dụ tất cả các pháp chẳng phải thật có, như kinh Kim cương (Đại 8, 752 thượng) nói: Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh. Kinh Nhập lăng già quyển 4 (16, 536 thượng) nói: Tâm kẻ phàm phu si mê chấp trước, rơi vào tà kiến, vì không biết được đó chỉ là vọng kiến hư dối của tự tâm (...) cho nên ta nói tất cả pháp như huyễn như mộng, không có thực thể. [X. kinh Tu hành đạo địa Q.1; kinh Phật bản hạnh tập Q.7; kinh Nhập lăng già Q.3; kinh Kim quang minh Q.1; luận Đại trí độ Q.6, 95; Bách tự luận]. (xt. Mộng, Mộng Kinh).

mộng huyễn bào ảnh

(夢幻泡影) Mộng: Những vọng tưởng hiện ra trong giấc ngủ; Huyễn: Sự biến hóa của nhà ảo thuật; Bào: Bọt nước; Ảnh: Bóng dáng, Mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ (hạt móc), điện (tia chớp) đều là những tiếng dùng để ví dụ muôn pháp trong thế gian đều hư giả không thật, sinh diệt vô thường. Kinh Kim cương (Đại 8, 752 trung) nói: Tất cả các pháp hữu vi giống như chiêm bao, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt móc và tia chớp, nên quán xét như thế.

mộng hư

(夢虛) Những cảnh tượng hiện ra trong giấc mộng đều hư giả, ví dụ cho các pháp không thực có. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12 (Đại 24, 760 thượng) nói: Khi ngủ, mộng thấy núi lở hoặc bay bổng lên hư không; hoặc thấy hổ (cọp), chó sói, sư tử, giặc đuổi, đây là do 4 đại không hòa hợp mà sinh ra, hư giả chẳng thật.

mộng kinh

(夢經) Chỉ cho những đoạn văn kinh hoặc những bản kinh Phật có liên quan đến mộng. Cách nhìn và sự giải thích về mộng trong các kinh điển của Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa đều khác nhau. Kinh điển Tiểu thừa không phải lấy bản thân mộng làm đối tượng, mà chỉ có ý mượn giấc mộng để ám chỉ 1 sự kiện hoặc 1 biến chuyển trọng đại. Còn kinh điển của Đại thừa thì nói rõ về bản chất của mộng, đồng thời bàn đến vấn đề mấu chốt là mộng có thực thể hay không và nếu có thì thiện, ác khác nhau ra sao? Cho nên, quan điểm của kinh điển Tiểu thừa có tính nguyên thủy, tự nhiên, còn quan điểm của kinh điển Đại thừa thì có tính phê phán, siêu hình. Trong kinh điển Phật giáo, bộ luận đầu tiên bàn về bản chất và tự tính của mộng là luận Đại tì bà sa quyển 37, trong đó có nói (Đại 27, 193 trung): Nếu mộng chẳng phải thực thì trái với Khế kinh. Như vậy, luận này chủ trương mộng là có thật và phải chịu trách nhiệm (nghiệp báo) về đạo đức. Cũng quyển 37 của luận đã dẫn, nêu ra 5 thuyết có liên quan đến tự tính (bản chất, bản thể) của mộng: 1. Các ngài Pháp cứu, Giác thiên căn cứ vào thuyết của các ngài Diệu âm và Thế hữu lấy toàn bộ tác dụng tinh thần của tâm, tâm sở làm bản thể của mộng. 2. Lấy ý làm tự tính của mộng, tức là tác dụng của ý thức trước khi ngủ chợt hiện ở trong mộng. 3. Lấy niệm làm tự tính của mộng, niệm chỉ cho kí ức. Nghĩa là từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai, tác dụng của kí ức liên tục không gián đoạn, đó là tự tính của mộng, bởi thế mới có trường hợp kí ức ở quá khứ hiện ra trong cảnh mộng ở hiện tại và sau khi người ngủ tỉnh dậy có thể kể lại giấc mộng cho người khác nghe. 4. Lấy Ngũ thủ uẩn làm tự tính của mộng. Ngũ thủ uẩn tức là sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Trong khi ngủ, các uẩn đắp đổi giúp đỡ lẫn nhau để cấu thành các việc trong mộng, vì thế lấy đó làm tự tính của mộng. 5. Lấy tất cả pháp (tức là hết thảy muôn tượng tâm và vật) làm tự tính của mộng. Trong kinh điển Phật giáo, có rất nhiều kinh văn liên quan đến mộng, thường thấy hơn cả là điềm mộng lành khi đức Phật gá thai và mộng dữ khi đức Phật nhập diệt. Điềm mộng đức Phật gá thai thấy được chép trong các kinh luận: - Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng. - Kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 3. - Kinh Phổ diệu quyển 2. - Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1. - Kinh Pháp hoa trong phẩm Phổ hiền khuyến phát. - Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp. - Kinh Ma ha ma da. - Thiện kiến luật tì bà sa quyển 12. - Luận Câu xá quyển 9. - Luận Dị bộ tông luân. - Ma ha chỉ quán quyển 2 thượng. Điềm mộng đức Phật nhập Niết bàn được ghi trong các kinh luận: - Kinh Đại bát niết bàn quyển hạ. - Kinh Đại bát niết bàn quyển 40, bản tiếng Phạm. - Kinh Niết bàn hậu phần quyển hạ. - Kinh Ma ha ma da quyển hạ. - Kinh Ca diếp phó Phật bát niết bàn. - Luận Đại trí độ quyển 3. - Điều Câu thi na yết la quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 6. - Pháp uyển châu lâm quyển 10, 12. Ngoài ra, cũng có mộng liên quan đến việc đức Phật xuất gia được ghi trong các kinh điển về Phật truyện như kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 2 v.v... Còn Bát nhã bộ nói về mộng, thì như phẩm Mộng hành trong kinh Đại bát nhã quyển 451, có nêu lên quan điểm của đức Thích tôn và các ngài Xá lợi phất, Tu bồ đề, Di lặc... bàn về nghiệp trong mộng, đây là đại biểu điển hình cho lập trường có tính phê phán, tính suy xét đối với mộng được biểu hiện trong kinh điển Đại thừa và kết luận của kinh điển Đại thừa là mộng đã tiến vào Đệ nhất nghĩa đế. Nghĩa là nếu cho rằng hiện thực và cảnh mộng có sai khác nhau thì tức là vọng kiến, mà triệt để chấp nhận quan điểm hiện thực tức mộng mới phù hợp với tư tưởng Không của Bát nhã. Lại nữa, kinh Đại bát nhã quyển 596 và luận Đại trí độ quyển 6, dùng 10 thí dụ để thuyết minh thực tướng Bát nhã, thì trong đó có 1 dụ như mộng. Trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã quyển 1, nói rõ các pháp đều không, cũng có 1 thí dụ về mộng. Rồi 10 thí dụ trong kinh Duy ma, nói về thân người vô thường, cùng có 1 thí dụ mộng. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 7 cũng có ghi mộng của 3 dâm nữ, nhờ đó để thuyết minh ý chỉ nhiệm mầu của các pháp thực như thế, đều từ niệm sinh. Nhưng điềm mộng trong các kinh như kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1, thuộc Phương đẳng bộ và kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 2, thuộc Bí mật bộ, thì ý thú rất khác với điềm mộng trong kinh Bát nhã nói trên. Trong đó, sự tích Thập nhị mộng vương (Thập nhị thần vương, Thập nhị đại vương) ghi trong kinh Đại phương đẳng đà la ni, sự tích Kim cổ thuyết pháp (Trống vàng nói pháp) trong kinh Kim quang minh tối thắng vương, đều thuộc trường hợp Thiên nhân nhập mộng (Trời người thấy mộng) chứ không phải dùng mộng làm thí dụ để hiển bày ý chỉ mầu nhiệm của lí Không. Trong các kinh Phật hiện còn, những kinh lấy mộng làm chủ đề toàn kinh thì có: 1. Kinh A nan thất mộng, 1 quyển, cũng gọi Thất mộng kinh, do ngài Đàm vô lan dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung nói về việc ngài A nan nằm mộng thấy 7 việc xấu, như thấy những ngọn lửa từ ao hồ bốc lên ngùn ngụtv.v... mà đức Phật tiên đoán đó là điềm báo trước việc Phật pháp sẽ suy tàn trong đời vị lai. 2. Ca chiên diên vị Ác sinh vương giải bát mộng duyên, cũng gọi kinh Bát mộng, do các ngài Cát ca dạ và Đàm diệu cùng dịch vào đời Nguyên Ngụy, được thu vào kinh Tạp bảo tạng quyển 9 trong Đại chính tạng tập 4. Nội dung nói về việc ngài Ca chiên diên giải thích 8 điềm mộng của Ác sinh vương, khiến cho bạo chúa này qui y Tam bảo. 3. Xá vệ quốc vương mộng kiến thập sự kinh,1 quyển, cũng gọi Thập mộng kinh, Vô hi vọng kinh, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Bản dịch khác là Xá vệ quốc vương thập mộng kinh, 1 quyển, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung nói về 10 điềm mộng của vua Ba tư nặc. 4. Cấp cô độc trưởng giả nữ đắc độ nhân duyên kinh, 3 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Có bản dịch khác là Tu ma đề nữ kinh, 1 quyển, do ngài Chi khiêm dịch vào đời Ngô, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung nói về việc đức Phật vì muốn giải thích về nhân duyên quá khứ của nàng Thiện vô độc (Phạm: Sumàgadhà, Tu ma đề), con gái của Trưởng giả Cấp cô độc, nên Ngài thuật lại 10 điềm mộng chẳng lành của vua Ngật lật chỉ (Phạm: Kfkin) ở đời quá khứ cho Thiện vô độc nghe, nhờ đó mà nàng được độ. 5. Đại mộng bản sinh kinh (Phạm: Mahàsupina Jàtaka), cũng gọi Thập lục mộng kinh. Nội dung nói về 10 điềm mộng dữ của vua Ba tư nặc, cùng lời đoán mộng của Bà la môn và sự giải thích của đức Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.7; kinh Tăng nhất a hàm Q.51, kinh Đại bảo tích Q.73, 74; luật Ngũ phần Q.26; kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; luận Đại trí độ Q.64; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2 phần 2; Khai nguyên thích giáo lục Q.15]. (xt. Mộng).

mộng kiến

Tưởng tượng cái mình thấy hay đã thấy trong mộng, hay những cái thấy không có thực—To see in a dream—To imagine one sees, or has seen.

mộng song quốc sư ngữ lục

(夢窓國師語錄) Gọi đủ: Mộng song chính giác tâm tông Phổ tế quốc sư ngữ lục. Cũng gọi Mộng song ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Mộng song Sơ thạch (1275-1351) người Nhật soạn, các sư Bản nguyên và Diệu ba biên tập, ấn hành vào năm 1354, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung chia ra như sau: Quyển thượng: Thu chép Ngữ lục 6 hội ở các chùa: Nam thiền, Tịnh trí, Viên giác, Thiên long v.v... Quyển hạ 1: Thu chép các phần Thăng tòa, Niêm hương, Tiểu Phật sự, Phật tổ tán, Tự tán, Kệ tụng v.v... Quyển hạ 2: Thu chép Phổ tế quốc sư niên phổ, Tây sơn dạ thoại, Tháp minh, Bi minh do Tống liêm soạn, cho đến Thập di (Lâm xuyên gia huấn, Tam hội viện di giới, Tây phương di huấn, Mạt hậu thùy giới, Kệ tụng, Tế văn, Sớ, Lương bài, Pháp ngữ, Phát nguyện văn v.v...) Phần Tây sơn dạ thoại là do ngài Xuân ốc Diệu ba biên tập, được in riêng vào năm 1700, nội dung thu chép những cơ duyên vấn đáp và lời giáo huấn người học của ngài Sơ thạch ở các chùa Thiên long và Tây phương.

Mộng Song Sơ Thạch

(夢窻疎石, Musō Soseki, 1275-1351): vị tăng của Phái Phật Quang thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, hiệu là Mộng Song (夢窻), xuất thân vùng Y Thế (伊勢, Ise, thuộc Mie-ken [三重縣]). Ông xuất gia từ hồi còn nhỏ tuổi, trước học về Thiên Thai, sau chuyển sang Thiền, đến tham bái Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) và được kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó ông đã từng lui về sống ẩn cư ở một số nơi như Long Sơn Am (龍山庵) vùng Giáp Phỉ (甲斐, Kai, thuộc Yamanashi-ken [山梨縣]), Hổ Khê Am (虎溪庵) vùng Mỹ Nùng (美濃, Mino, thuộc Gifu-ken [岐阜縣]), Hấp Giang Am (汲江庵)vùng Thổ Tá (土佐, Tosa, thuộc Kōchi-ken [高知縣]), Bạc Thuyền Am (泊船庵) vùng Tam Phố (三浦, Miura, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), Thối Canh Am (退耕庵)vùng Thượng Tổng (上總, Kazusa, thuộc Chiba-ken [千葉縣]), v.v. Mãi đến năm 1325 (năm thứ 2 niên hiệu Chánh Trung [正中]), nhận sắc chỉ của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (後醍醐天皇, Godaigo Tennō, 1318-1339), ông đến trú trì Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Nhưng rồi năm sau ông lại quay trở về Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), dựng Nam Quang Am (南光庵) và trùng hưng một số chùa như Tịnh Trí Tự (淨智寺), Thoại Tuyền Tự (瑞泉寺), Viên Giác Tự (圓覺寺), v.v. Song vì mệnh lệnh của Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng nên lần thứ hai ông phải quay trở lại trú trì Nam Thiền Tự. Sau khi Thiên Hoàng băng hà, nhận lời thỉnh cầu của Tướng Quân Túc Lợi Tôn Thị (足利尊氏, Ashikaga Takauji), ông đến khai sơn Thiên Long Tự (天龍寺, Tenryū-ji). Ngoài ra ông còn khai sáng một số chùa khác như Lâm Xuyên Tự (臨川寺, Rinsen-ji), Đẳng Trì Viện (等持院, Tōji-in), Chơn Như Tự (眞如寺, Shinyo-ji), Tây Phương Tự (西方寺, Saihō-ji). Vào năm 1351 (năm thứ 6 niên hiệu Chánh Bình [正平]), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi. Môn hạ của ông có Vô Cực Chí Huyền (無極志玄), Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津), v.v. Pháp hệ của ông được gọi là Mộng Song Phái (夢窻派) hay Tha Nga Môn Phái (嵯峨門派), chiếm hầu hết dòng chủ lưu của Thiền lâm thời Trung Đại. Lúc còn sanh tiền, ông đã được bantặng các danh hiệu Quốc Sư như Mộng Song (夢窻), Chánh Giác (正覺), Tâm Tông (心宗); sau khi qua đời ông còn được ban tặng các danh hiệu khác như Phổ Tế (普濟), Huyền Du (玄猷), Phật Thống (佛統), Đại Viên (大圓) và được tôn xưng là Thất Triều Đế Sư. Các trước tác để lại của ông có Mộng Song Lục (夢窻錄), Mộng Song Pháp Thoại (夢窻法話), Cốc Hưởng Tập (谷響集), Mộng Trung Vấn Đáp (夢中問答), Tây Sơn Dạ Thoại (西山夜話), v.v. ; 夢窗疏石; J: musō soseki; 1275-1351;|Thiền sư Nhật Bản danh tiếng thuộc tông Lâm Tế. Sư là người rất có công trong việc truyền bá tông phong Lâm Tế tại Nhật, được Nhật hoàng phong danh hiệu Quốc sư.|Sư sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc, mất mẹ năm bốn tuổi. Vừa lên tám, Sư đã xuất gia và ban đầu chuyên tu tập theo Mật giáo (j: mikkyō). Trong khoảng thời gian 10 năm, Sư thu thập tất cả những ấn tượng huyền bí của Mật giáo tại đây. Một năm sau khi thụ giới cụ túc (1292), Sư chuyển sang tu tập theo phương pháp của Thiền tông. Nguyên nhân của sự thay đổi này chính là cái chết bi thảm của một vị thầy. Sư tự thấy rằng, vấn đề chính của cuộc sống là sinh tử luân hồi không thể giải quyết được bằng tri thức uyên bác, kiến thức của một học giả. Trong thời gian 100 ngày sau khi vị thầy lâm chung, Sư tụng kinh cầu an cho vị thầy và nhân đây, Sư có một giấc mộng rất quan trọng. Trong giấc mộng này, Sư được gặp hai vị Thiền sư Trung Quốc quan trọng đời Ðường là Thạch Ðầu Hi Thiên (石頭希遷; c: shítóu xīqiān; j: sekitō kisen) và Sơ Sơn Quang Nhân (疏山光仁; c: chūshān guāngrèn; j: sozan kōnin), một môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Thạch Ðầu xuất hiện dưới dạng một vị tăng của Chân ngôn tông, Sơ Sơn dưới dạng Bồ-đề Ðạt-ma. Sau giấc mộng này, Sư tự đặt tên cho mình là Sơ Thạch (so-seki) – ghép từ hai chữ đầu của Sơ Sơn và Thạch Ðầu. ›Cửa sổ của giấc mộng‹ (夢窗; Mộng Song; j: mu-sō) đã mở rộng, hướng dẫn Sư trên con đường Thiền.|Sau đó, Sư yết kiến nhiều vị Thiền sư danh tiếng đương thời – một trong những vị này là Nhất Sơn Nhất Ninh (c: yīshān yīníng; j: issan ichinei), một vị Thiền sư Trung Quốc danh tiếng – nhưng không hài lòng với những phương pháp tu tập của những vị này. Nghe danh của Thiền sư Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日; j: kōhō kennichi), Sư liền đến tham học. Sư học không lâu nơi Cao Phong nhưng vẫn được xem là môn đệ vì sau này Cao Phong chính là người Ấn khả cho Sư.|Vào một ngày tháng năm (1305), đang trên đường trở về am và trong lúc mệt mỏi, Sư vừa muốn dựa lưng vào tường thì có cảm giác bức tường bỗng nhiên biến mất, Sư té xuống và nhân đây ngộ được yếu chỉ thiền.|Sau sự việc quan trọng này, Sư vẫn chu du đây đó, chú tâm đến việc Toạ thiền (j: zazen). Cuối cùng, Sư nhận lời mời trụ trì Thiên Long tự (j: tenryū-ji) tại Kinh Ðô – một ngôi chùa được xếp vào hệ thống Ngũ Sơn (j: gosan) – và trở thành một nhân vật quan trọng của nền văn hoá Phật giáo tại đây.|Sư cũng là một trong những tác giả đứng hàng đầu của phong trào Ngũ Sơn văn học (j: gosan bungaku), một phong trào rất quan trọng trong việc truyền bá văn hoá, khoa học và nghệ thuật của Trung Quốc sang Nhật. Tên của Sư gắn liền với nhiều việc khai sơn, sáng lập thiền viện và đích thân Sư cũng trụ trì nhiều thiền viện danh tiếng, trong đó có Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa với những kiến trúc, vườn cảnh nổi danh trên thế giới. Dưới sự chỉ đạo của Sư, một vị Tướng quân (shōgun) với tên Túc Lợi Tôn Thị (j: ashikaga takauji) truyền lệnh lập 66 ngôi chùa ở 66 nơi khác nhau với tên An Quốc tự (j: ankoku-ji) và từ đây, Thiền tông được truyền bá khắp nước Nhật. Một trong những tác phẩm quan trọng của Sư là Mộng trung vấn đáp (muchū-mondō), trong đó, Sư trình bày các yếu chỉ của Thiền tông qua các câu hỏi và trả lời. Ngoài ra, Sư cũng nổi danh trong nghệ thuật Thư đạo (shodō). Sư được bảy vị Nhật hoàng tôn làm thầy và được phong bảy danh hiệu khác nhau. Dưới danh hiệu Mộng Song Quốc sư, Sư đi vào lịch sử của Phật giáo Nhật Bản.

mộng song sớ thạch

(夢窗疏石) Thiền sư Nhật bản, thuộc tông Lâm tế, người huyện Y thế, họ Nguyên, tự Mộng song, là hậu duệ của Thiên hoàng Vũ đa. Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Không a ở chùa Bình diêm sơn học nội ngoại điển. Năm 26 tuổi, sư xuất gia, theo ngài Ngưng nhiên ở viện Giới đàn thụ giới, sau đó, đi khắp nơi học Hiển giáo và Mật giáo. Ít lâu sau, sư nhận ra rằng Phật pháp vốn không phải là Nghĩa học, nên chuyển sang tham thiền, thờ các ngài Nhất sơn Nhất ninh, Cao phong Hiển nhật làm thầy và được ngài Hiển nhật ấn khả. Năm 1325, sư nhận lời thỉnh của Thiên hoàng Hậu đề hồ, trụ ở chùa Nam thiền tại kinh đô (Kyoto), chùa Viên giác ở Liêm thương, xiển dương Thiền phong. Sau khi họ Bắc điều bị diệt vong, sư từ Liêm thương dời về Kinh đô để tránh loạn lạc, ở đây, sư được dòng họ Túc lợi tôn kính, giúp sức xây dựng tháp Lợi sinh ở chùa An quốc. Để truy niệm Thiên hoàng Hậu đề hồ, sư sáng lập chùa Thiên long và làm vị khai sơn đời thứ nhất. Ngoài ra, sư còn chỉ đạo công trình tạo lập các hoa viên nổi tiếng ở các chùa Tây phương, chùa Thiên long, chùa Vĩnh bảo (Mĩ nùng), chùa Hấp giang (Cao tri), chùa Thụy tuyền (Liêm thương), chùa Huệ lâm (Giáp phỉ) v.v... Năm 1346, đệ tử của sư là Vô cực Chí huyền kế thừa pháp tịch chùa Thiên long, xiển dương tông phong của thầy và sau phát triển thành phái Mộng song (phái Tha nga môn), còn sư thì lui về ẩn ở am Vân cư. Năm 1351, sư thị tịch, thọ 77 tuổi. Lúc sinh tiền, sư được vua ban các hiệu: Mộng Song Quốc Sư, Chính Giác Quốc Sư, Tâm Tông Quốc Sư; sư cũng được đời sau truy tặng các hiệu: Phổ Tế Quốc Sư, Huyền Du Quốc Sư, Phật Thống Quốc Sư và Đại Viên Quốc Sư. Đệ tử nối pháp gồm hơn 50 người, trong đó nổi tiếng hơn cả là các vị: Vô cực Chí huyền, Xuân ốc Diệu ba, Long tưu Chu trạch, Nghĩa đường Chu tín, Cổ kiếm Diệu khoái, Quán trung Trung đế v.v... Sư có các trứ tác: Mộng trung vấn đáp tập 3 quyển, Lâm xuyên tự gia huấn, Ngữ lục 3 quyển. [X. Thiên long khai sơn Mộng song chính giác tâm tông Phổ tế quốc sư niên phổ; Mộng song chính giác tâm tông quốc sư tháp minh tinh tự; Diên bảo truyền đăng lục Q.19].

mộng sơn đức dị

(?-1104)—Ông thuộc đời thứ tám của dòng Thiền Ngũ Tổ Pháp Diễn. Mộng Sơn đã kể lại những kinh nghiệm Thiền của mình như sau—Mung-Shan-Te-I, who was the eighth descendant of Fa-Yen of Wu-Tsu. Mung-Shan told the following stories of his experience in Zen: • Năm 20 tuổi tôi mới quen biết với Thiền, cho đến năm 32 tuổi, tôi đã thăm viếng 17 hay 18 Thiền sư, hỏi họ về cách thực hành pháp môn Thiền, nhưng không ai chỉ ra manh mối. Sau nầy khi đến tìm trưởng lão Hoàn Sơn, ngài dạy tôi hãy nhìn vào ý nghĩa của 'Vô,' và nói thêm 'hãy chăm chú vào chữ Vô suốt cả ngày đêm không ngừng nghỉ, như con chuột đang rình mèo, như gà mái ấp trứng. Khi chưa thấy rõ, hãy như con chuột gặm nhắm cái rương gỗ và đừng bao giờ xao lãng công phu. Thực hành công phu như vậy, chắc chắn thời cơ bừng sáng của tâm ngươi sẽ đến—When I was twenty years old, I became acquainted with Zen, and before I was thirty-two I had visited seventeen or eighteen Zen masters asking them as to their method of discipline, but none were able to enlighten me on the most important point. When later I came to the master Huan-Shan, he told me see into the meaning of 'Wu,' and added, 'Be vigilant over your WU through all the periods of the day, as constantly vigilant as a cat is when she tries to catch a rat, or as a hen is while sitting on the eggs. As long as you have as yet no insight, be like a rat gnawing at the coffin-wood and never vacillate in your exertion. As you go on with your task like that, the time will surely come when your mind will become enlightened.” • Y theo lời dạy nầy, tôi chăm chỉ thực hành, ngày đêm không nghỉ. Rồi trải qua 18 ngày. Bỗng nhiên khi đang uống trà tôi chợt hiểu cái cười nụ của Ca Diếp khi Đức Phật đưa lên một cành hoa trước đại chúng. Tôi mừng rỡ khôn xiết; đi cầu một vài vị trưởng lão của Thiền, nhưng các ngài không trả lời rõ rệt, có vị bảo tôi hãy dùng bảo ấn tam muội mà ấn chứng mười phương thế giới, chứ đừng bận lòng đến thứ gì khác. Tôi tin lời nầy, trải qua hai năm, năm hiệu Cảnh Định thứ năm (1265), tôi đang lở tại tỉnh Tứ Xuyên, phủ Trùng Khánh, đang nguy kịch vì bị bệnh kiết nặng. Không còn chút lực nào, cả đến hải ấn tam muội cũng không giúp gì trong lúc nầy. Kể cả cái hiểu về Thiền đã từng có cũng chẳng giúp tôi được. Lưỡi không chịu nói, thân thể không chịu cử động; chỉ còn chờ chết là hết. Quá khứ diễn ra trước mắt: những điều đã làm, những cảnh ngộ đã từng trải; thế là tôi ở trong một trạng thái tuyệt vọng ghê gớm và hết còn biết cách nào thoát khỏi cái dày vò của nó. Sau cùng cố gắng tự chủ, tôi phân phó ý muốn của mình, rồi lặng lẽ đứng dậy, thắp một ít nhang, dọn lại cái bồ đoàn cũ kỹ; làm lễ Tam Bảo, Thiên Long và thầm sám hối những tội chướng tiền khiên. Tôi khấn nguyện rằng nếu tôi hết kiếp nầy thì mong nhờ năng lực của Bát Nhã mà tái sinh trong một gia đình tốt đẹp và được xuất gia từ khi hãy còn bé bỏng. Nhưng nếu tôi được lành bệnh, tôi muốn được xuất gia ngay và hiến cả cuộc đời còn lại để học Thiền. Nếu được giác ngộ, tôi sẽ cứu giúp mọi người cũng được giác ngộ như mình. Sau lời khấn nguyện này, tôi đề khởi chữ Vô trong lòng vá quay ánh sáng soi vào trong mình. Không lâu, tôi nghe trong tạng phủ máy động đôi ba lần, nhưng không để tâm đến; một lúc sau lông mày tôi nghe cứng không chịu chớp, và lát nữa tôi hết biết đến thân thể của mình; chỉ có chữ Vô còn lại trong lòng thôi. Đến chiều tôi rời chỗ ngồi và thấy bệnh mình bớt được một nửa; tôi ngồi xuống trở lại cho đến khi gần sáng. Bấy giờ bệnh hoàn toàn biến mất. Giờ đã bình phục, thân tâm như thơ thới—Following this instruction, I steadily applied myself to the work, day and night. Eighteen days thus elapsed. Suddenly, when I was taking tea, I cam upon the meaning of Kasyapa's smile, which was elicited when the Buddha produced a flower before a congregation of his disciples. I was overjoyced; I wished to find out whether my understanding was correct and called upon a few masters of Zen. They, however, gave me no definite answer; some told me to stamp the whole universe with the stamp of Sagara-mudra-samadhi, and not to pay attention to anything else. Believing this, I passed two years. In the sixth month of the fifth year of Ching-Ting (1265), I was in Ch'ing-Ch'ing, Szu-Ch'uan, and suffering a great deal from dysentary, was in a most critical condition. No energy was left in me, nor was the Sagaramudra of any avail at this hour. Whatever understanding of Zen I had all failed to support me. The tongue refused to speak, the body to move; all that remained was to greet death. The past unrolled itself before me, the things I had done, as well as the situations I had been in; I was thus in a ghastly state of despondency and completely at a loss as to how to escape from its torture. At last, determining to be master of myself, I managed to make my will. I then got up quietly, lit some incense, arranged the invalid cushions; I made bows to the Triple Treasure and also to the Naga gods, and silently confessed my previous sins before them. I prayed that if I were to pass away at this time I might be reborn through the power of Prajna in a good family and become a monk in my early years. But if I should be cured of this disease I wanted to become a monk at once and devote the rest of my life entirely to the study of Zen. If an illumination should come I would help others even as myself to get enlightened. After making this prayer, I set up “WU” before my mind and turned the light within myself. Before long I felt my viscera twist for a few times, but I paid no attention; it was after some time that my eyelids became rigid and refused to blink, and later on I became unconscious of my own body; the “WU” alone occupied my consciousness. In the evening I arose from my seat and found that I was half cured of the disease; I sat down again until the small hours of the morning when the physical disorder completely disappeared. I was myself again, well and in good spirits. • Tháng tám năm ấy, tôi đến Giang Lăng thí phát làm sư. Gần hết một năm tôi đi hành cước, và lúc đang thổi cơm thì thấy ra rằng việc tu tập công án phải giữ không gián đoạn và với công phu liên tục. Rồi tôi đến trú ngụ tại Hoàng Long. Lần thứ nhất buồn ngủ, tôi vận dụng ý chí chống lại và vẫn ngồi như cũ, cơn buồn ngủ bị chinh phục dễ dàng. Lần thứ hai buồn ngủ, tôi tống khứ nó y như lần trước. Lần thứ ba cơn buồn ngủ xâm chiếm nặng nề, tôi bước xuống khỏi chỗ ngồi và đi lễ Phật, nhờ vậy mà thấy tỉnh táo lại. Trở lại chỗ ngồi và tiếp tục tiến tới. Nhưng sau hết lúc phải đi ngủ tôi dùng gối kê đầu và ngủ được một chút; sau đó, lấy cánh tay làm gối, và cuối cùng hoàn toàn khỏi phải nằm dài xuống. Qua hai đêm như thế, đến đêm thứ ba, tôi mệt nhọc đến độ như thấy chân không chấm đất. Bỗng đâu đám mây mù như che mắt nay được quét sạch, tôi thấy như vừa tắm xong, hoàn toàn mát mẻ—In the eighth month of the same year I went to Chiang-Ling and had my head shaved to become a monk. Before the year was over, I went on a pilgrimate, and while cooking rice I found out that the koan exercise must be carried on uninterruptedly and with continuous effort. I then settled myself at Huang-Lung. When I felt sleepy for the first time I exercised my will to resist it and kept on sitting, when the sleepiness was early vanquished. When I became sleepy a second time, I drove it away in a similar manner. A third attack was too strong; I got down from my seat and made bows to the Buddha, which revived me. I resumed my seat and the process had to be repeated. But when at last I had to sleep I used a pillow and slept a little; later my elbow was substituted for the pillow, and finally I altogether avoided lying down. Two nights were thus passed; on the third night I was so fatigued that I felt as if my feet did not touch the ground. Suddenly the dark cloud that seemed to obstruct my vision cleared away, and I felt as if I had just come from a bath and was thoroughly rejuvenated. • Còn về công án thì nghi tình là nặng nhất và công án sừng sững ra đấy mà không cần dụng công. Tất cả những cảm giác ngoại thân, những ngũ dục và bát phong không còn quấy phá nữa; tự mình trong suốt như một chén pha lê đầy tuyết, như trời thu quang đãng không mây. Công phu cứ diễn tiến rất tốt đẹp như thế, nhưng chưa có chút dứt khoát nào. Sau đó tôi giã từ chùa du hành sang Chiết Giang. Dọc đường vì quá nhiều mệt nhọc nên công phu Thiền cũng suy giảm. Tôi đến chùa Thừa Thiên, nơi đây Cô Thiềm Hòa Thượng đang trụ trì, và tạm thời dừng chân ở đó. Tôi tự thệ sẽ không rời khỏi nơi nầy cho đến khi nào lãnh hội được đạo Thiền. Hơn một tháng sau, tôi lấy lại công phu đã mất. Bấy giờ khắp mình ghẻ lỡ; nhưng vẫn quyết tâm giữ vững công phu dù có đánh đổi cả cuộc đời. Nhờ đó mà tâm lực được mạnh mẽ thêm nhiều, và biết giữ vững công phu của mình ngay cả lúc bệnh hoạn—As to the koan, a state of mental fixation prevailed, and the koan occupied the centre of attention without any conscious striving on my part for it. All external sensations, the five passions, and the eight disturbances, no longer annoyed me; I was as pure and transparent as a snow-filled silver bowl or as the autumnal sky cleared of all darkening clouds. The exercise thus went on quite successfully but as yet with no turning point. Later I left this monastery and travelled to Chê-Chiang. On the way I experienced many hardships and my Zen exercise suffered accordingly. I came to the Ch'eng-T'ien monastery which I was presided over by the Master Ku-Ch'an, and there took up my temporal habitation. I vowed to myself that I would not leave this place until I realized the truth of Zen. In a little over a month I regained what I had lost in the exercise. It was then that my whole body was covered with boils; but I was determined to keep the discipline even at the cost of my life. This helped a great deal to strengthen my spiritual powers, and I knew how to keep up my seeking and striving even in illness. • Một hôm được mời đi thọ trai, suốt trên đường đến nhà trai chủ, vừa đi vừa đeo đuổi công án, mãi miết trong công phu tu tập cho tới ngang qua nhà mà vẫn không hay mình đang ở đâu. Nhờ vậy mà tôi hiểu ra thế nào gọi là thực hành công phu ngay trong mọi động dụng. Đến đây thì tâm cơ của tôi như mặt trăng phản chiếu từ lòng sâu của dòng nước đang chảy; mặt nước tuy chảy xiết, nhưng mặt trăng vẫn y nhiên bất động—One day, being invited out to dinner I walked on with my koan all the way to the devotee's house, but I was so absorbed in my exercise that I passed by the house without even recognizing where I was. This made me realized what was menat by carrying on the exercise even while engaged in active work. My mental condition then was like the reflection of the moon penetrating the depths of a running stream the surface of which was in rapid motion, while the moon itself retained its perfect shape and serenity in spite of the commotion of the water. • Ngày mồng sáu tháng ba, tôi đang ngồi trên bồ đoàn, tâm niệm chữ Vô như thường lệ thì vị Tăng thủ tòa bước vào Thiền đường. Tình cờ thầy làm rơi hộp nhang trên nền nhà, khua lên một tiếng. Tiếng động chợt khơi tỏ tâm mình thấy một viễn tượng tâm linh mới mẻ, và cùng với tiếng kêu tôi thấu triệt tự thể của mình, chộp được ông già Triệu Châu (tác giả chữ Vô). Tôi buộc miệng đọc ngay một bài tụng: “Một hứng lộ đầu cùng Đạp phiên ba thị thủy Triệu Châu lão siêu quần Diện mục chỉ như thị (Đường đi chợt hết bước Dẫm ngược, sóng là nước Già Triệu Châu quá chừng Mặt mày chẳng chi khác). On the sixth of the third month I was holding “WU” in my mind as usual while sitting on the cushion, when the head-monk came into the meditation hall. Accidentally he dropped the incense-box on the floor, making a noise. This at once opened my mind to a new spiritual vista, and with a cry I obtained a glimpse into my inner being, capturing the old man Chao-Chou (the author of WU). I gave voice to the following stanza: “Unexpectedly the path comes to an end When stamped through, the waves are the water itself. They say, old Chao-Chou stands supremely above the rest, But nothing extraordinary I find in his features.” • Suốt mùa thu, tôi tham vấn các đại danh Tăng như Tuyết Nham, Thối Canh, Thạch Khanh và Hư Chu. Hư Chu khuyên tôi đến kiếm Hoàn Sơn. Khi tôi đến gặp Hoàn Sơn, ngài hỏi: “Quang minh tịch chiếu khắp cả hà sa thế giới, đây há không phải là lời của tú Tài Trương Chuyết?” Tôi sắp mở miệng thì Hoàn Sơn hét một tiếng và đuổi tôi đi chẳng chút lễ độ. Nhờ đấy mà tôi đổi ngược hẳn, và từ đây, tâm tôi chuyên chú vào thái độ này của ngài. Khi đi hay ngồi, ăn hay uống, tâm tôi phó thác vào đó—During the autumn I interviewed masters of high reputation such as Hsueh-Yen, T'ui-Kêng, Shih-Fan, and Hsu-Chou. The last-mentioned advised me to to go to Huan-Shan. When I saw Huan-Shan, he asked: “The light, serenely illuminating, fills all the universe to its furthest limits, are these not the words of the literari Chang-Chuo?” I was about to open my mouth when Huan-Shan gave a “Kwatz!” and dismissed me unceremoniously. This upset me, and since then my thoughts were concentrated on this attitude of the master. Walking or sitting, eating or drinking, my mind was occupied with it. • Sáu tháng trôi qua, vào một ngày mùa xuân năm sau, khi đi dạo từ ngoài thành trở về, vừa bước lên bực thang đá, thì giá lạng đóng băng trong óc não từ lâu chợt tan chảy, tôi quên mình đang đi trên đường. Tôi đi thẳng đến Hòa Thượng, và ngay khi lập lại câu hỏi của tôi trước kia, tôi bèn lật ngược Thiền sàng của ngài. Bây giờ tôi đã hiểu rõ trọn vẹn công án mà những nút thắt thật là khó nối kết—Six months passed when, one day in the spring of the following year, I was returning from an out-of-town trip and was about to climb a flight of stone steps, when the solid ice that had been clogging my brain for so long unexpectedly melted away, and I forgot that I was walking on the roadway. I immediately went to the master, and when he repeated the question I overturned his seat. I now thoroughly understood the koan, whose knots had been so hard to unite. • Này các nhân giả: Hãy đi cho trọn lối tham Thiền. Giả sử tôi không bị bệnh ở Trùng Khánh, cuộc đời của tôi lẽ ra đã trôi xuôi. Cần thiết phải gặp một vị thầy thật sáng suốt. Hãy xem cổ nhân đã dốc lòng hăng hái và bền bĩ cả ngày đêm tham thiền hầu dễ thấu đáo đạo lý cứu cánh của Thiền—Oh Brother! Be thorough going in your Zen exercise. If I had been taken ill when at Chung-Ch'ing my life might have been almost wasted . The main thing is to be introduced to a master with really spiritual insight. Consider how earnestly and steadily the ancient master devoted themselves both day and night to the study of Zen in order to grasp the ultimate truth of it.

mộng trung thuyết mộng

(夢中說夢) Tức ở trong mộng nói việc chiêm bao, ví dụ cho hư vô. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 59 (Đại 7, 1084 trung) nói: Này Thiện Dũng mãnh! Như người trong mộng nói mộng, thấy các tự tính. Nói tự tính trong chiêm bao như thế là không thể có được. Tại sao? Thiện Dũng mãnh! Vì mộng còn chẳng có, huống chi là nói có tự tính của cảnh mộng?.

mộng trung vấn đáp tập

(夢中問答集) Gọi tắt: Mộng trung vấn đáp, Mộng trung tập. Tác phẩm, 3 quyển, do Thiền sư Mộng song Sơ thạch người Nhật soạn, ông Túc lợi Trực nghĩa ghi chép, được ấn hành vào năm 1344. Đến năm 1912, được đưa vào Thiền học đại hệ tổ lục bộ. Nội dung trình bày về yếu chỉ tham thiền và cách dụng tâm tu hành. Toàn sách được viết theo thể vấn đáp, gồm 91 điều: -Quyển thượng có 22 điều, ghi chép về phúc nghiệp, xuất li sinh tử, chính đạo, Phật pháp, ma đạo, ma nghiệp. -Quyển trung có 37 điều, ghi chép về chính trí vọng tưởng, giáo thiền vô biệt, phát Bồ đề tâm, công phu tọa thiền. -Quyển hạ gồm 32 điều, liên quan đến sắc tâm bất nhị, chân tâm vọng tâm, chư pháp thực tướng, Đại tiểu quyền thực, giáo ngoại biệt truyền...

mộng tướng

(夢相) Chỉ cho các tướng thiện, ác hiện ra trong mộng; ở đây chỉ cho các tướng hiện ra trong mộng của Thập nhị mộng vương nói trong kinh Đại phương đẳng đà la ni quyển 1(do ngài Pháp chúng dịch vào đời Bắc Lương). Thập nhị mộng vương, cũng gọi Thập nhị thần vương, Thập nhị đại vương. Đó là: Đản đồ la, Cân trì la, Mậu trì la, Càn cơ la, Đa lâm la, Ba lâm la, Đàn lâm la, Thiền đa lâm la, Cùng già lâm la, Ca lâm la, Cùng già lâm la và Bà lâm la, trong đó, Mộng vương thứ 9 và thứ 11 trùng tên nhau. Cứ theo kinh Đại phương đẳng đà la ni, đức Phật từng tuyên thuyết Ma ha đản đặc la (Phạm: Mahàtantra-dhàraịì) cho 8 vạn 4 nghìn chúng Bồ tát, đứng đầu là bồ tát Tốt tụ, khiến họ được đại công đức, đồng thời, đức Phật dạy: Đản đặc la này không được truyền riêng, mà phải có 12 vị Mộng vương nói ở trên làm chứng, nếu thấy 1 trong 12 vị Mộng vương là có thể tuyên nói Đản đặc la này. Mười hai vị Mộng vương này cùng phát nguyện, nếu có hành giả nào thụ trì đọc tụng kinh Đà la ni, thì 12 vị ấy sẽ hiện đến trong mộng của hành giả này để hộ trì, khiến họ chứng được Đà la ni.[X. kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự tính luân vương Q.2].

mộng tưởng

Nghĩ đến những điều trong mộng, tưởng tượng hay nghĩ đến những chuyện không có thật—To dream a thing—To think of a dream—To imagine.

mộng yểm

Ác mộng—Nightmare.

mộng điệp

(夢叠) Điềm mộng của vua Tần bà sa la, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Khi đức Phật còn tại thế, vua Tần bà sa la mộng thấy một tấm vải dạ bị xé rách làm 18 mảnh, đức Phật tiên đoán sau khi Ngài thị tịch, giáo đoàn sẽ chia ra 18 bộ phái. [X. Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.1]. (xt. Tần Bà Sa La Mộng).

Mộng Đường Đàm Ngạc

(夢堂曇噩, Mudō Dongaku, 1285-1373): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Mộng Đường (夢堂), hiệu Tây Am (西庵), họ Vương (王), xuất thân Từ Khê (慈溪, Tỉnh Triết Giang). Năm lên 6 tuổi, ông đã mất cha, vâng lời mẹ học Nho Giáo. Tuy nhiên, ông có chí cầu xuất thế, nên tôn Lương Công (良公) ở Quảng Pháp Viện (廣法院) vùng Phụng Hóa (奉化, Tỉnh Triết Giang) làm thầy. Năm 23 tuổi, ông đi du hành khắp đó đây, tham yết Tuyết Đình Truyền Công (雪庭傳公) ở Trường Lô (長蘆), Chơn Châu (眞州, Tỉnh Giang Tô) và chính thức xuống tóc xuất gia với vị này và thọ Cụ Túc giới. Khi nghe Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端) chuyển từ Trung Thiên Trúc (中天竺) sang Linh Ẩn Tự (靈隱寺), ông đến xin tham học, được đại ngộ và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 5 (1339) niên hiệu Chí Nguyên (至元), ông bắt đầu khai đường thuyết pháp ở Hàm Thánh Tự (咸聖寺) vùng Tứ Minh (四明, Tỉnh Triết Giang), rồi sau chuyển sang Khai Thọ Tự (開壽寺) ở Từ Khê (慈溪). Nhà vua ban tặng cho ông hiệu là Phật Chơn Văn Ý (佛眞文懿). Đến năm thứ 17 (1357) niên hiệu Chí Chánh (至正), ông làm tổ khai sơn Thoại Quang Viện (瑞光院). Vào năm thứ 26 (1366) cùng niên hiệu trên lúc 82 tuổi, ông biên tập bộ Lục Học Tăng Truyện (六學僧傳) 30 quyển. Đến năm thứ 3 (1370) niên hiệu Hồng Võ (洪武), khi nhà vua mời chúng tăng vào cung nội, ông dẫn đầu mọi người, lưu trú tại Thiên Giới Tự (天界寺). Vào tháng 2 năm thứ 6 (1373) niên hiệu Hồng Võ, ông thị tịch, hưởng thọ 89 tuổi.

mộng ảo

Illusion—Visionary.

Một

沒 (没); C: mò; J: mochi;|Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ, diệt (滅, s: nirodha); 2. Phủ định; không, chẳng phải.

một

1) Số một: One. 2) Chìm mất: Sunk. 3) Qua đời: Gone.

một ba tị

(沒巴鼻) Cũng gọi Vô ba tị, Một khả bả. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là không có chỗ để có thể nắm bắt. Ba cùng nghĩa với bả ( ), chỉ cho cái cán cầm, tức chỗ căn cứ. Ba tị, chỉ cho chỗ xỏ cái ròng rọc ở mũi con trâu, bởi thế Thiền tông dùngmột ba tị để chỉ cho ý nghĩa không cách nào nắm bắt được. Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư quyển 29 (Đại 47, 934 trung) nói: Xem tới xem lui, biết rõ chẳng có chỗ nắm bắt(một ba tị), chẳng có chất vị gì. Khi trong lòng buồn bực, thì chính là lúc nên gắng sức.

một ba tỵ

Không có chóp mũi, không thể nắm được, không có yếu lĩnh—No nose to lay hold of, no lead, no bases.

một chuyển ngữ

Chuyển là nghĩa vô trụ, Thiền tông khám xét người học, nếu đáp được một chuyển ngữ thì được ấn chứng là ngộ.

một cách có văn hóa

In a cultural manner

một cách cụ thể

A concrete way.

một duệ đạt lợi sắt chí

Mayadrsti (skt)—Ngã kiến, mê chấp có cái ta—Illusion-views, interpreted by egoism, the false doctrine that there is a real ego.

một giao thiệp

Không liên quan, không ăn nhập với nhau—No inter-relation. ; (沒交涉) Cũng gọi Vô giao thiệp. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hai việc trái ngược, không ăn khớp nhau, hệt như hỏi đông mà đáp tây, hoặc như đầu Ngô mình Sở, chẳng liên quan gì với nhau. Lâm tế ngữ lục nói: Nếu mắt của người học vừa chớp thì đã không liên quan rồi (một giao thiệp).

một hai khi

Sometimes.

một huyền cầm

(沒弦琴) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cây đàn không dây, không âm thanh. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho tiếng vang linh diệu không âm thanh, hoặc ý chỉ nhiệm mầu ngoài lời nói. Nó cũng thường được dùng để biểu thị cái tông phong đặc biệt của Thiền gia là Chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo. Bàng cư sĩ ngữ lục quyển thượng (Vạn tục 120, 28 thượng) chép: Cư sĩ nói: Đàn không dây(một huyền cầm), chỉ có Thiền sư gảy mới tuyệt.

một lượng

(沒量) Cũng gọi Vật lượng. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không thể tính lường. Trong Thiền lâm, người có khí độ và kiến thức siêu việt, kẻ phàm phu tầm thường khó lường biết được, gọi là Một lượng hán. Người đại ngộ triệt để, vượt ra ngoài tình lượng phân biệt mà kẻ phàm phu chấp trước như phàm thánh, mê ngộ, có không, được mất v.v... gọi là Một lượng đại nhân. Còn việc lớn Phật pháp vượt ngoài sự đối đãi phàm thánh, mê ngộ, thì gọi là Một lượng đại sự. Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) chép: Không thể dùng vô tâm mà được, chẳng thể dùng hữu tâm mà biết, Một lượng đại nhân xoay chuyển trong lời nói. [X. chương Hoàng bá Hi vận trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.9; Đại tuệ Phổ giác thiền sư thư Q. thượng].

một lần

One time.

một lứa

Of the same rank (class).

một mình

Alone.

một mạch

At one stretch.

một nắm

A handful.

Một sinh

沒生; C: mòshēng; J: mochishō; |Hoại diệt và tái sinh. Biến mất rồi xuất hiện.

một thế

See Một đời.

một thể

At the same time.

một tung tích

(沒蹤跡) Cũng gọi Một trẫm tích, Đoạn tiêu tức. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không để lại 1 dấu vết gì của ngôn ngữ và hành vi. Thiền tông dùng từ ngữ này để chỉ cho người đại ngộ triệt để. Tắc 74 trong Thung dung lục (Đại 48, 274 thượng) nói: Không dấu vết (một tung tích), bặt tăm hơi (đoạn tiêu tức); mây trắng không nơi chốn, gió mát màu sắc gì?

một tư vị

Vô vị, vô giá, vô dụng, tỷ như những người mù mà bàn luận về màu của sữa—Tasteless, valueless, useless, e.g. discussion of the colour of milk by blind people.

một ý trí

(沒意智) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Có 2 nghĩa: 1. Chỉ cho trí tuệ không còn tác dụng nghĩ lường phân biệt, là trí tuệ đặc hữu của bậc Thượng thượng. Phẩm Hành do trong Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 349 thượng) nói: Kẻ hạ hạ có trí thượng thượng, bậc thượng thượng có một ý trí. 2. Nghĩa là ngu độn.

một đặc già la tử

Maudgalaputra or Maudgalyayana (skt)—See Ma Ha Mục Kiền Liên.

một đề mục phân tách

Phân tách về tứ đại—One analysis or the analysis of the four elements—See Tứ Đại.

một đề mục quán tưởng

See Nhất Quán (2).

một để hang

(沒底舡) Cũng gọi Một để thuyền, Vô để thuyền. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chiếc thuyền không có đáy. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho cảnh giới thiền định, xa lìa tất cả chấp trước hướng tới giải thoát. Tắc 63 trong Thung dung lục (Đại 48, 266 trung): Trên cán cân không hoa, hai đầu thăng bằng, Trong con thuyền không đáy, một miền vượt qua.

một độ

Phật—Buddha.

một đời

A lifetime.

mớ

1) A bundle (wood). 2) To talk in one's sleep.

mới

New—Recent—Fresh.

mới đây

Recently—Lately.

mớm

To feed from mouth to mouth.

mờ

Dim—Blurred.

mờ mịt

Viparyasa (skt)—Confusion—Obscure.

mời

To invite.

mời lơi

To invite for form's sake.

mở hé

To half-open.

mở lòng

To open one's heart.

mở mang tâm trí

To develop one's mind.

mở mắt

To open the eyes.

mở mắt tâm

To open the mind's eye—Đây là một cách khác để diễn tả về kinh nghiệm giác ngộ hay sự tự nhận ra tự tánh, từ đó thấy biết tất cả tự tánh của vạn hữu—This is another way of speaking of the experience of enlightenment or self-realization. Awakening to one's true nature and hence of the nature of all existence.

mở ra một con đường

To offer a way—To open a way—Buddha Dharma offers a safe way to the Deathless, to Nirvana.

mở rộng

To widen—To expand—To broaden—To enlarge.

mở trói

To untie.

mụ

1) Midwife. 2) Old woman.

mục

1) Đề mục: Column—Item—Unmber. 2) Mụt nát: Rotten—Decayed. 3) Caksuh (skt)—The eye—The organ of vision. 4) Chánh: Chief or head. 5) Chăn: Chăn trâu hay bò—To herd. 6) Mục Sư: Pastor. 7) Thân yêu: Amicable—Friendly.

Mục Am Thiện Khanh

(睦庵善卿, Bokuan Zenkyō, thế kỷ thứ 12-13): hiệu là Mục Am (睦庵), họ Trần (陳), xuất thân vùng Đông Việt (東越, Tỉnh Phúc Kiến). Sau một thời gian du phương hóa đạo, ông trở về cố hương nuôi dưỡng mẹ. Năm thứ 2 (1108) niên hiệu Đại Quán (大觀), ông soạn bộ Tổ Đình Sự Uyển (祖庭事苑, Soteijien).

mục chi lân đà

Mucilinda or Mahamucilinda (skt)—Mục Lân—Mâu Chân Lân Đà—Mẫu Chân Lân Na—Văn Chân Lân Đà—Ma Ha Mục Chi Lân Đà—Tên của long vương hay vua của loài rồng (nhờ nghe pháp mà giải thoát khỏi kiếp rồng) trụ trong hang của ao Mục Chi Lân Đà, bên cạnh tòa kim cương ở Bồ Đề Đạo Tràng nơi Phật ngồi tĩnh tọa bảy ngày đêm ngay sau khi Ngài thành đạo, chính vị long vương này đã bảo vệ Đức Phật trong khoảng thời gian đó—A naga or dragon king who dwelt in a lake near a hill and cave of this name, near Gaya, where Sakyamuni sat absorbed for seven days after his enlightenment, protected by this nage king.

mục chi lân đà long trì

A lake where a nage or dragon king dwelt—See Mục Chi Lân Đà.

mục chi lân đà long vương

(目支鄰陀龍王) Mục chi lân đà, Phạm: Mucilinda. Pàli: Mucalinda. Hán dịch: Thoát vương, Giải thoát xứ. Cũng gọi Mục chân lân đà long vương, Mục lân long vương. Vị Long vương sống trong ao rồng Mục chi lân đà, phía đông nam tòa Kim cương, nơi đức Phật thành đạo ở nước Ma yết đà, Trung Ấn độ. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa, thì vị Long vương này ở trong hang Mục chân lân đà, nghe pháp mà thoát khỏi cái khổ làm loài rồng. Đại đường tây vực kí quyển 8 (Đại 51, 917 trung) nói: Trong khu rừng phía đông, có ao rồng chúa Mục chi lân đà. Nước ao trong vắt, mùi vị ngon ngọt. Bờ phía tây có 1 tinh xá nhỏ, trong có thờ tượng Phật. Thủa xưa, khi Như lai mới thành chính giác, đã ở đây nhập định 7 ngày. Bấy giờ, vị Long vương nàydùng thân mình quấn quanh đức Phật 7 vòng, hóa ra nhiều đầu, như tàn lọng che chở, bảo vệ Phật. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.31; Tì nại da phá tăng sự Q.5].

Mục Châu Hòa Thượng Ngữ Lục

(睦州和尚語錄, Bokushūoshōgoroku): 1 quyển, do Mục Châu Đạo Túng (睦州道蹤) soạn, không rõ người biên tập, năm san hành xưa nhất cũng không rõ, nhưng được thâu tập vào trong Cổ Tôn Túc Ngữ Yếu (古尊宿語要) 1 và Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) bản 48 quyển. Được hình thành từ 3 chương: Thượng Đường Đối Cơ Đệ Nhất (上堂對機第一), Khám Khán Kinh Tăng Đệ Nhị (勘看經僧第二) và Khám Giảng Kinh Luận Tòa Chủ Đại Sư Đệ Tam (勘講經論座主大師第三), tác phẩm này nêu lên khá nhiều vấn đáp và cơ phong nhạy bén của vị thầy tùy theo từng nơi mà thâu nhận lấy.

mục châu lược hư hán

(睦州掠虛漢) Cũng gọi Mục châu lược hư, Mục châu lược hư đầu hán. Mục châu vấn tăng thậm xứ, Mục châu vấn tăng. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên Thiền sư Đạo minh (Trần tôn túc) ở Mục châu, đời Đường hỏi vặn 1 vị tăng về tiếng hét.Tắc 10 trong Bích nham lục (Đại 48, 150 thượng) chép: Ngài Mục châu hỏi vị tăng: Mới rời chỗ nào? Vị tăng liền hét. Ngài Mục châu nói: Lão tăng đã bị ông hét một tiếng. Vị tăng lại hét. Ngài Mục châu hỏi: Sau 3 tiếng hét, 4 tiếng hét, ông hiểu thế nào? Vị tăng nín thinh, đứng trơ như phỗng đá. Ngài Mục châu liền đánh và nói: Ông chỉ là kẻ cướp đầu óc trống rỗng!. Lược hư hán nghĩa là kẻ chỉ biết bắt chước (cướp lấy) những lời nói và việc làm của người khác, chứ không có thực chất gì. [X. Liên đăng hội yếu Q.8; Tông môn thống yếu tục tập Q.9].

Mục Châu Trần Tôn Túc

睦州陳尊宿; C: mùzhōu chénzūnsù; J: boku-shū chinsonshuku; ~ 780-877, còn được gọi là Mục Châu Ðạo Minh (睦州道明);|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Sư là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Hoàng Bá, người sớm nhận ra tài năng của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng nổi danh là vị thầy nghiêm khắc của Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Sư họ Trần, quê ở Giang Nam, xuất gia từ nhỏ. Nghe danh Hoàng Bá, Sư đến học, giữ giới chăm chỉ, được mọi người kính trọng gọi là Tôn Túc nên thành danh là Trần Tôn Túc. Nơi Hoàng Bá, Sư đạt yếu chỉ và sau đó trở về chùa Khai Nguyên, nhưng ban đầu không để lộ danh. Nơi đây, Sư dùng cỏ bồ đan giày bán nuôi mẹ và để ngoài đường cho khách vãng lai dùng. Sau nhiều năm người ta mới biết Sư làm giày tặng chúng nên gọi Sư là Trần Bồ Hài. Mọi người kính trọng Sư, lần lượt đến tham vấn. Lời nói của Sư rất bí hiểm, ít người hội nổi.|Sư nổi danh là một vị thầy khó tính, lúc nào cũng đóng cửa phòng và tương truyền rằng, tiếng bước âm thầm đến cửa đủ làm cho Sư biết nội tâm của người đến. Nếu người này có đủ khả năng, Sư kêu vào, nắm cổ hỏi: »Nói! Nói!« Nếu người này bắt đầu suy nghĩ trả lời thì bị tống ra ngoài và Sư đóng sầm cửa lại. Cũng vì thế mà Vân Môn bị què một chân, nhưng nhờ đó đại ngộ. Cách dạy khắc khe của Sư cũng được ghi lại trong Công án 10 của Bích nham lục: Sư hỏi một tăng mới đến: »Vừa rời chỗ nào?« Tăng liền hét. Sư bảo: »Lão tăng bị một tiếng hét của ông.« Tăng lại hét. Sư bảo: »Ba hét bốn hét sau rồi làm gì?« Tăng lặng thinh. Sư liền đánh và nói: »Kẻ cướp rỗng này.«|Sư sắp tịch, gọi chúng lại nói: »Ta hết duyên nơi đây, sắp đi vậy.« Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 98 tuổi, được 76 tuổi hạ.

mục châu đạo minh

(睦州道明) Cũng gọi Đạo tung. Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Đường, người Giang nam, họ Trần, là đệ tử nối pháp của ngài Hoàng bá Hi vận. Sư trụ ở chùa Long hưng, Mục châu (Chiết giang), dấu kín cơ dụng của bậc Thánh, mà đan giày cỏ, bày bán ở bên đường để lấy tiền nuôi mẹ. Lâu năm mọi người đều biết và gọi sư là Trần bồ hài (người họ Trần đan giày cỏ). Người học đến hỏi đạo thì hỏi xong, đáp liền, lời lẽ sắc bén không ai sánh kịp. Từ đó 4 phương đều ngưỡng mộ, tôn xưng sư là Trần tôn túc. Câu nói Cái khoan thời Tần mà sư từng sử dụng để tiếp hóa Thiền sư Vân môn Văn yển, đã trở thành giai thoại được truyền tụng trong Thiền lâm. Năm Càn phù thứ 4 (877) sư tịch, thọ 98 tuổi. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.12; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

mục châu đạo minh thiền sư ngữ lục

(睦州道明禪師語錄) Cũng gọi Trần tôn túc ngữ lục. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đạo minh soạn vào đời Đường, được thu vào Cổ tôn túc ngữ lục quyển 6 trong Vạn tục tạng tập 118. Nội dung sách này gồm các phần: Thướng đường đối cơ, thử nghiệm các vị tăng giảng kinh, thử nghiệm các bậc Đại sư, Tọa chủ giảng kinh luận; cuối sách có phụ thêm 1 bài bạt ngắn. Qua các lời hỏi và đáp, người ta có thể thấy cơ phong cao vút của ngài Đạo minh.

Mục Châu Đạo Túng

(睦州道蹤, Bokushū Dōshō, giữa thế kỷ thứ 9): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Hoàng Bá Hy Vận (黃檗希運), còn gọi là Đạo Minh (道明), Trần Tôn Túc (陳尊宿), Trần Bồ Hài (陳蒲鞋), xuất thân Giang Nam (江南), họ Trần (陳). Ban đầu ông trú tại Long Hưng Tự (龍興寺), Mục Châu (睦州, Tỉnh Triết Giang), tập trung học chúng được cả ngàn người để xiển dương tông phong của mình. Ông còn lấy tên là Trần Tôn Túc. Về sau ông mai danh ẩn tích, sống bằng nghề đan dép cỏ nuôi mẹ, nhưng rồi người đời cũng biết đến, gọi ông là Trần Bồ Hài (陳蒲鞋, ông họ Trần đan dép cỏ). Chính ông đã từng tiếp độ Vân Môn Văn Yển (雲門文偃). Ông thị tịch trong khoảng niên hiệu Càn Phù (乾符, 874-879). Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元) 4 cho là ông thọ 98 tuổi đời và 76 hạ lạp.

mục cơ thù lưỡng

(目機銖兩) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là vừa thoáng thấy liền biết rõ. Cũng chỉ cho người có cơ trí, thông minh, lanh lợi, vừa nhìn qua đã có thể phân biệt được những chi tiết nhỏ nhặt nhất(thù, lạng là đơn vị trọng lượng cực nhỏ). Tắc 1 trong Bích nham lục (Đại 48, 140 thượng) nói: Nêu một rõ ba, mục cơ thù lạng (chạm mắt biết liền), đó là việc ăn cơm, uống trà bình thường của nạp tăng này. Ngoài ra, Thiền sư Vân môn Văn yển, Tổ khai sáng tông Vân môn, khi tiếp hóa người học, thường dùng 1 trong 3 câu: Hàm cái càn khôn (bao trùm trời đất), Mục cơ thù lạng (chạm mắt biết liền), Bất thiệp vạn duyên (không dính muôn duyên). Trong đó, Mục cơ thù lạng tức chỉ cho người học phải đoạn trừ phiền não vọng tưởng, vượt ngoài văn tự ngôn ngữ mà cầu đốn ngộ tự tâm. (xt. Vân Môn Tam Cú).

mục cơ thù lạng (lượng)

Khả năng phân biệt nhanh nhẹn, chỉ người nhạy bén—The power of the eye to discern triffling differences—Quick discernment.

mục hãn mặc đức

(穆罕默德) Muhammad, khoảng năm 570-632. Xưa dịch: Ma ha mạt, Mã cáp ma, Mô hãn mạch đức. Ông tổ sáng lập Hồi giáo (Islamism), người thủ đô Makkah, nước Arabia. Cha mẹ mất sớm, thủa nhỏ chăn bò, lớn lên theo nghề buôn bán. Ông chịu ảnh hưởng của Do thái giáo và Cơ đốc giáo. Vì người Á rập tin nhiều thần và sùng bái ngẫu tượng, nên ông cho rằng chỉ có tin một vị thần mới có thể thống nhất được dân tộc Á rập. Cho nên, năm 40 tuổi, ông tuyên bố rằng mình đã được Đấng chúa tối cao Allah chỉ dạy và bắt đầu đi truyền giáo, lập ra đạo Hồi. Về sau, vì bị bức hại nên ông phải lánh đến Mạch địa na và trở thành lãnh tụ chính trị tông giáo của vùng này. Ông xác lập các chế độ và luật lệ, như dẹp bỏ tập tục sùng bái ngẫu tượng và giết những trẻ gái, hạn chế số mục lấy vợ, cấm chỉ li hôn, sửa đổi quyền thừa kế, thủ tiêu chế độ nô lệ, giúp đỡ người nghèo khổ. Nếu không vì mục đích bảo vệ và truyền giáo thì ông cũng phản đối chiến tranh. Về sau, ông mở cuộc chiến tranh với người Do thái và những người Á rập tín ngưỡng đa thần. Vào năm 630, ông đánh chiếm thành Makkah và chỉ vài năm sau, toàn bộ bán đảo Á rập đã tin theo Y tư lan giáo (Islamism), tức là Hồi giáo. (xt. Y Tư Lan Giáo).

mục hạ

Before the eyes.

mục hạ vô nhân

To see no man under one's eyes—Very proud.

Mục Khê

(牧谿, Mokkei, ?-1280): vị tăng họa sĩ sống vào cuối thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên, xuất thân Tứ Xuyên (四川). Ông theo xuất gia với Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範) ở Kính Sơn (徑山), được đặt cho pháp danh là Pháp Thường (法常). Vào thời vua Lý Tông và Độ Tông (1225-1270) cuối nhà Tống, ông là vị tăng chuyên làm những công việc tạp dịch ở Trường Khánh Tự (長慶寺), Tây Hồ (西湖), Hàng Châu (杭州). Ông có tánh tình hào phóng, thích uống rượu, uống say thì lăn ra ngủ, tỉnh rồi lại ngâm nga. Ông có sở trường về vẽ tượng Phật, con người, hoa quả, chim thú, sông núi, rồng cọp, vượn hạc, v.v. Lúc sanh bình, bút tích và tranh vẽ của ông rất ít được lưu truyền ở trong nước, nhưng tại Nhật Bản thì đã sớm lưu truyền tác phẩm của ông, cho nên phong cách vẽ của ông đã tạo ảnh hưởng lớn đối với tầng lớp họa nhân Nhật Bản. Nhiều tranh vẽ của ông được xếp vào hạng nổi tiếng như Tranh Quan Âm Vượn Hạc, Tranh Rồng Hổ, Tranh Phù Dung, v.v., trong đó Tranh Quan Âm Vượn Hạc được liệt vào hạng quốc bảo của Nhật.

mục khư

Mukha (skt). 1) Miệng: Mouth. 2) Cửa Ngõ: Opening—Door. ; (目佉) Phạm: Mukha. Hán dịch: Khẩu, Diệu, Môn. Cũng gọi Mẫu khiên. Miệng, mặt. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3 (Đại 35, 151 trung) nói: Theo tiếng Phạm thì miệng và mặt đều gọi là môn, tức Phạm ngữ là mục kha.Phạm ngữ tạp danh (Đại 54, 1223 trung) nói: Mặt, tiếng Phạm gọi là Mẫu khiên.

mục kiến

To see with one's own eyes.

Mục Kiền Liên

(s: Maudgalyāyana; p: Moggallāna, 目犍連): một trong 10 vị đại đệ tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Mục Kiền Liên (s: Mahāmaudgalyāyana, p: Mahāmoggallāna, 摩訶目犍連), Đại Mục Kiền Liên (大目犍連), Đại Mục Càn Liên (大目乾連), Đại Mục Liên (大目連), Mục Liên (目連, 目蓮), Mục Già Lược (目伽略), Vật Già La (勿伽羅), Mục Kiền Liên Diên (目犍連延), Mục Kiền La Dạ Na (目犍羅夜那), Một Đặc Già La (沒特伽羅); biệt danh là Câu Luật Đà (s: Kolita, 拘律陀), Câu Luật (拘律), Câu Ly Ca (拘離迦), Câu Lý Ca (拘理迦); ý dịch là Thiên Bão (天抱); được xem như là Thần Thông Đệ Nhất (Thần Thông Số Một). Ông sinh ra trong một gia đình Bà La Môn ở thôn Câu Luật Đà, ngoại Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀). Vừa mới sanh ra, ông đã có tướng mạo đoan chánh, từ nhỏ rất thâm giao với Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), người con của dòng họ Bà La Môn ở làng bên cạnh. Ban đầu, cả hai đều theo làm đệ tử của một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Dạ (s: Sañjaya, 刪闍夜) và mỗi người đều có 250 đệ tử; thường cùng hẹn ước với Xá Lợi Phất rằng nếu ai giác ngộ giải thoát trước thì phải chỉ lại cho người kia; cho nên cả hai rất tinh tấn tu tập. Nhưng sau đó nhân nghe được lời thuyết pháp của đức Phật ở Thành Vương Xá, họ đã quy y theo Phật và Mục Kiền Liên trở thành vị đệ tử Thần Thông Đệ Nhất. Chỉ trong vòng một tháng, ông đã chứng quả A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢). Sau khi quy y với đức Phật, Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất trở thành các bậc thượng thủ trong đại chúng, thường xuyên hỗ trợ đức Phật trong việc giáo hóa chúng sanh. Theo Vu Lan Bồn Kinh (s: Ulambanasūtra, 盂蘭盆經), tương truyền chính ông đã cúng dường cho chúng tăng vào ngày Tự Tứ để cứu độ mẹ mình đang bị đọa lạc vào đường Ngạ Quỷ, nhân ngày rằm tháng 7 cúng dường mười phương Đại Đức chúng tăng vào ngày Tự Tứ (s: pravāraṇā, p: pavāraṇā, 自恣), và hình thành nên lễ hội Vu Lan Bồn sau này. Như trong Kinh Sở Tuế Thời Ký (荆楚歳時記) có đoạn: “Mục Liên kiến kỳ vong mẫu sanh Ngạ Quỷ trung, tức dĩ bát thạnh phạn, vãng hướng kỳ mẫu, thực vị nhập khẩu, hóa thành hỏa thán, toại bất đắc thực; Mục Liên đại khiếu, trì hoàn bạch Phật, Phật ngôn nhữ mẫu tội trọng, phi nhữ nhất nhân sở nại hà, đương tu thập phương chúng tăng uy thần chi lực, chí thất nguyệt thạp ngũ nhật, đương vi thất đại phụ mẫu ách nạn trung giả, cụ bách vị ngũ quả, dĩ trước bồn trung, cúng dường thập phương đại đức, Phật sắc chúng tăng, giai vi thí chủ, chúc nguyện thất đại phụ mẫu, hành Thiền định ý, nhiên hậu thọ thực; thị thời Mục Liên mẫu, đắc thoát nhát thiết ngạ quỷ chi khổ (目連見其亡母生餓鬼中、卽以缽盛飯、徃餉其母、食未入口、化成火炭、遂不得食、目連大叫、馳還白佛、佛言汝母罪重、非汝一人所奈何、當須十方眾僧威神之力、至七月十五日、當爲七代父母厄難中者、具百味五果、以著盆中、供養十方大德、佛敕眾僧、皆爲施主、祝願七代父母、行禪定意、然後受食、是時目蓮母、得脫一切餓鬼之苦, Mục Liên thấy mẹ mình sanh trong Ngạ Quỷ, liền lấy bát đựng đầy cơm, đến cho mẹ ăn, thức ăn chưa vào miệng, đã hóa thành than lửa, cuối cùng chẳng ăn được. Mục Liên khóc lớn, trở về thưa lại với Phật. Phật bảo rằng mẹ ông tội nặng, không phải một mình ông có thể gánh vác được, cần phải nhờ vào oai lực của mười phương chúng tăng; đến ngày rằm tháng 7, nên vì bảy đời cha mẹ đang bị ách nạn, chuẩn bị đầy đủ trăm vị và năm món quả, đem đựng trong cái bồn để cúng dường những vị có đức lớn trong mười phương; Phật dạy chúng tăng, tất cả đều vì thí chủ mà cầu nguyện cho cha mẹ bảy đời, hành Thiền định, sau đó mới thọ nhận món ăn. Lúc bấy giờ mẹ của Mục Liên, được thoát khỏi cảnh khổ của ngạ quỷ).” Vào cuối đời, trong khi ông đang đi khất thực trong Thành Vương Xá thì gặp nhóm Phạm Chí (梵志) cầm đao trượng, môn đồ Bà La Môn vốn đã từng oán hận, ganh ghét giáo đoàn đức Phật, ném ngói, đá làm ông tử vong. Việc này xảy ra trước khi đức Phật nhập Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). Ngài dựng tháp thờ ông một bên cửa Tinh Xá Trúc Lâm (s: Veṇuvana-vihāra, 竹林精舍). Ngoài ra, trong Mật Giáo, Mục Kiền Liên được an trí ở phía bên phải của Phật Thích Ca Mâu Ni trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La Thích Ca Viện (現圖胎藏界曼茶羅釋迦院). Hình tượng của ông là vị Sa Môn (沙門), ngồi trên tòa hoa sen đỏ.

mục kiền liên

See Ma-ha Mục Kiền Liên in Vietnamese-English Section. ; (目犍連) Phạm: Maudgalyàyana. Pàli: Moggallàna. Cũng gọi Ma ha mục kiền kiên (Phạm: Mahàmaudgalyàyana), Đại mục kiền liên, Đại mục liên, Mục liên, Mục kiền liên, Mục già lược, Vật già la, Mục kiền liên diên, Mục kiều la dạ na, Một đặc già la, Mao già lợi da dạ na, Câu luật đà (Phạm:Kolita), Câu luật, Câu lí đa, Câu li ca, Câu lí ca, Câu li đa. Hán dịch: Thiên bão. Vị Đại A la hán, một đệ tử thần thông bậc nhất của đức Phật, người thôn Câu luật đà, ngoài thành Vương xá, nước Ma yết đà, Trung Ấn độ, thuộc dòng Bà la môn. Ngài có dung mạo đoan chính, từ nhỏ đã giao du rất thân mật với ngài Xá lợi phất và cùng là đệ tử của ngoại đạo San xà da (Phạm: Saĩjaya), mỗi vị lãnh đạo 250 đồ chúng. Hai người giao ước rằng, nếu ai đắc ngộ giải thoát trước thì phải chỉ bảo cho người kia, do đó, cả 2 đều gắng sức tu hành. Về sau, ngài Xá lợi phất gặp được đệ tử của đức Phật là ngài A thuyết thị chỉ dạy mà ngộ được lí các pháp vô ngã, rồi về kể lại cho ngài Mục liên, ngài Mục liên bèn dẫn hết đệ tử đến bái yết đức Phật cầu xin được giáo hóa. Sau 1 tháng, ngài chứng quả A la hán và trở thành bậc Thượng thủ trong hàng đệ tử Phật, phụ giúp đức Phật trong công cuộc giáo hóa, cũng có khi thay đức Phật thuyết pháp cho đại chúng nghe. Kinh Tạp a hàm quyển 23, kinh Ngưu giác sa la lâm trong Trung a hàm quyển 48, kinh Tăng nhất a hàm quyển 36, luận Đại trí độ quyển 41 v.v... đều gọi ngài Mục liên là Thần túc đệ nhất. Cứ theo kinh Vu lan bồn, thì vì muốn cứu mẹ thoát khỏi đường ngã quỉ, nên vào rằm tháng 7, ngày chư tăng tự tứ, ngài Mục liên đã thiết trai cúng dường 10 phương Đại đức chúng tăng, đó chính là nguồn gốc của pháp hội Vu lan bồn ngày nay. Về già, một hôm, đang đi khất thực trong thành Vương xá, ngài gặp bọn Phạm chí Chấp trượng, môn đồ Bà la môn giáo ghen ghét, dùng gạch đá đánh chết. Đức Phật cho xây tháp thờ ngài bên cửa tinh xá Trúc lâm. Ngoài ra, trong Mật giáo, ngài Mục liên được tôn trí ở tòa thứ 4, hàng trên, bên phải đức Thế tôn trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng của ngài là tướng sa môn, ngồi trên tòa sen đỏ, tay phải nắm lại thành quyền, duỗi thẳng ngón trỏ, tay trái cầm chéo áo ca sa, mặt hơi nghiêng về bên trái. [X. kinh Tạp a hàm Q.19, 34, 43; kinh Chiêm ba trong Trung a hàm Q.9; kinh Trưởng lão thượng tôn thụy miên trong Trung a hàm Q.20; kinh Tăng nhất a hàm Q.4, 12, 18, 28; kinh Quán vô lượng thọ; luật Ngũ phần Q.16; luật Ma ha tăng kì Q.16; luật Thập tụng Q.37].

mục kiền liên tư đế tu

Maggaliputta Tissa. • Theo Mahavamsa, Mục Kiền Liên Tư Đế Tu sinh ra trong một gia đình Bà La Môn, chưa đến 16 tuổi ngài đã tinh thông hết ba kinh Vệ Đà. Tuy nhiên, sau đó ngài được trưởng lão Siggava hóa độ. Ngài đã đi theo Phật giáo và nhanh chóng đạt đến quả vị A La Hán với đầy đủ mọi phép thần thông. Chính do ảnh hưởng của ngài mà vua A Dục đã cho con trai của mình là Ma Thẩn Đà và con gái là Tăng Già Mật Đa xuất gia tu theo đạo Phật. Sau đó, hai vị nầy đã vượt biển đến Tích Lan để hóa độ cho cả hòn đảo nầy tin theo Phật—Moggaliputta-Tissa was born in a Brahmin family and learned the three Vedas before he was sixteen. He was, however, won over to the new faith by Thera Siggava and very soon attained to Arhatship with all its attendant supernatural powers. It was under his influence that the Emperor made over to the Buddhist Order his son Mahinda and daughter Sanghamitta. Later, these two crossed to Ceylon and converted the whole island to the Buddhist faith. • Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên, dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát. Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chiu thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về Hoa Thị để thỉnh ý. Sau nhiều lần từ chối không được, trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu phải nhận lời đi đến gặp vua để cố vấn cho nhà vua về vấn đề nầy. Vua hỏi xem mình có mang tội sát hại các tu sĩ do hành động của viên quan đại thần của mình. Trưởng lão trả lời rằng nếu không chủ ý xấu thì không có tội. Như thế mọi thắc mắc trong lòng nhà vua được giải tỏa. Đoạn trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu còn giảng giải cho nhà vua về chánh pháp của Đức Phật trong một tuần lễ. Chính nhờ vậy mà nhà vua thấy được những sai lầm của ngoại đạo cũng như những vị Tăng giả hiệu, nên ngài cho triệu tập Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba: With the conversion of King Asoka, the material prosperity of the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere to their old faiths and practices and preached their doctrines instead of the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for seven years. The number of heretics and false monks became far larger than that of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The community of the faithful monks refused to observed these festivals with the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their refusal to carry out the King's order. When this sad news reported to Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then invited Maggaliputta Tissa to go to Pataliputta to advise the king on this issue. After several unsuccessful attempts, the elder Tissa was prevailed upon to consent to go to Pataliputta. The king asked Tissa whether he was guilty of the murder of the monks through his Minister. The Thera answered that there was no guilt without evil intent. This satisfied the scruples of the King. Then the Elder expounded the holy teachings of the Buddha for a week that helped the king see the misguided beliefs brought to Buddhism by heretics and false monks. Therefore, the king convened the Third Council—See Kết Tập Kinh Điển (III).

mục kiền liên tử đế tu

(目犍連子帝須) Phạm: Maudgaliputra Tizya. Pàli: Moggaliputta-tissa. Gọi tắt: Đế tu. Vị A la hán sống vào thời đại vua A dục ở Ấn độ, vì ngài là Đại Phạm thiên đế tu từ cõi trời Phạm thiên giáng sinh vào gia đình Bà la môn Mục kiền liên, cho nên được gọi là Mục kiền liên tử đế tu. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Tư già bà (Phạm: Siggava) xuất gia làm sa di, sau sư y vào ngài Chiên đà bạt xà (Phạm: Caịđavajji) thụ giới Cụ túc. Sư tinh thông 3 tạng và được ngài Tư già bà phó pháp, chứng quả A la hán, làm thầy vua A dục, giáo hóa nhân dân. Vua A dục lên ngôi được 6 năm (tức vào năm 262 tr.Tây lịch) thì khuyến hóa Vương tử Ma hi đà theo ngài Đế tu xuất gia, nghiên cứu Tam tạng. Ba năm sau, ngài Đế tu lui về ẩn tu ở núi Ahogaígàpabbata, giao lại Tăng đoàn cho sư Ma hi đà thống lãnh. Lúc bấy giờ, Phật giáo được vua A dục ngoại hộ, rất hưng thịnh, cho nên có nhiều ngoại đạo vì cầu cơm áo mà trà trộn vào tăng đoàn, phá hoại chính pháp. Vua A dục bèn lễ thỉnh ngài Đế tu ra làm Thượng tọa, trục xuất ngoại đạo, thanh lọc tăng đoàn, đồng thời triệu tập 6 vạn tỉ khưu Bố tát thuyết giới, trong đó tuyển chọn 1.000 vị tỉ khưu tinh thông giáo lí và đã chứng được Tam đạt trí để kết tập Tam tạng, đây tức là lần kết tập thứ 3. Sau khi kết tập xong, vua phái các bậc trưởng lão như Mạt xiển đề v.v... đến các nước Kế tân v.v... để hoằng truyền Phật pháp. Vua A dục lên ngôi được 17 năm (tức vào năm 251 tr.TL) thì ngài Mục kiền liên tử đế tu thị tịch, pháp lạp 80. Ngài có tác phẩm: Luận sự (Pàli: Kathàvatthu). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, 2; Phật giáo tiểu sử Q.2].

mục kiệt lam

(目竭嵐) Phạm: Mudgara. Cũng gọi Mẫu nạp ra, Một nghiệt lam. Một loại pháp khí của Mật giáo. (xt. Một Nghiệt Lam). ; (目竭嵐) Phạm: Mudgara. Cũng gọi Mục kiệt lam. Gậy, chày có móc câu, là 1 trong những pháp khí của Mật giáo. Cứ theo phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật quyển 3, thì Một nghiệt lam là vật thành tựu lấy chữ (kha) làm pháp thành tựu. Còn theo phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật quyển 5, thì Một yết la là ấn tướng thường được Diệm ma hậu sử dụng. Lại nữa, kinh Bất không quyên sách quyển 23 cũng có chép chân ngôn Án một nga la bát đầu mễ. Những danh từ Một nga la, Một yết la trên đây, đều chỉ cho Một nghiệt lam. [X. Đại nhật kinh sớ Q.12; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.9; Chỉ quật dịch thổ tập Q.25].

mục kích

To witness.

mục liên

See Ma Ha Mục Kiền Liên in Vietnamese-English Section.

mục liên cứu mẫu

(目連救母) Ngài Mục liên theo lời đức Phật chỉ dạy, thiết trai hội Vu lan bồn, cầu sự chú nguyện của Đại đức tăng 10 phương, để giải cứu ách nạn cho mẹ đang bị đọa trong đường Ngã quỉ. Theo kinh Vu lan bồn, mẹ ngài Mục liên là bà Thanh đề, lúc còn sống, tham lam bỏn sẻn, tạo nhiều nghiệp ác, cho nên sau khi chết, phải đọa vào đường quỉ đói, không được ăn uống. Đức Phật bèn dạy ngài Mục liên lập hội Vu lan bồn vào ngày rằm tháng 7, thiết trai cúng dường 10 phương Đại đức tăng, nhờ đó mẹ ngài Mục liên đã thoát được nạn khổ. (xt. Vu Lan Bồn).

mục liên sở vấn kinh

(目連所問經) Kinh, 1 quyển do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật ở tinh xá Trúc lâm tại thành Vương xá, trả lời ngài Mục liên hỏi về vấn đề những chúng sinh mê say không biết hổ thẹn, vi phạm giới luật, thì phải đọa vào địa ngục bao lâu? Tội chia làm 6 hạng: 1. Làm hạnh phi pháp. 2. Không y theo pháp. 3. Phạm tội Ba dật đề. 4. Phạm Thổ la bát để. 5. Phạm pháp Tăng già bà thi sa. 6. Phạm pháp Ba la di. Bản dịch khác của kinh này là kinh Phạm tội giới báo khinh trọng, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán. Nhưng trong kinh Phạm tội giới báo khinh trọng không có văn kệ, cũng không có lời hỏi về 6 hạng tội báo. Ngoài ra, theo Xuất tam tạng kí tập quyển 4 và Pháp kinh lục quyển 5, thì kinh này còn có 1 bản dịch khác nữa, cũng gọi là kinh Mục liên sở vấn, nhưng không có tên người dịch và kinh này nay đã thất truyền.

mục liên vấn giới luật sinh ngũ bách khinh trọng sự

(目連問戒律生五百輕重事) Cũng gọi Ngũ bách vấn sự kinh, Ngũ bách vấn. Kinh, 1 quyển, mất tên người dịch, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này gồm 18 phẩm, thuật lại việc đức Phật trả lời ngài Mục kiền liên về vấn đề các tỉ khưu ở đời mạt pháp, vi phạm giới luật thì tội báo nặng nhẹ như thế nào. Khai nguyên thích giáo lục quyển 13, xếp kinh này vào Luật bộ Tiểu thừa. Bản dịch khác của kinh này là kinh Mục liên giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự, 2 quyển, được dịch vào khoảng đời Đông Tấn, cũng mất tên người dịch. Về sách chú thích thì có: Mục liên ngũ bách vấn giới luật trung khinh trọng sự kinh thích, 2 quyển, của Vĩnh hải đời Minh và Mục liên vấn giới luật trung ngũ bách khinh trọng sự kinh lược giải 2 quyển, do Tính kì soạn.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.20; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.23, 30].

mục luật tăng

A wooden pettifogging monk (a rigid formalist).

mục lặc

(穆勒) Müller, Friedrich Max (1823-1900) Nhà ngôn ngữ học người Anh gốc Đức, sinh ở Dessau, con của nhà thơ Wilhelm Müller. Ông tôn các vị Giáo sư Schelling, W.J.V., Bopp, F. ở trường Đại học Berlin và Giáo sư ngôn ngữ học, Đông phương học E. Burnouf ở trường Đại học Paris làm thầy. Ông theo chủ nghĩa Tự nhiên (Naturalism) của nước Anh và là 1 trong những người sáng lập Tông giáo học thời Cận đại. Sau khi vượt biển sang nước Anh (1847) ông cho in Lê câu phệ đà toàn tập 6 quyển (1849-1875), sau lại ấn hành 4 quyển (1890- 1892). Ông từng làm Phó giáo sư, rồi Giáo sư trường Đại học Oxford từ năm 1850 đến khi ông qua đời. Từ năm 1875 về sau, ông hoàn thành bộ Đông Phương Thánh Thư (The Sacred Books of the East), là tập văn dịch ra tiếng Anh những kinh sách của các tông giáo phương Đông như kinh điển Phệ đà, kinh Phật, sách vở Kì na giáo, cho đến kinh sách Khả lan, Lão tử, Khổng tử v.v... Nhờ ứng dụng phương pháp nghiên cứu khoa học mới mẻ như Tỉ giảo ngôn ngữ học, Tỉ giáo thần thoại học và Tỉ giáo tông giáo học, nên ông đã có cống hiến rất lớn cho việc giải thích Ấn độ học nói riêng và Đông phương học nói chung. Ông có các tác phẩm: Buddhism and Buddhist Pilgrims, 1857; History of Ancient Sanskrit Literature, 1859; Lectures on the Science of Language, 1861; Sanskrit Grammar for Beginners 1866; Einleitung in die Vergleichende Religionswissenschaft, 1874; Origin and Growth of Religion, 1878; Dhammapada, 1881; Biographies of Words, 1888; Natural, Physical, Antropological and Psychical Religion, 1889-1893; Contribution of the Science of Mythology, 1897. Ngoài ra, nhờ sự trợ giúp của các ông Nam điều Văn hùng và Lạp nguyên Nghiên thọ người Nhật, ông cũng đã hoàn thành bộ sách Anecdote Oxoniensia, trong đó gồm các kinh như: Kinh Đại vô lượng thọ, kinh A di đà, kinh Kim cương bát nhã, Bát nhã tâm kinh, Pháp số danh tập kinh (Phạm: Dharmasaôgraha) v.v...

mục lục

Table of content. ; (目錄) Loại sách chuyên liệt kê tên, số quyển, tác giả, soạn giả, dịch giả và niên đại sáng tác, soạn thuật, phiên dịch của các kinh sách. Về những bản mục lục liên quan đến những kinh điển Phật giáo thì có: 1. Dịch Kinh Mục Lục: Tức mục lục của những kinh Phật được dịch ra Hán văn, có ghi thời đại, tên, đồng thời thêm lược truyện của dịch giả. Như Cổ kim dịch kinh đồ kỉ của ngài Tĩnh mại đời Đường; Soạn xuất kinh luật luận lục trong Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều; Tổng quát quần kinh lục trong Khai nguyên thích giáo lục của ngài Trí thăng đời Đường v.v... 2. Nhập TạngLục: Mục lục của những kinh sách chính thức được đưa vào Đại tạng kinh. Như Nhập tạng lục trong Lịch đại Tam bảo kỉ của cư sĩ Phí trường phòng đời Tùy, Nhập tạng lục của Khai nguyên thích giáo lục. 3. Phân Loại Mục Lục: Mục lục liệt kê những kinh điển được phân loại theo 1 tiêu chuẩn nhất định. Như Chúng kinh mục lục của ngài Pháp kinh đời Tùy, Đông vực truyền đăng mục lục của ngài Vĩnh siêu, Chư A xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục (Bát gia bí lục) của ngài An nhiên v.v... 4. Sở Tàng Mục Lục:Mục lục của những kinh điển được tàng trữ ở 1 nơi nào đó. Như Đại đường Đông kinh Đại kính ái tự nhất thiết kinh luận mục (Chúng kinh mục lục) của ngài Tĩnh thái đời Đường, Tỉ duệ sơn Sơn môn tạng bản mục lục (tạng Thiên hải) và Kiến nhân tự Lưỡng túc viện tàng thư mục lục ở Nhật bản v.v... 5. San Kinh Mục Lục: Mục lục của tất cả các kinh được ấn hành từ đời Bắc Tống trở về sau. Như Tư khê Viên giác thiền viện tân điêu Đại tạng kinh mục lục ở Hồ châu; Bạch vân tông Nam sơn Đại phổ ninh tự Đại tạng kinh mục lục; Đại tạng mục lục (tạng Cao li), Đại minh tam tạng Thánh giáo Bắc tạng mục lục, Vũ châu Giang hộ Đông duệ sơn Khoan vĩnh tự Nhất thiết kinh tân san ấn hành mục lục ở Nhật bản. Đại tạng kinh Tây tạng cũng có San kinh mục lục. 6. Khám Đồng Mục Lục: Mục lục so sánh những điểm dị đồng giữa các mục lục hoặc kinh sách khác nhau đã được thu tập. Như Chí nguyên Pháp bảo khám đồng tổng lục do các ngài Khánh cát tường biên soạn vào đời Nguyên, là mục lục tạng kinh so sánh đối chiếu những chỗ dị đồng giữa tạng kinh Hán dịch và tạng kinh Tạng dịch; Duyên sơn Tam Đại tạng kinh mục lục, do ngài Tùy thiên, người Nhật, thuộc tông Tịnh độ, biên soạn, là mục lục tạng kinh so sánh những điểm dị đồng giữa 3 bản Đại tạng: Tống, Nguyên, Cao li. 7. Giải Đề Mục Lục: Mục lục nói rõ về tiêu đề, tác giả, soạn giả, dịch giả và nội dung các kinh sách. Như Đại tạng kinh cương mục chỉ yếu lục của ngài Duy bạch đời Tống, Đại tạng Thánh giáo pháp bảo tiêu mục của các ông Vương cổ v.v... đời Tống, Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc đời Minh v.v... 8. Thỉnh Lai Mục Lục: Mục lục thu chép những kinh điển chủ yếu của Phật giáo được thỉnh từ Trung quốc về Nhật bản. Như Tương lai Thai châu lục của ngài Truyền giáo đại sư (Tối trừng); Ngự thỉnh lai mục lục của ngài Không hải; Nhập đường tân cầu Thánh giáo mục lục của ngài Viên nhân; Thư tả thỉnh lai pháp môn mục lục của ngài Tông duệ v.v... 9. Tùng Thư Mục Lục: Mục lục của những sách vở được sưu tập nhắm 1 mục tiêu nào đó. Như Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục của ngài Nghĩa thiên người Cao li, là mục lục ghi chép những kinh sách Phật được thu tập ngoài Đại tạng kinh Cao li; Hoa nghiêm tông chương sớ tinh Nhân minh lục của ngài Viên siêu, ghi chép các sách vở của tông Hoa nghiêm theo sắc lệnh nhà vua. 10.Trứ Tác Mục Lục: Mục lục ghi chép các trứ tác của cá nhân. Như Truyền giáo Đại sư soạn tập lục của ngài Khả thấu; Giới đàn viện Quốc sư Ngưng nhiên soạn tập.11. Truyền Thụ Mục Lục: Mục lục truyền pháp của Mật giáo. Như Trung viện lưu truyền thụ mục lục. 12. Thánh Giáo Mục Lục: Mục lục ghi chép tất cả sách vở của 1 dòng phái nào đó (hoặc chính thống) mà Mật giáo lấy làm mẫu mực. Như Tam muội lưu Thánh giáo mục lục; Truyền pháp viện phương tinh Quảng trạch thông dụng Thánh giáo mục lục v.v... (xt. Đại Tạng Kinh Mục Lục).

mục ngưu

Mục đồng hay kẻ chăn trâu—Cowherd.

mục nát

Decayed—Rotten.

mục súc

Domestic animals.

mục sư

Clergyman—Pastor.

mục tiêu

Objective—Goal.

mục trung vô nhân

Contemptuous.

mục túc

Ví trí với mắt và hành với chân—Eye and foot—Knowledge and practice—Eyes in the feet. ; (目足) Cũng gọi Trí mục hành túc, Trí hành. Mục (mắt) ví dụ trí tuệ; Túc (chân) ví dụ hành nghiệp. Đây là 2 điều kiện tất yếu mà người tu hành Phật đạo phải hội đủ. Mục túc (mắt nhìn và chân đi tới) có đầy đủ mới đến được chỗ thanh lương( quả Phật). Trong 6 Ba la mật thì: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến và thiền định là Hành, còn trí tuệ là Trí. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2 thượng (Đại 33, 698 trung) nói: Trí là gốc của hành, nhờ có mắt trí chỉ dẫn, chân mới đi đúng hướng. [X. luận Đại trí độ Q.23; Ma ha chỉ quán Q.5 thượng].

mục túc tiên

Aksapada (skt)—Vị sáng lập ra phái Nhân Minh Luận—Founder of the Nyaya, or logical school of philosophers.

mục đa

Mukta (skt). 1) Giải Thoát: Release—Free. 2) Châu Bảo: A pearl.

mục điền đế lương

(牧田諦亮) Học giả Phật giáo Nhật bản, người huyện Tư hạ. Ông là Tiến sĩ Văn học của trường Đại học Đế quốc tại Kinh đô (Kyoto). Ông lần lượt giữ các chức vụ: Nghiên cứu viên của sở Nghiên cứu Khoa học Nhân văn trường Đại học Kinh đô, Giáo sư trường Đại học Kinh đô, Giáo sư trường Đại học Phật giáo. Hiện ông là Giáo sư trường Đại học Thánh đức Học viên kì phụ giáo dục, trụ trì chùa Niệm Phật tông Tịnh độ. Ông có các tác phẩm: Trung quốc cận thế Phật giáo sử nghiên cứu, Lục triều cổ dật Quan thế âm ứng nghiệm kí nghiên cứu, Hoằng minh tập nghiên cứu, Đường cao tăng truyện sách dẫn, Ngũ đại tông giáo sử nghiên cứu, Sách ngạn nhập minh kí đích nghiên cứu.

mục đích

Goal—Objective.

mục đích cao cả

Lofty objective.

mục đích giải thoát

A goal of liberation.

mục đế la

Mukti (skt)—Mục Đắc La—Giải Thoát—Release—Emancipation—The knowledge of experience of liberation—See Giải Thoát.

mục đề

See Mộc đề.

mục đồng

Herd-man.

Mục-kiền-liên

目犍連; S: mahāmaudgalyāyana; P: mahāmo-ggallāna;|Một trong những đệ tử quan trọng của Phật Thích-ca. Mục-kiền-liên xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn, cùng gia nhập Tăng-già Phật giáo với bạn thân là Xá-lị-phất (s: śāriputra) và sớm nổi danh là người đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong một số chùa, người ta thấy tượng của Tôn giả và Xá-lị-phất đứng bên tả và hữu đức Phật. Trước khi Phật nhập diệt, cả hai vị đều bị ngoại đạo giết chết. Mục-kiền-liên được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.

mụn

1) Acne—Pimple. 2) Piece—Bit. 3) Carbuncle (mụn nhọt).

mụt

See Mụn (3).

mừng

To rejoice—To congratulate.

mừng khấp khởi

To be full of joy.

mừng muốn khóc

To weep tears of joy.

mừng quính

To be excited with joy—To rejoice greatly.

mừng run

To flutter with joy.

mừng thầm

To rejoice inwardly.

mừng tuổi

To wish a Happy New Year.

mực thước

Rule.

Mỹ hóa

(美化): làm đẹp, làm cho đẹp bằng cách trang sức, điểm xuyết để tăng thêm vẻ mỹ quan. Như trong Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải (佛祖歷代通載, Taishō Vol. 49, No. 2036) quyển 22 có câu: “Văn Vương tự Công Lưu dĩ lai, thế tích nhân hiếu, mỹ hóa hành hồ giang hán, nhân từ cập ư hành vi, hà đãi Xích Tinh chi giáo tai (文王自公劉以來、世積仁孝、美化行乎江漢、仁慈及於行葦、何待赤精之敎哉, vua Văn Vương [1152-1056 ttl.] nhà Chu, từ thời Công Lưu đến nay, tích chứa nhân hiếu giữa đời, làm đẹp cùng khắp song nước, nhân từ đến tận cỏ cây, đâu phải đợi lời dạy của tiên nhân Xích Tinh Tử chăng ?).”

na

(娜) Cũng gọi Đà, Đồ, Nại, Noa. Chữ (da) Tất đàm, 1 trong 50 chữ cái, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Phẩm Tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Na là tất cả pháp thí đều vắng lặng. Phẩm Quảng thừa trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 5 (Đại 8, 256 thượng) nói: Vì thiện tâm sinh các pháp, nên cũng là tướng thí (cho). Đây là giải nghĩa theo chữ dàna (bố thí) trong tiếng Phạm. [X. phẩm Thị thư trong kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4; phẩm Phổ hiền bồ tát trong kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển); kinh Đại bát niết bàn Q.8 (bản Bắc)].

na a lại da mạn đà la

Nalaya-mandala (skt)—Không phải là A Lại Da Mạn Đà La, hay là Bồ Đề Đạo Tràng, không phải là nơi cố định—The non-alaya mandala, or the bodhi site or seat, which is without fixed place, independent of place, and entirely pure.

na bà ma lợi

(那婆摩利) Phạm: Navamàlikà. Cũng gọi Na phược mang lí ca, Tân ma lợi ca. Hán dịch: Như thứ đệ hoa. Tên khoa học: Jasminum sambac. Loại cây có mùi thơm, thuộc loại cây bò lan, quấn quanh các cây khác, ít lá, hoa nhỏ mà màu trắng, có thể dùng để chế dầu thơm, nước thơm. Cây này cùng loại với cây Ma lợi ca, Đại ma lợi ca. Ma lợi ca, Phạm: Mallikà hoặc Màlikà, còn gọi là Ma lỗ ca, Ma lợi, Mạt lợi, Nại hoa. Hán dịch là Thứ đệ hoa, Du tử, Đằng (cây mây) hoặc dịch là Man (tràng hoa). Thắng man bảo quật quyển thượng phần đầu (Đại 37, 10 thượng) nói: Phu nhân Mạt lợi cũng gọi là Ma lợi. Mạt lợi là tên một loài hoa. Vì Trung quốc không có danh từ tương đương để phiên dịch nên vẫn giữ nguyên âm Mạt lợi. [X. phẩm Dược vương bồ tát bản sự trong kinh Pháp hoa Q.6; kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); luận Du già sư địa Q.18; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26,48; Phiên Phạm ngữ Q.10].

na da

Naya (skt). 1) Chính yếu: Leading. 2) Phương thức: Method. 3) Chánh Lý: Đạo lý chân chính—Right principle. 4) Thừa: Yana (skt)—Con đường tu đạo mà hành giả noi theo, từ một niệm thiện cho tới khi thành Phật—Conveyance—Mode of progress. 5) Đạo: Way—Method. ; (娜耶) Phạm: Naya. Hán dịch: Thừa. Nghĩa là đạo, lí thú. Tức chỉ chung cho pháp được tu tập (sở thừa), đạo được hành trì (sở hành) ở mỗi giai vị trong quá trình tu hành từ 1 niệm thiện căn cho đến khi thành Phật. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].

na do tha

Navuta (skt)—Na Du Đa—Na Do Đa—Na Thuật—Tên số đếm, tương đương với 100.000, 1.000.000 hay 10 triệu—A numeral, 100,000, or one million, or ten million.

na do đa

(那由多) Phạm: Nayuta, Niyuta. Cũng gọi Na dữu đa, Na do tha, Ni do đa, Na thuật. Hán dịch: Triệu, Câu. Danh từ chỉ số lượng của Ấn độ. Theo luận Câu xá quyển 12, thì 10 A dữu đa(cũng gọi A do đa) là 1 đại a dữu đa, 10 đại a dữu đa là 1 na do đa, cho nên 1 na do đa là 100 a dữu đa; 1 a dữu đa là 10 ức, cho nên 1 na do đa là 1.000 ức. Thông thường kinh Phật dùng danh từ Na do đa để chỉ số lượng lớn. Ngoài ra, nếu theo cách tính phổ thông của người Ấn độ, thì a dữu đa là 1 vạn, còn na do đa là 100 vạn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.45 (bản dịch mới); luận Đại tì bà sa Q.177; Huyền ứng âm nghĩa Q.3; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8]. (xt. Cai, Đơn Vị).

na già

Naga (skt). 1) Một loại rắn: A kind of snake. 2) Một chủng tộc thờ rắn: A race of serpent-worshippers. 3) Rồng: Như loài rồng tiêu biểu cho loài bò sát mạnh nhất; nó có thể biến hiện, tăng giảm, dài ngắn tùy ý. Nó có thể bay trên trời, lội dưới nước hay đi vào trong đất. Vào mùa xuân nó bay lượn trên trời, mùa đông lại chui vào đất—As dragon it represents the chief of the scaly reptiles; it can disappear or manifest, increase or decrease, lengthen or shrink at will. It can mount in the sky and in water, and enter the earth. In spring it mounts in the sky and in winter enters the earth. • Rồng được xem như hữu ích, vì mang lại mưa: Dragons are regarded as beneficent, bringing the rains. • Thiên Long Hộ Pháp: Guarding the heavens. • Chúng ẩn dưới vực sâu để kiểm soát sông hồ: They control rivers and lakes, and hibernate in the deep. • Long và Đại Long là danh hiệu của Phật: Naga and Mahagana are titles of a Buddha. • Long và Đại Long cũng là danh hiệu của những bậc đã thoát vòng sanh tử, vì lực thoát vòng tham dục và trói buộc trần thế của các ngài bay vút như rồng bay lên trời: Naga and Mahanaga are titles of those freed from reincarnation, because of his powers, or because like the dragon he soared above earthly desires and ties. 4) Tượng: Elephant. ; (娜伽) Phạm: Nàga. I. Na Già. Hán dịch: Long, Tượng, Vô tội, Bất lai. Tức là rồng, voi, ví dụ các bậc Thánh có lực dụng lớn lao; hoặc chỉ cho các bậc đã trừ sạch tội cấu, không còn phiền não sinh tử. Kinh Khổng tước gọi đức Phật là Na già, vì Ngài không còn sinh tử nữa. Luận Đại trí độ quyển 3 (Đại 25, 81 trung) nói: Ma ha là đại, Na là vô, Già là tội. Bậc A la hán đã dứt hết phiền não, cho nên gọi là Đại vô tội. Ngoài ra, thiền định của Phật gọi là Na già định, hoặc Đại định na già. Luận Câu xá quyển 13 (Đại 29, 72 thượng) nói: Hữu dư bộ cho rằng chư Phật Thế tôn thường ở trong định (...), cho nên khế kinh nói: Na già đi trong định, Na già đứng trong định, Na già ngồi trong định, Na già nằm trong định. (xt. Long Tượng). II. Na Già. Cũng gọi Long hoa thụ, Long hoa bồ đề thụ. Tức là cây Bồ đề mà đức Phật Di lặc sẽ ngồi khi thành đạo. (xt. Long Hoa Thụ). III. Na Già. Tên của 1 chủng tộc đã có từ ngàn xưa ở Ấn độ. Hiện nay chủng tộc này sống rải rác ở vùng Assam thuộc Đông bắc Ấn độ và các vùng ở Tây bắc Miến điện. Chủng tộc này thờ cúng rồng rắn, cho nên tên Long thành (Phạm: Nàgapura) hiện vẫn còn được sử dụng ở nhiều nơi. ; (那伽) Phạm: Naga. Hán dịch: Sơn, Thụ mộc, Thực vật. Nghĩa là không chuyển động. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3].

na già phương

(那伽方) Cũng gọi Phạ rô noa (Phạm: Varuịa, Hán dịch: Thủy thiên) phương, Long phương. Chỉ cho phương Tây. Na già, Hán dịch là Long (rồng). Theo Mật giáo thì có 8 vị trời ở 8 phương che chở thế gian, trong đó, vị Thiên thần che chở phương Tây là Thủy thiên Long vương, vì thế phương Tây cũng gọi là Na già phương (phương Rồng). (xt. Thủy Thiên).

na già tê na

(那伽犀那) Phạm: Nàgasena. I. Na Già Tê Na. Cũng gọi La ca nạp, Nạp a cát tắc nạp. Tức là vị A la hán thống lãnh 1.200 A la hán quyến thuộc cùng ở tại núi Bán độ ba, hộ trì chính pháp, làm lợi ích hữu tình, là vị La hán thứ 12 trong 16 vị La hán. Đại sư Thiền nguyệt Quán lưu đời Đường vẽ tượng vị La hán này ngồi trên mỏm núi lơm chơm, cheo leo, mặc áo pháp trùm kín 2 vai, tay chống cằm, há miệng, thè lưỡi, dáng mạo rất kì dị. Thi hào Tô đông pha có bài tán rằng: Dùng ác độ người như lửa đốt mình, dùng tín vào đạo như nước mát rợi, cúi đầu chắp tay để cung kính ai? Đại sư vô đức, nước lửa như không. Truyền thuyết Tây tạng thì cho Ngài là vị La hán thứ 14 trong 18 vị La hán. [X. kinh A la hán cụ đức; Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Phật tượng đồ vậng Q.3]. II. Na Già Tê Na. Cũng gọi Na tiên. Hán dịch: Long quân. Tên của 1 vị Luận sư ở Ấn độ. (xt. Na Tiên).

na già át lạt thụ na

(那伽閼剌樹那) Phạm: Nàgàrjuna. Cũng gọi Na già a thuận na, Na già át lạt thụ na bồ đề tát đỏa. Hán dịch: Long thụ, Long thắng, Long mãnh. Chỉ cho bồ tát Long thụ, người sáng lập học phái Trung quán của Phật giáo Đại thừa ở Ấn độ. Cứ theo Long thụ bồ tát truyện do ngài Cưu ma la thập dịch, vì Ngài sinh dưới gốc cây nên đặt tên là A chu đà na; A chu đà na là tên cây, nhờ rồng mà Ngài thành đạo, nên ghép chữ Long với Thụ mà thành Long thụ. [X. Thập nhị môn luận tông trí nghĩa kí Q.thượng; Đại đường tây vực kí Q.8]. (xt. Long Thụ).

na già át thích thụ na

Nagarjuna (skt)—See Long Thọ

na già định

Dịch là đại định, bất cứ lúc nào nơi nào, đi đứng, ngồi nằm, động tịnh, bận rộn, rảnh rang, đều ở trong định, chẳng có xuất nhập gọi là Na già định. ; Thiền định Na Già, khiến người thành “thọ long” hay rồng trường thọ ở nơi chỗ sâu, để sau nầy được gặp Đức Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật—The naga meditation, which enables one to become a dragon, hibernate in the deep, prolonged one's life and meet Maitreya.

na la

Nata (skt)—Người nhảy múa hay diễn viên—A dancer or actor.

na la diên

Narayana (skt)—Na La Dã Nã—Tiêu biểu với ba mặt, màu vàng, tay phải cầm bánh xe, cưỡi chim Ca Lâu La—Narayana is represented with three faces, of greenish-yellow colour, right hand with a wheel, riding a garuda bird. 1) Tên vị lực sĩ ở Thượng Thiên là tổ phụ của chúng sanh: Son of Nara or the original man, patronymic of the personified Purusha or first living being, author of the Purusha Hymn. a) Nara (skt): Người—Man. b) Yana (skt): Sinh bản hay gốc của sự sống—The original life. 2) Tên khác của Phạm Thiên Vương, Tỳ Nữu Thiên: He is also identified with Brahma, Visnu, or Krsna, interpreted by the originator of human life. a) Kiên Cố: Firm and stable. b) Lực Sĩ hay Thiên Giới Lực Sĩ: Hero of divine power. c) Kim Cang: Vajra (skt)—Mạnh mẽ—Manly and strong.

na la diên lực chấp kim cương

(那羅延力執金剛) Vị Kim cương phát tâm đại bi dũng mãnh cứu giúp chúng sinh, là vị thứ 8 trong 19 vị Chấp kim cương, nội quyến thuộc của Mạn đồ la thuyết hội nói trong kinh Đại nhật. Na la diên, có thuyết cho là lực sĩ của trời Đế thích, hoặc là tên khác của Tì nữu thiên (Phạm: Viwịu). Vì tâm đại bi của vị Kim cương này rất mạnh mẽ, nên dùng đại lực của trời Na la diên để ví dụ mà gọi là Na la diên lực. Đại nhật kinh sớ quyển 1 (Đại 39, 581 trung) nói: Vị Na la diên lực Kim cương thứ 8 đã phát tâm thương xót, nếu có thế lực lớn thì cứu độ được (...) sức Na la diên hơn hết, mỗi lỗ chân lông của sinh thân Phật đều có sức mạnh ngang với Na la diên, cho nên gọi là Pháp giới thân na la diên lực.

na la diên thiên

Narayana-deva (skt)—Trời Na La Diên. ; (那羅延天) Na la diên, Phạm và Pàli: Nàràyaịa. Cũng gọi Na la diên na thiên, Na la dã noa thiên. Hán dịch: Kiên cố lực sĩ, Kim cương lực sĩ, Câu tỏa lực sĩ, Nhân trung lực sĩ, Nhân sinh bản thiên. Vị thần có sức rất mạnh trong thần thoại Ấn độ cổ đại. Cứ theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 6, thì Na la diên là tên vị trời ở cõi Dục, cũng gọi là trời Tì nữu (Phạm:Viwịu), nếu ai muốn được sức mạnh mà tinh thành cầu nguyện, cúng dường vị trời này thì sẽ được như ý. Cũng theo Tuệ lâm âm nghĩa quyển 41, thì vị trời này có sức rất mạnh, thân màu vàng lục, có 8 tay, cỡi chim cánh vàng, tay cầm bánh xe chiến đấu và các loại vũ khí khác, thường đánh nhau với A tu la vương. Đại nhật kinh sớ cũng cho rằng trời Na la diên là tên khác của trời Tì nữu, cỡi chim Ca lâu la bay trong hư không. Nhưng các vị Luận sư Phệ đà của Ấn độ đời xưa thì cho rằng, vị trời này là mẹ của Phạm thiên, tất cả mọi người đều từ Phạm thiên sinh ra. Ngoài ra, ngoại đạo còn nói trời Na la diên tức là Đại phạm vương, tất cả mọi người đều do Phạm vương sinh ra, cho nên gọi Phạm vương là Nhân sinh bản (gốc sinh ra loài người). Các Luận sư Ma hê thủ la thì cho Na la diên là 1 trong 3 phần(tức Phạm thiên, Na la diên, Ma hê thủ la) của 1 thể Đại tự tại thiên, đồng thời đem phối hợp với Tam bảo và Tam thân, cho Na la diên là Báo thân trong Tam thân, cũng biểu thị cho Pháp bảo trong Tam bảo. Vì trời Na la diên có sức mạnh lớn, nên đời sau đem xếp ngang hàng với Mật tích kim cương mà gọi chung là Nhị vương tôn và thờ ở cửa Tam quan của chùa. Nghĩa gốc của chữ Phạm Nàràyaịa là đứa con do người sinh ra. Trong thần thoại Ấn độ, Nguyên nhân (Phạm: Puruwa) nguồn gốc vũ trụ, còn có tên khác là Nara, do đó, Na la diên vốn được xem là đứa con do nguyên nhân (người đầu tiên, tức nguồn gốc của vũ trụ) sinh ra. Nhưng trong Áo nghĩa thư Ma ha na lạp da na (Phạm: Mahànà ràyaịopaniwad) thì dùng Na la diên thay cho nguyên nhân, là thần tối cao. Trong phần trình bày trên, thuyết cho Na la diên là Đại phạm vương có lẽ đã căn cứ vào pháp điển Ma nô, sách này cho rằng nguyên nhân là do Nara sinh ra và chỗ ở đầu tiên của loài người là Ayana (Layana?), vì thế có thuyết này và gọi Na la diên làNàràyaịa. Còn trong Áo nghĩa thư Na lạp da na (Phạm: Nàràyaịopaniwad) thì cho Na la diên là thân quyền hóa của trời Tì nữu, đồng thời cho rằng nếu xướng tụng thần chú Oô namo nàràyaịàya thì được sinh lên cõi trời. Trong Mật giáo, vị trời này được đặt ở phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới. Về hình tượng, vị tôn này có thân màu xanh đen, cỡi chim Ca lâu la, chân phải thõng xuống, bàn tay trái đặt trên bẹn, tay phải đưa lên co lại, ngón trỏ nâng đỡ cái bánh xe; có 3 mặt, mặt chính là mặt Bồ tát với 3 mắt, mặt bên phải là mặt voi trắng, mặt bên trái là mặt lợn,(heo) đen, đầu dội mũ báu anh lạc. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.1; kinh Thắng tư duy Phạm thiên sở vấn Q.5; kinh Đà la ni tập Q.11; Lí thú thích Q.hạ; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; luận Đại tì bà sa Q.30; luận Du già sư địa Q.37; luận Thuận chính lí Q.75; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.15]. (xt. Tì Nữu Thiên).

na la diên thiên hậu

Narayana-deva-sakti (skt)—Phu nhơn của Na La Diên Thiên hay năng lực của nữ giới được chỉ bày trong nhóm Thai Tạng Pháp Giới—Sakti or female energy is shown in the Garbhadhatu group.

na la diên thân nguyện

(那羅延身願) Nguyện cho những người vãng sinh Cực lạc đều được thân Kim cương na la diên kiên cố. Đây là nguyện thứ 26 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 trung) nói: Nếu tôi thành Phật, mà các Bồ tát trong đất nước tôi, không được thân Kim cương na la diên, thì tôi không lên ngôi Chính giác. (xt. Na La Diên Thiên).

na la già

(那羅遮) Phạm: Nàràza. Cũng gọi Na lạt già, Lan cát phản. Chỉ cho các vũ khí như dùi kim cương hoặc dùi có cán sắt, là 1 trong các pháp khí của Mật giáo. Phẩm Tất địa xuất hiện trong kinh Đại nhật quyển 3, khi nói về pháp thành tựu chữ khư, có nêu ra na la già và kiệt nga, mục kiệt lam (các loại vũ khí: chày có móc gươm,giáo, vòng dây) v.v... đều là những pháp khí thuộc Vật thành tựu. Về hình dáng thì các kinh quĩ nói không giống nhau, hình vẽ ở đây là theo Đại nhật kinh sớ quyển 12. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.36]. (xt. Một Nghiệt Lam].

na la ma na (nạp)

Naramanava (skt)—Thiếu niên Bà La Môn—A young Brahman, a descendant of Manu.

na la na lý

Nara-nari (skt)—Sự hợp nhất của hai phái nam nữ—Union of the male and female natures.

na la tu ma

Name of Jnatr.

na la đà

Naradhara (skt)—Nhân Trì Hoa—Một loại hoa thơm—A flower carried about for its scent.

na lan đà

Các cơ sở tu viện lừng danh tại Na Lan Đà trong thành Vương Xá có tầm quan trọng rất lớn trong lịch sử Phật giáo thời gian sau nầy. Lịch sử của các kiến trúc tại đây có thể bắt đầu từ đời vua A Dục (Asoka). Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Na Lan Đà là ngôi chùa nổi tiếng, nơi mà ngài Huyền Trang từng tòng học, trường khoảng 7 dặm về phía bắc thành Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà,miền bắc Ấn Độ, được vua Thước Ca La A Dật Đa (Sakraditya) xây dựng sau khi Phật nhập diệt. Bây giờ là Baragong. Na Lan Đà được xem như là một trung tâm nghiên cứu Phật giáo, đặc biệt là về triết lý Trung Quán. Na Lan Đà cực thịnh vào khoảng từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 12. Sau đó Na Lan Đà được các vua cuối triều Gupta mở mang rộng lớn. Kỳ thật Na Lan Đà là một trường Đại Học Phật Giáo, nơi những cao Tăng tòng học tu để mở mang kiến thức về Phật giáo. Các di tích của tu viện Na Lan Đà trải ra trên một vùng rộng lớn. Các công trình xây dựng được thấy hôm nay chỉ là một phần của cơ ngơi đồ sộ và là dấu tích của các tu viện, đền, tháp. Các công trình kiến trúc chạy theo hướng bắc nam, các tu viện nằm bên sườn đông, còn các đền tháp nằm bên sườn tây. Qua phế tích, chúng ta thấy những tu viện được xây nhiều tầng và ngay trong những đổ nát ngày nay, chúng vẫn còn gợi lên cho chúng ta sự hoài niệm về một quá khứ đường bệ và vinh quang. Trong viện bảo tàng hiện còn trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc cùng các cổ vật khác tìm được trong các cuộc khai quật. Ngoài ra, còn nhiều di sản khác như các lá đồng, các bia ký bằng đá, chữ khắc trên gạch và các con dấu bằng đất nung. Trong số các con dấu, chúng ta có con dấu thuộc cộng đồng tu sĩ khả kính của Đại Tu Viện. Những chứng liệu cho thấy Phật giáo hành trì tại Na Lan Đà cùng các tu viện đương thời tại Bengal và Bihar không phải là Phật giáo Tiểu Thừa đơn thuần, cũng không phải Đại Thừa thời khởi thủy, mà nó thâm nhiễm các tư tưởng Bà La Môn và Mật tông. Huyền Trang, một cao Tăng Trung Quốc, đã du hành sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy, đã kể lại về sự đồ sộ và phồn thịnh của Na Lan Đà. Theo ông thì tu viện nầy đã có lần có đến 10.000 vị sư Đại Thừa đến tu tập tại đây. Ông đã nói rất rõ về các giới điều và sự hành trì của chư Tăng tại đây. Ông còn nhắc đến vua Harsa và các vị tiền nhiệm như những nhà bảo trợ đắc lực cho tu viện nầy. Nghĩa Tịnh, một nhà hành hương khác của Trung Hoa, cũng đã để lại cho chúng ta một bản mô tả cuộc sống của các tu sĩ tại Nalanda, tu viện nầy được duy trì bằng số tiền thu được từ 200 ngôi làng được các đời vua ban cấp cho tu viện. Vào thời ấy, Na Lan Đà nổi tiếng trong thế giới Phật giáo vì có những giáo sư tài giỏi, uyên bác và những tên tuổi như Giới Hiền (Silabhadra), Tịch Hộ (Santaraksita), A Để Sa (Atisa), hay Dipankara, những ngôi sao sáng đã gợi lên hình ảnh cao trọng của tu viện trong suốt thời kỳ phồn thịnh của nó—The famous monastic establishments at Nalanda, near Rajgir, were of extreme importance in the history of latter day Buddhism. The history of the monastic establishments can be traced back to the days of Asoka. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Nalanda is a famous monastery which was located 7 miles north of Rajarha in Maghada, northern India, built by the King Sakraditya after the Buddha's nirvana. Now Baragong. As a center of Buddhist study, particularly of Madhyamika philosophy. It prospered from the fifth through the twelfth centuries. Thereafter, the monastery was enlarged by the kings of the late Gupta period. The Nalanda Monastery was in reality a Buddhist university, where many learned monks came to further their study of Buddhism. The ruins of Nalanda extend over a large area. The structures exposed to view represent only a part of the extensive establishment and consist of monastic sites, stupa sites, and temple sites. Lengthwise they extend from north to south, the monasteries on the eastern flank, and stupas and temples on the west. Through the ruins, we can see the evidence that these monasteries were storeyed structures; and even in their ruins, they still convey a memory of their imposing and glorious past. In the museum are deposited numerous sculptures and other antiquities recovered during the excavations. Besides, there are a lot of epigraphic materials, including copper-plate and stone inscriptions, and inscriptions on bricks, and terracotta seals. Among the seals, we have the official seal belonging to the community of venerable monks of the great monastery. Through these materials, we can see that the Buddhism that was practised at Nalanda and other contemporary institutions in Bengal and Bihar was neither the simple Hinayana, nor Mahayana of the early days. It was strongly influenced by the Brahmanism and Tantrism. Hsuan-Tsang, a famous Chinese monk, who traveled to India in the seventh century, wrote of the imposing structure and prosperity of this monastery. According to Hsuan-Tsang, at one time, there were more than 10,000 Mahayana Buddhist monks stayed there to study. He stated very clearly about their rules and practices. He also mentioned Harsa and several of his predecessors as beneficent patrons of this institution. I-Ching, another Chinese traveller, had also left us a picture of the life led by Nalanda monks. According to I-Ching, Nalanda was maintained by 200 villages which donated by different kings. Nalanda was known throughout the Buddhist world of that time for its learned and versatile teachers, and the names of Acarya Silabhadra, Santaraksita, and Atisa or Dipankara, were shining stars among a galaxy of many others, conjure up a vision of the supreme eminence of the Nalanda Mahavihara throughout its prosperous history.

na lan đà tự

See Na Lan Đà.

na liên đề lê da xá

Narendrayasas (skt). 1) Tôn xưng: Venerable. 2) Tên vị Tỳ Kheo Na Liên Da Xá, người nước Ô Trành, miền Tây Bắc Ấn, vào thế kỷ thứ sáu, từng dịch khoảng 80 quyển Kinh Luận—A monk of Udyana, northwest India, sixth century, translated the Candra-garbha, Surya-garbha, and other sutras. ; (那連提黎耶舍) Phạm: Narendrayazas. Cũng gọi Na liên da xá, Na liên đề da xá. Gọi tắt: Da xá. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người nước Ô trường tại Bắc Ấn độ, họ Thích ca, thuộc dòng Sát đế lợi. Năm 17 tuổi sư xuất gia, thông hiểu Đại Tiểu thừa, giỏi cả Tam học. Vì muốn lễ bái các thánh tích của Phật giáo nên sư chu du các nước. Sau, được 1 vị tôn giả chỉ bảo, sư mới trở về, giữa đường, nhờ tụng thần chú Quan âm mà tránh được nạn giặc cướp làm hại. Khi đến nước Nhuế nhuế, gặp loạn Đột quyết, sư bèn bỏ ý định trở về Ô trường mà vượt ngọn Thông lãnh để đến Bắc Tề. Bấy giờ sư 40 tuổi, rất được Văn tuyên đế nhà Tề lễ kính, sư ở tại chùa Thiên bình, dịch được 5 bộ 49 quyển kinh, như kinh Nguyệt đăng tam muội v.v... Sau đó, sư trao cho Chiêu huyền thống (vị Tăng lãnh đạo tăng ni), sư lại dùng những tài vật mà tín đồ cúng dường để xây cất 3 ngôi chùa ở Tây sơn để cho dân chúng an dưỡng và chữa bệnh. Khi Chu vũ đế diệt nhà Tề, phá hủy Phật pháp, sư ở ẩn, trà trộn với thế tục nhưng không bỏ pháp sự. Khi nhà Tùy hưng khởi sư mới mặc áo pháp trở lại, vua Văn đế ban sắc cho sư trụ ở chùa Đại hưng thiện, thỉnh các vị tăng ngoại quốc, cùng với các ngài Đàm diên v.v... gồm hơn 30 vị lại bắt đầu công việc dịch kinh. Năm Khai hoàng thứ 9 (589) sư thị tịch, thọ 100 tuổi. Trước sau sư dịch được hơn 13 bộ 70 quyển kinh. [X. Lịch đại Tam bảo kỉ Q.9, 12; Tục cao tăng truyện Q.2; Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

na luật

See Aniruddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

na lạc ba

(那洛巴) Tạng: Nà-ro-pa. Phạm: Nàđapàda (cũng gọi Narottama -pàda). Danh tăng Ấn độ sống vào cuối thế kỉ X, là Đại thành tựu sư của Mật giáo, là thầy của ngài Mã nhĩ ba (Tạng: Mar-pa, thế kỉ XI), người sáng lập phái Bí sắc (Tạng:Bka- rgyud-pa) của Phật giáo Tây tạng. Theo truyện kí do ngài Tì ma tạp nhĩ bột (Tạng: Pad-madkar-po) soạn, thì Na lạc ba sinh trong 1 gia đình Bà la môn ở Ca thấp di la vào cuối thế kỉ X. Sau khi xuất gia, sư đến tu học tại chùa Na lan đà, tinh thông Phật pháp, rất nổi tiếng, đứng đầu về Phật học ở chùa Na lan đà. Khi đọc sách về Kim cương thừa, được sự chỉ bày của Dược xoa nữ, sư bèn đi về phía đông để cầu Thành tựu sư (Phạm: Siddha). Sư đến nhiều nơi, qua nhiều cuộc thử luyện khổ hạnh, cuối cùng mới gặp được ngài Đế la ba, được ngài cảm hóa, chỉ dạy, sư chuyên tâm tu học và sau được nối pháp. Các vị A đề sa (Phạm: Atìza) và Mại đột lợi ba (Tạng: Maitrì-pa) đều tôn sư làm thầy. Các tác phẩm của sư được thu vào bộ Đan châu nhĩ trong Đại tạng kinh Tây tạng gồm có: -Thời luân (Phạm: Kàlacakra, Tạng: Dus-khor). -Quán đính lược thuyết chú thích. -Kim cương du kì mẫu thành tựu pháp (Tạng: Rdo-rje rnal-byor-mai sgrubthabs). -Ngũ thứ đệ tập minh giải (Tạng:Rimpa lía bsdus-pa gsal-ba) v.v... [X. Đa la na tha Ấn độ Phật giáo sử; Die Legenden des Nàro-pa, Leipzig, 1933 (A. Grünwedel); Yoga und Geheimlehren Tibets, München Planegg, 1937 (W.Y.Evans- Wentz); Die Religionen Tibets, München, 1956 (H.Hoffmam).

na lạc ca

Naraka (skt)—Địa ngục—Hell. 1) Người làm ác bị hành hạ: The sufferer. 2) Những cõi thấp: The lower regions.

na lạn đà tự

(那爛陀寺) Na lan đà, Phạm: Nàlandà. Cũng gọi A lan đà tự. Gọi đủ: Na lan đà tăng già lam (Phạm: Nàlandà-saôghàràma). Hán dịch: Thí vô yếm tự. Ngôi chùa danh tiếng ở phía bắc thành Vương xá, thủ đô nước Ma yết đà, Trung Ấn độ đời xưa, tức ở vùng Ba đạt gia âu (Baragaon), cách Lạp tra cơ nhĩ (Rajgir) về phía bắc khoảng 11 cây số hiện nay. Vào đầu thế kỉ thứ V, vua Đế nhật (Phạm: Zakràditya) thuộc vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta) xây cất chùa này cho tỉ khưu Hạt la xã bàn xã (Phạm: Ràjavaôza) trụ trì, trải qua các đời, nhiều lần được mở rộng thêm, trở thành ngôi tự viện và trường học của Phật giáo có qui mô to lớn ở Ấn độ thời xưa. Theo Đại đường tây vực kí quyển 9, thì khu vực này vốn là vườn Am ma la, đức Phật đã từng ở đây thuyết pháp trong 3 tháng. Sau, vua Đế nhật đã xây dựng già lam ở đây. Về lí do tại sao chùa được đặt tên là Na lan đà thì có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trong rừng Am ma la ở phía nam già lam có 1 cái ao, trong ao có con rồng tên là Na lan đà, vì thế lấy tên rồng làm tên chùa. Thuyết thứ 2 cho rằng thủa xưa khi đức Như lai còn tu hạnh Bồ tát, làm 1 vị đại quốc vương, đặt thủ đô ở nơi này, vua thích bố thí, đức hiệu là Thí vô yếm (bố thí không biết chán) nên lấy đức hiệu của vua để đặt tên chùa. Cứ theo Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 3, thì Na lan đà là ngôi chùa lớn bậc nhất ở Ấn độ vào thế kỉ VII, toàn chùa có 8 viện, thường có tới 10.000 tăng chúng học tập đủ các ngành, như Đại thừa, 18 bộ Tiểu thừa, Phệ đà, Nhân minh, Thanh minh, Y phương, Thuật số v.v... Ban đầu, chùa này là trung tâm của học phái Duy thức, về sau dần dần trở thành 1 trung tâm lớn của Mật giáo. Các bậc Luận sư nổi tiếng của Đại thừa Hữu tông như các ngài Hộ pháp, Đức tuệ, Hộ nguyệt, Kiên tuệ, Quang hữu, Thắng hữu, Trí nguyệt, Giới hiền, Trí quang v.v... đều đã lần lượt giảng dạy hoặc đảm nhận chức vụ Trụ trì chùa này. Ngoài ra, cũng có nhiều du học tăng từ Trung quốc và các nước vùng Đông nam á đến đây tu học, như các vị Huyền trang, Nghĩa tịnh, Kinh châu, Đạo lâm, Thái châu Huyền chiếu, Tinh châu Đạo sinh, Lạc dương Trí hoằng của Trung quốc và các vị Tuệ nghiệp, A li da bạt ma của Tân la. Còn các vị cao tăng từ Ấn độ đến Trung quốc vào thời ấy, như Ba la phả ca la mật đa la, Địa bà ha la, Thiện vô úy, Kim cương trí, Bát lạt nhã v.v... cũng từng tu học ở Na lan đà. Đầu thế kỉ VIII, vương triều Cấp đa sụp đổ, Ấn độ giáo hưng thịnh, Na lan đà cũng rơi vào tình trạng suy vi, đến cuối thế kỉ XII thì bị quân đội Y tư lan (Hồi giáo) phá hủy. Nhưng cứ theo truyền thuyết thì vào những năm đầu niên hiệu Thái định (1324-1327) đời Nguyên, còn có tỉ khưu Đề nạp bạc đà (tức Chỉ không) y vào ngài Luật hiền (Phạm: Vinaya-bhadra) ở chùa Na lan đà xuất gia, rồi đến Trung quốc, căn cứ vào đó, ta có thể biết vào thế kỉ XIV chùa Na lan đà vẫn còn. Năm 1915, bộ môn khảo cổ của Ấn độ bắt đầu công việc khai quật chùa này rất có hệ thống, từ trong các di tích, người ta đã đào được rất nhiều tác phẩm điêu khắc bằng đá và kim loại (đồng thau), hiện được cất giữ ở Viện bảo tàng Na lan đà tại Ấn độ. [X. truyện ngài Tịch mặc đời Đường trong Tống cao tăng truyện Q.1,2,3; truyện ngài Tuệ luân trong Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.4,5; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.43; Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Ancient Geography of India by A. Cunningham; The Geographical Dictionary of Ancient and Mediaeval of India by N.L.Dey].

na lạt già

Naraca (skt). 1) Mũi tên: An arrow. 2) Vật nhọn: A pointed implement.

na lợi ca tụ lạc

(那利迦聚落) Na lợi ca, Phạm: Nàđakantha. Pàli: ĨàdikahoặcĨàtika. Cũng gọi Na đề kiện tụ lạc, Na đề ca tu lạc, Na đề ma tụ lạc, Na địa ca tụ lạc, Na lê ca tụ lạc, Na lê tụ lạc, Na la tụ lạc, Na đà tụ lạc. Hán dịch: Hỉ dự, Qui vi. Thôn xóm của chủng tộc Tì đề ca (Phạm: Videha) ở tỉnh Ngõa cát liên thuộc miền Bắc Trung Ấn độ. Nhờ nghề làm ngói mà thôn này nổi tiếng. Tương truyền, đức Thích tôn đã từng ở tại đây trong 1 thời gian. Vùng phụ cận thôn này có khu rừng Ngưu giác sa la (Phạm:Gosiígasàla vanadàya) là nơi mà 3 vị tỉ khưu A na luật, Nan đề và Kim tì la cũng đã từng cư trú. [X. kinh Ngưu giác sa la lâm trong Trung a hàm; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5].

na lợi kế la

1) Narikela or Narikera (skt)—Trái dừa hay cây dừa—The coco-nut. 2) Đảo Na Lợi Kế La: Narikeladvipa (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một hòn đảo nằm cách phía nam Tích Lan vài ngàn dặm, trú xứ của những người lùn với chiều cao khoảng ba bộ Anh, có mình người mỏ chim, chỉ ăn dừa mà thôi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is described as “an island several thousand miles south of Ceylon, inhabited by dwarfs 3 feet high, who have human bodies with beaks like birds, and live upon coco-nuts.

na ma

Naman (skt)—Tên—A name.

na mô

Namah (skt)—Quy-y.

na nhân

(那人) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Người ấy, chỉ cho người đã triệt để đại ngộ. Tắc 49 trong Thung dung lục (Đại 48, 258 thượng) nói: Phổ hóa thì nhào lộn, Long nha chỉ lộ nửa mình, rốt cuộc người ấy (na nhân) là người thế nào?

na nhất bảo

(那一寶) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cái quí báu, ví dụ Phật tính. Những từ ngữ cùng loại còn có: Na nhất cú (1 câu), chỉ cho lời nói của Phật tổ, Na nhất khúc (1 khúc nhạc hay), ví dụ tông phong của Phật tổ. Phổ tế thiền sư ngữ lục quyển thượng (Đại 82, 502 thượng) nói: Một khúc nhạc mới (na nhất khúc), điệu cao thấu đại thiên.

na nhất quyết

(那一橛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là khi tiếp hóa người học, bậc thầy dùng cơ pháp linh hoạt, thích hợp đánh trúng vào điểm hiểm yếu của người học, khiến những nghi ngờ chấp trước chất chứa từ lâu, phút chốc tiêu tan. Quyết, vốn là cái then bằng gỗ để chốt cửa, trong Thiền lâm, từ ngữ Na nhất quyết được chuyển dụng để chỉ cho ý nghĩa điểm then chốt, chỗ hiểm yếu. Phần Giáp chú tắc 40 trong Bích nham lục (Đại 48, 154 hạ) nói: Đức sơn, Lâm tế cũng phải thoái lui, vậy chỗ then chốt(na nhất quyết) thì hiểu thế nào?

na nhất thủ

(那一手) Cũng gọi Na nhất trước. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mưu lược hoặc thủ đoạn, phương pháp đặc biệt. Nhất thủ là 1 nước cờ.

na ná

Similar—Analogous.

na tiên

(那先) Phạm, Pàli: Nagasena. Cũng gọi Na già tư na, Na già tê na. Hán dịch: Long quân. Cao tăng Ấn độ sống vào hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch. Sư là con của 1 người Bà la môn ở thôn Cát thằng yết la (Phạm: Kajaígala) dưới chân núi Tuyết, Trung Ấn độ. Na, nói đủ là Na già (Phạm: Nàga), nghĩa là voi. Khi sư sinh ra thì voi mẹ trong nhà cùng đẻ voi con, cho nên đặt tên sư là Voi. Ban đầu, sư học kinh Phệ đà, vì cảm thấy không thỏa mãn với giáo học của Bà la môn giáo, sư bèn đến tôn giả Lâu hán (Pàli: Rohaịa) xin xuất gia, tu học tạng Luận và 7 bộ A tì đàm, chứng được quả A la hán. Sau, sư đến nước Xá kiệt (Phạm: Sàgala) Bắc Ấn độ, ở tại chùa Tiết để ca, nghị luận với vua Di lan đà (Pàli: Milinda), dùng sự quan hệ giữa các bộ phận của cái xe như trục xe, vành xe, nan hoa xe, thùng xe v.v... làm ví dụ để thuyết minh giáo nghĩa của Phật giáo về lí vô ngã, vô thường của kiếp người và về sự báo ứng của thiện và ác. Vua Di lan đà rất tin và kính phục, sau đó vua qui y Phật giáo. Sự kiện này được ghi trong kinh Di lan đà vương vấn, Hán dịch là kinh Na tiên tỉ khưu. Tư tưởng của ngài Na tiên không ra ngoài phạm trù của Phật giáo Tiểu thừa, là đầu mối của tư tưởng Thuyết nhất thiết hữu bộ, cho nên là tư liệu quan trọng về mặt lịch sử phát triển giáo lí của Phật giáo nguyên thủy. Theo kinh Na tiên tỉ khưu tiếng Pàli, thì ngài Na tiên ra đời khoảng 500 năm sau đức Phật nhập diệt, nhưng vua Di lan đà tức là vua Menandros của Hi lạp; như vậy thì niên đại ra đời của ngài Na tiên phải là giữa thế kỉ II trước Tây lịch. Lại nữa, trong 16 vị La hán có 1 vị tên là Na già tê na, chưa biết vị này có phải là ngài hay không. Ngoài ra, trong số các vị Luận sư của Đại thừa cũng có 1 vị tên là Long quân, gọi là Tam thân luận chủ. [X. kinh Tạp bảo tạng Q.9; luận Câu xá Q.30; Giải thâm mật kinh sớ Q.1; Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận thuật kí Q.1 (Khuy cơ); Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1]. (xt. Na Tiên Tỉ Khưu Kinh).

na tiên tỉ khâu kinh

(那先比丘經) Pàli: Milindapaĩhà. Hán dịch: Di lan đà vương vấn kinh. Gọi tắt: Na tiên kinh. Kinh, 2 quyển (hoặc 3 quyển), được dịch vào khoảng đời Đông Tấn, nhưng không rõ tên dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Kinh này ghi lại quá trình luận nạn giữa ngài Na tiên, vị tỉ khưu Phật giáo người Ấn độ, và vua nước Đại hạ (Bactra) là Di lan đa la tư (Menandros, Phạm, Pàli: Milinda, tức Di lan đà), người Hi lạp, cai trị miền Bắc Ấn độ thời bấy giờ (hậu bán thế kỉ II trước Tây lịch). Nội dung kinh này chú trọng thuyết minh về giáo nghĩa cơ bản của Phật giáo như: Duyên khởi, Vô ngã, Nghiệp báo, Luân hồi v.v...; chia làm 3 phần: Phần tựa, chính văn và kết luận. Phần tựa, đầu tiên nói về đời trước của tỉ khưu Na tiên, kế đến nói về cuộc đời của vua Di lan đà, nhân duyên từ khi ngài Na tiên ra đời đến khi đắc đạo, việc vua Di lan đà thưa hỏi ngài Na tiên cho đến việc nghinh thỉnh ngài Na tiên vào cung để luận nạn... Phần chính văn là trọng tâm của kinh này, trình bày về cuộc vấn đáp giữa vua Di lan đà và ngài Na tiên về giáo lí Phật giáo và các việc có liên quan. Phần kết luận cho biết cuộc vấn đáp kéo dài đến nửa đêm, vua cúng dường và tiễn đưa ngài Na tiên, đồng thời bày tỏ ý nguyện muốn xuất gia và ngài Na tiên rất cảm kích. Kinh này mới chỉ đề cập giáo lí Tiểu thừa, chứ chưa nói đến Đại thừa, lời văn lưu loát, ngắn gọn và trong sáng, trình bày tất cả 50 điều về giáo nghĩa Phật giáo như đạo Nê hoàn, sự tái sinh, việc thiện v.v... Trong lịch sử văn học của Phật giáo, kinh này chiếm 1 địa vị quan trọng. Kinh này có 2 loại bản: Bản 2 quyển và bản 3 quyển. Trong các tạng Kinh, tạng Cao li thu bản 2 quyển, còn các tạng Tống, Nguyên, Minh thì thu bản 3 quyển. Giữa các bản này có rất nhiều chỗ khác nhau về câu, chữ. Đại tạng kinh thu nhỏ và Đại chính tạng thì thu chép cả 2 loại bản này. Kinh Di lan đà vương vấn bản Pàli, chưa được đưa vào Tam tạng Nam truyền, đây là bản kinh Pàli quan trọng nằm ngoài Tam tạng và có nhiều bản chép tay. Cứ theo bản dịch tiếng Anh (The Questions of King Milinda, S.B.E. 35,36; 1890-1894) của ông Rhys Davids, học giả người Anh, thì bản Pàli chia làm 7 thiên: Thế tục cố sự (Bàhira-Kathà), Pháp tướng chất nghi (Lakkhaịa-paĩha), Đoạn hoặc chất nghi (Vimaticchedana-paĩha), Mâu thuẫn chất nghi (Meịđaka-paĩha), Suy luận chất nghi (Anumàna-paĩha), Đầu đà hạnh (Dhutaíga) và Thí dụ thuyết chất nghi (Opammakathà-paĩha), gồm 22 chương, 236 điều vấn đáp, trong đó, 3 thiên trước tương đương với bản dịch tiếng Hán, có thể được xem là phần chính thức của kinh này, còn từ thiên thứ 4 trở xuống có lẽ đã do người đời sau thêm vào. Về phương diện kết cấu thì bản Pàli và bản Hán dịch giống nhau, nhưng riêng phần Tựa thì có nhiều chỗ bất đồng. Về việc biên tập, theo bà Rhys Davids, thì kinh này (tức 3 thiên trước) được hình thành là do Bà la môn Ma na ngõa (Pàli: Màịava) ghi chép lại bằng tiếng Phạm vào thời vua Đới áo ni tây âu tư (Dionysios) ở ngôi, người thừa kế vua Di lan đà, về sau, được dịch ra tiếngPàli. Từ bảnPàli, sau này lần lượt được dịch sang các thứ tiếng Tích lan, Anh, Nhật, Pháp, Đức, Ý, v.v... [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4, Pháp kinh lục Q.3; Lịch đại Tam bảo kỉ Q.7; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Geochichte der indischen Listeratur, Bd, II (M.Winternitz); Early History of India (V.A. Smith)].

na tiên tỳ kheo

Bhiksu Nagasena—Tỳ Kheo Na Tiên—Một vị Tăng nổi tiếng người Ấn vào thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Theo Na Tiên Tỳ Kheo Kinh (hay Di Lan Đà Vấn Kinh), Na Tiên sanh ra trong một gia đình Bà La Môn, tại Kajangala, một thành phố nhiều người biết đến bên cạnh dãy Hy Mã Lạp Sơn. Cha ông là một người Bà La Môn tên Sonutttara. Khi Na Tiên đã học hành thông thạo ba kinh Vệ Đà, lich sử cũng như các môn khác thì ông nghiên cứu Phật giáo và xuất gia theo đạo Phật. Thoạt tiên ông học với trưởng lão Rohana, kế tiếp với trưởng lão Assagutta ở Vattaniya. Sau đó ông được gửi đến thành Hoa Thị, nay là Patna để nghiên cứu về giáo lý của đạo Phật. Sau đó ông gặp vua Milinda tại tu viện Sankheyya ở Sagala. Ông là một luận sư rất nổi tiếng. Chính ông đã biện luận với vua Hy Lạp là Di Lan Đà và độ cho vị vua nầy trở thành Phật tử. Đây là cuộc tranh luận nổi tiếng và được biết như là một điển hình về những cuộc gặp gỡ sớm nhất giữa nền văn minh Hy Lạp và Phật giáo. Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo thì các tài liệu Pali còn lưu lại cho thấy cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo có lẽ được đại trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn sách đáng tin cậy—Nagasena, a famous Indian monk of the second century B.C. According to the Milidapanha Sutra (The Questions of King Milinda), he was born to a Brahman family, in a city called Kajangala, a well-known town near the Himalayas, on the eastern border of the Middle country, and his father was a Brahmin called Sonuttara. When Nagasena was well-versed in the study of the three Vedas, history and other subjects, he studied the Buddha's doctrine and entered the Buddhist Order. First, he studied the Buddha's doctrine with the Elder Rohana. Later he studied under the Elder Assagutta of Vattaniya. Afterwards he was sent to Pataliputra, now Patna where he made a special study of the Buddha's doctrine. Then he stayed at Sankheyya monastery, where he met king Milinda. He debated on various subjects with the Greek King Menander, who ruled in northern India and is said to have been converted by Nagasena. This debate is famous as an example of the earliest encounters between Greek civilization and Buddhism. According to Prof. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, after the Pali scriptures, the Questions of King Milinda (Milinda-panha) supposed to have been compiled by Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative a text—See Di Lan Đà Vấn Đạo.

na tra

Nata (skt)—Thái tử con trai của Tỳ Sa Môn Thiên Vương, một Quỷ Vương hùng tráng, ba mặt, tám tay—A powerful demon king, said to be the eldest son of Vaisravana, and represented with three faces, eight arms.

na trá thái tử

(那吒太子) Phạm: Nalakùvara hoặc Nalakùbala. Cũng gọi Na tra thiên vương, Na noa thiên, Na la cưu bà, Na tra củ miệt la, Na la cưu bát la, Na tra cưu bạt la, Na tra câu phạt la. Vị thiện thần thủ hộ Phật pháp, bảo vệ đất nước và che chở quốc vương, là 1 trong 5 vị Thái tử của vua Tì sa môn thiên. Thái tử Na tra tay cầm cây kích, quan sát 4 phương, ngày đêm bảo vệ quốc vương, đại thần, quan lại, cho đến tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nếu có người nào khởi tâm ác giết hại họ thì sẽ bị Na tra dùng gậy kim cương đánh lên đầu hoặc đâm vào tim. Na tra từng lóc thịt trả lại cho mẹ, chẻ xương trả lại cho cha, sau đó hiện thân như cũ, vận đại thần thông thuyết pháp độ cha mẹ, có lần Na tra trao răng Phật cho Luật sư Đạo tuyên và theo hầu ngài. [X. phần Tối thượng thành tựu nghi quĩ trong kinh Tối thượng bí mật na noa thiên Q.thượng; Bắc phương tì sa môn thiên vương tùy quân hộ pháp nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.16; Tổ đình sự uyển Q.6; truyện ngài Đạo tuyên trong Tống cao tăng truyện Q.14; điều Tây thiên Đông độ ứng hóa thánh hiền trong Ngũ đăng hội nguyên Q.2].

na trá tích cốt hoàn phụ

(那咤析骨還父) Tên công án trong Thiền tông. Na tra chẻ xương trả lại cha. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Đầu tử Đại đồng và một vị tăng. Chương Đầu tử Đại đồng trong Ngũ đăng hội nguyên quyển 5 (Vạn tục 138, 95 hạ) chép: Hỏi: Na tra chẻ xương trả lại cha, lóc thịt trả lại mẹ, vậy thế nào là thân bản lai của Na tra? Sư liền buông cây phất trần xuống đất.

na tây khắc

(那西克) Một đô thị ở miền Tây Ấn độ, nằm bên bờ sông Ca đạt duy lợi (Phạm: Godàvarì) thuộc cao nguyên Đức can (Decan). Nơi này là Thánh địa của Ấn độ giáo, đối lại với Ba la nại (Phạm: Vàràịasì) ở bên bờ sông Hằng, Na tây khắc (Nàsik) được gọi là Tây ba la nại. Vào khoảng thế kỉ I Tây lịch, vùng này đã xảy ra cuộc tranh giành giữa vương quốc Án đà la và chủng tộc Khố hạ cáp lạp đạt (Phạm: Kwaharàta). Về mạn tây nam Na tây khắc, cách quốc lộ Bombay khoảng 1 cây số, có 24 chỗ hang đá của Phật giáo (được khai tạo từ thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ II sau TL.), trong đó có nhiều bia đá. Căn cứ vào văn bia cho biết thì 1 số hang động ở đây được cúng dường cho tăng đoàn của Phật giáo Bộ phái. Đối với lịch sử mĩ thuật, những tác phẩm điêu khắc ở đây có giá trị rất cao. [X. Histoire du Bouddhisme Indien, 1958, par E.Lamotte].

na yết la hát la

Nagarahara or Nagara (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một vương quốc cổ, nằm trên bờ nam sông Cabool, khoảng 30 dặm về phía Tây của Jellalabad—According to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the name of an ancient kingdom on the southern bank of the Cabool River, about 30 miles west of Jellalabad.

na yết la hạt quốc

(那揭羅曷國) Na yết la hạt, Phạm: Nagarahàra. Cũng gọi Na càn ha la quốc, Na già la hạt quốc, Na ca la ha quốc, Na kiệt quốc. Tên 1 nước thời xưa ở Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì nước này chiều dài hơn 600 dặm, chiều rộng hơn 250 dặm, 4 phía đều là núi. Nước có đô thành lớn, nhưng không có vua, lệ thuộc nước Ca tất thí; sản vật dồi dào, nhân dân đông đúc, sùng kính Phật pháp, già lam tuy nhiều nhưng tăng đồ thì ít, có 5 ngôi đền thờ trời với hơn 100 người thuộc các đạo khác nhau. Chỗ cách đô thành về phía đông khoảng 2 dặm, có tòa tháp do vua A dục xây dựng, tháp cao hơn 300 thước, tương truyền là nơi đức Thích tôn được Phật Nhiên đăng thụ kí khi Ngài còn ở địa vị tu nhân. Phía đông nam đô thành có thành Hê la, trong đó có 7 tòa bảo tháp, thờ xương sọ của đức Phật. Vị trí nước này xưa kia ở vào khoảng lưu vực sông Kabul tại vùng Đông bắc nước Afghanistan hiện nay, nơi đây vẫn còn tàn tích của những ngôi tháp cổ. [X. Cao tăng pháp hiển truyện; Lạc dương già lam kí Q.5; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.2; Thích ca phương chí Q.thượng; The Ancient Geograghy of India by A. Cunningham].

na đề

1) Nadi (skt)—Sông—Thác—River—Torrent. 2) Punyopaya (skt)—Bố Như Na Đề, một vị Tăng nổi tiếng miền Trung Ấn—A noted monk of central India. ; (那提) Phạm: Nadì. Gọi đủ: Bố như ô phạt tà (Phạm: Puịyopaja) Hán dịch: Phúc sinh. Cao tăng người Trung Ấn độ (có thuyết nói là người Bắc Thiên trúc), sống vào thế kỉ VII, tương truyền là đệ tử của bồ tát Long thụ. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, nhờ được các bậc thầy danh tiếng chỉ dạy mà khai ngộ. Sư có chí viễn du, từng đến đảo Tích lan và các nước vùng Nam hải để hoằng đạo; nghe Phật pháp ở Trung quốc hưng thịnh, sư liền sưu tập hơn 1.500 bộ kinh luật luận Đại, Tiểu thừa mang đến Trường an vào năm Vĩnh huy thứ 6 (655) đời vua Cao tông nhà Đường, được vua ban sắc trụ tại chùa Đại từ ân. Ở đây, sư dịch được 3 bộ kinh là: Kinh Sư tử trang nghiêm vương bồ tát thỉnh vấn, kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp và kinh A tra na trí thú. Năm Long sóc thứ 3 (663), theo lời thỉnh của vua nước Chân lạp (Cao miên), sư bèn đến đó hoằng pháp và không trở lại Trung quốc nữa. Sư có tác phẩm: Luận Đại thừa tập nghĩa hơn 40 quyển. [X. Tục cao tăng truyện Q.4; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

na đề ca diếp

Nadikasyapa (skt)—Nại Địa (Đề) Ca Diếp Ba—Em trai của Đại Ca Diếp, sau thành Phật Phổ Minh Như Lai—Brother of Mahakasyapa, to become Samantaprabhasa Buddha. ; (那提迦葉) Phạm: Nadì-Kàzyapa. Pàli: Nadì-Kassapa. Cũng gọi Nan đề ca diếp, Nẵng đề ca diếp, Nại địa ca diếp ba. Gọi tắt: Na đề, Hán dịch: Giang, Hà, Trị hằng. Đệ tử của đức Phật, là em của ngài Ưu lâu tần loa ca diếp và là anh của ngài Già da ca diếp. Ban đầu, ngài là ngoại đạo thờ lửa, thống lãnh 300 đệ tử tu ở vùng hạ lưu sông Ni liên thiền (Phạm:Nairaĩjanà). Bấy giờ, đức Phật đã thành đạo, du hóa đến rừng Khổ hạnh, độ ngài Ưu lâu tần loa ca diếp, ngài Na đề ca diếp hay tin, liền cùng với ngài Già da ca diếp dẫn hết đệ tử đến qui y đức Phật. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.15; kinh Phật bản hạnh tập Q.40; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; Hữu bộ tì nại da phá tăng sự Q.7; Đại đường tây vực kí Q.8; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tam Ca Diếp).

na đề quốc

(那提國) Tên một nước thời xưa ở Ấn độ. Cứ theo Cảnh đức truyền đăng lục quyển 2, thì vua nước Na đề là Sô ni, được đức Phật tiên đoán đời sau sẽ là em của ngài Bà tu bàn đầu (Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn độ). Còn 1 thuyết khác thì cho rằng, sau khi đắc pháp, ngài Bà tu bàn đầu du hành đến nước Na đề, truyền pháp hóa độ Ma noa la, người con thứ 2 của Thường tự tại, vua nước Na đề. Như vậy, ngài Ma noa la là Tổ phó pháp thứ 22.

na-do-tha

con số đo lường rất lớn, có nơi nói là một vạn ức, lại có nơi nói là một ngàn ức, hoặc một ngàn vạn ức, nên hiểu đây là sự tượng trưng cho một con số rất lớn.

na-già

xem long tượng.

na-la-diên

phiên âm từ Phạn ngữ là nryaṇa, tên gọi vị lực sĩ ở cõi trời.

Na-lan-đà

那爛陀; S: nālandā;|Viện Phật học danh tiếng của Ấn Ðộ, được vua Thước-ca-la Dật-đa (s: śakrāditya) thành lập trong thế kỉ thứ hai, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà. Dần dần Na-lan-đà trở thành nơi của các luận sư nổi tiếng của Trung quán tông và Duy thức tông giảng dạy. Các vị này đều lần lượt làm viện trưởng. Na-lan-đà lúc đông nhất có đến mười ngàn học viên. Các khách phương xa như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh đều ghé nơi đây tu học. Na-lan-đà là nơi giáo hoá của đạo Phật, hưng thịnh được 1000 năm. Tại Tây Tạng, một học viện cũng được đặt tên là Na-lan-đà và được xây dựng năm 1351. |Theo Huyền Trang và Nghĩa Tịnh thì trong thời cực thịnh có đến 10 000 tăng sĩ học tại Na-lan-đà. Các vị đó học giáo pháp Tiểu thừa, Ðại thừa, Nhân minh học, toán học, y khoa. Những vị giảng sư danh tiếng đã từng dạy đây là Long Thụ (s: nāgārjuna), Hộ Pháp (s: dharmapāla), Trần-na (s: dignāga), Giới Hiền (s: śīlabhadra), Huyền Trang, An Huệ (sthiramati) giảng dạy. Tương truyền Na-lan-đà bị tín đồ của Hồi giáo phá huỷ trong thế kỉ 12, 13.

Na-li-na-pa

S: nalinapa; »Hoàng tử tự lực cánh sinh«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là một hoàng tử nhưng sống trong sự nghèo nàn ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Lần nọ ông gặp một vị Du-già sư, xin vị đó chỉ cho con đường thoát khỏi Sinh tử. Vị đó cho ông vào Man-đa-la của Bí mật tập hội (s: guhyasamāja), dạy »quán chính thân mình« như sau:|Quán trên đỉnh đầu mình,|là âm HAṂ sắc trắng,|của Ðại lạc tuyệt đối.|Quán nơi lỗ rốn mình,|là âm BAṂ sắc đỏ,|nó như ngọn lửa cháy,|và hồ tan với HAṂ.|Rồi dần dần cả bốn|mức Lạc sẽ dâng trào:|một là thứ Lạc thụ,|sau đó đến Ðại lạc,|ba là Lạc xả bỏ,|cuối: Lạc uyên nguyên.|Thế mà rời Sinh tử,|đạt Ðại lạc thuần tuý,|của đạo vị giải thoát.|Na-li-na-pa thiền quán như thế và bốn mức Ðại lạc xuất phát từ bốn trung tâm trong người dâng lên, giải thoát ảo giác của Sinh tử, như hoa sen nở trên bùn mà không lấm mùi bùn. Sau chín năm thiền định, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Trên đỉnh đầu của đoá|hoa sen mọc trong bùn,|đã có mầm Lạc thụ.|Nơi cổ họng: Ðại lạc,|Nơi tim: Lạc xả bỏ,|Lỗ rốn: Lạc uyên nguyên.|Ðó là chứng vô thượng.

Na-rô lục pháp

T: nāro chodrug [nāro chos-drug]; cũng được gọi là Na-lạc du-già tốc đạo; »Sáu giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa);|một loạt giáo pháp Tây Tạng thuộc Kim cương thừa, xuất phát từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) do Ðại sư Na-rô-pa truyền dạy. Na-rô-pa lại được Tai-lô-pa (tilopa) chân truyền. Na-rô-pa truyền lại cho Mã-nhĩ-ba (t: marpa), người đưa giáo pháp này qua Tây tạng trong thế kỉ 11. Song song với Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-rô lục pháp là phương pháp thiền định quan trọng nhất của trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). |Sáu giáo pháp này gồm có:|1. Tạo Nội nhiệt (t: tumo; s: caṇḍa, caṇḍalī); |2. Quán huyễn thân (t: gyulu [sGyu lus]; s: mayākāyā, mahādeha), thấy thân này là giả tạo. Trong Kim cương thừa, huyễn thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Quán huyễn thân cũng được hiểu là một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả;|3. Quán giấc mộng (t: milam [rMi lam]; s: svapna-darśana). Theo cách tu này, giấc mộng cũng là một phương tiện để phát triển tâm thức. Một mặt, hành giả chủ động tạo tác giấc mộng của mình, mặt khác hành giả xem cuộc sống bình thường cũng chỉ là một giấc mộng;|4. Quán Cực quang (t: osel ['od-gsal]; s: ā-bhāsvara). Cực quang ở đây có nhiều nghĩa: 1. Ánh sáng của tâm thức sáng rực mà hành giả cần quán thấy bên cạnh tính Không (s: śūnyatā). Phép quán này là mục đích quan trọng nhất của giáo pháp Tan-tra (Ðại thủ ấn; s: mahāmudrā; Ðại cứu kính), 2. Phép quán, trong đó ánh sáng vô lượng của tâm thức tự chói rực, »như ngọn đèn vừa tự chiếu sáng mình vừa chiếu sáng các vật chung quanh« (theo Giuseppe Tucci);|5. Quán thân Trung hữu (t: bardo; s: an-tarābhava);|6. Chuyển thức (t: phowa; s: saṃkrānti); là phép tu trong lúc Cận tử, chuyển hoá tâm thức mình vào một Tịnh độ, thí dụ cõi của Phật A-di-đà. Hành giả Tây Tạng theo phép tu này đã tập luyện và chuẩn bị trong lúc còn sống, phần lớn họ đọc tụng một số thần chú và thiền theo các Nghi quỹ (s: sādhana). Tại phương Tây phép tu này được giáo phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) phổ biến.|Các phép tu này có nhiều điểm giống với các phép được mô tả trong Tử thư (t: bardo thodol). Người ta còn nhắc rằng Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là người rất giỏi phép sử dụng nội nhiệt.|Na-rô lục pháp này xuất phát từ nhiều Tan-tra khác nhau và được các vị Ðạo sư khác nhau truyền lại. Theo một tác phẩm của Tai-lô-pa thì phép quán huyễn thân và cực quang là do Long Thụ (Long Thụ theo truyền thống Ma-ha Tất-đạt) khởi truyền. Phép nội nhiệt được xem là từ Cha-ya-pa (car-yapa), phép quán giấc mộng từ La-va-pa (lavapa), phép quán thân trung hữu và chuyển thức từ Pu-ka Tất-địa (pukasiddhi) khởi phát.|Hành giả chuyên trách tu tập sáu phép này dựa trên cách tận dụng thân xác vi tế của mình, sẽ đạt nhiều Thần thông (xem Tất-địa). Ðó là cách đưa thân vào trong các tầng phát triển của tâm và theo truyền thuyết Tây Tạng, năng lượng trong thân được vận dụng dưới ba dạng như sau: luồng năng lượng (t: lung) tác động lên các bộ phận trong thân thể, đạo quản năng lượng (tsa) là các kênh dẫn năng lượng luân lưu và cuối cùng là tiềm năng lượng (thig-le) là gốc chứa hệ thống năng lượng đó. Với các phép tu của Na-rô lục pháp mà những năng lượng này được kích động, được dùng như phương tiện đạt giác ngộ. Mục đích của tất cả những phép tu đó là thống nhất tính Không (s: śūnyatā) và các thụ tưởng của hành giả. Mật-lặc Nhật-ba có bài kệ »sáu hỉ lạc« sau đây về kinh nghiệm giác ngộ này:|Lửa của nội nhiệt tràn đầy khắp người – Hỉ lạc! Chân khí tràn ngập trong ba luồng năng lượng – Hỉ lạc! Luồng từ tâm giác ngộ chảy xuống – Hỉ lạc! Dưới gốc cũng tràn đầy năng lượng – Hỉ lạc! Ở giữa, âm dương hoà hợp – Hỉ lạc! Tràn đầy niềm vui thanh tịnh của thân – Hỉ lạc!

Na-rô-pa

T: nāropa; S: nāḍapāda, nāroṭapa, yaśbhadra; 1016-1100 hay 956-1040, mệnh danh là »Kẻ vô uý«;|Một vị Ðại sư Ấn Ðộ theo truyền thống Tan-tra của 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Người truyền Mật giáo cho Sư là Tai-lô-pa (s: tilopa), một những Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất.|Na-rô-pa được xem là người truyền những giáo pháp Ðại thủ ấn và vì vậy phép tu này được gọi là Na-rô lục pháp, »sáu giáo pháp của Na-rô-pa« (nāro chodrug), được Mã-nhĩ-ba (t: marpa) truyền qua Tây tạng và ngày nay vẫn là một giáo pháp quan trọng của tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Na-rô-pa đã từng giữ trách nhiệm quan trọng tại viện Phật học Na-lan-đà và sau mới trở thành đệ tử của Tai-lô-pa. Sư sống cùng thời với A-đề-sa.|Sư sinh ra trong một gia đình bán rượu, nhưng lại đi làm nghề đốn củi. Lúc nghe về một vị Du-già sư (yogin) tên Tai-lô-pa (tilopa), Sư liền xin theo học và phục vụ thầy suốt 12 năm không hề than vãn, mặc dù bị thầy đối xử tàn tệ. Lần nọ, Sư chịu phạm tội ăn trộm chỉ để làm vừa lòng thầy. Sau thời gian thử thách này, Tai-lô-pa mới chịu giáo hoá, gọi Sư là »Ðứa con uy tín và trì chí.« Chỉ sáu tháng sau, Sư đắc quả Ðại thủ ấn tất-địa (mahāmudrāsiddhi). Lời dạy cuối cùng của Tai-lô-pa cho Sư là »Không tưởng tượng, không suy ngẫm, không thiền, không tác động, giữ yên tịnh, không bám vào bất cứ đối tượng nào.«||H 44: Na-rô-pa (nāropa)|Na-rô-pa có nhiều môn đệ trở thành những vị Tất-đạt, trong đó có Mã-nhĩ-ba (t: marpa) là người nổi tiếng nhất. Sư cũng có lần giữ một chức giảng dạy trong viện Phật học Siêu Giới (s: vikramaśīla).|Thánh đạo ca của Na-rô-pa có những dòng sau:|Như đội quân đại đế,|chiếm trọn toàn lãnh thổ,|đất liền và biển cả.|Tu sĩ nào biết vị,|của niềm vui tự tại|của tự tính bẩm sinh,|kẻ đó thắng Luân hồi|và thanh tịnh lên ngôi

Na-tiên

那先; S, P: nāgasena; tk. 1, dịch nghĩa là Long Quân;|Cao tăng Phật giáo người Ấn Ðộ. Cuộc nói chuyện của Sư với vua Di-lan-đà về các câu hỏi hóc búa của giáo pháp đạo Phật đã được ghi lại trong tác phẩm Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha).|Tương truyền rằng, Sư sinh trong một gia đình Bà la môn và năm 15 tuổi đã gia nhập Tăng-già Phật giáo. Sư học giáo pháp ở nhiều nơi, kể cả tại thủ đô Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) và đạt quả A-la-hán. Sử sách ghi rằng, Sư có trí nhớ phi thường, chỉ cần đọc qua một lần đã thuộc Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka).

Na-tiên tỉ-khâu kinh

那先比丘經|Di-lan-đà vấn đạo kinh.

nai lưng

To toil—To work hard.

nam

1) Daksina (skt)—Phía nam—South. 2) Người nam: Male.

nam ai

Name of a sad piece of music.

nam băng dương

Antarctic Ocean. Thái Bình dương: Pacific Ocean.

nam bản niết bàn kinh

(南本涅槃經) Cũng gọi Đại bát niết bàn kinh. Kinh, 36 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Bộ kinh Niết bàn (40 quyển) do ngài Đàm vô sấm dịch vào thời Bắc Lương, vì lời văn còn sơ sài, phẩm mục lại quá vắn tắt, cho nên đến đời Lưu Tống Nam triều, các ngài Tuệ nghiêm, Tuệ quán và cư sĩ Tạ linh vận mới đối chiếu với bộ kinh Nê hoàn 6 quyển do ngài Pháp hiển dịch, rồi hiệu đính và nhuận sắc lại văn chương, chia thành 25 phẩm, 36 quyển, gọi là Nam bản Niết bàn kinh, còn bản dịch của ngài Đàm vô sấm thì gọi là Bắc bản Niết bàn kinh. [X. truyện ngài Tuệ nghiêm trong Lương cao tăng truyện Q.7]. (xt. Đại Bát Niết Bàn Kinh).

Nam Bắc Triều

(南北朝, Nambokuchō): tại Trung Quốc, dưới thời nhà Đông Tấn (東晉), ở phương Nam có các vương triều hưng vong gồm Tống (宋), Tề (齊), Lương (梁) và Trần (陳); đây gọi là Nam Triều (南朝, 420-589). Về phương Bắc, có các vương triều dị dân tộc cũng liên tiếp hưng vong là Bắc Ngụy (北魏, gồm cả Đông Ngụy và Tây Ngụy), Bắc Tề (北齊), Bắc Chu (北周); và được gọi là Bắc Triều (北朝, 396-581).

nam bộ

Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.

Nam Châu

(南洲): tức Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提, hay Nam Thiệm Bộ Châu [南贍部洲]), chỉ nơi chúng ta đang cư trú; là châu lớn nằm ở trong biển mặn thuộc phía Nam Tu Di Sơn (s, p: Sumeru, 須彌山). Như trong Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Yếu Tập (法華經玄贊要集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 34, No. 638) quyển 26 có đoạn: “Thử Nam Châu hữu tình hữu tam bất định, nhất vô lượng tuế, nhị vạn tuế, tam thập tuế (此南洲有情有三不定、一無量歲、二萬歲、三十歲, chúng hữu tình của Nam Thiệm Bộ Châu này có ba điều bất định; một là tuổi vô lượng, hai là 10.000 tuổi, ba là 10 tuổi).” Hay trong Tỳ Ni Quan Yếu (毗尼關要, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 40, No. 720) quyển 11 lại có đoạn: “Nhược Đông Châu nhật xuất, Bắc Châu nhật trung, Nam Châu bán dạ, Tây Châu nhật một (若東洲日出、北洲日中、南洲半夜、西洲日沒, nếu Đông Châu mặt trời ló dạng, thì Bắc Châu giữa ngày, Nam Châu nữa đêm, Tây Châu mặt trời lặn).”

nam châu

Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.

nam châu tứ chủng tối thắng

(南洲四種最勝) Bốn nhân duyên tối thắng mà người sinh ở cõi Nam diêm phù đề có được, đó là: Thấy Phật, nghe pháp, xuất gia và đắc đạo.

nam căn

cơ quan sanh dục nam ; Bộ phận sinh dục nam—The male organ. ; (男根) Phạm: Puruwendriya. Pàli: Purisindriya. Bộ phận sinh dục người đàn ông. Là 1 trong 2 căn, 1 trong 22 căn. [X. luận Câu xá Q.3]. (xt. Nhị Căn).

nam cư sĩ

Laymen

Nam Cực Trường Sanh Đại Đế

(南極長生大帝): còn gọi là Trường Sanh Đại Đế (長生大帝), Nam Cực Trường Sanh Ty Mạng Quân (南極長生司命君), Nam Cực Trường Sanh Đế Quân (南極長生帝君); là một trong Tứ Ngự (四御, tức Bắc Cực Tử Vi Đại Đế [北極紫微大帝], Nam Cực Trường Sanh Đại Đế [南極長生大帝], Thái Cực Thiên Hoàng Đại Đế [太極天皇大帝] và Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế [東極青華大帝]) của Đạo Giáo. Truyền thuyết dân gian cho rằng Đại Đế họ Vương (王), húy Danh Cải Sanh (名改生), tự là Dị Độ (易度). Lúc trời đất đang còn mờ mịt, Trường Sanh Ty Mạng Quân đản sanh ở thành Đông Lâm Quang Xương (東林廣昌), Làng Trường Lạc (長樂鄉). Năm lên 14 tuổi, ông lìa xa cuộc sống thế tục, tâm mến mộ thần tiên; tình cờ gặp được Tiên Sinh Tử Phủ Hoa (紫府華), truyền trao cho phép âm dương bổ dưỡng, giảm tử hoàn sinh, các phép biến hóa thần thông. Nhờ vậy ông hưởng thọ 400 tuổi, thường ẩn cư trong hang núi. Ông còn bái Tiên Sinh Tuân Đồ (詢屠) làm thầy, thọ nhận kim đan luyện kinh, luyện khí bay bổng như mây, pháp thuật hiện trong sương, lặn trong tuyết, v.v. Sau đó, ông lại hành trì kinh 7 năm trong Không Động Sơn (崆峒山) ở Thần Châu (神州), may gặp Thái Ất Chân Nhân (太乙眞人) truyền cho phương thuật luyện đan của Đế Quân. Ngày đản sanh của Trường Sanh Đại Đế là mồng 1 tháng 5 Âm Lịch. Trong Thái Thượng Vô Cực Đại Đạo Tam Thập Lục Bộ Tôn Kinh (太上無極大道三十六部尊經) có câu kính lễ rằng: “Chí tâm quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, hội nguyên thỉ bảo khí dĩ phân chơn, ứng diệu đạo hư vô nhi khai hóa, vị hồ Cửu Tiêu chi thượng, thống lý chư thiên, tổng hồ Thập Cực chi trung, tể chế vạn hóa, tuyên Kim Phù nhi thùy quang tế khổ, thí huệ trạch nhi phú dục triệu dân, ân phổ càn nguyên, nhân phu hạo kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn (志心皈命禮、高上神霄府、凝神煥照宮、會元始褓氣以分眞、應妙道虛無而開化、位乎九霄之上、統理諸天、總乎十極之中、宰制萬化、宣金符而垂光濟苦、施惠澤而覆育兆民、恩溥乾元、仁敷浩劫、大悲大願、大聖大慈、玉清眞王、南極長生大帝、統天元聖天尊, Một lòng quy mạng lễ, Cao Thượng Thần Tiêu Phủ, Ngưng Thần Hoán Chiếu Cung, gặp ban sơ nuôi khí để phân chơn, ứng đạo mầu hư vô mà khai hóa, địa vị trên chốn Cửu Tiêu, thống lý các Trời, tổng coi hết trong Mười Cực, chúa tể muôn loài, tuyên Kim Phù mà phóng quang cứu khổ, ban ơn huệ để nuôi nấng triệu dân, ơn khắp càn khôn, nhân đức muôn kiếp, Đại Bi Đại Nguyện, Đại Thánh Đại Từ, Ngọc Thanh Chơn Vương, Nam Cực Trường Sanh Đại Đế, Thống Thiên Nguyên Thánh Thiên Tôn).”

nam diêm phù đề

Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.

nam diện

(南面) Tức là xoay mặt về phương Nam. Theo quan niệm của người Trung quốc đời xưa, thì phương Nam biểu thị cho sự tôn quí, cho nên có phong tục, khi người lên ngôi thường xoay mặt về phương Nam mà xưng đế. Có lẽ Phật giáo cũng phỏng theo tập tục này, cho nên khi xây chùa viện thì điện Phật cũng như Pháp đường phần nhiều đều xoay về hướng Nam. Rồi tòa ngồi của tượng Phật và các vị Tổ cũng được thiết trí mặt xoay về hướng Nam.

Nam Dương Huệ Trung

南陽慧忠; C: nányáng huìzhōng; J: nanyo e-chū; 675 (?)-775 (772), còn được gọi là Huệ Trung Quốc sư, Trung Quốc sư;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc nhất, đạt yếu chỉ của Lục tổ Huệ Năng. Sư là vị Thiền sư đầu tiên được ban danh hiệu Quốc sư.|Sư họ Nhiễm, quê ở Chư Kị, Việt Châu. Từ nhỏ, Sư đã có phong cách xuất trần, dáng vẻ đoan trang, da trắng như tuyết. Tương truyền Sư từ nhỏ đến năm 16 tuổi không hề bước qua chiếc cầu ở trước nhà. Một hôm, thấy một vị Thiền sư đi ngang qua, Sư bỗng chạy ra xin xuất gia học đạo. Vị này nhận ra tài năng của Sư liền chỉ đến Lục tổ. Dưới sự hướng dẫn của Lục tổ, Sư đạt tâm ấn và Lục tổ có lời tiên đoán rằng, Sư sẽ là một vị »Phật đứng hiên ngang một mình giữa trời.«|Sau, Sư về cốc Ðảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây, Sư ẩn cư tu tập 40 năm không hề xuống núi, vì vậy đạo hạnh của Sư vang lừng khắp nơi. Năm 761, vua Ðường Túc Tông thỉnh Sư về kinh đô và tôn làm thầy (lúc này Sư khoảng 85 tuổi). Trong thời gian khoảng 16 năm, Sư tuỳ cơ thuyết pháp, ứng biến cao siêu. Những lời Vấn đáp sau đây nêu rõ phong cách hoằng hoá uy nghiêm của Sư và những quan niệm trung tâm của Thiền tông nói chung.|Một vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát.« Tăng hỏi tiếp: »Thế nào đoạn được?« Sư bảo: »Ðã nói với ngươi các pháp không đến nhau, có cái gì để đoạn!«|Một vị khác hỏi: »Làm thế nào thành Phật?« Sư đáp: »Phật và chúng sinh đồng thời dẹp đi, ngay đó thành Phật!« Hỏi: »Làm thế nào được tương ưng?« Sư: »Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tính.« Hỏi: »Làm sao chứng được Pháp thân?« Sư: »Vượt qua cảnh giới Tì-lô.« (tức cảnh giới Ðại Nhật Phật, tượng trưng cho Pháp thân, Ba thân). Hỏi: »Pháp thân thanh tịnh làm thế nào đạt được?« Sư: »Không chấp Phật để cầu.« Hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư: »Tâm tức là Phật.« Hỏi: »Tâm có phiền não chăng?«|Sư: »Tính phiền não tự lìa.« Hỏi: »Không cần phải đoạn trừ sao?« Sư: »Ðoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Phiền não không sinh gọi Ðại Niết-bàn.« Hỏi: »Ngồi thiền quán tịnh là làm gì?« Sư: »Chẳng Cấu chẳng tịnh đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.« Hỏi: »Thiền sư thấy mười phương hư không là Pháp thân chăng?« Sư: »Thấy tâm tưởng nhận, đó là cách thấy điên đảo.« Hỏi: »Tâm tức là Phật, có phải tu vạn hạnh chăng?« Sư: »Chư thánh đều đủ trang nghiêm, đâu có bác không nhân quả.«|Sư ngừng lại đây, bảo: »Nay tôi trả lời các câu hỏi của ông cùng kiếp cũng không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Cho nên nói: ›Thuyết pháp có sở đắc, đó là dã can kêu, thuyết pháp không sở đắc, đó là sư tử hống.‹«|Sư biết duyên sắp đoạn, từ giã vua trở về núi. Ngày mùng chín tháng chạp năm Ðại Lịch thứ 10, Sư nằm nghiêng bên phải nhập Niết-bàn, đệ tử xây tháp cạnh cốc thờ. Vua ban hiệu là Ðại Chứng Thiền sư. Môn đệ của Sư có Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân và các vị vua Ðường.

nam dương huệ trung

Nan-Yang Hui-Ch'ung 675-775—Nam Dương Huệ Trung là tên của một nhà sư có ảnh hưởng rất lớn với các sư nhà Đường vào khoảng những năm 761 đến 775 sau Tây Lịch. Nam Dương là môn đồ của Lục Tổ Huệ Năng. Người ta kể rằng, đến năm 16 tuổi, Nam Dương không hề nói một lời nào, cũng như không bao giờ băng qua chiếc cầu trước nhà. Một hôm, có một thiền sư vừa qua cầu trước ngõ, ông vội vàng bước qua cầu để gặp thầy và xin được làm đệ tử. Thấy được tài năng của chàng thiếu niên, thầy bèn phái chàng đến gặp Lục Tổ Huệ Năng. Lục Tổ tiên đoán Huệ Trung sẽ là một vị Phật độc nhất trên thế giới, nên nhận làm đệ tử và kế thừa Pháp của Ngài—Nan-Yang, a noted monk who had influence with the T'ang emperors from 761 to 775 A.D. Nan-Yang Hui-Ch'ung, an early Chinese Ch'an master, a disciple and Dharma successor of Hui-Neng. It is said that he did not speak a single word till the age of sixteen and would never cross the bridge in front of his parents' house. One day a Ch'an master was approaching the house, he ran over the bridge to the master and requested him to accept him as a disciple. The master, who recognized the boy's great potential, sent him to the monastery of Hui-Neng. Hui-Neng told him that he would be a “Buddha standing alone in the world,” accepted him as a student and later confirmed him as his Dharma successor. ** For more information, please see Huệ Trung Thiền Sư.

Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa

(南陽和尚問答雜徴義, Nanyōoshōmondōzacchōgi): 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn, thư tịch lưu truyền dưới hình thức cổ điển, được gọi là Thần Hội Ngữ Lục (神會語錄). Bản có tiêu đề là bản Đôn Hoàng S6557, đầu sách có lời tựa của biên giả Lưu Trừng (劉澄). Nó được thâu lục vào trong bản Nhập Đường Tân Cầu Thánh Giáo Mục Lục (入唐新求聖敎目錄) của Viên Nhân (圓仁). Tả bản của Thần Hội Ngữ Lục có bản Đôn Hoàng S6557 và Cựu Thạch Tỉnh Quang Hùng Sở Tàng Bản (舊石井光雄所藏本), thêm bản này vào nữa ta có 3 bản. Về mặt nội dung, cả 3 bản đều có khác nhau, nhưng trong số đó bản này được xem như thuộc thời kỳ đầu tiên nhất.

Nam Dương Hòa Thượng Đốn Giáo Giải Thoát Thiền Môn Trực Liễu Tánh Đàn Ngữ

(南陽和上頓敎解脫禪門直了性壇語, Nanyōwajōtonkyōgedatsuzemmonjikiryōshōdango): 1 quyển, do Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) soạn, gọi tắt là Đàn Ngữ (壇語). Đây là ký lục thuyết pháp của Thần Hội tại giới đàn cho chúng đạo tục ở Long Hưng Tự (龍興寺) vùng Nam Dương (南陽) từ năm thứ 6 (718) niên hiệu Khai Nguyên (開元) trở đi. Nó thể hiện tư tưởng thời kỳ đầu của Thần Hội và có mối quan hệ mật thiết với Lục Tổ Đàn Kinh (六祖壇經). Bản Đôn Hoàng có ký số S2492, S7977, P2045, Bắc Kinh Bản Hàn Tự (北京本寒字) 81, Tàng Bản của Nhiệm Tử Nghi (任子宜).

nam dương tịnh bình

(南陽淨瓶) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam dương Tuệ trung và 1 vị tăng. Một hôm, có vị tăng hỏi ngài Nam dương Tuệ trung rằng (Đại 48, 254 trung): –Thế nào là bản thân Lô xá na? Ngài Nam dương đáp: Đem tịnh bình đến đây cho ta! Vị tăng đem tịnh bình đến, ngài Nam dương bảo: –Hãy đem để lại chỗ cũ! Vị tăng lại hỏi: Thế nào là bản thân Lô xá na? Ngài Nam dương đáp: Phật xưa qua đã lâu rồi!.

nam hoa cổ tự

(南華古寺) Chùa ở núi Nam hoa (cũng gọi núi Lục tổ, núi Bảo lâm, núi Nghi phụng), cách huyện Khúc giang, tỉnh Quảng đông về phía nam khoảng 35 cây số, do Tam tạng Trí dược, 1 vị tăng Thiên trúc, sáng lập vào niên hiệu Thiên giám năm đầu (502) đời vua Vũ đế nhà Lương, đặt tên là Bảo lâm tự. Vào đầu năm Khai nguyên (713-741) đời Đường, chùa được xây dựng rộng thêm, vua ban tên là Trung hưng tự, Pháp tuyền tự. Đến đời Tống, vua Thái tổ mới ban sắc đặt tên là Nam hoa tự. Vì Lục tổ Tuệ năng của Thiền tông trụ trì chùa này phát triển Thiền Nam tông, nên chùa được tín đồ gọi là Tổ đình. Hiện nay trong chùa vẫn còn giữ gìn được nhục thân của đức Lục tổ và các di vật như ca sa Thiên Phật đời Đường, bình bát, guốc, đá đeo ở lưng (khi giã gạo), tích trượng sắt... tất cả đã trở thành những báu vật của Thiền tông. Trong chùa cũng có vô số tấm đá khắc. Trong lầu chuông có quả chuông được đúc vào đời Tống, bằng đồng đỏ nặng 6.000 cân, sớm chiều chuông được dóng lên, tiếng vang xa đến mười mấy dặm, nên tiếng chuông chiều chùa Nam hoa đã trở nên nổi tiếng. Ở phía bắc chùa có tảng đá để lễ lạy gọi là Bái thạch, trên đá này còn in rõ vết đầu gối. Tương truyền đây là tấm đá mà Lục tổ thường quì lễ Phật. Đại hùng bảo điện rất rực rỡ chói lọi, kim thân Tam bảo Phật trong điện cao tới 6,4 mét. Ngoài 500 pho tượng La hán bằng đất đắp trong 8 năm mới hoàn thành, bảo vật của chùa này còn có bộ kinh Hoa nghiêm viết bằng kim nhũ do vua Anh tông nhà Minh ban tặng.

nam hoài cẩn

(南懷瑾) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người huyện Lạc thanh, Chiết giang. Thủa nhỏ, ông theo học ở Thư viện giáo dục, sau tốt nghiệp tại trường Đại học Kim lăng, khoa Chính trị học. Ban đầu ông học Tiên đạo đan kinh của Đạo gia, sau chuyển sang nghiên cứu Phật học, làm đệ tử của Thiền sư Viên hoán tiên. Ông vào chùa Đại bình ở Trung phong, núi Nga mi, đóng cửa nhập thất 3 năm, sau khi ra thất, ông dạy học tại các trường Đại học Tứ xuyên, Đại học Vân nam. Năm 1949, ông đến Đài loan, chuyên tâm hoằng pháp và sáng tác. Ông lại nhận lời mời của sở Nghiên cứu Triết học trường Đại học Phụ nhân và trường Đại học Văn hóa Trung quốc ra làm Giáo sư. Để giao lưu giữa 2 nền văn hóa Trung quốc và Tây phương, ông sáng lập hiệp hội Đông Tây Tinh Hoa, đặt Tổng hội ở nước Mĩ. Ông còn tinh thông mưu lược, từng làm Chủ biên Mưu lược học vựng biên. Hiện nay, ông chủ trì nhà xuất bản Lão cổ ở Đài bắc, Thư viện Thập phương tùng lâm, đồng thời phát hành các tập san Phật giáo như tạp chí Tri kiến, tạp chí Thập phương v.v... Ông có các tác phẩm: Thiền hải lê trắc, Thiền tông tùng lâm chế độ dữ Trung quốc xã hội, Tĩnh tọa tu đạo dữ trường sinh bất lão, Tập thiền lục ảnh, Luận ngữ biệt tài.

nam hành

Daksinayana (skt). 1) Mặt trời trịch về phương nam, cứ sáu tháng là nó di chuyển từ bắc xuống nam một lần: The course or declination of the sun to the south; the half- year in which it moves from north to south. 2) Khoảng thời gian sáu tháng: A period of six months.

nam hải kí quy nội pháp truyện

(南海寄歸內法傳) Gọi đủ: Đại đường nam hải kí qui nội pháp truyện. Gọi tắt: Nam hải kí qui truyện. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Nghĩa tịnh soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 54. Nội dung sách này gồm 40 chương: Phá hạ phi tiểu, Đối tôn chi nghi, Thực tọa tiểu sàng, Xan phân tịnh xúc, v.v... cho đến chương cuối cùng là Cổ đức bất vi. Bài tựa nói về tình hình phân bố các giáo đoàn Đại thừa và Phật giáo bộ phái đương thời. Trong đó, Đại thừa có các tông Trung quán, Du già, Tiểu thừa có các bộ phái như Hữu bộ, Chính lượng bộ, Đại chúng bộ, Thượng tọa bộ v.v... Trong sách cũng thu chép nhiều bài ca tán thán đức Phật lưu hành ở thời bấy giờ. Sách này được hoàn thành ở nước Thi lợi phất thệ (Phạm:Zrìboja, nằm về phía đông đảo Sumatra hiện nay) thuộc vùng Nam hải, là 1 tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về Ấn độ, các nước vùng Nam hải cũng như về giới luật và cách thức tổ chức giáo đoàn Phật giáo. Chú sớ của sách này là bộ Giải lãm sao, 8 quyển, của ngài Ẩm quang (tôn giả Từ vân) soạn vào thời đại Giang hộ của Nhật bản. Ngoài ra, sách này cũng có 1 bản dịch tiếng Anh là: A Record of the Buddhist Religions as Practised in India and the Malay Archipelago (A.D.671-695) by I.tsing, xuất bản năm 1896. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tục cổ kim dịch kinh đồ kỉ].

nam hải ma la da sơn

Malayagiri (skt)—Núi Ma La Da phía nam Ấn Độ—The Malaya mountains in Malabar answering to the western Ghats; a district in the south of India (a mountain in Ceylon).

Nam Kha

(南柯): cành cây chầu về hướng nam. Bên cạnh đó, nó có nghĩa là giấc mộng Nam Kha, vốn xuất xứ từ Nam Kha Thái Thú Truyện (南柯太守傳) của Lý Công Tả (李公佐, ?-?) nhà Đường. Chuyện kể rằng có một chàng hiệp sĩ tên Thuần Vu Phần (淳于棼), nhà ở phía đông Quận Quảng Lăng (廣陵郡, nay là Dương Châu [揚州], Giang Tô [江蘇]). Tại phía nam nhà anh có một cây hòe cổ thụ lớn, anh thường cùng bạn bè ngâm nga uống rượu dưới gốc cây này. Có một hôm nọ, do uống quá say, hai người bạn phải dẫn anh về nhà, giữa đường anh hôn mê ngủ thiếp đi lúc nào không hay; chợt thấy có hai sứ giả mặc Tử Y, tự xưng là phụng mạng vua Hòe An Quốc (槐安國) đến mời anh đi. Họ dẫn anh lên xe, nhắm hướng cây hòe mà đi, vào trong động sâu, thấy núi sông, đường sá, hoàn toàn một thế giới riêng. Khi đến Hòe An Quốc, chàng hiệp sĩ vào bái kiến quốc vương, được phong chức Phò Mã và nhậm chức Thái Thú Quận Nam Kha (南柯郡). Nhà vua lại gả con gái Kim Chi Công Chúa (金枝公主) cho Thuần Vu Phần, cho nên tại Hòe An Quốc, chàng tận hưởng vinh hoa phú quý. Tại chức trong vòng 20 năm, anh đã lập được nhiều công trạng, được nhà vua rất tín nhiệm. Sau có quân nước Đàn La (檀蘿) đến xâm chiếm, Thuần Vu Phần điều binh khiển tướng nghênh địch, nhưng đại bại và được nhà vua tha tội chết. Tuy nhiên, không bao lâu sau, vợ anh bị bệnh nặng qua đời; Vu Phần vô cùng đau xót, cáo bệnh từ quan và trở về kinh thành. Vì ông giao du rộng rãi, kẻ ra người vào tấp nập, tiếng tăm vang dậy, làm cho nhà vua nghi kỵ, ra lệnh tước đoạt hết các thị vệ và nghiêm cấm không cho giao du. Vu Phần uất ức không được vui trong lòng; cuối cùng nhà vua cho sứ giả đưa ông trở về nhà cũ. Khi về đến nơi, anh tỉnh giấc mộng, thấy hai người bạn vẫn còn đó, bóng tà dương vẫn chưa khuất về Tây. Nhớ đến câu chuyện trong mộng, anh cùng hai bạn tìm huyệt động nơi gốc cây hòe, thì thấy bầy kiến lúc nhúc bên trong, tích chứa đất làm thành hình dáng giống như thành quách, cung điện, rất khớp với cảnh trong mộng. Hòe An Quốc là quốc gia kiến, Quận Nam Kha cũng như các nơi anh đã từng đi qua đều hiện rõ. Anh giật mình kinh hoàng, mới hay tất cả chỉ là một giấc mộng, cuộc đời và mạng người vô thường, ngắn ngủi; nhân đó, anh quy y với đạo môn, dứt tuyệt không uống rượu nữa và ba năm sau thì qua đời. Tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện này cũng tương tự với Chẩm Trung Ký (枕中記) với câu chuyện Hoàng Lương Mộng (黃梁夢, Mộng Kê Vàng) của Lô Sanh (盧生). Dựa trên tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện, sau này Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh có sáng tác Nam Kha Ký (南柯記). Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, 1685-1768), vị Thiền tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản cũng có trước tác bộ Hòe An Quốc Ngữ (槐安國語, Kaiankokugo, 2 quyển). Trong bài thơ Đề Thành Sơn Vãn Đối Hiên Bích (題城山晚對軒壁) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Nhất chẩm thanh phong mộng lục la, nhân gian tùy xứ thị Nam Kha (一枕清風夢綠蘿、人間隨處是南柯, tựa gối gió thanh mơ lục la, trên đời có chỗ ấy Nam Kha).” Hay như trong Ngọc Trâm Ký (玉簪記), phần Trùng Hiệu (重效) của Cao Liêm (高濂, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Tùng giáo phân thủ xứ, hữu mộng thác Nam Kha (從敎分手處、有夢托南柯, theo lời đi khắp chốn, vói mộng gởi Nam Kha).” Viên Nhân Pháp Sư (圓因法師, 1910-2002) có sáng tác bài Nam Kha Nhất Mộng (南柯一夢) trong Mao Bồng Trát Ký (茅篷札記): “Tảo lộ phong đăng thiểm điện quang, tổng thị Nam Kha nhất mộng trường, nhân quy hà xứ thanh sơn tại, thanh sơn vô ngữ thán nhân vong (草露風燈閃電光、總是南柯夢一塲、人歸何處青山在,青山無語嘆人亡, sương sớm gió trong ánh chớp loang, thảy đều Nam Kha giấc mộng trường, người về nào chốn núi xanh đó, núi xanh lặng lẽ khóc người thương).” Về phía Việt Nam, trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) lại có câu: “Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không.” Hoặc trong bài Lạc Đường của Tú Xương (1871-1907) có câu: “Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn.” Trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du (1765-1820) cũng có câu: “Tiếng sen sẽ động giấc hòe, bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.” Ngoài ra, trong các bài tán cúng cầu siêu cho hương linh quá cố có bài: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”

nam kha

Empty dream.

nam kinh

(南京) Xưa gọi: Kim lăng, Kim lăng phủ, Giang ninh phủ, Tập khánh lộ, Ứng thiên phủ. Một đô thị lớn ở hạ du sông Trường giang, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Kể từ nước Ngô thời Tam quốc, tiếp đến là Đông Tấn, rồi Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều đều lấy nơi này làm thủ đô và gọi là Kiến khang. Đây là nơi hưng thịnh của Phật giáo thời Nam Bắc triều, cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa đô thị ở miền Nam Trung quốc lúc bấy giờ. Triều Minh, vua Thái tổ cũng đặt đô ở đây, nhưng đến vua Thành tổ thì dời về Bắc kinh. Đến năm Chính thống thứ 6 (1441) đời vua Anh tông, Kiến khang được gọi là Nam kinh để đối lại với Bắc kinh. Năm 1927, chính phủ Dân quốc lấy Nam kinh làm trụ sở của Chính phủ Trung ương, gọi là Thủ đô th ị(Thành phố thủ đô). Các hoàng gia Nam triều vốn ủng hộ Phật giáo, cho nên việc giảng kinh, dạy học và các hoạt động khác của Phật giáo ở đây cũng rất phát triển. Những ngôi chùa nổi tiếng ở Kiến khang thời bấy giờ gồm có: Chùa Kì viên, chùa Trang nghiêm, chùa Quang trạch, chùa Ngõa quang, chùa Kiến sơ (chùa Đại báo ân), chùa Thê hà, chùa Đồng thái, chùa Đại ái kính v.v... Kiến khang cũng là nơi trung tâm của học phái Thành thực và Đại sư Trí khải, trước khi vào núi Thiên thai, cũng đã từng trụ ở đây. Ngoài ra, ở nơi đây cũng có nhiều thắng tích Phật giáo, như chùa Linh cốc núi Chung sơn, núi Ngưu đầu (chùa Phổ giác), chùa U thê (chùa Tổ đường), chùa Định lâm, chùa Chỉ viên, núi Kê long, núi Thạch đầu, đài Vũ hoa, núi Tụ bảo, chùa Thiên giới núi Phụng sơn v.v... [X. Kim lăng phạm sát chí; Độc sử phương dư kỉ yếu Q.20]

nam la

Malava (skt)—Nam La là một vương quốc ở miền Trung Ấn Độ, tổng hành dinh của tà phái ngoại đạo, bây giờ là Malwa, đối lại với Bắc La ở Gujarat—Southern Lara, an ancient kingdom in central India; headquarters of heretical sects, in the present Malwa, in contrast with northern Valabhi in Gujarat.

Nam Lãnh

(南嶺): tên gọi của địa phương do Huệ Năng đã từng mở rộng giáo tuyến của mình. Cho nên hệ thống của Huệ Năng được gọi là Nam Tông, còn hệ thống của Thần Tú thì được gọi là Bắc Tông.

Nam Lữ

(南呂): có hai nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 5 trong 6 âm thanh thuộc về Âm của 12 luật âm, tương đương với âm Bàn Thiệp (盤涉, banshiki) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có câu: “Tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, tấu Cô Tẩy, ca Nam Lữ, tấu Di Tắc, ca Tiểu Lữ (奏黃鐘、歌大呂、奏姑洗、歌南呂、奏夷則、歌小呂, tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, tấu điệu Cô Tẩy, ca điệu Nam Lữ, tấu điệu Di Tắc, ca điệu Tiểu Lữ).” (2) Tên gọi khác của tháng 8 Âm Lịch. Như trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Bát nguyệt kiến Dậu viết Tác Ngạc, hựu viết Nam Lữ, hoặc danh Thanh Thu, hựu xưng Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt đẳng (八月建酉曰作噩、又曰南呂、或名清秋、又稱壯月、桂月等, tháng Tám kiến Dậu, gọi là Tác Ngạc, hay gọi là Nam Lữ, hoặc có tên là Thanh Thu, còn gọi là Tráng Nguyệt, Quế Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 cho biết thêm rằng: “Dậu vi Nam Lữ, bát nguyệt chi thần danh Dậu; Dậu giả thu súc chi nghĩa; thử nguyệt thời vật giai súc tiểu nhi thành dã, cố vị chi Dậu (酉爲南呂、八月之辰名酉、酉者緧縮之義、此月時物皆縮小而成也、故謂之酉, Dậu là Nam Lữ, chi của tháng Tám là Dậu; Dậu có nghĩa là thu nhỏ lại; vào tháng này muôn vật đều thu nhỏ lại mà thành, nên gọi nó là Dậu).” Trong Chiết Nghi Luận (折疑論, Taishō Vol. 52, No. 2118) quyển 4 có câu: “Khấu Thương huyền dĩ chiêu Nam Lữ bát nguyệt chi lịnh, lương phong hốt chí, thảo mộc thành thật (扣商絃以召南呂八月之令、涼風忽至、草木成實, gõ dây Thương để mời lịnh tháng Tám Nam Lữ, gió mát chợt đến, cỏ cây kết trái).” Hay trong Kim Cang Sớ Khoa Thích (金剛疏科釋, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 24, No. 466) cũng có câu: “Thời Ứng Vĩnh thập cửu niên long tập Nhâm Thìn Nam Lữ hạ cán cát nhật ngụ Long Hoa Phạn Phương cẩn thư (時應永十九年龍集壬辰南呂下澣吉日寓龍華梵芳謹書, lúc bấy giờ là ngày tốt hạ tuần tháng 8 năm Nhâm Thìn [1412], niên hiệu Ứng Vĩnh thứ 19, Phạn Phương ở Long Hoa kính ghi).”

Nam Man

(南蠻, Namban): nghĩa là giống người dã man ở phương Nam, là tiếng gọi khinh miệt ngày xưa của dân tộc Hán (Trung Quốc) đối với các dân tộc dị văn hóa vùng Nam Hải thuộc Đông Dương; đối với từ này là Bắc Địch (北狄). Từ thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1292-1573) trở cho đến Giang Hộ (江戸, Edo, 1600-1867), Nam Man là từ gọi chung cho Thái Lan, Lữ Tống (呂宋, Luzon, tức vùng đảo nằm phía cực bắc của Philippine), Jawa và các quần đảo Nam Dương khác. Đặc biệt, để đối với từ Hồng Mao (紅毛, lông đỏ) dùng gọi người Hà Lan (荷蘭, Netherlands), thì người Nhật dùng từ Nam Man để gọi người Bồ Đào Nha (葡萄牙, Portugal), Tây Ban Nha (西班牙, Spain), và tín đồ Thiên Chúa Giáo. Hiện tại trong tiếng Nhật, còn tồn tại một số từ liên quan đến thuật ngữ này như Nam Man Quả Tử (南蠻菓子, Nambankashi, bánh kẹo Nam Man), Áp Nam Man (鴨南蠻, Kamonamban, Mì Vịt Nam Man), Gà Rán Nam Man (チキン南蠻, Chikinnamban), Nam Man Vị Tăng (南蠻味噌, Nambanmiso, loại Miso Nam Man), Nam Man Tự (南蠻寺, Namban-ji, tức chỉ cho các giáo đường của Thiên Chúa Giáo), v.v.

Nam Mô

(s: namas, p: namo, 南無): âm dịch là Nam Mô (南謨), Nam Mâu (南牟), Na Mô (那謨、那摸、娜謨), Nạp Mạc (納莫), Nạp Mộ (納慕), Nẵng Mô (曩謨); ý dịch là kính lễ (敬禮), đảnh lễ (頂禮), quy lễ (歸禮), quy mạng (歸命), quy y (歸依), quy kính (歸敬). Nó thể hiện sự quy mạng, đãnh lễ tuyệt đối vào ba ngôi báu Phật, Pháp và Tăng. Đây là hành vi phát sanh rất tự nhiên, bộc lộ tín tâm vào đối tượng mình quy ngưỡng và tôn sùng.

nam mô

Namo or Namah (skt)—Nam Mầu—Na Mô—Nạp Mô—Na Mầu—Nam Mang—Nạp Mặc—Nẵng Mồ (chúng sanh hướng về Phật, quy-y tín thuận). 1) Quy Mạng—Homage—To submit oneself to—To make obeisance. 2) Kỉnh Lễ: To pay homage to—To bow to—An expression of submission to command—Complete commitment—Reverence—Devotion. 3) Cứu Độ: Trust for salvation. ; (南謨) Phạm: Namas. Pàli: Namo. Cũng gọi Nam mâu, Na mô, Na ma, Nẵng mạc, Nạp mạc. Hán dịch: Kính lễ, qui kính, qui y, tín tòng. Nguyên ý là lễ bái, thường được sử dụng với đối tượng lễ kính. Như xưng Na mô Tam bảo (Phạm: Namo ratna-trayàya, Hán âm: Na mô hát ra đát na đá ra dạ da, Na mô ra đát na đát ra dạ da), tức là biểu thị ý nghĩa qui y Phật, Pháp, Tăng. Na mô A di đà Phật, Na mô Diệu pháp liên hoa kinh... là biểu thị sự qui kính Phật, Kinh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.6]. (xt. Danh Hiệu, Đề Mục).

nam mô a di đà phật

Namah Amitabha or Namo Amitayuse-Buddha (skt)—Nam Mô A Di Đà Phật, là quy mệnh đối với Đức Phật A Di Đà hay chúng sanh một lòng quy ngưỡng nơi lời nguyện cứu độ của Đức Phật A Di Đà mà niệm hồng danh của Ngài, tức là mở cửa đi vào cõi Tịnh Độ—Namah Amitabha, the formula of faith of the Pure Land sect, representing the believing heart of all beings and Amitabha's power and will to save; repeated in the hour of death it opens the entrance to the Pure Land.

nam mô bổn sư thích ca mâu ni phật

Namo Sakya Muni Buddha—Namo Fundamental (Original) Teacher Sakyamuni Buddha—Homage to our Teacher Sakyamuni Buddha—Con xin quy mạng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

nam mô chư tổ bồ tát

Namo Descending line of Patriarchs Bodhisattvas.

nam mô cực lạc quốc a di đà phật

Namo The Land of Ultimate Bliss Amitabha Buddha.

nam mô cực lạc thế giới a di đà phật

Namo Amitabha Buddha of the Land of Ultimate Bliss.

nam mô diệu pháp liên hoa

Nama! Wonderful-Law Lotus-Flower!—Câu trí niệm của Tông Pháp Hoa bên Nhật—The recitation of the Nichiren Sect. ** For more information, please see Bổn Tích Nhị Môn.

nam mô dược sư hội thượng phật bồ tát

Namo Medicine Master Assembly of Buddhas and Bodhisattvas.

nam mô dược sư lưu ly quang phật

Namo Quelling Disasters Lengthening Life Medicine Master.

nam mô già lam thánh chúng bồ tát

Namo Holy Assembly of Temple-Guarding Bodhisattvas.

nam mô hương vân cái bồ tát ma ha tát

Homage to the Enlightened Being, Cloud Canopy of Fragrance Bodhisattva, Mahasattva.

nam mô hộ pháp chư thiên bồ tát

Namo All Heavenly Dharma-Protecting Bodhisattvas.

nam mô hộ pháp thiên long bồ tát

Namo All Dharma Guardian Deva Bodhisattvas.

nam mô hộ pháp vi đà tôn thiên bồ tát

Namo Vajrapani Bodhisattvas, Dharma Protector and Honoured Deva (God).

nam mô kim cang tạng bồ tát

Namo Vaira Treasury Bodhisattvas.

nam mô liên trì hải hội phật bồ tát

Namo Sea Vast Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisatvas—Homage to the Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisattvas as vast as the sea.

nam mô lăng nghiêm hội thượng phật bồ tát

Namo Shurangama Assembly of Buddhas and Bodhisattvas.

nam mô lịch đại tổ sư bồ tát

Namo Generations of Patriarchs, Bodhisattvas.

nam mô phạm võng giáo chủ tỳ lô xá na phật

Namo (Homage) Lord of Brahma Net, Vairocana Buddha.

nam mô phật

Quy mệnh đối với Phật, với Tam Bảo, với Phật A Di Đà—Namo Buddha; I devoted myself entirely to the Buddha, or Triratna, or Amitabha.

nam mô phật đảnh thủ lăng nghiêm

Namo Supreme Shurangama of the Buddha's Summit.

nam mô quan thế âm bồ tát

Namo Kuan Shi Yin Bodhisattva.

nam mô sư

Master of Namah, i.e. Buddhist or Taoist priests and sorcerers.

nam mô tam bảo

See Nam Mô Phật.

nam mô thanh lương địa bồ tát ma ha tát

Homage to the Bodhisattva, Mahasattva of the Clear Cool Ground.

nam mô thanh tịnh đại hải chúng bồ tát

Namo Pure Assembly of Bodhisattvas as Vast as the Oceans—Namo Great Pure Sea-Vast Assembly of Bodhisattvas.

nam mô thích ca mâu ni phật

Namo Sakyamuni Buddha.

nam mô thường trụ thập phương pháp

Namo Permanently dwelling Ten Directions Dharmas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Dharma of the ten directions.

nam mô thường trụ thập phương phật

Namo Eternally Dwelling Ten Directions Buddhas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Buddhas of the ten directions.

nam mô thường trụ thập phương tăng

Namo Eternally Dwelling (abiding) of the Ten Directions of Sanghas—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Sangha of the ten directions.

nam mô thập phương tam thế nhứt thiết chư phật

Namo all Buddhas of the Ten Directions (Quarters) and three times (Namo all Buddhas everywhere throughout all realms of time).

nam mô tiêu tai diên thọ dược sư phật

Namo Medicine Master Buddha who dispels calamities and lengthens life.

nam mô trời

Namo Heaven—Từ nầy thường được dân miền quê Việt Nam dùng để cầu nguyện—This term is usually used to pray by the Vietnamese countryside people.

nam mô tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi a di đà phật

Namo Great Merciful and Compassionate Buddha Amitabha of the Western Land of Ultimate Bliss.

nam mô tịnh nhãn bồ tát ma ha tát

Namo Universal Eye Bodhisattva, Mahasattva.

nam mô vu lan hội thượng phật bồ tát

Namo Homage To The Ullambana Assembly of Buddhas and Bodhisattvas

nam mô đương lai hạ sanh di lặc tôn phật

Namo Maitreya Honored Future Buddha (Namo the Honoured Buddha Maitreya, Soon to be born in the world).

nam mô đại bi quan thế âm bồ tát

Namo Kuan Shi Yin Great Compassion Bodhisattva—Namo Great Compassionate Bodhisattva Avalokitesvara—Namo Kuan Shi-Yin Bodhisattva of great Compassion.

nam mô đại hạnh phổ hiền bồ tát

Namo Universal Worthy Great Conduct Bodhisattva (Namo Samantabhadra Bodhisattva of great conduct).

nam mô đại nguyện địa tạng vương bồ tát

Namo Earth Treasury King Vow Bodhisattva—Namo Great Vows Earth Store Bodhisattva (Namo Earth Store King Bodhisattva of great vows).

nam mô đại thánh khẩn na la vương bồ tát

Namo Great Holy Kinnara King Bodhisattva.

nam mô đại thế chí bồ tát

Namo Great Strength Bodhisattva—Namo Bodhisattva Mahasthama—Namo Bodhisattva who has attained great strength.

nam mô đại trí văn thù sư lợi bồ tát

Namo Manjusri Great Wisdom Bodhisattva (Bodhisattva of great wisdom).

Nam Nguyên Tánh Phái

(南源性派, Nangen Shōha, 1631-1692): vị tăng của Hoàng Bá Tông Trung Quốc, hiệu là Nam Nguyên (南源), biệt hiệu là Phi Tuyền (非泉), Tùng Tuyền (松泉), xuất thân Huyện Phúc Thanh (福清縣), Phủ Phúc Châu (福州府, Tỉnh Phúc Kiến), sanh ngày 23 tháng 8 năm thứ 4 (1631) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), họ là Lâm (林). Năm 15 tuổi, ông xuất gia với Vô Tịnh Chương (無淨璋) ở Hoàng Bá Sơn (黃檗山), sau theo hầu Ẩn Nguyên (隱元) và cùng đi theo vị này sang Nhật. Vào năm thứ 8 (1668) niên hiệu Khoan Văn (寛文), ông khai sáng Hoa Nghiêm Viện (華嚴院) và Từ Quang Đường (慈光堂). Đến năm đầu (1673) niên hiệu Diên Bảo (延寶), ông biên tập bộ Quảng Lục (廣錄) của Ẩn Nguyên, đi tham cứu khắp các nơi, dừng chân tại Quốc Phận Tự (國分寺, Kokubun-ji). Vào năm thứ 5 (1692), ông chuyển đến trú trì Chánh Hưng Tự (正興寺) và trở thành vị tổ thời Trung Hưng của chùa này. Không bao lâu sau, ông chuyển sang Cao Thọ Hiên (高壽軒) và vào ngày 25 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Nguyên Lộc (元祿) thì thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 48 hạ lạp. Trước tác của ông có Giám Cổ Lục (鑑古錄) 30 quyển, Chi Lâm Tập (芝林集) 24 quyển, Tàng Lâm Tập (藏林集) 1 quyển, v.v.

nam ngũ đài

(南五台) Ngọn núi chính trong dãy núi Chung nam, ở gần huyện Tây an, tỉnh Thiểm tây. Vì núi này có 5 tiểu đài (tức 5 ngọn núi nhỏ) là: Đại đài, Văn thù đài, Thanh lương đài, Linh cảm đài và Xả thân đài nên được gọi là Ngũ đài. Quan trung thông chí nói: Khu Nam sơn Thần tú ngày nay, chỉ có Nam ngũ đài là đẹp hơn cả. Nam ngũ đài có đường thẳng lên đến đỉnh núi, phía nam trông đến những ngọn núi của dãy Chung nam, giống như bức bình phong xanh biếc bao quanh, chót vót đến tận mây xanh; phía bắc nhìn tới Tần xuyên, núi sông tráng lệ, cây cối um tùm, dàn trải trước mắt, giống như 1 tấm thảm xanh rờn thăm thẳm. Trên núi có hơn 40 tòa đình, chùa lớn nhỏ được xây cất từ đời Minh, Thanh đến nay, bố cục riêng rẽ, tỉ mỉ, kiến trúc tinh xảo, đưa dẫn người vào thắng cảnh. Trong chua Thánh thọ có ngôi tháp gạch 5 tầng được xây dựng vào đời Tùy. Trên đỉnh của Đại đài có chùa Viên quang được sáng lập vào đời Tùy, nhưng rất tiếc nay đã không còn.

Nam Nhạc Hoài Nhượng

(南岳懷讓, Nangaku Ejō, 677-744): xuất thân vùng Kim Châu (金州, thuộc Tỉnh Sơn Đông), người họ Đỗ (杜). Năm lên 15 tuổi, ông đến xuất gia và tham học với Hoằng Cảnh Luật Sư (弘景律師) về Luật tạng ở Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺) vùng Kinh Châu (荆州, thuộc Tỉnh Hồ Bắc). Sau ông lên Tung Sơn (嵩山), gặp Huệ An (慧安) và nhờ sự giới thiệu của vị nầy ông đến tham yết Huệ Năng (慧能) ở Tào Khê (曹溪). Sau 15 năm trường chuyên tâm hầu thầy, cuối cùng ông kế thừa dòng pháp của thầy mình. Vào năm thứ 2 (713, tức năm đầu niên hiệu Khai Nguyên) niên hiệu Tiên Thiên (先天) nhà Đường, ông đến ở tại Bát Nhã Tự (般若寺) vùng Nam Ngạc (南嶽). Ông cùng với Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) được xem như là hai đại đệ tử xuất sắc nhất của Huệ Năng, và Thiền phong của họ sau nầy đã trở thành chủ lưu cho Thiền Tông Trung Quốc. Ông thị tịch vào ngày 11 tháng 8 năm thứ 3 (744) niên hiệu Thiên Bảo (天寳) đời vua Huyền Tông (玄宗), hưởng thọ 68 tuổi, và được ban cho thụy hiệu là Đại Tuệ Thiền Sư (大慧禪師). Bản Nam Ngạc Đại Tuệ Thiền Sư Ngữ Lục (南嶽大慧禪師語錄) của ông được thâu tập vào trong tập Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄), bản đời nhà Minh.

nam nhân

A man.

nam nhạc

(南岳) Cũng gọi Hành nhạc, Hành sơn. Núi ở cách huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam 15 cây số về phía tây bắc, là 1 trong Ngũ nhạc tại Trung quốc. Núi cao 1200 mét, chu vi 400 cây số, có 72 ngọn, 10 động, 15 hang, 38 suối, 25 khe, 9 ao, 9 chằm, 9 giếng. Dòng sông Tương uốn quanh 3 mặt Nam, Đông và Bắc của núi này. Cứ theo Lộc sơn tự bi kí do ông Lí ung soạn vào năm Khai nguyên 18 (730) đời Đường, thì năm Thái thủy thứ 4 (268) đời Tây Tấn, ngài Pháp sùng đã đến đây khai sơn, sáng lập chùa Lộc sơn. Năm Thái kiến thứ 2 (570) đời Trần, ngài Tuệ tư vào Nam nhạc giảng kinh Bát nhã, Trung luận..., lập đạo tràng Bát nhã, vì thế ngài Tuệ tư còn được gọi là Nam nhạc đại sư. Năm Tiên thiên thứ 2 (713) đời Đường, ngài Hoài nhượng đến Nam nhạc, trụ ở đài Quan âm chùa Bát nhã 30 năm, nêu cao Thiền phong Nam nhạc. Niên hiệu Thiên bảo năm đầu (742) đời Đường, ngài Hi thiên đến núi Hành sơn, kết am trên đá, người đời gọi ngài là Thạch đầu Hòa thượng. Những bậc Cao tăng danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo đến núi này thăm viếng đông không thể kể hết. Trên núi có nhiều chùa miếu, như chùa Sơn lộc (sau đổi tên là chùa Vạn thọ) của ngài Pháp sùng, chùa Thắng nghiệp (chùa Chúc thánh) của ngài Thừa viễn, Đạo tràng Bát nhã (chùa Phúc nghiêm) của ngài Tuệ tư, viện Truyền pháp (tức đài Ma kính) nơi ngài Mã tổ Đạo nhất được Thiền sư Hoài nhượng truyền pháp, chùa Nam đài (chỗ đất cũ) của ngài Thạch đầu Hi thiên v.v... [X. Tục cao tăng truyện Q.17; Liễu hà đông tập Q.6].

Nam Nhạc Hoài Nhượng

南嶽懷讓; C: nányuè huáiràng; J: nangaku ejō; 677-744;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ được truyền tâm ấn của Lục tổ Huệ Năng và là một trong hai ngọn lửa thiền chiếu sáng rực rỡ đời Ðường (ngọn đuốc thứ hai là Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư). Môn đệ lừng danh nối dòng của Sư là Mã Tổ Ðạo Nhất.|Sư họ Ðỗ, quê ở Kim Châu, xuất gia năm 15 tuổi. Sư ban đầu chăm chỉ học Luật giữ Giới, nhưng không hài lòng với kết quả, tự nhủ: »Phàm người xuất gia phải vì pháp Vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được.« Sau, vì lời khuyên của nhiều đạo hữu, Sư đến yết kiến Lục tổ.|Ðến Tào Khê, Tổ Huệ Năng hỏi: »Ở đâu đến?« Sư thưa: »Ở Tung Sơn đến.« Tổ hỏi: »Vật gì đến?« Sư trả lời không được bèn ở lại. Sau tám năm, Sư chợt tỉnh, đến trình Tổ câu trả lời sau: »Nói là một vật là không đúng.« Tổ hỏi: »Lại có thể đạt được chăng?« Sư đáp: »Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.« Tổ bèn nói: »Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã Ða-la ở Tây Thiên có lời sấm rằng: ›Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ‹. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.« Sư nhân đây hội ý, ở lại hầu Tổ 15 năm.|Sau khi từ giã Tổ, Sư đến núi Hoành Nhạc trụ trì chùa Bát-nhã. Nơi đây, Sư gặp một Sa-môn ngày ngày ngồi thiền. Sư nhìn biết là thượng căn, đến hỏi: »Ðại đức ngồi thiền làm gì?« Vị này trả lời: »Ðể làm Phật.« Sau đó, Sư lấy một viên gạch, đến trước am của vị này mài liên tục. Sa-môn thấy lạ hỏi Sư: »Thầy mài gạch để làm gì?« Sư đáp: »Mài để làm gương.« Vị này nói: »Mài gạch đâu có thể thành gương được?« Sư bảo: »Ngồi thiền cũng không thể thành Phật được« Sa-môn hỏi: »Vậy làm thế nào mới phải?« Sư hỏi vặn lại: »Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, phải đánh trâu hay đánh xe?« Vị Sa-môn lặng thinh, Sư nói tiếp: »Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.«|Vị Sa-môn này chẳng ai khác hơn là Giang Tây Pháp chủ Mã Tổ Ðạo Nhất sau này. Nghe được chân ngôn như vậy, Ðạo Nhất liền quì xuống lễ bái, hỏi: »Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội.« Sư đáp: »Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.« Ðạo Nhất hỏi: »Ðạo không có sắc tướng làm sao thấy?« Sư bảo: »Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo.« Ðạo Nhất hỏi tiếp: »Có thành hoại chăng?« Sư đáp: »Nếu thấy cái thành hoại, tụ tán mà nghĩ là thấy Ðạo thì không thể thấy Ðạo.« Sư làm bài kệ:|心地函諸種。遇澤即皆萌|三昧花無相。何壞復何成|Tâm địa chứa các giống|Gặp ướt liền nảy mầm|Hoa tam-muội không tướng|Thì sao có hoại thành?|Thiền sư Ðạo Nhất nghe đây như được mở mắt, ở lại hầu hạ Sư 10 năm. Trong tất cả môn đệ, chỉ có Ðạo Nhất được truyền pháp ấn.|Ngày mười một tháng tám đời Ðường, niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba, Sư thị tịch tại Hoành Nhạc, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Ðại Huệ Thiền sư.|Những lời dạy của Sư nói trên có thể gây sự hiểu lầm. Vì sao »ngồi thiền không thể thành Phật được« trong khi đức Phật Thích-ca đạt Vô thượng bồ-đề sau khi ngồi thiền định và tất cả các vị Thiền sư chú trọng đến thiền hơn tất cả các tông phái khác? Cái mà Sư chỉ trích nơi Thiền sư Ðạo Nhất không phải là tác phong ngồi thiền, mà là cái tâm trạng đứng sau hành động đó. Cái ranh giới giữa »ta«, một người ngồi thiền để thành Phật và »thiền« – ở đây đồng nghĩa với Phật – phải được huỷ bỏ, tâm phải trống rỗng không còn câu chấp, ham muốn, đó là yếu chỉ mà Sư muốn truyền cho Ðạo Nhất Thiền sư tại đây. Ngay đức Phật Thích-ca cũng đã nói rõ trong Tương ưng bộ kinh (I, I): »Không buông xuôi (appathittam), không muốn đạt (anāyūham), ta đã vượt qua sóng bão…. Lúc buông xuôi, ta chìm đắm, lúc muốn đạt giác ngộ, ta bị bão táp gió lay. Không buông xuôi và vô nguyện, ta vượt qua sóng bão.«

nam nhạc hoài nhượng

(南岳懷讓) Cũng gọi Đại tuệ Thiền sư. Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người An khang, Kim châu (huyện Hán âm, tỉnh Thiểm tây), họ Đỗ. Sư xuất gia năm 15 tuổi, mới đầu học luật, sau đến Tào khê tập thiền, trở thành 1 đệ tử lớn của Lục tổ Tuệ năng. Sư ở lại thị giả Tổ 15 năm. Sau khi Tổ thị tịch, năm Thiên tiên thứ 2 (713) đời vua Đường Huyền tông, sư đến trụ ở đài Quan âm chùa Bát nhã tại núi Nam nhạc, tỉnh Hồ nam, để tuyên dương Thiền pháp của Tổ, khai sáng hệ phái Nam nhạc, người đời gọi sư là Nam nhạc Hoài nhượng. Pháp hệ của sư gọi là Nam nhạc hạ, đối lại với pháp hệ Thanh nguyên hạ của Thiền sư Thanh nguyên Hành tư, là 2 dòng pháp lớn của Thiền Nam tông. Năm Thiên bảo thứ 3 (744) sư thị tịch, thọ 68 tuổi, thụy hiệu Đại Tuệ. Sư có tác phẩm: Nam nhạc Đại Tuệ thiền sư ngữ lục. [X. Tống cao tăng truyện Q.9; chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Tông môn thống yếu tục tập Q.4].

nam nhạc hoài nhượng thiền sư

Nan-Yueh-Huai-Jang, sanh năm 677 sau Tây Lịch tại Kim Châu, ông là một thiền sư xuất sắc đời nhà Đường, đại đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, và cũng là thầy của Mã Tổ. Nam Nhạc xuất gia năm 15 tuổi với luật Sư Hoàng Cảnh. Sau khi thọ giới cụ túc, sư học hết Tạng Luật, nhưng sư không thỏa mãn nên du phương tìm đến một vị thầy tên là Huệ An ở núi Tung Sơn. Dù sư có tiến bộ, nhưng Hòa Thượng Huệ An bảo sư nên đến Tào Khê tham vấn Lục Tổ Huệ Năng—Nan-Yueh was born in 677 A.D. in Jing-Chou, one of the famous Zen masters during the T'ang dynasty. He was the great disciple of the Sixth Patriarch. He left home at the age of fifteen to study under a Vinaya master named Hung-Jing. After his ordination, he studied the Vinayapitaka, but he became dissatisfied, and then traveled to see a teacher named Hui-An on Mount Tsung. Although Nan-Yueh made some spiritual progress with Hui-An, he soon continued on to Tsao-Xi to studied with the Sixth Patriarch Hui-Neng. • Sư đến Tào Khê tham vấn Lục Tổ Huệ Năng. Tổ hỏi: “Ở đâu đến?” Sư thưa: “Ở Tung Sơn đến.” Tổ hỏi: “Vật gì đến?” Sư thưa: “Nói in tuồng một vật tức không trúng.” Tổ hỏi: “Lại có thể tu chứng chăng?” Sư thưa: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.” Tổ nói: “Chính cái không nhiễm ô nầy là chỗ hộ niệm của chư Phật, người đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát Nhã Đa La ở Tây Thiên có lời sấm rằng: 'Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện NHẤT MÃ CÂU (con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.'” Sư hoát nhiên khế hội. Từ đây sư ở hầu hạ Tổ ngót mười lăm năm—Nan-Yueh came to Tsao-Xi to study with Hui-Neng. Hui-Neng said to Nan-Yueh: “Where did you come from?” Nan-Yueh said: “From Mount Song.” Hui-Neng said: “What is it that thus come?” Nan-Yueh couldn't answer. After eight years, Nan-Yueh suddenly attained enlightenment. He informed the Sixth Patriarch of this, saying: “I have an understanding.” The Sixth Patriarch said: “What is it?” Nan-Yueh said: “To say it's a thing misses the mark.” The Sixth Patriarch said: “Then can it be made evident or not?” Nan-Yueh said: “I don't say it can't be made evident, but it can't be defiled.” The Sixth Patriarch said: “Just this that is undefiled is what is upheld and sustained all Buddhas. You are thus. I am also thus. “Prajnadhara has foretold that from beneath your feet will come a horse which will trample to death everyone in the world. Bear this in mind but don't soon repeat it.” Nan-Yueh suddenly experienced Great Enlightenment. He then served the Sixth Patriarch for fifteen years. • Có vị Sa Môn ở huyện Truyền Pháp hiệu Đạo Nhất, hằng ngày ngồi thiền. Sư biết đó là pháp khí (người hữu ích trong Phật pháp) bèn đi đến hỏi: “Đại đức ngồi thiền để làm gì?” Đạo Nhất thưa: “Để làm Phật.” Sau đó sư lấy một cục gạch đến trên hòn đá ở trước am Đạo Nhất ngồi mài. Đạo Nhất thấy lạ hỏi: “Thầy mài gạch để làm gì?” Sư đáp: “Mài để làm gương.” Đạo Nhất nói: “Mài gạch đâu có thể thành gương được?” Sư hỏi lại: “Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?” Đạo Nhất hỏi: “Vậy làm thế nào mới phải?” Sư nói: “Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, thì đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?” Đạo Nhất lặng thinh, sư nói tiếp: “Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật, tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi, chẳng đạt ý kia.” Đạo Nhất nghe sư chỉ dạy như uống đề hồ, lễ bái hỏi: “Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam muội?” Sư bảo: “Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo nầy.” Đạo Nhất lại hỏi: “Đạo không phải sắc tướng làm sao thấy được?” Sư nói: “Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo. Vô tướng tam muội cũng lại như vậy.” Đạo Nhất hỏi: “Có thành hoại chăng?” Sư nói: “Nếu lấy cái thành hoại tụ tán, thiện ác mà thấy đạo, là không thể thấy đạo. Nghe ta nói kệ: Tâm địa hàm chư chủng, (Đất tâm chứa các giống) Ngộ trạch tức giai manh (Gặp ướt liền nẩy mầm) Tam muội hoa vô tướng (Hoa tam muội không tướng) Hà hoại phục hà thành? (Nào hoại lại nào thành?) . Nhờ những lời nầy mà Đạo Nhất khai ngộ tâm ý siêu nhiên—During the Kai-Yuan era of the T'ang dynasty (713-741) there was a novice monk called Ma-Tsu T'ao-Yi who constantly practice Zen meditation upon Mount Heng. Nan-Yueh knew that T'ao-Yi was a great vessel for the Dharma, and once walked up to him and said: “ What does your Worthiness intend to do by sitting in meditation?” Ma-Tsu said: “I intend to become a Buddha.” Nan-Yueh then picked up a piece of tile from the ground and began grinding on a rock. T'ao-Yi then asked: “What are you trying to make by grinding that?” Nan-Yueh said: “I'm grinding it to make a mirror.” T'ao-Yi said: “How can you make a irror by grinding a tile on a rock?” Nan-Yueh said: “If you can't make a mirror by grinding a tile on a rock, how can you become a Buddha by sitting in meditation?” T'ao-Yi said: “What is the correct way?” Nan-Yueh said: “It can be compared to an ox pulling a cart. If the cart doesn't move, do you strike the cart or strike the ox?” T'ao-Yi didn't answer. Nan-Yueh then said: “Are you sitting in order to practice Zen, or are you sitting to be a Buddha? If you're sitting to practice Zen, then know that Zen is not found in sitting or lying down. If you're sitting to become a Buddha, then know that Buddha has no fixed form. With respect to the constantly changing world, you should neither grasp it nor reject it. If you sit to become a Buddha, you kill Buddha. If you grasp sitting form then you have not yet reached the meaning.” When T'ao-Yi heard this instruction it was as though he had drunk sweet nectar. He bowed and asked: “How can one cultivate mind to be in accord with formless samadhi?” Nan-Yueh said: “You're studying the Dharma gate of mind-ground, and this activity is like planting seeds there. The essential Dharma of which I speak may be likened to the rain that falls upon the seeded ground. In this same manner your auspicious karmic conditions will allow you to perceive the Way.” T'ao-Yi then asked: “The Way is without color or form. How can one perceive it?” Nan-Yueh said: “The Dharma eye of mind-ground can perceive the true way. The formless samadhi is likewise perceived.” T'ao-Yi then asked: “Does it have good and bad, or not?” Nan-Yueh said: “If the Way is seen in the aggregation and disintegration of good and bad, then it is not the way. Listen to this verse: “The mind-ground fully sown, When moisture comes, all seeds sprout The formless flower of samadhi, How can it be bad or good?” At these words T'ao-Yi experienced great enlightenment and unsurpassed realization. • Đệ tử nhập thất gồm có sáu người, sư ấn khả rằng: “Sáu người các ngươi đồng chứng thân ta, mỗi người khế hội một phần—Six disciples entered Nan-Yueh-Huai-Rang's room to received transmission. He commended each of them, saying: “Six of you represent my body, each in accord with one part of it.” 1. Người được chân mày ta, giỏi về uy nghi là Thường Hạo—Chang-Hao inherits my eyebrows and their dignified appearance. 2. Người được mắt ta giỏi về ngó liếc là Trí Đạt—Zhi-T'a inherits my eyes and their stern glare. 3. Người được tai ta giỏi về nghe lý là Thản Nhiên—T'an-Ran inherits my ears and their ability to hear true principle. 4. Người được mũi ta giỏi về biết mùi là Thần Chiếu—Shen-Zhao inherits my nose and its ability to perceive smelling. 5. Người được lưỡi ta giỏi về đàm luận là Nghiêm Tuấn—Yuan-Xuan inherits my tongue and its ability to articulate speaking. 6. Người được tâm ta giỏi về xưa nay là Đạo Nhất—T'ao-Yi inherits my mind and its knowledge of past and present. • Sư lại bảo: “Tất cả các pháp đều từ tâm sanh, tâm không chỗ sanh, pháp không thể trụ. Nếu đạt tâm địa, việc làm không ngại, không phải thượng căn thì dè dặt chớ nói (nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh, tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ. Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại, phi ngộ thượng căn nghi thận từ tai)—Nan-Yueh also said: “All dharmas are born of mind. Mind is unborn. Dharmas are nonabiding. When one reaches the mind-ground, one's actions are unobstructed. Be careful using this teaching with those not of superior understanding. • Có vị Đại đức đến hỏi sư: “Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành không biết cái sáng của gương đi về chỗ nào?” Sư bảo: “Như Đại đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu?” Đại đức lại hỏi: “Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi?” Sư bảo: “Tuy không chiếu soi, nhưng đối y một điểm cũng chẳng được.”—A great worthy one asked Nan-Yueh: “If an image is reflected in a mirror, where does the light of the image go when it's no longer observed?” Nan-Yueh said: “It's similar to remembering when Your Worthiness was a child. Where has your childlike appearance gone now? The worthy one asked: “But afterward, why does the image not remain?” Nan-Yueh said: “Although it is no longer reflected, it can be reproved even slightly.” • Sau Đạo Nhất đi giáo hóa ở Giang Tây, sư hỏi chúng: “Đạo Nhất vì chúng thuyết pháp chăng?” Chúng thưa: “Đã vì chúng thuyết pháp.” Sư hỏi: “Sao không thấy người đem tin tức về?”Chúng lặng thinh. Sư bèn sai một vị Tăng đi thăm. Trước khi hỏi: 'Làm cái gì?' Y trả lời, nhớ ghi những lời ấy đem về đây.” Vị Tăng đi thăm, làm đúng như lời sư đã dặn. Khi trở về vị Tăng thưa: “Đạo Nhất nói: 'Từ loạn Hồ sau ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.” Sư nghe xong gật đầu—Once after T'ao-Yi left Nan-Yueh and was teaching in Jiang-Hsi, Nan-Yueh addressed the monks, saying: “Is T'ao-Yi teaching for the benefit of beings or not?” Some monks in the congregation replied: “He's been teaching for the benefit of beings.” Nan-Yueh said: “I've never heard any specific news about this.” The congregation couldn't offer any news on this. Nan-Yueh dispatched a monk to Ma-Tsu's place, instructing him: “Wait until he enters the hall to speak, and then ask him: 'What's going on?' Take note of his answer and then bring it back to tell it to me.” The monk then carried out Nan-Yueh's instructions. He returned and said: “Master Ma-Tsu said: 'In the thirty years since the barbarian uprising I've never lacked salt or sauce.'” Nan-Yueh approved this answer. • Sư thị tịch vào năm 744 sau Tây Lịch—He died in 744 A.D.

Nam Nhạc Huệ Tư

南嶽慧思|Huệ Tư

nam nhạc hạ

(南岳下) Pháp hệ của Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng đối lại với Thanh nguyên hạ là pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư. Sau khi được Lục tổ Tuệ năng ấn khả, Thiền sư Hoài nhượng đến ở chùa Bát nhã tại Hành sơn, tỉnh Hồ nam, tiếp hóa người học hơn 30 năm, xiển dương Thiền phong Nam nhạc. Ngài có 9 vị đệ tử nối pháp, trong đó, ngài Mã tổ Đạo nhất là bậc Thượng thủ. Sau khi đắc pháp, ngài Mã tổ hoằng hóa ở núi Cung công tỉnh Giang tây, nhờ có cơ phong sắc bén, mạnh mẽ và phong cách đánh hét, dựng phất tử mà ngài nổi tiếng trong thiên hạ với danh hiệu Giang Tây Mã Tổ. Trong hơn 100 đệ tử của ngài thì các vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện, Tây đường Trí tạng, Đại mai Pháp thường, Chương kính Hoài huy, Đại châu Tuệ hải, Bàng uẩn cư sĩ và Phật quang Như mãn được suy tôn là các bậc tôn túc trong Thiền lâm. Trong đó, 3 vị: Bách trượng Hoài hải, Nam tuyền Phổ nguyện và Tây đường Trí tạng được gọi chung là Tam Đại sĩ dưới tòa ngài Mã tổ. Ngài Bách trượng Hoài hải ở tại núi Bách trượng thuộc Hồng châu (tỉnh Giang tây), dẫn dắt chúng tăng, xây dựng Thiền viện, lập ra thanh qui tùng lâm. Trước đó, Thiền tăng phần nhiều trụ ở các Luật viện, chứ chưa có tự viện riêng biệt của Thiền gia. Từ ngài Bách trượng mới bắt đầu sáng lập Thiền viện, đồng thời thành lập thanh qui riêng, nhờ đó tăng chúng có được những phép tắc rõ ràng đúng đắn để nương tựa. Đến đây, sự phát triển của Thiền tông Trung quốc mới có cả danh lẫn thực. Đệ tử của ngài Bách trượng có các vị: Hoàng bá Hi vận, Qui sơn Linh hựu v.v... Sau khi được ấn khả, ngài Hi vận trụ ở núi Hoàng bá xiển dương Thiền pháp, đệ tử của ngài có Thiền sư Lâm tế Nghĩa huyền là bậc long tượng trong Thiền môn. Năm Đại trung thứ 8 (854) đời Đường, ngài Nghĩa huyền sáng lập viện Lâm tế bên bờ sông Hô đà tại Trấn châu (tỉnh Hà bắc) để tiếp dẫn người học, nhờ có cơ phong bén nhạy, cao vút mà ngài nổi tiếng và môn đình rất thịnh. Hệ thống ngài Nam nhạc vốn chỉ lưu hành ở vùng Hoa trung(Hồ nam, Giang tây), nhưng đến đời ngài Nghĩa huyền thì phát triển lên miền Bắc và hình thành tông Lâm tế phồn vinh nhất trong các hệ phái của Thiền tông Trung quốc. Ngài Qui sơn Linh hựu trụ ở núi Qui sơn tại Đàm châu (Hồ nam), sau 7 năm sáng lập chùa Đồng khánh, Thiền sinh từ khắp nơi đến tham học, có tời hơn 1.500 người. Sau, đệ tử của ngài là Thiền sư Tuệ tịch mở rộng Thiền pháp ở núi Ngưỡng sơn tại Viên châu (Giang tây) được những người học Thiền đương thời kính trọng và tin cậy. Pháp hệ của 2 ngài Qui sơn Linh hựu và Ngưỡng sơn Tuệ tịch gọi chung là Qui Ngưỡng tông. Đến cuối đời Đường đầu đời Ngũ đại thì Thiền tông Trung quốc đã hình thành 5 hệ phái chính thống, đó là: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, trong đó, 2 tông Lâm tế và Qui ngưỡng thuộc Nam nhạc hạ, còn 3 tông Tào động, Vân môn và Pháp nhãn thì thuộc Thanh nguyên hạ. Đến đời Tống, 2 tông Lâm tế và Vân môn tương đối hưng thịnh hơn, nhất là tông Lâm tế. Rồi từ tông Lâm tế lại chia ra 2 phái là Hoàng long và Dương kì. Như vậy, qua đến đời Tống, Thiền tông do Tổ Bồ đề đạt ma truyền đến Trung quốc đã phát triển thành Ngũ gia thất tông (năm nhà bảy tông), mà trong đó, pháp hệ được lưu truyền cho đến ngày nay thì phần nhiều là tông Lâm tế thuộc Nam nhạc hạ. Bởi thế, trong Thiền tông đã có câu Lâm tế nhi tôn mãn thiên hạ (con cháu dòng Lâm tế đầy khắp trong thiên hạ). (xt. Thanh Nguyên Hạ).

nam nhạc ma chuyên

(南岳磨磚) Tên công án trong Thiền Tông. Nam nhạc mài gạch. Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Nam nhạc Hoài nhượng và đệ tử nối pháp là Mã tổ Đạo nhất. Khoảng năm Khai nguyên (713-741), ngài Đạo nhất ở tại viện Truyền pháp, hàng ngày ngồi thiền, Đại sư Nam nhạc biết ngài là pháp khí, liền bước đến hỏi (Đại 51, 240 hạ): Đại đức ngồi thiền để làm gì? Đạo nhất đáp: Để làm Phật. Ngài Nam nhạc bèn lấy 1 cục gạch ngồi mài trên tấm đá trước am của ngài Đạo nhất. Ngài Đạo nhất hỏi: Thầy mài gạch làm gì? Ngài Nam nhạc đáp: Mài gạch làm gương. Ngài Đạo nhất nói: Mài gạch làm sao thành gương được? Ngài Nam nhạc hỏi lại: Ngồi thiền làm sao thành Phật được? [X. chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5].

nam nhạc nguyện văn

(南岳願文) Cũng gọi Nam nhạc Tư đại thiền sư lập thệ nguyện văn, Phát nguyện văn, Lập thệ nguyện văn, Hoằng thệ nguyện văn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ tư soạn vào đời Trần thuộc Nam triều, hoàn thành vào năm Vĩnh định thứ 2 (558), được thu vào Đại chính tạng tập 46. Nội dung bản văn nói về việc phát tâm bồ đề trong quá trình cầu đạo của ngài Tuệ tư, phỏng theo văn thệ nguyện của Phật A di đà khi còn ở giai vị tu nhân. Vì cầu nguyện sau 1 vạn năm của thời mạt pháp, khi Phật pháp đã diệt hết, được gặp Phật Di lặc ra đời, tế độ tất cả chúng sinh, cho nên ngài soạn văn nguyện này. Lời văn hùng dũng, tâm niệm hộ pháp sâu dày, đủ khiến cho người bi quan, bạc nhược phấn chấn tinh thần. Tư tưởng mạt pháp, thuật luyện đơn trong tín ngưỡng Đạo giáo, những hành vi của ác tỉ khưu v.v... nói trong bản văn đều là những sử liệu quan trọng để tìm hiểu xu thế chung của giới tư tưởng và trạng huống của Phật giáo vào cuối thời kì Nam Bắc triều. [X. truyện Tuệ sư trong Tục cao tăng truyện Q.17].

nam nhạc như kính chú tượng

(南岳如鏡鑄像) Tên công án trong Thiền tông. Nam nhạc như gương đúc tượng. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam nhạc Hoài nhượng và 1 vị tăng. Một hôm, có vị tăng hỏi ngài Nam nhạc Hoài nhượng (Đại 51, 241 thượng): Giả sử dùng gương đúc tượng, sau khi thành tượng thì tính sáng của gương ở đâu? Ngài Nam nhạc nói: Vậy tướng mạo của Đại đức lúc còn là đứa bé đâu rồi? Vị tăng lại hỏi: Sau khi thành tượng, tại sao không chiếu soi? Ngài Nam nhạc đáp: Tuy là không chiếu soi, nhưng che giấu nó một chút cũng không được!.

nam nhạc thuyết tự nhất vật

(南岳說似一物) Tên công án trong Thiền tông. Nam nhạc nói giống một vật. Công án này là câu trả lời hợp cơ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng về câu hỏi của đức Lục tổ Tuệ năng, sau 8 năm tham cứu. Khi ngài Nam nhạc mới đến tham yết Lục tổ, Tổ hỏi (Đại 51, 240 hạ): Từ đâu đến? Ngài Nam nhạc đáp: Từ Tung sơn đến. Tổ lại hỏi: Đem vật gì đến đó? Ngài Nam nhạc mờ mịt không trả lời được. Sau khi thị giả Tổ 8 năm, ngài Nam nhạc mới tỉnh ngộ câu hỏi ấy, liền thưa với Lục tổ: –Con đã hiểu được câu hỏi mà cách đây 8 năm, lúc con mới đến Hòa thượng đã hỏi con. Tổ hỏi: Ông hiểu như thế nào? Ngài Nam nhạc thưa: Nói giống một vật thì không đúng. Tổ hỏi: Có thể tu chứng chăng? Ngài Nam nhạc trả lời: Tu chứng thì chẳng phải không, nhưng nhiễm ô thì không thể được. Tổ nói: Chỉ có cái không nhiễm ô ấy là cái mà chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát nhã đa la bên Tây thiên đã dự đoán, dưới chân ông sẽ sinh ra một con ngựa mạnh, đạp chết người trong thiên hạ. Tất cả đều ở nơi tâm ông, chớ nên vội nói. [X. chương Nam nhạc Hoài nhượng trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.5; Tam bách tắc Q.trung, phần 1].

Nam Nhạc Thừa Viễn

(南嶽承遠, Nangaku Jōon, 712-802): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, vị tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc, xuất thân Hán Châu (漢州, Quảng Hán, Tứ Xuyên), họ Tạ (謝). Ban đầu ông sống dưới tảng đá phía Tây Nam Hành Sơn (衡山), người ta cho thức ăn thì ăn, không cho thì ăn bùn đất mà sống, nên thân hình gầy gò, mặt lọ lem, làm tiều phu đốn củi và túp lều tranh nơi ông trú ngụ gọi là Di Đà Đài, chuyên tâm Niệm Phật Tam Muội. Lâu sau, tiếng tăm của ông vang khắp, nên người ta đến xin thọ giáo rất đông, lên đến vạn người. Chính Quốc Sư Pháp Chiếu (法照國師) dưới thời vua Đại Tông cũng xuất phát từ môn phong của ông. Ngay như vua Đại Tông cũng đã từng đến tham lễ ông và ban cho sắc hiệu Bát Nhã Đạo Tràng (般若道塲) và tên chùa Di Đà Tự (彌陀寺). Vào năm thứ 18 (802) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Liễu Tông Nguyên (柳宗元) soạn bia văn cho ông, dựng bia đá bên phải chùa. Môn nhân đệ tử của ông có đến hơn ngàn người, trong số đó có Pháp Chiếu (法照), Nhật Ngộ (日悟), Huệ Thuyên (慧詮), Tri Minh (知明), Siêu Minh (超明), v.v., là những nhân vật kiệt xuất nhất.

nam nhạc đan truyện kí

(南岳單傳記) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hoằng trừ soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tập 146. Nội dung sách này ghi chép về pháp thống của tông Lâm tế trong Thiền tông Trung quốc, là lược truyện đơn truyền trải qua các đời từ đức Thích tôn trở xuống đến Tổ thứ 69 là Thoái ông Hoằng trừ, mỗi truyện đều có phụ thêm phần biểu và lời bình.

nam năng bắc tú

Nam tông được xem như tông đốn ngộ của Lục Tổ Huệ Năng, bắc tông được xem như tông tiệm ngộ của đại sư Thần Tú—Huệ Năng của Nam Tông, Thần Tú của Bắc Tông)—The southern of the Sixth Patriarch Hui-Neng came to be considered the orthodox Intuitional school or the immediate method, the northern of the great monk Shen-Hsiu came to be considered as the gradual medthod. ** For more information, please see Nam Tông and Nam Đốn Bắc Tiệm.

nam nữ

Male and female.

nam phong

South wind.

nam phù

Jambudvipa (skt)—See Nam Thiệm Bộ Châu.

nam phương

Phương nam—Southern quarter.

Nam Phương Lục

(南方錄, Nampōroku): bộ sách viết về Trà Đạo, gồm 7 quyển, do Nam Phường Tông Khải (南坊宗啟) trước tác. Đây là bộ thư tịch do cao đệ của Thiên Lợi Hưu (千利休, Sen-no-Rikyū, 1522-1591) là Tông Khải ghi lại những điều tâm đắc về Cha-no-yu (茶の湯) do ông đã từng học được hay nghe thấy từ thầy mình, và Lập Hoa Thật Sơn (立花實山) là người biên tập bộ nầy. Nó được xem như là Thánh Thư của Trà Đạo.

nam phương phật giáo

Nam Phương Phật Giáo đối lại với Bắc Phương Phật Giáo (từ đời vua A Dục trở về sau, Phật giáo truyền từ vùng nam Ấn Độ như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan)—Southern Buddhism, in contrast with Northern Buddhism (Mahayana—Bắc phương Phật giáo).

nam phương vô cấu thế giới

(南方無垢世界) Thế giới Vô cấu (Tịnh độ) ở phương Nam, nơi Long nữ thành Phật. Cứ theo phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa quyển 4, thì Long nữ từng ở giữa chúng hội, trong khoảng sát na, biến thành nam tử, đầy đủ hạnh Bồ tát, liền qua thế giới Vô cấu ở phương Nam, ngồi trên tòa sen báu, thành bậc Đẳng chính giác, có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, diễn thuyết diệu pháp cho tất cả chúng sinh khắp trong 10 phương nghe.

nam phương vô cấu thế gới

Theo Kinh Pháp Hoa thì Nam Phương Vô Cấu Thế Giới là thế giới mà nàng Long Nữ đã thành Phật—According to the Lotus Sutra, the Southern Pure Land is a land to which the dragon-maid went on attaining Buddhahood.

Nam Phố Thiệu Minh

(南浦紹明, Nampo Shōmyō, 1235-1308): vị tăng của Phái Dương Kì và Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tự là Nam Phố (南浦), họ là Đằng Nguyên (藤原), xuất thân vùng Tuấn Hà (駿河, Suruga, thuộc Shizuoka-ken). Ban đầu ông theo học với Tịnh Biện (淨辨) ở Kiến Tuệ Tự (建穗寺), sau đó theo hầu Lan Khê Đạo Long (蘭溪道隆) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Vào năm 1259 (năm đầu niên hiệu Chánh Nguyên [正元]), ông nhập Tống cầu pháp, đi tham bái khắp chốn tùng lâm, cuối cùng nhờ gặp được Hư Đường Trí Ngu (虛堂智愚) mà triệt để đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm 1267 (năm thứ 4 niên hiệu Văn Vĩnh [文永]), ông trở về nước, làm Tạng Chủ (藏主) dưới trướng của Đạo Long. Ông đã từng sống và di chuyển trong vòng 33 năm giữa hai chùa Hưng Đức Tự (興德寺, Kōtoku-ji) và Sùng Phước Tự (崇福寺, Sūfuku-ji) ở Thái Tể Phủ (太宰府) thuộc vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]). Đến năm 1305 (năm thứ 3 niên hiệu Gia Nguyên [嘉元]), nhận chiếu chỉ của nhà vua, ông lên kinh đô Kyoto, trú tại Vạn Thọ Tự (萬壽寺, Manju-ji). Bên cạnh đó, ông còn trùng hưng Gia Nguyên Tự (嘉元寺, Kagen-ji) ở vùng Đông Sơn (東山) và trở thành tổ khai sơn chùa này. Vào năm 1307 (năm thứ 2 niên hiệu Đức Trị [德治]), ông xuống vùng Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), dừng chân nghỉ tại Chánh Quán Tự (正觀寺, Shōkan-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki), ông đến trú trì Kiến Trường Tự. Vào năm 1308 (năm đầu niên hiệu Diên Khánh [延慶]), ông thị tịch, hưởng thọ 74 tuổi đời và 60 hạ lạp. Đến năm sau ông được Hậu Vũ Đa Pháp Hoàng (後宇多法皇, Gouta Jōō, 1247-1287) ban cho thụy hiệu là Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư (圓通大應國師). Môn hạ của ông có những nhân vật nổi tiếng như Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超), Thông Ông Kính Viên (通翁鏡圓), Nguyệt Đường Tông Quy (月堂宗規), Diệu Tông Tông Hưng (妙宗宗興), v.v. Lớp dưới của phái này thì được gọi là Đại Ứng Môn Phái (大應門派). Hiện tại các phái của Lâm Tế Tông Nhật Bản đều thuộc hệ thống này. ; 南浦紹明; J: nampo jōmyō; 1235-1309;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế dòng Dương Kì. Sư lúc đầu học pháp nơi Lan Khê Ðạo Long nhưng sau đích thân sang Trung Quốc tham học với Thiền sư Hư Ðường Trí Ngu (c: xūtáng zhìyú) và được Ấn khả. Trong dòng Thiền của Sư có nhiều vị nổi danh như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) và Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku). Sư được Nhật hoàng ban hiệu Ðại Ứng Quốc sư (j: daiō kokushi).|Khác với các vị tiền nhân đưa Thiền tông sang Nhật như Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai), Viên Nhĩ Biện Viên (j: enni ben'en), Sư không hoà nhập Thiền tông với những giáo lí của các tông khác như Thiên Thai, Chân ngôn. Môn đệ danh tiếng nhất của Sư là Diệu Siêu Tông Phong (j: myōchō shūhō, cũng được gọi là Ðại Ðăng Quốc sư; daitō ko-kushi).|Mặc dù đã nổi danh lúc còn hoằng hoá nhưng vai trò thật sự quan trọng của Sư cho Thiền Lâm Tế tại Nhật chính là hệ thống truyền thừa vô song với các môn đệ lừng danh. Qua đó, người ta có thể xem Sư là vị Tổ chính của Thiền Lâm Tế tại Nhật (xem biểu đồ cuối sách) vì hầu hết tất cả những vị Thiền sư danh tiếng của tông Lâm Tế của Nhật sau này đều xuất phát từ hệ phái của Sư với tên gọi là Ứng-Ðăng-Quan phái (j: ō-tō-kan-ha) – viết tắt từ ba danh hiệu Ðại Ứng (ō) Quốc sư, Ðại Ðăng (tō) Quốc sư và Quan (kan) Sơn Huệ Huyền. Với sự hoằng hoá của Sư, giai đoạn du nhập của Thiền tông từ Trung Quốc sang Nhật đã kết thúc.

nam phố thiệu minh

(南浦紹明) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Tuấn hà (huyện Tĩnh cương), họ Đằng nguyên. Ban đầu, sư thờ ngài Lan khê Đạo long chùa Kiến trường ở Liêm thương, Nhật bản, làm thầy, sau vượt biển đến Trung quốc (đời Tống), theo hầu ngài Hư đường Trí ngu ở Hàng châu và được nối pháp. Sau khi trở về Nhật, sư lần lượt trụ các chùa Sùng phúc ở phủ Thái tế, chùa Vạn thọ ở Kinh đô, chùa Kiến trường ở Liêm thương v.v... mở rộng Thiền pháp, đặt nền tảng cho sự hưng long tông Lâm tế. Niên hiệu Diên khánh năm đầu (1308) sư thị tịch, thọ 74 tuổi, pháp lạp 60. Vua ban thụy hiệu Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư, Đại Ứng Quốc Sư.Đệ tử nối pháp: Tông phong Diệu siêu. Tác phẩm: Đại ứng quốc sư ngữ lục 3 quyển. [X. Đại ứng quốc sư tháp minh; Liêm thương ngũ sơn kí].

nam phổ đà

Tên một ngôi chùa nổi tiếng trong quận sáu, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng vào năm 1953 và đã trải qua bốn đời trụ trì. Chùa kiến lập ba ngôi điện thờ của Phật Thích Ca, Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ tát Địa Tạng. Nam Phổ Đà là ngôi chùa nổi tiếng của người Trung Hoa bên tỉnh Phúc Kiến, thuộc dòng Thiền Phổ Đà Tây Sơn. Chánh điện tôn trí thờ Tam Bảo với tượng Phật bằng đá, tượng gỗ Tây Thiên Tam Thánh, hai bên có tượng Già Lam, Hộ Pháp. Mặt sau thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma—Name of a famous pagoda, located in the sixth district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1953 and headed by four successive elders. It was constructed with three Holy Shrines worshipping Sakyamuni Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva, and Yama of Hell. Nam Phổ Đà is a famous Chinese pagoda from Fu-Chian province belonging to the Buddhist sect of Tsi-Shan Ch'an Tzih. In the the Main Hall stand stone statues of the Three Jewels and the wooden statues of the Three Noble Ones of the West Heaven are worshipped. On both sides of the statues stand those of Buddhist Bonze, Dharma Guardian. Patriarch Bodhidharma is worshipped in the Back Hall. ; (南普陀) Chùa nằm dưới ngọn núi Ngũ lão ở Hạ môn, tỉnh Phúc kiến, được sáng lập vào đời Đường, với tên là chùa Tứ châu, sau bị phá hủy trong chiến tranh. Khoảng năm Khang hi đời Thanh, chùa được xây lại và đổi tên là Nam Phổ đà, vì chùa nằm về phía Nam núi Phổ đà ở tỉnh Chiết giang, cho nên gọi là chùa Nam Phổ đà, là 1 trong những thắng cảnh của vùng Đông nam Trung quốc. Tam quan, Đại hùng bảo điện, Đại bi điện, lầu để kinh... đều dựa vào núi và trông ra biển, phong cảnh u nhã, là ngôi chùa cổ nổi tiếng trong và ngoài nước. Đại hùng bảo điện là tòa kiến trúc chủ yếu của chùa, trên nóc điện có đắp hình rồng phượng và đaoguật, cực kì tráng lệ. Điện Đại bi là tòa nhà hình bát giác, kiến trúc toàn bằng gỗ, chạm trổ tinh vi, có 3 lớp mái; trên đỉnh là những lớp đấu củng xếp chồng lên nhau, những cây xà ngang được gác trên đầu trụ đá, kết cấu rất lạ, ít thấy trong lối kiến trúc chùa chiền. Trong điện có tượng của bồ tát Quan thế âm nghìn tay bằng gỗ, chạm trổ khá tỉ mỉ. Năm 1925, pháp sư Hội tuyền trụ trì chùa này, sáng lập viện Phật học Mân nam ở đây và làm Viện trưởng.

Nam Sơn

(南山): tiếng gọi tắt của Chung Nam Sơn (終南山), dãy núi kéo dài từ Tỉnh Cam Túc (甘肅省), đi qua Tỉnh Thiểm Tây (陜西省) cho đến Tỉnh Hà Nam (河南省). Vì dãy Chung Nam Sơn này không hề băng hoại và tồn tại mãi với thời gian, cho nên tên của nó thường được dùng để chúc tụng sự nghiệp bền vững, tuổi thọ lâu dài. Vì vậy, thế gian thường có những câu như “thọ tỷ Nam Sơn (壽比南山, sống thọ như Nam Sơn)”, “Nam Sơn chi thọ (南山之壽, tuổi thọ bằng Nam Sơn)”, “như Nam Sơn chi thọ, bất khiên bất băng (如南山之壽不騫不崩, như tuổi thọ bằng Nam Sơn, không lay chuyển và không băng hoại)”, v.v. Trong Thiên Nam Ngữ Lục có câu rằng: “Tuổi vua Phật nguyện thăng bằng, Nam Sơn há sánh, núi trăng xem tày”.

nam sơn

Ngài Đạo Tuyên đời nhà Đường là vị tổ của tông Tứ Phần Luật, trụ trì tại chùa trong núi Chung Nam, nên chùa được gọi là Nam Sơn—Southern hill, name of a monastery which gave its name to T'ao-Hsuan of the T'ang dynasty, founder of the Vynaya school. ** For more information, please see Đạo Tuyên.

nam sơn khởi vân bắc sơn hạ vũ

(南山起雲北山下雨) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Kéo mây núi Nam, đổ mưa núi Bắc. Tắc 31 trong Thung dung lục (Đại 48, 248 thượng) chép: Vân môn dạy rằng: Cổ Phật với trụ cột tương giao là cơ thứ mấy? Trong chúng không ai đáp được. Sư trả lời thay: Kéo mây núi Nam, đổ mưa núi Bắc.

nam sơn niệm phật môn thiền tông

(南山念佛門禪宗) Một phái Thiền chủ trương pháp môn Dẫn thanh niệm Phật do ngài Tuyên thập, đệ tử của Ngũ tổ Thiền tông Hoằng nhẫn đề xướng. Viên giác kinh đại sớ sao quyển hạ của ngài Tông mật (Vạn tục 14, 279 thượng) nói: Nhờ truyền hương mà tồn Phật, chính là nhà thứ 6, tức là Nam sơn niệm Phật môn Thiền tông. Người chủ trưong pháp môn này là ngài Tuyên thập, đệ tử của Ngũ tổ. Hòa thượng Vị ở Quả châu, ngài Uẩn ngọc ở Lang châu, Ni sư Nhất thừa ở huyện Tương như, đều hoằng truyền pháp môn này. Nhưng tôi không biết rõ thầy trò truyền thừa như thế nào. Truyền hương là đầu tiên họp chúng làm các nghi thức lễ sám, như môn phong Hòa thượng Kim, khi muốn truyền pháp thì dùng sự truyền hương làm tin giữa thầy trò, Hòa thượng trao hương cho đệ tử, đệ tử trao lại cho Hòa thượng, rồi Hòa thượng lại trao cho đệ tử, cứ thế 3 lần, mọi người đều như vậy. Tồn Phật là lúc trao pháp, trước hết nói về đạo lí của pháp môn, ý thú của sự tu hành, rồi sau khiến niệm 1 câu Phật, ban đầu từ niệm thành tiếng, sau nhỏ dần cho đến không có tiếng, đưa tiếng (dẫn thanh) Phật vào sâu trong ý thức, ý niệm còn thô, lại đưa đến tâm niệm, niệm thì vẫn còn tưởng, tức là Phật hằng ở trong tâm, cho đến không còn tưởng nữa, thì làm sao mà chẳng đắc đạo? [X. Trung quốc Tịnh độ giáo lí sử; Thiền tông sử nghiên cứu].

nam sơn tam quán

(南山三觀) Cũng gọi Nam sơn tam giáo. Pháp quán do Luật sư Đạo tuyên ở Nam sơn lập ra. Ngài Đạo tuyên căn cứ vào Thánh giáo của đức Như lai mà lập ra Hóa giáo và Chế giáo khác nhau. Trong Hóa giáo lại chia làm tam quán: Tính không, Tướng không và Duy thức. 1. Tính không quán: Pháp quán của Tiểu thừa được nói trong các kinh, luật, luận như: Kinh A hàm, luật Tăng kì, luật Tứ phần, luận Câu xá, luận Thành thực v.v... Quán xét các pháp đều do nhân duyên sinh, tính không vô ngã, cho rằng tướng nhân duyên sinh thì có thật, mà quán tính của nó thì rỗng không. 2. Tướng không quán: Pháp quán của Đại thừa được nói trong kinh Bát nhã và trong các bộ luận thuộc hệ thống Bát nhã, tức quán xét tướng của các pháp là không. 3. Duy thức quán: Pháp quán cùng tột của Đại thừa được nói trong các kinh luận như: Hoa nghiêm, Pháp hoa, Lăng già, Niết bàn, Nhiếp luận v.v..., quán xét hết thảy muôn pháp đều do thức của mình biến ra, cho nên muôn pháp chỉ là hình ảnh của tâm thức mà thôi. Hai pháp quán trước cho rằng tính, tướng của muôn pháp đều là không, nhưng pháp quán thứ 3 này thì cho rằng, tính, tướng của các pháp ngoài tâm đều là không, còn tính, tướng của muôn pháp trong tâm thì đều chẳng phải không. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung, phần 4 (Đại 40, 96 trung) nói: Nhưng về lí thì chủ yếu không ngoài 3 loại: 1. Các pháp tính không, vô ngã, lí này chiếu soi tâm, thuộc Tiểu thừa. 2. Tướng của pháp vốn là không, chỉ do tình chấp vọng kiến, lí này là chiếu dụng thuộc Tiểu Bồ tát. 3. Các pháp bên ngoài vốn là không, duy thức là có thật; lí này sâu xa mầu nhiệm, chỉ có ý thức duyên biết được, đây là hạnh chứng Phật quả của hàng Đại bồ tát. (xt. Tam Quán).

nam sơn tông

(南山宗) Cũng gọi Nam sơn luật, Tứ phần tông, Nam sơn giáo, Hành sự phòng phi chỉ ác tông. Tên tông phái do Luật sư Đạo tuyên ở núi Chung nam sáng lập vào đời Đường. Ngài Đạo tuyên từng theo Luật sư Trí thủ–đệ tử truyền pháp đời thứ 3 của Đại sư Tuệ quang thời Bắc Ngụy–học luật Tứ phần. Sau, từ khoảng năm Vũ đức thứ 9 (626) đời vua Cao tổ nhà Đường đến năm Trinh quán 19 (645) đời vua Thái tông, ngài lần lượt soạn 5 bộ sách nổi tiếng là: Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao, Tứ phần luật thập tì ni nghĩa sao, Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ, Tứ phần luật chú giới bản sớ và Tỉ khưu ni sao. Đây là 5 bộ sớ sao lớn của tông Nam sơn. Ngài còn thiết lập giới đàn ở núi Chung nam và chế định các nghi thức truyền thụ giới pháp trong Phật giáo. Về giáo pháp, thì ngài chia giáo pháp của đức Phật thành Hóa giáo và Chế giáo: Định học, Tuệ học là Hóa giáo, Giới học là Chế giáo. Hóa giáo lại chia làm: Tính không giáo, Tướng không giáo và Duy thức viên giáo. Còn Chế giáo thì do kiến giải về giới thể mà chia ra 3 tông: Thực pháp tông(chỉ cho Hữu bộ, vì bộ này cho giới thể là sắc pháp); Giả danh tong (chỉ cho luận Thành thực, vì luận này cho giới thể là phi sắc phi tâm) và Viên giáo tong (chỉ cho Duy thức tông, vì tông này cho giới thể là tâm pháp). Ngài Đạo tuyên gọi tông Duy thức là tông Viên giáo, lấy tâm pháp (các chủng tử được tích chứa trong thức A lại da) làm giới thể, chia giới ra làm 2 môn: Chỉ trì và Tác trì. Chỉ trì tức là không làm các điều ác, qui định tỉ khưu 250 giới, tỉ khưu ni 384 giới, lại căn cứ vào nội dung phạm giới mà chia làm mấy loại (tụ). Còn Tác trì tức là làm tất cả mọi việc thiện, bao gồm các qui định như thụ giới, thuyết pháp, an cư, uy nghi đi, đứng, ngồi, nằm v.v... Ngài cho rằng luật Tứ phần, về hình thức, tuy thuộc về Tiểu thừa, nhưng về nội dung thì thuộc Đại thừa. Năm Càn phong thứ 2 (667) đời vua Cao tông, ngài thị tịch. Đệ tử nổi tiếng của ngài có các vị như: Trí nhân, Đại từ, Chu, Tú, Văn cương, Dung tế, trong đó, Luật sư Chu (có thuyết nói Luật sư Tú) được tôn là Tổ thứ 2 của tông Nam sơn. Các vị kế thừa sau đó là: Đạo hằng, Tỉnh cung, Huệ chính, Pháp bảo, Nguyên biểu, Thủ ngôn, Nguyên giải, Pháp vinh, Xử hằng, Trạch ngộ, Doãn kham, Trạch kì, Nguyên chiếu, Trí giao, Chuẩn nhất, Pháp chính, Pháp cửu, Như liên, Hành cư v.v... Chư Tổ trải qua các đời đều dốc sức vào việc soạn thuật chương sớ, trong đó, ngài Doãn kham –Tổ thứ 13– từng chú sớ 10 bộ sách về luật của Đại sư Đạo tuyên, được người đời gọi là Thập bản kí chú. Còn ngài Nguyên chiếu –Tổ thứ 15– thì chú giải 3 bộ luật lớn của ngài Đạo tuyên, tức là Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí, Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ hành tông kí và Tứ phần luật yết ma sớ tế duyên kí. Đây là 3 bộ kí về Luật học rất nổi tiếng. (xt. Luật Tông, Đạo Tuyên).

nam sơn tự

(南山寺) Chùa ở huyện Long khê, tỉnh Phúc kiến Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Khai nguyên (713-741) đời Đường, qua các đời đều có trùng tu. Chùa hiện nay là kiến trúc của đời Thanh. Điện đường rộng lớn, khí thế hùng vĩ, có Đại hùng bảo điện, Thiên vương điện, Tàng kinh điện. Tàng kinh điện có cất chứa 3 tạng kinh luật luận và các di vật văn hóa quí giá như kinh Hoa nghiêm viết bằng máu. Bên cạnh điện Tàng kinh là Tịnh nghiệp đường có thờ pho tượng Phật Di lặc được khắc từ 1 tảng đá lớn, cao hơn 5 mét, là tác phẩm đời Đường.

nam sơn y

(南山衣) Chỉ cho áo ca sa của các vị tăng thuộc Nam sơn luật tông, tức là kiểu ca sa có 2 chiếc khoen để cài đặt ở trước ngực. (X. Họa tượng tu trì].

nam sơn đả cổ bắc sơn vũ

(南山打鼓北山舞) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Đánh trống ở núi Nam mà múa hát ở núi Bắc, chỉ cho sự cảm ứng giữa thầy và trò. Vân môn lục quyển hạ (Đại 47, 569 trung) chép: Sư hỏi vị tăng rằng: Không dẫn dắt đến bùn nước, thì nói thế nào? Sư trả lời thay rằng: Đánh trống ở núi Nam mà múa hát ở núi Bắc.

nam tam bắc thất

(南三北七) Nam ba Bắc bảy. Từ ngữ chỉ cho cách phân loại và hệ thống của sự phán thích giáo tướng trong Phật giáo thịnh hành ở thời đại Nam Bắc triều bên Trung quốc. Nam tam Bắc thất là 10 loại phán giáo của 3 vị sư ở miền Nam và 7 vị sư ở miền Bắc, do ngài Trí khải –Tổ khai sáng tông Thiên thai– sắp xếp thành hệ thống. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10 thượng nói, các sư ở Giang nam cho rằng, hình thức thuyết pháp của đức Phật có 3 giáo: Đốn, Tiệm và Bất định. Trong đó, Tiệm giáo có 3 thuyết khác nhau như sau: 1. Sư Ngập ở núi Hổ khâu chủ trương Tam thời giáo là Hữu tướng, Vô tướng và Thường trụ. 2. Các sư Tông ái, Tăng mân lại thêm Đồng qui giáo vào trước Thường trụ giáo nói trên, gọi là Tứ thời giáo. 3. Các sư Tăng nhu, Tuệ thứ ở chùa Định lâm và sư Tuệ quán ở chùa Đạo tràng, lại thêm Bao biếm ức dương giáo vào sau Vô tướng giáo và trước Đồng qui giáo, gọi là Ngũ thời giáo. Bảy sư ở miền Bắc: 1. Cư sĩ Lưu cầu ở núi Vũ đô lập Ngũ thời giáo là: Nhân thiên, Hữu tướng, Vô tướng, Đồng qui và Thường trụ. 2. Ngài Bồ đề lưu chi lập 2 giáo là Bán tự và Mãn tự. 3. Ngài Quang thống (Tuệ quang)lập 4 tông là Nhân duyên, Giả danh, Cuống tướng và Thường. 4. Ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân thêm vào Pháp giới tông, gọi là Ngũ tông giáo. 5. Ngài An lẫm ở chùa Kì xà lập 6 tông là Nhân duyên, Giả danh, Cuống tướng, Thường, Chân và Viên, gọi là Lục tông. 6. Một vị Thiền sư (không rõ tên) lập 2 loại Đại thừa giáo là Hữu tướng và Vô tướng. 7. Ngài Bồ đề lưu chi (có thuyết nói ngài Cưu ma la thập) lập Nhất âm giáo, cho rằng đức Phật dùng 1 tiếng nói pháp, chúng sinh tùy cơ duyên sai khác mà lí giải không giống nhau. [X. Duy ma kinh huyền sớ Q.6; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa phục chân sao Q.6].

nam thanh nữ tú

Handsome man and woman.

Nam thiên

(南天): có mấy nghĩa. (1) Chỉ bầu trời ở phương Nam. Như trong bài thơ Bồi Tộc Thúc Diệp Du Động Đình (陪族叔曄游洞庭) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Động Đình Tây vọng Sở giang phân, thủy tận Nam thiên bất kiến vân (洞庭西望楚江分、水盡南天不見雲, Động Đình Tây ngắm sông Sở chia, nước tận trời Nam chẳng thấy mây).” (2) Chỉ cho đất nước ở phương Nam, hay Việt Nam (nghĩa trong bài). Như Thiền sư Pháp Thuận (法順, 915-990) có làm bài thơ rằng: “Quốc tộ như đằng lạc, Nam thiên lí thái bình, vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh (國祚如藤絡、南天裏太平、無爲居殿閣、處處息刀兵, vận nước như dây quấn, trời Nam hưởng thái bình, an nhiên nơi điện các, chốn chốn hết đao binh).” (3) Chỉ phương Nam. Như trong bài thơ Tống Lô Thiếu Phủ Phó Diên Lăng (送盧少府赴延陵) của Lý Kì (李頎, 690-751) nhà Đường có câu: “Bắc cố ba đào hiểm, Nam thiên phong tục thù (北固波濤險、南天風俗殊, núi Bắc sóng cồn hiểm, phương Nam phong tục lạ).”

nam thiên nhất trụ

Tên của một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Dũng kiến lập vào năm 1959, được làm theo kiểu chùa Một Cột ở Hà Nội. Chánh điện được xây cất rất công phu. Các pho tượng Phật, các bàn hương án, bao lam, và phù điêu là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Chùa có bản kinh Phật bằng lá bối do Thủ Tướng Ấn Độ tặng năm 1964—Name of a famous pagoda located in Thủ Đức district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1959 by Most venerable Trí Dũng. Its general structure follows the design of One-Pillar Pagoda in Hà Nội. The Main Hall was constructed skillfully. The Buddha statues, altars, carved drafts, bas-reliefs, etc. are magnificient masterpieces. The pagoda has conserved a sutra copied on palm leaves, a gift from Indian Prime Minister in 1964.

nam thiên thiết tháp

(南天鐵塔) Cũng gọi Thiết tháp. Chỉ cho tòa tháp bằng sắt ở Nam Thiên trúc. Tương truyền pháp môn do đức Đại nhật Như lai nói và kinh Kim cương đính được lưu giữ trong thiết tháp này. Sau khi đức Phật nhập diệt mấy trăm năm, bồ tát Long thụ dùng 7 hạt cải trắng mở cửa tháp và được Kim cương tát đỏa trao các kinh điển ấy cho. Thiết tháp xưa nay được giải thích bằng 2 thuyết: Pháp nhĩ và Tùy duyên. -Pháp nhĩ: Thiết tháp là chỉ cho nội tâm của ngài Long thụ cũng tức là chỉ cho tâm tính sẵn có của chúng sinh. -Tùy duyên: Thiết tháp có thật, tồn tại trong lịch sử. [X. Kim cương đính kinh đại du già bí mật tâm địa pháp môn nghĩa quyết Q.thượng; Quảng phó pháp truyện Q.1 (Không hải)].

nam thiên trúc

Nam Ấn Độ—Southern India.

nam thiên trúc nhất thừa tông

(南天竺一乘宗) Tên gọi khác của Thiền tông do Tổ Bồ đề đạt ma truyền cho ngài Tuệ khả. Vì ngài Tuệ khả thường dùng bộ kinh Lăng già (4 quyển) làm pháp yếu, cho nên phái này cũng gọi là tông Lăng già. (xt. Thiền Tông).

Nam Thiền Tự

(南禪寺, Nanzen-ji): ngôi chùa trung tâm của Phái Nam Thiền Tự (南禪寺派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, tọa lạc tại Nanzenjifukuchi-chō, Sakyō-ku, Kyoto, tên núi là Thoại Long Sơn (瑞龍山), tên chính thức của chùa là Thái Bình Hưng Quốc Nam Thiền Thiền Tự (太平興國南禪禪寺). Đây là ngôi chùa do Quy Sơn Thiên Hoàng (龜山天皇, Kameyama Tennō, tại vị 1259-1274) cải đổi từ ngôi điện phía Đông Sơn mà thành. Sau đó nhà vua đã mời Vô Quan Phổ Môn (無關普門, Mukan Fumon, 1212-1291, tức Đại Minh Quốc Sư [大明國師]) đến làm tổ khai sơn chùa này và trải qua hơn 10 lần chỉnh bị ngôi già lam. Đây cũng được xem như là ngôi già lam đầu tiên tại Nhật mà cả Hoàng thất đều trở thành đàn việt của chùa. Ban đầu tên chùa là Nam Thiền Thiền Tự (南禪禪寺), nhưng sau được đổi thành Nam Thiền Tự và dùng cho đến ngày nay. Chùa này được xem như là ngôi già lam có phong cách cao nhất trong số các tự viện Thiền Tông thuộc Ngũ Tông. Chùa cũng đã trải qua mấy lần bị thiêu cháy và hoang phế, còn quần thể kiến trúc hiện tại là sự phục hưng vào thế kỷ thứ 17.

nam thiền tự

(南禪寺) I. Nam Thiền Tự. Chùa ở núi Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc, được xây cất vào năm Kiến trung thứ 3 (782) đời vua Đức tông nhà Đường, là kiến trúc bằng gỗ xưa nhất hiện còn ở Trung quốc. Có lẽ chùa này là tự viện nhỏ nhất ở Ngũ đài, vuông vức mỗi bề 5,8 mét, vì thế mới thoát khỏi pháp nạn Hội xương. Trong chùa thờ 17 pho tượng bằng đất nhiều màu sắc như: Thích ca Như lai, Văn thù, Phổ hiền, Quan âm, Kim cương lực sĩ, v.v... Tuy chùa đã được trùng tu vào niên hiệu Nguyên hựu năm đầu (1086) đời vua Triết tông nhà Tống, nhưng nói chung toàn bộ ngôi chùa vẫn còn giữ được phong cách kiến trúc và nghệ thuật đời Đường. II. Nam Thiền Tự. Chùa ở thành phố Kinh đô (Kyoto), khu Thượng kinh, Nhật bản, là Đại bản sơn của phái Nam thiền tự thuộc tông Lâm tế. Chùa này vốn là Thiền lâm tự li cung của Thiên hoàng Qui sơn, vào năm Chính ứng thứ 4 (1291) mới được đổi làm tự viện. Trong cuộc biến loạn Ứng nhân, chùa đã hoàn toàn bị thiêu hủy. Nhưng nhờ sự hộ trì của 2 họ Phong thần và Đức xuyên, chùa được kiến thiết lại. Sau lại bị trận đại hỏa hoạn tàn phá. Vào năm Khoan vĩnh thứ 5 (1628), ông Đằng đường Cao hổ cúng dường kinh phí xây dựng lại theo kiến trúc Thiền tông. Chùa có thờ tượng Phật Thích ca và 16 vị La hán màu sắc tươi sáng. Trong chùa gồm các kiến trúc như: Kim địa viện, Nam Thiền viện, Qui vân viện, Thích tùng viện, Chân thừa viện, Nam dương viện, Từ thị viện, Thiên thụ am v.v...

nam thiệm bộ châu

Jambudvipa (skt)—Nam Châu—Nam Bộ—Nam Diêm Phù Đề—Nam Phù—Nam Thiệm Bộ Châu, một trong tứ đại châu, tọa lạc phía nam núi Tu Di, bao gồm thế giới được biết đến bởi người Ấn Độ thời cổ sơ. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Hoc Từ Điển, Nam Thiệm Bộ Châu bao gồm những vùng quanh hồ Anavatapta và núi Tuyết (tức là cõi chúng ta đang ở, trung tâm châu nầy có cây diêm phù. Chính ở cõi nầy, Đức Phật đã thị hiện, và ở cõi nầy có nhiều nhà tu hành hơn hết)—The Southern Continent, one of the four continents, that situated south of Mount Meru, comprising the world known to the early Indian. According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jambudvipa includes the following countries around the Anavatapta lake and the Himalayas: 1) Bắc—North: Hung Mông Thổ—Huns-Mongolians-Turks. 2) Đông—East: Trung Quốc-Đại Hàn-Nhật—China-Korea-Japan. 3) Nam—South: a) Bắc Ấn—Northern India: Hai mươi bảy vương quốc—Twenty-seven kingdoms. b) Đông Ấn—Eastern India: Mười vương quốc—Ten kingdoms. c) Nam Ấn—Southern India: Mười lăm vương quốc—Fifteen kingdoms. d) Trung Ấn—Central India: Ba mươi vương quốc—Thirty kingdoms. e) Tây Ấn—Western Indian: Ba mươi bốn vương quốc—Thirty-four kingdoms.

Nam Tháp Quang Dũng

(南塔光涌[湧], Nantō Kōyū, 850-938): vị tăng của Quy Ngưỡng Tông Trung Quốc, người Phong Thành (豐城), Dự Chương (豫章), Tỉnh Giang Tây (江西), họ là Trương (張). Ngay từ nhỏ ông đã học Nho điển và kinh luận, sau xuất gia ở Thạch Đình (石亭) và được Chơn Công (眞公) ở Khai Nguyên Tự (開元寺) truyền trao huyền chỉ của Tịnh Danh Kinh (淨名經). Năm 19 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Đới Công (戴公) ở Thọ Sơn Tự (壽山寺), Nhượng Châu (襄州), Tỉnh Hồ Bắc (湖北). Sau đó ông đến tham yết Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂), được tâm ấn, kế thừa pháp tịch của thầy và đến sống ở Nam Tháp, Ngưỡng Sơn. Ông thị tịch vào mùa hạ năm thứ 2 niên hiệu Thăng Nguyên (昇元), thọ 89 tuổi đời và 70 hạ lạp. ; 南塔光涌; C: nántǎ guǎngyǒng; J: nantō kōyū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai dòng Quy Ngưỡng. Ðạt yếu chỉ của Sư có Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh.|Sư họ Chương, quê ở Phong Thành, Dự Chương. Lúc Sư ra đời, hào quang soi sáng khắp nhà, ngựa trong chuồng sợ hãi, vì vậy Sư được đặt tên là Quang Dũng. Sư xuất gia theo Ngưỡng Sơn từ nhỏ. Một thời gian Sư đến miền Bắc yết kiến Lâm Tế, rồi lại trở về hầu thầy. Ngưỡng Sơn hỏi: »Ngươi đến làm gì?« Sư thưa: »Làm lễ ra mắt Hoà thượng.« Ngưỡng Sơn hỏi: »Thấy Hoà thượng chăng?« Sư thưa: »Dạ thấy.« Ngưỡng Sơn bảo: »Hoà thượng sao giống như lừa?« Sư đáp: »Con thấy Hoà thượng cũng chẳng giống Phật.« Ngưỡng Sơn hỏi tiếp: »Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?« Sư thưa: »Nếu có chỗ giống thì cùng lừa đâu khác.« Ngưỡng Sơn kinh ngạc nói: »Phàm thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét ngươi, hai mươi năm không ngờ vực. Ngươi nên gìn giữ đó.« Ngưỡng Sơn hay chỉ Sư nói với người: »Ðây là nhục thân Phật.«|Sư sau trụ ở Ngưỡng Sơn, tháp phía Nam. Một vị Tăng hỏi Sư: »Thế nào là diệu dụng một câu?« Sư đáp: »Nước đến thành hồ.« Tăng lại hỏi: »Chân Phật chỗ nào?« Sư đáp: »Nói ra không tướng, cũng không tại nơi khác.«|Không rõ Sư tịch nơi nào, năm nào.

nam tháp quang dũng thiền sư

Zen Master Nan-Ta-Kuang-Yong—See Quang Dũng Thiền Sư.

nam triều phật tự chí

(南朝佛寺志) Tác phẩm, 2 quyển, do ông Tôn văn xuyên soạn vào đời Thanh, ông Trần tác lâm biên tập, được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vựng san tập 1. Các triều đại Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều đều lập đô ở Kiến khang (Nam kinh), Phật pháp ở 2 đời Tây Tấn và Đông Tấn hưng thịnh, trong các Đế vương thuộc Nam triều, có vị sùng kính Phật giáo, xây dựng nhiều chùa tháp ở khắp vùng Giang đông, hình thành những di tích lịch sử Phật giáo huy hoàng ở cố đô Nam triều thời bấy giờ. Trong bài thơ Mùa Xuân Giang nam của nhà thơ Đỗ mục có câu Nam triều tứ bách bát thập tự, tức là vào thời Nam triều, vùng Giang nam có 480 ngôi chùa. Nhưng bị tàn phá trong nhiều cuộc chiến tranh, nên hiện nay chùa còn rất ít. Ông Tôn văn xuyên sưu tập các sách, khảo sát những chùa Phật thời Nam triều, nhưng chưa kịp đưa khắc in thì đã vội trở về Đạo sơn, di cảo của họ Tôn được ông Trần tác lâm ở Giang ninh biên soạn chỉnh lí, phê bình và thêm phần chú thích ở dưới, thành Nam Triều Phật tự chí 2 quyển thượng, hạ. Trong này, tác giả khảo sát tất cả được 226 ngôi chùa, mỗi chùa đều có nói rõ về thời gian sáng lập và sự diễn biến, kế đó phụ thêm phần khảo chứng, những chỗ trích dẫn các sách đều chép nguyên văn. Phàm các sách sử của Nam triều, sách phân loại Kim lăng và Nghệ văn của các danh gia v.v... hễ thấy có liên quan đến chùa Phật thì đều được ghi vào, 1 chữ 1 câu đều có xuất xứ. Đây là bộ sách cần thiết cho những ai nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Nam triều.

nam triều tứ bách bát thập tự

(南朝四百八十寺) Nam triều bốn trăm tám mươi chùa. Đây là 1 câu thơ trong bài Giang nam Xuân của thi hào Đỗ mục đời Đường, ý nói vào thời đại Nam triều của Trung quốc, rất nhiều chùa Phật đã được xây dựng. Lối kiến trúc chùa Phật thời Nam triều thường là tháp xây ở phía trước, điện Phật xây ở phía sau, đặc trưng nổi bật nhất là 2 tháp (tháp đông và tháp tây) đối nhau. Trong đó, các ngôi tháp ở chùa Đông thái, chùa Ngõa quan và chùa Thê hà là nổi tiếng hơn cả. Ngoài ra, về nghệ thuật khắc đá, như những pho tượng Phật, Bồ tát trong các hang động, cũng có phong cách khác hẳn với nghệ thuật khắc đá của Bắc triều. (xt. Nam Triều Phật Tự Chí).

nam trung tam giáo

Tam giáo của Đức Thích Ca Mâu Ni đã được Dương Tử thuyết giảng—The three modes of Sakyamuni's teaching as expounded by the teachers south of Yang-Tze: 1) Tiệm Giáo: Tiệm giáo đưa hành giả từng bước vào niết bàn—The gradual method, leading the disciples step by step to nirvana. 2) Đốn Giáo: Đốn Giáo được Phật Thích Ca dùng để giảng dạy cho hàng Bồ Tát—The immediate method, by which he instructed the bodhisatvas, revealing the whole truth. 3) Bất Định Giáo: Bất định giáo ứng dụng cho từng cá nhân riêng lẻ—The undetermined method, by which the teaching is adapted to each individual or group. ; (南中三教) Ba giáo do các sư ở Giang nam lập từ sau đời Tiêu Tề thuộc Nam Bắc triều, để phân biệt, giải thích pháp do đức Như lai giảng nói trong 1 đời. Đó là: 1. Đốn giáo: Tức chỉ cho kinh Hoa nghiêm. 2. Tiệm giáo: Tức chỉ cho giáo pháp từ kinh A hàm đến kinh Niết bàn. 3. Bất định giáo: Tức chỉ cho giáo lí hiển bày Phật tính thường trụ, không nằm trong 2 giáo Đốn và Tiệm, như các kinh Thắng man, Kim quang minh v.v... [X. Hoa nghiêm kinh huyền đàm Q.4]. (xt. Nam Tam Bắc Thất).

nam truyện phật giáo

(南傳佛教) Cũng gọi Nam phương Phật giáo, Nam truyền Thượng tọa bộ. Phật giáo Nam truyền. Phật giáo phát sinh ở Ấn độ, về sau được truyền bá ra nước ngoài và chia thành 2 dòng phái chính, dòng phái truyền đến vùng Đông Nam á, bao gồm các nước: Tích lan, Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... tức là Nam truyền Phật giáo. Nam truyền Phật giáo chủ yếu chỉ cho nền Phật giáo thịnh hành tại 5 nước nói trên và lấy giáo đoàn Thượng tọa bộ thuộc phái Đại tự của Tích lan làm truyền thừa; dòng phái còn lại thì trải qua vùng Trung á rồi truyền đến Trung quốc, Việt nam, Hàn quốc, Nhật bản là thuộc về Bắc truyền Đại thừa Phật giáo. Điểm bất đồng lớn nhất giữa 2 dòng phái là: Ba tạng kinh điển của Nam truyền Phật giáo lấy tạng Luật làm chính, viết bằng tiếngPàli, vì tín đồ Nam truyền Phật giáo trọng thực tiễn nên chủ trương giới luật trên hết, tạng kinh gọi chung là Thanh văn tạng. Còn Tam tạng kinh của Bắc truyền Phật giáo thì lấy tạng Kinh làmđầu, ghi chép bằng tiếng Phạm và gọi chung tạng kinh là Bồ tát tạng. Vào giữa thế kỉ III trước Tây lịch, Trưởng lão Ma hi đà, con vua A dục của Ấn độ, đến truyền pháp ở đảo Tích lan, Phật giáo phát triển nhanh chóng, trong 200 năm, Đại tự được dùng làm trung tâm thống nhất giáo đoàn. Đến thế kỉ I trước Tây lịch thì giáo đoàn bị chia ra 2 phái Đại tự và Vô úy sơn; phái Đại tự kiên trì bảo thủ Phật giáo Thượng tọa bộ truyền thống, phái Vô úy sơn thì dung nạp Phật giáo Đại thừa, 2 phái đối lập cả nghìn năm. Đồng thời (thế kỉ I trước Tây lịch), các vị Trưởng lão phái Đại tự tổ chức kết tập lần thứ 4 của Phật giáo Thượng tọa bộ, lần đầu tiên ghi chép Tam tạng Phật giáo Thượng tọa bộ thành sách bằng tiếngPàli. Đến thế kỉ V Tây lịch, Luận sư Phật âm (Pàli: Buddhaghowa) chú thích Tam tạng tại Đại tự, đặt nền tảng cho phái Đại tự và hình thành Nam truyền Phật giáo. Căn cứ vào những cổ vật đào được cho thấy, thì xưa kia ở vùng ĐôngNam á, Phật giáo Tiểu thừa, Đại thừa song song tồn tại và thay nhau hưng phế; nhưng thế lực của Thượng tọa bộ Nam truyền mạnh nhất, có ảnh hưởng rất lớn, cho nên đến khoảng thế kỉ XIV thì Phật giáo các nước Miến điện, Thái lan, Cao miên, Lào... đã hoàn toàn lấy Phật giáo Thượng tọa bộ Tích lan làm truyền thừa. Đến thế kỉ XIX, Phật giáo Thượng tọa bộ ở Tích lan chia ra thành các biệt phái như: Phái Xiêm la, phái A ma la phổ la và phái La mạn na; ở Miến điện chia thành các phái: Thiện pháp, Thụy cầm và Môn phái. Tại Thái lan, Cao miên, Lào thì chia thành các phái: Pháp tương ứng bộ và Đại bộ. Đặc sắc của Nam truyền Phật giáo đại khái ở 4 phương diện sau đây: Bộ phái, kinh sách, học thuyết và thực tiễn. I. Về bộ phái: Giữ nguyên hình thái giống như Pháp tạng bộ trong hệ thống Thượng tọa bộ, nhưng về học thuyết thì không phải thuần túy chính tông của Thượng tọa bộ, nên các sử gia Phật giáo Ấn độ coi Nam truyền Phật giáo chỉ là biệt truyền của Thượng tọa bộ và thường dùng danh xưng Phân biệt thuyết để khu biệt. Dựa theo bộ Luận sự trong 7 bộ Tì đàm của phương Nam, ta có thể thấy chủ trương của Nam truyền Phật giáo như sau: 1. Các pháp ở quá khứ và vị lai không có thực thể. 2. Chẳng phải tất cả đều thực có. 3. Tu pháp Tứ đế có thể đạt được Hiện quán nhanh chóng. 4. Nhất định không có Trung hữu. 5. A la hán không có chuyển lui. 6. Không có Bổ đặc già la chân thực. II. Về kinh sách: Có 7 bộ luận, thứ tự là: Pháp tập, Phân biệt, Giới, Nhân thi thiết, Song, Phát thú và Luận sự. Ngoại trừ Luận sự, 6 bộ còn lại tương truyền đều do đức Phật nói. Những bộ luận này là do các phần trong Xá lợi phất tì đàm phát triển, biến hóa mà thành. III. Về học thuyết thì có: 1. Thuyết tâm tính vốn thanh tịnh: Chủ trương do lìa tâm ô nhiễm mà được giải thoát. 2. Thuyết Phật đạo bất cộng: Thanh văn bắt đầu từ sự chán lìa, còn Phật thì bắt đầu với lòng từ bi, cho nên sự phát triển không giống nhau. 3. Quan niệm về đức Phật: Lấy đức Phật lịch sử làm chính, chứ không lí tưởng hóa đức Phật như sự trình bày của Đại chúng bộ. Tuy nhiên, đức Phật là sự tồn tại siêu việt, cho nên không chỉ ở đời này, mà trong quá khứ đã nhiều kiếp tích tập hạnh Bồ tát, đầy đủ 32 tướng, 18 pháp bất cộng, giáo hóa hết thảy chúng sinh. IV. Về thực tiễn: Nam truyền Phật giáo có 1 hệ thống tổ chức trình bày giáo pháp rất hoàn bị, về Luận thì trước hết có luận Giải thoát đạo do ngài Ưu ba đề sa chú thích, kế đến là luận Thanh tịnh đạo của tôn giả Giác âm. Thanh tịnh đạo y theo thứ tự Tam học giới, định, tuệ, lấy định học làm trung tâm, bắt đầu thực hành từ Thập biến xứ (đặc biệt là từ Địa biến xứ), có công năng đạt đến 4 loại Thiền định. Ngoài 10 biến xứ ra,còn có 10 bất tịnh quán, 10 tùy niệm, 4 phạm trụ, 4 vô sắc, thực yếm quán và giới sai biệt quán, tất cả có 40 nghiệp xứ, tùy theo tính cách bất đồng của người học mà có nghiệp xứ thích hợp khác nhau. Những học pháp này thực có chỉ thú khác xa với Bắc phương vốn lấy biến xứ... làm công đức thiền định. [X. Lược luận Nam phương Thượng tọa bộ Phật học (Lữ trừng); Nam truyền Phật giáo sử tự (Tịnh hải)].

nam truyện đại tạng kinh

(南傳大藏經) Cũng gọi Pàli Tam tạng. Chỉ cho Đại tạng kinh tiếng Pàli do Thượng tọa bộ Tích lan truyền. Nguyên bản chỉ gọi là Tam tạng (Pàli: Ti-piỉaka). Sau khi đức Thích tôn nhập diệt, các vị đệ tử, do ngài Ma ha Ca diếp làm Thượng thủ, kết tập Tam tạng lần thứ nhất. Đến thời vua A dục, ngài Mục kiền liên tử đế tu (Pàli: Moggaliputta-tissa) kết tập lần thứ 2, biên tập Luận sự. Vương tử Ma hi đà (Pàli: Mahinda) lại truyền đến đảo Tích lan. Niên đại thành lập các điển tịch trong Nam truyền Đại tạng kinh hiện còn không giống nhau, niên đại thành lập muộn nhất được suy đoán là vào thế kỉ II đến thế kỉ I trước Tây lịch. Nội dung như sau: I.Tì ni tạng (Pàli: Vinaya-piỉaka), tức Luật tạng: 1. Kinh phân biệt (Pàli: Suttavibhaíga).* 2. Kiền độ (Pàli: Khandhaka).* 3. Hậu thiên (Pàli: Parivàra). II. Tu đa la tạng (Pàli: Sutta-piỉaka), tức Kinh tạng: 1. Trường bộ (Pàli: Dìgha-nikàya).* 2. Trung bộ (Pàli: Majjhima-nikàya).* 3. Tương ứng bộ (Pàli: Saôyuttanikàya).* 4. Tăng chi bộ (Pàli: Aíguttaranikàya).* 5. Tiểu bộ (Pàli: Khuddaka-nikàya). Trong Tiểu bộ gồm có 15 loại kinh điển: 1. Pháp cú (Pàli: Dhamma-pada).* 2. Thí dụ (Pàli: Apadàna). 3. Tự thuyết (Pàli: Udàna). 4. Như thị ngữ (Pàli: Itivuttaka).* 5. Kinh tập (Pàli: Sutta-nipàta). 6. Thiên cung sự (Pàli: Vimànavatthu). 7. Ngã quỉ sự (Pàli: Peta-vatthu). 8. Trưởng lão kệ (Pàli: Thera-gàthà). 9. Trưởng lão ni kệ (Pàli: Therì-gàthà). 10. Bản sinh (Pàli: Jàtaka). 11. Nghĩa thích (Pàli: Niddesa). 12. Vô ngại giải đạo (Pàli: Paíisambhidà-magga). 13. Phật chủng tính (Pàli: Buddhavaôsa). 14. Sở hành tàng (Pàli: Cariyà-piỉaka). 15. Tiểu tụng (Pàli: Khuddaka-pàỉha). III. A tì đàm tạng (Pàli: Abhidhamma -piỉaka), tức Luận tạng: 1. Pháp tập luận (Pàli: Dhammasaígaịi). 2. Phân biệt luận (Pàli: Vibhaíga). 3. Giới luận (Pàli: Dhàtu-kathà). 4. Nhân thi thiết luận (Pàli: Puggalapaĩĩatti). 5. Song luận (Pàli: Yamaka). 6. Phát thú luận (Pàli: Paỉỉhàna). 7. Luận sự (Pàli: Kathà-vatthu). (Dấu hoa thị* là chỉ cho những kinh tương đương với các kinh trong Đại tạng Hán dịch hiện còn). Khoảng thế kỉ I trước Tây lịch mới có chú thích Nam truyền Đại tạng kinh. Khi Phật giáo Thượng tọa bộ thuộc Nam truyền được du nhập các nước vùng Đông nam á, thì lại sản sinh ra các Tạng kinh bằng chữ bản xứ như Miến điện, Thái lan, v.v... Năm 1881, nước Anh thành lập Hiệp hội Thánh điển Pàli (PàliText Society), đem Đại tạng kinh Nam truyền và phần lớn chú thích hiệu đính lại rồi xuất bản bằng chữ La tinh, đồng thời ấn hành cả bản dịch tiếng Anh. Về phía Nhật bản thì năm 1935 đến năm 1941, hội Kỉ niệm công tích của Tiến sĩ Cao nam đã phiên dịch Tam tạng Pàli do Hiệp hội Thánh điển Pàli xuất bản sang tiếng Nhật và ấn hành, tựa đề là Nam Truyền Đại Tạng Kinh, toàn bộ gồm 70 tập, trong đó có 1 số kinh điển ngoài tạng. Các bản chú thích ngoài tạng thì có: Tam tạng trực tiếp chú (Pàli: Aỉỉhakathà), Phục chú (Pàli: Ỉìkà), Phục chú chi chú (Pàli: Anuỉìkà). Các sách ngoài tạng thì có: Cương yếu thư, Sử truyện thư... (xt. Đại Tạng Kinh).

nam tuyền

Nam Tuyền, đệ tử của ngài Mã Tổ—Nan-Ch'uan, a monk of the T'ang dynasty around 800, a disciple of Ma-Tzu. ** For more information, please see Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư.

nam tuyền bạch cổ

(南泉白牯) Cũng gọi Nam tuyền li nô bạch cổ. Tên công án trong Thiền tông. Mèo nhà trâu trắng. Nội dung công án này là lời ngài Nam tuyền Phổ nguyện dạy đại chúng. Tắc 69 trong Thung dung lục (Đại 48, 270 trung) chép: Ngài Nam tuyền dạy chúng rằng: Chư Phật 3 đời chẳng biết mà li nô bạch cổ lại biết.

nam tuyền liêm tử

(南泉鐮子) Tên công án trong Thiền tông. Cái liềm của ngài Nam tuyền. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam tuyền Phổ nguyện và 1 vị tăng. Có lần, ngài Nam tuyền Phổ nguyện đang làm việc trên núi, có vị tăng hành cước muốn đi thăm Nam tuyền (tên 1 dòng suối),đến gần hỏi (Vạn tục 138, 47 hạ): Đường đến Nam tuyền đi hướng nào? Ngài Nam tuyền giơ cái liềm lên nói: Cái liềm cắt cỏ của ta mua 30 tiền. Vị tăng nói: Không hỏi cái liềm cắt cỏ, chỉ hỏi đường đến Nam tuyền đi về hướng nào? Ngài Nam tuyền nói: Ta sử dụng nó rất sắc! [X. chương Nam tuyền Phổ nguyện trong Ngũ đăng hội nguyên Q.3].

nam tuyền ngoạn nguyệt

(南泉玩月) Tên công án trong Thiền tông. Nam tuyền ngắm trăng. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Nam tuyền Phổ nguyện và Thiền sư Triệu châu Tùng thẩm. Thiền uyển mông cầu quyển thượng (Vạn tục 148, 107 thượng) chép: Có lần ngài Nam tuyền đang ngắm trăng, Thiền sư Triệu châu hỏi: Bao giờ có được thời tiết giống như lúc này? Ngài Nam tuyền nói: Hai mươi năm trước, Vương lão sư cũng từng như thế này.

Nam Tuyền Phổ Nguyện

(南泉普願, Nansen Fugan, 748-834): vị Thiền tăng xuất thân vùng Tân Trịnh (新鄭), Trịnh Châu (鄭州, thuộc Tỉnh Hà Nam), họ là Vương (王). Vào năm thứ 2 (757) niên hiệu Chí Đức (至德), ông xin cha mẹ đến xuất gia tu học với Đại Huệ (大慧) ở Đại Ôi Sơn (大隈山), Mật Huyện (密縣, thuộc Tỉnh Hà Nam). Vào năm thứ 12 (777) niên hiệu Đại Lịch (大曆), lúc 30 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới với Cảo Luật Sư (暠律師) ở Hội Thiện Tự (會善寺) vùng Tung Nhạc (嵩岳, Tỉnh Hà Nam). Ban đầu ông học về tánh tướng rồi đến Tam Luận, v.v., nhưng sau ông ngộ được yếu chỉ rằng huyền cơ vốn nằm ngoài kinh luận, nên ông đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và kế thừa dòng pháp của vị này. Đến năm thứ 11 (795) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông dừng tích trú tại Nam Tuyền Sơn (南泉山), vùng Trì Dương (池陽, thuộc Tỉnh An Huy), xây dựng Thiền viện, thường mang nón lá chăn trâu, vào trong núi đốn cây, cày ruộng, cổ xướng Thiền phong của mình, tự xưng là Vương Lão Sư và suốt trong vòng 30 năm không hề hạ sơn một lần. Vào đầu niên hiệu Thái Hòa (太和, 827-835), vị Thái Thú xưa kia của Trì Dương là Lục Hoàn (陸亘) đến tham bái Nam Tuyền, rồi tôn vị này làm thầy mình. Chính ông đã giáo hóa khá nhiều đồ chúng nổi danh như Triệu Châu Tùng Thẩm (趙州從諗), Trường Sa Cảnh Sầm (長沙景岑), Tử Hồ Lợi Túng (子湖利蹤), v.v. Vào ngày 21 tháng 10 năm thứ 8 niên hiệu Thái Hòa (太和), ông cáo bệnh và vào ngày 25 tháng 12 cùng năm trên, ông thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi đời và 57 hạ lạp. ; 南泉普願; C: nánquán pǔyuàn; J: nansen fu-gan; 738-835;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ lừng danh của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư và là thầy của một học trò không kém uy dũng là Triệu Châu Tòng Thẩm. Ngoài Triệu Châu ra, Sư còn 17 đệ tử nối pháp nhưng không ai vượt qua pháp lực của hai vị Triệu Châu và Trường Sa Cảnh Sầm. Sư được nhắc đến nhiều trong các tập công án như Bích nham lục (công án 28, 31, 40, 63,64) và Vô môn quan (14, 19, 27, 34).|Sư họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, xuất gia từ nhỏ. Trước khi đến tham vấn Mã Tổ, mong đạt được yếu chỉ »giáo ngoại biệt truyền«, Sư đã học kĩ giáo lí của Pháp tướng, Tam luận và Hoa nghiêm tông. Ðến Mã Tổ, Sư bỗng dưng đại ngộ, »được cá quên nơm«.|Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng, Mã Tổ hỏi: »Trong thùng này, thông là cái gì?« Sư đáp: »Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?« Mã Tổ nghe vậy bèn thôi.|Rời Mã Tổ, Sư đến núi Nam Tuyền cất am ở ẩn, hơn 30 năm không xuống núi. Sau đó, một vị quan lên thỉnh Sư xuống dạy pháp và từ đây, học giả bốn phương đua nhau đến. Những lời dạy hùng dũng, có lúc lại »ngược«, mâu thuẫn với lời của những vị Thiền sư khác của Sư được nhiều người trong giới thiền hâm mộ và lấy đó làm Thoại đầu.|Sư thượng đường: »Các ngươi, Lão tăng lúc mười tuổi đã biết kế sống, có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng người ấy thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.« Sư lặng thinh giây lâu nói: »Vô sự! Trân trọng! Mỗi người đều tu hành.« Ðại chúng vẫn ngồi yên, Sư bảo: »Huynh đệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lão tăng nói ›Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo‹ bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.«|Có vị tăng hỏi Sư: »Trong hư không có một hạt châu là sao lấy được?« Sư bảo: »Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.« Tăng hỏi: »Trong hư không làm sao bắc thang?« Sư hỏi lại: »Ngươi nghĩ thế nào lấy?«|Sư sắp tịch, một vị tăng hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?« Sư bảo: »Làm con trâu dưới núi.« Tăng hỏi: »Con theo Hoà thượng được chăng?« Sư đáp: »Nếu ngươi muốn theo ta phải ngậm theo một bó cỏ.« Niên hiệu Thái Hoà thứ tám, ngày rằm tháng hai, Sư có chút bệnh bảo chúng: »Sao che đèn huyễn lâu vậy, chớ bảo ta có đi lại!« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 87 tuổi. Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Trịnh Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền sư quảng lục.

nam tuyền phổ nguyện thiền sư

Nan-Ch'uan-Pu-Yuan 749-835—Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện sanh năm 749, là đệ tử của Mã Tổ và là thầy của Triệu Châu. Nam Tuyền là một trong những thiền sư lớn của Trung Quốc vào thời nhà Đường. Nam Tuyền đã nghiên cứu sâu xa triết học Phật giáo, đặc biệt là triết thuyết của các phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Tam Luận của Trung Quốc. Khi ông đến học với Mã Tổ Đạo Nhất, ông đạt được đại giác thâm sâu—Zen master Nan-Ch'uan-Pu-Yuan was born in 749 A.D., was a disciple of Ma Tsu (Mã Tổ) and a teacher of Zhao-Chou. Nan-Ch'uan, one of the great Chinese Zen masters of the T'ang dynasty. Nan-Ch'uan already had a period of intensive study of Buddhist philosophy behind him, including the teachings of the Fa-Hsiang, Hua-Yen, and San-Lun doctrines of Chinese Buddhism. When he came to Ma-Tsu, under whose guidance he realized profound enlightenment. • Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với Mã Tổ, người ta nói sư đã đạt được Du hý tam muội (chánh định ngao du tự tại)—At his first meeting with Ma-Tsu, he is said to have “instantly forgot the net of delusions and delighted in samadhi.” • Một hôm, sư bưng cháo cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi: “Trong thùng thông là cái gì?” Sư thưa: “Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?”—One day, Nan-Ch'uan was serving rice gruel to the monks from a bucket, Ma-Tsu asked: “What's in the bucket?” Nan-Ch'uan said: “The old monk should close his mouth and say this!” • Năm 795, sau khi được Mã Tổ truyền pháp, sư đến núi Nam Tuyền cất am, lấy tên ngọn núi nầy làm tên mình, và ở mãi hơn ba mươi năm chưa từng xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm 827. Liêm sứ thành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong của sư bèn cùng Giám quân, và nhiều thiền sư khác trong vùng đồng đến thỉnh sư xuống núi, với tư cách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, sư mở rộng đạo huyền, số người tham học không khi nào dưới vài trăm—In 795, after gaining transmission from Ma-Tsu, Nan-Ch'uan built a solitary hut on Mount Nan-Ch'uan in Chi-Chou, from which his naem is derived, and remained there for more than thirty years practicing Zen. In 827, a high-ranking official named Lu-Kung and some Zen monks persuaded and invited Nan-Ch'uan to descend from the mountain and honoured him by becoming his student. Due to this event, Nan-Ch'uan's reputation spread widely and students numbering in hundreds came to study under him. • Sư dạy chúng: “Mã Tổ ở Giang Tây nói 'Tức tâm tức Phật,' Vương lão sư chẳng nói thế ấy, mà nói 'Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật,' nói thế có lỗi chăng?” Triệu Châu lễ bái lui ra—Once, Zen master Nan-Ch'uan said: “Ma-Tsu of Jiang-Xi said: 'Mind is Buddha.' But old teacher Wang doesn't talk that way. It's not mind, it's not Buddha, it's not a thing. Is there any error in speaking thus?” Zhao-Chou bowed and went out. • Nhà Đông nhà Tây tranh nhau hai con mèo, sư trông thấy liền bảo chúng: “Nói được là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.” Chúng Tăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo. Triệu Châu ở ngoài đi vào. Sư dùng câu nói trước hỏi. Triệu Châu liền cỡi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo: “Giá khi nảy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.”—The monks of the eastern and western halls were arguing about a cat. Nan-Ch'uan picked it up and said to the monks: “Say the appropriate word and you'll save the cat. If you don't say the appropriate word then it gets cut in two!” The monks were silent. Nan-Ch'uan cut the cat in two. Later, Zhao-Chou returned from outside the temple and Nan-Ch'uan told him what had happened. Zhao-Chou then removed his sandals, placed them on his head and went out. Nan-Ch'uan said: “If you had been there, the cat would have been saved.” • Sư thượng đường dạy chúng: “Phật Nhiên Đăng nói: 'Nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp là hư giả chẳng thật.' Vì cớ sao? Vì tâm còn không có, lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới mà muốn được đầy hơi. Cho nên lão túc bảo: 'Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.' Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc. Nói: 'Bồ Tát Thập Địa trụ chánh định Thủ Lăng Nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe Đại Pháp, vào Niết Bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chơn lông, nói một câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu vi tế. Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rất khó! Rất khó! Trân trọng.”—Zen Master Nan-Ch'uan-Pu-Yuan entered the hall and addressed the monks, saying: “Dipamkara Buddha said: 'The arising in mind of a single thought gives birth to the myriad things.' 'Why is it that phenomenal existence is empty? If there is nothing within mind, then how does one explain how the myriad things arise? Isn't it as if shadowy forms differentiate emptiness? This question is like someone grasping sound and placing it in a box, or blowing into a net to fill the air. Therefore some old worthy said: 'It's not mind. It's not Buddha. It's not a thing.' Thus we just teach you brethren to go on a journey. It's said that Bodhisattvas who have passed through the ten stages of development and attained the Surangama Samadhi and the profound Dharma store-house of all Buddhas naturally realize the pervasive wondrous liberation of Zen samadhi. Throughout all worlds the form-body is revealed, and the highest awakening is manifested. The great Wheel of Dharma is turned, nirvana is entered, and limitless space can be placed in the hole on the point of a feather. 'Although a single phrase of scripture is recited for endless eons, its meaning is never exhausted. It's teaching transports countless billions of beings to the attainment of the unborn and enduring Dharma. And that which is called knowledge or ignorance, even in the very smallest amount, is completely contrary to the Way. So difficult! So difficult!. Take care!" • Một trong những công án gây ấn tượng mạnh nhất về Nam Tuyền được ghi trong thí dụ 40 Bích Nham Lục. Đại sư Lục Hoàn nói với Nam Tuyền trong cuộc trò chuyện. Lục Hoàn hỏi, “Triệu Pháp sư nói 'Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta một thể,' thật là kỳ quái! Nam Tuyền chỉ một bông hoa trong vườn rồi nói với Đại Sư, “Thời nhân thấy gốc hoa nầy giống như cơn mộng.”—One of the most impressive koans with Nan-Ch'uan is example 40 of the Pi-Yen-Lu. Lu-Huan Tai-Fu said to Nan-Ch'uan in the course of their conversation, “Chao the Dharma teacher said, 'Heaven and Earth and I have the same root; the ten thousand things and I are one body.' Absolutely wonderful! Nan-Ch'uan, pointing to a blossom in the garden said, “The man of our times sees this blossoming bush like someone who is dreaming.” • Nam Tuyền còn nổi tiếng về những châm ngôn sinh động và những thuật ngữ trái nghịch được ông dùng để đào tạo đệ tử. Có lúc ông tuyên bố có vẻ đi ngược lại với thầy Mã Tổ của mình như: “Ý thức không phải là Phật; nhận thức không phải là đường đi (Vô Môn Quan 34)—Nan-Ch'uan was famous for his vivid expressions and paradoxical pronouncements in the course of Zen training, come a number of much-cited Zen sayings. Thus, in apparent contradiction of his master Ma-Tsu, such as “Consciousness is not Buddha, knowledge is not the way.” (Wu-Men-Kuan 34). • Một thí dụ nổi tiếng khác trong Vô Môn Quan 27 cũng được biết tới, “Con đường không phải là tinh thần, không phải là Phật, cũng không phải là sự vật.”—Another equally well known is example 27 of the Wu-Men-Kuan: “The way is not mind, it is not Buddha, it is not things.” • Nam Tuyền có 17 người kế vị Pháp, trong đó Triệu Châu Tùng Thẩm và Trường Sa Cảnh Sầm là hai đệ tử lớn—Nan-Ch'uan had seventeen dharma successors, among them Chao-Chou-Tsung-Shen and Ch'ang-Sha-Ching-Tsen were two most prominent disciples. • Nam Tuyền được nhắc tới trong các thí dụ 14, 19, 27 và 34 của Vô Môn Quan, cũng như trong các thí dụ 28, 31, 40, 63, 64 và 69 của Bích Nham Lục—Nan-Ch'uan appears in examples 14, 19, 27, and 34 of the Wu-Men-Kuan, and in examples 28, 31, 40, 63, 64 and 69 of the Pi-Yen-Lu. • Những châm ngôn thuyết giảng của Nam Tuyền được thu thập vào Trịnh Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư Quang Lục—Nan-Ch'uan's comments and instructions are recorded in the Ch'ing-Chou-Nan-Ch'uan-Pu-Yuan-Ch'an-Shih Kuang-Lu or Great Collection of the Words of the Ch''n Master Nan-Chuan-Pu-Yuan from Ch'ing-Chou. • Sư thị tịch năm 834—He died in 834.

nam tuyền sơn

(南泉山) Núi ở huyện Quí trì, tỉnh An huy, Trung quốc. Ngài Nam tuyền Phổ nguyện, đệ tử nối pháp của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất, sau khi được ấn khả, đã đến trụ ở núi này, hơn 30 năm không xuống núi. Sau nhận lời thỉnh cầu của quan Thái thú quận Trì dương là Lục công cự và Hộ quân Bành thành là Lưu công, ngài bèn hạ sơn để xiển dương tông phong, tăng tục về tụ tập rất đông, chúng thường có tới vài trăm người.

nam tuyền thạch phật

(南泉石佛) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này là nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Nam tuyền Phổ nguyện và đệ tử nối pháp là Lục cắng đại phu. Một hôm, Lục cắng hỏi ngài Nam tuyền: Trong nhà đệ tử có một phiến đá, từng ngồi nằm trên đó, nay đệ tử muốn dùng nó để tạc tượng Phật, có được không? Ngài Nam tuyền đáp: Được! Được! Lục cắng lại hỏi: Vậy không có vật nào không được à? Ngài Nam tuyền trả lời: Không được! Không được!.

nam tuyền trảm miêu

(南泉斬猫) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại sự tích ngài Nam tuyền Phổ nguyện chém mèo (trảm miêu) khai thị cho đại chúng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 8 (Đại 51, 258 thượng) chép: Chúng ở Đông đường và Tây đường tranh nhau con mèo, sư gặp, liền bảo với chúng rằng: Nói được thì cứu mèo, nói không được thì chém đầu mèo. Trong chúng không ai đáp được, sư liền chặt đầu con mèo! Lúc đó, ngài Triệu châu từ bên ngoài trở về, sư bèn hỏi Triệu châu câu hỏi vừa rồi, ngài Triệu châu liền tháo giày để lên đầu mà đi ra. Sư nói: Lúc nãy, nếu ông ở đây thì đã cứu được con mèo.

Nam Tào

(南曹): tức Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), là vị thiên thần rất quan trọng trong Đạo Giáo, chưởng quản chùm sao Nam Đẩu, ở phương Nam. Có thuyết cho rằng chùm sao này trông coi về thọ mạng ngắn dài của nhân loại, cho nên có câu: “Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử (南斗注生、北斗主死, Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết).” Trong Sưu Thần Ký (搜神記) quyển 3 của Can Bảo (干寶, ?-336) nhà Đông Tấn có ghi lại câu chuyện Nam Đẩu Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân ban tặng thêm tuổi thọ cho người phàm. Quản Lộ tự Công Minh (公明), vốn người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264) diện mạo xấu xí, thích uống rượu. Từ bé, Lộ ham xem thiên văn, thường đêm nằm nhìn trăng sao, thao thức không chớp mắt, cha mẹ ngăn cấm không được. Vừa lớn lên, Quản Lộ đã làu thông Kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng. Nhân khi Quản Lộ (管輅) đến Bình Nguyên, thấy khuôn mặt của Nhan Siêu (顏超) hiện rõ nét sẽ chết yểu; nhân đó cha họ Nhan bèn van xin Lộ làm cho kéo dài thêm mạng sống. Lộ bảo rằng: “Khi con ông về, hãy tìm loại rượu trắng, một cân thịt nai luộc chín, trứng, đem đến dưới cây dâu lớn phía Nam, nơi ấy có hai người đang ở đó, cứ rót rượu rồi đặt thịt luộc xuống; họ uống hết thì rót thêm. Nếu họ hỏi ông thì ông cứ vái lạy, đừng nói lời nào cả, ắt hai người đó sẽ cứu người.” Họ Nhan làm đúng theo lời dặn, quả nhiên thấy có hai người đang ngồi đánh cờ, bèn lẳng lặng đặt rượu thịt xuống trước mặt họ. Hai người say mê chơi, chỉ biết uống rượu ăn thịt, chẳng thèm nhìn xem thử ai ngồi một bên mình, rồi dần dần vừa đánh vừa ăn uống hết cả rượu thịt một cách ngon lành. Lúc bấy giờ, Nhan mới khóc òa lên và lạy lục xin cầu thọ. Hai ông giựt nẩy mình nhìn lại. Đột nhiên, người ngồi phía Bắc ngước lên nhìn thấy họ Nhan, bèn hỏi: “Làm gì đến đây ?” Họ Nhan chỉ cúi đầu vái lạy. Người ngồi ở phía Nam chợt nói: “Đã uống rượu, ăn thịt người ta rồi, sao lại không có chuyện được chứ ?” Người phía Bắc bảo: “Hồ sơ đã định rồi.” Người phía Nam nói: “Cứ mượn hồ sơ xem sao.” Xem qua mới biết Nhan Siêu chỉ sống đến 19 tuổi, họ bèn lấy bút phê rằng: “Cứu nhữ chí cửu thập niên hoạt (救汝至九十年活, cứu ngươi sống đến chín mươi tuổi).” Họ Nhan vái lạy tạ ơn trở về. Quản Lộ bảo họ Nhan rằng: “Bắc biên tọa nhân thị Bắc Đẩu, Nam biên tọa nhân thị Nam Đẩu; Nam Đẩu chú sanh, Bắc Đẩu chủ tử; phàm nhân thọ thai, giai tùng Nam Đẩu quá Bắc Đẩu (北邊坐人是北斗、南邊坐人是南斗、南斗注生、北斗主死、凡人受胎、皆從南斗過北斗, người ngồi ở phía Bắc là Bắc Đẩu, người ngồi ở phía Nam là Nam Đẩu; Nam Đẩu trông coi về sự sống, Bắc Đẩu chủ quản về việc chết; người phàm thọ thai, đều từ Nam Đẩu qua Bắc Đẩu).” Trong Nam Đẩu Lục Ty Diên Mạng Độ Nhân Diệu Kinh (南斗六司延壽度人妙經) của Đạo Giáo có nêu tên 6 vị tinh quân của chùm sao Nam Đẩu này là: Nam Đẩu Đệ Nhất Thiên Phủ Ty Mạng Thượng Tướng Trấn Quốc Chơn Quân (南斗第一天府司命上相鎭國眞君), Nam Đẩu Đệ Nhị Thiên Tướng Ty Lục Thượng Tướng Trấn Nhạc Chơn Quân (南斗第二天相司錄上相鎭嶽眞君), Nam Đẩu Đệ Tam Thiên Lương Diên Mạng Bảo Mạng Chơn Quân (南斗第三天梁延壽保命眞君), Nam Đẩu Đệ Tứ Thiên Đồng Ích Toán Bảo Sanh Chơn Quân (南斗第四天同益算保生眞君), Nam Đẩu Đệ Ngũ Thiên Xu Độ Ách Văn Xương Luyện Hồn Chơn Quân (南斗第五天樞度厄文昌鍊魂眞君), Nam Đẩu Đệ Lục Thiên Cơ Thượng Sanh Giám Bộ Đại Lý Chơn Quân (南斗第六天機上生監簿大理眞君). Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển của Cao Đài Giáo Việt Nam có câu: “Vạn trượng then gài ngăn Bắc Đẩu, muôn trùng nhíp khảm hiệp Nam Tào.” Hay trong Kinh Tụng Huynh Đệ Mãn Phần của đạo này cũng có câu: “Rủi thiên số Nam Tào đã định, giải căn sinh xa lánh trần ai.”

Nam Tông

(南宗): tên gọi một phái Thiền Phật Giáo của Trung Quốc. Dưới thời nhà Đường, Thần Hội (神會) gọi Thần Tú (神秀, 606-706, thầy xưa kia của ông) và chúng đệ tử của vị này là Bắc Tông và phê phán dòng phái này. Đối lập với phái này, ông tự xưng là Nam Tông và chủ trương lập trường đốn ngộ. Đến cuối đời, Thần Tú được Tắc Thiên Võ Hậu (則天武后, tại vị 684-705) thỉnh vào cung nội; từ đó ông được hoàng triều tôn sùng, hàng môn đệ của ông cũng nhờ vậy mà được đế thất bảo hộ và hàng quan lại hộ trì. Thần Hội công khai phê phán Bắc Tông; đến trú trì Hà Trạch Tự (荷澤寺) ở Lạc Dương (洛陽) và tiếp tục công kích Bắc Tông. Chính ông cho rằng Phật pháp chân truyền là Lục Tổ Huệ Năng (慧能hay惠能, Enō, 638-713), rồi phê phán Thần Tú, người được tôn sùng là Lục Tổ; và nhân vì Huệ Năng truyền bá giáo pháp ở phương Nam nên ông mới tự xưng lập trường của mình là Nam Tông. Do hoạt động của Thần Hội, thể theo mệnh lệnh của chính phủ, ông bị đuổi ra khỏi Lạc Dương một thời gian; đến năm 755 (Thiên Bảo [天寶] 14), nhân phát sinh vụ Loạn An Lộc Sơn (安祿山) và kèm theo Chế Độ Hương Thủy Tiền (香水錢制度), ông mới được phép trở về Lạc Dương. Về sau, Thần Hội dốc hết toàn lực bố giáo và được rất nhiều người thuộc các tầng lớp ủng hộ. Nam Tông của Thần Hội lấy Hà Trạch Tự làm cứ điểm hoạt động rất hưng thịnh, nên tông này còn có tên gọi khác là Hà Trạch Tông. Sau khi vị tông tổ qua đời, tông phái nhanh chóng suy tàn, và đến năm 845 (Hội Xương [會昌] 5), nhân nạn Phế Phật Hội Xương, cùng với hệ thống Bắc Tông, Nam Tông cũng bị tiêu diệt khỏi lịch sử. Trong Thiền Tông Trung Quốc, chư vị Thiền tăng kế thừa dòng pháp của Lục Tổ Huệ Năng đã tích cực hoạt động giáo hóa, từ thời nhà Đường đến nhà Tống, hình thành nên các dòng phái chủ yếu gọi là Ngũ Gia Thất Tông (五家七宗); nhờ vậy Phật Giáo Trung Quốc đã tiến đến hồi cực thịnh. Bàn về Huệ Năng cũng như Nam Bắc Tông Luận, có một số tác phẩm như Lục Tổ Đàn Kinh (六祖檀經), v.v., được lưu truyền rộng rãi, và các Thiền tăng đời sau này tiếp tục nhận thức cho rằng hệ thống của mình là Nam Tông, kéo dài mãi cho đến hiện tại. Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng chính vì Hà Trạch Tông bị tiêu diệt, nên Nam Tông mới tồn tại cho đến ngày nay. Nam Tông còn là tên gọi tắt của Nam Tông Thiền.

nam tông

Nam Tông, hay trường phái Đạt Ma chia làm hai phái bắc nam, bắc Thần Tú, nam Huệ Năng, vào khoảng năm 700 sau Tây Lịch—The Southern sect, or Bodhidharma school, divided into northern and southern, the northern under Shen-Hsiu, the southern under Hui-Neng, around 700 A.D.

Nam tông thiền

南宗禪; C: nánzōng-chán; J: nanshū-zen;|Thiền tông do Lục tổ Huệ Năng sáng lập sau Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Bắc tông thiền được Thần Tú Thiền sư khai sáng nhưng sau vài đời tàn rụi. Vì chia ra hai phái như vậy nên người ta thường gọi »Nam Năng, Bắc Tú« (南能北秀).

nam tông thiền

(南宗禪) Đối lại: Bắc tông thiền. Cũng gọi: Nam thiền, Nam tông. Phái Thiền ở phương Nam. Pháp mạch của Tổ Bồ đề đạt ma truyền đến sau Ngũ tổ Hoằng nhẫn thì chia làm 2 nhánh: Tuệ năng và Thần tú. Ngài Tuệ năng hoằng dương tông phong ở phương Nam, còn ngài Thần tú thì dựng pháp chàng(cờ pháp) ở phương Bắc, do đó nên có từ ngữ Nam Năng Bắc Tú. Thiền phong của Nam tông hoàn toàn thoát khỏi giáo thuyết, không rơi vào danh tướng, không bị kẹt trong ngôn từ, đề xướng tu chứng bất nhị, mê ngộ nhất như; chủ trương diệu tâm của bản giác vốn tự thành, tự sáng, phiền não vọng niệm chẳng phải có thật; vì thế nêu cao pháp đốn ngộ: Một bước nhảy thẳng vào đất Như lai. Đời sau gọi là Nam đốn, cũng gọi là Tổ sư thiền. Tông này về sau cực thịnh, lại chia thành 5 nhà 7 tông, vì thế người đời sau cho Nam tông là chính tông của Thiền và tôn ngài Tuệ năng là tổ thứ 6. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4, 5, 30; Ngũ đăng hội nguyên Q.2; Thiền tịch chí Q.thượng].

nam tạng

1) Tạng Kinh Pali của miền Nam Ấn (ở các xứ Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan)—The Southern collection or Edition of Buddhist Canon from Ceylon, Burma, and Thailand. 2) Nam Tạng Kinh của Trung Quốc, ấn bản tại Nam Kinh đời nhà Minh (1368-1398)—The Southern Collection, or edition, of the Chinese Buddhist Canon, published at Nanking under the ming dynasty (1368-1398).

nam tống hiếu tông

(南宋孝宗) Vị vua đời thứ 2 của triều đại Nam Tống, tên là Thận, lên ngôi năm 1162. Thời gian ở ngôi, vua sửa đổi việc quan lại, giảm bớt quân phí, mở mang Giang nam, chính trị thanh liêm sáng suốt, xã hội phồn vinh. Vua dốc lòng tin kính Phật pháp, từng tham vấn các Thiền sư: Kính sơn Tông cảo, Linh sơn Tử lâm, Trụ sơn Nhã nạp, Linh ẩn Tuệ viễn, v.v... Ở trong cung, vua cho xây cất 1 tòa nhà gọi là Quán đường để học tập pháp thiền. Năm Thuần hi thứ 7 (1180), vua thỉnh Thiền sư Bảo ấn chùa Vân bảo vào cung để thảo luận về các vấn đề liên quan đến Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Sau khi thoái vị, vua ở trong cung Nam hoa, biên soạn Nguyên đạo luận để bác bỏ chủ trương trong bài Nguyên đạo của ông Hàn dũ và đề xướng thuyết Tam giáo nhất trí, cho rằng 3 giáo đều có chỗ đặc sắc, nếu dung hợp được với nhau thì có thể đạt đến đạo rốt ráo. Năm Thiệu hi thứ 5 (1194) vua băng, hưởng thọ 68 tuổi. Vua có các tác phẩm: Nguyên đạo luận, Viên giác kinh ngự chú, Tam giáo luận.

nam tống nguyên minh thiền lâm tăng bảo truyện

(南宋元明禪林僧寶傳) Tác phẩm, 15 quyển, do ngài Tự dung biên soạn vào đời Thanh, ngài Tính lỗi bổ sung, được thu vào Vạn tục tạng tập 137. Nội dung sách này ghi chép hành trạng của các Thiền sư từ niên hiệu Kiến viêm năm đầu (1127) đời Nam Tống, đến niên hiệu Vĩnh lịch năm đầu (1647) cuối đời Minh. Theo lời bạt trong sách này thì ngài Tự dung biên soạn truyện kí của 53 vị, ngài Tính lỗi bổ sung 41 vị, nên tổng số là 94 vị. Nhưng phần mục lục thì ghi 97 vị. Cách bố cục không sắp xếp theo pháp hệ tông phái mà theo thứ tự niên đại, bắt đầu từ Thiền sư Phật đăng tuân đến vị cuối cùng là Thiền sư Trung châu Xuy vạn chân. Bản lưu hành hiện nay, ở đầu quyển có lời tựa của ông Lâm hữu vương và ông Thôi bỉnh kính, tiếp đó là bài tựa của ngài Tự dung. Cuối cùng có lời bạt của ngài Tính lỗi được viết vào năm Khang hi thứ 3 (1664) và bài kí khắc lại (tái bản) viết vào năm Khang hi 24 (1685). [X. Toại sơ đường văn tập Q.15; Tứ khố toàn thư tổng mục Q.145; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái yếu (Trần viên)].

Nam Viện Huệ Ngung

(南院慧顒, Nanin Egyō, 860-khoảng 930): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Hà Bắc, ông kế thừa dòng pháp của Hưng Hóa Tồn Tương (興化存奬) rồi đến trú tại Nam Viện của Bảo Ứng Thiền Viện (寳應禪院) thuộc vùng Nhữ Châu (汝州, thuộc Tỉnh Hà Nam ngày nay). Trong bản Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄) có phần Nhữ Châu Nam Viện Thiền Sư Ngữ Yếu (汝州南院禪師語要) nhưng không rõ tương truyền như thế nào. Chính ông đã truyền thừa dòng pháp cho Phong Huyệt Diên Chiểu (風穴延沼). Theo Tông Thống Biên Niên (宗統編年) 19 thì cho rằng ông thị tịch vào năm đầu (930) niên hiệu Trường Hưng (長興); cho nên ta có thể suy ra rằng vào năm 888 khi Hưng Hóa Tồn Tương qua đời thì ông được 30 tuổi. ; 南院慧顒; C: nányuàn huìyóng; J: nanin egyō; ?-930, cũng được gọi là Bảo Ứng Huệ Ngung;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế đời thứ ba, nối pháp Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng. Môn đệ của Sư có Phong Huyệt Diên Chiểu nổi bật nhất và chính sự huấn luyện môn đệ »khó dạy« này mà Sư nổi danh đến đời sau.|Sư hỏi một vị tăng mới đến: »Vừa nơi nào đến?« Tăng thưa: »Vừa rời Nhượng Châu« Sư hỏi: »Ðến làm gì?« Tăng thưa: »Ðến lễ bái Hoà thượng.« Sư bảo: »Dường như lão Ngung Bảo Ứng chẳng ở đây.« Tăng liền hét, Sư bảo: »Ðã nói với ông chẳng có ở đây, lại hét cái gì?« Tăng lại hét, Sư liền đánh. Vị tăng quì xuống lễ bái, Sư bảo: »Gậy này bản phận ngươi đánh ta, mà ta lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.«

nam viện quốc sư ngữ lục

(南院國師語錄) Gọi đủ: Nam viện Quốc sư trụ sơn thành châu Long nữ sơn Thiền lâm thiền tự ngữ lục. Cũng gọi Qui am lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Qui am Tổ viên (1261-1313), người Nhật bản soạn, thị giả Tuệ chân và Diệu chuẩn biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung sách này gồm có các phần: Thiền lâm thiền tự ngữ lục, Nam thiền tự ngữ lục, Thái bình hưng quốc Nam thiền tự ngữ lục, Kệ tụng, Sắc thụy Nam viện quốc sư Qui am hòa thượng hành trạng, Phụ lục...

nam vô a di đà phật

(南無阿彌陀佛) Cũng gọi Lục tự danh hiệu. Qui y đức Phật A di đà. Quán Vô lượng thọ kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 246 trung) nói: Vô lượng thọ là Hán dịch, còn Nam mô A di đà Phật là Hán âm. Nam là qui, mô là mệnh, A là Vô, Di là Lượng, Đà là Thọ, Phật là Giác; tức là Qui mệnh Vô lượng thọ giác. Ngoài ra, theo kinh A di đà bản tiếng Phạm, thì A di đà có 2 nghĩa là: Vô lượng thọ (Phạm: Amitàyus, Hán âm: A di đà dữu già), Vô lượng quang (Phạm: Amitàbha, Hán âm: A di đa bà). Trong kinh Xưng tán Tịnh độ, do ngài Huyền trang dịch, thì có khu biệt 2 nghĩa này, nhưng kinh A di đà, do ngài Cưu ma la thập dịch, thì không phân biệt. Còn A di đà kinh giảng nghĩa của ngài Thâm lệ thì cho rằng, Nam mô A di đà dữu sái Phật đà da (Phạm: Namo Amitàyuze= buddhàya) là biểu thị ý qui kính Phật Vô lượng thọ; còn A di đà bà da (Phạm: Amitàbhàya) thì có nghĩa là qui y Phật Vô lượng quang. Sáu chữ Nam mô A di đà Phật thu nhiếp hết muôn đức nhân vị và vạn đức quả vị của Phật A di đà, cho nên có vô lượng công đức. Kinh Quán Vô lượng thọ nói rằng, chỉ được nghe 6 chữ danh hiệu cũng có thể diệt trừ tội chướng của vô lượng kiếp sinh tử; còn kinh A di đà thì cho rằng, hành giả niệm danh hiệu Phật A di đà, thường được chư Phật ở 6 phương hộ niệm. [X. Vô lượng thọ Như lai tu hành cúng dường nghi quĩ; Quán kinh sớ huyền nghĩa phần; Tán A di đà Phật kệ (Đàm loan)].

nam vô bất khả tư nghị quang như lai

(南無不可思議光如來) Cũng gọi Cửu tự danh hiệu. Qui mệnh kính lễ đức Bất khả tư nghị quang Như lai. Đây là danh hiệu tán thán đức Phật A di đà, biểu thị ánh sáng của ngài không thể nghĩ bàn. Hai quang Nan tư và Vô xứng trong 12 quang của kinh Vô lượng thọ (do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy) được rút ra để thành lập danh hiệu Bất khả tư nghị quang này. Bài kệ tán Phật A di đà của ngài Đàm loan (Đại 47, 424 thượng) nói: Nam mô Bất khả tư nghị quang, nhất tâm qui mệnh khể thủ lễ (Qui y đức Bất khả tư nghị quang, một lòng cung kính cúi đầu lễ).

nam vô diệu pháp liên hoa kinh

(南無妙法蓮華經) Kính lễ kinh Diệu pháp liên hoa. Đây là lời xướng niệm đề hiệu của kinh Diệu pháp liên hoa do tông Nhật liên của Nhật bản đề xướng. Ngài Nhật liên, vị tăng Nhật bản, người sáng lập tông Nhật liên, cho rằng Diệu pháp liên hoa kinh, không phải chỉ là 1 danh đề mà còn có nghĩa là chân lí tột cùng của vũ trụ được nói trong kinh Pháp hoa. Nhờ xướng đề Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh mà dễ trở về với chân lí và chứng được quả Phật. Từ ngữ đối lại với Nam mô Diệu pháp liên hoa kinh là xưng danh niệm Phật Nam mô A di đà Phật. Xưng danh niệm Phật, tức là xưng niệm danh hiệu Phật; còn xướng đề, tức là xướng tụng pháp do đức Phật nói.

nam vô hạt la đát na đa la dạ da

(南無喝囉怛那哆囉夜耶) Phạm: Namo ratna-trayàya. Nghĩa là qui y Tam bảo. Nam mô nghĩa là qui mệnh, hát ra đát na đá ra dạ da nghĩa là Tam bảo.

nam điều mục lục

(南條目錄) Cũng gọi Nhật bản Chân tông Nam điều Văn hùng dịch bổ Đại minh tam tạng Thánh giáo mục lục. Anh dịch: A Catalogue of the Chinese Translation of the Buddhist Tripiỉaka by Punyu Nanjio, Oxford, 1883. Mục lục, do sư Nam điều Văn hùng người Nhật soạn dịch. Khi du học ở nước Anh, Nam điều Văn hùng đem Đại minh tam tạng Thánh giáo mục lục trong Hoàng bá Đại tạng kinh của Nhật bản dịch sang tiếng Anh và đối chiếu phần dịch âm Hán, Phạm, Anh trong các mục lục kinh sách, đồng thời, sư còn đối chiếu với âm Phạm ghi trong Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục, ghi chú rõ ràng về tác giả, dịch giả và những điểm dị đồng giữa các bản in. Ở đầu quyển có bài tựa và thư mục tham khảo; cuối quyển có phụ thêm các tác giả Ấn độ, dịch giả Trung quốc và lời giải thích về mục lục và sách dẫn của soạn giả. Bộ mục lục này được xuất bản vào năm 1883 và từ đó đến nay, nó đã trở thành sách chỉ nam cho những học giả Âu, Mĩ nghiên cứu Đại tạng kinh Hán dịch. Sách được tái bản vào năm 1928 nhân dịp kỉ niệm giỗ đầu của Tiến sĩ Nam điều Văn hùng.

Nam Điều Thời Quang

(南條時光, Nanjō Tokimitsu, 1259-1332): vị Võ Tướng sống vào cuối thời Liêm Thương, tín đồ đắc lực của Nhật Liên, là thủ lãnh vùng Thượng Dã (上野, Ueno) thuộc tiểu quốc Tuấn Hà (駿河, Suruga); ông được gọi là Thượng Dã Điện (上野殿, Ngài Thượng Dã). Vào năm 1278, khi xảy ra vụ Pháp Nạn Nhiệt Nguyên (熱原の法難, Atsuhara-no-Hōnan), dưới sự chỉ đạo của Nhật Hưng (日興, Nikkō), ông đề kháng chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Mạc Phủ, rồi tận lực bôn tẩu để bảo vệ cho tín đồ. Đối với tâm tín thành của Thời Quang như vậy, Nhật Liên tán thán và ban cho hiệu là Thượng Dã Hiền Nhân Điện (上野賢人殿). Sau khi thầy qua đời, Nhật Hưng không hợp ý với Ba Mộc Tỉnh Thật Trường (波木井實長), nên rời khỏi Thân Diên Sơn (身延山). Lúc ấy, Thời Quang cung đón Nhật Hưng về lãnh địa của ông, rồi đến năm thứ 3 (1290) niên hiệu Chánh Ứng (正應) thì dâng cúng một phần đất đai của mình và trở thành người tín đồ khai sáng Bổn Môn Tự (本門寺). Vào năm đầu (1323) niên hiệu Chánh Trung (正中), để cúng dường hồi hướng cầu nguyện cho người vợ quá cố là Diệu Liên (妙蓮), ông biến tư thất của Hạ Điều Quật Chi Nội (下條堀之內) thành Diệu Liên Tự (妙蓮寺). Ông qua đời ở tuổi 74 và có giới danh là Đại Hành Tôn Linh (大行尊靈).

nam điều văn hùng

(南條文雄) Danh tăng kiêm học giả Nhật bản thuộc phái Đại cốc, Tịnh độ Chân tông, người Kì phụ, hiệu là Thạc quả. Lúc tuổi trẻ, sư học ở trường Cao thương, sau qua Đại học Oxford nước Anh, chuyên học tiếng Phạm dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Max Müller. Sau khi về nước, sư làm Giảng sư tiếng Phạm ở trường Đông đại, sau làm Giám học trường Đại học Chân tông, Hiệu trưởng trường Đại học Đại cốc. Trong khi lưu học ở nước Anh, sư đã biên soạn Nam điều mục lục rồi dịch ra tiếng Anh, nhờ đó sư trở nên nổi tiếng. Đồng thời, với sự giúp đỡ của thầy là Tiến sĩ Max Müller, sư đã ấn hành các bản tiếng Anh kinh Đại Vô lượng thọ, kinh A di đà, kinh Kim cương được dịch trực tiếp từ tiếng Phạm. Năm Chiêu hòa thứ 2 (1927) sư tịch, thọ 78 tuổi. Sư có các trứ tác: Nam điều mục lục, Thập nhị tông cương yếu, Phạm học giảng nghĩa, Hoài cựu học.

nam đình

(南亭) Danh tăng Trung quốc, người huyện Thái, tỉnh Giang tô, họ Cát. Sư xuất gia năm 10 tuổi, thờ các ngài Văn tâm, Trí quang làm thầy. Năm 21 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, năm 25 tuổi, đến An khánh y chỉ vào pháp sư Thường tỉnh. Năm 1949, sư đến Đài loan, sáng lập Hoa nghiêm liên xã ở Đài bắc, thành lập Hoa nghiêm chuyên tông học viện, trường Cao cấp công thương, Đào viên kiều ái Phật đường, Hoa nghiêm kiều ái nhi đồng thôn v.v... Sư suốt đời giảng kinh, hoằng pháp và tham gia các công tác từ thiện xã hội, văn hóa v.v... không biết mệt mỏi. Ngày mồng 3 tháng 9 năm 1982, sư an nhiên thị tịch thọ 83 tuổi. Sư có các trứ tác: Tâm kinh giảng nghĩa, A di đà kinh giảng thoại, Diệu tuệ đồng nữ kinh giảng thoại, Thập thiện nghiệp đạo kinh giảng thoại, Phật thuyết bột kinh sao giảng thoại, Vĩnh gia Đại sư Chứng đạo ca giảng thoại, Nhân vương hộ quốc kinh giải...

nam đốn bắc tiệm

Thiền của hai tông nam và bắc ở trung Quốc—Southern immediate, Northern gradual. ** For more information, please see Nam Tông and Nam Năng Bắc Tú. ; (南頓北漸) Cũng gọi Nam Năng Bắc Tú. Chỉ cho phái Thiền chủ trương Đốn ngộ do Lục tổ Tuệ năng hoằng truyền ở phương Nam và phái Thiền chủ trương Tiệm ngộ do Đại sư Thần tú xiển dương ở phương Bắc.Thiền tông Trung quốc, từ Ngũ tổ Hoằng nhẫn trở về sau, do quan điểm bất đồng về con đường tu chứng giữa 2 vị đệ tử thượng thủ của Ngũ tổ là Thần tú và Tuệ năng mà đã phát triển thành 2 hệ thống khác nhau. Ngài Thần tú chủ trương hướng dẫn đệ tử theo 1 tiến trình có thứ lớp dần dần để đạt đến khai ngộ, gọi là Tiệm; ngài lấy Trường an ở phương bắc làm trung tâm giáo hóa, gọi là Bắc tông thiền, hoặc Bắc tiệm. Còn ngài Tuệ năng, trái lại, thì chủ trương đốt giai đoạn mà tiến ngay đến giác ngộ, gọi là Đốn; ngài lấy Tào khê ở phương nam làm trung tâm phát triển, gọi là Nam tông thiền, hoặc Nam đốn. Quan điểm bất đồng của 2 ngài về đường hướng tu chứng ấy được thể hiện rõ ràng trong 2 bài kệ sau đây: 1. Bài kệ của ngài Thần tú (Đại 48, 348 trung): Thân là cây Bồ đề Tâm như đài gương sáng Hàng ngày siêng lau chùi Chớ để dính bụi nhơ. 2. Bài kệ của Lục tổ Tuệ năng (Đại 48, 349): Bồ đề vốn không cây Gương sáng chẳng có đài Xưa nay không một vật Chỗ nào dính trần ai (bụi nhơ)? Hai bài kệ trên chính là nguồn gốc của Thiền phong Đốn và Tiệm. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4].

nan

Khó khăn—Difficult—Hard. ; (難) Những điều khó khăn gây chướng ngại cho việc tu hành. Theo phẩm Cao quí đức vương trong kinh Niết bàn quyển 23 (bản Bắc) thì có 6 điều khó: 1. Phật ra đời khó được gặp 2. Chính pháp khó được nghe. 3. Thiện tâm khó phát. 4. Nơi Trung quốc (chỗ văn hóa cao) khó được sinh vào. 5. Thân người khó được. 6. Các căn khó có đầy đủ.

nan giải nan nhập

(難解難入) Phạm: Durdfzaô duranubodhaô. Khó hiểu, khó ngộ. Trí tuệ của chư Phật rất sâu xa, chúng sinh khó có thể hiểu tỏ được. Kinh Đại tát già ni kiền tử sớ thuyết quyển 1 (Đại 8, 319 trung) nói: Chư Phật, Như lai, bậc Ứng cúng, Chính biến tri, chứng được pháp sâu kín khó tin, khó biết, khó hiểu, khó lường, tất cả trời, người không biết được Như lai nói với ý gì. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].

nan hoá

(難化) Khó giáo hóa. Chỉ cho những chúng sinh căn tính kém cỏi, ương ngạnh khó giáo hóa để đưa họ vào Phật đạo. Theo phẩm Hương tích Phật trong kinh Duy ma cật quyển hạ, người ở cõi này bướng bỉnh, ương ngạnh, khó giáo hóa, cho nên đức Thế tôn mới dùng những lời cứng rắn để điều phục họ. Luận Đại trí độ quyển 91 cũng cho rằng, chư thiên ở cõi Dục bị 5 món dục tuyệt hảo làm cho mê muội, cho nên khó giáo hóa được, gọi là Dục thiên nan hóa. Còn chư thiên ở cõi Sắc thì bị cái vui thiền định thế gian mê hoặc nên cũng khó giáo hóa họ, gọi là Sắc thiên nan hóa. Hai loại này gọi chung là Nhị nan hóa. Phẩm Hiện bệnh trong kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc) nêu ra 3 loại chúng sinh khó giáo hóa là: 1. Báng Đại thừa: Người chê bai giáo pháp Đại thừa. 2. Ngũ nghịch: Người phạm 5 tội trái đạo lí. 3. Nhất xiển đề: Kẻ không tin chính pháp, bác luật nhân quả. Ba loại người khó giáo hóa trên đây được gọi chung là Nan hóa tam cơ; cũng ví dụ như chứng bệnh khó trị, cho nên còn gọi là Nan trị tam bệnh, Nan trị cơ. Đối với 3 loại chúng sinh này, các giáo pháp của hàng Tam thừa không cứu được, chỉ có giáo pháp Nhất thừa mới có thể cứu được. Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản thì cho rằng, chỉ có bản nguyện của đức Phật A di đà là cứu chữa được 3 loại căn cơ khó giáo hóa này. [X. kinh Niết bàn Q.10 (bản Nam)].

nan hành

(難行) Phạm: Duwkara-caryà. Cũng gọi Khổ hành. Đối lại: Dị hành. Khó làm. Đứng về phương diện tông giáo mà nói, những pháp khó tu gọi chung là Nan hành, còn những pháp dễ tu thì gọi là Dị hành. Phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp Hoa quyển 4 nói: Đức Thích ca Như lai từ vô lượng kiếp đến nay, vì cầu đạo Bồ đề mà chứa góp công đức nan hành khổ hạnh, chưa từng ngơi nghỉ. Phẩm Viễn li trong kinh Đại bát nhã quyển 424 thì nói: Bồ tát vì cứu độ chúng hữu tình mà tu nhiều khổ hạnh, chịu sự nặng nhọc, nhưng chưa bao giờ nghĩ đó là những hạnh khổ khó làm. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.2]. (xt. Dị Hành).

nan hành đạo dị hành đạo

(難行道易行道) Gọi tắt: Nan dị nhị đạo. Đạo khó tu, đạo dễ tu, phán giáo của tông Tịnh độ. Tông này căn cứ vào thuyết Nan dị nhị đạo của bồ tát Long thụ mà chia giáo pháp của đức Phật thành Nan hành đạo và Dị hành đạo. Dùng sự khó khăn của người đi bộ trên đường để ví dụ chúng sinh trong cõi đời 5 trược ác mà muốn cậy vào sức của chính mình tu hành để mong đạt được quả Thánh, gọi là Nan hành đạo; trái lại, dùng sự dễ dàng của việc đi thuyền dưới sông để ví dụ chúng sinh nương vào lòng từ bi và trí tuệ rộng lớn của Phật làm phương tiện vãng sinh Tịnh độ, khai ngộ chứng quả, thì gọi là Dị hành đạo. Luận Thập trụ trì bà sa quyển 5 (Đại 26, 41 trung) nói: Phật pháp có vô lượng môn, như đường đi ở thế gian có khó có dễ, đi bộ thì khó nhọc, đi thuyền thì khỏe khoắn; đạo Bồ tát cũng thế, hoặc có người siêng năng hành trì, hoặc có người lấy lòng tin làm phương tiện, dễ làm mà mau đạt đến A duy việt trí (không trở lui). Theo Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan, thì vào thời đại không có Phật mà tự lực hành trì để mong đạt đến quả vị Bất thoái chuyển là 1 việc rất khó, gọi là Nan hành đạo. Ngài Đàm loan còn chia Nan hành đạo làm 5 thứ: 1. Ngoại đạo cùng tu thiện làm mê loạn pháp của Bồ tát. 2. Hạnh tự lợi của Thanh văn làm chướng ngại lòng từ bi. 3. Kẻ ác vô cớ phá hoại hạnh thù thắng của người khác. 4. Quả thiện điên đảo hay phá hoại hạnh thanh tịnh. 5. Chỉ nhờ tự lực chứ không nương vào tha lực. Năm điều trên đây luôn ở trước mắt, khiến cho người tự lực tu hành khó thành tựu đạo quả, giống như cái khó khăn vất vả của người đi bộ trên đường. Nhưng, nếu người tu hành Dị hành đạo, chỉ nương vào nhân duyên tin Phật và chí thành phát nguyện vãng sinh Tịnh độ, thì nhờ nguyện lực của chư Phật, chắc chắn được vãng sinh, cũng dễ dàng và nhẹ nhàng như người ngồi thuyền đi trên mặt sông vậy. Trong An lạc tập quyển thượng, ngài Đạo xước, vị Cao tăng tông Tịnh độ Trung quốc sống vào đời Đường, cũng dựa vào thuyết Nan dị nhị đạo mà chia các pháp môn làm 2 loại: Tự lực và Tha lực, Tự nhiếp và Tha nhiếp mà lập ra Thánh đạo môn và Tịnh độ môn; Thánh đạo môn tức Nan hành đạo, là pháp tu hành tự lực, tự nhiếp; còn Tịnh độ môn tức Dị hành đạo, là pháp tu hành tha lực, tha nhiếp. Về sau, tại Nhật bản, có các ngài Nguyên tín, Nguyên không, Thân loan v.v... kế thừa và truyền bá thuyết này của ngài Đạo xước, như thuyết Nhị song tứ trùng của ngài Thân loan, tức trong Thánh đạo môn, Nan hành đạo lại chia ra 2 thứ là Thụ xuất và Thụ siêu. Thụ xuất là chỉ cho chủ trương tu hành trải qua nhiều kiếp mới mong chứng quả của các tông phái thuộc Tiệm giáo, như các tông Pháp tướng, Tam luận v.v...; còn Thụ siêu là chỉ cho chủ trương tu hành ngay thân này chứng quả thành Phật của các tông phái thuộc Đốn giáo, như các tông Phật tâm(Thiền), Chân ngôn, Pháp hoa, Hoa nghiêm v.v... Ngoài ra, Dị hành đạo nói trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 của ngài Long thụ là chỉ cho pháp môn tu hành xưng niệm danh hiệu của chư Phật, Bồ tát; nhưng đến đời sau, các vị Cao tăng ở Trung quốc và Nhật bản, như ngài Đàm loan, ngài Nguyên không v.v... thì chỉ y vào Phật A di đà mà bàn đạo Dị hành, nhấn mạnh rằng công đức thù thắng của bản nguyện tha lực là đạo dễ làm. [X. An lạc tập Q.hạ; Vãng sinh luận chú kí Q.1; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Ngu thốc sao Q.thượng].

nan hóa

Khó chuyển hóa—Difficult of conversion, or transformation.

nan hóa tam cơ

Ba loại căn cơ khó giáo hóa tế độ—Three kinds of capacities which are difficult to transform. 1) Loại hủy báng Đại Thừa: Those who defame the Mahayana. 2) Loại phạm tội ngũ nghịch: Those who commit the five ultimate betrayals or five grave sins. 3) Loại Xiển Đề: Those who abandon Buddha-truth—See Xiển Đề and Nhất Xiển Đề in Vietnamese-English Section, and Icchantika in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

nan hữu

Hy Hữu—Hard to have—Rare.

nan nhập

Khó vào—Difficult to enter or attain.

nan phá

(難破) Vấn nạn, Luận phá. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện quyển 4 (Đại 50, 245 thượng) nói: Có ngoại đạo Thuận thế đến thách thức tranh luận, viết 40 điều nghĩa treo ở cổng chùa và nói: Nếu có người nào nạn phá được 1 điều thì ta sẽ chặt đầu để cảm tạ. [X. Trung luận sớ Q.4 phần đầu].

nan phục

Khó khắc phục—Difficult to subdue—Unconquerable.

nan phục địa

Phật Địa (không có sức mạnh nào có thể hàng phục được Đức Phật)—Buddha Land. ; (難伏地) Cảnh địa khó hàng phục được, tức chỉ cho cõi Phật hoặc cảnh giới giác ngộ. Vì không ai có đủ khả năng để hàng phục được đức Phật, cho nên gọi cảnh giới của Ngài là Nan phục địa. Thắng man bảo quật quyển hạ phần cuối (Đại 37, 16 thượng) nói: Sự sinh không thể làm cho Như lai sinh, cái già không thể khiến cho Như lai già, bệnh không thể làm cho Như lai bệnh, cái chết không thể làm cho Như lai chết, vì thế gọi là Nan phục địa. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man].

nan thiền

(難禪) Pháp Thiền khó tu, là Thiền thứ 3 trong 9 loại Đại thiền bất cộng của Bồ tát do tông Thiên thai nói ra. Nan Thiền có 3 loại: 1. Đệ nhất nan thiền: Bồ tát tu lâu trong Thiền định, tâm đã được tự tại, nhưng vì muốn cứu độ chúng sinh nên xả bỏ niềm vui thứ nhất của Thiền mà sinh vào cõi Dục. 2. Đệ nhị nan thiền:Bồ tát tu vô lượng pháp Thiền định sâu xa, vượt qua trên tất cả hàng Thanh văn và Bích chi phật. 3. Đệ tam nan thiền:Bồ tát nương theo Thiền định mà được Vô thượng bồ đề. [X. Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.hạ phần trên].

nan thích nghi luận

(難釋疑論) Tác phẩm, 1 quyển, do cư sĩ Chu đạo tổ soạn vào đời Đông Tấn, được thu vào Quảng hoằng minh tập quyển 18 trong Đại chính tạng tập 52. Khoảng năm Thái nguyên thứ 9 (394) đời Hiếu Vũ đế nhà Đông Tấn, ông Đới quì có soạn cuốn Thích nghi luận, trong đó, ông bày tỏ sự hoài nghi và có những nhận xét không đúng về thuyết nhân quả của Phật giáo. Bởi thế, Chu đạo tổ mới làm luận này để phê phán những quan điểm sai lầm của Đới quì và chỉ rõ ra những chỗ sai khác giữa Nho học và Phật giáo. Ông Chu đạo tổ cho rằng nếu không có nhân quả đời trước thì không thể lí giải được những hiện tượng người lành chịu khổ, kẻ ác được phúc báo vinh hoa. Sau đó, Đới quì lại làm luận phản bác thuyết của của Đạo tổ, lần này, thầy của Đạo tổ là ngài Lô sơn Tuệ viễn bèn soạn Tam báo luận để phúc đáp.

nan thắng

Khó hàng phục, địa thứ năm trong mười Bồ Tát Địa, trong giai đoạn nầy mọi dục vọng phiền não đều được điều phục và thông suốt chân lý của vạn hữu—Hard to overcome, or be overcome, unconquerable, the fifth of the ten bodhisattva stages when all passion and illusion is overcome and understanding of all things attained. ** For more information, please see Thập Địa Phật Thừa.

nan thắng địa

See Nan Thắng, and Thập Địa Phật Thừa in Vietnamese-English Section. ; (難勝地) Phạm: Sudurjayà-bhùmi. Hán âm: Đầu xà da phổ. Địa thứ 5 trong Thập địa Bồ tát. Ở địa vị này phương tiện tu hành để đạt được thắng trí tự tại là rất khó, các phiền não kiến hoặc, tư hoặc cũng không dễ dàng điều phục vì vậy gọi là Nan thắng địa. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ (Đại 8, 842 hạ) nói: Biết các đế như thực Và các pháp thế gian Làm lợi khắp quần sinh Gọi là Nan thắng địa. [X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; phẩm Đà la ni tối tịnh địa trong kinh Hợp bộ kim quang minh Q.3; luận Thành duy thức Q.9].

nan thế

(難勢) Chỉ cho khí thế vấn nạn. Pháp hoa văn cú kí quyển 10 hạ (Đại 34, 350 trung) nói: Gần đây thấy trong Pháp hoa viên kính của Tú công, có lập ra thế vấn nạn, nhưng không hơn gì qui tắc trước; nay gom góp những điều được nghe trước kia và những điều được thấy hiện tại, tổng hợp, phân biệt để rộng đường phê phán. [X. truyện Tăng xán trong Tục cao tăng truyện Q.9].

nan trung chi nan

(難中之難) Việc rất khó trong các việc khó, ví dụ cho việc tin nhận diệu pháp vô thượng là rất khó. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Nếu người nghe kinh này rồi mà vui mừng tin nhận, thì đó là việc rất khó trong các việc khó, không cái khó nào hơn cái khó này.

nan tác năng tác

(難作能作) Việc khó làm mà làm được. Nghĩa là việc tu hành tuy khó khăn nhưng cuối cùng cũng có thể thành tựu được. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 26 (Đại 12, 520 trung) nói: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, vì Đại niết bàn mà thành tựu được đầy đủ 5 việc như thế thì tức người ấy đã làm được những việc khó làm, nhẫn được những điều khó nhẫn, bỏ được những vật khó bỏ. Từ ngữ này vốn được dùng để hiển bày tinh thần nỗ lực tu hành của Phật, Bồ tát; nhưng đời sau thì phần nhiều dùng để tán thán sự rộng lớn của Phật lực và lòng từ bi độ sinh của Ngài. [X. Pháp sự tán Q.hạ].

nan tín chi pháp

(難信之法) Chỉ cho pháp khó tin. Giáo pháp của đức Phật rất sâu xa mầu nhiệm, không thể dùng kiến thức thông thường của thế gian mà hiểu biết được. A di đà kinh sớ của ngài Khuy cơ (Đại 37, 328 trung) nói: Pháp khó tin, nghĩa là niệm Phật từ 1 ngày đến 7 ngày, liền tiêu trừ được tất cả phiền não cấu nhiễm mà vãng sinh Tịnh độ, nhân nhỏ mà được quả lớn, người đời khó tin. Tịnh độ chân tông tại Nhật bản lập pháp Nan tín làm 1 trong những luận đề của tông thừa. Chủ trương pháp môn của đức Phật A di đà là tối thắng, nếu chẳng phải người có thiện căn sâu dày từ kiếp trước thì khó mà tin nhận. Thuyết này được y cứ vào kinh Vô lượng thọ và kinh A di đà mà thành lập. [X. A di đà kinh nghĩa sớ (Nguyên hiểu)].

nan tín kim cương tín lạc

(難信金剛信樂) Lòng tin bền chắc như kim cương. Từ ngữ này được thấy trong bài tựa Giáo hành tín chứng của ngài Thân loan thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản. Lòng tin này là tin nơi bản nguyện của đức Phật A di đà muốn cứu độ chúng sinh về cõi Thực báo trang nghiêm, cũng là tâm tin vào pháp tha lực. Nhưng pháp này cao siêu tôn quí, người còn ở giai vị tu nhân khó tin nhận, phải dùng tha lực khiến họ tin phục, cho nên gọi là Nan tín. Một khi lòng tin này đã nảy sinh, thì những sự động loạn khác không thể phá hoại được, nó có công năng diệt trừ tất cả phiền não tội chướng, giống như thể kim cương cứng chắc, có thể phá hoại tất cả các vật khác, vì thế gọi là Kim cương tín.

nan tư

Khó có thể suy đoán được, từ dùng để tán thán Phật Pháp—A term used to praise Buddha-truth, meaning hard to think of, or hard to realize—Incredible.

nan tư nghị

(難思議) I. Nan Tư Nghị. Gọi tắt: Nan tư. Cũng gọi: Bất tư nghị. Khó nghĩ bàn. Chỉ cho cảnh giới mà bàn nói và suy nghĩ không thể diễn đạt được. Nghĩa là Phật pháp rộng lớn sâu xa khó có thể nghĩ bàn. Luận Thành duy thức quyển 1 (Đại 31, 77 trung) nói: Tôi đã tùy theo khả năng của mình, tóm lược nghĩa Thành duy thức tất cả công hạnh của Phật nói trong đó, thật khó nghĩ bàn. Ngoài ra, từ ngữ Nan tư nghị còn được dùng để tôn xưng đức Phật, tức tán thán đức sâu xa mầu nhiệm của Phật. Kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa quyển 2 (Đại 8, 870 hạ) nói: Ba cõi trời người đều khen ngợi, con nay lễ đức Nan tư nghì. [X. chương Như lai chân thực nghĩa công đức trong kinh Thắng man; kinh Hoa nghiêm Q.1 (bản 60 quyển)]. II. Nan Tư Nghị. Một trong 37 tôn hiệu của đức Phật A di đà. Đức mầu nhiệm của Phật A di đà có thể khiến cho phàm phu chứng được đạo quả, đức ấy chẳng thể nghĩ bàn. Tán A di đà Phật kệ (Đại 47, 421 thượng) nói: Tất cả chướng ngại đều trừ sạch, nên con đính lễ Nan tư nghì.

nan tư nghị vãng sinh

(難思議往生) Chỉ cho sự vãng sinh khó nghĩ bàn, tức nhờ lòng tin vào hoằng nguyện tha lực của đức Phật A di đà mà được vãng sinh, là 1 trong 3 thuyết vãng sinh của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Do lòng tin vào tha lực hồi hướng được sinh về cõi Thực báo trang nghiêm của đức Phật A di đà, đó chẳng phải là việc mà phàm phu nói bàn, suy nghĩ có thể biết được, cho nên gọi là Nan tư nghị vãng sinh. Tông này còn lập ra 2 thuyết vãng sinh khác: 1. Nan tư vãng sinh: Nhờ nhân tự lực niệm Phật mà được sinh vào Thai cung Nghi thành ở chỗ biên giới cõi Tịnh độ, tức là Hóa độ của đức Phật A di đà, được hưởng vô lượng sự an lạc chẳng thể nghĩ bàn, theo như lời nguyện thứ 20 của Ngài. Vì loại tự lực vãng sinh này không thù thắng bằng tha lực vãng sinh đã nói ở trên, cho nên gọi là Nan tư. 2. Song thụ lâm hạ vãng sinh: Lấy việc hóa thân của đức Thích ca nhập diệt ở rừng Sa la song thụ để ví dụ sự vãng sinh về cõi Phương tiện hóa độ của đức Phật A di đà, theo lời nguyện thứ 19 của Ngài. [X. Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán Q.thượng; Giáo hành tín chứng Q.6].

Nan Đà

(s, p: Nanda, 難陀): ý dịch là Hoan Hỷ (歡喜), Hỷ Lạc (喜樂), còn gọi là Nan Nỗ (難努), Nan Đồ (難屠), Nan Đề (難提), là em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, vợ ông là Tôn Đà Lợi (s: Sundarī, 孫陀利), khác với Nan Đà Chăn Trâu (tức Mục Ngưu Nan Đà [牧牛難陀], ý dịch là Thiện Hoan Hỷ [善歡喜], tên của một vị Tỳ Kheo, nhân hỏi Phật về 11 việc thả trâu như thế nào; biết được Ngài là bậc Nhất Thiết Trí, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La Hán). Cha là vua Tịnh Phạn (s: Śudhodana, 淨飯), mẹ là Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī, 摩訶波闍波提). Tướng hảo của ông gần như Đức Phật, thân dài 1 trượng 5 tấc, tướng mạo đoan chính, có 30 tướng đẹp (chỉ thua đức Phật 2 tướng mà thôi). Chính vì có tướng hảo đoan nghiêm như vậy nên ông được gọi là Tôn Đà La Nan Đà (s: Sundarananda, 孫陀羅難陀) có nghĩa là Nan Đà đẹp như con gái. Tương truyền ông có tướng hảo đẹp như vậy là vì đời quá khứ thường lấy vàng ròng làm trang nghiêm các tượng Phật, rồi thắp đèn cúng Phật, nên có được quả báo như vậy. Sau khi đức Thế Tôn thành đạo, ông trở về thăm cố hương Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛). Khi ấy, Nan Đà là Hoàng thái tử và đang chuẩn bị kết hôn với người đẹp số một trong nước là nàng Tôn Đà Lợi, nhưng Đức Phật lại dùng phương tiện để khuyến dụ ông xuất gia. Ngài đã hóa độ ông xuất gia tại vườn Ni Câu Luật (s: nyagrodha, p: nigrodha, 尼拘律). Sau khi xuất gia xong, do vì quá nhớ đến vợ, ông vẫn thường trở về nhà thăm vợ. Về sau, ông được đức Phật dùng phương tiện hóa độ, giúp ông đoạn trừ ái dục, chứng quả A La Hán. Trong số các đệ tử Phật, ngài được tôn xưng là điều phục các căn đệ nhất. Về câu chuyện đức Phật hóa độ Nan Đà. Tương truyền một hôm nọ, đức Phật cùng với Tôn Giả A Nan đến khất thực tại ngay trước cửa nhà của Nan Đà. Ông nghênh đón, chuẩn bị dâng cơm vào bát cúng đường đức Phật. Bỗng nhiên Ngài chuyển thân chạy đi và nói với A Nan là bảo Nan Đà đem thức ăn đến. Nan Đà nghe vậy đem cơm đến chỗ Phật. Lập tức đức Phật cho người cạo đầu Nan Đà; như vậy trong tình huống đó, ông bị buộc phải xuất gia. Ngày hôm sau, Ngài cùng với đại chúng ra ngoài khất thực; chỉ mình Nan Đà ở nhà mà thôi, với ý định trốn thoát. Biết vậy, đức Thế Tôn bảo ông quét dọn sạch các cửa khắp bốn phía. Ông quét sạch cửa này thì cửa kia nhớp, cứ như vậy không thể nào làm cho sạch hết tất cả được. Nhân đó ông nghĩ rằng, nếu lúc này không chạy trốn thì không biết khi nào mới thoát được. Vì vậy, ông trốn thoát ra khỏi Tinh Xá, chạy đến giữa đường thì thấy đức Phật từ xa đi đến, bèn nép mình trốn sau gốc cây, không ngờ cây đó bay bổng lên không trung, khiến cho hành tung Nan Đà bị bại lộ. Thấy vậy đức Phật hỏi ông vì sao chạy trốn. Ông trả lời rằng vì quá nhớ thương vợ con ở nhà. Đức Phật dạy rằng: “Trước khi về nhà, ta sẽ dẫn con đi chơi hai nơi.” Ngài bèn dẫn ông lên trên Trời, ông thấy các nàng Thiên nữ trên đó, liền thốt lên rằng: “Quả đẹp như tiên nữ.” Nghe vậy, đức Phật hỏi ông rằng: “Thế thì nếu so sánh tiên nữ kia với vợ con ông, ai là người đẹp hơn ?” Nan Đà trả lời ngay rằng: “Tiên nữ kia đẹp hơn vợ con cả ngàn lần.” Sau đó, đức Thế Tôn lại dẫn ông đến một cung điện khác, bên trong có vàng ngọc rực rỡ, một đàn tiên nữ đang ngồi quây quần bên bức tượng, chứ không thấy Thiên tử. Ông bèn hỏi nguyên do, một tiên nữ trả lời rằng: “Cung điện này sẽ được cấp cho bào đệ của Phật là Nan Đà. Người đó đang thọ hưởng phước lạc dưới dương thế, sau khi mạng chung sẽ tiếp tục lên đây hưởng phước.” Nghe vậy, Nan Đà vui mừng tột đỉnh, tự biết mình là người có phước báo lớn. Tiếp theo, đức Thế Tôn lại đưa ông xuống cõi Địa Ngục. Ông vô cùng xót xa khi thấy các tội nhân nơi đây phải chịu khổ hình thê thảm. chân tay ông rã rời, run sợ không muốn ở lại lâu nơi đó. Đức Phật lại đưa ông đến một nơi khác, thấy có hai người ngục tốt đang ngồi ngủ gà ngủ gậc; nước dầu trong chảo cũng lạnh ngắt; lửa dưới chảo dầu chưa đỏ cháy. Lấy làm lạ, ông bạo gan hỏi ngục tốt nguyên do vì sao. Người lính cai ngục bảo rằng: “Chảo dầu sôi này vốn để dành cho Nan Đà, em của đức Phật. Ông ấy hiện tại đang hưởng phước trên dương gian, sau khi qua đời sẽ được sanh lên cõi Trời, hưởng phước lần nữa. Khi phước trên cõi Trời đã hết, ông ấy phải đọa xuống đây để chị quả báo tội nghiệp của nhiều đời trước.” Nghe lời này xong, Nan Đà kinh hãi đến nỗi lông tóc dựng đứng, run sợ không kể xiết, cùng Phật trở về Tinh Xá, cầu xin Ngài cứu thoát ra khỏi cảnh khổ của Địa Ngục. Từ đó, Ngài giải thích cho Nan Đà biết rõ tầm quan trọng và ý nghĩa xuất gia. Cho nên ông mới thật sự phát tâm xuất gia.

nan đà

Nanda (skt). 1) Hoan Hỷ: Happiness—Pleasure—Joy—Felicity. 2) Mục Ngưu Nan Đà là tên của một vị Tỳ Kheo, nhân hỏi Phật về 11 công việc thả trâu mà biết hết thảy mọi trí tuệ của Phật: Name of a disciple, Cowherd Nanda, who enlightened after asking the Buddha about the 11 methods of taking care of a cowherd. 3) Thiện Hoan Hỷ Nan Đà là một vị A La Hán đệ tử của Phật, khác với ngài A Nan Đà. Ông là một trong những đại đệ tử của Đức Phật, con vua Tịnh Phạn và bà dì cũng là di mẫu của Phật là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề. Khi sanh ra ông có một dáng dấp vui vẻ nên được đặt tên là Thiện Hoan Hỷ. Lúc Đức Phật xuất gia thì ông thế ngôi Thái Tử của Ngài để sau nầy nối ngôi vua Tịnh Phạn. Ngay lúc ông sắp cưới nàng Sundari xinh đẹp và lên ngôi vua, thì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trở về thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên kể từ ngày Ngài đắc đạo. Nan Đà gặp Phật và xuất gia gia nhập giáo đoàn. Lúc đầu ông bị vướng víu bởi những nghi nan vọng tưởng, nhưng dưới sự hướng dẫn của Phật chẳng bao lâu sau ông đắc quả A La Hán. Ngài Nan Đà cũng có dáng dấp giống y như Phật, chỉ thấp hơn Phật chừng ba tấc; ngài cũng có ba mươi hai tướng hảo của Phật, dù không toàn hảo. Vì thế khi ngài mặc áo vàng, rất nhiều khi người ta tưởng lầm ngài là Phật; cho nên Đức Phật bảo ngài nên mặc áo đen cho mọi người phân biệt được với Phật: Sundarananda, an arhat, different from Ananda. He was one of the Buddha's great disciplies and younger half brother, the son of Shuddhodana and Sakyamuni's maternal aunt Mahaprajapati. He had a graceful figure and was known as Sundarananda or Beautiful Nanda. After Sakyamuni remounced the secular world, Nanda took his place as heir to King Shuddhodana. Just as he was about to marry the beautiful Sundari, Sakyamuni Buddha returned to Kapilavastu for the first time following his Awakening, and Nanda was persuaded to join the Buddhist Order. It is said that he was for some time tormented by doubts and second thoughts, under Sakyamuni Buddha's guidance, he was eventually able to fully dedicate himself to Buddhist practice and attained the state of arhat. Nanda was only three inches shorter than Buddha and had all thirty-two outstanding traits of the Buddha, though not as perfect. Thus, when he wore his golden ropes, many times Buddhists mistakenly assumed he was Buddha; therefore, the Buddha had him wear a black rope so everyone could distinguish Buddha and Nanda. 4) Một vị khác nữa cũng tên Nan Đà, người bán sữa, đã cúng dường sữa lên Đức Phật: Another Nanda, a milkman, who gave Sakyamuni milk. 5) Một người đàn bà nghèo cũng tên Nan Đà, dùng hết gia tài một đồng tiền mua dầu đốt đèn cúng Phật: A poor woman who used the only penny she had (could only offer a cash) to buy oil for a lamp to Buddha. 6) Tên của một vị Long Vương: Name of a Naga King. ; (難陀) Phạm và Pàli: Nan da. Hán dịch: Hoan hỉ, Gia lạc. I. Nan Đà. Cũng gọi Nan nỗ, Nan đồ, Nan đề. Tôn giả Nan đà, em cùng cha khác mẹ của đức Phật, vì để phân biệt với ngài Mục ngưu nan đà nên gọi ngài là Tôn đà la nan đà (Phạm: Sundara-nanda). Ngài có thân hình cao lớn, dung mạo đoan chính, có 30 tướng (chỉ thiếu tướng bạch hào và dái tai hơi ngắn hơn dái tai của Phật), Phật độ cho ngài xuất gia, ở vườn Ni câu luật. Nhưng sau khi xuất gia, vì khó quên được người vợ là Tôn đà lợi (Phạm: Sundarì), nên ngài thường trở về nhà. Sau, nhờ đức Phật dùng phương tiện răn dạy, ngài mới dứt trừ được ái dục, chứng quả A la hán. Ngài là 1 trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật và được tôn xưng là bậc điều hòa các căn bậc nhất. Ngài Mã minh đã lấy câu chuyện giữa ngài và Tôn đà lợi(vợ ngài) làm đề tài mà sáng tác tập thơ Tôn đà la nan đà (Phạm: Saundaranda-kàvya) rất nổi tiếng. [X. Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.56; kinh Đại bảo tích Q.14; Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.11; kinh Bản sinh (bản Pàli); bài kệ 157 đến 158 trong Trưởng lão kệ (bảnPàli)]. II. Nan Đà. Cũng gọi Mục ngưu Nan đà. Tên 1 người chăm bò ở thời đại đức Phật còn tại thế. Có lần, vua Tần bà sa la thỉnh Phật và chúng tăng an cư 3 tháng, bấy giờ Nan đà ở gần đó, ngày ngày đem sữa đến cúng dường, suốt trong 3 tháng mà không hề xao lãng; vua rất khen ngợi và bảo Nan đà nên đến bái kiến đức Phật. Nan đà tự nghĩ, đức Phật tuy là bậc Nhất thiết trí nhưng vốn sinh trưởng trong chốn vương cung, làm sao biết được công việc chăn bò như thế nào; bởi vậy, khi đến bái kiến đức Phật, Nan đà bèn thưa hỏi Ngài về việc chăn bò. Đức Phật liền dạy ông 11 điều về nghệ thuật chăn bò, Nan đà khởi tâm cung kính và cầu xuất gia làm đệ tử Phật. [X. kinh Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi; Vô lượng thọ kinh hội sớ Q.1]. III. Nan Đà. Một trong những đệ tử của Phật, là con của đại thương gia Nan đà, ở thành Ất thệ ni, Tây Ấn độ. Vì tướng mạo rất đẹp nên ông được đặt tên là Tôn đà la nan đà. Lớn lên, ông được cha cho phép đi với 500 người mua bán đến thành Xá vệ, nhưng vì bị dâm nữ Hiền thủ mê hoặc nên mất hết hàng hóa vốn liếng. Những người đi theo liền trở về báo tin cho cha ông biết; đồng thời, sau khi tiêu dùng hết tiền của, dâm nữ cũng bỏ ông và đuổi ra khỏi nhà. Nan đà đang lúc bàng hoàng và bơ vơ nơi đầu đường, thì gặp được 1 vị tỉ khưu, ông liền theo vị tỉ khưu về tinh xá xin xuất gia. Một hôm khất thực đến nhà dâm nữ, Nan đà lại bị nàng dụ dỗ mà phạm giới. Đức Phật thương xót răn dạy, ông rất tủi hận và chí thành sám hối. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da Q.1]. IV. Nan Đà. Một trong 10 vị Đại luận sư của tông Duy thức, người đời gọi ngài là Thắng quân tổ sư Nan đà tôn giả. Ngài người Ấn độ, đồng thời với các ngài An tuệ, Tịnh nguyệt. Ngài An tuệ căn cứ vào sự nhận thức về tâm pháp và tâm sở pháp mà chỉ lập có Tự thể phần, còn ngài Nan đà và ngài Tịnh nguyệt thì chủ trương thuyết Kiến phần và Tướng phần, cho nên được gọi là Nhị phần gia. Về sau, ngài nổi tiếng nhờ thuyết Tân huân chủng tử, tức phủ nhận thuyết Chủng tử bản hữu (chủng tử vốn đã có sẵn) mà chủ trương rằng chủng tử đều do sự huân tập của hiện hành mà sinh ra chủng tử mới; vì thế ngài còn được gọi là Tân huân gia. Ngài có rất nhiều tác phẩm, từng chú thích Duy thức tam thập tụng của bồ tát Thế thân và luận Du già sư địa của bồ tát Di lặc. [X. luận Duy thức Q.1, 2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối]. V. Nan Đà. Là 1 trong nhóm Lục quần tỉ khưu, anh em với Bạt nan đà. Thời đức Phật còn tại thế, Nan đà thường cùng với 5 tỉ khưu xấu ác kết bè đảng, làm những việc sai trái, trở thành nguyên nhân khiến đức Phật chế định 2 pháp Đơn đọa thứ 22 và 23. (xt. Lục Quần Tỉ Khưu, Nan Đà Bạt Nan Đà).

nan đà bạt nan đà

Tên của hai Long Vương Nan Đà và Bạt Nan Đà, đã bảo vệ xứ Ma Kiệt Đà—Name of Nanda and Upananda, two naga brothers, who protected Magadha. ; (難陀跋難陀) I. Nan Đà Bạt Nan Đà. Nan đà, Phạm: Nanda, cũng gọi Nan đồ. Bạt nan đà, Phạm: Upananda, cũng gọi Ô ba nan đà. Hai người đứng đầu trong nhóm Lục quần tỉ khưu. Hai người là anh em, họ Thích, dòng dõi vua chúa, cả 2 đều giỏi về âm dương lịch toán, thuyết pháp và nghị luận, nhưng nhiều ham muốn và làm những việc bất nghĩa; vì ông Nan đà mà đức Phật chế định 2 pháp Đơn đọa thứ 22 và 23; vì ông Bạt nan đà mà Phật chế định 15 pháp Xả đọa từ pháp thứ 6 đến pháp 20; 6 pháp Đơn đọa từ pháp 37 đến pháp 42 và pháp Chúng học thứ 95. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.28; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.4]. (xt. Lục QuầnTỉ Khưu). II. Nan Đà Bạt Nan Đà. Hai anh em Long vương trong 8 vị đại Long vương. (xt. Ưu Ba Nan Đà Long Vương, Nan Đà Long Vương).

nan đà long vương

(難陀龍王) Nan đà, Phạm: Nanda. Cũng gọi Nan đồ long vương, Nan đầu long vương. Hán dịch: Hỉ long vương, Hoan hỉ long vương. Một trong 8 vị Đại long vương, là anh em với Ưu ba nan đà (Bạt nan đà), cho nên thường gọi chung là Nan đà bạt nan đà long vương, Nan đồ Bạt nan đà long vương. Nan đà khéo tùy thuận lòng người, điều hòa mưa gió nên người đời rất vui mừng, vì thế có tên là Hỉ long vương. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 28 và kinh Đại bảo tích quyển 14, thì vị Long vương này có 7 đầu, tính rất hung ác, sau do ngài Mục liên hàng phục. Còn theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1 và phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1, thì Long vương Nan đà đứng đầu trong các vị Long thần hộ trì chính pháp. Trong Mật giáo, vị Long vương này được đặt ở bên phải phía trong 3 cửa Nam, Tây, Bắc trong viện Kim cương ngoại bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, đối diện với Bạt nan đà Long vương ở phía bên trái của các cửa này. Cứ theo Đại nhật kinh sớ thì cả 2 vị Long vương này đều có 7 đầu, tay phải cầm kiếm, tay trái cầm vòng dây, đứng trên áng mây. [X. kinh Hoa nghiêm Q.64 (bản 80 quyển); phẩm Thọ mệnh trong kinh Niết bàn Q.1 (bản Bắc); phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.10, 16; điều Trúc pháp hộ dịch kinh trong Xuất tam tạng kí tập Q.2]. ( xt. Ưu Ba Nan Đà Long Vương).

nan đề

Nandi (skt). 1) Người hạnh phúc—The happy one. 2) Tên của Thần Visnu: Name of Visnu. 3) Tên của Thần Siva: Name of Siva. 4) Tên của một vị Tăng người gốc vùng bắc Ấn: Name of a monk from northern India. 5) Từ dùng để chỉ tháp mộ: A term for “stupa.” ; (難提) Phạm: Nandi. Hán dịch: Hỉ. I. Nan Đề. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cứ theo Kinh luật dị tướng quyển 19, thì tỉ khưu Nan đề tâm thường ở trong định, cho nên cũng gọi là Thiền nan đề. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 3 (Đại 2, 557 trung) nói: Nhẫn nhục khất thực, không quản nắng mưa, đó là tỉ khưu Nan đề. [X. kinh Thị giả trong Trung a hàm Q.8]. II. Nan Đề. Cũng gọi Trúc nan đề. Danh tăng người Tây vực đến Trung quốc vào cuối đời Đông Tấn, trụ ở Lạc dương. Nhờ thông hiểu chữ Hán, sư đã dịch được các kinh như: Đại thừa phương tiện, Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú v.v... [X. Đại đường nội điển lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.3].

nan đề ca

Nandika (skt)—Tên của một trong số các người em của Đề Bà Đạt Đa—Name of one of Devadatta's brothers.

nan đề ca vật đa

Nandikavarta or Nadyavarta (skt)—Xoay vòng kiết tường hay xoay quắn về bên phải, như kiểu tóc xoắn của Đức Phật—Joyous or auspicious turning or turning to the right, i.e. curling as a Buddha's hair. ; (難提迦物多) Phạm: Nandy-àvarta. Hán dịch: Hỉ toàn. Tóc xoay về phía bên phải, là 1 trong những đức tướng của Phật . Theo Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí quyển 8 của ngài Tuệ uyển, thì tướng tóc của Phật, bản tiếng Phạm(kinh Hoa nghiêm) gọi là Nan đề ca vật đa, tóc xoay tròn về bên phải, sáng sạch mềm mại. [X. Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.50; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt....(Vạn) Tự).

nan độ

Chúng sanh cương cường rất khó tế độ—Hard to cross over, to save or to be saved. ** For more information, please see Nan Hóa, and Nan Hóa Tam Cơ in Vietnamese- English Section. ; (難度) Khó vượt qua. Chỉ cho việc từ bờ mê bên này muốn vượt qua sang bờ giác bên kia là 1 việc vô cùng khó khăn. Chúng sinh chìm đắm trong sinh tử, khó thoát khỏi cảnh mê, giống như rơi xuống biển sâu, rất khó thoát ra, cho nên ví dụ là Nan độ hải. Từ ý nghĩa đó, giáo pháp của đức Phật được ví dụ như con thuyền vượt qua biển sinh tử. Phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa quyển 5 (Đại 26, 34 hạ) nói: Ngồi trên thuyền Bát chính đạo, có thể vượt được biển khó qua. [X. kinh Hoa nghiêm Q.5 (bản 60 quyển)].

nan độ hải

Biển sanh tử luân hồi khó lòng mà vượt qua được—The ocean hard to cross, the sea of life and death, or mortality.

nanh vuốt

Clutches.

nanh vuốt tử thần

The clutches of death.

nao bạt

(鐃鈸) Một trong những thứ pháp khí bằng vàng hoặc đồng, được dùng trong các chùa viện. Nao và Bạt vốn là 2 loại nhạc khí khác nhau, người đời sau gọi chung là Nao bạt, ta quen đọc là Nạo bạt. Nao, có 2 loại vàng hoặc đồng. Theo sách Chu lễ, Lễ kí thì nao vàng dùng để đánh khi lui quân hoặc xuống sân khấu lúc nhảy múa xong. Hình dáng nao vàng giống như cái bàn là, có cán, xoa vào nhau thì phát ra tiếng xoang xoảng, cho nên gọi là Nao. Còn nao đồng tức là cái gõ nhịp bằng đồng, kiểu dáng hoàn toàn khác với nao vàng mà giống như đồng bạt, nhưng nhỏ hơn, do 2 cái hợp thành, âm thanh cũng trong trẻo nên tục gọi là Nao. Bạt, cũng gọi Đồng bạt, Đồng bạt tử, Đồng bát tử, Đồng bàn; được làm bằng đồng, hình tròn, ở giữa có cái núm tròn lồi lên, chính giữa núm tròn này khoan 1 lỗ nhỏ, xỏ sợi dây để cầm; bên trong cái lỗ có cái nút giữ cho sợi dây khỏi lọt. Khi sử dụng, dùng 2 tay, mỗi tay cầm 1 mặt đồng bạt, chập vào nhau thì phát ra tiếng. Cứ theo Luật thư nhạc đồ thì Đồng bạt tử bắt nguồn từ Tây vực, không có cán, dùng da làm dây, chập vào nhau theo đúng nhịp gõ, những dân tộc phương Đông thường sử dụng loại nhạc khí này. Còn theo các sách thông thường thì Đồng bạt có xuất xứ từ các giống người Tây nhung, Nam man..., cái núm tròn lồi lên ở chính giữa có vài tấc, cũng có khi đến vài thước. Trong các bức bích họa đào được ở Bzklik thuộc vùng Trung á, những bức Tịnh độ biến tướng phát hiện ở Đôn hoàng, trong hội Hư không của Đương ma mạn đồ la ở Nhật bản và trong bức tranh A di đà nhị thập ngũ Bồ tát lai nghinh v.v... đều có hình vẽ của loại nhạc khí này. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.14; luật Ma ha tăng kì Q.33; điều Nao bạt, chương Pháp khí trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ; điều Kết xã pháp tập trong Đại tống tăng sử lược Q.hạ; môn Bái khí trong Thiền lâm tượng khí tiên].

neo

To anchor.

nga

Cao: High. Đói: Hungry. Đòi hỏi: Demanding. Con ngài của tằm: A moth. Con ngỗng: Hamsa (skt)—A goose. ; (哦) Cũng gọi Già, Ngã, Ngưỡng, Hất, Càn, Kiệt, Kiện, Bá. Chỉ cho chữ Tất đàm (ga), 1 trong 50 hoặc 42 chữ cái. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Nga, nghĩa là tất cả các pháp hành bất khả đắc. Tiếng Phạm Gamana, nghĩa làhành, vì chữ Nga bắt đầu bằng ga, cho nên có thuyết Tất cả pháp hành bất khả đắc. Kinh Phương quảng đại trang nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng) nói: Khi xướng chữ Già thì phát ra tiếng pháp sâu xa nhiệm mầu nhập vào duyên khởi. Đây là do nghĩa của chữ Gata (đến) và Gambhìra (sâu xa) mà ra. Đại nhật kinh sớ quyển 7 giải thích chữ Nga nghĩa là hành bất khả đắc. Hành có nghĩa đi, đến, tiến, lui không dừng. Nghĩa này là do giải thích chữ A triển chuyển mà ra . [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.10; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2].

nga châu

(鵝珠) Con ngỗng nuốt hạt châu. Cứ theo Đại trang nghiêm kinh luận quyển 11, xưa kia, có 1 vị tỉ khưu khất thực đến trước nhà người thợ xâu ngọc, lúc đó người thợ đang xâu ngọc ma ni cho nhà vua, thấy vị tỉ khưu đến, người thợ liền để viên ngọc xuống và vào nhà lấy thức ăn cúng dường. Khi ấy, có 1 con ngỗng đến nuốt mất viên ngọc, lúc người thợ trở ra không thấy viên ngọc liền ngờ và tra hỏi vị tỉ khưu; vị tỉ khưu tự nghĩ: Nếu mình nói thật thì con ngỗng sẽ bị giết, như vậy mình đã phạm giới sát sinh, còn nếu nói không đúng thì phạm giới vọng ngữ, thôi, im lặng là hơn. Thấy vị tỉ khưu không nói người thợ càng thêm nghi ngờ, liền trói vị tỉ khưu lại và dùng gậy đánh đập đến nỗi tai, mắt, miệng, mũi đều ra máu. Con ngỗng lúc nãy thấy máu liền đến ăn, bị người thợ ngọc tức giận đánh chết. Vị tỉ khưu trông thấy thương xót buồn rầu và nói kệ rằng: Xưa có vị Bồ tát Bỏ mình cứu bồ câu Nay tôi cũng làm theo Xả thân để cứu ngỗng Vì có lòng thương xót Muốn bảo toàn mệnh ngỗng Giờ ông đã giết ngỗng Tâm nguyện tôi chẳng thành. (Đại 4, 320 hạ). Bấy giờ, người thợ ngọc mổ bụng ngỗng, thấy viên ngọc trong đó, liền òa lên khóc và nói: Ngài muốn cứu mệnh sống của ngỗng mà không tiếc thân mình, khiến tôi làm việc bất nhân này!. [X. Kinh luật dị tướng Q.14].

Nga lâm

(俄臨): đến trong khoảnh khắc, trong chớp mắt. Như trong bài Phụ Ngũ Thất của (父五七) Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục có đoạn rằng: “Chu hạ nga lâm đương hiếu tử thù ân chi nhật, dục tiến linh hồn độ thoát, tu bằng ngã Phật từ bi (朱夏俄臨當孝子酬恩之日、欲薦靈魂度脫、須憑我佛慈悲, Hạ đỏ chợt đến nhằm ngày hiếu tử báo ơn, muốn cúng cho linh hồn độ thoát, nên nương đức Phật từ bi).”

nga mi sơn

Núi Nga Mi là một trong bốn ngọn núi nổi tiếng ở phía tây huyện Nga Mi, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Hai núi đối nhau như mày ngài (Tam Nga gồm Đại Nga, Trung Nga, Tiểu Nga, chu vi khoảng 1000 dậm, gồm trên 40 thạch động lớn nhỏ)—O-Mei-Shan, or Mount Omi, one of the four famous peaks in China, in Omi district, Szech-Wan province. Two of its peaks are said to be like a moth's eyebrows. ; (峨眉山) Núi ở cách huyện Nga mi, tỉnh Tứ xuyên, Trung quốc, khoảng 7 cây số về mạn tây nam, là đạo tràng thuyết pháp của bồ tát Phổ hiền. Phật giáo gọi là núi Quang minh, Đạo giáo gọi là Hư linh động thiên. Mạch núi bắt nguồn từ Mân sơn, chập chùng uốn khúc, giống như cầu vồng, dài hơn 180 cây số, chu vi từ 5 đến 600 cây số. Toàn dãy núi có 3 ngọn chính cao hơn hết là Đại nga, Trung nga và Tiểu nga, 1 mạch liền nhau, trong đó, ngọn Vạn Phật (Đại nga) cao 3.099 mét. Núi này cùng với núi Ngũ đài, núi Phổ đà và núi Cửu hoa được gọi chung là Tứ đại linh sơn của Trung quốc. Từ chân lên đến đỉnh núi, đường mòn quanh co hơn 50 cây số, có khoảng 70 ngôi chùa, viện, hơn 40 hang động, hơn 100 khám thờ bằng đá. Trong đó, chùa Thánh thọ vạn niên là nơi bồ tát Phổ hiền thị hiện nói pháp. Chùa này do ông Bồ ông sáng lập vào đời Đông Tấn, vốn tên là chùa Bạch thủy Phổ hiền; sau trải qua nhiều triều đại đều được trùng tu, đến đời Minh chùa được đổi tên là chùa Vạn niên. Trong chùa hiện có pho tượng Phật bằng đồng, hình tướng rất đẹp, nét đúc tinh xảo, là di vật văn hóa quí báu của Phật giáo. Ngoài ra, còn có chùa Phục hổ, chùa Báo quốc, gác Thanh âm, chùa Tiên phong, Kim đính, chùa Quang tướng và Sạn đạo (con đường trong núi gác bằng những cây gỗ) Hắc long giang... đều là những di tích rất nổi tiếng.

nga mi sơn chí

(峨眉山志) Tác phẩm, 8 quyển, do ông Tưởng siêu căn cứ vào tác phẩm Dịch nga lại của ông Tỉnh nghiêm Hồ các mà biên soạn vào năm Khang hi 11 (1672) đời Thanh, Đại sư Ấn quang sửa chữa lại vào năm Dân quốc 19 (1930), được thu vào Trung quốc Phật tự sử chí vậng san tập 1. Nội dung nói về nhân vật, tự viện và những di tích thắng cảnh ở núi Nga mi. Toàn sách được chia làm 11 môn: Tinh dã đồ thuyết, Bồ tát thánh tích, Kim sơn hình thắng, Tự am thắng khái, Cảm ứng linh dị, Lịch đại cao tăng, Vương thần ngoại hộ, Tiên ẩn lưu ngụ, Cổ kim nghệ văn, Động thực vật sản và Tưởng biên chí dư. Đây là tập sử liệu đầy đủ về núi Nga mi.

nga mi tự

See Quang Tướng Tự.

Nga Sơn Thiều Thạc

峨山韶碩; J: gasan jōseki; 1275-1365;|Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc thứ ba của tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) sau hai vị Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) và Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin). Sư nối Pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn.|Sư sinh trong một gia đình tại Noto, sớm xuất gia (1290) tu học giáo lí của Thiên Thai tông trên núi Tỉ Duệ. Một cuộc gặp gỡ với Thiền sư Oánh Sơn đã thay đổi quan niệm tu học của Sư và từ đây, Sư tôn Oánh Sơn làm thầy và chú tâm vào việc Toạ thiền và quán Công án. Dưới sự hướng dẫn của Oánh Sơn, Sư ngộ đạo và được Ấn khả.|Sư trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) – với một cuộc gián đoạn ngắn và trong thời gian này Sư trụ trì Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) – gần 40 năm liền và đã đưa danh tiếng của ngôi chùa này lên đến tuyệt đỉnh. Sư rất chú trọng đến việc thuyết pháp, hoằng hoá quần chúng, nhất là những người thuộc những tầng cấp thấp của xã hội và cố gắng gieo vào tâm của các vị đệ tử tư tưởng của một vị Bồ Tát, quên mình, vì người, một tư tưởng mà Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn đã phát huy trong tông Tào Ðộng.|Sư cũng là người đầu tiên đưa thuyết Ngũ vị quân thần của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới (Ðộng Sơn ngũ vị) vào chương trình giảng dạy của tông Tào Ðộng tại Nhật. Sư có rất nhiều đệ tử nhưng nổi danh nhất là năm vị, đó là: 1. Thái Nguyên Tông Chân (太源宗眞; taigen sōshin, ?-1370), 2. Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈; j: tsūgen ja-kurei, 1322-1391), 3. Vô Ðoan Tổ Hoàn (無端祖環; j; mutan sokan, ?-1387), 4. Ðại Triệt Tông Linh (大徹宗令; j: daisetsu sōrei, 1333-1408), 5. Thật Phong Lương Tú (實峯良秀; j: jippō ryōshū, 1318-1405). Với sự nghiệp hoằng hoá của năm vị này, tông Tào Ðộng được truyền bá khắp nước Nhật.

Nga Sơn Thiệu [Thiều] Thạc

(峨山紹[韶]碩, Gasan Jōseki, 1276-1366): vị Tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, hiệu là Nga Sơn (峨山), người Quận Vũ Trách (羽咋郡), Năng Đăng (能登, Noto, thuộc Ishikawa-ken [石川縣]), họ là Nguyên (源). Năm lên 11 tuổi, ông đến tu tại ngôi chùa trong làng, rồi năm lên 16 tuổi thì lên Tỷ Duệ Sơn xuất gia và học tông yếu của Thiên Thai. Đến năm 1297, khi Oánh Sơn (瑩山) đi hành hóa ở kinh đô Kyoto, ông đến tham vấn Thiền chỉ nơi vị này. Vào mùa xuân năm 1299, ông chính thức tham vấn Oánh Sơn cũng như Triệt Thông (徹通) ở Đại Thừa Tự (大乘寺, Daijō-ji). Đến năm 1306, lúc 32 tuổi, ông đại ngộ. Sau đó, ông đi tham bái khắp chốn tòng lâm, rồi đến năm 1321 thì trở về lại cố hương Năng Đăng của mình. Vào năm 1324, ông đến trú ở Tổng Trì Tự (總持寺, Sōji-ji), rồi đến năm 1340 thì chuyển đến sống ở Vĩnh Quang Tự (永光寺). Đến cuối đời, ông nhường chức trú trì lại cho Thái Nguyên Tông Chơn (太源宗眞), khai sáng ra Dưỡng Thọ Viện (養壽院) và lui về ẩn cư. Vào ngày 20 tháng 10 năm thứ 5 (1366) niên hiệu Trinh Trị (貞治), ông thị tịch, hưởng thọ 91 tuổi. Ông được ban cho thụy hiệu là Đại Hiện Tông Dụ Quốc Sư (大現宗猷國師). Đệ tử của ông có Thái Nguyên Tông Chơn, Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈), Vô Đoan Tổ Hoàn (無端祖環), Đại Triệt Tông Lịnh (大徹宗令), Thật Phong Lương Tú (實峰良秀), được gọi là Nga Sơn Ngũ Triết (峨山五哲).

nga thú đăng hỏa

Con người chạy theo dục vọng như những con thiêu thân phóng mình vào ánh đèn vậy—Like a moth flying into the lamp, is man after his pleasures.

nga vương

Raja-hamsa (skt). ; (鵝王) Phạm: Haôsa-raja. Ngỗng chúa, ví dụ đức Phật. Trong 32 tướng của đức Phật nói trong các kinh luận, tướng thứ 5 là ở giữa các ngón tay và ngón chân của Ngài có những màng mỏng (Phạm: Jalàvanaddhahasta-pàda), giống như màng mỏng ở giữa những ngón chân của ngỗng chúa (có thuyết nói là Nhạn chúa). Cho nên kinh điển thường dùng Nga vương hoặc Nhạn vương để ví dụ Ngài. Những màng mỏng này có màu vàng ròng, có vân như lụa là, tướng này là do khi đức Phật còn ở địa vị tu nhân, Ngài thường tu Tứ nhiếp pháp thu phục chúng sinh mà cảm được. Cũng có thuyết cho rằng đức Phật bước đi khoan thai, giống như loài ngỗng, cho nên gọi là Nga vương. Kinh Ương quật ma la quyển 1 (Đại 51, 513 hạ) nói: Bấy giờ, đức Thế tôn bước đi 7 bước, giống như Nga vương. [X. kinh Bồ tát thiện giới Q.9; kinh Đại bát nhã ba la mật đa Q.381; luận Đại trí độ Q.29].

nga vương biệt nhũ

Trong một hợp chất nước và sữa, thì vua của loài ngỗng có thể chỉ uống chất sữa, còn bỏ nước lại, dùng hình ảnh nầy đề ví với vị Bồ Tát chỉ thấm nhuần chơn lý Phật và bỏ đi những thứ tạp nhạp khác—A king-goose is reputed to be able to absorb the milk from a mixture of milk and water, leaving the water behind, so with a bodhisattva and truth. ; (鵝王別乳) Ngỗng chúa phân biệt sữa. Đem sữa hòa vào nước cho ngỗng uống, ngỗng chỉ lựa sữa mà uống, bỏ nước lại, ví dụ bậc giác ngộ tuy ở giữa thế gian nhớp nhúa nhưng không bị ô nhiễm, hoặc chỉ cho người có khả năng phân biệt chân ngụy, chính tà, thiện ác rõ ràng. Trong truyện tích này, nước biểu thị chúng sinh (phàm), sữa biểu thị Phật(Thánh). Pháp hoa huyền nghĩa quyển 5 thượng, ví Nga vương với Bồ tát, bảo rằng vô minh và hoặc đồng thể, như sữa ở trong nước, chỉ có Bồ tát từ giai vị Thập trụ trở lên, là bậc Nga vương, mới có thể uống sữa vô minh để làm cho nước pháp tính trong sạch. [X. Tổ đình sự uyển Q.5].

nga vương nhãn

Dùng hình ảnh vua của loài ngỗng biết phân biệt sữa và nước, để ví với học giả có Pháp Nhãn biết chọn lựa sáng suốt—The eye of the king-goose, distinguishing milk from water, used for the eye of the truth-discerner. ; (鵝王眼) Cũng gọi Nga nhãn, Nhũ thủy nhãn. Mắt của ngỗng chúa, ví dụ người tu đạo có mắt trí tuệ sáng suốt, lựa chọn pháp tối thắng, vào ngay chính tông. (xt. Nga Vương Biệt Nhũ).

nga vương được so sánh với đức phật, trong 32 tướng tốt của phật là tay chân mạn võng tướng hay có tướng lưới đan (giữa các ngón chân và tay của đức p

The king-goose, leader of the flight, i.e. Buddha, one of whose thirty-two marks is webbed hands and feet. Tướng đi uy nghi của Đức Phật giống như loài ngỗng: The walk of a Buddha is dignified like that of the goose.

nga đa dã

(哦哆也) Phạm: Gataya. Hán dịch: Hành. Đi lại chẳng dừng. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Vạn tục 36, 105 thượng) nói: Tiếng Phạm Nga đá dã, Hán dịch là hành, hành nghĩa là đi, đến, tiến, lui không dừng.

ngang bướng

Stubborn.

ngang hàng

Equal—To be on the same rank (class).

ngang ngạnh

Stupid—Obstinate.

ngang nhiên

Proudly—Haughty.

ngang trái

Obstacles.

ngang tàng

Unsubmissive.

ngao du

To travel.

ngao ngán

Disgusted—Discouraged—Disappointed.

ngay

Straight—Direct.

ngay lập tức

Immediately—At once.

ngay sau khi

Soon after.

ngay thật

Sincere—Honest—Candid.

ngaû

To incline—To lean.

nghe

To hear.

nghe bóng nghe gió

To hear vague rumours.

nghe lén

To listen secretly.

nghe lóm

To overhear.

nghe lời

To obey.

nghe mang máng

To hear vaguely.

nghe ngóng

To keep one's ears open.

nghe phong phanh

To hear vaguely.

nghe pháp

Listen to the Dharma—If we listen to the Dharma teaching but don't practice it, we are like a spoon in a pot of soup. Every day, the spoon is in the pot but it never knows the taste of the soup—Nếu chúng ta chỉ nghe Pháp mà không thực hành Pháp, chúng ta cũng như cái muỗng trong nồi canh. Hằng ngày, cái muỗng ở trong nồi canh, nhưng nó không bao giờ biết được vị của canh. Vì thế cho nên chúng ta phải quán sát và hành thiền mỗi ngày.

nghe tin

To hear the news.

nghe văng vẳng

To hear vaguely in the distance.

nghe được

Hearable.

nghe đồn

To hear a rumour.

Nghi

疑; S: vicikitsā; P: vicikicā;|Một thuật ngữ quan trọng, chỉ sự tâm lí nghi ngại, nghi ngờ, là một trong Năm chướng ngại (s: pañca-nīvaraṇa) và một trong ba Trói buộc (s: saṃyojana) của hành giả trên Thánh đạo (s: āryamārga). Theo đạo Phật, nghi được xem là thái độ »không muốn hiểu«, được biểu hiện bằng sự dao động, bằng sự lãnh đạm, bằng sự thiếu nhiệt thành. Còn lòng nghi ngờ lành mạnh hiểu như một thái độ thận trọng, không vội tin những gì người khác hay kinh sách, hay chính Phật nói mà phải tìm hiểu thử nghiệm thì lại là một đức hạnh mà chính Phật cũng khuyên nên có. Cần phân biệt cái nghi ở đây với Ðại nghi đoàn, khối nghi lớn cần phải có trong việc tu tập theo Thiền tông. ; 儀; C: yí; J: gi;|Có các nghĩa sau: 1. Luật lệ, mẫu mực, kiểu mẫu; 2. Nghi thức, công chuyện, tình thế, vấn đề; 3. Phong cách, tư thái; 4.Tặng phẩm, tư thế; 5. Vật dụng, công cụ; 6. Phong thái hoàn mĩ.

nghi

to wonder, to doubt ; (疑) Phạm:Vicikitsà. Pàli: Vicikicchà. Tên của tâm sở, đối với lí mê ngộ, nhân quả còn nghi ngờ, do dự không quyết định, là 1 trong 75 pháp của tông Câu xá, 1 trong 100 pháp của tông Duy thức. Tức là tâm đối với chân lí chính pháp còn do dự không quyết đoán. Tiểu thừa từ quả Dự lưu trở trên, Đại thừa từ Bồ tát Sơ địa trở lên mới đoạn trừ được tâm này. Theo tông Câu xá thì Nghi thuộc Bất định địa pháp, là 1 trong 6 Tùy miên, 1 trong 10 Tùy miên; còn theo tông Duy thức thì Nghi là 1 trong 6 phiền não căn bản. Theo Dị bộ tông luân luận thuật kí thì Nghi có 2 loại: 1. Lí nghi: Đối với chân lí Tứ đế còn ngờ ngọ, đến quả A la hán mới đoạn trừ được. 2.Sự nghi: Đối với sự còn do dự, không quyết đoán; như ban đêm thấy cái cây ngờ là người hoặc chẳng phải người; A la hán chưa đoạn được, nhưng Độc giác thì đã dứt trừ. Ngoài ra, nghi mình, nghi thầy, nghi pháp gọi chung là Tam nghi. [X. phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.4; luận Du già sư địa Q.58; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6].

nghi chấp

The holding to doubt. ; (疑執) Chỉ cho ý niệm chấp trước sự ngờ vục. Khởi tín luận sớ bút tước kí quyển 1 (Đại 44, 297 trung) nói: Công dụng của luận Khởi tín là phá trừ nghi chấp, phát khởi chính tín. [X. Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng phần đầu].

nghi cái

Tánh hay nghi hoặc che lấp mất tâm thức, khiến không thấy được chân lý, không thực hành được thiện nghiệp, đây là một trong năm triền cái—The overhanging cover of doubt, which prevents sentient beings from seeing and practicing good deeds, one of the five covers or mental and moral hindrances. ** For more information, please see Ngũ Triền Cái. ; (疑蓋) Phạm:Vicikitsà-àvaraịa Pàli: Vicikicchà-nìvaraịa. Đồng nghĩa: Nghi phiền não. Tên khác của phiền não, 1 trong 5 cái. Tính hoài nghi che lấp (cái) tâm thức của người tu hành, khiến cho mờ tối không thấy được chân lí. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 48, thì Cái hàm có các nghĩa: Ngăn, che, phá, hoại, đọa, nằm v.v... Pháp giới thứ đệ sơ môn quyển thượng phần đầu (Đại 46, 668 thượng) nói: Cái nghĩa là ngăn che, thường che lấp thiện tâm thanh tịnh của người tu hành, khiến không khai phát được. (xt. Ngũ Cái).

nghi căn

(疑根) Tính ngờ vực thâm nhập vào tâm giống như rễ cây bâm sâu xuống đất. Cho nên gọi là Nghi căn (gốc ngờ). Kinh Lăng nghiêm quyển 2 (Đại 19, 111 thượng) : Nguyện cầu Phật thương xót Tuyên thuyết pháp vi diệu Nhổ gốc ngờ của con Quay về đạo Vô thượng. [X. Vạn thiện đồng qui tập Q.hạ].

nghi hoặc

Doubtful—Suspicious—Uncertain—Doubt and delusion. ; (疑惑) Ngờ vực, chỉ cho trạng thái tâm không yên định, khiến năng lực phán đoán đối tượng bị chao đảo, không quyết định được phải trái. Đặc tính của nghi hoặc là hướng ngoại, nhưng dần dần lại chuyển thành hướng nội, do đó dễ trở thành tác dụng trực quan; cho nên Thiền tông thường nhấn mạnh đại nghi là điều kiện tuyệt đối cần thiết cho việc tham thiền ngộ đạo, vì ngờ vực thường sinh ra khuynh hướng dùng triết lí phân tích để giải quyết các công án, nhờ thế mà đưa đến đại ngộ. Bởi vậy, trong Thiền tông có từ ngữ Đại nghi đại ngộ, đây gọi là Chân nghi.

nghi hoặc thô thiển

Gross doubt.

nghi hoặc vi tế

Subtle doubt.

nghi hối

To repent of doubt. ; (疑悔) Nghi ngờ và sau ăn năn. Có 2 nghĩa: 1. Ngờ vực và sau đó hối hận. Di sa tắc ngũ phần giới bản (Đại 22, 197 hạ) nói: Nếu tỉ khưu làm cho tỉ khưu khác sinh nghi hối, khiến tâm người ấy bị não loạn, dù chỉ trong thời gian ngắn, thì phạm tội Ba dật đề. 2. Thất vọng: Phẩm Dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 41 thượng) nói: Không nên sinh tâm nghi hối, trí của Phật rất khó nghĩ bàn.

nghi kiến

Sự nghi ngờ chân lý Phật pháp gọi là nghi kiến, một trong thập tà kiến—Doubtful views—Doubtfully to view, one of the ten wrong views. ** For more information, please see Thập Tà Kiến in Vietnamese-English Section. ; (疑見) Đối với chân lí Tứ đế, tâm còn hoài nghi, do dự không quyết định. Là 1 trong 10 tà kiến. [X. luận Du già sư địa Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.43]. (xt. Thập Chủng Kiến).

Nghi kết

xem Ba kết.

nghi kết

Do nghi ngờ lý chân đế, gây vô số vọng nghiệp, nên bị trói buộc vào tam giới không thoát ra được—The bondage of doubt. ; (疑結) Phạm:Vicikitsà-saôyojana. Pàli: Vicikicchà-samyojana. Nghi ngờ chính pháp, tâm không quyết đoán, 1 trong 3 kết, 1 trong 9 kết. Chúng sinh đối với Chính pháp vọng sinh nghi hoặc, không tu chính hạnh, tạo các nghiệp ác như sát sinh, trộm cướp, gian dâm, nói dối v.v... do đó chiêu cảm quả khổ sinh tử trong vị lai, trôi lăn trong 3 cõi, khó thoát ra được. [X. luận Đại tì bà sa Q.46; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần cuối; Đại minh tam tạng pháp số Q.35]. (xt. Cửu Kết, Tam Kết).

nghi kỵ

To suspect—To distrust.

nghi lễ

Ceremony.

nghi nan

To doubt—To suspect.

nghi nghĩa

Ambiguity.

nghi ngút

To emit thick smoke.

nghi ngại

To worry—To suspect—To doubt.

nghi ngờ

Vicikitsa (skt)—Doubtful. Uy nghi: Manner—Mode—Style.

nghi pháp

Doubt. ** See Ngũ Ác and Ngũ Triền Cái.

Nghi quỹ

儀軌; C: yíguǐ; J: giki; S: sādhana hoặc tantra;|Luật tắc, luật lệ, mẫu mực, quy phạm, tín ngưỡng truyền thống. Thường được dùng trong Kim cương thừa để chỉ những bài chú về những phép tu thiền định đặc biệt. Những bài này thường thường trình bày các vị Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam), như một thật thể mà hành giả có thể tiếp cận được, và cách thực hiện linh ảnh các vị đó. Trong Phật giáo Tây Tạng, đây là phương pháp tu học phổ biến, nhưng luôn luôn cần sự hướng dẫn của một vị Ðạo sư (guru). Mỗi hành giả sẽ được truyền tâm bằng một câu Man-tra liên quan đến một vị thần hỗ trợ.|Phần thực hiện Nghi quỹ bao gồm 3 phần: Chuẩn bị, phần chính và phần chấm dứt. Phần chuẩn bị thường là Quy y tam bảo và phát triển Bồ-đề tâm. Phần chính thường gồm có giai đoạn bắt đầu, giai đoạn tạo linh ảnh của một vị Hộ Thần và giai đoạn xóa tan linh ảnh. Ðó là lúc mà hành giả trực nhận Chân như, tính Không. Giai đoạn chấm dứt thường gồm có các lời chúc hay hồi hướng. Ðối với Phật giáo Tây Tạng thì việc thiết tưởng linh ảnh, Hộ Thần không hề có tính huyền hoặc hay cầu xin một đấng nào bên ngoài. Ðó là những phương pháp để tự đồng hoá với một nguyên lí năng lượng ở nơi chính mình. Các vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật là những hình ảnh cơ bản nhất của các linh ảnh đó.

nghi quỹ

(儀軌) Phạm: Kalpa-sùtra. Gọi đủ: Bí mật du già quán hành nghi quĩ, Niệm tụng nghi quĩ, Bí mật nghi quĩ, Tam ma địa nghi quĩ. Cũng gọi: Tu hành pháp, Niệm tụng pháp, Cúng dường pháp, Tam ma địa pháp, Mật quĩ, Kinh quĩ. Từ gọi chung các kinh điển nói về những nghi thức, quĩ tắc trong Mật giáo. Vì các Tôn vị thuộc Mật bộ rất đông và pháp tu của các vị đều khác nhau, cho nên kinh quĩ cũng rất nhiều, không dưới con số 100 quyển. Từ đời Tống, Nguyên về sau, trong các bản Đại tạng kinh tuy đều có thu chép, nhưng đến nay đa số đã không còn lưu hành ở Trung quốc, mà chỉ còn được truyền bá ở Nhật bản. Các ngài Tối trừng, Không hải, Thường hiểu, Viên hạnh, Viên nhân, Huệ vận, Viên trân, và Tông duệ, lần lượt đến Trung quốc, tu học và viết chép rất nhiều kinh quĩ, rồi mang về Nhật bản hoằng truyền, người đời gọi là Bát gia tương thừa (Tám nhà truyền trao cho nhau). Vào thời đại Giang hộ, các nghi quĩ được thu chép trong Lục nội, có 187 bộ 324 quyển; ngoài ra, còn có những nghi quĩ được thu chép trong Lục ngoại là 133 bộ 180 quyển. Từ sau thời Minh trị, Súc loát Đại tạng kinh, Đại chính tân tu Đại tạng kinh đều có thu chép Lục nội, Lục ngoại và các loại nghi quĩ khác; Lục nội thu chép 570 bộ 931 quyển, Lục ngoại thu 612 bộ 961 quyển. Rồi Đại tạng kinh Tây tạng cũng có thu chép nhiều loại nghi quĩ. Đây là lí do cắt nghĩa tại sao đồ tượng của Mật giáo hết sức phức tạp, là vì có quá nhiều nghi quĩ. Những nghi quĩ ở Trung quốc được truyền đến từ Ấn độ, nghi quĩ Ấn độ là do bồ tát Long thụ truyền trao; những dịch giả chủ yếu là các Đại sư Thiện vô úy, Kim cương trí, Bất không v.v... [X. Chư nghi quĩ truyền thụ văn thư Q.9; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.7; Phật giáo thánh điển khái luận; Nhập Đường tân cầu thánh giáo mục lục].

nghi sát

Nghi là nghi tình, sát là giết chết mạng căn của sanh tử (ngộ), tức là từ nghi đến ngộ. Phương tiện của chư Tổ dùng để dẫn dắt hậu học, gọi là nghi sát người thiên hạ.

Nghi Sơn Thiện Lai

(儀山善來, Gizan Zenrai, 1802-1878): vị tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản, sống vào giữa hai thời Giang Hộ và Minh Trị, vị tổ đời thứ 52 của Diệu Tâm Tự (妙心寺, Myōshin-ji), húy Thiện Lai (善來), đạo hiệu Nghi Sơn (儀山), thụy hiệu là Phật Quốc Hưng Thạnh Thiền Sư (佛國興盛禪師), xuất thân vùng Nhược Hiệp (若狹, thuộc Fukui-ken [福井縣]). Ông xuất gia năm 11 tuổi, đến năm 22 tuổi thì đi hành cước khắp các tiểu quốc, và kế thừa dòng pháp của Tư Nguyên (孜元) ở Tào Nguyên Tự (曹源寺, Sōgen-ji) vùng Bị Tiền (僃前, Bizen). Ông đã từng sống ở Diệu Tâm Tự cũng như Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji) vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro), sau đó lại trở về Tào Nguyên Tự.

nghi sử

Bị nghi hoặc sai khiến mà lưu chuyển trong tam giới—The messenger, tempter, or lictor, of doubt. ; (疑使) Tâm thần người tu hành bị nghi hoặc sai khiến đến nỗi phải trôi lăn trong 3 cõi, khó thoát ra được. Là 1 trong 5 độn sử, 1 trong 10 sử. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 6, thì Sử nghĩa là sai khiến, ví dụ cho phiền não sai khiến, đeo đuổi và trói buộc người tu hành trong 3 cõi, không gỡ ra được. [X. Pháp giới thứ đệ Q.thượng phần trên]. (xt. Ngũ Độn Sử, Phiền Não).

nghi thành

(疑城) Thành ở chỗ biên giới cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà, là nơi ở của những hành giả niệm Phật cầu vãng sinh mà tâm còn ngờ vực. Theo kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác quyển 3, thì những người làm việc bố thí, sau lại sinh tâm hối tiếc, trong lòng ngờ vực chẳng hay bố thí có được phúc không? Có được sinh về cõi nước Vô lượng thanh tịnh của Phật không? Hoặc chợt tin chợt ngờ, ý chí do dự; tuy nhiên như thế nhưng vẫn liên tục niệm Phật không gián đoạn. Nhờ nhân duyên ấy, sau khi mệnh chung, hành giả này được sinh trong hoa sen tại tòa thành thất bảo ở biên giới cõi nước Vô lượng thanh tịnh của Phật. Sau 500 năm, khi hoa sen nở, sẽ được thấy Phật nghe pháp. Kinh Hộ quốc giới chủ (Đại 47, 161 thượng) cũng nói: Người ấy tâm ngờ vực chưa dứt, sinh vào Nghi thành, hưởng sự an vui trong 500 năm, lại tu tín nguyện mới được sinh vào Tịnh độ. Theo kinh Vô lượng thọ thì Nghi thành, Biên địa và Thai cung đều giống nhau. (xt. Thai Cung).

nghi thành thai cung

Vùng biên địa quốc độ của Đức Phật A Di Đà có một tòa cung điện gọi là “Nghi Thành Thai Cung,” nơi trú ngụ của những người đã vãng sanh mà trong lòng còn nghi ngờ Đức A Di Đà. Họ sẽ ở đây 500 năm mà không nghe thấy Tam Bảo—The palace womb for doubters outside Amitabha's heaven, or those who call on him but are in doubt of him (where all doubters of Amitabha) are confined for 500 years until fit to enjoy his paradise (born into the Pure Land).

nghi thích

Cái gai hay chướng ngại của nghi hoặc—The thorn of doubt. ; (疑刺) Mũi nhọn ngờ vực. Nghĩa là tâm ngờ vực có thể làm hại thiện căn, giống như mũi nhọn có khả năng đâm chết người. Vạn thiện đồng qui tập quyển hạ (Đại 48, 987 trung) nói: Thành tựu sự nghiệp của chư Phật, viên mãn đại Bồ đề, bít hết nẻo tà, mở toang đường chính, gốc tin bền chắc thì nhổ được mũi nhọn nghi ngờ, đầy đủ trí tuệ ba la mật.

nghi thị giải tân

(疑是解津) Ngờ giúp cho sự hiểu biết. Nghĩa là ngờ là cửa ngõ của sự hiểu biết. Theo Tam đức chỉ qui quyển 18, Tân, hàm ý là sự giúp đỡ. Do ngờ mà hiểu thì ngờ là sự giúp đỡ của hiểu biết. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 4 phần 4 (Đại 46, 271 hạ) nói: Ngờ thầy, ngờ pháp phải hiểu đúng lúc. Nếu chưa nhập vào được tam muội, đối với thầy và pháp, nhất lại gặp thầy tà, pháp tà thì cần phải ngờ, lựa chọn cho khéo. Ngờ là sự giúp đỡ của hiểu biết (nghi thị giải tân) chính là nghĩa ấy. [X. Đại bát niết bàn kinh sớ Q.13].

nghi thức

Mode—Style—Manner.

nghi tâm

Cái tâm luôn nghi hoặc—Suspicious or dublious mind—A doubting heart.

nghi tình

Ở trong tâm đề câu thoại đầu hoặc công án, tự hỏi mà tự sanh khởi cái cảm giác không hiểu, muốn hiểu mà hiểu không nổi, cũng chẳng lọt vào tư duy, Thiền tông gọi là nghi tình.

nghi tình và đại ngộ

Inquiring spirit and great enlightenment. Theo Thiền sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận, Tập II, Cao Phong là người chủ trương tu tập công án như vầy: “Công án tôi thường đặt cho các môn nhân là 'vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ?' Tôi khuyên họ hãy tham cứu câu nầy. Tham cứu câu ấy tức là đánh thức một mối nghi tình lớn đối với ý nghĩa cứu cánh của công án. Vạn pháp thiên sai vạn biệt được qui về Một, nhưng rồi Một trở về đâu? Tôi bảo họ, hãy đem hết sức mạnh bình sinh mà đeo mỗi mối nghi tình nầy, đừng lúc nào xao lãng. Dù đi, đứng, nằm, ngồi, hay làm các công việc, đừng để thời giờ luống trôi qua. Rồi ra cái Một trở về đâu? Hãy cố mà đi tìm một câu trả lời chính xác cho câu hỏi nầy. Đừng buông trôi mình trong cái vô sự; đừng luyện tập tưởng tượng phiêu du, mà hãy cố thực hiện cho được cái trạng thái toàn nhất viên mãn bằng cách đẩy nghi tình lướt tới, bền bỉ và không hở. Rồi các ngươi sẽ thấy mình như một kẻ bịnh ngặt, chẳng còn muốn ăn uống gì nữa. Lại như một thằng khờ, không hiểu cái gì ra cái gì hết. Khi công phu đến đây, giờ là lúc tâm hoa của các ngươi bừng nở.”—According to Zen master D.T. Suzuki in the Essays in Buddhism, Book II, Zen master Kao-Feng-Yuan-Miao talked about the koans as follows: “The koan I ordinarily give to my pupils is 'All things return to One; where does the One return?' I make them search after this. To search after it means to awaken a great inquiring spirit for the ultimate meaning of the koan. The multitudiness of things is reducible to the One, but where does the One finally return? I say to them: 'Make this inquiry with all the strength that lies in your personality, giving yourself no time to relax in this effort. In whatever physical position you are, and in whatever business you are employed, never pass your time idly. Where does the One finally return? Try to get a definite answer to this query. Do not give yourself up to a state of doing nothing; do not exercise your fantastic imagination, but try to bring about a state of identification by pressing your spirit of inquiry forward, steadily and uninterruptedly. You will be then like a person who is critically ill, having no appetite for what you eat or drink. Again you will be like an idiot, with no knowledge of what is what. When your searching spirit comes to this stage, the time has come for your mental flower to burst out.” Thiền Sư Cổ Âm Tịnh Cầm, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 15, đã nói rõ về nghi tình và đại ngộ như sau: “Công phu có thể được thực hành tốt đẹp nhất là ở nơi không có tiếng động và tạp loạn: hãy dứt bỏ tất cả những điều kiện quấy nhiễu, hãy dừng lại suy tư và nghĩ tưởng, để hết tâm chí vào việc tiến hành công án, đừng bao giờ buông thả nó ra khỏi trung tâm của 'thức,' dù khi đi, đứng, nằm hay ngồi. Đừng bao giờ quan tâm đến việc mình đang ở trong cảnh ngộ nào, dù khi vừa lòng hay trái ý, mà luôn luôn hãy cố giữ lấy công án trong lòng, phản quang tự chiếu, và tự hỏi ai là kẻ đang theo đuổi công án chẳng biết mệt thế, và tự hỏi như vậy không ngớt. Cứ tiến hành như thế, hết sức là hăng hái, nghi chính kẻ đang nghi, chắc chắn sẽ đến lúc không còn nghi vào đâu được nữa, tuồng như các người đã đi đến chính tận nguồn của dòng suối và thấy mình đang bị những ngọn núi vây hãm chung quanh. Đây là lúc gốc cây cùng sắn bìm chằng chịt gẫy đổ, tức là khi sự phân biệt chủ khách hoàn toàn bị xáo trộn, khi kẻ bị nghi và cái bị nghi hòa hợp thành một khối duy nhất. Một khi thức tỉnh từ sự hợp nhất nầy, thì cái ngộ lớn sẽ hiện đến—Zen master Ku-Yin-Ching-Ch'in, late in the fifteenth century, has this saying regarding the inquiring spirit and great enlightenment: “Searching and contriving (kung-fu) may best be practised where noise and confusion do not reach; cut yourself off from all disturbing conditions; put a stop to speculation and imagination; and apply yourself wholeheartedly to the task of holding on to your koan, never letting it go off the center of consciousness, whether you are sitting or lying, walking or standing still. Never mind in what condition you are placed, whether pleasing or disagreeable, but try all the time to keep the koan in mind, and reflect within yourself who it is that is pursuing the koan so untiringly and asking you this question so unremittingly. As you thus go on, intensely in earnest, inquiring after the inquirer himself, the time will most assuredly come to you when it is absolutely impossible for you to go on with your inquiry, as if you had come to the very fountain of a stream and were blocked by the mountains all around. This is the time when the tree together with the entwining wistaria breaks down, that is, when the distinction of subject and object is utterly obliterated, when the inquiring and the inquired are fused into one perfect identity. Awakening from this identification, there takes place a great enlightenment that brings peace to all your inquiries and searchings. Hòa Thượng Thiên Kỳ Thụy đã có lời khuyên về 'nghi tình và đại ngộ' như sau: “Hãy gột sạch tâm khỏi tất cả những khôn ngoan lừa lọc của thế gian, hãy dứt ra khỏi mình những tham sân do ngã chấp, và đừng để những mối suy nghĩ nhị biên (phân hai) quấy phá, để cho tâm thức được lau chùi sạch sẽ. Khi đã thanh lọc được như vậy rồi, hãy đề khởi công án trước tâm 'Vạn pháp qui Nhất, Nhất qui hà xứ?' Hãy nghiền ngẫm vấn đề nầy từ thủy chí chung, hoặc bằng nhiều nghi vấn, hoặc đơn độc một suy nghĩ, hoặc chỉ nghiền ngẫm cái Một ở nơi đâu. Bất cứ bằng cách nào, cứ để cho hết thảy đầu mối của các câu hỏi ghi đậm trên ý thức của các người, khiến cho nó trở thành cái độc nhất là cái đích chú tâm. Nếu các người để phân biệt lý luận xen vào chuỗi dây liên tục bền bỉ của những nghi tình, kết quả sẽ làm sụp đổ hết cả công trình tu tập. Một khi các người chẳng được công án trước tâm, chẳng có cơ duyên nào để chứng ngộ hết. Lúc đó sự tu tập thiền quán của các người chẳng khác khác nào nấu cát mà muốn thành cơm. Cái cốt yếu bậc nhất là khơi dậy cái đại nghi và gắng thấy cho được cái Một qui về đâu. Lúc nghi tình được giữ linh hoạt liên tục, khiến cho những giải đãi, hôn trầm, tán loạn không còn cơ hội móng khởi; không cầu tìm kiếm ráo riết, rốt rồi thời cơ cũng sẽ đến, đây là lúc tâm hoàn toàn nhập định. Thế là dù đi hay đứng, dù nằm hay ngồi mà không phải để ý hẳn vào những việc đang làm ấy, cũng không hay biết mình đang ở đâu, đông hay tây, nam hay bắc; quên luôn cả lục tình; ngày đêm như nhau cả. Nhưng đây chỉ là mới nửa đường của ngộ, chứ chưa phải là ngộ hoàn toàn. Các người cần phải nỗ lực kỳ cùng và quyết liệt để xuyên qua đây, một trạng thái siêu thoát nơi đó hư không sẽ bị đập vỡ thành từng mảnh và vạn hữu đều được qui về cái bình đẳng toàn diện. Đấy lại như mặt trời ló dạng khỏi mây mù, thì các pháp thế gian hay xuất thế gian đều hiện ra rõ rệt.”—Most Venerable T'ien-Ch'i-Shui's advice to students of Zen as follows: “Have your mind thoroughly washed off of all cunning and crookedness, sever yourselves from greed and anger which rise from egotism, and let no dualistic thoughts disturb you any longer that your consciousness is wiped perfectly clean. When this purgation is effected, hold up your koan before the mind 'All things are resolvable into the One, and when is this One resolved? Where is it really ultimately resolved? Inquire into this problem from beginning to end, several as so many queries, or undividedly as one piece of thought, or simply inquire into the whereabouts of the One. In any event, let the whole string of questions be distinctly impressed upon your consciousness so as to make in the exclusive object of attention. If you allow any idle thought to enter into the one solid uninterruptible chain of inquiries, the outcome will ruin the whole exercise. When you have no koan to be held before your minds, there will be no occasion for you to realize a state of enlightenment. To seek enlightenment without a koan is like boiling sands which will never yield nourishing rice. The first essential thing is to awaken a great spirit of inquiry and strive to see where the One finally resolves itself. When this spirit is kept constantly alive so that no chance is given to languor or heaviness or otioseness to assert itself, the time will come to you without your specially seeking it when the mind attains a state of perfect concentration. That is to say, when you are sitting, you are not conscious of the fact; so with your walking or lying or standing, you are not all conscious of what you are doing; nor are you aware of your whereabouts, east or west, south or north; you forget that you are in possession of the six senses; the day is like the night, the vise-versa. But this is still midway to enlightenment, and not enlightenment itself. You will have yet to make another final and decided effort to break through this, a state of ecsatcy, when the vacuity of space will be smashed to pieces and all things reduced to perfectevenness. It is again like the sun revealing itself from behind the clouds, when things worldly and super-worldly present themselves in perfect objectivity.” Thật vậy, chúng ta không đề khởi công án hiện tiền, mà phải đặt nó vào trong tâm bằng tất cả sức mạnh của nghi tình. Một khi công án được chi trì bởi một tinh thần như thế, thì theo Thiền Sư Đại Huệ, nó giống như một ngọn lửa cháy lớn đốt cháy tất cả những con sâu hý luận đang xăm tới. Và cũng chính vì vậy mà tất cả các Thiền sư đều đồng ý rằng 'Trong sự tham Thiền, điều trọng yếu nhất là giữ vững nghi tình; nghi tình càng mạnh, ngộ càng lớn. Quả thực chẳng bao giờ có ngộ nếu không có nghi— In fact, we can't just hold up a koan before the mind, we must make it occupy the very center of attention by the sheer strength of an inquiring spirit. When a koan is cultivated with such a spirit, according to Zen master Ta-Hui, it is like a great consuming fire which burns up every insect of idle speculation that approaches it. Therefore, it is almost a common sense saying among Zen masters to declare that , 'In the mastery of Zen the most important thing is to keep up a spirit of inquiry; the stronger the spirit the greater will be the enlightenment that follows; there is, indeed, no enlightenment when there is no spirit of inquiry.

nghi tục thiện

(疑續善) Sự ngờ vực tiếp nối sinh lại thiện căn. Người tà kiến không tin và phủ định lí nhân quả, do đó đã dứt hết thiện căn. Nhưng khi gặp được thiện tri thức, người ấy bỗng nảy ra ý niệm hoài nghi có lẽ có đạo lí nhân quả. Thì ngay lúc đó, thiện căn đã dứt trước kia, nay tiếp nối sinh lại, vì thế nên gọi Nghi tục thiện. [X. luận Câu xá Q.17].

nghi võng

(疑網) Lưới ngờ. Nghĩa là những mối nghi ngờ đan dệt vào nhau, giống như tấm lưới nên gọi là Nghi võng. Phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa (Đại 9, 10 hạ) nói: Trong lòng rất vui mừng, lưới ngờ đều đã dứt. Phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 14 (Đại 10, 72 trung) nói: Dứt sạch lưới ngờ vượt biển ái, mở bày đạo vô thượng Niết bàn. Cứ theo Bản điển lược tán của ngài Đạo ẩn thì Lưới có 3 nghĩa: 1. Khó thoát: Như chim cá mắc lưới, khó thoát ra được. 2. Chướng ngại: Như giăng lưới sẻ trước cửa nhà thì chướng ngại người ra vào. 3. Che lấp: Như lưới ngăn che con mắt, khiến không thấy được. Bởi lẽ biển lớn Phật pháp, chỉ người có lòng tin vào được, tin là nguồn gốc của đạo, là mẹ của các công đức; nhưng vì lòng ngờ ngăn che mắt tin, cản trở việc tu hành chính pháp, do đó không ra khỏi sinh tử, cho nên ví như tấm lưới. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa; kinh Đại Vô lượng thọ Q.hạ; luận Đại trí độ Q.27].

nghi vấn

A doubtful question.

nghinh

To meet—To receive—To welcome—To greet.

nghinh giang tự

(迎江寺) Cũng gọi Vĩnh xương thiền tự, Cổ vạn Phật tự. Chùa nằm ven bờ sông Trường giang ở huyện An khánh, tỉnh An huy, Trung quốc, là 1 trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng, được sáng lập vào năm Khai bảo thứ 7 (974) đời Bắc Tống; trải qua các đời đều được tu bổ và mở rộng thêm. Đời Minh, vua Quang tông ban hiệu là Hộ quốc Vĩnh xương thiền tự; đến đời Thanh, chùa được sửa lại và đổi tên là chùa Nghinh giang. Hiện nay, chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, lầu chứa kinh, gác Đại sĩ, điện báu Tì lô, tháp Chấn phong... Trong đó, tháp Chấn phong được xây dựng vào năm Long khánh thứ 4 (1570) đời Minh, bằng gạch, hình bát giác, cao 7 tầng, có 168 bậc thang lượn vòng từ dưới lên trên, các góc mái mỗi tầng đều có treo những cái linh (chuông con) bằng đồng, khi gió thổi phát ra tiếng leng keng, vì thế nên gọi là tháp Chấn phong. Tháp này mang sắc thái kiến trúc đặc biệt của đời Minh, là ngôi tháp xưa rất nổi tiếng.

nghinh giá

To meet the king.

nghinh hôn

To meet the bride and bring her home.

nghinh ngang

Arrogant—Haughty.

nghinh niên

To welcome the New Year.

nghinh tiếp

To receive someone.

nghinh tân

To receive guests.

nghiêm

Xem nghiêm khắc

nghiêm chính

Severe—Strict.

nghiêm cấm

To prohibit—To forbid.

nghiêm cẩn

Solemn and careful.

nghiêm hình

Severe punishment.

nghiêm hộ

(嚴護) Trang nghiêm và thủ hộ (giữ gìn làm cho đẹp đẽ). Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 266 thượng) nói: Nghiêm hộ thành pháp, mở rộng pháp môn, tẩy sạch cáu uế, hiển rõ thanh tịnh.

nghiêm khiết

Liêm khiết—Pure—Clean.

nghiêm khắc

Strict.

nghiêm minh

Severe and just.

nghiêm mệnh

strict order.

nghiêm nghị

Grave—Severe.

nghiêm pháp

Severe or strict laws.

nghiêm phạt

To punish severely.

nghiêm phật điều

(嚴佛調) Cũng gọi Phù điều, Phật điều. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Hán, người Lâm hoài (nay là huyện Hu di, tỉnh An huy). Ông thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ, học rộng và có tài làm văn. Lúc ngài An thế cao đến Trung quốc hoằng dương Phật pháp và truyền dịch kinh điển tiếng Phạm, Nghiêm phật điều (lúc này vẫn chưa xuất gia - ND) cùng với cư sĩ An huyền đều tham dự việc phiên dịch của ngài An thế cao. Sau, dần dần thông thạo tiếng Phạm, ông tự dịch được kinh và rất am hiểu Thiền pháp, ông soạn Thập tuệ chương cú để xiển minh ý chỉ của Thiền, đây là sách chú sớ đầu tiên ở Trung quốc. Về sau, ông xuất gia, người đời gọi ông là A kì lê. Những kinh ông dịch gồm có: Kinh Pháp kính 2 quyển, kinh A hàm khẩu giải thập nhị nhân duyên 1 quyển, kinh Nhu thủ bồ tát vô thượng thanh tịnh phần vệ. [X. Lương cao tăng truyện Q.1; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1].

nghiêm phụ

See Nghiêm Đường.

nghiêm sí vương

(嚴熾王) Vị quốc vương thành Uất xà diên ở thời đức Phật còn tại thế. Cứ theo kinhTát già ni càn tử sở thuyết, khi vua Nghiêm xí nghe lời Đại tát già ni càn tử khen ngợi đức Thích tôn nói pháp rất sâu xa mà vua sinh tâm tín giải.

nghiêm sư

Severe or strict master (teacher).

nghiêm sức

Alamkaraka (skt)—Trang nghiêm—Gloriously adorned.

nghiêm thân chân ngôn

(嚴身真言) Chân ngôn trang nghiêm thân, tức chỉ cho 4 chân ngôn: Như lai đính tướng (tướng đỉnh đầu của Như lai), Như lai giáp (áo giáp Như lai), Như lai viên quang (hào quang Như lai) và Như lai thiệt tướng (tướng lưỡi dài của Như lai). Khi tác pháp Sự nghiệp A xà lê thì đồng như thân Phật, cho nên thụ trì 4 loại chân ngôn này để gia hộ tự thân, thì cũng giống như trang nghiêm thân Phật. Trong 32 chân ngôn của Hội Như lai thì công đức nghiêm thân của 4 chân ngôn trên đây là thù thắng nhất, cho nên đặc biệt nêu riêng ra. [X. Đại nhật kinh sớ Q.9].

nghiêm trang

Solemn—Serious—Severe—Grave.

Nghiêm Trí

(嚴智, Gonchi, ?-?): vị tăng của Hoa Nghiêm Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Nghiêm Trí (嚴智). Ông học cả Pháp Tướng, Duy Thức cũng như Tam Luận và theo học Hoa Nghiêm với Thẩm Tường (審祥, Shinjō). Sau đó, ông đến trú tại Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), tân lực tuyên dương giáo học Hoa Nghiêm. Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Bình (天平, 729-749), thể theo sắc mệnh, ông thuyết giảng bộ Hoa Nghiêm Kinh (華嚴經) 60 quyển tại Kim Chung Tự (金鐘寺, Konshō-ji, tức Pháp Hoa Đường của Đông Đại Tự [東大寺, Tōdai-ji]).

nghiêm trị

See Nghiêm Phạt.

nghiêm trọng

Severe—Grave.

nghiêm tịnh

Trang nghiêm thanh tịnh—Glorious and pure, gloriously pure. ; (嚴淨) Chỉ cho sự trang nghiêm thanh tịnh của cõi nước chư Phật. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa (Đại 9, 3 hạ) ghi: Vì muốn nói điều ấy, vì sẽ thụ kí, cho nên chỉ bày rõ các thứ báu nghiêm tịnh cõi nước của chư Phật. [X. Thiền uyển thanh qui Q.1].

nghiêm từ

Parents.

nghiêm vương

See Diệu Trang Nghiêm Vương in Vietnamese-English Section.

nghiêm vương phẩm

(嚴王品) Gọi đủ: Diệu trang nghiêm vương bản sự phẩm. Tên phẩm thứ 27 trong kinh Pháp hoa quyển 7, thu vào Đại chính tạng tập 9. Nội dung phẩm này thuật lại thời đức Vân lôi âm tú vương Hoa trí Như lai ở quá khứ, có 1 vị vua tên là Diệu trang nghiêm (Phạm: Zubhavyùha), nhân việc 2 người con khuyến thỉnh vua tu để thành Phật, nên ông tinh tiến thụ trì kinh Pháp hoa. Vua Diệu trang nghiêm nói trên tức là bồ tát Hoa đức, còn 2 người con thì chính là bồ tát Dược vương và bồ tát Dược thượng.

nghiêm đường

Father.

nghiêm đường huấn nữ thập giáo

Trong Đức Phật và Phật Pháp, Đức Phật đã từng dạy rằng ngoài của hồi môn rất quan trọng, và những món trang sức quý giá, người cha khôn ngoan còn dạy con gái mười điều sau đây—In The Buddha and His Teaching, the Buddha taught: “The marriage festival was conducted on an elaborate scale. On the wedding day, in addition to a large dowry and an exquisitely rich ornament, a wise father should also gave his daughter the following ten admonitions: Không đem lửa trong nhà ra ngoài ngõ: Người vợ không bao giờ nên nói xấu chồng và cha mẹ chồng với người ngoài. Cũng không nên đem chuyện xấu bên nhà chồng mà thuật lại cho người ngoài, vì không có lửa nào tệ hại hơn lửa nầy—Do not carry outside the indoor fire. A wife should never speak ill of her husband and parents-in-law to others. Neither should their shortcomings nor household quarrels be reported elsewhere, for there is no fire that may be compared to this fire. Không đem lửa ngoài ngõ vào nhà: Người vợ không nên nghe lời nói xấu của người khác. Người vợ không nên đem những lời phỉ báng nghe được từ hàng xóm, đem về kể lại và nói rằng: “Người nọ người kia đã nói xấu điều nầy hay điều khác.” Không có lửa nào tệ hại hơn lửa nầy—Do not take inside the outdoor fire. A wife should not listen to the reports and stories of other households. In other words, a wife must not bring home the slander that she has heard by saying: “So and so said this or that unkind thing about you.” There is no fire that may be compared to this fire. Chỉ cho những người biết cho lại: Đồ trong nhà chỉ nên cho những người nào mượn rồi biết trả lại—Give only to those that wish to return the give. Things should be lent to those who do return borrowed articles. Không cho những người không biết cho lại: Không nên cho những người mượn đồ rồi giữ luôn chứ không chịu trả lại—Do not give to those that do not deserve the give. No article should be lent to those who do not return them (borrowed articles). Đối với bà con bạn bè, thì phải cho cả hai, dù họ có biết trả lại hay không: Give both to kinsmen and frinds that give and do not give. It is to say, poor kinsfolk and friends should be helped even if they do not repay.

nghiên cứu

To examine—To study.

nghiêng

Inclined—Sloping.

nghiêng mình

To bend—To lean—To stoop.

nghiêng ngửa

Full of ups and downs—Unstable.

nghiêu quí

(nghiêu quí ) Cũng gọi Nghiêu thế, Nghiêu mạt. Gọi đủ: Nghiêu quí mạt pháp. Nghiêu nghĩa là bạc bẽo, Quí nghĩa là cuối, tức chỉ cho thời đại mà tình người, thói đời rất bạc bẽo và luân thường đạo lí sa sút, xuống cấp 1 cách thảm hại. Trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng (Đại 44, 246 hạ) có câu: Mạt đại nghiêu thời, truyền hóa bất dị, nghĩa là ở đời mạt, phong tục bạc bẽo, đạo đức sa sút, việc truyền bá Phật pháp, giáo hóa chúng sinh rất khó khăn.

nghiền

To crush.

nghiền ngẫm

To ponder (reflect) over something.

nghiễm nhiên

All of a sudden—By accident.

nghiệm

Chứng nghiệm: Experience—Try—Test—Examine—To verify—To hold an inquest—To come true—To verify. Hiệu nghiệm: Efficient. ; (驗) I. Nghiệm. Cũng gọi Linh nghiêm. Chỉ cho sự linh nghiệm không thể nghĩ bàn, tưởng tượng. Nghĩa là do lòng tin tưởng, sự cầu đảo mà kết quả cụ thể hiển hiện ra trước mắt, ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Tướng trạng của sự linh nghiệm này được gọi là Nghiệm tướng. (xt. Linh Nghiệm). II. Nghiệm. Chỉ cho hành giả Tu nghiệm đạo của Nhật bản, hoặc chỉ cho những việc làm bất khả tư nghị của họ.

nghiệm chủ vấn

(驗主問) Cũng gọi Thám bạt vấn, Tâm hành vấn. Người học thử đặt câu hỏi để thăm dò xem cơ pháp của thầy sâu hay cạn. Là 1 trong Phần dương thập bát vấn. Thiền sư Phần dương Thiện chiêu thuộc Tông Lâm tế đời Tống, gom hết các câu hỏi mà người học đặt ra để thử nghiệm thầy và chia làm 18 loại mà trong Thiền lâm gọi là Phần dương thập bát vấn. Bích nham lục tắc 41 (Đại 48, 178 hạ) nói: Ống sáo không lỗ gõ nhịp vào cái phách bằng nỉ, đây là Nghiệm chủ vấn, cũng gọi là Tâm hành vấn (người học hỏi thử sư gia). [X. Bích nham lục tắc 9].

nghiệm sinh nhân trung

Xem xét coi một người sau khi chết sẽ tái sanh vào cảnh giới nhân, Thiên, hay địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—An inquiry into a the mode of a person's death, to judge whether he will be eborn as a man, deva, and so on with the other possible destinies such as hells, hungry ghosts, animals.

Nghiệp

業; S: karma; P: kamma; C: yè; J: gō;|1. Hành vi, hành động, hoạt động (s: karman, karma); 2. Hành vi của con người; cách cư xử, tư cách, bao gồm 3 hành vi thuộc ý, miệng, và thân; 3. Dấu tích, kết quả lưu lại từ 3 hành vi của nghiệp; năng lực vận hành tiềm tàng – nhân duyên tạo thành từ những hành vi mà cuối cùng sẽ tạo ra các kết quả khác; 4. Hành vi xấu ác, tai hại. mê muội; 5. Hạnh thanh tịnh (s: anubhāva); 6. Nỗ lực, tinh tấn, phấn đấu (s: vyāyama). |Khái niệm nghiệp rất quan trọngỉtong đạo Phật, dùng chỉ quy luật chung nhất về nguyên nhân và kết quả. Theo đạo Phật, mỗi tác động (nghiệp) – dưới một điều kiện nhất định – sẽ tạo thành một quả (s, p: phala). Một khi quả đó chín, nó sẽ rơi trở lại người tạo ra nó. Muốn thành quả, một nghiệp phải là tốt (Thiện; s: kuśala) hay xấu (Bất thiện; s: akuśala) và là một hành động cố ý. Vì sự cố ý đó, một nghiệp để lại một dấu vết nơi tâm thức của người tạo nghiệp và tâm thức đó sẽ hướng theo những sự tạo tác của chính mình. Thời gian để một quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái sinh và làm loài hữu tình, trong đó có con người, cứ lưu mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra).|Một nghiệp được gây ra hoặc bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay ngôn ngữ. Như thế khi người ta có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết việc làm đó có xảy ra hay không. Chính tư tưởng đã tạo tác nghiệp. Một hành động sẽ không gây nghiệp nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt tái sinh. Muốn thoát khỏi luân hồi, con người phải từ bỏ nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Cần phải hiểu nghiệp và nghiệp lực không đồng nghĩa với thuyết cho rằng mọi sự đều được quyết định sẵn (thuyết định mệnh). Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người.

nghiệp

Tâm khởi niệm, thân làm theo, tất cả hành vi đã làm hoặc khởi niệm mà chưa làm đều gọi là nghiệp. ; Karma (skt)—Kamma (p) Ý nghĩa của Nghiệp—The meanings of Karma: Nghiệp là một trong các giáo lý căn bản của Phật giáo. Mọi việc khổ vui, ngọt bùi trong hiện tại của chúng ta đều do nghiệp của quá khứ và hiện tại chi phối. Hễ nghiệp lành thì được vui, nghiệp ác thì chịu khổ. Vậy nghiệp là gì? Nghiệp theo chữ Phạn là 'karma' có nghĩa là hành động và phản ứng, quá trình liên tục của nhân và quả. Luân lý hay hành động tốt xấu (tuy nhiên, từ 'nghiệp' luôn được hiểu theo nghĩa tật xấu của tâm hay là kết quả của hành động sai lầm trong quá khứ) xảy ra trong lúc sống, gây nên những quả báo tương ứng trong tương lai. Cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả tạo nên bởi hành động và tư tưởng của chúng ta trong tiền kiếp. Đời sống và hoàn cảnh hiện tại của chúng ta là sản phẩm của ý nghĩ và hành động của chúng ta trong quá khứ, và cũng thế các hành vi của chúng ta đời nay, sẽ hình thành cách hiện hữu của chúng ta trong tương lai. Nghiệp có thể được gây tạo bởi thân, khẩu, hay ý; nghiệp có thể thiện, bất thiện, hay trung tính (không thiện không ác). Tất cả mọi loại nghiệp đều được chất chứa bởi A Lại Da và Mạt Na thức. Chúng sanh đã lên xuống tử sanh trong vô lượng kiếp nên nghiệp cũng vô biên vô lượng. Dù là loại nghiệp gì, không sớm thì muộn, đều sẽ có quả báo đi theo. Không một ai trên đời nầy có thể trốn chạy được quả báo—Karma is one of the fundamental doctrines of Buddhism. Everything that we encounter in this life, good or bad, sweet or bitter, is a result of what we did in the past or from what we have done recently in this life. Good karma produces happiness; bad karma produces pain and suffering. So, what is karma? Karma is a Sanskrit word, literally means a deed or an action and a reaction, the continuing process of cause and effect. Moral or any good or bad action (however, the word 'karma' is usually used in the sense of evil bent or mind resulting from past wrongful actions) taken while living which causes corresponding future retribution, either good or evil transmigration (action and reaction, the continuing process of cause and effect)—Our present life is formed and created through our actions and thoughts in our previous lives. Our present life and circumstances are the product of our past thoughts and actions, and in the same way our deeds in this life will fashion our future mode of existence. A karma can by created by body, speech, or mind. There are good karma, evil karma, and indifferent karma. All kinds of karma are accumulated by the Alayavijnana and Manas. Karma can be cultivated through religious practice (good), and uncultivated. For Sentient being has lived through inumerable reincarnations, each has boundless karma. Whatever kind of karma is, a result would be followed accordingly, sooner or later. No one can escape the result of his own karma. ; (業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai. Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được. Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại. Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v... Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp. Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp. Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông). Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).

nghiệp ba la mật bồ tát

(業波羅蜜菩薩) Nghiệp ba la mật, Phạm: Karma-vajrì. Hán âm: Yết ma phạ nhật li, Yết ma bạt chiết lí. Cũng gọi Yết ma ba la mật bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc Đại nhật Như lai trong Mạn đồ la Kim cương giới của Mật giáo, mật hiệu là Diệu dụng Kim cương, Tác nghiệp Kim cương, 1 trong 4 bồ tát Ba la mật, 1 trong 37 vị tôn thuộc Kim cương giới. Hình tượng và chủng tử của vị Bồ tát này trong mỗi hội đều khác nhau. Trong hội Thành thân thì hình tượng của Ngài màu xanh, tay trái cầm hoa sen, trên hoa sen có cái hộp, tay phải cầm chày yết ma, chủng tử là (a#), hình tam muội da là chày yết ma trên cái hộp. Vị Bồ tát này là do Bất không thành tựu Như lai ở phương Bắc dùng đức của sự nghiệp Yết ma mà sinh ra để cúng dường Đại nhật Như lai. [X. kinh Kim cương đính Q.2; kinh Kim cương đính Du già lược xuất niệm tụng Q.2].

nghiệp báo

Tạo thiện nghiệp được phước báo, tạo ác nghiệp bị khổ báo, gọi là nghiệp báo. ; Quả báo sướng khổ tương ứng với thiện ác nghiệp—Karma-reward; the retribution of karma (good or evil). ; (業報) Cũng gọi Nghiệp quả. Từ gọi chung nghiệp và báo, nghĩa là sự báo ứng hoặc quả báo của nghiệp. Tức là quả báo khổ, vui do nghiệp nhân thiện, ác của thân, khẩu, ý, chiêu cảm. Cứ theo luận Thành thực quyển 7 thì nghiệp báo có 3 loại: Thiện, Bất thiện, Vô kí. Nghiệp thiện thì được quả báo tốt đẹp, nghiệp bất thiện cảm quả báo xấu ác, nghiệp vô kí (không thiện không ác) thì không mang lại quả báo. Phẩm Tam thụ báo nghiệp trong luận Thành thực quyển 8 (Đại 32, 298 thượng) nói: Nghiệp thiện được báo vui, nghiệp bất thiện được báo khổ, còn nghiệp bất động thì được báo không khổ không vui. Trong nghiệp báo, nghiệp quyết định vận mệnh của 1 người như nghèo, giàu, sang, hèn, sống lâu, chết yểu... gọi là Mãn nghiệp. Còn nghiệp quyết định tính cách và điều kiện sinh hoạt chung của mọi người, thì gọi là Dẫn nghiệp. Cái tướng chung của quả báo như thụ sinh làm người, làm súc vật... gọi là Tổng báo. Còn như, tuy cùng sinh làm người nhưng có sang hèn, trí ngu, đẹp xấu v.v... khác nhau, thì gọi là Biệt giáo. Chủ thể của quả báo, tức thân tâm của loài hữu tình, gọi là Chính báo; còn đất nước và các vật thụ dụng là chỗ các hữu tình nương tựa để mà sống, thì gọi là Y báo. Lại vì đất nước, núi sông v.v... là quả báo nhiều người cùng chung thụ dụng, do cộng nghiệp chiêu cảm, cho nên được gọi là Cộng báo. [X. kinh Trung a hàm Q.3, 14, 34; kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Đại tì bà sa Q.124, 125]. (xt. Nghiệp).

nghiệp báo thân

Theo tông Hoa Nghiêm, chư Bồ Tát vì thương sót chúng sanh mà hiện ra thân cảm thụ hay nghiệp báo thân, giống như thân của chúng sanh để cứu độ họ—According to the Hua-Yen sect, the body of karmaic retribution, especially that assumed by a bodhisattva to accord with the conditions of those he seeks to save. **For more information, please see Thập Thân Phật.

nghiệp bất thiện

Unwholesome kamma—See Bất Thiện Nghiệp.

nghiệp bệnh

(業病) Cũng gọi Nghiệp chướng bệnh. Chỉ cho bệnh tật do nghiệp đời trước sinh ra. Do nghiệp ác gây nên ở đời trước mà bị bệnh nan y, nằm liệt giường thuốc thang chẳng khỏi, khổ sở trăm bề, cầu sống không được, muốn chết không xong. Nguyên nhân là do túc nghiệp, thì cần phải sám hối nghiệp chướng, đọc tụng và viết chép kinh điển, cúng dường tán thán chư Phật Bồ tát, bố thí pháp giới chúng sinh, nhờ công đức ấy tiêu trừ nghiệp bệnh.

nghiệp bịnh

Bệnh nghiệp hay bệnh gây ra do nghiệp của nhiều đời trước—Illness as the result of previous karma.

nghiệp bộ

Bộ sổ ghi nghiệp của chúng sanh được giữ bởi những vị “Cai Quản Nhân Quả” hay Minh Quan trong địa ngục—The record or account book, believed to be kept by the rulers of “Cause and Effect” or the rulers of Hades who record the deeds of all sentient beings.

Nghiệp chướng

(s: karmāvaraṇa, 業障): còn gọi là nghiệp lụy (業累), là một trong 3 chướng, một trong 4 chướng; nghĩa là ác nghiệp do ba nghiệp thân, miệng và ý của chúng sanh tạo ra có thể gây chướng ngại chánh đạo, nên có tên gọi như vậy. Theo Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 11, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 115, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 17, v.v., trong các ác nghiệp, lấy 5 nghiệp Vô Gián làm nghiệp chướng, làm trở ngại lớn nhất đối với sự tu hành Thánh đạo. Đó là: (1) hại mẹ, (2) hại cha, (3) hại bậc A La Hán, (4) phá sự hòa hợp của tăng, (5) làm thân Phật chảy máu với ác tâm. Trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 10, No. 279) quyển 2, Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm (世主妙嚴品) thứ 1, có câu: “Nhược hữu chúng sanh nhất kiến Phật, tất sử tịnh trừ chư nghiệp chướng (若有眾生一見佛、必使淨除諸業障, nếu có chúng sanh một lần thấy được Phật, tất khiến cho trừ sạch các nghiệp chướng).” Hay trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 60, phần Đại Phương Đẳng Kinh Thất Phật Thuyết Diệt Tội Chú (大方等經七佛說滅罪咒), lại có đoạn: “Như thị thần chú, cụ đại uy lực, năng thọ trì giả, nghiệp chướng tiêu trừ (如是神咒、具大威力、能受持者、業障消除, thần chú như vậy, đủ oai lực lớn, người thường thọ trì, nghiệp chướng tiêu trừ).” Hoặc trong Giáo Ngoại Biệt Truyền (敎外別傳, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1580) quyển 4, phần Ngưu Đầu Sơn Pháp Dung Thiền Sư (牛頭山法融禪師), cũng có đoạn rằng: “Nhất thiết phiền não nghiệp chướng, bổn lai không tịch, nhất thiết nhân quả giai như mộng huyễn, vô Tam Giới khả xuất, vô Bồ Đề khả cầu (一切煩惱業障、本來空寂、一切因果皆如夢幻、無三界可出、無菩提可求, hết thảy phiền não nghiệp chướng, xưa nay rỗng lặng, hết thảy nhân quả đều như mộng huyễn, chẳng Ba Cõi phải ra, chẳng Bồ Đề phải tìm).” ; 業障; C: yèzhàng; J: gōshō; S: karma-āvarana. |1. »Chướng ngại của nghiệp«. Sự chướng ngại của nghiệp xấu ác; 2. Chướng ngại gây ra do kết quả của hành vi xấu ác.

nghiệp chướng

Bất cứ thiện nghiệp hoặc ác nghiệp đều là chướng ngại sự kiến tánh giải thoát, nên gọi là nghiệp chướng. ; Karmavarana (skt)—Những chướng ngại và ngăn trở do ác nghiệp gây ra làm ngăn cản bồ đề (ác nghiệp ngăn cản chánh đạo)—The screen or hindrance of past karma which hinders the attainment of bodhi (hindrance to the attainment of Bodhi, which rises from the past karma). ; (業障) Phạm: Karmàvaraịa. Cũng gọi Nghiệp lụy. Các nghiệp ác do thân, khẩu, ý của chúng sinh gây nên thường ngăn che chính đạo, nên gọi là Nghiệp chướng. Là 1 trong 3 chướng, 1 trong 4 chướng. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 11 (bản Bắc), luận Đại tì bà sa quyển 115 và luận Câu xá quyển 17, trong tất cả các nghiệp ác, chỉ có nghiệp Ngũ vô gián là Nghiệp chướng, còn lại không phải là nghiệp chướng vì không có năng lực cản trở việc tu hành Thánh đạo. Nghiệp Ngũ vô gián là: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, phá hòa hợp tăng và làm cho thân Phật bị chảy máu. Phẩm Thế chủ diệu nghiêm trong kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển) nói (Đại 10, 9 thượng): Nếu chúng sinh nào được thấy Phật thì nhất định sẽ tẩy trừ sạch các nghiệp chướng.

nghiệp chướng trừ

Dấu hiệu đoạn trừ nghiệp chướng bằng lưỡi kiếm trí tuệ—A symbol indicating the cutting away of all karmaic hindrances by the sword of wisdom.

nghiệp chủ

Property owner.

nghiệp chủng

Karmabija (skt)—Nghiệp sanh ra quả khổ lạc trong luân hồi sanh tử, giống như hạt giống thế gian—Karma-seed which springs up in happy or in suffering rebirth.

nghiệp chủng tử

Karma-bija (skt)—Karma-seed—See Nghiệp Chủng. ; (業種子) Cũng gọi Nghiệp tập khí (Phạm: Karmavàsanà), Dị thục tập khí, Hữu chi tập khí, Hữu phần huân chủng tử, Hữu thụ tận tướng chủng tử. Gọi tắt: Nghiệp chủng. Đối lại: Danh ngôn chủng tử. Chủng tử (hạt giống) của nghiệp quả. Nghiệp có nghĩa là tạo tác, những sự tạo tác thiện ác huân tập (xông ướp) thành chủng tử, gọi là Nghiệp chủng tử. Trong 8 thức, chỉ có ý thức (thức thứ 6) tương ứng với Tư tâm sở mà tạo tác các nghiệp thiện ác, tự huân tập thành Tư chủng tử. Tư chủng tử có 2 công năng: Một là tự sinh khởi hiện hành của Tư tâm sở; hai là trợ giúp cho những chủng tử vô kí yếu kém khác sinh khởi hiện hành. Trong đó, công năng tự sinh hiện hành gọi là Danh ngôn chủng tử, còn công năng giúp cho các chủng tử khác sinh hiện hành thì gọi là Nghiệp chủng tử. Nghiệp chủng tử và Danh ngôn chủng tử tuy chỉ là 1 thể thôi, nhưng cứ nơi công năng khác nhau của Tư chủng tử về phương diện tự, tha mà có sự phân biệt Danh ngôn và Nghiệp. [X. luận Thành duy thức Q.8; luận Du già sư địa Q.5, 8; Nhiếp đại thừa luận thích Q.2 (Vô tính)].

Nghiệp cảm

(業感): nghĩa là lấy nhân nghiệp của thiện ác mà cảm nhận quả của khổ vui. Như trong Bí Tạng Bảo Thược (秘藏寶鑰) quyển Trung do Đại Sư Không Hải (空海, Kūkai, 774-835), Tổ sáng lập ra Chơn Ngôn Tông Nhật Bản sáng tác, có đoạn rằng: “Phù tai họa chi hưng, lược hữu tam chủng, nhất thời vận, nhị thiên phạt, tam nghiệp cảm (夫災禍之興、略有三種、一時運、二天罰、三業感, phàm tai họa sinh khởi, tóm tắt có ba loại, một là thời vận, hai là trời phạt, ba là nghiệp cảm).” Trong Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Lược Sớ (梵網經菩薩戒略疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 695) quyển 2 giải thích rằng: “Tùy nghiệp cảm báo, thân chi hình đoạn, hữu trường hữu đoản, mạng chi phân hạn, hữu thọ hữu yểu dã (隨業感報、身之形段、有長有短、命之分限、有壽有夭也, tùy theo quả báo của nghiệp cảm, hình dáng của thân, có dài có ngắn; thời hạn của mạng, có thọ có yểu vậy).” Hay trong Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (瑜伽集要施食儀軌, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080) lại có đoạn: “Chơn nguyên trạm tịch, nãi tội tánh chi bản không; khổ hải hồng thâm, trục vọng ba nhi bất tức; do chúng sanh chi nghiệp cảm, trí trường kiếp dĩ trầm luân; thọ báo Địa Ngục chi trung, vĩnh la khổ sở; chuyển sanh Ngạ Quỷ chi nội, trường nhẫn cơ hư; ký vô giải thoát chi kỳ, ninh hữu siêu thăng chi lộ (眞源湛寂、乃罪性之本空、苦海洪深、逐妄波而不息、由眾生之業感、致長劫以沉淪、受報地獄之中、永罹苦楚、轉生餓鬼之內、長忍饑虛、旣無解脫之期、寧有超昇之路, nguồn chơn vắng lặng, ấy tội tánh vốn là không; biển khổ rộng sâu, theo sóng mê lầm không dứt; do chúng sanh bao nghiệp cảm, chịu bao kiếp mãi đắm chìm; chịu báo Địa Ngục bên trong, mắc hoài khổ sở; chuyển sanh Ngạ Quỷ kiếp sống, chịu đựng đói khát; đã không giải thoát thời kỳ, sao có siêu thăng nẻo trước).” ; 業感; C: yègăn; J: gōkan; |Trải qua, tự mình nhận chịu cảm giác khổ vui, là kết quả của những hành vi thiện hoặc ác mà mình đã tạo từ trước.

nghiệp cảm

Sự cảm ứng hay ảnh hưởng của nghiệp (tùy thuộc vào nghiệp nhân thiện hay ác mà cảm thọ lạc hay khổ)—The influence of karma; caused by karma. ; (業感) Năng lực của các nghiệp nhân thiện ác chiêu cảm quả báo khổ vui, nên gọi là nghiệp. [X. luận Câu xá Q.11, 13; luận Thuận chính lí Q.5, 37].

nghiệp cảm duyên khởi

See Duyên Khởi (I) (1). ; (業感緣起) Các pháp duyên khởi là do nghiệp nhân chiêu cảm. Quả báo của loài hữu tình chúng sinh có Chính báo và Y báo khác nhau, trong Chính báo có sai biệt như đẹp, xấu, trí ngu v.v..., trong Y báo cũng có những khác biệt như núi sông, cây cỏ v.v... Những quả báo khổ vui này có thiên hình vạn trạng, tất cả đều do nghiệp lực chiêu cảm. Ba nghiệp thân, ngữ, ý của chúng sinh ngày đêm tạo tác, các việc thiện ác được thực hiện tuy biến diệt trong sát na, nhưng cái nghiệp đã được tạo ra ấy, chắc chắn sẽ mang lại kết quả tương ứng trong đời này hoặc đời sau. Tức do mối quan hệ phức tạp của sức nghiệp mà hình thành những hiện tượng muôn ngàn sai biệt trong thế giới này. Giáo lí 12 duyên khởi đã giải thích tất cả hiện tượng sai biệt này trong thế gian và các bộ phái Tiểu thừa đã lập 12 duyên khởi này thành thuyết Nghiệp cảm duyên khởi. Về sau, các tông chủ trương Duy thức lại tiến thêm bước nữa mà lập thuyết A lại da duyên khởi, cho rằng thức A lại da là căn bản của Nghiệp cảm duyên khởi. [X. luận Đại tì bà sa Q.23; luận Câu xá Q.13; luận Thuận chính lí Q.27]. (xt. Thập Nhị Nhân Duyên, Nghiệp).

nghiệp cảnh

Karma-mirror.

nghiệp cấu

Sự uế nhiễm của nghiệp—Karma defilement. ; (業垢) Cũng gọi Tội cấu, Nghiệp trần. Chỉ cho tội nghiệp và phiền não. Cấu là tên khác của phiền não, tính chất của phiền não nhơ nhớp, cho nên gọi là Cấu. Còn tính chất của nghiệp cũng chẳng sạch, ví như bụi bặm, cho nên gọi là Nghiệp cấu. Kim quang minh kinh văn cú quyển 3 hạ (Đại 39, 120 thượng) nói: Nghiệp cấu, nghiệp là động tác làm cho tâm phiền não động loạn, trở thành cấu nhiễm nên gọi là Nghiệp cấu. Cũng có thể cho rằng phiền não từ kiếp trước sinh, cho nên gọi Nghiệp cấu.

nghiệp cận tử

Asanna (p)—Death-proximate karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), cận tử nghiệp là điều gì mà ta làm hay nghĩ đến liền trước lúc lâm chung. Nếu một người xấu mà nhớ lại hoặc được làm một việc thiện trước lúc lâm chung, có thể nhờ đó mà người ấy được tái sanh vào cảnh giới tốt (may mắn) hơn; ngược lại, nếu một người tốt mà trước khi lâm chung lại nhớ đến một hành động bất thiện của mình, người ấy có thể tái sanh vào một trạng thái bất hạnh. Chính vì lý do quyết định tái sanh đó mà các xứ Phật Giáo có phong tục nhắc nhở người sắp chết những hành động lành người ấy đã làm trong đời, và tạo cơ hội cho người ấy tạo thiện nghiệp trước phút lâm chung. Khi không có trọng nghiệp, và nghiệp cận tử được thành lập, thì nghiệp cận tử sẽ giữ vai trò chính trong việc tái sanh. Điều nầy không có nghĩa là người ấy sẽ trốn thoát được những nghiệp thiện ác đã tạo ra trong đời. Khi gặp điều kiện thì những nghiệp thiện ác sẽ trổ quả tương xứng—According to the Abhidharma, death-proximate karma is an action, or a potent karma remembered or done shortly before death (dying moment), that is, immediately prior to the last javana process. If a person of bad character remembers a good deed he has done, or performs a good deed just before dying, he may receive a fortunate rebirth; and conversely, if a good person dwells on an evil deed done earlier, or performs an evil deed just before dying, he may undergo an unhappy rebirth. For this reason, or its significant in determining the future birth, in Buddhist countries it is customary to remind a dying person of his good deeds or to urge him to arouse good thoughts during the last moment of his life. When there is no weighty karma, and a potent death-proximate karma is performed, this karma will generally takes on the role of generating rebirth. This does not mean that a person will espcape the fruits of the other good and bad deeds he has committed during the course of life. When they meet with conditions, these karmas too will produce their due results.

nghiệp cố ý

Karma-vipaka (skt)—Nghiệp gây tạo bởi sự cố ý, đối lại với nghiệp vô tình—Intentional karma, in contrast with unintentional karma (karma-phala).

nghiệp du già

(業瑜伽) Phạm: Karma-Yoga. Tác phẩm, 1 quyển, do Triết gia kiêm Đạo sĩ Vivekànanda(1863-1902), nhà cải cách tông giáo Ấn độ cận đại soạn. Nội dung sách này chia làm 8 hạng mục: 1. Ảnh hưởng của nghiệp đối với bản tính con người. 2. Đứng trên lập trường cá thể mà nói, thì sự tồn tại của mỗi sinh mệnh có tầm quan trọng tuyệt đối. 3. Sự bí mật của hành vi. 4. Ý nghĩa của nghĩa vụ. 5. Con người phải tự giúp mình, không nên trông chờ sự giúp đỡ của thế giới. 6. Phải xa lìa chấp trước mới hoàn toàn được giải thoát. 7. Tự do. 8. Lí tưởng của nghiệp Du già. Vivekànanda đặc biệt chú trọng việc trình bày vấn đề luân lí thực tiễn. Luân lí thực tiễn này cũng chính là tông chỉ của Bạc già phạm ca (Phạm: Bhagavad-Gita). Ông cho rằng nếu chúng ta không chấp trước nhân quả báo ứng, mà chuyên tâm thực hiện nhiệm vụ của chính mình, thì có thể dung hợp với thần linh. Đây là bộ sách chủ yếu của hệ thống triết học thực tiễn trong Ấn độ giáo cận đại. [X. Avaita Ashrama, Calcutta: Karma- Yoga].

nghiệp duyên

Nhân duyên đem lại hậu quả từ nơi nghiệp (thiện nghiệp là nhân duyên mang lại lạc quả, ác nghiệp là nhân duyên mang lại khổ quả)—Karma-cause, karma circumstance, condition resulting from karma. ; (業緣) Nghiệp là nguyên nhân sinh ra quả báo, 1 trong 24 duyên. Nghiệp thiện là nhân duyên đem lại quả vui, nghiệp ác là nhân duyên dẫn đến quả khổ. Hết thảy chúng sinh hữu tình đều do nghiệp duyên mà sinh ra. Phẩm Phương tiện kinh Duy ma (Đại 14, 539 trung) nói: Thân này như cái bóng, từ nghiệp duyên mà hiện. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 hạ) nói: Chỗ sinh tử hướng tới, tùy nghiệp duyên thiện ác.

nghiệp dư

Một trong tam dư, chúng sanh tu hành (hạng nhị thừa) sau khi đã lìa khỏi sinh tử hay hữu lậu nghiệp, vẫn còn lại vô lậu nghiệp có thể làm biến dịch sinh tử bên ngoài ba cõi—A remnant of karma after the six paths of existence, one of the three after death remainders. ** For more information, please see Tam Dư.

Nghiệp dụng

業用; C: yèyòng; J: gōyō; |Chức năng, hoạt dụng, hoạt động của nghiệp (s: kriyā).

nghiệp hoả

(業火) Lửa nghiệp, vì nghiệp hãm hại thân chúng sinh ví như lửa đốt cháy mọi vật, nên gọi là Nghiệp hỏa. Hoặc chỉ cho lửa dữ mà tội nhân bị quả báo của nghiệp ác trong địa ngục phải chịu. Quán kinh đẳng minh Ban chu tam muội hành đạo vãng sinh tán (Đại 47, 452 hạ) nói: Các tội nhân đi vào địa ngục qua 4 cửa và bằng 4 lối, cửa vừa mở thì lửa nghiệp phóng ra nghinh đón, nước đồng sôi lênh láng ngập đầu gối và đi đến đâu cũng thấy lửa bốc lên ngùn ngụt. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8].

nghiệp hoặc

Nghiệp gây ra bởi lòng nghi hoặc—The karma caused by doubt.

nghiệp hành

Những hành động ảnh hưởng đến sự tái sanh trong tương lai—Deeds, actions; karma deeds, moral action which influences future rebirth.

nghiệp hải

Ác nghiệp thì nhiều vô số như đại dương sâu rộng—The vast, deep ocean of evil karma.

nghiệp hệ

Hệ phược hay sự trói buộc của nghiệp—Karma-bonds; karma-fetters ; (業繫) Cũng gọi Nghiệp phược, Nghiệp quyên, Nghiệp thằng. Chúng sinh hữu tình tạo các nghiệp thiện ác, bị nghiệp lực trói buộc trong lao ngục 3 cõi, nên gọi là Nghiệp hệ. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 578 trung) nói: Phàm phu bị nghiệp trói buộc khốn khổ. Các nghiệp ác do Kiến hoặc, Tư hoặc tạo ra trong 3 cõi, đưa đến quả báo phần đoạn sinh tử, còn các Bồ tát ở ngoài 3 cõi vì duyên theo nghiệp vô lậu mà chiêu cảm quả biến dịch sinh tử. Đây đều do nghiệp lực ràng buộc mà gây ra.

nghiệp hệ khổ tướng

Trạng thái khổ gây nên bởi sự trói buộc của nghiệp—The suffering state of karma bondage.

nghiệp hỏa

Lửa dữ của ác nghiệp hay lửa của địa ngục—The fires of evil karma; the fire of the hells.

nghiệp hữu

Reality of karma—See Thất Chủng Hữu.

nghiệp khổ

Thọ quả khổ do tác ác nghiệp (tạo tác ác nghiệp, nương vào ác nghiệp mà đắc quả khổ)—Karmaic suffering. ; (業苦) Quả khổ do nghiệp ác mang lại. Tịnh tâm giới quán pháp quyển thượng (Đại 45, 820 thượng) nói: Chỉ hiểu nghĩa không thôi thì không cứu được nghiệp khổ, ông nên y theo lời dạy răn mà thực tiễn tu hành thì mới cứu được. Ngoài ra, nghiệp khổ cũng là từ gọi chung nghiệp và quả khổ. (xt. Nghiệp).

nghiệp kim cang

Karmavajra.

nghiệp kính

Tấm gương nghiệp, cõi u minh dùng để soi thiện ác nghiệp của chúng sanh—Karma-mirror, that kept in Hades reveals all karma. ; (業鏡) Cũng gọi Tịnh phả lê kính, Tịnh pha li kính, Nghiệp kính luân. Chỉ cho tấm gương ở cõi u minh soi rọi các việc thiện ác của chúng sinh. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 3 tiết 4 (Đại 40, 406 hạ) nói: Gương nghiệp cõi u minh xoay vòng chiếu rọi đến châu Nam thiệm bộ, mọi việc thiện ác đều hiện rõ ở trong gương. [X. Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh tập chú Q.8; Thích thị lục thiếp Q.1].

nghiệp kết

nghiệp và các phiền não trói buộc. ; Sự kết trói của nghiệp: The bond of karma.

nghiệp luân

Bánh xe nghiệp có luân chuyển chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo—The wheel of karma which turns men into the six paths of transmigration.

nghiệp lực

Nghiệp lực là sức mạnh của nghiệp tạo ra quả lạc khổ (sức mạnh của thiện nghiệp sinh ra lạc quả, sức mạnh của ác nghiệp gây ra khổ quả). Nghiệp lực ví như người chủ nợ. Có nhiều thứ chủ nợ mạnh yếu khác nhau lôi kéo, nên khi lâm chung thì thần thức của chúng ta bị chủ nợ nào mạnh nhứt lôi kéo trước tiên—The power of karma is the strength of karma which produces good or evil fruit. Karmic power is the strength of karma. It is similar to a debt collector. There are many different strong and weak debt collectors. When we die, our consciousness will be taken by the strongest and greatest debt collector. ; (業力) Nghiệp thiện ác có năng lực sinh ra quả khổ vui. Hữu bộ tì nại da quyển 46 (Đại 23, 879 thượng) nói: Nghiệp lực chẳng nghĩ bàn, dù cách xa vẫn lôi kéo được. Khi quả đã chín mùi thì muốn trốn cũng khó thoát. (xt. Nghiệp).

nghiệp lực không kiêng nể một ai, dù tài trí hay đần độn

The power of karma respect nobody, the talented or the dull.

nghiệp ma

Karma-maras (skt)—Ma hay ác nghiệp luôn theo chúng sanh quấy rối và ngăn cản việc tu hành và làm hại thiện đạo—The demons who or the karma which hinders and harms goodness. ** For more information, please see Thập Phiền Não.

nghiệp ngăn trở

Upapilaka (p)—Obstructive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp ngăn trở không có quả thiện ác của chính nó, nhưng có thể ngăn cản hay làm chậm trễ sự trổ quả của các nghiệp khác—According to the Abhidharma, an obstructive karma is a karma which cannot produce its own result (wholesome or unwholesome), but nevertheless obstructs, frustrates, or delays some other karma from producing results, countering its efficacy or shortening the duration of its pleasant or painful results. Cho dù nghiệp tái tạo có cường thịnh vào lúc thành lập, mà bị nghiệp ngăn trở trực tiếp đối lại, sẽ làm cho nghiệp tái tạo trở nên vô hiệu quả—Even though a productive karma may be strong at a time it is accumulated, an obstructive karma directly opposed to it may conteract it so that it becomes impaired when producing its results. Tỷ như một nghiệp tái tạo thiện có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào cõi cao hơn, có thể bị nghiệp ngăn trở đưa vào tái sanh nơi cõi thấp hơn—For example a wholesome karma tending to produce rebirth in a superior plane of existence may be impeded by an obstructive karma so that it generates rebirth in a lower plane. Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào những gia đình cao sang, có thể bị nghiệp ngăn trở làm cho tái sanh vào những gia đình hạ tiện—A wholesome productive karma tends to produce rebirth among high families may be impeded by an obstructive karma, therefore, it may produce rebirth among low families Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng mang lại trường thọ cho chúng sanh, lại bị nghiệp ngăn trở làm cho đoản thọ—A wholesome productive karma tends to produce longevity may be impeded by an obstructive karma, therefore life may become shortened. Nghiệp tái tạo tốt có khuynh hướng mang lại sắc diện đẹp đẽ, có thể bị nghiệp ngăn trở làm cho dung mạo trở nên tầm thường—A wholesome productive karma tends to produce beauty may be impeded by an obstructive karma, therefore it may produce a plain appearance. Nghiệp tái tạo bất thiện có khuynh hướng đưa chúng sanh tái sanh vào những đại địa ngục, có thể bị nghiệp ngăn trở đối kháng lại và chúng sanh ấy có thể tái sanh vào những địa ngục nhẹ hơn hay vào cõi ngạ quỷ—An unwholesome productive karma tends to produce rebirth in the great hells may be couteracted by an obstructive wholesome karma and produce rebirth in the minor hells or among the hunghry ghosts.

Nghiệp nhiễm ô

業染汚; C: yèrănwū; J: gōzenma; |Sụ nhiễm ô của nghiệp (s: karma-saṃkleśa).

Nghiệp nhân

業因; C: yèyīn; J: gōin; |Hành vi thiện hay ác là nguyên nhân cho kết quả tốt hay xấu.

nghiệp nhân

Các hành động thiện ác đã làm xong đều trở thành nghiệp nhân dẫn đến luân hồi (thiện nghiệp là nhân của lạc quả, ác nghiệp là nhân của khổ quả)—Karma-cause—The deed as cause; the cause of good or bad karma leads to the next form of existence. ; (業因) Phạm: Karma-hetu. Nhân của nghiệp, có 2 nghĩa: 1. Nghiệp tức nhân (cũng gọi Nhân nghiệp): Nghiệp làm nhân sinh ra quả báo ở đời vị lai. Thành duy thức luận thuật kí quyển 8 phần đầu (Đại 43, 521 trung) nói: Nghiệp là gốc khổ, chính là nhân vậy. 2. Nhân của nghiệp: Nhân làm cho nghiệp sinh trưởng. Kinh Đại niết bàn (bản Bắc) quyển 37 (Đại 12, 585 trung) nói: Nghiệp nhân tức là Vô minh, Xúc. Vì Vô minh, Xúc nên chúng sinh mong cầu Hữu. Nhân duyên mong cầu Hữu tức là Ái vậy. Do nhân duyên ái mà tạo tác các nghiệp thân, khẩu, ý. Đây là giải thích nghĩa của Nghiệp nhân theo 12 nhân duyên. Còn theo luận Du già sư địa quyển 8 thì nhân của nghiệp ác có 12 loại sau đây: 1. Tham. 2. Sân. 3. Si. 4. Do sức mình tự tạo. 5. Do sức người khác tạo. 6. Bị cường quyền xua đuổi, bức bách mà tạo. 7. Do quá yêu thích vật sở hữu mà sinh tham muốn. 8. Do sợ hãi mà tạo nghiệp sát. 9. Vì sợ bị làm hại mà tạo nghiệp sát. 10. Vì vui đùa mà sát sinh. 11. Cho sát sinh là chính đáng nên tạo nghiệp sát. 12. Không tin luật nhân quả nên làm việc giết hại... [X. Du già luận lược toản Q.3; Du già luận lược toản kí Q.2 hạ; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Nghiệp).

nghiệp nhân, nghiệp quả

Hành vi do thân tâm sở khởi, sở tác, huân nhiễm nơi thức thứ tám thành chủng tử, tức là nghiệp nhân. Gặp duyên mà hiện hành, tức là nghiệp quả.

nghiệp não

Sự phiền não gây ra bởi nghiệp: Karmaic distress.

nghiệp nặng tu vụng

Heavy karma, perfunctory practice.

nghiệp phong

Karma wind. Gió mạnh cảm thụ do ác nghiệp: The fierce wind of evil karma. Gió thổi từ địa ngục trong thời mạt kiếp (những kẻ ở dưới địa ngục tùy theo tội nặng nhẹ mà phải chống đỡ nhiều hay ít với cơn gió mạnh nầy): The wind from the hells, at the end of the age. Nghiệp giống như cơn gió thổi, đưa chúng sanh những chỗ tái sanh thiện ác: Gió thiện thổi vào chỗ chúng sanh tốt nên được sung sướng, gió ác thổi vào chỗ chúng sanh xấu nên chịu khổ sở—Karma as wind blowing a person into good or evil rebirth. ; (業風) Phạm: Karma-vàyu. Gió nghiệp. Chúng sinh bị sức nghiệp thiện ác làm cho trôi dạt trong biển sống chết, giống như gió thổi lá khô hoặc gió thổi thuyền bè. Kinh Nhập lăng già Q.9 (Đại 16, 569 thượng) nói: Gió nghiệp nuôi lớn 4 đại như trái cây chín mùi. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 20 trung) nói: Thức A lại da bị gió nghiệp thổi, theo khắp các căn, biến chuyển không ngừng. Đại thừa nghĩa chương quyển 7 (Đại 44, 452 trung) nói: Sức nghiệp như gió. Gió nghiệp thiện thổi các chúng sinh đến nơi tốt đẹp, hưởng thụ vui sướng; gió nghiệp ác thổi các chúng sinh đến chỗ xấu xa, chịu mọi đau khổ.

nghiệp phược

Phiền trược hay sự trói buộc của nghiệp—Karma-bonds; the binding power of karma.

nghiệp phạm

The constraints of karma.

nghiệp quả

Nghiệp quả là hậu quả tất nhiên của hành động theo luật nhân quả của nhà Phật. Hậu quả của nghiệp tái sanh tùy thuộc vào nghiệp gây tạo của những đời trước—The natural reward or retribution for a deed, brought about by the law of karma mentioned by the Buddha. The fruit of karma, conditions of rebirth depending on previous karmaic conduct. ; (業果) Cũng gọi Nghiệp báo. Chỉ cho các nghiệp thiện ác chiêu cảm quả báo sinh vào cõi người, cõi trời, ngã quỉ, súc sinh v.v... Do nghiệp mà có quả báo, đây là pháp lí tự nhiên, gọi là Nghiệp quả pháp nhiên. Ngoài ra nghiệp và quả tương tục không ngừng. Nghiệp là nhân, quả là báo, nhân quả tiếp nối không dứt. Kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 4 (Đại 19, 120 trung) nói: Sát, đạo, dâm là căn bản, vì nhân duyên này mà nghiệp quả nối nhau không dứt. (xt. Nghiệp Báo).

nghiệp quả báo bất khả tư nghì

All the consequences of karma—Karmic consequence is inconceivable. Định lực của Thiền giả là bất khả tư nghì: The powers of a state of dhyana—The concentration power of a zen practitioner is inconceivable. Lực của các rồng là bất khả tư nghì: The powers of nagas—The power of dragons is inconceivable. Phật pháp là bất khả tư nghì: The powers of the Budhas—The Buddha Law is inconceivable.

nghiệp sự thành biện

(業事成辦) Cũng gọi Nghiệp đạo thành biện. Gọi tắt: Nghiệp thành. Sự nghiệp đã thành tựu, tức là đã có nhân quyết định vãng sinh. Đây là thuyết của tông Tịnh độ. Cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì mười niệm được nói trong Hạ phẩm hạ sinh của kinh Quán vô lượng thọ, thực ra không phải bảo người tu hành cần phải niệm Phật 10 tiếng, mà là nói về Nghiệp sự thành biện. Đối với vấn đề này, ngài Đạo xước chủ trương thuyết Mười niệm vãng sinh. Còn ngài Thiện đạo thì cho rằng bất luận là 10 tiếng hay 1 tiếng đều có thể vãng sinh Tịnh độ. Căn cứ vào sự giải thích này của Đại sư Thiện đạo, ngài Nguyên không, Tổ thứ 7 của Tịnh độ chân tông Nhật bản, chủ trương 1 niệm 1 vô thượng, 10 niệm 10 vô thượng, không luận là 1 niệm hay nhiều niệm đều có thể nghiệp thành. Nhưng trong số môn đồ của ngài cũng có những người chủ trương các thuyết: Một niệm nghiệp thành (một niệm tín tâm hoặc tiếng xưng danh, đều có thể thành tựu sự nghiệp vãng sinh), nhiều niệm nghiệp thành (do nhiều tiếng niệm Phật mới có thể vãng sinh), 10 niệm nghiệp thành, bình sinh nghiệp thành (ngày thường cũng có thể vãng sinh), lâm chung nghiệp thành v.v... [X. An lạc tập Q.thượng; Vãng sinh lễ tán tư kí Q.thượng; Vãng sinh luận chú kí Q.3; Tuyển trạch niệm Phật bản nguyện tập].

nghiệp thiên

Nghiệp Thiên hay luật tự nhiên không thể tránh khỏi của “nhân quả”—The karma of heaven, i.e. the natural inevitable law of cause and effect.

nghiệp thông

Báo Thông—Sức thần thông của nghiệp báo, một trong ngũ thông. Có được nghiệp thông là nhờ công đức tu hành trong nhiều đời trước (chư Thiên Long Hộ Pháp, chư Bồ Tát, chư Thiên đều dựa vào túc nghiệp tu hành của những đời trước mà có được sức thần thông)—Supernatural powers that have been acquired as karma by demons, spirits, nagas, etc.—Supernatural powers obtained from former karma, one of the five supernatural powers. ** For more information, please see Ngũ Thông. ; (業通) Cũng gọi Báo thông. Sức thần thông được thành tựu do nghiệp kiếp trước, là 1 trong 5 thần thông. Luận Câu xá quyển 9 (Đại 29, 46 thượng) nói: Trong tất cả thông, Nghiệp thông nhanh nhất. Lướt trên hư không 1 cách tự tại, đó là nghĩa thông. Thông do nghiệp mà có được nên gọi Nghiệp thông. Thế lực của thông này rất nhanh chóng nên gọi là Tật. Thân trung hữu được nghiệp thông nhanh nhất, dù đức Thế tôn cũng không ngăn chặn được. [X. luận Đại tì bà sa Q.70; luận Câu xá Q.27; Câu xá luận quang kí Q.9, 27].

nghiệp thường

Acinna (p)—Habitual karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp thường hay thường nghiệp là những thói quen mà chúng sanh thường làm, dầu tốt hay xấu (có khuynh hướng tạo nên tâm tánh của chúng sanh). Những thói quen hằng ngày, dù lành hay dù dữ, dần dần trở thành bản chất ít nhiều uốn nắn tâm tánh con người. Trong khi nhàn rỗi, tâm ta thường duyên theo những tư tưởng, những hành vi quen thuộc một cách tự nhiên lắm khi vô ý thức. Nếu không có trọng nghiệp hay cận tử nghiệp thì thường nghiệp quyết định tái sanh—According to the Abhidharma, habitual karma is a deed that one habitually or constantly performs either good or bad. Habits, whether good or bad, become second nature. They more or less tend to mould the character of a person. In the absence of weighty karma and a potent-death-proximate karma, this type of karma generally assumes the rebirth generative function.

nghiệp thằng

Sợi dây trói buộc của nghiệp hay nghiệp như sợi dây trói buộc—Karma cords; the bonds of karma.

nghiệp thể

See Nghiệp Tính. ; (業體) Cũng gọi Nghiệp tính. Chỉ cho tự thể của nghiệp, tức là cái nhân dị thục dẫn đến quả báo khổ vui. Có các thuyết sau đây: -Nhất thiết hữu bộ lấy sắc pháp của 2 nghiệp thân, khẩu và Tư của ý nghiệp làm Nghiệp thể. -Luận Thành thực cho rằng Nghiệp thể là pháp phi sắc phi tâm. -Đại thừa lấy sự hiện hành của tâm sở Tư và chủng tử làm Nghiệp thể.

nghiệp thọ

Kết quả của nghiệp đời trước, như cuộc sống dài ngắn ở hiện tại được quyết định bởi nghiệp đời trước—That which is received as the result of former karmaic conduct, i.e. long or short life determined by previous karma.

nghiệp thụ

(業受) Cũng gọi Nghiệp thọ. Thọ mệnh do nghiệp đời trước chiêu cảm, tức là tuổi thọ được quyết định bởi nghiệp nhân của đời trước.

Nghiệp thức

業識; C: yèshì; J: gōshiki;|»Sự hoạt dụng của thức«; với nghĩa là thông qua tác dụng của vô minh mà tâm kẻ phàm phu bắt đầu bị phiền trược hay được thức tỉnh. Vì vô minh nên không biết được rằng chân như của các pháp vốn bình đẳng và thuần một vị, nên mới sinh khởi ý thức si mê sai lầm nầy. Đại khái tương đương với nghĩa của Chuyển thức (轉識)

nghiệp thức

Karma-vijnana (skt)—Theo Khởi Tín Luận, nghiệp thức là cái thức căn bản lưu chuyển trong các loài hữu tình, là ý niệm dựa vào căn bản vô minh khiến chân tâm nhất như bắt đầu chuyển động hay vô minh lực làm cho tâm bất giác chuyển động, là kết quả cụ thể hiện tại của những hành động trong quá khứ—According to The Awakening of Faith, karmic consciousness; activity-consciousness in the sense that through the agency of ignorance an enlightened mind begins to be disturbed; consciousness as the result of past behavior, that is concrete consciousness in the present. ; (業識) I.Nghiệp Thức. Cũng gọi Nghiệp tướng (Phạm: Karmajàtilakwaịa), Nghiệp tướng thức. Chỉ cho thức căn bản lưu chuyển của loài hữu tình, tức là thức nghiệp nương vào sự mê lầm của vô minh căn bản mà dấy động bản tâm, là 1 trong Ngũ ý, 1 trong Tam tế. Cứ theo Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần cuối thì Nghiệp thức tương đương với phần tự thể trong thức A lại da. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 577 trung) nói: Nghiệp thức, nghĩa là do sức của vô minh mà bất giác tâm khởi động. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; luận Thích ma ha diễn Q.4]. II. Nghiệp Thức. Cũng gọi Tùy nghiệp thức. Thức do duyên theo nghiệp mà sinh ra, tức là chi Thức trong 12 chi Nhân duyên. [X. luận Du già sư địa Q.9; Quán kinh sớ Q.2].

nghiệp thực

Nghiệp là loại dinh dưỡng căn bản của sự hiện hữu của chúng sanh—Karma as nutritive basis for succeeding existence. ** For more information, please see Tứ Thực.

nghiệp tiêu diệt

Upaghataka (p)—Destructive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp tiêu diệt là thứ nghiệp, thiện hay ác, có khả năng triệt tiêu nghiệp tái tạo, không cho nó trổ quả—According to the Abhidharma, a destructive karma is a wholesome or unwholesome karma which supplants other weaker karma, prevents it from rippening, and produces instead its own result. Một người nguyên lai do nghiệp tái tạo có thể sanh trường thọ, nhưng nghiệp tiêu diệt khởi lên gây nên hoạnh tử—A man may, through his productive karma, have been originally destined for a long life-span, ut a destructive karma may arise and bring about a premature death. Vào lúc cận tử, thoạt tiên một cảnh giới tái sanh xấu hiện ra vì nghiệp lực xấu, nhưng một nghiệp tiêu diệt tốt khởi lên, triệt tiêu ác nghiệp, do đó được tái sanh vào cảnh giới tốt hơn—At the time of near-death, at first a sign of bad destination may appear by the power an evil karma, heralding bad rebirth, but then a good karma may emerge, expel the bad karma, and having caused the sign of good destination to appear. Một nghiệp xấu có thể thình lình khởi lên, tiêu diệt khả năng của nghiệp tái tạo tốt, để đưa đến việc tái sanh vào cảnh giới ác—A bad karma may suddenly arise, cut off the productive potential of a good karma, an generate rebirth in a woeful realm.

Nghiệp trí

業智; C: yè zhì; J: gōchi; |1. Nghiệp và trí huệ; hành vi và tri thức; 2. Trí được tạo bằng nghiệp (nhiễm ô).

nghiệp trần

Sự uế nhiễm của ác nghiệp—Karma-dirt, the defilement or remains of evil karma.

nghiệp trợ duyên

Upatthambaka (p)—Supportive karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp trợ duyên không đạt được cơ hội sanh quả của chính nó (nghĩa là nó không có tánh cách thiện hay bất thiện), nhưng nó đến gần và nâng đỡ nghiệp tái tạo và các nghiệp khác bằng cách làm cho những nghiệp nầy có thể tạo nên những quả sung sướng hay khổ đau—According to the Abhidharma, supportive karma does not gain an opportunity to produce its own result (it is to say it does have the wholesome or unwholesome nature), but which, when some other karma or productive karma is exercising a productive function, supports it either by enabling it to produce its pleasant or painful results over an extended time without obstruction or by reinforcing the continum of aggregates produced by another karma. Khi nghiệp thiện được trợ duyên có thể: When through the productive function of wholesome karma, it may: Làm cho một chúng sanh được sanh vào cõi người: Cause one to be reborn as a human being. Góp phần làm cho đời sống kéo dài hơn: Contribute to the extension of one's life span. Bảo đảm sức khỏe tốt và giàu có: Ensure that one is healthy and wealthy. Cung cấp đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống: Well provide with the necessities of life. Khi nghiệp bất thiện được trợ duyên, có thể—When an unwholesome karma has exercised its productive function, it may: Làm cho một chúng sanh sanh vào cõi thú: Cause one to be reborn as an animal. Gây ra bệnh nặng: Cause a painful disease. Làm cho thuốc không còn khả năng hữu hiệu khi trị bệnh do đó mà bệnh bị kéo dài: Prevent medicines from working effectively, thereby prolonging the disease.

nghiệp tái tạo

Janaka (p)—Productive Karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp thiện hay bất thiện, trợ duyên cho sự tái sanh vào lúc lâm chung. Vào lúc được mẹ thọ thai, do nghiệp tái tạo mà thức tái sanh được phát sanh, cùng lúc ấy những thành phần vật chất của môt con chúng sanh mới cũng được thành lập như các căn, sự xác định tính nam nữ. Chỉ có nghiệp tái tạo dẫn tới tái sanh, nhưng tất cả các nghiệp thiện ác đều phải trổ quả trong những đời kế tiếp, không có ngoại lệ. Theo Phật giáo, chập tư tưởng cuối cùng thật là quan trọng vì chính cái nghiệp có năng lực mạnh nhứt trong giờ lâm chung, lành hay dữ, tạo điều kiện cho sự tái sanh kế liền đó. Nghiệp nầy gọi là nghiệp tái tạo. Cái chết của một chúng sanh chỉ là sự gián đoạn tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Mặc dầu thể xác hiện tại tiêu diệt, nhưng một hình thể khác sẽ phát sanh tùy theo tư tưởng mạnh nhất trong giờ lâm chung; hình thể sau nầy không hoàn toàn giống hình thể trước, mà cũng không phải tuyệt đối là khác. Thể xác tan rã, nhưng luồng nghiệp lực vẫn tồn tại. Tiến trình tư tưởng cuối cùng ấy, gọi là nghiệp tái tạo, quyết định cảnh giới của kiếp sống tới. Thói thường thì tiến trình tư tưởng cuối cùng của một người tùy thuộc nơi phẩm hạnh của người ấy trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt mà ngoại cảnh tạo nên cơ hội thuận lợi hay bất lợi làm cho một người tốt có thể có những tư tưởng xấu, hay một người xấu có thể có những tư tưởng tốt trong giờ phút lâm chung. Trong trường hợp nầy phẩm hạnh của người kia trong cuộc sống không đem lại ảnh hưởng nào cho sự tái sanh, nhưng không có nghĩa là quả phải có cho những hành động trong quá khứ đã tiêu mất. Quả ấy sẽ trổ lúc tương xứng với nhân đã gieo—According to the Abhidharma, productive karma is wholesome or unwholesome volition which produces resultant mental states and karma-born materiality, both at the moment of rebirth-linking and during the course of existence. At the moment of conception, productive karma generates the rebirth-linking consciousness and the karma-born types of materiality constituting the physical body of the new being. During the course of existence it produces other resultant cittas and the continuities of karma-born materiality, such as the sense faculties, sexual determination, and the heart-base. Only a karma that has attained the status of a full course of action can perform the function of producing rebirth-linking, but all wholesome and unwholesome karmas without exception can produce results during the course of existence. Every subsequent birth, according to Buddhism, is conditioned by the good or bad karma which predominant at the moment of death. This kind of karma is technically known as reproductive karma. The death of a person is merely the temporary end of a temporary phenomenon. Though the present form perishes, another form which is neither absolutely the same nor totally different takes place according to the thought that was powerful at the death moment since the karmic force which hitherto actuated it is not annihilated with the dissolution of the body. It is this last thought process, which is termed “reproductive karma,” that determines the state of a person in his subsequent birth. As a rule, the last thought-process depends on the general conduct of a person in daily life. In some exceptional cases, perhaps due to favourable or unfavourable circumstances, at the moment of death a good person may experience a bad thought, and a bad person a good one. The future birth will be determined by this last thought-process, irrespective of the general conduct. This does not mean that the effects of the past actions are obliterated. They will produce their inevitable results as the appropriate moment.

nghiệp tích tụ

Katatta (p)—Reserve karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp tích tụ là bất cứ nghiệp nào đủ mạnh để quyết định tái sanh, mà không phải là nghiệp tái tạo, nghiệp cận tử, hay nghiệp tiêu diệt. Loại nghiệp nầy sẽ quyết định tái sanh nếu không có các nghiệp kia chen vào. Nghiệp nầy giống như cái vốn dự trử của một cá nhân, gồm bốn loại—Reserve karma is any other deed, not included productive, death-proximate, destructive karmas, which is potent enough to take on the role of generating rebirth. This type of karma becomes operative when there is no karma of other three types to exercise this function. This is as it were the reserve fund of a particular being, divided into four classifications: Hành động bất thiện, tạo quả dữ trổ sanh trong dục giới: Akusala (p)—Có mười hành động bất thiện—Evil actions which may ripen in the sense-sphere. There are ten evil actions: Ba hành động bất thiện biểu hiện nơi thân—Three evil actions committed by deed: Sát sanh: Panatipata (p)—Killing. Trộm cắp: Adinnadana (p)—Stealing. Tà dâm: Kamesu-micchacara (p)—Sexual misconduct. Bốn hành động bất thiện biểu hiện nơi khẩu—Four evil actions committed by word:

nghiệp tính

Nghiệp thể hay tự thể của nghiệp—The nature of karma, its essential being.

Nghiệp tướng

業相; C: yèxiāng; J: gōsō; S: karma-añjana|Sự biểu hiện của nghiệp. 1. Theo luận Đại thừa khởi tín, là một trong Tam tướng (Vô minh nghiệp tướng, Năng kiến tướng, và Cảnh giới tướng). Chỉ sự tỉnh thức của tâm thanh tịnh tuỳ vào căn bản vô minh; 3. Đặc tính của nghiệp.

nghiệp tướng

Một trong tam tướng vi tế trong Khởi Tín Luận, dựa vào vô minh căn bản mà chân tâm bắt đầu hoạt động—Action, or activity, the karmaic, condition of karmaic action. The first of the three subtle marks of the Awakening of Faith, when mental activity is stirred to action by unenlightenment. ** For more information, please see Tam Tướng Vi Tế.

nghiệp tặc

Nghiệp có khả năng làm hại chúng sanh như một tên cướp nên gọi là nghiệp tặc—Robber-karma; evil karma harms as does a robber.

nghiệp tỷ lượng

Từ nghiệp tác mà suy lý nghiệp tác—Inference from action (animal from its footmark). Pháp Tỷ Lượng: Từ một bộ phận sự vật mà suy lý ra các bộ phận khác—Inference from recognized law (old age from birth).

nghiệp và quả báo—karmas and recompenses

Như trên đã nói, nghiệp là sản phẩm của thân, khẩu, ý, như hạt giống được gieo trồng, còn quả báo là kết quả của nghiệp, như cây trái. Khi thân làm việc tốt, khẩu nói lời hay, ý nghĩ chuyện đẹp, thì nghiệp là hạt giống thiện. Ngược lại thì nghiệp là hạt giống ác. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy: “Muốn sống một đời cao đẹp, các con phải từng ngày từng giờ cố gắng kiểm soát những hoạt động nơi thân khẩu ý chớ đừng để cho những hoạt động nầy làm hại cả ta lẫn người.” Nghiệp và quả báo tương ứng không sai chạy. Giống lành sanh cây tốt quả ngon, trong khi giống xấu thì cây xấu quả tệ là chuyện tất nhiên. Như vậy, trừ khi nào chúng ta hiểu rõ ràng và hành trì tinh chuyên theo luật nhân quả hay nghiệp báo, chúng ta không thể nào kiểm soát hay kinh qua một cuộc sống như chúng ta ao ước đâu. Theo Phật Pháp thì không có thiên thần quỷ vật nào có thể áp đặt sức mạnh lên chúng ta, mà chúng ta có hoàn toàn tự do xây dựng cuộc sống theo cách mình muốn. Nếu chúng ta tích tụ thiện nghiệp, thì quả báo phải là hạnh phúc sướng vui, chứ không có ma quỷ nào có thể làm hại được chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta gây tạo ác nghiệp, dù có lạy lục van xin thì hậu quả vẫn phải là đắng cay đau khổ, không có trời nào có thể cứu lấy chúng ta—As mentioned above, karma is a product of body, speech and mind; while recompense is a product or result of karma. Karma is like a seed sown, and recompense is like a tree grown with fruits. When the body does good things, the mouth speaks good words, the mind thinks of good ideas, then the karma is a good seed. In the contrary, the karma is an evil seed. Thus the Buddha taught: “To lead a good life, you Buddhists should make every effort to control the activities of your body, speech, and mind. Do not let these activities hurt you and others.” Recompense corresponds Karma without any exception. Naturally, good seed will produce a healthy tree and delicious fruits, while bad seed gives worse tree and fruits. Therefore, unless we clearly understand and diligently cultivate the laws of cause and effect, or karma and result, we cannot control our lives and experience a life the way we wish to. According to the Buddha-Dharma, no gods, nor heavenly deities, nor demons can assert their powers on us, we are totally free to build our lives the way we wish. If we accumulate good karma, the result will surely be happy and joyous. No demons can harm us. In the contrary, if we create evil karma, no matter how much and earnestly we pray for help, the result will surely be bitter and painful, no gods can save us.

nghiệp và sự kết trói của dục vọng

Karma and the bond (of the passion).

nghiệp và sự phiền não (cái nầy là nhân của cái kia, cái kia là quả của cái nầy)

Karma and distress (one is the cause of another, and vice versa).

nghiệp vô hiệu lực

Ahosi (p)—Defunct karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), từ “Ahosi” không chỉ một loại nghiệp riêng biệt, mà nó dùng để chỉ những nghiệp khi phải trổ quả trong kiếp hiện tại hoặc kế tiếp, mà không gặp điều kiện để trổ. Trong trường hợp của các vị A La Hán, tất cả nghiệp đã tích lũy trong quá khứ, đến hồi trổ quả trong những kiếp vị lai thì bị vô hiệu hóa khi các vị ấy đắc quả vô sanh—According to the Abhidharma, the term “ahosi” does not designate a special class of karma, but applies to karma that was due to ripen in either the present existence or the next existence but did not meet conditions conductive to its maturation. In the case of Arahants, all their accumulated karma from the past which was due to ripen in future lives becomes defunct with their final passing away with their achievement of “non-birth” fruit.

nghiệp vô hạn định

Aparapariyavedaniya (p)—Indefinitely effective karma—Theo A Tỳ Đạt Ma Luận (Vi Diệu Pháp), nghiệp vô hạn định là loại nghiệp mà quả của nó có thể trổ bất cứ lúc nào nó có dịp trổ quả trong những kiếp tái sanh. Nghiệp vô hạn định không bao giờ bị vô hiệu lực. Không có bất cứ ai, kể cả Đức Phật hay một vị A La Hán, có thể tránh khỏi hậu quả của nghiệp nầy. Ngài Mục Kiền Liên đã là một vị A La Hán trong thời quá khứ xa xôi, đã nghe lời người vợ ác tâm, âm mưu ám hại cha mẹ. Do hành động sai lầm ấy, ngài đã trải qua một thời gian lâu dài trong cảnh khổ và, trong kiếp cuối cùng, ngài bị một bọn cướp giết chết. Đức Phật cũng bị nghi là đã giết chết một nữ tu sĩ tu theo đạo lõa thể. Theo Kinh Tiền Thân Đức Phật thì Ngài phải chịu tiếng oan như vậy là vì trong một tiền kiếp Ngài đã thiếu lễ độ với một vị độc giác Phật. Đề Bà Đạt Đa toan giết Đức Phật, ông đã lăn đá từ trên núi cao làm trầy chơn ngài, theo truyện Tiền Thân Đức Phật thì trong một tiền kiếp Đức Phật đã lỡ tay giết chết một người em khác mẹ để đoạt của trong một vụ tranh chấp tài sản—According to the Abhidharma, indefinitely effective karma is a karma which can ripen at any time from the second future existence onwards, whenever it gains an opportunity to produce results. It never becomes defunct so long as the round of rebirth continues. No one, not even a Buddha or an Arahant, is exempt from experiencing the results of indefinitely effective karma. No one is exempt from this class of karma. Even the Buddhas and Arahants may reap the effects of their past karma. Arahant Moggallana in the remote past, instigated by his wicked wife, attempted to kill his mother and father. As a result of this he suffered long in a woeful state, and in his last birth was clubbed to death by bandits. To the Buddha was imputed the murder of a female devotee of the naked ascetics. This was the result of his having insulted a Pacceka Buddha in one of his previous kalpa. The Buddha's foot was slightly injured when Devattava made a futile to kill him. This was due to his killing a step-brother of his previous birth with the object of appropriating his property.

nghiệp vô tình

Karma phala (skt)—Unitentional karma—See Nghiệp Cố Ý.

nghiệp võng

Lưới nghiệp làm chúng sanh vướng mắc trong khổ đau của luân hồi sanh tử—The net of karma which entangles beings in the sufferings of rebirth. ; (業網) Lưới nghiệp. Nghiệp nhân thiện ác vây bọc loài hữu tình, khiến phải chìm đắm trong luân hồi sinh tử, giống như tấm lưới vít kín chim muông, không thoát ra được, nên gọi Nghiệp võng. Thích môn qui kính nghi quyển thượng (Đại 45, 859 thượng) nói: Lưới nghiệp vây bọc chung quanh, tăng thêm quỉ sứ để ghi chép quả báo.

nghiệp xứ

Karmasthana (skt)—Nơi nhập định làm cho tâm dừng lại, như cõi Tịnh Độ—A place for working, of business, or a condition in which the mind is maintained in meditation, by influence, the Pure Land. ; (業處) Phạm: Karma-sthàna. Pàli: Kamma-ỉỉhàna. Cũng gọi Hành xứ. Nơi dừng trụ của nghiệp. Tức là nền tảng để thành tựu Thiền định, hoặc là đối tượng để tu tập Thiền định. Đây là 1 trong những giáo nghĩa trọng yếu của Phật giáo Nam truyền. Khi tu tập Thiền định, hành giả ắt phải lựa chọn phương pháp cũng như đối tượng quán tưởng sao cho phù hợp với căn tính của mình hầu phát huy được hiệu quả thiền định. Phương pháp và đối tượng ấy chính là Nghiệp xứ. Cứ theo luận Thanh tịnh đạo thì có 40 loại Nghiệp xứ: 1. Mười biến xứ: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, ánh sáng, hạn định hư không. 2. Mười bất tịnh: Tướng chương sình, tướng xanh bầm, tướng thối rữa, tướng rã nát, tướng chim mổ ăn, tướng xương vương vãi ngổn ngang, tướng chém chặt đứt đoạn, tướng máu chảy, tướng dòi bọ rúc rỉa, tướng xương khô. 3. Mười tùy niệm: Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm xả, niệm thiên (trời), niệm tử (chết), niệm thân chí, niệm an ban, niệm tịch chỉ (ngưng lặng). 4. Bốn phạm trụ: Từ, bi, hỷ, xả. 5. Bốn vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 6. Tưởng thực yếm. 7. Bốn giới sai biệt. Bảy hạng mục trên đây cộng chung lại thành 40 nghiệp xứ. Ngoài ra, Thanh tịnh nghiệp xứ nói trong kinh Quán vô lượng thọ thường được giải thích là: Nơi(Tịnh độ) do nghiệp thanh tịnh cảm được và được xem là tên khác của Tịnh độ. Nhưng nguyên ngữ tiếng Phạm Karma-sthàna hoàn toàn không có ý nghĩa là nơi do nghiệp cảm được mà chỉ nên hiểu là sự quán tưởng về Phật và cõi Tịnh độ của Ngài. Pháp quán tưởng Nghiệp xứ này hiện nay thịnh hành ở các nước Phật giáo Nam truyền và do sự chú trọng đặc biệt đến việc truyền thừa giữa thầy trò, nên đã có khuynh hướng bí truyền mà sản sinh ra Nghiệp xứ A xà lê (Phạm:Karma-sthànàcàrya). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.thượng; Quán kinh sớ Q.2].

nghiệp xứng

Cái cân để cân nghiệp nặng nhẹ của Minh Quan nơi địa ngục—The scales of karma, in which good and evil are weighed by the rules of causes and effects or the rulers of Hades.

nghiệp ác vô gián

những nghiệp ác rất nặng nề, phải đọa vào địa ngục Vô gián, nghĩa là phải chịu đựng những hình phạt khổ não không lúc nào gián đoạn.

nghiệp ách

Những tai ách đời nầy là hậu quả của nghiệp gây tạo trong đời trước—The constraints of karma; i.e. restricted conditions now as resulting from previous life.

nghiệp đi vào tiềm thức như thế nào—how does karma enter the alaya-vijnana?

Khi chúng ta hành động, dù thiện hay ác, thì chính chúng ta chứng kiến rõ ràng những hành động ấy. Hình ảnh của những hành động nầy sẽ tự động in vào tiềm thức của chúng ta. Hạt giống của hành động hay nghiệp đã được gieo trồng ở đấy. Những hạt giống nầy đợi đến khi có đủ duyên hay điều kiện là nẩy mầm sanh cây trổ quả. Cũng như vậy, khi người nhận lãnh lấy hành động của ta làm, thì hạt giống của yêu thương hay thù hận cũng sẽ được gieo trồng trong tiềm thức của họ, khi có đủ duyên hay điều kiện là hạt giống ấy nẩy mầm sanh cây và trổ quả tương ứng—When we act, either good or bad, we see our own actions, like an outsider who witnesses. The pictures of these actions will automatically imprint in our Alaya-vijnana (subconscious mind); the seed of these actions are sown there, and await for enough conditions to spring up its tree and fruits. Similarly, the effect in the alaya-vijnana (subconscious mind) of the one who has received our actions. The seed of either love or hate has been sown there, waiting for enough conditions to spring up its tree and fruits. Làm thế nào để chúng ta triệt tiêu nghiệp?—How do we eliminate karma?: Đức Phật dạy nếu ai đó đem cho ta vật gì mà ta không lấy thì dĩ nhiên người đó phải mang về, có nghĩa là túi chúng ta không chứa đựng vật gì hết. Tương tự như vậy, nếu chúng ta hiểu rằng nghiệp là những gì chúng ta làm, phải cất chứa trong tiềm thức cho chúng ta mang qua kiếp khác, thì chúng ta từ chối không cất chứa nghiệp nữa. Khi túi tiềm thức trống rỗng không có gì, thì không có gì cho chúng ta mang vác. Như vậy làm gì có quả báo, làm gì có khổ đau phiền não. Như vậy thì cuộc sống cuộc tu của chúng ta là gì nếu không là đoạn tận luân hồi sanh tử và mục tiêu giải thoát rốt ráo được thành tựu—The Buddha taught: “If someone give us something, but we refuse to accept. Naturally, that person will have to keep what they plan to give. This means our pocket is still empty.” Similarly, if we clearly understand that karmas or our own actions will be stored in the alaya-vijnana (subconscious mind) for us to carry over to the next lives, we will surely refuse to store any more karma in the 'subconscious mind' pocket. When the 'subconscious mind' pocket is empty, there is nothing for us to carry over. That means we don't have any result of either happiness or suffering. As a result, the cycle of birth and eath comes to an end, the goal of liberation is reached. Phân Loại Nghiệp—Categories of karma:

nghiệp điền

Khu ruộng nghiệp, hay cuộc sống mà trong đó những chủng tử được gieo tạo cho những kiếp lai sanh—The field of karma; the life in which the seeds of future harvests are sown. ; (業田) Ruộng nghiệp, vì có năng lực sinh ra các quả khổ, vui, cũng như ruộng hay sinh ra các giống lúa hoặc cỏ dại, cho nên gọi là Nghiệp điền. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 38 (Đại 10, 204 trung) nói: Sáu đường thụ sinh đều sai khác, ruộng nghiệp được tưới dội bằng nước ái và che chắn bởi vô minh.

nghiệp đạo

Một trong tam đạo mà tất cả chúng sanh phải dẫm lên, việc xảy ra dù thiện hay dù ác đều dẫn chúng sanh đi trong ba nẻo sáu đường—The way of karma; the path of works, action or doing, either good or bad, productive of karma, one of the three paths all have to tread on. **For more information, please see Tam Đạo (A). ; (業道) Phạm: Karma-màrga. Nơi mà tác dụng nghiệp được thể hiện, hoặc chỉ cho con đường chung về quả báo khổ vui của hữu tình chúng sinh. Thông thường, Nghiệp đạo được chia làm 2 loại: Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Thuyết nhất thiết hữu bộ của Tiểu thừa dùng nghĩa sở hành (được thực hành) để giải thích nghiệp đạo, cho rằng trong 10 thiện, 10 ác, thì thân và khẩu ở mỗi nghiệp đạo đều có 7 thứ(thân 3, khẩu 4) và bản thân 7 thứ này tức là nghiệp, vì chúng là chỗ tác dụng của Tư nghiệp (ý chí, ý nghiệp), cho nên gọi là Nghiệp đạo. Vả lại, ý cũng có thiện và ác, ở mỗi nghiệp đạo đều có 3 thứ (vô tham, vô sân, chính kiến; tham, sân, tà kiến hoặc nghi). Bản thân 3 thứ này tuy không thuộc về nghiệp, nhưng khi chúng sinh ra thì Tư nghiệp liền lấy đó làm chỗ khởi tác dụng, vì thế chúng cũng là Nghiệp đạo. Kinh lượng bộ và tông Duy thức Đại thừa chủ trương Thập nghiệp đạo đều là nghiệp và gọi chung là Nghiệp đạo. Bởi vì Nghiệp đạo lấy Tư(gồm Động phát thắng tư, Thẩm lự tư, Quyết định tư) làm thể. Trong đó, Động phát thắng tư là loại tư chuyên phát động sự hiện hành của các hành vi nơi thân và khẩu (7 nghiệp đạo trước), nên gọi là Nghiệp. Nghiệp ấy lại trở thành nơi tác dụng cho Thẩm lự tư và Quyết định tư, cho nên cũng là Nghiệp đạo. Lại lấy Tư hiện hành làm nhân mà huân tập chủng tử Tư, cũng là Nghiệp. Ngoài ra, bản thân tham, sân, si, tức là nghiệp, từ tham sinh ra sân, do sân sinh ra si, trước có thể mở đường cho sau, hoặc xoay vần đắp đổi lẫn nhau mà tạo thành con đường chung cho luân hồi lục đạo, thế nên cũng gọi là Nghiệp đạo. Luận điểm này chính đã sử dụng 2 ý nghĩa sở hành và năng thông để giải thích Nghiệp đạo. Nhưng quá trình đưa đến việc hoàn thành Nghiệp đạo này có thể được chia làm 3 giai đoạn: 1. Gia hạnh (hành vi dự bị). 2. Căn bản (hành vi hoàn thành). 3. Hậu khởi (hành vi tùy thuộc sau khi hoàn thành). Trong đó, Căn bản tức gọi là Căn bản nghiệp đạo. [X. luận Câu xá Q.17; luận A tì đạt ma phát trí Q.11; luận Thành duy thức Q.1; luận Du già sư địa Q.8, 59, 60]. (xt. Thập Thiện Thập Ác, Nghiệp).

nghiệp đạo minh chỉ

(業道冥只) Chỉ cho các quỉ thần ở cõi u minh (minh kì) được sinh ra từ nghiệp nhân mà họ đã tạo. Kinh Nhất kế tôn đà la ni (Đại 20, 486 trung) ghi: Kính bạch chư Phật, bồ tát Bát nhã, Kim cương, chư thiên... và hết thảy Nghiệp đạo minh kì.

nghiệp đạo thần

Vị Thần quan sát những nghiệp gây tạo của chúng sanh—The gods who watch over men's deeds.

nghiệp ảnh

Nghiệp như bóng theo sát hình—Karma-shadow, karma dogging one's steps like a shadow.

nghiệt

Ác nghiệt: Cruel—Wicked. Chồi non: A shrub—A tree-stump. Con vợ lẽ: An illicit son (son of a concubine). Quả báo: Retribution.

nghiệt la ha

Grha or Graha (skt)—Nghiệt Lý Ha—Tên của một loài quỷ chuyên đi bắt người—Name of a demon, the seizer. ; (nghiệt la ha ) Cũng gọi Nghiệt lật hà, Nga la ha, Yết la ha. Loài quỉ mị đeo theo thân người không rời. Phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì quyển thượng (Đại 18, 256 hạ) nói: Đối với loài quỉ mị như Tát phạ nạp sắt tra và các Nga ra ha, dùng tướng phẫn nộ hàng phục, một đêm sẽ xong. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.7, 8].

nghiệt lý ha

Grha (skt)—See Nghiệt La Ha.

nghiệt lạt bà

Garbha (skt)—Thai Tạng (bên trong thai)—The womb, interior part.

nghiệt tội

See Tội Nghiệt.

nghiệt đà củ tra

(nghiệt đà củ tra ) Phạm: Gandakuỉì. Hán dịch: Hương đài điện. Tịnh thất của đức Thế tôn, ở chính giữa tinh xá Kì viên.

nghiệt đà cự tra

Gandhakuti (skt)—Hương Đài Điện hay căn buồng mà Đức Thế Tôn đã làm lễ dâng hương trong tịnh xá Kỳ Viên hay bất cứ nơi nào mà Ngài đã đi qua—A temple for offering incense in the Jetavana monastery and elsewhere.

nghèo

Poor.

nghèo khó

See Nghèo Đói.

nghèo khổ

Wretched—Needy.

nghèo nàn

Needy.

nghèo tiền

Poor in money.

nghèo tín ngưỡng (phật pháp)

Poverty of the religion.

nghèo đói

Poor—Poverty.

nghê hạ

(猊下) Gọi đủ: Nghê tọa hạ. Từ tôn xưng các bậc cao tăng đại đức. Nghê là 1 loại sư tử; Nghê tọa, cũng gọi Nghê sàng, tức là tòa sư tử, là tòa ngồi của Phật, Bồ tát, đời sau được dùng làm tòa ngồi của các bậc cao đức thạc học. Vì quì lạy dưới tòa ngồi của các Ngài nên gọi là Nghê tọa hạ. Tương đương với các danh từ Các hạ, Túc hạ.

Nghê Toản

(倪瓚, 1301-1374): họa sĩ dưới thời nhà Nguyên, một trong 4 nhân vật vĩ đại cuối thời nhà Nguyên, tự là Nguyên Trấn (元鎭), hiệu Vân Lâm (雲林). Ông còn sở trường về thơ và có tập thơ văn là Thanh Bí Các Tập (清閟閣集), 12 tập.

nghênh

Nghênh tiếp—To go to meet.

nghênh tiếp

Được Đức Phật A Di Đà nghênh tiếp về Tây Phương Cực Lạc—To receive—To be received by Amitabha into his Paradise. ; (迎接) Tiếp đón. Nghĩa là người tu hành niệm Phật cầu vãng sinh, lúc lâm chung, được đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm, Đại thế chí hoặc các Thánh chúng khác đến tiếp dẫn. Trong các truyện kí thường thấy ghi chép sự tích Thánh chúng đến tiếp rước hành giả Tịnh độ. Như truyện ngài Hoài cảm trong Phật tổ thống kỉ quyển 27, ngài Hoài cảm khi lâm chung thấy Phật đến đón, liền chắp tay thị tịch. Loại tranh miêu tả cảnh nghinh tiếp này gọi là Nghinh tiếp mạn đồ la, Thánh chúng lai nghinh đồ. Mô phỏng nghi thức này để biểu hiện tướng tiếp dẫn, gọi là Nghinh tiếp hội, Nghinh giảng. Làm thơ phú vịnh tướng nghinh tiếp gọi là Nghinh tiếp tán. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Phật tổ thống kỉ Q.28; Thập di vãng sinh truyện Q.hạ].

nghênh tiếp mạn đồ la

(迎接曼陀羅) Cũng gọi Thánh chúng lai nghinh đồ, Nghinh tiếp biến tướng. Tức là bức tranh vẽ tượng Phật A di đà và các Thánh chúng đến tiếp dẫn hành giả niệm Phật lúc lâm chung. Kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm quyển 40 (Đại 10, 848 thượng) nói: Con nguyện lúc lâm chung Trừ hết thảy chướng ngại Mắt thấy Phật Di đà Được sinh về Tịnh độ. Cứ theo truyện ngài Bình duy mậu trong Hậu thập di vãng sinh truyện quyển trung, thì ngài Nguyên tín của Nhật bản là người đầu tiên vẽ tranh nghinh tiếp. Về sau, có các tác phẩm như: A di đà Tam tôn lai nghinh đồ, Tấn vân lai nghinh đồ v.v... Nhưng, theo sách Nghinh tiếp mạn đà la do lai, thì ngài Nguyên không là người đầu tiên vẽ Nghinh tiếp mạn đà la.

nghêu ngao

To sing to oneself.

nghìn phước

Thousand blessing.

nghĩ

Suy nghĩ: To think. Toan liệu: To estimate—To compare—To Guess—To adjudge—To decide—To Intend.

nghĩ hàn sơn thi

(擬寒山詩) Thi phẩm, 1 quyển, do ngài Trung phong Minh bản (1263-1323) thuộc tông Lâm tế trứ tác vào đời Nguyên, được thu vào Trung phong quảng lục quyển 17. Ngài Minh bản làm 100 bài thơ luật theo thể thơ của Hàn sơn để nói về tâm tính khi tham thiền, nhằm mở tỏ sơ tâm của người học. Ngài Ẩn nguyên Long kì (1592-1673) cuối đời Minh, khi trụ ở chùa Vạn phúc, núi Hoàng bá, Nhật bản, cũng bắt chước thơ Hàn sơn làm 100 bài, để xiển dương tông thừa. Ngoài ra, Trương thủ ước, Từ thụ Hoài thâm v.v... cũng có các tác phẩm Nghĩ Hàn sơn thi.

Nghĩ khổn

(蟻悃): từ khiêm tốn bày tỏ tâm thành khẩn thiết của mình lên đấng trên. Như trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 1 có câu: “Thần công phả trắc, khai chúng sanh phương tiện chi môn, kiệt nghĩ khổn dĩ quy y, kí hồng hưu chi gia bị (神功叵測、開眾生方便之門、竭蟻悃以皈依、冀鴻休之加被, thần công khó lường, mở cửa phương tiện cho chúng sanh, tận lòng thành xin quy y, mong ơn trên thầm gia hộ).” Tác phẩm này có chú thích về từ “nghĩ khổn” như sau: “Đông Dương Nguyên Ngưng Tề Hài Ký viết: 'Đổng Chiêu chi quá giang kiến nghĩ quyến, nhất đoản lô chiêu chi cứu chi; hậu hệ ngục, nghĩ lãnh quần nghi huyệt ngục, Chiêu chi toại đắc miễn' (東陽元凝齊諧記曰、董昭之過江見蟻罥、一短蘆昭之救之、後繫獄、蟻領群蟻穴獄、昭之遂得免, tác phẩm Tề Hài Ký của Đông Dương Nguyên Ngưng ghi rằng: 'Khi Đổng Chiêu (156-236) qua sông thì gặp tổ kiến, ông dùng nhành lau vớt lên cứu tổ kiến; về sau ông bị giam vào ngục thất, kiến thống lãnh cả đàn đào huyệt vào ngục, nhờ đó Đổng Chiêu được thoát nạn').” Như vậy, nghĩ khổn ở đây có nghĩa là tấm lòng chân thành, khẩn thiết của đàn kiến, cho dù là con vật nhỏ như kiến đi nữa cũng tận lực báo ơn cứu mạng.

nghĩ lại

To think over.

nghĩ nghi giáo

(擬宜教) Chỉ cho thời thứ nhất (Hoa nghiêm) trong Ngũ thời giáo phán của tông Thiên thai. Nghĩ nghi nghĩa là tùy theo căn cơ phối hợp để giáo hóa. Kinh Hoa nghiêm là pháp tự chứng mà đức Phật nói cho hàng Bồ tát đại cơ nghe, nhưng đối với căn cơ Tiểu thừa cũng phối hợp để hóa đạo. Đầu tiên, đức Phật tuyên thuyết kinh Hoa nghiêm, hàng Thanh văn không hiện diện trong pháp hội, vì Hoa nghiêm chẳng phải là pháp mà hàng Nhị thừa có thể lãnh hội được. Tuy nhiên, theo mục đích hoằng hóa cả 1 đời của đức Phật, trong những căn cơ có duyên với Phật, người độn căn nhất phải trải qua 5 thời, như vậy, trong thời Hoa nghiêm không thể không có Thanh văn. Cho nên căn cơ Tiểu thừa tuy không có mặt trên hội Hoa nghiêm, nhưng Phật là bậc Điều ngự của các tiểu cơ sẽ thành, cũng có thể phối hợp mà nói pháp tự chứng. Bởi vậy, nói theo mục đích hoằng hóa của đức Phật, thì thời Hoa nghiêm tức là Nghĩ nghi giáo.

nghĩ ngợi

To think—To meditate—To ponder.

nghĩ thanh

(擬聲) Tiếng dìu dặt. Chỉ cho 3 tiếng chuông đầu tiên. Khi đánh 108 tiếng hồng chung (chuông lớn), 3 tiếng đầu tiên được gọi là Nghĩ thanh.

Nghĩ thầm

(蟻忱): từ khiêm cung, thể hiện sự chân thành đến tận cùng như con kiến nhỏ nhoi vậy; đồng nghĩa với nghĩ khổn (蟻悃). Như trong tác phẩm Trùng Luận Văn Trai Bút Lục (重論文齋筆錄) của Vương Đoan Lí (王端履, ?-?) nhà Thanh có câu: “Túng kiệt nghị thầm, nan thù hồng tạo (縱竭蟻忱、難酬鴻造, dốc hết tâm thành, khó đáp hồng ân).”

nghĩ thầm

To think inwardly.

nghĩ tưởng

Ideations.

nghĩ tội

To judge a case.

nghĩ đến phúc lợi của tha nhân

To think of the welfare of others.

nghĩa

Con kiến: Ant. Đỡ đầu: Foster (father, mother, brother, sister, son, daughter, etc). Đúng: Right—Proper—Righteous—Loyal. ; (義) Phạm: Artha. Pàli: Attha. Hán âm: A tha, A đà. I. Nghĩa. Có 3 nghĩa: Ý tứ, Đạo lí, Ý nghĩa. Trong đó ý nghĩa và nghĩa lí dùng chung. Còn đạo lí thì chỉ cho chính nghĩa (đạo lí truyền thống đích thực), trái lại là bất chính nghĩa, tà nghĩa, dị nghĩa v.v... Hiển bày đạo lí 1 cách hoàn toàn sáng tỏ, gọi là liễu nghĩa, ngược lại là bất liễu nghĩa (vị liễu nghĩa, chưa rõ nghĩa). Liễu nghĩa và bất liễu nghĩa gọi chung là Nhị nghĩa. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như: Đệ nhất nghĩa đế, hoặc Đệ nhất nghĩa không, tức lấy Chân đế làm Đệ nhất nghĩa, Tục đế là Đệ nhị nghĩa. Nhưng tông Hoa nghiêm thường dùng giáo và nghĩa đối nhau và ý nghĩa cũng khác với nghĩa phổ thông. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển thượng, thì giáo pháp của Tiểu thừa, giáo và nghĩa đều không viên dung, còn giáo pháp của Tam thừa thì giáo viên dung mà nghĩa không viên dung, chỉ có Biệt giáo Nhất thừa của Hoa nghiêm là giáo và nghĩa đều viên dung. Lại cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, đứng về phương diện Căn bản pháp luân mà nói, thì Nhất thừa Hoa nghiêm có giáo có nghĩa; còn nói theo Chi mạt pháp luân, thì Mạt giáo Tam thừa chỉ có giáo mà không có nghĩa; lại nói theo Nhiếp mạt qui bản pháp luân thì Tam xa(xe dê, xe nai, xe trâu, ví dụ Tam thừa) là Phương tiện giáo, còn Đại bạch ngưu xa (xe trâu trắng lớn, ví dụ Nhất Phật thừa) là Chân thực giáo. Ngoài ra, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 2 phần cuối nêu ra 2 loại nghĩa là Cảnh giới nghĩa và Đạo lí nghĩa, đồng thời cho rằng trong 4 loại Thắng nghĩa đế: Thế gian thắng nghĩa, Đạo lí thắng nghĩa, Chứng đắc thắng nghĩa và Thắng nghĩa thắng nghĩa, thì 3 loại trước là Y huyên đàm chỉ (nương vào sự giải thích mà bàn về yếu chỉ), cho nên thuộc về Cảnh giới nghĩa; còn loại thứ 4 Thắng nghĩa thắng nghĩa đế là Phế thuyên đàm chỉ (bỏ giải thích, nói yếu chỉ), cho nên thuộc về Đạo lí nghĩa. [X. kinh Tạp a hàm Q.12; kinh Thế gian phúc trong kinh Trung a hàm Q.2; kinh Đại bảo tích Q.52; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Nhị Đế). II. Nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, Tiền trần (danh từ trước) của Tông (mệnh đề) được gọi là Thể, còn Hậu trần (danh từ sau) được gọi là nghĩa. Như trong mệnh đề âm thanh là vô thường, thì vô thường là nghĩa, mà âm thanh là thể. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng]. (xt. Thể).

nghĩa bóng

Figurative sense (meaning).

Nghĩa Chơn

(義眞, Gishin, 781-833): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Bình An, xuất thân vùng Tương Mô (相模, Sagami, thuộc Kanagawa-ken [神奈川縣]), tên tục là Hoàn Tử Liên (丸子連). Ban đầu ông đến tu ở Hưng Phước Tự (興福寺, Kōfuku-ji) và học về Pháp Tướng Tông, nhưng sau đó thì trở thành đệ tử của Tối Trừng và cùng đi theo thông dịch cho Tối Trừng khi sang Trung Quốc cầu pháp. Sau khi trở về nước, ông theo giúp Tối Trừng, và sau khi vị này qua đời, ông vâng lời thầy thống suất hết thảy đồ chúng. Năm 822, ông trở thành Truyền Giới Sư, tiến hành nghi lễ long trọng về Viên Đốn Thọ Giới ở Căn Bản Trung Đường (根本中堂). Năm sau, ông làm Truyền Giới Sư của Diên Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji) và sáng lập nên Đại Giảng Đường cùng với Giới Đàn Viện tại đây. Đến năm 832, ông làm giảng sư của Duy Ma Hội (維摩會). ông có soạn thuật cuốn Thiên Thai Pháp Hoa Tông Nghĩa Tập (天台法華宗義集), 1 quyển. Sau khi qua đời, ông được ban cho thụy hiệu là Tu Thiền Đại Sư (修禪大師).

nghĩa chương

(義璋) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Hạ châu (Hoành sơn, Thiểm tây), họ Vương, húy là Tiềm chân. Năm Khai nguyên 26 (738), sư xuất gia ở chùa Linh giác tại quê nhà, năm sau thụ giới Cụ túc, học tập kinh luận. Sư từng tham dự phiên dịch các kinh như: Kinh Nhân vương bát nhã, kinh Đại tập đại Hư không tạng bồ tát sở vấn, kinh Văn thù sư lợi bồ tát Phật sát trang nghiêm v.v... Năm Trinh nguyên thứ 4 (788) sư tịch ở chùa Hưng thiện tại kinh đô Trường an, hưởng thọ 71 tuổi. Sư có các tác phẩm: Văn thù sư lợi bồ tát Phật sát trang nghiêm sớ 3 quyển, Bồ đề tâm nghĩa 1 quyển, Phát Bồ đề tâm giới 1 quyển, Tam tụ tịnh giới 1 quyển, Thập thiện pháp giới 1 quyển.

nghĩa cử

Good deed.

nghĩa dũng

Loyal abd courageous.

nghĩa giải

(義解) I. Nghĩa Giải. Chú thích, phân tích nghĩa các chữ, giải thích nghĩa lí. Cũng gọi chung các bộ sách giải thích nghĩa lí. II. Nghĩa Giải. Hiểu rõ ý nghĩa và tông nghĩa. Ngoài ra, Thiền tông dùng nhóm từ Nghĩa giải thiền hòa tử để bài xích những Thiền giả chỉ vụ lí giải văn tự, chương cú, chứ không biết việc tu hành thực tiễn thiết yếu.

nghĩa hiệp

Chivalrous—Knightly.

nghĩa hoà

(義和) Danh tăng Trung quốc sống vào đời Tống. Sư ở chùa Năng nhân tại Bình giang, đề xướng pháp môn Hoa nghiêm viên dung niệm Phật, từng được vua ban hiệu Viên Chứng Pháp Sư. Sư có tác phẩm: Hoa nghiêm niệm Phật tam muội vô tận đăng 1 quyển. [X. Lạc bang văn loại Q.2, 4; Phật tổ thống kỉ Q.29; Tịnh độ chỉ qui tập Q.hạ].

nghĩa hoài

(義懷) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Lạc thanh, Vĩnh gia (huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang), họ Trần. Sư làm hành đồng (thiếu niên chưa cạo tóc) ở chùa Cảnh đức tại kinh đô. Trong năm Thiên thánh, sư dự khóa thi kinh, đậu và được xuất gia. Ban đầu sư học Thiền nơi ngài Kim loan thiện, rồi lại tham yết ngài Diệp huyền Qui tỉnh, nhưng đều không khế hợp. Sau, sư đến núi Thúy phong ở Cô tô lễ yết Thiền sư Tuyết đậu Trùng hiển, gánh nước, bổ củi, khổ công tu luyện. Một ngày kia chợt có chỗ tỉnh ngộ, sư làm bài kệ rằng (Vạn tục 138, 302 thượng): Một hai ba bốn năm sáu bảy Chóp núi muôn trùng đứng một chân Một lời khám phá Duy ma cật Ngọc báu li long sáng vạn phần. Ngài Trùng hiển ấn khả và gọi là Thiện ấn khả. Sau, sư ra ở tại chùa Thiết Phật, xiển dương Thiền pháp. Ít lâu sau, sư về ở chùa Thiện y tại Việt châu, mở mang tông phong Vân môn, hưng thịnh một thời, người đời gọi sư là Thiên y Nghĩa hoài. Đệ tử nối pháp gồm hơn 80 vị. Năm Gia hựu thứ 5 (1060) sư thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi, thụy hiệu Chấn Tông Thiền Sư. [X. Thiền lâm tăng bảo truyện Q.11; Phật tổ lịch đại thông tải Q.27; Ngũ đăng hội nguyên Q.16; Thích thị kê cổ lược Q.4; Tục truyền đăng lục Q.6].

nghĩa hoài thiên y

See Nghĩa Hoài Thiền Sư.

nghĩa hoài thiền sư

Zen master Yi-Huai-T'ien-Yi—Thiền sư Nghĩa Hoài Thiên Y sanh năm 993, quê ở Lạc Thanh, tỉnh Triết Giang, con nhà chài lưới. Sau khi xuất gia, sư là đệ tử của Thiền Sư Tuyết Đậu—Zen master Yi-Huai-T'ien-Yi was born in 993 in Luo-Qing, Zhe-Jiang Province. He was the son of a fisherman. After leaving home he became a disciple of Zen Master Xue-T'ou. Trong lần gặp gỡ đầu tiên, Tuyết Đậu hỏi: “Ngươi tên gì?” Sư thưa: “Tên Nghĩa Hoài.” Tuyêt Đậu hỏi: “Sao chẳng đặt Hoài Nghĩa?” Sư thưa: “Đương thời đến được.” Tuyết Đậu lại hỏi: “Ai vì ngươi đặt tên?” Sư thưa: “Thọ giới đến giờ đã mười năm.” Tuyết Đậu hỏi: “Ngươi đi hành khất đã rách bao nhiêu đôi giày?” Sư thưa: “Hòa Thượng chớ lừa người tốt.” Tuyết Đậu nói: “Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?” Sư không đáp được. Tuyết Đậu đánh, bảo: “Kẻ rỗng nói suông, đi đi!” Sư vào thất, Tuyết Đậu bảo: “Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được.” Sư suy nghĩ. Tuyết Đậu lại đánh đuổi ra. Như thế đến bốn lần—At their first encounter, Xue-Tou said: “What is your name?” Yi-Huai-T'ian-Yi said: “Yi-Huai.” Chong-Xian said: “Why isn't it Huai-Yi?” (Reversing the order of the two characters of this name creates the Chinese word 'doubt'). Yi-Huai said: “The name was given to me.” Chong-Xian asked: “Who gave you this naem?” Yi-Huai said: “I received it at my ordination nearly ten years ago.” Chong-Xian asked: “How many pairs of sandals have you worn out since you set out traveling?” Yi-Huai said: “The master shouldn' deceive people!” Chong-Xian said: “I haven' said anything improper. What do you mean?” Yi-Huai remained silent. Chong-Xian then hit him and said: “Strip off the silence and there's a fraud! Get out!” Later when Yi-Huai was in Chong-Xian's room for an interview, Chong-Xian said: “Practicing like this you won't attain it. Not practicing like this you won't attain it. This way or not this way, neither way will attain it.” Yi-Huai began to speak out Chong-Xian drove him out of the room with blows. Hôm sau khi sư nhơn gánh nước, đòn gánh gẫy làm rơi cặp thùng. Sư đại ngộ, làm bài kệ: “Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập Ly long hàm hạ đoạt minh châu Nhất ngôn khám phá Duy Ma Cật.” (Một hai ba bốn năm sáu bảy Chót núi muôn nhẫn một chơn đứng Dưới hàm Ly Long đoạt minh châu Một lời đủ phá Duy Ma Cật). The next day, while Yi-Huai fetched water from the well and carried it with a shoulder pole back to the temple, the people suddenly broke. As the bucket crashed to the ground Yi-Huai was suddenly enlightened. He then composed the following verse that Xue-Tou greatly praise: “One, two, three, four, five, six, seven, Alone atop the 80,000-foot peak, Anatching the pearl from the jaws of the black dragon, A single exposes Vimalakirti. Sư thượng đường dạy chúng: “Phàm là Tông Sư (Thầy trong Thiền tông) phải đọa trâu của kẻ đi cày, cướp thức ăn của người đói, gặp nghèo thì sang, gặp sang thì nghèo, đuổi trâu của người đi cày khiến cho lúa mạ tốt tươi. Cướp thức ăn của người đói khiến họ hằng dứt đói khát. Gặp nghèo thì sang nắm đất thành vàng, gặp sang thì nghèo biến vàng thành đất. Lão Tăng cũng chẳng đuổi trâu của người cày, cũng chẳng cướp thức ăn của người đói. Sao gọi là trâu của người cày, ta nào cần dùng. Thức ăn của người đói, ta nào muốn ăn. Ta cũng chẳng biến vàng thành đất. Sao vậy? Vì vàng là vàng, đất là đất, ngọc là ngọc, đá là đá. Tăng là Tăng, tục là tục. Trời đất xưa nay, nhật nguyệt xưa nay, núi sông xưa nay, con người xưa nay. Tuy nhiên như thế, đập nát cái cổng mê sẽ gặp Đức Đạt Ma—Yi-Huai entered the hall and addressed the monks, saying: “A distinguished teacher of our sect said: “You must drive away the ox from the plowman, grab away the starving man's food, regard the mean as noble, and regard the noble as mean. If you drive the ox away, then the plowman' crop will be abundant. If you snatch away the food, then you will forever end the starving man's hunger and thirst. Taking the mean as noble, a handful of dirt becomes gold. Taking the noble as mean, you change gold into dirt.' But as for me, I don't drive away the plowman's food. Why is that? Moreover, I don't turn a handful of dirt into gold, or gold into dirt. And why is this? Because gold is gold; dirt is dirt; jade is jade; stone is stone; a monk is a monk; and a layperson is layperson. Since antiquity there have existed heaven and earth, sun and moon, mountains and rivers, people and their relationships. This being so, how many of the deluded can break through the San Mountain Pass and meet Bodhidharma?”

Nghĩa Huyền

義玄|Lâm Tế Nghĩa Huyền.

nghĩa hẹp

Narrow meaning (sense).

Nghĩa học

(義學): học về nghĩa lý kinh điển, hay chỉ cho học thuyết về giáo nghĩa Phật Giáo. Như trong Trần Thư (陳書), Từ Lăng Truyện (徐陵傳), có đoạn: “Hậu Chúa tại Đông Cung, linh Lăng giảng Đại Phẩm Kinh, nghĩa học danh tăng, tự viễn vân tập (後主在東宮、令陵講大品經、義學名僧、自遠雲集, Hậu Chúa ở Đông Cung, sai Từ Lăng giảng Kinh Đại Phẩm, các danh tăng học giáo nghĩa kinh điển, từ xa tập trung về).” Hay trong Truyền Pháp Chánh Tông Ký (傳法正宗記, Taishō Vol. 51, No. 2078) quyển 6, phần Chấn Đán Đệ Nhị Thập Cửu Tổ Huệ Khả Tôn Giả Truyện (震旦第二十九祖慧可尊者傳), lại có đoạn: “Nãi tùng Thiền sư Bảo Tĩnh giả xuất gia, tầm đắc giới ư Vĩnh Mục Tự, khứ vụ nghĩa học, vị cơ nhi kinh luận giai thông (乃從禪師寶靜者出家、尋得戒於永穆寺、去務義學、未幾而經論皆通, Tôn giả bèn theo Thiền sư Bảo Tĩnh xuất gia, tìm thọ giới ở Vĩnh Mục Tự, rồi rời chùa siêng năng học giáo nghĩa kinh điển, không bao lâu sau thì kinh luận đều thông suốt).” Hoặc trong Hoa Nghiêm Kinh Truyền Ký (華嚴經傳記, Taishō Vol. 51, No. 2073) quyển 3, phần Thích Pháp Mẫn (釋法敏), cũng có đoạn: “Vu thời tứ phương nghĩa học Sa Môn bát bách dư nhân, đương cảnh tăng thiên nhị bách nhân, ni chúng tam bách (于時四方義學沙門八百餘人、當境僧千二百人、尼眾三百, lúc bấy giờ, Sa Môn học giáo nghĩa kinh điển ở bốn phương có hơn 800 người, tăng ở trong vùng 1.200 người, ni chúng 300).”

nghĩa học

(義學) Cũng gọi Giải học. Tức là cái học về danh tướng, giải nghĩa, lí luận, như Câu xá, Duy thức phân tích những danh mục và số lượng của các pháp tướng, đồng thời giải thích rõ ràng, tỉ mỉ về những giai vị tu hành và văn tự chương cú... Cũng tức là cái học vấn có liên quan đến vấn đề lí luận giáo nghĩa. [X. Thích thị kê cổ lược Q.4].

nghĩa hữu dư, nghĩa vô dư

ý nghĩa hữu dư là ý nghĩa còn có thể bổ khuyết cho đầy đủ. Ý nghĩa vô dư là nghĩa trọn vẹn, tuyệt đối, không thể thêm bớt, thay đổi.

nghĩa keo sơn

Close friendship.

nghĩa khí

Sense of justice.

Nghĩa Không

(義空, Gikū, khoảng giữa thế kỷ thứ 9): pháp từ của Diêm Quan Tề An (塩官齊安). Trong khoảng thời gian trị vì của vua Văn Tông (文宗, 826-840), ông được Quất Hoàng Hậu (橘皇后, vợ của Tha Nga Thiên Hoàng [嵯峨天皇, Saga Tennō]) cung thỉnh và đến Nhật vào đầu niên hiệu Thừa Hòa (承和, 834-848). Nhờ sự chỉ giáo của Không Hải (空海, Kūkai), Quất Hoàng Hậu mới biết được bên nhà Đường có Thiền Tông, bèn sai Huệ Ngạc (慧萼) cùng với sứ thần sang nhà Đường, đến tham yết Tề An, vì vậy Nghĩa Không và pháp đệ Đạo Phưởng (道昉) vâng mệnh thầy sang Nhật truyền pháp. Ban đầu, ông lưu trú tại Tây Viện của Đông Tự (東寺, Tō-ji), rồi thỉnh thoảng được thỉnh thuyết giảng Thiền yếu trong cung nội, và sau này trở thành vị tổ khai sáng ra Đàn Lâm Tự (檀林寺) ở vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto-fu [京都府]). Mấy năm sau ông lại quay trở về Trung Quốc. Huệ Ngạc nhờ Khế Nguyên (契元) ở Khai Nguyên Tự (開元寺) vùng Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô) soạn ra bản Nhật Bản Quốc Thủ Truyền Thiền Tông Ký (日本國首傳禪宗記) ghi lại sự tích của Nghĩa Không, cho khắc lên bia và dựng một bên cổng tam quan chùa. ; 義空; C: yìkōng; J: gikū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư. Sư là Thiền sư đầu tiên đến Nhật Bản nhưng không có môn đệ nào xuất sắc ở đây. Vì vậy, sau vài năm Sư trở về Trung Quốc, không Ấn chứng cho ai. Cho đến thế kỉ 12/13, không có Thiền sư nào đến Nhật giáo hoá.

nghĩa kinh

The meaning of the sutras.

nghĩa loại

(義類) I. Nghĩa Loại. Phạm: Artha-gati. Chỉ cho ý nghĩa và chủng loại của các sự vật. [X. luận Câu xá Q.1]. II. Nghĩa Loại. Đối lại: Thể loại. Tiếng dùng trong Nhân minh. Loại nghĩa là chủng loại, loại biệt. Trong luận thức Nhân minh, danh từ trước (tiền trần) của Tông (mệnh đề) là thể, danh từ sau (hậu trần) là nghĩa. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì do sự động tác mà có ra. Dụ: Ví như cái bình v.v... thì âm thanh và cái bình là thể loại, còn vô thường (hoặc thường) là nghĩa loại. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)].

nghĩa loại thứ đệ

(義類次第) Tiếng dùng của tông Pháp tướng để giải thích Tam thời giáo phán. Nghĩa là giáo pháp đức Phật nói không liên quan đến thứ tự thời gian, mà chỉ căn cứ vào sự cạn, sâu của giáo nghĩa để phân định 3 thời: Hữu (có), Không, Trung (trung đạo).

nghĩa lý

Artha (skt)—Meaning—Significance.

nghĩa lệ

Ý nghĩa và luật lệ: Meaning and rules, or method. Tên tắt của chỉ quán: An abbreviation for “Samatha and Vipasyana”—See Chỉ Quán.

nghĩa môn

Cổng vào Chánh Nghĩa, hay những trường phái giảng giải chân thực nghĩa của Như Lai—The gate of righteousness; the schools, or sects of the meaning or truth of Buddhism.

Nghĩa Phước

(義福, Gifuku, 658-736): vị Thiền tăng sống dưới thời nhà Đường, người vùng Đồng Đê (銅鞮, Trường Trị, Sơn Tây), họ Khương (姜). Hồi nhỏ ông thường đến tham học với Đỗ Chuyết (杜胐) ở Phước Tiên Tự (福先寺), đến năm 32 tuổi mới bắt đầu xuống tóc xuất gia và thọ Cụ Túc giới. Về sau, ông theo hầu Thần Tú (神秀), sống ở Hóa Cảm Tự (化感寺) vùng Lam Điền (藍田) trong suốt hơn 20 năm không hề ra khỏi cổng chùa. Sau ông chuyển đến Từ Ân Tự (慈恩寺) ở kinh thành, rồi nhận lời thỉnh cầu của vua Huyền Tông đến trú tại Phước Tiên Tự (福先寺) và Nam Long Hưng Tự (南龍興寺) ở Tây Kinh (西京). Vào năm thứ 24 niên hiệu Khai Nguyên (開元), ông thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi và được ban cho hiệu là Đại Trí Thiền Sư (大智禪師).

nghĩa sâu rộng

A deep and wide meaning—Liberal sense.

nghĩa sĩ

Righteous man.

nghĩa sắc không

Chúng vi (vi trần) tụ lại gọi là Sắc, Chúng vi chẳng tự tánh gọi là Không, đây nói Sắc Không trong nhân địa. Còn trong Không của chúng vi chẳng một vi, trong Không của một vi chẳng chúng vi, đây là Sắc Không trên quả địa, cũng là cái nghĩa Sắc Không bất nhị.

nghĩa sớ

Meaning and comments on or explanations. ; (義疏) Tức là giải thích nghĩa lí trong các kinh luận. Ma ha chỉ quán quyển 7 phần dưới (Đại 46, 99 trung) nói: Xem nghĩa sớ khác để biết suốt tông chỉ. (xt. Sớ).

nghĩa sở

(義楚) Cao tăng Trung quốc sống vào thời Ngũ đại, người An dương, Tương châu (huyện An dương, tỉnh Hà nam), họ Bùi. Sư xuất gia năm 7 tuổi, rất chăm học. Năm 21 tuổi, sư thụ giới Cụ túc, học vấn của sư càng ngày càng sâu sắc, nhất là Câu xá học. Sư xem Tam tạng đến 3 lần. Sau, vì cảm khái sự sai lầm của Nho gia khi bài xích Phật giáo, nên sư mô phỏng Lục thiếp của thi nhân Bạch cư dị mà soạn bộ Thích thị lục nhiếp, ròng rã 10 năm mới hoàn thành, gồm 24 quyển 50 bộ 440 môn, người đời gọi là Nghĩa sở Lục thiếp. Sách được dâng lên triều đình, vua Thế tông nhà Hậu Chu lệnh cho Sử quán ấn hành và ban hiệu cho tác giả là Minh Giáo Đại Sư. Khoảng năm Khai bảo đời Tống, sư thị tịch ở chùa Long hưng. [X. Tống cao tăng truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.42; Lục học tăng truyện Q.23]. (xt. Thích Thị Lục Thiếp).

nghĩa thanh

(義青) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Tống, người Thanh xã (Sơn đông), họ Lí. Năm lên 7 tuổi, sư xuất gia ở chùa Diệu tướng, học luận Bách pháp, sau chuyển sang học Hoa nghiêm, gặp câu Tức tâm tự tính, bỗng nhiên có chỗ tỉnh ngộ. Sư lại chuyển sang tham thiền, đến lễ yết ngài Phù sơn Pháp viễn (Viên giám) ở chùa Thánh nghiêm, theo hầu 6 năm, thấu suốt tông chỉ. Ngài Pháp viễn liền đem đính tướng và y bát của Thiền sư Đại dương Cảnh huyền giao phó cho sư. Lúc đầu, sư trụ ở núi Bạch vân tại Kiến châu, ít lâu sau, sư dời đến núi Đầu tử tại Thư châu, xiển dương tông phong, vì thế nên có hiệu là Đầu tử. Năm Nguyên phong thứ 6 (1083) đời vua Thần tông nhà Tống sư thị tịch, hưởng thọ 52 tuổi, vua ban thụy là Từ Tế. Sư có tác phẩm: Đầu tử Thanh thiền sư lục. [X. Tục truyền đăng lục Q.26; Ngũ đăng hội nguyên Q.14; Phật tổ lịch đại thông tải Q.19; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.4].

nghĩa thanh thiền sư

Đầu Tử—Zen Master Yi-Qing-T'ou-Tzi—Thiền sư Nghĩa Thanh Đầu Tử sanh năm 1032, là Pháp tử của trường phái Tào Động, nhưng không phải là đệ tử trực tiếp của Thiền Sư Đại Dương—Zen master Yi-Qing-T'ou-Tzi was born in 1032, was the Xao-T'ong Zen school Dharma heir, but not the direct student of T'a-Yang. Sư xuất gia năm lên bảy tuổi tại chùa Diệu Tướng. Thoạt tiên sư học Luận Bách Pháp của Tông Duy Thức. Về sau sư nghe kinh Hoa Nghiêm, đến câu “Tức tâm tự tánh,” sư liền phát tỉnh, nói: “Pháp lìa văn tự đâu có thể giảng ư?” Sư bèn cất bước du phương qua các thiền hội—He left home at the age of seven to live at Miao-Xiang Temple. Initially, he studied the “Hundred Dharmas Doctrine” of the Consciousness-Only school of Buddhism. Later, he undertook the practices of the Hua-Yen school, but upon reading the words “Mind is self-nature,” he had an insight, saying: “Dharma is not found in the written word, and how can one speak of it?” He then went traveling to find and study under a Zen teacher. Thiền Sư Viên Giám ở hội Thánh Nham, một đêm nằm mộng thấy có nuôi con chim ưng sắc xanh, tỉnh giấc ông cho là một điềm lành. Đến sáng ngày ấy, sư liền đi đến . Sư lễ ra mắt, Giám nhận cho ở và dạy khán câu “Ngoại đạo hỏi Phật: 'Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời.'” Sư khán câu nầy trải qua ba năm, một hôm Giám hỏi: “Ngươi ghi được thoại đầu chăng, thử nêu ra xem?” Sư nghĩ đáp lại, bị Giám bụm miệng. Bỗng nhiên sư khai ngộ, bèn đảnh lễ. Giám bảo: “Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng?” Sư thưa: “Nếu có cũng phải mửa bỏ.” Lúc đó, thị giả ở bên cạnh nói: “Hoa Nghiêm Thanh ngày nay như bệnh được ra mồ hôi.” Sư ngó lại, bảo: “Ngậm lấy miệng chó, nếu nói lăng xăng, Ta buồn nôn.” Sau đó ba năm, Giám đem tông chỉ của tông Tào Động chỉ dạy, sư đều diệu khế. Giám trao giày, y của Đại Dương Huyền và dặn dò: “Ngươi thay ta nối dòng tông Tào Động, không nên ở đây lâu phải khéo hộ trì.” Sau đó Giám nói kệ: “Tu Di lập Thái Hư Nhật nguyệt phụ nhi chuyển Quần phong tiệm ỷ tha Bạch vân phương y cải biến Thiếu Lâm phong khởi tùng Tào Khê động liêm quyện Kim Phụng túc long sào Thần đài khởi xa tiển.” (Tu Di dựng trong không, Nhật nguyệt cạnh mà chuyển Nhiều đảnh đều nương y Mây trắng mới biến đổi Thiếu Lâm gió tòng tay Động Tào Khê cuốn sáo Phụng vàng đậu ổ rồng Nhà rêu đậu xe nghiền). At that time, Zen master Yuan-Jian was staying at Sacred Peak. One night he saw a blue eagle in a dream and took it as an omen. The next morning, T'ou-Tzi arrived and Yuan-Jian received him ceremoniously. Now because a non-Buddhist once asked the Buddha: “I don't ask about that which may be spoken of, and I don't ask about what may not be spoken of… After three years Yuan-Jian asked T'ou-Tzi: “Let's see if you remember your 'hua-t'ou.' T'ou-Tzi began to answer when Yuan-Jian suddenly covered T'ou-Tzi's mouth with his hand. T'ou-Tzi the experienced enlightenment. He bowed. Yuan-Jian said: “Have you awakened to the mysterious function?” T'ou-Tzi said: “Were it like that I'd have to spit it out.” At that time an attendant standing to one side said: “Today Qing Hua-Yan (T'ou-Tzi) is sweating as if he were ill!” T'ou-Tzi turned to him and said: “Don't speak insolently! If you do so again I'll vomit!” After three more years, Yuan-Jian revealed to T'ou-Tzi the essential doctrine passed down from T'ong-Shan and T'ou-Tzi grasped it entirely. Yuan-Jian presented T'ou-Tzi with T'a-Yang's portrait, sandals, and robe. He then instructed him to carry on the method of this school in my behalf, so that it will not end here. Well and befittingly sustain and preserve it.” Yuan-Jian then wrote a verse and presented to T'ou-Tzi: “Mt. Sumeru stands in the greta void. It supports the spinning sun and moon. Upon its countless peaks do rest, The white clouds there transformed. The Shao-Lin wind sows a forest. The Cao-T'ong screen rolled up. A golden phoenix lives in a dragon's nest. Imperial moss is crushed by a wagon. Sư đến Viên Thông không thưa hỏi gì, chỉ ăn cơm xong rồi ngủ. Tri sự thấy thế, bạch với Viên Thông: “Trong Tăng đường có vị Tăng cả ngày lo ngủ, xin thực hành theo qui chế.” Viên Thông bảo: “Khoan! Đợi ta xét qua.” Viên Thông cầm gậy đi vào Tăng đường, thấy sư đang nằm ngủ, Viên Thông gõ vào giường, quở: “Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng Tọa ăn xong rồi ngủ.” Sư thưa: “Hòa Thượng dạy tôi làm gì?” Viên Thông bảo: “Sao chẳng tham thiền?” Sư thưa: “Món ăn ngon không cần đối với người bụng no.” Viên Thông bảo: “Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng Tọa?” Sư thưa: “Đợi họ chấp nhận để làm gì? Viên Thông hỏi: “Thượng Tọa đã gặp ai rồi đến đây?” Sư thưa: “Phù Sơn.” Viên Thông bảo: “Lạ! Được cái gì mà lười biếng.” Viên Thông bèn nắm tay, hai người cười rồi trở về phương trượng.”—When T'ou-tzi-Yi-Qing arrived at Yuan-Tong's place, rather than going for an interview with that teacher at the appointed time, he remained sleeping in the monk's hall. The head monk reported this to Yuan-Tong, saying: “There is a monk who's sleeping in the hall during the day. I'll go deal with it according to the rules.” Yuan-Tong asked: “Whi is it?” The head monk said: “The monk Qing.” Yuan-Tong said: “Leave it be. I'll go find about it.” Yuan-Tong then took his staff and went into the monk's hall. There he found T'ou-Tzi-Yi-Qing in a deep sleep. Hitting the sleeping platform with his staff, he scolded him: “I don't offer any 'leisure rice' here for monks so that they can go to sleep.” T'ou-Tzi-Yi-Qing woke up and asked: “How would the master prefer that I practice?” Yuan-Tong said: “Why don't you try practicing Zen?” Yi-Qing said: “Fancy food doesn't interest someone who's sated.” Yuan-Tong said: “But I don't think you've gotten there yet.” Yi-Qing said: “What point would there be in waiting until you believe it?” Yuan-Tong said: “Who have you been studying with?” Yi-Qing said: “Fu-Shan.” Yuan-Tong said: “No wonder you're so obstinate!” They then held each other's hands, laughed, and went to talk in Yuan-Tong's room. From this incident Yi-Qing's reputation spread widely. Ban đầu Sư trụ trì tại Bạch Vân. Sau sư dời đến Đầu Tử. Sư thượng đường dạy chúng: “Nếu luận việc nầy như loan phụng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương mọc sừng ai tìm được dấu chơn, rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng cóc. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Oai Âm lay đầu, hỏi đáp nói bày vẫn còn ở giữa đường. Nếu đứng tròng chẳng nhọc thấy nhau—T'ou-Tzi-Yi-Qing first taught on White Cloud Temple in Jian-Chou. He later moved to the Sheng-Yin Monastery in Shu-Chou (located on Mt. Qian) Zen master Yi-Qing entered the hall and addressed the monks, saying: “To speak of this affair is like a phoenix soaring into the heavens, not leaving a trace behind. It's like a ram whose horns are entangled in a tree, and thus does not touch the ground. Where will you find any tracks? A golden dragon in not concealed in a cold swamp. A jade rabbit nests in the moonlight. In order to establish the guest and host, you must stick your head out beyond the noisy world. If you answer my questions properly, you're singing at the edge of the mysterious road. But in that case, you're still only halfway there. If you're still staring in miscomprehension, don't belabor what you see!” Năm 1083, lúc gần thị tịch, sư có làm bài kệ: “Lưỡng xứ trụ trì Vô khả trợ đạo Trân trọng chư nhơn Bất tu tầm thảo.” (Trụ trì hai nơi, không thể giúp đạo Trân trọng các ngươi, Chẳng cần tìm thảo)—When Yi-Qing was near death, he composed a poem: “As the abbot of two temples, I couldn't assist the Buddha way. My parting message to you all, Don't go seeking after something.”

Nghĩa Thiên

(義天): có mấy nghĩa chính. (1) Gọi đủ là Đệ Nhất Nghĩa Thiên (第一義天), Đệ Nhất Nghĩa Tịnh Thiên (第一義淨天), tức chỉ cho chư Phật, Bồ Tát chứng quả Đại Niết Bàn; hoặc chư vị Bồ Tát đang ở quả vị Thập Trú (十住, gồm Phát Tâm Trú [發心住], Trị Địa Trú [治地住], Tu Hành Trú [修行住], Sanh Quý Trú [生貴住], Cụ Túc Trú [具足住], Chánh Tâm Trú [正心住], Bất Thối Trú [不退住], Đồng Chơn Trú [童眞住], Chánh Pháp Vương Trú [法王子住] và Quán Đảnh Trú [灌頂住]); là một trong 4 cõi trời. Như trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 22, phẩm Cao Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát Phẩm (光明遍照高貴德王菩薩品) có giải thích rõ rằng: “Hữu tứ thiên, nhất giả Thế Gian Thiên, nhị giả Sanh Thiên, tam giả Tịnh Thiên, tứ giả Nghĩa Thiên. Thế Gian Thiên giả như chư quốc vương; Sanh Thiên giả tùng Tứ Thiên Vương nãi chí Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên; Tịnh Thiên giả tùng Tu Đà Hoàn chí Bích Chi Phật; Nghĩa Thiên giả Thập Trú Bồ Tát Ma Ha Tát đẳng. Dĩ hà nghĩa cố Thập Trú Bồ Tát danh vi Nghĩa Thiên ? Dĩ năng thiện giải chư pháp nghĩa cố. Vân hà vi nghĩa ? Kiến nhất thiết pháp thị không nghĩa cố (有四種天、一者世間天、二者生天、三者淨天、四者義天、世間天者如諸國王、生天者從四天王乃至非有想非無想天、淨天者從須陀洹至辟支佛、義天者十住菩薩摩訶薩等、以何義故十住菩薩名爲義天、以能善解諸法義故、云何爲義、見一切法是空義故, có bốn loại cõi trời, một là Thế Gian Thiên, hai là Sanh Thiên, ba là Tịnh Thiên, bốn là Nghĩa Thiên. Thế Gian Thiên là các quốc vương; Sanh Thiên là từ Tứ Thiên Vương cho đến cõi trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng; Tịnh Thiên là từ Tu Đà Hoàn cho đến Bích Chi Phật; Nghĩa Thiên là các Bồ Tát Ma Ha Tát của quả vị Thập Trú. Vì lấy nghĩa gì mà Bồ Tát của quả vị Thập Trú được gọi là Nghĩa Thiên ? Vì có thể khéo hiểu nghĩa của các pháp. Nghĩa đó là gì ? Thấy hết thảy các pháp là nghĩa không).” (2) Chỉ cho Từ Ân Đại Sư (慈恩大師), tức Khuy Cơ (窺基, 632-682), sơ Tổ của Pháp Tướng Tông Trung Quốc, có thể hiểu được nghĩa nhiệm mầu, nên được gọi là Nghĩa Thiên. (3) Chỉ cho Nghĩa Thiên (1055-1101), hiệu là Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), là con trai thứ 4 của vua Văn Tông (文宗, tại vị 1046-1083) nước Cao Lệ (高麗, Triều Tiên), được phong làm Hựu Thế Tăng Thống (祐世僧統), quản lý tăng giới Triều Tiên.

nghĩa thiên

Các bậc Bồ Tát từ Thập Trụ trở lên có khả năng ngộ giải thâm nghĩa Đại Thừa—All Bodhisattvas above the ten stages. Đệ Nhất Nghĩa Thiên: Chư Phật và Bồ Tát chẳng biến dịch, vì thường trụ nên chẳng sinh, chẳng già, chẳng bịnh, chẳng chết—A supreme heaven with Bodhisattvas and Buddhas in eternal immutability. ; (義天) I. Nghĩa Thiên. Gọi đủ: Đệ nhất nghĩa thiên, Đệ nhất nghĩa tịnh thiên. Chỉ cho chư Phật, Bồ tát trụ nơi đại Niết bàn, hoặc chỉ cho các Bồ tát giai vị Thập trụ. Bởi vì các Ngài khéo hiểu nghĩa của các pháp, cho nên dùng diệu lí Đệ nhất nghĩa không ví dụ là Thiên (trời), tức nghĩa Thiên trong Tứ thiên. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18, 22 (bản Bắc); Pháp hoa huyền nghĩa Q.4 phần trên]. II. Nghĩa Thiên. Chỉ cho Đại sư Từ ân (tức ngài Khuy cơ), vì ngài có năng lực hiểu thấu diệu nghĩa, nên gọi ngài là Nghĩa thiên. [X. Tống cao tăng truyện Q.7]. III. Nghĩa Thiên (1055-1101). Cũng gọi Đại giác Thiền sư. Sư là con thứ 4 của vua Văn tông nước Cao li, họ Vương, tên Hú. Sư xuất gia ở chùa Linh thông, học Hoa nghiêm, kiêm Nho học. Năm Tuyên tông thứ 2 (1085), sư cùng với đệ tử đáp thuyền buôn đến Trung quốc, dâng biểu lên triều đình xin truyền giáo nghĩa Hoa nghiêm, được vua Thần tông nhà Tống tiếp đãi trọng hậu. Sư lần lượt tham vấn hơn 50 vị Cao tăng thạc học của Trung quốc thời đó như các ngài: Phật ấn Liễu nguyên, Tuệ lâm Tông bản, Tịnh nguyên, Từ biện, Đại giác Hoài liễn, Phật nhật Khế tung v.v... sư học rộng các tông như: Hoa nghiêm, Thiên thai, Luật, Thiền... Ba năm sau (1088), sư trở về Triều tiên, mang theo hơn 1000 quyển kinh sách Phật, sáng lập chùa Quốc thanh, tuyên dương giáo chỉ Hoa nghiêm, Thiên thai. Sư tâu xin vua đặt cơ sở Giáo tạng đô giám ở chùa Hưng vương để cất giữ kinh điển Phật thỉnh về từ Trung quốc, Liêu và Nhật bản. Đồng thời sư biên soạn Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục 3 quyển (cũng gọi Nghĩa thiên mục lục) và bắt đầu xúc tiến công việc ấn hành Tục tạng kinh Cao li gồm hơn 4.000 quyển ở chùa Hưng vương. Năm Túc tông thứ 6 (1101) sư thị tịch ở chùa Tổng trì, hưởng dương 47 tuổi, pháp lạp 36. Sư có các tác phẩm: Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục, Viên tông văn loại, Thích uyển từ lâm, Đại giác quốc sư văn tập. [X. Thích môn chính thống Q.3; Phật tổ thống kỉ Q.14, 46; Thích thị kê cổ lược Q.4].

nghĩa thiên mục lục

(義天目錄) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nghĩa thiên người Cao li biên soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 55. Bộ sách này vốn có tên Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục, bên trong đề: Đông hải hữu bản kiến hành lục. Nội dung gom thu các bản sớ, sao của các kinh luận được lưu truyền ở Triều tiên. Đây là bộ sách mở đầu cho việc biên soạn loại chương sớ mục lục ở Triều tiên sau này. -Quyển 1: Thu chép 619 bộ chú sớ của 47 bộ kinh Đại, Tiểu thừa từ kinh Hoa nghiêm trở xuống. -Quyển 2: Thu chép 145 bộ chú sớ của 6 bộ luật Đại, Tiểu thừa từ kinh Phạm võng trở xuống. -Quyển 3: Thu chép 217 bộ chú sớ của 31 bộ luận Đại, Tiểu thừa từ luận Đại thừa khởi tín trở xuống và 105 bộ sách về Tông nghĩa, Loại soạn, Kí truyện của các tông từ Triệu luận trở xuống, tổng cộng là 1.086 bộ. Sách được hoàn thành vào năm 1091. (xt. Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục).

nghĩa thuật

See Nghĩa Vệ.

nghĩa tháo

(義操) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường. Sư đắc pháp nơi ngài Huệ quả, trụ ở viện Đông tháp chùa Thanh long tại Trường an. Sư thâm nhập Tam mật, thông suốt Ngũ minh, giáo hóa 3 triều vua là Thuận tông, Hiến tông và Mục tông, người đời gọi sư là Quốc sư. Đệ tử nối pháp có các vị: Hải vân, Pháp nhuận, Nghĩa chân, Thâm đạt, Đại ngộ, Văn phạm v.v... Sư có tác phẩm: Lưỡng bộ kim cương danh hiệu 2 quyển.

nghĩa thích

(義釋) Pàli: Niddesa. Hán âm: Ni thế sa. Là sách chú giải Kinh tập (Pàli: Suttanipàta) thuộc Tiểu bộ kinh (Khuddakanikàya) tiếngPàli. Nội dung sách này chia làm 2 phần là Đại nghĩa thích (Pàli:Màha-niddesa) và Tiểu nghĩa thích (Pàli: Cùla-niddesa). Trong đó, phần Đại nghĩa thích chú giải phẩm Nghĩa (Pàli: Aỉỉhaka-vagga), trong kinh tập bao gồm toàn bộ 16 kinh, còn phần Tiểu nghĩa thích thì chú giải phẩm Bỉ ngạn đạo (Pàli: Pàràyema-vagga), bao gồm toàn bộ 16 kinh, kết ngữ (Pàli: Niyama) và kinh Tê giác (Pàli: Khagga-visàịasutta) trong phẩm Xà (Pàli: Uraga-vagga) của Kinh tập. Toàn bộ sách chủ yếu sử dụng phương thức theo chữ để giải thích ngữ nghĩa, trong đó có trích dẫn rất nhiều tự ngữ trong các kinh luật như: Tương ứng bộ kinh, Trung bộ kinh, Tăng chi bộ kinh, Trưởng lão kệ, Bản sinh kinh, Như thị ngữ, Pháp cú kinh, Trường bộ kinh, Luật tạng, Tự thuyết kinh, Trưởng lão ni kệ, Ngã quỉ sự v.v... [X. Dictionary of Pàli Proper Names by G. P. Malalasekera].

nghĩa thông

(義通) Cao tăng người Cao li, họ Doãn, tự là Duy viễn, tổ thứ 16 (có thuyết nói thứ 15) của tông Thiên thai. Sư xuất gia từ nhỏ, thờ ngài Tông vi ở viện Qui sơn làm thầy, học tập Hoa nghiêm, khởi tín. Khoảng năm Càn hựu đời Tống, sư đến Trung quốc, học giáo quán Thiên thai nơi ngài Loa khê Nghĩa tịch. Khi sư chuẩn bị trở về nước, ngài Giả đạo Tứ minh và quan quận thú Tiền duy trị cố giữ sư ở lại, rồi Tào sứ Cố thừa hiến nhà mình làm viện Truyền giáo để sư ở. Tháng 4 năm Thái bình hưng quốc thứ 7 (982), vua Tống thái tông ban biển ngạch cho viện Truyền pháp là Bảo Vân, từ đó sư có hiệu là Bảo Vân Tôn Giả. Về sau, sư hoằng dương giáo quán Thiên thai suốt 20 năm, đệ tử có các vị: Tri lễ, Tuân thức v.v... Tháng 10 năm Đoan củng (988) sư thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi, được an táng ở góc Tây bắc chùa A dục vương. Sư có các trứ tác: Quán kinh sớ kí, Quang minh huyền tán thích, Quang minh cú bị cấp sớ. [X. Cao li quốc Hưng quốc tự tháp kí; Phật tổ thống kỉ Q.8, Thích thị kê cổ lược Q.4; Phật tổ cương mục Q.35].

nghĩa thú

Con đường chánh đạo—The path of truth, the right direction, or objective.

nghĩa trung

(義忠) I.Nghĩa Trung(? - ?) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người Tương viên (Sơn tây), họ Doãn. Lúc nhỏ, sư theo Chiểu công ở Chuy châu xuất gia, ban đầu sư học kinh Niết bàn. Năm 20 tuổi sư thụ giới Cụ túc, học luật Tứ phần. Sau, Chiểu công cho sư đến theo học Đại sư Khuy cơ, nghiên cứu Pháp hoa, Duy thức v.v... Sư ở chùa Đại từ ân giảng thuyết mấy mươi năm không ngưng nghỉ. Sau khi ngài Khuy cơ thị tịch, học chúng tôn sư làm thầy, người các nơi về hỏi đạo rất đông, nước ngoài cũng truyền học thuyết của sư. Sau, sư tịch ở quê nhà. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa kinh sớ, Tịnh danh kinh sớ, Thành duy thức luận toản yếu, Duy thức luận sao 30 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.4]. II. Nghĩa Trung (781-872). Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Phúc châu, họ Dương. Ban đầu sư tham yết ngài Thạch củng Tuệ tạng, sau nối pháp Thiền sư Đại điên Bảo thông và trụ ở núi Tam bình tại Chương châu (Phúc kiến) tiếp hóa hàng hậu học.Năm Hàm thông 13 (872) sư thị tịch, hưởng thọ 92 tuổi. [X. Tổ đường tập Q.5; Cảnh đức truyền đăng lục Q.14; Ngũ đăng hội Q.5].

nghĩa tâm

(義心) Nghĩa là tâm do dự không quyết đoán. Có 2 loại: -Mê sự tâm: Tâm nghi ngờ về sự, khi đến Kiến đạo thì dứt trừ. -Mê lí tâm: Tâm nghi ngờ về lí thì khi đến quả Phật mới dứt trừ.

nghĩa tương

(義湘) Cao tăng Triều tiên, người Kê lâm, Tân la, họ Kim, là Sơ tổ tông Hoa nghiêm. Năm 29 tuổi sư xuất gia. Niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650) sư đến Trung quốc, dừng nghỉ ở Dương châu. Sau, sư đến núi Chung nam theo học ngài Trí nghiễm, thông suốt diệu lí kinh Hoa nghiêm. Sau khi về nước, sư vâng sắc sáng lập chùa Phù thạch tại núi Đại bá thuộc tỉnh Khánh thượng bắc, khai sáng tông Hoa nghiêm, hoằng truyền pháp Đại thừa, đệ tử rất đông, nổi tiếng nhất có các vị: Ngộ chân, Trí thông, Năng nhân, Nghĩa tịch v.v... Năm 702 sư thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi. Vua Túc tông Cao li ban thụy hiệu Viên Giáo Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Hoa nghiêm nhất thừa pháp giới đồ, Pháp giới lược sớ, Quát tận nhất thừa xu yếu, Thiên tuế qui kính. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tam quốc di sự Q.4; Cao li sử Q.11]. (xt. Hoa Nghiêm Duyên Khởi).

nghĩa tướng

Nghĩa lý và tướng trạng—Meaning and form, truth and its aspect.

nghĩa tịch

(義寂) I. Nghĩa Tịch (919-987). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tống, thuộc tông Thiên thai, người huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang, họ Hồ, tự Thường chiếu, người đời gọi sư là Tịnh quang đại sư, Loa khê Nghĩa tịch, Loa khê Tôn giả. Năm 12 tuổi sư xuất gia ở chùa Khai nguyên tại Ôn châu, 19 tuổi thụ giới Cụ túc. Sau, sư đến núi Thiên thai theo ngài Thanh tủng tu học chỉ quán. Sau khi ngài Thanh tủng thị tịch, sư xây dựng đạo tràng Loa khê làm cơ sở giảng thuyết, 4 chúng về tu học rất đông. Từ cuối đời Đường trở đi, vì loạn lạc liên miên nên sách vở của tông Thiên thai thất lạc gần hết, rất khó khăn cho những người hậu học, không biết nương vào đâu. Bởi thế, sư khuyên Ngô việt vương Tiền thúc sai sứ đến Cao li, Nhật bản tìm lại các bản sao chép kinh sách của tông Thiên thai, nhờ đó mà tông Thiên thai có cơ trung hưng. Tháng 10 năm Ung hi thứ 4 (987) sư thị tịch, hưởng thọ 69 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chỉ quán nghĩa lệ, Pháp hoa thập sao. Đệ tử nối pháp có các vị nổi tiếng như: Nghĩa thông, Đế quán, Trừng dục, Tông dục v.v... [X. Thích môn chính thống Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.8; Loa khê chấn tổ tập]. II. Nghĩa Tịch(? - ?). Cao tăng nước Tân la sống vào thời đại Thần văn vương. Sư thờ ngài Nghĩa tương làm thầy, thông suốt các kinh như Pháp hoa, Niết bàn, Bát nhã, Phạm võng v.v... Cùng với các vị Ngộ chân, Trí thông, Biểu huấn, Chân định v.v... là 10 đệ tử lớn của ngài Nghĩa tương. Sư có các tác phẩm: Phạm võng kinh Bồ tát giới bản sớ, Pháp học luận thuật kí. [X. Tân biên chư tông giáo tạng Q.1-3; Tam quốc di sự Q.4].

Nghĩa Tịnh

(義淨, Gijō, 635-713): vị tăng dịch kinh nổi tiếng dưới thời nhà Đường, người Huyện Trác (涿縣), Hà Bắc (河北), có thuyết cho là xuất thân vùng Tề Châu (齊州, Sơn Đông), họ là Trương (張), tự Văn Minh (文明). Ông xuất gia từ lúc còn nhỏ, thiên tánh thông tuệ, đã từng đi tham vấn khắp các bậc danh đức, đọc qua các điển tịch. Năm lên 15 tuổi, ông rất ngưỡng mộ cuộc Tây du thỉnh kinh của Pháp Hiển (法顯, 340?-?) và Huyền Trang (玄奘, 602-664). Đến năm 20 tuổi, ông thọ Cụ Túc giới. Vào năm thứ 2 (671) niên hiệu Hàm Hanh (咸亨), ông đi qua Quảng Châu (廣州), dọc theo đường biển, đến vùng Thất Lợi Phất Thệ (室利弗逝, tức Tô Môn Đáp Lạp Ba Lân Bàng [Palembang, 蘇門答臘巴鄰旁]) và cuối cùng đến được Ấn Độ. Tại đây ông đã chí thành tuần bái và đảnh lễ các thánh địa Phật Giáo như Thứu Phong (鷲峰, tức Kỳ Xà Quật Sơn [s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山]), Kê Túc Sơn (雞足山), Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), Kỳ Viên Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇園精舍), v.v. Sau đó, ông đến tu học tại Na Lan Đà Tự (s: Nālandā, 那爤陀寺) trong suốt 10 năm, rồi đi du lịch hơn 30 tiểu quốc. Khi trở về nước, ông mang về Lạc Dương khoảng 400 bộ kinh luận bằng tiếng Phạn và 300 viên xá lợi; chính Võ Hậu đích thân ra tận Đông môn nghinh tiếp và hạ chiếu chỉ cho ông trú trì Phật Thọ Ký Tự (佛授記寺). Từ đó trở đi, ông tham gia vào công tác trùng dịch Kinh Hoa Nghiêm (華嚴經), cùng các thư tịch về giới luật, Duy Thức, Mật Giáo, v.v. Kể từ năm thứ 2 (699) niên hiệu Thánh Lịch (聖曆) cho đến năm thứ 2 (711) niên hiệu Cảnh Vân (景雲), ông đã dịch được 56 bộ, 230 quyển, trong số đó thư tịch liên quan đến giới luật là nhiều nhất và những điển tịch hiện lưu truyền của Tỳ Nại Da thuộc Hữu Bộ phần lớn đều do ông phiên dịch cả. Ông cùng với Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413), Huyền Trang (玄奘, 602-664), và Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) được xem như là 4 nhà phiên dịch lớn. Ngoài việc phiên dịch, ông còn lấy giới luật dạy dỗ đồ chúng. Trước tác của ông có Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện (南海寄歸內法傳) 4 quyển, Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện (大唐西域求法高僧傳) 2 quyển, v.v. Trong tác phẩm của ông có ghi lại những sinh hoạt của chư tăng, phong tục, tập quán, v.v., ở các nước mà ông đã từng đi qua, là tư liệu vô cùng quan trọng để chúng ta có thể biết được Ấn Độ đương thời như thế nào. Ông thị tịch vào tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Tiên Thiên (先天), hưởng thọ 79 tuổi. Tháp của ông được dựng tại Long Môn (龍門), Lạc Dương (洛陽). ; 義淨; C: yìjìng; 635-713;|Cao tăng Trung Quốc, một trong những dịch giả quan trọng nhất, dịch kinh sách từ Phạn ngữ (sanskrit) ra Hán văn và cũng là người đi tham bái các thánh tích Phật giáo. Năm 671, Sư đi bằng đường biển qua Ấn Ðộ và lưu lại đó hơn 20 năm. Tại Viện Phật học Na-lan-đà, Sư tham cứu giáo lí của Phật giáo Tiểu thừa cũng như Ðại thừa và bắt đầu công trình dịch thuật từ Phạn ngữ sang Hán văn. Năm 695, Sư trở về Trung Quốc, mang theo khoảng 400 kinh, luận. Cùng hợp tác với Thật-xoa Nan-đà (s: śikṣānanda), Sư dịch kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) và Luật tạng. Tổng cộng, Sư đã dịch 56 tác phẩm với 230 tập. Ngoài một tập du kí Ấn Ðộ, Sư còn ghi lại tiểu sử của 56 vị tăng đã đi tham bái đất Phật bằng đường biển. Trong các vị này có 4 vị là người Việt Nam (Giao Chỉ).

nghĩa tịnh

Ngài Nghĩa Tịnh Tam Tạng Pháp Sư (635-713), một vị sư nổi tiếng thời Đường. Khi ngài được mười tuổi thì Huyền Trang trở về Trung Hoa, nhưng ngài đã tự chuẩn bị cho mình một cuộc sống tu sĩ Phật Giáo. Ngài gia nhập giáo đoàn năm 14 tuổi. Tuy đã nuôi ý định đi Ấn Độ từ năm 652, nhưng mãi đến khi 37 tuổi ngài mới thực hành được ý định. Năm 671 ngài mới có thể bắt đầu dong buồm đi Ấn Độ, trải qua hơn 25 năm, đi qua hơn 30 quốc gia; tuy nhiên, ngài dùng rất nhiều thì giờ tại tu viện Na Lan Đà. Năm 695, ngài trở về Lạc Dương, Trung Quốc, được tiếp đón nồng hậu và đầy vinh dự (người ta nói Thiên Hậu đã ra tận cửa Thượng Đông để đón ngài). Ngài mang về hơn 400 bộ kinh. Đầu tiên ngài hợp tác với Thực Xoa Nan Đà (người nước Vu Điền) dịch Kinh Hoa Nghiêm. Sau đó ngài còn dịch rất nhiều bộ kinh khác gồm 56 bộ kinh với 230 quyển. Các cuộc hành trình của ngài không có sự đa dạng và chủ đích khoa học như của ngài Huyền Trang, nhưng lại quan tâm nhiều đến con người. Trong chuyến đi năm 671, ngài đã ở lại tám tháng tại Sumatra, sáu tháng tại Srivijaya, một quốc gia vùng biển đang phát triển, nay là Palembang, và hai tháng tại Mã Lai. Ngài lên bộ tại Tamralipti vào năm 673 và từ đó đi đến Ma Kiệt Đà (Magadha), thánh địa hàng đầu, rồi đến chiêm bái Bodh-Gaya cùng các thánh địa khác. Ngài lưu lại viện đại học Na Lan Đà mười năm, nghe bài giảng của các bậc thầy về giáo pháp và thu thập kinh sách. Ngài rời Ấn Độ cũng bằng ngã Tamralipta, sống bốn năm tại Srivijaya, trau dồi Phạn ngữ để sau nầy dịch kinh sách. Vào năm 689, ngài trở lại Trung Quốc. Ngài đã để lại những ký sự quý báu về “Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng” (Hồi Ký về Các Tu Sĩ Xuất Chúng Đi Tìm Chánh Pháp ở Phương Tây), được Chavannes dịch sang Pháp ngữ. “Ghi Nhận Về Đạo Phật Tại Ấn Độ và Quần Đảo Mã Lai,” được J. Takakusu dịch sang Anh. Sách cho chúng ta một ý niệm khá rõ về sự sốt sắng tận tụy của những người hành hương mà số lượng đông hơn ta tưởng, về tinh thần chấp nhận hiểm nguy của họ. Thật vậy, đây là một chuỗi dài buồn thảm về các câu chuyện đầy những biến cố lâm ly, cả trên bộ lẫn dưới biển. Nghĩa Tịnh đã ngậm ngùi nói: “Tuy có thành công nhưng con đường đầy những gian nan. Vùng Thánh địa thật quá xa vời và bao la. Trong số đông những người toan tính, có mấy người đạt được kết quả thật sự, có mấy người hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Những sa mạc mênh mông đầy sỏi đá của vùng đất Voi (Ấn Độ), những dòng sông lớn chói chang ánh mặt trời dội sức nóng thiêu đốt, hoặc những vực sâu, những đợt sóng cao ngất. Khi đi trên bộ một mình bên kia Thiết Môn giữa Samarquand và Bactria, người ta lạc vào giữa hàng ngàn ngọn núi, dễ rơi xuống đáy vực từ những vách đá dựng đứng; khi đi thuyền đơn độc bên kia trụ đồng (phía nam Tonkin) thì phải băng qua vô số vùng châu thổ và có thể bị thiệt mạng. Vì thế cho nên trong số năm chục người ra đi thì số sống sót trở về chỉ đếm trên đầu ngón tay.” Theo Nghĩa Tịnh, nhiều tu sĩ Cao Ly, băng qua vùng Trung Á, hay đi đường biển, rất nhiều trong số họ đã chết tại Ấn Độ, chứ không bao giờ được nhìn thấy lại xứ sở của mình. Ngài thị tịch năm 79 tuổi—I-Ching, 635-713 A.D., the famous monk during the T'ang dynasty, who was only about ten years old when Hsuan-Tsang returned to China, but he had already prepared himself for the life of a Buddhist monk. He was admitted to the Order when he was fourteen. Though he formed the idea of travelling to India in 652, but he did not carry it out till he was thirty-seven years old. In 671, he set out by the sea route for India, where he remained for over twenty years, travelling over 30 countries; however, he spent half this period in the Nalanda monastery. He returned to China (Lo-Yang) in 695, was received with much honour, brought back some four hundred works, translated with Siksananda the Avatamsaka Sutra, later translated many other works (56 sutras comprised of 230 books) and left valuable account of his travels and life in India. His itineraries lack the variety and scientific interest of those of Hsuan-Tsang, but they are full of human interest. On his outward voyage in 671, he spent eight months in Sumatra, six at Srivijaya, a rising maritime State, now Palembang, and two months in Malaysia in the neighborhood. He landed at Tamralipti in 673 and thence went to Magadha, the holy land and worshipped at Bodh-Gaya and other sacred spots. He spent ten years at Nalanda, hearing the teaching from different masters, and collecting holy books. In 685, he left India, again by way of Tamralipti. He spent four years in Srivijaya to learn more Sanskrit in order to translate sacred works later on. In 689, he returned to China to fetch collaborators for his work and after went back to stay at Srivijaya for another five years. He finally returned to China in 695. One of I-Ch'ing's works, A Record of the Buddhist Religion as practised in India and the Malay Archipelago, has been translated into English by a Japanese scholar, J. Takakusu. More interesting in some ways are his Memoirs on the Eminent Monks who went in Search of the Law in the Western Countries, which translated into French by Chavannes. This gives us a fair idea of the earnestness and devotion of the pilgrims whose numbers were large than we are apt to imagine and of the spirit with which they braved the dangers of their enterprises. It is, in fact, a melancholy succession of tales, full of pathetic incidents both on land and sea. I-Ch'ing remarks wistfully: “However, triumphal, the path was strewn with difficulties; the Holy Places were far away and vast. Of dozen who brought forth leaves and flowers, and of several who made an attempt, there was scarcely one who bore any fruit or produced any real results, and few who competed their task. The reason for this was the immensity of the stony deserts of the Land of the Elephant (India), the great rivers and the briliance of the sun which pours forth its burning heat, or else the towering waves heaved up by the giant fish, the abysses, and the waters that rise and swell as high as the heavens. When marching solitary, beyond the Iron Gates between Samarquand and Bactria, one wandered amongst the ten thousand mountains, and fell into the bottom of precipices; when sailing alone beyond the Columns of Coper (south of Tontkin), one crossed the thousand deltas over fifty in number, while those who survive were only a handful of men." According to I-Ch'ing, several Korean monks had gone to India, the majority across Central Asia, some by the sea route; of them, I-Ch'ing says: “They died in India, and never saw their country again. He died at age 79. ; (義淨) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, người huyện Trác, tỉnh Hà bắc, có thuyết nói là người Tề châu (Lịch thành, Sơn đông), họ Trương, tự Văn minh. Sư bẩm tính thông minh, xuất gia từ nhỏ, tham học các bậc danh đức khắp nơi, nghe nhiều, đọc rộng. Sư rất ngưỡng mộ cuộc hành trình cầu pháp của các ngài Pháp hiển và Huyền trang. Năm 20 tuổi, sư thụ giới Cụ túc. Năm Hàm hanh thứ 2 (671), từ Quảng châu, sư vượt biển đến Thất lợi phật thệ (đảo Sumatra ở phía bắc Indonesia hiện nay), rồi từ đó sư qua Ấn độ. Sau khi chiêm bái các nơi Thánh tích của Phật giáo như: Núi Linh thứu, núi Kê túc, vườn Lộc dã, tinh xá Kì viên v.v... sư đến chùa Na lan đà lưu lại cầu học trong 10 năm. Sau đó, sư lại trở về Thất lợi Phật thệ học thêm 7 năm nữa. Khi trở về Trung quốc, sư mang theo khoảng 400 bộ kinh luận bằng tiếng Phạm và 300 viên ngọc Xá lợi. Lúc sư đến thành Lạc dương, Vũ hậu Tắc thiên đích thân ra ngoài cửa Đông nghinh đón và thỉnh sư về trụ ở chùa Phật thụ kí, chuyên việc dịch kinh.Trong khoảng thời gian 12 năm (699-711), sư dịch được 56 bộ 230 quyển kinh, luật, luận, trong đó, Luật bộ chiếm số nhiều, như Hữu bộ tì nại da v.v... Lưu hành hiện nay là do sư dịch. Sư cùng với các ngài Cưu ma la thập, Chân đế và Huyền trang được tôn xưng là Tứ đại dịch kinh gia của Phật giáo Trung quốc. Ngoài việc dịch thuật, sư cũng dành thời gian để giảng dạy giới luật cho hàng hậu học. Trong thời gian du học, sư đã đi qua hơn 30 nước và đều có ghi lại trong các trứ tác của sư về sự sinh hoạt và phong tục, tập quán của mỗi nước. Đây là tư liệu quí báu giúp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu Ấn độ cũng như các nước ở vùng Nam hải đương thời. Năm Tiên thiên thứ 2 (713) sư thị tịch, hưởng thọ 79 tuổi. Sư có các tác phẩm: Nam hải kí qui nội pháp truyện 4 quyển; Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện 2 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Phật tổ thống kỉ Q.39].

Nghĩa Tồn

義存|Tuyết Phong Nghĩa Tồn.

nghĩa tồn

(義存) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Nam an, Tuyền châu (Phúc kiến), họ Tăng, hiệu là Tuyết phong. Năm sư 12 tuổi theo cha đến chùa Ngọc nhuận ở Bồ điền lễ Luật sư Khánh huyền cầu xuất gia, được chấp nhận cho làm hành đồng (chú điệu). Năm 17 tuổi, sư được xuống tóc và đến tham yết Đại sư Hằng chiếu ở núi Phù dung. Sau đó, sư đến chùa Bảo sát tại U châu thụ giới Cụ túc, rồi đến Đức sơn Vũ lăng (Thường đức, Hồ nam) tham yết Thiền sư Tuyên giám và được nối pháp của ngài. Năm Hàm thông thứ 6 (865) sư về núi Phù dung. Năm Hàm thông 11 (870), sư lên núi Tượng cốt tại Phúc châu lập am hoằng pháp. Núi Tượng cốt là 1 thắng cảnh ở Mân việt, mùa đông chưa đến mà tuyết đã rơi, đang giữa mùa hạ mà vẫn còn rét,vì thế nên núi có tên là Tuyết phong và sư cũng dùng Tuyết phong làm hiệu. Khi chùa được hoàn thành, chúng về cầu học rất đông, thường tới 1.500 người. Vua Hi tông ban cho sư tử y và hiệu Chân Giác Đại Sư. Đệ tử nối pháp nổi tiếng nhất là Thiền sư Vân môn Văn yển, sau là Tổ khai sáng tông Vân môn. Năm Khai bình thứ 2 (908) sư thị tịch, hưởng thọ 87 tuổi. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.16, Ngũ đăng hội nguyên Q.7].

nghĩa tồn tuyết phong thiền sư

Zen Master Xue-Feng-Yi-Cun—Thiền sư Nghĩa Tồn Tuyết Phong sanh năm 822 tại Tuyền Châu (bây giờ thuộc tỉnh Phúc Kiến). Năm mười hai tuổi sư đến ở chùa và xuất gia năm 17 tuổi—Zen Master Xue-Feng-Yin-Cun was born in 822 in Quan-Chou (now Fu-Jian Province). He left home to stay at Yu-Jian temple and became a monk at the age of seventeen. Tại Động Sơn, sư làm trưởng ban trai phạn (Phạn Đầu) đang đãi gạo. Khâm Sơn hỏi: “Đãi cát bỏ gạo hay đãi gạo bỏ cát?” Sư đáp: “Gạo cát đồng thời bỏ.” Khâm Sơn hỏi: “Như vậy đại chúng lấy gì ăn?” Sư bèn lật úp thau đãi gạo. Khâm Sơn nói: “Cứ theo nhơn duyên nầy, huynh hợp ở Đức Sơn.”—Xue-Feng served as a rice cook at T'ong-Shan. One day as he was straining the rice, T'ong-Shan asked him: “Do you strain the rice out from the sand, or do you strain the sand out from the rice?” Xue-Feng said: “Sand and rice are both strained out at once.” T'ong-Shan said: “In that case, what will the monks eat?” Xue-Feng then tipped over the rice pot. T'ong-Shan said: “Go! Your affinity accords with Te-Shan!” Sư đến tạm biệt Động Sơn, Động Sơn hỏi: “Ngươi đi đâu?” Sư thưa: “Đi về trong đảnh núi.” Động Sơn hỏi: “Đương thời từ đường nào ra?” Sư thưa: “Từ đường vượn bay đảnh núi ra.” Động Sơn hỏi: “Nay quay lại đường nào đi?” Sư thưa: “Từ đường vượn bay đảnh núi đi.” Động Sơn bảo: “Có người chẳng từ đường vượn bay đảnh núi đi, ngươi biết chăng?” Sư thưa: “Chẳng biết.” Động Sơn hỏi: “Tại sao chẳng biết?” Sư thưa: “Y không mặt mày.” Động Sơn bảo: “Ngươi đã chẳng biết, sao biết không mặt mày?” Sư không đáp được—When Xue-Feng left Tong-Shan, Tong-Shan asked him: “Where are you going?” Xue-Feng said: “I'm returning to Ling-Zhong. Tong-Shan said: “When you left Ling-Zhong to come here, what road did you take?” Xue-Feng said: “I took the road through the Flying Ape Mountain.” Tong-Shan asked: “And what road are you taking to go back there?” Xue-Feng said: “I'm returning through the Flying Ape Mountains as well.” Tong-Shan said: “There's someone who doesn't take the road through Flying Ape Mountains. Do you know him?” Xue-Feng said: “I don't know him.” Tong-Shan said: “Why don't you know him?” Xue-Feng said: “Because he doesn't have a face.” Tong-Shan said: “If you don't know him, how do you know he doesn't have a face?” Xue-Feng was silent. Sư cùng Nham Đầu đi đến Ngao Sơn ở Lễ Châu gặp tuyết xuống quá nhiều nên dừng lại. Nham Đầu mỗi ngày cứ ngủ, sư một bề ngồi thiền. Một hôm, sư gọi Nham Đầu: “Sư huynh! Sư huynh! Hãy dậy.” Nham Đầu hỏi: “Làm cái gì?” Sư nói: “Đời nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thúy đi hành khất đến nơi chốn, bị y chê cười, từ ngày đến đây sao chỉ lo ngủ?” Nham Đầu nạt: “Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như thổ địa, ngày sau bọn ma quỷ nam nữ vẫn còn.” Sư chỉ trong ngực nói: “Tôi trong ấy còn chưa ổn, không dám tự dối.” Nham Đầu nói: “Tôi bảo ông sau nầy lên chót núi cất thảo am xiển dương đại giáo, sẽ nói câu ấy.” Sư thưa: “Tôi thật còn chưa ổn.” Nham Đầu bảo: “Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ vì ông đuổi dẹp.” Sư thưa: “Khi tôi mới đến Diêm Quan, thấy thượng đường nói nghĩa sắc không, liền được chỗ vào.” Nham Đầu nói: “Từ đây đến ba mươi năm rất kỵ không nên nói đến.” Sư thưa: “Tôi thấy bài kệ của Động Sơn qua sông 'Thiết kỵ tùng tha mít, điều điều giữ ngã sơ, cừ kim chánh thị ngã, ngã kim bất thị cừ.'” Nham Đầu nói: “Nếu cùng ấy tự cứu cũng chưa tột.” Sau sư hỏi Đức Sơn 'Việc trong tông thừa từ trước con có phần chăng?' Đức Sơn đánh một gậy hỏi: 'Nói cái gì?' Tôi khi đó giống như thùng lủng đáy.” Nham Đầu nạt: “Ông chẳng nghe nói “Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà.” Sư thưa: “Về sau làm thế nào mới phải?” Nham Đầu bảo: “Về sau, nếu muốn xiển dương Đại Giáo, mỗi mỗi từ trong hông ngực mình lưu xuất, sau nầy cùng ta che trời che đất đi!” Sư nhơn câu ấy đại ngộ liền đảnh lễ, đứng dậy kêu luôn: Sư huynh! Ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn.” At that moment it was like the botom falling out of a bucket of water.”—When Xue-Feng was traveling with Yan-T'ou on Tortoise Mountain in Li-Chou Province, they were temporarily stuck in an inn during a snowstorm. Each day Yan-T'ou spent the entire day sleeping. Xue-Feng spent each day sitting in Zen meditation. One day, Xue-Feng called out: “Elder Brother! Elder Brother! Get up!” Yan-T'ou said: “What is it?” Xue-Feng said: “Don't be idle. Monks on pilgrimage have profound knowledge as their companion. This companion must accompany us at all times. But here today, all you are doing is sleeping.” Yan-T'ou yelled back: “Just eat your fill and sleep! Sitting there in meditation all the time is like being some day figure in a villager's hut. In the future you'll just spook the men and women of the village.” Xue-Feng pointed to his own chest and said: “I feel unease here. I don't dare cheat myself by not practicing diligently.” Yan-T'ou said: “I always say that some day you'll build a cottage on a lonely mountain peak and expound a great teaching. Yet you still talk like this!” Xue-Feng said: “I'm truly anxious.” Yan-T'ou said: “If that's really so, then reveal your understanding, and where it is correct I'll confirm it for you. Where it's incorrect I'll root it out.” Xue-Feng said: “When I first went to Yan-Kuan's place, I heard him expound on emptiness and form. At that time I found an entrance.” Yan-T'ou said: “And then I saw Tong-Shan's poem that said: 'Avoid seeking elsewhere, for that's far from the Self, now I travel alone, everywhere I meet it, now it's exactly me, now I'm not it.” Yan-T'ou said: “If that's so, you'll never save yourself.” Xue-Feng said: “Later I asked De-Shan: 'Can a student understand the essence of the ancient teachings?' He struck me and said: 'What did you say?' At that moment it was like the bottom falling out of a bucket of water.” Yan-T'ou said: “Haven't you heard it said that 'what comes in through the front gate isn't the family's jewels?” Xue-Feng said: “Then, in the future, what should I do?” Yan-T'ou said: “In the future, if you want to expound a great teaching, then it must flow forth from your own breast. In the future your teaching and mine will cover heaven and earth.” When Xue-Feng heard this he experienced unsurpassed enlightenment. He then bowed and said: “Elder Brother, at last today on Tortoise Mountain I've attained the Way!” Một vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng thấy Đức Sơn được cái gì liền thôi?” Sư đáp: “Ta đi tay không, về tay không.”—After Xue-Feng asumed the abbacy at Snow Peak, a monk asked him: “When the Master was at Te-Shan's place, what was it you attained and allowed you to stop looking further?” Xue-Feng said: “I went with empty hands and returned with empty hands.” Sư hỏi vị Tăng mới đến: “Vừa rời chỗ nào đến?” Vị Tăng thưa: “”Phú Thuyền đến.” Sư hỏi: “Biển sanh tử chưa qua, vì sao lại phú thuyền (úp thuyền)?” Vị Tăng không đáp được, bèn trở về thuật lại cho Phú Thuyền. Phú Thuyền bảo: “Sao không nói y không sanh tử.” Vị Tăng trở lại nói lời nầy. Sư bảo: “Đây không phải lời của ông. Vị Tăng thưa: “Phú Thuyền nói thế ấy.” Sư bảo: “Ta có 20 gậy gởi cho Phú Thuyền, còn ta tự ăn 20 gậy, chẳng can hệ gì đến Xà Lê.”—Xue-Feng asked a monk: “Where have you come from?” The monk said: “From Zen master Fu-Chuan's place.” Xue-Feng said: “You haven't crossed the sea of life and death yet. So why have you overturned the boat?" ”he monk was speechless. He later returned and told Zen master Fu-Chuan about this. Fu-Chuan said: "W“y didn't you say 'It is not subject to life and death'?” The monk returned to Xue-Feng and repeated this phrase. Xue-Feng said: “This isn't something you said yourself.” The monk said: “Zen master Fu-Chuan said this.” Xue-Feng said: : Isend twenty blows to Fu-Chuan and give twenty blows to myself as well for interfering your own affairs.” Một hôm, sư ở trong nhà Tăng dóng cửa trước cửa sau xong nổi lửa đốt, lại kêu: “Cứu lửa! Cứu lửa! Huyền Sa đem một thanh củi từ cửa sổ ném vào trong. Sư bèn mở cửa—One day, Xue-Feng went into the monk's hall and started a fire. The he closed and locked the front and back doors and yelled “Fire! Fire!” Xuan-Sha took a piece of firewood and threw it in through the window. Xue-Feng then opened the door. Sư thượng đường dạy chúng: “Núi Nam có một con rắn mũi to, hết thảy các ông đều phải khéo xem.” Trường Khánh bước ra thưa: “Hôm nay trong nhà này có người tán thân mất mạng.” Vân Môn lấy cây gậy ném trước sư rồi ra bộ sợ. Có người đem việc nầy thuật lại Huyền Sa. Huyền Sa nói: “Phải là Huynh Lăng mới được. Tuy nhiên như thế, nếu ta thì chẳng vậy.” Vị Tăng hỏi: “Hòa Thượng làm thế nào?” Huyền Sa nói: “Dùng núi Nam làm gì?”—Zen master Xue-Feng entered the hall and addressed the monks, saying: “South Mountain has a turtle-nosed snake. All of you here must take a good look at it.” Chang-Qing came forward and said: “Today in the hall there and many who are losing their bodies and lives.” Yun-Men then threw a staff onto the ground in front of Xue-Feng and affected a pose of being frightened. A monk told Xuan-Sha about this and Xuan-Sha said: “Granted that Chang-Qing understands, still I don't agree.” The monk said: “What do you say, Master?” Xuan-Sha said: “Why do you need South Mountain?” Sư thị tịch năm 908, được vua ban hiệu “Đại Sư Chơn Giác”—He died in 908. After his death he received the posthumous title “Great Teacher True Awakening.”

Nghĩa Uyên

(義淵, Giin, ?-728): vị cao tăng của Pháp Tướng Tông Nhật Bản, sống dưới thời đại Nại Lương, húy là Nghĩa Uyên (義淵), xuất thân vùng Cao Thị (高市), Đại Hòa (大和, Yamato), họ là Thị Vãng (市徃). Tương truyền rằng song thân ông lo buồn vì không có con nối dõi, lâu năm chuyên tâm cầu nguyện đức Bồ Tát Quan Âm và cuối cùng hạ sanh ông. Lớn lên, ông theo học Pháp Tướng và Duy Thức với Trí Phụng (智鳳, Chihō) ở Nguyên Hưng Tự (元興寺, Gankō-ji), đến năm 699 thì hoàn thành sự nghiệp và được tặng cho 1 vạn bao gạo. Vào năm 703, ông được bổ nhiệm làm Tăng Chánh. Tương truyền ông đã từng sáng lập Long Cái Tự (龍蓋寺), Long Môn Tự (龍門寺) và Long Uyên Tự (龍淵寺). Môn hạ của ông có rất nhiều như Huyền Phưởng (玄昉, Gembō), Hành Cơ (行基, Gyōki), Tuyên Giáo (宣敎, Senkyō), Lương Mẫn (良敏, Ryōbin), Hành Đạt (行達, Gyōtatsu), Lương Biện (良辨, Rōben), v.v., đều là những nhân vật xuất chúng đã hoạt động tích cực trong giới Phật Giáo thời Nại Lương.

nghĩa vân hoà thượng ngữ lục

(義雲和尚語錄) Cũng gọi Nghĩa vân ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Vĩnh bình Nghĩa vân người Nhật soạn, Viên tông biên tập. Nội dung: Quyển thượng thu chép Thướng đường ngữ, Tiểu tham, Pháp ngữ, Kệ tụng ở chùa Bảo khánh và chùa Vĩnh bình. Quyển hạ bao gồm: Vĩnh bình tự ngữ, Chính pháp nhãn tạng phẩm mục tụng, Nghĩa vân hòa thượng truyện v.v...

nghĩa vô ngại

Hiểu biết thông đạt và giảng giải nghĩa lý chư pháp một cách trôi chảy không trở ngại, một trong tứ vô ngại của chư Bồ Tát—Unonstructed knowledge of the meaning, or the truth; complete knowledge, one of the four unobstructed eloquences of Bodhisattvas. ** For more information, please see Tứ Vô Ngại. ; (義無礙) Hiểu biết lí của các pháp một cách rõ ràng, thông suốt, 1 trong 4 vô ngại. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 691 hạ) nói: Biết các nghĩa một cách thông suốt, gọi là nghĩa vô ngại.

Nghĩa vô ngại trí

xem Bốn trí không ngăn ngại.

nghĩa vệ

Thuật để cứu đàn kiến (tại một nơi ngập nước, đàn kiến bị nước cuốn trôi, có người lấy cành cây bắc ngang qua cho chúng bò lên)—The duty and mode of saving lives of ants.

nghĩa vị

(義味) Dùng mùi vị của thức ăn để ví dụ pháp nghĩa. Tức là do văn sinh ra nghĩa, giống như từ thức ăn toát ra mùi vị. Hoặc có chỗ cho rằng nghĩa là lời nói. Vị là ý thú, tức chỉ cho lời và ý.

nghĩa ý

Meaning and aim.

nghĩa đen

Literal sense of a word.

nghĩa đà la ni

Năng lực tổng trì không để mất chân thực nghĩa của Như Lai, đây là hạnh tu của Bồ Tát là giữ được tất cả những gì mà các ngài nghe—Truth dharani, the power of bodhisattvas to retain all truth they hears.

nghĩa đường chu tín

(義堂周信) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Thổ tá (huyện Cao tri) hiệu là Không hoa đạo nhân. Sư tham yết ngài Mộng song Sơ thạch và được ấn khả. Sau, sư trụ trì ở chùa Viên giác tại Quan đông và các chùa khác, trong thời gian hơn 20 năm, sư đi hoằng hóa khắp nơi. Sau đó, Túc lợi Nghĩa mãn thỉnh sư về ở tại chùa Kiến nhân và chùa Nam thiền tại Kyoto. Sư thông suốt nội ngoại điển, giỏi thơ văn, là nhân vật tiêu biểu của phái Ngũ sơn văn học. Sư thị tịch năm 1388, hưởng thọ 64 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thi văn tập không hoa tập 20 quyển, Ngữ lục dữ không hoa nhật công tập.

nghĩa đường hoà thượng ngữ lục

(義堂和尚語錄) Cũng gọi Nghĩa đường lục, Không hoa lục. Ngữ lục, 4 quyển, do ngài Nghĩa đường Chu tín, tông Lâm tế Nhật bản soạn, Trung viên và Trung quí biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung gồm các phần: Hải vân sơn Thiện phúc thiền tự ngữ lục, Thụy long sơn Thái bình hưng quốc Nam thiền tự ngữ lục, Thăng tòa, Niêm hương, Tiểu Phật sự, Đạo hiệu, Phật tổ tán và lời tựa của ngài Vô trước Đạo trung.

Nghĩa Đế

(義諦, Gitai, 1771-1822): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ; húy là Trí Đạt (智達); thụy hiệu Tốc Thành Viện (速成院); hiệu là Tốc Thành Tự (速成寺), Bắc Phong (北峰), Phật Tiên (佛仙); xuất thân vùng Việt Trung (越中, Ecchū, thuộc Toyama-ken [富山縣]). Ông vốn có đam mê rất lớn với học vấn của Chơn Tông; sau khi vụ loạn động Tam Nghiệp Hoặc Loạn (三業惑亂) được trấn định, ông làm Tăng sĩ của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji) và đến trú tại Từ Minh Tự (慈明寺) vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Ōsaka [大阪]). Vào năm 1815, ông giảng nghĩa Bát Nhã Tán (般若讚), rồi năm 1821 thì giảng Tịnh Độ Văn Loại Sao (淨土文類鈔) nhân mấy dịp An Cư; và cùng năm đó thì luận tranh với Vân Tràng (雲幢) về vấn đề an tâm. Sau ông thiết lập trường Tư Thục Nhiếp Tân Không Hoa Xã (私塾攝津空華社) ở Từ Minh Tự và tận lực giáo dưỡng học đồ. Trước tác của ông có Bổn Nguyện Thành Tựu Văn Giảng Nghĩa (本願成就文講義) 1 quyển, Dị Hành Phẩm Di Đà Chương Đề Nhĩ Lục (易行品彌陀章提耳錄) 1 quyển, Vãng Sanh Luận Chú Bát Phiên Vấn Đáp Ký Lục (徃生論註八番問答記錄) 2 quyển, v.v.

nghĩa ấp

(義邑) Cũng gọi Pháp nghĩa, Ấp nghĩa, Ấp hội, Xã ấp, Nghĩa xã. Tổ chức tín ngưỡng lấy tín đồ Phật giáo tại gia làm trung tâm, hoạt động ở vùng Giang bắc, Trung quốc vào khoảng đầu thời Bắc Ngụy đến Tùy, Đường. Danh xưng này thường được thấy trong các bài minh khắc trên bia ghi công đức tạo tượng Phật. Công cuộc tạo tượng đầu tiên ở các hang đá nổi tiếng như: Vân cương, Long môn, Thiên long v.v... đều do tổ chức đoàn thể tín ngưỡng Nghĩa ấp xuất tiền của để chi dụng. Họ lấy sự nghiệp tạo tượng làm trung tâm tín ngưỡng, các hoạt động chủ yếu khác gồm có trai hội, tụng kinh, chép kinh v.v... Đây là 1 loại đoàn thể tín ngưỡng tại gia có tính tổ chức sớm nhất. Tạo tượng kí ở Long môn trong thời Bắc Ngụy ghi: Ngày 30 tháng 5 năm Cảnh hưng thứ 3 (502), chủ ấp là Cao thụ đứng đầu 100 người tạo 1 khu tượng đá. Các bia còn ghi: Năm Cảnh hưng thứ 4 (503), chủ ấp là Mã chấn bái cùng với 34 người tạo tượng. Năm Chính quang thứ 6 (525) chủ ấp là Tô hồ nhân cùng với 19 người tạo tượng Thích ca. Năm Vĩnh hi thứ 2 (533), hơn 20 người trong Nghĩa ấp tạo tượng Phật ngồi v.v... Như vậy, ta có thể biết thường có mấy mươi hoặc mấy trăm người góp sức cùng nhau tạo tượng. Còn trong mục Ngưng thích tự tam cấp phù đồ bi (bia tháp 3 cấp ở chùa Ngưng thích) trong Kim thạch tục biên quyển 2 ghi rằng: Bài minh (trong bia tháp) khắc vào năm Nguyên tượng thứ 2 (535) đời Đông Ngụy cho biết, con số thành viên của Nghĩa ấp lên tới hơn 2 nghìn người. Ngoài ra, trong nhiều bài minh ghi công đức tạo tượng có những danh xưng như: Ấp nghĩa chủ, Pháp nghĩa chủ, Ấp chủ, Ấp trưởng v.v... Còn trước các chức vụ như Hội trưởng, Ấp duy na v.v... đều có đặt hình dung từ như Đại đô, Đại, Đô, Phó, Tả sương, Hữu sương v.v... rất giống với tên chức sự trong các chùa viện. Vị tăng chỉ đạo giáo hóa đoàn thể Nghĩa ấp này gọi là Ấp sư. Như trong bài minh tạo tượng được khắc vào năm Thái hòa thứ 7 (483) tại hang đá Vân cương có ghi: Ấp nghĩa tín sĩ và tín nữ gồm 54 người trong đó có khắc tên các Ấp sư như: Ấp sư Phổ minh, Ấp sư Đàm tú, Ấp sư Pháp tông v.v... [X. Xuất Tam tạng kí tập Q.12; Kim thạch tụy biên Q.27, 38, 39; Toàn Đường văn Q.988; Trung quốc Phật giáo di vật (Tùng bản văn Tam lang); Thiên Bắc Ngụy trong Trung quốc Phật giáo sử nghiên cứu (Trủng bản Thiện long)].

nghẹn

Chocked.

nghẹt

Blocked—Choked.

nghẽn

Obstructed—Blocked.

nghề hèn mọn

Ignoble trades—Những nghề mà một Phật tử nên tránh, bao gồm nghề xẻ thịt, săn bắn, câu cá, đánh trận, làm vũ khí, bán chất độc, thuốc và rượu làm hại người—Trades which a Buddhist should avoid, includes butchery, hunting, fishing, warfare, weapon makers, dealers of poisons, drugs and drinks which cause stupefaction and intoxication.

nghề lương thiện

Honest profession.

nghỉ

To rest.

nghị lực

Energy.

nghị quyết

Resolution.

nghịch

Vama (skt)—Chống lại hay đối nghịch lại—To go against—Opposite—Contrary—Resist—In the opposite direction.

nghịch báng

Chống báng lại—To resist and abuse. ; (逆謗) Phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp, gọi là Nghịch báng. Những người phạm tội Nghịch báng tức đã mất pháp thân tuệ mệnh, không thể thành Phật, cho nên ví dụ như cái xác chết mà gọi là Nghịch báng thi hài. Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ nói rằng, kẻ phạm tội Nghịch báng không thể vãng sinh. Nhưng kinh Quán Vô lượng thọ thì lại chủ trương, người phạm tội ngũ nghịch thập ác, nếu chuyên tâm niệm Phật thì vẫn có thể được vãng sinh. Hai bộ kinh trên nói trái ngược nhau, cho nên tông Tịnh độ thường nêu vấn đề này ra để thảo luận. (xt. Ức Chỉ Môn, Nghịch Báng Trừ Thủ).

nghịch báng trừ thủ

(逆謗除取) Cũng gọi Nhị kinh trừ thủ. Phạm tội ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp có được vãng sinh hay không? Không được là trừ, còn được là thủ (lấy). Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng nói: Nếu tôi thành Phật, 10 phương chúng sinh đầy đủ 10 niệm đều được sinh về cõi nước của tôi, chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp. Phẩm Hạ hạ trong kinh Quán vô lượng thọ lại nói: Nếu có chúng sinh tạo nghiệp ngũ nghịch, thập ác, đến lúc lâm chung, đầy đủ 10 niệm, thì được vãng sinh. Hai kinh trên nói trái ngược nhau: Một cho rằng kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp không được vãng sinh (trừ), một lại cho rằng phạm tội ngũ nghịch, thập ác cũng được vãng sinh (thủ). Vấn đề mâu thuẫn này, từ xưa đến nay đã được các nhà Tịnh độ giáo bàn luận rất nhiều. Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan giải thích rằng, kinh Vô lượng thọ loại trừ những kẻ vi phạm cả 2 trọng tội là ngũ nghịch và phỉ báng chính pháp; còn kinh Quán vô lượng thọ thì chỉ nhiếp thủ những người tạo nghiệp ngũ nghịch mà không phỉ báng chính pháp. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ của ngài Tuệ viễn, luận Tịnh độ quyển thượng của ngài Ca tài và Quán kinh sớ tán thiện nghĩa của ngài Thiện đạo đều đồng quan điểm với ngài Đàm loan. Còn luận Thích Tịnh độ quần nghi quyển 3 của ngài Hoài cảm thì nêu ra tất cả 15 ý kiến của 15 nhà như sau: 1. Những người mà Quán kinh lấy (nhiếp thủ) là những người biết sám hối, còn những người mà Thọ kinh bỏ (loại trừ) là những người không chịu sám hối.(Đây là ý kiến của ngài Nguyên hiểu). 2. Những người mà Quán kinh lấy là những người tạo tội ngũ nghịch với tâm niệm nhỏ nhẹ; còn những kẻ mà Thọ kinh bỏ là những kẻ tạo tội ngũ nghịch với tâm niệm sâu nặng.(?). 3. Những người mà Quán kinh lấy chỉ tạo tội ngũ nghịch; còn người mà Thọ kinh bỏ thì vừa phạm ngũ nghịch vừa phỉ báng chính pháp.(Đây là ý kiến của ngài Đàm loan). 4. Những người Quán kinh lấy là giống như người tạo ngũ nghịch, còn những người Thọ kinh bỏ thì chính là người tạo ngũ nghịch.(?). 5. Người Quán kinh lấy là người biết phát tâm Bồ đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không phát tâm Bồ đề.(Đây là ý kiến của ngài Đạo ngân). 6. Người mà Quán kinh lấy là người chí thành niệm Phật A di đà, còn người mà Thọ kinh bỏ là người không chí thành niệm Phật A di đà.(?). 7. Người mà Quán kinh lấy là người thuộc hàng Bồ tát Thập tín, còn người mà Thọ kinh bỏ thì không phải hàng Bồ tát Thập tín. (Đây là ý kiến của ngài Tuệ viễn). 8. Người mà Quán kinh lấy là không phải hạng Nhất xiển đề, còn người mà Thọ kinh bỏ là hạng Nhất xiển đề.(?). 9. Người mà Quán kinh lấy là người đã tạo tội ngũ nghịch, còn người mà Thọ kinh bỏ là người chưa tạo tội ngũ nghịch. (Đây là ý kiến của ngài Thiện đạo). 10. Người Quán kinh lấy là Khai môn, người mà Thọ kinh bỏ là Giá môn. (Đây là ý kiến của ngài Ca tài). 11. Nghiệp ngũ nghịch mà Quán kinh lấy là chỉ cho Bất định nghiệp có thể chuyển được; còn nghiệp ngũ nghịch mà Thọ kinh bỏ là chỉ cho Định nghiệp không thể chuyển được. (Ý kiến của ngài Nghĩa tịch). 12. Những người mà Quán kinh lấy là người thuộc các giai vị Noãn, Đính; còn người mà Thọ kinh bỏ không thuộc các giai vị này.(?). 13. Người mà Quán kinh lấy là người đã gieo 1 phần thiện căn giải thoát; còn người mà Thọ kinh bỏ thì không.(?). 14. Người mà Quán kinh lấy là chúng sinh thời tượng pháp (đệ nhị giai), còn người Thọ kinh bỏ là chúng sinh thời mạt pháp (đệ tam giai). (Ý kiến ngài Tín hành). 15. Người mà Quán kinh lấy chỉ là riêng những người đầy đủ 10 niệm; còn những người mà Thọ kinh bỏ thì bao gồm cả những người đầy đủ và không đầy đủ 10 niệm. (Ý kiến của ngài Hoài cảm). [X. Vãng sinh yếu tập Q.hạ phần cuối; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ; Cực lạc Tịnh độ cửu phẩm vãng sinh nghĩa; Thích tịnh độ quần nghi luận thám yếu kí Q.6].

nghịch cảnh

Adverse circumstances—Adversity.

nghịch duyên

Bất thuận duyên, đối lại với thuận duyên; thiện với Phật quả là thuận duyên, ác là nghịch duyên (thuận với đường lối đạo Phật là thuận duyên, ngược với đường lối đạo Phật là nghịch duyên)—Resisting accessory cause, in contrast with the accordant cause (thuận duyên); as goodness is the accordant cause so evil is the resisting cause of the Buddha way. ; (逆緣) Đối lại: Thuận duyên. Cũng gọi Nghịch tăng thượng duyên. I. Nghịch Duyên. Chỉ cho những chướng nạn do thầy, bạn ác gây ra như dụ dỗ và phỉ báng chính pháp v.v... có khi lại là nhân duyên dẫn đến Phật đạo. II. Nghịch Duyên. Chỉ cho những nhân duyên gây trở ngại cho việc tu hành của mình.

nghịch dụ

Phép dẫn dụ đi ngược lại từ quả trở về nhân, từ ngọn về gốc, thí dụ như biển có nguồn là sông to, sông to có nguồn là sông nhỏ, sông nhỏ có nguồn là suối, vân vân—Argument by illustration from effect to cause, e.g. the source of the ocean is the river, of the river the streams, of the small rivers the streams, etc. ; (逆喻) Phương pháp ví dụ ngược, 1 trong 8 cách ví dụ. Nghĩa là từ quả suy ra nhân, từ ngọn tìm đến gốc. Như nói: Nước của biển cả là từ các sông lớn đổ về, nước của sông lớn là từ các sông nhỏ chảy vào, nước các sông nhỏ là từ các ngòi rạch chảy xuống, nước các ngòi rạch là do mưa mà có... [X. kinh Đại bát niết bàn Q.29 (bản Bắc)]. (xt. Thí Dụ).

nghịch hoá

(逆化) Đối lại: Thuận hóa. Phật và Bồ tát dùng phương pháp trái ngược để giáo hóa chúng sinh. Như khi đức Phật giáo hóa Quỉ tử mẫu, trước hết, ngài đem giấu quỉ con đi, kế đó, gợi tình thương con của quỉ mẹ. Sau hết, Phật mới dùng lí nói cho mẹ con quỉ tỉnh ngộ, bỏ ác hướng thiện, thủ hộ Phật pháp. Ngoài ra, đối với những chúng sinh ương ngạnh, khó dạy, Mật giáo dùng các vị Minh vương, hiện tướng phẫn nộ, dữ tợn, uy hiếp, chiết phục để khiến chúng quay về đường thiện. Đây cũng là 1 loại Nghịch hóa. [X. kinh Pháp hoa Q.7; Pháp hoa văn cú Q.10 phần trên].

nghịch hóa

Khả năng của chư Phật và chư Bồ Tát, giáo hóa những kẻ theo tà giáo hay những người đối địch với mình—The ability of the Buddhas and bodhisattvas to convert the heterodox or opponents.

nghịch liên

(逆蓮) Hoa sen nở hướng xuống. Đây là kiểu hoa sen trang trí được khắc tạo trong các kiến trúc mĩ thuật của Phật giáo, như Phật đàn, tòa sen, phan, phướn... Người Ấn độ từ xưa đến nay rất tôn qui hoa sen, Phật và Bồ tát phần nhiều cũng ngồi hoặc đứng trên đài sen. Khoảng thế kỉ II Tây lịch, mĩ thuật Phật giáo Kiện đà la ở thời kì Điên phong sử dụng rất nhiều hình thức Nghịch liên. Từ sau Vương triều Cấp đa (Phạm: Gupta), thế kỉ VI, VII, do ảnh hưởng Ấn độ giáo kết hợp với tín ngưỡng Mật giáo, mĩ thuật Phật giáo phần lớn cũng chuộng sự tạo hình Nghịch liên.

nghịch luân

Contrary to morality—Immoral.

nghịch lý

Opposed (contrary) to common sense.

nghịch lưu

Tìm đường giải thoát khỏi những phiền trược bằng cách đi ngược lại dòng đời—To resist it and seek a way of escape by getting rid of life's delusions. Đi ngược lại dòng sanh tử luân hồi và nhập vào đạo quả Niết Bàn, giai đoạn Thanh Văn hay thứ nhất của A La Hán: To go against the current (the stream of transmigration and enter the path of nirvana), the first stage of the arhat, that of a sravaka. ; (逆流) I. Nghịch Lưu. Đối lại: Thuận lưu. Ngược dòng, nghĩa là đi ngược dòng sinh tử mà vào cảnh giới giác ngộ. Từ vô thủy đến nay, hữu tình chúng sinh khởi hoặc tạo nghiệp, thuận theo dòng sinh tử nên khó thoát khỏi vòng luân hồi, bởi thế phải dùng tâm Nghịch lưu để đối trị. Trong quyển Thụ Bồ tát giới nghi, ngài Trạm nhiên có nêu ra 10 tâm Nghịch lưu như sau: 1. Tâm tin nhân quả một cách chân chính. 2. Tâm tự hổ thẹn và nghiêm khắc với chính mình. 3. Tâm sợ hãi đường ác. 4. Tâm giãi bày những tì vết xấu xa. 5. Tâm dứt sự tiếp nối. 6. Tâm phát khởi bồ đề. 7. Tâm tích chứa công đức, sửa đổi lỗi lầm. 8. Tâm giữ gìn chính pháp. 9. Tâm nhớ tưởng chư Phật 10 phương. 10. Tâm quán xét tội tính vốn không. (xt. Thuận Lưu). II. Nghịch Lưu. Chỉ cho quả Tu đà hoàn, 1 trong 4 quả Thanh văn. Bậc Thánh Tu đà hoàn khởi phát trí vô lậu, đi ngược dòng sinh tử, dần dần tới đạo Niết bàn, cho nên gọi là Nghịch lưu.

nghịch lưu thập tâm

(逆流十心) Mười tâm ngược dòng sinh tử. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 phần trên, người tu hành vì tâm Thuận lưu (thuận dòng) mà điên đảo tạo nghiệp, tích lũy tội ác, trôi giạt trong dòng sinh tử, cho nên phải dùng 10 tâm Nghịch lưu để đối trị. 1. Tâm chính tín nhân quả: Người tu hành trước hết cần phải tin lí nhân quả 1 cách đúng đắn, đối với quả báo thiện ác, lòng tin chắc chắn không ngờ vực, dùng tâm này để phá trừ tâm bác bỏ lí nhân quả trong 10 Thuận tâm. 2. Tâm tự thẹn và nghiêm khắc với mình: Người tu hành cần phải nghiêm khắc với chính mình, trong quá khứ vì đã không có lòng tự hổ thẹn nên làm các việc xấu ác, nay dùng tâm tự thẹn để phá trừ tâm không biết hổ thẹn. 3. Tâm sợ hãi đường ác: Hành giả nên tự nghĩ thân người vô thường, biển khổ sâu thẳm, cho nên tha thiết sám hối, không tiếc thân mệnh, đem tâm này phá trừ tâm không sợ hãi đường ác. 4. Tâm giãi bày tì vết: Người tu hành không được che giấu tội lỗi mà phải phát lộ sám hối, dùng tâm này để phá trừ tâm che giấu tội lỗi. 5. Tâm dứt sự tiếp nối: Người tu hành cần phải dứt hẳn các hành vi tội lỗi, những ý nghĩ xấu ác, không được tái tục, đem tâm này phá trừ tâm tiếp tục niệm ác. 6. Tâm phát khởi bồ đề: Người tu hành cần phải phát tâm cứu giúp rộng khắp, làm lợi ích cho người khác, đem tâm này phá trừ tâm ác tràn lan. 7. Tâm tích lũy công đức, sửa đổi lỗi lầm: Người tu hành cần phải gắng sức không ngừng để dứt các việc ác, làm những điều thiện, dùng tâm này để phá trừ tâm tam nghiệp tạo tội. 8. Tâm giữ gìn chính pháp: Người tu hành cần phải thủ hộ chính pháp, tăng trưởng tâm tùy hỉ, phương tiện, dùng tâm này để phá trừ tâm thấy việc thiện không vui theo. 9. Tâm nhớ tưởng chư Phật 10 phương: Người tu hành nên nghĩ đến phúc đức và trí tuệ của chư Phật 10 phương, thường cứu giúp, dắt dẫn mình, đem tâm này phá trừ tâm thuận theo bạn ác. 10. Tâm quán xét tội tính vốn không: Người tu hành nên thấu suốt tâm mình vốn không, tội tính chẳng có chỗ nương, dùng tâm này để phá trừ tâm vô minh tăm tối. (xt. Thuận Lưu).

nghịch lộ già da đà

Vama-lokayata (skt)—Lộ Già Da Đà là tên của một phái ngoại đạo thuận theo tình đời. Nghịch Lộ Già Da Đà hay Tả Thuận Thế Ngoại Đạo, là phái chống lại thuận thế ngoại đạo. Lộ Già Da Đà hay Thuận Thế là hạng vứt bỏ Thánh thư của Lão Trang—The Lokayata were materialistic and “worldly” followers of Carvaka school; the Vama-lokayata were opposed to the conventions of the world. An earlier interpretation of Lokayata is, Ill response to questions, the sophistical method of Chuang-Tsu being mentioned as Evil questioning, which is above method reversed.

nghịch mắt

To offend the eyes.

nghịch ngợm

Restless.

nghịch nhĩ

To shock the ears.

nghịch quán

Làm ngược lại với thứ tự hay phương thức quán là nghich quán (thí dụ như quán thập nhị nhân duyên thì không nương theo thứ tự vô minh, hành, thức, vân vân; mà lại đi ngược từ tử, lão, bệnh, sanh, hữu, vân vân; hay là theo quả mà dò nhân)—The inverse method in meditation. ; (逆觀) Đối lại: Thuận quán. Quán xét theo thứ tự ngược từ quả tìm đến nhân. Như khi quán 12 nhân duyên, không theo thứ tự thuận từ Vô minh, Hành, Thức... mà theo thứ tự ngược từ Lão tử, Sinh, Hữu v.v... Mật giáo quán từ các pháp không có nhân và qui kết về vốn chẳng sinh, gọi là Nghịch quán toàn chuyển. [X. Đại nhật kinh sớ Q.7]. (xt. Thuận Quán).

nghịch thuận

Còn gọi là “Vi Thuận.” Trái ngược với chân lý gọi là nghịch, thuận với chân lý là thuận—The adversaties, resisting and complying, opposing and according with, reverse or direct, backward or forward.

nghịch thuận tam muội

(逆順三昧) Tức là Thiền định được tự do tự tại trong tất cả các pháp thuận nghịch. Tam muội này có năng lực phá trừ tất cả chúng sinh tà nghịch mà hóa độ chúng một cách thuận lợi. Lại vì tam muội này xa lìa chấp trước, nên có thể phá tất cả pháp mà tăng trưởng thiện căn. [X. luận Đại trí độ Q.47].

nghịch tu

Dự Tu—Những Phật sự sau khi một người đã quá vãng—To observe in contrary order; to observe before death the Buddhist rites in preparation for it. ; (逆修) Cũng gọi Dự tu. Tức là lúc còn sống tu các Phật sự trước để cầu phúc cho mình sau khi chết, hoặc lúc sống tu các công đức thiện căn trước để làm tư lương bồ đề cho việc vãng sinh sau khi chết, gọi là Nghịch tu. Kinh Quán đính quyển 11 nói: Nếu người khéo hiểu giới pháp, biết rõ thân này vô thường, siêng năng tu tập, hành đạo Bồ đề; khi chưa lâm chung dự tu 21 ngày, đèn hương liên tục, treo cờ phan phướn, cầu thỉnh chư tăng chuyển đọc tôn kinh, thì được phúc vô lượng, như lòng mong muốn. Còn kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển hạ thì nói: Những người lúc còn sống không chịu tu thiện, tạo nhiều tội ác, sau khi chết, tuy thân thích bạn bè làm phúc cho mình, nhưng trong 7 phần công đức, minh chỉ được 1. Chi bằng lúc còn sinh tiền, tự mình dự tu, thì hoàn toàn được cả 7 phần công đức. Tại Trung quốc vào đời Tống, phong tục Nghịch tu rất thịnh hành, còn ở Nhật bản, thì hiện nay vẫn được phổ biến. (xt. Thuận Tu Nghịch Tu).

nghịch tội

(逆罪) Tội cực ác, trái ngược với đạo lí, gọi là Nghịch tội; tội này chiêu cảm quả báo đọa địa ngục Vô gián, nên gọi là Vô gián nghiệp. Nghịch tội thông thường chỉ cho 5 tội trái ngược với luân thường đạo lí. Năm tội này thêm tội giết A xà lê, giết Hòa thượng thì thành 7 tội nghịch; người vi phạm 7 tội nghịch không được thụ giới, cho nên cũng gọi là Thất gia tội. Đó là: Làm cho thân Phật chảy máu, giết cha, giết mẹ, giết Hòa thượng, giết A xà lê, giết A la hán và phá hòa hợp tăng. (xt. Ngũ Nghịch).

nghịch yù

Against one's will.

nghịch đức

Contrary to virtue.

ngoa

To talk nonsense.

ngoa ngôn

False stories.

ngoa truyền

Handed down falsely from the past.

ngoan cố

Stubborn—Obstinate.

ngoan không

Cái “Không” sai lầm mà những kẻ cuồng thiền thường hay chấp vào—False emptiness, improper and crooked understanding of emptiness which “Mad Zen” practitioners always attach to—See Bác Tướng.

ngoan ngoãn

Well-behaved—Good.

ngoan phụ

Stubborn woman.

Ngoan thạch điểm đầu

(頑石點頭): nghĩa là loại đá ngu ngơ, vô tri vô giác mà cũng gật đầu. Thuật ngữ này phát xuất từ câu chuyện của Pháp Sư Trúc Đạo Sanh (竺道生, ?-434) có đề cập trong một số sử liệu như Lịch Triều Thích Thị Tư Lãm (歷朝釋氏資鑑, CBETA No. 1517) quyển 2, Pháp Hoa Kinh Trì Nghiệm Ký (法華經持驗記, CBETA No. 1541), Đông Lâm Thập Bát Cao Hiền Truyện (東林十八高賢傳, CBETA No. 1543), Tông Thống Biên Niên (宗統編年, CBETA No. 1600) quyển 7, v.v. Pháp Sư Trúc Đạo Sanh, họ Ngụy (魏), xuất thân Cự Lộc (鉅鹿), tư chất đỉnh ngộ khác thường. Lúc nhỏ, ông theo xuất gia với Trúc Pháp Thái (竺法汰), đối với kinh điển, chỉ một lần nhìn qua đã tụng thông suốt hết thảy. Khi trưởng thành, ông đăng pháp tòa, thuyết giảng thông suốt sự lý. Tuy vậy, ông vẫn không hề dám tự hào, thường lấy đạo tâm ban đầu làm căn bản. Ông vào Lô Sơn (廬山) ẩn cư suốt bảy năm trường, hằng ngày chuyên tụng Pháp Hoa Kinh (法華經). Sau ông cùng với Tăng Duệ (僧叡), Huệ Nghiêm (慧嚴), Huệ Quán (慧觀), v.v., lên Trường An (長安) tham học, theo thọ giáo với La Thập (羅什). Tăng chúng ai cũng ngưỡng mộ sự thần ngộ của ông. Hoàng Hậu Cung Tư (恭思) nhà Tấn kiến lập Thanh Viên Tự (青園寺) và cung thỉnh ông về làm trú trì nơi đây. Vào tháng mùa hè, sấm sét chấn động điện Phật Thanh Viên Tự, rồng bay lên trời, hào quang rực rỡ. Nhân đó chùa được đổi tên là Long Quang Tự (龍光寺). Người đương thời bảo rằng: “Long ký dĩ khứ, Sanh tất hành hỉ (龍既已去、生必行矣, rồng đã đi rồi, Sanh ắt đi luôn).” Chính tại chùa này, ông đã từng thỉnh luật sư vùng Kế Tân (罽賓) dịch bộ Sa Di Tắc Luật (沙彌塞律) và lưu truyền cho hậu thế. Về sau ông lên ngao du Hổ Kheo Sơn (虎丘山) thuộc đất Ngô, sắp đá làm thành thính chúng, giảng Niết Bàn Kinh (涅槃經), đến Phẩm Xiển Đề (闡提品), đoạn có Phật tánh, bèn bảo rằng: “Như ngã sở thuyết, nghĩa khế Phật tâm phủ (如我所說、義契佛心否, như lời ta thuyết giảng, nghĩa có khế hợp với tâm chư Phật không ?).” Các tảng đá vô tri nghe vậy gật đầu. Chỉ nội trong tuần đó, học đồ tập trung đến cả trăm người. Vua Văn Đế (文帝, tại vị 424~453) nhà Tống nghe vậy lại càng kính mộ thêm. Vào tháng 11 năm thứ 11 (434) niên hiệu Nguyên Gia (元嘉) nhà Tống, sau khi thuyết giảng xong tại Lô Sơn, cát bui rơi rụng, ông ngồi ngay ngắn, thâu thần thị tịch như nhập vào Thiền định. Trong Ngũ Đăng Toàn Thư (五燈全書, CBETA No. 1571) quyển 110 có câu: “Vô tình thuyết pháp chư Phật giải thính, chư Phật thuyết pháp hữu tình đắc văn, hữu tình thuyết pháp ngoan thạch điểm đầu (無情說法諸佛解聽、諸佛說法有情得聞、有情說法頑石點頭, vô tình thuyết pháp chư Phật lắng hiểu, chư Phật thuyết pháp hữu tình được nghe, hữu tình thuyết pháp đá cũng gật đầu).”

ngoan thạch điểm đầu

(頑石點頭) Đá ngu gật đầu. Sự tích về ngài Trúc đạo sinh đời Đông Tấn. Tương truyền ngài Đạo sinh ở núi Hổ khâu từng gom những phiến đá làm thính chúng, rồi giảng kinh Niết bàn, nói về thuyết Xiển đề thành Phật, những phiến đá nghe ngài nói đều gật đầu. Bởi thế, đời sau có câu Sinh công thuyết pháp, đá ngu gật đầu. Ngày nay, sự tích này thường được dùng để ví dụ sự mầu nhiệm của sức cảm hóa. [X. Phật tổ thống kỉ Q.26].

ngoan đạo

Pious—Devoted—Devout.

ngoan đồng

Stupid child.

ngoay ngoảy

To turn away.

ngon

Delicious—Tasty.

ngon lành

Flavoursome.

ngoài

Outside—Without—Exterior—External.

ngoài mưa

In the rain.

ngoài nắng

In the sun.

ngoài ra

Besides.

ngoã bát

(瓦鉢) Pàli: Mattikà-patta. Bát làm bằng đất sét nung, 1 trong những loại bát mà các vị tỉ khưu dùng khi đi khất thực. Thích thị yếu lãm quyển trung (Đại 54, 279 thượng) nói: Có lần đức Phật đang trụ ở thôn đất trắng Tôn bà, bấy giờ thiên thần Tôn bà bạch Phật rằng: Các đức Phật đời quá khứ đều thụ dụng loại bát đất (ngõa bát) xứ này. Sau đó, đức Phật cho phép các tỉ khưu dùng bát đất. (xt. Bát).

ngoã khí kim khí

(瓦器金器) Ngõa khí là đồ vật làm bằng đất sét nung, ví dụ giới của Thanh văn; kim khí là những vật dụng đúc bằng vàng bạc, ví dụ giới của Bồ tát. Kinh Thanh tịnh tì ni phương quảng (Đại 24, 1077 hạ) nói: Như ngõa khí bị vỡ, không thể sửa chữa được, là Tì ni của Thanh văn; như kim khí bị nứt thì vá lại được, là tì ni của Bồ tát.

ngoã kinh

(瓦經) Cũng gọi Kinh ngõa. Kinh văn được khắc trên 2 mặt của viên ngói. Loại ngói này được làm bằng cùng 1 chất liệu như ngói dùng để lợp nhà dài từ 18 đến 27 phân tây, rộng từ 7,5 đến 29 phân, dày 0,9 đến 1,8 phân. Loại kinh này dùng để chôn xuống lòng đất. Nguồn gốc từ đâu không rõ. Nhưng vào thời Trung cổ. Nhật bản đã có tập tục chôn ngõa kinh để cầu phúc cho tổ tiên và chúng sinh có duyên hoặc cầu giải thoát cho chính mình. Căn cứ vào sự khảo sát các di vật Ngõa kinh đào được ở vùng đất từ huyện Ái tri đến Bắc cửu châu (ngoại trừ Tứ quốc), trong văn nguyện có ghi niên đại, thì được biết đây là những sản vật thuộc giữa và cuối thời kì Bình an của Nhật bản, nội dung phần lớn là kinh Pháp hoa và các kinh Mật giáo, chữ được khắc nghiêm cẩn hơn so với bản kinh bằng giấy chôn xuống đất, văn nguyện tương đối cũng dài hơn. [X. Mặc thủy sao; Nhật bản đồ kinh; Nhật bản Kim thạch chí; Bệnh gian kỉ đàm; Cổ kinh đề bạt Q.thượng].

ngoã lí sắt

(瓦理瑟) Walleser, Max (1847-1953) Nhà Ấn độ học và Phật giáo học người Đức, là học trò ưu tú của Sử gia kiêm Triết gia Kuno Fischer. Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông chuyên nghiên cứu về tư tưởng Ấn độ, đặc biệt là tư tưởng Phật giáo. Năm 1918, ông nhận lời mời làm Giáo sư Ấn độ học tại Đại học Heidelberg, trong thời gian này, ông đã soạn thuật và phiên dịch rất nhiều. Ông bắt đầu nghiên cứu tư tưởng Phật giáo nguyên thủy, sau đó tiến sâu vào lĩnh vực triết học Trung quán và đã đạt được những thành quả lớn lao trong việc nghiên cứu cũng như truyền bá Phật giáo Trung quán. Ông thông hiểu tiếng Tây tạng, thừa nhận giá trị của những kinh điển Phật Hán dịch, bởi thế ông đã là 1 trong những người Tây âu đầu tiên sử dụng các kinh điển này. Ông có các tác phẩm: Satkàya, ZDMG. LXIV, 1910; Buddhapàlita, Mùlama dhyamakavftti, tibetische Übers., Herausg. (BB. XVI), 1913-1914); Parjĩà pàramita, die Vollkommenheit der Erkenntnis, nachindischen, tibetischen und chinesischenQuellen, 1914; Prajĩàpradìpa, a commentary on the Màdhyamaka Sùtra by Bhàvaviveka, Herausg. in Tib. (BI), 1914.

ngoã lặc mễ kì

(瓦勒米奇) Phạm: Vàlmìki. Cũng gọi Bạt di. Hán dịch: Nghị điệt. Tương truyền là tác giả của Sử thi La ma da na (Phạm: Ràmàyaịa) nổi tiếng ở Ấn độ. Có rất nhiều truyền thuyết thần thoại về ông này. Truyện kể rằng: Ông thuộc dòng dõi Bà la môn, bị cha mẹ bỏ rơi từ nhỏ, được 1 dã nhân trong rừng nuôi nấng; lớn lên, chuyên nghề trộm cướp giết người. Một hôm, gặp 1 vị tiên, dạy cho cách tụng niệm La ma, chuyên tâm quá đến nỗi kiến làm tổ quanh mình mà không biết, vị tiên kia bèn cho thành tiên và đặt tên là Nghị điệt (tổ kiến). Một ngày kia, đang lúc cúng tế thì thấy 1 con chim bị thợ săn bắn chết, Nghị điệt liền nghĩ làm 1 bài thơ, lúc đó, Phạm thiên từ trên trời hiện xuống, bảo Nghị điệt làm thành thi phẩm La ma da na, nhờ thế mà trở thành Thi tổ.

ngoã nhĩ đặc tu mật đặc

(瓦爾特須密特) Waldschmidt, Ernst (1897- ? ) Nhà học giả Ấn độ học và Phật học người Đức. Từ năm 1936, ông làm Giáo sư Đại học Berlin, chuyên nghiên cứu về triết học Ấn độ, Phật học Ấn độ, Khảo cổ học, và lịch sử Mĩ thuật. Ông từng hiệu đính và xuất bản nguyên văn tiếng Phạm của kinh Đại bát niết bàn, đối với giới học thuật, ông đã có những cống hiến rất to lớn. Tác phẩm của ông gồm có: Buddhistische kunst in Indien, 1932; Die buddhistische Sptantike in Mittelasien, 1933; Gandhara, Kustcha, Turfan, 1925; Überlieferung von Lebensende des Buddha, 1944-1948.

ngoã quan tự

(瓦官寺) Chùa ở Phượng hoàng đài, Nam kinh, tỉnh Giang tô, Trung quốc do ngài Tuệ lực vâng sắc chỉ của vua xây dựng vào năm Hưng minh thứ 2 (364) đời Đông Tấn. Vì khi đào đất làm chân móng để xây cất thì bắt gặp 1 cái quan tài xưa bằng sành (Ngõa quan) cho nên đặt tên là chùa Ngõa quan. Ít lâu sau, ngài Tuệ lực lại xây 1 tòa tháp, rồi tiếp đến ngài Trúc pháp thải trụ trì, thì chùa được mở rộng thêm, điện đường, lầu gác nguy nga, tráng lệ, là nơi giảng kinh thuyết pháp khang trang, chúng tăng về tham học rất đông, chùa trở nên nổi tiếng. Năm Thái nguyên 21 (396), chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi, vua ban lệnh phục hưng. Trong chùa thờ 5 pho tượng do Đới an đạo (Đới quì ?-396) tạo, một pho tượng Phật bằng ngọc do vua nước Sư tử (Tích lan) dâng cúng và tượng Cư sĩ Duy ma do ông Cố trường lạc (344-405) vẽ. Sau đời Lưu Tống, các ngài Tuệ quả, Tuệ cừ, Tuệ trọng, Tăng đạo, Cầu na bạt ma, Bảo ý v.v... kế tiếp nhau trụ ở chùa này, tuyên giảng kinh luận và phiên dịch kinh Phạm. Đời Lương xây dựng thêm Ngõa quan các. Niên hiệu Quang đại năm đầu (567) đời Trần, ngài Trí khải ở đây giảng kinh luận Đại trí độ và Thứ đệ Thiền môn, đồng thời, ngài còn tu bổ chùa ngày càng thêm hoàn mĩ. Đời Ngũ đại, chùa được đổi tên là Thăng nguyên. Đời Tống, năm Thái bình hưng quốc (976- 983), vua ban sắc đổi tên là chùa Sùng thắng. Đầu đời Minh, chùa bị hoang phế, 1 nửa trở thành khu vườn của dòng họ Từ ngụy công, còn 1 nửa bị sáp nhập vào đồn kị binh. Khoảng năm Gia tĩnh, ngôi am Tích khánh được xây bên cạnh khu vườn của họ Từ, gọi là Cổ Ngõa am tự, nhưng không phải trên nền cũ của chùa Ngõa quan.Năm Vạn lịch 19 (1591), các ngài Tăng viên v.v... quyên tiền xây am Tùng quế ở phía bên phải đài Phượng hoàng, đồng thời, mua 1 thửa đất cao trong khu đài Phượng hoàng để cất chùa lớn, gọi là chùa Thượng ngõa quan và đổi tên am Tích khánh là chùa Hạ ngõa quan. Hiện nay, chùa Thượng ngõa quan gọi là chùa Phượng du, chỉ còn lại 1 phần điện đường. [X. Cao tăng truyện Q.5, 6, 12, 13; Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện; Tục cao tăng truyện Q.6, 17; Phật tổ thống kỉ Q.36, 53; Kim lăng phạm sát chí 21; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 661].

ngoã sư

(瓦師) I. Ngõa Sư. Người thợ làm đồ gốm. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, ở thời quá khứ, đức Thích tôn là 1 thợ gốm, tên là Đại quang minh. Bấy giờ, có đức Phật hiệu là Thích ca văn, cùng với các đệ tử của ngài là Xá lợi phất, Mục kiền liên, A nan, có lần đến nhà người thợ gốm này nghỉ tạm 1 đêm. Lúc ấy, người thợ gốm dâng nệm cỏ, đèn, nước đường cúng dường Phật và các vị tỉ khưu tăng. Người thợ gốm liền phát nguyện rằng (Đại 25, 83 trung): Con nguyện khi con thành Phật trong cõi đời đầy dẫy 5 trọc ác ởtương lai, thì con sẽ có hiệu là Thích ca văn như đức Phật hiện nay và tên các đệ tử của con cũng giống như các đệ tử của Phật hiện nay. II. Ngõa Sư. Phạm: Bhàrgava. Hán dịch: Ngõa sư. Chỉ cho ông Bạt già bà, là người tiên đầu tiên thờ đức Thích tôn làm thầy khi Ngài mới xuất gia cầu đạo. (xt. Bạt Già Bà Tiên).

ngoã tây lợi da phu

(瓦西利耶夫) Wassilijew, Wassilij Pawlowitsch (1818-1900) Nhà truyền giáo của hội Chính giáo Nga xô kiêm học giả Đông phương học và Phật giáo học. Sau khi tốt nghiệp khoa Đông phương ngữ của trường Đại học Khánh sơn (Kazan), năm Đạo quang 20 (1840) đời Thanh, ông đã đến Bắc kinh truyền giáo, ông lần lượt nghiên cứu các thứ ngôn ngữ như: Tiếng Hoa, Phạm, Tây tạng, Mông cổ, Mãn châu v.v... Niên hiệu Hàm phong năm đầu (1851), ông trở về nước, làm việc ở trường Đại học Thánh bỉ đắc bảo (St. Petersburg). Ông có các tác phẩm: Buddhismus, seine Dogmen, Geschichte und Literatur, St. Petersburg (Lịch sử giáo nghĩa và văn hiến của Phật giáo), Die Religion des Ostens, Konfucianismus, Buddhismus und Taoismus, 1873(Tông giáo Đông phương -Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo), Trung quốc ngữ Từ điển. [X. Âu Mĩ đích Phật giáo (Độ biên Hải húc)].

ngoï

Vào giữa trưa: At noon time. The seventh Earth's stem (xem Mười Hai Con Giáp).

ngoù

To see—To look at. Root (lotus).

ngoạ cụ

(臥具) Phạm: Zayanàsana. Pàli: Sayanàsana. Hán âm: Thế da na tát nẫm. Cũng gọi Phu cụ. Chỉ cho các đồ vật dùng trong lúc ngủ nghỉ như giường chõng, chăn nệm, mùng màn, chiếu gối v.v... Theo sự qui định trong luật Tứ phần quyển 7, thì tăng ni không được dùng ngọa cụ làm bằng tơ tằm, lông dê, nhưng ở các vùng biên giới xa xôi thì được dùng da dê. Về thời gian, phải dùng qua 6 năm mới được thay ngọa cụ mới, nếu trái thì phạm tội Xả đọa. Điều Y thực sở tu trong Nam hải kí qui truyện quyển 2 (Đại 54, 213 thượng) nói: Có 2 cách làm nệm: Hoặc may thành cái túi rồi nhồi lông vào trong, hoặc có thể dùng tơ dệt thành, tức là loại nệm cù du. Bề rộng 2 khuỷu tay, bề dài 4 khuỷu tay, dày mỏng tùy theo mùa, tự mình xin thì bị cấm, nhưng người khác cho thì không tội. [X. luận Đại trí độ Q.30; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ].

ngoạ pháp

(臥法) Ngọa, Phạm: Zaya, Pàli: Sayana. Hán âm: Thế da. Gọi tắt: Ngọa. Cách nằm của tỉ khưu trong lúc ngủ nghỉ, là 1 trong 4 uy nghi. Tức là nằm nghiêng bên phải, 2 chân chồng lên nhau, áo pháp che thân, giữ gìn chính niệm. Ma đắc lặc già tì ni quyển 6 (Đại 23, 600 hạ) nói: Đầu hôm đã qua, xếp áo Uất đa la tăng làm 4, cuộn áo Tăng già lê làm gối, nằm nghiêng bên phải, 2 chân chồng lên nhau, không được dang tay chân, không khiến tâm tán loạn, không được tung áo bừa bãi, chính niệm tướng sáng, khởi tưởng tư duy, sau đó ngủ đến cuối đêm, mau mau thức dậy đi kinh hành, đuổi trừ ma ngủ. Cứ theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển thượng, lúc nằm ngủ phải chú ý 5 điều: 1. Đầu hướng về phía Phật. 2. Không được nằm mà nhìn Phật. 3. Không được duỗi thẳng 2 chân. 4. Không được quay mặt vào vách, cũng không được nằm sấp. 5. Không được dựng đứng 2 đầu gối và vắt tréo 2 chân, phải lấy tay làm gối và chồng 2 chân lên nhau. Trong Mật giáo, khi nằm ngủ cũng có phép tắc. Theo Kim cương đính nghĩa quyết thì lúc đi ngủ phải quán tưởng nhập Kim cương tam muội, khiến tâm vắng lặng như vào Niết bàn, lại phải quán tưởng thân mình là ấn tướng Ngũ trí có ánh sáng bao bọc chung quanh, sau đó mới đi vào giấc ngủ. [X. kinh Tì ni mẫu Q.5; kinh Đà la ni tập Q.7; luật Ma ha tăng kì Q.35, Thiện kiến luật tì bà sa Q.15; Giáo giới tân học tỉ khưu hành hộ luật nghi; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ; Thích thị yếu lãm Q.hạ].

ngoạ phật tự

(臥佛寺) Chùa nằm ở chân núi phía nam núi Thọ an, ở ngoài cửa An định tại Bắc bình, được xây dựng khoảng năm Trinh quán (627-649), ban đầu có tên là chùa Đâu suất. Niên hiệu Chí trị năm đầu (1321) đời Nguyên, chùa được xây cất rộng thêm và đổi tên là chùa Chiêu hiếu. Vì trong chùa có đúc một pho tượng Phật nằm bằng đồng nặng khoảng 300 tấn, cho nên người đời thường gọi là chùa Phật nằm (Ngọa Phật). Tượng Phật nằm bằng đồng hiện còn dài hơn 5 mét được đúc vào đời Minh. Vào năm Ung chính 12 (1734) đời Thanh, vua Thế tông ban hiệu là Thập Phương Phổ Giác Tự và lập văn bia. Trong Đại điện, có 12 pho tượng Phật Viên giác vây quanh Phật nằm; phía trước điện có 2 cây Sa la to lớn, ao hồ, đình gác, cây, đá xen lẫn, đều có hàng lối. Trong chùa có trồng nhiều loại mẫu đơn dùng để cúng dường Phật. Ở 2 bên phía trong cổng chùa có những cây cổ thụ cao ngất trời, bóng mát che rợp sân chùa. (xt. Thập Phương Phổ Giác Tự).

ngoạ tượng

(臥像) Thường gọi: Ngọa Phật. Chỉ cho tượng đức Thích ca Niết bàn. Kiểu tượng này hoặc đắp vẽ hoặc chạm trổ, đều nằm nghiêng bên phải, dùng cánh tay phải co lại làm gối, đầu hướng phương bắc, mặt xoay phía tây, biểu hiện tư thái an lành của đức Phật Thích ca nhập Niết bàn giữa 2 cây Sa la. (xt. Niết Bàn Tượng).

ngoại

Bahya (skt). Outside—See Ngoài. Phía bên ngoại: Maternal side.

ngoại biên

Peripheral

ngoại bát miếu

(外八廟) Tám ngôi chùa của Phật giáo Tây tạng nằm ở phía Đông và phía bắc Hành cung (Li cung của nhà Thanh) ở thành phố Thừa đức tại Nhiệt hà, được xây dựng từ khoảng năm Khang hi 52 (1713) đến năm Càn long 45 (1780). Vì 8 chùa này nằm ở bên ngoài Hành cung cho nên gọi là Ngoại bát miếu, để phân biệt với 8 ngôi chùa nằm ở bên trong khu vực Hành cung, gọi là Nội bát miếu. Ngoại bát miếu gồm: 1. Chùa Phổ nhân: Ở phía đông cách Hành cung 1,7 cây số, do các vị vương hầu Mông cổ xây dựng vào năm 1713 để chúc mừng Hoàng đế Khang hi 60 tuổi. 2. Chùa Phổ thiện: Ở phía sau chùa Phổ nhân 100 bước, được kiến thiết cùng 1 lúc với chùa Phổ nhân, qui mô cũng ngang nhau. 3. Chùa Phổ ninh: Ở phía đông bắc cách Hành cung 2,8 cây số, được xây cất vào đầu năm Càn long 20, phỏng theo kiểu chùa Tang da ở Tây tạng, qui mô rất hùng vĩ. Bên trong tàng trữ nhiều ngự bút và văn bia. 4. Chùa An viễn, cũng gọi chùa Y lê: nằm ở chân núi phía đông bắc Hành cung, phỏng theo kiểu chùa Y lê ở Tân cương, được xây cất vào năm Càn long 29. Bên trong tàng trữ các tấm bia khắc những bài thơ do vua sáng tác bằng 4 thứ chữ; Hán, Mãn, Mông, Tạng; trên vách chung quanh điện Phật có những bức bích họa miêu tả nguồn gốc nước Phật và danh hiệu Phật cũng viết bằng 4 thứ chữ. 5. Chùa Phổ hựu: Ở phía đông bắc cách Hành cung 3,5 cây số, được xây cất vào năm Càn long 25, các tượng Phật trong chùa toàn tạc theo kiểu mẫu Tây tạng. 6. Chùa Phổ lạc: Ở phía đông bắc cách Hành cung 1,2 cây số, được kiến trúc vào năm Càn long 31. Tượng Bản tôn trong chùa cao khoảng 23 mét. 7. Chùa Phổ đà tông thừa: Ở phía đông bắc cách Hành cung 0,6 cây số, được kiến thiết vào năm Càn long 35, phỏng theo lối kiến trúc của cung Bố đạt lạp (Potala) ở Lhasa, Tây tạng. 8. Chùa Tu di phúc thọ: Nằm về phía tây chùa Phổ đà tông thừa, được xây dựng vào năm Càn long 45 để chúc thọ Hoàng đế Càn long 70 tuổi, phỏng theo kiểu chùa Trát thập luân bố ở Nhật khách tắc, qui mô rất hùng vĩ. Hình thức kiến trúc, tạo tượng, bích họa v.v... của các ngôi chùa trên đây đều dung hòa phong cách nghệ nghệ thuật của các chủng tộc Mông, Tạng và Hán. Ngoài ra, còn có thuyết lấy chùa Thù tượng thay cho chùa Phổ thiện trong 8 chùa nói trên. Chùa Thù tượng nằm ở phía tây chùa Phổ đà tông thừa, được xây dựng năm Càn long 39, phỏng theo kiểu chùa Hương sơn trên núi Ngũ đài, để làm trung tâm tín ngưỡng cho dân tộc Mãn châu. Tám ngôi chùa này hàng năm có lễ hội rất lớn. Các Hoàng đế cũng thường dùng những chùa này làm nơi khoản đãi các sứ thần, các vị vương hầu ngoại biên và các lãnh tụ tông giáo Mông cổ, Tây tạng v.v... tạo nên cảnh tượng phồn vinh mà ở thành phố Thừa đức trước kia chưa từng có và dần dần đã phát triển thành khu trung tâm hành chính. Tám ngôi chùa này cũng đã ghi lại 1 trang sử huy hoàng trong nền văn hóa ở biên giới phía bắc Trung quốc. Đáng tiếc rằng từ giữa đời Thanh về sau, nạn nội loạn, ngoại xâm liên tiếp ập đến, khiến các chùa trở nên hoang phế. [X. Đại Thanh thực lục; Nhiệt hà chí; Đông hoa toàn lục; Narrative of the Mission of George Bogle to Tibet, London 1879, by Markham; the Dalai Lamas of Lhasa and their relations with the Manchu Emperors of China 1644-1908, Leyden 1910, by W.W. Rockhill].

ngoại chúng

Ngoại Tục—Chúng tại gia để phân biệt với chúng xuất gia hay nội chúng Tăng Ni—The laity, in contrast with the inner company or the monks and nuns.

ngoại chấp

Non-Buddhist or heretical rules or tenets. ; (外執) Chỉ cho những tà kiến do ngoại đạo chấp trước. Nói theo lập trường của Phật giáo thì tất cả giáo thuyết ngoài Phật pháp mà có chủ trương thiên chấp, đều thuộc về ngoại chấp tà kiến và đều bị phê bình, bác bỏ. Thông thường ngoại đạo vọng chấp 5 kiến giải sau đây: 1. Thuyết các pháp là 1, là khác. 2. Thuyết thế gian là thường, là vô thường. 3. Thuyết ngã tức là uẩn, ngã lìa uẩn. 4. Thuyết có nhân quả, không có nhân quả. 5. Thuyết khổ do mình tạo, do người khác tạo. Luận Câu xá quyển 30 (Đại 29, 159 trung) nói: Nên xả bỏ các ngoại chấp ác kiến mù quáng để cầu mắt tuệ. (xt. Ngoại Đạo Tứ Chấp).

ngoại chủng

(外種) Đối lại: Nội chủng. Chỉ cho hạt giống của các loại thực vật như lúa bắp... mà thông thường thế gian gọi là Chủng tử, còn các nhà Duy thức học thì đặc biệt gọi là Ngoại chủng. Từ Chủng tử là 1 trong những thuật ngữ trọng yếu của Duy thức học Đại thừa. Yếu chỉ của tông Pháp tướng (tức tong Duy thức) là chia tâm thức của hữu tình chúng sinh làm 8 thức, trong đó, thức thứ 8 được gọi là A lại da, có tính chất thu góp và cất chứa các pháp, là gốc của 7 thức kia. Những chủng tử được cất giữ trong thức A lại da này có công năng như hạt giống của thực vật, có khả năng sinh ra tất cả hiện tượng, vì thế gọi là Chủng tử. Điểm khác nhau là ở chỗ hạt giống (chủng tử) của thực vật là 1 thật thể, còn chủng tử trong thức A lại da thì là 1 loại tác dụng tinh thần thuần túy.Duy thức học lấy Ba pháp hai lớp làm nhân quả, xác lập mối quan hệ giữa sự hình thành vũ trụ và chủng tử. Tức Duy thức học cho rằng: Ngay khi sắc pháp (vật chất) và tâm pháp (tinh thần) hòa hợp thì chủng tử sẽ khiến cho ngoại giới trước mắt sinh ra 1 tác dụng hoặc 1 hiện tượng nào đó, gọi là Hiện hành, 1 khi pháp Hiện hành hình thành thì có năng lực huân tập chủng tử, hoặc nhiễm hoặc tịnh. Như thế là cấu thành Ba pháp, tức là 3 yếu tố: Chủng tử năng sinh (chủng tử có sẵn từ trước) Hiện hành sở sinh và Tân chủng sở huân (chủng tử mới do Hiện hành huân tập). Ba pháp này có quan hệ nhân quả hai lớp, tức là ngay khi chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử thì chúng đồng thời xoay vần làm nhân quả cho nhau và từ đó biến hiện ra muôn vật trong thế gian. Vì vậy biết rằng hết thảy muôn pháp hữu vi vô vi như vạn tượng la liệt trong vũ trụ, khổ vui, suy thịnh v.v... tất cả đều do chủng tử trong thức A la da của con người sinh thành biến hiện đó là luận chỉ cơ bản Vạn pháp duy tâm tạo của tông Duy thức. Theo đó thì các nhà Duy thức gọi chủng tử trong thức A lại da là Nội chủng và cho rằng chủng tử (hạt giống) của lúa, ngô, đậu... chẳng phải là vật chân thực, mà đều do chủng tử đã có sẵn bên trong thức A lại da phát triển thành Hiện hành mà biến ra. Vì muốn phân biệt với Nội chủng trong tâm thức, nên tạm mượn tên của thế gian mà gọi là Ngoại chủng. Chủng tử ngoại chủng cũng như nội chủng được chia làm 2 loại là Bản hữu (vốn có sẵn) và Tân huân (mới huân tập), nhưng sự huân tập của ngoại chủng và nội chủng có khác nhau. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, nếu ngoại chủng có bản chất thì có huân tập và làm duyên tăng thượng cho sự sinh trưởng; còn nếu không có bản chất thì không có huân tập và phải lấy nội chủng làm duyên cho sinh nhân. Nhưng luận Nhiếp đại thừa thì lại nói khác. [X. luận Câu xá Q.4, 5; luận Thành duy thức Q.3; luận Nhiếp đại thừa Q.thượng; luận Hiển dương thánh giáo Q.17]. (xt. Chủng Tử).

ngoại cảnh

External things—External world.

ngoại diện

Appearance—External—Outward show.

ngoại duyên

Ngoại duyên là hiện trạng năm thức duyên vào ngoại cảnh—The condition in which the five internal senses attach to the five external objects. ; (外緣) Đối lại: Nội nhân. Duyên từ bên ngoài có năng lực giúp cho sự vật sinh thành và biến hóa. Tức là sự ảnh hưởng gián tiếp của 1 pháp này đối với 1 pháp khác. Là tăng thượng duyên trong 4 duyên. Ảnh hưởng duyên này được chia làm 2 loại: 1. Dữ lực tăng thượng duyên: Có công năng thúc đẩy pháp khác sinh ra. 2. Bất chướng tăng thượng duyên: Không cản trở pháp khác sinh khởi. Vì muôn vật đều có sức ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên không 1 pháp nào mà không có công năng của Tăng thượng duyên. Nhưng các pháp phải đợi khi nào nội nhân và ngoại duyên hòa hợp lẫn nhau mới hình thành được. Chẳng hạn như việc thụ sinh trong cõi người, phải lấy nghiệp thức của chính mình làm nội nhân và tinh cha huyết mẹ làm ngoại duyên, do sự hòa hợp của các nhân duyên ấy mới thụ sinh được. Cũng như công đức lợi tha của Phật chính là ngoại duyên giúp chúng sinh thành Phật, nhưng chúng sinh phải lấy Như lai tạng của bản thân làm nội nhân để chứng đắc bồ đề, nhờ những nhân duyên ấy hòa hợp thì mới khế cơ thành Phật được. Ngoài ra, theo luận Đại thừa khởi tín thì Tăng thượng duyên còn được chia ra làm 2 loại là Sai biệt duyên và Bình đẳng duyên. [X. luận Đại tì bà sa Q.21, 127; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ phần đầu].

ngoại duyên tử

(外緣死) Đối lại: Mệnh tận tử. Chết oan nghĩa là chết trong khi số mệnh chưa hết. Là 1 trong 2 loại tử (chết). Ngoại duyên tử có các nguyên nhân như: 1. Tự sát. 2. Bị người khác giết chết. 3. Vì tức giận mà giết hại lẫn nhau... [X. kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].

ngoại dụng

External manifestation (function or use). ; (外用) Đối lại: Nội chứng. Chỉ cho tác dụng bên ngoài do bản thể hiển hiện. Chư Phật, Bồ tát vì cứu độ chúng sinh nên ứng cơ thị hiện tất cả thần thông, công đức như: Tướng tốt, ánh sáng, thuyết pháp, lợi sinh v.v... tức gọi là Công đức ngoại dụng. Còn công đức nội chứng thì có 4 trí, 3 thân, 10 lực, 4 vô úy v.v... Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối (Đại 44, 869 thượng) nói: Dùng duyên định trụ để dứt ngoại dụng. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 1 thượng (Đại 33, 684 trung) nói: Nội dụng gọi là tự tại, ngoại dụng gọi là thần lực. [X. Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập Q.thượng; Chính pháp nhãn tạng Tứ thiền tỉ khưu (Đạo nguyên)].

ngoại giáo

Non-Buddhist cults, in contrast with Buddhism. ; (外教) Chỉ cho giáo thuyết khác với giáo thuyết mà mình tôn thờ. Đứng trên lập trường Phật giáo mà nói, thì ngoại giáo chỉ cho các học thuyết, giáo phái ngoài Phật giáo, như: Lục sư ngoại đạo, 6 phái triết học, 95 thứ ngoại đạo, 135 thứ ngoại đạo ở Ấn độ, hoặc Nho giáo, Đạo giáo, Cửu lưu, Bách gia ở Trung quốc. Ngoài ra, đứng về phương diện công phu tu thân, tu tâm mà nói, thì giáo tu tâm gọi là Nội giáo, giáo tu thân gọi là Ngoại giáo. Cứ theo Nhị giáo luận, khi thân, tâm tụ hợp tuy là 1 thể, nhưng hình (thân) và thần (tâm) thực ra có khác nhau; vì nhục thân không tránh khỏi sự chết đi và tiêu diệt, nhưng tâm thần thì còn mãi không mất, cho nên phương pháp (giáo) chữa thân bệnh gọi là Ngoại, kinh điển trị tâm bệnh gọi là Nội. [X. luận Nguyên nhân phần Xích mê chấp 1].

ngoại giới

Thân thể: The realm of the body, as contrast with that of the mind (Nội giới).

ngoại hình

Exteriority.

ngoại hải

Biển bao quanh tứ châu—The sea that surrounds the four world-continents. ; (外海) Biển ngoài. Theo thế giới quan của Phật giáo, núi Tu di là Trung tâm của thế giới, bốn phía núi Tu di có 7 núi 7 biển lần lượt cách li và vây quanh núi Tu di, vòng ngoài cùng lại có núi Đại thiết vi bao bọc. Ở khoảng giữa Thất kim sơn (lớp núi thứ 7) và núi Đại thiết vi, có biển nước mặn, biển này chính là Ngoại hải, 4 châu đất liền nằm rải rác trong biển này. Luận Câu xá quyển 11 (Đại 29, 57 hạ) nói: Biển thứ 8 gọi là Ngoại hải, chứa đầy nước mặn (...) trong Ngoại hải có 4 đại châu.

ngoại học

Học những giáo thuyết không phải của đạo Phật—Study of outside, or non-Buddhist doctrines. ; (外學) Chỉ cho giáo pháp hoặc kinh sách ngoài Phật giáo, hoặc chỉ cho việc học tập các giáo pháp và kinh sách ấy. Vì hàng phục ngoại đạo và hiểu rõ căn cơ, ý muốn của chúng sinh để tiện việc giáo hóa, nên các vị tỉ khưu được phép học tập sách vở ngoại giáo và các pháp thế gian. Đức Phật đã từng nói rằng người có trí tuệ sáng suốt, học rộng, nhớ dai, có khả năng thuyết phục ngoại đạo, mới được nghiên cứu ngoại học. Đại Tống tăng sử lược quyển thượng cho biết, trong tinh xá Kì hoàn có lập viện Tứ vi đà, Thư viện v.v... trong đó thu giữ rất nhiều sách vở ngoại học. [X. Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da tạp sự Q.6; kinh Bồ tát địa trì Q.5; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Ngoại Điển).

ngoại hộ

Những che chở bên ngoài như quần áo và thực phẩm cho Tăng Ni, đối lại với Nội Hộ hay giới pháp do Phật chế định nhằm giúp cho thân khẩu ý tránh điều sai trái—External protection or aid, such as food, clothing for monks and nuns, contrasted with the internal aid of the Buddha's teaching. ; (外護) Sự ủng hộ từ bên ngoài. Nghĩa là những người tín đồ tại gia đem tài vật cung cấp giúp đỡ tăng ni trong việc tu học của họ, hoặc tận lực ủng hộ sự nghiệp truyền bá Phật pháp. Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ (Đại 46, 43 thượng) nói: Thiện tri thức có 3 loại: Một là ngoại hộ (...) Phàm là người ngoại hộ thì không kể ngày đêm, chỉ biết làm những việc cần làm, (...) như mẹ nuôi con, điều hòa mọi việc được tốt đẹp, những người hành đạo lâu năm thường làm như vậy, gọi là Ngoại hộ. Kinh Niết bàn quyển 32 (bản Bắc) có nêu ra thuyết Nội hộ và Ngoại hộ, cho rằng hành vi tăng ni tu tập giới pháp do đức Phật chế để phòng hộ những lỗi lầm của 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Nội hộ, còn Ngoại hộ thì như đã nói ở trên. Thời đức Phật còn tại thế đã có những nhà ngoại hộ Phật pháp nổi tiếng như: Vua Tần bà sa la, vua Ba tư nặc, Trưởng giả Cấp cô độc (Tu đạt) v.v... Sau thời đức Phật nhập diệt thì có các vua: A dục, Ca nị sắc ca, Giới nhật v.v... Tại Trung quốc thì có các bậc Đế vương như: Hiếu văn đế đời Bắc Ngụy; Vũ đế đời Lương; Dượng đế đời Tùy, Tắc thiên Vũ hậu đời Đường, Hiếu tông đời Nam Tống v.v... đều là những nhà hộ pháp lừng danh. Còn ở Nhật bản thì có các vị Thiên hoàng: Thánh vũ, Vũ đa, Đề hồ v.v... cũng là những người tôn sùng và ngoại hộ Phật giáo nổi tiếng... [X. kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật Q.hạ; kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); Qui kính văn trong Thiền uyển thanh qui Q.8; Đại minh tam tạng pháp số Q.17].

ngoại hộ ma

(外護摩) Phạm: Homa. Hán dịch: Hỏa tế, Phần thiêu. Cũng gọi Sự hộ ma. Pháp hộ ma thực hành ngoài tâm, là 1 trong 2 pháp hộ ma của Mật giáo. Hộ ma là pháp cúng tế thần lửa bằng cách đốt các vật cúng, được chia làm 2 loại là Nội hộ ma và Ngoại hộ ma. Ngoại hộ ma phải có đủ 3 yếu tố: Bản tôn, lò hương và hành giả, biểu trưng cho Tam mật (thân, khẩu, ý) của người tu pháp, trong đó, Bản tôn biểu thị ý mật, lò hương biểu thị khẩu mật, hành giả biểu thị thân mật. Cách thực hành Ngoại hộ ma là: Trước hết chọn nơi đất thích hợp để lập đàn, tụng chân ngôn, đốt các vật cúng như: Nhũ mộc (củi có tẩm sữa), ngũ cốc v.v... khiến cho tam mật của hành giả được thanh tịnh, thành tựu các pháp tu: Tức tai, Tăng ích, Hàng phục, Câu triệu, Diên mệnh... Lại vì vị Bản tôn được thờ trong pháp Ngoại hộ ma không nhất định là vị Như lai hoặc vị Minh vương nào, cho nên cách thiết trí lò hương, vật cúng, khí cụ v.v... tùy theo vị Bản tôn được thờ mà thiết trí khác nhau. Thông thường có Tam chủng hộ ma, Tứ chủng hộ ma, Ngũ chủng hộ ma, Lục chủng hộ ma... (xt. Nội Hộ Ma, Hộ Ma).

ngoại không

External space.

ngoại khất

Vị Tăng khất sĩ tìm cầu tự kiểm bằng những phương thức bên ngoài như ăn chay, đối lại với Nội Khất là vị Tăng khất sĩ tìm cầu tự kiểm bằng những phương thức từ trong nội tâm—The Mendicant monk who seeks self-control by external means, such as abstinence from food, as contrasted with the mendicant monk who seeks self-control by internal means or spiritual methods.

ngoại kim cương bộ

(外金剛部) Cũng gọi Thế thiên. Chỉ cho chư Thiên thủ hộ được an trí ở vòng ngoài các Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. Đàn tràng Mạn đồ la là nơi tu tập chân ngôn mật hạnh, để phòng ngừa các loại ma xâm nhập gây nhiễu loạn, nên phải có các vị thần Kim cương giữ gìn hộ vệ ở vòng ngoài của đàn tràng, cho nên gọi là Ngoại kim cương bộ. Các vị thần này vốn được ngoại đạo tôn thờ, sau nhờ sự dẫn dắt của Phật nên trở thành thần thủ hộ Phật pháp. Về con số các tôn vị thần trời được an trí, nếu là Mạn đồ la chỉ có 1 vị tôn duy nhất, thì an trí 8 vị ở 8 phương hoặc 12 vị. Còn nếu là Mạn đồ la Kim cương giới và Mạn đồ la Thai tạng giới thì tình hình phức tạp hơn, thông thường Kim cương giới an trí 20 vị và Thai tạng giới an trí 205 vị. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5]. (xt. Thiên Bộ).

ngoại kim cương bộ viện

(外金剛部院) Khu vực bao quanh phía ngoài cùng của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Các vị tôn được bày xếp trong bộ viện này, trước hết là các vị trời, sau đó còn có vô số các loài khác trong 3 cõi 6 đường, như: Rồng, Dạ xoa v.v... Bí tạng kí (bản khác) gọi bộ viện này là Kim cương bộ viện, còn Thai tạng (bản vẽ kiểu cũ) thì gọi là Tối ngoại viện (Viện ngoài cùng). Các vị tôn ở viện này tuy được gọi là Kim cương, nhưng vì Thiên bộ (các vị trời) chiếm đa số, cho nên viện này cũng gọi là Chư thiên viện. Tất cả có 205 vị tôn, trong đó, có 40 vị ở phương Đông, gồm: Trời Nhật thiên, trời Đế thích, trời Đại phạm v.v...; 65 vị ở phương Nam, gồm: Trời Hỏa thiên, trời Diệm ma, A tu la v.v...; 48 vị ở phương Tây, gồm: Trời La sát, trời Thủy thiên, trời Đại tự tại v.v...; 52 vị ở phương Bắc, gồm: Trời Phong thiên, trời Quang âm, trời Tì sa môn v.v... Tất cả các vị tôn này đều thuộc về thân Đẳng lưu của đức Đại nhật Như lai. Vì Thai tạng giới rất coi trọng tác pháp kết giới, cho nên số các vị tôn của Ngoại kim cương bộ nhiều gấp bội số các vị tôn của Kim cương giới (chỉ có 20 vị).

ngoại kim cương nhị thập thiên

(外金剛二十天) Cũng gọi Ngoại kim cương bộ nhị thập thiên, Nhị thập thiên. Hai mươi vị trời Kim cương ở Ngoại bộ được bày xếp trong 6 hội: Hội Căn bản thành than (thứ 1), hội Tam muội da (thứ 2), hội Vi tế (thứ 3), hội Đại cúng dường (thứ 4), hội Hàng tam thế (thứ 8), và hội Hàng tam thế tam muội da (thứ 9), trong 9 hội của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Tên của 20 vị trời này trong các kinh và nghi quĩ đều chép khác nhau. Còn theo Hiện đồ mạn đồ la thì tên của 20 vị trời ấy là: Na la diên, Câu ma la, Kim cương tồi, Phạm thiên, Đế thích, Nhật thiên, Nguyệt thiên, Kim cương thực, Tuệ tinh, Huỳnh hoặc tinh, La sát, Phong thiên, Kim cương y phục, Hỏa thiên, Tì sa môn, Kim cương diện, Diệm ma la, Điều phục, Tì na dạ ca và Thủy thiên. Chủng tử, Hình tam muội da và thân Yết ma của các vị tôn này được đồ biểu như sau. (thiếu đồ biểu)

ngoại lai

Exotic.

ngoại ma

(外魔) Ma từ bên ngoài đến gây chướng ngại cho người tu đạo, tức chỉ cho Thiên ma. Thiên ma, gọi đủ là Tha hóa tự tại thiên tử ma. Ma vương và quyến thuộc của ma này ở tại tầng trời thứ 6 của cõi Dục, thường cản trở những việc thiện của loài người, ganh ghét chính pháp của bậc Hiền Thánh, gây chướng ngại cho việc thành tựu thiện căn xuất thế của người tu hành. [X. luận Đại trí độ Q.5, 56, 68; Ma ha chỉ quán Q.8, hạ]. (xt. Tứ Ma, Ma).

ngoại nghi

(外儀) Cũng gọi Ngoại tướng. Hình tướng, cử chỉ, dáng dấp biểu hiện ra bên ngoài, tức là 4 uy nghi: Đi, đứng, ngồi, nằm. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 56 trung) nói: Đi đứng ngồi nằm, nói im, động tác, thường giữ niệm này trong tâm (...) Hoặc cúi đầu giơ tay, hoặc cất tiếng xưng danh, ngoại nghi dù khác, nhưng trong tâm luôn giữ chính niệm, thức ngủ chẳng quên. Ngoài ra, pháp hội Ngoại tướng nghi thức do Mật giáo đặc biệt cử hành, để làm tăng trưởng tín tâm của những người đến tham lễ cũng được gọi là Ngoại nghi, như nghi thức xếp hàng trước sau được thực hành bên ngoài đạo tràng Quán đính. (xt. Tứ Uy Nghi).

ngoại ngoại đạo

Ngoại đạo ngoài Phật pháp—Outside outsiders, those of other cults. ; (外外道) Đối lại: Nội ngoại đạo. Đồng nghĩa: Ngoại đạo (theo nghĩa rộng). Chỉ chung cho các giáo thuyết, học phái ngoài Phật pháp, như 6 phái Triết học Ấn độ: Số luận, Thắng luận v.v... hoặc 6 nhà ngoại đạo: Phú lan na ca diếp, Ni kiền đà nhã đề tử... cũng như 95 hoặc 96 loại ngoại đạo khác... [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Ngoại Đạo).

ngoại ngã

Bahiratman—External Ego—An external soul, or personal or divine ruler—A Creator or ruler of the world, such as Siva. ; (外我) Đối lại: Nội ngã. Chỉ cho cái ngã(ta) ở ngoài thân, hoặc cái ngã ở ngoài 5 uẩn. Khái niệm Ngã (Phạm: Àtman) vốn là 1 trong những chủ đề quan trọng trong tư tưởng giới Ấn độ từ xưa đến nay; các giáo phái cũng như các học phái đã lần lượt đề xướng nhiều lí thuyết về ngã. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 1, thì thông thường có 3 loại kiến giải chấp ngã là: Ngã ở trong 5 uẩn, Ngã lìa 5 uẩn, Ngã chẳng ở trong 5 uẩn chẳng lìa 5 uẩn. Ba chủ trương trên đây đều cho ngã là có thật, trong đó, chủ trương thứ 2 chấp ngã lìa uẩn, tức là kiến giải chủ trương ngoại ngã. Ngoài ra, bắt đầu từ bộ sử thi Mahàbhàrata của Ấn độ, thông thường người Ấn độ gọi là trời Đại tự tại (Phạm: Mahezvara) là thần Ziva và coi vị thần này là đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ vạn vật. Thể tính của vị thần này là thường trụ và trùm khắp, vì thế Đại tự tại được coi là đại ngã duy nhất, đối lại với cái ngã cá nhân nội tại, tức gọi là Ngoại ngã. Nhưng những chủ trương đại loại như thế đều bị Phật giáo phủ nhận. Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 648 hạ) nói: Nếu hành giả chẳng hiểu chính xác nghĩa nhân duyên mà tu chứng các pháp Thiền, thì ắt sẽ chấp trước tự tâm là nội ngã (...) Giả sử chẳng chấp nội ngã thì chắc hẳn cũng chấp ngoại ngã, tức là trời Tự tại, Phạm thiên ... [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.2 (bản Bắc); Dị bộ tông luân luận thuật kí]. (xt. Ngã).

ngoại phàm

See Phàm Phu (2) (b). ; (外凡) Đối lại: Nội phàm. Từ ngữ chỉ chung cho các giai vị phàm phu trong quá trình tu tập Phật đạo, tức là 1 trong những giai vị trước Kiến đạo. Thanh văn thừa lấy 3 giai vị Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm trụ và Tổng tướng niệm trụ (tức Tam hiền vị) làm Ngoại phàm; còn Bồ tát thừa thì lấy giai vị Thập tín phục nhẫn làm Ngoại phàm. Đại thừa nghĩa chương quyển 17, phần cuối (Đại 44, 810 trung) nói: Ngoại phàm nghĩa là những người ở trong đường lành (thiện thú) tìm chân lý ở bên ngoài; chưa thể dứt hình tướng bên ngoài để duyên theo chân tính ở bên trong, cho nên gọi là Ngoại; chưa bỏ được thân phàm phu phần đoạn trong 6 đường, cho nên gọi là Phàm. Trong 4 giáo: Tạng, Thông, Biệt, Viên của tông Thiên thai thì tạng giáo lấy Hiền vị (Ngũ đình tâm v.v... ) làm Ngoại phàm; Thông giáo lấy Can tuệ địa của Thập địa nói trong kinh Đại phẩm bát nhã làm Ngoại phàm; Biệt giáo lấy giai vị Thập tín trong 52 giai vị làm Ngoại phàm và Viên giáo thì lấy giai vị Quán hành ngũ phẩm trong Lục tức làm Ngoại phàm. [X. luận Thành thực Q.1, 15; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.1 thượng, hạ]. (xt. Tam Hiền).

ngoại pháp

(外法) Cũng gọi Ngoại thuật. Chỉ cho giáo pháp, tu pháp ngoài Phật giáo, hoặc chỉ cho các chú thuật của ngoại đạo, như pháp A vĩ xa (Phạm:Àveza), dùng pháp thuật triệu thỉnh quỉ thần nhập vào thân của đồng nam hoặc đồng nữ, làm cho chúng đoán trước được những việc lành dữ, nên hư. Lại như pháp Đồ cát ni (Phạm: Đàkìnì) dùng pháp thuật bất chính lấy trái tim của người ta mà ăn, để cầu thành tựu điều mong cầu. Tại Nhật bản, Ngoại pháp chỉ cho 1 thứ yêu thuật nhận được từ quỉ linh. Vị tăng thực hành pháp này gọi là Ngoại pháp tăng. Phong tục này thịnh hành từ giữa thời kì Bình an đến thời đại Liêm thương.

ngoại phọc định ấn

(外縛定印) Cũng gọi Kim cương định ấn, Phược định ấn. Ấn trụ trong định của Thiên cổ lôi âm Như lai, cũng tức là pháp giới định ấn của Kim cương bộ Mật giáo. Cách kết ấn này là: Lòng 2 bàn tay hướng lên, các ngón tay giao nhau. Định ấn là ấn khế biểu thị sự an trụ trong tướng Tam muội tịch lặng, bất động. (xt. Định Ấn).

ngoại phọc ấn

(外縛印) Cũng gọi Ngoại phược quyền, Chỉ tại ngoại quyền, Hướng ngoại tương xoa quyền. Ấn tướng biểu thị nguyệt luân trên hoa sen, đặc biệt được sử dụng trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Là 1 trong 4 loại Quyền ấn hoặc 6 loại Quyền ấn của Mật giáo. Cách kết ấn này là 2 bàn tay chấp lại, 10 ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại thành quyền, đặt 10 ngón ở ngoài nắm tay; 5 ngón tay trái đặt lên 4 ngón tay phải, còn ngón cái của tay phải thì phải đè lên ngón cái của tay trái. Vì các ngón tay đều ở bên ngoài lòng bàn tay nên gọi là Ngoại phược. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Tứ Chủng Quyền).

ngoại tham dục

Ý nghĩ ham muốn tình dục với người khác, không phải là vợ hay chồng của mình—Sexual thoughts towards others than one's own wife, or husband. ; (外貪欲) Cũng gọi Ngoại tham dục tướng. Chỉ cho sự ham muốn các cảnh vật bên ngoài. Là 1 trong 3 thứ phát tướng thuộc tham dục. Tham dục là cầu mong được những vật của người khác mà mình ưa thích, do đó khởi tâm ham đắm ô nhiễm. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 4, Ngoại tham dục, tức là lúc hành giả đang tu tập thiền định, bỗng khởi tâm ham muốn dung mạo người nam hoặc người nữ; nếu tâm niệm này khởi lên liên tục thì sẽ chướng ngại việc tu hành. Ma ha chỉ quán quyển 8, thượng (Đại 46, 10 hạ) nói: Nếu ngoại tham dục nổi lên thì phải dùng pháp quán Bất tịnh để đối trị, còn nếu nội tham dục sinh khởi thì dùng Bát bối xả đối trị.

ngoại thân

Maternal family—Mother's family.

ngoại triền

Outer tangle.

ngoại trần

Sáu cảnh trần bên ngoài—The external objects of the six senses. ; (外塵) Chỉ cho 6 trần cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là các đối tượng nhận thức của 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Những người phàm phu cho rằng 6 trần đều ở ngoài tâm, cho nên gọi là Ngoại trần. Lục tổ đàn kinh (Đại 48, 357 thượng) nói: Phân biệt tất cả pháp là tướng ngoại trần.

ngoại trận

(外陣) Cũng gọi Hạ trận. Đối lại với Nội trận. Chỉ cho khu tiền đường ngoài Nội trận (nội cung, nơi thờ tượng Phật, tụng kinh, tu pháp) là chỗ dành cho tín đồ lễ bái, nghe kinh. Khi cử hành nghi thức pháp hội hành đạo thì Ngoại trận được sử dụng làm đường đi để nhiễu quanh Nội trận. Ngoài ra, bốn chung quanh riềm của bức tranh Biến tướng cũng gọi là Ngoại trận.

ngoại tình

Adultery.

ngoại tướng

Hình tướng hay hành vi bên ngoài—External appearance or conduct.

ngoại tướng thập nhị

(外相十二) Cũng gọi Ngoại tướng thập nhị vật. Chỉ cho 12 thứ nhơ nhớp trong 36 vật bẩn thỉu của thân người. Đó là: Tóc, lông, móng, răng, ghèn (dử) mắt, nước mắt, nước dãi, nước bọt, nước tiểu, phân, ghét và mồ hôi. Do sự tạo tác, đổi dời của 36 vật và 12 nhân duyên xoay vần hòa hợp lẫn nhau mà thân người được sống còn. (xt. Tam Thập Lục Vật).

ngoại tục

Chúng tại gia để phân biệt với chúng xuất gia hay nội chúng Tăng Ni—The laity, in contrast with the monks or inner company (nội chúng).

ngoại tứ cung dưỡng

(外四供養) Cũng gọi Ngoại tứ cúng, Ngoại cúng dường. Gọi tắt: Ngoại cúng. Đối lại với Nội tứ cúng dường. Chỉ cho 4 vị Bồ tát do 4 đức Phật ở 4 phương, dùng đức Tam ma địa mà mình đã chứng được, lưu xuất ra để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Đó là: 1. Bồ tát Hắc sắc hương (Hương màu đen), cũng gọi Bồ tát Kim cương phần hương, do đức A súc Như lai ở phương Đông lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Đông nam của Ngoại viện, tay cầm lư hương biểu thị giới hương vi diệu, để cúng dường đức Đại nhật Như lai. 2. Bồ tát Thiển hoàng sắc hoa (Hoa màu vàng phớt), cũng gọiBồ tát Kim cương hoa, do đức Bảo sinh Như lai ở phương Nam lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Tây nam, tay cầm hoa thơm, biểu thị hoa phúc đức, cúng dường đức Đại nhật Như lai. 3. Bồ tát Bạch sắc đăng (Đèn màu trắng), cũng gọi Bồ tát Kim cương đăng, do đức Phật A di đà ở phương Tây lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Tây bắc, tay cầm đèn, biểu thị đèn trí tuệ, cúng dường đức Đại nhật Như lai. 4. Bồ tát Thanh sắc đồ hương (Hương xoa màu xanh), cũng gọi Bồ tát Kim cương đồ hương, do đức Bất không thành tựu Như lai (tức đức Thích ca Như lai) ở phương Bắc lưu xuất ra. Vị Bồ tát này ngồi ở góc Đông bắc, tay cầm hương xoa, biểu thị năm phần pháp thân, hương xoa có khả năng tẩy sạch sự nhơ bẩn, để cúng dường đức Đại nhật Như lai. Bốn vị Bồ tát trên đây tượng trưng ý nghĩa dùng hương đốt làm thanh tịnh tất cả thế giới, dùng hoa thơm tùy thuận thế gian, dùng ánh sáng chiếu rọi thế giới chúng sinh và dùng hương xoa diệt trừ hết thảy khổ ách cho chúng sinh. Ngoài ra, trong hội Lí thú của Mạn đồ la Kim cương giới, thì Ngoại cúng dường là các Bồ tát mùa xuân, Bồ tát mùa hạ, Bồ tát mùa thu và Bồ tát mùa đông, 4 vị này theo thứ tự, lần lượt cầm hoa, hương đốt, đèn và hương xoa. [X. phẩm Kim cương giới Ngoại cúng dường trong kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thật Q.hạ; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; kinh Tối thượng căn bản đại lạc kim cương bất không tam muội đại giáo vương Q.3; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ]. (xt. Bát Cúng Dường).

ngoại vô vi

Đối với ngoại cảnh chẳng động tâm hay giác quan chẳng bị khuấy động (mắt chẳng thấy sắc, tai chẳng nghe thanh, mũi chẳng ngửi hương, lưỡi chẳng nếm vị, thân chẳng tiếp xúc các thứ mịn màng, ý chẳng vọng niệm)—Unmoved by externals, none of the senses stirred. ; (外無爲) Đối lại: Nội vô vi. Đối trước ngoại cảnh mà tâm không tán loạn. Cứ theo kinh Đại an ban thủ ý quyển hạ, thì vô vi có 2 loại: 1. Ngoại vô vi: Thân đứng trước cảnh sắc lộng lẫy, đẹp đẽ mà không khởi tâm tham muốn, mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng, mũi không ngửi mùi, miệng không nếm vị, thân không va chạm mịn láng, ý chẳng nghĩ bậy, nghĩa là 6 căn hoàn toàn ở trong trạng thái vắng lặng trong sáng. 2. Nội vô vi: Phối hợp sự tu định của 6 căn, dùng 6 môn vi diệu là sổ tức, tương tùy, chỉ, quán, hoàn, tịnh để đạt đến sự tĩnh lặng trong sáng của nội tâm.

ngoại xá

(外舍) Buông bỏ những vật bên ngoài mình như tiền của, vàng bạc v.v... Tức là với tâm từ bi không tham tiếc, đem những thứ quí báu như ngôi vua, phúc lạc, tiền của bố thí cho người có đức hoặc kẻ bần cùng khốn khổ. Đây là việc làm thuộc pháp ngoại thí trong 10 hạnh thí xả mà Bồ tát tu tập. Nhưng khi bố thí thì người thí, kẻ thụ thí và vật thí đều phải thanh tịnh mới được quả báo thù thắng. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa (Đại 37, 273 hạ) nói: Chư Phật ở quá khứ, Bồ tát ở hiện tại, đã làm được những việc khó làm, xả được những cái khó xả; nội xả, nội ngoại xả, đều xả. [X. phẩm Thập vô tận tạng trong kinh Hoa nghiêm Q.12 (bản dịch cũ); kinh Đại bát niết bàn Q.24 (bản Bắc)]. (xt. Thập Thí).

ngoại điển

Kinh điển và sách vở của thế gian và ngoại đạo—Non-Buddhist doctrines. ; Giáo điển thế gian—Ordinary scriptures—Non-Buddhist scriptures. . ; (外典) I. Ngoại Điển. Cũng gọi Ngoại thư, Thế thư. Chỉ chung cho tất cả kinh sách nằm ngoài hệ thống giáo lí của Phật giáo, tức là những sách vở của thế gian hoặc của các tông giáo khác. Theo lập trường của Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 6 và kinh Bồ tát địa trì quyển 5, đối với những tỉ khưu trí tuệ yếu kém, kiến thức cạn hẹp thì không nên học thêm ngoại điển, nhưng với các tỉ khưu có trí sáng suốt, mạnh mẽ, học rộng, biết nhiều thì cũng nên dành ra 1/3 thời gian và sức lực để nghiên cứu tìm hiểu ngoại điển hầu chuẩn bị cho việc hàng phục ngoại đạo sau này, hoặc dùng để đối trị những việc không đúng pháp của thế gian. [X. Bách luận sớ Q.thượng, phần hạ; Thích thị yếu lãm Q.trung; Đại tống tăng sử lược Q.thượng; Sơn gia chính thống học tắc Q.hạ; Loại tụ danh vật khảo Q.24]. II. Ngoại Điển. Cũng gọi Bàng kinh, Thánh kinh ngoại truyền. Danh từ gọi chung các sách vở do những tín đồ Do thái giáo hoặc Cơ đốc giáo viết vào khoảng thế kỉ II trước Tây lịch đến thế kỉ II, III sau Tây lịch theo hình thức Thánh kinh, nhưng không được chính thức thừa nhận, đó là các sách: Cựu ước ngoại truyền, Tân ước ngoại truyền.

ngoại điển (ngoại giáo)

External doctrine—Non-Buddhist scriptures.

ngoại đạo

Tôn giáo ngoài bổn đạo của mình gọi là ngoại đạo. Nhưng Trí Giả Đại Sư lại chia ra làm ba thứ: 1. Chánh cống ngoại đạo, tu thành được trường thọ hoặc sanh cõi trời. 2. Gắn tên của Phật giáo mà hành pháp của ngoại đạo, tu thành cũng phải đọa địa ngục. 3. Học Phật pháp thành ngoại đạo, tức là chẳng hiểu ý Phật, đem ý mình cho là chánh pháp để dạy người, di hại người sơ học, Phật dụ là con trùng sư tử, tiêu diệt Phật pháp là do bọn này. ; Chỉ các đạo không phải là Phật giáo—Externalists—Outsiders—Outside doctrines—Non-Buddhist—Heresy—Heretics. ; (外道) Phạm: Tìrthaka hoặcTìrthika. Pàli: Titthya. Hán âm: Để thể ca. Cũng gọi Ngoại giáo, Ngoại pháp, Ngoại học. Chỉ cho tất cả các tông giáo không phải Phật giáo, tương đương với từ ngữ Dị đoan của Nho giáo. Nguyên nghĩa của chữ Tìrthaka là chỉ cho thần thánh hoặc những người ở ẩn đáng được tôn kính. Lúc đầu là từ ngữ do Phật giáo sử dụng để gọi các giáo phái khác, có hàm ý là người nói chân chính, người khổ hạnh; đối lại, Phật giáo tự xưng là Nội đạo, gọi kinh điển Phật giáo là Nội điển và gọi các kinh điển ngoài Phật giáo là Ngoại điển. Đến đời sau, các nghĩa như dị kiến, tà thuyết được thêm vào, từ ngữ ngoại đạo bèn trở thành danh xưng có tính cách khinh miệt, chê bai với ý nghĩa là tà pháp ngoài chân lí. Tam luận huyền nghĩa quyển thượng (Đại 45, 1 trung) nói: Chí diệu rỗng suốt, gọi là đạo. Tâm ở ngoài đạo, gọi là Ngoại đạo.Trong các kinh luận có nêu ra rất nhiều loại ngoại đạo, nhưng thông thường thì chỉ cho nhóm Lục sư ngoại đạo là: Phú lan na ca diếp, Mạt ca lợi cù xá lê tử, San xà da tì la chi tử, A kì đa chỉ xá khâm bà la, Ca la câu đà ca chiên diên, Ni càn đà nhã đề tử và 6 phái triết học. Số luận, Du già, Thắng luận Chính lí, Thanh luận và Phệ đàn đa... Ngoài ra còn có sự phân loại như: 1. Ngoại đạo tứ chấp, cũng gọi là Ngoại đạo tứ kiến, Ngoại đạo tứ kế, Ngoại đạo tứ tông, Tứ chủng ngoại đạo. Ngoại đạo này chấp trước các pháp là 1 là khác; vọng chấp tất cả các pháp đều là đồng nhất chẳng phải đồng nhất; chấp thế gian là thường vô thường; chấp có nhân quả không nhân quả... 2. Sáu phái ngoại đạo khổ hạnh: Ngoại đạo nhịn đói, Ngoại đạo gieo mình xuống vực sâu, Ngoại đạo nhảy vào lửa, Ngoại đạo chỉ ngồi không nằm, Ngoại đạo im lặng không nói, Ngoại đạo bò, chó (nghĩa là Ngoại đạo bắt chước bò, chó ăn cỏ, ăn phân để cầu sinh lên cõi trời)... 3. Ngoại đạo 16 tông, cũng gọi 16 tông dị luận, 16 ngoại đạo, 16 kế chấp. Tức vọng chấp: Trong nhân có quả; theo duyên hiển hiện; quá khứ vị lai có thật; có thật ngã; các pháp thường trụ đều do nhân kiếp trước; có nhân tự tại; sát sinh là chính pháp; có biên tế không biên tế; không chết và giả dối; các pháp không nhân; các pháp không quả; chết là hết; mình là hơn hết; mình trong sạch; mình tốt lành... 4. Hai mươi ngoại đạo: Tiểu thừa ngoại đạo luận sư, Phương luận sư, Phong luận sư, (phong tiên luận sư), Vi đà luận sư, Y sa na luận sư, Khỏa hình ngoại đạo luận sư, Tì thế sư luận sư, Khổ hạnh luận sư, Nữ nhân quyến thuộc luận sư, Hành khổ hạnh luận sư, Tịnh nhãn luận sư, Ma đà la luận sư, Ni kiền tử luận sư, Tăng khư luận sư, Ma hê thủ la luận sư, Vô nhân luận sư, Thời luận sư, Phục thủy luận sư, Khẩu lực luận sư, và Bản sinh an đồ luận sư. 5. Ba mươi loại ngoại đạo: Thời ngoại đạo, Địa đẳng kiến hóa ngoại đạo, Du già ngã ngoại đạo, Kiến lập tịnh ngoại đạo, Bất kiến lập vô tịnh ngoại đạo, Tự tại thiên ngoại đạo, Lưu xuất ngoại đạo, Thời ngoại đạo (khác với Thời ngoại đạo nói ở trên) Tôn quí ngoại đạo, Tự nhiên ngoại đạo, Nội ngã ngoại đạo, Nhân lượng ngoại đạo, Biến nghiêm ngoại đạo, Thọ giả ngoại đạo, Bổ đặc già la ngoại đạo, Thức ngoại đạo, A lại da ngoại đạo, Tri giả ngoại đạo, Kiến giả ngoại đạo, Năng chấp ngoại đạo, Sở chấp ngoại đạo, Nội tri ngoại đạo, Ngoại tri ngoại đạo, Xã đát phạm ngoại đạo, Ý sinh ngoại đạo, Nho đồng ngoại đạo, Thường định sinh ngoại đạo, Thanh hiển ngoại đạo, Thanh sinh ngoại đạo (Thanh hiển, Thanh sinh gọi chung là Thanh ngoại đạo), Phi thanh ngoại đạo... 6. Chín mươi sáu loại ngoại đạo: Trong phái Lục sư ngoại đạo mỗi người đều có 15 đệ tử, nêu ra 15 dị kiến cộng chung là 90 dị kiến; giữa pháp của thầy và pháp của đệ tử có khác nhau, vì thế 90 đệ tử cộng thêm 6 vị thầy thì thành 96 phái khác nhau, con số này được dùng để ví dụ rất nhiều thứ ngoại đạo. Kinh Niết bàn quyển 10 thì nói có 95 thứ ngoại đạo. Ngoài ra còn có các ngoại đạo khác như: Ngoại đạo thuận thế, ngoại đạo xuất gia (đối lại với ngoại đạo tại gia), ngoại đạo đồ khôi (ngoại đạo Thú chủ), ngoại đạo Phụ Phật pháp (ngoại đạo nương vào Phật giáo mà khởi tà kiến), ngoại đạo Ca bà li (Phạm: Kabarì, kết tóc), Nhị thiên tam tiên, Tam ngoại đạo, Thập tam ngoại đạo, Ngoại đạo thập nhất tông, Tam chủng ngoại đạo v.v... Trong các kinh luận, Ngoại đạo được chia làm 2 loại chính là Ngoại ngoại đạo và Nội ngoại đạo. Ngoại ngoại đạo là chỉ chung cho các loại giáo pháp và học phái ngoài Phật giáo, đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng. Còn Nội ngoại đạo thì chỉ cho những người nương vào Phật pháp mà chủ trương tà kiến, nhằm mục đích xuyên tạc để phá hoại Phật pháp, hoặc người vọng chấp 1 kiến giải trong Phật giáo, hoặc người tu hành không đúng pháp. Trong Mật giáo, Ngoại ngoại đạo đồng nghĩa với ngoại đạo theo nghĩa rộng, còn Nội ngoại đạo thì có 2 loại: Một là chỉ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác trong Phật giáo, hai là chỉ cho các tông phái thuộc Hiển giáo. [X. kinh Lăng già Q.1; luận Du già Q.6, 7; Hoa nghiêm kinh sớ Q.28; Đại nhật kinh sớ Q.19; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.10]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Lục Phái Triết Học, Lục Sư Ngoại Đạo).

Ngoại đạo lục sư

外道六師; S: ṣaṭśāstārā;|Là sáu vị giáo chủ với sáu giáo thuyết khác nhau, thịnh hành lúc Phật còn tại thế. Sáu vị này là:|1. Phú-lan-na Ca-diếp (s: pūraṇa kāśyapa; p: pūraṇa kassapa), chủ trương luận thuyết Vô đạo đức, dạy đệ tử rằng, không có một sự thật nào tuyệt đối mà con người có thể tìm được, phủ nhận luật nhân quả;|2. Mạt-già-lê Câu-xá-lê tử (s: maskarī go-śālīputra; p: makkhali gosāla) chủ trương thuyết Tự nhiên thuộc Túc mệnh luận, cho rằng mệnh của con người không tuỳ thuộc vào nghiệp quả, không liên can gì đến những hành động đang làm;|3. San-xà-dạ Tì-la-chi tử (s: sañjayī vairatī-putra; p: sañjaya belaṭṭhiputta) theo thuyết Hoài nghi, không thừa nhận tính chính xác của cái hiểu biết phổ biến. Ông chủ trương thuyết »Không thể biết đến được« (Bất khả tri), cho rằng giáo pháp và tu hành không cần thiết trong việc chứng đạt chân lí.|4. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (s: ajita keśa-kambala, p: ajita kesakambala) theo thuyết Duy vật, Khoái lạc, cho rằng sự kham nhận khổ ải nhất định đưa đến khoái lạc;|5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (s: karakuda katyāyana, p: pakudha kaccāyana) theo Cảm giác luận thuộc Vô nhân luận, cho rằng địa, thuỷ, hoả, phong, khổ, lạc, linh hồn là những yếu tố độc lập. Ông chỉ chấp nhận chân lí tuyệt đối ở một mức độ nào đó; |6. Ni-kiền-đà Nhã-đề tử (s: nirgrantha jñāti-putra; p: nigaṇṭha nātaputta) sáng lập Kì-na giáo. Ông cho rằng, khổ lạc được tạo ra từ đời trước, không thể tu mà diệt được mà phải chịu đền trả đời này.

ngoại đạo lục sư

See Lục Sư Ngoại Đạo and Lục Khổ Hạnh.

ngoại đạo lục sư ca vương

Name of the king who, thirteen years after the destruction of the jetavana vihara, which had been rebuilt “five centuries” after the nirvana, again restored it.

ngoại đạo phạm thiên

(外道梵天) Ba loại Phạm thiên mà ngoại đạo Ấn độ đời xưa nói đến: 1. Phạm thiên do trời Na la diên sinh ra: Vị Phạm thiên này sinh ra loài người (gồm 4 chủng tính) và tất cả muôn vật. Đây là thuyết của Luận sư Vi đà (Phệ đà). Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì từ trong rốn của trời Na la diên mọc ra 1 hoa sen lớn, Phạm thiên từ trong hoa sen ấy sinh ra. Phạm thiên này có khả năng sinh ra muôn vật: Từ miệng Phạm thiên sinh ra Bà la môn, từ 2 cánh tay sinh ra Sát đế lợi, từ 2 bắp đùi sinh ra Tì xá và từ 2 gót chân sinh ra Thủ đà la. Khắp mặt đất là giới trường tu phúc đức; trong nghi thức tế tự, nếu giết sinh vật để cúng dường Phạm thiên thì sẽ được Niết bàn. 2. Phạm thiên do trời Viwịu sinh ra: Vị Phạm thiên này sinh ra 8 người con và 8 người con này là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. Đây là thuyết của Luận sư Vi nữu. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 8, thời kiếp hoại, trời Viwịu xuất hiện trên mặt biển cả, có 1.000 đầu, 2.000 tay chân; từ trong rốn mọc ra hoa sen báu màu vàng ròng nghìn cánh, Phạm thiên vương ngồi kết già trong hoa sen ấy, phát ra vô lượng ánh sáng; từ trong tâm Phạm thiên vương sinh ra 8 người con, 8 người con này lại sinh ra trời đất và muôn vật. 3.Trời Ma hê thủ la là Pháp thân, trời Na la diên là Báo thân, Phạm thiên là Ứng thân. Đây là thuyết của Luận sư Ma hê thủ la. Cứ theo luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, thì Phạm thiên, Na la diên và Ma hê thủ la là cùng một thể mà chia làm 3, vì thế, muôn vật trong 3 cõi đều do trời Ma hê thủ la sinh ra, như đầu của vị trời này là hư không, thân là đất, tiểu tiện là nước. Ngoài ra, trong Phật giáo, Phạm thiên được phối với trời Sơ thiền ở cõi Sắc. Còn theo kinh A hàm và các kinh điển của Đại thừa thì Phạm thiên là vị trời thâm tín và hộ trì Phật pháp. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Đại Phạm Thiên).

ngoại đạo tam bảo

(外道三寶) Ba ngôi báu của ngoại đạo. Cứ theo Bách luận sớ quyển thượng phần trung, thì ngoại đạo cho rằng không phải chỉ có đức Phật được tôn xưng là Thế tôn (được đời tôn kính) mà các Luận sư của họ cũng có đủ nội đức, ngoại đức cũng đều được gọi là Thế tôn. Bách luận sớ có nêu 10 vị Luận sư làm thí dụ. Trong đó, 3 vị Luận sư là Ca tì la của Số luận, Ưu lâu ca của Thắng luận và Lặc sa bà của Ni kiền tử đều có thuyết pháp giảng kinh, dùng Tam bảo để hóa độ chúng sinh. Như tôn xưng Ca tì la là Phật bảo, đệ tử của ngài là Tăng bảo, và kinh Tăng khư là Pháp bảo. Ngoài ra, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 10, 3 Luận sư trên đây còn được gọi là Tam ngoại đạo và đối với thuyết Nhân quả, 3 người này đều có vọng chấp: Ngoại đạo Ca tì la vọng chấp trong nhân có quả, ngoại đạo Ưu lâu ca chấp trong nhân không quả và ngoại đạo Lặc sa bà chủ trương trong nhân cũng có quả cũng không quả.

ngoại đạo thiền

Thiền ngoại đạo hay thiền theo con đường bên ngoài Phật giáo, thí dụ như phép Yoga của Ấn Độ, phép tĩnh tọa của Khổng giáo, hay phép tĩnh tâm thực hành của Ki Tô giáo, vân vân. Một khía cạnh của thiền ngoại đạo là nó thường được thực hành để luyện các năng lực hoặc kỹ năng siêu nhiên khác nào đó ngoài tầm với của người thường, chẳng hạn như đi chân trần trên những lưỡi kiếm bén, hoặc nhìn những con chim sẽ khiến chúng trở nên tê liệt. Một khía cạnh khác của thiền ngoại đạo là thực hành để được tái sanh vào các cõi trời. Tất cả những khía cạnh nầy đều không phải là mục tiêu của thiền Phật giáo; mục tiêu tối thượng của người tu thiền Phật giáo là thành Phật—An outside way of meditation or Outsider Zen, i.e. Indian (Hindu) Yoga, the quiet sitting of Confucianism, contemplation practices in Christianity, etc. One aspect of the outsider Zen is that it is often practiced in order to cultivate various supranormal powers or skills, or to master certain arts beyond the reach of ordinary man, i.e walking barefooted on sharp sword blades or staring at sparrows so that they become paralized. Another aspect of the outsider Zen is that it is practiced to obtain rebirth in various heavens. These aspects of the outsider Zen are not the objects of Zen Buddhism; the ultimate goal of Buddhist meditators is to become a Buddha. Tiểu Thừa Thiền: Thiền Tiểu Thừa nhằm chỉ dạy chúng ta cách đưa từ trạng thái tâm nầy đến trạng thái tâm khác, thí dụ như từ mê mờ đến giác ngộ. Tuy nhiên, Thiền Tiểu Thừa chỉ chú trọng đến sự an tâm của một mình mình mà thôi. Mục đích của Thiền Tiểu Thừa là đạt được một trong tứ Thánh quả của Tiểu Thừa—Hinayana Zen or Zen of Small Vehicle. This is the vehicle or teaching that is to take you from one state of mind to another state of mind, i.e. from delusion to enlightenment. However, Zen of the Smal Vehicle looks only into one's own peace of mind. The purpose of Zen of Small Vehicle is to attain one of the four degrees of saintliness of Hinayana. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả. Đại Thừa Thiền: Thiền Đại Thừa hay là thiền được chuyên chở bằng cổ xe lớn. Đây chính là một loại thiền Phật giáo vì mục đích của nó là kiến tánh ngộ đạo trong cuộc sống hằng ngày của mình. Trong thực hành thiền Đại thừa, khởi đầu là ý thức về chân tánh, nhưng khi đã ngộ thì chúng ta mới nhận ra rằng tọa thiền còn hơn là một phương tiện để ngộ, vì tọa thiền là sự thực hiện thật sự của chân tánh. Trong Thiền Đại Thừa thì đối tượng là giác ngộ, nên người ta dễ nhận lầm tọa thiền chỉ là một phương tiện mà thôi. Kỳ thật tất cả những vị Thầy đã ngộ đạo đều cho rằng tọa thiền chính là sự thực hiện của Phật tánh vốn có chứ không phải chỉ là một kỹ thuật để đạt được sự ngộ đạo. Nếu tọa thiền không khác hơn một kỹ thuật như thế, người ta sẽ thấy rằng sau khi ngộ đạo thì tọa thiền sẽ không còn cần thiết nữa. Nhưng chính Đạo Nguyên đã chỉ rõ rằng ngược lại mới đúng, CÀNG CHỨNG NGỘ SÂU CÀNG THẤY CẦN THỰC HÀNH—Mahayana Zen or Great Vehicle Zen, this is a truly Buddhist Zen, for it has its central purpose, seeing into your essential nature and realizing the way in your daily life. In the practice of Mahayana Zen your aim in the beginning is to awaken to your true-nature, but upon enlightenment you realize that meditation is more than a means to enlightenment. It is the actualization of your true-nature. The object of the Mahayana Zen is Awakening, it is easy to mistakenly regard meditation as but a means. However, any enlightened masters point out from the beginning that meditation is in fact the actualization of the innate Buddha-nature and not merely a technique for achieving enlightenment. If meditation were no more than such a technique, it would follow that after awakening meditation would be unnecessary. But T'ao-Yuan himself pointed out, precisely the reverse is true; THE MORE DEEPLY YOU EXPERIENCE AWAKENING, THE MORE YOU PERCEIVE THE NEED FOR PRACTICE. Tối Thượng Thừa Thiền: Tối thượng thừa thiền là đỉnh cao cùng tột của thiền trong Phật giáo. Thiền nầy được thực hành bởi chư Phật trong quá khứ như Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật A Di Đà. Đây là sự biểu lộ của sự sống tuyệt đối, sự sống trong hình thức tinh khiết nhất. Đây là cách tọa thiền mà thiền sư Đạo Nguyên bênh vực, nó không dính dáng gì đến việc phấn đấu để ngộ hay đạt được bất cứ một đối tượng nào khác. Trong phương pháp thực hành cao nhất nầy, phương tiện và cứu cánh là một. Thiền Đại Thừa và Thiền Tối Thượng Thừa kỳ thật bổ sung cho nhau. Khi được thực hành đúng bạn ngồi trong niềm tin kiên định rằng tọa thiền chính là thể hiện Chân tánh không ô nhiễm của mình, và đồng thời bạn ngồi trong niềm tin trọn vẹn rằng cái ngày ấy sẽ đến, khi bạn kêu lên: “Ô, nó đây rồi!” Bạn sẽ nhận ra chân tánh nầy không lầm lẫn. Vì thế, về mặt tự thức, bạn không cần cố gắng để ngộ—Zen of the highest vehicle. This is the culmination and crown of Buddhist Zen. This Zen was practiced by all Buddhas of the past, namely Sakyamuni and Amitabha. It is the expression of the Absolute Life, life in its purest form. It is the meditation that T'ao-Yuan chiefly advocated and it involves no struggle for awakening or any other objects. In this highest practice, means and end are just one, Mahayana Zen and Zen of the highest vehicle are in fact complementary for one another. When rightly practiced, you sit in the firm conviction that meditation is the actualization of your undefiled True-nature, and at the same time you sit in complete faith that the day will come when, exclaiming “Oh, this is it!” You will unmistakably realize this True-nature. Therefore you need not self-consciously strive for enlightenment. ; (外道禪) Chỉ cho pháp thiền định còn mang tâm niệm dị chấp, tức là pháp thiền định do các ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa tu tập. Là 1 trong 5 vị thiền. Khi hành giả tu tập thiền định, tâm trụ trong dị niệm và thường khởi tâm ưa thích cảnh giới trên, nhàm chán cảnh giới dưới, gọi là Ngoại đạo thiền. [X. Thiền nguyên chư thuyên tập độ tự Q.thượng, phần 1]. (xt. Ngũ Vị Thiền).

ngoại đạo thập lục tông

(外道十六宗) Cũng gọi Thập lục dị luận, Thập lục ngoại luận, Thập lục ngoại đạo, Thập lục kế. Chỉ cho 16 tông phái của ngoại đạo Ấn độ thời xưa. Là 1 trong những cách phân loại ngoại đạo Ấn độ, do ngài Khuy cơ thuộc tông Pháp tướng căn cứ vào Thập lục dị luận được nêu trong luận Du già sư địa quyển 6, 7 và luận Hiển dương thánh giáo quyển 9, 10, có sửa đổi chút ít về tên gọi mà lập thành. Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu, 16 tông ấy là: 1. Nhân trung hữu quả tông, cũng gọi Nhân trung hữuquả luận. Tông này vọng chấp nhân của các pháp là thường hằng và đã có tính chất của quả. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thượng và Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết quyển 10, phần 1, thì đây là vọng chấp của ngoại đạo Số luận. Nhưng theo thành Duy thức luận thuật kí quyển 1, phần cuối, thì vọng chấp này là của ngoại đạo Vũ chúng. Có thuyết cho rằng ngoại đạo Số luận tức là ngoại đạo Vũ chúng. Như lúa nếp hương lấy hạt thóc nếp hương làm nhân, muốn có lúa nếp hương thì phải gieo hạt thóc nếp hương mới có, chứ không thể gieo hạt lúa mì mà mong có được lúa nếp hương, cho nên trong nhân lúa nếp hương đã có tính nếp hương. 2. Tòng duyên hiển liễu tông, cũng gọi Tòng duyên hiển liễu luận. Tông này vọng chấp thể của âm thanh hoặc pháp là thường hằng, nhưng phải nhờ các duyên mới hiểu rõ được. Đây là thuyết của ngoại đạo Thanh luận và ngoại đạo Số luận. 3. Khứ lai thực hữu tông, cũng gọi Khứ lai thực hữu luận. Tông này vọng chấp quá khứ và vị lai đều có thật chứ chẳng phải có giả, chính là Biến thường luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Đây là thuyết do ngoại đạo Thắng luận và ngoại đạo Thời luận chủ trương. 4. Kế ngã thực hữu tông, cũng gọi Kế ngã thực hữu luận. Tông này vọng chấp ngã tức uẩn, li uẩn và ngã phi tức uẩn, phi li uẩn, chấp trước ngã là có thật, là thường nhất. Cũng tức là chấp có ngã, có Tát đỏa (chúng sinh), có mệnh giả (mệnh sống), có sinh giả (người), đây là do sinh khởi Ngũ giác mà biết có ngã, là Biến thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Tất cả ngoại đạo như Số luận,Thắng luận, Li hệ, Thú chủ, Xích y, Biến xuất và Độc tử bộ của Tiểu thừa đều chủ trương thuyết này. 5. Chư pháp giai thườngtông, cũng gọi Kế thường luận. Tông này vọng chấp toàn bộ hoặc một phần các pháp là thường trụ. Cũng tức là chấp trước ngã và thế gian đều là thường trụ. Đây là Biến thường luận và Nhất phần thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Ngoại đạo Số luận chủ trương thuyết này. 6. Chư nhân túc tác tông, cũng gọi Túc tác nhân luận. Tông này vọng chấp cái khổ mà con người phải chịu ở hiện tại, đều là do nhân xấu ác đã tạo ở quá khứ. Nếu ở đời hiện tại tinh tiến tu hành, các nghiệp cũ dần dần tiêu trừ, đồng thời không tạo nghiệp mới, thì cuối cùng sẽ được giải thoát. Đây là thuyết do ngoại đạo Li hệ (Ni kiền tử) chủ trương. 7. Tự tại đẳng nhân tông, cũng gọi Tự tại đẳng tác giả luận. Tông này vọng chấp các pháp đều do trời Tự tại biến hiện ra. Tức chấp trước các pháp do trời Đại tự tại, Trượng phu, Đại phạm, hoặc do các nguyên nhân như thời, phương, không, ngã... biến hóa ra. Đây là Nhất phần thường luận trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Các Luận sư Ma hê thủ la chủ trương thuyết này. 8. Hại vi chính pháp tông, cũng gọi là Hại vi chính pháp luận. Tông này lấy việc ăn thịt và giết hại sinh vật làm chính tông. Tức các người Bà la môn vì muốn ăn thịt mà bịa ra rằng nhờ các nghi thức cúng tế, chú thuật và giết các sinh vật để cúng tế... mà người tế cũng như vật tế đều được sinh lên cõi trời! Đây là chủ trương của Bản kiếp luận giả. 9. Biên vô biên đẳng tông, cũng gọi là Hữu biên vô biên luận. Tông này vọng chấp thế gian là có biên hoặc không có biên. Đây là Hữu biên đẳng luận trong Phạm võng lục thập nhị Kiến. 10. Bất tử kiểu loạn tông, cũng gọi Bất tử kiểu loạn luận. Tông này vọng chấp Phạm thiên không chết. Nếu có người hỏi đạo thì đáp bằng những lời giả dối. Đây là Bất tử kiểu loạn luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. 11. Chư pháp vô nhân tông,cũng gọi Vô nhân kiến luận. Tông này vọng chấp các pháp đều tự nhiên sinh khởi chứ chẳng do nguyên nhân nào cả. Đây là Vô nhân luận nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến. Ngoại đạo Vô nhân chủ trương thuyết này. 12. Thất sự đoạn diệt tông, cũng gọi Đoạn kiến luận. Tông này vọng chấp rằng quả báo ở 7 nơi như: Thân chúng sinh ở cõi Dục và những người trời cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, sau khi chết đều đoạn diệt. Đây là đoạn diệt luận được nói trong Phạm võng lục thập nhị kiến do ngoại đạo Đoạn kiến chủ trương. 13. Nhân quả giai không tông, cũng gọi Không kiến luận. Tông này phủ nhận thuyết Nhân quả, vọng chấp tất cả đều là không. 14. Vọng kế tối thắng tông, cũng gọi Vọng kế tối thắng luận. Tông này vọng chấp rằng Bà la môn là chủng tộc tối thắng trong 4 chủng tộc, là con dân của Phạm vương, được sinh ra từ miệng của Phạm vương, 3 chủng tộc còn lại đều hèn kém, chẳng phải con dân của Phạm vương. 15. Vọng kế thanh tịnh tông, cũng gọi Vọng kế thanh tịnh luận. Tông này vọng chấp 5 món dục lạc mà các người trời đang thụ hưởng là hiện pháp Niết bàn, hoặc giữ gìn các giới như giới bò, giới chó, lấy việc ăn cỏ, ăn phân để cầu được giải thoát. Các ngoại đạo Hiện pháp Niết bàn và ngoại đạo Thủy đẳng thanh tịnh chủ trương thuyết này. 16. Vọng kế cát tường tông, cũng gọi Vọng kế cát tường luận. Tông này cho rằng cúng tế mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú là việc làm sẽ mang lại sự tốt lành, nhiều phúc báo... Đây là vọng kiến của ngoại đạo Lịch toán. Mười sáu tông trên đây có lẽ đã được căn cứ vào thuyết 62 kiến chấp nói trong kinh Phạm động, Trường a hàm quyển 14 mà lập ra và ngoại trừ 7 tông là: Nhân trung hữu quả, Tòng duyên hiển liễu, Chư nhân túc tác, Hại vi chính pháp, Nhân quả giai không, Vọng kế tối thắng, Vọng kế cát tường là không thấy có tông nào tương đương, còn các tông khác thì đều còn ý chỉ để lại. [X. kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.199, 200; luận Du già sư địa Q.87; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.25; luận Thập trụ tâm Q.3].

ngoại đạo thập nhất tông

(外道十一宗) Mười một tông tóm tất cả 95 thứ ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa. Đây là cách phân loại của Tổ thứ 4 tông Hoa nghiêm là ngài Trừng quán căn cứ vào 95 thứ ngoại đạo Ấn độ cổ đại được ghi trong kinh Niết bàn quyển 10 mà qui nạp thành 11 tông. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 13 (do ngài Trừng quán soạn)thì 11 tông ấy là: 1. Số luận sư: Vọng chấp từ Minh (mờ mịt) sinh ra Số, tức là tuệ. Số luận tức là từ Số khởi Luận, hoặc Luận có năng lực sinh ra Số. Nghĩa là Số luận sư vọng chấp từ Minh (tự tính) sinh ra Giác, từ Giác sinh ra tâm, cho đến 11 căn, hợp với Minh và Thần ngã mà thành 25 đế. Minh là nhân sinh ra muôn vật, Thần ngã là sự thấy biết của ngã (cái ta), còn các đế khác đều có thể biến đổi. 2. Vệ thế sư: Chấp 6 cú sinh. Vệ thế nghĩa là Vô thắng, tức là Hưu lưu tiên nhân, ra đời trước đức Phật 800 năm. Sau khi được 5 thứ thần thông (chân không chạm đất, biết tâm và mệnh số của người khác, mắt trông xa nghìn dặm, nghe gọi tên đến liền, bước đi trên vách đá không ngăn ngại), vị tiên này nói 10 vạn bài kệ, tự cho là mình đã chứng được Bồ đề, nên an nhiên nhập diệt. Lục cú sinh(6 nguyên lí sinh ra muôn vật) mà vị tiên này chấp là: -Thực (có 9 thứ): Thể của các pháp là có thật, là chỗ y chỉ của Đức nghiệp: -Đức (có 24 thứ): Tức là đạo đức. -Nghiệp (có 5 thứ): Tức là động tác, tác dụng. -Đại hữu (có 1 thứ): Nghĩa là Thực, Đức, Nghiệp đều là 1 hữu. -Đồng dị (cũng có 1): Như đất với đất là đồng (giống nhau), từ đất mà trông nước là dị (khác nhau), nước, lửa, gió cũng thế. -Hòa hợp: Do các pháp hòa hợp mà có trụ. 3. Đồ khôi ngoại đạo: Ngoại đạo Đồ khôi và các Bà la môn cùng chấp rằng thể tính của trời Tự tại (ở tầng trời thứ 6 thuộc cõi Dục) là có thật và thường hằng, có năng lực sinh ra các pháp và biến hiện ra các hình tướng trong 6 đường để giáo hóa các chúng sinh. 4. Vi đà luận sư: Vọng chấp 4 chủng tính là do trời Na la diên sinh ra. Vi đà nghĩa là Trí luận; Na la diên nghĩa là Lực sĩ Câu tỏa. Tức Luận sư Vi đà vọng chấp rằng từ nơi rốn của trời Na la diên mọc ra đóa hoa sen lớn, trên hoa sen có Phạm thiên, rồi từ miệng Phạm thiên sinh ra Bà la môn, từ 2 cánh tay sinh ra Sát đế lợi, từ 2 bắp đùi sinh ra Tì xá và từ 2 gót chân sinh ra Thủ đà la, cho nên chủng tính Bà la môn là ưu tú nhất, tôn quí nhất. 5. An đồ Luận sư: Vọng chấp Bản tế sinh. Nghĩa là ngoại đạo này chấp rằng vào lúc ban sơ (sơ tế, bản tế) ở quá khứ, trong thế gian chỉ có nước mênh mông, lênh láng, lúc bấy giờ có Đại an đồ sinh ra, hình dáng giống như quả trứng gà, sau chia làm 2 phần, phần trên là trời, phần dưới là đất, ở giữa sinh ra 1 vị Phạm thiên, rồi Phạm thiên này sinh ra hết thảy muôn vật, vì thế coi Phạm thiên là chủ sinh ra vạn hữu. 6. Thời tán ngoại đạo: Vọng chấp muôn vật do thời gian sinh ra, như cỏ cây tùy thời mà sinh hoa, kết quả, tươi tốt, khô héo, sống chết... cho nên thời là thường, là nhất. Chủ trương này thuộc về thuyết thấy quả mà biết nhân. 7. Phương luận sư: Ngoại đạo này vọng chấp 4 phương sinh ra con người, người sinh ra trời đất, sau khi tiêu diệt lại trở về 4 phương, vì thế Phương là thường, là nhất. 8. Lộ già da: Lộ già da nghĩa là Thuận thế. Tức ngoại đạo vọng chấp các pháp sắc, tâm đều do cực vi (nguyên tử)của 4 đại: Đất, nước, lửa, gió sinh ra. Cho nên cực vi là nhân sinh ra muôn vật; muôn vật vô thường, sau khi hoại diệt lại trở về 4 đại, nhưng thực thể của cực vi thì không hư nát. 9. Khẩu lực luận sư: Vọng chấp hư không là nhân sinh ra muôn vật. Nghĩa là ngoại đạo này chấp từ hư không sinh ra gió, từ gió sinh ra lửa, từ lửa sinh ra hơi nóng, từ hơi nóng sinh ra nước, nước đông cứng lại sinh ra đất, đất sinh ra ngũ cốc, ngũ cốc sinh ra mệnh sống, mệnh sống hết lại trở về hư không. 10. Túc tác luận sư: Vọng chấp khổ vui do nghiệp. Nghĩa là ngoại đạo này chấp rằng tất cả chúng sinh đều tùy theo nghiệp nhân đã tạo tác ở đời trước mà chịu quả báo khổ, vui. Nên tinh tiến giữ giới, thân tâm chịu khổ thì phá trừ được bản nghiệp, bản nghiệp đã hết thì các khổ cũng diệt, tức được Niết bàn, vì thế vọng chấp những việc đã làm ở đời trước là nguyên nhân của tất cả mọi sự vật. 11. Vô nhân luận sư: Ngoại đạo này vọng chấp hết thảy muôn vật đều tự nhiên sinh, tự nhiên diệt, không có nguyên nhân (nhân duyên) nào cả. [X. luận Du già sư địa Q.6, 7; luận Hiển dương thánh giáo Q.9, 10; luận Đại tì bà sa Q.11, 12]. (xt. Ngoại Đạo).

ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận

(外道小乘涅槃論) Cũng gọi Đề bà bồ tát thích Lăng già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận, Phá ngoại đạo tiểu thừa niết bàn luận, Phá ngoại đạo niết bàn luận. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Đề bà người Ấn độ soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ luận thuộc Đại thừa, nội dung căn cứ vào những kiến chấp về Niết bàn của ngoại đạo được nêu ra trong kinh Lăng già a bạt đa la bảo quyển 3, phẩm Niết bàn trong kinh Nhập lăng già quyển 6 và kinh Nhập đại thừa lăng già quyển 4... mà giải thích và bác bỏ những kiến chấp ấy. [X. Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Nhị Thập Chủng Ngoại Đạo).

ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận

(外道小乘四宗論) Cũng gọi Đề bà bồ tát phá Lăng già kinh trung ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận, Phá ngoại đạo tiểu thừa tứ tông luận, Phá ngoại đạo tứ tông luận. Tác phẩm, 1 quyển, do bồ tát Đề bà người Ấn độ soạn, ngài Bồ đề lưu chi dịch vào đời Hậu Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Đây là bộ luận thuộc đại thừa. Nội dung nhằm luận phá vọng chấp các pháp là 1, là khác, là câu, bất câu v.v... do ngoại đạo và Tiểu thừa chủ trương. Bốn tông thuộc ngoại đạo và Tiểu thừa được nói trong sách này là chỉ cho: 1. Luận sư Tăng khư chấp trước tất cả pháp là một. 2. Luận sư Tì thế sư chấp trước tất cả pháp là khác. 3. Luận sư Ni kiền tử chấp trước tất cả pháp đều cùng (câu) tồn tại chứ chẳng phải tồn tại riêng lẻ. 4. Luận sư Nhã đề tử chấp trước tất cả pháp chẳng phải cùng nhau (bất câu) tồn tại, mà có tính chất đối đãi. Bốn tông trên đây thuộc 1 trong 4 kiến chấp của ngoại đạo. Bồ tát Đề bà căn cứ theo nội dung kinh Nhập lăng già quyển 3 mà soạn sách này, là tác phẩm anh em với luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn. Nhưng, cứ theo Đề bà bồ tát truyện thì Đề bà có soạn Bách luận 20 phẩm và Tứ bách luận để bác bỏ tà kiến của ngoại đạo, mà không thấy đề cập gì đến việc ngài soạn luận Ngoại đạo tiểu thừa tứ tông này. [X. Bách luận sớ Q.trung, phần trên; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.6]. (xt. Ngoại Đạo Tứ Chấp).

ngoại đạo tương thiện

(外道相善) Chỉ cho quán hạnh mà ngoại đạo tu tập. Tướng thiện có 2 nghĩa: 1. Nghĩa tương tự: Sáu hành quán mà ngoại đạo tu tập giống với pháp quán của Bồ tát trong Phật giáo, nhưng giống chứ chẳng phải, vì thế quán hạnh của họ chỉ thuộc thiện tương tự chứ chẳng phải thiện chân chính. 2. Nghĩa tướng, trước tướng: Pháp quán của ngoại đạo tuy là thiện, nhưng vẫn không thấu suốt lí nhân không, pháp không, cho nên quán hạnh của họ thuộc thiện trước tướng chứ chẳng phải thiện lìa tướng, phá tướng.

ngoại đạo tứ chấp

(外道四執) Cũng gọi Ngoại đạo Tứ tông, Ngoại đạo Tứ kiến, Ngoại đạo Tứ kế, Tứ chủng ngoại đạo, Tứ kiến, Tứ chấp. Bốn loại kiến chấp của ngoại đạo Ấn độ đời xưa đối với những vấn đề như: Các pháp là 1 hay khác, thường hay vô thường, nhân quả có hay không v.v... được trình bày như sau: 1. Bốn kiến chấp về một, khác: a) Vọng chấp các pháp là một, tức chấp hết thảy pháp là đồng nhất. Như chủ trương của ngoại đạo Số luận. b) Vọng chấp các pháp là khác, tức chấp hết thảy pháp là sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Thắng luận. c) Vọng chấp các pháp cũng một cũng khác, tức chấp hết thảy pháp cũng đồng nhất, cũng sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Ni kiền tử. d) Vọng chấp các pháp chẳng phải một chẳng phải khác, tức chấp hết thảy pháp chẳng phải là đồng nhất, chẳng phải sai biệt. Như chủ trương của ngoại đạo Nhã đề tử và ngoại đạo Tà mệnh. Nhưng luận Ngoại đạo tiểu thừa tứ tông thì cho rằng: a) Vọng chấp tất cả pháp là một, tức cho rằng 2 tướng ngã và giác không lìa nhau, nhân và quả cũng thế. Đây là thuyết của ngoại đạo Tăng khư. b) Vọng chấp tất cả pháp là khác, tức cho rằng ngã và trí, năng và sở đều khác. Như thuyết của ngoại đạo Tì thế sư luận sư. c) Vọng chấp tất cả pháp là cùng (câu), tức cho rằng hết thảy pháp đều cùng nhau tồn tại chứ không phải tồn tại đơn lẻ, đồng nghĩa với thuyết cũng một cũng khác. Đây là chủ trương của ngoại đạo Ni kiền tử luận sư. d) Vọng chấp tất cả pháp không cùng (bất câu), tức cho rằng hết thảy pháp không cùng nhau tồn tại mà có tính chất tương đối, đồng nghĩa với thuyết chẳng phải một chẳng phải khác như chủ trương của ngoại đạo Nhã đề tử luận sư. 2. Bốn kiến chấp về thường, vô thường: a) Vọng chấp tất cả pháp thế gian đều là thường hằng. b) Vọng chấp tất cả pháp thế gian đều là vô thường. c) Vọng chấp tất cả pháp thế gian cũng thường cũng vô thường. d) Vọng chấp tất cả pháp thế gian chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Luận Đại trí độ quyển 7 (Đại 25, 110 thượng) nói: Lại có 4 thứ kiến chấp: Thế gian là thường, thế gian là vô thường, thế gian cũng thường cũng vô thường, thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường, ngã và thế gian có biên không biên cũng như thế. Cũng có kiến chấp cho rằng sau khi chết là mất, hoặc sau khi chết không mất, hoặc sau khi chết là mất là chẳng mất, hoặc sau khi chết cũng chẳng phải mất chẳng phải chẳng mất. Trong đó, 4 câu Thế gian là thường... là Biến thường luận và Nhất phần thường luận nói trong kinh Phạm võng lục thập nhị kiến; 4 câu Hữu biên vô biên... là Hữu biên đẳng luận; 4 câu Sau khi chết là mất... là Hữu tưởng luận, Vô tưởng luận, Đoạn diệt luận. 3. Bốn kiến chấp về tức, li của ngã và uẩn: Theo luận Du già sư địa quyển 65, thì 4 kiến chấp ấy là: a) Vọng chấp ngã tức là các uẩn. b) Vọng chấp ngã khác với các uẩn nhưng ở trong các uẩn. c) Vọng chấp ngã chẳng phải tức uẩn, mà là khác với các uẩn, lìa uẩn, chẳng phải ở trong uẩn mà ở trong các pháp khác. d) Vọng chấp ngã chẳng phải tức uẩn mà là khác với các uẩn, lìa uẩn chẳng phải ở trong uẩn cũng chẳng phải ở trong bất cứ pháp nào khác, cũng không tương ứng với tất cả uẩn. 4. Bốn kiến chấp về nhân quả có, không: a) Vọng chấp tà nhân tà quả: Như ngoại đạo Đại tự tại thiên chấp muôn vật đều do trời Đại tự tại sinh ra, nếu trời Đại tự tại vui thì 6 đường (trời, người, a tu la, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) đều vui; nếu trời Đại tự tại tức giận thì 4 loài (loài đẻ bọc, loài đẻ trứng, loài đẻ ở nơi ẩm ướt, loài hóa sinh) đều khổ. b) Vọng chấp không nhân có quả: Các ngoại đạo Thường kiến, Vô nhân tìm hiểu tận cùng muôn vật, phát hiện ra rằng sự sống hiện tại của muôn vật không cần nương vào vật khác, rồi vọng chấp muôn vật đều tự nhiên mà có chứ chẳng cần quan hệ nhân quả nào cả. c) Vọng chấp có nhân không quả: Ngoại đạo Đoạn kiến chấp trước chỉ có nhân ở hiện tại chứ không có quả tái sinh ở đời sau, như cỏ cây chỉ sống trong 1 thời kì, sau đó thì chết là hết. d) Vọng chấp không nhân không quả: Ngoại đạo này hoàn toàn không tin luật nhân quả, cho rằng con người chẳng phải chịu quả đời sau, cũng không có nhân hiện tại. 5. Bốn kiến chấp về khổ do mình tự tạo, do người khác gây ra: a) Vọng chấp khổ do chính mình tự tạo lấy. b) Vọng chấp khổ trong 6 đường là do trời Đại tự tại gây ra. c) Vọng chấp khổ do chúng sinh cùng tạo tác. d) Vọng chấp tự nhiên mà có khổ chứ chẳng vì nguyên nhân nào. Ngoài ra, tông Tam luận căn cứ vào nghĩa không, hữu của các pháp mà lập ra thuyết Nội ngoại đạo tứ chấp (cũng gọi Tứ tông), cho rằng tất cả ngoại đạo, tông Tì đàm, tông Thành thực và Đại chấp... đều là những tông phái chấp chặt vọng kiến. [X. luận Nhập đại thừa Q.thượng; luận Du già sư địa Q.6, luận Hiển dương thánh giáo Q.9; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Trung quán luận Q.3 phần đầu; Bách luận sớ Q.1,7]. (xt. Tứ Tông, Ngoại Đạo).

ngoại đạo vấn phật

(外道問佛) Cũng gọi Ngoại đạo vấn Phật hữu vô, Ngoại đạo lương mã tiên ảnh, Thế tôn lương cửu. Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc đức Phật im lặng để khai thị cho 1 ngoại đạo. Bích nham lục tắc 65 (Đại 48, 195 trung) chép: Có ngoại đạo hỏi Phật: Không hỏi lời có, chẳng hỏi lời không. Đức Thế tôn im lặng hồi lâu. Ngoại đạo khen rằng: Thế tôn đại từ đại bi, gạt đám mây u mê cho con, khiến con được ngộ nhập. Sau khi ngoại đạo kia đi rồi, tôn giả A nan hỏi đức Phật: Ngoại đạo ấy chứng được pháp gì mà nói được ngộ nhập? Phật trả lời: Như con ngựa hay, thoáng thấy bóng cái roi là chạy liền. Ngoại đạo dùng câu không hỏi lời có, chẳng hỏi lời không để thăm dò đại ý Phật pháp, đây là cách thăm dò có ác ý, muốn dồn đối phương vào tình huống tiến thoái lưỡng nan. Bởi vì, nếu đức Phật dùng lời gì mà đáp đi nữa thì cũng khó tránh khỏi rơi vào 2 cực có, không mà sẽ là cơ hội tốt cho ngoại đạo chụp lấy để vấn nạn, cho nên đức Phật chỉ giữ im lặng. Đứng về phương diện diệu chỉ chân thực của Phật pháp, thái độ im lặng ấy đã siêu việt cảnh giới có, không tương đối, không mảy may ô nhiễm. Cái diệu dụng của sự im lặng ấy đã hiện toàn linh cơ, chẳng những đã hóa giải được cái nguy cơ giảo hoạt của ngoại đạo kia, mà còn vận dụng một cách tự tại nêu tỏ đại ý của Phật pháp, vì thế trong lòng ngoại đạo thành thực thán phục mà khen ngợi đức Phật. [X. Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.2; Thiền tông vô môn quan tắc 32; Tông môn thống yếu tập tục Q.1].

ngoại đề

(外題) Tên của bộ kinh hoặc sách được ghi ở ngoài bìa. Như kinh Diệu pháp liên hoa (bản 8 quyển), từ quyển 1 đến quyển 8, ngoại đề của 8 quyển có tất cả 64 chữ, gọi là Ngoại đề lục thập tứ tự. Còn tên kinh được viết ở trang đầu phía trong bìa thì gọi là Nội đề. Ngoài ra, trên Ngoại đề có vẽ kí hiệu . .rất giống chữ... (dĩ) nên gọi là Ngoại đề dĩ tự. (xt. Dĩ Tự Điểm, Đề Hiệu).

ngoạm

To snap—To bite.

ngoạn

To make an excursion.

ngoạn cảnh

To enjoy scenery.

ngoạn mục

Pleasant to the eyes.

ngoạn thạch điểm đầu

Kinh Niết Bàn một khi được thuyết giảng thì ngay cả đá cũng phải gật đầu (theo Liên Xã Cao Hiền Truyện, thì ngài Trúc Đạo Sinh vào núi Hổ Khâu xếp đá làm học trò cho ngài giảng kinh Niết Bàn, các hòn đá đều cảm động gật đầu. Ngày nay muốn diễn đạt ý đã cảm hóa được người ta một cách sâu sắc thì gọi là Ngoan Thạch Điểm Đầu)—Moved by the reciting of the Mahaparinirvana Sutra, even the stupid stones nodded their heads.

ngoắt

To wave—To beckon.

ngoắt ngoéo

Complicated.

ngoằn ngoèo

Winding (zigzag).

ngu

Monkey-witted—Silly—Stupid—Ignorant.

Ngu Am Trí Cập

(愚庵智及, Guan Chikyū, 1311-1378): vị tăng của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, tự là Dĩ Trung (以中), hiệu Ngu Am (愚庵), thông xưng là Tây Lộc (西麓), xuất thân Huyện Ngô (呉縣), Tô Châu (蘇州, Tỉnh Giang Tô), họ Cố (顧). Ông đến xuất gia tại Hải Vân Viện (海雲院), học nội ngoại điển, rồi thọ Cụ Túc giới và chuyên học về giáo lý Hoa Nghiêm. Sau đó, ông đến Kiến Nghiệp (建業, Tỉnh Giang Tô), theo thọ giáo với Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) ở Đại Long Tường Tập Khánh Tự (大龍翔集慶寺). Có lần ông trở về Hải Vân Viện, nhưng rồi lại ngao du đó đây, đến tham yết Tịch Chiếu Hành Đoan (寂照行端) ở Kính Sơn (徑山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 2 (1342) niên hiệu Chí Chánh (至正), ông bắt đầu khai đường thuyết giáo ở Long Giáo Thiền Tự (隆敎禪寺) vùng Khánh Nguyên Lộ (慶元路, Tỉnh Triết Giang) và sống qua một số chùa khác như Phổ Từ Thiền Tự (普慈禪寺), Tịnh Từ Báo Ân Thiền Tự (淨慈報恩禪寺) ở Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang), Hưng Thánh Vạn Thọ Thiền Tự (興聖萬壽禪寺) ở Kính Sơn. Đến năm thứ 6 (1373) niên hiệu Hồng Võ (洪武), ông là người dẫn đầu trong số 10 vị Sa Môn cao đức tập trung tại Đại Thiên Giới Tự (大天界寺) trên kinh đô. Vào ngày mồng 4 tháng 9 năm thứ 11 cùng niên hiệu trên, ông thị tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời, 51 hạ lạp và được ban cho hiệu là Minh Biện Chánh Tông Quảng Huệ Thiền Sư (明辨正宗廣慧禪師). Ông có bộ Ngu Am Trí Cập Thiền Sư Ngữ Lục (愚庵智及禪師語錄) 10 quyển.

ngu dại

Foolish—Stupid.

ngu hoặc

Mê hoặc bởi vô minh—Deluded by ignorant, the delusion of ignorance.

ngu kiến

My humble (modest) opinion.

ngu muội

Ignorance.

ngu ngốc

(愚禿) I. Ngu Ngốc. Ngu là không thông minh, là lời tự khiêm; Ngốc là đầu trọc, sói tóc, cạo trọc đầu. Từ ngữ này vốn được ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa dùng để châm biếm các vị sa môn. Kinh Tì bà lăng kì trong Trung a hàm quyển 12 (Đại 1, 500 thượng) nói: Ta không muốn trông thấy sa môn trọc đầu (Ngốc đầu sa môn). Về sau, ngay trong Phật giáo, những vị tăng phá giới cũng thường bị chê bai là Ngu ngốc (kẻ ngu trọc đầu), Ngốc cư sĩ (cư sĩ trọc đầu). Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 3 (Đại 12, 383 hạ) nói: Kẻ phá giới không giữ pháp, gọi là Ngốc cư sĩ. Từ thời Trung cổ về sau, các vị tăng Nhật bản thường tự xưng là Ngu ngốc, nên nó đã trở thành 1 trong những lời khiêm xưng chung của giới tăng sĩ, đồng nghĩa với các từ ngữ: Bần đạo, Chuyết tăng (tăng quê mùa vụng về)v.v... II. Ngu Ngốc. Biệt hiệu của ngài Thân loan, vị tăng Nhật bản, hàm ý tự cho mình chẳng phải tăng chẳng phải tục. Sau khi dời đến Bắc quốc, ngài Thân loan dùng tên: Ngu ngốc Thích Thân loan.

ngu ngốc sao

(愚禿鈔) Cũng gọi Nhị quyển sao. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Thân loan, người Nhật soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Sách này có thể được xem là tác phẩm phán thích giáo tướng của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Sách chủ trương thuyết Nhị song tứ trùng, chia Phật giáo thành Đại thừa, Tiểu thừa. Đại thừa lại được chia thành Đốn giáo và Tiệm giáo; Đốn giáo lại được chia ra Nan hành, Dị hành và Hoành siêu, Thụ siêu. Còn Tiệm giáo thì được chia thành Nan hành, Dị hành và Hoành xuất, Thụ xuất.

ngu nhạc

(娛樂) Ca nhạc vui thú. Ở Ấn độ từ khi đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay, giáo đoàn Tỉ khưu phải tuân theo giới cấm không được xem, nghe múa hát, hòa nhạc, diễn kịch v.v... mà chỉ được phép tán tụng theo nhịp, phối hợp với câu văn dạy đạo. Cho mãi đến khoảng trước sau Tây lịch kỉ nguyên, khi Phật giáo Đại thừa hưng khởi thì mới cho sử dụng những phương thức âm nhạc, hợp xướng, kịch nghệ v.v... để cúng dường, lễ bái tháp Phật. Ngài Mã minh (Phạm: Azvaghowa), 1 thi nhân của Phật giáo Đại thừa, là người giỏi cả thơ và nhạc, ngài từng soạn vở kịch Lại tra hòa la (Phạm:Rawỉrapàla) rất nổi tiếng. Tương truyền, sau khi xem diễn vở kịch này, có 500 vương tử thế phát xuất gia. Tại Trung quốc, vào đời Đường, chùa viện đã là trung tâm văn hóa, đồng thời, cũng là nơi vui chơi của dân chúng. Trong tác phẩm Nam bộ tân thư của mình, ông Tiền hi bạch nói rằng nơi vui chơi phần nhiều tập trung ở chùa Từ ân, một bộ phận nhỏ ở chùa Thanh long, kế đến là chùa Phúc tiến và chùa Vĩnh thọ. Hơn nữa, chùa viện thường được xây cất ở những nơi danh thắng, có vườn hoa, cảnh đẹp, cây cối um tùm nên thu hút rất đông khách du ngoạn, như các chùa Từ ân, Hưng đường, Hưng thiện... nhờ có trồng hoa mẫu đơn, mà danh tiếng vang xa. Đến đời Tống, hàng năm, các chùa viện đều có các cuộc lễ lớn, dân chúng thôn quê cũng như thành thị thường tập trung rất đông để lễ bái tụng kinh mà cũng để vui chơi. Trong những dịp như thế, phương thức bàn về truyện cổ, trong đó có diễn nói Phật pháp, thường được sử dụng để giáo hóa dân chúng về mặt đạo đức. Tại Nhật bản, vào năm Thiên bình thắng bảo thứ 4 (752), nhân dịp cử hành lễ cúng dường khai nhãn Đại Phật ở chùa Đông đại, có diễn vở kịch đeo mặt nạ (kĩ nhạc)từ Ấn độ truyền đến. Các chùa khác cũng thường tấu nhạc Cao li, nhạc Bột hải để giúp vui dân chúng. Niệm Phật dũng (vừa niệm Phật vừa nhún nhảy theo nhịp điệu) do Không dã thượng nhân sáng chế, về sau diễn biến thành Dũng niệm Phật của Nhất biến thượng nhân và được phổ cập toàn quốc. Niệm dũng có tính chất tông giáo này về sau lại sinh ra những hình thức Lục trai niệm Phật, Đăng lung dũng, Bào trai niệm Phật, Cát tây niệm Phật, Lộc đảo dũng v.v... trong đó, một vài loại vẫn còn tồn tại đến nay. Ngoài ra, Niệm Phật dũng đại thành là nhờ ca vũ kĩ nước Xuất vân a sáng chế, là 1 trong những hình thức vui chơi của dân chúng ở thời đại Giang hộ. Niệm Phật dũng bắt đầu từ thời Thất đinh và thịnh hành vào thời đại Giang hộ, là hình thức âm nhạc rất được các vũ sĩ cũng như dân chúng thành thị đương thời xem trọng. Về chủ đề cũng như lời nhạc phần lớn là lấy tài liệu trong Phật giáo; âm điệu, tiết tấu cũng lấy Phạm bái và thanh minh của Phật giáo làm cơ sở. Các hình thức Ngu nhạc như Bồn dũng, Phật giáo song lục... thịnh hành trong dân gian vào thời đại Giang hộ, đều lấy nội dung giáo pháp Phật giáo làm nền tảng.

ngu phu

Bala (skt).

ngu phu sở hành thiền

Balopacarikam (skt)—Theo Kinh Lăng Già, đây là một trong bốn thứ Thiền định. Dù người thực hành loại Thiền định nầy bị xem là kẻ ngu si kém trí, đây vẫn là một loại Thiền thông dụng mà phần đông người ta thực tập, trong đó có cả những người thông minh và nhạy trí. Tuy nhiên, Đại Thừa còn đi xa hơn các loại Thiền định nầy là những thứ vốn ít nhiều vẫn có tính cách tương đối, thiếu tự nhiên và không phải là loại tối thượng; vì loại Thiền nầy chú trọng về quán bất tịnh, về sự vô thường của các sự vật và về những khổ đau của cuộc đời, vân vân, là bài học đầu tiên cho những người mới nhập môn Phật giáo—According to the Lankavatara Sutra, this is one of the four kinds of Dhyanas. Though he is regarded as ignorant or dull-witted (bala) who practices this kind of Dhyana, this is the ordinary form of meditation carried on by most people, some of whom are quiteintelligent and sharp-witted. However, the Mahayana goes beyond these meditations which are more or less relative and artificial and not of the highest sort; for meditating on impurities, the impermanence of things, sufferings of life, etc., is the first lesson for the beginners of Buddhism.

ngu phu sở hạnh thiền

(愚夫所行禪) Nhóm từ biếm xưng Thiền do ngoại đạo và hàng nhị thừa Thanh văn, Duyên giác tu tập, là 1 trong 4 loại thiền nói trong kinh Lăng già. Ngoại đạo và 2 thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ biết quán xét về lí Nhân không như: Vô ngã, vô thường, bất tịnh... chứ không biết gì về cảnh giới Pháp không, cho nên bị chê là Ngu phu sở hành thiền (Thiền do người ngu tu hành). [X. kinh Lăng già Q.2 (bản 4 quyển)]. (xt. Tứ Thiền).

ngu pháp

Còn gọi là Tiểu Thừa Ngu Pháp, một trong hai loại Tiểu Thừa, Thanh Văn và Duyên Giác, chỉ mê chấp ở ngu pháp mà không hiểu được diệu lý pháp không của Đại Thừa—Ignorant, or immature law, or method, i.e. that of sravakas and pratyeka-buddhas, Hinayana.

ngu pháp bất ngu pháp

(愚法不愚法) Cũng gọi Ngu pháp nhị thừa Bất ngu pháp nhị thừa, Ngu pháp Thanh văn Bất ngu pháp Thanh văn. Tức là hàng Tiểu thừa ngu pháp và hàng Tiểu thừa Bất ngu pháp. Tiểu thừa ngu pháp là chỉ cho 2 thừa Thanh văn, Duyên giác ngu về lí pháp không của Đại thừa. Vì hàng Nhị thừa này chỉ chứng sinh không mà chấp trước pháp có, không biết về chân lí nhị không (nhân không, pháp không), của Đại thừa, cho nên bị chê là Ngu pháp. Còn Tiểu thừa bất ngu pháp là chỉ cho Thanh văn, Duyên giác vừa chứng được lí Tiểu thừa lại vừa hiểu được lí Đại thừa. Như vậy, tuy cũng là Tiểu thừa nhưng tâm hiểu biết có hơn kém khác nhau. Do đó có thể hồi chuyển tâm Tiểu thừa hướng vềĐại thừa, cho nên cũng gọi là Hồi tâm tiểu thừa(Hồi tâm nhị thừa). Trong 5 phán giáo của Đại sư Hiền thủ,loại này được liệt vào hàng Đại thừa thủy giáo. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q1; Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối (Tịnh ảnh); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

Ngu Quản Sao

(愚管抄, Gukanshō): bộ Sử Luận đầu tiên của Nhật được viết vào đầu thời đại Liêm Thương, do vị tăng của Thiên Thai Tông là Từ Viên (慈圓, Jien) trước tác, gồm 7 quyển, được thành lập vào khoảng năm 1220 (Thừa Cửu [承久] thứ 2), thời kỳ triều đình và chính quyền Mạc Phủ đang khẩn trương cao độ; ngay trước khi xảy ra vụ Loạn Thừa Cửu; và sau vụ loạn thì được tu chỉnh thêm. Đây là thư tịch giải thích về lịch sử kể từ thời Thần Võ Thiên Hoàng (神武天皇, Jimmu Tennō) cho đến Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, 1197-1242) qua thế giới quan Phật Giáo, và thuyết minh về sự biến thiên của chính trị Nhật Bản với tính cách triển khai về mặt đạo lý.

ngu si

Mudha (skt)—Tiếng Phạn là Mộ Hà, có nghĩa tâm tính ám muội, hay vô minh và không giác ngộ, không có trí sáng suốt để thông đạt sự lý (còn gọi là vô trí, vô kiến, vô hiện quan, hôn muội, ngu si, vô minh, và hắc ám)—Thick-skulled (headed)—Stupid—Ignorant and unenlightened. ; (愚痴) Phạm: Moha, Mùđha. Cũng gọi Si, Vô minh. Không có trí sáng suốt, ngu tối mê muội, gặp việc không thể phán đoán đúng đắn, là 1 trong 6 phiền não căn bản, cũng là 1 trong 3 độc (tham, sân, si). [X. luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.11].

ngu si tam chủng phát tướng

(愚痴三種發相) Ba tướng ngu si phát sinh lúc hành giả tu tập Thiền định. Cứ theo Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn, 3 tướng ấy là: 1. Kế đoạn thường si tướng: Lúc hành giả đang tham thiền, chợt nảy sinh ra ý nghĩ phân biệt mình và các pháp là đoạn diệt hay thường trụ; ý nghĩ ấy cứ lởn vởn mãi trong đầu óc, đến nỗi chướng ngại pháp chính định xuất thế . 2. Kế hữu vô si tướng: Lúc hành giả đang tu định, bỗng sinh khởi ý tưởng phân biệt mình và các pháp là có hay không, tâm kiến chấp liền dấy động, làm chướng ngại chính định. 3. Kế thế tính si tướng: Lúc hành giả đang tu định, thình lình khởi tâm suy nghĩ, phân biệt tứ đại, ngũ uẩn, giả danh chúng sinh và các thế giới, dùng trí biện biệt hay hỏi hay nói, tranh cãi đúng sai, lìa đạo chân thực, vì chấp trước tính thế gian như thế nên cản trở chính định.

ngu si trai

(愚痴齋) Trai hội do Thiền sư Động sơn Lương giới thiết lập lúc sắp nhập tịch để ngăn dứt tình cảm luyến chấp của đệ tử. Lương giới truyện trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 15 (Đại 51, 323 trung) chép: Tháng 3 năm Hàm thông thứ 10 (869), đời Đường, sư sai người cạo tóc, mặc áo và bảo đánh chuông, rồi nghiễm nhiên ngồi thị tịch. Khi ấy, vì không ngăn được thường tình nên đại chúng gào khóc vang động, sư bỗng mở mắt đứng dậy và nói: Phàm người xuất gia, tâm không phụ thuộc vào vật mới là bậc tu hành chân chính. Chấm dứt cuộc sống nhọc nhằn, có gì mà bi thương? Rồi sư gọi vị tăng chủ sự bảo sửa soạn 1 bữa cơm chay, gọi là Ngu si trai, để trách tình cảm quyến luyến. Đại chúng vẫn luyến mến không thôi, kéo dài đến ngày mồng 7, thức ăn làm đầy đủ, sư cũng theo chúng thụtrai. Ăn xong, sư nói: Các ông chớ xem thường việc lớn, lúc ta sắp lên đường, không được làm náo động như thế! Đến ngày mồng 8, sau khi tắm gội xong, sư ngồi ngay ngắn thị tịch.

ngu tăng

Vị tăng bị vô minh khống chế—Ignorant monk.

ngu xuẩn

Foolish—Stupid.

ngu đường đông thật

(愚堂東實) Thiền sư Nhật bản thuộc Tông Lâm tế, người Mĩ nùng, huyện Kì phụ. Sư xuất gia năm 13 tuổi, du phương tham học các nơi, rồi xây dựng các chùa Chính truyền, chùa Đại tiên ở Mĩ nùng. Sau, sư trụ ở chùa Diệu tâm ở Kinh đô (Kyoto), rất được triều đình tín nhiệm. Sư lại đến Giang hộ, ở đây, tướng quân Đức xuyên Gia khang qui y sư, là nhân vật quan trọng của tông Lâm tế ở thời kì Giang hộ. Niên hiệu Khoan văn năm đầu (1661) sư thị tịch, thọ 83 tuổi. Vua ban thụy hiệu Đại Viên Bảo Giám Quốc Sư. Sư có các tác phẩm: Thiên trạch đông dận lục, Ngữ lục. [X. Chính pháp sơn chí Q.6; Bản triều cao tăng truyện Q.44].

ngu đồng trì trai tâm

(愚童持齋心) Tâm tin rằng đạo lí nhân quả thế gian và sự trì trai là thiện, rồi dốc lòng làm theo. Là tâm thứ 2 trong 10 Trụ tâm do ngài Không hải, người Nhật, lập ra, tức là Trụ tâm của nhân thừa tu tam qui, ngũ giới, thập thiện và tam cương, ngũ thường... Ngu đồng ví dụ người ngu si không trí, tức chỉ chung cho phàm phu trong 6 đường không được Thánh trí vô lậu. Trì trai là phát khởi tâm thiện, thụ trì trai giới, không ăn quá ngọ, lấy đó hồi hướng cho các thân hữu. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 2 trung) nói: Ngu đồng phàm phu giống như con dê đực, 1 lúc nào đó, chợt nghĩ đến trì trai, sinh tâm vui mừng rồi luôn luôn tu tập: Đó là hạt giống thiện nghiệp ban đầu phát sinh. Lại lấy đó làm nhân, trong 6 ngày trai, hồi hướng cho cha mẹ, anh chị em thân thuộc, là mầm giống thứ hai. Lại lấy đây ban cho những người không quen biết, là mộng chồi thứ ba. Lại đem thí này dâng cho các bậc có khí lượng cao cả, là cành lá thứ tư. Lại đem thí này cho người kĩ nhạc và hiến dâng các bậc tôn túc, là hoa nở thứ năm. Lại đem thí này phát tâm thân ái mà cúng dường, là thành quả thứ sáu. Đó là tâm ngu đồng trì trai, tuy còn mờ tối, không được vô lậu, nhưng cũng không mất cái mầm mống của tâm thiện cõi người, vì hạt giống thiện gặp được mưa móc, liền có thể nảy mầm, phát sinh cành lá và khai hoa kết quả. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2; luận Thập trụ tâm Q.2].

ngu độn

Vô minh và đần độn—Ignorant and dull-witted.

ngu độn niệm phật

(愚鈍念佛) Chỉ cho người độn căn ngu si, chỉ biết tin vào bản nguyện của đức Phật A di đà và chí thành niệm danh hiệu của Ngài mà được vãng sinh Tịnh độ. Đây là chủ trương của ngài Nguyên không thuộc Tịnh độ chân tông Nhật bản. Vì chúng sinh ở đời mạt pháp nhơ đục, căn cơ yếu kém, không kham được những hạnh nghĩa giải, trì giới, quán tưởng... nên cần dốc lòng tin vào bản nguyện của Phật A di đà để được cứu độ. Chẳng những người ngu độn mà cả những người lợi căn, cũng nên dứt hết các duyên tư lự phân biệt, làm hạnh ngu si, để niệm Phật cầu vãng sinh. (xt. Niệm Phật).

nguy tú

(危宿) Phạm: Zata-bhiwà. Cũng gọi Thiết đa tì sái, Bách dược, Bách độc tú. Sao Nguy, được đặt ở phía bắc của Ngoại viện trong Bắc đẩu mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Một trong 28 sao. Cứ theo kinh Tú diệu quyển thượng, thì vì sao này chỉ có 1 sao, tức là thần Bà lỗ noa (Phạm:Varuịa, Thủy thiên). Trong Bắc đẩu mạn đồ la, hình tượng của vị tôn này là vị tiên có thân màu vàng, quấn áo trời, tay phải dựng lên để ở trước ngực, ngón giữa và ngón vô danh co lại, ngửa lòng bàn tay trái đặt ở trước rốn, cầm chiếc bát nhỏ, ngồi bán già trên tòa tròn. Hình tam muội da là ngôi sao trên hoa sen. Khế ấn dùng ấn chung của 28 sao. Chân ngôn là: Qui mệnh Thiết đa tì sái (Zata-bhiwà) na khất xoa đa la (nakwatra, sao) sa bà hạ. Hoặc dùng chân ngôn chung của 28 sao. [X. kinh Xá đầu gián Thái tử nhị thập bát tinh tú]. (xt. Nhị Thập Bát Tú).

Nguyên

源; C: yuán; J: gen;|1. Suối nguồn, giếng phun; 2. Khởi nguyên, nguồn, nguyên do.

nguyên chiếu

(元照) (1048-1116) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Dư hàng (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), tự Trạm nhiên, hiệu An nhẫn tử. Sư xuất gia năm 18 tuổi, theo ngài Thần ngộ Xử khiêm học giáo quán Thiên thai, nhưng tâm chí sư chú trọng Luật học. Sau, sư lễ ngài Quảng từ thụ giới Bồ tát, nối pháp ngài Doãn kham thuộc Luật tông Nam sơn. Khoảng năm Nguyên phong (1078- 1085), sư trụ trì chùa Chiêu khánh, hoằng truyền giới luật. Lúc về già, sư dời đến Linh chi, trụ 30 năm, người đương thời tôn xưng sư là Linh chi tôn giả. Năm Chính hòa thứ 6 (1116), sư thị tịch, thọ 69 tuổi, thụy hiệu Đại Trí Luật Sư. Sư để lại tác phẩm: Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí và các sách chú thích kinh Quán Vô lượng thọ và kinh A di đà. [X. Thích môn chính thống Q.8; Linh chi Sùng phúc tự kí; Hàm thuần lâm an chí Q.79].

Nguyên Chính

(元政, Gensei, 1623-1668): học Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ, nhà Hán Thi, húy là Nhật Chính (日政), Nhật Như (日如), Nhật Phong (日峰); thông xưng là Thâm Thảo Hòa Thượng (深草和尚), Thảo Sơn Nguyên Chính (草山元政); tự Nguyên Chính (元政), hiệu là Diệu Tử (妙子), Bất Khả Tư Nghì (不可思議), Thái Đường (泰堂), Hà Cốc Sơn Nhân (霞谷山人), Huyễn Sanh (幻生), v.v.; xuất thân vùng Kyoto, con trai thứ 5 của Thạch Tỉnh Tông Hảo (石井宗好). Năm 26 tuổi, ông xuất gia theo Nhật Phong (日豐) ở Diệu Hiển Tự (妙顯寺) thuộc Kyoto, rồi đến năm 33 tuổi thì đến ẩn cư ở Xứng Tâm Viện (稱心院, tức Thoại Quang Tự [瑞光寺]) thuộc vùng Thâm Thảo (深草, Fukakusa), Sơn Thành (山城, Yamashiro).

nguyên diệu

(元妙) Giác thể Niết bàn vốn không nghĩ bàn được, giống như biển cả, lắng trong viên dung, lặng lẽ mà thường chiếu soi, chiếu soi nhưng vẫn vắng lặng, vì thế nên gọi là Nguyên diệu (vốn nhiệm mầu).

Nguyên Hanh Thích Thư

(元亨釋書, Genkōshakusho): 30 quyển, do Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬, Kokan Shiren, 1278-1346) soạn, là bộ sử thư của Phật Giáo Nhật Bản ghi lại đầy đủ một cách tổng hợp quá trình triển khai của Phật Giáo từ khi được truyền vào cho đến cuối thời Liêm Thương (鎌倉, Kamakura). Quyển 1-19 là lược truyện của hơn 400 tên vị tăng lẫn tục; quyển 20-26 nói về Phật Giáo thông sử từ thời Khâm Minh Thiên Hoàng (欽明天皇, Kimmei Tennō, tại vị 539?-571) cho đến thời Thuận Đức Thiên Hoàng (順德天皇, Juntoku Tennō, tại vị 1210-1221); quyển 27-30 luận về lịch sử Phật Giáo Nhật Bản với 10 bộ môn chính. Sư Luyện trình tấu bộ này lên triều đình để xin cho nhập vào Đại Tạng Kinh và mãi cho đến thời đại Nam Bắc Triều mới được phép.

nguyên hanh thích thư

(元亨釋書) Tác phẩm, 30 quyển, do ngài Hổ quan Sư luyện người Nhật bản soạn, hoàn thành vào năm Nguyên hanh thứ 2 (1322), được thu vào Đại Nhật bản quốc sử và Đại Nhật bản Phật giáo toàn thư. Sách này lấy bộ Tăng truyện do ngài Ngưng nhiên soạn làm tư liệu nền tảng, được viết bằng chữ Hán. Nội dung ghi chép truyện kí các vị Cao tăng và lịch sử Phật giáo Nhật bản trong khoảng hơn 700 năm sau khi Phật giáo được truyền vào xứ này. Sách chia làm 3 phần: Truyện kí(từ quyển 1 đến 19, là phần sự tích của 406 vị), Biểu(từ quyển 20 đến 26) và Chí(từ quyển 27 đến 30). [X. Hải tạng Hòa thượng kỉ niên lục; Tục sử ngu sao Q.17].

nguyên hiền

(元賢) Cũng gọi Cổ sơn Nguyên hiền. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người huyện Kiến dương, tỉnh Phúc kiến, họ Thái, tự Vĩnh giác, là cháu 14 đời của ông Thái nguyên định(Tây sơn), bậc đại Nho đời Tống. Lúc nhỏ, sư nghiên cứu học thuyết của các ông Chu đôn di, Chu liêm khê, Chu hi, Trình minh đạo, Trình y xuyên, Trương tái v.v... Năm 18 tuổi sư mới bắt đầu đọc kinh Phật như Lục tổ đàn kinh. Năm 40 tuổi sư theo ngài Vô minh Tuệ kinh ở Thọ xương xuất gia. Sau, sư đến chùa Năng nhân ở núi Bác sơn tại Tín châu(Thượng nhiêu, Giang tây) tham lễ ngài Vô dị Nguyên lai cầu thụ giới Cụ túc. Sư từng trụ trì am Bảo thiện, chùa Dũng tuyền ở núi Cổ sơn tại Phúc châu, chùa Khai nguyên ở Tuyền châu, viện Chân tịch v.v... là những tòa đạo tràng nổi tiếng. Sư chủ trương chân tham thực ngộ, người học đạo phải tham vấn rộng, thưa hỏi xa, phản đối thái độ đương thời không cho đệ tử đi phương xa học hỏi, ra sức bài xích 2 chúng tại gia lạm dụng 3 áo. Về Thiền học, sư chống lại hình thức chỉ học suông những kệ tụng, đáp thoại, thướng đường, tiểu tham... đang lưu hành ở đương thời và tự sáng lập Thiền phái Cổ sơn. Tư tưởng nòng cốt của sư là điều hòa Thiền quán và Tịnh độ, Phật giáo và Nho học; đồng thời, tận lực, điều hòa sự đối lập giữa 2 phái Lâm tế và Tào động trong nội bộ Thiền tông. Bởi thế sư lấy việc đề cao Động thượng tâm pháp và xiển dương tông chỉ Lâm tế làm nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, sư còn học theo tinh thần tu trì và lao động của ngài Bách trượng. Năm Vĩnh lịch 11 (1657), sư thị tịch, hưởng thọ 80 tuổi, đệ tử nối pháp là Lâm đạo bái. Sư có tác phẩm: Kiến châu hoằng thích lục, Vĩnh giác hòa thượng mễ ngôn, Vĩnh giác hòa thượng tục mễ ngôn, Trụ tuyền châu khai nguyên thiền tự ngữ lục, Lăng nghiêm lược sớ, Thiền dư nội tập, Kim cương lược sớ, Cổ sơn chí, Động thượng cổ triệt, Bổ đăng lục, Kế đăng lục, Vãn lục, Tâm kinh chỉ chưởng, Tịnh từ yếu ngữ... [X. Lâm bỉnh phất ngữ lục Q.hạ; Vĩnh giác Hiền công đại thiền sư tháp minh; Tục đăng tồn cảo Q.11].

Nguyên Hiểu

元曉; C: yuánxiao; J: gangyō; K: wǒnhyo, 617-686. |Một trong những nhà lĩnh đạo tư tưởng, tác gia và luận sư của Phật giáo Hàn Quốc. Sư sống vào cuối thời Tam Quốc và đầu thời đại Tân La thống nhất. Sư đóng một vai trò năng động trong sự thâu hoá sâu rộng trào lưu Phật giáo du nhập vào bán đảo Cao Li đương thời. Sư rất tâm đắc và ảnh hưởng tư tưởng Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), Duy thức và Hoa Nghiêm (華嚴; k: hwaǒm). Tuy nhiên, với công trình nghiên cứu rộng rãi của sư qua các luận giải và chuyên luận, sư đã dung nhiếp toàn bộ giáo lí đạo Phật được lưu truyền ở Cao Li, gồm các Tông phái như Tịnh độ, Niết-bàn, Tam luận, và Thiên Thai (Pháp Hoa tông). Sư viết hầu như toàn bộ các luận giải về những bộ kinh quan trọng của Đại thừa, tổng cộng hơn 80 tác phẩm với hơn 200 quyển. Trong số những tác phẩm nổi tiếng mà sư đã trứ tác là Luận giải về Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論), Luận giải về kinh Niết-bàn, Luận giải về kinh Kim Cương tam-muội. Các tác phẩm nầy được các học giả thượng thủ Phật học Trung Hoa và Nhật Bản tôn trọng nhất, đáp ứng cho sự duy trì Đại thừa khởi tín luận như là tác phẩm quan trọng nhất trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc.|Trong thời gian đầu, Nguyên Hiểu trải qua cuộc đời mình như là một Tăng sĩ, nhưng sau khi giác ngộ được lí Duy thức, Sư rời khỏi Tăng đoàn và chuyển sang truyền bá Phật pháp dưới hình tướng của một cư sĩ. Vì khía cạnh độc đáo này của Sư, nên Sư kết thúc cuộc đời mình khi trở thành một vị anh dùng dân tộc nổi tiếng Cao Li. Sư là đồng sự và là bạn của Nghĩa Tương (義湘; k: ǔisang), một vị Tăng người Tân La có thế lực thuộc tông Hoa Nghiêm (k: hwaǒm). Kết quả quan trọng của sự hợp tác nầy là việc sáng lập tông Hoa Nghiêm như là một dòng pháp có ưu thế trên bán đảo Triều Tiên. 23 tác phẩm hiện còn lưu hành của Nguyên Hiểu nay đang được tiến hành dịch sang tiếng Anh trong chương trình hợp tác giữa Đại học Dongguk và SUNY tại Stony Brook.

nguyên hiểu

(元曉) Cao tăng Triều tiên, thuộc tông Hoa nghiêm, họ Tiết. Năm 29 tuổi, sư xuất gia ở chùa Hoàng long. Năm 660(có thuyết nói 650, hoặc 668- 669), sư cùng với ngài Nghĩa tương vượt biển đến Trung quốc, nhưng giữa đường sư bỗng nghĩ Ngoài tâm không pháp, cần gì đi tìm ở đâu?, sư liền quay về. Sau, sư vâng mệnh vua giảng dạy giáo nghĩa. Sư tự xưng là cư sĩ, mượn sinh hoạt tại gia để làm các Phật sự, nhưng người lại gọi là sư Hải đông. Về già, sư tu theo tông Tịnh độ. Không rõ sư tịch năm nào. Năm 1101, vua Túc tông ban thụy hiệu cho sư là Đại Thánh Hòa Tĩnh Quốc Sư. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm kinh sớ, A di đà kinh sớ, Kim cương tam muội kinh luận, Đại thừa khởi tín luận sớ, Thập môn hòa tránh luận, Pháp hoa tông yếu, Nhị chướng nghĩa, Phán tỉ lượng luận. Trong đó, 2 tác phẩm Nhị chướng nghĩa và Phán tỉ 3530 lượng luận bị thất lạc, hơn 1300 năm sau, tức là vào thế kỉ XX mới được 2 học giả người Nhật bản là Hoành siêu Tuệ nhật và Thần điền Hỉ nhất lang tìm ra được. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Tam quốc di sự Q.3, 4; Cao li sử Q.11; Tân biên chư tông giáo tạng tổng lục; Đông vực truyền đăng mục lục].

Nguyên Hưng tự

(元興寺, Gankō-ji): theo Nhật Bản Thư Kỷ (日本書紀), Tô Ngã Mã Tử (蘇我馬子, Soga-no-Umako, ?-626) phát nguyện tạo dựng ngôi chùa này vào năm 588 trên vùng đất của Chơn Thần Nguyên (眞神原, Makami-no-Hara) thuộc vùng Phi Điểu (飛鳥, Asuka); và ước trong vòng 9 năm chùa mới được hoàn thành vào năm 596. Trước kia ngôi chùa này được gọi là Phi Điểu Tự (飛鳥寺, Asuka-dera) hay Pháp Hưng Tự (法興寺, Hōkō-ji). Trong cuộc Cải Tân Đại Hóa, dòng họ Tô Ngã (蘇我, Soga) bị diệt vong, nên chùa lại thuộc vào tay của chính phủ; rồi dưới triều đại Thiên Võ (天武, Temmu) thì chùa trở thành chùa quan, và dưới thời đại của dòng họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara), nó trở thành một trong 4 ngôi chùa lớn nổi tiếng. Vào năm 710, kinh đô được dời về Bình Thành (平城, Heizei), nên năm sau thì Thiền Viện của Pháp Hưng Tự cũng được dời về nơi đây và trở thành ngôi Thiền Viện độc lập. Đến năm 718, đại bộ phận chùa được dời về vị trí hiện tại và đổi tên thành Nguyên Hưng Tự. Đến thời đại Nại Lương, nơi đây rất thịnh hành việc chép kinh. Giáo học nơi đây có Tam Luận Tông và Pháp Tướng Tông, mỗi mỗi hình thành nên tăng đoàn riêng của mình và hình thành hai hệ thống giáo học lớn của kinh đô. Tuy nhiên, vào năm 1451 và 1859, do vì hỏa hoạn, ngôi già lam bị cháy rụi, hiện tại chỉ còn lưu lại tòa nhà chính mà thôi.

Nguyên Khánh Tự

(元慶寺, Genkei-ji): ngôi chùa của Thiên Thai Tông, hiện tọa lạc tại Yamashina-ku (山科區), Kyoto-shi (京都市), tên núi là Hoa Đảnh Sơn (華頂山), tượng thờ chính là Dược Sư Như Lai. Người khai sáng chùa là Tăng Chánh Biến Chiếu (遍照), rất nổi danh về thi ca. Vào năm đầu (877) niên hiệu Nguyên Khánh (元慶), thể theo sắc chỉ của hai Thiên Hoàng Thanh Hòa (清和) và Dương Thành (陽成), chùa được xây dựng gần bên Hoa Sơn (華山), thuộc vùng Sơn Khoa (山科, Yamashina). Mặc dầu hiện tại chùa rất nhỏ, những vẫn nổi tiếng với tư cách là một trong 33 ngôi cổ sát thường được chiêm bái ở vùng Tây Quốc (西國). Chính Hoa Sơn Pháp Hoàng (華山法皇) là người khởi đầu cho truyền thống chiêm bái này. Trong khuôn viên vườn chùa có mộ của Tăng Chánh Biến Chiếu. Tôn tượng Dược Sư Như Lai là kiệt tác của Biến Chiếu, còn tượng Hiếp Thị A Di Đà Phật là của Từ Giác Đại Sư (慈覺大師), tượng Tỳ Sa Môn Thiên Vương là tác phẩm của Vận Khánh (運慶). Ngoài ra còn có một số tượng tự tác của Biến Chiếu và Hoa Sơn Pháp Hoàng.

nguyên không

(源空) Cũng gọi Pháp nhiên thượng nhân, Hắc cốc thượng nhân. Cao tăng Nhật bản, Tổ khai sáng của tông Tịnh độ, người huyện Cương sơn. Năm 9 tuổi sư xuất gia, 15 tuổi lên núi Tỉ duệ thờ ngài Hoàng viên và Duệ không làm thầy. Sư học tập giáo nghĩa Thiên thai và đọc nhiều kinh điển; sư xem tất cả các kinh tới 5 lần mà vẫn chưa thấy được con đường xuất li, sau nhờ đọc bộ Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo mà khai ngộ. Sư bèn dựa vào tác phẩm Vãng sinh yếu tập của ngài Nguyên tín mà sáng lập tông Tịnh độ, chuyên tu pháp môn Niệm Phật tại Cát thủy thuộc Đông sơn. Trên từ triều đình, công khanh, dưới đến các tầng lớp vũ sĩ, thứ dân... đều qui y sư, nơi đạo tràng, tiếng xưng danh niệm Phật của tăng tục không dứt, hưng bị những giáo đồ của phái bảo thủ dèm pha. Sau vì việc 2 cung nữ của Thượng hoàng Hậu điểu vũ tên là Tùng trùng và Linh trùng xuất gia tu hành ở đạo tràng Niệm Phật tại Lộc cốc, đã dẫn đến việc tố cáo của Nam đô Bắc lãnh, nên cuối cùng đạo tràng Niệm Phật của sư bị đình chỉ, 2 vị tăng bị xử trảm, còn sư lúc đó đã 75 tuổi thì bị lưu đày đến Tán kì. Cùng năm ấy, sư được cho phép vào ở chùa Thắng vĩ tại Nhiếp tân (phủ Đại phản)tạm trú 4 năm. Ở đây, sư tiếp tục hoằng dương Tịnh độ, giáo hóa tăng tục. Đến niên hiệu Kiến lịch năm đầu (1211) sư mới được phóng thích trở về Kinh đô (Kyoto). Năm sau, sư tịch ở Đại cốc, Đông sơn, thọ 80 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, Hắc cốc thượng nhân ngữ đăng lục, được thu vào Pháp nhiên thượng nhân toàn tập. [X. Pháp nhiên thượng nhân truyện kí; Bản triều tổ sư truyện kí hội từ; Nguyên hanh thích thư Q.5].

nguyên lai

(元來) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Tào động sống vào đời Minh, người huyện Long thư, tỉnh An huy, họ Sa, cũng có tên là Đại nghĩ, hiệu Vô dị, người đời gọi là Thiền sư Bác sơn. Năm 15 tuổi, sư lên núi Ngũ đài, vào chùa Bảo phương tham lễ ngài Vô minh Tuệ kinh, đọc Cảnh đức truyền đăng lục có chỗ tỉnh ngộ, nên sư theo ngài Tuệ kinh đến Ngọc sơn và được ngài ấn khả. Năm Vạn lịch 30 (1602) đời Minh, sư ở chùa Năng nhân tại núi Bác sơn, Tín châu, cách huyện Quảng phong, tỉnh Giang tây hơn 30 cây số về mạn tây nam, đồ chúng đến tham học rất đông. Sư cũng từng ở chùa Đổng nham, chùa Bảo lâm núi Đại ngưỡng. Năm Thiên khải thứ 7 (1627), sư dời đến núi Cổ sơn, học chúng đông tới vài nghìn người. Năm Sùng trinh thứ 2 (1629), sư trụ trì chùa Thiên giới tại Kim lăng. Sư suốt đời đề cao tông chỉ Thiền Tịnh Bất Nhị. Những bậc học sĩ, đại phu theo sư cầu giới pháp không dưới vài vạn người. Tháng 9 năm Sùng trinh thứ 3 (1630) sư thị tịch, hưởng dương 56 tuổi. Môn nhân xây tháp ở núi Bác sơn, còn bát của sư thì thờ ở núi Hương lô. Sư để lại tác phẩm: Vô dị thiền sư quảng lục 35 quyển. [X. Tục đăng tồn cảo Q.11; Ngũ đăng nghiêm thống Q.16; Cao tăng trích yếu Q.4; Tục đăng chính thống Q.38; Trung quốc tịnh độ giáo lí sử (Vọng nguyệt Tín hanh)].

Nguyên Lại Triều

(源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo, 1147-1199, tại nhiệm 1192-1194): vị Tướng Quân đầu tiên của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, người khai sáng ra chế độ chính trị Võ Gia, con trai thứ 3 của Nguyên Nghĩa Minh (義明, Minamoto-no-Yoshitomo); thông xưng là Tam Lang (三郎), Tá Điện (佐殿), Võ Vệ (武衛), Liêm Thương Điện (鎌倉殿), Nguyên Nhị Vị (源二位), Hữu Đại Tướng Quân (右大將軍), Hữu Mạc Hạ (右幕下); tên lúc nhỏ là Quỷ Võ Giả (鬼武者), Quỷ Võ Hoàn (鬼武丸); thần hiệu là Bạch Kỳ Đại Minh Thần (白旗大明神); giới danh là Võ Hoàng Khiếu Hậu Đại Thiền Môn (武皇嘯厚大禪門). Thân phụ ông là Nguyên Nghĩa Triều (源義朝, Minamoto-no-Yoshitomo); thân mẫu là Do Lương Ngư Tiền (由良御前, Yura Gozen), con gái của (藤原季範, Fujiwara-no-Suenori). Trong vụ loạn Bình Trị (平治), ông bị lưu đày đến vùng Y Đậu (伊豆, Izu), sau đến năm 1180, ông phụng mạng sắc chỉ của Dĩ Nhân Vương (以仁王, Mochihitoō), cử binh truy thảo dòng họ Bình (平, Taira), rồi bị bại trận ở Thạch Kiều Sơn (石橋山, Ishibashiyama); nhưng sau đó thì đại thắng trong trận chiến ở Phú Sĩ Xuyên (富士川). Ông chiếm cứ vùng Đông Quốc (東國, Tōgoku) ở Liêm Thương (鎌倉, Kamakura) và mở ra chính quyền Mạc Phủ. Ông nhận Phạm Lại (範賴, Noriyori), Nghĩa Kinh (義經, Yoshitsune) làm em, diệt vong Nguyên Nghĩa Trọng (源義仲, Minamoto-no-Yoshinaka) và dòng họ Bình. Sau đó, ông định ra quy chế thủ hộ địa đầu; và từng làm các chức quan như Chánh Nhị Vị (正二位), Quyền Đại Nạp Ngôn (權大納言), Hữu Cận Vệ Đại Tướng (右近衛大將), Chinh Di Đại Tướng Quân (征夷大將軍).

Nguyên Lại Gia

(源賴家, Minamoto-no-Yoriie, 1182-1204, tại chức 1202-1203): vị Tướng Quân đời thứ 2 của chính quyền Mạc Phủ Liêm Thương, con trai của Nguyên Lại Triều (源賴朝, Minamoto-no-Yoritomo), mẹ là Bắc Điều Chính Tử (北條政子, Hōjō Masako); tên lúc nhỏ là Vạn Thọ (萬壽); giới danh là Pháp Hoa Viện Điện Kim Ngô Đại Thiền Các (法華院殿金吾大禪閤). Ông bị dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō) cưỡng ép phải từ chức, nên ông đã nhường chức lại cho em ruột là Nguyên Thật Triều (源實朝, Minamoto-no-Sanetomo). Chính ông muốn trừ khử dòng họ Bắc Điều, nhưng không thành công. Sau ông đến ẩn cư tại Tu Thiền Tự (修禪寺, Shuzen-ji) ở vùng Y Đậu (伊豆, Izu); và cuối cùng bị nhóm người Bắc Điều Thời Chính (北條時政, Hōjō Tokimasa) giết chết tại đây.

nguyên minh

(元明) Cũng gọi Bản minh. Thể bản giác thanh tịnh sáng suốt. Kinh Lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 130 thượng) nói: Biển giác tính lắng trong Giác lặng vốn nhiệm mầu Nguyên minh chiếu chỗ sinh Sinh thành, tính chiếu mất.

Nguyên Minh Thiên Hoàng

(元明, Gemmei Tennō, tại vị 707-715): vị nữ đế trị vì đầu thời đại Nại Lương (奈良, Nara), hoàng nữ thứ 4 của Thiên Trí Thiên Hoàng (天智天皇), vợ của Thảo Bích Hoàng Tử (草壁皇子), mẹ của hai vị Thiên Hoàng Văn Võ (文武, Mommu) và Nguyên Chánh (元正, Genshō), tên là A Bế (阿閉, Abe). Bà dời đô về Bình Thành (平城, Heizei) thuộc tiểu quốc Đại Hòa (大和, Yamato), ra lệnh cho nhóm Thái An Vạn Lữ (太安萬侶, Ō-no-Yasumaro) soạn bộ Cổ Sự Ký (古事記, Kojiki, 3 quyển) để ghi chép về những phong tục, tập quán của các tiểu quốc.

Nguyên Mãn Trọng

(源滿仲, Minamoto-no-Mitsunaka, 912-997): vị Võ Tướng sống vào giữa thời Bình An, trưởng tử của Nguyên Kinh Cơ (源經基, Minamoto-no-Tsunemoto), được gọi là Trấn Thủ Phủ Tướng Quân (鎭守府將軍). Ông rất giỏi về võ lược, trú tại vùng Đa Điền (多田, Tada), tiểu quốc Nhiếp Tân (攝津, Settsu), thường xưng là họ đa điền. Ông nuôi dưỡng nhân tài, làm cơ sở cho dòng họ Nguyên (源, Minamoto).

Nguyên Nhân

(源仁, Gennin, 818-887/890): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào đầu thời đại Bình An, húy là Nguyên Nhân (源仁), thông xưng là Trì Thượng Tăng Đô (持上僧都), Nam Trì Viện Tăng Đô (南持院僧都), Thành Nguyện Tự Tăng Đô (成願寺僧都). Ông theo Hộ Mạng (護命, Gomyō) học về Pháp Tướng, sau đó học Mật Giáo với Thật Huệ (實惠, Jitsue), Chơn Nhã (眞雅, Shinga) và Tông Duệ (宗叡, Shūei) và thọ pháp Quán Đảnh. Đến năm 875, ông được mời làm Tự Trưởng của Đông Tự (東寺, Tō-ji) và Quyền Thiếu Tăng Đô. Ông kiến lập nên Nam Trì Viện (南持院, Nanji-in), lấy tên là Thành Nguyện Tự (成願寺, Jōgan-ji) và thuyết giảng về tông yếu của mình. Các đệ tử phú pháp của ông có Ích Tín (益信, Yakushin), Thánh Bảo (聖寳, Shōbō). Trước tác của ông có Quán Đảnh Thông Dụng Tư Ký (灌頂通用私記) 3 quyển.

nguyên nhân

(原人) I. Nguyên Nhân. Phạm:Puruwa. Tên 1 vị thần của đạo Bà la môn ở Ấn độ.Theo bài ca Nguyên nhân trong Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda) thì vị thần này là chúa tể trong tất cả thời hiện tại, quá khứ và vị lai, có nghìn đầu, nghìn mắt, nghìn chân. Từ đầu thần này sinh ra Bà la môn, từ vai sinh ra Sát đế lợi, từ bắp vế sinh ra Thủ đà la, từ tim sinh ra mặt trăng, từ mắt sinh ra mặt trời, từ hơi thở sinh ra gió, từ rốn sinh ra cõi hư không, từ trên đầu sinh ra cõi trời, từ chân sinh ra đất. II. Nguyên Nhân. Danh hiệu của thần Phạm thiên sáng tạo Bà la môn giáo và Ấn độ giáo. III. Nguyên Nhân. Dịch cũ: Cố nhân...... Tên hiệu của vị thứ thần trong Ma ni giáo. Vị thần tối cao của Ma ni giáo là thần Đại minh (Zarvàn), thông qua vị sứ giả là Thiên mẫu mà sáng tạo ra thần Nguyên nhân, tức là ông Tổ đầu tiên của loài người. ; (元因) Nguyên nhân sinh thành muôn vật. Đứng trên lập trường giáo lí căn bản của Phật giáo mà nói, thì nhân và duyên là tất cả điều kiện nhờ đó mà muôn sự muôn vật được sinh thành, tồn tại và biến hóa. Nguyên nhân dẫn khởi tác dụng sinh ra kết quả, đó chính là cách nói thông thường: Hễ tạo nhân xa thì kết quả xa, tạo nhân gần thì kết quả gần, tạo nhân thiện thì kết quả thiện, tạo nhân ác thì kết quả ác, tạo vô lượng nhân thì kết vô lượng quả, dù trải qua bao nhiêu kiếp cũng không sai lầm. Đây cũng chính là quan điểm chung trong Nhân quả luận của Phật giáo.

nguyên phẩm năng trị

(元品能治) Đoạn trừ vô minh căn bản, phẩm cuối cùng trong 42 phẩm vô minh do tông Thiên thai thành lập. Có 2 thuyết: 1. Đoạn trừ bằng trí Đẳng giác: Vô minh căn bản chướng ngại quả vị Diệu giác, vì thế, muốn cho trí Diệu giác hiển hiện thì phải dùng trí Đẳng giác đoạn trừ. 2. Đoạn trừ bằng trí Diệu giác: Vì thế lực của vô minh căn bản rất mạnh, trí của nhân vị Đẳng giác không thể dứt được, nên phải dùng trí của quả vị Diệu giác để đoạn trừ.Đoạn trừ bằng trí Đẳng giác là thứ tự đoạn hoặc rồi vào quả vị; còn đoạn trừ bằng trí Diệu giác là thứ tự vào quả vị rồi đoạn hoặc. [X. kinh Niết bàn Q.16 (bản Nam); chương Nhất thừa kinh Thắng man; Duy ma kinh huyền sớ Q.3; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.1, phần 5]. (xt. Vô Minh).

Nguyên Thản Sơn

(原坦山, Hara Tanzan, 1819-1892): vị tăng của Tào Động Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa hai thời đại Giang Hộ và Minh Trị, húy Thản Sơn (坦山), thụy hiệu Hạc Sào (鶴巢), xuất thân vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku, thuộc Fukushima-ken [福島縣]). Năm 1833, ông vào Trường Xương Bình (昌平) học về kinh sử, rồi theo Đa Kỷ An Thúc (多紀安叔) học về y học. Về sau nhân cuộc thi giảng ở Chiên Đàn Lâm (栴檀林) của Cát Tường Tự (吉祥寺, Kichijō-ji), ông được Đại Trung Kinh Sán (大中京璨) khai ngộ cho nên ông chuyển sang Thiền Tông. Ông xuất gia học đạo với Thật Sơn (實山) ở Tổng Tuyền Tự (總泉寺, Sōsen-ji), sau đó kế thừa dòng pháp của Kinh Sán. Ông đã từng sống qua các chùa như Tâm Tánh Tự (心性寺, Shinshō-ji) trên kinh đô, Tối Thừa Tự (最乘寺, Saijō-ji) ở Thần Nại Xuyên (神奈川, Kanagawa). Ông cũng có mối quan tâm đến khoa học phương Tây, và hy vọng sẽ làm sáng tỏ được tâm thức luận của Phật Giáo thông qua khoa học. Năm 1879, ông làm Giảng Sư cho Phân Khoa Triết Học Ấn Độ của Trường Đại Học Đông Kinh (東京大學, Tokyo Daigaku), đến năm 1885 thì làm hội viên của Hội Học Sĩ Viện Đế Quốc (帝國學士院), và năm 1891 thì làm Học Giám của Đại Học Tào Động Tông (曹洞宗大學). Trước tác của ông có Thời Đắc Sao (時得抄), Tâm Tánh Thật Nghiệm Lục (心性實驗錄), Tâm Thức Luận Lược Biện Đối Phá (心識論略辨對破), Đại Thừa Khởi Tín Luận Lưỡng Dịch Thắng Nghĩa (大乘起信論兩譯勝義), Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa (楞嚴經講義), Thản Sơn Hòa Thượng Toàn Tập (坦山和尚全集) 1 quyển.

Nguyên Thiều

元韶; 1648-1728, còn được gọi là Siêu Bạch Hoán Bích;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, đời pháp thứ 33. Sư là người đầu tiên truyền tông phong Lâm Tế sang miền Trung Việt Nam.|Sư xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Báo Tư, thụ giáo với Hoà thượng Bản Quả Khoáng Viên. Năm 1677, Sư theo thuyền đi từ Trung Quốc đến phủ Quý Ninh (Quy Nhơn) lập chùa Thập Tháp Di Ðà để dạy chúng. Sau đó, Sư lại ra Thuận Hoá lập chùa Hà Trung rồi lên Xuân Kinh lập chùa Quốc Ân và tháp Phổ Ðồng.|Sau, vì Cao tăng giáo hoá chúng hiếm hoi (có lẽ vì Thiền sư Hương Hải đã ra miền Bắc cùng với khoảng 50 đệ tử) nên Sư phụng mệnh sang Trung Quốc mời các danh tăng và thỉnh pháp khí. Sư về Quảng Ðông và mời được các vị nổi danh thời đó như Thạch Liêm, Hưng Liên Quả Hoằng, Giác Phong…|Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (1728), Sư có chút bệnh bèn gọi chúng lại phó chúc và nói kệ:|寂寂鏡無影。明明珠不容|堂堂物非物。蓼蓼空勿空|Tịch tịch kính vô ảnh|Minh minh châu bất dung|Ðường đường vật phi vật|Liêu liêu không vật không.|*Lẳng lặng gương không ảnh|Sáng sáng ngọc không hình|Rõ ràng vật không vật|Vắng lặng không chẳng không.|Nói xong, Sư ngồi yên viên tịch, thọ 81 tuổi. Ðồ chúng lập tháp ở chùa Kim Cang để thờ.* Một tháp khác cũng được lập tại Thuận Hoá. Chúa Nguyễn ban hiệu là Hạnh Ðoan Thiền Sư. |*Theo nguồn tài liệu của sử gia Nguyễn Hiền Ðức thì Sư ẩn vào Nam, có lẽ vì lí do chính trị thời đó, đến Ðồng Nai lập chùa Kim Cang hoằng hoá. Nhờ vậy mà Phật giáo Nam bộ bắt đầu hưng thịnh và lan rộng khắp nơi. Hệ thống truyền thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tuy vậy, nguồn tài liệu này vẫn chưa được chính thức thừa nhận vì còn chứa nhiều điểm mâu thuẫn.

nguyên thuỷ phật giáo

(原始佛教) Cũng gọi Tảo kì Phật giáo, Sơ kì Phật giáo.Chỉ cho nền Phật giáo ở thời kì đầu đốilại với Phật giáo Đại thừa được phát triển sau này.Từ khi đức Phật thành đạo, Ngài bắt đầu sáng lập giáo đoàn hoằng dương giáo pháp, cho đến khoảng 100 năm (hoặc 200 năm) sau khi đức Phật nhập diệt, thời kì này giáo pháp chỉ là 1 vị, giáo đoàn thì thống nhất, chưa có sự phân chia thành các bộ phái. Trong thời kì này các vị tỉ khưu giữ giới rất nghiêm cẩn, lấy việc khất thực để tự nuôi sống; khu vực truyền bá giáo pháp chủ yếu là vùng trung châu sông Hằng ở Ấn độ. Kinh điển trong thời kì này bao hàm hình thái nguyên thủy nhất của giáo pháp đức Phật, là nền tảng của giáo lí Tiểu thừa và Đại thừa về sau này. Tóm lại, nền Phật giáo trong khoảng 1 hoặc 2 trăm năm sau đức Phật nhập diệt như vừa nói ở trên, được gọi là Nguyên thủy Phật giáo. Vào cuối thế kỉ XIX, các học giả phương Tây bắt đầu nghiên cứu Phật giáo nguyên thủy qua các kinh điển bằng tiếng Tích lan vàPàli, lấy Phật giáo phương Nam làm chính. Việc nghiên cứu này dần dần thịnh hành ở các nước Anh, Đức, Pháp... sau mới truyền đến Nhật bản và Trung quốc. Trước đó, các học giả Trung quốc và Nhật bản đã không biết có sự tồn tại của Thánh điểnPàli, mà cũng chưa hiểu rằng Thánh điển ấy giống với kinh A hàm, là kinh Phật Hán dịch xưa nay vẫn quen gọi là kinh Tiểu thừa. Bởi thế, từ khi Đại sư Trí khải đời Tùy lập phán giáo Ngũ thời bát giáo, phán thích kinh A hàm là giáo nghĩa nông cạn nhất trong Tam tạng giáo đến nay thì giá trị của kinh A hàm đã bị các học giả và các nhà tông giáo xem thường. Nhưng về tên gọi và thời đại của Phật giáo nguyên thủy trong giới học giả có nhiều ý kiến khác nhau. Trước hết, học giả Phật giáo người Anh là ông Đại vệ tư (Thomas William Rhys Davids, 1843-1922) soạn cuốn Early Buddhism, sau đó, trong tác phẩm Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận của mình, được xuất bản vào năm Đại chính 13 (1924), nhà học giả Nhật bản là ông Mộc thôn Thái hiền (Kimura Taiken) chính thức dịch từ ngữ Early Buddhism là Nguyên thủy Phật giáo. Tên gọi Nguyên thủy Phật giáo theo tiếng Anh đúng ra phải là Primitive Buddhism, nhưng vì tiếng Primitive ngoài các nghĩa đầu tiên, trước nhất ra, nó còn các nghĩa nguyên thủy, thời kì đầu chưa được khai hóa... dễ bị coi là từ ngữ có hàm ý đánh giá thấp kém, cho nên các học giả phương Tây thường tránh, không dùng mà, thay vào đó, sử dụng từ ngữ Early Buddhism. Một học giả người Nhật bản khác là ông Tỉ kì Chính trị thì cho rằng, nếu từ Early Buddhism là chỉ cho Phật giáo ở thời kì đầu tiên(tức là thời đại đức Phật và các đệ tử của Ngài), thì đáng lẽ phải dịch là Căn Bản Phật Giáo chứ không nên gọi chung là Nguyên Thủy Phật Giáo. Các vị học giả khác như Pháp sư Thích ấn thuận của Trung quốc, các ông Vũ tỉnh Bá thọ, Xích chiểu Trí thiện, Tây nghĩa hùng... của Nhật bản, cũng có quan điểm tương tự và chia ra các thời kì như: Căn bản Phật giáo, Nguyên thủy Phật giáo, Bộ phái Phật giáo... để giải thích, chỉ về mặt thời gian và nội dung thì sự phân chia có hơi khác như sau: 1. Theo Pháp sư Thích ấn thuận và ông Xích chiểu Trí thiện: Sự hoạt động giáo hóa 1 đời của đức Phật trong 49 năm (hoặc 45 năm) là Căn bản Phật giáo, là nguồn gốc của tất cả Phật pháp; sau khi đức Phật nhập diệt đến thời kì bộ phái đối lập là Nguyên thủy Phật giáo; sau khi giáo đoàn chia làm 2 bộ căn bản là Thượng tọa và Đại chúng là thời kì Bộ phái Phật giáo. 2. Theo ông Vũ tỉnh Bá thọ: Thời đại đức Phật và các vị đệ tử được Ngài trực tiếp truyền trao Chính pháp(tức khoảng 30 năm sau khi đức Phật nhập diệt)là Căn bản Phật giáo; từ đó, đến khoảng vua A dục lên ngôi, giáo đoàn phân chia thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ thì dừng, đó là Nguyên thủy Phật giáo. 3. Theo ông Tây nghĩa hùng: Căn bản Phật giáo là giáo pháp của đức Thế tôn thuộc giai đoạn xưa nhất trong tư liệu của Nguyên thủy Phật giáo, còn thời đại đức Phật, đệ tử và sau khi đức Phật nhập diệt, đến trước khi giáo đoàn chia thành 2 bộ căn bản là Nguyên thủy Phật giáo. Các học giả nói trên tuy chủ trương phân chia thời đại Căn bản Phật giáo và Nguyên thủy Phật giáo khác nhau, nhưng đối với phạm vi tư liệu nghiên cứu thì đều đồng ý lấy Thánh điển được kết tập vào thời đại Nguyên thủy Phật giáo làm chủ yếu, tức là kinh A hàm và Luật tạng Hán dịch và tiếng Pàli. Căn cứ vào văn hiến hiện còn mà nói thì vào thời đại đức Phật, Luật bộ mới chỉ có 1 bộ phận Ba la đề mộc xoa mà thôi, còn 4 A hàm(hoặc 5 A hàm)thuộc Kinh bộ thì chưa được kết tập. Do đó, nói 1 cách chặt chẽ, bởi thiếu những văn hiến Phật giáo căn bản, nếu không dựa vào Thánh điển được kết tập vào thời đại Nguyên thủy Phật giáo mà tìm kiếm thì cũng không thể nào mở ra con đường nghiên cứu căn bản Phật giáo. Vài mươi năm trở lại đây, các học giả Trung quốc, Nhật bản phần nhiều căn cứ vào các tạng kinhPàli, Hán dịch, tiếng Phạm, Tây tạng... để nghiên cứu về Phật giáo căn bản và, đặc biệt là các học giả Nhật bản, đã khá thành công. Còn các học giả phương Tây thì vì thiếu khả năng đọc chữ Hán, nên phần nhiều nghiên cứu qua các kinh điển tiếng Pàli, khiến cho kết luận nghiên cứu đôi khi có chỗ thiên lệch. Nhưng phương pháp nghiên cứu của họ đã căn cứ vào Ngôn ngữ học, hảo cổ học, Tư tưởng sử... rất có tính cách khoa học, khúc chiết, rõ ràng và lại có thái độ phê phán: Đó là những điều mà các học giả phương ông cần noi theo. Bất luận là Căn bản Phật giáo hay Nguyên thủy Phật giáo, giáo pháp trung tâm của đức Phật vẫn chỉ là học thuyết Duyên khởi. Giáo pháp này do chính đức Phật đã căn cứ vào tư tưởng nghiệp luận, giải thoát quan trong Áo nghĩa thư (Phạm: Upaniwad) của Ấn độ và tư tưởng chúng sinh bình đẳng của Kì na giáo, cùng với nhiều năm tu đạo chứng ngộ của bản than đức Phật mà được sáng tạo ra.Học thuyết Duyên khởi gồm có: 1. Ba pháp ấn(hoặc 4 pháp ấn). 2. Mười hai nhân duyên. 3. Bốn chân lí (4 đế). 4. Tám chính đạo. Tất cả giáo pháp của Phật giáo đều lấy thuyết Duyên khởi làm chỗ y cứ, cũng có thể nói thuyết Duyên khởi là đại biểu của Phật pháp, Duyên khởi là từ đồng nghĩa với Pháp. Tại Ấn độ, các tư tưởng triết học tuy đã thịnh hành từ xưa, nhưng trong triết học Ấn độ không có thuyết Duyên khởi, mà các tông giáo hoặc triết học khác trên thế giới cũng không có thuyết Duyên khởi, nó là tư tưởng đặc biệt của riêng Phật giáo và cái đặc trưng cơ bản làm cho Phật giáo khác với các tôn giáo và triết học khác cũng chính là thuyết Duyên khởi này. Kể từ sau khi Phật giáo dần dần phát triển, các tông phái ở bất cứ thời đại nào hoặc ở bất cứ khu vực nào, hễ có 2 chữ Phật giáo đứng đầu thì đều lấy thuyết Duyên khởi làm giáo lí căn bản. Trái lại, nếu thiếu giáo lí căn bản này thì chẳng những đã mất đi cái đặc trưng mà còn vì thế cũng khó có thể gọi được là Phật giáo nữa. [X. Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành (Ấn thuận); Nguyên thủy Phật giáo (Thủy dã Hoằng nguyên); Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi thành lập sử nghiên cứu (Tiền điền Huệ học); Căn bản Phật giáo (Kim cương Tú hữu)].

Nguyên thủ

元首; C: yuánshǒu; J: genshu;|Người đứng đầu, người lĩnh đạo, thủ lĩnh, nhà cai trị, quốc chủ, tối cao, thứ nhất, đầu tiên.

Nguyên Tiêu

(元霄): lễ hội truyền thống rất quan trọng, vốn phát xuất từ Trung Quốc, được tiến hành vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch, sau dịp tiết xuân; còn gọi là Tiểu Chánh Nguyệt (小正月), Nguyên Tịch (元夕), Đăng Tiết (燈節), Thượng Nguyên Tiết (上元節). Như trong bài Song Đầu Mẫu Đơn Đăng Ký (雙頭牡丹燈記) của Cù Hựu (瞿佑, 1341-1427) người vùng Tiền Đường (錢塘, nay thuộc Hàng Châu [杭州], Triết Giang [浙江]) có câu: “Mỗi tuế Nguyên Tịch, ư Minh Châu trương đăng ngũ dạ, khuynh thành sĩ nữ, giai đắc túng quan (每歲元夕、於明州張燈五夜、傾城士女、皆得縱觀, mỗi năm vào dịp Nguyên Tịch, tại Minh Châu giăng đèn năm đêm, nam nữ khuynh thành đều được xem thoải mái).” Chánh nguyệt (正月, tháng Giêng) là tháng đầu tiên trong một năm, người xưa gọi là tiêu (霄); vì vậy, ngày rằm tháng Giêng được gọi là Nguyên Tiêu Tiết (元霄節, Tết Nguyên Tiêu). Đây cũng là ngày lễ hội tình nhân của người Trung Quốc. Nguồn gốc truyền thuyết về lễ hội này vốn có từ xa xưa. Có thuyết cho rằng nó được thiết lập từ thời Hán Văn Đế (漢文帝, tại vị 180-157 tcn). Tương truyền sau khi Hán Cao Tổ Lưu Bang (漢高祖劉邦, tại vị 202-195 tcn) qua đời, Lữ Hậu (呂后, 241-180 tcn) soán quyền, cả dòng tộc nhà họ Lữ lên năm quyền bính; sau khi ba qua đời, nhóm người Châu Bột (周勃), Trần Bình (陳平), v.v., dẹp trừ thế lực của Lữ Hậu, lập Lưu Hằng (劉恆) lên làm Hán Văn Đế. Nhân ngày bình định thế lực nhà họ Lữ và thống nhất quốc gia vào ngày rằm tháng Giêng, từ đó hằng năm vào ngày này, nhà vua thường mặc áo mỏng, ra ngoài cung nội cùng với dân chúng vui chơi thái bình, và cũng lấy ngày này làm Tết Nguyên Tiêu. Dưới thời Hán Võ Đế, hoạt động tế tự Thái Nhất Thần (太一神, các vị thần chủ tể của vũ trụ) cũng được quy định đúng ngày rằm tháng Giêng; cho nên khi Tư Mã Thiên (司馬遷, 135-90 tcn) sáng kiến ra Thái Sơ Lịch (太初歷), xác định Tết Nguyên Tiêu là lễ hội vô cùng trọng đại đối với quốc gia và dân tộc. Về truyền thống thắp đèn vào dịp Nguyên Tiêu này, nguồn gốc của nó phát xuất từ thuyết Tam Nguyên (三元) của Đạo Giáo: rằm tháng Giêng là Thượng Nguyên Tiết, rằm tháng 7 là Trung Nguyên Tiết (中元節) và rằm tháng 10 là Hạ Nguyên Tiết (下元節). Người chủ quản ba lễ hội này là 3 vị quan tên Thiên, Địa, Thủy. Thiên Quan (天官), thường được gọi là Thiên Quan Tứ Phước (天官賜福, Quan Trời Ban Phước), là người thường vui vẻ, hoan hỷ, nên vào dịp Thượng Nguyên, kỷ niệm sinh nhật của ông thì cần phải đốt đèn chúc mừng. Lại có thuyết cho rằng tục lệ giăng đèn vào dịp này vốn phát xuất từ thời đại của Minh Đế (明帝, tại vị 57-75) nhà Đông Hán. Nhà vua rất tin sùng Phật pháp, nghe rằng vào ngày rằm tháng Giêng, chúng tăng thường chiêm ngưỡng xá lợi Phật, thắp đèn cúng dường chư Phật, bèn ra lịnh cho thắp đèn cúng dường chư Phật suốt một ngày đêm tại Hoàng Cung cũng như các chùa chiền, miếu vũ và cho mọi người rước đèn đi khắp nơi. Từ đó, trở đi, nghi thức Phật Giáo này đã trở thành lễ hội truyền thống trọng đại của dân gian, phá triển từ trong cung đình ra đến ngoài dân chúng. Có thuyết khác cho rằng Lễ Thượng Nguyên là để kỷ niệm Đông Phương Sóc (東方朔, 154-93 tcn) và Nguyên Tiêu Cô Nương (元宵姑娘). Tương truyền Hán Võ Đế có một vị thần rất sủng ái tên Đông Phương Sóc, nhân vật rất hiền lương và phong lưu. Có hôm nọ vào dịp tiết đông, sau mấy ngày tuyết rơi nhiều, Đông Phương Sóc bèn đến Ngự Hoa Viên để ngắm hoa mai cùng với nhà vua, khi vừa đến cổng vườn hoa, chợt phát hiện có một người cung nữ đang khóc thảm thiết, chuẩn bị gieo mình xuống giếng tự sát. Ông hoang mang vội vàng chạy đến cứu và hỏi rõ nguyên nhân vì sao tự sát. Nguyên lai cung nữ ấy tên là Nguyên Tiêu (元宵), gia đình có song thân và một người em gái. Từ ngày vào cung nội đến nay, chưa có cơ duyên gặp người thân; cho nên cứ mỗi năm vào tháp chạp cho đến đầu xuân, thường nhớ đến gia đình, song thân, muốn báo hiếu cũng không thực hiện được; vì vậy quyết định tự sát cho xong. Nghe vậy, Đông Phương Sóc rất thông cảm cho hiếu tình cao cả của nàng cung nữ, bèn hứa sẽ tìm cách giúp nàng đoàn tụ cùng gia đình. Có hôm nọ, ông ra ngoài thành, thấy trên đường Trường An có một gian bói toán, nhiều người tranh nhau xem bói. Ai cũng bốc trúng quẻ “chánh nguyệt thập lục hỏa phần thân (正月十六火焚身, mười sáu tháng Giêng lửa thiêu thân).” Nhất thời, kinh đô Trường An sinh hỗn loạn vì quẻ bói xấu kia; mọi người đều tìm biện pháp giải quyết khỏi ách nạn ấy. Thấy vậy, Đông Phương Sóc bảo rằng: “Vào đêm 13 tháng Giêng, Thần Lửa có phái một vị Thần Nữ Áo Đỏ hạ phàm thẩm tra, vị ấy là người phụng chỉ đốt cháy Trường An. Ta sẽ thảo đôi dòng này đưa các ngươi tâu lên Thiên Tử, có thể giúp người tìm ra biện pháp.” Nói xong, ông viết lên một phong thiếp hồng, giao mọi người rồi quay về nhà. Dân chúng cầm thiếp hồng đến Hoàng Cung, tâu lên Hoàng Thượng. Hán Võ Đế xem qua, thấy có dòng chữ: “Trường An tại kiếp, hỏa phần đế khuyết, thập ngũ thiên hỏa, diệm hồng tiêu dạ (長安在劫、火焚帝闕、十五天火、焰紅宵夜, Trường An kiếp nạn, lửa thiêu cung vua, ngày rằm lửa bốc, đỏ rực đêm rằm).” Nhà vua kinh sợ, cho triệu Đông Phương Sóc đa mưu túc kế đến để tìm biện pháp giải quyết. Ông giả bộ thưa rằng: “Thần thường nghe rằng Thần Lửa rất thích bánh nếp tròn, trong cung nội có Nguyên Tiêu chẳng phải là người làm bánh nếp tròn ngon lắm sao ? Vào đêm rằm, bảo cung nữ đó làm bánh, Hoàng Thượng đích thân dâng hương cúng dường, truyền lệnh cho mỗi nhà trong kinh đô đều phải làm bánh nếp tròn để cùng nhau dâng cúng cho Thần Lửa. Rồi ra lịnh cho khắp thần dân đều cầm đèn vào đêm rằm, đốt pháo, phóng lửa khói, như thể cả thành đang bị đốt cháy. Ngoài ra, còn thông báo cho bá tánh ngoài thành, vào đêm rằm được vào thành ngắm đèn hoa; nhờ vậy mới có thể tiêu trừ tai họa và giải nạn được.” Hoàng Đế nghe xong rất cao hứng, lập tức truyền lệnh cho thực hiện phương pháp của Đông Phương Sóc. Vào đêm rằm tháng Giêng, khắp thành Trường An náo nhiệt, vui nhộn hơn bao giờ. Cả song thân và em gái Nguyên Tiêu cũng được vào thành xem hoa đăng, nhờ vậy cả gia đình nàng được đoàn tụ. Từ đó, tương truyền Hán Võ Đế hạ lịnh dâng cúng bánh nếp tròn nhân ngày rằm tháng Giêng hằng năm. Tục lệ này vẫn được lưu truyền mãi cho đến ngày hôm nay. Từ “thang viên (湯圓, bánh nếp tròn, bánh trôi nước)” có nghĩa là “tròn nóng”, có âm đọc cùng với từ “đoàn viên (團圓, đoàn tụ, sum họp)”, tức chỉ cho sự đoàn tụ, hòa hợp, hạnh phúc của gia đình; cũng là hình thức thể hiện sự tưởng nhớ đến thân nhân ở xa, mong ngày hội ngộ, và nói lên nguyện vọng muốn có cuộc sống an bình, đoàn tụ trong tương lai. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng nguồn gốc của Tết Nguyên Tiêu là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua triệu tập các Trạng Nguyên đến để thết đãi và mời vào vườn Thượng Uyển ngắm hoa, làm thi phú. Hoạt động của lễ hội này phát triển theo thời gian và diễn biến của lịch sử. Như dưới thời nhà Hán, Tết Nguyên Tiêu được tiến hành trong 1 ngày, đến thời nhà Đường thì kéo dài 3 ngày, nhà Tống là 5 ngày; sang đến nhà Minh thì vào ngày mồng 8, người ta đã bắt đầu thắp đèn cho đến ngày 17. Trong ngày Tết Nguyên Tiêu, ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí, tỷ dụ như đi cà kheo, múa ương ca, múa sư tử, v.v. Đối với Việt Nam, rằm tháng Giêng cũng là một ngày rất quan trọng đối với người dân. Họ thường đến chùa lễ Phật, dâng hương tụng kinh, sám hối, cầu an để nguyện cầu cho một năm mới được an bình, hanh thông, hạnh phúc, vạn sự cát tường như ý. Bên cạnh đó, cũng nhân ngày này, tín đồ Phật tử Việt Nam thường hành lễ dâng sao giải nạn hạnh ách của một năm. Cho nên dân gian Việt Nam vẫn có câu rằng: “Lễ Phật quanh năm, không bằng rằm tháng Giêng.” Lễ hội này đã lưu lại khá nhiều dấu ấn trong các văn chương, thi phú như trong Cựu Đường Thư (舊唐書), phần Trung Tông Kỷ (中宗紀) có đoạn: “Cảnh Long tứ niên Thượng Nguyên dạ, đế dữ Hoàng Hậu vi hành quán đăng (景龍四年上元夜、帝與皇后微行觀燈, vào đêm Thượng Nguyên năm Cảnh Long thứ 4 [710], nhà vua [Đường Trung Tông] cùng với Hoàng Hậu thân hành đi xem hoa đăng).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳), hồi thứ 66 có kể rằng: “Thứ nhật, chánh thị chánh nguyệt thập ngũ nhật, Thượng Nguyên giai tiết, hảo sanh tình minh, hoàng hôn nguyệt thướng, lục nhai tam thị, các xứ phường ngung hạng mạch, điểm phóng hoa đăng (次日、正是正月十五日、上元佳節、好生晴明、黃昏月上、六街三市、各處坊隅巷陌、點放花燈, hôm sau, đúng vào ngày rằm tháng Giêng, tiết đẹp Thượng Nguyên, trời đất trong sáng, hoàng hôn trăng lên, sáu phố ba chợ, các nơi phố phường, hẽm ngách, đều thắp sáng thả hoa đăng).” Đặc biệt thi ca đã ca ngợi nhiều về lễ hội linh thiêng này. Tùy Dương Đế (隋煬帝, tại vị 604-618) có để lại bài Nguyên Tịch Ư Thông Cù Kiến Đăng Dạ Thăng Nam Lâu (元夕於通衢建燈夜升南樓, Ngày Nguyên Tiêu Lập Hoa Đăng Nơi Đường Lộ, Đêm Lên Lầu Nam) như sau: “Pháp luân thiên thượng chuyển, Phạm thanh thiên thượng lai, đăng thọ thiên quang chiếu, hoa diệm thất chi khai, nguyệt ảnh nghi lưu thủy, xuan phong hàm dạ lai, phần động hoàng kim địa, chung phát Lưu Ly đài (法輪天上轉、梵聲天上來、燈樹千光照、花焰七枝開、月影疑流水、春風含夜梅、燔動黃金地、鐘發琉璃台, xe pháp trên trời chuyển, tiếng Phạm vẳng trời bay, đèn cây ngàn ánh chiếu, hoa rực bảy nhánh khai, ánh trăng như nước chảy, gió xuân ngậm đêm mai, xoay động vàng ròng đất, chuông vọng Lưu Ly đài).” Thi sĩ Thôi Dịch (崔液, ?-713) nhà Đường có làm bài Thượng Nguyên Dạ (上元夜): “Ngọc lậu đồng hồ thả mạc tồi, thiết quan kim tỏa triệt dạ khai, thùy gia kiến nguyệt năng nhàn tọa, hà xứ văn đăng bất khán lai (玉漏銅壺且莫催、鐵關金鎖徹夜開、誰家見月能閒坐、何處聞燈不看來, thời gian vàng ngọc chớ giục thôi, khóa vàng cửa thiết suốt đêm khai, nhà ai trăng ngắm ngồi nhàn hạ, nào chốn nghe đèn chẳng đến xem).” Trong khi đó, Trương Hỗ (張祜, khoảng 785-849?) nhà Đường cũng có làm bài Chánh Nguyệt Thập Ngũ Dạ Đăng (正月十五夜燈) như sau: “Thiên môn khai tỏa vạn đăng minh, chánh nguyệt trung tuần động địa kinh, tam bách nội nhân liên tụ vũ, nhất tấn thiên thượng trước từ thinh (千門開鎖萬燈明、正月中旬動地京、三百內人連袖舞、一進天上著詞聲, mở tung ngàn cửa đèn sáng trong, tuần giữa tháng giêng động thần kinh, ba trăm người cùng nối áo múa, vọng đến trời cao khúc thái bình).” Thi hào Lý Thương Ẩn (李商隱, khoảng 813-858) nhà Đường có bài thơ diễn tả về phong cảnh Tết Nguyên Tiêu rằng: “Nguyệt sắc đăng sơn mãn đế đô, xa hương bảo cái ải thông cù, thân nhàn bất đổ trung hưng thịnh, tu trục hương nhân tái Tử Cô (月色燈山滿帝都、香車寶蓋隘通衢、身閒不睹中興盛、羞逐鄉人賽紫姑, trăng tỏ đèn đêm khắp đế đô, xe hương lọng báu rợp đường xa, nhàn hạ chẳng màng đời suy thịnh, dân làng dâng cúng đáp Tử Cô [theo truyền thuyết dân gian trung quốc là một cô nương bần cùng nhưng hiền lương]).” Hay như thi hào Âu Dương Tu (歐陽修, 1007-1072) nhà Tống có để lại bài Sanh Tra Tử Nguyên Tịch (生查子元夕) rằng: “Khứ niên Nguyên Dạ thời, hoa thị đăng như trú, nguyệt đáo liễu tiêu đầu, nhân ước hoàng hôn hậu, kim niên Nguyên Dạ thời, nguyệt dữ đăng y cựu, bất kiến khứ niên nhân, lệ thấp xuân sam tụ (去年元夜時、花市燈如晝、月到柳梢頭、人約黃昏後、今年元夜時、月與燈依舊、不見去年人、淚濕春衫袖, năm ngoái đêm Nguyên Tiêu, hoa đèn như ngày sáng, trăng đến trên đầu liễu, người về sau hoàng hôn, năm nay đêm Nguyên Tiêu, nguyệt cùng trăng như cũ, chẳng thấy người cũ đâu, lệ ướt tay áo mỏng).” Thi nhân Nguyên Hảo Vấn (元好問, 1190-1257) nhà Nguyên cũng có bài Kinh Đô Nguyên Tịch (京都元夕) như sau: “Huyền phục hoa trang trước xử phùng, lục nhai đăng hỏa náo nhi đồng, trường sam ngã diệc hà vi giả, dã tại du nhân tiếu ngữ trung (袨服華妝著處逢、六街燈火鬧兒童、長衫我亦何爲者、也在遊人笑語中, áo thâm hoa kết mặc theo cùng, phố phường đèn sáng rộn nhi đồng, áo rộng ta cũng là ai nhỉ, vẫn với du nhân cười nói vang).” Sau này, Kheo Phùng Giáp (丘逢甲, 1864-1912) nhà Thanh có làm bài Nguyên Tịch Vô Nguyệt (元夕無月) rằng: “Tam niên thử tịch vô nguyệt quang, minh nguyệt đa ưng tại cố hương, dục hướng hải thiên tầm nguyệt khứ, ngũ canh phi mộng độ côn dương (三年此夕無月光、明月多應在故鄉、欲向海天尋月去、五更飛夢渡鯤洋, ba năm đêm ấy chẳng sáng trăng, trăng tỏ phần nhiều tại cố hương, muốn hướng chân trời tìm trăng lặn, năm canh cỡi mộng vượt ngàn trùng).” Ngoài ra, còn một số câu đối liễn được dùng để treo nhân dịp Tết Nguyên Tiêu, như: “phong thanh nguyệt lãng, đăng thái tinh huy (風清月朗、燈彩星輝, gió mát trăng thanh, đèn rực sao tỏ)”, “vô biên xuân sắc, hữu khánh niên đầu (無邊春色、有慶年頭, vô biên sắc xuân, tốt đẹp đầu năm)”, “nguyệt quang kiểu khiết, nhân chúc huy hoàng (月光皎潔、銀燭輝煌, ánh trăng sáng tỏ, đèn hoa huy hoàng)”, “vạn gia Nguyên Tịch yến, nhất lộ thái bình ca (萬家元夕宴、一路太平歌, vạn nhà đón Nguyên Tịch, một cõi thái bình ca)”, “minh nguyệt thiên môn tuyết, ngân đăng vạn thọ hoa (明月千門雪、銀燈萬樹花, trăng tỏ ngàn nhà tuyết, đèn trong vạn cây hoa)”, “phóng thủ kình minh nguyệt, khai tâm lạc Nguyên Tiêu (放手擎明月、開心樂元宵, buông tay nâng trăng sáng, mở lòng vui Nguyên Tiêu)”, “vạn hộ quản huyền ca thạnh thế, mãn thiên diệm hỏa diệu xuân quang (萬戶管弦歌盛世、滿天焰火耀春光, vạn nhà gãy đàn ca đời thịnh, khắp trời lửa rực tỏa ánh xuân)”, “thiên không minh nguyệt tam thiên giới, nhân túy xuân phong thập nhị lâu (天空明月三千界、人醉春風十二樓, trời cao trăng tỏ ba ngàn cõi, người say xuân gió mười hai lầu)”, “Ngũ dạ tinh kiều liên Nguyệt Điện, lục nhai đăng hỏa bộ Thiên Thai (五夜星橋連月殿、六街燈火步天台, năm đêm sao cầu nối Cung Nguyệt, sáu đường đèn rực bước Thiên Thai)”, “ngọc vũ vô trần thiên khoảnh bích, ngân hoa hữu diệm vạn gia xuân (玉宇無塵千頃碧、銀花有焰萬家春, nhà ngọc không bụi ngàn dặm sáng, hoa đồng tỏa rạng vạn chốn xuân)”, v.v.

Nguyên Trí

(源智, Genchi, 1183-1238): vị Tăng của Tịnh Độ Tông sống vào khoảng đầu và giữa thời Liêm Thương, trú trì đời thứ 2 của Tri Ân Viện (知恩院, Chion-in) cũng như Tri Ân Tự (知恩寺, Chion-ji); húy là Nguyên Trí (源智), thường được gọi là Hạ Mậu Thượng Nhân (賀茂上人), hiệu là Thế Quán Phòng (勢觀房), xuất thân vùng Kyoto, con của vị Trưởng Quan Kami vùng Bị Trung (僃中, Bicchū) là Bình Sư Thạnh (平師盛). Cha ông mất trong cuộc chiến loạn Nguyên Bình (源平), đến năm 1195 ông theo làm môn đệ của Nguyên Không (源空, Genkū, tức Pháp Nhiên), rồi xuất gia với Từ Viên (慈圓), học Tịnh Độ Giáo với Nguyên Không, và thường xuyên hầu hạ vị này cho đến khi qua đời thì ông được truyền trao cho bản Nhất Mai Khởi Thỉnh Văn (一枚起請文). Sau đó, ông hoạt động giáo hóa đồ chúng, rồi làm vị Tổ đời thứ 2 của Tri Ân Viện và Tri Ân Tự. Chúng đệ của ông như Liên Tịch (蓮寂), Túc Liên (宿蓮), v.v, đã hình thành nên hệ phái Môn Đồ Tử Dã (紫野門徒). Trước tác của ông để lại có Tuyển Trạch Yếu Quyết (選擇要決) 1 quyển, Ngọc Quế Tự A Di Đà Như Lai Tạo Lập Nguyện Văn (玉桂寺阿彌陀如來造立願文).

nguyên tuyển

(元選) Từ gọi chung thệ nguyện và trí tuệ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 269 trung) nói: Nguyện và tuệ tròn đầy, thành Phật trong 3 cõi. Trong quá khứ, khi còn là tỉ khưu Pháp tạng, đức Phật A di đà đã phát 48 thệ nguyện lớn, dùng vô lượng công đức thệ nguyện và trí tuệ tiếp dẫn chúng sinh về Tịnh độ cực lạc. [X. Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.thượng].

nguyên tâm

(元心) Tâm bản giác tròn đầy, là nguồn gốccủa muôn vật, cho nên gọi là Nguyên tâm.Tức là Nhất tâm nói trong luận Đại thừa khởi tín.

Nguyên Tín

(源信, Genshin, 942-1017): vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời kỳ Bình An, xuất thân vùng Đại Hòa (大和, Yamato, thuộc Nara-ken [奈良縣]). Hồi nhỏ ông lên Tỷ Duệ Sơn, theo hầu Lương Nguyên (良源, Ryōgen), người sau này trở thành Tọa Chủ nơi đây, và đến năm 13 tuổi thì được cho thọ giới. Với tài năng học vấn ưu tú của mình, năm lên 33 tuổi ông đã nổi tiếng rồi, nhưng sau ông lại chán ghét danh lợi mà từ bỏ tất cả rồi sống ẩn tu. Sau đó ông lại được quan tâm nhờ trước tác liên quan đến Nhân Minh Học của lý luận Phật Giáo. Đến năm 44 tuổi, ông viết xong 3 quyển Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集). Chính từ đó bộ sách này được dùng làm kim chỉ nam kết duyên với Niệm Phật, nên chế ra 12 điều khởi thỉnh quy định mỗi tháng vào ngày 15 là ngày niệm Phật. Năm 62 tuổi, ông ủy thác cho đệ tử là Tịch Chiêu (寂昭, Jakushō) sang nhà Tống cầu pháp, và viết nên bộ Thiên Thai Tông Nghi Vấn Nhị Thập Thất Điều (天台宗疑問二十七條). Đến năm 64 tuổi, ông viết bộ Đại Thừa Đối Câu Xá Sao (大乘對倶舍抄), và năm sau thì trước tác bộ Nhất Thừa Yếu Quyết (一乘要決).

nguyên tín

(源信) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai, tổ của dòng Huệ tâm, thường gọi là Huệ tâm tăng đô, người Đại hòa (huyện Nại lương). Sư lên núi Tỉ duệ thờ ngài Lương nguyên làm thầy, học rộng nhớ dai, được nhiều người kính phục. Về sau, sư sáng lập ra dòng Huệ tâm rất có thế lực. Tác phẩm của sư có đến hơn 70 bộ 150 quyển, trong đó, nổi tiếng hơn cả là Nhất thừa yếu quyết, Vãng sinh yếu tập, Quán tâm lược yếu tập... đều được thu vào Huệ tâm tăng đô toàn tập. Ngoài ra, trong những sách về mĩ thuật Tịnh độ giáo, tương truyền có rất nhiều tác phẩm của sư, nhưng không có chứng cứ để khảo sát. Sư thị tịch vào niên hiệu Khoan nhân năm đầu (1017), hưởng thọ 76 tuổi. [X. Thủ lăng nghiêm viện Nguyên tíntăng đô truyện; Huệ tâm tăng đô hành trạng kí; Đại Nhật bản quốc Pháp hoa kinh nghiệm kí Q.hạ].

nguyên tú

(元琇) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, Tổ thứ 12 (có thuyết nói thứ 10) của tông Thiên thai. Sư từng theo Pháp sư Vật ngoại tu học Chỉ quán ở chùa Quốc thanh, hiểu thấu ý chỉ sâu kín, diễn giảng lưu loát, người đời gọi sư là Diệu thuyết tôn giả. Một hôm, sư lên tòa nói pháp, có 10 vị tăng lạ, xếphàng ở cuối giảng đường nghe pháp, nghe giảng xong 10 vị ấy bay lên hư không mất dạng. Sư có 2 vị đệ tử nối pháp là Thanh tủng và Thường tháo. [X. Phật tổ thống kỉ Q.8; Thích môn chính thống Q.2].

nguyên tĩnh

(元靜) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Ngọc sơn, Lãng châu, tỉnh Tứ xuyên, họ Triệu, sau đổi tên là Đạo hưng. Lúc lên 10 tuổi, vì bị bệnh nên sư có ý muốn xuất gia. Không bao lâu sư theo ngài Tông duệ ở viện Đại từ bảo sinh tại Thành đô và đến năm Nguyên hựu thứ 3 (1088) thì chính thức được thụ giới. Về sau, sư tham học và nối pháp của ngài Ngũ tổ Pháp diễn. Sư khai sáng Nam đường ở núi Đại tùy tại Bành châu, tỉnh Tứ xuyên, nên người đời gọi sư là Nam đường Nguyên tĩnh (Đạo hưng). Sư từng trụ trì các chùa: Chiêu giác, Năng nhân và Đại tùy ở Thành đô. Năm Thiệu hưng thứ 5 (1135) sư thị tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Sư có tác phẩm: Nam đường Hưng hòa thượng ngữ yếu 1 quyển. [X. Gia thái phổ đăng lục Q.11; Ngũ đăng hội nguyên Q.19; Tục truyền đăng lục Q.25; Ngũ đăng toàn thư Q.42].

nguyên tĩnh thập môn

(元靜十門) Mười điều răn dạy chúng tăng tu hành của Thiền sư Nguyên tĩnh chùa Đại tùy đời Tống. Đó là: 1. Phải tin chắc có ý chỉ Giáo ngoại biệttruyền.2. Phải biết rõ có nhân duyên Giáo ngoại biệt truyền.3. Phải hiểu được ý chỉ hữu tình thuyết pháp và vô tình thuyết pháp không hai không khác. 4. Phải thấy tính rõ ràng như xem vật trong lòng bàn tay của mình.5. Phải có đủ mắt lựa chọn pháp.6. Phải vào cảnh giới dứt bặt tung tích như đường chim bay.7. Gồm đủ văn võ.8. Dẹp tà hiển chính.9. Cần có đại cơ đại dụng.10. Phải đi trong dị loại(đi vào trong đường luân hồi để cứu độ chúng sinh).[X. Thiền uyển mông cầu Q.hạ].

nguyên tạng

(元藏) Cũng gọi Đại Phổ ninh tự bản, Nguyên bản.Đại tạng kinh được khắc bản và ấn hành vào đời Nguyên từ năm Chí nguyên 14 (1277) đến năm Chí nguyên 27 (1290), dưới sự giám sát của ngài Đạo an, thuộc tông Bạch vân, trụ trì chùa Đại Phổ ninh tại huyện Dư hàng, Hàng châu, tỉnh Chiết giang, Trung quốc. Đại tạng này lấy 2 bản: Tạng Tư khê và Tạng Phúc châu làm bản gốc, rồi so sánh, xem xét, bổ sung mà biên soạn thành, tổng cộng có 1437 bộ kinh, luật, luận Đại, Tiểu thừa. Hình thức bản in mỗi trang 6 dòng (hàng), mỗi dòng 17 chữ. Chùa Tăng thượng và chùa Thiển thảo ở Đông kinh, Nhật bản, đều có cất giữ đầy đủ bản Tạng này.Đời Nguyên, ngoài bản này ra còn có bản khắc Đại tạng kinh khác nữa, nhưng đãbị thất lạc. [X. Tam duyên sơn chí Q.2; Cổ kinh đềbạt Q.hạ]. (xt. Trung Văn Đại Tạng Kinh).

nguyên tố

(元素) Yếu tố cấu thành muôn pháp theo quan niệm của Phật giáo.(xt. Lục Đại).

nguyên tổ

(元祖) Vị Tổ đầu tiên sáng lập tông phái. Lí hoặc luận của Mâu tử trong Hoằng minh tập quyển 1, (Đại 52, 2 thượng) nói: Phật là vị nguyên tổ của đạo đức. Tại Nhật bản, các ngài Nguyên không, tổ khai sáng tông Tịnh độ và ngài Nhật liên, tổ khai sáng tông Nhật liên, đều được tôn xưng là Nguyên tổ.

nguyên tử luận

(原子論) Học thuyết chủ trương tất cả các vật tồn tại đều do nguyên tử tổ hợp mà thành. Nguyên tử(atom)tương đương với chữ Aịu trong tiếng Phạm, nghĩa là nhỏ như hạt bụi (vi trần). Phân tử cực nhỏ không thể phân chia được gọi là Cực vi (Phạm:Paramàịu). Lấy phần cực vi làm trung tâm hợp với 6 phân tử cực vi của 6 phương làm 1 đơn vị, gọi là Vi trần. Nguyên tử luận cho rằng: Hết thảy mọi hiện tượng trong thế giới đều do sự quan hệ và vận động một cách ngẫu nhiên, máy móc của những hạt nguyên tử mà phát sinh. Học thuyết này đối lập với Mục đích luận, nhưng phù hợp với Duy vật luận. Ở Ấn độ, đầu tiên có Kì na giáo, kế đến là phái Thắng luận, đều lấy thuyết Nguyên tử làm giáo nghĩa cơ bản và cố sức xây dựng luận chứng về Nguyên tử luận. Trong Phật giáo, Hữu bộ và Kinh lượng bộ của Tiểu thừa đều dùng tư tưởng Nguyên tử luận để cải cách Phật giáo. Nhưng phái Trung quán thì đứng trên lập trường cơ bản là các pháp vốn không có thực thể tồn tại một cách cố định, rồi phái Du già Duy thức thì theo quan điểm ngoài tâm không có vật gì tổn tại để cùng phê phán kịch liệt tư tưởng của Hữu bộ và Kinh lượng bộ.

nguyên đạo

(原道) Tác phẩm, do Hàn dũ soạn vào đời Đường, Trung quốc. Nội dung trình bày Đạo của các bậc Thánh hiền như vua Nghiêu, vua Thuấn, Chu công, Khổng tử, tìm hiểu nguồn gốc Nho gia nhằm chấn hưng Nho giáo, phê bình Lão giáo là tư lợi, chê bai Phật giáo thiếu thực tế, chủ trương hủy bỏ kinh sách, tự quan của 2 đạo này. Đến đời Tống, thiên luận Nguyên đạo này mới được chú ý, Âu dương tu cũng soạn Bản luận chủ trương bài Phật. Nhưng đồng thời cũng có nhiều luận văn phản bác Nguyên đạo, như Phi hàn, Phụ giáo của Đại sư Khế tung, Hộ pháp luận của cư sĩ Trương thương anh, Nguyên đạo luận của vua Tống hiếu tông nhà Nam Tống và Tam giáo bình tâm luận của Lưu mật...

nguyện

(願) Phạm: Praịidhàna. Trong lòng quyết ý mong muốn thành tựu được mục đích. Cứ theo phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã quyển 3 và kinh Vô lượng thọ quyển hạ, thì Phật và Bồ tát ngay lúc mới phát tâm đều nguyện thành Vô thượng bồ đề và độ hết thảy chúng sinh. Đây gọi là Hoằng nguyện, cũng gọi là Tổng nguyện. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.6; kinh Niết bàn Q.24 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.9; luận Đại trí độ Q.7; luận Thành duy thức Q.9; Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].

nguyện ba la mật

(願波羅蜜) Phạm: Praịidhàna-pàramità. Cũng gọi Bát la ni đà na ba la mật. Hạnh nguyện rộng lớn của Bồ tát trên cầu đạo Bồ đề (giác ngộ), dưới hóa độ chúng sinh, là 1 trong 10 Ba la mật. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 18 (bản 80 quyển) thì Nguyện ba la mật có mười đức:1. Thành tựu cho hết tất cả chúng sinh.2. Trang nghiêm hết tất cả thế giới.3. Cúng dường hết tất cả chư Phật.4. Thông suốt hết các pháp không chướng ngại.5. Tu hành hết các hạnh trong khắp pháp giới.6. Thân hằng trụ trong hết các kiếp vị lai.7. Trí biết hết tất cả tâm niệm.8. Giác ngộ hết lưu chuyển hoàn diệt.9. Thị hiện trong hết tất cả quốc độ.10. Chứng hết được trí tuệ của Như lai. [X. kinh Hoa nghiêm Q.3 (bản 60 quyển); kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị Bồ tát].

nguyện ba la mật bồ tát

(願波羅蜜菩薩) Nguyện ba la mật, Phạm: Praịidhàna= pàramità. Hán âm: Ba la ni đà na ba la mật đa. Hán dịch: Thệ nguyện đáo bỉ ngạn. Vị Bồ tát ngồi ở phía nam, hàng trên, trong viện Hư không tạng thuộc Hiện đồ Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là 1 trong 10 bồ tát Ba la mật. Cũng được thấy trong Mạn đồ la Thiên thủ Quan âm. Vị Bồ tát này dùng 5 đại nguyện làm pháp nội chứng, lấy việc hóa độ chúng sinh làm bản thệ. Mật hiệu là Thành tựu kim cương, hình Tam muội da là túi lọc nước. Hình tượng của vị tôn này có thân màu vàng lợt, mặc áo yết ma, bàn tay phải dựng đứng hướng ra phía trước, ngón vô danh và ngón út co lại; bàn tay trái dựng thẳng, ngửa ra và hơi hướng lên, ngón trỏ và ngón giữa cầm túi lọc nước, ngồi bán già trên hoa sen đỏ. [X. kinh Kim cương đính du già thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát tu hành nghi quĩ Q.hạ; Thanh long tự nghi quĩ Q.trung].

nguyện chủ

(願主) Cũng gọi Bản nguyện chủ, Phát nguyện chủ, Bản nguyện. Người phát nguyện làm cho ngôi Tam bảo hưng thịnh, hoặc xây cất chùa viện, đắp vẽ tượng Phật, ấn tống kinh sách, hoặc treo phan, thắp đèn, đốt hương, rải hoa, hoặc cúng dường trai tăng v.v... đem công đức này hồi hướng vãng sinh về nước Cực lạc. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].

Nguyện căn

xem năm căn lành.

nguyện hành

(願行) Cũng gọi Hành nguyện. Từ gọi chung Nguyện và Hành. Nguyện là mong muốn, hành là thực hành. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ quyển hạ, phần 2 và Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn quyển 1, phần đầu, giải thích, thì chí mong hướng tới nhưng cần phải thực hành mới được đầy đủ, còn thực hành thì cũng phải có chí mong muốn mới đạt được kết quả. Vì thế nguyện và hành không thể tách rời nhau, mà phải kết hợp mới thành hiệu quả. Như các vị Bồ tát phát 4 thệ nguyện rộng lớn rồi nhờ thực hành 6 độ mà thành Phật quả. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.40; phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ; luận Bồ đề tâm; Tán A di đà Phật kệ].

nguyện hành cụ túc

(願行具足) Nguyện và hành đầy đủ. Tức tự mình phát nguyện rồi gắng sức tu hành để thành tựu thệ nguyện ấy 1 cách trọn vẹn. Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần (Đại 37, 250 thượng) nói: Nay trong Quán kinh này, 10 tiếng xưng niệm danh hiệu Phật tức là có 10 nguyện 10 hành đầyđủ. Khi niệm Na mô A di đà Phật, thì Na mô nghĩa là qui mệnh, cũng tức là nghĩa phát nguyện hồi hướng, đó là Nguyện; còn niệm A di đà Phật tức là Hành. Tịnh độ chân tông của Nhật bản cho rằng, vì trong pháp thể Na mô A di đà Phật có đầy đủ nguyện và hành của mình, cho nên chỉ cần 1 niệm tịnh tín, thì khi xưng niệm danh hiệu Na mô A di đà Phật liền đầy đủ nguyện và hành của đức Phật A di đà.

nguyện hải

(願海) Biển nguyện. Ví dụ bản nguyện của chư Phật Bồ tát rộng sâu, giống như biển cả mông mênh không bờ bến. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 3 (Đại 9, 410 thượng) nói: Nuôi lớn trong sạch, biển nguyện rộng sâu. [X. kinh Hoa nghiêm Q.6 (bản 80 quyển); Vạn thiện đồng qui tập Q.6].

Nguyện Học

願學; ?-1174|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10, kế thừa Thiền sư Viên Trí.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Phù Cầm. Lớn lên, Sư đến tham vấn Thiền sư Viên Trí ở chùa Mật Nghiêm và ngộ đạo nơi đây.|Sư đạt nhiều thần thông như trị bệnh, cầu mưa… Vua Lí Anh Tông kính phục, để Sư ra vào cung tự do. Sau, Sư viện cớ già bệnh về trụ trì chùa Quảng Báo ở làng Chân Hộ, Như Nguyệt. Học chúng đến rất đông, không dưới 100 người.|Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ 8, Sư gọi chúng lại phó chúc, nói kệ rồi viên tịch.

nguyện luân

(願輪) Bánh xe nguyện. Có 2 nghĩa: 1. Thệ nguyện rộng lớn của Bồ tát kiên cố, có năng lực phá dẹp tất cả ma chướng đối địch, giống như bánh xe báu của Luân vương, nên gọi là Nguyện luân. 2. Bản thân Bồ tát, trước sau xoay chuyển trong thệ nguyện của mình, siêng năng tinh tiến không ngừng, cũng như bánh xe quay vòng, vì thế gọi là Nguyện luân.

nguyện lực

(願力) Cũng gọi Bản nguyện lực, Đại nguyện nghiệp lực, Túc nguyện lực. (xt. Bản Nguyện Lực).

nguyện sinh

(願生) Gọi đủ: Nguyện vãng sinh. Đồng nghĩa: Dục sinh. Nguyện cầu vãng sinh về cõi Phật. Như nguyện sinh về Tịnh độ cực lạc của đức Phật A di đà ở phương Tây, hay nguyện sinh về cõi trời Đâu suất của bồ tát Di lặc... [X. kinh Quán vô lượng thọ; Vô lượng thọ kinh Ưu ba đề xá nguyên sinh kệ; Chuyển kinh hành đạo nguyện vãng sinh Tịnh độ pháp sự tán thượng, hạ].

nguyện thuyền

(願船) Thuyền thệ nguyện. Bản nguyện của Phật và Bồ tát thề nguyền cứu vớt hết thảy chúng sinh chìm đắm trong biển khổ sinh tử, như 48 thệ nguyện của đức Phật A di đà. Những đại nguyện này có năng lực cứu độ chúng sinh trong biển sinh tử đưa đến bến bờ Niết bàn, giống như con thuyền chở người vượt biển, cho nên được ví dụ là Nguyện thuyền.

nguyện thành tựu văn

(願成就文) Gọi tắt: Thành tựu văn. Kinh văn nói về việc đức Phật A di đà phát nguyện thành tựu Phật quả khi còn ở địa vị tu nhân. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng ghi lời nguyện thứ 11 của Ngài như sau (Đại 12, 268 thượng): Nếu tôi được thành Phật mà những trời, người trong cõi nước của tôi không trụ ở chính định cho đến khi được diệt độ, thì tôi sẽ không lên ngôi Chính giác. Cũng kinh trên, quyển hạ, thuật lại tướng thành tựu như sau (Đại 12, 272 trung): Nếu có những chúng sinh được sinh về nước kia thì tất cả đều trụ nơi chính định. Tại sao vậy? Vì trong nước Phật kia không có tà kiến và bất định.

nguyện thực

(願食) Thức ăn bằng sức thệ nguyện. Một trong 5 loại thức ăn, 1 trong 9 loại thức ăn. Chư Phật Bồ tát phát thệ nguyện rộng lớn độ thoát chúng sinh, muốn chúng sinh diệt hết phiền não, chứng được Bồ đề, nên các Ngài dùng thệ nguyện này để nuôi thân, thường tu muôn hạnh, nuôi lớn tất cả mầm lành để bồi bổ thêm cho tuệ mệnh, cũng như người thế gian ăn uống để bồi dưỡng thân thể, vì thế gọi là Nguyện thực. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.19; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].

nguyện trí

Phạn ngữ là praṇidhi-jđna, chỉ trí tuệ do nguyện lực dẫn sanh, tùy nguyện mà rõ biết, đối với các pháp không còn có sự chướng ngại. Xem thêm Ngũ trí tam-muội. ; (願智) Phạm: Praịidhi-jĩàna. Nguyện biết hết tất cả trí tuệ, là 1 trong những đức chung của Phật, chỉ có bậc La hán Bất động(bậc cao nhất trong 6 loại A la hán) mới có thể phát khởi trí này. Trước hết phát nguyện thành khẩn cầu biết được cảnh giới của Phật, rồi dùng trí thế tục làm tự tính, lại nương vào Thiền thứ tư làm sở y, nhờ gia hạnh này mà phát khởi diệu trí. Luận Câu xá quyển 27 (Đại 29, 142 thượng) nói: Lấy nguyện làm đầu, diệu trí phát sinh, như nguyện đã thành, nên gọi Nguyện trí. Ngoài ra, theo luận Thành thực quyển 16 thì Nguyện trí là 1 trong 5 trí, chỉ cho cái trí không bị chướng ngại đối với các pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.178, 179; luận A tì đạt ma thuận chính lí Q.75; Câu xá luận quang kí Q.27].

nguyện tác phật tâm

(願作佛心) Tâm ước mong được thành Phật, cũng tức là tâm cầu đạo quả Giác ngộ. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ thì trong kinh Vô lượng thọ, do đức Phật nói ở thành Vương xá, có ghi rằng: Đối với 3 hạng chúng sinh thượng, trung, hạ, tuy hành nghiệp có hơn kém khác nhau, nhưng đối với việc phát nguyện vãng sinh Tịnh độ thì mọi người đều phát tâm Vô thượng bồ đề. Tâm Vô thượng bồ đề này tức là tâm ước mong được thành Phật; tâm ước mong được thành Phật tức là tâm hóa độ chúng sinh; tâm hóa độ chúng sinh tức là tâm thu nhận chúng sinh sinh về nước Phật. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Quán vô lượng thọ].

nguyện tâm

(願心) Có 2 nghĩa: 1. Tâm nguyện cầu, như nguyện cầu được tỏ ngộ, hoặc nguyện vãng sinh Tịnh độ, cũng chỉ cho tâm nguyện đại bi của đức Phật A di đà được thể hiện qua lời thệ nguyện cứu độ chúng sinh trong vĩnh kiếp. 2. Tâm thứ 10 của giai vị Thập tín trong các giai vị tu hành của hàng Bồ tát, nghĩa là các thứ nguyện thanh tịnh của Bồ tát khi tu hành phát ra.

nguyện văn

(願文) Cũng gọi Kì nguyện văn, Phát nguyện văn. Bài văn phát nguyện bày tỏ ý hướng khi làm các việc phúc thiện như: Xây dựng chùa tháp, in kinh tạc tượng, thiết trai, tu pháp v.v... Phong tục này đã có rất sớm. Tại Trung quốc, vào thời Nam Bắc triều đã có các bài văn nguyện được khắc ở sau lưng hào quang hoặc ở tòa sen của các pho tượng Phật bằng đồng để cầu siêu cho người chết, hoặc cầu an cho thân tộc.Trong Quảng hoằng minh tập có nhiều bài nguyện văn như Thiên tăng hội nguyện văn của Trầm ước, Chu kinh tạng nguyện văn của Vương bao, Liêu dương sơn tự nguyện văn của Lư tư đạo đời Bắc Tề v.v... Ngoài ra, nếu trong ngày xướng đọc văn nguyện để kết nguyện thì gọi là Kết nguyện văn; nếu văn nguyện được viết bằng thể kệ tụng cho ngắn gọn, thì gọi là Chú nguyện văn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.12].

nguyện độ

(願土) Chỉ cho Tịnh độ cực lạc ở phương Tây, đất nước được thành tựu do sức bản nguyện của đức Phật A di đà. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 445 hạ) nói: Quán tưởng cõi nước Cực lạc của đức Phật A di đà được thành tựu bởi 48 thệ nguyện trang nghiêm của Ngài. Cõi nước ấy rộng lớn bằng phẳng do toàn các thứ báu tạo nên, đẹp đẽ hơn cõi nước của các đức Phật khác.

Nguyệt Am Tông Quang

月菴宗光; J: gettan sōkō; 1326-1389;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō), hệ phái Diệu Tâm tự (myōshin-ji).|Sư sống cùng thời với Thiền sư Bạt Ðội Ðắc Thắng (bassui tokushō), sớm xuất gia và tham học với nhiều vị Thiền sư Nhật danh tiếng đương thời như Cổ Tiên Ấn Nguyên (kosen ingen), Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) và Cô Phong Giác Minh (kohō kakumō). Nơi Thiền sư Ðại Trùng Tông Sầm (大蟲宗岑; daichū sáshin), Sư triệt ngộ. Sau một thời gian dài chu du đây đó, Sư khai sáng thiền viện Ðại Minh (daimyō-ji) tại Tajima, tỉnh Hyōgo và bắt đầu cuộc đời giáo hoá vinh quang của mình.|Pháp ngữ của Sư được các môn đệ biên tập và lưu lại đến ngày nay và trong số đó có rất nhiều bài thuyết pháp dành cho giới Cư sĩ. Sư giữ quan niệm rằng, cư sĩ cũng có thể tu tập thiền với những kết quả khả quan và nếu họ tu tập với tất cả tấm lòng thì có thể vượt qua cả những vị tăng ni vì trong thời của Sư, rất nhiều vị xuất gia tu hành chỉ chú trọng đến việc học suông. Sư được xem là một tấm gương sáng, là một vị Thiền sư sống với quần chúng, sống vì quần chúng ngoài tăng đoàn. Ví dụ như Sư chẳng ngần ngại gì khi thuyết pháp cho một nữ Cư sĩ, vốn theo đuổi thực hành những nghi lễ rườm rà, ôm ấp nhiều khái niệm về thiên đường, địa ngục, cõi Phật… Chẳng đi quanh co, Sư giảng ngay về Tâm và Phật tính cho vị nữ cư sĩ này: »Tâm này chính là Phật. Tâm này từ vô thuỷ vô minh đến giờ chưa từng vướng mắc Phiền não. Nếu phiền não chẳng có thì cũng chẳng có pháp nào được chứng đắc khi đạt đạo. Và nếu như Giác ngộ cũng như phiền não không thật có thì tâm này chẳng bao giờ liên quan gì đến sinh tử Luân hồi… Chẳng có Vô minh để vượt qua, chẳng có vọng niệm nào phải đoạn diệt. Vì không có thiện ác nên thiên đường địa ngục cũng không tìm đâu ra. Vì phải cũng như trái đều không có nên cũng chẳng có Tịnh độ cũng như trần cảnh.«

nguyệt bà thủ na

(月婆首那) Phạm: Upazùnya. Vị Vương tử của nước Ưu thiền ni thuộc Trung thiên trúc. Ngài có thiên tư sáng láng, chuyênnghiên cứu kinh Phật, giỏi âm vận tiếng địa phương. Vào đầu đời Đông Ngụy, ngài đến Trung quốc, trụ ở Nghiệp đô, lần lượt phiên dịch các kinh như: Kinh Tăng già tra, 4 quyển, kinh Tần bà sa la vương vấn Phật cúng dường, 1 quyển, kinh Ma ha ca diếp, 2 quyển, kinh Thắng thiên vương bát nhã, 7 quyển... Các sự tích khác về ngài không được rõ. [X. Tục cao tăng truyện Q.1; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9, 11; Khai nguyên thích giáo lục Q.6, 7].

nguyệt chu hoà thượng di lục

(月舟和尚遺錄) Gọi tắt: Nguyệt chu lục. Tác phẩm, 2 quyển, do ngài Nguyệt chu (1618-1696) thuộc tông Tào động Nhật bản giảng nói, thị giả là Trích thủy biên chép, được thu vào Đại chính tạng tập 82. Nội dung bao gồm: Thướng đường, đối cơ, tiểu Phật sự, chân tán, kệ tụng... cuối quyển có phụ thêm 1 bài Nguyệt chu hành trạng.

nguyệt chu thọ quế

(月舟壽桂) Thiền sư Nhật bản thuộc tông Lâm tế, người Kinh đô(Kyoto), biệt hiệu Huyễn vân. Sư là người học rộng, có tài thơ văn, là nhân vật đại biểu cho thời kì cuối của nền văn học Ngũ sơn. Năm Thiên văn thứ 2 (1533) sư tịch, hưởng thọ 74 tuổi. Sư để lại ngữ lục và các tác phẩm: Huyễn vân văn tập, Thi cảo cập tục cẩm tú đoạn, Sử kí sao, 8 quyển, Hoàng thị khẩu nghĩa 24 quyển. [X. Diên bảo truyền đăng lục Q.33; Bản triều cao tăng truyện Q.44].

nguyệt chủng

(月種) Phạm: Candra-vaôza. Cũng gọi Nguyệt thống. Một họ trong dòng Sát đế lợi, cùng với Nhật chủng là 2 Vương tộc lớn thời cổ đại ở Ấn độ. Tương truyền họ là con cháu của Nguyệt thiên.

nguyệt cái trưởng giả

(月蓋長者) Nguyệt cái, Phạm: Somachattra. Vị Trưởng giả ở nước Tì xá li, Ấn độ, sống vào thời đức Phật tại thế. Ông từng vào phương trượng của cư sĩ Duy ma để nghe pháp môn Bất nhị; ông cũng thỉnh 3 bậc Thánh ở phương Tây là đức Phật Vô lượng thọ, bồ tát Quan thế âm và bồ tát Đại thế chí cứu trừ 6 thứ bệnh dịch trong nước, bồ tát Quan thế âm liền thị hiệntuyên thuyết thần chú Tiêu phục độc hại đà la ni.Trong Thiền lâm, tượng của trưởng giả Nguyệt cái thường được thờ ở bên phải bồ tát Quan âm trên lầu các cửa chùa. [X. kinh Thỉnh Quan thế âm bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú; phẩm Hương tích Phật kinh Duy ma; phẩm Pháp cúng dường kinh Duy ma cật sở thuyết Q.hạ; phẩm Pháp cúng dường kinh Thuyết vô cấu xưng Q.6].

nguyệt cơ

(月基) Danh tăng Trung quốc thời hiện đại,người huyện Giang tô, tỉnh Giang tô, họ Vương, hiệu là Đại bản. Năm Dân quốc 11 (1922), sư nương vào Hòa thượng Tùng thái xuất gia ở am Khánh long tại Đông đài, Giang tô. Năm Dân quốc 20 (1933), sư thụ giới Cụ túc ở chùa Định tuệ, núi Tiêu sơn, Trấn giang. Sư tốt nghiệp ở các viện Phật học Khải tuệ, Lĩnh đông và Mân nam, từng giữ các chức vụ: Tri khách chùa Định tuệ, Giáo sư viện Phật học Bạch tước ở Ngô hưng, Trụ trì các chùa Thê hà ở Nhiếp sơn tại Nam kinh, chùa Hương lâm ở Chung sơn, Ủy viên thường vụ phân hội Phật giáo Nam kinh, Ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung quốc. Sau, sư sáng lập tinh xá Thê hà ở Cao hùng, Đài loan. Sư có các tác phẩm: Mật nghiêm kinh thuật yếu, Phật môn giai thoại, Trung ương thượng nhân cách mệnh sử thoại, Nam kinh Thê hà tự nạn dân thu dung sở chi hồi ức.

Nguyệt Cảm

(月感, Gekkan, 1600-1674): học Tăng của Phái Bổn Nguyện Tự thuộc Tịnh Độ Chơn Tông, sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; húy là Minh Liễu (明了), Nguyệt Cảm (月感); tự là Viên Hải (圓海); xuất thân vùng Phản Tỉnh (坂井, Sakai), Phì Hậu (肥後, Higo, thuộc Kumamoto-ken [熊本縣]). Ông được Liễu Tôn (了尊) ở Diên Thọ Tự (延壽寺) nuôi dưỡng, cho tu học và cuối cùng kế thế trú trì chùa này. Sau ông đến đọc các kinh sách ở Tàng Kinh Các của Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji), rồi du học ở Trường Khi (長崎, Nagasaki). Năm 1652, ông phê phán học thuyết tà nghĩa Tự Tánh Duy Tâm (自性唯心) của Năng Hóa Tây Ngâm (能化西吟) ở Học Liêu của Tây Bổn Nguyện Tự (西本願寺, Nishihongan-ji). Vấn đề này làm phát triển sự đối lập giữa Tây Bổn Nguyện Tự và Hưng Chánh Tự (興正寺, Kōshō-ji), rồi theo lệnh của chính quyền Mạc Phủ thì Học Liêu bị phá bỏ và bản thân ông bị lưu đày đến địa phương Xuất Vân (出雲, Izumo). Về sau, ông chuyển sang Phái Đại Cốc (大谷派). Trước tác của ông có An Tâm Quyết Định Sao Nhu Ký (安心決定鈔糅記) 17 quyển, Tứ Thập Bát Nguyện Lược Sao (四十八願略鈔) 2 quyển, v.v.

nguyệt diệu

(月曜) Phạm: Soma. Cũng gọi Thái âm, Nguyệt tinh, Nguyệt thiên diệu. Tức là mặt trăng, 1 trong 7 ngôi sao, 1 trong 9 vì tinh tú. Cứ theo kinh Tú diệu thì người sinh vào ngày Tú diệu sẽ rất thông minh tài trí, hình tướng đẹp đẽ, thích làm việc phúc, hay bố thí và thường hiếu thuận.Trong Mật giáo, Nguyệt diệu được coi là 1 bộ chúng thuộc Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị tôn này có thân màu da người, ngồi tréo chân trên bệ tròn, tay phải cầm vật hình bán nguyệt, trên đó có 1 con thỏ, tay trái để ở trước ngực. Đại nhật kinh sớ quyển 4 giải thích theo nghĩa sâu kín, cho rằng cầm mặt trăng là biểu thị hạnh bồ đề. [X. Tú diệu nghi quĩ; Bí tạng kí Q.cuối].

nguyệt dụ bồ tát thập chủng thiện pháp

(月喻菩薩十種善法) Mười pháp lành của Bồ tát được ví dụ với mặt trăng tròn sáng. Cứ theo kinh Trừ cái chướng bồ tát sở vấn quyển 7, Bồ tát đã sạch hết duyên trần, thể tính tròn sáng, ánh sáng trí tuệ chiếu soi cùng khắp, nếu các hữu tình qui ngưỡng thì khiến cho họ phát tâm bồ đề, thành tựu chủng trí; giống như mặt trăng lìa các nhiễm ô che khuất, tròn sáng rực rỡ, chiếu rọi khắp nơi, công đức không giới hạn, vì thế nên dùng mặt trăng làm thí dụ. Mười pháp lành ấy là: 1. Giai sinh hoan hỷ: Đều sinh vui mừng. Khi Bồ tát mới ra đời đã có thể làm cho các hữu tình xa lìa phiền não mà sinh vui mừng, giống như mặt trăng khi mới mọc, người thấy đều được mát mẻ, tâm sinh vui thích. 2. Chúng sở nhạo kiến: Mọi người đều muốn thấy. Khi Bồ tát mới ra đời, các căn thanh tịnh, chủng tử thuần khiết, đầy đủ mọi uy nghi khiến các hữu tình trông thấysinh tâm ưa thích; giống như mặt trăng lúc mới mọc, trong suốt tròn sáng, không ai mà không thích nhìn. 3. Thiện pháp tăng trưởng: Pháp lành thêm lớn. Bồ tát từ lúc mới phát tâm đã tinh tiến siêng tu mọi pháp lành, dần dần thêm lớn, cho đến khi ngồi ở đạo tràng, tất cả tướng tốt đẹp đều đầy đủ, thànhtựu trí đức; giống như mặt trăng mọc từ ngày mồng 1 đến ngày 15, ánh sáng tăng dần, đến ngày 15 thì tròn sáng rực rỡ, soitỏ khắp nơi. 4. Ác pháp tổn giảm: Pháp ác giảm dần.Khi Bồ tát có đủ trí xuất thế thì tất cả pháp ác mỗi ngày mỗi giảm, cho đến lúc ngồi ở đạo tràng thì sạch hết tất cả, thành tựu đoạn đức; giống như mặt trăng ngày 16 đến ngày 30, ánh sáng càng lúc càng giảm, đến đêm 30 thì bóng tối tràn ngập. 5. Hàm giai xưng tán: Thảy đều khen ngợi. Bồ tát khi mới ra đời, tất cả trời, gười, A tu la... đều khen ngợi; giống như mặt trăng lúc mới mọc, tất cả nhân dân lớn, bé trong thế gian đều ngẩng trông và khen đẹp. 6. Thể tướng thanh tịnh: Thể tướng trong sạch. Bồ tát tu hạnh xa lìa, thể tướngkhông nhiễm, thanh tịnh và hóa sinh, chẳng phải nhờ vả di thể bất tịnh của cha mẹ; giống như Nguyệt thiên tử do nghiệp thù thắng cảm được quả báo, thể tướng thanh tịnh, trong trắng không nhuốm. 7. Thừa tối thượng thừa: Ngồi xe tối thượng. Bồ tát được Tối thượng thừa, quay bánh xe pháp lớn, độ tất cả hữu tình khiến cho họ mở tỏ, vượt ra ngoài 3 cõi; giống như Nguyệt thiên tử xoay bánh xe trong sáng, chiếu rọi khắp 4 thiên hạ, khiến mọi người đều thoát khỏi bóng tối. 8. Thường tự trang nghiêm: Thường tự làm đẹp. Bồ tát tu các công đức thù thắng vi diệu thường tự trang nghiêm, không nhờ những vật trang sức bên ngoài; giống như Nguyệt thiên tử không cần tắm gội mà tự trong sáng sạch sẽ. 9. Du hí pháp lạc: Dạo chơi trong niềm vui pháp. Bồ tát thường dạo chơi trong pháp lạc thắng diệu, không nhiễm các cảnh giớidục lạc của thế gian; giống như Nguyệt thiên tử thường cảm nhận niềm vui cõi trời mà xa lìa uế nhiễm. 10. Cụ đại thần thông: Đủ thần thong lớn. Bồ tát được thần thông tự tại, vô lượng uy đức, khiến tất cả hữu tình xa lìa cấu nhiễm mê ám; giống như Nguyệt thiên tử trong sạch tròn sáng, chiếu soi hết thảy mọi vật khắp 4 thiên hạ.

nguyệt giang chính ấn thiền sư ngữ lục

(月江正印禪師語錄) Cũng gọi Nguyệt giang hòa thượng ngữ lục, Nguyệt giang Ấn thiền sư ngữ lục. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Nguyệt giang Chính ấn thuộc tông Lâm tế soạn vào đời Nguyên, ngài Cư giản biên tập, được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung ghi chép các phần: Thướng đường, tiểu tham ngữ, niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết, pháp ngữ, tán... của Thiền sư Chính ấn ở các chùa: Bích vân, Điện sơn, Nam thiền hưng quốc, Tuyên hóa và chùa Đạo tràng.

nguyệt hà

(月霞) Danh tăng Trung quốc, người huyện Hoàng cương, tỉnh Hồ bắc, họ Hồ, tên Hiển châu. Năm 17 tuổi, sư xuất gia ở chùa Đại chung tại Nam kinh, năm sau thụ giới Cụ túc ở núi Cửu hoa, là đệ tử nối pháp của Hòa thượng Dã khai ở chùa Thiên ninh tại Thường châu. Sư từng tham học ở các đại tông môn như: Kim sơn, Thiên ninh, Cao mân... và kết am tĩnh tu trên núi Chung nam. Sư lần lượt gần gũi các vị: Hòa thượng Liễu trần, Xích sơn Lão nhân. Mới đầu, sư học giáo nghĩa Thiên thai, sau chuyển sang học Hoa nghiêm. Đối với Pháp giới quán của ngài Đỗ thuận, chương sớ của các ngài Pháp tạng và Trừng quán, sư nghiên cứu rất sâu. Năm 41 tuổi, sư đi nhiều nơi trong và ngoài nước tuyên giảng các kinh luận Đại thừa như Hoa nghiêm, Lăng già, Đại thừa khởi tín... đặc biệt ra sức xiển dương tư tưởng Hoa nghiêm. Sư từng được mời đến tinh xá Kì hoàn ở Kim lăng để diễn giảng, đồng thời sáng lập hội Giáo dục Tăng già ở các tỉnh Giang tô, Hồ bắc. Năm Dân quốc thứ 2 (1913), sư giảng kinh ở vườn hoa Cáp đồng tại Thượng hải, năm sau, sư mở trường Đại học Hoa nghiêm tại đây. Về già, sư lập Pháp giới học uyển. Năm Dân quốc thứ 6 (1917), sư tịch ở chùa Ngọc tuyền tại Tây hồ thuộc Hàng châu, hưởng thọ 60 tuổi. Sư để lại tác phẩm: Duy ma cật kinh giảng nghĩa. [X. Trung quốc Phật giáo cận đại sử hạ sách (Đông sơ)].

Nguyệt hạ

(月下): dưới trăng; bên cạnh đó, nó còn là tên gọi của Nguyệt Hạ Lão Nhân (月下老人), Nguyệt Lão Công (月老公), Nguyệt Lão (月老), là vị thần chuyên quản lý việc hôn nhân trong truyền thuyết thần thoại Trung Quốc. Căn cứ tác phẩm Phù Sanh Lục Ký (浮生六記) của Trầm Phục (沉复, 1763-1825) nhà Thanh có giải thích rằng: “Nhất thủ hoán hồng ty, nhất thủ huề trượng huyền hôn nhân bộ, đồng nhan hạc phát (一手挽紅絲、一手攜杖懸婚姻簿、童顏鶴髮, ông lão một tay kéo sợi tơ hồng, một tay cầm gậy treo sổ hôn nhân, khuôn mặt trẻ con, tóc hạc).” Trong Tục U Quái Lục (續幽怪錄), phần Định Hôn Điếm (定婚店) của Lý Phục Ngôn (李復言, ?-?) nhà Đường sáng tác có ghi rõ truyền thuyết cho rằng vào năm đầu (627) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), dưới thời vua Đường Thái Tông (唐太宗), có một người tên Vi Cố (韋固), lúc nhỏ đã để tang cả song thân, lớn lên đi khắp nơi để cầu hôn mà chẳng nơi nào thành công cả. Một hôm nọ, chàng ta đến thành nhà Tống, tá túc trong một quán nọ. Người khách cùng ở trọ giới thiệu chàng với tiểu thư của quan Tư Mã Phan Phòng (司馬潘防), tiền nhiệm vùng Thanh Hà (清河). Sáng sớm hôm sau, Vi Cố đến trước cổng Long Hưng Tự (龍興寺) ở phía tây quán trọ, chí thành cầu nguyện cho việc hôn nhân được thành tựu. Đến tối, khi trăng lên, chợt thấy một lão già mang cái túi sau lưng, ngồi trên tầng cấp cổng chùa, đang đọc văn thư dưới ánh trăng. Thoáng nhìn qua, những dòng chữ trên quyển sách ấy rất kỳ lạ, không đọc ra được. Động tính hiếu kỳ, Vi Cố buột miệng hỏi: “Ông lão đang đọc loại sách gì vậy ? Lúc nhỏ tôi đã từng khổ công học khá nhiều, vậy mà nay chẳng đọc được dòng chữ trên sách đó, cũng chẳng phải là tiếng Phạn của Thiên Trúc (天竺), và sách này xưa nay chưa từng thấy qua.” Lão già cười bảo: “Đây chẳng phải là sách của thế gian đâu, làm sao ngươi có cơ hội xem qua được chứ ?” Vi Cố hỏi tiếp: “Thế thì đó là sách gì ?” Lão già đáp: “Sách của cõi u minh.” Vi Cố lại hỏi: “Người của cõi u minh làm sao mà gặp được tôi chứ ?” Đáp: “Các quan lại của cõi này mỗi người chủ quản mỗi công việc của nhân gian, cho nên thường lui tới nhân gian.” Lại hỏi: “Họ chủ quản việc gì ?” Đáp: “Hồ sơ hôn nhân của con người trong thiên hạ.” Nghe vậy, Vi Cố rất mừng rỡ, thưa rằng: “Tôi Vi Cố, cô thân một mình, mong sao sớm được lập gia thất, sanh con nối dõi tông đường; nhưng trong mười năm qua, đã cầu hôn ở nhiều nơi mà vẫn chưa thành công. Hôm nay, có người hẹn với tôi đến thương nghị với tiểu thư của Phan Tư Mã để cầu hôn, liệu việc có thành công chăng ?” Lão ông đáp: “Nay cơ duyên vẫn chưa đến. Vợ ngươi nay chỉ mới ba tuổi, cần phải mười bảy tuổi mới có thể lập gia thất được.” Nghe vậy, Vi Cố hoàn toàn thất vọng, nhân đó hỏi thêm rằng: “Thế thì, trong cái túi ông lão mang trên lưng có gì vậy ?” Đáp: “Tơ hồng, dùng để cột chân nam nữ thành vợ chồng. Chỉ cần một sợi tơ hồng này thôi, không ai có thể trốn thoát được.” Lại hỏi: “Vậy tôi có thể biết được người vợ tương lai của tôi thế nào không ?” Đáp: “Là con gái của bà lão bán rau họ Trần ở phía bắc quán trọ.” Lại hỏi: “Có thể gặp được không ?” Đáp: “Bà ấy thường bế con theo bán rau, ngươi chạy theo ta, ta sẽ chỉ cho thấy.” Nói xong, lão già xếp sách bỏ vào túi cất bước chạy; Vi Cố hối hả chạy theo sau. Khi đến chợ rau, họ trông thấy bà cụ mù một mắt, trên tay ẵm một đứa con gái khoảng 3 tuổi; tuy nhiên hình dạng đứa bé rát khó thấy. Lão già chỉ đưa bé nói: “Đó là vợ tương lai của ngươi.” Thoáng thấy, Vi Cố tức giận bảo: “Tôi phải giết nó !” Ông lão nói: “Trong mạng người này có quyết định thọ hưởng tước lộc, lại còn nương vào tài năng nhà ngươi mà được phong làm quan huyện, làm sao ngươi có thể giết được chứ ?” Nói xong, ông lão biến mất. Vi Cố trở về quán trọ, mài con dao nhỏ, đem giao cho người hầu, bảo: “Nếu ngươi thay ta giết đứa bé kia, ta sẽ thưởng cho một vạn tiền.” Tên nô bộc nhận lời ngay. Sáng hôm sau, tên nô bộc giả dạng đến chợ bán rau, dùng dao nhỏ đâm đứa bé và trở về báo cho Vi Cố sự việc hoàn tất. Từ đó, chàng thanh niên này tiếp tục tha phương cầu hôn khắp nơi, nhưng cũng không hề thành công. Mười bốn năm sau, nhân vì triều đình tưởng nhớ đến công đức của phụ thân Vi Cố, phong cho anh làm Tham Quân (參軍) vùng Tương Châu (相州). Sắc Sứ Vương Thái (王泰) biết chàng có tài năng, nhường cho trông coi quản lý hình ngục, đem con gái gả cho. Tiểu thư họ Vương khoảng 17 tuổi, dung mạo rất xinh đẹp, làm cho Vi Cố hài lòng khôn xiết. Chỉ có một điều là trên lông mi của nàng ta thường gắn cái kẹp hoa, ngay cả khi tắm rửa cũng không hề tháo ra. Cưới nhau được ba năm, Vi Cố cũng đã ba lần hỏi nguyên do vì sao mang kẹp hoa như vậy, phu nhân đều thương tâm rơi lệ giải thích rằng: “Thiếp chỉ là con nuôi của Sắc Sứ thôi, chẳng phải là con ruột. Xưa kia, phụ thân thiếp từng làm Huyện Lịnh của thành nhà Tống, sau đó qua đời trong khi thiếp đang còn ẵm trên tay. Mẹ cũng như anh thiếp cũng thay nhau từ trần. Nơi phía nam thành có một trang điền, chủ nhân là bà họ Trần, xót thương đem thiếp về nuôi. Quán trọ gần bên trang điền ấy, ngày nào bà cụ cũng đi bán rau kiếm sống qua ngày. Thấy thiếp đang còn nhỏ, không thể bỏ một mình ở nhà, nên thường ẵm thiếp ra chợ rau. Có hôm nọ, bỗng nhiên có tên tặc tử điên khùng, dùng dao đâm thiếp và viết thương đến nay vẫn còn. Cho nên, thiếp thường đeo kẹp hoa để che vết thương ấy. Khoảng bảy, tám năm trước, thúc thúc đến làm quan vùng phụ cận này, thiếp theo người cho đến bây giờ.” Vi Cố hỏi: “Bà họ Trần có phải mù một mắt không ?” Phu nhân đáp: “Đúng vậy !” Nhân đó, Vi Cố thuật lại toàn bộ câu chuyện năm xưa cho vợ nghe; cả hai lại càng thương yêu, kính mến nhau. Về sau, họ sanh hạ được con trai tên Vi Côn (韋鯤), Vi Cố được phong làm Thái Thú (太守) trấn thủ biên cương Nhạn Môn (雁門) và cô gái họ Vương được phong là “Thái Nguyên Quận Thái Phu Nhân (太原郡太夫人).” Từ đó, tín ngưỡng về Nguyệt Lão rất thịnh hành ở Trung Quốc, ở bất cứ địa phương nào cũng đều có đền thờ vị thần hôn nhân này. Trong Hồng Lâu Mộng (紅樓夢), hồi thứ 57 của Tào Tuyết Cần (曹雪芹, 1715?-1763?) nhà Thanh có câu: “Nhược thị Nguyệt Hạ Lão Nhân bất dụng hồng tuyến thuyên đích, tái bất năng đáo nhất xứ (若是月下老人不用紅線拴的、再不能到一處, nếu như ông già dưới trăng không dùng giây tơ buộc lại, lại không thể đến một nơi được).” Việt Nam chúng ta có từ “Ông Tơ Bà Nguyệt” cũng xuất phát từ truyền thuyết kể trên. Như trong bài văn khấn cầu hôn có câu: “Con lạy bà Nguyệt ông Tơ, con lạy Hoàng Bảy Hoàng Bơ Hoàng Mười, tuổi con nay đã cao rồi, mà không tìm được một người kết duyên, tâm tư mang nặng ưu phiền, lòng con buồn tủi triền miên tháng ngày, con còn lầm lỗi chi đây, cúi xin nguyệt lão từ đây độ trì, tơ hồng lưỡng tính xương kỳ, quế loan cầm sắt yến đi khan thường, thiên tiêu nguyệt lão rủ thương, rất công rất chính chẳng thiên bên nào…”

nguyệt kị

(月忌) Cũng gọi Tường nguyệt. Ngày giỗ được cử hành mỗi tháng một lần. [X. Sa thạch tập Q.2, phần đầu].

nguyệt liễn

(月輦) Xe của Nguyệt thiên tử. Cứ theo kinh Khởi thế quyển 10 thì nguyệt liễn được làm bằng lưu li xanh, cao 16 do tuần, rộng 8 do tuần; Nguyệt thiên tử và các thiên nữ ngồi trong xe này cùng nhau hưởng thụ công đức 5 dục lạc của cõi trời và muốn đi đâu tùy ý.

nguyệt luân

(月輪) I. Nguyệt Luân. Bánh xe mặt trăng, tên khác của mặt trăng, vì mặt trăng tròn như bánh xe nên gọi là Nguyệt luân. Cứ theo luận Câu xá quyển 11, thì đường kính Nguyệt luân dài 50 do tuần, phía dưới của Nguyệt luân là bảo thủy châu Pha chi ca có thể lạnh cũng có thể chiếu sáng. Trong Nguyệt luân có Nguyệt cung tạo thành bởi pha lê màu bạc và màu xanh, là nơi ở của Nguyệt thiên tử cùng với vợ và thiên chúng. Mật giáo gọi Nguyệt luân là Nguyệt thiên, là 1 trong 12 vị thần trời hộ thế. Lại vì Nguyệt luân chỉ cho mặt trăng tròn nên cũng được dùng để tượng trưng cho trí đức viên mãn, tâm Phật, tâm bồ đề... [X. kinh Trường a hàm Q.22; kinh khởi thế Q.10; luận Bồ đề tâm]. II. Nguyệt Luân (?- ?). Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tếsống vào đời Thanh, người Mã long, tỉnh Vân nam, họ Dịch. Sư xuất gia và thụ giới Cụ túc năm 18 tuổi, tham học Thiền sư Chân viên Nguyệt đàm, hơn 1 năm sau sư được ấn khả. Sau đó, sư lại đi tham vấn các bậc tôn túc khắpmiền Nam, Bắc. Sư ở Yên kinh (Bắc bình) 26 năm, rất đông người từ khắp nơi đến tham học, danh tiếng của sư được lan truyền đến triều đình. Vua rất quí trọng và 2 lần ban cho sư áo đỏ và Đại tạng kinh. Cuối đời, sư trở về tỉnh Vân nam, trụ trì 2 ngôi chùa nổi tiếng là Hoa đình và Hoa nghiêm, chấn hưng tông phong, có ngữ lục lưu hành ở đời. [X. Tăng đính Phật tổ đạo ảnh Q.2 (Hư vân)].

nguyệt luân quán

(月輪觀) Cũng gọi Tịnh bồ đề tâm quán. Pháp quán tưởng tâm của mình như mặt trăng tròn sáng. Tức pháp quán chữ (a). Cứ theo luận Bồ đề tâm thì trăng tròn là thể viên minh giống như tâm bồ đề, cho nên ví dụ tâm mình như vầng trăng. Người tu hành trong tâm quán tưởng vầng trăng sáng, có thể thấy tâm mình vốn vắng lặng trong sáng, cũng như ánh trăng chiếu khắp hư không mà không hề phân biệt. Hành giả lúc mới bắt đầu tu quán, nếu trong tâm không quán tưởng được thì có thể vẽ 1 vòng tròn, đường kính 1 khuỷu tay, trong vòngtròn có hoa sen trắng 8 cánh (hoặc vẽ vầng trăng trên hoa sen), trên hoa sen viết 1 chữ (a) màu vàng. Hành giả ngồi kết già, nhìn thẳng vào hình vẽ, 2 tay kết ấn, quán tưởng tâm mình cũng như mặt trăng. Đây là pháp quán cơ bản trong các pháp quán của Mật giáo. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp Đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.thượng; kinh Tâm địa quán Q.8].

Nguyệt Lâm Đạo Kiểu

(月林道皎, Gatsurin Dōkō, 1293-1351): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Tùng Nguyên (松源) thuộc Lâm Tế Tông, húy là Diệu Hiểu (妙曉), Đạo Kiểu (道皎); đạo hiệu là Nguyệt Lâm (月林), thụy hiệu là Phổ Quang Đại Tràng Quốc Sư (普光大幢國師); hiệu là Độc Bộ Tẩu (獨歩叟), Viên Minh Tẩu (圓明叟), Phật Từ Tri Giám Đại Sư (佛慈知鑑大師); xuất thân vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, thuộc Kyoto); con của Trung Nạp Ngôn Cửu Ngã Cụ Phòng (中納言久我具房). Lúc còn tuổi thơ, ông đã theo mẹ đến Bình Truyền Tự (平泉寺) làm thị giả và học về giáo học, đến năm 16 tuổi thì xuống tóc xuất gia, làm môn đệ của Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日) ở Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau khi Thầy mình qua đời, ông đến tham bái Tông Phong Diệu Siêu (宗峰妙超) ở Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji). Sau đó ông đã quy y cho Hoa Viên Thượng Hoàng (花園上皇). Vào mùa xuân năm thứ 2 (1322) niên hiệu Nguyên Hanh (元亨), ông sang nhà Nguyên cầu pháp, đến tham bái Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂) và kế thừa dòng pháp của vị này. Vua Văn Tông (文宗) nhà Nguyên có ban cho ông hiệu là Phật Từ Tri Giám Đại Sư. Đến năm 1330, ông quay trở về nước. Ông nhận lời quy y cho vị Lãnh Chúa vùng Mai Tân (梅津, Umezu) là Thanh Cảnh (清景), cải đổi ngôi chùa của Thiên Thai Tông thành Trường Phước Thiền Tự (長福禪寺), và làm vị Tổ khai sơn chùa này. Đến ngày 25 tháng 2 năm thứ 2 niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông thị tịch, hưởng thọ 59 tuổi đời và 44 hạ lạp. Ông được ban thụy hiệu là Phổ Quang Đại Tràng Quốc Sư. Bộ Nguyệt Lâm Kiểu Thiền Sư Ngữ Lục (月林皎禪師語錄), 2 quyển, hiện vẫn còn.

Nguyệt Minh

(月明, Gatsumyō, 1386-1440): vị Tăng của Nhật Liên Tông, sống vào khoảng giữa thời đại Thất Đinh; húy là Nguyệt Chu (月周), Nguyệt Minh (月明), tự là Cụ Giác (具覺). Năm 1403, ông xuất gia thọ giới với Nhật Tể (日霽) ở Diệu Bổn Tự (妙本寺); rồi đến năm 1405 thì làm trú trì đời thứ 5 của chùa, và năm 1413 thì được phong chức Tăng Chánh. Ông chủ trương giáo nghĩa Bổn Tích Nhất Trí, rồi cọng thêm việc chúng môn đồ phê phán ông trong việc kết thân với hàng công khanh để tạo thêm thế lực cho chùa, và đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho sau này môn lưu của Nhật Long (日隆) bị phân phái. Hơn nữa, môn đồ của Tỷ Duệ Sơn cũng phản bác về việc ông được thăng chức Tăng Chánh, nên các đường tháp của chùa đã bị tàn phá tan tành. Trước tác của ông có Hộ Quốc Lợi Sanh Luận (護國利生論) 1 quyển, Chánh Tượng Mạt Tam Thời Chi Hành Tướng (正像末法之行相) 1 quyển, Tái Hưng Diệu Bổn Tự Đại Chúng Trung Thư (再興妙本寺大眾中書) 1 quyển.

nguyệt quan

(月官) Phạm: Chandragomin. Tạng:Btsun-pa. Danh tăng kiêm học giả phái Du già hành ở Ấn độ, sống vào khoảng thế kỉ VII. Sư là con của học giả Vệ thế ca (Phạm: Vizewaka) xuất thân từ vương tộc Bengal ở Đông Ấn độ. Ở tuổi 20, sư đã có trình độ học vấn sâu rộng, từng theo 1 vị A xà lê Đại thừa thụ tam qui ngũ giới, lại theo ngài An tuệ (Phạm: Sthiramati) học Duy thức, theo A xà lê A thù ca (Phạm: Azoka) nhận mật chỉ. Sư kết hôn với con gái của vua Ngõa nam đắc lạp (Phạm: Varendra) tên là Đala (Phạm: Tàrà), nhưng vì hôn thê trùng tên với thần nữ Đa la nên sư không chịu, bèn quyết chí xuất gia. Nhà vua nổi giận, sai quan Hình lại ném sư xuống sông Hằng. Lúc ấy, có vị sư xuất hiện, khuyên sư nên cầu nguyện thần Đa la, nhờ đó, sư đã được 1 ông chài cứu sống. Về sau, sư thông suốt các kinh sách như: Ba nhĩ ni (Phạm: Pàịini), Thánh diệu cát tường chân thực danh kinh Phạm: Maĩjuzrì-nàma-saôgìti), Nhất bách ngũ thập tán Phật tụng Phạm: Zatapaĩcazatikà-nàma-stotra) của ngài Mã minh. Sau, sư cảm nhận lời dạy của bồ tát Quan thế âm (Phạm: Bhaỉỉ= àraka-lokezvara) nên trứ tác nhiều sách về Đại thừa như: Nguyệt đăng chú (Phạm: Candrapradìpa-ỉìkà), Nhập tam thân (Phạm:Kàyatrayavatàra) và rất nhiều tác phẩm khác. Bấy giờ, trong phái Đại thừa Trung quán cụ duyên có ngài Nguyệt xứng và ngài Phổ hiền cùng soạn sách, sư Nguyệt quan xem qua liền ném những sách của mình soạn xuống giếng. Bồ tát Quan thế âm hiện ra bảo rằng: Các trứ tác của ông phát xuất từ thâm tâm rất lợi ích cho hữu tình. Sư tuân theo lời dạy của Bồ tát bèn xuống giếng lấy sách của mình lên và nhờ uống nước giếng mà tâm trí sáng suốt, đến tranh luận với ngài Nguyệt xứng và bác bỏ luận thuyết của ngài. Sư suốt đời tận lực hộ trì giáo pháp. Về già, sư lên núi Bổ đà lạc ca và sau tịch ở đó. Tác phẩm của sư rất nhiều, tương truyền lớn nhỏ tất cả có tới 432 bộ. [X. History of Buddhism by Bu-ston (E. Obermiller); Đông bắc Đế quốc đại học Tây tạng Đại tạng kinh tổng mục lục].

Nguyệt Quang

月光; C: yuèguāng; J: gakkō;|Danh hiệu của một vị Bồ Tát.

nguyệt quang bồ tát

(月光菩薩) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. I. Nguyệt Quang Bồ Tát. Tên của đức Phật khi tu hạnh Bồ tát ở quá khứ hiện thân Quốc vương. (xt. Nguyệt Quang Vương). II. Nguyệt Quang Bồ Tát. Cũng gọi Nguyệt tịnh bồ tát, Nguyệt quang biến chiếu bồ tát. Vị Bồ tát thị giả của đức Dược sư Như lai. Cứ theo kinh Dược sư Như lai bản nguyện, thì vị Bồ tát này cùng với bồ tát Nhật quang (Phạm: Sùryaprabha) đều là bậc Thượng thủ trong vô lượng vô số Bồ tát sẽ lần lượt được bổ xứ thành Phật. Ngoài ra, theo Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp, bồ tát Nguyệt quang có thân màu trắng, ngồi trên tòa hình con ngỗng, tay cầm mặt trăng. [X. kinh Dược sư lưu li quang Như lai bản nguyện công đức; Dược sư Như lai quán hành nghi quĩ pháp]. III. Nguyệt Quang Bồ Tát. Vị Bồ tát trong viện Văn thù trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Là 1 trong 16 vị tôn của Hiền kiếp thuộc Mạn đồ la Kim cương giới. -Trong Mạn đồ la Kim cương giới, bồ tát Nguyệt quang ngồi ở mé tây của viện thứ 2 trong hội Vi tế. Thân hình màu trắng, tay trái nắm lại để ở ngang hông, tay phải cầm vầng trăng sáng hoặc cầm hoa sen, trên hoa có nửa vầng trăng. Mật hiệu là Thanh lương kim cương, hình Tam muội da là hình bán nguyệt. -Trong Mạn đồ la Thai tạng giới, vị Bồ tát này ngồi ở phía bên phải bồ tát Diệu cát tường, khoảng giữa bồ tát Diệu âm và bồ tát Vô cấu quang trong viện Văn thù. Tay phải nắm lại, cầm hoa sen để ở ngang hông, trên hoa sen có nửa vành trăng; tay trái cầm hoa sen búp để ở ngang ngực, ngồi kết già trên đài sen. Mật hiệu là Uy đức kim cương, hình Tam muội da là hoa sen xanh, trên hoa đặt hình bán nguyệt. [X. kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ; Hiền kiếp thập lục tôn; A xà lê sở truyền Mạn đồ la trong Đại nhật kinh sớ Q.6; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.2; Bí tạng kí; Kim cương giới thất tập Q.hạ; Thai tạng giới thất thập Q.trung; Chư thuyết bất đồng kí Q.5].

nguyệt quang thái tử

(月光太子) Tiền thân của đức Phật ở đời quá khứ khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát. Thái tử Nguyệt quang là con 1 vị quốc vương, một hôm đang đi dạo chơi bên ngoài, gặp 1 người bệnh hủi cầu xin Thái tử cứu chữa. Nguyệt quang hỏi các thầy thuốc, họ cho biết chỉ có máu tủy của 1 người từ nhỏ đến lớn chưa từng nóng giận thì mới chữa được bệnh này. Thái tử liền cắt da lấy máu cho uống và chặt xương lấy tủy thoa lên than người bệnh. [X. luận Đại trí độ Q.12; Kinh luật dị tướng Q.31].

nguyệt quang vương

(月光王) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. Hán âm: Chiến đạt la bát lạt bà, Chiên đà bà la tì. I. Nguyệt Quang Vương. Cũng gọi Nguyệt quang bồ tát. Vị vua ở Ấn độ thời cổ đại, tiền thân của đức Phật ở quá khứ khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát. Vị vua này có uy đức lớn, đã bố thí đầu của mình cho Bà la môn Lao độ sai, mà thành tựu viên mãn hạnh Bố thí ba la mật. [X. kinh Hiền ngu Q.6; kinh Nguyệt quang bồ tát; kinh Đại bảo tích Q.80]. II. Nguyệt Quang Vương. Tên khác của vua Ba tư nặc nước Xá vệ ở Ấn độ vào thời đức Phật tại thế. Kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật quyển thượng (Đại 8, 825 trung) nói: Vua Ba tư nặc của nước Xá vệ tên là Nguyệt quang.

nguyệt quang đại thần

(月光大臣) Vị đại thần của vua Tần bà sa la nước Ma yết đà ở Ấn độ đời xưa. Ông là người thông minh đa trí, khi Thái tử A xà thế đối xử với vua cha 1 cách bạo ác, ông đã cùng với lương y Kì bà hết sức can gián. [X. kinh Quán vô lượng thọ].

nguyệt quang đồng tử

(月光童子) Nguyệt quang, Phạm: Candra-prabha. Cũng gọi Nguyệt minh đồng tử, Nguyệt quang bồ tát, Nguyệt quang nhi. Con của trưởng giả Thân nhật ở thành Vương xá vào thời đại đức Phật tại thế. Cứ theo kinh Nguyệt quang đồng tử, thì trưởng giả Thân nhật nghe lời của Lục sư ngoại đạo: Bất lan ca diếp đào hầm đốt lửa trong đó để hãm hại đức Phật, đồng tử Nguyệt quang biết chuyện liền can ngăn nhưng ông ta không nghe. Khi đức Phật đến, hầm lửa bỗng biến thành ao tắm; Thân nhật sợ hãi, xin sám hối và qui y Phật, được Phật mở tỏ cho liền chứng pháp Nhẫn bất thoái chuyển. Ngoài ra, theo kinh Thân nhật, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 1.000 năm, đồng tử Nguyệt quang sinh vào nước Tần (Trung quốc) làm Thánh quân, giữ gìn kinh pháp, giáo hóa nhân dân làm cho đạo pháp hưng thịnh. [X. kinh Đức hộ trưởng giả Q.hạ; kinh Bảo vũ Q.1; kinh Nguyệt đăng tam muội; kinh Nguyệt minh bồ tát].

Nguyệt Quang đồng tử kinh

月光童子經; C: yuèguāngtóngzǐjīng; J: gakkō-dōshikyō;|1 quyển. Theo truyền thống, thường gán cho Pháp Hộ (s: dharmapāla), nhưng theo những học giả hiện đại thì đó là một kinh văn nguỵ tác.

nguyệt thiên

(月天) Phạm: Candra. Hán âm: Chiên đà la, Chiến đạt la, Chiến nại la. Cũng gọi Nguyệt thiên tử, Bảo cát tường thiên tử. Vị tôn trong viện Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới, là 1 trong 12 vị trời, 1 trong 20 vị trời thuộc Ngoại bộ của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Vị tôn này vốn là mặt trăng được Bà la môn giáo Ấn độ thần cách hóa, gọi là Nguyệt thiên. Xưa gọi là Tô ma (Phạm: Soma), Tô ma đề bà (Phạm: Soma-deva), Tinh tú vương (Phạm:Nakwatra-nàtha), Sáng dạ Phạm:Nizà-kara), Thái bạch quang (Phạm: Zìtànzu)...Trong Mật giáo, Nguyệt thiên thuộc Thiên bộ hộ trì Phật pháp, được an vị ở bên cạnh Câu ma la thiên về phía tây trong viện Ngoại kim cương bộ của Thai tạng giới. Về hình tượng thì Nguyệt thiên có thân màu da người, ngồi trên 3 con ngỗng, tay trái để ở ngang ngực, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út co lại, tay phải cầm gậy, đầu gậy có hình nửa mặt trăng. [X. phẩm Tựa kinh Pháp hoa; kinh Đại lâu thán Q.6; phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5; Thập nhị thiên cúng nghi quĩ; Bí tạng kí]. (xt. Nguyệt Liễn).

nguyệt thượng nữ

(月上女) Con gái của trưởng giả Tì ma la cật ở thành Vương xá tại Ấn độ thủa xưa. Nguyệt thượng nữ có nhan sắc xinh đẹp, được nhiều người trong thành đến cầu hôn. Nguyệt thượng liền hẹn 7 ngày sau sẽ chọn. Đến kì hạn, Nguyệt thượng bay lên hư không nói kệ, mọi người nghe xong liền dứt tâm tham dục. Sau đó, Nguyệt thượng nữ gặp ngài Xá lợi phất và cùng theo Ngài đến chỗ đức Phật. Tại đây, Nguyệt thượng nữ luận bàn thâm nghĩa với ngài Xá lợi phất và ngài Văn thù sư lợi, hiện nhiều thần biến kì lạ, đồng thời chuyển thân nữ thành thân nam rồi qui y Phật và xuất gia. [X. kinh Nguyệt thượng nữ Q.thượng].

nguyệt thượng nữ kinh

(月上女經) Phạm: Candrottàra-dàrikàparipfcchà. Kinh, 2 quyển, do ngài Xà na quyệt đa dịch vào năm Khai hoàng 11 (591) đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này thuật lại việc Nguyệt thượng nữ, con gái của trưởng giả Tì ma la cật ở thành Tì da li được gặp ngài Xá lợi phất, được đến chỗ đức Phật, gặp bồ tát Văn thù sư lợi... rồi hiện thần biến, chuyển thân nữ thành thân nam, qui y Phật và xuất gia v.v... [X. kinh Nguyệt thượng nữ]. (xt. Nguyệt Thượng Nữ).

nguyệt thị

(月氏) Kuwana. Cũng gọi Nguyệt chi, Nguyệt để, Nhục chi. Một chủng tộc sinh sống ở khoảng thế kỉ III trước Tây lịch đến thế kỉ V Tây lịch ở các vùng tây Bắc Trung quốc, Tây vực, giữa Trung quốc và Ấn độ, tây bắc Ấn độ, lưu vực sông Hằng, lưu vực Ngũ hà v.v... Giữa các học giả có nhiều thuyết về chủng tộc Nguyệt thị, hoặc cho rằng họ thuộc chủng tộc Tây tạng, hoặc chủng tộc Mông cổ, chủng tộc Đột quyết, Ấn độ Tây đề á (Indo-cythians), Để khương... Tập tục của chủng tộc này giống với tập tục của tộc Hung nô. Theo Sử kí và Hán thư thì tộc Nguyệt thị sống ở khoảng giữa Đôn hoàng và núi Kì liên thuộc vùng Tây bắc Trung quốc. Vào đầu đời Hán, vì tránh Hung nô ở phía bắc, nên họdời sang phía tây, sau cướp lấy đất của tộc Tắc (Saka) và Ô tôn, hàng phục Đại hạ (Bactria), chiếm cứ 1 vùng từ song Qui (nay là sông A mẫu) trở về phía bắc, gọi là Đại nguyệt thị. Số còn lưu lại ở Đôn hoàng thì chiếm cứ vùng Nam sơn (tức núi Kì liên), gọi là Tiểu nguyệt thị, cũng gọi Hoàng trung nguyệt thị (Hoàng trung tức vùng phụ cận Tây ninh ngày nay), Hoàng trung nguyệt thị hồ. Sau khi định cư, Đại nguyệt thị đóng đô ở thành Lam tử (thuộc Bắc bộ A phú hãn hiện nay) về phía nam sông Qui, đem vùng đất của Đại hạ chia cho Ngũ hấp hầu (năm chư hầu)trấn giữ: Hưu mật hấp hầu cai quản thành Hòa mặc (Sarik-chaupan), Song mi hấp hầu cai quản thành Song mi (Mastoj), Quí sương hấp hầu cai quản thành Hộ táo (tây bộ Wakhan), Hật đốn hấp hầu cai quản thành Bạc mao (Badaxshan) và Đô mật (Cao phụ) hấp hầu cai quản thành Cao phụ (Jamgan). Ngũ hấp hầu đều trực thuộc Đại nguyệt thị. Hơn 100 năm sau, Quí sương Hấp hầu là Khưu tựu khước (Kujura adphises I) đánh dẹp hết 4 Hấp hầu kia, tự lập làm vua, đặt quốc hiệu là Quí sương (Kushàn) thay cho địa vị của Đại nguyệt thị, rồi chinh phục An tức, thôn tính vùng đất Cao phụ (Kabul, thủ đô của nước Afghanistan ngày nay), đồng thời diệt Bộc đạt, Kế tân (Dardisthan), chiếm vùng đất tỉnh Bàng già phổ (Panjab) của Ấn độ... Từ đó về sau, Đại nguyệt thị lẽ ra phải được gọi là Vương triều Quí sương, nhưng Trung quốc vẫn cứ gọi là Đại nguyệt thị. Sau khi Khưu tựu khước mất, con là Diêm cao trân Wema Kadphises II) lên thay, lại đánh chiếm lấy nước Kiện đà la ở Bắc Ấn độ, để tướng quân lại trấn giữ, đó là thời kì toàn thịnh của Đại nguyệt thị. Thời kì Diêm cao trân tại vị, ông ra sức phát triển giao thông đối ngoại, đặc biệt là trao đổi sứ thần với La mã, dùng vàng đúc tiền để mở mang kinh tế. Cũng nhờ sự dung hợp văn hóa Đông Tây mà nền mĩ thuật Phật giáo kiểu Hi lạp được hình thành, tức là mĩ thuật Kiện đà la mà đối với nền mĩ thuật Phật, giáo châu Á nói chung, đã có ảnh hưởng rất sâu đậm. Đến thời vua Ca nị sắc ca thì biên cương lại được mở rộng thêm, thế lực của Đại nguyệt thị vượt qua dãy núi Thông lãnh sang phía đông, đến sông Qui ở phía Bắc, An tức ở phía tây và phía nam thì lưu vực Ngũ hà cho đến dãy núi Tần đà sơn (Vindhya). Vua đóng đô ở thành phố Bố lộ sa bố la (Phạm: Puruwapura), hết sức bảo hộ Phật pháp, xây cất chùa tháp, đồng thời, triệu thỉnh 500 vị A la hán đến nước Ca thấp di la để biên soạn luận Đại tì bà sa. Trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, lòng chân thành kính tin và sự cống hiến của vua Ca nị sắc ca đối với Phật giáo chỉ đứng sau vua A dục (Phạm: Azoka) mà thôi. Các bậc Đại luận sư lừng danh như: Long thụ, Mã minh... đều sinh vào thời đại vua Ca nị sắc ca. Khoảng thế kỉ III trước Tây lịch, vua A dục của Ấn độ từng phái các vị Truyền giáo tăng sứ đến nước Đại hạ hoằng pháp, mà Đại hạ đương thời là căn cứ địa của Đại nguyệt thị, cho nên đương nhiên là giữa Đại nguyệt thị và Phật giáo đã có sự tiếp xúc. Lãnh thổ của Đại nguyệt thị lúc đó đã rất rộng: Từ Bắc Ấn độ cho đến phía nam dãy núi Hưng đô khố thập (Hindukush), vì thế, Đại nguyệt thị chẳng những chỉ trở thành môi giới của việc giao lưu văn hóa giữa Trung quốc và Ấn độ mà đối với việc truyền bá Phật pháp sang phía đông cũng có ảnh hưởng rất to lớn. Cứ theo Lí hoặc luận của Mâu tử và Hậu Hán thư quyển 42, thì trong năm Vĩnh bình (58-78) vua Minh đế nhà Hậu Hán từng sai các ông Thái hâm, Tần cảnh v.v... đến Đại nguyệt thị sao chép kinh Phật mang về Lạc dương. Các bậc Đại đức Tam tạng nổi tiếng như: Chi lâu ca sấm, Chi diệu, Chi cương lương tiếp v.v... của Nguyệt thị cũng nối tiếp nhau đến Trung quốc truyền pháp. Còn những vị mang họ Chi như: Chi lượng, Chi khiêm, Trúc pháp hộ, Chi pháp độ, Chi đạo căn, Chi thi luân... đại khái tổ tiên của các vị đều thuộc chủng tộc Nguyệt thị, trong đó, ngài Trúc pháp hộ vốn có tên là Nguyệt chi bồ tát, là người sống ở Đôn hoàng, con cháu đời sau của Tiểu nguyệt thị ở vùng Nam sơn còn sót lại. Ngoài ra, Đại đường tây vực kí của ngài Huyền trang và Vãng ngũ Thiên trúc quốc truyện của ngài Tuệ siêu người Triều tiên, thì các ngài Diệu âm, Pháp thắng, Đàm ma nan đề, Phù đà bạt ma, Di đà sơn, Đạt ma mạt ma... đều đã xuất thân từ Đại nguyệt thị. Sau khi vua Ca nị sắc ca băng hà, các vua: Ngõa tây sắc ca (Phạm:Vasiwka), Phất duy sắc ca (Phạm:Huviwka), Ngõa tô đề bà (Phạm:Vàsudeva).... lần lượt lên nối ngôi. Đến thời vua Ngõa tô đề bà, vương triều Tát san (Sàsan) của Ba tư và vương triều Cấp đa (Gupta) ở Trung Ấn độ kế tiếp nổi lên, còn ở phía bắc lại bị Hung nô xâm nhập, cho nên thế nước suy dần và đến khoảng thế kỉ thứ V (470-480) thì diệt vong. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Đại uyển liệt truyện thứ 63 trong Sử kí; Tây vực truyện 78 trong Hậu Hán thư; Đại nguyệt thị quốc chi Phật giáo (Vũ khê Liễu đế); Trung quốc biên cương dân tộc sử (Lưu nghĩa đường); Tây vực sử thượng chi tân nghiên cứu (Bạch điểu Khố cát); Đông dương học báo 2, phần 1].

Nguyệt Thị hay Nguyệt Chi

(月氏・月支, Gesshi): tên gọi một dân tộc thuộc hệ Turco và Iran sống ở vùng trung ương châu Á vào thời đại Tần Hán. Vào đầu thời nhà Tiền Hán, dân tộc này bị bọn Hung Nô đuổi chạy từ địa phương Đôn Hoàng (敦煌) thuộc Tỉnh Cam Túc (甘肅省) đến địa phương Iri; rồi đến khoảng thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, họ lại bị Ô Tôn (烏孫) đuổi lần nữa và dời đến bên bờ sông Amur; về sau dân tộc này đã chinh phục nhà Đại Hạ và kiến lập nên một quốc gia lớn mạnh. Những người mà bị bọn Hung Nô đuổi chạy về phía Tây thì gọi là Đại Nguyệt Thị, còn những người lưu lại ở vùng đất cũ thì gọi là Tiểu Nguyệt Thị.

nguyệt tinh ma ni

(月精摩尼) Phạm: Candra-bhàsa-mani. Cũng gọi Nguyệt quang ma ni, Nguyệt ái châu, Nguyệt tinh. Một thứ ngọc quí, vật cầm ở tay bên trái trong 40 tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm, có năng lực tiêu trừ các chứng bệnh nhiệt độc hại, làm cho an lành mát mẻ. Tay cầm ngọc này được gọi là Nguyệt tinh thủ, hoặc Nguyệt ma ni thủ. [X. Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni; kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp].

Nguyệt tạng kinh

月藏經; C: yuèzàng jīng; J: getsuzōkyō;|Xem Đại tập Nguyệt tạng kinh (大集月藏經).

nguyệt tạng phần

(月藏分) Cũng gọi Đại phương đẳng đại tập nguyệt tạng kinh. Kinh, 11 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 13. Nội dung kinh này do thu tập các bộ kinh Đại phương đẳng đại tập mà thành, được chia làm 17 phần, Nguyệt tạng phần là phần thứ 15, gồm có 10 phẩm. (xt. Đại Tập Kinh).

Nguyệt Tịnh

(月淨): tức Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光), Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照), là một trong hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên cạnh đức Phật Dược Sư. Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師瑠璃光如來本願功德經), vị Bồ Tát này cùng với Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) là bậc thượng thủ trong vô lượng vô số Bồ Tát. Lại theo Tu Dược Sư Nghi Quỹ Bố Đàn Pháp (修藥師儀軌布壇法), Bồ Tát Nguyệt Quang có thân màu trắng, ngồi ngự trên con ngỗng trắng, tay cầm vòng tròn mặt trăng.

nguyệt xưng

(月稱) Phạm: Candrakìrti. Tạng: Zla-ba grags-pa, hoặc Zla-grags. Cao tăng Ấn độ sống vào khoảng thế kỉ VII, thuộc phái Trung quán cụ duyên, dòng dõi Bà la môn ở vùng Sa mãn đa (Phạm: Samanta), Nam Ấn độ. Sư y vào ngài Ca ma la bồ đề (Phạm: Kamalabuddhi) xuất gia, học tập tông nghĩa và các bộ luận của bồ tát Long thụ. Sư cũng học Đát đặc la (Phạm: Tantra, mật chú), đạt được bí thuật. Sau khi học xong, sư trụ trì chùa Na lan đà (Phạm: Nàlanda) chuyên biên tập và chú thích các sách. Sư chủ yếu xiển dương tông phong Thiền phái Trung quán cụ duyên của ngài Phật hộ và có lần sư đã tranh luận về tông nghĩa với ngài Nguyệt quan thuộc phái Du già. Về cuối đời, sư đại phá ngoại đạo ở Khang ca na (Phạm: Koíkaịa) tại Nam Ấn độ, rồi vào núi Mạn nô hãn cát (Phạm: Manubhaíga) tu luyên chân ngôn, sau sư tịch ở đó. Sư để lại các tác phẩm: Trung luận chú (tức Căn bản Trung luận chú minh giải), Tứ bách luận chú(tức Bồ tát du già sư tứ bách luận quảng chú), Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương kinh chú (tức Tác quang minh quảng thích), Nhập trung quán (Phạm: Madhya= makàvatàra), Lục chi du già chú, Kim cương tát đỏa thành tựu pháp, Nhập trung quán tuệ... [X. Đông bắc Đế quốc đại học Tây tạng đại tạng kinh tổng mục lục; Bát nhã tư tưởng sử; The Buddhism of Tibet by L.A. Waddell; History of Buddhism by E. Obermiller; The Conception of Buddhist Nirvàịa by Th. Scherbatsky; Aspects of Mahàyàna Buddhism and its Relation to Hìnayàna by N. Dutt].

Nguyệt Xứng

月稱; S: candrakīrti; tk. 6/7;|Ðược xem là Luận sư quan trọng nhất trong tông Trung quán sau Long Thụ. Sư quê ở Nam Ấn, xuất gia từ lúc nhỏ tuổi. Nhân lúc đọc trứ tác của Long Thụ, Sư bỗng hiểu ý. Sau, Sư trở thành viện trưởng của Na-lan-đà và viết nhiều bài luận chú về các tác phẩm của Long Thụ. Các tác phẩm quan trọng của Sư là Minh cú luận (明句論; nguyên bản Phạn ngữ), Nhập trung quán luận (入中觀論). Tương truyền rằng, trong một cuộc hành trình truyền Pháp về hướng Nam, Sư đã giáo hoá rất nhiều người. Sư sống rất thọ, nhưng chắc chắn là không thọ đến 300 (!) tuổi như sử sách Tây Tạng thuật lại.|Các tác phẩm còn lưu lại của Sư (trích): 1. Minh cú luận (s: prasannapadā), gọi đủ là Trung quán minh cú luận (s: madhyamakavṛtti-prasannapadā), tác phẩm chú giải Trung quán luận (madhyamaka-śāstra) của Long Thụ (nāgārjuna) duy nhất bằng nguyên văn Phạn ngữ (sanskrit), bản Tạng ngữ cũng còn; 2. Nhập trung quán luận (madh-yamakāvatāra), chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Nhập trung luận thích (madhyamakāvatāra-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 4. Nhân duyên tâm luận thích (pratītya-samutpāda-hṛdaya-vṛtti), một tác phẩm chú giải Nhân duyên tâm luận tụng (pratītyasamut-pāda-hṛdaya-kārikā), được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 5. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati) của Long Thụ. Long Thụ (và Parahita) cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này. Chỉ còn bản Tạng ngữ; 6. Lục thập tụng như lí luận thích (yukti-ṣaṣṭhikā-vṛtti), luận giải Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), một tác phẩm được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 7. Bồ Tát du-già hành tứ bách luận thích (bo-dhisattvayogācāra-catuḥśataka-ṭīkā), chú thích bộ Tứ bách luận (catuḥśataka) của Thánh Thiên (āryadeva), chỉ còn bản Tạng ngữ; 8. Trung quán luận tụng (madhyamaka-śāstra-stuti).

nguyệt ái tam muội

(月愛三昧) Tam muội trong đó đức Phật an trụ để chữa khỏi bệnh ghẻ lở cho vua A xà thế trên hội Niết bàn. Tam muội này có năng lực dập tắt lửa lòng tham muốn của chúng sinh, như ánh trăng trong mát hay giải trừ nóng bức. Lại như ánh trăng từ ngày mồng 1 đến 15 dần dần tỏa ra rộng lớn, Tam muội này có khả năng làm cho thiện căn của người mới phát tâm tăng trưởng dần dần cho đến đầy đủ Đại niết bàn. Ví như vầng trăng tròn là vua trong các vì sao, được tất cả chúng sinh ưa thích, Tam muội này cũng thế, là vua trong các điều thiện, là vị cam lộ được hết thảy chúng sinh ưa thích, vì vậy nên gọi là Nguyệt ái tam muội. [X. phẩm Phạm hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.20 (bản Bắc); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần đầu; Duy ma kinh huyền sớ Q.4; Niết bàn kinh hội sớ Q.18].

nguyệt đan

(月單) Bản báo cáo thu chi hàng tháng trong các Thiền viện. Trong Thiền lâm, người đảm trách chức vụ trông coi việc thu chi trong chùa phải kết toán mỗi tháng 1 lần, làm thành bản tường trình chi tiết, gọi là Nguyệt đơn. [X. môn Bạ khoán trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.16].

nguyệt đàn

(月壇) Đàn lộ thiên được thiết lập ở phía ngoài vách điện đường. Vì ánh trăng thường soi vào nên gọi là Nguyệt đàn. [X. môn Điện đường trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.1].

nguyệt đăng tam muội

(月燈三昧) Tam muội Nguyệt đăng. Đức Phật từng giảng cho Đồng tử Nguyệt quang lúc Ngài ở núi Kì xà quật gần thành Vương xá nghe về pháp môn tam muội Hết thảy các pháp thể tính bình đẳng không hí luận. Vì Tam muội này được đặt theo tên của Đồng tử Nguyệt quang cho nên gọi là Nguyệt đăng tam muội. [X. kinh Nguyệt đăng tam muội]. (xt. Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh).

nguyệt đăng tam muội kinh

(月燈三昧經) Phạm: Samàdhi-ràja. Kinh, 10 quyển, do ngài Na liên đề lê da xá dịch vào đời Cao Tề, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật giảng cho Đồng tử Nguyệt quang nghe về việc nhờ tu tâm bình đẳng, tâm cứu hộ, tâm vô ngại, tâm vô độc và vô lượng Tam muội ở địa vị tu nhân, hoặc do rõ biết thể tính của các pháp đúng như thực mà chứng được bồ đề; thành tựu bố thí, trì giới, nhẫn nhục... thì đạt được Tam muội Thể tính các pháp bình đẳng không hí luận. Kinh này có 2 kinh biệt sinh, đều do ngài Tiên công dịch vào đời Lưu Tống. 1. Kinh Nguyệt đăng tam muội, cũng gọi kinh Văn thù sư lợi bồ tát thập sự hành 1 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 15, hiện còn trong các bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh. Bản kinh Biệt sinh này tương đương với nửa phần trước quyển thứ 6 của kinh Nguyệt đăng tam muội do ngài Na lien đề lê da xá dịch nói ở trên. 2. Bản kinh Biệt sinh này cũng cùngtên với kinh Nguyệt đăng tam muội, và cùng được thu vào Đại chính tạng tập 15, có 1 quyển, hiện cũng được thu vào Đại tạng Cao li, nhưng không phải do ngài Tiên công dịch mà theo bài Bạt trong Tạng kinh Súc loát thì do ngài An thế cao dịch, được ghi trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 4. Bản kinh Biệt sinh này tương đương với nửa phần sau quyển 5 của kinh Nguyệt đăng tam muội do ngài Na liên đề lê da xá dịch đã nói ở trên. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh Nguyệt đăng tam muội này được xuất bản vào năm 1896 tại Calcutta, Ấn độ, tựa đề là Tam muội vương (Samàdhi-ràja). Trong văn trích dẫn của luận Đại thừa tập bồ tát học (Zikwàsamuccaya) bản tiếng Phạm, gọi kinh này là kinh Tam muội vương nguyệt đăng. [X. Pháp kinh lục Q.1; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

Nguyệt đăng tam-muội kinh

月燈三昧經; C: yuèdēng sānmèi jīng; J: gattō zammai kyō; S: samādhirāja-sūtra; t: chos thams cad kyi rang bzhin mnyam pa nyid rnam par spros pa ting nge 'dzin gyi rgyal pa;|Kinh dạy cho Candrapradita Kumāra về pháp thiền đinh thù thắng nhất, trong đó giang giải rằng hành giả nếu đem hết công phu quán chiếu thâm sâu với tâm hoà hợp thì có thể đạt được giác ngộ. Trong 3 bản dịch tiếng Hán (tất cả đề cùng tên), chỉ có bản của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas) là hoàn chỉnh, mặc dù bản nầy dường như hơi có rút ngắn lại hơn là dựa vào bản tiếng Phạn và bản tiếng Tây Tạng.|1. (Với tên khác) Nhập ư đại bi đại phương đẳng đại tập thuyết kinh (入於大悲大方等大集説經), Na-liên-đề Da-xá (那連提耶舍, s: narendrayaśas) dịch năm 557. |2. (Với tên khác) Đãi huệ tam muội kinh (逮慧三昧經), Tiên Công (先公) dịch; 1 quyển. Môt bản dịch khác của bản 6 quyển của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas).|3. (Với tên khác) Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát thập sự hạnh kinh (文殊師利菩薩十事行經), 1 quyển. Gồm phần trích từ quyển thứ 7 trong bản dịch của Na-liên-đề Da-xá. Về bản tiếng Anh của chương 8, xin xem Regamey (1938).

Ngũ Đại

(五代, 907-960): tên gọi 5 triều đại mà đã từng hưng vong ở vùng Hoa Bắc Trung Quốc dưới thời kỳ quá độ từ nhà Đường chuyển sang nhà Tống. Đó là Hậu Lương (後梁), Hậu Đường (後唐), Hậu Tấn (後晋), Hậu Hán (後漢) và Hậu Chu (後周).

Nguỵ kinh

僞經; C: wèijīng; J: gikyō;|»Kinh giả mạo,« một trong hai loại kinh nguỵ tạo chính ở Đông Á, rất đáng ngờ vì nó giống như kinh văn xuất phát từ Ấn Độ.

nguỵ nghi kinh

(僞疑經) Cũng gọi Nghi ngụy kinh. Kinh bị ngờ là kinh giả. Từ ngữ gọi chung những kinh ngụy tác, hoặc có nguồn gốc đáng ngờ và bị nghi là kinh giả. Bởi vì ở Ấn độ có không ít những kinh giả mượn lời Phật nói, nhằm mục đích làm hỗn loạn giáo lí của đức Phật. Nhưng, những kinh điển mà ngày nay gọi là ngụy kinh là chỉ cho các nước Trung quốc, Nhật bản, phỏng theo kinh luận mà chế tác rồi cho là phiên dịch từ kinh văn tiếng Hồ từ Tây vực hay tiếng Phạm từ Ấn độ; hoặc trà trộn với tư tưởng ngoại lai, hoặc các tôn giáo khác, thậm chí các kinh điển của tín ngưỡng dân gian cũng được coi là chân kinh mà xếp vào Đại tạng. Vấn đề Ngụy kinh được nêu ra đầu tiên là do các nhà biên soạn Mục lục kinh, họ cho rằng Ngụy kinh làm rối loạn Chân kinh và làm đảo lộn chân lí do đức Phật tuyên dương, bởi thế họ chủ trương tất cả kinh phiên dịch đều do đức Phật nói, trái lại là ngụy kinh. Xuất tam tạng kí tập của ngài Tăng hựu đời Lương thuộc Nam triều nêu ra những Nghi kinh được liệt kê trong Tông lí chúng kinh mục lục của ngài Đạo an đời Tiền Tần, như: Kinh Bảo Như lai... gồm 26 bộ 30 quyển, rồi liệt kê những ngụy kinh do chính ngài Tăng hựu sưu tập như: Kinh Tỉ khưu ứng cúng pháp hành... gồm 20 bộ 26 quyển trong Tân tập nghi kinh Ngụy soạn tạp lục, lại thêm những ngụy kinh được ghi trong Nghi lục của Tăng pháp như: Kinh Bảo đính... gồm 44 bộ. Tổng cộng có 70 bộ kinh Nghi ngụy. Chúng kinh biệt lục trong Lịch đại tam bảo kỉ quyển 15, liệt kê Ngụy kinh có 17 bộ 20 quyển. Ngụy thế chúng kinh mục lục của Lí khuếch ghi Ngụy kinh 62 bộ, Ngụy luận 4 bộ. Đại đường nội điển lục quyển 10 ghi 183 bộ 334 quyển. Đại chu san định chúng kinh mục lục quyển 15 liệt kê 228 bộ 419 quyển. Nghi hoặc tái tường lục trong Khai nguyên thích giáo lục quyển 18 ghi 14 bộ 19 quyển; Ngụy vọng loạn chân lục cũng trong Khai nguyên thích giáo lục liệt kê 392 bộ 1055 quyển. Thông thường, kinh Nghi ngụy theo thời đại mà tiếp tục tăng lên. Vào thời ngài Đạo an đời Tiền Tần mới chỉ có 26 bộ 30 quyển. Đến thời ngài Tăng hựu đời Lương tăng lên 46 bộ, 56 quyển, tăng khoảng gấp đôi; thời ngài Ngạn tông đời Tùy lại tăng lên 209 bộ, 490 quyển. Đến thời ngài Trí thăng đời Đường lại tăng lên gấp đôi là 406 bộ, 1074 quyển. Đời Tùy, Đường được xem là thời kì toàn thịnh của Phật giáo Trung quốc, mà cũng là thời kì các kinh Nghi ngụy thịnh hành. hưng trong Khai nguyên thích giáo lục, ngài Trí thăng đã loại bỏ toàn bộ cáckinh giả và bị ngờ là giả ra khỏi Đại tạng, do đó, con số 406 bộ, 1047 quyển Ngụy kinh nói trên không được đưa vào Đại tạng; bởi thế, những kinh Nghi ngụy lưu hành trong dân gian thời bấy giờ, đến nay chỉ còn nghe tên, thậm chí đã mất hẳn. Tuy nhiên, trong Đại tạng hiện nay vẫn còn 1 số ít kinh Nghi ngụy. Thời gần đây, 1 số lượng lớn kinh điển Phật được tìm thấy trong các hang động ở huyện Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, trong đó có rất nhiều Ngụy kinh đã bị thất lạc từ trước. Vào đầu năm Chiêu hòa của Nhật bản, ông Thỉ xuy Khánh huy đã xem xét các bản kinh của các ông A. Stein và P. Pelliot, trong đó chọn ra được hơn 50 quyển Ngụy kinh trọng yếu, được đưa vào Đại chính tạng tập 85 (Nghi tự bộ), khoảng hậu bán thế kỉ trở đi việc nghiên cứu các Ngụy kinh mới có những bước tiến dài. Gần đây, việc nghiên cứu Ngụy kinh rất có kết quả, trước hết phải kể đến tác phẩm Nghi kinh nghiên cứu của ông Mục điền Đế lượng, trong đó, tác giả sưu tập 30 quyển nguyên bản Ngụy kinh chưa được đưa vào Đại chính tạng tập 85. Ông xem xét những mục đích nhắm tới trong các Ngụy kinh được soạn thuật rồi qui nạp vào 6 loại như sau: 1. Được soạn thuật theo ý muốn của người thống trị: Như kinh Đại bảo vân ở thời Vũ tắc thiên. 2. Nhằm phê phán chính sách thi hành của nhà thống trị: Như kinh Nhân vương bát nhã, kinh Tượng pháp quyết nghi của Tam giai giáo và kinh Du già pháp kính. 3. Để phù hợp với tư tưởng Ngũ luân truyền thống của Trung quốc: Như kinh Phụ mẫu ân trọng, kinh Vu lan bồn, kinh Tu di tứ vực, kinh Thanh tịnh pháp hành... 4. Cổ xúy giáo nghĩa tín ngưỡng đặc biệt: Như kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm, kinh Đại bát niết bàn hậu phần, kinh Đại thông phương quảng, kinh Quán thế âm tam muội... 5. Nêu tên cá nhân đặc biệt hiện còn nổi bật: Như kinh Cao vương Quan thế âm, kinh Tăng già hòa thượng nhập Niết bàn thuyết lục độ, kinh Khuyến thiện... 6. Những loại kinh mê tín về chữa bệnh, cầu phúc: Như kinh Tứ thiên vương, kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo, kinh Thiên địa bát dương thần chú, kinh Phật thuyết diên thọ mệnh, kinh Phật thuyết thất thiên Phật thần phù... Trong đó, đặc biệt loại Ngụy kinh thứ 6 là nhiều nhất. Những Ngụy kinh liên quan đến Thiền tông thì có các kinh như: Kinh Pháp cú, Kinh Kim cương tam muội, kinh Thiền môn, kinh Pháp vương, kinh Viên giác... Trong đó, kinh Kim cương tam muội và kinh Viên giác là những Ngụy kinh được xem là kinh phiên dịch và được đưa vào Đại tạng. [X. Minh sa dư vận; Chiêu hòa pháp bảo tổng mục lục Q.1; chương 5, bộ 2, Phật điển tổng luận trong Phật thư giải thuyết đại từ điển (Tiểu dã Huyền diệu)].

ngà ngà say

To be slightly drunk

ngà voi sanh hoa

(tượng nha sanh hoa象牙生華-): Kinh văn nói rằng: "Khi trời có sấm sét chuyển mưa thì trên tất cả các ngà voi đều sanh ra những vân hoa." Có ba cách giải thích điều này. Một thuyết cho rằng ở đây chỉ loài cỏ ngà voi (象牙 草- tượng nha thảo), khi trời có sấm sét thì trổ hoa. Thuyết thứ hai cho rằng trong kinh có nói đến loài voi khi nghe tiếng sấm thì trên ngà của chúng trổ ra hoa. Thuyết thứ ba nói rằng không có hoa được sanh ra, nhưng là trên các ngà voi hiện lên những đường vân có hình như vân hoa. Chúng tôi xét rằng: Thuyết thứ nhất võ đoán chữ thảo (草- cỏ), trong kinh văn không có; thuyết thứ hai nói là “trong kinh nói” nhưng không nói là kinh nào, đã thử tìm cũng không thấy. Vì thế, chúng tôi chọn tin theo thuyết thứ ba.

ngàn

Một ngàn: Thousand.

ngày cúng cô hồn

All Soul's Day.

ngày lành

Lucky day.

ngày phật thích ca xuất gia

Ngày Đức Phật Thích Ca xuất gia là ngày mồng tám tháng hai âm lịch—Sakyamuni Buddha's Leaving Home Day, the 8th day of the second month Lunar calendar.

ngày xưa

Formerly.

ngày xấu

Unlucky day.

ngách

Back street.

ngán

To be sick of (disgusted).

ngâm

To chant—To mutter—To hum. ; (吟) Tức ngâm vịnh, hoặc chỉ cho thơ, ca theo thể văn vần dùng để ngâm vịnh. Khi ngâm vịnh, âm thanh được kéo dài ra, theo nhịp điệu như tiếng chim hót; lúc bổng lúc trầm, khi buồn khi vui, tùy theo cảm xúc của người câm. Xưa nay Thiền tông thường sử dụng thể văn này, mượn phương thức ngâm vịnh thơ văn để xiển dương ý chỉ Thiền. Chẳng hạn như các tác phẩm: Tân phong ngâm của ngài Động sơn, Ngoạn châu ngâm của ngài Đơn hà, Lão hoạch châu ngâm của ngài Quan nam, Lệ giác ngâm và Qui tịch ngâm của ngài Hương nghiêm v.v... đều thịnh hành trong các tùng lâm. [X. chương Minh kí châm ca trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.30].

ngâm phúng

Ngâm Vịnh—To intone—To repeat.

ngâm vịnh

See Ngâm Phúng.

ngân

Rupya (skt). Bạc—Silver. Tiền bạc: Money.

Ngân Các Tự

(銀閣寺, Ginkaku-ji): ngôi chùa của Phái Tướng Quốc Tự (相國寺派) thuộc Lâm Tế Tông, hiện tọa lạc tại Ginkakuji-chō (銀閣寺町), Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市); hiệu là Đông Sơn Từ Chiếu Tự (東山慈照寺), tên thường gọi là Ngân Các Tự. Tượng thờ chính là Thích Ca Như Lai. Vị Tướng Quân đời thứ 8 của dòng họ Túc Lợi là Nghĩa Chính (義政, Yoshimasa) đã bỏ công trong vòng 10 năm trường từ năm 1482 (Văn Minh [文明] 14) để xây dựng nên chùa này. Từ đó, chùa được lấy tên theo hiệu của Nghĩa Chính là Từ Chiếu Tự (慈照寺). Nghĩa Chính vô cùng yêu thích ngôi Tây Phương Tự (西芳寺) do Mộng Song Quốc Sư (夢窻國師) sáng lập ra, mới bắt chước các kiến trúc của Tây Lai Đường (西來堂), Đông Am (東庵), Lưu Ly Điện (瑠璃殿), Ngao Nguyệt Kiều (遨月橋) của chùa này, mà tạo nên Đông Cầu Đường (東求堂), Tây Chỉ Am (西指庵), Quan Âm Điện (觀音殿), Long Bối Kiều (龍背橋). Nghĩa Chính cũng thỉnh thoảng đến chơi Kim Các Tự (金閣寺, Kinkaku-ji), nhưng rõ ràng Ngân Các Tự không thể nào sánh bằng chùa này được. Đối xứng với sự sáng lạn của vương triều Bình An thông qua Kim Các Tự, Ngân Các Tự thể hiện sự thâm u, nghiêm tịnh của Thiền. Tuy nhiên, khi tiếp xúc trực tiếp với ngôi bảo sát này, ta thấy chùa có vẻ đẹp tuyệt trần qua làn cát trắng phản chiếu; còn phía trước Hướng Nguyệt Đài (向月台) có khu vườn hồ nhân tạo nhưng rất hữu tình. Còn Đông Cầu Đường, nơi được xem như là thư phòng của Nghĩa Chính, và Quan Âm Điện, tuy là quy mô nhỏ, nhưng cho đến nay vẫn còn truyền đạt cho chúng ta biết được tính mỹ thuật cũng như tính thoát tục của Nghĩa Chính. Cả hai đều được xếp vào hạng quốc bảo.

ngân luân vương

(銀輪王) Vị Luân vương ra đời lúc con người sống 8 vạn tuổi, vua thống trị 3 châu: Nam thiệm bộ, Đông thắng thân, và Tây cù đà ni. Là 1 trong 4 vị Luân vương. Nhưng theo Pháp hoa kinh huyền tán quyển 4, thì sự ra đời của vị Luân vương này và Đồng luân vương, Thiết luân vương đều không có thời gian nhất định. (xt. Tứ Luân Vương, Chuyển Luân Thánh Vương).

ngân oản lí thạnh tuyết

(銀椀裏盛雪) Cũng gọi Ba lăng ngân oản lí, Ba lăng ngân oản thịnh tuyết. Tên công án trong Thiền tông. Cái chén bạc đựng đầy tuyết, biểu thị chúng sinh và Phật là nhất như, bình đẳng tức sai biệt, sai biệt tức bình đẳng, là 1 trong 3 chuyển ngữ của ngài Ba lăng Hạo giám, đệ tử nối pháp của Thiền sư Vân môn Văn yển. Bích nham lục tắc 3 (Đại 48, 153 hạ) chép: Có vị tăng hỏi ngài Ba lăng: Thế nào là tông Đề bà? Ngài Ba lăng đáp: Trong chén bạc đựng đầy tuyết Đề bà tức là tôn giả Ca na đề bà (Phạm: Kàịadeva), Tổ phó pháp thứ 15 của Thiền tông Ấn độ. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.15; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.35; Thiền tông chính mạch Q.15]. (xt. Ba Lăng Tam Chuyển Ngữ).

Ngân sơn

銀山; S: kailāsa, kailāś, rajatādṛ;|Tên của một ngọn núi ở dãy Hi-mã-lạp sơn, được xem là trú xứ của thần Thấp-bà (s: śi-va). Ấn Ðộ giáo xem núi này là thiêng liêng nhất. Phật giáo cũng xem Ngân sơn là thánh địa. Trên một cao nguyên khoảng 4600m, ngọn núi này bỗng vọt lên trên 7000m. Từ ngọn núi này xuất phát bốn con sông quan trọng của châu Á là Brahmaputra, Indus, Sutlej và Karnali.|Hai tác giả về Phật giáo danh tiếng của phương Tây là Lạt-ma Gô-vin-đa và W. Y. Evans-Wentz đều đã chiêm bái Ngân sơn. Cảm hứng về ngọn núi này, Gô-vin-đa viết trong quyển The Way of the White Clouds: »Có những ngọn núi chỉ là núi và có những ngọn núi lại có một nhân cách riêng. Nhân cách một ngọn núi không phải chỉ vì hình dạng kì lạ của nó mà có… Nhân cách nói chung là một uy lực, tác động lên người khác mà chủ thể của nó không hề muốn hay không hề biết. Uy lực này nằm trong sự liên tục, sự nhất quán, sự hoà hợp của tính cách con người. Nếu chúng lại là nhân cách của một ngọn núi thì ngọn núi xuất hiện như một tập hợp của uy lực toàn vũ trụ và chúng ta xem đó là một ngọn núi thiêng.«|Evans-Wentz tả như sau: »Cảm giác nhìn ngắm ngọn núi thật vô cùng kì diệu làm người hành hương quên hết lo âu và sợ hãi. Ai có thể mô tả được sự vô lượng vô biên của không gian? Ai có thể mô tả một cảnh vật, cảnh vật đó là hiện thân của cái vô cùng, biết thở theo nhịp của cái vô cùng? Với hồ nước trong xanh, thảo nguyên xanh thẳm bát ngát và các ngọn đồi vàng rực bao quanh, hiện lên một dãy núi tuyết và ở giữa là ngọn núi với đỉnh cao trắng xóa, được người Tây Tạng gọi là ›Bảo ngọc đầy tuyết trắng.‹« (Cuchamana and the Secret Mountains, Stanford University 1981).

ngân sơn thiết bích

(銀山鐵壁) Đồng nghĩa: Bích lập vạn nhận, châm đáp bất nhập. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Núi bạc vách sắt. Bạc và sắt cứng chắc, khó đâm thủng, vách núi cheo leo, cao vút, khó vượt qua. Trong Thiền tông, từ ngữ này được dùng để chỉ cho cảnh giới tuyệt đối mà cái biết phân biệt của phàm tình khó có thể thấu suốt được, hoặc để ví dụ cho linh tính sẵn có của mọi người vốn siêu việt. Bài tựa của ngài Phổ chiếu trong Bích nham lục (Đại 48, 139 thượng) nói: Núi bạc vách sắt (ngân sơn thiết bích) ai dám dùi mài? Muỗi đốt trâu sắt khó bâm được vòi; nếu chẳng gặp bậc Đại tông sư thì làm sao ngộ được lẽ huyền vi? [X. Viên ngộ Phật quả thiền sư ngữ lục Q.4; Phật quả khắc cần thiền sư tâm yếu Q.hạ; Bích nham lục tắc 42].

ngân sắc

Màu bạc—Silver-colour.

ngân xuyên song tháp

(銀川雙塔) Hai tòa tháp tọa lạc trên 1 vùng đồng bằng ở thành Ngân xuyên thuộc biên giới phía bắc Trung quốc, đó là: 1. Tháp chùa Thừa thiên, thường gọi là Tây tháp, ở phía Tây nam thành Ngân xuyên, do ông Hạ chủ lượng xây dựng vào năm Thiên khánh thứ 3 (1050) đời Tây hạ. Tháp này có hình bát giác, gồm 13 tầng cao hơn 70 mét. Kĩ thuật xây tháp trong công xảo minh của Ấn độ đã được sử dụng trong việc kiến trúc tòa tháp này, đồng thời cũng kế thừa phong cách kiến trúc truyền thống của Trung quốc. 2. Tháp Hải bảo, thường gọi là Bắc tháp, ở phía Bắc thành Ngân xuyên, cách Tây tháp khoảng 1,7 km, tương truyền do ông Hách liên bột bột người Hung nô xây cất vào đời Đông Tấn, đến nay đã hơn 1.500 năm. Tháp gồm 9 tầng 11 cấp, cao khoảng 60 mét, do những phiến đá xanh xếp thành, từ xa trông giống như 1 tòa lâu đài nguy nga tráng lệ. Mỗi góc mái tháp ở mỗi tầng của Tây tháp và Bắc tháp đều có treo p h o n g linh, mỗi khi gió thổi, linh phát ra tiếng lâng lâng siêu thoát.

ngân địa

(銀地) Cũng gọi Kim địa, Lưu li địa. Tiếng gọi chung các tự viện và đạo tràng. Thủa xưa, ở Ấn độ, Trưởng giả Cấp cô độc, thành Xá vệ từng trải vàng ròng ra mua đất của Thái tử Kì đà để lập tinh xá cúng dường đức Phật, do đó, chùa viện được gọi là Kim địa. Thích thị yếu lãm quyển thượng (Đại 54, 263 thượng) nói: Kim địa, hoặc gọi là Kim điền, tức là khu vườn của Thái tử Kì đà ở nước Xá vệ mà Trưởng giả Cấp cô độc đã trải vàng ròng ra mua để cất tinh xá, thỉnh đức Phật cư trụ.

ngân địa đạo trường

(銀地道場) Đạo tràng ở núi Thiên thai, Trung quốc, tiếp giáp với dãy núi Kim địa, Đại sư Trí giả đã truyền pháp ở đây. Theo truyền thuyết, vào thời quá khứ, đức Phật Định quang đã từng thị hiện nơi này. [X. Đại minh nhất thống chí Q.47].

Ngã

我; S: ātman; P: atta;|Tức là cái »ta« thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Ðạo Phật không công nhận sự hiện diện của ngã. Trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lí và vật lí không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn (Vô ngã, Ngũ uẩn).|Theo đạo Phật, ý nghĩ cho rằng có »ta«, có »người« – những đơn vị độc lập không phụ thuộc vào nhau – chính là Vô minh, Si mê. Sự nhận thức là có »ta« tự khởi lên bởi vì con người thường bị tri thức mê hoặc – tri thức ở đây là thức thứ sáu, khả năng suy nghĩ phân biệt – cho rằng thế giới nhị nguyên vốn có sẵn và từ đó phát sinh ra sự suy nghĩ và hành động theo quan niệm rằng, »ta« và người, vật bên ngoài hoàn toàn là những đơn vị độc lập. Dần dần, ý nghĩ »ta« khắc sâu vào Tâm và những ý nghĩ khác như »ta yêu cái này, ta ghét cái nọ; cái này của ta, cái này của ngươi« bắt đầu nẩy nở. Những ý nghĩ nêu trên lại có ảnh hưởng trở lại với ý nghĩ »ta« và vì vậy, cái »ta« này cai trị tâm linh của con người. Nó sẵn sàng tấn công tất cả những gì mà nó cảm thấy bị đe dọa, tham khát những gì giúp nó gia tăng quyền lực. Thù hận, tham khát và xa rời chân tính là những tai hại phát sinh từ đó và chúng trực tiếp đưa con người đến bể Khổ.|Trong Thiền tông, người ta sử dụng phương pháp Toạ thiền (j: zazen) để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn nêu trên. Trong quá trình tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Lão sư (j: rōshi), người ta có thể dần dần vượt khỏi sự khống chế của cái »Ngã«, tiêu diệt »Ngã« hay đúng hơn, vượt khỏi cái »ý nghĩ sai lầm là có tự ngã« bởi vì nhìn theo khía cạnh tuyệt đối thì người ta không thể tiêu diệt một cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái »Ngã«.

ngã

Atta (p)—Atman (skt)—Ego—I—Me—Self—Myself. Tôi—Của tôi—Cái của tôi—Cá nhân—Chủ tể của thân so với vị vua trị vì trong một xứ—I, My, Mine—Personality—The master of the body, compared to the ruler of the country. Ngoại đạo cho rằng ngã là thân ta, còn đạo Phật thì cho rằng Giả Ngã là sự hòa hợp của ngũ uẩn, chứ không có thực thể (vô thường, và vô ngã)—The erroneous ideas of a permanent self continued in reincarnation is the sources of all ilusion. Bụ the Nirvana sutra definitely asserts a permanent ego in the transcendental world, above the range of reincarnation; and the trend of Mahayana supports such permanence. Ego composed of the five skandhas and hence not a permanent entity. It is used for Atman, the self, personality. Buddhism take as a fundamental dogma, i.e. impermanence, no permanent ego, only a temporal or functional ego. The erroneous ida of a permanent self continued in reincarnation is the souce of all illusion. ; (我) Phạm: Àtman. Hán âm: A đặc man, A thản ma. Nghĩa gốc là hô hấp, chuyển thành nghĩa sinh mệnh, tự kỉ, thân thể, tự ngã, bản chất, tự tính, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất. Đây là 1 trong các chủ đề trọng yếu của giới tư tưởng Ấn độ. Phật giáo chủ trương thuyết vô ngã, chỉ rõ mối quan hệ giữa sự tồn tại và tính duyên khởi, phủ định các tính chất thường (sự tồn tại liên tục vĩnh viễn), nhất (sự tồn tại độc lập tự chủ), chủ (sở hữu chủ trung tâm), tể (chi phối hết thảy) mà chủ trương ngã không tồn tại, không chân thực. Danh từ Ngã đã được sử dụng từ thời đại Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda, 1500 trước Tây lịch) trở đi, đến thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, 1000-800 trước Tây lịch) thì hơi thở (Phạm: Pràịa, tức là khí tức) trong chủ thể sinh mệnh con người dần dần diễn biến thành hiện tượng sinh mệnh mang ý vị cá thể, còn ngã thì lại là bản chất. Như trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha), những hiện tượng sinh mệnh như lời nói, sức nhìn, sức nghe v.v... là lấy ngã làm nền tảng để biểu hiện, hơn nữa, do ngã thống ngự, cho nên ngã được xem là đồng nhất với Tạo vật chủ (Phạm: Prajàpati). Thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad, 800-600 trước Tây lịch), chủ trương ngã sáng tạo ra vũ trụ, hoặc cho rằng ngã là cá nhân(tiểu ngã) nhưng đồng thời cũng là đại ngã, nguyên lí trung tâm của vũ trụ (Phạm: Brahman) và xem Phạm (Brahman) và Ngã (Àtman) là đồng thể, đồng nhất. Lại tiến thêm bước nữa mà chủ trương chỉ có Ngã mới là sự tồn tại chân thực, còn ngoài ra đều là huyễn (Phạm: Màyà). Trong các kinh A hàm của Phật giáo đã phủ định 4 quan niệm sau đây về ngã. 1. Toàn thể của các cá thể loài người là Ngã, tức 5 uẩn là Ngã. 2. Sinh mệnh trung tâm trong các cá thể là Ngã, tức Ngã có 5 uẩn. 3. Nguyên lí vũ trụ là Ngã, tức trong Ngã có 5 uẩn. 4. Mỗi một yếu tố tồn tại đều có tính chất (tự tính) cố hữu, tức trong 5 uẩn có Ngã. Bốn quan niệm trên đây là cái mà đời sau gọi là Hữu thân kiến, có thể chia làm 2 loại: Một là Ngã kiến, tức 5 uẩn của quan niệm thứ nhất là Ngã; hai là Ngã sở kiến, tức 3 quan niệm còn lại. Ngã sở chỉ cho sở hữu, sở thuộc của Ngã và những vật không lìa Ngã. Về mối quan hệ giữa chủ thể cấu thành sinh tử luân hồi và thuyết Vô Ngã, Phật giáo bộ phái có các giải thích sau: - Thuyết nhất thiết hữu bộ lập Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến, tuy phủ định Ngã (tức Nhân ngã) của sinh mệnh cá thể, nhưng thừa nhận Ngã thực thể (tức Pháp ngã,và tất cả yếu tố cấu thành sự tồn tại) là hằng hữu. - Độc tử bộ và Chính lượng bộ chủ trương Ngã chẳng tức uẩn, chẳng li uẩn, sinh mệnh cá thể chẳng những không do 5 uẩn giả hợp tạo thành (tức uẩn) mà cũng chẳng phải ngoài 5 uẩn có Ngã riêng (li uẩn), tức là chủ trương giữa Ngã và 5 uẩn có mối quan hệ bất tức bất li. - Kinh lượng bộ có thuyết Bổ đặc già la thắng nghĩa. Luận Thành duy thức quyển 1 chia Ngã do ngoại đạo và các phái trong Phật giáo bộ phái chủ trương làm 3 loại để phê phán, đó là: 1.Tức uẩn ngã: Ngã do thế gian phổ thông chủ trương. 2. Li uẩn ngã: Ngã do Số luận, Thắng luận và Kinh lượng bộ chủ trương. 3. Phi tức phi li uẩn ngã: Ngã do Độc tử bộ, Chính lượng bộ chủ trương. Phật giáo Đại thừa không những phủ định Ngã cá thể (nhân ngã) mà còn phủ định luôn cả pháp ngã tồn tại mà Phật giáo bộ phái thừa nhận và chủ trương thuyết Nhân vô ngã, Pháp vô ngã (Nhân pháp nhị vô ngã), cho rằng tất cả đều không tự tính(không tính). Đồng thời, Phật giáo bộ phái cho rằng, tất cả sự tồn tại đều là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhưng nếu diệt trừ hết phiền não thì đạt đến cảnh giới Niết bàn cứu cánh. Trái lại Phật giáo Đại thừa chủ trương tất cả sự tồn tại vốn là không, cảnh giới Niết bàn sau khi khai ngộ chắc chắn là cảnh giới tuyệt đối tự do, bởi thế có thuyết 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. Vì ngã ở đây khác xa với cái tiểu ngã mà phàm phu chấp trước, nên gọi là Đại ngã, Chân ngã. Nói một cách khái quát, Ngã có thể được chia làm 4 loại: 1. Phàm ngã: Ngã do phàm phu mê chấp. 2. Thần ngã (Phạm:Puruwa, Hán dịch: Trượng phu, nhân (nguyên nhân)): Ngã do Lục sư ngoại đạo chủ trương. 3.Giả ngã:Không có thực thể mà giả gọi là Ngã, như gọi thân thể do 5 uẩn giả hợp là Ngã. 4. Chân ngã: Chỉ cho Pháp thân Như lai, đặc tính của Pháp thân này được thuyết minh do căn cứ vào Bát đại tự tại ngã. Ngoài ra, về thuyết Ngã, các học phái (ngoại đạo) Ấn độ có 16 thứ phân loại thông thường gọi là 16 tri kiến, hoặc 16 thần ngã. Tri kiến có hàm ý là người biết, người thấy, tức chủ trương Ngã có năng lực biết và thấy. Mười sáu loại tri kiến hoặc thần ngã là: Ngã, chúng sinh, thọ giả, mệnh giả, sinh giả, dưỡng giả, chúng số, nhân (giả), tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thụ giả, sử thụ giả, tri giả và kiến giả. [X. luận Đại trí độ Q.35].

ngã (nhân) chấp

Atma-graha (skt)—Chấp vào khái niệm của một cái ngã thật—Chấp vào Thường ngã—Chấp vào cái ngã thường hằng chứ không phải là sự phối hợp của năm uẩn sanh bởi nhân duyên—Holding to the concept of the reality of the ego—Permanent personality—The atman—Soul—Self—This holding is an illusion—The clinging to the idea of self—The false tenet of a soul, or ego, or permanent individual, that the individual is real, the ego an independent unit and not a mere combination of the five skandhas produced by cause and effect disintegrating.

ngã ba la mật

Ngã Ba La Mật là một trong thứ được nói đến trong kinh Niết Bàn, là cái ngã siêu việt và tự tại là thường, lạc, ngã, tịnh—The ego paramita in the four based on the Nirvana sutra in which transcendental ego is sovereign, i.e. has a real and permanent nature; the four are permanence, joy, personality, and purity.

ngã chấp

xem ngã kiến. ; Chấp cái thân thể do tứ đại, ngũ uẩn hòa hợp này là thật Ta, nên gọi là ngã chấp. ; (我執) Phạm: Àtma-gràha. Cũng gọi Nhân chấp, Sinh chấp. Cố chấp có thực ngã. Thể của chúng sinh chỉ do 5 uẩn giả hợp mà thành, nếu chấp có thực ngã chủ tể tồn tại mà sinh ra vọng tưởng phân biệt ta và của ta, thì gọi là Ngã chấp. Luận Câu xá quyển 29 cho rằng Ngã chấp có 5 lỗi: 1. Khởi ngã kiến và hữu tình kiến thì rơi vào ác kiến. 2. Giống với các ngoại đạo. 3. Cũng như vượt đường mà đi. 4. Đối với tính không, tâm chẳng ngộ nhập, không sinh tịnh tín, không thể an trụ, chẳng được giải thoát. 5. Thánh pháp không thể thanh tịnh. Tiểu thừa xem Ngã chấp là gốc của muôn điều ác, là căn nguyên của tất cả sai lầm và phiền não. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu cũng nói: Phiền não chướng có rất nhiều phẩm loại, nhưng tựu trung đều lấy Ngã chấp làm gốc mà sinh khởi; nếu chẳng chấp ngã thì không có phiền não. Theo luận Thành duy thức quyển 1, Ngã chấp có thể được chia làm 2 loại là : 1. Câu sinh ngã chấp: Ngã chấp bẩm sinh, tức là do sức nội nhân huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, sinh ra đã có, không cần phải học hỏi, tập tành, nên gọi là Câu sinh. 2. Phân biệt ngã chấp: Ngã chấp thuộc về tính hậu thiên tức là do sức tác động của ngoại cảnh mà phát sinh, không cùng có 1 lúc với thân, nhưng phải học hỏi, tập quen và phân biệt mới phát khởi; cho nên gọi là Phân biệt ngã chấp. Phân biệt ngã chấp thường sinh ra tác dụng phát nghiệp, còn Câu sinh ngã chấp thì hay khởi tác dụng nhuận sinh, cả 2 đều có khả năng làm não loạn thân tâm chúng sinh, khiến cho họ cứ mãi phải sinh tử luân hồi. [X. phẩm Phá chấp ngã trong luận Câu xá Q.30; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối]. (xt. Nhị Chấp, Ngã).

ngã chấp tập khí

(我執習氣) Phạm:Àtma-gràha-vàsanà. Cũng gọi Ngã chấp huân tập. Chỉ cho tập khí (chủng tử) do ngã chấp huân tập (xông ướp) thành, là 1 trong 3 loại tập khí. Tập khí này tuy là 1 loại danh ngôn huân tập, nhưng do ngã chấp huân thành chủng tử, khiến cho hữu tình sinh ra phân biệt có mình và người, vì thế mới lập riêng 1 loại tập khí này. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung) nói: Ngã chấp tập khí là loại chủng tử chấp ngã, ngã sở hư vọng, có 2 loại: 1. Câu sinh ngã chấp: Tức chấp ngã, ngã sở đến giai vị Tu đạo mới đoạn trừ được. 2. Phân biệt ngã chấp: Tức chấp ngã, ngã sở đến giai vị Kiến đạo thì đoạn trừ được. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.8 phần đầu]. (xt. Tam Chủng Tập Khí).

ngã hữu

Ảo tưởng cho rằng cái ngã là có thật—The ilusion that the ego has real existence.

ngã không

The non-reality of the atman, the soul, the person. ; (我空) Phạm: Àtma-zùnyatà. Cũng gọi Nhân không, Sinh không, Giả danh không, Nhân vô ngã, Chúng sinh vô ngã. Ngã thể chỉ là do sự giả hòa hợp của 5 uẩn, chẳng phải thực có, nên gọi là Ngã không, là 1 trong 2 không. Phàm phu đối với pháp 5 uẩn cưỡng lập chủ tể, gọi là Ngã chấp; nếu tìm trong 5 pháp: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức mà không có tự tính, không thấy ngã thể thường nhất, thì là Ngã không. Đại thừa nghĩa chương quyển 1, (Đại 44, 485 trung) nói: Chúng sinh do nhiều pháp hợp thành, nên gọi là Chúng sinh; nhưng chúng sinh chỉ là giả có, chứ không có tự tính, cho nên gọi là Chúng sinh vô ngã. Vì tất cả tính tướng của chúng sinh đều không, nên nói là Không. Tính thực là ngã, nhưng trong 5 uẩn không có ngã, cho nên gọi là Ngã không. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.18; luận Thành duy thức Q.1; phẩm Diệt pháp tâm trong luận Thành thực Q.12; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.3; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu]. (xt. Vô Ngã).

ngã không chân như

Giáo thuyết Tiểu Thừa về “Ngã Không Chân Như.” Kỳ thật không có cái thực ngã—The Hinayana doctrine of impersonality in the absolute, that in truth there is no ego; this position abrogates moral responsibility. ; (我空真如) Chỉ cho chân lí vô ngã. Nghĩa là duyên nơi Ngã không mà khởi trí, nương vào trí này mà hiển hiện lí chân như. Chân như là chân lí thường trụ. Chân lí này là chân thể vô ngã lìa ngã chấp, vì thế gọi là Ngã không chân như, là chân lí mà hàng Thanh văn và Duyên giác chứng ngộ được. [X. luận Thành duy thức Q.1; Hoa nghiêm nguyên nhân luận; Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3].

ngã không pháp hữu

(我空法有) Ngã không có thật, pháp thì có thật. Đây là chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Thân thể của chúng sinh do 5 uẩn giả hòa hợp mà thành, không có tính thường nhất, cũng không có năng lực chi phối, đây là Ngã không. Nhưng đối với tất cả các pháp tồn tại khác thì có thực thể, có bản chất độc lập, là có thật, cho nên gọi là Pháp hữu.

ngã kiến

(hay ngã chấp): quan điểm cho rằng có một bản ngã thực sự tồn tại độc lập so với các đối tượng bên ngoài nó gọi là ngoại cảnh. Nhận thức này là sai lầm, không đúng thật với thực tại vốn hiện hữu do sự kết hợp của nhân duyên, kể cả cái gọi là bản ngã đó cũng không ngoại lệ. ; Thân Kiến—Tà kiến cho rằng thân tứ đại do ngũ uẩn hợp thành mà cho là thực, là thường trụ cố định—False view that every man has a permanent lord within—Wrong view on the existence of a permanent ego—The erroneous doctrine that the ego or self composed of the temporary five skandhas, is a reality and permanent. ; (我見) Phạm: Àtma-dfwỉi. Chỉ cho vọng kiến chấp trước có thực ngã. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Ngã kiến được chia ra 2 loại: 1.Nhân ngã kiến: Chấp trước thân tâm do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành và thức giả hợp là thực ngã. 2. Pháp ngã kiến: Vọng chấp tất cả pháp đều có thể tính thực tại. Tông Duy thức cho rằng Ngã kiến là 1 trong 4 phiền não căn bản, tương ứng với thức Mạt na. Thức Mạt na này do sức huân tập hư vọng từ vô thủy đến nay, duyên với Kiến phần của thức A lại da mà có kiến chấp thực ngã thực pháp. [X. luận Đại tì bà sa Q.8; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Câu xá Q.19; luận Thành duy thức Q.4, 6; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.2 phần đầu].

ngã kiến thân phọc

(我見身縛) Cũng gọi Thực chấp thủ thân hệ (Phạm: Idaô-satyabhiniveza-kàya-grantha; Pàli: Idaô-saccàbhinivesa-kàyagantha). Vọng kiến chấp trước có thực ngã trói buộc thân tâm, là 1 trong 4 phược. Cứ theo luận Tập dị môn túc quyển 8, Ngã kiến thân phược tức là chấp trước Ngã và thế gian hoặc thường, hoặc vô thường, hoặc cũng thường cũng vô thường, hoặc chẳng phải thường chẳng phải vô thường; lại chấp Ngã và thế gian hoặc hữu biên, hoặc vô biên, hoặc cũng hữu biên cũng vô biên, hoặc chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. [X. luận Đại tì bà sa Q.48; Hoa nghiêm kinh Khổng mục chương Q.3; Đại tạng pháp số Q.20]. (xt. Tứ Phược, Phược).

ngã liệt mạn

Unamana (skt)—Sự ngã mạn cho rằng ta không kém hơn kẻ hơn ta là bao, đây là một trong cửu mạn—The pride of thinking myself not much inferior to those who far surpass me, one of the nine kinds of pride. ** For more information, please see Cửu Mạn.

ngã lòng

To lose courage—To lose heart—Discouraged—Disheartened.

ngã mạn

tự cao, tự cho mình là hay, giỏi và có ý chê khinh người khác. ; Vì chấp thật tự ngã nên khi tiếp xúc với người khác thì tỏ ra thái độ kiêu căng, gọi là ngã mạn. ; Asmimana (p)—Abhimana or atma-mada (skt). Sự kiêu hãnh của tự ngã: Self-superiority—Self-sufficiency—Pride of self. Cậy vào cái ta mà khinh mạn hay kiêu ngạo người khác: Exalting self and depreciating others—Self-intoxication or pride of self. Tính tự cao tự đại của cái ta: Ego-conceit—Egotism. ; (我慢) Phạm: Àtma-màịa. Tâm kiêu mạn do chấp ngã là trung tâm, 1 trong 7 thứ mạn, 1 trong 9 thứ mạn. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 22 trung) nói: Ngã mạn là tâm cao ngạo do chấp ngã mà sinh. Ngoại đạo Số luận lập Ngã mạn làm 1 trong 25 đế gọi là Ngã mạn đế, do sự biến đổi của giác dụng trong Đại đế mà sinh khởi. (xt. Ngã Mạn Đế, Mạn).

ngã mạn cống cao

Pride—The pride of thinking oneself is superior to equals—Exalting self and depreciating others—Egotism or overweening pride.

ngã mạn đế

(我慢諦) Cũng gọi Mạn đế, Ngã tâm. Tâm ngạo mạn do chấp ngã mà sinh, là đế thứ 3 trong 25 đế do ngoại đạo Số luận ở Ấn độ đời xưa lập ra. Cứ theo luận Kim thất thập quyển thượng, trung, thì Tự tính đế(nguyên lí vật chất) và thần ngã (nguyên lí tinh thần) nương vào nhau mà sinh ra Đại đế (quyết trí có năng lực biết rõ đây kia), rồi lại do sự tăng trưởng giác dụng trong Đại đế mà sinh khởi ngã chấp, gọi là Ngã mạn đế. Ngã mạn đế là do 3 đức đại đế (tức là 3 đức Tát đỏa, La xà, Đa ma, dịch là: Mừng, lo, tối, vui, khổ, xả của Tự tính đế) hoạt động mà sinh khởi, khi 3 đức này mất thế cân bằng thì lần lượt tăng trưởng 3 thứ ngã mạn: Đại sơ, Chuyển dị, Diệm xí. 1. Đại sơ ngã mạn: Đại sơ nghĩa là Đại đế tăng trưởng lúc ban đầu; do sự tăng trưởng của Đa ma(tối tăm) trong Đại đế mà sinh, tính này còn tối tăm, ngu si, hay sinh ra 10 đế là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc (Ngũ duy) và hỏa, không, địa, thủy, phong (Ngũ đại). 2. Chuyển dị ngã mạn, cũng gọi Biến dị ngã mạn. Chuyển dị nghĩa là tối tăm ngu si chuyển biến, sinh ra ánh sáng nhạt; tính này do Tát đỏa (vui) trong Đại đế tăng trưởng mà sinh, có khả năng sinh ra 11 đế là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, than (Ngũ tri căn) và lưỡi (nói) tay, chân, nam nữ (sinh thực khí), đại khiển (Ngũ tác căn), cho đến tâm căn. 3. Diệm xí ngã mạn: Diệm xí nghĩa là ánh sáng nhạt tăng trưởng, sức nóng bốc mạnh, là do sự tăng trưởng của La xà (lo) trong Đại đế mà sinh, có khả năng sinh ra 21 đế nói trên; đây là vì Đại sơ ngã mạn và Chuyển dị ngã mạn không thể 1 mình sinh ra các đế mà phải nhờ sự trợ giúp của Diệm xí ngã mạn mới có thể phát sinh tác dụng năng sinh. Lại vì Diệm xí ngã mạn là do sự tăng trưởng của La xà mà sinh, cho nên trong 3 đức thì chỉ có đức La xà là có đủ tác dụng hoạt động. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); Bách luận sớ Q.thượng phần giữa]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế, Số Luận Học Phái).

ngã mạn định

(我慢定) Cũng gọi Khan chấp định. Thấy các cảnh giới kì lạ trong định, rồi mê đắm chấp trước cho là cảnh giới thù thắng.

ngã mặn

See Khai Tố.

ngã ngu

Sự ngu si của cái ngã, hay sự chấp chặt vào ảo tưởng của một thực ngã—Ego ignorance, holding to the illusion of the reality of the ego. ; (我愚) Vọng chấp ngã là thật có, tức là chưa thông đạt chân lí vô ngã. Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu (Đại 43, 229 hạ) nói: Người ấy nghe pháp Tứ đế, tuy đã dứt được ngã ngu, nhưng đối với các pháp vẫn còn chấp là thật có.

ngã ngã sở

Tôi và cái của tôi (thân ta và các sự vật ngoài thân ta nhưng thuộc về ta)—I and mine—The self and its possession. ; (我我所) Ta, của ta. Ngã chỉ cho thân mình; Ngã sở (Phạm: Mama-kàra), chỉ cho những vật ngoài mình, chấp đó là sở hữu của mình, vì thế gọi là Ngã ngã sở. Luận Đại trí độ quyển 31 (Đại 25, 295 thượng) nói: Ngã là gốc rễ của tất cả phiền não, trước hết chấp 5 uẩn là Ngã, rồi sau chấp ngoại vật là Ngã sở. [X. Chú Duy ma kinh Q.2; Duy ma nghĩa kí Q.1 phần cuối; Viên giác kinh sao Q.9]. (xt. Ngũ Kiến).

ngã ngũ

Concluded—Settled.

ngã ngữ thủ

Ngôn ngữ của kẻ mê chấp đủ loại ngã kiến, gọi là ngã ngữ thủ, là một trong tứ thủ—The attachment to doctrines or statements about the ego, one of the four kinds of attchment. ** For more information, please see Tứ Thủ. ; (我語取) Phạm: Àtma-vàdopàdàna. Những phiền não do duyên theo trong thân mà sinh khởi, là 1 trong 4 thủ (phiền não).Tức chỉ cho tham, mạn, vô minh và nghi ở Sắc giới và Vô sắc giới. [X. luận Phật tính Q.3]. (xt. Tứ Thủ).

Ngã nhân

(我人): ta và người; hay ngã tướng (我相), nhân tướng (人相) cùng với chúng sanh tướng (眾生相) và thọ giả tướng (壽者相) tạo thành 4 tướng. Như trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) có đoạn rằng: “Nhất thiết chúng sanh tùng vô thỉ lai, vọng tưởng chấp hữu ngã, nhân, chúng sanh cập dữ thọ mạng, nhận Tứ Điên Đảo vi thật ngã thể (一切眾生從無始來、妄想執有我、人、眾生及與壽命、認四顚倒爲實我體, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay, lầm tưởng chấp có ta, người, chúng sanh cùng với thọ mạng, nhận Bốn Điên Đảo này làm ngã thể thật).” Hay trong Hoa Nghiêm Nguyên Nhân Luận Hợp Giải (華嚴原人論合解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 58, No. 1033) quyển Hạ lại có đoạn: “Tiện ngộ thử thân đản thị chúng duyên, tợ hòa hợp tướng, nguyên vô ngã nhân, vi thùy tham sân (便悟此身但是眾緣、似和合相、元無我人、爲誰貪嗔, bèn ngộ thân này chỉ là các duyên, giống như tướng hòa hợp, vốn không ta người, ai là tham sân).”

ngã nhân tứ tướng

Bốn tướng ngã nhân—Four ejects of the ego in the Diamond sutra (Kinh Kim Cang):

ngã pháp

Ngã và pháp—The self or ego and things.

ngã pháp câu hữu tông

Độc Tử Bộ—Ngã Pháp Câu Hữu Tông là một tông phái Tiểu Thừa cho rằng ngã và pháp đều có thật—The school that regards the ego and things as real, the Vatsiputriya school. ; (我法俱有宗) Tông phái chủ trương Ngã và Pháp đều thực có, là 1 trong 10 tông của Ngũ giáo thập tông do tông Hoa nghiêm lập ra. Như Nhân thiên giáo trong Ngũ giáo do Ngũ tổ Tông mật của tông Hoa nghiêm lập và các bộ trong 20 bộ thuộc Tiểu thừa như: Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kinh lượng bộ v.v... đều thuộc Ngã pháp câu hữu tông. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.8]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông).

ngã pháp nhị chấp

(我法二執) Cũng gọi Nhân pháp nhị chấp, Sinh pháp nhị chấp. Gọi tắt: Nhị chấp. Tức là Ngã chấp và Pháp chấp. Thuyết nhất thiết hữu bộ Tiểu thừa chủ trương pháp thể là có thật, nên chỉ đề xướng thuyết Ngã chấp; còn Đại thừa thì quán xét các pháp đều không, cho nên gọi những người chủ trương thật có pháp là Pháp chấp mà đề xướng Ngã pháp nhị chấp. Hai vọng chấp này đều lấy Tát ca da kiến làm thể và do lực dụng bất đồng nên có 2 chướng khác nhau, tức chấp ngã gọi là Phiền não chướng và chấp pháp gọi là Sở tri chướng. Vì đoạn trừ 2 chướng này nên nói Nhị không, Nhị không trí. Trừ hết 2 chướng thì chứng được Đại bồ đề. [X. luận Thành duy thức Q.1, 2, 5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng phần cuối; Thành duy thức luận Q.1 phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.4 phần cuối]. (xt. Ngã Chấp, Pháp Chấp).

ngã quỷ

See Ngạ Quỷ.

ngã si

Ego-infactuation, confused by the belief in the reality of the ego. ; (我痴) Phạm: Àtmamoha. Si mê nơi ngã tướng, ngu tối không thấy lí vô ngã. Cùng với Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái hợp thành 4 thứ phiền não căn bản. Duy thức tam thập luận tụng (Đại 31, 60 trung) nói: Bốn thứ phiền não thường đi cùng nhau, nghĩa là Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái và Xúc... cùng đi chung. Bởi vì tất cả hoặc chướng đều lấy ngu si làm gốc, cho nên biết từ Ngã si mà sinh ra 3 thứ phiền não kia. [X. luận Thành duy thức Q.4; luận Biện trung biên Q.thượng; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

ngã sở

Attaniya or Atmaniya (p)—Atmiya (skt)—Cái thuộc về của tôi hay cái do ta sở hữu—Mine—Belonging to oneself. ; (我所) Phạm: Mama-kàra. Gọi đủ: Ngã sở hữu. Quan niệm cho rằng các vật ngoài tự thân (ta) đều là vật sở hữu của ta. Trong Phật giáo, Ngã và Ngã sở (ta và của ta) bị coi là cội gốc phân biệt của tất cả sự phân biệt ở thế gian, cho nên Ngã và Ngã sở là đối tượng phải được phá trừ. Ngã sở lại được chia làm 3 thứ là: Tương ứng ngã sở, Tùy chuyển ngã sở và Bất li ngã sở; nếu chấp trước Ngã sở thì gọi là Ngã sở kiến. Pháp ngũ thủ uẩn mà Ngã sở kiến chấp trước đều bắt nguồn từ quan niệm Ngã sở này, cho nên luận Tập dị môn túc quyển 12 (Đại 26, 419 hạ) nói: Đối với ngũ thủ uẩn, tùy theo quan niệm kiến chấp về Ngã hoặc Ngã sở mà từ đó khởi lên quan niệm kiến chấp về nhẫn, dục, tuệ. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; Chú Duy ma cật kinh Q.5; Bách pháp vấn đáp sao Q.1]. (xt. Ngã Sở Kiến).

ngã sở kiến

Tà kiến cho rằng sự vật thuộc về ta, vì sự vật chỉ là giả hợp chứ không có thật—The incorrect view that anything is really mine, for all things are but temporal combinations. ; (我所見) Phạm: Mama-kàra-dfwỉi. Vọng chấp pháp 5 uẩn là của ta, hoặc thuộc về ta. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập thì Ngã sở kiến có 3 thứ: 1. Tương ứng ngã sở: Ngã có hình tướng vật chất; như nói Ngã có sắc cho đến Ngã có thức, tức chấp trước 5 uẩn tương ứng với thân ta. 2. Tùy chuyển ngã sở: Hình tướng vật chất thuộc về ta; như nói Sắc thuộc về ta cho đến Thức thuộc về ta là chấp trước pháp 5 uẩn tùy thuộc nơi ta, do sức tự tại của ta mà xoay chuyển. 3. Bất li ngã sở: Ta ở trong hình tướng vật chất, như nói Ta ở trong sắc cho đến Ta ở trong thức, tức là chấp trước thực ngã không lìa 5 uẩn, ở khắp trong thân thể. Trong 5 uẩn, mỗi mỗi uẩn đều có 3 nghĩa này, nên gọi chung là Thập ngũ ngã sở kiến (15 Ngã sở kiến); 15 ngã sở kiến này lại cộng thêm 5 thứ ngã kiến nữa mà thành 20 loại Tát ca da kiến. [X. luận Đại tì bà sa Q.8, 9, 49; luận Câu xá Q.19; luận Thành duy thức Q.4, 6; Câu xá luận quang kí Q.19; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần đầu].

ngã sở sự

Personal conditions, possessions, or anything related to the self.

ngã sở tâm

Tâm nghĩ rằng nó là chủ của vạn hữu—The mind that thinks it is owner of things.

ngã sỡ hữu

Personal—Subjective.

ngã sự

Thân tôi: My body. Chính tôi: Myself. Công việc của tôi: My affairs.

ngã thiên nhĩ cẩu

(我天爾狗) Ta, Trời, Ông, Chó. Đây là phương pháp biện luận xoay vòng mà bồ tát Đề bà, người Nam Ấn độ, đã sử dụng để khuất phục các Luận sư ngoại đạo ở nước Bát la da già (Phạm: Prayàga) thuộc Trung Ấn độ vào khoảng thế kỉ III. Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 897 trung) nói: Mới đầu, bồ tát Đề bà từ Nam Ấn độ đến già lam này, trong thành có 1 ngoại đạo Bà la môn, nổi tiếng về tài biện luận vô ngại, thường dồn đối phương đến chỗ lí cùng, ngôn tận. Ông ta nghe ngài Đề bà là người học thức cao xa, nghiên cứu sâu rộng, muốn chiết phục ngài, nên 1 hôm ông ta đến hỏi: Ngài tên là gì? Đề bà đáp: Tên Thiên. Ông ta hỏi: Thiên là ai? Đề bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai?. Đề bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề bà đáp: Thiên. Người kia hỏi: Thiên là ai? Đề bà đáp: Ta. Người kia hỏi: Ta là ai? Đề bà đáp: Chó. Người kia hỏi: Chó là ai? Đề bà đáp: Ông. Người kia hỏi: Ông là ai? Đề bà đáp: Thiên. Cứ hỏi đáp xoay vòng như thế mãi; sau Luận sư kia mới ngộ được. [X. Bách luận tự; Bách luận sớ Q.thượng phần trên; Phó pháp tạng nhân duyên truyện Q.6; Đề bà bồ tát truyện; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.4]. (xt. Ca Na Đề Bà).

ngã thất

“Ngã” chính là nhà chứa đựng những khổ đau phiền não—The ego as the abode of all suffering.

ngã thắng mạn

Adhimana (skt)—Ngã mạn cho rằng ta hơn những kẻ ngang hàng với ta—The pride of thinking onself superior to equals, one of the nine kinds of pride. ** For more information, please see Cửu Mạn.

ngã thức

Atman-vijnana (skt)—I-consciousness.

ngã tích sở tạo chư ác nghiệp

(我昔所造諸惡業) Câu thứ nhất trong bài sám hối ghi trong phẩm Phổ hiền hành nguyện kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản 40 quyển). Khi sám hối trong các khóa lễ tụng, các tông phái Phật giáo đều đọc bài sám hối này. Toàn văn như sau (Đại 10, 847 thượng): Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp Giai do vô thủy tham sân si Tòng thân ngữ ý chi sở sinh Nhất thiết ngã kim giai sám hối. (Xưa kia con gây bao ác nghiệp Đều do ba độc tham, sân, si Từ thân, ngữ, ý phát sinh ra Hết thảy con nay xin sám hối).

ngã tòng lai nghi trước giá hán

(我從來疑著這漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Từ trước đến giờ tôi vốn nghi ngờ gã ấy. Nghĩa là từ trước đến nay tôi vẫn ngờ người ấy không phải nhân vật tầm thường và đã đúng như thế. Không tầm thường có hàm ý là người đã siêu việt cảnh giới thiện ác, không thể theo tiêu chuẩn phổ thông để đánh giá họ. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 503 trung) ghi: Phổ hóa Thác khai nói: Ngày mai ở viện Đại bi có trai tăng. Thị giả về thưa lại với sư, sư nói: Từ trước đến giờ ta vẫn ngờ gã ấy.

ngã tướng

The appearance of ego—Nơi ngũ uẩn mà ảo chấp là có thực ngã nên sanh lòng khinh khi người nghèo, kẻ ngu—The illusion that in the five skandhas there is a real ego; thus creating the idea of looking down on the poor, stupid and deluded. ; (我相) I. Ngã Tướng. Chỉ cho tướng dáng của Ngã, tức là cái tướng của Ngã tựa hồ như thật do vọng tưởng biến hiện ra, nhưng vì mê lầm nên phàm phu chấp trước là thực có. Ngã tướng gồm 2 loại: 1. Ngã tướng của thế gian: Như hữu tình, ý sinh, sinh giả, sĩ phu, tác giả, thụ giả, tri giả, kiến giả v.v... 2. Ngã tướng của Thánh giáo: Như Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, Vô học, Nhị thập thất hiền thánh, Thập tam trụ v.v... Theo tông Duy thức thì thức ý và thức mạt na của phàm phu từ vô thủy đến nay vọng chấp phân biệt ngã, pháp, rồi huân tập vào thức A lại da, cho nên khi các thức sinh thì Kiến phần và Tướng phần của thức A lại da theo đó mà biến hiện các vọng tướng như thực ngã, thực pháp, phàm phu liền chấp các tướng ấy là thật. Bởi thế, tướng của ngã, pháp vốn không có thực thể, chỉ tùy các duyên phân biệt vọng chấp mà giả lập Ngã tướng của thế gian, cũng tùy duyên giả lập ra việc đoạn ác chứng đạo và giả lập Ngã tướng của Thánh giáo. Theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 1 phần đầu, Luận sư Hộ pháp cho rằng do tâm phân biệt vọng chấp ngã, pháp từ vô thủy đến nay huân tập (xông ướp) bản thức (A lại da) mà sinh ra Kiến phần và Tướng phần; nhưng vì kẻ phàm phu không biết Kiến phần và Tướng phần thực ra chỉ từ trong thức A lại da biến ra, nên mới vọng chấp có thực ngã, thực pháp, tuy không thực có ngã, pháp nhưng tùy theo vọng tình chấp tướng, nên gọi là ngã, pháp. Luận sư An tuệ thì chủ trương Kiến phần và Tướng phần đều là tính Biến kế sở chấp, hư vọng, không có thực thể, tuy nhiên, ở trên Kiến phần và Tướng phần(đều không) này giả lập ngã, pháp mà cho rằng ngã, pháp là Biệt vô. II. Ngã Tướng. Vọng chấp trong 5 uẩn có Ngã, Ngã sở, là 1 trong 4 tướng. (xt. Tứ Tướng).

ngã tưởng

Tưởng nghĩ đến tự ngã vì cho rằng tự ngã là có thực—Thought of self—The thought that the ego has reality.

ngã và ngã sở

kiến chấp mê lầm cho rằng có một bản ngã tồn tại độc lập (ngã) và các đối tượng thuộc về bản ngã ấy (ngã sở); thường hiểu đơn giản là “ta và vật của ta”. Người tu tập nếu biết được cái ta (ngã) vốn đã là không thật, thì những vật do ta sở hữu (ngã sở) cũng không thật có.

ngã xuống

To collapse

ngã ái

Yêu cái ta, yêu hay chấp vào thực ngã, khởi lên với thức thứ tám—Self-love; the love of or attachment to the ego, arising with the eighth vijnana. ; (我愛) Phạm: Àtma-sneha. Yêu quí cái ta rất sâu đậm, là 1 trong 4phiền não căn bản, do thức mạt na chấp thức a lại da làm ngã mà sinh khởi. Luận Thành duy thức quyển 4 (Đại 31, 33 trung) nói: Ngã ái là ngã tham, nghĩa là yêu thương say đắm cái ta. [X. Đại phương quảng Viên giác tu đa la liễu nghĩa; Thành duy thức luận Q.5 phần đầu; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ phần đầu]. (xt. Tứ Phiền Não).

ngã điên đảo

Phiền não vì cho rằng ngã là có thực—One of the four inverted or upside-down ideas, the illusion that the ego is real—The illusion that the ego has real existence. ** For more information, please see Tứ Điên Đảo.

ngã đẳng mạn

Manatimana (skt)—Ngã mạn cho rằng ta bằng những kẻ hơn ta, đây là một trong chín loại ngã mạn—The pride of thinking oneself equal to those who surpass us, one of the nine kinds of pride.

ngã đức

Sức mạnh hay đức của ngã được định nghĩa như là tự tại, khắc phục và giải thoát—Power or virtue of the ego, the ego being defined as sovereign, master, free.

ngó chòng chọc

To stare.

ngó chừng

To keep watching.

ngó lơ

To be careless. To avoid someone.

ngó ngoái

To look back.

ngó sen

Lotus root.

ngó thấy

To see.

ngó trân trân

See ngó chòng chọc.

ngóc

To lift up one's head.

ngón tay chỉ trăng

Finger pointing to the moon.

ngóng

To wait impatiently.

ngóp

Lóp ngóp—To get up with difficutlty.

Ngô

(呉・吳・吴): (1) Nhà Ngô do Thái Bá (泰伯) kiến lập dưới thời nhà Chu (周), trải qua 25 đời vua, kéo dài 759 năm, sau bị nhà Việt (越) tiêu diệt vào năm 472 trước công nguyên. (2) Nhà Ngô do Tôn Quyền (孫權) kiến lập dưới thời Tam Quốc, đóng đô ở Kiến Nghiệp (建業), trải qua 4 đời vua và kéo dài 60 năm, sau bị nhà Tấn (晉) tiêu diệt vào năm 280. (3) Nhà Ngô dưới thời Ngũ Đại, do Dương Hành Mật (楊行密) kiến lập, trải qua 4 đời vua và kéo dài 46 năm, sau bị Từ Tri Cáo (徐知誥) tiêu diệt vào năm 937. (4) Địa danh, ngày xưa là địa phương nước Ngô, nay là một dãy Tỉnh Giang Tô (江蘇省). (5) Tên gọi chung Trung Quốc ngày xưa. (6) Đồ vật mang từ Trung Quốc sang. ; 呉; C: wú; J: go;|1. Tên một triều đại thời cổ Trung Hoa: a. Thời Xuân Thu, Ngô là vương quốc hùng mạnh bị vương triều Yüeh đánh bại; b. Đông Ngô, phần lớn lãnh thổ phía Đông của thời Tam Quốc (CE 229-280), tương đương tỉnh Chiết Giang; 2. Hò hét, ồn ào, nói oang oang; 3. Cách phát âm của người Nhật dành cho những Hán tự vốn được đọc theo cách phát âm Ngô, không đọc theo âm Hán. Nhiều thuật ngữ Phật học dùng cách phát âm nầy.

ngô ca

(吳哥) Angkor. Cũng gọi Lộc ngột, An ca. Kinh đô của vương triều An ca, dân tộc Khmer, ở Bắc bộ Cao miên, từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV. Đô thành này gồm có hơn 600 tòa kiến trúc, được cấu tạo toàn bằng những khối đá lớn với những bức phù điêu khắc bằng đá rất đẹp, vốn có tên là Nangara, đời sau gọi lầm là An ca. Đến thế kỉ thứ XV, người Thái vây đánh Ngô ca, cướp bóc tàn phá, vương triều phải dời đến Bách nang bôn ở phía nam (tức là Phnom Pênh), Ngô ca từ đó trở nên hoang vu. Vào thế kỉ XX, Ngô ca trở thành khuôn mẫu cho việc khôi phục di tích xưa. Năm 1907, cục Bảo hộ An ca tiếp quản Ngô ca, từ trong bùn đất, cỏ cây rậm rạp, người ta đã đào được 1 tòa kiến trúc kì quan hoành tráng và được trùng tu, bảo tồn. Từ sau năm 1968, Cao miên lâm vào cảnh chiến tranh, rồi từ 1975 đến 1979 lại bị cộng sản Cao miên tàn phá. Hiện nay, nhà nước Cao miên tuy có lưu tâm bảo tồn cổ tích Ngô ca, nhưng hiệu quả không có bao nhiêu. (xt. An Ca Nghệ Thuật).

ngô khắc kỉ

(吳克己) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào đời Tống, người Tiền đường, tỉnh Chiết giáng, tự Phục chi, hiệu Khải am. Thủa nhỏ, ông đọc Chu quan, vì cảm khái mà nảy sinh chí giúp đời. Sau ông ẩn ở Tả khê, thường đọc kinh Lăng nghiêm và Tông kính lục, rồi ông theo lời khuyên của ngài Bảo tích Thực công tu tập chỉ quán mà được tỏ ngộ. Về sau, ông chuyên tu Tịnh độ. Khoảng năm Càn đạo ( 1165-1173), ông kết Liên xã với ngài Thực công ở Tô châu và cùng nhau soạn Thích môn chính thống nói rõ sự truyền thừa của tông Thiên thai. Năm Gia định thứ 7 (1214) ông qua đời tại Bảo sơn, thọ 75 tuổi. Ông có tác phẩm: Pháp hoa xu kiện.

ngô nhuận giang

(吳潤江) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, người Khai bình, tỉnh Quảng đông. Truyền nhân đời thứ 18 của Hồng giáo thuộc Tạng mật và đời thứ 3 của Tổ sư Bối nhã Đạt lại. Thủa nhỏ, ông đọc kinh sử tử tập và học tập văn Khư lô ở thư viện Thánh tâm. Khoảng năm Dân quốc thứ 14, 15 (1925- 1926), vì ông bị bệnh lâu mà không thuyên giảm nên mới qui y Phật giáo. Năm 20 tuổi, ông được ngài Nặc na hô đồ khắc đồ truyền pháp Quán đính ở Phật giáo cư sĩ lâm tại Nam kinh, từ đó ông tu tập pháp Vô thượng du già của Hồng giáo và tích cực hoằng dương pháp môn này. Ông từng biên chép và in ấn kinh Đại bạch tản cái Phật mẫu tổng trì đà la ni, khuyến khích người học niệm quán Tam muội, đặt vững nền tảng cho Mật tạng tại Quảng đông. Năm 1949, ông đến Hồng kông, sáng lập tinh xá Nặc na tại Cửu long để làm đạo tràng Mật giáo. Ông thường ra Đài loan và nước ngoài hoằng pháp. Ông có các tác phẩm: Kim cương bát nhã ba la mật kinh giảng nghĩa, Nặc môn phổ truyền chân ngôn, Thánh cứu độ Phật mẫu tu trì pháp, Phật giáo đích vũ trụ quan cập nhân sinh quan.

Ngô Thê Kính

(吾妻鏡, Azumakagami): còn gọi là Đông Giám (東鑑, Azumakagami), bộ Sử Thư được thành lập vào cuối thời Liêm Thương, gồm 52 quyển (khuyết mất quyển thứ 45). Nó được biên thuật theo dạng nhật ký với thể văn Hán Văn, nói về những sự kiện của chế độ Mạc Phủ Liêm Thương. Đây là một tư liệu lịch sử vô cùng quan trọng, đã ghi lại toàn bộ biến chuyển lịch sử trong thời gian 87 năm, kể từ khi Tướng Quân Nguyên Lại Chính (源賴政, Minamoto-no-Yorimasa) cử binh vào năm 1180 (niên hiệu Thừa Trị [承治] thứ 4) cho đến khi Tông Tôn Thân Vương (宗尊親王, Munetaka Shinnō) trở về kinh đô Kyoto vào năm 1266 (niên hiệu Văn Vĩnh [文永] thứ 3). Bộ này đã sử dụng khá nhiều tài liệu của các bản nhật ký, cổ văn thư, tác phẩm văn học, v.v., có giá trị to lớn như là sử liệu quan trọng để nghiên cứu về thời đại Liêm Thương.

ngô đô pháp thừa

(吳都法乘) Tác phẩm, 12 quyển, (hoặc 30 quyển), do Chu vĩnh niên soạn vào đời Minh, Trung quốc. Nội dung biên tập các kí sự về Phật giáo ở đất Ngô, thuộc tỉnh Giang tô. Bản 30 quyển, mỗi thiên đều thu chép tất cả các việc dù lớn hay nhỏ được ghi trong các sách, có nói rõ xuất xứ và tác giả. Ông Chu vĩnh niên (1582-1647) tự là An kì, người huyện Giang ngô, tỉnh Giang tô, ông phát nguyện khắc tạng Kinh, trọn đời cúng tăng. Ngoài sách này ra, ông còn có các tác phẩm như: Đặng úy Thánh ân tự chí, Hổ khâu sơn Linh nham tự hợp chí. [X. Ngô đô pháp thừa Q.đầu; Trung quốc Phật giáo sử tịch khái luận (Trần viên); Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu Q.145; Hổ khâu sơn chí (Cố mi)].

ngô đạo huyền

(吳道玄) Họa gia Trung quốc, sống vào đời Đường, người Dương địch, Khai phong (huyện Vũ, tỉnh Hà nam). Lúc đầu, ông tên là Đạo tử, sau đồi là Đạo huyền. Thủa nhỏ, ông mồ côi, nghèo khổ, lớn lên, ông đến Lạc dương cùng với các ông Trương húc, Hạ tri chương học thư pháp nhưng không thành công. Về sau, ông chuyên tâm tập vẽ, nghiên cứu đến chỗ sâu xa kì diệu, lập ra trường phái riêng. Các hình tượng Phật, quỉ thần, người, vật, cầm thú, sơn thủy, lầu gác, do ông vẽ đều đứng đầu vào thời ấy. Bút pháp của ông siêu tuyệt, người đời gọi ông là Bách đại họa thánh (ông thánh nghề vẽ của trăm đời). Lúc đầu, ông làm quan ở Cổn châu giữ chức Hà khâu úy, sau được triệu vào cung làm Nội giáo bác sĩ, nếu vua không ban chiếu lệnh thì ông chẳng vẽ. Lúc tuổi trẻ, nét vẽ của ông hơi tỉ mỉ, đến trung niên thì lỗi lạc hồn hậu, tranh sơn thủy của ông biểu tỏ vẻ kiệt xuất phong trần, trong tranh nét mực hơi nhạt, rất tự nhiên, người đời gọi là Ngô trang. Ông từng vẽ tranh biến tướng địa ngục ở chùa Cảnh công tại Khai phong, không vẽ rõ quỉ quái, mà vẽ những kẻ bán thịt, bán cá ở cõi u minh, rất nhiều người nhìn thấy sợ tội mà đã đổi nghề. [X. Phật tổ thống kỉ Q.40; Lịch đại danh họa kí Q.9; Vạn bảo toàn thư Q.4; Thái bình quảng kí Q.212; Dậu dương tạp trở tục tập Q.5; Lang gia đại túy biên Q.18].

Ngô Ỷ

(呉綺, 1620-1695): nhà văn học dưới thời nhà Thanh, tự là Viên Thứ (薗次, 園次), hiệu Thính Ông (聽翁), Phong Nam (豐南), được gọi là Hồng Đậu Từ Nhân (紅豆詞人); xuất thân Giang Đô (江都). Ông là người có tư chất khác thường, năm lên 5 tuổi đã có thể làm thơ được; khi lớn lên thì phát triển thông minh trí tuệ, đọc sách không chán; học rộng nhiều tài. Năm thứ 15 (1654) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông đỗ Tiến Sĩ, được ban cho chức Bí Thư Viện Trung Thư Xá Nhân (秘書院中書舍人). Vâng chiếu chỉ Hoàng Đế, ông sáng tác kịch bản của Dương Kế Thạnh (楊繼盛), tức là Trung Mẫn Ký (忠愍記). Xem xong Hoàng Đế Thuận Trị rất hài lòng, bèn lấy chức quan Binh Bộ Thị Lang (兵部侍郎) của Dương Kế Thạnh mà ban cho Ngô Ỷ. Ngoài ra, ông còn được cử làm Tri Phủ (知府) của Hồ Châu (湖州), Triết Giang (浙江). Trong thời gian tại nhiệm, bá tánh đều được yên bình; người dân Hồ Châu thấy ông có phong lực, phong cách, phong nhã; nên gọi ông là Tam Phong Thái Thú (三風太守). Tính cách của ông thản nhiên, nhẹ nhàng, bình dị, gần gủi với mọi người, hoan hỷ kết thân với bằng hữu; nên các danh sĩ bốn phương lai vãng liên tục, thương cùng ông ngâm thơ, xướng từ, vui chơi, yến tiệc không ngừng. Vì vậy, ông bị kẻ xấu bẩm báo lên, và cuối cùng trở về quê cũ. Tuổi già của ông rất nghèo túng, chẳng có điền sản. Ông là người tài hoa xuất chúng, từ khúc rất tinh xảo; những thi từ ông sáng tác được thâu lục vào bộ Lâm Huệ Đường Tập (林蕙堂集) 26 quyển. Trước tác của ông có Lĩnh Nam Phong Vật Ký (嶺南風物記), Tống Kim Nguyên Thi Vịnh (宋金元詩詠), Tuyển Thanh Tập (選聲集), Khiếu Thu Phong (嘯秋風), Tú Bình Nguyên (繡平原), Trung Mẫn Ký (忠愍記), v.v.

ngôn

Vaca (p & skt)—Lời nói—Words—Speech—To speak.

ngôn cú

Câu—Sentence.

ngôn giáo

Spoken teaching. Giáo thuyết nguyên thủy của Phật Tổ Thích Ca, chưa được ghi lại bằng chữ viết cho đến đầu thế kỷ thứ nhứt Tây lịch, khi mà Tạng Kinh Pali được ghi lại trên những lá kè, trong các tự viện ở Tích Lan—The original teaching of the Buddha, which was not recorded in writing until the 1st century B.C., when Pali canon was written on palm leaves in the monasteries in Sri Lanka. Giáo Thuyết của Đức Phật biểu hiện bằng ngôn ngữ: The teaching of Buddha as embodied in words. ; (言教) Phạm: Nirukti. Chỉ cho giáo pháp do đức Như lai dùng ngôn ngữ để diễn bày. Phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa (Đại 9, 5 hạ) nói: Các loại nhân duyên, các loại thí dụ, diễn rộng ngôn giáo. Phổ thông cho rằng Phật giáo nói có, nói không, chẳng phải có, chẳng phải không đều là để giải bày giáo pháp. Giáo lí ấy tuy là pháp đã được giải bày, nhưng chân đế không tên, lí chẳng thể nói, thì ngôn giáo đã rơi vào Đệ nhị nghĩa. Nhị đế nghĩa quyển thượng (Đại 45, 90 trung) nói: Giáo có lời để nói, lí thì không thể nói; lí đã không thể nói thì làm thế nào để ngộ được? Cho nên người ngộ được lí ắt phải mượn lời để nói, vì lẽ ấy nên nói có, nói không, nói chẳng phải có, chẳng phải không... đều là giáo khiến cho ngộ lí. Lại cứ theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 20, thì Ngôn giáo có 4 loại là: Sai biệt lí thú, Kiến lập lí thú, Vô dị lí thú, Vô tác dụng lí thú và có 4 câu phân biệt là: Ngôn định ý bất định, Ý định ngôn bất định, Ngôn ý câu định và Ngôn ý câu bất định. [X. luận Du già sư địa Q.78; Đại thừa huyền luận Q.1; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao Q.3; Tam luận huyền nghĩa kiểm u tập Q.5].

ngôn hành

Vaci-sankhara (p)—Vacika-samskara (skt)—Lời nói và hành động—Saying and doing—Words and deeds—Verbal functions of the mind.

ngôn hứa đối

(言許對) Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 3 tiêu chuẩn để phân biệt tự tướng và sai biệt trong luận thức Nhân minh. Ngôn là ngôn trần, tức là lời trình bày rõ ràng; Hứa là ý hứa, tức là ý chấp nhận. Phàm lời nói được trình bày và ý tứ trong đó được thừa nhận, cả 2 đều nhất trí, thì gọi là Ngôn trần. Trái lại, nếu lời nói được trình bày và ý tứ được thừa nhận không hoàn toàn nhất trí, thì gọi là Ý hứa. Ngôn trần là ý nghĩa trong lời nói, Ý hứa là ý nghĩa ngoài lời nói. Ngôn trần thì trong ngoài như một, cho nên gọi là Tự tướng, còn Ý hứa thì trong ngoài khác nhau, cho nên gọi là Sai biệt. (xt. Thể).

ngôn khuyết

(言缺) Tiếng dùng trong Nhân minh. Lỗi thiếu (khuyết)ngôn trần hoặc ngôn trần không đầy đủ trong luận thức Nhân minh. Ngôn trần tức là lời nói mà người lập luận và người địch luận (người vấn nạn) đưa ra để trình bày ý kiến chủ trương của mình. Trong tác pháp 3 phần của Nhân minh, ngôn trần là yếu tố mà phần Tông (mệnh đề) không thể thiếu được. Chẳng hạn như lập tông Âm thanh là vô thường thì trong đó âm thanh và vô thường đều là ngôn trần; âm thanh là tiền trần (danh từ trước), vô thường là hậu trần (danh từ sau). Tiền trần biểu thị tự tướng của 1 pháp, cho nên cũng được gọi là Tự tướng (hoặc Tự tính); còn hậu trần thì biểu thị cho cái nhân tố đặc biệt của 1 pháp làm cho nó không giống các pháp khác, cho nên cũng được gọi là Sai biệt, tức là dùng tính chất sai biệt để hiển bày tự tính. Trong đối luận Nhân minh, tiền trần và hậu trần của phần Tông, bất cứ chủ trương, lập luận ra sao, đều phải đầy đủ và hoàn chỉnh, nếu không sẽ mắc lỗi ngôn khuyết; vì cái nội dung muốn trình bày mà đã khuyết (thiếu) thì lẽ tất nhiên chẳng có gì để đôi bên tranh luận. (xt. Khuyết Quá).

ngôn liễu nhân

(言了因) Đối lại: Ngôn sinh nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Ngôn ngữ năng lập của người lập luận, 1 trong 6 nhân, 1 trong 3 Liễu nhân. Trong luận thức Nhân minh, người lập luận đã nêu ra Tông (mệnh đề), lại lập Nhân (lí do) để làm sáng tỏ chủ trương lập luận của mình, khiến địch luận (người vấn nạn) nhờ đó mà hiểu rõ. Đứng về phương diện địch luận mà nói, Nhân này được gọi là Ngôn liễu nhân, nghĩa là nhờ ngôn luận của người lập luận mà đối phương hiểu được rõ ràng. (xt. Liễu Nhân).

ngôn luận

Speech.

ngôn ngữ

Language—Words—Speech—Verbal expression.

ngôn ngữ đạo đoạn

(言語道斷) Phạm: Sarva-vàda-caryoccheda. Cũng gọi Ngữ ngôn đạo đoạn, Ngôn ngữ đạo quá, Danh ngôn đạo đoạn. Đường ngôn ngữ dứt bặt, là nhóm từ được dùng để khen ngợi chân lí sâu xa, mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 424 hạ) nói: Xa lìa chấp tướng, quán chân thực, Được sức tự tại, thấy quyết định; Ngôn ngữ đạo đoạn, hành xứ diệt. [X. kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản 60 quyển); luận Thành duy thức Q.10; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2].

Ngôn niệm

(言念): tưởng nghĩ rằng, trộm nghĩ rằng; tương đương với thiết niệm (竊 [窃]念, nép nghĩ, thiết nghĩ, trộm nghĩ); là từ dùng để biểu thị một cách khiêm hạ về ý kiến, suy nghĩ của kẻ dưới với đấng bề trên. Ngôn (言) ở đây chỉ đóng vai trò là trợ từ. Như trong Chu Thư (周書), Truyện Lý Viễn (李遠傳) có câu: “Ngôn niệm trinh lương, truy tăng thương điệu (言念貞良、追增傷悼, tưởng nghĩ trinh lương, càng nhớ càng thêm thương xót).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 2, phần Gia Trì Pháp Sự Trần Tình Văn (加持法事陳情文), có đoạn: “Cung văn, Phật chơn Pháp Thân do nhược hư không, ứng vật hiện hình như thủy trung nguyệt; ngôn niệm thần tăng mỗ giáp, hạnh xử Trung Hoa, thao vi Thích tử, hà thiên địa bao hàm chi đức, cảm quân sư ban huấn chi ân (恭聞、佛眞法身猶若虛空、應物現形如水中月、言念臣僧某甲、幸處中華、叨爲釋子、荷天地包含之德、感君師頒訓之恩, Cúi nghe: Phật thật Pháp Thân giống như hư không, theo vật hiện hình như trăng trong nước; tưởng nghĩ nạp tăng …, may ở Trung Hoa, làm đệ tử Phật; mang trời đất che chở muôn đức, cảm thầy tổ dạy dỗ công ơn).”

ngôn sinh nhân

(言生因) Đối lại: Ngôn liễu nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Nhân làm phát sinh sự hiểu biết, 1 trong 6 nhân, 1 trong 3 sinh nhân của Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, người lập luận đã lập Tông (mệnh đề), sau lại nêu ra Nhân (lí do) để giải thích chủ trương luận thức của mình, khiến cho đối phương hiểu rõ. Đứng về phía bản thân người lập luận mà nói, thì Nhân này được gọi là Ngôn sinh nhân. (xt. Lục Nhân, Sinh Nhân).

ngôn thuyên

Ngôn ngữ là công cụ để giải thích, làm rõ nghĩa lý, giống như cái nơm là dụng cụ để bắt cá—Words as explaining meaning; explanation. ; (言詮) Đồng nghĩa: Y ngôn, Y thuyên. Dùng ngôn ngữ văn tự để hiển bày nghĩa lí. [X. luận Kim cương châm; Thập địa kinh luận Q.2; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần cuối].

ngôn thuyên trung đạo

(言詮中道) Đối lại: Li ngôn trung đạo. Trung đạo được giải bày bằng lời nói. Thực tướng trung đạo vốn dứt bặt nói năng, nhưng, muốn thuyết minh ắt phải dùng ngôn ngữ, vì thế, trung đạo biểu đạt bằng ngôn ngữ gọi là Ngôn thuyên trung đạo. Tông Pháp tướng sử dụng thuyết Tam tính đối vọng là: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính (trong đó, tính Biến kế sở chấp chẳng phải có, 2 tính Y tha khởi và Viên thành thực chẳng phải không) để hiển bày nghĩa chẳng phải có chẳng phải không, gọi là Tam tính đối vọng trung đạo. Vì trung đạo này được thuyết minh bằng ngôn ngữ, nên cũng gọi là Ngôn thuyên trung đạo. [X. luận Thành duy thức Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Nhị Trùng Trung Đạo, Tam Tính Đối Vọng Trung Đạo).

Ngôn thuyết

(言說): nói năng, bàn luận, diễn thuyết, giải thích bằng ngôn từ. Ngôn thuyết có nhiều loại khác nhau; theo Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 1 có nêu ra 3 loại, gồm: Tà Kiến (邪見), Mạn (慢) và Danh Tự (名字); trong đó, hai loại đầu thuộc về bất tịnh, loại thứ ba là tịnh. Hơn nữa, Thích Ma Ha Diễn Luận (釋摩訶衍論) quyển 2 lại nêu lên 5 loại khác như: Tướng Ngôn Thuyết (相言說), Mộng Ngôn Thuyết (夢言說), Vọng Chấp Ngôn Thuyết (妄執言說), Vô Thỉ Ngôn Thuyết (無始言說) và Như Nghĩa Ngôn Thuyết (如義言說); trong đó, bốn loại đầu thuộc về thuyết hư vọng, loại cuối cùng là thuyết như thật. Như trong Phật Thuyết Đại Phương Quảng Bồ Tát Thập Địa Kinh (佛說大方廣菩薩十地經, Taishō No. 308) có đoạn: “Thiện nam tử ! Bồ Đề giả, thị giai ngôn thuyết tục sổ thí thiết. Thiện nam tử ! Bồ Đề giả phi ngôn thuyết phi tục sổ phi thí thiết. Thiện nam tử ! Như Bồ Đề phi ngôn thuyết, Tát Đỏa cập tâm chí nhất thiết pháp, diệc phục như thị (善男子、菩提者。菩提者、是皆言说俗数施设。是皆言說俗數施設、善男子。善男子、菩提者非言说非俗数非施设。菩提者非言說非俗數非施設、善男子。善男子、如菩提非言說、萨埵及心至一切法。薩埵及心至一切法、亦复如是。亦復如是当作是, Này thiện nam tử ! Bồ Đề đều do ngôn thuyết, thế tục tính đếm, thiết lập mà thành. Này thiện nam tử ! Bồ Đề không phải do ngôn thuyết, không phải do thế tục tính đếm, chẳng phải do thiết lập mà thành. Này thiện nam tử ! Nếu như Bồ Đề không phải do ngôn thuyết, thì Tát Đỏa, tâm cho đến hết thảy các pháp cũng giống như vậy).” Hay như trong Bảo Tạng Luận (寶藏論) của Tăng Triệu (僧肇, 383-414) cũng có giải thích rằng: “Thí như hư không, ly số phi số, ly tánh phi tánh, phi nhất phi dị, phi cảnh phi ly cảnh, bất khả ngôn thuyết, quá ư văn tự, xuất ư tâm lượng, vô hữu khứ lai, vô hữu xuất nhập (譬如虛空、離數非數、離性非性、非一非異、非境非離境、不可言說、過於文字、出於心量、無有去來、無有出入, ví như hư không, lìa cả số lượng và không phải số lượng, lìa cả tánh và không phải tánh, chẳng phải một và cũng chẳng phải khác, chẳng phải cảnh và cũng chẳng phải lìa cảnh, chẳng thể giải thích bằng ngôn từ, vượt qua cả văn từ, ra khỏi sự suy lường của tâm, không có đi và đến, không có ra và vào).” Hơn nữa, trong Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bất Tư Nghì Phật Cảnh Giới Kinh (文殊師利所說不思議佛境界經, Taishō No. 340) quyển thượng cũng có câu: “Thế Tôn ! Không dĩ ngôn thuyết cố hữu; tham sân si, diệc dĩ ngôn thuyết cố hữu (世尊、空以言說故有、貪瞋癡、亦以言說故有, Thế Tôn ! Không vì do ngôn thuyết mà có; tham sân si cũng vì do ngôn thuyết mà có).”

ngôn thuyết

See Ngôn Ngữ.

ngôn thuyết pháp thân

(言說法身) Pháp thân được hiển bày bằng lời nói. Là 1 trong 2 loại pháp than (Ngôn thuyết pháp thân, Chứng đắc pháp thân). Pháp thân vốn không hình tướng, xa lìa nói năng, nhưng nếu không nói thì không biểu hiện được pháp thân, vì thế phải dùng ngôn ngữ để thuyết minh pháp thân và gọi đó là Ngôn thuyết pháp thân. [X.Kim cương bát nhã kinh luận Q.thượng (Đạt ma cấp đa dịch)]. (xt. Chứng Đắc Pháp Thân).

ngôn thuyết pháp tướng

See Desana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ngôn tiến thưởng lao

(言薦賞勞) Lời khen ngợi và ban thưởng cho người có công. Trong Thiền lâm, sau khi kết thúc hạ an cư, bậc thầy thường khen thưởng cho những người tu hành tinh tiến để khuyến khích các người khác. Hư đường lục quyển 8 (Đại 47, 1045 thượng) nói: Được lời khen ngợi và ban thưởng (ngôn tiến thưởng lao), cũng như trong tối bắt được vật.

ngôn trần

Những điều được trình bày ra bằng lời nói, như pháp suy luận trong Nhân Minh Học—Things set out in words, i.e. a syllogism. ; (言陳) Cũng gọi Ngôn hiển, Ngôn chương. Đối lại: Ý hứa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Lời của người lập luận trình bày chủ trương của mình, hoặc lời của địch luận (người vấn nạn) đưa ra ý kiến của mình để phản bác đối phương. Trong 4 lỗi tương vi của Nhân, thì Pháp sai biệt tương vi(trái với ý nghĩa của danh từ sau) và Hữu pháp sai biệt tương vi(trái với ý nghĩa mà mình chủ trương trong danh từ trước) là những lỗi do người lập luận, ngoài ngôn trần ra, còn gián tiếp dùng những chữ khác để biểu thị ý nghĩa chủ trương của mình. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.hạ, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa đoán Q.hạ; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.6,7]. (xt. Ngôn Khuyết, Ý Hứa).

ngôn từ

Words—Language—Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Chính do con người không biết rõ cái bản tánh của các ngôn từ, nên người ta xem ngôn từ là đồng nhất với ý nghĩa.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “It is owing to his not perfectly understanding the nature of words that he regards them as identical with the sense.”

ngôn vong lự tuyệt

(言亡慮絕) Đồng nghĩa: Tâm ngôn lộ tuyệt, Tuyệt ngôn tuyệt tư, Danh ngôn đạo đoạn, Li ngôn tuyệt lự, Tuyệt ngôn li niệm, Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt. Quên hết lời nói, dứt bặt suy nghĩ. Từ ngữ này biểu thị cảnh giới giác ngộ tuyệt đối, không còn lời nói hoặc ý nghĩ nào có thể diễn đạt được, tức biểu thị cảnh giới đệ nhất nghĩa đế. [X. luận Thành duy thức Q.7; Tam luận huyền nghĩa Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.1, phần cuối; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu].

ngôn y

Tùy vào ngôn ngữ mà giải thích. Tất cả các pháp hữu vi đều quy vào loại có thể định nghĩa hay giải thích bằng ngôn ngữ (khác với pháp vô vi không thể gọi ra bằng tên, không thể diễn tả bằng lời)—Word-dependence, i.e. that which can be expressed in words, the phenomenal or describable.

ngôn đoan ngữ đoan

(言端語端) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lời nói ngay thẳng. Nghĩa là lời nói có khả năng trực tiếp hiển bày 1 cách trọn vẹn diệu lí của chí đạo. Đây là lời cảnh giác của những người chỉ biết 1 mặt chê bai văn tự ngữ ngôn. Lập trường của Thiền tông là bất lập văn tự, minh tâm kiến tính, bởi vì Thiền tông cho rằng nếu dùng ngôn ngữ văn tự để diễn giải thì sẽ đánh mất diệu lí của chí đạo, không thể đạt đến nghĩa rốt ráo, cho nên chủ trương bài xích văn tự ngôn ngữ. Nhưng nếu chẳng phải là bậc căn trí thượng thặng mà cứ 1 mực bài trừ văn tự ngôn ngữ để chứng ngộ Phật đạo, thì lại thường dễ sinh ra các mối tệ thiên chấp, tà kiến. Bởi vậy, các Thiền sư chính thống 1 mặt đề cao cảnh giác về giới hạn và chướng ngại của ngôn ngữ tư biện, mặt khác, không hoàn toàn gạt bỏ ngôn ngữ văn tự mà dùng chúng để tiến hành việc tham khảo, khai thị, khám biện các Thiền sinh... Nghĩa là cần phải đúng lúc dùng Ngôn đoan ngữ đoan để cảnh tỉnh những kẻ chỉ biết có 1 mặt là bài trừ ngôn ngữ văn tự, mà thực tế thì mờ mịt chẳng biết gì, giống như bọn Dã hồ thiền tựa hồ như đúng mà thực ra thì sai lầm. Bích nham lục tắc 2 (Đại 48, 142 thượng) nói: Chí đạo không khó, ngôn đoan ngữ đoan, một có nhiều thứ, hai chỉ một thể.

ngõ

Gate.

ngõa

Miếng Ngói—Tile. Đồ Sứ: Pottery.

ngõa bát

Bình bát bằng đồ sứ—An earthernware begging bowl.

ngõa khí

Một cái bình bằng sành, ám chỉ Phương Pháp Thanh Văn—An Earthern Vessel, implies the Sravaka Method. Kim Khí: Một cái bình bằng kim khí, ám chỉ Phương Pháp Bồ Tát—A golden vessel, implies the Bodhisattva-Method.

ngõa sư

Đức Phật trong một tiền kiếp là một người thợ đồ gốm—The Buddha in a previous incarnation as a potter.

Ngõa Ốc Năng Quang

(瓦屋能光, Gaoku Nōkō, ?-933): húy là Năng Quang (能光), đạo hiệu Ngõa Ốc (瓦屋). Sau khi xuất gia, ông sang nhà Đường cầu pháp và được ấn khả của Lương Giới (良价). Trong khoảng thời gian niên hiệu Thiên Phục (天復, 901-904), ông đi du hóa đất Thục và khi Lộc Kiền Ỷ (祿虔扆), vị quan Tiết Độ Sứ của quân Vĩnh Thái (永泰) cải đổi ngôi nhà của mình ở Bích Kê Phường (碧鷄坊) thành Thiền viện, ông được thỉnh về làm tổ khai sơn nơi đây. Từ đó, ông giáo hóa rất nhiều tín đồ tăng tục và nỗ lực xiển dương Thiền phong của mình.

ngù ngờ

Simple-minded—Nave.

ngăn cản

See Ngăn ngừa.

ngăn ngừa

To prevent.

ngăn nắp

Well-ordered.

ngũ

Panca (skt)—Five.

ngũ (trọng) vân

The five banks of clouds or obstructions for a woman—See Ngũ chướng.

ngũ (trọng) đái

The five heavy blockacges or serious hindrances—See Ngũ Độn Sử.

ngũ a hàm

The five Agamas: Trường A Hàm: Dirghagama. Trung A Hàm: Mahdyamagama. Tạp A Hàm: Tăng Dục Đa A Hàm—Samyuktagama. Tăng Nhất A Hàm: Ương Quật Đa La A Hàm—Ekottarikagama. Khuất Đà Ca A Hàm: Ksudrakagama. ; (五阿含) A hàm, Phạm: Àgama. Hán dịch: Pháp qui, Pháp tạng, Truyền giáo. Cũng gọi Ngũ a cấp ma. Chỉ cho 5 bộ A hàm là Trường a hàm, Trung a hàm, Tăng thuật đa (Tương ứng) a hàm, Ương quật đa la (Tăng nhất) a hàm và Khuất đà ca (Tạp) a hàm. Trong đó, Khuất đà ca a hàm còn được gọi là Tạp tạng. Năm bộ A hàm này tương đương với Ngũ bộ kinh (Paĩca-nikàyà) bằng tiếngPàli. Theo Tì nại da tiểu phẩm (Vinaya cùơavagga), Nhất thiết thiện kiến (Samanta-pàsàdikà) và bài tựa trong Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) bằng tiếng Pàli, thì 5 bộ là: -Trường bộ (Dìgha-nikàya), -Trung bộ (Majjhima-nikàya), -Tương ứng bộ (Saôyutta-nikàya), -Tăng chi bộ (Aíguttara-nikàya) và -Tiểu bộ (Khuddaka-nikàya). [X. luật Ngũ phần Q.30; luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.54; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; luận Phân biệt công đức Q.1]. (xt. A Hàm, A Hàm Kinh).

ngũ a hàm thiên

See Ngũ Tịnh Cư thiên.

ngũ ba la mật

Năm Ba La Mật—The five paramitas: Bố thí: Dana—Almsgiving. Trì giới: Sila—Commandment-keeping. ; (五波羅蜜) Năm Ba la mật. Chỉ cho Bố thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tiến ba la mật và Thiền ba la mật. Giữa 5 Ba la mật này và Bát nhã ba la mật thứ 6 có mối quan hệ chủ tớ, vì nhờ công đức của Bát nhã ba la mật mà đạt được 5 thứ Ba la mật này.

ngũ biên

Năm loại biên kiến—The five alternatives: Thị Hữu: Things exist. Thị Vô: Things do not exist. Diệc Hữu Diệc Vô: Both exist and non-exist. Phi Hữu Phi Vô: Neither exist nor non-exist. Phi Phi Hữu, Phi Phi Vô: Neither non-exist nor are without non-existence. ; (五邊) Đối lại: Trung đạo thực trí. Chỉ cho 5 thứ biên kiến (thấy 1 bên), đó là: Có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không. Bốn biên kiến trước là căn cứ vào cảnh sở duyên, 1 biên kiến sau là căn cứ vào pháp quán năng duyên, dựa vào đó mà thành lập Ngũ biên. Theo Thông huyền sao thì chấp Có là tăng ích báng, chấp Không là tổn giảm báng, chấp Cũng có cũng không là tương vi báng, chấp Chẳng phải có chẳng phải không là ngu si báng, chấp Chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không là hí luận báng. [X. Đại thừa khởi tín luận biệt kí].

ngũ biến hành

Năm loại tâm sở tương ứng với mọi tâm vương—The five universal mental activities associated with every thought: Tác Ý: The idea. Xúc: Contact. Thọ: Reception. Tưởng: Conception. Tư: Perception. ; (五遍行) Chỉ cho 5 thứ tâm sở: Xúc (Phạm: Sparza), Tác ý (Phạm: Manasi-kàra), Thụ (Phạm: Vedanà), Tưởng (Phạm: Saôjĩà), Tư (Phạm: Cetanà), là 1 trong 6 vị tâm sở do tông Duy thức thành lập. Năm tâm sở này trùm khắp và tương ứng với tất cả tâm vương và các tâm sở khác, vì chúng có đủ 4 nghĩa: Nhất thiết tính (thông 3 tính thiện, ác, vô kí), Nhất thiết địa (thông cả 3 cõi 9 địa), Nhất thiết thời (từ vô thủy đến nay không gián đoạn), Nhất thiết câu (khi 1 Biến hành sinh khởi thì 4 Biến hành kia cũng đều sinh khởi). Ngoài 5 tâm sở này ra, không 1 tâm sở nào có đủ 4 nghĩa trên đây, cho nên chỉ có 5 tâm sở này được gọi là Biến hành. [X. luận Thành duy thức Q.3, 5; luận Du già sư địa Q.3; luận Đại thừa ngũ uẩn; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa A tì đạt ma tạp tập Q.1; luận Đại thừa bách pháp minh môn].

ngũ biệt cảnh

(五別境) Chỉ cho 5 thứ tâm sở: Dục (Phạm: Chanda), Thắng giải (Phạm: Adhimowa), Niệm (Phạm: Smfti), Định (Phạm: Samàdhi), Tuệ (Phạm: Prajĩà), là 1 trong 6 vị tâm sở do tông Duy thức thành lập. Năm tâm sở này duyên các cảnh khác nhau mà sinh khởi, thông cả 3 tính thiện, ác, vô kí và 3 cõi 9 địa, có đủ 2 nghĩa Nhất thiết tính và Nhất thiết địa, nhưng không có 2 nghĩa Nhất thiết thời và Nhất thiết câu. Trong đó, Định và Tuệ là cùng cảnh chuyển, nhưng Dục, Thắng giải và Niệm thí khác cảnh chuyển, cho nên căn cứ vào số nhiều mà gọi là Biệt cảnh. Theo Bách pháp vấn đáp sao quyển 1 nói, khi tâm duyên theo cảnh vui thì là tâm sở Dục, khi duyên theo cảnh quyết định là tâm sở Thắng giải,khi duyên theo cảnh sở quán là tâm sở Định và Tuệ, khi duyên theo cảnh đã từng nhận biết là tâm sở Niệm. Vì duyên theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi các tâm sở khác nhau, nên gọi là Biệt cảnh. Ngoài ra, theo các nhà Duy thức, trong Ngũ biệt cảnh, Dục, Thắng giải, Niệm và Định tương ứng với sáu thức trước, còn Tuệ thì tương ứng với 7 thức trước. [X. luận Thành duy thức Q.5; luận Du già sư địa Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.5, phần cuối].

ngũ bách biên bức

(五百蝙蝠) Năm trăm con dơi. Là tiền thân của 500 vị La hán kết tập luận Đại tì bà sa. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì tiền thân của 500 vị La hán này là 500 con dơi sống trên cây, sau, cây này bị lửa đốt cháy, lúc đó, lại có người tụng tạng A tì đạt ma dưới gốc cây, vì thích nghe pháp âm nên 500 con dơi chịu khổ chứ không bay đi. Sau khi chết, 500 con dơi này được sinh làm người, xuất gia tu học Phật pháp và đều chứng Thánh quả. Về sau, 500 vị nhận lời mời của Hiếp tôn giả và vua Ca nị sắc ca tham dự hội kết tập luận Đại tì bà sa.

ngũ bách bộ

(五百部) Năm trăm bộ. Từ ngữ dùng để hình dung các bộ phái Tiểu thừa chia ra rất nhiều. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 63, sau khi đức Phật nhập diệt khoảng 500 năm, trong Tiểu thừa chia ra 500 bộ. Nhưng đây không phải là con số thực, mà chỉ nói chung về số nhiều thôi.

ngũ bách cổ khách

(五百估客) Năm trăm lái buôn. Theo luận Đại trí độ quyển 7, xưa có 500 thương gia ra biển tìm của báu, gặp lúc cá chúa Ma già la há miệng, nước biển chảy cuồn cuộn vào miệng cá, 500 người trên thuyền buôn rất nguy khốn. Lúc ấy, có 1 người Ưu bà tắc đã thụ 5 giới nhóm họp mọi người và bảo đồng thanh niệm Phật, cá chúa nghe tiếng niệm Phật, liền hối ngộ và ngậm miệng lại, nhờ đó 500 người trên thuyền thoát nạn. [X. Kinh luật dị tướng Q.43].

ngũ bách do tuần

Theo Kinh Pháp Hoa thì con đường đi đến đất châu bảo là con đường dài năm trăm do tuần đầy khó khăn nguy hiểm—According to the Lotus Sutra, the journey to the Land of Treasure is the five hundred Yojanas of difficult and perilous journey. ; (五百由旬) Năm trăm do tuần. Phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa nói rằng, vượt qua được quãng đường dài 500 do tuần đầy tai nạn và hiểm nguy, thì đến được bảo sở (nơi giải thoát yên vui). Có rất nhiều thuyết giải thích khác nhau về Ngũ bách do tuần này. Theo ngài Thiên thai Trí khải thì Phàm thánh đồng cư độ (cõi nước trong đó phàm phu 6 đường và các bậc Thánh tam thừa cùng sống chung với nhau, tức quả báo của 3 cõi) là 300 do tuần; Phương tiện hữu dư độ (chỉ cho nơi sinh sống của những người đã dứt hết phiền não của Kiến hoặc và Tư hoặc mà ra khỏi sinh tử của 3 cõi) là 400 do tuần; Thực báo vô chướng ngại độ(chỉ cho cõi quả báo của những người đã chứng 1 phần lí trung đạo) là 500 do tuần; vượt qua cõi Thực báo vô chướng ngại thì đến Thường tịch quang độ, là cõi rốt ráo, cùng tột, tức là trụ xứ của chư Phật Như lai. Theo ngài Cát tạng thì 3 cõi là 300 do tuần, Thanh văn địa là 400 do tuần, Duyên giác địa là 500 do tuần. Còn ngài Khuy cơ thì cho rằng kết hoặc trong 3 cõi là 300 do tuần, tập khí do Bồ tát thất địa đoạn trừ là 400 do tuần, vô minh do Bồ tát bát địa trở lên đoạn trừ là 500 do tuần. [X. Pháp hoa kinh văn cú Q.7, hạ; Pháp hoa kinh huyền luận Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.8]. (xt. Hóa Thành Dụ).

ngũ bách dị bộ

Năm trăm bộ phái khác nhau được thành lập 500 năm sau ngày Phật nhập diệt—The five hundred sects according to the five hundred years after the Buddha's death.

ngũ bách giới

500 giới Tỳ Kheo Ni, thật sự là 348—The five hundred rules for nuns, actually 348—See Giới Cụ Túc. ; (五百戒) Năm trăm giới, số giới Cụ túc của Tỉ khưu ni. Con số giới điều của tỉ khưu ni, trong các bộ luật nói không đồng nhất, như luật Tứ phần ghi 348 giới, Thập tụng tỉ khưu ni giới bản thì gồm 350 giới, còn các bộ luật khác cũng không bộ nào ghi quá 500 giới. Có lẽ so với giới Cụ túc của tỉ khưu (250 giới) nhiều gấp đôi mà gọi là Ngũ bách giới chăng? [X. kinh Đại Ái đạo tỉ khưu ni Q.thượng; kinh Tì ni mẫu Q.8; luật Tứ phần Q.21; Tứ phần tỉ khưu ni sao Q.3; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2].

Ngũ bách kết tập

五百結集; C: wǔbăi jiéjí; J: gohyaku ketsujū;|Lần kết tập kinh điển với 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).

ngũ bách kết tập

(五百結集) Cũng gọi Ngũ bách tập pháp, Ngũ bách xuất. Năm trăm vị tỉ khưu kết tập giáo pháp của đức Phật lần thứ nhất. Sau khi đức Phật nhập diệt, được sự bảo trợ của vua A xà thế, 500 vị tỉ khưu, do tôn giả Ma ha ca diếp làm Thượng thủ, nhóm họp ở thành Vương xá, nước Ma yết đà để kết tập những lời chỉ dạy của đức Phật khi Ngài còn tại thế. Trong hội này, ngài Ca diếp đề cửtôn giả A nan đọc tụng lại giáo pháp của đức Phật. Đây là cuộc kết tập lần đầu tiên và có 500 vị tỉ khưu La hán tham dự, cho nên được gọi là Ngũ bách kết tập. [X. Hữu bộ tì nại gia tạp sự Q.39; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luật Ma ha tăng kì Q.32]. (xt. Kết Tập).

ngũ bách la hán

(五百羅漢) Gọi đủ: Ngũ bách vị A la hán. Chỉ cho 500 vị Thanh văn đã chứng quả Vô học. Trong các kinh luận thường thấy các nhóm từ như Ngũ bách A la hán, Ngũ bách tỉ khưu, Ngũ bách thượng thủ... Về bản sinh nhân duyên, việc thụ kí của Ngũ bách la hán, thì trong kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi, phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa... đều có nói đến. Sau khi đức Phật diệt độ, tôn giả Ma ha ca diếp đã cùng với 500 vị La hán kết tập pháp tạng ở thành Vương xá. Tương truyền, vào thời vua A dục, từng có 500 vị tăng La hán và 500 vị tăng phàm phu nhóm họp để đọc tụng Phật pháp. Trong đại hội kết tập lần thứ 4, dưới sự bảo trợ của vua Ca nị sắc ca, cũng có 500 vị La hán tạo luận Đại tì bà sa. Tại Trung quốc, sự sùng bái Ngũ bách La hán rất là thịnh hành. Ở núi Thụy phong, huyện Thái ninh, tỉnh Phúc kiến, có viện Ngũ bách La hán. Càn minh viện Ngũ bách La hán danh hiệu bi 1 quyển trong Đại minh tục tạng tập 43, có ghi danh hiệu của 18 Tôn giả trụ thế và 500 Tôn giả Thạch kiều, nhưng trình bày rất lộn xộn, thường nêu cả Phạm Hán, có những vị ra đời lúc đức Phật còn tại thế và có những vị xuất hiện sau khi Phật nhập diệt. Đây có lẽ là do bổ sung cho đủ số 500 vị, nên liệt kê tên của các vị La hán được thấy rải rác ở nhiều chỗ trong các kinh luận chăng? [X. kinh Pháp cú thí dụ Q.2; luật Ngũ phần Q.30; Tát bà đa tì ni ma đắc lặc già Q.5; luật Tứ phần Q.54; luận Đại tì bà sa Q.200; luận Đại trí độ Q.2].

Ngũ bách La-hán

五百羅漢; C: wǔbăi luóhàn; J: gohyaku rakan;|Có hai nghĩa: 1. 500 vị A-la-hán với Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa) làm thượng thủ để kết tập kinh điển lần thứ nhất ngay sau khi đức Phật nhập niết-bàn; 2. 500 vị A-la-hán do Hiếp Tôn giả (脅尊者; s: pārśva) làm thượng thủ để kết tập Tì-bà-sa luận (毘婆沙論; s: vibhāṣā-śāstra) trong hội nghị kết tập kinh điển lần thứ 4 dưới sự bảo trợ của vua Ka-nị-sắc-ca (迦膩色迦王; s: kaniṣka).

ngũ bách nhuế đồ

(五百毳徒) Năm trăm đồ chúng. Thuế đồ là đồ chúng mặc áo dệt bằng lông chim. Người mặc áo lông chim biểu thị ý nghĩa được vua chúa kính trọng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 25 ghi, Thiền sư Đạo tiềm mới đến Lâm xuyên, yết kiến ngài Tịnh tuệ, ngài bảo (Đại 51, 412 trung): Sau này ông sẽ có 500 thuế đồ, nên được vua chúa kính trọng.

ngũ bách nhân thụ kí

(五百人授記) Chỉ cho 500 vị đệ tử của đức Phật được Ngài thụ kí cho thành Phật và có hiệu là Phổ minh Như lai. Cứ theo phẩm Ngũ bách đệ tử thụ kí trong kinh Pháp hoa, thì đức Phật từng thụ kí cho tôn giả Kiều trần như, bảo rằng Tôn giả sẽ cúng dường 6 vạn 2 nghìn ức đức Phật, sau đó thành Phật, hiệu là Phổ minh Như lai. Rồi lần lượt đến các vị: Ưu lâu tần loa ca diếp, Già da ca diếp, Na đề ca diếp, Ca lưu đà di, Ưu đà di, A nâu lâu đà, Li bà đa, Kiếp tân na, Bạc câu la, Chu đà sa già đà v.v... cũng đều được thụ kí thành Phật và cùng hiệu là Phổ minh Như lai. Nhưng trong kinh không thấy nêu tên của 500 vị đệ tử cũng như sự tích cụ thể của các ngài.

ngũ bách sinh

Five hundred generations.

ngũ bách thân nhân

(五百身因) I. Ngũ Bách Thân Nhân. Năm trăm vị tỉ khưu đã chứng quả A la hán nói về nguyên nhân sinh ra thân người. Có vị nói vô minh là nguyên nhân sinh ra thân, có vị nói ái và vô minh là nguyên nhân sinh ra thân, có vị cho rằng hành thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, ẩm thực và ngũ dục là nguyên nhân sinh ra thân. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Bắc)]. II. Ngũ Bách Thân Nhân. Năm trăm vị đệ tử của Phật, mỗi vị đều nói về nhân duyên kiếp trước của mình. [X. kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi].

ngũ bách thế

Five hundred generations.

ngũ bách thế oán gia

(五百世怨家) Gây thù kết oán với nhau trong 500 đời. Cứ theo kinh Tì đàm bà sa (được trích dẫn trong Kinh luật dị tướng quyển 46) có 1 cô gái bị quỉ đói cầm giữ, cô ta bèn dùng chú thuật hỏi quỉ đói lí do vì sao? Quỉ đói bảo cô ta là oán gia của nó, cô gái và nó đã từng giết hại lẫn nhau trong 500 đời. Nếu nay cô gái thề dứt trừ tâm thù oán cũ thì nó cũng nguyện xả bỏ.

ngũ bách thế vô thủ

(五百世無手) Đưa rượu cho người uống bị quả báo 500 đời không có tay. Rượu làm cho tâm tính mê loạn, là cội gốc sinh ra tội ác, cho nên đức Phật cấm các đệ tử, xuất gia cũng như tại gia, không được uống rượu. Trong các kinh, đức Phật đã từng nhiều lần nói rõ về những lỗi lầm và hậu quả tai hại do người uống rượu gây ra. Kinh Phạm võng quyển hạ dạy rằng, giả sử bản thân mình không uống rượu, nhưng nếu đưa rượu cho người khác uống thì cũng sẽ bị quả báo 500 đời không có tay. [X. kinh Nâu di trong Trường a hàm Q.11; kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.6; luật Tứ phần Q.16; luận Đại trí độ Q.13]. (xt. Ẩm Tửu Giới).

ngũ bách tiên nhân

(五百仙人) Năm trăm người tiên. Tức 500 vị cao đức của ngoại đạo. Theo luận Đại trí độ quyển 17 thì có 3 truyền thuyết về 500 vị tiên nhân này: 1. Vua Ưu điền nước Kiêu thưởng di, vì say đắm nữ sắc mà đã chặt đứt tay chân của 500 vị tiên nhân. 2. Có 500 vị tiên nhân ở trong núi, vì nghe giọng hát của cô gái Chân đà la mà mất thiền định. 3. Có 500 vị tiên nhân đang bay giữa hư không, nghe tiếng hát của cô gái Chân đà la, vì đắm say nên mất thần túc bị rơi xuống đất. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3].

ngũ bách trưởng giả tử

(五百長者子) Năm trăm người con của Trưởng giả. Theo phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật, 500 người con của Trưởng giả ở thành Tì xá li và đồng tử Bảo tích cùng đến chỗ đức Phật, cầm lọng 7 báu cúng dường Ngài. Lại theo kinh Quán Phật tam muội quyển 3, thì 500 Thích tử trông thấy thân tướng đoan nghiêm của đức Phật đen đúa như người bằng than, ốm o gầy gò như người Bà la môn. Đức Phật liền nói nhân duyên bản sinh (nhân duyên kiếp trước) cho họ nghe; Ngài bảo rằng sau khi đức Tì bà thi Như lai Ứng cúng Chính biến tri nhập Niết bàn, trong thời tượng pháp, có vị Trưởng giả tên là Nhật nguyệt đức, ông có 500 người con không tin Phật pháp, 500 người con ấy chính là tiền thân của 500 vị Thích tử này.

ngũ bách trần điểm kiếp

(五百塵點劫) Cũng gọi Ngũ bách ức trần điểm kiếp. Năm trăm kiếp hạt bụi. Từ ngữ biểu thị số kiếp lâu xa từ khi đức Phật Thích ca thành Phật đến nay. Cứ theo phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Pháp hoa quyển 5, nếu nghiền nát 500 nghìn vạn ức na do tha a tăng kì tam thiên đại thiên thế giới thành bụi nhỏ, rồi mỗi lần qua phương đông 500 nghìn vạn ức na do tha a tăng kì cõi nước thì bỏ xuống 1 hạt bụi. Cứ như thế đi về phương đông cho đến khi bỏ hết bụi nhỏ. Các thế giới đã đi qua đều hóa thành bụi nhỏ, mỗi 1 hạt bụi ấy tính là 1 kiếp. Từ khi đức Thích tôn thành Phật đến nay còn lâu hơn trăm nghìn vạn ức na do tha a tăng kì kiếp số ví dụ ở trên, thực không thể tính toán được. [X. Pháp hoa văn cú Q.9, hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1].

Ngũ bách tập pháp

五百集法; C: wǔbăi jífǎ; J: gohyaku shūhō;|Hội nghị kết tập kinh điển gồm 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).

ngũ bách vấn sự

Năm trăm câu hỏi của ngài Mục Kiền Liên hỏi Phật về vấn đề giới luật—The five hundred questions of Mahamaudgalyayana to the Buddha on discipline.

ngũ bách đà la ni

(五百陀羅尼) Đà la ni, Phạm: Dhàraịi. Hán dịch: Năng trì, Năng già, Tổng trì. Năm trăm đà la ni, là nhóm từ lược nêu 1 số ít Đà la ni trong vô lượng vô số pháp môn Đà la ni của chư Phật và Bồ tát. Luận Đại trí độ căn cứ vào 500 môn Đà la ni này chỉ nêu tên gọi của hơn 10 môn là: Văn trì đà la ni, Phân biệt tri đà la ni, Nhập âm thanh đà la ni, Tịch diệt đà la ni, Vô biên toàn đà la ni, Tùy địa quán đà la ni, Uy đức đà la ni, Hoa nghiêm đà la ni, Tịnh âm đà la ni, Hư không tạng đà la ni, Hải tạng đà la ni, Phân biệt chư pháp địa đà la ni, Minh chư pháp nghĩa đà la ni v.v... [X. luận Đại trí độ Q.5; Pháp giới thứ đệ Q.hạ; Chỉ quán phụ hành (hội bản) Q.3, phần 3].

ngũ bách đại la hán

Năm trăm vị Đại La Hán là những vị đã soạn ra bộ Vi Diệu Pháp Tỳ Ba Sa Luận, bốn trăm năm sau ngày Phật nhập diệt—Five hundred great arhats who formed the synod under Kaniska and are supposed compilers of the Abhidharma-Mahavibhasa-Sastra, four hundred years after Buddha entered nirvana.

ngũ bách đại nguyện

(五百大願) Cũng gọi Ngũ bách thệ nguyện. Năm trăm bản nguyện rộng lớn của Phật Thích ca, khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát ở nhân vị. Ở đời quá khứ, khi đức Thích tôn còn là vị Phạm chí tên Bảo hải, đã phát 500 thệ nguyện rộng lớn trước đức Phật Bảo tạng; Ngài phát thệ sẽ không thành Phật ở Tịnh độ mà thành Phật ở Uế độ. Từ đó, trải qua vô lượng kiếp, đức Thích tôn đã thực hành những hạnh khó làm, các hạnh kham khổ, cho đến các việc xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập Niết bàn... tất thảy đều theo bản nguyện Ngài đã lập. [X. kinh Bi hoa Q.6,7; kinh Đại thừa bi phân đà lợi Q.5; kinh Quán thế âm bồ tát vãng sinh Tịnh độ bản duyên].

ngũ bát thập cụ

(五八十具) Từ gọi tắt của Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, Cụ túc giới. Tức là tiêu đề gọi chung 5 giới của Ưu bà tắc (Cận sự), 8 giới của Ưu ba bà sa (Cận trụ), 10 giới của Sa di (Cần sách) và giới Cụ túc của tỉ khưu (Bật sô). Trong đó, 5 giới và 8 giới là giới tại gia, còn 10 giới và giới Cụ túc thuộc giới xuất gia. [X. luận Câu xá Q.14; luận Thuận chính lí Q.36; Câu xá luận quang kí Q.14; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 3].

ngũ bát thức

(五八識) Năm thức tám thức. Từ gọi chung 5 thức trước và thức thứ 8 trong Duy thức học. Tức là: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân và thức A lại da. Năm thức trước và thức thứ 8 thuộc hiện lượng, không chấp ngã và chấp pháp. Khi chứng được quả Phật thì 5 thức trước chuyển thành trí Thành sở tác; còn thức thứ 8 thì chuyển thành trí Đại viên kính, cũng gọi là trí Nhất thiết chủng. [X. luận Thành duy thức Q.10; Bách pháp vấn đáp sao Q.8].

ngũ bát tôn

(五八尊) Chỉ cho bồ tát Thiên thủ Quan âm. Cứ theo kinh Thiên thủ thiên nhãn Quan thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni và kinh Thiên quang nhãn Tự tại bồ tát bí mật pháp, thì bồ tát Quan thế âm ở quá khứ được nghe đà la ni Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm, đã thệ nguyện hiện ra nghìn mắt nghìn tay để tế độ hết thảy chúng sinh.Thiên thủ Quan âm tức là Quan âm nghìn tay. Đem 1.000 tay này phối với 25 Hữu trong 3 cõi, thì trong mỗi Hữu Ngài dùng 40 tay để tế độ, tức là Quan âm 40 tay; 40 là do số 5 nhân với 8 (5 x 8 = 40), vì thế gọi là Ngũ bát tôn (vị Tôn 5, 8).

ngũ bình

Năm cái bình mà Phật giáo Mật Tông dùng để dâng hoa cúng Phật, hoa trong bình được cắm chung với năm quý vật, năm loại hạt và năm loại thuốc trộn với nước hoa—The five vases used by the esoteric school for offering flowers to their Buddha, the flowers are stuck in a mixture of the five precious things, the five grains and the five medicines mingled with scented water. ; (五瓶) Cũng gọi Ngũ bảo bình. Chỉ cho 5 chiếc bình báu được đặt ở chính giữa của Đại đàn khi lập đàn tu pháp trong Mật giáo. Theo cách bài trí bảo bình, vốn có thể đặt từ 18 bình cho đến hơn 100 bình, nhưng vì phương tiện hoặc khả năng không cho phép, thì tối thiểu cũng đặt 6 bình, tức là ngoài 5 bình trên đại đàn ra, còn phải đặt 1 bình nữa ở ngoài đàn để khi hành giả ra vào hoặc dẫn đệ tử vào thì lấy nước trong bình này rảy lên thân thể. Ở đây chỉ bàn về việc trang nghiêm trên đàn tu pháp nên gọi Ngũ bình. Trong bảo bình chứa đầy 20 thứ hương dược: Năm thứ báu, 5 loại hạt, 5 thứ hương thơm, 5 thứ thuốc. Nước thơm trong 5 bình tượng trưng trí của 5 đức Phật. Năm bình biểu thị nghĩa 5 trí, 5 bộ, 5 Phật, 1 bình ở chính giữa tượng trưng đức Đại nhật Như lai, 4 bình còn lại tượng trưng cho 4 vị bồ tát Phổ hiền... Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 và kinh Nhiếp chân thực thì 5 bình được bài trí theo thứ tự và phương vị như sau: 1. Đàn Kim cương giới: Bình có giải màu trắng buộc ở cổ được đặt ở chính giữa, 4 bình còn lại đặt theo thứ tự các màu: Xanh, vàng, đỏ, đen. 2. Đàn Thai tạng giới: Chính giữa đàn cũng đặt bình có giải màu trắng, 4 bình còn lại thì đặt theo thứ tự các màu: Đỏ, vàng, xanh, đen. 3. Đàn bất nhị: Theo thứ tự trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ngoài ra, khi bài trí các bình, thông thường bình có giải màu trắng đặt ở chính giữa, 4 bình còn lại được chia làm 2 loại: 1. Bình Sửu, Dần: Bắt đầu đặt từ góc Đông bắc. 2. Bình Thìn, Tị: Bắt đầu đặt từ góc Đông nam. Sau hết, cứ theo kinh Nhất thiết Như lai đại bí mật vương vị tằng hữu tối thượng vi diệu đại noa la quyển 1, Bảo bình hạng nhất cao 20 ngón tay, bụng rộng 16 ngón tay, cổ cao 5 ngón, miệng rộng 8 ngón. Về chất liệu thì 7 loại: Bình làm bằng vàng, bạc, đồng, pha lê, sắt, gỗ và đất nung. Trong đó, khi tu các pháp Tức tai, Tăng ích và Quán đính thì dùng bình vàng, pha lê và đất nung; các pháp Hàng phục (Điều phục) và A tu la thì dùng bình bằng đồng; còn các pháp Phẫn nộ thì dùng bình bạc, sắt và gỗ. Lại nữa, pháp Tức tai dùng bình màu trắng, pháp Tăng ích bình màu vàng, pháp Kính ái bình màu đỏ, pháp Hàng phục bình màu đen... Còn hoa dùng để cắm vào bình thì có: 5 cọng hoa sen, 3 cọng hoa sen, 1 cọng hoa và 1 lá sen, đó là tượng trưng cho 5 trí, 3 bộ và 1 pháp giới. [X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; kinh Đà la ni tập Q.1, 12; phẩm Phụng thỉnh cúng dường kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Thành tựu diệu pháp liên hoa kinh vương du già quán trí nghi quĩ; Kim cương tát đỏa nghi quĩ; Mật giáo pháp cụ tiện lãm].

ngũ bình quán đảnh

Lễ Quán Đảnh với năm bình tượng trưng cho trí huệ của năm vị Phật—Baptism with water of the five vases representing the wisdom of the five Buddhas—See Ngũ Phật.

ngũ bình quán đỉnh

(五瓶灌頂) Cũng gọi Bình thủy quán đính. Rưới nước trong 5 chiếc bình lên đỉnh đầu hành giả, tượng trưng cho người thụ Quán đính được trí tuệ của Ngũ trí Như lai. Khi cử hành nghi thức Quán đính, trước hết, kết tụng ấn ngôn (kết ấn và tụng chân ngôn) của 5 đức Phật để gia trì vào 5 bình nước, sau đó đem 5 bình ấy dời từ Đại đàn đến đàn Chính giác (Tiểu đàn) rồi lấy nước trong 5 bình rưới lên đỉnhđầu của người thụ Quán đính. (xt. Ngũ Bình).

ngũ bình trí thuỷ

(五瓶智水) Nước thơm trong 5 chiếc bình, tượng trưng cho trí của 5 đức Phật. Trong Mật giáo, khi tu pháp, đặt 5 chiếc bình báu ở chính giữa và 4 góc của Đại đàn, nước thơm đựng trong 5 bình tượng trưng cho nước trí của 5 đức Phật. Khi truyền pháp Quán đính, lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu của người lãnh nhận pháp Quán đính. (xt. Ngũ Bình).

ngũ bình trí thủy

Năm bình là biểu tượng của năm phần trong Kim Cang Giới và nước hoa trí huệ của năm vị Phật—The five vases are emblems of the five departments of the Vajradhatu, and the fragrant water of the wisdom of the five Wisdom-Buddhas—See Ngũ Phật Trí.

ngũ bí mật

Năm vị Kim cang Bồ Tát—The five Bodhisattvas of the Diamond realm: Kim Cang Tát Đỏa: Tất cả các loài chúng sanh đều có lục đại tự tánh, ở đây nói về các loài hữu tình chúng sanh, được đặt ở trung tâm—Vajrasattva represents the six fundamental elements of sentient existence and here indicates the birth of bodhisattva sentience, in the middle. Dục Kim Cang: Bodhisattvas of Desire—Bồ tát Dục hay phàm phu mới gặp được giáo thọ A Xà Lê, được đặt ở phía Đông. Dục ở đây là muốn phát tâm Bồ Đề và cứu độ chúng sanh—Ordinary people who have just met the Acarya, in the East—Desire is that of bodhi and the salvation of all. Xúc Kim Cang: Bồ Tát Xúc hay vị đã phát tâm Bồ Đề, tu hạnh đại bi, và muốn tiếp xúc với thế giới bên ngoài để cứu độ, được đặt ở phía Nam—Bodhisattvas of Contact—One who has resolved the Bodhicitta, vowed to practice great loving kindness, and wanted to contact with the needy world for its salvation, in the South. Ái Kim Cang: Bodhisattvas of Love—Vị đã thành tựu Phật quả và phát nguyện thương yêu chúng sanh, được đặt ở phía Tây—One who has attained the Buddhahood and vowed to love all sentient beings. Mạn Kim Cang: Bodhisattvas of Pride—Vị đã tự tại nơi Niết Bàn, được đặt ở phía Bắc—One who entered Nirvana (pride here means the power of nirvana), in the North. ; (五秘密) Cũng gọi Ngũ bí mật bồ tát, Ngũ kim cương bồ tát. Chỉ cho 5 vị Bồ tát: Kim cương tát đỏa, Kim cương dục, Kim cương xúc, Kim cương ái và Kim cương mạn, thuộc Kim cương giới của Mật giáo. Năm vị Bồ tát này cũng được gọi là Kim cương tát đỏa, Kim cương tiễn, Kim cương hỉ duyệt, Kim cương ái, Kim cương dục tự tại; hoặc cũng gọi là Đại thánh, Nhãn tiễn, Kế lí kế la tôn, Ái, Mạn; hoặc gọi là Phổ hiền bồ tát, Dục kim cương, Kế lí kế la tôn, Ái kim cương, Kim cương mạn tôn; hoặc gọi là Kim cương tát đỏa, Ý sinh, Xúc, Ái kết, Ý khí. Năm vị tôn Bồ tát này đều chung 1 thể, biểu thị tướng bất động đối với phiền não ái dục của hữu tình và trực tiếp hiển bày công đức của 5 trí, cũng tức là quán tưởng cái thể hư vọng dục, xúc, ái, mạn của chúng sinh là cùng 1 thể tính với Kim cương tát đỏa của tâm bồ đề chân thực. Vì cái lí thú nhơ sạch không 2, nhân quả cùng thể rất sâu xa kín nhiệm và khó hiểu, nên gọi là Ngũ bí mật. Ngũ bí mật cùng ở trong 1 vòng tròn, có hàm nghĩa là không trụ nơi sinh tử, biểu trưng cho đức của đại trí; cùng ngồi chung trên 1 hoa sen, có nghĩa là không trụ nơi Niết bàn, biểu trưng cho đức của Đại bi. Theo Kim cương đính du già Kim cương tát đỏa Ngũ bí mật tu hành niệm tụng nghi quĩ, thì Kim cương Dục cầm cung và tên kim cương bắn nát tất cả chủng tử hữu lậu trong thức A lại da thứ 8, thành tựu Đại viên kính trí. Kim cương Kế lí kế la (Kim cương Xúc), ôm lấy Kim cương tát đỏa, biểu thị ý nghĩa trừ sạch vọng chấp của thức Mạt na thứ 7 chấp chặt thức A lại da làm Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái, để thành tựu Bình đẳng tính trí. Kim cương tát đỏa trụ nơi Đại trí ấn, biểu thị ý nghĩa dùng trí của 37 vị tôn thuộc Kim cương giới, để thành tựu thân của quả đức Tự thụ dụng và Tha thụ dụng. Kim cương Ái cầm cờ ma kiệt, biểu thị ý nghĩa làm sạch ý thức duyên theo tâm hữu lậu nhơ và sạch để thành tựu Diệu quan sát trí. Kim cương Mạn dùng 2 Kim cương quyền đặt ở dưới háng, biểu thị nghĩa trừ sạch thân chất ngại của 5 thức, khởi tinh tiến dũng mãnh, làm cho tất cả hữu tình thành Phật mà thành tựu Thành sở tác trí. Ấn tướng của 5 vị tôn này là dùng ấn Cực hỉ tam muội da làm ấn chung, hoặc mỗi vị đều có ấn riêng. Còn pháp tu diệt tội thờ bồ tát Ngũ bí mật làm bản tôn thì gọi là Ngũ bí mật pháp. Mạn đồ la lấy Ngũ bí mật làm trung tâm để kiến lập, gọi là Ngũ bí mật mạn đồ la. [X. kinh Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma da; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Kim cương đính du già tha hóa tự tại thiên lí thú hội Phổ hiền tu hành niệm tụng nghi quĩ; Phổ hiền kim cương tát đỏa lược du già niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính thắng sơ Du già kinh trung lược xuất Đại lạc kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ; Lí thú thích Q.thượng].

ngũ bí mật mạn đà la

Mạn Đà La gồm mười bảy hình ảnh, gồm năm vị Kim Cang Bồ Tát (see Ngũ Bí Mật) và mười hai vị thị giả theo hầu—The Mandala of this group contains seventeen figures representing the five esoteric Bodhisattvas with their twelve subordinates.

ngũ bí mật mạn đồ la

(五秘密曼荼羅) Cũng gọi Thập thất tôn mạn đồ la. Trong tranh tượng của Mật giáo, bức Mạn đồ la gồm 5 vị Bồ tát bí mật là: Kim cương tát đỏa, Dục bồ tát, Xúc bồ tát, Ái bồ tát, Mạn bồ tát và thêm vào Bát cúng dường, Tứ nhiếp bồ tát nữa, cộng chung thành 17 vị tôn, gọi là Ngũ bí mật mạn đồ la, hoặc Thập thất tôn mạn đồ la. Tương đương với Hội lí thú trong 9 hội của Kim cương giới. Ngũ bí mật lấy tâm bồ đề thanh tịnh làm thể, lấy Kim cương tát đỏa làm chủ tôn, lấy 4 bồ tát Kim cương: Dục, Xúc, Ái, Mạn làm quyến thuộc, biểu thị ý nghĩa Phiền não tức bồ đề. Bức tranh Mạn đồ la phổ thông được lưu truyền là: Ở chính giữa vẽ Kim cương tát đỏa, bên phải vẽ 2 bồ tát Dục và Xúc, bên trái vẽ 2 bồ tát Ái và Mạn. Nếu giải thích theo ý nghĩa sâu kín, thì bồ tát Dục là trí Đại viên kính của Kim cương giới, vì thế là Đại tuệ; bồ tát Xúc là trí Tính bình đẳng của Bảo bộ, cho nên là Đại định; bồ tát Ái là trí Diệu quan sát của Liên hoa bộ, bởi thế là Đại bi; còn bồ tát Mạn là trí Thành sở tác của Yết ma bộ, cho nên là Đại tinh tiến. Nhiếp định vào tuệ, nhiếp tinh tiến vào bi, hợp 4 vị Bồ tát này lại, thành là 2 đức Bi và Trí; lại hợp 2 đức Bi, Trí lại thành là 1 Kim cương tát đỏa, đó tức là Ái nhiễm minh vương. [X. Ngũ bí mật nghi quĩ; Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ].

ngũ bảo

Năm thứ quí là vàng, bạc, trân châu, san hô, mã não—The five precious things such as gold, silver, pearls, coral and amber. ; (五寶) Chỉ cho 5 vật báu: Vàng, bạc, hổ phách, thủy tinh, lưu li. Trong Mật giáo, khi thiết lập đàn tràng tu pháp, đem 5 vật báu và 5 vị thuốc, 5 thứ hương, 5 thứ hạt giống, chôn ở 4 phương và chính giữa đàn. Năm vật báu này là tháp của 5 bộ, cho nên chúng tượng trưng cho kho báu của thần đất. Hoặc khi cử hành lễ Quán đính thì 5 vật báu được bỏ vào 5 chiếc bình của đại đàn, vì đàn tràng tức là Mạn đồ la tâm của hành giả, với ý nghĩa là mở tâm Bồ đề thanh tịnh để khai phát đức của 5 trí. Về chủng loại Ngũ bảo thì các kinh và nghi quĩ nói không giống nhau. Như kinh Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh Du già quán trí nghi quĩ và Kiến lập Mạn đồ la hộ ma nghi quĩ... liệt kê Ngũ bảo là: Vàng (Phạm: Suvarịa), Bạc (Phạm: Rajata), Chân châu (Phạm: Muktikà), Sắt (Phạm: Mahànìla) và Phả lê (Phạm:Zilà). Phẩm Hộ ma pháp tắc trong kinh Tô tất địa yết ra quyển hạ, liệt kê: Vàng, Bạc, Chân châu, Loa bối (Phạm: Zaôkha) và Xích châu (Phạm: Lohita-muktikà). Còn luật Thập tụng quyển 61 thì nêu: Vàng, Bạc, Ma ni châu, Pha lê và Tì lưu li. Ngũ bảo được sử dụng hiện nay là: Vàng, Bạc, Hổ phách (Phạm: Musàla-galva), Thủy tinh (Phạm: Sphaỉika) và Lưu li. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.4; Kiến lập mạn đồ la thứ đệ pháp; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.8]. (xt. Bảo).

ngũ bảo thiên quan

See Ngũ Phật Bảo Quan.

ngũ bất chính thực

Năm thứ không hợp cho một vị Tăng ăn—Five improper things for a monk to eat: Cành non: Twigs. Lá cây: Leaves. Bông: Flowers. Trái: Fruit. Bột: Powder.

ngũ bất hoàn quả

See Ngũ Tịnh Cư Thiên.

Ngũ Bất hoàn thiên

xem Năm cõi tịnh cư.

ngũ bất hoàn thiên

Năm tầng trời mà chúng sanh không còn bị tái sanh vào các đường dữ nữa—Five Heavens-from-which-there-is-no-return because the residents do not ever fall back to the lower realms. ** For more information, please see Ngũ Tịnh Cư Thiên.

ngũ bất khả tư nghì

Theo Trí Độ Luận, có năm thứ bất khả tư nghì—According to the Sastra on the Prajna-Paramita Sutra, there are five inconceivable or thought-surpassing or beyond mentation things. Chúng sanh vô biên bất khả tư nghì: The number of living beings—Innumerable number of sentient beings is inconceivable.

ngũ bất khả tư nghị

(五不可思議) Năm thứ không thể nghĩ bàn. 1. Chúng sinh nhiều ít không thể nghĩ bàn: Chúng sinh tăng giảm không ngừng. 2. Quả báo của nghiệp không thể nghĩ bàn: Nương vào sức nghiệp mà muôn vật biến hiện. 3. Năng lực của người tọa thiền không thể nghĩ bàn: Nhờ sức Thiền định mà phát sinh thần thông. 4. Sức của rồng không thể nghĩ bàn: Chỉ 1 giọt nước của rồng cũng tuôn mưa lênh láng, gây ra lũ lụt. 5. Sức của chư Phật không thể nghĩ bàn: Nhờ Phật pháp mà chứng được quả lớn Niết bàn. [X. luận Đại trí độ Q.26, 30; Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Tư Bất Tư Nghị).

ngũ bất năng xứ

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm bất năng xứ (năm điều mà một vị Tỳ Kheo không thể làm được)—According to the Sangiti Sutta, there are five impossible things: Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý sát hại đời sống loài hữu tình: An Arahant is incapable of deliberately taking the life of a living being. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý lấy của không cho để tạo tội trôm cắp: An Arahant is incapable of taking what is not given so as to constitute theft. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể cố ý hành dâm: An Arahant is incapable of committing sexual intercourse. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể tự mình biết mà nói láo: An Arahant is incapable of telling a deliberate lie. Một vị lậu tận Tỳ Kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ: An Arahant is incapable of storing up goods for sensual indulgence as he did formerly in the household life.

ngũ bất phó thỉnh

(五不赴請) Năm lí do Phật không nhận lời đến thụ trai. Cứ theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tì nại da quyển 34, có 1 Trưởng giả thiết trai tại nhà mình, để cúng dường Phật và chúng tăng, các tỉ khưu đều đến dự, chỉ có đức Thế tôn là không đi. Nhân dịp này, Phật nói vì 5 lí do mà hôm ấy Ngài không nhận lời thỉnh. 1. Như lai đang nhập thiền định. 2. Như lai đang nói pháp cho các vị trời nghe. 3. Như lai bận săn sóc 1 vị tăng đang lâm bệnh. 4. Đức Phật đi xem xét ngọa cụ và phòng xá khi các vị tỉ khưu đi phó trai. 5. Vì các tỉ khưu may ngọa cụ mới, bỏ ngọa cụ cũ không đúng qui định, cho nên Phật ở lại tinh xá để chế giới, bởi thế không phó thỉnh.

ngũ bất thối

Năm điều bất thối theo Pháp Tướng Tông—The five non-backslidings according to the Dharmalaksana: Tín Bất Thối: Never receding from the faith obtained. Vị Bất Thối: Never receding from the position attained. Chứng Bất Thối: Never receding from the realization attained. Hạnh Bất Thối: Never receding from a right course of action. Luật Nghi Bất Thối: Never receding from being in accordance with procedures.

ngũ bất ứng thí

1. Tài vật phi nghĩa; 2. Rượu, thuốc hút, độc dược; 3. Lưới bẫy, chài bắt; 4. Võ khí giết người; 5. Âm nhạc, nữ sắc. Đây là năm điều không nên dùng để bố thí.

ngũ bất ứng đáp

(五不應答) Có 5 trường hợp người ta đặt câu hỏi mình không nên đáp. 1. Hỏi thử: Do tâm kiêu mạn nên họ đem điều họ biết hỏi xem mình có biết không. 2. Không nghi ngờ mà hỏi: Tự họ không có điều gì thắc mắc nhưng giả bộ hỏi. 3. Không vì hối lỗi đã phạm mà hỏi: Biết đã phạm tội mà không có tâm hối cải, lại đặt ra câu hỏi. 4. Hỏi vặn: Đã biết người mình hỏi không thể trả lời mà cứ cố tình nạn vấn để dồn đối phương vào đường cùng. 5. Không chịu nghe mà hỏi: Đã nghe qua rồi, nhưng không tiếp nhận, lại hỏi nữa. [X. luật Thập tụng Q.50; Pháp uyển châu lâm Q.24].

ngũ bị

(五備) Năm điều kiện mà chúng tăng cần phải có, đó là: Phúc đức, giới hạnh, học rộng, biện tài, trí tuệ. Có đủ 5 điều kiện này thì đạo nghiệp tiến nhanh, chưa đầy đủ thì bị ngưng trệ. [X. La thập đáp Viễn pháp sư thư trong Thích thị yếu lãm Q.trung].

ngũ bố thí

Five kinds of dana or charity—See Ngũ Chủng Bố Thí.

ngũ bố uý

(五怖畏) Bố úy, Phạm:Vibhìwaịa. I. Ngũ Bố Úy. Cũng gọi Ngũ khủng bố, Ngũ bố, Ngũ úy. Năm nỗi sợ hãi của hành giả trước khi vào giai vị Kiến đạo. 1. Bất hoạt úy, cũng gọi Bất hoạt khủng bố (sợ không sống được): Người mới học đạo tuy có làm việc bố thí, nhưng lại sợ rằng chính mình không thể sống đầy đủ, cho nên thường tích trữ tiền của để phòng hờ, chứ chưa thể cho hết những cái mình có. 2. Ác danh úy, cũng gọi Ác danh khủng bố (sợ danh tiếng bị hoen ố): Người mới học đạo vì hóa độ chúng sinh mà vào quán rượu, nhưng chưa thể giữ thái độ an nhiên tự tại, vì còn sợ người khác chê cười. 3. Tử úy, cũng gọi Tử khủng bố (sợ chết): Người tu hành tuy phát tâm rộng lớn mà bố thí tài vật, nhưng vẫn còn sợ chết nên chưa dám xả thân. 4. Ác đạo úy, cũng gọi Ác thú khủng bố, Ác thú úy, Đọa ác đạo úy (sợ rơi vào đường ác): Hành giả sơ học vì sợ tạo nghiệp bất thiện sẽ bị đọa ác đạo, nên lúc nào cũng sống trong sợ hãi. 5. Đại chúng uy đức úy, cũng gọi Chúng trung bố úy, Đại chúng úy, Xử chúng khiếp úy (sợ uy đức của đại chúng): Người mới học đạo đứng trước nơi triều đình hoặc đối trước đại chúng thông hiểu pháp nghĩa, có uy đức lớn, thường e sợ ngôn ngữ cử chỉ của mình có chỗ sơ suất mà phạm lỗi. Năm tâm niệm sợ hãi nói trên, khi vào được Sơ địa thì hành giả trút bỏ hết. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.9; luật Thập tụng Q.52; luận Đại tì bà sa Q.75; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, thượng]. II. Ngũ Bố Úy. Cũng gọi Ngũ khủng bố. Năm nỗi sợ hãi sinh khởi ở đời sau: 1. Thân không giữ giới, tâm không tu tuệ nên cũng không thể độ người khác. 2. Nuôi dưỡng sa di, mà không thể dạy họ giữ giới, tu tuệ. 3. Làm chỗ nương tựa cho người khác, mà không thể khiến họ giữ giới, tu tuệ. 4. Ở chung với tịnh nhân, sa di mà không biết 3 tướng đào đất, cắt cỏ, dùng nước tưới dội. 5. Tụng niệm 3 tạng kinh luật luận mà trước sau lộn xộn. [X. luật Thập tụng Q.49; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 1]. III. Ngũ Bố Úy. Năm sự sợ hãi: 1. Sợ bị lửa 3 độc (tham, sân, si) thiêu đốt. 2. Sợ bị 5 món dục lạc lôi cuốn. 3. Sợ dao phiền não làm thương tổn. 4. Sợ bị trôi dạt trong các cõi. 5. Sợ khói giác quán hun ngạt. Khi hành giả đạt được nhất thiết trí thì xa lìa 5 nỗi sợ hãi trên. [X. phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Đại phương quảng Phật hoa nghiêm Q.36].

ngũ bố úy

Five Fears—See Ngũ Úy.

ngũ bồ đề

The five bodhi or stages of enlightenment: Phát tâm bồ đề: Vì vô thượng Bồ Đề mà phát tâm—Resolve on supreme bodhi. Phục tâm bồ đề: Chế phục phiền não mà tu hành các hạnh Ba La Mật—Mind control (the passions and observance of the paramitas). Minh tâm bồ đề: Quán sát các pháp để tu hành Bát Nhã Ba La Mật—Mental enlightenment, study and increase in knowledge and in the prajnaparamitas. Xuất đáo bồ đề: Xuất ly tam giới và đạt đến nhất thiết trí—Mental expansion, freedom from the limitations of reincarnation and attainment of Complete knowledge. Vô thượng bồ đề: Đạt tới tình trạng vô dục và vô thượng Bồ Đề—Attainment of a passionless condition and of supreme perfect enlightenment. ; (五菩提) Chỉ cho 5 Bồ đề của Phật. 1. Phát tâm bồ đề: Ở trong cõi sống chết không thể tính lường mà phát tâm cầu Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Phục tâm bồ đề: Áp phục phiền não mà tu hành các ba la mật. 3. Minh tâm bồ đề: Quán xét các pháp trong 3 đời mà thực hành Bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề: Ở trong Bát nhã ba la mật được sức phương tiện, nhưng cũng không chấp trước Bát nhã ba la mật, đoạn trừ hết thảy phiền não, chứng được Vô sinh pháp nhẫn, ra khỏi 3 cõi, đạt đến Nhất thiết trí. 5. Vô thượng bồ đề: Ngồi nơi đạo tràng, dứt sạch các phiền não, được Vô thượng chính đẳng chính giác. [X. luận Đại trí độ Q.53].

ngũ bộ

The five classes or groups. Tứ Diệu Đế và Tu Đạo: The Four Noble truths and Practice—See Tứ Diệu Đế and Tu Đạo. Tiểu Thừa Ngũ Bộ: The five early Hinayana Sects—See Nhất Thiết Hữu Bộ. ; (五部) I. Ngũ Bộ. Chỉ cho quán hành Tứ đế của giai vị Kiến đạo và Tu đạo. Theo thuyết của Nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa, thì bậc Thánh ở giai vị Kiến đạo quán xét khổ, tập, diệt, đạo dứt trừ Kiến hoặc của mỗi bộ để thấy được lí 4 đế, sau đó tiến vào giai vị Tu đạo, trừ sạch Tu hoặc mà chứng quả A la hán. Nhưng người phàm phu không thấy được lí 4 đế như bậc Thánh Kiến đạo, cho nên cũng không thể phân biệt sự sai khác giữa 5 bộ, chỉ tu 6 hành quán hữu lậu ở ngay lúc tu đạo, tổng hợp các hoặc của 5 bộ thành 9 phẩm, dùng trí hữu lậu hợp đoạn (dứt chung) 5 bộ Kiến, Tu (hoặc) của 8 địa dưới gọi là Ngũ bộ hợp đoạn, hoặc gọi là Ngũ bộ tạp đoạn. [X. luận Đại tì bà sa Q.51; luận Câu xá Q.19; Câu xá luận quang kí Q.1,19]. II. Ngũ Bộ. Chỉ cho 5 bộ trong Mạn đồ la Kim cưong giới của Mật giáo. 1. Phật bộ, cũng gọi Như lai bộ: Biểu thị lí trí đầy đủ, giác đạo viên mãn, nhưng ở địa vị phàm phu thì lí trí này chưa lộ rõ, khi vào quả vị thì lí trí mới hiện bày. Đại nhật Như lai là bộ chủ, màu trắng, hiện tướng tĩnh lặng, ngồi tòa Sư tử, chủng tử là (vaô), hình tam muội da là tháp, ấn xứ là thân, xâu chuỗi là hạt bồ đề, ngón cái và ngón trỏ của tay phải cầm tràng hạt. 2. Kim cương bộ: Biểu trưng cho trí, tức lí của tự tâm chúng sinh, trí sẵn có này dù trải qua vô lượng kiếp trong vũng bùn sinh tử nhưng vẫn không bị hư hoại, có khả năng phá diệt phiền não, cũng như kim cương tuy bị chôn vùi trong bùn lâu ngày nhưng vẫn không mục nát. Đức Phật A súc là bộ chủ, màu xanh, hiện tướng giận dữ, ngồi tòa Voi, chủng tử là (hùô), hình tam muội da là chày 5 chĩa, ấn xứ là tâm, xâu chuỗi là hạt kim cương, ngón cái và ngón giữa của tay phải lần tràng hạt. 3. Bảo bộ: Tượng trưng phúc đức, tức vô lượng phúc đức trong muôn đức tròn đầy của Phật. Đức Phật Bảo sinh là bộ chủ, màu vàng ròng, hiện tướng vui vẻ, ngồi trên tòa Ngựa, chủng tử là (trà#), hình tam muội da là ngọc báu, ấn xứ là trán, xâu chuỗi là các thứ báu, ngón cái và ngón áp út của tay phải cầm tràng hạt. 4. Liên hoa bộ: Biểu thị lí, tức là lí của tâm bồ đề thanh tịnh vốn có sẵn trong tự tâm chúng sinh, ở trong bùn sinh tử của 6 đường mà vẫn không bị hoen ố, giống như hoa sen từ dưới bùn lầy mọc lên mà vẫn thơm sạch. Đức Phật A di đà là bộ chủ, màu đỏ lợt, hiện tướng trong lành, ngồi trên tòa chim Công, chủng tử là (hrì#), hình tam muội da là hoa sen, ấn xứ là miệng, xâu chuỗi là hạt sen, ngón cái, ngón vô danh và ngón út của tay phải cầm tràng hạt. 5.Yết ma bộ: Biểu thị đức của nghiệp dụng hóa tha, tức Phật vì rũ lòng thương xót chúng sinh mà thành tựu mọi sự nghiệp cứu độ. Đức Phật Bất không thành tựu là bộ chủ, nhiều màu, hiện các loại tướng, ngồi trên tòa chim Cánh vàng, chủng tử là (a#), hình tam muội da là yết ma, ấn xứ là đỉnh đầu, xâu chuỗi là các thứ báu, dùng cả 4 cách nói trên để lần tràng. Kim cương giới là pháp môn Thủy giác thượng chuyển. Chuyển 9 thức ở trong mê thành 5 quả trí, 5 bộ biểu thị 5 đức nội chứng của 5 Phật thuộc Kim cương giới. Năm Phật là giáo chủ của 5 bộ, các vị tôn quyến thuộc của 5 Phật được gọi chung là Ngũ bộ chư tôn; sự tập hợp của Ngũ bộ chư tôn gọi là Ngũ bộ hải hội. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1, 3; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.hạ; kinh Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni Q.9; kinh Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương Q.1; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ; Bổ đà lạc hải hội quĩ; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Bí tạng kí]. III. Ngũ Bộ. Gọi đủ: Ngũ bộ luật. Năm bộ luật Tiểu thừa do 5 bộ truyền trì là Đàm vô đức, Tát bà đa, Sa di tắc, Ca diếp di và Ma ha tăng kì. (xt. Ngũ Bộ Luật).

ngũ bộ bí kinh

(五部秘經) Năm bộ kinh cơ bản của Mật tông. Tức là kinh Đại nhật 7 quyển, kinh Kim cương đính 3 quyển, kinh Tô tất địa 3 quyển, kinh Du kì 1 quyển và kinh Yếu lược niệm tụng 1 quyển. Năm bộ kinh nói trên thêm vào 2 bộ luận Phát bồ đề tâm và luận Thích Ma ha diễn của ngài Long thụ nữa thì gọi là 5 kinh 2 luận. Hoặc hợp chung kinh Yếu lược niệm tụng với kinh Đại nhật thành 1 bộ, rồi thêm kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng 4 quyển mà thành 5 bộ. Hoặc hợp kinh Yếu lược với kinh Đại nhật làm 1 bộ, kinh Kim cương đính với kinh Du kì làm 1, rồi cộng với kinh Tô tất địa mà gọi chung là Tam bộ kinh. [X. Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.12].

ngũ bộ bí quán

(五部秘觀) Pháp quán bí mật thông dụng trong 5 bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ) của Mật giáo. Khi tu pháp, trước hết, hành giả quán hình tượng Bản tôn ở trên đàn, kế đến quán thân mình tức là ấn khế, lời nói của mình tức là chân ngôn, tâm mình tức là Bản tôn. Ba mật bình đẳng này bao trùm khắp pháp giới, gọi là Tự tam bình đẳng (ba bình đẳng của mình). Ba bình đẳng của mình và 3 bình đẳng của Bản tôn là cùng 1 duyên tướng, gọi là Tha tam bình đẳng (ba bình đẳng của người khác). Cho đến 3 bình đẳng của tất cả chư Phật đã thành, chưa thành đều cùng 1 duyên tướng, gọi là Cộng tam bình đẳng (ba bình đẳng chung). Do cùng 1 duyên tướng này, cho nên chư Phật nhập vào thân ta gọi là Nhập ngã; thân ta nhập vào thân chư Phật gọi là Ngã nhập. Do Nhập ngã và Ngã nhập cho nên các công đức mà chư Phật đã tu được trong vô lượng vô số kiếp đều có đầy đủ ở trong thân ta. Vả lại, lí tự tính bản lai của hết thảy chúng sinh, cùng với lí tự tính của ta và chư Phật là bình đẳng, không sai khác, chỉ vì chúng sinh không rõ biết điều đó nên phải luân hồi sinh tử; bởi vậy, các công đức mà ta tu tập được tự nhiên trở thành công đức của hết thảy chúng sinh, đây chính là hạnh lợi tha mà hành giả Chân ngôn hằng quán tưởng.

ngũ bộ bí tạng

(五部秘藏) Pháp môn bí mật của 5 bộ: Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ và Yết ma bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo.

ngũ bộ cửu quyển

(五部九卷) Cũng gọi Ngũ bộ cửu thiếp. Chỉ cho 5 bộ sách gồm 9 quyển do ngài Thiện đạo, Tổ sư tông Tịnh độ, soạn vào đời Đường. Đó là: 1. Quán vô lượng thọ kinh sớ, 4 quyển. 2. Tịnh độ pháp sự tán, 2 quyển. 3. Quán niệm pháp môn, 1 quyển. 4. Vãng sinh lễ tán kệ, 1 quyển và 5. Bát chu tán, 1 quyển. Đây là 5 bộ sách trọng yếu của tông Tịnh độ.

ngũ bộ giáo chủ

The five Dhyani-Buddhas—See Ngũ Trí Như Lai. ; (五部教主) Năm đức Giáo chủ của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. 1. Đại nhật Như lai, bộ chủ của Phật bộ. 2. A súc Như lai, bộ chủ của Kim cương bộ. 3. Bảo sinh Như lai, bộ chủ của Bảo bộ. 4. A di đà Như lai, bộ chủ của Liên hoa bộ. 5. Bất không thành tựu Như lai, bộ chủ của Yết ma bộ. (xt. Ngũ Bộ).

ngũ bộ hải hội

(五部海會) Các vị tôn của 5 bộ (Phật bộ, Kim cương bộ, Bảo bộ, Liên hoa bộ, Yết ma bộ) thuộc Kim cương giới Mật giáo đều hội họp để hưng khởi pháp sự.

ngũ bộ hợp đoạn

Năm bộ hợp đoạn—To cut off the five classes of misleading things—See Ngũ Bộ (A). ; (五部合斷) Cũng gọi Ngũ bộ tạp đoạn. Pháp quán hợp đoạn 5 bộ Kiến hoặc và Tu hoặc thuộc 8 địa dưới. Năm bộ chỉ cho 4 bộ Kiến hoặc và 1 bộ Tu hoặc. Theo thuyết của Hữu bộ Tiểu thừa thì Dị sinh phàm phu không có năng lực vào được giai vị Kiến đạo để thấy lí Tứ đế, mà cũng không thể phân biệt 5 bộ, cho nên chỉ tu 6 hành quán hữu lậu, khi đến giai vị Tu đạo thì dứt hết cả 5 bộ Kiến hoặc và Tu hoặc (hợp đoạn) của 8 địa dưới, nhưng vẫn chưa thể dùng trí hữu lậu để dứt trừ mê hoặc ở địa thứ 9. Nhưng Đại thừa thì cho rằng trí hữu lậu không có khả năng đoạn trừ được Kiến hoặc. [X. luận Đại tì bà sa Q.50; luận Câu xá Q.19].

ngũ bộ luật

(五部律) Năm bộ luật thuộc 5 bộ phái khác nhau do 5 vị đệ tử của ngài Ưu ba cúc đa (Tổ phó pháp thứ 5 của Thiền tông Ấn độ) truyền bá vào khoảng 100 năm sau khi đức Phật nhập diệt. 1. Đàm vô đức bộ (Phạm: Dharmaguptaka, Hán dịch: Pháp chính, Pháp hộ, Pháp kính, Pháp mật là tên của bộ chủ. Cũng gọi Đàm ma cúc đa). Quảng luật do bộ này truyền là luật Tứ phần 60 quyển; giới bản là Tứ phần tăng giới bản 1 quyển, Tứ phần luật tỉ khưu giới bản 1 quyển, Tứ phần tỉ khưu ni giới bản 1 quyển. Bốn bộ luật nói trên đều do ngài Phật đà da xá dịch vào đời Diêu Tần. 2. Tát bà đa bộ (Phạm:Sarvàsti-vàda, Hán dịch: Nhất thiết hữu, cũng gọi Tát bà đế bà). Quảng luật do bộ này truyền bá là luật Thập tụng 61 quyển, do ngài Phất nhã đa la và ngài Đàm ma lưu chi cùng dịch vào đời Diêu Tần, giới bản là Thập tụng tỉ khưu ba la đề mộc xoa giới bản 1 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần; Thập tụng tỉ khưu ni ba la đề mộc xoa giới bản 1 quyển, do ngài Pháp hiển sưu tập vào đời Lưu Tống, Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ giới kinh 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, Căn bản Thuyết nhất thiết hữu bộ bật sô ni giới kinh 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường. 3. Di sa tắc bộ (Phạm: Mahizàsaka, Hán dịch: Bất trước hữu vô quán). Quảng luật do bộ này truyền là luật Ngũ phần 30 quyển, do ngài Phật đà thập dịch vào đời Lưu Tống, giới bản là Sa di tắc ngũ phần giới bản 1 quyển, do ngài Phật đà thập dịch vào đời Lưu Tống, Ngũ phần tỉ khưu ni giới bản 1 quyển, do ngài Minh huy sưu tập vào đời Lương. 4. Ca diếp di bộ (Phạm:Kàzyapìya, Hán dịch: Trùng không quán). Quảng luật do bộ này truyền là luật Giải thoát, giới bản là Giải thoát giới kinh 1 quyển, do ngài Bát nhã lưu chi dịch vào đời Nguyên Ngụy. 5. Ma ha tăng kì bộ (Phạm: Mahàsaíghika): Quảng luật do bộ này truyền là luật Ma ha tăng kì 40 quyển, do các ngài Pháp hiển và Phật đà bạt đà la cùng dịch vào đời Đông Tấn, giới bản là Ma ha tăng kì luật đại tỉ khưu giới bản 1 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào thời Đông Tấn, Ma ha tăng kì tỉ khưu ni giới bản 1 quyển, do các ngài Pháp hiển và Giác hiền cùng dịch vào đời Đông Tấn. Về danh nghĩa của bộ này có nhiều thuyết khác nhau. a) Cứ theo kinh Xá lợi phất vấn, vì đa số vâng giữ luật Ma ha tăng kì, nên gọi là Đại chúng luật. b) Cứ theo kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 22 thì ngoài 5 bộ nói trên, còn có Bà ta phú la bộ, cộng thành 6 bộ luật. Trong đó, Ma ha tăng kì bao gồm hết các kinh sách của 5 bộ kia, cho nên đặc biệt gọi là Ma ha tăng kì luật. Nhưng theo Xuất tam tạng kí tập quyển 3 thì Bà ta phú la bộ tức là Ma ha tăng kì bộ. c) Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì Độc tử bộ là tên dịch của Bà ta phú la; Phiên dịch danh nghĩa tập dịch Bà ta là Độc, Phú la là Tử. Ngoài ra, về sự phân chia Ngũ bộ thì có 2 thuyết: 1. Theo Xuất tam tạng kí tập quyển 3 thì khi đức Phật còn tại thế, có 1 vị Trưởng giả nằm mộng thấy 1 tấm chiên bằng dạ màu trắng tự nhiên đứt ra làm 5 khúc, Trưởng giả lo sợ liền đến thưa hỏi đức Phật về việc ấy. Đức Phật giải thích rằng đó là điềm báo trước tạng Luật sẽ chia làm 5 bộ. 2. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 4, sau khi Phật thành đạo được 38 năm, 1 hôm Ngài đến thụ trai trong cung vua tại thành Vương xá. Thụ trai xong, Ngài sai tôn giả La hầu la rửa bát, vì trượt tay nên bát vỡ làm 5 mảnh. Các vị tỉ khưu thỉnh vấn Phật về việc này, Ngài bảo sau khi Ngài nhập diệt 500 năm thì các tỉ khưu chia tạng Luật làm 5 bộ. Quả nhiên về sau ngài Ưu ba cúc đa có 5 vị đệ tử, mỗi người chấp 1 kiến giải riêng, bèn chia tạng Luật của Như lai làm 5 bộ. Lại nữa, theo kinh Xá lợi phất vấn, màu áo của 5 bộ đều khác nhau: Ma ha tăng kì bộ mặc áo màu vàng, Đàm vô đức bộ mặc áo màu đỏ, Tát bà đa bộ mặc áo màu đen, Ca diếp di bộ mặc áo màu mộc lan, Di sa tắc bộ mặc áo màu xanh. Nhưng theo Đại tỉ khưu tam thiên uy nghi quyển hạ thì Tát bà đa bộ mặc áo màu đỏ lợt, Đàm vô đức bộ mặc áo màu đen, 3 bộ còn lại thì giống như trên đã ghi. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.60; kinh Phật tạng Q.trung; Ma ha tăng kì luật hậu kí; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 1, tiết 2; Tứ phần luật sớ Q.2, Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1; Đại thừa huyền luận Q.5; Đại đường tây vực kí Q.3; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng].

ngũ bộ mẫu

(五部母) Bà mẹ của 5 bộ. Chỉ cho các vị tôn chi phối việc sinh trưởng và nuôi dưỡng công đức 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Cứ theo kinh Nhiếp vô ngại, Bí tạng kí... thì bộ mẫu của 5 bộ là: 1. Phật bộ: Không có bộ mẫu, vì đức Đại nhật là nguồn gốc. 2. Kim cương bộ: Bộ mẫu là Kim cương ba la mật. 3. Bảo bộ: Bộ mẫu là Bảo ba la mật. 4. Liên hoa bộ: Bộ mẫu là Pháp ba la mật. 5. Yết ma bộ: Bộ mẫu là Yết ma ba la mật. Nếu các bộ mẫu không lấy năng sinh làm nghĩa, mà lấy dưỡng dục làm nghĩa, thì Phật bộ đáng lẽ cũng phải có bộ mẫu; 3 bộ của Thai tạng giới lấy Phật nhãn làm bộ mẫu của Phật bộ, vì vậy nên Phật bộ trong 5 bộ cũng lấy Phật nhãn làm bộ mẫu.

ngũ bộ quán đỉnh

(五部灌頂) Pháp quán đính của 5 bộ trong Mật giáo. Nghĩa là khi cử hành nghi thức quán đính của Kim cương giới thì kết ấn và tụng chú (chân ngôn) của 5 bộ, rồi lấy nước trong bình của bộ ấy rưới lên chỏm đầu của đệ tử. Theo kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 2, trước hết, kết ấn khế và tụng chân ngôn Đại nhật quán đính, gia trì trên đỉnh đầu của đệ tử, rồi lấy nước trong bình có giải màu trắng buộc ở cổ bình rưới lên. Kế đến, lần lượt kết tụng ấn ngôn Đông Phật quán đính, gia trì ở trán, rưới nước trong bình có giải màu đỏ; kết tụng ấn ngôn Nam Phật quán đính, gia trì ở bên phải đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu vàng; kết tụng ấn ngôn Tây Phật quán đính, gia trì ở phía sau đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu xanh; kết tụng ấn ngôn Bắc Phật quán đính, gia trì bên trái đỉnh đầu, rưới nước trong bình có giải màu đen. [X. Kim cương vương bồ tát niệm tụng nghi quĩ].

ngũ bộ thiền kinh

(五部禪經) Năm bộ kinh nói về pháp Thiền, đều được thu vào Đại chính tạng tập 15. Đó là: 1. Kinh Thiền pháp yếu giải, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. 2. Kinh Đạt ma đa la thiền, 2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Đông Tấn. 3. Kinh Tọa thiền tam muội pháp môn, 2 quyển, do ngài Tăng già la sát soạn, ngài Cưu ma la thập dịch. 4. Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp, 1 quyển, do ngài Phật đà mật đa soạn, ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống. 5. Kinh Thiền yếu, 1 quyển, không rõ tên người dịch.

ngũ bộ toà

(五部座) Cũng gọi Ngũ tòa, Ngũ Phật tòa, Ngũ chủng tòa, Ngũ thú tòa. Tòa Như lai của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Tức 5 bộ, mỗi bộ quán 3 chữ chủng tử của mình mà thành. 1. Tòa sư tử của Phật bộ: Do chủng tử chữ Vaô trong vòng tròn biến ra. Đức Phật Tì lô giá na là vua các pháp, cho nên trong các pháp biến hóa một cách tự tại không bị trở ngại, giống như sư tử là chúa các loài thú, sống giữa các loài thú mà không sợ hãi, nên dùng sư tử làm tòa. 2. Tòa voi của Kim cương bộ: Do chủng tử chữ Hùô trong vòng tròn biến ra. Vua Kim cương bộ có sức cứng chắc không vật gì phá được, cũng như sức voi mạnh mẽ nhất trong loài thú, cho nên dùng voi làm tòa. 3. Tòa ngựa của Bảo bộ: Do chủng tử chữ Trà trong vòng tròn biến ra. Vua pháp quán đính rưới nước tốt lành, cũng như ngựa có đủ tuệ dụng, tôn quí cát tường, cho nên dùng ngựa làm tòa. 4. Tòa chim Công của Liên hoa bộ: Do chữ chủng tử Hrì trong vòng tròn biến ra. Vua Chuyển pháp luân quay bánh xe đại pháp, cũng như chim công xinh đẹp, thông minh, có nhiều màu sắc, cho nên dùng chim công làm tòa. 5. Tòa chim cánh vàng của Yết ma bộ: Do chủng tử chữa# trong vòng tròn biến ra. Vua Bất không nghiệp dùng trí dụng tùy phương tiện yết ma dẫn dắt người, trời và tất cả các rồng, cũng như chim cánh vàng (Ca lâu la– Kim sí điểu) tùy theo phương hướng mà hàng phục loài rồng, cho nên dùng chim cánh vàng làm tòa. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính kinh nghĩa quyết Q.thượng].

Ngũ bộ tâm quán

五部心觀; C: wǔbù xīnguān; J: gobu shinkan;|Tên gọi đầy đủ là Lí-đa tăng-bá-la ngũ bộ tâm quán (悝多僧蘖囉五部心觀), được trình bày ở Trung Hoa theo chỉ dẫn của sư Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhakarasiṃha). Gồm những bức hoạ miêu tả hình ảnh các vị thần, các thủ ấn, và biểu tượng của Kim Cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātu-mahāmaṇḍala), với những lời thần chú và chú thích hoàn toàn bằng tiếng Phạn. Một bản sao tác phẩm nầy do Pháp Toàn (法全) truyền lại cho Viên Trân (圓珍; j: enchin) năm 885 sau CN. Để nghiên cứu thêm, xin xem tác phẩm của Śaśibala (1986).

ngũ bộ tôn pháp

See Ngũ Chủng Tu Pháp. ; (五部尊法) Cũng gọi Ngũ chủng đàn pháp. Căn cứ vào 5 pháp tu trong Mật giáo mà nói về sự khác nhau của 5 bộ, tức là: 1. Tức tai pháp: Dùng các vị tôn của Phật bộ, cho nên có 5 Phật trí. 2. Tăng ích pháp: Dùng các vị tôn của Bảo bộ, cho nên có bảo (của báu), quang (ánh sáng), chàng (cờ), tiếu (cười)... Cầu phúc đức là bảo, cầu trí tuệ là quang, cầu quan vị là chàng, cầu kính yêu là tiếu. 3. Hàng phục pháp: Dùng các vị tôn của Kim cương bộ, cho nên có 5 vị tôn rất giận dữ. 4. Ái kính pháp: Dùng các vị tôn của Liên hoa bộ, cho nên có bản tôn Quan thế âm. 5. Câu triệu pháp: Dùng các vị tôn của Yết ma bộ, cho nên có câu (móc câu), sách (vòng dây), tỏa (khóa), linh (chuông rung)... [X. điều Ngũ bộ tôn pháp trong Bổ đà lạc hải hội quĩ].

Ngũ bộ Tăng

xem Năm bộ Tăng.

ngũ bộ tịnh cư viêm ma la

(五部淨居炎摩羅) Cũng gọi Ngũ bộ tịnh. Một trong 28 bộ chúng quyến thuộc của bồ tát Thiên thủ Quan âm, là vị thiện thần thường theo ủng hộ hành giả. Ngũ tịnh cư tức Ngũ na hàm tịnh cư ở trên trời, Viêm ma la thì ở dưới đất. Khi điều thiện đạt đến cực quả, thì Tịnh cư thiên hiển thị lễ pháp; khi điều ác đạt đến cực quả thì Viêm ma la hiển thị trị pháp. Nay lấy quĩ tắc trên dưới hợp lại làm 1 bộ, cho nên gọi là Ngũ bộ tịnh cư viêm ma la. Cứ theo Thiên thủ quan âm tạo thứ tự pháp nghi quĩ, thì hình tượng của vị thần này, thân màu tím nhạt, tay trái cầm cờ Viêm ma, tay phải cầm cây gậy người nữ. [X. kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni; Thiên thủ nhị thập bát bộ chúng thích].

ngũ bộ tổng trì

(五部總持) Chỉ cho Đà la ni (Phạm: Dhàraịi, Hán dịch: Tổng trì) của 5 bộ thuộc Kim cương giới Mật giáo. Năm bộ là Phật bộ, Kim cương bộ, Liên hoa bộ, Bảo bộ và Yết ma bộ.

Ngũ bộ đại luận

五部大論; C: wǔbù dàlùn; J: gobudairon;|»Năm bộ luận lớn của Đại thừa« do Bồ Tát Di-lặc trứ tác.

ngũ bộ đại luận

The five great sastras: Du Già Sư Địa Luận: Ceremonials of the esoteric cult for ridding from calamity. Phân Biệt Du Già Luận: Ceremonials of the esoteric cult for prosperity. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận: Ceremonials of the esoteric cult for subduing evils (spirits). Biện Trung Biên Luận Tụng: Ceremonials of the esoteric cult for seeking the love of Buddhas. Kim Cang Bát Nhã Luận: Ceremonials of the esoteric cult for calling the good to aid. ; (五部大論) Cũng gọi Ngũ đại luận. Năm bộ luận lớn do ngài Vô trước soạn theo giáo chỉ của bồ tát Di lặc. Đó là: 1. Luận Du già sư địa, 100 quyển, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 2. Luận Phân biệt du già, không rõ dịch giả. 3. Đại thừa trang nghiêm kinh luận, 13 quyển, ngài Ba la phả mật đa la dịch vào đời Đường. 4. Biện trung biên luận tụng, 1 quyển, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường. 5. Luận Kim cương bát nhã, 2 quyển, ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. [X. Du già luận kí Q.1, phần đầu].

ngũ bộ đại luật

The first five volumes of Vinayana of Hinayana Sects. Đàm Ma Cúc Đa: Tứ Phần Luật (Pháp chính, pháp hộ, pháp kinh, pháp mật)—Dharmagupta. Tát Bà Đế Bà: Thập Tụng Luật—Sarvastivada. Di Sa Tắc Bộ: Ngũ Phần Luật—Mahisasaka. Ca Diếp Di Bộ: Giải Thoát Giới Kinh—Kasyapiya. Bà Thu Phú La Bộ: Vatsiputriya.

ngũ bộ đại thừa kinh

Năm bộ kinh lớn trong trường phái Thiên Thai—The five chief Mahayana Sutras in the T'ien-T'ai Sect: Hoa Nghiêm: Avatamsaka Sutra. Đại Tập: Mahasanghata Sutra. Đại Bát Nhã: Mahaprajna Sutra. Pháp Hoa: Lotus Sutra.

ngũ canh

xem Năm canh ; (五更) Cũng gọi Ngũ dạ, Ngũ cổ. Canh nghĩa là trải qua. Thời gian trong 1 đêm được chia làm 5 canh: Canh 1 (Giáp dạ), 8 giờ tối hôm nay. Canh 2 (Ất dạ), 10 giờ tối hôm nay. Canh 3 (Bính dạ), 0 giờ sáng hôm nay. Canh 4 (Đinh dạ), 2 giờ sáng hôm sau. Canh 5 (Mậu dạ), 4 giờ sáng hôm sau. [X. Hán cung cựu nghi; Nhan thị gia huấn thư chứng].

ngũ canh chuyển

(五更轉) Một loại tục dao (câu hát thông tục) trong Phật giáo được lưu hành vào đời Đường. Trong 1 đêm từ canh 1 đến canh 5, đêm tối chuyển từ mờ mịt đến sáng dần, trạng thái này được ví dụ cho tâm vô minh hôn ám của người ta do tin theo và thực hành chính pháp của Phật mà dần dần được tỏ ngộ thấu suốt. Loại tục dao này lấy 1 đêm 5 canh làm đơn vị, mỗi canh là 1 bài 4 câu theo cùng 1 cách thức, nối tiếp nhiều bài thành thiên. Chẳng hạn như đoạn trước của Nam tông định tà chính ngũ canh chuyển như sau: Canh một bắt đầu: Vọng tưởng chân như chẳng phải hai Mê thì chân ấy hóa vọng ngay Ngộ đến, vọng kia là chân thực Niệm chẳng khởi, Niết bàn đây! (...) Canh hai thôi thúc: Đại viên gương báu sáng như nhiên Chúng sinh không rõ bệnh phan duyên Do đó ngăn che tâm chẳng tỏ Sạch bụi nhơ, dứt não phiền. Ngoài ra, còn có Đại thừa ngũ canh chuyển, Vô tướng ngũ canh chuyển, Duy ma ngũ canh chuyển, Đạt ma ngũ canh chuyển v.v... Thời gần đây, loại tục dao này được tìm thấy rất nhiều trong các hang động tại Đôn hoàng thuộc tỉnh Thiểm tây, Trung quốc.

ngũ chi giới

(五支戒) Năm Sự giới chi mạt (ngọn) được mở ra từ một lí Đại Bồ đề tâm căn bản (gốc). Năm giới này được nói trong phẩm Thánh hạnh của kinh Niết bàn quyển 11 (bản Nam). Đó là: Căn bản nghiệp thanh tịnh giới, Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới, Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. Trong Niết bàn nghĩa kí quyển 5, ngài Tịnh ảnh giải thích là: 1. Căn bản nghiệp thanh tịnh: Xa lìa bất thiện nghiệp đạo căn bản. 2. Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh: Xa lìa phương tiện trước sau của bất thiện nghiệp đạo. 3. Phi chư ác giác giác thanh tịnh: Xa lìa 8 ác giác. 4. Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh: Tu 6 niệm tâm, giúp thành tựu giới hạnh. 5. Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề: Giữ gìn giới hạnh mong cầu thành Phật. Ngài Bảo lượng đem 5 chi giới này phối hợp với các giới Đại, Tiểu thừa, cho rằng 4 giới trọng của Tiểu thừa là Căn bản nghiệp thanh tịnh giới; từ thiên thứ 2 trở xuống, tức các giới khác ngoài 4 giới trọng là Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, không khởi 3 độc (tham, sân, si) và không phạm giới Bồ tát là Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới; không phạm 40 giới khinh là Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới; tu hành 4 giới trên để hồi hướng bồ đề là Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. Ngài Thiên thai Trí khải thì cho rằng 4 giới trọng hoặc tính giới của 10 điều thiện là Căn bản nghiệp thanh tịnh giới; 4 thiên còn lại như Thâu lan gia... là Tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới; Định cộng giới là Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới; Đạo cộng giới là Hộ trì chính niệm niệm thanh tịnh giới; Đại thừa giới là Hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề giới. [X. Niết bàn kinh tập giải Q.27; Tứ niệm xứ Q.3; Niết bàn kinh hội sớ Q.11; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần đầu].

Ngũ chi tác pháp

五支作法; C: wǔzhī zuòfǎ; J: goshisahō;|Phương pháp lập luận gồm 5 phần, gồm: 1. Tông (宗; s: pratijñā): tiền đề; 2. Nhân (因; s: hetu): lí do; 3. Dụ (喩; s: udāharana): thí dụ dẫn chứng; 4. Hợp (合; s: upanaya): sự quy nạp; 5. Kết (結; s: nigamana): kết luận. Pháp nầy đã được các nhà Cổ nhân minh học trước Trần-na (陣那; s: dignāga) sử dụng.

ngũ chi tác pháp

Avayava (skt)—Năm chi tạo pháp—The five parts of a syllogism: Lập Tông: Nói về sở tính của chư pháp—Pratijna (skt)—The proposition. Biện Nhân: Dựa theo các pháp mà kiến lập ra ngôn luận thuận ích với đạo lý—Hetu (skt)—The reason. Dẫn Dụ: So sánh với các pháp dễ hiểu—Udaharana (skt)—The example. Hợp: Upanaya (skt)—The application. Kết: Nigamana (skt)—The summing up or conclusion. ; (五支作法) Phạm: Paĩca-avayava-vàkya. Cũng gọi Ngũ phần tác pháp. Tiếng dùng của Nhân minh cũ. Phương thức suy luận được cấu tạo nên bởi 5 chi, tức là: Tông (Phạm:Pratijĩà), Nhân (Phạm: Hetu), Dụ (Phạm: Udàharaịa), Hợp (Phạm: Upanaya) và Kết (Phạm: Nigamana). Phương thức lập luận của các bậc Đại sư thuộc Nhân minh cũ như các ngài Di lặc, Vô trước, Thế thân v.v... đều không nhất định. Luận Du già sư địa của ngài Di lặc và luận Hiển dương thánh giáo của ngài Vô trước, đều nói rằng khi nghị luận, có thể thành lập 8 pháp, đó là: Lập tông, biện nhân, dẫn dụ, đồng loại, dị loại, hiện lượng, tỉ lượng và chính giáo lượng. Trong đó, 5 pháp trước thông thường được gọi là luận thức Ngũ chi tác pháp, cũng tức là luận thức Ngũ phần được nói trong luận Như thực của ngài Thế thân. Phương pháp luận chứng 5 chi hoặc 5 phần như sau: 1. Lập tong (mệnh đề): Trên núi kia đang có lửa cháy. 2. Biện nhân (lí do): Vì thấy có khói trên núi. 3. Dẫn dụ (thí dụ chứng minh) chia làm 2 loại: Đồng dụ và Dị dụ. Đồng dụ: Có khói ắt có lửa, như trong nhà bếp; Dị dụ: Không có lửa thì chẳng có khói, như trong hồ nước. 4. Hợp (dùng sau mệnh đề khẳng định): Núi đó cũng như thế. 5. Kết (phần kết luận, tức lập lại Tông): Vì thế biết trên núi đó đang có lửa cháy. Ngũ chi tác pháp nói trên, ngoài các vị Luận sư của Phật giáo ra, cũng được các học phái khác ứng dụng. Như ông Kiều đạt ma (Phạm: Gotama) của học phái Ni da dã (Phạm: Nyàya) trong 6 pháiTriết học ở Ấn độ cũng từng lập luận thức hệt như luận thức 5 phần nói trên. Lại nữa, trong tác pháp 5 chi, khi thuộc tính của 2 đối tượng giống nhau về 1 mặt nào đó, thì đi đến kết luận là thuộc tính của các mặt khác cũng giống nhau. Nhưng kết luận này có thể đúng mà cũng có thể sai, vì nó thuộc về phương pháp loại suy. Đối với tác pháp 5 chi, trong bộ Chính lí kinh chú, ông Phiệt sa diễn na đã có sự phát triển quan trọng, trong chi Dụ (đồng dụ và dị dụ) ông đều thêm 1 mệnh đề Toàn xưng, làm cho chi Dụ gần giống như Tam đoạn luận pháp (syllogism). Qua sự cải tạo của ông, tác pháp 5 chi đã từ phương pháp loại suy tiến đến phương thức diễn dịch suy lí và kết luận có tính logic tất nhiên. Chẳng hạn như tác pháp 5 chi trong Chính lí kinh chú sau đây: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì nó được tạo ra. 3. Đồng dụ: Phàm những cái được tạo ra đều là vô thường, như cái chậu, cái dĩa v.v... -Dị dụ: Phàm những cái không phải do tạo ra mà có thì đều là thường trụ, như thần ngã... 4. Hợp: Âm thanh lời nói cũng như thế, vì là cái được tạo ra (hợp đồng dụ); Âm thanh không giống như thần ngã, không thuộc về cái không phải do tạo ra mà có (hợp dị dụ). 5. Kết: Vì thế biết âm thanh là vô thường. Ngũ chi tác pháp của ông Phiệt sa diễn na chỉ có 3 danh từ (trừ thí dụ chứng minh), nếu bỏ Hợp, Kết thì 3 chi Tông, Nhân, Dụ đại khái tương đương với kết luận, Tiểu tiền đề và Đại tiền đề của Tam đoạn luận pháp. Còn nếu bỏ Tông, Nhân thì 3 chi Dụ, Hợp và Kết đại khái giống với Tam đoạn luận pháp. Tuy nhiên, đứng về phương diện logic mà nói, thì Toàn xưng phán đoán được sử dụng trong phần Dị dụ chưa được chặt chẽ. Mãi đến thế kỉ VI, Đại luận sư Nhân minh là ngài Trần na (Phạm: Dignàga), trong Tập lượng luận đề ra Tam chi tác pháp(luận thức 3 phần): Lập tông, Biện nhân, Dẫn dụ với sự cải cách lớn lao thì luận lí Nhân minh mới được hoàn chỉnh và cũng từ đó luận chứng Nhân minh được chia thành Cựu Nhân minh (Ngũ chi tác pháp), và Tân Nhân minh (Tam chi tác pháp) khác nhau. [X. luận Du già sư địa Q.15; luận Hiển dương thánh giáo Q.11; luận Đại thừa a tì đạt ma Q.16; phẩm Đọa phụ xứ luận Như thực; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Du già sư địa luận lược toản Q.5; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1 (Văn quĩ); History of Indian Logic, Calcutta, 1921 by S.C. Vidvabhùsana; Indian Logic in the Early School, Oxford, 1930 by H.N. Randle; Ấn độ triết học nghiên cứu 5; Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ)]. (xt. Tam Chi Tác Pháp, Nhân Minh).

ngũ chu nhân quả

(五周因果) Cũng gọi Hoa nghiêm ngũ chu nhân quả. Năm vòng nhân quả nói rõ nghĩa lí kinh Hoa nghiêm (80 quyển) được trình bày trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 3, 4. Tức là: 1. Sở tín nhân quả: Hội Hoa nghiêm thứ nhất ở Bồ đề tràng thuyết pháp môn quả báo y, chính của của đức Như lai, tức từ quyển thứ 1 đến quyển thứ 11, tất cả có 6 phẩm, 5 phẩm trước nói rõ về quả đức của Già na, phẩm còn lại hiển bày bản nhân của Phật, khiến cho người sinh tâm tin nhận mà vui theo. 2. Sai biệt nhân quả, cũng gọi Tu chính nhân quả, Sinh giải nhân quả: Hội thứ 2 đến hội thứ 7 ở điện Phổ quang minh tuyên thuyết pháp môn nhân quả sai biệt của Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Đẳng giác. Tức từ quyển 12 đến quyển 48, tất cả có 29 phẩm; 26 phẩm trước nói rõ về nhân sai biệt của 51 giai vị, còn 3 phẩm sau cùng thuyết minh về quả tướng 3 đức sai biệt của Phật. 3. Bình đẳng nhân quả, cũng gọi Tu hiển nhân quả, Xuất hiện nhân quả: Hội thứ 7 ở điện Phổ quang minh tuyên thuyết pháp môn nhân quả bình đẳng, tức từ quyển 49 đến quyển 52, có 2 phẩm, phẩm Phổ hiền hạnh nói về nhân tròn đầy bình đẳng của bồ tát Phổ hiền, phẩm Như lai xuất hiện thuyết minh quả viên mãn bình đẳng của đức Phật Tì lô giá na, nhân quả dung nhiếp, bình đẳng không hai. 4. Thành hành nhân quả, cũng gọi Xuất thế nhân quả: Hội thứ 8 ở điện Phổ quang minh, tuyên thuyết pháp môn thành hành nhân quả, xa lìa pháp thế gian. Tức từ quyển 53 đến quyển 59, có 1 phẩm, trước hết nói về nhân hạnh của 5 giai vị, sau đó trình bày quả tướng đại dụng của 8 tướng thành Phật. 5.Chứng nhập nhân quả: Hội thứ 9 trong rừng Thệ đa tuyên thuyết diệu môn Nhập pháp giới. Tức từ quyển 60 đến quyển 80, có 1 phẩm, trước hết nói về đại dụng tự tại của quả Phật, sau đó hiển bày sự khởi dụng tu nhân của Bồ tát, 2 môn nhân và quả đồng thời chứng nhập. Năm vòng nhân quả trên đây đều qui kết ở diệu môn chứng nhập nhân quả thứ 5, tức từ Sở tín nhân quả đầu tiên đến Thành hành nhân quả thứ 4 là muốn khiến hành giả tin sâu nơi quả đức của Già na, hiểu rõ nhân quả của 6 giai vị, cho đến nương vào đó mà tu hành thực tiễn; đây là con đường tắt duy nhất chứng nhập pháp giới. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí, ngài Pháp tạng lập ra 5 phần như Giáo khởi nhân duyên phần v.v... để giải thích phân biệt kinh Hoa nghiêm. Chỗ khác nhau giữa 5 vòng và 5 phần là 5 vòng dựa vào nghĩa lí, còn 5 phần thì căn cứ theo văn kinh mà phân biệt. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.8; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.17; Đại tạng pháp số Q.26]. (xt. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh).

ngũ chuyên

Năm thứ chuyên cần—Theo Chân Tông của Nhật Bản, muốn vãng sanh Tịnh Độ, Phật ử phải tu một trong năm thứ chuyên sau đây—According to the Japanese Shin Sect, to ensure rebirth in the Pure Land, Buddhists must devote practicing one of the following devotions: Chuyên Lễ: Devotion in worship. Chuyên Độc Tụng kinh điển: Devotion in reciting or reading sutras. Chuyên Quán: Devotion in meditation. Chuyên niệm hồng danh Phật: Devotion in invocation of the name of Amitabha Buddha. Chuyên Tán thán chư Phật: Devotion in praising Buddhas.

ngũ chuyển

Năm chuyển hay năm giai đoạn phát triển từ nhân đến quả theo Mật Giáo—The five evolutions or developments according to the Esoteric Sects: Phát Tâm Bồ Đề hay nguyện đắc thành quả vị Phật: To resolve on Buddhahood. Tu Hành hay trì giữ giới luật: Observance of the rules. Giác ngộ Bồ Đề: Do nhân hành mà chứng được đạo quả—Attainment of enlightenment. ; (五轉) Gọi đủ: A tự ngũ chuyển. Năm giai đoạn biểu thị tâm Bồ đề chuyển biến dần lên theo thứ tự tu hành từ nhân đến quả trong Mật giáo. (xt. A Tự Ngũ Chuyển).

ngũ chuyển dữ tứ trọng viên đàn

(五轉與四重圓壇) Mật giáo dùng Ngũ chuyển phối hợp với 4 lớp Viên đàn của Thai tạng giới. Được chia làm 2 thứ từ quả đến nhân và từ nhân đến quả. 1. Từ quả đến nhân: Là môn Hóa tha, lấy chữ (a) làm chủng tử của Đại nhật ở chính giữa, lấy Trung đài làm phát tâm, Bát diệp làm tu hành, Nhị trùng làm Bồ đề, Tam trùng làm Niết bàn, Thế thiên đẳng làm phương tiện. 2. Từ nhân đến quả: Là môn tự lợi, lấy chữ (à#) làm chủng tử của Đại nhật ở chính giữa, lấy Trung đài làm phương tiện, Bát diệp làm Niết bàn, Nhị trùng làm Bồ đề, Tam trùng làm tu hành, Thế thiên đẳng làm phát tâm. [X. Bồ đề tâm nghĩa Q.6]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển, Tứ Trùng Viên Đàn).

ngũ chuyển thành thân

See Ngũ Chuyển and Ngũ Tướng Thành Thân.

ngũ chánh hành

See Ngũ Chánh Hạnh.

ngũ chánh hạnh

The five proper courses to ensure the bliss of the Pure Land: Tụng đọc chánh hạnh: Tụng đọc Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ—Intone the three sutras (Amitabha, Infinite Life, Meditation on the Infinite Life). Quán sát chánh hạnh: Quán sát về Tây Phương Tịnh Độ—Meditate on the Pure Land. Lễ bái chánh hạnh: Lễ bái Đức Phật A Di Đà—Worship solely Amitabha. Xưng danh chánh hạnh: Xưng tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà—Invoke the name of Amitabha Buddha. Tán thán cúng dường chánh hạnh: Tán thán cúng dường Đức Phật A Di Đà—Extol and make offerings to Amitabha Buddha. ** For more information, please see Ngũ Chủng Pháp Sư.

ngũ chánh sắc

See Ngũ Sắc.

ngũ châu

The five continents.

ngũ chính hành

(五正行) Năm hạnh chân chính, do tông Tịnh độ lập ra cho người tu hành pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh độ. Đó là: 1. Chính hạnh đọc tụng. 2. Chính hạnh quán xét. 3. Chính hạnh lễ bái. 4. Chính hạnh xưng danh. 5. Chính hạnh tán thán, cúng dường. Năm hạnh này căn cứ vào 3 bộ kinh Tịnh độ, chỉ thực hành những hạnh hướng về đức Phật A di đà và cõi Cực lạc phương Tây, cho nên gọi là Chính hạnh. Trái lại, làm 5 việc trên đối với các đức Phật khác, Bồ tát khác thì gọi là Tạp hạnh. [X. Tán thiện nghĩa trong Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.4 (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Ngũ Tạp Hạnh).

Ngũ chúng

五衆; C: wǔzhòng; J: goshū;|Có các nghĩa sau: 1. Từ Hán cổ (Cưu-ma-la-thập, s: kumārajīva) để dịch từ »Ngũ uẩn« (theo kinh Pháp Hoa); 2. Năm chúng đệ tử của Đức Phật: Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu, p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī), Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā), Sa-di (沙彌; s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera), và Sa-di-ni (沙彌尼; s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerī). Trong Năm chúng nầy, Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni thụ nhận Cụ túc giới, Thức-xoa-ma-na thụ nhận Sáu pháp (Lục pháp 六法; sau khi thụ giới Sa-di), Sa-di và Sa-di-ni thụ nhận mười giới (Thập giới 十戒; theo Đại trí độ luận quyển thứ 10 大智度論卷十; Tứ Phần luật hành sự sao tư trì kí, phần 1, quyển 1 四分律行事鈔資持記卷中一之一).

ngũ chúng

(五衆) I. Ngũ Chúng. Dịch cũ: Ngũ uẩn. Tức là sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Chữ chúng hàm có nghĩa là tụ tập, nhóm họp. (xt. Ngũ Uẩn). II. Ngũ Chúng. Cũng gọi Xuất gia ngũ chúng. Năm chúng xuất gia. 1. Tỉ khưu (Phạm: Bhikwu, Pàli: Bhikkhu). 2. Tỉ khưu ni (Phạm: Bhiwuịì, Pàli: Bhikkhunì). 3. Thức xoa ma na (Phạm: Zikwamàịa, Pàli: Sikkhamànà). 4. Sa di (Phạm: Zràmaịera, Pàli: Sàmaịera). 5. Sa di ni (Phạm:Zràmaịerikà, Pàli: Sàmaịerì). Trong đó, tỉ khưu và tỉ khưu ni thụ giới Cụ túc, thức xoa ma na thụ 6 pháp, sa di và sa di ni thụ 10 giới. [X. luận Đại trí độ Q.10; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 1, tiết 1]. (xt. Thất Chúng). III.Ngũ Chúng. Cơ cấu giáo hóa của Phật giáo được thành lập vào đời Tùy. Vua Văn đế nhà Tùy, Trung quốc, ban lệnh tuyển chọn các bậc cao tăng có học vấn uyên thâm để đảm nhận các chức vụ giáo hóa gọi là Ngũ chúng, mỗi chúng đặt 1 vị Chúng chủ. Đó là: 1. Niết bàn chúng: Chúng chủ có các ngài Pháp thông, Đồng chân, Thiện trụ. 2. Địa luận chúng: Chủ yếu y cứ vào kinh Hoa nghiêm; Chúng chủ có các ngài Tuệ thiên, Linh xán. 3. Đại luận chúng: Đại luận chỉ cho luận Đại trí độ, chủ yếu y cứ theo kinh Đại phẩm bát nhã. Chúng chủ gồm các vị Pháp ngạn, Bảo tập, Trí ẩn. 4. Giảng luật chúng, Chúng chủ có ngài Hồng tuân... 5. Thiền môn chúng, Chúng chủ là ngài Pháp ứng...

ngũ chúng ma

The five maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.

ngũ chúng xuất gia

Five groups of the order: Tỳ Kheo: Monks. Tỳ Kheo Ni: Nuns. Thức Xoa Ma Na: Nun-Candidates. Sa Di: Male novices. Sa Di Ni: Female novices.

Ngũ chướng

五障; C: wǔzhàng; J: goshō; S: pañca-avara-ṇāni.|Có các nghĩa sau: 1. Năm loại chướng ngại: Phiền não chướng (煩惱障), Nghiệp chướng (業障), Sinh chướng (生障), Pháp chướng (法障), Sở tri chướng (所知障); 2. Năm loại chướng ngại đối với phụ nữ: Không thể sinh trong cõi trời Phạm thiên, không thể sinh trong cõi trời Đế thích, không thể sinh làm Ma vương, không thể sinh làm Chuyển luân thánh vương, không thể làm Phật; 3. Năm loại chướng ngại: Lừa dối (khi 欺), lười biếng (đãi 怠), nóng nảy (sân 瞋), giận (hận 恨), thù (oán 怨).

ngũ chướng

Năm chướng ngại—The five hindrances. ; (五障) Phạm: Paĩca àvaraịàni. Pàli: Paĩca nìvaraịàni. Cũng gọi Ngũ ngại. I. Ngũ Chướng. Người đàn bà bị chướng ngại không thể thành 5 bậc: Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân thánh vương và Phật. Trong kinh Đại bảo tích quyển 38 chỉ nói 4 chướng mà thiếu mất chướng Ma vương. [X. phẩm Đề bà đạt đa trong kinh Pháp hoa; kinh Siêu nhật minh tam muội Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.9, phần đầu]. (xt. Nữ Tử Ngũ Chướng). II. Ngũ Chướng. Cũng gọi Ngũ cái chướng. Chỉ cho 5 thứ chướng ngại trên con đường tu hành Phật đạo. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 1 thì 5 chướng ngại ấy là: 1. Phiền não chướng: Chướng ngại do các phiền não căn bản. 2. Nghiệp chướng: Chướng ngại do các nghiệp ác ở quá khứ, hiện tại. 3. Sinh chướng: Chướng ngại vì nghiệp kiếp trước mà sinh vào hoàn cảnh tồi tệ, xấu xa. 4. Pháp chướng: Chướng ngại vì đời trước không được gặp thiện tri thức nên nay không được nghe pháp. 5. Sở tri chướng: Dù được nghe pháp nhưng do các thứ nhân duyên trở ngại, cho nên không thể tu hành Bát nhã ba la mật. Ngoài ra, còn có 5 chướng khác như: Ác đạo chướng (sinh vào 3 đường ác địa ngục, ngã quỉ, súc sanh), Bần cùng chướng (sinh vào nhà nghèo cùng), Nữ thân chướng (làm thân đàn bà), Hình tàn chướng (thân thể tàn phế, không đủ các căn) và Hỉ vong chướng (hay quên)... III. Ngũ Chướng. Chỉ cho tác dụng tâm lí làm chướng ngại 5 lực. Đó là: Lừa dối làm chướng ngại Tín, lười biếng làm chướng ngại Tiến, bực tức làm chướng ngại Niệm, hờn giận làm chướng ngại Định và thù oán làm chướng ngại Tuệ. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1, phần đầu].

ngũ chướng của nữ nhân

Theo phẩm Đề Bà trong Kinh Pháp Hoa, người nữ có năm chướng ngại—According to the Lotus Sutra, Devadatta Chapter, there are five hindrances or obstacles of women: Chẳng được làm Phạm Thiên Vương: Inability to become Brahma-kings. Chẳng được làm Đế Thích: Inability to become Indras. Chẳng được làm Ma Vương: Inability to become Mara-kings. Chẳng được làm Chuyển Luân Vương: Inability to become Cakravarti-kings. Chẳng được làm Phật: Inability to become Buddhas. Kỳ thật, một người mang thân nữ muốn thành Phật thì phải tu trong kiếp nầy sao cho chuyển thành người nam trong kiếp lai sanh trước khi thành Phật—In fact, if a woman wants to become a Buddha, that person has to cultivate in this life so that in her next rebirth she can become a man.

ngũ chướng ngại

Năm chướng ngại cho sự tiến bộ tinh thần, làm rối loạn sự nhìn sâu vào vạn hữu, ngăn cản con người đạt tới sự tập trung hoàn toàn, cũng như khám phá ra chân lý—Five hindrances to spiritual progress that hinder the mind, obstruct insight, and prevent cultivators from attaining complete concentration and from knowing the truth (Five factors (hindrances) which blind our vision from the truth): Theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa—According to the point of view of Mahayana Buddhism: Tham dục: Kamachanda (p)—Tham ái duyên theo dục giới—Sensuous lust—Greed. Sân hận: Vyapada (p)—Ill-will—Hatred. Si mê: Ignorance—Physical and mental torpor. Lo âu: Uddhaccakukkucca (p)—Restlessness and worry.

ngũ chướng tam tòng của nữ nhân

Năm chướng ngại và ba phục tòng của người nữ—The five hindrances and the three subbordinations of women: Năm Chướng Ngại—The five hindrances—See Ngũ Chướng Của Nữ Nhân. (II) Tam Tòng—The three subordinations: Tại gia tòng phụ: Ở nhà thì phục tòng cha—At home she must subordinate to her father. Xuất giá tòng phu: Khi lấy chồng thì phải phục tòng chồng—When she gets married, she must subordinate to her husband. Phu tử tòng tử: Khi chồng qua đời thì phải phục tòng người con trai cả—When her husband dies, she must subordinate to her eldest son.

ngũ chủng a na hàm

See Ngũ Tịnh Cư Thiên.

ngũ chủng a xà lê

Năm loại giáo thọ—Five categories of acarya. Xuất Gia A Xà Lê: Người sở y đắc xuất gia hay người phụ trách dạy dỗ những người mới xuất gia—One who has charged of novices. Giáo Thọ A xà Lê: Giáo Thọ Tăng—A teacher of the discipline. Yết Ma A Xà Lê: Thọ Giới Tăng hay vị Tăng làm phép thọ giới yết ma—A teacher of duties. Thọ Kinh A Xà Lê: Vị Tăng dạy kinh cho người khác—A teacher of the scriptures. Y Chỉ A Xà Lê: Thầy y chỉ (dù chỉ trong một thời gian rất ngắn)—The master of the community (though in a very short period of time).

ngũ chủng bát

See Ngũ Chủng Bất Hoàn.

ngũ chủng bát nhã

(五種般若) Bát nhã, Phạm: Prajĩa. Chỉ cho 5 thánh trí Bát nhã chiếu rọi pháp giới, thấu suốt chân lí. Theo Bát nhã tâm kinh sớ, Bát nhã tâm kinh u tán quyển thượng, thì 5 Bát nhã là: 1. Thực tướng bát nhã: Chỉ cho lí của chân như. Lí này là thực tính của Bát nhã, cho nên gọi là Thực tướng bát nhã. 2. Quán chiếu bát nhã: Chỉ cho trí tuệ thanh tịnh vô lậu. Trí tuệ này có năng lực soi rõ các pháp vô tướng, thảy đều vắng lặng, vì thế gọi là Quán chiếu bát nhã. 3. Văn tự bát nhã: Chỉ cho ngôn ngữ chương cú của Bát nhã. Ngôn ngữ văn tự có thể giải thích rõ lí Bát nhã, tính tịch lặng như hư không, cho nên gọi là Văn tự bát nhã. 4. Quyến thuộc bát nhã: Chỉ cho 6 độ muôn hạnh. Sáu độ muôn hạnh tương ứng với diệu tuệ, có khả năng thành tựu Bát nhã, là quyến thuộc của tuệ tính quán chiếu, vì thế gọi là Quyến thuộc bát nhã. 5. Cảnh giới bát nhã: Chỉ cho tất cả pháp. Các pháp là cảnh giới của chân trí bát nhã, cảnh không có tự tướng, do trí hiển phát, cho nên gọi là Cảnh giới bát nhã. Cứ theo Kim cương kinh sớ kí khoa hội quyển 1, thì 5 Bát nhã trên đây là do ngài Cưu ma la thập căn cứ vào Văn tự bát nhã, Quán chiếu bát nhã và Thực tướng bát nhã nói trong luận Đại trí độ mà lập thêm Quyến thuộc bát nhã và Cảnh giới bát nhã. Trong đó, Quyến thuộc bát nhã được lập ra từ Quán chiếu bát nhã và Cảnh giới bát nhã được lập ra từ Thực tướng bát nhã. Ngoài ra, Đại phẩm kinh nghĩa sớ quyển 1 của ngài Cát tạng có nêu ra thuyết Năm Tì đàm: Tự tính, Cộng hữu, Phương tiện, Cảnh giới và Văn tự. Trong đó, Cảnh giới tì đàm tương đương với Thực tướng bát nhã, Tự tính tì đàm tương đương với Quán chiếu bát nhã và Văn tự tì đàm tương đương với Văn tự bát nhã... [X. Kim cương kinh toản yếu san định kí Q.2; Đại minh tam tạng pháp số Q.20; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.1, phần đầu; Bát nhã tâm kinh hội sớ liên châu kí Q.thượng; Nhân vương kinh sớ pháp hành sao Q.thượng].

Ngũ chủng Bất hoàn

xem A-na-hàm.

ngũ chủng bất hoàn

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm loại bất hoàn hay ngũ chủng Na Hàm—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five kinds of anagamins (Na Hàm) who never return to the desire-real: Trung Gian Bát Niết Bàn: Thánh giả bất hoàn chết ở Dục giới rồi vãng sanh về Sắc giới—The “less-than-half-timer”—The anagamin who enters on the intermediate stage between the realm of desire and the higher realm of form. Sinh Bát Niết Bàn: Đã sanh ra trong cõi Sắc giới thì không bao lâu sau sẽ đoạn lìa tất cả mọi phiền não còn sót lại—The “more-than-half-timer”—The anagamin who is born into the form world and soon overcome the remains of illusions. Hữu Hạnh Bát Niết Bàn: Đã sanh vào cõi bất hoàn một thời gian sau khi tinh tấn tu tập sẽ đi đến quả vị cuối cùng là Niết Bàn—The “gainer with exertion”—The anagamin who diligently works his way through the final stage. Vô Hạnh Bát Niết Bàn: Đã sanh vào cõi bất hoàn mà không chịu tinh tấn tu hành thì quả vị cuối cùng sẽ bị trì hoản—The “gainer without exertion”—The anagamin whose final departure is delayed through lack of aid and slackness. Thượng Lưu Bát Thú A-Ca-Ni-Sa: Người đã sanh vào cõi bất hoàn đi từ Hạ Thiên tiến lên Thượng Thiên để cuối cùng đạt đến cứu cánh Niết Bàn—He who goes upstreamto the highest—The anagamin who proceeds from lower to higher heavens into nirvana. ; (五種不還) Cũng gọi Ngũ chủng A na hàm, Ngũ bất hoàn quả, Ngũ chủng ban. Chỉ cho 5 bậc thánh quả Bất hoàn được phân loại theo căn cơ lợi độn và chứng quả A la hán trước hay sau. Đó là: 1. Trung ban (Phạm: Antaraparivinvàyin): Bậc Thánh đã chứng quả Bất hoàn lúc bỏ thân ở cõi Dục sinh lên cõi Sắc, trong giai đoạn Trung hữu chứng quả A la hán và được ban Niết bàn. Lại chia làm 3 bậc: Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban. 2. Sinh ban (Phạm: Upapadya-pari= nirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh vào cõi Sắc, không bao lâu liền khởi tu Thánh đạo, dứt trừ hoặc nghiệp ở thượng địa (cõi Vô sắc) mà vào Niết bàn. 3. Hữu hành ban (Phạm: Sàbhisaô= skàra-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh lên cõi Sắc, trải qua thời gian lâu dài, siêng tu gia hạnh mà được ban Niết bàn. 4. Vô hành ban (Phạm: Anabhisaô= skara-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh lên cõi Sắc, nhưng chưa thể gia công dụng hạnh, phải trải qua thời gian lâu dài mới đoạn trừ được hoặc ở thượng địa mà được ban Niết bàn. 5. Thượng lưu ban (Phạm: Ùrdhva= srota-parinirvàyin): Bậc Thánh quả Bất hoàn sinh vào trời Sơ thiền của cõi Sắc, từ đó dần dần sinh lên đến cõi trời Sắc cứu cánh, hoặc đến cõi trời Hữu đính mà ban Niết bàn. Lại được chia làm 2 loại là Nhạo tuệ và Nhạo định. Nhạo tuệ là ưa thích trí tuệ, tu các thiền định để sinh lên tầng trời Sắc cứu cánh là nơi cao nhất của cõi Sắc mà vào Niết bàn. Nhạo định là ưa thích thiền định, nhưng không tu lẫn lộn các tĩnh lự khác, dần dần sinh lên cõi trên, cuối cùng sinh lên tầng trời Hữu đính, là nơi cao nhất của cõi Vô sắc mà vào Niết bàn. Thượng lưu ban này lại chia làm 3 loại: Toàn siêu ban, Bán siêu ban và Biến một ban. Ngoài ra, Trung ban và Thượng lưu ban mỗi loại lại lập riêng ra 3 thứ, rồi hợp chung với Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban nói ở trên thì thành là 9 loại Bất hoàn. Nếu chỉ lập riêng Thượng lưu ban làm 3 loại và hợp chung với 4 loại trước thì gọi là Thất thiện sĩ thú. Nhưng theo luận Đại tì bà sa quyển 115 thì chỉ lập riêng Trung ban làm 3 thứ là Tốc ban, Phi tốc ban và Kinh cửu ban, rồi hợp chung với 4 Ban còn lại trong 5 loại Bất hoàn mà gọi là Thất thiện sĩ thú. Lại nữa, trong Ngũ chủng bất hoàn, 3 thứ Sinh ban, Hữu hành ban và Vô hành ban hợp chung lại làm 1 Sinh ban, rồi cộng với Trung ban và Thượng lưu ban mà gọi là Tam chủng ban. Hoặc Ngũ chủng bất hoàn thêm vào Vô sắc ban, Hiện ban thì thành Thất chủng bất hoàn. Trong đó, 5 loại từ Trung ban cho đến Thượng lưu ban nhập Niết bàn ở cõi Sắc, Vô sắc ban vì từ trong Thượng lưu ban lập riêng ra, cho nên ban Niết bàn ở cõi Vô sắc. Còn Hiện ban thì nhập tịch ở cõi Dục. [X. kinh Tạp a hàm Q.27; kinh Trung a hàm Q.2, 30; kinh Tọa thiền tam muội Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.174, 175; luận Câu xá Q.24]. (xt. Thất Thiện Sĩ Thú, Cửu Chủng Bất Hoàn).

ngũ chủng bất nam

Pandakas (skt)—Năm loại bất nam—Five kinds of impotent males or eunuchs: Sinh Bất Nam: Impotent male by birth. Kiền Bất Nam: Bị thiến mất nam căn—Impotent male by emasculation. Đồ Bất Nam: Loại thấy người khác dâm là xuất tinh khí—Impotent male by uncontrollable emission. Biến Bất Nam: Loại gặp nam thì nữ căn khởi, mà gặp nữ thì nam căn khởi—Hermaphrodite. Bán Bất Nam: Loại chỉ dùng được nam căn trong nửa tháng—Impotent for half a month.

ngũ chủng bất năng nam

(五種不能男) Cũng gọi Ngũ chủng bất nam, Ngũ chủng hoàng môn (Phạm: Paĩca paịđakà#). Chỉ cho 5 hạng người không có nam căn (bộ phận sinh dục của đàn ông) hoặc nam căn không được hoàn bị. Cứ theo luật Thập tụng quyển 21 thì 5 hạng người ấy là: 1. Sinh bất năng nam, cũng gọi Sinh bất nam, Sinh hoàng môn (Phạm: Jàtipaịđaka). Sinh ra đã không thể làm dâm. 2. Bán nguyệt bất năng nam, cũng gọi Bán bất nam, Bán nguyệt hoàng môn (Phạm: Pakwa-Paịđaka): Nửa tháng có khả năng làm dâm, nửa tháng không có khả năng làm dâm. 3. Đố bất năng nam, cũng gọi Đố bất nam, Đố hoàng môn (Phạm: Ìrwyapaịđaka): Thấy người khác làm dâm sinh ghen mà nổi lòng dâm. 4. Tinh bất năng nam, cũng gọi Biến bất nam, Biến hoàng môn, Bão sinh hoàng môn, Xúc bão hoàng môn (Phạm: Àsaktapràdurbhàvì-paịđaka): Lúc làm dâm thì nam căn biến mất. 5. Bệnh bất năng nam, cũng gọi Kiện bất nam, Kiện hoàng môn, Hình tàn hoàng môn (Phạm: Àpat-paịđaka): Tức do nam căn bị bệnh mà cắt bỏ. Luận Câu xá quyển 15 thì chia Hoàng môn làm 2 loại là Phiến sỉ (Phạm:Waịđha) và Bán trạch ca (Phạm:Paịđaka), Phiến sỉ là người không có nam căn, lại chia ra 2 thứ là Bản tính phiến sỉ (sinh ra đã không có nam căn) và Tổn hoại phiến sỉ (do nam căn bị bệnh mà cắt bỏ). Bán trạch ca là người có nam căn nhưng không đầy đủ, cũng chia ra 3 loại: Tật đố, Bán nguyệt và Quán sái. Trong đó, Bản tính phiến sỉ tương đương với Sinh bất nam, Tổn hoại phiến sỉ tương đương với Bệnh bất nam, Tật đố bán trạch ca tương đương với Đố bất nam, Bán nguyệt bán trạch ca tương đương với Bán nguyệt bất nam, Quán sái bán trạch ca tương đương với Tinh bất năng nam. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 8 thì gọi chung 5 loại Bất nam là Bán trạch ca, tức là: Sinh tiện bán trạch ca, Tật đố bán trạch ca, Bán nguyệt bán trạch ca, Quán sái bán trạch ca và Trừ khử bán trạch ca. Còn riêng loại Phiến sỉ thì chỉ được dùng để chỉ cho người không có nam căn. Những người phiến sỉ và bán trạch ca này đều không được xuất gia thụ giới Cụ túc. [X. luật Tứ phần Q.35; luật Ma ha tăng kì Q.23; luận Thuận chính lí Q.9; luận Câu xá Q.3; Pháp hoa văn cú kí Q.9, phần đầu; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3; Câu xá luận quang kí Q.3; Huyền ứng âm nghĩa Q.24; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối].

ngũ chủng bất phiên

Năm loại từ ngữ chẳng phiên dịch được do Ngài Huyền Trang đời Đường quy định—Five kinds of terms which Hsuan-Tsang did not translate but transliterated: Bí Mật Chi: Vì huyền bí thâm mật nên không phiên dịch được mà chỉ phiên âm như Chú Đà La Ni—The Esoteric—Cannot be translated such as Dharani mantras. Hàm Đa Nghĩa: Vì nhiều nghĩa nên không dịch được mà chỉ phiên âm—Those with several meanings. Thử Phương Sở Vô: Những thứ không có nơi nầy (Trung Hoa) nên không dịch được mà chỉ phiên âm—Those without equivalent in China. Thuận Theo Cổ Lệ: Có thể phiên dịch được, nhưng vì muốn theo cổ lệ nên giữ nguyên chữ mà chỉ phiên âm—Old-established terms. Vi Sinh Thiện: Muốn làm cảm động người nghe để họ phát thiện tâm nên không phiên dịch—Those which would be less impressive when translated. ; (五種不翻) Có 5 trường hợp không phiên dịch mà phải giữ âm tiếng Phạm, khi dịch 1 bản kinh tiếng Phạm ra Hán văn. Đây là 5 nguyên tắc do Đại sư Huyền trang đời Đường đặt ra để làm mẫu mực cho người dịch kinh đời sau noi theo. Đó là: 1. Vì bí mật: Như các Đà la ni (thần chú) trong kinh là lời nói bí mật của chư Phật, sâu xa mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn nên không dịch nghĩa. 2. Một chữ bao hàm nhiều nghĩa: Như từ Bạc già phạm (Phạm: Bhagavad) có 6 nghĩa: Tự tại, xí thịnh, đoan nghiêm, danh xưng, cát tường, tôn quí... vì thế không thể chọn 1 nghĩa nào để phiên dịch. 3. Vì ở Trung quốc không có: Như cây Diêm phù (Phạm: Jambu) mọc ở Ấn độ, ở Trung quốc không có loại cây này, cho nên phải giữ nguyên âm. 4. Theo thông lệ từ xưa: Như A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Phạm: Anuttarasamyak-saôbodhi), nghĩa là Vô thượng chính đẳng chính giác, nhưng từ đời Đông Hán trở về sau, các nhà dịch kinh đều chỉ phiên âm, vì muốn giữ lại qui thức của người xưa nên không dịch. 5. Vì lòng tôn trọng: Như các từ Bát nhã, Thích ca mâu ni, Bồ đề tát đỏa... không dịch là trí tuệ, năng nhân, đạo tâm chúng sinh... là vì muốn cho mọi người giữ ý niệm tôn trọng, nếu dịch rõ ra sẽ bị coi nhẹ. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20; bài tựa trong Phiên dịch danh nghĩa tập]. (xt. Dịch Kinh).

ngũ chủng bất sinh

(五種不生) Năm trường hợp không phải sinh vào. Tức là 5 thứ lợi ích mà hàng Thượng nhẫn vị đạt được. Đó là: 1. Sinh bất sinh: Đã được phi trạch diệt, không còn phải sinh vào các loài đẻ trứng, đẻ ở nơi ẩm ướt. 2. Xứ bất sinh: Không phải sinh vào cõi trời Vô tưởng, cõi trời Đại phạm hay Bắc câu lô châu. 3. Thân bất sinh: Không thụ sinh các thân: Phiến sỉ (không có nam, nữ căn, tức bộ phận sinh dục nam hay nữ), Bán trạch ca (nam căn không đầy đủ), Nhị hình (có cả 2 nam và nữ căn). 4. Hữu bất sinh: Đã được phi trạch diệt nên không còn phải thụ sinh lần thứ 8 ở cõi Dục và sinh lần thứ 2 ở cõi Sắc. 5. Hoặc bất sinh: Kiến hoặc đã bị trừ diệt hết sạch, không còn sinh khởi lại được nữa. [X. luận Câu xá Q.23].

ngũ chủng bất thoái

(五種不退) Năm thứ không lui mất. Tức là 5 thứ công đức giúp người đã sinh về Tịnh độ vĩnh viễn không lui mất tâm bồ đề. 1. Đại bi nhiếp trì bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ, nhờ được nguyện lực đại bi của đức Phật A di đà nhiếp giữ nên họ không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 2. Phật quang chiếu xúc bất thoái: Người đã sinh về Tịnh độ, thường được hào quang của Phật soi sáng, cho nên họ không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 3. Thường văn pháp âm bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ, thường được nghe tiếng pháp do chim, nước, cây rừng diễn nói nên không bao giờ lui mất tâm bồ đề. 4. Thiện hữu đồng cư bất thoái: Chúng sinh đã sinh về Tịnh độ cùng được làm bạn với các vị Bồ tát ở cõi ấy, cho nên trong không có phiền não hoặc nghiệp trói buộc, ngoài không có ác duyên tà ma quấy nhiễu, cho nên vĩnh viễn không lui mất tâm bồ đề. 5. Thọ mệnh vô lượng bất thoái: Người đã sinh về Tịnh độ thì tuổi thọ vô lượng, cho nên không bao giờ lui mất tâm bồ đề. [X. luận Tịnh độ thập nghi].

ngũ chủng bất ứng thí

(五種不應施) Có 5 thứ vật không nên đem cho (bố thí) người khác. Tức là: 1. Của cải và vật dụng bất hợp pháp. 2. Rượu và thuốc độc. 3. Lưới, bẫy, cung, nỏ... là những thứ dụng cụ dùng để bắt chim, thú. 4. Dao, gậy, cung, tên. 5. Âm nhạc, nữ sắc. [X. Pháp uyển châu lâm Q.18].

ngũ chủng bố thí

Năm loại bố thí—The five kinds of almsgiving or danas: Thí cho kẻ ở phương xa lại: Alsmgiving to those from afar (a distance). Thí cho kẻ sắp đi xa: Almsgiving to those going afar (going to a distance). Thí cho kẻ bịnh tật ốm đau: Almsgiving to the sick. Thí cho người đói khát: Almsgiving to the hungry. Thí trí huệ và đạo đức cho người: Almsgiving to those wise in Buddhist doctrine. ; (五種布施) Năm đối tượng cần được bố thí. 1. Người từ xa đến. 2. Người sắp ra đi. 3. Người đau yếu gầy ốm. 4. Người đang đói khát. 5. Người có pháp trí tuệ. [X. Chư kinh yếu tập Q.11].

ngũ chủng chánh hành

See Ngũ Chánh Hạnh.

ngũ chủng chánh sắc

See Ngũ Chánh Hạnh.

ngũ chủng cúng dường

Five kinds of offerings—See Ngũ Cúng Dường.

ngũ chủng cố tư

(五種故思) Cũng gọi Ngũ chủng cố tư nghiệp. Chỉ cho 5 thứ nghiệp được tạo tác một cách cố ý. Đó là: 1. Bị người khác sai khiến và sau khi suy nghĩ, thực hiện ý định. 2. Bị người khác khuyến khích, tuy mình không muốn, nhưng lại thấy có lợi, nên suy tính rồi thực hiện việc làm. 3. Do không hiểu biết mà làm, nghĩa là tùy theo sở thích, suy nghĩ kĩ rồi bắt đầu thực hiện hành động. 4. Do tham, sân, si che lấp, cố ý đạt cho được mục đích mong muốn mà làm việc ác. 5. Do vọng kiến phân biệt điên đảo, ưa thích tà pháp, cầu mong đời sau được sinh lên cõi trời, nên cố ý làm việc bất thiện. Năm thứ Cố tư nghiệp trên, 3 loại trước thuộc nghiệp nhẹ, là nghiệp bất định, cũng gọi Bất tăng trưởng nghiệp, nên không hẳn phải chịu quả báo dị thục. Còn 2 loại sau là nghiệp nặng, là nghiệp quyết định, cũng gọi Tăng trưởng nghiệp, nhất định phải chịu quả báo dị thục. [X. luận A tì đạt ma tập Q.4; luận A tì đạt ma tạp tập Q.7]. (xt. Cố Tư Nghiệp).

ngũ chủng duy thức

Năm loại Duy Thức—Five kinds of wisdom or insight or idealistic representation in the sutras and sastras (the first four are objective and the fifth is subjective): Cảnh Duy thức: Căn cứ vào cảnh mà thuyết về Duy Thức—Wisdom or insight in objective conditions. Giáo Duy thức: Giải thích về Duy Thức—Wisdom or insight in interpretation. Lý Duy thức: Luận về thành tựu đạo lý Duy Thức—Wisdom or insight in principles. Hành Duy thức: Nói rõ quán pháp của Duy Thức—Wisdom or insight in meditation and practice. Quả Duy thức: Nói về diệu cảnh giới của Phật quả—Wisdom or insight in the fruits or results of Buddhahood. ; (五種唯識) I. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm thứ Duy thức do ngài Từ ân thuộc tông Pháp tướng căn cứ vào các nghĩa Duy thức được trình bày trong các kinh luận mà lập ra. 1. Cảnh duy thức: Theo cảnh sở quán để thuyết minh nghĩa Duy thức, như thí dụ Nhất xứ tứ kiến (cùng 1 cảnh mà có 4 cái thấy khác nhau) nói trong kinh A tì đạt ma. 2. Giáo duy thức: Căn cứ vào ngôn giáo năng thuyên để nói rõ về nghĩa Duy thức, như ý chỉ duy thức tâm nói trong các kinh như kinh Giải thâm mật v.v... 3. Lí duy thức: Căn cứ vào lí Duy thức đã được các kinh luận thành tựu mà nói về lí chuyển biến của Duy thức. 4. Hành duy thức: Nương vào pháp quán Duy thức được nói trong kinh luận để thuyết minh Bồ tát y cứ vào Tứ tầm tư, Tứ như thực trí... mà tư duy quán xét lí Duy thức. 5.Quả duy thức: Căn cứ vào cảnh giới vi diệu của quả Phật được thuyết minh trong kinh luận để nói rõ do tư duy quán xét lí Duy thức mà được quả trí vô lậu. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Duy thức nghĩa chương Q.3, phần đầu; Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Thành duy thức luận xu yếu Q.thượng, phần đầu]. II. Ngũ Chủng Duy Thức. Năm nghĩa Duy thức của tông Pháp tướng. 1. Tự tướng: Tám thức là tự thể của thức. 2. Tương ứng: Sáu loại (vị) tâm sở là tương ứng của thức. 3. Sở biến: Kiến phần, Tướng phần của tâm và tâm sở là sở biến của thức. 4. Phần vị: Pháp bất tương ứng là phần vị giả lập của tâm, tâm sở và của sắc pháp do thức biến ra. 5. Thực tính: Pháp vô vi là thực thể của tâm, tâm sở, sắc pháp và bất tương ứng pháp. [X. luận Thành duy thức Q.7].

ngũ chủng dục vọng

Five types of desire—See Ngũ Dục.

ngũ chủng gia dự

(五種嘉譽) Năm từ ngữ khen ngợi người tu pháp môn niệm Phật. 1. Nhân trung hảo nhân: Người tốt trong loài người. 2. Nhân trung diệu hảo nhân: Người tâm đức tốt đẹp trong loài người. 3. Nhân trung thượng thương nhân: Người bậc cao thượng trong loài người. 4. Nhân trung hi hữu nhân: Người hiếm có trong loài người. 5. Nhân trung tối thắng nhân: Người hơn hết trong loài người. Kinh Quán vô lượng thọ thì ví hành giả niệm Phật như hoa phân đà lợi. Hoa phân đà lợi là hoa sen trắng, loại hoa tôn quí nhất trong các loài hoa; cho nên người niệm Phật là người đáng quí nhất trong loài người. [X. kinh Niết bàn Q.18 (bản Bắc); Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ Q.4; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].

ngũ chủng hành

(五種行) I. Ngũ Chủng Hạnh. Năm hạnh của vị Pháp sư nói trong phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa quyển 4, tức là: Thụ trì, đọc tụng, giải thích, viết chép. [X. Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư). II. Ngũ Chủng Hạnh. Năm chính hạnh của hành giả Tịnh độ: 1. Chính hạnh đọc tụng. 2. Chính hạnh quán sát. 3. Chính hạnh lễ bái. 4. Chính hạnh xưng danh. 5. Chính hạnh tán thán, cúng dường. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Ngũ Chính Hạnh).

ngũ chủng hạnh

See Ngũ Chủng Pháp Sư.

ngũ chủng hộ ma

Five kinds of braziers. 1-4) From one to four—See Hộ Ma (2). 5) Kính Ái Hộ Ma: Được sự thương yêu hộ trì của chư Phật và chư Bồ Tát—To obtain the loving protection of the Buddhas and Bodhisattvas.

ngũ chủng kim cang sứ

See Ngũ Đại Sứ Giả.

ngũ chủng kết giới tướng

(五種結界相) Năm loại tướng kết giới. Theo luật qui định, khi các vị tỉ khưu cử hành nghi thức Bồ tát thuyết giới hoặc kết hạ an cư, phải kết giới trước khi cử hành. Tùy theo hình tướng của khu vực kết giới mà chia làm 5 loại giới tướng là: 1. Phương tướng: Chỗ kết giới có hình vuông. 2. Viên tướng: Chỗ kết giới có hình tròn. 3. Cổ hình tướng: Chỗ kết giới có hình cái trống. 4. Bán nguyệt hình tướng: Chỗ kết giới có hình bán nguyệt. 5. Tam giác tướng: Chỗ kết giới có hình tam giác. Năm loại tướng kết giới này, nếu 4 phía của khu vực kết giới mà 1 phía có dòng sông chảy, thì lấy nước chảy làm giới tướng, nếu không có nguồn nước hoặc nước không thường chảy thì không được. Hoặc dùng cây làm giới tướng, nếu cây khô mục và không nối liền nhau thì không được. Hoặc dùng con đường làm giới tướng, nếu đường bị cắt đứt thì cũng không được. Hoặc dùng tảng đá làm giới tướng, nhưng nếu đá nằm rải rác cũng không được. Nếu không có dòng nước, gốc cây... thì phải dựng đá hoặc trồng cây ở 4 bên khu vực kết giới để làm tướng kết giới. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 2; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Kết Giới).

ngũ chủng linh

The five kinds of bells—See Ngũ Linh. ; (五種鈴) Năm loại linh (chuông nhỏ): Linh 1 chĩa, linh 3 chĩa, linh 5 chĩa, linh báu, linh tháp, gọi chung là Kim cương linh, 1 trong những loại pháp khí của Mật giáo. Linh biểu thị nghĩa thuyết pháp, 5 loại linh này biểu thị 5 trí, 5 Phật thuyết pháp. Theo Nhân vương kinh pháp thì 5 loại linh này được sử dụng khi tu hành đại pháp trên đàn tràng, hành giả để linh 5 chĩa trên mâm kim cương đặt ở phía đông, linh báu đặt ở phía nam, linh 1 chĩa đặt ở phía tây, linh 3 chĩa đặt ở phía bắc, linh tháp tức là pháp được đặt ở chính giữa. (xt. Kim Cương Linh).

ngũ chủng lực

(五種力) Năm nguyện lực của đức Phật A di đà: Uy thần lực cùng với mãn túc lực, minh liễu lực, kiên cố lực và cứu cánh lực được mở ra từ Bản nguyện lực của giai vị tu nhân. Theo sự giải thích của ngài Tuệ viễn trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển hạ, thì Uy thần lực là uy lực hiện tại của Vô lượng thọ Như lai; Bản nguyện lực của giai vị tu nhân là Tổng (chung), 4 nguyện còn lại là Biệt (riêng). Trong đó, Mãn túc nguyện là tâm nguyện tròn đủ, Minh liễu nguyện là tâm nguyện hiển lộ rõ ràng, Kiên cố nguyện là tâm nguyện không thể bị các duyên làm hư hoại. Cứu cánh nguyện là tâm nguyện vĩnh viễn không trở lui. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng, Tán A di đà Phật kệ].

ngũ chủng ma

The five kinds of Maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.

ngũ chủng na hàm

See Ngũ Chủng Bất Hoàn

ngũ chủng ngôn thuyết

(五種言說) Năm loại ngôn thuyết. 1. Tướng ngôn thuyết: Ngôn thuyết do chấp trước các tướng sắc, thanh v.v... mà phát sinh. 2. Mộng ngôn thuyết: Ngôn thuyết do nương theo cảnh giới hư vọng chẳng thật hiện ra trong giấc mộng mà phát sinh. 3. Chấp trước ngôn thuyết: Ngôn thuyết do nghĩ đến các việc đã nghe, đã làm ở quá khứ mà phát sinh. 4. Vô thủy ngôn thuyết: Ngôn thuyết do chấp trước hí luận và nương theo sự huân tập chủng tử phiền não từ vô thủy đến nay mà phát sinh. 5. Như nghĩa ngôn thuyết: Ngôn thuyết phát sinh đúng như nghĩa, giải rõ ý chỉ không khác. Trong 5 thứ ngôn thuyết trên đây, 4 thứ trước là do hư vọng mà thốt ra, cho nên không nói được lí chân thực. Còn ngôn thuyết thứ 5 là thực thuyết, cho nên nói được chân lí. Bồ tát Mã minh đã y cứ vào 4 loại ngôn thuyết trước mà chủ trương rằng chân như lìa tướng ngôn thuyết. [X. luận Thích Ma ha diễn Q.2; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.thượng].

ngũ chủng ngưu vị

xem năm món chế biến từ sữa.

ngũ chủng nhân ngã kiến

(五種人我見) Năm thứ tà chấp do nhân kiến, ngã kiến sinh khởi. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín thì 5 thứ nhân ngã kiến ấy là: 1. Chấp hư không là tính Như lai. 2. Chấp tính chân như Niết bàn là không vô. 3. Chấp Như lai tạng có tự tướng sắc pháp, tâm pháp khác nhau. 4. Chấp tự thể của Như lai tạng có đầy đủ hết thảy nhiễm pháp sinh tử của thế gian. 5. Chấp Niết bàn của Như lai chứng được cuối cùng sẽ hết, sau khi hết trở lại làm chúng sinh. [X. Khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.5].

ngũ chủng nhất thừa

(五種一乘) Năm loại nhất thừa do tông Hoa nghiêm dựa theo Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo mà lập ra. Đó là: 1. Biệt giáo nhất thừa: Pháp môn nói Nhất thừa vô tận, khác xa với các thừa khác, cho nên gọi Biệt giáo nhất thừa. Đây là lập theo Viên giáo. 2. Đồng giáo nhất thừa: Pháp môn nói Nhất thừa đồng với Tam thừa, Tam thừa cũng đồng với Nhất thừa, cho nên gọi là Đồng giáo nhất thừa. Đây cũng lập theo Viên giáo. 3. Tuyệt tưởng nhất thừa: Pháp môn Ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt, các tưởng đều dứt, không có năng thừa và sở thừa, vì thế gọi là Tuyệt tưởng nhất thừa. Đây là lập theo Đốn giáo. 4. Phật tính nhất thừa, cũng gọi Phật tính bình đẳng nhất thừa: Pháp môn nói tổng quát cả Phật tính, trung đạo, chân vọng, vì thế gọi là Phật tính nhất thừa. Đây là lập theo Chung giáo. 5. Mật ý nhất thừa, cũng gọi Mật nghĩa ý nhất thừa: Pháp môn nói về việc hiển rõ Tam thừa chân thực và giấu kín Nhất thừa phương tiện, cho nên gọi là Mật ý nhất thừa. Đây là lập theo Thủy giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương tùy lộ kí Q.16].

ngũ chủng niệm tụng

(五種念誦) Năm loại niệm tụng của Mật giáo. Thông thường, các kinh và nghi quĩ chỉ nêu có 4 loại niệm tụng, riêng Bí tạng kí và Kim cương giới đối thụ kí là nêu ra 5 loại niệm tụng. Năm loại niệm tụng ghi trong Bí tạng kí là: 1. Liên hoa niệm tụng: Cách niệm tụng mà tiếng tụng chỉ nghe ở lỗ tai mình, cách tụng này được dùng trong Liên hoa bộ. 2. Kim cương niệm tụng: Cách tụng thầm, miệng ngậm, chỉ hơi động đầu lưỡi. Cách này được sử dụng trong Kim cương bộ. 3. Tam ma địa niệm tụng: Cách niệm tụng không động lưỡi, chỉ niệm thầm trong tâm. Cách này dùng trong Phật bộ. 4. Thanh sinh niệm tụng, cũng gọi Sinh niệm tụng: Quán tưởng Thương khư (Phạm: Zaíkha, vỏ sò trắng) trên tâm hoa sen, lại quán tưởng từ Thương khư phát ra âm thanh mầu nhiệm, giống như rung chuông thành tiếng, rồi theo âm thanh ấy mà tụng niệm. Đây là pháp tụng niệm của Yết ma bộ. 5. Quang minh niệm tụng, cũng gọi Quang niệm tụng: Tưởng niệm ánh sáng từ trong miệng phóng ra, chiếu soi khắp pháp giới mà trì tụng. Đây là cách niệm tụng của Bảo bộ. Còn 5 loại niệm tụng ghi trong Kim cương giới đối thụ kí là: Thanh, Kim cương, Tam ma địa, Chân thực (cũng gọi Thực tướng) và Phẫn nộ. Bốn loại trước giống với 4 cách niệm tụng: Âm thanh, Kim cương, Tam ma địa và Chân thực của pháp Kim cương giới. Còn Phẫn nộ niệm tụng thì bên trong trụ nơi tâm từ bi, bên ngoài hiện tướng mạnh bạo, dữ tợn, nhíu mày, trợn mắt, phát tiếng giận dữ mà trì tụng, giống như pháp niệm tụng Hàng ma. [X. Kim cương giới đại pháp đối thụ kí Q.8]. (xt. Tứ Chủng Niệm Tụng).

ngũ chủng nạp y

(五種衲衣) Năm loại áo của các vị tăng sĩ Phật giáo: 1. Áo có thí chủ. 2. Áo không có thí chủ. 3. Áo may bằng vải bọc xác chết. 4. Áo người chết. 5. Áo phẩn tảo.

ngũ chủng pháp

(五種法) Cũng gọi Ngũ chủng thành tựu pháp. Năm loại pháp tu của Mật giáo. Tức là pháp Tức tai, pháp Tăng ích, pháp Hàng phục, pháp Kính ái và pháp Câu triệu. Theo Du già hộ ma quĩ, nếu đem 5 pháp trên đây phối hợp với 5 trí, 5 bộ thì Phật bộ là pháp Tức tai, Kim cương bộ là pháp Hàng phục, Bảo bộ là pháp Tăng ích, Liên hoa bộ là pháp Kính ái và Yết ma bộ là pháp Câu triệu. (xt. Ngũ Chủng Tu Pháp).

ngũ chủng pháp giới

See Ngũ Pháp Giới.

ngũ chủng pháp sư

Năm loại Pháp Sư—The five kinds of masters of the Law: Thụ Trì Pháp Sư: Ghi nhớ và trì giữ không quên: Receives and keeps. Đọc Kinh Pháp Sư: Pháp sư chuyên nhìn vào kinh mà đọc—Reads. Tụng Kinh Pháp Sư: Pháp sư đã thuộc kinh không cần đọc mà vẫn tụng được—Recites. Giảng Thuyết Pháp Sư: Pháp sư có khả năng đem các lời kinh Phật mà giảng giải cho người khác—Expounds. Thư Tả Pháp Sư: Pháp sư chuyên ghi chép lại kinh điển để truyền bá—Copies the sutra. ** For more information, please see Ngũ Chánh Hạnh. ; (五種法師) Cũng gọi Ngũ pháp sư. Năm bậc pháp sư có khả năng hoằng dương Phật pháp. 1. Thụ trì pháp sư: Người có khả năng tiếp nhận, tin tưởng vững chắc và nhớ giữ không quên lời dạy của Như lai được ghi chép trong các kinh luận. 2. Độc kinh pháp sư: Người có khả năng đọc văn kinh không nhầm lẫn. 3. Tụng kinh pháp sư: Người có khả năng tụng kinh thuộc lòng, không cần có văn kinh trước mặt. 4. Giải thuyết pháp sư: Người có khả năng truyền dạy và giải thích những câu văn trong kinh. 5. Thư tả pháp sư: Người có khả năng viết chép văn kinh để lưu truyền rộng rãi trong thế gian. Ngoài ra, luận Đại trí độ quyển 56 nêu ra 6 bậc Pháp sư. Và phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm liệt kê 7 bậc Pháp sư gồm: Thụ trì, Thuyết thoại, Giải thuyết, Thân cận, Thư tả, Kí ức và Đổ kiến. [X. phẩm Pháp sư kinh Pháp hoa; Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu; Pháp hoa sớ tuệ quang kí Q.52]. (xt. Lục Chủng Pháp Sư, Pháp Sư).

ngũ chủng pháp thân

Năm loại pháp thân của Phật—The five kinds of a Buddha's dharmakaya: Theo trường phái Thiên Thai—According to the T'ien-T'ai Sect: ; (五種法身) Chỉ cho 5 loại pháp thân của đức Phật. Có các thuyết khác nhau như sau: I. Ngũ Chủng Pháp Thân. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 4 nêu 5 loại pháp thân là: 1. Pháp tính sinh thân: Pháp tính này thể vốn tròn sáng, thường trụ, bao trùm muôn vật, thân Như lai từ đó sinh ra. 2. Công đức pháp thân: Như lai lấy công đức muôn hạnh làm nhân mà thành tựu quả Pháp thân. 3. Biến hóa pháp thân: Pháp thân Như lai không có cảm nào mà không thông, không 1 cơ nào mà không ứng, giống như vừng trăng trên vạn dòng sông, tùy theo nước mà hiện bóng, bóng tuy có khác nhưng trăng vốn là một. 4. Hư không pháp thân: Pháp thân Như lai dung thông 3 đời, bao trùm cõi đại thiên, 1 tính tròn sáng, mảy bụi không dính. 5. Thực tướng pháp thân: Pháp thân Như lai lìa các hư vọng, hội nhập chân như, không sinh không diệt. II. Ngũ Chủng Pháp Thân. Theo kinh Bồ tát anh lạc thì 5 loại pháp thân là: 1. Như như trí pháp thân: Thực trí chứng lí như như. 2. Công đức pháp thân: Hết thảy công đức 10 lực, 4 vô úy. 3. Tự pháp thân: Ứng thân của bồ tát Địa thượng ứng hiện; tông Thiên thai gọi là Thắng ứng thân, tông Pháp tướng gọi là Tha thụ dụng thân trong Báo thân. 4. Biến hóa pháp thân: Tức là Liệt ứng thân theo tông Thiên thai và Biến hóa thân theo tông Pháp tướng. 5. Hư không pháp thân: Lí như như giống như hư không, xa lìa tất cả các tướng. Trong 5 loại pháp thân trên, Như như trí pháp thân và Công đức pháp thân thuộc về Báo thân, Tự pháp thân và Biến hóa pháp thân thuộc về Ứng thân, còn Hư không pháp thân thì chính là Pháp thân. Nhưng tất cả được gọi chung là Pháp thân là vì đều mang đức tướng của Pháp thân. (xt. Pháp Thân). III. Ngũ Chủng Pháp Thân. Năm loại Pháp thân do Mật giáo lập. Tức là Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa, Đẳng lưu và Lục đại pháp than (Pháp giới thân). (xt. Pháp Thân). IV. Ngũ Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Tự tính pháp thân, Tự thụ dụng pháp thân, Tha thụ dụng pháp thân, Biến hóa pháp thân và Đẳng lưu pháp thân. V. Ngũ Chủng Pháp Thân. Chỉ cho Giới thân, Định thân, Tuệ thân, Giải thoát thân và Giải thoát tri kiến thân. (xt. Ngũ Phần Pháp Thân).

ngũ chủng phạm âm

(五種梵音) Năm thứ âm thanh trong sạch của Đại phạm thiên vương. Tức là: Chính trực, hòa nhã, thanh triệt (trong suốt), thâm mãn và chu biến viễn văn (khắp nơi đều nghe thấy). Đại Phạm thiên vương nhờ có tu tập thiền định, giới hạnh thanh tịnh, tâm lìa dục nhiễm nên mới có được 5 thứ tiếng thanh tịnh này. [X. kinh Trường a hàm Q.5; Đại minh tam tạng pháp số Q.22].

ngũ chủng quyến thuộc

(五種眷屬) Năm loại quyến thuộc. Cứ theo Pháp hoa huyền nghĩa quyển 6, phần cuối, thì Như lai nói pháp phải nhờ các duyên, duyên ấy tức là những người nghe pháp, nghe rồi nhờ pháp mà trở nên gần gũi, liền thành quyến thuộc. Có 5 thứ: 1. Lí tính quyến thuộc: Lí tính của chư Phật và chúng sinh là bình đẳng, tự nhiên liên quan với nhau, cho nên tất cả chúng sinh dù chưa từng nghe pháp cũng được gọi là quyến thuộc. 2. Nghiệp sinh quyến thuộc: Nhờ nghiệp thiện nghe pháp ở quá khứ nên lại được sinh vào thời đại có Phật, nghe pháp được độ. 3. Nguyện sinh quyến thuộc: Xưa kia nhờ nghe pháp kết duyên, nhưng chưa được chứng quả, từng phát thệ nguyện, chỉ nhằm đắc đạo; nay nhờ nguyện trước, gặp Phật nghe pháp. 4. Thần thông quyến thuộc: Đời trước gặp Phật, phá trừ mê hoặc, thấy được chân lí, nay sinh nơi khác, nhân việc Phật ra đời, dùng sức thần thông sinh đến cõi này, giúp Phật giáo hóa chúng sinh. 5. Ứng sinh quyến thuộc: Bồ tát đã phá trừ vô minh hoặc nghiệp, đã chứng được pháp thân liền có khả năng giáo hóa, nên ứng hiện vào sinh tử, dẫn dắt chúng sinh, khiến họ hướng về Phật đạo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.13].

ngũ chủng quán đảnh

Năm loại quán đảnh—The five abhisecani baptisms of the esoteric school: Quán đảnh dành cho A Xà Lê (Giáo thọ sư): Abhisecani baptism for ordaining acaryas, teachers or preachers of the Law. Quán đảnh dành cho thu nhận đệ tử: Abhisecani baptism for admitting disciples. Quán đảnh dành cho chấm dứt tai ương, khổ đau và tội lỗi: Abhisecani baptism for putting an end to calamities or suffering for sins. Quán đảnh dành cho sự tiến bộ và thành công: Abhisecani baptism for advancement or success. Quán đảnh dành cho việc kiểm soát những thói hư tật xấu: Abhisecani baptism for controlling evil spirits or getting rid of difficulties. ** For more information, please see Ngũ Chủng Tu Pháp. ; See Ngũ Chủng Tu Pháp.

ngũ chủng quả

(五種果) Phạm: Paĩca phalàni. Cũng gọi Ngũ quả. I. Ngũ Chủng Quả. Năm thứ quả hữu vi, vô vi do 6 nhân sinh ra và đạo lực chứng được: 1. Đẳng lưu quả (Phạm: Niwyandaphala): Chúng sinh do tạo nghiệp ác, ưa thích điều ác, thì nghiệp ác chuyển nhiều, kết thành quả ác; trái lại, nếu tu nghiệp thiện, ưa thích điều thiện, thì nghiệp thiện chuyển nhiều, kết thành quả thiện. Quả theo nghiệp chuyển, nghiệp và quả giống nhau, cho nên gọi là quả Đẳng lưu. Quả này do nhân Đồng loại và nhân Biến hành trong 6 nhân mà có được. 2. Dị thục quả (Phạm: Vipàka-phala): Chúng sinh do tạo nghiệp ác ở đời hiện tại mà chịu quả khổ ở đời vị lai; cũng thế, nhờ gây nghiệp thiện ở đời này mà được hưởng quả vui trong đời sau. Vì quả báo khác thời nên gọi là quả Dị thục (quả chín khác thời). Quả này do nhân Di thục trong 6 nhân mà có được. 3. Li hệ quả (Phạm: Visaôyogaphala): Quả vô vi, nhờ vào đạo lực Niết bàn mà chứng được, xa lìa tất cả phiền não trói buộc (li hệ). Pháp này thường trụ, không phải từ 6 nhân sinh ra, chỉ do đạo lực mà chứng được. 4. Sĩ dụng quả (Phạm: Puruwakàraphala). Sĩ dụng là do người bỏ sức ra làm lụng để mà dùng. Nghĩa là các pháp trong thế gian, tùy theo lực dụng tạo tác của mỗi hạng người mà được kết quả khác nhau. Như người nông dân nhờ cày cấy mà thu hoạch thóc lúa, người buôn bán nhờ hàng hóa mà được lời lãi... cho nên gọi là Sĩ dụng quả. Quả này do các nhân Câu hữu và Tương ứng trong 6 nhân mà có được. 5. Tăng thượng quả (Phạm:Adhipatiphala): Các căn và thức do chủ thể và đối tượng hòa hợp mà thành tựu tác dụng nhận thức, cho nên 6 căn đều có sức tăng thượng thù thắng. Như căn mắt tuy có tính thấy nhưng nếu không có thức mắt (chủ thể) duyên cảnh (đối tượng) thì không thể sinh ra tác dụng nhận thức, vì thế gọi là Tăng thượng quả. Quả này là do nhân Năng tác trong 6 nhân mà có. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Đại tì bà sa Q.121; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.15]. II. Ngũ Chủng Quả. Năm thứ quả chứng khác nhau của Nhị thừa. Tức là quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán và quả Độc giác. [X. kinh Niết bàn Q.21 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.hạ, phần 4; Tam luận danh giáo sao Q.1]. (xt. Ngũ Quả Hồi Tâm).

ngũ chủng sám hối

(五種懺悔) Năm phương thức sám hối. Cứ theo kinh Quán Phổ hiền hành pháp, nếu các bậc quốc vương, đại thần muốn sám hối, thì phải tu hành 5 việc: 1. Bất tất lễ bái, ưng thường ức niệm đệ nhất nghĩa không: Nghĩa là không cần câu nệ việc lễ tụng, mà phải giữ tâm nhớ nghĩ chính lí, không phỉ báng Tam bảo, không làm não hại người tu phạm hạnh. 2. Hiếu dưỡng phụ mẫu, cung kính sư trưởng: Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính bậc thầy, thì không phạm tội trái đạo lí. 3. Chính pháp trị quốc, bất tà uổng nhân dân: Dùng đạo chính thuận để sửa nước an dân, thường phải dạy dân kính tin Tam bảo, giữ giới tu thiện, không được dùng pháp luật gian ác làm oan khuất nhân dân. 4. Ư lục trai nhật sắc chư cảnh nội linh hành bất sát: Vào 6 ngày trai dạy dân trong cả nước không được sát sinh, khiến cho toàn quốc thường được phúc lành và hưởng yên vui lâu dài. 5. Thâm tín nhân quả, tri Phật bất diệt: Hành vi là nhân, cảm báo là quả, nếu tin sâu nhân quả thì không dám làm điều ác; nếu biết pháp thân thường trụ, thì không sinh kiến chấp đoạn diệt.

ngũ chủng sắc pháp

(五種色法) Năm loại sắc pháp. Tổng quát các pháp làm 12 xứ, rồi thu nhiếp vào pháp xứ để làm đối tượng khách quan của ý xứ, gồm có 5 thứ gọi là Ngũ chủng sắc pháp. Đó là: Cực lược sắc, Cực quýnh sắc, Thụ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc và Định sở sinh tự tại sắc. (xt. Pháp Xứ Sở Nhiếp Sắc).

ngũ chủng tam muội

Năm loại Tam muội—Five kinds of samadhi: Tứ Thiền Bát Định trong luân hồi sanh tử: On mortality, four meditations and eight concentrations. Thanh Văn Tứ Đế: Sravaka on the four truths (axioms). Duyên Giác Thập Nhị Nhơn Duyên: Pratyeka-buddha on the twelve nidanas. Bồ Tát Lục Độ Vạn Hạnh: Bodhisattva on the six paramitas and ten thousand good practices. Phật Thừa bao trùm tất cả: The Buddha-vehicle which includes all others.

ngũ chủng tam muội da

(五種三昧耶) Chỉ cho 5 loại Tam muội da của tông Chân ngôn. Tam muội da nghĩa là thệ nguyện, cũng tức là giới pháp không được trái phạm. Năm Tam muội da theo thứ tự là: 1. Sơ kiến tam muội da: Mới được thấy Tam muội da, ở bên ngoài cách xa đàn tràng lễ bái Mạn đồ la, đem hương hoa để cúng dường, chưa được trao cho chân ngôn và ấn khế. 2. Nhập đổ tam muội da: Được đưa vào đàn Mạn đồ la và trông thấy chỗ ngồi của Mạn đồ la, nếu muốn thỉnh chân ngôn và ấn khế thì được theo ý muốn mà trao cho. 3. Cụ đàn tam muội da: Vị A xà lê đặc biệt vì người này mà làm Mạn đồ la, tâu trình các vị tôn và ấn... đồng thời trao chân ngôn, thủ ấn và các hành pháp cho họ. 4. Truyền giáo tam muội da: Hành giả có khả năng nương theo các pháp tắc của môn Chân ngôn mà tu trì, đồng thời đã biết đủ các phương tiện mà duyên đàn cần có, xứng đáng ở vào địa vị làm thầy, thì vị A xà lê liền cử hành nghi lễ truyền giáo Mạn đồ la cho. 5. Bí mật tam muội da: Trong đàn bí mật thụ quán đính đúng như pháp, đã vào đàn này thì sinh được trí bí mật, thấy hết ấn đàn phối vị như giáo pháp đã nói. Đến đời sau, 5 loại Tam muội da trên đây được phối hợp với pháp Quán đính: Sơ kiến tam muội da là Mạn đồ la cúng, Nhập đổ tam muội da là Kết duyên quán đính, Cụ đàn tam muội da là Thụ minh (Học pháp) quán đính, Truyền giáo tam muội da là Truyền pháp quán đính và Bí mật tam muội da là Dĩ tâm quán đính. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.15; Bồ đề tâm nghĩa Q.3; Đại nhật kinh sớ sao Q.3; Nhũ vị sao Q.15].

ngũ chủng tam muội đạo

(五種三昧道) Năm loại Tam muội: Tông Chân ngôn đem chia tất cả Tam muội làm 5 thứ thân Hỉ kiến tùy loại của đức Đại nhật Như lai vì nhiếp hóa hết thảy chúng sinh mà hiện ra. 1. Phật địa tam muội đạo: Phát tâm Bồ đề cùng tột, ở trong tất cả Tam muội đạo tinh tiến vững mạnh, Bồ tát Nhất sinh bổ xứ trụ trong Phật địa tam muội đạo, thực hành Đại không tam muội đạo, xa lìa hí luận vi tế, biết rõ các pháp thế gian vốn từ nhân duyên sinh khởi, trụ ở nghiệp địa, cũng an trụ vững chắc trong Phật địa. 2. Bồ tát tam muội đạo: Bồ tát Bát địa tự tại, không chấp trước hết thảy vì hiểu rõ tất cả đều huyễn hóa, cho nên được người đời gọi là bậc Quán tự tại. 3. Thanh văn tam muội đạo: Trụ ở 9 tưởng, 8 bối xả, 8 thắng xứ, 3 tam muội v.v... biết rõ nghĩa nhân duyên sinh diệt, xa lìa đoạn kiến, thường kiến, trí quán sát tột bậc, đạt được cái nhân tu hành chẳng tùy thuận. 4. Duyên giác tam muội đạo: Quán xét 12 nhân duyên, thấu suốt thực tướng của pháp nhân duyên, nhưng vì trí tuệ chưa được vô ngại, nên trụ ở pháp vô ngôn thuyết mà không chuyển vô ngôn thuyết, đối với tất cả pháp chứng Tam muội dứt bặt ngôn ngữ.5. Thế gian tam muội đạo: Tu các Tam muội 4 thiền, 8 định của thế gian, người tu hành không hiểu được nghĩa nhân duyên 1 cách chân chính, quán xét nhân quả và nghiệp của thế gian đều thuộc về thần ngã hoặc Phạm thiên... [X. phẩm Cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.2; Đại nhật kinh sớ Q.6; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.14].

ngũ chủng tam quy

Năm giai đoạn quy y—There are five stages of taking refuges: (A) Quy Y Phật: Take refuge in the Buddha. Quy Y Pháp: Take refuge in the Dharma. Quy Y Tăng: Take refuge in the Sangha. Quy Y Bát giới: Take refuge in the eight commandments. Quy Y Thập giới: Take refuge in the Ten commandments. The five modes of trisarana, or formulas of trust in the Triratna, taken by those who: Phiên tà: Turn from heresy. Trì ngũ giới: Take the five commandments. Trì bát giới: Take the eight commandments. Trì Thập giới: Take the ten commandments. Trì cụ túc giới: Take the complete commandments.

ngũ chủng tam thừa

(五種三乘) Năm loại Tam thừa do tông Hoa nghiêm căn cứ vào 5 giáo: Tiểu thừa, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo mà lập ra. 1. Thủy biệt chung đồng tam thừa: Thiết lập theo Tiểu thừa giáo. Sự khởi đầu của Tiểu thừa giáo là Thanh văn tu 4 đế, Duyên giác tu 12 nhân duyên, Bồ tát tu 6 độ, nhân hạnh của 3 thừa tuy khác nhau, nhưng cuối cùng đều có thể dứt trừ hết Kiến hoặc và Tư hoặc trong 3 cõi mà chứng quả A la hán như nhau. 2. Thủy chung câu biệt tam thừa: Thiết lập theo Thủy giáo. Thủy giáo lập nên chủng tính khác nhau, nhân tu hành (đế, duyên, độ) của 3 thừa đều khác nhau, cuối cùng chỉ có Bồ tát thành Phật, còn Nhị thừa định tính thì nhập Niết bàn Vô dư (khôi thân diệt tri). 3. Thủy chung câu đồng tam thừa: Thành lập theo Chung giáo. Tam thừa Chung giáo lúc còn tu nhân đều có Phật tính Như lai tạng bình đẳng, đồng tu 6 độ, cùng học Bát nhã, cuối cùng đều thành Phật.4. Thủy chung câu li tam thừa: Thành lập theo Đốn giáo. Đốn giáo lấy dứt tưởng làm tông chỉ. Tam thừa từ đầu đến cuối đều xa lìa tưởng tâm duyên và tướng ngôn thuyết, vì thế gọi là Thủy chung câu li (đầu cuối đều lìa). 5. Thủy chung câu đồng tam thừa: Thành lập theo Viên giáo. Viên giáo ở thời kì tu nhân thì hợp 3 về 1, rõ biết pháp Tam thừa mà mình chứng được đều nương nơi giáo pháp Nhất thừa vô tận mà có, cuối cùng đều thành Phật. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.16].

ngũ chủng tam đế

(五種三諦) Năm loại Tam đế do tông Thiên thai thành lập. Tức là: 1. Biệt giáo cách lịch tam đế, cũng gọi Thứ đệ tam đế, Biệt tướng tam đế. Tính chất đặc biệt của 3 đế (Không đế, Giả đế, Trung đế) này là ngăn cách không dung thông, Không chẳng phải Giả, Trung; Giả chẳng phải Không, Trung; Trung chẳng phải Không, Giả. Người tu hành trước hết phải chứng Không đế, rồi tiến đến chứng Giả đế, sau cùng mới chứng Trung đế, không phải chứng một là chứng tất cả. Đây là 3 đế cách biệt của Biệt giáo. 2. Viên giáo viên dung tam đế, cũng gọi Bất thứ đệ tam đế, Phi tung phi hoành tam đế. Tính chất đặc biệt của 3 đế này là viên dung không ngăn ngại. Tức là theo đức dụng mà chia làm 3: Không, Giả, Trung, nhưng thể của chúng thì chỉ là một, viên dung nhau không trở ngại. Đây là Tam đế viên dung của Viên giáo. 3. Biệt tiếp Thông tam đế: Căn cơ được tiếp dẫn từ chân đế và tục đế của Thông giáo mà phát hiện Trung đế, Trung đạo được nhận biết là Đãn trung (chỉ là Trung, chứ chẳng dung Không, Giả). 4. Viên tiếp Thông tam đế: Căn cơ được tiếp dẫn như trên, cũng từ chân đế và tục đế của Thông giáo mà phát hiện Trung đế, nhưng Trung đạo được nhận biết ở đây là Bất đãn trung(chẳng những chỉ là Trung mà còn dung hàm cả Không và Giả). 5. Viên tiếp Biệt tam đế: Từ 3 đế cách biệt của Biệt giáo mà phát hiện Trung đế, Trung đế ở đây cũng là Bất đãn trung. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, phần cuối, Q.3, phần đầu, Q.5, phần đầu].

ngũ chủng tham

Theo Thanh Tịnh Đạo, có năm loại tham—According to The Path of Purification, there are five kinds of avarice: Tham đối với chỗ ở: Avarice about dwellings. Tham đối với quyến thuộc: Avarice about families. Tham đối với lợi lộc: Avarice about gain. Tham đối với pháp: Avarice about Dharma. Tham đối với tiếng khen: Avarice about praise.

ngũ chủng thiên

Năm loại chư Thiên—Five classes of devas Từ 1 đến 3 cũng giống như trong Tam Chủng Thiên: From 1 to 3 are similar to that of the three classes of devas—See Tam Chủng Thiên. ; (五種天) Chỉ cho 5 thứ thiên (trời): 1. Thế gian thiên: Chỉ cho bậc vua chúa thế gian, như gọi Thiên tử. 2. Sinh thiên: Chỉ cho các cõi trời mà chúng sinh có thể sinh đến được, như từ cõi trời Tứ vương đến cõi trời Phi tưởng. 3. Tịnh thiên: Chỉ cho các bậc Thánh từ quả Dự lưu đến Bích chi phật. 4. Nghĩa thiên: Chỉ cho hàng Bồ tát từ giai vị Thập trụ trở lên có khả năng hiểu được nghĩa thâm diệu của Đại thừa. 5. Đệ nhất nghĩa thiên: Chỉ cho Niết bàn của Phật chứng được. [X. kinh Niết bàn Q.18, 22 (bản Bắc)].

ngũ chủng thiền

The five varieties of meditation. Phàm Phu Thiền: Thiền phàm phu dành cho tất cả mọi người, giúp ta tập trung và kiểm soát tâm, là loại thiền không chứa đựng nội dung triết lý hay tôn giáo. Thiền phàm phu là thứ thiền thực hành thuần túy vì tin rằng nó có thể cải thiện sức khỏe tinh thần lẫn thể xác. Tuy nhiên, dù thiền phàm phu có ích lợi rất nhiều trong việc tu tập hơn là đọc vô số sách đạo đức triết học, vẫn không thể giải quyết được vấn đề nền tảng của con người và mối tương quan của con người và vũ trụ, vì nó không thể phá vỡ được cái mê hoặc cơ bản về chính mình của hạng người thường, là mình rõ ràng khác với vũ trụ—Ordinary Zen for anybody and everybody, which help people learn to concentrate and control their mind, being free from any philosophic or religious content. Ordinary is a pure Zen practice, in the belief that it can improve both physical and mental health. However, the fact remains that ordinary Zen, although far more beneficial for the cultivation of the mind than the reading of countless books on ethics and philosophy, is unable to resolve the fundamental problem of man and his relation to the universe, because it cannot pierce the ordinary man's basic delusion of himself as distinctly other than the universe. ; (五種禪) I. Ngũ Chủng Thiền. Chỉ cho 5 thứ thiền định: Tứ niệm xứ, Bát bối xả (quán), Cửu thứ đệ định(luyện), Sư tử phấn tấn tam muội (huân) và Siêu việt tam muội (tu). Trong đó, Tứ niệm xứ là Sở quán, 4 thứ còn lại là Năng quán. II. Ngũ Chủng Thiền. Năm loại thiền do ngài Khuê phong Tông mật, Tổ thứ 5 của tông Hoa nghiêm phân biệt:1. Ngoại đạo thiền. 2. Phàm phu thiền. 3. Tiểu thừa thiền. 4. Đại thừa thiền. 5. Tối thượng thừa thiền (cũng gọi Như lai thanh tịnh thiền, Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội).

ngũ chủng thiện căn phát tướng

(五種善根發相) Năm thứ tướng công đức do ngồi thiền mà phát được. 1. Tức đạo thiện căn phát tướng: Người tu hành quán đếm hơi thở được thành tựu thì lúc thiền định lòng an vui mà phát ra căn lành. Chia làm 2 loại: a) Biết quán đếm hơi thở thì phát các tướng căn lành. b) Biết theo dõi hơi thở thì phát tướng căn lành thù thắng. 2. Bất tịnh quán thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định khởi niệm bất tịnh quán, xả bỏ chỗ thương yêu đắm đuối mà phát thiện căn. Chia làm 3 loại: a) Tu pháp Cửu tướng thì sẽ phát thiện căn.b) Tu pháp Bối xả sẽ phát thiện căn. c) Tu pháp Đại bất tịnh thì sẽ phát thiện căn.3. Từ tâm thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định khởi tâm từ bi, vào sâu trong định phát ra căn lành thanh tịnh.4. Nhân duyên quán thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định sinh khởi chính kiến, xa lìa tà kiến đoạn, thường, tâm sinh pháp hỉ mà phát thiện căn. 5. Niệm Phật thiện căn phát tướng: Người tu hành ở trong thiền định, nhớ nghĩ công đức tướng hảo của Phật mà phát thiện căn thanh tịnh. [X. Tu tập chỉ quán tọa thiền pháp yếu].

ngũ chủng thiện tính

(五種善性) Năm thứ tính thiện của người phàm phu do ngài Thiện đạo chỉ ra trong Quán niệm pháp môn. Đó là: 1. Khi nghe chính pháp liền bỏ ác làm thiện. 2. Bỏ tà làm chính. 3. Bỏ hư làm thực. 4. Bỏ trái làm phải. 5. Bỏ ngụy làm chân. Năm hạng người này gọi là Tự tính thiện nhân (Người tốt bẩm sinh). Ngài Thân loan người Nhật bản dựa theo đây mà chia tính thiện làm 5 thứ là Thiện tính, Chính tính, Thực tính, Thị tính và Chân tính. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng]. (xt. Thiện).

ngũ chủng thuyết nhân

The five kinds of those who have testified to Buddhism: (A) Phật tự khẩu thuyết: The Buddha. Phật đệ tử thuyết: Đệ tử Phật thuyết pháp—Buddhist disciples. Bậc Hiền triết thuyết hay tiên nhân thuyết: The sages. Bậc Thánh nhân hay chư Thiên thuyết: The saints—Devas. Hóa nhân hay Phàm phu thuyết: The incarnated beings. Theo Kinh Hoa Nghiêm—According to the Flower Adornment Sutra: Phật thuyết: The Buddha. Bồ Tát thuyết: Bodhisattvas. Thanh văn thuyết: Sravakas (hearers). ; (五種說人) Năm hạng người có khả năng thuyết pháp. I. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Theo luận Đại tri độ quyển 2 thì 5 hạng người có khả năng thuyết pháp là: Phật, đệ tử Phật, tiên nhân, chư thiên và hóa nhân. Quán kinh huyền nghĩa phần quyển 1 của ngài Thiện đạo thì liệt kê: Phật thuyết, Thánh đệ tử thuyết, Thiên tiên thuyết, quỉ thần thuyết, và biến hóa thuyết. Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí quyển 4 thì nêu: Duy ma sở thuyết, Bát nhã chuyển giáo, Pháp hoa lãnh giải... tức do các Thánh đệ tử nói. Còn trong các kinh ghi Phạm thiên, Đế thích... thuyết pháp tức là chư thiên nói. Bà tẩu trong Phương đẳng tức là do tiên nhân nói. Địa thần trong kinh Kim quang minh, 10 La sát trong kinh Pháp hoa... tức là do quỉ thần nói. Trong 4 hạng người trên đây, người ẩn nguyên hình của mình đi, biến hóa ra thể khác để nói pháp, tức là do Biến hóa nói, như lúc đức Phật nhập Niết bàn, ngài Kiêu phạm ba đề biến hóa làm nước mà nói kệ. Bốn loại người nêu trên khi nói pháp, nếu được đức Phật ấn khả, thì đều gọi là Phật thuyết. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; Đại A la hán nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tịnh ảnh)]. II. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Cũng gọi Ngũ loại thuyết. Kinh Hoa nghiêm chia những người có khả năng thuyết pháp làm 5 loại, tức là: 1. Phật: Như các phẩm A tăng kì, phẩm Tướng hảo trong kinh Hoa nghiêm là do đức Phật nói. 2. Bồ tát: Như các phẩm Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng v.v... kinh Hoa nghiêm đều do các Bồ tát nói. 3. Thanh văn: Phần đầu của phẩm Nhập pháp giới, kinh Hoa nghiêm là các bậc Thanh văn nói. 4. Chúng sinh: Như các thiện hữu nêu trong kinh Hoa nghiêm tức là chúng sinh nói pháp. 5. Khí thế giới: Như cây Bồ đề, thuộc khí thế giới, cũng có khả năng diễn nói pháp âm. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. (xt. Ngũ Loại Thuyết Pháp]. III. Ngũ Chủng Thuyết Nhân. Năm hạng người có khả năng nói chân ngôn. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 7 thì 5 loại người có khả năng nói chân ngôn là: Như lai, Bồ tát Kim cương, Nhị thừa, Chư thiên và Địa cư thiên. Trong đó, Địa cư thiên là chỉ cho các loài rồng, chim, tu la... [X. Đại tì lô giá na thành Phật kinh văn thứ đệ; Đại nhật kinh sớ sao Q.2].

ngũ chủng thuyết pháp

(五種說法) Cũng gọi Như lai ngũ chủng thuyết pháp. Năm thứ lực dụng thuyết pháp của Như lai. 1. Ngôn thuyết lực: Đức Như lai tuy dùng âm thanh ngôn ngữ nói ra các pháp 3 đời, thế gian, xuất thế gian, có tội không có tội, hữu lậu vô lậu... nhưng lời nói của Ngài là pháp tính bất hoại và cũng không chấp trước vào đó. 2. Tùy nghi lực: Như lai tùy theo căn cơ của chúng sinh mà nói các giáo pháp thiên, viên, tiệm, đốn khiến cho tất cả đều được hiểu rõ. 3. Phương tiện lực: Như lai dùng các phương tiện 1 cách khéo léo để thuyết pháp, như nói bố thí thì được giàu to, giữ giới được sinh lên cõi trời... khiến cho chúng sinh tu theo đó mà thoát khổ được vui. 4. Pháp môn lực: Như lai nói các pháp sâu xa mầu nhiệm, khiến chúng sinh ra khỏi sinh tử, đến cảnh giới thanh tịnh giải thoát. 5. Đại bi lực: Như lai thấy chúng sinh chấp trước các thứ vọng kiến vọng tình nên sinh khởi 32 thứ tâm đại bi, đối với người chấp không thì nói có, đối với người sân hận thì nói từ bi, khiến cho tất cả chúng sinh thoát khỏi mọi nỗi khổ não. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].

ngũ chủng thuận thụ

(五種順受) Chỉ cho 5 thứ thuận thụ. 1. Tự tính thuận thụ: Chỉ cho tất cả các Thụ. Tức lấy tâm sở Thụ (cảm nhận) làm thể, bao gồm 3 thụ, 5 thụ, thông cả 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Vì thuận với tự tính nên gọi là Tự tính thuận thụ. 2. Tương ứng thuận thụ: Chỉ cho tất cả sự tiếp xúc. Tức lấy tâm sở Xúc làm thể, xúc và thụ ứng nhau, cho nên gọi là Tương ứng thuận thụ. 3. Sở duyên thuận thụ: Chỉ cho tất cả cảnh. Tức lấy 6 cảnh sắc, thanh v.v... làm thể, cảnh sở duyên thuận với thụ năng duyên, cho nên gọi là Sở duyên thuận thụ. 4. Dị thục thuận thụ: Chỉ cho cảm nghiệp dị thục. Tức lấy nghiệp nhân chiêu cảm tất cả quả dị thục làm thể, nghiệp cảm dị thục thuận với quả dị thục, tức Thuận lạc thụ nghiệp, Thuận khổ thụ nghiệp, Thuận bất khổ bất lạc thụ nghiệp v.v... đều được gọi là Dị thục thuận thụ. 5. Hiện tiền thuận thụ: Chỉ cho Chính hiện hành thụ. Tức lấy Chính hiện hành thụ làm thể, chỉ thuận với hiện tại. [X. luận Câu xá Q.15; luận Đại tì bà sa Q.115].

Ngũ chủng thô trọng

五種麤 (麁) 重; C: wǔzhǒng cūzhòng; J: goshu sojū;|Năm ý nghĩa thô trọc, nặng nề, yếu đuối và khúc mắc của phiền não, đó là: 1. Hiện trọng tướng (現重相); 2. Cương cường tướng (剛強相); 3. Chướng ngại tướng (障碍相); 4. Khiếp liệt tướng (怯劣相); 5. Vô năng lực tự tại tướng (無能力自在相; theo Du-già luận 瑜伽論).

ngũ chủng thông

See Ngũ Thông. ; (五種通) Cũng gọi Ngũ thông. Chỉ cho 5 năng lực của 3 nghiệp thân, khẩu, ý thông dụng vô ngại và có thể biến hóa 1 cách tự tại. Đó là: 1. Đạo thông: Do chứng ngộ lí thực tướng trung đạo mà có được, như thông lực vô ngại của Bồ tát. 2. Thần thông: Do tĩnh tâm tu thiền mà được, như thông lực tự tại của các vị A la hán. 3. Y thông: Nhờ linh đan và phù chú mà được, như thông lực tự tại biến hóa của thần tiên. 4. Báo thông, cũng gọi Nghiệp thông. Tức nương vào quả báo mà tự có, như thông lực biến hóa của các vị trời. 5. Yêu thông: Chỉ cho thông lực biến hóa 1 cách quái gở của các loài yêu tinh, như cáo, chồn sống lâu năm hoặc các cây cổ thụ thành tinh. [X. Tông kính lục Q.15; Đại tạng pháp số Q.27].

ngũ chủng thông kinh

(五種通經) Năm phương thức để lưu thông kinh điển và hoằng dương Phật pháp, đó là: Thụ trì, đọc, tụng, giải thích và viết chép. Đây tức là 5 hạnh của vị Pháp sư. [X. Pháp hoa văn cú Q.8, phần đầu]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Sư).

ngũ chủng thậm thâm

(五種甚深) Chỉ cho 5 cảnh giới chân như lí trí rất sâu xa mà đức Phật đã chứng được. Năm cảnh giới ấy là: 1. Nghĩa thậm thâm: Nghĩa chủng trí của Như lai sâu xa, mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn. 2. Thực thể thậm thâm: Lí thể thực tướng của Như lai, chẳng không chẳng có, không phải 1 không phải khác, chẳng thể nghĩ bàn. 3. Nội chứng thậm thâm: Tất cả trí tuệ của Như lai sâu xa vô lượng, khó hiểu khó vào, không thể nghĩ bàn. 4. Y chỉ thậm thâm: Pháp thể chân như của Như lai bao trùm hết thảy mọi chỗ, không nhơ không sạch, chẳng đổi chẳng dời, không thể nghĩ bàn. 5. Vô thượng thậm thâm: Cảnh giới Vô thượng chính đẳng chính giác mà Như lai đã ngộ nhập là chỗ không thể nghĩ bàn.

ngũ chủng tinh tiến

(五種精進) Năm thứ tinh tiến. Tinh tiến tức là tâm lí và hành vi mạnh mẽ, hăng hái tu thiện dứt ác. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 6 thì 5 tinh tiến là: 1. Bị giáp tinh tiến: Đầu tiên phát tâm thệ nguyện mạnh mẽ, không sợ bất cứ việc khó làm nào, tu hành các hạnh tối thắng, giống như người trước đội mũ, mặc áo giáp (bị giáp) rồi sau ra trận xông pha, thấy quân địch không sợ hãi. 2. Gia hạnh tinh tiến: Sinh khởi phương tiện vững chắc để sách tấn tâm mình, quyết định dũng mãnh tu hành. 3. Vô hạ tinh tiến: Không tự khinh thường, cũng không sợ hãi, tâm mạnh mẽ, không khiếp nhược. 4. Vô căn tinh tiến: Có khả năng chịu đựng các nỗi khổ như rét mướt, nóng bức, đói khát v.v... 5. Vô túc tinh tiến: Không bằng lòng với những việc thiện nhỏ, mong cầu những công đức tối thắng, tối thượng. [X. luận Du già sư địa Q.89; luận A tì đạt ma tập Q.1; luận Hiển dương thánh giáo Q.1]. (xt. Tinh Tiến).

ngũ chủng tu pháp

Năm loại tu pháp—Five kinds of esoteric ceremonial: Phiến Để Ca: Tức Tai hay Tịch Tai có nghĩa là dập tắt tai họa—Santika (skt)—For stopping calamities. Bố Sắc Trừng Ca: Paustika (skt)—Tăng ích hay Tăng vinh có nghĩa là tăng trưởng—For success or prosperity. A Tỳ Già Lỗ Ca: Điều phục hay hàng phục—Abhicaraka (skt)—For supressing or exorcising. A Yết Sa Ni: Câu triệu hay Nhiếp triệu có nghĩa là vời đến—Akarsani (skt)—For calling or attracting of good beings or aid. Phạt Thi Ca La Nã: Kính ái hay Khánh ái—Vasikarana (skt)—For seeking the aid of Budhas and Bodhisattvas. ; (五種修法) Năm pháp tu Hộ ma của Mật giáo. 1. Phiến để ca (Phạm:Zàntika): Tức tai, Tịch tai. 2. Bố sắt trưng ca (Phạm:Puwỉika): Tăng ích, Tăng vinh. 3. A tì già ro ca (Phạm:Abhicàruka): Điều phục, Hàng phục. 4. A cát sa ni (Phạm: Àkarwaịì): Câu triệu, Nhiếp triệu. 5. Phạt thi ca ra noa (Phạm: Vazì karaịa): Kính ái, Khánh ái. Năm pháp tu này tương ứng với nội chứng của 5 trí và 5 bộ Kim cương giới. Hình dáng, hoa văn và màu sắc của lò hương, cây hộ ma, thời gian bắt đầu, phương hướng và cách ngồi... của mỗi pháp tu đều khác nhau. [X. Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ].

ngũ chủng tán loạn

See Ngũ Tán Loạn. ; (五種散亂) Tán loạn, Phạm: Vikwepa. Năm thứ tán loạn. Tức là: 1. Tự tính tán loạn: Năm thức không giữ được tự tính của chúng, cứ chạy theo cảnh vật bên ngoài, thay đổi từng niệm. 2. Ngoại tán loạn: Ý thức rong ruổi theo ngoại cảnh, sinh khởi các thứ phân biệt. 3. Nội tán loạn: Tâm chợt sinh chợt diệt, niệm niệm trôi chảy không dừng. 4. Thô trọng tán loạn: Vì chấp trước các pháp thô trọng như ngã, ngã sở (ta, của ta) nên không được giải thoát. 5. Tư duy tán loạn: Tâm thấp kém, tức xả bỏ Đại thừa mà nhớ nghĩ Tiểu thừa. Luận Lục môn giáo thụ tập định cũng nêu ra 5 thứ tán loạn: 1. Tâm ngoài tán loạn. 2. Tâm trong tán loạn. 3. Tâm tà duyên tán loạn. 4. Tâm thô trọng tán loạn. 5. Tâm tác ý tán loạn. (xt. Tán Loạn).

ngũ chủng tánh

The five germ-natures or roots of bodhisatva development: Tập Chủng Tánh: Ngôi vị thập trụ, tu tập không quán, phá bỏ các hoặc kiến—The germ-nature of study of the void or immaterial, which corrects all illusions of time and space (Thập trụ). Tánh Chủng Tánh: Ngôi vị thập hạnh, có khả năng phân biệt bản tánh của vạn pháp—The germ-nature of ability to discriminate all the natures of phenomena and transform the living (Thập hạnh). Đạo Chủng Tánh: The middle-way germ-nature, which attains insight into Buddha-laws (Thập hồi hướng). Thánh Chủng Tánh: Ngôi vị thập địa, bồ tát phá bỏ vô minh để đi từ Hiền giả đến Thánh—The saint germ-nature which produces holiness by destroying ignorance (Thập địa in which the bodhisattva leaves the ranks of the sages and becomes the saints). Đẳng Giác Chủng Tánh: Ngôi Bồ Đề có khả năng tiến đến Phật quả—The bodhi-rank germ-nature which produces Buddhahood.

ngũ chủng tín tâm

The five right objects of faith: From one to four: See Tứ Tín Tâm. 5) Ngũ Ba La Mật—The five paramitas: Bố Thí: Almsgiving. Trì Giới: Morality.

ngũ chủng tính

(五種性) Phạm: Paĩca-gotràịi. Cũng gọi Ngũ tính, Ngũ chủng chủng tính, Ngũ thừa chủng tính, Ngũ chủng thừa tính.Chỉ cho 5 thứ chủng tính của chúng sinh. Tông Pháp tướng chia tất cả các loại căn cơ của chúng sinh hữu tình làm 5 thứ để quyết định có thể thành Phật hay không thể thành Phật. Đó là: 1. Thanh văn thừa định tính (Phạm: Sràvakayaønàbhisamaya-gotra), cũng gọi Thanh văn định tính, Định tính thanh văn, Quyết định thanh văn. Là người có đủ hạt giống vô lậu có khả năng chứng quả A la hán.2. Độc giác thừa định tính (Phạm: Pratyekabuddhayaønàbhi-gotra), cũng gọi Bích chi phật thừa tính, Duyên giác định tính, Định tính duyên giác. Là người có đủ hạt giống vô lậu có khả năng chứng quả Bích chi phật. Hai chủng tính trên đây chỉ có hạt giống vô lậu sinh không, cho nên rất nhàm chán sinh tử, chuyên tu pháp tự lợi, ưa sự vắng lặng, chỉ đoạn trừ phiền não chướng, chứng lí sinh không, quyết định được quả của thừa mình mà vào Niết bàn vô dư. Vì 2 chủng tính này không có đủ hạt giống Phật tính, cho nên không thể thành Phật, tức thuộc căn cơ Nhị thừa, vì thế được gọi chung là Nhị thừa định tính. 3. Như lai thừa định tính (Phạm: Tathàgatayaønàbhi-gotra), cũng gọi Như lai thừa tính, Bồ tát định tính, Định tính bồ tát. Là người có đủ hạt giống vô lậu, có khả năng chứng quả Phật. Do sẵn có hạt giống vô lậu sinh không, pháp không, cho nên tu hạnh tự lợi lợi tha, dứt trừ phiền não chướng và sở tri chướng, chứng chân như 2 không (sinh không, pháp không), được diệu quả Bồ đề Niết bàn. Tức vào Vô trụ xứ Niết bàn mà thành quả Đại giác viên mãn cùng tột. Thuộc về căn cơ Đại thừa. 4. Bất định chủng tính (Phạm:Aniya taikatara-gotra), cũng gọi Bất định tính, Tam thừa bất định tính. Người vốn có hạt giống vô lậu sai khác nhau nên chưa quyết định được là thuộc về loại căn cơ nào trong hàng Tam thừa. Bất định chủng tính được chia ra 4 thứ: a) Bồ tát Thanh văn nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả Phật và quả La hán.b) Bồ tát Độc giác nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả Phật và Bích chi phật. c) Thanh văn Độc giác nhị tính bất định: Người có cả 2 hạt giống quả La hán và quả Bích chi phật. d) Thanh văn Độc giác Bồ tát tam tính bất định: Người có 1 lúc cả 3 thứ hạt giống của quả La hán, quả Bích chi phật và quả Phật. 5. Vô tính (Phạm:A-gotra), cũng gọi Vô chủng tính, Vô hữu xuất thế công đức chủng tính, Nhân thiên thừa tính. Nghĩa là người tuy không có hạt giống vô lậu của Tam thừa, nhưng có đủ hạt giống hữu lậu có thể thành tựu quả người, trời... Bốn chủng tính trước gọi là Hữu ban Niết bàn pháp, còn chủng tính Vô tính thì gọi là Vô ban Niết bàn pháp. Chủng tính Vô tính vốn không có hạt giống vô lậu, chỉ có hạt giống hữu lậu, vì thế không sinh khởi trí vô lậu xuất thế, không thể giải thoát khỏi sinh tử, chỉ nhờ tu tập nghiệp lành ở thế gian mà được hưởng quả lành cõi người, cõi trời. Đây gọi là Vô tính xiển đề. Trong 5 tính, thì Định tính Thanh văn, Định tính Duyên giác và Vô tính đều không có hạt giống Phật, rốt ráo không thành Phật, cho nên gọi là Tam vô. Còn Bồ tát định tính và người chứng quả Phật trong Bất định tính thì có hạt giống Phật và quyết định thành Phật, nên gọi Nhị hữu. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa phối hợp 3 thứ cỏ, 2 thứ cây với các loại căn cơ trong 5 tính. Các nhà Duy thức Đại thừa lấy 5 tính khác nhau làm tiền đề mà lập ra thuyết Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện, chủ trương rằng Phật vì chủng tính Thanh văn và Độc giác mà nói pháp Nhị thừa, vì chủng tính Bồ tát mà nói pháp Đại thừa, lại vì dẫn dụ chủng tính Bất định mà phương tiện chỉ nói pháp Nhất thừa. Phật tuy nói Nhất thừa nhưng thực ra có Nhị thừa, Tam thừa khác nhau. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; kinh Đại thừa lăng già Q.2; phẩm Vô tự tướng tính trong kinh Giải thâm mật Q.2; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.1, 5; Phật địa kinh luận Q.2; luận Đại tì bà sa Q.68, 144; luận Phật tính Q.1; luận Du già sư địa Q.21, 52; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu, Q.2, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1]. (xt. Ngũ Tính, Ngũ Tính Thành Phật).

ngũ chủng tăng

(五種僧) Chỉ cho 5 loại tăng. 1. Vô sỉ tăng: Người phá giới cấm mà thân mặc áo pháp. 2. Á dương tăng: Người không thông hiểu 3 tạng kinh, luật, luận, giống như con dê câm (á dương). 3. Bằng đảng tăng: Người thích chơi bời, kinh doanh, tranh đấu, phương tiện khéo léo câu kết bè đảng. 4. Thế tục tăng: Người khéo sống cuộc đời phàm phu, làm cả những việc hợp pháp và phi pháp. 5. Thắng nghĩa tăng: Người học pháp vô học, sự hiểu biết có thừa, biện tài vô ngại, tùy căn cơ mà nói pháp, làm lợi ích cho chúng sinh. Những vị này không làm các việc trái phép, là bậc tối thắng trong chúng tăng.[X. luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.20].

ngũ chủng tăng thượng duyên

Five excellent causes—See Ngũ Duyên. ; (五種增上緣) Cũng gọi Ngũ tăng thượng duyên, Ngũ duyên. Năm thứ duyên tăng thượng của người niệm Phật cầu vãng sinh. 1. Diệt tội tăng thượng duyên, cũng gọi Hiện sinh diệt tội tăng thượng duyên. Niệm danh hiệu đức Phật A di đà làm duyên tăng thượng để tiêu trừ tất cả nghiệp chướng. 2. Hộ niệm đắc trường mệnh tăng thượng duyên, cũng gọi Hộ niệm tăng thượng duyên, Hiện sinh hộ niệm tăng thượng duyên. Tức được đức Phật A di đà, bồ tát Quan thế âm và bồ tát Đại thế chí giữ gìn, che chở. 3. Kiến Phật tăng thượng duyên, cũng gọi Kiến Phật tam muội tăng thượng duyên. Hành giả niệm Phật, nhờ sức bản nguyện của đức A di đà mà được thấy Phật. 4. Nhiếp sinh tăng thượng duyên: Chúng sinh nhờ nguyện lực của Phật A di đà mà được vãng sinh. 5. Chứng sinh tăng thượng duyên: Người niệm Phật, nhờ nguyện lực của Phật, sau khi mệnh chung nhất định được vãng sinh.[X. Quán niệm pháp môn; Quán niệm pháp môn tư kí Q.hạ; luận Thích Tịnh độ quần nghi Q.7; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.3].

ngũ chủng tạng

Tám vạn bốn ngàn pháp môn của Đức Phật có thể được chia ra làm năm tạng (tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh, họ phải dùng một trong năm chủng tạng nầy mà tu tập. Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài quan sát trong hàng đệ tử của Ngài, thấy ai có sở trường chuyên môn nào thì phó chúc giáo pháp cho họ thọ trì và truyền bá, tức là thọ lãnh giáo pháp từ kim khẩu của Đức Phật. Sau khi Đức Phật diệt độ, các vị nầy y theo chánh pháp mà truyền trì diệu lý, như tôn giả A Nan (Ananda) đa văn, thọ trì Tạng Kinh, Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali) thọ trì Tạng Luật, tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana) thọ trì Tạng Luận, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) có đại trí nên thọ trì Bát Nhã Đại Thừa, ngài Kim Cang Thủ Bồ Tát (Vajrapani) được truyền thọ Mật chú Đà La Ni (Dharani), vân vân—The five “stores” or the five differentiations of the one Buddha-nature ; (五種藏) Chỉ cho 5 thứ Như lai tạng được nói trong chương Tự tính thanh tịnh của kinh Thắng man. Theo sự giải thích trong phẩm Tự thể tướng của luận Phật tính quyển 2, thì chân tính có nghĩa của 5 tạng, tức là: 1. Như lai tạng: Tất cả pháp đều không ngoài tự tính của Như lai, cho nên nói các pháp là Như lai tạng. 2. Chính pháp tạng: Các chính pháp như 4 niệm xứ... của tất cả các bậc Thánh đều lấy tính này làm cảnh, cho nên gọi tính này là Chính pháp tạng. 3. Pháp thân tạng: Tất cả thánh nhân đều tin ưa chính tính, nhân dó mà được 4 đức và công đức của hết thảy Như lai nhiều hơn số cát sông Hằng, cho nên gọi tính này là Pháp thân tạng. 4. Xuất thế tạng: Chính tính xa lìa lỗi lầm của tất cả pháp thế gian và chân thực không hư hoại, cho nên gọi tính này là Xuất thế tạng. 5. Tự tính thanh tịnh tạng: Tất cả pháp đều thuận theo chính tính, thì là chính chứ không phải tà, còn nếu các pháp trái ngược lại với tính này thì là tà chứ chẳng phải chính. Thuận theo chính tính là thanh tịnh, trái với chính tính là nhiễm ô, cho nên gọi là Tự tính thanh tịnh tạng. [X. Thắng man kinh bảo quật Q.hạ, phần cuối].

ngũ chủng tạp hạnh

See Nhũ Chánh Hạnh.

ngũ chủng tỉ lượng

(五種比量) Năm phương pháp suy lí. 1. Tướng tỉ lượng: Căn cứ vào tướng trạng của những cái đã thấy mà suy ra những việc khác, như khi thấy khói thì suy ra biết có lửa. 2. Thể tỉ lượng: Từ thể tính này mà suy ra biết thể tính kia, tức dựa vào thể của 1 phần mà suy ra toàn bộ, như lấy hiện tại mà suy ra quá khứ, vị lai. 3. Nghiệp tỉ lượng: Do động tác mà suy ra biết chủ thể của động tác ấy, như thấy lốt chân động vật rộng và dài mà suy ra biết là voi, do vết trườn trên đất mà suy ra biết đó là rắn. 4. Pháp tỉ lượng: Từ sự tương quan của 1 pháp mà suy ra biết chân lí của nó, như thấy có sinh ra thì biết chắc sẽ có chết.5. Nhân quả tỉ lượng: Thấy nhân mà suy ra biết kết quả của nó. [X. luận Hiển dương thánh giáo Q.11].

ngũ chủng tịnh thực

(五種淨食) Năm thứ thức ăn đúng với giới luật qui định của tỉ khưu dùng. 1. Hỏa tịnh thực: Phải dùng thức ăn đã được nấu chín. 2. Đao tịnh thực: Ăn trái cây phải dùng dao gọt vỏ và bỏ hột. 3. Trảo tịnh thực: Ăn trái cây phải dùng móng tay (trảo) lột vỏ. 4. Yên can tịnh thực: Nếu ăn hột trái cây thì chỉ được ăn các hột không còn làm giống được nữa. 5. Điểu trác tịnh thực: Ăn trái cây do chim ăn còn thừa. [X. Tì nại da tạp sự Q.36].

ngũ chủng tổng trì

(五種總持) Tổng trì, Phạm: Dhàraịì. Hán âm: Đà la ni. Cũng gọi Ngũ trì. Năm thứ tổng trì: 1. Văn trì: Nghe âm của 1 chữ mà hiểu được giáo pháp của 5 thừa cũng như sự sai khác giữa Hiển giáo và Mật giáo. 2. Pháp trì: Đối với pháp nắm giữ hết không để sót mất. 3. Nghĩa trì: Đối với nghĩa của các pháp, giữ nhớ hết, không để quên mất. 4. Căn trì: Đối với cảnh sở duyên của 6 căn thu tóm hết mà không có niệm khác. 5. Tạng trì: Thu tóm lí Như lai tạng mà để sót mất. [X. Biện hoặc chỉ nam Q.3; Hiển Mật bất đồng tụng].

ngũ chủng tỷ lượng

Năm phương pháp suy lý trong Phật giáo—The five inferences in Buddhism logic: Tướng Tỷ Lượng: Căn cứ vào thứ đã thấy mà suy lý ra những thứ khác—Inference from appearance (fire from smoke). Thể Tỷ Lượng: Từ bộ phận mà suy ra cái lý của toàn thể—Inference from the corporeal (two or more things from one).

ngũ chủng vô

(五種無) Năm nguyên lí Vô (không) của học phái Thắng luận ở Ấn độ. Học phái Thắng luận chia tất cả sự vật khách quan thành 6 phạm trù lớn như Thực, Đức, Nghiệp v.v... gọi là Lục cú nghĩa(6 nguyên lí). Về sau lại thêm Vô thuyết nữa mà thành Thất cú nghĩa. Vô thuyết (Phạm: Abhàva) nghĩa là chẳng có, không tồn tại. Sáu cú nghĩa trước đều thuộc về cú nghĩa Hữu (có), còn Vô thuyết thì thuộc về cú nghĩa Phi hữu (chẳng phải có). Trong luận Thắng tông thập cú nghĩa, Luận sư Tuệ nguyệt (Phạm: Mati-candra) của học phái Thắng luận có nêu ra 5 thứ cú nghĩa Vô thuyết như sau: 1. Vị sinh vô (Phạm: Pràg-abhàva): Các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp không đầy đủ nên vẫn chưa sinh ra. 2. Dĩ diệt vô (Phạm: Pradhavaô= sàbhàva): Các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp hoặc vì thế lực của nhân đã hết, hoặc do trái duyên mà sinh, nên mặc dù đã sinh thành nhưng cuối cùng cũng sẽ hoại diệt, không tồn tại được. 3. Cánh hỗ vô (Phạm: Anyonyàbhàva): Các nhân duyên Thực (đất, nước, lửa, gió, không, thời gian, phương sở, ngã, ý), Đức, Nghiệp... chẳng tồn tại lẫn cho nhau, như bò chẳng phải ngựa (tức sự tồn tại của bò chẳng phải sự tồn tại của ngựa và ngược lại), cái lọ sành chẳng phải là vải... 4. Bất hội vô: Hữu tính và các nhân duyên Thực, Đức, Nghiệp... không hòa hợp nhau, cho nên rốt cuộc không có. Như nói con thỏ không sừng, tức con thỏ và sừng không hòa hợp nhau. 5. Tất cánh vô (Phạm:Atyantàbhàva): Vì không có nhân nên trong 3 thời quá khứ, hiện tại và vị lai đều không sinh khởi, tức là từ đầu đến cuối đều chẳng có, tuyệt đối không tồn tại. (xt. Thập Cú Nghĩa).

ngũ chủng vấn

(五種問) Năm loại hỏi. Tức là 5 nguyên nhân đặt câu hỏi. Đó là: Vì không hiểu, vì nghi ngờ, định thăm dò thử, tiếp xúc nhẹ nhàng hoặc muốn lợi lạc hữu tình mà hỏi. [X. Du già sư địa luận thích].

ngũ chủng ác bệnh

Năm loại bệnh ngặt nghèo trong thành Vaisali vào thời của Đức Phật—Five epidemics in Vaisali during the Buddha's lifetime: Xuất Huyết Mắt: Bleeding from the eyes. Xuất Mủ Tai: Pus discharged from the ears. Xuất Huyết Mũi: Nose-bleeding. Chứng Cứng Hàm: Chứng khít hàm—Lockjaw. Chứng Táo Bón: Astringent taste of all food. ; (五種惡病) Năm chứng bệnh nguy hiểm lưu hành ở nước Tì xá li lúc đức Phật còn tại thế. Đó là: 1. Hai con mắt đỏ như máu. 2. Hai tai chảy mủ. 3. Lỗ mũi chảy máu. 4. Lưỡi bị cứng đờ nói không thành tiếng. 5. Thức ăn đưa vào miệng trở thành thô ráp khó nuốt. [X. kinh Thỉnh Quan âm; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2].

ngũ chủng ác tính

(五種惡性) Năm hạng người có tính ác. Trong Quán niệm pháp môn, ngài Thiện đạo chia căn tính của phàm phu làm 5 hạng là: 1. Người dè bỉu việc chân thật, làm việc dối trá. 2. Người chê bai việc chính làm việc tà. 3. Người chê bai việc phải làm việc trái. 4. Người chê bai việc thực làm việc hư. 5. Người chê việc thiện làm việc ác. Năm hạng người trên đây gọi là Tự tính ác nhân (bản tính ác). Ngài Thân loan của Nhật bản căn cứ vào đây chia tính ác làm 5 loại: Ác tính, tà tính, hư tính, phi tính và ngụy tính. [X. Ngu ngốc sao Q.thượng].

ngũ chủng đàn pháp

Năm loại tất địa—The five kinds of Mandala ceremonials—See Ngũ Chủng Tu Pháp.

ngũ chủng đại sư công đức

(五種大師功德) Chỉ cho 5 thứ công đức mà các vị Giới sư, Pháp sư phải có đầy đủ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 17 thì 5 công đức ấy là: 1. Giới hạnh vô thất: Kiên trì giới luật do đức Như lai chế định, không để vi phạm. 2. Thiện kiến lập pháp: Giảng giải giới luật 1 cách khéo léo khiến người tu học không trái phạm. 3. Thiện chế lập sở học: Khéo thuyết minh những chỗ nên học trong luật nghi để khỏi sai lầm. 4. Thiện đoạn nghi hoặc: Khéo giảng giải rộng rãi những pháp cần phải học hoặc những chỗ nghi ngờ của mọi người, khiến họ tu trì đúng pháp. 5. Giáo thụ xuất li: Khéo đem giới pháp do đức Như lai chế định truyền dạy cho mọi người, khiến họ thụ trì đúng pháp để thành tựu Thánh đạo, ra khỏi sinh tử.

ngũ chủng đắc thất

(五種得失) Cũng gọi Ngũ thứ tương đối. Chỉ cho 5 thứ tương đối chính hạnh và tạp hạnh của người tu pháp môn Tịnh độ cầu vãng sinh. Đó là: 1. Thân sơ đối: Người tu chính hạnh tán thán, lễ bái và niệm PhậtA di đà, Phật liền thấy, nghe và biết điều đó. Biết nghiệp của Phật và của người niệm Phật gần nhau, nên gọi là Thân duyên. Còn người tu tạp hạnh thì 3 nghiệp của Phật và của người ấy thường xa cách nhau, cho nên gọi là Sơ hạnh. 2. Cận viễn đối: Tâm nguyện được thấy đức Phật A di đà của người tu chính hạnh rất tha thiết, lúc nào cũng tưởng niệm y như đức Phật đang ở trước mắt mình, cho nên gọi là Cận duyên. Còn người tu tạp hạnh thì tâm lơ là, không tha thiết với Phật A di đà, cho nên gọi là Viễn hạnh. 3. Vô gián hữu gián đối: Người tu chính hạnh nhớ tưởng đức Phật A di đà thường không gián đoạn, cho nên là vô gián. Còn người tu tạp hạnh niệm Phật luôn gián đoạn, vì thế là hữu gián. 4. Bất hồi hướng hồi hướng đối: Người tu chính hạnh không dùng hồi hướng riêng biệt mà vẫn tự có đức hồi hướng, thành tựu nghiệp vãng sinh. Còn người tu tạp hạnh thì cần phải có sự hồi hướng mới cảm được nghiệp vãng sinh. 5. Thuần tạp đối: Người tu chính hạnh là hạnh thuần túy Cực lạc nên là thuần. Nhưng người tu tạp hạnh thì chẳng phải hạnh thuần túy Cực lạc, mà còn tạp tu cả nhân thiên, Tam thừa và Tịnh độ ở 10 phương, cho nên là tạp. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].

ngũ chủng độ

(五種土) Năm loại quốc độ được nói trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 7. 1. Duy tính độ: Duy tính tức là thể của pháp tính mà Như lai đã chứng được, nghĩa là bản thể Như lai ngoài thân không có quốc độ, ngoài quốc độ không có thân, thân và độ không khác, chỉ 1 pháp tính. 2. Song mẫn độ: Thân Như lai và quốc độ là 1, dung thông vô ngại, giống như hư không, tính và tướng đều vắng lặng. 3. Câu tính tướng độ: Như lai dùng trí như thực biến hóa ra vô lượng vô biên tướng biển, châu báu trang nghiêm, tùy theo tâm chúng sinh mà hiện bày ra các quốc độ tính, tướng khác nhau. 4. Dung tam thế gian độ: Thân pháp giới của Như lai bao trùm và dung thông trong 3 thế gian (hữu tình thế gian, khí thế gian, trí chính giác thế gian), tất cả chúng sinh, đất nước đều là pháp thân thanh tịnh của Như lai. 5. Tổng nhiếp độ: Mười thân và 4 trí mà Như lai đã chứng, mỗi mỗi đều viên dung gọi là Tính chu biến, nói 1 cõi thì chứa hết thảy cõi, nêu 1 thân thì gồm thu tất cả thân, mọi pháp đều dung nhiếp nhau, không mảy may ngăn ngại.

ngũ chủng ấn

The signs of the five kinds of vision—See Ngũ Nhãn.

ngũ cung dưỡng

(五供養) Cũng gọi Ngũ cúng. Năm vật cúng dường Bản tôn khi tu pháp Nhất tòa Mật giáo. Đó là hương xoa, vòng hoa, hương đốt, thức ăn, uống và đèn. Nếu thêm món nước thơm(át già) nữa thì gọi là Lục cúng dường. Ở đây chia ra Lí cúng dường và Sự cúng dường. Nếu sắp bày đầy đủ các vật cúng ở trên đàn, rồi dùng tam mật gia trì để cúng dường thì gọi là Sự cúng dường. Còn nếu không chuẩn bị vật cúng, chỉ ngồi ngay thẳng quán xét tâm bồ đề, dùng ấn khế và chân ngôn để cúng dường thì gọi là Lí cúng dường. Nếu cúng dường trước khi gia trì Bản tôn thì gọi là Tiền cúng dường; nếu cúng dường sau khi tụng niệm xong, thì gọi là Hậu cúng dường. Ngoài ra, 6 thứ cúng dường nói trên được phối với 6 Ba la mật, tức là nước thơm phối với Đàn ba la mật, hương xoa phối với Giới ba la mật, tràng hoa phối với Nhẫn nhục ba la mật, hương đốt phối với Tinh tiến ba la mật, thức ăn uống phối với Thiền ba la mật và đèn được phối với Bát nhã ba la mật. [X. phẩm Cúng dường trong kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; Lí thú thích Q.hạ; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm tụng thành Phật nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.8; Nhũ vị sao Q.2].

Ngũ cái

五蓋; C: wǔgài; J: gogai;|Chữ Cái cũng được viết là 盖, »Năm loại ngăn che (trí huệ)«. Năm loại phiền não chướng ngại chân tâm: đó là tham dục (貪欲), sân khuể (瞋恚), hôn trầm (沈), điệu hối (掉悔), nghi (疑).

ngũ cái

xem năm pháp ngăn che. ; Năm nắp che hay năm chướng ngại về tinh thần và luân lý khiến chúng sanh chẳng thấy chẳng trì được thiện pháp—Five covers, mental and moral hindrances, which prevent sentient beings from seeing and practicing good deeds. Tham dục: Desire. Sân nhuế: Anger. Thụy miên: Drowsiness. Trạo hối: Sự xao động ăn năn trong tâm—Excitability. ; (五蓋) Phạm: Paĩca àvaraịàni. Cái nghĩa là che lấp, tức chỉ cho 5 thứ phiền não che lấp tâm tính, làm cho pháp lành không sinh ra được. Đó là: 1. Tham dục cái (Phạm: Ràgaàvaraịa): Tham đắm cảnh năm dục (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ), không biết nhàm chán, nên tâm tính bị che lấp. 2. Sân khuể cái (Phạm: Pratighaàvaraịa): Đối trước cảnh trái ý, lòng tức giận nổi lên làm che lấp tâm tính. 3. Hôn miên cái (Phạm: Styànamiddha-àvaraịa), cũng gọi Thụy miên cái: Hôn trầm và buồn ngủ khiến tâm tính li bì, không thể tích cực hoạt động. 4. Trạo cử ác tác cái (Phạm:Auddhatya -kaukftya-àvaraịa), cũng gọi Điệu hí cái, Trạo hối cái, Trạo hí cái. Sự chao động (trạo) của tâm, hoặc lo buồn, ân hận (hối) đối với những việc đã làm, khiến tâm tính bị che lấp. 5. Nghi cái (Phạm: Vicikitsà-àvaraịa): Đối với giáo pháp do dự không quyết đoán, vì vậy mà tâm tính bị che lấp. Các phiền não đều có nghĩa là cái, nhưng 5 thứ trên đây hay làm chướng ngại 5 uẩn vô lậu, tức là tham dục và sân khuể hay chướng ngại giới uẩn, hôn trầm và thụy miên chướng ngại tuệ uẩn, trạo cử và ác tác chướng ngại định uẩn và nghi là ngờ vực lí Tứ đế, vì thế chỉ lập 5 thứ này làm Cái. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; luận Đại trí độ Q.17; luận Đại tì bà sa Q.38, 48; luận Câu xá Q.21; luận Thuận chính lí Q.55; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.7; Ma ha chỉ quán Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng, phần đầu]. (xt. Khí Ngũ Cái).

ngũ câu luân

Năm vị đồng tu với Phật Thích Ca và cũng là năm đệ tử quy-y đầu tiên với Ngài—Sakyamuni's five comrades—Sakyamuni five old companions in asceticism and first converts. ; (五俱倫) Cũng gọi Ngũ câu lân. Chỉ cho 5 vị tỉ khưu đầu tiên được đức Phật hóa độ ở vườn Lộc dã khi Ngài mới thành đạo. Theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần 3 thì 5 vị tỉ khưu ấy theo thứ tự là: Kiều trần như, Át bệ, Bạt đề, Thập lực ca diếp và Ma nam câu lợi. Nhưng ý nghĩa của từ Câu luân không được rõ. Có thuyết cho rằng 5 vị này từ đời quá khứ đến nay đều là bạn đồng tu, cho nên gọi là Câu luân. Hoặc có thuyết chủ trương Câu luân là tên dịch khác của A nhã kiều trần như, cũng gọi Câu lân, bậc Thượng thủ trong 5 vị tỉ khưu, vì thế gọi chung là Ngũ câu luân. [X. Pháp uyển châu lâm Q.11; Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.4].

ngũ câu ý thức

(五俱意識) Là ý thức sinh khởi cùng lúc với 5 thức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tức chỉ cho Minh liễu ý thức, 1 trong 4 loại ý thức. Minh liễu ý thức khởi lên cùng 1 lúc với 5 thức, giúp 5 thức phát sinh hiện hành và phân biệt rõ ràng khi duyên theo đối tượng; vì thế gọi là Ngũ câu ý thức. [X. luận Thành duy thức Q.7; Bách pháp vấn đáp sao Q.1].

ngũ công đức môn

Năm loại công đức phải thành tựu để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà—The five effective or meritorious gates to Amitabha's Pure Land: Lễ Bái Môn: Đem thân nghiệp thờ kính Phật A Di Đà—Worship Amitabha Budha. Tán thán Môn: Đem khẩu nghiệp xưng danh hiệu Đức Phật A Di Đà—Praise Amitabha Buddha. Tác Nguyện Môn: Hướng về A Di Đà Phật mà phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc—Vow to Amitabha Buddha. Quán sát Môn: Đem trí huệ thiền định xem xét các công đức của cõi Phật A Di Đà—Meditate on Amitabha Buddha. Hồi hướng Môn: Sẳn sàng chịu khổ để cứu dộ chúng sanh, đem tất cả công đức của mình bố thí lại cho hết thảy chúng sanh—Willingness to suffer for universal salvation. ; (五功德門) Cũng gọi Công đức ngũ niệm môn, Ngũ quả môn. Năm thứ quả tướng mà người vãng sinh Tịnh độ Cực lạc đạt được. Theo luận Tịnh độ của ngài Thiên thân thì 5 quả tướng ấy là: 1. Cận môn: Mới sinh về Tịnh độ, vào Đại thừa chính định tụ, gần chứng được Vô thượng chính đẳng chính giác. 2. Đại hội chúng môn: Sinh về Tịnh độ rồi liền được dự vào số chúng của Đại hội Như lai. 3. Trạch môn: Dự vào số đại chúng tức đã đến được cảnh giới an tâm tu hành. 4. Ốc môn: Đã vào được chỗ an tâm tu hành thì đến được cảnh giới người tu hành an trụ. 5. Viên lâm du hí địa môn: Sau khi việc tu hành đã thành tựu liền đến chỗ giáo hóa chúng sinh. Trong đó, 4 môn trước nói về thành tựu công đức đi vào, còn môn thứ 5 thì nói về thành tựu công đức đi ra. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú lược sao Q.hạ; Giáo hành tín chứng lục yếu sao Q.6]. (xt. Ngũ Niệm Môn).

ngũ cúng dường

Năm thứ lễ vật để cúng dường—The five kinds of offerings—The five Buddhist offerings: (A) Đồ Hương: Hương xức—Thuốc cao—Unguents. Hoa Man: Tràng hạt—Chaplets. Thiêu Hương (nhang hay hương thắp): Incense. Phạn Thực: Thực phẩm—Food. Đăng Minh: Đèn hay nến thắp—Lamps or candles. (B) Nước: Water. Nhang: Incense. Hoa: Flowers. Gạo: Rice. Đèn: Candles. Theo Kinh Đại Bảo Tích, Đức Phật dạy có năm thứ cúng dường Pháp Thân và Sanh Thân Phật: “Này chư Tỳ Kheo! Cho dù chúng sanh cúng dường Pháp Thân hay Sinh Thân ta cũng đều nhận, thọ cho đó. Bởi do nơi cúng dường như vậy, các chúng sanh ấy sẽ được đầy đủ các quả báo thiện lành, chứng được tam thừa, tâm không thối chuyển. Các người thiện nam tín nữ hữu tâm và cúng thí như vậy, có thể thanh tịnh được thân tâm, trang nghiêm quả vị vô thượng Bồ Đề, có thể được an lạc vi diệu, hay bố thí tất cả vật cho tất cả người, trong tất cả thời gian. Người ấy có thể thọ được tất cả các quả báo lành. Lại nữa, tất cả các vật thực dù tịnh hay bất tịnh, dù là thượng vị hay đồ tối dở, cho chí đến cát, đá, bùn, đất, sỏi, sạn, gạch, ngói, độc dược, vân vân mỗi khi đưa vào trong miệng của Như Lai thì đều hóa thành ra chất thượng vị Cam Lồ hết cả.”—According to the Great Jewel Collection Sutra, there are five kinds of offerings for the purpose of the Buddha's Dharma Body and Birth-Body: “Bhikshus! Whether sentient beings make offerings to the Dharma-Body or Birth-Body, I will receive and approve of them. Through their offerings, those sentient beings will acquire complete wholesome consequences, attain the three vehicles, and their minds will not regress. For the good men and faithful women who have faith and make offerings in that way, it is possible for them to purify their bodies and minds, adorn the achievement of the Ultimate Enlightenment of Buddhahood. It is possible to have the ultimate peace and happiness, and they often make offerings of all materials goods to all people across all periods past, present, and future. Such a person will reap all the wholesome consequences of those actions. Moreover, with all edible items, whether they are pure or impure, most tasteful or greatly distasteful, including items such as sand, rock, dirt, mud, brick, roof tile, poison, etc., when they are placed into the Tathagata's mouth. All are turned into the most delicious and holiest of foods.” Nếu có chúng sanh nào vì Pháp Thân hoặc sanh thân của ta mà tạo dựng nhà cửa, chỗ kinh hành, để cúng dường ta, thời ta liền thọ dụng: Build homes, places of worship, etc, to make offerings to me, I will immediately accept. Nếu có chúng sanh nào tạo dựng rừng cây, vườn hoa, giảng đường, tịnh xá để cúng dường ta, thời ta liền thọ dụng: Build parks, flower gardens, roads, and temples to make offerings to me, I will immediately accept. Nếu các hàng đệ tử có những ẩm thực, ngọa cụ như giường, nệm, chăn, chiếu, vân vân, thuốc men, phòng nhà dâng cúng ta thời ta liền thọ dụng" The various level of Buddhists who have foods, bedding materials such as mattresses, blankets, etc., medicines, and places to live, etc, make offerings to me, I will accept. Nếu có các Pháp sư thăng tòa thuyết pháp, thời lúc ấy ta cũng chí tâm lắng nghe: If any Dharma Master build high thrones to speak of the Dharma, during such time, I will concentrate to listen. Nếu có người cúng thí cho vị pháp sư ấy những y phục ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men, phòng nhà, vườn rừng, xe cộ, ruộng nương, tỳ nô, thời ta cũng liền nhận thọ cho đó: If someone makes offerings to that Dharma Master, such as Buddhist robes, foods, bedding materials, medicines, a room, a garden, vehicle, crop field, servants during such time I will also accept those offerings.

Ngũ Căn

(s: pañcendriyāni, 五根): tức Năm Căn Vô Lậu (無漏五根), dùng để hàng phục phiền não, đưa vào Thánh đạo và có tác dụng tăng thượng, thuộc trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có: (1) Tín Căn (s: śradhendriya, 信根): niềm tin vào Tam Bảo, đạo lý Tứ Đế (s: catur-ārya-satya, p: catu-ariya-sacca, 四諦), v.v.; (2) Tấn Căn (s: vīryendriya, 進根): hay còn gọi là Tinh Tấn Căn, siêng năng dũng mãnh tu các pháp lành; (3) Niệm Căn (s: smṛtīndriya, 念根): nghĩ nhớ đến các pháp đúng; (4) Định Căn (s: samādhīndriya, 定根): năng lực khiến cho tâm dừng lại một chỗ, không bị tán loạn; và (5) Tuệ Căn (s: prajñendriya, 慧根): nhờ có định mà trí tuệ quán xét sanh khởi, cho nên biết được như thật chân lý. Năm pháp này là căn bản thường khiến cho sanh khởi hết thảy các thiện pháp.

Ngũ căn

五根; C: wǔgēn; J: gokon; S: pañca-indriya.|I. Năm căn, năm giác quan. Đó là Nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, vị căn, và xúc căn. Trong giáo lí Duy thức, chúng được xem như là một phần của A-lại-da thức.|II. Năm căn lành: 1. Tín căn (信根); 2. Tinh (tiến) căn (精根); 3.Niệm căn (念根); 4. Định căn (定根); 5. Huệ căn (慧根). Năm căn lành nầy được xếp vào trong 37 phẩm trợ đạo.

ngũ căn

xem năm căn lành. ; Pancendriyani (skt) Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm căn—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five roots or faculties (indriyani)—The five organs of the senses—Five spiritual faculties: Mắt: Eyes. Tai: Ears. Mũi: Nose. Lưỡi: Tongue. Thân: Body. ** Ngũ căn có thể là những cửa ngõ đi vào địa ngục, đồng thời chúng cũng là những cửa ngõ quan trọng đi vào đại giác, vì từ đó mà chúng ta gây tội tạo nghiệp, nhưng cũng nhờ đó mà chúng ta có thể hành trì chánh đạo—The five sense-organs can be entrances to the hells; at the same time, they can be some of the most important entrances to the great enlightenment; for with them, we create karmas and sins, but also with them, we can practise the right way. ; (五根) Phạm: Paĩcendriyàịi. Năm căn. I.Ngũ Căn. Cũng gọi Ngũ sắc căn. Chỉ cho 5 sắc căn, chỗ nương của 5 thức. Tức: Nhãn căn (Phạm:Caksurindriya), Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya), Tị căn (Phạm:Ghràịendriya), Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya), Thân căn (Phạm: Kayendriya). Cũng tức là 5 quan năng chủ về: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nếu thêm Ý căn vào 5 căn thì gọi là 6 căn. Năm căn ngoài khả năng thu nhận 5 đối tượng ở ngoại giới, còn có khả năng dẫn khởi tác dụng nhận biết của 5 thức trong nội tâm, vì có các tác dụng thù thắng ấy nên gọi là Căn. Lại vì 5 căn là do vật chất (sắc) cấu tạo thành, cho nên cũng gọi là 5 Sắc căn. Phái Số luận có thuyết Ngũ tri căn, trong đó, Thân căn cũng được gọi là Bì căn. Nói về thể của 5 căn, Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) chia 5 căn làm 2 thứ là Phù trần căn và Thắng nghĩa căn. Phù trần căn (cũng gọi Phù căn) là các căn thô phù bên ngoài (như mắt, tai, mũi...) tự chúng không có khả năng nhận thức sự vật, phải nhờ vào Thắng nghĩa căn theo bên cạnh giúp sức mới có thể sinh ra tác dụng nhận biết. Những Phù căn này thông thường được gọi là 5 giác quan. Còn Thắng nghĩa căn là bộ phận bên trong của nhục thể, mắt thường (mắt thịt) chẳng thể thấy được, nhưng có tác dụng sinh ra thức và thu lấy cảnh (đối tượng). Thắng nghĩa căn và Phù trần căn tuy cùng do cực vi tạo thành, nhưng Thắng nghĩa căn lấy tịnh sắc do 4 đại thù thắng tạo ra làm thể, là thực pháp nhưng mắt thường không thể thấy được. Do đó, Tát bà đa bộ chủ trương 5 căn là chỉ cho Thắng nghĩa căn, tức là cái mà ngày nay chúng ta thường gọi là hệ thần kinh, chứ không phải Phù trần căn mà thông thường ta gọi là 5 cảm quan. Nhưng Đại chúng bộ... thì cho sắc, hương, vị, xúc là thể của 5 căn, lấy máu thịt làm tính, không có tịnh sắc, không có khả năng nắm bắt đối tượng(thủ cảnh). Tức thuyết này chủ trương 5 căn là Phù trần căn. Còn theo thuyết của Duy thức Đại thừa thì như ngài Hộ pháp lập tịnh sắc hiện hành làm 5 căn, nhưng ngài Nan đà thì cho rằng 5 căn chỉ là chủng tử chứ không phải tịnh sắc hiện hành. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Dị bộ tông luân; luận Thành thực Q.4; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. (xt. Ngũ Căn Hữu Tứ Sự Tăng Thượng). II.Ngũ Căn. Chỉ cho 5 căn vô lậu trong 37 đạo phẩm. Năm căn này là cội gốc sinh ra hết thảy pháp lành có tác dụng tăng thượng đối với việc áp phục phiền não, dẫn vào Thánh đạo, cho nên được gọi là Căn (gốc rễ). Đó là: 1. Tín căn (Phạm: Zraddhendriya): Tin Phật, Pháp, Tăng, tin đạo lí Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo). 2. Tiến căn (Phạm: Vìryendriya), cũng gọi Tinh tiến căn, Cần căn: Gắng sức mạnh mẽ tu tập pháp lành. 3. Niệm căn (Phạm: Smftìndriya): Nhớ nghĩ chính pháp. 4. Định căn (Phạm: Samàdhìndriya): Chú tâm vào 1 đối tượng duy nhất, không để tán loạn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. Ngoài ra, theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (hội bản) quyển 7, phần 1, thì người tu hành mầm lành tuy đã hơi nứt nhưng vẫn chưa sinh rễ (căn), nay tu 5 pháp khiến cho rễ lành sinh ra, vì thế 5 pháp này đều gọi là Căn. Năm căn và 5 lực trong 37 đạo phẩm là cùng 1 thể, 5 lực hiển bày sức tăng thượng của 5 căn. Năm lực là pháp tu của người lợi căn, 5 căn là pháp tu của người độn căn. Năm căn này cũng có tác dụng tăng thượng đối với pháp vô lậu. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Tăng nhất a hàm Q.23, 42; luận Đại tì bà sa Q.96; luận Đại trí độ Q.90; luận Du già sư địa Q.57; Pháp giới thứ đệ Q.trung]. (xt. Tam Thập Thất Đạo Phẩm).

ngũ căn bản

See Ngũ Căn Bản Phiền Não. ; (五根本) Chỉ cho 5 phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, nghi. Tông Thiên thai chia tất cả phiền não làm 2 loại là lợi, độn và gọi 5 phiền não căn bản này là Ngũ độn sử. [X. Đại nhật kinh sớ Q.2]. (xt. Phiền Não).

ngũ căn bản phiền não

Năm phiền não căn bản—The five great passions or disturbers or Klesas: Tham: Desire. Sân: Anger or hatred. Si: Stupidity or ignorance. Mạn: Pride.

ngũ căn hữu tứ sự tăng thượng

(五根有四事增上) Bốn nghĩa tăng thượng của 5 căn. Cứ theo luận Ngũ sự tì bà sa quyển thượng, thì 5 căn có 4 nghĩa tăng thượng sau đây: 1. Trang nghiêm thân: Mắt, tai, mũi, lưỡi trang nghiêm thân, tạo nên sự hoàn mĩ, nếu thiếu bất cứ căn nào trong các căn này thì sẽ trở nên tàn tật, xấu xí, còn nếu các căn đầy đủ thì tăng thêm vẻ đẹp. 2. Đạo dưỡng thân: Mắt thấy sắc đẹp xấu, tai nghe tiếng hay dở, mũi ngửi mùi thơm hôi, lưỡi nếm vị đắng ngọt, sự nhận biết, có thể phân biệt rõ ràng, khiến thân theo tốt, tránh xấu, làm tăng thêm vẻ đẹp. 3. Sinh thức: Thức là phân biệt. Mắt đối với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc... đều sinh ra các thức phân biệt và pháp tương ứng tăng thượng. 4. Bất cộng sự: Mắt chỉ thấy sắc, tai chỉ nghe tiếng, mũi chỉ ngửi mùi, lưỡi chỉ nếm vị, thân chỉ chạm xúc. Như thế mỗi căn đều có công dụng riêng (bất cộng), không lẫn lộn với nhau, đối với các pháp tương ứng với mỗi căn tự nó có sức tăng thượng. [X. luận Đại tì bà sa Q.142].

ngũ căn sắc

The five senses correspond to colours: Tín Căn tương ứng với sắc Trắng có nghĩa là vì tin nơi Tam Bảo và Tứ Diệu Đế nên chúng sanh có thể vượt qua mọi cấu nhiễm: The sense of belief corresponds to White colour, signifies that owing to the belief in the Triple Gem and the Four Noble Truths, sentient beings are able to overcome all defilements. Tấn Căn tương ứng với sắc Đỏ, có nghĩa là đại cần dũng: Energy or Vigor corresponds to Red colour, signifies great endeavor. ; (五根色) Màu của 5 căn. Năm căn là Tín căn, Tiến căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 6, nếu đem 5 màu phối với 5 căn thì theo thứ tự là: Trắng, đỏ, vàng, xanh và đen, gọi là Ngũ căn sắc. Ngoài ra, cũng có thuyết phối hợp thứ tự 5 màu: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen với 5 căn gọi là Ngũ căn sắc.

ngũ cư

See Ngũ Tịnh Cư Thiên.

ngũ cương

(五綱) Cũng gọi Ngũ nghĩa, Ngũ cương phán. Năm tiêu chuẩn phán giáo của tông Nhật liên, Nhật bản. Tức là dùng Giáo, Cơ, Thời, Quốc, Tự để phân biệt sự sâu cạn của giáo pháp trong Phật giáo để nói rõ giáo pháp ấy có thích hợp với thời đại không. Đây chính là giáo tướng phán thích của tông Nhật liên. - Giáo chỉ cho giáo tướng phán thích. - Cơ chỉ cho căn cơ tiếp nhận giáo pháp. - Thời chỉ cho sự biến thiên của thời đại. - Quốc chỉ cho hoàn cảnh và phong tục tập quán của 1 nước. - Tự chỉ cho thứ tự truyền bá giáo pháp. [X. Hiển báng pháp sao; Thánh ngu vấn đáp; Giáo cơ thời quốc sao].

Ngũ cảnh

五境; C: wǔjìng; J: gokyō; S: pañca-visaya.|Năm đối cảnh. Theo giải thích của Du-già hành phái, đây là 5 yếu tố để cho Ngũ căn tiếp xúc. Đó là: đối tượng của mắt (sắc 色; s: rūpa); đối tượng của tai (thanh 聲; s: śabda), đối tượng của mũi (hương 香; s: gandha), đối tượng của lưỡi (vị 味 s: rasa), đối tượng của thân (xúc 觸; s: sprastavya:). Đối tượng của 5 giác quan. Sự sắp xếp nầy chủ yếu được phát triển trong Câu-xá luận (倶舎論). Theo giáo lí của Pháp tướng tông, Ngũ cảnh được xem như là những khía cạnh của Ngũ thức. Xem thêm Ngũ trần (五塵).

ngũ cảnh

Năm cảnh hay năm pháp, là cảnh giới sở duyên của ngũ căn—The five objects of the five senses, corresponding to the senses: Sắc: Form. Thanh: Sound. Hương: Smell. Vị: Taste. Xúc: Touch. ; (五境) Phạm: Paĩcàrthà. Cũng gọi Ngũ trần, Ngũ diệu dục cảnh. Chỉ cho 5 đối cảnh (tượng) khách quan mà 5 căn chấp lấy, cũng là 5 cảnh giới mà 5 thức duyên theo; tức là sắc cảnh, thanh cảnh, hương cảnh, vị cảnh và xúc cảnh. Nếu thêm pháp cảnh là đối tượng của ý căn thì là 6 cảnh. Năm cảnh này thường làm cho người ta sinh phiền não, ô nhiễm tâm tính, giống như bụi bặm nên gọi là 5 trần; lại vì tham đắm mà khởi chấp trước, lầm cho là cảnh tịnh diệu, nên cũng gọi là Ngũ diệu dục cảnh. [X. luận Câu xá Q.1; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Đại tì bà sa Q.13; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Câu xá luận quang kí Q.1]. (xt. Ngũ Dục, Lục Cảnh).

ngũ cấm

See Ngũ Giới.

ngũ cần chi

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm cần chi—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five factors of endeavour: Ở đây vị Tỳ Kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Đây là Thế Tôn, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác (Chánh Đẳng Chánh Giác), Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.”—Here a monk has faith, trusting in the enlightenment of the Tathagata: “Thus this Blessed Lord is an Arahant, a fully-enlightened Buddha, perfected in knowledge and conduct, a Well-Farer, Knower of the world, unequalled Trainer of men to be tamed, Teacher of gods and humans, a Buddha, a Blessed Lord.” Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn: He is in good health, suffers little distress sickness, having a good digestion that is neither too cold nor too hot, but of a middling temperature suitable for exertion. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình một cách chơn thật đối với bậc Đạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh: He is not fraudulent or deceitful, showing himself as he really is to his teacher or to the wise among his companion in the holy life. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp: He keeps his energy constantly stirred up for abandoning unwholesome states and arousing wholesome states, and is steadfast, firm in advancing and persisting in wholesome states. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau: He is a man of wisdom, endowed with wisdom concerning rising and cessation, wuth the Ariyan penetration that leads to the complete destruction of suffering.

ngũ cốc

(五穀) Cũng gọi Ngũ chủng cốc tử. Chỉ cho 5 loại hạt là đại mạch (Phạm: yava,lúa mì hạt to), tiểu mạch (Phạm: godhùma, lúa mì hạt nhỏ), đạo cốc (Phạm: zàli, lúa nếp), tiểu đậu (Phạm: masùra, đậu nhỏ) và hồ ma (Phạm: atasì, vừng hay mè). Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma (Phạm: Homa) thì dùng Ngũ cốc làm vật cúng dường; khi kiến lập Mạn đồ la thì bỏ 5 loại hạt, 5 vật báu, 5 vị thuốc, 5 mùi thơm vào trong bình, đặt ở chính giữa đàn tràng và nơi chôn vật báu ở 4 phía. Phép chôn vật báu này tượng trưng cho việc an lập vật báu 5 trí ở trong tâm Bồ đề, tức biểu thị nghĩa nảy mầm lành ngũ cốc để diệt 5 thứ lỗi lầm. Nhưng tên gọi của Ngũ cốc tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác nhau. Như kinh Tô tất địa quyển hạ, nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu nhỏ và vừng. Kinh Đà la ni tập quyển 12, liệt kê 5 thứ là lúa nếp, đậu nhỏ, đại mạch, tiểu mạch và lúa xanh. Còn Quán trí nghi quĩ thì nêu 5 thứ là lúa nếp, đại mạch, tiểu mạch, đậu xanh và hạt cải trắng. [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.9; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.4; Kiến lập mạn đồ la cập giản trạch địa pháp; Đại nhật kinh sớ Q.4].

ngũ cổ chử

(五股杵) Cũng gọi Ngũ trí kim cương chử, Ngũ phong kim cương chử, Ngũ phong quang minh, Ngũ cổ kim cương, Ngũ cổ chử, Ngũ cổ. Cây chày kim cương có 5 chĩa (múi), là 1 trong những pháp cụ quan trọng của Mật giáo. Năm chĩa tượng trưng 5 trí, 5 Phật. Chĩa ở chính giữa tượng trưng cho 5 thực trí của Phật, 4 chĩa chung quanh châu đầu vào tượng trưng cho quyền trí của Phật. Về chất liệu, chày này phần nhiều được làm bằng đồng. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5; Kim cương đính kinh sớ Q.3]. (xt. Kim Cương Chử).

ngũ cổ ấn

(五股印) Cũng gọi Đại yết ma ấn, Ngũ phong ấn, Ngũ trí ấn, Ngũ đại ấn. Ấn tướng có hình dáng cây chày kim cương 5 chĩa(ngũ cổ) biểu thị nghĩa 5 trí, 5 Phật. Là 1 trong các ấn bí mật được sử dụng trong nghi thức truyền pháp Quán đính của Mật giáo. Có nhiều loại: 1. Ngoại Ngũ Cổ Ấn. Cũng gọi Ngoại phược ngũ cổ ấn, Trí pháp ấn, Đại suất đô bà ấn, Thập chân như ấn. Gồm 2 ấn tướng: a) Hai tay kết ngoại phược, 2 ngón giữa dựng như cái kim, 2 ngón cái và ngón út mở ra. Đây là ấn của Kim cương tát đỏa trong hội Tam muội da nói trong Liên hoa bộ tâm nghi quĩ. b) Hai tay kết ngoại phược, ngón giữa, ngón cái, ngón út của 2 tay đều dựng thẳng và sáp vào nhau, 2 ngón trỏ co lại giống như cái móc câu, đặt ở bên cạnh lưng của ngón giữa nhưng không dính nhau, làm thành hình cái chày 5 chĩa, biểu thị cho 5 trí kim cương. Phẩm Mật ấn kinh Đại nhật bảo ấn này là ấn của Kim cương đại tuệ, của Bảo ấn thủ... Phẩm Ái nhiễm vương trong kinh Du kì quyển thượng thì cho là ấn của Ái nhiễm Minh vương. Còn phẩmTựa kinh Du kì thì cho rằng ấn này là ấn chung của 37 vị tôn, cũng tức là ấn tối mật của Đại nhật Như lai. 2. Nội Ngũ Cổ Ấn. Cũng gọi Nội phược ngũ cổ ấn. Ấn tướng là 2 tay kết nội phược, ngón vô danh của 2 tay giao nhau trong lòng bàn tay, các ngón còn lại thì giống như ấn Ngoại ngũ cổ phược. Đây là ấn Chấp kim cương nói trong phẩm Mật ấn của kinh Đại nhật. 3. Bán Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là 4 ngón của tay phải xòe ra, ngón giữa để ở chính giữa tạo thành hình cái chày 5 chĩa. Ấn này được sử dụng khi gia trì các vật. 4. Ngoại Phược Đô Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là trước kết Ngoại ngũ cổ ấn, sau đó các đầu ngón tay chụm vào 1 chỗ để làm 5 chĩa. Phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật bảo ấn này là của bồ tát Kiên cố ý. 5. Nội Phược Đô Ngũ Cổ Ấn. Ấn tướng là Nội ngũ cổ ấn, chụm 5 đầu ngón tay vào 1 chỗ làm thành 5 cái chĩa. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13, 17].

ngũ cụ túc

Năm thứ đồ thờ đầy đủ—The five complete utensils for worship: (2) Hai bình bông: Two flower vases. (2) Hai chân đèn: Two candlesticks. (1) Lư hương: a censer. ; (五具足) Chỉ cho 5 thứ vật dụng trưng bày để cúng dường trước bàn thờ Phật. Tức là 2 chiếc bình cắm hoa, 2 cây đèn và 1 lư hương. Nếu chỉ để 1 bình hoa, 1 cây đèn và 1 lư hương thì gọi là Tam cụ túc.

ngũ diệp

(五葉) Chỉ cho 5 đời hoặc 5 nhà của Thiền tông. Kệ truyền pháp của ngài Bồ đề đạt ma, Sơ tổ Thiền tông Trung quốc nói (Đại 51, 219 hạ): Ngô bản lai tư độ, Truyền pháp cứu mê tình; Nhất hoa khaingũ diệp, Kết quả tự nhiên thành. (Ta xưa đến đất này, Truyền pháp độ mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành). Có thuyết cho rằng ngũ diệp biểu thị 5 đời, từ Sơ tổ Đạt ma truyền đến Lục tổ Tuệ năng thì chính pháp hưng thịnh. Lại có thuyết cho rằng 5 cánh chỉ cho 5 phái: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Qui ngưỡng và Pháp nhãn, tức là lời tiên tri của Tổ Đạt ma về sự kiện Thiền tông chia thành 5 nhà. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.3].

ngũ diệu

Năm thứ tinh diệu chỉ năm cảnh của Sắc, Thanh, Hương, Vị, và Xúc trong cõi Tịnh Độ—The five wonders of purified or transcendental sight, sound, smell, taste, and touch in the Pure Land. ; (五妙) Cảnh thanh tịnh vi diệu trong 5 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Đó là nói theo cảnh giới Cực lạc. Cứ theo Vãng sinh yếu tập quyển thượng, thì Tịnh độ cực lạc có 10 điều vui, trong đó, điều vui thứ 4 được gọi là Ngũ diệu cảnh giới lạc.

ngũ diệu cảnh giới lạc

Cảnh giới hỷ lạc của Sắc, Thanh, Hương, Vị và Xúc nơi cõi Tịnh Độ—The joys of purified or transcendental sight, sound, taste, smell and touch in the Pure Land.

ngũ diệu dục

(五妙欲) Gọi tắt: Ngũ diệu. Chỉ cho 5 cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm cảnh hữu lậu này bản chất của chúng là khổ đau, nhơ nhớp, nhưng cái lòng ham muốn (dục) của người thế tục lại cảm nhận là vui sướng, là tuyệt diệu, vì thế gọi là Ngũ diệu dục. Phạm: Paĩca kàmà. Pàli: Paĩca Kàmà. I. Ngũ Dục. Cũng gọi Ngũ diệu dục, Diệu ngũ dục, Ngũ diệu sắc. Chỉ cho 5 thứ tình tham muốn do say đắm 5 trần cảnh: Sắc, thanh, hương, vị, xúc mà nổi lên. Đó là: 1. Sắc dục (Phạm: Rùpa-kàma): Tham đắm sắc đẹp của thế gian. 2. Thanh dục (Phạm: Zabda-kàma): Say đắm về âm thanh như lời ca, tiếng nhạc... 3. Hương dục (Phạm: Gandha-kàma): Đắm say mùi thơm như các loại nước hoa quyến rũ. 4. Vị dục (Phạm: Rasa-kàma): Tham muốn những thức ăn uống ngon ngọt. 5. Xúc dục (Phạm: Sprawỉavya-kàma): Ham thích sự xúc chạm mịn màng, trơn láng. Trái với ngũ dục thô trọng này của cõi Dục là 5 dục của cõi Sắc và cõi Vô sắc được gọi là Thanh khiết ngũ dục (5 dục trong sạch). [X. kinh Phật di giáo; luận Đại trí độ Q.17, 37; Ma ha chỉ quán Q.4 hạ]. II. Ngũ Dục. Chỉ cho 5 món dục: Tài dục, Sắc dục, Ẩm thực dục, Danh dục và Thụy miên dục.1. Tài dục: Tham muốn tiền của. 2. Sắc dục: Tham muốn sắc đẹp thế gian. 3. Ẩm thực dục: Tham muốn sự ăn uống. 4. Danh dục: Tham muốn danh vọng cao sang. 5. Thụy miên dục: Tham muốn sự ngủ nghỉ.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.27; Đại minh tam tạng pháp số Q.24].

ngũ duy

Pancatanmatrani (skt)—Năm yếu tố sanh ra từ ngã mạn, vi tế và thô thiển—The five subtle and rudimentary elements out of which rise the five sensations: Thanh Duy: Sensation of sound. Xúc Duy: Sensation of touch. Sắc Duy: Sensation of form. Vị Duy: Sensation of taste. Hương Duy: Sensation of smell. ; (五唯) Phạm: Paĩca tanmàtràịi. Cũng gọi Ngũ duy lượng, Ngũ vi trần, Ngũ trần. Chỉ cho 5 thứ: Sắc, thanh, hương, vị, xúc từ Ngã mạn (ý thức tự ngã) sinh ra, tương đương với 5 trần cảnh, là 1 khoa trong 25 đế của học phái Số luận. Đây là 5 nguyên tố rất nhỏ nhiệm(cực vi), cảm giác của chúng ta không thể nhận biết được. Trong Ngũ duy thì Sắc sinh ra lửa, Thanh sinh ra không, Hương sinh ra đất, Vị sinh ra nước và Xúc sinh ra gió. Chữ duy ở đây có nghĩa là chỉ có 5 nguyên tố này là bản thể năng sinh. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); luận Kim thất thập Q.thượng; luận Ngoại đạo Tiểu thừa niết bàn; Câu xá luận quang kí Q.3; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung].

ngũ duy lượng

See Ngũ Duy.

ngũ duyên

Five excellent causes of blessedness: (A) Trì giới: Keeping the commandments. Đủ đầy thực phẩm và quần áo: Sufficient food and clothing. Sống ẩn dật: Living and practicing in a secluded abode. Chấm dứt mọi lo âu: Cessation of worry. Chọn đúng thiện hữu tri thức: Selecting or choosing good friendship. (B) Loại trừ tội lỗi: Riddance of sins. Hộ trì trường thọ: Protection through long life. Quán tưởng Phật hay Đức A Di Đà: Vision of Buddha or Amitabha. Phổ Cứu A Di Đà: Universal salvation by Amitabha. Chắc chắn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc: Assurance of Amitabha's heaven. ; (五緣) I. Ngũ Duyên. Tông Thiên thai chia 25 phương tiện làm 5 khoa, trong đó mỗi khoa có 5 duyên, gọi là Ngũ duyên. Tức là: Giữ giới trong sạch, ăn mặc đầy đủ, ở nơi vắng vẻ, dứt các duyên phiền não, được gần thiện tri thức.II. Ngũ Duyên. Gọi đủ: Ngũ chủng tăng thượng duyên. Chỉ cho 5 tăng thượng duyên: Tăng thượng duyên diệt tội, tăng thượng duyên hộ niệm được trường thọ, tăng thượng duyên thấy Phật, tăng thượng duyên nhiếp sinh và tăng thượng duyên chứng sinh. [X. Quán niệm pháp môn]. (xt. Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên].

Ngũ Duệ Linh Mặc

(五洩靈黙, Goei Reimoku, 747-818): người vùng Tỳ Lăng (毘陵), họ là Tuyên (宣). Tuy rằng ông làm quan, nhưng vẫn đến tham vấn Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) và khế ngộ được huyền cơ. Sau khi xuất gia và thọ Cụ Túc giới, ông đến làm thị giả cho Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) trong vòng mấy năm. Sau đó vào năm đầu (785) niên hiệu Trinh Nguyên (貞元), ông đến sống tại Phố Dương (浦陽), rồi chuyển đến Ngũ Duệ Sơn (五洩山). Đến ngày 23 tháng 3 năm thứ 13 niên hiệu Nguyên Hòa (元和), ông thị tịch, hưởng thọ 72 tuổi đời và 41 hạ lạp.

ngũ dược

See Ngũ Dược Thảo. ; (五藥) Cũng gọi Ngũ chủng dược. Năm thứ thuốc, có nhiều thuyết khác nhau. Theo luật Ngũ phần quyển 5 thì 5 thứ thuốc là: Sinh tô (Phạm:Navanìta), Thục tô (Phạm: Sappi), Du (Phạm: Tela), Mật (Phạm: Madhu) và Thạch mật (Phạm: Phàịita). Hữu bộ tì nại da tạp sự quyển 1 thì nêu 5 thứ: Dư cam tử, Ha lê lặc, Tì hê lặc, Tất bát lê và Hồ tiêu. Mật giáo thì cho ngũ dược là bao quát tất cả các dược liệu. Khi lập đàn tu pháp hoặc cử hành pháp địa trấn thì lấy 5 thứ thuốc, 5 thứ vật báu, 5 thứ hạt... chôn chung xuống đất, chỗ dưới đàn tràng để biểu thị ý nghĩa dùng pháp dược của Phật cứu chữa bệnh vô minh phiền não của chúng sinh. Hoặc lúc làm lễ quán đính thì để 5 thứ thuốc này và 5 vật báu vào trong 5 cái bình, biểu thị ý nghĩa tiêu trừ tội lỗi của 5 thức hữu lậu. Về tên gọi của 5 thứ thuốc thì tùy theo kinh quĩ hoặc tu pháp khác nhau mà có các thuyết bất đồng. Cứ theo kinh Tố tất địa yết ra quyển hạ thì 5 thứ thuốc là: Càn thác ha rị, Vật rị ha để, Sa ha, Sa ha đề bà và Thuế đa nghĩ lí ngật rị ca. Còn Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ thì liệt kê 5 thứ: Sa hạ giả la, Sa hạ nễ phạ, Kiến tra ca lê, Nghĩ rị yết ra noa và Vật rị hạ để; cũng có thể được thay thế bằng phục linh, nhân sâm, xích tiễn, thạch xương bồ và thiên môn đông... [X. kinh Nhuy hi da Q.trung; Thiện kiến luật tì bà sa Q.15; Đại nhật kinh sớ Q.4; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5].

ngũ dược thảo

Five kinds of roots used as food in sickness. Củ cải: Turnip. Hành: Onion. Bột hoàng tinh: Arrowroot. Củ cải đỏ: Radish or carrot. Rễ cây khử độc: A root curing poison.

Ngũ dục

五欲; C: wǔyù; J: goyoku;|Có ba nghĩa sau: 1. Sự khao khát từ 5 giác quan. Năm loại ham muốn phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với cảnh trần. Là sự ham muốn thường tình của người đời; 2. Nói đến 5 đối tượng trong ý nghĩa chính nó là nguyên nhân của những tham dục nầy; 3. Năm loại tham dục: tài sản (tài), nữ sắc (sắc), ăn uống (thực), tiếng khen (danh), ngủ nghỉ (thùy).

ngũ dục

xem năm dục. ; Five Desires—Phàm phu định nghĩa hạnh phúc là được thỏa mãn những ham muốn của mình, nhưng theo đạo Phật thì càng ham muốn nhiều thì càng khổ nhiều, vì ham muốn của con người thường là vô cùng vô tận mà sức lực của con người lại hữu hạn. Một khi ham muốn không được thỏa mãn là đau khổ. Khi chỉ thỏa mãn được một phần ham muốn, thì chúng ta vẫn tiếp tục theo đuổi chúng, và vì đó mà chúng ta gây thêm nhiều đau khổ. Chỉ khi nào chúng ta tự biết đủ hay không còn chạy theo ham muốn thì chúng ta mới thật sự có được sự yên ổn nơi thân tâm—Ordinary people define happiness as the satisfaction of all desires, but Buddhism believes that more desire brings more suffering because these desires are boundless but our ability to realize them is limited. Once desires are unfulfilled, we suffer. When desires are partially fulfilled, we continue to pursue their complete fulfillment, and we create more suffering. It is only after we feel self-sufficient with few desires, and no longer pursue fulfillment of desires, we then can have a peaceful state of mind. Nghĩa của Ngũ Dục—The meanings of Five Desires:Năm thứ dấy lên lòng dục của con người từ bên trong là sắc, thanh, hương, vị, và xúc—The five creature desires stimulated by the objects of the five earthly senses—The five desires, arising from the objects of the five senses or internal organs, such as things seen, heard, smelt, tasted, or touched. Ngũ dục là năm thứ dục dấy lên dục vọng của con người từ bên ngoài—Five desires are five kinds of desire stimulated by external materials. Nội dung của Ngũ Dục—The contents of Five kinds of Desires: Tài Dục: Ham muốn của cải, thế lực và tiền tài—Desires of wealth, power, and money. Ham muốn về tài năng: Desires for talent. Sắc Dục: Ham muốn sắc dục—Desire of sex or beauty. Danh Dục: Ham muốn danh tiếng, ảnh hưởng và tiếng khen—Desire of fame, influence and praises. Thực Dục: Ham muốn ăn uống—Desire of food and drink or eating. Thùy Dục: Ham muốn ngủ nghỉ—Desire of sleep and rest. ** Đức Phật ví chúng sanh chạy theo dục lạc của thế gian như những đứa trẻ đang liếm mật trên lưỡi dao. Không có cách gì mà họ không bị cắt đứt lưỡi—Buddha Sakyamuni compared sentient beings chasing after the fleeting pleasures of this world to a child licking honey off a sharp knife. There is no way they can avoid hurting themselves.

ngũ dục công đức

Panca-kama-guna (p)—Five strands of sense-desire—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm dục công đức—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five strands of sense-desire (cords of sensual pleasure): Sắc do nhãn nhận thức, sắc nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục: A sight seen by the eye as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Âm thanh do tai nhận thức, âm thanh nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục—A sound heard by the ear as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Mùi hương nầy do mũi nhận thức, mùi nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn dục vọng—A smell smelt by the nose as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Vị do lưỡi nhận thức, vị nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn lòng dục—A flavour tasted by the tongue as being desire, attractive, nice, charming, associated with lust and arousing passion. Xúc chạm do thân nhận thức, xúc chạm nầy khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích và hấp dẫn dục vọng—A tangible object felt by the body as being desire, attractive, nive, charming, associated with lust and arousing passion.

Ngũ Gia

(五家): xem Ngũ Môn bên dưới.

ngũ gia

Là năm phái thiền của Thiền tông: Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Vân Môn, Qui Ngưỡng. ; (五家) Danh từ gọi chung các phái của Thiền tông phương Nam, Trung quốc. Chỉ cho tông Qui ngưỡng, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Vân môn và tông Pháp nhãn. Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma truyền đến đời thứ 5 là ngài Hoằng nhẫn, sau đó chia ra 2 phái là Bắc tông Thần tú và Nam tông Tuệ năng. Bắc tông chủ trương tiệm ngộ, lưu hành ở phương Bắc, không chia thành chi phái; Nam tông chủ trương đốn ngộ, lưu hành ở phương Nam, từ đời Trung đường trở về sau rất thịnh, đặc biệt là 2 chi Nam nhạc Hoài nhượng và Thanh nguyên Hành tư, 2 dòng phái chính của Thiền Nam tông. Từ cuối đời Đường trở đi, Thiền Nam tông phát triển thành 5 phái: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Pháp nhãn và Vân môn, mỗi phái đều lập ra tông phong đặc sắc riêng. Tuy chia ra 5 nhà như trên, nhưng chỗ chỉ qui của Thiền Nam tông vẫn là 1, khác chăng là về tông phong mà thôi. (xt. Ngũ Gia Thất Tông).

ngũ gia biện

(五家辨) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hổ quan Sư luyện (1278-1346) thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn. Nội dung sách này nói về hệ thống truyền thừa của 5 nhà Thiền tông Trung quốc, chủ trương 5 tông hoàn toàn thuộc về pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất. (xt. Ngũ Phái Nhất Trích Đồ).

ngũ gia biện chính

(五家辨正) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đức nghiêm Dưỡng tồn người Nhật soạn, ấn hành vào khoảng năm Nguyên lộc (1688-1703), được thu vào Vạn tục tạng tập 147, là tập luận văn nói về hệ phổ Thiền tông. Trong tác phẩm Ngũ gia biện của mình, ngài Hổ quan Sư luyện (1278-1346) thuộc tông Lâm tế Nhật bản, chủ trương rằng 5 phái thiền Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn đều thuộc pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất, vài trăm năm sau quan điểm này đã trở nên phổ biến. Nhưng ngài Dưỡng tồn rất ngờ ý kiến này, đã suy nghĩ nhiều và muốn làm sáng tỏ vấn đề. Ngài may mắn gặp được tác phẩm Pháp Môn Sừ Quĩ do ngài Bạch nham Tịnh phù, vị tăng Trung quốc, soạn vào đời Thanh được truyền đến Nhật bản. Ngài Dưỡng tồn liền lấy đó làm tư liệu mà soạn thành Ngũ gia biện chính rồi in kèm với Pháp môn sừ quĩ để bác bỏ quan điểm của ngài Sư luyện.

Ngũ Gia Chánh Tông Tán

(五家正宗贊, Gokeshōshūsan): 4 quyển, do Hy Tẩu Thiệu Đàm (希叟紹曇) nhà Tống soạn, san hành vào năm thứ 2 (1254) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐). Đây là tác phẩm thâu lục các truyền ký của 74 vị Thiền sư và thêm vào mỗi truyện một bài tán theo thể văn 4-6. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn san hành vào năm thứ 5 (1349) niên hiệu Trinh Hòa (貞和), bản năm thứ 13 (1608) niên hiệu Khánh Trường (慶長), bản năm thứ 11 (1634) niên hiệu Khoan Vĩnh (寬永), bản năm thứ 3 (1660) niên hiệu Vạn Trị (萬治) thỉnh thoảng cũng được san hành.

ngũ gia chính tông tán

(五家正宗贊) Cũng gọi Chính tông tán. Tác phẩm, 4 quyển, do ngài Hi tẩu Thiệu đàm soạn vào đời Tống, ấn hành vào năm Bảo hựu thứ 2 (1254), được thu vào Vạn tục tạng tập 135. Nội dung sách này thu chép lược truyện của hơn 70 vị kì túc từ Tổ sư Bồ đề đạt ma đến Đại sư Tuyết phong và Thiền tông ngũ gia. Sau mỗi truyện có phụ thêm bài tán theo thể biền ngẫu tứ lục miêu tả đạo phong của các ngài.

Ngũ gia giải

五家解; C: wǔjiā jiě; K: ogahae; J: gokekai.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi).|Ngũ gia giải thuyết nghị |五家解説誼; C: wǔjiā jiě shuōyí; K: ogahae sǒrǔi; J: goke kaisetsugi.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi)

ngũ gia ngữ lục

(五家語錄) Gọi tắt: Ngũ tông lục. Tác phẩm, 5 quyển, do Quách ngưng chi biên soạn vào đời Minh, được thu vào Tục tạng kinh đời Minh hòm 58. Nội dung sách này thu chép ngữ lục của các vị Tổ thuộc 5 nhà Thiền tông Trung quốc, gồm có 7 bộ: 1. Lâm tế tông Trấn châu Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục, quyển 1. 2. Qui ngưỡng tông Đàm châu Qui sơn Linh hựu thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 3. Tào động tông Thụy châu Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 4. Phủ châu Tào sơn Bản tịch thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 5. Vân môn tông Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục, 3 quyển. 6. Pháp nhãn tông Kim lăng Thanh lương viện Văn ích thiền sư ngữ lục, 1 quyển. 7. Viên châu Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục, 1 quyển. Trong đó, ngoài 2 ngữ lục của tông Vân môn và tông Lâm tế, 5 ngữ lục còn lại là những tác phẩm được biên tập sớm nhất rất được mọi người chú ý. [X. Phật điển sớ lục mục lục Q.hạ; Phù tang tạng ngoại hiện tồn mục lục; Đệ nhị thiền tông sử nghiên cứu (Vũ tỉnh Bá thọ)].

ngũ gia sở cộng

Năm nhà của chung hay tiền của thế gian đều có một thứ cám dỗ chung—The five classes of wealth in the world which have their common prey, the wealth struggled for by others: Vua: Rulers. Giặc: Thieves. Lửa: Fire Nước: Water. Con ác: Prodigal sons ; (五家所共) Tiền tài vật chất ở thế gian là của chung của 5 nhà: Vua quan (tham ô), giặc cướp, hỏa hoạn, bão lụt và con ngỗ nghịch, mình không thể dùng riêng, vì thế không nên cố tìm cầu. Luận Đại trí độ quyển 11 (Đại 25, 142 trung) nói: Giàu sang tuy vui nhưng tất cả đều vô thường, của chung 5 nhà, khiến lòng người tán loạn, bồn chồn không yên định.

ngũ gia tham tường yếu lộ môn

(五家參詳要路門) Tác phẩm, 5 quyển, do sư Đông lãnh Viên từ, người Nhật soạn, ấn hành vào năm Thiên minh thứ 8 (1788), được thu vào Đại chính tạng tập 81. Trong sách này, tác giả thu chép những chỗ đặc sắc trong gia phong của 5 nhà Thiền tông Trung quốc. Nội dung bao gồm: Lâm tế tông chiến cơ phong luận thân sơ, Vân môn tông trạch ngôn cú luận thân sơ, Tào động tông cứu tâm địa luận thân sơ, Qui ngưỡng tông minh tác dụng luận thân sơ và Pháp nhãn tông tiên lợi tế luận thân sơ. Ngoài ra, còn chép thêm Lạp bát thị chúng, Khán kinh bảng... Tác giả trình bày rất tỉ mỉ, rõ ràng về hành trạng và ngữ lục của các Tổ sư.

Ngũ Gia Thất Tông

(五家七宗, Gokeshichishū): Thiền Tông của Trung Quốc từ vị Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma (菩提達磨), kinh qua Nhị Tổ Huệ Khả (慧可), Tam Tổ Tăng Xán (僧燦), Tứ Tổ Đạo Tín (道信), và Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (弘忍); sau đó thì phân ra thành Bắc Tông Thiền của Thần Tú (神秀) và Nam Tông Thiền của Huệ Năng (慧能). Nam Tông Thiền thì hưng thạnh từ cuối thời Trung Đường. Đặc biệt hệ thống của hai vị đệ tử của Huệ Năng là Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) và Thanh Nguyên Hành Tư (青原行思) thì trở thành chủ lưu Thiền Tông từ cuối thời nhà Đường trở đi; về sau hệ thống này lại phân phái ra thành Ngũ Gia Thất Tông vốn cao xướng Tông phong đặc dị của họ. Cuối thời nhà Đường, Tông Quy Ngưỡng (潙仰宗) phát xuất từ dòng Thiền của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), môn hạ của Nam Nhạc, càng lúc càng phát triển mạnh mẽ; rồi tiếp theo thì Tông Lâm Tế vốn chủ trương Thiền phong đại cơ đại dụng cũng bắt đầu hình thành, và sau đó thì Hoàng Long Phái (黃龍派) và Dương Kì Phái (楊岐派) do người sáng lập ra là môn hạ của Thạch Sương Sở Viên (石霜楚圓) cũng ra đời. Đối với việc thành lập Ngữ Lục Thiền vào thời Bắc Tống vốn đại biểu là hai bộ Mã Tổ Tứ Gia Lục (馬祖四家錄) và Hoàng Long Tứ Gia Lục (黃龍四家錄), những người của Phái Hoàng Long đã đóng góp rất nhiều; tuy nhiên phái này thì lại sớm bị suy vong. Mặt khác, Phái Dương Kì thì được rất nhiều vị thuộc tầng lớp sĩ phu thời Bắc Tông quy y theo, nên từ cuối thời nhà Minh cho đến đầu thời nhà Thanh thì hưng long rực rỡ. Còn Tào Động Tông thì chủ trương Thiền phong chuyên ngồi Thiền và tu Ngũ Vị (五位), nên không phát triển mạnh như Lâm Tế Tông được. Pháp Nhãn Tông thì vào đầu thời nhà Tống nhân có nhà họ Tiền (錢) ở Giang Nam quy y theo, đã thể hiện hưng thạnh rất rõ ràng đến nỗi đã thành lập nên được Tổ Đường Tập (祖堂集) và Truyền Đăng Lục (傳燈錄) với tính cách là tập đoàn chuyên tu theo lối công án niệm tụng. Bộ Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論) của Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益), tác phẩm nói lên hết tất cả đặc sắc của bốn Tông kia, lần đầu tiên xuất hiện. Vân Môn Tông (雲門宗) thì chiếm cứ vùng Quảng Đông, rồi sau đó thì kế thừa bước chân của Pháp Nhãn Tông và phát triển mạnh ở vùng đất Giang Nam, song đến cuối thời Nam Tống thì tiêu mất bóng dáng. Sự khác nhau của Ngũ Gia là sự khác nhau về Tông phong, còn Tông chỉ thì chẳng có gì khác nhau cả. Chính Đạo Nguyên (道元, Dogen) cũng cho rằng: “Cho dầu là Ngũ Gia đi nữa thì cũng chỉ Một Phật Tâm Ấn mà thôi.”

Ngũ gia thất tông

五家七宗; J: goke-shishishū;|Năm nhà và bảy tông của Thiền tông Trung Quốc. Ngũ gia gồm có:|1. Quy Ngưỡng tông, do hai Thiền sư khai lập là Quy Sơn Linh Hựu (771-853) và môn đệ Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư (807-883 hoặc 813/814-890/891);|2. Lâm Tế tông, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866) khai sáng;|3. Tào Ðộng tông, do hai Thiền sư khai sáng, đó là Ðộng Sơn Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901);|4. Vân Môn tông, được Thiền sư Vân Môn Văn Yển (864-949), môn đệ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền sư thành lập;|5. Pháp Nhãn tông, do Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958) thành lập (trước đó tông này cũng được gọi là Huyền Sa tông, gọi theo tên của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, thầy của Thiền sư La-hán Quế Sâm, sư phụ của Ðại Pháp Nhãn);|Nếu kể cả hai nhánh của Lâm Tế tông được thành lập sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh) thì có tất cả là bảy tông:|6. Dương Kì phái, được Thiền sư Dương Kì Phương Hội (992-1049) thành lập;|7. Hoàng Long phái, được Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069) sáng lập.

ngũ gia thất tông

Năm nhà bảy phái, chỉ sự phân chia tông phái trong Thiền tông Trung Hoa. Thiền Tông Trung Hoa chia làm hai phái Bắc Thần Tú, Nam Huệ Năng. Bắc Thần Tú vẫn duy trì một tông không bị phân chia, Nam Huệ Năng chia ra làm bảy phái (Qui Ngưỡng, Lâm tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, Hoàng Long và Dương Kỳ)—Divisions of the Chinese Zen or Meditative School. It divided into Northern and Southern schools under Shen-Hsiu and Hui-Neng respectively. The northern school continued as a unit, the southern divided into seven sects. ; (五家七宗) Cũng gọi Ngũ phái thất lưu. Năm nhà 7 tông, từ gọi chung các phái Thiền Nam tông của Trung quốc. Tức là 5 tông: Lâm tế, Qui ngưỡng, Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, cộng thêm 2 phái Hoàng long và Dương kì phát xuất từ tông Lâm tế mà gọi chung là 7 tông. Thiền tông Trung quốc từ Sơ tổ Bồ đề đạt ma truyền đến đời thứ 5 là ngài Hoằng nhẫn, sau đó chia làm 2 phái Bắc tông Thần tú và Nam tông Tuệ năng. Tổ Tuệ năng có 2 vị đệ tử lớn là Nam nhạc Hoài nhượng và Thanh nguyên Hành tư. Hai vị này lập thành 2 phái và truyền thừa như sau: 1. Sau ngài Nam nhạc Hoài nhượng truyền đến các vị: Mã tổ Đạo nhất, Bách trượng Hoài hải, Hoàng bá Hi vận, Lâm tế Nghĩa huyền. Ngài Nghĩa huyền phát triển Thiền pháp rất mạnh, lập thành tông Lâm tế. Từ ngài Nghĩa huyền lại truyền đến các vị: Hưng hóa Tồn tưởng, Nam viện Tuệ ngung, Phong huyệt Diên chiểu, Thủ sơn Tỉnh niệm, Phần dương Thiện chiêu và Thạch sương Sở viên. Sau ngài Sở viên lại truyền đến các vị: Hoàng long Tuệ nam và Dương kì Phương hội, 2 vị này lại sáng lập 2 phái là Hoàng long phái và Dương kì phái. Còn ngài Bách trượng Hoài hải thì truyền cho ngài Qui sơn Linh hựu, ngài Linh hựu lại truyền cho Ngưỡng sơn Tuệ tịch, lập ra Qui ngưỡng tông. Như vậy, pháp hệ của ngài Nam nhạc Hoài nhượng có 2 tông Lâm tế và Qui ngưỡng, 2 phái Hoàng long và Dương kì. 2. Pháp hệ của ngài Thanh nguyên Hành tư có 3 tông là Tào động, Vân môn và Pháp nhãn, nhưng sự truyền thừa của 3 tông này có nhiều thuyết khác nhau, nguyên nhân là vì có những quan điểm bất đồng về trường hợp pháp thống của Thiền sư Đạo ngộ. Nay trình bày sơ lược như sau: a) Theo Tống cao tăng truyện quyển 10, Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14, Thiền lâm tăng bảo truyện quyển 4 và Truyền pháp chính tông kí quyển 7, thì Đạo ngộ là chỉ cho Thiên hoàng Đạo ngộ, đệ tử của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên. Tức là ngài Thanh nguyên Hành tư truyền cho ngài Thạch đầu Hi thiên, ngài Thạch đầu Hi thiên lại truyền đến các vị Thiên hoàng Đạo ngộ và Dược sơn Duy nghiễm. Rồi ngài Thiên hoàng truyền đến các vị: Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn và Vân môn Văn yển, người sáng lập tông Vân môn. Còn ngài Tuyết phong Nghĩa tồn thì truyền đến các vị: Huyền sa Sư bị, La hán Quế sâm và Pháp nhãn Văn ích người sáng lập tông Pháp nhãn. Về phía ngài Dược sơn Duy nghiễm, đồng môn với ngài Thiên hoàng Đạo ngộ, thì truyền đến các vị: Vân nham Đàm thạch, Động sơn Lương giới và Tào sơn Bản tịch người sáng lập tông Tào động. b) Cứ theo Tổ đình sự uyển quyển 1, Phật tổ lịch đại thông tải quyển 20, Thiền tông chính mạch quyển 7, Ngũ tông nguyên... thì có 2 vị Đạo ngộ. Thứ nhất: Thiên hoàng Đạo ngộ, đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên, nhưng pháp thống của ngài Thiên hoàng Đạo ngộ chỉ truyền đến các vị Tuệ chân, U nhàn và Văn bôn là dứt. Thứ hai: Thiên vương Đạo ngộ, đệ tử của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất, pháp thống của ngài Đạo ngộ này lần lượt truyền đến các vị Long đàm Sùng tín, Đức sơn Tuyên giám, Tuyết phong Nghĩa tồn, từ đó phát sinh 2 tông Vân môn và tông Pháp nhãn. Thuyết này căn cứ vào bài minh khắc trên bia của Thiền sư Đạo ngộ ở chùa Thiên vương tại phía tây thành Giang lăng, do ông Khâu huyền tố soạn c) Cứ theo Nhất nguyên ngũ phái biện, Ngũ phái nhất trích đồ và Phật tổ tông phái đồ... thì cũng đều chủ trương có 2 vị Đạo ngộ. Trong đó, Thiên vương Đạo ngộ là đệ tử của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất thì cũng đồng với thuyết ở trên đã nói. Nhưng có thuyết khác cho rằng ngài Dược sơn Duy nghiễm, đồng môn với ngài Đạo ngộ, cũng là đệ tử của Mã tổ, rồi đem tông Tào động qui về pháp hệ của ngài Mã tổ, vì thế, trong Ngũ gia biện, ngài Hổ quan Sư luyện, vị tăng Nhật bản, mới chủ trương tất cả 5 nhà Thiền Nam tông của Trung quốc thuộc Pháp hệ của ngài Mã tổ Đạo nhất, khiến cho pháp thống của ngài Thanh nguyên Hành tư tiêu ma hết. Tuy nhiên, 1 vị tăng người Nhật khác là ngài Đức nghiêm Dưỡng tồn soạn Ngũ gia biện chính để bác bỏ thuyết của ngài Hổ quan Sư luyện. d) Cứ theo bài Bạt trong Nhân thiên nhãn mục của ngài Trí hựu, thì bài minh khắc trên bia của ngài Thiên vương Đạo ngộ là do người đời sau mượn tên của ngài Khâu huyền tố mà ngụy soạn, bởi vì những nhân duyên ngữ cú của Thiên vương Đạo ngộ được ghi trong văn bia này hoàn toàn tương đồng với những nhân duyên ngữ cú của Thiền sư Đàm chiếu (pháp hệ ngài Mã tổ)ở chùa Bạch mã được ghi trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 10 và trong Kinh châu cựu đồ chí. Cho nên ngài Trí hựu chủ trương chỉ có 1 Thiên hoàng Đạo ngộ là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thạch đầu Hi thiên mà thôi. [X. Thích thị nguyên lưu ngũ tông thế phổ định tổ đồ tự; Phật tổ thống kỉ Q.29; Giáo ngoại biệt truyền Q.7; Lâm gian lục Q.thượng; Liên đăng hội yếu Q.19; Ngũ đăng hội nguyên Q.7; Ngũ gia ngữ lục tự; Ngũ gia tông phái đồ]. (xt. Ngũ Gia, Thiền Tông).

ngũ gia tông chỉ toản yếu

(五家宗旨纂要) Cũng gọi Tam sơn Lai thiền sư ngũ gia tông chỉ toản yếu. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Tam sơn Đăng lai soạn, ngài Tính thống biên tập, ấn hành vào năm Khang hi 42 (1703) đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 114.Nội dung sách này trình bày về tông phong đặc thù và pháp môn trọng yếu của 5 nhà Thiền tông, nhưng trọng tâm là tông Lâm tế và tông Tào động. Bàn về tông phong của các nhà thì như: Toàn cơ đại dụng của tông Lâm tế, Chính thiên giúp nhau của tông Tào động, thầy trò xướng họa của tông Qui ngưỡng, những lời nói cao xa của tông Vân môn và thấy sắc rõ tâmcủatông Pháp nhãn. Còn về pháp môn của các nhà thì có: Tứ liệu giản, Tam huyền tam yếu của tông Lâm tế; Chính thiên ngũ vị, Tứ tân chủ của tông Tào động... đều có giải thích sơ lược và phụ thêm bài tụng. Ngoài ra cũng chép thêm thuyết Tam thân tứ trí và Bát thức niêm bình. Đây là bộ sách nhập môn của Thiền tông.

ngũ gia tông phái

(五家宗派) Tác phẩm, do ngài Đạt quan Đàm dĩnh (989-1060) soạn vào đời Tống. Sách này hiện nay đã thất truyền nên không rõ nội dung thế nào. Nhưng qua sự trích dẫn rải rác trong các sách khác thì được biết rằng ngài Đàm dĩnh thuộc tông Lâm tế đời Tống, soạn sách này vào năm Gia hựu (1056-1063) đời vua Nhân tông, trong đó thu chép truyện kí, ngữ lục của các Thiền sư của 5 nhà Thiền tông (Qui ngưỡng, Lâm tế, Tào động, Vân môn, Pháp nhãn) ở thời kì Đường Tống.

Ngũ Gia và tông phong

Goke : khái niệm gọi là Ngũ Gia do Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) khởi xướng qua tác phẩm của ông là Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論, Shūmonjukkiron) vốn đã được một số trước tác khác kế thừa như Ngũ Gia Tông Phái (五家宗派, Gokeshūha) của Đạt Quán Đàm Dĩnh (達觀曇頴), Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目, Nindenganmoku, năm 1188) của Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭, hậu bán thế kỷ 12), Ngũ Gia Chánh Tông Tán (五家正宗賛, Gokeshōshūsan, năm 1254) của Hy Tẩu Thiệu Đàm (希叟紹曇), cho nên vào thời nhà Tống thì khái niệm này đã trở thành cố định. Sự hiện hữu của bộ Ngũ Gia Ngữ Lục (五家語錄, Gokegoroku, năm 1630) do Ngữ Phong Viên Tín (五風圓信, 1571-1647) và Quách Ngưng Chi (郭凝之, ?-?) biên tập, có thể nói là sự quy kết của khái niệm này. Sự cố định của Ngũ Gia đã dẫn đến sự cố định hóa tông phong của mỗi tông phái. Trong các tác phẩm như Nhân Thiên Nhãn Mục, v.v., ta có thể tìm thấy những quy định rất chi tiết về tông phong; nhưng người mà thể hiện quan niệm thông thường đơn giản và dễ hiểu về Ngũ Gia có thể được xem như khởi đầu từ Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙, 1238-1295) nhà Nguyên. Đó là những giải thích như Lâm Tế Tông thì đau nhức khoái lạc, Quy Ngưỡng Tông thì cẩn trọng nghiêm khắc, Vân Môn Tông thì cao siêu cổ xưa, Tào Động Tông thì chi tiết chặt chẽ, Pháp Nhãn Tông thì rõ ràng sáng sủa. Hơn nữa, về tính cách của Ngũ Gia thì ở tại Nhật Bản cũng có đề cập đến qua tác phẩm Ngũ Gia Tham Tường Yếu Lộ Môn (五家參詳要路門, Gokesanshōyōromon, năm 1788) của Đông Lãnh Viên Từ (東嶺圓慈, 1721-1791). Ngoài ra, từ lập trường nhìn tuyệt đối Phật đạo toàn nhất, Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253) của Nhật Bản đã phê phán kịch liệt bộ Nhân Thiên Nhãn Mục khi giải thích riêng về Ngũ Gia.

ngũ gian sắc

(五間色) Năm màu trung gian, đối lại với 5 màu chính(xanh, vàng, đỏ, trắng, đen). Tức là 5 màu: Màu lụa đào, màu hồng, màu tím, màu xanh lá cây, màu diêm sinh. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1, tiết 1]. (xt. Ngũ Sắc).

ngũ giác

Lầu năm góc: Pentagon. ; (五覺) Chỉ cho Bản giác, Thủy giác, Tương tự giác, Tùy phần giác và Cứu cánh giác. 1. Bản giác: Tính giác thường trụ sẵn có. Nghĩa là bản thể của tâm xa lìa các niệm, thanh tịnh sáng suốt, đó là Pháp thân bình đẳng của Như lai. 2. Thủy giác: Nương vào công đức tu hành mà hiển bày thể của bản giác. Nghĩa là thể tính của bản giác vốn chân thực nhưng từ chân khởi vọng mà thành bất giác, nếu bỏ vọng về chân thì thể bản giác hiển hiện, nên gọi là Thủy giác. 3. Tương tự giác: Bồ tát ở giai vị Thập tín chứng được Thủy giác tương tự. Nghĩa là Bồ tát đã xả bỏ phân biệt chấp tướng thô trọng, sắp phá vỡ hoặc vô minh, thể bản giác sắp hiển lộ, tuy chưa thật sự chứng được nhưng đã gần giống với chân nên gọi là Tương tự giác. 4. Tùy phần giác: Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, đã tùy phần chứng được Thủy giác chân chính. Nghĩa là Bồ tát phá được 1 phẩm hoặc vô minh thì ngay đó chứng được 1 phần lí pháp tính, nhưng giác đạo chưa tròn đủ nên gọi là Tùy phần giác. 5. Cứu cánh giác: Bồ tát ở giai vị Diệu giác chứng được Thủy giác rốt ráo tột bậc, hợp làm 1 với Bản giác. Nghĩa là Bồ tát Thập địa đã hoàn thành nhân vị, chứng Phật quả Diệu giác, đầy đủ các phương tiện, thấy suốt tâm tính, xa lìa các niệm vi tế, tâm tính thanh tịnh thường trụ, cho nên gọi Cứu cánh giác. [X. luận Đại thừa khởi tín (ngài Chân đế dịch); Đại minh tam tạng pháp số Q.20].

ngũ gián sắc

See Ngũ Sắc.

Ngũ giáo

五教; C: wǔ jiāo; J: gokyō;|Năm loại giáo pháp. Theo nội dung, phương thức và thời gian truyền bá, giáo lí trong các kinh điển Phật giáo được chia thành 5 loại. Sự phân loại nầy thường theo nội dung (giáo hoá căn cơ) sâu cạn của kinh. Cách phân loại của tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là phổ biến hơn cả. Nhưng vào trước thời kì phán giáo (thời kì Trung Hoa phân chia Nam-Bắc triều), đã có một số phân loại. Đó là:|A. Năm giáo pháp theo đề xuất của sư Tự Quỹ (自軌): 1. Giáo lí Duyên khởi (như Nhất thiết hữu bộ…); 2. Giáo lí Giả danh (như Thành thật luận…); 3. Giáo lí tính không (kinh Bát-nhã), 4. Giáo lí Diệu hữu (kinh Niết-bàn); 5. Giáo lí Chân tế (Thật tại Tối thượng, kinh Hoa Nghiêm).|B. Năm giáo pháp theo sư Huệ Quán (慧觀) và Pháp Vân (法雲): 1. Giáo lí về Hữu (kinh A-hàm); 2. Giáo lí về Tính không (kinh hệ Bát-nhã); 3. Giáo lí về khen ngợi pháp Bồ Tát, phê phán pháp Thanh văn (ức dương giáo, Bao biếm ức dương giáo, kinh Duy-ma-cật); 4. Đồng quy giáo (kinh Pháp Hoa); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn).|C. Theo giáo lí của tông Hoa Nghiêm do sư Pháp Tạng (法藏) chủ trương, 5 giáo pháp gồm: 1. Tiểu thừa giáo (小乘教); 2. Đại thừa thuỷ giáo (大乘始教), là giáo lí cơ sở của Đại thừa, đó là giáo lí của tông Pháp tướng và tông Tam luận; 3. Đại thừa chung giáo (大乘終教): là giáo lí thời kì cuối của Đại thừa, khẳng định mọi chúng sinh đều có Phật tính; 4. Đại thừa đốn giáo (大乘頓教); 5. Đại thừa viên giáo (大乘圓教), là giáo lí hoàn chỉnh nhất của Đại thừa, còn gọi là giáo lí Hoa Nghiêm.

ngũ giáo

Năm giáo phái của tông Hoa Nghiêm. Có hai nhóm—The five divisions of Buddhism according to the Hua-yen School. There are two groups: Từ sư Đỗ Thuận xuống đến sư Hiền Thủ—From Tu-Shun down to Hsien-Shou:Tiểu Thừa Giáo: Theravada (skt)—Phái Tiểu Thừa Theravada giải thích về “ngã không,” chư pháp là có thật, và niết bàn là đoạn diệt (dành cho hạng chúng sanh có căn cơ thấp kém nhỏ nhoi). Giáo lý nầy thuộc kinh điển A Hàm. Mặc dù chúng phủ nhận sự hiện hữu của một bản ngã cá biệt, lại chủ trương thực hữu và thừa nhận sự hiện hữu của tất cả pháp sai biệt hay pháp hữu. Theo kinh điển nầy thì Niết Bàn là cứu cánh diệt tận, nhưng lại không thấu triệt về tính cách bất thực (pháp không) của chư pháp. Về duyên khởi, luận, giáo lý nầy thuộc về nghiệp cảm duyên khởi—The Doctrine of the Small Vehicle or Hinayana. The Hinayana corresponds to the Agama sutras which interpret that the self is without substance, the separate elements or dharmas are real, and nirvana is their total annihilation. This doctrine refers to the teaching of the four Agamas. Although they deny the existence of the personal self (pudgala-sunyata), they are realistic and admit the existence of all separate elements (dharma). They hold that Nirvana is total extinction, and yet they do not understand much of the unreality of all elements (dharma-sunyata). As to the causation theory, they attribute it to action-influence. Đại Thừa Thủy Giáo: Khởi thủy Đại Thừa, được chia làm hai chi (giáo lý dạy cho những người vừa bước lên Đại Thừa). Cả hai đều không thừa nhận sự hiện hữu của Phật tánh trong mọi loài, nên cả hai được xem như là nhập môn sơ thủy—The Elementary Doctrine of the Great Vehicle (Mahayana). The primary or elementary stage of Mahayana is divided into two sections. Since neither admits the existence of the Buddha-nature (Buddha-svabhava) in all beings, both are considered to be elementary: Tướng Thủy Giáo: Giáo lý nhập môn y cứ trên sai biệt tướng của chư pháp, như Pháp Tướng Tông. Tướng Thủy Giáo phân tách về tánh đặc thù của chư pháp, được tìm thấy trong các kinh Du Già—The elementary doctrine based on the specific character of all elements (dharma-laksana), e.g., the Idealistic School or Dharmalaksana. Realistic Mahayana which analyzes the specific and distinct character of the dharmas, found in the Yogachara Sutras. Pháp Tướng tông nêu lên thuyết A-Lại-Da duyên khởi trên nền tảng pháp tướng và không biết đến nhất thể của sự và lý. Vì tông nầy chủ trương sự sai biệt căn để của năm hạng người, nên không thừa nhận rằng mọi người đều có thể đạt đến Phật quả—The Dharmalaksana School sets forth the theory of causation by ideation-store (Alaya-vijnana) on the basis of phenomenal charateristics (laksana) and does not recognize the unity of fact and principle. Also, since it maintains the basic distinction of five species of men, it does not admit that all men can attain Buddhahood. Không Thủy Giáo: Giáo lý nhập môn y cứ trên sự phủ định về tất cả các pháp hay pháp không, như Tam Luận Tông. Không Thủy Giáo dạy về lẽ không của chư pháp, được tìm thấy trong các kinh Bát Nhã—The elementary doctrine based on negation of all elements or dharma-sunyata, e.g., San-Lun School. This is the Idealistic Mahayana that holds all dharmas are non-substantial, found in Prajna or Wisdom Sutras. Tam Luận tông chủ trương thiên chấp về “Không” trên căn cứ của “tự tánh” (Svabhava-alaksana) hay tánh vô tướng không có bản chất tồn tại, nhưng lại thừa nhận nhất thể của hữu, nên tông nầy xác nhận rằng mọi người trong tam thừa và năm chủng tánh đều có thể đạt đến Phật quả—The San-Lun holds the one-sided view of “Void” on the basis of “own nature” or no abiding nature, but admitting the unity of being and non-being, it affirms that men of the three vehicles and the five species are all able to attain Buddhahood. Đại Thừa Chung Giáo: Đại Thừa trong giai đoạn cuối dạy về Chân Như (dharmatathata) và Phật tánh phổ quát, dạy về lẽ chân như bình đẳng, và khả năng thành Phật của chúng sanh, tìm thấy trong Kinh Lăng Già, Đại Bát Niết Bàn hay Đại Thừa Khởi Tín Luận, vân vân. Giáo lý nầy thừa nhận rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể đạt đến Phật quả. Thiên Thai tông theo giáo lý nầy. Chân lý cứu cánh Đại Thừa được trình bày bằng giáo lý nầy. Do đó, nó được gọi là giáo lý thuần thục hay Thục Giáo. Trong thủy giáo, sự và lý luôn tách rời nhau, trong khi ở chung giáo, sự lúc nào cũng là một với lý, hay đúng hơn cả hai là một. Như Lai Tạng Duyên Khởi là đặc điểm của giáo lý nầy. Nó cũng còn được gọi là Chân Như Duyên Khởi—The Final Mahayana teaching, or the Mahayana in its final stage which teaches the Bhutatathata and universal Buddhahood, or the essentially true nature of all things and the ability of all beings to attain Buddhahood. This is the final metaphysical concepts of Mahayana, as presented in the Lankavatara Sutra, the Mahaparinirvana text, and the Awakening of Faith, etc. This doctrine asserts that all living beings have Buddha-nature and can attain Buddhahood. The T'ien-T'ai School adheres to this doctrine. By this teaching the Ultimate Truth of Mahayana is expounded. Therefore, it is called the Doctrine of Maturity. As it agrees with reality, it also called the True Doctrine. In the elementary doctrine, fact and principle were always separate, while in this final doctrine, fact is always identified with principle, or in short, the two are one. The causation theory by Matrix of the Thuscome is special to this doctrine. It is also called the theory of causation by Thusness or Tathata. Đại Thừa Đốn Giáo: The Abrupt Doctrine of the Great Vehicle. Giáo lý nầy chỉ cho ta sự tu tập không cần ngôn ngữ hay luật nghi, mà gọi thẳng vào trực kiến của mỗi người—This means the training without word or order, directly appealing to one's own insight. Giáo lý nầy nhấn mạnh đến “trực kiến,” nhờ đó mà hành giả có thể đạt đến giác ngộ viên mãn tức khắc. Tất cả văn tự và ngôn ngữ đều đình chỉ ngay. Lý tánh sẽ tự biểu lộ trong thuần túy của nó, và hành động sẽ luôn luôn tùy thuận với trí huệ và tri kiến—This teaching emphasized on one's own insight by which one can attain enlightenment all at once. All words and speech will stop at once. Reason will present itself in its purity and action will always comply with wisdom and knowledge. Đốn giáo bằng chánh định nơi tư tưởng hay niềm tin chứ không bằng tu trì thiện nghiệp. Giáo lý nầy dạy cho người ta chứng ngộ tức thì dựa trên những giảng giải bằng lời hay qua tiến trình thực hành tu tập cấp tốc, tìm thấy trong Kinh Duy Ma Cật—The Mahayana immediate, abrupt, direct, sudden, or intuitive school, by right concentration of thought, or faith , apart from good works (deeds). This teaching expounds the abrupt realization of the ultimate truth without relying upon verbal explanations or progression through various stages of practice, found in Vimalakirti Sutra. Giáo lý nầy chủ trương nếu tư tưởng không còn mống khởi trong tâm của hành giả thì người ấy là một vị Phật. Sự thành đạt nầy có thể gặt hái được qua sự im lặng, như được Ngài Duy Ma Cật chứng tỏ, hay qua thiền định như trường hợp của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, sơ tổ Thiền Tông Trung Hoa—This doctrine holds that if thought ceases to arise in one's mind, the man is a Buddha. Such an attainment may be gained through silence as shown by Vimalakirti, a saintly layman in Vaisali, or through meditation as in the case of Bodhidharma, the founder of Chinese Ch'an School. Viên Giáo: Viên giáo dạy về Nhất Thừa hay Phật Thừa. Viên giáo Hoa Nghiêm, phối hợp tất cả làm thành một tông, được tìm thấy trong các Kinh Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Có hai trình độ của Đại Thừa Viên Giáo—The Round Doctrine of the Great Vehicle or the Perfect teaching expounds the One Vehicle, or the Buddha Vehicle. The complete or perfect teaching of the Hua-Yen, combining the rest into one all-embracing vehicle, found in the Avatamsaka and Lotus Sutras. There are two grades of the round or perfect doctrine. ; (五教) Năm loại giáo pháp phân biệt Thánh giáo đức Phật nói trong 1 đời. I. Ngũ Giáo. Năm giáo do ngài Pháp tạng Hiền thủ lập vào đời Đường: 1. Tiểu thừa giáo (Ngu pháp Thanh văn giáo).2. Đại thừa thủy giáo (Quyền giáo). 3. Đại thừa chung giáo (Thực giáo). 4. Đốn giáo. 5. Viên giáo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.3]. (xt. Ngũ Giáo Thập Tông). II. Ngũ Giáo. Năm giáo do ngài Khuê phong Tông mật lập vào đời Đường: 1. Nhân thiên giáo: Giáo pháp nói về lí nhân quả báo ứng lành dữ trong 3 đời, tu 4 thiền 8 định. 2. Tiểu thừa giáo: Giáo pháp nói về lí ngã không, tu quán trí vô ngã để đoạn trừ ác nghiệp tham... chứng được ngã không chân như. 3. Đại thừa pháp tướng giáo: Giáo pháp tương đương với Tướng thủy giáo. Tức là giáo pháp nói về tướng duy thức biến hiện, tu quán Duy thức, 6 độ, 4 nhiếp, chiết phục phiền não chướng và sở tri chướng, chứng chân như ngã không và pháp không. 4. Đại thừa phá tướng giáo: Giáo pháp tương đương với Không thủy giáo. Tức là giáo pháp nói về lí tất cả đều không, quán không nghiệp nhân, không quả báo, không tu, không chứng để phá cái chấp các pháp có tướng cố định. 5. Nhất thừa hiển tính giáo: Nhờ vào phương tiện ẩn mật chỉ thẳng tự tâm tức là chân tính bản giác, lìa các vọng tưởng chấp trước mà ngay trong tự thân thấy được trí tuệ rộng lớn của Như lai. [X. luận Hoa nghiêm nguyên nhân; Hoa nghiêm nguyên nhân luận phát vi lục Q.trung; Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự Q.thượng, phần 2; Viên giác kinh đại sớ Q.thượng, phần 1]. III. Ngũ Giáo. Năm giáo do Tam tạng Ba phả mật đa la lập vào đời Đường. 1. Tứ đế giáo: Giáo nói về pháp Tứ đế, ngộ lí Niết bàn chân không, như các kinh A hàm. 2. Vô tướng giáo: Giáo nói các pháp đều không, để ngộ lí pháp không của Đại thừa, như kinh Bát nhã. 3. Quán hành giáo: Giáo nói về các pháp quán tâm hành, để hiển rõ lí tu nhân khế hợp với quả, như kinh Hoa nghiêm. 4. An lạc giáo: Giáo pháp nói về 4 đức thường, lạc, ngã, tịnh và lí thường trụ vắng lặng, khiến chúng sinh được yên vui, như kinh Niết bàn. 5. Thủ hộ giáo: Giáo nói về việc thủ hộ chính pháp, khiến chúng sinh giữ gìn không để mất, như kinh Đại tập. [X. Hoa nghiêm sớ Q.2; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.5; Đại tạng pháp số Q.27; Giáo thừa pháp số Q.19; Đại minh tam tạng pháp số Q.21].

Ngũ giáo chương

五教章; C: wǔjiāo zhāng; J: gokyōjō;|Hoa Nghiêm ngũ giáo chương.

Ngũ giáo cửu sơn

五教九山; C: wǔjiāo jiǔshān; J: gokyōkyūsan; K: ogyo kusan.|Năm giáo pháp và Chín tông phái (Cửu sơn). Mô tả tình hình sinh hoạt của Tăng-già Phật giáo từ cuối triều đại Tân La cho đến gần hết thời kì Cao Li (k: koryǒ). Những giáo pháp và tông phái nầy được hợp nhất lại trong thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn) thành hai tông phái Giáo (教; k: kyo) và Thiền (禪; k: sǒn).

Ngũ giáo lưỡng tông

五教兩宗; C: wǔjiāo liǎngzōng; J: gokyō ryōshū; K: ogyo yangjong.|Năm giáo phái và hai Thiền phái. Đề cập đến tình hình phân định các tông phái Phật giáo ở Hàn Quốc vào thời kì Cao Li (k: koryǒ), sau sự phân phái Ngũ giáo cửu sơn. Hai Thiền phái trong thời điểm nầy là Thiên Thai (k: ch'ǒnt'ae) và Thiền (k: sǒn).

ngũ giáo lưỡng tông

(五教兩宗) Từ gọi chung các tông phái Phật giáo Triều tiên tồn tại trong khoảng 300 năm từ giữa thời đại Cao li đến đầu triều nhà Lí. Về nội dung của Ngũ giáo lưỡng tông (5 giáo 2 tông) có nhiều thuyết khác nhau, vì thời đại không đồng nên có thay đổi. Theo điều Ngũ giáo lưỡng tông kì đảo bình tặc trong Triều tiên Phật giáo thông sử hạ biên của Lí năng hòa, thì Ngũ giáo là: Giới luật tông, Pháp tướng tông, Pháp tính tông, Viên dung tông và Thiên thai tông, còn Lưỡng tông là Thiền tịch tông và Tào khê tông. Nhưng theo tác phẩm Thiền tông cửu sơn lai lịch do Kim bao quang soạn, thì Ngũ giáo là: Giới luật, Pháp tướng, Niết bàn, Pháp tính và Viên dung, còn Lưỡng tông là Tào khê tông và Thiên thai tông. Phần đông đều chấp nhận thuyết của Kim bao quang. [X. Lí triều thực lục Phật giáo sao tồn Q.1; Lí triều Phật giáo; Triều tiên thiền giáo sử].

ngũ giáo phật thân

(五教佛身) Năm giáo do tông Thiên thai phán biệt đều có lập riêng Phật thân, gọi là Ngũ giáo Phật thân. Năm giáo là: Tiểu thừa giáo, Thủy giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. 1. Tiểu thừa giáo lập 2 thân: Sinh thân và Hoá thân. 2. Thủy giáo lập 3 thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. Ngoài ra còn lập 2 thân: Sinh thân, Pháp thân và 4 thân: Pháp thân, Tự thụ dụng thân, Tha thụ dụng thân và Ứng hóa thân. 3. Chung giáo lập 3 thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân; cũng lập 2 thân: Tự tính pháp thân và Ứng hóa pháp thân, còn lập 4 thân: Tự tính thân, Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, hoặc Ứng hóa thân, Công đức thân, Trí tuệ thân và Như như thân. 4. Đốn giáo chỉ lập 1 thân: Thực tính thân.5. Viên giáo lập: Giải cảnh thập Phật và Hành cảnh thập Phật.

ngũ giáo thập lí

(五教十理) Năm giáo và 10 lí mà tông Pháp tướng dùng để chứng minh sự tồn tại của thức A lại da thứ 8. Đại thừa chủ trương có thức A lại da thứ 8, còn tất cả kinh luận Tiểu thừa thì chỉ nói có 6 thức chứ không nói 8 thức, vì thế mà Đại thừa mới nêu ra Ngũ giáo thập lí (5 giáo 10 lí) để chứng minh sự tồn tại của thức A lại da thứ 8. Ngũ giáo nghĩa là trong các kinh có 5 chỗ nói đến thức A lại da thứ 8, tức là 2 chỗ trong kinh Đại thừa A tì đạt ma, 1 chỗ trong kinh Giải thâm mật, 1 chỗ trong kinh Nhập lăng già và 1 chỗ trong A cấp ma của Đại chúng bộ. Thập lí trong các kinh: 1. Sự tập khởi của chủng tử các pháp tạp nhiễm, thanh tịnh gọi là tâm, nếu không có thức A lại da thì tâm trì chủng kia không nên có. Nói cách khác, tâm trì chủng (giữ gìn chủng tử) ấy chính là thức A lại da. 2. Tâm dị thục chiêu cảm nghiệp thiện, ác chính là thức A lại da. 3. Chúng sinh hữu tình trôi lăn trong 5 đường 4 loài, cái bị trôi lăn ấy chính là thức A lại da(tức chủ thể luân hồi). 4. Có sắc căn thân là có chấp thụ, sắc căn thân ấy chính là thức A lại da. 5. Ba thứ thọ, noãn, thức nương vào nhau mà tiếp tục tồn tại; cái giữ cho thọ và noãn được tương tục lâu dài, chính là thức A lại da. Nếu không có thức này thì mệnh sống không thể có. 6. Các loài hữu tình khi mệnh chung ắt ở trạng thái tán tâm, chứ không phải ở trong định vô tâm, vậy nếu không có thức A lại da duy trì thì tâm ấy tiêu mất, không thể chuyển sinh. 7. Thức duyên danh sắc, danh sắc duyên thức, tự thể của thức ấy chính là thức A lại da. 8. Tất cả hữu tình đều nhờ ăn mà sống, cái thể ăn của thức ấy chính là thức A lại da. 9. Người ở trong định Diệt tận, thân ngữ, tâm hành đều diệt, nhưng thọ (sự sống) không diệt, thân cũng không mất hơi ấm (noãn), các căn không biến đổi, hư hoại, thức chẳng lìa thân. Thức chẳng lìa thân ấy chính là thức A lại da. 10. Vì tâm nhơ nhớp nên có hữu tình nhơ nhớp, vì tâm trong sạch nên có hữu tình trong sạch; tâm nhơ nhớp và trong sạch ấy chính là thức A lại da. [X. luận Thành duy thức Q.3, 4].

ngũ giáo thập tông

(五教十宗) Năm giáo 10 tông. Đây là sự phán thích về giáo tướng của tông Hoa nghiêm, do Tổ sư Hiền thủ thành lập. Ngài Hiền thủ căn cứ vào tông nghĩa của tông Hoa nghiêm mà chia Thánh giáo Như lai nói trong 1 đời thành 5 giáo 10 tông. Ngài Đỗ thuận(Sơ tổ tông Hoa nghiêm) từ pháp quán thực tiễn mà lập ra Tiểu thừa giáo, Đại thừa thủy giáo, Đại thừa chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo. Còn ngài Hiền thủ thì căn cứ vào giáo nghĩa để thành lập 5 giáo. Quan điểm khác nhau của 2 ngài về Ngũ giáo là ở tác dụng Nhất tâm hồi chuyển. Ngũ giáo là căn cứ vào sự sâu cạn của pháp nghĩa sở thuyên mà chia giáo tướng của Như lai làm 5 loại, còn Thập tông là dựa theo nghĩa lí Phật nói mà chia làm 10 loại.Nội dung 5 giáo là: 1. Tiểu thừa giáo, cũng gọi Ngu pháp tiểu thừa giáo, Ngu pháp thanh văn giáo: Giáo pháp trong kinh A hàm như 4 đế, 12 nhân duyên v.v... nói cho những người thuộc căn cơ Tiểu thừa. 2. Đại thừa thủy giáo, cũng gọi Phần giáo: Giáo pháp nói cho hàng Tiểu thừa mới vào Đại thừa, nhưng căn cơ của họ chưa chín mùi. Giáo pháp này là cửa đầu tiên của Đại thừa, trong đó lại được chia làm 2 thứ: Không thủy giáo và Tướng thủy giáo. a) Không thủy giáo: Giáo pháp nói trong kinh Bát nhã... nghĩa là tất cả vật chất đều không có thực thể nhất định, chủ trương hết thảy vốn không. Nhưng giáo pháp này mới chỉ nói rõ nghĩa không về phá tướng trừ chấp, chứ chưa suốt hết pháp lí Đại thừa, cho nên gọi là Không thủy giáo. b) Tướng thủy giáo: Chỉ cho giáo pháp nói trong kinh Giải thâm mật... nghĩa là các pháp đều do nhân duyên sinh và muôn vật đều có bản thể và hiện tượng khác nhau, chủ trương 5 tính đều khác nhau. Vì giáo pháp này bàn rộng về pháp tướng mà ít nói đến pháp tính, vả lại, chỉ đứng về phương diện sự pháp sinh diệt mà thuyết minh A lại da duyên khởi, cho nên gọi là Tướng thủy giáo. 3. Đại thừa chung giáo, cũng gọi Thực giáo, Thục giáo, Chung giáo. Giáo pháp nói chân như tùy duyên mà sinh các pháp nhơ, sạch nhưng thể của nó vốn tự thanh tịnh, vì thế cho rằng hết thảy chúng sinh đều sẽ thành Phật, như các kinh Lăng già, Thắng man và luận Đại thừa khởi tín chủ trương. Giáo pháp này bàn nhiều về pháp tính mà ít nói đến pháp tướng, thảng hoặc có đề cập đến pháp tướng thì cũng chỉ nhằm qui về pháp tính. Nói 8 thức thông với Như lai tạng, tùy duyên thành lập 2 nghĩa sinh diệt và không sinh diệt. Vì giáo này đã đạt đến chỗ cùng tột của thuyết Đại thừa, cho nên được gọi là Đại thừa chung giáo. 4. Đốn giáo, cũng gọi Đại thừa đốn giáo. Giáo này không lập văn tự, chỉ biện minh về chân tính, không đặt ra các giai vị đoạn hoặc (phiền não) chứng lí, mà chủ trương tu mau, ngộ ngay, như được nói trong kinh Duy ma. Giáo này khác với chủ trương tu chứng theo trình tự từ thấp đến cao của 2 giáo Thủy, Chung, cũng không giống với viên minh cụ đức(đầy đủ đức tròn sáng)của Viên giáo, cho nên lập riêng thành 1 giáo. 5. Viên giáo, cũng gọi Nhất thừa viên giáo. Giáo này nói tính hải viên dung, tùy duyên khởi thành pháp giới vô tận, các pháp vô ngại, tức là nhau hòa nhập vào nhau, 1 giai vị tức là tất cả giai vị, tất cả giai vị tức là 1 giai vị, Thập tín mãn tâm liền thành chính giác, vì thế gọi là Viên, như giáo thuyết của kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa v.v... Giáo này lại chia ra 2 thứ: Biệt giáo nhất thừa và Đồng giáo nhất thừa:a) Biệt giáo nhất thừa: Giáo này vượt ngoài các giáo mà nói kinh Hoa nghiêm là pháp môn viên dung không thể nghĩ bàn, khác hẳn với giáo Tam thừa, vì thế gọi là Biệt giáo nhất thừa. Đây là Viên giáo do ngài Hiền thủ thành lập. b) Đồng giáo nhất thừa: Kinh Pháp hoa chủ trương xóa bỏ Nhị thừa, thuyết này tương đồng với giáo Tam thừa, vì thế gọi là Đồng giáo nhất thừa. Đây là Viên giáo do tông Thiên thai thành lập. Nội dung 10 tông là: 1. Ngã pháp câu hữu tông: Chủ trương ngã và pháp đều đủ và có thực thể tồn tại. Đây là tông nghĩa của Nhân thiên giáo và các bộ phái: Độc tử, Pháp thượng, Hiền trụ, Chính lượng, Mật lâm sơn và Kinh lượng thuộc Tiểu thừa. 2. Pháp hữu ngã vô tông: Chủ trương pháp thể thường có, nhưng không có ngã chủ quan tồn tại. Đây là tông nghĩa của các bộ phái: Tát bà đa (Hữu bộ) Tuyết sơn, Đa văn, Hóa địa... thuộc Tiểu thừa. 3. Pháp vô khứ lai tông: Chủ trương chỉ có các pháp trong hiện tại là có thực thể còn các pháp quá khứ, vị lai thì thể dụng đều không. Đây là tông nghĩa của các bộ phái: Đại chúng, Kê dận, Chế đa sơn, Tây sơn trụ, Bắc sơn trụ, Pháp tạng và Ẩm quang thuộc Tiểu thừa. 4. Hiện thông giả thực tông: Chủ trương các pháp trong hiện tại, trừ 5 uẩn ra, còn tất cả đều không có thực thể, đều là có giả. Đây là tông nghĩa của Thuyết giả bộ và luận Thành thực trong Tiểu thừa. 5. Tục vọng chân thực tông: Chủ trương tất cả sự vật trong thế tục đều là giả, chỉ có chân lí Phật giáo là thực tại. Đây là tông nghĩa của Thuyết xuất thế bộ thuộc Tiểu thừa.6. Chư pháp đãn danh tông: Chủ trương hết thảy các pháp chỉ có cái tên giả mà thôi chứ hoàn toàn không có thực thể. Đây là tông nghĩa của Nhất thuyết bộ thuộc Tiểu thừa. 7. Nhất thiết giai không tông: Chủ trương các pháp đều không, thuộc Đại thừa vô tướng. Đây là tông nghĩa của Đại thừa thủy giáo (Tông này chỉ căn cứ vào Không thủy giáo mà đặt tên). 8. Chân đức bất không tông: Chủ trương bản tính của tất cả sự vật là chân như, đầy đủ tính công đức vô lậu của Như lai tạng; cũng tức là lí chân như cùng với sự vạn hữu dung thông vô ngại. Đây là tông nghĩa của Đại thừa chung giáo. 9. Tướng tưởng câu tuyệt tông: Chủ trương chân lí vượt ra ngoài cảnh tướng và tâm tưởng, không thể nói năng, chẳng thể nghi bàn. Đây là tông nghĩa của Đốn giáo.10. Viên minh cụ đức tông: Chủ trương các pháp đều không ngăn ngại lẫn nhau, có quan hệ hết lớp này đến lớp khác vô cùng, đầy đủ tất cả công đức. Đây chỉ cho giáo thuyết trong kinh Hoa nghiêm, là tông nghĩa của Nhất thừa viên giáo. Trong 10 tông trên đây, 6 tông trước thuộc Tiểu thừa giáo, vốn do ngài Khuy cơ thành lập, ngài Pháp tạng dùng theo. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Ngũ giáo chương quan chú Q.thượng, phần 1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.2, 3; Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí Q.1; Hoa nghiêm huyền đàm Q.5; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.5, 8; Viên giác kinh lược sớ Q.thượng, phần 1; Viên giác kinh đại sớ Q.thượng, phần 1; Viên giác kinh lược sớ sao Q.3; Ngũ giáo chương phục cổ kí Q.2].

ngũ giả danh hảo tâm bố thí nhân

Năm loại người giả danh hảo tâm mà bố thí—Five kinds of people who pretend to give out of goodness of their hearts. Miệng nói tốt, hoặc nói bố thí mà không bao giờ chịu thực hành, chỉ là những lời hứa trống rỗng: Talk of goodness or giving, but they never carry out what they say, only hollow speech or empty promises. Lời nói và hành động đều trái ngược nhau, tức là ngôn hành bất tương ưng: Speech and actions contradict one another. Bố thí mà trong tâm luôn mong cầu được bồi hoàn bằng các sự đền ơn đáp nghĩa: Give but their minds always hope that their actions will be compensated and be returned in some way. Bỏ ra có một tấc mà muốn thâu vào một thước: Give little but want a great deal in return. Gieo trồng ít mà muốn đặng trái nhiều: Plant few seeds but wish to harvest abundance of fruits.

ngũ giải thoát luân

The five wheels of liberation or salvation (the five mandala in which are the Five Dhyani-Buddhas)—See Ngũ Phật. ; (五解脫輪) I. Ngũ Giải Thoát Luân. Cũng gọi Ngũ nguyệt luân, Ngũ trí nguyệt luân. Năm vòng tròn trong 1 vòng tròn lớn của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo. Mạn đồ la Kim cương giới là pháp tu sinh tu hiển, người vào luân đàn(đàn hình tròn)này cởi bỏ được sự trói buộc của sinh tử trong 5 đường, thành tựu 5 trí trong sạch tròn sáng, cho nên ví dụ như vầng trăng (nguyệt luân)có đầy đủ đức tròn sáng, vì thế gọi là Ngũ giải thoát luân. Về hình vẽ, trong 1 vòng tròn Kim cương lớn vẽ 5 vòng tròn, chính giữa là đức Đại nhật Như lai, phương đông là A súc Như lai, phương nam là Bảo sinh Như lai, phương tây là A di đà Như lai và phương bắc là Thiên cổ lôi âm Như lai. Trong hội Thành thân thì có vị Đại thần nâng đỡ lấy vòng Kim cương lớn này. Bốn vị Đại thần biểu thị 4 đại: Đất, nước, lửa, gió, còn Ngũ giải thoát luân thì biểu thị cho không đại của 5 trí. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; kinh Đại giáo vương Q.5] II. Ngũ Giải Thoát Luân. Tên khác của Ngũ luân tháp. (xt. Ngũ Luân Tháp).

ngũ giải thoát thành thục tưởng

Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm giải thoát thành thục tưởng—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five perceptions of making for maturity of liberation: Vô Thường Tưởng: Anicca-sanna (p)—The perception of impermanence. Khổ Tưởng Trong Vô Thường: Anicce-dukkha-sanna (p)—The perception of suffering in impermanence. Vô Ngã Tưởng trong Khổ: Dukkhe-anatta-sanna (p)—The perception of impersonality in suffering. Đoạn Trừ Tưởng: Pahana-sanna (p)—The perception of abandoning. Vô Tham Tưởng: Viraga-sanna (p)—The perception of dispassion.

ngũ giải thoát xứ

Vimuttayatanani (p)—Five bases of deliverance—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có năm giải thoát xứ—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are five bases of deliverance: Giải Thoát Xứ Thứ Nhất—The first base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo, khi nghe bậc Đạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ vậy mà sanh khoan khoái, nhờ khoan khoái hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh—Here, the teacher or a respected fellow-disciple teaches a monk Dhamma. Anh he receives the teaching, he gains a grasp of both the spirit and the letter of the teaching. At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his sense are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Ở đây vị Tỳ Kheo không nghe giáo pháp, nhưng vị ấy, theo điều đã nghe đã học từ trước, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ vậy mà sanh khoan khoái, nhờ khoan khoái sanh hỷ. Nhờ hỷ tâm mà thân khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ tâm được định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching, but in the course of teaching Dhamma to others he has learnt it by heart as he has heard it. At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Ba—The third base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo không được nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và văn cú mà thân được khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching, but as he is chanting the Dhamma, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Tư—The fourth base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo, không nghe một bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh thuyết pháp; cũng không theo điều đã nghe đã học mà thuyết pháp rộng rãi cho các người khác; cũng không theo điều đã nghe đã học, tụng đọc một cách rõ ràng. Vị ấy theo những điều đã nghe đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Nhờ vậy mà đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu nghĩa lý và văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh: Here a monk who has not heard the teaching from a teacher or a respected fellow-disciple; nor has he taught the Dhamma; nor has he chanted the Dhamma; but when he applies his mind to the Dhamma, thinks and ponders over it and concentrates his attention on it, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established. Giải Thoát Xứ Thứ Năm—The fifth base of deliverance: Ở đây vị Tỳ Kheo không nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe đã học thuyết giảng một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát, nhưng vị Tỳ Kheo ấy khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý và văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm định tỉnh—Here a monk who has not heard the teaching from a teacher or a respected fellow-disciple; nor has he taught the Dhamma; nor has he chanted the Dhamma; nor has he thought or pondered over the Dhamma; but when he has properly grasped some concentration-sign (samadhi-nimittam), has well considered it, applied his mind to it (supadharitam), and has well penetrated it with wisdom (suppatividdham-pannaya). At this, joy arises in him, and from this joy, delight; and by this delight his senses are calmed, he feels happiness as a result, and with this happiness his mind is established.

Ngũ Giới

(s: pañca-sīla, p: pañca-śīla, 五戒): chỉ cho 5 loại giới điều do tầng lớp nam nữ tại gia thọ trì, trừ khi chúng ta không tin Phật, nhưng một khi đã tin Phật, học Phật thì nhất định phải thọ trì 5 giới điều này, gồm: (1) Không sát sanh (p: pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不殺生, I undertake the training rule to abstain from taking life); (2) Không trộm cắp (p: adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不偷盜, I undertake the training rule to abstain from taking what is not given); (3) Không dâm dục (p: musāvāda veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不淫欲, I undertake the training rule to abstain from sexual misconduct); (4) Không nói dối (p: musāvāda veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不妄語, I undertake the training rule to abstain from false speech); và (5) Không uống rượu (p: surā-meraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi, 不飲酒, I undertake the training rule to abstain from drinks and drugs that cause heedlessness). Năm Giới này còn gọi là Ưu Bà Tắc Ngũ Giới (優婆塞五戒), Ưu Bà Tắc Giới (優婆塞戒). Trong Phật Thuyết Diễn Đạo Tục Nghiệp Kinh (佛說演道俗業經, Taishō No. 820) có đoạn rằng: “Cư sĩ phục vấn: 'Sơ học đạo giả, thỉ dĩ hà chí ?' Phật ngôn: 'Tiên tập Ngũ Giới Tự Quy ư tam, hà vị Ngũ Giới ? Nhất viết từ tâm tư nhân bất sát, nhị viết thanh liêm tiết dụng bất đạo, tam giả trinh lương tiên khiết bất nhiễm, tứ viết đốc tín tánh hòa bất khi, ngũ viết yếu đạt chí minh bất loạn; hà vị Tam Tự Quy, nhất viết quy Phật vô thượng chánh chơn, nhị viết quy Pháp dĩ tự ngự tâm, tam viết quy chúng thánh chúng chi trung, sở thọ quảng đại, do như đại hải, mĩ sở bất bao' (居士復問、初學道者、始以何志、佛言、先習五戒自皈於三、何謂五戒、一曰慈心思仁不殺、二曰清廉節用不盜、三曰貞良鮮潔不染、四曰篤信性和不欺、五曰要達志明不亂、何謂三自皈、一曰皈佛無上正眞、二曰皈法以自御心、三曰皈眾聖眾之中、所受廣大、猶如大海、靡所不包, Cư sĩ lại hỏi: 'Người mới học đạo, trước hết lấy gì làm chí ?' Phật dạy: 'Trước tu tập Năm Giới và Ba Tự Quy Y, thế nào là Năm Giới ? Thứ nhất là từ tâm, thương người mà không giết hại; thứ hai là thanh liêm, tiết kiệm mà không trộm cắp; thứ ba là trinh tiết, trong sạch mà không ô nhiễm [không tà dâm]; thứ tư là một lòng tin, hòa thuận mà không xem thường [không nói dối]; thứ năm là cần đạt chí sáng suốt mà không rối loạn [không uống rượu]; thế nào là Ba Quy Y; một là Quy Y Phật, đấng vô thượng chánh chơn; hai là Quy Y Pháp, để tự chế ngự tâm; ba là Quy Y Tăng, trong các bậc Thánh; thọ trì rộng lớn, giống như biển lớn, không nơi nào không dung chứa').” Theo Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部) của Tiểu Thừa, người thọ Tam Quy thì đã trở thành Ưu Bà Tắc (s, p: upāsaka, 優婆塞); nhưng Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāstivādin, 說一切有部) lại quy định rằng trước thọ Tam Quy, sau thọ Năm Giới mới được gọi là Ưu Bà Tắc. Ba giới đầu để phòng thân, giới thứ tư phòng về miệng, giới thứ năm phòng cả thân và miệng, bảo vệ cho cả 4 giới trên. Từ xưa, ở Trung Quốc đã phối hợp Ngũ Giới với Ngũ Thường (五常, Nhân [仁], Nghĩa [義], Lễ [禮], Trí [智], Tín [信]); rồi đặt giới Không Sát Sanh ở phương Đông, Không Trộm Cắp ở phương Bắc, Không Tà Dâm ở phương Tây, Không Uống Rượu ở phương Nam, và Không Nói Dối ở Trung Ương. Năm Giới đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc thoát ly sanh tử, chứng thành Phật đạo; cho nên trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh (優婆塞戒經, Taishō No. 1488) có dạy rằng: “Nhược hữu thuyết ngôn, ly Ngũ Giới độ sanh tử giả, vô hữu thử xứ. Thiện nam tử ! Nhược nhân dục độ sanh tử đại hải, ưng đương chí tâm thọ trì Ngũ Giới (若有說言、離五戒已度生死者、無有是處、善男子、若人欲度生死大海、應當至心受持五戒, nếu có người bảo rằng lìa Năm giới mà vượt qua sanh tử thì không có việc ấy. Này thiện nam tử ! Nếu có người muốn qua biển sanh tử lớn, hãy nên chí tâm thọ trì Năm Giới).” Hay Tứ Thập Nhị Chương Kinh (四十二章經, Taishō No. 784) cũng khẳng định rằng: “Phạn thiện nhân thiên, bất như phạn trì Ngũ Giới giả nhất nhân (飯善人千、不如飯持五戒者一人, cúng dường cơm cho ngàn người thiện không bằng cúng dường cơm cho một người giữ Năm Giới).” Một số lời dạy trong các kinh điển về việc hành trì Năm Giới như Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō No. 945) quyển 6 có câu: “Nhược bất đoạn sát, tu Thiền định giả, thí như hữu nhân, tự tắc kỳ nhĩ, cao thanh đại khiếu, cầu nhân bất văn (若不斷殺、修禪定者、譬如有人、自塞其耳、高聲大叫、求人不聞, người tu Thiền định, nếu không đoạn trừ sát sanh, ví như có người, tự bịt tai mình, la vang lớn tiếng, kêu người chẳng nghe).” Ưu Bà Tắc Giới Kinh quyển 6, Phẩm Ngũ Giới (五戒品) thứ 22 có dạy về giới trộm cắp rằng: “Nhược hữu chúng sanh thâu thiết thường trụ tài vật, cốc mễ, ẩm thực, y phục, nãi chí nhất vật bất dữ thủ giả, đương đọa Vô Gián Địa Ngục, cầu xuất vô kỳ (若有眾生偷竊常住財務、榖米、飲食、衣服、乃至一物不與取者、當墮無間地獄、求出無期, nếu có chúng sanh nào trộm cắp tài vật của thường trụ, thóc gạo, đồ ăn uống, áo quần, cho đến một vật không cho mà lấy, sẽ bị đọa Địa Ngục Vô Gián, không có thời hạn cầu mong thoát ra).” Trong khi đó, Vô Tự Bảo Khiếp Kinh (無字寶篋經, Taishō No. 828) khuyên rằng: “Ái tự mạng giả, tắc bất sát sanh; ái tự tài giả, bất đạo tha tài; ái tự thê giả, bất xâm tha thê (愛自命者、則不殺生、愛自財者、不盜他物、愛自妻者、不侵他妻, thương mạng sống mình, tất không sát sanh; thương tài sản mình, không lấy của người; thương vợ của mình, không phạm vợ người).” Lăng Nghiêm Kinh lại dạy về giới điều Không Nói Dối như sau: “Nhược bất đoạn kỳ đại vọng ngữ giả, như khắc nhân phẩn, vi Chiên Đàn hình, dục cầu hương khí, vô hữu thử xứ (若不斷其大妄語者、如刻人糞、爲旃檀形、欲求香氣、無有是處, nếu không đoạn trừ nói dối, như khắc phân người làm hình Chiên Đàn, muốn cầu hương thơm, không có việc ấy).” Về giới Không Uống Rượu, Ni Càn Tử Thọ Ký Kinh (尼乾子受記經) quyển 5, Phẩm Vấn Tội Quá (問罪過品) thứ 7, dạy rõ rằng: “Ẩm tửu đa phóng dật, hiện thế thường ngu si, vong thất nhất thiết sự, thường bị trí giả ha, lai thế thường ám độn, đa thất chư công đức, thị cố hiệt tuệ nhân, ly chư ẩm tửu thất (飲酒多放逸、現世常愚癡、忘失一切事、常被智者呵、來世常闇鈍、多失諸功德、是故黠慧人、離諸飲酒失, uống rượu nhiều buông túng, đời nay thường ngu si, quên mất tất cả chuyện, thường bị người trí trách, đời sau thường ngu độn, mất hết các công đức, cho nên người thông tuệ, lìa sai lầm uống rượu).” Trong Tử Bá Tôn Giả Toàn Tập (紫柏尊者全集, CBETA No. 1452) quyển 20, phần Trì Giới Kệ (持戒偈) có cảnh tỉnh người hành trì Năm Giới rằng: “Ngũ Giới bất trì, nhân thiên lộ cùng, cử túc hà vãng, ngưu mã thai trung (五戒不持。人天路窮。舉足何徃。牛馬胎中, Năm Giới chẳng giữ, trời người cùng đường, nhấc chân về đâu, vào thai trâu ngựa).”

Ngũ giới

xem Năm giới. ; 五戒; C: wǔjiè; J: gokai; S: pañca-śīla; P: pañca-sīla;|Năm giới.

ngũ giới

(五戒) Phạm:Paĩca zìlàni. Chỉ cho 5 loại giới do đức Phật chế định. I. Ngũ Giới. Cũng gọi Ưu bà tắc ngũ giới, Ưu bà tắc giới.Năm thứ chế giới của nam nữ Phật tử tại gia thụ trì. Đó là: 1. Không sát sinh. 2. Không trộm cướp. 3. Không gian dâm. 4. Không nói dối. 5. Không uống rượu. Trong hệ thống Kinh lượng bộ Tiểu thừa, người thụ 3 qui y thì thành Ưu bà tắc và được cho phép trong 5 giới, tùy theo khả năng, hễ giữ được giới nào thì thụ trì giới đó. Còn chủ trương của Thuyết nhất thiết hữu bộ thì trước phải thụ 3 qui y, sau thụ đầy đủ 5 giới mới trở thành Ưu bà tắc, cho nên phải thụ trì cả 5 giới. Trong 5 giới, 4 giới trước thuộc tính giới, giới sau cùng thuộc về già giới. Lại nữa, 3 giới trước phòng ngừa thân, giới thứ 4 phòng ngừa miệng, giới thứ 5 phòng ngừa chung cả thân và miệng để giữ gìn 4 giới trước. Trung quốc từ xưa đem 5 giới phối hợp với 5 thường(nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), rồi lại phối hợp với 5 phương như: Không sát sinh phối với phương đông, không trộm cướp phối với phương bắc, không gian dâm phối với phương tây, không uống rượu phối với phương nam và không nói dối phối với trung ương. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Tăng nhất a hàm Q.20; kinh Tì ni mẫu Q.1; luận Đại trí độ Q.13; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.1; luận Câu xá Q.14; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.2; Ma ha chỉ quán Q.6]. II. Ngũ Giới. Cũng là 5 loại chế giới của nam nữ Phật tử tại gia thụ trì được ghi trong các kinh: Quán đính quyển 1, kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi, kinh Tứ thiên vương v.v... Đó là: 1. Sát sinh. 2. Trộm cướp. 3. Gian dâm. 4. Nói 2 lưỡi, nói lời ác, nói dối láo, nói thêu dệt. 5. Uống rượu. Trong 5 giới này, giới thứ 4 bao gồm hết những cái xấu ác của khẩu nghiệp, được rút từ thuyết Thập ác ra. III. Ngũ Giới. Năm thứ chế giới của Bồ tát tại gia thụ trì. Đó là: 1. Tuyệt đối không được dứt sự sống. 2. Cái gì người ta không cho, tuyệt đối không được lấy. 3. Tuyệt đối không được nói láo. 4. Tuyệt đối không được gian dâm. 5. Tuyệt đối không được tà kiến. Năm giới trên đây được nói trong Đại nhật kinh sớ quyển 18. Chỗ khác với 5 giới thông thường là thay thế giới Uống rượu bằng giới Tà kiến. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Tăng nhất a hàm Q.7; phẩm Thụ phương tiện học xứ trong kinh Đại nhật Q.6; kinh Ưu bà tắc giới Q.6; kinh Ưu bà tắc ngũ giới tướng; luận Du già sư địa Q.54].

ngũ giới pháp

(五戒法) Năm giới pháp đầu tiên đức Phật truyền cho 2 người đệ tử tại gia. Cứ theo kinh Đề vị Ba lợi thì sau khi thành đạo, đức Phật dời Bồ đề tràng để đến vườn Lộc dã, trên đường đi, 2 anh em Đề vị và Ba lợi làm nghề buôn bán được gặp đức Phật và cúng dường Ngài. Sau đó, đức Phật nói pháp Thập thiện rồi truyền thụ qui y và 5 giới cho họ để trở thành Ưu bà tắc. Đây là 2 đệ tử Ưu bà tắc đầu tiên trong giáo đoàn Phật giáo. Nếu đệ tử Ưu bà tắc phá 5 giới này thì không phải là Thanh tịnh sĩ (người trong sạch), vì nếu phạm thì tức là phá 5 phần pháp thân và tất cả Phật pháp. Năm giới này là gốc rễ của tất cả giới luật Đại, Tiểu thừa, nếu đã vi phạm thì không còn được thụ giới Đại, Tiểu thừa nữa.

ngũ giới phần thụ

(五戒分受) Chỉ cho việc thụ trì từng phần của 5 giới. Luận Thập trụ tâm quyển 2 nói rõ tướng của 5 giới, đồng thời thảo luận về vấn đề có được phép nhận và giữ(thụ trì) từng phần của 5 giới hay không. Người chất vấn căn cứ vào nghĩa của Tát bà đa bộ và dẫn chứng thuyết của luận Câu xá mà chủ trương 5 giới phải thụ đủ. Còn người trả lời thì dẫn thuyết của luận Đại trí độ cho rằng trong 5 giới tùy ý muốn thụ phần nào cũng được, nếu thụ 1 giới thì gọi là 1 phần, nếu thụ 2, 3 giới thì gọi là ít phần, nếu thụ cả 5 giới thì gọi là toàn phần, bởi vậy chủ trương có thể thụ trì từng phần.

ngũ hoặc

(五惑) Cũng gọi Ngũ độn sử. Tức là 5 thứ mê vọng: Tham, sân, si, mạn, nghi... (xt. Ngũ Độn Sử).

Ngũ Hành

(五行): là quan niệm về vật chất của người Trung Quốc cổ đại, phần nhiều được dùng trong các phương diện triết học, y học cũng như bói toán; tức là 5 nguyên tố cần thiết vận hành giữa trời đất gồm Thủy (水), Hỏa (火), Mộc (木), Kim (金) và Thổ (土). Tên gọi khác của Ngũ Thường (五常, 5 yếu tố con người thường cần phải thực hiện) gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín. Người Trung Quốc co rằng tự nhiên được cấu thành bởi 5 yếu tố, tùy theo các yếu tố này mà thạnh suy, khiến cho tự nhiên sinh ra các biến hóa, có ảnh hưởng đến vận mạng của con người, đồng thời làm cho vũ trụ tuần hoàn không ngừng. Trong các kinh điển luận về Ngũ Hành, trước hết thấy xuất hiện trong Thượng Thư (尚書), phần Hồng Phạm (洪範) có nêu rõ rằng: “Ngũ Hành, nhất viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ viết Thổ (五行、一曰水、二曰火、三曰木、四曰金、五曰土, Ngũ Hành, thứ nhất là Thủy, thứ hai là Hỏa, thứ ba là Mộc, thứ tư là Kim, thứ năm là Thổ).” Nguồn gốc của Ngũ Hành vốn phát xuất từ số của sách Hà Đồ (河圖), Lạc Thư (洛書); số 1, 6 là Thủy; 2, 7 là Hỏa; 3, 8 là Mộc; 4, 9 là Kim; 5, 10 là Thổ. Theo Hà Đồ, nếu xoay về bên trái thì tương sinh; theo Lạc Thư, nếu xoay về bên phải thì tương khắc. Như vậy Ngũ Hành tương khắc gồm có Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ Khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Ngũ Hành tương sinh là Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Năm yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với các truyền thống văn hóa Trung Quốc khác như phương vị, thiên can, địa chi, màu sắc, thời tiết, v.v. Xin liệt kê theo thứ tự các yếu tố Ngũ Hành, Ngũ Tài (五材), Ngũ Sắc (五色, 5 màu sắc), Ngũ Phương (五方), Ngũ Quý (五季, 5 mùa), Ngũ Thời (五時), Ngũ Tiết (五節), Ngũ Tinh (五星, 5 ngôi sao), Ngũ Thanh (五聲, 5 loại tiếng), Ngũ Âm (五音, 5 loại âm), Ngũ Tạng (五臟), Ngũ Phủ (五腑), Ngũ Chí (五志, 5 loại cảm xúc), Ngũ Quan (五官, 5 giác quan), Ngũ Giác (五覺, 5 loại cảm giác), Ngũ Dịch (五液, 5 loại chất dịch), Ngũ Vị (五味, 5 loại mùi vị), Ngũ Xú (五臭), Ngũ Khí (五氣), Ngũ Vinh (五榮), Ngũ Thú (五獸, 5 loại thú thần thoại), Ngũ Súc (五畜, 5 loại súc vật), Ngũ Cốc (五穀), Ngũ Quả (五果), Ngũ Thái (五菜), Ngũ Thường (五常), Ngũ Chính (五政), Ngũ Ác (五惡), Ngũ Hóa (五化), Thiên Can (千干), Địa Chi (地支). Kim thường đi với Kim, màu xanh, phương Đông, mùa xuân, buổi sáng, Tân Niên, Mộc Tinh (木星), tiếng kêu gọi, Giác, gan, mật, bực tức, mắt, màu sắc, nước mắt, chất chua, mùi hôi (của cừu, nai, v.v.), gân, móng, Thanh Long (青龍), con chó, lúa tẻ, trái Mận, rau Hẹ, Nhân, khoan dung, gió, sanh sản, Giáp và Ất, Dần và Mão. Hỏa đi với Hỏa, màu đỏ, phương Nam, mùa hè, giữa ngày, Thượng Tỵ (上巳, tiết hội của người Hán được tổ chức vào ngày Tỵ của thượng tuần tháng 3 Âm Lịch để cầu gió mát), Hỏa Tinh (火星), tiếng cười, Chưng, tim, ruột non, niềm vui, lưỡi, sự xúc chạm, mồ hôi, vị đắng, mùi khét, máu, mặt, Châu Tước (朱雀), con dê, thóc, trái Hạnh, rau Kiệu, Lễ, sự sáng suốt, sức nóng, sự trưởng thành, Bính và Đinh, Tỵ và Ngọ. Thổ đi với Thổ, màu vàng, phương giữa, giữa hè, xế chiều, Đoan Ngọ (端午, mồng 5 tháng 5 Âm Lịch), Thổ Tinh (土星), tiếng ca, Cung, lá lách, bụng, suy tư, miệng, mùi vị, nước dãi, vị ngọt, mùi hương thơm, thịt, môi, Hoàng Lân (黃麟) hay Đằng Xà (滕蛇), con bò, lúa, trái Táo, rau Quỳ, sự cung kính, ẩm thấp, biến hóa, Mậu và Kỷ, Thìn, Mùi, Tuất và Sửu. Kim đi với Kim, màu trắng, phương Tây, mùa Thu, mặt trời lặn, Thất Tịch (七夕, mồng 7 tháng 7 Âm Lịch), Kim Tinh, tiếng khóc, Thương, phổi, ruột già, sự đau buồn, mũi, hương thơm, nước mũi, vị đắng, mùi tanh, hơi, lông, Bạch Hổ (白虎), con gà, gạo, trái Đào, rau Hành, Nghĩa, sức mạnh, khô ráo, thâu lại, Canh và Tân, Giáp và Dậu. Thủy đi với Thủy, màu đen, phương Bắc, mùa Đông, giữa đêm, Trùng Dương (重陽, mồng 9 tháng 9 Âm Lịch, còn gọi là Trùng Cửu [重九]), Thủy Tinh (水星), tiếng rên rỉ, quả thận, bàng quang, sự lo sợ, lỗ tai, âm thanh, nước bọt miếng, vị mặn, mùi thối mục, xương, tóc, Huyền Võ (玄武), lợn, đậu, hạt dẻ, lá dâu, Trí, sự tĩnh lặng, lạnh lẽo, che giấu, Nhâm và Quý, Hợi và Tý.

ngũ hành

(五行) I. Ngũ Hành. Chỉ cho 5 nguyên tố vận hành, tức là: Thủy (nước), hỏa (lửa), mộc (cây), kim (vàng) và thổ (đất). Vì giữa khoảng trời đất 5 nguyên tố này vận hành không ngừng, cho nên gọi là Ngũ hành. Đây là những nguyên tố sinh thành trưởng dưỡng muôn vật, cùng với thuyết Tứ đại năng tạo(4 yếu tố tạo ra vạn vật): Đất, nước, lửa và gió của Phật giáo có điểm giống nhau. Ngũ hành là tư tưởng đã có sẵn ở Trung quốc trước khi Phật giáo truyền đến, rất phổ biến trong các học phái: Nho, Mặc, Đạo, đến các nhà Pháp, Binh, Y... Từ sau đời Hán, thuyết Ngũ hành càng thịnh hơn và được phối hợp với mọi sự tượng của đời sống con người. Ngũ hành chủ yếu có 2 nghĩa tương sinh và tương khắc. Từ thời Nam Bắc triều trở đi, thuyết Ngũ hành lẫn lộn vào Phật giáo, kinh Đề vị đem phối hợp Ngũ hành với Ngũ giới; Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp thì đem Ngũ hành phối hợp với Ngũ tự(a, va, ra, ha, kha), Ngũ Phật(Kim cương giới: Tì lô già na, A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu; Thai tạng giới: Đại nhật, Bảo chàng, Khai phu hoa vương, Vô lượng thọ, Thiên cổ lôi âm), Ngũ trí (Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí), Ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, thận)... Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì phối hợp Ngũ hành với Ngũ căn (Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ)... [X. Tú diệu nghi quĩ; Ma ha chỉ quán Q.8, thượng; Đại minh tam tạng pháp số Q.23]. II. Ngũ Hành. Cũng gọi Tu hành ngũ môn. Chỉ cho 5 pháp môn tu hành. Ngũ môn là trong 6 độ hợp 2 độ Định và Tuệ lại làm 1 môn Chỉ quán thì chỉ còn lại 5 độ, vì thế gọi là Ngũ môn. Theo luận Đại thừa khởi tín thì 5 môn đó là: 1. Thí môn, thí có 3 nghĩa: a) Tài thí: Nếu thấy mọi người đến cầu xin, thì tùy theo khả năng đem tài vật của mình ban bố cho họ để xả bỏ tính keo tham của mình, làm cho mọi người được vui mừng. b) Vô úy thí: Khi người gặp tai nạn, khủng bố uy hiếp, thì tùy theo năng lực của mình phương tiện cứu giúp, làm cho nạn nhân không còn sợ hãi, được yên vui. c) Pháp thí: Nếu có chúng sinh đến cầu nghe pháp thì tùy chỗ mình hiểu biết mà phương tiện thuyết giảng, không phải vì mong được danh lợi mà chỉ nghĩ đến việc lợi mình lợi người để hồi hướng đạo Giác ngộ.2. Giới môn: Tuyệt đối không làm các điều ác, xa lánh chỗ ồn ào, thường ở nơi vắng vẻ, ít tham muốn, luôn biết đủ, tu các hạnh khổ; đối với những tội lỗi nhỏ nhặt cũng sinh tâm sợ hãi, xấu hổ, sửa đổi ăn năn, không coi thường các giới cấm do đức Phật chế định, luôn thận trọng đối với việc chê bai hiềm khích để ngăn ngừa tội lỗi. 3. Nhẫn môn: Chịu đựng được những việc thương tổn não hại do người khác gây ra cho mình mà không ôm lòng sân hận báo thù; cũng nên giữ thái độ thản nhiên trước 8 việc thường diễn ra trong cuộc đời: lợi, hại, khen, chê, tâng bốc, dèm pha, khổ, vui...4. Tiến môn: Đối với các việc lành, lòng hăng hái sốt sắng, lập chí vững chắc mạnh mẽ, siêng tu tất cả công đức lợi mình, lợi người để xa lìa mọi nỗi khổ. 5. Chỉ quán môn: Chỉ là chặn đứng tất cả tướng cảnh giới lăng xăng; Quán là phân biệt các tướng nhân duyên sinh diệt. Nương theo 2 nghĩa này tu tập dần dần, không lìa bỏ nên mau được thành tựu. Ngoài ra, Chỉ quán được phối hợp với 2 môn Chân như và Sinh diệt, tức là: Nương vào môn Chân như dứt bặt các cảnh tướng mà không chỗ phân biệt, thì thành trí Căn bản vô phân biệt, đó là Chỉ môn; nương vào môn Sinh diệt phân biệt các tướng mà quán xét lí thú của các tướng thì thành trí Hậu đắc, đó là Quán môn. Tuy nhiên, 2 môn này chỉ do 1 tâm, vì vậy phải vận dụng cả 2 môn song song mới có thể gọi là Chỉ quán chân chính. [X. Viên giác kinh đại sớ sao Q.5, thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ, phần cuối; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.6; Khởi tín luận nghĩa kí giáo lí sao Q.18, 19]. (xt. Chỉ Quán).

ngũ hình

(五形) Năm hình, chỉ cho hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình bán nguyệt và hình cầu. Mật giáo cho 5 hình này là hình màu của 5 chữ và 5 đại, là gốc của tất cả mọi hình màu. Năm hình theo thứ tự tương ứng với 5 màu: Vàng, trắng, đỏ, đen và xanh. 1. Hình vuông: Chữ (a) địa đại màu vàng. Hình vuông có 4 cạnh đều nhau, biểu thị nghĩa mặt đất an trụ bất động, tương ứng với lí chữ A vốn chẳng sinh. 2. Hình tròn: Chữ (phạ) thủy đại màu trắng. Hình tròn là hình quay vòng tự tại, không trụ 1 chỗ, nước (thủy đại) thì tùy theo đồ đựng chứ không có hình nhất định, cho nên hình tròn tương ứng với nghĩa chữ Phạ là lời nói xoay chuyển không cùng. 3. Hình tam giác: Chữ (ra) hỏa đại màu đỏ. Hình tam giác bén nhọn, biểu thị nghĩa đức dụng mạnh mẽ của lửa(hỏa đại) đốt sạch bụi bặm nhơ nhớp, tương ứng với lí chữ Ra trần cấu bất khả đắc. 4. Hình bán nguyệt: Chữ (ha) phong đại màu đen. Hình bán nguyệt 1 phía là bằng phẳng an trụ, 1 phía là tròn trịa xoay chuyển không an trụ, biểu thị nghĩa hay tạo tác các pháp, tương ứng với chữHagió bão(phong đại) có đủ sức thành tựu cũng như phá hoại các pháp. 5. Hình cầu: Chữ (kha) không đại màu xanh, kết hợp giữa hình tam giác và hình bán nguyệt, vuông tròn chẳng hai, đầy đủ các hình như ý bảo châu, tương ứng với pháp tính chữ Kha đồng như hư không. Thuyết 5 đại, 5 màu và 5 hình này là của Mật giáo, còn Hiển giáo thì chỉ lập 4 đại (đất, nước, lửa, gió), 4 màu(vàng, trắng, đỏ, xanh) và 4 hình(vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt) mà thôi. [X. Ngũ luân cửu tự bí thích].

Ngũ Hương

(五香): tức Ngũ Phận Hương (五分香), là 5 phần hương, gồm hương của Giới (s: śīla, p: sīla, 戒), hương của Định (s, p: samādhi, 定), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, 慧), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫) và hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāṇadassana, 解脫知[智]見).

ngũ hương

(五香) I. Ngũ Hương. Năm thứ hương được chôn xuống đất cùng với 5 vật báu, 5 loại hạt khi lập đàn tu pháp Mật giáo. Đó là: Trầm hương, bạch đàn hương, đinh hương, uất kim hương và long não hương. [X. Thành tựu Diệu pháp liên hoa kinh vương Du già quán trí nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la cập giản trạch địa pháp]. II. Ngũ Hương. Năm thứ hương mà hành giả Mật giáo sắm sửa đầy đủ khi tu pháp để giúp cho việc tu trì tụng các chân ngôn được thành tựu. Đó là: Trầm thủy hương, bạch đàn hương, tử đàn hương, sa la hương và thiên mộc hương. [X. phẩm Bị vật trong kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ]. III. Ngũ Hương. Năm loại hương thông dụng trong Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ của Mật giáo. Đó là: Sa đường, thế lệ dực ca, tát chiết la sa, ha lê lặc, thạch mật. [X. phẩm Phân biệt thiên hương trong kinh Tô tất địa yết ra Q.thượng]. IV. Ngũ Hương. Năm loại hương được sử dụng khi tu pháp Khổng tước kinh trong Mật giáo. Đó là: Trầm hương, bạch giao hương, tử hương, an tức hương và huân lục hương. [X. Nhũ vị sao Q.2, 25]. V. Ngũ Hương. Cũng gọi Ngũ phần hương, Ngũ phần pháp hương. Hương thanh tịnh của 5 phần pháp thân. Tức chỉ cho Giới hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương. [X. Tập chư kinh lễ sám nghi Q.thượng; Đại tạng pháp số Q.33; Kiến lập hộ ma tư kí]. (xt. Ngũ Phần Hương).

ngũ hạ kết

cũng gọi là ngũ độn sử, là năm mối trói buộc của chúng sanh Dục giới, gồm những trói buộc vì quan điểm sai lầm, vì sự nghi ngờ, vì giữ theo tà giới, vì tham lam và vì sân hận. Ngũ hạ kết bao gồm: 1. Thân kết; 2. Giới cấm thủ kết; 3. Nghi kết; 4. Tham kết: trói buộc do lòng tham lam; 5. Sân kết: trói buộc do lòng sân hận.

ngũ hạ phần kết

(五下分結) Phạm: Paĩca-àvarahàgìya-saôyo= janàni. Gọi đủ: Ngũ thuận hạ phần kết. Gọi tắt: Ngũ hạ kết, Ngũ hạ. Đối lại: Ngũ thượng phần kết. Chỉ cho 5 thứ kết hoặc(phiền não buộc chặt)thuận theo hạ phần giới, tức là 5 thứ kết hoặc thuộc hạ phần giới (cõi Dục) trong 3 cõi. Năm thứ kết hoặc này buộc chặt chúng sinh trong cõi Dục, khiến không thể nào thoát ra được. Ngũ hạ phần kết là: 1. Dục tham: Đối với cảnh vừa ý sinh tâm tham đắm, không biết thế nào là đủ. 2. Sân khuể: Đối với cảnh trái ý nổi lòng giận tức, mãi không thôi. 3. Hữu thân kiến: Đối với danh(tâm), sắc(sắc thân), 5 ấm, 12 nhập, 18 giới, vọng chấp là thân, bám chặt vào ngã kiến. 4. Giới cấm thủ kiến: Chấp lấy các tà giới phi lí, vô đạo. 5. Si: Tâm mê trái lí, ngờ vực không quyết, do sự ngờ vực này mà mê chân theo vọng, bỏ giác hợp trần. Do 2 kết Dục tham và Sân khuể nói trên mà chúng sinh cõi Dục không thể thoát ra khỏi cõi Dục, nếu người có khả năng vượt thoát nhưng lại do 3 kết sau (Hữu thân kiến, Giới cấm thủ kiến, Nghi) nên cuối cùng cũng trở lại cõi Dục, vì thế lập riêng 5 thứ kết hoặc này mà gọi là Thuận hạ phần kết. Ngũ thuận hạ phần kết lấy 31 việc làm tự tính, Dục tham và Sân khuể mỗi thứ đều là sở đoạn(cái được đoạn trừ)của 5 bộ cõi Dục, cho nên có 10 việc; Hữu thân kiến là Kiến khổ sở đoạn(phiền não do Kiến đạo dứt trừ) trong 3 cõi, vì thế có 3 việc; Giới cấm thủ kiến đều là sở đoạn của Kiến đạo và Tu đạo trong 3 cõi, cho nên có 6 việc; Nghi đều là sở đoạn của 4 bộ trong 3 cõi, vì thế có 12 việc, tổng cộng là 31 việc. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; luận Câu xá Q.21; luận Đại tì bà sa Q.49; luận Thuận chính lí Q.54; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần cuối]. (xt. Ngũ Bộ).

Ngũ hạnh

五行; C: wǔxíng; J: gogyō;|Có các nghĩa sau: |I. Năm pháp tu của Phật giáo Đại thừa được dạy trong Đại thừa khởi tín luận, đó là năm loại đầu trong Lục độ: Bố thí (布施), Trì giới (持戒), Nhẫn nhục (忍辱), Tinh tiến (精進), và Chỉ quán (止観); |II. Năm công hạnh của hàng Bồ Tát được dạy trong kinh Niết-bàn: 1. Thánh hạnh (聖行): chỉ Bồ Tát tu tam học (Giới, Định, Huệ); 2. Phạm hạnh (梵行): tu tập tâm từ bi để cứu giúp chúng sinh; 3. Thiên hạnh (天行): Phát nguyện tu tập vì lợi ích cho người khác; 4. Anh nhi hạnh (嬰兒行): Thể hiện thiện tâm để cứu độ hàng Trời, Người và Tiểu thừa; 5. Bệnh hạnh (病行): thị hiện có các bệnh khổ như chúng sinh để cứu giúp họ;|III. Ngũ hành: Năm thành tố tạo nên vũ trụ theo tư tưởng Trung Hoa cổ đại: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, và Thuỷ. Được thấy đầu tiên trong chương Hồng phạm (洪範) của Thư kinh (書經);|VI. Ngũ Thường trong Nho giáo: Nhân (仁), Nghĩa (義), Lễ (禮), Trí (智), Tín (信). (Theo Tuân Tử, Phi thập nhị tử 荀子・非十二子)

ngũ hạnh

(五行) Chỉ cho 5 pháp tu của Bồ tát. 1. Thánh hạnh: Thánh nghĩa là chính. Bồ tát nương vào chính hạnh tu tập giới, định, tuệ. 2. Phạm hạnh: Phạm nghĩa là tịnh (thanh tịnh). Đối với Không và Hữu Bồ tát không nhiễm trước gọi là Tịnh. Đem tịnh tâm này vận dụng vào lòng thương xót, ban niềm vui và chấm dứt các nỗi thống khổ cho chúng sinh. 3. Thiên hạnh: Thiên tức chỉ cho Đệ nhất nghĩa thiên. Bồ tát theo lí thiên nhiên mà tu nên thành tựu diệu hạnh. 4. Anh nhi hạnh: Anh nhi (đứa bé 5, 6 tuổi) ví dụ người, trời, Tiểu thừa. Bồ tát đem tâm từ bi thị hiện tu hành các hạnh thiện nhỏ giống như người, trời, Thanh văn và Duyên giác. 5. Bệnh hạnh: Bồ tát đem tâm bình đẳng vận dụng đại bi vô duyên, thị hiện các hạnh phiền não, bệnh khổ... giống như chúng sinh. Nghĩa của 5 hạnh trên đây là do tông Thiên thai giải thích, trong đó Biệt giáo và Viên giáo phối với 5 hạnh thì có nghĩa khác nhau. Căn cứ theo nghĩa của Biệt giáo thì thứ tự 5 hạnh như sau: 1. Thánh hạnh: Hạnh tự lợi của Bồ tát dưới Sơ địa. 2. Phạm hạnh: Hạnh hóa tha của Bồ tát dưới Sơ địa. 3. Thiên hạnh: Nội chứng của Bồ tát dưới Sơ địa. 4. Anh nhi hạnh: Sự hóa hiện làm các việc thiện tùy theo cảm ứng của Bồ tát từ Sơ địa trở lên. 5. Bệnh hạnh: Sự hóa hiện làm những việc ác tùy theo cảnh ngộ của Bồ tát Sơ địa trở lên. Năm hạnh trên đây trước sau ngăn cách, không dung thông nhau, gọi là Thứ đệ ngũ hạnh. Lại vì đây là hạnh của Biệt giáo nên cũng gọi Biệt ngũ hạnh. Còn căn cứ vào nghĩa của Viên giáo thì 5 hạnh là: 1. Viên thánh hạnh: Lấy sự trang nghiêm của Như lai trong kinh Pháp hoa làm hạnh. 2. Viên phạm hạnh: Là nhà của Như lai. 3. Viên thiên hạnh: Là tòa của Như lai. 4. Viên anh nhi hạnh: Áo nhu hòa của Như lai. 5. Viên bệnh hạnh: Áo nhẫn nhục của Như lai. Năm thứ hạnh này ở trong 1 tâm, tròn đủ không thiếu, tính tu chẳng hai, nhân quả dung tức, là 1 hạnh thực tướng, 1 tức là 5, 5 tức là 1, không là nhau cũng chẳng lìa nhau, không thể nghĩ bàn, vì thế gọi là Bất thứ tự ngũ hạnh, Như lai hạnh, Nhất tâm ngũ hạnh, Viên ngũ hạnh, Nhất ngũ hạnh. Ngoài ra, cứ theo Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 4, phần cuối, thì Nhất tâm ngũ hạnh tức là Tam đế tam muội, Thánh hạnh tức là Chân đế tam muội, Phạm hạnh, Anh nhi hạnh, Bệnh hạnh tức là Tục đế tam muội, Thiên hạnh tức là Trung đạo vương tam muội. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Niết bàn Q.11 (bản Nam); Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.3, hạ, Q.4, thượng; Niết bàn kinh sớ Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.12].

ngũ hải

(五海) Năm thứ biển có đầy đủ mọi công đức. I. Ngũ Hải. Chỉ cho 5 phần pháp nghĩa trong tạng Vô tận viên minh tính hải của đức Như lai tự chứng. Tức là: 1. Nhất thiết chư pháp giới hải: Biển hết thảy các pháp giới. 2. Nhất thiết chúng sinh hải: Biển tất cả chúng sinh. 3. Pháp giới nghiệp hải: Biển nghiệp pháp giới. 4. Nhất thiết chúng sinh dục nhạo chư căn hải: Biển các căn ưa muốn của hết thảy chúng sinh. 5. Nhất thiết tam thế chư Phật hải: Biển hết thảy chư Phật 3 đời. Mỗi 1 biển trong 5 biển này đều có đầy đủ tính chất của 4 biển còn lại, vì sự sâu rộng vô cùng và đầy đủ các công đức khó nghĩ bàn của chúng nên gọi là Hải. [X. kinh Hoa nghiêm Q.3 (bản dịch cũ); kinh Giải thâm mật Q.5; phẩm Bồ tát công đức trong kinh Bồ tát địa trì Q.8; luận Du già sư địa Q.46; luận Hiển dương thánh giáo Q.8; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. II. Ngũ Hải. Nhân quả phát tâm và tu hành của đức Như lai được chia làm 5 thứ, đó là: 1. Đại từ bi tâm hải: Biển tâm từ bi rộng lớn. 2. Đại viên mãn nhân hải: Biển nhân tròn đầy rộng lớn. 3. Nhất thiết chúng sinh hải: Biển hết thảy chúng sinh(độ hết thảy chúng sinh). 4. Quảng đại thệ nguyện hải: Biển thệ nguyện rộng lớn. 5. Đại tự tại quả hải: Biển quả tự tại to lớn.Sự nghiệp phát tâm, tu hành, độ sinh, thệ nguyện và thành quả của đức Như lai đều sâu rộng, mênh mông không bờ bến như biển cả, nên gọi là Hải. [X. luận Thích ma ha diễn Q.6, 7; Thích ma ha diễn luận sớ Q.hạ, phần đầu].

ngũ hậu đắc trí

(五後得智) Năm trí được sau. Tức là 5 thứ trí tuệ hóa tha đạt được sau khi tu hành trọn đủ các hạnh Bồ tát. Đó là: 1. Thông đạt trí: Trí biết được cảnh muốn thấy 1 cách tự tại. 2. Tùy niệm trí: Trí ở trước lúc quán xét trong tâm rõ biết thực tướng các pháp, sau đó tuy không cần quán xét mà vẫn có thể ghi nhớ mãi không quên. 3. An lập trí: Trí ở trong cảnh giới đã biết rõ các pháp, có thể thiết lập chính giáo dạy người khác tu hành. 4. Hòa hợp trí: Dùng trí tuệ đã được, quán xét cảnh các pháp hòa hợp, chuyển hóa tất cả phiền não thành bồ đề. 5. Như ý trí: Trí có khả năng đạt được tất cả mọi việc theo ý muốn 1 cách tự tại.

ngũ hắc

(五黑) Đối lại: Ngũ giới. Năm đen, nghĩa là nghiệp ác nhơ nhớp. Tức chỉ cho 5 điều ác: Giết hại, trộm cướp, gian dâm, nói dối và uống rượu. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ].

ngũ hệ

(五系) Năm buộc. Nghĩa là dùng 5 loại xác chết như xác người chết, xác rắn chết v.v... buộc lấy Thiên ma ba tuần khiến nó không đi lại được. Hoặc có thuyết cho rằng buộc 5 chỗ: Hai tay, 2 chân và cổ của Thiên ma. Pháp hoa kinh tam đại bộ bổ chú quyển 5 dẫn lời giải thích của ngài Chương an cho rằng Ngũ hệ chia làm 2 thứ: Ngũ thi hệ và Hệ ngũ xứ. Trong đó, Ngũ thi chỉ cho xác người chết, rắn chết, chó chết v.v... còn Hệ ngũ xứ là buộc 5 chỗ. Theo kinh Thủ lăng nghiêm tam muội thì buộc ở 2 tay, 2 chân và cổ gọi là Ngũ xứ hệ ma (trói ma ở 5 chỗ). Còn Ngũ thi hệ thì như dùng quán bất tịnh để đối trị ma ái dục; Ngũ xứ hệ thì như lí đối trị ma chấp trước tà kiến. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.6 (bản Bắc)].

ngũ hối

(五悔) Cũng gọi Ngũ sám hối. Năm pháp sám hối để diệt trừ tội lỗi. I. Ngũ Hối. Theo tông Thiên thai, khi tu Pháp hoa tam muội thì có 5 pháp sám: 1. Sám hối: Ăn năn tội lỗi và tu tập quả lành.2. Khuyến thỉnh: Khuyến thỉnh chư Phật trong 10 phương quay bánh xe pháp cứu độ chúng sinh. 3. Tùy hỉ: Vui mừng, khen ngợi những hạnh lành của người khác. 4. Hồi hướng: Hồi hướng công đức của hạnh lành về giác ngộ. 5. Phát nguyện: Phát nguyện quyết tâm thành Phật. Năm pháp sám hối trên đây, tông Thiên thai gọi là Biệt phương tiện hạnh, giúp cho việc tu Pháp hoa tam muội, từ 5 phẩm vị đầu tiên đến giai vị Đẳng giác, mỗi giai vị đều phải siêng năng thực hành phương tiện này để giúp đỡ Quán môn. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, hạ; Tu sám yếu chỉ].II. Ngũ Hối. Chỉ cho 5 bài kệ được đọc khi tu pháp Kim cương giới của Mật giáo, đó là: Qui mệnh, Sám hối, Tùy hỉ, Khuyến thỉnh và Hồi hướng. Năm bài kệ này có thể được phối hợp với 5 trí và cùng nghĩa với 10 nguyện rộng lớn của bồ tát Phổ hiền, cho nên cũng gọi Phổ hiền hạnh nguyện tán. [X. Kim cương đính Liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Kim cương đính kinh Kim cương giới đại đạo tràng; Tì lô già na Như lai Tự thụ dụng thân nội chứng trí quyến thuộc pháp thân dị danh Phật tối thượng thừa bí mật tam ma địa lễ sám văn; Nhũ vị sao Q.1]. (xt. Mật Giáo Sám Pháp).

Ngũ Hồ

(五湖): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi chung của 5 hồ lớn ở vùng Giang Nam (江南), như trong Sử Ký (史記), phần Tam Vương Thế Gia (三王世家) có câu: “Đại Giang chi nam, Ngũ Hồ chi gian, kỳ nhân khinh tâm (大江之南、五湖之間、其人輕心, ở phía Nam của Đại Giang, khoảng giữa của Ngũ Hồ, lòng người nhẹ nhõm).” Tư Mã Trinh (司馬貞) giải thích rằng: “Ngũ Hồ giả, Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình thị dã (五湖者、具區、洮滆、 彭蠡、青草、洞庭是也, Ngũ Hồ là Cụ Khu, Thao Cách, Bành Lễ, Thanh Thảo, Động Đình).” Trong Đan Duyên Tổng Lục (丹鉛總錄), phần Địa Lý (地理) của Dương Thận (楊愼, 1488-1559) nhà Minh có ghi rằng: “Vương Bột văn 'khâm Tam Giang nhi đới Ngũ Hồ', tắc tổng ngôn Nam phương Ngũ Hồ; Động Đình nhất dã, Thanh Thảo nhị dã, Bà Dương tam dã, Bành Lễ tứ dã, Thái Hồ ngũ dã (王勃文'襟三江而帶五湖'、則總言南方之湖、洞庭一也、青草二也、鄱陽三也、彭蠡四也、太湖五也, đoạn văn 'ôm Ba Sông mà mang Năm Hồ' của Vương Bột là tên gọi chung của năm hồ lớn ở phương Nam; một là Động Đình, hai là Thanh Thảo, ba là Bà Dương, bốn là Bành Lễ, năm là Thái Hồ).” Thao Cách nay là Hồ Trường Đãng (長蕩湖) ở Giang Tô (江蘇); Bành Lễ hiện tại là Hồ Bà Dương; Thanh Thảo nay thuộc Đông Nam bộ của Động Đình Hồ. (2) Chỉ Động Đình Hồ, như trong bài thơ Quy Nhạn (歸雁) của thi hào Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Niên niên sương lộ cách, bất quá Ngũ Hồ thu (年年霜露隔、不過五湖秋, hằng năm sương khói phủ, chẳng qua Ngũ Hồ thu).” (3) Chỉ cho 5 hồ lớn hiện tại ở vùng Hoa Trung (華中) và Hoa Đông (華東); gồm: Hồ Động Đình, Hồ Bà Dương, Hồ Sào (巢湖), Hồ Hồng Trạch (洪澤湖) và Thái Hồ (太湖). (4) Vào cuối thời Xuân Thu (春秋), quan Đại Phu của nước Việt là Phạm Lãi (范蠡), bổ tá Việt Vương Câu Tiễn (越王勾踐) đi diệt vong nhà Ngô; sau khi thành công, ông lui về ẩn cư, cỡi thuyền con mà ẩn cư nơi Ngũ Hồ; cho nên về sau Ngũ Hồ được dùng để chỉ cho nơi ẩn cư. Như trong bài thơ Thư Tình Tặng Thái Xá Nhân Hùng (書情贈蔡舍人雄) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Ngã túng Ngũ Hồ trạo, yên đào tứ băng bôn (我縱五湖棹、煙濤恣崩奔, ta tung hoành khắp chốn, khói mây mặc rong chơi).”

ngũ hội niệm phật

(五會念佛) Cũng gọi Ngũ hội chân thanh. Năm hội niệm Phật do ngài Pháp chiếu đời Đường phỏng theo sự miêu tả gió thổi cây báu phát ra 5 thứ âm thanh trong kinh Vô lượng thọ mà sáng lập pháp môn Năm hội niệm Phật làm cho kẻ tăng người tục ham thích cảnh Tịnh độ. Nghi thức này thường lựa chọn 1 số vị xuất gia, tại gia có giọng hay, tiếng tốt, họp tập lại, uy nghi tề chỉnh, chia làm 5 hội, dựa theo 5 âm điệu cao thấp, nhanh chậm mà niệm Phật. Hội thứ nhất niệm chậm rãi, âm điệu trầm bình; hội thứ 2 cũng niệm chậm rãi nhưng âm điệu cao hơn; hội thứ 3 niệm không chậm không nhanh; hội thứ 4 niệm nhanh dần; hội thứ 5 niệm nhanh hơn. Năm hội niệm Phật này có năng lực: Trừ 5 khổ, dứt 5 cái(phiền não), cắt đứt 5 đường, tịnh hóa 5 mắt, đầy đủ 5 căn, thành tựu 5 lực, được giác ngộ, đủ 5 giải thoát, mau chóng thành tựu 5 phần pháp thân... Hiện nay, tại Nhật bản, phái Bản nguyện tự thuộc Chân tông vẫn còn thực hành pháp môn niệm Phật này. [X. Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán, phần đầu; Tịnh độ ngũ hội niệm Phật tụng kinh quán hành nghi].

ngũ hội pháp sư

(五會法師) Tiếng tôn xưng ngài Pháp chiếu đời Đường, người sáng lập pháp môn Ngũ hội niệm Phật và được xem là hậu thân của Đại sư Thiện đạo. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Pháp Chiếu).

Ngũ không

五空; C: wǔkōng; J: gokū;|Năm loại tính Không (được đề cập trong kinh Kim Cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra): Tam giới không, Lục thú không, Pháp tướng không, Danh sắc không, Nghĩa thức không.

ngũ khổ

(五苦) Năm thứ khổ não. Trong các kinh luận, có nhiều thuyết khác nhau về Ngũ khổ. Như kinh Ngũ khổ chương cú nêu 5 nỗi khổ trong 5 đường là: 1. Chư thiên khổ: Tất cả người các cõi trời đều chịu khổ sinh già bệnh chết, tùy theo nghiệp đã tạo ở đời trước mà quyết định tuổi thọ dài hay ngắn; đồng thời các trời đều có 2 đại nạn là hết số và hết kiếp. 2. Nhân đạo khổ: Từ kẻ nô tì đến bậc Chuyển luân Thánh vương đều phải chịu vô lượng trăm ngàn nỗi khổ như sống, già, bệnh, đói, khát, rét, bức, v.v... 3. Súc sinh khổ: Các loài chim, thú, trùng, cá... đều chịu muôn thứ khổ như: Đói, khát, lạnh, nóng, làm thực phẩm cho người và ăn nuốt lẫn nhau. 4. Ngã quỉ khổ: Quỉ đói thân cao 1 do tuần, mà cổ họng nhỏ như lỗ kim, từ trong yết hầu phun ra lửa, ăn uống không được. 5. Địa ngục khổ: Địa ngục có các cái khổ của 8 địa ngục lạnh, 8 địa ngục nóng như: thành bằng sắt, vạc dầu sôi, rừng gươm, núi dao v.v... Luận Du già sư địa quyển 44, nêu 5 thứ khổ: Khổ vì bị bức bách, khổ vì thiếu thốn đủ thứ, khổ vì cõi đời bất bình đẳng, khổ vì cái mình yêu thích bị biến hoại và khổ vì những phiền não thô trọng trong 3 cõi. Đại minh tam tạng pháp số quyển 24 nêu 5 khổ: 1. Sinh lão bệnh tử khổ: Chúng sinh lúc mới đầu thai ở trong bụng mẹ chật chội nhớp nhúa; đến lúc ra khỏi thai(sinh), gió lạnh chạm vào mình thì như bị vật gì đâm, đến lúc tuổi già(lão), khí lực suy yếu, đi đứng không vững, còn bị ốm đau,(bệnh) nóng lạnh não hại, cuối cùng lúc chết(tử) thì 4 đại tan rã, thần thức phiêu tán, các duyên ấy thảy đều là khổ. 2. Ái biệt li khổ: Người mình yêu thương thì phải xa cách, lìa tan, không được sống chung 1 chỗ. 3. Oán tăng hội khổ: Người mình chán ghét, vốn muốn xa lánh thì lại cứ phải gặp nhau luôn. 4. Cầu bất đắc khổ: Đối với các cảnh sắc thanh ở thế gian và tất cả lợi dưỡng đáng yêu thích, lòng tham muốn lắm mà không đạt được. 5. Ngũ ấm thịnh khổ: Ngũ ấm tức sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Ở đây là chỉ chung cho 1 thân người. Nghĩa là thân 5 ấm chịu các nỗi khổ rất mãnh liệt. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Quán vô lượng thọ kinh sớ (Trí khải); Du già sư địa luận lược toản Q.11].

ngũ kim cương bồ tát

(五金剛菩薩) Cũng gọi Ngũ Bí mật. Năm vị bồ tát Kim cương của Kim cương giới Mật giáo. 1. Kim cương Tát đỏa: Ngồi ở chính giữa. 2. Bồ tát Kim cương Dục: Ngồi ở phía đông. 3. Bồ tát Kim cương Xúc: Ngồi ở phía nam. 4. Bồ tát Kim cương Ái: Ngồi ở phía tây. 5. Bồ tát Kim cương Mạn: Ngồi ở phía bắc.Năm vị tôn bồ tát Kim cương này cùng ngồi trong 1 vòng tròn, hàm ý không ở trong sinh tử, để bày tỏ cái đức đại trí; 5 vị tôn cùng ngồi ở 1 hoa sen, tức hàm ý không trụ nơi Niết bàn, để bày tỏ cái đức đại bi. Trong 5 vị tôn này, Kim cương Tát đỏa là chủ, còn các vị Dục, Xúc, Ái, Mạn đều mang tên các phiền não là hiển bày cái ý sâu xa, mầu nhiệm, bí mật: Phiền não tức bồ đề, nhiễm tịnh không hai, nhân quả đồng thể, sự tức chân thực, cho nên gọi là Ngũ Bí mật. [X. Lí thú thích Q.thượng; Đại lạc kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ]. (xt. Ngũ Bí Mật).

Ngũ kiến

五見; C: wǔjiàn; J: goken; S: pañca-dṛṣṭi.|Năm nhận thức sai lầm. »Ngũ kiến« (五見) còn được gọi là Ngũ ác kiến (五惡見) và Ác kiến (惡見). Đó là:|1. Ngã kiến (我見): quan niệm chấp trước về tự thể tồn tại riêng biệt của bản ngã, đi đôi với quan niệm thực có bản ngã sở hữu mọi thứ trong vũ trụ. Còn gọi là Thân kiến (身見), Hữu thân kiến (有身見; s: satkāya-dṛṣṭi); 2. Biên kiến (邊見; s: antaparigraha-dṛṣṭi): quan niệm chấp trước về một bên, hoặc là thường kiến (e: eternalism), hoặc là đoạn kiến (e: nihilism); 3. Tà kiến (邪見; s: mithyā-dṛṣṭi): Không có kiến giải chân chính về mối tương quan nhân quả; 4. Kiến thủ kiến (見取見; s: dṛṣṭi-parāmarśa-dṛṣṭi): Kiến chấp cho một quan niệm sai lầm rồi áp đặt trên những quan niệm khác; 5. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīla-vrataparāmarśa-dṛṣṭi): Quan niệm chấp trước sai lầm về tu khổ hạnh, giới luật và thệ nguyền của ngoại đạo có thể dẫn đến chân lí.|Bốn kiến giải đầu loại trừ kiến giả cuối cùng được gọi là Tứ kiến (四見).

ngũ kiến

xem năm kiến chấp. ; (五見) Phạm: Paĩca-dfwỉaya#. Cũng gọi Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ lợi sử. Chỉ cho 5 thứ ác kiến trong các phiền não căn bản. Đó là: 1. Tát ca da kiến: (Phạm:Sat-kàyadfwỉi): Thuyết nhất thiết hữu bộ giải thích là: Hữu thân kiến, Ngụy thân kiến, Hoại thân kiến, Thân kiến; Kinh bộ thì giải thích là hư ngụy; còn tông Duy thức thì giải thích là di chuyển. Tức tự chấp có sự tồn tại của cái ta, gọi là Ngã kiến; cho rằng vật này thuộc về ta thì gọi là Ngã sở kiến. 2. Biên chấp kiến: (Phạm:Anta-gràhadfwỉi), cũng gọi Biên kiến: Kiến giải cực đoan, chỉ chấp 1 bên, như cho rằng sau khi ta chết vẫn thường còn không mất, đây gọi là Thường kiến(Hữu kiến); hoặc cho rằng sau khi ta chết thì dứt hẳn, đây gọi là Đoạn kiến(Vô kiến). 3. Tà kiến: (Phạm:Mithyà-dfwỉi): Kiến giải chối bỏ đạo lí nhân quả. 4. Kiến thủ kiến: (Phạm: Dfwỉiparàmarza): Tức kiến giải chấp trước sự sai lầm cho là chân thực. 5. Giới cấm thủ kiến: (Phạm:Zìlavrata-paràmarza), cũng gọi Giới thủ kiến, Giới đạo kiến. Kiến giải cho những qui luật, cấm chế không chân chính là giới hạnh có thể đạt được Niết bàn. [X. luận Đại tì bà sa Q.46; luận Câu xá Q.19; luận Thành thực Q.10]. (xt. Ngũ Lợi Sử).

ngũ kiếp tư duy

(五劫思惟) Chỉ cho sự tư duy suốt trong thời gian 5 kiếp. Lúc đức Phật A di đà còn ở địa vị tu nhân là tỉ khưu Pháp tạng, trước khi phát 48 thệ nguyện, Ngài đã từng tư duy trong suốt thời gian 5 kiếp. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 hạ), nói: Lúc bấy giờ vị tỉ khưu kia nghe Phật nói về cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, thảy đều thấy rõ, liền phát thệ nguyện thù thắng vô thượng, tâm Ngài vắng lặng, không đắm trước các pháp, tất cả thế gian không ai sánh kịp. Ngài tư duy trong suốt 5 kiếp, đầy đủ các hạnh thanh tịnh, trang nghiêm nước Phật. Ngoài ra, tượng Phật A di đà tư duy trong 5 kiếp được gọi là Ngũ kiếp tư duy Di đà, tương Phật A Di Đà Tư Duy Năm Kiếp truyền do Đại sư Thiện đạo vẽ, hiện được thờ ở chùa Đông đại tại huyện Nại lương, Nhật bản. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Vô lượng thọ nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung].

ngũ kì đặc mộng

(五奇特夢) Năm điềm mộng đặc biệt kì lạ. Cứ theo kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 1, thủa xa xưa, khi còn ở địa vị tu nhân, đức Thế tôn là tỉ khưu Thiện tuệ đang tu đạo ở trong núi. Có lần mộng thấỵ điều kì lạ, Ngài liền đến thỉnh ý đức Phổ quang Như lai giải thích cho. 1. Mộng nằm trên biển cả: Cho biết thân đức Thế tôn hiện còn đang ở trong biển sinh tử, chưa đến được bờ bên kia, chưa chứng Niết bàn. 2. Mộng gối đầu trên núi Tu di: Cho biết đức Thế tôn đã ra khỏi biển sinh tử, lên bờ bên kia, sắp chứng Niết bàn. 3. Mộng thấy tất cả chúng sinh ở trong biển nhập vào thân mình: Cho biết đức Thế tôn sẽ ở trong biển trần lao làm chỗ nương tựa cho chúng sinh, giúp đỡ các hữu tình vượt sang bờ bên kia. 4. Mộng thấy tay cầm mặt trời: Cho biết đức Thế tôn đem ánh sáng trí tuệ soi rọi khắp pháp giới, mở đường dẫn lối từ mê mờ về chính giác. 5. Mộng tay cầm mặt trăng: Cho biết đức Thế tôn dùng trí phương tiện đi vào thế giới sinh tử trần lao, dùng pháp thanh lương, giáo hóa chúng sinh khiến xa lìa nhiệt não.

ngũ kế

(五髻) Năm búi tóc. Tóc của các pho tượng trong Mật giáo thường được tết lại thành 5 búi: Trước, sau, bên trái, bên phải và chính giữa để biểu thị 5 Phật, 5 trí. Như tóc của bồ tát Văn thù sư lợi được tết thành 5 búi gọi là Ngũ kế Văn thù. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 635 thượng) nói: Vẽ hình tượng bồ tát Văn thù sư lợi, thân màu vàng ròng, trên đỉnh đầu có 5 búi tóc (...). Đầu có 5 búi tóc là tượng trưng cho 5 trí Như lai đã thành tựu từ lâu.

ngũ kế quán

(五髻冠) Mũ báu có hình 5 búi tóc được sử dụng trong Mật giáo, biểu thị cho 5 thứ trí. Kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 8 thượng) nói: Hành giả trì chân ngôn, kế đó đến viện thứ 3, trước hết vẽ hình bồ tát Diệu cát tường, thân màu vàng ròng đầu đội Ngũ kế quan, giống như hình đồng tử.

ngũ kết

(五結) Năm thứ phiền não: Tham kết, Sân kết, Mạn kết, Tật kết và Khan kết. Năm phiền não này như những sợi dây trói buộc chúng sinh, làm cho trôi nổi lăn lộn mãi trong 3 cõi sống chết, không cách nào thoát ra được, vì thế gọi là kết(buộc chặt). [X. Trung a hàm Q.56; luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Tập dị môn túc Q.12; luận Đại tì bà sa Q.49]. (xt. Kết).

ngũ kết nhạc tử

(五結樂子) Thần âm nhạc theo hầu trời Đế thích. Vị thần từng đến nhà Nhân đà la ở núi Bệ đà đề, phía bắc thôn Nại lâm, phía đông thành Vương xá, gẩy đàn cầm lưu li khen ngợi công đức của Phật. [X. kinh Trung a hàm Q.33].

ngũ li bố uý

(五離怖畏) Xa lìa 5 thứ sợ hãi. 1. Không bị lửa tham thiêu đốt. 2. Không sinh giận dữ. 3. Không bị gươm dao làm hại. 4. Không trôi nổi trong sông yêu thương. 5. Không bị các thứ khói vọng tưởng xông hại.

ngũ loại

(五類) Cũng gọi Ngũ loại môn. Tất cả các pháp tùy theo tính chất mà được chia làm 5 bộ loại: 1. Dị thục sinh: Cái do nhân dị thục sinh ra, nghĩa là quả báo do nghiệp nhân thiện ác ở quá khứ mang lại. 2. Sở trưởng dưỡng: Những vật ở hiện tại được nuôi lớn bằng ăn uống, thuốc thang... từ nhỏ biến thành lớn, từ ngắn đổi ra dài. Thể của chúng là do cực vi tạo nên.3. Đẳng lưu tính: Tính trước sau đều như nhau, lưu loại giống nhau, nhân trước quả sau giống nhau liên tục sinh ra. Tức là những cái do nhân đồng loại và nhân biến hành sinh ra, chứ không phải cái thuộc về Di thục sinh và Sở trưởng dưỡng. 4. Hữu thực sự: Không có 4 tướng sinh, trụ, dị, diệt trôi chảy đổi dời. Tức chỉ cho pháp Vô vi, Pháp giới trong 18 giới có pháp Vô vi này, vì thế gọi là Hữu thực sự. 5. Nhất sát na: Chỉ cho pháp tồn tại 1 sát na trong hiện tại, tức là pháp sơ vô lậu của giai vị Kiến đạo, là cái mà từ vô thủy đến nay chưa từng phát khởi, thế mà trong 1 sát na hiện tại bỗng nhiên sinh khởi. [X. luận Câu xá Q.2; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thuận chính lí Q.5; luận Du già sư địa Q.54, 64; luận Ngũ sự tì bà sa Q.hạ].

ngũ loại thanh

(五類聲) Cũng gọi Ngũ ngũ thanh, Tương tùy thanh, Ngũ cú. Năm loại thanh của 25 phụ âm (văn thể) trước trong 35 chữ phụ âm Tát đàm. Đó là: Âm răng hàm, âm răng, âm lưỡi, âm cổ họng, và âm môi. 1. Năm chữ như: ... tức là âm răng hàm, thuộc âm hầu (gutturals), là âm từ cổ họng phát ra. 2. Năm chữ như: ... tức là âm răng, thuộc về âm ngạc (palatals), là âm phát ra do đầu lưỡi tiếp xúc với hàm ếch. 3. Năm chữ như: ... tức âm lưỡi, thuộc âm nướu (linguals) là âm do đầu lưỡi chạm vào chân răng hàm trên mà phát ra. 4. Năm chữ như: .... tức âm cổ họng, thuộc âm răng (dentals) là âm đầu lưỡi chạm vào răng mà phát ra. 5. Năm chữ như: ... tức âm môi, thuộc âm môi (labials) là âm phát ra do 2 môi mở rộng.(xt. Tất Đàm).

ngũ loại thiên

(五類天) Chư thiên thuộc Ngoại kim cương bộ của Mạn đồ la Kim cương giới Mật giáo có 5 loại khác nhau. Bí tạng kí nêu 5 loại ấy như sau: 1. Thượng giới thiên: Chỉ cho người trời ở cõi Sắc và Vô sắc. 2. Hư không thiên: Chỉ cho 4 cõi trời từ trời Dạ ma trở lên. 3. Địa cư thiên: Chỉ cho 4 Thiên vương và trời Đao lợi. 4. Du hư không thiên: Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. 5. Địa hạ thiên: Chỉ cho loài rồng, A tu la, vua Diêm ma... Còn theo Thập bát hội chỉ qui thì Ngũ loại chư thiên là: 1. Cư thượng giới thiên vương: Chỉ cho trời Ma hê thủ la... 2. Du hư không chư thiên: Chỉ cho Nhật thiên tử. 3. Cư hư không thiên: Chỉ cho Ma vương... 4. Địa cư thiên: Chỉ cho Chủ tạng thiên... 5. Địa hạ thiên: Chỉ cho Phạ ra hi thiên... Ngoài ra, Chư bộ yếu mục và kinh Giáo vương (bản 30 quyển) đều nói 20 thiên chia làm 5 loại. [X. kinh Đại giáo vương Q.10; Lí thú thích Q.hạ; Hiền kiếp thập lục tôn; Đà la ni chư bộ yếu mục].

ngũ loại thuyết pháp

(五類說法) Sự thuyết pháp trong bộ kinh Hoa nghiêm được chia làm 5 loại khác nhau. Cứ theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 1, thì 5 loại thuyết pháp ấy như sau: 1. Phật nói: Như phẩm A tăng kì, phẩm Tùy hảo... là do chính đức Phật nói. 2. Bồ tát nói: Như phẩm Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng v.v... là do các vị đại Bồ tát nói. 3. Thanh văn nói: Như phần đầu của phẩm Nhập pháp giới là do hàng Thanh văn nương nhờ thần lực của đức Phật gia bị mà nói. 4. Chúng sinh nói: Như các bài kệ khen ngợi của Phạm thiên v.v... Vả lại, bản thể của chư Phật và chúng sinh vốn không hai, cho nên pháp do Phật nói cũng chính là chúng sinh nói. 5. Khí thế giới nói: Như cây Bồ đề diễn nói tiếng pháp. Khí thế giới nói là chỉ cho cỏ cây, đất nước v.v... là những thứ do thần lực không thể nghĩ bàn của Phật biến hiện ra. [X. Hoa nghiêm kinh sớ diễn nghĩa sao Q.8; Giáo thừa pháp số Q.17].

ngũ luân

(五輪) I. Ngũ Luân. Trong Mật giáo, Ngũ luân chỉ cho 5 trí luân, tức là 5 đại: Đất, nước, lửa, gió và không. Năm đại này như cái vòng tròn xoay chuyển cùng khắp, không khiếm khuyết nên gọi là Ngũ luân(5 vòng tròn). Nếu đem 5 phần của thân thể chúng sinh(đầu, mặt, ngực, rốn, đầu gối)tương ứng với 5 đại, theo thứ tự phối hợp với 5 luân (không, gió, lửa, nước, đất)và 5 chữ Tất đàm ( , , , , ) để quán tưởng thì gọi là Ngũ luân quán, hoặc Ngũ luân thành thân quán. Phương pháp quán tưởng này giúp hành giả thể nhận được thân mình tức là thân Phật. Pháp quán Ngũ tướng thành thân của Kim cương giới là đối lại với pháp quán Ngũ luân thành thân của Thai tạng giới. Nếu đứng về phương diện thân hình của chúng sinh mà nói, thì Ngũ luân nghĩa là ngũ thể(đầu,2 tay, 2 đầu gối). Lại nữa, vì sắc không lìa tâm, tâm chẳng lìa sắc, cho nên có thể nói được là 5 đại tức 5 trí, 5 trí tức 5 luân. Nếu nói theo màu sắc và hình dáng thì trong 5 luân, không là hình cầu màu xanh, gió là hình bán nguyệt màu đen, lửa là hình tam giác màu đỏ, nước là hình tròn màu trắng và đất là hình vuông màu vàng. [X. Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.thượng; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thuyết]. (xt. Ngũ Tự Nghiêm Thân Quán). II. Ngũ Luân. Chỉ cho tháp Ngũ luân. Tức là dùng những cái nêu 5 luân lần lượt xếp đống lên thành hình tháp, tượng trưng cho hình tướng pháp thân của đức Đại nhật Như lai. [X. kinh Lăng già Q.1]. (xt. Ngũ Luân Tháp). III. Ngũ Luân. Chỉ cho 5 ngón tay. Tức theo thứ tự từ ngón út, ngón vô danh v.v... phối hợp với 5 luân: Đất, nước, lửa, gió và không. [X. Quảng đại nghi quĩ; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ; Kiến lập mạn đồ la hộ ma nghi quĩ]. IV. Ngũ Luân. Chỉ cho Ngũ giải thoát luân của Kim cương giới. Tức ở trong 1 cái vòng tròn Kim cương lớn, bày xếp 5 cái vòng tròn, để tượng trưng cho chỗ giải thoát của 5 đức Phật. (xt. Ngũ Giải Thoát Luân).

Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích

五輪九字明祕密釋; C: wǔlún jiǔzì míng mìmì shì; J: gorin kuji myō himitsu shaku;|Luận giải về năm luân xa và chín chủng tự bí mật do Giác Tông (覺鑁; j: kakuban) biên soạn. Trình bày về nhiều loại thiền định bí mật, các pháp quán tưởng để hợp nhất sự thăng hoa. Năm luân xa trong thân thể tương quan với Ngũ tạng (五藏) trong lí thuyết đạo Lão (giải thích bằng hình minh hoạ), và chín chủng tự chân ngôn của Phật A-di-đà, hrīḥ a mṛ ta te se ha ra hūṃ, tương ứng với mạn-đồ-la của 8 vị Đại Bồ Tát chung quanh Phật A-di-đà. Xin xem bản dịch tiếng Anh của Pruden (1979).

ngũ luân quán

(五輪觀) Cũng gọi Ngũ trí luân, Ngũ luân tam ma địa, Ngũ luân thành thân quán Pháp quán của Thai tạng giới Mật giáo phối hợp 5 luân, 5 chữ trên 5 chỗ: Đỉnh đầu, mặt, ngực, rốn và đầu gối của tự thân hành giả. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 14, khi vị A xà lê muốn kiến lập Đại bi thai tạng kiến lập đệ tử, thì trước hết phải trụ trong Du già mà quán thân mình: Từ rốn trở xuống phải quán tưởng là Kim cương luân hình vuông, chính giữa đặt chữA; từ rốn trở lên đến tim quán tưởng là Thủy luân hình tròn, ở chính giữa đặt chữVa; từ tim trở lên đến cổ họng phải quán tưởng là Hỏa luân hình tam giác, chính giữa đặt chữRa; từ cổ họng trở lên đến đỉnh đầu phải quán tưởng là Phong luân hình bán nguyệt, chính giữa đặt chữ Ha; cuối cùng ở khoảng không trên hết quán tưởng 1 cái chấm, để trên chữ Thập (..), trong cái chấm đặt chữ Kha. Tức có nghĩa là xả bỏ cái thân thịt do mẹ cha sinh, vào thẳng hình Tam muội da của Đại nhật Như lai để trở thành thân Phật tướng tốt tròn đầy. Ngũ luân quán này khác với Ngũ tướng thành thân quán của pháp Kim cương giới, nhưng là pháp quán cùng loại với Ngũ tự nghiêm thân quán và Chi phần sinh mạn đồ la. [X. Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.thượng; Quảng đại nghi quĩ Q.thượng; Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].

ngũ luân tam muội

(五輪三昧) Cũng gọi Ngũ luân thiền. Năm thứ công đức do tu thiền định mà được. Năm pháp môn này là mượn thí dụ để đặt tên, vì đã xa lìa tâm tán loạn ở cõi dưới(cõi Dục), lần lượt chuyển lên đến quả cùng tột của giai vị Vô học, nên gọi là Luân. Đó là: 1. Địa luân tam muội: Hành giả ở trong Chỉ, nếu chứng định Vị đáo địa thì bỗng nhiên tâm lặng lẽ, tự biết tướng của thân và tâm đều không, an nhiên vào định, giữ tâm không động, giống như đất có 2 nghĩa: Trụ vững bất động và sinh ra muôn vật. 2. Thủy luân tam muội: Hành giả ở trong Địa luân, nếu phát sinh các công đức thiền định, nước định thấm nhuần tâm, tự biết mầm lành trong tâm thêm lớn, thân tâm nhẹ nhàng, diệt trừ tâm cao mạn, tâm theo pháp lành; hệt như nước có 2 nghĩa: Thể tính nhuần thấm và nuôi lớn muôn vật.3. Phong luân tam muội: Hành giả nếu nhờ thiền định mà phát được trí tuệ tương tự, phương tiện vô ngại, được đạo phương tiện thì có thể phát khởi các thứ thiện căn xuất thế, công đức thêm lớn, cũng có khả năng diệt trừ tất cả các kiến chấp phiền não; giống như gió có 3 nghĩa: Di chuyển trong hư không 1 cách vô ngại, cổ động vạn vật và có khả năng phá hoại. Nếu hàng Nhị thừa được Tam muội này thì tức là tướng 5 phương tiện tựa vô lậu giải phát sinh; còn nếu hàng Bồ tát chứng Tam muội này thì liền vào Thập tín thiết luân. 4. Kim sa luân tam muội: Kim (vàng) ví dụ chân thực; Sa (cát) ví dụ không dính mắc. Nếu hành giả phát được trí tuệ chân thực về Kiến hoặc, Tư hoặc, không bám không dính thì chứng được 3 đạo quả, cũng như vàng và cát, cho nên gọi là Kim sa luân tam muội. Nếu Bồ tát chứng Tam muội này thì liền vào giai vị Tam hiền Thập địa, có khả năng phá trừ hết thảy trần sa phiền não.5. Kim cương luân tam muội, cũng gọi Thanh tịnh thiền. Tức là đạo vô ngại thứ 9; ví như kim cương, thể cứng chắc, dụng sắc bén, có công năng phá nát mọi vật mà không bị vọng hoặc xâm hại, có khả năng cắt đứt hết thảy kết sử, thành tựu quả A la hán. Nếu Tam muội này ở trong tâm Bồ tát thì chính là Kim cương bát nhã, có thể phá trừ hoặc vô minh vi tế, chứng Nhất thiết chủng trí. Bồ tát nhờ đó sẽ chứng quả đại Bồ đề. [X. Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.3, thượng].

ngũ luân tháp

(五輪塔) Cũng gọi Ngũ luân, Ngũ luân suất đô bà, Ngũ luân tháp bà, Ngũ giải thoát luân, Pháp giới tháp. Tháp 5 luân, biểu thị ý nghĩa đất, nước, lửa, gió và không. Khi Mật giáo giải thích 5 đại: Đất (địa luân), nước (thủy luân), lửa (hỏa luân), gió (phong luân) và không (không luân), thì dùng các hình vuông, tròn, tam giác, bán nguyệt và hình bảo châu (có thuyết nói là hình cầu) để tượng trưng cho mỗi đại. Dùng vàng, đồng hoặc đá làm thành vật tiêu biểu của Ngũ luân, rồi theo thứ tự từ dưới lên trên chồng xếp những vật ấy thành hình 1 ngôi tháp, gọi là Ngũ luân tháp, mỗi mặt đều có khắc chữ chủng tử của 5 đại. Tháp Ngũ luân vốn biểu thị hình tướng pháp thân của đức Đại nhật Như lai, trong đó thờ xá lợi. Đời sau, tháp Ngũ luân thường được dùng để làm hình mồ mả. [X. Bí tạng kí].

ngũ luân tế

(五輪際) Chỉ cho Hư không ở vị trí thấp nhất trong 5 luân. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng (Đại 24, 1011 thượng) nói: Các trời ấy đều có ao nước lớn, hoa sen mọc trong ao nên gọi là Thủy thiên, 4 loài chúng sinh phi sắc đều do hóa sinh, dưới cùng là Ngũ luân tế, đó là 1 cõi Phật, tên là Pháp giới đại nhẫn.

ngũ luân tự

(五輪字) Chỉ cho 5 chữ: (a), (va), (ra), (ha) và (kha). Năm chữ này theo thứ tự là chủng tử của 5 luân: Đất, nước, lửa, gió và không, vì thế nên gọi Ngũ luân tự.

ngũ luận sư

(五論師) Năm vị Luận sư thông suốt tạng Luận và giỏi về nghị luận. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 thì 5 vị Luận sư ấy là: 1. Luận sư A thấp phược lũ sa, tức là Luận sư Mã minh (Phạm: Azvaghowa, khoảng 100-160 TL). Tương truyền có lần ngài Mã minh dùng sức thần thông hiện ra 1 nghìn con ngựa trắng, làm cho 1 nghìn con chim đều kêu lên, nhân đó mà phá ngoại đạo, khiến chính pháp tiếp tục hưng thịnh, không để dứt mất. Ngoài ra, truyền thuyết cũng nói lúc ngài nói pháp, có sức cảm được bầy ngựa cất tiếng kêu bi thương, vì thế người đời gọi ngài là Mã minh ( ). Vì ngài soạn các bộ luận: Đại thừa khởi tín và Đại thừa trang nghiêm... nên được gọi là Luận sư. 2. Luận sư Na già hạt thụ na, tức là Luận sư Long thụ (Phạm:Nàgàrjuna). Ngài hiểu rõ Phật pháp sâu xa màu nhiệm, nên xuất gia hàng phục ngoại đạo, thuyết minh đệ nhất nghĩa. Vì ngài soạn các bộ luận: Trung quán và Đại trí độ nên được tôn xưng là Luận sư. 3. Luận sư Ca na đề bà (Phạm:Kàịadeva), là đệ tử của Luận sư Long thụ. Vì ngài soạn Bách luận, luận Đại trượng phu... nên được gọi là Luận sư. 4. Luận sư Cưu ma la đa, tức là Luận sư Đồng thụ (Phạm:Kumàrajìva, 344-413, có thuyết nói 350-409). Do ngài phát huy luận nghĩa nên được gọi là Luận sư. 5. Luận sư Thất lợi la đa, tức là Luận sư Thắng thụ (Phạm: Srìràta hoặc Srìlabdha). Vị Luận sư này có biện tài vô ngại, thường hàng phục ngoại đạo như ánh sáng mặt trời phá tan bóng tối, nên được gọi là Luận sư.

ngũ lược thập quảng

(五略十廣) Phần chính của bộ Ma ha chỉ quán được chia làm 10 khoa gọi là Thập quảng, tức là: Đại ý, Thích danh, Thể tướng, Nhiếp pháp, Thiên viên, Phương tiện, Chính quán, Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui. Trong phần Đại ý lại chia ra 5 khoa gọi là Ngũ lược, tức là: Phát đại tâm, Tu đại hạnh, Cảm đại quả, Liệt đại võng và Qui đại xứ. Thập quảng được giải thích như sau: 1. Đại ý: Tức bao gồm Ngũ lược: a) Phát đại tâm: Tu Chỉ quán trước hết phải phát tâm bồ đề, vì thế nói rõ 4 thệ nguyện rộng lớn và nêu bày đại ý của 6 chương trước trong Thập quảng. b) Tu đại hạnh: Thuyết minh 4 loại tam muội, nêu rõ đại ý của Chỉ quán trong Thập quảng. c) Cảm đại quả: Tức kết quả của việc tu Chỉ quán là từ Quán hạnh trải qua Tương tự mà đến giai vị Phần chân tức thì cảm được quả báo lớn 8 tướng thành Phật, nêu rõ đại ý của quả báo trong Thập quảng. d) Liệt đại võng: Sau khi được đại quả, tiến tới việc hóa tha, tuyên thuyết 5 thời 8 giáo, phá tan lưới(võng)tà kiến, nêu rõ đại ý của Khởi giáo trong Thập quảng. e) Qui đại xứ: Sự nghiệp hóa tha đã được hoàn tất liền nhập Đại niết bàn, tức nói rõ đại ý của Chỉ qui trong Thập quảng. 2. Thích danh: Giải thích danh xưng của Chỉ quán. 3. Thể tướng: Thuyết minh Chỉ và Quán không có thể riêng biệt mà là cùng 1 pháp tính với 2 lực dụng tịch và chiếu. 4. Nhiếp pháp: Chỉ và Quán bao nhiếp hằng sa vô lượng các pháp. 5. Thiên viên: Chỉ và Quán của 4 thời và 3 giáo trước đều là thiên (lệch về 1 bên), duy có Chỉ quán của giáo hiện nay là viên dung. 6. Phương tiện: Phương tiện gia hạnh trước khi tu pháp Chỉ quán, tức nói rõ về 25 phương tiện. 7. Chính quán: Nói rõ về tướng tu Chỉ quán chính thức(nhưng chương này còn bỏ dở vì ngài Trí khải đã thị tịch, cho nên bộ Ma ha Chỉ quán còn thiếu 3 chương là các chương Quả báo, Khởi giáo và Chỉ qui). [X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1, phần 2 và phần 3].

ngũ lạc

(五樂) I. Ngũ Lạc. Chỉ cho 5 niềm vui: Vui xuất gia, vui xa lìa, vui tịch lặng, vui bồ đề và vui Niết bàn.1. Vui xuất gia: Người đời gây nhiều nghiệp chướng, phiền não, nếu xuất gia tu đạo thì có thể chấm dứt hẳn mọi khổ đau. 2. Vui xa lìa: Tức niềm vui Sơ thiền. Ở Sơ thiền xa lìa mọi ái nhiễm phiền não của cõi Dục, được thiền định giác quán mà sinh vui mừng. 3. Vui tịch lặng: Tức niềm vui Nhị thiền. Ở Nhị thiền đã lìa thiền định giác tán động của Sơ thiền, nhờ thế mà tâm vắng lặng phát được niềm vui thắng định. 4. Vui bồ đề: Bồ tát thành tựu quả bồ đề vô lậu, tự thụ hưởng niềm vui ấy, nhưng vì lòng thương nên đem niềm vui này ban bố cho chúng sinh. 5. Vui Niết bàn: Bồ tát dứt giả về chân, vào Niết bàn vô dư, được sự vắng lặng cùng tột.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.13; Đại minh tam tạng pháp số Q.25]. II. Ngũ Lạc. Chỉ cho 5 giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân có khả năng đối ứng với các thú vui thích của 5 cảnh: Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, và sự mịn màng trơn láng.(xt. Ngũ Dục).

Ngũ lợi sử

五利使; C: wǔlìshǐ; J: gorishi;|Năm loại phiền não (do mê lầm về lí) mà những người tu tập lâu năm thường gặp: thân kiến (身見), biên kiến (邊見), tà kiến (邪見), kiến thủ kiến (見取見), giới cấm thủ kiến (戒禁取見). Cũng còn gọi là Ngũ kiến (五見). Đây là năm loại sau cùng trong Thập sử (十使). Năm loại đầu gọi là Ngũ độn sử (五鈍使).

ngũ lợi sử

(五利使) Phạm: Paĩca-dfwỉaya. Cũng gọi Ngũ nhiễm ô kiến, Ngũ tịch kiến, Ngũ kiến. Lợi là sắc bén, Sử là sai khiến. Ngũ lợi sử là chỉ cho năm thứ phiền não(hoặc) do mê lí mà khởi, thường xui khiến chúng sinh tạo các nghiệp ác. Đó là: 1. Hữu thân kiến: Do không rõ cái lí thân ta là do sự hòa hợp của 5 uẩn mà có 1 cách giả tạm, nên mới chấp trước thật có thân ta. 2. Biên chấp kiến: Chấp trước 2 kiến giải cực đoan, cho rằng sau khi ta chết là dứt hẳn, hoặc sau khi ta chết sẽ còn mãi không mất.3. Tà kiến: Phủ định lí nhân quả, cho rằng chẳng có tội phúc, thiện ác gì hết. Đây là loại tà kiến nguy hiểm nhất trong các tà kiến.4. Kiến thủ kiến: Cố chấp cái thấy biết hẹp hòi kém cỏi của mình mà không chịu mở rộng tầm nhìn để học hỏi những điểu cao xa ưu việt. 5. Giới cấm thủ kiến: Chấp chặt những giới cấm trái đạo, phi pháp, cho đó là nhân sinh lên cõi trời, hoặc là con đường đến Niết bàn, như giữ giới bò, giới chó... [X. luận Đại tì bà sa Q.49; luận Câu xá Q.19; luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.4; luận Thành duy thức Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Phiền Não).

Ngũ Lực

(s: pañca-bala, 五力): lực có nghĩa là tác dụng hay hoạt động, là 1 trong 37 phẩm trợ đạo, gồm có: (1). Tín Lực (s: raddhā-bala, 信力): năng lực tin tưởng,(2). Tinh Tấn Lực (s: vīrya-bala, 精進力): năng lực cố gắng tinh tấn,(3). Niệm Lực (s: smṛti-bala, 念力): năng lực bảo trì,(4). Định Lực (s: samādhi-bala, 定力): năng lực chú tâm tập trung vào Thiền định,(5). Tuệ Lực (s: prajñā-bala, 慧力): năng lực chọn lọc trí tuệ.

Ngũ lực

xem Năm sức. ; 五力; C: wǔlì; J: goriki; S: pañca-balani.|Năm lực đạt được do tu tập »Năm thiện pháp căn bản« (Ngũ thiện căn 五善根): 1. Tín lực (信力); 2. Tinh tiến lực (精進力); 3. Niệm lực (念力); 4. Định lực (定力); 5. Huệ lực (慧力).

ngũ lực

(五力) Phạm, Pàli: Paĩca balàni. Năm thứ lực dụng. I. Ngũ Lực. Chỉ cho 5 lực (khoa thứ 5) trong 37 đạo phẩm. Tức là 5 thứ lực dụng duy trì sự tu hành để đạt đến giải thoát nhờ sự lớn mạnh của 5 căn (Tín...) sinh ra. Đó là: 1. Tín lực (Phạm: Zraddhà-bala): Thành kính đối với Tam bảo có thể phá trừ tất cả tà tín. 2. Tinh tiến lực (Phạm:Vìrya-bala): Tu 4 chính cần có thể dứt trừ các điều ác. 3. Niệm lực (Phạm: Smriti-bala): Tu 4 niệm xứ để đạt chính niệm. 4. Định lực (Phạm: Samàdhi-bala): Chuyên tâm thiền định để đoạn trừ phiền não tham dục. 5. Tuệ lực (Phạm: Prajĩà-bala): Quán xét lí 4 đế để thành tựu trí tuệ, có thể đạt được giải thoát. Nội dung của 5 lực trên đây giống với 5 căn vô lậu, là giáo lí thực tiễn của đạo Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; luận Đại trí độ Q.19; luận Đại tì bà sa Q.141; luận Câu xá Q.25; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.trung, hạ]. (xt. Ngũ Căn). II. Ngũ Lực. Năm lực dụng thuyết pháp của Như lai. 1. Ngôn thuyết lực: Đức Như lai tuy có nói nhiều pháp như tam thế cấu tịnh, thế gian xuất thế gian, hữu tội vô tội, hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi v.v... nhưng những lời nói ấy như lời nói của người huyễn, không có quyết định, cho đến như hư không chẳng sinh chẳng diệt, ngôn thuyết ấy tức chẳng phải ngôn thuyết. 2. Tùy nghi lực: Như lai tùy nghi nói các pháp theo nhiều cách. Như nói cấu pháp tức tịnh pháp, hoặc nói tịnh pháp tức cấu pháp; nói sinh tử tức Niết bàn, hoặc nói Niết bàn tức sinh tử... 3. Phương tiện lực: Như lai vì muốn cho chúng sinh thực hành bố thí mà nói bố thí là nhân của sự giàu có, cao sang. 4. Pháp môn lực: Như Phật nói các pháp 6 căn đều là cửa giải thoát. 5. Đại bi lực: Như lai vì muốn cho chúng sinh tin hiểu rằng các pháp là vô ngã, nên khởi 32 thứ đại bi để nói pháp. [X. kinh Tư ích phạm thiên sở vấn Q.2; kinh Trì tâm phạm thiên sở vấn Q.1; kinh Thắng tư duy phạm thiên sở vấn Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3]. III. Ngũ Lực. Cũng gọi Ngũ lực nan phán. Năm thứ lực dụng mà Duy thức không phân biệt phán định. Tức là: 1. Định lực: Sức thiền định vắng bặt của Như lai có thể cảm ứng khắp cả 10 phương. 2. Thông lực: Sức thần thông của Như lai biến hóa vô cùng, tùy cơ cảm mà ứng hiện.3. Tá thức lực: Từ cõi Nhị thiền trở lên không có tầm tứ, ngôn ngữ, nếu muốn ứng dụng thuyết pháp thì phải mượn (tá) 3 thức: Thức mắt, thức tai và thức thân của cõi Sơ thiền để thành lực dụng của mình. 4. Đại nguyện lực: Sức nguyện rộng lớn của Như lai có thể độ chúng sinh trong nhiều kiếp.5. Pháp uy đức lực: Chỉ cho sức uy đức ứng hóa của Như lai; nói ra 1 tiếng mà cảm ứng mọi loài, ban ra 1 pháp mà các ma đều khiếp phục, lợi sinh vô tận, công đức khó lường. Năm lực trên đây đều là thắng dụng không thể nghĩ bàn, không tương ứng với thức pháp, vì thế nên nói Duy thức không phân biệt chia chẻ. [X. Tông kính lục Q.48; Đại minh tam tạng pháp số Q.25]. IV. Ngũ Lực. Năm lực chế phục 5 căn được lập trong kinh Na tiên tỉ khưu. Tức là 5 thứ lực. Chế phục mắt, chế phục tai, chế phục mũi, chế phục miệng và chế phục thân.

ngũ lực bất khả đáo

(五力不可到) Năm lực không thể ngăn chặn thân trung ấm đi thụ sinh đến các cõi, vì đây là do nghiệp lực của chúng sinh, không 1 sức nào cản trở nổi. Cứ theo Chư kinh yếu tập quyển 19 thì 5 lực ấy là: 1. Định lực: Tức sức đại định của chư Phật.2. Thông lực: Sức thần thông của chư Phật. 3. Đại nguyện lực: Sức thệ nguyện rộng lớn của chư Phật. 4. Pháp uy đức lực: Sức uy đức của Phật pháp. 5. Tá thức lực: Tức là sức của người đã chứng Nhị thiền trở lên.

ngũ ma tự

(五摩字) Phạm: Paĩcamakàra. Cũng gọi Ngũ ma sự. Năm thứ tượng trưng hợp nhất với tính (Phạm: Zakti) làm môi giới để đạt được thú vui cực độ. Đó là: Rượu (Phạm: Madya), thịt (Phạm: Màmsa), cá (Phạm:Matsya), gạo rang (Phạm:Mudrà) và trai gái giao hợp (Phạm: Maithuna). Chữ Phạm của 5 từ trên đều bắt đầu bằng chữ M, vì thế nên có tên là Ngũ ma tự. Ngũ ma tự chủ yếu được thấy trong văn hiến của phái Tính lực (Phạm: Zàkta) thuộc Ấn độ giáo. Ngũ ma tự có khi cũng được cho là tượng trưng 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, và không, cũng gọi là Ngũ thực tính (Phạm: Paĩcatattva), là do căn cơ của người ta bất đồng nên ý nghĩa tượng trưng cũng khác nhau. Với người hạ căn thì cấm chỉ không được uống rượu cho đến việc trai gái giao hợp, nhưng với người thượng căn thì đó là môi giới đồng hóa với sự sống của vũ trụ. Rượu thuộc lửa, sau khi thiêu đốt là năng lực sản sinh ra các yếu tố. Thịt thuộc gió, có năng lực nuôi lớn thân tâm. Cá thuộc nước, biểu hiện sức sống của các loài thủy tộc. Gạo rang thuộc đất, là nền tảng của sinh mệnh trên mặt đất. Trai gái giao hợp thuộc không, biểu hiện sức sống của vũ trụ sáng tạo. Tác pháp Ngũ ma tự là 1 trong những đặc sắc của Mật giáo tả đạo, về sau cũng truyền đến Tây tạng. Nhưng trong văn hiến của Phật giáo tuyệt nhiên không có thuyết này.[X. Đại niết bàn đát đặc la bản tiếng Phạm (Mahànirvàịà, VII, 103-111); Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương kinh (Guhyasamàjatantra); Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ kinh; Tantra of the Great Liberation by A. Avalon; Shakti and Shakta by J. Woodroff; Guhyasamàja-tantra, GOS. L III by B. Bhattacharyya].

Ngũ minh

五明; S: pañcavidyā;|Là năm nghành học truyền thống tại Ấn Ðộ, nhằm trau dồi trí huệ nhận thức các hiện tượng tập tục. Năm khoa này vẫn còn được giảng dạy tại những ngôi chùa lớn tại Tây Tạng (Tông-khách-ba), bao gồm cụ thể:|1. Y phương minh (醫方明; s: cikitsāvidyā): là y học, dược học; 2. Công xảo minh (工巧明; s: śilavidyā): nghiên cứu công nghệ, nghệ thuật, kĩ thuật, khoa học; 3. Nhân minh (因明; s: hetuvidyā): cách gọi Luận lí học theo đạo Phật; 4. Thanh minh (聲明; s: śabdavidyā): khoa nghiên cứu ngôn ngữ, văn phạm, có thể hiểu là ngôn ngữ học; 5. Nội minh (内明; s: adhyātmavidyā): là nghiên cứu tôn giáo mình, tìm hiểu ý nghĩa của kinh sách thuộc nội điển.

ngũ minh

(五明) Phạm: Paĩca vidyà-sthànàni. Năm môn học ở Ấn độ thời xưa. 1. Thanh minh (Phạm: Sabda-vidyà): Môn học về ngôn ngữ văn chương. 2. Công xảo minh (Phạm: Zilpakarmavidyà): Môn học về công kệ, kĩ thuật, lịch toán.3. Y phương minh (Phạm: Cikitsàvidyà): Môn học về y dược, chú pháp 4. Nhân minh (Phạm: Hetu-vidyà): Môn học về luận lí. 5. Nội minh (Phạm:Adhyàtmà-vidyà): Môn học về tông chỉ giáo lí của phái mình. Ngũ minh cũng chia ra nội minh và ngoại minh. Theo Pháp hoa tam đại bộ bổ chú quyển 14, thì 5 minh nói trên là Nội ngũ minh, còn Thanh minh, Y phương minh, Công xảo minh, Chú thuật minh và Phù ấn minh là Ngoại ngũ minh. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.3; kinh Bồ tát thiện giới Q.3; luận Du già sư địa Q.38; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu; Du già sư địa luận lược toản Q.7; Du già luận kí Q.5, thượng; Đại đường tây vực kí Q.2].

Ngũ Môn

(五門): hay còn gọi là Ngũ Gia (五家), tên gọi chung của 5 Tông phái lớn của Trung Quốc, gồm Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế (臨濟), Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門) và Pháp Nhãn (法眼). Khái niệm gọi là Ngũ Gia do Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益) khởi xướng qua tác phẩm của ông là Tông Môn Thập Quy Luận (宗門十規論). Bộ Nhân Thiên Nhãn Mục (人天眼目), 3 quyển, hay bản 6 quyển, do Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙), là tác phẩm nêu rõ tông yếu của Ngũ Gia, trình bày cương lĩnh các Tông phái do chư vị tiên đức đề xướng và thâu lục những niêm đề, kệ tụng của liệt vị cổ đức.

ngũ môn thiền

(五門禪) I. Ngũ Môn Thiền. Tức là 5 nghĩa vô thường, khổ, không, vô ngã và tịch diệt nói trong chương Ca chiên diên, phẩm Đệ tử, kinh Duy ma. Ngài Duy ma cho rằng các pháp rốt ráo chẳng sinh chẳng diệt là nghĩa vô thường, tất cả đều không. Lấy nghĩa ấy so sánh mà làm 5 môn thiền của Viên giáo. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.4, phần 1]. II. Ngũ Môn Thiền. Chỉ cho Bất tịnh quán, Từ bi quán, Nhân duyên quán, Giới phân biệt quán và Sổ tức quán, là Ngũ đình tâm quán nói trong Thất phương tiện của Tiểu thừa. Trong Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp, Niệm Phật quán được thay thế bằng Giới phân biệt quán, gọi là Ngũ môn thiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).

ngũ mộc

(五木) Năm loại cây dùng để nấu nước thơm tắm tượng Phật trong ngày lễ Phật đản. Đó là: Cây đào, cây mận, cây thông, cây trắc bách và cây liễu. [X. Niên trung hành sự trong Oánh sơn thanh qui Q.hạ].

ngũ mộng

(五夢) Năm thứ ác mộng mà vua A xà thế nước Ma yết đà đã thấy trong đêm đức Như lai nhập diệt. Đó là: 1. Mặt trăng lặn và mặt trời từ trong đất mọc lên. 2. Các vì tinh tú rơi xuống như mưa. 3. Khói từ đất bốc lên. 4. Trên bầu trời xuất hiện 7 sao chổi. 5. Trên trời có 1 khối lửa lớn che khắp hư không rồi rơi xuống đất. [X. kinh Hậu phần niết bàn Q.hạ; Câu xá tụng sớ giới phẩm Q.2].

ngũ mộng pháp

(五夢法) Năm nguyên nhân sinh ra mộng. Theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 21 thì đó là: 1. Nhiệt khí đa kiến hỏa: Hơi nóng nhiều thì mộng thấy lửa. Như người thợ rèn làm việc gần lửa, vì tướng nóng nhiều, sinh ra tưởng nóng, cho nên mộng thấy lửa. 2. Lãnh khí đa kiến thủy: Hơi lạnh nhiều thì mộng thấy nước. Như người đào giếng, vì tướng lạnh nhiều liền sinh tưởng lạnh, cho nên mộng thấy nước. 3. Phong khí đa kiến phi trụy: Hơi gió nhiều thì thấy bay lên hoặc rơi xuống. Như người ngồi khinh khí cầu lên cao, vì tướng động nhiều liền sinh tưởng động, cho nên mộng thấy bay lên hay rơi xuống. 4. Văn kiến đa thục cảnh: Thấy nghe nhiều thì mộng thấy cảnh quen thuộc. Như người ngồi thiền tụng kinh, điều luyện thân tâm, vì tập quen nhiều liền sinh tưởng quen thuộc, cho nên mộng thấy cảnh quen thuộc. 5. Thiên thần dữ tâm linh sở cảm: Thiên thần và tâm linh cảm ứng thì mộng thấy thiên thần. Như người có tâm hướng thiện, thờ cúng thiên thần, vì lòng chí thành, tưởng nhớ không quên, nên mộng thấy thiên thần.(xt. Mộng).

ngũ một

(五沒) Năm tướng suy của người cõi trời hiện ra khi sắp hết phúc phải sinh xuống nhân gian.Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 19 (bản Bắc) thì 5 tướng ấy là: 1. Áo xiêm dơ bẩn. 2. Hoa trên đầu héo khô. 3. Thân thể hôi hám. 4. Chảy mồ hôi ở nách. 5. Không thích ngồi tòa cũ. (xt. Ngũ Suy).

Ngũ Na-hàm thiên

xem Năm cõi tịnh cư.

ngũ nan

(五難) I. Ngũ Nan. Năm điều khó khăn của người tu hành đạo Phật trong thời đại 5 trược xấu xa, không có Phật xuất hiện. Đó là: 1. Thân thiện với ngoại đạo, làm loạn pháp Bồ tát. 2. Hàng Thanh văn chỉ biết lợi mình, gây chướng ngại cho tâm đại từ bi. 3. Bị kẻ ác phá hoại công đức thù thắng. 4. Bị thiện quả điên đảo làm hư mất hạnh thanh tịnh. 5. Chỉ nương cậy vào sức mình, không có tha lực giúp đỡ. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; An lạc tập Q.thượng; luận Tịnh độ thập nghi]. II. Ngũ Nan. Năm điều khó khăn được nghe Phật pháp. Theo kinh Niết bàn quyển 2 (bản Nam) thì 5 điều ấy là: 1. Khó gặp được Phật ra đời. 2. Khó được thân người. 3. Gặp Phật nhưng khó sinh tâm tin. 4. Khó nhẫn được điều khó nhẫn. 5. Khó giữ giới chứng quả A la hán.

ngũ nghiệp

(五業) I. Ngũ Nghiệp. Năm loại nghiệp. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 114 thì tùy theo sự mau hay chậm của việc chịu báo mà nghiệp được chia làm 5 loại: 1. Thuận hiện pháp thụ nghiệp: Đời này gây nghiệp chịu báo ngay ở đời này. 2. Thuận thứ sinh thụ nghiệp: Gây nghiệp ở hiện tại đời sau mới chịu báo. 3. Thuận hậu thứ thụ nghiệp: Từ đời thứ 3 trở về sau mới chịu báo. 4. Thời phận bất định dị thục định nghiệp: Chỉ biết quả mà không biết lúc nào chịu báo. 5. Thời phận bất định dị thục bất định nghiệp: Không biết quả mà cũng không biết lúc nào chịu báo. [X. luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.40; Câu xá luận quang kí Q.15]. II. Ngũ Nghiệp. Cứ theo thuyết của luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 7, 5 nghiệp là: 1. Thủ thụ nghiệp: Như mắt có thể thấy sắc v.v... 2. Tác dụng nghiệp: Như đất có khả năng giữ gìn, nâng đỡ ... hoặc tạo ra tự tướng các pháp, nghĩa là các sắc chất ngại, biến hoại... 3. Gia hạnh nghiệp: Trước hết ý hiểu biết rồi đưa đến thân tạo nghiệp... 4. Chuyển biến nghiệp: Như những người thợ kim hoàn làm ra các đồ trang sức... 5. Chứng đắc nghiệp: Tu Thánh đạo, chứng Niết bàn... [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.4; Tạp tập luận thuật kí Q.8]. III. Ngũ Nghiệp. Năm hạnh nghiệp của chư Phật đối với chúng sinh nói trong Nhiếp đại thừa luận bản, quyển hạ(do ngài Huyền trang dịch). Đó là: 1. Lấy việc cứu giúp hết thảy chúng sinh trong khổ nạn làm nghiệp: Chúng sinh tạo các nghiệp ác, phải chịu những tật não như mù, điếc, điên cuồng... sống trong khổ nạn, nếu khi được gặp Phật cứu giúp thì người mù được thấy, người điếc được nghe, người điên được tỉnh. 2. Lấy việc cứu giúp các cõi ác làm nghiệp: Chúng sinh vì tạo nghiệp chẳng lành bị rơi vào các cõi ác, Phật mở lòng đại từ bi cứu giúp họ ra khỏi 3 đường ác(địa ngục, ngã quỉ, súc sinh)khiến được yên vui trong cõi người, cõi trời. 3. Lấy việc cứu giúp những người tu theo phi phương tiện làm nghiệp: Phi phương tiện nghĩa là phương pháp không đưa đến giải thoát; ngoại đạo tu các hạnh khổ như giữ giới bò(bắt chước bò ăn cỏ), giới chó(bắt chước chó ăn phân) v.v... không thể ra khỏi 3 cõi, gọi là Phi phương tiện. Đức Phật dạy các ngoại đạo lìa bỏ phi phương tiện mà cầu hạnh giải thoát, sống trong giáo pháp của Như lai. 4. Lấy việc cứu giúp Tát ca da kiến làm nghiệp: Tát ca da kiến tức là thân kiến (thấy có thân ta), chúng sinh trôi lăn trong 3 cõi, nhận lầm thân ngũ uẩn giả hòa hợp là cái ta thường hằng bất biến. Đức Phật muốn cứu giúp chúng sinh chấp ngã, nên chỉ cho con đường chính vô ngã có thể vượt khỏi 3 cõi, làm cho chúng sinh phá trừ thân kiến giả dối không thực. 5. Lấy việc cứu giúp các thừa làm nghiệp: Thừa ở đây chỉ cho 2 hạng người tu hành đạo Phật. Một là người đối với đạo Bồ tát muốn trở lui; hai là hàng Thanh văn có chủng tính quanh co giữa Đại thừa và Tiểu thừa, không biết đi đường nào. Hạng người thứ nhất thấy chúng sinh khó độ, hạnh Bồ tát khó làm nên muốn rút lui khỏi đạo Bồ tát Đại thừa, mà tu đạo Tiểu thừa; hạng người thứ 2 tuy có chủng tính Đại thừa nhưng lại phát tâm nhỏ hẹp. Đức Phật thương xót 2 hạng người này, nên nói pháp Nhất thừa khiến cho Bồ tát muốn trở lui không còn thoái tâm, mà Thanh văn bất định thì bỏ Tiểu thừa về Đại thừa. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.hạ (bản dịch đời Lương); Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Đường)]. IV. Ngũ Nghiệp. Năm nghiệp nói trong luận Vãng sinh của bồ tát Thế thân. Tức là: 1. Nghiệp thân: Lễ lạy. 2. Nghiệp khẩu: Nói lời khen ngợi. 3. Nghiệp ý: Khởi tâm phát nguyện 4. Nghiệp trí: Phát khởi trí quán. 5. Nghiệp trí phương tiện: Phát tâm hồi hướng. Năm nghiệp trên đây là pháp môn tu hành cầu sinh về Tịnh độ của đức Phật A di đà. [X. Vãng sinh luận chú Q.hạ; Vãng sinh luận chú kí Q.5].

ngũ nghĩa bình đẳng

(五義平等) Năm nghĩa của tâm vương và tâm sở có tác dụng đối ứng lẫn nhau (tương ứng pháp). Đó là: 1. Sở y bình đẳng: Chỗ nương như nhau, tức là khi tâm vương nương nơi căn mắt thì tâm sở cũng nương nơi căn mắt; cả 2 cùng nương 1 sự vật. 2. Sở duyên bình đẳng: Chỗ duyên theo như nhau, tức là cái đối tượng mà tâm vương và tâm sở chấp lấy đều giống nhau. 3. Hành tướng bình đẳng: Hành tướng như nhau, tức là hình thái của đối tượng hiện ra trong tâm vương và tâm sở giống nhau. 4. Thời bình đẳng: Thời gian như nhau, tức là tác dụng của tâm vương và tâm sở diễn ra cùng 1 lúc. 5. Sự bình đẳng: Việc như nhau, tức là khi tâm vương và tâm sở tác dụng thì 1 tâm vương và 1 tâm sở đồng loại khởi tác dụng, chứ không phải cùng lúc có 2 tâm vương hoặc 2 tâm sở trở lên khởi tác dụng. Cũng có thuyết chỉ nói 4 nghĩa bình đẳng chứ không nêu Hành tướng bình đẳng. [X. luận Câu xá Q.4].

ngũ nghĩa phần thông

(五義分通) Trong luật Tứ phần (vốn là Tiểu thừa) có 5 chỗ mà ý nghĩa tương thông với nghĩa của Đại thừa theo sự nhận xét của Nam sơn luật tông, cho nên gọi là Ngũ nghĩa phần thông. Năm nghĩa ấy là: 1. Đạp bà yếm Vô học: Theo luật Tứ phần quyển 3 thì vị A la hán tên là Đạp bà la tử, suy nghĩ thân này là vô thường, sinh diệt không bền chắc, muốn cầu pháp bền vững, muốn đem hết sức mình cúng dường chư tăng. Tức là nhàm chán thân 3 thừa (Vô học), hướng tâm về Đại thừa, cầu pháp Bồ tát, tu hạnh lợi tha. 2. Thí sinh thành Phật đạo: Tứ phần tăng giới bản (Đại 22, 1030 hạ) nói: Nay ta nói giới kinh, những công đức đã nói, ban cho các chúng sinh, đều cùng thành Phật đạo; căn cứ vào câu đều cùng thành Phật đạo thì biết đây là pháp Đại thừa chứ chẳng phải Tiểu thừa. 3. Tương triệu vi Phật tử: Trong bài tựa luật Tứ phần quyển 1, có các câu: Như thế các Phật tử hay Phật tử cũng như thế. Trong giới Tiểu thừa, chúng tăng thường được gọi là Tỉ khưu, còn trong giới Đại thừa (kinh Phạm võng) thì gọi là Phật tử. Nay căn cứ vào lời xưng hô Phật tử thì ta biết đó là nghĩa Đại thừa.4. Xả tài dụng phi trọng: Đây là lúc sám hối tội Đọa, đầu tiên đối trước chúng tăng xả bỏ tài vật mà mình đã lấy, rồi sau mới làm pháp sám hối, chúng tăng thu giữ vật ấy, trong vòng 1 ngày, trả nó lại cho chủ cũ. Tứ phần luật tông cho rằng tuy không trả lại chủ cũ mà dùng nó trong chúng tăng, thì cũng chỉ kết tội nhẹ Đột cát la chứ không thành tội nặng (phi trọng) trộm cướp, vì người sám hối đã thực tâm xả bỏ. Đó là nghĩa của Đại thừa lấy ý nghiệp làm chủ. 5. Trần cảnh phi căn cảnh: Các trần cảnh như sắc, thanh v.v... là do thức mắt, thức tai nhận biết, chứ chẳng phải do căn mắt, căn tai nhận biết. Phần giải thích về giới Tiểu vọng ngữ trong luật Tứ phần quyển 11 có những câu: Thấy là thức mắt thấy, nghe là thức tai nghe, xúc giác thì thuộc 3 thức là thức mũi, thức lưỡi và thức thân, còn biết thì thuộc về thức ý. Nghĩa trong các câu trên đây khác hẳn với nghĩa căn thấy, căn nghe... của Hữu bộ Tiểu thừa chủ trương, nhưng giống hệt với nghĩa thức thấy, thức nghe... của Đại thừa. [X. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.3, hạ; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3, tiết 1; Tứ duyên kí Q.3, hạ].

Ngũ nghịch

五逆; C: wǔnì; J: gogyaku; S: pañcanantarya-karmāṇi;|Năm tội lớn

ngũ nghịch

(五逆) Cũng gọi Ngũ nghịch tội. Chỉ cho 5 cái tội cực ác trái với đạo lí. Cứ theo thuyết của Tiểu thừa thì 5 tội nghịch là: 1. Hại mẹ, cũng gọi giết mẹ. (Phạm: Màtf-ghàta). 2. Hại cha, cũng gọi giết cha (Phạm: Pitfghàta). 3. Hại A la hán, cũng gọi giết A la hán (Phạm: Arhad-ghàta). 4. Ác tâm làm thân Phật ra máu, cũng gọi làm thân Phật ra máu (Phạm: Tathàgatasyàntike duwỉa-cittarudhirotpàdana). 5. Phá tăng, cũng gọi Phá hòa hợp tăng, Đấu loạn chúng tăng (Phạm: Saôghabheda). Trong 5 tội trên đây, 2 tội trước là bỏ ruộng ân nghĩa, 3 tội sau là hủy hoại ruộng đức, vì thế gọi là Năm tội nghịch, Năm tội nặng. Vì hành vi của 5 tội là nguyên nhân làm cho người vi phạm phải rơi vào địa ngục Vô gián nên cũng gọi là Năm nghiệp Vô gián (Phạm: Paĩca anantarya-karmàịi), gọi tắt là Năm vô gián hoặc 5 tội không cứu được. Ba tội trước là tội cố ý giết hại cha, mẹ và A la hán. Còn tội Phá hòa hợp tăng thì chia làm 2: a) Phá yết ma tăng: Li khai giáo đoàn mà mình vốn là 1 thành viên để thành lập giáo đoàn mới thực hành các việc bố tát, yết ma riêng rẽ. b) Phá pháp luân tăng: Tôn thờ thầy khác, lập học thuyết khác, tổ chức giáo đoàn riêng. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 18, thì Ngũ vô gián đồng loại nghiệp (Phạm:Paĩca Upànantarìyaịi), cũng gọi Cận ngũ vô gián, Ngũ vô gián đồng phận, Cận ngũ nghịch, Loại tự ngũ nghịch, là 5 tội cùng loại với 5 nghiệp Vô gián nói trên. Tức là: 1. Ô nhiễm ni A la hán (Phạm:Màtur arhantyà dùwaịam). 2. Giết bồ tát Trụ định địa (Phạm: Niyatabhùmisthitasya bodhisattvasya màraịam). 3. Giết bậc thánh Hữu học (Phạm: Zaikwsasya màraịam). 4. Phá hòa hợp tăng (Phạm: Saôghàyadvàraharaịam). 5. Phá hoại tháp (Phạm: Stùpabhedanam). Kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết quyển 4 thì nêu 5 tội nặng là: 1. Phá hoại chùa tháp, thiêu hủy kinh tượng, chiếm đoạt tài sản của Tam bảo, hoặc sai bảo người khác làm các việc ấy. 2. Chê bai Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa. 3. Cản trở người tu hành hoặc giết hại người xuất gia. 4. Vi phạm 1 trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa.5. Chủ trương không có nghiệp báo, thực hành 10 nghiệp bất thiện; hoặc không sợ quả báo đời sau, khuyến khích người khác làm 10 điều ác. Trong Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5, ngài Tuệ chiểu hợp tội giết cha và giết mẹ trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa làm 1 và thêm tội phỉ báng Phật pháp mà lập thành 5 tội nghịch chung cho cả 3 thừa.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Đại tập địa tạng thập luân Q.3; luật Tứ phần Q.46; luật Thập tụng Q.36; luận Câu xá Q.17; luận Thuận chính lí Q.43; Du già luận kí Q.3, thượng, Q.5; Du già sư địa luận lược toản Q.4; Câu xá luận quang kí Q.18].

ngũ nghịch khinh trọng

(五逆輕重) Sự nặng nhẹ của 5 tội nghịch. Năm tội nghịch chung của 3 thừa là: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, làm cho thân Phật chảy máu và phá hòa hợp tăng. Trong đó, tội phá hòa hợp tăng thuộc về ngữ nghiệp và là tội nặng nhất. Bốn tội còn lại thuộc về thân nghiệp và theo thứ tự là làm thân Phật chảy máu, giết A la hán, giết mẹ, giết cha. [X. luận Câu xá Q.17; Đại thừa nghĩa chương Q.7]. (xt. Ngũ Nghịch).

ngũ nghịch tội

xem Năm tội nghịch.

ngũ nghịch vãng sinh

(五逆往生) Người phạm 5 tội cực ác, nhưng nhờ sức niệm Phật mà được vãng sinh Tịnh độ cực lạc. Đây là chủ trương của kinh Quán vô lượng thọ, cho rằng sự niệm Phật chí thành có 1 công năng siêu tuyệt. Nhưng kinh Vô lượng thọ thì cho rằng người phạm 5 tội nghịch và tội phỉ báng Phật pháp đều không được sinh về Tịnh độ phương Tây. [X. Quán kinh sớ tán thiện nghĩa]. (xt. Nghịch Báng Trừ Thủ).

ngũ nguyện

(五願) Năm tâm nguyện mà Bồ tát phát khởi làm lợi mình và lợi người. Đó là: 1. Phát tâm nguyện: Bồ tát mới phát khởi tâm đại Bồ đề vô thượng. 2. Sinh nguyện: Nguyện đời vị lai được sinh vào các cõi lành. 3. Cảnh giới nguyện: Nguyện đời vị lai đạt được trí tuệ, biết rõ 5 cảnh giới vô lượng (chúng sinh cảnh vô lượng, thế giới vô lượng, pháp giới vô lượng, điều phục giới vô lượng, điều phục giới phương tiện giới vô lượng). 4. Bình đẳng nguyện: Nguyện trong đời vị lai thành tựu Tứ nhiếp pháp bình đẳng của Bồ tát. 5. Đại nguyện: Nguyện ở đời vị lai dùng Tứ nhiếp pháp bình đẳng để làm lợi ích cho chúng sinh. Trong 5 nguyện trên, nguyện thứ nhất thuộc về lợi mình, còn 4 nguyện sau là những nguyện làm lợi cho người. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.8; Đại thừa nghĩa chương Q.12].

ngũ nguyện kiến lập

(五願建立) Cũng gọi Ngũ nguyện khai thị. Đối lại: Nhất nguyện kiến lập. Tức là pháp nghĩa của Tịnh độ chân tông Nhật bản do sư Thân loan y cứ vào 5 đại nguyện trong 48 nguyện của đức Phật A di đà mà thành lập. Năm nguyện ấy là:Nguyện thứ 11 trụ trong định đến diệt độ, nguyện thứ 12 ánh sáng vô lượng, nguyện thứ 13 thọ mệnh vô lượng, nguyện thứ 17 chư Phật ngợi khen và nguyện thứ 18 dốc lòng kính tin mến mộ. [X. Vãng sinh luận chú Q.thượng; Hiển tịnh độ chân thực giáo hành chứng văn loại]. (xt. Nhất Nguyện Kiến Lập).

ngũ ngũ bách niên

(五五百年) Cũng gọi Ngũ cá ngũ bách niên, Ngũ cá ngũ bách tuế, Ngũ ngũ bách tuế. Năm lần 500 năm, 1 thứ quan niệm về lịch sử tông giáo; tức là thời gian biểu thị sự thịnh suy của giáo pháp đức Phật. Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 2, khoảng thời gian 2.500 năm sau khi đức Phật nhập diệt được chia làm 5 lần 500 năm. Trong đó 2 lần 500 năm đầu là thời Chính pháp, lần 500 năm thứ 3 và thứ 4 là thời Tượng pháp, 500 năm cuối cùng là thời Mạt pháp, là 500 năm đầu của 1 vạn năm mạt pháp. 1. Năm trăm năm thứ nhất: Thời kì Giải thoát kiên cố(Học tuệ kiên cố), trong thời kì này có rất nhiều người tu hành đạt được giải thoát, giác ngộ. 2. Năm trăm năm thứ hai: Thời kì Thiền định kiên cố, trong thời kì này có rất nhiều người tu Thiền đắc định. 3. Năm trăm năm thứ ba: Thời kì Đa văn kiên cố, trong thời kì này mọi người lắng nghe và nghiên cứu Phật pháp rất nhiệt tâm, nhưng ít người thực hành. 4. Năm trăm năm thứ tư: Thời kì tạo tự kiên cố, trong thời kì này mọi người chuyên lo xây dựng chùa viện. 5. Năm trăm năm thứ năm: Thời kì Đấu tranh kiên cố, trong thời kì này mọi người luôn tranh giành kích bác lẫn nhau, cho thuyết mình là hơn, thuyết người là kém.[X. Hiền hộ phần trong kinh Đại phương đẳng đại tập Q.3; luận Thích tịnh độ quần nghi Q.3; Kim cương bát nhã kinh tán thuật Q.thượng; Mạt pháp đăng minh kí; Đại thừa pháp tướng danh mục Q.6, hạ]. (xt. Chính Tượng Mạt).

ngũ nhiếp luận

(五攝論) Năm Nhiếp luận. Tức chỉ cho 1 bộ luận Nhiếp đại thừa, 2 bộ giải thích Nhiếp luận và 2 bản dịch bộ giải thích Nhiếp luận. Đó là: 1. Vô trước Nhiếp luận: Tức là bộ luận Nhiếp đại thừa 3 quyển, do bồ tát Vô trước soạn, được thu vào Đại chính tạng tập Q.31. 2. Thiên thân Nhiếp luận: Tức là bộ Đại thừa nhiếp luận thích 15 quyển, do bồ tát Thiên thân soạn, để giải thích bộ luận Nhiếp đại thừa của bồ tát Vô trước. 3. Vô tính Nhiếp luận: Tức là bộ Nhiếp đại thừa luận thích 10 quyển, do bồ tát Vô tính soạn cũng để giải thích bộ luận Nhiếp đại thừa. 4. Lương Nhiếp luận: Tức là bản Hán dịch bộ Đại thừa Nhiếp luận thích 15 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Lương, được thu vào Đại chính tạng tập 31. 5. Đường Nhiếp luận: Tức là bản dịch bộ Nhiếp luận của bồ tát Vô trước và bộ Nhiếp luận thích của bồ tát Vô tính, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, gồm 10 quyển, được thu vào Đại chính tạng tập 31. (xt. Nhiếp Đại Thừa Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích).

ngũ nhiệt

(五熱) Năm nóng. Tức là phương pháp tu khổ hạnh bằng cách phơi mình dưới ánh nắng và đốt lửa ở 4 phía, của ngoại đạo Ấn độ thời xưa. Ngoại đạo tu hạnh khổ này được gọi là Ngũ nhiệt chích thân ngoại đạo. [X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.trung].

ngũ nhân

(五因) I. Ngũ Nhân. Năm mối quan hệ giữa nhân năng tạo là 4 đại(đất, nước, lửa, gió) và quả sở tạo là các sắc pháp. Đó là: 1. Sinh nhân (Phạm: Janana): Từ 4 đại sinh ra các sắc pháp như mẹ sinh ra con. 2. Y nhân (Phạm: Nizraya): Sắc sở tạo đã sinh thì sắc tùy thuộc theo 4 đại, như đệ tử nương theo thầy. 3. Lập nhân (Phạm:Sthàna): Nhân này giữ gìn sắc pháp do 4 đại tạo ra như đất giữ gìn muôn vật. 4. Trì nhân (Phạm: Upastambha): Nhờ sức của nhân này giữ gìn mà sắc sở tạo được nối tiếp không dứt, cũng như thức ăn giữ cho mệnh sống liên tục. 5. Dưỡng nhân (Phạm: Upabfôhana): Làm cho sắc pháp do 4 đại tạo ra thêm lớn, giống như mưa móc nuôi dưỡng cỏ cây. Năm nhân duyên trên đây thuộc về năng tác nhân hữu lực trong 6 nhân, chứ không thuộc về 5 nhân kia như đồng loại nhân v.v... Còn trong 4 duyên thì 5 nhân này thuộc về nhân duyên. [X. luận Du già sư địa Q.3; luận Thuận chính lí Q.20; luận Đại tì bà sa Q.127; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.7; Câu xá luận quang kí Q.7; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. II. Ngũ Nhân. Chỉ cho 5 cái nhân thành lập pháp hữu vi. Đó là: 1. Sinh nhân: Tức hoặc nghiệp phiền não sinh ra thân chúng sinh. 2. Hòa hợp nhân: Như thiện hòa với tâm thiện, bất thiện hòa hợp với tâm bất thiện, vô kí hòa hợp với vô kí. 3. Trụ nhân: Tức là chúng sinh nương vào 4 phiền não lớn là ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái mà sống còn, giống như tòa nhà nương vào những trụ cột mà đứng vững. 4. Tăng trưởng nhân: Chúng sinh nhờ vào thức ăn uống mà thân mệnh được nuôi lớn.5. Viễn nhân: Nhân xa. Tức nhờ sức linh nghiệm của thần chú mà có thể thoát khỏi sự não hại của ma quỉ, cũng như nhờ vũ lực của vua mà tránh được nạn giặc cướp. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); Niết bàn kinh sớ tư kí Q.6].

ngũ nhân ngũ quả

(五因五果) Năm môn nhân và quả của việc vãng sinh Tịnh độ. Năm môn của nhân tức là 5 niệm môn: Lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát và hồi hướng. Năm môn của quả: Cận môn, đại hội chúng môn, trạch môn, ốc môn và viên lâm du hí địa môn. Nhờ 5 nhân này mà được 5 quả này. [X. luận Tịnh độ (Thiên thân); Vãng sinh luận chú Q.hạ]. (xt. Ngũ Công Đức Môn, Ngũ Niệm Môn).

ngũ nhân phi khí

(五人非器) Chỉ cho 5 hạng người không tin, không thực hành, tức là không có khả năng thụ trì được Phật pháp. Đây là nói về 5 hạng căn cơ đối với kinh Hoa nghiêm. 1. Vô tín phi khí: Tức là hạng người nghe kinh Hoa nghiêm không tin và sinh tâm phỉ báng. 2. Vi chân phi khí: Hạng người làm trái với lẽ chân thực, tức là lợi dụng kinh Hoa nghiêm để cầu danh lợi, thuyết pháp bất tịnh, thu góp tà thiện, tức quên mất tâm bồ đề mà tu các thiện căn, đó là nghiệp ma. 3. Quai thực phi khí: Tức là người làm những việc trái với đạo chân thực, không có chính kiến, nương vào lời nói, chấp lấy văn tự, tùy theo âm thanh mà chấp lấy nghĩa lí, còn chính lí siêu việt thì không thể thâm nhập được. Luận Thập địa có nêu ra 5 lỗi của việc dựa vào âm thanh mà chấp lấy nghĩa lí là: Không có chính tín, lui mất tâm dũng mãnh, lừa dối người, phỉ báng Phật và khinh thường pháp. 4. Hiệp liệt phi khí: Hạng người hẹp hòi, yếu kém. Tức chỉ cho Nhị thừa, căn cơ hẹp hòi, kém cỏi, tuy nghe pháp nhưng không hiểu được ý nghĩa sâu xa, mầu nhiệm. 5. Thủ quyền phi khí: Hạng người chấp chặt vào giáo pháp tạm thời, tức chỉ cho hàng Bồ tát Tam thừa cộng giáo, tùy theo giai vị tu tập của giáo mình mà chấp trước giáo pháp quyền tiểu, không tin giáo pháp viên dung đầy đủ muôn đức. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.3 (Trừng quán)].

Ngũ Nhãn

(s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼): chỉ cho 5 loại nhãn lực. (1) Nhục Nhãn (s: māṃsa-cakṣus, 肉眼), là con mắt vốn có đầy đủ nơi nhục nhân này. (2) Thiên Nhãn (s: divya-cakṣus, 天眼), là con mắt của người trên cõi Trời Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), chứng đắc được nhờ có tu Thiền Định. Mắt này xa gần trước sau, trong ngoài, ban ngày hay ban đêm, trên hay dưới đều có thể thấy được. (3) Tuệ Nhãn (s: prajñā-cakṣus, 慧眼), là con mắt của hàng Nhị Thừa, có thể biết rõ chân không vô tướng, cũng có thể quán sát các hiện tượng đều là không tướng, định tướng. (4) Pháp Nhãn (s: dharma-cakṣus, 法眼), là con mắt của chư vị bồ tát có thể quán chiếu thấy tất cả các pháp môn để cứu độ hết thảy chúng sanh. (5) Phật Nhãn (s: buddha-cakṣus, 佛眼), là con mắt của Phật, có đầy đủ tác dụng của 4 loại nhãn lực vừa nêu trên. Mắt này không có gì không thấy biết, cho đến không việc gì không biết, không nghe; cả nghe và thấy đều dùng hỗ tương lẫn nhau, không có tư duy nào mà không thấy được. Các nhà Thiên Thai Tông thuyết rằng nhân vị có Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn; và quả vị có Phật Nhãn. Trong Đại Huệ Độ Kinh Tông Yếu (大慧度經宗要, Taishō Vol. 33, No. 1697) có câu: “Lục Độ vạn hạnh ư chi viên mãn, Ngũ Nhãn vạn đức tùng thị sanh thành, Bồ Tát chi yếu tạng dã, chư Phật chi chơn mẫu dã (六度萬行於之圓滿、五眼萬德從是生成、菩薩之要藏也、諸佛之眞母也, sáu độ muôn hạnh nơi đây tròn đầy, năm nhãn muôn đức từ đây sanh thành; là kho báu của Bồ Tát, là đức mẹ của chư Phật).” Hay trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Lịch Ngũ Vị Bồ Tát chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm; nhân tùng Tam Quán huân phát, quả cụ Ngũ Nhãn viên minh, phương năng du hí thần thông, xuất nhập bách thiên Tam Muội (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念、因從三觀薰發、果具五眼圓明、方能遊戲神通、出入百千三昧, trãi qua con đường Bồ Tát Năm Vị, bước vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn đầy Ba Niệm, nhân từ Ba Quán phát khởi, quả đủ Năm Nhãn sáng soi; mới nên dong ruỗi thần thông, ra vào trăm ngàn Tam Muội).” Trong phần Phổ Biến Văn (普變文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Xuzangjing Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, nghinh thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y năm nhãn sáu thần thông, mong ngự giá pháp quang lâm, cỡi xe hương mà giáng xuống).” ; (s: pañca cakṣūṃṣi, p: pañca cakkhūni, 五眼): chỉ cho 5 loại nhãn lực. (1) Nhục Nhãn (s: māṃsa-cakṣus, 肉眼), là con mắt vốn có đầy đủ nơi nhục nhân này. (2) Thiên Nhãn (s: divya-cakṣus, 天眼), là con mắt của người trên cõi Trời Sắc Giới (s: rūpa-dhātu, 色界), chứng đắc được nhờ có tu Thiền Định. Mắt này xa gần trước sau, trong ngoài, ban ngày hay ban đêm, trên hay dưới đều có thể thấy được. (3) Tuệ Nhãn (s: prajñā-cakṣus, 慧眼), là con mắt của hàng Nhị Thừa, có thể biết rõ chân không vô tướng, cũng có thể quán sát các hiện tượng đều là không tướng, định tướng. (4) Pháp Nhãn (s: dharma-cakṣus, 法眼), là con mắt của chư vị bồ tát có thể quán chiếu thấy tất cả các pháp môn để cứu độ hết thảy chúng sanh. (5) Phật Nhãn (s: buddha-cakṣus, 佛眼), là con mắt của Phật, có đầy đủ tác dụng của 4 loại nhãn lực vừa nêu trên. Mắt này không có gì không thấy biết, cho đến không việc gì không biết, không nghe; cả nghe và thấy đều dùng hỗ tương lẫn nhau, không có tư duy nào mà không thấy được. Các nhà Thiên Thai Tông thuyết rằng nhân vị có Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Tuệ Nhãn, Pháp Nhãn; và quả vị có Phật Nhãn. Trong Đại Huệ Độ Kinh Tông Yếu (大慧度經宗要, Taishō Vol. 33, No. 1697) có câu: “Lục Độ vạn hạnh ư chi viên mãn, Ngũ Nhãn vạn đức tùng thị sanh thành, Bồ Tát chi yếu tạng dã, chư Phật chi chơn mẫu dã (六度萬行於之圓滿、五眼萬德從是生成、菩薩之要藏也、諸佛之眞母也, Sáu Độ muôn hạnh nơi đây tròn đầy, Năm Nhãn muôn đức từ đây sanh thành; là kho báu của Bồ Tát, là đức mẹ của chư Phật).” Hay trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập (萬善同歸集, Taishō Vol. 48, No. 2017) quyển Trung có đoạn: “Lịch Ngũ Vị Bồ Tát chi đạo, nhập Tam Đức Niết Bàn chi thành, luyện Tam Nghiệp nhi thành Tam Luân, ly Tam Thọ nhi viên Tam Niệm; nhân tùng Tam Quán huân phát, quả cụ Ngũ Nhãn viên minh, phương năng du hí thần thông, xuất nhập bách thiên Tam Muội (歷五位菩提之道、入三德涅槃之城、練三業而成三輪、離三受而圓三念、因從三觀薰發、果具五眼圓明、方能遊戲神通、出入百千三昧, trãi qua con đường Bồ Tát Năm Vị, bước vào thành trì Niết Bàn Ba Đức, luyện Ba Nghiệp trở thành Ba Luân, lìa Ba Thọ tròn đầy Ba Niệm, nhân từ Ba Quán phát khởi, quả đủ Năm Nhãn sáng soi; mới nên dong ruỗi thần thông, ra vào trăm ngàn Tam Muội).” Trong phần Phổ Biến Văn (普變文) của Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍 Xuzangjing Vol. 65, No. 1277) quyển 2 cũng có câu: “Nghênh thỉnh thiên hiền vạn thánh, quy y Ngũ Nhãn Lục Thông, vọng pháp giá dĩ quang lâm, nhạ hương xa nhi hạ giáng (迎請千賢萬聖、歸依五眼六通、望法駕以光臨、迓香車而下降, nghinh thỉnh ngàn hiền vạn thánh, quy y Năm Nhãn Sáu Thần Thông, mong ngự giá pháp quang lâm, cỡi xe hương mà giáng xuống).”

Ngũ nhãn

xem Năm thứ mắt. ; 五眼; C: wǔyăn; J: gogen; S: pañcacakṣuṃṣi;|Năm loại mắt

ngũ nhãn

(五眼) Phạm: Paĩca cakwùôiwi. Pàli: Paĩca cakkhùni. Chỉ cho 5 loại mắt. Tức là: 1. Nhục nhãn (Phạm: Màôsa-cakwus): Mắt của người phàm tục. 2. Thiên nhãn (Phạm: Divya-cakwus): Mắt của người trời ở cõi Sắc nhờ tu Thiền định mà đạt được. Mắt này có khả năng thấy hết mọi thứ xa gần, trước sau, trong ngoài, ngày đêm, trên dưới... 3. Tuệ nhãn (Phạm: Prajĩà-cakwus). Mắt này có thể thấy rõ chân không vô tướng; tức là thấu suốt hết thảy hiện tượng đều là không tướng, định tướng. 4. Pháp nhãn (Phạm: Dharma-cakwus): Mắt của Bồ tát. Mắt này thấy được tất cả các pháp môn. 5. Phật nhãn (Phạm: Buddha-cakwus): Mắt Phật. Mắt này có đủ công năng của cả 4 loại mắt trên, thấu suốt hết thảy mọi pháp, không có gì mà chẳng thấy biết. Tông Thiên thai cho rằng Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn và Pháp nhãn thuộc nhân vị, Phật nhãn thuộc quả vị. Lại tùy theo 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên mà nghĩa của Ngũ nhãn đều khác. Mật giáo thì cho rằng Ngũ nhãn không có hơn kém khác nhau, nhưng đặc biệt coi trọng Phật nhãn và Phật cách hóa Phật nhãn, gọi là Phật nhãn tôn. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.2; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Đại trí độ Q.33, 39; Hoa nghiêm kinh sớ Q.57; Đại thừa nghĩa chương Q.20; Tam quán nghĩa Q.thượng].

Ngũ Như Lai

(五如來): xem Ngũ Phật (五佛) bên dưới.

ngũ như lai

(五如來) I. Ngũ Như Lai. Chỉ cho 5 đức Phật được tôn trí trong Mạn đồ la của Mật giáo. Mạn đồ la Kim cương giới tôn trí đức Đại nhật Như lai ở chính giữa, phương đông là A súc Như lai, phương tây là Vô lượng thọ Như lai(Phật A di đà), phương nam là Bảo sinh Như lai và phương bắc là Bất không thành tựu Như lai. [X. Tối thắng diệu cát tường căn bản trí tối thượng bí mật nhất thiết danh nghĩa Tam ma địa phần Q.thượng]. (xt. Ngũ Phật). II. Ngũ Như Lai. Chỉ cho 5 Phật: Phật 10 phương, Phật quá khứ, Phật vị lai, Phật hiện tại và Phật Thích ca... [X. Truyền quang lục Q.hạ]. III. Ngũ Như Lai. Năm đức Như lai được tôn thờ trên đàn của lễ hội cúng thí ngã quỉ: 1. Bảo thắng Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Bình đẳng tính trí. 2. Diệu sắc thân Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Đại viên kính trí. 3. Cam lộ vương Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Diệu quan sát trí. 4. Quảng bác thân Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Pháp giới trí. 5. Li bố úy Như lai: Biểu thị sự diệu dụng của Thành sở tác trí. [X. Thí chư ngã quỉ ẩm thực cập thủy pháp; Bí tạng kí].

ngũ như lai sắc

(五如來色) Cũng gọi Ngũ Phật sắc. Màu sắc trên hình tượng của 5 đức Như lai trong Mật giáo, có nhiều thuyết: 1. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 4, đức Đại nhật Như lai ở chính giữa có thân màu vàng tía, đức Bảo chàng Như lai(hoặc A súc) có thân màu trắng, 3 đức Phật còn lại(Khai phu hoa, hoặc Bảo sinh, Vô lượng thọ, Thiên cổ lôi âm, hoặc Thích ca) đều có thân màu vàng ròng.2. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 6, căn cứ vào thứ lớp quán sắc pháp của hành giả thì 5 đức Phật theo thứ tự có thân màu trắng, đỏ, vàng, xanh và đen. 3. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 20, về mặt thứ tự của quả địa Phật đức, lấy nghĩa màu xanh gồm đủ tất cả màu mà nói, thì 5 đức Phật theo thứ tự là: Tất cả màu(xanh), vàng, đỏ, trắng và đen. Ngoài ra, kinh Nhiếp chân thực cho rằng 5 đức Phật theo thứ tự có thân màu trắng, xanh, vàng, sen hồng và nhiều màu. Còn Đại lạc nghi quĩ nêu các màu thân hình của 5 đức Như lai theo thứ tự là: Trắng, xanh, vàng, đỏ và xanh lá cây.

ngũ nhạc

(五岳) Chỉ cho 5 ngọn núi ở Trung quốc, đó là: Đông nhạc Thái sơn (huyện Thái an, tỉnh Sơn đông), Nam nhạc Hành sơn (huyện Hành sơn, tỉnh Hồ nam), Tây nhạc Hoa sơn (huyện Hoa âm, tỉnh Thiểm tây), Bắc nhạc Hằng sơn(huyện Đại đồng, tỉnh Sơn tây) và Trung nhạc Tung sơn (huyện Đăng phong, tỉnh Hà nam). Thời vua Nghiêu, chỉ có Tứ nhạc do 4 viên quan trông coi việc tế lễ. Về sau, thêm Trung nhạc mà thành chế độ Ngũ nhạc. Việc cúng tế Ngũ nhạc là đặc quyền của Thiên tử, còn vua chư hầu thì chỉ được thờ cúng trong phạm vi lãnh thổ của mình mà thôi.Ngoài ra, Ngũ nhạc là nơi tĩnh tu sớm nhất của các tăng sĩ và đạo sĩ, như ngài Đạo an đời Phù Tần đã vào Hằng sơn xây dựng chùa tháp, ngài Tăng lãng vào Thái sơn sáng lập chùa Lãng công Cốc sơn(chùa Thần thông), Tổ sư Bồ đề đạt ma đã trụ ở chùa Thiếu lâm tại Tung sơn, ngài Tuệ tư đời Trần trụ ở chùa Phúc nghiêm tại Hành sơn v.v... [X. Lịch đạiTam bảo kỉ Q.12; Tập cổ kim Phật đạo luận hành Q.1; Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 7, 8, 13, 41, 55, 67, 163].

Ngũ nhẫn

五忍; C: wǔrěn; J: gonin;|Năm loại nhẫn nhục được ghi trong Nhân vương kinh (仁王經): 1. Phục nhẫn (伏忍); 2. Tín nhẫn (信忍); 3. Thuận nhẫn (順忍); 4. Vô sinh nhẫn (無生忍); 5. Tịch diệt nhẫn (寂滅忍).

ngũ nhẫn

(五忍) Tức là 5 nhẫn: Phục, Tín, Thuận, Vô sinh và Tịch diệt. 1. Phục nhẫn: Chỉ cho hàng Tam hiền trước Thập địa, ở giai vị này hành giả chưa chứng vô lậu, phiền não chưa dứt hết, chỉ có thể chế ngự nó không cho sinh khởi. Trong đó, Thập trụ thuộc về hạ phẩm nhẫn, Thập hành thuộc về trung phẩm nhẫn, Thập hồi hướng thuộc về thượng phẩm nhẫn. 2. Tín nhẫn: Chỉ cho hàng Bồ tát Thập địa được niềm tin vô lậu, tùy thuận không còn nghi ngờ. Trong đó, Sơ địa thuộc về hạ phẩm nhẫn, Nhị địa thuộc trung phẩm nhẫn, Tam địa thuộc thượng phẩm nhẫn. 3. Thuận nhẫn: Chỉ cho Bồ tát thuận theo đạo Bồ đề, hướng tới quả vô sinh. Trong đó, Bồ tát địa thứ 4 thuộc hạ phẩm nhẫn, địa thứ 5 thuộc trung phẩm nhẫn và địa thứ 6 thuộc thượng phẩm nhẫn. 4. Vô sinh nhẫn: Chỉ cho Bồ tát đã trừ hết vọng hoặc, rõ biết các pháp đều không sinh. Trong đó, Bồ tát địa thứ 7 thuộc về hạ phẩm nhẫn, Bồ tát địa thứ 8 thuộc trung phẩm nhẫn và Bồ tát địa thứ 9 thuộc thượng phẩm nhẫn. 5. Tịch diệt nhẫn: Ở địa vị này, Bồ tát đã dứt hết sạch các vọng hoặc phiền não, thanh tịnh vô vi, tịch diệt vắng lặng. Trong đó, địa thứ 10 thuộc về hạ phẩm nhẫn, Phật quả là thượng phẩm nhẫn. Trong 5 nhẫn, 4 nhẫn trước mỗi nhẫn đều chia ra 3 phẩm: Thượng, trung, hạ, còn 1 nhẫn sau cùng được chia làm 2 phẩm: Thượng và hạ. [X. kinh Nhân vương bát nhã ba la mật Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng; Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.3, 4 (Trí khải); Đại thừa nghĩa chương Q.12].

ngũ nhật bát giảng

(五日八講) Năm ngày 8 buổi giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trong 5 ngày chia ra 8 thời giảng 8 quyển kinh Pháp hoa. Tức là bắt đầu giảng thời thứ nhất vào buổi tối ngày đầu tiên đến thời giảng thứ 8 vào buổi sáng ngày thứ 5 là kết thúc. Cứ theo truyện ngài Tuệ minh đời Đường trong Pháp hoa kinh truyện kí quyển 2, 3, thì ngài Tuệ minh nhận lời thỉnh cầu của chư thiên, đã chia 8 thời khai giảng kinh Pháp hoa, đó là đầu mối của Pháp hoa bát giảng.

ngũ nhật thập toà

(五日十座) Cũng gọi Pháp hoa thập giảng. Năm ngày 10 buổi giảng. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Trong 5 ngày chia ra 10 buổi giảng kinh. Tức là ngoài việc giảng 8 quyển kinh Pháp hoa, còn giảng thêm kinh Vô lượng nghĩa 1 quyển làm phần khai kinh và kinh Phổ hiền quán 1 quyển làm phần kết kinh, hợp làm 10 quyển trong 5 ngày, mỗi ngày giảng 2 quyển, cho nên gọi là Ngũ nhật thập giảng. [X. truyện Đường Tuệ minh trong Pháp hoa kinh truyện kí Q.3].

ngũ niên đại hội

(五年大會) Phạm: Paĩca-vàrwikamaha. Hán âm: Ban xà vu sắt, Ban già vu sắc, Ban già việt sư. Gọi tắt: Ban già. Cũng gọi Ngũ niên công đức hội, Ngũ niên hội. Đại hội cúng dường chư tăng 10 phương và bố thí cho nhân dân do vua A dục tổ chức lần đầu tiên vào khoảng 100 năm sau đức Phật nhập diệt. Từ đó cứ 5 năm Đại hội lại được mở 1 lần, đã 1 thời rất thịnh hành ở Ấn độ. Về sau, vua chúa và vương hầu các nước Tây vực cũng làm theo và Đại hội thường được tổ chức vào mùa xuân; chư tăng từ khắp nơi về tham dự, thời gian hội lâu nhất là 3 tháng. Điều Yết nhã cúc xà quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 5 (Đại 51, 894 hạ) nói: Cứ 5 năm mở đại hội Vô già 1 lần, đem hết của trong kho phát cho dân chúng. [X. Ngạch thượng hữu chân châu man tỉ khưu ni duyên trong kinh Soạn tập bách duyên Q.8; luật Ma ha tăng kì Q.3; Đại trang nghiêm kinh luận Q.8; A dục vương truyện Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.17; điều Kiệt xoa quốc trong Cao tăng Pháp hiển truyện]. (xt. Vô Già Hội).

ngũ niệm lực

(五念力) Lực dụng của 5 môn tu Tịnh độ cầu vãng sinh.Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển hạ, tu 5 niệm môn: Lễ bái, khen ngợi, phát nguyện, quán sát và hồi hướng thì sẽ sinh về cõi nước Cực lạc, được thấy đức Phật A di đà.

ngũ niệm môn

(五念門) Cũng gọi Ngũ niệm, Tu tịnh độ ngũ niệm môn.Chỉ cho 5 môn tu hành quán niệm cầu sinh về cõi Tịnh độ của đức Phật A di đà được nói trong luận Tịnh độ của bồ tát Thiên thân. Đó là: 1. Lễ bái môn: Giữ cho thân nghiệp thanh tịnh, 1 lòng cung kính lễ bái đức A di đà Như lai, nguyện sinh về cõi nước của Ngài. 2. Tán thán môn: Giữ cho khẩu nghiệp thanh tịnh, xưng tán danh hiệu, công đức, trí tướng quang minh của đức A di đà Như lai, tu hành chân thực, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 3. Tác nguyện môn: Tâm thường phát nguyện, tu pháp Xa ma tha (Phạm: Zamatha= Chỉ) dứt tâm tán loạn, cầu sinh về cõi nước của Ngài. 4. Quán sát môn: Dùng trí tuệ chính niệm quán tưởng 3 thứ sau đây: a) Quán tưởng công đức trang nghiêm của cõi nước Tịnh độ cực lạc. b) Quán tưởng công đức trang nghiêm của Phật A di đà. c) Quán tưởng công đức trang nghiêm của các vị Bồ tát ở cõi nước ấy. Tu hành pháp Tì bà xá na (Phạm: Vipazyanà = Quán) để quán phá tâm mê tối cầu sinh về cõi Tịnh độ cực lạc. 5. Hồi hướng môn: Đem những công đức thiện căn mà mình đã có hồi hướng đến khắp tất cả chúng sinh, nguyện cùng sinh về cõi Cực lạc, cùng chứng Phật đạo. Trong Vãng sinh lễ tán của Đại sư Thiện đạo, thứ tự của Ngũ niệm môn có hơi thay đổi, tức là: 1. Thân nghiệp lễ bái môn. 2. Khẩu nghiệp tán thán môn. 3. Ý nghiệp ức niệm quán sát môn. 4. Tác nguyện môn. 5. Hồi hướng môn. Trong đó, 3 môn đầu là tu 3 nghiệp thân, khẩu, ý, còn 2 môn sau là phát nguyện, hồi hướng; nghĩa là 3 môn đầu là khởi hành, 2 môn sau là an tâm. Ngoài ra, tu theo 5 niệm môn trên đây, kết quả cũng có 5 môn, gọi là Ngũ công đức môn hoặc Ngũ quả môn. Đó là: 1. Cận môn: Thân không rơi lại vào cõi mê mà được gần gũi với cảnh giới ngộ của Phật.2. Đại hội chúng môn: Được dự vào hàng chúng hội của bậc Thánh. 3. Trạch môn: Thành tựu được pháp Chỉ4. Ốc môn: Thành tựu được pháp Quán. 5. Viên lâm du hí địa môn, cũng gọi Giáo hóa địa chi ích. Nghĩa là trở lại cõi mê, lấy việc cứu độ chúng sinh làm niềm vui. Lại nữa, giữa Ngũ niệm môn (Ngũ nhân môn) và Ngũ công đức môn (Ngũ quả môn) trên đây, thì Lễ bái môn tương đối với Cận môn, các môn còn lại của 2 môn cũng theo thứ tự đều có quan hệ nhân quả đối nhau. Trong 2 môn nhân quả này, mục đích của 4 môn trước là làm cho chính mình vào được đạo giác ngộ (bồ đề), vì thế gọi là Nhập môn; còn mục đích của môn sau cùng thì lấy việc cứu độ người khác ra khỏi biển khổ làm mục đích, cho nên gọi là Xuất môn, hợp 2 môn lại gọi chung là Xuất nhập nhị môn.[X. Vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá nguyện sinh kệ; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.4; Vãng sinh luận chú lược sao Q.hạ; Vãng sinh lễ tán tư kí Q.thượng]. (xt. Chỉ Quán, Niệm Phật, Tịnh Độ Tông).

ngũ niệm xứ

(五念處) Năm niệm xứ do vua A tu la nói. Đức Phật vì chư thiên nói 4 niệm xứ là: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ để đối trị 4 cái điên đảo: Tịnh, Lạc, Thường, Ngã. Thấy vậy, vua A tu la bèn ganh với Phật mà nói 5 niệm xứ. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.2, phần 2]. (xt. A Tu La Thuyết Ngũ Niệm Xứ Tam Thập Bát Phẩm).

ngũ nạp y

(五衲衣) Cũng gọi Nạp y, Tệ nạp y, Hoại nạp y, Bách nạp y. Áo vá, tức là áo pháp được may bằng những mảnh vải vụn 5 màu. [X. luật Tứ phần Q.41; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 1]. (xt. Nạp Y).

ngũ phong

(五風) Chỉ cho 5 thứ gió tiềm tàng trong thân người. Cứ theo luận Kim thất thập quyển trung thì 5 thứ gió ấy là: 1. Gió Ba na (Phạm:Pràịa), cũng gọi gió Hô hấp. Gió này hít thở từ miệng, mũi, động đến 13 căn. 2. Gió A ba na (Phạm: Apàna), cũng gọi gió Súc tị. Gió này khi thấy sự vật đáng sợ thì lẩn tránh, làm cho người ta trở thành khiếp nhược. 3. Gió Ưu đà na (Phạm:Udàna), cũng gọi gió Thắng tha. Gió này làm cho người ta kiêu căng ngạo mạn, cho mình là hơn hết, không ai sánh bằng. 4. Gió Bà na (Phạm:Vyàna), cũng gọi gió Thiên nhãn. Gió này lan khắp toàn thân, đến chỗ cùng cực thì dần dần ra khỏi thân thể con người; khi gió ra hết thì người chết.5. Gió Sa ma na (Phạm:Samàna), cũng gọi gió Nhiếp trì. Gió này trụ ở trong tâm, giữ gìn thân thể. Sự thịnh suy của 5 thứ gió này có ảnh hưởng đến mọi hành động và sự thăng trầm của con người.

ngũ phong lâu các

(五峰樓閣) Năm ngọn núi giữa các lầu gác. Đây là 1 trong những pháp quán tưởng của Mật giáo về 5 vị Phật. Tức lúc quán tưởng thì quán 5 ngọn núi là tọa vị của 5 đức Phật, ở giữa và 4 phía có lập lầu gác. Cũng tức là quán tưởng 3 chữ: Ba la, Hồng, Kiếm, là núi Tu di, ở đỉnh núi quán tưởng 5 chữ: Tông, Hồng, Đa ra, Hề rị, và Ác là đại điện, trên điện có 5 lầu gác, trang trí bằng lưới ngọc, tràng hoa, trong điện kiến lập Mạn đồ la, chính giữa đặt 8 cây cột kim cương. [X. kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính kinh nghĩa quyết Q.thượng].

Ngũ Phong Thường Quán

(五峰常觀, Gobō Jōkan, ?-?): vị tăng sống dưới thời nhà Đường, pháp từ của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), xuất thân Thoại Châu (瑞州, Cao An, Tỉnh Giang Tây). Ông đã từng sống ở Ngũ Phong Sơn (五峰山) thuộc Quân Châu (筠州, Tỉnh Giang Tây). ; 五峰常觀; C: wǔfēng chángguàn; J: gohō jō-kan; tk 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Sư được nhắc lại trong Bích nham lục, Công án 70 và 71.

ngũ phái nhất trích đồ

(五派一滴圖) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Nhật am Nhất đông thuộc tông Lâm tế Nhật bản soạn, được thu vào phần phụ lục của Pháp môn sừ quĩ trong Vạn tục tạng tập 147. Trong sách này, soạn giả đem so sánh những chỗ dị đồng về thuyết truyền thừa 5 tông phái Thiền tông được trình bày trong Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên, trong bài tựa Trùng hiệu ngũ gia tông phái của ngài Mộng đường và trong Ngũ gia biện của ngài Hổ quan Sư luyện, rồi soạn giả nhận định rằng trong các thuyết, thuyết của ngài Hổ quan Sư luyện chủ trương 5 phái Thiền tông Trung quốc đều bắt nguồn từ pháp hệ của Thiền sư Mã tổ Đạo nhất là chính xác hơn cả.

Ngũ pháp

五法; C: wǔfǎ; J: gohō;|Năm pháp, ngũ sự. Thường đề cập đến 5 pháp, năm phạm trù, giới luật, giáo pháp, v.v… được nói đến trong kinh văn từ trước hay sau nầy, thế nên có nhiều nghĩa khác nhau. Các thuật ngữ đặc biệt thường dùng là: |I. Ngũ uẩn (五蘊, theo Câu-xá luận 倶舎論); II. Ngũ trí (theo Duy thức tông): 1. Chân như (眞如); 2. Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Thành sở tác trí (成所作智).|III. Năm phạm trù về danh và tướng được giải thích trong kinh Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra): 1. Tướng (相); 2. Danh (名); 3. Vọng tưởng (妄想); 4. Chính trí (正智); 5. Như như (如如; s: bhūta-tathatā).|IV. Viết tắt của Ngũ vị thất thập ngũ pháp (五位七十五法).|V. Năm thức (五識).

ngũ pháp

(五法) I. Ngũ Pháp. Cũng gọi Ngũ sự, Tướng danh ngũ pháp. Chỉ cho 5 pháp: Danh, tướng, phân biệt, chính trí và chân như, là bản chất của các pháp mê ngộ, được nói trong kinh Nhập lăng già quyển 7. Danh là tên giả được đặt ra trong thế giới hiện tượng; Tướng chỉ cho các tướng trạng sai biệt trong hiện tượng giới do nhân duyên hòa hợp sinh ra; Phân biệt là do chấp trước 2 pháp danh và tướng nói trên mà sinh khởi tâm hư vọng phân biệt; Chính trí là trí tuệ khế hợp với chân như; Chân như là bản thể của tất cả sự tồn tại, cũng tức là chân lí bình đẳng như thực. Trong 5 pháp trên, 3 pháp trước là pháp mê, 2 pháp sau là pháp ngộ. II. Ngũ Pháp. Cũng gọi Lí trí ngũ pháp. Năm pháp của Phật địa: Pháp giới thanh tịnh, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí. Trong đó, lí Chân như sở ngộ(Pháp giới thanh tịnh) cùng với trí Bồ đề năng ngộ(4 trí) bao hàm 3 thân Phật(Tự tính thân, Thụ dụng thân, Biến hóa thân). [X. kinh Phật địa]. (xt. Trí). III. Ngũ Pháp. Năm pháp hạnh trong 25 phương tiện được nói trong Ma ha chỉ quán quyển 4, hạ. Đó là: Dục, Tinh tiến, Niệm, Xảo tuệ và Nhất tâm. IV. Ngũ Pháp. Năm uẩn. Luận Câu xá gọi Ngũ uẩn là Ngũ pháp. Tức là sắc uẩn, thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. V. Ngũ Pháp. Chỉ cho 5 pháp: Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở pháp, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp, tức là 5 vị của 75 pháp. (xt. Ngũ Pháp Sự Lí Duy Thức).

ngũ pháp bất đắc thụ nhân giới

(五法不得授人戒) Năm điều mà vị tỉ khưu mắc phải thì không được truyền trao giới pháp cho người khác. Đó là: 1. Không có niềm tin: Nếu tỉ khưu không có chính tín thì tự mình không thể giữ gìn giới pháp mà mình đã nhận lãnh, vì thế không được làm thầy truyền giới cho người khác. 2. Không biết hổ thẹnvới chính mình: Nếu tỉ khưu không có tâm hổ thẹn thì ắt hẳn là phóng túng buông thả, thiếu giới hạnh, cho nên không được làm thầy truyền giới cho người. 3. Không biết xấu hổ với người khác: Nếu tỉ khưu không biết xấu hổ với người thì chắc chắn sẽ hủy phạm giới pháp mà không ăn năn hối lỗi, vì thế không được làm thầy truyền trao giới pháp cho người khác.4. Lười biếng: Nếu tỉ khưu lười biếng thì ắt buông lung dông dỡ, tự mình chẳng thể giữ gìn được giới pháp mà mình đã thụ, cho nên cũng không được làm thầy truyền giới cho người. 5. Hay quên: Nếu tỉ khưu đã không ghi nhớ được nghĩa lí các pháp, thì đối với giới luật mà mình đã học cũng bị lãng quên, vì thế không được làm thầy trao giới cho người khác.[X. luật Tứ phần Q.59].

ngũ pháp nhân

(五法人) Người tin theo 5 thứ pháp do Đề bà đạt đa đặt ra. Đề bà đạt đa đặt ra 5 pháp để đối lại với giáo pháp của đức Phật, nhằm mục đích chia rẽ giáo đoàn. Năm pháp ấy là: 1. Trọn đời đi xin ăn. 2. Mặc áo may bằng những miếng vải vụn.3. Ngủ dưới gốc cây. 4. Không ăn bơ, muối, 5. Không ăn thịt, cá. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.thượng, phần 3, tiết 1].

ngũ pháp sự lí duy thức

(五法事理唯識) Sự và lí của 5 pháp đều duy thức. Năm pháp chỉ cho: Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp, Bất tương ứng pháp và Vô vi pháp. Theo tông Duy thức Đại thừa thì 5 pháp trên đều do thức biến hiện. Trong đó, Tâm pháp là tự tướng của thức, Tâm sở pháp tương ứng với 8 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và A lại da mà sinh khởi; Sắc pháp do Tâm pháp và Tâm sở pháp biến hiện; Bất tương ứng pháp là nhờ các phần vị: Tâm pháp, Tâm sở pháp, Sắc pháp... mà có; còn Vô vi pháp thì là thực tính của thức.

ngũ pháp thoái bồ đề

(五法退菩提) Năm trường hợp làm lui mất tâm bồ đề được ghi trong kinh Niết bàn quyển 28 (bản Bắc). Đó là: 1. Xuất gia theo ngoại đạo: Người xuất gia nên tu theo chính pháp, nếu theo ngoại đạo thì sẽ tăng thêm các tà kiến, tạo nghiệp chẳng lành, do đó tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 2. Không tu tâm đại từ: Người tu hạnh Bồ tát phải đem tâm đại từ bình đẳng thương quí tất cả chúng sinh, ban cho họ niềm vui chính pháp thanh tịnh, sau đó chứng quả giác ngộ; nếu không thực hành như thế thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 3. Hay tìm lỗi của pháp sư: Người tu hạnh Bồ tát thờ kính Sư trưởng như thờ cha mẹ, nghe lời dạy bảo của thầy thì quả Bồ đề mới có cơ thành tựu. Nếu cứ chăm chăm tìm lỗi của thầy thì không những phụ công răn dạy mà còn lỗi đạo thờ thầy, do đó tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 4. Thường thích ở trong sinh tử: Người tu hạnh Bồ tát cần phải siêng năng gắng sức để cầu thoát li, nếu cứ đam mê 5 dục, tạo các nghiệp ác, đối với sinh tử tâm không nhàm chán, thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất. 5. Không ưa đọc tụng kinh điển: Người tu hạnh Bồ tát nên tin nhận kinh pháp do đức Như lai tuyên thuyết, thành tâm đọc tụng để tìm cầu nghĩa lí sâu xa mầu nhiệm, rồi y theo sự hiểu biết mà tiến tu mong thành tựu quả Bồ đề, nếu không như thế thì tâm bồ đề sẽ bị lui mất.

ngũ pháp thân

(五法身) Năm pháp thân. Có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. 1. Tiểu thừa lập 5 phần pháp thân: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Tiểu thừa cho 5 phần này là Pháp thân trong 3 thân 2. Đại thừa lập 3 loại 5 pháp thân: a) Kinh Bồ tát anh lạc lập: Như như trí pháp thân, Công đức pháp thân, Tự pháp thân, Biến hóa pháp thân và Hư không pháp thân. b) Tông Hoa nghiêm lập: Pháp tính sinh thân, Công đức pháp thân, Biến hóa pháp thân, Hư không pháp thân và Thực tướng pháp thân. c) Mật giáo lập: Tự tính pháp thân, Thụ dụng pháp thân, Biến hóa pháp thân, Đẳng lưu pháp thân và Pháp giới thân. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.4; Ngũ luân cửu tự minh bí thích]. (xt. Ngũ Chủng Pháp Thân).

Ngũ pháp tạng

五法藏; C: wǔfǎzàng; J: gohōzō;|Năm phạm trù về các cấu trúc cơ bản của các pháp (s: pañca-dharma-kośāḥ). Theo Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi-sastra) Ngũ pháp tạng gồm: Quá khứ tạng (過去藏; s: atīta-kośa); Hiện tại tạng (現在藏; s: pratyutpanna-kośa); Vị lai tạng (未來藏; s: anāgata-kośa); Vô vi tạng (無為藏; s: asaṃskṛta-kośa); và Bất khả thuyết tạng (不可説藏; s: anabhilāpya-kośa). Ba tạng trước được gọi là Hữu vi tụ, Tạng thứ tư gọi là Vô vi tụ, Tạng thứ 5 gọi là Phi nhị tụ, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi.

ngũ pháp tạng

(五法藏) Phạm: Paĩca dharma-kozà#. Gọi tắt: Ngũ tạng. Cũng gọi Ngũ pháp hải.Chỉ cho 5 tạng, là thế giới quan của Độc tử bộ. Độc tử bộ chia vạn hữu trong vũ trụ ra làm 5 tạng: 1. Quá khứ tạng (Phạm:Atìta-koza). 2. Hiện tại tạng (Phạm:Pratyutpannakoza). 3. Vị lai tạng (Phạm:Anàgata-koza). 4. Vô vi tạng (Phạm:Asaôskfta-koza). 5. Bất khả thuyết tạng (Phạm: Anabhilàpya-koza). Trong 5 tạng trên, 3 tạng trước tập hợp các pháp hữu vi, gọi chung là Tam thế tạng, hoặc gọi là Hữu vi tụ. Vô vi tạng cũng gọi là Vô vi tụ, là tập hợp các pháp vô vi; Bất khả thuyết tạng, cũng gọi Phi nhị tụ, tức là tập hợp các pháp chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi. Bởi vì Độc tử bộ vốn chủ trương Ngã chẳng phải uẩn chẳng phải lìa uẩn và cho rằng Ngã là có thực. Quan niệm này đã bị luận Trung quán, luận Thành thực, luận Câu xá, luận Thành duy thức... bài bác. Các ngài Trí khải, Pháp tạng v.v... cũng cho đó là Ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo.[X. phẩm Hữu ngã vô ngã trong luận Thành thực Q.3; phẩm Phá ngã trong luận Câu xá Q.29; luận Trung quán Q.2; luận Đại trí độ Q.1; luận Dị bộ tông luân].

Ngũ phương

(五方): năm phương gồm Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương (ở giữa). Như trong Lễ Ký (禮記), phần Vương Chế (王制) có câu: “Ngũ phương chi dân, ngôn ngữ bất thông, thị dục bất đồng (五方之民、言語不通、嗜欲不同, dân của năm phương, ngôn ngữ chẳng thông, ham muốn bất đồng).” Khổng Dĩnh Đạt (孔穎達, 574-648) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ phương chi dân giả, vị Trung Quốc dữ Tứ Di dã (五方之民者、謂中國與四夷也, dân của năm phương là Trung Quốc và Tứ Di [tức Đông Di, Nam Man, Tây Nhung, Bắc Địch]).”

Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả

(五方蠻雷使者): tên gọi vị sứ giả bộ hạ của Lôi Tổ trong Lôi Bộ. Từ này thấy xuất hiện trong Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn Ngọc Xu Bảo Kinh (九天應元雷聲普化天尊玉樞寶經) của Đạo Giáo: “Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan, phát hiệu thi lịnh, tật như phong hỏa (九天雷公將軍、五方雷公將軍、八方雲雷將軍、五方蠻雷使者、雷部兵使者、莫賺判官、發號施令、疾如風火, Cửu Thiên Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Lôi Bộ Binh Sứ Giả, Mạc Trám Phán Quan ban hành hiệu lịnh, nhanh như gió lửa).” Hay trong Tử Vi Huyền Đô Lôi Đình Ngọc Kinh (紫微玄都雷霆玉經) cũng có đoạn rằng: “Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Tam Giới, chưởng ác Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân ty lãnh trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần, thị vi chiêu lôi hịch đình chi ty; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân, thị vi tiết độ lôi đình chi sứ; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên, thị vi nhiếp hạt lôi đình chi thần; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân, thị vi lôi đình phong vũ chi chủ; trung hữu Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện Chi Thần, trung hữu Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả, thật ty kỳ lịnh, dụng Tán Kì quyền (北極紫微大帝統禦三界、掌握五雷、天蓬君、天猷君、翊聖君、玄武君分司領治、天罡神、河魁神、是爲召雷檄霆之司、九天流金火鈴大將軍、天丁力士、六丁玉女、六甲將軍、是爲節度雷霆之使、九天嘯命風雷使者、雷令使者、火令大仙火伯、風令火令風伯、四目皓翁、蒼牙霹靂大仙、是爲攝轄雷霆之神、火伯風霆君、風火元明君、雷光元聖君、雨師丈人仙君、是爲雷霆風雨之主、中有三五邵陽雷公火車鐵面之神、中有負風猛吏銀牙耀目飆火律令大神、狼牙猛吏大判官、五雷飛捷使者、五方雷公將軍、八方雲雷大將、五方蠻雷使者、三界蠻雷使者、九社蠻雷使者、實司其令、用贊其權, Bắc Cực Tử Vi Đại Đế thống lãnh Ba Cõi, chưởng quản Ngũ Lôi; Thiên Bồng Quân, Thiên Du Quân, Dực Thánh Quân, Huyền Võ Quân phân chia các ban mà thống trị; Thiên Cương Thần, Hà Khôi Thần là các thần quản lý việc kêu sấm gọi sét; Cửu Thiên Lưu Kim Hỏa Linh Đại Tướng Quân, Thiên Đinh Lực Sĩ, Lục Đinh Ngọc Nữ, Lục Giáp Tướng Quân là sứ điều chỉnh sấm sét; Cửu Thiên Khiếu Mạng Phong Lôi Sứ Giả, Lôi Lịnh Sứ Giả, Hỏa Lịnh Đại Tiên Hỏa Bá, Phong Lịnh Hỏa Lịnh Phong Bá, Tứ Mục Hạo Ông, Thương Nha Phích Lịch Đại Tiên là thần cai quản sấm sét; Hỏa Bá Phong Đình Quân, Phong Hỏa Nguyên Minh Quân, Lôi Quang Nguyên Thánh Quân, Vũ Sư Trượng Nhân Tiên Quân là chủ tể quản lý gió mưa, sấm sét; trong đó có Thần Tam Ngũ Thiệu Dương Lôi Công Hỏa Xa Thiết Diện, trong đó lại có Phụ Phong Mãnh Lại Ngân Nha Diệu Mục Tiên Hỏa Luật Lịnh Đại Thần, Lang Nha Mãnh Lại Đại Phán Quan, Ngũ Lôi Phi Tiệp Sứ Giả, Ngũ Phương Lôi Công Tướng Quân, Bát Phương Vân Lôi Đại Tướng, Ngũ Phương Man Lôi Sứ Giả, Tam Giới Man Lôi Sứ Giả, Cửu Xã Man Lôi Sứ Giả thật sự thi hành lịnh của Bắc Cực Tử Vi Đại Đế để tán dương quyền lực Người).”

Ngũ Phương Ngũ Đế

(五方五帝): còn gọi là Ngũ Phương Thần (五方神); là tên gọi của các vị Thiên Đế của 5 phương trong thần thoại Trung Quốc, về sau được Đạo Giáo tôn thờ như là thần. Theo Vân Cấp Thất Thiêm (雲笈七簽) quyển 18, phần Lão Tử Trung Kinh (老子中經), của Đạo Giáo cho biết, Đông phương Thương Đế (蒼帝) là Đông Hải Quân (東海君), Nam phương Xích Đế (赤帝) là Nam Hải Quân (南海君), Tây phương Bạch Đế (白帝) là Tây Hải Quân (西海君), Bắc phương Hắc Đế (黑帝) là Bắc Hải Quân (北海君), và trung ương Hoàng Đế Quân (黃帝君). Cổ Công Sảng (賈公彥, ?-?) nhà Đường giải thích rằng: “Ngũ Đế giả, Đông phương Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng, Nam phương Xích Đế Xích Tiêu Nỗ, Trung ương Hoàng Đế Hàm Xu Nữu, Tây phương Bạch Đế Bạch Chiêu Củ, Bắc phương Hắc Đế Diệp Quang Kỷ (五帝者、東方青帝靈威仰、南方赤帝赤熛怒、中央黃帝含樞紐、西方白帝白招矩、北方黑帝葉光紀, Ngũ Đế là Thanh Đế Linh Uy Ngưỡng ở phương Đông, Xích Đế Xích Tiêu Nỗ ở phương Nam, Hoàng Đế Hàm Xu Nữu ở phương giữa, Bạch Đế Bạch Chiêu Củ ở phương Tây, Hắc Đế Diệp Quang Kỷ ở phương Bắc).” Đạo Giáo lấy phương Đông Thanh Long (青龍) là Thanh Đế, phương Tây Bạch Hổ (白虎) là Bạch Đế, phương Nam Châu Tước (朱雀) là Xích Đế, phương Bắc Huyền Võ (玄武) là Hắc Đế, phương giữa Kỳ Lân (麒麟) là Hoàng Đế.

ngũ phương sắc

(五方色) Chỉ cho màu của 5 phương. Trong Mật giáo có 2 thuyết: 1. Theo thuyết của ngài Tam tạng Bất không thì phương Đông màu xanh, phương Tây màu trắng, phương Nam màu đỏ, phương Bắc màu đen và phương Trung ương màu vàng. Đây là theo pháp thế gian. 2. Theo thuyết của ngài Thiện vô úy thì phương Đông màu vàng, phương Nam màu đỏ, phương Tây màu trắng, phương Bắc màu đen và Trung ương màu xanh.

ngũ phương tiện

(五方便) I. Ngũ Phương Tiện. Gọi đủ: Nhị thập ngũ phương tiện. Chỉ cho 25 phương tiện tu tập Chỉ quán của tông Thiên thai. (xt. Nhị Thập Ngũ Phương Tiện, Phương Tiện). II. Ngũ Phương Tiện. Năm thứ phương tiện tùy cơ do ngài Thiên thai Trí khải căn cứ vào môn niệm Phật mà lập ra. Đó là: 1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Pháp môn mà hành giả niệm Phật tu tập để cầu sinh về Tịnh độ. 2. Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật cầu diệt tội và tiêu trừ các chướng nạn, sợ hãi. 3. Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật cầu xa lìa tâm mê muội và chấp trước các cảnh tướng. 4. Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật để cầu diệt trừ chấp trước tâm thực có. 5. Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Pháp môn niệm Phật để được sự vắng lặng sâu xa. [X. Ngũ phương tiện niệm Phật môn]. III. Ngũ Phương Tiện. Chỉ cho 5 pháp môn phương tiện chứng được giải thoát do Thiền Bắc tông lập ra. (xt. Bắc Tông Ngũ Phương Tiện Môn).

ngũ phương tiện niệm phật môn

(五方便念佛門) Cũng gọi Ngũ phương tiện môn, Vĩ đề tác ngũ phương tiện niệm Phật quán môn. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trí khải soạn vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung nói rõ về 5 môn niệm Phật và thứ tự để vào phương tiện ấy. Trước hết nói về thứ tự từ cạn đến sâu khi hành giả niệm Phật, tức là: Ngưng tâm thiền, Chế tâm thiền, Thể chân thiền, Phương tiện tùy duyên thiền, Tức nhị biên phân biệt thiền; kế đến nói về sự cạn sâu của Viên quán không cạn sâu, mục đích của 5 môn niệm Phật và thứ tự vào phương tiện; lại nói về Nhất hạnh tam muội trong kinh Đại bảo tích quyển 116 và văn quán lễ tượng vẽ trong kinh Đại bảo tích quyển 89; cuối cùng là dựa vào 4 giáo hóa pháp mà nói về sự niệm Phật của hành giả. [X. Phật tổ thống kỉ Q.25; Lạc bang di cảo Q.thượng; Tịnh độ chỉ qui tập Q.thượng; Nhật bản quốc thừa hòa ngũ niên nhập Đường cầu pháp mục lục; Nhập Đường tân cầu thánh giáo mục lục; Tịnh độ giáo chi nghiên cứu].

Ngũ Phước

(五福): 5 thứ phước đức, gồm: sống lâu, giàu sang, sức khỏe, đạo đức và được ơn trời ban. Bên cạnh đó, trong dân gian cũng rất thông dụng câu “ngũ phước biền trăn (五福駢臻, năm phước cùng đến)”. Câu này vốn phát xuất từ câu chuyện của Đậu Vũ Quân (竇禹鈞). Vốn xuất thân là vị quan dưới thời Hậu Chu, Ngũ Đại, làm quan đến chức Gián Nghị Đại Phu (諫議大夫), tánh tình thuần hậu, thích giúp người. Lúc nhỏ ông đã để tang cha, rất chí hiếu, hết lòng cung phụng mẫu thân. Năm lên 30 tuổi, ông vẫn chưa có đứa con nào. Một hôm nọ, ông nằm mộng thấy cha mình bảo rằng: “Mạng con không có con nối dõi, lại thêm đoản mạng, nên hãy mau nỗ lực làm việc thiện”. Nghe lời cha dạy, từ đó ông bắt đầu phát nguyện làm việc thiện. Về sau, ông lại thấy cha về báo mộng cho biết rằng: “Vì con có âm đức nên trên trời ban cho con được tăng thêm 3 kỷ (36 năm) tuổi thọ, tặng cho con 5 đứa con, đứa nào cũng sẽ được phú quý, vinh hiển; và sau khi qua đời thì sẽ được sanh lên cõi Trời.” Nhờ tích tập phước đức do làm việc thiện, sau này cả 5 người con của Vũ Quân đều đỗ đến Tiến Sĩ, thảy đều làm quan lớn cho triều đình. Tên của họ là Nghi (儀), Nghiễm (儼), Khản (侃), Xứng (偁) và Hy (僖). Đương thời, họ được gọi là “Yến Sơn Đậu Thị Ngũ Long (燕山竇氏五龍, năm con rồng của nhà họ Đậu ở Yến Sơn)”. Năm người con do trời ban của Vũ Quân được xem như là 5 điều phước; từ đó xuất hiện câu “ngũ phước biền trăn (五福騈臻, năm phước cùng đến)” và phổ cập cho đến ngày nay.

ngũ phần

(五分) I. Ngũ Phần. Năm bộ luận Đại thừa do ngài Vô trước soạn. Tức là: Luận Du già sư địa, luận Phân biệt du già, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Biện trung biên luận tụng và luận Kim cương bát nhã. Vì đối lại với danh từ Thập chi luận nên gọi là Ngũ phần. (xt. Ngũ Bộ Đại Luận). II. Ngũ Phần. Chỉ cho 5 phần pháp thân: Giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

ngũ phần giới

(五分戒) Năm phần giới Ưu bà tắc được phân chia theo việc nhận giữ nhiều hay ít. Đó là: 1. Nhất phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 1 giới. 2. Thiểu phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 2 giới. 3. Vô phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 2 giới mà phá 1 giới trong 2 giới ấy. 4. Đa phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ 3 hoặc 4 giới. 5. Mãn phần giới: Thụ 3 qui y và nhận giữ cả 5 giới. [X. Ưu bà tắc giới Q.3].

ngũ phần hương

(五分香) Năm phần hương ví dụ với 5 phần pháp thân. Bậc thánh Vô học tự mình thành tựu 5 pháp công đức, gọi là 5 phần pháp thân. Đó là: Giới thân, định thân, tuệ thân, giải thoát thân và giải thoát tri kiến thân. Năm thân này được ví dụ như hương thơm, nên gọi là 5 phần hương. Tức giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương và giải thoát tri kiến hương. (xt. Ngũ Phần Pháp Thân).

Ngũ phần luật

五分律; C: wǔfēn lǜ; J: gobunritsu;|Bộ giới luật gồm 5 quyển của Hoá Địa bộ (còn gọi là Di-sa-tắc bộ; s: mahīśāsaka).

ngũ phần luật

(五分律) Cũng gọi Sa di tắc bộ hòa hê ngũ phần luật.Gọi tắt: Di sa tắc bộ luật. Luật, 30 quyển, do 2 ngài Phật đà thập và Trúc đạo sinh cùng dịch vào thời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 22. Đây là bộ giới luật do Hóa địa bộ (Di sa tắc bộ)lưu truyền và do ngài Pháp hiển thỉnh được bản tiếng Phạm từ nước Sư tử (Tích lan) mang về. Vì bộ luật này gồm có 5 phần nên gọi là Ngũ phần luật. Trong đó qui định giới tỉ khưu 251 điều, giới tỉ khưu ni 370 điều. Theo sự nghiên cứu của các học giả thời cận đại thì nội dung bộ luật này rất gần với tạng Luật tiếngPàli của Phật giáo Nam truyền. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.2; Xuất tam tạng kí tập Q.3; Đại đường tây vực kí Q.12].

Ngũ phần pháp thân

五分法身; C: wǔfēn fǎshēn; J: gobun hōshin;|Năm phần pháp thân chứng đạt được hoặc trong quả vị Vô học (無學位); hoặc trong quả vị Phật. Ý nghĩa của thuật ngữ nầy là thể tính bao hàm trong giới (戒), định (定), huệ (慧), giải thoát (解脱), và giải thoát tri kiến (解脱知見; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)

ngũ phần pháp thân

(五分法身) Cũng gọi Vô lậu ngũ uẩn, Vô đẳng đẳng ngũ uẩn (Phạm: Asamasama-paĩcaskandha). Năm thứ công đức đầy đủ trong tự thể của Phật và A la hán. Có hai cách giải thích. A. Theo cách giải thích của Tiểu thừa: Câu xá luận quang kí quyển 1, phần cuối, nêu và giải thích 5 phần pháp thân là: 1. Giới thân (Phạm: Zìla-skandha), cũng gọi Giới uẩn, Giới chúng, Giới phẩm. Tức là thân nghiệp và ngữ nghiệp vô lậu. 2. Định thân (Phạm: Samàdhiskandha), cũng gọi Định uẩn, Định chúng, Định phẩm. Tức là 3 Tam muội không, vô nguyện và vô tướng của bậc Vô học. 3. Tuệ thân (Phạm:Prajĩà-skandha), cũng gọi Tuệ uẩn, Tuệ chúng, Tuệ phẩm. Tức là chính kiến, chính tri của bậc Vô học.4. Giải thoát thân (Phạm: Vimuktiskandha), cũng gọi Giải thoát uẩn, Giải thoát chúng, Giải thoát phẩm. Tức là thắng giải tương ứng với chính kiến. 5. Giải thoát tri kiến thân (Phạm: Vimukti-jĩàna-darzana-skandha), cũng gọi Giải thoát sở kiến thân, Giải thoát tri kiến uẩn, Giải thoát tri kiến chúng, Giải thoát tri kiến phẩm. Tức là tận trí, vô sinh trí của bậc Vô học. Trong đó, Giải thoát thân và Giải thoát tri kiến thân hợp lại gọi chung là Giải tri kiến. Bởi vì tận trí và vô sinh trí của bậc Vô học Tiểu thừa là giải thoát tri kiến. Trong giáo đoàn Phật giáo, điều này vốn được coi là pháp môn ngăn dứt những dục vọng của nhục thể và tinh thần, giúp cho tâm tĩnh lặng, trí tuệ sáng suốt để ngay từ trong tất cả sự trói buộc mà được giải thoát. B. Theo cách giải thích của Đại thừa. Trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần đầu, ngài Tuệ viễn giải thích năm phần pháp thân như sau: 1. Giới thân: Chỉ cho Giới pháp thân Như lai đã xa lìa hết thảy lỗi lầm của 3 nghiệp thân, khẩu, ý. 2. Định thân: Trong Định pháp thân của Như lai, chân tâm vắng lặng, tự tính không động, xa lìa tất cả vọng niệm. 3. Tuệ thân: Tuệ pháp thân của Như lai thể chân tâm tròn sáng, tự tính sáng tỏ, quán xét thấu suốt hết thảy pháp tính, tức chỉ cho trí căn bản. 4. Giải thoát thân: Giải thoát pháp thân của Như lai tự thể không bị câu thúc, giải thoát khỏi tất cả sự trói buộc. 5. Giải thoát tri kiến thân: Giải thoát tri kiến pháp thân của Như lai tự thể chứng biết xưa nay vốn thanh tịnh vô nhiễm, đã thực sự giải thoát. Về danh nghĩa của Ngũ phần pháp thân thì sách đã dẫn trên giải thích rằng : Phần tức là nhân, vì 5 thứ nói trên là nhân để thành thân, nên gọi là phần; Pháp là tự thể, vì 5 thứ trên là tự thể của bậc Vô học nên gọi là pháp; lại nữa, pháp nghĩa là khuôn phép, mà 5 thứ trên là khuôn phép để thành thân nên gọi là pháp; Thân tức là thể, 5 thứ trên là thể của chư Phật, cho nên gọi là thân; thân cũng có nghĩa là chỗ tích tụ mọi công đức, vì thế gọi là thân. Về thứ tự của Ngũ phần pháp thân thì rất rõ ràng, từ giới sinh định, từ định phát tuệ, do tuệ mà được giải thoát, do giải thoát mà có giải thoát tri kiến. Giới, định, tuệ là căn cứ theo nhân mà đặt tên, còn giải thoát và giải thoát tri kiến thì căn cứ theo quả mà đặt tên, tuy nhiên, cả 5 thứ đều là công đức của Phật. Theo luận Câu xá quyển 1, thì giới uẩn thuộc về sắc uẩn, 4 uẩn còn lại thuộc về hành uẩn. Thỉnh quan âm kinh sớ của ngài Trí khải thì cho rằng: Nếu chuyển được 5 ấm sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì lần lượt có thể được Ngũ phần pháp thân: Giới thân, định thân... Ngoài ra, trong Ngũ phần pháp thân của Mật giáo, thì Giới chỉ cho Tam muội da giới: Chúng sinh và Phật không hai, 6 đại vô ngại; Định chỉ cho tâm đại quyết định, an trụ trong chúng sinh và Phật không hai; Tuệ chỉ cho trí tuệ tự giác rõ suốt lí 6 đại vô ngại; Giải thoát chỉ cho địa vị tự ngộ, rõ suốt lí 6 đại vô ngại, xa lìa mọi chấp trước mà được giải thoát; Giải thoát tri kiến chỉ cho sự thấy biết sau khi chứng ngộ không còn bị các chấp trước trói buộc. [X. kinh Tạp a hàm Q.24, 47; kinh Trường a hàm Q.9; kinh Tăng nhất a hàm Q.2, 18, 29; kinh Tăng già la sát sở tập Q.hạ; kinh Quán Phổ hiền hành pháp; kinh Bồ tát anh lạc Q.thượng; Phật địa kinh luận Q.4].

ngũ phần thập chi

(五分十支) Từ chỉ chung 5 bộ đại luận (ngũ phần) và 10 bộ luận (thập chi) phụ thuộc. Năm bộ đại luận là: Luận Du già sư địa, luận Phân biệt du già, Đại thừa trang nghiêm kinh luận, Biện trung biên luận tụng và Kim cương bát nhã. Mười bộ luận phụ thuộc gồm: Luận Bách pháp minh môn, luận Đại thừa ngũ uẩn, luận Hiển dương thánh giáo, luận Nhiếp đại thừa, luận A tì đạt ma tạp tập, luận Biện trung biên, luận Nhị thập duy thức, luận Tam thập duy thức, luận Phân biệt du già và Đại thừa trang nghiêm kinh luận.Trên đây đều là những bộ luận căn bản của tông Duy thức pháp tướng. [X. Du già luận kí Q.1, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu]. (xt. Thập Chi Luận, Ngũ Bộ Đại Luận).

ngũ phẩm đệ tử vị

(五品弟子位) Gọi tắt: Ngũ phẩm vị. Chỉ cho giai vị Ngoại phàm trước Thập tín, là hành vị thứ nhất trong 8 hành vị của Viên giáo do tông Thiên thai lập, tương đương với vị Quán hành tức trong Lục tức vị. Vì giai vị này chia ra 5 phẩm và chuyên tâm vào sự tu hành thực tiễn của chính mình, nên gọi là Ngũ phẩm đệ tử vị. Năm phẩm là: 1. Tùy hỉ phẩm: Nghe pháp thực tướng viên dung vi diệu mà trong lòng tin hiểu vui mừng, nên bên trong dùng 3 quán để quán xét cảnh của 3 đế, bên ngoài thì dùng 5 hối mà siêng năng tinh tiến sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, phát nguyện và hồi hướng. 2. Đọc tụng phẩm: Sau khi tin hiểu thì đọc tụng và thuyết giảng kinh pháp mầu nhiệm sâu xa. 3. Thuyết pháp phẩm: Thuyết pháp để dẫn dắt người khác, cũng lại nhờ công đức ấy mà quán xét tâm mình để tiến tu. 4. Kiêm hành lục độ phẩm: Ngoài việc quán xét tâm còn tu thêm 6 pháp: Bố thí, giữ giới, nhịn nhục, tinh tiến, thiền định và trí tuệ. 5. Chính hành lục độ phẩm: Khi công phu quán xét tâm đã tiến triển thì thực hành hạnh hóa tha, lí sự đầy đủ và đến đây thì lấy việc thực hành 6 độ làm chính yếu. Ngũ phẩm đệ tử vị có xuất xứ từ phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa, còn trong Pháp hoa kinh huyền nghĩa quyển 5, phần đầu, thì Ngũ phẩm đệ tử vị được so sánh với Ngũ đình tâm vị của Tam tạng giáo. Ngoài ra, Pháp hoa văn cú kí quyển 27 đem Ngũ phẩm đệ tử vị phối hợp với Tam tuệ vị, trong đó, Tùy hỉ, Đọc tụng và Thuyết pháp phối với Văn tuệ vị, Kiêm hành lục độ phối với Tư tuệ vị, còn Chính hành lục độ thì phối với Tu tuệ vị. Theo truyền thuyết, Đại sư Trí khải tông Thiên thai từng tự xưng mình là Ngũ phẩm đệ tử vị. [X. Thiên thai tứ giáo nghi; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Phật tổ thống kỉ Q.6]. (xt. Lục Tức).

Ngũ Phận chi hương

(五分之香): năm loại hương. Bậc Thánh vô học tự thân chứng đắc 5 pháp công đức hay Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身), tức là: Giới Thân (戒身), Định Thân (定身), Tuệ Thân (慧身), Giải Thoát Thân (解脫身) và Giải Thoát Tri Kiến Thân (解脫知見身). Nếu lấy hương để ví dụ, tức là hương của Giới (s: śīla, p: sīla, 戒), hương của Định (s, p: samādhi, 定), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, 慧), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫) và hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāṇadassana, 解脫知[智]見). Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) có giải thích về 5 phần hương rằng: “Thiêu hương giả, diệc phi thế gian hữu tướng chi hương, nãi thị vô vi Chánh Pháp chi hương dã; huân chư xú uế vô minh ác nghiệp, tất linh tiêu diệt; kỳ Chánh Pháp hương giả, hữu kỳ ngũ chủng: nhất giả Giới Hương, sở vị năng đoạn chư ác, năng tu chư thiện; nhị giả Định Hương, sở vị thâm tín Đại Thừa, tâm vô thối chuyển; tam giả Huệ Hương, sở vị thường ư thân tâm, nội tự quán sát; tứ giả Giải Thoát Hương, sở vị năng đoạn nhất thiết vô minh kết phược; ngũ giả Giải Thoát Tri Kiến Hương, sở vị quán chiếu thường minh, thông đạt vô ngại; như thị ngũ chủng hương, danh vi tối thượng chi hương, thế gian vô tỷ; Phật tại thế nhật, linh chư đệ tử, dĩ trí tuệ hỏa, thiêu như thị vô giá trân hương, cúng dường thập phương chư Phật (燒香者、亦非世間有相之香、乃是無爲正法之香也、薰諸臭穢無明惡業、悉令消滅、其正法香者、有其五種、一者戒香、所謂能斷諸惡、能修諸善、二者定香、所謂深信大乘、心無退轉、三者慧香、所謂常於身心、內自觀察、四者解脫香、所謂能斷一切無明結縛、五者解脫知見香、所謂觀照常明、通達無礙、如是五種香、名爲最上之香、世間無比、佛在世日、令諸弟子以智慧火、燒如是無價珍香、供養十方諸佛, đốt hương không phải là đốt loại hương có hình tướng của thế gian, mà là loại hương vô vi Chánh Pháp; xông các ác nghiệp vô minh nhơ nhớp, tất khiến tiêu diệt; loại hương Chánh Pháp ấy, có năm loại: một là Hương Giới, nghĩa là có thể đoạn trừ các điều ác, tu tập các việc lành; hai là Hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không thối chuyển; ba là Hương Huệ, nghĩa là thường nơi thân tâm này quán sát bên trong; bốn là Hương Giải Thoát, nghĩa là có thể đoạn trừ các vô minh ràng buộc; năm là Hương Giải Thoát Tri Kiến, nghĩa là quán chiếu thường sáng tỏ, thông đạt không ngăn ngại; năm loại hương này được gọi là hương tối thượng, trên thế gian không gì sánh bằng; khi đức Phật còn tại thế, Ngài bảo các đệ tử lấy lửa trí tuệ, đốt loại hương trân quý như vậy để cúng dường mười phương chư Phật).” Cho nên, trong bài kệ niêm hương thường có câu: “Giới Hương, Định Hương dữ Huệ Hương, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương, quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dường thập phương vô thượng tôn (戒香定香與慧香、解脫解脫知見香、光明雲臺遍法界、供養十方無上尊, Hương Giới, Hương Định cùng Hương Huệ, Giải Thoát, Hương Giải Thoát Tri Kiến, sáng chói đài mây khắp pháp giới, cúng dường mười phương vô thượng tôn).”

Ngũ Phật

(五佛): năm vị Phật ngự ở 5 hướng khác nhau, được vẽ trong các đồ hình của Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼荼羅) cũng như Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼荼羅); còn gọi là Ngũ Trí Như Lai (五智如來), Ngũ Như Lai (五如來), Ngũ Bộ Giáo Chủ (五部敎主). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La có Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來, tức Tỳ Lô Giá Na Phật [毘盧遮那佛]) ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ; A Súc Như Lai (s: Akṣbhya, 阿閦如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Bảo Sanh Như Lai (s: Ratna-saṃbhava, 寶生如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; A Di Đà Như Lai (s: Lokeśvara-rāja, 阿彌陀如來, tức Thế Tự Tại Như Lai [世自在如來]) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: Amogha-siddhi, 不空成就如來, tức Thích Ca Như Lai [釋迦如來]) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La, ngoài Đại Nhật Như Lai ở trung ương, màu vàng, thuộc Thổ như trên; còn có Bảo Tràng Như Lai (s: Ratna-ketu, 寶幢如來) ở phương Đông, màu xanh, thuộc Mộc; Khai Phu Hoa Vương Như Lai (s: Saṃkusumita-rāja, 開敷華王如來) ở phương Nam, màu hồng, thuộc Hỏa; Vô Lượng Thọ Như Lai (s: Amitāyus, 無量壽如來) ở phương Tây, màu trắng, thuộc Kim; và Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai (s: Dundubhi-svara, 天鼓雷音如來) ở phương Bắc, màu đen huyền, thuộc Thủy. Tu Chứng Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (修設瑜伽集要施食壇儀, CBETA No. 1081) giải thích rằng Ngũ Phật hình thành Ngũ Trí: “Ngũ Phật giả, quân Giá Na Phật sở hiện, vị Giá Na Như Lai nội tâm chứng tự thọ dụng dĩ, thành ư Ngũ Trí; nhất Đại Viên Kính Trí, lưu xuất Đông phương A Súc Như Lai, chấp Kim Cang Chử; nhị Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Nam phương Bảo Sanh Như Lai, chấp Ma Ni Châu; tam Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Tây phương Di Đà Như Lai, chấp Diệu Liên Hoa; tứ Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Bắc phương Thành Tựu Như Lai, thủ Luân Tướng Giao; ngũ Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức trung ương Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thủ Thiên Bức Luân (五佛者、均遮那佛所現、謂遮那如來內心證自受用已、成於五智、一大圓鏡智、流出東方阿閦如來、執金剛杵、二平等性智、流出南方寶生如來、執摩尼珠、三妙觀察智、流出西方彌陀如來、執妙蓮華、四成所作智、流出北方成就如來、手輪相交、五法界清淨智、卽中央毗盧遮那如來、手千輻輪, năm vị Phật đều do Giá Na Phật biến hiện, nghĩa là trong nội tâm của Giá Na Như Lai tự thọ dụng xong, thành ra năm loại trí; một là Đại Viên Kính Trí, lưu xuất A Súc Như Lai ở phương Đông, tay cầm Chày Kim Cang; hai là Bình Đẳng Tánh Trí, lưu xuất Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam, tay cầm hạt châu Ma Ni; ba là Diệu Quan Sát Trí, lưu xuất Di Đà Như Lai ở phương Tây, tay cầm Hoa Sen Mầu; bốn là Thành Sở Tác Trí, lưu xuất Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc, tay bắt ấn Luân Tướng Giao; năm là Pháp Giới Thanh Tịnh Trí, tức Tỳ Lô Giá Na Như Lai ở trung ương, tay cầm ngàn vòng bánh xe).” Cũng theo tài liệu này cho biết rằng mỗi vị Phật đều có 4 Bồ Tát tùy tùng, hộ trì: “Ngũ Phật các hữu tứ Bồ Tát, A Súc Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, nhị Kim Cang Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Ái Bồ Tát, tứ Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; Bảo Sanh Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Bảo Bồ Tát, nhị Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, tam Kim Cang Tràng Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyến Bồ Tát; Di Đà Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Pháp Bồ Tát, nhị Kim Cang Kiếm Bồ Tát, tam Kim Cang Nhân Bồ Tát, tứ Kim Cang Lợi Bồ Tát; Thành Tựu Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, nhị Kim Cang Ngữ Bồ Tát, tam Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, tứ Kim Cang Quyền Bồ Tát; Tỳ Lô Phật tứ Bồ Tát giả, nhất Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, nhị Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, tam Kim Cang Pháp Ba La Mật, tứ Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát (五佛各有四菩薩、阿閦佛四菩薩者、一金剛薩埵菩薩、二金剛王菩薩、三金剛愛菩薩、四金剛善哉菩薩、寶生佛四菩薩者、一金剛寶菩薩、二金剛威光菩薩、三金剛幢菩薩、四金剛眷菩薩、彌陀佛四菩薩者、一金剛法菩薩、二金剛劍菩薩、三金剛因菩薩、四金剛利菩薩、成就佛四菩薩者、一金剛業菩薩、二金剛語菩薩、三金剛藥叉菩薩、四金剛拳菩薩、毗盧佛四菩薩者、一金剛波羅密菩薩、二金剛寶波羅密菩薩、三金剛法波羅密菩薩、四金剛羯波羅密菩薩, năm vị Phật mỗi vị đều có 4 Bồ Tát, 4 Bồ Tát của A Súc Phật gồm, một là Kim Cang Tát Đỏa Bồ Tát, hai là Kim Cang Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Ái Bồ Tát, bốn là Kim Cang Thiện Tai Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Bảo Sanh Phật gồm, một là Kim Cang Bảo Bồ Tát, hai là Kim Cang Uy Vương Bồ Tát, ba là Kim Cang Tràng Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyến Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Di Đà Phật gồm, một là Kim Cang Pháp Bồ Tát, hai là Kim Cang Kiếm Bồ Tát, ba là Kim Cang Nhân Bồ Tát, bốn là Kim Cang Lợi Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Thành Tựu Phật gồm, một là Kim Cang Nghiệp Bồ Tát, hai là Kim Cang Ngữ Bồ Tát, ba là Kim Cang Dược Xoa Bồ Tát, bốn là Kim Cang Quyền Bồ Tát; 4 Bồ Tát của Tỳ Lô Phật gồm, một là Kim Cang Ba La Mật Bồ Tát, hai là Kim Cang Bảo Ba La Mật Bồ Tát, ba là Kim Cang Pháp Ba La Mật, bốn là Kim Cang Yết Ba La Mật Bồ Tát).” ; 五佛; C: wǔfó; J: gobutsu; S: pañca-buddha;|I. Năm vị Phật theo Mật giáo, trong Kim cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātumaṇḍala) và Thai tạng giới mạn-đồ-la (胎藏界曼荼羅; s: garbhadhātu-maṇḍalas). Trong cả hai đồ hình mạn-đồ-la, 4 Đức Phật ngự ở 4 phương, còn Phật Đại Nhật Như Lai (Tì-lô Giá-na 毘盧遮那; s: mahāvairocana) trụ tại trung tâm. Trong Kim cương mạn-đồ-la, 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那; s: mahāvairocana; 2. A-súc (阿閦; s: akṣobhya); 3. Bảo Sinh (寶生; s: ratnasaṃbhava); 4. A-di-đà (阿彌陀; s: amitābha); 5. Bất Không Thành Tựu (不空成就; s: amoghasiddhi). Trong Thai tạng giới mạn-đồ-la, còn gọi là Thai tạng giới ngũ Phật (胎藏界五佛), 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那); 2. Đức Phật Bảo Tràng (寶幢; s: ratnaketu); 3. Khai Phu Hoa Vương (開敷華王; s: saṃkusumitarāja); 4. Vô Lượng Thọ (無量壽; s: amitāyus), 5. Thiên Cổ Lôi Âm (天鼓雷音; s: divyadundubhi-meganirghoṣa). Xem thêm Ngũ Trí Như Lai để biết thêm giải thích về từng loại trí tuệ biểu hiện qua mỗi vị Phật nầy.|II. 1. Phật trong 10 phương; 2. Phật quá khứ; 3. Phật vị lai; 4. Phật hiện tại; 5 Phật Thích-ca Mâu-ni.

ngũ phật

(五佛) Cũng gọi Ngũ trí Phật, Ngũ trí Như lai, Ngũ thiền định Phật. Chỉ cho 5 đức Phật trong Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới của Mật giáo. A. Ngũ Phật trong Mạn đồ la Kim cương giới, ngồi trong Ngũ giải thoát luân. 1. Đại nhật Như lai: Ngồi ở chính giữa, thân màu trắng, trụ trong ấn Trí quyền, chủng tử là (vaô). 2. A súc Như lai: Ngồi ở phía đông, mình màu vàng ròng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở hông, tay phải rủ xuống chạm đất, chủng tử là (hùô). 3. Bảo sinh Như lai: Ngồi ở phía nam, mình màu vàng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở rốn, tay phải hướng ra ngoài kết ấn Thí nguyện, chủng tử là (trà#). 4. A di đà Như lai: Ngồi ở phía tây, mình màu vàng, trụ trong ấn Tam ma địa, chủng tử là (hrì#). 5. Bất không thành tựu Như lai: Ngồi ở phía bắc, mình màu vàng, tay trái nắm lại thành quyền đặt ngang rốn, tay phải duỗi 5 ngón để ngang ngực, chủng tử (a#). B. Ngũ Phật trong Mạn đồ la Thai tạng giới, ngồi trong Trung đài bát diệp. 1. Đại nhật Như lai: Ngồi ở chính giữa, mình màu vàng ròng, trụ trong ấn Pháp giới định, chủng tử là (à#). 2. Bảo chàng Như lai: Ngồi ở phía đông, mình màu đỏ lợt, tay trái nắm lại thành quyền đặt ở hông, tay phải kết ấn Xúc địa (chạm đất), chủng tử là (a). 3. Khai phu hoa vương Như lai: Ngồi ở phía nam, mình màu vàng ròng, trụ trong thiền định Li cấu, chủng tử là (à). 4. Vô lượng thọ Như lai: Ngồi ở phía tây, mình màu vàng ròng, trụ trong ấn Di đà định, chủng tử là (aô). 5. Thiên cổ lôi âm Như lai: Ngồi ở phía bắc, mình màu vàng sậm, hiện tướng nhập định, chủng tử là (a#). Vì Kim cương giới là Mạn đồ la quả, biểu thị trí; Thai tạng giới là Mạn đồ la nhân, biểu thị lí, nên chủng tử và sắc tướng của 5 vị Phật tuy khác nhau, nhưng thể tính thì không khác. Trong Thai tạng giới và Kim cương giới, danh hiệu của đức Đại nhật và A di đà giống nhau, còn 3 vị Bảo chàng, Khai phu hoa vương và Thiên cổ lôi âm, thì theo thứ tự, tức là A súc, Bảo sinh và Bất không thành tựu ở Kim cương giới. Năm vị Phật này là do 5 trí như: Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí v.v... mà thành, vì thế nên gọi là Ngũ trí Phật, Ngũ trí Như lai. Về việc phối hợp 5 Phật với 5 đại, 5 phương... thì có 2 thuyết, trong đó, ngài Tam tạng Bất không căn cứ vào nghĩa của Thai tạng bản hữu môn, lấy Trung nhân ......làm tông, thuận theo thế gian phối hợp với ngũ hành, nên Không đại phối với Phật A súc ở phương đông, Hỏa đại phối với Phật Bảo sinh ở phương nam, Phong đại phối với Phật A di đà ở phương tây, Thủy đại phối với Phật Bất không thành tựu ở phương bắc và Địa đại phối với Phật Đại nhật ở trung ương. Còn ngài Tam tạng Thiện vô úy thì theo nghĩa Kim cương giới tu sinh, lấy Đông nhân ......làm tông, đem Địa đại phối với Phật A súc ở phương đông, Hỏa đại phối với Phật Bảo sinh ở phương nam, Thủy đại phối với Phật A di đà ở phương tây, Phong đại phối với Phật Bất không thành tựu ở phương bắc và Không đại được phối với Phật Đại nhật ở trung ương. Ngoài ra, 5 đức Phật được lưu truyền ở Tây tạng gọi là Ngũ thiền định Phật. Năm vị Phật này trụ ở Tịnh độ, hóa hiện thân người để cứu độ chúng sinh, đó là Phật Câu lưu tôn, Câu na hàm mâu ni, Ca diếp, Thích ca văn và Di lặc. Năm vị Phật này sinh ra 5 vị pháp tử Bồ tát thiền định là Phổ hiền, Kim cương thủ, Bảo thủ, Liên hoa thủ và Nhất thiết thủ. Năm vị Bồ tát này sẽ NGŨ PHẬT Năm vị Phật của Tây Tạng gánh vác việc hóa độ chúng sinh sau khi các đức Phật nhập diệt. [X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị pháp môn; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.1; kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ Q.2].

ngũ phật bảo quán

(五佛寶冠) Cũng gọi Ngũ Phật quan, Ngũ trí quan, Ngũ trí bảo quan, Ngũ bảo thiên quan, Quán đính bảo quan, Bảo quan. Mũ báu có hình của 5 vị hóa Phật biểu thị cho đức của 5 trí tròn đầy. Mũ báu này do các vị tôn: Đại nhật Như lai, Kim cương tát đỏa, bồ tát Hư không tạng, các Phật đính... đội trên đầu. Trong pháp tu, khi đệ tử vào đạo tràng Mạn đồ la thụ pháp Quán đính, thì vị A xà lê kết ấn và tụng chú Ngũ Phật quán đính, gia trì trên đỉnh đầu, trán, bên phải, bên trái, phía sau đỉnh đầu của hành giả, kế đó lấy nước trong bình 5 trí rưới lên đầu và đội mũ 5 Phật cho hành giả. Khi đã nhận lãnh Ngũ Phật quán đính rồi thì ngay tự thân hành giả đã trở thành Đại nhật Như lai. Có 2 cách sắp xếp 5 vị Phật ở trên mũ, một là an trí Đạinhật Như lai ở chính giữa, 4 phía an trí 4 vị Phật; hai là sắp 5 đức Phật thành hàng ngang. [X. kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; kinh Đà la ni tập Q.2; Đại lạc Kim cương tát đỏa tu hành thành tựu nghi quĩ; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp quĩ nghi Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.8].

ngũ phật ngũ thân

(五佛五身) Năm đức Phật của Mật giáo và 5 thân được phối hợp với 5 đức Phật ấy. 1. Đại nhật Như lai, là Thường trụ tam thế tịnh diệu pháp thân. 2. A súc Như lai, là Kim cương kiên cố tự tính thân. 3. Bảo sinh Như lai, là Phúc đức trang nghiêm thánh thân. 4. A di đà Như lai, là Thụ dụng trí tuệ thân.5. Bất không thành tựu Như lai, là Biến hóa thân. [X. Kim cương giới lễ sám].

ngũ phật quán đỉnh

(五佛灌頂) Lấy nước thơm từ 5 cái bình tượng trưng cho trí của 5 đức Phật rưới lên đầu của hành giả, biểu thị ý nghĩa thụ pháp và kết duyên. Đây là nghi thức trong Mật giáo.

ngũ phật quán đỉnh ấn minh

(五佛灌頂印明) Ấn tướng và chân ngôn của 5 đức Phật được kết tụng khi trao mũ báu 5 trí cho hành giả trong lễ quán đính. Ngũ Phật chỉ cho Phật Đại nhật (Biến chiếu tôn), Phật A súc, Phật Bảo sinh, Phật Di đà và Phật Bất không. 1. Biến chiếu tôn: Ấn tướng là Ngoại phược (2 tay chắp, các ngón tay đan vào nhau rồi nắm lại), 2 ngón giữa dựng đứng, đốt trên của ngón tay co lại và chạm vào nhau để làm thành hình thanh gươm, 2 ngón trỏ đặt sát vào lưng 2 ngón giữa, để lên đỉnh đầu. Trong Kim giới sa thải thì 2 ngón trỏ không đặt sát vào lưng ngón giữa, mà làm thành 3 chĩa. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) tát phạ đát tha nga đới thấp phược lí da (Nhất thiết Như lai tự tại) tì sái ca (quán đính) hồng (ngã). 2. Phật A súc: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa dựng đứng như cây kim, để ở trán. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la tát đát phạ (Kim cương tát đỏa) tì sân già (quán đính ) hợp (ngã) hồng (chủng tử). 3. Phật Bảo sinh: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa làm thành hình báu, để ở bên phải của đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la ra đát nẵng (Kim cương bảo) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) đát lạc (chủng tử). 4. Phật Vô lượng thọ: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa làm thành hình lá sen, để ở phía sau đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la bạt na ma (Kim cương liên) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) hội rị (chủng tử). 5. Phật Bất không thành tựu: Ấn tướng là Ngoại phược, 2 ngón giữa đặt vào trong lòng bàn tay, 2 mặt sát vào nhau, 2 ngón cái và 2 ngón út đều chạm nhau, để ở bên trái của đỉnh đầu. Chân ngôn là: Án (qui mệnh) phạ nhật la yết ma (Kim cương nghiệp) tì sân già (quán đính) hợp (ngã) ác (chủng tử). [X. kinh Lược xuất Q.2; Liên hoa bộ tâm quĩ; Kim cương vương quĩ; Thắng sơ du già quĩ; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục; Nhũ vị sao Q.3].

ngũ phật sinh ngũ bồ tát ngũ kim cương ngũ phẫn nộ

(五佛生五菩薩五金剛五忿怒) Năm đức Phật của Mật giáo xuất sinh 5 vị Bồ tát, 5 vị Kim cương và 5 vị Minh vương Phẫn nộ. Theo thứ tự, các vị tôn được sinh ra này biểu thị cho Pháp thân, Bát nhã và Giải thoát; cũng biểu thị cho Cảnh, Trí và Hành. 1. Đại nhật Như lai xuất sinh bồ tát Chuyển pháp luân, Kim cương biến chiếu, Bất động minh vương. 2. A súc Như lai xuất sinh bồ tát Hư không tạng, Như ý kim cương, Quân đồ lợi minh vương. 3. Bảo sinh Như lai xuất sinh bồ tát Phổ hiền, Kim cương tát đỏa, Tôn bà minh vương. 4. A di đà Như lai xuất sinh bồ tát Quan thế âm, Pháp kim cương, Mã đầu minh vương. 5. Bất không Như lai xuất sinh bồ tát Di lặc, Nghiệp kim cương, Kim cương dạ xoa.

ngũ phật tử

(五佛子) I. Ngũ Phật Tử. Năm vị tỉ khưu được đức Phật hóa độ đầu tiên. Cứ theo kinh Trung bản khởi quyển thượng thì 5 vị tỉ khưu theo thứ tự là: Câu lân, Bạt đề, Ma nam câu lợi, Thập lực ca diếp và Át bệ. (xt. Ngũ Tỉ Khưu). II. Ngũ Phật Tử. Chỉ cho 5 bậc thánh: Quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất hoàn, quả A la hán và Bích chi phật thừa. [X. Đại tạng pháp số Q.31].

ngũ phật yết ma ấn

(五佛羯磨印) Ấn yết ma của 5 đức Phật trong Mật giáo. Ấn yết ma tượng trưng sự nghiệp uy nghi của vị tôn đó. Trong 5 đức Phật thì Đại nhật Như lai dùng ấn Trí quyền, đức Phật A súc thì dùng ấn Xúc địa (tay phải rủ xuống chạm đất), đức Phật Bảo sinh dùng ấn Thí nguyện (bàn tay phải ngửa lên), đức Phật A di đà dùng ấn Tam ma địa và đức Phật Bất không thành tựu dùng ấn Yết ma.

ngũ phật đỉnh

(五佛頂) Cũng gọi Ngũ đính luân vương, Như lai ngũ đính. Chỉ cho 5 vị tôn có đầy đủ đức Vô kiến đính tướng của Như lai, đó là: 1. Bạch tản cái Phật đính (Phạm: Uwịìsa-sitàtapattrà), cũng gọi Bạch tản Phật đính. 2. Thắng Phật đính (Phạm: Uwịìwajayà), cũng gọi Thắng đính. 3. Tối thắng Phật đính (Phạm:Uwịìwavijayà), cũng gọi Tối thắng đính. 4. Quang tụ Phật đính (Phạm:Uwịìwatejoràzi), cũng gọi Hỏa tụ Phật đính, Hỏa tụ đính. 5. Trừ chướng Phật đính (Phạm: Uwịìwa-vikìrịa), cũng gọi Xả trừ đính. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì 5 vị Phật đính là đính tướng 5 trí của đức Thích ca Như lai, tượng trưng bằng hình tướng Bồ tát. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 7 thì cho rằng Bạch tản Phật đính là đính các tướng của Như lai; Thắng Phật đính là đính Đại tịch của Như lai; Tốit hắng Phật đính là đính Thần thông thọ lượng bí mật của Như lai; Quang tụ Phật đính là đính Định tuệ quang minh của Như lai; Trừ chướng Phật đính là đính Thần thông lực vô úy của Như lai; có thể làm cho nghiệp nhơ nhớp của tất cả chúng sinh được thanh tịnh. Có chỗ dùng Kim luân Phật đính và Cao Phật đính để thay cho Tối thắng Phật đính và Trừ chướng Phật đính. Ngoài ra, pháp tu thờ Ngũ Phật đính làm bản tôn để cầu tiêu trừ tai ách, gọi là Ngũ Phật đính pháp, thịnh hành trong Thai Mật ở Nhật bản. [X. kinh Đại nhật Q.1; kinh Nhất tự kì đặc Phật đính Q.thượng; Tôn thắng Phật đính tu Du già pháp nghi quĩ Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.10, 16; Bí tạng kí Q.cuối].

ngũ phật đỉnh pháp

(五佛頂法) Pháp tu thờ 5 vị Phật đính: Kim luân Phật đính, Bạch tản cái Phật đính, Quang tụ Phật đính, Cao Phật đính và Thắng Phật đính làm bản tôn để cầu tiêu trừ tai ách, tăng thêm phúc lợi nói trong kinh Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương. Năm vị Phật đính đều có thân tướng màu vàng, ngồi trên hoa sen trắng, đầu đội mũ, cổ đeo chuỗi anh lạc, tay mang vòng xuyến, trang phục đẹp đẽ. Trong đó, vị tôn Nhất tự đính luân vương trong tư thế đang chiêm ngưỡng đức Như lai, còn các vị tôn kia đều trong tư thế nhìn Nhất tự đính vương. Chủng tử của 5 vị tôn này theo thứ tự là: (bhrùô), (laô), (traô), (ỉrùô), (zaô) và hình tam muội da theo thứ tự là bánh xe, cái lọng, tâm ấn Phật, quả Nhị nặc bố la ca và gươm. [X. kinh Nhất tự Phật đính luân vương Q.1; Nhất tự đính luân vương niệm tụng nghi quĩ].

ngũ phọc

(五縛) Năm thứ trói buộc. Tức là 5 thứ phiền não trói buộc tâm, tâm sở pháp và sở duyên. Câu xá luận quang kí quyển 1 nêu ra 2 phược là: Tương ứng và Sở duyên. Nghĩa là các phiền não trói buộc tâm, tâm sở pháp, đồng thời cũng tương ứng với tâm, tâm sở pháp, gọi là Tương ứng phược; khi các phiền não duyên theo cảnh, trói buộc cảnh sở duyên ấy, gọi là Sở duyên phược. Sở duyên phược này lại được chia ra làm 4 phược là: Đồng bộ đồng phẩm, Đồng bộ dị phẩm, Dị bộ đồng phẩm và Dị bộ dị phẩm, cộng với Tương ứng phược, gọi là Ngũ phược. Đồng bộ đồng phẩm trong Sở duyên phược, thì bộ chỉ cho 5 bộ Tứ đế và Tu đạo; còn phẩm thì chỉ cho 9 phẩm thượng, trung, hạ của Hoặc(phiền não)phải bị đoạn trừ. Nếu cho Hoặc thượng thượng phẩm mà Kiến khổ phải đoạn trừ là Đồng bộ đồng phẩm, thì Hoặc thượng trung phẩm cho đến hạ hạ phẩm mà Kiến khổ phải đoạn là Đồng bộ dị phẩm. Hoặc thượng thượng phẩm mà Kiến tập phải đoạn cho đến Tu đạo phải đoạn là Dị bộ đồng phẩm, Hoặc thượng trung phẩm cho đến hạ hạ phẩm là Dị bộ dị phẩm. Các bộ và phẩm còn lại cứ suy đây thì biết. Ngoài ra, sự mạnh yếu của 5 phược là y theo thứ tự thuận của 5 phược mà thay đổi, giảm bớt, bởi thế, nếu đoạn trừ 3 phược trước thì tùy theo chỗ tương ứng mà chứng được Trạch diệt; còn nếu đoạn trừ 2 phược sau thì không thể chứng được Trạch diệt. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.1; Câu xá luận chỉ yếu sao Q.1; Câu xá luận yếu giải Q.1].

ngũ quan

(五官) I. Ngũ Quan. Chỉ cho 5 cảm quan nhìn, nghe, ngửi, nếm và xúc chạm, tức là 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. II. Ngũ Quan. Chỉ cho 5 sứ giả lớn, tức là 5 thứ hình phạt: Sinh, già, bệnh, chết, lao ngục. III. Ngũ Quan. Cũng gọi Ngũ quan vương. (xt. Ngũ Quan Vương).

ngũ quan vương

(五官王) Vị vua coi về việc xét xử 5 hình phạt trong cõi U minh, tức là vị quan trị tội nói dối, là vị vua thứ 4 trong 10 vị vua ở cõi này.Cứ theo kinh Dự tu thập vương sinh thất và kinh Địa tạng thập vương, thì bản địa của vị vua này là bồ tát Phổ hiền. Đại điện của vua được xây dựng ở ngã ba sông. Người chết trong vòng 28 ngày, phải đến chỗ vua này để tiếp nhận sự phán xét về các việc thiện ác mình đã làm lúc còn sống. Danh xưng Ngũ quan vương xưa nay thấy rải rác trong các kinh. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 535 hạ) nói: Quỉ thần và thuộc hạ dưới địa phủ tâu lên Ngũ quan, Ngũ quan xem xét, cân nhắc rồi quyết định việc chết, sống. Kinh Tịnh độ tam muội cho rằng Ngũ quan là chỉ cho Tiên quan......(vị quan coi về việc ngăn cấm sát sinh), Thủy quan (vị quan coi việc ngăn cấm trộm cướp), Thiết quan......(vị quan coi việc ngăn cấm tà dâm), Thổ quan......(vị quan coi việc ngăn cấm nói 2 lưỡi) và Thiên quan (vị quan coi việc ngăn cấm uống rượu)... Nhưng kinh Địa tạng thập vương nói trên, vì đem 10 điều ác phối đáng với 10 vị vua cõi U minh, thế nên cho Ngũ quan vương là vị quan trị tội nói dối. [X. Pháp uyển châu lâm Q.88; Phật tổ thống kỉ Q.33; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. Thập Vương, Diêm La Thập Điện).

ngũ quá

(五過) I. Ngũ Quá. Năm điều xấu do phá hủy giới cấm của Phật, đó là: 1. Tự hại: Người phá hủy giới pháp thì 3 nghiệp thân, miệng, ý thảy đều bất tịnh, thường chịu nghèo khổ, không có phúc đức, thiện thần xa lánh. 2. Bị người trí quở trách: Người phá hủy giới cấm thường bị các tỉ khưu quở trách và tránh xa như tránh xác chết hôi thối. 3. Tiếng xấu đồn xa: Người phá hủy giới cấm thì 3 nghiệp nhơ nhớp, thường ở chung với kẻ ác, tiếng xấu đồn đi khắp nơi, người tốt không dám giao tiếp. 4. Lúc sắp chết sinh tâm hối hận: Người phá hủy giới cấm, lúc sắp chết thì cảnh ác hiện ra ở trước mắt, ăn năn không kịp.5. Chết rồi rơi vào đường ác: Người phá hủy giới cấm đã dứt hẳn hạnh thanh tịnh, hoàn toàn không có nhân lành, phúc hết khổ đến, liền rơi vào đường ác. [X. luật Tứ phần Q.59; Đại minh tam tạng pháp số Q.23]. II. Ngũ Quá. Năm lỗi lầm do không hiểu đúng chính pháp. Đó là: 1. Không có lòng tin chân chính. 2. Lui mất tâm dũng mãnh. 3. Dối gạt người khác.4. Phỉ báng chính pháp. 5. Coi thường giáo pháp của Phật. [X. Qui kính nghi thông chân kí Q.trung].

ngũ quán

(五觀) I. Ngũ Quán. Năm pháp quán. Đó là: 1. Chân quán: Tức pháp quán Không, quán xét lí chân đế để đoạn trừ Kiến hoặc và Tư hoặc. 2. Thanh tịnh quán: Tức pháp quán Giả. Sau khi dứt trừ Kiến hoặc và Tư hoặc, thân được thanh tịnh, lại quán giả để đoạn trừ Trần sa hoặc. 3. Quảng đại trí tuệ quán: Tức pháp quánTrung, do đã dứt trừ Vô minh hoặc mà đạt được trí tuệ rộng lớn. 4. Bi quán: Dùng 3 pháp quán nói trên quán xét chúng sinh, để cứu giúp họ thoát khỏi khổ não. 5. Từ quán: Dùng 3 pháp quán nói trên quán xét chúng sinh, để ban cho họ sự an vui.[X. phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa]. II. Ngũ Quán. Cũng gọi Thực thời ngũ quán, Sa môn thụ thực ngũ quán. Năm pháp quán tưởng mà sa môn phải thực hành trước khi thụ trai. Đó là: 1. Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ: Quán xét công đức của mình nhiều hay ít, có xứng với thức ăn của thí chủ đem đến không? 2. Thổn kỉ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng: Xét đức hạnh của mình đủ hay thiếu mà nhận của cúng dường. 3. Phòng tâm li quá, tham đẳng vi tông: Đề phòng tránh xa 3 lỗi: Đối với thức ăn thật ngon, không được khởi tâm tham; với thức ăn ngon vừa, không được khởi tâm si; với thức ăn không ngon, không được khởi tâm sân. 4. Chính sự lương dược, vị liệu hình khô: Phải quán xét thức ăn chỉ là phương thuốc công hiệu để trị bệnh gầy ốm của thân thể, nên không được tham đắm. 5. Vị thành đạo nghiệp, ứng thụ thử thực:Chỉ vì muốn thành tựu đạo nghiệp mà phải tiếp nhận thức ăn này. Bởi thế chỉ ăn vừa đủ, giúp cho thân thể khỏe mạnh để tiếp tục việc tu đạo. Vì phải quán tưởng 5 việc trên, nên Trai đường còn được gọi là Ngũ quán đường. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 3, Q.hạ, phần 2; Thích thị yếu lãm Q.thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ].

Ngũ quả

五果; C: wǔguǒ; J: goka;|Có hai nghĩa: 1. Sự tinh giản mọi liên hệ nhân quả thành 5 phạm trù; 2. Thuật ngữ để gọi 5 quả vị của pháp tu Tiểu thừa.

ngũ quả

(五果) Phạm: Paĩca phalànì. I. Ngũ Quả. Năm quả vị. Chỉ cho 4 quả hữu vi do 6 nhân sinh ra và 1 quả vô vi nhờ đạo lực mà chứng được. Đó là: 1. Quả Đẳng lưu (Phạm: Niwyandaphala), cũng gọi quả Y, quả Tập. 2. Quả Dị thục (Phạm:Vipàka-phala), cũng gọi quả Báo. 3. Quả Li hệ (Phạm:Saôyoga-phala), cũng gọi quả Giải thoát. 4. Quả Sĩ dụng (Phạm: Puruwakàraphala), cũng gọi quả Sĩ phu, quả Công dụng. 5. Quả Tăng thượng (Phạm:Adhipatiphala). Trong 5 quả trên, quả Li hệ thuộc về quả vô vi, 4 quả còn lại thuộc quả hữu vi. Theo luận Câu xá, trong 4 quả hữu vi thì quả Đẳng lưu là từ 2 nhân Đồng loại và Biến hành trong 6 nhân mà ra, quả Dị thục thì từ nhân Dị thục mà ra, quả Sĩ dụng từ 2 nhân Câu hữu và Tướng ứng mà ra, quả Tăng thượng thì từ nhân Năng tác mà ra. Còn quả Li hệ thì không do 6 nhân sinh ra, chỉ nhờ đạo lực mà chứng được Trạch diệt vô vi. Nhưng luận Thành duy thức thì cho rằng 5 quả là do 10 nhân và 4 duyên sinh ra. Trong đó, quả Dị thục là do nhân dắt dẫn, nhân sinh khởi, nhân định dị, nhân đồng sự và nhân không trái nhau sinh ra; quả Đẳng lưu thì từ nhân dẫn dắt, nhân sinh khởi, nhân nhiếp thụ, nhân dẫn phát, nhân định dị, nhân đồng sự và nhân không trái nhau sinh ra; quả Li hệ thì từ các nhân: Nhiếp thụ, dẫn phát, định dị, đồng sự và không trái nhau sinh ra; riêng quả Tăng thượng thì do cả 10 nhân sinh ra; còn quả Sĩ dụng thì hoặc từ các nhân: Quan đãi, nhiếp thụ, đồng sự, không trái nhau sinh ra; hoặc do các nhân: Quan đãi, dắt dẫn, sinh khởi, nhiếp thụ, dẫn phát, định dị, đồng sự và không trái nhau sinh ra. [X. luận Đại tì bà sa Q.121; luận Câu xá Q.6; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.15; Thành duy thức luận thuật kí Q.8, phần đầu; Câu xá luận quang kí Q.6]. (xt. Ngũ Chủng Quả). II. Ngũ Quả. Tức là 4 quả Thanh văn: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán và 1 quả Độc giác: Bích chi phật. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.21 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Ngũ Quả Hồi Tâm). III. Ngũ Quả. Chỉ cho 5 loại trái cây mà các tỉ khưu phải nấu chín hoặc gọt vỏ mới được ăn. Đó là: 1. Loại quả có hạt như: Táo, hạnh, đào, mận... 2. Loại quả có da như: Dưa, lê, dâu... 3. Loại quả có vỏ như: Dừa, hồ đào, thạch lựu...4. Loại có vỏ sần sùi như: Tùng, bách, tô nhẫm... 5. Loại có góc cạnh như: Ấu, các loại dậu lớn nhỏ... Năm loại trái cây trên đây cũng được dùng để cúng dường trong pháp hội Vu lan bồn.[X. Vu lan bồn kinh sớ Q.hạ; Vu lan bồn kinh tân sớ]. (xt. Ngũ Chủng Tịnh Thực). IV. Ngũ Quả. Chỉ cho 5 quả hiện tại: Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thụ trong mười hai chi nhân duyên. Khi phối hợp 12 nhân duyên với nhân quả 3 đời, thì 2 chi vô minh và hành là nhân quá khứ; 3 chi ái, thủ, hữu là nhân hiện tại; 2 chi sinh, lão tử là quả vị lai; còn 5 chi thức, danh sắc, lục thập, xúc, thụ là quả thân ngũ ấm hiện tại do nghiệp nhân quá khứ chiêu cảm, cho nên gọi là Ngũ quả. (xt. Hiện Tại Ngũ Quả).

ngũ quả hồi tâm

(五果廻心) Bậc thánh Ngũ quả xoay chuyển tâm Tiểu thừa trở về tâm bồ đề của Đại thừa. Bậc thánh Ngũ quả chỉ cho 4 quả Thanh văn và 1 quả Độc giác. Sau khi hồi tâm hướng về Đại thừa, thời gian mà các bậc thánh này thành tựu Vô thượng chính đẳng chính giác thì không nhất định. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 21 (bản Bắc), thì quả Tu đà hoàn trải qua 8 vạn kiếp, quả Tư đà hàm trải qua 6 vạn kiếp, quả A na hàm trải qua 4 vạn kiếp, quả A la hán trải qua 2 vạn kiếp và quả Bích chi phật thì trải qua 1 kiếp. Nhưng tông Pháp tướng thì chủ trương sự hồi tâm của 5 quả thánh này chỉ giới hạn ở chủng tính Bất định, chứ không chung cho Nhị thừa định tính và sự hồi tâm này sinh khởi trước khi vào Niết bàn vô dư. Còn tông Pháp tính cho rằng Nhị thừa định tính đều có thể hồi tâm và rằng người đã 1 lần vào Niết bàn vô dư thì cũng có thể phát tâm hướng về Đại thừa mà thành Phật đạo. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.11, 22 (bản Bắc); luận Thành duy thức Q.10; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.7, phần 1; Hoa nghiêm kinh văn cú Q.7, thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1].

ngũ sinh

(五生) Chỉ cho 5 loại thụ sinh của Bồ tát. 1. Tức khổ sinh, cũng gọi Trừ tai sinh. Thụ sinh vào các loài để dứt trừ khổ nạn cho chúng sinh. Như gặp thời đói kém thì sinh làm thân cá... đem thịt mình để cứu đói cho chúng sinh; vào thời có bệnh dịch thì làm thầy thuốc giỏi để cứu chữa cho họ. 2. Tùy loại sinh: Bồ tát thuận theo tất cả các loài mà sinh vào, để cứu độ chúng. 3. Thắng sinh, cũng gọi Đại thế sinh. Bồ tát dùng tính mà thụ sinh, nên sắc thân và thọ mệnh thù thắng hơn thế gian. 4. Tăng thượng sinh: Đứng đầu các giai vị từ Sơ địa đến Thập địa. 5. Tối hậu sinh: Trong vòng sinh tử luân hồi, Bồ tát là thân cuối cùng.

ngũ suy

Năm thứ tướng suy của người cõi trời sắp chết: 1. Bông trên đầu héo tàn; 2. Quần áo nhơ bẩn; 3. Thân thể hôi thúi; 4. Nách ra mồ hôi; 5. Không ưa tòa ngồi. ; (五衰) I. Ngũ Suy. Cũng gọi Ngũ suy tướng, Thiên nhân ngũ suy.Năm tướng suy của người trời hiện ra trên thân thể khi tuổi thọ sắp hết. 1. Hoa trên mũ héo úa. 2. Dưới nách ra mồ hôi. 3. Áo quần dơ bẩn. 4. Thân mất vẻ uy nghi, toát ra mùi hôi và thường chớp mắt. 5. Không thích ngồi ở chỗ cũ và có cử chỉ suồng sã đối với ngọc nữ. Luận Câu xá quyển 10 gọi đây là tướng Đại suy, ngoài ra còn có thuyết nêu tướng Tiểu suy. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.24; kinh Phật bản hạnh tập Q.5]. (xt. Thiên Nhân Ngũ Suy). II. Ngũ Suy. Năm quả báo xấu mà người phạm giới phải chịu. Cứ theo kinh Du hành trong Trường a hàm quyển 2, thì Ngũ suy là: 1. Cầu mong tiền của nhưng không được toại nguyện. 2. Dầu có được thì cũng ngày ngày suy hao.3. Đi đến đâu người ta cũng khinh thường. 4. Tiếng xấu lan truyền khắp nơi. 5. Sau khi chết rơi vào địa ngục. Ngoài ra, luận Tứ phần quyển 59 có nêu ra 5 lỗi của người phạm giới, cũng gọi là Ngũ suy. [X. kinh Bát nê hoàn Q.thượng; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.3; luật Tứ phần Q.59]. (xt. Ngũ Quá).

ngũ sơn bản

(五山版) Chỉ cho sách vở Thiền và các tập thơ văn do phái Ngũ sơn khắc bản ở Liêm thương và Kinh đô, trong khoảng thời gian từ cuối đời Liêm thương đến đời Thất đinh, Nhật bản. Đó là các sách Thiền bản đời Tống và đời Nguyên, Trung quốc, được khắc lại ở các chùa: Đông phúc, Kiến nhân tại Kinh đô và các chùa: Kiến trường, Thọ phúc tại Liêm thương. Hình thức Ngũ sơn bản đều phỏng theo các bản gỗ đời Tống, đời Nguyên, chung quanh bản có đường viền, là khuôn mẫu cho bản in của Nhật bản đời sau. [X. Ngũ sơn văn học tiểu sử; Nhật bản cổ khắc thư sử; Nhật bản ấn loát sử].

Ngũ Sơn Thập Sát

(五山十刹, Gozanjussatsu): là tên gọi mà chính phủ sắp theo thứ tự những ngôi tự viện Thiền tiêu biểu, còn vị trú trì sẽ được chọn các vị cao tăng trên toàn quốc đến đảm nhiệm những ngôi chùa này. Các tự viện được liệt vào loại này sẽ được chính phủ công nhận quyền uy của mình, có nghĩa vụ phụng sự cho quốc gia thông qua các lễ như Chúc Thánh, v.v., với tư cách là chùa quan, và thậm chí có khi tình hình tu tập hằng ngày trong chùa còn được giám sát. Tuy nhiên, cũng do vì có liên quan đến việc cầu đảo cho quốc gia, cũng có trường hợp những ngôi chùa quan này được miễn thuế, nhưng mối quan hệ giữa quốc gia và các chùa quan này thì không rõ ràng cho lắm. Ngũ Sơn gồm có 5 chùa lớn là: (1) Kính Sơn Hưng Thánh Vạn Thọ Tự (徑山興聖萬壽寺, thuộc Phủ Lâm An, Hàng Châu, Tỉnh Triết Giang), (2) Bắc Sơn Cảnh Đức Linh Ẩn Tự (北山景德靈隱寺, như trên), (3) Nam Sơn Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu Tự (南山淨慈報恩光孝寺, như trên), (4) Thái Bạch Sơn Thiên Đồng Cảnh Đức Tự (太白山天童景德寺, thuộc Phủ Khánh Nguyên, Minh Châu, Tỉnh Triết Giang), và (5) A Dục Vương Sơn Mậu Phong Quảng Lợi Tự (阿育王山鄮峰廣利寺, như trên). Thập Sát gồm 10 ngôi chùa là: (1) Trung Sơn Thiên Ninh Vạn Thọ Vĩnh Tộ Tự (中山天寧萬壽永祚寺, thuộc Phủ Lâm An, Hàng Châu), (2) Đạo Tràng Sơn Hộ Thánh Vạn Thọ Tự (道塲山護聖萬壽寺, thuộc Huyện Ô Trình, Hồ Châu, Tỉnh Triết Giang), (3) Tương Sơn Thái Bình Hưng Quốc Tự (蔣山太平興國寺, thuộc Phủ Thượng Nguyên, Kiến Khang, Tỉnh Giang Tô), (4) Vạn Thọ Sơn Báo Ân Quang Hiếu Tự (萬壽山報恩光孝寺, thuộc Phủ Bình Giang, Tô Châu, Tỉnh Giang Tô), (5) Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự (雪竇山資聖寺, thuộc Phủ Khánh Nguyên, Minh Châu), (6) Giang Tâm Sơn Long Tường Tự (江心山龍翔寺, thuộc Huyện Vĩnh Gia, Ôn Châu, Tỉnh Triết Giang), (7) Tuyết Phong Sơn Sùng Thánh Tự (雪峰山崇聖寺, thuộc Huyện Hầu Quan, Phúc Châu, Tỉnh Phúc Kiến), (8) Vân Hoàng Sơn Bảo Lâm Tự (雲黃山寳林寺, thuộc Huyện Kim Hoa, Vụ Châu, Tỉnh Triết Giang), (9) Hổ Kheo Sơn Vân Nham Tự (虎丘山雲巖寺, thuộc Phủ Bình Giang, Tô Châu), và (10) Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Kính Trung Tự (天台山國清敬忠寺, thuộc Huyện Thiên Thai, Đài Châu, Tỉnh Triết Giang). Chế độ này cũng được kế thừa cho đến thời nhà Nguyên, nhưng vào năm 1330 vua Tok Temru (tức Văn Tông, tại vị 1329-1332) đã bỏ ly cung của mình ở ngoại ô Kim Lăng (金陵) mà biến nơi đây thành Đại Long Tường Tập Khánh Tự (大龍翔集慶寺), thỉnh Tiếu Ẩn Đại Hân (笑隱大訢) đến làm tổ khai sơn chùa này và xếp nó lên trên cả Ngũ Sơn. Đến thời nhà Minh, chỉ có ngôi chùa này được đổi tên thành Thiên Giới Thiện Thế Thiền Tự (天界善世禪寺), và thể chế này vẫn được tiếp tục duy trì. Dưới chế độ Ngũ Sơn Thập Sát này còn có các ngôi chùa gọi là Giáp Sát (甲刹, tương đương với những ngôi chùa tổ trung tâm ở Nhật). Sau này ở Nhật người ta cũng mô phỏng theo hình thức này và Ngũ Sơn ở hai vùng kinh đô Kyoto cũng như Liêm Thương đã được liệt vào. Cùng với sự chỉnh bị về chế độ các ngôi chùa quan, nghi thức Bỉnh Phất (秉拂) để trắc nghiệm tư cách trở thành trú trì cũng được quy định rõ rệt, và việc tiến cử trú trì cũng theo thứ tự từ các ngôi chùa Giáp Sát cho đến Thập Sát và Ngũ Sơn.

Ngũ sơn thập sát

五山十剎; C: wǔshān shíshā; J: gozan jis-setsu;|Nghĩa là năm núi và mười chùa; chỉ một giáo hội bao gồm năm ngọn núi và mười chùa tại hai thành phố Hàng Châu và Minh Châu, được Tống Ninh Tông sáng lập. Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc được theo gương của Ngũ tinh xá thập tháp tại Ấn Ðộ mà thành lập. Thiền tông Nhật Bản cũng theo cách tổ chức này mà thành lập Ngũ sơn thập sát tại hai thành phố lớn là Kinh Ðô (kyōto) và Liêm Thương (kamakura). Ngũ sơn thập sát tại Nhật đã trở thành những trung tâm quan trọng của văn hoá và nghệ thuật tại đây (Ngũ sơn văn học). Tất cả năm núi và mười chùa tại Trung Quốc và Nhật Bản đều thuộc về tông Lâm Tế.|Danh từ »Sơn« ở đây được sử dụng như một chùa, một Thiền viện bởi vì hầu hết các thiền viện đời xưa đều được thành lập trên một ngọn núi và các vị Thiền sư trụ trì tại đây cũng thường được gọi dưới tên ngọi núi này.|Ngũ sơn tại Trung Quốc là:|1. Kính sơn tại Hàng Châu với Hưng Thánh Vạn Thọ tự; 2. A-dục vương sơn tại Ninh Ba với Mậu Phong Quảng Lợi tự; 3. Thái Bạch sơn tại Hàng Châu với Thiên Ðồng Cảnh Ðức tự; 4. Bắc sơn tại Hàng Châu với Cảnh Ðức Linh Ẩn tự; 5. Nam sơn với chùa Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu.|Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc thì cố định, còn tại Nhật thì thay đổi theo thời đại, vương triều. Mãi đến năm 1386 thì danh sách của Ngũ sơn tại đây mới có thể được gọi là hoàn chỉnh, cố định. Ngũ sơn bao gồm (Kinh Ðô [kyōto]-Liêm Thương [kamakura]):|1. Thiên Long tự (j: tenryū-ji) – Kiến Trường tự (kenchō-ji); 2. Tướng Quốc tự (shōkoku-ji) – Viên Giác tự (engaku-ji); 3. Kiến Nhân tự (kennin-ji) – Thọ Phúc tự (jufuku-ji); 4. Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) – Tịnh Trí tự (jōchi-ji); 5. Vạn Thọ tự (manju-ji) – Tịnh Diệu tự (jōmyō-ji).|Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa lớn tại Kinh Ðô cũng có khi được đặt trên địa vị cao hơn Ngũ sơn tại đây.

ngũ sơn thập sát

(五山十刹) Cũng gọi Ngũ nhạc thập sát. Năm ngôi tự viện bậc nhất và 10 ngôi tự viện bậc nhì trong các ngôi chùa do triều đình qui định ở Trung quốc và Nhật bản. I. Ngũ sơn Thập sát của Trung quốc. Thuộc Thiền tông, được qui định vào thời vua Ninh tông nhà Nam Tống. A. Ngũ Sơn: 1. Chùa Hưng thánh vạn thọ thiền, ở núi Kính sơn, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 2. Chùa Cảnh phúc linh ẩn ở núi Linh ẩn, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 3. Chùa Tịnh từ ở núi Nam bình, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 4. Chùa Cảnh đức ở núi Thiên đồng, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. 5. Chùa Quảng lợi ở núi A dục vương, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. B. Thập Sát: 1. Chùa Thiên ninh vạn thọ vĩnh tộ ở núi Trung thiên trúc, huyện Hàng, tỉnh Chiết giang. 2. Chùa Hộ thánh vạn thọ ở núi Đạo tràng, huyện Ngô hưng, tỉnh Chiết giang. 3. Chùa Thái bình hưng quốc (cũng gọi chùa Linh cốc), ở núi Tưởng sơn, Nam kinh, tỉnh Giang tô. 4. Chùa Báo ân quang hiếu, ở núi vạn thọ, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 5. Chùa Tư thánh ở núi Tuyết đậu, huyện Ngân, tỉnh Chiết giang. 6. Chùa Long tường ở núi Giang tâm, huyện Vĩnh gia, tỉnh Chiết giang. 7. Chùa Sùng thánh ở núi Tuyết phong, huyện Mân hầu, tỉnh Phúc kiến. 8. Chùa Bảo lâm ở núi Vân hoàng, huyện Kim hoa, tỉnh Chiết giang. 9. Chùa Vân nham ở núi Hổ khâu, huyện Ngô, tỉnh Giang tô. 10. Chùa Quốc thanh trung, ở núi Thiên thai, huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang. Có thuyết cho rằng Ngũ sơn bắt đầu từ ngài Đại tuệ Tông cảo trở về sau, do chúng tăng ở chùa Linh ẩn đương thời nhóm họp ở Trực chỉ đường đặt ra chứ không phải do Ngũ Sơn Bản triều đình qui định. Lúc bấy giờ, Ngũ sơn được hưởng quyền lợi đặc biệt. Đến niên hiệu Chí thuận năm đầu (1330) đời Nguyên, vua Văn tông ban lệnh xây chùa Long tường tập khánh ở Kim lăng, thế lực bao trùm, Ngũ sơn mới dần dần suy vi. Về sau, Giáo viện cũng thiết lập Ngũ sơn thập sát song song với Thiền viện Ngũ sơn thập sát. [X. Lời tựa trong Hộ pháp lục Giác nguyên thiền sư di y tháp minh; điều Du phương tham thỉnh, chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.hạ]. II. Ngũ sơn Thập sát của Nhật bản. Cũng gọi: Phù tang ngũ sơn thập sát. Nhật bản phỏng theo chế độ của Trung quốc, vào cuối thời Liêm thương cũng thiết lập Ngũ sơn, nhưng đến thời Thất đinh cơ cấu Ngũ sơn mới hoàn chỉnh. Đến niên hiệu Kiến vũ năm đầu (1334) Thập sát mới được thành lập, nhưng chưa đủ số. Đến năm Lịch ứng thứ 4 (1341) Túc lợi Trực nghĩa mới chế định Ngũ sơn thập sát, về sau thay đổi luôn. Đến năm Chí đức thứ 3 (1386), chùa Nam thiền được xếp vào hàng đầu Ngũ sơn, từ đó, Kinh đô và Liêm thương đều lập riêng Ngũ sơn Thập sát mà hình thành thế đối lập. Ngũ sơn ở Kinh Đô: 1. Chùa Thiên long. 2. Chùa Tướng quốc. 3. Chùa Kiến nhân. 4. Chùa Đông phúc. 5. Chùa Vạn thọ. Thập sát ở Kinh Đô: 1. Chùa Đẳng trì. 2. Chùa Lâm xuyên. 3. Chùa Chân như. 4. Chùa An quốc. 5. Chùa Bảo chàng. 6. Chùa Phổ môn. 7. Chùa Quảng giác. 8. Chùa Diệu quang. 9. Chùa Đại đức. 10. Chùa Long tường. Ngũ Sơn ở Liêm Thương: 1. Chùa Kiến trường. 2. Chùa Viên giác. 3. Chùa Thọ phúc. 4. Chùa Tịnh trí. 5. Chùa Tịnh diệu. Thập Sát ở Liêm Thương: 1. Chùa Thiền hưng. 2. Chùa Thụy tuyền. 3. Chùa Đông thắng. 4. Chùa Vạn thọ. 5. Chùa Đông tiệm. 6. Chùa Vạn phúc. 7. Chùa Thái khánh. 8. Chùa Hưng thánh. 9. Chùa Pháp tuyền. 10. Chùa Trường lạc. [X. Phù tang ngũ sơn kí; Liêm thương ngũ sơn kí; Nhật bản Thiền tông sử yếu].

Ngũ sơn văn học

五山文學; J: gozan bungaku;|Tên gọi chung của những tác phẩm của các vị Thiền sư Nhật Bản thuộc hệ thống Ngũ sơn tại Kinh Ðô (kyōto) trong thời Túc Lợi (ashikaga hoặc muromachi, 1338-1573). Thiền sư Trung Quốc Nhất Sơn Nhất Ninh – đến Nhật năm 1299 – và môn đệ người Nhật của sư là Tuyết Thôn Hữu Mai (雪村有梅; j: sesson yūbai) được xem là Khai tổ của của phong trào văn học này. |Các tác giả nổi danh nhất của Ngũ sơn văn học là Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – không những là một Thiền sư trứ danh mà còn là một nghệ sĩ xuất chúng –, Hổ Quan Sư Luyện (虎關師鍊; j: kokan shiren, 1278-1346) – một môn đệ khác của Nhất Sơn Nhất Ninh –, Nghĩa Ðường Châu Tín (義堂周信; j: gidō shūshin, 1325-1388) và Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津; j: zekkai chū-shin, 1336-1405), cả hai đều là môn đệ của Mộng Song Sơ Thạch.|Các tác giả nêu trên chuyên nghiên cứu và phổ biến cách làm thơ (thi pháp) và triết lí của Tân nho giáo. Vì vậy, trong thời gian này, văn hoá, nghệ thuật và khoa học của Trung Quốc được truyền sang Nhật rất mạnh. Nhiều vị còn nổi danh trong các lĩnh vực nghệ thuật như Thư đạo (j: shōdō),… Qua những bài văn rõ ràng mạch lạc của mình – tất cả đều được viết bằng tiếng Nhật – Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch đã góp công rất nhiều trong việc phổ biến Thiền học tại Nhật.

ngũ sơn văn học

(五山文學) Tên một văn phái trong văn học của Nhật bản lấy Ngũ sơn làm trung tâm. Phái văn học này bắt đầu hoạt động vào cuối thời Liêm thương khi ngài Nhất sơn Nhất ninh đến Nhật bản, qua thời Thất đinh thì nổi tiếng trên văn đàn. Vào thời đại Liêm thương, tông Lâm tế du nhập Nhật bản, được 2 họ Bắc điều và Túc lợi ủng hộ, xây cất các chùa viện lớn, các bậc danh tăng Trung quốc đến Nhật bản và các bậc cao tăng Nhật bản đến Trung quốc không dứt, đã tạo thành 1 thời đại tiêu biểu cho văn học. Các thi nhân văn sĩ Ngũ sơn rất yêu thích thơ Bạch lạc thiên, nhưng sau chuyển sang ái mộ thơ Tô đông pha và Hoàng sơn cốc; văn thể cũng từ lối văn biền ngẫu chuyển sang cổ thể của Hàn dũ và Liễu tôn nguyên. Đồng thời, Lí học và hội họa đời Tống cũng được truyền vào và đã có ảnh hưởng rất lớn đối với Nhật bản sau này.Niên hiệu Chính an năm đầu (1299), ngài Nhất sơn Nhất ninh từ Trung quốc đến Nhật bản, các vị đệ tử ưu tú của ngài gồm có: Hổ quan Sư luyện, Tuyết thôn Hữu mai, Trung nghiêm Viên nguyệt, Mộng song Sơ thạch..., rồi học trò của Mộng song Sơ thạch thì có: Xuân ốc Diệu ba, Long thu Chu trạch, Nghĩa đường Chu tín, Tuyệt hải Trung tân, Cổ kiếm Diệu khoái v.v... tất cả đã góp phần làm nên thời đại hoàng kim cho nền văn học Ngũ sơn ở thời Nam Bắc triều của Nhật bản, đến thời Thất đinh thì dần dần suy vi. Song thời đại Thất đinh thì có: Duy tiếu Đắc nham, Giang tây Long phái, Thái bạch Chân huyền và Tâm điền Thanh bá được gọi chung là Tứ tuyệt. Các nhà văn thì có: Hoành xuyên Cảnh tam, Cảnh từ Chu lân, Ngạn long Chu hưng, Sách ngạn Chu lương... là nổi tiếng hơn cả. Sau, các vị Thiền sư trên đây, vì nhận lời thỉnh cầu đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp, nên lại đặt cơ sở cho nền Hán học bột phát ở thời đại Giang hộ. [X. Ngũ sơn văn học tiểu sử].

ngũ sư

(五師) I. Ngũ Sư. Chỉ cho Kinh sư, Luật sư, Luận sư, Pháp sư và Thiền sư. [X. Tì nại da tạp sự Q.12]. II. Ngũ Sư. Năm vị Tổ sư. Có Dị thế ngũ sư và Đồng thế ngũ sư khác nhau. Cứ theo Tam luận huyền nghĩa thì: 1. Dị thế ngũ sư: Chỉ cho 5 vị Tổ sư phó pháp tạng sau khi đức Phật nhập diệt là: Ma ha ca diếp, A nan, Mạt điền địa, Xá na bà tư và Ưu bà cúc đa. 2. Đồng thế ngũ sư: Chỉ cho 5 vị đệ tử của Tổ Ưu bà cúc đa là: Đàm vô đức, Tát bà đa, Di sa tắc, Ca diếp di và Bà thô phú la. [X. kinh Đại tập Q.23; Thiện kiến luật Q.2; A dục vương truyện Q.7]. (xt. Đồng Thế Ngũ Sư, Dị Thế Ngũ Sư).

Ngũ sắc

(五色): 5 sắc màu, gồm: hồng, vàng, lam, trắng và đen. Theo Đạo Giáo, 5 màu này là hồng, vàng, xanh lá cây, trắng và đen; đối ứng với Ngũ Hành, như phương Đông, Giáp Ất, Mộc, thuộc màu xanh lá cây; phương Nam, Bính Đinh, Hỏa, màu hồng; phương Tây, Canh Tân, Kim, màu trắng; phương Bắc, Nhâm Quý, Thủy, màu đen; phương giữa, Mậu Kỷ, Thổ, màu vàng. Ngũ sắc tường vân (五色祥雲) là đám mây lành có 5 sắc màu, như một số câu đối thường dùng trong nhà như: “Tứ thời giai khí thân nhân lí, ngũ sắc tường vân tích thiện gia (四時佳氣親仁里、五色祥雲積善家, bốn thời khí tốt thân nhân xóm, năm sắc mây lành chứa thiện nhà)”, “Nhất đại tường vân huy ngũ sắc, bách niên cảnh phước khánh Tam Đa (一代祥雲輝五色、百年景福慶三多, một đời mây lành sáng năm sắc, trăm năm hưởng phước rạng Ba Điều [phước nhiều, thọ nhiều và sanh con trai nhiều]).”

ngũ sắc

(五色) Phạm: Paĩca varịa. Pàli:Paĩca vaịịà. Cũng gọi Ngũ chính sắc, Ngũ đại sắc. Tức chỉ cho năm màu căn bản: Xanh (Phạm: Nìla), vàng (Phạm: Pìta), đỏ (Phạm: Lohita), trắng (Phạm: Avadàta) và đen (Phạm: Kfwịa). Tại Ấn độ, chư tăng trong giáo đoàn không được dùng 5 màu này làm màu của áo pháp, vì cho rằng năm màu này là màu lòe loẹt, hoa mĩ. Nhưng màu sắc trang nghiêm cõi Tịnh độ và mây 5 sắc trong vật cầm tay của bồ tát Quan âm nghìn tay đều là 5 màu này. Trong Mật giáo, 5 màu được phối hợp với 5 trí, 5 Phật, 5 chữ, 5 đại, 5 căn, 5 phương, 5 chuyển, 5 hình v.v... đồ biểu như sau: Ngoài ra, thứ tự sắp xếp 5 màu, tùy theo các kinh và nghi quĩ mà có khác. Chủ yếu có 7 cách sắp xếp, đó là: Trắng đỏ vàng xanh đen; Trắng xanh vàng đỏ đen; Trắng vàng đỏ xanh đen; Xanh vàng đỏ trắng đen; Trắng vàng xanh đỏ đen; Vàng đỏ trắng xanh đen; Vàng trắng đỏ xanh đen. Còn màu trung gian của 5 màu là màu lụa đào, màu hồng, màu tía, màu xanh lá cây và màu diêm sinh, gọi là Ngũ gian sắc. [X. kinh Tệ túc trong Trường a hàm Q.7; phẩm Nhập mạn đồ la cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.4, 5; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1, tiết 1; Đại tạng pháp số Q.31].

ngũ sắc căn

(五色根) Năm căn thuộc Sắc uẩn. Tức là căn mắt, căn tai, căn mũi, căn lưỡi và căn thân.

ngũ sắc giới đạo

(五色界道) Cũng gọi Chúng sắc giới đạo. Năm màu được dùng làm đường ranh giới khi vẽ Mạn đồ la để phân biệt các tầng lớp. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 6 thì đường ranh giới ở chính giữa và đường ranh giới của lớp thứ nhất phải đủ 5 màu, trước hết dùng màu trắng làm đường ranh giới chung quanh, rồi phía ngoài theo thứ tự dùng các màu đỏ, vàng, xanh và đen; đường ranh giới của lớp thứ 2 cũng theo thứ tự như trên, nhưng chỉ có 3 màu trắng, đỏ, vàng; đường ranh giới chung quanh lớp thứ 3 chỉ dùng 1 màu thuần trắng. Đường riềm phía ngoài chỗ hành đạo và cúng dường thì tùy ý vẽ thuần 1 màu, nhưng kinh Nhuy hi da quyển trung thì bảo chỉ dùng màu trắng. Về thứ tự sắp xếp 5 màu này có rất nhiều thuyết khác nhau, như kinh Đà la ni tập quyển 1 nói thứ tự là: Trắng, đỏ, xanh, vàng, đen. Chư thuyết bất đồng kí quyển 2 nói: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Thông thường, trong các bức vẽ Mạn đồ la được lưu truyền trước nay, thì Mạn đồ la Kim cương giới theo thứ tự 5 màu: Trắng, xanh, vàng, đỏ, đen; còn Mạn đồ la Thai tạng giới thì theo thứ tự trắng, đỏ, vàng, xanh, đen. Ngoài ra, đường ranh giới cũng có 3 loại khác nhau: Đàn Thành tựu dùng chày 5 chĩa làm đường ranh giới, đàn Bí mật dùng chày kim cương chữ thập (..), còn đàn Đại bi thì dùng 5 màu. [X. Đại tì lô già na thành tựu du già Q.thượng; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.5, 6; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.12, 17, 52].

ngũ sắc liệt thứ

(五色列次) Sắp xếp thứ tự 5 màu chính theo Mật giáo. Có nhiều thuyết khác nhau. Thông thường, thứ tự 5 màu theo tự nhiên là: Trắng, đỏ, vàng, xanh, đen. Đây là thứ tự 5 màu của Thai tạng giới, nói trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1 và phẩm Quảng đại giải thoát mạn đồ la trong kinh Bất không quyên sách quyển 9. Theo phẩm Tu hành nghi quĩ trong kinh Nhiếp chân thực quyển hạ và Đại lạc kim cương tát đỏa niệm tụng nghi quĩ, thì thứ tự 5 màu là: Trắng, xanh, vàng, đỏ, đen. Đây là thứ tự 5 màu của Kim cương giới. Đại nhật kinh sớ quyển 6 và kinh Đà la ni tập quyển 7 thì nêu thứ tự 5 màu là: Trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Đây là 5 màu của Kim cương giới và Thai tạng giới Bất nhị, là theo thứ tự nhiễm trước. Ngoài ra còn có các thứ tự như: Xanh vàng đỏ trắng đen, trắng đỏ xanh vàng đen, trắng vàng xanh đỏ đen, vàng đỏ trắng đen xanh, vàng trắng đỏ đen xanh. [X. kinh Đà la ni tập Q.1; phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì; Từ thị quĩ Q.thượng; phẩm Bách tự thành tựu trì tụng trong Đại nhật kinh sớ Q.19; phẩm Chúc lụy Q.20; Ngũ luân cửu tự bí thích].

ngũ sắc phấn

(五色粉) Bột pha nhuộm 5 màu trắng, vàng, đỏ, xanh, đen dùng để sơn phết đàn tu pháp của hành giả Chân ngôn. Trong các loại bột 5 màu này, màu trắng là bột gạo, màu vàng là bột uất kim hoặc bột hoàng thổ, màu đỏ là bột chu sa, bột xích thổ, màu xanh là bột chàm, màu đen là bột mực hoặc bột than. Các loại bột đều được trộn lẫn với bột trầm hương. [X. kinh Đà la ni tập Q.9].

ngũ sắc quang ấn

(五色光印) Ấn Quang minh quán đính được kết khi trì tụng Chư Phật quang minh chân ngôn quán đính đà la ni. Tướng ấn là 5 ngón tay phải xòe ra, từ đầu 5 ngón phóng ra ánh sáng 5 màu, quán tưởng chiếu soi khắp các chúng sinh khổ não, khiến cho được niềm vui Phật pháp vô thượng.

ngũ sắc thuỷ

(五色水) Nước 5 màu để tắm Phật trong lễ Phật đản. Tức là nước hương Đô lương màu xanh, nước hương Uất kim màu đỏ, nước hương Khâu tế màu trắng, nước hương Phụ tử màu vàng và nước hương An tức màu đen.

ngũ sắc tuyến

(五色綫) Cũng gọi Ngũ sắc diên, Ngũ sắc lũ, Ngũ sắc thằng, Ngũ sắc ti. Sợi dây được xe bằng 5 sợi tơ xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 thì trước khi xe dây, phải dùng chân ngôn của 5 đức Như lai để gia trì mỗi sợi tơ màu, lúc xe xong, lại dùng chân ngôn Thành biện chư sự để gia trì chung cho 5 sợi. Năm màu tức là màu của 5 đức Như lai, tượng trưng cho 5 trí, cũng tiêu biểu cho 5 pháp: Tín, tiến, niệm, định và tuệ. Bởi thế, sợi dây 5 màu có thể được dùng trong đạo tràng quán đính, làm kim cương tuyến, đàn tuyến, kết tuyến, yêu tuyến v.v... Trong đó, sợi dây giăng trên đầu cọc kim cương của đại đàn (thường gọi là Đàn tuyến)và khi truyền pháp Quán đính, sợi dây được cột vào tay người thụ pháp, gọi là Kim cương tuyến. Sợi dây được tết 21 cái nút để trao cho người nhận pháp trong lễ truyền Quán đính, gọi là Kết tuyến, hoặc gọi là Nhị thập nhất kết tu đa la(tu đa la nghĩa là tuyến). Sợi dây tết 7 nút để thắt ở lưng, gọi là Yêu tuyến.Ngoài ra, sợi dây 5 màu cũng có thể dùng để buộc miệng túi đựng vật báu, ngũ cốc... chôn ở 4 phía của Mạn đồ la. Tại Ấn độ, những người Bà la môn thường buộc sợi dây 5 màu trên cánh tay, nhưng đức Phật cấm các vị tỉ khưu không được làm thế. [X. kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; kinh Đại nhật Q.5; kinh Đà la ni tập Q.12; kinh Nhuy hi da Q.trung; Tì nại da tạp sự Q.1; Chư kinh yếu tập Q.19].

ngũ sắc vân

(五色雲) Phạm: Paĩca-rùpamegha. Cũng gọi Ngũ thể điệp vân. Vật cầm tay có hình đám mây 5 màu của bồ tát Quan âm. Thiên thủ thiên nhãn Quán thế âm bồ tát đại bi tâm đà la ni (Đại 20, 118 hạ) nói: Nếu người muốn mau thành tựu Phật đạo, thì nên đến trước tay cầm đám mây 5 màu, niệm chân ngôn: Án phạ nhật la ca rị ra tra hợp tra. Kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp thì cho rằng, nếu người nào muốn thành tựu pháp tiên thì nên tu pháp Ngũ sắc vân.

ngũ sở y độ

(五所依土) Năm cõi nước thanh tịnh trong đó 5 thân của Như lai an trụ. 1. Pháp tính độ: Cõi nước của Như lai pháp thân thanh tịnh an trụ; thân này tuy lấy chân như làm thể, nhưng không sai khác với cõi nước, không đồi dời, vắng lặng lìa tướng. 2. Thực báo độ: Cõi nước của Như lai báo thân viên mãn an trụ; thân này lấy 5 uẩn vô lậu làm thể, do công đức tu hành ở đời trước mà thành tựu trang nghiêm vô ngại, và cảnh trí dung nhiếp nhau. 3. Sắc tướng độ: Cõi nước của Như lai thân vi trần tướng hải an trụ; thân này lấy Ngũ Sắc Tuyến Tay Ngũ Sắc Vân trí hậu đắc tự lợi làm thể, thành tựu muôn đức, đầy đủ các thứ báu trang nghiêm. 4. Tha thụ dụng độ: Cõi nước của Như lai thân Tha thụ dụng an trụ; thân này lấy trí hậu đắc lợi tha làm thể, dùng sức đại bi tùy nghi biến hiện ra các cõi nước thanh tịnh lớn nhỏ, hơn kém. 5. Biến hóa độ: Cõi nước của Như lai thân biến hóa an trụ; thân này lấy trí thành sự lợi tha làm thể, tu hạnh lợi tha, cho nên thuận theo tâm chúng sinh, biến hiện ra các cõi nước nhơ sạch.

ngũ sứ giả

(五使者) Cũng gọi Văn thù ngũ sứ giả, Ngũ chủng kim cương sứ. Năm vị đồng tử ở bên trái bồ tát Văn thù, trong viện Văn thù, trên Hiện đồ mạn đồ la Thái tạng giới của Mật giáo. Đó là: 1. Đồng tử Kế thiết ni(Phạm:Kezinì): Kế thiết ni nghĩa là đoan nghiêm, biểu thị sự thanh tịnh của tâm trí. 2. Đồng tử Ưu ba kế thiết ni (Phạm: Upakezinì): Ưu ba nghĩa là gần gũi, lệ thuộc, biểu thị Tam muội năng thí của bồ tát Văn thù. 3. Đồng tử Chất đa la (Phạm:Citrà): Chất đa la nghĩa là nhiều màu sắc, biểu thị công đức phổ hiện sắc thân của bồ tát Văn thù.4. Đồng tử Phạ tô ma để (Phạm: Vasumatì): Phạ tô ma để nghĩa là tài tuệ, cũng gọi địa tuệ, biểu thị trí tuệ màu nhiệm tự tại của bồ tát Văn thù. 5. Đồng tử A yết sa ni (Phạm: Akarwaịì): A yết sa ni nghĩa là triệu thỉnh (mời gọi), câu triệu, chiêu triệu. Biểu thị cho việc dắt dẫn chúng sinh đạt đến giác ngộ. Theo phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật quyển 1, 5 sứ giả này đều được xếp ở vị trí bên trái của bồ tát Văn thù; nhưng theo Đại nhật kinh sớ quyển 5 và Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, thì 5 sứ giả này được an trí ở 2 bên phải và trái của bồ tát Văn thù. Ngoài ra, theo kinh Đại nhật, dưới quyền 5 vị sứ giả này, mỗi vị còn có 1 người phụng giáo.[X. Đại nhật kinh sớ Q.10; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.7; Đại nhật kinh sớ diễn áo sao Q.15, 35].

ngũ sự

(五事) I. Ngũ Sự. Năm pháp mê ngộ, tức là Danh, Tướng, Phân biệt, Chính trí và Như như. (xt. Ngũ Pháp). II. Ngũ Sự. Năm tướng pháp mê ngộ, tức là Sở thuyên tướng, Năng thuyên tướng, Tương thuộc tướng, Chấp trước tướng và Bất chấp trước tướng. (xt. Ngũ Tướng). III. Ngũ Sự. Năm loại nhân thiện ác mang lại quả báo như sau: Được sinh lên cõi trời, được sinh vào cõi người, rơi vào địa ngục, đọa làm ngã quỉ, rơi vào loài súc sinh, được người ta tôn quí, thương kính, sinh vào nhà hèn hạ, tôi tớ, nghèo khổ v.v... Trong đó, 5 nhân sinh lên cõi trời là: Từ tâm, hiền lương, trinh khiết, thành kính, không uống rượu... IV. Ngũ Sự. Gọi đủ: Đại thiên ngũ sự. Năm sư kiện dẫn đến việc phân chia giáo đoàn Phật giáo nguyên thủy. (xt. Đại Thiên Ngũ Sự). V. Ngũ Sự. Chỉ cho 5 việc của đức Phật thực hiện, được ghi trong bài kinh thứ 5, phẩm Thính pháp, kinh Tăng nhất a hàm quyển 28. 1. Chuyển pháp luân. 2. Nói pháp cho thân phụ nghe. 3. Nói pháp cho thân mẫu nghe. 4. Chỉ dạy cho người phàm phu lập hạnh Bồ tát. 5. Thụ kí cho Bồ tát. (xt. Phật Hữu Ngũ Sự).

ngũ sự sinh nhân trung

(五事生人中) Năm việc được sinh vào cõi người. Cứ theo kinh Biện ý trưởng giả tử vấn, nếu chúng sinh làm 5 việc thì sẽ được sinh vào cõi người. Năm việc đó là: 1. Bố thí: Thường làm việc nhân từ, không tiếc của báu, cứu giúp người nghèo khổ.2. Trì giới: Không làm các điều ác, làm tất cả điều thiện. 3. Nhẫn nhục: Bị người xúc phạm, sẵn lòng bỏ qua, không hận thù người. 4. Tinh tiến: Gắng sức làm những việc tốt lành, không xao lãng, biếng nhác. 5. Trung hiếu: Hiếu thảo, trung nghĩa.

ngũ sự sinh thiên thượng

(五事生天上) Năm việc sinh lên cõi trời. Cứ theo kinh Biện ý trưởng giả tử vấn, nếu chúng sinh làm 5 việc thì sẽ được sinh lên cõi trời. Năm việc ấy là: 1. Từ tâm: Thương yêu mọi vật, không giết hại chúng sinh, làm cho chúng được yên vui. 2. Hiền lương: Không trộm cắp tài vật của người khác, không tham lam bỏn sẻn, bố thí để giúp những người nghèo cùng. 3. Trinh khiết: Giữ gìn trai giới, không phạm tà sắc. 4. Thành tín: Nói lời chân thật, không dối gạt người. 5. Không uống rượu: Rượu làm cho tâm tính cuồng loạn, có thể dẫn đến hành động xấu ác, cho nên phải xa lìa.

ngũ sự thành tựu

(五事成就) Năm nghĩa thành tựu trong phần tựa chung của mỗi bộ kinh. Trong luận Đại trí độ quyển 2, bồ tát Long thụ có nêu Lục sự thành tựu (sáu việc thành tựu)là: Tín thành tựu (Như thị), Văn thành tựu (ngã văn), Thời thành tựu (Nhất thời), Chủ thành tựu (Phật), Xứ thành tựu (tại... ), Chúng thành tựu (số thính chúng)... Nhưng, ngài Trúc đạo sinh đem Chủ thành tựu và Xứ thành tựu trong Lục sự thành tựu hợp chung lại làm 1 mà thành Ngũ thành tựu: Tín thành tựu (như thị), Văn thành tựu (ngã văn), Thời thành tựu (nhất thời), Chủ xứ thành tựu (Phật tại...), Chúng thành tựu (số thính chúng)... Ngoài ra, ngài Cảnh hưng cũng đem Tín thành tựu hợp lại với Văn thành tựu làm 1 mà thành Ngũ sự thành tựu: Tín văn thành tựu (Như thị ngã văn), Thời thành tựu (nhất thời), Chủ thành tựu (Phật), Xứ thành tựu (tại...) và Chúng thành tựu (số thính chúng). (xt. Lục Thành Tựu).

ngũ sự thí

xem năm sự bố thí.

Ngũ sự Tì-bà-sa luận

五事毘婆沙論; C: wǔshì pípóshā lùn; J: goji bibasha ron; S: pañca-vastuka-vibhāṣa; E: five phenomena vibhāṣa treatise.|Được Pháp Cứu (法救; dharmatrāta) soạn; gồm 2 quyển. Ngài Huyền Trang dịch vào năm 663. Đây là một luận A-tì-đạt-ma về 5 loại cấu trúc cơ bản của pháp giới: sắc (色; s: rūpa), tâm (心; s: citta), tâm sở (心所; s: caittas), bất tương ưng (不相應), và vô vi (無爲).

ngũ tam bát nhị

(五三八二) Chỉ cho 5 pháp, 3 tính, 8 thức và 2 vô ngã, do tông Pháp tướng thành lập. Năm pháp là: Tướng, danh, phân biệt, chính trí và như như; 3 tính là: Tính biến kế sở chấp, tính y tha khởi và tính viên thành thực; 8 thức là: Thức mắt, thức tai, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý, thức mạt na và thức A lại da; 2 vô ngã là: Nhân vô ngã và pháp vô ngã. [X. kinh Lăng già Q.1].

ngũ tham nhật

(五參日) Năm ngày tham hỏi một lần. Đây là qui định trong Thiền môn. Tức vào các ngày mồng 5, 10, 20, 25 mỗi tháng. Ngoài ra, 2 ngày mồng 1 và 15 có nghi thức thướng đường chúc thánh riêng, cho nên tính chung thì đúng là 5 ngày tham hỏi 1 lần. (xt. Ngũ Tham Thướng Đường).

Ngũ Tham Thượng Đường

(五參上堂, Gosanjōdō): Ngũ Tham (五參) nghĩa là tham vấn cách nhau 5 ngày; Thượng Đường (上堂) là vị trú trì lên Pháp Đường thuyết tháp. Trong Thiền Uyển Thanh Quy (禪苑清規) quy định rằng mỗi tháng có 6 lần tham vấn: ngày mồng một, 5, 10, 15, 20 và 25. Tuy nhiên, từ bản Tùng Lâm Hiệu Định Thanh Quy Tổng Yếu (叢林校定清規總要) trở về sau gọi ngày mồng 1, 15 là Đán Vọng Thượng Đường (旦望上堂), như vậy mỗi tháng chỉ có 4 lần mà thôi. Tại Trung Quốc, có quy định rằng những vị quan từ Ngũ Phẩm trở lên cứ cách nhau 5 ngày phải đến tham kiến một lần vào buổi sáng, cho nên tương truyền truyền thống Ngũ Tham Thượng Đường trong Thiền Tông cũng được bắt chước từ đây.

ngũ tham thượng đường

(五參上堂) Cũng gọi Ngũ nhật thướng đường, Ngũ nhật thăng đường, Ngũ tham thăng tòa. Gọi tắt: Ngũ tham, Ngũ thướng đường. Qui chế trong Thiền viện, cách 5 ngày vị Trụ trì lên giảng đường thuyết pháp 1 lần để chúng tăng đến học hỏi. Thiền uyển thanh qui quyển 2 chép: Năm ngày 1 lần thăng tòa giảng nói về tông chỉ. Lúc đầu, hàng tháng vào các ngày 1, 5, 10, 15, 20 và 25, vị Trụ trì lên giảng đường nói pháp. Về sau, qui định lấy ngày mồng 1(Đán), 15(Vọng)làm ngày Thướng đường chúc thánh gọi là Đán vọng thướng đường, mà thành là 1 tháng 4 lần thướng đường. Nếu tính chung Đán vọng và 4 ngày thướng đường (5, 10, 20, 25) thì gọi là Ngũ đán vọng. Pháp ngũ tham có lẽ đã phỏng theo chế độ quan lại từ Ngũ phẩm trở lên ở Trung quốc thời xưa, cứ cách 5 ngày phải vào chầu 1 lần. [X. chương Trụ trì trong Sắc tu bách trượng thanh qui Q.thượng; môn Thùy thuyết loại thứ 11 trong Thiền lâm tượng khí tiên].

Ngũ Thiên

(五篇): 5 thiên giới luật; còn gọi là Ngũ Phạm (五犯), Ngũ Phạm Tụ (五犯聚), Ngũ Chúng Tội (五眾罪), Ngũ Chủng Chế (五種制); tức Ba La Di (s: pārājika, 波羅夷), Tăng Tàn (s: saṃghāvaśeṣa, 僧殘), Ba Dật Đề (s: pāyattika, 波逸提), Ba La Đề Đề Xá Ni (s: pratideśanīya, 波羅提提舍尼), Đột Cát La (s: duṣkṛta, 突吉羅); tổng quát 250 giới của Tỳ Kheo và 348 giới của Tỳ Kheo Ni. (1) Ba La Di, ý dịch là đoạn đầu (斷頭), là tội nặng nhất trong giới luật; người phạm tội giống như bị đứt đầu, vĩnh viễn bị đuổi ra khỏi tăng đoàn, tức 4 tội Ba La Di của Tỳ Kheo, và 8 tội Ba La Di của Tỳ Kheo Ni. (2) Tăng Tàn là tội nặng sau Ba La Di; người phạm tội giống như bị người làm cho tàn hại, chỉ còn lại cổ họng mà thôi; người phạm tội phải nhờ tăng chúng vì người ấy mà tiến hành pháp sám hối để hóa giải tội lỗi. Đó là 13 tội Tăng Tàn của Tỳ Kheo, 17 tội Tăng Tàn của Tỳ Kheo Ni. (3) Ba Dật Đề, ý dịch là đọa; nghĩa là người phạm tội này thì sẽ bị đọa vào Địa Ngục Nóng Lạnh; tức là 30 tội Xả Đọa (捨墮) và 90 tội Đơn Đọa (單墮) của Tỳ Kheo, 30 tội Xả Đọa và 178 tội Đơn Đọa của Tỳ Kheo Ni. (4) La Đề Đề Xá Ni, ý dịch là tác hướng bỉ hối (作向彼悔), nghĩa là người phạm tội này thì nên hướng vị Tỳ Kheo khác mà chí thành sám hối thì sẽ được hóa giải tội lỗi; tức là 4 tội Đề Xá Ni của Tỳ Kheo, 8 tội Đề Xá Ni của Tỳ Kheo Ni. (5) Đột Cát La, ý dịch là ác tác (惡作), nghĩa là những sai phạm do hai nghiệp thân và miệng tạo ra. Giới này khó giữ mà dễ phạm, nên thường phải thận trọng, ghi nhớ; tức là 2 pháp Bất Định, 100 Chúng Học, 7 tội Diệt Tránh của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Năm Thiên này cọng thêm tội Thâu Lan Giá (s: sthūlātyaya, 偷蘭遮), gọi là Lục Tụ (六聚). Như trong Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa (沙彌律儀要略述義, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1119) có đoạn: “Sa Di thập chi giới tướng, thị Ngũ Thiên Tam Tụ chi cơ, nhị thập tứ môn uy nghi (沙彌十支戒相、是五篇三聚之基、二十四門威儀, mười chi giới tướng của Sa Di là cơ sở của năm thiên ba tụ, là hai mươi bốn cửa oai nghi).” Hay trong Tăng Yết Ma (僧羯磨, Taishō Vol. 40, No. 1809) lại có đoạn: “Thử Yết Ma giả, tắc thiệu long chi chánh thuật, khuông hộ chi hoằng quy, tông tự quy ư Ngũ Thiên, lạm tràng khởi ư Tứ Phần (此羯磨者、則紹隆之正術、匡護之宏規、宗緒歸於五篇、濫觴起於四分, pháp Yết Ma này, là phương thuật để phát triển, là quy tắc để hộ trì, nối dõi quy về năm thiên, đầu nguồn phát xuất nơi Tứ Phần).”

ngũ thiên

(五篇) Cũng gọi Ngũ phạm, Ngũ phạm tụ, Ngũ chúng tội, Ngũ chủng chế. Năm khoa mục lớn của giới luật. Tức là: - Ba la di (Phạm: Pàràjika). - Tăng tàn (Phạm: Saôghàvazewa). - Ba dật đề (Phạm:Pàyattika). - Ba la đề đề xá ni (Phạm: Pratide= zanìya). - Đột cát là (Phạm:Duwkfta). Năm thiên trên đây bao gồm 250 giới của tỉ khưu và 348 giới của tỉ khưu ni. 1. Ba la di: Tội nặng nhất trong giới luật. Người phạm tội này như bị chặt đầu, vĩnh viễn bị đuổi ra khỏi tăng đoàn. Tức là 4 Ba la di trong giới Tỉ khưu và 8 Ba la di trong giới Tỉ khưu ni. 2. Tăng tàn: Tội nặng thứ nhì sau Ba la di. Người phạm tội này như bị kẻ ác làm tổn hại, tàn phế; phải xin chúng tăng làm pháp sám hối cho mới trừ được tội. Tức là 13 Tăng tàn trong giới Tỉ khưu và 17 Tăng tàn trong giới Tỉ khưu ni. 3. Ba dật đề: Tội đọa. Người phạm tội này phải đọa vào địa ngục lạnh nóng. Tức là 30 Xả đọa và 90 Đơn đọa trong giới Tỉ khưu; 30 Xả đọa và 178 Đơn đọa trong giới Tỉ khưu ni. 4. Ba la đề đề xá ni: Hướng vào người khác sám hối. Người phạm tội này phải hướng vào vị tỉ khưu khác để cầu sám hối. Tức là 4 Đề xá ni trong giới Tỉ khưu và 8 Đề xá ni trong giới Tỉ khưu ni. 5. Đột cát la: Ác tác, lỗi do 2 nghiệp thân và khẩu phạm phải; giới này khó giữ nhưng lại dễ phạm, thường phải ghi nhớ và học tập. Tức là 2 Bất định, 100 Chúng học, 7 Diệt tránh trong giới Tỉ khưu và giới Tỉ khưu ni. Cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập, thì 5 thiên giới pháp trên đây được phối hợp với 5 thứ hình phạt người phạm tội: Chết, đày đến nơi khác, giam giữ, đánh bằng gậy và đánh bằng roi. Người tu hành phạm giới, tùy tội nặng nhẹ, cứ theo thứ tự 5 hình phạt trên đây mà trừng trị. [X. luật Ma ha tăng kì Q.32; luật Tứ phần Q.59, 60; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.trung, phần 1; Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ Q.1].

ngũ thiên thượng mạn

(五千上慢) Cũng gọi Ngũ thiên khởi khứ. Năm nghìn vị đệ tử mang lòng tăng thượng mạn. Khi đức Thế tôn bắt đầu giảng kinh Pháp hoa thì trong hội tọa có 5 nghìn vị tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di ôm lòng tăng thượng mạn, chưa nghe đức Phật giảng rộng về pháp môn Khai tam hiển nhất thì đã đứng dậy đi ra, gọi là Ngũ thiên thượng mạn. Theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần đầu giải thích, thì sở dĩ 5 nghìn vị đệ tử này chưa nghe Phật nói mà đã bỏ đi là vì họ mắc 3 cái lỗi: Chướng, Chấp và Mạn. Chướng là trong đời 5 trược ác có rất nhiều chướng ngại; Chấp là họ chấp Tiểu thừa, chê Đại thừa; Mạn là chưa chứng mà nói đã chứng. Họ chưa nghe đức Phật nói về Khai tam hiển nhất thì vẫn chưa sinh tâm hủy báng, còn tạo thành nhân duyên hạt châu, cho nên họ bỏ đi là có lợi. Nhưng, nếu họ ở lại mà nghe đức Phật giảng rộng về pháp môn Khai tam hiển nhất, họ sẽ cảm thấy trái ý mà sinh lòng hủy báng, thì như thế sẽ tự chướng ngại và chướng ngại người khác, điều đó có hại cho chính họ, cho nên đức Phật đã không ngăn cản, cứ để họ bỏ đi. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, phần cuối].

ngũ thiên trúc

(五天竺) Cũng gọi Ngũ Ấn độ. Gọi tắt: Ngũ thiên, Ngũ trúc, Ngũ Ấn. Vào thời Trung cổ, toàn cõi Ấn độ được chia làm 5 khu vực: Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung, gọi là Ngũ Thiên trúc. Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, bờ cõi của Ngũ Ấn độ như sau: Chu vi rộng hơn 9 vạn dặm, 3 mặt đều giáp biển, phía Bắc giáp núi Tuyết sơn, về địa hình thì phía Bắc rộng, phía Nam hẹp, có hình bán nguyệt, gồm hơn 70 nước. (xt. Ấn Độ).

ngũ thiên đại quỷ

(五千大鬼) Năm nghìn đại quỉ trách mắng người phá giới.Đệ tử Phật do tín tâm xuất gia thụ chính giới của Phật mà cố ý hủy phạm Thánh giới thì có 5.000 đại quỉ lúc nào cũng đứng ngăn ở trước mặt người ấy, trách mắng người ấy là đại tặc. Nếu người phạm giới vào phòng xá, thành ấp hoặc nhà cửa thì đại quỉ thường quét xóa lốt chân của người ấy. [X. kinh Phạm võng Q.hạ].

Ngũ thiền định Phật

五禪定佛; C: wǔ chándìng fó; J: go zenjō butsu;|Ngũ Phật (五佛).

ngũ thiện ngũ ác

(五善五惡) Chỉ cho 5 điều thiện và 5 điều ác. Năm điều thiện: Không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối, không uống rượu. Trái lại, là 5 điều ác. Năm điều thiện mang lại quả báo hạnh phúc; 5 điều ác chiêu cảm quả báo khổ đau. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. NGŨ THÔNG I. Ngũ Thông. Phạm: Paĩcàbhijĩà. Cũng gọi Ngũ thần thông. Chỉ cho 5 thứ năng lực siêu tự nhiên do tu 4 tĩnh lự căn bản mà được. Thần nghĩa là không thể nghĩ bàn. Thông nghĩa là tự do tự tại. Năm thần thông là: 1. Thần cảnh trí chứng thông (Phạm: Fddhi-viwaya-jĩàna-sàkwàtkriyà= bhijĩà), cũng gọi Thần cảnh thông, Thần túc thông, Thân như ý thông, Như ý thông, Thân thông, Nghĩa là có thể tự do tự tại đi đến bất cứ nơi nào. 2. Thiên nhãn trí chứng thông (Phạm: Divya-cakwur-jĩàna-sàkwàtkrìyà= bhijĩà), cũng gọi Thiên nhãn trí thông, Thiên nhãn thông. Nghĩa là có thể thấy những cái mà mắt người thường không thể thấy được. 3. Thiên nhĩ chứng trí thông (Phạm: Divya-zrotra-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), cũng gọi Thiên nhĩ trí thông, Thiên nhĩ thông. Nghĩa là có khả năng nghe được những âm thanh mà tai của người thường không thể nghe được. 4. Tha tâm trí chứng thông (Phạm: Ceta#-paryàya-jĩàna-sàkwàtkriyà= bhijĩà), cũng gọi Tha tâm trí thông, Tri tha tâm thông, Tha tâm thông. Nghĩa là có năng lực biết rõ ý nghĩ trong đầu óc người khác. 5. Túc trụ tùy niệm trí chứng thông (Phạm: Pùrve-nivàsànusmftì-jĩànasàkwàtkriyàbhijĩà), cũng gọi Túc trụ trí thông, Thức túc mệnh thông, Túc mệnh thông. Nghĩa là có năng lực biết rõ các việc ở đời quá khứ. Trong 5 thần thông trên, 4 thông trước chung cho hữu lậu, thuộc về trí thế tục. Còn Tha tâm trí thông thì chung cho vô lậu, thuộc về 5 trí: Pháp trí, loại trí, đạo trí, thế tục trí và tha tâm trí. Ngoài ra, Ngũ thông là từ 4 tĩnh lự căn bản sinh khởi, cho nên không phải chỉ có bậc Thánh, mà ngoại đạo và phàm phu dị sinh cũng có thể đạt được. Người tiên có được 5 thứ thần thông này gọi là Ngũ thông tiên.[X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.6; kinh Đại tát già ni càn tử sở thuyết Q.7, 8; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.19; luận Đại tì bà sa Q.141; luận Đại trí độ Q.5, 28; luận Thành thực Q.16]. (xt. Tam Minh). II. Ngũ Thông. Năm lực dụng của thần thông. 1. Đạo thông: Sau khi chứng lí trung đạo có thể khởi đại dụng, trong vô tâm ứng hợp vạn vật, tùy duyên biến hóa muôn hình, không có thể nhất định, giống như trăng đáy nước, hoa đốm giữa hư không. 2. Thần thông: Trong tâm tĩnh lặng có thể chiếu soi khắp muôn vật, ghi nhớ rõ ràng các việc đời trước... đều do sức định. 3. Y thông: Biết tất cả pháp thuật mà ứng dụng nơi thân, cho nên có thể nương vào (y) bùa chú mà đi lại, hoặc nhờ sức thuốc luyện mà sinh ra linh biến. 4. Báo thông: Tức sức thần thông nương vào quả báo mà có, biết trước các việc của quỉ thần, biến hóa các hình chư thiên, biết rõ chỗ của trung ấm hữu tình đầu thai, đồng thời có thể ẩn hiện như thần rồng.5. Yêu thông: Biến hóa như tinh linh các loài chồn, cáo, cây, đá... có thể gá vào người, đồng thời có sức thông tuệ lạ thường... [X. Tông kính lục Q.15; Đại tạng pháp số Q.2].

ngũ tháp tự

(五塔寺) I. Ngũ Tháp Tự. Cũng gọi Ngũ tháp triệu. Tên Mông cổ: Tháp bố tư nhĩ hãn triệu. Chữ triệu nghĩa là chùa trong tiếng Mông cổ. Chùa ở thành phố Qui tuy, Tuy viễn, được xây cất vào khoảng năm Ung chính thứ 5 đến thứ 10 (1727-1732) đời Thanh. Vì ở phía sau chùa có 5 ngôi tháp nên gọi là Ngũ tháp tự. Năm ngôi tháp này được xây trên 1 nền hình vuông, chu vi khoảng 32 mét, mặt ngoài tháp được xây toàn bằng gạch lưu li trên có khắc chữ Phạm và rất nhiều tượng Phật cùng các hình vẽ thất trân bát bảo, được mạ bằng kim nhũ sáng chói, rực rỡ lạ thường, 1 tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ của Mông cổ. Trên cửa tháp có tấm biển Kim Cương Tòa Xá Lợi Bảo Tháp được viết bằng 3 thứ chữ: Hán, Tây tạng và Mông cổ. Trong tòa Kim cương bảo có 1 bức vẽ Thiên văn. II. Ngũ Tháp Tự. Chùa ở phía ngoài cửa Tây trực, thành phố Bắc bình, Trung quốc, được sáng lập vào khoảng năm Vĩnh lạc (1403-1424) đời vua Thành tổ nhà Minh, là ngôi chùa mang phong cách Ấn độ. (xt. Đại Chính Giác Tự).

ngũ thân

(五身) Năm thân Phật theo thuyết của tông Hoa nghiêm. Tức là: 1. Pháp tính sinh thân: Thân Phật do thể pháp tính viên mãn thường trụ sinh ra. 2. Công đức pháp thân: Thân Phật lấy công đức của muôn hạnh làm nhân mà thành tựu. 3. Biến hóa pháp thân: Thân Phật ánh hiện biến hóa do ứng theo cơ cảm của chúng sinh. 4. Hư không pháp thân: Thân Phật rộng lớn bao trùm pháp giới. 5. Thực tướng pháp thân: Pháp thân chân thực vi diệu, vô tướng vô vi. Trong 5 thân trên, 2 thân trước là Báo thân, thân thứ 3 là Hóa thân, còn 2 thân sau là Pháp thân. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.4].

Ngũ thông

五通; C: wǔtōng; J: gotsū;|Năm năng lực siêu nhiên: 1. Thần cảnh trí chứng thông (神境智證通), cũng gọi là Thần cảnh thông (神境通), Thần túc thông (神足通), Thân như ý thông (身如意通), Như ý thông (如意通); 2. Thiên nhãn trí chứng tông (天眼智證通), cũng gọi là Thiên nhãn trí thông (天眼智通), Thiên nhãn thông (天眼通); 3. Thiên nhĩ trí chứng thông (天耳智證通), còn gọi Thiên nhĩ trí thông (天耳智通), Thiên nhĩ thông (天耳通); 4. Tha tâm trí chứng thông (他心智證通), hoặc Tha tâm trí thông (他心智通), Tri tha tâm thông (知他心通), Tha tâm thông (他心通); 5. Túc trú tuỳ niệm trí chứng thông (宿住隨念智證通), cũng gọi là Túc trú trí thông (宿住智通), Thức túc mệnh thông (識宿命通), Túc mệnh thông (宿命通; theo Phật Quang Đại từ điển)

ngũ thông bồ tát

(五通菩薩) Người đầu tiên lưu truyền bức tranh vẽ hình tượng đức Phật A di đà. Cứ theo Tập thần châu Tam bảo cảm thông lục quyển trung của ngài Đạo tuyên, thì bồ tát Ngũ thông ở chùa Kê đầu ma xứ Thiên trúc(Ấn độ)từng đến thế giới An lạc cầu thỉnh hình tượng Phật A di đà, để làm lợi ích cho chúng sinh ở cõi Sa bà nguyện sinh về Tịnh độ. Đức Phật A di đà hứa khả, nên có sự lưu truyền hình tượng Di đà và 50 vị Bồ tát. (xt. A Di Đà Ngũ Thập Bồ Tát Tượng). NGŨ THÔNG THẦN Tục gọi: Ngũ thánh. Tên vị thần dâm tà trong truyền thuyết dân gian Trung quốc thời cổ đại, hay làm cho người ta mê mẩn; vốn là 5 anh em, đã được thờ cúng từ cuối đời Đường, miếu hiệu là Ngũ thông. Trong bài minh Đại qui hư hựu sư của Trịnh ngu đời Đường có những từ ngữ: Ngưu A Bàng, Quỉ Ngũ Thông. Có thuyết nói rằng vua Thái tổ nhà Minh lúc mới định thiên hạ, nằm mơ thấy các binh lính chết trận đến xin cứu giúp, vua bèn cho phép 5 người lập thành 1 ngũ được hưởng đồ huyết thực ở các nơi và ra lệnh cho người ở Giang nam, mỗi nhà lập 1 miếu nhỏ cao 5 thước, tục gọi là Ngũ thánh đường để thờ cúng. Khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, Tuần phủ Giang ninh là Thang bân, từng cho phá hủy các miếu này, nhưng vẫn chưa phá hết. [X. Lưu thanh nhật trát; Cai dư tùng khảo Q.35]. NGŨ THỜI BÁT GIÁO Năm thời tám giáo do ngài Trí khải tông Thiên thai thành lập. Đại sư Trí khải căn cứ vào nội dung các kinh điển do đức Phật nói để phân loại, giải thích, rồi theo thứ tự thời gian đức Phật thuyết pháp mà chia làm 5 thời. Lại căn cứ theo phương pháp đức Phật dắt dẫn chúng sinh mà chia giáo pháp của Ngài làm 8 giáo, gọi chung là Ngũ thời bát giáo. I. Ngũ Thời. 1. Thời Hoa nghiêm: Đức Phật nói kinh Hoa nghiêm trong 21 ngày đầu tiên sau khi Ngài thành đạo. Nội dung thuyết pháp ở thời kì này, chính là Viên giáo, phụ là Biệt giáo, mà đối tượng thuyết pháp là chúng Đại bồ tát Biệt giáo và các vị ưu tú trong Viên giáo. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật, thì thời kì này là Ngài dự định thử nghiệm xem Phật tuệ tự nội chứng của Ngài có thích hợp với căn cơ của chúng sinh hay không, cho nên thời kì này được gọi là Nghĩ nghi thời.......... Nói theo thứ tự giáo pháp thì tương đương với Nhũ vị (vị sữa) đầu tiên được vắt ra từ thân bò. Kinh Hoa nghiêm có chia ra phần trước và phần sau khác nhau. Phần trước là giáo pháp nói trong 21 ngày đầu, không có hàng Thanh văn tham dự; phần sau như phẩm Nhập pháp giới thì có các vị đại Thanh văn như ngài Xá lợi phất... Nhưng giáo pháp của thời kì này quá cao, hàng Thanh văn đều như điếc như câm nên chưa thể nhận lãnh được hiệu quả lợi ích của sự giáo hóa. 2. Thời Lộc uyển: Trong khoảng 12 năm sau khi đức Phật nói kinh Hoa nghiêm, là thời kì Phật nói 4 bộ kinh A hàm Tiểu thừa ở 16 nước lớn. Vì nơi nói pháp đầu tiên trong thời kì này là vườn Lộc dã, nên gọi là thời Lộc uyển(thời vườn Nai), lại lấy tên kinh đã nói nên cũng gọi là thời A hàm. Giáo pháp nói trong thời kì này tương đối thấp, chỉ là giáo phápTiểu thừa(tức 3 tạng giáo). Nói theo ý nghĩa giáo hóa thì vì thời kì này lấy những người có căn cơ tương đối thấp kém làm đối tượng để dẫn dụ, nên gọi là thời Dụ dẫn, nói theo thứ tự giáo pháp thì thời kì này ví dụ như Lạc vị (váng sữa).3. Thời Phương đẳng: Thời kì Phật nói các kinh Đại thừa như Duy ma, Tư ích, Thắng man... trong khoảng 8 năm sau thời Lộc uyển. Giáo pháp của thời này gồm cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, đả phá thiên kiến của thời thứ 2 cho rằng sự thâm chứng của Phật và thiển chứng của Tiểu thừa là giống nhau. Trong đó bao hàm ý nghĩa chê bai Tiểu thừa, khen ngợi Đại thừa, quở trách Thiên giáo, tán dương Viên giáo, muốn cho hàng Thanh văn sinh tâm chán Tiểu thừa, mến Đại thừa. Nếu nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật, thì thời kì này gọi là thời Đàn ha......(quở trách Tiểu thừa); nói theo thứ tự giáo pháp thì thời này ví dụ là Sinh tô vị (sữa đặc). Lại Phương đẳng là danh từ gọi chung các kinh Đại thừa, mà thời kì này là thời kì đầu tiên nói kinh Đại thừa, cho nên cũng gọi là thời Phương đẳng. 4. Thời Bát nhã: Chỉ cho thời kì Phật nói các kinh Bát nhã, trong khoảng 22 năm sau thời Phương đẳng. Giáo pháp nói trong thời kì này là Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của Phật, thời kì này là thời gạn bỏ các thiên chấp phân biệt Đại thừa, Tiểu thừa, nói các pháp đều Không, dung hợp Đại, Tiểu thừa vào 1 vị, nên gọi là thời Đào thải......; nói theo thứ tự giáo pháp thì ví dụ cho vị Thục tô (bơ). Thời này đức Phật nói cho ngài Tu bồ đề(thuộc hàng Thanh văn) về lí Bát bát khiến ngài ngưỡng mộ Đại thừa; vả lại, thời kì này là từ Nhị thừa tiến dần đến lí Không của Đại thừa nên gọi là Bát nhã chuyển giáo. Vì thời này có thể trừ bỏ sự phân biệt về mặt giáo pháp nên cũng gọi là Pháp khai hội. Trong đó, ngoài việc thuyết minh lí Không tiêu cực của Thông giáo(tức Bát nhã chung cho cả 3 thừa), còn nói rõ về lí trung đạo bất không tích cực của Biệt giáo và Viên giáo(tức là Bát nhã của Bồ tát). 5. Thời Pháp hoa Niết bàn: Chỉ cho thời kì làm cho người nghe pháp tiến đến cảnh giới cao nhất và chứng nhập tri kiến Phật. Đây là thời kì đức Phật nói kinh Pháp hoa trong khoảng 8 năm sau cùng và nói kinh Niết bàn 1 ngày 1 đêm trước khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp nói trong thời kì này thuần là Viên giáo, tứclàhội thông các giáo pháp phương tiện của 4 thời trước, đồng thời mở ra Viên giáo chân thực sáng tỏ tròn đầy. Nói theo ý nghĩa giáo hóa của đức Phật thì giáo pháp ở thời kì này không chỉ dừng lại ở mặt lí luận pháp khai hội mà thực tếcònlàm cho tất cả mọi người đều chứng nhập nhân khai hội. Nói theo thứ tự giáo pháp thì thời kì này ví dụ cho vị Đề hồ (phó mát). Mối quan hệ giữa kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn là ở chỗ làm sáng tỏ lí rốt ráo chỉ có một Phật thừa. Kinh Pháp hoa thuộc về hậu giáo hậu vị trong 5 vị tiền phiên là mở ra hội Nhị thừa trong khoảng từ thời Hoa nghiêm trở về sau cho đến kinh Pháp hoa, mục đích là hoàn thành việc nhập Phật tri kiến (Đại thu giáo :Thu hết mọi người). Còn kinh Niết bàn thì đối với những người có năng lực mà kinh Pháp hoa bỏ sót, dõi theo lại cả 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, nói về Phật tính thường trụ, về phù trì giới luật, khiến tất cả đều thành Phật; vì thế kinh Niết bàn là hậu giáo hậu vị trong 5 vị hậu phiên, cũng gọi Hậu giáo Niết bàn kinh (Quấn thập giáo :Giáo nhặt nhạnh, tức thu hết những người còn sót lại). Năm thời còn được chia ra Thông và Biệt. Thông ngũ thời là trong mỗi thời kì tùy theo năng lực của người nghe mà nói pháp thích hợp, khiến mỗi người đạt lợi ích khác nhau về giáo pháp, để hiển bày sự dung thông của giáo pháp. Còn Biệt ngũ thời tức là y theo thứ tự đem phương pháp giáo hóa chúng sinh của đức Phật chia làm 5 thời kì để nói rõ về thứ tự thuyết pháp. Ngoài ra, về số năm thuyết pháp của 5 thời có nhiều thuyết khác nhau, vả lại 5 thời này có nên theo thời gian mà phân chia, hoặc theo lí luận mà phân loại hay không, thì từ xưa đến nay đã thành vấn đề tranh luận. II. Bát Giáo. Gồm 4 giáo hóa nghi, tức là 4 hình thức và nghi tắc được đức Phật sử dụng để giáo hóa chúng sinh cùng 4 giáo hóa pháp, tức là nội dung giáo pháp mà đức Phật dùng để giáo hóa chúng sinh. A. Bốn Giáo Hóa Nghi. 1. Đốn giáo: Đầu tiên, đức Phật trực tiếp dùng phương pháp tự nội chứng để chỉ dạy chúng sinh, tương đương với thời kinh Hoa nghiêm đã nói. 2. Tiệm giáo: Nội dung của việc giáo hóa là dùng những giáo pháp từ cạn dần dần (tiệm) đến sâu, tương đương với 3 thời: A hàm, Phương đẳng, Bát nhã. 3. Bí mật giáo: Đức Phật ứng theo căn cơ, năng lực, bản chất bất đồng của chúng sinh mà truyền dạy các giáo pháp khác nhau, khiến cho người kia người này không biết lẫn nhau. 4. Bất định giáo: Chúng sinh tuy cùng tham dự 1 pháp hội nhưng tùy theo năng lực, trình độ của mỗi người mà hiểu giáo pháp khác nhau. Trong đó, điểm giống nhau giữa Bí mật giáo và Bất định giáo là Đồng thính dị văn, tức là cùng ngồi nghe pháp trong 1 hội mà pháp được nghe đều khác nhau, nhưng Bí mật giáo thì mọi người đều không biết nhau về sự sai biệt của lợi ích, đó là nhân pháp đều không biết; còn Bất định giáo thì mọi người biết rõ nhau về sự sai biệt của lợi ích, đó là nhân biết, pháp không biết. Bất định giáo nghĩa là giáo pháp mà mọi người thể ngộ không nhất định, vì thế, nói một cách chặt chẽ, thì Bí mật giáo nói trên lẽ ra phải được gọi là Bí mật bất định giáo, mà Bất định giáo thì phải được gọi là Hiển lộ bất định giáo. Còn Đốn giáo và Tiệm giáo là những giáo công khai nên gọi đó Hiển lộ định giáo. B. Bốn Giáo Hóa Pháp. 1. Tam tạng giáo, gọi tắt: Tạng giáo. Giáo pháp Tiểu thừa. Tức nói kinh A hàm của hàng Tam thừa để nêu tỏ lí Đãn không, đồng thời từ Tích không quán (Chuyết độ quán) mà vào lí Niết bàn vô dư. Bồ tát của Tam tạng giáo này đã chế phục được Kiến hoặc và Tư hoặc, nhưng chưa dứt hết phiền não, vì giáo hóa chúng sinh, phải trải qua khoảng thời gian dài 2 A tăng kì kiếp thực hành nhân hạnh đi đến chứng ngộ, cho nên gọi là Phục hoặc hành nhân (tu nhân chế phục phiền não). 2. Thông giáo: Vì giáo này là giáo môn đầu tiên của Đại thừa chung cho Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nên gọi là Thông giáo. Tức là giáo từ lí như huyễn tức không mà quán thể không quán(cũng gọi Xảo độ quán). Người độn căn trong hàng Bồ tát của giáo này, chỉ có thể hiểu được giáo lí tương đối nông cạn, cùng với Bồ tát của Tạng giáo cùng chứng quả Bồ đề. Bồ tát thắng căn thì có thể lãnh ngộ được lí trung đạo sâu kín mầu nhiệm, cuối cùng vào được 2 giáo Biệt và Viên. Cứ như thế từ Thông giáo tiến dần đến Biệt giáo, gọi là Biệt tiếp Thông (hoặc Biệt nhập Thông); từ Thông giáo tiến dần đến Viên giáo, gọi là Viên tiếp Thông (hoặc Viên nhập Thông). Đồng thời, Bồ tát Thông giáo vì học tập giáo pháp của Biệt giáo mà dùng danh mục tu hành của Biệt giáo để biểu thị giai vị của Thông giáo thì gọi là Danh Biệt nghĩa Thông (tên thuộc Biệt giáo, nghĩa thuộc Thông giáo). 3. Biệt giáo: Biệt có 2 nghĩa là không chung và cách biệt. Tức là không chung cho 2 thừa mà chỉ nói riêng cho Bồ tát, lại từ phương diện sai biệt (cách biệt) mà quán xét các pháp, vì thế gọi Biệt giáo. Giáo này lần lượt quán 3 đế Không, Giả, Trung để ngộ lí Trung đạo, nhưng vì Trung đạo này khác với Không, Giả nên gọi là lí Đãn trung (nghĩa là ngoài quán Không, Giả ra còn có cái Trung độc lập). Pháp quán này gọi là Thứ đệ tam quán, hoặc gọi là Cách lịch tam quán. Bồ tát Biệt giáo đến Sơ địa ngộ lí Trung đạo thì đồng với Bồ tát Viên giáo, nhưng dưới Sơ địa thì từ lí Đãn trung thể ngộ lí Bất đãn trung (Không, Giả chẳng lìa Trung) bao hàm trong đó; tức là từ khoảng Thập trụ đến Thập hồi hướng, có người từ Biệt giáo tiến dần đến Viên giáo, đây gọi là Viên tiếp Biệt (hoặc gọi là Viên nhập Biệt). Biệt tiếp Thông, Viên tiếp Thông và Viên tiếp Biệt được gọi chung là Tam bị tiếp. Bị tiếp có nghĩa là trong khi quán xét thực lí, thể ngộ được ý sâu xa trong ấy, từ đó lại tiếp tục tiến dần lên giáo pháp cao hơn nữa. Ba giáo nói trên, về phương diện lí luận, đều có thể thông đến Phật quả, nhưng trong thực tế, hành giả ngay khi ở trong nhân đã Bị tiếp đến nỗi không ai có thể đạt đến giai vị đoạn hoặc của Tam tạng giáo, giai vị Bồ tát Bát địa trở lên cho đến giai vị Bồ tát Sơ địa trở lên của Biệt giáo, cho nên gọi là Hữu giáo vô nhân (có giáo pháp mà không có người thực chứng) hoặc gọi là Quả đầu vô nhân. 4. Viên giáo: Viên nghĩa là không thiên lệch, tròn đủ dung hợp lẫn nhau. Tức bất luận mê hay ngộ, về mặt bản thể đều không phân biệt. Đó là chân lí mà Phật đã giác ngộ, cho nên Viên giáo chỉ rõ sở ngộ của Phật, tức là nêu bày giáo pháp tự nội chứng của Ngài. Viên giáo quán 3 đế Không, Giả, Trung, trong 1 đế bao gồm 2 đế kia, vì thế, lí Trung đạo này gọi là lí Bất đãn trung. Bồ tát Viên giáo dùng 1 tâm mà quán 3 quán Không, Giả, Trung, cho nên 3 quán này gọi là Nhất tâm tam quán, hoặc gọi là Bất thứ đệ tam quán, Viên dung tam quán. Trong 4 giáo trình bày ở trên, Tạng giáo và Thông giáo là Giáo chứng câu quyền (giáo pháp và chứng ngộ đều là phương tiện chứ không phải chân thực); Biệt giáo là Giáo quyền chứng thực (giáo pháp là phương tiện mà chứng ngộ là chân thực); còn Viên giáo là Giáo chứng câu thực (giáo pháp và chứng ngộ đều là chân thực). Nếu đem 4 giáo này phối hợp với 5 thời thì thời Hoa nghiêm thứ 1 chính thức nói Viên giáo kèm theo Biệt giáo (Kiêm), thời Lộc uyển thứ 2 chỉ nói Tam tạng giáo (Đãn), thời Phương đẳng thứ 3 thì nói 4 giáo đối ứng với căn cơ (Đối), thời Bát nhã thứ 4 thì chính thức nói Viên giáo kèm thêm 2 giáo Thông, Biệt (Đới); trong thời Pháp hoa Niết bàn thứ 5 thì Pháp hoa là thuần viên, truy thuyết kinh Niết bàn là đồng thời nói 4 giáo, truy mẫn thì là thuần Viên giáo. Đồng thời, Viên của Pháp hoa và Viên của 4 thời trước tuy là cùng 1 giáo nghĩa, nhưng luận về tác dụng thì có sự hơn, kém khác nhau; nghĩa là Viên của kinh Pháp hoa là thuần viên độc diệu, có tác dụng siêu việt cái Viên của 4 thời trước. Do đó, kinh Pháp hoa là giáo pháp tối thắng vượt ngoài 4 giáo, hơn 8 đề hồ, cũng tức là vượt ngoài 8 giáo hóa nghi, hóa pháp mà trở thành giáo pháp Đề hồ tối thượng diệu vị. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.1, 10; Tứ giáo nghĩa Q.6; Pháp hoa kinh văn cú Q.6, phần cuối; Duy ma kinh huyền sớ Q.6; Ma ha chỉ quán Q.5, phần cuối; Thiên thai bát giáo đại ý; Học Thiên thai tông pháp môn đại ý; Thiên thai tứ giáo nghi; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.thượng; Thiên thai tứ giáo nghi tập giải Q.thượng; Thiên thai tứ giáo nghi bị thích Q.thượng]. (xt. Tam Chiếu, Ngũ Vị).

ngũ thù thắng căn

xem năm căn lành.

Ngũ thú

五趣; C: wǔqù; J: goshu; S: gati-pañcaka.|Năm cõi loài hữu tình sinh đến sau khi chết: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Người, Trời. Cũng được gọi là Ngũ đạo (五道).

ngũ thú

(五趣) Phạm: Paĩca gataya. Pàli: Paĩca gatiyo. Cũng gọi Ngũ đạo, Ngũ ác thú, Ngũ hữu. Năm cõi mà các loài hữu tình, tùy theo nghiệp đã tạo, sẽ sinh đến sau khi chết. Đó là: 1. Địa ngục (Phạm: Naraka), Hán âm: Na lạc ca. 2. Quỉ (Phạm: Preta), Hán âm: Bệ lệ đa, cũng gọi Ngã quỉ. 3. Bàng sinh (Phạm: Tiryaĩc), Hán âm: Để lật xa, cũng gọi Súc sinh. 4. Nhân (Phạm: Manuwya), Hán âm: Ma nâu ti, cũng gọi Nhân gian. 5. Thiên (Phạm: Deva), Hán âm: Đề bà, cũng gọi Thiên thượng. Luận Đại tì bà sa quyển 172, căn cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, cho rằng Thú có nghĩa là nơi đến, là chỗ kết sinh của các loài hữu tình, do quả dị thục chiêu cảm nghiệp thiện, ác của đời quá khứ. Thuyết nhất thiết hữu bộ cũng chủ trương Thú không thông với 2 tính thiện và tính nhiễm, nếu thông thì nghiệp phiền não của địa ngục thú có thể trở thành trời Tha hóa tự tại và trời Tha hóa tự tại cũng có thể trở thành nghiệp phiền não của địa ngục thú. Nếu như vậy thì sự kết sinh trong các thú sẽ hỗn loạn, cho nên Thuyết nhất thiết hữu bộ chỉ lấy tính vô phú vô kí của dị thục sinh làm thể của Thú. Nhưng Đại chúng bộ thì cho rằng thể của Thú thông suốt cả 3 tính thiện, nhiễm và vô kí, đồng thời lập thuyết thành tựu và hiện hành khác nhau. Tức là địa ngục thú có thể thành tựu và hiện hành nghiệp phiền não của địa ngục thú, còn đối với nghiệp phiền não của trời Tha hóa tự tại thì chỉ có thể thành tựu chứ không thể khởi hiện hành. Căn cứ theo đó thì trời Tha hóa tự tại có thể thành tựu và hiện hành nghiệp phiền não ở cõi trời Tha hóa tự tại, nhưng nghiệp phiền não này ở địa ngục thú thì chỉ thành tựu chứ không khởi hiện hành, có như thế thì các thú mới không bị hỗn loạn.Trong Ngũ thú thì có 3 cõi địa ngục, ngã quỉ, súc sinh là thuần ác, còn 2 cõi trời, người thì thiện ác lẫn lộn. Vì tất cả ngũ thú đều thuộc về hữu lậu, trái với cõi Tịnh độ vô lậu, nên gọi chung là ác thú. Ngoài ra, vì lấy nghĩa nhân quả không mất đi, nên gọi là Ngũ hữu. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.18; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.8; luận Đại tì bà sa Q.69; luận Đại trí độ Q.10, 30; luận Du già sư địa Q.4].

ngũ thú sinh tử luân

(五趣生死輪) Phạm: Bhava-cakra. Cũng gọi Ngũ đạo luân, Sinh tử luân, Thập nhị duyên khởi đồ. Bức tranh vẽ hình vòng tròn luân hồi sinh tử của chúng sinh trong 5 cõi. Bức tranh này trước hết vẽ 1 bánh xe có 5 tay hoa xe chia làm 6 ô, phía dưới là Địa ngục, 2 bên là Bàng sinh và Ngã quỉ, bên trên là 2 cõi người và trời. Trong cõi người chia làm 4 châu. Phần trục xe ở giữa bánh xe làm 1 hình tròn màu trắng, vẽ 1 tượng Phật, trước tượng Phật có hình chim bồ câu biểu thị tham nhiễm, rắn biểu thị giận dữ, lợn biểu thị ngu si. Vành bánh xe vẽ 12 hình tượng trưng 12 nhân duyên: Hình La sát (vô minh), hình Ngõa luân (hành), hình con vượn (thức), hình người ngồi thuyền(danh sắc), hình nam nữ vuốt ve nhau (xúc), hình nam nữ chịu khổ vui (thụ), hình người nữ ôm người nam (ái), hình người đàn ông cầm bình lấy nước (thủ), hình trời Đại phạm (hữu), hình người đàn bà có thai (sinh), hình nam nữ già yếu (lão), hình nam nữ mang bệnh (bệnh), hình cỗ xe chở người chết (tử), hình nam nữ lo sầu (ưu), hình nam nữ khóc lóc (bi), hình nam nữ chịu khổ (khổ) và hình nam nữ lôi kéo con lạc đà khó điều phục (não). Phía trên bánh xe còn vẽ hình 1 con quỉ vô thường rất lớn, 2 tay ôm lấy bánh xe sinh tử, 2 bên đầu của quỉ lớn có viết 2 bài kệ. Phần trên của quỉ vô thường vẽ hình cái đàn tròn màu trắng, tượng trưng cho tướng Niết bàn viên tịnh. Bức tranh vẽ bánh xe sinh tử luân hồi trong 5 cõi này đã lưu truyền từ lâu. Trong hang điện thứ 17 của quần thể hang động Ajanta tại Ấn độ vẫncòn 1 bức vẽ Ngũ thú sinh tử luân rất xưa. Ngoài ra, bức tranh do Tây tạng truyền thì vẽ A tu la làm 1 cõi riêng mà lập thành Lục thú sinh tử luân. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Hữu bộ tì nại da Q.34; Hữu bộ tì nại da tạp sự Q.17; Pháp uyển châu lâm Q.23; Thích thị yếu lãm Q.hạ].

ngũ thường ngũ giới

(五常五戒) Năm thường năm giới. Tức là 5 thường của đạo Nho: Nhân, nghĩa, lễ, trí và tín được phối hợp với 5 giới của đạo Phật: Không giết hại, không trộm cướp, không gian dâm, không nói dối và không uống rượu. (xt. Hiếu).

ngũ thượng phần kết

(五上分結) Phạm: Paĩcaùrdhvabhàgìyasaôyojanàni. Gọi đủ: Ngũ thuận thượng phần kết. Gọi tắt: Ngũ thượng kết, Ngũ thượng. Năm thứ phiền não (kết = thắt, buộc) trói buộc chúng sinh ở 2 cõi Sắc và Vô sắc thuộc thượng phần giới, làm cho không ra khỏi được 2 cõi này. Đó là: 1. Sắc tham: Phiền não tham đắm 5 món dục lạc của cõi Sắc. 2. Vô sắc tham: Phiền não tham đắm cảnh giới thiền định của cõi Vô sắc. 3. Điệu cử: Chúng sinh trong 2 cõi trên do tâm niệm loạn động mà lui mất thiền định.4. Mạn: Chúng sinh trong 2 cõi trên do tâm kiêu mạn mà cậy mình, lấn lướt người khác.5. Vô minh: Phiền não do tham đắm thiền định mà không rõ biết chân tính. Năm phiền não (kết) này lấy 8 việc ở cõi trên do Tu đạo đoạn trừ trong thân bậc Thánh làm tự tính, nghĩa là Sắc tham, tức ái của cõi Sắc do Tu đạo đoạn trừ (1 việc); Vô sắc tham, tức là ái của cõi Vô sắc do Tu đạo đoạn trừ (1 việc); Điệu cử tức là Điệu cử của 2 cõi trên đều do Tu đạo đoạn trừ (2 việc); Mạn tức là Mạn của 2 cõi trên đều doTu đạo đoạn trừ (2 việc); Vô minh tức là Vô minh của 2 cõi trên đều do Tu đạo đoạn trừ (2 việc). Ngũ thượng phần kết này chỉ giới hạn ở Tu đạo đoạn chứ không chung cho Kiến đạo đoạn, vì những phiền não(kết hoặc)do Kiến đạo đoạn thường làm cho con người sa đọa, cho nên không được lập làm Thượng phần kết. [X. kinh Chúng tập trong Trường a hàm Q.8; luận Câu xá Q.21; luận Đại tì bà sa Q.49; luận A tì đạt ma phát trí Q.3; luận Thành thực Q.10]. (xt. Ngũ Hạ Phần Kết).

ngũ thải phan

(五彩幡) Cờ phan 5 màu. Trên lá phan có thể viết văn kinh hoặc những phù hiệu hay hình vẽ tượng trưng cho giáo pháp, nhưng không được vẽ tượng Phật và Bồ tát. Bởi vì cờ phan vốn được dùng để cúng dường Phật, Bồ tát, không lẽ trên vật cúng dường lại vẽ hình tượng của các bậc được cúng dường? [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên Q.19].

ngũ thất tam bất dịch

(五失三不易) Gọi đủ: Ngũ thất bản tam bất dị. Năm điều sai lầm(mất ý gốc), 3 điều không dễ (khó khăn). Đây nói về việc phiên dịch kinh chữ Phạm ra chữ Hán có những điểm khó khăn. (xt. Dịch Kinh).

Ngũ Thần Bát Giáo

(五辰八敎): hay Ngũ Thời Bát Giáo (五時八敎), tức là chủ trương của Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) về giáo phán của Thiên Thai Tông, lấy nội dung của các kinh điển Phật Giáo, rồi phân loại, giải thích; theo thứ tự thời gian thuyết pháp của đức thích tôn mà phân thành 5 thời là Hoa Nghiêm (華嚴), Lộc Uyển (鹿苑), Phương Đẳng (方等), Bát Nhã (般若), Pháp Hoa (法華), Niết Bàn (涅槃); rồi căn cứ vào hình thức, phương tiện hóa độ chúng sanh mà phân thành Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎) là Đốn (頓), Tiệm (漸), Bí Mật (秘密), Bất Định (不定); và nương theo nội dung giáo lý để hóa đạo thích ứng với căn cơ chúng sanh mà phân thành Hóa Pháp Tứ Giáo (化法四敎) là Tạng (藏), Thông (通), Biệt (別), Viên (圓). Đây được gọi là Ngũ Thời Bát Giáo. Về Ngũ Thời: (1) Thời Hoa Nghiêm, chỉ thời kỳ đầu tiên trong vòng 37 ngày sau khi thành đạo, đức Phật thuyết Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經), như lúc mặt trời chiếu trên núi cao. Nội dung thuyết pháp đương thời là Viên Giáo, Biệt Giáo. Đối tượng thuyết pháp là chúng Đại Bồ Tát của Biệt Giáo cũng như các phần tử ưu tú trong Viên Giáo. Nếu nói theo ý nghĩa đức Phật thuyết pháp, nhờ trí tuệ nội chứng, Ngài nghĩ ra cách thí nghiệm xem thử giáo pháp có thích hợp với căn cơ chúng sanh hay không; nên thời này được gọi là Nghĩ Nghi Thời (擬宜時, thời tìm ra phương pháp thích nghi); tương đương với vị sữa được lấy từ trong con bò ra. Hoa Nghiêm Kinh có 2 phần: trước và sau. Phần trước là thuyết pháp trong 37 ngày, không bao hàm Thanh Văn (聲聞); phần sau như Phẩm Nhập Pháp Giới (入法界品), có các Đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Trình độ thuyết pháp của thời này rất cao, hàng Thanh Văn như câm như điếc, chưa thể lãnh hội trọn vẹn giáo thuyết. (2) Thời Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑), chỉ khoảng thời gian 12 năm sau khi đức Phật tuyên thuyết Hoa Nghiêm Kinh; là thời kỳ tại 16 nước lớn, Ngài thuyết 4 bộ A Hàm (阿含) của Phật Giáo Nguyên Thủy, gồm Trường A Hàm Kinh (長阿含經, hay Trường Bộ [p: Dīghanikāya, 長部]), Trung A Hàm Kinh (中阿含經, hay Trung Bộ [p: Majjhimanikāya, 中部]), Tạp A Hàm Kinh (雜阿含經, hay Tương Ưng Bộ [p: Saṁyuttanikāya, 相應部]), Tăng Nhất A Hàm Kinh (增一阿含經, hay Tăng Chi Bộ [p: Aṅguttaranikāya, 增支部]); giống như thời kỳ mặt trời chiếu soi hang đá. Nhân vì lần đầu tiên Ngài thuyết pháp tại Lộc Dã Uyển (鹿野苑), nên có tên gọi như vậy. Bên cạnh đó, do vì kinh điển được thuyết vào thời kỳ này là A Hàm nên được gọi là Thời A Hàm. Trình độ giáo pháp thời kỳ này rất thấp, chỉ là giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, được ví như vị cạo sữa. (3) Thời Phương Tiện, chỉ khoảng thời gian sau thời Lộc Uyển, thuyết các kinh điển Đại Thừa như Duy Ma (s: Vimalakīrti-nideśa, 維摩), Thắng Man (s: Śrīmālā-siṁha-nāda-sūtra, 勝鬘), v.v., như lúc mặt trời chiếu xuống bình địa. Giáo pháp thời này cũng có Tạng, Thông, Biệt Viên; được ví cho vị của ván sữa sống. Phương tiện là thông xưng của kinh điển đại thừa và thời kỳ này bắt đầu tuyên thuyết kinh điển ấy, nên có tên gọi là Thời Phương Tiện. (4) Thời Bát Nhã, chỉ trong vòng 22 năm sau Thời Phương Tiện, là thời kỳ thuyết các kinh điển thuộc hệ Bát Nhã, cho nên theo tên kinh mà có tên gọi như vậy. Thời kỳ này giống như mặt trời chiếu từng khu vực. Giáo pháp thời này thuộc về Tam Giáo Thông, Biệt và Viên; phá trừ những thiên chấp về Đại Thừa, Tiểu Thừa; thuyết rõ các pháp đều là Không, dung hợp cả đại lẫn tiểu thành một vị; được ví như vị của ván sữa chín. Thời kỳ này đức Phật vì nhóm Tu Bồ Đề (s, p: Subhūti, 須菩提) thuyết Bát Nhã, khiến cho họ ngưỡng mộ Đại Thừa. (5) Thời Pháp Hoa Niết Bàn, chỉ thời kỳ năng lực của người thọ giáo tiến đến cảnh giới tối cao, chứng nhập tri kiến của Phật, khoảng trong vòng 8 năm cuối trước khi đức Phật nhập Niết Bàn; trong thời gian ấy Ngài thuyết Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經) và Đại Bát Niết Bàn Kinh (s: Mahāparinirvāṇasūtra, 大般涅槃經) trước khi nhập diệt một ngày một đêm. Thời kỳ này giống như mặt trời chiếu đúng ngọ. Giáo pháp thời kỳ này thuần túy Viên Giáo viên mãn, được ví như vị của Đề Hồ. Về Bát Giáo, như có đề cập bên trên, gồm Hóa Nghi Tứ Giáo (化儀四敎, tức 4 hình thức và nghi tắc được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh) và Hóa Pháp Tứ Giáo (化法四敎, tức 4 nội dung giáo pháp được đức Phật dùng để giáo hóa chúng sanh). Hóa Nghi Tứ Giáo có: (1) Đốn Giáo (頓敎), ban đầu đức Phật lấy phương pháp tự nội chứng trực tiếp giáo hóa chúng sanh; tương đương với giáo thuyết của Hoa Nghiêm Kinh. (2) Tiệm Giáo (漸敎), là giáo pháp có nội dung giáo hóa từ cạn tiến dần đến sâu; tương đương với ba thời thuyết giáo của A Hàm, Phương Đẳng và Bát Nhã. (3) Bí Mật Giáo (秘密敎), đức Phật tùy theo căn cơ, trình độ, năng lực bất đồng của mỗi chúng sanh mà thuyết giáo, khiến cho kia đây không biết nhau. (4) Bất Định Giáo (不定敎), tức giáo pháp không nhất định, tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà thể ngộ chân lý khác nhau. Trong đó, Bí Mật Giáo và Bất Định Giáo có điểm cọng thông là “Đồng Thính Dị Văn (同聽異聞, cùng nghe mà hiểu khác)”; có nghĩa là cùng ngồi trong một pháp hội nghe pháp mà mỗi người nghe hiểu mỗi khác, không ai giống ai. Hóa Pháp Tứ Giáo có: (1) Tam Tạng Giáo (三藏敎), gọi tắt là Tạng Giáo (藏敎), tức Tiểu Thừa Giáo (小乘敎). (2) Thông Giáo (通敎), Thông có 3 nghĩa là thông đồng, thông nhập và cọng thông; tức giáo nghĩa Đại Thừa cọng thông cả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát. (3) Biệt Giáo (別敎), nghĩa là không cọng Hai Thừa mà chỉ vì Bồ Tát thuyết pháp, hoặc do sai biệt mà quán sát các pháp. (4) Viên Giáo (圓敎), nghĩa là giáo lý viên dung, không thiên chấp, là lý chân thật, hay lý giác ngộ của đức Phật. Như trong Thiên Thai Tứ Giáo Nghi (天台四敎儀, Taishō No. 1931) có giải thích rằng: “Thiên Thai Trí Giả Đại Sư, dĩ Ngũ Thời Bát Giáo, phán thích Đông lưu nhất đại Thánh Giáo, khánh vô bất tận (天台智者大師、以五時八敎、判釋東流一代聖敎、罄無不盡, Thiên Thai Trí Giả Đại Sư lấy Ngũ Thời Bát Giáo để giải thích Thánh Giáo một đời được truyền sang phương Đông, đến rốt cùng tận).” Hay như trong Bổ Tục Cao Tăng Truyện (補續高僧傳, CBETA No. 1524) quyển 25, phần Nam Châu Phổ Hiệp Pháp Sư Truyện (南洲溥洽法師傳) cũng có câu: “Hồng Võ Tân Hợi, xuất thế trú Cô Sơn Mã Não Giảng Tự, hựu trú Tô Châu Bắc Thiền, học đồ vân tập, sư vi khai diễn Ngũ Thời Bát Giáo, Như Lai nhất đại thí hóa chi nghi, vô trí ngu cao hạ, nhân nhân mãn sở dục nhi thối (洪武辛亥、出世住孤山瑪瑙講寺、又住蘇州北禪、學徒雲集、師爲開演五時八敎、如來一代施化之儀、無智愚高下、人人滿所欲而退, vào năm Tân Hợi [1371], niên hiệu Hồng Võ, Phổ Hiệp Pháp Sư đến trú tại Mã Não Giảng Tự ở Cô Sơn, rồi chuyển đến trú tại Bắc Thiền ở Tô Châu, học đồ tập trung rất đông, sư vì họ mà diễn giảng Ngũ Thời Bát Giáo, là nghi tắc giáo hóa một đời của Như Lai; không phân biệt trí ngu, cao thấp, mọi người đều thỏa mãn sự ham muốn của mình và lui ra).”

Ngũ thần thông

五神通; C: wǔ shéntōng; J: goshintsū;|Năm năng lực thần thông của đức Phật: Có thể đi lại bất kì nơi nào tùy ý (Thần túc thông); Có thể thấy được suốt khắp (Thiên nhãn thông); Có thể nghe được mọi chuyện (Thiên nhĩ thông); Có thể thấu rõ ý nghĩ trong tâm người khác (Tha tâm thông); Có thể biết rõ những kiếp trước (Túc mệnh thông).

ngũ thập bát giới

(五十八戒) Năm mươi tám giới, tức là 10 giới nặng và 48 giới nhẹ nói trong kinh Phạm võng.

ngũ thập công đức

(五十功德) Chỉ cho công đức của người thứ 50 tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa. Cứ theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6, thì công đức tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa của người thứ 50 rộng lớn vô biên. (xt. Ngũ Thập Triển Chuyển Tùy Hỉ).

ngũ thập lục ức thất thiên vạn tuế

(五十六億七千萬歲) Năm mươi sáu ức bảy nghìn vạn năm, tức chỉ cho số năm từ khi đức Phật Thích ca nhập diệt đến khi bồ tát Di lặc ra đời. Hiện nay bồ tát Di lặc đang trụ ở Nội viện trên cung trời Đâu suất, khi hết tuổi thọ 4.000 năm ở cõi trời mới hạ sinh xuống nhân gian thành Phật. Nếu tính theo số năm ở nhân gian thì là 56 ức 7 nghìn vạn năm.[X. kinh Bồ tát xử thai Q.3; Chính tượng mạt pháp hòa tán].

ngũ thập ngũ thiện tri thức

(五十五善知識) Cũng gọi Ngũ thập ngũ thánh. Năm mươi lăm bậc thiện tri thức nói trong kinh Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Pháp giới, kinh Hoa nghiêm (bản 40 quyển), thì Đồng tử Thiện tài đi cầu pháp môn tâm yếu khắp nơi, đầu tiên tham vấn bồ tát Văn thù, rồi đi về phương Nam, lần lượt tham vấn 55 vị thiện tri thức. Nhưng ở hội cuối cùng của phẩm Nhập pháp giới thì cho rằng vị thứ nhất là bồ tát Văn thù và vị thứ 53 là bồ tát Di lặc đều là Văn thù; rồi lại vị thứ 51 là Đồng tử Đức sinh và vị kế đó là Đồng nữ Hữu đức thì cùng vấn đáp trong 1 hội, bởi vậy, không tính bồ tát Văn thù và Đồng nữ Hữu đức, còn lại 53 vị, gọi là Ngũ thập tam thiện tri thức, hoặc Ngũ thập tam tham. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) thì liệt kê 46 vị, thiếu 9 vị từ vị thứ 43 là Đồng nữ Thiên chủ quang trở xuống. Ngoài ra, Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 căn cứ vào thứ tự nhân quả tu chứng của 53 vị thiện tri thức mà phối hợp với 5 tướng, gọi là Ngũ tướng tri thức. Trong đó, 41 vị đầu là nói rõ về tướng kí vị tu hành, 11 vị trong 9 hội từ Ma da phu nhân trở xuống nói rõ về tướng Hội duyên nhập thực, bồ tát Di lặc nói rõ về tướng Nhiếp đức thành nhân, bồ tát Văn thù thì nói rõ về tướng Trí chiếu bất nhị, còn bồ tát Phổ hiền thì nói rõ về tướng Hiển nhân quảng đại. Năm tướng này cũng tức là 5 hành tướng: Cao hạnh, đại hạnh, thắng hạnh, thâm hạnh và quảng hạnh của Bồ tát. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh Hành nguyện phẩm sớ Q.3; Đại minh tam tạng pháp số Q.49]. (xt. Ngũ Thập Tam Tham, Thiện Tài Đồng Tử).

ngũ thập nhất tâm sở

(五十一心所) Năm mươi mốt tâm sở do tông Duy thức Đại thừa thành lập, được qui vào 6 nhóm: - Biến hành có 5: Xúc, tác ý, thụ, tưởng, tư. - Biệt cảnh có 5: Dục, thắng giải, niệm, định, tuệ. - Thiện gồm có 11: Tín, tinh tiến, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại. - Phiền não gốc có 6: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. - Tùy phiền não có 20: Phẫn, hận, não, phú, cuống, siểm, kiêu, hại, tật,khan, vô tàm, vô quí, bất tín, giải đãi, phóng dật, hôn trầm, điệu cử, thất niệm, bất chính tri, tán loạn.- Bất định gồm có 4: Hối, miên, tầm, tứ. (xt. Lục Vị Tâm Sở).

ngũ thập nhị chúng

(五十二衆) Chỉ cho 52 loài chúng sinh trên hội Niết bàn. Khi đức Phật nhập diệt, Ngài phóng ánh sáng, các loài chúng sinh thấy hào quang, liền từ khắp nơi về dự hội Niết bàn. Theo Niết bàn kinh sớ khoa kinh văn của ngài Chương an thì có tất cả 52 chúng là: 1. Vô lượng chư đại tỉ khưu. 2. Sáu mươi ức tỉ khưu ni. 3. Thập địa bồ tát tỉ khưu. 4. Một hằng sa Bồ tát. 5. Hai hằng sa Ưu bà tắc. 6. Ba hằng sa Ưu bà di. 7. Bốn hằng sa các Li xa. 8. Năm hằng sa đại thần trưởng giả. 9. Sáu hằng sa Tì sa li vương và phu nhân cùng với cung phi thể nữ và các vua trong cõi Diêm phù đề. 10. Bảy hằng sa phu nhân của các vua. 11. Tám hằng sa các thiên nữ. 12. Chín hằng sa các long vương. 13. Mười hằng sa các quỉ thần vương. 14. Hai mươi hằng sa Kim sí điểu vương. 15. Ba mươi hằng sa Càn thát bà vương. 16. Bốn mươi hằng sa Khẩn na la vương. 17. Năm mươi hằng sa Ma hầu la già vương. 18. Sáu mươi hằng sa A tu la vương. 19. Bảy mươi hằng sa Đà na bà vương. 20. Tám mươi hằng sa La sát vương. 21. Chín mươi hằng sa thụ lâm thần vương. 22. Một nghìn hằng sa Trì chú vương. 23. Một ức hằng sa quỉ mị tham sắc. 24. Trăm ức hằng sa thể nữ ở các cõi trời.25. Nghìn ức hằng sa quỉ vương trên mặt đất.26. Mười vạn ức hằng sa các thiên tử. 27. Mười vạn ức hằng sa phong thần ở 4 phương. 28. Mười vạn ức hằng sa thần chủ về mây mưa sấm sét. 29. Hai mươi hằng sa vua đại hương tượng. 30. Hai mươi hằng sa vua thú sư tử. 31. Hai mươi hằng sa vua các loài chim. 32. Hai mươi hằng sa trâu dê. 33. Hai mươi hằng sa các thần tiên trong 4 thiên hạ. 34. Tất cả ong chúa trong Diêm phù đề. 35. Tất cả tỉ khưu, tỉ khưu ni trong Diêm phù đề. 36. Chúng người, trời trong vô lượng thế giới.37. Hết thảy thần núi trong Diêm phù đề. 38. Bốn vị thần biển cả và các thần sông. 39. Trời Tứ thiên vương. 40. Thích đề hoàn nhân và chư thiên cõi trời Ba mươi ba. 41. Chư thiên cõi trời Dạ ma. 42. Chư thiên cõi trời Đâu suất. 43. Chư thiên cõi trời Lạc biến hóa. 44. Chư thiên ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục.45. Vua Đại phạm thiên cùng với các Phạm chúng. 46. Các A tu la. 47. Thiên ma ba tuần ở cõi Dục. 48. Trời Đại tự tại. 49. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương đông. 50. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương nam. 51. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương tây. 52. Bồ tát Vô biên thân ở thế giới Phật phương bắc. [X. Niết bàn kinh hội sớ Q.1; Tịch chiếu đường cốc hưởng tục tập Q.10].

ngũ thập nhị chúng (năm mươi hai chúng) hay ngũ thập nhị hội chúng

thuật ngữ xuất phát từ kinh Đại Bát Niết-bàn này được dùng để chỉ tất cả các loài chúng sanh thuộc mọi tầng lớp, chủng loại khác nhau khắp trong vũ trụ, vì phần đầu kinh này khi mô tả về các loài chúng sanh kéo về tụ hội nơi Phật nhập Niết-bàn đã diễn tả đủ tất cả là 52 hội chúng khác nhau, bắt đầu từ chư đại tỳ-kheo gần gũi bên Phật cho đến cuối cùng là chư đại Bồ Tát trong khắp mười phương thế giới.

ngũ thập nhị chủng cung vật

(五十二種供物) Chỉ cho 52 loại phẩm vật do 52 chúng dâng cúng dường đức Phật trên hội Niết bàn.

ngũ thập nhị hội chúng

xem ngũ thập nhị chúng

ngũ thập nhị số

(五十二數) Năm mươi hai đơn vị chỉ số lượng của Ấn độ. Theo luận Câu xá quyển 12, thì trong kinh Giải thoát nói 60 số, nhưng luận Câu xá chỉ liệt kê 52 số, còn 8 số đã mất nên không ghi. Năm mươi hai số ấy là: 1. Một (Phạm: Eka). 2. Mười (Phạm: Daza). 3. Trăm (Phạm: Zata). 4. Nghìn (Phạm: Sahasra). 5. Vạn (Phạm: Hrabheda, Bát la tiết đà). 6. Lạc xoa (Phạm: Lakwa). 7. Độ lạc sa (Phạm: Atilakwa, Át để lạc xoa).8. Câu chi (Phạm:Koỉi). 9. Mạt đà (Phạm: Madhya). 10. A dữu đa (Phạm: Ayuta). 11. Đại a dữu đa (Phạm: Mahà-ayuta). 12. Na dữu đa (Phạm: Nayuta). 13. Đại na dữu đa (Phạm: Mahànayuta). 14. Bát la dữu đa (Phạm:Prayuta). 15. Đại bát la dữu đa (Phạm: Mahàprayuta). 16. Căng yết la (Phạm: Kaíkara). 17. Đại căng yết la (Phạm: Mahàkaíkara). 18. Tần bạt la (Phạm: Bimbara). 19. Đại tần bạt la (Phạm: Mahàbimbara). 20. A sô bà (Phạm: Akwobhya). 21. Đại a sô bà (Phạm: Mahàakwobhya). 22. Tì bà ha (Phạm: Vivàha). 23. Đại tì bà ha (Phạm: Mahà-vivàha). 24. Ốt tỗn già (Phạm:Utsaíga). 25. Đại ốt tỗn già (Phạm: Mahàutsaíga). 26. Bà hát na (Phạm:Vàhana). 27. Đại bà hát na (Phạm: Mahàvàhana). 28. Địa trí bà (Phạm: Titibha). 29. Đại địa trí bà (Phạm: Mahà-titibha). 30. Hê đô (Phạm: Hetu). 31. Đại hê đô (Phạm: Mahà-hetu). 32. Yết lạp bà (Phạm: Karabha). 33. Đại yết lạp bà (Phạm: Mahàkarabha). 34. Ấn đạt la (Phạm: Indra). 35. Đại ấn đạt la (Phạm: Mahà-indra). 36. Tam ma bát đam (Phạm: Samàpta). 37. Đại tam ma bát đam (Phạm: Mahàsamàpta). 38. Yết để (Phạm:Gati). 39. Đại yết để (Phạm:Mahà-gati). 40. Niêm phiệt la xà (Phạm: Nimbarajas). 41. Đại niêm phiệt la xà (Phạm:Mahànimbarajas). 42. Mụ đạt la (Phạm:Mudrà). 43. Đại mụ đạt la (Phạm:Mahà-mudrà). 44. Bạt lam (Phạm:Vala). 45. Đại bạt lam (Phạm:Mahà-vala). 46. San nhã (Phạm:Saôjĩà). 47. Đại san nhã (Phạm:Mahà-saôjĩà). 48. Tì bộ đa (Phạm:Vibhùta). 49. Đại tì bộ đa (Phạm:Mahà-vibhùta). 50. Bạt la tài (Phạm:Balàkwa). 51. Đại bạt la tài(Mahà-balàkwa). 52. A tăng kì (Phạm: Asaíkya). Phần A tì đạt ma thuộc chương 249 trong Phiên dịch danh nghĩa đại tập (Phạm: Mahàvyutpatti) liệt kê thêm 8 số nữa là đủ 60 số như kinh Giải thoát đã ghi mà luận Câu xá quyển 12 đề cập ở trên: 53. Vô lượng (Phạm: Apramàịa). 54. Vô biên (Phạm: Aprameya). 55. Vô tăng (Phạm: Aparimita). 56. Xuất biên (Phạm: Aprimàịa). 57. Vô tỉ (Phạm: Atulya). 58. Bất khả tỉ (Phạm:Amàpya). 59. Bất khả tư nghị (Phạm: Acintya). 60. Bất khả thuyết (Phạm: Anabhilàpya). [X. luận Đại tì bà sa Q.177; luận Đại trí độ Q.4; luận Hiển dương thánh giáo Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Câu xá luận quang kí Q.12; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].

ngũ thập nhị vị

(五十二位) Năm mươi hai giai vị của Bồ tát Đại thừa. Tức là: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Về những giai vị này, các kinh luận nói không giống nhau, như kinh Hoa nghiêm chỉ nói 41 giai vị là: Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa và Phật địa; phẩm Bồ tát giáo hóa trong kinh Nhân vương quyển thượng thì nói 51 giai vị gồm: Thập thiện, Tam hiền tam thập tâm, Thập địa và Phật địa; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp thì nêu Thập tín và 42 giai vị Hiền thánh, gọi là Thập tín tâm, Thập tâm trụ, Thập hành tâm, Thập hồi hướng tâm, Thập địa tâm, Nhập pháp giới tâm, Tịch diệt tâm...; kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8 thì trước Thập tín nêu Can tuệ địa, sau Thập hồi hướng lại thêm 4 thiện căn: Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, cộng thành 57 giai vị. Trong các kinh trên đây, chỉ có kinh Anh lạc là nói về 52 giai vị danh nghĩa trọn vẹn, vị thứ đầy đủ, cho nên từ xưa đã được các tông phái Đại thừa sử dụng rất rộng rãi. Năm mươi hai giai vị đó là: 1. Thập tín tâm: Tín tâm, Niệm tâm, Tinh tiến tâm, Tuệ tâm, Định tâm, Bất thoái tâm, Hồi hướng tâm, Hộ pháp tâm, Giới tâm và Nguyện tâm. 2. Thập trụ tâm: Phát tâm trụ, Trị địa tâm trụ, Tu hành tâm trụ, Sinh quí tâm trụ, Phương tiện tâm trụ, Chính tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Đồng chân tâm trụ, Pháp vương tử tâm trụ và Quán đính tâm trụ. 3. Thập tâm hành: Hoan hỉ tâm hành, Nhiêu ích tâm hành, Vô sân hận tâm hành, Vô tận tâm hành, Li si loạn tâm hành, Thiện hiện tâm hành, Vô trước tâm hành, Tôn trọng tâm hành, Thiện pháp tâm hành và Chân thực tâm hành. 4. Thập hồi hướng tâm: Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li tướng hồi hướng tâm, Bất hoại hồi hướng tâm, Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng tâm, Chí nhất thiết xứ hồi hướng tâm, Vô tận công đức tạng hồi hướng tâm, Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng tâm, Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng tâm, Như tướng hồi hướng tâm, Vô phược giải thoát hồi hướng tâm và Pháp giới vô lượng hồi hướng tâm. 5. Thập địa tâm: Tứ vô lượng tâm, Thập thiện tâm, Minh quang tâm, Diệm tuệ tâm, Đại thắng tâm, Hiện tiền tâm, Vô sinh tâm, Bất tư nghị tâm, Tuệ quang tâm và Thụ vị tâm. Tâm ở địa thứ 51 gọi là Nhập pháp giới tâm, tức Đẳng giác. Tâm ở địa thứ 52 gọi là Tịch diệt tâm, tức Diệu giác. Trong đó, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác y theo thứ tự phối hợp với Tập chủng tính, Tính chủng tính, Đạo chủng tính, Thánh chủng tính, Đẳng giác tính và Diệu giác tính. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.7 (bản dịch đời Lương); Du già sư địa luận lược toản Q.12; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, phần cuối; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.5-14]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).

ngũ thập pháp

(五十法) Năm mươi pháp gồm trong 8 nhóm: Ba tam muội, 4 thiền định, 4 tâm vô lượng, 4 định cõi Vô sắc, 8 bối xả, 8 thắng xứ, 9 định thứ đệ và 10 nhất thiết xứ được nói trong kinh Đại phẩm Bát nhã. [X. luận Đại trí độ Q.21].

ngũ thập phần

(五十分) Năm mươi phần. Ngoại đạo Số luận chia Hoặc (phiền não) và Trí (trí tuệ) làm 4 phần: Nghi đảo (ngờ vực đảo điên), Vô năng (không có năng lực), Hoan hỉ (vui mừng) và Thành tựu. Trong đó, Nghi đảo, Vô năng và Hoan hỉ thuộc về Hoặc, còn Thành tựu thì thuộc về Trí. Bốn phần này lại được chia làm 5 nghi đảo, 28 vô năng, 9 hoan hỉ và 8 thành tựu, cộng chung thành 50 phần. [X. luận Kim thất thập Q.trung, hạ]. (xt. Tứ Phần).

ngũ thập tam phật

(五十三佛) I. Ngũ Thập Tam Phật. Năm mươi ba đức Phật. Tức là 53 đức Phật ở đời quá khứ từ Phật Định quang đến Phật Xử thế được ghi trong kinh Vô lượng thọ do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy. Đó là: 1. Phật Định quang. 2. Phật Quang viễn. 3. Phật Nguyệt quang. 4. Phật Chiên đàn quang. 5. Phật Thiện sơn vương. 6. Phật Tu di thiên quang. 7. Phật Tu di đẳng diệu. 8. Phật Nguyệt sắc. 9. Phật Chính niệm. 10. Phật Li cấu. 11. Phật Vô trước. 12. Phật Long thiên. 13. Phật Dạ quang. 14. Phật An minh đính. 15. Phật Bất động địa. 16. Phật Lưu li diệu hoa. 17. Phật Lưu li kim sắc. 18. Phật Kim tạng. 19. Phật Diệm quang. 20. Phật Diệm căn. 21. Phật Địa động. 22. Phật Nguyệt tượng. 23. Phật Nhật âm. 24. Phật Giải thoát hoa. 25. Phật Trang nghiêm quang minh. 26. Phật Giác hải thần thông. 27. Phật Thủy quang. 28. Phật Đại hương. 29. Phật Li trần cấu. 30. Phật Xả yếm ý. 31. Phật Bảo diệm. 32. Phật Diệu đính. 33. Phật Dũng lập. 34. Phật Công đức trì tuệ. 35. Phật Tế nhật nguyệt quang. 36. Phật Nhật nguyệt lưu li quang. 37. Phật Vô thượng lưu li quang. 38. Phật Tối thượng thủ. 39. Phật Bồ đề hoa. 40. Phật Nguyệt quang. 41. Phật Nhật minh. 42. Phật Hoa sắc vương. 43. Phật Thủy nguyệt quang. 44. Phật Trừ si minh. 45. Phật Độ cái hành. 46. Phật Tịnh tín. 47. Phật Thiện Tú (Túc). 48. Phật Uy thần. 49. Phật Pháp tuệ. 50. Phật Loan âm. 51. Phật Sư tử âm. 52. Phật Long âm. 53. Phật Xử thế. Theo kinh Vô lượng thọ quyển thượng, thì 53 đức Phật trên đây ra đời trước đức Phật trên đây ra đời trước đức Phật Thế tự tại vương(Thầy của bồ tát Pháp tạng, tiền thân của đức Phật A di đà). Tức đức Phật Định quang là Phật đầu tiên xuất hiện trong quá khứ, cuối cùng đến Phật Xửthế, rồi sau đó đức Phật Thế tự tại vương mới ra đời. Nhưng, theo các bản dịch kinh Vô lượng thọ đời Đường, Tống và bản dịch Tây tạng thì ngược lại, Phật Thế tự tại vương ra đời đầu tiên trong quá khứ, còn Phật Định quang thì xuất hiện sau cùng. II. Ngũ Thập Tam Phật. Chỉ cho 53 đức Phật mà 3.000 vị Phật trong 3 kiếp (Trang nghiêm, Hiền, Tinh tú) đã được nghe danh hiệu và trì niệm khi còn ở giai vị tu nhân. Đó là: 1. Phật Phổ quang. 2. Phật Phổ minh. 3. Phật Phổ tĩnh. 4. Phật Đa ma la bạt chiên đàn hương. 5. Phật Chiên đàn quang. 6. Phật ma ni chàng. 7. Phật Hoan hỉ tạng ma ni bảo tích. 8. Phật Nhất thiết thế gian nhạo kiến thượng đại tinh tiến. 9. Phật Ma ni chàng đăng quang. 10. Phật Tuệ cự chiếu. 11. Phật Hải đức quang minh. 12. Phật Kim cương lao cường phổ tán kim quang. 13. Phật Đại cường tinh tiến dũng mãnh. 14. Phật Đại bi quang. 15. Phật Từ lực vương. 16. Phật Từ tạng. 17. Phật Chiên đàn hốt trang nghiêm thắng. 18. Phật Hiền thiện thủ. 19. Phật Thiện ý. 20. Phật Quảng trang nghiêm vương. 21. Phật Kim hoa quang. 22. Phật Bảo cái chiếu không tự tại vương. 23. Phật Hư không bảo hoa quang. 24. Phật Lưu li trang nghiêm vương. 25. Phật Phổ hiện sắc thân quang. 26. Phật Bất động trí quang. 27. Phật Hàng phục chúng ma vương. 28. Phật Tài quang minh. 29. Phật Trí tuệ thắng. 30. Phật Di lặc tiên quang. 31. Phật Thế tịnh quang. 32. Phật Thiện tịch nguyệt âm diệu tôn trí vương. 33. Phật Long chủng thượng tôn vương. 34. Phật Nhật nguyệt quang. 35. Phật Nhật nguyệt châu quang. 36. Phật Tuệ chàng thắng vương. 37. Phật Sư tử hống tự tại lực vương. 38. Phật Diệu âm thắng. 39. Phật Thường quang chàng. 40. Phật Quán thế đăng. 41. Phật Tuệ uy đăng vương. 42. Phật Pháp thắng vương. 43. Phật Tu di quang. 44. Phật Tu mạn na hoa quang. 45. Phật Ưu đàm bát la hoa thù thắng vương. 46. Phật Đại tuệ lực vương. 47. Phật A súc tì hoan hỉ quang. 48. Phật Vô lượng âm thanh vương. 49. Phật Tài quang. 50. Phật Kim hải quang. 51. Phật Sơn hải tuệ tự tại thông vương. 52. Phật Đại thông quang. 53. Phật Nhất thiết pháp thường mãn vương. Theo Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi, thì khi còn ở địa vị tu nhân, 3 nghìn vị Phật trong 3 kiếp được nghe và trì niệm danh hiệu của 53 đức Phật liền vượt qua được các tội nghiệp sinh tử trong vô số ức kiếp. Trong đó, 1 nghìn vị đầu tiên đã thành Phật trong kiếp Trang nghiêm ở quá khứ; 1 nghìn vị kế tiếp lần lượt thành Phật trong kiếp Hiền ở hiện tại và 1 nghìn vị sau cùng sẽ thành Phật trong kiếp Tinh tú ở vị lai. Nếu chúng sinh muốn diệt trừ 4 tội nặng và sám hối tội 5 nghịch, 10 ác... thì nên siêng năng lễ kính danh hiệu của 53 vị Phật này. [X. kinh Quán Dược vương Dược thượng nhị bồ tát; kinh Quán Hư không tạng bồ tát].

ngũ thập tam tham

(五十三參) Cũng gọi Thiện tài đồng tử ngũ thập tam tham. Năm mươi ba lần tham vấn. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm, thì đồng tử Thiện tài đi khắp nơi để cầu nghĩa cốt yếu của pháp môn. Đầu tiên, Đồng tử đến tham vấn bồ tát Văn thù, được sự chỉ dạy của Bồ tát, Đồng tử bèn đi về phương Nam, trải qua 110 thành, tham vấn tất cả 53 vị thiện tri thức, vì thế gọi là Ngũ thập tam tham. Năm mươi ba vị thiện tri thức mà Đồng tử đến tham vấn là: 1. Tham vấn tỉ khưu Đức vân (Phạm: Maghazrì-bhikwu, cũng gọi tỉ khưu Công đức vân, tỉ khưu Cát tường vân) ở núi Diệu phong nước Thắng lạc, Đồng tử hỏi về việc học và tu hành đạo Bồ tát như thế nào để mau được thành tựu viên mãn, thì được chỉ dạy cho pháp môn Ức niệm nhất thiết chư Phật cảnh giới trí tuệ quang minh phổ kiến. 2. Tham vấn tỉ khưu Hải vân (Phạm: Sàgara-megha) ở nước Hải môn, được chỉ dạy pháp môn Chư Phật Bồ tát hành quang minh phổ nhãn. 3. Tham vấn tỉ khưu Thiện trụ (Phạm: Su-pratiwỉhita) ở làng Hải ngạn đảo Lăng già, được chỉ dạy pháp môn Phổ tốc tật cúng dường chư Phật thành tựu chúng sinh vô ngại giải thoát. 4. Tham vấn đại sĩ Di già (Phạm: Megha-dramiđa, cũng gọi lương y Di già) ở thành Tự tại nước Đạt lí tị đồ, được chỉ dạy pháp môn Diệu âm đà la ni quang minh. 5. Tham vấn trưởng giả Giải thoát (Phạm:Vimuktika-zrewđhin) ở thành Trụ lâm, được chỉ dạy pháp môn Như lai vô ngại trang nghiêm giải thoát. 6. Tham vấn tỉ khưu Hải chàng (Phạm: Sàgara-dhvaja) ở nước Lợi già la cõi Diêm phù đề, được chỉ dạy về pháp môn Bát nhã ba la mật tam muội quang minh. 7. Tham vấn ưu bà di Hưu xả (Phạm: Àsa) ở nước Phổ trang nghiêm xứ Hải triều, được chỉ dạy pháp môn Li ưu an ẩn chàng giải thoát. 8. Tham vấn tiên nhân Tì mục cù sa (Phạm: Bhìsmottaranirghowa, cũng gọi tiên nhân Tì mục đa la) ở nước Na la tố, được chỉ dạy pháp môn Bồ tát vô thắng chàng giải thoát. 9. Tham vấn Bà la môn Thắng nhiệt (Phạm: Jayowmàya, cũng gọi Bà la môn Phương tiện) ở làng Y sa na. Bà la môn này thường ngày tu các khổ hạnh, cầu nhất thiết trí. Đồng tử Thiện tài vâng theo lời dạy của Thắng nhiệt, leo lên núi dao, gieo mình vào đống lửa, thì chứng được Tam muội Bồ tát thiện trụ và Tam muội Bồ tát tịch tĩnh lạc thần thông. 10. Tham vấn đồng nữ Từ hạnh (Phạm:Maìtràyaịì, cũng gọi đồng nữ Di đa la ni) ở thành Sư tử phấn tấn, được chỉ dạy pháp môn Bát nhã ba la mật phổ trang nghiêm. 11. Tham vấn tỉ khưu Thiện kiến (Phạm:Su-darzana, cũng gọi tỉ khưu Thiện hiện) ở nước Tam nhãn, được chỉ dạy pháp môn Bồ tát tùy thuận đăng giải thoát. 12. Tham vấn đồng tử Tự tại chủ (Phạm:Indriyezvara, cũng gọi đồng tử Thích thiên chủ) ở nước Danh văn, được nói cho nghe về pháp môn Nhất thiết công xảo đại thần thông trí quang minh. 13. Tham vấn ưu bà di Cụ túc (Phạm: Prahùtà, cũng gọi ưu bà di Tự tại) ở thành Hải trụ, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô tận phúc đức tạng giải thoát. 14. Tham vấn cư sĩ Minh trí (Phạm: Vidvan, cũng gọi trưởng giả Cam lộ) ở thành Đại hưng, được cư sĩ nói cho nghe về pháp môn Tùy ý xuất sinh phúc đức tạng giải thoát. 15. Tham vấn trưởng giả Pháp bảo kế (Phạm:Ratna-cùđa, cũng gọi trưởng giả Pháp bảo chu la) ở thành Sư tử, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô lượng phúc đức bảo tạng giải thoát. 16. Tham vấn trưởng giả Phổ nhãn (Phạm:Samanta-netra, cũng gọi trưởng giả Phổ nhãn diệu hương) ở thành Phổ môn nước Đằng căn, được vị này nói cho nghe về pháp môn Linh nhất thiết chúng phổ kiến chư Phật hoan hỉ. 17. Tham vấn vua Vô yếm túc (Phạm: Anala, cũng gọi vua Mãn túc), ở thành Đa la chàng, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát như huyễn giải thoát. 18. Tham vấn vua Đại quang (Phạm: Mahà-prabha) ở thành Diệu quang, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát đại từ vi thủ tùy thuận thế gian tam muội. 19. Tham vấn ưu bà di Bất động(Phạm: Acalà) ở nước An trụ, được vị này nói cho nghe về pháp môn Cầu nhất thiết pháp vô yếm túc tam muội quang minh. 20. Tham vấn ngoại đạo Biến hành (Phạm:Sarva-gàmin, cũng gọi ngoại đạo Tùy thuận nhất thiết chúng sinh) ở thành Đô tát la, được vị này nói cho nghe về pháp môn Chí nhất thiết xứ bồ tát hạnh. 21. Tham vấn trưởng giả Chúc hương (Phạm:Utpala-bhùti, cũng gọi trưởng giả Thanh liên hoa hương, trưởng giả Ưu bát la hoa hương) ở nước Quảng đại, được vị này nói cho nghe về pháp môn Điều hòa nhất thiết hương pháp. 22. Tham vấn thuyền sư Bà lí la(Phạm: Vairocana, cũng gọi hải sư Tự tại) ở đại thành Lâu các, được vị này nói cho nghe về hạnh Đại bi chàng. 23. Tham vấn trưởng giả Vô thượng thắng (Phạm:Jayottama) ở thành Khả lạc, được vị này nói cho nghe về pháp môn Chí nhất thiết xứ tu Bồ tát hạnh thanh tịnh. 24. Tham vấn tỉ khưu ni Sư tử tần thân (Phạm:Siôha-vijfmbhità, cũng gọi tỉ khưu ni Sư tử phấn tấn) ở thành Ca lăng ca lâm nước Du na, được vị này chỉ dạy pháp môn Thành tựu nhất thiết trí giải thoát. 25. Tham vấn Bà tu mật đa nữ (Phạm: Vasumitrà, cũng gọi Bà tu di đa nữ) ở thành Bảo trang nghiêm nước Hiểm nạn, được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát li tham tế giải thoát. 26. Tham vấn cư sĩ Bê sắt chi la (Phạm: Vewỉhila, cũng gọi trưởng giả An trụ) ở thành Thiện độ, được cư sĩ nói cho nghe về pháp môn Bồ tát sở đắc bất ban niết bàn tế giải thoát. 27. Tham vấn bồ tát Quán tự tại (Phạm: Avalokitezvara, cũng gọi bồ tát Quán thế âm) ở núi Bổ đà lạc ca, được Ngài chỉ dạy pháp môn Đại bi hạnh. 28. Tham vấn bồ tát Chính thú(Phạm: Ananya-gàmin), được Ngài chỉ dạy pháp môn Bồ tát phổ tật hành giải thoát. 29. Tham vấn thần Đại thiên (Phạm: Mahà-deva) ở thành Nọa la bát để, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vân võng giải thoát. 30. Tham vấn thần đất An trụ (Phạm: Sthàvarà) ở Bồ đề tràng nước Ma kiệt đà, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bất khả hoại trí tuệ tạng. 31. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Bà san bà diễn để(Phạm:Vasantì, cũng gọi Bà sa đà dạ thiên) ở thành Ca tì la nước Ma yết đà, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát phá nhất thiết chúng sinh ám pháp quang minh giải thoát. 32. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Phổ đức tịnh quang (Phạm: Samantagambhìra-srì-vimala-prabhà, cũng gọi Thậm thâm diệu đức li cấu quang minh dạ thiên) ở Bồ đề tràng nước Ma kiệt đà; được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát tịch tĩnh thiền định nhạo phổ du bộ giải thoát. 33. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Hỉ mục quan sát chúng sinh (Phạm: Pramudita-nayana-jagad-virocanà, cũng gọi Hỉ mục quan sát chúng sinh dạ thiên) ở phía bên phải Bồ đề tràng, được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Đại thế lực phổ hỉ chàng giải thoát. 34. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Phổ cứu chúng sinh diệu đức (Phạm: Samanta-sattva-trànoja#-zrì, cũng gọi Diệu đức cứu hộ chúng sinh dạ thiên) ở trong hội tòa, được vị này nói cho nghe về pháp môn Phổ hiện nhất thiết thế gian điều phục chúng sinh giải thoát. 35. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Tịch tĩnh âm hải(Phạm:Prazanta-rutasàgaravatì, cũng gọi Tịch tĩnh âm dạ thần), được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Niệm niệm xuất sinh quảng đại hỉ trang nghiêm giải thoát. 36. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Thủ hộ nhất thiết chúng sinh (Phạm: Sarvanagara-rakwas a m b h a v a - teja#-zrì, cũng gọi Diệu đức thủ hộ chư thành dạ thiên) ở trong hội tòa, được vị này nói cho nghe về pháp môn Thậm thâm tự tại diệu âm giải thoát. 37. Tham vấn vị thần chủ về ban đêm là Khai phu nhất thiết thụ hoa (Phạm: Sarva-vfkwa-praphullana-saôvàsà, cũng gọi Khai phu thụ hoa dạ thiên) được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Xuất sinh quảng đại quang minh giải thoát. 38. Tham vấn vị thần chủ về đêm là Đại nguyện tinh tiến lực cứu hộ nhất thiết chúng sinh (Phạm: Sarva-jagad-rakwìpraịidhàna-vìrya-prabhà, cũng gọi Nguyện dũng quang minh thủ hộ chúng sinh dạ thiên), được vị thần này nói cho nghe về pháp môn Giáo hóa chúng sinh linh sinh thiện căn giải thoát. 39. Tham vấn vị thần Diệu đức viên mãn (Phạm: Su-tejo-maịđalarati-zrì, cũng gọi Diệu đức viên mãn thiên) ở vườn Lam tì ni và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát ư vô lượng kiếp biến nhất thiết xứ thị hiện thụ sinh tự tại giải thoát. 40. Tham vấn Thích ca Cù ba nữ (Phạm: Gopà,cũng gọi Cù di nữ) ở thành Ca tì la và được vị này nói cho nghe về pháp môn Quán sát bồ tát tam muội hải giải thoát. 41. Tham vấn phu nhân Ma da (Phạm: Màyà) ở tòa hoa sen báu lớn, được phu nhân chỉ dạy pháp môn Bồ tát đại nguyện trí huyễn giải thoát. 42. Tham vấn Vương nữ thiên chủ quang (Phạm: Surendràbhà, cũng gọi Thiên quang đồng nữ, Chánh niệm quang đồng nữ) ở Thiên cung và được chỉ dạy pháp môn Vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm giải thoát. 43. Tham vấn Biến hữu đồng tử sự (Phạm:Visvà-mitra, cũng gọi Biến hữu đồng tử) ở thành Ca tì la, vị này không chỉ dạy gì khác, chỉ nói hãy đến tham vấn đồng tử Thiện tri chúng nghệ. 44. Tham vấn đồng tử Thiện tri chúng nghệ (Phạm: Zilpabhijĩa) và được vị đồng tử này nói cho nghe pháp môn Tứ thập nhị tự mẫu. 45. Tham vấn ưu bà di Hiền thắng (Phạm: Bhadrottamà) ở thành Bà đát na nước Ma kiệt đà và được vị này nói cho nghe về pháp môn Vô y xứ đạo tràng giải thoát. 46. Tham vấn trưởng giả Kiên cố giải thoát(Phạm:Muktà-sàra, cũng gọi trưởng giả Kiên cố) ở thành Ốc điền, được vị này nói cho nghe về pháp môn Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm giải thoát. 47. Tham vấn trưởng giả Diệu nguyệt (Phạm:Su-candra) và được nghe trưởng giả nói về pháp môn Tịnh trí quang minh giải thoát. 48. Tham vấn trưởng giả Vô thắng quân (Phạm:Ajita-sena) ở thành Xuất sinh và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát vô tận tướng giải thoát. 49. Tham vấn Bà la môn Tối tịch tĩnh(Phạm: Ziva-ràgra, cũng gọi Bà la môn Thi tì tối thắng) ở tụ lạc Pháp phía nam thành và được vị này nói cho nghe về pháp môn Bồ tát thành nguyện ngữ giải thoát. 50. Tham vấn đồng tử Đức sinh và đồng nữ Hữu đức (Phạm:Zrì-samabhava, Zrì-matì) ở thành Diệu ý hoa môn và được nghe 2 vị này nói rõ về pháp môn Bồ tát huyễn trụ giải thoát. 51. Tham vấn bồ tát Di lặc (Phạm: Maitreya) ở trước lầu gác Tì lô giá na trang nghiêm tạng trong vườn Đại trang nghiêm tại nước Hải ngạn, được Bồ tát chỉ dạy các pháp yếu, rồi mở cửa lầu gác, bảo đồng tử Thiện tài bước vào trong. Lầu gác này rộng lớn vô lượng giống như hư không. Ở trong lầu gác này, đồng tử Thiện tài được nghe pháp âm sâu xa mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, liền được vô lượng các môn tổng trì, trụ trong cảnh giới tự tại giải thoát bất khả tư nghị của Bồ tát. Bồ tát Di lặc lại bảo đồng tử Thiện tài đến tham vấn bồ tát Văn thù sư lợi. 52. Tham vấn bồ tát Văn thù sư lợi (Phạm:Maĩju-zrì) ở thành Tô ma na tại nước Phổ môn. Khi đồng tử Thiện tài đến thì bồ tát Văn thù sư lợi từ đàng xa duỗi cánh tay phải qua 110 do tuần, xoa đỉnh đầu của Thiện tài, giảng nói diệu pháp, khiến Thiện tài thành tựu được vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại quang minh, lại khiến Thiện tài vào đạo tràng của hạnh Phổ hiền. Lúc đó, Thiện tài khao khát muốn đến tham vấn bồ tát Phổ hiền. 53. Tham vấn bồ tát Phổ hiền (Phạm: Samanta-bhadra): Sau khi chứng được các môn Tổng trì từ nơi bồ tát Văn thù sư lợi, đồng tử Thiện tài thu nhiếp các căn, dốc lòng cầu được thấy bồ tát Phổ hiền; lúc ấy, đồng tử Thiện tài liền thấy bồ tát Phổ hiền ngồi trên tòa sư tử bằng hoa sen báu trong chúng hội ở trước đức Như lai, từ các lỗ chân lông trên thân Bồ tát phóng ra những áng mây ánh sáng; bồ tát Phổ hiền liền duỗi cánh tay phải xoa đỉnh đầu Thiện tài, giảng nói các pháp cho Thiện tài nghe, ngay đó, Thiện tài liền chứng được các môn Tam muội nhiều như số bụi nhỏ của tất cả các cõi Phật. (xt. Ngũ Thập Ngũ Thiện Tri Thức, Thiện Tài Đồng Tử).

ngũ thập tam tôn

(五十三尊) Năm mươi ba vị tôn. Tức 37 vị tôn của Kim cương giới Mật giáo và 16 vị Bồ tát trong kiếp Hiền. Ba mươi bảy vị tôn của Kim cương giới gồm 5 đức Phật, 4 vị bồ tát Ba la mật, 16 vị Đại bồ tát, 8 vị bồ tát Cúng dường và 4 vị Nhiếp bồ tát. Còn 16 vị Bồ tát trong kiếp Hiền là: Di lặc tôn, Bất không kiến, Nhất thiết diệt ác thú, Li nhất thiết ưu ám, Hương tượng, Dũng mãnh tôn, Hư không tạng, Trí chàng, Vô lượng quang, Nguyệt quang, Hiền hộ, Quang võng, Kim cương tạng, Vô tận tuệ, Biện tích và Phổ hiền đại quang minh, gọi chung là Hiền kiếp thập lục tôn. [X. kinh Kim cương đính nhất thiết Như lai chân thực nhiếp đại thừa hiện chứng đại giáo vương Q.hạ; Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.3; Kim cương đính du già tam thập thất tôn xuất sinh nghĩa; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu]. (xt. Kim Cương Giới Tam Thập Thất Tôn, Hiền Kiếp Thập Lục Tôn).

ngũ thập thiên cung

(五十天供) Tác pháp cúng dường 50 vị thần để hàng phục các ma, đẩy lùi các chướng nạn về tinh tú, cầu nguyện nhân dân yên vui, đất nước thanh bình, mùa màng bội thu. Ngũ thập thiên là các vị thiện thần giữ gìn 8 phương trời đất, gồm có 12 vị trời, 28 ngôi sao, 9 ngôi sao và vị tôn Bất động 4 tay. Có thuyết nói Ngũ thập thiên là chỉ cho 5 vị Đại tôn, 28 ngôi sao và 7 ngôi sao. Pháp cúng dường 50 vị trời này đại khái cũng giống như pháp cúng dường 12 vị trời. Trong 50 vị trời, thì ấn khế và chân ngôn của Bất động tôn và 12 vị trời đều khác nhau, còn 9 ngôi sao và 28 ngôi sao thì dùng ấn khế và chân ngôn chung. [X. Cúng dường Thập nhị đại uy đức thiên báo ân phẩm; Kim cương đính du già hộ ma nghi quĩ; Chư tôn yếu sao Q.11, 12].

ngũ thập triển chuyển tuỳ hỉ

(五十展轉隨喜) Cũng gọi Ngũ thập triển chuyển. Năm mươi người theo thứ tự tùy hỉ. Nghĩa là tùy hỉ nghe kinh Pháp hoa rồi theo thứ tự truyền lại từ người thứ 1 đến người thứ 50. Theo phẩm Tùy hỉ công đức trong kinh Pháp hoa quyển 6, thì công đức tùy hỉ của người thứ 50 được nghe kinh Pháp hoa rộng lớn vô biên. Công đức của người này vượt xa công đức của người bố thí những thứ vui chơi cho mọi người trong 1 thế giới suốt thời gian 80 năm và nói pháp khiến cho những người ấy đều chứng được quả A la hán. Do đó, ta có thể biết công đức tùy hỉ của 49 người trước, nhất là người đầu tiên được nghe kinh Pháp hoa mà tùy hỉ thì công đức vô lượng vô biên như thế nào. Căn cứ theo thứ tự trước sau của 50 người này, để nói về công đức hơn kém của họ đạt được, thì có 2 thuyết của 2 vị Luận sư ở 2 miền Nam, Bắc. Luận sư miền Nam lập ra 3 triển chuyển: Triển chuyển hơn, triển chuyển vừa và triển chuyển kém, dùng triển chuyển sau cùng và kém nhất trong triển chuyển kém để so sánh mà hiển bày vừa và hơn. Luận sư miền Bắc thì cho rằng 50 giai vị gồm 10 địa và 40 tâm là 50 người, trong đó, người thứ 50 tùy hỉ nghe pháp tức là Bồ tát địa thứ 10 nghe đức Phật nói pháp, cho nên là Tối thắng(hơn nhất, hơn hết). Đại sư Trí khải tông Thiên thai thì giải thích theo 2 cách: 1. Hoành: Căn cứ theo 4 chúng của 3 giáo: Tạng, Thông, Biệt. Tạng giáo lập 4 môn: Có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không; mỗi môn đều có 4 chúng: Tỉ khưu, tỉ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, thêm sa di, sa di ni nữa thành là 6 người, 4 môn thì có 24 người; mỗi mỗi lại có Tùy tín hành và Tùy pháp hành khác nhau, cho nên thành 48 người, thêm 2 người đầu tiên và 2 người cuối cùng thì tất cả là 50 người. Thông giáo và Biệt giáo cũng như thế. 2. Trực: Căn cứ theo Viên giáo, số pháp có tiểu 7, đại 7. Tiểu 7 là 1 đơn vị 7, đại 7 có 7 lần 7 là 49. Thầy trò đều có công đức tự hành và hóa tha, 1 người sau cùng chỉ có khả năng tự ngộ mà không có đức hóa tha, cộng chung là 50 người. [X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.8; Pháp hoa kinh văn cú Q.10, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.10, trung; Pháp hoa nghĩa sớ Q.11 (Pháp tạng); Pháp hoa kinh huyền tán Q.10].

ngũ thập tự môn

(五十字門) Cũng gọi Ngũ thập tự mẫu. Năm mươi chữ cái của tiếng Phạm. Năm mươi chữ cái này bao gồm 16 nguyên âm và 34 phụ âm, là những chữ phải học tập khi còn vỡ lòng. (xt. Tất Đàm).

ngũ thập ác

(五十惡) Năm mươi thứ ác hàm chứa trong 5 ấm; 50 thứ ác này nằm trong 4 chủng loại: 1. Thức ấm gồm có 8 thứ: Thức mắt, thức mũi, thức lưỡi, thức thân, thức ý, thức mạt na và thức A lại da. 2. Hai ấm thụ và tưởng đi theo thức nên mỗi ấm đều có 8 thứ ác. 3. Hành ấm có 9 thứ, trong đó 8 thứ tương ứng với tưởng, còn 1 thứ không tương ứng với tưởng, đó chính là pháp Bất tương ứng.4. Sắc ấm có 17 thứ ác, tức là: Thụ, tưởng, hành, thức, 5 căn(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), 5 trần(sắc, tiếng, mùi, vị, xúc)và 3 sắc thuộc pháp xứ là luật nghi sắc, bất luật nghi sắc và tự tại sở sinh sắc. [X. kinh Kim cương tam muội (bản dịch đời Bắc Lương)].

Ngũ Thể

(五體): có nhiều nghĩa khác nhau. (1) Gồm: gân, mạch, thịt, xương, da. (2) Là 5 bộ phận của con người, gồm: đầu, hai tay và hai chân; hoặc đầu, cổ, ngực, tay, chân. (3) Chỉ cho toàn thân. (4) Là hai đầu gối, hai khuỷu tay và đầu, còn gọi là Ngũ Luân (五輪). Trong Phật Giáo có thuật ngữ thường được dùng là Ngũ Thể đầu địa (五體投地, năm vóc gieo xuống đất), hay Ngũ Luân đầu địa (五輪投地). Theo tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 2, phần Tam Quốc (三國) của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang (三藏法師玄奘, 602-664) cho biết rằng: “Trí kính chi thức, kỳ nghi cửu đẳng: nhất phát ngôn úy vấn, nhị phủ thủ thị kính, tam cử thủ cao ấp, tứ hiệp chưởng bình củng, ngũ khuất tất, lục trường cứ, thất thủ tất cứ địa, bát Ngũ Luân cụ khuất, cửu Ngũ Thể đầu địa; phàm tư cửu đẳng, cực duy nhất bái, quỳ nhi tán đức, vị chi tận kính (致敬之式、其儀九等、一發言慰問、二俯首示敬、三舉手高揖、四合掌平拱、五屈膝、六長踞、七手膝踞地、八五輪俱屈、九五體投地、凡斯九等、極唯一拜、跪而讚德、謂之盡敬, hình thức kính thành tột cùng, nghi thức của có chín: một là mở lời thăm hỏi; hai là cúi đầu thể hiện cung kính; ba là đưa tay lên cao vái xuống; bốn là chấp tay ngang ngực; năm là quỳ mọp xuống; sáu là ngồi xoải chân dài ra; bảy là tay, đầu gối và chân chấm đất; tám là năm điểm đều cong gập lại; chín là năm vóc gieo xuống đất; phàm chín nghi thức này, đến tận cùng chỉ có một lạy, quỳ mà tán thán đức độ, gọi đó là cung kính đến tận cùng).” Đây là hình thức lễ bái, được thể hiện từ đơn giản đến phức tạp, gọi là Thiên Trúc Cửu Nghi (天竺九儀), vốn là phương pháp lễ bái cung kính tột cùng của Ấn Độ cổ đại; sau này Phật Giáo dùng nghi thức này để kính lễ Tam Bảo. Ngũ Thể Đầu Địa còn được dùng để thể hiện sự kính trọng, khâm phục đối phương tột độ. Trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經) quyển 1 có đoạn: “A Nan văn dĩ, trùng phục bi lệ, ngũ thể đầu địa, trường quỳ hiệp chưởng (阿難聞已、重復悲淚、五體投地、長跪合掌, A Nan nghe xong, lại càng buồn khóc, Năm Vóc gieo xuống, quỳ lạy chấp tay).” Hay như trong lương thư (梁書) quyển 54, Phần Chư Di Liệt Truyện (諸夷列傳), Hải Nam Chư Quốc (海南諸國) lại có đoạn rằng: “Kim dĩ thử quốc quần thần dân thứ, sơn xuyên trân trọng, nhất thiết quy thuộc, ngũ thể đầu địa, quy thành Đại Vương (今以此國群臣民庶、山川珍重、一切歸屬、五體投地、歸誠大王, nay lấy quần thần, nhân dân nước này, trân trọng núi sông, hết thảy đều quy phục, Năm Vóc gieo xuống đất, kính thành Đại Vương).” Hoặc như trong Đàm Hoa Ký (曇花記) quyển 52 của nhà viết kịch Hí Khúc Đồ Long (屠隆, 1543-1605) nhà Minh có câu: “Đệ tử sắc thân cấu uế, căn khí hạ phàm, hà hạnh mông Đại Sĩ giáng lâm, Ngũ Thể đầu địa, bất thắng bi ngưỡng (弟子色身垢穢、根器下凡、何幸蒙大士降臨、五體投地、不勝悲仰, đệ tử sắc thân nhơ nhớp, căn khí phàm phu, sao may mong được Đại Sĩ giáng lâm, xin Năm Vóc gieo xuống đất, kính ngưỡng vô cùng).”

Ngũ thể

五體; C: wǔtǐ; J: gotai;|Có các nghĩa sau: 1. Năm chi phần thân thể: Hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu; 2. Toàn thân thể.

ngũ thể

xem năm vóc. ; (五體) Cũng gọi Ngũ luân. Năm thể: Gân, mạch, thịt, xương, da lông; hoặc gọi chung năm bộ phận trên thân thể: Đầu gối phải, đầu gối trái, tay phải, tay trái và đầu. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 395 trung) nói: Năm chỗ đều tròn, nên gọi là Ngũ luân. Tứ chi và đầu gọi là Ngũ thể. Luân là chỉ riêng cho 5 chỗ; Thể thì chỉ chung cho toàn thân.

Ngũ thể đầu địa

五體投地; C: wǔtǐ tóudì; J: gotaitōji; S: pañca-mandala-namaskāra.|Cách lễ lạy với năm phần thân thể gồm hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu chạm sát đất. »Gieo năm vóc sát đất.« Phủ phục toàn thân thể sát đất để thể hiện lòng cung kính.

ngũ thể đầu địa

(五體投地) Cũng gọi Ngũ luân đầu địa, Đầu địa lễ, Tiếp túc lễ, Đầu diện lễ, Đính lễ. Năm vóc gieo sát đất. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì phép lễ của Ấn độ có 9 cách mà gieo 5 vóc(đầu, 2 tay và 2 gối)xuống đất là cách lễ thứ 9, cũng là cách lễ thành kính nhất trong 9 cách lễ. Về sau, Phật giáo cũng dùng cách lễ này để bày tỏ lòng tôn kính cao nhất. Cách lễ này là: Trước hết quì gối bên phải sát đất, kế đến là gối bên trái, rồi đến 2 khuỷu tay đặt sát đất, 2 bàn tay ngửa ra duỗi thẳng quá trán, sau cùng là đỉnh đầu đặt sát đất, hồi lâu như thế gọi là 1 lễ.Cứ theo Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao, khi lễ kính Tam bảo thì 5 thể phải gieo xuống đất để chiết phục sự kiêu mạn và tỏ lòng thành kính. Năm ý nghĩa về sự gieo 5 vóc xuống đất của người lễ như sau: 1. Khi gối bên phải sát đất, nguyện cho chúng sinh được đạo chính giác. 2. Khi gối bên trái sát đất, nguyện cho chúng sinh không khởi tà kiến ngoại đạo, tất cả đều an trụ trong đạo chính giác. 3. Khi tay phải sát đất, nguyện như Thề tôn ngồi tòa kim cương, đại địa rúng động, hiện bày tướng lành, chứng nhập đại Bồ đề. 4. Khi tay trái sát đất, nguyện cho chúng sinh xa lìa ngoại đạo, dùng 4 nhiếp pháp thu phục những người ương ngạnh, khiến họ vào chính đạo. 5. Khi đỉnh đầu sát đất, nguyện cho chúng sinh lìa tâm kiêu mạn, đều được thành tựu đính tướng Vô kiến. [X. kinh Quán vô lượng thọ; kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải); Thích môn qui kính nghi Q.hạ; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 3; Pháp uyển châu lâm Q.20; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Khể Thủ, Lễ).

ngũ thệ nguyện

(五誓願) Năm thệ nguyện được dùng trong Thai tạng giới của tông Chân ngôn, Nhật bản. 1. Thệ nguyện dứt tất cả điều ác. 2. Thệ nguyện độ thoát hết thảy chúng sinh.3. Thệ nguyện tu tập tất cả pháp. 4. Thệ nguyện kính thờ hết thảy Phật. 5. Thệ nguyện chứng được đại Bồ đề. Còn trong Kim cương giới thì dùng Ngũ đại nguyện.

ngũ thị giả

(五侍者) Năm người hầu. Tức 5 vị thị giả mỗi vị giữ 1 chức vụ theo hầu bên vị Trụ trì trong Thiền lâm. Đó là: 1. Thiêu hương thị giả, cũng gọi Thị hương. Người theo hầu vị Trụ trì trong những giờ thướng đường, tiểu tham, phổ thuyết, khai thất, niệm tụng, phóng tham... 2. Thư trạng thị giả, cũng gọi Thị trạng. Trông coi việc thư từ qua lại cho vị Trụ trì. 3. Thỉnh khách thị giả, cũng gọi Thị khách. Tiếp đãi khách của vị Trụ trì. 4. Y bát thị giả, cũng gọi Thị y. Trông coi áo bát và các vật dụng của Trụ trì. 5. Thang dược thị giả, cũng gọi Thị dược. Săn sóc việc ăn uống thuốc thang cho vị Trụ trì. Trong 5 Thị giả, 3 vị Thiêu hương, Thư trạng và Thỉnh khách được gọi là Sơn môn tam đại thị giả(3 vị thị giả quan trọng trong Thiền lâm). [X. điều Tây tự đầu thủ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Thiền lâm tượng khí tiên Q.6]. (xt. Thị Giả).

Ngũ thời

五時; C: wǔshí; J: goji;|Năm thời thuyết giáo. Sự phân chia các giai đoạn Phật Thích-ca Mâu-ni tùy căn cơ mà dùng nhiều phương thức giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh, từ khi ngài thành đạo cho đến khi nhập niết-bàn. Mặc dù có nhiều lí thuyết khác nhau về sự sắp xếp nầy, tất cả đều xuất phát từ căn nguyên giải thích của sư Huệ Quán (慧觀) vào thế kỉ thứ 5.|A. Huệ Quán chủ trương phân chia giáo pháp thành Đốn giáo và Tiệm giáo; lại phân chia Tiệm giáo thành 5 thời: 1. Tam thừa biệt giáo: (như kinh A-hàm, v.v…); 2. Tam thừa thông giáo (như kinh Bát-nhã; s: prajñāpāramitā-sūtra, v.v…); 3. Ức dương giáo (như kinh Duy-ma-cật, v.v…); 4. Đồng quy giáo (kinh Hoa Nghiêm, v.v…); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn,v.v…). Đây là cách phân loại giáo pháp của Niết-bàn tông.|B. Theo giáo lí tông Hoa Nghiêm của Lưu Cầu (劉虬), Đốn giáo và Tiệm giáo trong kinh Hoa Nghiêm được chia thành 5 giáo pháp sau: 1. Nhân Thiên giáo; 2. Hữu tướng giáo (kinh A-hàm và những kinh công nhận các pháp có tự thể riêng biệt); 3. Vô tướng giáo (giáo lí Bát-nhã Ba-la-mật-đa, v.v…, phủ nhận các pháp tồn tại với tự thể riêng biệt); 4. Đồng quy giáo (như kinh Pháp Hoa, v.v…); 5. Thường trụ giáo (kinh Niết-bàn, v.v…).|C. Trí Khải có thay đổi chút ít so với phán giáo của Lưu Cầu. Theo giáo lí tông Thiên Thai, năm thời giáo là: 1. Thời kì Hoa Nghiêm: sau khi đức Phật thành đạo, ngài giảng kinh Hoa Nghiêm trong vòng 21 ngày cho hàng Bồ Tát. Đây là giáo pháp dành cho hàng căn cơ lanh lợi, theo giáo pháp nầy, các hàng Bồ Tát như thế có thể trực ngộ nhanh chóng lí chân như.|2. Thời kì Lộc Uyển: Sau khi đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm, những người có căn cơ thấp không thể hiểu nổi; thế nên ngài chuyển sang giáo pháp phương tiện nầy để hướng dẫn cho chúng sinh được lợi lạc. Nên đức Phật nói pháp cho hàng cho háng căn cơ thấp tại vườn Lộc Uyển gần thành Ba-la-nại. Thời kì này là 12 năm, kinh điển khai triển trong thời kì nầy là kinh A-hàm, nên giáo pháp thời nầy được gọi là thời A-hàm; 3. Thời Phương đẳng (s: vaipulya, sơ khởi Đại thừa). Vì căn cơ chúng sinh thời đó đang đắm chấp vào giáo lí Tiểu thừa nên bây giờ đức Phật giảng pháp Đại thừa như kinh Duy-ma-cật, kinh Kim Quang Minh, và kinh Thắng Man, truyền bá rộng rãi Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Giáo pháp nầy nhằm đưa chúng sinh từ đắm chấp Tiểu thừa sang Đại thừa. Thời kì nầy kéo dài 8 năm; 4. Thời Bát-nhã: Thời kì nầy Đức Phật giảng kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa suốt 22 năm để giác ngộ cho chúng sinh về lí Tính không; 5. Thời Pháp Hoa, Niết-bàn: Đức Phật nói rõ mục tiêu tối hậu của giáo lí Tiểu thừa và Đại thừa đều là giải thoát như nhau. Nên giáo pháp nầy còn gọi là Nhất thừa giáo, khẳng định sự hiện hữu của Phật tính trong mỗi chúng sinh.

Ngũ thời bát giáo

五時八教; C: wǔshí bājiāo;|Hệ thống giáo pháp theo giải thích của Trí Khải. Thứ tự thời gian Đức Phật giảng pháp được chia thành 5 thời kì (Ngũ giáo). Phương pháp Đức Phật dùng để giáo hoá cũng được phân thành 4 loại (giáo hoá nghi), và nội dung của giáo pháp được chia thành 4 phạm trù (giáo hoá pháp).|A. Bốn giáo hoá nghi là: 1. Đốn giáo: giáo lí chỉ dạy chúng sinh giác ngộ ngay Phật tính nơi chính mình; 2. Tiệm giáo: giáo lí dẫn đắt chúng sinh giác ngộ qua nhận thức từ cạn đến sâu; 3. Bí mật giáo: giáo lí chúng sinh được truyền thụ bí mật tương ứng với căn cơ riêng mình mà người khác không hay biết; 4. Bất định giáo: dành cho chúng sinh tuy cùng nghe kinh trong một pháp hội, nhưng tùy theo căn tính riêng mỗi người màcó sự thể nhập giáo pháp khác nhau. Thêm nữa, giáo pháp »phi đốn phi tiệm, phi mật phi hiển« còn được gọi là giáo pháp »Pháp Hoa và Niết-bàn.«|B. Bốn giáo hoá pháp: 1. Giáo pháp Tiểu thừa hay Tam tạng giáo; 2. Thông giáo: Đây là giáo lí Đại thừa gồm các kinh Phương đẳng, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Pháp Hoa và Niết-bàn, dành cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát; 3. Biệt giáo: đây là giáo lí dành riêng cho hàng Bồ Tát. Hành giả tu tập theo giáo pháp nầy biết rõ có sự nhấn mạnh vào lí Trung đạo để thể hội lí Tính không và tự thể của các pháp. Giáo lí của tông Hoa Nghiêm thuộc dạng nầy; 4. Viên giáo: Chủ trương giác và mê không khác nhau trong thể tính. Viên giáo siêu việt và viên dung tất cả các pháp, đây chính là giáo pháp giác ngộ chân thật của Đức Phật. Viên giáo thật sự bao gồm tất các giáo pháp khác, được kinh Pháp Hoa xiển dương một cách trọn vẹn nhất.

Ngũ thời giáo

五時教; C: wǔshí jiāo; J: ojikyō;|Ngũ thời bát giáo.

ngũ thời giáo

(五時教) Cũng gọi Ngũ thời. Năm thời giáo. Tức là những kinh điển do đức Phật nói trong 45 năm được phân chia theo nội dung giáo nghĩa từ cạn đến sâu làm 5 giai đoạn, gọi là Ngũ thời giáo. Ở Trung quốc, việc truyền dịch kinh điển không theo thứ tự thời gian phát triển trước sau, mà chỉ y cứ vào 5 thời phán giáo này làm tiêu chuẩn. Có các thuyết về Ngũ thời giáo như sau: I. Ngũ thời giáo của tông Niết bàn. Ngài Tuệ quán thời Lưu Tống chủ trương giáo pháp có Đốn giáo và Tiệm giáo. Tiệm giáo lại chia làm 5 thời giáo: 1. Tam thừa biệt giáo, cũng gọi Hữu tướng giáo. Tức là giáo pháp được nói riêng cho mỗi thừa trong 3 thừa như nói pháp Tứ đế cho Thanh văn, Thập nhị nhân duyên cho Duyên giác và Lục độ cho Bồ tát. 2. Tam thừa thông giáo, cũng gọi Vô tướng giáo. Tức là giáo pháp được nói chung cho cả 3 thừa, như kinh Bát nhã. 3. Ức dương giáo, cũng gọi Bao biếm ức dương giáo. Tức là giáo pháp khen ngợi Bồ tát, chê trách Thanh văn, như các kinh Duy ma, Tư ích... 4. Đồng qui giáo, cũng gọi Vạn thiện đồng qui giáo. Tức là giáo pháp xóa bỏ sự phân biệt 3 thừa mà đưa tất cả về 1 Phật thừa, như kinh Pháp hoa. 5. Thường trụ giáo, cũng gọi Song lâm thường trụ giáo. Tức giáo pháp chủ trương tính Phật là thường trụ, như kinh Niết bàn. Trên đây là thuyết phán giáo đầu tiên của Trung quốc, lưu hành ở Giang nam, các vị Lưu cầu, Tăng nhu, Trí tạng, Pháp vân... đều theo thuyết này; các vị Tăng tông, Bảo lượng... còn đem 5 thời giáo này phối hợp với thí dụ 5 vị(nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ)nói trong kinh Niết bàn, đến ngài Thiên thai Trí khải thì thuyết này được tập đại thành. Về sau, ngài Tuệ quang ở miền Bắc lập phán giáo 4 tông cũng lấy 5 thời giáo này làm căn cứ. [X. Tam luận huyền nghĩa Q.thượng; Đại phẩm kinh du ý; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Pháp hoa huyền luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.35; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. II. Ngũ thời giáo của Lưu cầu thời Nam Tề.Cư sĩ Lưu cầu cũng chủ trương giáo pháp có Đốn giáo và Tiệm giáo.Tiệm giáo lại chia làm 5 thời: 1. Thiên nhân giáo: Giáo pháp thế gian. 2. Hữu tướng giáo: Giáo pháp thừa nhận có sự sai biệt giữa những hiện tượng tồn tại, như các kinh A hàm... 3. Vô tướng giáo: Giáo pháp phủ định sự sai biệt giữa các hiện tượng tồn tại, như các kinh Bát nhã... 4. Đồng qui giáo: Như kinh Pháp hoa... 5. Thường trụ giáo: Như kinh Niết bàn... [X. Đại thừa nghĩa chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1]. III. Ngũ thời giáo của ngài Trí khải đời Tùy. Thuyết 5 thời này gồm: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo). IV. Ngũ thời giáo của ngài Pháp bảo đời Đường. 1. Tiểu thừa giáo. 2. Bát nhã giáo. 3. Thâm mật giáo. 4. Pháp hoa giáo. 5. Niết bàn giáo. [X. Câu xá luận bảo sớ Q.1; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.50].

ngũ thời ngũ giáo

(五時五教) Năm thời năm giáo. Tức là thuyết phán giáo của tông Thai Mật Nhật bản. Tông Thai Mật Nhật bản căn cứ vào thuyết Ngũ thời giáo của Đại sư Trí khải của tông Thiên thai Trung quốc, rồi đứng trên lập trường Mật giáo mà chia thời thứ 5 trong 5 thời ra làm 3 giai đoạn: Sơ, trung, hậu, cho rằng đức Phật theo thứ tự này nói kinh Pháp hoa, kinh Niết bàn và kinh Đại nhật. Từ đó, đưa Mật giáo xếp vào trong 4 giáo hóa pháp mà gọi chung là Ngũ giáo. Thuyết này do ngài An nhiên tổng hợp thuyết của các ngài Viên nhân, Viên trân mà hoàn thành. Nhưng trong Thai Mật Nhật bản cũng có y kiến phản đối việc bài xích 4 giáo mà lập thành thuyết 5 giáo này. [X. Tô tất địa kinh lược sớ Q.1; Bồ đề tâm nghĩa Q.5, phần cuối; Tự tại kim cương tập Q.9]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo).

Ngũ thụ

五受; C: wǔshòu; J: goju;|Năm cảm giác, năm cảm thụ: Ưu thụ (優受), hỉ thụ (喜受), khổ thụ (苦受), lạc thụ (樂受) và xả thụ (捨受, cảm thụ thân tâm không vui, không khổ, thoát khỏi tất cả những cảm thụ nêu bên trên).

ngũ thụ

(五受) Phạm: Paĩca vedanà. Pàli: Paĩca vedanà. I. Ngũ Thụ. Năm thứ cảm nhận tùy theo xúc giác. Theo luận Câu xá thì 5 thụ gồm có: 1. Khổ thụ (Phạm: Du#kha-vedanà): Cảm nhận sự bứt rứt của thân tương ứng với 5 thức. 2. Lạc thụ (Phạm: Sukha-vedanà): Cảm nhận sự khoan khoái của thân tương ứng với 5 thức và sự vui vẻ của tâm tương ứng với ý thức tĩnh lự thứ 3. 3. Ưu thụ (Phạm: Daurmanasyavedanà): Sự cảm nhận lo âu của tâm tương ứng với ý thức. 4. Hỉ thụ (Phạm: Saurmanasyavedanà): Sự cảm nhận vui vẻ của tâm tương ưng với ý thức ở cõi Sơ thiền, Nhị thiền và cõi Dục. 5. Xả thụ (Phạm: Upekwà-vedanà): Thân và tâm cảm nhận không khổ không vui.Đối với cảm nhận tạp nhiễm của chúng sinh, thì 5 thụ này có tác dụng tăng mạnh, cho nên gọi là 5 căn, cũng gọi Ngũ thụ căn, tức khổ căn, lạc căn, ưu căn, hỉ căn và xả căn.[X. kinh Đại tập pháp môn Q.hạ; luận Câu xá Q.3; luận A tì đạt ma phát trí Q.14; luận Thành duy thức Q.5]. II. Ngũ Thụ. Năm thụ được phân biệt theo tự tính và tương ứng của chúng. Tức là: 1. Tự tính thụ (Phạm: Svabhàvavedanìyatà): Tâm sở của thụ, tức là các cảm nhận khổ, vui... 2. Tương ứng thụ (Phạm: Saôpra= yukta-vedanìyatà): Tâm sở xúc tương ứng với các cảm nhận khổ, vui... 3. Sở duyên thụ (Phạm: Àlambanavedanìyatà), cũng gọi Cảnh giới thụ. Tức là cảnh giới của các cảm nhận khổ, vui... 4. Dị thục thụ (Phạm: Vipàkavedanìyatà), cũng gọi Báo thụ. Cảm nhận các nghiệp dị thục. 5. Hiện tiền thụ (Phạm: Sammukhìbhàva-vedanìyatà): Sự cảm nhận đang khởi lên hiện hành trong các thụ khổ, vui...[X. luận Câu xá Q.15; luận Đại tì bà sa Q.115; luận Thuận chính lí Q.40; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; Câu xá luận quang kí Q.15].

ngũ thủ

(五手) Năm loại ấn của cõi trời Tịnh cư. Tức là: 1. Tư duy thủ: Ngón út và ngón vô danh hơi co, 3 ngón kia duỗi xòe ra như 3 cái gậy, đầu hơi nghiêng, tay co lại hướng vào trong, ngón trỏ chỉ vào má. 2. Thiện thủ: Ấn Thí vô úy. Hai tay đều có thể kết ấn này, nhưng thường dùng tay trái nhiều hơn. 3. Tiếu thủ: Đặt tư duy thủ ở trước ngực, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa hướng lên.4. Hoa thủ: Ngửa bàn tay lên, ngón cái ngón trỏ cầm hoa, 3 ngón còn lại dựng đứng hoặc duỗi thẳng. 5. Hư không thủ: Nghiêng bàn tay phải, xòe các ngón tay trong hư không. [X. Đại nhật kinh sớ Q.16].

Ngũ thủ uẩn

五取蘊; C: wǔqǔyùn; J: goshuun; S: pañca-upādāna.|Xem năm thứ uẩn mà như một cái gì đó rồi chấp trước nó một cách lầm lạc. Ngũ uẩn (五蘊).

ngũ thủ uẩn

(五取蘊) Phạm: Paĩca upàdàna-skandhà. Pàli: Paĩca upàdàna-kkhandhà. Cũng gọi Ngũ thụ ấm. Năm uẩn hữu lậu do thủ (phiền não)sinh ra hoặc sinh ra thủ. Chỉ cho sắc thủ uẩn, thụ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Luận Đại tì bà sa quyển 75 giải thích rằng: Nếu sắc hữu lậu hữu thủ thì sắc ấy ở quá khứ, vị lai và hiện tại, hoặc khởi dục, hoặc khởi tham, sân, si, bố(sợ), hoặc lại theo đó mà sinh khởi tâm sở Tùy phiền não, thì gọi là Sắc thủ uẩn. Phân biệt rộng ra thì thụ, tưởng, hành, thức cũng như thế. Trong luận còn phân biệt sự sai khác giữa uẩn và thủ uẩn, cho rằng uẩn chung cả hữu lậu và vô lậu, còn thủ uẩn thì chỉ có hữu lậu mà thôi. Ngoài ra, bàn về danh nghĩa của Thủ uẩn thì luận Câu xá quyển 1 cho rằng tất cả phiền não gọi chung là Thủ, uẩn từ thủ sinh, hoặc uẩn thuộc về thủ, hoặc uẩn sinh ra thủ, vì thế gọi là Thủ uẩn. Nhưng luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 1 thì đặc biệt gọi Dục tham có trong các uẩn là Thủ, rồi đem hợp với uẩn gọi là Thủ uẩn. [X. kinh Tạp a hàm Q.3; kinh Pháp thừa nghĩa quyết định Q.thượng; luận Du già sư địa Q.65; luận Thành duy thức Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần cuối; Câu xá luận quang kí Q.1].

ngũ thứ đệ

(五次第) Phạm: Paĩcakrama. Tạng: Rim-pa chen-po. Tác phẩm, do ngài Long thụ (Phạm: Nàgàrjuna –nhưng không phải ngài Long thụ ở thế kỉ thứ II) soạn vào thế kỉ X. Cứ theo Bí mật tập hội đát đặc la (Phạm: Guhyasamàja-tantra, kinh Nhất thiết Như lai kim cương tam nghiệp tối thượng bí mật đại giáo vương) thì Ngũ thứ đệ này tương đương với Cứu cánh thứ đệ (Phạm: Utpanna-krama) của Thánh giả lưu (Tạng: Fphags-lugs), là 5 loại pháp thành tựu chiếu theo thứ lớp pháp quán Du già để chứng ngộ an vui cùng tột. Nếu coi Lược tập thành tựu pháp (Phạm: Piịđìkftasàdhana) tương đương với Sinh khởi thứ đệ (Phạm: Utpatti-krama) của Thánh giả lưu là Thứ đệ thứ nhất trong 5 thứ đệ thì thành 6 thứ đệ, nhưng thông thường thì 5 loại được liệt kê sau đây là Ngũ thứ đệ: 1. Kim cương niệm tụng thứ đệ(Phạm: Vajrajàpa-krama), cũng gọi Ngữ tịnh hóa thứ đệ (Phạm:Vàgviveka-krama), là pháp niệm tụng lấy sự hô hấp làm nền tảng, theo lời bạt trong sách cho biết thì có 67 bài kệ (có bản in gồm 69 bài). 2. Vô thượng ý thứ đệ (Phạm: Anuttarasamàdhi-krama), cũng gọi Tâm tịnh hóa thứ đệ (Phạm: Cittavivekakrama), Tâm thanh tịnh thứ đệ (Phạm: Cittavizudhi-krama), có 100 bài kệ (hoặc 94 bài). 3. Tự gia trì thứ đệ (Phạm: Svàdhiwỉhàna-krama), có 56 bài kệ. 4. Lạc hiện đẳng giác thứ đệ (Phạm: Sukhàbhisaôbodhi-krama), có 40 bài kệ (hoặc 38 bài). 5. Song nhập thứ đệ (Phạm: Yuganaddha-krama), có 35 bài kệ (hoặc có 36 bài). Sách này có nhiều bản chú thích bằng tiếng Tây tạng. [X. Tây tạng mật giáo giáo lí chi nghiên cứu (Tửu tỉnh Chân điển); Etudes et textes tantriques, Paĩcakrama, par L. de la Vallée Poussin; Discovery of a work by Àryadeva in Sanskrit, JASB. 1898, by H.P.Zastrì; Cittavisuddhiprakaraịa of Àryadeva, Visva-Bharati Studies, No.8, by P.B.Patel].

Ngũ thức

五識; C: wǔshì; J: goshiki;|Có các nghĩa sau:|I. Năm thức phát sinh do 5 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, với 5 đối tượng của chúng là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, phát sinh các thức là: Nhãn thức (眼識), Nhĩ thức (耳識), Tỉ thức (鼻識), Thiệt thức (舌識), Thân thức (身識). Do các thức nầy được xem là 5 thức đầu trong 6 thức, nên chúng thường được gọi là Tiền ngũ thức (前五識) trong Hán ngữ. Theo giáo lí Du-già hành tông, đây là 5 thức đầu tiên trong Bát thức (八識). Trong Tam giới, chúng sinh ở cõi Dục có đủ 6 thức, ở cảnh giới Đệ nhất thiền của cõi Sắc thì không còn Nhĩ thức và Thiệt thức, khi đến cảnh giới Đệ nhị thiền thiên trở lên thì chỉ còn thức (phân biệt) thứ sáu (theo Câu-xá-luận 倶舎論).|II. Năm thức đề cập trong luận Đại thừa khởi tín: 1. Nghiệp thức (業識): phát khởi khi tâm chưa giác ngộ do vô minh; 2. Chuyển thức (轉識): Nghiệp thức trải qua một sự chuyển biến thành thức năng kiến; 3. Hiện thức (現識): Căn cứ vào sự chuyển biến của Nghiệp thức mà thế giới khách quan được biểu hiện; 4. Trí thức (智識): Thức tạo ra những phân biệt sai lầm căn cứ vào sự nhận biết đối tượng trong thế giới khách quan; 5. Tương tục thức (相續識): y cứ vào sự phân biệt sai lầm, các tư tưởng đau khổ, vui thích tương tục không dứt, nên tương tục trong luân hồi.

ngũ thức

(五識) I. Ngũ Thức. Phạm: Paĩca vijĩànàni. Pàli: Paĩca viĩĩànàni. Chỉ cho 5 thức: Thức mắt (Phạm: Cakwur-vijĩàna), thức tai (Phạm:Zrotravijĩàna), thức mũi (Phạm: Ghràịavijĩàna), thức lưỡi (Phạm: Jihvà-vijĩàna), thức thân (Phạm: Kàya-vijĩàna). Vì đây là 5 thức trước trong 6 hoặc 8 thức nên gọi là Tiền ngũ thức. Hoặc có thêm chữ thân để chỉ số phức mà gọi là Ngũ thân thức. Trong 5 thức, thức mắt lấy căn mắt làm sở y(chỗ nương gá), duyên theo sắc cảnh; thức tai lấy căn tai làm sở y, duyên theo thanh cảnh; thức mũi lấy căn mũi làm sở y, duyên theo hương cảnh; thức lưỡi lấy căn lưỡi làm sở y, duyên theo vị cảnh; thức thân lấy căn thân làm sở y, duyên theo xúc cảnh. Đó là Tiền thập ngũ giới (15 giới trước). Năm thức mỗi mỗi đều khác nhau, vì lấy 5 căn mắt, tai... làm sở y, đây là nói theo nghĩa bất cộng y (không nương chung). Nhưng, theo luận Câu xá quyển 1, thì 5 thức mắt, tai v.v... cũng lấy ý căn sinh diệt không ngừng làm chỗ nương gá chung (cộng sở y).Còn luận Thành duy thức quyển 4 thì bảo rằng Câu hữu sở y (đều có chỗ nương) của 5 thức có 4 thứ là Đồng cảnh y, Phân biệt y, Nhiễm tịnh y và Căn bản y. Đồng cảnh y nghĩa là 5 căn mắt, tai... là chỗ nương chung của 5 thức, tức năng y và sở y cùng nương gá chung 1 cảnh hiện tiền. Phân biệt y nghĩa là ý thức thứ 6 là chỗ nương gá của 5 thức phân biệt trước. Còn ý thức thứ 6 là thức phân biệt rõ ràng, tác dụng phân biệt của 5 thức trước không rõ ràng, phải nhờ vào sức của ý thức thứ 6 thì sự duyên cảnh mới rõ ràng, vì thế thức thứ 6 cũng được gọi là Minh liễu y(chỗ nương rõ ràng). Nhiễm tịnh y nghĩa là thức thứ 7 là chỗ nương nhơ, sạch của 5 thức, tức 5 thức do sự nhơ nhớp hay trong sạch của thức thứ 7 mà trở thành hữu lậu hay vô lậu. Căn bản y nghĩa là thức thứ 8 là chỗ nương căn bản của 5 thức, tức thức thứ 8 là gốc của các thức, thường nắm giữ chủng tử của các thức và giúp các thức sinh khởi. Năm thức này đều là ngoại môn chuyển (chuyển ở cửa ngoài), đều lấy các cảm quan vật chất (sắc căn) làm chỗ nương gá và lấy vật chất (sắc pháp) làm đối tượng, chỉ khởi tác dụng đối với các đối tượng hiện tại, cũng chỉ nhận biết đối tượng bằng trực giác (hiện lượng), chứ không khởi tác dụng thường hằng. Theo Thuyết nhất thiết hữu bộ thì hành tướng của 5 thức thô to và luôn luôn tương ứng với tầm tứ, thông cả 3 tính thiện, bất thiện và vô kí, chỉ đi với nhiễm chứ không rời nhiễm và do Tu đạo đoạn trừ. Ở cõi Dục chỉ có 2 thức mũi và lưỡi, ở tầng trời Sơ thiền cõi Sắc thì có 3 thức mắt, tai và thân, còn từ Nhị thiền trở lên đều không có 5 thức. Duy thức Đại thừa thì chủ trương 5 thức không tương ứng với tầm, tứ, thông cả 3 tính, có nhiễm, có lìa nhiễm và Nhị thiền trở lên cũng có 5 thức. Lại trong 5 uẩn, 5 thức này cùng với ý thức đều thuộc về Thức uẩn; trong 12 xứ, cùng với ý thức đều thuộc về ý xứ; còn trong 18 giới thì 5 thức đều được lập làm giới thức mắt cho đến giới thức tai. Ngoài ra tông Duy thức cho rằng 5 thức là do chủng tử ở trong thức gốc A lại da thứ 8 chuyển biến mà sinh ra, vì thế, 5 thức cũng được gọi là 5 chuyển thức. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Ngũ sự tì bà sa Q.hạ; luận Thức thân túc Q.6; luận Đại tì bà sa Q.42, 72; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Câu xá Q.2; luận Thuận chính lí Q.4; Thành duy thức luận thuật kí Q.4, phần cuối, Q.7, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần cuối]. II. Ngũ Thức. Năm thức của ý được nói trong luận Đại thừa khởi tín, đó là: Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí thức và Tương tục thức.

Ngũ thừa

五乘; C: wǔshèng; J: gojō;|Có hai nghĩa: 1. Năm pháp môn tu tập đưa đến những quả báo khác nhau tùy theo mỗi thừa; 2. Theo Hiển chính luận (顯正論; k: hyǒn chǒng non), 5 thừa là: Bồ Tát thừa, Bích-chi Phật thừa, A-la-hán thừa, Nhân thừa, Thiên thừa.

ngũ thừa

(五乘) Thừa, Phạm: Yàna. Năm cỗ xe (dụ chỉ pháp môn tu hành) vận chuyển chúng sinh đến thế giới yên vui. Có nhiều thuyết khác nhau. I. Ngũ Thừa. Theo nghĩa thông dụng: 1. Nhân thừa (Phạm: Manuwya-yàna): Dùng 3 qui y và 5 giới làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 đường ác mà sinh vào cõi người. 2. Thiên thừa (Phạm: Deva-yàna): Dùng 10 điều thiện, 4 thiền 8 định làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt khỏi 4 châu mà sinh lên các cõi trời. 3. Thanh văn thừa (Phạm: Zravakayàna): Dùng pháp môn 4 đế làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt qua 3 cõi, đến Niết bàn Hữu dư mà thành A la hán. 4. Duyên giác thừa (Phạm: Pratyekayàna): Dùng pháp môn 12 nhân duyên làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi, đến Niết bàn Vô dư mà thành Bích chi phật. 5. Bồ tát thừa (Phạm: Bodhisattvayàna): Dùng pháp môn 6 độ bi trí làm xe, vận chuyển chúng sinh vượt qua cảnh giới của 3 thừa 3 cõi mà đến đại Niết bàn vô thượng bồ đề. [X. Vu lan bồn kinh sớ Q.thượng; Pháp hoa huyền luận Q.7]. II. Ngũ Thừa. Theo kinh Lăng già A bạt đa la bảo quyển 2: 1. Thiên thừa: Dùng pháp môn Thập thiện làm xe, vận chuyển chúng sinh khiến họ sinh lên các tầng trời cõi Dục. 2. Phạm thừa (Phạm: Brahma-yàna): Dùng pháp môn 4 thiền, 4 tâm vô lượng, 4 định vô sắc làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi biển sinh tử mà sinh lên các tầng trời cõi Sắc và cõi Vô sắc. 3. Thanh văn thừa: Dùng pháp môn Tứ đế sinh diệt làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi. 4. Duyên giác thừa: Dùng pháp môn 12 nhân duyên sinh diệt vô sinh làm xe, vận chuyển chúng sinh ra khỏi 3 cõi. 5. Chư Phật Như lai thừa (Phạm: Buddha-yàna): Dùng các pháp môn: Sáu độ sự lí, 3 quán thứ đệ... chuyên chở chúng sinh cùng đến đại Niết bàn. [X. kinh Nhập lăng già Q.4; Lăng già kinh nghĩa sớ Q.2, phần cuối; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Ngũ Thừa. Theo tông Hoa nghiêm: 1. Nhất thừa(Phạm:Eka-yàna): Dùng pháp Nhất thừa thực tướng làm xe để đến Niết bàn. 2. Bồ tát thừa: Dùng 6 độ muôn hạnh làm xe để ra khỏi 3 cõi. 3. Duyên giác thừa: Dùng pháp 12 nhân duyên làm xe để vượt ra ngoài 3 cõi. 4. Thanh văn thừa: Dùng pháp môn 4 đế làm xe để vượt thoát 3 cõi. 5. Tiểu thừa (Phạm: Hìna-yàna): Tức Nhân thiên thừa, dùng 5 giới 10 thiện làm xe để ra khỏi 4 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la). [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương nghĩa uyển sớ Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương khuông chân sao Q.2]. IV. Ngũ Thừa. Theo kinh Xưng tán Đại thừa công đức: 1. Thanh văn thừa. 2. Độc giác thừa. 3. Vô thượng thừa (Phạm:An-uttarayàna). 4. Chủng chủng thừa (Phạm:Nànàyàna). 5. Nhân thiên thừa (Phạm: Devamanuwya-yàna). Ngũ thừa này do đức Phật tùy theo các loại chúng sinh mà nói ra bằng 1 thứ pháp âm.V. Ngũ Thừa. Theo tông Chân ngôn. Tông này phối hợp 5 đại với 5 thừa mà thành lập riêng 5 thừa thành Phật. Năm thừa này đều là tự thể trong pháp thân của đức Phật Tì lô giá na(Đại nhật Như lai). Đó là: 1. Nhân thừa, tức địa đại, vì loài người đều ở trên mặt đất. 2. Thiên thừa, tức là thủy đại. Nước lấy chữ Vaô làm chủng tử, Vaô có nghĩa lìa nói năng. Nước tùy theo đồ đựng hình dáng vuông hay tròn mà xoay chuyển một cách tự tại, tương ứng với nghĩa tự tại của trời.3. Thanh văn thừa, tức hỏa đại. Vì Thanh văn từ nơi tâm phát hỏa, nên hoại thân diệt trí. Chủng tử của Hỏa thiên là chữ Ra, Ra là chủng tử của Ngữ bồ tát, Thanh văn nương vào lời dạy mà được độ, cho nên được phối với hỏa đại. 4. Duyên giác thừa, tức là phong đại. Chủng tử của phong đại là chữ Ha, Ha nghĩa là nhân duyên. Duyên giác quán 12 nhân duyên, cho nên 2 nghĩa này tương ứng. Lại nữa, sự khai ngộ của Duyên giác là do quán lí duyên khởi vô thường mà chứng ngộ, như từ duyên gió mà quán hoa rơi lá rụng liền thể ngộ lí vô thường, vì thế phối hợp Duyên giác với phong đại. 5. Bồ tát thừa, tức là không đại. Vì Bồ tát quán nhân không và pháp không. [X. Bí tạng kí Q.cuối; Bí tạng kí sao Q.10]. VI. Ngũ Thừa. Theo tông Tịnh độ: 1. Nhân thừa. 2. Thiên thừa. 3. Thanh văn thừa. 4. Duyên giác thừa. 5. Bồ tát thừa. Năm thừa này đều nhờ sức bản nguyện rộng lớn của đức Phật A di đà mà được sinh về Tịnh độ phương Tây, gọi là Ngũ thừa tề nhập. VII. Ngũ Thừa. Theo tông Thiên thai: Ngũ thừa là: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn Duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. Tóm lại, pháp thế gian dạy dỗ, dắt dẫn chúng sinh vào cõi người cõi trời, gọi là Thế gian thừa; pháp môn giáo hóa, vận chuyển chúng sinh đến các quả vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát... để vượt ra khỏi cõi mê sinh tử, gọi là Xuất thế gian thừa. Ngoài ra, còn có các thuyết Tứ thừa như sau:1. Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. 2. Nhân thiên thừa, Tiểu thừa, Tam thừa và Nhất thừa. 3. Nhân thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. 4. Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa và Bồ tát thừa. Về trí quán của 4 thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật thì được phân biệt như sau: Hạ quán trí, Trung quán trí, Thượng quán trí và Thượng thượng quán trí, gọi là Tứ thừa quán trí.

ngũ thừa tề nhập

(五乘齊入) Năm thừa đều sinh về Tịnh độ. Nghĩa là căn cơ 5 thừa như Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều nhờ sức bản nguyện của đức Phật A di đà mà được sinh về cõi Báo độ chân thực. [X. Quán kinh sớ huyền nghĩa phần; Quán kinh huyền nghĩa phần truyền thông kí Q.2, 6]. (xt. Ngũ Thừa).

ngũ thực

(五食) Chỉ cho 5 thứ thức ăn xuất thế gian. Tức là 5 thứ pháp thực nuôi lớn gốc lành tuệ mệnh của bậc Thánh. Đó là: 1. Niệm thực: Người tu hành thường giữ chính niệm để nuôi lớn tất cả căn lành. 2. Pháp hỉ thực: Người tu hành ưa thích pháp Đại thừa, nhờ đó mà nuôi lớn hạt giống đạo nên tâm họ thường vui vẻ. 3. Thiền duyệt thực: Người tu hành do được sức thiền định mà có thể tự nuôi tuệ mệnh, đạo phẩm tròn sáng, tâm thường vui mừng. 4. Nguyện thực: Người tu hành trọn đời giữ nguyện, không bỏ muôn hạnh mà nuôi lớn tất cả căn lành. 5. Giải thoát thực: Người tu hành cởi bỏ tất cả sự trói buộc của hoặc nghiệp, đối với pháp được tự tại, nuôi lớn tất cả thiện căn bồ đề. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.41; Hoa nghiêm kinh sớ Q.19, 28]. ; (五實) Năm sự thực của đức Phật do ngài Thân loan, người Nhật bản, căn cứ vào phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ của Đại sư Thiện đạo mà phân biệt. Đó là: 1. Chân thực quyết liễu nghĩa: Lời nói của đức Phật không hư dối nên gọi là chân thực; quyết định chính lí, rốt ráo rõ ràng, nên gọi là quyết liễu. 2. Thực tri: Chỉ cho Nhất thiết chủng trí. Nghĩa là trí của Phật biết khắp các tướng sai biệt của tất cả pháp, nên gọi là thực tri. 3. Thực giải: Chỉ cho 4 vô ngại. Tức là Pháp vô ngại giải, Nghĩa vô ngại giải, Từ vô ngại giải và Nhạo thuyết vô ngại giải. Bốn thứ vô ngại này đều hiểu đúng sự thực, cho nên gọi là thực giải. 4. Thực kiến: Chỉ cho mắt của Phật. Mắt của Phật có năng lực thấy suốt tính tướng trong Như lai tạng là thường trụ, cái thấy ấy thấy hết thảy pháp, khế hợp với sự thực nên gọi là thực kiến. 5. Thực chứng: Chỉ cho đại Niết bàn. Tức là Phật chứng được đại quả Niết bàn chân thực, tròn đủ muôn đức, cho nên gọi là thực chứng. [X. Ngu ngốc sao Q.hạ].

ngũ tinh

(五星) Cũng gọi Ngũ chấp. Năm ngôi sao. Đó là: 1. Tuế tinh: Sao Mộc, thuộc mộc trong ngũ hành, là con của Thanh đế ở phương đông. 2. Huỳnh hoặc tinh: Sao Hỏa, thuộc hỏa trong ngũ hành, là con của Xích đế ở phương nam. 3. Trấn tinh: Sao Thổ, thuộc thổ trong ngũ hành, là con của Hoàng đế ở trung ương. 4. Thái bạch tinh: Sao Kim, thuộc kim trong ngũ hành, là con của Bạch đế ở phương tây. 5. Thần tinh: Sao Thủy, thuộc thủy trong ngũ hành, là con của Hắc đế ở phương bắc. Chu kì vận hành của 5 vì sao này nhanh chậm không giống nhau. Sao Thái bạch và sao Thần phải cần thời gian 1 năm mới đi hết 1 vòng, sao Huỳnh hoặc 2 năm, sao Tuế 12 năm, sao Trấn 29 năm rưỡi. [X. kinh Đại phương đẳng đại tập Q.40; kinh Tú diệu Q.thượng; kinh Đại phương quảng bồ tát Văn thù sư lợi căn bản nghi quĩ Q.3].

ngũ tinh xá thập tháp

(五精舍十塔) Năm ngôi tinh xá và 10 tòa tháp, là những Thánh tích của Phật giáo ở Ấn độ. I. Ngũ Tinh Xá. Về 5 ngôi tinh xá có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Đại trí độ quyển 3 bản Cao li, thì 5 tinh xá là: Trúc viên, Bề bà la bạt thứ, Tát đa bát na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha và Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la đều ở thành Vương xá. Nhưng theo 3 bản đời Tống, Nguyên, Minh thì chỉ cho 5 núi bao quanh thành Vương xá: Bệ bà la bạt thứ (Phạm: Vebhàravana), Tát đa ban na cầu ha (Phạm: Sattapaịịiguhà), Nhân đà thế la cầu ha (Phạm: Indasàlaguhà), Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la (Phạm: Sappasoịđikapabhàra) và Kì xà quật (Pàli: Gijjhakùỉa). 2. Theo Phiên dịch danh nghĩa tập thì 5 tinh xá là: Cấp cô độc viên, Thứu lãnh, Di hầu giang, Am la thụ viên và Trúc lâm... 3. Theo Chỉ quật dịch thổ tập quyển 21, Phiên Phạm ngữ quyển 9, thì 5 tinh xá là: Trúc viên, Bề bà la bạt thứ tát đa ban na cầu ha, Nhân đà thế la cầu ha, Tát pha thứ hồn trực ca bát bà la và Kì xà quật. 4. Theo Loại tụ danh vật khảo quyển 334, thì 5 tinh xá là: Tinh xá Kì viên, tinh xá Trúc lâm, tinh xá Đại lâm, tinh xá Thệ đa lâm và chùa Na lan đà, cũng gọi là Thiên trúc ngũ sơn. II. Thập Tháp. Có các thuyết sau đây: 1. Theo kinh Đại bát niết bàn quyển hạ (bản 3 quyển) do ngài Pháp hiển dịch vào đời Đông Tấn, thì sau khi đức Phật nhập diệt, 8 ông vua được chia 8 phần xá lợi, đưa về 8 nước xây tháp cúng dường, 1 tháp thờ bình chia xá lợi do Bà la môn Hương tính xây, còn 1 tháp do các Lực sĩ xây ở ngay nơi trà tì để thờ 1 phần xá lợi còn lại, như vậy tất cả là 10 ngôi tháp. 2. Theo luật Thập tụng quyển 60 thì trong cõi Diêm phù đề(Ấn độ) có 10 tòa tháp, trong đó 8 tháp thờ xá lợi, tháp thứ 9 thờ cái bình dùng để chia xá lợi, còn tòa tháp thứ 10 thì thờ tro. Tám tòa tháp thờ xá lợi nói trên được xây ở các nước: Câu thi, Ba ba, Già la, La ma già, Tì lưu đề, Ca duy vệ, Tì xá li và Ma già đà. 3. Có thuyết cho 10 tháplà: Đính tháp (tháp thờ xương đầu), Nha tháp (tháp thờ răng hàm), Xỉ tháp (tháp thờ răng), Phát tháp (tháp thờ tóc), Trảo tháp (tháp thờ móng tay), Y tháp (tháp thờ áo), Bát tháp (tháp thờ bát), Tích tháp (tháp thờ gậy tích), Bình tháp (tháp thờ bình đựng nước) và Dư tháp (tháp thờ kiệu). Nhưng thuyết này không rõ chỗ y cứ. Ngoài ra, kinh Ban nê hoàn quyển hạ và kinh Trường a hàm quyển 5 thì nêu ra thuyết 11 tháp. Trong đó, kinh Ban nê hoàn cho rằng tháp thứ 9 là tháp thờ bình chia xá lợi, tháp thứ 10 là tháp định, tháp thứ 11 là tháp thờ tro. Còn kinh Trường a hàm thì cho rằng tháp thứ 9 là tháp thờ bình, tháp thứ 10 thờ tro và tháp thứ 11 thờ tóc. Đến đời sau, Trung quốc và Nhật bản đặt ra chế định Ngũ sơn Thập sát chính đã căn cứ vào thuyết Ngũ tinh xá thập tháp này.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.32; kinh Phật bản hạnh tập Q.48; Tuyển tập tam tạng cập tạp tạng truyện; Thích ca phổ Q.4; Niết bàn kinh sớ tam đức chỉ qui Q.20; Pháp hoa kinh văn cú Q.1, phần trên; Đại tạng pháp số Q.32].

ngũ tiểu bộ

(五小部) Gọi đủ: Thiên thai ngũ tiểu bộ. Đối lại: Tam đại bộ. Chỉ cho 5 bộ sách nhỏ trong các soạn thuật của ngài Thiên thai Trí khải, đó là: 1. Kim quang minh kinh huyền nghĩa, 2 quyển, gọi tắt: Quang minh huyền. 2. Kim quang minh văn cú, 6 quyển, gọi tắt: Quang minh sớ. 3. Quan âm huyền nghĩa, 2 quyển, gọi tắt: Quan âm huyền, Biệt hành huyền. 4. Quan âm nghĩa sớ, 2 quyển, gọi tắt: Quan âm sớ, Biệt hành sớ. 5. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ, 1 quyển, gọi tắt: Quán kinh sớ. Ngũ tiểu bộ này đều có chú giải của ngài Tứ minh Tri lễ, tức là: - Kim quang minh kinh huyền nghĩa thập di kí, 6 quyển. - Kim quang minh kinh văn cú kí, 8 quyển. - Quan âm huyền nghĩa kí, 4 quyển. - Quan âm nghĩa sớ kí, 4 quyển. - Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ diệu tông sao, 3 quyển. [X. Sơn gia chính thống học tắc Q.thượng].

ngũ tiễn

(五箭) Cũng gọi Hoa tiễn. Năm mũi tên. Năm mũi tên ví dụ cho 5 món dục (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Năm món dục này có sức phá hoại sự nghiệp tu đạo như mũi tên hại thân thể, cho nên gọi là Ngũ tiễn.

ngũ trang nghiêm pháp

(五莊嚴法) Năm pháp trang nghiêm pháp giới thanh tịnh.1. Tinh tiến: Tinh là xa lìa cấu uế 2 bên (có và không) mà trụ nơi chân lí tột cùng; Tiến là siêng chăm gắng sức trong pháp giới thanh tịnh. 2. Minh vương: Biểu thị bản thệ nguyện lực của các vị tôn trong 3 bộ, dùng đạo Tam muội của chư Phật làm chỗ nương tựa. 3. Trừ chướng: Pháp Tức tai có thể dứt bặt 3 chướng 3 hoặc của 6 đường và 3 thừa. 4. Thành tựu chư dũng mãnh sự: Tức pháp Điều phục có công năng hàng phục những kẻ oán địch của phàm thánh từ vô thủy đến nay. 5. Thành tựu nhất thiết chân ngôn: Tức pháp Tăng ích có năng lực làm cho phàm thánh có đầy đủ niềm vui và lấy pháp thành tựu này làm chân ngôn. Năm pháp trên đây là cương yếu của bộ kinh Tô tất địa yết la trong Mật giáo. [X. kinh Tô tất địa yết la Q.thượng; Tô tất địa yết la kinh lược sớ Q.1].

ngũ tri căn

(五知根) Phạm: Paĩca buddhìndriyàịi. Cũng gọi Ngũ căn. Năm căn nhận biết về âm thanh, chạm xúc, màu sắc, vị và hương. Đó là: Nhĩ căn hạm: Zrotrendriya), Bì căn (Phạm: Tvagindriya), Nhãn căn (Phạm: Cakwurindriya), Thiệt căn (Phạm: Rasanendriya) và Tị căn (Phạm: Nàsikendriya). Là 1 khoa trong 25 đế của học phái Số luận. Theo luận Kim thất thập quyển trung thì Nhĩ căn là từ âm thanh sinh ra, đồng loại với không đại, vì thế chỉ nhận biết âm hanh; Bì căn tức là xúc sinh ra, đồng loại với phong đại, cho nên chỉ nhận biết xúc; Nhãn căn là từ màu sắc sinh ra, cùng loại với hỏa đại, vì thế chỉ nhận biết màu sắc; Thiệt căn là từ vị sinh ra, cùng loại với thủy đại, cho nên chỉ nhận biết mùi vị; Tị căn là từ hương sinh ra, cùng loại với địa đại, vì thế chỉ nhận biết hương. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam); luận Kim thất thập Q.thượng; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.32; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.trung, phần đầu].

Ngũ trí

五智|Năm trí.

ngũ trí

(五智) Phạm:Paĩca jĩànàni.I. Ngũ Trí. Năm trí thể của đức Đại nhật Như lai do Mật giáo thành lập.1. Pháp giới thể tính trí (Phạm: Dharma-dhàtu-svabhava-jĩàna): Tức là trí thể tính của các pháp thế gian và xuất thế gian. Trí này đạt được khi thức A ma la thứ 9 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với Đại nhật Như lai ở Trung ương và Phật bộ. 2. Đại viên kính trí (Phạm: Adarzajĩàna): Tức trí hiển hiện muôn tượng trong pháp giới đều trong sạch tròn sáng. Trí này đạt được khi thức A lại da thứ 8 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức A súc Như lai ở phương Đông và Kim cương bộ, vì thế cũng gọi là Kim cương trí.3. Bình đẳng tính trí (Phạm: Samatàjĩàna), cũng gọi Quán đính trí. Tức tríhiển hiện đầy đủ tính bình đẳng của các pháp. Trí này đạt được khi thức mạt na thứ 7 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Bảo sinh Như lai ở phương Nam và Bảo bộ.4. Diệu quan sát trí (Phạm: Pratyave= kwanà), cũng gọi Liên hoa trí, huyển pháp luân trí. Tức trí xem xét căn cơ chúng sinh mà nói pháp 1 cách tự tại. Trí này đạt được khi ý thức thứ 6 từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Phật A di đà ở phương Tây và Liên hoa bộ.5. Thành sở tác trí (Phạm: Kftyà= nuwỉhàna-jĩàna), cũng gọi Yết ma trí. Tức trí thành tựu sự nghiệp của mình và người. Trí này đạt được khi 5 thức trước từ hữu lậu chuyển thành vô lậu; phối với đức Phật Bất không thành tựu ở phương Bắc và Yết ma bộ. Trên đây là nói về Kim cương giới; nếu nói về Thai tạng giới thì năm trí theo thứ tự được phối hợp với: Đại nhật Như lai, Bảo chàng Như lai, Khai phu hoa Như lai, Vô lượng thọ Như lai và Thiên cổ lôi âm Như lai. Năm trí này lại có 2 nghĩa: Biệttướng và Các cụ. Biệt tướng là phối hợp riêng 5 trí với 5 đức Phật và 5 bộ. Còn Các cụ là tất cả chư Phật đều có đủ 5 trí. Đó là ý chỉ đặc biệt sâu xa Nhị nhi bất nhị, Tức li bất mậu(hai mà không hai, tức, lìa không lầm) của Mật giáo.[X. kinh Đại bi không trí kim cương đại giáo vương nghi quĩ Q.2; Kim cương đính du già lược thuật tam thập thất tôn tâm yếu; Lược thuật kim cương đính du già phân biệt thánh vị pháp môn; Kim cương đính kinh nhất tự đính luân vương du già nhất thiết thời xứ niệm Phật thành Phật nghi quĩ; Tức thân thành Phật nghĩa].II. Ngũ Trí. Chỉ cho 5 thứ trí mà đức Phật đã chứng được nói đến trong kinh Vô lượng thọ quyển hạ và trong Lược luận an lạc tịnh độ nghĩa.Đó là: 1. Phật trí: Gọi chung tất cả trí của Phật.2. Bất tư nghị trí: Trí Phật không thể nghĩ bàn, có thể lấy ít làm nhiều, lấy gần làm xa, lấy nhẹ làm nặng, lấy dài làm ngắn và ngược lại.3. Bất khả xưng trí: Trí Phật dứt bặt nói năng, không phải tướng chẳng phải hình, vượt ngoài đối đãi.4. Đại thừa quảng trí: Trí Phật biết tất cả, dứt sạch phiền não, đầy đủ thiện pháp, độ hết chúng sinh.5. Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí: Trí Phật chân thực chẳng hư dối, được Tam muội như thực, thường ở trong định mà chiếu soi khắp muôn pháp, không có gì so sánh được, không thể suy lường được.Vô lượng thọ kinh tông yếu (bản 2 quyển) phối hợp Bất tư nghị trí với Thành sở tác trí, phối hợp Bất khả xưng trí với Diệu quan sát trí, phối hợp Đại thừa quảng trí với Bình đẳng tính trí và phối hợp Vô đẳng vô luân tối thượng thắng trí với Đại viên kính trí.[X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn); Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.hạ].III. Ngũ Trí.Năm thứ trí do bậc Thánh chứng được nói trong luận Thành thực quyển 16:1. Pháp trụ trí: Trí biết rõ các pháp sinh khởi.2. Nê hoàn trí: Trí biết rõ các pháp diệt hết.3. Vô tránh trí: Trí không tranh cãi với người khác.4. Nguyện trí: Trí ở trong các pháp không bị chướng ngại.5. Biên tế trí: Trí tối thượng, được sức tự tại đối với sự thêm bớt của mệnh sống.

ngũ trí chân ngôn

(五智真言) Chân ngôn biểu thị Ngũ trí ngũ Phật của Kim cương giới, tức là chủng tử của 5 đức Phật: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#) và (a#), theo thứ tự là chân ngôn của 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà và Bất không thành tựu thuộc Phật bộ. Giống với Ngũ trí chân ngôn của 5 vị Đại hư không tạng thuộc Bảo bộ.[X. phẩm Kim cương cát tường thành tựu trong kinh Du kì; kinh Lược xuất Q.1].

Ngũ Trí Như Lai

(五智如來): xem Ngũ Phật (五佛) bên trên. ; 五智如來; C: wǔzhì rúlái; J: gochi nyorai;|Năm vị Phật hiện thân của 5 dạng trí huệ khác nhau: 1. Đại Nhật Như Lai (s: ma-hāvairocana), hiện thân cho trí tuệ viên mãn từ thể tính của pháp giới (Pháp giới thể tính trí 法界體性智); 2. A-súc Như Lai (s: akṣobhya), hiện thân của Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bảo Sinh Như Lai (s: ratna-saṃbhāva), hiện thân của Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. A-di-đà Như Lai (s: amitābha), hiện thân của Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Bất Không Thành Tựu Như Lai hay Thích-ca Mâu-ni Như Lai hiện thân của Thành sở tác trí (成所作智). Xem thêm Ngũ Phật (五佛).

ngũ trí như lai

(五智如來) Mật giáo phối hợp 5 trí với 5 đức Phật, gọi là Ngũ trí Như lai. Đó là:1. Đại nhật Như lai: An vị ở chính giữa, đầy đủ trí Pháp giới thể tính.2. A súc Như lai: An vị ở phương Đông, đầy đủ trí Đại viên kính.3. Bảo sinh Như lai: An vị ở phương Nam, đầy đủ trí Bình đẳng tính.4. A di đà Như lai: An vị ở phương Tây, đầy đủ trí Diệu quan sát.5. Bất không thành tựu Như lai: An vị ở phương Bắc, đầy đủ trí Thành sở tác.[X. luận Bồ đề tâm]. (xt. Ngũ Trí).

Ngũ Trí Phật

五智佛; C: wǔzhì fó; J: gochi butsu;|Ngũ Phật.

ngũ trí tam thân

(五智三身) Năm trí của đức Đại nhật Như lai, mỗi trí đều sinh đủ thân 3 Phật, Bồ tát và Kim cương, như:1. Pháp giới thể tính trí: Thân nghiệp là Phật Tì lô giá na, khẩu nghiệp là bồ tát Phổ hiền và ý nghiệp là Bất động kim cương.2. Đại viên kính trí: Thân nghiệp là Phật A súc, khẩu nghiệp là bồ tát Văn thù sư lợi và ý nghiệp là Hàng tam thế kim cương.3. Bình đẳng tính trí: Thân nghiệp là Phật Bảo sinh, khẩu nghiệp là bồ tát Hư không tạng và ý nghiệp là Quân đồ lợi kim cương.4. Diệu quan sát trí: Thân nghiệp là Phật A di đà, khẩu nghiệp là bồ tát Quán tự tại và ý nghiệp là Lục túc kim cương.5. Thành sở tác trí: Thân nghiệp là Phật Thích ca hoặc Phật Bất không thành tựu, khẩu nghiệp là bồ tát Kim cương nghiệp và ý nghiệp là Ma ha dược xoa kim cương. [X. kinh Liên hoa tam muội; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.6].

Ngũ trí Tam-muội

Theo đức Phật giảng giải trong kinh Đại Bát Niết-bàn này ở quyển 31 (trang 76, Tập 6) thì Ngũ trí Tam-muội gồm: 1. Tam-muội Vô thực, 2. Tam-muội Vô quá, 3. Tam-muội Thân ý thanh tịnh nhất tâm, 4. Tam-muội Nhân quả câu lạc, 5. Tam-muội Thường niệm. Năm phép tam-muội này giúp sanh khởi trí tuệ, nên tùy theo mức độ phá trừ phiền não cũng được giảng giải thành năm bậc như sau: 1. Sơ trí: Hành giả khi tu tập nếu khởi sanh phiền não, liền ngay khi ấy khởi sanh trí tuệ dứt trừ phiền não, làm cho tâm định được thanh tịnh như bậc thánh. 2. Đệ nhị trí: Tâm được thanh tịnh như bậc thánh, tự biết đó không phải là chỗ phàm phu có thể đạt được, mà là chỗ hàng trí giả ngợi khen xưng tán. Vì đạt được trí tuệ của bậc thánh, không gọi là phàm phu. Phân biệt như vậy phá được giả danh, gọi là đệ nhị trí. 3. Đệ tam trí: Dứt trừ hết thảy phiền não tham ái nên gọi là tịch diệt. Vì tịch diệt nên đạt đên sự nhiệm mầu. Lìa các phiền não nên gọi là xa lìa. Đạt được trí này thì lìa xa cõi dục, gọi là đệ tam trí. 4. Đệ tứ trí: Tùy sự chứng đắc dứt trừ phiền não mà được an ổn tịch diệt, lìa xa sự vui thế tục nên gọi là hiện tại an vui, về sau cũng an vui. Hiện tại an vui là cái vui dứt trừ phiền não; về sau an vui là cái vui Niết-bàn. Đó gọi là đệ tứ trí. 5. Đệ ngũ trí: Hành giả thường thực hành tâm vô tướng, đạt được sự nhất tâm xuất định nhập định, gọi là đệ ngũ trí. Chứng đắc năm trí này tức là chứng quả Tam-muội, nên gọi là Ngũ trí Tam-muội. Lại theo Niết-bàn kinh sớ giải dẫn Thành luận quyển 6, phẩm Ngũ trí, thì Ngũ trí này gồm: 1. Pháp trụ trí (法住智): rõ biết sự sanh khởi của tất cả các pháp; 2. Nê-hoàn trí (泥洹智): rõ biết sự diệt mất của tất cả các pháp; 3. Vô tranh trí (無諍智): rõ biết lẽ chân thật không còn phải tranh cãi, biện luận với bất cứ ai; 4. Nguyện trí (願智): đối với tất cả các pháp không còn có sự chướng ngại; 5. Biên tế trí (邊際智): đạt được trí tuệ tối thượng, đối với tất cả các pháp thiền định đều có thể tu tập tăng trưởng, được sức tự tại.

ngũ trí ấn

(五智印) I. Ngũ Trí Ấn.Năm trí ấn. Theo Kim cương đính nghĩa quyết thì 5 trí ấn là:1. Kim cương trí ấn: (hùô).2. Bảo trí ấn: (trà#).3. Pháp luân trí ấn: (hrì#).4. Yết ma trí ấn: (a#).5. Nhất thiết Như lai pháp giới trí ấn: (vaô).II. Ngũ Trí Ấn. Tên gọi khác của ấn Ngũ cổ. (xt. Ngũ Cổ Ấn).

Ngũ trùng duy thức

五重唯識; C: wǔzhòng wéishì; J: gojū yuishiki;|Năm cấp độ lĩnh hội nguyên lí Duy thức. Đo là năm sự phân loại theo trình độ thể nhập giáo lí Duy thức từ cạn đến sâu. Đo là: 1. Khiển hư tồn thật thức (遣虚存實識); 2. Xả lạm lưu thuần thức (捨濫留純識); 3. Nhiếp mạt quy bản thức (攝末歸本識); 4. Ẩn liệt hiển thắng thức (隱劣顯勝識); 5. Khiển tướng chứng tính thức (遣相證性識). Đây là giáo lí Ngũ trùng duy thức do sư Khuy Cơ (窺基) trình bày trong Đại thừa pháp viên nghĩa lâm chương (大乘法圓義林章). Trong tác phẩm nầy, khi phân chia giữa nhận thức chủ quan và thế giới khách quan thì 100 pháp thuộc về thế giới khách quan, trong khi Ngũ trùng duy thức được xem như là thể tính của nhận thức chủ quan.

ngũ trùng duy thức

(五重唯識) Cũng gọi Ngũ trùng duy thức quán. Năm lớp quán về Duy thức theo thứ tự từ cạn đến sâu, từ thô đến tế do ngài Khuy cơ thuộc tông Pháp tướng sáng lập. Năm lớp quán ấy là: 1. Khiển hư tồn thực thức: Khiển là loại bỏ, tức phủ định. Trong ba tính, Biến kế sở chấp là hư dối, thể và dụng đều không có, cho nên cần loại bỏ(khiển hư); lấy Y tha, Viên thành làm thể tướng và thực tính của các pháp, vì 2 tính này là chân thực, cho nên giữ lại(tồn thực), đồng thời quán 2 tính này là do thức hiển hiện. 2. Xả lạm lưu thuần thức: Bỏ cái tạp nhạp, giữ cái thuần túy. Ở lớp quán thứ 1, sự Y tha và lí Viên thành tuy không lìa thức, nhưng trong thức vẫn còn cảnh khách quan (Tướng phần)và tâm chủ quan(Kiến phần, Tự chứng phần), tâm chỉ có bên trong, cảnh thì thông cả bên ngoài, vì sợ Tướng phần bên trong và cảnh tượng ngoài tâm lẫn lộn, không thể đạt đến chính quán, nên phải bỏ cảnh giữ tâm. 3. Nhiếp mạt qui bản thức: Thu ngọn về gốc. Ở lớp quán thứ 2 tuy đã lìa bỏ cảnh tượng hỗn tạp do tâm và cảnh đối đãi tạo ra, nhưng tâm pháp được giữ lại vẫn có gốc của tự thể thức (Tự chứng phần) và ngọn của tác dụng (Kiến và Tướng phần) khác nhau. Vì ngọn mà lìa gốc thì không tồn tại, cho nên phải thu ngọn về gốc.4. Ẩn liệt hiển thắng thức: Ẩn giấu cái yếu kém, hiển bày cái mạnh mẽ. Tự thể của tâm sở và tâm vương tuy giống nhau ở chỗ Kiến phần và Tướng phần biến hiện làm năng duyên và sở duyên, nhưng tâm sở vốn bị phụ thuộc vào tâm vương nên tác dụng rất yếu kém, vì thế phải ẩn giấu tâm sở yếu kém và hiển bày tâm vương mạnh mẽ.5. Khiển tướng chứng tính thức: Bỏ tướng chứng tính. Ở lớp thứ 4, tuy đã hiển bày tâm vương tồn tại, nhưng tâm vương có Sự và Lí khác nhau(Sự là tướng dụng của Y tha khởi, Lí là tính thể của Viên thành thực), vì thế phải loại bỏ tướng dụng của Y tha mà chứng vào thực tính của Viên thành. Trên đây là nói về tâm vương, nếu đứng trên quan điểm chung mà nhận xét, thì về mặt Sự và Lí của 5 pháp: Tâm vương, tâm sở, sắc pháp, bất tương ứng hành pháp và chân như thì cũng cần bỏ 4 lớp trước mà chứng vào lớp thứ 5. Lại nữa, mục đích mà 5 lớp quán trên đây nhắm tới là nói rõ cái thứ tự ngộ nhập 3 tính, vì thế, nếu lìa 3 tính thì pháp quán không tồn tại. Ngoài ra, lớp thứ 1 là Tổng quán (quán chung), 4 lớp sau là Biệt quán (quán riêng). Bốn lớp trước thuộc về Tướng duy thức, quán thức hiện tượng, là pháp tu của giai vị tiền Kiến đạo; lớp thứ 5 thuộc về Tính duy thức, quán duy thức chân như, là pháp tu của giai vị hậu Kiến đạo.[X. Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.1, phần đầu; Duy thức nghĩa chương Q.1, phần cuối, Q.2, phần đầu; Đại thừapháp tướng tông danh mục Q.5].

ngũ trùng huyền nghĩa

(五重玄義) Cũng gọi Ngũ trùng huyền đàm, Ngũ trùng huyền, Ngũ huyền, Ngũ chương. Năm cách giải thích ý nghĩa sâu xa của các kinh do ngài Trí khải thuộc tông Thiên thai đặt ra. Đó là:1. Thích danh: Giải thích tên bộ kinh.2. Biện thể: Nói rõ về thể tính mà bộ kinh ấy tuyên thuyết, như Pháp hoa lấy Thức tướng trung đạo làm diệu thể sở thuyên của toàn bộ kinh.3. Minh tông: Bàn rõ về tông chỉ của bộ kinh.4. Luận dụng: Luận về công dụng của bộ kinh.5. Phán giáo, cũng gọi Phán giáo tướng. Phân lập giáo tướng để định giá trị của bộ kinh.Cách giải thích trên đây được ứng dụng trong các tác phẩm của ngài Trí khải như: Pháp hoa huyền nghĩa; Duy ma kinh huyền sớ; Kim quang minh kinh huyền nghĩa; Nhân vương kinh sớ; Kim cương bát nhã kinh sớ, Quan âm huyền nghĩa...[X. A di đà kinh nghĩa kí; Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ; Huyền nghĩa tư loại tụ Q.1, 4; Pháp hoa lược nghĩa kiến văn Q.1; Pháp hoa huyền nghĩa giảng thuật Q.1]. (xt. Pháp Hoa Ngũ Trùng Huyền Nghĩa).

ngũ trùng niệm phật

(五重念佛) I. Ngũ Trùng Niệm Phật. Năm pháp môn niệm Phật được nêu trong bộ Hoa nghiêm đại sớ sao quyển 62. Tức là:1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật môn: Miệng xưng niệm danh hiệu của Phật cầu được vãng sinh.2. Quán tướng diệt tội niệm Phật môn: Quán tưởng sắc tướng của Phật để cầu diệt trừ tội lỗi.3. Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Quán xét muôn pháp chỉ do 1 tâm tạo ra. 4. Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm năng quán và cảnh sở quán dung hòa nhau không ngăn ngại. 5. Duyên khởi viên thông niệm Phật môn: Quán pháp giới là 1 tướng, dứt bặt tâm cảnh, pháp tính tự duyên chứ chẳng phải tùy duyên, tự tính dung thông chứ chẳng phải cái này cái kia dung nhập lẫn nhau. Trong 5 môn trên, 2 môn trước thuộc sự niệm Phật, còn 3 môn sau thì thuộc về lí niệm Phật.II. Ngũ Trùng Niệm Phật. Năm pháp môn phương tiện niệm Phật do Đại sư Trí khải lập ra. Đó là:1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn. 2. Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn.3. Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn.4. Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn.5. Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn.

ngũ trùng tháp

(五重塔) Cũng gọi Ngũ tằng phù đồ, Ngũ tằng pháp, Ngũ cấp tháp. Tháp 5 tầng, trên nóc tháp có đặt tướng luân. Ở Ấn độ từ xưa đã có kiến trúc kiểu tháp này. Cứ theo Phật tổ thống kỉ quyển 53 và Lạc dương già lam kí quyển 2, thì ở Trung quốc từ đời Đông Tấn về sau đã thịnh hành việc xây kiểu tháp 5 tầng này và hiện nay còn lại rất nhiều.[X. kinh Đà la ni tập Q.2; Quảng hoằng minh tập Q.2; Lạc dương già lam kí Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.38].

ngũ trùng thế giới

(五重世界) Sự thành lập 1 thế giới Phật được xếp theo thứ tự 5 lớp. Tức là: Nhất thế giới, Nhất thế giới tính, Nhất thế giới hải, Nhất thế giới chủng và Nhất Phật thế giới. Trong đó, thế giới tính thứ 2, luận Đại trí độ gọi là Nhất Phật thế giới. Còn Quán chú ngũ giáo chương quyển hạ, phần 4, thì căn cứ theo thứ tự Thập trùng thế giới nói trong kinh Hoa nghiêm (bản dịchcũ) mà gọi đó là Thế giới tính.[X. kinh Hoa nghiêm Q.56 (bản dịch cũ); luận Đại trí độ Q.50; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.1, phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; luận Chương sở tri Q.thượng; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.52].

ngũ trùng tương truyền

(五重相傳) Cũng gọi Ngũ trùng huyết mạch, Ngũ trùng. Năm lớp truyền pháp, là nghi thức truyền pháp của tông Tịnh độ Nhật bản. Tức dùng thứ tự 5 lớp truyền thừa tông nghĩa, đồng thời trao truyền 5 phần huyết mạch. Tương truyền, nghi thức này đầu tiên do ngài Thanh cương truyền cho ngài Thánh thông vào năm Minh đức thứ 4 (1393). Đối tượng vốn là chúng xuất gia (học tượng tương thừa), nhưng về sau chúng tại gia cũng được truyền trao 5 lớp kết duyên (Hóa tha ngũ trùng). Cũng có chỗ gọi phương thức thầy trò truyền pháp này là Dự hiệu, Liên xã hiệu, A hiệu...

ngũ trùng tương đối

(五重相對) Cũng gọi Ngũ trùng giáo tướng, Ngũ đoạn tương đối, Ngũ đoạn tương truyền. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Năm cặp đối nhau, là từ ngữ được sử dụng trong Ngũ cương phán giáo của tông Nhật liên. Đó là:1. Nội ngoại tương đối: Phật giáo và ngoại đạo.2. Đại tiểu tương đối: Đại thừa và Tiểu thừa. 3. Quyền thực tương đối: Thực giáo của kinh Pháp hoa và Quyền giáo trong các kinh khác. 4. Bản tích tương đối: Bản môn và Tích môn của kinh Pháp hoa. 5. Giáo quán tương đối: Giáo tướng được hiển bày trên văn kinh và tâm quán được hiển bày trong nghĩa văn.

ngũ trùng vân

(五重雲) Năm lớp mây, ví dụ cho 5 chướng của người đàn bà. Thân người đàn bà có 5 cái chướng ngại, đó là: Không thể trở thành Phạm thiên vương, Đế thích, Ma vương, Chuyển luân thánh vương và Phật. Vì 5 chướng này được ví dụ như những đám mây dày đặc che lấp nên gọi là Ngũ trùng vân. [X. kinh Trung a hàm Q.28; luận Đại tríđộ Q.9].

Ngũ Trược

(s: pañca kaṣāyāḥ, p: pañcā kasāyā, 五濁): còn gọi là Ngũ Chỉ (五滓), tức trong thời Giảm Kiếp (減刼, thời kỳ thọ mạng của chúng sanh giảm xuống dần) sẽ sanh khởi 5 loại nhơ bẩn hay điều không tốt lành. Theo Kinh Bi Hoa (悲華經) quyển 5, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 98, Ngũ Trược gồm (1) Kiếp Trược (s: kalpa-kaṣāya, 刼濁): vào thời Giảm Kiếp, khi thọ mạng của chúng sanh giảm xuống còn 30 tuổi thì sẽ sanh ra nạn đói, giảm đến 20 tuổi thì sẽ có bệnh dịch hoành hành, đến 10 tuổi thì xảy ra nạn đao binh, làm cho tất cả chúng sanh thảy đều bị tai hại. (2) Kiến Trược (s: dṛṣṭi-kaṣāya, 見濁): khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp chuyển sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh và khiến cho mọi người không còn tu theo con đường lành nữa. (3) Phiền Não Trược (s: kleṣa-kaṣāya, 煩惱濁): chúng sanh có nhiều ái dục, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi trác táng, thọ nhận các tà pháp và làm cho tâm thần bị não loạn. (4) Chúng Sanh Trược (s: sattva-kaṣāya, 眾生濁): còn gọi là Hữu Tình Trược (有情濁), chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại, không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không làm việc phước thiện công đức, không tu hạnh bố thí trí tuệ cũng như ăn chay, không giữ gìn các giới cấm, v.v. (5) Mạng Trược (s: āyu-kaṣāya, 命濁): hay còn gọi là Thọ Trược (壽濁), từ ngàn xưa thọ mạng con người là 80.000 tuổi, thời nay do vì ác nghiệp tăng trưởng nhiều, cho nên tuổi thọ giảm dần, vì vậy người thọ 100 tuổi rất hiếm có. Như vậy, trong Ngũ Trược, Kiếp Trược là chung và bốn loại kia là riêng Như trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật, năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (釋迦牟尼佛、能爲甚難希有之事、能於娑婆國土五濁惡世、劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中、得阿耨多羅三藐三菩提, Phật thích ca mâu ni có thể làm những việc rất khó khăn hiếm có, có thể nơi quốc độ Ta Bà có năm món trược, gồm kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà chứng quả giải thoát hoàn toàn).” Hay trong bài Lô Sơn Huệ Viễn Pháp Sư Lụy (廬山慧遠法師誄) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống, thời Nam Triều có câu: “Linh thanh tục chấn, Ngũ Trược tạm long (令聲續振、五濁暫隆, khiến cho thanh danh mãi chấn đông, Ngũ Trược tạm thời ngừng phát triển).” Hoặc trong bài Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Tràng Tán (佛頂尊勝陀羅尼幢贊) của Độc Cô Cập (獨孤及, 725-777) nhà Đường cũng có câu: “Mang mang Ngũ Trược, khách trần phú chi (茫茫五濁、客塵覆之, mịt mờ Năm Trược, khách trần lấp che).” Hơn nữa, trong bài tựa của Kinh Lăng Nghiêm (楞嚴經) cũng có đoạn: “Phục thỉnh thế tôn vị chứng minh, Ngũ Trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn (伏請世尊爲證明、五濁惡世誓先入、如一眾生未成佛、終不於此取泥洹, cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, đời ác Năm Trược thề vào trước, nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn không nơi đây nhập Niết Bàn).”

Ngũ trược

濁|Ngũ trọc.

Ngũ trần

五塵; C: wǔchén; J: gojin;|Đối tượng của 5 giác quan: màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm. Gọi là »trần« vì nó làm ô nhiễm 5 thức. Xem thêm Ngũ cảnh (五境).

Ngũ trọc

五濁; C: wǔzhuó; J: gotaku; S: pañcakaṣāya; cũng đọc là Ngũ trược; |Danh từ Hán Việt dùng để chỉ những thứ nhơ bẩn cặn đục (Hán: trọc) dấy lên trong một Kiếp suy giảm. Ngũ trọc bao gồm: |1. Kiếp trọc (劫濁; s: kalpakaṣāya): nhiều căn bệnh dấy lên, nạn đói hoành hành, chiến tranh mọi nơi…; 2. Kiến trọc (見濁; s: dṛṣṭikaṣāya): tà kiến thịnh hành; 3. Phiền não trọc (煩惱濁; s: kleśakaṣāya): chúng sinh có nhiều tham dục, tâm thần phiền loạn; 4. Chúng sinh trọc (眾生濁; s: sattva-kaṣāya): chúng sinh không tuân theo luân lí, không sợ quả báo…; 5. Mệnh trọc (命濁; s: āyuskaṣāya): thọ mệnh của con người ngắn dần.

ngũ trọc

(五濁) Phạm: Paĩca kawàyà. Cũng gọi Ngũ trỉ. Chỉ cho 5 thứ cặn đục nổi lên trong kiếp giảm(thời đại mà tuổi thọ con người rút ngắn dần).Cứ theo kinh Bi hoa quyển 5 và Pháp uyển châu lâm quyển 98, thì Ngũ trược là:1. Kiếp trược (Phạm: Kalpa-kawàya). Trong thời kiếp giảm, khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 30 tuổi thì nạn đói kém xảy ra, lúc còn 20 tuổi thì nạn bệnh dịch xảy ra và lúc còn 10 tuổi thì nạn binh đao nổi dậy, chúng sinh trong thế giới thảy đều bị hại. 2. Kiến trược (Phạm:Dfwỉi-kawàya). Chính pháp diệt rồi, Tượng pháp dần dần xuất hiện, tà pháp bắt đầu sinh, tà kiến tăng mạnh, khiến con người không tu pháp lành. 3. Phiền não trược (Phạm: Klezakawàya). Chúng sinh nhiều ái dục, tham lam, bỏn sẻn, tranh đua, nịnh hót, lừa gạt, tiếp nhận các pháp tà, làm cho tâm thần bị não loạn.4. Chúng sinh trược (Phạm: Sattvakawàya), cũng gọi Hữu tình trược. Chúng sinh phần nhiều tồi tệ, xấu xa, không hiếu kính cha mẹ, người lớn tuổi, không sợ quả báo ác, không tạo công đức, không tu tuệ thí, chẳng giữ trai giới.5. Mệnh trược(Phạm:Àyu-kawàya), cũng gọi Thọ trược. Đời xưa con người thọ 8 vạn tuổi, đời nay do nghiệp ác tăng mạnh nên tuổi thọ giảm dần, hiếm người sống được trăm tuổi. Trong 5 trược thì Kiếp trược là Tổng (chung), 4 trược còn lại là Biệt (riêng). Lại trong 4 trược thì Kiến trược và Phiền não trược là tự thể mà tạo thành Chúng sinh trược và Mệnh trược. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 4, phần cuối, thì Kiếp trược không có thể riêng, kiếp là thời gian dài, sát na là thời gian ngắn, gom chung 4 trược mà thành lập giả danh Kiếp trược. Chúng sinh trược cũng không có thể riêng, nhìn chung từ quả báo của Mạn mà lập giả danh Chúng sinh trược. Phiền não trược lấy Ngũ độn sử làm thể, Kiến trược lấy Ngũ lợi sử làm thể, Mệnh trược lấy sự giữ gìn sắc tâm liên tục làm thể. Trong đó, Kiến trược và Phiền não trược là nhân, Mệnh trược là quả, còn Chúng sinh trược thì là người gieo nhân được quả. Cứ theo kinh Bi hoa, con người thọ từ 8 vạn tuổi giảm dần xuống còn 2 vạn tuổi thì Ngũ trược bắt đầu sinh khởi; lúc đó, thế giới hiện thực đầy dẫy phiền não khổ đau, gọi là Ngũ trược ác thế, cũng gọi Trược ác thế, Trược thế. Mới đầu, 5 trược tương đối nhỏ nhẹ, rồi dần dần tùy theo sự biến hóa của thời đại mà 5 trược tăng mạnh, gọi là Ngũ trược tăng thời. [X. kinh Tạp a hàm Q.32; kinh A di đà, kinh Bi hoa Q.2; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.21; kinh Văn thù sư lợi vấn Q.hạ; luận Thuận chính lí Q.32; luận Câu xá Q.12; Chú duy ma cật kinh Q.3; Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; kinh Bồ tát địa trì Q.7; Hoa nghiêm kinh khổng mục hương .2].

Ngũ trụ Bồ Tát

vị Bồ Tát trụ ở địa vị thứ năm trong Thập trụ của hàng Bồ Tát. Thập trụ chỉ mười địa vị tu chứng mà vị Bồ Tát lần lượt trải qua trước khi đạt được quả vị Phật, vì thế có thể xem như tương đương với Thập địa. Kinh luận đề cập đến mười địa vị này không hoàn toàn giống nhau, nhưng tựu trung đều là để tạm hình dung được con đường tu tập mà vị Bồ Tát phải trải qua. Địa vị thứ năm ở đây có thể là Phương tiện cụ túc trụ, tương đương với Cực nan thắng địa trong hệ thống Thập địa. Tuy có sự khác biệt về tên gọi, nhưng tất cả các kinh luận đều thống nhất trong cách mô tả về mười địa vị của Bồ Tát. Theo đó, từ địa vị thứ sáu trở lên Bồ Tát không còn chịu sự ràng buộc của sanh tử, có thể hoàn toàn tự do tự tại trong việc hóa thân độ sanh tùy ý muốn.

ngũ trụ địa hoặc

(五住地惑) Cũng gọi Ngũ trụ địa phiền não. Chỉ cho 5 phiền não: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa và Vô minh trụ địa. Vì 5 thứ phiền não này là chỗ nương tựa, chỗ cư trú của hết thảy phiền não và lại hay sinh ra các phiền não khác, cho nên gọi là Trụ địa. Đại thừa nghĩa chương quyển 5, phần đầu, giải thích về Ngũ trụ địa hoặc như sau:1. Kiến nhất xứ trụ địa: Kiến hoặc trong 3 cõi như Thân kiến v.v..., lúc vào giai vị Kiến đạo thì cùng dứt hết 1 lượt.2. Dục ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Dục, ngoại trừ Kiến và Vô minh, còn tất cả phiền não đều do đắm trước cảnh năm dục: Sắc, thanh, hương, vị, xúc mà sinh.3. Sắc ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Sắc, ngoại trừ Kiến và Vô minh, còn tất cả phiền não đều do tham đắm sắc thân của chính mình mà sinh.4. Hữu ái trụ địa: Trong các phiền não ở cõi Vô sắc, ngoại trừ Kiến và Vô minh, những phiền não còn lại đều do thương yêu đắm đuối thân mình mà sinh.5. Vô minh trụ địa: Tất cả vô minh trong 3 cõi. Vô minh là tâm mê ám, thể của nó tối tăm, là cội gốc của hết thảy phiền não. Trong 5 trụ địa hoặc trên đây, tông Duy thức cho rằng 4 trụ địa trước là hạt giống của phiền não chướng, còn trụ địa sau cùng là hạt giống của sở tri chướng. Tông Thiên thai thì cho Kiến nhất xứ trụ địa là Kiến hoặc, trụ địa thứ 2, 3, 4 là Tư hoặc của 3 cõi, gọi chung là Hoặc kiến tư của giới nội. Hàng Nhị thừa dứt hết 4 trụ địa này thì ra khỏi 3 cõi. Còn Vô minh trụ địa là Hoặc của giới ngoại(ngoài 3 cõi). Căn cứ vào trụ địa này mà lập ra 42 phẩm tu hành khác nhau, qua 42 phẩm vị này thì dứt hết Vô minh, lìa 2 thứ sinh tử (phần đoạn và biến dịch), chứng được đại Niết bàn.[X. kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.9, phần cuối; Thắng man kinh thuật kí Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần đầu; Pháp hoa văn cú kí Q.2, phần cuối; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần cuối].

ngũ tu di

(五須彌) I. Ngũ Tu Di. Năm núi Tu di, ví dụ sự rộng lớn của tướng lông trắng ở giữa 2 đầu chân mày của đức Phật A di đà. Phần quán thân Phật trong kinh Quán vô lượng thọ Phật (Đại 12, 343 trung) nói: Tướng lông trắng giữa 2 chân mày của đức Phật A di đà uốn lượn xoay vòng bên phải như 5 tòa núi Tu di. Núi Tu di cao 336 vạn dặm, mỗi bề cũng rộng như vậy, mà tướng lông trắng của Phật A di đà còn rộng lớn gấp 5 lần như thế, cho nên gọi là Ngũ tu di chứ chẳng phải chỉ cho 5 tòa núi Tu di khác nhau. [X. Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.cuối (Tuệ viễn); Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ (Trí khải)]. II. Ngũ Tu Di. Ví dụ tâm ngã mạn, phiền não, vô minh của chúng sinh cao rộng không lường được, giống như 5 núi Tu di. (xt. Tứ Đại Hải).

ngũ tà mệnh

(五邪命) Chỉ cho 5 việc trái với chính pháp mà vị tỉ khưu làm để mưu sinh. Đó là: 1. Giả hiện tướng khác lạ: Những tỉ khưu làm trái ngược với lời dạy chân chính của đức Phật, ở trước mắt người thế tục giả hiện tướng đặc biệt khác lạ, mong làm cho mọi người sinh lòng kính ngưỡng. 2. Tự khoe khoang tài năng của mình: Tỉ khưu dùng tài miệng lưỡi khen mình, chê người, mong được người khác kính ngưỡng. 3. Xem tướng tốt xấu: Tỉ khưu luyện tập tà thuật, xem tướng tốt xấu, bói toán lành dữ, khiến người ta tin tưởng mà cung phụng mình. 4. Cao giọng lớn tiếng, trá hiện uy nghi: Tỉ khưu nói lớn, giả dạng oai nghiêm để khiến người ta kính sợ. 5. Khoe lợi để khiến người động lòng: Tỉ khưu được lợi ở chỗ này, đưa đến nơi khác khoe khoang, mong người ta động tâm mà cúng dường. Năm việc trên đây đều là cách sinh sống không chính đáng. Những tỉ khưu chân chính nên thận trọng và tránh xa. [X. luận Đại trí độ Q.19]. NGŨ TÁC NGHIỆP CĂN Phạm: Paĩca karmendriyàịi. Cũng gọi Ngũ tác căn, Ngũ nghiệp căn, Ngũ nghiệp. Năm cỗi gốc tạo nên những hoạt động của chúng sinh. Tức là 5 đế, từ đế thứ 14 đến 18 trong 25 đế của Số luận, đó là: 1. Thiệt căn, cũng gọi Ngữ cụ, Khẩu thanh, có tác dụng nói năng. 2. Thủ căn (căn tay): Có tác dụng nắm giữ.3. Túc căn, cũng gọi Cước căn (căn chân): Có tác dụng bước đi. 4. Nam nữ căn, cũng gọi Nhân căn, Tiểu tiện xứ (bộ sinh dục của nam, nữ): Có tác dụng tính giao và sinh con. 5. Đại di căn, cũng gọi Đại tiện xứ(hậu môn): Có tác dụng loại bỏ phẩn uế. [X. kinh Niết bàn Q.35 (bản Nam), luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn; luận Kim thất thập Q.thượng, trung; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.6].

Ngũ Tài

(五材): 5 yếu tố hình thành nên vạn vật, gồm Kim (金), Mộc (木), Thủy (水), Hỏa (火) và Thổ (土). Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là 5 vật liệu để làm đồ thủ công, gồm kim (金, vàng), mộc (木, gỗ), bì (皮, thuộc da), ngọc (玉) và thổ (土, đất).

ngũ táng

(五葬) Năm cách chôn cất xác người chết. Tùy theo tập tục của mỗi nơi mà có 5 cách táng như sau: Thổ tang (chôn), hỏa táng (đốt), thủy tang (thả xuống nước), dã tang (bỏ xác ngoài đồng hoang) và lâm tang (bỏ trong núi rừng cho chim thú ăn). (xt. Táng).

Ngũ Tánh Các Biệt

(五姓[性]各別, Goshōkakubetsu): chúng sanh có 5 loại tố chất (tánh) của nhân cách mang tính tôn giáo vốn đầy đủ tính tiên thiên và được chia làm 5 loại theo chủ trương của Duy Thức Pháp Tướng Tông. Tánh (姓、性) là từ gọi tắt của chủng tánh (種姓、種性). Năm loại tánh ấy gồm: (1) Thanh Văn Định Tánh (聲聞定性), (2) Độc Giác Định Tánh (獨覺定性), (3) Bồ Tát Định Tánh (菩薩定性), (4) Bất Định Tánh (不定性) và (5) Vô Chủng Tánh (無種性). Ba loại đầu, mỗi con đường tu hành và quả chứng ngộ đạt được là quyết định, không có thay đổi, nên được gọi là Quyết Định Tánh (決定性). Loại Bất Định Tánh thứ tư thì không dứt khoát và có thể thay đổi. Loại Vô Chủng Tánh thứ năm thì không thể nào đạt được chứng ngộ. Trong 5 loại kể trên, chỉ có loại thứ 3 và 4 mới mới có thể thành Phật. Đây là giáo nghĩa chủ trương của Duy Thức Pháp Tướng Tông. Chính giáo nghĩa này đã tạo nên điểm tương phản với quan niệm của Phật Giáo Đại Thừa là hết thảy chúng sanh đều thành Phật, từ đó gây nên sự luận tranh giữa các tông phái. Đặc biệt, tại Nhật Bản thì những luận tranh của Tối Trừng (最澄, Saichō), Đức Nhất (德一, Tokuitsu) và Ứng Hòa (應和, Ōwa) dưới thời Bình An (平安, Heian) là nổi tiếng nhất.

ngũ tâm

(五心) Năm thứ tâm theo thứ tự sinh khởi khi tâm thức nhận biết ngoại cảnh. Đó là: 1. Suất nhĩ tâm, cũng gọi Suất nhĩ đọa tâm. Suất nhĩ nghĩa là đột nhiên. Tức là tâm thình lình khởi lên trong sát na(tích tắc) đầu tiên khi thức mắt tiếp xúc với ngoại cảnh (đối tượng), chưa phân biệt thiện ác. 2. Tầm cầu tâm: Tâm muốn xét biết ngoại cảnh 1 cách rõ ràng, nên suy cầu tìm kiếm mà khởi lên kiến giải phân biệt. 3. Quyết định tâm: Khi tâm đã phân biệt được các đối tượng đã nhận biết, thì có thể quyết định thiện hay ác. 4. Nhiễm tịnh tâm: Tâm sinh khởi các tình cảm tốt xấu đối với ngoại cảnh. 5. Đẳng lưu tâm: Đối với các pháp thiện ác đã phân biệt nhiễm tịnh rồi, thì mỗi pháp đều tùy loại nối nhau không ngừng; đối với thiện pháp thì sinh ra tưởng thanh tịnh; đối với ác pháp thì sinh ra tưởng ô nhiễm, niệm niệm nối nhau, trước sau không khác. Trong 5 tâm trên thì tâm suất nhĩ thường chỉ khởi lên 1 niệm, còn 4 tâm kia thì thường là nhiều niệm tiếp nối nhau.

ngũ tân

(五辛) Tân, Phạm: Parivyaya; Tạng: Spod. Cũng gọi Ngũ huân ... Năm loại rau có vị cay nồng. Cứ theo kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm quyển 8, năm loại rau này, nếu ăn chín thì sinh tâm dâm, ăn sống thì tăng thêm tâm bực tức, vì thế những người cầu giác ngộ không được ăn 5 loại rau này. Về ngũ tân, có nhiều thuyết khác nhau, nhưng có thể tóm lại thành 2 thuyết: 1. Theo kinh Phạm võng quyển hạ, thì 5 loại rau cay nồng là: Hành, hẹ, tỏi, củ kiệu và hưng cừ (Trung quốc cũng như Việt nam không có loại rau này). 2. Theo Bồ tát giới nghĩa sớ quyển hạ, thì ngũ tân là: Tỏi, hành, hưng cừ, hẹ, củ kiệu...

Ngũ tình

五情; C: wǔqíng; J: gojō;|Năm loại tình thức tham luyến, sinh khởi khi tiếp xúc với 5 đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị xúc (theo kinh Pháp Hoa 法華經).

ngũ tình

(五情) Chỉ cho 5 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của chúng sinh. Vì 5 căn này hay sinh ra tình thức, cho nên gọi Ngũ tình. [X. luận Đại trí độ Q.17, 40].

Ngũ tính

五性; C: wǔxìng; J: goshō; S: pañca-gotrāṇi.|Năm tính. Xem Ngũ tính các biệt (五性各別).

ngũ tính

(五姓) I. Ngũ Tính. Cũng gọi Ngũ chủng tính, Ngũ chủng chủng tính, Ngũ chủng thừa tính, Ngũ thừa chủng tính. Năm tính khác nhau của chúng sinh do chủng tử có sẵn(tiên thiên)trong thức A lại da quyết định mà không có cách nào thay đổi được. Đây là thuyết của tông Pháp tướng, gọi là Ngũ tính các biệt. Đó là: 1. Bồ tát định tính (Định tính Bồ tát). 2. Độc giác định tính (Định tính Độc giác). 3. Thanh văn định tính (Định tính Thanh văn).4. Tam thừa bất định tính (Bất định chủng tính).5. Vô tính hữu tình (Hữu tình không có tính).Trong đó, 3 tính đầu nhất định sẽ đạt được quả Phật, quả Bích chi phật hoặc quả A la hán (tính thứ 2 và thứ 3 gọi chung là Định tính nhị thừa). Tính thứ 4 là chủng tử vốn có của 3 bậc Thanh văn, Độc giác và Bồ tát, nên trước phải tu hạnh Nhị thừa rồi sau mới chuyển về Đại thừa mà chứng quả Phật. Nếu quả ấy chưa quyết định thì có 4 loại khác nhau: 1. Tam thừa. 2. Bồ tát, Độc giác. 3. Bồ tát, Thanh văn. 4. Độc giác, Thanh văn. Tính thứ 5 là vĩnh viễn đắm chìm trong cõi mê, không cách nào lìa được khổ, chỉ có thể tu 5 giới, làm 10 điều lành để gieo nhân sinh lên cõi trời và cõi người. Năm tính sai khác trên đây là căn cứ vào điều được nói trong kinh Lăng già quyển 2 và kinh Giải thâm mật quyển 2, vì thế có chỗ cho rằng thuyết Tất cả chúng sinh thảy đều thành Phật nói trong kinh Pháp hoa chỉ là pháp môn phương tiện khuyến khích chúng sinh Bất định tính chuyển về Đại thừa mà thôi. (xt. Nhất Xiển Đề, Ngũ Chủng Tính). II. Ngũ Tính. Chỉ cho 5 dòng họ của đức Phật, tức là: Cù đàm, Cam giá, Thích ca, Nhật chủng và Xá di. Vì Thích ca là 4 người con của vua Cam giá nên lập làm 4 họ, nhưng thực ra đều phát sinh từ Cù đàm. Cù đàm, Thích ca tên tuy khác nhưng họ chỉ là 1. Còn 2 họ Xá di và Thích ca thì phát sinh từ Cam giá, Cam giá phát sinh từ Cù đàm, đều là 1 họ trong dòng Sát đế lợi, cho nên chi nhánh thì nhiều mà nguồn gốc chỉ là một. (xt. Cam Giá Vương).

Ngũ tính các biệt

五性各別; C: wǔxìng gěbié; J: goshō kakubetsu;|Năm tính khác nhau. Giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派) phân chia căn tính bản hữu của chúng sinh thành 5 loại, đó là: 1. Định tính Thanh Văn; 2. Định tính Duyên Giác; 3. Định tính Bồ Tát; 4. Bất định tính; 5. Vô chủng tính (Nhất-xiển-đề 一闡提; s: icchantika). Giáo lí nầy là một trong những điểm tranh luận của các tông phái bản xứ tại Đông Nam Á, như Hoa Nghiêm có nhiều điểm bất đồng với Du-già hành tông.

ngũ tính thành phật

(五性成佛) Năm tính thành Phật tùy theo chủng tính khác nhau của chúng sinh. Theo Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2, 5 tính thành Phật là: 1. Bất định tính bán thành Phật: Tính bất định chỉ cho căn tính không nhất định. Nghĩa là người căn tính không nhất định, khi gần các bậc Thanh văn, Duyên giác thì tu tập pháp Thanh văn, Duyên giác, mà khi gần Bồ tát thì tùy thuận tu tập pháp Bồ tát. Người tu tập pháp Thanh văn, Duyên giác thì tham đắm quá nhỏ, không thích độ sinh, không cầu quả Phật nên không thành Phật. Người tu tập theo hạnh lợi sinh của Bồ tát thì cầu chứng bồ đề mà được thành Phật, nên gọi là Bất định tính bán thành Phật (tính bất định nên có thể thành Phật mà cũng có thể không thành Phật). 2. Vô chủng tính bất thành Phật: Người không có lòng tin, không gây nhân lành, phủ định lí nhân quả, không chịu sự giáo hóa, cam tâm chìm đắm trong sinh tử, không cần cầu giải thoát, nên gọi Vô chủng tính bất thành Phật(không có chủng tính thành Phật). 3. Thanh văn tính bất thành Phật: Căn tính Thanh văn chỉ tu tập pháp Tứ đế sinh diệt mà chứng được quả Niết bàn chân không, tham đắm nơi vắng lặng, sợ sinh tử, không thể phát khởi hạnh độ sinh để cầu Phật đạo, vì thế gọi là Thanh văn tính bất thành Phật (tính Thanh văn không thành Phật). 4. Duyên giác tính bất thành Phật: Căn tính Duyên giác chỉ quán pháp 12 nhân duyên mà chứng được quả Niết bàn chân không, vì cố chấp thiên không, không cầu Phật đạo, cho nên gọi là Duyên giác tính bất thành Phật (tính Duyên giác không thành Phật). 5. Bồ tát tính toàn thành Phật: Bồ tát tự giác, giác tha, vận dụng bi trí, xem kẻ oán người thân đều bình đẳng, tu tập các nhân, chứng quả Bồ đề, cho nên gọi Bồ tát tính toàn thành Phật. (xt. Ngũ Tính, Ngũ Chủng Tính).

Ngũ Tôn Phật

五尊佛; C: wǔzūn fó; J: goson butsu.|Ngũ Phật.

ngũ tông

(五宗) I. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông Đại thừa: Tông Thiên thai, tông Hoa nghiêm, tông Pháp tướng, tông Tam luận và tông Luật. II. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông phái Thiền: Tông Qui ngưỡng, tông Lâm tế, tông Tào động, tông Vân môn và tông Pháp nhãn. III. Ngũ Tông. Chỉ cho 5 tông do pháp sư Tự quĩ ở chùa Hộ thân đời Tề thành lập: Tông Nhân duyên, tông Giả danh, tông Bất chân, tông Chân thực và tông Pháp giới. (xt. Ngũ Tông Giáo).

ngũ tông giáo

(五宗教) Cũng gọi Ngũ giáo. Năm tông được chia loại theo giáo nghĩa và tôn chỉ trong các kinh, do ngài Tự quĩ ở chùa Hộ thân phán lập. Đó là: 1. Nhân duyên tông: Dùng lí 6 nhân 4 duyên để phá thuyết tà nhân, vô nhân sai trái của ngoại đạo. Đây là chỉ cho Nhất thiết hữu bộ, Tuyết sơn bộ, Đa văn bộ... 2. Giả danh tông: Chủ trương tất cả pháp hữu vi đều thuộc về giả tướng do nhân duyên sinh, không có thực thể, chỉ có giả danh tồn tại. Đây chỉ cho Kinh lượng bộ, Thuyết giả bộ, luận Thành thực... 3. Bất chân tông: Chủ trương hết thảy các pháp vốn hư dối, không có thể thực, nhưng vì chúng sinh chấp trước thực có nên phải dùng lí Không để phủ định. Đây là chỉ cho kinh Bát nhã, Tam luận... 4. Chân tông: Chân lí khẳng định tức không tức hữu là vĩnh viễn bất biến (pháp giới thường trụ), phổ biến tất cả (đều có Phật tính)... Đây là chỉ cho kinh Niết bàn.5. Pháp giới tông: Muôn sự muôn vật trong vũ trụ thảy đều chân thực, dung hợp lẫn nhau, tự do tự tại, không ngăn ngại nhau. Đây là chỉ cho kinh Hoa nghiêm. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.10, phần đầu; Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.10, phần đầu; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tứ giáo nghĩa Q.1].

ngũ tông nguyên

(五宗原) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Hán nguyệt Pháp tạng soạn vào đời Minh, ấn hành vào niên hiệu Sùng trinh năm đầu (1538), được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Ngài Hán nguyệt Pháp tạng phản đối việc tông Tào động xóa bỏ hết sạch tông chỉ của 5 nhà, chỉ truyền mỗi một việc đức Thích ca đưa cành hoa trong hội Linh sơn, nên phê bình chủ trương của tông Tào động là pháp chết, truyền kín trong thất và cho rằng từ thời đức Phật Uy âm đến nay, không 1 lời nào 1 pháp nào mà chẳng phải là phù ấn của tông chỉ 5 nhà. Vì sửa sai sự ngộ nhận của tông Tào động mà ngài Hán nguyệt soạn sách này. Sau khi sách được hoàn thành, ngài Mộc trần Đạo mân là pháp đệ của ngài Hán nguyệt, soạn Ngũ Tông Tịch .........quở trách ngài Hán nguyệt, còn đệ tử của ngài Hán nguyệt là Đàm cát Hoằng nhẫn thì soạn Ngũ Tông Cứu để bài bác ngài Mộc trần và cực lực bênh vực cho thầy mình. Ngoài ra, Thiền sư Mật vân Viên ngộ, thầy của ngài Hán nguyệt cho rằng Hán nguyệt là đệ tử danh lợi, nên cũng soạn Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết , 10 quyển. Đến đời Thanh, Hoàng đế Ung chính cũng soạn Giản Ma Biện Dị Lục để phá bỏ Ngũ Tông Cứu của ngài Đàm cát. Nội dung sách này gồm 8 chương: Lâm tế tông, Lưỡng mạch hợp tông kí lai hữu cứ, Vân môn tông, Qui ngưỡng tông, Pháp nhãn tông, Tào động tông, Tổng kết, Truyền y pháp chú và có phần phụ lục lời tụng của tông Lâm tế.

ngũ tướng

(五相) I. Ngũ Tướng. Cũng gọi Ngũ suy. Năm tướng suy của những người cõi trời báo hiệu sắp hết tuổi thọ. Tức là: Áo xiêm dơ bẩn, hoa trên đầu héo úa, thân thể toát ra mùi hôi, dưới nách ra mồ hôi và không thích ngồi ở chỗ cũ. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.19]. (xt. Ngũ Suy).II. Ngũ Tướng. Năm tướng mà hành giả Mật giáo phải có đủ khi tu pháp quán thành tựu thân Bản tôn. Tức là thông suốt tâm bồ đề, tu tâm bồ đề, thành tâm kim cương, chứng thân kim cương và tròn đầy thân Phật. (xt. Ngũ Tướng Thành Thân Quán). III. Ngũ Tướng. Cũng gọi Ngũ sự. Năm tướng pháp mê ngộ. Tức là: Tướng sở thuyên, tướng năng thuyên, tướng tương thuộc, tướng chấp trước và tướng bất chấp trước. Tướng sở thuyên là pháp, tướng năng thuyên là danh, 2 tướng này thông cả 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Tướng tương thuộc là tướng mê chấp, chấp trước pháp tướng và danh tướng, đều thuộc về tính Biến kế sở chấp. Tướng chấp trước lấy sở chấp làm tự tính, thuộc về tính Y tha khởi. Tướng bất chấp trước thì lìa tướng chấp trước, thuộc về tính Viên thành thực.[X. luận Thành duy thức Q.8].

ngũ tướng thành thân quán

(五相成身觀) Cũng gọi Ngũ chuyển thành thân, Ngũ pháp thành thân. Hành giả quán tưởng thân mình đầy đủ 5 tướng để thành tựu thân Bản tôn. Là 1 trong những pháp quán tưởng của Mật giáo. Năm tướng là: 1. Thông đạt bồ đề tâm: Trên mặt lí luận, ngộ được bản tính của chính mình tức là tâm bồ đề (giác ngộ). 2. Tu bồ đề tâm: Thể ngộ như thế rồi, trên mặt thực tiễn, tiến tu để cầu thực chứng. 3. Thành kim cương tâm: Quán hình Tam muội da của Bản tôn, rồi nương vào 2 pháp quán Quảng kim cương và Liễm kim cương mà chứng được sự dung thông vô ngại giữa thân mình và chư Phật. 4. Chứng kim cương thân: Thân của hành giả ngay đó thành thân Tam muội da Bản tôn. 5. Phật thân viên mãn: Sau khi hoàn thành quán hạnh thì ta và Phật là 1, không hai. Pháp quán này và pháp quán Tam mật đều là quán hạnh trọng yếu của pháp Kim cương. Nhưng pháp quán Tam mật thì hành giả và Bản tôn dung nhập vào nhau, đó là quán theo chiều ngang; còn pháp quán Ngũ tướng thành thân thì quán thứ tự 5 tướng theo chiều dọc. Năm tướng này mỗi tướng có 2 môn: Tự chứng và Hóa tha.Ngoài ra, 5 tướng này theo thứ tự phối hợp với 5 trí: Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí và Pháp giới thể tính trí. Lại nữa, nếu phối hợp 5 tướng với chủng tử vị, tam muội da vị và tôn hình vị, thì Thông đạt bồ đề tâm và Tu bồ đề tâm là chủng tử vị; Thành kim cương tâm và Chứng kim cương thân là tam muội da vị; Phật thân viên mãn là tôn hình vị. Nếu lại theo thứ tự phối hợp với 3 thân, thì chủng tử vị là Pháp thân, tam muội da vị là Báo thân và tôn hình vị là Ứng thân. [X. kinh Kim cương đính Q.thượng; kinh Chư Phật cảnh giới nhiếp chân thực Q.trung; Kim cương đính du già kinh thập bát hội chỉ qui].

Ngũ Tạng

(五臟): năm thứ nội tạng gồm tim, thận, phổi, gan, mật. Chúng còn được gọi là Ngũ Nội (五內), chỉ chung cho cả cơ thể con người.

Ngũ tạng

五臟; C: wǔzàng; J: gōzō;|Năm thứ nội tạng: tim, phổi, gan, thận, dạ dày. Còn gọi là Ngũ nội (五内).

ngũ tạng

(五藏) I. Ngũ Tạng. Phạm:Piỉaka. Năm tạng thánh giáo. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Thuyết của kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đaquyển 1: a) Tố đát lãm tạng, tức Kinh tạng nói về định.b) Tì nại da tạng, tức Luật tạng, nói về giới luật. c) A tì đạt ma tạng, tức Luận tạng, nói về tuệ phân biệt tính tướng. d) Bát nhã ba la mật đa tạng: Nói về trí tuệ chân thực của Đại thừa. e) Đà la ni tạng: Nói về chân ngôn mật chú. Tạng này đức Phật nói cho những người không thể thụ trì 4 tạng kể ở trên hoặc phạm các tội nặng như: 4 trọng tội, 5 tội nghịch, phỉ báng chính pháp, xiển đề v.v... nghe để được tiêu trừ tội lỗi, mau chóng giải thoát, đốn ngộ Niết bàn. 2. Thuyết của Pháp tạng bộ: a) Kinh tạng: Nói về định. b) Luật tạng: Nói về giới. c) Luận tạng: Nói về tuệ. d) Chú tạng: Nói về các thần chú. e) Bồ tát tạng: Nói về bản hạnh của Bồ tát.3. Thuyết của Đại chúng bộ: Kinh, Luật, Luận, Tạp tập tạng và Cấm chú tạng. 4. Thuyết của các Luận sư Thành thực luận: Kinh, Luật, Luận, Tạp và Bồ tát tạng. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; Di bộ tông luân luận thuật kí; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.2, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương toản chú Q.2; luận Biện hiển mật nhị giáo Q.hạ; Chân ngôn tông giáo thời vấn đáp Q.4]. II. Ngũ Tạng. Gọi đủ: Ngũ pháp tạng. Chỉ cho 5 pháp tạng do Độc tử bộ thành lập.(xt. Ngũ Pháp Tạng).

ngũ tạng tam ma địa quán

(五藏三摩地觀) Cũng gọi Ngũ luân tam ma địa, Ngũ vật quán. Pháp quán gia trì 5 chữ (a), (vaô), (raô), (haô), (khaô) ở chỗ 5 tạng: Gan, phổi, tim, thận, lá lách của hành giả, đồng thời, quán 5 tạng tức là 5 đại, 5 Phật, 5 trí để ngay thân này thành Phật. Là 1 trong các pháp quán của Mật giáo và cùng loại với pháp quán Ngũ tự nghiêm thân. [X. Tam chủng tất địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật đà la ni pháp; Phật đính tôn thắng tâm phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam giới bí mật tam thân Phật quả tam chủng tất địa chân ngôn nghi quĩ].

ngũ tạp hành

(五雜行) Đối lại: Ngũ chính hành. Năm loại tạp hành. Đó là: 1. Độc tụng tạp hành: Ngoài việc đọc tụng các kinh thuộc Tịnh độ giáo như: Kinh Vô lượng thọ, Quán vô lượng thọ, A di đà v.v... để cầu vãng sinh, còn thụ trì đọc tụng tất cả kinh Đại thừa, Tiểu thừa, Hiển giáo, Mật giáo v.v... 2. Quán sát tạp hành: Ngoài việc suy tư, quán tưởng, nhớ nghĩ về chính báo, y báo trang nghiêm của cõi Tịnh độ cực lạc ra, còn quán xét tất cả sự lí của Đại Tiểu thừa và Hiển Mật giáo... 3. Lễ bái tạp hành: Ngoài việc lễ lạy đức Phật A di đà ra, còn lễ lạy tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... 4. Xưng danh tạp hành: Ngoài việc niệm danh hiệu của Phật A di đà, còn niệm danh hiệu của tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... 5. Tán thán cúng dường tạp hành: Ngoài việc ngợi khen cúng dường Phật A di đà, còn ngợi khen tất cả Phật, Bồ tát và chư thiên... [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.4 (Thiện đạo); Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập].

ngũ tắc pháp vấn

(五則法問) Năm tắc pháp vấn. Chỉ cho sự bàn luận và hỏi đáp về Phật pháp mà tông Tào động của Nhật bản thực hành mỗi ngày 1 tắc trong khoảng 5 ngày từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 4 hoặc tháng 10, gọi là Ngũ tắc pháp vấn. Trong đó, ngày 16 là ngày pháp vấn của Pháp chàng sư, ngày 17 là ngày pháp vấn của Thủ tọa, ngày 18 là pháp vấn của Thư kí, ngày 19 là ngày pháp vấn của Phó ti và ngày 20 là pháp vấn của vị Tri khách. [X. Chư tông giai cấp Q.thượng; Động thượng hành sự quĩ phạm Q.trung].

ngũ tỉ khâu

(五比丘) Phạm: Paĩca bhikwava. Pàli: Paĩca vaggiyà bhikkhù. Cũng gọi Ngũ quần tỷ khưu. Năm vị tỷ khưu được đức Thế tôn hóa độ trong lần chuyển pháp luân đầu tiên ở vườn Nai sau khi Ngài thành đạo. Tên phiên dịch của 5 vị tỷ khưu này trong các kinh nói không giống nhau, được liệt kê theo biểu đồ sau đây:Ngoài ra, Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm quyển 6 phần 2 liệt kê: Át bệ, Bạt đề, Câu lợi, Thích ma nam, Thập lực ca diếp và cho rằng Ma nam và Câu lợi là 2 vị khác nhau; Ma nam là tên khác của Trần như, ý kiến này đều là lầm lẫn. Vì Ma nam là gọi tắt của Ma ha na ma, nghĩa là Đại danh, là tiếng tôn xưng Thái tử Câu lợi, vì ngài là họ Thích nên cũng gọi Thích ma nam. [X. kinh Trung a hàm Q.56; kinh Tăng nhất a hàm Q.3, 14; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.34; luật Ngũ phần Q.15; luật Tứ phần Q.14, 32; Tì nại da phá tăng sự Q.6; Pháp hoa văn cú Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh huyền tán Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.2; Pháp uyển châu lâm Q.11].

Ngũ tỉ-khâu

五比丘; C: wǔbǐqiū; J: gohiku;|Năm vị Tỉ-khâu ban đầu cùng thực hành pháp tu khổ hạnh với Thích-ca Mâu-ni, sau đó là những người đầu tiên thụ nhận giáo pháp của Đức Phật trong lần chuyển pháp luân đầu tiên (Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪), sau đó trở thành những đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Năm vị này là: Kiêu-trần-như (憍陳如; s: kauṇḍinya), Át-bệ (額鞞; s: aśvajit), Bạt-đề (跋提; s: bhadrika), Thập Lực Ca-diếp (十力迦葉; s: daśabala-kāś-yapa), và Ma-nam Câu-lợi (摩男倶利; s: mahānāman).

ngũ tịnh

(五淨) I. Ngũ Tịnh. Năm thứ sạch sẽ. Tức là sữa, sữa đặc, váng sữa, phân và nước tiểu của con bò vàng chưa rơi xuống đất. Người Ấn độ, theo tập tục từ nghìn xưa, cho rằng con bò là sứ giả của Phạm thiên nên tôn nó là Thánh ngưu (bò thánh),do đó, phân và nước tiểu của bò cũng được xem là vật sạch sẽ. Mật giáo cũng theo tập tục này mà dùng phân và nước tiểu của bò làm vật liệu đắp đàn và sái tịnh pháp cụ, nền đàn. Cứ theo kinh Tô tất địa quyển trung phẩm Cúng dường, hành giả Chân ngôn, trong lúc trì tụng chân ngôn, nếu sinh tâm ô uế, buông lung đến nỗi tụng chân ngôn bị lầm lẫn; nếu uống ngũ tịnh này thì có thể làm cho các thức ăn bất tịnh đã ăn trong vòng nửa tháng được trong sạch, đồng thời chân ngôn cũng được thanh tịnh và tăng thêm uy lực. Ngoài ra, trong các kinh và nghi quĩ cũng có ghi chép đầy đủ về các phương pháp Ngũ tịnh chân ngôn và Ngũ tịnh gia trì của 3 bộ: Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bộ. II. Ngũ Tịnh. Chỉ cho trời Ngũ tịnh cư thuộc Tứ thiền cõi Sắc. (xt. Ngũ Tịnh Cư Thiên).

Ngũ tịnh cư thiên

xem Năm cõi tịnh cư. ; 五淨居天; C: wǔjìngjū tiān; J: gojōgoten;|Một trong những cõi trời theo trong thần thoại Phật giáo Ấn Độ. Tên 5 cõi trời thuộc Đệ tứ thiền. Đó là: 1. Vô phiền; 2. Vô nhiệt; 3. Thiện kiến; 4. Thiện hiện; 5. Sắc cứu cánh. Các bậc Thánh đã chứng quả vị Bất lai được sinh ở cõi trời nầy.

ngũ tịnh cư thiên

(五淨居天) Tịnh cư, Phạm: Zuddhàvàsa. I. Ngũ Tịnh Cư Thiên. Cũng gọi Ngũ bất hoàn thiên, Ngũ tịnh cư xứ, Ngũ na hàm thiên, Ngũ tịnh cư. Chỉ cho 5 tầng trời trong đệ Tứ thiền thuộc cõi Sắc, là nơi sinh đến của các bậc Thánh quả A na hàm. Đó là: 1. Vô phiền thiên (Phạm: Avfha), cũng gọi A duy phan, A bệ lệ xá, A phù ha na. Cõi trời này không còn khổ, vui, tâm và cảnh không giao tiếp, không có tất cả phiền não.2. Vô nhiệt thiên (Phạm: Atapa), cũng gọi A đáp hòa, A đà ba, A đáp ba. Cõi trời này không có tất cả nhiệt não bức bách. 3. Thiện kiến thiên (Phạm: Sudfza), cũng gọi Tu đề xá. Cõi trời này không có các tướng trần cấu, từ trong định tuệ thấy khắp các thế giới trong 10 phương đều tròn đầy ngưng lặng. 4. Thiện hiện thiên (Phạm: Sudarzana), cũng gọi Tu đà thi ni, Tu đề xá na. Cõi trời này có năng lực thấy suốt rõ ràng, tất cả hiện tượng đều không ngăn ngại. 5. Sắc cứu cánh thiên (Phạm: Akaniwỉha), cũng gọi A ca nị tra, A ca ni tra. Cõi trời này không còn hình sắc, là nơi cao nhất, thù thắng nhất trong cõi Sắc. Cứ theo kinh Lăng nghiêm quyển 9, thì 5 tầng trời nói trên đều xếp theo chiều ngang trong cõi trời Tứ thiền, nhưng trời Tứ thiền chỉ có thể nghe tên của 5 tầng trời này, chứ không thấy được, cũng như trong đạo tràng Thánh địa ở thế gian có nhiều La hán cư trụ mà người thường không thấy được. Còn luận Câu xá quyển 24 cho rằng do tu cả 5 phẩm mà được sinh lên các tầng trời Ngũ tịnh cư. Năm phẩm tức chỉ cho 5 phẩm tạp tu Tĩnh lự thứ 4, đó là: 1. Hạ phẩm: Trước hết khởi nhiều niệm vô lậu, kế đến nhiều niệm hữu lậu, sau đó lại khởi nhiều niệm vô lậu, cứ như thế trở đi trở lại, sau giảm dần cho đến 3 tâm hiện tiền thì thành tựu tĩnh lự. 2. Trung phẩm: Tức 6 tâm hiện tiền. 3. Thượng phẩm: Tức 9 tâm hiện tiền. 4. Thượng thắng phẩm: Tức 12 tâm hiện tiền. 5. Thượng cực phẩm: Tứ 15 tâm hiện tiền.Về sức cảm sinh lên cõi trời Ngũ tịnh cư thì luận Câu xá nêu 2 thuyết: 1. Dùng sức vô lậu huân tập hữu lậu mà cảm sinh về cõi Ngũ tịnh cư. 2. Do 5 căn Tín, Tiến, Niệm, Định, Tuệ lần lượt tăng lên mà cảm sinh về cõi Ngũ tịnh cư. Ngoài ra, theo Luận sự (Pàli: Kathàvatthu), thì tuổi thọ của người các tầng trời Ngũ tịnh cư như sau: Trời Vô phiền 1 nghìn kiếp, trời Vô nhiệt 2 nghìn kiếp, trời Thiện kiến 4 nghìn kiếp, trời Thiện hiện 8 nghìn kiếp và trời Sắc cứu cánh 1 vạn kiếp. Còn theo Tứ a hàm mộ sao giải quyển hạ, thì cõi Ngũ tịnh cư vốn chỉ có 3 tầng trời, tức là Tu đề xá (Thiện kiến thiên), Tu đề xá na (Thiện hiện thiên) và Bệ thủ đà (Phạm:Vizuddha, Thanh tịnh thiên). Trong đó, Thanh tịnh thiên lại được chia ra 3 tầng trời: A bệ lệ xá (Vô phiền thiên), A đáp ba (Vô nhiệt thiên) và A ca nị tra (Sắc cứu cánh thiên), mà gọi chung là Ngũ tịnh cư thiên. [X. kinh Trung a hàm Q.9; kinh Trường a hàm Q.20; kinh Khởi thế Q.8; kinh Thủ lăng nghiêm Q.9; luận Dị môn túc Q.14; luận Đại tì bà sa Q.136, 175; luận Thuận chính lí Q.65]. II. Ngũ Tịnh Cư Thiên. Cũng gọi Ngũ tịnh cư chúng, Ngũ thiên tử. Chỉ cho 5 vị tôn ngồi ở phía đông thuộc Ngoại kim cương bộ trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Đó là: 1. Tự tại thiên tử: Phối hợp với trời Sắc cứu cánh. 2. Phổ hoa thiên tử: Phối hợp với trời Thiện kiến. 3. Quang man thiên tử: Phối hợp với trời Thiện hiện. 4. Ý sinh thiên tử, cũng gọi Mãn ý thiên tử. Phối hợp với trời Vô nhiệt. 5. Danh xưng viễn văn thiên tử, cũng gọi Biến âm thanh thiên tử. Phối hợp với trời Vô phiền. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; phẩm Bí mật mạn đồ la kinh Đại nhật Q.5; Quảng đại nghi quĩ Q.trung; Đại nhật kinh sớ Q.5, 13, 16].

ngũ tồn thất khuyết

(五存七缺) Kinh Vô lượng thọ có 12 bản dịch, trong đó, 5 bản hiện còn và 7 bản đã thất lạc, nên gọi là Ngũ tồn thất khuyết (còn 5 mất 7). Năm bản hiện còn là: 1. Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, 2 quyển, do ngài Chi lâu ca sấm dịch vào đời Hậu Hán. 2. Kinh A di đà, 2 quyển, do cư sĩ Chi khiêm dịch vào đời Ngô. 3. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Khang tăng khải dịch vào đời Tào Ngụy. 4. Hội Vô lượng thọ Như lai, 2 quyển, trong kinh Đại bảo tích, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường. 5. Kinh Đại thừa Vô lượng thọ trang nghiêm, 3 quyển, do ngài Pháp hiền dịch vào đời Tống. Bảy bản đã mất là: 1. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán. 2. Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, 2 quyển, do ngài Bạch diên dịch vào đời Tào Ngụy. 3. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. 4. Kinh Vô lượng thọ chí chân đẳng chính giác, 1 quyển, do ngài Trúc pháp lực dịch vào đời Đông Tấn. 5. Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Phật đà bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. 6. Kinh Tân vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Bảo vân dịch vào đời Lưu Tống. 7. Kinh Tân vô lượng thọ, 2 quyển, do ngài Đàm ma mật đa dịch vào đời Lưu Tống.

ngũ tổ

(五祖) I. Ngũ Tổ. Tức là Thiền sư Hoằng nhẫn, tổ thứ 5 của Thiền tông, Trung quốc. [X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Truyền pháp chính tông kí Q.6]. II. Ngũ Tổ. Tức là Thiền sư Pháp diễn, trụ ở núi Ngũ tổ tại Kì châu, sống vào đời Tống, Trung quốc. III. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ sư của tông Tịnh độ: Đàm loan, Đạo xước, Thiện đạo, Pháp chiếu và Thiếu khang. IV. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ của Liên xã: Thiện đạo, Pháp chiếu, Thiếu khang, Tỉnh thường và Tông trách. V. Ngũ Tổ. Chỉ cho 5 vị Tổ sư của tông Hoa nghiêm: Đỗ thuận, Trí nghiễm, Pháp tạng, Trừng quán và Tông mật.

Ngũ Tổ Pháp Diễn

五祖法演; C: wǔzǔ fǎyǎn; J: goso hōen; ~ 1024-1104;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, dòng Dương Kì. Sư nối pháp của Bạch Vân Thủ Ðoan. Các môn đệ có tiếng của Sư là Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả), Thanh Viễn Phật Nhãn, Huệ Cần Phật Giám và Khai Phúc Ðạo Ninh.|Sư họ Ðặng, quê ở Miên Châu, xuất gia năm 35 tuổi. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư chuyên học pháp môn Duy thức. Những thuyết này không giải đáp những thắc mắc nên Sư xuống miền Nam tham vấn các vị Thiền sư. Cuối cùng đến hội Bạch Vân và nơi đây, Sư được Ấn chứng.|Công án của Sư sau đây thường được nhắc lại: »Giữa đường gặp người đạt đạo, chớ nói hay im mà đối đãi. Thử hỏi đối đãi ra làm sao?«

ngũ tổ sơn

(五祖山) Cũng gọi Phùng mậu sơn. Tục gọi: Đông sơn. Núi ở phía đông bắc huyện Hoàng mai, tỉnh Hồ bắc, Trung quốc. Thiền sư Hoằng nhẫn, tổ thứ 5 của Thiền tông, Trung quốc, đến nơi đây sáng lập chùa Chân tuệ làm đạo tràng xiển dương Thiền phong, do đó mà núi này nổi tiếng. Sau khi Ngũ tổ thị tịch, đệ tử là ngài Thần tú an táng nhục thân của Tổ ở đây. Về sau, có các vị: Sư giới, Thiền sư Tú, Pháp diễn v.v... nối tiếp nhau trụ trì. Trong đó, ngài Pháp diễn mở mang xây dựng thành 1 đại tùng lâm, phát triển Thiền phong Dương kì, đệ tử rất đông. Các vị long tượng nổi tiếng trong Thiền lâm như: Viên ngộ Khắc cần, Phật giám Tuệ cần, Phật nhãn Thanh viễn... đều xuất thân từ đây.[X. Tống cao tăng truyện Q.8; Cảnh đức truyền đăng lục Q.3; Cổ kim đồ thư tập thành chức phương điển thứ 1175].

Ngũ Tổ Sư Giới

(五祖師戒, Goso Shikai, ?-?): vị tăng của Vân Môn Tông trung Quốc, sống dưới thời nhà Tống. Ông xuất gia, sau đó đến tham yết Song Tuyền Sư Khoan (雙泉師寛) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến sống tại Ngũ Tổ Sơn (五祖山) thuộc Kì Châu (蘄州, Tỉnh Hồ Bắc) và tiếp hóa đồ chúng. Đến cuối đời, ông chuyển đến Đại Ngu Sơn (大愚山) ở Huyện Cao An (高安縣, Tỉnh Giang Tây) và thị tịch tại đây.

Ngũ Tổ Tự

(五祖寺): còn gọi là Đông Sơn Tự (東山寺), Đông Sơn Thiền Tự (東山禪寺), Đông Thiền Tự (東禪寺); hiện tọa lạc tại Ngũ Tổ Trấn (五祖鎭), Huyện Hoàng Mai (黃梅縣), Tỉnh Hồ Bắc (湖北省); là đạo tràng hoằng pháp của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, là một trong những ngôi danh lam quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc. Chùa được kiến lập vào năm 654 (Vĩnh Huy [永徽] 5) nhà Đường. Sau khi Hoằng Nhẫn khai sáng đạo tràng tại Đông Sơn (東山), gây chấn động toàn quốc, môn đồ thường trú đương thời có khi lên đến cả ngàn người. Từ khi Võ Tắc Thiên (武則天, tại vị 684-705) tức vị, phật giáo được xem trọng hơn. Vào năm 700 (Cửu Thị [久視] nguyên niên), bà cung thỉnh các đệ tử của Hoằng Nhẫn là Thần Tú (神秀), Huyền Ước (玄約), Huệ An (慧安), v.v., đến Nội Đạo Tràng (內道塲) để cúng dường, rồi ban tặng danh hiệu Quốc Sư; cho nên thanh danh của Ngũ Tổ Tự theo đó lại tăng thêm. Đến năm 848 (Đại Trung [大中] 2), kiến lập ngôi tự viện của Tổ Sư Ngũ Tổ, rồi đổi tên chùa thành Đại Trung Đông Sơn Tự (大中東山寺), cũng gọi là Ngũ Tổ Tự. Trong khoảng thời gian niên hiệu Cảnh Đức (景德, 1004-1007) nhà Bắc Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) nhà Tống lại ban cho tên là Chơn Tuệ Thiền Tự (眞慧禪寺). Vua Anh Tông (英宗, tại vị 1063-1067) nhà Tống thì ban cho bức ngạch với dòng chữ “Thiên Hạ Tổ Đình (天下祖庭).” Vào năm 1102 (Sùng Ninh [崇寧] nguyên niên), vua Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) nhà Tống, đề mấy chữ “Thiên Hạ Thiền Lâm (天下禪林)”. Trong khoảng thời gian này, các Pháp Sư như Sư Giới (師戒), Pháp Diễn (法演), Biểu Tự (表自), Tông Bạt (宗拔), v.v., đảm nhiệm chức Phương Trượng (Trú Trì) của chùa; đặc biệt dưới thời kỳ Pháp Diễn trú trì, ông đã xiển dương tông phong đến thời cực thịnh. Từ đó trở về sau, Phật Quả Khắc Cần (佛果克勤), Phật Giám Huệ Cần (佛鑑慧懃), Phật Nhãn Thanh Viễn (佛眼清遠), ba nhân vật được người đương thời tôn xưng là Tam Kiệt (三傑), đã tuyên dương Phật pháp và làm cho Thiền phong hưng thịnh. Đến cuối thời nhà Tống, Đông Sơn gặp nạn chiến hỏa, nhất thời chùa phải chịu cảnh tiêu điều. Vào năm 1282 (Chí Nguyên 19 [至元] nhà Nguyên), Thiền Sư Liễu Hành (了行) đến chùa, tiến hành trùng kiến tổ đình. Năm 1322 (Chí Trị [至治] 2), Thiền Sư Pháp Thức (法式) khôi phục lại mọi Phật sự ở đây và trở thành vị Tổ thời Trung Hưng của chùa. Năm 1331 (Chí Thuận [至順] 2), vua Văn Tông (文宗, tại vị 1328-1329) nhà Nguyên đổi tên chùa thành Đông Sơn Ngũ Tổ Tự (東山五祖寺) và chùa tồn tại cho đến ngày nay. Chính tại chùa này đã diễn ra truyền kỳ nổi tiếng của Thiền Tông về việc trình kệ kiến giải giữa Thần Tú và Huệ Năng (慧能). Sau đó, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã gọi Huệ Năng vào thất, giảng cho nghe Kinh Kim Cang, rồi truyền trao y bát. Lúc bấy giờ, Lục Tổ vâng mệnh đi về phương Nam; và từ đó Thiền Tông phân thành Nam Đốn Bắc Tiệm. Chùa vốn mang phong cách kiến trúc điển hình của Phật Giáo Hán truyền; chủ yếu nằm ở trục trung tâm, phân thành Sơn Môn (山門), Thiên Vương Điện (天王殿), Đại Hùng Bảo Điện (大雄寶殿), Ma Thành Điện (麻城殿), Ngũ Tổ Chơn Thân Điện (五祖眞身殿), Thánh Mẫu Điện (聖母殿) v.v.. Tại Sơn Môn có khắc hai bài kệ của Thần Tú và Huệ Năng. Thiên Vương Điện là kiến trúc được tạo lập trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Trung (大中, 847-860) nhà Đường, trước cổng có con sư tử đá thời nhà Đường và trên cửa chính của điện có bức ngạch “Chơn Tuệ Thiền Tự” của vua Chơn Tông nhà Tống. Đại Hùng Bảo Điện cũng được kiến lập trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Trung, có bức hoành “Đại Hùng Bảo Điện” do thủ bút của nhà Thư Pháp, thi nhân và là cư sĩ Phật tử nổi danh Triệu Phác Sơ (趙朴初, 1907-2000). Còn Ma Thành Điện, tức Tỳ Lô Điện (毘盧殿), tương truyền sau khi tín đồ vùng Ma Thành (麻城) đến chiêm bái Ngũ Tổ hiển linh, nên cùng nhau vác gạch ngói lên xây dựng ngôi điện này. Chơn Thân Điện là ngôi điện tôn trí chơn thân nhục tượng của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, kiến trúc rất độc đáo, tạo hình tráng lệ; phía trước hai bên có Lầu Chuông và Lầu Trống, ở giữa là Chánh Điện, bên trên có bức hoành với dòng chữ “Chơn Thân Điện”. Ngay chính giữa là Pháp Vũ Tháp (法雨塔), nơi tàng trí chơn thân Ngũ Tổ. Thánh Mẫu Điện là nơi tôn thờ bà họ Châu, mẫu thân của Ngũ Tổ. Ngoài ra, còn có một số kiến trúc khác như Quan Âm Điện, Tổ Đường, Địa Tạng Điện, Thiền Đường, Khách Đường, Phương Trượng Thất, Trai Đường, v.v. Âu Dương Tu (歐陽修[脩], 1007-1072), nhà Nho học thời nhà Tống có làm bài thơ Sơ Tình Độc Du Đông Sơn Tự Ngũ Ngôn Lục Vận (初晴獨游東山寺五言六韻) rằng: “Nhật noãn Đông Sơn khứ, tùng môn sổ lí tà, sơn lâm ẩn giả thú, chung cổ Phạm vương gia, địa tích trì xuân tiết, phong tình biến vật hoa, vân quang tiệm dung dữ, điểu lộng dĩ giao gia, băng hạ tuyền sơ động, yên trung minh vị nha, tự lân đa bệnh khách, lai thám dục khai hoa (日暖東山去、松門數里斜、山林隱者趣、鐘鼓梵王家、地僻遲春節、風晴變物華、雲光漸容與、鳥哢已交加、冰下泉初動、煙中茗未芽、自憐多病客、來探欲開花, rời Đông Sơn trời ấm, cửa tùng bóng chiều tà, núi rừng thú ẩn dật, chuông trống thoát tục gia, chốn hoang xuân về chậm, gió tạnh biến vật hoa, mây sáng bóng dần tỏ, chim ca buổi giao hòa, dưới băng suối vừa động, mầm non chè nhú ra, tự thương thân lắm bệnh, về đây chợt đơm hoa).”

ngũ tộc như lai

(五族如來) Chỉ cho 5 đức Như lai trong Kim cương giới Mật giáo. Tộc, Phạm, Kula, nghĩa là Bộ tộc, bởi thế, 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu của 5 bộ được gọi là Ngũ tộc Như lai. [X. kinh An tượng tam muội nghi quĩ].

ngũ tự

(五序) Năm phần tựa nhỏ trong phần tựa riêng của kinh Pháp hoa do ngài Thiên thai Trí khải chia ra. Đó là: 1. Chúng chuẩn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ 4 chúng vây quanh đức Thế tôn. 2. Hiện thụy tự: Tức là Lục thụy (đức Thế tôn hiện 6 điềm lành). 3. Nghi niệm tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Di lặc nghĩ rằng. 4. Phát vấn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Di lặc muốn giải quyết điều thắc mắc của mình. 5. Đáp vấn tự: Tức là câu Lúc bấy giờ bồ tát Văn thù sư lợi... [X. Pháp hoa văn cú Q.2, phần cuối].

ngũ tự chú

(五字咒) Cũng gọi Ngũ tự Văn thù chú, Ngũ tự đà la ni. Đà la ni Văn thù 5 chữ. Tức chân ngôn 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na). Theo Tam chủng tất địa quĩ, nếu tụng 1 biến Ngũ tự chú thì công đức cũng nhiều bằng tụng 1 trăm biến Đại tạng kinh, có thể vào tất cả bình đẳng của Như lai, tất cả văn tự cũng đều bình đẳng, mau chóng thành tựu Đại bát nhã; nếu tụng 2 biến thì có thể diệt trừ trọng tội trong ức kiếp sinh tử; tụng 3 biến thì được Tam muội hiện tiền; tụng 4 biến thì được sức tổng trì không bao giờ quên mất, tụng 5 biến thì mau thành tựu Vô thượng bồ đề. [X. kinh Văn thù thiên bát; Ngũ tự đà la ni tụng].

Ngũ tự chú pháp

五字咒法; C: wǔzì zhòufǎ; J: goji juhō;|Tên viết tắt của Kim Cương đỉnh kinh Du-già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).

ngũ tự minh vương

(五字明王) Gọi đủ: Thành tựu phú quí kim cương Hư không tạng câu triệu ngũ tự minh vương. Chân ngôn 5 chữ của 5 vị Đại bồ tát Hư không tạng. Tức là 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#), (a#), là những chữ chủng tử của 5 vị Đại bồ tát Hư không tạng.[X. phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du kì Q.hạ].

ngũ tự môn

(五字門) Tức 5 chữ (a), (va), (ra), (ha) và (kha), là chủng tử 5 đại. (xt. Ngũ Đại Tự Nghĩa).

ngũ tự nghiêm thân quán

(五字嚴身觀) Cũng gọi Ngũ đại thành thân quán, Ngũ luân thành thân quán, Ngũ luân quán. Đối lại: Ngũ tướng thành thân quán. Pháp tu này quán tưởng pháp thân vốn có của hành giả cứng chắc như kim cương. Tức hành giả dùng 5 chữ (a), (vaô), (lãm), (hàm), (khiếm), (hoặc a, phạ, la, hạ, kha) bố trí ở 5 chỗ trên thân thể đúng theo thứ tự, để gia trì trang nghiêm thân mình. Trong đó, chữ A là hình vuông màu vàng, quán tưởng là Kim cương luân, gia trì ở dưới thân, gọi là Du già tọa, trụ trong đất tâm bồ đề cứng chắc như kim cương. ChữVaôlà hình tròn màu trắng, quán tưởng là thủy luân, gia trì ở phía trên rốn, gọi là Đại bi thủy, có thể được tam muội Đại bi. Chữ Lãm là hình tam giác màu như ánh mặt trời buổi sáng, quán tưởng làm hỏa luân, gia trì ở chỗ trái tim, gọi là Trí hỏa quang(ánh lửa trí) có công năng tiêu trừ cấu uế. Chữ Hàm là hình bán nguyệt màu đen, quán tưởng là phong luân, gia trì ở khoảng giữa 2 chân mày, gọi là Tự tại lực, có công năng đẩy lui ác ma. Chữ Khiếm là hình cầu nhiều màu, quán tưởng là không luân, gia trì trên đỉnh đầu, gọi là Đại không, có công năng làm cho thân mình ngang bằng với pháp giới. Ngũ tự nghiêm thân quán là pháp quán phải thực hành trước khi tu pháp Đạo tràng quán của Thai tạng giới, là pháp môn Tức thân thành Phật dành cho những người có căn cơ thù thắng. Nếu nói theo nghĩa căn cơ yếu kém từ Hiển vào Mật thì trở thành Ngũ tướng thành thân quán của Kim cương giới. Nhưng theo thuyết Hồng tự thứ đệ của Thai tạng giới, thì 5 chữ chỉ được bố trí gia trì ở tim mà thôi. Còn theo Thai tạng giới niệm tụng thứ đệ quyển thượng của ngài Tông duệ, thì Ngũ tự quán bố trí ở cả thân và tâm. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; phẩm Trì tụng pháp tắc trong kinh Đại nhật Q.7; Thanh long tự nghi quĩ Q.thượng; Huyền pháp tự nghi quĩ Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.14; Đại tì lô giá na kinh cúng dường thứ đệ pháp sớ Q.hạ]. (xt. Ngũ Luân Quán).

ngũ tự sắc

(五字色) Màu sắc của 5 chữ biểu thị 5 đại theo thuyết của ngài Tam tạng Bất không. Chữ (a) màu vàng, biểu thị cho địa đại(đất). Chữ (vi) màu đen, biểu thị cho thủy đại (nước). Chữ (ra) màu đỏ, biểu thị cho hỏa đại (lửa).Chữ (hùô) màu trắng, biểu thị cho phong đại (gió). Chữ (khaô) màu xanh, biểu thị cho không đại (hư không). [X. Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích].

ngũ tự văn thù bồ tát

(五字文殊菩薩) Phạm: Maĩjughowa. Hán âm: Mạn thù già sa. Cũng gọi: Diệu âm bồ tát, Ngũ kế bồ tát. Chỉ cho bồ tát Văn thù sư lợi lấy 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na) làm chân ngôn. Vị tôn này ngồi ở phía bên phải của bồ tát Nguyệt quang trong viện Văn thù thuộc Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Cát tường kim cương. Về hình tượng thì vị Bồ tát này có thân màu vàng, ngồi trên hoa sen đỏ, trên đầu có 5 búi tóc (ngũ kế), tay phải cầm hoa sen xanh để ở ngang ngực, tay trái đặt ngang, cầm quyển kinh Bát nhã tiếng Phạm, biểu thị Trí ba la mật; hoa sen xanh biểu thị Tam muội vô nhiễm. Hình Tam muội da là hoa sen xanh, trên hoa có Phạm khiếp (kinh Bát nhã), có thuyết cho là Trí kiếm, biểu thị trí Đại không của vị Bồ tát này.Ngoài ra, pháp tu thờ bồ tát Ngũ tự văn thù làm bản tôn, gọi là Ngũ tự văn thù pháp, phần nhiều tu pháp này để cầu được trí tuệ sâu xa, làm cho chính pháp trụ lâu nơi đời. [X. Ngũ tự đà la ni tụng; Kim cương đính kinh Du già văn thù sư lợi bồ tát cúng dường nghi quĩ; Kim cương đính siêu thắng tam giới kinh thuyết văn thù ngũ tự chân ngôn thắng tướng; Thai tạng giới thất tập Q.trung].

ngũ tự văn thù pháp

(五字文殊法) Cũng gọi Ngũ kế văn thù pháp. Pháp tu thờ bồ tát Ngũ tự văn thù làm bản tôn, trì tụng chân ngôn 5 chữ (a), (ra), (pa), (ca) và (na) để cầu được trí tuệ sáng suốt. Cứ theo Ngũ tự đà la ni tụng, thì người tu pháp này sẽ mau chóng đạt được trí tuệ của chư Phật, khiến ngay thân phàm phu này thành Phật. Còn theo Văn thù ngũ tự chân ngôn thắng tướng, thì người tu hành tụng 1 biến chân ngôn này có thể tiêu trừ tất cả nạn khổ, tụng 2 biến có thể trừ diệt tội nặng sinh tử trong ức kiếp, tụng 3 biến thì Tam muội hiện trước, tụng 4 biến thì được sức tổng trì không quên, tụng 5 biến liền thành Vô thượng bồ đề. Ở đây nói 1 biến, 2 biến v.v... hàm nghĩa 1 câu chi biến, 2 câu chi biến...

Ngũ Tỳ Kheo

(s: pañca-bhikṣavah, p: pañcavaggiyā-bhikkhū, 五比丘): hay còn gọi là Ngũ Quần Tỳ Kheo (五群比丘, nhóm năm vị Tỳ Kheo), tên của 5 vị Tỳ Kheo mà trước khi chưa thành chánh quả, đức Thế Tôn đã từng chung sống tu khổ trong vòng 6 năm trường. Sau khi biết được việc tu khổ hạnh, ép xác không phải là pháp môn để đạt đến giải thoát, nên ngài xuống tắm dưới sông Ni Liên Thuyền (s: Nairañjanā,p: Nerañjarā, 尼連禪河), nhận bát cháo sữa của cô gái chăn dê cúng dường và trở lại ăn uống bình thường. Thấy vậy, 5 vị này khinh thường và bỏ ngài đi. Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn nhớ đến 5 người này, bèn đến Vườn Lộc Uyển (s: Mṛgadāva, p: Migadāya, 鹿苑) tuyên thuyết bài pháp đầu tiên hóa độ cho họ. Đây là những người đệ tử đầu tiên nhất của đức Phật và được gọi là 5 vị Tỳ Kheo, gồm:(1) A Nhã Kiều Trần Như (p: Ājñātakauṇḍinya, p: Aññā-Koṇḍañña, 阿若憍陳如), còn gọi là A Nhã Cư Lân (阿若居隣), A Nhã Câu Lân (阿若拘隣), A Nhã Đa Kiều Trần Na (阿若多憍陳那), Kiều Trần Như (憍陳如),(2) A Thấp Bà Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿濕婆恃), hay còn gọi là A Thuyết Thị (阿說示), A Thuyết Chỉ (阿說旨), A Thấp Ti (阿濕卑), Mã Thắng (馬勝), (3) Bạt Đề (s: Bhadrika, p:Bhaddiya, 跋提、拔提), còn gọi là Bà Đề (婆提), Bạt Đề Lê Ca (跋提黎迦), Bà Đế Lợi Ca (婆帝利迦),(4) Ma Ha Nam (s, p: Mahānāma, 摩訶男), còn gọi là Ma Ha Na Ma (摩訶那摩), và (5) Thập Lực Ca Diếp (s: Daśabala-kāśyapa, p: Das abala-kassapa, 十力迦葉). Trường hợp Thập Lực Ca Diếp đôi khi được thay bằng Bà Sa Ba (s: Bāṣpa, p: Vappa, 婆沙波), như trong Trung Bổn Khởi Kinh (中本起經), Phật Sở Hành Tán (佛所行讚), v.v.

ngũ uý

(五畏) Phạm: Paĩca-vibhìwaịa. Cũng gọi Ngũ khủng bố, Ngũ bố. Chỉ cho 5 tâm sợ hãi của hành giả dưới giai vị Kiến đạo (hoặc gọi là Bồ tát mới học). Đó là: 1. Bất hoạt úy: Sợ không sống được. Người mới học đạo tuy thực hành bố thí nhưng không dám cho tất cả những tài vật mình có, vì sợ không còn gì để sống. 2. Ác danh úy: Sợ tiếng xấu. Người mới học đạo tuy muốn hóa độ chúng sinh mà vào nơi quán rượu, nhưng còn e dè, ngần ngại vì sợ người khác chê cười. 3. Tử úy, cũng gọi Mệnh chung úy: Sợ chết. Người học đạo tuy phát tâm rộng lớn, bố thí hết tài vật, nhưng không dám hi sinh thân mệnh. 4. Ác đạo úy, cũng gọi Đọa ác đạo úy: Sợ đường ác. Người gây các nghiệp bất thiện, sợ rơi vào 3 đường ác nên lúc nào cũng lo sợ. 5. Đại chúng uy đức úy: Sợ uy đức của đại chúng. Ở giữa đại chúng hoặc trước mặt người có uy đức, sợ những lời nói hoặc cử chỉ của mình lầm lỗi nên không dám mạnh dạn. [X. kinh Hoa nghiêm Q.34 (bản dịch mới); kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa Q.9].

Ngũ Uẩn

(s: pañca-skandha, p: pañca-khandha, 五蘊): còn gọi là Ngũ Ấm (五陰), Ngũ Chúng (五眾), Ngũ Tụ (五聚). Uẩn (s: skandha, p: khandha, ) âm dịch là Tắc Kiện Đà (塞健陀), ý là tích tụ, loại biệt, tức là 5 loại khác nhau về các pháp hữu vi; về mặt khách quan, là chỉ cho toàn thể thế giới vật chất cũng như tinh thần. Ngũ Uẩn gồm: (1) Sắc Uẩn (s: rūpa-skandha, p: rūpa-khandha, 色蘊), tức chỉ cho nhục thể hữu tình, thế giới vật chất, các yếu tố Đất, Nước, Gió, Lửa, cũng như những loại được hình thành từ các yếu tố ấy. Trong 75 pháp của Câu Xá Luận (具舍論), 11 pháp Nhãn (眼, mắt), Nhĩ (耳, tai), Tỷ (鼻, mũi), Thiệt (舌, lưỡi), Thân (身, thân thể), Sắc (色, sắc màu), Thanh (聲, âm thanh), Hương (香, mùi hương), Vị (味, mùi vị), Xúc (觸, xúc chạm), Vô Biểu (無表, không thể hiện) là chỉ cho Sắc Uẩn. (2) Thọ Uẩn (s: vedanā-skandha, p: vedanā-khandha, 受蘊), chỉ cho tác dụng cảm thọ của khổ, vui, v.v., mang tính tinh thần (tri giác), mang tính nhục thể (cảm giác); được phân loại thành 3 loại Thọ là Khổ, Vui, Không Khổ Không Vui; hay 5 loại Thọ là Ưu (憂, buồn), Hỷ (喜, mừng), Khổ (苦, khổ), Lạc (樂, vui), Xả (捨, xả bỏ). (3) Tưởng Uẩn (s: sañjā-skandha, p: saññā-khandha, 想蘊), tương đương với khái niệm, biểu tượng. (4) Hành Uẩn (s: saṁkhāra-skandha, p: saṅkhāra-khandha, 行蘊), nghĩa hẹp là chỉ cho tư duy (ý chí); nghĩa rộng là chỉ cho các pháp tâm bất tương ứng với tính cách là sức mạnh để vận động hết thảy tác dụng tinh thần, tác dụng vật chất, trừ ba uẩn Thọ, Tưởng và Thức. Tỷ dụ như Đắc (得, đạt được), Phi Đắc (非得, không đạt được), Sanh (生, sanh), Trụ (住, tồn tại), Dị (易, thay đổi), Diệt (滅, hoại diệt), Danh (名), Cú (句), Văn (文), v.v. (5) Thức Uẩn (s: vijñāna-skandha, p: viññāṇa-khandha, 識蘊), với tính cách là chủ thể của tâm, nó chỉ cho Nhãn Thức (眼識) cho đến 6 thức kia; hơn nữa thức thứ 7 Mạt Na (末那) cũng như thức thứ 8 A Lại Da (s, p: ālaya, 阿賴耶) của Duy Thức Học, cũng thuộc về Thức Uẩn này. Trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Thư (大慧普覺禪師書, Taishō No. 1998A) quyển 28 có đoạn rằng: “Phật vi nhất thiết mê nhân nhận Ngũ Uẩn hòa hợp vi tự thể tướng, phân biệt nhất thiết pháp vi ngoại trần tướng, háo sanh ố tử niệm niệm thiên lưu, bất tri mộng huyễn hư giả, uổng thọ luân hồi (佛爲一切迷人認五蘊和合爲自體相、分別一切法爲外塵相、好生惡死念念遷流、不知夢幻虛假、枉受輪回, Phật vì hết thảy người mê nhận Năm Uẩn hòa hợp là tướng tự thể, phân biệt tất cả pháp là tướng ngoại trần, thích sống sợ chết mỗi niệm trôi nỗi, chẳng biết mộng huyễn giả dối, uổng thọ luân hồi).” Hay như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, CBETA No. 1456) quyển 38 cũng có câu: “Ngũ Uẩn sơn trung tịch diệt trường, lục song hư sưởng dạ sanh quang, chỉ tu hoán tỉnh yểm trung chủ, mạc sử hôn trầm tự cái tàng (五蘊山中寂滅塲、六窗虛敞夜生光、只須喚醒弇中主、莫使昏沉自蓋藏, Năm Uẩn trong rừng vắng lặng trường, sáu cửa toang mở đêm phát quang, chỉ nên tỉnh thức làm chủ cả, chớ để hôn trầm che kín màng).” Hoặc trong phần Bát Nhã (般若) của Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (六祖大師法寶壇經, Taishō No. 2008) có đoạn: “Đương dụng đại trí tuệ, đả phá Ngũ Uẩn phiền não trần lao, như thử tu hành, định thành Phật đạo, biến Tam Độc vi Giới Định Tuệ (當用大智慧、打破五蘊煩惱塵勞、如此修行、定成佛道、變三毒為戒定慧, nên dùng trí tuệ lớn, đả phá Năm Uẩn phiền não trần lao; tu hành như vậy, nhất định thành Phật đạo, biến Ba Độc thành Giới Định Tuệ).” Trong Kinh Bát Nhã có câu rất nổi tiếng là: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách (觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時、照見五蘊皆空、度一切苦厄, khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành sâu trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấy rõ Năm Uẩn đều không, thoát khỏi hết thảy khổ ách).” Từ đó, Ngũ Uẩn Giai Không (五蘊皆空, Năm Uẩn Đều Không) hay Nhất Thiết Giai Không (一切皆空, Tất Cả Đều Không) được xem như là tư tưởng căn bản của Phật Giáo. Như trong Thiền Gia Quy Giám (禪家龜鑑, CBETA No. 1255) có đoạn: “Phàm nhân lâm mạng chung thời, đản quán Ngũ Uẩn giai không, Tứ Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, bất khứ bát lai, sanh thời tánh diệc bất sanh, tử thời tánh diệc bất khứ, trạm nhiên viên tịch, tâm cảnh nhất như (凡人臨命終時、但觀五蘊皆空、四大無我、眞心無相、不去不來、生時性亦不生、死時性亦不去、湛然圓寂、心境一如, phàm người khi đến lúc lâm chung, nên quán Năm Uẩn vô thường, Bốn Đại vô ngã, chân tâm vô tướng, không đến không đi, khi sanh tánh cũng không sanh, khi chết tánh cũng không mất, vắng lặng tròn đầy, tâm cảnh như một).”

Ngũ uẩn

五蘊; C: wǔyùn; J: goun; S: pañca-skandha; P: pañca-khandha; cũng gọi là Ngũ ấm (五陰), năm nhóm;|Năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái »ta.«|Ngũ uẩn là: 1. Sắc (色; s, p: rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn); 2. Thụ (受; s, p: vedanā), tức là cảm giác; 3. Tưởng (想; s: saṃjñā; p: saññā); 4. Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra); 5. Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa).|Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Ðặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh nhấn mạnh đến tính Không của ngũ uẩn (xem Năm trí).|Sắc do Tứ đại chủng (s, p: mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của các giác quan. Thụ là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Tưởng là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện. Hành là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác… Thức bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.|Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được thành tạo từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái »ta« thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát. Ðại sư người Ðức Ni-a-na Ti-lo-ka (nya-nātiloka) trình bày như sau về tầm quan trọng đó: »Ðời sống của mỗi chúng ta thật chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẽ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng.« Joseph Goldstein cũng viết: »Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ.«

ngũ uẩn

xem năm ấm. ; Cũng gọi là Ngũ Ấm, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là vật chất (như xương, thịt…), Thọ là cảm thọ, Tưởng là tư tưởng, Hành là hành vi và sự biến đổi, Thức là phân biệt nhận thức. Do năm thứ này tổ chức thành thân tâm con người, gọi là thân Ngũ uẩn. ; (五蘊) Phạm: Paĩca skandha. Pàli: Paĩca khandhà. Cũng gọi Ngũ ấm, Ngũ chúng, Ngũ tụ. Hán âm: Tắc kiện đà. Năm nhóm tích tụ tất cả pháp hữu vi theo từng loại khác nhau. Một trong 3 khoa (Uẩn, Xứ, Giới).1. Sắc uẩn (Phạm: Rùpa-skandha): Nhóm gồm tất cả sắc pháp. 2. Thụ uẩn (Phạm:Vedanà-skandha): Các cảm thụ do khổ, vui, không khổ không vui... sinh ra. 3. Tưởng uẩn (Phạm: Saôjĩàskandha): Các thứ tưởng do nhãn xúc mà sinh ra. 4. Hành uẩn (Phạm: Saôskàraskandha): Chỉ cho tất cả pháp hữu vi ngoại trừ sắc, thụ, tưởng, thức, cũng tức là tác dụng của ý chí và tâm. 5. Thức uẩn (Phạm: Vijĩànaskandha): Nhóm gồm các loại thức như thức mắt, thức tai v.v... Trong 75 pháp do tông Câu xá thành lập thì 72 pháp hữu vi thuộc về 5 uẩn và trong trăm pháp của tông Duy thức thì 94 pháp thuộc về 5 uẩn, không bao gồm pháp vô vi. Năm uẩn thông cả hữu lậu, vô lậu và 3 tính thiện, ác, vô kí, cho nên trong các luận nhiều tên gọi được sử dụng để thuyết minh các chủng loại khác nhau. Như luận Đại tì bà sa quyển 75, trong Ngũ uẩn, pháp nào thuộc về hữu lậu thì gọi là Ngũ thủ uẩn. Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần đầu, lại căn cứ vào hữu lậu, vô lậu và 3 tính mà lập tất cả 9 loại:1. Sinh đắc thiện ấm.2. Phương tiện thiện ấm.3. Vô lậu thiện ấm.4. Bất thiện ngũ ấm.5. Uế ô ngũ ấm.6. Báo sinh ngũ ấm.7. Uy nghi ngũ ấm.8. Công xảo ngũ ấm.9. Biến hóa ngũ ấm. Trong đó, 3 loại đầu là thiện, loại thứ tư là ác, 5 loại sau là vô kí. Loại thứ 3 thuộc vô lậu, ngoài ra đều thuộc hữu lậu.Ma ha chỉ quán quyển 5, phần đầu và Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 5, phần đầu cũng nêu ra thuyết này. Đa số các phái Tiểu thừa đối với sự phân tích 5 uẩn đều rút ra kết luận Nhân vô ngã, chủ trương thân con người là do 5 uẩn tạm thời hòa hợp, chỉ có cái tên giả chứ không có thể thực. Nhưng học thuyết của Đại thừa thì không những chỉ phủ nhận tính chân thực của cái thể do năm uẩn hòa hợp (thân con người) mà còn phủ nhận luôn tính chân thựccủa bản thân 5 uẩn, rồi tiến bước nữa mà phát triển thành lí luận Pháp vô ngã.[X. kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc); Bát nhã tâm kinh; luận Tập dị môn túc Q.11; luận Câu xá Q.1, 29; luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q.74; luận Hiển dương thánh giáo Q.5; luận Thuận chính lí Q.1, 2].

ngũ uẩn dụ

(五蘊喻) Năm ví dụ về 5 uẩn được nói trong kinh Đại trang nghiêm quyển 12. Đó là: 1. Sắc ví như bọt nước: Bọt nước do gió thổi trên mặt nước tạo thành, chỉ có hình tướng hư giả chứ không có thể chất chắc thật; sắc thân của chúng sinh cũng giống như thế, hư giả chẳng thật. 2. Thụ ví như bọt nước: Nước bị gió thổi làm chao động, hoặc bị vật khuấy động mà tạo thành bọt, chỉ trong chốc lát là tan biến; cảm nhận những cái khổ, vui của chúng sinh cũng giống như thế, lúc nổi lúc tankhông thường còn. 3. Tưởng ví như sóng nắng: Sóng nắng là chỉ cho ánh sáng mặt trời. Nghĩa là từ xa nhìn đồng không mông quạnh, người ta thấy bốc lên những tia dợn nắng giống như sóng nước, kì thực chẳng phải nước, nhưng người khát nước lại tưởng là nước. Vọng tưởng của chúng sinh cũng giống như thế, vốn không có thực thể, do niệm mà thành tưởng, đều là hư dối. 4. Hành ví như cây chuối: Hành nghĩa là tạo tác. Thân cây chuối mềm, dễ gãy, không bền chắc, các hành động do chúng sinh tạo tác cũng giống như thế, không chắc thật. 5. Thức ví như việc ảo thuật: Thức nghĩa là phân biệt. Nhà ảo thuật biến cái khăn thành con ngựa, cây cỏ thành người, đều do ảo giác mà ra, vốn không có thực thể. Tâm thức của chúng sinh phân biệt các pháp cũng giống như thế, đều tùy thuộc vào cảnh sinh diệt chứ không có thật.

ngũ uẩn ma

(五蘊魔) Cũng gọi Uẩn ma, Ngũ ấm ma, Ngũ chúng ma, Thân ma. Năm uẩn: Sắc, thụ, tưởng, hành và thức như loài ma, hay làm cho chúng sinh hữu tình chịu nhiều thứ chướng hại, vì thế gọi là Ngũ uẩn ma. (xt. Tứ Ma).

ngũ uẩn thật tướng

(五蘊實相) Năm uẩn tức là lí chân như thực tướng. 1. Sắc uẩn thực tướng: Sắc là giả sắc chất ngại, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi giả sắc ấy mà rõ được chân không, nên gọi là Sắc uẩn thực tướng. 2. Thụ uẩn thực tướng: Thụ là cảm thụ hư giả của 6 căn, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi cảm thụ hư giả ấy mà rõ được chân không, cho nên gọi là Thụ uẩn thực tướng.3. Tưởng uẩn thực tướng: Tưởng là những suy tư giả tưởng, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi suy tư giả tưởng ấy mà rõ được chân không, vì thế gọi là Tưởng uẩn thực tướng.4. Hành uẩn thực tướng: Hành là các hành tạo tác hư giả, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi tạo tác hư giả ấy mà rõ chân không, bởi vậy gọi là Hành uẩn thực tướng.5. Thức uẩn thực tướng: Thức là giả thức phân biệt, thực là bát nhã chân không. Ngay nơi giả thức phân biệt ấy mà rõ chân không, cho nên gọi là Thức uẩn thực tướng.

ngũ uẩn trạch

(五蘊宅) Ngôi nhà 5 uẩn. Thân tâm con người do 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức giả hòa hợp mà tạo thành, được ví dụ như ngôi nhà, nên gọi là Ngũuẩn trạch.[X. kinh Tối thắng vương Q.4].

ngũ vân

(五雲) Năm đám mây ví dụ cho 5 chướng của người tu đạo: Lừa dối, biếng nhác, giận dữ, ân hận và oán ghét. Năm cái chướng này gây trở ngại cho việc tu đạo, giống như đám mây ngăn che ánh mặt trời nên gọi là Ngũ vân.(xt. Ngũ Chướng).

ngũ vô gián

(五無間) I. Ngũ Vô Gián. Cũng gọi Ngũ vô gián ngục. Năm quả báo vô gián, tức chỉ cho địa ngục A tị. Chúng sinh hữu tình trong pháp giới, tùy chỗ tạo nghiệp mà phải đọa vào địa ngục này, chịu khổ báo không lúc nào gián đoạn. Địa ngục A tị là nơi khổ nhất trong 8 địa ngục lớn, là quả báo mà những người gây nghiệp cực ác phải gánh chịu. Cứ theo kinh Địa tạng bồ tát bản nguyện quyển thượng, thì 5 quả báo vô gián là: 1. Thời vô gián: Trải qua nhiều kiếp chịu tội, không lúc nào ngưng nghỉ. 2. Hình vô gián: Địa ngục này mỗi bề đều 8 vạn do tuần, tất cả hữu tình chịu khổ trong đó, thân hình của họ cũng lớn như vậy, đầy ắp địa ngục, 1 người cũng đầy, nhiều người cũng đầy, không 1 khoảng trống. 3. Thụ khổ vô gián: Các chúng sinh chịu khổ trên núi dao rừng gươm, với những hình cụ như: Chĩa 3 chạc, gậy sắt, cối xay, cối giã, cưa, đục, vạc nước sôi v.v... chịu đủ các khổ, không lúc nào ngừng. 4. Thú quả vô gián: Bất luận trai gái, lớn bé, già trẻ, sang hèn, cho đến trời rồng, thần quỉ... tội nghiệp đã đến, đều cùng chịu khổ như thế. 5. Mệnh vô gián: Nếu rơi vào địa ngục này thì từ lúc mới vào cho đến trăm nghìn muôn kiếp, trong 1 ngày 1 đêm, vạn lần chết đi, muôn lần sống lại, dù cầu 1 niệm ngưng nghỉ cũng không được, trừ khi hết nghiệp mới được thụ sinh. [X. phẩm Quán Phật tâm trong kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; phẩm Nê lê trong kinh Đại lâu thán Q.2; phẩm Địa ngục trong kinh Khởi thế Q.4; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. II. Ngũ Vô Gián. Cũng gọi Ngũ vô gián nghiệp. Năm nghiệp chiêu cảm quả khổ ở địa ngục Vô gián. Tức chỉ cho 5 tội nghịch: Giết mẹ, giết cha, giết A la hán, phá hòa hợp tăng và làm cho thân Phật chảy máu. (xt. Ngũ Nghịch).

Ngũ Vô gián nghiệp

xem Năm tội nghịch.

Ngũ vô gián nghiệp

五無間業; S: pañcanantaryakarmāṇi;|Năm tội lớn

Ngũ Vô gián tội

xem Năm tội nghịch.

ngũ vô lượng

(五無量) Chỉ cho 5 thứ vô lượng do Mật giáo thành lập, đó là: Tâm, thân, trí, chúng sinh và hư không. Do tâm vô lượng mà có thể đạt được thân, trí, chúng sinh và hư không vô lượng, tức biểu thị nghĩa thành tựu tối thắng giác. Năm thứ vô lượng này có thể theo thứ tự phối hợp với 5 đức Phật: A súc, Bảo sinh, Vô lượng thọ, Bất không thành tựu và Đại nhật. Ngoài ra, cũng có thể phối với 5 chữ và 5 đại. [X. phẩm Bách tự quả tương ứng trong kinh Đại nhật; Đại nhật kinh sớ Q.18; Biện hoặc chỉ nam Q.1].

ngũ vấn thập đề

(五問十題) Năm người hỏi mười vấn đề, đây là tiếng dùng trong việc bàn về nghĩa. Lúc vị giảng sư bàn về nghĩa, có 5 người hỏi, mỗi người đặt 2 vấn đề. Vấn đề được hỏi đầu tiên được gọi là Nghiệp nghĩa, vấn đề thứ 2 gọi là Phó nghĩa. Tổng cộng 5 người hỏi 10 vấn đề nên gọi là Ngũ vấn thập đề.

Ngũ vị

五位; C: wǔwèi; J: go-i;|Năm phẩm loại. Năm giai vị. Có các nghĩa sau: 1. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派; e: yogācāra school), quá trình tu đạo được chia thành 5 bậc. Năm giai vị nầy được liệt kê trong luận tạng của Tiểu thừa và Đại thừa. Chúng chủ yếu được giải thích trong A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhāṣya) và Duy thức tam thập tụng – cả hai đều là trứ tác của Thế Thân (世親; s: vasu-bandhu). I. Theo trường phái Duy thức, Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Thông đạt vị (通達位), Tu tập vị (修習位) và Cứu cánh vị (究竟位). Theo luận Câu-xá thì Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Kiến đạo vị (見道位), Tu đạo vị (修道位) và Vô học vị (無學位); II. Theo kinh Kim cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), Ngũ vị là: Tín vị (信位), Tư vị (思位), Tu vị (修位), Hạnh vị (行位), và Xả vị (捨位).

ngũ vị

(五位) I. Ngũ Vị. Cũng gọi Ngũ sự, Ngũ pháp, Ngũ phẩm. Chỉ cho 5 phẩm loại khác nhau bao gồm tất cả pháp hữu vi và vô vi.1. Sắc pháp: Chỉ cho thế giới vật chất.2. Tâm pháp: Chỉ cho thức chủ thể cấu tạo thành tâm.3. Tâm sở pháp: Chỉ cho các tác dụng của tâm.4. Tâm bất tương ứng hành pháp: Chẳng phải sắc pháp, chẳng phải tâm pháp mà là pháp hữu vi không tương ứng với tâm, như: Sinh trụ dị diệt, để nói rõ các hiện tượng tồn tại. 5. Vô vi pháp: Chỉ chung cho các pháp không do tạo tác mà có, sự sinh diệt biến hóa của chúng chẳng phải do nhân duyên, cũng không khởi tác dụng. Trong 5 vị này, luận Câu xá lại chia Sắc pháp thành 11 thứ, Tâm pháp 1 thứ, Tâm sở pháp 46 thứ, Bất tương ứng hành pháp 14 thứ và Vô vi pháp 3 thứ, tổng cộng 75 thứ, cho nên gọi là 5 vị 75 pháp. Tông Duy thức Đại thừa thì chia Tâm pháp thành 8 thứ, Tâm sở pháp 51 thứ, Sắc pháp 11 thứ, Bất tương ứng hành pháp 24 thứ và Vô vi pháp 6 thứ, tổng cộng 100 thứ, vì thế gọi là 5 vị 100 pháp. Tông Câu xá sắp xếp thứ tự của 5 vị là: Sắc, tâm v.v... vì tông này cho rằng đối tượng ngoài tâm là có thật, từ đó lại khởi lên tâm và tâm sở trong nội tâm. Còn tông Duy thức thì xếp theo thứ tự: Tâm, tâm sở v.v... vì tông này chủ trương các pháp đều do thức biến hiện chứ không có thực thể. [X. luận Câu xá Q.4; luận Thuận chính lí Q.10; luận Thành duy thức Q.7; Bách pháp minh môn luận sớ Q.thượng; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần cuối]. II. Ngũ Vị. Cũng gọi Duy thức ngũ vị, Duy thức tu đạo ngũ vị. Chỉ cho 5 giai vị của Bồ tát Đại thừa do tông Duy thức phân lập. Đó là: 1. Tư lương vị: Giai vị chứa nhóm các thiện hữu lậu để đạt đến quả vị Phật. Chỉ cho hàng Bồ tát Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, lấy phúc đức trí tuệ làm tư lương trợ đạo, vì thế gọi là Tư lương vị. Ba giai vị này gọi là Đại thừa tam hiền vị. Trong đó, Thập trụ nặng về tu tập Lí quán, Thập hạnh nghiêng về tu tập Sự quán, còn Thập hồi hướng thì phần nhiều tu Lí sự bất nhị quán. Pháp tu hành này gọi là Đại thừa thuận giải thoát phần, tuy đã dứt trừ được sự hiện hành của 2 chấp phân biệt, nhưng hạt giống của năng thủ và sở thủ vẫn còn tiềm phục chưa trừ. Đây là giai vị chiết phục chướng ngại đầu tiên trong 5 giai vị của Duy thức. 2. Gia hạnh vị: Chỉ cho Bồ tát tứ gia hạnh vị (Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất), nhờ đã được tư lương phúc đức mà thêm công dụng hạnh để vào Kiến đạo (Hoan hỉ địa) trụ ở vị chân như. Giai vị này có thể đạt đến cảnh giới không có 2 ngã(nhân ngã và pháp ngã) mà có 2 vô ngã (nhân vô ngã và pháp vô ngã), nhưng trong tâm vẫn hiện tiền tướng như, nên vẫn chưa phải thực trụ nơi cảnh giới Duy thức. Đây gọi là Đại thừa thuận quyết trạch phần. 3. Thông đạt vị, cũng gọi Kiến đạo vị. Bồ tát Sơ địa thể hội chân như, trí chiếu soi lí, thấy được Trung đạo, nên gọi là Thông đạt vị. Tức là giai vị chứng được trí vô lậu đầu tiên, đồng thời thể hội lí chân như. Đây là giai đoạn hoàn thành sự tu hành trong đại kiếp thứ nhất, tương đương với giai đoạn Nhập tâm của Sơ địa, nên cũng gọi là Kiến đạo vị. 4. Tu tập vị, cũng gọi Tu đạo vị. Chỉ cho Bồ tát từ Nhị thừa đến Thập địa, mặc dù đã thấy đạo rồi, nhưng vì đoạn trừ chướng ngại, lại phải tu tập trí căn bản, nên gọi là Tu tập vị. 5. Cứu cánh vị: Chỉ cho quả Phật Diệu giác, là giai vị cùng tột, nên gọi là Cứu cánh vị. [X. luận Thành duy thức Q.9; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.5; luận Du già sư địa Q.64; Duy thức tam thập luận tụng; Đại thừa pháp tướng danh mục Q.1, trung]. III. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 giai vị tu hành của Tiểu thừa. Tức là: 1. Tư lương vị: Lại chia làm 3 vị: Ngũ đình tâm, Biệt tướng niệm(trong 4 niệm xứ quán xét riêng từng pháp một)và Tổng tướng niệm(quán chung 4 pháp 1 lượt). 2. Gia hạnh vị: Gồm có 4 vị: Noãn vị, Đính vị, Nhẫn vị, Thế đệ nhất vị. Bốn giai vị thêm công dụng tu hành, chứng được đạo quả. 3. Kiến đạo vị: Chỉ cho quả Thanh văn đầu tiên, dứt Kiến hoặc trong 3 cõi, thấy được lí chân không.4. Tu đạo vị: Chỉ cho các quả Thanh văn thứ 2, thứ 3, tu pháp Tứ đế, dứt Tư hoặc ở cõi Dục.5. Vô học vị: Chỉ cho quả A la hán thứ 4, dứt sạch Kiến, Tư hoặc trong 3 cõi, chứng chân lí rốt ráo, không còn gì để học.[X. Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].IV. Ngũ Vị. Cũng gọi Động sơn ngũ vị. (xt. Động Sơn Ngũ Vị). ; (五味) Phạm: Paĩca rasà.I. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 vị: Nhũ (Phạm: Kwìra, sữa), lạc (Phạm: Dadhi, váng sữa), sinh tô (Phạm: Navanìta, sữa đặc), thục tô (Phạm: Ghfta, bơ), đề hồ (Phạm: Sarpirmaịđa, phó mát). Năm vị này đều được chế biến từ sữa.Các kinh luận thường dùng 5 vị này để ví dụ sự sai khác về căn cơ hoặc giáo pháp. Như kinh Niết bàn quyển 10 (bản Bắc) nói: Thanh văn như sữa, Duyên giác như lạc, Bồ tát như sinh tô, thục tô, chư Phật Thế tôn như đề hồ. Đây là ví dụ về căn cơ (người), còn ví dụ về giáo pháp (pháp) thì như kinh Niết bàn quyển 14 (bản Bắc), phẩm Thánh hạnh (Đại 12, 449 thượng) nói: Ví như từ bò vắt ra nhũ (sữa), từ nhũ có lạc (váng sữa), từ lạc có sinh tô (sữa đặc), từ sinh tô có thục tô (bơ), từ thục tô có đề hồ (phó mát). Đề hồ là thức ăn ngon nhất, có nhiều dược chất, có thể chữa khỏi các bệnh. Này các thiện nam tử! Phật cũng như thế, từ Phật có 12 thể tài kinh, từ 12 thể tài kinh có Tu đa la, từ Tu đa la có kinh Phương đẳng, từ kinh Phương đẳng có Bát nhã ba la mật, từ Bát nhã ba la mật có Đại niết bàn; cũng như đề hồ, nói đề hồ là ví dụ Phật tính, Phật tính tức là Như lai. Đoạn văn kinh trên đây từ ngài Tuệ quán đời Lưu Tống và cư sĩ Lưu cầu đời Tiêu Tề đến nay đều được dùng để ví dụ thứ tự thuyết giáo của 1 đời đức Phật, nhưng sự giải thích của các nhà thì có nhiều điểm dị đồng. Đại phẩm kinh du ý của ngài Cát tạng (Đại 33, 66 hạ) nói: Bàn về vị tương sinh của 5 nhà, nhà thứ 1 nói rằng, 12 thể tài phối hợp với A hàm, Tu đa la phối với Thiền kinh. Tại sao? Vì định hay phát sinh trí nên Tu đa la được phối với Thiền kinh. Phương đẳng phối với Bát nhã, Tư ích..., Bát nhã phối với Pháp hoa, Đề hồ phối với Niết bàn. Ngài Thiên thai Trí khải thì dựa theo thứ tự thời gian thuyết giáo của 1 đời đức Phật mà lập thành 5 thời, rồi dùng 5 vị phối hợp với 5 thời, ví dụ cho sự phát sinh dần dần của 5 thời giáo, gọi là Ước giáo tương sinh, lại dùng tính đậm, lạt của 5 vị ví dụ cho sự lợi, độn của căn cơ, gọi là Ước cơ nùng đạm. Năm vị: 1. Nhũ vị: Vị sữa từ bò mà có, cho nên được dùng để ví dụ 12 thể tài kinh từ đức Phật nói mà có. Đầu tiên, đức Phật tuyên thuyết giáo pháp Hoa nghiêm viên đốn, chỉ dành cho hàng Bồ tát đại cơ, không chung cho hàng Thanh văn, Duyên giác. Vì kinh Hoa nghiêm được nói ra trước tiên, sâu cạn lẫn lộn nên ví như vị sữa. 2. Lạc vị: Vị váng sữa từ sữa mà có, cho nên được dùng để ví dụ 9 thể tài kinh là từ 12 thể tài kinh mà ra. Thời thứ 2, đức Phật ở vườn Lộc dã nói kinh A hàm, dắt dẫn hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, dứt trừ Kiến, Tư hoặc, chứng lí chân không là từ đốn bày ra tiệm, nên ví dụ như vị váng sữa. 3. Sinh tô vị: Vị sữa đặc có từ váng sữa, cho nên được dùng để ví dụ những kinh Phương đẳng Đại thừa được nói ra tiếp sau 9 thể tài kinh. Ở thời thứ 3, đức Phật tuyên thuyết các kinh Đại thừa như Lăng già, Lăng nghiêm... khen ngợi Đại thừa, quở trách Tiểu thừa, khiến hàng Tiểu thừa chán Tiểu mến Đại, cho nên ví dụ như sữa đặc. 4. Thục tô vị: Vị bơ từ sữa đặc mà có, cho nên dùng để ví dụ kinh Bát nhã được nói ra tiếp sau kinh Phương đẳng. Ở thời thứ 4, đức Phật tuyên thuyết các môn không tuệ, quét sạch nghi chấp của hàng Nhị thừa, trao cho giáo pháp Đại thừa, khiến cho tâm họ dần dần thông suốt, nên ví như vị thục tô. 5. Đề hồ vị: Vị phó mát từ bơ mà có, cho nên dùng để ví dụ kinh Pháp hoa và kinh Niết bàn được nói tiếp sau kinh Bát nhã. Ở thời thứ 5, trên hội Linh sơn, đức Phật tuyên thuyết kinh Pháp hoa xóa bỏ Quyền giáo Tam thừa của 4 vị trước để qui về Thực giáo Nhất thừa viên diệu, khiến cho chúng sinh đều được thành Phật; lại nói kinh Niết bàn, đề cao giới luật và bàn về lí thường trụ, cho nên ví dụ như vị đề hồ tối thượng. [X. Pháp hoa huyền nghĩa thích tiêm Q.1, phần đầu; Pháp hoa kinh văn cú Q.6, phần cuối; Tam luận du ý nghĩa; Đại thừa huyền luận Q.5 (phần Giáo tích nghĩa); Niết bàn kinh nghĩa kí Q.10 (Tịnh ảnh); Niết bàn kinh hội sớ Q.13]. (xt. Ngũ Thời Bát Giáo). II. Ngũ Vị. Chỉ cho 5 vị: Chua, đắng, ngọt, cay, mặn.

Ngũ Vị Bách Pháp

(五位百法, Goihyappō): pháp phân loại về sự tồn tại do Phái Duy Thức thuyết ra. Phái này phân chia hết thảy tồn tại ra làm 5 pháp là: (1) Tâm (心), (2) Tâm Sở (心所), (3) Sắc (色), (4) Bất Tương Ưng Hành (不相應行), và (5) Vô Vi (無爲). Thêm vào đó Tâm thì được chia thành 8 pháp, Tâm Sở 51 pháp, Sắc 11 pháp, Bất Tương Ưng Hành 24 pháp và Vô Vi 6 pháp, như vậy tất cả cọng lại thành 100 loại nên được gọi là Ngũ Vị Bách Pháp (Năm Vị Trăm Pháp). Trong số đó, Tâm là trung tâm thể của tâm nên còn được gọi là Tâm Vương (心王). Còn Tâm Sở là tâm tác dụng vi tế hoạt động tùy theo Tâm Vương, còn được chia ra làm 6 loại khác gồm Biến Hành (遍行), Biệt Cảnh (別境), Thiện (善), Phiền Não (煩 惱), Tùy Phiền Não (隨煩惱) và Bất Định (不定). Sắc là nói về hết thảy cái mang tính vật chất như nhục thể, sự vật, v.v. Riêng Bất Tương Ưng Hành thì không phải là tâm mà cũng chẳng phải là vật chất, mà nói về nguyên lý hình thành nên hiện tượng. Cuối cùng Vô Vi nhằm chỉ đến chơn như, và cũng nói về bản chất của hiện tượng.

ngũ vị bách pháp

(五位百法) Năm vị 100 pháp. Đây là cách chia loại và sắp xếp các pháp của tông Pháp tướng Duy thức. Một trăm pháp(sự tướng)này đều không có thực thể, chỉ là phân vị giả lập mà thôi. Trong 100 pháp thì tâm là thù thắng nhất, mặc dù không có đối tượng vật chất nhưng từ nơi tâm mà có đối tượng biến hóa. Trong tâm vương, ngoài 6 thức ra còn có thức Mạt na và thức A lại da. Chỗ đặc sắc của Duy thức là căn cứ vào sự tổ hợp và quan hệ giữa sự đối đãi nhau của 100 pháp mà trình bày rõ về những hoạt động và hiện tượng của tâm; nắm bắt tính đa dạng và tính phức tạp của những hiện tượng tinh thần 1 cách cụ thể, rồi lại dùng phương pháp phân tích để thuyết minh và lí giải. Đó chính là sự nghiên cứu về tâm lí của Phật giáo. Một trăm pháp gồm: 1. Tâm pháp có 8: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý, mạt na và a lại da thức. 2. Tâm sở hữu pháp (Tâm sở)có 51: Tác ý, xúc, thụ, tưởng, tư, dục, thắng giải, niệm, định, tuệ, tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần(tinh tiến), khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại, tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, khan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chính tri, hối, miên (thụy), tầm và tứ. 3. Sắc pháp có 11: Nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp xứ sở nhiếp sắc. 4. Tâm bất tương ứng hành pháp có 24: Đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, dị sinh tính, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng báo (vô tưởng sự), danh thân, cú thân, văn thân, sinh, lão, trụ, vô thường, lưu chuyển, định dị, tương ứng, thế tốc, thứ đệ, phương, thời, số, hòa hợp tính và bất hòa hợp tính. 5. Vô vi pháp có 6: Hư không, trạch diệt, phi trạch diệt, bất động diệt (bất động), tưởng thụ diệt và chân như. Trên đây, 5 phẩm loại được gọi là Ngũ vị, cùng nêu chung với 100 pháp, gọi là 5 vị 100 pháp. Và trong 5 phẩm loại, trừ pháp vô vi ra, còn 4 phẩm loại kia đều thuộc về pháp hữu vi. Sự phân loại các pháp trên đây là căn cứ theo luận Đại thừa bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, còn trong các luận khác thì sự phân loại có hơi bất đồng. [X. luận Thành duy thức Q.7; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; Đại thừa bách pháp minh môn luận sớ; Đại thừa bách pháp minh môn luận giải]. (xt. Bách Pháp).

ngũ vị chúc

(五味粥) Cũng gọi Lạp bát chúc, Hồng tao. Cháo 5 vị. Trong Thiền lâm, vào ngày đức Phật thành đạo mồng 8 tháng chạp (Lạp bát), các tự viện thường nấu cháo ngũ cốc (trộn lẫn 5 thứ hạt)để cúng dường, gọi là Ngũ vị chúc, Lạp bát chúc, hoặc là Hồng tao. Hồng là màu của loại đậu đỏ; Tao là nhiều vị trộn lẫn với nhau. Điều Nguyệt phần tu tri trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1155 thượng) ghi: Ngày mồng 8 tháng 12 Phật thành đạo, Khố ti chuẩn bị nấu Hồng tao.

Ngũ vị thiền

五味禪|Chỉ năm phương pháp tu thiền, do Thiền sư Khuê Phong Tông Mật phân chia ra trong tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự (禪源諸詮集都序):|1. Phàm phu thiền (凡夫禪; j: bompu-zen): Cách thiền của phàm phu, những người không theo đạo mà chỉ muốn thân thể, tâm trạng được khoẻ mạnh.|2. Ngoại đạo thiền (外道禪; gedō-zen): Chỉ những phương pháp thiền nằm ngoài Phật giáo.|3. Nhị thừa thiền (二乘禪) hay Tiểu thừa thiền (小乘禪; shōjō-zen): Thiền theo những phương pháp được nêu ra trong kinh sách Phật giáo Nam truyền. Cách thiền này dẫn đến Diệt tận định, và nếu hành giả ở trong trạng thái này khi chết thì không tái sinh nữa, thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra).|4. Ðại thừa thiền (大乘禪; daijō-zen): Mục đích chính ở đây là Kiến tính (見性; ken-shō), Giác ngộ. Kinh nghiệm giác ngộ cho thấy rằng, ta chính là vạn vật mà vạn vật không khác ta và từ kinh nghiệm này, những hành động hằng ngày sẽ là những hành động cứu độ tất cả chúng sinh.|5. Tối thượng thừa thiền (最上乘禪; saijō-jō-zen): Trong dạng thiền này, đường đi và mục đích trở thành một. Thiền không phải là một phương pháp để đạt giác ngộ nữa mà trở thành một sự biểu hiện trực tiếp của Phật tính (j: busshō). Kinh sách viết rằng, đây là cách thiền của các chư Phật và là cách thiền tuyệt đỉnh (vô thượng, tối thượng, không còn cách nào hơn được) trong Phật pháp.|Quan niệm thường gặp như Ðại thừa thiền là Thiền của tông Lâm Tế và Tối thượng thừa thiền là Thiền của tông Tào Ðộng không đúng lắm bởi vì hai dạng Thiền trên bổ sung lẫn nhau mặc dù người ta chú trọng đến kinh nghiệm Kiến tính trực tiếp và phương pháp dẫn đến kinh nghiệm này hơn trong tông Lâm Tế; còn trong tông Tào Ðộng thì phương pháp Chỉ quản đả toạ (只管打坐; j: shikantaza) được xếp ở hàng đầu.|Ngũ vị thiền của sư Tông Mật phản ánh quan niệm truyền thống của Phật giáo, nhưng nhìn theo thời nay – trong thời đại mà Thiền được truyền bá khắp nơi trên hoàn cầu, vượt qua giới hạn của các nền văn hoá Phật giáo – quan niệm này không còn đúng lắm và cần được đính chính lại. Ví dụ như một người theo Thiên chúa giáo hoặc Hồi giáo vẫn có thể thực hiện Tiểu thừa, Ðại thừa hoặc Tối thượng thừa thiền mặc dù theo hệ thống ngũ vị thì tất cả những loại thiền nằm ngoài Thiền tông đều phải được gọi là »Ngoại đạo thiền.« Ngũ vị thiền như vậy đặc biệt có giá trị trong phạm vi lí thuyết của Thiền tông Phật giáo, trong khi nhìn từ khía cạnh tuyệt đối, so sánh với những kinh nghiệm của các Thánh nhân của tất cả truyền thống tôn giáo trên thế giới thì nó chẳng có giá trị là bao.

ngũ vị thiền

(五味禪) Cũng gọi: Ngũ thiền, Ngũ loại thiền. Đối lại: Nhất vị thiền. Năm pháp thiền có thứ bậc cạn sâu khác nhau do ngài Khuê phong Tông mật phân lập. Đó là: 1. Thiền ngoại đạo: Người tu thiền thích cảnh giới trên, chán cảnh giới dưới. 2. Thiền phàm phu: Người tu thiền tin lí nhân quả 1 cách chân chính, nhưng cũng do tâm thái thích, chán mà tu tập. 3. Thiền Tiểu thừa: Người tu pháp thiền này chỉ ngộ được lí ngã không. 4. Thiền Đại thừa: Người tu pháp thiền này ngộ được lí ngã không và pháp không. 5. Thiền Tối thượng thừa, cũng gọi Thiền Như lai thanh tịnh, Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội. Người tu pháp thiền này đốn ngộ tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, không phiền não, vốn tự đầy đủ trí tính vô lậu, tâm ấy là Phật, hoàn toàn không khác. Thiền này là cội gốc của tất cả pháp thiền, là do môn đệ của tổ Bồ đề đạt ma truyền nối. Ngài Tông mật chủ trương Thiền, Giáo là một, cho Nhất hạnh tam muội nói trong các kinh (giáo nội)là Tam muội vương căn bản, tức là thiền chân thực do Phật và Tổ truyền. Nhưng Thiền tông chê đó là thiền Như lai 5 vị xen tạp, khác xa với thiền Tổ sư 1 vị thuần tịnh. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.13; Liên đăng hội yếu Q.4, 7; Cổ tôn túc ngữ lục Q.3; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.11; Ngũ đăng nghiêm thống Q.3; Ngũ đăng toàn thư Q.5].

ngũ vị thất thập ngũ pháp

(五位七十五法) Năm phẩm loại bao gồm 75 pháp, là cách phân chia, sắp xếp tất cả các pháp của tông Câu xá. Đó là: 1. Sắc pháp (chỉ cho tất cả vật chất) gồm 11 thứ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc và vô biểu sắc. 2. Tâm pháp (chủ thể của tác dụng tâm) có 1 thứ, tức 6 thức tâm vương. 3. Tâm sở hữu pháp (gọi tắt: Tâm sở, tức tác dụng của tâm) gồm 46 thứ, chia làm: a) Đại địa pháp (tác dụng tương ứng với tất cả tâm), có 10 thứ: Thụ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải và tam ma địa. b) Đại thiện địa pháp (những tâm sở chỉ tương ứng với các tâm thiện), có 10 thứ: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại và cần (tinh tiến). c) Đại phiền não địa pháp (những tâm sở chỉ tương ứng với tất cả tâm bất thiện và tuy chẳng phải ác chẳng phải thiện nhưng chướng ngại đạo), có 6 thứ: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm và trạo cử. d) Đại bất thiện địa pháp (những tâm sở tương ứng với tất cả tâm bất thiện), có 2 thứ: Vô tàm và vô quí. e) Tiểu phiền não địa pháp (tâm sở tương ứng với vô minh, nhưng không thể cùng 1 lúc sinh khởi từ 2 thứ trở lên), có 10 thứ: Phẫn, phú, khan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống và kiêu. f) Bất định địa pháp (tâm sở tương ứng với bất định, tức là ngoài các tâm sở đã nói ở trên), có 8 thứ: Tầm, tứ, thụy miên, ác tác, tham, sân, mạn và nghi. 4. Tâm bất tương ứng hành pháp (các pháp tồn tại không thuộc về sắc pháp, cũng chẳng phải là tâm, tâm sở), có 14 thứ: Đắc, phi đắc, chúng đồng phận, vô tưởng, vô tưởng định, diệt tận định, mệnh căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân và văn thân. 5. Vô vi pháp(chỉ cho các pháp mà bản thân chúng không sinh diệt biến hóa, cũng không bị bất cứ 1 tác dụng nào làm cho sinh diệt biến hóa), có 3 thứ: Hư không, trạch diệt và phi trạch diệt. Trong 5 vị, sự phân loại và số mục của Tâm sở hữu pháp có hơi khác với luận Đại tì bà sa và luận Thuận chính lí quyển 11. Còn 75 pháp nếu căn cứ vào sắc và phi sắc mà phân biệt, thì 11 sắc pháp là sắc, 64 pháp còn lại là phi sắc; nếu đứng về phương diện hữu đối và vô đối mà phân biệt, thì 5 căn và 5 cảnh là hữu đối, 65 pháp còn lại là vô đối; nếu phân biệt theo hữu vi và vô vi, thì 72 pháp trước là hữu vi, 3 pháp sau cùng là vô vi; nếu phân biệt theo mặt tương ứng và bất tương ứng, thì có 47 thứ tâm và tâm sở là tương ứng, 28 thứ còn lại là bất tương ứng; nếu căn cứ vào việc do 4 đại chủng hay không do 4 đại chủng tạo ra mà phân biệt, thì 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, 4 trần sắc, thanh, hương, vị và vô biểu sắc là do 4 đại chủng (đất, nước, lửa, gió) tạo ra, Xúc thì vừa do vừa không do 4 đại chủng tạo ra, còn 64 pháp còn lại thì không do 4 đại chủng tạo ra. Nếu phân biệt theo đế và phi đế, thì 73 pháp là đế, còn hư không và phi trạch diệt là phi đế. [X. luận Đại tì bà sa Q.42, 75; luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; Duy ma kinh sớ am la kí Q.18; Câu xá luận quang kí Q.4; Câu xá luận pháp tông nguyên]. (xt. Thất Thập Ngũ Pháp).

ngũ vị tân

xem năm món cay.

Ngũ vị vô tâm

五位無心; C: wǔwèi wúxīn; J: goi mushin;|Theo giáo lí của Du-già hành tông, có 5 trường hợp mà ý thức (意識; s: mano-vijñāna) không hiện hữu: 1. Ngủ say (Cực trọng thùy miên 極重睡眠; s: acittaka); 2. Hôn mê, ngất xỉu (Cực trọng muộn tuyệt 極重悶絶; s: mūrcchā); 3. Vô tưởng định (無想定; s: asaṃjñi-samāpatti); 4. Sinh trong Vô tưởng thiên (無想天; s: āsaṃjñika); 5. Trong Diệt tận định (滅盡定; s: nirodha-samāpatti; theo Thành duy thức luận 成唯識論)

ngũ vị vô tâm

(五位無心) Năm trường hợp không có tâm thức phân biệt sinh khởi (vô tâm),đó là trong trạng thái ý thức tạm thời gián đoạn. Tông Duy thức lập ra 5 vị. 1. Vô tưởng thiên (Phạm: Àsaôjĩika): Thuộc tầng thứ 3 (Quảng quả thiên) trong 8 tầng trời Đệ tứ thiền của cõi Sắc. Nếu người lúc còn sống tu tập định Vô tưởng, có thể nhờ sức nhàm chán thô tưởng mà sinh đến cõi trời này. Một khi sinh vào đây rồi thì trừ lúc mới sinh và lúc sắp chết tạm thời có tưởng, còn trong khoảng 500 đại kiếp trung gian thì 6 thức và các tâm sở không sinh khởi, tất cả đều dứt bặt, không tâm, không tưởng, chịu quả báo vô tâm. 2. Vô tưởng định (Phạm: Asaôjĩisamàpatti): Nhân để sinh về cõi trời Vô tưởng. Cũng là Tam muội vô tâm mà phàm phu dị sinh (ngoại đạo hoặc phàm phu) tu tập để cầu sinh về cõi trời Vô tưởng. Trời Đệ tam thiền của cõi Sắc có 3 tầng trời, trong đó, tầng trời sau cùng là Biến tịnh thiên. Nếu đã diệt trừ được tham ở Biến tịnh thiên mà chưa diệt trừ được sự ô nhiễm của trời Đệ tứ thiền trở lên, thì sinh khởi tác ý ra khỏi tưởng (tức nhàm chán cõi thấp kém mong quả báo cõi trời kia) mà vào định này. Lúc đó, 6 thức tâm vương cùng với 5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện v.v... toàn bộ 22 pháp đều đoạn diệt. 3. Diệt tận định (Phạm: Nirodhasaôàpatti): Định vô tâm vô lậu, chỉ có bậc Thánh mới chứng được. Khi bậc Thánh tu định, sinh khởi tác ý ngăn dứt tưởng mà vào định này. Lúc đó, chẳng những dứt bặt 6 thức hiện hành mà cả thức thứ 7 nhiễm ô và 5 biến hành tương ứng với nó, cho đến tuệ biệt cảnh, 4 phiền não: Ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái và 8 Tùy phiền não... toàn bộ 19 pháp đều đoạn trừ. Lấy 7 ngày là thời gian lâu nhất. 4. Cực trọng thụy miên (Phạm: Acittaka): Ngủ rất say, do mệt mỏi cực độ mà sinh ra. Khi chúng sinh ngủ thì 6 thức tai, mắt, mũi, lưỡi v.v... mê mờ, không còn thấy nghe hay biết, vì thế cũng thuộc vị Vô tâm. 5. Cực Trọng muộn tuyệt (Phạm: Murcchà): Ngất xỉu, do các nguyên nhân như: Gió, nóng, v.v... dẫn đến. Lúc chúng sinh ngất xỉu thì 6 thức hôn mê, không còn thấy nghe hay biết. Trong cả 2 trường hợp ngủ rất say và ngất xỉu 6 thức đều không hiện hành. Lúc hơi thở tạm dứt cũng không có ý thức, nên cũng thuộc vị Cực trọng muộn tuyệt. Tóm lại, ở trong 5 vị này, 6 thức và các tâm sở tương ứng với chúng đều không hiện hành, vì thế gọi là Vô tâm. Ngoài ra, trong 5 vị này, phàm phu dị sinh có 4 vị(trừ vị Diệt tận định). Bậc Thánh chỉ có 3, tức Diệt tận định, Thụy miên và Muộn tuyệt; trong đó, Như lai và các Bồ tát tự tại không có Thụy miên và Muộn nguyệt mà chỉ có Diệt tận định thôi. Riêng luận Du già sư địa quyển 13 nêu thuyết 6 vị Vô tâm, tức 5 vị trên đây và thêm vào 1 vị Vô dư y Niết bàn. [X. Du già sư địa luận Q.63; Du già sư địa luận thích; Thành duy thức luận thuật kí Q.7, phần đầu; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.hạ].

ngũ vọng tưởng

(五妄想) Năm vọng tưởng, tức chỉ cho 5 uẩn. 1. Kiên cố vọng tưởng: Tức Sắc uẩn. Thể, tâm và mệnh của chúng sinh đều là sự kết hợp của các tướng vọng tưởng, sự kết hợp này rất chặt chẽ bền chắc mà thành sắc thân, vì thế sắc thân được gọi là Kiên cố vọng tưởng. 2. Hư minh vọng tưởng: Tức Thụ uẩn. Chúng sinh do dục tưởng mà 2 tướng tốt xấu, lợi hại thường hiện, đó là Thụ uẩn. Thụ uẩn vốn không có thực thể, chỉ là hư vọng, vì thế gọi là Hư minh vọng tưởng. 3. Dung thông vọng tưởng: Tức Tưởng uẩn. Tâm là hư dối nhưng lại có thể sai khiến thân thể hiện có. Thân và tâm này do tưởng mà dung thông nhau, cho nên gọi là Dung thông vọng tưởng. 4. U ẩn vọng tưởng: Tức Hành uẩn. Chúng sinh trong 1 đời, thân thể biến hóa từng giây từng phút, không lúc nào dừng nghỉ. Tuy vậy mà chúng sinh vẫn u mê không biết, vì thế gọi là U ẩn vọng tưởng. 5. Điên đảo vọng tưởng, cũng gọi Vi tế tinh tưởng. Tức là Thức uẩn. Tâm thức chúng sinh hư vọng điên đảo, biến chuyển không ngừng, nhưng rất nhỏ nhiệm không thể thấy được; giống như dòng nước, trông xa tựa hồ phẳng lặng, nhưng thực thì đang ngấm ngầm chảy xiết, vì thế gọi là Điên đảo vọng tưởng. [X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.10].

ngũ xan

(五慳) Cũng gọi Ngũ khan. Chỉ cho 5 thứ bỏn sẻn nói trong phẩm Tạp phiền não luận Thành thực quyển 10. 1. Trụ xứ xan: Chỉ 1 mình chiếm riêng 1 nơi nào đó, không cho ai khác ở chung. 2. Gia xan: Chỉ 1 mình mình ra vào nhà này, không cho ai khác cùng ra vào; nếu có người trong đó thì mình phải là hơn. 3. Thí xan: Chỉ mình được nhận của bố thí, không ai khác được nhận; nếu có người khác nhận thì họ không được nhận nhiều hơn mình. 4. Xưng tán khan: Chỉ mình được khen ngợi, nếu có người khác thì không được hơn mình. 5. Pháp xan: Chỉ mình hiểu biết nghĩa sâu xa của 12 thể tài kinh, không nói cho ai biết.

ngũ xiển đề la

(五闡提羅) Xiển đề la, cũng gọi Phiến đề la (người không có nam căn, nữ căn). Chỉ cho 5 vị tỉ khưu ở đời quá khứ làm việc phi pháp, đời sau chịu quả báo sinh vào cõi người làm Xiển đề la. Cứ theo kinh Vị tằng hữu nhân duyên quyển hạ, thì ở đời quá khứ có 5 vị tỉ khưu trây lười biếng nhác, ngoài hiện vẻ thiền tướng, nhưng trong nghĩ điều xằng bậy, nhận sự cúng dường của người con gái Đề vi trọn đời, lại tìm cầu tiền của để thỏa mãn dục lạc, nói dối là đã chứng quả A la hán. Sau khi chết, 5 tỉ khưu ấy rơi vào địa ngục, qua 8 nghìn kiếp lại sinh làm người, các căn ám độn, không có nam căn, nữ căn và làm người khiêng kiệu cho bà Đề vi (vợ vua Ba tư nặc, cũng chính là hậu thân của người con gái Đề vi ở quá khứ).

ngũ xoa địa ngục

(五叉地獄) Địa ngục có cây xoa sắt 5 chĩa chuyên dùng để phanh thây xẻ xác tội nhân.[X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.53].

ngũ xuyết bát

(五綴缽) I. Ngũ Chuyết Bát. Bát bị vá 5 chỗ. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 98 thì ngài La hầu la có lần rửa bát của đức Phật ở ao rồng trượt tay đánh rơi, bát vỡ làm 5 mảnh, đức Phật đích thân vá lại, vì thế gọi là Ngũ chuyết bát. II. Ngũ Chuyết Bát. Bát có đường vá chiều dài dưới 1 thước (Tàu). Cứ theo luật Tứ phần quyển 9 thì Chuyết là đơn vị chiều dài của chỗ vá, lấy khoảng cách 2 ngón tay là 1 chuyết, tương đương với 2 tấc (Tàu), cho nên 5 chuyết tức khoảng 1 thước (32 phân Tây). Nếu bát của tỉ khưu bị rạn nứt, nhưng đường vá chưa đến 5 chuyết mà xin bát mới, thì phạm tội Ni tát kì ba dật đề. Nếu đã đủ 5 chuyết, nhưng chỗ rạn nứt không rò rỉ mà tìm bát mới thì phạm tội Đột cát la. III. Ngũ Chuyết Bát. Năm cách vá bát sắt. Phần Khất học xứ trong Tát bà đa bộ luật nhiếp quyển 7 có ghi 5 phương pháp vá bát sắt: 1. Dùng chiếc đinh nhỏ bít lỗ thủng lại. 2. Dùng miếng sắt nhỏ đóng vào cho chắc chắn. 3. Dùng miếng sắt hình răng cá kẹp chặt trong ngoài. 4. Dùng miếng sắt nhỏ bít lỗ thủng rồi đóng đinh chung quanh. 5. Dùng mạt vụn, có 2 thứ là mạt sắt vụn và mạt đá nghiền. [X. Thích thị yếu lãm Q.trung; Tứ phần luật hàm chú giới bản Q.3, phần cuối].

ngũ xứ chân ngôn

(五處真言) Chỉ cho chân ngôn Nhập Phật tam muội da gia trì ở 5 chỗ trên thân thể của hành giả Mật giáo. Về 5 chỗ, các kinh đều nói khác nhau. Cứ theo Để rị tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp, thì 5 chỗ là trán, vai trái, vai phải, tim và cổ họng. Còn kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng thì bảo 5 chỗ là tim, trán, đỉnh đầu và 2 vai. Chân ngôn là: Nẵng mạc tam mãn đa một đà nẫm (Qui mệnh tất cả Như lai) a tam mê (asame, vô đẳng, nghĩa là 3 thân) đát rị tam mê (trisame, 3 bình đẳng, nghĩa là 3 thân Pháp, Báo, Hóa hợp làm 1 thân để hóa độ chúng sinh) tam ma duệ (samaye, tam muội da) sa phạ hạ (svàhà, thành tựu). [X. Thanh long quĩ Q.thượng].

ngũ xứ cung dưỡng

(五處供養) Chỉ cho việc cúng dường 5 bậc, đó là: Cúng dường cha, mẹ, thân giáo sư (Hòa thượng), quĩ phạm sư (vị thầy làm khuôn phép cho mình) và người đau ốm. Các vị thân giáo sư và quĩ phạm sư là nơi mà tỉ khưu nhận lãnh giáo pháp; cha mẹ là các bậc sinh thành dưỡng dục mình, còn những người đau ốm là nơi đáng thương xót nhất, vì thế nên thường cúng dường. [X. điều Ân hiếu trong Thích thị yếu lãmQ. trung].

ngũ xứ gia trì

(五處加持) Gia trì ở 5 chỗ trên thân thể theo pháp tu của Mật giáo. Khi vào đàn tu pháp, trước hết, hành giả Chân ngôn dùng ấn khế hoặc pháp khí gia trì ở 5 chỗ trên thân thể để trừ sạch 3 nghiệpnơi thân và hiển phát công đức của 5 trí vốn có sẵn trong tâm. Năm chỗ này trong các kinh đều nói khác nhau, nhưng thông thường phần nhiều theo thuyết 5 chỗ ghi trong Để rị tam muội da Bất động tôn uy nộ vương sứ giả niệm tụng pháp. Năm chỗ ấy là: Trán, vai trái, vai phải, tim và cổ họng. Năm chỗ cũng được phối hợp với 5 trí 5 Phật, có 2 thuyết: Thuyết thứ nhất cho rằng trán biểu thị cho Pháp giới thể tính trí của Đại nhật Như lai, tim biểu thị cho Đại viên kính trí của A súc Như lai, vai phải biểu thị cho Bình đẳng tính trí của Bảo sinh Như lai, cổ họng biểu thị cho Diệu quan sát trí của Vô lượng thọ Như lai, vai trái biểu thị cho Thành sở tác trí của Bất không thành tựu Như lai. Thuyết thứ hai thì chủ trương cổ họng, tim, vai phải, trán, vai trái theo thứ tự tượng trưng cho Đại nhật, A súc, Bảo sinh, A di đà và Bất không thành tựu.[X. kinh Đại tì lô giá na Phật thuyết yếu lược niệm tụng; kinh Tô tất địa yết ra Q.hạ; Ngũ tự đà la ni tụng; Ma lợi chi thiên nhất ấn pháp].

ngũ y

(五衣) Phạm: Pàli: Paĩca cìvaràịi. Cũng gọi Ni ngũ y. Năm áo của tỉ khưu ni. Đó là:1. Tăng già lê (Phạm:Pàli:Saíghàỉì).2. Uất đà la tăng (Phạm, Pàli: Uttaràsaíga).3. An đà hội(Phạm:Antarvàsa,Pàli: Antaravàsa).4. Tăng kì chi (Phạm: Saôkakwikà, Pàli:Saíkacchà).5. Quyết tu la (Phạm:Kusùla). Ba áo trước giống với 3 áo của tỉ khưu là Đại y, Thượng y và Nội y. Còn Tăng kì chi, cũng gọi Kì chi, Yểm dịch y, Phú bác y, là 1 miếng vải hình chữ nhật, khoác trên vai bên trái để che cánh tay trái, còn 1 đầu thì vắt chéo để che nách bên phải. Quyết tu la, cũng gọi Thùy y, tức là quần. [X. luật Thập tụng Q.46; luật Ma ha tăng kì Q.30, 38; luật Tứ phần Q.27; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ; Nam hải kí qui nội pháp truyện Q.2]. (xt. Tam Y, Pháp Y).

ngũ ác

Nivarana (skt)—The five sins: Sát sanh: Killing. Trộm cắp: Stealing. Tà dâm: Sexual misconduct. Vọng ngữ: Lying. Uống chất cay độc: Drinking intoxicants. ; (五惡) Năm thứ ác: Sát sinh, trộm cướp, gian dâm, nói dối, uống rượu. Nếu làm 5 việc ác này thì trong đời hiện tại bị luật pháp nhà nước bắt tội, thân gặp ách nạn, gọi là Ngũ thống; đời vị lai phải chịu quả báo trong 3 đường (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh), gọi là Ngũ thiêu. [X. kinh Ưu bà tắc ngũ giới uy nghi; kinh Tứ thiên vương; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.hạ (Tuệ viễn)].

Ngũ ác kiến

五惡見; C: wǔèjiàn; J: goakuken;|Xem Ngũ kiến (五見; s: pañca-dṛṣṭi).

ngũ ác kiến

xem năm kiến chấp.

ngũ ác thú

See Ngũ Thú.

ngũ âm

The five notes of the musical scale (instrument). ; (五音) Cũng gọi Ngũ thanh, Ngũ điệu tử. Năm âm điệu cổ truyền của Trung quốc, tức là: Cung, thương, dốc, chủy, vũ. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 271 thượng) nói: Khi gió mát thổi thì phát ra năm âm thanh, cung thương mầu nhiệm, tự nhiên hòa nhau. Trong 5 âm, Cung là âm thổ, âm này rất trầm, phối với trung ương. Thương là âm kim, hơi trầm, là điệu bình, phối với phương tây. Dốc là âm mộc, nửa trầm nửa bổng, là điệu song, phối với phương đông. Chủy là âm hỏa, hơi bổng, là điệu hoàng chung, phối với phương nam. Vũ là âm thủy, âm này rất bổng, là điệu bàn thiệp, phối với phươngbắc. Mật giáo đời sau đem Ngũ âm phối liệt với Ngũ trí, Ngũ Phật, Ngũ bộ, Ngũ sắc. Cung tượng trưng cho Pháp giới thể tính trí ở trung ương, Thương tượng trưng Diệu quan sát trí phương tây, Dốc tượng trưng Đại viên kính trí phương đông, Chủy tượng trưng Bình đẳng tính trí phương nam và Vũ tượng trưng Thành sở tác trí phương bắc. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.8, phần 2; Tịnh độ ngũ hội niệm Phật pháp sự nghi tán; Hán thư lịch luật chí 1, thượng; Thông điển Q.143; Tùy thư âm nhạc chí thứ 9].

ngũ âm thất thanh

(五音七聲) Năm âm bảy thanh, là phương pháp biểu thị âm luật cao thấp được sử dụng từ xưa ở Trung quốc. Năm âm từ thấp đến cao là: Cung, thương, dốc, chủy, vũ. Dưới dốc thêm biến chủy, dưới vũ thêm biến cung mà thành là 7 thanh. Bảy thanh lại có luật toàn và lữ toàn khác nhau: Thêm biến chủy, biến cung là lữ toàn; còn dưới thương thêm anh thương, dưới vũ thêm anh vũ thì gọi là luật toàn.Âm giai của 12 âm luật được sử dụng trong Phạm bái âm phổ cũng từ Ngũ âm thất thanh này mà ra. [X. Thông điển Q.143; Tùy thư âm nhạc chí thứ 9; Lễ kí chú sớ Q.37].

Ngũ Ðài sơn

五臺山; C: wǔtái-shān; J: godaizan;|Một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Sơn Tây. Ngũ Ðài sơn là một trong những danh thắng được xem là thiêng liêng nhất của Trung Quốc, là mục đích của nhiều người đi hành hương. Núi này được xem là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) và cũng là một trung tâm quan trọng của nền Phật giáo Mông Cổ. (Về chi tiết chuyện nầy, xin xem Trung Quốc Phật Giáo Sử Từ Điển 中国仏教史辞典, trang 112.2 của Kamata). Những tu viện đầu tiên ở đây được kiến lập trong thế kỉ 4-5; trong thế kỉ thứ 6 đã có hơn 200 và trong số đó, 57 vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ngôi chùa chính được xây dựng vào khoảng từ năm 471-500, còn được gọi là Thanh Lương sơn (清涼山).|Niềm tin rằng, Ngũ Ðài sơn là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù cũng được phổ biến tại Ấn Ðộ và Nepal, vốn bắt nguồn từ một đoạn văn trong kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm. Ðoạn kinh này bảo rằng, đức Văn-thù xuất hiện ở một xứ nằm hướng Ðông bắc và giáo hoá nơi đây. Người ta cũng tìm thấy nhiều đoạn văn tương tự trong những bài kinh khác.|Ngũ Đài Sơn (k: odaesan) là một trong những sơn tự lớn của Phật giáo Hàn Quốc, toạ lạc ở Kangwǒndo.

ngũ ý

(五意) I. Ngũ Ý. Chỗ nương tựa của ý thức, tức là thức Mạt na. Theo luận Đại thừa khởi tín, thì ý có 5 tên: Nghiệp thức, Chuyển thức, Hiện thức, Trí thức và Tương tục thức. 1. Nghiệp thức: Thức A lại da căn bản do vô minh bất giác mà sinh khởi tâm động, tức vọng tâm hiện khởi. 2. Chuyển thức: Nương nơi tâm động mà sinh ra tướng hay thấy, tức là tác dụng chủ quan. 3. Hiện thức: Có khả năng hiện khởi tất cả cảnh giới, tức là đối tượng khách quan. 4. Trí thức: Có năng lực phân biệt các cảnh giới, cho những vật thực tại là đối tượng ngoài tâm. 5. Tương tục thức: Chỉ cho tác dụng (niệm) phân biệt liên tục, tức do nhận thức mà có các khái niệm chứa lại trong tâm thức tương ứng không dứt, từ đó mà sinh ra ý thức.Về mối quan hệ giữa thức A lại da, ngũ ý và ý thức, theo Khởi tín luận nghĩa sớ quyển thượng, phần cuối, của ngài Tuệ viễn, thì tâm là thức thứ 8, ngũ ý là thức thứ 7, ý thức là thức thứ 6. Còn theo Khởi tín luận nghĩa kí quyển trung, phần cuối, của ngài Pháp tạng, thì trong ngũ ý, Nghiệp thức, Chuyển thức và Hiện thức là Tự thể phần, Kiến phần và Tướng phần của thức thứ 8; Trí thức, Tương tục thức là ý thức; còn thức thứ 7 thì sách này chưa đề cập đến. Khởi tín luận sớ kí quyển 3 của ngài Nguyên hiểu cũng cho rằng Nghiệp thức, Chuyển thức và Hiện thức là thức thứ 8, Trí thức là thức thứ 7 và Tương tục thức là thức thứ 6. [X. luận Thích ma ha diễn Q.4]. II. Ngũ Ý. Chỉ cho Nhân ý, Thiên ý, Tuệ ý, Bồ tát ý và Phật ý theo kinh Pháp hoa.

ngũ đao

The five swords—The five skandhas—See Ngũ Uẩn. ; (五刀) Năm con dao, ví dụ cho Ngũ ấm. Cứ theo kinh Niết bàn quyển 23 (bản Bắc), thì có người bị nhà vua lùng bắt nên sợ quá mà bỏ trốn đi, lại có 5 Chiên đà la (Phạm,Pàli: Caịđàla,người đồ tể, kẻ bạo ác) cầm dao đuổi theo sau. Năm người cầm dao này ví dụ cho 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành và thức của con người. [X. kinh Tạp a hàm Q.43].

ngũ điều ca sa

(五條袈裟) Cũng gọi Ngũ thiếp ca sa, Ngũ điều y, Ngũ điều. Áo 5 nẹp, 1 trong 3 áo của tỉ khưu, khâu những nẹp vải lại thành 1 bức hình chữ nhật, chiều ngang gồm 5 nẹp, vì thế gọi là Ngũ điều ca sa. Theo luật Tứ phần thì chiếu dài khoảng 4 khuỷu tay(7 thước 2 tấc Tàu), chiều rộng khoảng 2 khuỷu tay. [X. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 1].

ngũ điều cà sa

See Ngũ Điều Y.

ngũ điều y

Ngũ điều cà sa—Áo của người xuất gia tu Phật thường được may bằng năm mảnh chấp lại—The monk's robe of five patches, ordinarily worn in the monastery, when abroad and for general purposes. Hạ Y: Termed as the lowest of the grades of patch-robes. Viện Nội Đạo Hành Tạp Tác Y: Áo mặc để làm việc trong khuôn tự viện—It is styled the garment ordinary worn in the monastery.

ngũ đoạn

(五斷) Từ gọi chung Kiến đạo đoạn và Tu đạo đoạn. -Kiến đạo đoạn, cũng gọi Kiến sở đoạn: Ở giai vị kiến đạo thấy suốt lí của 4 đế khổ, tập, diệt, đạo mà đoạn trừ các phiền não của 4 đế ở cõi dưới, tức là kiến khổ sở đoạn, kiến tập sở đoạn, kiến diệt sởđoạn và kiến đạo sở đoạn, là Tứ đoạn; rồi tiến lên tu tập mà đoạn trừ Tu đạo đoạn, gọi chung là Ngũ đoạn. -Tu đạo đoạn, cũng gọi Tu sở đoạn, tức là các phiền não bị đoạn trừ ở giai vị Tu đạo.Tóm lại, Ngũ đoạn là: Khổ đoạn, Tập đoạn, Diệt đoạn, Đạo đoạn và Tu đạo đoạn. [X. luận Câu xá Q.19].

ngũ đài

See Ngũ Đài Sơn.

Ngũ Đài Sơn

(五臺[台]山, Godaizan): ngọn núi nằm ở phía đông bắc Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Từ hình trạng 5 đỉnh núi chút vót ở 5 phương, ngọn núi này có tên như vậy. Nó tương đương với Thanh Lương Sơn (清涼山) trong Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) và được xem như là nơi trú ngụ của Bồ Tát Văn Thù (s: Mañjuśrī, 文殊); cho nên từ thời nhà Đường trở về sau, nơi đây là thánh địa tín ngưỡng của Bồ Tát Văn Thù. Từ Tây Vức, người đến chiêm bái cũng rất đông; đối với chư tăng Triều Tiên và Nhật Bản, Ngũ Đài Sơn là thánh địa khát ngưỡng của họ. Viên Nhân (圓仁, Ennin) ghi chép rất rõ về ngọn núi này qua bộ Nhập Đường Cầu Pháp Tuần Lễ Hành Ký (入唐求法巡禮行記) của ông. Hơn nữa, Thành Tầm (成尋, Jōjin) cũng có viết cuốn Tham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Ký (參天台五台山記). Ngoài ra, còn có Cổ Thanh Lương Truyện (古清涼傳) của Huệ Tường (慧祥) nhà Đường, Quảng Thanh Lương Truyện (廣清涼傳) của Diên Nhất (延一) nhà Tống là những thư tịch viết về nơi danh thắng này.

ngũ đài sơn

Pancasirsha—Pancasikha—Một trong bốn ngọn núi thiêng liêng của Phật giáo Trung quốc (gần hướng đông bắc của tỉnh Sơn Tây). Ngũ Đài Sơn là pháp hội của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát—One of the four mountains sacred to Buddhism in China (near the north-eastern border of Shansi). The mountain that contains the Buddhist Congregation of the Manjusri Maha Bodhisattva. ; (五臺山) I. Ngũ Đài Sơn. Núi ở mạn đông bắc huyện Ngũ đài, tỉnh Sơn tây, Trung quốc. Núi này cùng với các núi Nga mi, Phổ đà và Cửu hoa được gọi chung là Tứ đại linh sơn của Phật giáo Trung quốc. Vì 4 ngọn núi ở bốn phía đông, tây, nam, bắc và 1 ngọn ở chính giữa cao chót vót, trên chóp núi không có cây cối, đất đá chồng xếp lên giống như những cái đài, nên gọi là Ngũ đài sơn. Lại vì 5 ngọn này cao lớn sừng sững, vượt lên trên các dãy núi khác, vào tháng nóng nhất trong mùa hạ cũng không nóng, cho nên còn có biệt hiệu là núi Thanh lương(mát mẻ). Đây vốn là đạo tràng của bồ tát Văn thù thị hiện, nên xưa nay rất được tín ngưỡng ở Trung quốc. Phẩm Bồ tát trụ xứ trong kinh Hoa nghiêm và kinh Bảo tạng đà la ni nói rằng, chỗ ở của bồ tát Văn thù là 5 ngọn núi, gọi là núi Thanh lương. Đây là nguồn gốc của tín ngưỡng Văn thù. Trong 5 ngọn núi, ngọn phía đông có tên là Vọng hải phong, cũng gọi Vô tuất đài, Thường sơn đính; ngọn phía tây là Quải nguyệt phong, cũng gọi Mậng đăng sơn, ngọn phía nam là Cẩm tú phong, cũng gọi Hệ chu sơn, ngọn phía bắc là Hiệp đẩu phong, cũng gọi Hạ ốc sơn, Phú tú đỏa; ngọn chính giữa có tên là Thúy nham phong. Từ khi vua Văn đế nhà Bắc Ngụy du ngoạn Thúy nham phong và sáng lập chùa Đại phù đồ linh thứu về sau, chùa Phật được xây dựng rất nhiều tại đây. Vào thời thịnh nhất, chùa Phật ở trong và ngoài 5 ngọn có đến hơn 300 ngôi, hiện nay còn khoảng hơn 100 ngôi. Trong đó có nhiều chùa rất nổi tiếng như: Chùa Đại Phật quang, chùa Đại Hiển thông, chùa La hầu, chùa Thanh lương, chùa Kim các, chùa Bắc sơn, chùa Vọng hải, chùa Đại văn thù v.v... Có rất nhiều vị danh tăng có quan hệ với núi này như ngài Bất không xây dựng chùa Kim các, chùa Ngọc hoa... là trung tâm của Mật giáo. Ngài Pháp chiếu xây chùa Trúc lâm, tu tập Niệm Phật tam muội, sau có ngài Viên nhân người Nhật bản, kế thừa giáo pháp Niệm Phật tam muội của ngài Pháp chiếu, đưa về truyền bá ở núi Tỉ duệ, mở đầu pháp môn Dẫn thanh niệm Phật tại Nhật bản. Ngài Trừng quán đời Đường thì soạn bộ Hoa nghiêm kinh sớ ở chùa Đại Hoa nghiêm. Ngoài ra còn nhiều vị cao tăng sống vào đời Tống cũng đến tham bái núi Ngũ đài, như ngài Từ tạng người Cao li, ngài Phật đà ba lợi người nước Kế tân v.v... Đến đời Nguyên, Hoàng thái hậu của vua Thành tông từng kiến thiết chùa Đại vạn Thánh hựu quốc và trùng tu các chùa ở núi Ngũ đài. Quốc sư Bát tư ba cũng có lần trụ ở núi này. Khoảng năm Vạn lịch đời Minh, chùa Đại tháp viện được sửa chữa lại, tháp xá lợi Hộ quốc Thích ca văn Phật được xây trên đài tháp, thân tháp làm hình cầu, trên đặt tướng luân 13 bậc, tháp cao 27 trượng, chu vi 25 trượng, là tháp Lạt ma kiểu Tây tạng, 1 cảnh quan tráng lệ nhất trong núi. Từ Hoàng đế Khang hi trở về sau, vua chúa các đời đều đến núi này và sửa sang lại. Các tín đồ Phật giáo Mãn châu, Mông cổ cũng thường đến đây lễ tháp. Các vị Đạt lai lạt ma cũng nhiều lần đến trụ ở đây. Hiện nay, các vị tăng trụ ở Ngũ đài chia làm 2 phái: Phái áo xanh và phái áo vàng. Chư tăng thuộc phái áo xanh trụ ở chùa Đại hiển thông, chùa Kim các, chùa Đại tháp viện, chùa Linh cảnh v.v... Còn các vị tăng thuộc phái áo vàng là chư tăng Lạt ma, trụ ở 18 ngôi chùa như: Bồ tát đính, Kim cương quật, La hầu v.v...[X. Tục cao tăng truyện Q.7, 25; Đại tông triều tặng Tư không đại biện chính Quảng trí tam tạng hòa thượng biểu chế tập Q.2; Phật tổ thống kỉ Q.42, 43, 45; Thanh lươngsơn chí; Nguyên sử bản kỉ 10, 18, 22; Khang hi đông hoa lục Q.32, 61; Càn long đông hoa lục Q.24, 31; Gia khánh đông hoa lục Q.28, 30;Cổ kim đồ thư tập thành sơn xuyên điển 31-34; Chức phương điển 29]. II. Ngũ Đài Sơn. Núi ở quận Bình xương, đạo Giang nguyên, Hàn quốc. Núi này và núi Kim cương được gọi chung là 2 núi lớn của Hàn quốc. Trên núi này có 5 ngọn: Mãn nguyệt, Kì lân, Trường lãnh, Tượng vương và Trí lô. Ở chỗ bằng phẳng trên các ngọn núi này đều có xây chùa hoặc am, trong đó, chùa Thượng viện có tàng trữ quả chuông Triều tiên xưa nhất của cả nước. Ở ngay cửa vào núi là chùa Nguyệt tinh với tòa tháp 9 tầng là do Luật sư Từ tạng, người Tân la sáng lập. Ngài Từ tạng đến Trung quốc vào đời Đường, lên núi Ngũ đài chiêm bái bồ tát Văn thù, khi trở về nước, ngài thỉnh xá lợi Phật về và xây dựng chùa Nguyệt tinh để thờ. Hiện nay, chùa này là 1 trong 31 bản sơn của Phật giáo Hàn quốc. Tòa tháp 9 tầng ở chùa này và quả hồng chung của chùa Thượng viện đều là tinh túy của mĩ thuật Tân la.

ngũ đàn pháp

(五壇法) Pháp bí mật trong Mật giáo, lập 5 đàn tràng lớn, thờ 5 vị Đại minh vương làm bản tôn để tu. Đàn chính giữa thờ Bất động minh vương, đàn phía đông thờ Hàng tam thế minh vương, đàn phía nam thờ Quân đồ lợi minh vương, đàn phía tây thờ Đại uy đức minh vương và đàn phía bắc thờ Kim cương dạ xoa minh vương. Khi tu pháp này, phải cần 5 vị A xà lê đồng thời mỗi vị tu ở mỗi đàn. Tu pháp này để trừ tà khí chướng nạn, hoặc để hàng phục oan gia. [X. A sa phược sao Q.119; Loại tụ danh vật khảo Q.29].

ngũ đán vọng

(五旦望) Từ ngữ gọi chung các ngày Ngũ tham thướng đường và ngày Chúc thánh thướng đường trong Thiền lâm. Ngày Ngũ tham thướng đường chỉ cho 4 ngày: Mồng 5, mồng 10, 20 và 25 mỗi tháng; còn ngày Chúc thánh thướng đường tức là 2 ngày: Mồng 1(đán) và 15(vọng), tất cả 6 ngày, đều có thướng đường (thuyết pháp). [X. môn Tiết thời trong Thiền lâm tượng khí tiên].

ngũ đát đặc la

(五怛特羅) Phạm: Paĩcatantra. Cũng gọi Ngũ quyển thư. Sách ngụ ngôn trong văn học cổ điển Ấn độ được viết bằng tiếng Phạm, nguyên bản đã thất truyền nên không biết ai là tác giả cũng như niên đại soạn thuật. Nội dung lấy sự tụ tán li hợp của bạn bè làm trung tâm, do nhiều chuyện tích thí dụ cấu thành, mượn chuyện tăng lữ Bà la môn vâng mệnh vua làm thầy dạy Thái tử về các bí quyết cai trị, ngoại giao, xử thế, đạo đức v.v... để trang bị cho vị vua tương lai 1 nền giáo dục hoàn hảo. Sách gồm 5 thiên chuyện cổ chủ yếu có tính cách giáo dục là: Gặp được bạn bè, Bạn bè li biệt, Sự tranh đấu giữa quạ khoang và cú vọ (con kiêu), Được đó rồi mất đó và Hành vi chưa suy nghĩ kĩ... vì thế nên gọi là Ngũ đát đặc la. Ngoài ra, sách này cũng ghi thêm 1 số chuyện tiền thân của đức Phật bằng văn xuôi, 1 số ngụ ngôn trong Đại tự sự thi Ma ha bà la đa (Phạm:Mahàbhàrata) và 1 số chuyện cổ dân gian... Từ xưa, bản gốc của sách này đã được chép ra thành nhiều bản. Hiện nay còn có 5 loại bản tiếng Phạm, trong đó bản lưu truyền xưa nhất là Đát đặc la cơ da ý ca (Phạm: Tantràkhyàyika), được thành lập vào khoảng thế kỉ III, IV. Một bản khác thì vào khoảng thế kỉ V, VI đã được dịch ra tiếng Ba tư. Từ thế kỉ thứ V đến XI, có các bản dịch tiếng Syria và Arabia kế tiếp nhau xuất hiện. Khoảng thế kỉ XIII thì có bản dịch tiếng Latin được ấn hành. Từ đó về sau sách này được lưu truyền rộng rãi ở phương Tây, cho đến nay, kể cả phương Đông lẫn phương Tây, đã có bản dịch của hơn 60 thứ tiếng. Đối với sự phát triển và giao lưu văn học thông tục (ngụ ngôn, đồng dao, chuyện cổ dân gian...) của các quốc gia trên thế giới, hiển nhiên sách này đã có 1 giá trị bất hủ.

ngũ đình tâm quán

Đây là năm thứ thiền quán của thừa Thanh văn: 1. Bất tịnh quán; 2. Từ bi quán; 3. Nhân duyên quán; 4. Lục thức quán; 5. Sổ tức quán. ; Năm phép quán để lắng tâm và diệt trừ ngũ dục—The five meditations for settling the mind and ridding it of the five errors of desires, hate, ignorance, the self, and a wayward or confused mind—The five-fold procedures for quieting the mind. Năm phép quán theo Phật Giáo Đại Thừa—The five meditations for setting the mind in Mahayana Buddhism: Quán Bất Tịnh: Quán thân bất tịnh—Contemplation of the impurity of the body—Quán thế gia bất tịnh để diệt trừ tham dục và keo kiệt. Ngoài ra, Phật dạy nên quán Thân và chư pháp bất tịnh. Kỳ thật dưới lớp da, thân thể chúng ta chứa đựng toàn là những thứ nhơ nhớp và hôi thúi như thịt, xương, máu, mủ, đàm, dãi, phân, nước tiểu, vân vân. Thế nên sau khi quán sát tường tận, chúng ta thấy rõ không có gì để ôm ấp thân nầy—Meditation on impurity of the worldly life to adjust the mind with regard to passion and avarice. Besides, the Buddha also advised us to contemplate that the body and all things as impure or filthy (vileness of all things). In fact, beneath the layers of skin, our body contains filthy and smelly substances such as meat, bones, blood, pus, phlegm, saliva, excrement, urine, etc. After reflecting carefully of it, we can conclude that our body is hardly worth cherishing. Quán Từ bi: Quán từ bi để thương xót các loài hữu tình, đồng thời vun bồi ý niệm thiện cảm với mọi người cũng như diệt trừ sân nhuế, lấy từ bi diệt trừ sân hận. Chúng ta nên quán rằng tất cả chúng sanh, nhất là con người, đều đồng một chân thể bình đẳng. Vì thế, nếu muốn, họ cũng có thể đoạn trừ lòng thù hận và mở rộng lòng yêu thương cứu độ chúng sanh—Contemplation on Compassion and Loving-kindness—Meditation on pity (mercy) for all and to rid of hate and to cultivate the idea of sympathy to others and to stop the tendency of anger and destroy resentment. We must visualize that all sentient beings, especially people equally have a Buddha-nature. So, they are able, if they want, to eradicate hatred and develop kindness and compassion to save others. Quán Nhân Duyên: Quán sát lý mười hai nhân duyên để trừ khử vô minh để thấy rằng vạn pháp vạn hữu, hữu hình cũng như vô hình đều vô thường. Chúng do duyên sanh mà có. Thân ta, sau khi trưởng thành, già, bệnh, chết; trong khi tâm ta luôn thay đổi, khi giận khi thương, khi vui khi buồn—Contemplation on the twelve links of Dependent Origination or Causality to rid of ignorance. Contemplation on Cause and Condition to see that all things in the world either visible or invisible are impermanent. They come into being through the process of conditions. Our body, after adulthood, grows older, delibitates and dies; whle our mind is always changing, at times filled with anger or love, at times happy or sad. Quán giới phân biệt: Quán giới phân biệt để nhận thức sự sai khác giữa các quan điểm, để diệt trừ ngã kiến—Meditation on diversity of realms to see the difference of standpoints and to get rid of selfish views. Quán giới phân biệt là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới gồm 6 căn, 6 trần và sáu thức để thấy chúng không thật có “ngã pháp.” Mục đích là để diệt trừ ngã chấp và pháp chấp: Contemplation on the Relativity of the eighteen realms aims at discerning the falsity of the union of the 18 realms of six sense organs, six objects, and six related Alaya consciousnesses, so as to get rid of the ego-attachment and the dharma-attachment. Quán chư pháp để có sự phân biệt chân chánh cũng như diệt trừ bản ngã: Contemplation on all dharmas to obtain right discrimination and to rid of the self. Quán Sổ tức (trì tức niệm): Đếm số hơi thở nhằm đưa đến sự tập trung tư tưởng và diệt trừ loạn tâm. Đây là phương thức hay nhất cho người sơ cơ kiểm soát và thanh tịnh tâm mình bằng cách đếm hơi thở vào thở ra: Contemplation on counting breath (Breathing) leading to concentration so as to rid of scattered (inattentive—distracted—unsettled—confused) mind (to correct the tendency of mental dispersion). This is the best way for beginners to control and pacify their mind by counting their breathing in and out. Năm phép quán theo Phật Giáo Nguyên Thủy. Trong kinh Trung A Hàm, Đức Phật đã chỉ vạch 5 điều mà hành giả cần quán chiếu, để loại trừ những tư tưởng bất thiện, tâm trở lại an trụ vững vàng và vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mà mình đang quán chiếu, để tự mình làm chủ lấy con đường mà tiến trình tư tưởng mình đã trải qua. Tự mình cắt lìa tham ái và trọn vẹn tháo gỡ thằng thúc phát sanh bởi tham ái. Làm được như vậy là tự mình đã khắc phục ngã mạn và chấm dứt khổ đau—The five meditations for setting the minh in the Theravada Buddhism. In Majjhima Nikaya, the Buddha pointed out five things a cultivator should always reflect on in order to remove evil thoughts, and to help the mind stand firm and calm, become unified and concentrated within its subject of meditation. To accomplish these, that meditator is called the master of the paths along which thoughts travel. He thinks the thought that he wants to think. He has cut off craving and removed the fetter fully; mastering pride he has made an end of suffering Nếu khi suy niệm về một đề mục mà những tư tưởng xấu xa tội lỗi, bất thiện, kết hợp với tham sân si phát sanh đến hành giả, để loại trừ những tư tưởng bất thiện ấy, vị nầy nên hướng tâm suy niệm về một đề mục khác có tính cách thiện lành. Chừng ấy tâm bất thiện bị loại trừ. Do sự loại trừ nầy, tâm trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If through reflection on an object, evil, unwholesome thoughts associated with desire, hate and delusion arise in a meditator, in order to get rid of them he should reflect of another object which is wholesome. Then the evil, unwholesome thoughts are removed; they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu khi đã hướng tâm về đề mục khác có tính cách thiện lành mà những tư tưởng bất thiện vẫn còn phát sanh, hành giả nên suy xét về mối hiểm họa của nó như sau: “Quả thật vậy, những tư tưởng nầy của ta rõ ràng là bất thiện, đáng bị chê trách, và chúng sẽ đem lại quả khổ.” Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện sẽ bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm của hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who reflects on another object which is wholesome, he should consider the disadvantages of evil thoughts thus: “Indeed, these thoughts of mine are unwholesome, blameworthy, and bring painful consequences.” Then his evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã suy xét về hiểm họa của những tư tưởng bất thiện mà nó vẫn còn phát sanh, hành giả nên phát lờ đi, không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các pháp bất thiện ấy nữa. Chừng ấy những tư tưởng bất thiện sẽ bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who thinks over their disadvantages, he should pay no attention to, and not reflect on those evil thoughts. The the evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã không để ý đến, không lưu tâm suy niệm về các tư tưởng bất thiện ấy nữa, mà chúng vẫn còn phát sanh, hành giả nên suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng bất thiện ấy. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, và trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who pays no attention to and does not reflect on evil thoughts, he should reflect on removing the roof of those thoughts. Then the evil unwholesome thoughts are removed, they disappear. By their removal, the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. Nếu đã suy niệm về việc loại trừ nguồn gốc của những tư tưởng bất thiện ấy mà chúng vẫn còn phát sanh, hành giả nên cắn răng lại và ép lưỡi vào đóc giọng, thu thúc, khắc phục và lấy tâm thiện kiểm soát tâm bất thiện. Chừng ấy, những tư tưởng bất thiện bị loại trừ tan biến. Do sự loại trừ nầy mà tâm hành giả trở lại vững vàng an trụ, trở nên vắng lặng, hợp nhất và định vào đề mục mà mình đang quán chiếu: If the evil thoughts still arise in a meditator who reflects on the removal of their root, he should with clenched teeth, and tongue pressed against his palate restraint, overcome and control the evil mind with the good mind. Then the evil thoughts are removed, they disappear. By their removal the mind stands firm and becoming calm, unified and concentrated within his subject of meditation. ; Five meditations—See Ngũ Đình Tâm Quán. Tứ Niệm Xứ: Four foundations of mindfulness—See Tứ Niệm Xứ. ; (五停心觀) Cũng gọi Ngũ quán, Ngũ niệm, Ngũ đình tâm, Ngũ độ quán môn, Ngũ độ môn, Ngũ môn thiền. Năm pháp quán dứt trừ phiền não mê hoặc. Đó là: 1. Bất tịnh quán (Phạm: Azubhàsmfti): Quán tưởng thân mình và thân người là nhơ nhớp để trừ bỏ lòng tham muốn. 2. Từ bi quán (Phạm: Maitrì-smfti), cũng gọi Từ tâm quán, Từ mẫn quán. Quán tưởng lòng thương xót để đối trị với phiền não oán giận. 3. Duyên khởi quán (Phạm: Idaôprat= yayatà-pratìkyasamutpàda-smfti), cũng gọi Nhân duyên quán, Quán duyên quán. Quán tưởng 12 duyên khởi thuận và nghịch để đối trị phiền não ngu si. 4. Giới phân biệt quán(Phạm: Dhàtuprabheda-smfti), cũng gọi Giới phương tiện quán, Tích giới quán, Phân tích quán, Vô ngã quán. Quán tưởng các pháp 18 giới đều do sự hòa hợp của đất, nước, lửa, gió, không và thức mà có thể đối trị ngã chấp. 5. Sổ tức quán (Phạm: Ànàpàna-smfti), cũng gọi An na ban na quán, Trì tức niệm. Đếm số hơi thở ra, thở vào để đối trị tầm, tứ tán loạn, giữ cho tâm dừng yên ở 1 cảnh. [X. phẩm Lực chủng tính trong kinh Bồ tát địa trì Q.3; luận Câu xá Q.22, 29; luận Đại tì bà sa Q.40; luận Du già sư địa Q.26; luận Thuận chính lí Q.59; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.11; Đại thừa nghĩa chương Q.12; Ma ha chỉ quán Q.7, phần 2].

ngũ đình tâm vị

(五停心位) Giai vị tu Ngũ đình tâm quán, là vị thứ 1 trong 7 phương tiện. Ở giai vị này hành giả tu các pháp quán Bất tịnh, Từ bi, Duyên khởi, Giới phân biệt và Sổ tức để điều hòa tâm tham lam, tán loạn, lần lượt tiến vào Thánh vị. Tiểu thừa cho rằng từ Ngũ đình tâm vị trải qua Biệt tướng niệm trụ vị mà đạt tới Tổng tướng niệm trụ vị, 3 giai vị này gọi chung là Tam hiền. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).

ngũ đình tứ niệm

Ngũ Đình Tâm quán và Tứ Niệm Xứ nhằm giúp cho tâm định tĩnh cũng như thoát khỏi ngũ dục và loạn tâm—Five meditations and four foundations of mindfulness for settling the mind and ridding it of the five errors of desire, hate, ignorance, self, and wayward or confused mind. ; (五停四念) Chỉ cho Ngũ đình tâm quán và Tứ niệm xứ (trụ). Ngũ đình tâm quán, tức là: Bất tịnh quán, Từ bi quán, Duyên khởi quán, Giới phân biệt quán và Sổ tức quán. Còn Tứ niệm xứ, tức là: Thân niệm xứ, Thụ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 3 (Đại 33, 707 hạ) nói: Ngũ đình tứ niệm, có định nên gọi là Đình; có tuệ nên gọi là Quán. Quán có công năng chuyển hóa tà, Định có công năng chế phục loạn. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Niệm Trụ).

Ngũ Đăng Hội Nguyên

(五燈會元, Gotōegen): 20 quyển, do Đại Xuyên Phổ Tế (大川普濟) nhà Tống soạn, san hành vào năm đầu (1253) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐) nhà Tống. Đây là bộ sách chỉnh lý lại nội dung của 5 thư tịch truyền đăng, liệt kê những truyền ký của chư Phật tổ từ 7 vị Phật trong quá khứ trải qua 27 vị tổ Tây Thiên, 6 vị tổ Đông Độ, 17 đời môn hạ của Nam Nhạc (南岳) cho đến Đức Sơn Sĩ Quyên (德山士涓). Về soạn giả, có thuyết cho là do vị Thủ Tòa Huệ Minh (慧明), môn nhân của Phổ Tế, biên soạn. Do vì nạn binh hỏa vào cuối thời nhà Tống và đầu nhà Nguyên nên bản san hành bị cháy mấy; nhưng nhóm Trang Tức Hàn Thị (莊卽韓氏) ở Hội Khể (會稽) đã trùng san lại vào năm thứ 24 (1364) niên hiệu Chí Chánh (至正) nhà Nguyên. Từ đó trở về sau, bộ này được san hành qua các niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖), Vạn Lịch (萬曆), Sùng Trinh (崇禎), Quang Tự (光緒), v.v. Tại Nhật Bản, có Bản Ngũ Sơn từ năm thứ 3 (1364) cho đến thứ 7 (1368) niên hiệu Trinh Trị (貞治) và các bản phục khắc vào niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), Khoan Vĩnh (寬永) dưới thời đại Thất Đinh (室町, Muromachi, 1392-1573).

ngũ đăng hội nguyên

(五燈會元) Tác phẩm, 20 quyển, do ngài Phổ tế soạn vào đời Nam Tống (bản in đời Tống ghi do ngài Tuệ minh soạn), được thu vào Vạn tục tạng tập 138. Sách này rút lấy những phần cốt yếu từ 5 bộ Đăng lục, tức là từ Cảnh đức truyền đăng lục, Quảng đăng lục, Liên đăng hội yếu, Phổ đăng lục và Tục đăng lục mà đúc kết lại thành 1 bộ, vì thế nên gọi là Ngũ đăng hội nguyên. Nội dung sách này thu chép 7 đức Phật quá khứ, 27 vị Tổ Ấn độ và hành trạng, cơ duyên của 6 vị Tổ Trung quốc trở xuống đến Thiền sư phó pháp đích truyền là Đức sơn Tử quyên đời thứ 17 thuộc pháp hệ ngài Nam nhạc. Đến khi nhà Nam Tống mất, bản khắc gỗ của sách này bị quân Nguyên đốt hết, ông Hàn trang tiết và Thái úy Khang lí ở Hội kê khắc lại. Vào năm Vĩnh lạc 15 (1417) đời Minh, ngài Nam thạch Văn tú hoàn thành bộ Ngũ đăng hội nguyên bổ di, 1 quyển, ghi thêm lược truyện của 28 vị sau Ngũ đăng hội nguyên như ngài Linh ẩn Đông cốc quang ở Hàng châu v.v... được thu vào phần phụ lục của Tăng tập Tục truyền đăng lục trong Vạn tục tạng tập 142. (xt. Đăng Lục).

Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược

(五燈會元續略, Gotōegenzokuryaku): gọi tắt là Ngũ Đăng Tục Lược (五燈續略, Gotōzokuryaku), 4 hay 8 quyển, do Viễn Môn Tịnh Trụ (遠門淨柱) nhà Minh soạn, san hành vào năm thứ 5 (1648) niên hiệu Thuận Trị (順治). Với mục đích thâu tập những ngôn hạnh của các nhân vật sau thời Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元), bộ này thâu lục những Ngữ Lục của tổng số hơn 400 người, trong Tào Động Tông từ Hoa Tạng Huệ Tộ (華藏慧祚), Thiên Đồng Như Tịnh (天童如淨) cho đến Tuyết Quan Trí Ngân (雪關智誾), Giác Lãng Đạo Thạnh (覺浪道盛); trong Lâm Tế Tông từ Từ Hóa Ấn Túc (慈化印肅) cho đến Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修). Về số lượng người thì Lâm Tế Tông đông hơn nhiều. Thông qua lời phàm lệ và lời tựa chúng ta cũng biết được rằng mục đích của người biên tập, vốn là pháp từ của Thạch Vũ Minh Phương (石雨明方) thuộc Tào Động Tông, muốn làm sáng tỏ hệ phổ của Tào Động Tông dưới thời nhà Tống, Nguyên, Minh; cho nên tác phẩm này đã cung cấp cho chúng ta khá nhiều tư liệu để nghiên cứu về lịch sử Thiền Tông sau thời nhà Tống trở đi.

ngũ đăng hội nguyên tục lược

(五燈會元續略) Gọi tắt: Ngũ đăng tục lược. Tác phẩm 4 quyển hoặc 8 quyển, có 1 quyển thủ riêng, do ngài Viễn môn Tịnh trụ soạn vào năm Sùng trinh 17 (1644) đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 138. Nội dung sách này thu chép những ngữ lục của các Thiền sư thuộc các tông từ Ngũ đăng hội nguyên trở về sau, như tông Tào động từ ngài Hoa tạng Tuệ tộ, Thiên đồng Như tịnh đến ngài Giác lãng Đạo thịnh; tông Lâm tế từ ngài Từ hóa Ấn túc đến các vị Đại đức thuộc hệ phái ngài Thiên ẩn Viên tu, gồm tất cả hơn 400 vị. Trong đó, các vị thuộc tông Lâm tế tuy chiếm đa số, nhưng, căn cứ vào bài tựa và phàm lệ của soạn giả Tịnh trụ, vốn là đệ tử nối pháp của ngài Thạch vũ Minh phương thuộc tông Tào động, thì người ta có thể nhận ra rằng mục đích biên soạn của sách này là nhằm xác định dòng phái của tông Tào động trong 3 đời Tống, Nguyên, Minh và sưu tập các ngữ lục của những vị Đại đức thuộc tông này. Trong các sách vở của Thiền tông như Truyền đăng lục v.v... sách này là nguồn tư liệu trọng yếu cho việc nghiên cứu lịch sử Thiền tông Trung quốc từ đời Tống trở về sau.

Ngũ Đăng Lục

(五燈錄, Gotōroku): tên gọi chung của 5 bộ sách truyền đăng gồm Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄, Keitokudentōroku), Thiên Thánh Quảng Đăng Lục (天聖廣燈錄, Tenshōkōtōroku), Kiến Trung Tĩnh Quốc Tục Đăng Lục (建中靖國續燈錄, Kenchūseikokuzokutōroku), Tông Môn Liên Đăng Hội Yếu (宗門聯燈會要, Shūmonrentōeyō) và Gia Thái Phổ Đăng Lục (嘉泰普燈錄, Kataifutōroku), mỗi bộ đều 30 quyển.

ngũ đăng lục

(五燈錄) Từ ngữ gọi chung 5 bộ lục, tức là: Cảnh đức truyền đăng lục của ngài Đạo nguyên, Thiên thánh quảng đăng lục của Cư sĩ Lí tuân úc, Kiến trung tĩnh quốc tục đăng lục của ngài Duy bạch, Liên đăng hội yếu của ngài Ngộ minh và Gia thái phổ đăng lục của ngài Chính thụ. Về tông chỉ, pháp ngữ cũng như các chi phái trong Thiền môn, Ngũ đăng ghi chép rất rõ ràng từ đầu đến cuối. Vào đời Tống, ngài Phổ tế nhận thấy Ngũ đăng quá bao la, học giả khó có thể thông suốt được, cho nên ngài đã rút lấy những phần cốt yếu mà soạn thành bộ Ngũ đăng hội nguyên để giúp người học dễ hiểu hơn. [X. bài Tựa trong Thiền tông chính mạch].

Ngũ Đăng Nghiêm Thống

(吾燈嚴統, Gotōgentō): 25 quyển, 2 quyển mục lục, do Phí Ẩn Thông Dung (費隱通容) và Bách Si Hành Nguyên (百癡行元) nhà Thanh cùng soạn, san hành vào năm thứ 10 (1653) niên hiệu Thuận Trị (順治). Bất mãn với sự tồn tại của Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (吾燈會元續略)―tác phẩm đặt trọng tâm thâu tập những Ngữ Lục của Tào Động Tông, Thông Dung cho rằng trong Ngũ Gia chỉ có Tào Động Tông là thuộc về pháp thống của hệ thống Thanh Nguyên (青原) và chủ trương các tông khác thuộc về hệ thống Nam Nhạc (南岳), cho nên ông biên tập thành bộ này. Nhân vật được thâu lục vào bộ này gồm từ 27 vị tổ của Tây Thiên, 6 vị tổ của Đông Độ cho đến những người môn hạ của phái Trạm Nhiên Viên Trừng (湛然圓澄) thuộc hệ thống Thanh Nguyên của Tào Động Tông, và những người môn hạ của phái Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) thuộc hệ thống Nam Nhạc. Nếu nhìn từ mặt lịch sử, tác phẩm này có nhiều vấn đề như điểm công nhận sự hiện hữu của Thiên Vương Đạo Ngộ (天王道悟) và cho 2 tông Vân Môn, Pháp Nhãn thuộc về môn hạ của Nam Nhạc; hay điểm thâu lục phần lớn dựa vào Ngũ Đăng Hội Nguyên (吾燈會元); hay điểm cho rằng sự kế thừa của Vô Minh Huệ Kinh (無明慧經), Vô Dị Nguyên Lai (無異元來), v.v., là không rõ ràng, v.v.

ngũ đăng nghiêm thống

(五燈嚴統) Tác phẩm, 25 quyển, có riêng 2 quyển mục lục, do các ngài Phí ẩn Thông dung và Bách si Nguyện công cùng soạn vào đời Minh, được thu vào Vạn tục tạng tập 139. Ở đầu quyển mục lục có phụ thêm bài tựa, phàm lệ, văn bia và các bài minh tháp... Nội dung sách này ghi chép 7 đức Phật quá khứ, 27 vị tôn giả Tổ sư Ấn độ từ ngài Ma ha Ca diếp trở xuống, 6 vị Tổ sư Trung quốc từ ngài Bồ đề đạt ma trở xuống, các bậc kì túc thuộc 2 pháp hệ Nam nhạc và Thanh nguyên đến pháp hệ truyền đăng của 5 nhà Thiền tông như các đệ tử nối phápcủa ngài Vân môn là Trừng viễn... xếp ngài Thiên hoàng Đạo ngộ vào pháp hệ ngài Thanh nguyên, đồng thời bỏ bớt các cơ duyên ngữ cú của 18 đời thuộc pháp hệ Thanh nguyên ghi trong Ngũ đăng hội nguyên tục lược. Sách này sửa chữa những sai lầm của Ngũ đăng hội nguyên tục lược, khảo xét, so sánh rất kĩ, khiến cho đạo thống truyền nối từ trước không rơi vào tình trạng lộn xộn, vì thế gọi là Ngũ đăng nghiêm thống. [X. Tông thống biên niên Q.32; Thiền tịch chí Q.thượng, hạ].

ngũ đăng nghiêm thống giải hoặc thiên

(五燈嚴統解惑篇) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Phí ẩn Thông dung soạn vào đời Minh, ấn hành năm Vĩnh lịch thứ 8 (1654), được thu vào Vạn tục tạng tập 139. Trong các bài Minh tông chính ngụy, Trích khi thuyết, Tịch mậu thuyết..., do các sư tông Tào động thuộc pháp hệ ngài Thanh nguyên viết, có trách ngài Thông dung khi soạn Ngũ đăng nghiêm thống đã xếp Thiền sư Thiên hoàng Đạo ngộ vào pháp hệ Thanh nguyên, xếp Thiền sư Thiên vương Đạo ngộ vào pháp hệ Nam nhạc là sai lầm và yêu cầu ngài Thông dung sửa lại. Bởi vậy, ngài Thông dung mới soạn Giải hoặc thiên để bác bỏ. Trong thiên này cũng có phụ thêm phần giải đáp của ngài Thông dung đối với những lời phê bình hoặc khuyên bảo của các người khác.

Ngũ Đăng Toàn Thư

(五燈全書, Gotōzensho): 120 quyển, do Tể Lôn Siêu Vĩnh (霽崙超永) nhà Minh biên soạn, Luân Am Siêu Bát (輪菴超撥) hiệu đính, san hành vào năm thứ 36 (1697) niên hiệu Khang Hy (康熙). Bộ này được hình thành dựa trên cơ sở của Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元), tham khảo các sách truyền đăng từ xưa nay, rút ra những tinh yếu, cắt bỏ đi những phần rắc rối; bên cạnh người biên soạn đã bỏ ra hơn 10 năm trường đi sưu tra khắp các địa phương để hoàn thành bộ Truyền Đăng Lục vĩ đại như thế này. Nội dung của tác phẩm này gồm 7 vị Phật thời quá khứ, chư vị tổ sư của Tây Thiên, Đông Độ, và kèm theo liệt vị tổ sư cũng như cư sĩ xuất hiện sau khi bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên ra đời, tổng cọng hơn 7.000 người. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều vấn đề như một số bộ phận chưa chỉnh lý, hay điểm công nhận sự hiện hữu của Thiên Vương Đạo Ngộ (天皇道悟), v.v.

ngũ đăng toàn thư

(五燈全書) Tác phẩm, 120 quyển và 16 quyển mục lục, do ngài Tễ luân Siêu vĩnh biên soạn vào đời Thanh, ấn hành vào năm Khang hi 36 (1697), được thu vào Vạn tục tạng tập 140- 142, ở đầu quyển mục lục có phụ thêm bài tựa, biểu tâu vua, phàm lệ... Nội dung sách này, ngài Siêu vĩnh trích lấy những chỗ cốt yếu trong các bộ truyền đăng lục như Ngũ đăng hội nguyên... và bỏ ra hơn 10 năm đi các nơi sưu tập tư liệu mà soạn thành. Ngoài 7 đức Phật, các vị Tổ Ấn độ, Trung quốc ra, còn gồm có các Tổ sư, Kì túc, Cư sĩ v.v... từ Ngũ đăng hội nguyên trở về sau, bất luận là dòng chính hay dòng phụ, đều được ghi chép, tất cả hơn 7.000 vị. Đây là bộ sách tập đại thành của các Truyền đăng lục. Sách này thừa nhận pháp hệ của Thiền sư Thiên vương Đạo ngộ đời Đường. Ngoài ra, trong sách có trường hợp trùng lập, 1 số nhân vật được ghi lại nhiều lần.

Ngũ Đăng Tục Lược

(五燈續略, Gotōzokuryaku): xem Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (五燈會元續略, Gotōegenzokuryaku) ở trên.

ngũ đương thiệu

(五當召) Chữ triệu, tiếng Mông cổ, có nghĩa là chùa. Chùa ở hào (rạch nước) Ngũ đương cách Bao đầu, Tuy viễn về phía đông bắc khoảng 50 cây số, được xây dựng vào khoảng năm Khang hi (1662-1722) đời Thanh, trên 1 diện tích hơn 20 nghìn mét vuông. Chùa dựa vào núi, tường, cột, vách đều được mạ vàng, ngói màu vàng, nóc màu đỏ, mái cong, rường cột đều chạm trổ rất đẹp. Chùa có nhiều kinh sách, nhưng đáng tiếc đã bị hủy hoại trong thời cách mạng văn hóa của cộng sản Trung quốc do Mao trạch đông khởi xướng. Các kiến trúc trong chùa được chia làm 6 bộ phận: 1. A luân độc cung: Được xây dựng vào năm Gia khánh thứ 5 (1800), là cung điện xây trên dốc núi, địa thế hiểm yếu, 4 bức vách trong điện đều có vẽ tranh Phật, rất đẹp đẽ, nét vẽ tinh vi, sống động. 2. Động khoát nhĩ độc cung (Chùa Quảng giác): Được cất vào năm Càn long 14 (1749), vua Càn long ban hiệu là Quảng Giác Cung, trên cổng chính có tấm biển khắc bằng các thứ chữ Hán, Mãn châu, Mông cổ và Tây tạng. 3. Động khoát nhĩ hoạt Phật phủ miếu: Nơi làm việc và nghỉ ngơi của vị Phật sống.4. Nhật mộc luân độc cung: Được kiến thiết vào năm Quang tự 18 (1892), là kiến trúc sau cùng của chùa Ngũ đương. 5. Khước y lạp độc cung: Được xây vào năm Đạo quang 15 (1835), trong điện có tượng Phật cao 10 mét. 6. Tô cát bí độc cung: Được cất vào năm Càn long 22 (1757) là kiến trúc lớn nhất trong chùa, cung điện rất nguy nga tráng lệ. Ngày xưa các cuộc hội họp của chùa đều được tổ chức ở đây.

ngũ đại

(五大) I. Ngũ Đại. Phạm: Paĩca mahà-bhùtàni. Cũng gọi Ngũ đại chủng. Chỉ cho 5 nguyên tố của thể tính rộng lớn, sinh thành ra muôn pháp, tức là: Đất, nước, lửa, gió và không. Tính chất của 5 nguyên tố này theo thứ tự là cứng, ướt, nóng, động và vô ngại; tác dụng là giữ gìn, thu nhiếp, thành thục, tăng trưởng, không ngăn ngại. Trong Phật giáo có các thuyết: Tứ đại, Ngũ đại, Lục đại, Thất đại... Đại khái các tông Câu xá, Duy thức... đều áp dụng thuyết Tứ đại, vì tứ đại tạo ra tất cả các sắc pháp nên gọi là Tứ đại chủng hay Năng tạo tứ đại. Mật giáo thì chuyên sử dụng thuyết Ngũ đại, Lục đại(đất, nước, lửa, gió, không, thức), chủ trương tứ đại không lìa tâm đại, cho rằng tâm và sắc tuy khác nhưng thể tính của chúng thì chẳng phải 2; rằng lục đại sinh ra 4 pháp thân, 3 thế gian, là thể tính của pháp giới, cũng chính là thân Tam ma da của Như lai. Chủng tử của Ngũ đại theo thứ tự là: (a), (va), (ra), (ha) và (kha). Nghĩa của các chữ chủng tử này theo thứ tự là: Vốn chẳng sinh (a), lìa lời nói (va), lìa bụi nhơ (ra), lìa nhân duyên (ha), như hư không (kha). Lại đem Ngũ đại phối với ngũ phương(vị), ngũ sắc, ngũ Phật, ngũ môn và ngũ trí. Còn nói về hình tướng và màu sắc thì đất là hình vuông màu vàng; nước hình tròn màu trắng; lửa hình tam giác màu đỏ; gió hình bán nguyệt màu đen; không là hình bảo châu màu xanh. Đây chính là tháp Ngũ luân hình Tam muội da của đức Đại nhật Như lai. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm A xà lê chân thực trí trong kinh Đại nhật Q.5; Tôn thắng Phật đính tu du già pháp nghi quĩ Q.thượng; Đại nhật kinh sớ Q.37; Tức thân thành Phật nghĩa; Kim cương giới mạn đồ la sao Q.thượng]. (xt. Lục Đại). II. Ngũ Đại. Chỉ cho 5 đại: Không đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại và địa đại do Ngũ duy sinh ra. Ngũ duy chỉ cho: Thanh duy, xúc duy, sắc duy, vị duy và hương duy. Đây là 1 khoa trong 25 đế do học phái Số luận thành lập. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí, thì có thuyết cho rằng từ Ngã mạn sinh ra 10 pháp là ngũ đại và ngũ duy; nhưng cũng có thuyết chủ trương Ngã mạn chỉ sinh ra ngũ duy, còn ngũ duy thì sinh ra ngũ đại, và ngũ đại sinh ra 11 căn. Phật giáo thì cho tứ đại và ngũ đại là năng tạo, còn học phái Số luận thì chủ trương ngũ đại là sở tạo. Đây là sự sai khác căn bản giữa 2 bên. [X. kinh Niết bàn Q.35, 36 (bản Nam); luận Đại trí độ Q.70; luận Kim thất thập; Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. (xt. Nhị Thập Ngũ Đế, Tứ Đại).

ngũ đại bộ

(五大部) Chỉ cho 5 loại đại bộ. I. Ngũ Đại Bộ. Cũng gọi Ngũ bộ Đại thừa kinh. Năm loại đại bộ kinh điển trong các kinh Đại thừa. Đây là cách phân loại của Khai nguyên thích giáo lục đối với các kinh Đại thừa. Tức là: 1. Bát nhã bộ: Gồm 21 bộ, 736 quyển, 73 pho. 2. Bảo tích bộ: Gồm 82 bộ, 169 quyển, 17 pho. 3. Đại tập bộ: Gồm 24 bộ, 142 quyển, 14 pho. 4. Hoa nghiêm bộ: Gồm 26 bộ, 187 quyển, 18 pho. 5. Niết bàn bộ: Gồm 6 bộ, 58 quyển, 6 pho.Về sau, các bộ kinh lục đều theo phương pháp phân loại này. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.10, 11, 12; Chính ngoa tập; Khai nguyên thích giáo lục lược xuất Q.1; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.19, 20; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.1]. II. Ngũ Đại Bộ. Toàn thể kinh Đại thừa được chia làm 5 đại bộ. Theo Duyệt tạng tri tân của ngài Trí húc thì 5 đại bộ là: 1. Hoa nghiêm bộ. 2. Phương đẳng bộ. 3. Bát nhã bộ. 4. Pháp hoa bộ. 5. Niết bàn bộ. Đây là do ngài Trí húc y cứ vào Ngũ thời phán giáo của tông Thiên thai mà thành lập. Trong đó, bộ Bảo tích và Đại tập (do Khai nguyên lục chia ra) được đưa vào Phương đẳng bộ, lập riêng Pháp hoa bộ, còn các kinh trùng dịch, đơn dịch ngoài 5 đại bộ thì phần lớn cũng được đưa vào Phưong đẳng bộ. Đại tạng kinh bản rút gọn của Nhật bản chủ yếu là dựa theo cách phân loại này. Trong 5 đại bộ trên, Hoa nghiêm bộ gồm 28 bộ, 233 quyển; Phương đẳng bộ gồm 363 bộ, 1133 quyển; Bát nhã bộ gồm 29 bộ, 447 quyển; Pháp hoa bộ gồm 14 bộ, 57 quyển; Niết bàn bộ gồm 16 bộ, 121 quyển. [X. Duyệt tạng tri tân Q.1; Đại nhật bản hiệu đính súc loát Đại tạng kinh mục lục]. III. Ngũ Đại Bộ. Năm đại bộ chú sớ do Luật sư Nam sơn Đạo tuyên soạn thuật. Đó là: 1. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao 3 quyển (nay chia ra 12 quyển). 2. Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ 4 quyển (nay chia làm 8 quyển). 3. Tứ phần luật hàm chú giới bản sớ 4 quyển (nay chia làm 8 quyển). 4. Tứ phần luật thập tì ni nghĩa sao 3 quyển (nay được chia làm 6 quyển, nhưng 2 quyển sau đã bị thất lạc). 5. Tứ phần tỉ khưu ni sao 3 quyển (nay là 6 quyển). [X. Tứ phần luật tùy cơ yết ma sớ chính nguyên kí Q.1; Bát tông cương yếu Q.thượng].

ngũ đại châu

The five continents: Á châu: Asia. Âu châu: Europe. Mỹ châu: America. Phi châu: Afirca. Úc châu: Australia.

ngũ đại dương

The five oceans: Ấn Độ dương: Indian Ocean. Bắc Băng dương: Arctic Ocean. Đại Tây dương: Atlantic Ocean.

ngũ đại hình

Năm biểu trưng của năm yếu tố lớn—The symbols of the five elements:Đất hình vuông: Earth as square. ; (五大形) Hình tướng của 5 đại. Theo Mật giáo, 5 đại (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại) theo thứ tự là hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình bán nguyệt và hình vòm cầu. 1. Địa đại: Hình vuông, có nghĩa an trụ bất động, tương ứng với lí vốn chẳng sinh của chữ (a). 2. Thủy đại: Hình tròn, có nghĩa xoay chuyển tự tại vô ngại, tương ứng với nghĩa lời nói xoay chuyển vô cùng của chữ (va). 3. Hỏa đại: Hình tam giác, biểu thị nghĩa bén nhạy của lửa, thiêu đốt hết phiền não nhơ nhớp, tương ứng với lí tất cả trần cấu đều vắng lặng của chữ (ra). 4. Phong đại: Hình bán nguyệt, biểu thị nghĩa tạo tác các pháp, tương ứng với sức mạnh sinh thành và phá hoại của chữ (ha). 5. Không đại: Hình vòm cầu, do hình tam giác và hình bán nguyệt hợp lại mà thành, biểu thị nghĩa vuông tròn không hai, đầy đủ các hình, tương ứng với pháp tính hư không của chữ (kha). [X. Lục đại áo nghĩa chương; Thập trụ tâm quảng danh mục Q.6].

ngũ đại hư không tạng bồ tát

(五大虛空藏菩薩) Cũng gọi Ngũ đại kim cương hư không tạng.Chỉ cho 5 vị Bồ tát là: Pháp giới hư không tạng, Kim cương hư không tạng, Bảo quang hư không tạng, Liên hoa hư không tạng và Nghiệp dụng hư không tạng. Hoặc còn gọi là: Giải thoát hư không tạng, Phúc trí hư không tạng, Năng mãn hư không tạng, Thí nguyện hư không tạng và Vô cấu hư không tạng. Hoặc cũng có tên là: Trí tuệ hư không tạng, Ái kính hư không tạng, Quan vị hư không tạng, Năng mãn hư không tạng và Phúc đức hư không tạng. Đây tức là nghĩa 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà, Thích ca mỗi vị đều trụ trong tam muội Như ý bảo châu và 5 vị Bồ tát này là do 5 đức Phật biến hiện ra. Cũng có chỗ cho rằng 5 vị Bồ tát này là do y cứ vào tam muội Ngũ trí mà được lập ra. Chủng tử của 5 vị Bồ tát này theo thứ tự là 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (hrì#) và (a#). Hình tam muội da là: Tháp, chày 5 chĩa, vật báu như ý, hoa sen và yết ma. Về hình tượng của 5 vị bồ tát Đại hư không tạng này, theo phẩm Kim cương cát tường đại thành tựu trong kinh Du già du kì, thì ở trong 1 vòng tròn sáng lớn lại vẽ 5 vòng tròn nhỏ, trong vòng tròn nhỏ ở chính giữa vẽ bồ tát Pháp giới hư không tạng màu trắng, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm vật báu, trong vòng tròn phía trước (đông) vẽ bồ tát Kim cương hư không tạng màu vàng, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm kim cương báu, trong vòng tròn bên phải (nam)vẽ bồ tát Bảo quang hư không tạng màu xanh, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm vật báu có 3 múi, phóng ra ánh sáng lớn; trong vòng tròn phía sau (tây) vẽ bồ tát Liên hoa hư không tạng màu đỏ, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm hoa sen màu hồng; trong vòng tròn bên trái (bắc) vẽ bồ tát Nghiệp dụng hư không tạng màu tím, tay trái cầm móc câu, tay phải cầm kim cương bảo. Năm vị Bồ tát này theo thứ tự ngồi trên lưng sư tử, voi, ngựa, chim công và chim Ca lâu la (chim cánh vàng). Ấn tướng chung của 5 vị là Ngoại ngũ cổ ấn, 2 ngón giữa tạo thành hình báu, trên đầu 4 ngón còn lại quán tưởng là hình báu. Ngoài r a , Tượng Năm Bồ Tát Đại Hư Không Tạng pháp tu lấy 5 vị bồ tát Đại hư không tạng này làm bản tôn, gọi là Đại hư không tạng pháp, thường được tu để cầu thêm lợi ích hoặc khi trời đất biến đổi. [X. kinh Ngũ đại hư không tạng bồ tát tốc tật đại thần nghiệm bí mật thức; kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng Q.1; Nhũ vị sao Q.10, 12].

ngũ đại hư không tạng pháp

(五大虛空藏法) Cũng gọi Kim môn điểu mẫn pháp. Pháp tu lấy 5 vị bồ tát Hư không tạng làm bản tôn để cầu tăng thêm lợi ích, tiêu trừ tai nạn...

ngũ đại long vương

(五大龍王) Cũng gọi Ngũ loại long vương. Năm vị vua rồng lớn. Đó là: 1. Thiện trụ long vương (Phạm: Susamsthita-nàga-ràjà). 2. Nan đà bà nan đà long vương (Phạm: Nandopananda-nàga-ràjà). 3. A nậu đạt long vương (Phạm: Anavatapta-nàga-ràjà). 4. Bà lâu na long vương (Phạm: Varuịa-nàga-ràjà). 5. Ma na tô bà đế long vương (Phạm: Manasvì-nàga-ràjà). Năm vua rồng này theo thứ tự là chúa các loài rồng voi, rồng rắn, rồng ngựa, rồng cá và rồng tôm; đồng thời, nương vào sức uy thần của Phật, tu hành pháp Đại thừa, thống lãnh quyến thuộc, không làm các việc tổn hại chúng sinh. [X. kinh Đại phưong đẳng đại tập Q.58; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.19].

ngũ đại lực bồ tát

The five powerful Bodhisattvas guardians of the four quarters and the center. ; (五大力菩薩) Cũng gọi Ngũ đại lực tôn. Chỉ cho 5 vị Đại lực tôn hộ trì Tam bảo, che chở đất nước, hiện tướng phẫn nộ được tôn thờ trong Mật giáo. Theo phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương (bản dịch cũ), thì 5 vị Đại lực bồ tát là: Kim cương hống, Long vương hống, Vô úy thập lực hống, Lôi điện hống và Vô lượng lực hống. Nhưng phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương do ngài Bất không dịch thì nêu Ngũ phương bồ tát: Đông phương Kim cương thủ, Nam phương Kim cương bảo, Tây phương Kim cương lợi, Bắc phương Kim cương dược xoa và Trung ương Kim cương ba la mật đa. Trong đó, Kim cương ba la mật đa tức là Kim cương hống, Kim cương bảo tức là Long vương hống, Kim cương thủ tức là Vô úy thập lực hống, Kim cương dược xoa tức là Lôi điện hống và Kim cương lợi tức là Vô lượng lực hống. Cứ theo Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ thì 5 vị Bồ tát này nương vào 2 loại luân mà hiện thân: Dùng Chính pháp luân hiện thân chân thực, dùng Giáo lệnh luân hiện thân uy nộ. Tức thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương thủ ở phương đông là bồ tát Phổ hiền, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ hàng tam thế kim cương, hiện 4 đầu 8 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương bảo ở phương nam là bồ tát Hư không tạng, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ cam lộ quân đồ lợi kim cương, thị hiện 8 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương lợi phương tây là bồ tát Văn thù sư lợi, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ lục túc kim cương, hiện 6 tay 6 đầu, ngồi trên lưng trâu. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương xoa ở phương bắc là bồ tát Tồi phục nhất thiết ma oán, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ tịnh kim cương, hiện 4 tay. Thân Chính pháp luân của bồ tát Kim cương ba la mật đa ở chính giữa là bồ tát Chuyển pháp luân, thân Giáo lệnh luân là Uy nộ bất động kim cương. Ngoài ra, Nhân vương bát nhã kinh niệm tụng thứ đệ, Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ... cũng nói về hình tượng của 5 vị tôn này và phương pháp kiến lập Mạn đồ la.

ngũ đại minh vương

(五大明王) Cũng gọi Ngũ đại tôn, Ngũ phẫn nộ, Ngũ bộ phẫn nộ. Chỉ cho 5 vị Đại minh vương: Bất động minh vương, Hàng tam thế minh vương, Quân đồ lợi minh vương, Đại uy đức minh vương và Kim cương dạ xoa minh vương. Năm vị tôn này là do 9 thức biến ra, là thân Giáo lệnh luân của 5 đức Phật biến hiện ra để phá dẹp các ma chướng trong ngoài. Bất động minh vương ở chính giữa là thân Giáo lệnh luân của đức Đại nhật Như lai, có năng lực hàng phục tất cả các ma. Thân Giáo lệnh luân của A súc Như lai là Hàng tam thế minh vương ở phương đông, có khả năng hàng phục trời Đại tự tại. Thân Giáo lệnh luân của Bảo sinh Như lai là Quân đồ lợi minh vương ở phương nam, có thể hàng phục ma ngũ ấm. Thân Giáo lệnh luân của Vô lượng thọ Như lai là Đại uy đức minh vương ở phương tây, có khả năng hàng phục ma người. Thân Giáo lệnh luân của Bất không thành tựu Như lai là Kim cương dạ xoa minh vương ở phương bắc, có thể hàng phục ma trên mặt đất. Nếu nói về ma bên trong thì hoa sen trên đầu Bất động minh vương tượng trưng cho thức thứ 9, 8 tay của Hàng tam thế minh vương tượng trưng cho thức thứ 8, con rắn quấn khắp thân của Quân đồ lợi minh vương tượng trưng cho thức thứ 7, 6 mặt 6 tay của Đại uy đức minh vương tượng trưng cho thức thứ 6, 5 con mắt của Kim cương dạ xoa minh vương tượng trưng cho 5 thức trước. Vì có thuyết cho rằng Kim cương dạ xoa minh vương và Ô xu sa ma minh vương là cùng 1 thể tính, cho nên cũng có trường hợp dùng Ô xu sa ma minh vương để thay thế Kim cương dạ xoa minh vương. Ngôi nhà để thờ Ngũ đại minh vương gọi là Ngũ đại đường. Pháp bí mật lấy Ngũ đại minh vương làm bản tôn để tu, gọi là Ngũ đàn pháp. [X. Nhân vương kinh nghi quĩ Q.thượng (bản dịch mới); Bổ đà lạc hải hội quĩ; Bí tạng kí; Giác nguyên sao Q.hạ; Chư tôn ấn nghĩa Q.4; Nhũ vị sao Q.9].

ngũ đại nguyện

(五大願) Năm thệ nguyện rộng lớn trong Mật giáo. Đó là: 1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. 2. Phúc trí vô biên thệ nguyện tập. 3. Pháp môn vô biên thệ nguyện học. 4. Như lai vô biên thệ nguyện sự. 5. Vô thượng bồ đề thệ nguyện thành. Đây là bản nguyện của đức Đại nhật Như lai, cũng là thệ nguyện chung của chư Phật và Bồ tát. Có thể được phối hợp với 5 đức Phật: A súc, Bảo sinh, A di đà, Bất không thành tựu, và Đại nhật. Ngũ đại nguyện này tương đương với Tứ hoằng thệ nguyện của Hiển giáo. [X. Phật đính tôn thắng đà la ni niệm tụng nghi quĩ pháp; Vô úy tam tạng thiền yếu; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quĩ Q.hạ]. (xt. Tứ Hoằng Thệ Nguyện).

ngũ đại phi tình

Chúng vô tình quan hệ trực tiếp với ngũ đại, trong khi chúng hữu tình quan hệ với ngũ đại cộng thêm tâm thức—The inanimate connected directly with the five great elements, while the animate connected with the same five, plus the mind or perception.

ngũ đại quán

Meditation on the five elements—See Ngũ Đại. ; (五大觀) Pháp quán xét 5 đại: 1. Quán địa đại, quán màu trắng. 2. Quán thủy đại, quán màu xanh lá cây. 3. Quán hỏa đại, quán màu đỏ. 4. Quán phong đại (gió), quán màu đen. 5. Quán không đại, quán màu xanh. [X. kinh Thủ hộ quốc Q.2].

ngũ đại quán môn

(五大觀門) Pháp môn quán xét 5 đại: Đất, nước, lửa, gió và không. NGŨ ĐẠI SỚ Cũng gọi Ngũ bộ sớ. Năm bộ sớ chú thích 5 bộ kinh bí mật do Thai Mật của Nhật bản lập. Đó là: 1. Đại nhật kinh nghĩa thích, 14 quyển, do Tam tạng Thiện vô úy đời Đường giảng, ngài Nhất hạnh ghi lại. 2. Kim cương đính Đại giáo vương kinh sớ, 7 quyển, do ngài Viên nhân người Nhật soạn. 3. Tô tất địa yết la kinh lược sớ, 7 quyển, do ngài Viên nhân người Nhật soạn. 4. Bồ đề tràng sở thuyết nhất tự đính luân vương kinh lược nghĩa thích hội bản, 5 quyển, do ngài Viên trân người Nhật soạn.5. Kim cương phong lâu các nhất thiết du già du kì kinh tu hành pháp, 3 quyển, do ngài An nhiên người Nhật soạn.

ngũ đại sắc

Năm màu chính—The five chief colours: Màu vàng biểu trưng cho đất: Yellow for earth. Màu trắng biểu trưng cho nước: White for water. Màu đỏ biểu trưng cho lửa: Red for fire. Màu đen biểu trưng cho gió: Black for wind. Màu xanh da trời biểu trưng cho hư không: Azure for space or sky.

ngũ đại sứ giả

Ngũ Thiên Sứ Giả—Năm sứ giả lớn—The five duta—Five great lictors or deva-messengers: Sanh: Birth. Già: Old-age. Bịnh: Disease. Khổ: Sufferings—Earthly laws and punishments. Chết: Death. ; (五大使者) Cũng gọi Ngũ thiên sứ giả, Ngũ thiên sứ. Chỉ cho sinh, lão, bệnh, tử và vương pháp lao ngục. Đây là sứ giả của vua Diêm la, tức là những sứ giả phát từ nghiệp đạo tự nhiên để cảnh giới người đời. [X. kinh Phật thuyết Diêm la vương ngũ thiên sứ giả].

ngũ đại thiên sứ giả

See Ngũ Đại Sứ Giả.

ngũ đại thí

(五大施) Chỉ cho việc gìn giữ 5 giới. Các thầy tu của Bà la môn giáo qui định mỗi ngày phải thực hành Ngũ đại tế (Phạm: Paĩca mahàyajĩa), tức là: Cúng dường các thần (Phạm:Devayajĩa), bố thí sinh linh (Phạm:Bhùtayajĩa), tế bái tổ linh (Phạm:Pitfyajĩa), đọc tụng Phệ đà (Phạm: Brahmayajĩa), bố thí nhân loại (Phạm: Nfyajĩa). Ngũ đại tế này, sau được Phật giáo thay thế bằng Ngũ đại thí. [X. kinh Ngũ đại thí].

ngũ đại tôn căn bản ấn

(五大尊根本印) Tức là ấn Ngũ cổ ngoại phược, 2 cổ tay tréo nhau. Hoặc đặt cổ tay phải ở trên cổ tay trái, lưng 2 bàn tay sáp vào nhau và tréo 2 ngón giữa, còn các ngón cái, ngón út và ngón vô danh đều dựng đứng, đây chính là ấn Ngũ cổ của Liên hoa bộ. Hoặc có thuyết cho rằng Ngũ đại tôn thường dùng ấn kiếm. Cũng có thuyết nói khi dùng ấn Ngoại ngũ cổ để tụng chú Từ cứu thì vị A xà lê ở Trung đàn kết ấn Kiếm bằng ngón tay giữa mà tụng.

ngũ đại tôn nhất đàn pháp

(五大尊一壇法) Cũng gọi Ngũ tôn hợp hành pháp. Pháp tu trong Mật giáo an vị Ngũ đại tôn ở cùng 1 đàn. Tức là tu pháp Ngũ đại tôn chung trong 1 đàn theo qui định của Nhân vương bát nhã đạo tràng niệm tụng nghi quĩ. Ngũ đại tôn chỉ cho 5 vị Đại minh vương: Bất động, Hàng tam thế, Quân đồ lợi, Đại uy đức và Kim cương dạ xoa.

ngũ đại tôn phối trí

(五大尊配置) Vị trí của 5 vị Đại minh vương trong Mật giáo. Chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Hàng tam thế minh vương, phương nam là Quân đồ lợi minh vương, phương tây là Đại uy đức minh vương, phương bắc là Kim cương dạ xoa minh vương. Nhưng khi xếp thành 1 hàng thẳng thì vị trí có khác: Chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Hàng tam thế minh vương, phương tây là Quân đồ lợi minh vương, phía đông của Hàng tam thế là Kim cương dạ xoa minh vương, phía tây của Quân đồ lợi là Đại uy đức minh vương. Hoặc chính giữa là Bất động minh vương, phương đông là Quân đồ lợi minh vương, phương tây là Kim cương dạ xoa minh vương, phía đông của Quân đồ lợi là Hàng tam thế minh vương, phía tây của Kim cương dạ xoa là Đại uy đức minh vương.

ngũ đại tôn tổng ấn minh

(五大尊總印明) Cũng gọi Ngũ đại tôn tổng nhiếp ấn minh. Ấn khế và chân ngôn chung của 5 vị Đại minh vương. Tức là 5 vị đều kết ấn Ngoại ngũ cổ và tụng chú Từ cứu. Đây là ấn minh do thầy truyền nên các nghi quĩ không có chép.Theo sự giải thích về nghĩa sâu kín thì 2 ngón tay giữa của Ngoại ngũ cổ ấn làm thành hình thanh gươm, 2 ngón trỏ dựng thẳng, cũng gọi là Ngũ kiếm ấn, từ thanh gươm của vị tôn ở chính giữa sinh ra các thanh gươm ở 4 phương, thành 4 vị Đại minh vương. Ấn này được phối hợp với 5 vị Đại minh vương, tức 2 ngón út là Kim cương dạ xoa minh vương ở phương bắc, ngón trỏ của tay phải là Hàng tam thế minh vương ở phương đông, 2 ngón cái là Quân đồ lợi minh vương ở phương nam, ngón trỏ của tay trái là Đại uy đức minh vương ở phương tây, còn 2 ngón giữa là Bất động minh vương ở trung ương.

ngũ đại tông phái

The five great Buddhist schools: Trường phái giáo thuyết: The Teaching school. Trường phái Luật: The Vinaya school. Thiền tông: The Zen school. Mật tông: The Secret school. Tịnh Độ tông: The Pure Land school.

ngũ đại tự nghĩa

(五大字義) Mật giáo dùng 5 câu Ngã giác bản bất sinh, xuất quá ngôn ngữ đạo, chư quá đắc giải thoát, viễn li ư nhân duyên, tri không đẳng hư không để giải thích nghĩa sâu xa của 5 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không. Tức là: 1. Ngã giác bản bất sinh(ta biết vốn không sinh): Là chữ (a), nghĩa của địa đại(đất). Ý nói các pháp vốn chẳng sinh, không thực có, như tâm của chúng ta chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, vuông tròn dài ngắn, nếu tìm cầu thì cả quá khứ, hiện tại, vị lai tâm này đều không có, là bất khả đắc. Vì thế nói các pháp vốn không sinh. 2. Xuất quá ngữ ngôn đạo(đạo vượt ngoài lời nói): Là chữ (va), nghĩa của thủy đại (nước). Nghĩa là tất cả các pháp dùng lời nói để diễn đạt đều không thể được. Vì các pháp đã là tự nhiên như thế thì không thể dùng 8 khái niệm phù phiếm như: Sinh diệt, nhất dị, thường đoạn, khứ lai để biểu đạt. Bởi lẽ các pháp vốn dứt bặt ngôn ngữ tứ cú bách phi, xa lìa hí luận, như nước có công năng rửa sạch các vật. 3. Chư quá đắc giải thoát(các lỗi lầm được giải thoát): Là chữ (ra), nghĩa của hỏa đại(lửa). Ý nói tất cả các pháp trần cấu không thực có. Các pháp lấy 6 đại làm thể tính, mà thể của 6 đại thì thanh tịnh, mầu nhiệm, vốn không có bụi nhơ, chỉ vì tâm mê nên trở thành bất tịnh, đó là thực nghĩa của các pháp trần cấu không thực có, như lửa có công năng thiêu đốt bụi nhơ. 4. Viễn li ư nhân duyên (xa lìa mọi nhân duyên): Là chữ (ha), nghĩa của phong đại (gió). Ý nói nghiệp nhân của tất cả các pháp đều không có thật. Vì các pháp đã là không sinh thì vốn thực có, không phải nay mới sinh, cho nên không có nghiệp nhân, đó là thực nghĩa nghiệp nhân của tất cả các pháp không thực có, như gió có công năng phá hoại các vật. 5. Tri không đẳng hư không (biết tính không cũng đồng như hư không): Là chữ (kha), nghĩa của không đại. Ý nói tất cả các pháp giống như hư không, chẳng thể nắm bắt được. Vì các pháp xưa nay vốn không sinh không diệt, cho nên là đồng với hư không. Chẳng nắm giữ 1 vật gì là tính của không đại. Pháp quán về nghĩa của Ngũ đại tự trên đây, theo thuyếttrong Bí tạng kí quyển cuối, nếu quán về tính không thực có của chúng thì mới chỉ là nghĩa trừ mê mà thôi, còn quán về tính tròn sáng của chúng mới là nghĩa cùng tột. [X. phẩm Nhập chân ngôn trong kinh Đại nhật Q.2].

ngũ đạm thực

(五啖食) Phạm: Paĩca-bhojanìya. Cũng gọi Ngũ chính thực. Chỉ cho 5 loại thức ăn: Cơm, cơm nấu với đậu, miến, thịt và bánh. [X. Ngũ bộ tì nại da Q.36].

Ngũ đạo

五道; C: wǔdào; J: godō;|Có hai nghĩa:|1. Chỉ năm đường tái sinh của Hữu tình, đó là Lục đạo loại trừ A-tu-la ra, bao gồm: Địa ngục (地獄), Ngạ quỷ (餓鬼), Súc sinh (畜生), Nhân gian (人間), và Thiên thượng (天上). Cũng viết là Ngũ thú (五趣; s: gati-pañcaka).|2. Ngũ đạo (s: pañca-mārga), cũng được gọi là Duy thức tu đạo ngũ vị; song song với Thập địa là con đường tu học của một vị Bồ Tát với năm giai đoạn, được Ðại sư Vô Trước (asaṅga) đề xướng: 1. Tư lương đạo (資糧道; saṃbhāra-mārga), tức là tích trữ lương Phật đạo, trì Giới, Nhiếp căn, tu tập Chỉ, Quán; 2. Gia hạnh đạo (加行道; prayoga-mārga), ở đây có nghĩa là chuẩn bị, tu tập như trên để những thiện căn vững chắc, trở thành thiện căn bản (kuśalamūla); 3. Kiến đạo (見道; darśana-mārga), cũng được gọi là Thông đạt đạo; 4. Tu tập đạo (修習道; bhāvanā-mārga), thực hành 37 Bồ-đề phần; 5. Vô học đạo (無學道; aśaikṣa-mārga), có nghĩa là đến bờ bên kia, không còn gì để học, cũng được gọi là Cứu kính đạo (究竟道; niṣṭhāmārga), tức là đạo tột cùng, đạo tuyệt đối đoạn hoặc, chứng ngộ chân lí;|Các phép tu hành của mỗi giai đoạn trên được trình bày khác nhau trong Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (prat-yekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (bo-dhisattvayāna). Trong Bồ Tát thừa thì Kiến đạo mới là bước đầu của Bồ Tát thập địa. Mặc dù có mang tên là Duy thức tu đạo ngũ vị nhưng ngũ đạo được áp dụng trong tất cả các tông phái Phật giáo Ðại thừa. Tại Tây Tạng, Ngũ đạo được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm mang tên Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim).

ngũ đạo

The five gati—See Ngũ Thú.

ngũ đạo chuyển luân vương

Một trong Thập Ngục Vương, người xử lại tội nhân sau ba năm thọ ngục—One of the ten kings of Hades who retries the sufferers on their third year of imprisonment. ; (五道轉輪王) Cũng gọi Chuyển luân vương. Vua thứ 10 trong 10 vị vua ở cõi u minh. Cứ theo kinh Dự tu sinh thất và kinh Địa tạng thập vương, thì vị vua này chuyên phán xét các việc thiện ác của những người chết đã tạo tác lúc còn sinh tiền. Bản địa của vị vua này là A di đà Như lai. Lúc thân trung hữu của người chết sắp hết hạn kì thì phải đến điện lớn của vị vua này để nhận sự phán xét cuối cùng rồi mới có thể đi đầu thai kiếp khác. Cứ theo truyền thuyết, trước lúc chuyển sinh, đầu tiên trung hữu phải đến đình Mạnh bà uống cháo lú để quên hết mọi việc đời trước, kế đó là đến đài Chuyển luân để đầu thai trong 5 đường (có chỗ nói 6 đường), như thế mới không làm cho thiên hạ đại loạn. (xt. Diêm La Thập Điện).

ngũ đạo lục đạo

Năm nẻo sáu đường—The five gati, the six gati—See Ngũ Đạo and Lục Đạo. ; (五道六道) Đồng nghĩa: Ngũ thú, Lục thú. Năm đường, sáu đường. Năm đường chỉ cho: Đường địa ngục, đường ngã quỉ, đường súc sinh, đường người và đường trời, nếu thêm đường a tu la nữa thì là 6 đường, gọi là Lục đạo. [X. luận Đại trí độ Q.30; Thành duy thức luận xu yếu Q.hạ, phần đầu].

ngũ đạo minh quan

Một vị quan trong Thập Ngục Vương—An officer in the retinue of the ten kings of Hades.

ngũ đạo tâm

Theo A Tỳ Đạt Ma Luận, có năm loại đạo tâm—According to the Abhidharma, there are five kinds of path consciousness. Đạo Tâm Nhập Lưu—Path consciousness of stream-entry: Tâm Nhập Lưu Đạo Sơ Thiền, đồng phát sanh cùng Tầm, Sát, Phỉ, Lạc và Nhất Điểm: The first jhana path consciousness of stream-entry together with initial application, sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Nhị Thiền, đồng phát sanh cùng Sát, Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: The second jhana path consciousness of stream-entry together with sustained application, zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Tam Thiền, đồng phát sanh cùng Phỉ, Lạc, và Nhất Điểm: The third jhana path consciousness of stream-entry together with zest, happiness, and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Tứ Thiền, đồng phát sanh cùng Lạc và Nhất Điểm: The fourth jhana path consciousness of stream-entry together with happiness and one-pointedness. Tâm Nhập Lưu Đạo Ngũ Thiền, đồng phát sanh cùng Nhất Điểm: The fifth jhana path consciousness of stream-entry together with one-pointedness. Ngũ Nhứt Lai Đạo Tâm—Five kinds of path conscious of once-returning—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Once-returning.” Ngũ Bất Lai Đạo Tâm—Five kinds of path consciousness of non-returning—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Non-returning.” Ngũ Vô Sanh Đạo Tâm—Five kinds of path consciousness of Arahantship—The same as in (A), just replace “Stream-entry” with “Arahantship.”

Ngũ Đạo Tướng Quân

(五道將軍): tên gọi vị thần của Đạo Giáo, trợ thủ quan trọng của Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), chủ tể cõi Địa Ngục. Truyền thuyết ông chưởng quản việc sanh tử của con người, có chức phận tương đương với vị Phán Quan của Diêm Vương (閻王). Trong tác phẩm Hàn Cầm Hổ Thoại Bổn (韓擒虎話本) nhà Đường có câu: “Ngũ Đạo Tướng Quân, thân phi hoàng kim truy giáp, đảnh đới phụng sí, cao thanh xướng dạ (五道將軍、身披黃金錙甲、頂戴鳳翅、高聲唱諾, Ngũ Đạo Tướng Quân, thân mang áo giáp nặng hoàng kim, đầu đội cánh phụng, lớn tiếng xướng dạ).” Lại có thuyết cho rằng Ngũ Đạo Tướng Quân (五盜將軍, chữ đạo [盜, trộm, cắp] ở đây khác với đạo [道, con đường] ở trên) là thần trộm cắp, nên nếu nằm mộng thấy vị thần này thì không tốt.

ngũ đạo tướng quân

Một vị tướng quân trong Thập Ngục Vương chuyên giữ sổ bộ đời—A general in the retinue of the ten kings of Hades, who keeps the book of life.

ngũ đảnh

Pancasikha (skt)—The five locks on a boy's head—See Ngũ Phật Đảnh Tôn.

ngũ đảnh luân vương

See Ngũ Phật Đảnh Tôn.

ngũ đảnh sơn

See Ngũ Đài Sơn.

ngũ đẩu mễ đạo

(五斗米道) Cũng gọi Thiên sư đạo. Đạo 5 đấu gạo, 1 phái trong Đạo giáo do Trương lăng sáng lập vào đời Đông Hán, người theo học phải đóng 5 đấu gạo, vì thế nên người đương thời gọi là Ngũ đẩu mễ đạo.Về sau, Trương giác cầm đầu bọn giặc Hoàng cân (giặc khăn vàng) cũng thực hành đạo này để chữa bệnh cho dân chúng, khi khỏi bệnh, Trương giác cũng bắt người ta tạ 5 đấu gạo. Người đời sau gọi Trương giác là Trương thiên sư, cho nên Ngũ đẩu mễ đạo còn được gọi là Thiên sư đạo.

Ngũ Đẩu Tinh Quân

(五斗星君): là 5 vị thần thánh được Đạo Giáo kính thờ, chuyên quản lý việc sống chết, phước họa, giàu sang của con người, được phân làm Bắc Đẩu Tinh Quân (北斗星君), Nam Đẩu Tinh Quân (南斗星君), Đông Đẩu Tinh Quân (東斗星君), Tây Đẩu Tinh Quân (西斗星君) và Trung Đẩu Tinh Quân (中斗星君). Mỗi vị tinh quân quản hạt mỗi cung khác nhau. (1) Bắc Đẩu Tinh Quân có 7 cung, được gọi là Thất Tinh (七星), hay Thất Nguyên (七元), chủ yếu chưởng quản về việc giải ách, kéo dài mạng sống. Bảy cung gồm: Thiên Quỹ Tinh (天櫃星), Dương Minh Tham Lang Tinh Quân (陽明貪狼星君); Thiên Tuyền Tinh (天璇星), Âm Tinh Cự Môn Tinh Quân (陰精巨門星君); Thiên Ki Tinh (天璣星), Chơn Nhân Lộc Tồn Tinh Quân (眞人祿存星君); Thiên Quyền Tinh (天權星), Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân (玄明文曲星君); Thiên Hành Tinh (天衡星), Đơn Nguyên Liêm Trinh Tinh Quân (丹元廉貞星君); Khai Dương Tinh (開陽星), Bắc Cực Võ Khúc Tinh Quân (北極武曲星君); Diêu Quang Tinh (搖光星), Thiên Xung Phá Quân Tinh Quân (天沖破軍星君). Trên thực tế, chùm sao Bắc Đẩu có 9 ngôi sao, nên còn thêm Động Minh Tinh (洞明星), Ngoại Phụ Tinh Quân (外輔星君); và Ẩn Nguyên Tinh (隱元星), Nội Bậc Tinh Quân (內弼星君). (2) Nam Đẩu Tinh Quân thì chưởng quản về kéo dài tuổi thọ, độ người, chia thành 6 cung, gồm: Thiên Phủ Tinh (天府星), Ty Mạng Tinh Quân (司命星君); Thiên Tướng Tinh (天相星), Ty Lộc Tinh Quân (司祿星君); Thiên Lương Tinh (天梁星), Diên Thọ Tinh Quân (延壽星君); Thiên Đồng Tinh (天同星), Ích Toán Tinh Quân (益算星君); Thiên Quỹ Tinh (天櫃星), Độ Ách Tinh Quân (度厄星君); và Thiên Cơ Tinh (天機星), Thượng Sanh Tinh Quân (上生星君). (3) Đông Đẩu Tinh Quân có 5 cung, chưởng quản việc tính toán mạng sống, gồm: Thương Linh Diên Sanh Tinh Quân (蒼靈延生星君), Lăng Diên Hộ Mạng Tinh Quân (陵延護命星君), Khai Thiên Tập Phước Tinh Quân (開天集福星君), Đại Minh Hòa Dương Tinh Quân (大明和陽星君), và Vĩ Cực Tổng Giám Tinh Quân (尾極總監星君). (4) Tây Đẩu Tinh Quân có 4 cung chưởng quản về mạng sống, hộ thân, gồm: Bạch Tiêu Tinh Quân (白標星君), Cao Nguyên Tinh Quân (高元星君), Hoàng Linh Tinh Quân (皇靈星君), Cự Uy Tinh Quân (巨威星君). (5) Trung Đẩu Tinh Quân, còn gọi là Đại Khôi (大魁), chủ yếu quản lý việc bảo vệ mạng sống, gồm 3 cung: Hách Linh Độ Thế Tinh Quân (赫靈度世星君), Cán Hóa Thượng Thánh Tinh Quân (幹化上聖星君), Xung Hòa Chí Đức Tinh Quân (沖和至德星君). Trong 5 chùm sao nói trên, hai chùm sao Bắc Đẩu và Nam Đẩu được người đời kính phụng nhiều nhất. Người sanh năm Giáp và Ất thì thuộc về Đông Đẩu; năm Bính, Đinh thuộc về Nam Đẩu; năm Mậu, Kỷ thuộc về Trung Đẩu; năm Canh, Tân thuộc về Tây Đẩu; năm Nhâm, Quý thuộc về Bắc Đẩu. Như trong Thái Thượng Lão Quân Thuyết Ngũ Đẩu Kim Chương Thọ Sanh Kinh (太上老君說五斗金章受生經) của Đạo Giáo có giải thích rõ rằng: “Giáp Ất sanh nhân Đông Đẩu chú sanh, Bính Đinh sanh nhân Nam Đẩu chú sanh, Mậu Kỷ sanh nhân Trung Đẩu chú sanh, Canh Tân sanh nhân Tây Đẩu chú sanh, Nhâm Quý sanh nhân Bắc Đẩu chú sanh; chú sanh chi thời các bẩm Ngũ Hành chân khí, chân khí hỗn hợp, kết tú thành thai; thọ thai thập nguyệt, châu hồi thập phương, thập phương sanh khí, …, thọ sanh chi thời, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên thánh chúng, chú sanh chú lộc, chú phú chú bần, chú trường chú đoản, chú cát chú hung, giai do chúng sanh, tự tác tự thọ (甲乙生人東斗注生、丙丁生人南斗注生、戊己生人中斗注生、庚辛生人西斗注生、壬癸生人北斗注生、注生之時、各稟五行眞氣、眞氣混合、結秀成胎、受胎十月、周回十方、十方生氣…受生之時、五斗星君、九天聖眾、注生注祿、注富注貧、注長注短、注吉注凶、皆由眾生、自作自受, người sanh năm Giáp Ất thì Đông Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Bính Đinh thì Nam Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Mậu Kỷ thì Trung Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Canh Tân thì Tây Đẩu ban cho mạng sống, người sanh năm Nhâm Quý thì Bắc Đẩu ban cho mạng sống; khi ban cho mạng sống, mỗi người đều nhờ chân khí Ngũ Hành, chân khí hỗn hợp, kết tụ thành thai; thọ thai mười tháng, vòng quanh mười phương, mười phương sinh khí, …, khi thọ thai ấy, Ngũ Đẩu Tinh Quân, Cửu Thiên thánh chúng, ban cho sự sống, phước lộc; ban cho giàu có, nghèo cùng; ban cho ngắn dài; ban cho tốt xấu, đều do chúng sanh, tự làm tự chịu).”

ngũ đế

Năm chân lý—The five parijnanas, ordinarily those arising from the five senses Nhân đế: Tập đế—The cause. Quả đế: Khổ đế—The effect (suffering). Trí đế: Năng tri đế hay Đạo đế—Diagnosis. Cảnh đế: Sở tri đế hay Diệt đế—The end or cure (the extinction of suffering). Thắng đế: Chân Như—The supreme axiom. ; (五帝) Năm vị vua trời trong thần thoại Trung quốc thời cổ, được đạo Lão thờ làm thần. Cứ theo Đường triều giả công ngạn sớ thì Ngũ đế là: Đông phương Thanh đế, Nam phương Xích đế, Trung ương Hoàng đế, Tây phương Bạch đế và Bắc phương Hắc đế. [X. kinh Hiếu tử trung; kinh Thái thượng phi hành cửu thần ngọc]. ; (五諦) Chỉ cho 5 thứ chân lí. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 46 thì Ngũ đế là: Nhân, quả, trí, cảnh và thắng. Còn theo luận Hiển dương thánh giáo quyển 8 thì Ngũ đế là: Nhân, quả, năng tri, sở tri và chí. Bốn đế trước theo thứ tự tương đương với tập, khổ, đạo, diệt, còn thắng đế (hoặc chí đế) cuối cùng là chân như, tức lí thể cùng tột của Phật giáo. [X. Du già luận kí Q.11, phần cuối]. (xt. Tứ Đế).

ngũ đỉnh

(五頂) I. Ngũ Đính. Phạm: Paĩcazikhin. Hán âm: Ban già thi khí. Chỉ cho 5 búi tóc trên chỏm đầu, như hình đồng tử Ngũ tự Văn thù tôn. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần cuối]. II. Ngũ Đính. Gọi đủ: Ngũ Phật đính. (xt. Ngũ Phật Đính).

ngũ đồng duyên ý thức

Ý thức cùng với năm thức khác duyên với năm cảnh—The mental conception combines with the perceptions of the five senses. ; (五同緣意識) Thức thứ 6 cùng với 5 thức trước cùng duyên theo cảnh.Tức là Ý thức khởi tác dụng cùng với 5 thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân cùng nhận biết 5 cảnh sắc, thanh, hương, vị và xúc.

ngũ độ

Năm phương tiện đưa chúng sanh qua biển sanh tử—The five means of transportation over the sea of mortality to salvation (five paramitas): (A) Bố thí: Almsgiving. Trì giới: Commandment-keeping. Nhẫn nhục: Patience under provocation. Tinh tấn: Zeal. Thiền định: Meditation. ** See Lục Độ Ba La Mật. (B) Năm vương quốc Ấn Độ hay năm tôn giáo lớn ở Ấn Độ—The five kingdoms of ancient India or five great religions of India. ; (五土) I. Ngũ Độ. Chỉ cho 5 loại cõi nước là chỗ y chỉ của thân Phật. Tức là: 1. Pháp tính độ: Cõi nước y chỉ của Pháp thân thanh tịnh Như lai. 2. Thực báo độ: Cõi nước y chỉ của Báo thân viên mãn Như lai. 3. Sắc tướng độ: Cõi nước y chỉ của thân Vi trần tướng hải Như lai. 4. Tha thụ dụng độ: Cõi nước y chỉ của thân Tha thụ dụng Như lai. 5. Biến hóa độ: Cõi nước y chỉ của thân Biến hóa Như lai. [X. Đại minh tam tạng pháp số Q.20]. II. Ngũ Độ. Chỉ cho 5 cõi: Bất tịnh, Bất tịnh tịnh, Tịnh bất tịnh, Tạp và Tịnh. Đây là thuyết của tông Tam luận. Năm cõi này là do nghiệp của chúng sinh chiêu cảm mà có, cho nên gọi là Chúng sinh độ. Lại vì 5 cõi này là đất nước do đức Phật giáo hóa, nên cũng gọi là Phật độ. [X. Đại thừa huyền luận Q.5]. (xt. Phật Độ).

ngũ độc

The five kysaya periods of turbidity, impurity or chaos: Kiếp độc: The kalpa in decay, when it suffers deterioration and gives rise to the ensuing form—The defilement of the world-age, when war and natural disasters are rife. Kiến độc: Deterioration of view, egoism—The defilement of views, when incorrect, perverse thoughts and ideas are predominant. Phiền não độc: The passions and delusions of desire, anger, stupidity, pride, and doubt prevail—The defilement of passions, when all kinds of transgressions are exalted. Chúng sanh độc: In consequence human miseries increase and happiness decreaces—The defilement of the human being condition, when people are usually dissatisfied and unhappy. Mệnh độc: Human lifetime gradually diminishes to ten years—The defilement of the life-span, when the human life-span as a whole decreases.

Ngũ độn sử

五鈍使; C: wǔdùnshǐ; J: godonshi;|Năm loại phiền não ảnh hưởng đến người tu tập sơ cơ, đó là: Dục (欲), sân (瞋), si (癡), mạn (慢), nghi (疑). Đây là năm loại đầu trong Thập sử (十使), năm loại sau là Ngũ lợi sử (五利使).

ngũ độn sử

xem ngũ hạ kết. Xem thêm kết sử. ; Panca-klesa—Năm thứ mê mờ ám độn bắt nguồn từ thân kiến mà sanh ra—Five dull, unintelligent, or stupid vices or temptations—Five envoys of stupitity caused by the illusion of the body or self: Tham: Desire—Hankering after—Greed, which causes clinging to earthly life and things, therefore reincarnation. Sân: Anger or resentment. Si: Stupidity or foolishness. Mạn: Arrogance. Nghi: Doubt. ; (五鈍使) Đối lại: Ngũ lợi sử. Chỉ cho 5 phiền não căn bản: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm thứ phiền não này thường sai khiến tâm thần hành giả, làm cho trôi nổi, lăn lộn trong 3 cõi nên gọi là Sử. [X. Đại thừa nghĩa chương Q.5; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.trung, phần đầu].

ngũ đức

(五德) I. Ngũ Đức. Khi nói kinh Vô lượng thọ, đức Thế tôn vào định tịch tịnh, hiện tướng 5 đức tốt lành, đó là: 1. Trụ nơi pháp kì đặc. 2. Trụ nơi Phật thường trụ. 3. Trụ nơi hạnh đạo sư. 4. Trụ nơi đạo tối thắng. 5. Hiện 5 thứ đức của Như lai. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng]. II. Ngũ Đức. Năm đức mà người được giao trách nhiệm cử tội trong ngày lễ Tự tứ kết thúc hạ an cư cần phải có. Năm đức có 2 loại: 1. Năm đức tự tứ: Không yêu thương, không ghét bỏ, không sợ hãi, không si mê và biết tự tứ hay không tự tứ. 2. Năm đức cử tội: Biết thời, chân thực, lợi ích, nhu hòa và có lòng thương. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng]. III. Ngũ Đức. Năm đức của vị Giới sư. Đó là: 1. Trì giới: Giữ gìn giới pháp. 2. Thập lạp: Mười tuổi hạ. 3. Giải luật tạng: Thông hiểu tạng luật. 4. Thông thiền tư: Thông suốt thiền định.5. Tuệ tạng cùng huyền: Trí tuệ cùng suốt lí huyền vi. [X. Thiên thai giới sớ Q.thượng]. IV. Ngũ Đức. Năm đức chăm sóc người bệnh: 1. Biết thức ăn nào người bệnh ăn được và không ăn được. 2. Không ghê tởm phẩn, giải và đờm dãi của người bệnh. 3. Có lòng thương xót không vì cơm áo. 4. Biết cách cho bệnh nhân uống thuốc thang. 5. Có khả năng nói pháp cho bệnh nhân nghe. [X. luật Tứ phần Q.41].

ngũ đức thuỵ hiện

(五德瑞現) Năm đức tướng tốt lành Phật thị hiện khi Ngài tuyên thuyết kinh Vô lượng thọ. Tức là: 1. Trụ kì đặc pháp: Trụ ở pháp cao siêu đặc biệt mà ở thế gian không có. 2. Trụ Phật sở trụ: Trụ nơi chư Phật cùng trụ, tức là nơi quả Niết bàn thường trụ.3. Trụ đạo sư hạnh: Phật trụ nơi hạnh 4 nhiếp pháp để giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh vào Phật pháp. 4. Trụ tối thắng đạo: Phật trụ nơi Vô thượng bồ đề, bên trong chứng được đạo chân thực, biết rõ đức của chư Phật. 5. Hành Như lai đức: Thực hành các đức của Như lai: Mười lực, 4 vô úy, 18 pháp riêng, 5 mắt, 6 thần thông, 4 vô ngại... để độ chúng sinh. Trong 5 đức nói trên, Trụ kì đặc pháp là tổng(chung), 4 đức còn lại là biệt (riêng). Trụ Phật sở trụ và Trụ tối thắng đạo là thuộc về đức tự lợi, còn Trụ đạo sư hạnh và Hành Như lai đức thì thuộc về đức lợi tha. [X. kinh Vô lượng thọ tự phần; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn)].

ngũ đức tự tứ

Năm đức tự tứ—Cử hành nghi thức tự tứ cử tội trong ngày kết thúc an cư kiết hạ—The five virtues require in a confessor at the annual confessional ending the rainy retreat: Bất Ái: Không luyến ái—Freedom from predilections. Bất Nhuế: Không sân hận—Freedom from anger. Bất Bố: Không sợ hãi—Freedom from fear. Bất Si: Không si mê—Freedom from ignorance or not easily deceived. Trị tự tứ bất dữ tự tứ: Biết tự tứ và không biết tự tứ—Discernment of shirkers of confession.

Ngũ ấm

五陰; C: wǔyīn; J: goon; S: pañcaskandha; P: pañcakhandha;|Năm nhóm, năm tập hợp mà Đức Phật dạy, gọi chúng như là những nhân tố hợp thành những gì được chúng ta gọi là »chúng sinh«. Ngũ ấm là tiếng Hán cựu dịch từ chữ pañca-skandḥāh tiếng Phạn. Sau nầy dịch là Ngũ uẩn (五蘊).

ngũ ấm

xem năm ấm.

ngũ ấm ma

The five maras associated with the five skandhas—See Ngũ Uẩn.

ngũ ấm sí thạnh khổ

(五陰熾盛苦) Phạm: Saôkwepeịa paĩcopàdànaskandha-dukha. Pàli: Paĩc upàdàna-kkhandhà pi dukkhà. Cũng gọi Ngũ thịnh ấm khổ, Ngũ thủ uẩn khổ. Các nỗi khổ não bốc cháy mạnh mẽ do có đủ 5 ấm, cũng tức là trong 5 ấm đầy dẫy khổ não. Một trong 8 khổ. Chẳng hạn như sinh, già, bệnh, chết, lo âu sầu não, oán ghét gặp gỡ, thương yêu phải xa lìa, những điều mong cầu không đạt được v.v... đều là khổ cả. [X. kinh Trung a hàm Q.7; kinh Tăng nhất a hàm Q.17; luận Du già sư địa Q.66; luận Đại trí độ Q.23; luận Hiển dương thánh giáo Q.15; Đại thừa nghĩa chương Q.3, phần đầu]. (xt. Bát Khổ).

Ngũ ấm thạnh khổ

五陰盛苦; C: wǔyīnshèngkǔ; J: goonjōku;|Khổ do năm uẩn. Cảm giác bất an từ sự kiện là sự hiện hữu của con người không nằm bên ngoài hợp thể ngũ uẩn. Đây là một trong »Tứ khổ Bát khổ« (四苦八苦) do Phật Thích-ca Mâu-ni dạy trong Tứ đế (四諦).

ngũ ấm thế gian

(五陰世間) Cũng gọi Ngũ uẩn thế gian, Ngũ chúng thế gian. Tức là 5 ấm: Sắc, thụ, tưởng, hành, thức, có 10 cõi hữu lậu, vô lậu khác nhau. Là 1 trong 3 thế gian. Cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng, thì 10 cõi tuy gọi chung là Ấm nhập giới, nhưng thực ra trong đó mỗi cõi đều khác nhau, như 3 đường ác (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh) là Ác ấm giới nhập hữu lậu, còn 3 đường thiện (trời, người, a tu la) là Thiện ấm giới nhập hữu lậu; Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) là Ấm giới nhập vô lậu, Bồ tát là Ấm giới nhập cũng hữu lậu cũng vô lậu, Phật là Ấm giới nhập chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu. Vì ấm giới của 10 cõi mỗi cõi tự khác nhau nên gọi là Ngũ ấm thế gian. Đây là lí thuyết do Đại sư Thiên thai Trí khải căn cứ vào luận Đại trí độ mà lập ra. [X. luận Đại trí độ Q.47; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.18; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3].

ngũ ấn

See Ngũ Độ (B).

Ngũ ẩn

五隱; C: wǔyǐn; J: goon;|Ngũ ấm (五陰), Ngũ uẩn.

ngũ ế

(五翳) Chỉ cho 5 thứ có thể che khuất mặt trời, mặt trăng như: Khói, mây, bụi, sương mù và bàn tay của thần A tu la. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, phần đầu].

ngơ ngẩn

Foolish—Feather-brained.

ngư lam quan âm

(魚籃觀音) Bồ tát Quan âm được biểu trưng bằng hình tượng tay cầm giỏ cá, hoặc ngồi trên lưng con cá lớn, 1 trong 33 hóa thân của Ngài. Đây là tín ngưỡng dân gian bắt đầu từ đời Đường, Trung quốc. Hiện nay thịnh hành tại Nhật bản. Có thuyết cho rằng Ngư lam Quan âm tức là Mã lang phụ Quan âm (Quan âm vợ chàng họ Mã); hoặc cho rằng tượng Ngư lam Quan âm là do người đời Đường lầm nhận tượng nàng Linh chiếu (con gái của cư sĩ Bàng uẩn) cầm giỏ rồi lưu truyền mà thành. [X. Phật tổ thống kỉ Q.41; Phật tổ lịch đại thông tải Q.20; Tống học sĩ toàn tập bổ di Q.3].

ngư mẫu niệm tử

(魚母念子) Cá mẹ nhớ tưởng bảo vệ cá con, ví dụ việc chư Phật gia hộ cho hành giả, khiến họ thành đạo. Luận Đại trí độ quyển 37 (Đại 25, 333thượng) nói: Vì Phật nhớ nghĩ nên không bị đọa lạc, ví như cá con nhờ mẹ nhớ tưởng, che chở mà được sống, nếu không thì chết. Nghĩa là nhờ đức Phật từ bi hộ niệm mà căn lành của Bồ tát không bị hư nát, cũng như cá mẹ luôn thương yêu bảo vệ cá con nên cá con không chết mà được trưởng thành. Tịnh độ luận chú của ngài Đàm loan dùng thí dụ này để hiển bày sự trụ trì của đức Phật A di đà, còn A di đà kinh nghĩa sớ của ngài Nguyên chiếu thì dùng thí dụ này để nói rõ sự hộ niệm của chư Phật. [X. luận Đại trí độ Q.79].

ngư phúc nhi

(魚腹兒) Trẻ con trong bụng cá. Câu chuyện của ngài Bạc câu la lúc còn nhỏ. Cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 3, ngài Bạc câu la sinh trong gia đình Bà la môn, mẹ mất sớm, cha lấy vợ kế. Mẹ kế độc ác, một hôm tức giận, đem ném ngài xuống sông, bị con cá lớn nuốt vào bụng. Nhưng nhờ có phúc duyên hay 1 phép lạ nào mà ngài vẫn không chết, vì ngay lúc đó có người chài lưới bắt được con cá ấy, đưa đến chợ bán. Cha ngài trông thấy mua cá đem về, lấy dao mổ bụng. Lúc đó, ngài Bạc câu la ở trong bụng cá lên tiếng nói rằng (Đại 50, 508 trung): Mong cha an lành, đừng làm con bị thương! Ông bố liền mổ bụng cá ôm con ra. Lớn lên, Bạc câu la xin Phật xuất gia, chứng được quả A la hán.

ngư sơn

(漁山) Cũng gọi Ngô sơn. Núi ở phía tây huyện Đông a, tỉnh Sơn đông, Trung quốc. Tương truyền, Trần tư vương nước Ngụy là Tào thực, từng du ngoạn Ngư sơn, nghe tiếng tụng kinh trong hang núi, âm thanh trầm bổng vang xa, nhà thơ liền phỏng theo mà chế ra Phạm bái (đọc canh cúng dường, tán thán Phật đức), người đời gọi là Ngư phạm, Ngư bái.

ngư thí ngạ quỷ

(魚施餓鬼) Bố thí thức ăn cho cá và quỉ đói. Dân chài lưới sát sinh hàng ngày, vì sợ quả báo nên muốn làm phúc để cầu mong tránh được tai nạn đắm thuyền, hoặc bị loài cá độc giết hại trở thành ma đói; bởi vậy, họ thường ném thức ăn xuống biển để bố thí cho chúng. Ngoài ra, từ ngữ Xuyên thí ngã quỉ là chỉ cho nghi thức bố thí thức ăn cho quỉ đói để cầu siêu cho người chết đuối, hoặc chỉ cho nghi thức thí thực ở ven sông.

ngư tử

(魚子) I. Ngư Tử. Trứng cá. Trứng cá tuy nhiều nhưng thành cá thì không được bao nhiêu; ví dụ nhân tuy nhiều mà kết quả thì ít. Luận Đại trí độ quyển 4 (Đại 25, 88 thượng) nói: Bồ tát phát tâm rộng lớn, trứng cá và hoa cây xoài, ba việc ấy nhân tuy nhiều, nhưng kết quả thì rất ít. Nghĩa là người phát tâm Bồ tát thì nhiều mà thành Phật thì rất ít. II. Ngư Tử. Cá con, ví dụ chúng sinh. Vì Phật hộ niệm chúng sinh giống như cá mẹ yêu thương cá con, cho nên ví chúng sinh là Ngư tử. (xt. Ngư Mẫu Niệm Tử).

ngư vương bối mẫu

xem bối mẫu. ; (魚王貝母) Chỉ cho cá chúa và mẹ sò. Cả 2 lúc đi thì bầy cá bầy sò đều theo sau. Trong kinh điển, ý này thường được dùng để ví dụ cho chúng sinh khi chưa đến được địa vị Thánh nhân, nếu 1 phiền não lớn sinh khởi thì hàng loạt phiền não khác nổi lên. Ma ha chỉ quán quyển 5, hạ (Đại 46, 69 thượng) nói: Vua cá mẹ sò, các sử (phiền não) đầy đủ.

Ngưng

凝; C: níng; J: gyō;|Có hai nghĩa: 1. Đông lại, đóng băng, làm cho cứng; 2. Chăm chú vào, tập trung vào.

Ngưng Nhiên

(凝然, Gyōnen, 1240-1321): vị học Tăng của Hoa Nghiêm Tông sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Ngưng Nhiên (凝然), hiệu Thị Quán Phòng (示觀房), thụy hiệu là Thị Quán Quốc Sư (示觀國師), xuất thân vùng Cao Kiều (高橋, Takahashi), Y Do (伊予, Iyo, thuộc Ehime-ken [愛媛縣]), họ Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Năm 1225, ông thọ giới ở Giới Đàn Viện tại Diện Lịch Tự (延曆寺, Enryaku-ji), rồi đến năm 1257 thì thọ Cụ Túc Giới ở Giới Đàn Viện của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji). Năm 1259, ông theo hầu Viên Chiếu (圓照), từ đó về sau thì ông theo học giáo lý của cả tám Tông phái với Thánh Thủ (聖守), Tông Tánh (宗性), Trường Tây (長西), v.v. Năm 1277, ông kế thừa Viên Chiếu làm Viện Chủ của Giới Đàn Viện. Năm 1307, ông trao truyền Bồ Tát giới cho Hậu Vũ Đa Thượng Hoàng (後宇多上皇), sau đó còn thuyết giảng Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương (華嚴五敎章) trong cung nội nữa. Đến năm 1316, ông chuyển đến ở tại Đường Chiêu Đề Tự (唐招提寺, Tōshōdai-ji). Ông rất tinh thông về giáo lý của các Tông phái Phật Giáo cũng như Nho Giáo, và trước tác của ông lên đến 126 bộ, 1204 quyển. Hơn nữa, ông còn viết về Phật Giáo Sử như bộ Tam Quốc Phật Pháp Truyền Thông Duyên Khởi (三國佛法傳通緣起), v.v. Ông đã dưỡng thành một số đệ tử nổi tiếng như Thiền Nhĩ (禪爾), Thiền Minh (禪明), v.v. Trước tác của ông để lại có rất nhiều như Bát Tông Cương Yếu (八宗綱要) 1 quyển, Tam Quốc Phật Pháp Truyền Thông Duyên Khởi (三國佛法傳通緣起) 3 quyển, Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Thông Lộ Ký (華嚴五敎章通路記) 52 quyển, Đồng Chiếu Thượng Nhân Hành Trạng Ký (同照上人行狀記) 3 quyển, v.v.

Ngưng nhiên

(凝然): dáng vẻ đứng yên không cử động, tâm tập trung và một sự vật nào đó. Thiền Sư Nam Đài Thủ An (南臺守安) có bài kệ rằng: “Nam Đài tĩnh tọa nhất lô hương, chung nhật ngưng nhiên vạn lự vong, bất thị tức tâm trừ vọng tưởng, đô duyên vô sự khả thương lường (南台靜坐一爐香、終日凝然萬慮忘、不是息心除妄想、都緣無事可商量, Nam Đài tĩnh tọa một lò hương, ngày trọn an nhiên vạn lo buông, chẳng phải nơi tâm trừ vọng tưởng, do duyên vô sự mới tỏ tường).” Trong Tối Thượng Thừa Luận (最上乘論) do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (五祖弘忍) thuật có đoạn: “Chỉ vị phàn duyên vọng niệm phiền não chư kiến, hắc vân sở phú, đản năng ngưng nhiên thủ tâm, vọng niệm bất sanh, Niết Bàn pháp tự nhiên hiển hiện; cố tri tự tâm, bổn lai thanh tịnh (只爲攀緣妄念煩惱諸見、黑雲所覆、但能凝然守心、妄念不生、涅槃法自然顯現、故知自心、本來清淨, chỉ vì vin theo duyên, vọng niệm, phiền não, các tri kiến, bị che lấp bởi đám mây đen, nhưng nếu có thể tập trung giữ tâm, thì vọng niệm chẳng sanh, pháp Niết Bàn tự nhiên hiện rõ; cho nên phải biết rằng tự tâm xưa nay vốn thanh tịnh).” Da Luật Sở Tài (耶律楚材, 1190-1244), hiệu là Trạm Nhiên Cư Sĩ (湛然居士), hậu duệ của Đông Đan Vương Đột Dục (東丹王突欲) nhà Liêu, có làm bài thơ rằng: “Tùng chinh vạn lí đồ phong sa, nam bắc đông tây tổng thị gia, lạc đắc hung trung không sách sách, ngưng nhiên tâm thị bạch Liên Hoa (從征萬里走風沙、南北東西總是家、落得胸中空索索、凝然心是白蓮花, chiến chinh vạn dặm bụi gió xa, nam bắc đông tây thảy là nhà, tỉnh được trong lòng không vắng lặng, tập trung tâm ấy trắng sen hoa).” Ngoài ra, trong Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進, Taishō No. 2024), phần Chư Tổ Pháp Ngữ Tiết Yếu Đệ Nhất (諸祖法語節要第一) có đoạn: “Bích Phong Kim Thiền Sư, tham Tấn Vân Hải, thị dĩ vạn pháp công án, nghi chi tam niên, ngẫu trích sơ thứ, hốt ngưng nhiên cửu chi (璧峰金禪師、參晉雲海、示以萬法公案、疑之三年、偶摘蔬次、忽凝然久之, Bích Phong Kim Thiền Sư đến tham học với Tấn Vân Hải, được dạy cho lấy vạn pháp làm công án; Bích Phong nghi ngờ ba năm, tình cờ hái rau, bỗng nhiên trơ người không cử động một hồi lâu).” ; 凝然; C: níngrán; J: gyōnen;|Có các nghĩa sau: |1. Vững chắc, kiên định, yên tĩnh, không thay đổi, bất động; |2. Ngưng Nhiên (1240-1321), Cao tăng tông Hoa Nghiêm Nhật Bản, là tác giả đã biên soạn nhiều bản tóm tắt tiểu sử quan trọng của các vị Tổ sư các tông phái Phật giáo Trung Hoa. Họ của sư là Fujiwara và sư xuất thân từ quận Y dư (伊予; j: iyo) thuộc vùng Shikoku. Năm 18 tuổi, sư xuất gia với Đại sư Viên Chiếu (圓照; j: enshō) ở Giới Đàn viện (戒檀院; j: kaidan-in) (một chi phái của Đông Đại tự 東大寺; j: tōdaiji). Sư thụ giới năm 20 tuổi. Sư tham học giới luật với các vị Huyền Chứng (證玄; j: shōgen) và Tịnh Nhân (淨因; j: jōin), thụ pháp Mật giáo với Thánh Thủ (聖守; j: shōshu). Mặc dù sư xuất thân từ tông Hoa Nghiêm, nhưng sư cũng nghiên cứu giáo lí Duy thức, Tam luận, Tịnh độ, Thiền, Nho giáo, Lão giáo và các triết gia (Trung Hoa) thời Chiến Quốc. Năm 1276, sư giảng kinh Hoa Nghiêm tại Đại Phật đường, Đông Đại tự. Sau khi Viên Chiếu (圓照; j: enshō) tịch, sư kế vị thầy mình trú trì Giới Đàn viện (戒檀院), tiếp tục giảng kinh Hoa Nghiêm và giảng dạy giới luật (戒律). Năm 1313 sư đến Tōshōdaiji (cũng thuộc Nại Lương, Nara), ở đó 5 năm trước khi trở về lại Giới Đàn viện. Ngoài việc thuyết giảng, sư còn biên soạn các bài nghiên cứu về giáo lí các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng, Câu-xá, Thành thật, Luật và Tịnh độ, cũng như nghiên cứu lịch sử, Thần đạo và âm nhạc. Sư biên soạn tổng cộng hơn 1200 quyển. Sư viên tịch tại Giới đàn viện năm 82 tuổi. Những tác phẩm nổi tiếng của sư gồm Bát tông cương yếu (八宗綱要), Tam Quốc Phật Pháp truyền thông lục khởi (三國佛法傳通縁起) và Tịnh độ nguyên lưu chương (淨土源流章).

ngưng nhiên

(凝然) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Hoa nghiêm, người Y thế (huyện Ái viên) họ Đằng nguyên. Năm 16 tuổi, sư thụ giới Bồ tát ở núi Tỉ duệ. Sau sư nhận chức Trưởng lão ở viện Giới đàn chùa Đông đại và thường trụ tại chùa này. Sư nghiên cứu rộng rãi giáo nghĩa của các tông: Luật, Thai Mật, Hoa nghiêm, Duy thức, Tam luận, Tịnh độ và Thiền.Thiên hoàng Hậu vũ đa được sư truyền trao giới Bồ tát và nhà vua ban hiệu cho sư là Ngưng Nhiên Quốc Sư. Niên hiệu Nguyên hanh năm đầu (1321) sư tịch, hưởng thọ 82 tuổi.Sư có các tác phẩm: Bát tông cương yếu, Tam quốc Phật pháp truyền thông duyên khởi, Nội điển trần lộ chương, Tịnh độnguyên lưu chương, Thanh minh nguyên lưu chương. [X. Viên chiếu thượng nhân hành trạng Q.trung; Bản triều cao tăng truyện Q.16].

ngưng nhiên thường

(凝然常) Cũng gọi Bản tính thường, Tự tính thường. Lặng yên thường trụ. Tức chỉ cho thể vắng bặt thường trụ của Tự tính thân, cũng là chân như pháp tính của tự tính thường trụ. Tông Pháp tướng lấy Chân như pháp thân làm ngưng nhiên thường trụ, không bị huân tập và biến đổi. Còn tông Hoa nghiêm thì cho rằng chân như là ngưng nhiên, khi tùy duyên tạo ra các pháp cũng không mất tự thể. [X. luận Thích Tịnh độ quần nghi Q.2]. (xt. Tam Chủng Thường, Chân Như Ngưng Nhiên).

ngưu bì

(牛皮) Da bò. Da bò tuy quí, nhưng khoác lên mình, trải qua nhiều ngày phơi nắng, thì càng thêm khô cứng và co lại, khó cởi ra được, nguy hại cho thân thể. Trong kinh Phật,việc này được dùng để ví dụ trời, người tu phúc hữu tướng, hữu lậu, sẽ gây tổn hại cho giới, định, tuệ, mất đi tuệ mệnh pháp thân. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].

ngưu cẩu ngoại đạo

(牛狗外道) Ngoại đạo giữ các giới bò, giới chó. Một trong 6 thứ ngoại đạo khổ hạnh ở Ấn độ đời xưa.Ngoại đạo này biết được kiếp trước họ là bò, chó nay được sinh trong cõi người, hoặc thấy bò, chó sau khi chết được sinh lên cõi trời, nên cho rằng làm như bò, chó mới thực là nghiệp nhân sinh thiên. Bởi vậy, họ tu đủ các loại khổ hạnh, như bắt chước bò, chó ăn cỏ, ăn phân để mong được sinh lên cõi trời! [X. kinh Đại bát niết bàn Q.16; luận Đại tì bà sa Q.114; luận Câu xá Q.19; Pháp uyển châu lâm Q.83].

ngưu dương nhãn

(牛羊眼) Mắt bò, mắt dê. Chỉ cho con mắt tầm thường, dùng để ví dụ cái thấy yếu kém, vụng về. [X. luận Đại trí độ Q.82; Ma ha chỉ quán (hội bản) Q.1, phần 5].

ngưu giới

(牛戒) Giới bò, 1 trong các giới cấm thủ kiến. Ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa có kiến chấp sai lầm rằng, người hành động giống như bò là nhân nghiệp sinh lên cõi trời, cho nên giữ giới bò, tức là tu các thứ khổ hạnh như bắt chước bò, theo cách nhắm mắt, cúi đầu, ăn cỏ để mong được sinh thiên. [X. phẩm Long điểu trong kinh Trường a hàm Q.19; luận Đại trí độ Q.22; luận Câu xá Q.16].

ngưu hoàng gia trì

(牛黃加持) Cũng gọi Ngưu vương gia trì. Phương pháp dùng nước hương ngưu hoàng đã được gia trì bằng Đà la ni của Chuẩn đề Quan âm, rồi bôi vào sản môn để cầu cho việc sinh sản được an ổn. Pháp này bắt nguồn từ kinh Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết chuẩn đề đà la ni.

ngưu tân dật thư

(牛津逸書) Anectota Oxniensia. Cũng gọi Ngưu tân Đại học dật thư. Những nguyên điển của Phật giáo bằng tiếng Phạm được Đại học Oxford của nước Anh lần lượt xuất bản từ năm 1881. Bộ sách này do học giả Max Müller (1823-1920), nhà Tỉ giảo tông giáo học, Ngôn ngữ học người Đức, được sự giúp sức của ông Nam điều Văn hùng, học giả Nhật bản, hiệu đính và lần lượt xuất bản các kinh nguyên văn tiếng Phạm như: Kinh Kim cương bát nhã, kinh Vô lượng thọ, kinh A di đà, Bát nhã tâm kinh, Tôn thắng đà la ni v.v... Sau đó, các kinh nói trên lại được dịch ra tiếng Anh và xếp vào bộ Đông Phương Thánh Thư. Việc xuất bản loại nguyên điển cùng với bản dịch này đã có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào nghiên cứu Đông phương học ở thế kỉ XIX.

ngưu tế

(牛祭) Lễ tế thần Ma tra la được cử hành vào ngày 12 tháng 10 hàng năm ở chùa Quảng long tại Kinh đô (Kyoto), Nhật bản.Ngưu tế nguyên là Ma tra la thần phong lưu, vào thời đại Giang hộ được gọi là Ma tra la thần tế lễ. Xét về nguồn gốc, có lẽ tế lễ này đã phát khởi từ Thường hành tam muội đường, vì thần Ma tra la là thần thủ hộ đạo tràng Thường hành tam muội. Thông thường, cử hành lễ tế này để cầu cho nhân dân được bình an, tiêu trừ tai nạn và dịch bệnh... Trong pháp tế, thần Ma tra la cỡi bò mà đi, vì thế nên gọi Ngưu tế.

ngưu vương

(牛王) Phạm: Fwabha. Cũng gọi Siêu quần, Thắng quần. Hình tướng của bò chúa uy dũng hơn hết trong loài bò. Ví dụ đức Phật là bậc tối thắng trong loài người. [X. chương Nhiếp thụ, kinh Thắng man; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Pháp hoa kinh huyền tán Q.5, phần đầu].

ngưu vương bảo ấn

(牛王寶印) Bùa hộ mệnh do các chùa Phật hoặc đền thờ thần ở Nhật bản ấn hành. Tại Nhật bản, vào thời Nại lương, các nơi như: Nhị nguyệt đường của chùa Đông đại ở Nara, núi Cao dã ở Kỉ y, Tam sơn ở Hùng dã, đền Kì viên ở Kyoto v.v... đều có bản gỗ in hộ phù, nhưng kiểu mẫu thì đều khác nhau. Ngưu vương bảo ấn của Nhị nguyệt đường chùa Đông đại có đề hàng chữ Nam mô Tối thượng Phật diện trừ dịch bệnh, Nam mô Tối thượng Phật diện nguyện mãn túc. [X. Tịch chiếu đường cốc hưởng tập Q.1; Chân tục Phật sự biên Q.1].

Ngưu xa

(s: go-ratha, 牛車): xe trâu, tên gọi của một trong 3 xe hay 4 xe. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka,妙法蓮華經) quyển 2, Phẩm Thí Dụ (譬喻品) có nêu ra 3 loại xe: dê, nai, trâu và Đại Bạch Ngưu Xa (大白牛車, xe trâu trắng lớn); xe trâu tỷ dụ cho Bồ Tát Thừa (s: bodhisattva-yāna, 菩薩乘). Như trong Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký Chú (釋迦如來成道記註) quyển hạ do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, Huệ Ngộ Đại Sư (慧悟大師) ở Nguyệt Luân Sơn (月輪山), vùng Tiền Đường (錢唐) chú giải, có đoạn rằng: “Pháp Hoa Kinh Tam Xa dụ dã, Dương Xa dụ Thanh Văn Thừa, Lộc Xa dụ Duyên Giác Thừa, Ngưu Xa dụ Bồ Tát Thừa; Tam Thừa câu dĩ vận tải vi nghĩa; tiền Nhị Thừa thị phương tiện thi thiết, duy Đại Bạch Ngưu Xa thị thật (法華經三車喻也、羊車喻聲聞乘、鹿車喻緣覺乘、牛車喻菩薩乘、三乘俱以運載爲義、前二乘是方便施設、惟大白牛車是實, về thí dụ Ba Xe của Kinh Pháp Hoa, Xe Dê ví cho Thanh Văn Thừa, Xe Nai ví cho Duyên Giác Thừa, Xe Trâu ví cho Bồ Tát Thừa; cả Ba Thừa đều có nghĩa vận tải; Hai Thừa đầu là phương tiện đặt ra, chỉ có Xe Trâu Trắng Lớn là thật).” Hay trong Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Chánh Mạch Sớ (大佛頂首楞嚴經正脈疏) quyển 17 do Giao Quang Đại Sư (交光大師) nhà Minh (1368-1662) thuật, có giải thích về Nhất Thừa rằng: “Nhất Thừa giả, Nhất Phật Thừa dã; tức Pháp Hoa Đại Bạch Ngưu Xa, tịch diệt trường địa, tức bản giác quả thể, vạn vọng bản không, nhất chơn thanh tịnh (一乘者、一佛乘也、卽法華大白牛車、寂滅塲地、卽本覺果體、萬妄本空、一眞清淨, Nhất Thừa là Nhất Phật Thừa; tức là Xe Trâu Trắng Lớn của Kinh Pháp Hoa, là đạo tràng vắng lặng, tức là thể quả của bản giác, mọi hư vọng vốn không, nguồn chơn thanh tịnh).” Hoặc như trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Liệt Cương Sớ (大乘起信論裂網疏, Taishō No. 1850) quyển 1 do Linh Phong Ngẫu Ích Sa Môn Trí Húc (靈峰蕅益沙門智旭, 1599-1655) soạn, có đoạn: “Thỉ tùng danh tự, vận chí quán hành, nãi chí cứu cánh, tự vận công tất, vận tha bất hưu, danh vi Đại Bạch Ngưu Xa, kim ngôn Đại Thừa, chánh chỉ Đại Bạch Ngưu Xa, giản phi môn ngoại Tam Xa cố dã (始從名字、運至觀行、乃至究竟、自運功畢、運他不休、名爲大白牛車、今言大乘、正指大白牛車、揀非門外三車故也, ban đầu từ danh từ, vận chuyển đến quán sát và thực hành, cho đến cứu cánh; công phu tự vận chuyển mình xong, vận chuyển người khác chẳng ngừng nghỉ, đó gọi là Xe Trâu Trắng Lớn; nay nói Đại Thừa [cỗ xe lớn], chính là chỉ cho Xe Trâu Trắng Lớn; chẳng phải là ba cỗ xe ngoài cửa kia).”

ngưu xa

(牛車) Phạm: Go-ratha. Xe bò, 1 trong 3 loại xe, 1 trong 4 loại xe. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa nêu 3 loại xe: Xe dê, xe nai và xe bò trắng lớn. Xe bò ví dụ cho Bồ tát thừa. (xt. Hỏa Trạch Dụ).

Ngưu Ðầu thiền

牛頭禪; C: níutóu-chán; J: gozu-zen;|Một dòng thiền nhỏ tại Trung Quốc, không được xếp vào Ngũ gia thất tông. Khai tổ dòng này là Thiền sư Pháp Dung ở Ngưu Ðầu sơn, một môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín. Nhánh Thiền này được Truyền Giáo Ðại sư (j: dengyō daishi) Tối Trừng (saichō) truyền sang Nhật, cũng là người thành lập Thiên Thai tông (j: tendai-shū) tại đây. Dòng này tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.

Ngưu Đầu

(牛頭): tức là Ngưu Đầu Chiên Đàn (牛頭栴檀), còn gọi là Xích Chiên Đàn (赤栴檀, Chiên Đàn Đỏ). Chiên Đàn là tên của một loại gỗ thơm, vốn phát xuất từ Ngưu Đầu Sơn (牛頭山); nên có tên gọi là Ngưu Đầu Chiên Đàn. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập (翻譯名義集, Taishō Vol. 54, No. 2131) quyển 3 cho biết rằng: “Chánh Pháp Niệm Kinh vân: 'Thử châu hữu sơn, danh viết Cao Sơn; Cao Sơn chi phong, đa hữu Ngưu Đầu Chiên Đàn; nhược chư thiên dữ Tu La chiến thời, vi đao sở thương, dĩ Ngưu Đầu Chiên Đàn, đồ chi tức dũ; dĩ thử sơn phong trạng như ngưu đầu, ư thử phong trung, sanh Chiên Đàn thọ, cố danh Ngưu Đầu.' Đại Luận vân: 'Trừ Ma Lê Sơn, vô xuất Chiên Đàn, Bạch Đàn trị nhiệt bệnh, Xích Đàn khử phong thũng' (正法念經云、此洲有山、名曰高山、高山之峰、多有牛頭旃檀、若諸天與修羅戰時、爲刀所傷、以牛頭旃檀、塗之卽愈、以此山峰狀如牛頭、於此峰中、生旃檀樹、故名牛頭、大論云、除摩梨山、無出旃檀、白檀治熱病、赤檀去風腫, Chánh Pháp Niệm Kinh dạy rằng: 'Châu này có núi, tên là Cao Sơn, trên đỉnh Cao Sơn, có nhiều Ngưu Đầu Chiên Đàn; nếu khi các trời cùng giao chiến với Tu La, bị đao làm thương tích, thì lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn thoa vào tức lành liền; vì hình trạng đỉnh núi này giống như đầu con trâu, trong đỉnh núi lại có cây Chiên Đàn, nên có tên là Ngưu Đầu.' Đại Luận còn dạy rằng: 'Trừ Ma Lê Sơn không có Chiên Đàn, loại Bạch Đàn trị bệnh nóng sốt, loại Xích Đàn thì khử phong thũng').” Đây là loại gỗ đặc biệt có công năng trị bệnh, và bảo vệ thân thể không bị đốt cháy nếu thoa vào mình. Như Bắc Sơn Lục (北山錄, Taishō Vol. 52, No. 2113) quyển 3 giải thích rằng: “Ma La Da Sơn hữu Chiên Đàn danh Ngưu Đầu Hương, nhược dĩ đồ thân, thiết nhập hỏa khanh hỏa bất năng thiêu (摩羅耶山有栴檀名牛頭香、若以塗身、設入火坑火不能燒, núi Ma La Da có loại Chiên Đàn tên Ngưu Đầu Hương, nếu lấy thoa vào mình, giả sử có vào trong hầm lửa, lửa không thể đốt cháy được).” Hay trong Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh (大方廣佛華嚴經, Taishō Vol. 9, No. 278) quyển 50 cũng có cùng thông tin như trên: “Phục hữu hương danh Ngưu Đầu Chiên Đàn, tùng Ly Cấu Sơn vương sanh, nhược dĩ đồ thân, hỏa bất năng thiêu (復有香名牛頭栴檀、從離垢山王生、若以塗身、火不能燒, lại có loại hương tên là Ngưu Đầu Chiên Đàn, từ vua Ly Cấu Sơn sanh ra, nếu lấy thoa vào mình, lửa không thể đốt cháy được).” Hoặc như trong Tuyển Tập Bách Duyên Kinh (撰集百緣經, Taishō Vol. 4, No. 200) quyển 3 có đoạn: “Kỳ nhân thân thể, sanh chư ác sang, thậm hoạn khổ não, thống bất khả ngôn, hoán chư lương y, dĩ chiêm liệu trị, vân tu Ngưu Đầu Chiên Đàn, dụng đồ sang thượng, khả đắc trừ dũ (其人身體、生諸惡瘡、甚患苦惱、痛不可言、喚諸良醫、以瞻療治、云須牛頭栴檀、用塗瘡上、可得除愈, người ấy thân thể, mọc các mụn nhọt dữ, lo âu khổ não, đau không tả xiết, bảo các lương y, xem xét trị liệu; họ bảo rằng nên lấy Ngưu Đầu Chiên Đàn đem thoa trên mụn nhọt ấy, có thể hết đau).” Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 10 có ghi lại rằng: “Quốc Nam tân hải hữu Mạt Lạt Da Sơn, sùng nhai tuấn lãnh, động cốc thâm giản, kỳ trung tắc hữu Bạch Đàn Hương thọ, Chiên Đàn Nễ Ba thọ, thọ loại Bạch Đàn, bất khả dĩ biệt, duy ư thạnh Hạ, đăng cao viễn chiêm, kỳ hữu đại xà oanh chi giả, ư thị tri chi, do kỳ mộc tánh lương lãnh, cố xà bàn dã; ký vọng kiến dĩ, xạ tiễn vi ký, Đông Trập chi hậu, phương nãi thái phạt (國南濱海有秣剌耶山、崇崖峻嶺、洞谷深澗、其中則有白檀香樹、栴檀你婆樹、樹類白檀、不可以別、唯於盛夏、登高遠瞻、其有大蛇縈者、於是知之、猶其木性涼冷、故蛇盤也、旣望見已、射箭爲記、冬蟄之後、方乃採伐, ven bờ biển phía Nam của nước ta có núi Mạt Lạt Da, vách núi dựng đứng, đỉnh núi cao vút, hang động sâu thẳm, trong đó ắt có cây Bạch Đàn Hương, cây Chiên Đàn Nễ Ba, cây thuộc loại Bạch Đàn, không thể phân biệt được; chỉ vào giữa mùa Hạ, lên trên cao nhìn từ xa, cây nào có rắn cuốn chúng quanh, mới biết được rằng, do vì tánh cây ấy mát lạnh, nên rắn cuốn quanh; sau khi nhìn xong, bắn mũi tên để ghi dấu; sau mùa Đông Trập [ngủ đông], mới có thể hái chặt về).”

ngưu đầu a bàng

(牛頭阿傍) Chỉ cho loài quỉ tốt thân người đầu bò. Kinh Ngũ khổ chương cú (Đại 17, 547 trung) nói: Có ngục tốt tên A bàng, đầu bò tay người, 2 chân có móng bò, sức mạnh dời được núi.

ngưu đầu chiên đàn

(牛頭旃檀) Phạm: Gozìrwa-candana.Loại chiên đàn mọc ở Ấn độ, có mùi thơm nhất trong các loại chiên đàn. Thân cây cao khoảng 9 mét, lá xanh quanh năm, gỗ có mùi thơm, màu vàng xám, hoặc màu đồng đỏ, có thể dùng để chạm trổ, hoặc nghiền với rễ thành bột để làm hương đốt, hoặc chế dầu thơm. Thủa xưa, vua Ưu điền ở Ấn độ đã từng sai người lấy gỗ này để khắc tượng Phật, đến nay còn nổi tiếng. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 67 (bản dịch mới) thì chiên đàn ngưu đầu mọc ở vùng Ma la da (Phạm: Malaya) phía tây nam núi Ma la da thuộc miền Nam Ấn độ. Nhưng, theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 69, thì ở châu Uất đơn việt có 10 dãy núi lớn, dãy thứ 5 tên là Cao tụ, có 5 ngọn lớn, ngọn thứ 2 gọi là Ngân phong (ngọn núi bạc), mọc rất nhiều cây chiên đàn. Ngọn núi này hình dáng như đầu bò, nên những cây chiên đàn mọc ở đây được gọi là Ngưu đầu chiên đàn. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.3; Kinh luật dị tướng Q.6]. (xt.Đàn Tượng).

Ngưu Đầu Mã Diện

(牛頭馬面): tên gọi hai vị quỷ tốt trong cõi âm ty, cũng là hai vị tướng quân cai quản chúng âm linh Ngạ Quỷ dưới Địa Ngục, còn gọi là Câu Hồn Sứ Giả (勾魂使者), được xếp vào trong 10 vị quỷ Ly Mị Võng Lượng (魑魅魍魎). Ngưu Đầu (牛頭) xuất xứ từ Phật Giáo, tên là A Bàng (阿傍); có đầu trâu, tay người, hai chân trâu; tay cầm cây cây Cương Xoa (鋼叉); sức mạnh vô song, có thể nâng ngọn núi lớn được. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh (鐵城泥犁經), khi đang còn làm thân người, A Bàng không hiếu thuận với cha mẹ, nên sau khi chết bị biến thành con quỷ có đầu trâu, có trách nhiệm tuần tra tứ phương và bắt tội nhân trốn ngục; nên có tên gọi là Phòng La Nhân (防邏人). Có tư liệu cho rằng ban đầu trong Phật Giáo chỉ có Ngưu Đầu, chứ không có nhân vật Mã Diện (馬面); nhưng sau khi Phật Giáo du nhập vào Trung Quốc, do quan niệm đối xứng của dân gian, dần dần xuất hiện thêm Mã Diện. Cũng có thuyết cho rằng Mã Diện có tên gọi khác là Mã Diện La Sát (馬面羅刹), hay Mã Đầu La Sát (馬頭羅刹), có khuôn mặt con ngựa, cũng xuất phát từ Phật Giáo, là vị thần lớn trong Mật Giáo. Tương truyền Mã Diện La Sát là hóa thân của Bồ Tát Quan Âm và cũng là dịch nhân cõi Âm Phủ. Hai vị quỷ tốt này thường đi chung với nhau, bắt tội nhân trốn ngục và mang trở về địa ngục.

ngưu đầu mã đầu

(牛頭馬頭) Chỉ cho loài quỉ thân người đầu bò và thân người đầu ngựa, là ngục tốt ở địa ngục. Nhưng cũng có thuyết cho rằng những tội nhân trong địa ngục đều mang hình tướng mình người, đầu bò, đầu ngựa. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; luận Lập thế a tì đàm Q.8].

Ngưu Đầu Pháp Dung

(牛頭法融, Gozu Hōyū, 594-657): vị tổ của Ngưu Đầu Tông Trung Quốc, người vùng Diên Lăng (延陵), Nhuận Châu (潤州), họ là Vi (韋). Ban đầu ông học về Nho Giáo, nghiên cứu hết thảy các kinh thư, sau đó ông theo tham học và xuất gia với vị Pháp Sư ở Mao Sơn (茅山, Tỉnh Giang Tô). Ông đã từng vào trong núi ngồi an nhiên trong vòng 20 năm, đến năm thứ 17 (643) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), ông đến trú tại U Thê Tự (幽棲寺) thuộc Ngưu Đầu Sơn (牛頭山). Sau đó ông giảng kinh Pháp Hoa và có được sự huyền nhiệm, đến năm thứ 3 (652) niên hiệu Vĩnh Huy (永徽), thể theo lời thỉnh cầu ông đến giảng Đại Phẩm Bát Nhã Kinh tại Kiến Sơ Tự (建初寺) ở Kiến Nghiệp (建業, Tỉnh Giang Tô) và cũng có được sự kỳ ứng. Ông thị tịch vào ngày 23 tháng giêng năm thứ 2 nhuận niên hiệu Hiển Khánh (顯慶), hưởng thọ 64 tuổi. Trước tác của ông để lại có Tuyệt Quán Luận (絕觀論) 1 quyển.

Ngưu Đầu Sơn

(牛頭山, Gozusan): ngọn núi tọa lạc tại phía Nam Huyện Giang Ninh (江寧縣), Phủ Giang Ninh (江寧府), Tỉnh Giang Tô (江蘇省); tên gọi khác là Ngưu Thủ Sơn (牛首山), Thiên Khuyết Sơn (僊闕山), Tiên Quật Sơn (僊窟山), Song Phong Phá Đầu Sơn (雙峰破頭山). Vì hình thế ngọn núi giống như hai đầu con trâu đối lập nhau nên có tên như vậy. Trong núi có Hoằng Giác Tự (弘覺寺, còn gọi là Sùng Giáo Tự [崇敎寺], Phật Quật Tự [佛窟寺]), nơi Ngưu Đầu Pháp Dung (牛頭法融) từng cư ngụ. Từ đó, Ngưu Đầu Sơn còn là tên gọi khác của Ngưu Đầu Pháp Dung, người sáng lập ra Ngưu Đầu Tông (牛頭宗).

ngưu đầu sơn

(牛頭山) I. Ngưu Đầu Sơn. Cũng gọi Ngưu thủ sơn, Thiên khuyết, Tiên quật sơn. Núi ở phía nam huyện Thượng nguyên, phủ Giang ninh, tỉnh Giang tô, Trung quốc. Núi cao khoảng 448 mét, chu vi khoảng 27km. Vì có 2 ngọn núi trơ trọi đối diện nhau, trông giống như 1 cặp sừng bò nên gọi là Ngưu đầu sơn. Tương truyền, bồ tát Văn thù sư lợi cùng với 10.000 vị Bồ tát, mùa hạ trụ ở núi Ngũ đài, mùa đông thì các Ngài dời đến ở núi này. Hiện nay núi phía bắc gọi là Ngưu thủ sơn, còn núi phía nam thì gọi là Tổ đường sơn. Vào đầu đời Lưu Tống, quan Tư không họ Lưu xây chùa Phật quật(có thuyết nói do quan Tư không Từ độ sáng lập vào khoảng năm Thiên giám đời Lương; lại có thuyết cho rằng chùa Phật quật là do vua Lương vũ đế tạo lập), đồng thời viết chép 7 tạng kinh sách: Phật kinh, Đạo thư, Phật kinh sử, Tục kinh sử, Y phương đồ phù... cất giữ trong chùa. Sau, vào năm Đại minh thứ 3 (459), ông lại xây chùa U thê.Vào năm Trinh quán 18 (644) đời Đường, ngài Pháp dung đến núi này, cất Thiền thất ở phía bắc chùa U thê, với hơn 100 đồ chúng về đây tu tập Thiền pháp mà phát triển thành 1 Thiền phái gọi là Ngưu đầu thiền. Về sau, có các ngài Pháp trì, Tuệ trung, Huyền tố... đều tu học ở chùa U thê, từ đó, chùa U thê được đổi tên là Tổ đường tự. Trong chùa Phật quật có động Bích chi phật, vì thế nên được gọi là Phật quật tự (chùa động Phật)cũng là nơi ở của ngài Pháp dung. Năm Đại lịch thứ 9 (774) đời Đường, vua Đạitông sai Thái tử đến đây kiến tạo 1 tòa tháp 7 tầng. Sau đó không lâu, chùa Phật quật được đổi tên là Trường lạc tự, Tư thiện viện, Phúc xương viện... Đến năm Chính thống 14 (1449) đời Minh, chùa lại được đổi tên là Hoằng giác tự, đến đời Thanh lại được gọi là Phổ giác tự. Chùa này vốn là 1 trong 8 tùng lâm lớn tại Kim lăng, nay đã suy đồi. Hiện còn điện Đại hùng, điện Tì lô, động Quan âm, động Văn thù và ngôi tháp gạch. Ngoài ra, còn có các thắng cảnh như động Xả thân, động Bích chi và ngọn núi Đâu suất thẳng đứng. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Tục cao tăng truyện Q.20; Tống cao tăng truyện Q.8, 9; Cảnh đức truyền đăng lục Q.4; Phật tổ thống kỉ Q.41; Tổ đình sự uyển Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Liên đăng hội yếu Q.2]. II. Ngưu Đầu Sơn. Tạng: Glaí-ru hoặc Fgeu-to-zan. Cũng gọi Ngưu giác sơn, Ngưu giác phong sơn. Núi ở vùng Ujyat, bên bờ sông Karakash, phía tây nam Hòa điền thuộc tỉnh Tân cương, Trung quốc. Học giả A. Stein người Anh cho rằng Ngưu đầu sơn là tên cũ của núiKohmarì hiện nay. Cứ theo điều Cù tát đán na quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 12, thì ở phía tây nam Vương thành có núi Cù thất lăng già (Hán dịch là Ngưu giác), ven núi có 1 ngôi chùa, thủa xưa đức Phật từng đến đây nói pháp cho chư thiên nghe. Trong hang núi Ngưu giác có 1 thạch thất lớn,trong có vị A la hán nhập định Diệt tận đợi Phật Di lặc ra đời, khoảng vài trăm năm nay rất nhiều người đến đây cúng dường. Gần đây sườn núi bị lở, bít mất cửa vào.Theo Vu điền quốc huyền kí bằng tiếng Tây tạng (Li#i-yul luí-bstan-pa) thì vua Vijayavirya từng xây chùa Ngưu đầu sơn trên núi Ngưu giác (Glaí-mgo-ri). Theo phẩm Thập hồi hướng trong kinh Hoa nghiêm quyển 32( bản dịch mới) và kinh Đại phương đẳng đại tập (bản dịch Tây tạng), thì núi này nằm ở nước Sớ lặc (Kha-za), điều này có 2 sự lầm lẫn, vì 2 nước Vu điền và Sớ lặc gần nhau.[X. Thích ca mâu ni Như lai tượng pháp diệt tận kí; Hoa nghiêm kinh thám huyềnkí Q.15; Thích ca phương chí Q.thượng; Chỉ quật dịch thổ tập Q.8; The Life of Buddha by W.W. Rockhill; Ancient Khotan vol.I by A. Stein; Giải thuyết tây vực kí; Vu điền quốc sử].

Ngưu Đầu Thiên Vương

(牛頭天王, Gozutennō): Ngưu Đầu (牛頭) xuất xứ từ Phật Giáo, tên là A Bàng (阿傍); có đầu trâu, tay người, hai chân trâu; tay cầm cây cây Cương Xoa (鋼叉); sức mạnh vô song, có thể nâng ngọn núi lớn được. Theo Thiết Thành Nê Lê Kinh (鐵城泥犁經), khi đang còn làm thân người, A Bàng không hiếu thuận với cha mẹ, nên sau khi chết bị biến thành con quỷ có đầu trâu, có trách nhiệm tuần tra tứ phương và bắt tội nhân trốn ngục; nên có tên gọi là Phòng La Nhân (防邏人). Tuy nhiên, Ngưu Đầu Thiên Vương còn là tên gọi của vị Thần Thủ Hộ ở Tinh Xá Kỳ Viên (p: Jetavana, 祇園精舍) và cũng được xem là sự thị hiện của Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師). Đây là vị Thần chuyên trừ các dịch bệnh, nên được tôn thờ ở các đền thờ Kỳ Viên Xã (祇園社, Gion-sha, tức Bát Phản Thần Xã [八坂神社]), Kyoto, v.v. Tượng thờ thể hiện hình tướng giận dữ, có đầu trâu phía trên.

ngưu đầu thiên vương

(牛頭天王) Cũng gọi Kì viên thiên thần. Vị thiện thần thủ hộ tinh xá Kì viên ở Ấn độ. Theo Kì viên ngưu đầu thiên vương duyên khởi chép, thì Ngưu đầu thiên vương là con của Vũ đáp thiên vương nước Phong nhiêu, là Hóa thân của đức Dược sư Như lai, trên đỉnh đầu có 1 đầu bò cao 3 thước và 1 sừng màu đỏ cũng cao 3 thước, vì thế, sau khi lên ngôi, vị này xưng hiệu là Ngưu đầu thiên vương.Hiện nay, Ngưu đầu thiên vương là vị thần được cúng tế trong đền thờ Kì viên tại Kinh đô (Kyoto), Nhật bản.

ngưu đầu thiền

(牛頭禪) Cũng gọi Ngưu đầu tông, Ngưu đầu lưu. Một dòng Thiền ở Trung quốc do Thiền sư Ngưu đầu Pháp dung sáng lập vào đời Đường. Ban đầu, Pháp dung theo sư Cảnh thuộc tông Tam luận xuất gia, sau sư vào hang đá phía bắc chùa U thê, núi Ngưu đầu tại Giang ninh tu Thiền, cảm được điềm lành 100 con chim ngậm hoa cúng dường. Vào khoảng năm Trinh quán (627- 649), ngài Đạo tín, Tổ thứ tư của Thiền tông Trung quốc, nghe danh sư, Tổ đến truyền trao đại pháp cho sư, từ đó tòa pháp của sư rất thịnh, về sau trở thành 1 phái riêng gọi là tông Ngưu đầu.Môn hạ của sư có các vị: Trí nghiêm, Tuệ phương, Pháp trì, Trí uy và Tuệ trung, gọi chung là Ngưu đầu lục tổ (6 vị Tổ của tông Ngưu đầu). Môn hạ của Tuệ trung có sư Phật quật Duy tắc, kế thừa Duy tắc có Vân cư Phổ trí. Môn hạ Trí uy có sư Huyền tố, kế thừa Huyền tố có sư Đạo khâm, đều là các bậc thạc đức 1 đời. Sư Đạo khâm rất được vua Đường đại tông ngưỡng mộ, được vua ban hiệu Quốc Nhất Thiền Sư. Môn hạ của Đạo khâm có sư Điểu sào Đạo lâm, nổi tiếng trong Thiền lâm về những cơ ngữ đối đáp với thi hào Bạch cư dị. Tông Ngưu đầu cực thịnh 1 thời vào đời Đường nhưng đến đời Tống trở về sau thì suy vi, không phát triển được nữa. Trong tác phẩm: Trung quốc truyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ của mình, ngài Tông mật nói (Vạn tục 116, 436 thượng): Ý chỉ của tông Ngưu đầu là: Thể nhận các pháp như mộng, xưa nay thường vô sự, tâm cảnh vốn vắng lặng, chẳng phải hôm nay mới không. Mê thì chấp trước các pháp thực có, vì thế mới thấy các việc thịnh suy, sang hèn (...) Giả sử có 1 pháp hơn cả Niết bàn thì pháp ấy cũng như mộng như huyễn. Tức tông phong Ngưu đầu là: Ở ngay nơi không mà hiển bày lí tính vi diệu bất không. Nhưng các sư Nam tông (tức Thiên phái ngài Lục tổ Tuệ năng)chê bai thuyết này. Như ngài Hoàng bá Hi vận phê bình tông Ngưu đầu rằng: Vẫn còn chưa biết đến cái then chốt hướng thượng. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.4, 9; Tổ đình sự uyển Q.1; Ngũ đăng hội nguyên Q.4].

người gỗ

người được làm bằng gỗ, bên trong khoét rỗng có đặt máy móc khiến cho có thể cử động, đi, đứng, nháy mắt... như người thật. Theo mô tả này thì cũng tương tự như các người máy hiện nay, nhưng có hình thức đơn sơ hơn.

người không giác ngộ

A man not yet illuminated, i.e., ignorant. Kẻ bị vô minh chế ngự—Ignorant, immature, a simpleton, dominated by avidya (ignorance).

Người thứ tám

Tức là người có đủ tám đức giác tri hay tám điều giác ngộ được dạy trong kinh Bát Đại Nhân Giác. Xem tám điều giác ngộ.

ngưỡng

(仰) Cũng gọi Nga, Ngã, Nha, Ngang, Cận, Áng. Là chữ (ía) trong 51 chữ cái của mẫu tự Tất đàn, âm thứ 5 của hầu âm (tức âm răng) trong 5 loại âm thuộc phụ âm. Căn cứ vào hình tướng của chữ mà giải thích theo nghĩa cạn hẹp thìía là chi phần; còn căn cứ vào nghĩa của chữ mà giải thích theo ý sâu kín thìía là chi phần bất khả đắc. Sự giải thích này là chuyển biến từ tiếng Phạm aíga mà có. Ngoài ra, kinh Văn thù vấn giải thích chữ ía là âm thanh tịnh của 5 đường. Kinh Đại bát niết bàn quyển 8 (bản Bắc) thì giải thích ía là tướng phá hoại của tất cả các hành.[X. kinh Phật bản hạnh tập Q.11; phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.4].

ngưỡng khẩu thực

(仰口食) Cũng gọi Ngưỡng thực. Thuật kiếm sống bằng cách xem các vì tinh tú, mặt trời, mặt trăng, gió mưa, sấm sét v.v..., là 1 trong 4 cách mưu sinh không chính đáng mà giới luật cấm người xuất gia không được làm. Ngưỡng khẩu nghĩa là ngửa miệng, vốn từ chữ Pàli: Ubbhamukha (ngẩng đầu, ngửa mặt) mà ra. Hàm ý ngửa mặt xem trăng sao để kiếm ăn. [X. luận Đại trí độ Q.3; Tam tạng pháp số Q.19]. (xt. Tứ Chủng Tà Mệnh).

ngưỡng nguyệt điểm

(仰月點) Cũng gọi Viên điểm bán nguyệt.Tức là cái chấm không (Không điểm) ở trên hình nửa mặt trăng ngửa . Một loại không điểm thuộc Nghiêm tự văn của văn tự Tất đàm. Trong cách phát âm các chữ cái Tất đàm, có loại chữ mà khi đọc phải mở to miệng, gọi là Biến khẩu thanh, như chữ (ya), (la), (va)... mà thông thường trước các chữ Biến khẩu thanh nói trên, nếu có âm mũi như (m), (n)... thì âm mũi này lại biến thành âm Ngưỡng nguyệt điểm, như: Sam+yam = sa yyam, yam+lokaư = ya llokam v.v... Tóm lại, trong văn tự Tất đàm, hễ có những cái chấm hoặc nét đặc thù như trên thì gọi là Nghiêm tự văn, nghĩa là những cái đặc thù ấy làm cho văn tự thêm đẹp. Các học giả Thai Mật của Nhật bản, như ngài An nhiên cho 5 chữ sau đây thuộc về Ngưỡng nguyệt điểm, đó là: (ía), (ĩa), (ịa), (na), (ma). Còn chữ (aô) thì thuộc về Viên điểm (chấm tròn). Các học giả Đông Mật thì ngoài 6 chữ trên đây, thêm vào chữ (kha) mà lập thành 7 loại Không điểm, đồng thời cho 7 loại Không điểm này đều thông với Ngưỡng nguyệt điểm. Về chỗ dị đồng giữa Viên điểm và Ngưỡng nguyệt điểm, cứ theo Tất đàm tam mật sao thì Viên điểm là thực thể, còn Ngưỡng nguyệt là điểm trang nghiêm, cả 2 đều là Không điểm. Ngoài ra, cũng có thuyết cho rằng Viên điểm là căn cứ theo nhật luân của Thai tạng giới mà hiển bày Không đại; còn Ngưỡng nguyệt điểm thì căn cứ vào nguyệt luân của Kim cương giới mà hiển bày Không đại. [X. Tất đàm tạng Q.3, 5; Tất đàm tam mật sao Q.thượng]. (xt. Không Điểm).

ngưỡng phú thế giới

(仰覆世界) Chỉ cho thế giới ngửa (ngưỡng) và thế giới úp (phúc) trong các loại thế giới được kinh Hoa nghiêm nói đến. Đứng ngay thẳng là thế giới ngửa, đứng đảo ngược là thế giới úp như cái tổ ong. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển17 (Đại 10, 89 hạ) nói: Thế giới ngửa tức là thế giới úp, thế giới úp tức là thế giới ngửa, vì thế gọi là Ngưỡng phúc thế giới.

Ngưỡng sơn

仰山; C: yăngshān; J: gyōsan;|Chỉ Thiền sư Huệ Tịch (慧寂), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂).

ngưỡng sơn

(仰山) Cũng gọi là Đại ngưỡng sơn.Núi ở phía nam huyện Nghi xuân, tỉnh Giang tây, Trung quốc. Vì núi rất cao, phải ngửa mặt lên mới nhìn thấy chóp núi, nên gọi là Ngưỡng sơn. Vào thời vua Hi tông nhà Đường, đệ tử nối pháp của Thiền sư Qui sơn Linh hựu là ngài Tuệ tịch, đến đây khai sáng Thiền viện, xiển dương tông phong Qui sơn Linh hựu mà phát triển thành tông Qui ngưỡng; Ngưỡng sơn nhân đó mà nổi tiếng. Sau khi ngài Tuệ tịch nhập diệt, trải qua các đời Trí tề, Trạch khấu... đến đời đệ tử của ngài Tuệ nam là Hành vĩ thì tông môn hưng thịnh 1 thời. Trong núi có 3 tòa tháp là: Tây tháp truyền pháp hệ Đam nguyên, Nam tháp truyền pháp hệ Qui sơn và Đông tháp. Ngoài ra, dưới núi có chùa Thê ẩn(đời Tống đổi tên là Thái bình hưng quốc thiền tự) và 2 ngôi miếu thờ 2 vị Long thần. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Thiền lâm tăng bảo truyện Q.24; Thích thị kê cổ lược Q.3]. (xt. Ngưỡng Sơn Tuệ Tịch).

ngưỡng sơn bất tằng du sơn

(仰山不曾游山) Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn chẳng từng dạo chơi núi. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Ngưỡng sơn Tuệ tịch và một vị tăng. Tắc 34, Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: Ngài Ngưỡng sơn hỏi vị tăng: -Ông vừa rời nơi nào đến đây? Vị tăng đáp: -Từ Lư sơn đến. Ngài Ngưỡng sơn hỏi: -Ông từng đến ngọn Ngũ lão chưa? Vị tăng trả lời: -Chưa từng đến! Ngài Ngưỡng sơn nói: -Xà lê chưa từng dạo chơi núi! Đến Lư sơn mà không lên ngọn Ngũ lão danh tiếng thì không thể nói đã đến Lư sơn. Cho nên vị tăng hành cước trong công án trên thực chưa có được một chút căn bản về Thiền. Đối với hạng tăng hành cước như vậy, các bậc Tông sư thường giữ im lặng, hoặc đánh hay hét (nếu gặp Thiền sư Lâm tế, hoặc Đức sơn), nhưng ở đây Thiền sư Ngưỡng sơn đã nói câu Xà lê chưa từng dạo chơi núi để khai thị cho vị tăng, chứng tỏ ngài rất có lòng từ bi (lão bà tâm).

ngưỡng sơn chỉ tuyết

(仰山指雪) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về việc ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch chỉ vào tuyết để khai thị đại chúng. Tắc 28, Thung dung lục ghi: Một hôm tuyết rơi, phủ đầy trên mình sư tử đá trước sân làm cho toàn thân sư tử thành 1 màu trắng xóa. Thiền sư Ngưỡng sơn chỉ vào sư tử hỏi mọi người: Có gì trắng hơn màu này không? Trong chúng không ai đáp được. Về sau, ngài Vân môn Văn yển bình: Ngay lúc ấy nên xô ngã; ngài Tuyết đậu Trùng hiển lại bình ngài Vân môn Văn yển rằng: Chỉ biết xô ngã, chẳng biết đỡ dậy. [X. Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Tông môn thống yếu tục tập Q.8].

ngưỡng sơn cẩn bạch

(仰山謹白) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói việc Thiền sư Ngưỡng sơn Tuệ tịch nằm mộng thấy mình lên cung trời Đâu suất. Tắc 90, Thung dung lục (Đại 48, 285trung) ghi: Ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch trong mộng thấy mình lên cung trời Đâu suất, Tịnh độ của bồ tát Di lặc, ngồi ở tòa thứ 2, lúc đó có 1 vị tôn giả nói: Hôm nay đến lượt tòa thứ 2 thuyết pháp. Ngài Ngưỡng sơn liền đứng dậy gõ kiểng (kiền chùy) nói: Pháp Ma ha diễn lìa tứ cú, dứt bách phi, cẩn bạch!Rồi xuống tòa. [X. tắc 25 trong Vô môn quan; Ngũ đăng hội nguyên Q.9; Thiền lâm loại tụ Q.5]. (xt. Tứ Cú Bách Phi).

Ngưỡng Sơn Huệ Tịch

(仰山慧寂, Gyōzan Ejaku, 807-883): vị tăng của Tông Quy Ngưỡng (潙仰宗) Trung Quốc, người Huyện Hoài Hóa (懷化), Thiều Châu (韶州, thuộc Tỉnh Quảng Đông), họ là Diệp (葉). Năm lên 15 tuổi, ông có chí xuất gia, nhưng bị cha mẹ phản đối; đến năm lên 17 thì ông cắt đứt hai ngón tay để thệ nguyện quyết tâm đi theo chánh pháp, rồi đến tham bái Thông Thiền Sư (通禪師) ở Nam Hoa Tự (南華寺) và làm Sa Di với vị này. Sau ông thọ giới, chuyên học về Luật tạng, và đã từng tham yết Nham Đầu (巖頭) cũng như Thạch Thất (石室). Ngoài ra, ông còn thọ học nghĩa Viên Tướng với Đam Nguyên Ứng Chơn (耽源應眞), kế đến theo hầu Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈祐) trong vòng 15 năm, và cuối cùng kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến trú tại Ngưỡng Sơn thuộc Tỉnh Giang Tây và bắt đầu cử xướng Thiền phong của mình. Sau đó, ông lại chuyển đến Quan Âm Viện (觀音院) ở Giang Tây (江西), rồi vào trong Đông Bình Sơn (東平山) vùng Thiều Châu (韶州). Ông được ban tặng cho hiệu là Trừng Hư Đại Sư (澄虛大師) và Tử Y. Ông thị tịch vào năm thứ 3 niên hiệu Trung Hòa (中和, có thuyết cho là năm thứ 2 [916] niên hiệu Trinh Minh), hưởng thọ 77 tuổi đời. Ông được ban cho thụy hiệu là Trí Thông Đại Sư (智通大師). Bộ Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền Sư (袁州仰山慧寂禪師) của ông được biên soạn vào thời nhà Minh. ; 仰山慧寂; C: yǎngshān huìjì; J: kyōzan ejaku; 807-883;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ lừng danh của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và cùng thầy khai sáng tông Quy Ngưỡng. Trí huệ và kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nổi danh trong thiền giới thời đó nên Sư cũng có biệt danh là »Tiểu Thích-ca.« Môn đệ hàng đầu của Sư là Nam Tháp Quang Dũng, Vô Trước Văn Hỉ và Tây Tháp Quang Mục.|Trước tuổi 20, Sư yết kiến và trau dồi kinh nghiệm với nhiều ngôi sao sáng trong Thiền tông và đã mang danh là một thiền sinh xuất sắc. Dưới sự hướng dẫn của Quy Sơn, Sư đạt yếu chỉ thiền.|Sư họ Diệp, quê ở Hoài Hoá, Thiều Châu. Sư muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho, bèn chặt hai ngón tay, thệ nguyện cầu chính pháp để đáp ân nghĩa. Cha mẹ đành cho phép. Chưa thụ giới cụ túc, Sư đã đi du phương.|Ðến Thiền sư Thạch Sương Tính Không, nghe một vị tăng hỏi Tính Không: »Thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Tính Không liền đáp: »Như người trong giếng sâu ngàn thước, người này chẳng nhờ một tấc giây mà ra được, người này trả lời được.« Câu trả lời này cứ quấn mãi tâm Sư. Ðến Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân, Sư hỏi: »Thế nào là người trong giếng ra được?« Ðam Nguyên liền đáp: »Ðồ ngốc! Ai ở trong giếng?« Sư chưa rõ việc nhưng vẫn được Ðam Nguyên truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng để hoằng hoá, một phương pháp quan trọng để hướng dẫn môn đệ sau này trong tông Quy Ngưỡng.|Ðến Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu, Quy Sơn hỏi: »Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?« Sư thưa: »Có chủ.« Quy Sơn lại hỏi: »Chủ ở chỗ nào?« Sư từ bên Ðông sang bên Tây đứng, Quy Sơn biết môn đệ hảo hạng. Sư trình lại câu hỏi »Thế nào ra khỏi giếng ngàn thước không cần giây.« Quy Sơn hét: »Huệ Tịch!« Sư ứng: »Dạ.« Quy Sơn bảo: »Ra rồi!« Nhân đây, Sư đại ngộ, lại hỏi: »Thế nào là chỗ trụ của chư Phật?« Quy Sơn bảo: »Dùng cái diệu tư (nghĩ nhớ) mà không tư, xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng. Tư hết, trở về nguồn, nơi tính tướng thường trụ, sự lí không hai, Chân Phật như như.« Sư trút sạch hồ nghi nơi đây, ở lại hầu hạ Quy Sơn.|Sư đến phiên chăn trâu sườn núi, thấy một vị tăng lên núi không bao lâu trở xuống, Nghe Sư hỏi vì sao, vị tăng thuật lại: »Hoà thượng hỏi tôi tên gì, tôi thưa Quy Chân, Hoà thượng hỏi Quy Chân ở đâu, tôi đáp không được.« Sư bảo vị tăng, nếu Quy Sơn hỏi như vậy nữa thì trả lời »Quy Chân ở trong mắt, trong tai, trong mũi.« Vị tăng lại lên núi ra mắt Quy Sơn. Quy Sơn hỏi lại như trước, vị tăng trả lời như Sư đã dạy và bị Quy Sơn quở: »Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức đứng đầu 500 người!«|Sư và thầy đồng tình đồng ý như hai cha con nên người đời cũng nói rằng »Hai cha con hát bằng một miệng.« Sư học hỏi nơi Quy Sơn 15 năm, trước về Vương Mãn, sau về Ngưỡng Sơn trụ trì, người người đua nhau đến học.|Sư thượng đường dạy chúng: »Hết thảy các ngươi, mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thuỷ đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có cái gì là phải? Như các người bán hàng hoá cùng vàng lập phố bán. Bán hàng hoá chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói ›Thạch Ðầu là phố chân kim, chỗ ta là phố tạp hoá.‹ Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết phẩn chuột cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho… Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói bên thân Thiền tông cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng. Nếu ta nói Ðông nói Tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để lừa gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ các ngươi, việc bên cạnh thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tính của chính mình mà tu hành như thật…«|Sư trước ở Ngưỡng Sơn, sau dời về Quan Âm chỉ dạy tăng chúng. Sắp tịch, Sư làm bài kệ: |一二二三子,平目復仰視|兩口一無舌,即是吾宗旨|Nhất nhị nhị tam tử|Bình mục phục ngưỡng thị|Lưỡng khẩu nhất vô thiệt|Tức thị ngô tông chỉ.|Một hai hai ba con|Mắt thường lại ngước xem|Hai miệng một không lưỡi|Ðây là tông chỉ ta.|Nói xong, Sư ngồi hai tay bó gối viên tịch, thọ 77 tuổi. Vua phong danh hiệu Trí Thông Thiền sư. Những lời khuyên dạy của Sư được ghi trong Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư ngữ lục.

ngưỡng sơn huệ tịch

(仰山慧寂) Thiền sư Trung quốc sống vào đời Đường, người Phiên ngung, tỉnh Quảng đông, họ Diệp, hiệu là Tiểu Thích ca. Năm 9 tuổi, sư đến nương tựa Thiền sư Thông ở chùa Hòa an, 17 tuổi tự chặt 2 ngón tay lập thệ xuất gia. Mới đầu, sư tham yết ngài Đam nguyên Ứng chân, tỏ ngộ được huyền chỉ. Không bao lâu, sư vào cửa ngài Qui sơn Linh hựu và được ấn khả. Sau đó, sư đến Giang lăng thụ giới, nghiên cứu tạng Luật, lại tham lễ ngài Nham đầu Toàn khoát, rồi trở về Qui sơn thị giả ngài Linh hựu 15 năm, cùng xiển dương tong môn. Dưới thời vua Hi tông nhà Đường, sư dời đến Ngưỡng sơn, phát huy Thiền pháp của ngài Qui sơn, hình thành tông Qui ngưỡng. Sau, sư trụ ở viện Quan âm tại tỉnh Giang tây, rồi lại về núi Đông bình ở Thiều châu. NămTrinh minh thứ 2 (916) đời Hậu Lương thuộc Ngũ đại, sư thị tịch, hưởng thọ77 tuổi, có để lại bài kệ (Đại 51, 283 hạ) như sau: Tuổi tròn bảy mươi bảy Hôm nay lão tăng đi Mặc kệ cho chìm nổi Bó gối ngồi khoanh tay. Năm sau, sư được đặt thụy hiệu Trí Thông Thiền Sư. [X. Tống cao tăng truyện Q.12; Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Truyền pháp chính tông kí Q.7]. (xt. Ngưỡng Sơn).

ngưỡng sơn huệ tịch thiền sư ngữ lục

(仰山慧寂禪師語錄) Gọi đủ: Viên châu Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 1 quyển, do ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch soạn vào đời Đường, các vị Ngữ phong Viên tín và Quách ngưng chi biên tập vào đời Minh, được thu vào Đại chính tạng tập 47. Nội dung, phần đầu, ghi chép hành trạng của ngài Tuệ tịch; phần kế tiếp gồm 70 điều, ghi chép những cơ ngữ vấn đáp của ngài Tuệ tịch với các vị: Qui sơn, Bàng uẩn, Tam thánh, Nhũ nguyên, Bách trượng, Hoàng bá, Nam tuyền... và các pháp ngữ thướng đường, thị chúng của ngài Tuệ tịch.Phần cuối cùng, ghi sơ lược việc ngài Ngưỡng sơn thị tịch. [X. Ngự tuyển ngữ lục Q.4].

ngưỡng sơn sáp thiêu

(仰山插鍬) Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn cắm mai. Nội dung nói về cơ duyên vấn đáp giữa Thiền sư Qui sơn Linh hựu và đệ tử là Ngưỡng sơn Tuệ tịch. Cứ theo tắc 15 trong Thung dung lục, một hôm, trên đường hành cước, ngài Ngưỡng sơn đến tham vấn Thiền sư Qui sơn, Thiền sư hỏi (Đại 48, 236 trung): Từ đâu tới? Ngài Ngưỡng sơn đáp: -Từ ruộng tới. Thiền sư hỏi: -Trong ruộng có nhiều người không?Ngài Ngưỡng sơn cắm mai xuống đất rồi khoanh tay đứng nhìn. Thiền sư Qui sơn nói: Nam sơn có nhiều người cắt cỏ. Ngài Ngưỡng sơn liền nhổ mai lên rồi vác đi. [X. điều Tuệ tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11; Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].

ngưỡng sơn thập cửu môn

(仰山十九門) Mười chín pháp môn do ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch đặt ra để dắt dẫn người học. Đó là: 1. Thùy thị tam muội môn: Chỉ dạy người học tu tập Tam muội (Thiền định). 2. Vấn đáp hỗ hoán môn: Chỉ dạy người học hỏi đáp, ứng đối. 3. Tính khởi vô tác môn: Chỉ dạy người học chân như pháp tính (tính Phật) mọi người đều đã sẵn có, không đợi tạo tác mới có. 4. Duyên khởi vô ngại môn: Chỉ dạy pháp lí duyên khởi vốn tự tại vô ngại. 5. Minh cơ phổ hỗ môn: Biết rõ căn cơ của người học để tiếp hóa. 6. Ám hợp tân chủ môn: Tân chỉ cho người học; Chủ chỉ cho người thầy. Tức người dạy và người học căn cơ thầm khế hợp nhau. 7. Tam sinh bất cách môn: Chỉ bảo người học dứt hết mọi sự phân biệt ngăn cách quá khứ, hiện tại, vị lai và nêu tỏ cái lí tất cả đều thành Phật, bất luận thuộc căn cơ nào. 8. Tức huyễn minh chân môn: Nhờ vào sự biến đổi hư huyễn của thế giới hiện tượng để dạy người học thấy rõ chân lí pháp tính như như thường trụ tức huyễn. 9. Dụng liễu sinh duyên môn: Đối với các duyên hòa hợp mà người tu hành gặp, mỗi mỗi đều phân tích biện biệt, thấy rõ chỗ sâu kín vi diệu, để làm cho người học khế hợp chân lí. 10. Tựu sinh hiển pháp môn: Chỉ bày cho người học thấy rõ 1 cách triệt để cái diệu lí Tự thân tức pháp. 11. Minh phù sinh duyên môn: Chỉ dẫn cho người học tự biết cơ duyên, hoàn cảnh xảo diệu thích đáng mà thầm hợp chân lí. 12. Tam cảnh thuận chân môn: Chỉ rõ cho người học biết rằng tùy thuận 3 loại cảnh (tính cảnh, độc ảnh cảnh, đới chất cảnh) tức là chân lí. 13. Tùy cơ thức sinh môn: Vì thích ứng với căn cơ người học mà dùng nhiều phương pháp để cứu xét rõ. 14. Hải ấn thu sinh môn: Dùng sự lắng trong sâu rộng của Hải ấn tam muội để thu nhiếp người học. Hải ấn tam muội giống như biển cả sâu rộng, dung chứa muôn vật, ánh hiện vạn tượng; thường được dùng để diễn tả pháp nghĩa sâu xa thù thắng, hoặc ví dụ Phật trí không thể nghĩ bàn. 15. Mật dụng linh cơ môn: Người thầy sử dụng căn cơ bén nhạy của người học một cách kín đáo. 16. Thốt trác đồng thời môn: Khi thấy cơ duyên khai ngộ của người học đã chin mùi, người thầy nhân đó hướng dẫn, nắm lấy thời cơ mà giúp duyên khai ngộ; giống như gà mẹ khi nghe gà con ở trong trứng kêu(thốt)thì gà mẹ liền mổ(trác)bể vỏ trứng khiến gà con chui ra. 17. Tùy thu tùy phóng môn: Người thầy xem xét cơ nghi để tùy duyên tiếp hóa, hoặc dùng biện pháp nghiêm khắc, cứng rắn, phủ định những cái thấy sai lầm của người học, khiến họ không còn chấp trước; hoặc dùng thái độ khoan hòa khẳng định quan điểm của người học, để mặc người học tự do phát triển. Như vậy, nắm bắt hay buông lơi, tùy duyên thu phát đều tự tại vô ngại. 18. Quyển thư vô nhập môn: Người thầy tùy cơ duyên chỉ dạy người học, hoặc nắm bắt hoặc buông thả, hoặc đoạt lấy hoặc ban cho, mà co hay duỗi đều không trở ngại. 19. Nhất đa tự tại môn: Mối quan hệ giữa thầy và trò dung thông vi diệu, dứt hẳn mọi tình chấp đối đãi như: Một nhiều, lớn nhỏ, tôn ti, tinh thô... mà nhậm vận tự như, hòa hài không gián cách, tự tại vô ngại mà diễn bày đại pháp. [X. Ngũ gia tông chỉ toản yếu Q.hạ].

ngưỡng sơn tuỳ phần

(仰山隨分) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và 1 vị tăng. Tắc 77, Thung dung lục chép: Có vị tăng hỏi ngài Ngưỡng sơn: Biết chữ không? Ngài Ngưỡng sơn đáp: Tùy phần(tùy theo câu hỏi mà đáp). Vị tăng đi 1 vòng theo chiều tay phải; ngài Ngưỡng sơn vẽ 1 chữ thập (...) trên đất; vị tăng lại đi 1 vòng về phía trái, ngài Ngưỡng sơn sửa chữ thập (...) thành chữ vạn (....); vị tăng lại vẽ 1 hình tròn dùng 2 tay nâng lên, như tư thế Tu la lấy bàn tay che mặt trời mặt trăng; ngài Ngưỡng sơn liền vẽ 1 vòng tròn bao quanh chữ (....); vị tăng lại làm tư thế Lâu chí (Vị Phật sau cùng trong 1 nghìn vị Phật trong kiếp Hiền), ngài Ngưỡng sơn bèn ấn khả và dặn phải khéo giữ gìn. [X. Ngưỡng sơn Tuệ tịch thiền sư ngữ lục; Ngũ đăng hội nguyên Q.5; Tông môn thống yếu tục tập Q.8].

ngưỡng sơn tồi xuất chẩm tử

(仰山推出枕子) Cũng gọi Ngưỡng sơn chẩm tử. Tên công án trong Thiền tông. Ngưỡng sơn đưa cái gối ra.Công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và 1 vị tăng. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 11 (Đại 51, 283 trung) chép: Một vị tăng hỏi ngài Ngưỡng sơn: -Pháp thân có thuyết pháp chăng? Ngài Ngưỡng sơn đáp: -Ta không thuyết được, nhưng có 1 người thuyết được. Vị tăng lại hỏi: -Người thuyết được ở đâu? Ngài Ngưỡng sơn liền đưa ra 1 cái gối.

ngưỡng sơn tứ đằng điều

(仰山四藤條) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về trường hợp ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch tiếp dẫn ngài Hoắc sơn Cảnh thông. Điều Tấn châu Hoắc sơn Cảnh thông trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 12 (Đại 51, 293 hạ) chép: Sư lần đầu tiên tham vấn ngài Ngưỡng sơn, ngài nhắm mắt ngồi yên lặng. Cảnh thông nói: Như thế! Như thế! Hai mươi tám vị Tổ Ấn độ cũng như thế, 6 vị Tổ của Trung quốc cũng như thế, Hòa thượng cũng như thế, Cảnh thông này cũng như thế. Nói xong, sư xoay về bên phải đứng kiễng 1 chân. Ngài Ngưỡng sơn đứng dậy đánh cho 4 roi mây(tứ đằng điều). Cảnh thông nhân đó tự xưng Tập vân phong hạ tứ đằng điều thiên hạ đại thiền Phật. [X. Tông môn thống yếu tục tập Q.8; Ngũ đăng hội nguyên Q.9].

ngưỡng sơn vấn tam thánh

(仰山問三聖) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch và ngài Tam thánh Tuệ nhiên. Tắc 68, Bích nham lục (Đại 48, 197 hạ) chép: Ngài Ngưỡng sơn hỏi ngài Tam thánh: -Ông tên gì? Ngài Tam thánh trả lời: -Con tên Tuệ tịch! Ngài Ngưỡng sơn nói: -Tuệ tịch là ta! Ngài Tam thánh bèn thưa: -Con tên Tuệ nhiên! Ngài Ngưỡng sơn phá lên cười. Ý nghĩa trung tâm của công án này là hiển bày Thiền cơ Người, cảnh đều đoạt vàngười, cảnh đều chẳng đoạt.

ngưỡng sơn xuất tỉnh

(仰山出井) Tên công án trong Thiền tông. Nội dung công án này thuật lại quá trình liễu ngộ Thiền chỉ của ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch gọi là Ngưỡng sơn xuất tỉnh (Ngưỡng sơn ra khỏi giếng sâu). Khi ngài Ngưỡng sơn Tuệ tịch còn là sa di dưới tòa của Thiền sư Thạch sương Tính không, có lần 1 vị tăng đến thưa hỏi ngài Tính không: Ý của Tổ sư từ Ấn độ sang là thế nào? Ngài Tính không nói: Khi nào ông không dùng sợi dây mà có thể cứu được người ra khỏi giếng sâu nghìn thước thì ta sẽ trả lời câu hỏi của ông về ý của Tổ sư Ấn độ sang. Về sau, ngài Ngưỡng sơn đi hành cước 4 phương, tham vấn các bậc danh đức như: Đam nguyên, Qui sơn... về tắc công án này, nhưng không liễu ngộ. Cuối cùng, ngài Ngưỡng sơn gác vấn đề này qua 1 bên, không còn bận tâm về việc người dưới giếng ra hay không ra, thì bỗng thấy thân tâm giải thoát, ngộ được cứu cánh của Thiền. [X. chương Thạch sương Tính không trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.9].

ngược gia trì

(瘧加持) Cũng gọi Ngược bệnh pháp. Cách gia trì cho người bị bệnh sốt rét khiến cho họ khỏi bệnh. Trong các kinh và nghi quĩ như: Kinh Diệp y Quán tự tại bồ tát, kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán tự tại bồ tát trị bệnh hợp dược, Tì sa môn nghi quĩ, A tra bạc câu nguyên soái đại tướng thượng Phật đà la ni tu hành nghi quĩ quyển trung, Kim cương đồng tử thành tựu nghi quĩ quyển trung v.v... đều có nói về cách gia trì bệnh này. Ngài Thành hiền người Nhật đã căn cứ vào các thuyết mà soạn ra Tác pháp tập trình bày rõ ràng về phương pháp gia trì này như sau: Để người bệnh quay mặt về hướng nam, người tu pháp(người gia trì)ngồi ở phía sau người bệnh, trước hết kết ấn Hộ thân và ấn kết giới để ngăn ngừa ác ma gây trở ngại, kế đến kết định ấn Di đà rồi vào minh tưởng. Đầu tiên, quán tưởng trong vòng tim của người bệnh có 5 chữ: (vaô), (hùô), (trà#), (f), (a#) và theo thứ tự quán tưởng biến 5 chữ này thành 5 đức Phật: Đại nhật, A súc, Bảo sinh, Di đà và Bất không, rồi lại quán tưởng 5 vị Phật này thành 5 vị Đại minh vương. Sau đó, quán tưởng Bất động minh vương hàng phục tất cả các ma, Hàng Tam thế minh vương hàng phục thiên ma, Quân đồ lợi minh vương hàng phục thân ma, Đại uy đức minh vương hàng phục nhân ma và Kim cương Dạ xoa minh vương hang phục địa ma. Tiếp theo, tụng chú Từ cứu gia trì người bệnh, sau đó dùng ngón tay trỏ viết các chữ chủng tử của 5 vị Đại minh vương ở đầu, vai trái, ngực, vai phải và ở cổ của người bệnh. Còn trên lưng bệnh nhân thì viết 5 loại chữ A, trên ngực viết các chữ Vaô, Hùô, Trà#, FvàA#; cánh tay trái viết chữ Vaô, cổ tay phải viết chân ngôn A xà lê vị, ở giữa trán viết chữVaô, bên trái trán viết chữF, bên phải trán viết chữ Hùô.Sau cùng, lại niệm chú Từ cứu, bảo người bệnh đứng dậy đi tới trước, không được ngoái đầu lại.

ngạ

Đói—Hungry—Famished—Starving.

Ngạ Quỷ

(s: preta, p: peta, 餓鬼): quỷ đói, ma đói; âm dịch là Bế Lệ Đa (薜荔多、閉戾多), Tỉ Lễ Đa (俾禮多), Ti Lợi Đa (卑利多), Di Lệ Đa (彌荔多), Bế Đa (閉多); là một loại trong Tam Đồ (三途, Ba Đường), Ngũ Thú (五趣, Năm Cõi) hay Lục Thú (五趣, Sáu Cõi). Người nào đời trước tạo ác nghiệp, nhiều ham muốn, sau khi chết sẽ đọa làm thân quỷ đói, thường bị khổ sở vì đói khát. Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (正法念處經, Taishō Vol. 17, No. 721) quyển 16, Phẩm Ngạ Quỷ (餓鬼品), cho biết rằng trú xứ của Ngạ Quỷ có hai nơi: một là trong cõi người, hai là tại thế giới Ngạ Quỷ cách 500 Do Tuần dưới lòng đất cõi Diêm Phù Đề (s: Jampudīpa, 閻浮提). Kinh điển này và Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 6, phần Liệt Số Bộ (列數部) thứ 4 cũng có nêu ra tên 36 loại Ngạ Quỷ. (1) Ca Bà Ly (迦婆離), Hoạch Thân Ngạ Quỷ (鑊身餓鬼, Ngạ Quỷ thân cái vạc nước sôi); (2) Tô Chi Mục Khư (甦支目佉), Châm Khẩu Ngạ Quỷ (針口餓鬼, Ngạ Quỷ miệng nhỏ như cây kim); (3) Bàn Đa Bà Xoa (槃多婆叉), Thực Thổ Ngạ Quỷ (食吐餓鬼, Ngạ Quỷ ăn vào nôn mữa ra); (4) Tỳ Sư Tha (毘師咃), Thực Phẩn Ngạ Quỷ (食糞餓鬼, Ngạ Quỷ ăn phân); (5) A Bà Xoa (阿婆叉), Vô Thực Ngạ Quỷ (無食餓鬼, Ngạ Quỷ không ăn được gì cả); (6) Kiền Đà (揵陀), Thực Khí Ngạ Quỷ (食氣餓鬼, Ngạ Quỷ ăn hơi); (7) Đạt Ma Bà Xoa (達摩婆叉), Thực Pháp Ngạ Quỷ (食法餓鬼, Ngạ Quỷ ăn pháp); (8) Bà Lợi Lam (婆利藍), Thực Thủy Ngạ Quỷ (食水餓鬼, Ngạ Quỷ ăn nước); (9) A Xa Ca (阿賒迦), Hy Vọng Ngạ Quỷ (悕望餓鬼, Ngạ Quỷ hy vọng); (10) Xí Tra (企吒), Thực Thùy Ngạ Quỷ (食唾餓鬼, Ngạ Quỷ ăn đồ khạc nhổ); (11) Ma La Bà Xoa (摩羅婆叉), Thực Man Ngạ Quỷ (食鬘餓鬼, Ngạ Quỷ ăn tràng hoa); (12) Ra Ngật Tra (囉訖吒), Thực Huyết Ngạ Quỷ (食血餓鬼, Ngạ Quỷ ăn máu); (13) Mông Ta Bà Xoa (瞢娑婆叉), Thực Nhục Ngạ Quỷ (食肉餓鬼, Ngạ Quỷ ăn thịt); (14) Tô Kiện Đà (蘇揵陀), Thực Hương Yên Ngạ Quỷ (食香煙餓鬼, Ngạ Quỷ ăn khói nhang); (15) A Tỳ Già La (阿毘遮羅), Tật Hành Ngạ Quỷ (疾行餓鬼, Ngạ Quỷ chạy nhanh); (16) Xi Đà La (蚩陀邏), Tứ Tiện Ngạ Quỷ (伺便餓鬼, Ngạ Quỷ dòm rình đại tiểu tiện); (17) Ba Đa La (波多羅), Địa Hạ Ngạ Quỷ (地下餓鬼, Ngạ Quỷ sống dưới lòng đất); (18) Hĩ Lợi Đề (矣利提), Thần Thông Ngạ Quỷ (神通餓鬼, Ngạ Quỷ có thần thông); (19) Xà Bà Lệ (闍婆隸), Xí Nhiên Ngạ Quỷ (熾燃餓鬼, Ngạ Quỷ bốc cháy); (20) Si Đà La (蚩陀羅), Tứ Anh Nhi Tiện Ngạ Quỷ (伺嬰兒便餓鬼, Ngạ Quỷ dòm rình con nít đại tiểu tiện); (21) Ca Ma (迦摩), Dục Sắc Ngạ Quỷ (欲色餓鬼, Ngạ Quỷ ham sắc dục); (22) Mâu Đà La Đề Ba (牟陀羅提波), Hải Chử Ngạ Quỷ (海渚餓鬼, Ngạ Quỷ sống ở cồn biển); (23) Diêm La Vương Sứ (閻羅王使), Chấp Trượng Ngạ Quỷ (執杖餓鬼, Ngạ Quỷ cầm gậy); (24) Bà La Bà Xoa (婆羅婆叉), Thực Tiểu Nhi Ngạ Quỷ (食小兒餓鬼, Ngạ Quỷ ăn thịt con nít); (25) Ô Thù Bà Xoa (烏殊婆叉), Thực Nhân Tinh Khí Ngạ Quỷ (食人精氣餓鬼, Ngạ Quỷ ăn tinh khí người); (26) Bà La Môn La Sát Ngạ Quỷ (婆羅門羅剎餓鬼, Ngạ Quỷ La Sát Bà La Môn), (27) Quân Trà Hỏa Lô (君茶火爐), Thiêu Thực Ngạ Quỷ (燒食餓鬼, Ngạ Quỷ ăn lửa cháy); (28) A Du Bà Ra Tha (阿輸婆囉他), Bất Tịnh Hạng Mạch Ngạ Quỷ (不淨巷陌餓鬼, Ngạ Quỷ ăn đồ bất tịnh nơi đường hẽm, bờ ruộng); (29) Bà Di Bà Xoa (婆移婆叉), Thực Phong Ngạ Quỷ (食風餓鬼, Ngạ Quỷ ăn gió); (30) Ương Già Ra Bà Xoa (鴦伽囉婆叉), Thực Hỏa Thán Ngạ Quỷ (食火炭餓鬼, Ngạ Quỷ ăn than); (31) Tỳ Sa Bà Xoa (毘沙婆叉), Thực Độc Ngạ Quỷ (食毒餓鬼, Ngạ Quỷ ăn chất độc); (32) A Tra Tỳ (阿吒毘), Khoáng Dã Ngạ Quỷ (曠野餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi đồng trống); (33) Xa Ma Xá La (賒摩舍羅), Trũng Gian Trú Thực Nhiệt Hôi Thổ Ngạ Quỷ (塚間住食熱灰土餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi gò mã ăn tro đất nóng); (34) Tỳ Lợi Sai Thọ Trung Trú Ngạ Quỷ (毘利差樹中住餓鬼, Ngạ Quỷ sống trong cây Tỳ Lợi Sai); (35) Già Đa Bà Tha (遮多波他), Tứ Giao Đạo Ngạ Quỷ (四交道餓鬼, Ngạ Quỷ sống nơi đường giao thông); và (36) Ma La Ca Da (魔羅迦耶), Sát Thân Ngạ Quỷ (殺身餓鬼, Ngạ Quỷ giết thân). Trong tác phẩm Pháp Tánh Tức Phật Tánh Luận (法性卽佛性論) của Củng Tự Trân (龔自珍, 1792-1841) nhà Thanh có đoạn: “Tự Phật tri kiến, nãi chí Địa Ngục tri kiến, giai biến nhất thiết xứ, nhữ khai Ngạ Quỷ tri kiến, quỷ pháp giới biến nhất thiết xứ (自佛知見、乃至地獄知見、皆遍一切處、汝開餓鬼知見、鬼法界遍一切處, từ tri kiến của Phật, cho đến tri kiến Địa Ngục, đều biến khắp tất cả nơi chốn, ngươi khai mở tri kiến Ngạ Quỷ, pháp giới quỷ biến khắp tất cả mọi nơi).” Trong Thiền môn có bài tán liên quan đến Ngạ Quỷ rằng: “Diện Nhiên Đại Sĩ, Quan Âm hóa hiện, cứu độ Ngạ Quỷ thị họa tiên, A Nan bạch Kim Tiên, diễn thuyết chơn thuyên, thanh lương trừ hỏa diệm (面然大士、觀音化現、救度餓鬼示禍先、阿難白金仙、演說眞詮、清涼除火燄, Diện Nhiên Đại Sĩ, Quan Âm hóa hiện, cứu độ Ngạ Quỷ hiện tai ương, A Nan thưa Kim Tiên, diễn thuyết chân lý, mát tươi trừ lửa nóng).”

Ngạ quỷ

餓鬼; S: preṭa; P: peta;|Là quỷ đói, một trong ba đường tái sinh xấu (Lục đạo). Ngạ quỷ là hạng chúng sinh được xem như hạnh phúc hơn Ðịa ngục (s: naraka) nhưng đau khổ hơn A-tu-la (s: āsura). Người ta cho rằng các yếu tố tái sinh thành quỷ đói là keo kiệt, ganh tị và tham lam. Loài chúng sinh này được biểu diễn bằng cái bụng rất lớn và cái miệng rất nhỏ.

ngạ quỷ

Pretas (skt)—Tiếng Phạn âm là Tiết Lệ Đa, dịch là quỷ đói. Ngạ quỷ là một trong ba đường ác. Ngạ quỷ là loại quỷ miệng như cây kim nhỏ, đến độ không thể ăn uống. Ngạ quỷ có nhiều loại và tùy theo quả báo mà thọ khổ khác nhau. Người có chút phúc đức thì chịu khổ ít, người khác ít phúc đức hơn thì không được ăn uống lại phải chịu cực hình liên tục; có kẻ được làm chúa ngục cho Diêm Vương, lại có kẻ phải lang thang trong chốn nhân gian, nhứt là lúc về đêm. Theo Tỳ Kheo Khantipalo trong Đạo Phật Được Giải Thích, ngạ là luôn luôn cảm nhận những khát ái không bao giờ thỏa mãn, và trong nấc thang tâm thức, ngạ quỷ là loài chúng sanh ở dưới con người. Chúng sanh đi về cảnh giới ngạ quỷ do bởi lòng tham. Hãy nghĩ đến những người cứ bám chặt vào tiền tài, vào những sở hữu vật chất. Những người hà tiện, những người thích thú trong sự thủ đắc các thứ nhiều hơn, tốt hơn, lớn hơn so với người khác; những người như thế đang triển khai các yếu tố tâm thức mà nếu họ chấp chặt vào đó thì chúng sẽ dẫn họ thác sanh vào loài ngạ quỷ—Hungry spirits, one of the three lower destinies. They are also called needle-mouth ghosts, with mouths so small that they cannot satisfy their hunger or thirst. They are of varied classes, and are in differing degrees and kinds of suffering, some wealthy and light torment, others possessing nothing and in perpetual torment; some are jailers and executioners of Yama in the hells, others wander to and fro amongst men, especially at night. According to Bikkhu Khantipalo, “Hungry” means experiencing constantly unsatisfied cravings, and preta is a kind of being which is below man in the spiritual scale. With greed, sentient beings some to the state of pretas. Think of peopl whose attachments to money and material possessions are very strong. The misers of this world are those who rejoice in having more, better and bigger things than other people.Such people are developing factors of mind which if they persist in them, will lead them to uprise among these hungry ghosts. ; (餓鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Hán âm: Tiết lệ đa, Bế lệ đa, Tỉ lễ đa, Ti lợi đa, Di lệ đa, Bế đa, hoặc tiếng Phạm Pitf, Hán âm là Đế lê. Cũng gọi Quỉ đạo, Quỉ thú, Ngã quỉ đạo. Loài quỉ thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn. Là 1 trong 6 đường, 1 trong 5 ngả, 1 trong 6 ngả. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16, loài ngã quỉ có 2 chỗ ở: Trong thế giới loài người và trong thế giới ngã quỉ, dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần. Về tên gọi thì có 36 loài như: Ca bà li (thân bị nấu trong cái vạc), Kiện đà (ăn hơi), Bà la ba xoa (ăn thịt trẻ con), A tra tì (ở chỗ đồng trống), Ma la ca da (tự giết mình) v.v... Luận Thuận chính lí quyển 31 liệt kê 3 loại ngã quỉ: 1. Vô tài ngã quỉ (ngã quỉ không có của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ miệng lửa, ngã quỉ miệng kim, ngã quỉ miệng hôi. Loại ngã quỉ này hoàn toàn không có thức ăn, thường bị khổ não vì đói khát; nếu may gặp được chút thức ăn, thì khi đưa đến miệng, bỗng bốc thành lửa, không thể ăn được. 2. Thiểu tài ngã quỉ (ngã quỉ ít của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ lông kim, ngã quỉ lông hôi, ngã quỉ bướu cổ. Loại ngã quỉ này chuyên ăn máu mủ. 3. Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của cải): Gồm có 3 loại: Ngã quỉ ăn đồ cúng tế thừa, ngã quỉ ăn vật người ta vứt bỏ và ngã quỉ được thức ăn ngon. Hai loại ngã quỉ Thiểu tài và Đa tài cũng gọi là Hữu tài ngã quỉ (ngã quỉ có của cải). Luận Du già sư địa quyển 4 thì nêu ra 3 loại ngã quỉ là: Ngã quỉ do cảnh bên ngoài làm chướng ngại việc ăn uống; ngã quỉ do bên trong thân làm chướng ngại việc ăn uống và ngã quỉ không bị chướng ngại trong việc ăn uống. Luận Đại trí độ quyển 30 thì gọi loại ngã quỉ không có uy đức, thường chịu khổ đói khát là Ngã quỉ và gọi loại ngã quỉ có uy đức, hưởng thụ nhiều thú vui là Tệ quỉ.Ngã quỉ ở cõi Diêm ma do vua Diêm ma thống trị. Cũng có loại ngã quỉ ở những nơi tha ma mộ địa và hang núi tối tăm tại nhân gian. Theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, ngã quỉ có loại do hóa sinh, có loại do thai sinh. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 6 thì thân ngã quỉ cao nhất là 1 do tuần, còn nhỏ nhất bằng đứa trẻ cao 3 tấc. Về tuổi thọ, có thuyết cho rằng dài nhất là 8 vạn 4 nghìn năm, còn ngắn nhất thì không nhất định, hoặc cho rằng 5 nghìn năm ở nhân gian là 1 ngày 1 đêm trong cõi ngã quỉ. Theo kinh Nghiệp báo sai biệt thì có 10 thứ nghiệp khiến chúng sinh chịu báo ngã quỉ. 1. Thân tạo nghiệp ác nhẹ. 2. Miệng tạo nghiệp ác nhẹ. 3. Ý tạo nghiệp ác nhẹ. 4. Khởi nhiều tham muốn. 5. Khởi tâm ác tham. 6. Ghen ghét. 7. Tà kiến. 8. Luyến tiếc của cải lúc hấp hối. 9. Chết vì đói. 10. Chết vì khát. Ngoài ra, thế tục gọi trẻ con tham ăn là ngã quỉ, kẻ tham dâm là Sắc ngã quỉ, kẻ giàu có mà keo kiệt là Tài ngã quỉ. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Chương sở tri Q.thượng; luận Câu xá Q.11].

ngạ quỷ báo ứng kinh

(餓鬼報應經) Kinh, 1 quyển, được dịch vào đời Đông Tấn (317-420), không rõ dịch giả, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này thuật lại việc tôn giả Đại Mục kiền liên giảng nói cho các loài ngã quỉ nghe về những nghiệp nhân của chúng. Bản dịch khác của kinh này là kinh Quỉ vấn Mục liên 1 quyển, do ngài An thế cao dịch vào đời Hậu Hán.

ngạ quỷ giới

Thế giới của loài ngạ quỷ, một trong thập giới—The realm of hungry ghosts, one of the ten realms or states of existence. ; (餓鬼界) Thế giới của loài Ngã quỉ, 1 trong 10 giới. Cảnh giới ngã quỉ đói khát triền miên, khổ não vô cùng. [X. kinh Dược sư bản nguyện]. (xt. Thập Giới).

ngạ quỷ nghiệp

(餓鬼業) Một trong 6 nghiệp, là nghiệp hạ phẩm trong 10 nghiệp ác. Mười nghiệp ác là: Giết hại, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác, tham muốn, sân hận và tà kiến. Mười nghiệp ác này có thể chia làm 3 phẩm: 1. Thượng phẩm: Khi làm việc ác, trong lúc định làm, đang làm và làm xong rồi mà không có tâm hối cải, gọi là Thượng phẩm. 2. Trung phẩm: Làm xong rồi mà biết hối cải, gọi là Trung phẩm. 3. Hạ phẩm: Lúc đang làm mà biết hối cải, gọi là Hạ phẩm. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 7 (Đại 44, 610 hạ) nói: Tạo mười nghiệp ác, thượng phẩm sinh địa ngục, trung phẩm sinh súc sinh, hạ phẩm sinh ngã quỉ. [X. phẩm Lục nghiệp trong luận Thành thực]. (xt. Lục Nghiệp).

ngạ quỷ nhân

(餓鬼因) Chỉ cho nghiệp nhân đưa đến quả báo ngã quỉ. Có 2 loại: 1. Nghiệp nhân chung: Tức ngoài các nghiệp ác như phá luật nghi; phạm giới Bồ tát, hủy Phật Niết bàn v.v... Còn có các tạp nghiệp khác như muốn được nổi tiếng, hoặc không có đức mà muốn sánh với bậc thánh, hoặc khởi 10 điều ác hạ phẩm. 2. Nghiệp nhân riêng: Được ghi rõ trong kinh Ngã quỉ báo ứng, kinh Lục đạo luân hồi, kinh Phật thuyết quỉ vấn Mục liên... Theo kinh Ngã quỉ báo ứng, trong các loài ngã quỉ ở địa ngục, có loài thường bị khổ nhức đầu, vì lúc làm người hay dùng gậy đánh vào đầu chúng sinh; có loài khắp mình lở loét đau đớn, là vì đã từng dùng lửa thui nướng súc vật như lợn, dê, trâu, bò v.v...; có loài ăn mãi không no, là vì đời trước tuy có cho chúng sinh ăn uống, nhưng không cho no đủ v.v... [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Ma ha chỉ quán Q.1 hạ].

ngạ quỷ sự

(餓鬼事) Pàli: Peta-vatthu. Gọi tắt: Ti đa. Một kinh trong Tiểu bộ kinh (Khuddaka-nkàya) Pàli, thành lập khoảng 200 năm sau đức Phật nhập diệt. Nội dung kinh này nói về cảnh gới, nghiệp nhân và sự giải thoát của ngã quỉ, gồm 4 phẩm, 51 sự và 717 bài tụng. Kinh này không có bản Hán dịch. Sách chú thích có Chân đế đăng (Pàli: Paramattha-dìpanì) của ngài Đạt ma ba la (Pàli:Dhammapàla) và bản dịch tiếng Nhật của Cung điền Lăng đạo (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 25). [X. Buddhist India by T.W. Rhys Davids; Heaven and Hell in Buddhist Perspective by Bimala Churn law; A History of Pàli Literature, vol.I].

ngạ quỷ tam chướng

(餓鬼三障) Ba thứ chướng ngại trong việc ăn uống của ngã quỉ. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 4 thì 3 chướng ấy là: 1. Ngoại chướng: Khi gặp được thức ăn thì thức ăn biến thành lửa, ăn không được, khi thấy ao, hồ muốn uống nước, nhưng đến nơi thì nước hóa thành máu mủ, không uống được. 2. Nội chướng: Cổ họng của ngã quỉ nhỏ như cây kim, bụng to như trống, miệng thì bốc lửa, dù có thức ăn cũng không nuốt được. 3. Không chướng: Tuy không bị chướng ngại về ăn uống, nhưng vì nghiệp lực chiêu cảm, nên thức ăn uống đều cháy thành than đỏ, do đó vẫn phải chịu đói khát.

ngạ quỷ thành

Thành trì của loài ngạ quỷ—The city or region of the hungry ghosts—See Ngạ Quỷ Giới. ; (餓鬼城) Chỉ cho chỗ ở của ngã quỉ. Cứ theo luận Thuận chính lí quyển 31, ở phía tây châu Thiệm bộ, có 500 cái bãi nhỏ, trong đó có 2 bãi là chỗ ngã quỉ ở, mỗi bãi đều có 250 thành, 1 bãi do quỉ có uy đức ở, bãi còn lại do quỉ không có uy đức ở.

ngạ quỷ thú

See Ngạ Quỷ Đạo.

ngạ quỷ thực tử

(餓鬼食子) Ngã quỉ ăn thịt con. Theo kinh Bách duyên quyển 5, xưa có người đàn bà, vì ghen ghét với người vợ lẽ của chồng đang mang thai, bí mật hạ độc làm cho sẩy thai, nhưng khi bị bại lộ lại thề rằng (Đại 4, 226 hạ): Nếu quả thật ta làm hư thai của ngươi thì sau khi ta chết ta sẽ làm ngã quỉ, 1 ngày 1 đêm sinh ra 500 đứa con, sinh ra liền ăn thịt, nhưng không bao giờ no bụng. Đúng như lời thề, sau đó người đàn bà ấy chết sinh vào loài ngã quỉ, 1 ngày sinh ra 500 đứa con, sinh ra đến đâu ăn ngay đến đó, nhưng không thể no được.

ngạ quỷ trụ xứ

(餓鬼住處) Chỉ cho nơi ở của loài ngã quỉ. Các kinh luận phần nhiều cho rằng cõi Diêm ma (Phạm: Yama-loka) là chỗ ở chính của loài ngã quỉ; cõi Diêm ma hoặc còn được gọi là cõi Bệ lệ đa (Phạm:Preta-loka), thế giới Ngã quỉ, do vua Diêm ma làm lãnh chúa. Kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16 thì liệt kê 2 nơi: 1. Trong nhân gian. 2. Trong thế giới Ngã quỉ, tức ở dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần, chu vi 3 vạn 6 nghìn do tuần. Luận Đại tì bà sa quyển 172 thì cho rằng, ngoại trừ chỗ ở chính là cõi Diêm ma, ngã quỉ còn ở 2 nơi trong châu Thiệm bộ: 1. Núi rừng, cung điện, nơi thanh tịnh, là chỗ ở của loài ngã quỉ có uy đức. 2. Những nơi bẩn thỉu, rác rưởi là chỗ ở của loài ngã quỉ không có uy đức. [X. kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Câu xá Q.11; luận Thuận chính lí Q.31].

ngạ quỷ ái

Một trong hai loại ái, hạng phàm phu ái trước ngũ dục như sự ham muốn của loài quỷ đói—Desire as eager as that of a hungry ghost, one of the two kinds of love. ** For more information, please see Nhị Ái. ; (餓鬼愛) Tên gọi khác của ái dục, là 1 trong 2 thứ ái. Vì chúng sinh yêu mến vợ con, tham đắm 5 dục không khác gì loài ngã quỉ, cho nên gọi là Ngã quỉ ái. Kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) quyển 5 (Đại 12, 394 trung) nói: Ái có 2 thứ: Ngã quỉ ái và Pháp ái. Người giải thoát chân thực lìa ngã quỉ ái, vì thương xót chúng sinh nên có Pháp ái.

ngạ quỷ đạo

Con đường của ngạ quỷ hay của những kẻ có nghiệp nhân ngạ quỷ, một trong lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a tu la, nhân và thiên)—The destiny of the hungry ghosts, one of the six paths. ; (餓鬼道) Cũng gọi Ngã quỉ thú. Cõi ngã quỉ, 1 trong 5 đường, 1 trong 5 ngả. Trong loài quỉ có những loài có uy lực lớn như Dạ xoa, La sát v.v..., cho nên dịch mới chỉ dịch là Quỉ chứ không thêm chữ ngã. Nhưng, những kinh luận dịch cũ thì phần nhiều gọi là Ngã quỉ, vì trong loài quỉ thì Ngã quỉ nhiều nhất. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 8, phần cuối, loài quỉ này thường bị đói nên gọi là Ngã (đói), mọi người thấy chúng đều sợ nên gọi là Quỉ. Loài quỉ này gầy còm xấu xí, suốt năm không được ăn uống, hoặc ở dưới đáy biển, hoặc gần nơi rừng núi, vui ít khổ nhiều mà lại sống lâu. Vì đời trước tham lam, ghen ghét, lừa gạt mọi người, nên phải rơi vào đường Ngã quỉ. [X. kinh Chính pháp niệm xứ Q.16]. (xt. Ngũ Thú, Luân Hồi).

ngạc ngư

Cá sấu—An alligator.

ngạc nhiên

To be surprised (astonished).

ngạch

Bỗng nhiên: Suddenly. Cái trán: The forehead. Con số cố định: A fixed number. ; (額) Cũng gọi Biển ngạch, Biểu. Chỉ cho những tấm biển bằng gỗ, giấy, vải lụa trên có đề chữ hoặc vẽ tranh, treo ở cửa các dinh thự, công đường các quan lại thời xưa tại Trung quốc, sau, dần dần các chùa của Phật giáo cũng dùng ngạch. Những tấm biển do vua ban là thụ ngạch (biển treo dọc), còn các biển khác là hoành ngạch (biển treo ngang). [X. Thế gia đệ nhị thập ngũ lưu hầu trong Sử kí Q.55; truyện Tùy linh dụ trong Tục cao tăng truyện Q.9].

ngạch châu

(額珠) Hạt ngọc quí trên trán, ví dụ cho Phật tính sẵn có trong tất cả chúng sinh. Kinh Đại bát niết bàn quyển 7 (bản Bắc) chép rằng, có 1 lực sĩ đấu với người khác, khi chạm trán thì viên ngọc kim cương ở khoảng giữa 2 chân mày bị lặn vào trong da, chỗ ấy bèn thành cái nhọt lớn. Sau nhờ thầy thuốc nói thì lực sĩ mới biết ngọc kim cương đã ở trong mình. Mẩu truyện trên đây ví dụ tất cả chúng sinh đều có sẵn tính Phật, nhưng vì phiền não che lấp nên không biết, phải nhờ thiện tri thức chỉ bảo mới rõ được. [X. Niết bàn kinh nghĩa kí Q.3; Niết bàn kinh sớ Q.11].

ngạch cửa

Threshold of door.

ngạch nhĩ đức phái

(額爾德派) Tạng: Dge-lugs-Pa. Cũng gọi Đâu suất giáo phái, Đức hạnh phái, Cách lỗ phái, Tân cam đan phái (Tạng: Bka-gdams gsar-ma-pa, Hoàng mạo phái, Hoàng giáo. Tông phái Phật giáo Tây tạng do ngài Tông khách ba sáng lập vào thế kỉ XV, phái này đội mũ vàng nên gọi là phái Hoàng mạo (Hoàng giáo) để phân biệt với phái đội mũ đỏ là phái Hồng mạo (Hồng giáo). Thánh điển căn bản của phái này là 2 tác phẩm quan trọng của ngài Tông khách ba, đó là: Luận Bồ đề đạo thứ đệ (Tạng: Lam-rim chen-pô) và luận Bí mật đạo thứ đệ (Tạng: Síags-rim chen-pô). Phái này chủ trương nghiêm trì giới luật, tôn trọng nghi quĩ pháp tắc và thực hành chủ nghĩa độc thân. Lúc đầu, phái này được gọi là phái Cách lỗ, nhưng sau đổi thành Ngạch nhĩ đức là do chuyển âm từ tên của chùa trung tâm là Cát lặc đan (Tạng:Dga- ldan) do ngài Tông khách ba sáng lập. Sau khi ngài Tông khách ba thị tịch (1478), đệ tử là Đạt nhĩ ba nhân khâm (Tạng: Darma rin-po-chen, 1364-1432) thừa kế pháp tịch, tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động và phát triển rất mạnh. Ngoài chùa Cát lặc đan nói trên, phái này còn xây dựng nhiều chùa lớn như chùa Biệt bạng (Tạng: Fbras-spuís), chùa Sắc lạp (Tạng: Se-ra), chùa Trát thập luân bố (Tạng: Bkra-zis lhun-po) v.v... đều là những chùa trung tâm quan trọng của phái này. Từ nửa sau thế kỉ XVII đến thế kỉ XVIII, phái Hoàng mạo đã nắm giữ trọn chủ quyền trên toàn cõi Tây tạng và bành trướng thế lực đến các vùng Mông cổ, Đông bắc, Hoa bắc v.v... để củng cố địa vị. [X. Mông tạng Phật giáo sử; Mông cổ Phật giáo sử; Tây tạng (Đa điền Đẳng quan); Tây tạng Phật giáo nghiên cứu; The Buddhism of Tibet by L. A. Waddell; The Religion of Tibet by Ch.Bell]. (xt. Tông Khách Ba).

ngạch thượng châu

Hạt châu kim cương trên trán, ý nói mọi người đều có Phật tánh—The pearl on the forehead, e.g. the Buddha-nature in every one.

ngại

Chướng ngại: Hindrance—A stumbling-block. Lo ngại: Hesitant—Worried.

ngại ngùng

To hesitate.

ngạn

Bờ sông: Kula (skt)—River bank—Shore. Hoàn thành: Accomplished.

Ngạn Câu

(岸駒, Ganku, 1749-1838): nhà danh họa sống cuối thời Giang Hộ, Tổ của Phái Ngạn (岸派); họ là Ngạn (岸), tên ban đầu là Củ (矩), sau đổi thành Câu (駒); tên lúc nhỏ là Ất Thứ Lang (乙次郎); tự Bí Nhiên (賁然); tự xưng là Ngạn Câu theo lối Trung Quốc; hiệu là Lan Trai (蘭齋), Đồng Công Quán (同功館), Khả Quan Đường (可觀堂); xuất thân trong một gia đình thương gia ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa), Gia Hạ (加賀, Kaga). Ông lên kinh đô Kyoto, ban đầu học theo học Phái Nam Tần (南蘋派) cùng các phái khác, và rất giỏi về thể loại tranh hoa chim cũng như động vật. Đặc biệt, những bức tranh vẽ về cọp của ông thì rất nổi tiếng, đã sáng tác khá nhiều cho cung đình và dòng họ Tiền Điền (前田, Maeda) ở vùng Gia Hạ. Ông được nhậm chức làm quan Tùng Ngũ Vị quản lý vùng Việt Tiền (越前, Echizen). Một số tác phẩm tiêu biểu của ông có Mẫu Đơn Khổng Tước Đồ (牡丹孔雀圖), Tùng Hạ Ẩm Hổ Đồ (松下飲虎圖), Mãnh Hổ Đồ (猛虎圖), Hổ Khê Tam Tiếu Đồ Áo (虎溪三笑圖襖), Tây Bổn Nguyện Tự Chướng Bích Họa (西本願寺障壁畫), v.v.

ngạn ngữ

Proverb.

ngạn thọ

Cây mọc bên bờ sông, nói về sự sống không chắc chắn—A tree on a river's brink, life's uncertainty.

ngạn thọ, tỉnh đằng

xem cây lớn mọc sát ven sông.

ngạn tung

Ngạn Tung là một vị Tăng đời nhà Đường, ông là một dịch giả và cũng là một nhà trước tác, nhưng không rõ vào khoảng thời gian nào—Yen-Ts'ung, a T'ang monk, translator and writer, date unknown.

ngạn tông

Sư Ngạn Tông, người gốc miền bắc Trung Quốc. Ông là một dịch giả và cũng là một nhà trước tác nổi tiếng vào khoảng 557-610 sau Tây Lịch—Yen-T'sung, a famous monk, native of Northern China, a translator and writer, about 557-610 A.D. ; (彥琮) Cũng gọi Đạo giang. Cao tăng Trung quốc sống vào đời Tùy, người Triệu quận (nay là huyện Hình đài, tỉnh Hà bắc) họ Lí. Thủa nhỏ theo pháp sư Tín đô Tăng biên, 10 tuổi xuống tóc, đổi tên là Đạo giang. Thầy dạy tụng kinh Đại noa, 1 ngày liền thuộc, mọi người đều kinh ngạc. Khi Vũ đế nhà Bắc chu thi hành chính sách diệt Phật, sư bị buộc phải mặc áo tại gia, đổi tên là Ngạn tông và ra làm quan, tuy vâng lệnh triều đình nhưng không hề bỏ giới hạnh. Thời Tuyên đế, sư được thăng chức Lễ bộ nhưng sư không nhận. Đến khi Văn đế nhà Tùy lên ngôi, phục hưng Phật pháp, sư mặc lại pháp phục và giảng kinh Bát nhã cho các triều thần nghe. Sau, vua thỉnh sư vào kinh đô trông coi việc phiên dịch kinh điển. Năm Đại nghiệp thứ 6 (610) sư thị tịch, thọ 54 tuổi. Sư có các tác phẩm: Chúng kinh mục lục, Tây vực chí, Văn tập, Biệt tập. [X. Tục cao tăng truyện Q.2; Quảng hoằng minh tập Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5]. ; (彥悰) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Đường, đã từng theo học Đại sư Huyền trang cuối những năm Trinh quán (627-649). Sư thông minh dĩnh ngộ, học rộng nhớ dai, giỏi văn chương, chuyên việc soạn thuật, rất được người đương thời kính trọng. Sư có các tác phẩm: Đại đường kinh sư tự lục truyện, Tập sa môn bất ưng bái tục đẳng sự. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện, Hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện. [X. Tống cao tăng truyện Q.4; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

ngạn đạt phược

Còn gọi là Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

ngạn đầu

Bờ biển khổ—The shore of the ocean of suffering.

ngạnh

Ương ngạnh—Hard—Obstinate.

ngạnh nhu

Hard and soft.

Ngạnh sáp

梗澁; C: gěngsè; J: kyōjū; |Cay đắng, khó khăn, khắc nghiệt.

ngạo nghễ

Disdainful—Scornful.

ngả mình

To lie down.

Ngải kỳ

(艾旗): lá cờ ngải, biểu tượng đuổi tà, chém ma quỷ, rất phổ biến trong dịp Tết Đoan Ngọ. Như trong bài thơ Bồ Kiếm Ngải Kỳ (蒲劍艾旗) của Chu Tác Nhân (周作人, 1885-1967) có câu: “Bồ kiếm ngải kỳ mang bán nhật, phân lai hương đại dữ hương cầu, hùng hoàng ngạch thượng thư vương tự, hỷ thính nhân xưng lão hổ đầu (蒲劍艾旗忙半日、分來香袋與香球、雄黃額上書王字、喜聽人稱老虎頭, kiếm bồ cờ ngải bận nửa ngày, chia thành thơm túi trái thơm cầu, trên cổ đá quý viết vương chữ, vui thấy người kêu lão cọp đầu).”

ngất đi

To be unconscious.

ngần ngại

To hesitate.

ngầy ngật

To feel sick.

ngẩng đầu

To hold up (raise) one's head.

ngẫm nghĩ

To reflect—To meditate—To think.

Ngẫu hài

偶諧; C: ǒuxié; J: gukai;|Xứng hợp nhau; phù hợp với nhau; cùng tán thành. Phối hợp, liên hợp, liên kết, hợp nhất, kết hợp (結合).

ngẫu khổng

(藕孔) Chỉ cho cái lỗ giống như lỗ ống sáo trong củ sen. Cứ theo kinh Tạp a hàm quyển 16, A tu la và trời Đế thích đánh nhau, A tu la thua to, 4 quân (Tượng binh, Mã binh, Xa binh, Bộ binh) đều chui vào trong cái lỗ ngó sen.

ngẫu ngộ

Sudden meeting.

ngẫu nhiên

Suddenly. See Ngẫu Tượng.

ngẫu ti

(藕絲) Chỉ cho những sợi tơ của cọng hoặc củ sen. Nghĩa là sau khi bẻ cọng sen gãy ra có những sợi tơ vẫn còn dính lại. Phật giáo dùng từ ngữ này để ví dụ việc đoạn trừ phiền não mê sự. Bởi vì phiền não mê lí tính của nó tuy sắc bén, nhưng ở giai vị Kiến đạo có thể đoạn trừ hết, giống như phá đá. Còn đối với các phiền não mê sự mà giai vị tu đạo phải đoạn, tính của nó tuy yếu ớt, nhưng lại khó dứt hẳn, giống như những sợi tơ ngó sen. Cho nên Cổ đức đã có lời tụng: Kiến đạo như phá đá, Tu đạo như tơ sen.

ngẫu tượng

An idol—An image. ; (偶像) Chỉ cho các pho tượng Phật, Bồ tát, Thánh thần được tạo bằng đất, gỗ hoặc kim loại. Từ Ngẫu tượng bắt nguồn từ tiếng La tinh Idola, có nghĩa là hình tượng, tư thái, về sau biểu thị các nghĩa như: Thiên kiến làm phương hại nhận thức đúng đắn, quan niệm vào trước là chủ..., nghĩa này bắt đầu từ ông Giordano Bruno (1548-1600) người Ý đại lợi. Phật giáo Ấn độ ở thời kì đầu, dùng hoa sen và bánh xe báu để làm biểu tượng của đức Phật. Trong các kinh điển Đại thừa ở thời kì đầu như kinh Bát chu tam muội, Đạo hành bát nhã v.v... cho rằng tạo lập tượng Phật là 1 trong những phương pháp để đạt đến Bát chu tam muội, Quán Phật tam muội. Ngoài ra, các tôn tượng của Mật giáo là do Lục đại (đất nước lửa gió không thức) tạo thành, hình tượng chư tôn là do đức Đại nhật Như lai biểu hiện, cho nên là đồng nhất thể với Đại nhật Như lai. Thủ ấn, vật cầm, thân hình của tượng cũng do thân mật của chư tôn biểu hiện. Người tu hành nương vào tượng Bản tôn để quán tưởng thân mình an trụ trong thân của Bản tôn, miệng tụng chân ngôn của Bản tôn, tâm quán tưởng bản thệ của Bản tôn, được sự gia hộ của Bản tôn, nhờ thế mà được vào cùng một cảnh giới với Bản tôn. Như vậy, tượng Phật không phải chỉ là 1 loại ngẫu tượng thuần túy, mà là đối tượng để cúng dường, lễ bái và tín ngưỡng.

ngẫu tượng sùng bái

(偶像崇拜) Tôn sùng lễ bài ngẫu tượng. Có thể nói bắt đầu từ giai đoạn kinh tế săn bắn về sau, thời kì văn hóa nhân loại dần dần phát triển, đối với các vật thể được công nhận không có tính nhân cách, siêu việt năng lực tự nhiên và những vật thể có tính nhân cách, có thể phát huy năng lực linh dị, thì đã được con người sùng bái, như sự sùng bái Thánh thạch (đá linh thiêng), Thánh thụ (cây linh thiêng) v.v... Đến thời kì Nông canh (cày cấy, trồng trọt) thì sự sùng bái tổ tiên dần dần hưng thịnh, về sau, đối tượng sùng bái từ hình thái loài người được mở rộng thành hình thái chim thú hỗn hợp. Gần đây, các học giả tranh luận nhiều về những tượng điêu khắc được tìm thấy trong những di chỉ thuộc thời đại đồ đá cũ (ère poléolithique), người thì cho rằng đó là những ngẫu tượng thần linh có sớm nhất, người khác lại chủ trương đó là các hình tượng do những ông đồng bà bóng tạo ra khi làm pháp thuật. Vào thời kì đầu của xã hội văn minh, 1 mặt coi ngẫu tượng chỉ là sự tạo hình của thần linh chứ chẳng phải bản thân thần linh, mặt khác, một khi ngẫu tượng đã được tạo thành, thì lại xem là thần linh gá vào đó và y hệt thần thánh không khác. Phương diện thứ nhất khác với quan niệm vật thần, phương diện thứ 2 lại bất đồng với quan niệm về thần trừu tượng. Lại vì các thần linh đều có hình tượng cụ thể khác nhau, cho nên ngẫu tượng được chế tạo cũng phải khác nhau, đối tượng tôn sùng của những tông giáo phát triển đến cao độ như Phật giáo, Cơ đốc giáo... thì lấy hình thái loài người làm chính. Vấn đề Cơ đốc giáo vào thời kì đầu có sùng bái thần tượng hay không thì còn nhiều tranh luận. Cũng có tông giáo vì muốn áp chế các tông giáo khác nên chủ trưong phá hoại ngẫu tượng, cho rằng sùng bái ngẫu tượng cũng đồng như tà giáo, dị giáo. Phật giáo tuy sáng tạo nhiều tượng Phật, Bồ tát, nhưng mỗikiểutạo tượng đều có biểu trưng khác nhau và về phương diện nghệ thuật đều có giá trị rất cao, ý nghĩa mà các pho tượng Phật tiêu biểu tuyệt đối không phải như ý nghĩa sùng bái ngẫu tượng mà dị giáo chê bai. (xt. Phật Giáo Đồ Tượng Học).

Ngẫu Ích Trí Húc

(蕅益智旭, Gueki Chikyoku, 1599-1655): vị tăng sống dưới thời nhà Minh, người Mộc Độc (木瀆), Huyện Ngô (呉縣, Tỉnh Giang Tô), họ là Chung (鍾), tên Tế Minh (際明), tự Ngẫu Ích (蕅益), hiệu Bát Bất Đạo Nhân (八不道人). Hồi nhỏ ông học Nho học, từng soạn ra Tịch Phật Luận (闢佛論) khoảng 10 thiên. Đến năm lên 17 tuổi, nhân đọc bộ Tự Tri Lục (自知錄) và Trúc Song Tùy Bút (竹窗隨筆) của Liên Trì Châu Hoằng (蓮池袾宏), mới biết mình đã phạm phải sai lầm lớn, bèn đem cuốn Tịch Phật Luận đốt đi. Năm 20 tuổi, ông tụng Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh (地藏本願經), phát khởi chí nguyện xuất gia. Năm 23 tuổi, ông phát 48 lời nguyện, tự đặt tên là Đại Lãng Ưu Bà Tắc (大朗優婆塞). Nhân nghe giảng Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經), ông sanh tâm nghi ngờ các vấn đề như làm sao có sự giác ngộ lớn, làm thế nào sanh khởi hư không cùng với thế giới, cho nên cuối cùng ông quyết chí xuất gia. Đến năm 24 tuổi, ông theo xuất gia với Tuyết Lãnh (雪嶺), đệ tử của Hám Sơn (憨山), đổi tên là Trí Húc. Trong khoảng thời gian mùa hạ và thu, ông đến nghe giảng về Duy Thức Luận (唯識論) ở Vân Thê Tự (雲棲寺), bỗng nhiên chỗ nghi ngờ càng mâu thuẩn hơn với tông chỉ của Phật Đảnh Kinh. Ông bèn đến Kinh Sơn ngồi Thiền, bỗng nhiên ngộ được rằng hai tông tánh và tướng vốn không xung đột và mâu thuẩn lẫn nhau. Đến năm 26 tuổi, ông thọ Bồ Tát giới, rồi năm sau thì đọc hết Luật tạng. Nhân vì bệnh tình nguy ngập, ông chuyên tâm cầu được vãng sanh về Tịnh Độ. Đến năm 30 tuổi, thể theo lời thỉnh cầu của đạo hữu Tuyết Hàng (雪航), ông đến Long Cư Tự (龍居寺) giảng thuyết về Luật. Sau ông đến Kim Lăng (金陵), rất đau xót trước những sa sút, suy đồi về tông môn, nên từ đó ông quyết chí hoằng truyền Luật. Năm 32 tuổi, nhân muốn chú thích Kinh Phạm Võng (梵綱經), nên ông tham cứu tường tận giáo nghĩa Thiên Thai. Năm sau, ông đến Linh Phong Tự (靈峰寺) vùng Triết Giang (浙江), rồi sống qua các nơi như Cửu Hoa (九華), Ôn Lăng (溫陵), Thạch Thành (石城), Thịnh Khê (晟溪), Tân An (新安), v.v., chuyên tâm hoằng dương giáo nghĩa Thiên Thai và chú thích các kinh luận. Đến năm 56 tuổi, nhân lúc ngọa bệnh tại Linh Phong, ông có soạn ra Tây Trai Tịnh Độ Thi (西齋淨土詩) cùng với 9 bộ khác, gọi chung là 10 bộ trọng yếu của Tịnh Độ. Sau khi lành bệnh, ông viết ra 2 cuốn Duyệt Tạng Tri Tân (閲藏知津) và Pháp Hải Quán Lạn (法海觀瀾). Đến tháng 10, bệnh cũ tái phát, ông để lại di chúc, truyền trao câu kệ cầu sanh Tịnh Độ. Vào tháng giêng năm thứ 12 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông ngồi xếp bằng an nhiên chấp tay hướng về phương Tây mà thị tịch, hưởng thọ 57 tuổi đời và 34 hạ lạp. Ông là người rất nghiêm trì giới luật, ghét bỏ danh lợi, chuyên tâm hoằng dương Luật tạng, lúc sanh tiền thường xuyên lấy việc đọc tạng kinh luật và trước tác làm sự nghiệp. Giáo nghĩa các tông Pháp Tướng, Thiền, Luật, Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Tịnh Độ ông đều thông suốt, nhưng lại thiên nặng về Thiên Thai và chủ trương tam giáo Nho Lão Phật nhất trí với nhau. Trừ các tông phái Phật Giáo ra, ông còn nghiên cứu cả Nho Giáo và Cơ Đốc Giáo, cho nên phạm vi trước tác của ông rất rộng rãi. Thiền pháp của ông vốn kế thừa Văn Tự Thiền của Diên Thọ (延壽), Phạn Kỷ (梵琦), Chơn Khả (眞可), nhưng tất cả đều hội quy về Thiên Thai Giáo Quán. Ông cũng có cái nhìn độc đáo về giáo nghĩa Thiên Thai. Về Luật Tông, ông chú trọng thật tiễn hành trì giới luật. Tuy nhiên, Thiền, Giáo và Luật học của ông cuối cùng đều quy về Tịnh Độ với chủ trương Thiền Tịnh hợp nhất. Tổng kết tư tưởng của ông là Tam Học nhiếp quy về một niệm, và lấy niệm Phật để thống nhiếp toàn bộ giáo lý của một đời đức Thích Ca. Đến cuối thời nhà Thanh, hầu hết các nhà Thiên Thai đều lấy kinh luận và kinh sớ của ông làm y cứ để thuyết giảng, hình thành nên Phái Linh Phong (靈峰派) với chủ trương “dung hợp Thiền Giáo Luật quy nhập Tịnh Độ” và kéo dài mãi cho đến ngày nay. Sau khi qua đời, đệ tử Thành Thời (成時) phong cho ông thụy là Thỉ Nhật Đại Sư (始日大師), ngoài đời gọi ông là Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư, được sùng kính như là vị tổ thứ 9 của Tịnh Độ Tông. Ông cùng với Hám Sơn (憨山), Tử Bá (紫柏), Liên Trì (蓮池) được gọi là tứ đại cao tăng thời nhà Minh. Đệ tử của ông có Chiếu Nam (照南), Linh Thịnh (靈晟), Tánh Đản (性旦), Đẳng Từ (等慈), v.v.Trước tác của ông có rất nhiều, hơn 40 bộ như Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa (楞嚴經玄義) 2 quyển, Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú (楞嚴經文句) 10 quyển, A Di Đà Kinh Yếu Giải (阿彌陀經要解) 1 quyển, Kim Cang Kinh Phá Không Luận (金剛經破空論) 1 quyển, Phạm Võng Kinh Hợp Chú (梵綱經合注) 7 quyển, Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu (毘尼事義集要) 17 quyển, Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải (相宗八要直解) 8 quyển, Duyệt Tạng Tri Tân (閲藏知津) 48 quyển, Chu Dịch Thiền Giải (周易禪解) 10 quyển, Tứ Thư Ngẫu Ích Giải (四書蕅益解) 4 quyển, v.v. Đệ tử Thành Thời biên tập di văn của ông thành Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (蕅益大師宗論) gồm 10 quyển, và ngày nay được biên tập thành Ngẫu Ích Đại Sư Toàn Tập (蕅益大師全集).

ngẫu ích trí húc

(蕅益智旭) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Mộc độc, huyện Ngô, tỉnh Giang tô, họ Chung, tự Ngẫu ích, hiệu là Bát bất đạo nhân. Vì sư ở núi Linh phong (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang) xây chùa, lập Liên xã, viết sách... nên người đời gọi sư là Linh phong Ngẫu ích Đại sư. Thủa nhỏ, sư theo Nho học, thề sẽ tiêu diệt đạo Phật và đạo Lão, nhưng khi tình cờ được đọc các tác phẩm Tự tri lục và Trúc song tùy bút của ngài Châu hoành, sư liền đốt bỏ cuốn Tịch Phật luận (bàn về việc diệt Phật) do sư biên soạn. Trong thời gian thụ tang cha, sư được biết bản nguyện của bồ tát Địa tạng nên có ý định xuất gia. Năm 22 tuổi, sư chuyên tâm niệm Phật. Năm sau, sư phát 48 nguyện, tự xưng là Đại lãng ưu bà tắc. Năm 24 tuổi, sư lễ ngài Tuyết lãnh đệ tử của Đại sư Hám sơn xin xuất gia. Sư học Hoa nghiêm, Thiên thai, Duy thức, muốn thống nhất Thiền, Giáo, Luật, tổng hợp các hệ thống Phật giáo, nhưng trên phương diện tu trì thực tiễn thì nghiêng nặng về pháp môn niệm Phật. Đồng thời, sư còn nghiên cứu về Nho gia, Cảnh giáo và chủ trương dung hợp Phật, Đạo và Nho. Sư cùng với các ngài Hám sơn, Tử bá và Liên trì được tôn xưng là Tứ Đại Cao Tăng đời Minh. Năm 1655 sư thị tịch, thọ 57 tuổi. Sư có các tác phẩm: Duyệt tạng tri tân, Di đà kinh yếu giải, Linh phong ngẫu ích tông luận và các bản chú thích Đại thừa khởi tín luận, Đại thừa chỉ quán luận. [X. Tịnh độ Thánh hiền lục Q.6; Linh phong Ngẫu ích đại sư tông luận Q.1]. (xt. Trí Húc).

ngẫu ích đại sư tông luận

(蕅益大師宗論) Cũng gọi Linh phong tông luận, Linh phong Ngẫu ích đại sư tông luận, Ngẫu ích tông luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Thành thời biên tập vào đời Minh. Sách này thu chép những tông luận trong 1 đời hoằng hóa của ngài Ngẫu ích. Nội dung gồm: Nguyện văn, pháp ngữ, đáp vấn, phổ thuyết, trà ngữ, thuyết, văn, ngẫu lục, thư, luận, biện, nghị, kí, duyên khởi, tự, đề bạt, sớ, truyện, thọ tự, tháp chí minh, tế văn, tụng, minh, châm, từ, tán, thi kệ v.v... Ở đầu quyển có bài tựa của ngài Trí húc và lời tựa của ngài Thành thời.

ngậm câm

To hold one's tongue—To be silent.

ngậm hờn

To keep (habour) a resentment.

ngậm miệng

To shut (close) one's mouth.

ngậm ngùi

To have compassion—To pity.

ngậm oan

To bear injustice in silence.

ngậm vành

To be grateful forever.

ngậm đắng nuốt cay

To endure hardships

ngật

Ăn—To eat. Chấm dứt: To finish—To end—To stop.

ngật khí la

Khakkhara (skt)—Cây gậy của vị sư trụ trì—A beggar's staff—An abbot's staff.

ngật lật song đề tán

(吃栗雙提贊) (742-797) Phạm: Khri-sroí lde-btsan. Cũng gọi Khất lê tô lung lạp tán, Xích tùng đức tán. Vua nước Tây tạng, con của công chúa Kim thành (người Hán), người đã đặt nền tảng cho thời đại toàn thịnh của Thổ phồn. Ông lên ngôi năm 13 tuổi, Tể tướng Mã tương (Phạm: Ma-shaí), vốn theo Bổng giáo (tông giáo truyền thống của dân Tây tạng) và có ác cảm đối với Phật giáo từ lâu. Do đó, nhân vua còn nhỏ dại, Mã tương thừa cơ phá hủy Phật giáo, xua đuổi tăng chúng, đốt hết kinh tượng biến Đại điện thờ Phật Thích ca ở thủ đô Lha-sa thành lò sát sinh! Khi vua lớn khôn, hết lòng phục hưng Phật giáo, trở thành 1 trong 3 vua hộ pháp vĩ đại của lịch sử Phật giáo Tây tạng. Ông được tôn là Hóa thân của bồ tát Văn thù. Khi ngài Liên hoa giới (Phạm: Kamalazìla) từ Ấn độ đến Tây tạng truyền đạo vua đã đóng vai trò quan trọng trong công cuộc thiết lập cơ sở của Mật giáo Ấn độ tại Tây tạng. [X. Cựu đường thư Q.146; Tân đường thư Q.141; Tây tạng vương thống kí].

ngật tố

Ăn chay—To eat vegetarian food.

ngắm nhìn

To behold.

ngắn

Short.

ngắt (cắt)

To pick—To pluck.

ngắt đứt

To interrupt. Chán ngắt: Tiresome—Wearisome.

ngặt

Strict—severe—Stern—Dangerous—Difficult.

ngặt vì

Unfortunately.

ngọ cung

(午供) I. Ngọ Cúng. Cúng Phật vào giờ ngọ. (xt. Phật Cúng). II. Ngọ Cúng. Chúng tăng thụ trai vào giờ ngọ. Điều Cảnh chúng trong Thiền uyển thanh qui quyển 6 (Vạn tục 111, 455 hạ) nói: Trước khi thụ trai, nghe 3 tiếng mộc bản, chúng tăng chuẩn bị sẵn bát, kế đến đánh chuông lớn báo đến giờ thụ trai.

ngọ cúng

Cúng ngọ—The noon offering of incense.

ngọa

Sayana (skt). Nằm—Lying down.

ngọa bịnh

To fall ill—To confine to bed by sickness—Forced to stay in bed due to illness.

ngọa cụ

Vật dụng để nằm như giường, chiếu, đồ ngủ—A couch, bed, mat, bedding, sleeping garments.

Ngọa nhục

(臥蓐, 臥褥): nằm trên đệm cỏ, chiếu rơm. Tương truyền ngày xưa, người phụ nữ khi sinh con thường nằm trên chiếc đệm bằng cỏ, hay chiếu rơm. Cho nên “ngọa nhục chi thần” (臥蓐之辰) có nghĩa là lúc chuyển bụng sinh con. Trong Hậu Hán Thư (後漢書) quyển 64 có đoạn: “Triệu Kì tự Bân Khanh, Kinh Triệu Trường Lăng nhân dã …, niên tam thập dư, hữu trọng tật, ngọa nhục thất niên (趙岐字邠卿、京兆長陵人也…年三十餘、有重疾、臥蓐七年, Triệu Kì tự là Bân Khanh, người vùng Trường Lăng, Kinh Triệu …, năm lên hơn ba mươi tuổi, có bệnh nặng, nằm đệm cỏ bảy năm).” Hay trong Thiền Lâm Sớ Ngữ Khảo Chứng (禪林疏語考證, CBETA No. 1252) quyển 2, phần Bảo Thai (保胎), có câu: “Thiết niệm: Mỗ dựng thê tần phiền tiện chất, bồ liễu vi xu, tương lâm ngọa nhục chi kỳ (切念、某孕妻蘩蘋賤質、蒲柳微軀、將臨臥蓐之期, Nép nghĩ: vợ mang thai … yếu mềm hèn mọn, thân mảnh bồ liễu, sắp đến kỳ chuyển bụng sinh con).”

ngọa pháp

Tư thế ngủ của chư Tăng Ni—The sleeping manner of monks and nuns.

ngọa phật

Phật nằm (tư thế lúc Ngài nhập Niết Bàn)—The Sleeping Buddha (the posture when he entered Nirvana).

ngọa phật tự

Chùa Phật Nằm (tư thế lúc Ngài nhập Niết Bàn)—A shrine of the Sleeping Buddha, i.e. of the dying Buddha.

ngọc

Precious stone—Gem—Jade.

Ngọc chúc

(玉燭): có 3 nghĩa chính. (1) Chỉ cho bốn mùa khí tiết điều hòa, thông suốt; hình dung cuộc sống thái bình, thịnh vượng. Như trong Nhĩ Nhã (爾雅), chương Thích Thiên (釋天) có câu: “Tứ khí hòa, chánh quang chiếu, thử chi vị ngọc chúc (四氣和、正光照、此之謂玉燭, bốn mùa điều hòa, ánh sáng chiếu tỏ, đây gọi là ngọc chúc).” Học giả trứ danh Quách Phác (郭璞, 276-324) nhà Tây Tấn chú thích là: “Đạo quang chiếu (道光照, bảo là ánh sáng chiếu tỏ).” Hình Bỉnh (邢昺, 932-1010) nhà Bắc Tống lại giải thích rõ thêm rằng: “Đạo quang chiếu giả, đạo, ngôn dã; ngôn tứ thời hòa khí, ôn nhuận minh chiếu, cố viết ngọc chúc (道光照者、道、言也、言四時和氣、溫潤明照、故曰玉燭, đạo quang chiếu, đạo có nghĩa là nói, nói rõ bốn mùa khí tiết điều hòa, ấm áp, ẩm ướt, chiếu sáng, nên gọi là ngọc chúc).” Trong bài Thượng Chấp Chính Tứ Thập Vận (上執政四十韻) của Nhã Hổ (雅琥, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Ngọc chúc điều nguyên khí, kim xu vận đại quân (玉燭調元氣、金樞運大鈞, nến ngọc điều khí tiết, đức vua vận muôn dân).” (2) Từ mỹ xưng của cây nến. Như trong bài thơ Kim Tỏa (金鎖) của cung nhân thời vua Hy Tông (僖宗, tại thế 862-888) nhà Đường có câu: “Ngọc chúc chế bào dạ, kim đao ha thủ tài (玉燭製袍夜、金刀呵手裁, đèn ngọc suốt đêm chế áo bào, đao vàng tay cắt than buốt đau).” (3) Tỷ dụ cho ánh sáng con mắt. Như trong bài thơ Bệnh Mã (病馬) của Tào Đường (曹唐, ?-?) nhà Đường có câu: “Tứ đề bất tạc kim châm liệt, song nhãn dong khai ngọc chúc tà (四蹄不鑿金砧裂、雙眼慵開玉燭斜, bốn móng chẳng đục chày vàng nẻ, hai mắt lững lờ ánh sáng mờ).” Trong Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (了堂惟一禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 1 có đoạn: “Cung nguyện, kim luân thống ngự, thọ đẳng càn khôn, ngọc chúc quân điều, minh du nhật nguyệt (恭願、金輪統御、壽等乾坤、玉燭均調、明踰日月, kính mong đức vua ngự mãi, thọ bằng càn khôn, đèn ngọc thường soi, sáng hơn nhật nguyệt).” Hay trong Lễ Phật Nghi Thức (禮佛儀式, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1492) cũng có đoạn: “Duy nguyện hoàng đồ củng cố, đế đạo hà xương, văn võ lộc tăng, hưng long Tam Bảo, ngọc chúc thường điều, sĩ dân lạc nghiệp, đàn na diễn khánh, bất phùng Tam Tai Bát Nạn, chí thành vô thượng bồ đề (惟願皇圖鞏固、帝道遐昌、文武祿增、興隆三寶、玉燭常調、士民樂業、檀那衍慶、不逢三災八難、至成無上菩提, cúi mong cơ đồ củng cố, đạo vua sáng ngời, văn võ lộc thêm, hưng thịnh Tam Bảo, đèn ngọc thường soi, muôn dân lạc nghiệp, thí chủ vui mừng, chẳng gặp Ba Tai Tám Nạn, chứng quả vô thượng bồ đề).”

ngọc da

Yu-Hua—Tên của một thiếu nữ mà Đức Phật đã nhân đó nói Ngọc Hoa Nữ Kinh—Name of the woman to whom the sutra Yu-Hua is addressed.

ngọc da kinh

(玉耶經) Cũng gọi Trưởng giả nghệ Phật thuyết tử phụ vô kính kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc đàm vô lan (Phạm: Dharmarakwa) dịch vào đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 2. Nội dung kinh này tường thuật việc người con dâu của Trưởng giả Tu đạt (Pàli: Sudatta) Cấp cô độc tên là Ngọc da, cậy thế nhà giàu có mà tỏ thái độ vênh váo khinh bạc, thiếu mất đức khiêm tốn của người đàn bà, bởi thế Trưởng giả Tu đạt mới đến xin đức Phật dạy bảo. Nhận lời thỉnh cầu của Trưởng giả, đức Phật bèn giáo hóa Ngọc da và nàng đã vâng lời dạy răn của đức Phật, ăn năn lỗi lầm của mình, xin đức Phật lãnh nhận 10 giới. Kinh này phân biệt người vợ làm 7 hạng (vợ như mẹ, vợ như em gái, vợ như thầy, vợ như người vợ, vợ như tớ gái, vợ như kẻ thù, vợ như kẻ sát nhân) và cho rằng 5 hạng trước được mọi người kính yêu, tiếng tốt vang xa, là nền tảng làm cho gia đình hạnh phúc, phồn vinh; còn 2 hạng vợ sau ở đời vị lai sẽ chịu quả báo xấu ác. Kinh này còn có 3 bản dịch khác là: 1. Ngọc da nữ kinh, được dịch vào đời Tây Tấn (không rõ dịch giả). 2. A túc đạt kinh do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. 3. Bản kinh thứ 9 trong phẩm Phi thường của Tăng nhất a hàm quyển 49 (tương đương với kinh Sattabhariyà trong Tăng chi bộ VII. 95 tiếng Pàli), do ngài Tăng già đề bà dịch vào đời Đông Tấn (các bản ghi trên đều được thu vào Đại chính tạng tập 2). Ngoài ra, mục An công thất dịch kinh lục trong Xuất tam tạng kí tập quyển 3 có kinh Thất phụ 1 quyển (tên kinh Thất phụ giống với kinh Sattabhariyà bản Pàli) và nhận xét theo cách sắp xếp thứ tự của kinh Ngọc da, thì có lẽ kinh Thất phụ cũng là bản dịch khác của kinh Ngọc da. [X. Pháp kinh lục Q.3; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 3, 5].

ngọc da nữ kinh

Yu-Hua Sutra—See Ngọc Da.

Ngọc diệp

(玉葉): lá ngọc, là kính ngữ dùng cho những người cao quý xuất thân hoàng thân quốc thích, thường đi chung với kim chi (金枝, cành vàng). Như trong Tây Du Ký (西遊記), hồi 93 có đoạn rằng: “Bần tăng thị cá xuất gia dị giáo chi nhân, chẩm cảm dữ ngọc diệp kim chi vi ngẫu (貧僧是個出家異敎之人、怎敢與玉葉金枝爲偶, bần tăng là người xuất gia khác tôn giáo, nào dám sánh đôi cùng với cành vàng lá ngọc).” Như trong Lịch Triều Thích Thị Tư Giám (歷朝釋氏資鑑, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 76, No. 1517) có đoạn: “Kim chi nhi chi chi đĩnh tú, ngọc diệp nhi diệp diệp tương thừa, pháp luân đại chuyển ư Chi Na, đế nhật trường huy ư Chấn Đán (金枝而枝枝挺秀、玉葉而葉葉相承、法輪大轉於支那、帝日長輝於震旦, cành vàng mà cành cành rực rỡ, lá ngọc mà lá lá truyền thừa, xe pháp chuyển lớn nơi Chi Na, ngày vua sáng mãi nơi Trung Quốc).”

Ngọc giai

(玉階): thềm ngọc, thềm cung vua, hay chỉ cho triều đình. Như trong bài Hòa Giả Chí Xá Nhân Tảo Triều Đại Minh Cung (和賈至舍人早朝大明宮) của Sầm Tham (岑參, 715-770) nhà Đường có câu: “Kim tỏa hiểu chung khai vạn hộ, ngọc giai tiên trượng ủng thiên quan (金鎖曉鐘開萬戶、玉階仙仗擁千官, chuông sớm vòng vàng bày vạn hộ, thềm ngọc gậy tiên giữ ngàn quan).” Hay trong bài thơ Ngọc Giai Oán (玉階怨) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường cũng có câu: “Ngọc giai sanh bạch lộ, dạ cửu xâm la (玉階生白露、夜久侵羅襪, thềm ngọc sinh sương trắng, đêm về thấm vớ tơ).” Trong bài thơ Cái Chổi của vua Lê Thánh Tông (黎聖宗, tại vị 1460-1497) lại có câu thơ rằng: “Lời chúa vâng truyền xuống ngọc giai, cho làm lệnh tướng quét trần ai.”

ngọc hoa

Yu-Hua Palace—See Ngọc Tuyền Ngọc Hoa Lưỡng Tông (2).

ngọc hoa tự

(玉華寺) Cũng gọi Ngọc hoa cung tự. Chùa nằm về phía tây nam huyện Nghi quân, Phu châu, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, được sáng lập vào năm Vũ đức thứ 7 (624) đời Đường. Ban đầu, nơi này được gọi là Nhân trí cung. Năm Trinh quán 21 (647), vua Thái tông cho xây rộng thêm và đổi tên là Ngọc hoa cung. Tháng 5 năm Trinh quán 22 (648), theo lời thỉnh cầu của vua Thái tông, ngài Huyền trang đến ở tại cung này, tháng 10 ngài dịch kinh Năng đoạn kim cương bát nhã. Năm Vĩnh huy thứ 3 (651), cung Ngọc hoa được đổi thành chùa Ngọc hoa. Tháng 10 năm Hiển khánh thứ 4 (659), khi ngài Huyền trang vâng sắc dịch kinh Đại bát nhã, vì không thích cảnh náo nhiệt tại Trường an, nên ngài đến trụ ở chùa này, bấy giờ có các vị Tịch chiếu làm Đô duy na, Khuy cơ, Phổ quang, Huyền tắc... làm việc ở dịch trường. Trong chùa có các điện như: Điện Quang vân, điện Minh nguyệt, điện Gia thọ, điện Khánh phúc và đình Bát quế... đều được sử dụng làm đạo tràng để phiên dịch kinh Đại bát nhã và các kinh khác. [X. lời Bạt trong luận A tì đạt ma giới thân túc; Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.6,10; Tục cao tăng truyện Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Quảng dư kí Q.8].

ngọc hoàn

Vòng ngọc thạch đeo ở một trong những cánh tay phải của “Thiên-Thủ” Quán Âm (Ngàn Tay Quán Âm)—The jade ring in one of the right hands of the “thousand-hand” Kuan-Yin. ; (玉環) Chiếc vòng bằng ngọc. Là vật cầm tay của bồ tát Thiên thủ Quan âm. Trong 40 tay của Bồ tát, tay cầm ngọc này được gọi là Ngọc hoàn thủ (tay cầm vòng ngọc). [X. kinh Thiên quang nhãn Quán tự tại bồ tát bí mật pháp; Thiên thủ quyển trong A sa phược sao Q.88].

ngọc hoàng

Emperor of Jade.

Ngọc Hoàng Thượng Đế

(玉皇上帝): tên gọi của vị vua tối cao của bầu trời, là chủ của Thiên Đình, với nhiều tôn xưng khác nhau như Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝), Ngọc Hoàng Đại Đế (玉皇大帝), Ngọc Đế (玉帝), Ngọc Hoàng (玉皇), Hạo Thiên Kim Khuyết Chí Tôn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕至尊玉皇大帝), Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (玄穹高上玉皇大天帝), Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế (玉皇大天尊玄靈高上帝), hay dân gian thường gọi là Thiên Công (天公, Ông Trời). Dưới thời nhà Tống, vua Chơn Tông (眞宗, tại vị 997-1022) cũng như Huy Tông (徽宗, tại vị 1100-1125) đều có ban Thánh hiệu cho Ngọc Hoàng Đại Đế. Vua Chơn Tông ban cho Thánh hiệu là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế (太上開天執符御歷含眞體道玉皇大天帝). Vua Huy Tông là Thái Thượng Thiên Chấp Phù Ngự Lịch Hàm Chơn Thể Đạo Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế (太上開天執符御歷含眞體道昊天玉皇上帝). Trong các kinh điển của Đạo Giáo tôn xưng là Hạo Thiên Kim Khuyết Vô Thượng Chí Tôn Tự Nhiên Diệu Hữu Di La Chí Chơn Ngọc Hoàng Đại Đế (昊天金闕無上至尊自然妙有彌羅至眞玉皇大帝). Ngài được xem như là một vị thần minh tối cao của Đạo Giáo, địa vị chỉ dưới Tam Thanh Tôn Thần (三清尊神) mà thôi. Dưới con mắt thế tục, Ngài được kính ngưỡng như vị thần tối vĩ đại, là vua trong các vị thần. Theo truyền thuyết dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế không những thọ mạng Thiên Tử thống trị con người, mà còn cai quản cả Tam Giáo Nho, Lão, Thích, cùng với chư vị thần tiên của ba đạo này, cũng như các thiên thần, địa kỳ, người, quỷ đều thuộc quyền thống quản của Ngài. Ngoài việc quản lý ba cõi Thiên, Địa, Nhân, Ngọc Hoàng Đại Đế còn trông coi về sự hưng long, suy bại, tốt xấu, phước họa của vũ trụ vạn vật. Thuộc hạ quản lý về học vụ có Văn Xương Đế Quân (文昌帝君); về thương vụ có Quan Thánh Đế Quân (關聖帝君); về công vụ có Công Thánh Tiên Sư (巧聖先師); về nông vụ có Thần Nông Tiên Đế (神農先帝); về việc địa phương có Đông Nhạc Đại Đế (東岳大帝), Thanh Sơn Vương (青山王), Thành Hoàng Da (城隍爺), Cảnh Chủ Công (境主公), Thổ Địa Công (土地公), Địa Cơ Chủ (地基主); về cõi âm có Phong Đô Đại Đế (酆都大帝) và Thập Điện Diêm Vương (十殿閻王). Theo lý luận của Đạo Giáo, Trời có 13 tầng, mỗi tầng có 3 vạn dặm, địa phương ngoài Trời ra được gọi là Vô Cực (無極), cõi trong Trời là Thái Cực (太極). Ngọc Hoàng Đại Đế là thần linh tối cao vô thượng trong vũ trụ, hết thảy chư thần linh đều phải vâng lịnh Ngài. Cõi Trời Thái Cực chia thành 5 cõi Trời khác nhau: Trung Thiên (中天) có Ngọc Hoàng Đại Đế an ngự, trên chưởng quản 36 cõi trời, ba ngàn thế giới, dưới trông coi 72 cõi, hết thảy sinh linh. Đông Thiên (東天) có Tam Quan Đại Đế (三官大帝), chủ quản ban phước, kéo dài tuổi thọ, giải trừ tai ách, xá tội, tiêu nạn. Nam Thiên (南天) có Văn Hành Thánh Đế (文衡聖帝), chủ quản việc ủy nhiệm chư thần linh, lên xuống, khảo sát, xem xét công tội của các thần. Tây Thiên (西天) có Thích Ca Mâu Ni (釋迦牟尼), chủ quản việc tín ngưỡng, quy y của con người. Bắc Thiên (北天) có Tử Vi Đại Đế (紫微大帝), chủ quản việc ban phước, tiêu tai, ban bố tài lộc. Về lai lịch của Ngài, theo Cao Thượng Ngọc Hoàng Bản Hạnh Tập Kinh (高上玉皇本行集經) của Đạo Giáo cho rằng vào thời xa xưa có một trú xứ tên Quang Nghiêm Diệu Lạc Quốc (光嚴妙樂國); Quốc Vương xứ này là Tịnh Đức Vương (淨德王), Hoàng Hậu là Bảo Nguyệt Quang (寶月光). Cả hai đều lớn tuổi nhưng không có con nối dõi. Bỗng một đêm nọ, bà mộng thấy Thái Thượng Lão Quân (太上老君) ẵm một đứa hài nhi đưa vào trong bài thai của Hoàng Hậu. Bà cung kính đón nhận, đến khi tỉnh dậy mới hay rằng mình đã có thai. Mang thai tròn 12 tháng, rồi đến ngày mồng 9 tháng giêng năm Bính Ngọ thì hạ sinh Thái Tử. Ngay từ lúc nhỏ, Thái Tử đã thông tuệ, đến khi lớn lên phụ tá cho Quốc Vương rất đắc lực, thương dân, làm việc thiện, cứu người nghèo khổ. Sau khi vua cha băng hà, Thái Tử từ bỏ ngôi vị, vào trong Phổ Minh Hương Nham Sơn (普明香岩山) tu đạo, trãi qua 3.200 kiếp, mới chứng được Kim Tiên, hiệu là Tự Nhiên Giác Hoàng. Sau đó, lại trãi qua cả ức kiếp mới chứng thành Ngọc Đế, hy sinh thân mạng để cứu độ chúng sanh. Từ đó, mồng 9 tháng giêng hằng năm được xem như là ngày khánh đản của Ngọc Hoàng Đại Đế. Tại các Đạo Quán đều có thiết lễ dâng cúng, gọi là Ngọc Hoàng Hội (玉皇會) để cầu nguyện phước quả, sống lâu. Tại tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc cũng như Đài Loan, ngày này được gọi là ngày Bái Thiên Công (拜天公, Lạy Ông Trời); cho nên cả gia đình lớn nhỏ, già trẻ đều giữ gìn trai giới, tắm rửa sạch sẽ, dâng hương hành lễ, vái lạy, tụng kinh. Thời xưa, ở phương Bắc của Trung Quốc có tục lệ tế lễ Ngọc Hoàng, rước tượng Ngài đi cùng khắp thôn xóm. Tương truyền 25 tháng 12 là ngày Ngọc Hoàng Đại Đế hà phàm tuần tra nhân gian, cho nên các Đạo Quán cũng như trong dân gian đều có thắp hương, tụng kinh để nghênh đón Ngài. Trong Đạo Mẫu của Việt Nam, Ngọc Hoàng được gọi là Vua Cha Ngọc Hoàng, là cha của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong bài Mộng Tiên (夢仙), Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) có đoạn thơ xưng tán Ngọc Hoàng Đại Đế rằng: “An kỳ tiện môn bối, liệt thị như công khanh, ngưỡng yết Ngọc Hoàng Đế, khể thủ tiền trí thành (安期羨門輩、列侍如公卿、仰謁玉皇帝、稽首前致誠, mong sao lòng kẻ mọn, hầu hạ như công khanh, ngưỡng tâu Ngọc Hoàng Đế, cúi đầu tâm chí thành).

ngọc hàm sơn thạch quật

(玉函山石窟) Cũng gọi Phật dục tự, Hưng long sơn. Hang động trong núi Ngọc hàm, tọa lạc gần huyện Tế nam, tỉnh Sơn đông, Trung quốc. Một trong những quần thể chùa viện hang động được tạo lập vào đời Tùy. Trên sườn núi đá vôi lưng chừng núi Phật dục về mé tây có khắc hơn 90 pho tượng Phật bằng đá, trong đó, phía tây bắc có tượng Phật A di đà và tượng bồ tát Di lặc được tạc vào năm Càn nguyên thứ 2 (759) và năm Khai thành thứ 2 (837) đời Đường, số còn lại đều được tạc vào khoảng năm Khai hoàng (581-600) đời Tùy, gồm các pho tượng Phật Thích ca, Phật A di đà, bồ tát Di lặc v.v... Về cách bày xếp khám thờ Phật, thì tầng thứ 1 có 5 khám, đều khắc theo hình thức Tam tôn; tầng thứ 2 có 27 pho tượng Phật nhỏ; tầng thứ 3 gồm tượng Phật và tượng Bồ tát vừa lớn vừa nhỏ; tầng thứ 4 có 17 pho, tầng thứ 5 cũng khắc tượng Tam tôn. Hào quang phía sau tượng Phật được trang sức bằng hoa văn Đường thảo, khám thờ Phật có chạm trổ đẩu củng, nét khắc rất tinh xảo. Phần nhiều các chùa viện hang động của Phật giáo tại Trung quốc là do vua chúa các triều đại tạo lập, nhưng Hàm sơn thạch quật này là do các chư tăng và Phật tử chung sức tạo thành, hình thức kiến tạo đơn giản, chất phác, đậm sắc địa phương. [X. Tế nam cận giao Bắc Ngụy Tùy Đường tạo tượng (Kinh tam lâm, Văn tham tư, kì thứ 9, năm 1955)].

ngọc hào

Chùm lông trắng (bạch mao) giữa hai chân mày của Phật nơi Ngài phóng quang đi khắp các cõi—The urna or white curl between the Buddha's eyebrows, from which he sent forth his ray of light illuminating all worlds. ; (玉豪) Chỉ cho sợi lông trắng ở khoảng 2 chân mày của đức Phật, vì màu trắng của sợi lông sáng trong như viên bạch ngọc, nên gọi là Ngọc hào. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 11 (Đại 54, 370 thượng) nói: Ngọc hào là sợi lông trắng ở khoảng giữa 2 đầu chân mày của Như lai, sáng trong như ngọc trắng. Từ sợi lông này phóng ra ánh sáng, chiếu rọi khắp các thế giới trong 10 phương, vì thế gọi là Ngọc hào thụy sắc. Tây vực kí Trương thuyết tự (Đại 51, 868 thượng) nói: Ngọc hào rực rỡ, nước cam lộ rưới khắp đại thiên, gương vàng soi sáng, gió ấm chan hòa mặt đất.

Ngọc kệ

(玉偈): câu kệ tụng quý giá như vàng ngọc. Kệ (s, p: gāthā, 偈): âm dịch là Già Đà (伽陀), Già Tha (伽他), Kệ Đà (偈佗); ý dịch là phúng tụng (諷誦、諷頌), tạo tụng (造頌), kệ tụng (偈頌), tụng (頌), cô khởi tụng (孤起頌), bất trùng tụng kệ (不重頌偈). Về nghĩa rộng, Già Đà chỉ cho ca dao, thánh ca; nghĩa hẹp chỉ cho đoạn cuối hay phần chót của kinh văn; nội dung không nhất định và có quan hệ với mạch văn trước sau. Như trong Khai Phước Đạo Ninh Thiền Sư Ngữ Lục (開福道寧禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1353) quyển 1 có câu: “Lang hàm ngọc kệ biến mãn Long Cung, hải giác thiên nhai tiềm phu áo nghĩa, hoặc chiêm hoặc lễ huýnh thoát căn trần, nhược kiến nhược văn câu thành chủng trí (琅函玉偈遍滿龍宮、海角天涯潛敷奧義、或瞻或禮迥脫根塵、若見若聞俱成種智, hòm báu kệ ngọc cùng khắp Long Cung, góc biển bờ trời thầm tuyên áo nghĩa, hoặc nhìn hoặc lễ mau thoát bụi trần, nếu thấy nếu nghe đều thành chủng trí).” Hay trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 9, phần Niệm Phật Chánh Báo Thuyết (念佛正報說), lại có câu: “Thần yết từ nhan đắc pháp ấn nhi hoàn quốc, mộ du kim sát thính ngọc kệ dĩ tiêu dao (晨謁慈顏得法印而還國、暮遊金剎聽玉偈以逍遙, sáng viếng tôn sư được pháp ấn mà về nước, chiều chơi tự viện nghe kệ ngọc bỗng tiêu dao).”

Ngọc Lâm Thông Tú

(玉林通琇, Gyokurin Tsūshū, 1614-1675): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Ngọc Lâm (玉林), xuất thân Giang Âm (江陰), Thường Châu (常州, Tỉnh Giang Tô), họ Dương (楊). Ông thọ Cụ Túc giới với Thiên Ẩn Viên Tu (天隱圓修) ở Kinh Khê (荆溪), làm thị giả hầu thầy trong một thời gian và cuối cùng được thầy phú pháp cho. Sau khi Viên Tu qua đời, ông bắt đầu khai diễn pháp tịch tại Báo Ân Viện (報恩院) thuộc vùng Võ Khang (武康, Tỉnh Triết Giang). Vào năm thứ 15 (1658) niên hiệu Thuận Trị (順治), ông vào cung nội nhận sắc hiệu Đại Giác Thiền Sư (大覺禪師), rồi đến năm thứ 17 (1660) lại được ban cho hiệu là Đại Giác Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư (大覺普濟能仁國師). Vào năm thứ 4 (1665) niên hiệu Khang Hy (康熙), ông trú tại Thiên Mục Sơn (天目山), Hàng Châu (杭州, Tỉnh Triết Giang). Đến ngày mồng 10 tháng 8 năm thứ 14 (1675) niên hiệu Khang Hy, ông thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi đời và 43 hạ lạp. Đệ tử của ông có hơn 20 người. Ông có để lại tác phẩm Ngọc Lâm Tú Quốc Sư Ngữ Lục (玉林琇國師語錄) 12 quyển. Về sau, Vương Hy (王熙) soạn bài tháp minh và Phan Lỗi (潘耒) biên tập hành trạng của ông.

ngọc lâm thông tú

(玉林通琇) Thiền sư Trung quốc, sống vào đời Thanh, người huyện Giang âm, tỉnh Giang tô, họ Dương, tự Ngọc lâm, người đời gọi Ngọc lâm Quốc sư. Năm19 tuổi, sư y vào ngài Khánh sơn Viên tu xuất gia và thụ giới Cụ túc, về sau được nối pháp. Sư trụ trì chùa Báo ân ở huyện Vũ khang, tỉnh Chiết giang, sau vâng sắc của vua Thế tổ nhà Thanh về kinh đô, ở điện Vạn thiện xiển dương đại pháp, được phong hiệu là Đại Giác Thiền Sư. Ít lâu sau, sư trở về núi, để đệ tử là Lữu khê Hành sâm ở lại hoằng pháp tại Bắc kinh, đó là sự mở đầu cho dòng pháp của sư lưu hành ở nơi này. Năm sau, sư được phong hiệu Đại Giác Phổ Tế Thiền Sư và được ban áo đỏ. Năm Thuận trị 17 (1660), vua thỉnh sư làm Bản sư để truyền giới Bồ tát, lại phong hiệu làm Đại Giáo Phổ Tế Năng Nhân Quốc Sư. Thời gian thuyết pháp trong cung, sư có soạn 1 bài Khách vấn, Đại học sĩ Kim chi tuấn vâng sắc làm lời bình và lời tựa để ấn hành. Cuối đời, sư cất chùa Thiền nguyên ở núi Tây thiên mục tại Chiết giang và thường trụ ở chùa này, phát huy Thiền pháp, hình thành phái Sư tử chính tông. Tháng 7 năm Khang hi 14 (1675), sư thị tịch ở am Từ vân tại Hoài an, tỉnh Giang tô, hưởng thọ 62 tuổi. Tháp thờ sư được dựng ở núi Tây thiên mục, ông Vương hi vâng sắc soạn bài minh tháp. Đệ tử nối pháp của sư là Thích Siêu kì biên soạn Niên phổ về sư 2 quyển. Sư có tác phẩm: Ngọc lâm Thông tú Quốc sư ngữ lục 12 quyển. [X. Tục chỉ nguyệt lục Q.19; Đại thanh nhất thống chí Q.9, 61; Thích thị nghi niên lục Q.12].

Ngọc lịch

(玉曆、玉歷): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Chỉ cho ngày đầu tiên của năm Âm Lịch, tức mồng 1 Tết. Như trong bài Kiến Bình Vương Khánh Cải Hiệu Khải (建平王慶改號啟) của Lương Giang Yêm (梁江淹, ?-?) thời Nam Triều có đoạn “Thiết dĩ hoàng cù vĩnh mật, tắc ngọc lịch duy trinh (竊以皇衢永謐、則玉歷惟禎, nép nghĩ đường vua mãi yên, tất đầu năm tốt đẹp).” (2) Lịch thư do nhà vua ban cho vào mỗi đầu năm. Như trong bài thơ Quận Trung Xuân Yến Nhân Tặng Chư Khách (郡中春宴因贈諸客) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Thị thời tuế nhị nguyệt, ngọc lịch bố Xuân Phân (是時歲二月、玉歷布春分, lúc bấy giờ nhằm tháng hai, lịch ngọc ban bố dịp Xuân Phân).” Hay trong bài thơ Nhâm Tý Thu Quá Cố Cung (壬子秋過故宮) của Tống Nột (宋訥, 1311-1390) nhà Minh cũng có câu: “Triêu hội bảo đăng trầm chuyển lậu, thọ thời ngọc lịch bãi ban xuân (朝會寶燈沉轉漏、授時玉歷罷班春, sáng gặp đèn báu thầm khắc đếm, truyền cho lịch ngọc thôi ban [bố] xuân).” (3) Loại dầu cao quý giá, tức là thuốc tiên trong truyền thuyết. Như trong bài thơ Mông Tứ Tửu (蒙賜酒) của Dữu Tín (庾信, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Kim cao hạ đế đài, ngọc lịch tại bồng lai (金膏下帝臺、玉歷在蓬萊, thuốc vàng dưới bệ vua, cao ngọc chốn bồng lai).” Trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (列祖提綱錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 23, phần Niêm Công Thiếp Pháp Ngữ (拈公帖法語), có câu: “Kim luân thống ngự tam thiên giới, ngọc lịch diên hồng ức vạn xuân (金輪統御三千界、玉曆延洪億萬春, xe vàng thống lãnh ba ngàn cõi, lịch ngọc kéo dài ức vạn xuân).” Hay trong Chương Sở Tri Luận (彰所知論, Taishō Vol. 32, No. 1645) quyển Hạ cũng có đoạn: “Huống Chánh Biến Tri chi diệu dụng, kỳ thục năng ngộ ư thử; thạnh hỉ Ưu Đàm thụy thế, thiên khai ngọc lịch chi kỳ; Tượng Giáo trung hưng, thời tế kim luân chi trị (況正遍知之妙用、其孰能語於此、盛矣優曇瑞世、天開玉曆之期、像教中興、時際金輪之治, huống chi sự diệu dụng của Chánh Biến Tri, liệu ai có thể ngộ được điều này; hưng thịnh thay hoa Ưu Đàm hiện thế, trời mở lịch ngọc thời kỳ; Tượng Giáo chấn hưng, gặp lúc xe vàng cai trị).”

ngọc nhu

Pliable jade, i.e. beef.

ngọc nhãn

(玉眼) Tượng Phật được khắc bằng gỗ ở Nhật bản, trong mắt có khảm màng mỏng thủy tinh và vẽ con ngươi, gọi là Ngọc nhãn. Từ thời Đằng nguyên bắt đầu sáng tạo ra cách Kí mộc tạo (tượng ghép gỗ) thì thường ứng dụng phương pháp này để làm mắt tượng Phật. Từ thời Liêm thương trở đi, mắt các tượng Phật phần nhiều đều là ngọc nhãn.

ngọc như ý

Cintamani (skt)—Fabulous gem—The philosopher's stone—Wish-fulfilling jewel—Wish-gem.

ngọc nữ

A pretty girl, a precious maidens. ** For more information, please see Bảo Nữ.

ngọc phương

Tên của một ngôi tịnh xá nổi tiếng nằm trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Tịnh xá được Ni Sư Huỳnh Liên kiến lập vào năm 1958, và được trùng tu lại trong những năm 1970 và 1972. —Name of a famous monastery located in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built 1958 by Venerable Elder Bikkhuni Huỳnh Liên. It was rebuilt in 1970 and in 1972.

ngọc phật

Một tượng Phật bằng ngọc thạch nổi tiếng được tìm thấy khi đào một cái giếng ở Khotan, cao khoảng từ 3 đến 4 bộ Anh—A famous jade Buddha recovered while digging a well in Khotan, 3 to 4 feet high. ; (玉佛) Cũng gọi Ngọc tượng. Tượng Phật tạc bằng ngọc. Điều Sư tử quốc Vô úy sơn tự trong Cao tăng Pháp hiển truyện (Đại 51, 864 hạ) nói: Cất một điện Phật, khắc các pho tượng bằng những vật báu, trong đó có một pho bằng ngọc màu xanh, cao khoảng 3 trượng, toàn thân sáng chói, tướng hảo uy nghiêm, không thể diễn tả bằng lời, trong bàn tay phải có một viên bảo châu vô giá. Điều Tam ma đát tra quốc trong Đại đường tây vực kí quyển 10 (Đại 51, 927 hạ) nói: Có pho tượng Phật bằng ngọc màu xanh, cao 8 thước, đầy đủ tướng tốt, thường hiện linh ứng. Cứ theo điều Vu điền ngọc Phật trong Minh đào tông nghi Xuyết canh lục quyển 28, thì tại nước Vu điền có người đào giếng phát hiện được 1 tượng Phật bằng ngọc, cao khoảng 3, 4 thước, màu xanh mỡ, rọi ánh sáng vào thấy suốt gân, xương, mạch máu. [X. Lương thư Q.54; History of Indian and Indonesian Art, by Ànanda Coomaraswamy; The Chronicle of the Emerald Buddha, by C. Notton].

ngọc phật tự

(玉佛寺) I. Ngọc Phật Tự. Ngôi chùa nổi tiếng ở Thượng hải, có thờ pho tượng rất lớn khắc bằng đá ngọc. Pho tượng này do ngài Tuệ căn ở núi Phổ đà rước từ Miến điện về vào năm Quang tự thứ 8 (1882) đời Thanh, lúc đầu thờ ở chùa Giang loan, sau chùa này bị phá hủy trong chiến tranh. Năm Dân quốc thứ 7 (1918), Ngài Khả thành thuộc tông Lâm tế xây cất chùa mới ở địa chỉ hiện nay, gọi là Ngọc Phật thiền tự. Sau khi chùa được hoàn thành, tượng Ngọc Phật được rước về thờ tại đây. Chùa Ngọc Phật cách thành phố Thượng hải không xa, trong chùa có các kiến trúc như: Điện Đại hùng, điện Thiên vương, lầu Ngọc Phật, điện Ngọa Phật v.v... Trong điện Ngọa Phật (Phật nằm) có cất giữ kinh điển, tượng Phật và các di vật văn hóa quí báu. Trong điện Đại hùng có 3 pho tượng Phật rất lớn đều được an trí trên đàn Tu di cao 3 thước, có 2 pho tượng Phật Thích ca, 1 pho Niết bàn, 1 pho ngồi, chạm bằng ngọc; tượng Niết bàn thờ ở điện Ngọa Phật, còn tượng ngồi thì thờ tại lầu Ngọc Phật, đặt trong khám Phật có nạm pha lê. II. Ngọc Phật Tự. Chùa trong Hoàng cung ở Bangkok, Thái lan, do vua Lapma đời thứ 1 (Rama I) thuộc vương triều Bangkok xây dựng vào cuối thế kỉ XVIII để thờ pho tượng Phật bằng ngọc bích được liệt vào hàng quốc bảo. Theo truyền thuyết, pho tượng Phật này được khắc từ nguyên khối ngọc màu xanh biếc và đặt trên đàn tế mạ vàng cao 11 mét, trên đỉnh đầu tượng có treo lọng hoa 9 tầng, ở 2 bên là 2 quả cầu tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng. Hàng năm, tùy theo mùa, vua Thái lan đích thân đến chùa thay áo cho tượng Ngọc Phật, mùa nóng là áo vàng ròng có mạ đá quí, mùa mưa là áo vàng ròng điểm xuyết những hạt châu báu, mùa mát là áo thuần vàng ròng. Chùa này là nơi để các vua Thái lan làm lễ đăng quang khi lên ngôi, cũng là nơi dành cho Hoàng gia cử hành các nghi thức cúng tế.

Ngọc soạn

(玉饌): món ăn trân quý như ngọc. Trong bài thơ Kỉ (麂) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có đoạn: “Vĩnh dữ thanh khê biệt, mông tương ngọc soạn câu, bất cảm hận bào trù, loạn thế khinh toàn vật (永與清溪別、蒙將玉饌俱、不敢恨庖廚、亂世輕全物, mãi xa khe trong vắng, mong cùng cỗ ngọc theo, chẳng dám hận nhà bếp, đời loạn khinh mọi vật).” Hay trong bài Ngô Đô Phú (吳都賦) của Tả Ân (左思, khoảng 250-305) nhà Tấn lại có câu: “Căng kỳ yến cư, tắc châu phục ngọc soạn (矜其宴居、則珠服玉饌, kính người sống nhàn hạ, nên mặc đồ châu báu, ăn thứ ngọc ngà).” Hoặc trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) quyển 6, phần Tiến Vong Kệ Tán Môn (薦亡偈讚門), cũng có câu: “Diên đôi ngọc soạn thiên trù cúng, hương nhiệt kim lô hải ngạn yên (筵堆玉饌天廚供、香爇金爐海岸煙, cỗ đầy món ngọc bếp trời cúng, hương rực lò vàng ven biển mù).”

ngọc thành khang tứ lang

(玉城康四郎) Học giả Phật giáo Nhật bản. Ông tốt nghiệp khoa Triết học trường Đại học Đế quốc, Đông kinh, năm 1931. Ông làm Giáo sư các trường Đại học Đông kinh và Đại học Đông bắc. Ông dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo với các chủ đề: Triết học của ngài Trần na, Pháp xứng, Thực tướng quán của Thiên thai, Phật học Trung quốc. Ông có các tác phẩm: Sự hình thành của tư tưởng Ấn độ cận đại, sự hình thành của tư tưởng Phật giáo Trung quốc, Minh tưởng và kinh nghiệm.

ngọc thạch

Gem and stone.

Ngọc thất

(玉室): nhà ngọc, chỉ nơi cư trú của thần tiên. Như trong Tấn Thư (晉書), Truyện Hứa Mại (許邁傳), có đoạn: “Tự Sơn Âm Nam chí Lâm An, đa hữu kim đường ngọc thất, tiên nhân chi thảo, Tả Nguyên Phóng chi đồ, Hán mạt chư đắc đạo giả giai tại yên (自山陰南至臨安、多有金堂玉室、仙人芝草、左元放之徒、漢末諸得道者皆在焉, từ Sơn Âm đi về phía Nam đến Lâm An, có nhiều nhà vàng thất ngọc, cỏ thơm của tiên nhân, nhóm của đạo sĩ Tả Nguyên Phóng, những người đắc đạo cuối thời nhà Hán đều ở đây).” Hay trong bài thơ Túc Cửu Tiên Sơn (宿九仙山) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngọc thất kim đường dư Hán sĩ, đào hoa lưu thủy thất Tần nhân (玉室金堂餘漢士、桃花流水失秦人, nhà ngọc lầu vàng nhiều Hán sĩ, đào hoa nước chảy mất Tần nhân).”

Ngọc thọ

(玉樹): cây bằng ngọc, cây trắng như ngọc. Trần Thúc Bảo (陳叔寶, tại vị 583-589, Hoàng Đế cuối cùng của nhà Trần thời Nam Bắc Triều) có làm bài thơ Ngọc Thọ Hậu Đình Hoa (玉樹後庭花): “Lệ vũ phương lâm đối cao các, tân trang diễm chất bổn khuynh thành, ánh hộ ngưng kiều sạ bất tấn, xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh, yêu cơ thiểm tợ hoa hàm lộ, ngọc thọ lưu quang chiếu hậu đình (麗宇芳林對高閣、新粧艶質本傾城、映戸凝嬌乍不進、出帷含態笑相迎、妖姫臉似花含露、玉樹流光照後庭, nhà đẹp rừng thơm đối gác cao, tân trang tuyệt chất vốn nghiêng thành, cửa sáng mỹ miều thẹn chẳng bước, khỏi rèm thư thả đón cười duyên, xinh sao mắt tợ hoa ngậm móc, cây ngọc sáng quang chiếu sau vườn).” Có thuật ngữ “kiêm gia ỷ ngọc thọ (蒹葭倚玉樹, cỏ kiêm và cỏ lau nương tựa vào cây ngọc)” thường được dùng để ví dụ bên xấu bên đẹp, không thể nào so sánh được; từ đó nó có nghĩa là mượn sự vinh quang, phú quý, cao đẹp của người khác để thăng hoa bản thân mình. Thuật ngữ này vốn phát xuất từ Thế Thuyết Tân Ngữ (世說新語), phần Dung Chỉ (容止) của Lưu Nghĩa Khánh (劉義慶, 403-444) nhà Tống thời Nam Triều: “Ngụy Hoàng Đế sử hậu đệ Mao Tằng dữ Hạ Hầu Nguyên tinh tọa, thời nhân vị kiêm gia ỷ ngọc thọ (魏蝗帝使後弟毛曾與夏侯元並坐、時人謂蒹葭倚玉樹, Ngụy Hoàng Đế bảo em vợ là Mao Tằng và Hạ Hầu Nguyên cùng ngồi chung, người đương thời gọi đó là cỏ lau nương cây ngọc).” Câu “ngọc thọ phong trưởng, chi điều mậu thạnh thiên xuân (玉樹豐長、枝條茂盛千春)” có nghĩa là cây ngọc phát triển mạnh mẽ, nên các cành lá tươi tốt mãi mãi, có thể kéo dài đến cả ngàn năm.

ngọc trai

Pearl.

Ngọc triện

(玉篆): có hai nghĩa chính. (1) Từ mỹ xưng của lối chữ Triện; phần lớn chỉ cho những văn tự trong các điển tịch, văn cáo, sách phù lục, v.v. Như trong bức Lập Thông Đạo Quán Chiếu (立通道觀詔) của Vương Bao (王褒, ?-?) nhà Hán có đoạn: “Thánh triết vi ngôn, tiên hiền điển huấn, kim khoa ngọc triện, bí tích di thư, tinh nghi hoằng xiển, nhất dĩ quán chi (聖哲微言、先賢典訓、金科玉篆、秘蹟遺書、幷宜弘闡、一以貫之, Thánh triết lời hay, tiên hiền giáo huấn, khoa vàng Triện ngọc, dấu tích di thư, đều nên mở rộng, xuyên suốt như một).” Hay trong bài thơ Hòa Tả Vệ Võ Thương Tào Tặng Hữu Vệ Lý Kỵ Tào (和左衛武倉曹贈右衛李騎曹) của Tôn Địch (孫逖, 696-761) nhà Đường có câu: “Văn trường san ngọc triện, võ sự chưởng kim nao (文塲刊玉篆、武事掌金鐃, văn chương in Triện ngọc, chuyện võ nao bạt cầm).” (2) Chỉ cho loại sách của tiên gia. Như trong bài thơ Trung Nguyên Dạ Ký Đạo Lữ (中元夜寄道侶) của Lục Quy Mông (陸龜蒙, ?-881) nhà Đường có câu: “Đinh ninh độc thọ kim phi ước, hứa dữ thân đề ngọc triện danh (丁寧獨受金妃約、許與親題玉篆名, đinh ninh riêng chịu nàng hôn ước, hứa cùng nhau đề sách tiên tên).”

ngọc trùng trù tử

(玉蟲厨子) Trù tử tức là cỗ khám thờ Phật, hoặc được sử dụng để cất giữ kinh điển. Ngọc trùng trù tử là khám thờ Phật có hình dáng cung điện được đặt trong Kim đường chùa Pháp long tại Nhật bản. Vì cỗ khám này có trang sức cánh con ngọc trùng cho nên có tên như trên: Khám cao 2,33 mét, nền là tòa Tu di hình vuông, trên cột khám có chạm các hoa văn chim bay theo kiểu Đường thảo có thếp vàng, phía dưới thì nhấn rất nhiều cánh ngọc trùng, ngói lợp làm bằng lá đồng, gọi là Hành cơ tập, đáng gọi là kết tinh của nền kiến trúc ở thời đại Phi điểu. Bên trong khám có Thiên Tôn Phật bằng đồng mạ vàng. Màu nền của hội họa thì lấy sơn đen làm chính, còn màu đỏ, màu xanh lá cây, màu vàng đất... thì dùng để vẽ các đường nét. Cửa cung điện có tượng Bồ tát và tượng Thiên bộ, mặt sau có bức vẽ cúng dường tháp Đa bảo. Mặt chính phía dưới tòa Tu di vẽ tranh cúng dường xá lợi, mặt bên phải vẽ tranh xả thân cho hổ đói ăn, mặt bên trái có bức tranh tả cảnh bỏ mình để được nghe bài kệ, mặt sau vẽ núi Tu di. Ngoài ra, trong cùng 1 bức tranh còn có các hình vẽ khác để biểu thị sự lưu chuyển của thời gian. Nét vẽ đơn thuần này đã ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển hội họa ở đời sau. [X. Nhật bản quốc bảo toàn tập, tập 28; Nhật bản kiến trúc sử; Quốc bảo mục lục].

ngọc tuyền ngọc hoa lưỡng tông

Hai tông phái Ngọc Tuyền và Ngọc Hoa—The two schools of the Jade-fountain and Jade-flower: Ngọc Tuyền Tông: Thiên Thai Tông (T'ien-T'ai Sect)—Ngọc Tuyền là tên của một tự viện ở Đang Dương thuộc tỉnh Hồ Bắc, nơi Trí Khải Đại Sư (Trí Nhất), sơ tổ của tông Thiên Thai đã sống—Yu-Ch'uan sect, was the name of the monastery in Tang-Yang, Hupei, where Chih-I, the founder of the T'ien-T'ai school lived. Ngọc Tuyền Tông: Pháp Tướng Tông (Dharmalaksana Sect)—Ngọc Hoa là tên của một tự viện, nơi Huyền Trang, tổ của tông phái nầy đã sống và làm việc. Nơi đây ông đã dịch 600 cuốn của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa—Yu-Hua, was the name of a palace which was transformed into a temple where Hsuan-Tsang, the founder in China, lived and worked. There he translated the Mahaprajna-Paramita-Sutra, 600 books (chuan). ; (玉泉玉花兩宗) Chỉ cho tông Thiên thai và tông Pháp tướng. Vì Đại sư Thiên thai Trí giả từng trụ ở chùa Ngọc tuyền, cho nên dùng Ngọc tuyền để chỉ cho tông Thiên thai. Còn ngài Huyền trang thì ở tại chùa Ngọc hoa dịch kinh Đại bát nhã và truyền tong Pháp tướng, thế nên dùng Ngọc hoa để chỉ cho tông Pháp tướng. (xt. Ngọc Tuyền Tự, Ngọc Hoa Tự).

Ngọc Tuyền Tự

(玉泉寺, Gyokusen-ji): còn gọi là Ngọc Tuyền Thiên Thai (玉泉天台), là ngôi tự viện quan trọng của Phật Giáo thuộc địa khu Hán tộc, là đơn vị bảo hộ văn vật trọng điểm của quốc gia; hiện tọa lạc tại Ngọc Tuyền Sơn (玉泉山), Phủ Kinh Khê (荆溪府), trong phạm vi của Đương Dương, Tỉnh Hồ Bắc. Trong khoảng niên hiệu Kiến An (建安) nhà Đông Hán, tăng Phổ Tịnh (普淨) đã từng kết thảo am tu tập tại núi này. Vào năm 528 (Đại Thông [大通] 2) của Nam Bắc Triều, vua Lương Võ Đế ban sắc chỉ kiến tạo nơi đây ngôi Phú Thuyền Sơn Tự (覆船山寺). Đến năm 593 (Khai Hoàng [開皇] 13) nhà Tùy, Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397) vâng chỉ kiến lập chùa, nhân thấy dòng suối dưới núi trong vắt như viên ngọc, bèn đổi tên thành Ngọc Tuyền Tự. Chính Đại Sư đã từng thuyết giảng Pháp Hoa Huyền Nghĩa (法華玄義) và Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀) tại chùa này. Trong khoảng thời gian niên hiệu Đại Nghiệp (大業, 605-617) nhà Tùy, Tấn Vương Dương Quảng (晉王揚廣, tại vị 604~618) ban cho bức ngạch đề dòng chữ “Ngọc Tuyền Tự (玉泉寺)”. Năm 676 (Nghi Phụng [儀鳳] nguyên niên) nhà Đường, Thần Tú đến trú tại đây và xiển dương Thiền pháp; từ đó, ngôi già lam này càng lúc càng hưng thịnh và nổi tiếng khắp chốn tòng lâm trong thiên hạ. Về sau, trãi qua các triều đại, chùa đều được trùng tu và sữa chữa nhiều lần. Từ khi Giám Chơn (鑑眞, Ganjin, 688-763), đệ tử của Hoằng Cảnh (弘景), được mời sang Nhật làm Luật Sư, ngôi chùa này trở nên nổi tiếng như là nơi nghiên cứu về Giới Luật rất thịnh hành. Ngoài ra, Nam Nhạc Hoài Nhượng (南岳懷讓) đã từng xuống tóc xuất gia với Hoằng Cảnh tại linh địa này; hay như trường hợp Đại Mai Pháp Thường (大梅法常) lúc thanh niên đã tu học tại đây.

Ngọc tướng

(玉相): chỉ cho bản chất thuần mỹ, cao quý như ngọc. Như trong bài thơ Tổ Đạo Triệu Vương Ứng Chiếu Thi (祖道趙王應詔詩) của Trương Hoa (張華, 232-300) nhà Tấn có câu: “Bẩm tư tự nhiên, kim chất ngọc tướng (稟姿自然、金質玉相, hình dáng tự nhiên, chất vàng tướng ngọc).” Từ đó, từ này còn được dùng để chỉ cho tướng hảo trang nghiêm của các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Trực Chỉ Sớ (觀無量壽經直指疏, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 22, No. 413) quyển 1, phần Quán Kinh Trực Chỉ Sớ Tự (觀經直指疏序), có đoạn: “Dục đỗ toàn thể chi kim dung, tiên chiêm mi hào chi ngọc tướng, Quan Âm thượng đảnh ư Phật quả, Thế Chí hạ động hàm linh (欲睹全體之金容、先瞻眉毫之玉相、觀音上頂於佛果、勢至下動於含靈, muốn thấy toàn thể ấy dung vàng, trước nhìn lông mày ấy tướng ngọc, Quan Âm trên đảnh chứng Phật quả, Thế Chí dưới động đến sinh linh).” Hay trong Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (禪門諸祖師偈頌, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1298) quyển 1, phần Thích Ca Như Lai Thành Đạo Ký (釋迦如來成道記) do Vương Bột (王勃, 649-675) nhà Đường soạn, có câu: “Giáo cập Thần Châu, thanh lưu Hoa Hạ, Bột thao sanh quý thế, hoạch phụng chơn đàm, tuy lục tục nhi dĩ tự kim ngôn, tại phiêu linh nhi bất phùng ngọc tướng, kiến văn tận nhĩ, tông trí chiêu nhiên (敎及神州、聲流華夏、勃叨生季世、獲奉眞譚、雖錄續而以敘金言、在飄零而不逢玉相、見聞盡爾、宗致昭然, giáo pháp đến tận Thần Châu [Trung Nguyên], thanh danh vang khắp Hoa Hạ [Trung Quốc], Bột tôi nhờ sanh vào đời tốt, được vâng lời chơn, tuy liên tục mà để tỏ bày lời vàng, vì phiêu lưu mà không gặp tướng ngọc, thấy nghe cùng khắp, tông chỉ sáng ngời).”

ngọc viên

Tên của một ngôi Tổ Đình thuộc hệ phái Khất Sĩ, tọa lạc trong thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam. Tổ đình được Tổ Sư Minh Đăng Quang xây dựng năm 1948. Ngôi chánh điện hình chữ nhật, tượng trưng cho “Thuyền Bát Nhã.” Giữa chánh điện là Pháp tháp nơi đặt tôn tượng của Đức Phật Thích Ca—Name of a monastery, a Patriarch Temple of the Vietnamese Medicant Sect, located in Vinh Long Town, Vinh Long province, South Vietnam. It was established and built in 1948 by the Most venerable Master and Zen Master Minh Đăng Quang. The Main Hall is rectangular symbolizing the “Prajna Boat.” In the middle of the Main Hall is the Dharma stupa where the statue of Lord Sakyamuni Buddha is placed and worshipped. Ngoi: To rise up (above mud or water).

ngọc điệp

(玉牒) Chỉ cho kinh điển Phật. Nhân minh nhập chính lí luận sớ quyển thượng (Đại 44, 91 trung) nói: Kim dung xán lạn, ngọc điệp huy hoàng, tuy chí giáo đã hưng thịnh, nhưng sách này chưa đầy đủ.

ngọn

Top (of tree or mountain)—End—Extremity—Crest (of waves)—Blade (of grass)—Summit (of hill or mountain).

ngọn ngành

In detail.

ngọt dịu

Sweetish.

ngọt giọng

Sugary tone.

ngọt mật chết ruồi

You catch more flies with honey than with verjuice.

ngỏ lời

To express—To speak to someone.

ngỏ ý

To express (make known) one's intention.

ngốc am trang thiền sư ngữ lục

(呆庵莊禪師語錄) Cũng gọi Kính trung hòa thượng ngữ lục. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Kính trung Phổ trang soạn vào đời Minh, ngài Tuệ khải biên tập, ấn hành vào năm Sùng trinh thứ 3 (1630), được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung bộ sách này thu chép các ngữ lục của Thiền sư Phổ trang khi ngài trụ trì và hoằng pháp tại các chùa: Bắc thiền ở Vũ châu (Lâm xuyên, tỉnh Giang tây), Chân như thiền ở núi Vân cư, Nam khang, Giang tây và Vạn thọ thiền ở núi Kính sơn, Hàng châu (huyện Hàng, tỉnh Chiết giang), gồm các hạng mục: Thướng đường, Tiểu tham, Niêm cổ, Tụng cổ, Kệ, Thi, Tán, Tháp minh v.v...

ngốc không

(禿空) Đầu trọc chấp không. Từ châm biếm Phương quảng đạo nhân, những người chấp trước đãn không(chỉ có không, hoàn toàn không). Phương quảng đạo nhân là những người ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo Đại thừa, với ý đồ xuyên tạc giáo lí Phật giáo; họ chủ trương trong pháp giới hoàn toàn không có vật gì, tất cả chỉ là ngoan không. Vì thế Phật giáo gọi họ làÁc thủ không, Thốc không. [X. Ma ha chỉ quán Q.7]. ; (禿空) Danh từ này dùng để chế diễu kẻ ác thủ không trong Phương quảng đạo nhân. Phương quảng đạo nhân là những người ngoại đạo bám vào Phật pháp Đại thừa, chủ trương trong pháp giới không có 1 mảy may gì hết, chấp trước ngoan không. Vì thế kiến chấp không này được gọi là Ác thủ không, Ngốc không.

ngốc nhân

(禿居士) Cũng gọi là Thốc, Thốc cư sĩ, Thốc nô, Thốc tì. Người trọc đầu. Từ ngữ phỉ báng tăng già. Tức chê bai, chế diễu những người bề ngoài là hình tướng xuất gia, cạo tóc, nhưng thực ra là kẻ phá giới, không giữ giáo chế, luật nghi, hoặc những người xuất gia chỉ lấy đó làm kế mưu sinh. Năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010), vua Chân tông nhà Tống ban sắc lệnh cấm chỉ người trong nước vô cố dùng chữ Thốc hủy nhục tăng ni. Ngoài ra, người ngu cũng bị gọi là Thốc lũ sinh, Ngu thốc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Niết bàn quyển 3 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38]. (xt. Thế Phát). ; (禿人) Cũng gọi Ngốc, Ngốc cư sĩ, Ngốc nô, Ngốc tì. Người trọc đầu. Lời phỉ báng những người bề ngoài mang hình tướng xuất gia, đầu tròn áo vuông, nhưng thực ra là kẻ phạm trai phá giới, không tuân thủ giáo luật, hoặc lời chê bai những kẻ mượn màu áo xuất gia làm kế mưu sinh. Năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010) đời Bắc Tống, vua Chân tông ban lệnh cho thiên hạ cấm chỉ không được vô cớ dùng chữ ngốc để sỉ nhục tăng ni. Ngoài ra, người ngu cũng bị gọi là Ngốc lũ sinh, Ngu ngốc. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Niết bàn Q.3 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.38]. (xt. Thế Phát).

ngồi

To sit.

ngồi bó gối

To sit with one's arms around one's knees.

ngồi chễm chệ

To sit solemnly (in state).

ngồi không

To stay idle.

ngồi lì

To sit tight.

ngồi một cách an vui

Phải ngồi đúng chỗ thích nghi. Khi thấy cha mẹ chồng đến phải đứng dậy để tỏ lòng kính trọng, chứ không được ngồi—Sit happily. A wife should sit in a becoming way. On seeing her parents-in-law or her husband, she should stand up as a sign of respect, and not remained seated. Ăn một cách an vui: Có nghĩa là trước khi ăn cơm phải coi có dọn đầy đủ cho cha mẹ chồng và chồng chưa. Cũng phải coi chừng người làm trong nhà, phải xem coi họ có được chăm sóc đầy đủ không—Eat happily means that before partaking of her meals, a wife should first see that her parents-in-law and husband are served. She should also see that her servants are well cared for.

ngồi thiền

To sit in meditative position—To meditate.

ngồi tréo ngoảy

To sit with one leg across (over) the other.

ngồi xếp chéo lỏng

Thế ngồi Thiền theo kiểu Nhật Bản, ngồi xếp chéo lỏng, không phải bán già mà cũng không phải kiết già—The loose cross-legged sitting position originated from Japan. It is neither the half-lotus nor the full-lotus.

ngồi yên

To sit still.

ngổn ngang

In disorder—Out of order—In confusion.

ngỗ nghịch

Insubordinate—Disobedient.

Ngộ

悟; C: wù; J: satori (悟り);|Một thuật ngữ của Thiền tông, được dùng để chỉ sự »nhận thức«, »trực nhận«, »thấu hiểu xuyên suốt.« »Nhận thức« ở đây không phải là sự hiểu biết thông thường hoặc nhận thức theo các hệ thống triết lí mà chính là sự trực nhận chân lí không có sự phân biệt giữa »Người nhận thức« và »Vật được nhận thức« (Nhân vật bất nhị 人物不二). Một danh từ khác đồng nghĩa với ngộ là Kiến tính (j: ken-shō). Biểu thị Ðại ngộ triệt để cũng thường được sử dụng để chỉ sự Giác ngộ tột cùng, viên mãn.|Danh từ Ngộ được thông dụng khi Thiền tông bắt đầu hưng thịnh. Trước đó, các Cao tăng hay dùng chữ Bồ-đề (菩提), cách phiên âm chữ Bodhi của Phạn ngữ hoặc cách dịch nghĩa của nó là Giác, Giác ngộ (覺悟) hơn. Có lẽ các vị Thiền sư muốn thống nhất hoá tư tưởng »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự«, chủ trương đem danh từ Ngộ vào pháp ngữ.|Nếu nghiên cứu kĩ cách sử dụng danh từ Ngộ và Giác (Bồ-đề) trong các kinh luận, thiền ngữ Trung Quốc, người ta có thể thấy được một sự khác biệt tinh tế trong cách sử dụng. Ngộ thường được dùng để chỉ cái kinh nghiệm thức tỉnh trong ý nghĩa ngay thức thì của nó trong khi Giác được dùng với nghĩa »Ngộ thường trực«. Người đã có kinh nghiệm Ngộ cần phải tu tập thêm để đạt đến mức toàn vẹn của Giác.|Trong thời gian Thiền tông phát triển tại Nhật, các vị Thiền sư tại đây lại phân biệt giữa hai danh từ Ngộ (j: satori) và Kiến tính (見性; j: kenshō) và sự khác biệt giữa hai danh từ này cũng giống như trường hợp giữa Giác và Ngộ. Trong những khóa thực hành thiền căn bản, các vị Lão sư (j: rōshi) thường dùng danh từ Kiến tính để chỉ những kinh nghiệm ngộ đạo ban sơ của thiền sinh, rất ít khi dùng chữ Ngộ.

ngộ

Đẹp Đẽ: Pretty. Gặp gỡ: Tri ngộ—To meet. Giác Ngộ: Budh (skt). Bừng tỉnh: Tỉnh thức: Jagarati (p)—Jagara (skt)—To apprehend—To awake—To awaken—To wake up. Giác ngộ: Sambodhi (skt)—Knowledge—Enlightenment. Làm tỉnh ngộ: Sambodhana (skt)—Arousing—Awaking—Recognizing. ; (悟) Đối lại: Mê. Sinh khởi chân trí, xoay chuyển mê mộng, tỏ ngộ chân lí, gọi là Ngộ. Như nói chuyển mê khai ngộ, chứng ngộ, giác ngộ, ngộ nhập... Vì giáo lí trong Phật giáo có sâu cạn khác nhau nên cảnh giới ngộ cũng bất đồng: Tiểu thừa đoạn phiền não trong 3 cõi thì chứng được lí trạch diệt; tông Duy thức chủ trương ngộ nhập tính Duy thức; tông Tam luận nhằm đến được cảnh Không bất khả đắc; tông Hoa nghiêm chủ trương chứng nhập Tự cảnh giới của Thập Phật; tông Thiên thai chủ trương chứng ngộ thực tướng các pháp, còn Thiền tông thì đề xướng Kiến tính thành Phật v.v... Nói tóm lại, cảnh giới ngộ của Đại thừa là chứng biết chân lí, dứt sạch phiền não, đầy đủ vô lượng diệu đức, ứng hiện muôn cảnh 1 cách tự tại. Nếu phân biệt mê ngộ trong 10 cõi (địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật) thì 6 cõi trước là mê, 4 cõi sau là ngộ. Nếu nói theo 1, 9 đối đãi thì 9 cõi trước là nhân, 1 cõi sau là quả, nghĩa là chỉ có quả vị Phật là cảnh giới ngộ viên mãn. Nếu nói theo trình độ chứng ngộ thì ngộ 1 phần là tiểu ngộ, ngộ toàn phần là đại ngộ. Nếu căn cứ vào thời gian nhanh chậm, thì có thể chia làm Tiệm ngộ và Đốn ngộ. Nếu lại căn cứ vào trí giải mà bàn thì hiểu biết được lí gọi là Giải ngộ, còn do tu hành thực tiễn đạt được lí thì gọi là Chứng ngộ. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.4; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.8, hạ; Long môn Phật nhãn hòa thượng ngữ lục trong Cổ tôn túc ngữ lục Q.30].

ngộ (lãnh) hội

To understand wrongly.

ngộ biến

To meet with a danger.

ngộ chân long cốc

Zen Master Ngộ Chân Long Cốc—Thiền sư Ngộ Chân Long Cốc, quê ở Nam Việt. Ngài là một thiền sư thuộc dòng Lâm Tế, nhưng không rõ đời nào. Ngài khai sơn chùa Đức Vân trên núi Chứa Chan ở Biên Hòa. Lúc cuối đời ngài đi vân du, ngài thị tịch hồi nào và ở đâu không ai biết—A Vietnamese zen master from South Vietnam. He was a monk from the the Linn Chih Zen Sect; however, his generation was unknown. He built Đức Vân Temple on Mount Chưa Chan in Biên Hòa province. Late in his life, he became a wandering monk. His whereabout and when he passed away were unknown.

ngộ diện

Face to face.

ngộ giải

Understand wrongly.

ngộ hiểm

To be in danger.

ngộ khai

(悟開) Cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ, sống vào đời Thanh, người Mộc độc, Tô châu, họ Tương, tự Hoát nhiên, hiệu Thủy vân đạo nhân. Thủa nhỏ, sư đã học thông kinh sử, nhưng vì nhà nghèo, sư phải bỏ học để theo nghề buôn bán. Một hôm, đang trên đường đi, sư gặp 1 vị tăng giáo hóa, sau đó sư qui y Tam bảo, lễ ngài Tường phong Văn công cầu xuất gia và y vào Hòa thượng Như giám ở chùa Cao mân thụ giới Cụ túc. Sư tham cứu nhiều năm, giảng pháp ở chùa Hiển thân tại Kinh nam, sau sư về ẩn ở am Bảo tạng tại Linh nham, tinh cần niệm Phật, tiếp hóa hậu lai. Ngày 20 tháng 9 năm Quang đạo thứ 10 (1830), sư tịch. Sư để lại các tác phẩm: Tịnh nghiệp tri tân, Tịnh nghiệp sơ học tu tri, Niệm Phật cảnh sách, Thập lục quán cổ đạo tình... mỗi loại 1 quyển. [X. Tịnh độ Thánh hiền tục lục].

ngộ không

(悟空) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Vân dương, Kinh triệu (nay là Kinh dương, tỉnh Thiểm tây), họ Xa, tên Pháp giới, tự Ngộ không, là hậu duệ của họ Thác bạt đời Bắc Ngụy. Năm Thiên bảo thứ 9 (750), nước Kế tân sai Đại thủ lãnh Tát ba đạt cán và Tam tạng Xá lợi việt ma đến Trung quốc cầu thân. Năm sau, triều đình nhà Đường cử sư làm Tả vệ theo phái đoàn của Trung sứ Trương thao quang đến nước Kế tân đáp lễ. Sau khi hoàn tất sứ mệnh, Sứ đoàn Trương thao quang trở về nước, riêng sư vì lâm bệnh nên phải lưu lại Kế tân. Sau khi bệnh thuyên giảm, sư xin ngài Tam tạng Xá lợi việt ma thế phát xuất gia, pháp hiệu là Đạt ma đà đô (Phạm:Dharma-dhàtu, Hán dịch: Pháp giới), lúc ấy sư được 27 tuổi. Năm 29 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở nước Ca thấp di la, học luật nghi và tiếng Phạm ở chùa Mông đề, học xong, sư đi tham lễ các chùa Phật suốt 4 năm. Sau, sư đến Trung Thiên trúc chiêm bái các Thánh tích như: Tháp nơi Phật giáng sinh ở thành Ca tì la vệ, tháp ở đạo tràng Bồ đề nơi Phật thành đạo tại nước Ma yết đà và lưu lại an cư ở chùa Bồ đề. Sau an cư, sư đến chiêm bái tháp nơi đức Phật nhập Niết bàn ở Sa la song lâm tại thành Câu thi na, cuối cùng, sư về trụ ở chùa Na lan đà. Năm Hiển đức thứ 3 (765), sư trở về Trung quốc, mang theo các kinh bằng tiếng Phạm như: Kinh Thập địa, kinh Hồi hướng luân, kinh Thập lực và xá lợi Phật. Dọc đường, qua các nước, sư đều lưu lại để dịch các kinh nói trên. Vào tháng 9 năm Trinh nguyên thứ 5 (789), sư theo quan Trung sứ Đoàn minh tú về nước, dâng xá lợi Phật và các kinh đã dịch được lên vua. Sư vâng chiếu chỉ chính thức được độ làm tăng và được ban pháp hiệu là Ngộ không. Những kinh do sư dịch gồm 3 bộ 11 quyển được thu vào Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục. Còn hành trạng của sư do ngài Viên chiếu soạn được ghi trong Đại đường trinh nguyên tân dịch Thập địa kinh... trong Đại chính tạng tập 17. [X. Tống cao tăng truyện Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].

ngộ nghĩnh

Lovely—Pretty.

ngộ nhất thừa

Ekayanavabodha (skt)—Realization of the One Vehicle—See Nhất Thừa.

ngộ nhẫn

(悟忍) Cũng gọi Hỉ nhẫn, Tín nhẫn. Tên khác của Vô minh pháp nhẫn, tức là Nhẫn vị trong Thập tín, cũng là 1 trong 3 nhẫn của Tịnh độ. Hành giả tinh tiến dũng mãnh, chuyên cần quán tưởng vẻ trang nghiêm của Tịnh độ, trong tâm thấy được cảnh giới ấy; khi công phu đã sâu, bỗng nhiên tỏ ngộ là đạt được vô sinh nhẫn. Như phu nhân Vi đề hi hiện tiền được thấy Phật A di đà mà thoắt nhiên khai ngộ được Vô sinh pháp nhẫn. [X. kinh Quán vô lượng thọ; Định thiện nghĩa trong kinh Quán vô lượng thọ kinh sớ Q.3].

ngộ nhận

To mistake.

ngộ nhập

Giác ngộ lý thực tướng, hay nhập vài lý thực tướng (tỉnh ngộ và đắc nhập là hai trình độ liên tiếp của người tu Phật. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Đức Phật đã dạy: “Muốn làm cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, nên ngài đã thị hiện ở đời.”)—To aprehend or perceive and enter into the idea of reality. Sugandhara, tên của một nhà sư người Kashmir: Sugandhara, name of a Kashmir monk. ; (悟入) I. Ngộ Nhập. Tỏ ngộ lí thực tướng của các pháp; chứng nhập lí thực tướng các pháp. Theo phẩm Phương tiện trong kinh Pháp hoa, thì đức Phật vì muốn cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến của Phật, nên xuất hiện nơi đời. II. Ngộ Nhập. Phạm: Skandhila. Hán âm: Tắc kiến địa la, Tắc kiến đà, Tác kiến địa la. Vị Cao tăng kiêm học giả của Thuyết nhất thiết hữu bộ, là thầy của bồ tát Thế thân và luận sư Chúng hiền, người nước Ca thấp di la thuộc Bắc Ấn độ. Ngài là người tính tình ôn hòa, thuần hậu, khi ngài Thế thân soạn luận Câu xá, thì ngài Chúng hiền làm luận Thuận chính lí để phá, trong đó có lời phê bình phát xuất từ lòng hiềm khích không đáng, vì thế tôn giả Ngộ nhập mới soạn luận Nhập a tì đạt ma 2 quyển, nói rõ giáo nghĩa của Hữu bộ 1 cách khéo léo. Sau đó, tiếng tăm của ngài Thế thân lừng lẫy, tôn giả Chúng hiền bèn kín đáo nói với ngài Thế thân rằng: Họa ắt đến với ông, trước khi nó đến, ông nên lánh sang nước Ca thấp di la. Về sau, quả nhiên ứng nghiệm. [X. Bà tẩu bàn đậu pháp sư truyện; Câu xá luận bảo sớ Q.1; điều Ca thấp di la trong Đại đường tây vực kí Q.3].

ngộ nạn

To be in danger.

ngộ phán

Mistrial.

ngộ pháp nan

(遇法難) Gặp được Phật pháp là 1 việc hiếm có, rất khó khăn. Nhờ căn lành kiếp trước sâu dày mới gặp được giáo pháp vô thượng vi diệu, cho nên, nếu may mắn gặp được Phật pháp, thì nên dốc lòng tin nhận và vâng theo đó mà thực hành. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ]. NGỘ SÁT Sát, gọi đủ là Sát đa la, (Phạm:Kwetra), có nghĩa là ruộng đất, cõi nước. Chỉ cho nơi an trụ của người đã giác ngộ. Kinh Viên giác (Đại 17, 920 thượng) nói: Nếu muốn trở về ngộ sát, trước phải diệt tham sân si.

ngộ phật, mê phàm

Those who greatly realize delusion are Buddhas; those who are greatly deluded are ordinary people.

ngộ sát

Cõi nước nơi những người giác ngộ an trụ để tự ngộ và giác ngộ cho chúng sanh, như Ta Bà thế giới là ngộ sát của Đức Phật Thích Ca: The ksetra or land of enlightenment or perception, i.e. Saha world is the Buddha's ksetra. Giết hại chúng sanh, nhưng không cố ý sát sinh: To kill through negligence—Manslaughter.

ngộ tha

(悟他) Phạm: Para-saôvid. Tiếng dùng trong Nhân minh. Làm cho người khác được tỏ ngộ. Là 1 trong Nhị ngộ. Tha là chỉ cho những người khác với người lập luận, bao gồm người vấn nạn và người chứng nghĩa. Ngộ tha nghĩa là dùng lời nói khiến những người khác hiểu rõ chính lí, đạt được chính trí. [X. luận Nhân minh chính lí môn; Nhân minh nhập chính lí luận Ngộ tha môn thiển thích]. (xt. Nhị Ngộ).

ngộ thiền

(悟禪) Tỏ ngộ được lí thiền. Tham cứu để đạt được lí thiền, hoặc thực tiễn tu tập công phu tọa thiền, hoặc tham cứu ý chỉ mầu nhiệm của Phật pháp trong những cổ tác công án v.v... đều lấy việc giải thoát thân tâm, thấy tính ngộ đạo làm mục đích. [X. Thiền lâm loại tụ Q.5].

ngộ tiến

(悟進) Thiền sư Trung quốc, thuộc tông Lâm tế, sống vào đầu đời Thanh, người huyện Gia hưng, tỉnh Chiết giang, họ Trương, hiệu Giới am. Thủa nhỏ, sư theo ngài Uyên hồ Diệu dụng ở am Đồng nguyệt, sau lễ ngài Vạn như Thông vi ở Long trì cầu thế phát xuất gia và được giao nhiệm vụ coi kho; sư khắc khổ tham thiền, ngày thường quên ăn, đêm thì bỏ ngủ. Một hôm, sư nghe tiếng búa chặt vào cây, bỗng có chỗ tỉnh ngộ, sư bèn đến Kiến ninh (Phúc kiến) tham yết ngài Diệu dụng, sư hoát nhiên đại ngộ. Về sau, sư lần lượt trụ trì điện Quan âm ở Kính sơn, chùa Kim minh ở Gia hưng... đại chấn tông phong, người đến tham học rất đông và có nhiều đệ tử được nối pháp. Năm Khang hi 12 (1673) sư thị tịch, hưởng thọ 62 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Giới am Tiến thiền sư ngữ lục, 10 quyển, Giới am hòa thượng nguyên lưu tụng. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.68].

ngộ tân tử tâm thiền sư

Thiền Sư Ngộ Tân Tử Tâm ở Hoàng Long, sanh năm 1044 tại Thiều Châu. Sư xuất gia và thọ cụ túc giới tại tuviện Phật Đà lúc còn rất trẻ. Về sau sư vân du tới viếng Thiền Sư Hoàng-Long-Tổ Tâm thuộc dòng Lâm Tế—Zen master Wu-Xin-Tzu-Xin-Huang-Lung was born in 1044 in Shao-Chou. As a very young man, he entered Fo-Tuo Monastery where he gained ordination. Later he traveled to visit the teacher Huang-Lung-Zu-Xin of the Lin-Chi lineage. Một hôm ngài thượng đường thuyết pháp: “Này chư Thượng Tọa, thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Thân nầy không nhắm đời nay độ, còn đợi đời nào độ thân nầy? Nay còn sống đó, các ngài hãy tham thiền đi, tham thiền là để buông bỏ. Buông bỏ cái gì? Buông bỏ tứ đại, ngũ uẩn; buông bỏ bao nhiêu nghiệp thức từ vô lượng kiếp đến nay; hãy nhìn xuống dưới gót chân của mình mà suy xét cho thấu đáo để thấy đạo lý ấy là gì? Suy tới lui hốt nhiên tâm hoa bừng nở, chiếu khắp mười phương. Sự chứng ngộ thì không thể trao truyền dù chính các ngài biết rõ nó là cái gì. Đây là lúc các ngài có thể biến đất lớn thành vàng ròng, quậy sông dài thành biển sữa. Há không sướng khoái bình sinh hay sao! Vậy thì đừng phí thì giờ niệm ngôn niệm ngữ mà hỏi đạo hỏi thiền nơi sách vở; bởi vì đạo thiền không ở nơi sách vở. Dù cho thuộc lòng một bộ Đại Tạng cũng như Bách gia chư tử, chẳng qua là những lời rỗi rãi, khi chết đi chẳng dùng được gì.”—One day he entered the hall to preach his disciples: “O brothers, to be born as a human being is a rare event, and so is the opportunity to listen to discourses on Buddhism. If you fail to achieve emancipation in this life, when do you again expect to achieve it? While still alive, be therefore assiduous in practicing meditation. The practice consists of abandonments. The abandonments of what? You may ask. Abandon your four elements (bhuta), abandon your five aggregates (skandha), abandon all the workings of your relative consciousness (karmavijnana), which you have been cherishing eternity; retire within your inner being and see into the reason of it. As your self-reflection grows deeper and deeper, the moment will surely come upon you when the spiritual flower will suddenly burst into bloom, illuminating the entire universe. The experience is incommunicable, though you yourselves know perfectly well what it is. This is the moment when you can transform this great earth into solid gold, and the great rivers into an ocean of milk. What a satisfaction this is then to your daily life! Being so, do not waste your time with words and phrases, or by searching for the truth of Zen in books; for the truth is not to be found there. Even if you memorize the whole Tripitaka as well as all the ancient classics, they are mere idle words which are of no use whatever to you at the moment of your death. ” Sư thị tịch năm 1115. Tháp cốt của sư đã được xây về phía bắc của tu viện Hối Đường—He died in 1115. The master's stupa was built north of the abbot's room at Hui-T'ang Monastery.

Ngộ tích

悟跡; J: goseki;|Là dấu vết của sự ngộ nhập, của kinh nghiệm Kiến tính; theo Thiền tông thì sự chứng ngộ thâm sâu không để lại một dấu vết gì. Người nào có những hành động mà những người xung quanh có thể nhận ra được là đã có chút tỉnh, có ngộ nhập thì vị này được gọi là có »ngộ tích« và các Thiền gia chính tông cũng không ngần ngại gì với sự quả quyết rằng, người đó »mang hơi hám của sự giác ngộ.« Chỉ khi nào »hơi hám« này hoàn toàn biến mất và người này sống thật tự nhiên với cái đã chứng ngộ được và cũng không tự biết mình đã chứng ngộ mà cũng không đề cao việc này – lúc đó người này mới được Thiền tông thừa nhận là đã chứng ngộ.|Quốc sư Nam Dương Huệ Trung một lần thử một vị tăng – vị này mang danh hiệu Tam Tạng (thông cả ba tạng kinh điển) và tự xưng là có tha tâm thông (Lục thông) – nghĩa là đọc được ý nghĩ của người. Sư hỏi vị này: »Ông thử nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đò đưa?« Sư im lặng giây lâu, hỏi tiếp: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến cầu Thiên Tân xem khỉ đùa giỡn?« Sư im lặng giây lâu, lại hỏi: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng mờ mịt không biết nói gì. Sư liền quát: »Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào!«|Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng lúc còn ở với thầy là Ðộng Sơn Lương Giới có thiên thần dâng cơm cúng dường, vì vậy mà Sư không đến trai đường. Nghe chuyện này, Ðộng Sơn bảo sư: »Ta bảo ông là kẻ vẫn còn kiến giải. Ông hãy đến đây buổi chiều.« Chiều, Sư đến. Ðộng Sơn gọi Sư: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn bảo: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?« Sư trở về am ngồi lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.

ngộ từ

(悟慈) Danh tăng Trung quốc, sống vào thời Dân quốc, người Đài loan, Đài nam. Năm Dân quốc 31 (1942), sư xuống tóc xuất gia ở chùa Bảo tế tại Ma đậu. Năm Dân quốc 41 (1952), sư sáng lập chùa Quan âm giảng; năm Dân quốc 44 (1955), sáng lập thư viện Phật học Đài nam và Pháp âm tạp chí xã. Năm Dân quốc 50 (1961), sư sang Nhật bản, lần lượt theo học tại các Đại học như: Đại học Câu trạch, Đại học Lập chính ở Đông kinh và Đại học Đại cốc ở Kinh đô (Kyoto), tại đây sư đã học xong chương trình Tiến sĩ. Khi trở về nước, sư tiếp nhận trụ trì chùa Khai nguyên ở Đài nam. Về sau, sư đạt được học vị Tiến sĩ Triết học tại trường Đại học Đông phương ở Hoa kì. Năm Dân quốc 64 (1975), sư mở bệnh viện Từ ái, lại nhận trụ trì chùa Bảo tế và làm Giám đốc nhà Phổ môn từ ái. Sư dốc sức vào sự nghiệp hoằng pháp và từ thiện. Sư có các tác phẩm: Pháp hoa kinh giảng thoại, Lăng nghiêm kinh giảng thoại, Siêu thánh Thích ca, Phật pháp tăng tam bảo giảng thoại, Phật Đạo nhị giáo đích lãnh chiến.

ngộ tự

(悟自) Phạm: Àtma-saôvid. Tiếng dùng trong Nhân minh. Làm cho chính mình được tỏ ngộ. Là 1 trong 2 ngộ của luận lí học Nhân minh.

ngộ ân

Vị sơ tổ của tông Thiên Thai Sơn Ngoại, thị tịch năm 986 sau Tây Lịch (Ngài Ngộ Ân chùa Từ Quang đời Tống, là chi phái của Cao Luận Tôn Giả Thanh Tùng, và là sơ tổ của phái Thiên Thai Sơn Ngoại. Ngài tới học yếu chỉ Tam Quán với ngài Chí Nhân, danh tiếng lừng lẫy. Ngộ Ân truyền cho Hồng Mẫn và Nguyên Thanh; Nguyên Thanh truyền cho Trí Viên; Trí Viên truyền cho Quảng Chiếu; Quảng Chiếu truyền cho Kế Tề và My Nhuận)—Founder of the external school of the T'ien-T'ai, died in 986 A.D. ; (晤恩) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Tống, người Thường thục, tỉnh Giang tô, họ Lộ, tự Tu kỉ, là Thủy tổ phái Sơn ngoại, tông Thiên thai. Năm 13 tuổi, sư nghe tụng kinh Di đà mà phát tâm xuất gia. Lúc đầu, sư học luật Nam sơn, được ít lâu, sư theo ngài Chí nhân ở viện Từ quang tại Tiền đường học tập giáo quán Thiên thai. Sư thông suốt ý chỉ huyền diệu của kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh, Chỉ quán..., có tài hùng biện không ai sánh kịp. Người thời bấy giờ gọi sư là Nghĩa hổ. Trong pháp nạn Hội xương (841), phần nhiều kinh sách của tông Thiên thai đã bị mất. Sư nghiên cứu rất sâu về chỉ thú của Thập diệu, Ngũ trùng, giảng Huyền nghĩa, Văn cú, Chỉ quán hơn 20 lần, nhờ đó đã làm sáng tỏ đại ý của kinh Pháp hoa. Sư thường ăn ngày 1 bữa, không lìa áo bát, không cất giữ tài vật, tiền bạc; thường nằm nghiêng bên phải, ngồi kết già, không bàn chuyện thế tục, không thích giao du, đối với người giầu sang quyền quí, không bao giờ sư khuất phục. Sư thường than thở thời bấy giờ ít người giữ giới nên sư dạy học trò rất nghiêm. Trước sư dạy cho họ tu tịnh nghiệp, sau đó, bất luận trí ngu, sư đều chỉ bày cho họ lí Nhất thừa viên giáo. Vào đầu tháng 8 năm Ung hi thứ 3 (986) đời Tống, biết mình sắp tịch, sư bèn nhịn ăn, không nói, chỉ một lòng niệm Phật. Đến ngày 25 tháng 8, sau khi giảng về chỗ cốt yếu của pháp Chỉ quán và ý nghĩa quán tâm cho các đệ tử nghe, sư liền ngồi ngay thẳng thị tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Sư có các tác phẩm: Tam đại bộ, Kim quang minh huyền nghĩa văn cú, Kim ti luận. [X. Tống cao tăng truyện Q.7; Phật tổ thống kỉ Q.10].

ngộ đạo

To realize (enlighten) the path. Theo Kinh Pháp Cú, câu 280, Đức Phật dạy—According to the Dharmapada Sutra, verse 280, the Buddha taught: “Khi đáng nỗ lực, không nỗ lực, thiếu niên cường tráng đã lười biếng, ý chí tiêu trầm và nhu nhược: kẻ biếng nhác làm gì có trí để ngộ Đạo—One who does not strive when it is time to strive, who though young and strong but slothful with thoughts depressed; such a person never realizes the path.” ; (悟道) Cũng gọi Đắc ngộ. Tức là thấy rõ tâm tính, thấu suốt đại đạo. Ngộ đạo là mục đích chung cùng hướng tới của các tông phái, nhưng danh từ Ngộ đạo phần nhiều được Thiền tông sử dụng với nghĩa đắc pháp khai ngộ, gọi là Kiến tính ngộ đạo.

Ngộ Đạt

(悟達, Gotatsu, 811-883): vị cao tăng sống dưới thời nhà Đường, xuất thân Hồng Nhã (洪雅), Mi Châu (眉州, nay là Tỉnh Tứ Xuyên), họ Trần (陳), pháp danh Tri Huyền (知玄), tự Hậu Giác (後覺). Hồi nhỏ ông rất thích hình tượng Phật và hình ảnh chư tăng. Đến năm lên 7 tuổi, nhân đến nghe Pháp Thái (法泰) ở Ninh Di Tự (寧夷寺) giảng về Kinh Niết Bàn (涅槃經), đêm đó chợt mộng thấy đức Phật ở chánh điện chùa lấy tay xoa đầu mình. Đến năm 11 tuổi, ông theo xuất gia với Pháp Thái, chuyên nghiên cứu về Kinh Niết Bàn. Hai năm sau, ông vâng mệnh vị Thừa Tướng thăng đường thuyết pháp ở Đại Từ Tự (大慈寺) đất Thục, thính giả đến nghe lên đến cả vạn người, ai cũng mến phục trí tuệ của ông, bèn tôn xưng ông là Trần Bồ Tát. Sau ông theo Luật Sư Biện Trinh (辯貞) thọ Cụ Túc giới, rồi theo Pháp Sư An Quốc Tín (安國信) học về Duy Thức, và tự mình nghiên cứu thêm các kinh điển của những tông phái khác. Ông thường hận mình không thể thuyết kinh được bằng tiếng địa phương. Nhân tụng chú Đại Bi, cảm ứng được vị thần tăng thay lưỡi cho ông trong mộng; hôm sau khi thức dậy, tiếng nói thay đổi. Một thời gian lâu sau, ông ngao du lên kinh đô, gặp lúc vua Võ Tông đang mến mộ phép thuật thành tiên của các đạo gia, nhà vua mời ông cùng luận tranh với các đạo sĩ ấy. Ông biện tài lanh lợi, nói thẳng chẳng sợ, nhà vua tuy không thích lời nói của ông nhưng cũng rất vui lòng với kiến thức của ông. Đến thời vua Tuyên Tông, nhà vua mời ông vào cung nội giảng kinh, ban cho Tử Y, phong làm vị Thủ Tòa của Tam Giáo. Vua Ý Tông thường thân lâm đến nghe giảng kinh và ban cho tòa ngồi bằng gỗ trầm hương; do vì ông sanh tâm hoan hỷ nên sanh ra mụt nhọt có mặt người nơi đầu gối của nhiều đời oan nghiệp chất chồng, sau nhờ tôn giả Ca Nặc Ca (迦諾迦) giúp cho rửa sạch mụt ấy. Về sau ông xin trở về chùa cũ của mình, đến sống tại Đơn Cảnh Sơn (丹景山) thuộc Bành Châu (膨州). Khi vua Hy Tông đến viếng thăm đất Thục, có ban cho ông hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Khá nhiều tầng lớp sĩ phu cùng giao du với ông, như Lý Thương Ẩn (李商隱) sau khi về vui thú điền viên, đã cùng sống với ông trong một thời gian rất lâu. Ông thị tịch vào năm thứ 3 (883) niên hiệu Trung Hòa (中和), hưởng thọ 73 tuổi đời và 54 hạ lạp. Trước tác của ông có Từ Bi Thủy Sám Pháp (慈悲水懺法) 3 quyển, Thắng Man Kinh Sớ (勝鬘經疏) 4 quyển, Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (般若心經疏), Kim Cang Kinh Sớ (金剛經疏), v.v. Trong bài cung văn đầu Kinh Thủy Sám có đoạn: “Quốc Sư Ngộ Đạt, quyên trừ lụy thế chi khiên vưu, sự khải nhất thời, pháp lưu thiên cổ, soạn vi Thượng Trung Hạ tam quyển chi nghi văn, nhân thiên kính ngưỡng, sám ma thân khẩu ý Thập Ác chi tội nghiệp, phàm thánh quy sùng (國師悟達、蠲除累世之愆尤、事啟一時、法流千古、撰爲上中下三卷之儀文、人天敬仰、懺摩身口意十惡之罪業、凡聖皈崇, Quốc Sư Ngộ Đạt trừ sạch các oan khiên của nhiều đời, việc mở ra một lúc, pháp lưu lại muôn thưở, soạn thành văn nghi thức ba quyển Thượng Trung Hạ, người trời đều kính ngưỡng; sám hối tội nghiệp Mười Điều Ác của thân, miệng, ý, phàm thánh thảy quy sùng).” Trong Phật Tổ Thống Kỷ (佛祖統紀) quyển 51, phần Tăng Chức Sư Hiệu (僧職師號) có câu: “Hiến Tông tứ Sa Môn Tri Huyền Ngộ Đạt Quốc Sư (憲宗賜沙門知玄悟達國師, vua Hiến Tông [tại vị 805-820] nhà Đường ban tặng cho Sa Môn Tri Huyền là Ngộ Đạt Quốc Sư).” Hay như trong Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳) quyển 3, Truyện Đường Kinh Sư Mãn Nguyệt (唐京師滿月傳) cũng có câu: “Thời Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, hiếu học Thanh Minh, lễ Nguyệt vi sư (時悟達國師知玄、好學聲明、禮月爲師, lúc bấy giờ Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền thích học về Thanh Minh, bèn bái Mãn Nguyệt làm thầy).”

ngộ đạt

(悟達) Cao tăng Trung quốc, sống vào đời Đường, người Hồng nhã, Mi châu (nay là Hồng nhã, tỉnh Tứ xuyên), họ Trần, pháp danh Tri huyền, tự là Hậu giác. Năm 11 tuổi, sư y vào ngài Pháp thái xuất gia ở chùa Ninh di, học kinh Niết bàn. Hai năm sau, sư vâng mệnh Thừa tướng, thăng tòa thuyết pháp ở chùa Đại từ tại đất Thục, thính chúng có tới hơn vạn người, thảy đều kinh ngạc về trí tuệ siêu phàm của sư và tôn xưng sư là Trần bồ tát. Sau, sư cầu Luật sư Biện trinh thụ giới Cụ túc, rồi học Duy thức và tự nghiên cứu các học thuyết của bách gia chư tử. Sư từng hận là hương âm (tiếng nói làng quê mỗi làng mỗi khác) của sư không thể giảng kinh, do đó trì tụng chú Đại bi, cảm được Thần tăng trong mộng thay lưỡi cho sư, hôm sau, tiếng nói của sư liền thay đổi. Khi trưởng thành, sư đến kinh đô. Lúc bấy giờ vua Vũ tông tin sùng Đạo giáo, muốn hóa cánh thành tiên, hạ lệnh cho sư tranh luận với Đạo sĩ; sư nói thẳng, chẳng kiêng dè, lời biện bác sắc bén, thao thao; nhà vua tuy không ưa những lời bộc trực của sư, nhưng cũng phải khen ngợi kiến thức của sư. Đến khi vua Tuyên tông lên ngôi, sư được triệu vào cung giảng kinh, vua ban áo đỏ và tôn sư làm Tam giáo thủ tọa (bậc đứng đầu 3 giáo: Nho, Phật, Đạo). Đến thời vua Ý tông, sư được nhà vua đích thân đến tòa giảng ban cho sư trầm hương làm tòa ngồi, nhân đó sư sinh tâm vui thích nên oan nghiệp kiếp trước có cơ trả báo: Trên đầu gối của sư mọc lên một cái nhọt hình mặt người, đau nhức vô cùng. Sau, nhờ tôn giả Ca nặc ca dùng nước Tam muội mới rửa sạch được cái nhọt này. Từ đó, sư xin vua trở về chùa cũ ở núi Đan cảnh tại Bành châu. Khi vua Hi tông đến đất Thục, ban cho sư hiệu Ngộ Đạt Quốc Sư. Năm Trung hòa thứ 3 (883), sư thị tịch, thọ 73 tuổi, 54 tuổi hạ. Sư để lại các tác phẩm: Từ bi thủy sám pháp, 3 quyển, Thắng man kinh sớ, 4 quyển, Bát nhã tâm kinh sớ, Kim cương kinh sớ, 20 quyển. [ X. Tống cao tăng truyện Q.6; Thần tăng truyện Q.8; Phật tổ thống kỉ Q.42; Thích thị kê cổ lược Q.3].

ngộ độc

Poisoned.

Ngộ Ấn

悟印; 1019-1088|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 8, nối pháp Thiền sư Quảng Trí.|Sư tên Ðàm Khí, quê ở Tư lí làng Kim Bài. Năm lên mười, Sư được dạy chữ Hán và Phạn, học vấn ngày càng tiến. Năm 19 tuổi, Sư xuất gia thụ giới cụ túc, chuyên học hai bộ kinh Viên giác và Pháp hoa. Sư được Thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Ðỉnh truyền tâm ấn. Sau, Sư đi vào Ninh Sơn phủ Thiên Ứng kết cỏ làm am tu học, lấy hiệu là Ngộ Ấn.|Một vị tăng đến hỏi: »Thế nào là Phật, Pháp và Thiền?« Sư đáp: »Ðấng Pháp vương vô thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp, ở tâm là Thiền. Tuy có ba thứ, kì thật là một. Ví như nước ba con sông, tuỳ chỗ đặt tên tuy chẳng đồng, mà tính nước không khác.«|Niên hiệu Quảng Hựu thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư biết mình sắp thị tịch bèn gọi chúng nói kệ:|妙性虛無不可攀。虛無心悟得何難|玉焚山上色常潤。蓮發爐中濕未乾|Diệu tính hư vô bất khả phan|Hư vô tâm ngộ đắc hà nan|Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận|Liên phát lô trung thấp vị càn.|*Diệu tính rỗng không chẳng thể vin|Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin|Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy|Lò lửa hoa sen nở thật xinh.|Nói xong, Sư vui vẻ thị tịch.

ngộ ấn

Thiền Sư Ngộ Ấn (1019-1088)—Zen Master Ngộ Ấn—Người ta nói rằng mẹ ngài bỏ ngài từ khi còn là một đứa trẻ. Một nhà sư Chiêm Thành lượm ngài đem về nuôi. Năm 19 tuổi ngài thọ cụ túc giới. Về sau ngài học thiền với Thiền sư Quảng Trí và trở thành Pháp tử đời thứ tám dòng Vô Ngôn Thông. Rồi ngài tới Thiên Ứng dựng thảo am tu thiền. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo ở Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1088, thọ 69 tuổi—It is said that he was abandoned by his mother when he was child. A Champa monk picked him up and raised him in his temple. He received complete precepts at the age of 19. Later he studied meditation with Zen master Quảng Trí at Quán Đảnh Temple. The latter transmitted Dharma to him to be the Dharma heir of the eighth generation of the Wu-Yun-T'ung Zen Sect. Later, he went to Thiên Ứng to build a thatch hut and stayed there to practice meditation. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in the North. He passed away in 1088, at the age of 69.

ngộp

To feel dizzy.

ngộp thở

To suffocate—To chock.

Ngột Am Phổ Ninh

(兀庵普寧, Gotsuan Funei, ?-1276): vị tăng của phái Phá Am và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc,xuất thân xứ Thục (蜀, thuộc Tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), hiệu là Ngột Am (兀庵). Ông xuất gia hồi nhỏ, rồi đến tham vấn các vị lão túc khắp nơi và sau khi nghe Si Tuyệt Đạo Xung (癡絕道冲) giảng thuyết thì khai ngộ, nên cuối cùng ông lên Dục Vương Sơn (育王山) tham yết Vô Chuẩn Sư Phạm (無準師範), đắc được yếu chỉ và kế thừa dòng pháp của vị này. Ông trú tại Linh Nham Tự (靈巖寺) thuộc Tượng Sơn (象山), nhưng vì quân Mông Cổ xâm nhập đến, nên năm 1260 ông qua Nhật lánh nạn. Ông dừng chân trú tại Thánh Phước Tự (聖福寺, Shōfuku-ji), Đông Phước Tự (東福寺, Tōfuku-ji), rồi trở thành vị tổ thứ 2 của Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji) và bắt đầu chỉnh bị Thiền quy, nhưng đến năm 1265 ông trở về lại Trung Hoa. Sau đó, ông đã từng sống qua các chùa như Song Lâm Tự (雙林寺) ở Vụ Châu (婺州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), Giang Tâm Long Tường Tự (江心龍翔寺) ở Ôn Châu (溫州, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay); và cuối cùng vào ngày 24 tháng 11 năm 1276, ông thị tịch ở chùa này. Ông được ban thụy hiệu là Tông Giác Thiền Sư (宗覺禪師). Trước tác của ông có Ngột Am Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục (兀庵寧和尚語錄), 1 quyển. ; 兀菴普寧; C: wūān pǔníng; J: gottan funei; 1197-1276;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm.|Sư được Thiền sư Lan Khê Ðạo Long khuyến khích sang Nhật năm 1260. Trước tiên, Sư đến Kinh Ðô (kyōto) và một thời gian trụ trì chùa Kiến Trường (kenchōji) theo lời mời của Tướng quân Bắc Ðiều Thời Lại (shōgun hōjō tokiyori). Sư cũng hướng dẫn vị Tướng quân này trên con đường tu thiền và vị này sau cũng được Sư Ấn khả. Sau, Sư trở về Trung Quốc và tịch tại đây.

ngột am phổ ninh

(兀庵普寧) Thiền sư Trung quốc thuộc phái Dương kì tông Lâm tế, sống vào đời Nam Tống, người Thành đô, tỉnh Tứ xuyên, Tây thục, là Tổ khai sáng của phái Ngột am, tông Lâm tế, Nhật bản. Sư xuất gia từ nhỏ, lúc đầu học Duy thức, sau xuống miền Nam tham yết các bậc lão túc trong Thiền lâm. Sư lên núi A dục vương ở Tứ minh, tham vấn ngài Vô chuẩn Sư phạm và thể chứng được huyền chỉ. Sư được ngài Sư phạm viết tặng 2 chữ Ngột Am mà sư đã dùng làm hiệu. Đương thời, sư cùng với 3 vị: Tổ trí, Diệu luân và Liễu tuệ được gọi chung là Tứ triết (4 người hiền trí) dưới cửa ngài Sư phạm. Về sau, sư dời đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu, núi Thiên đồng ở Tứ minh làm Đệ nhất tòa. Ít lâu sau, sư hoằng pháp ở chùa Linh nham núi Tượng sơn. Niên hiệu Cảnh định năm đầu (1260, có thuyết nói năm thứ 2, hoặc niên hiệu Khai khánh năm đầu), sư sang Nhật bản, trụ ở chùa Thánh phúc tại Bác đa. Không bao lâu, sư đến kinh đô (Kyoto), được Mạc phủ Bắc điều Thời lại đương thời kính trọng, thỉnh sư trụ trì chùa Kiến trường tại Liêm thương, tăng tục theo về rất đông. Sau khi ông Bắc điều Thời lại tạ thế chưa bao lâu, vào niên hiệu Hàm thuần năm đầu (1265), sư trở về Trung quốc, trụ ở chùa Song lâm tại Vụ châu. Về già, sư dời đến ở chùa Long tường tại Giang tâm, Ôn châu. Niên hiệu Cảnh viêm năm đầu (1276) sư thị tịch, thọ 80 tuổi, thụy hiệu Tông Giác Thiền Sư. Sư có tác phẩm: Ngữ lục, 3 quyển. [X. Nguyên hanh thích thư Q.6; Diên bảo truyền đăng lục Q.2; Đông nham An thiền sư hành thực].

ngột am phổ ninh thiền sư ngữ lục

(兀庵普寧禪師語錄) Cũng gọi Tông giác thiền sư ngữ lục, Ngột am Ninh hòa thượng ngữ lục, Ngột am hòa thượng ngữ lục, Ngột am lục. Ngữ lục, 3 quyển, do ngài Ngột am Phổ ninh soạn vào đời Nam Tống, nhóm các ngài Tịnh thiều biên tập, ấn hành lần đầu vào khoảng năm Hàm thuần (1265-1274), được thu vào Vạn tục tạng tập 123. Nội dung sách này gồm các phần: Khánh nguyên phủ Tượng sơn Linh nham Quảng phúc thiền viện ngữ lục, Cự phúc sơn Kiến trường hưng quốc thiền tự ngữ lục, Pháp ngữ, Phật tổ tán, Tiểu Phật sự... tại Trung quốc. Và các pháp ngữ ở chùa Thánh phúc và chùa Kiến trường bên Nhật bản. Đây là tư liệu tham khảo giúp cho việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Trung quốc và Nhật bản vào các thời đại Tống, Nguyên và Bắc điều, Thời tông, cũng như mối quan hệ giữa vũ sĩ với Thiền ở thời Liêm thương.

Ngột ngột

兀兀; C: wùwù; J: gotsugotsu;|Kiên định, không dao động, không lay chuyển. Nỗ lực làm một việc.

ngớt

To die down—To decrease.

ngớt mưa

Rain is dying down (almost over).

ngờ nghệch

Stupid—Idiot.

ngờ vực

Suspect—Doubt.

ngỡ

To believe—To think.

ngợi khen

To praise—To congratulate—To compliment.

ngợm

Stupid—Idiot.

ngụ trung

(禺中) Giờ Tị. Chỉ cho khoảng thời gian từ 9 giờ đến 10 giờ sáng, tức trước giờ Ngọ. Nay chỉ chung cho thời gian trước giờ thụ trai của chư tăng là Ngu trung (Trung ngọ). Ngoài ra, tông Thiên thai dẫn thuyết Nhật xuất tam chiếu trong kinh Hoa nghiêm, đem phối với 5 thời gian mà phán định thời Bát nhã (thứ 4) trong 5 thời là Ngu trung thời giáo. (xt. Tam Chiếu).

ngụ tông

(寓宗) Cũng gọi Phụ tông. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tông phái phụ thuộc vào tông phái khác. Theo phần Chư tông chí trong Nguyên hanh thích thư quyển 27, thì 3 tông Tịnh độ, Thành thực và Câu xá là Ngụ tông, giống như nước chư hầu phụ thuộc vào nước Thiên tử. Ở Nhật bản, vào thời đại Liêm thương, 3 tông này còn thuộc sự nghiên cứu của các tông khác chứ chưa thành 1 tông độc lập, vì thế gọi là Ngụ tông. [X. Thập tông lược kí].

ngục phọc

(獄縛) Chúng sinh luân hồi sinh tử bị trói buộc trong lao ngục 3 cõi, gọi là Ngục phược. Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5 (Đại 50, 315 thượng) nói: Ngục tù 3 cõi trói buộc, chẳng có chút gì vui.

Ngục tốt

(s: naraka-pāla, 獄卒): chỉ cho hạng lính quỷ trong Địa Ngục; còn gọi là Địa Ngục Tốt (地獄卒), Na Lạc Già Tốt (那洛迦卒). Trong cõi Địa Ngục, họ thường hiện thân hình quái dị, đáng sợ như đầu trâu, mặt ngựa, v.v., thường bức bách, la mắng tội nhân. Trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 16 có đoạn: “Ác La Sát, ngục tốt, tác chủng chủng hình, ngưu, mã, trư, dương, chương, lộc, hồ, cẩu, hổ, lang, sư tử, lục bác, đại điểu, điêu thứu, thuần điểu, tác thử chủng chủng chư điểu thú đầu, nhi lai thôn đạm, giảo khiết, niết xế tội nhân (惡羅剎、獄卒、作種種形、牛、馬、豬、羊、獐、鹿、狐、狗、虎、狼、師子、六駮、大鳥、鵰鷲、鶉鳥、作此種種諸鳥獸頭、而來吞噉、齩嚙、䶩掣罪人, ác La Sát, lính ngục, hiện các loại hình, trâu, ngựa, heo, dê, hươu, nai, chồn, chó, hổ, sói, sư tử, lục bác [loại như ngựa], chim lớn, kên kên, chim cút, hiện các loại đầu chim thú, mà đến nhai nuốt, cắn xé, kéo giựt tội nhân).” Về vấn đề ngục tốt có phải là hữu tình hay không, có nhiều thuyết khác nhau. Duy Thức Nhị Thập Luận Thuật Ký (唯識二十論述記, Taishō Vol. 43, No. 1834) quyển Thượng cho biết rằng trong các bộ phái, Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部), Chánh Lượng Bộ (s: Sammatīya, p: Sammitiya, 正量部) chủ trương ngục tốt thật sự là hữu tình; trong khi đó, Tát Bà Đa Bộ (s: Sarvāstivāda, 薩婆多部), Kinh Lượng Bộ (s: Sautrāntika, 經量部), v.v., lại cho là không phải. Trong Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 7, Thiên Lục Đạo (六道篇), Địa Ngục Bộ (地獄部), có đoạn: “Đồng trụ biến sắc vĩnh thụ pháp tràng, thiết võng cải hình phương khai Tịnh Độ, ngưu đầu trịch đao cánh thọ Tam Quy, ngục tốt khí tiên hoàn trì Ngũ Giới (銅柱變色永豎法幢、鐵網改形方開淨土、牛頭擲刃更受三歸、獄卒棄鞭還持五戒, trụ đồng đổi màu mãi dựng cờ pháp, lưới sắt thay hình mở ra Tịnh Độ, đầu trâu ném đao lại thọ Tam Quy, lính ngục bỏ roi hành trì Năm Giới).”

ngục tốt

(獄卒) Phạm: Naraka-pàla. Cũng gọi Địa ngục tốt, Na lạc ca tốt. Loài quỉ ở địa ngục mang hình tướng đáng sợ như đầu trâu, đầu ngựa để trừng trị các tội nhân. Luận Đại trí độ quyển 16 (Đại 25, 176 thượng) nói: Ngục tốt ác La sát hiện các loại thân hình đầu trâu, ngựa, lợn, dê, hươu nai, chồn, chó, hổ(cọp), chó sói, sư tử, chim đại bàng, chim cắt, chim kên kên v.v... đến cắn xé, gặm mổ, ăn nuốt tội nhân. Cứ theo Duy thức nhị thập luận thuật kí, trong các bộ thì Đại chúng bộ, Chính lượng bộ chủ trương thuyết ngục tốt chính thực là hữu tình, còn Tát bà đa bộ và Kinh bộ thì cho rằng ngục tốt chẳng phải là hữu tình. [X. kinh Quán Phật tam muội hải Q.2, 5; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.11; luận Thuận chính lí Q.31; luận Duy thức nhị thập; Câu xá luận quang kí Q.11].

Ngụy

(魏): (1) Nhà Ngụy (403-225 trước CN), tên của một trong 7 nước lớn dưới thời Chiến Quốc, cùng với Hàn (韓), Triệu (趙) phân nhà Tấn (晉) thời Xuân Thu làm ba và độc lập mỗi phương, chiếm cứ địa phương phía Tây Nam Tỉnh Sơn Tây và phía Bắc Tỉnh Hà Nam ngày nay, sau đó bị nhà Tần (秦) tiêu diệt. (2) Nhà Ngụy (220-265), tên của một trong 6 triều đại, do Tào Phi (曹丕), con của Tào Tháo (曹操), kiến lập nên sau khi nhà Hậu Hán (後漢) cáo chung, thống trị phần nữa phía Bắc Trung Quốc, cùng với nhà Ngô (呉) và Thục (蜀) thành lập thế trụ ba chân vạc, sau bị nhà Tấn (晉) tiêu diệt vào năm 265. (3) Vương quốc Bắc Triều (385-556) do Thác Bạt Khuê (拓拔珪) thuộc dân du mục Tiên Ti (鮮卑) kiến lập dưới thời nhà Đông Tấn (東晉), còn gọi là Hậu Ngụy (後魏) hay Bắc Ngụy (北魏); về sau nước này phân liệt thành Đông Ngụy (東魏) và Tây Ngụy (西魏), trải qua 16 đời vua và kéo dài 172 năm.

ngụy biện

(偽辯) Cũng gọi Quỉ biện. Lối biện luận hư ngụy, dùng cách khéo léo, láu lỉnh để trình bày những điều sai trái mà thành như thật. Vào khoảng thế kỉ thứ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Ngụy biện học (Sophist). Nói theo mặt phải thì ngụy biện có thể giúp làm phát sinh tinh thần phê phán; nhưng nói theo mặt trái thì nó nhằm mục đích dồn đối phương vào thế bí, dùng miệng lưỡi để cưỡng lời đoạt lí. Trong 6 phái Triết học ở Ấn độ, phái San xà da, (Phạm, Pàli: Saĩjaya) chính là phái Ngụy biện luận Pàli: Amarà-vikkhepika). Lối biện luận của họ dùng mánh khóe gian giảo, lắt léo, khó lường và thiếu giá trị tri thức chính xác nên được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩà-vàda). Theo phẩm Lô ca da đà trong kinh Nhập lăng già quyển 6 và Trường bộ kinh chú vănPàli (Sumaígala-vilasinì) chép, trong các phái ngoại đạo ở Ấn độ cổ đại, thì phái Thuận thế (Phạm: Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) là 1 học phái Ngụy biện nổi tiếng, chuyên dùng lời lẽ quỉ quyệt 1 cách khéo léo để mê hoặc người đời, họ chối bỏ tính cách thần quyền truyền thống của Bà la môn. Ngoài 4 đại (đất, nước, lửa, gió), phái này lập riêng Linh ngã (cái ta hôn thiêng) và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của phái Duy vật. Trong Luận lí học Ấn độ, Ngụy biện luận được xem là 1 yếu tố lớn trong Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho lối biện luận ấy là không chính đáng, vả lại vô ích, nên chê là Hí luận (Phạm:Prapaĩca). [X. luận Đại thừa quảng bách luận thích Q.2; luận Thành duy thức Q.1; luận Kim thất thập].

Ngụy Nguyên

(魏源, Gigen, 1794-1856): học giả của Công Dương Học (公羊學) sống vào giữa thời nhà Thanh, xuất thân Thiều Dương (邵陽, Hồ Nam), tự là Mặc Thâm (默深). Trước tác của ông có rất nhiều như Hải Quốc Đồ Chí (海國圖志), Thi Cổ Vi (詩古微), Thánh Võ Ký (聖武記), v.v.

ngủ

Sleeping.

ngủ chập chờn

To sleep with one eye open.

ngủ li bì

To sleep all day (around the clock).

ngủ mê như chết

To sleep heavily.

ngủ một cách an vui

Nghĩa là trước khi đi ngủ phải quan sát nhà cửa, bàn ghế. Cửa nẻo phải then gài cẩn thận. Phải xem coi những người làm trong nhà có làm đủ bổn phận của họ chưa, và cha mẹ chồng đã đi ngủ chưa. Thế thường người vợ phải thức khuya dậy sớm. Trừ khi nào ốm đau bệnh hoạn, không bao giờ ngủ ngày—Sleep happily means before sleeping, a wife should see that all doors are closed, furniture is safe, servants have performed their duties, and parents-in-law have retired. As a rule, a wife should rise early in the morning and, unless unwell, she should not sleep during the day. Coi chừng củi lửa: Phải xem chồng và cha mẹ chồng như lửa. Mỗi khi có việc với cha mẹ chồng và chồng phải nên hết sức thận trọng như phải thận trọng với lửa vậy—Tend the fire. Parents-in-law and husband should be regarded as flames of fire. One should deal carefully with them as one would deal with fire. Tôn trọng các vị trời trong nhà: Cha mẹ chồng và chồng phải được tôn kính như những vị trời trong nhà. Nên nhớ Đức Phật thường nhắc đến cha mẹ chồng như những vị trời trong nhà—Honour the household divinities. Parents-in-law and husband should be regarded as divinities. It is noteworthy that the Buddha himself refers to parents-in-law as divinities deserving her respect.

ngủ ngon

To sleep well.

ngủ nướng

To lie late abed.

ngủ tỉnh

To sleep with one's eyes open.

ngữ biểu nghiệp

(語表業) Phạm: Vàg-vijĩapti-karman. Ý tạo nghiệp được biểu thị qua lời nói; là 1 trong 3 biểu nghiệp. Cứ theo luận Câu xá quyển 13, thì Ngữ biểu nghiệp lấy lời nói làm thể; nhưng Đại thừa thì cho rằng cả 3 Biểu nghiệp thân, ngữ, ý đều lấy sự hiện hành của tâm sở Tư làm thể. (xt. Nghiệp).

ngữ luân cảnh giới

(語輪境界) Chỉ cho cảnh giới thân Đà la ni của đức Phật, do chân ngôn chữ (aô) tạo thành, có trăm ánh sáng chiếu khắp. Phẩm Bách tự quả tướng trong kinh Đại nhật quyển 6 (Đại 18, 40 trung), nói: Phật dạy: Bí mật chủ! Ông hãy xem cảnh giới ngữ luân của ta rộng lớn trùm khắp cửa thanh tịnh của vô lượng thế giới. Đại nhật kinh nghĩa thích quyển 13 (Vạn tục 36, 469 thượng) nói: Ông hãy quán xét ngữ luân của ta, tức là quán xét cảnh giới tự luân thân Đà la ni của Phật.

Ngữ Lục

(語錄, Goroku): tác phẩm bút ký mà các vị thị giả hay người tham học ghi lại y nguyên bằng thể văn những lời chỉ dạy của chư vị tổ sư trong Thiền lâm mà họ thường thuyết giáo bằng tục ngữ thông thường. Bản thâu tập và ghi chép lại những ngữ yếu này được gọi là Ngữ Lục. Trong các loại ngữ lục có Quảng Lục là loại ký lục thâu tập trên phạm vi rộng lớn. Ở Nhật bản có thêm văn tiếng Nhật thì được gọi là Pháp Ngữ (法語). Theo văn bia nơi tháp của Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), v.v., ban đầu hình như nó được gọi là Ngữ Bản (語本). Từ Ngữ Lục được tìm thấy đầu tiên là phần Bắc Sơn Tham Huyền Ngữ Lục (北山參玄語錄) trong Huệ Nghĩa Tự Thần Thanh Chương (慧義寺神清章) của bản Tống Cao Tăng Truyện (宋高僧傳). Nhưng các Ngữ Lục có ý nghĩa được dùng ngày nay vốn bắt đầu từ Mã Tổ Đạo Nhất (馬祖道一) cũng như các Thiền tăng thuộc môn hạ ông ta, gồm các bản như Lâm Tế Lục (臨濟錄), Truyền Tâm Pháp Yếu (傳心法要), v.v., đặc biệt rất nổi tiếng.

Ngữ lục

語錄; J: goroku;|Danh từ được dùng để chỉ những lời dạy, bài viết của những vị Thiền sư. Các tác phẩm này thường được mang tên của chư vị và được gắn thêm danh từ »ngữ lục« này phía sau.

ngữ lục

(語錄) Các bộ sách ghi chép lời nói pháp hoặc lời mở bày của các Tổ sư Thiền tông. Thông thường, các Thiền sư nói pháp, chỉ dạy không dùng những lời văn hoa bong bảy mà dùng những từ ngữ bình dị để nói ngay vào tông chỉ, sau đó, các đệ tử hoặc người tham học mới sưu tập, ghi chép lại thành sách, gọi là Ngữ lục. Từ sau ngày ngài Lục tổ Tuệ năng đầu đời Đường có Pháp bảo đàn kinh thì ngữ lục ở các nơi dần dần xuất hiện. Từ thời Ngũ đại, Triệu Tống trở về sau, chế độ tùng lâm trong Thiền tông được thiết lập, theo đó, dưới chức vụ Trụ trì, có chức Thư kí đảm nhiệm việc ghi chép ngôn hạnh của Thiền sư, về sau biên tập thành ngữ lục như: Mã tổ Đạo nhất thiền sư ngữ lục, Triệu châu Tùng thẩm thiền sư ngữ lục v.v... Trong ngữ lục, phần pháp ngữ của Tổ sư được ghi chép tỉ mỉ rõ ràng, gọi là Quảng lục, như Mã tổ Đạo nhất thiền sư quảng lục, Vân môn Khuông chân thiền sư quảng lục; nếu chỉ ghi chép phần trọng yếu thôi thì gọi là Ngữ yếu, như Bách trượng Hoài hải thiền sư ngữ yếu. Nếu chỉ thu tập pháp ngữ của 1 người thôi thì gọi là Biệt tập, biên tập pháp ngữ của nhiều người thì gọi là Thông tập. Từ Ngữ lục đầu tiên được thấy là Bác sơn tham huyền ngữ lục trong Tống cao tăng truyện quyển 6, nhưng ý nghĩa của 2 chữ Ngữ lục ngày nay không giống như Bắc sơn tham huyền ngữ lục mà nó đã bắt nguồn từ ngài Mã tổ Đạo nhất và các Thiền sư dưới hội của ngài, trong đó nổi tiếng hơn cả là Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục và Hoàng bá thiền sư truyền tâm pháp yếu. Ngoài ra, Ngữ lục không chỉ được dung trong Thiền tông mà các ngữ yếu của các vị Tổ sư ngoài Thiền tông cũng được gọi là Ngữ lục. Từ đời Tống về sau thì Nho giáo và Đạo giáo cũng có ngữ lục. Rồi đến nội dung ngữ lục cũng dần dần bao gồm cả thi kệ và văn sớ...

ngữ mật

(語密) Phạm: Vàg-guhya. Cũng gọi Khẩu mật. Lời nói của Như lai thần biến chẳng thể nghĩ bàn, tức chỉ tất cả ngôn ngữ thành tựu muôn đức, là 1 trong 3 mật của Như lai. Vì đây là cảnh giới Phật tự chứng mà Nhị thừa, phàm phu, Đẳng giác và Thập địa bồ tát đều không thể thấy nghe, cho nên gọi là Ngữ mật. Theo thuyết của Mật giáo, các vị tôn đều có 4 thứ Mạn đồ la, trong đó, Pháp mạn đồ la là ngôn giáo của chủng tử và chân ngôn đà la ni, vì thế là Ngữ mật của Như lai. Trong 3 bộ của Thai tạng giới, thì Liên hoa bộ được phối hợp với Ngữ mật. Trong 3 mật của chúng sinh thì người tu hành miệng tụng chân ngôn, cho đến tất cả khẩu nghiệp nói năng đều được gọi là Ngữ mật.[X. luận Đại trí độ Q.10; luận Thập trụ tâm Q.10]. (xt. Tam Mật).

Ngữ Phong Viên Tín

(語風圓信, Gofū Enshin, 1571-1647): vị tăng của Lâm Tế Tông Trung Quốc, ban đầu lấy hiệu là Tuyết Đình (雪庭), sau đổi thành Tuyết Kiều (雪嶠) và cuối đời lấy tên là Ngữ Phong Lão Nhân (語風老人), sinh ngày mồng 10 tháng 2 năm thứ 5 niên hiệu Long Khánh (隆慶) tại Huyện Ngân (鄞縣), Phủ Ninh Ba (寧波府, Tỉnh Triết Giang), họ Chu (朱). Năm 29 tuổi, ông theo xuất gia với Bảo Phong Pháp (寳峰法), sau đó đến tham học với Diệu Trinh (妙楨) ở Phổ Tế Tự (普濟寺), Tần Vọng Sơn (秦望山, Tỉnh Triết Giang), rồi tham yết Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏). Cuối cùng ông đến tham vấn Huyễn Hữu Chánh Truyền (幻有正傳) ở Long Trì Viện (龍池院), được đại ngộ và kế thừa dòng pháp của vị này. Vào năm thứ 8 (1635) niên hiệu Sùng Trinh (崇禎), ông đến Thiên Chỉ Am (千指菴) ở Kính Sơn (徑山), rồi năm thứ 12 cùng niên hiệu trên thì chuyển đến Khai Tiên Tự (開先寺) ở Lô Sơn (廬山) và năm thứ 16 thì đến Đông Tháp Tự (東塔寺) ở Gia Hòa (嘉禾, Tỉnh Triết Giang). Đến cuối đời, ông chuyển về sống tại Vân Môn Tự (雲門寺), Việt Châu (越州, Tỉnh Triết Giang). Vào ngày 22 tháng 8 năm thứ 4 niên hiệu Thuận Trị (順治), ông thị tịch, hưởng thọ 77 tuổi đời và 48 hạ lạp. Bộ Tuyết Kiều Viên Tín Thiền Sư Ngữ Lục (雪嶠圓信禪師語錄) 4 quyển và Kính Sơn Ngữ Phong Lão Nhân Tự Lâm Tế Đệ Thập Tam Thế Tuyết Kiều Tín Đại Thiền Sư Đạo Hạnh Bi (徑山語風老人嗣臨濟第十三世雪嶠信大禪師道行碑) vẫn còn lưu truyền đến nay. Ông cùng với Quách Ngưng Chi (郭凝之) biên tập Tiên Giác Tông Thừa (先覺宗乘) 5 quyển, Ưu Bà Di Chí (優婆夷志), Ngũ Gia Ngữ Lục (五家語錄), v.v.

ngữ phạm

(語梵) Cũng gọi Khẩu mật. Chỉ cho Ngữ mật và Phạm luân. Ngữ mật, Phạm: Vàg-guhya, là 1 trong 3 mật của Như lai.Theo luận Đại trí độ quyển 10, khi đức Phật nói pháp thì từ 1 dặm đến 10 dặm,hoặc trăm nghìn muốn ức vô số vô lượng khắp cả hư không, đều nghe âm thanh của Phật. Hơn nữa, trong cùng 1 pháp hội, có người nghe nói bố thí, người nghe trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, cho đến 12 thể tài kinh, 8 vạn pháp tụ, như thế Phật dùng 1 âm thanh thuyết pháp, chúng sinh tùy theo căn cơ mà nghe nhận, gọi là Ngữ mật. Phạm luân là tên khác của pháp luân. Giáo pháp do đức Phật tuyên thuyết có năng lực phá trừ nghiệp ác của chúng sinh, cũng như bánh xe báu của Luân vương có công năng nghiền nát núi non, sỏi đá, cho nên gọi là Pháp luân. Phạm nghĩa là thanh tịnh. Pháp do đức Phật nói thanh tịnh, vì thế gọi là Phạm luân. [X. luận Đại trí độ Q.25].

ngữ sâm lậu

(語滲漏) Sấm lậu nghĩa đen là chảy ra, rỉ ra, trong kinh điển chỉ cho phiền não. Ngữ sấm lậu nghĩa là cái thấy biết còn bị vướng mắc trong văn tự ngôn ngữ, là 1 trong 3 Sấm lậu do Thiền sư Động sơn Lương giới lập ra. Động sơn Lương giới thiền sư ngữ lục (Đại 47, 526 thượng) nói: Ngữ sấm lậu, nghĩa là nếu chấp trước ngôn ngữ văn tự thì sẽ đánh mất tông chỉ, mê mờ chân lí.(xt. Động Sơn Tam Sấm Lậu).

ngữ vô biểu nghiệp

(語無表業) Phạm: Vàc-avijĩapti-karman. Loại nghiệp thể không cách nào biểu tỏ cho người khác biết, cùng sinh trong thân với Ngữ biểu nghiệp. Là 1 trong 3 Vô biểu nghiệp. Khi lời nói phát động ở nơi miệng tạo ra 1 tác nghiệp nào đó, đồng thời, nguyên nhân chiêu cảm quả báo ngày sau, đã được huân tập(xông ướp)trong thân mình, cái bị huân tập đó không hình không tướng, không thể biểu hiện cho người khác thấy, vì thế gọi là Ngữ vô biểu nghiệp. Tiểu thừa cho rằng Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp đều lấy sắc tính làm thể; nhưng Đại thừa thì chủ trương 3 Vô biểu nghiệp thân, ngữ, ý đều lấy chủng tử của tâm sở Tư làm thể. (xt. Nghiệp).

ngữ đẳng

(語等) Âm thanh của chư Phật 3 đời đều như nhau không khác, không thêm không bớt, đều dùng 64 thứ Phạm âm để diễn nói giáo pháp, là 1 trong 4 đẳng. Kinh Lăng già quyển 3, (Đại 16, 498 hạ) nói: Ngữ đẳng là gì? Là 64 thứ Phạm âm ngôn ngữ của ta cùng nhau sinh khởi, không thêm không bớt, không có sai khác, như tiếng chim Ca lăng tần già; các đức Như lai, Ứng cúng, Đẳng chính giác kia cũng như thế. (xt. Tứ Đẳng).

ngự chú

(禦注) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho những sách chú giải do vua soạn. Loại sách này không nhiều. Trong Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu quyển 32, chỉ có 3 bộ Ngự chú của vua Thế tổ nhà Thanh là Ngự chú hiếu kinh, 1 quyển, Ngự toản hiếu kinh tập chú, 1 quyển và Ngự chú đạo đức kinh, 1 quyển. Trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh thì có Ngự chú Kim cương ba la mật kinh tuyên diễn của Đạo nhân đời Đường. Sách này là do Đạo nhân bổ sung Ngự chú của vua Huyền tông mà thành. Ngoài ra, trong Vạn tục tạng kinh của Nhật bản có Ngự chú Viên giác kinh, 2 quyển, của vua Hiếu tông nhà Tống và Tứ thập nhị chương kinh ngự chú, 1 quyển, do vua Chân tông nhà Tống soạn.

ngự chế giản ma biện di lục

(禦制揀魔辨异錄) Cũng gọi Giản ma biện dị lục. Tác phẩm, 8 quyển, do vua Thế tong nhà Thanh soạn và ấn hành vào năm Ung chính 11 (1733), được thu vào Vạn tục tạng tập 114. Vào đời Minh, ngài Hán nguyệt Pháp tạng thuộc tông Lâm tế soạn cuốn sách Ngũ tông nguyên, rồi đệ tử của ngài là sư Đàm cát Hoằng nhẫn cũng soạn Ngũ tong cứu 1 quyển đề phê bình và bài bác chủ trương của tông Tào động. Việc này đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt trong Thiền lâm đương thời mà mãi đến đời nhà Thanh dư âm vẫn còn. Vua Thế tông soạn sách này để bài bác ngài Pháp tạng và Hoằng nhẫn. Nhà vua cho rằng tông thừa mà 2 vị Pháp tạng, Hoằng nhẫn chủ trương là tà ma dị thuyết; vua nêu ra từng điểm sai lầm trong ngữ lục và tác phẩm của 2 vị ấy để chỉ trích và bác bỏ. Nhà vua cũng nêu ra trường hợp những người theo ngài Pháp tạng ăn thịt, uống rượu, phá hủy giới luật, làm nguy hại cho Phật giáo rất lớn, cần phải trừ sạch. Cho nên Thế tông đã có những hành động cụ thể đàn áp môn đồ của ngài Pháp tạng. (xt. Ngũ Tông Nguyên).

ngự linh hội

(禦靈會) Cũng gọi Ngự linh tế. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Pháp hội cúng tế cầu siêu cho vong linh người chết oan. Trong văn hiến hiện còn, cho thấy hội Ngự linh được cử hành sớm nhất tại Nhật bản là vào năm Trinh quán thứ 5 (863) để cúng tế Thiên hoàng Sùng đạo và Thân vương Y dư chết vì tai nạn, đây chính là khởi nguồn của Ngự linh thần xã thượng và hạ ở Kinh đô (Kyoto) hiện nay. Hiện nay cóThần hạnh tế cúng Thần dư Phụng an vào ngày mồng 1 tháng 5 và Hoàn hạnh tế cúng Thần dư Độ ngự vào ngày 18 tháng 5. Ngự linh hội đã thịnh hành từ thời kì Bình an đến nay và hiện còn được cử hành tại Dã thần xã và Kì viên xã. (xt. Kì Viên Hội).

ngự phật danh

(禦佛名) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Tức là xưng niệm danh hiệu Phật A di đà và chư Phật, gọi là Ngự Phật danh. Nhưng về mặt dụng ngữ thì Ngự Phật danh đặc biệt chỉ cho văn kính lễ trong pháp hội, đem việc xưng niệm danh hiệu Phật, Bồ tát và các Tổ sư phổ thành khúc điệu.

ngự tu pháp

(禦修法) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Chỉ cho việc tu trì mật pháp và pháp hội tu trì mật pháp ở Nhật bản. Trong tông Chân ngôn, Ngự tu pháp được gọi là Hậu thất nhật ngự tu pháp. Tức là pháp bí mật mỗi năm được tu trong 7 ngày từ mồng 8 đến 14 tháng giêng ở viện Chân ngôn, trong cung, để cầu cho Thiên hoàng mạnh khỏe, nước thịnh và dân an. Vì đối lại với Tiền thất nhật tiết hội ở trong cung, nên gọi pháp tu này là Hậu thất nhật ngự tu pháp.Tông Thiên thai thì có Ngũ chủng đại pháp, Lục chủng chuẩn đại pháp, Ngũ chủng bí pháp... đều thuộc về Ngự tu pháp. Ngũ chủng đại pháp: 1. Trấn tướng Dạ xoa pháp. 2. Đại xí thịnh pháp. 3. Thất Phật Dược sư pháp. 4. Như pháp diên mệnh pháp. 5. An trấn pháp. Lục chủng chuẩn đại pháp: 1. Pháp hoa pháp.2. Như lai pháp Tôn thắng pháp.3. Như pháp Phật nhãn pháp.4. Như pháp Bắc đẩu pháp.5. Diệp y Quán âm pháp.6. Nhất tự kim luân pháp. Ngũ chủng bí pháp:1. Tô tất địa đại pháp.2. Ngũ bí mật pháp.3. Như pháp ái nhiễm pháp.4. Tôn thắng pháp. 5. Ô sô sa ma pháp.

ngự tuyển ngữ lục

(禦選語錄) Cũng gọi Ung chính ngự tuyển ngữ lục. Ngữ lục, 19 quyển, do vua Thế tông soạn vào đời Thanh, được thu vào Vạn tục tạng tập 119. Nội dung thu tập các pháp ngữ của các Thiền sư xưa nay ở Trung quốc, các cư sĩ và vua Thế tông đời Thanh. Gồm có: Chính tập 12 quyển, Ngoại tập 1 quyển, Tiền tập 2 quyển, Hậu tập 3 quyển và Đương kim pháp hội 1 quyển. Trong đó,Chính tập có các bài ngữ yếu ngắn của 15 vị: Tăng triệu, Vĩnh gia Huyền giác, Hàn sơn, Thập đắc, Qui sơn Linh hữu, Ngưỡng sơn Tuệ tịch, Triệu châu Tùng thẩm, Vân môn Văn yển, Vĩnh minh Diên thọ, Tử dương Chân nhân Trương bình thúc, Tuyết đậu Trùng hiển, Viên ngộ Khắc cần, Ngọc lâm Thông tú, Cung khê Hành sâm và Thạc ung thân vương Viên minh cư sĩ(vua Thế tông). Ngoại tập là phần Tịnh độ vấn đáp của ngài Vân thê Châu hoành. Tiền tập vàHậu tậpđều là ngữ lục của các Thiền sư nhiều đời. Ở cuối bài Ngự chế tổng tự có dòng chữ: Ung chính Quí sửu thập nhất niên (1733), tứ nguyệt sóc nhật. Ở đầu ngữ lục của mỗi vị đều có bài tựa Ngự chế đề ngày 15 tháng 4 đến ngày 15 tháng 8 năm Quí sửu (1733).Cứ theo bài hậu tựa Ngự chế cho biết về lí do biên soạn Ngữ lục này là vì nhà vua không vừa lòng với các bộ ngữ lục đã có từ trước nên vua mới soạn ra bộ sách này. Sách được nhập Tạng vào niên hiệu Càn long năm đầu (1736). [X. Đại Thanh tam tạng thánh giáo mục lục Q.5; Trung quốc Phật giáo sử (Tưởng duy kiều) Q.4].

Ngự Văn

(御文, ofumi): những thông tin về Liên Như (蓮如, Rennyo), vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji) được Phái Đại Cốc (大谷派) gọi là Ngự Văn. Trong khi đó, Phái Bổn Nguyện Tự (本願寺派) thì gọi là Ngự Văn Chương (御文章, gobunshō). Liên Như có viết rất nhiều bức văn, trong số đó người cháu của ông là Viên Như (圓如, Ennyo) chọn ra 80 bức, biên tập thành 5 thiếp, và thường được gọi là Ngự Văn. Mấy bản này có tên là Thiếp Nội Ngự Văn (帖內御文), còn lại những phần thông tin về Liên Như được gọi là Thiếp Ngoại Ngự Văn (帖外御文). Có thể cho rằng Ngự Văn có tính cách như là quyển sách bố giáo của chúng môn đồ. Còn nội dung của mấy bức này thì có rất nhiều loại khác nhau, tỷ dụ như thế nào là sự cứu độ nhờ niệm Phật, người niệm Phật cần phải hội đủ những điều kiện như thế nào, và những tín ngưỡng do người niệm Phật cần phải tuân giữ cũng như nhiều phương diện đối với xã hội. Trong số đó, loại Ngự Văn có nội dung phê phán việc niệm Phật dị đoan, hay phê phán về tín tâm không thuần thục, là nhiều nhất. Những bản Ngự Văn hiện tồn cho đến ngày nay, trong đó loại xưa nhất là tháng 3 năm 1461, là Ngự Văn ban cho Kim Sum Đạo Tây (金森道西), người khai sáng Thiện Lập Tự (善立寺, Zenritsu-ji) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ngoài ra còn có các bản Ngự Văn ghi lại những thông tin năm trước khi Liên Như qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1498. Nỗ lực do Liên Như dồn tất cả để viết nên những bức Ngự Văn như thế này thật vô cùng lớn lao, nội chỉ với một bản thôi, bất cứ ai cũng có thể chỉ cho người khác pháp môn niệm Phật đúng đắn. Thông qua các bức Ngự Văn như vậy, đương nhiên Liên Như muốn tuyên dương giáo thuyết của Chơn Tông, thể hiện rõ tư duy của ông về các giáo thuyết dị đoan, về thái độ đúng đắn của tín ngưỡng, về quyền lực chính trị với bản thân ông, về những biến động của chúng môn đồ, và ta cũng có thể biết được khá nhiều vấn đề liên quan đến Chơn Tông dưới thời đại Chiến Quốc. Cả hai loại Thiếp Ngoại Ngự Văn cũng như Thiếp Nội Ngự Văn đều được thâu lục vào trong hai bộ Liên Như Thượng Nhân Ngự Văn Toàn Tập (蓮如上人御文全集) và Liên Như Thượng Nhân Di Văn (蓮如上人遺文).

ngự văn chương

(禦文章) Cũng gọi Liên như thượng nhân ngự văn. Tác phẩm, 5 quyển, do ngài Liên như ghi chép, được thu vào Đại chính tạng tập 83. Nội dung gồm có các bài thuyết phápkhai thị của ngài Liên như, Tổ trung hưng Tịnh độ Chân tông Nhật bản. Nửa bộ trướcđược thu chép khi ngài trụ ở đạo tràng Cát kì. Lời văn bình dị, tông nghĩa rộng rãi, có thể làm khóa tụng hàng ngày.

Ngự Đường Quan Bạch

(御堂關白, Midō Kampaku): tên tự xưng riêng của Đằng Nguyên Đạo Trưởng (藤原道長, Fujiwara-no-Michinaga) sau khi ông xây dựng xong Pháp Thành Tự (法成寺, Hōjō-ji).

ngự ảnh đường

(禦影堂) I. Ngự Ảnh Đường. Cũng gọi Ảnh đường. Chỉ cho tòa nhà thờ tượng các vị Tổ sư trong các chùa tại Nhật bản. (xt. Ảnh Đường). II. Ngự Ảnh Đường. Đạo tràng Niệm Phật tam muội ở chùa Thiện quang mới tại khu Hạ kinh, thành phố Kyoto, Nhật bản, là Bản sơn của phái Ngự ảnh đường thuộc Thời tông.

nha

1) Văn phòng: Bureau—Service. 2) Răng: Tooth—Teeth.

nha bồ tát

Kim Cang Dược Xoa—Một vị Bồ Tát hay nhe răng lởm chởm ra để bảo vệ Phật; thường thì vị nầy ở bên đông độ của Kim Cang Giới—The Bodhisattva fiercely shoowing his teeth in defence of the Buddha; hie is in the east of the Buddha in the Vajradhatu.

nha nam

(牙南) Một trong những lễ tiết tông giáo của dân tộc Thái ở vùng Tây song bản nạp thuộc tỉnh Vân nam, Trung quốc. Nha nam là dịch âm từ tiếng Thái, Hán dịch là Trích thủy(nước giọt xuống). Vào những dịp như: Phật đản, giải hạ, tế thần trại, tế quỉ thần, cúng cô hồn, dựng trại, làm nhà mới... lúc các vị sư bắt đầu hoặc khi kết thúc thời tụng kinh chú nguyện, thì lấy nước sạch đựng trong bình sành, rưới trên đất để bày tỏ lòng chí thành thanh tịnh chiêm bái Phật, cúng tế thần linh cầu xin chứng giám, phù hộ cho được an khang hạnh phúc.

nha tự

(牙字) Chỉ cho chữ (hùô), là chữ chủng tử của bồ tát Kim cương nha trong hội Thành thân của Mật giáo. Chữ Hùô có nghĩa là phá dẹp, làm cho người khác sợ hãi. Hùô cũng có nghĩa là ăn nuốt, khủng bố người khác, vì thế gọi Hùô là Nha tự (chữ răng). (xt. Kim Cương Nha Bồ Tát).

nhai

1) Con đường hay phố thị: A street, especially with shops, a market. 2) Nhai thức ăn: To chew—To ruminate.

nhai phương

Phố thị bận rộn của cuộc sống—The busy mart of life.

nhai phường hoá chủ

(街坊化主) Gọi tắt: Nhai phường, Hóa chủ. Chức vụ trong Thiền lâm có trách nhiệm đi vào làng xóm, phố phường khuyến hóa tín đồ cúng dường tài vật cho Tam bảo.[X. văn Qui kính trong Thiền uyển thanh qui Q.8].

nham

Ghềnh đá—A cliff.

nham hiểm

High and dangerous.

nham hộ quan âm

(岩戶觀音) Bồ tát Quan âm thường tĩnh tọa trong hang núi nên gọi là Nham hộ Quan âm, là 1 trong 33 hóa than Quan âm.Trong các hang núi thường có các loài rắn, rết,bò cạp nhả ra khí độc hại, nếu niệm danh hiệu bồ tát Nham hộ Quan âm thì những khí độc ấy sẽ tiêu tan hết. [X. phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoaQ.7; Phật tượng đồ vậng Q.2]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).

nham toà

(岩座) Tục gọi: Bàn thạch tòa. Tòa ngồi của Phật và Bồ tát có hình dáng giống như tảng đá bằng phẳng tượng trưng cho sự an trụ bất động. Như tòa sen của bồ tát Mã đầu Quan âm và tòa bảo thạch của Bất động minh vương trong Mật giáo. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.5].

nham tỉnh đại huệ

(岩井大慧) Học giả Phật giáo Nhật bản. Năm 1918, ông tốt nghiệp tại Đại học Đế quốc ở Đông kinh. Sau đó, ông từng là Giáo sư của các Đại học Đông kinh, Đại học Đại cốc, Đại học Đông dương... Ông chuyên nghiên cứu về mối quan hệ giữa dân tộc Mông cổ và Lạt ma giáo. Ông có các tác phẩm: Tây tạng Ấn độ văn hóa, Nhật chi Phật giáo sử luận khảo.

Nham Ðầu Toàn Hoát

巖頭全豁; C: yántóu quánhuò; J: gantō zenkatsu; 828-887;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn Tuyên Giám Thiền sư. Thiền sư Thuỵ Nham Sư Ngạn là người nối pháp của Sư.|Sư họ Kha, quê ở Tuyền Châu, xuất gia lúc còn nhỏ tuổi. Sau, Sư du phương, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý Thiền sư (Sư và Tuyết Phong trở thành hai môn đệ hàng đầu của Ðức Sơn, Khâm Sơn sau đến Ðộng Sơn Lương Giới thụ pháp). Nơi Ðức Sơn, Sư ngộ yếu chỉ thiền. Cùng với Tuyết Phong, Sư đến từ giã Ðức Sơn, Ðức Sơn hỏi: »Ði về đâu?« Sư thưa: »Tạm từ Hoà thượng hạ sơn.« Ðức Sơn hỏi: »Con về sau làm gì?« Sư thưa: »Chẳng quên« Ðức Sơn lại hỏi: »Con nương vào đâu nói lời này?« Sư thưa: »Ðâu chẳng nghe: ›Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy, kém thầy nửa đức.‹« Ðức Sơn bảo: »Ðúng thế! Ðúng thế! Phải khéo hộ trì.« Sau khi rời Ðức Sơn, Sư đến núi Ngọa Long Ðộng Ðình cất am. Học giả đến học tấp nập.|Có một vị tăng mới đến, Sư hỏi: »Từ đâu đến?« Tăng thưa: »Từ Tây Kinh đến.« Sư hỏi: »Sau trận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng?« Tăng thưa: »Lượm được.« Sư đưa cổ ra làm thế nhận chặt, tăng nói: »Ðầu thầy rơi.« Sư cười to.|Sư dạy chúng: »Phàm việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chính cú, cũng gọi là cư đỉnh (ở trên đỉnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh, là chắc thật, là khi Phật chưa sinh, là đắc địa… Phá tất cả thị phi sẽ được tự do tự tại với những gì còn đối đãi. Nếu nhìn chẳng thấu liền bị người đâm đui mắt…«|Sau này có người hỏi Phật, hỏi pháp, đạo, thiền, Sư đều »Hư!« lên một tiếng. Sư thường bảo chúng: »Khi Lão già này đi sẽ rống lên một tiếng.«|Ðời Ðường, niên hiệu Quang Khải, giặc cướp lộng hành, chúng tăng đều lánh đi nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở lại. Giặc cướp đến, thấy không có gì lấy được, tức giận đâm Sư. Sư không đổi thần sắc, chỉ rống lên một tiếng xa mười dặm rồi tịch. Tiếng rống của Sư nổi danh trong lịch sử của Thiền tông, và đã gây thắc mắc cho nhiều thiền sinh đời sau (Bạch Ẩn Huệ Hạc).

Nham Đầu Toàn Khoát

(巖頭全奯, Gantō Zenkatsu, 828-887): hay còn gọi là Toàn Hoát (全豁), người Huyện Nam An (南安縣), Tuyền Châu (泉州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến ngày nay), họ là Kha (柯). Ban đầu ông theo xuất gia với Nghĩa Công (義公) ở Linh Tuyền Tự (靈泉寺), rồi thọ cụ túc giới ở Tây Minh Tự (西明寺) thuộc Trường An (長安). Ông đã từng giao du với Tuyết Phong Nghĩa Tồn (雪峰義存) và Khâm Sơn Văn Thúy (欽山文邃), rồi sau khi đến tham vấn Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂); ông lại đến học pháp với Đức Sơn Tuyên Giám (德山宣鑑) và kế thừa dòng pháp của vị nầy. Về sau, ông đến cử xướng Thiền phong ở Ngọa Long Sơn (臥龍山, Nham Đầu) bên Hồ Động Đình (洞庭湖). Vào ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 3 (887) niên hiệu Quang Khải (光啓, theo Tổ Đường Tập là ngày mồng 4 tháng 4 năm thứ 5 niên hiệu Trung Hòa), ông bị giặc cướp đâm cho một đao, ông rán hết sức mình thét vang một tiếng và thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi đời. Sau ông được ban cho thụy hiệu là Thanh Nghiễm Đại Sư (清儼大師).

nham đầu thiền sư

Zen Master Yan-T'ou—See Toàn Khoát Nham Đầu Thiền Sư.

nham đầu toàn khoát

Zen Master Yan-T'ou—See Toàn Khoát Nham Đầu Thiền Sư.

nham đầu tứ tạng phong

(岩頭四藏鋒) Bốn tiêu chuẩn được sử dụng để kiểm nghiệm cảnh giới tu hành theo hai phương diện Sự và Lí do Thiền sư Nham đầu Toàn khoát (828-887) đặt ra. Sự là thế giới hiện tượng sai biệt, có hình tướng, có giới hạn; còn Lí là thế giới bản thể, chân thực, bình đẳng, trong đó muôn vật đều viên dung vô ngại. Bốn tiêu chuẩn ấy là: 1. Tựu sự tàng phong: Kiểm xét cảnh giới sự tướng sai biệt. 2. Tựu lí tàng phong: Kiểm xét cảnh giới nhất như viên dung. 3. Nhập tựu tàng phong: Kiểm xét cảnh giới gồm đủ cả Sự và Lí. 4. Xuất tựu tàng phong: Kiểm xét cảnh giới dứt bặt Sự và Lí đối đãi. Nhân thiên nhãn mục quyển 6 (Vạn tục 113, 444 thượng) nói: Bốn tàng phong là do sư đặt ra. Nghĩa là tựu sự thì toàn là sự, mà tựu lí thì toàn là lí; nhập tựu thì lí và sự đều đầy đủ, mà xuất tựu lí và sự đều dứt bặt.

nhan

Dung nhan—Counternance—Appearance.

Nhan Bính

(顔丙, Ganhei): xem Như Như Cư Sĩ (如如居士, Nyonyo Koji, ?-1212) bên dưới.

nhan diên chi

(顔延之) Cư sĩ Phật giáo Trung quốc, sống vào thời Lưu Tống, người Lâm nghi, Lang gia (nay là huyện Lâm nghi, tỉnh Sơn đông), tự là Diên niên. Thủa nhỏ, ông mồ côi cha mẹ, sống trong cảnh nghèo khổ, nhưng rất chăm học, có tài văn chương, nổi tiếng ngang với Tạ linh vận. Tính tình ông chân thật, thẳng thắn, thích uống rượu và ca hát, nên người đời gọi ông là Nhan bưu. Sau khi nhà Đông Tấn mất, ông ra làm quan dưới triều Lưu Tống, được 2 vua Vũ đế và Văn đế hậu đãi. Ông từng giữ các chức Trung thư lang, Thái thú huyện Vĩnh gia... Sau ông trở thành 1 văn nhân hoạt động tích cực trong cung đình. Về già, ông được phong chức Kim tử Quang lộc đại phu. Ông vốn kính thờ Phật pháp, thông suốt kinh luận. Vào năm Nguyên gia thứ 10 (433) đời vua Văn đế, Hà thừa thiên soạn luận Đạt tính, chủ trương hình hài tan rã thì tinhthần cũng tiêu diệt, để phụ họa với luận Bạch hắc của sa môn Tuệ lâm. Nhan diên chi bèn đứng trên lập trường của Phật giáo soạn 1 thiên Thích Hà hành dương đạt tính luận để bác bỏ luận điệu của Hà thừa thiên. Năm Hiếu kiến thứ 3 (456) đời vua Hiếu vũ đế ông mất, thọ 73 tuổi. [X. Phật tổ thống kỉ Q.36; Tuệ nghiêm truyện trong Lương cao tăng truyện Q.7; Hoằng minh tập Q.4].

Nhan Hồi

(顔回, 513-428 trước CN): tự là Tử Uyên (子淵), còn được gọi là Nhan Uyên (顔淵), người nước Lỗ, một trong những đệ tử kiệt xuất của Khổng Tử, có đức hạnh số một, nhưng mất sớm trước thầy vào năm 32 tuổi.

nhan nhản

Abundant—Numerous.

nhan sắc

Beauty.

nhan thị gia huấn

(顔氏家訓) Tác phẩm, 2 quyển, (sau chia làm 7 quyển), do ông Nhan chi thôi (531-590) soạn vào thời Nam Bắc triều và được biên tập lại vào khoảng năm Nhân thọ (601-604) đời vua Văn đế nhà Tùy. Đây là 1 tập văn mang nội dung dạy dỗ con cháu, gồm 20 thiên với các mục: Sinh hoạt, học vấn, văn học, đạo đức, dưỡng sinh, ngôn ngữ và các nghề nghiệp trong gia đình. Ông đã căn cứ vào sự thể nghiệm của chính mình để dạy cho con cháu về cách lập thân, tề gia, chỉ rõ và sửa đổi những sai lầm của xã hội.Trong đó, thiên Qui tâm nêu lên ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho giáo và 5 giới căn bản là không giết hại, không trộm cắp, không gian dâm, không nói dối, không uống rượu của Phật giáo, mà ông cho rằng cả 2 đều giống nhau. Ý ông muốn điều hòa pháp thế tục và pháp xuất gia bằng cách dung hợp nghĩa tinh túy của Nho giáo và Phật giáo. Nhan chi thôi tên là Giới, tự là Hạnh, người Lâm nghi. Lúc đầu, ông làm quan cho nhà Tiêu Lương thuộc Nam triều, sau chuyển làm quan dưới các triều Bắc Tề, Bắc Chu. Đến đầu đời Tùy, ông được triệu ra làm Học sĩ. Ông rất kính tin Phật pháp, thông suốt các kinh luận, thường cùng với các bậc cao tăng bàn luận về yếu chỉ sâu xa của Phật pháp. [X. Đường Hộ pháp sa môn Pháp lâm biệt truyện Q.hạ; Quảng hoằng minh tập Q.3, 26].

nhang đèn

Incense and lamp.

nhanh

Quick—Fast—Rapid.

nhanh mắt

Quick-sighted.

nhanh tay

Quick-handed.

nhanh trí

Quick-witted (minded).

nhau

Together.

nheo mắt

To screw up one's eyes.

nhgẹn ngào

To be chocked by tears.

nhi nữ

Woman.

nhi đồng

Young child.

Nhiên Không

(然空, Nenkū, ?-1297): vị Tăng của Tịnh Độ Tông, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, vị Tổ đời thứ 4 của Thanh Tịnh Hoa Viện (清淨華院), vị Tổ của Phái Nhất Điều (一條派) thuộc Dòng Trấn Tây (鎭西流), húy là Nhiên Không (然空), hiệu là Lễ A (禮阿), Pháp Quang Minh Viện (法光明院), con của A Bộ Trinh Công (阿部貞公). Ông theo học Thiên Thai với Vĩnh Tồn (永存) trên Tỷ Duệ Sơn, rồi từ năm 1272 trở đi trong vòng 3 năm trường ông theo Lương Trung (良忠) học về Tịnh Độ ở vùng Liêm Thương. Sau đó, ông cùng Lương Không (良空) lên kinh đô, chuyên tâm bố giáo ở Pháp Quang Minh Viện, nhưng vì gặp trở ngại nên ông phải cung thỉnh Lương Trung lên kinh đô. Vào năm 1277, ông kế thừa cuốn Mạt Đại Niệm Phật Thọ Thủ Ấn (末代念佛授手印) của Lương Trung, rồi sau khi thầy qua đời, ông đã cùng với Lương Không, Đạo Quang (道光) hoạt động mạnh mẽ, làm vị Tổ đời thứ 4 của Thanh Tịnh Hoa Viện, và đóng vai trò trung tâm trong giới Tịnh Độ Tông ở Kyoto. Trước tác của ông có Tịnh Độ Lược Yếu Sao (淨土略要鈔) 1 quyển, Tâm Hành Tạp Quyết (心行雜決) 1 quyển.

nhiên nhục thân đăng

(然肉身燈) Dùng thân làm đèn, 1 trong các pháp khổ hạnh. Cứ theo Tư trị thông giám hậu chu kỉ chép, vào năm Hiển đức thứ 2 (955) đời vua Thế tông, triều đình cấm tăng tục xả thân, chặt chân tay, luyện ngón tay, treo đèn, đeo kìm... Luyện ngón tay là quấn hương vào ngón tay rồi đốt; treo đèn là ở trần rồi dùng các móc sắt móc trên da khắp mình, mỗi các móc đều treo 1 ngọn đèn nhỏ, đổ dầu vào đèn rồi đốt, tục gọi là Nhiên nhục thân đăng.

Nhiên Ðăng Cát Tường Trí

然燈吉祥智; S: dīpaṅkaraśrījñāna;|A-đề-sa

Nhiên Ðăng Phật

然燈佛; S, P: dīpaṅkara;|Vị cổ Phật từng sống cách thời đại chúng ta vô lượng kiếp. Ðức Phật này là vị đầu tiên của 24 vị Phật trước đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Tương truyền dưới thời Nhiên Ðăng Phật thì đức Thích-ca là một nhà sư khổ hạnh tên là Thiện Huệ (s: sumedha). Với thiên nhãn thông, Nhiên Ðăng Phật nhận ra Thiện Huệ sẽ thành Phật dưới tên Cồ-đàm (gautama) và thụ kí cho Thiện Huệ. Phật Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng nhất trong các vị trước Thích-ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai. Tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta thờ »Tam thế Phật« là thờ ba vị này.|Theo truyền thuyết, thân Phật Nhiên Ðăng cao »80 trượng«, giáo hoá 84.000 vị A-la-hán, Ngài sống 100.000 năm. Tháp đựng xá-lị Phật Nhiên Ðăng cao 36 do-tuần (s: yojana  15-20km).

nhiên đăng hội

(然燈會) Hội thắp đèn. Trong các kinh đều nói thắp đèn ở trước tháp Phật, tượng Phật, kinh Phật... được công đức rất lớn, bởi thế Nhiên đăng là 1 cách cúng dường mà về sau đã trở thành Pháp hội.Việc đốt đèn vốn để thắp sáng phòng tăng, nhưng nó đã trở thành 1 pháp sự vào thời nào thì không thể xác định được. Trong các điều Xá vệ thành nước Câu tát la, Ba liên phất ấp nước Ma kiệt đà, Trúc sát thi la quốc, Ma đầu la quốc... trong Phật quốc kí của ngài Pháp hiển đời Đông Tấn có tường thuật về việc thắp đèn. Như vậy, trong các pháp hội ở Ấn độ thời xưa, đốt đèn đã được thực hành phổ biến. Nhưng, Nhiên đăng hội trở thành 1 pháp hội độc lập thì đã được bắt đầu tại Trung quốc. Cứ theo kinh điển và sử sách ghi chép thì Nhiên đăng hội trải qua các đời đều rất thịnh hành. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.38; kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Đại Tống tăng sử lược Q.hạ].

nhiên đăng phật

(然燈佛) Nhiên đăng, Phạm: Dìpaôkara. Hán âm: Đề hòa kiệt la, Đề hoàn kiệt. Cũng gọi Phổ quang Phật, Đĩnh quang Phật.Tên đức Phật ở đời quá khứ đã thụ kí cho bồ tát Thích ca thành Phật. Cứ theo kinh Tu hành bản khởi quyển thượng, nước Đề hòa vệ (Phạm:Dìpavatì) có vị Thánh vương tên Đăng thịnh, khi sắp băng hà, vua phó thác việc nước cho thái tử Đĩnh quang. Nhưng Thái tử biết đời là vô thường, nên đem đất nước giao lại cho người em, rồi xuất gia làm sa môn, về sau chứng quả Phật. Lúc bấy giờ có Phạm chí Nho đồng gặp đức Phật Đĩnh quang đi du hóa, liền mua hoa cúng Phật, Phật bèn thụ kí cho Nho đồng đời vị lai sẽ thành đạo. Phạm chí Nho đồng ấy chính là Phật Thích ca mâu ni sau này. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.1; kinh Hiền ngu Q.3; kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Phóng quang bát nhã Q.6; kinh Tâm địa quán Q.1; luận Đại trí độ Q.9].

nhiêu ích

(饒益) I. Nhiêu Ích. Hàm ý ban pháp đem lại lợi ích cho người. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết quyển thượng (Đại 14, 538 thượng) nói: Bồ tát ở cõi nước thanh tịnh đều là nhiêu ích cho các chúng sinh. II. Nhiêu Ích. Hàm ý giàu có, đầy đủ, là tên của 1 thế giới. Phẩm Như lai danh hiệu trong kinh Hoa nghiêm quyển 12 (Đại 10, 59 hạ) nói: Này các Phật tử! Ở phía đông nam thế giới Sa bà này có 1 thế giới tên là Nhiêu ích, đức Như lai ở thế giới ấy hiệu là Hiện quang minh.

nhiếp a tì đạt ma nghĩa luận

(攝阿毗達磨義論) Pàli: Abhidhammattha-saígaha. Tác phẩm, do ngài A nâu lâu đà soạn, ngài Pháp phảng dịch. Nội dung sách này nói về cương yếu giáo học A tì đạt ma của Phân biệt Thượng tọa bộ ở Tích lan. Gồm có 9 phẩm theo thứ tự là: Nhiếp tâm phân biệt, Nhiếp tâm sở phân biệt, Nhiếp tạp phân biệt, Nhiếp lộ phân biệt, Nhiếp li lộ phân biệt, Nhiếp sắc phân biệt, Nhiếp tập phân biệt, Nhiếp duyên phân biệt và Nhiếp nghiệp xứ phân biệt. Trong đó, 5 phẩm đầu nói về tâm pháp và tâm sở pháp, phẩm thứ 6 nói về sắc pháp và Niết bàn pháp, phẩm thứ 7 nói về các pháp tướng, phẩm thứ 8 nói về duyên khởi luận và phẩm thứ 9 nói về tu định và tuệ. Ở đầu mỗi phẩm đều có 1 bài tụng trình bày đại khái về nội dung của phẩm ấy. Phần chính văn của mỗi phẩm được chia ra hơn 10 đoạn, mỗi đoạn đều có nhiếp tụng. Luận này được thành lập vào khoảng đầu thế kỉ XII về trước, là bộ luận tổng kết cách ngắn gọn rõ ràng bản Luận tạngPàli, là khóa trình bắt buộc trong các viện Phật học quốc gia thuộc Phật giáo Nam truyền. Nguyên văn của luận này được hiệu đính và xuất bản vào năm 1884. Ngoài ra cũng có bản dịch tiếng Anh (Compendium of Philosophy, 1910, P.T.S) và bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh quyển 65). [X. A History fPàliLiterature by B.C. Law].

nhiếp chúng sinh giới

(攝衆生戒) Phạm: Sattvàrtha-kriyà-zìla. Cũng gọi Nhiêu ích hữu tình giới, Nhiêu ích chúng sinh giới, Tiếp sinh giới, Lợi chúng sinh giới. Chỉ cho giới pháp làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 3 tụ tịnh giới. Kinh Bồ tát địa trì quyển 4 nêu ra 11 thứ:1. Làm bạn với tất cả chúng sinh thực hiện các việc lợi ích. 2. Đối với những chúng sinh chịu các khổ như đã bị bệnh, chưa bị bệnh và người săn sóc bệnh, đều kết bạn. 3. Vì chúng sinh mà nói các pháp thế gian và xuất thế gian, hoặc dùng mọi phương tiện để giúp họ mở mang trí tuệ. 4. Biết ơn báo ơn. 5. Che chở cho chúng sinh trong các trường hợp bị khủng bố, tai ách, khiến họ thoát khỏi tình trạng sợ hãi, lo âu. 6. Thấy chúng sinh nghèo khó, khốn quẫn, tùy theo nhu cầu đều giúp đỡ hết. 7. Đức hạnh đầy đủ, nương nơi chính thụ, nuôi chúng đúng như pháp. 8. Trước dùng lời an úy, tùy thời qua lại, cung cấp các thức ăn uống, nói lời dịu hiền của thế gian, khiến những người đã an ổn đều thuận theo, người chưa an ổn thì được an ổn. 9. Đối với những người có thực đức thì vui vẻ khen ngợi. 10. Đối với những người làm ác, phạm tội, dùng từ tâm lựa lời khuyên bảo, khiến họ hối cải. 11. Dùng thần lực thị hiện vào các đường ác, khiến chúng sinh sợ hãi tội ác, vui theo Phật pháp, sinh tâm hiếm có... [X. luận Du già sư địa Q.40; luận Thành duy thức Q.9; Thích môn qui kính nghi Q.thượng]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).

nhiếp chúng sinh nguyện

(攝衆生願) Cũng gọi Nhiếp sinh nguyện, Lợi chúng sinh nguyện. Nguyện thu nhiếp lấy chúng sinh, là 1 trong 3 loại nguyện nằm trong 48 bản nguyện của đức Phật A di đà. Trong Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng, khi giải thích về 48 thệ nguyện của đức Phật A di đà, ngài Tuệ viễn đem chia làm 3 loại: Nhiếp tịnh độ nguyện, Nhiếp pháp thân nguyện và Nhiếp chúng sinh nguyện. Nghĩa là trong 48 nguyện thì nguyện 12, 13 và 17 thuộc về Nhiếp pháp thân nguyện, nguyện 31 và 32 thuộc về Nhiếp tịnh độ nguyện, còn lại tất cả các nguyện khác đều là Nhiếp chúng sinh nguyện. Còn theo thuyết của ngài Cát tạng thì nguyện 12, 13 và 17 là Nhiếp pháp thân nguyện; nguyện 1, 31 và 32 là Nhiếp tịnh độ nguyện; 42 nguyện còn lại là Nhiếp chúng sinh nguyện. [X. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng); Vô lượng thọ kinh liên nghĩa thuật văn tán Q.trung).

Nhiếp căn

攝根; S, P: indriyasaṃvara; nghĩa là phòng hộ các giác quan;|Phương pháp tu tập quán sát sự vật một cách khách quan và tránh những ý nghĩ bâng quơ, không cho tâm thức lạc lõng trong những cảm giác như yêu thích, ghét bỏ, sân hận… khi tiếp xúc với một pháp nào đó bằng những căn môn (giác quan). Nhiếp căn là yếu tố quan trọng để đạt Ðịnh (s, p: samādhi), cần phải được thực hành trong đời sống hàng ngày, đó là một quy định của Giới (s: śīla).|Phép nhiếp căn được mô tả như sau: »Vị tỉ khâu khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ý khởi pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vị ấy để tâm không cho các yếu tố bất thiện tác dụng lên mắt, vị ấy đạt được nhiếp căn nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức, v.v… Tập được nhiếp phục các căn, vị ấy cảm nhận được hỉ lạc thanh tịnh.«

nhiếp cảnh tòng thức thể

(攝境從識體) Cũng gọi Nhiếp dư qui thức thể, Nhiếp cảnh tòng tâm thể. Một trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng thành lập. Cảnh chỉ cho sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; Thức chỉ cho tâm thức. Nhiếp cảnh tòng thức thể nghĩa là thu nhiếp tất cả các cảnh sở duyên mà đưa về tâm thức năng duyên, tức là muôn pháp duy thức, tâm thức là gốc của hết thảy sự vật.[X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).

nhiếp giáo vị tận quá thất

(攝教未盡過失) Lỗi lầm vì thu nhiếp giáo chưa hết. Nghĩa là khi lập Phán thích giáo tướng thì trong đó phải đề cập đến tất cả các giáo tướng, không được bỏ sót. Nếu không thu nhiếp lấy hết thì thành lỗi lầm.

nhiếp giả tuỳ thật thể

(攝假隨實體) Cũng gọi Nhiếp giả tòng thực thể. Một trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng thành lập. Giả chỉ cho pháp giả lập; Thực chỉ cho thực pháp làm chỗ nương cho giả pháp. Nhiếp giả tùy thực thể có nghĩa là thu nhiếp giả pháp để qui về thực pháp, lấy thực pháp làm thể. Như 4 trần(sắc, hương, vị, xúc)là thực pháp, cái bình do 4 trần tạo thành là pháp giả lập, vì thế thu nhiếp giả pháp khiến theo về với thực thể 4 trần, nêu 4 trần làm thể của giả pháp. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).

nhiếp hoá

(攝化) Gọi đủ: Nhiếp thụ giáo hóa. Cũng gọi Tiếp hóa, Giáo hóa. Nghĩa là Phật và Bồ tát rủ lòng từ bi, đưa tay tiếp nhận chúng sinh, rồi giáo hóa làm lợi ích cho họ. Nhiếp hóa lợi ích chúng sinh, gọi là Nhiếp hóa lợi sinh. Vì chúng sinh có căn cơ không giống nhau, nên phải dùng nhiều phương pháp để nhiếp hóa, gọi là Nhiếp hóa tùy duyên.

nhiếp loại luận

(攝類論) Tác phẩm Nhân minh của Phật giáo Tây tạng, gồm 3 phần: Lược tập, Trung tập và Quảng tập. Là bộ sách nhập môn cho những người học tập Nhân minh. Pháp tắc và học phong biện luận trong sách này là do học giả Hiệp ba khúc sâm, người Tây tạng, kết hợp với phong cách biện luận của các Luận sư thuộc Kinh bộ Phật giáo mà lập ra, là 1 đặc sắc lớn của Nhân minh học Tây tạng.

Nhiếp Luận Tông

(攝論宗, Setsuron-shū): tên gọi của học phái lấy bộ Nhiếp Đại Thừa Luận (攝大乘論) của Vô Trước (s: Asaṅga, 無著) làm đối tượng nghiên cứu. Bộ luận này do Chơn Đế (s: Paramārtha, 眞諦, 499-569) dịch vào năm 563. Đây là một trong 13 học phái lớn của Phật Giáo Trung Quốc. Bên cạnh bộ luận trên, tông này còn lấy bộ Nhiếp Đại Thừa Luận Thích (攝大乘論釋) của Thế Thân (s: Vasubandhu, 世親) và được hình thành ở phương Nam do môn hạ của Chơn Đế là Huệ Khải (慧愷), Pháp Thái (法泰). Còn ở phương Bắc thì những môn đồ của Địa Luận Tông chạy qua lánh nạn phế Phật thời Bắc Chu, rồi chuyển qua Nhiếp Luận Tông và chính những người này đã truyền bá ở đây. Nhiếp Luận Tông ở phương Bắc do Đàm Thiên (曇遷) lập nên và hưng thạnh từ thời nhà Tùy cho đến đầu thời nhà Đường. Còn Tĩnh Tung (靖嵩) thì học giáo học Duy Thức với Pháp Thái (法泰) ở phía Nam, rồi sau đó truyền sang phương Bắc. Sau này khi giáo học Duy Thức tân dịch của Huyền Trang (玄奘, 602-664) được truyền bá, pháp hệ của Nhiếp Luận Tông bắt đầu đi đến diệt vong.

nhiếp luận tông

(攝論宗) Tông phái dựa theo luận Nhiếp đại thừa mà được thành lập, là 1 trong 13 tông phái của Phật giáo Trung quốc, tôn ngài Chân đế làm Tổ khai sáng. Năm Thái thanh thứ 2 (548) đời Lương, ngài Chân đế nhận lời thỉnh của vua Vũ đế vào Kiến khang, rồi vì chiến loạn nên ngài phải lưu lạc các nơi. Năm Thiên gia thứ 4 (563), ngài trụ ở chùa Chế chỉ tại Quảng châu, phiên dịch luận Nhiếp đại thừa 3 quyển của ngài Vô trước và Nhiếp đại thừa luận thích 12 quyển của ngài Thế thân. Đồng thời soạn Nghĩa sớ 8 quyển, biệt dịch Quyết định tạng luận, Tam vô tính luận, Chuyển thức luận và soạn Cửu thức nghĩa kí... tạo thành học thuyết của 1 tông. Ngoài ngài Chân đế, các nhà truyền dịch luận Nhiếp đại thừa và Nhiếp đại thừa luận thích, còn có các ngài: Phật đà phiến đa đời Bắc Ngụy, Đạt ma cấp đa và Hành cự đời Tùy, Huyền trang đời Đường và còn có bản dịch Tây tạng. Nhưng tông Nhiếp luận chỉ dùng bản dịch của ngài Chân đế là chỗ y cứ chính mà thôi. Về môn nhân của ngài Chân đế thì có các vị Tuệ khải, Tào tì, Pháp thái, Tăng tông, Đạo ni, Pháp hoài, Tuệ khoáng... đều nối tiếp nhau hoằng dương Nhiếp luận tại miền Nam. Kịp đến đệ tử của ngài Đạo ni là các vị Đạo nhạc, Trí quang, Tuệ hưu... vào năm Khai hoàng thứ 10 (590), vâng sắc chỉ của vua theo thầy vào Trường an thì từ đó về sau ở miền Nam không còn ai chủ giảng Nhiếp luận. Trước đó, vào năm Khai hoàng thứ 7 (587), ngài Đàm thiên đã vào Trường an để tuyên giảng luận Nhiếp đại thừa. Về sau, vua Văn đế xây chùa Thiền định, thỉnh ngài Đàm thiên trụ trì, ngài lần lượt soạn Nhiếp luận sớ 10 quyển, Cửu thức chương... chùa Thiền định bèn trở thành trung tâm của tông Nhiếp luận. Sau khi thầy trò ngài Đạo ni lên miền Bắc thì phong trào học tập nghiên cứu Nhiếp luận lại càng thịnh, rất nhiều nhân tài xuất hiện. Kể từ Trần qua Tùy đến Đường, lần lượt có các vị: Pháp thường, Trí nghiễm, Tuệ hưu, Linh phạm, Thần chiếu, Đạo kiệt, Tăng vinh, Tuệ tiến, Tĩnh tung, Trí ngưng, Pháp hộ, Đạo nhân, Tăng biện, Trí tắc, Đạo tích, Đạo cơ, Thiện tuệ... đều tận lực hoằng truyền giáo nghĩa Nhiếp luận, hưng thịnh 1 thời. Đến đời Đường, ngài Huyền trang tuyên dương Du già Duy thức, đem luận Nhiếp đại thừa xếp vào làm 1 trong 11 bộ luận được luận Thành duy thức viện dẫn, từđó tông Nhiếp luận dần dần suy vi, cuối cùng, không còn là 1 tông phái độc lập nữa mà bị nhiếp thuộc vào tông Pháp tướng. Luận Nhiếp đại thừa lập 10 loại Thắng tướng, lấy thức A lại da làm chỗ nương của các pháp, thuyết minh tướng của tất cả các pháp đều có 3 tính: Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực. Từ đó nhập vào Duy thức quán, tu Lục ba la mật, chứng Thập địa Bồ tát, vào Vô trụ xứ Niết bàn được trí Vô phân biệt, hiển hiện 3 thân Phật. Giáo nghĩa chủ yếu của tông Nhiếp luận là nhằm thuyết minh quan điểm của luận Nhiếp đại thừa. Ngoài 8 thức ra, ngài Chân đế còn dựa vào kinh Lăng già, Quyết định tạng luận... mà đề xướng nghĩa 9 thức, tức ngoài thức A lại da thứ 8 lại lập thêm thức A ma la thứ 9, cho rằng thức A lại da thứ 8 là hữu lậu tùy miên thức, thức A ma la thứ 9 mới là chân thường tịnh thức. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5; Duy ma kinh huyền sớ Q.2, 3, 5; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.3, phần đầu; Nhiếp đại thừa luận sớ Q.5; Nhiếp đại thừa luận sao; Nhiếp đại thừa luận chương Q.1; Nhiếp luận chương Q.1; Nhiếp đại thừa nghĩa chương Q.4; Tục cao tăng truyện Q.1-4, 10-15, 17, 18, 22, 24-29; Tống cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, 8] .(xt. Cửu Thức Nghĩa, A Ma La Thức).

nhiếp luật nghi giới

(攝律儀戒) Phạm: Saôvara-zìla. Cũng gọi Luật nghi giới, Tự tính giới, Nhất thiết bồ tát giới. Là một trong Tam tụ tịnh giới. Nhiếp hàm ý là thâu tóm hết, tức là tuân thủ tất cả các loại giới luật do đức Phật chế định, tích thiện ngừa ác; là giới pháp do 7 chúng(tỉ khưu, tỉ khưu ni, thức xoa ma na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bà di) thụ trì, gồm có 5 giới, 8 giới, 10 giới và Cụ túc giới... Theo Thích môn qui kính nghi quyển thượng thì Nhiếp luật nghi giới có công năng đoạn trừ các điều ác, là nhân của pháp thân.[X. kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Du già sư địa Q.40; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).

nhiếp mạt quy bản pháp luân

(攝末歸本法輪) Pháp luân thu nhiếp lấy ngọn đưa trở về gốc, là 1 trong 3 pháp luân do ngài Cát tạng y cứ vào phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa mà lập ra. Chỉ cho kinh Pháp hoa. Nghĩa là kinh Pháp hoa là giáo pháp họp 3 thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát)đưa về 1 Phật thừa, ví như gom hết ngành ngọn mà đưa trở về gốc vậy. [X. Pháp hoa du ý Q.thượng]. (xt. Tam Pháp Luân).

nhiếp mạt quy bản thức

(攝末歸本識) Thu nhiếp thức ngọn đưa về thức gốc, là lớp thứ 3 trong 5 lớp quán Duy thức. Trong 5 lớp quán Duy thức, quán đến lớp thứ 2 là Xả lạm lưu thuần thức thì tâm pháp được lưu giữ lại, nhưng vẫn có gốc(bản)của tự thể thức và ngọn(mạt)của tác dụng(tức là Kiến phần và Tướng phần), cho nên thu nhiếp lấy Kiến phần và Tướng phần đưa về Tự thể phần, gọi là Nhiếp mạt qui bản thức. Bởi vì Kiến phần là tác dụng năng thủ của thức bên trong, mà Tướng phần là cảnh sở thủ của thức bên trong, 2 phần này đều khởi lên ở phần Tự thể của thức, nều lìa phần Tự thể này thì sẽ không có 2 phần Kiến, Tướng riêng biệt, vì thế mà bỏ ngọn để trở về gốc. Đây là pháp quán Thể Dụng đối nhau. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần cuối; Bát nhã tâm kinh u tán Q.thượng]. (xt. Ngũ Trùng Duy Thức).

nhiếp na tỉ phạt mẫu sa

(聶那比伐姆沙) Pàli: Ĩàịàbhivaôsa. Danh tăng nước Miến điện, thuộc phái Thông kiên (Pàli: Pàrupana,cũng gọi là phái Toàn triền), sống vào thời vua Mạnh vân (Bodawpaya, trị vì 1782-1819). Giới Phật giáo Miến điện lúc bấy giờ chia thành 2 phái Thông kiên (đắp y trùm kín cả 2 vai) và Thiên đản (Pàli: Ekaôsika,đắp y để hở 1 vai) đối lập nhau về quan niệm pháp đắp y thượng. Đến khi vua Mạnh vân lên ngôi, sư Nhiếp na tỉ phạt mẫu sa nhận lệnh vua bàn thảo rõ về 2 phái, cuối cùng đoán định chủ trương của phái Thiên đản hoàn toàn không có căn cứ trong kinh điển cũng như về truyền thống. Không bao lâu, phái Thiên đản bị cấm ngặt. Sư rất được nhà vua tôn kính, là 1 trong 4 vị Trưởng lão lãnh trách nhiệm đứng đầu Tăng già và thống lãnh giáo đoàn. Sư để lại các tác phẩm: Duyệt tạng trang nghiêm (chú thích luận Chỉ đạo), Thiện tai duyệt ý(chú thích 1 phần Trường bộ kinh), Tứ sa di sự, Vương huấn sự, Vương trung vương duyệt ý và phiên dịch kinh Bản sinh thành tiếng Miến điện. [X. The Pàli Literature of Burma by M.H. Bode; Hinduism and Buddhism, vol.III by Ch. Eliot].

nhiếp phọc

(攝嚩 ) Phạm: Zava. Xác người mới chết chưa bị rữa nát. Tuệ lâm âm nghĩa quyển 35 (Đại 54, 542 thượng) nói: Nhiếp phạ, Đường (Trung quốc)dịch là Tân tử nhân, vị hoại giả dã (người mới chết, chưa bị nát).

nhiếp thiện pháp giới

(攝善法戒) Phạm: Kuzala-dharma-saôgrahakazìla.Cũng gọi Thụ thiện pháp giới, Nhiếp trì nhất thiết bồ đề đạo giới, Tiếp thiện giới. Giới thệ nguyện tu hành tất cả pháp lành, là 1 trong 3 tụ tịnh giới. Theo Thích môn qui kính nghi quyển thượng thì công đức siêng tu các pháp lành là nhân của Báo thân. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.4; luận Thành duy thức Q.9]. (xt. Tam Tụ Tịnh Giới).

nhiếp thụ chiết phục

(攝受折伏) Gọi tắt: Nhiếp chiết, Chiết nhiếp. Cũng gọi: Nhiếp chiết nhị môn. Từ ngữ gọi chung Nhiếp thụ và Chiết phục. Nghĩa là thu lấy và bẻ gãy, là 2 phương pháp giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh. Từ ngữ này có xuất xứ từ chương Thập thụ kinh Thắng man và phẩm Thụ phương tiện học xứ kinh Đại nhật. Nhiếp thụ là làm cho đối phương hiểu rõ rồi dùng lời hòa nhã giải thích, là phương pháp dắt dẫn họ nhiếp trụ nơi thiện pháp. Còn Chiết phục là nghiêm khắc quở trách đối phương; đồng thời phân tích đạo lí 1 cách tỉ mỉ khiến họ hiểu rõ, giúp họ phá mê được ngộ, là phương pháp hướng dẫn họ xa lìa ác pháp. Đối với những người không có trí hoặc phạm tội trên ý niệm, thì dùng phương pháp Nhiếp thụ; còn đối với những kẻ có tà trí, phỉ báng chính pháp hoặc phạm tội ngũ nghịch, thì phải áp dụng biện pháp Chiết phục. [X. kinh Chúng hứa ma ha đế Q.12; luận Du già sư địa Q.86; Thắng man bảo quật Q.thượng, phần cuối; Pháp hoa huyền nghĩa Q.6, phần đầu; Pháp hoa văn cú Q.8, phần cuối; Du già luận kí Q.22; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1].

nhiếp thụ kì đặc

(攝受奇特) Là 1 trong 3 việc đặc biệt lạ lùng của đức Phật. Nghĩa là đức Phật biết tất cả căn cơ lợi độn của chúng sinh, tùy theo căn cơ mà nhiếp thụ, giáo hóa chỉ bày khiến họ đều được nghe pháp yếu, tinh tiến tu hành, ra khỏi sinh tử. [X. kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4] (xt. Tam Chủng Kì Đặc Sự).

nhiếp thủ

(攝取) Phạm: Parigraha. I. Nhiếp Thủ. Cũng gọi Nhiếp thủ bất xả. Thu nhiếp lấy. Nghĩa là đức Phật A di đà thu lấy và giữ gìn tất cả những chúng sinh niệm Phật, không bỏ sót ai. Cứ theo kinh Quán vô lượng thọ thì ánh sáng của Phật A di đà chiếu khắp thế giới trong 10 phương, thu nhiếp và hộ niệm tất cả chúng sinh không bỏ sót, cho nên gọi là Nhiếp thủ bất xả, hoặc gọi là Nhiếp thủ chiếu hộ, Nhiếp hộ. Sự lợi ích mà ánh sáng của Ngài ban cho, được gọi là Nhiếp thủ quang ích.Quán kinh sớ Định tán nghĩa của ngài Thiện đạo nêu ra 3 duyên nhờ đó mà chúng sinh niệm Phật được sự lợi ích nhiếp thủ gọi là Nhiếp thủ tam duyên: 1. Thân duyên: Ý chí và hành vi(tức 3 nghiệp thân, khẩu, ý)của Phật và chúng sinh ứng hợp nhau. 2. Cận duyên: Chúng sinh muốn được thấy Phật thì Phật liền theo niệm mà hiện ra trước mắt. 3. Tăng thượng duyên: Chúng sinh nhờ niệm Phật mà tiêu trừ được tội chướng, lúc lâm chung, đức Phật và chúng Thánh đến đón về Tịnh độ. [X. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ Q.hạ (Trí khải); An lạc tập Q.hạ; Vãng sinh lễ tán kệ]. II. Nhiếp Thủ. Hàm ý chọn lựa. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 267 trung) nói: Ta phải tu hành chọn lấy(nhiếp thủ)cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh vô lượng vi diệu, khiến cho ta ở trong quốc độ ấy mau được thành Phật.

nhiếp thủ quang ích

(攝取光益) Sự lợi ích được ánh sáng của đức Phật A di đà thu nhiếp lấy. Ánh sáng của đức Phật A di đà nhiếp lấy tất cả chúng sinh niệm Phật không bỏ sót, vì niệm Phật là thực hành bản nguyện của đức Phật A di đà, hơn nữa, theo 3 duyên là Thân duyên, Cận duyên và Tăng thượng duyên, nên hành giả niệm Phật chỉ nhờ sự lợi ích nhiếp thủ của ánh sáng đức Phật A di đà. [X. Quán kinh sớ định thiện nghĩa; Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập]. (xt. Nhiếp Thủ).

nhiếp thừa viễn

(聶承遠) Cư sĩ dịch kinh ở đời Tây Tấn. Ông thường ở Quan lạc, thông suốt kinh truyện, có tài văn chương. Ông từng tham gia công tác dịch kinh của ngài Trúc pháp hộ, hết lòng phục vụ và góp công lớn trong việc nhuận sắc văn. Người đời rất thích đọc văn ông.Ngoài ra, theo Lịch đại tam bảo kỉ quyển 6 thì ông còn là dịch giả của các kinh Ca diếp cật A nan, 1 quyển, kinh Việt nan, 1 quyển. Trong đó, kinh Việt nan được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nhưng theo Thủy hưng lục thì giả thuyết cho kinh Việt nan do ông dịch vẫn chưa được xác định. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

nhiếp thực giới

(攝食界) Khu vực được phân định dành cho việc nấu nướng hoặc cất chứa thức ăn, là 1 trong 3 loại kết giới. Khu vực này phải cách li với chỗ ở của các tỉ khưu để tránh cho tỉ khưu khỏi phạm tội Túc chử. Túc chử......nghĩa là tỉ khưu nấu thức ăn trong chỗ ở của mình, vốn là điều bị giới luật cấm. Bởi vì việc chính của người tu hành là xa lìa các thứ tham muốn, trong đó việc đối trị tham ăn cũng là giới điều cơ bản trong giới luật do đức Phật chế định; nghĩa là người tu hành phải dùng pháp khất thực để nuôi thân và trị bệnh đói, chứ không được cất chứa thức ăn và nấu nướng ở trong chùa. Về sau xảy ra trường hợp vị tỉ khưu bị bệnh nặng, không đi khất thực được, bèn nhờ người trong thành Xá vệ nấu cháo giúp, nhưng vì cửa thành mở muộn, vị tỉ khưu ấy chưa kịp được cháo ăn thì chết. Đức Phật vì thương xót chúng tăng nên đặc biệt phương tiện chế định Nhiếp thực giới này. Nghĩa là trong phạm vi khu vực Nhiếp thực giới(hoặc tịnh trù)đặc biệt này, tỉ khưu được phép cất chứa và nấu nướng thức ăn mà không phạm tội Túc chử. Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí quyển thượng, phần 2, tiết 1 (Đại 40, 204 hạ) nói: Nhiếp thực giới là khu vực cách li chỗ chúng tăng ở để khỏi phạm tội đun nấu trong trụ xứ.[X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2, phần cuối; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma sớ Q.2; Thích thị yếu lãm Q.hạ]. (xt. Kết Giới).

nhiếp tâm

(攝心) Thu nhiếp tâm, chuyên chú vào 1 cảnh, khiến không hôn trầm, tán loạn. Tức trong lúc thiền quán, vì không để niệm khác sinh khởi, nên chọn nơi yên tĩnh, đếm hơi thở để điều tâm, cốt ngăn ngừa tâm rong ruổi, khiến tâm an trụ ở 1 đối tượng. Cứ theo Đại thông thiền sư bi văn của ông Trương thuyết thì ngài Thần tú thuộc Bắc tông, cho rằng Nhiếp tâm là tiền phương tiện của Định Tuệ, nhưng ngài Thần hội thuộc Nam tông thì phản đối cách tọa thiền khán tâm khán tịnh, cho rằng khởi tâm chiếu soi ra bên ngoài, hay nhiếp tâm lóng lặng bên trong đều chướng ngại bồ đề, mà chủ trương kiến tính đốn ngộ. [X. kinh Phật thùy bát Niết bàn lược thuyết giáo giới; luận Đại trí độ Q.50; Thích thiền ba la mật thứ đệ pháp môn Q.2, 5; Tông kính lục Q.37; Thần hội hòa thượng di tập (Hồ thích)].

nhiếp tăng giới

(攝僧界) Gọi tắt: Tăng giới. Là 1 trong 3 thứ kết giới. Theo luật Phật chế thì chúng tăng ở châu Diêm phù mỗi nửa tháng phải tập họp 1 lần để cử hành nghi thức Bồ tát thuyết giới, nhưng vì phạm vi quá rộng, không dễ gì định ngày nhóm họp, hơn nữa, chúng tăng tới lui qua lại, ắt sẽ mỏi mệt mà bỏ phế việc tu hành, cho nên phải chia ra từng khu vực nhất định, khiến cho chúng ở trong mỗi khu vực đều có thể nhóm họp và cùng nhau tác pháp để khỏi phạm tội biệt chúng. Nhiếp tăng giới có thể chia làm 2 loại lớn là Tự nhiên giới và Tác pháp giới. 1. Tự nhiên giới, cũng gọi Bất tác pháp giới. Chia làm 4 giới: Tụ lạc, lan nhã, đi đường, trên mặt nước. 2. Tác pháp giới: Tức y theo pháp Bạch nhị yết ma mà vạch ra 1 khu vực nhất định để bổ sung cho chỗ mà giới Tự nhiên không đủ, được chia làm 3 loại: Đại giới, Giới tràng và Tiểu giới. Phạm vi của Đại giới nhỏ nhất là lấy đường ranh phía ngoài của 1 ngôi chùa làm giới hạn, còn lớn thì từ 10 dặm đến 100 dặm, chia làm 3 loại: Nhân pháp nhị đồng, Pháp thực nhị đồng và Pháp đồng thực biệt. Khu đất kết giới tức là chỉ cho Đại giới. Giới tràng là khu vực kết giới nhất định tùy theo chỗ, là nơi cử hành các pháp thụ giới, sám hối... nhỏ nhất phải chứa được 21 người. Tiểu giới là khu vực tạm thời, vì sợ các nạn duyên như ác tỉ khưu quấy phá khiến bỏ bê pháp sự, nên đặc biệt kết giới vào 1 lúc nào đó, xong việc thì giải liền. Phạm vi của Tiểu giới tùy theo số chúng tăng nhiều hay ít, lấy chỗ ngồi làm giới hạn. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.17; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng, phần 2]. (xt. Kết Giới).

nhiếp tướng quy tính duy thức

(攝相歸性唯識) Nhiếp tướng đưa về tính Duy thức, 1 trong 10 lớp Duy thức do tông Hoa nghiêm lập ra. Nghĩa là 8 thức đều là tướng chứ không có tự thể, chỉ là do Chân như tùy duyên hiển hiện ra mà thôi; bản tính của thức nằm trong Như lai tạng bản giác, ngoài ra không có bản tính nào khác, cho nên nhiếp tướng của thức trở về lí bản giác để thành lập nghĩa Duy thức. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.13]. (xt. Thập Trùng Duy Thức).

nhiếp tướng quy tính thể

(攝相歸性體) Nhiếp tướng về tính thể, 1 trong Tứ trùng xuất thể do tông Pháp tướng lập ra. Tướng chỉ cho các sự tướng sai biệt của hiện tượng; Tính chỉ cho chân như thực tính. Nghĩa là ngoài chân như ra không có tự thể riêng của muôn pháp, cho nên nhiếp sự tướng sai biệt của hiện tượng giới trở về với lí bản thể chân như bình đẳng. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Tứ Trùng Xuất Thể).

nhiếp tịnh độ nguyện

(攝淨土願) Cũng gọi Đắc tịnh độ nguyện, Cầu Phật độ nguyện. Nguyện nhiếp thủ tịnh độ, 1 trong 3 nguyện. Cứ theo Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng của ngài Tuệ viễn, trong 48 nguyện của đức Phật A di đà thì nguyện thứ 31 là Quốc độ thanh tịnh nguyện và nguyện thứ 32 là Quốc độ nghiêm sức nguyện, thuộc về Nhiếp tịnh độ nguyện. (xt. Nhiếp Chúng Sinh Nguyện).

nhiếp tử

(鑷子) Phạm: Ajapadaka-daịđa. Gọi tắt: Nhiếp. Cái nhíp, dùng để nhổ râu hoặc lông mũi, 1 trong 18 vật dụng của tỉ khưu. Kinh Phạm võng quyển hạ (Đại 24, 1008 thượng) nói: Phật tử thường phải 2 thời đầu đà, mùa đông, mùa hạ tọa thiền, kết hạ an cư, thường dùng dương chi(tăm)... cái nhíp, cái võng, kinh luật, tượng Phật, hình tượng Bồ tát. [X. luật Thập tụng Q.39; luật Ngũ phần Q.26]. (xt. Thập Bát Vật).

nhiếp y giới

(攝衣界) Cũng gọi Bất thất y giới, Bất li y túc giới.Giới nhiếp áo, 1 trong 3 loại kết giới. Giới này thuộc về người, trong phạm vi của 1 khu vực đã được phân định bằng tác pháp kết giới, tỉ khưu được phép lìa 3 áo ngủ cách đêm mà vẫn không phạm lỗi ngủ lìa áo. Theo giới Phật chế, tỉ khưu phải thường giữ 3 tấm áo, luôn đem theo bên mình, như 2 cánh của con chim, dù chỉ 1 trong 3 áo còn để lại ở nhà tăng, thì ngay ngày hôm ấy cũng phải trở về, chứ không được lìa áo mà ngủ lại ở nơi khác. Nếu tỉ khưu không tuân thủ thì phạm tội lìa áo ngủ cách đêm. Nhưng vì có trường hợp vị tỉ khưu bị bệnh, không thể lúc nào cũng đem theo áo Tăng già lê nặng nề, nên đức Phật đặc biệt chế giới Nhiếp y này, cho phép tỉ khưu trong phạm vi nhất định ấy được lìa áo ngủ cách đêm mà không phạm tội. [X. luật Tứ phần Q.35; Tứ phần luật hành sự sao tư trì kí Q.trung, phần 2, tiết 2; Tứ phần luật san bổ tùy cơ yết ma Q.thượng; Thích thị yếu lãm Q. hạ]. (xt. Kết Giới).

nhiếp ích

(攝益) Hàm ý là hướng dẫn, làm lợi ích. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 hạ) nói: Ở đây nương kia, vắng lặng chính thụ, thấy sắc nghe tiếng, tâm được nhẹ nhàng, cảm xúc thù thắng, thân được nhiếp ích.

nhiếp ý âm nhạc

(攝意音樂) Âm nhạc thu nhiếp ý. Tức là âm nhạc có sức thu hút tâm người, khiến cho người ta chuyên chú vào 1 đối tượng, không phóng tâm chỗ khác. Đại nhật kinh sớ quyển 8 (Đại 39, 666 trung) ghi: Nói nhiếp ý có nghĩa là giống như người đời thấy sắc đẹp, nghe tiếng hay thì tâm họ say đắm, hễ tâm chuyên chú vào 1 cảnh rồi thì không còn rong ruổi theo cảnh khác nữa. Nay kĩ nhạc kim cương này có sức thu hút tâm người cũng lại như thế.

nhiếp đà bật đà

(攝拖苾馱) Phạm: Zabda-vidyà. Hán dịch: Thanh minh. Môn học về âm vận và ngữ pháp của văn tự, 1 trong Ngũ minh. Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4 (Đại 54, 228 trang) nói: Nhiếp tha bật đà: Nhiếp tha là thanh, bật đà là minh, tức là 1 Minh trong Ngũ minh luận. (xt. Thanh Minh).

nhiếp đại quỹ

(攝大軌) I. Nhiếp Đại Quĩ. Gọi đủ: Nhiếp đại tì lô già na thành Phật thần biến gia trì kinh nhập liên hoa thai tạng hải hội bi sinh mạn đồ la quảng đại niệm tụng nghi quĩ cúng dường phương tiện hội.Cũng gọi: Nhiếp đại tì lô già na niệm tụng nghi quĩ. Nghi quĩ, 3 quyển, do ngài Thâu bà ca la dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 18. Nội dung nói về pháp tu hành chân thực của kinh Đại nhật. II. Đại Nghi Quĩ. Gọi đủ: Nhiếp vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh kế nhất pháp trung xuất vô lượng nghĩa nam phương mãn nguyện bổ đà lạc hải hội ngũ bộ chư tôn đẳng hoằng thệ lực phương vị cập uy nghi hình sắc chấp trì Tam ma da tiêu xí mạn đồ la nghi quĩ. Cũng gọi: Bổ đà lạc hải hội quĩ, Nhiếp vô ngại kinh. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung sách này nói về nguyên lí thủ ấn và Ngũ bộ tôn pháp.

nhiếp đại thừa luận

(攝大乘論) Phạm: Mahàyàna-saôparigrahazàstra. Cũng gọi: Nhiếp luận, Quảng bao đại nghĩa luận. Tác phẩm, do ngài Vô trước, người Ấn độ soạn, có 3 bản Hán dịch: 1. Bản do ngài Phật đà phiến đa (Phạm: Buddhazànta) dịch vào đời Hậu Ngụy, gồm 2 quyển. 2. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần (cũng gọi Lương dịch Nhiếp đại thừa luận), gồm 3 quyển. 3. Bản do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, gồm 3 quyển. Tựa đề là Nhiếp đại thừa luận bản. Cả 3 bản dịch trên đây đều được thu vào Đại chính tạng tập 31. Ngoài ra cũng có bản dịch Tây tạng gồm 4 quyển. Nội dung bản luận này giải thích phẩm Nhiếp đại thừa trong kinh Đại thừa a tì đạt ma của Ấn độ đời xưa, nói rõ giáo nghĩa Đại thừa, nhấn mạnh quan điểm của phái Du già, tất cả có 10 chương. Vì nội dung luận này bao nhiếp hết thảy yếu nghĩa pháp môn Thánh giáo của Phật giáo Đại thừa, cho nên gọi là luận Nhiếp đại thừa, là bộ luận trọng yếu căn bản của tông Nhiếp luận. Luận này có rất nhiều sách chú thích, ở Ấn độ thì có: Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Thế thân, Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Vô tính. Ở Trung quốc –chỉ kể những bản chú thích quan trọng hơn– thì có: Nhiếp đại thừa luận sớ (8 quyển, do các ngài Chân đế và Tuệ khải soạn chung), Nhiếp đại thừa luận nghĩa chương (10 quyển, do ngài Đạo cơ soạn), Nhiếp đại thừa luận sớ (10 quyển, do ngài Thần thái soạn), Nhiếp đại thừa luận sao (10 quyển, do ngài Khuy cơ soạn), Nhiếp đại thừa luận chỉ qui (do ngài Pháp hộ soạn)... [X. Pháp kinh lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.19; Duyệt tạng tri tân Q.37].

nhiếp đại thừa luận thích

(攝大乘論釋) Sách chú thích luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước. I. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích. Phạm: Mahàyàna-saôgraha-bhàwya. Tác phẩm, do ngài Thế thân soạn, có 3 bản Hán dịch: 1. Bản do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, gồm 12 quyển, có thuyết nói 15 quyển. Cũng gọi Lương dịch Nhiếp đại thừa luận thích, Nhiếp luận thích, Lương thích luận, được dịch vào năm Thiên gia thứ 4 (563) ở chùa Chế chỉ tại Quảng châu do ngài Tuệ khải ghi chép. 2. Bản do ngài Đạt ma cấp đa và Hành cự cùng dịch vào năm Khai hoàng thứ 10 (590) đời Tùy, gồm 10 quyển, tựa đề là Nhiếp đại thừa luận thích luận, cũng gọi Tùy dịch Thế thân Nhiếp luận. 3. Bản do ngài Huyền trang dịch vào năm Trinh quán 21 đến 23 (647-649) đời Đường, gồm 10 quyển. Người đời gọi là Đường dịch Thế thân Nhiếp luận. Cả 3 bản dịch trên đây đều được thu vào Đại chính tạng tập 31. Trong đó, bản dịch của ngài Chân đế chỉ rõ thể của 8 thức là 1, chủng tử và hiện hành cùng 1 thể và có nói về tên khác của thức A đà na thứ 7. Những điểm này không thấy có trong 2 bản dịch đời Tùy và Đường. Còn những chỗ khác nhau cũng rất nhiều. Điều này là vì giữa các đệ tử của ngài Thế thân có những kiến giải bất đồng, bèn căn cứ vào Thích luận của Ngài mà thêm bớt, cho nên giữa các nguyên bản dịch cũ và mới tất có chỗ khác nhau. Chính ngài Chân đế khi phiên dịch, muốn cho nghĩa lí được sáng tỏ hơn, nên cũng từng có chỗ bổ sung. Bộ sách chú thích này chủ yếu được tông Nhiếp luận sử dụng. Còn các nhà Pháp tướng đời Đường thì chuyên dùng bản dịch của ngài Huyền trang. Ngài Pháp tạng thuộc tông Hoa nghiêm thì căn cứ theo bản dịch (cũ)của ngài Chân đế mà phối hợp với thuyết Thủy giáo và Chung giáo trong Ngũ giáo.Trong các bản chú sớ về sách này hiện còn thì có: Nhiếp luận chương, Nhiếp đại thừa luận sao, Nhiếp đại thừa luận sớ, Nhiếp đại thừa luận nghĩa kí, Nhiếp đại thừa luận Thiên thân thích lược sớ... [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.13; Pháp kinh lục Q.5; Ngạn tông lục Q.2; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, 8]. II. Nhiếp Đại Thừa Luận Thích. Phạm: Mahàyàna-saôgrahopani= bandhana. Cũng gọi Vô tính Nhiếp đại thừa luận thích, Vô tính Nhiếp luận. Tác phẩm, 10 quyển, do ngài Vô tính soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 31. Bộ sách này có lẽ đã được biên soạn đồng thời với Nhiếp đại thừa luận thích của ngài Thế thân, nhưng rành rọt hơn. Đối với các tiền đề như: Đại ý về Thù thắng ngữ của Thập tướng thù thắng trong phần Tổng tiêu cương yếu, lí do tại sao Thanh văn thừa không nói về thức A lại da trong phần Sở tri y, các thuyết khác nhau về thức A lại da của các vị Luận sư, 21 thứ công đức và 16 nghiệp sai biệt của Phật trong phần Sở tri tướng, 11 thứ khác nhau về hiện quán của Thanh văn Bồ tát trong phần Nhập sở tri tướng và công đức của Pháp thân trong phần Quả đoạn v.v... và v.v... đều được giải thích 1 cách rõ ràng, tỉ mỉ. Trong luận Thành duy thức có rất nhiều chỗ căn cứ theo bộ sách này. Trong Thành duy thức luận thuật kí, ngài Khuy cơ cũng thường viện dẫn tác phẩm này để giải thích ý nghĩa. Về chú sớ thì có: Vô tính thích luận sớ, 4 quyển, của ngài Trí nghiễm, Vô tính Thích luận cổ tích kí, 1 quyển, của ngài Đại hiền (người Nhật)... nhưng rất tiếc là đều đã thất lạc. [X. Tục cao tăng truyện Q.13; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.8].

nhiếp đạo chân

(聶道真) Cư sĩ dịch kinh đời Tây Tấn, con của ông Nhiếp thừa viễn. Thủa nhỏ, ông theo học thân phụ, thông suốt nội ngoại điển và giỏi tiếng Phạm, viết vănrất hay. Lúc đầu, ông theo cha đến phụ giúp công việc ở dịch trường của ngài Trúc pháp hộ, ít lâu sau ông chính thức được tham dự công tác phiên dịch và giữ chức Bút thụ. Cuối năm Vĩnh gia, ngài Trúc pháp hộ về ẩn cư ở vùng biên thùy phía tây, ông cũng đi theo. Sau khi ngài Trúc pháp hộ thị tịch, ông tiếp nối công việc truyền dịch. Trong bộ Hoa nghiêm, ông dịch được 24 phẩm, 38 quyển. Ngoài ra, các bộ mục lục kinh như Lịch đại tam bảo kỉ... còn ghi số lượng kinh điển do ông dịch có tới mấy mươi bộ, rất nổi tiếng ở thời bấy giờ. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

Nhiễm

染; C: răn; J: zen;|1. Nhuộm (áo quần, v.v…); bị nhuộm hay biến màu; 2. Thuốc nhuộm, mực, màu; 3. Bị ảnh hưởng tâm lí hoặc về thể chất bởi một việc gì đó; 4. Học tập, trở thành thói quen; [Phật học] 1. Bị phiền não, bị nhiễm ô, bị tiêm nhiễm (s: saṃkleśa); 2. Bất tịnh, không trong sạch, sự ô uế, vọng tâm; 3. Tham lam, ham muốn (s: rāga); mê mờ.

nhiễm duyên

(染緣) Duyên nhơ nhớp. Chỉ cho duyên dẫn đến quả khổ hoặc nghiệp sinh tử. Nước chân như nương theo sóng của nhiễm duyên này mà nổi lên những đợt sóng sinh tử.

nhiễm giới

(染界) Chỉ cho thế giới Sa bà. Trong thế giới này đặc biệt có rất nhiều việc nhiễm ô, cho nên gọi là Nhiễm giới.

nhiễm hương nhân

(染香人) Người nhuốm mùi thơm. Chỉ cho người niệm Phật. Người niệm Phật được thấm nhuần công đức của Phật, công đức ấy tràn đầy thân tâm nên gọi là Nhiễm hương nhân. (xt. Hương Quang Trang Nghiêm).

Nhiễm não

染惱; C: rănnăo; J: nennō; |Làm ô nhiễm, làm vẩn đục, phiền não.

nhiễm pháp

(染法) Cũng gọi là Phiền não, Tùy phiền não. Gọi đủ: Nhiễm ô pháp. Hoặc dựa vào các pháp sở duyên mà gọi là Bất thiện, Hữu phú pháp. Chỉ cho các pháp tương ứng với vô minh hay làm nhơ bẩn thiện tâm, tịnh tâm. Các pháp nhiễm ô là pháp có tội, hay che lấp nên bị người có trí quở trách. Đại thừa nghĩa chương cho rằng Nhiễm pháp tụ là từ gọi chung các phiền não, ác nghiệp, nghiệp quả... đối lại với Tịnh pháp tụ.[X. luận Câu xá Q.18; luận Thuận chính lí Q.44]. (xt. Nhiễm Tịnh Nhị Pháp).

Nhiễm phẩm

染品; C: rănpǐn; J: zenbon; |Hạng bị ô nhiễm, ngược với hạng thanh tịnh (thanh tịnh phẩm 清淨品).

nhiễm sắc

(染色) Chỉ cho áo ca sa. Áo pháp của tỉ khưu có 3 loại, vì tránh dùng 5 màu chính(xanh, vàng, đỏ, trắng, đen)nên được nhuộm bằng những hoại sắc khác như màu mộc lan... gọi là Nhiễm sắc. Ngoài ra, áo được nhuộm thành nhiều màu cũng gọi là Nhiễm sắc.

Nhiễm số

染數; C: rănshŭ; J: zenshu; |Thói quen nhiễm ô. Tập khí ô nhiễm.

nhiễm trước

(染著) Các phiền não tham ái làm cho tâm nhơ bẩn và đắm trước. Kinh Đại bản trong Trường a hàm quyển 1 (Đại 1, 8 thượng) nói: Người thấy được nhân duyên sâu xa thì không cầu thầy bên ngoài, có thể ở ngay nơi ấm(5 ấm)giới(18 giới)nhập(12 nhập)mà lìa dục không nhiễm trước. Tâm kinh trong Trung a hàm quyển 45 (Đại 1, 709 thượng) nói: Bấy giờ có vị tỉ khưu, một mình ở nơi vắng vẻ, ngồi yên tư duy, tâm nghĩ như vầy: Ai bỏ thế gian? Ai bị nhiễm trước? Ai được tự tại?. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) quyển 78 (Đại 10, 433 hạ) nói: Đại bồ tát cũng lại như thế, uống thuốc tâm bồ đề kéo dài mệnh sống, trong vô số kiếp, tu các hạnh Bồ tát, không hề cảm thấy nhàm chán hay mệt mỏi, cũng không nhiễm trước. [X. kinh Thích đề hoàn nhân vấn trong Trường a hàm Q.10; phẩm Thanh văn Bích chi phật trong kinh Bất thoái chuyển pháp luân Q.2; luận Đại trí độ Q.12].

Nhiễm tâm

染心; C: rănxīn; J: zenshin; |1. Vọng tâm, tâm bị nhiễm ô (s: kliṣṭa-citta); 2. Tâm thế gian, tâm thế tục; 7. Thức thứ 7.

nhiễm tâm

(染心) Cũng gọi Nhiễm ô tâm. Tâm nhơ nhớp, tức là tâm say đắm, tâm dâm dục. Cứ theo luận Đại thừa khởi tín thì thể tính của tâm vốn trong sạch, chỉ vì bất giác nổi lên vô minh mà bị phiền não làm cho nhơ bẩn, cho nên gọi là Nhiễm tâm. Gồm 6 loại:1. Chấp tương ứng nhiễm: Tức là ngã chấp. Nhị thừa và Bồ tát đến địa vị Tín tương ứng mới đoạn được tâm này. 2. Bất đoạn tương ứng nhiễm: Tức pháp chấp phân biệt khởi, đến địa vị Tịnh tâm địa(Sơ địa)thì dứt trừ tâm này. 3. Phân biệt trí tương ứng nhiễm: Tức pháp chấp câu sinh khởi, từ địa thứ 2(Cụ giới địa)trở lên mới đoạn dần, đến địa thứ 7 (Vô tướng phương tiện địa)thì dứt hẳn. 4. Hiện sắc bất tương ứng nhiễm: Tức vọng tâm hiện ra cảnh giới chấp thủ, đến địa vị thứ 8(Sắc tự tại địa)thì đoạn hết. 5. Năng kiến tâm bất tương ứng nhiễm: Tức vọng tâm năng thủ, ở địa vị thứ 9(Tâm tự tại địa)trừ diệt hết. 6. Căn bản nghiệp bất tương ứng nhiễm: Tức tự thể của tâm mê vọng ô nhiễm, ở địa vị thứ 10(Cứu cánh địa)dứt sạch. Trong 6 loại Nhiễm tâm trên đây, 3 loại trước là tâm Tương ứng nhiễm, tướng của chúng thô to, nương theo cảnh mà khởi, tương ứng với tâm nhơ bẩn. Còn 3 loại sau là tâm Bất tương ứng nhiễm, tướng của chúng nhỏ nhiệm, không nương theo cảnh mà khởi, vì do tự tính mà thành nên gọi là Bất tương ứng. [X. luận Đại tì bà sa Q.22, 28, 38; luận Câu xá Q.10].

Nhiễm tướng

染相; C: rănxiāng; J: zensō; |Tướng trạng ô nhiễm (s: saṃkleśa-lakṣaṇa).

Nhiễm tập

染習; C: rănxí; J: zenshū; |Tập khí nhiễm ô.

Nhiễm tịnh

染淨; C: rănjìng; J: zenjō;|Dơ bẩn (s: kleśa) và trong sạch (s: saṃkleśa-vyavadāna)

nhiễm tịnh nhị pháp

(染淨二法) Cũng gọi Tịnh pháp bất tịnh pháp. Từ ngữ gọi chung cho Nhiễm pháp và Tịnh pháp. Nhiễm nghĩa là phiền não nhơ nhớp, là pháp của vô minh; Tịnh nghĩa là trong sạch, xa lìa phiền não, là pháp của pháp tính. Theo Nhiếp đại thừa luận thích quyển 13 thì sinh tử là Bất tịnh phẩm, Niết bàn là Tịnh phẩm. Luận Thành duy thức quyển 3 (Đại 31, 14 trung) nói: Các pháp tạp nhiễm là Khổ đế, Tập đế, tức là những pháp thường dẫn đến thụ sinh và hoặc nghiệp. Các pháp thanh tịnh là Diệt đế, Đạo đế, tức là các pháp hay chứng Niết bàn và đạo. Đoạn văn trên đây ý nói pháp sinh tử bất tịnh là Nhiễm pháp; trái lại, pháp Niết bàn hoặc Diệt đế, Đạo đế là Tịnh pháp. Còn luận Đại thừa khởi tín thì cho rằng cảnh giới do vô minh vọng hiện là Nhiễm pháp, tịnh tướng của chân như là Tịnh pháp. Nhiễm pháp từ vô thủy đến nay huân tập không dứt, cho đến sau khi thành Phật mới đoạn diệt hết. Tịnh pháp huân tập cũng không có gián đoạn, vì thế vô minh huân tập cũng gọi là nhiễm pháp huân tập hoặc Nhiễm huân; chân như huân tập cũng gọi là Tịnh pháp huân tập hay Tịnh huân. Pháp hoa kinh huyền nghĩa thích tiêm quyển 14 (Đại 33, 919 thượng) nói: Vô minh che pháp tính, tạo đủ các pháp, gọi là Nhiễm; pháp tính chiếu vô minh, ứng khắp mọi duyên, gọi là Tịnh. Nước đục, nước trong, sóng và tính ướt không khác. Trong đục tuy tương tức nhưng do duyên mà đục thành ra bản hữu(có sẵn), đục tuy bản hữu nhưng toàn thể là trong. Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển hạ cũng nói: Do tâm còn bị phiền não trói buộc mà tạo ra các pháp, một và nhiều trở ngại lẫn nhau, niệm niệm tham đắm, gọi là Nhiễm. Khi tâm lìa chướng ứng phó các duyên, một và nhiều tự tại, niệm niệm xả li, gọi là Tịnh. [X. luận Thành duy thức Q.4; luận Biện trung biên Q.thượng; Đại thừa chỉ quán pháp môn Q.1].

nhiễm y

(染衣) Áo nhuộm. Áo của các vị tăng Phật giáo mặc.Sau khi xuất gia, cởi bỏ áo thế tục, mặc áo được nhuộm bằng hoại sắc như màu mộc lan... gọi là Nhiễm y. Vả lại, khi xuất gia phải cạo bỏ râu tóc và mặcáo nhuộm, mới là tăng, ni, vì vậy cũng gọi là Thế phát nhiễm y.

Nhiễm ái

染愛; C: rănài; J: zen'ai; |Ái dục nhiễm ô; chấp trước nhiễm ô.

Nhiễm ô

染汚; C: rănwū; J: zenma;|1. Dơ bẩn, hư hỏng. Làm dơ áo quần,v.v… Bẩn thỉu, thô bỉ, ô uế. Làm tâm thanh tịnh bị nhiễm ô bởi phiền não (s: saṃkleśa); 2. Giấu diếm, dối gạt, bao phủ bên ngoài bởi sự ô trọc.

nhiễm ô

(染污) Phạm: Kliwỉa. Cũng gọi là Tạp nhiễm, Nhiễm. Tên khác của phiền não, chỉ cho những pháp hữu lậu làm trở ngại việc ngộ đạo, tức là các pháp bất thiện và hữu phú vô kí. Cứ theo Thành duy thức luận thuật kí quyển 2, phần cuối, Nhiễm ô không chỉ giới hạn ở nhiễm pháp(bất thiện và hữu phú vô kí)mà phàm là pháp hữu lậu thì đều thuộc về nhiễm ô. Còn theo Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 3 thì nhiễm ô có 3 thứ: 1. Phiền não nhiễm ô, cũng gọi Phiền não tạp nhiễm. Tức là các lậu hoặc. 2. Nghiệp nhiễm ô, cũng gọi Nghiệp tạp nhiễm. Tức là các hạnh ác. 3. Sinh nhiễm ô, cũng gọi Sinh tạp nhiễm. Tức là sinh lão tử. Luận Biện trung biên quyển hạ (Đại 31, 476 trang) nói: Phiền não tạp nhiễm lại có 3 thứ: Các kiến chấp, tham sân si và hậu hữu nguyện. Ba phiền não này được đối trị bằng: Không trí, Vô tướng trí và Vô nguyện trí. Nghiệp tạp nhiễm là những nghiệp thiện ác được tạo ác, có thể được đối trị bằng Bất tác trí. Sinh tạp nhiễm có 3 thứ: Hậu hữu sinh; Sinh dĩ tâm tâm sở niệm niệm hởi và Hậu hữu tương tục; có thể được đối trị bằng: Vô sinh trí, Vô khởi trí và Vô tự tính trí. [X. luận Câu xá Q.6, 7; Nhiếp đại thừa luận thích Q.3 (bản dịch đời Lương)].

nhiễm ô vô tri

(染污無知) Phạm: Kliwỉàjĩàna. Cũng gọi Nhiễm vô tri. Đối lại: Bất nhiễm ô vô tri. Nhiễm ô là tên khác của phiền não, nghĩa là bị lây dính sự nhơ nhớp; Vô tri là đối với cảnh không thể khai ngộ. Tóm lại, Nhiễm ô vô tri là chỉ cho tất cả phiền não thể, phiền não chướng, thường che lấp nghĩa chân thực, ngăn ngại cái thấy chân chính. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 1 thì Nhiễm ô vô tri lấy vô minh làm thể, vô minh tương ứng với các hoặc. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ quyển hạ, phần đầu (Đại 44, 189 hạ) nói: Như lai đoạn trừ 2 thứ vô tri: Nhiễm ô và Bất nhiễm ô. Nhiễm ô vô tri tức là tính ngũ trụ kết phiền não, Bất nhiễm ô tức là tâm vô minh đối cảnh. Xét theo đây thì biết tính ngũ trụ kết phiền não là Phiền não chướng, tâm vô minh đối cảnh là Trí chướng. [X. luận Đại tì bà sa Q.99, 143; luận Thuận chính lí Q.28].

nhiễm ô ý

(染污意) Tên gọi khác của thức Mạt na thứ 7 do tông Duy thức lập ra. Thức này là gốc của mọi mê lầm, ô nhiễm, lấy thức A lại da thứ 8 làm chỗ nương, lấy Kiến phần của thức thứ 8 làm đối tượng duyên theo mà sinh ngã chấp thường tương ứng với 4 phiền não: Ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái. (xt. Mạt Na Thức).

nhiễu

xem hữu nhiễu.

nhiễu phật

(繞佛) Cũng gọi Toàn nhiễu, Hành đạo. Một trong những nghi lễ của Phật giáo, tức là đi vòng quanh đức Phật, tùy ý, theo chiều bên phải(theo chiều kim đồng hồ)1 vòng, 3 vòng, hoặc trăm vòng để biểu lộ lòng cung kính, khát ngưỡng. Đây vốn là 1 trong những lễ tiết của Ấn độ đời xưa, lúc đức Phật tại thế Ngài vẫn duy trì nghi thức này. Về sau lại được ứng dụng trong việc tu niệm hoặc trong pháp hội hành đạo. [X. phẩm Hóa thành dụ trong kinh Pháp hoa; Thích thị yếu lãm Q.trung]. (xt. Hành Đạo).

nhiễu tháp

(繞塔) Đồng nghĩa: Nhiễu Phật. Chỉ cho việc đi vòng quanh tháp Phật theo phía bên phải để tỏ lòng cung kính ngưỡng mộ. Kinh Quán Phổ hiền bồ tát hành pháp (Đại 9, 391 hạ) nói: Tháp Phật Đa bảo từ dưới đất nhô lên, Phật Thích ca mâu ni liền đưa tay phải mở cửa tháp, (...) hành giả vui mừng đọc kệ khen ngợi, đi quanh tháp 7 vòng xong, đức Đa bảo Như lai nói ra tiếng lớn.

nhiệt hải

(熱海) Cũng gọi Đại thanh trì, Điền trì, Hàm hải. Hồ nước lớn, nằm về phía tây Thiên sơn, phía bắc núi Thông lãnh, tức là hồ Issykkul ở Turkistan thuộc Nga. Hồ này chiều đông tây dài 182km, chiều nam bắc chỗ rộng nhất là 60km, diện tích 6332km vuông. Nước trong hồ có vị mặn, nhờ thế nên mùa đông nước không đóng băng. Đại đường tây vực kí quyển 1 (Đại 51, 871 thượng) nói: Hồ này chu vi hơn 1000 dặm, chiều đông tây dài, chiều nam bắc hẹp, 4 bên giáp núi, các dòng nước giao nhau, mang màu xanh đen, vị mặn pha đắng, sóng lớn cuồn cuộn mênh mông, rồng cá ở lẫn lộn, linh quái thỉnh thoảng nổi lên, cho nên khách qua đường thường cúng tế để cầu phúc; các loài thủy tộc tuy nhiều, nhưng không ai dám bắt.

nhiệt não

(熱惱) Chỉ cho nỗi khổ não ngặt nghèo, làm cho thân tâm nóng bức như đốt cháy. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 78 (Đại 10, 432 thượng) nói: Cũng như chiên đàn trắng, nếu dùng để bôi vào mình, thì nó có khả năng trừ diệt tất cả nhiệt não, làm cho thân tâm đều được mát mẻ.

Nho

儒; C: rú; J: ju;|Có các nghĩa sau: 1. Học giả, giới trí thức (Nho sĩ); 2. Yếu, mềm; 3. Người theo đạo Khổng, Nho giáo.

nho giáo

(儒教) Chỉ cho sự giáo hóa của nhà Nho, tức là tư tưởng truyền thống của đức Khổng tử (552-479 trước Tây lịch). Nho giáo có những sinh hoạt mang tính tông giáo như: Tế trời, sùng bái Tổ tiên, thờ cúng Khổng tử... gây ảnh hưởng rất lớn trong xã hội truyền thống. Các nhà đại Nho từ xưa như Đổng trọng thư, Hàn dũ, Khang hữu vi... đã tận lực biến Nho gia thành Nho giáo. Thuyết luân lí tu kỉ trị nhân (sửa mình trị người)của Nho gia mang đậm màu sắc của tư tưởng chính trị. Trung tâm của tư tưởng này là Nhân..... Nói theo nghĩa rộng, Nhân là từ gọi chung tất cả đức mục; còn nói theo nghĩa hẹp, thì Nhân tức là yêu người. Nhân kết hợp với Nghĩa, Lễ, Trí và Tín thành là Ngũ thường, cũng gọi là ngũ đức. Vào cuối thời kì Xuân thu, xã hội Trung hoa phân hóa, sa đọa, chính trị bại hoại, đạo đức suy đồi, văn hóa luân lí trụy lạc, đức Khổng tử ra sức cổ động các nước chư hầu thi hành nhân chính, bắt chước Nghêu, Thuấn, Văn, Vũ để khôi phục trật tự xã hội thời Tây Chu. Sang thời Chiến quốc, ngài Mạnh tử nối theo học thuyết của đức Khổng tử, tận lực đề xướng nhân nghĩa, xét đến bản tính nội tại của con người mà chủ trương thuyết Tính thiện và đề cao Vương đạo luận để xiển dương bản tính thiện ấy. Trái lại, Tuân tử thì chủ trương thuyết Tính ác, cho rằng bản tính là ác nên phải dùng lễ nghĩa và sự giáo hóa của Thánh nhân để ước thúc những hành vi của con người, khiến họ hướng thiện. Về sau, Tần thủy hoàng phá bỏ hết, đốt sách, chôn học trò, cực lực chống đối Nho gia và các học phái khác. Đến đời Hán, Vũ đế áp dụng chính sách của Đổng trọng thư, độc tôn Nho giáo. Năm Kiến nguyên thứ 5 (136 tr. TL), đặt chức Bác sĩ trông coi về Ngũ kinh(Thi, Thư, Dịch, Xuân thu và Lễ), Ngũ kinh bèn trở thành học trình của giai cấp chính trị. Bởi vậy, suốt từ đời Hán đến đời Thanh truyền thống tư tưởng Nho gia là cột trụ của các thể chế vương triều, cũng là khuôn phép sinh hoạt của quốc dân nói chung. Qua các thời đại Nam Bắc triều đến Tùy, Đường, Phật giáo và Đạo giáo hưng thịnh, thế lực của Nho gia suy yếu dần. Hàn dũ soạn sách Nguyên đạo , ra sức cổ vũ việc khôi phục đạo của tiên vương, muốn xây dựng Đạo thống quan Nho giáo để chống lại Phật giáo và Đạo giáo. Tư tưởng của họ Hàn đã mở đường cho Nho học đời Tống. Nho học đời Tống được gọi là Tống học, Đạo học, Lí học, Lí khí học, Tính lí học, Chu tử học, Trình chu học, Tân nho học... nêu lên những vấn đề như bản thể vũ trụ, tâm tính con người, lí và khí, thảo luận về đạo tu thân, kì vọng xác lập 1 nền luân lí đạo đức chung cho loài người. Đứng về phương diện Nho giáo truyền thống mà nói, thì Tống học đã thêm vào cho Nho giáo cái tính tông giáo và triết học, chẳng hạn những vấn đề lí, tâm tính và triết học là những cái mà bậc tiên Nho ít bàn đến. Tóm lại, Tống học muốn trung hưng Nho học để chặn đà phát triển của Phật giáo và Đạo giáo, nhưng vô hình trung Tống học đã sử dụng lí luận và phương pháp của Phật giáo và Đạo giáo, đặc biệt là chịu ảnh hưởng tư tưởng Hoa nghiêm, Thiền của Phật giáo và Thiên đạo quan của Đạo giáo; vì thế, 1 mặt mạnh mẽ phê phán học thuyết của Phật và Đạo, mặt khác lại điều hòa với 2 học thuyết ấy. Chu đôn di mở đầu phong trào Lí học, soạn Thái cực đồ thuyết, chủ trương vũ trụ vạn vật phát sinh từ bản thể Thái cực, người đứng đầu muôn vật, có đầy đủ thiện tính ngũ hành, được phát huy 1 cách thích đáng tức là nhân nghĩa. Kế tiếp, Trình hạo, Trình di và Trương tái xiển dương cái học Lí, Khí, trở thành 3 phái Lí học đời Bắc Tống. Chu hi đời Nam Tống tập đại thành Lí học, chủ trưởng Đạo thuộc hình nhi thượng, vô hình vô ảnh, là nguyên lí hoặc khái niệm trừu tượng. Còn Khí thì thuộc hình nhi hạ, hữu hình hữu tướng, là sự vật cụ thể. Lại nữa, Lí là đạo của hình nhi thượng, là gốc của muôn vật; Khí là khí của hình nhi hạ, là cụ thể của muôn vật, cho nên chủ trương Lí, Khí nhị nguyên luận. Nhưng Lục cửu uyên phản đối học thuyết này của Chu hi và đề xướng Nhất nguyên luận Tâm tức lí. Các Nho gia Kim lí tường, Hứa hành... đời Nguyên tôn sùng học thuyết Trình, Chu. Vương thủ nhân đời Minh thì kế thừa học thuyết Tâm tức lí, sáng lập học phái Dương minh đối kháng lại với học thuyết của Chu tử. Đến đời Thanh, các Nho gia muốn tìm lại cái chân tướng của Khổng học, bèn trút bỏ cái vỏ Tống học để theo đuổi công tác khảo chứng, chú giải các sách xưa, Cố viêm vũ mở đầu phong trào này. Nhiều học giả khảo chứng nối tiếp xuất hiện, phê phán 1 cách nghiêm túc Chu tử học, xiển minh nghĩa lí Ngũ kinh, lấy khảo chứng làm trọng tâm học thuật của thời đại. Nhưng cái học khảo chứng dần dần đi đến chỗ chi li, suy cứu, chú giải từng câu, từng chữ, thiếu tinh thần hoạt bát, không thể tạo nên được một hệ thống tư tưởng sinh động độc lập nên bị chê là xơ cứng. Đến thời cận đại, trong tư tưởng giới đã xảy ra các cuộc tranh luận bài Khổng, tôn Khổng. Đầu năm Dân quốc (1912), Khang hữu vi tổ chức Hội Khổng giáo ở Thượng hải, chủ trương lập Khổng giáo làm quốc giáo. Mặt khác, phong trào Ngũ tứ vận động nêu ra khẩu hiệu Âu hóa toàn diện, tư tưởng Nho gia bị phê phán rất khắt khe. Trước tình hình ấy, 1 số nhà Nho cố gắng giải thích Nho học như 1 thứ tông giáo nhân văn để mong vãn cứu phần nào giá trị đạo thống Nho gia đang hồi tuột dốc. Nhưng điều kiện cũng như cấu trúc xã hội ngày nay đã thay đổi, Nho giáo khó có thể khôi phục được vai trò lãnh đạo xã hội như xưa và có lẽ cũng chỉ còn là vang bóng của 1 thời đã qua! [X. Nhân văn chủ nghĩa dữ tông giáo (Mâu tông tam); Tân nguyên đạo (Phùng hữu lan)].

nho phật vấn đáp

(儒佛問答) Tác phẩm, 1 quyển, do Lâm đạo xuân – người Nhật– soạn. Nội dung sách này giải đáp các nạn vấn đặt ra cho Phật giáo theo quan điểm của Nho học. Những tác phẩm cùng tính chất còn có: Nho Thích bút trận, 1 quyển do ngài Huyền quang soạn, Nho Phật hợp luận, 10 quyển, do ngài Trí thoát soạn, Nho Thích vấn đáp, 5 quyển, Nho Phật hoặc vấn, 3 quyển, không rõ tác giả.

Nho quả

儒果; C: rúguǒ; J: juka;|Cao tăng thời Bắc Nguỵ, thành viên của Địa luận tông (地論宗) phái Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).

Nho Thích chất nghi luận

儒釋質疑論; C: rúshì zhíyí lùn; J: jushaku shitsugi ron; K: yusǒk chirǔi ron.|Tác phẩm biện giải được viết vào trước thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), trong đó tác giả vô danh đã công kích Phật giáo từ quan điểm của Tân Nho giáo dựa trên quan điểm bất đồng về triết học của Tam giáo (三教). Một số sử gia gán tác phẩm nầy cho Kỉ Hoà (己和), vì ông ta được biết dã soạn một vài tác phẩm tương tự rất gần với thời gian tác phẩm nầy xuầt hiện, nhưng do vì văn phong có nhiều điểm khác nhau giữa tác phẩm của Kỉ Hoà và tác phẩm nầy nên giả thuyết kia vẫn còn mong manh.

nho đồng

(儒童) Phạm, Pàli: Màịava, Màịavaka. Hán âm: Ma nạp bà, Ma nạp phạ ca. Cũng gọi Thiếu niên, Nhân đồng tử, Tịnh trì. Từ gọi chung các đồng tử hoặc đặc biệt chỉ cho những thiếu niên Bà la môn. Cứ theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, thì Nho nghĩa là tốt đẹp, Đồng nghĩa là tuổi trẻ, tức chỉ cho thiếu niên tốt đẹp. Ngoài ra, bồ tát Văn thù sư lợi cũng được gọi là Nho đồng Văn thù bồ tát. Nhưng Nho đồng được dùng ở đây là để khen ngợi cái đức lớn của Ngài, chứ không phải với nghĩa nhỏ tuổi. [X. luận Tập dị môn Q.5; luận Câu xá Q.29; Vãng sinh yếu tập Q.thượng].

nho đồng bồ tát

(儒童菩薩) I. Nho Đồng Bồ Tát. Tên của Phật Thích ca khi còn là 1 vị Bồ tát ở đời quá khứ. Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi quyển thượng (Đại 3, 472 hạ) nói: Thời đức Phật Định quang ra đời, ở nước Đại bát ma có vị Thánh vương tên là Chế thắng trị, thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui và sống lâu. Khi ấy ta là Bồ tát, hiệu Nho đồng. Lúc bấy giờ bồ tát Nho đồng từng mua 5 cọng hoa sen cúng dường đức Phật Định quang, lại trải tóc lót đường để Phật đi qua, được Ngài thụ kí thành Phật trong vị lai. [X. kinh Tu hành bản khởi Q.thượng; luận Du già sư địa Q.3]. II. Nho Đồng Bồ Tát. Từ gọi đức Khổng tử. Cứ theo luận Phá tà dẫn kinh Thanh tịnh pháp hành (Đại 52, 478 hạ) chép: Đức Phật sai 3 vị đệ tử đến nước Trung quốc giáo hóa. Tại đây, bồ tát Nho đồng được gọi là Khổng khâu, bồ tát Quang tịnh được gọi là Nhan hồi và ngài Ca diếp thì được gọi là Lão tử. Nhưng kinh Thanh tịnh pháp hành nói trên bị xem là kinh giả, nên không được đưa vào trong Đại tạng. Lại ở tỉnh Giang tô có chùa Nho đồng, tương truyền được xây dựng vào năm Cảnh phúc thứ 2 (893) đời Đường, vốn là đền thờ ngài Khổng tử, đến thời Nam Đường được đổi làm chùa Nho đồng.

nhu hoà nhẫn nhục y

(柔和忍辱衣) Áo nhu hòa nhẫn nhục. Tức dùng áo của Như lai ví dụ tâm nhu hòa nhẫn nhục, 1 trong Hoằng kinh tam quĩ. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 hạ) nói: Áo Như lai là tâm nhu hòa nhẫn nhục. (xt. Y Tọa Thất Tam Quĩ).

Nhu nhuyến

柔軟; C: róuruăn; J: nyūnan; |Linh động, mềm dẻo, hoà nhã, dịu dàng, ôn hoà (s: mṛdu).

Nhu nhuyến âm

柔軟音; C: róuruănyīn; J: nyūnan'on; |Âm thanh lời nói dịu dàng, hoà ái của Đức Phật, là một trong tám loại âm thanh lời nói của ngài.

nhu nhuyễn ngữ

(柔軟語) Lời nói nhu hòa làm đẹp lòng người. Kinh Đại tập quyển 6 (Đại 13, 37 hạ) nói: Đối với chúng sinh thường dùng lời nói nhu hòa, dịu dàng, sẽ được tướng Phạm âm.

nhu nhuyễn tâm

(柔軟心) Tâm nhu nhuyến, chỉ cho 2 pháp Chỉ và Quán thăng bằng, không thô động, hôn trầm, cho nên biết rõ thực tướng các pháp. Vãng sinh luận chú quyển hạ (Đại 40, 842 thượng) nói: Nhu nhuyến tâm nghĩa là Chỉ và Quán rộng hay lược đều thuận tu hành để trở thành tâm bất nhị. Ví như nhìn bóng trong nước, nhờ mặt nước trong (Chỉ)và yên lặng(Quán)mà thấy được bóng. [X. luận Thập trụ tì bà sa Q.13].

nhu phật

(濡佛) Phật đằm đìa, thấm ướt. Chỉ cho tượng Phật, tượng Bồ tát không thờ rong Phật khám hoặc nhà điện, mà an trí trên đất lộ thiên, hay được khắc trên các vách đá, sườn núi, quanh năm dãi dầu gió mưa, nên gọi là Nhu Phật, Lộ Phật.

nhu thuận nhẫn

(柔順忍) Phạm: Anulomikè-dharma-kwànti. Cũng gọi Tư duy nhu thuận nhẫn. Chỉ cho tâm tuệ nhu nhuyến, có thể tùy thuận chân lí, 1 trong 3 nhẫn. Nhu thuận nghĩa là tâm nhu nhuyến, trí tùy thuận, đối với lí thực tướng không trái; Nhẫn nghĩa là tâm tuệ an trụ nơi pháp. Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ (Đại 37, 106 thượng) nói: Tam địa trở về trước, bỏ lời nói trở về chân thực, gọi là Nhu thuận nhẫn. Nhu thuận nhẫn đồng nghĩa với Thuận nhẫn(vị thứ 2 trong 10 nhẫn)được nói trong phẩm Thập nhẫn kinh Hoa nghiêm quyển 29 (bản 60 quyển) và trong Vô lượng thọ kinh sớ của ngài Nghĩa tịch. (xt. Tam Pháp Nhẫn).

Nhuy Tân

(蕤賓): có ba nghĩa chính:(1) Tên gọi âm thứ 4 trong 6 âm thanh thuộc về Dương của 12 luật âm, tương đương với âm Phù Chung (鳧鐘, fushō) trong 12 âm luật của Nhật Bản. Như trong Chu Lễ (周禮), chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) có ghi rằng: “Nãi tấu Nhuy Tân, ca Hàm Chung, vũ Đại Hạ, dĩ tế sơn xuyên (乃奏蕤賓、歌函鐘、舞大夏、以祭山川, bèn tấu điệu Nhuy Tân, ca khúc Hàm Chung, múa điệu Đại Hạ, để tế núi sông).” (2) Tên gọi khác của tháng 5 Âm Lịch. Như trong bài Hòa Hồ Tây Tào Thị Cố Phú Tào (和胡西曹示顧賊曹) của Đào Tiềm (陶潛, tức Đào Uyên Minh [陶淵明], khoảng 365-427) nhà Tấn có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt trung, thanh triêu khởi Nam ti, bất sử diệc bất trì, phiêu phiêu xuy ngã y (蕤賓五月中、清朝起南颸、不駛亦不遲、飄飄吹我衣, Nhuy Tân giữa tháng Năm, sáng trong dậy gió Nam, chẳng nhanh cũng chẳng chậm, thổi áo ta bềnh bồng).” Trong Bách Trượng Thanh Quy Chứng Nghĩa Ký (百丈清規證義記, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1244) quyển 8 có giải thích rằng: “Ngũ nguyệt kiến Ngọ viết Đôn Tang, hựu viết Nhuy Tân, hoặc danh Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, hựu xưng Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt đẳng (五月建午曰敦牂、又曰蕤賓、或名天中節、或脩月、又稱皋月、蒲月、艾月、榴月等, tháng Năm kiến Ngọ gọi là Đôn Tang, hay gọi là Nhuy Tân, hoặc có tên Thiên Trung Tiết, hoặc Tu Nguyệt, còn gọi là Cao Nguyệt, Bồ Nguyệt, Ngải Nguyệt, Lựu Nguyệt, v.v.).” Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 còn cho biết thêm về Nhuy Tân rằng: “Ngọ vi Nhuy Tân, ngũ nguyệt chi thần danh Ngọ; Ngọ giả, trưởng dã; minh vật giai trưởng đại, cố vị chi Ngọ (午爲蕤賓、五月之辰名午、午者、長也、明物皆長大、故謂之午, Ngọ là Nhuy Tân, chi của tháng Năm là Ngọ; Ngọ là trưởng [phát triển], nghĩa là muôn vật đều phát triển to lớn, nên gọi nó là Ngọ).” (3) Chỉ tiết Đoan Ngọ vào tháng 5 Âm Lịch. Như trong tác phẩm Toàn Nguyên Tán Khúc (全元散曲), chương Nghênh Tiên Khách (迎仙客), Ngũ Nguyệt (五月) của Tùy Thọ Sum (隋樹森, 1906-1989) có câu: “Kết ngải nhân, khánh Nhuy Tân, Xương Bồ tửu hương khai ngọc tôn (結艾人、慶蕤賓、菖蒲酒香開玉樽, bện người ngải [trừ tà], vui khúc Nhuy Tân, hương rượu Xương Bồ thơm phức chén ngọc).” Hay trong Thủy Hử Truyện (水滸傳) hồi thứ 13 của có đoạn: “Thời phùng Đoan Ngọ, Nhuy Tân tiết chí, Lương Trung Thư dữ Thái Phu Nhân tại hậu đường gia yến, khánh hạ Đoan Dương (時逢端午、蕤賓節至、梁中書與蔡夫人在後堂家宴、慶賀端陽, gặp dịp Đoan Ngọ, tiết tháng 5 đến, Lương Trung Thư cùng Thái Phu Nhân ở nhà sau vui yến tiệc gia đình, để chúc mừng tiết Đoan Dương).” Trong Chuẩn Đề Tịnh Nghiệp (準提淨業, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1077) quyển 3 có câu: “Nhuy Tân ngũ nguyệt luật, đắc Hạ khí cố, kiên băng tiêu tán (蕤賓五月律、得夏氣故、堅冰消散, Nhuy Tân luật tháng Năm, vì có khí Hè, băng cứng tiêu tan).” Hay trong bài Trí Môn Tộ Thiền Sư Ngữ Lục Tự (智門祚禪師語錄序) của Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 68, No. 1315) quyển 39 có đoạn: “Thời Tân Mùi tuế Nhuy Tân nguyệt chi ngũ nhật, môn nhân trú Minh Châu Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự Minh Giác Đại Sư Tứ Tử Trùng Hiển tự (時辛未歲蕤賓月之五日、門人住明州雪竇山資聖寺明覺大師賜紫重顯序, lúc bấy giờ vào ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mùi [1031], môn nhân Minh Giác Đại Sư hiệu Tứ Tử Trùng Hiển [tức Tuyết Đậu Trùng Hiển] ở Tuyết Đậu Sơn Tư Thánh Tự vùng Minh Châu, ghi lời tựa).”

nhuyễn ngữ

(輭語) Đối lại: Thô ngữ. Lời nói êm ái, dịu dàng thích hợp lòng người. Điều Thủ tọa trong Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 447 thượng) nói: Tất cả những việc không đúng qui củ trong Tăng đường, trước khi dùng cháo, phải thông báo cho đại chúng biết; lời nói phải êm ái, dịu dàng(nhuyến ngữ), ngắn gọn và chính xác.

nhuyễn tặc

(輭賊) Loại giặc âm thầm, êm dịu. Chỉ cho danh vọng, lợi dưỡng. Vì danh tiếng và lợi lộc ngấm ngầm ăn mòn công đức, phá hoại đạo tâm của người tu hành nên được ví như giặc. Thiên thai trí giả đại sư biệt truyện (Đại 50, 192 hạ) nói: Đêm qua, ta nằm mơ gặp bọn cướp, đó chính là các nhuyến tặc hôm nay.

Nhuận

潤; C: rùn; J: jun, nyun;|1. Thấm nước, làm cho đất màu mỡ, làm phong phú, làm ích lợi, trang nghiêm; 2. Sáng ngời, xuất sắc; 3. [Phật học] Tính chất kết dính, sự kết dính (s: sneha). Ứơt, thấm nước; 3. Trạng thái lỏng, dễ biến đổi (s: seka); 4. Đem sự an lạc đến cho chúng sinh.

Nhuận sinh

潤生; C: rùnshēng; J: nyunjō;|Sự nuôi dưỡng hay »tưới tẩm« các nhiễm ô. Nuôi dưỡng các phiền não.

nhuận sinh hoặc

(潤生惑) Đối lại: Phát nghiệp hoặc. Chỉ cho hoặc nghiệp dẫn đến quả báo đời sống kế tiếp, lúc chúng sinh hấp hối, khởi lên ý niệm tham đắm câu sinh khởi đối với tự thể, hoàn cảnh và nơi mình sắp sinh đến. Loại hoặc nghiệp này có năng lực giúp cho hoặc phát nghiệp thêm mạnh, đồng thời, tẩm tưới, nuôi lớn mầm sống ở tương lai. Hoặc này chính là phiền não Câu sinh khởi(cùng khởi lên 1 lượt với lúc con người sinh ra), tương đương với Ái(thương yêu), Thủ(giữ chặt lấy)trong 12 chi nhân duyên. Hai chi này tham cầu Hữu(sự sống) ở tương lai, thường phát nghiệp tẩm tưới, nuôi dưỡng mầm sống, vì thế nên gọi là Năng nhuận chi. Ngoài ra, nếu Nhuận sinh hoặc lấy phiền não câu sinh khởi để tẩm tưới, nuôi lớn nghiệp đã tạo tác, làm cho sinh ra quả khổ, thì gọi là Nhuận nghiệp. [X. luận Thành duy thức Q.8; Câu xá luận quang kí Q.10]. (xt. Phát Nghiệp Nhuận Sinh).

nhà dòng

Monastery.

nhà giáo

Teacher.

nhà khách

Guest (reception)-room.

nhà làm luật

Law-maker.

nhà lửa tam giới

Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Phật ví Tam giới như nhà lửa, không yên, đầy dẫy sự khổ, rất đáng sợ hãi—According to the Wonder Lotus Sutra, the Buddha compared the three realms as a burning house; sentient beings in these realms are not stable, indeed, they are continuously suffering and frightening.

nhà mô phạm

See Nhà giáo.

nhà sinh lý học

Physiologist.

nhà sư

Buddhist monk.

nhà sư khổ hạnh lang thang không một xu dính túi

A penniless wandering asectic.

nhà tai mắt

A very important person.

nhà truyền giáo phật giáo

Buddhist missionaries.

nhà trí thức

Intellectual—Scholar.

nhà tu

Convent (Catholic).

nhà tu hành

Religious monk/priest.

nhà tu khổ hạnh

Recluse—Asectic.

nhà tâm lý học

Psychologist.

nhà tôn giáo

Religionist.

nhà viết sử

Historian.

nhà xã hội học

Sociologist.

nhà đạo đức

Moralist.

nhàm chán

To detest.

nhàn

Idle.

nhàn bất nhàn

(閑不閑) Chỉ cho 2 cảnh giới nhàn và bất nhàn. Nhàn cũng gọi là Hữu hạ......, tức là nơi an ổn để tu hành đạo Phật, như trongcõi người. Còn Bất nhàn cũng gọi là Vô nhàn, Vô hạ, tức là nơi bất an, khó có thể tu hành đạo Phật, tức chỉ cho 8 chỗ khổ nạn là: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, Trường thọ thiên, Bắc câu lư châu, mù điếc câm ngọng, mưu trí thế gian, sinh ra trước Phật và sau Phật. Tám nơi này do nghiệp lực chiêu cảm, hoặc khổ quá, hoặc sướng quá, nên không dễ tu hành. [X. kinh Vô lượng thọ Q.thượng; kinh Thuyết vô cấu xưng Q.2; Vô lượng thọ kinh nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Tuệ lâm âm nghĩa Q.18]. (xt. Bát Nạn).

nhàn bộ

To go for a walk.

nhàn cung dưỡng

(閑供養) Chỉ cho sự cúng dường với tâm ích kỉ, tức là chỉ mong cầu phúc báo cho riêng mình.

nhàn cư

To be idle.

nhàn cư thập thiện

Mười lợi ích thiện lành của cuộc sống ẩn dật, trong đó thiếu vắng những hành động sau đây—Ten wholesome advantages of a hermitage which are absent of the following actions: 1) Không ham bóng sắc dục vọng: Không có cảnh nam nữ, tức không có lòng ham muốn—Absence of sex and passion. 2) Không nói điều tà vạy: Không có nhơn duyên gây ra lời ăn tiếng nói lộn xộn, tức không có việc bày điều đặt chuyện láo xược—Absence of temptation to say wrong things. 3) Không có kẻ thù: Không có kẻ đối địch—Absence of enemies, and so of strife. 4) Không xung đột với ai: Không sợ việc tranh giành—Absence of conflicts. 5) Không có bằng hữu khen chê: Không có bạn nói chuyện thị phi, tức không có việc khen chê—Absence of friends to praise or blame. 6) Không có ai để cho mình bươi móc lỗi lầm của họ: Không thấy kẻ lỗi lầm—Absence of other people for us to pick their faults. 7) Không có ai để chúng ta nói chuyện về họ: Không có việc đàm luận việc quấy của người khác—Absence of people for us to talk about them. 8) Không bạn bè, không đệ tử, không kẻ hầu người hạ cho chúng ta vui chơi, dạy dỗ hay sai bảo (không gây tội tạo nghiệp): Absence of friends for us to play with; absence of disciples for us to teach, absence of servants for to us ask for running errands (no further creating of karma). 9) Không ao ước có bạn đồng hành: No longing for companions. 10) Không có những phiền phức gây nên bởi xã hội như khách khứa, lịch sự, quần áo chỉnh tề, cũng như giao tế xã hội: Absence of troubles caused by society such as guests, politeness, neat clothes, as well as social relations.

nhàn cư thập đức

See Nhàn Cư Thập Thiện.

nhàn cư vi bất thiện

Idleness is the root of all evils (Satan finds some mischief for idle hands to do).

nhàn hạ

Unoccupied—Free—Idle.

nhàn lãm

To see at leisure.

nhàn rỗi

Leisure life—Leisure time.

nhàn sướng

Easy and happy.

nhàn trần cảnh

Lời nói không còn cần thiết—Words, or expressions to be shut off; unnecessary words. ; (閑塵境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho những điều kiện ngoại tại vô nghĩa, vô giá trị, đặc biệt chỉ cho văn tự, ngôn ngữ bông lông, không chuyên chở 1 nội dung nào. Chữ cảnh trong Trần cảnh là chỉ cho 6 cảnh (sắc thanh hương vị xúc pháp), đối tượng của 6 căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý), vì chúng có tính chất làm cho tâm con người ô nhiễm nên gọi là Trần cảnh (cảnh bụi bặm). Văn tự nói trên được phối hợp với Sắc trần cảnh, ngôn ngữ phối với Thanh trần cảnh. Phần dạy chúng trong Lâm tế lục (Đại 47, 499 thượng) nói: Như người học đạo ngày nay cần phải tự tin, chớ tìm cầu bên ngoài, tất cả các nhàn trần cảnh đều không thể phân biệt được tà chính, nếu như có Phật có Tổ đều là công việc trong giáo môn.

nhàn tọa

To sit idly.

nhàn xứ

1) Chốn A Luyện Nhã: A hermitage. 2) Nơi nhàn tĩnh: A shut-in place, a place of peace. 3) Tự viện: A Buddhist monastery.

nhàn đàm hí luận

Prapanca (skt)—Idle talk/chat—Vain talk or diffusive trivial reasoning.

nhàn đạo nhân

Hành giả hay người đã thuần thục về tôn giáo—A practitioner, one well-trained in the religion.

nhào

To dive—To rush.

nhàu

Creasy—Tumbled.

nhá nhem

At dusk—At nightfall.

nhám

Rough—Uneven—Harsh.

nhánh

Branch—Bough.

nháo nhác

Frightened.

nhát

To frighten.

nháy

To blink (eyes)—To wink.

nhâm

Dệt—To weave.

nhâm bà

Nimba (skt)—Cây nhâm bà, có trái nhỏ và đắng như trái khổ qua; người Ấn nhai lá cây nầy trong tang lễ—The neemb tree, which has a small bitter fruit; its leaves in India are chewed at funeral ceremonies.

nhâm sinh cuồng ngôn

(壬生狂言) Cũng gọi: Nhâm sinh đại niệm Phật. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nhâm sinh nói khùng. Một loại kịch không lời được biểu diễn ở chùa Nhâm sinh tại Kinh đô (Kyoto) Nhật bản. Nhâm sinh cuồng ngôn vốn là pháp niệm Phật chính hạnh (Dung thông niệm Phật); đến đời sau, ngoài pháp niệm Phật chính hạnh còn sang lập niệm Phật loạn hạnh, tức cuồng ngôn. Niệm Phật loạn hạnh hàng năm được cử hành ở chùa Nhâm sinh, vì nổi tiếng về loạn hạnh cuồng ngôn, nên người đời gọi là Nhâm sinh uồng ngôn. Trên sân khấu của Đại niệm Phật đường, các hương sĩ chùa Nhâm sinh đeo mặt nạ, tùy theo nhịp điệu diễn tấu của các nhạc cụ như: Kèn, sáo, trống... mà nhảy múa. Đây là loại kịch đồng thoại chịu ảnh hưởng của nhạc Năng gồm 30 nhạc khúc: Dũng thủ, Hồng diệp thú, Thang lập, Viên tọa đầu, Hoa chiết, Ngã quỉ giác lực, Sơn đoan, Đại nguyên nữ, Pháo lạc cát, Đạo thành tự v.v...

nhâm-bà

phiên âm từ Phạn ngữ là nimba, cũng đọc là nhậm-bà, nhẫm-bà, là tên một loài cây hình dáng tương tự như cây xoan, có tên khoa học là azadirachtaindica.

Nhân

仁; C: rén; J: jin;|Có các nghĩa sau: 1. Lòng tốt, lòng từ, nhân đức, nhân đạo, lòng tốt bẩm sinh của con người; 2. Đạo lí cơ bản để làm người; 3. Đức tính mà mọi người tốt đều nhắm đến; 4. Người có đức hạnh tốt; 5. Tâm thể của con người; [Thuật ngữ Phật học] 6. »Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị cỡ ngang mình, hoặc cao hơn một chút. ; 人; C: rén; J: nin, jin;|Người, loài người. Tha nhân. Theo thuật ngữ Phật học, có hai nghĩa: 1. Loài người, chúng sinh, loài hữu tình trong Dục giới, do gieo nhân trong quá khứ mà được thân người hiện tại. Là một trong sáu nơi (Lục đạo 六道) mà chúng sinh sẽ sinh về sau khi chết; 2. Ngã, bản ngã. Cá nhân như một hữu thể; linh hồn. Chấp vào sự hiện hữu của cá nhân mình (ngã chấp).

nhân

1) Hetu (skt): Nguyên nhân—Cause—Reason—Nguyên nhân hay cái đi ở trước; điều kiện, lý do, nguyên lý.—Cause, antecedent, condition; reason, principle. 2) Nhân từ: Kindness. 3) Manusya (skt)—Man—Chúng sanh con người có suy tưởng trong dục giới, những nghiệp trong quá khứ ảnh hưởng đến hoàn cảnh hiện tại. Con người chiếm một vị trí rất quan trọng trong vũ trụ của Phật giáo, vì con người có quyền năng quyết định cho chính họ. Đời sống con người là sự hỗn hợp của hạnh phúc và đắng cay. Theo Đức Phật, con người có thể quyết định dành cuộc đời cho những mục tiêu ích kỷ, bất thiện, một hiện hữu suông rỗng, hay quyết định dành đời mình cho việc thực hiện các việc thiện làm cho người khác được hạnh phúc. Trong nhiều trường hợp, con người cũng có thể có những quyết định sinh động để uốn nắn đời mình theo cách nầy hay cách khác; con người có cơ hội nghĩ đến đạo và giáo lý của Ngài hầu hết là nhằm cho con người, vì con người có khả năng hiểu biết, thực hành và đi đến chứng ngộ giáo lý. Chính con người, nếu muốn, họ có thể chứng nghiệm giác ngộ tối thượng và trở thành Phật, đây là hạnh phúc lớn không phải chỉ chứng đắc sự an tịnh và giải thoát cho mình, mà còn khai thị đạo cho nhiều người khác do lòng từ bi—The sentient thinking being in the desire realm, whose past deeds affect his present condition. Man occupies a very important place in the Buddhist cosmos because he has the power of decision. Human life is a mixture of the happy with a good dash of the bitter. According to the Buddha, a man can decide to devote himself to selfish, unskilful ends, a mere existence, or to give purpose to his life by the practice of skilful deeds which will make others and himself happy. Still, in many cases, man can make the vital decision to shape his life in this way or that; a man can think about the Way, and it was to man that the Buddha gave most of his important teachings, for men could understand, practice and realize the Way. It is man who can experience, if he wishes, Enlightenment and become as the Buddha and the Arahants, this is the greatest blessing, for not only the secure tranquillity of one person's salvation is gained but out of compassion the Way is shown in many others. 4) Cơ hội được tái sanh làm con người rất ư là hãn hữu, chính vì thế mà Đức Phật dạy: “Được sinh ra làm người là điều vô cùng quý báu, một cơ hội lớn lao không nên để uổng phí. Giả tỷ có một người ném vào đại dương một mảnh ván, trên mảnh ván có một lỗ hỏng, mảnh ván trôi dạt do nhiều luồng gió và nhiều dòng nước xô đẩy trên đại dương. Trong đại dương có một con rùa chột mắt, một trăm năm mới ngoi lên mặt biển một lần để thở. Dù cho mất cả một đại kiếp, con rùa cũng khó mà trồi lên mặt nước và chui vào lỗ hỏng của mảnh ván ấy. Cũng thế, nếu một khi người ta đã bị đọa xuống ba cảnh giới đầy thống khổ hay hạ tam đồ, thì việc được tái sanh làm người cũng thật là hiếm hoi.”—The opportunity to be reborn as a human being is so rare; thus the Buddha taught: “Supposing a man threw into the ocean a piece of wood with a hole in it and it was then blown about by the various winds and currents over the waters. In the ocean lived a one-eyed turtle which had to surface once in a hundred years to breathe. Even in one Great Aeon it would be most unlikely in surfacing, to put its head into the hole in that piece of wood. Such is the rarity of gaining birth among human beings if once one has sunk into the three woeful levels or three lower realms.” ; (因) Phạm: Hetu. I. Nhân. Nguyên nhân dẫn sinh ra kết quả. Nói theo nghĩa hẹp thì nguyên nhân bên trong trực tiếp dẫn sinh ra kết quả, gọi là Nhân (nội nhân = nhân bên trong), còn nguyên nhân bên ngoài gián tiếp giúp đỡ thì gọi là Duyên(ngoại duyên=duyên bên ngoài). Nhưng, nói theo nghĩa rộng, tất cả những điều kiện góp phần vào việc dẫn sinh ra kết quả và giúp cho vạn vật sinh tồn, biến hóa, thì đều được gọi là Nhân. Tức là Nhân theo nghĩa rộng bao gồm cả Nội nhân và Ngoại duyên. Về chủng loại của Nhân thì có các thuyết: Hai nhân, Năm nhân, Sáu nhân, Mười nhân, trình bày sơ lược như sau: 1. Hai loại nhân: Gồm có: Năng sinh nhân và Phương tiện nhân, Chính nhân và Liễu nhân, Chính nhân và Duyên nhân, Tập nhân (cũng gọi Đồng loại nhân) và Báo nhân (cũng gọi Dị thục nhân), Dẫn nhân (cũng gọi Khiên dẫn nhân, là Nghiệp chủng tử gián tiếp dẫn sinh quả báo trong đời vị lai lâu xa) và Sinh nhân (cũng gọi Sinh khởi nhân, là Nghiệp chủng tử trực tiếp dẫn sinh quả báo trong đời vị lai gần kề), Thông nhân (Nhân chung cho nhiều quả báo) và Biệt nhân (Nhân riêng cho 1 quả báo đặc biệt). 2. Năm loại nhân: Gồm: Sinh nhân, Y nhân, Lập nhân, Trì nhân và Dưỡng nhân. Nếu lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) tạo ra muôn vật làm Nhân và muôn vật được tạo ra làm Quả, thì 4 đại đối với muôn vật có đủ ý nghĩa của 5 Nhân trên đây. Tức là: Sinh nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân sinh ra muôn vật; Y nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân làm chỗ nương tựa cho muôn vật; Lập nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân bảo tồn muôn vật; Trì nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân tiếp tục duy trì muôn vật; còn Dưỡng nhân, chỉ cho 4 đại là Nhân nuôi lớn muôn vật. Hai thuyết trên là do luận Đại tì bà sa quyển 111 và luận Câu xá quyển 7 lập ra. Kinh Đại bát niết bàn quyển 21 (bản Bắc) thì chia tất cả Nhân làm 5 loại là: Sinh nhân, Hòa hợp nhân, Trụ nhân, Tăng trưởng nhân và Viễn nhân. 3. Sáu loại nhân: Tông Hữu bộ chia Nhân ra làm 6 loại: a) Năng tác nhân: Trừ tự thể ra, tất cả các pháp hữu vi, vô vi khác đều có khả năng trở thành Nhân sinh ra tự thể. Loại này lại được chia làm 2 thứ là Hữu lực năng tác nhân và Vô lực năng tác nhân. b) Câu hữu nhân: Pháp đồng thời tồn tại, làm Nhân lẫn cho nhau. Cũng được chia làm 2 thứ là Hỗ vi quả câu hữu nhân vàĐồng nhất quả câu hữu nhân. c) Đồng loại nhân: Khi các pháp cùng loại liên tục sinh ra thì pháp trước là nhân đồng loại của pháp sau. d) Tương ứng nhân: Sự quan hệ hỗ tương giữa tâm và tâm sở trong nhân Câu hữu. e) Biến hành nhân: Sức mạnh của phiền não (tức Biến hành hoặc) trong Đồng loại nhân có thể ảnh hưởng đều khắp tất cả các pháp nhiễm ô. f) Dị thục nhân: Ác nghiệp và thiện nghiệp hữu lậu chiêu cảm quả báo vô kí. Ngoài ra còn có thuyết 6 loại nhân:Đương hữu nhân, Tương tục nhân, Tướng nhân, Năng tác nhân, Hiển liễu nhân và Đãi nhân. 4. Mười loại nhân: Do tông Duy thức thành lập. - Tùy thuyết nhân: Ngôn ngữ (năng thuyết) là Nhân miêu tả sự vật (sở thuyết), nên ngôn ngữ là Tùy thuyết nhân. - Quan đãi nhân (cũng gọi Dĩ hữu nhân). Quan đãi chỉ cho tính tương đối, tính điều kiện. Tương đối với 1 vật nào đó mà nói, cái điều kiện có thể dẫn sinh ra 1 yêu cầu nhất định là Quan đãi nhân, như đói khát là Quan đãi nhân của việc ăn uống, tay là Quan đãi nhân của sự cầm vật, chân là Quan đãi nhân của sự đi lại... - Khiên dẫn nhân: Chủng tử là Nhân dẫn sinh ra tự quả trong vị lai lâu xa.- Nhiếp thụ nhân: Tất cả các duyên ngoài chủng tử có thể trợ giúp lẫn nhau để sinh ra quả.- Sinh khởi nhân: Chủng tử là Nhân dẫn sinh ra tự quả trong vị lai gần.- Dẫn phát nhân: Khi chủng tử khởi hiện hành, có khả năng dẫn sinh ra quả cùng loại.- Định biệt nhân: Tất cả các pháp hữu vi đều có thể dẫn sinh ra tự quả mà không làm cho nhau hỗn loạn.- Đồng sự nhân: Nhân và quả hòa hợp làm một.- Tương vi nhân: Nhân tạo ra sự trái ngược khi các pháp sinh thành.- Bất tương vi nhân: Nhân tạo ra sự thuận lợi cho các pháp sinh thành. Ngoài ra, luận Phật tính quyển 2 nêu 3 nhân Phật tính là: Ứng đắc, Gia hạnh và Viên mãn. Kim quang minh kinh huyền nghĩa quyển thượng và Tứ giáo nghĩa cũng nêu 3 nhân Phật tính là: Chính nhân, Liễu nhân và Duyên nhân. Còn kinh Pháp hoa và kinh Trí ấn thì nêu lên các thuyết 7 loại nhân, 11 loại nhân... Kinh Ưu bà tắc giới quyển 1 lại nêu ra thuyết 12 loại nhân... Ngoài các thuyết nói trên đây, còn có thuyết 10 tập nhân, tức chỉ cho 10 thứ ác nghiệp chìm mê chẳng ngộ, nên đời vị lai đã sinh vào địa ngục. Hết thảy các pháp đều do nhân duyên mà sinh khởi, có nhân ắt có quả, như lấylúa mì làm ví dụ: Hạt lúa mì là nhân, còn mưa, nắng, gió, sức người, đất đai, phân bón... là duyên. Có đủ các nhân duyên như vậy mới sinh ra được hạt lúa mì. Thuyết Nhân quả tương ứng tương thù này là lí luận cơ bản của Phật giáo để giải thích rõ mối quan hệ giữa hết thảy sự vật trong thế giới.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.28, 29 (bản Bắc); luận A tì đạt ma phát trí Q.1; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Câu xá Q.6; luận Đại trí độ Q.32; luận Du già sư địa Q.5, 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.2, 8].II. Nhân. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho lí do mà người lập luận dựa vào để thành lập Tông(mệnh đề), là 1 trong 5 chi tác pháp(tác pháp 5 phần) của Cổ nhân minh; 1 trong 3 chi tác pháp của Tân nhân minh. Trong đối luận Nhân minh, Nhân (lí do) là căn cứ mà người lập luận dựa vào để biện luận và chứng minh cho chủ trương của mình, khiến đối phương phải thừa nhận. Nhân được chia làm 2 loại: 1. Chính nhân: Có đủ 3 điều kiện: Phải hoàn toàn có quan hệ với Tông, phải quyết định có tính cách của đồng phẩm, tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Đây là Nhân đúng, hoàn toàn chính xác, có thể bênh vực được cho Tông. 2. Tự nhân: Tự là sai, nghĩa là dường như đúng mà kì thực là sai. Tức là Nhân (lí do) không có đủ 3 điều kiện nói trên, là Nhân sai lầm, hoàn toàn không chứng minh được cho Tông. Tự nhân còn được chia làm 3 loại: Bất thành, Bất định và Tương vi.[X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh nhập chính lí luận minh đăng sao Q.1, phần cuối; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh]. (xt. Bất Thành Nhân, Bất Định Nhân, Nhân Tam Tướng, Nhân Minh, Tương Vi).

nhân bản

Humanism.

nhân bảo

Phật là kho bảo của loài người— Buddha is the treasure of men. ; (人寶) Danh từ khen ngợi đức Phật là bậc quí báu trong loài người. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma cật sở thuyết (Đại 14, 537 hạ) nói: Khen chê chẳng động như núi Tu di, đối với người thiện và bất thiện đều có lòng từ bi; tâm hành bình đẳng giống như hư không, ai nghe bậc Nhân bảo mà không kính tin thừa sự?.[X. Duy ma kinh nghĩa sớ Q.2].

Nhân chấp

人執; C: rénzhí; J: ninshū;|Chấp vào bản ngã; chấp vào sự hiện hữu như một con người. Thuật ngữ thường đề cập là Ngã chấp (我執). Nhân ngã chấp (人我執; theo Du-già luận 瑜伽論).

nhân chấp

See Ngã Chấp.

nhân chủng

Human race.

nhân cách thần

(人格神) Thần được nhân cách hóa. Các tông giáo Hữu thần luận phần nhiều chủ trương Nhân cách thần. Phật giáo thì không lập Nhân cách thần mà lấy Pháp làm cơ sở. Các vị đệ tử thông qua nhân cách của đức Phật mà tin thờ Pháp của Ngài. Sau khi đức Phật nhập diệt thì Phật đà quan và Phật thân luận được phát triển. Trong giáo lí Phật giáo, mối quan hệ giữa chân lí của Pháp và nhân cách của Phật, cho đến nay, vẫn đang còn là 1 vấn đề được nghị luận.

nhân danh

On behalf of—In the name of.

nhân di phẩm

(因异品) Phạm: Vaidharmya-dfwỉànta-hetu. Tiếng dùng trong Nhân minh. Phẩm loại có ý nghĩa khác với Nhân (lí do), là điều kiện phải có của Dị dụ trong luận thức Nhân minh. Như trong luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là cái được tạo ra. Dị dụ: Như hư không... Hư không không có tính tạo tác, là phẩm loại mà ý nghĩa khác với Nhân có tính tạo tác, cho nên gọi là Nhân dị phẩm. Nhân dị phẩm lại có thể được chia làm 3 phẩm: Tự dị, Cộng dị và Tha dị. (xt. Cộng Dị Phẩm, Nhân Minh, Dị Du).

Nhân duyên

因緣; S: hetuprātyaya; J: innen;|Nghĩa là cái lí do chính (nhân; s: hetu) và các điều kiện phụ trợ giúp (duyên; s: prātyaya); danh từ này được sử dụng trong các trường phái Phật giáo để làm sáng tỏ luật Nhân quả, Nghiệp (s: karma).

nhân duyên

Nhân là bản nhân, duyên là trợ duyên. Như một hột lúa là bản nhân, nhân công, nước, đất là trợ duyên, nhân duyên hòa hợp sanh ra cây lúa. ; Hetu-pratyaya (skt)—Dependent Origination—Causes and conditions—Những nhân ảnh hưởng đến việc tái sanh trở lại cõi người—The causative influences for being reborn as a human beings: 1) Nhân: Hetu (skt)—A primary cause—A root-cause. 2) Duyên: Pratyaya (skt)—An environmental or secondary cause. ** A seed is a primary cause (hetu); rain, dew, farmer, etc, are the environmental or secondary cause (pratyaya). ; (因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sởduyênduyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).

nhân duyên biến

(因緣變) Đối lại: Phân biệt biến. Do nhân duyên biến hiện, là 1 trong 2 biến. Nhân duyên biến dùng sức dị thục của nghiệp trước (chủng tử nghiệp thiện, ác) làm duyên Tăng thượng, lấy chủng tử của tự than các pháp làm nhân mà biến hiện. Cũng tức là lấy chủng tử Danh ngôn làm nhân, lấy chủng tử Nghiệp làm duyên, mà không nhờ vào sức của sự suy tính phân biệt... tự nhiên vận hành biến hiện các pháp. Chủng tử Danh ngôn và chủng tử Nghiệp đều là những chủng tử chân thực hữu dụng của các pháp, cho nên các pháp do 2 loại chủng tử này biến hiện ra cũng là thể dụng chân thực. Như tác dụng 5 căn phát ra thức duyên lấy cảnh và sự thực dụng của 5 cảnh sắc, hương... Pháp nhân duyên biến này thuộc về Tính cảnh trong 3 loại cảnh; hoặc có thuyết cho rằng 1 phần của Đới chất cảnh cũng thuộc về Nhân duyên biến. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.3, phần đầu; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng; Bách pháp vấn đáp sao Q.2]. (xt. Phân Biệt Biến).

nhân duyên cộng tập hội

1) Sự nối kết của các chuỗi nhân duyên—A concatenation of causal chains. 2) Đức Phật dạy: “Do sự nối kết của các chuỗi nhân duyên mà có sự sinh, có sự diệt—The Buddha taught: “Because of a concatenation of causal chains there is birth, there is disappearance.”

nhân duyên luân

(因緣輪) Bánh xe nhân duyên. Vì nhân duyên sinh khởi liên tục không gián đoạn, không cùng cực, giống như bánh xe quay chuyển, nên gọi là Nhân duyên luân.

nhân duyên quán

Quán sát về nhân duyên—Meditation on nidanas. ; (因緣觀) Cũng gọi Duyên khởi quán, Quán duyên quán. Quán xuôi quán ngược 12 nhân duyên, nhận thức rõ sự liên tục của nhân quả 3 đời để đối trị chướng ngu si, giác ngộ lí sinh tử lưu huyển. Đây là 1 trong Ngũ đình tâm quán. (xt. Ngũ Đình Tâm Quán).

Nhân duyên sanh

xem Mười hai nhân duyên.

nhân duyên sanh

Causally-produced.

nhân duyên sanh pháp

Pháp khởi lên từ những nhân trực tiếp hay gián tiếp—Real entities that arise from direct or indirect causes.

nhân duyên sinh tử

(因緣生死) Bồ tát thị hiện nhân duyên sinh tử để hóa độ chúng sinh, là 1 trong 7 loại sinh tử. Các vị Bồ tát từ Hoan hỉ địa trở lên đều dùng lí sở quán bất khả tư nghị làm nhân và dùng trí chân vô lậu năng quán làm duyên để phá trừ phiền não vô minh. Song, vì hóa độ chúng sinh nên các Ngài thị hiện có sinh tử. (xt. Thất Chủng Sinh Tử).

nhân duyên thuyết

(因緣說) Chỉ cho phần nói về nhân duyên thấy Phật nghe pháp và nhân duyên đức Phật thuyết pháp giáo hóa trong các kinh, như phẩm Tựa của các kinh, là 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh).

nhân duyên thuyết chu

(因緣說周) Vòng nói về nhân duyên, là vòng thứ 3 trong 3 vòng thuyết pháp kinh háp hoa. Trong vòng Thí thuyết thứ 2, những người hạ căn vẫn chưa liễu ngộ, vì thế, trong vòng Nhân duyên thuyết thứ 3 này, đức Phật lại nói về cơ duyên của đức Đại thông trí thắng Như lai ở thời quá khứ lâu xa, khiến 1.200 vị Thanh văn như các ngài: Kiêu trần như, Phú lâu na v.v...liễu ngộ và được đức Phật thụ kí. Vòng Nhân duyên thuyết này là phần thuyết tướng, từ phẩm Hóa thành dụ đến phẩm Thụ học vô học nhân kí trong kinh Pháp hoa.[X. Pháp hoa kinh nghĩa kí Q.3; Pháp hoa văn cú Q.4, thượng]. (xt. Tam Chu Thuyết Pháp).

nhân duyên thích

(因緣釋) Dùng 4 Tất đàn làm nhân duyên để giải thích sự hưng khởi của giáo pháp, là 1 trong 4 phương pháp được ngài Trí khải tông Thiên thai sử dụng để giải thích Pháp hoa văn cú. Pháp hoa văn cú quyển 1, thượng ( Đại 34, 2 thượng) nói: Nhân duyên cũng gọi là cảm ứng, chúng sinh nếu không có cơ duyên thì dù gần cũng chẳng thấy; còn nếu có sức thiện căn thì tuy xa cũng có thể tự thấu suốt; đó là vì lẽ cảm ứng đạo giao nên dùng nhân duyên mà giải thích vậy. (xt. Tứ Chủng Thích Nghĩa).

nhân duyên trí

(因緣智) Trí hiểu rõ tất cả các pháp đều do nhân duyên sinh và làm duyên lẫn cho nhau, tức là trí tuệ căn cứ vào chân lí do đức Phật chỉ dạy mà thông suốt nghĩa nhân duyên.

nhân duyên tính

(因緣性) Chỉ cho tính chất nhân duyên, là Nhân duyên trong 4 duyên. Tiểu thừa cho rằng trong 6 nhân, trừ Năng tác nhân ra, còn 5 nhân kia đều là Nhân duyên tính. Tông Duy thức thì cho rằng nhân quả của chủng tử và hiện hành cùng với chủng tử của tự loại nối tiếp nhau là Nhân duyên tính. Nay nêu ra để thuyết minh như sau: Tiểu thừa cho rằng sự sinh khởi ra nhãn thức lấy tác dụng phát thức thủ cảnh của nhãn căn làm nhân, lấy sắc cảnh(đối tượng) bên ngoài làm duyên, cho nên nhãn căn và sắc cảnh là nhân duyên tính hữu vi sinh khởi ra nhãn thức. Còn tông Duy thức thì cho rằng thiện pháp ở quá khứ làm nhân cho thiện pháp ở hiện tại, thiện pháp ở hiện tại làm nhân cho thiện pháp ở vị lai; pháp ác và pháp vô kí cũng như thế. Cứ theo đó thì chủng tử Thân nhân duyên của các pháp là Nhân duyên tính, còn pháp hiện hành huân tập sinh ra chủng tử này là Nhân duyên tính của chủng tử. Rồi chủng tử của niệm trước lại sinh ra chủng tử tự loại của niệm sau là nhân duyên tính của chủng tử khởi sau. Tức trong 6 nhân, chỉ có Đồng loại nhân là chung cho cả Nhân duyên tính và Tăng thượng duyên tính, còn 5 nhân kia đều là Tăng thượng duyên tính.[X. luận Đại tì bà sa Q.16; luận Câu xá Q.7; luận Thành duy thức Q.2]. (xt. Lục Nhân, Nhân Duyên).

nhân duyên y

Mọi pháp đều dựa vào chủng tử của mình mà sinh khởi (ba loại sở y là nhân duyên y, tăng thượng duyên y và đẳng vô gián y)—Dependent on cause, or the cause or causes on which anything depends. ; (因緣依) Cũng gọi Chủng tử y, Căn bản y. Chủng tử làm nhân duyên cho tất cả các pháp nương vào đó mà sinh khởi, 1 trong 3 chỗ nương của tâm, tâm sở. Hết thảy các pháp hữu vi đều nương nơi chủng tử của chính mình mà sinh khởi, nếu lìa nhân duyên chủng tử thì quyết không thể sinh, vì thế tất cả chủng tử là nhân của các pháp, đồng thời cũng là pháp sở y để các pháp nương vào đấy mà sinh, đó tức là Nhân duyên y. Chủng tử y được đề cập trong luận Du già sư địa chỉ giới hạn ở phương diện chủng tử sinh khởi hiện hành mà thôi, chứ không giải thích rõ nghĩa khi chủng tử sinh chủng tử và hiện hành huân chủng tử thì làm nhân duyên lẫn cho nhau. Bởi vậy, luận Duy thức mới nói rộng về nghĩa Nhân duyên y để thay thế cho thuyết Chủng tử y. Thành duy thức luận thuật kí quyển 4, phần cuối (Đại 43, 379 thượng) ghi: Nếu nói chủng tử y thì chỉ là pháp hiện hành có chủng tử, chủng tử trông chủng tử thì đáng lẽ không có chủng tử y này. Nay nói Nhân duyên y là cốt để hiểu theo nghĩa rộng. Tóm lại, nếu nói theo nghĩa hẹp thì Nhân duyên y đồng nghĩa với Chủng tử y, tức là chỉ nói về chủng tử của các pháp mà thôi. Còn nếu giải thích theo nghĩa rộng thì pháp hiện hành huân sinh chủng tử và chủng tử của niệm trước dẫn sinh ra chủng tử của niệm sau... đều là Nhân duyên y. [X. luận Du già sư địa Q.1, 55; luận Thành duy thức Q.4]. (xt. Sở Y).

Nhân dân

人民; C: rénmín; J: ninmin; S: manuṣya; P: ma-nussā.|Loài người nói chung. Hàng phàm phu (s: manuṣya; p: manussā; theo kinh Pháp Hoa).

nhân dũng

Humanity and courage. ; (仁勇) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Tứ minh, tỉnh Chiết giang, họ Trúc. Mới đầu, sư học giáo pháp tông Thiên thai. Một hôm, nhân tham yết Thiền sư Trùng hiển ở núi Tuyết đậu mà chuyển sang tham thiền. Về sau, sư đến núi Vân cái ở Đàm châu, tỉnh Hồ nam, vào cửa ngài Dương kì Phương hội liền ngộ yếu chỉ của Thiền. Sau khi ngài Phương hội thị tịch, sư cùng với bạn đồng tham là Bạch vân Thủ đoan hành cước 4 phương. Về sau, sư trụ trì chùa Bảo ninh ở Kim lăng, tỉnh Giang tô, tích cực xiển dương Thiền học.Đệ tử nối pháp của sư có các vị: Thọ thánh Trí uyên, Thọ thánh Sở văn, Bảo tích Tông ánh, Cảnh phúc Nhật dư... Sư để lại tác phẩm: Bảo ninh Nhân dũng thiền sư ngữ lục 1 quyển. [X. Ngũ đăng hội nguyên Q.15; Gia thái phổ đăng lục Q.4].

nhân dũng bảo ninh

See Bảo Ninh Nhân Dũng.

nhân dược vương tử

Đức Phật Thích Ca trong một tiền kiếp, người mà chúng ta chỉ cần chạm vào là đã có thể trị được bá bệnh—Human-touch healing prince—Sakyamuni in a previous incarnation, whose touch healed all diseases. ; (人藥王子) Vị Vương tử có tài chữa bệnh rất kì diệu, là tiền thân của đức Thích ca khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát ở các kiếp quá khứ. Cứ theo kinh Bồ tát tạng quyển hạ, cõi Diêm phù đề có vị Vương tử, con của vua Ma hê tư na, có tài chữa bệnh rất thần diệu, chỉ cần sờ vào người đau là bệnh của người ấy khỏi liền, vì thế nên gọi là Nhân dược vương tử. Vị Vương tử này đã chữa bệnh cho mọi người bằng cách đó trong 1.000 năm. Đến khi mệnh chung, xương của Vương tử được nghiền thành bột, bôi lên thân người bệnh thì bệnh cũng lành.

nhân dị phẩm

Hetu-virudha (skt)—In a syllogism the example not accordant with the reason.

nhân dịp

On the occasion of.

nhân dục

Human desire.

Nhân gian

人間; C: rénjiān; J: ningen;|Có các nghĩa: 1. Người, loài người; 2. Nơi loài người sinh sống, thế gian; 3. Loài người (s: manuṣya, manuṣa), phiên âm là Mạt-nô-sa (末奴沙), Ma-nô-xà (摩奴闍)… và còn được dịch là Nhân gian giới (人間界), Nhân giới (人界), Nhân thú (人趣), Nhân đạo (人道) và Thế gian (世間). Một trong 6 nơi (Lục đạo 六道), năm đường (Ngũ thú 五趣), hoặc mười cõi (Thập giới 十界) mà loài hữu tình thụ sinh; 4. Ở ngay trong thế giới loài người.

nhân gian

In this world. ; (人間) Phạm: Manuwya. Hán âm: Ma nâu sa, Mạt nô sa, Ma nô xà, Ma nâu sử. Cũng gọi Nhân gian giới, Nhân giới, Nhân thú, Nhân đạo, Thế gian. Chỉ cho nơi loài người sinh sống, 1 trong 6 đường, 5 ngả, 10 cõi. Tiếng Manuwya là từ ngữ căn Manas (Mạt na: Suy xét) mà ra, tức cho rằng con người có khả năng tư duy khảo sát. Còn về nơi ở của con người thì có 4 châu quanh núi Tu di. Diện mạo của con người ở châu nào thì giống với địa hình của châu ấy, tuổi thọ con người ở mỗi châu cũng khác nhau tùy theo nghiệp nhân. [X. phẩm Diêm phù đề châu trong Trường a hàm Q.18; kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Khởi thế Q.1; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Câu xá Q.1; Pháp uyển châu lâm Q.5; Huyền ứng âm nghĩa Q.25]. (xt. Thập Tuế Giảm Kiếp, Tứ Châu, Kiếp).

Nhân gian giới

人間界; C: rénjiānjiè; J: ningenkai;|Cõi con người sinh sống. Nhân giới (人界).

nhân già lam

Narasam-gharama (skt)—Một ngôi già lam (chùa) cổ gần kinh đô Ca Tỳ La Vệ—An ancient monastery close to the capital of Kapisa.

Nhân giả

仁者; C: rénzhě; J: jinsha;|»Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị ngang hoặc hơn mình một chút.

nhân giả

(仁者) Gọi tắt: Nhân. Tứ kính xưng đối với người khác. Nghĩa là bậc có lòng nhân từ, thương người... Đại nhật kinh sớ quyển 4 (Đại 39, 622 hạ) nói: Tiếng Phạm: Nhĩ nhĩ, Hán dịch là Nhân giả. Chương Bà tu mật trong Cảnh đức truyền đăng lục (Đại 51, 208 trung) chép: Sư nói: Này Nhân giả! Bàn luận thì đánh mất nghĩa lí, mà đạt nghĩa lí thì không bàn luận.

Nhân giới

人界; C: rénjiè; J: ninkai;|Nơi loài người sinh sống, là một trong mười giới (Thập giới 十界).

nhân hoa

(人華) Hoa người. Phẩm Dược thảo dụ trong kinh Pháp hoa quyển 3 (Đại 9, 20 trung), chép: Đức Phật nói pháp ví như áng mây lớn, tuôn nước mưa 1 mùi vị thấm nhuần nhân hoa, làm cho mỗi hoa đều kết quả. Trong phẩm này, đức Phật dùng 3 thứ cỏ (cỏ thấp, cỏ vừa, cỏ cao) và 2 thứ cây (cây bé, cây to) để ví dụ Phật dùng trí phương tiện diễn nói pháp 1 tướng 1 vị (giống như nước mưa chỉ có 1 mùi vị) thấm nhuần tất cả chúng sinh, chúng sinh tùy theo căn tính (như cỏ cây thấp cao nhỏ lớn khác nhau) mà tiếp nhận; vì tiếp nhận không giống nhau nên được đạo quả có lớn nhỏ bất đồng. [X. Pháp hoa nghĩa kí Q.6; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.4, hạ]. (xt. Tam Thảo Nhị Mộc).

nhân hoà tự

(仁和寺) Cũng gọi Ngự thất ngự sở, Ngự thất, Nhân hòa tự môn tích. Chùa ở khu Hữu kinh thuộc thành phố Kyoto, Nhật bản, do Thiên hoàng Vũ đa kế thừa Sắc nguyện của Thiên hoàng Quang hiếu sáng lập vào năm Nhân hòa thứ 4 (888), là Đại bản sơn của phái Ngự thất thuộc tông Chân ngôn. Về sau, Thiên hoàng Vũ đa xuất gia, năm Diên hỉ thứ 4 (904), ông dời đến trụ ở chùa này, do đó mà chùa được gọi là Ngự thất ngự sở và bắt đầu lập chế độ Môn tích. Đến thời Minh trị Duy tân, chùa được đổi thành Tiểu tùng cung. Chùa có Bản đường, Ngự ảnh đường là những kiến trúc thời Thiên chính(cuối thời Thất đinh), sau đổi thành Tử thần điện, Thanh lương điện. Cửa Nhân vương và tháp 5 tầng là các kiến trúc đời Khoan vĩnh (đầu đời Giang hộ). Ở Linh bảo quán có cất chứa rất nhiều vật báu, pháp khí của Mật giáo; 30 quyển kinh do ngài Không hải viết tay mang từ Trung quốc (đời Đường) về, được cất giữ trong hòm.

nhân huân tập kính

(因熏習鏡) Tức là gương như thực chẳng không, 1 trong Tứ kính. Nghĩa là bản giác (tính giác có sẵn) thường trụ là tính chân thực của hết thảy pháp, tự đầy đủ tính công đức vô lậu, thường làm nhân để huân tập (xông ướp) chúng sinh; giống như tấm gương (kính) sáng, có thể ánh hiện tướng của cảnh giới, mà không ra không vào, không mất không hoại. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tứ Kính, Bản Giác).

nhân hành quả

Ba thứ nhân, hành, và quả (hạt giống, sự nẩy mầm, và trái)—Cause, action, and effect (seed, germination, and fruit). ; (因行果) Chỉ cho 3 giai đoạn từ nhân đến quả theo thuyết của Mật tông. Đó là: 1. Tâm bồ đề là nhân của nhân. 2. Đại bi là hạnh của căn. 3. Phương tiện là quả rốt ráo. Nhân, hạnh, quả này gồm chung cho tất cả các tông phái Đại, Tiểu, Hiển, Mật. [X. kinh Đại nhật Q.1]. (xt. Tam Cú Giai Đoạn).

nhân hành quả đức

(因行果德) Chỉ cho hạnh tu của nhân vị và công đức của quả vị. Lục độ, Tứ nhiếp... là hạnh tu ở nhân vị; Tứ trí, Tam thân, Thập lực, Tứ vô úy... là công đức ở quả vị. Nhân hạnh và quả đức của chư Phật đều tròn đầy và vô lượng.

nhân hòa

Human harmony.

Nhân Hòa Tự

(仁和寺, Ninna-ji): ngôi chùa tọa lạc tại Sakyō-ku (左京區), Kyōto-shi (京都市), còn được gọi là Ngự Thất Ngự Sở (御室御所), Nhân Hòa Tự Môn Tích (仁和寺門蹟), là ngôi chùa trung tâm Tổng Bản Sơn của Phái Ngự Thất (御室派) thuộc Chơn Ngôn Tông. Vào năm 886 (niên hiệu Nhân Hòa [仁和] thứ 2), Quang Hiếu Thiên Hoàng (孝光天皇, Kōkō Tennō) cho thiết lập ngôi già lam ở phía nam Đại Nội Sơn (大內山), nhưng giữa chừng thì băng ngự; sau đó, kế thừa di chí của phụ thân, Vũ Đa Thiên Hoàng (宇多天皇, Uda Tennō) tiếp tục công trình xây dựng; đến năm 888 (niên hiệu Nhân Hòa thứ 4) thì hoàn thành, cho tôn trí tôn tượng A Di Đà Tam Tôn và lấy tên là Nhân Hòa Tự. Về sau, Vũ Đa Thiên Hoàng nhường ngôi lại cho Đề Hồ Thiên Hoàng (醍醐天皇, Daigo Tennō), rồi theo xuất gia với Ích Tín (益信, Yakushin) và cuối cùng băng ngự tại chùa này. Từ đó trở về sau, từ thời vị Pháp Thân Vương Tánh Tín (性信, Shōshin), cho đến đầu thời Minh Trị (明治, Meiji), chư vị Pháp Thân Vương vẫn tiếp tục hộ trì cho chùa. Các ngôi đường xá của chùa được tạo lập trong khoảng thời gian niên hiệu Khoan Vĩnh (寛永, 1624-1644), bao gồm luôn cả các ngôi điện trong cung nội. Bức A Di Đà Tam Tôn là tượng thuộc loại quốc bảo có dạng thức kiến tạo đương thời. Ngoài ra, chùa còn lưu giữ khá nhiều bảo vật khác như tượng vẽ Khổng Tước Minh Vương (孔雀明王) thuộc thời Nam Tống của Trung Quốc, cũng như các tranh tượng Mật Giáo. Bên cạnh đó, còn có các bản sao cổ như Biệt Tôn Tạp Ký (別尊雜記) 57 quyển—bộ sách thâu tập các tranh tượng do Tâm Giác (心覺, Shinkaku, 1117-1180) soạn, Y Tâm Phương (醫心方, bản chép tay dưới thời Bình An) 5 thiếp—sách y học tối cổ của Nhật Bản do Đơn Ba Khang Lại (丹波康賴, Tamba-no-Yasunori, 912-995) biên, v.v.

Nhân hùng sư tử

xem Nhân trung sư tử.

nhân hùng sư tử

See Nhân Trung Sư Tử in Vietnamese-English Section.

Nhân Hải

(仁海, Ningai, 951-1046): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời đại Bình An, vị trú trì đời thứ 62 của Đông Đại Tự (東大寺, Tōdai-ji), Tự Trưởng đời thứ 26 của Đông Tự (東寺, Tō-ji), vị tổ khai sáng Dòng Tiểu Dã (小野流), húy là Thiên Tâm (千心) và Nhân Hải (仁海), thông xưng là Tiểu Dã Tăng Chánh (小野僧正), Vũ Tăng Chánh (雨僧正), xuất thân vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka ngày nay), con của Cung Đạo Duy Bình (宮道惟平). Năm lên 7 tuổi, ông xuất gia trên Cao Dã Sơn, đến năm 990 thì thọ pháp Quán Đảnh. Năm sau ông kiến lập Mạn Trà La Tự (曼茶羅寺, Mandara-ji) ở vùng Tiểu Dã (小野). Vào năm 1018, ông tu phép cầu mưa ở Thần Tuyền và được hiệu nghiệm; từ đó về sau ông đã tiến hành 9 lần cầu mưa, nên được gọi là Vũ Tăng Đô. Năm 1031, ông làm chức Quyền Đại Tăng Đô và Tự Trưởng của Đông Tự, thanh danh của ông rất lớn nên rất nhiều người theo ông. Đệ tử của ông có một số nhân vật nổi tiếng như Thành Tôn (成尊, Seison), Thành Điển (成典, Seiten), Giác Nguyên (覺源, Kakugen), Chơn Giác (眞覺, Shinkaku), Viên Chiếu (圓照, Enshō). Trước tác của ông để lại có Tiểu Dã Lục Thiếp (小野六帖) 7 quyển, Thỉnh Vũ Kinh Thứ Đệ (請雨經次第) 1 quyển, Kim Cang Phong Tự Kiếp Lập Tu Hành Duyên Khởi (金剛峰寺建立修行緣起) 1 quyển, v.v.

nhân hậu

Kindness.

nhân hữu

Sự hiện hữu của con người—Human bhava or existence.

nhân khâm kiều

(仁欽喬) Dịch cũ: Bảo thắng. Danh tăng Tây tạng, họ Mã, là vị tăng dịch kinh ở thời kì đầu của Phật giáo Tây tạng.Sư là 1 trong 7 vị tăng người Tây tạng đầu tiên được vua Tây tạng là Tán phổ xích tùng đức tán (742-797) cho phép xuất gia khi chùa Tang da được hoàn thành. Vào thời vua Xích tổ đức tán (815- 838), sư cùng với ngài Thắng hữu (Phạm: Jina-mitra), vị tăng người Ấn độ đến Tây tạng hoằng pháp, cùng dịch kinh Đại lượng Phật; vâng sắc chỉ tham dự việc qui định các từ ngữ phiên định và đặt ra thể lệ phiên dịch (thống nhất trong các kinh Phật Tạng dịch).

nhân khâm tang ba

(仁欽桑波) Hán dịch: Bảo hiền. Danh tăng Tây tạng, người ở vùng A lí. Sư xuất gia năm 13 tuổi, từng 3 lần sang Ấn độ, Ca thấp di la cầu pháp. Sư thỉnh các vị tăng Ấn độ đến A lí để cùng dịch các kinh luận Hiển giáo và Mật giáo, trong đó, có 17 bộ kinh, 33 bộ luận Hiển giáo, 108 bộ Đát đặc la Mật giáo. Sư là người đầu tiên trong thời kì hậu truyền dịch, dịch lại các bản mật chú; những dịch phẩm sau thời sư được gọi là Tân mật, vì thế sư được tôn xưng là Lạc khâm(Đại dịch sư). Ngoài ra, sư cũng dịch rất nhiều loại sách thuốc.

Nhân không

人空; C: rénkōng; J: ningū;|Không có một ngã tính hiện hữu riêng biệt, thường hằng; cũng thường được gọi là Ngã không (我空) và Nhân vô ngã (人無我). Trong Phật giáo Đại thừa, điều nầy được nhận thấy trước tiên, nhưng không là một cấp bậc nhìn nhận tính không một cách rốt ráo, mới mức độ kế tiếp là Pháp không (法空). (Theo Phật tính luận 佛性論)

nhân không

Con người chỉ là một phối hợp tạm thời bởi ngũ uẩn, lục đại (đất, nước, lửa, gió, hư không và tâm thức), và 12 nhân duyên, chứ không có thực ngã hay một linh hồn trường tồn—Impersonality—Man is only a temporary combination formed by the five skandhas, the six elements (earth, water, fire, air, space and mind), and the twelve nidanas, being the product of previous cause, and without a real self or permanent soul.

Nhân không quán

人空觀; C: rénkōngguān; J: ningūkan;|Pháp quán sát về không có một ngã tính hiện hữu thường hằng, nhất định; hay là chúng sinh có một ngã tính. Pháp quán nầy là sơ khởi, sâu hơn là pháp quán các pháp không tồn tại trên cở sở tự tính (Pháp không quán 法空觀).

nhân không quán

Quán sát hay thiền quán về những điều kiện giả tạm của con người—To contemplate or meditate on the temporary conditions of man.

nhân kí phẩm

(人記品) Tức là phẩm Thụ học vô học nhân kí thứ 19 trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa. Nội dung phẩm này nói về việc đức Phật thụ kí cho 2.000 vị học và vô học, như các ngài A nan, La hầu la v.v... trong vị lai sẽ thành Phật. Học, chỉ cho những vị chưa dứt hết sạch các phiền não, vẫn còn phải tu học giới định tuệ vô lậu. Còn Vô học thì chỉ cho những bậc đã đoạn trừ tất cả phiền não, chứng được quả A la hán.

nhân kết thứ

Manusa-krtya (skt)—Loại quỷ có hình thù giống như loài người—Demons shaped like men.

nhân la bà na

(堙羅婆那) Phạm: Airàvaịa. Cũng gọi Y la bát na, Y la diệp. Tên con voi mà trời Đế thích thường cỡi. Voi này dài 9 do tuần, cao 3 do tuần, thường ở sườn núi vàng thứ nhất. Cứ theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 21, thì voi chúa này có đầy đủ tất cả công đức của đại long tượng(voi rồng), trời Đế thích thường cõi voi này để đánh đuổi A tu la khi xảy ra chiến tranh. [X. kinh Hoa nghiêm Q.66 (bản 80 quyển); Hoa nghiêm sớ sao Q.43; Câu xá luận quang kí Q.19; Huyền ứng âm nghĩa Q.11, 22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.12, 16].

nhân la na

Airavana (skt)—Ế La Diệp—Nhân Na Bà Na—Y La Bà Nô—Y La Bát Đa La—Y La Bát Na—Y Lan. 1) Vua của loài voi: A king of the elephants. 2) Tên một con voi của vua trời Đế Thích: Indra's white elephants. 3) Tên một loài cỏ: Name of a certain tree or herb. 4) Tên của một vị long vương: Name of a naga.

nhân loại

Humanity.

nhân loại khổ đau và cuồng loạn

Suffering and distracted humanity.

nhân luận sinh luận

(因論生論) Nhờ vào luận mà sinh ra luận nghị. Nghĩa là từ chủ đề luận nghị căn bản mà dần dần triển khai các phần nghị luận phụ thuộc. Có 2 trường hợp dùng Nhân luận sinh luận là: 1. Mở đầu luận mới (chi luận), thì dùng từ ngữ Nhân luận sinh luận. 2. Khi kết thúc mới dùng từ ngữ Nhân luận sinh luận. [X. luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.5; Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu Q.thượng, phần đầu].

nhân lí luận

(因理論) Tác phẩm về Nhân minh của Tây tạng. Nội dung sách này trình bày về những qui luật kiến lập luận thức Nhân minh, là tài liệu giáo khoa cơ bản của việc học tập Nhân minh. Nhưng vì các chùa lớn ở Tây tạng đều có biên chép, ấn hành, nên các bản in phần nhiều không giống nhau.

nhân lúc

Just as—When.

nhân lục bát chuyển

(因六八轉) Từ ngữ gọi chung 3 khoa: Nhân minh, Lục hợp thích và Bát chuyển thanh. Trong 3 khoa trên, Nhân minh là Luận lí học (logique) của Ấn độ; Lục hợp thích là 6 phương thức được sử dụng để giải thích những danh từ phức hợp trong văn pháp tiếng Phạm; Bát chuyển thanh là 8 loại vĩ ngữ biến hóa của danh từ, hình dung từ, đại danh từ, phân từ v.v... Ba khoa này là 3 môn học mà những người nghiên cứu về Ấn độ học phải sử dụng, cho nên các nhân sĩ Phật giáo xưa nay, đặc biệt đặt tên tắt bằng cách ghép chung 3 khoa lại để gọi. (xt. Bát Chuyển Thanh, Lục Hợp Thích, Nhân Minh).

nhân lục nghĩa

(因六義) Gọi đủ: Duyên khởi nhân môn lục nghĩa pháp. Gọi tắt: Nhân môn lục nghĩa. Sáu nghĩa của Nhân trong các pháp duyên khởi. Thuyết này từ căn bản do ngài Trí nghiễm (Tổ thứ 2 của tông Hoa nghiêm) đề xướng, sau đệ tử là ngài Pháp tạng (Tổ thứ 3 của tông Hoa nghiêm) thừa kế, rồi y cứ theo thuyết trong Thập địa kinh luận, trong Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận và Chủng tử lục nghĩa trong luận Nhiếp đại thừa, luận Thành duy thức mà lập ra thuyết Nhân môn lục nghĩa này. Nay đem 6 nghĩa của Nhân trình bày sơ lược như sau: 1. Không hữu lực bất đãi duyên: Vốn là không, nhưng có đầy đủ lực dụng mà không cần đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không (vì không có tự tính nên gọi là không), nhưng có đủ toàn bộ lực dụng để dẫn sinh ra quả mà không cần đợi (tức không cần sự giúp đỡ) lực dụng của duyên. Tương đương với nghĩa Sát na diệt trong 6 nghĩa của chủng tử. 2. Không hữu lực đãi duyên: Không, có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không, tuy có đủ lực dụng sinh ra quả, nhưng còn phải nhờ vào lực dụng của duyên khác mới dẫn sinh ra quả. Tương đương với nghĩa Quả câu hữu trong 6 nghĩa của chủng tử. 3. Không vô lực đãi duyên: Không, không có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là không, không có đủ lực dụng để dẫn sinh ra quả, mà cần phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới có thể dẫn sinh ra quả. Tương đương với nghĩa Đãi chúng duyên trong 6 nghĩa của chủng tử. 4. Hữu hữu lực bất đãi duyên: Có, có lực không đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả (bản thể không thay đổi, nhưng tùy duyên mà hiển hiện ra các pháp, gọi là có giả), có đủ toàn bộ lực dụng dẫn sinh ra quả, mà không cần nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác. Tương đương với nghĩa tính quyết định trong 6 nghĩa của chủng tử. 5. Hữu hữu lực đãi duyên: Có, có sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả, tuy có đủ lực dụng dẫn sinh ra quả, nhưng vẫn phải nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác mới sinh được. Tương đương với nghĩa Dẫn tự quả trong 6 nghĩa của chủng tử. 6. Hữu vô lực đãi duyên: Có, không sức đợi duyên. Tức thể tính của Nhân là có giả, không đủ lực dụng dẫn sinh ra quả, mà cần phải nhờ sự giúp sức của các duyên khác mới sinh được. Tương đương với nghĩa Hằng tùy chuyển trong 6 nghĩa của chủng tử. Nhân lục nghĩa trình bày ở trên có thể được qui nạp vào 3 hình thức sau đây: 1. Nhân hữu lực bất đãi duyên, cũng gọi Nhân sinh: Tức tự thể của Nhân có đầy đủ lực dụng sinh ra quả (nguyên nhân trực tiếp), chứ không cần nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác (nguyên nhân gián tiếp). 2. Nhân vô lực đãi duyên, cũng gọi Duyên sinh: Tức tự thể của Nhân không có lực dụng sinh ra quả, cần phải nhờ sức giúp đỡ của các duyên khác. 3. Nhân hữu lực đãi duyên, cũng gọi Nhân duyên sinh: Tức cần phải có sức đóng góp của cả Nhân lẫn Duyên mới có thể sinh ra quả. Ba hình thức trên hoàn toàn không có nghĩa cá biệt, chỉ có quan điểm khác nhau mà thôi. Kì thực, 3 hình thức này hàm nhiếp toàn thể lẫn nhau; nghĩa là khi Nhân sinh thì nhân ấy hàm nhiếp toàn thể duyên; khi Duyên sinh thì duyên đoạt lấy toàn bộ lực dụng của Nhân, nhưng trong đó cũng có hàm nhiếp nghĩa của Nhân; còn khi Nhân duyên sinh thì Nhân và Duyên đều đầy đủ. Vì tự thể của Nhân không có thực tính, đó là nghĩa Không; vì Nhân đợi duyên mới sinh, đó là nghĩa Có. Do đó mà biết, tự thể của Nhân gồm cả 2 nghĩa Không và Có mà hình thành 6 nghĩa của Nhân. Về luận thuyết được dùng làm chỗ căn cứ của Nhân lục nghĩa thì có 4 thứ thâm quán (quán xét sâu xa)nói trong Thập địa kinh luận quyển 8, đó là: 1. Phi tha tác: Chẳng phải do cái gì khác tạo tác. Vì từ Nhân sinh ra. 2. Phi tự tác: Chẳng phải do mình tạo tác. Vì do duyên sinh ra. 3. Phi nhị tác: Chẳng phải mình và cái gì khác tạo tác. Vì chỉ tùy thuận sinh, vì chẳng ai biết, vì khi tạo tác thì không dừng. 4. Phi vô nhân tác: Chẳng phải không có Nhân tạo tác. Vì tùy thuận nên có. Và luận thuyết trong luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 4 (Đại 31, 712 hạ): Vì tự có chủng tử nên chẳng từ pháp khác; vì đợi các duyên nên chẳng phải tự tạo tác; vì không có tác dụng nên chẳng phải cùng sinh; vì có công năng nên chẳng phải không có nhân. Ngoài ra, còn có thuyết Chủng tử lục nghĩa trong luận Nhiếp đại thừa và luận Thành duy thức. Nhân lục nghĩa của tông Hoa nghiêm sử dụng thuyết Chủng tử lục nghĩa để giải thích tư tưởng Như lai tạng, cho rằng Như lai tạng là Nhân của muôn vật, có 6 nghĩa, từ đó mà thành lập nghĩa Nhất thừa vô tận duyên khởi. Nhân lục nghĩa tuy được căn cứ vào thuyết Chủng tử lục nghĩa mà thành lập, nhưng nghĩa lí của Nhân lục nghĩa lại khác xa với ý thú của Chủng tử lục nghĩa. Vì Chủng tử lục nghĩa nói theo thức A lại da, còn Nhân lục nghĩa thì bàn theo tâm Như lai tạng của Chân như. [X. luận Nhiếp đại thừa Q.2 (bản dịch đời Lương); luận Thành duy thức Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh sưu huyền kí Q.3, hạ; Hoa nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp Q.hạ]. (xt. Chủng Tử Lục Nghĩa).

nhân lực

Đối lại với duyên lực. Đây là nguyên nhân chính sinh ra sự vật—The causal force, as contrasted with environmental or secondary force (duyên lực). ; (因力) Đối lại: Duyên lực. Sức trực tiếp sinh thành muôn vật. Luận Câu xá quyển 2 (Đại 29, 7 hạ) nói: Các căn sinh chẳng phải do hữu dụng, nếu có nhân lực thì dù vô dụng cũng vẫn sinh. Luận Câu xá quyển 17 (Đại 29, 89 trung) nói: Nếu do nhân lực thì người dứt thiện căn sẽ tiếp nối khi sắp chết; nếu do duyên lực thì người đoạn thiện căn sẽ tiếp nối khi sắp sinh ra. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ].

nhân ma sa

See Nhân Mãng Sa.

nhân minh

Hetuvidya (skt)—Tiếng Phạn là Hetuvidya, thuộc về khoa lý luận học, lập ra pháp ba chi (tông, nhân và dụ)—The logically reasoning of a cause—The science of cause or logical reasoning or logic with its syllogistic method of the proposition, the reason, the example. a) Tông: The method of proposition. b) Nhân: The method of reason. c) Dụ The method of example. ** For more information, please see Pháp Tự Tướng Tương Vi Nhân. ; (因明) Phạm: Hetu-vidyà. Hán âm: Hê đô phí đà. Môn Luận lí học (Logic) của Ấn độ, 1 trong Ngũ minh. Nhân (hetu) là căn cứ suy lí, là lí do, nguyên nhân; Minh (vidyà) là hiểu rõ, giải thích rõ những lí do, nguyên nhân được nêu ra để chứng minh cho chủ trương của người lập luận. Khi ta tìm hiểu 1 sự kiện, phải có năng lực suy diễn, tức phải căn cứ vào sự kiện đã biết để so sánh và suy diễn ra sự kiện chưa biết. Nhưng quá trình suy diễn phải có mạch lạc, rõ ràng mới có thể đưa đến kết luận chính xác, đó là nghĩa căn bản của Nhân minh. Người sáng lập ra Nhân minh là Akwapàda Gautama, thủy tổ của phái Chính lí (Phạm: Nyàya), 1 trong 6 phái triết học của Ấn độ. Sự tích về Akwa-pàda đến nay vẫn mờ mịt, chỉ đoán được là ông đã sinh ra khoảng mấy trăm năm trước Tây lịch mà thôi. Đến thời đại đức Phật thì Nhân minh học ở Ấn độ đã rất có hệ thống. Sau khi đức Phật thành đạo, Ngài thường ứng dụng phương pháp luận lí Nhân minh để thuyết pháp, điều này thấy rõ trong các kinh. Nhân minh được lưu truyền trong Phật giáo, gọi là Nội đạo nhân minh; còn Nhân minh do các phái ngoại đạo học tập và nghiên cứu thì gọi là Ngoại đạo nhân minh. Lịch sử của Ngoại đạo nhân minh hiện nay khó tìm hiểu được chính xác, nhưng Nội đạo nhân minh thì tương đối khá rõ ràng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm, ngài Long thụ đã viết luận Phương tiện tâm để giải thích phương pháp Nhân minh. Sau đó 200 năm, ngài Di lặc thuyết bộ luận Du già sư địa gồm 100 quyển, trong đó, quyển thứ 15 bàn về Luận lí học Nhân minh. Về sau, lại có ngài Vô trước soạn luận Hiển dương thánh giáo gồm 20 quyển, trong đó, quyển thứ 10 trình bày phương pháp nghị luận Nhân minh rất rõ ràng. Em ngài Vô trước là ngài Thế thân thì viết các luận như: Luận quĩ, Luận thức, Luận tâm, có thể gọi là tập đại thành những qui tắc luận lí Nhân minh. Sau đức Phật nhập diệt khoảng 1.100 năm, có ngài Trần na tiếp nối nghiên cứu và sửa đổi những chỗ rườm rà, bổ sung những điểm thiếu sót trong luận thức Nhân minh, từ đó Nhân minh được gọi là Tân nhân minh, còn Nhân minh từ ngài Trần na về trước thì gọi là Cổ nhân minh. Ngài Trần na soạn hơn 40 bộ sách nói về Nhân minh, nhưng rất tiếc đến nay chỉ còn lại 1 bộ Nhân minh chính lí môn luận. Đệ tử của Ngài là Thương yết la chủ nhận thấy tác phẩm Nhân minh chính lí môn luận của Thầy mình rất sâu xa khó hiểu, nên soạn bộ Nhân minh nhập chính lí luận để giải thích, các học giả Phật giáo đời sau, khi nghiên cứu Nhân minh, phần nhiều y cứ theo bộ luận này. Về sau, pháp tôn của ngài Trần na là Pháp xứng(đệ tử ngài Hộ pháp ở chùa Na lan đà)cũng soạn 8 tác phẩm về Nhân minh, trong đó, có bộ Thích lượng luận, đã trút bỏ khỏi Nhân minh học sự ràng buộc của thuật biện luận, khiến cho sự kết hợp giữa Luận lí học và Trí thức luận lại càng mật thiết, cơ sở thêm vững chắc .Tại Trung quốc, sau khi ngài Huyền trang từ Ấn độ trở về, những tác phẩm Nhân minh bằng tiếng Phạm lần lượt được dịch ra Hán văn. Về sau, ngài Khuy cơ chú thích bộ Nhân minh nhập chính lí luận của ngài Thương yết la chủ thành bộ Nhân minh nhập chính lí luận sớ mà người đời gọi là Nhân minh đại sớ. Sau, đệ tử của ngài Khuy cơ là Tuệ chiểu cũng soạn các bộ Nhân minh nghĩa đoán, Nhân minh nhập chính lí luận toản yếu... Nối tiếp, có ngài Trí chu soạn Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí và Nhân minh nhập chính lí luận sớ hậu kí để phân tích câu văn và nghĩa lí trong bộ Nhân minh đại sớ. Về sau, lại có các ngài Đạo ấp, Đại hiền... kế tục nhau mở rộng Nhân minh học.Nhưng, từ các đời Nguyên, Minh về sau, vì bộ Nhân minh đại sớ bị thất lạc, nên khoảng vài trăm năm sự truyền lưu Nhân minh rơi vào tình trạng suy vi. Mãi đến cuối đời Thanh, cư sĩ Dương nhân sơn tìm lại được bộ Nhân minh đại sớ tại Nhật bản, đem về khắc in để lưu thông, phong trào học tập, nghiên cứu Nhân minh dần dần được khôi phục. Từ đời Dân quốc đến nay, các học giả danh tiếng như: Lữ trừng, Ngu ngu, Đường đại viên, Chu thúc ca, Pháp phong, Trần đại tề... lần lượt xuất hiện, áp dụng phương pháp Luận lí học Tây phương, trứ thuật, giảng giải Nhân minh, nhờ đó Nhân minh học tiếp tục được lưu truyền. Ở Tây tạng, từ đời Tống, Nguyên trở đi, việc học tập, nghiên cứu Nhân minh rất thịnh, trước sau phiên dịch tất cả 66 bộ luận Nhân minh từ tiếng Phạm ra tiếng Tây tạng. Rất nhiều vị tăng học giả Tây tạng nổi tiếng về Nhân minh và không ít những tác phẩm Nhân minh bằng tiếng Phạm còn được lưu truyền đến ngày nay là nhờ các bản dịch Tây tạng. Tại Nhật bản, năm 653, vị tăng Nhật bản là Đạo chiêu đến Trung quốc, vào cửa ngài Huyền trang học tập Nhân minh. Sau khi về nước, ngài Đạo chiêu trụ ở chùa Nguyên hưng truyền bá Nhân minh học, người đời gọi là Nam tự truyền, hoặc Phi điểu truyền. Về sau, năm 716, vị tăng người Nhật khác là Huyền phưởng cũng đến Trung quốc, theo ngài Trí chu học Nhân minh; sau khi về Nhật bản, trụ ở chùa Hưng phúc hoằng dương Nhân minh, người đời gọi là Bắc tự truyền, hoặc Lạp sơn truyền. Trong hàng môn đệ của 2 phái này, có rất nhiều học giả Nhân minh lỗi lạc xuất hiện, nối tiếp nhau trứtác, khiến cho đến nay việc học tập, nghiên cứu Nhân minh vẫn hưng thịnh. Sự khác nhau giữa Cổ nhân minh – trước ngài Trần na– và Tân nhân minh –từ ngàiTrần na về sau– là ở chỗ kiến lập luận thức. Cổ nhân minh lập luận thức gồm 5 phần, gọilà Ngũ chi tác pháp ......(luận thức do 5 phần cấu tạo thành). Thí dụ: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có ra. 3. Dụ: Ví như cái bình... 4.Hợp: Cái bình là do sự tạo tác mà có, là vô thường; âm thanh cũng do sự tạo tác mà có, nên âm thanh cũng là vô thường. 5. Kết: Vì thế nên biết rằng âm thanh là vô thường. Tông, là chủ trương của người lập luận, chủ trương này không được đối phương thừa nhận, nó là mục tiêu tranh luận của đôi bên. Như vậy, chủ đề tranh luận mà không được đối phương (hay địch luận) chấp nhận, thì người lập luận phải nêu lí do để thuyết phục đối phương, nêu lí do đó tức làNhân, phần thứ 2 của luận thức. Phần nhân này chính là lí do biện hộ cho chủ trương lập Tông. Lập luận trên đây nêu rõ chủ đề của sự tranh biện Âm thanh là vô thường. Muốn thuyết phục để đối phương công nhận, người lập luận viện lí do Vì là do sự tạo tác mà có ra để làm Nhân bênh vực cho chủ trương lập luận của mình. Nghĩa là, nếu đã do sự tạo tác mà có, thì phải là vô thường. Đã nêu lí do để chứng minh rồi, nên trong đoạn thứ 3 là Dụ lại đem ví dụ cho đối phương hiểu rõ thêm: Ví như cái bình v.v.... Cái bình là vật thấy ngay trước mắt, ai cũng biết nó được tạo tác ra, là vô thường, có thể dùng để ví dụ. Phần thứ 4, đem hợp lại: Cái bình là do sự tạo tác mà có ra, là vô thường; âm thanh là do sự tạo tác mà có, nên âm thanh cũng là vô thường. Đây là phần Hợp mà qua 3 đoạn trước, ta cũng có thể đoán ra được rồi. Có sự tổng kết ấy rồi, sự tranh luận đã rõ, nên có thể kết luận, bởi vậy có phần thứ 5 là Kết: Vì thế nên biết rằng âm thanh là vô thường. Luận thức năm phần Tông, Nhân, Dụ, Hợp, Kết trên đây, không những chỉ phức tạp mà sức chứng minh cũng rất yếu ớt. Chẳng hạn như phần Hợp thì chỉ có tác dụng so sánh, suy lí chứ sức chứng minh không đủ mạnh; còn phần Kết thì chỉ lập lại điều đã nói trong phần Tông, chứ không có công dụng gì, nên 2 phần này không cần thiết. Bởi vậy, khi Cổ nhân minh được truyền đến ngài Trần na thì ngài bỏ 2 phần này ra và sửa đổi lại 1 số điểm ở 2 phần Nhân, Dụ mà trở thành Tân nhân minh. Sau những sự cải cách lớn lao như trên, luận thức của Tân nhân minh chỉ còn 3 phần, gọi là Tam chi tác pháp (luận thức do 3 phần cấu tạo thành). Thí dụ: 1. Tông: Âm thanh là vô thường. 2. Nhân: Vì do sự tạo tác mà có ra. 3. Dục: Những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường. Ví như cái bình v.v... Trong luận thức của Tân nhân minh trên đây, ta nhận thấy ngoài sự sửa đổi 5 phần ra 3 phần, còn có 1 sự cải cách rất lớn ở phần thứ 3, là Dụ. Ở Cổ nhân minh, phần Dụ: Ví như cái bình v.v... chẳng qua chỉ là 1 sự chứng minh. Nhưng trong Tân nhân minh, ở phần Dụ còn thêm: Những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường – Những gì ấy là nói về toàn thể những cái đồng phẩm, đồng loại với âm thanh, mà trong đó âm thanh là một. So với luận thức Ngũ chi tác pháp của Cổ nhân minh, thì luận thức Tam chi tác pháp của Tân nhân minh, tuy nói là giản dị, vắn tắt hơn, nhưng cũng là rõ ràng và chính xác hơn nhiều. Đó là điểm đặc sắc trọng đại của Tân nhân minh. Về Năng lập (nền tảng thành lập luận thức) và Sở lập (luận thức được thành lập nên), thì Cổ nhân minh cho rằng 3 phần Tông, Nhân, Dụ đều thuộc về Năng lập, còn Tân nhân minh thì cho 2 phần Nhân, Dụ (yếu tố để thành lập tông) là Năng lập; còn Tông(do Nhân, Dụ thành lập nên) là Sở lập. Trong Tông có 2 phần: Danh từ trước (tiền trần) và danh từ sau (hậu trần). Như âm thanh là danh từ trước, còn vô thường là danh từ sau. Danh từ trước chỉ cho tự tính, vật thể; danh từ sau chỉ cho nghĩa lí, sai biệt. Âm thanh và vô thường được kết hợp lại bằng chữ là thành 1 mệnh đề Âm thanh là vô thường. Mệnh đề này Cổ nhân minh cho là Năng lập, còn những yếu tố (tức âm thanh và vô thường) kết thành mệnh đề này là Sở lập. Theo cách phân chia trên, thì Tông là chủ trương của người lập luận, là chủ thể của sự tranh luận, gọi là Sở lập; còn Nhân, Dụ để biện minh cho Tông, gọi là Năng lập.Trong Cổ nhân minh có 9 cú Nhân, tức là 9 trường hợp của Nhân. Nhân là yếu tố quan trọng để thành lập Tông, phải hội đủ 2 điều kiện mới là Nhân chính xác. Đó là: 1. Quyết định phải có tính cách của đồng phẩm. 2. Tuyệt đối không được có tính cách của dị phẩm. Đồng phẩm nghĩa là đồng loại, tức chỉ cho tất cả những gì có tính cách đồng nhất với Tông. Như cái bình, cái bát v.v... có tính cách giống với âm thanh là vô thường vì bình, bát... cũng được tạo ra, cũng là vô thường. Cho nên có thể gọi bình, bát là đồng phẩm với âm thanh. Dị phẩm nghĩa là khác phẩm loại, tức chỉ cho tất cả những cái có tính cách mâu thuẫn với Tông. Như hư không, không có tính cách vô thường, vì hư không chẳng phải do sự tạo tác mà có như âm thanh, nó là thường có, nên là dị phẩm với âm thanh, cũng gọi là Dị dụ. Như nói theo thí dụ Âm thanh là vô thường, thì trừ âm thanh ra, những sự vật nào có tính cách vô thường, đều là đồng phẩm với âm thanh, còn những sự vật nào không có tính cách vô thường đều là dị phẩm. Ví dụ:Tông: Loài người ai cũng phải chết. Nhân: Vì là động vật vậy. Như thế, trong phần Dụ, con bò là loài động vật, con bò cũng phải chết, thì là đồng phẩm với loài người. Như đã nói ở trên, đồng phẩm tức là đồng loại. Như vậy, đất, đá không là động vật, sẽ không chết, thì là dị phẩm. Tóm lại, Nhân có tính cách đồng phẩm, không có tính cách dị phẩm mới là Nhân đúng. Như ví dụ trên là đúng. Trên đây là nói tổng quát về Cổ nhân minh. Còn Tân nhân minh, tuy không nêu ra 9 trường hợp về Nhân (9 cú nhân), nhưng lại đề ra 3 tướng –ba điều kiện– mà ai cũng thấy là đơn giản và khái quát hơn nhiều. Ba tướng ấy là: 1. Phải hoàn toàn có quan hệ với Tông pháp. 2. Phải quyết định có tính cách của đồng phẩm. 3. Phải tuyệt đối không có tính cách của dị phẩm. Xét ra thì 3 điều kiện (3 tướng) này chỉ là sự tổng hợp của 9 cú nhân trong Cổ nhân minh. Ba điều kiện thì 1 là hoàn toàn do Tân nhân minh sáng tạo ra (điều kiện thứ 1), còn điều kiện thứ 2 là qui định sự quan hệ của Nhân với đồng phẩm, điều kiện thứ 3 là qui định sự quan hệ của Nhân với dị phẩm. Tóm lại, 9 cú nhân trong Cổ nhân minh được đổi thành 2 điều kiện trong Tân nhân minh. Còn điều kiện thứ 1 phải thêm vào vì rất cần thiết, không thể thiếu được. Trong Cổ nhân minh không có sự phân biệt về Dụ thể và Dụ y. Nhưng trong Tân nhân minh thì sự phân biệt ấy rất rõ ràng. Dụ thể là đem tất cả những gì có tính cách của đồng phẩm ra mà ví dụ, còn Dụ y là chỉ nêu ra 1 vài cái trong đồng phẩm để chứng minh. Chẳng hạn, trong câu Tất cả những gì do sự tạo tác mà có ra, đều là vô thường – ví như cái bình..., thì Tất cả những gì do sự tạo tác mà có ra đều là vô thường là Dụ thể (toàn thể của dụ), còn ví như cái bình... là Dụ y (1 vật y nơi toàn thể ấy được đưa ra để chứng minh). Dụ trong Cổ nhân minh chỉ là Dụ y chứ không có Dụ thể, vì chỉ vẻn vẹn ví như cái bình. Những điểm khác nhau giữa Cổ nhân minh và Tân nhân minh còn nhiều, ở đây chỉ nêu ra mấy điểm đại khái thôi, học giả cần phải nghiên cứu môn Nhân minh thật sâu rộng mới hiểu thấu được. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận thuật kí; Nhân minh luận sớ minh đăng sao; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí; Nhân minh khái luận (Thái hư), Nhân minh học (Ngu ngu); Nhân minh đại sớ lê trắc (Trần đại tề); Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Phật gia la tập nghiên cứu (Hoắc thao hối); Thích lượng luận lược giải (Pháp tôn biên tập); Phật giáo luận lí học (Vũ tỉnh Bá thọ); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)].

nhân minh bát môn

(因明八門) Cũng gọi Nhân minh bát nghĩa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Tám nghĩa môn do ngài Thương yết la chủ, Luận sư Tân nhân minh lập ra để thu tóm hết chính lí của Nhân minh. Đó là: Chân năng lập, Tự năng lập, Chân năng phá, Tự năng phá, Chân hiện lượng, Tự hiện lượng, Chân tỉ lượng, Tự tỉ lượng. 1. Chân năng lập (Phạm: Sàdhana): Lập luận đúng. Đây là luận thức đầy đủ, chính xác về mặt lí luận và chứng minh, tức là cả về hình thức và nội dung đều hoàn toàn không có lỗi, có thể đạt đến mục đích ngộ tha, nghĩa là làm cho người khác hiểu. 2. Tự năng lập (Phạm: Sàdhanàbhàsa): Lập luận sai. Đây là luận thức được thành lập 1 cách sai lầm, lí luận không rõ ràng, chứng minh không hợp lí, không làm sáng tỏ được ý nghĩa mình chủ trương, không thể làm cho đối phương tin phục và hiểu được ý mình. 3. Chân năng phá (Phạm: Dùwaịa): Phá luận đúng. Đây là trường hợp mình đả phá chủ trương lập luận của đối phương, làm cho họ thấy rõ được những sai lầm trong luận thức của họ (ngộ tha). 4. Tự năng phá (Phạm: Dùwaịàbhàsa): Phá luận sai. Đây là trường hợp mà luận thức của đối phương vốn đầy đủ và chính xác, nhưng mình lại cho là sai lầm nên muốn phá. Người phá luận trong trường hợp này dù có cố sức vạch lá tìm sâu thì cũng tự chuốc lấy thất bại mà thôi. 5. Chân hiện lượng (Phạm: Pratyakwa): Sự hiểu biết chính xác về hiện lượng. Lượng nghĩa là đo lường, là mực thước cho sự phân biệt đúng và sai của tri thức. Trí óc suy xét, cho cái này đúng, cái kia sai, là lượng. Khi ta dùng ngũ quan mà nhận thức sự vật chung quanh, như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi... thì biết ngay mà không cần suy xét, thì gọi là Hiện lượng. Chân hiện lượng nghĩa là sự nhận biết bằng trực giác 1 cách đúng đắn, chính xác, khi thấy sợi dây thì biết ngay đó là sợi dây. 6. Tự hiện lượng (Phạm: Pratya= kwàbhàsa): Sự nhận thức về hiện lượng 1 cách sai lầm. Nghĩa là sự nhận biết về hiện lượng nhiều khi cũng rất sai lầm, vì đôi khi thấy khói cho là mây, thấy sương bảo là khói, trong lúc vội vàng thấy sợi dây cho ngay đó là con rắn... đó là Tự hiện lượng. 7. Chân tỉ lượng (Phạm: Anumàna): Sự hiểu biết đúng đắn về tỉ lượng. Tỉ lượng là sự hiểu biết bằng suy xét, so đo, tức là tầng trên của Hiện lượng. Hiện lượng chỉ mới là cảm nhận thấy, nghe, như thấy mây nói là mây, thấy khói biết là khói; còn Tỉ lượng là tác dụng phân biệt của tri thức, khói ấy do đâu mà có, mây ấy rồi sẽ ra sao v.v.... Nói cách khác, đó là sự so sánh cái này, cái kia, rồi suy ra một cái lí, một sự thực, một lời giải. Ví như thấy mây đen nổi lên thì biết sẽ có mưa. Đó là Chân tỉ lượng, nghĩa là Tỉ lượng chính xác. 8. Tự tỉ lượng (Phạm: Anumànàbhàsa): Sự hiểu biết sai lầm về tỉ lượng. Trong trường hợp phân biệt và suy đoán sai lầm thì gọi là Tự tỉ lượng. Chẳng hạn, từ xa thấy sương mù cho là khói, rồi bảo rằng ở đó có lửa. Đó là Tự tỉ lượng, nghĩa là tựa hồ như đúng, nhưng kì thực là sai. Trong 8 nghĩa môn trên, Chân năng lập, Chân năng phá, Chân hiện lượng, Chân tỉ lượng, được gọi là Tứ chân; còn Tự năng lập, Tự năng phá, Tự hiện lượng, Tự tỉ lượng thì gọi là Tứ tự. Mục đích của Nhân minh là khơi mở chính trí, lĩnh ngộ chân lí. Tứ tự tuy không thể làm phát sinh chân trí, nhưng Tự năng lập và Tự năng phá là muốn nhằm vào cái sở lập hoặc sở phá để làm cho người khác hiểu(ngộ tha); còn Tự hiện lượng và Tự tỉ lượng thì cũng muốn làm cho chính mình nhận thức được chân lí. Nếu đứng về phương diện công dụng mà nhận xét, thì Tứ tự khác với Tứ chân; nhưng, nếu đứng trên quan điểm mục đích mà nói, thì Tứ tự và Tứ chân giống nhau, bởi thế, Nhân minh vẫn xếp Tứ tự vào 2 môn Ngộ tha và Tự ngộ. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần đầu; Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu; Nhân minh nhập chính lí luận sớ tiền kí Q.thượng, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.1; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề); Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Bát Môn Lưỡng Ích, Nhân Minh).

nhân minh chánh lý môn luận

Nyaya-dvaratarka-sastra (skt)—Bộ luận về lý luận học được Ngài Trần Na biên soạn và ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hoa Ngữ vào thời nhà Đường—A treatise composed by Dignaga, translated into Chinese by I-Ching during the T'ang dynasty.

nhân minh chính lí môn luận

(因明正理門論) Cũng gọi Chính lí môn luận, Lí môn luận.Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trần na, người Ấn độ soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Luận này có bản dịch khác là Nhân minh chính lí môn luận bản do ngài Huyền trang dịch, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 32. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].

nhân minh chính lí môn luận bản

(因明正理門論本) Phạm: Nyàya-dvàra-tarka-zàstra. Cũng gọi Chính lí môn luận bản. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Trần na, người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung luận này giải thích rõ về những qui tắc của luận lí Nhân minh. Vì muốn phá những kiến chấp mê lầm của ngoại đạo và nêu tỏ chính lí của Phật pháp, nên ngài Trần na đã dựa vào thuyết của bồ tát Di lặc trong luận Du già sư địa và Cổ nhân minh của ngài Thế thân, lập ra các thuyết Chân năng lập, Chân năng phá... để giải thích rõ thực nghĩa của các pháp, mở ra 1 kỉ nguyên mới cho nền Luận lí học của Ấn độ. Đây là tác phẩm xưa nhất về Tân nhân minh được dịch ra chữ Hán hiện còn. Bản dịch khác của luận này là: Nhân minh chính lí môn luận, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Cảnh vân thứ 2 (711) đời Đường. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8, 9; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].

nhân minh danh nghĩa tập

(因明名義集) Tác phẩm về Nhân minh của Tây tạng được thu vào Long đa Lạt ma toàn tập. Nội dung sách này gồm 2 phần: 1. Phần do ngài Trọng khâm a vượng đạt kiệt soạn: Lược thuật về sự truyền bá các tác phẩm Nhân minh ở Tây tạng, về các tác phẩm tiêu biểu của các học giả Tây tạng góp phần vào việc phát triển Nhân minh, về các luận chứng của các loại luận thức và về những qui tắc kiến lập luận thức. 2. Phần do ngài A vượng lạc tang soạn: Trình bày 1 cách khái quát về tính chất, công dụng, đặc trưng của các loại nhận thức. Đặc điểm của bộ sách này là sưu tập đầy đủ, chú thích giản đơn những danh từ thường thấy trong Nhân minh.

Nhân Minh Học

(因明學, Immyōgaku): tên gọi của một trong 5 học vấn gồm Nhân Minh (因明), Thanh Minh (聲明), Công Xảo Minh (工巧明), Y Phương Minh (醫方明) và Nội Minh (內明). Nếu xét từ ý nghĩa của chữ, Nhân Minh (hetu-vidyā, 因明) có nghĩa là học vấn về lý do (nhân) trong suy lý, suy luận, nhưng về cơ bản thì nó là học vấn nhằm khảo sát kỹ thuật cũng như quy tắc của nghị luận. Các bậc vương hầu Ấn Độ từ ngày xưa đã từng tạo ra những cuộc luận tranh giữa các tôn giáovà các triết học ngay trước mặt họ, rồi tìm ra điểm hay dở của chúng và bên nào giành được thắng lợi thì sẽ được viện trợ hậu hỷ về mặt tài chính. Từ phong tục này, Nhân Minh đã trở thành một loại vấn đề mang tính sống còn, nên nó được nghiên cứu rất thấu đáo. Trần Na (s: Dignāga, Dinnāga, t: Phyogs-kyi glaṅ-po, 陳那), nhân vật xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 5 hay 6 Tây Lịch, đã kết hợp tiêu điểm luận cứu trong chính cái suy lý, suy luận để làm sáng tỏ hình thứcđúng hay không đúng của nhân, và xác lập nên học vấn hơn hẳn cả luận lý học thông thường. Chính vì lẽ đó, Nhân Minh trước thời Trần Na được gọi là Cổ Nhân Minh, còn Nhân Minh trở về sau là Tân Nhân Minh. Tân Nhân Minh này đã từng luận tranh với học phái Nyāya và nhờ có Pháp Xưng (s: Dharmakīrti, 法稱, khoảng thế kỷ thứ 7) mà hình thành nên hệ thống giáo học rất tinh xảo. Tuy nhiên, tác phẩm Hán dịch đáng chú mục là sách cương yếu Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận (因明入正理論) của Thương Yết La Chủ (s: Śaṃkrasvāmin, 商羯羅主) nhân vật sống cùng khoảng thời kỳ và cũng là môn nhân của Trần Na. Sau đó có bộ sách chú thích rất lớn về tác phẩm này cũng được viết nên là Nhân Minh Đại Sớ (因明大疏). Ở Nhật Bản, nếu nói về nghiên cứu Nhân Minh thì người ta chỉ tập trung nghiên cứu bộ này mà thôi. Khởi đầu là Thiện Châu (善珠, Zenshu, 723-797) ở Thu Tiểu Tự (秋篠寺) dưới thời Nại Lương, các học giả Nhân Minh đã xuất hiện liên tục, đặc biệt trong Pháp Tướng Tông truyền thống nghiên cứu về Nhân Minh này rất được xem trọng.

nhân minh luận

Hetuvidya-sastra (skt)—Một trong Ngũ Minh Luận, lý luận về bản chất của sự thật và sự sai lầm—One of the Pancavidya-sastra, a treatise explaining causality, or the nature of truth and error.

nhân minh luận sớ minh đăng sao

(因明論疏明燈抄) Cũng gọi Nhân minh nhập chính lí luận sớ minh đăng sao, Nhân minh minh đăng sao.Gọi tắt: Minh đăng sao. Tác phẩm, 12 quyển, do ngài Thiện châu (724-797) người Nhật bản soạn, được thu vào Đại chính tạng tập 68. Đây là tác phẩm về Nhân minh học nổi tiếng nhất tại Nhật bản, có ảnh hưởng rất sâu đối với việc phát triển Nhân minh học ở xứ Phù tang. Về sau, các tác phẩm Nhân minh đại sớ sao, 3 quyển, của ngài Minh thuyên (789- 868) và Nhân minh tứ chủng tương vi lược tư kí, 2 quyển, của ngài Chân hưng (934- 1004) đều có trích dẫn sách này.

nhân minh luận sớ thuỵ nguyên kí

(因明論疏瑞源記) Cũng gọi Nhân minh nhập chính lí luận sớ thụy nguyên kí. Tác phẩm, 8 quyển, do ngài Phượng đàm (1654-1736) thuộc tông Hoa nghiêm Nhật bản soạn. Đây là sách chú thích bộ Nhân minh đại sớ của ngài Từ ân Khuy cơ, trong sách thu chép rất nhiều tư liệu mà hiện nay hiếm thấy. Sách này rất có giá trị tham khảo đối với việc nghiên cứu Nhân minh. Có điều đáng tiếc là sách đã truyền lầm phần nguyên văn liên quan đến chú thích, nên hơn 200 năm nay đã bị chỉ trích khá nhiều.

nhân minh luận toản yếu

(因明論纂要) Cũng gọi Nhân minh luận nghĩa toản yếu, Nhân minh toản yếu. Gọi đủ: Nhân minh nhập chính lí luận nghĩa toản yếu. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tuệ chiểu soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Nội dung sách này chú thích bộ luận Nhân minh nhập chính lí do ngài Huyền trang dịch.

nhân minh nhập chánh lý luận

Nyaya-pravesa (skt)—Thuyết minh về lý luận (chân năng lập, chân năng phá, chân hiện lượng, chân tỷ lượng, tự năng lập, tự năng phá, tự hiện lượng, tự tỷ lượng) do đệ tử của Trần Na là Thương Yết La soạn, Trần Huyền Trang đời Đường dịch sang Hoa Ngữ, một quyển bao gồm những lời bình—A treatise on logic composed by Sankarasvamin, follower of Dignaga, translated into Chinese by Hsuan-Tsang in one book, on which there are numerous commentaries and works.

nhân minh nhập chính lí luận

(因明入正理論) Phạm: Nyàya-praveza. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Thương yết la chủ, người Ấn độ soạn, ngài Huyền trang dịch vào năm Trinh quán 21 (647) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Tác giả Thương yết la chủ là đệ tử của Luận sư Tân nhân minh Trần na, vì bộ luận Nhân minh chính lí môn của thầy quá sâu xa khó hiểu, nên ngài Thương yết la chủ mới tóm lược yếu chỉ rồi thêm vào phần luận thuyết của mình soạn mà thành bộ sách này, để làm nền tảng cho lớp hậu học bước vào chính lí của Nhân minh. Nội dung tác phẩm này trình bày về nghĩa của 8 môn: Chân năng lập, Chân năng phá, Tự năng lập, Tự năng phá, Chân hiện lượng, Tự hiện lượng, Chân tỉ lượng, Tự tỉ lượng. Trong đó, Chân năng lập và Tự năng lập là phần chủ yếu của luận này, được trình bày rất chi tiết, rõ ràng; còn 6 môn kia thì chỉ nói sơ lược mà thôi. Chân năng lập chuyên nói về 3 chi: Tông (mệnh đề), Nhân (lí do) và Dụ (thí dụ), còn Tự năng lập thì nêu ra 33 lỗi (9 lỗi về Tông, 14 lỗi về Nhân và 18 lỗi về Dụ) của Nhân minh. Chỗ khác nhau giữa luận này và luận Nhân minh chính lí môn (gọi tắt: Luận chính lí môn) là: Ngoài việc bỏ bớt 9 cú nhân (9 trường hợp về Nhân)trong luận Chính lí môn để thay vào đó bằng 3 tướng nhân (ba điều kiện về Nhân) ra, ngài Thương yết la chủ còn dành quá nửa tác phẩm của mình để giải thích tỉ mỉ, rõ ràng về 33 lỗi của 3 chi Nhân minh. Cũng vì những điểm then chốt, cốt tủy trong bộ luận này được tác giả trình bày 1 cách sáng sủa, ngắn gọn, cho nên từ xưa đến nay được người đời học tập, nghiên cứu rộng rãi hơn bộ luận Chính lí môn. Tại Ấn độ, từ thế kỉ IX về sau, tín đồ Kì na giáo từng chú thích luận này. Còn ở Trung quốc, sau khi được Đại sư Huyền trang dịch sang Hán văn, thì các ngài Trần thái, Tĩnh mại, Khuy cơ... cũng lần lượt soạn sách chú thích, trong đó, đặc biệt bộ Nhân minh nhập chính lí luận sớ của ngài Khuy cơ là bản chú giải chi tiết rõ ràng hơn cả, đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc nghiên cứu Nhân minh học tại Trung quốc và Nhật bản. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].

nhân minh nhập chính lí luận sớ

(因明入正理論疏) Cũng gọi Nhân minh đại sớ. Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Khuy cơ soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 44. Nội dung sách này chia làm 4 môn: Trình bày lí do soạn luận, Giải thích đề mục, Nêu rõ những điểm khó khăn và Giải thích chính văn. Từ xưa đến nay bộ sách giá trị này được lưu hành tại Trung quốc, Nhật bản và được các nhà nghiên cứu Nhân minh xem là kim chỉ nam.

Nhân Minh Thiên Hoàng

(仁明天皇, Nimmyō Tennō, tại vị 833-850): vị Thiên Hoàng trị vì đầu thời Bình An, Hoàng Tử thứ 2 của Tha Nga Thiên Hoàng (嵯峨天皇, Saga Tennō), tên là Chánh Lương (正良, Masara), còn gọi là Thâm Thảo Đế (深草帝).

nhân minh thất luận

(因明七論) Cũng gọi Thất bộ lượng lí luận. Tác phẩm, do ngài Pháp xứng, người Nam Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ VI, VII, bản Tạng dịch được thu vào Đan châu nhỉ trong Đại tạng kinh Tây tạng. Ngài Pháp xứng –đệ tử bồ tát Trần na– soạn bộ luận này nhằm mục đích phát huy nền Luận lí học của Thầy mình. Nội dung bao gồm 7 luận: Thích lượng luận, Định lượng luận, Chính lí trích luận, Nhân trích luận, Quán tương thuộc luận, Thành tha tương tục luận và Tránh chính lí luận. Ba luận trước nói về thể chế của Nhân minh, còn 4 luận sau thì trình bày về những bộ phận tổ chức thành Nhân minh.

nhân minh thất luận nhập môn

(因明七論入門) Cũng gọi Nhân minh thất luận nhập môn trừ ám luận. Tác phẩm, do ngài Tông khách ba, Tổ khai sáng phái Hoàng giáo thuộc Lạt ma giáo Tây tạng soạn. Sách này trình bày 1 cách khái quát về nội dung của bộ Nhân minh thất luận, vì thế nên cũng gọi là Nhân minh khái luận. Trong sách nói rõ về tính chất, sai biệt và công dụng của ngoại cảnh và nội tâm.

nhân minh thất luận trừ ám trang nghiêm chú

(因明七論除暗莊嚴注) Tác phẩm về Nhân minh của Phật giáo Tây tạng do ngài Khắc chủ kiệt cách lôi bối tang soạn. Sách này dùng hình thức biện luận để trình bày về nội dung của Thích lượng luận, là 1 trong những tác phẩm nổi tiếng về Nhân minh học, cho nên được phái Cách lỗ của Tây tạng dùng làm sách nhập môn cho việc học tập và nghiên cứu Nhân minh.

nhân mãng sa

Da thịt—Human mamsa or flesh.

nhân mạch hội

(因脉會) Chỉ cho pháp hội, trong đó Nhân duyên huyết mạch được trao truyền cho những tín đồ đã thụ Tam qui ngũ giới. Nhân mạch, nói đầy đủ là Nhân duyên huyết mạch, chỉ cho phổ hệ truyền thừa giới pháp. Tại Nhật bản, pháp hội này thường được cử hành từ 1 đến 3 ngày. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Tào động tông hành trì quĩ phạm Q.2].

nhân mạn đà la

Mạn Đà La của Thai tạng giới, về phía đông; đối lại với Kim Cang Tạng Mạn Đà La, về phía tây trong Mạn Đà La—The Garbhadhatu mandala, which is east; in contrast with Vajradhatu mandala, which is west (quả mạn đà la). ; (因曼陀羅) Cũng gọi Lí mạn đồ la, Đông mạn đồ la. Tức chỉ cho Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Thai tạng giới là pháp môn hiển bày lí đức sẵn có của chúng sinh, thuộc về Nhân; còn Mạn đồ la Kim cương giới là pháp môn hiển bày trí đức tu được, thuộc về quả. Vì thế, Mạn đồ la Thai tạng giới gọi là Nhân và Mạn đồ la Kim cương giới gọi là Quả. Khi lí và trí so sánh với nhau thì lí là nhân, trí là quả. (xt. Thai Tạng Giới Mạn Đồ La).

nhân mệnh bất đình

(人命不停) Sinh mệnh của con người thay đổi không dừng, thường phải chăm chú quán xét, lìa bỏ các tâm xấu ác. Kinh Đại niết bàn quyển 23 (Đại 12, 498 hạ) nói: Mệnh người chẳng dừng, còn hơn thác nước, hôm nay tuy còn, ngày mai khó giữ, há lại buông lung, chạy theo pháp ác?.

nhân nghiệp

Sự hoạt động của nhân—Sự hoạt động phối hợp trực tiếp hay gián tiếp của nhân chính hay nhân phụ (nhân tức là lực đích thân sinh ra quả, nghiệp là sở tác trợ duyên sinh quả; hai thứ nầy hòa hợp với nhau mà sanh ra vạn pháp)—The work or operation of causes—The co-operation of direct and indirect causes, of primary and environmental causes. ; (因業) Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả; còn Nghiệp tức nghiệp lực, là duyên bên ngoài giúp thêm sức cho Nhân sinh ra quả. Nghĩa của Nhân nghiệp tương đương với nghĩa của Nhân duyên, cả 2 đều có công năng dẫn sinh ra kết quả của các pháp. Theo kinh Đại nhật quyển 2, hết thảy các pháp đều từ Nhân nghiệp dấy sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.19].

nhân nghĩa

Love and righteousness—Charity and justice.

nhân nguyên

Cause—Cause and origin.

Nhân ngã

人我; C: rénwǒ; J: ninga;|1. Quan niệm (sai lầm về) bản ngã, nghĩa là quan niệm có một cá nhân hiện hữu, một bản ngã tồn tại riêng biệt; 2. Theo triết học của phái Số luận (s: sāṃkhya), đó là ý niệm về một linh hồn (phi vật chất).

nhân ngã

Personality—The human soul.

Nhân ngã chấp

人我執; C: rénwǒzhí; J: ningashū;|Tin rằng có sự hiện hữu của một bản ngã, hay của cá nhân, còn gọi là Nhân ngã kiến (人我見). Đây là một kiến chấp rất nặng, nhưng cũng còn được xem là ít vi tế hơn Pháp ngã chấp (法我執).

Nhân ngã kiến

人我見; C: rénwǒjiàn; J: ningaken;|Có hai nghĩa sau: 1. Quan niệm cố chấp có một bản ngã hiện hữu riêng biệt, đó là một kiến chấp sai lầm. Thường sánh đôi với từ Pháp ngã kiến (法我見), kiến chấp sai lầm vi tế hơn về các pháp; 2. Chấp vào cảm nhận chủ quan.

nhân ngã kiến

Tà kiến cho rằng có một cái ngã độc lập và thường hằng—The eroneous (false) view that there is an independent and permanent human personality or soul (that every man has a permanent lord within).

nhân ngã pháp ngã

(人我法我) Gọi đủ: Nhân ngã chấp pháp ngã chấp. Cũng gọi Nhân pháp nhị ngã, Sinh ngã Pháp ngã. Đồng nghĩa: Ngã chấp pháp chấp. Chấp trước thực có cái ta là Nhân ngã; chấp trước thực có các pháp là Pháp ngã. Nhân ngã là quả của pháp ngã; Nhị thừa chỉ dứt quả của nhân ngã, còn Bồ tát thì đoạn trừ cả nhân của pháp ngã. Nói cách khác, Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) đã dứt được chấp ngã, nhưng vẫn còn chấp pháp; Bồ tát thì đoạn trừ cả chấp ngã và chấp pháp. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Ngã kiến có 2 thứ là Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến: a) Nhân ngã kiến: Phàm phu chấp trước nhân ngã, hiểu lầm pháp thân của Như lai. b) Pháp ngã kiến: Nhị thừa tuy chứng nhân vô ngã, nhưng vẫn còn thấy pháp 5 uẩn(sắc thụ tưởng hành thức)sinh diệt, sợ hãi sinh tử, ưa thích Niết bàn. Ngoài ra, Nhân ngã là nói theo dịch cũ, chỉ giới hạn ở cõi người; còn Sinh ngã là nói theo dịch mới, bao gồm cả chúng sinh ở các cõi khác. [X. luận Tam vô tính Q.hạ; Nhiếp đại thừa luận thích Q.10 (bản dịch đời Lương); Thành duy thức luận thuật kí Q.1, phần đầu]. (xt. Nhị Chấp).

nhân nhân

Những đệ tử Phật chưa đạt được Phật quả mà vẫn còn tạo nghiệp và lăn trôi trong luân hồi sanh tử—Followers of Buddha who have not yet attained Buddhahood, but are still producers of karma and reincarnation. ; (人因) Nhân quá khứ của các quả báo về dung nhan, tư tưởng, hành vi, yểu thọ, nghèo giầu... của con người ở đời này. Theo Thích thị yếu lãm quyển hạ, con người sinh trong cuộc đời nhận chịu những quả báo khác nhau như giầu sang, nghèo hèn, xinh đẹp, xấu xí, yên vui, lo sợ v.v... đều do nghiệp nhân bất đồng mà ra. Như người sinh ra chịu thân phận thấp hèn là vì gây nhân kiêu căng, tự đại, khinh miệt người khác, hành động ngông cuồng, chẳng lễ kính Tam bảo. Nếu chí thành không lừa dối, tụng kinh giữ giới, khuyên người lánh ác làm thiện, không tìm lỗi của người, thì hơi miệng thơm sạch, thân tâm yên vui, được mọi người khen ngợi, quí mến... [X. kinh Nghiệp báo sai biệt]. ; (因人) Đối lại: Quả nhân. Từ gọi chung những người còn ở giai vị tu nhân, chưa đến quả Phật. (xt. Nhân Vị).

nhân nhân bổn cụ

Mọi người đều có Phật tánh—Every man has by origin the perfect Buddha-nature.

nhân nhân trọng pháp

(因人重法) Do người mà giáo pháp nói ra được tôn trọng. Nghĩa là người thuyết pháp mà sự học vấn, hiểu biết, thực hành, chứng ngộ càng sâu, địa vị càng cao, thì giáo pháp do người ấy nói ra càng có giá trị, càng được người đời tôn trọng. Bởi thế, trong các sách của Phật giáo phần nhiều có đề tên tác giả, đó là vì muốn cho giáo pháp được trình bày trong sách được người đời tôn trọng kính tin.[X. Vãng sinh luận chú Q.thượng].

Nhân nhượng

仁讓; C: rénràng; J: ninjō;|Nhân đức, lòng khoan dung.

nhân nhượng

To make concessions.

nhân năng biến

Sự tự chuyển biến từ nhân sang quả—A cause that is also an effect—The power in a cause to transform itself into an effect. ; (因能變) Phạm: Hetu-pariịàma. Cũng gọi Nhân biến. Đối lại: Quả năng biến. Chủng tử(hạt giống)trong thức A lại da thứ 8 chuyển biến hiện khởi ra các pháp, gọi là Nhân năng biến. Rồi 8 thức do chủng tử sinh khởi, mỗi thức lại có năng lực từ tự thể của mình biến hiện ra 2 phần là Kiến phần và Tướng phần, gọi là Quả năng biến. Biến của Nhân năng biến là nghĩa chuyển biến, sinh biến; còn Biến của Quả năng biến thì là nghĩa biến hiện, duyên biến. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, Nhân năng biến là chỉ cho tập khí của 2 nhân Đẳng lưu và Dị thục trong thức thứ 8, có năng lực chuyển biến sinh thành các pháp, vì thế gọi là Nhân năng biến. Đó là: 1. Đẳng lưu tập khí, cũng gọi Danh ngôn chủng tử. Tức chủng tử thân nhân duyên sinh ra các pháp, là tập khí do 3 tính thiện, ác và vô kí huân tập trong 7 thức trước mà thành. Vì tập khí này có thể dẫn sinh ra quả cùng loại với tự tính nên gọi là Đẳng lưu tập khí. Như nhân thiện dẫn sinh quả thiện, nhân ác sinh ra quả ác, đều do tác dụng năng biến của Đẳng lưu tập khí. 2. Dị thục tập khí, cũng gọi Nghiệp chủng tử. Tức chủng tử sơ nhân duyên sinh ra pháp. Loại chủng tử này do 2 nghiệp thiện và ác hữu lậu trong 6 thức huân tập sinh trưởng, có khả năng giúp đỡ để sinh ra quả không thiện không ác(vô kí), khác với thiện, ác của tự tính, vì thế gọi là Dị thục tập khí. Trên đây là nói theo tâm hữu lậu, còn nếu nói theo chủng tử vô lậu thì Thành duy thức luận thuật kí quyển 4 cho rằng, chủng tử và hiện hành của thức thứ 6 và thức thứ 7 chỉ có nhân quả Đẳng lưu, chứ không có nhân quả Dị thục. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần cuối; Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng Q.3].

nhân nội nhị minh

Nhân Minh và Nội Minh—Reason and authority—See Ngũ Minh.

Nhân phi nhân

人非人; C: rénfēirén; J: ninhinin;|»Người mà cũng không phải người.« Có hai nghĩa: 1. Một từ đề cập tổng quát đến tám loại quỷ thần; 2. Đặc biệt đề cập đến loài Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara).

nhân phi nhân

Kinnara—Một chúng sanh giống như con người, Một loại chúng sanh có dáng vẻ như người nhưng lại có các bộ phận trong cơ thể của loài thú, một nhạc sĩ huyền thoại của cõi trời, có đầu ngựa với một sừng, và thân hình giống như hình người. Con nam thì ca còn con nữ thì múa—Non-Human Angels—A being resembling but not a human being. A being having the appearance of humans but possessing parts of animals. A kind of mythical celestial musician. It has a horse-like head with one horn, and a body like that of human. The males sing and the females dance. ; (人非人) I. Nhân Phi Nhân. Từ gọi chung Nhân và Phi nhân (người và chẳng phải người). Phi nhân gồm: Thiên long bát bộ, Dạ xoa, các ác quỉ vương. II. Nhân Phi Nhân. Cũng gọi Khẩn nại la, Khẩn đà la, Chân đà la, Khẩn nại lạc, Nghi thần, Ca thần. Tên khác của thần Khẩn na la (Phạm: Kiônara), vị thần âm nhạc trong Thiên long bát bộ. Hình dáng vị thần này giống như người, nhưng thực ra không phải người, vì thế nên gọi là Nhân phi nhân (người chẳng phải người). Tuy không phải là người nhưng khi đến lễ đức Phật, họ đều hiện thân hình người. [X. Pháp hoa huyền tán Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.3]. (xt. Khẩn Na La).

nhân phong xuy hoả

(因風吹火) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tùy theo chiều gió mà thổi lửa, ví dụ khi tiếp hóa người học, phải nên xem căn cơ của họ để ứng dụng những phương pháp thích hợp trong việc chỉ dạy. Tắc 26, Bích nham lục (Đại 48, 167 trung) nói: Hỏi một đáp mười, nêu một rõ ba, thấy thỏ thả chim ưng, nhân gió thổi lửa (nhân phong xuy hỏa).

nhân pháp

(A) Con người và vạn hữu: Men and things. (B) Con người và Phật pháp hay giáo pháp của Phật: Men and the Buddha's law or Buddha's teaching. ; (人法) Từ gọi chung người và pháp. 1. Nhân Pháp. - Nhân: Người nói pháp hoặc người nghe pháp. - Pháp: Giáo pháp được nói ra hay được học tập. II. Nhân Pháp. - Nhân: Có tác dụng của tâm. - Pháp: Không có tác dụng của tâm. Chẳng hạn như: Chúng sinh nhờ nhân duyên hòa hợp mà được thành lập, đó là Nhân(người); còn 5 uẩn là những yếu tố cấu tạo thành chúng sinh, đó là Pháp.

nhân pháp nhị không

(人法二空) Cũng gọi Ngã pháp nhị không, Sinh pháp nhị không. Từ gọi chung Nhân không và Pháp không. - Nhân không: Chẳng chấp nhân ngã, vì thân người là do 5 uẩn giả hòa hợp, không có ngã thể làm chủ tể thường nhất. Quán xét về chân lí này gọi là Nhân không quán. - Pháp không: Chẳng chấp pháp ngã, vì các pháp sắc, thụ, tưởng... cũng qui về không, không có thực tính. Tiểu thừa chủ trương pháp là có thực, cho nên chỉ lập Ngã không; còn luận Thành thực thì cho rằng các pháp 5 uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)cũng là không, cho nên gọi chung là Nhị không (Nhân không và Pháp không). Cứ theo Trung luận sớ quyển 18 của ngài Cát tạng, thì Nhân pháp nhị không có Tiểu thừa và Đại thừa khác nhau: - Không của Tiểu thừa là Tích không, Giới nội không, Đãn không. - Không của Đại thừa là Tính không, Bất đãn không, Bất khả đắc không. Ngoài ra, theo Hoa nghiêm kinh khổng mục chương quyển 3 của ngài Trí nghiễm, thì Nhân không của Tiểu thừa Thông giáo chưa thanh tịnh, đến Tam thừa mới thanh tịnh; Pháp không ở Tam thừa chưa thanh tịnh, đến Nhất thừa mới hoàn toàn thanh tịnh.[X. luận Thành duy thức Q.1; phẩm Quán tà kiến trong Trung luận Q.4; Đại thừa nghĩa chương Q.1; Hoa nghiêm sớ sao huyền đàm Q.4; Bát nhã tâm kinh lược sớ liên châu kí Q.hạ]. (xt. Ngã Không).

nhân pháp vô ngã

Pudgaladharma (skt)—Sự vô ngã hay không có linh hồn cá nhân lẫn các sự vật bên ngoài—The egolessness of both the individual soul and external objects.

nhân phần

Nhân phần đối lại với quả phần—Cause as contrasted with effect.

nhân phần khả thuyết

(因分可說) Đối lại: Quả phần bất khả thuyết. Cảnh giới duyên khởi của bồ tát Phổ hiền là phần hạn mà người tu hành ở nhân vị có thể hiểu biết được, có thể bàn nói được, gọi là Nhân phần khả thuyết. Trái lại, biển tính mà đức Phật chứng ngộ được là cảnh giới tự nội chứng của chư Phật, không thể nói bàn được, gọi là Quả phần bất khả thuyết. Nhưng Quả phần bất khả thuyết này tùy theo cơ duyên của những người tu hành ở nhân vị mà có thể nói được 1 phần nào, đó chính là Nhân phần khả thuyết vậy. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.12; Thập địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. (xt. Bất Khả Thuyết, Nhân Phần Quả Phần).

nhân phần khả thuyết, quả phần bất khả thuyết

Nhân phần đưa đến quả vị Phật của Phật có giảng thuyết được, nhưng tính hải mà Phật chứng ngộ là pháp của Phật tự biết, chẳng thể dùng ngôn từ mà diễn đạt—The causes that give rise to the Buddha's Buddhahood may be stated, that is, such part as is humanly manifested; but the full result is beyond description.

nhân phần quả phần

(因分果分) Cũng gọi Nhân phần khả thuyết, Quả phần bất khả thuyết; Duyên khởi nhân phần, Tính hải quả phần. Phần hạn của nhân và phần hạn của quả. Thuyết này có xuất xứ từ Thập địa kinh luận. Cứ theo Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, Quả phần là cảnh giới nội chứng của chư Phật, chỉ có thể thân chứng chứ không thể nói bàn, nên gọi là Bất khả thuyết. Còn Nhân phần là giáo pháp ứng theo cơ duyên mà được nói ra, là phần hạn mà người tu hành ở nhân vị có thể hiểu rõ, cho nên gọi là Khả thuyết. Còn Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 10 nêu ra 4 thuyết về Nhân phần và Quả phần như sau: 1. Nhân phần là giáo năng thuyên (giải thích rõ), Quả phần là nghĩa sở thuyên (được giải thích rõ). 2. Nhân phần là nhân hạnh của Bồ tát trước Thập địa, Quả phần là trí chứng của Bồ tát Thập trụ. 3. Thập địa có Tiệm tăng môn và Viên mãn thời môn. Nhân phần là Tiệm tăng môn, có giới hạn nên có thể diễn đạt được. Còn Viên mãn thời môn vì không có giới hạn nên không thể nói bàn được. 4. Nhân phần là chỉ cho người nghe pháp môn Thập địa, rồi trên bình diện ý thức, hiển bày được nghĩa tương tự. Còn Quả phần là sự chứng nhập chính hạnh của Thập địa, dứt bặt mọi ngôn ngữ, tư duy. Nhưng ngài Pháp tạng cho 4 thuyết trên là không khế lí và giải thích Nhân phần, Quả phần bằng 2 nghĩa như sau: 1. Thập địa có 2 thứ là Tựu thực và Tùy tướng. Thập địa tựu thực là cảnh giới mà chỉ có trí Phật biết được, nên gọi là Quả phần. Còn Thập địa tùy tướng là chỗ mà Bồ tát có thể biết, có thể thực hành, cho nên gọi là Nhân phần. Tức là Quả phần sâu xa huyền nhiệm, không thể nghĩ bàn; còn Nhân phần thì tùy cơ giáo hóa nên có thể nói bàn. 2. Thập địa có 2 thứ là Diệu trí và Phương tiện kí pháp. Nếu đứng về phương diện Diệu trí mà bàn, thì chính trí là cảnh giới của chân như, lìa tướng nói năng, nên gọi là Quả phần, là bất khả thuyết. Còn nếu nói theo Phương tiện kí pháp thì vì tùy theo cơ duyên ứng hợp với đại chúng để giải bày nghĩa sai biệt của Thập địa, nên gọi là Nhân phần, có thể bàn nói được. Trong 2 thuyết trên, ngài Pháp tạng giải thích Quả phần là chỗ biết, chỗ làm của đức Phật, nhưng ngài Tuệ uyển thì trong Tục Hoa nghiêm kinh lược sớ san định kí quyển 9 cho rằng 2 phần Nhân Quả đều ở nơi Thập địa, chẳng phải 1 chẳng phải khác. Còn ngài Trừng quán thì trong Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 34 cho rằng trí chứng nhập Niết bàn giống như cùng vào biển quả rốt ráo, cho nên biết chia ra Nhân phần và Quả phần chỉ là sự sai biệt tạm thời giữa tu và chứng, chứ thực ra Nhân và Quả vốn không hai, hệt như sóng với nước vậy. Ngoài ra, trong Hoa nghiêm ngũ giáo chương quyển 1, ngài Pháp tạng coi 2 phần Nhân và Quả này là 2 môn trong Nhất thừa Biệt giáo. [X. Thập địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm ngũ giáo chương thông lộ kí Q.2].(xt. Đồng Biệt Nhị Giáo).

nhân phẩm

Human dignity.

nhân phẩm của chính mình

Self-respect.

nhân quyền

Human right.

Nhân quả

因果; J: inga;|Là »nguyên nhân và kết quả«; trong Thiền tông – một tông phái với một cơ sở siêu thời gian và không gian, đặc biệt chú trọng đến kinh nghiệm trực nhận – người ta thường sử dụng câu »Nhân quả nhất như« (因果一如; j: inga ichinyo), nghĩa là nhân quả là một (Nghiệp).

nhân quả

1) Nhân là nguyên nhân, là năng lực phát động; quả là kết quả, là sự hình thành của năng lực phát động. Định luật nhân quả chi phối vạn sự vạn vật trong vũ trụ không có ngoại lệ: Cause is a primary force that produces an effect; effect is a result of that primary force. The law of causation governs everything in the universe without exception. 2) Luật nhân quả hay sự tương quan giữa nguyên nhân và kết quả trong luật về “Nghiệp” của Phật giáo. Mọi hành động là nhân sẽ có kết quả hay hậu quả của nó. Giống như vậy, mọi hậu quả đều có nhân của nó. Luật nhân quả là luật căn bản trong Phật giáo chi phối mọi hoàn cảnh. Luật ấy dạy rằng người làm việc lành, dữ hoặc vô ký sẽ nhận lấy hậu quả tương đương. Người lành được phước, người dữ bị khổ. Nhưng thường thường người ta không hiểu chữ phước theo nghĩa tâm linh, mà hiểu theo nghĩa giàu có, địa vị xã hội, hoặc uy quyền chánh trị. Chẳng hạn như người ta bảo rằng được làm vua là do quả của mười nhân thiện đã gieo trước, còn người chết bất đắc kỳ tử là do trả quả xấu ở kiếp nào, dầu kiếp nầy người ấy không làm gì đáng trách—Law of cause and effect or the relation between cause and effect in the sense of the Buddhist law of “Karma”—The law of causation (reality itself as cause and effect in momentary operation). Every action which is a cause will have a result or an effect. Likewise every resultant action or effect has its cause. The law of cause and effect is a fundamental concept within Buddhism governing all situations. The Moral Causation in Buddhism means that a deed, good or bad, or indifferent, brings its own result on the doer. Good people are happy and bad ones unhappy. But in most cases “happiness” is understood not in its moral or spiritual sense but in the sense of material prosperity, social position, or political influence. For instance, kingship is considered the reward of one's having faithfully practiced the ten deeds of goodness. If one meets a tragic death, he is thought to have committed something bad in his past lives even when he might have spent a blameless life in the present one. 3) Nhân quả là một định luật tất nhiên nêu rõ sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả, không phải có ai sinh, cũng không phải tự nhiên sinh. Nếu không có nhân thì không thể có quả; nếu không có quả thì cũng không có nhân. Nhân nào quả nấy, không bao giờ nhân quả tương phản hay mâu thuẫn nhau. Nói cách khác, nhân quả bao giờ cũng đồng một loại. Nếu muốn được đậu thì phải gieo giống đậu. Nếu muốn được cam thì phải gieo giống cam. Một khi đã gieo cỏ dại mà mong gặt được lúa bắp là chuyện không tưởng: causality is a natural law, mentioning the relationship between cause and effect. All things come into being not without cause, since if there is no cause, there is no effect and vice-versa. As so sow, so shall you reap. Cause and effect never conflict with each other. In other words, cause and effect are always consistent with each other. If we want to have beans, we must sow bean seeds. If we want to have oranges, we must sow orange seeds. If wild weeds are planted, then it's unreasonable for one to hope to harvest edible fruits. 4) Một nhân không thể sinh được quả, mà phải được sự trợ giúp của nhiều duyên khác, thí dụ, hạt lúa không thể nẩy mầm lúa nếu không có những trợ duyên như ánh sáng, đất, nước, và nhân công trợ giúp. Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại chúng ta thấy quả vị lai, và chính trong quả hiện tại chúng ta tìm được nhân quá khứ. Sự chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh có khi chậm. Có khi nhân quả xãy ra liền nhau như khi ta vừa đánh tiếng trống thì tiếng trống phát hiện liền. Có khi nhân đã gây rồi nhưng phải đợi thời gian sau quả mới hình thành như từ lúc gieo hạt lúa giống, nẩy mầm thành mạ, nhổ mạ, cấy lúa, mạ lớn thành cây lúa, trổ bông, rồi cắt lúa, vân vân, phải qua thời gian ba bốn tháng, hoặc năm sáu tháng. Có khi từ nhân đến quả cách nhau hằng chục năm như một đứa bé cắp sách đến trường học tiểu học, đến ngày thành tài 4 năm đại học phải trải qua thời gian ít nhất là 14 năm. Có những trường hợp khác từ nhân đến quả có thể dài hơn, từ đời trước đến đời sau mới phát hiện: One cause cannot have any effect. To produce an effect, it is necessary to have some specific conditions. For instance, a grain of rice cannot produce a rice plant without the presence of sunlight, soil, water, and care. In the cause there is the effect; in the effect there is the cause. From the current cause, we can see the future effect and from the present effect we discerned the past cause. The development process from cause to effect is sometimes quick, sometimes slow. Sometimes cause and effect are simultaneous like that of beating a drum and hearing its sound. Sometimes cause and effect are three or four months away like that of the grain of rice. It takes about three to four, or five to six months from a rice seed to a young rice plant, then to a rice plant that can produce rice. Sometimes it takes about ten years for a cause to turn into an effect. For instance, from the time the schoolboy enters the elementary school to the time he graduates a four-year college, it takes him at least 14 years. Other causes may involve more time to produce effects, may be the whole life or two lives. 5) Hiểu và tin vào luật nhân quả, Phật tử sẽ không mê tín dị đoan, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ hoang mang. Biết cuộc đời mình là do nghiệp nhân của chính mình tạo ra, người Phật tử với lòng tự tin, có thêm sức mạnh to lớn sẽ làm những hành động tốt đẹp thì chắc chắn nghiệp quả sẽ chuyển nhẹ hơn, chứ không phải trả đúng quả như lúc tạo nhân. Nếu làm tốt nữa, biết tu thân, giữ giới, tu tâm, nghiệp có thể chuyển hoàn toàn. Khi biết mình là động lực chính của mọi thất bại hay thành công, người Phật tử sẽ không chán nản, không trách móc, không ỷ lại, có thêm nhiều cố gắng, có thêm tự tin để hoàn thành tốt mọi công việc. Biết giá trị của luật nhân quả, người Phật tử khi làm một việc gì, khi nói một lời gì, nên suy nghĩ trước đến kết quả tốt hay xấu của nó, chứ không làm liều, để rồi phải chịu hậu quả khổ đau trong tương lai: By understanding and believing in the law of causality, Buddhists will not become superstitious, or alarmed, and rely passively on heaven authority. He knows that his life depends on his karmas. If he truly believes in such a causal mecahnism, he strives to accomplish good deeds, which can reduce and alleviate the effect of his bad karmas. If he continues to live a good life, devoting his time and effort to practicing Buddhist teachings, he can eliminate all of his bad karmas. He knows that he is the only driving force of his success or failure, so he will be discouraged, put the blame on others, or rely on them. He will put more effort into performing his duties satisfactorily. Ralizing the value of the law of causality, he always cares for what he thinks, tells or does in order to avoid bad karma. ; (因果) Phạm: Hetu-phala. Chỉ cho nguyên nhân và kết quả, cũng tức là luật nhân quả. Trong hệ thống giáo nghĩa của Phật giáo, luật nhân quả được sử dụng như là lí luận cơ bản để thuyết minh tất cả sự quan hệ của thế giới. Bởi vì trong sự hình thành của hết thảy các pháp, thì nhân là năng sinh, quả là sở sinh. Tức là pháp nào có năng lực sinh ra kết quả là nhân, còn pháp nào từ nhân mà sinh ra là quả. Nếu nói về quan hệ nhân quả theo thời gian, thì nhân trước, quả sau, gọi là Nhân quả khác thời. Nhưng nếu nói về mặt không gian thì giống như những cây lau trong bó lau nương tựa vào nhau mà đứng vững, đó là quan hệ nhân quả theo nghĩa rộng, gọi là Nhân quả cùng thời. Về luận điểm nhân quả của ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa, có thể chia làm 4 loại mà Phật giáo gọi là Ngoại đạo tứ chấp, hay đơn giản hơn là Tứ chấp. Đó là: 1. Nhân tà quả tà: Chủ trương nguyên nhân sinh ra muôn vật là do năng lực của trời Đại tự tại. 2. Không nhân có quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là quả, nhưng cho rằng nhân của quả này khó tìm biết được, nên phủ định nguyên nhân sinh ra quả này. 3. Có nhân không quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là nhân, nhưng cho rằng kết quả của cái nhân đó khó có thể tìm biết được, nên phủ định kết quả của nhân này.4. Không nhân không quả: Tức chối bỏ cả nhân lẫn quả. Ngoài 4 luận điểm trên, trong tư tưởng giới Ấn độ thời ấy còn có 2 luận thuyết nữa về nhân quả là: 1. Trong nhân có quả: Bà la môn giáo và học phái Số luận chủ trương thế giới hiện tượng do quả hiển hiện, thì quả ấy ắt đã có trong nhân, tức trong nhân thường có tính của quả, cho nên tính chất của nhân và quả giống nhau. 2. Trong nhân không quả: Học phái Thắng luận và những nhà tư tưởng đối lập với Bà la môn giáo cho rằng phải có nhiều yếu tố căn bản kết hợp lại với nhau mới có thể sinh khởi thế giới hiện tượng. Tức họ chủ trương trong nhân chưa chắc đã có tính của quả và phải có nhiều nhân hòa hợp với nhau mới có thể sinh ra quả; bởi thế họ cho rằng tính chất của nhân và quả hoàn toàn không giống nhau. Luận thuyết này cũng có thể được gọi là Trong quả có nhân. Về Nhân quả luận của Phật giáo thì đại khái có thể chia làm 2 hệ thống Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa lấy tông Câu xá làm điển hình, đề ra thuyết Bốn duyên, sáu nhân, năm quả. Đại thừa thì lấy tông Duy thức làm đại biểu, chủ trương thuyết Bốn duyên, mười nhân, năm quả làm nội dung chính yếu của Nhân quả luận, nhưng đối với sự giải thích về 4 duyên, 5 quả thì quan điểm của Đại thừa và Tiểu thừa lại khác nhau. Tông Duy thức cho rằng muôn vật trong vũ trụ đều do chủng tử(hạt giống)hàm chứa trong thức A lại da biến hiện ra; các pháp do chủng tử biến hiện thành phải trải qua mối quan hệ nhân quả 3 pháp 2 lớp là: Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử, Chủng tử sinh chủng tử, tác dụng xoay chuyển mà biến hiện ra muôn tượng la liệt trong vũ trụ. Trong đó, mối quan hệ Chủng tử sinh chủng tử là quan hệ nhân quả khác thời; còn quan hệ Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử là quan hệ nhân quả cùng thời. Ngoài ra, trong 6 nhân, 5 quả, thì mối quan hệ giữa nhân Dị thục và quả Dị thục, giữa nhân Đồng loại, nhân Biến hành và quả Đẳng lưu... đều là quan hệ nhân quả khác thời. Còn mối quan hê giữa nhân Câu hữu, nhân Tương ứng và quả Sĩ dụng thì là quan hệ nhân quả cùng thời. Riêng mối quan hệ giữa nhân Năng tác và quả Tăng thượng thì gồm cả nhân quả khác thời và nhân quả cùng thời. Còn mối quan hệ giữa nhân Đồng loại và quả Đẳng lưu thì vì lấy pháp tự loại làm nhân, dẫn sinh ra quả Đẳng lưu đồng loại, nên gọi là Nhân quả tự loại. Những hành vi của chúng sinh có thể mang lại nhân quả khác thời, tức là nghiệp nhân thiện chắc chắn sẽ có quả báo thiện, nghiệp nhân ác ắt sẽ chiêu cảm quả báo ác, đó gọi là Thiện nhân thiện quả, Ác nhân ác quả. Nhưng nói 1 cách chặt chẽ thì phải gọi là Thiện nhân lạc quả, Ác nhân khổ quả. Đó là quả báo do 2 nghiệp thiện ác mang lại, thuộc về tính vô kí không thiện không ác. Còn nói thiện, ác là đặc biệt chỉ cái nhân chắc chắn, nhất định mang lại quả báo, vì thế không nên dùng quả thiện, quả ác để gọi quả báo. Lí nhân quả ấy rõ ràng không rối loạn, gọi là Nhân quả báo ứng. Nếu không thừa nhận sự tồn tại của lí nhân quả mà rơi vào kiến giải phủ định nhân quả, thì gọi là Bát vô nhân quả. Còn nếu đứng trên lập trường thực tiễn tu hành mà bàn về quan hệ nhân quả, thì nhờ nhân tu hành mà được quả thành Phật. Gọi là Tu nhân đắc quả, Tu nhân cảm quả hay Thù nhân cảm quả. Ngoài ra, do nghiệp nhân thiện ác mà mang lại quả báo khổ vui thì đó là mối quan hệ nhân quả giữa nhân Di thục và quả Dị thục. Còn do phúc đức (thiện nghiệp của thế gian) mà chiêu cảm quả vui cõi người, cõi trời, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân phúc và quả phúc. Lại do tu tập trí tuệ mà được quả báo giác ngộ, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân trí và quả trí. Ba loại quan hệ nhân quả trình bày trên đây gọi là Tam nhân tam quả. Còn thông thường nói Tam thế nhân quả, Nhân quả báo ứng... thì phần nhiều là chỉ cho mối quan hệ nhân quả giữa nhân Dị thục và quả Dị thục. Hết thảy các pháp đều do lí nhân quả mà sinh thành hoại diệt; sự hiển hiện của 10 cõi mê ngộ là do mối quan hệ nhân quả mà thành, như nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian v.v... Nếu đứng về phương diện Tứ đế mà nói thì Khổ đế và Tập đế là nhân quả của cõi mê thế gian, còn Diệt đế và Đạo đế là nhân quả của cõi ngộ xuất thế gian. Tóm lại, lí nhân quả này thực sự là giáo lí cơ bản trọng yếu của Phật giáo, trong các kinh thường nói rõ về lí này, đồng thời, dùng lí nhân quả thiện ác báo ứng như bóng theo hình, nối nhau không dứt để khuyên người đới gắng sức bỏ ác làm lành, tu hành Phật đạo, để mau thoát khỏi cảnh giới hữu lậu khổ đau mà đạt đến cảnh giới vô lậu yên vui. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.6; luận A tì đạt ma phát trí Q.1, 15; luận Đại tì bà sa Q.10, 11, 16; luận Du già sư địa Q.5, 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.3, 7, 8; Đại thừa nghĩa chương Q.3, 4]. (xt. Thập Nhân, Ngũ Quả, Lục Nhân, Tứ Duyên, Nhân, Chủng Tử).

nhân quả ba đời

Nhân quả báo ứng thông cả ba đời—The law of cause and effect (karma and its retribution) permeates all three life spans. 1) Hiện báo: Immediate retributions—See Hiện Báo. 2) Sanh Báo: Rebirth retributions or next life retributions—See Sanh Báo. 3) Hậu Báo: Future retributions—See Hậu Báo.

nhân quả báo ứng

(因果報應) Cũng gọi Nhân quả ứng báo, Nhân quả nghiệp báo, Thiện ác nghiệp báo. Gieo nhân thì được quả, lí ấy rất rõ ràng, không sai lầm. Nghĩa là tất cả mọi sự vật đều bị pháp tắc nhân quả chi phối; hễ nhân lành ắt sinh quả lành, gọi là Thiện nhân thiện quả; còn nhân ác thì chắc chắn mang lại quả ác, gọi là Ác nhân ác quả, không hề sai trật. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 277 thượng) nói: Trong khoảng trời đất, năm đường phân minh, mông mênh mờ mịt, thiện ác báo ứng, họa phúc theo nhau. Luận Du già sư địa quyển 38 thì nói: Đã làm rồi thì không mất, chưa làm thì không có. Đó là đặc điểm của Nhân quả luận trong Phật giáo, tức là bất cứ 1 hành vi tư tưởng nào cũng chắc chắn mang lại hậu quả tương ứng sau này. Khi nhân chưa sinh ra quả thì không thể làm cho nhân mất đi; trái lại, nếu không tạo nghiệp nhân thì chắc chắn cũng không có quả báo tương ứng. Ngoài ra, luật Nhân quả báo ứng không phải chỉ chi phối những hành vi ở hiện tại, mà nó cũng ảnh hưởng đến cả quá khứ và vị lai. Nghĩa là quả báo hiện tại là do hành vi tạo nghiệp nhân thiện ác ở quá khứ và họa phúc báo ứng trong vị lai là do hành vi tạo nghiệp nhân thiện ác ở đời này. [X. kinh Luân chuyển ngũ đạo tội phúc báo ứng; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.4; Pháp uyển châu lâm Q.70]. (xt. Nhân Quả).

nhân quả di thời

(因果异時) Đối lại: Nhân quả đồng thời. Nhân quả khác thời, nghĩa là thời gian từ nguyên nhân sinh ra kết quả có trước sau khác nhau. Cứ theo các nhà Duy thức thì tự loại chủng tử (hạt giống) nối tiếp nhau, nhân của niệm trước sinh ra quả của niệm sau, vì thời gian có khác nhau nên gọi là Nhân quả dị thời. Tức sự quan hệ giữa chủng tử sinh chủng tử là nhân quả khác thời. Còn chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử, thì chủng tử và hiện hành có quan hệ nhân quả lẫn nhau là Nhân quả đồng thời. Tức nhân trước quả sau của 1 pháp là nhân quả khác thời, còn 2 pháp và 3 pháp làm nhân quả lẫn cho nhau, như bấc đèn và ngọn lửa... là nhân quả cùng thời. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 9 trung) nói: Hiện hành và chủng tử tuy khác loại nhưng không trái ngược nhau, trong 1 thân cùng lúc có tác dụng năng sinh; chứ không giống như chủng tử tự loại tuy tương sinh nhưng có trước sau khác nhau, ắt không cùng có 1 lúc. (xt. Nhân Quả Đồng Thời).

nhân quả giai không tông

Tông phái tà giáo chủ trương nhân quả đều không (còn gọi là Không Kiến Luận, đặt ra chủ thuyết không nhân không quả)—A sect of “heretics” who denied cause and effect both in regard to creation and morals. ; (因果皆空宗) Cũng gọi Không kiến luận, Không kiến ngoại đạo. Ngoại đạo vọng chấp không có lí nhân quả, phủ định thuyết nhân quả, chủ trương hết thảy các pháp trong thế gian đều là không. Một trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu (Đại 45, 250 thượng) nói: Các ngoại đạo tà kiến chấp không có sự thương yêu nuôi nấng... thấy người làm lành sinh vào cõi ác, thấy kẻ độc ác lại sinh cõi lành, liền cho là không có nhân quả, bài bác cho rằng tất cả đều không. [X. luận Du già sư địa Q.7; luận Hiển dương thánh giáo Q.10]. (xt. Ngoại Đạo Thập Lục Tông).

nhân quả lịch nhiên

(因果曆然) Lí nhân quả rõ ràng, dễ nhận thấy. Chỉ quán nghĩa lệ quyển thượng (Đại 16, 447 hạ) nói: Xét trong các giáo thì nhân quả rõ rang (nhân quả lịch nhiên). [X. Tông kính lục Q.12].

nhân quả môn

(因果門) Đối lại: Thể dụng môn. Pháp môn được tông Pháp tướng sử dụng để nói rõ mối quan hệ giữa 7 chuyển thức và thức thứ 8 về phương diện chủng tử và hiện hành. Mối quan hệ năng trì, sở trì giữa chủng tử và thức thứ 8 gọi là Thể dụng môn, tức thức thứ 8 năng trì là thể, chủng tử sở trì là dụng. Còn mối quan hệ năng trì, sở trì giữa chủng tử và hiện hành thì gọi là Nhân quả môn, tức chủng tử năng sinh là nhân, hiện hành sở sinh là quả. Đây là Nhân quả môn luận theo tính dụng sai biệt. Phổ thông thường nói Chủng tử là nhân duyên gần của các pháp chính là y cứ vào Nhân quả môn này. Ngoài ra, nếu thức thứ 8 có năng lực sinh ra các pháp thì gọi là Nhiếp dụng qui thể nhân quả môn. [X. luận Thành duy thức Q.2]. (xt. Thể Dụng Môn).

nhân quả tỷ lượng

Thấy cái nhân mà suy ra cái lý của quả—Inference from cause and effect (a traveller has a destination).

nhân quả vi tông

(因果爲宗) Nhân quả Nhất thừa được dùng làm tông chỉ. Đây là lớp huyền nghĩa thứ 3 trong 5 lớp huyền nghĩa của kinh Pháp hoa do tông Thiên thai thành lập. Kinh Pháp hoa lấy nhân quả Nhất thừa làm tông chỉ. Tông chỉ nhân quả này là then chốt của việc tu hành, là yếu quyết để hiển bày Thể; nhưng Thể của thực tướng các pháp trong kinh Pháp hoa chính là diệu lí chân thường chẳng phải nhân chẳng phải quả, không tu không chứng. Nếu người mê mất chân lí thực tướng này thì là hạng phàm phu; còn người ngộ được chân lí thực tướng này thì là hạng Thánh bậc thượng. Kinh Pháp hoa căn cứ vào tông chỉ nhân quả mà luận về lí của việc tu hành và ngộ đạo, chủ trương việc tu hành có thứ tự trước sau, bắt đầu việc tu hành là nhân, kết thúc việc tu hành là quả. Toàn bộ kinh thuyết minh đạo lí nhân quả để nêu tỏ cái lí thể của thực tướng, vì thế nên kinh Pháp hoa lấy nhân quả làm tông. Hai chữ nhân, quả ở đây được giải thích theo 2 lớp: 1. Lấy đệ tử (đối cơ) làm nhân, Thầy (đức Thế tôn) làm quả. Cũng có nghĩa đệ tử là nhân vị tu hành, còn Thầy là quả vị Phật. 2. Đệ tử và Thầy đều có nhân quả riêng của mình. Tức Thầy và đệ tử đều tự có lúc bắt đầu và lúc kết thúc các giai vị tu hành, mà nhân quả của mỗi bên cũng đều có Quyền và Thực. Tức là nhân quả của đệ tử nói trên và nhân quả của Phật ở Tích môn... đều gọi là Quyền nhân, Quyền quả. Còn nhân quả của đệ tử khai hội(đã xóa bỏ giáo pháp 3 thừa mà qui về giáo pháp 1 thừa) ở Tích môn và nhân quả của Phật ở Bản môn thì đều gọi là Thực nhân, Thực quả. Như vậy, nhân quả có 2 lớp và đều có Quyền và Thực khác nhau theo nghĩa được hiển bày trong 2 môn Bản, Tích của kinh Pháp hoa. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.9, hạ]. (xt. Ngũ Trùng Huyền Nghĩa, Bản Tích Nhị Môn).

nhân quả đồng thời

(因果同時) Đối lại: Nhân quả dị thời. Chỉ cho 3 pháp: Chủng tử năng sinh, Hiện hành sở sinh và Chủng tử sở huân đắp đổi (triển chuyển) đồng thời làm nhân quả lẫn nhau. Cứ theo các nhà Duy thức thì chủng tử là nhân sinh ra hiện hành; mà hiện hành này cũng có thể là nhân trở lại huân tập quả chủng tử. Như vậy, ba pháp: Chủng tử + Hiện hành + Chủng tử triển chuyển (đắp đổi) đồng thời làm nhân làm quả cho nhau. Triển chuyểncó 2 nghĩa: Hỗ tương triển chuyển và Thứ đệ triển chuyển. Triển chuyển ở đây nghĩa là Hỗ tương triển chuyển (đắp đổi lẫn nhau), cũng tức là Cánh hỗ nói trong luận Thành duy thức. Luận Thành duy thức quyển 2 (Đại 31, 10 thượng) nói: Khi thức năng huân... từ chủng tử sinh ra thì liền có năng lực làm nhân huân tập lại chủng tử. Ba pháp triển chuyển, nhân quả đồng thời. Như bấc đèn sinh lửa, lửa sinh nóng đốt bấc đèn. Cũng như bó lau, những cây lau nương tựa lẫn nhau, nhân quả đồng thời, lí không nghiêng đổ. (xt. Nhân Quả Dị Thời).

nhân quả ứng báo

Những ai phủ nhận luật nhân quả luân hồi sẽ hủy hoại tất cả những trách nhiệm luân lý của chính mình—Cause and effect in the moral realm have their corresponding relations. Whoever denies the rule of “cause and effect” will destroy all moral responsibility.

nhân quần

The public.

nhân quỷ

Người và quỷ—Men and disembodied spirits (demons or disembodied ghosts).

nhân sinh

Human life. ; (人生) I. Nhân Sinh. Chỉ cho sự hóa sinh trong loài người, tức sự thành lập hữu tình thế gian của cõi Dục, vào thời kì đầu tiên trong kiếp Thành. [X. Trường a hàm Q.22; luận Câu xá Q.12]. (xt. Kiếp Sơ). II. Nhân Sinh. Tức là người ta sinh ra đời, hoặc chỉ cho sinh mệnh của con người. Kinh Bát nê hoàn quyển thượng (Đại 1, 177 thượng) nói: Con người sinh ra đời, không ai không có khổ. (xt. Thất Duy).

nhân sinh học

(人生學) Tác phẩm, 1 quyển, do ông Vương ân dương soạn, xuất bản lần đầu vào năm Dân quốc 23 (1934), nhà xuất bản Phật giáo Đài loan tái bản năm Dân quốc 68 (1979). Nội dung sach này chia làm 4 thiên: 1. Thiên thứ nhất: Thực tướng của nhân sinh.2. Thiên thứ hai: Thế gian học (Nho học đại nghĩa). 3. Thiên thứ ba: Xuất thế học (Giải thoát đạo luận). 4. Thiên thứ tư: Đại bồ đề luận.

nhân sơn

(仁山) Danh tăng Trung quốc, người Kim đàn, tỉnh Giang tô, họ Cố, biệt hiệu Thiên tình Năm 18 tuổi, sư theo Hòa thượng Tây lai xuất gia tại Quan âm các ở Kim sơn, Trấn giang. Năm 19 tuổi, sư thụ giới Cụ túc ở núi Bảo hoa tại Nam kinh, rồi đến chùa Kim sơn học tập kinh điển trong 6 năm. Năm Quang tự 32 (1906), sư đến Học đường Phổ thông ở chùa Thiên ninh tại Dương châu học kinh Hoa nghiêm, sau lại vào tinh xá Kì hoàn ở Nam kinh cùng học với các vị Thái hư, Trí quang, Quán đồng... Dân quốc năm đầu (1912), sư cùng các vị Thái hư, Hoành mô, Quán đồng tổ chức hội Phật giáo Hiệp tiến. Đây là Hội đoàn đầu tiên của Phật giáo Trung quốc. Năm Dân quốc thứ 8 (1919), sư mở Học viện Thiên thai ở chùa Phóng sinh ở tại Cao bưu thuộc tỉnh Giang tô, năm Dân quốc thứ 10 (1921) đổi tên là Học viện Tứ hoằng, chuyên phát huy giáo nghĩa Thiên thai, những tăng sĩ ưu tú ở khắp nơi đều về học. Học viện này sau sánh ngang với Học viện Pháp giới ở vùng Giang nam. Năm Dân quốc 17 (1927), bộ Nội chính nhà nước đề xướng phong trào Miếu sản hưng học (lấy tài sản của các chùa viện làm kinh phí để chấn hưng việc học), sư cùng các vị Trí quang v.v... vận động dân chúng địa phương kiến nghị xin chính phủ bảo vệ tài sản của chùa, kết quả phong trào Miếu sản hưng học bị tạm ngưng. Suốt một đời, sư dốc sức vào việc vận động canh tân Phật giáo, mở các học viện để đào tạo tăng tài. Những cống hiến của sư đã có ảnh hưởng rất lớn đối với công cuộc cải cách Phật giáo Trung quốc đương thời. Năm Dân quốc 40 (1951), sư thị tịch ở Quan âm các tại Kim sơn, thọ 65 tuổi, tăng lạp 47. Sư để lại các tác phẩm: Hoa nghiêm tân sớ, Pháp hoa tích nghi, Sư địa luận thuyên thích, Pháp hải ba lan.

nhân sư

Thầy của loài người—The leader or teacher of men. ; (人師) Thầy người, chỉ cho phàm phu có khả năng dạy bảo người khác. Từ này không dùng cho các bậc Thánh như Phật, Bồ tát...

Nhân sư tử

人師子; C: rénshīzǐ; J: ninshishi;|»Sư tử trong loài người«, một trong những danh hiệu của đức Phật, ví đức tính thẳng thắn, dũng mãnh của Ngài như tính can đảm của loài sư tử.

nhân sư tử

Phật là bậc thầy hay hướng đạo sư của loài người—The Lion of men, Buddha as leader and commander.

nhân sự thượng đường

(因事上堂) Vì có việc nên thăng đường thuyết pháp. Trong Thiền lâm, vị Trụ trì thướng đường thuyết pháp có 2 trường hợp là Định thời và Tùy thời. Định thời là những thời thuyết pháp đã được qui định, như 1 tháng 2 kì, hoặc 3 hay 5... Còn Tùy thời là do các việc xảy ra bất thường, như lành dữ họa phúc, có người thị tịch, hoặc bậc tôn túc đến... mà thướng đường thuyết pháp, vì thế cũng gọi là Nhân sự thướng đường. Trường hợp thướng đường thuyết pháp này lấy sự làm nguyên do, nên nhân cơ hội này tuyên giảng pháp yếu, khai thị đại chúng. Như Từ minh nhân sự tụng (Vạn tục 113, 39 thượng) chép: Tới giờ mở bát trải khăn đơn Ăn xong thu dọn ngủ là hơn. Người đá vỗ tay cười ha hả Gái gỗ đờn tranh ngươi cũng đờn. Thiền lâm tượng khí tiên quyển 11 nói: Tuy những việc ấy không nhất định, nhưng phần nhiều có các việc trái ngược, khó khăn. Lại vì trường hợp thuyết pháp này không nói rõ là việc gì, cho nên gọi là Nhân sự.

nhân tam tướng

(因三相) Phạm: Liígasya trairùpyam. Cũng gọi Tam hướng. Tiếng dùng trong Nhân minh. Ba tướng của Nhân. Tức 3 điều kiện mà chi Nhân (lí do) trong luận thức Nhân minh bắt buộc phải có đầy đủ mới là Nhân chính xác. Đó là: 1. Biến thị tông pháp tính: Nhân phải có quan hệ hoàn toàn với Tông. 2. Đồng phẩm định hữu tính: Phải quyết định có tính cách của Đồng phẩm. 3. Dị phẩm biến vô tính: Phải tuyệt đối không có tính cách của Dị phẩm. Ví dụ: Tông: Con người phải chết. Nhân: Vì là sinh vật vậy Trong đó, Vì là sinh vật vậy hoàn toàn có quan hệ với con người. Vì con người cũng là sinh vật. Nhân có quan hệ với tính cách của Tông là thế và hoàn toàn chính xác.[X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh đại sớ tư sao Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Đồng Phẩm Định Hữu Tính, Dị Phẩm Biến Vô Tính).

Nhân thiên

人天; C: réntiān; J: ninden;|»Người và Trời«. Hai trong năm (hoặc sáu) nơi mà loài hữu tình tái sinh. Được sinh vào trong hai cõi giới nầy thường được xem là có được quả báo do tạo những »nghiệp lành«; khác với tạo »nghiệp ác«, sẽ có quả báo sinh vào những cõi thấp kém hơn; hoặc là khi đã chuyển hoá toàn bộ nghiệp chướng, sẽ có quả báo sinh vào cảnh giới bậc Thánh (A-la-hán, Duyên Giác, Phật…).

nhân thiên

Men and devas. ; (人天) Chỉ cho cõi người và cõi trời trong 10 cõi, 6 đường. Kinh Hoa nghiêm quyển 5 (Đại 9, 424 thượng) nói: Lìa bỏ thú vui của cõi trời, cõi người, thường hành tâm đại từ. PhẩmTòng địa dũng xuất trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 41 trung) nói: Thường ưa nơi vắng lặng, siêng năng tinh tiến, chưa từng nghỉ ngơi, cũng không trụ nơi cõi người, cõi trời. [X. kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.2].

Nhân Thiên Bảo Giám

(人天寳鑑, Nindenhōkan): 2 quyển, do Tứ Minh Đàm Tú (四明曇秀) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 3 (1230) niên hiệu Thiệu Định (紹定). Đây là tập thâu lục có 110 thiên, gồm những lời hay việc tốt qua sự tích của chư vị cổ đức bất kể thành phần hay tôn giáo nào như Thiền, Giáo, Luật, Nho, Thích, Đạo với mục đích làm gương sáng cho đàn hậu học noi theo, làm phát khởi ý khí mãnh liệt để đến với đạo. Bản này khi san hành có lời tựa của Lưu Phỉ (劉棐), lời bạt của Sư Tán (師贊) và lời trước ngữ của Diệu Trạm (妙湛).

nhân thiên bảo giám

(人天寶鑒) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Đàm tú soạn vào đời Nam Tống, được khắc bản in vào khoảng năm Thiệu định (1228-1233) đời vua Lí tông. Về nội dung, tác giả đã căn cứ vào kinh, luật, luận của Phật giáo, các sách Nho và Lão, biên tập vài trăm điều mục gồm những đoạn văn có lời hay ý đẹp về gương tu hành và những điều cần biết của người học đạo.

Nhân thiên giáo

人天教; C: réntiān jiāo; J: ninden kyō;|Giáo lí dành cho loài người và trời, giáo pháp đầu tiên trong Năm giáo pháp (Ngũ giáo) do Thiền sư Tông Mật (宗密) sắp xếp. Đó là những giáo lí căn bản về quả báo, để khuyến khích con người có thú hướng sinh về cõi người vã cõi trời.

nhân thiên giáo

Những ai giữ ngũ giới sẽ tái sanh trở lại vào cõi người và những ai hành thập thiện sẽ được tái sanh vào cõi trời—Rebirth as human beings for those who keep the five commandments and as devas for those who keep the ten commandments. Tiểu Thừa Giáo: See Tiểu Thứa Giáo in (A). Đại Thừa Pháp Tướng: See Đại Thừa Thủy Giáo (a). Đại Thừa Pháp Tướng Giáo: See Đại Thừa Thủy Giáo (b).

Nhân Thiên Nhãn Mục

(人天眼目, Nindenganmoku): 3 quyển, 6 quyển, do Hối Nham Trí Chiêu (晦巖智昭) nhà Tống biên, san hành vào năm thứ 15 (1188) niên hiệu Thuần Hy (淳熙). Để cho mọi người biết rõ tông yếu của Ngũ Gia (五家, 5 tông phái lớn) ở Trung Quốc, tác phẩm này nêu lên cương lĩnh các tông phái do chư vị tiên đức đề xướng và thâu lục những niêm đề, kệ tụng của liệt vị cổ đức. Sau khi Trí Chiêu biên tập xong, vào năm thứ 6 (1258) niên hiệu Bảo Hựu (寳祐), Vật Sơ Đại Quán (物初大觀) hiệu đính lại; thêm vào đó, vào năm thứ 4 (1317) niên hiệu Diên Hựu (延祐), Trí Hựu (致祐) ở Thiên Phong (天峰), Phủ Châu (撫州) lại biên tập lần nữa, chỉnh lại thứ tự truyền thừa của chư vị tổ sư là Lâm Tế (臨濟), Quy Ngưỡng (潙仰) Tào Động (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼) và cho san hành. Bản trên có 3 quyển, nhưng bản Triều Tiên san hành vào năm đầu (1368) niên hiệu Hồng Võ (洪武) nhà Minh gồm 6 quyển. Thứ tự của Ngũ Gia trong bản này có hơi khác là Lâm Tế, Vân Môn, Tào Động, Quy Ngưỡng và Pháp Nhãn; trong quyển 5, 6 có thêm vào phần Tông Môn Tạp Lục Phụ Long Đàm Khảo (宗門雜錄附龍潭考). Bản 6 quyển này làm cơ sở cho Minh Tục Tạng Bản (明續藏本) được san hành vào năm thứ 14 (1586) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆) nhà Minh, Vạn Tục Tạng Bản (卍續藏本) cũng như bản hiện đang lưu hành. Ngoài ra, bộ Tăng Tập Nhân Thiên Nhãn Mục (増集人天眼目) do Nhân Cự (仁岠) trùng hiệu đính được san hành vào năm thứ 42 (1703) niên hiệu Khang Hy (康熙) nhà Thanh, gồm 2 quyển thượng hạ, có nội dung khác xa với bản đang lưu hành. Ngoài những bản nêu trên, còn có các dị bản của Bản Triều Triên, Bản Ngũ Sơn, v.v.

Nhân thiên nhãn mục

人天眼目; C: réntiān yănmù; J: ninden gan-moku;|Tác phẩm gồm 6 quyển của Trí Chiêu (智昭).

nhân thiên nhãn mục

(人天眼目) Tác phẩm, 3 quyển, do ngài Hối nham Trí chiêu soạn vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này thu tập những thiên văn thơ, kệ tụng, lời khai thị đại chúng của các bậc Tổ sư và cương yếu của 5 phái Thiền tông đương thời: Lâm tế, Vân môn, Tào động, Qui ngưỡng và Pháp nhãn để nêu rõ đặc trưng của 5 phái. Sách này và luận Tông môn thập qui của ngài Pháp nhãn Văn ích rất nổi tiếng trong Thiền lâm Trung quốc.

nhân thiên thắng diệu thiện quả

Quả tái sanh thắng thiện giữa người và trời—The highest forms of reincarnation, those among men and devas. ; (人天勝妙善果) Quả báo tốt đẹp của 2 cõi trời, người trong 6 đường. So với quả báo của 4 cõi khác (địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, a tu la) thì có thể nói quả báo của cõi trời, cõi người tốt đẹp hơn nhiều, nên gọi là Thắng diệu thiện quả (quả tốt đẹp vượt trội).

nhân thiên thừa

Nhân Thừa và Thiên Thừa, hai trong ngũ thừa—Men and Deva vehicles, two of the five Vehicles.

nhân thiên trí kính nguyện

(人天致敬願) Cũng gọi Linh thành tôn đức nguyện, Văn danh tu hành đắc tha kính ích nguyện, Văn danh đắc ích nguyện, Tác lễ trí kính nguyện, Văn danh tu hành chúng sở kính trọng nguyện, Văn danh kính trọng nguyện. Nguyện thứ 37 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà ghi trong kinh Vô lượng thọ. Lời văn nguyện tùy các bản dịch bất đồng mà có hơi khác nhau. Kinh Vô lượng thọ quyển thượng (Đại 12, 268 hạ) chép: Khi tôi thành Phật, các trời và người ở vô lượng bất khả tư nghị thế giới của chư Phật trong 10 phương, nếu nghe danh hiệu của tôi mà 5 vóc sát đất, hay cúi đầu làm lễ, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ tát, thì sẽ được tất cả trời và người chí thành cung kính. Nếu không như thế thì tôi không chứng ngôi Chính giác. [X. Vô lượng thọ Như lai hội (bản dịch đời Đường); kinh Vô lượng thọ trang nghiêm (bản dịch đời Tống); Vô lượng thọ kinh sao; Cửu phẩm vãng sinh nghĩa].

nhân thuyết

Men. Khí hay Chư pháp (vạn vật) thuyết: All things.

nhân thuận dư lực

(因順餘力) Từ ngữ hiển bày sự sai biệt giữa trời, người, Thanh văn... ở cõi Tịnh độ cực lạc. Nhân là vì lẽ; Thuận là thuận theo; Dư phương chỉ cho các thế giới rộng lớn được giáo hóa. Tịnh độ cực lạc thực ra không có sự sai khác giữa người và trời, nhưng vì lí do tiếp dẫn chúng sinh ở các thế giới trong 10 phương, nên thuận theo tướng của thế giới mà lập ra các tên gọi người, trời... Thuận theo có 3 nghĩa: 1. Nói theo bản nghiệp: Theo lời ngài Nghĩa tịch được trích dẫn trong Lục yếu sao quyển 4, thì trong số những người vãng sinh, có người được sinh làm người, có người được sinh làm trời, khi họ sinh về Tịnh độ, tuy hình dáng không khác nhau, nhưng vì thuận theo bản nghiệp của họ mà có tên gọi người, trời... 2. Nói theo chỗ ở: Kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 4 có nói về tướng của cõi Phật Tịnh quang minh, theo đó thì trong cõi Phật không có tên gọi Nhị thừa, tất cả đều là Bồ tát bất thoái chuyển, các vị Bồ tát sống lâu nửa kiếp, không có người, trời khác nhau, ở trên mặt đất là người, trụ trên hư không là trời. 3. Nói theo tên gọi cũ: Vãng sinh luận chú quyển thượng cho rằng Thanh văn là từ phương khác sinh về Tịnh độ, vì vẫn dùng tên cũ nên gọi là Thanh văn. [X. kinh Vô lượng thọ; Tán A di đà Phật kệ].

nhân thành giả

(因成假) Hết thảy các pháp hữu vi đều do nhân duyên tạo thành, nên thể của chúng là giả chứ chẳng phải thực. Là 1 trong 3 giả (Nhân thành giả, Tương tục giả, Tương đãi giả). Nói theo tâm pháp thì Nhân thành giả là do tâm năng duyên, duyên theo pháp trần của ngoại giới mà sinh ra. Còn nói theo sắc pháp thì về mặt chính báo, Nhân thành giả là do nghiệp lực nương gá vào cha mẹ mà được thân người; về mặt y báo, Nhân thành giả là các vật thể do sự hòa hợp của 4 cực vi sắc, hương, vị, xúc mà được hình thành. [X. Ma ha chỉ quán Q.5, hạ]. (xt. Tam Giả Thi Thiết).

nhân tháp

(仁塔) Tháp Phật. Vì trong danh hiệu Thích ca mâu ni Phật thì từ Thích ca (Phạm: Zàkya hoặc Zakya) là tên dòng họ, Hán dịch là Năng nhân (dòng họ hay làm điều nhân từ), vì thế tháp Phật được gọi là Nhân tháp, chùa Phật được gọi là Nhân từ, Phật gọi là Nhân tiên.

nhân thân

Thân thể con người—The human body or person. ; (人身) Chỉ cho thân người trong thế gian. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 64 (Đại 10, 346 trung) nói: Được thân người là khó. Phạm võng kinh Bồ tát giới tự (Đại 24, 1003 thượng) nói: Một khi đã mất thân người, muôn kiếp khó lại được nữa. Kinh Đại bát niết bàn quyển 23 (Đại 12, 498 hạ) nói: Thân người khó được, ví như hoa ưu đàm.

nhân thân nan đắc, phật pháp khó gặp; được thân người, gặp phật pháp mà không chịu tu tập, để một phen mất đi thân người, muôn kiếp khó tìm lại đượ

It is difficult to be born as a human being, it is difficult to encouter the Buddha-dharma; now one has been born as a human being and has had a chance to encounter the Buddha-dharma, but does not zealouly practice what one knows, once losing human body, it is hard to have it back throughout the eons.

nhân thân ngưu

Trâu ngựa trong lớp con người (ngu, si và không biết làm việc thiện)—Cattle in human shape (stupid, ignorant and heedless). ; (人身牛) Mang thân người mà tâm trí thì như con bò, ví dụ người chưa nghe Phật pháp, không có trí tuệ. Luận Đại trí độ quyển 5 (Đại 25, 101 trung) nói: Có trí tuệ mà không nghe nhiều thì chẳng biết thực tướng. (...) Nghe nhiều mà không có trí tuệ thì cũng không biết thực nghĩa. (...) Còn không nghe nhiều cũng không có trí tuệ, thì đó là Nhân thân ngưu (bò mang thân người).

nhân thí thiết luận

(人施設論) Pàli: Puggala-paĩĩatti. Hán âm: Bổ đặc già la bộn na để. Tác phẩm, phân loại và thuyết minh về Bổ đặc già la, là 1 trong 7 bộ luận bằng tiếng Pàli của Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền. Nội dung chủ yếu của luận này là bàn về Nhân ngã thi thiết trong 6 thi thiết (Uẩn, Xứ, Giới, Căn, Đế, Nhân ngã) và về các chủng loại của nhân ngã. Toàn bộ chia làm 2 phần: Phần Luận mẫu (Pàli: Màtikà) và phần Giải thuyết. Phần Giải thuyết là bộ phận chủ yếu của sách này. Phổ thông cho rằng sách này và luận Phân biệt là 2 trứ tác sớm nhất trong 7 bộ luậnPàli, đồng thời, giữa luận này và phẩm Nhân trong luận Xá lợi phất a tì đàm (Hán dịch) cùng với luận Tập dị môn túc có quan hệ mật thiết với nhau. Hiện nay nguyên văn của luận này đã được xuất bản cùng với các bản dịch tiếng Anh (A Designation of Human Types, P.T.S.1924) và tiếng Nhật (quyển 47 trong Đại tạng kinh Nam truyền). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A tì đạt ma luận thư chi nghiên cứu; A History of PàliLiterature by B.C.Law].

Nhân thú

人趣; C: rénqù; J: ninshu;|Cõi người, nhân gian (人間), nơi thụ sinh làm người (s: manuṣya-gata). một cõi trong lục đạo, lục thú.

nhân thú

Nẻo của chúng sanh con người, một trong sáu nẻo (lục đạo)—Human stage of the six gati or states of existence—See Nhân Thừa.

nhân thập tứ quá

Mười bốn sự sai lầm về nhân—The fourteen possible errors or fallacies in the reasons in the syllogism. ; (因十四過) Tiếng dùng trong Nhân minh. Mười bốn lỗi của Nhân. Trong Tam chi tác pháp (luận thức 3 phần)của Nhân minh, do phần thứ 2 là Nhân (lí do)không chính xác mà tạo thành 14 lỗi, được chia làm 3 loại: 1. Bốn lỗi bất thành, gồm: Lưỡng câu bất thành, Tùy nhất bất thành, Do dự bất thành và Sở y bất thành, đều do Nhân thiếu tướng thứ 1 tạo ra. 2. Sáu lỗi bất định, gồm: Cộng bất định, Bất cộng bất định, Đồng phẩm nhất phần chuyển dị phẩm biến chuyển bất định, Dị phẩm nhất phần chuyển đồng phẩm biến chuyển bất định, Câu phẩm nhất phần chuyển bất định và Tương vi quyết định bất định, đều do Nhân thiếu tướng thứ 2 hoặc thứ 3 tạo nên. 3. Bốn lỗi tương vi, gồm: Pháp tự tướng tương vi, Pháp sai biệt tương vi, Hữu pháp tự tướng tương vi và Hữu pháp sai biệt tương vi, đều do Nhân cùng lúc thiếu cả tướng thứ 2 và tướng thứ 3 tạo nên. Lỗi thứ nhất: Lưỡng câu bất thành (Hai bên đều thấy Nhân này là sai). Cả người lập luận và người vấn nạn đều không thấy Nhân này có quan hệ với Tông pháp (danh từ trước của Tông). Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì con mắt thấy được. Trong trường hợp trên, ai cũng biết rằng cái Nhân (lí do) Vì là con mắt thấy được chẳng dính dáng 1 chút gì đến âm thanh cả. Tông nói 1 đường Nhân nói một nẻo, chuyện đầu Ngô mình Sở và cả đôi bên lập luận và địch luận đều thấy rõ lỗi ấy, cho nên gọi là Lưỡng câu bất thành. Lỗi thứ hai: Tùy nhất bất thành (Một bên không thừa nhận). Nghĩa là 1 bên thì cho là Nhân có quan hệ với Tông, còn 1 bên thì cho rằng Nhân không hoàn toàn có quan hệ với Tông. Chẳng hạn, đứng trước Thanh hiển luận sư mà Thắng luận sư lập luận: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra. Nhưng chủ trương của Thanh hiển luận cho rằng âm thanh có trước khi phát âm, đến khi phát âm(nghĩa là có sự tác động) nó mới hiển rõ ra cho ta nghe thấy, chứ không phải lúc phát âm mới có, mới phát sinh. Do đó, âm thanh là thường có, không phải vô thường. Như thế, Nhân ở đây chỉ được người lập luận thừa nhận, còn đối phương thì không thừa nhận, cho nên gọi là Tùy nhất bất thành. Lỗi thứ ba: Do dự bất thành (Do dự). Trong trường hợp này Nhân có quan hệ với Tông hay không, chưa thể quyết định được, vì thế gọi là Do dự. Như có người từ xa xa trông thấy 1 đám gì đang bay lên, chưa rõ là mây, là khói hay sương mù, hoặc là bụi... mà lập luận thức. Tông: Đàng kia có lửa cháy. Nhân: Vì trông như có khói bay lên. Nhân trong luận thức này không thành lập được Tông, vì còn do dự không quyết, nên gọi là Do dự bất thành. Lỗi thứ tư: Sở y bất thành. Danh từ trước của Tông là chỗ dựa(sở y) của Nhân, nếu như danh từ trước không được đối phương thừa nhận thì Nhân này cũng bị lỗi. Nghĩa là nếu Tông phạm lỗi Sở biệt bất cực thành thì Nhân cũng bị luôn lỗi Sở y bất thành. Như Thắng luận sư đối với Vô không luận sư (người chủ trương không có hư không) mà lập luận thức: Tông: Hư không là thực có. Nhân: Vì là chỗ nương (sở y) của đức. Hư không là khái niệm được học phái Thắng luận công nhận là có thật, nhưng phái Vô không luận thì phủ nhận, cho là không có thực thể, bởi thế, Nhân ở đây không có chỗ dựa nên phạm lỗi Sở y bất thành. Bốn lỗi trên là do Nhân thiếu quan hệ với Tông, gọi là 4 lỗi Bất thành. Lỗi thứ năm: Cộng bất định (Có cả đồng phẩm và dị phẩm). Đây là trường hợp mà phạm vi của Tông quá rộng, bao hàm cả tính cách đồng phẩm và tính cách dị phẩm của Tông. Chẳng hạn như Thanh luận sư đối với đệ tử Phật mà lập luận: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì có tính cách đo lường được. Trong trường hợp này, cái Nhân (lí do) Vì có tính cách đo lường được có thể thành tựu cho đồng phẩm của Tông (như cái bình...), mà cũng có thể thành tựu cho dị phẩm của Tông (như hư không). Như vậy không thể xác định được rằng Tông đúng hay không đúng, nên gọi là Bất định. Lỗi thứ sáu: Bất cộng bất định (không có đồng phẩm cũng không có dị phẩm). Trong trường hợp này thì phạm vi của Nhân lại hẹp quá, chẳng liên quan gì đến tính cách đồng phẩm mà cũng không dính líu gì đến tính cách dị phẩm. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là cái nghe được vậy. Trong trường hợp này, những cái thường còn (đồng phẩm của Tông) và những cái vô thường (dị phẩm của Tông), không 1 cái gì có tính cách nghe được cả. Nói cách khác, ngoài âm thanh ra, trên thế giới này không còn có 1 cái gì có tính cách nghe được nữa. Như vậy, Nhân chẳng có liên quan gì với đồng phẩm hay dị phẩm và do đó không thể biện minh cho sự thành lập của Tông, mà cũng chẳng tìm đâu ra 1 ví dụ. Cho nên bị lỗi Bất định. Lỗi thứ bảy: Đồng phần, Dị toàn bất định (Có 1 phần đồng phẩm và toàn phần dị phẩm). Trong trường hợp này Nhân có 1 phần đồng phẩm và toàn phần dị phẩm. Như lập luận thức: Tông: Nguyễn văn A là đàn bà. Nhân: Vì không sinh con. Đàn ông không sinh con, đàn bà cũng có người không sinh con. Như vậy, đồng phẩm chỉ có một phần thôi và 1 phần không (nghĩa là chỉ có 1 số đàn bà không sinh con, chứ không phải toàn thể đàn bà không sinh con), còn dị phẩm lại hoàn toàn có (nghĩa là toàn thể Nguyễn văn A đều không sinh con). Trong trường hợp này, cái Nhân Vì không sinh con không thể xác định được Nguyễn văn A là đàn ông hay đàn bà, cho nên bị lỗi Bất định. Lỗi thứ tám: Dị phần, đồng toàn bất định(Có tính cách đồng phẩm mà lại bị xen vào 1 ít dị phẩm). Trong trường hợp này Nhân cũng bị lỗi Bất định. Như lập luận thức: Tông: Nguyễn văn A là đàn ông. Nhân: Vì không sinh con. Toàn thể đàn ông không sinh con đã đành, nhưng đàn bà cũng có người không sinh con, thế là Nhân bị xen vào 1 phần dị phẩm, cho nên phạm lỗi Bất định. Lỗi thứ chín: Câu phần bất định (Có 1 ít đồng phẩm và 1 ít dị phẩm). Nhân có 1 phần đồng phẩm và cũng có 1 phần dị phẩm, nhưng không đủ tính cách quan hệ với Tông, do đó không xác định sự thành lập Tông. Như Thanh luận sư đối với Thắng luận sư mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì không có tính chất ngại. Trong trường hợp này, thường còn lấy hư không, cực vi... làm đồng phẩm, như thế thì Vì không có tính chất ngại chỉ đúng với hư không chứ không đúng với cực vi (bởi lẽ cực vi cũng còn là vật chất, vẫn có tính chất ngại). Hoặc lấy cái bình, niềm vui... làm đồng phẩm thì Vì không có tính chất ngại đúng với niềm vui mà không đúng với cái bình... Như vậy, Nhân đồng thời cùng quan hệ 1 phần với đồng phẩm và 1 phần với dị phẩm, không xác định được Tông là thường còn hay vô thường, cho nên bị lỗi bất định. Từ lỗi thứ 5 đến lỗi thứ 9, là do thiếu tính cách đồng phẩm hoặc bị xen lẫn tính cách dị phẩm mà có, gọi là 5 lỗi Bất định về Nhân. Lỗi thứ mười: Tương vi quyết định bất định, cũng gọi Tương vi quyết định. Đây là 1 lỗi đặc biệt trong 33 lỗi Nhân minh. Trong 5 lỗi (từ lỗi thứ 5 đến lỗi thứ 9) được trình bày ở trên, đều do Nhân thiếu mất tướng thứ 2 hoặc tướng thứ 3 mà gây ra, do đó, không quyết định được sự thành lập Tông, nên là những lỗi Bất định. Nhưng lỗi thứ 10 không thuộc vào loại Bất định trên, vì, đứng về mặt lập luận mà nói thì Nhân trong trường hợp này đầy đủ cả 3 tướng, có thể chứng minh cho Tông, chứ không phải bất định như 5 trường hợp nói trên. Vấn đề ở đây là: Người lập luận chủ trương âm thanh là vô thường, kẻ đối phương thì chủ trương ngược lại: Âm thanh là thường còn. Tông nghĩa của 2 bên trái nhau, nhưng Nhân của 2 bên đều có đủ điều kiện thành lập Tông (nghĩa là đủ cả 3 tướng), nên không thể quyết định ai phải ai trái, để đến nỗi bị lỗi này. Trường hợp có thể gọi là bất phân thắng bại, nhưng theo luận lí Nhân minh thì 2 bên bại cả, vì luận thức của đôi bên đều sai nên mới đến nỗi như thế. Cũng như trên đã nói, phái Thắng luận chủ trương Âm thanh là vô thường, đứng trước phái Thanh sinh luận chủ trương Âm thanh là thường còn mà lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự động tác mà có ra. Dụ: Như cái bình... Đó là 1 luận thức mà phần Nhân hoàn toàn đầy đủ, không thiếu 1 điều kiện nào trong 3 tướng. Nhưng, vì phái Thanh sinh luận cùng với phái Thắng luận đều thừa nhận là tính chất của âm thanh có thể nghe được, có thể là thường còn, cho nên phái Thanh sinh luận lại đối với Thắng luận mà lập: Tông: Âm thanh là thường còn. Nhân: Vì là cái nghe được. Dụ: Ví như tính chất của âm thanh. Vì cả 2 phái đều thừa nhận tính chất âm thanh có thể nghe thấy, có thể thường còn nên luận thức sau vẫn đầy đủ 3 điều kiện (phái Thanh sinh luận liệt tính chất âm thanh vào đồng phẩm với Tông). Luận thức của 2 bên đều đầy đủ, không ai thuyết phục được ai, như vậy, trên lập trường Nhân minh đều bị lỗi bất định. Lập luận đúng, nhưng không tìm thấy lỗi của đối phương nên cũng bị lỗi. Trong trường hợp như thế thì phải dùng 1 thứ Nhân hoàn toàn hơn để thuyết phục đối phương. Lỗi thứ mười một: Pháp tự tướng tương vi (Trái với chủ trương của Tông). Pháp là danh từ sau (hậu trần) của Tông, trái với ý nghĩa của Tông. Như lập luận thức: Tông: Anh A sẽ không phải chết. Nhân: Vì anh ta là 1 sinh vật. Không một sinh vật nào mà sẽ không chết, như vậy rõ ràng sinh vật đã mâu thuẫn với ý nghĩa sẽ không phải chết, nên phạm lỗi Pháp tự tướng tương vi. Lỗi thứ mười hai:Pháp sai biệt tương vi (Trái với chủ trương của Tông). Lỗi này do Nhân trái với ý nghĩa ẩn tàng trong Tông. Như muốn chứng minh sự tồn tại của 1 nguyên lí duy nhất sáng tạo ra muôn vật mà lập luận thức: Tông: Muôn vật phải là do 1 cái gì khác tạo ra. Nhân: Vì tự mình không thể tạo ra mình được. Dụ: Ví như đồ vật nhân tạo. Đứng về phương diện ngôn ngữ mà nhận xét, thì luận thức trên đây không có 1 lỗi nào có thể chỉ trích hay bác bỏ được. Thiên chúa giáo chủ trương Thần tạo ra muôn vật và ở ngoài vòng muôn vật. Và câu do 1 cái gì khác tạo ra ấy không phải là 1 nguyên nhân khác, 1 điều kiện khác mà chính là muốn nói do 1 vị thần duy nhất tạo ra. Chỉ vì sợ bị lỗi bất cực thành nên phải nói gián tiếp như thế. Tại sao? Vì cái Nhân tự mình không thể tạo ra mình được đã là mâu thuẫn hẳn với ý nghĩa của Tông rồi. Vì nếu mình không thể tự tạo ra mình, thì vị thần duy nhất kia do ai tạo ra? Không lẽ vị thần ấy lại tự tạo ra mình? Lỗi thứ mười ba: Hữu pháp tự tướng tương vi (Trái với danh từ trước). Lỗi này là do Nhân trái với ý nghĩa trong danh từ trước (tiền trần) của Tông. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Tính có không phải là Thực, là Đức, là Nghiệp. Nhân: Vì có 1 Thực, vì có Đức, Nghiệp. Trong trường hợp này, Nhân dùng tính có(Hữu tính) để phủ định Thực, Đức, Nghiệp, nhưng đồng thời cũng lại phủ định luôn cả Tính có. Vì thế nên bị lỗi. Lỗi thứ mười bốn: Hữu pháp sai biệt tương vi(Mâu thuẫn với ý nghĩa ẩn tàng trong danh từ trước của Tông). Như lập luận thức: Tông: Có một đấng thường trụ. Nhân: Vì không có hình tướng. Ý của người lập luận là muốn lập 1 đấng Tạo hóa tạo ra muôn vật, nhưng nếu bị đối phương bác bỏ bằng luận thức: Tông: Đấng ấy của ông là thường trụ, nhưng không tạo ra được vật gì cả. Nhân: Vì không có hình tướng. Thì người lập luận sẽ bị lỗi mâu thuẫn với ý nghĩa ẩn tàng trong danh từ trước của Tông mà mình muốn thành lập. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh đại sớ tư sao Q.4; Đông phương luận lí học (Nhất hạnh)]. (xt. Nhân Minh Tam Tướng, Nhân Minh).

nhân thế

Human life.

nhân thể

Human body. ; (因體) Tiếng dùng trong Nhân minh. Trong luận thức Nhân minh, ý nghĩa của Nhân (lí do) đối với danh từ trước (Hữu pháp) của Tông được cả 2 bên lập luận và địch luận thừa nhận. Như lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do tính tác động tạo ra. Trên đây, ý nghĩa do tính tác động tạo ra là Nhân thể, được cả Thanh luận sư và tín đồ Phật giáo công nhận. Lại khi giải thích Nhân thể phải dựa vào ngôn ngữ, phân biệt Nhân thể phải nhờ trí tuệ, vì thế Nhân thể có 6 nghĩa, gọi là Lục nhân, gồm 3 sinh nhân của người lập luận là: Ngôn sinh nhân, Trí sinh nhân và Nghĩa sinh nhân. Vì 3 nhân này có thể làm cho địch luận (người vấn nạn) sinh ra sự hiểu biết, nên gọi là Sinh nhân. Và 3 liễu nhân của người địch luận là: Trí liễu nhân, Ngôn liễu nhân và Nghĩa liễu nhân. Vì 3 nhân này có thể làm cho người địch luận hiểu rõ (liễu ngộ) được lí nghĩa của người lập luận, cho nên gọi là Liễu nhân. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.thượng, phần cuối]. (xt. Lục Nhân, Nhân Minh).

nhân thứ

Generosity.

nhân thừa

Một trong ngũ thừa (Thiên, Nhân, A tu la, Ngạ quỷ, Địa ngục). Con người phải trì ngũ giới để được bảo đảm sanh trở lại cõi người—Man—The sentient thinking being in the desire-realm, one of the five vehicles (the world of men). Human being must keep five commandments to ensure rebirth in the world of men.

nhân tiên

1) Con người đã đạt được khả năng bất tử—Humans who have attained the powers of immortals—Human genii—Immortal among men. 2) Phật: The Buddha. 3) Tên của vua Bình Sa Vương trong kiếp tái sanh: A name for Bimbisara in his reincarnation. ; (人仙) Từ tôn xưng đức Phật. Kinh Đại bát niết bàn quyển 2 (Đại 12, 375 hạ) nói: Xa lìa bậc Nhân tiên, không thể cứu được nữa.

nhân trung

Khoảng giữa mũi và môi trên—Space between the nose and the upper lip.

nhân trung chi long

rồng giữa loài người, ý nói những bậc kiệt xuất, phi thường giữa những người tầm thường. Vì quan niệm ngày xưa cho rồng là loài cao quý, linh diệu.

nhân trung hữu quả

(因中有果) Phạm: Sat-kàrya. Trong nhân có sẵn tính chất của quả. Đây là chủ trương của học phái Số luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Học phái này cho rằng sự sinh thành của muôn vật là sự khai phát của tự tính, vì thế trong tự tính tự nhiên đã có sẵn tính chất quả của muôn vật, như từ cát không thể ép cho ra dầu, nhưng ép vừng (mè)thì được dầu; nếu trong nhân không có sẵn tính quả thì không thể sinh ra quả. Thuyết này ngược lại với thuyết Trong nhân không quả của học phái Thắng luận. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; Ma ha chỉ quán Q.10, thượng]. (xt. Nhân Trung Vô Quả).

nhân trung hữu quả tông

(因中有果宗) Cũng gọi Nhân trung hữu quả luận. Tông phái ngoại đạo chấp trước trong nhân của các pháp đã có sẵn tính chất của quả, 1 trong 16 tông ngoại đạo ở Ấn độ cổ đại. Ngoại đạo này chủ trương trong nhân đã có tính chất của quả rồi, chẳng hạn muốn có gạo nếp thì phải cấy lúa nếp, chứ trồng ngô thì không thể có được gạo nếp. [X. luận Du già sư địa Q.6; luận Hiển dương thánh giáo Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1]. (xt. Nhân Trung Hữu Quả, Vũ Chúng Ngoại Đạo).

nhân trung ngưu vương

(人中牛王) Cũng gọi Nhân trung tượng vương, Nhân trung long vương, Nhân trung sư tử, Nhân trung liên hoa phân đà lợi, Nhân trung trượng phu, Nhân trung lương mã, Nhân sư tử, Nhân trung đặc ngự. Đức hiệu của Phật. Ngưu vương, Tượng vương, Long vương, Liên hoa phân đà lợi v.v... trong loài người là những lời khen ngợi đức hạnh rộng lớn vô biên của Phật ví như sức mạnh của trâu chúa, rồng chúa, voi chúa và sự quí hiếm của hoa sen trắng... vậy.Theo luận Du già sư địa quyển 82, thì do Phật có cái đức chế ngự đại chúng nên gọi là Nhân trung ngưu vương. [X. kinh Li cấu tuệ bồ tát sở vấn lễ Phật pháp; luận Đại trí độ Q.8].

nhân trung phân đà lợi hoa

1) Theo Kinh Niết Bàn, Phật là một bông sen giữa các chúng sanh con người: According to the Nirvana Sutra, the Buddha is a Lotus among men. 2) Tất cả những ai trì niệm hồng danh Phật A Di Đà: All who invoke Amitabha. ; (人中分陀利花) I. Nhân Trung Phân Đà Lợi Hoa. Phạm: Puịđarìka. Hán dịch: Bạch liên hoa. Hoa sen trắng trong loài người. Vì hoa sen trắng thanh khiết, quí hiếm nên được dùng làm đức hiệu của Phật. [X. kinh Niết bàn Q.18 (bản Bắc)]. II. Nhân Trung Phân Đà Lợi Hoa. Từ ngữ khen tặng người niệm Phật. Vì những người niệm Phật là rất quí, như hoa sen trắng. [X. kinh Quán vô lượng thọ]. (xt. Liên Hoa).

Nhân trung sư tử

(Sư tử giữa loài người) một tôn hiệu để xưng tán đức Phật, là bực dũng mãnh hơn hết trong loài người, như sư tử là loài thú oai mãnh hơn hết trong các loài thú. Có khi cũng dùng Nhân hùng sư tử.

nhân trung sư tử

Phật là Sư Tử trong loài người—The Buddha, a Lion among men. ; (人中師子) I. Nhân Trung Sư Tử. Cũng gọi Nhân hùng sư tử, Nhân sư tử vương, Nhân sư tử. Sư tử trong loài người. Từ ngữ tôn xưng đức Phật. Vì Ngài là bậc hùng dũng nhất trong loài người, giống như sư tử là chúa của trăm loài thú. Theo luận Đại trí độ quyển 7, sư tử một mình đi giữa các loài thú mà không sợ hãi, có thể hàng phục tất cả. Đức Phật cũng thế, ở trong 96 thứ ngoại đạo mà hàng phục tất cả, chẳng sợ hãi, nên gọi là Nhân sư tử. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); kinh Vô lượng thọ]. II. Nhân Trung Sư Tử. Tiếng tôn xưng ngài Phật đà tư na. Theo lời Bạt trong Trị thiền bệnh bí yếu pháp, thì vị sa môn Đại thừa tên là Phật đà tư na là bậc thiên tài xuất chúng, một mình đi qua các nước, có thể tụng nửa ức kệ, thông suốt pháp thiền, người đời gọi ngài là Nhân trung sư tử. [X. luận Đại trí độ Q.8].

nhân trung tam ác

Ba cái ác của loài người—The three most wicked among men: (A) 1) Tham: Desire. 2) Sân: Hatred. 3) Si: Ignorance. (B) 1) Nhất xiển đề: The slanderers of Mahayana. 2) Những kẻ phá giới: Those who break Buddhist precepts. 3) Những kẻ phá hòa hợp Tăng: Those who break the harmony of the Sangha. ; (人中三惡) Ba hạng người ác trong loài người. Tức là: Hạng Nhất xiển đề, người phỉ báng Đại thừa và người phạm 4 giới cấm nặng (sát sinh, trộm cắp, dâm dục, nói dối). (xt. Nhất Xiển Đề, Tứ Trọng Cấm).

nhân trung thuyết quả

(因中說果) Phạm:Sat-kàrya-vàda. Đối lại: Quả trung thuyết nhân. Trong nhân nói quả, tức là đối với nguyên nhân mà giả đặt ra cái tên gọi kết quả. Trong trường hợp dùng sự quan hệ giữa sợi (nhân) và quần áo (quả) làm ví dụ, rồi nếu nói sợi tức là quần áo thì đó là trong nhân nói quả; còn nếu nói quần áo tức là sợi thì đó là trong quả nói nhân. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 37 (bản Bắc) thì đức Như lai có khi trong nhân nói quả, có khi trong quả nói nhân. Như người thế gian nói đất sét tức là bình, sợi tức là áo... đó là trong nhân nói quả; còn nếu nói trâu tức là cỏ nước, người tức là ăn thì đó là trong quả nói nhân. [X. luận Đại trí độ Q.18, 31, 43; luận Thành thực Q.15]. (xt. Quả Trung Thuyết Nhân).

nhân trung thụ

Phật là một tàng cây lớn (cây Bồ Đề) cho nhân loại—The Buddha, a tree among men. The Buddha who provided the bodhi tree as a shelter for men. ; (人中樹) Cây giữa loài người, đức hiệu của Phật. Thân nghiệp của Phật có khả năng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, diệt tan nhiệt não, cũng như cây cối che mát cho mọi loài. Kinh Nhân vương quyển thượng (Đại 8, 838 thượng) nói: Đấng Pháp vương vô thượng như cây đại thụ giữa loài người, tỏa bóng che mát khắp vô lượng chúng sinh.

nhân trung tôn

Phật là bậc đáng tôn quí trong loài người—The Honored One among or of men—The Buddha ; (人中尊) Bậc tôn quí nhất trong loài người, là từ ngữ kính xưng đức Phật. Phẩm Tựa trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 4 trung) nói: Có đức Phật, bậc nhân trung tôn, hiệu là Nhật nguyệt đăng minh.

Nhân trung tượng vương

xem Voi chúa giữa loài người.

nhân trung vô quả

(因中無果) Phạm: A-sat-kàrya. Đối lại: Nhân trung hữu quả. Nghĩa là trong nhân không nhất định đã có sẵn tính chất của quả. Đây là chủ trương của học phái Thắng luận trong 6 phái Triết học ở Ấn độ đời xưa. Học phái này cho rằng nhân có 2 loại là nhân hòa hợp và nhân không hòa hợp, phải cần có các nhân hòa hợp mới có quả, như đất sét tuy là nhân của cái bình, nhưng phải đợi các trợ nhân thì mới thành bình, bởi thế phái này lập thuyết nhân quả khác nhau. [X. luận Kim thất thập Q.thượng; Trung quán luận sớ Q.2, phần đầu; Bách luận sớ Q.hạ, phần đầu; Ma ha chỉ quán Q.10, thượng]. (xt. Nhân Trung Hữu Quả).

nhân trích luận

(因滴論) Cũng gọi Nhân nhất trích luận. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Pháp xứng người Nam Ấn độ soạn vào khoảng thế kỉ VI, VII, 1 trong 7 bộ luận về Nhân minh. Nội dung nói rõ về qui tắc thành lập Nhân (lí do). Theo qui định của 3 chùa lớn thuộc phái Cách lỗ của Phật giáo Tây tạng thì luận này được xếp vào loại sách nhập môn của người học tập Nhân minh. Về sách chú thích luận này thì có Quảng chú của ngài Luật thiên.

nhân trực

(因直) Chức vụ thuộc Trực đàn liêu trông coi việc trao nhân duyên huyết mạch trong pháp hội truyền giới của Thiền lâm. [X. Thụ giới hội tác pháp trong Tào động tông hành trì quĩ phạm Q.2].

nhân tu

Sự tu hành như là nhân để thành Phật—The practice of Buddhism as the cause of Buddhahood.

nhân tài

Talented man.

nhân tâm

Human heart.

nhân tính

Human nature. ; (仁性) Phạm, Pàli: Sìvali. Hán âm: Thi lợi ca, Thi bà la, Thế bạt la, Thi bạt la. Cũng gọi Nhân cát. Đệ tử của đức Phật, thuộc dòng Sát đế lợi. Ngài bẩm tính nhân từ nên gọi là Nhân tính. Vào các kiếp quá khứ, Ngài thường đem tiền của tặng cho người nghèo, nhờ thiện nghiệp ấy nên nhiều đời Ngài được sinh vào cõi trời, cõi người, phúc đức đầy đủ. Đến khi đức Phật ra đời, Ngài được làm đệ tử, chứng quả A la hán, được xếp vào hàng Chúng đồng văn (Đại chúng cùng nghe) trong hội tọa kinh Vô lượng thọ. [X. kinh Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi; luận Đại trí độ Q.24].

nhân tôn

1) Benevolent and honoured—Kindly honoured one. 2) Phật: Buddha—See Nhân Trung Tôn. ; (人尊) Bậc tôn quí trong loài người, là từ tôn xưng đức Phật. Phẩm Tựa kinh Tăng nhất a hàm (Đại 2, 550 thượng) nói: Bậc nhân tôn nói Lục độ ba la mật.

nhân tôn ngưu vương

The Buddha, the Lord of the herd.

nhân tướng

Human appearance—Chấp cái ngã là người khác hay đạo khác—The ego of a man or that this ego is a man and different from beings of the other paths—Man is different from other organisms. Chúng sanh tướng: Living beings appearance—Chấp ngã đưa vào ngũ uẩn mà sanh—The ego of all beings, that all beings have an ego born of the five skandhas—All the living are produced by the skandhas. Thọ giả tướng: The appearance of longevity—Chấp thọ mệnh một thời của cái ngã, từ đó sanh ra chấp trước vào tướng sự và ao ước phúc lợi—Life is limited to the organism—The ego has age, i.e. a determined or fated period of existence, thus creating the idea of attaching all appearances and desiring for welfare and profit. ; (因相) Tướng nhân sinh ra muôn pháp, 1 trong 3 tướng của thức A lại da. Thức A lại da có năng lực thu giữ hết thảy chủng tử, là nguyên nhân sinh ra muôn pháp, vì thế gọi là Nhân tướng. Nhân tướng có 2 nghĩa: 1. Y trì nhân: Giữ gìn chủng tử các pháp không để mất. 2. Sinh khởi quán: Chủng tử chính là nhân duyên gần để hiện khởi các pháp. [X. luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.4]. (xt. A Lại Da Tam Tướng).

nhân tạo

Artificial—Not natural.

nhân tạo hoa

(人造華) Hoa nhân tạo, thường được làm bằng vải, gỗ, giấy, đồng... dùng để thờ trên bàn Phật.Theo Quán mộc tôn nghi trong Nam hải kí qui nội pháp truyện quyển 4, thì mỗi ngày tắm Phật, nên bày các thứ hoa thơm cỏ lạ để cúng dường, nhưng vào mùa đông hiếm có hoa tươi, nên cắt giấy hoặc lụa làm hoa nhân tạo để cúng dường trước tượng Phật, trông cũng rất đẹp. Kinh Thủ lăng nghiêm quyển 6 (Đại 19, 133 trung) nói: Ở giữa đàn bát giác cao 1 trượng 6, đặt 1 hoa sen nhân tạo bằng vàng bạc đồng hoặc gỗ. Trong các chùa viện hiện nay cũng có nơi dùng gỗ làm hoa sen rồi sơn son thiếp vàng để thờ cúng trước bàn Phật, gọi là Thường hoa, Mộc hoa, Mộc liên hoa. Trong các trường hợp khác, như nghi thức lễ tang, người ta cũng dùng hoa giấy. [X. Trần thiêm khái nang sao Q.15].

nhân tập sinh duyên

(因集生緣) Bốn hành tướng của Tập đế trong 16 hành tướng của Tứ đế. Tức khi quán xét về Tập đế thì trước hết quán tất cả hoặc nghiệp đều là nhân sinh ra quả khổ, gọi là Nhân; thu tập các quả khổ và làm cho chúng hiện khởi, gọi là Tập; khiến cho quả khổ nối nhau không dứt, gọi là Sinh; tập thành quả khổ và làm cho quả khổ thành tựu, gọi là Duyên. (xt. Thập Lục Hành Tướng, Tứ Đế).

nhân tế

(人祭) Phạm: Puruwamedha. Dùng người làm vật hi sinh trong lễ tế Tô ma của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa. Lễ tế này giống như lễ tế dùng ngựa làm con sinh, nhưng vì dùng ngựa không thể đạt được điều mong cầu lớn hơn nên mới dùng người làm vật hi sinh để tế, nên gọi là Nhân tế. Chương 30 trong Bạch nhu phệ đà liệt kê 184 hạng người được dùng làm con sinh, trong đó, có hạng trộm cắp, ca sĩ, kĩ nữ, đàn bà giặt áo v.v... Về cách tế sinh thì có nhiều thuyết khác nhau, có thuyết nói bắt người nhảy vào lửa, hoặc sau khi lễ bái thần Thái dương phải ẩn vào trong núi cho đến hết đời.

nhân từ

Benevolent—Benevolence—Clemency.

nhân từ nhất

Most charitable.

nhân tự

(因字) I. Nhân Tự. Chỉ cho chữ (hùô, Hồng). Chữ Hồng là chủng tử của bồ tát Quang, có nghĩa diệt trừ sạch nghiệp nhân nên gọi là Nhân tự. Chữ Hồng cũng là chủng tử của đức A súc Như lai, biểu thị đức của tâm bồ đề trong sạch. Cứ theo kinh Du kì, từ Nhân tự kim cương có năng lực phát sinh lửa mạnh, thiêu đốt những sự không tốt lành. II. Nhân Tự. Chỉ cho chữ (a), chữ (a#, ác). Chữ A là chủng tử của tâm bồ đề, có nghĩa là nhân nên gọi là Nhân tự. Chữ Ác là chủng tử của Kim cương tát đỏa trong hội Yết ma, thể của nó lấy tâm bồ đề làm nhân nên gọi là Nhân tự.

nhân tự tính

Svahetulakshana (skt). 1) Đặc tính tự là nguyên nhân, tức là thực tính—Self-cause-characteristic, that is, reality. 2) Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật dạy: “Phân biệt suông cũng giống như sừng thỏ, chứ không có những dấu hiệu thực sự của tự tính.”—In the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “A mere discrimination is the hare's horn, there are no real signs of selfhood.”

Nhân uân

(氤氳): thời xưa chỉ cho trạng thái hai khí âm dương hòa hợp nhau. Như trong Bạch Hỗ Thông (白虎通), phần Giá Thú (嫁娶) có câu: “Thiên địa nhân uân, vạn vật hóa thuần (天地氤氳、萬物化淳, khí trời đất hòa hợp, muôn vật trở nên thuần).” Hay trong tác phẩm Tề Đông Dã Ngữ (齊東野語), phần Cổ Tương Thọ Từ (賈相壽詞) có đoạn: “Thính vạn vật nhân uân, tùng lai hình sắc, mỗi hướng tĩnh trung thứ (聽萬物氤氳、從來形色、每向靜中覷, lắng nghe khí âm dương hòa hợp muôn vật, hình sắc xưa nay, mỗi lần đều hướng vào trong sự tĩnh lặng mà nhìn kỹ).” Trong Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi (華嚴經海印道場懺儀, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1470) quyển 31 lại có câu: “Nhất thiết bảo hương thọ, hương khí nhân uân, phổ huân thập phương (一切寶香樹、香氣氤氳、普熏十方, tất cả những cây có hương thơm báu, khí hương nghi ngút, xông khắp mười phương).” Trong bản Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (正刻中科瑜伽集要), hiện tàng bản khắc gỗ tại Chùa Báo Quốc, Huế; ghi năm ấn bản là “Đồng Khánh Mậu Tý (同慶戊子, 1889)”, có bài tán: “Trầm nhũ Chiên Đàn giá mạc luân, kim lô tài nhiệt phún tường vân, nhân uân biến triệt tam thiên giới, vi thụy vi tường đạt Thế Tôn (沉乳栴檀價莫倫、金爐纔爇噴祥雲、氤氳遍徹三千界、爲瑞爲祥達世尊, trầm đốt Chiên Đàn đâu sánh bằng, lò vàng vừa đốt tỏa mây lành, khí xông trùm khắp ba ngàn cõi, linh hiển cát tường đấng Thế Tôn).”

nhân viên quả mãn

Nhân tu hành đầy đủ và Phật quả viên mãn (theo Kinh Tâm Địa Quán: “Ba tăng kỳ kiếp độ chúng sanh, siêng tu tám vạn Ba La Mật, nhân viên quả mãn thành chánh giác, trụ thọ ngưng lại không đến đi)—The cause perfects and the effect completes (the practice of Buddhism). ; (因圓果滿) Muôn hạnh ở nhân vị đã tròn, muôn đức ở quả vị đã đủ. Kinh Tâm địa quán quyển 1 (Đại 3, 295 thượng) nói: Ba tăng kì kiếp độ chúng sinh, Siêng tu tám vạn ba la mật. Nhân tròn quả đủ thành chính giác, Thọ mệnh thường nhiên chẳng đến đi.

Nhân vô ngã

人無我; C: rén wúwǒ; J: ninmuga; S: pudgala-nairātmya, anātman;|Sự hiện hữu của con người là hợp thể của Ngũ uẩn, nên không có một chủ thể nào là thường hằng.

nhân vô ngã

Pudgalanairatmya (skt)—Selflessness of person—Con người không có sự thường hằng của cái ngã—Man as without ego or permanent soul—No permanent human ego or soul.

nhân vô ngã trí

Pudgalanairatmyajnana (skt). 1) Trí huệ của một con người vô ngã: The knowledge or wisdom of a man without ego (anatman). 2) Cái trí biết rằng không có cái ngã hay linh hồn: The knowledge that there is no ego-soul.

nhân vương

1) Vua nhân từ: The benevolent king. 2) Phật: Buddha. ; (仁王) I. Nhân Vương. Từ tôn xưng đức Phật. Đức Phật hiệu là Năng nhân, là Pháp vương, nên gọi chung là Nhân vương. II. Nhân Vương. Chỉ cho 16 vị Quốc vương của 16 nước lớn ở Ấn độ thời xưa được ghi trong kinh Nhân vương. III. Nhân Vương. Cũng gọi Nhị vương tôn, Nhị thiên vương. Hai vị lực sĩ Kim cương được thờ ở 2 bên cổng chùa để thủ hộ. Vị bên trái là Mật tích kim cương, vị bên phải là Na la diên kim cương. (xt. Nhị Vương Tôn).

nhân vương bát nhã ba la mật kinh

(仁王般若波羅蜜經) Cũng gọi Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật kinh, Nhân vương bát nhã ba la mật hộ quốc kinh, Nhân vương bát nhã kinh, Nhân vương kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần, được thu vào Đại chính tạng tập 8. Kinh này được chia làm 8 phẩm: Phẩm Tựa, phẩm Quán không, phẩm Bồ tát giáo hóa, phẩm Nhị đế, phẩm Hộ quốc, phẩm Tán hoa, phẩm Thụ trì và phẩm Chúc lụy. Nội dung kinh này đức Phật nói cho 16 vị Đại quốc vương nghe về hạnh gìn giữ quả Phật, Thập địa và nhân duyên giữ gìn đất nước và nếu giảng nói, thụ trì kinh này thì được tiêu tai tăng phúc. Kinh này cùng với kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh là 3 bộ kinh hộ quốc; khi tu pháp hội Nhân vương thì tụng 3 bộ kinh này. Cứ theo Lịch đại tam bảo kỉ thì kinh này có 3 người dịch là: Trúc pháp hộ, Cưu ma la thập và Chân đế. Đại đường nội điển lục và các bộ Mục lục sau đó đều theo thuyết trên. Nhưng Xuất tam tạng kí tập thì xếp kinh này vào Thất dịch tạp kinh lục (Những kinh mất tên người dịch). Còn Chúng kinh mục lục (Pháp kinh lục) quyển 2 đời Tùy thì xếp kinh này vào Nghi hoặc lục, cho rằng không phải do ngài Cưu ma la thập hoặc Trúc pháp hộ dịch. Niên hiệu Vĩnh thái năm đầu (765) đời Đường, vua Đại tông ban sắc cho Tam tạng Bất không dịch lại, lấy tựa đề là Nhân vương hộ quốc Bát nhã ba la mật đa kinh(gọi tắt: Nhân vương hộ quốc kinh, Tân dịch nhân vương kinh), gồm 2 quyển 8 phẩm, được thu vào Đại chính tạng tập 8, văn từ trong bản dịch này hơi giống với bản dịch cũ. Về sách chú sớ thì bản dịch của ngài Cưu ma la thập có: Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ 5 quyển (ngài Trí khải giảng, đệ tử Quán đính ghi), Nhân vương bát nhã kinh sớ 6 quyển (Cát tạng), Nhân vương kinh sớ 6 quyển (Viên trắc). Còn chú sớ bản dịch của ngài Bất không thì có: Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ 3 quyển (Lương bí), Nhân vương kinh sớ 4 quyển (Tịnh nguyên)v.v... [X. Nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ Q.1 (Trí khải); Du già sư địa luận lược toản Q.10; Đại đường nội điển lục Q.2-4; Khai nguyên thích giáo lục Q.2, 4, 6].

Nhân Vương Bát Nhã Kinh

(c: Jên-wang-pan-jo-ching, 仁王般若經): còn gọi là Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (仁王般若波羅蜜多經), Nhân Vương Hộ Quốc Kinh (仁王護國經), Tân Dịch Nhân Vương Hộ Quốc Kinh (新譯仁王護國經), Hộ Quốc Nhân Vương Bát Nhã Kinh (護國仁王般若經), 2 quyển, hiện còn, Taishō 8, 834, No. 246, Đường Bất Không (不空, 705-774) dịch.

Nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh

仁王般若波羅蜜經; C: rénwáng bōruò bōluómì jīng; J: ninō hanyaharamitsukyō;|Tên gọi đầy đủ trong Đại Chính tân tu đại tạng là Phật thuyết nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh (佛説仁王般若波羅蜜經); thường được gọi tắt là Nhân vương kinh (仁王經), 2 quyển, được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn.

Nhân vương bát-nhã kinh sớ

仁王般若經疏; C: rénwáng bānruòjīng shū; J: jinou hannyakyō so;|Gồm 6 quyển, được Cát Tạng (吉蔵) biên soạn.

nhân vương chú

(仁王咒) Tức Đà la ni được nói trong kinh Nhân vương. Đà la ni này là pháp môn thù thắng của hết thảy chư Phật. [X. phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa]. NHÂN VƯƠNG HỘ QUỐC BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH ĐẠO TRÀNG NIÊM TỤNG NGHI QUĨ Cũng gọi Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đà la ni niệm tụng nghi quĩ, Nhân vương hộ quốc bát nhã nghi quĩ, Nhân vương niệm tụng nghi quĩ. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nghi quĩ này giải thích phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa quyển hạ, đồng thời, nói rõ qui tắc kiến lập Nhân vương kinh pháp mạn đồ la và thứ tự tu pháp này. Toàn sách chia làm 5 khoa: 1. Nói rõ việc Bồ tát hiện uy đức. 2. Qui tắc kiến lập Mạn đồ la. 3. Pháp tắc vào đạo tràng. 4. Giải thích pháp quán Văn tự đà la ni. 5. Đà la ni quán tưởng bố tự luân. Trong Súc loát Đại tạng kinh, Nghi quĩ này được chia làm 2 quyển. Ngoài ra, Nhân vương bát nhã niệm tụng pháp do ngài Tam tạng Bất không dịch là do chỉnh lí khoa thứ 3 đến khoa thứ 5 trong nghi quĩ này mà thành 1 quyển(cũng được thu vào Đại chính tạng tập 19), văn từ hơi khác.

nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ

(仁王護國般若波羅蜜多經疏) Cũng gọi Tân dịch Nhân vương bát nhã kinh sớ, Tân dịch Nhân vương kinh sớ. Kinh sớ, 3 quyển, do ngài Lương bí soạn vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa 2 quyển, bản dịch của ngài Tam tạng Bất không đời Đường. Nội dung sách này trước hết giải thích sơ lược về đề kinh và đại ý kinh, kế đến lập 4 môn: Duyên khởi của kinh, Thuyết minh tông thể, Sở nhiếp sở bị và Giải thích kinh văn.[X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15, 16; Chư a xà lê chân ngôn Mật giáo bộ loại tổng lục Q.thượng].

nhân vương hộ quốc bát nhã kinh sớ

(仁王護國般若經疏) Kinh sớ, 5 quyển, do ngài Trí khải đời Tùy giảng, đệ tử Quán đính ghi, được thu vào Đại chính tạng tập 33. Đây là sách chú thích kinh Nhân vương bát nhã ba la mật đa 2 quyển, do ngài Cưu ma la thập dịch vào đời Diêu Tần. Trước hết dùng Ngũ trùng huyền nghĩa trình bày đại ý của kinh, sau đó là giải thích văn kinh. Cứ theo Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện, thì vào cuối thời Trần, ngài Trí khải có tuyên giảng kinh Nhân vương bát nhã 2 lần. Phương pháp chú thích kinh Nhân vương trong sách này đại khái cũng giống như cách chú thích trong Thiên thai tam đại bộ, tức là cũng dùng Ngũ trùng huyền nghĩa, Tứ thích... để giải thích văn kinh, nhưng phần thích nghĩa thì kém sinh động, nên e rằng bộ kinh sớ này có lẽ đã do người đời sau soạn, rồi mượn tên của ngài Trí khải. [X. Đại minh tam tạng thánh giáo Bắc tạng mục lục Q.4; Đại minh tam tạng thánh giáo tam tạng mục lục; Duyệt tạng tri tân Q.36].

Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh

仁王護國般若波羅蜜經; C: rénwáng hùguó bānruò bōluómì jīng; J: ninnō gokoku hannya haramitsu kyō;|Kinh, gồm 2 quyển, được Bất Không (不空) dịch. Là một bộ kinh trí huệ về một vị vua nhân đức hộ trì cho đất nước mình. Có lẽ xuất xứ biên soạn kinh là ở Đông Nam Á. Nội dung kinh gồm có những giải thích về Thập tam không (十三空), Thập tứ nhẫn (十四忍), Nhị đế (二諦).

nhân vương hội

(仁王會) Cũng gọi Nhân vương trai, Nhân vương bát nhã hội, Nhân vương đạo tràng, Bách tòa đạo tràng, Bách tòa hội. Pháp hội tuyên giảng và tán thán kinh Nhân vương bát nhã để cầu nguyện mưa hòa gió thuận, đất nước thanh bình, nhân dân an lạc. Theo kinh Nhân vương, khi nước nhà bị tai nạn loạn lạc, nếu trì tụng kinh này thì mùa màng bội thu, dân giầu nước yên. Tại Trung quốc, vào năm Vĩnh định thứ 3 (559) đời vua Vũ đế nhà Trần thời Nam Bắc triều, vua ban sắc thiết lập Nhân vương đại trai trong cung, đó là khởi nguồn của loại pháp hội này. Từ đó về sau, mỗi năm cử hành pháp hội 2 lần, giảng kinh Nhân vương bát nhã. Năm Chí đức thứ 3 (585), Trần hậu chủ(kế vị Vũ đế)thỉnh Đại sư Trí khải chủ giảng Nhân vương bát nhã bách tòa ở điện Thái cực. Năm Trinh quán thứ 3 (629) đời Đường, vua Thái tông ban sắc cho tăng ni trong kinh thành, ngày 27 hàng tháng hành đạo, giảng tụng kinh Nhân vương để cầu phúc cho nước nhà. Thời vua Đại tông, ngài Tam tạng Bất không dịch kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa (bản dịch mới), cũng nhiều lần lập hội giảng tụng, hoặc cầu mưa, hoặc cầu dẹp yên quân giặc. Đời sau, loại pháp hội này rất thịnh hành. Tại Nhật bản, Thiên hoàng Tề minh thiết lập pháp hội tu Nhân vương bát nhã lần đầu tiên vào năm Tề minh thứ 6 (660). Từ đó về sau, mỗi khi Thiên hoàng lên ngôi thì khắp nơi trên toàn quốc đều tu pháp hội Nhân vương bát nhã, gọi là Nhất đại nhất độ Nhân vương hội. Ngoài ra còn có hội Nhân vương lâm thời được cử hành vào những dịp lễ lớn của quốc gia, hội Nhân vương trong 2 mùa Xuân và Thu, hội Nhân vương của Mạc phủ v.v... Tại Cao li, từ vua Văn tông (1047-1082) trở về sau, cũng có nhiều lần thiết lập Bách tòa Nhân vương hội. [X. Phật tổ thống kỉ Q.6, 37, 39; Tùy Thiên thai Trí giả đại sư biệt truyện; Quốc thanh bách lục Q.1; Tục cao tăng truyện Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14, 16; Nhật bản thư kỉ Q.26, 29, 30; Cao li sử Q.4-10].

Nhân vương kinh

仁王經; C: rénwáng jīng; J: ninōgyō;|1. Tên gọi tắt của Nhân vương bát-nhã Ba-la-mật kinh (仁王般若波羅蜜經), được Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch; 2. Tên gọi tắt của Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh (仁王護國般若波羅蜜經), được Bất Không (不空) dịch.

nhân vương kinh mạn đồ la

(仁王經曼荼羅) Mạn đồ la được vẽ theo hình Nhân vương và Nhân vương đạo tràng niệm tụng nghi quĩ để dùng khi tu pháp kinh Nhân vương. Có 2 loại: 1. Mạn đồ la treo trong đạo tràng: Trong Mạn đồ la này có vẽ 5 vị Bồ tát ở 5 phương là: Kim cương thủ, Kim cương bảo, Kim cương lợi, Kim cương dược xoa và Kim cương ba la mật đa. Rồi vẽ 5 thân Chính pháp luân của 5 vị Bồ tát này là: Phổ hiền, Hư không, Văn thù sư lợi, Tồi nhất thiết ma oán và Chuyển pháp luân. Sau hết, vẽ 5 thân Giáo lệnh của 5 Bồ tát là 5 vị Đại minh vương: Hàng tam thế, Cam lộ quân đồ lợi, Đại uy đức, Tịnh thân kim cương, Bất động, cùng các quyến thuộc. 2. Mạn đồ la trải trên đàn lớn: Trong 4 lớp của đàn, theo thứ tự vẽ thân Chính pháp luân của 5 vị Bồ tát ở 5 phương, hình Tam muội da của 4 Bồ tát nội cúng dường, 4 Bồ tát ngoại cúng dường và 4 Nhiếp bồ tát. [X. phẩm Phụng trì trong kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa Q.hạ].

nhân vương kinh pháp

(仁王經法) Pháp bí mật được tu theo tinh thần trong các kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa và Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng nghi quĩ để cầu giữ vững quốc gia, tăng trưởng tuổi thọ, thiên hạ thái bình và tiêu trừ 7 nạn(mặt trời mặt trăng, các ngôi sao, nước cuốn, lửa cháy, bão táp, khô hạn, chiến tranh). Đàn tràng được thiết trí khi tu pháp này gồm: Đàn lớn, đàn Hộ ma, đàn 12 vị trời và đàn Thánh thiên; kinh chú tụng trì là kinh Nhân vương và đà la ni Nhân vương bát nhã... Pháp này cùng với Thỉnh vũ kinh pháp, Khổng tước kinh pháp và Thủ hộ kinh pháp được gọi chung là Tứ đại pháp (4 pháp lớn).

nhân vương môn

(仁王門) Cũng gọi Nhị vương môn. Cửa lầu an trí thần giữ gìn già lam (chùa viện). Cửa bên trái đặt thần Mật tích kim cương, cửa bên phải đặt thần Na la diên kim cương. Di tích của kiểu kiến trúc này hiện còn được thấy ở cửa tháp tại Ba hách đặc (Bharhut) bên Ấn độ.

nhân vật sống động

A vivid human personality.

nhân vật thuỷ nghĩa luận

(人物始義論) Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Khang pháp sướng soạn vào đời Đông Tấn, hiện đã thất lạc. Nội dung sách này thuật lại các cuộc luận bàn về những điều không tưởng của các nhân vật đương thời. Thời vua Thành đế (ở ngôi 326-342), ngài Khang pháp sướng cùng với các học giả Bát nhã như: Khang tăng uyên, Chi mẫn độ... đi về miền Nam, thường cầm phất trần tha thẩn ở chỗ ngã tư đường, mỗi khi gặp danh sĩ thì đàm luận suông từ sáng sớm đến chiều tối. Danh sĩ thời bấy giờ là Dữu lượng từng hỏi (Đại 49, 74 thượng): - Cái phất trần này vì sao còn mãi? Khang pháp sướng đáp: - Người liêm khiết chẳng cầu, kẻ tham lam thì không cho, nên nó còn mãi. Thời Lục triều vì loạn lạc nên chúng tăng ở Hoa bắc lánh xuống miền Nam và thường tiếp xúc, đàm luận với các danh sĩ. Do đó, loại trứ tác như trên đã được soạn thuật để cho hợp với sở thích thanh đàm của giới quí tộc Giang nam đương thời.[X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.8; Lương cao tăng truyện Q.4].

nhân vị

1) Personalism. 2) Địa vị tu hành Phật Nhân từ khi phát tâm cho đến lúc thành Phật: The causative position, i.e. that of a Buddhist, for he has accepted a cause, or enlightenment, that produces a changed outlook. ** For more information, please see Quả Vị. ; (因位) Đối lại: Quả vị. Đồng nghĩa: Nhân địa. Giai vị tu nhân Phật, tức là những giai vị tu hành, khi chưa chứng được quả Phật, cho nên gọi là Nhân vị. (xt. Nhân Địa).

nhân vị vạn hành

(因位萬行) Đối lại: Quả địa vạn đức. Từ gọi chung muôn hạnh được tu ở Nhân vị. Muốn thành quả Phật thì lúc ở Nhân vị cần phải tu muôn hạnh, chứa góp muôn điều thiện, nhờ đó mới có thể chứng được quả Phật. (xt. Quả Địa Vạn Đức).

nhân yết đà

(因揭陀) Phạm: Aígada. Cũng gọi Nhân kiệt đà. Vị A la hán thứ 13 trong 16 vị Đại a la hán, cùng với 1.300 A la hán quyến thuộc trụ trong núi Quảng hiếp, giữ gìn Chính pháp, làm lợi ích cho loài hữu tình. Đại sư Thiền nguyệt Quán hưu đời Đường vẽ hình tượng vị A la hán này trong tư thế ngồi với 2 bàn chân xếp lên nhau, tay trái cầm quyển kinh đưa lên ngang ngực, cúi đầu chăm chú xem, tay phải cầm tràng hạt. Thi hào Tô đông pha làm bài tán rằng: Nâng kinh cầm chuỗi Gậy thì dựa vai Chống gậy đứng dậy Kinh, chuỗi chẳng còn Không đi không đứng Chẳng ngồi chẳng nằm Hỏi sư lúc ấy Kinh, gậy đâu rồi? [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; La hán đồ tán tập; Das Pantheon des Tschantscha Hutuktu (E.Pander].

nhân ái

Kindness of heart—Charity—Benevolence.

nhân điểu minh ám

(人鳥明暗) Người chim sáng tối. Đối với đêm đen, người và chim thấy sáng tối khác nhau. Ban đêm, loài chim mắt đỏ thấy sáng, còn loài người thì chỉ thấy 1 màu tối đen. Từ ngữ này ví dụ lập trường không giống nhau thì chỗ thấy biết cũng khác nhau. Luận Hiển Mật nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 thượng) nói: Văn tùy theo sự chấp trước mà chỗ thấy ẩn, còn nghĩa thì tùy theo căn cơ mà hiện bày; ví như chỗ thấy của trời và quỉ khác nhau, người và chim thấy sáng tối không giống nhau.

nhân đà la

Indra (skt)—Thích Đề Hoàn Nhân—Thiên Đế—Thiên Chủ Đế—Trời Đế Thích—Nhân Đề Lê—Nhân Đề—Nhân Đạt Nhân Đạt La—Nguyên thủy là thần sấm sét hay mưa, biểu hiệu của Kim Cang Thủ, trở thành Thiên chủ của Đông Độ, chỉ sau có Phạm Thiên—Visnu và Siva—A god of the atmosphere, i.e. of thunder and rain; his symbol is the vajra or thunderbolt; he became “lord of the gods of the sky,” “region of the east quarter,” popularly chief after Brahma, Visnu, and Siva. ; (因陀羅) I. Nhân Đà La. Phạm: Indra.Pàli: Inda. Cũng gọi Nhân đạt la, Nhân đề lê, Nhân đề, Nhân để. Hán dịch: Thiên chủ, Đế. Chỉ cho trời Đế thích, là thần Hộ pháp của Phật giáo, 1 trong 12 vị trời.Trời Đế thích đứng đầu cõi trời Đao lợi (trời 33), ở trong thành Thiện kiến trên đỉnh núi Tu di, thống lĩnh 4 vị Thiên vương nên gọi là Thiên chủ, Đế thích, Thích ca thiên vương, Thích ca nhân đà la. Về các tên khác của Nhân đà la, kinh Tạp a hàm quyển 2 (bản Biệt dịch) và kinh Tạp a hàm quyển 40, nêu ra 8 tên là: Thích đề hoàn nhân, Phú lan đà la, Ma già bà, Bàsa bà, Kiêu thi ca, Xá chi bát đê, Thiên nhãnvà Nhân đề lợi. Ngoài ra, biệt danh của vị trời này từ xưa lưu truyền có từ 108 cho đến cả nghìn danh hiệu. Về hình tượng, thông thường là hình người trời, thân có nghìn mắt, ngồi trên lưng 1 con voi rất lớn. Theo kinh Trường a hàm quyển 40, Nhân đà la có trí tuệ thông minh, có khả năng quán xét cả nghìn lí nghĩa cho nên gọi là Thiên nhãn. Nhân đà la vốn là vị thần của Bà la môn giáo, Ấn độ giáo, cùng với Phạm thiên, Tì sa môn thiên... đều đã được đưa vào Phật giáo rất sớm. Theo thần thoại Ấn độ, vào thời đại Phệ đà, Nhân đà la là thần sấm và mưa, ở vào địa vị cao nhất trong các thần, rất được sung bái. Vì giỏi chiến thuật đánh thành, phá trận, rượt đuổi chiến xa, hua múa chày kim cương phá dẹp các ma, nên được khen là Thần công phá thành trì. Về sau, dần dần phát triển thành thần chiến tranh, thần thủ hộ các anh hùng hoặc chiến sĩ. Vì thế, những bài thơ, tụng có liên quan đến Nhân đà la đã chiếm đến 1 phần 4 trong toàn bộ sách Lê câu phệ đà. [X. kinh Trường a hàm Q. 21; kinh Đại lâu thán Q.5; kinh Khởi thế Q.8; kinh Bồ tát bản duyên Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.33 (bản Bắc); luận Đại trí độ Q.54, 56; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2, phần đầu; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.28; Đại nhật kinh nghĩa thích Q.4; Tuệ lâm âm nghĩa Q.27]. (xt. Đế Thích Thiên). II. Nhân Đà La. Cũng gọi Nhân đạt la, Ấn nại rô, Ấn đà rô, Chấp lực Dược xoa đại tướng, Nhân đạt la niết lí để phương đế xứ đại tướng. Gọi đủ: Dược xoa đại tướng nhân đà la.Vị thiện thần hộ trì Phật pháp, 1 trong 12 vị thần tướng Dược sư. Về hình tượng, cứ theo Tịnh lưu li tịnh độ phiêu, vị thần này có thân màu vàng, cỡi con nghê, tay trái cầm cây phất trần trắng, tay phải cầm linh(chuông nhỏ có quả lắc). Nhưng theo Tu Dược sư nghi quĩ bố đàn pháp, thì vị thần này thân màu hồng, tay cầm gậy. Ngoài ra, kinh Đà la ni tập quyển 3 liệt kê tên của 16 vị Thần vương, trong đó, Ấn đà rô thần vương thứ 9 có lẽ là Dược xoa đại tướng Nhân đà la. [X. Dược sư lưu li quang vương thất Phật bản nguyện công đức kinh niệm tụng nghi quĩ cúng dường pháp; Dược sư Như lai quán hành nghi quĩ pháp]. (xt. Dược Sư Thập Nhị Thần Tướng). III. Nhân Đà La. Cũng gọi Nhâm phạm nhân.Danh tăng kiêm họa sĩ Trung quốc sống vào đời Nguyên.Vì ở Trung quốc không có họ Nhân nên từ xưa sư được coi như 1 vị tăng Thiên trúc. Nhưng trên bức tranh Hàn Sơn Thập Đắc do sư vẽ có ghi mấy dòng chữ: Tuyên thụ Biện lương thượng phương hựu quốc Đại quang giáo thiền tự trụ trì, Phật tuệ Tịnh biện Viên thông pháp bảo đại sư, Nhâm phạm Nhân, trong đó, Biện lương chỉ cho đường Biện lương nằm ở phủ Khai phong. Căn cứ vào đó mà suy thì sư phải là vị tăng người Trung quốc sống vào đời Nguyên, trụ trì Đại quang giáo thiền tự, được phong hiệu Đại sư. Trong các bức tranh vẽ có ẩn tàng Thiền cơ, giầu khí phách, rất được ngài Sở thạch Phạm kì tán thưởng. Tại Nhật bản, có nhiều nơi còn giữ được những họa phẩm của sư, bức Bố Đại được tàng trữ ở viện Mĩ thuật tại Đông kinh, bức Trí Thường Thiền Sư được cất giữ ở Gia tĩnh đường... Hai bức họa này cùng với các bức: Hàn Sơn Thập Đắc, Đơn Hà Thiêu Phật... đều được xác định là quốc bảo của Nhật bản. [X. Sở thạch Phạm kì thiền sư ngữ lục Q.14].

nhân đà la bà tha na

Indravadana or Indrabhavana (skt)—Tên của trời Đế Thích—Name for Indra.

nhân đà la ha tất đa

(因陀羅呵悉多) Phạm: Indrahasta. Cũng gọi Nhân đạt la hát tất đá, Nhân đà la ha tắc đa.Tức là bạch bì hoặc nhân sâm, thuộc loại dược liệu.Theo kinh Kim quang minh tối thắngvương quyển 7, Bạch bì là vị thứ 7 trong 32 vị hương dược(thuốc thơm). Còn Nhân sâm thì thấy được ghi trong kinh Mâu lê mạn đà la chú. [X. kinh Quảng đại bảo lâu các thiện trụ bí mật đà la ni Q.trung].

nhân đà la ni la mục tử

Indranila-Mukta (skt)—Viên ngọc bích của trời Đế Thích—Indra's blue or green stone, which suggests an emerald, Indranilaka. a) Indranila (skt): Ngọc bích—A sapphire. b) Mukta (skt): Ngọc châu—A pearl.

nhân đà la quật

(因陀羅窟) Phạm: Indrazailaguhà. Cũng gọi Đế thích quật, Đế thích nham, Nhân đà la thế la lũ ha, Nhân đà la thế la cầu ha, Nhân sa cựu, Thiên đế thạch thất, Thạch thất tinh xá. Hang động ở nước Ma yết đà thuộc Trung Ấn độ (nay là Tiểu bang Bihar), là nơi mà thủa xưa đức Phật đã giải đáp 24 nghi vấn do trời Đế thích nêu ra, là 1 trong 5 tinh xá ở thời đại đức Phật còn tại thế. Cửa hang hiện nay rộng 3 mét, cao 5 mét, bên trong có nhiều con dơi; bên ngoài, chỗ gần cửa hang, có nhiều chim thứu (kên kên) bay lượn, vì thế có tên là Thứu môn (Gidda-dwar). [X. kinh Đế thích sở vấn; Cao tăng Pháp hiển truyện; Đại đường tây vực kí Q.9].

nhân đà la thế la cầu ha

Indrasailaguha (skt). 1) Hang động của Đế Thích—Indra's cave. 2) Xà Thần Sơn: The mountain of the snake god 3) Tiểu Cô Thạch Sơn: Núi của những đỉnh cô lập nhỏ gần tu viện Nalanda, đỉnh phía tây là một hang núi rộng, nhưng không cao, nơi mà về phía nam của hang đá nầy Đức Thế Tôn thường hay thăm viếng. Người ta nói trời Đế Thích đã hỏi Tứ Thập Nhị Chương và Đức Phật cũng trả lời đầy đủ tại đây—The mountain of small isolated peaks located near Nalanda, where on the south crag of the west peak is a rock cave, board but not high, which Sakyamuni frequently visited. Indra is said to have forty-two questions on stone, to which the Buddha rpplied.

nhân đà la thệ đa

Indraceta (skt)—Thị giả của trời Đế Thích—Indra's attendants.

nhân đà la võng

See Bảo Võng. ; (因陀羅網) Phạm: Indra-jàla. I. Nhân Đà La Võng. Cũng gọi Thiên đế võng, Đế võng. Tấm lưới báu trang hoàng ở cung điện của trời Đế thích. Mỗi mắt lưới đều có kết bảo châu, nhiều vô lượng, mỗi viên bảo châu đều ánh hiện hình ảnh của tất cả các viên bảo châu khác, vô lượng viên bảo châu như thế giao thoa phản chiếu, ánh hiện trùng trùng, vô cùng vô tận. Kinh Hoa nghiêm dùng Nhân đà la võng để ví dụ cho nghĩa 1 và nhiều tương tức tương nhập (tức là nhau hòa nhập vào nhau), trùng trùng vô tận của các pháp. Nếu đứng về phương diện cảnh mà nói, thì gọi là Nhân đà la võng cảnh; đứng về phương diện định mà nói thì gọi là Nhân đà la võng định; còn đứng về mặt độ (cõi) mà nói thì gọi là Nhân đà la võng độ, đây đều là hiển bày pháp môn Sự sự viên dung vô ngại. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. II. Nhân Đà La Võng. Loại vũ khí do thần A thuận na (Phạm: Arjuna) ở Ấn độ sử dụng. Lúc chiến đấu, thần A thuận na dùngthứ vũ khí này để chế ngự quân địch, làm cho địch lâm vào tình cảnh nguy khốn.

nhân đà la võng cảnh giới môn

(因陀羅網境界門) Cũng gọiNhân đà la vi tế cảnh giới môn. Môn Pháp giới sum la muôn tượng, trùng trùng vô tận, ánh hiện, phản chiếu lẫn nhau,muôn màu, muôn vẻ, như tấm lưới châu báu của trời Đế thích; là 1 trong 10 huyền môn của Hoa nghiêm. Nhân đà la võng là tấm lưới treo ở cung điện của trời Đế thích, các mắt lưới đều được trang sức bằng ngọc minh châu; mỗi hạt minh châu trong suốt, vô lượng hạt minh châu sáng rỡ, ánh hiện lẫn nhau, trùng trùng vô tận, không gian có hạn mà cảnh giới thì vô cùng; giống như ánh sáng của muôn nghìn tấm gương chiếu rọi vào nhau, lớp này lớp khác dàn trải ra đến vô cùng tận. Trong các kinh luận, tấm lưới trời Đế thích thường được dùng để ví dụ cho tính chất vô tận của Pháp giới duyên khởi. Ở đây, pháp môn Nhân đà la võng cảnh giới này cũng như vậy, mỗi mỗi pháp, mỗi mỗi vị, giao xen nhau, hòa nhập vào nhau, không hề trở ngại, điều này phá tan nghi chấp của chúng sinh cho rằng Tất cả pháp không thể trùng trùng vô tận. [X. phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).

nhân đà la đạt bà môn phật

Indradhvaja (skt)—Trong một tiền kiếp Đức Phật tái sanh làm con trai thứ bảy của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng—A Buddha's incarnation of the seventh son of the Buddha Mahabhijnabhibhu.

Nhân đạo

人道; C: réndào; J: nindō;|Cõi giới được tái sinh làm người. Một trong sáu cõi chúng sinh đi đầu thai (s: mānuṣya-gati). Xem Nhân gian (人間), Lục đạo (六道).

nhân đạo

1) Lòng nhân đạo: Humanity—to treat people with humanity. 2) Nhân thừa: The human stage of the gati or states of existence—See Nhân Thừa. 3) Con đường hay nguyên tắc của nhân: The way or principle or causation.

nhân đạt oa huân nỗ lạc truy

(仁達哇熏努洛追) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho dử (ghèn) ở trong mắt. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho sự chấp trước vào cái thấy hẹp hòi, nhỏ nhặt của mình. Gia thái phổ đăng lục quyển 15 (Vạn tục 137, 119 hạ) nói: Dù có khuấy nước sông thành váng sữa thì mắt của tôm cua vẫn đóng ghèn.

nhân đạt đà la đại tướng

Trời Đế Thích như một vị đại tướng giữ tháp Phật Dược Vương—Indra as General who guards the shrine of Bhaisajya.

Nhân đầu tràng

人頭幢; C: réntóuchuáng; J: nintōtō;|Dịch chữ daṇḍa từ tiếng Phạn (sanskrit) và Pa-li. Đàn-noa (檀拏).

nhân đẳng khởi

(因等起) Đối lại: Sát na đẳng khởi. Đồng nghĩa: Động cơ. Do tác dụng của tâm tư duy mà phát khởi nghiệp, cũng chỉ cho tâm, tâm sở sinh ra biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Theo luận Đại tì bà sa quyển 117 và luận Câu xá quyển 13, vì Nhân đẳng khởi có nghĩa là dẫn phát, năng chuyển, nên cũng gọi là Năng chuyển tâm, Chuyển tâm. Nhân đẳng khởi có 2 loại: 1. Viễn nhân đẳng khởi: Nhân đẳng khởi xa. Tức suy nghĩ trước những việc cần phải làm, là nghiệp nhân gián tiếp, tương đương với Thẩm lự tư, Quyết định tư của Duy thức. 2. Cận nhân đẳng khởi: Nhân đẳng khởi gần. Tùy sự suy nghĩ lúc nào cần phải làm thì làm liền, chứ không suy nghĩ trước, cũng tức thân hành động, miệng phát ra lời nói, tương đương với Động phát thắng tư của Duy thức. Về vấn đề này, có thuyết khác cho rằng, ý niệm trước Quyết định tư là Viễn nhân đẳng khởi, ý niệm sau Quyết định tư là Cận nhân đẳng khởi. [X. Thành duy thức luận thuật kí Q.2, phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần cuối]. (xt. Sát Na Đẳng Khởi, Tư).

nhân địa

Trạng thái thực tập giáo lý nhà Phật dẫn tới quả vị Phật—Fundamental cause or causal ground—The state of practicing the Buddha religion which leads to the resulting Buddhahood (quả địa). ; (因地) Đối lại: Quả địa. Đồng nghĩa: Nhân vị. Chỉ cho các địa vi hoặc giai vị đạt được trong quá trình từ khi tu tập nhân hạnh đến chứng quả vị. Nhân địa có thể chia làm 2 loại: 1. Nói theo quả vị Phật, thì từ Đẳng giác trở xuống đều là Nhân địa, như câu Bồ tát Pháp tạng khi còn ở nhân vị trong Giáo hành tín chứng quyển 2, là nói theo quả địa của đức Phật A di đà. Vì bồ tát Pháp tạng là danh hiệu của đức Phật A di đà khi còn ở địa vị tu nhân (nhân vị)trong quá khứ. 2. Nói theo Bồ tát từ Sơ địa trở lên, thì các giai vị Bồ tát trước Thập địa đều là nhân vị. Tóm lại, giai vị đã chứng gọi giai vị chưa chứng là Nhân địa. Như kinh Lăng nghiêm quyển 5 (Đại 19, 128 trung) nói: Con xưa kia ở nơi nhân địa dùng tâm niệm Phật mà vào Vô sinh nhẫn. (xt. Quả Địa).

nhân địa phật

(因地佛) Đối lại: Quả thượng Phật. Chỉ cho hàng Bồ tát trong khoảng thời gian từ lúc mới phát tâm đến khi thành Phật, tu nhân hạnh trên cầu bồ đề, dưới hóa độ chúng sinh.

nhân địa đảo giả hoàn nhân địa khởi

(因地倒者還因地起) Do đất mà bị vấp ngã, cũng lại từ đất đứng dậy. Thành ngữ này được dùng để ví dụ ý nghĩa nghịch duyên tức là thuận duyên. Đại trang nghiêm kinh luận quyển 2 (Đại 4, 263 trung) nói: Như người do đất mà vấp ngã, lại nhờ đất mà đứng dậy được; vì Phật mà bị tội lỗi, cũng nhờ Phật mà tội tiêu diệt.

nhân định

Thời gian từ 9 đến 11 giờ đêm, khoảng thời gian mà con người an định cho cả đêm—The third beat of the first watch from 9:00 PM to 11:00 PM when men are settled for the night.. ; (人定) Ấn độ chia ngày đêm làm 6 thời, trong đó, Nhân định là đầu đêm mà Trung quốc xưa gọi là giờ Hợi, tức khoảng thời gian từ 21 giờ đến 23 giờ. Thiền môn lấy thời gian này để bắt đầu ngủ nghỉ, nên gọi là Nhân định.

nhân đồng phẩm

Of the same order as the reason. ; (因同品) Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho phẩm loại có cùng 1 ý nghĩa với Nhân (lí do) trong luận thức Nhân minh, tức là phẩm loại cùng nghĩa với ý nghĩa của pháp năng lập, 1 trong những điều kiện bắt buộc phải có trong Đồng dụ. Nhân đồng phẩm khác với Tông đồng phẩm ở chỗ đồng với pháp năng lập chứ không phải với pháp sở lập. Như trong luận thức:Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì nó có tính cách được tạo ra. Đồng dụ: Như cái bình... Trong đó, Tính cách được tạo ra là pháp năng lập, cho nên, phàm những vật có tính cách được tạo ra, như cái bình, cái chén, cái chậu v.v... đều là Nhân đồng phẩm. Ngoài ra, Nhân đồng phẩm còn được chia làm nghĩa loại và thể loại khác nhau, mà Nhân minh có khi chuyên dùng nghĩa loại, có khi dùng cả hai. Trong Nhân đồng phẩm còn có Cộng đồng phẩm, Tự đồng phẩm và Tha đồng phẩm khác nhau. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí ngộ tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Đồng Dụ, Tự Đồng Dụ, Tông Đồng Phẩm).

nhân đức

Benevolent character.

Nhất Hưu Tông Thuần

(一休宗純, Ikkyū Sōjun, 1394-1481): vị tăng của Phái Đại Ứng (大應派) thuộc Lâm Tế Tông Nhật Bản, cha là Hoàng Đế Hậu Tiểu Tùng (後小松), mẹ là con của Nam Triều Di Thần (南朝遺臣), hiệu là Nhất Hưu (一休), ngoài ra còn có các biệt hiệu khác như Cuồng Vân Tử (狂雲子), Mộng Khuê (夢閨), Hạt Lư, Quốc Cảnh (國景), Vân Hoa (雲華), v.v. Vào ngày mồng một tháng giêng năm đầu (1394) niên hiệu Ứng Vĩnh (應永), mẹ ông rời khỏi cung nội và hạ sanh ra ông nơi nhà thứ dân. Đến năm thứ 6 (1399) cùng niên hiệu trên, ông đến xuất gia làm đồng tử với Tượng Ngoại Thiền Giám (象外禪鑑) ở An Quốc Tự (安國寺) thuộc kinh đô Kyoto, và được đặt cho tên là Chu Kiến (周建). Ông từng học làm thơ với Thanh Tẩu Sư Nhân (清叟師仁), Cung Triết Long Phàn (恭哲龍攀), Tường Cầu Thư Ký (祥球書記), và mỗi ngày thường làm ra một bài thơ. Hơn nữa, ông cũng chẳng hài lòng với mấy bài viết về hàng thị tộc quan lại nhân ngày kiết chế Thượng Đường, nên đã làm hai câu đem trình lên cho Cung Triết xem. Cung Triết nghe mấy câu kệ nói về sự ngu dốt của tòng lâm mà nhân đó khen ông. Sau ông đến tham vấn Khiêm Ông Tông Vi (謙翁宗爲) ở Tây Kim Tự (西金寺), rồi sau khi vị này qua đời thì ông lại đến tham yết Hoa Tẩu Tông Đàm (華叟宗曇) ở Kiên Điền (堅田) vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Về sau ông được thầy ban cho hai chữ Nhất Hưu (一休) và lấy đó làm đạo hiệu. Sau khi hầu hạ thầy được một thời gian khá lâu, cuối cùng ông mới được ấn chứng cho. Nhưng rồi, ông lại đem ném ấn chứng nầy vào lửa, và bắt đầu sống cuộc đời phóng khoáng lãng du đó đây, và đã từng trú chân tại một số chùa như Thù Ân (酬恩) ở vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), Từ Tế (慈濟) ở vùng Hòa Tuyền (和泉, Izumi, thuộc Ōsaka-fu [大阪府]), v.v. Đến tháng 2 năm thứ 6 niên hiệu Văn Minh (文明), Nhu Trọng Tông Giáng (柔仲宗降) phụng sắc chỉ cung thỉnh ông đến trú trì Đại Đức Tự (大德寺, Daitoku-ji), nhưng ông tự răn mình và không chấp nhận lời thỉnh cầu trên. Ông thị tịch vào ngày 21 tháng 11 năm thứ 13 (1481) cùng niên hiệu trên, hưởng thọ 88 tuổi. Ông để lại di kệ rằng: “Tu Di nam bạn, thùy hội ngã Thiền, Hư Đường lai dã, bất trực bán tiền. (修彌南畔、誰會我禪、虛堂來也、不直半錢, ven phía nam núi Tu Di, có ai là người hiểu được Thiền của ta. Hư Đường Trí Ngu có đến chăng nữa, cũng chỉ đáng nửa xu mà thôi”. Trước tác của ông có Cuồng Vân Tập (狂雲集).

nhã

Tao nhã—Polite. ; (惹) Cũng gọi Xà, Xã, Nhã, Tha, Ta, Nặc. Chỉ cho chữ (ja), là 1 trong 50, 1 trong 42 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích tự mẫu trong kinh Du già kim cương đính (Đại 18, 338 hạ) nói: Chữ Nhạ, nghĩa là tất cả pháp sinh bất khả đắc. Luận Đại trí độ quyển 48 (Đại 25, 407 hạ) nói: Chữ Xà, nghĩa là vào các pháp sinh bất khả đắc. Hoặc nói (Đại 25, 408 hạ): Nếu nghe xướng chữ Xà thì biết ngay các pháp sinh lão bất khả đắc(chẳng thực sinh lão). Chữ Xà đề xà la (Phạm: Jàtijarà), Hán dịch là Sinh lão (sống, già). Trong đó, Xà đề nghĩa là sinh, Xà la nghĩa là lão, cả 2 đều bắt đầu bằng chữ Nhạ (ja), vì thế mà có thuyết trên.Nhưng kinh Đại bát nê hoàn quyển 5 lại nêu ra nghĩa thiêu (Phạm: Jvala), còn kinh Hoa nghiêm quyển 76 (bản dịch mới) thì nêu nghĩa Vào biển thế gian thanh tịnh.[X. kinh Quang tán bát nhã Q.7; kinh Phóng quang bát nhã Q.4; kinh Đại bát nhã Q.53]. ; (若) Cũng gọi Nhưỡng, Nương, Nhạ. Chỉ cho chữ (jĩa) trong 42 chữ cái Tất đàm. Chữ này biểu thị các pháp trí bất khả đắc. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 76 (Đại 10, 418 trung) nói: Khi xướng chữ Nương, thì vào cửa Bát nhã ba la mật, là cửa trí tuệ thế gian. Đó là nghĩa trí, vì chữ jĩa ở đây là từ chữ Phạm jĩana mà ra. [X. phẩm Quán trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Đà lân ni trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4; phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm Q.31; luận Đại trí độ Q.48].

Nhã Chơn

(雅眞, Gajin, ?-999): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào giữa thời Bình An, Kiểm Hiệu đời thứ 4 của Cao Dã Sơn, húy là Nhã Chơn (雅眞), thông xưng là Thiên Dã Kiểm Hiệu (天野檢校). Ông làm Giảng Sư ở Hòa Tuyền (和泉, Izumi), sau đó đến thọ phép Quán Đảnh với Chơn Lại (眞賴) ở Thạch Sơn Tự (石山寺) và trú tại đây. Vào năm 952, thể theo lời thỉnh cầu của Khoan Không (寬空) ở Cao Dã Sơn, ông lên đó làm Chấp Hành Chánh Biệt Đương (執行正別當), rồi nhân đó cho tái kiến tháp miếu thờ Không Hải vốn bị thiêu cháp trước đây, và đến năm 984 thì làm Kiểm Hiệu. Đệ tử phú pháp của ông có Nhân Hải (仁海), Thiên Nhật (遍日).

nhã da

(惹耶) Phạm: Jayà. Cũng gọi Thệ da, Xã da, Giả da, Bán giả da.Hán dịch; Thắng.Vị tôn ngồi bên phải Đồng mẫu lư, phíadưới Phì giả da, trong viện Văn thù trên Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, là quyến thuộc của bồ tát Văn thù, 1 trong 4 chị em Thiên nữ. Về hình tượng của vị tôn này, có nhiều thuyết khác nhau, hoặc dựng bàn tay hướng về phía trước, ngón trỏ, ngón giữa, ngón vô danh co lại, giữa ngón trỏ và ngón giữa có kẹp 1 mũi tên. Hoặc có thuyết cho rằng tay phải cầm cây mâu mũi nhọn, tay trái nắm lại ngửa lên, ngón trỏ, ngón giữa duỗi thẳng để ở cạnh hông. Chủng tử là (ka), hình Tam muội da là cây gậy. Mật hiệu là Kim cương, biểu thị Thường ba la mật. Trong Ngoại kim cương bộ thuộc Mạn đồ la Thai tạng giới; thì vị Thiên nữ này là vợ của Nhật thiên, ngồi ở phía bên phải của Nhật thiên. Còn trong Mạn đồ la kinh Lí thú, đoạn 4 chị em Thiên nữ, thì Nhạ da ngồi ở phía trước trời Đô mâu lô, biểu trưng Thường ba la mật. [X. Lí thú thích Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.5, Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.hạ].

nhã la nghiêm

(若羅嚴) Vị tăng dịch kinh ở đời Tây Tấn. Sư từng dịch kinh tại Lạc dương, dịch được 1 bộ kinh Thời phi thời. Lời bạt trong kinh này (Đại 55, 501 trung) nói: Pháp sư Nhược la nghiêm người nước ngoài, tay cầm bản Phạm, miệng tự tuyên dịch, đạo nhân tại Lương châu ở trong thành Vu điền ghi chép. Những sự tích khác về sư không được rõ. ; (若羅嚴) Cao tăng nước ngoài đến Trung quốc dịch kinh vào đời Tây Tấn. Lời ghi ở phía sau bộ kinh Hữu thời phi thời (Đại 55, 501 trung) nói: Pháp sư Nhã la nghiêm người nước ngoài, tay cầm bản tiếng Phạm đọc dịch ra tiếng Hán, có đạo nhân người Lương châu trong thành Vu điền ghi chép lại.

nhã lợi an nhân

(雅利安人) Nguời Nhã lợi an (Aryans), một chủng tộc Ấn Âu sống ở vùng Trung á, có than hình cao lớn, mặt vuông, râu rậm, mũi thon cao, mắt đen. Khoảng 2000 năm trước Tây lịch, dân tộc Aryans di chuyển theo 2 hướng đông, tây. Nhánh hướng tây đi sang phía bắc Hi lạp, Ý đại lợi, trở thành thủy tổ của dân Âu châu. Hướng đông chia thành 2 chi, 1 chi đi vào Ba tư thành giống dân Iraq, 1 chi xâm nhập và định cư ở vùng Ngũ hà (Phạm: Paĩjàb) thượng du sông Ấn độ (Indus), tiêu diệt nền văn minh Ấn độ địa phương mà sáng lập văn hóa Ấn độ thuộc hệ Aryan. Các học giả gọi giống người này là Ấn độ Nhã lợi an nhân (Indo-Aryans). Người Ấn độ Nhã lợi an sùng bái nhiều thần tự nhiên, kinh điển đầu tiên đại biểu cho nền văn hóa mới được hình thành ở địa phương Ngũ hà là kinh Phệ đà, Thánh điển căn bản của Bà la môn giáo. Phệ đà được chia làm 4 phần, trong đó, phần thu chép những bài ca tán tụng các thần là Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda), là phần được biên soạn sớm nhất trong 4 kinh Phệ đà. Sau đó, người Nhã lợi an lại di huyển đến vùng đồng bằng mầu mỡ giữa khoảng song Hằng (Phạm: Gaígà) và sông Diêm mâu na (Phạm: Yamunà), ở đây, họ xác lập chế độ Bốn giai cấp: Bà la môn (giáo sĩ), Sát đế lợi (vua chúa), Phệ xá (dân thường) và Thủ đà la (nô lệ). Đến khoảng 1000-800 năm trước Tây lịch thì Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, sách chú thích kinh Phệ đà gốc) được biên soạn thành. Niên đại thành lập 3 Phệ đà kia cũng được coi là cùng thời kì này. Về sau, người Ấn độ Nhã lợi an dần dần lại tiến tới vùng trung du sông Hằng về phía đông, ở đây, họ kết hôn với dân địa phương mà sản sinh ra 1 giống hỗn huyết, sử dụng thứ tục ngữ Prakrit biến hóa từ ngữ hệ Nhã lợi an và lâu dần quên mất tông giáo và tập quán Phệ đà truyền thống. Có thuyết cho rằng việc người Nhã lợi an dời đến định cư ở lưu vực sông Hằng tại Ấn độ diễn ra 2 lần: Lớp người đến lần đầu kết hôn với dân địa phương, còn những người đến lần thứ 2 thì tiến vào vùng Câu lô (Phạm: Kuru), Phan ca lạp (Phạm: Paĩcàla) và vẫn giữ huyết thống thuần chủng, đánh đuổi dân địa phương đi các nơi khác. Đến thời đại đức Thích tôn, những người dời đến lần đầu vẫn duy trì chủ nghĩa Bà la môn tối thượng, còn những người di cư lần thứ 2 thì ở các vùng Kiêu tát la (Phạm:Kozala), Ma kiệt đà (Phạm: Magadha)... hình thành các quốc gia mới, không tôn trọng giáo quyền Bà la môn, lấy vua làm người chỉ đạo tư tưởng văn hóa. Đức Thích tôn vốn xuất thân từ vương thất dòng Thích ca của 1 nước nhỏ lệ thuộc nước Kiêu tát la, sau khi thành Phật, Ngài chủ trương thủ tiêu chế độ xã hội 4 giai cấp, tất cả mọi người, không phân biệtdòng họ, hoàn cảnh xuất thân, đều được gia nhập giáo đoàn của Ngài. [X. Ấn độ Phật giáo sử khái thuyết (Đại hòa dịch); Thế giới Phật giáo thông sử thượng sách (Thánh nghiêm); Ấn độ sử cương yếu (Lí chí thuần); Ấn độ Phật giáo tư tưởng thể hệ luận sử (Hoàng công vĩ)]. (xt. Tứ Tính).

nhã lợi an tông giáo

(雅利安宗教) Chỉ cho cộng đồng tông giáo của các dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu. Đây là khái niệm giả thiết của nhà ngôn ngữ học người Anh ở thế kỉ XIX là ông Max Müller (1823- 1900). Ông Max Müller căn cứ vào từ A lợi nhã (Phạm: Àrya, hàm ý là Thánh nhân, cao quí) được nói đến trong các sách vở xưa của Ấn độ mà gọi ngữ hệ Ấn Âu là Nhã lợi an (Aryan), đồng thời, giả thiết rằng tổ tiên của các cộng đồng dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu là người Nhã lợi an. Ông nghiên cứu và so sánh các sách Lê câu phệ đà Phạm:Fg-veda) của Ấn độ, A phàm sĩ pháp (Avesta) của Ba tư và các điển tịch của Hi lạp cổ đại, lại đem đối chiếu với các loại hiện vật khảo cổ mới phát hiện được, rồi suy đoán rằng tông giáo của các dân tộc thuộc ngữ hệ Ấn Âu đều bắt đầu từ tông giáo nguyên thủy của 1 cộng đồng, tức là Nhã lợi an tông giáo. Max Müller cho rằng tông giáo này lấy thần hương thiên (trời xanh)làm trung tâm, tiếng Phạm gọi vị thần này làDyaus pità, tiếng Hi lạp gọi là Zeus, tiếng La tinh gọi là Jupiter, tiếng Teutons gọi là Tiu... đều từ cùng 1 vị thần tối cao mà biến hình và dưới những tên gọi khác nhau. Gần đây, thuyết này được ông Georges Dumézil, Giáo sư Tỉ giảo ngôn ngữ học tại học viện Paris ở Pháp thừa nhận, đồng thời nêu ra 2 đặc điểm của tong giáo Nhã lợi an. 1. Xã hội được chia làm 3 đẳng cấp: Tế tư, Vũ sĩ và Nông dân. Ba đẳng cấp này phản ánh tư tưởng 3 công năng của 3 vị chủ thần. 2. Trong thế giới thần linh tồn tại 2 khuynh hướng đối lập: Ánh sáng và bong tối, trật tự và hỗn loạn, thiện và ác, lợi và hại v.v... Duy có điều là thuyết này cho đến nay vẫn chưa được nhiều người chấp nhận.

nhã na

Jnana (skt), 1) Trí, so với “huệ”—Knowledge—Understanding—Intellectual judgments, as compared with “wisdom”, or moral judgments. 2) Nhã Na còn có nghĩa bao trùm cả “trí” lẫn “huệ”—Jnana is supposed to cover both “knowledge” and “wisdom.”

nhã na bạt đà la

(若那跋陀羅) Cũng gọi Trí hiền. Cao tăng người nước Ha lăng vùng Nam hải, dịch kinh vào đầu đời Đường.Sư thông suốt Tam tạng, hiểu rộng Nhị thừa. Ngài Hội ninh của Trung quốc muốn sang Ấn độ, trên đường qua nước Ha lăng thì gặp sư, ngài Hội ninh bèn lưu lại cùng sư phiên dịch kinh Đại bát niết bàn hậu phần 2 quyển rồi gửi về Giao châu.[X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9].

nhã nhặn

Gallant—Courteous.

Nhã phạm

(雅範): chỉ phong độ thoát tục, phẩm cách cao thượng. Như trong bài Thù Đức Phú (酬德賦) của Tạ Thiếu (謝朓, 464-499) nhà Tề thời Nam Triều có câu: “Viên nhã phạm dĩ tự tuy, ý tiền tu chi sở úc (援雅範以自綏、懿前修之所勖, nương phong độ để tự yên, đức tu trước nên cố gắng).” Hay trong tác phẩm Quế Lâm Sương (桂林霜), phần Hoàn Trung (完忠), của Tưởng Sĩ Thuyên (蔣士銓, 1725-1784) nhà Thanh lại có câu: “Cửu ngưỡng hồng danh, hạnh chiêm nhã phạm (久仰鴻名、幸瞻雅範, lâu ngưỡng tiếng thơm, may nhìn phong cách).”

nhã ý

Amiability.

nhã đề tử

Jnatiputra (skt)—Ni Kiền Nhã Đề Tử, một trong sáu vị sư ngoại đạo Ấn Độ trong thời Đức Phật còn tại thế—Nirgranthajnati, one of the six heterodox teachers in India at the time of the Buddha. ** For more information, please see Lục Sư Ngoại Đạo.

nhãn

Caksuh (skt)—The eye—See Caksus in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (眼) Phạm: Cakwus. Cơ quan cảm giác thuộc về thị giác, hoặc chỉ cho cơ năng nhận thức của thị giác. Đối với cách phân loại Nhãn, có nhiều thuyết: A. Tam nhãn: Theo luận Du già sư địa quyển 14 thì Tam nhãn là: 1. Nhục nhãn: Chỉ có thể thấy vật chất (sắc)có hình tướng. 2. Thiên nhãn: Có khả năng thấy được cả vật chất(sắc) không hiển rõ. 3. Tuệ nhãn, cũng gọi Thánh tuệ nhãn. Có năng lực nhìn thấu tất cả nguyên lí về vật chất và tinh thần. B. Ngũ Nhãn: Theo luận Đại trí độ quyển 33, thì Ngũ nhãn là: 1. Nhục nhãn: Những vật chất bị ngăn che thì nhục nhãn không thấy được. 2. Thiên nhãn: Có khả năng thấy được các giả tướng do nhân duyên tạo thành, nhưng không thấy được thực tướng. 3. Tuệ nhãn: Có năng lực thấy được lí không, nhưng đối với người khác thì không có lợi ích gì. 4. Pháp nhãn: Có năng lực giúp người khác đến giác ngộ, nhưng không biết có đạo phương tiện. 5. Phật nhãn: Có năng lực thấy biết tất cả. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 20, phần cuối, thì phàm phu có được nhục nhãn và thiên nhãn. Hàng nhị thừa tu quán pháp, nếu nói theo sự chứng nhập cảnh giới giác ngộ thì có pháp nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn; nếu nói theo tác dụng giác ngộ thì có tuệ nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn. Hàng Bồ tát, nếu nói theo nhập bồ đề thì có tuệ nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn; nếu nói theo tác dụng của bồ đề thì có pháp nhãn, nhục nhãn và thiên nhãn. Còn Phật thì có đủ cả 5 nhãn. Còn tông Thiên thai thì cho rằng, Bồ tát ở Nhân vị có đủ 4 nhãn trước, khi đến Quả vị (Giác vị) mới được Phật nhãn. Tuy nhiên, về ý nghĩa của Ngũ nhãn thì trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên đều có sự giải thích khác nhau. Mật giáo do đứng trên lập trường bình đẳng nên cho rằng Ngũ nhãn như nhau, nhưng đặc biệt trọng Phật nhãn và nhân cách hóa thành các đấng Phật nhãn. Ngoài ra, còn có thuyết Thập nhãn, tức là: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn (Thánh tuệ nhãn), Pháp nhãn, Phật nhãn (Phật chính giác nhãn), Trí nhãn(Trí tuệ nhãn), Minh nhãn (Quang minh nhãn), Xuất sinh tử nhãn (Đạo lợi nhãn),Vô ngại nhãn (Vô vi nhãn) và Phổ nhãn (Nhất thiết trí nhãn).

nhãn căn

Một trong lục căn—One of the six senses, the organ of sight—See Lục Căn. ; (眼根) Phạm: Cakwur-indriya. Pàli: Cakkhundriya. Hán âm: Chước sô. Gọi tắt: Nhãn. Con mắt, chỗ nương tựa của thức mắt, có khả năng thấy các cảnh sắc không bị ngăn che, là 1 trong 5 hay 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới. Thông thường gọi Nhãn căn là chỉ cho con mắt, nhưng theo các kinh, luận như Đại tì bà sa thì Nhãn căn được chia làm 2 loại: 1. Phù trần căn (được cấu tạo bằng gân, thịt). 2. Thắng nghĩa căn (tức thần kinh thị giác). Trong đó, Phù trần căn lấy sắc, hương, vị, xúc làm thể, là bộ phận mắt thường có thể thấy được; còn hắng nghĩa căn thì lấy tịnh sắc (cái tinh túy nhất của 4 đại chủng) làm thể, là bộ phận mắt thường không thể thấy được. Về vấn đề khi mắt thấy sắc thì thức mắt (nhãn thức) thấy hay căn mắt (nhãn căn= mắt thịt) thấy, xưa nay có 4 thuyết, đó là: 1. Căn kiến: Căn thấy. Nghĩa là căn mắt thấy sắc(đối tượng), còn thức mắt thì chỉ có thể phân biệt rõ các sắc do căn mắt đã thấy. Lí do: Thức là cái không bị chướng ngại, vậy tại sao không thấy được những vật bên ngoài bức tường ngăn che? Điều này chứng minh thức mắt không thể thấy sắc. Còn Căn là cái có chướng ngại, bởi thế không thể thấy được những vật bị ngăn che.Tóm lại, căn mắt thấy sắc chứ không phải thức mắt thấy sắc. Đây là thuyết của ngài Thế hữu và được luận Đại tì bà sa công nhận. 2. Thức kiến: Thức thấy. Nghĩa là, nếu cho rằng thức có thể thấy sắc, thì đáng lẽ thức phải có tướng thấy, nhưng thức không có tướng thấy, cho nên chủ trương thức thấy sắc là không hợp lí. Đây là thuyết của ngài Pháp cứu. 3. Căn thức tương ứng chi tuệ kiến: Căn và thức ứng nhau sinh ra tuệ thấy. Nghĩa là, nếu cho rằng căn và thức ứng nhau mà sinh ra tuệ thấy sắc, thì căn tai và thức tai ứng nhau sinh ra tuệ, cũng nghe được tiếng, nhưng tuệ không có tướng nghe, cho nên chủ trương tuệ thấy là không hợp lí. 4. Căn thức hòa hợp kiến: Căn và thức hòa hợp mà thấy sắc. Nếu cho rằng căn và thức hòa hợp mà thấy sắc, thì lẽ ra phải thường thấy sắc, vì không lúc nào mà căn và thức không hòa hợp, cho nên chủ trương này không hợp lí. Trong 4 thuyết trên, như đã nói, luận Đại tì bà sa chỉ thừa nhận thuyết Căn kiến mà bác bỏ 3 thuyết còn lại, cho là không hợp lí. Đối với vấn đề này, quan điểm của Phật giáo Đại thừa thì thế nào? Duy thức Đại thừa chủ trương Căn và Thức hòa hợp mà thấy (căn+ thức= thấy). Bởi vì tông Duy thức cho rằng tất cả pháp đều do thức A lại da thứ 8 biến hiện ra. [X. kinh Tạp a hàm Q.13; luận Đại tì bà sa Q.13; luận Câu xá Q.2; luận Đại trí độ Q.33; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. (xt. Nhãn, Nhãn Thức).

nhãn dược

(眼藥) Thuốc bôi mắt. Hành giả Mật giáo dung thuốc bôi lên mí mắt để tránh lười biếng và ngủ gục. Phẩm Viên bị thành tựu trong kinh Tô tất địa yết la quyển hạ, có chép về cách chế thuốc và chân ngôn Nhãn dược của Phật bộ, Liên hoa bộ và Kim cương bô. Dùng chân ngôn gia trì vào thuốc hoặc gia trì vào nước rửa mắt. Cách chế Nhãn dược như sau: Lấy Tô rô đa, An thiện na, Sáp sa mật, hương long não, Tất bạt, vỏ cây đinh hương, Đắc già la hương, đường phèn... tất cả cân lượng bằng nhau, giã nát thành bột, dùng nước dãi ngựa trộn nhiễn, rồi tụng 100 biến chân ngôn để gia trì.

nhãn giới

Caksurdhatu (skt)—Field of vision, or the eye-realm, or sight faculty; the element or realm of sight—See Nhãn Căn.

nhãn hoành tị trực

(眼橫鼻直) Đồng nghĩa: Hoa hồng liễu lục. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mắt nằm ngang, mũi thẳng đứng, cũng như hoa đỏ liễu xanh, là những cái hiển nhiên trước mắt. Thiền lâm dùng từ ngữ này để ví dụ sự thấy biết đúng như thực. Việc cầu đạo không cần phải đi tìm đâu xa, mà phải nhìn ngay nơi bản lai diện mục.

nhãn lực

Eyesight.

nhãn mục

The eyes.

nhãn mục di danh

(眼目异名) Nhãn và mục tuy tên gọi khác, nhưng cùng 1 nghĩa, 1 vật, tức là con mắt. Như tính và thể, tất cả và hết thảy... đó là Nhãn mục dị danh, tức tên gọi khác mà nghĩa thì giống nhau. [X. Câu xá luận quang kí Q.1, 20].

nhãn nhập

Một trong thập nhị nhập—One of the twelve entrances, the eye entrance, the basis of sight consciousness—See Thập Nhị Nhập.

nhãn thức

Cakshurvijnana (skt)—The sense of vision—Nhiệm vụ của nhãn thức là nhận biết hình dáng. Không có nhãn thức, chúng ta sẽ không nhìn thấy gì cả; tuy nhiên nhãn thức lại tùy thuộc vào nhãn căn. Khi nhãn căn gặp một hình dạng thì nhãn thức liền phát sanh. Nếu Nhãn căn không gặp hình dáng thì nhãn thức không bao giờ phát sinh (một người bị mù không có nhãn căn, như vậy nhãn thức không bao giờ phát sinh). Người tu tập nên luôn thấu triệt điểm tối yếu nầy để thực tập sao cho hạn chế nhãn căn tiếp xúc với hình sắc, để làm giảm thiểu sự khởi dậy của nhãn thức. Phật nhắc nhở chúng đệ tử của Ngài rằng, phương pháp duy nhất để giảm thiểu sự khởi dậy của nhãn thức là thiền định—Eye Consciousness—Sight consciousness—Sight-preception, the first vijnana—The function of the eye consciousness is to perceive and apprehend visual forms. Without the eye consciousness we could not behold any visual form; however, the eye consciousness depends on the eye faculty. When the eye faculty and any form meet, the eye consciousness develops instantly. If the eye faculty and the form never meet, eye consciousness will never arise (a blind person who lacks the eye faculty, thus eye consciousness can never develop). Buddhist cultivators should always understand thoroughly this vital point to minimize the meeting between eye faculty and visual forms, so that no or very limited eye consciousness will ever arise. The Buddha reminded his disciples that meditation is the only means to limit or stop the arising of the eye consciousness . ; (眼識) Phạm: Cakwur-vijĩàna. Pàli: Cakkhu-viĩĩàịa. Sự nhận biết nương vào nhãn căn để phân biệt cảnh sắc, theo căn mà đặt tên nên gọi là Nhãn thức, 1 trong 5 thức, 1 trong 6 thức, 1 trong 18 giới. Luận Đại tì bà sa chủ trương nhãn căn thấy sắc, cho nên lập thuyết Nhãn căn kiến. Ngài Pháp cứu chủ trương nhãn thức thấy sắc, nên lập thuyết Nhãn thức kiến. Còn tông Duy thức Đại thừa thì lập thuyết Căn thức hòa hợp kiến. Các vị Luận sư của Hữu bộ tông như ngài Thế hữu được gọi là Nhãn kiến gia; đối lại, các vị Luận sư của Đại chúng bộ như ngài Pháp cứu được gọi là Thức kiến gia. Các nhà Duy thức thì cho rằng muôn pháp là do Duy thức biến hiện, nhãn thức và tướng phần của sắc hòa hợp nhau sinh ra hân biệt, cho nên thức này hiện ra ảnh tượng của sắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.13, 71; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.2; Thành duy thức nhị thập luận thuật kí Q.thượng]. (xt.Nhãn Căn).

nhãn thức giới

Caksur-vijnana-dhatu (skt)—The element or realm of sight-perception—See Nhãn Thức.

nhãn tiền

Right in this life—Before the eye.

nhãn trí

Trí hiểu biết qua nhãn thức—Knowledge obtained from seeing.

nhãn tật bệnh đà la ni kinh

(眼疾病陀羅尼經) Gọi đủ: Năng tịnh nhất thiết nhãn tật bệnh đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này nói về công đức của Tịnh nhãn đà la ni. Nghĩa là người tu hành chuyên tâm trì tụng Đà la ni này thì mắt được trong sáng, không bị trần cấu làm ô nhiễm, các chứng bệnh về mắt được tiêu trừ.

nhãn đồng

(眼同) Tục ngữ ở đời Nguyên, Trung quốc. Có nghĩa là mọi người. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 4 (Đại 48, 1133 thượng) nói: Nếu có người bỏ quên đồ vật, mọi người (nhãn đồng) ai lượm được thì giao trả lại.

nhãng

Forget—To be absent-minded.

nhãng tai

To be hard of hearing.

nhãng trí

To be absent-minded.

nhìn ngoái lại

To look back.

nhăn

Wrinkled—Creasy.

nhĩ

1) Nhĩ căn, một trong sáu căn: Srotra (skt)—The ear, one of the six organs of the sense. 2) Ngừng lại: To stop—To put down.

nhĩ căn

Srotrendriya (skt)—The organ of hearing. ; (耳根) Phạm: Zrotrendriya. Pàli: Sotindriya. Hán âm: Thú lũ đa nhân tính lị diệm. Gọi tắt: Nhĩ. Lỗ tai, 1 trong 6 căn, 1 trong 12 xứ, 1 trong 18 giới, 1 trong 22 căn. Nhĩ căn là chỗ nương của nhĩ thức(thức tai)có tác dụng thu lấy thanh cảnh (âm thanh). Trong 12 xứ, Nhĩ căn được gọi là Nhĩ xứ, trong 18 giới được gọi là Nhĩ giới. Ngoài ra, chữ Zrotratrong tiếng Phạm, Hán dịch là Nhĩ(tai), Năng văn(có khả năng nghe). [X. luận Đại tì bà sa 142; luận Phẩm loại túc Q.1; luận Du già sư địa Q.3, 54; luận Thành duy thức Q.4, 8; chương Ngũ căn trong Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3; Phạm ngữ tạp danh]. (xt. Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Lục Căn, Nhĩ Thức).

nhĩ diệm

(爾焰) Phạm: Jĩeya. Cũng gọi là Nhĩ viêm. Hán dịch: Sở tri, Cảnh giới, Trí mẫu, Trí cảnh. Pháp ngũ minh: Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh, Nhân minh và Nội minh đều là các cảnh giới có năng lực sinh ra trí tuệ, gọi là Nhĩ diệm. Thắng man bảo quật quyển thượng, phần cuối (Đại 37, 16 trung) nói: Nhĩ viêm nghĩa là trí mẫu, vì có năng lực sinh ra trí tuệ; cũng gọi là Trí cảnh; vì pháp Ngũ minh hay sinh ra trí hiểu biết, cho nên Trí mẫu là trí soi rọi, gọi là Trí cảnh. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.9; luận Du già sư địa Q.86; Huyền ứng âm nghĩa Q.12].

nhĩ dđương

(耳璫) Cũng gọi Nhị đang. Đồ châu ngọc đeo ở tai, như vòng hay hoa tai. Về tiếng Phạm của danh từ Nhĩ đang, các kinh nêu ra nhiều thuyết: 1. Theo phẩm Phổ hiền hành nguyện trong kinh Hoa nghiêm quyển 7, thì Y xá na dùng ngọc báu Tì lưu li ma ni làm Nhĩ đang, tiếng Phạm làKarịa-cùđaka. 2. Theo Hữu bộ tì nại da dược sự quyển 2, thì con lớn của trưởng giả Tự tại có Nhĩ đang bảo châu ở tai, tiếng Phạm làKarịikà. Về sau, con trưởng giả dùng gỗ làm Nhĩ đang để trang sức, nên người đời gọi ông là Mộc đang (Phạm:Dàru-karịi). 3. A tì đạt ma câu xá thích luận quyển 6 ghi Nhĩ đang là Kim cương nhĩ đang, tiếng Phạm làVajra-vàlaka. Trong giới luật, đức Phật cấm các tỉ khưu không được đeo Nhĩ đang và dùng các vật trang sức nói chung, nếu vi phạm sẽ bị tội Đột cát la. Nhưng, đối với hàng Bồ tát tại gia thì đức Phật cho phép đeo các đồ trang sức như tràng hoa, anh lạc, chỉ trừ đeo vòng ở chân và hoa tai(Nhĩ đang). Bởi thế, tượng các Bồ tát, ngoại trừ vòng đeo ở chân và Nhĩ đang, phần nhiều được trang sức bằng tràng hoa, anh lạc... Nhưng các vị tôn trong Mật giáo thì được đeo Nhĩ đang. [X. phẩm Chiến đấu kinh Thế kí trong Trường a hàm Q.21; hội Vô lượng thọ Như lai trong kinh Đại bảo tích Q.18; kinh Phật bản hạnh tập Q.44; phẩm Đại tập trong kinh Bảo tinh đà la ni Q.4; luận Du già sư địa Q.56; Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.20].

nhĩ luân

Vòng đeo tai—An ear-ring.

nhĩ lộ chỉ nễ bồ tát

(弭路枳你菩薩) Bồ tát Nhị lộ chỉ nễ. Trong Quan âm bộ của Mạn đồ la Mật giáo do A xà lê Thiện vô úy truyền, có bồ tát Tì lộ ca na, tên tiếng Phạm là Vilokana. Vi nghĩa là rộng lớn, lokana nghĩa là xem khắp, thấy khắp, Hán dịch là Biến quan bồ tát (Bồ tát thấy khắp). Có thuyết cho rằng bồ tát Tì lộ ca na chính là bồ tát Nhị lộ chỉ nễ. Trong Thai tạng đồ tượng thì gọi Nhị lộ chỉ nễ là Thắng thế. Cứ theo kinh Bất không quyên sách quyển 9, hình tượng của vị Bồ tát này giống như hình tượng được vẽ trong Thai tạng đồ tượng, tức là ngồi bán già, tay trái nắm lại, cầm hoa sen, đặt trên bắp vế, bàn tay phải giơ lên.

nhĩ mạn sai

Mimamsa (skt)—Một trong ba phái triết hoc chính thống ở Ấn Độ, phái nầy cho rằng chỉ có sự giải thích của kinh Vệ Đà là chính đáng (Phật giáo gọi phái nầy là Thanh Luận Sư)—The Mimamsa system of Indian philosophy founded by Jaimini, especially the Purva-mimamsa. It was one of the three great divisions of Orthodox Hindu philosophy. ; (弭曼差) Phạm: Mìmàôsà. Cũng gọi Di mạn sa, Di tức già. Hán dịch: Khảo sát nghiên cứu. Chỉ cho Thanh hiển luận sư, 1 trong 6 phái triết học ở Ấn độ đời xưa. Học thuyết nghiên cứu Phệ đà của Ấn độ có thể chia làm 2 phái: 1. Nhị mạn sai, cũng gọi Nghiệp nhị mạn sai; Tiền nhị mạn sai, căn cứ vào phần Nghi quĩ và Thích nghĩa trong nửa trước của bộ Phạm thư, lấy việc cúng tế làm chính, nghiên cứu, hội thông các nghĩa nghi ngờ và dị thuyết. 2. Phệ đàn đa, cũng gọi Trí nhị mạn sai, Hậu nhị mạn sai, căn cứ vào phần Áo nghĩa thư trong nửa sau của bộ Phạm thư, lấy việc nghiên cứu về Phạm (Brahman) làm chính. Hai phái này hợp lại gọi chung là Di mạn sai. [X. Bát nhã đăng luận thích Q.13; luận Thành duy thức Q.1; Thanh hiển luận].

nhĩ mạt hạ

Mimaha (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Nhĩ Mạt Hạ là một vương quốc cổ cách Samarkand chừng 70 dậm, nơi mà bây giờ la Moughian hay Naghin tại Turkestan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Mimaha, an ancient kingdom about seventy miles east of Samarkand, the present Moughian or Maghin in Turkestan.

nhĩ mục

Ears and eyes.

nhĩ ngữ giới

Mật giới được truyền bằng cách nói thầm vào tai, một lối thực hành của Mật giáo—Secret rules whispered in the ear, an esoteric practice. ; (耳語戒) Cũng gọi Tam tụng tam muội da. Truyền trao giới pháp bằng cách kề tai nói nhỏ, 1 trong các pháp tu của Mật giáo. Trong Mật giáo, khi cử hành lễ thụ Quán đính, trước hết, dẫn người thụ giới vào trong đạo tràng, dùng vải sạch phủ mặt người ấy rồi kề tai người ấy mà đọc bài kệ Tam muội da giới, phải đọc thật nhỏ không để cho người chưa thụ giới được nghe tiếng. [X. phẩm Chuyển tự luân trong kinh Đại nhật Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.8].

nhĩ nhập

Nhĩ nhập, một trong thập nhị nhập—The entrance of the ear, one of the twelve entrances.

nhĩ thức

Srotravijnana (skt)—Nhiệm vụ của Nhĩ thức là nhận biết âm thanh; tuy nhiên, nhĩ thức tùy thuộc nơi nhĩ căn. Khi nhĩ căn và âm thanh gặp nhau, nhĩ thức liền phát sanh (nơi người điếc thì nhĩ căn và âm thanh không bao giờ gặp nhau, nên nhĩ thức không bao giờ khởi sanh). Hành giả nên luôn nhớ như vậy để tu tập thiền định mà đóng bớt nhĩ căn—Ear Consciousness—Ear perception—Ear-discernemtn—Auditory consciousness—Hearing consciousness—The function of the ear consciousness is to perceive and apprehend sounds; however, ear consciousness depends on the ear faculty. Ear faculty and any sound meet, the ear consciousness develops instantly (in a deaf person, ear faculty and sounds never meet, therefore no ear consciousness will arise). Buddhist cultivators should always remember this and try to practise meditation stop or close the ear consciousness if possible.

nhĩ tiền

(爾前) Gọi đủ: Nhĩ tiền giáo. Từ đây trở về trước. Chỉ cho giáo pháp của đức Phật nói trước thời Pháp hoa. Trong 5 thời phán giáo của Đại sư Trí khải đời Tùy, thì giáo pháp của 4 thời trước chưa chia thành Chân thực và Phương tiện, được gọi chung là Nhĩ tiền để phân biệt với thời thứ 5 là Pháp hoa Niết bàn. Bởi vậy, từ ngữ Nhĩ tiền biểu thị ý nghĩa cách lịch, phương tiện, quyền giả, Tam thừa..., còn Pháp hoa thì biểu thị ý nghĩa viên dung, chân thực, Nhất thừa... [X. Pháp hoa văn cú Q.4, phần 1].

nhĩ xứ

Nhĩ xứ, một trong mười hai xứ—The place of the ear, one of the twelve places.

nhũ dược

(乳藥) Thuốc sữa. Thầy thuốc dùng sữa làm thuốc tốt để chữa bệnh, nhưng còn tùy theo thức ăn nuôi bò và điều kiện chăn bò khác nhau mà sữa có thể là vị cam lộ, mà cũng có thể là thuốc độc. Ví dụ giáo pháp cũng vậy, tuy cùng gọi là giáo pháp, nhưng còn tùy theo người nói và thời gian được nói khác nhau mà có tà, chính bất đồng. Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 2, lúc đầu, đức Phật vì căn cơ của hàng Tiểu thừa mà nói nghĩa vô thường, đến thời Niết bàn đức Phật lại nói nghĩa thường trụ. Hàng Tiểu thừa sinh ngờ cho rằng 2 thuyết trước sau trái ngược nhau. Đức Phật bèn nói ví dụ về 2 người thầy thuốc mới và cũ cùng dùng thuốc sữa(nhũ dược) như sau: Xưa có 1 ông vua ngu độn, ngự y của vua cũng dốt, mỗi lần vua bị bệnh, ngự y chẳng xem xét bệnh chứng ra sao, cứ 1 mực dùng thuốc sữa để chữa cho vua. Sau có 1 người thầy thuốc mới đến khuyên vua không nên uống thuốc sữa, vua nghe theo và hạ lệnh cho cả nước không được dùng thuốc sữa. Về sau, nhà vua bị bệnh, người thầy thuốc mới lại cho vua uống thuốc sữa. Vua liền chê trách ông lang là lời nói và việc làm trước sau mâu thuẫn. Ông này tâu: Nếu bò không bị nhốt, không ăn bã rượu và cỏ khô, mà được thả ngoài đồng rộng thoáng, được ăn cỏ tươi và uống nước trong, thì sữa bò là nước cam lộ, là thuốc hay, ngoài ra đều là độc dược. Trong ví dụ trên, thầy thuốc cũ ví dụ cho ngoại đạo, thầy thuốc mới dụ cho đức Như lai. Người thầy thuốc cũ chỉ biết dùng thuốc sữa, cũng như ngoại đạo chỉ biết nói là thường; người thầy thuốc mới lúc đầu khuyên không nên dùng thuốc sữa, cũng như đức Phật lúc đầu vì muốn phá dẹp thuyết tà thường của ngoại đạo mà chỉ nói nghĩa vô thường. Sau khi giáo pháp vô thường đã được thành lập, đức Phật mới lại nói về lí chân thường.

nhũ hải tử

(乳海子) Cũng gọi Đại không sư. Trong Mật giáo, từ ngữ Nhũ hải tử được dùng để chỉ cho người đã thể nhập được trí đức của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới. Bởi vì, chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc kim cương giới là chữ (vaô), tượng trưng cho Trí pháp thân, được phối hợp với Thủy đại trong 5 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, cho nên nước trí của đức Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới còn được gọi là Nhũ thủy, Nhũ hải; do đó, người thể nhập được trí đức của Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới được gọi là Nhũ hải tử. Còn chủng tử của Đại nhật Như lai thuộc Thai tạng giới là chữ (a) tượng trưng cho Lí pháp thân. Trong Mật giáo, chữ A và chữ Vaôbiểu thị cho Lí và Trí của Thai tạng giới và Kim cương giới. Bởi vậy, hành giả Chân ngôn khi quán xét lí đại không bất sinh của chữ A mà chứng được trí thủy(nước trí)của chữVaô, thì đặc biệt được gọi là Đại không sư, Nhũ hải tử.

nhũ kinh

(乳經) Chỉ cho kinh Hoa nghiêm. Tông Thiên thai đem giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời phân biệt làm 5 thời 8 giáo, gọi là Ngũ thời bát giáo. rong 5 thời thì thời Hoa nghiêm được phối hợp với Nhũ vị, thời Lộc uyển được phối hợp với Lạc vị... Kinh Hoa nghiêm tức là bộ kinh đức Phật nói trong thời Hoa nghiêm, tương đương với Nhũ vị đầu tiên trong 5 vị, vì thế nên được gọi là Nhũ kinh. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 2, phần đầu (Đại 33, 692 hạ) nói: Nhũ kinh, 1 thứ nhân quả rộng, cao và dài, 1 thứ nhân quả hẹp, thấp và ngắn, 1 thô 1 diệu. Ngoài ra, các bộ kinh A hàm đức Phật tuyên thuyết ở thời Lộc uyển được gọi là Lạc kinh; các kinh Duy ma, Tư ích... được nói trong thời Phương đẳng, gọi là Sinh tô kinh; các kinh Bát nhã được nói trong thời Bát nhã, gọi là Thục tô kinh; còn các bộ kinh Pháp hoa và Niết bàn được nói trong thời Pháp hoa Niết bàn thì gọi là Đề hồ kinh.

nhũ mi

(乳糜) I. Nhũ Mi. Phạm: Tarpaịa. Hán âm: Đát bát na, Thán ba na. Thức ăn được biến chế bằng bột ngũ cốc. Phẩm Tự tha lợi trong luận Du già sư địa quyển 36 và Hữu bộ tì nại da quyển 36, giải nghĩaTarpaịalà bánh, cháo sữa. (xt. Đát Bát Na). II. Nhũ Mi. Phạm: Pàyasa. Cũng gọi Nhũ chúc. Cháo nấu với tấm, sữa bò, hoặc sữa dê. Là một trong 8 thứ cháo. Trước khi thành Chính giác, đức Phật có tiếp nhận của người cùng dường 1 bát cháo sữa(có thuyết nói là sữa bò). Đại nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 658 hạ) nói: Nhũ mi bên Tây vực có nhiều loại, có nơi dùng nước cốt lá gai để nấu, có nơi dùng các loại đậu và các vị thuốc, như trong Thập tụng dược pháp có nói rõ; tuy nhiên vẫn cho nhũ mi là bậc nhất. Phật sở hành tán quyển 3 (Đại 4, 24 hạ) nói: Kinh dâng hương nhũ mi Cúi xin thương xót nhận Bồ tát nhận và dùng Kia được hiện pháp quả.

nhũ mộc

(乳木) Chỉ cho loại củi tươi có bôi nước sữa dùng để đốt trong lò khi tu pháp Hộ ma trong Mật giáo, các kinh và nghi quĩ gọi là củi tẩm nước sữa, củi ẩm ướt. Nhũ mộc tượng trưng cho thân hữu lậu, cho phiền não nhuận sinh. Về độ dài của Nhũ mộc, các kinh nói không giống nhau, như kinh Kim cương đính du già trung lược xuất niệm tụng quyển 4 nói độ dài là 12 ngón tay; kinh Tô tất địa yết la quyển hạ thì cho rằng độ dài là 2 ngón tay. Còn số những thanh Nhũ mộc được đốt thì có thể chia ra 9 loại: 3 thanh, 7 thanh, 21 thanh, 54 thanh, 108 thanh, 1.080 thanh, 8.000 thanh, 10.000 thanh, 100.000 thanh... [X. kinh Mâu lê mạn đà la; Đại nhật kinh sớ Q.8]

nhũ quang phật kinh

(乳光佛經) Cũng gọi Nhũ quang kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn, được thu vào Đại chính tập 17. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật bị cảm cúm, ngài A nan đến nhà Phạm chí Ma da lợi xin sữa bò. Vì có lòng ghen ghét nên Phạm chí này chỉ cho ngài A nan 1 con bò cái hung dữ để ngài đến vắt sữa. Lúc ấy, trời Đế thích hóa làm 1 cậu bé vắt sữa và nói kệ cho bò nghe, bò được nghe danh hiệu của Phật liền bỏ tính hung dữ và vui vẻ cúng dường. Nhân việc này, đức Phật nói về nhân duyên ở đời quá khứ của con bò cho ngài A nan nghe như sau: Vào kiếp quá khứ, con bò ấy là một trưởng giả rất tham lợi và hay xúc phạm người khác, cho nên sau khi chết bị đọa làm thân bò. Đời nay hết tội, nghe danh hiệu Phật mà cúng dường sữa. Nhờ nhân duyên ấy, đời sau sẽ thành Phật hiệu là Nhũ Quang Phật. [X. Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

nhũ thuỷ

(乳水) I. Nhũ Thủy. Sữa và nước hòa lẫn với nhau. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao quyển 74 đem sữa ví dụ cho tâm chúng sinh và nước ví dụ cho tâm Phật, nghĩa là tâm chúng sinh như sữa, là tâm sở duyên, còn tâm Phật như nước, là tâm năng duyên; nước mà hòa lẫn với sữa thì tựa hồ là 1 vị. Ngoài ra, nếu đổ sữa và nước vào một cái chậu rồi quậy đều cho sữa và nước hòa lẫn với nhau, thì cả bầy ngỗng chỉ có con ngỗng chúa là phân biệt được đâu là sữa, đâu là nước và chỉ uống sữa mà chừa nước lại. Do đó, từ ngữ Nhũ thủy nhãn(mắt sữa nước)được dùng để dụ cho người tu học đã có được con mắt pháp để phân biệt tà chính. II. Nhũ Thủy. Ví dụ trí thủy(nước trí)của đức Đại nhật Như lai thuộc Kim cương giới của Mật giáo. (xt. Nhũ Hải Tử).

nhũ trung sát nhân

(乳中殺人) Trong sữa có chất độc chết người. Chất độc dụ cho lí thực tướng. Thí dụ này có xuất xứ từ kinh Niết bàn. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời(Hoa nghiêm, Lộc uyển, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn), rồi phối hợp 5 thời với 5 vị(Nhũ, Lạc, Sinh tô, Thục tô, Đề hồ), tức thời Nhũ vị thứ nhất là thời Hoa nghiêm. Trong thời này, Phật tuyên nói kinh Hoa nghiêm thuộc Đốn giáo cho hàng Bồ tát; đồng thời, Phật lại nói kinh Đề vị là Bất định giáo, khiến hàng Tiểu thừa nghe được lợi ích của Đại thừa, gọi là Nhũ trung sát nhân. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 10, phần đầu (Đại 33, 806 trung) ghi: Kinh Niết bàn quyển 27 nói rằng: Bỏ chất độc vào trong sữa thì sữa sẽ giết người, vị Lạc tô, Đề hồ cũng có thể giết người. Điều này có nghĩa là ở nơi Phật quá khứ đã từng nghe giáo pháp Đại thừa thực tướng, giáo pháp này được ví như chất độc. Nay lại nghe giáo pháp của đức Thích ca, chất độc ấy liền phát, kết thành lậu hoặc chết người. Nếu như Đề vị, Ba lợi, chỉ nghe 5 giới, không khởi Pháp nhẫn, 300 người được Tín nhẫn, Tứ thiên vương được Nhu thuận nhẫn, đều uống thuốc an lạc, đeo bùa trường sinh, trụ trong giới pháp, thấy mẹ sinh ra chư Phật, đó là Nhũ trung sát nhân. Cứ theo sự giải thích của Đại sư Trí khải thì thí dụ này có 2 nghĩa: 1. Nếu căn cứ vào Tiệm, Đốn mà nói rộng về Bất định giáo thì chỗ nào cũng đều thấy được tính Phật. 2. Nếu căn cứ theo Hành bất định mà nói rõ thì tâm hạnh của người tu hành ví như sữa, trí thực tướng ví như chất độc. Mà chất độc thì có khả năng làm chết người, tức là trí thực tướng này có đủ sức mạnh phá trừ vô minh, người tu hành nhờ đó mà sau 1 lần chết đi –đại tử nhất phiên– tức trút bỏ hết sạch mọi phiền não nghiệp chướng, mà được giải thoát rốt ráo. Ngoài ra, đem chất độc thực tướng mà đức Phật đã nói từ nhiều kiếp lâu xa đến nay bỏ vào trong sữa tâm của phàm phu thì tuệ độc ấy khai phát ra không có thời gian nhất định, cũng không có thứ tự trước sau, hoặc khai phát ở thời sơ vị(Nhũ vị), hoặc khai phát ở thời hậu vị(Đề hồ vị), đó chính là bỏ chất độc vào trong sữa vậy. Tông Thiên thai cho rằng tính Phật của phàm phu như con bê mới đẻ thì máu và sữa chưa khác nhau, tính Phật của Thanh văn như sữa thanh tịnh, Bích chi phật như lạc, Bồ tát như sinh tô, thục tô, Phật như đề hồ. Đề hồ hàm chứa đủ 5 vị, đều có nghĩa sát(giết). Nếu chúng sinh ở địa vị phàm phu được nghe Hoa nghiêm liền thấy chân lí mà vào Phật tuệ, thì gọi là Huyết nhũ sát nhân(máu sữa giết người). Nếu trước chứng được giai vị Thập trụ, sau nhờ Hoa nghiêm mà được ngộ, thì gọi là Lạc trung sát nhân; người ở giai vị Thập hạnh được ngộ, gọi là Sinh tô sát nhân; người ở giai vị Thập hồi hướng mà được ngộ thì gọi là Thục tô sát nhân; người ở giai vị Thập địa mà được ngộ thì gọi là Đề hồ trung sát nhân. [X. Pháp hoa huyền nghĩa Q.5, phần cuối].

như

Như thật tế của bản thể tự tánh. ; (如) Phạm:Tathà. Cũng gọi Như như, Chân như, Như thực.Bản tính chân thực bất biến của hết thảy muôn vật. Bởi vì tất cả các pháp đều có thuộc tính riêng biệt không giống nhau, như đất có tính cứng chắc, nước có tính ướt át v.v... nhưng, những thuộc tính riêng biệt ấy chẳng phải thực có, mà tất cả đều lấy Không làm thực thể, cho nên gọi thực tính là Như. Lại vì Như là bản tính của các pháp nên cũng gọi là Pháp tính, mà Pháp tính là biên tế cùng cực của chân thực rốt ráo, nên Pháp tính còn được gọi là Thực tế. Do đó nên biết: Như, Pháp tính, Thực tế đều là tên khác của thực tướng các pháp. Đứng về phương diện hiện tượng mà nhìn, thì các pháp tuy có sai biệt, nhưng nhận xét về mặt lí thể thì các pháp bình đẳng không khác nhau. Lí thể bình đẳng này của các pháp cũng gọi là Như. Do đó nên biết Như cũng là tên khác của Lí. Vì lí ấy chân thực nên gọi là Chân như; vì lí ấy là 1 nên gọi là Nhất như. Lại đứng về phương diện lí thể của Như mà nói, thì vì các giáo môn đều khác nhau, nên đặt tên cho Như cũng bất đồng, chẳng hạn kinh Bát nhã gọi Như là Không, mà kinh Pháp hoa thì gọi Như là Trung... Ngoài ra, tông Thiên thai căn cứ vào thuyết Thập như thị(Thập như)nói trong phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa, thừa nhận rằng trong 10 giới, mỗi giới đều có đủ 9 giới kia, nên thành 100 giới (Thập giới)và trong 100 giới, mỗi giới đều có 10 như(Thập như), hợp thành 1.000 như(Thiên như). [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 16, 21; kinh Đại bát nhã Q.296; Phật địa kinh luận Q.7; luận Đại thừa khởi tín; luận Đại trí độ Q.32; Đại thừa nghĩa chương Q.1]. (xt. Thập Như Thị, Bách Giới Thiên Như, Chân Như).

như bái

(如沛) Thiền sư Trung quốc thuộc tông Lâm tế, sống vào đời Thanh, người Đồng an, tỉnh An huy, họ Khang, hiệu Tuệ môn. Thủa nhỏ, sư đã có chí xuất trần. Năm 17 tuổi, sư tham vấn ngài Tuyên tín Hành di, sau lại tham yết ngài Ẩn nguyên Long kì ở núi Hoàng bá, tỉnh Phúc kiến và được nối pháp. Khi ngài Ẩn nguyên dời về chùa Long tuyền tại Quảng đông, sư cũng theo hầu và làm chức Tây đường. Sau, sư bái biệt Ẩn nguyên trở về Ôn lăng, ở trong động Chí công 2 năm; sau lại vâng mệnh ngài Ẩn nguyên đến trụ tại núi Sư tử 8 năm, cho đến khi ngài Ẩn nguyên sang Nhật bản, sư mới về ở tại núi Hoàng bá thuộc tỉnh Phúc kiến. Năm Khang hi thứ 3 (1664) sư tịch, hưởng dương 50 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Tuệ môn hòa thượng ngữ lục 4 quyển, Tuệ môn thiền sư hựu lục 4 quyển. [X. Ngũ đăng toàn thư Q.89; Bá tông phổ lược Q.thượng].

Như Hiện Nguyệt Quang

如現月光; ?-1765|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 37. Sư nối pháp Thiền sư Chân Nguyên và truyền lại cho đệ tử là Tính Tĩnh.|Sư sinh ở làng Ðường Hào, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Long Ðộng trên núi Yên Tử. Nơi đây, Sư chuyên cần tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Chân Nguyên. Khi Chân Nguyên tịch, Sư được truyền y bát của phái Trúc Lâm Yên Tử, kế thừa thầy chăm sóc các ngôi chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang.|Năm 1748, Sư được vua Lê Hiến Tông phong chức Tăng thống và năm 1757 hiệu Tăng Thống Thuần Giác Hoà Thượng. Sư sống rất đạm bạc, ăn mặc rất sơ sài nhưng các vị đại thần đều quý trọng. Tương truyền rằng, Sư có hơn 60 vị đệ tử anh tài mà Thiền sư Tính Tĩnh là vị được truyền y bát Trúc Lâm, thay thế Sư chăm lo các ngôi chùa nêu trên.|Ngày mùng 6 tháng 9 năm Ất Dậu, Sư gọi chúng lại từ biệt rồi tịch. Môn đệ xây tháp thờ tại chùa Nguyệt Quang. Chùa này bây giờ nằm ở phường Ðông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

như hoá

(如化) Hóa, Phạm: Nirmita. Cũng gọi Biến hóa, Biến hóa sự, Đẳng biến sự. Là 1 trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã. Phàm những vật do sức thần thông của thần tiên, sức nghiệp của trời rồng, cho đến chú thuật, thiền định... biến hiện ra, đều gọi là Hóa. Những sự vật biến hóa này đều là không chứ chẳng phải thật, cho nên chúng được dùng để ví dụ tất cả các pháp đều là không, giống như các vật biến hóa không có thật. (xt. Thập Dụ).

như huyễn

(如幻) Huyễn, Phạm: Màyà. Vốn là giả mà giống như thật, 1 trong 10 thí dụ của kinh Đại phẩm bát nhã. Các nhà ảo thuật(huyễn sư)dùng thuật ảo biến hiện ra voi, ngựa, người, vật... làm cho người ta thấy, nghe cứ như thật, gọi là Huyễn. Nhưng, những huyễn tướng huyễn sự ấy đều là không chứ chẳng phải thật, cho nên chúng được dùng để ví dụ tất cả các pháp đều là không, giống như huyễn tướng không thật có. [X. luận Đại trí độ Q.6]. (xt. Thập Dụ, Huyễn).

như huyễn tam muội

(如幻三昧) Tam muội thấu suốt lí tất cả các pháp như huyễn, cũng chỉ cho Tam muội biến hóa ra các sự vật như huyễn. Tam muội này giống như nhà ảo thuật biến hiện ra nam, nữ, binh lính... đều được như ý, không bị trở ngại. Bồ tát ở trong Tam muội này, tuy dùng năng lực biến hóa của Tam muội như huyễn để hóa độ chúng sinh, nhưng cũng biết rõ lí các pháp đều như huyễn, cho nên Bồ tát không bị dính mắc vào việc độ sinh mà hóa dụng 1 cách tự tại vô ngại. Ngoài ra, Tam muội như huyễn còn là 1 trong 25 tam muội, được dùng để phá Nam diêm phù đề hữu trong Nhị thập ngũ hữu. [X. kinh Viên giác; luận Đại trí độ Q.50]. (xt. Nhị Thập Ngũ Tam Muội).

như không

(如空) Thể tính các pháp là chân không bình đẳng. Nhưnghĩa là bản tính chân thực bất biến của hết thảy muôn vật; Khônglà chỉ cho cái tính hư giả chẳng thật của sự vật, hoặc chỉ cho cái tính Không vắng lặng, trong sáng của lí thể. Bởi vì, nói theo lập trường chân lí Phật giáo, tất cả các pháp tuy đều có đặc tính riêng biệt, không giống nhau, nhưng lí thể của các pháp thì bình đẳng như nhau, không có sai khác, nghĩa là thực thể các pháp đều là không. (xt. Như, Không).

Như Lai

(s, p: tathāgata, 如來): âm dịch là Đa Đà A Già Đà (多陀阿伽陀), Đa Tha A Già Độ (多他阿伽度), Đa Đà A Già Độ (多陀阿伽度), Đát Tát A Kiệt (怛薩阿竭), Đát Tha Nga Đa (怛他誐多), Đa A Kiệt (多阿竭); còn gọi là Như Khứ (如去), là một trong 10 danh hiệu của đức Phật, tôn xưng của vị Phật. Nếu phân tích Phạn ngữ tathāgata, có 2 loại: tathā-gata (如去, Như Khứ), tathā-āgata(如來, Như Lai). Như Khứ có nghĩa là cỡi đạo chơn như mà đạt đến quả Phật Niết Bàn. Theo cách giải thích sau có nghĩa là do chơn lý mà đến để thành chánh giác. Đức Phật cỡi chân lý mà đến, do chơn như mà hiện thân, nên được gọi là Như Lai. Một số kinh điển giải thích về thuật ngữ này như sau. Trong Thanh Tịnh Kinh (清淨經) của Trường A Hàm (長阿含) quyển 12 có đoạn: “Phật ư sơ dạ thành tối chánh giác, cập mạt hậu dạ, ư kỳ trung gian hữu sở ngôn thuyết, tận giai như thật, cố danh Như Lai; phục thứ, Như Lai sở thuyết như sự, sự như sở thuyết, cố danh Như Lai (佛於初夜成最正覺、及末後夜、於其中間有所言說、盡皆如實、故名如來、復次、如來所說如事、事如所說、故名如來, đức Phật vào đầu đêm thành chánh giác tối thượng, cho đến cuối đêm, trong khoảng thời gian giữa ấy, những lời nói của ngài, hết thảy đều như thật, nên được gọi là Như Lai; lại nữa, các việc do Như Lai nói ra, việc đúng như lời nói, nên được gọi là Như Lai).” Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 24 thì định nghĩa là: “Như thật đạo lai, cố danh vi Như Lai (如實道來、故名爲如來, đến với đạo như thật, nên có tên là Như Lai)”; hoặc quyển 55 thì cho là: “Hành Lục Ba La Mật, đắc thành Phật đạo, … cố danh Như Lai (行六波羅蜜、證成佛道、… 故名如來, thực hành Sáu Ba La Mật, chứng thành Phật đạo, … nên có tên là Như Lai).” Hay như theo Thành Thật Luận (成實論) quyển 1 là: “Như Lai giả, thừa như thật đạo lai thành chánh giác, cố viết Như Lai (如來者、乘如實道來成正覺、故曰如來, Như Lai là mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nên được gọi là Như Lai).” Chuyển Pháp Luân Luận (轉法輪論) giải thích rằng: “Như thật nhi lai, cố danh Như Lai; … Niết Bàn danh Như, tri giải danh Lai, Chánh Giác Niết Bàn cố danh Như Lai (如實而來、故名如來、… 涅槃名如、知解名來、正覺涅槃故名如來, như thật mà đến, nên có tên là Như Lai; Niết Bàn gọi là Như, hiểu biết gọi là Lai; vì vậy Chánh Giác Niết Bàn được gọi là Như Lai).” Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) cũng có giải thích tương tợ như vậy: “Như chư Phật thừa như thật đạo lai thành chánh giác, kim Phật diệc như thị lai, cố danh Như Lai (如諸佛乘如實道來成正覺、今佛亦如是來、故名如來, như các đức Phật mang đạo như thật đến đây và thành chánh giác, nay Phật cũng đến như vậy, nên có tên là Như Lai).” Bí Tạng Ký Bổn (秘藏記本) của Mật Giáo thì cho rằng: “Thừa như nhi lai cố viết Như Lai (乘如而來故曰如來, cỡi đạo như thật mà đến nên có tên là Như Lai).” Trong tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng (敎行信證) quyển 4 của Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262) Nhật Bản có định nghĩa về Như Lai rằng: “Chơn như tức thị nhất như, nhiên giả Di Đà Như Lai tùng Như Lai sanh thị hiện Báo Ứng Hóa chủng chủng thân giả (眞如卽是一如、然者彌陀如來從如來生示現報應化種種身也, chơn như tức là nhất như, tuy nhiên, Di Đà Như Lai từ Như Lai sanh ra, thị hiện các loại thân như Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân).” Ngoài ra, bản chú giải trường bộ kinh bằng tiếng Pāli là Sumaṅgala-vilāsinī có nêu 9 nghĩa của Như Lai, hay Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận (十住毘婆沙論) thì giải thích 11 nghĩa, v.v. Tại Chánh Điện của dũng tuyền tự (湧泉寺), thuộc Phúc Châu (福州), Tỉnh Phúc Kiến (福建), Trung Quốc có câu đối rằng: “Bảo tướng hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Ngũ Uẩn, kim thân Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Tam Thừa (寶相現如來因證菩提空五蘊、金身觀自在果修羅漢悟三乘, tướng báu hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Năm Uẩn, thân vàng Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Ba Thừa).” Hay như tại Huệ Tế Tự (慧濟寺) thuộc Phổ Đà Sơn (普陀山), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối: “Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như kiến kiến Như Lai (自在自觀觀自在、如來如見見如來, Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như thấy thấy Như Lai).” ; 如來; S, P: tathāgata;|Là »Người đã đến như thế«; danh hiệu chỉ một vị đã đến bậc giác ngộ cao nhất, bậc Chính đẳng chính giác. Như Lai là một trong mười danh hiệu của một vị Phật. Theo ý nghĩa nguyên thuỷ thì danh từ Như Lai không phải là một »danh hiệu.« Phật Thích-ca Cồ-đàm sử dụng danh từ này để tránh sử dụng chữ »ta«, »tôi« trong lúc giảng dạy, thuyết Pháp và đây cũng là một phong cách biểu lộ sự khiêm tốn của Ngài.|Với sự phát triển của Phật giáo theo thời gian, ý nghĩa của danh từ Như Lai đã biến đổi. Trong Ðại thừa, Như Lai chỉ Ứng thân (s: nirmāṇakāya, Ba thân) của Phật. Ðó là con người toàn hảo, có thể xuất hiện dưới mọi dạng khác nhau, có Mười lực (s: daśabala) của một vị Phật. Như Lai cũng biểu hiện cụ thể của Chân như, thể tính của vũ trụ, được xem là sứ giả trực tiếp của Chân như, là gạch nối giữa hiện tượng và bản thể. Trong nhiều trường hợp, Như Lai được xem là đồng nghĩa với Trí huệ (s: prajñā) và tính Không (s: śūnyatā).

như lai

Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai, đúng như bổn lai nên gọi là Như lai. ; (如來) Phạm, Pàli: Tathàgata. Hán âm: Đa đà a già đà, Đa tha a già độ, Đa đà a già độ, Đát tát a kiệt, Đát tha nga đa, Đa a kiệt. Cũng gọi Như khứ. Từ ngữ tôn xưng đức Phật, là 1 trong 10 hiệu của Phật. Tiếng Phạm Tathàgata có thể được chia làm 2 là:Tathà-gata(Như khứ)và Tathà-àgata(Như lai). Nếu theo cách thứ nhất thì có nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ; còn nếu theo cách thứ 2 thì có nghĩa là từ chân lí mà đến (như thực mà đến)và thành Chính giác, cho nên gọi là Như lai. Vì đức Phật theo chân lí mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng Ngài là Như lai. Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 (Đại 1, 75 hạ) nói: Từ khi thành đạo đến lúc vào Niết bàn, trong suốt khoảng thời gian ấy, đức Phật nói ra điều gì cũng đều như thực, cho nên gọi là Như lai. Lại nữa, những điều đức Như lai nói đều đúng lí Như, cho nên gọi là Như lai. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 454 hạ) nói: Tu hành 6 Ba la mật được thành Phật đạo (...) nên gọi là Như lai. Trí biết tất cả các pháp Như, từ trong Như đến, nên gọi là Như lai. Trường bộ kinh chú (Sumaígalavilàsinì) tiếngPàlinêu ra 9 nghĩa của từ Như lai; luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 thì nêu 11 nghĩa. Còn kinh Đại bảo tích quyển 90, kinh Đại uy đức đà la ni quyển 13, phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2... cũng đều nêu ra nhiều nghĩa khác nhau. Lại theo luận Thành thực quyển 1 và Hành tông kí quyển thượng, thì người noi theo đạo chân như đến mà thành Chính giáo, là Chân thân Như lai, còn người theo đạo chân như đến để hóa độ chúng sinh trong 3 cõi, là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai y cứ vào từ ngữ Thừa như thực đạo lai thành chính giác trong luận Thành thực quyển 1, để giải thích nghĩa Chân thân Như lai và Ứng thân Như lai, gọi là Nhị Như Lai. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì: Thừa(trí như như)như thực(cảnh như như) đạo(nhân)lai thành Chính giác (quả), nghĩa là nhân, cảnh và trí khế hợp, công quả tròn đầy, đó là Chân thân Như lai; còn dùng trí như thực noi theo đạo như thực(cảnh và trí khế hợp)mà đến 3 cõi để thị hiện 8 tướng thành đạo thì là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai còn y cứ vào từ ngữ Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết trong luận Đại trí độ quyển 2 mà giải thích nghĩa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, gọi là Tam Như Lai. Theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì nghĩa Tam Như Lai là: Trùm khắp mọi nơi mà không sai khác là Như; không động mà ứng hiện đến khắp mọi nơi là Lai: Đây chỉ cho pháp thân Như lai. Từ lí gọi là Như, từ trí là Lai: Đây chỉ cho Báo thân Như lai. Cảnh và trí thầm hợp là Như, đi đến 3 cõi quay bánh xe pháp mà nói diệu pháp là Lai: Đây chỉ cho Ứng thân Như lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Thập hiệu; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; luận Đại trí độ Q.10, 21, 70, 72, 85; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; phẩm Bồ đề trong luận Du già sư địa Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1]. (xt. Thập Hiệu).

như lai bi khổ tát

(如來悲苦薩) Như lai bi, Phạm: Tathàgata-karịà. Hán âm: Đát tha nga đa ca lư noa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 3 phía bắc trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, chủ về tâm Bi vô lượng trong 4 tâm vô lượng của đức Phật. Mật hiệu là Từ hóa kim cương. Hình tượng của vị tôn này toàn thân màu da người, tóc rủ xuống, khoác áo trời che 2 khuỷu tay, chắp 2 tay, tréo chân, ngồi trên lá sen. Chủng tử là (ka), hình Tam muội da là bàn tay chắp, hoặc châu Như ý. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Bi vô lượng tâm: Án (oô) ma ha (mahà) ca lư noa dạ (karnaga – bi) sa phả la (sphara– phổ cập quảng đại).

như lai biện thuyết bồ tát

(如來辯說菩薩) Vị Bồ tát này được bày ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền, cũng tức là bồ tát Như lai biện tài của viện Biến tri trong đồ tượng thuộc Thai tạng giới. Trong đồ tượng của Thai tạng giới, hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải dựng đứng đưa về phía trước, kết ấn Tam nghiệp diệu thiện (tức co ngón vô danh, ngón út, duỗi ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa); tay trái nắm lại, cầm hoa sen, đặt ở trên eo. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 và Huyền pháp quĩ quyển thượng, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, để ở lưng ngón giữa, nhưng đầu ngón tay không chạm vào nhau. Hai ngón trỏ tượng trưng cho răng, 2 ngón cái tượng trưng cho lưỡi, bởi vậy, 2 ngón cái lay động là tượng trưng cho ý biện thuyết. Chân ngôn của vị Bồ tát này là: Qui mệnh A chấn để dã na bộ đa (Acintyad= bhuta,bất khả tư nghị kì đặc) lộ ba phạ tăng pavazam, ngữ phần đoạn) tam ma đá bát ra bát đa (samatapràpta,phổ chí) vi du đà sa phạ ra (vizuddha svara,thanh tịnh ngôn âm) sa ha (svàhà,thành tựu). Công đức của sự kết tụng ấn khế và chân ngôn này là có thể đạt được 4 biện tài vô ngại và khả năng giảng nói Chính pháp. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4]

như lai bái

(如來唄) Bài kệ tán thán sắc thân mầu nhiệm của đức Như lai. Kinh Thắng man ghi toàn văn như sau (Đại 12, 217 thượng): Thân Như lai mầu nhiệm Thế gian không ai bằng Không sánh không nghĩ bàn Vì thế con đính lễ Thân Như lai vô tận Trí tuệ cũng như thế Hết thảy pháp thường trụ Thế nên con qui y. Trong 8 câu trên đây, 4 câu đầu tán thán Ứng thân của đức Phật, 2 câu kế tiếp tán thán Báo thân của Phật, còn Hết thảy pháp thường trụ là tán thán Pháp thân của Phật.

như lai bí mật tạng kinh

(如來秘密藏經) Cũng gọi Đại phương quảng Như lai bí mật tạng kinh, Bí tạng kinh, Bí mật tạng kinh.Kinh, 2 quyển, được dịch vào đầu thời Nam Bắc triều (350-431), mất tên người dịch, thu vào Đại chính tạng tập 17. Nội dung kinh này nói về việc đức Phật tuyên thuyết tạng pháp bí mật cho bồ tát Vô lượng chí trang nghiêm vương từ nước Thường xuất đại âm đến nghe. Bồ tát vui mừng đem thân cúng dường đức Phật và biến hiện thần thông rộng lớn hiếm có. Nhân dịp này, đức Phật cũng diễn nói tạng pháp bí mật cho ngài Ca diếp theo lời ngài thỉnh vấn. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Đại chu san định chúng kinh mục lục Q.11; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 4].

như lai bảo bồ tát

(如來寶菩薩) Như lai bảo, Phạm: Sarva-tathàgatamaịi#. Hán âm: Tát phạ đát tha nghiệt đa ma ni. Nghĩa là châu báu của hết thảy Như lai. Vị Bồ tát ngồi ở phía bắc đức Thích ca trong viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo. Tức là vị Phật mẫu ngồi ở phía bên phải của đức Thích ca Như lai trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền; cũng chính là các vị Biến tri nhãn, Năng tịch mẫu ở bên phải đức Thế tôn trong phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật quyển 1; cũng tương đương với các vị Phật nhãn, Phật mẫu ở phía bắc đức Thế tôn trong Đại nhật kinh sớ quyển 5. Vị tôn này dùng tâm đại từ của đức Thích ca quan sát chúng sinh, vì thế gọi là Phật nhãn, Biến tri nhãn, chủ về đức Tam muội Bảo xứ của Thích ca Như lai. Mật hiệu là Bảo tướng kim cương. Hình tượng vị tôn này thân màu vàng, bàn tay phải dang ra ở trước ngực, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út co lại; bàn tay trái đặt ngang ngực, cầm hoa sen, trên hoa có 3 viên ngọc báu, mặt xoay về phía trái hơi ngước nhìn lên, ngồi kết già trên tòa sen đỏ. Chủng tử là (ta), hình Tam muội da là ngọc báu Như ý trên hoa sen, hoặc là con mắt trên đỉnh đầu đức Phật. Theo Huyền pháp quĩ quyển 2, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, duỗi ngón giữa, co ngón trỏ đặt ở lưng ngón giữa, nhưng không chạm vào nhau. Chân ngôn là chân ngôn của Năng tịch mẫu, tức là: Qui mệnh Đát tha nga đa (Tathàgata – Như lai) tác khất sô (Cakwu–mắt) vĩ dã phược lộ ca dã (vyàvalokaya–xem thấy) sa phạ hạ (svàhà–thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.10].

như lai bất tư nghị bí mật đại thừa kinh

(如來不思議秘密大乘經) Cũng gọi Như lai bí mật đại thừa kinh, Bí mật đại thừa kinh. Kinh, 20 quyển, do ngài Pháp hộ dịch vào khoảng niên hiệu Cảnh đức năm đầu đến năm Gia hựu thứ 3 (1004-1058) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 11.Toàn kinh chia làm 25 phẩm, trong đó nói rõ Bồ tát nhờ thân mật thanh tịnh, nên pháp thân vô tướng thị hiện ở khắp mọi nơi, hóa độ chúng sinh; nhờ ngữ mật thanh tịnh nên tùy thời nghe được âm thanh của tất cả loài hữu tình; lại nhờ tâm mật thanh tịnh nên biết rõ được ý niệm của hết thảy chúng sinh. Rồi giải thích về nguyên do tam mật(thân mật, ngữ mật, tâm mật) chẳng thể nghĩ bàn của Như lai. Sau đó, nói về sự vượt thắng trong 6 năm tu khổ hạnh và quá trình hàng phục ma vương, ngoại đạo của Bồ tát, nương vào sở duyên quán cơ mà thu nhiếp tất cả các duyên. Sau khi thành Phật, Như lai đi vào thành Khoáng dã khất thực, chư thiên và quỉ thần đều phát thiện tâm đến qui y. Đức Phật lại nhận lời thỉnh cầu của Bí mật chủ tuyên thuyết các pháp: Các hành vô thường, các pháp vô ngã. Bí mật chủ bèn xin đức Phật cho ông được hộ trì kinh Như lai bất tư nghị bí mật này trong 500 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Kinh này còn có 2 bản dịch khác nữa là Hội Mật tích Kim cương lực sĩ trong kinh Đại bảo tích và bản dịch Tây tạng. Nhưng so với hội Mật tích Kim cương lực sĩ thì kinh này có phần rộng hơn, còn nội dung của 2 bản thì như nhau, chỉ khác về văn từ và Hội Mật tích không có chia các phẩm mục.

như lai chính cần bồ tát

(如來正勤菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong viện Biến tri, ngoài bồ tát Như lai Chính cần ra, ấn khế và chân ngôn của các vị tôn khác đại đa số thuộc các ấn khế và chân ngôn được kết tụng trong hội Như lai thân thuộc pháp tu Thai tạng giới. Trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4 không thấy nói đến ấn khế và chân ngôn của vị tôn này, cho nên không được xếp vào hội Như lai thân. Có lẽ ấn khế và chân ngôn của vị tôn này đã được thu vào trong ấn Như lai niệm xứ.

như lai câu bồ tát

(如來鈎菩薩) Cũng gọi Kim cương câu bồ tát. Vị Bồ tát được trưng bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng, trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen, tay phải để ở trước ngực, ngón trỏ dựng thẳng, dùng 4 ngón còn lại cầm hoa sen, trên hoa sen đặt cái móc câu, trên móc câu có ánh lửa; khuỷu tay trái dựng đứng, vắt áo trời ở cổ tay, ngón vô danh và ngón út nắm lấy áo, 3 ngón còn lại thì dựng thẳng. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, dang ngón trỏ tay phải ra, co lóng thứ 3 lại, làm thành hình móc câu, dáng như triệu thỉnh chư Phật và Bồ tát, tức giống như hình tướng của ấn Đại câu triệu. Vị Bồ tát này cùng thể với bồ tát Kim cương câu của Kim cương giới và bồ tát Kim cương câu nữ của Thai tạng giới. Chân ngôn là chân ngôn Đại câu triệu. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai công đức lục chủng tướng

(如來功德六種相) Sáu thứ tướng công đức của Như lai. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 74, thì 6 thứ tướng công đức của Như lai được nêu ra là nhằm khiến cho chúng sinh tu hành như Phật, tất cả đều thành tựu đạo quả. Sáu tướng ấy là: 1. Viên mãn: Các đức Như lai muôn hạnh đầy đủ, chủng trí tròn sáng, thành tựu tất cả công đức thế gian và xuất thế gian. 2. Vô cấu: Như lai đã chứng được thường, lạc, ngã, tịnh nên tất cả phiền não ô nhiễm đều không còn. 3. Bất động: Các đức Như lai nhờ đã chứng được thiền định hoàn toàn vắng lặng, sinh ra tất cả công đức, nên hết thảy ngoại đạo, ma quân, giặc cướp, thân thuộc, cho đến nước, lửa, gió... đều không thể làm nhiễu loạn, tổn hại được. 4. Vô đẳng: Các thứ công đức của Như lai rộng lớn thù thắng, uy lực tự tại; tất cả hữu tình cho đến Bồ tát đều không thể sánh được. 5. Lợi ích hữu tình: Như lai thành tựu các công đức vô thượng, hay phương tiện thị hiện làm các việc lợi ích, độ thoát hữu tình chúng sinh khiến thành tựu Thánh đạo. 6. Công năng: Các đức Như lai thực hiện những việc lợi ích chúng sinh chẳng phải do khởi ý thệ nguyện đặc biệt để làm, cũng chẳng phải trải qua quá trình tạo tác lựa chọn phân biệt, mà tất cả đều thành tựu một cách tự nhiên.

như lai cú sinh chấp kim cương

(如來句生執金剛) Là 1 trong 19 vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của hội Mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật, Mật giáo. Vị tôn này coi về đức duyên khởi chủng tử, hình Tam muội da và hình tượng của các vị tôn. Chữ Cú trong tên gọi của vị tôn này là dịch ý từ tiếng Phạm Padaô, nay dịch nghĩa là trụ xứ. Nếu theo nghĩa vạn vật đều được an trụ trong đức đại không của chữ A vốn chẳng sinh, thì Cú tức là chỉ cho đức của chữ A. Từ chữ A này mà sinh ra ấn trí Tam muội da là đức của chư Phật tự chứng, lại nương theo ấn này mà thành tựu thân Đại mạn đồ la đầy đủ mọi tướng hảo. Đây là nghĩa sâu xa của tên gọi Như Lai Cú Sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

như lai gia

(如來家) I. Như Lai Gia. Nhà Như lai. Chỉ cho pháp giới Chân như, nơi an trụ của Như lai. [X. luận Thành duy thức Q.9]. II. Như Lai Gia. Chỉ cho giai đoạn sau khi đã vượt qua giai vị phàm phu tiến vào địa vị Bồ tát trong quá trình tu hành của Bồ tát Đại thừa. Kinh Bồ tát địa trì quyển 9 (Đại 30, 941 thượng) nói: Bồ tát làm việc lợi ích chúng sinh, tu tất cả hạnh Bồ đề vô thượng, làm mọi Phật sự, vượt giai vị phàm phu, lên địa vị Bồ tát, sinh vào nhà Như lai(sinh Như lai gia), gọi là Phật tử(con Phật), nhất định được Vô thượng bồ đề rốt ráo. [X. kinh Hoa nghiêm Q.48 (bản 60 quyển); Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12].

như lai giáp trụ bồ tát

(如來甲胄菩薩) Cũng gọi Như lai giáp bồ tát. Vị Bồ tát được an trí ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này biểu trưng đức của Như lai, có công năng phòng ngừa ma quân phiền não, giống như áo giáp, mũ sắt(giáp trụ)có tác dụng bảo vệ chống lại quân địch. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, mình mặc áo giáp, đội mũ sắt, tay phải nắm lại đặt ở eo; tay trái nắm lại, cầm hoa sen giơ lên, trên hoa có giáp trụ. Cứ theo Tác lễ phương tiện thứ đệ, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ hơi co, đặt ở lưng ngón giữa nhưng không dính sát nhau. Còn theo phẩm Chư thứ đệ giai cụ duyên, thì chân ngôn của vị tôn này là: Qui mệnh Bát na chiến noa (pracaịda,cực bạo ác) phạ nhật la (vajra,kim cương) nhập phạ la (jvala,quang minh) vĩ sa phổ ra (visphara, phổ biến) hồng ùô,chủng tử). Nhưng theo Đại nhật kinh sớ quyển 9 thì đây không phải chân ngôn của Như lai giáp, mà có lẽ là chân ngôn của Kim cương tát đỏa viên quang.

như lai hào tướng bồ tát

(如來毫相菩薩) Như lai hào tướng, Phạm: Tathàga= torịà. Cũng gọi Thích ca hào tướng bồ tát, Chân đa ma ni hào tướng bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2 phía bắc đức Phật trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Như lai hào tướng là đức của Đại nhật Như lai, còn Thích ca hào tướng là quyến thuộc của đức Thích ca. Vị tôn này chủ về công đức của tướng bạch hào(tướng lông trắng)trong 32 tướng hảo của Như lai. Mật hiệu là Diệu quang kim cương. Hình tượng của vị tôn này thân màu vàng ròng, ngồi xếp bằng trên hoa sen, bàn tay phải ngửa lên đặt ở dưới rốn, tay trái cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. Chủng tử là (hùô), hình Tam muội da là bảo châu Như ý. Ấn khế là tay phải nắm lại thành quyền, ngón cái duỗi ra, 4 ngón còn lại để ở khoảng giữa chân mày. Chân ngôn là chân ngôn Tạng phẩm, tức: Qui mệnh Bá la đề (varade,dữ nguyện) bá la bổ la bát đế (varapràpte,đắc nguyện) hồng (hùô,chủng tử), sa ha (svàhà,thành tựu). Ngoài ra, đối với hình tượng, chủng tử, hình Tam muội da, ấn khế, chân ngôn... của vị tôn này, trong các kinh và nghi quĩ của Mật giáo còn có nhiều thuyết khác nhau. [X. Đại nhật kinh số Q.5, 10, 13].

như lai hỉ bồ tát

(如來喜菩薩) Như lai hỉ, Phạm: Tathàgata-mudità. Hán âm: Đát tha nga đa mẫu nễ đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 8 trong ngoại viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo, chủ về tâm Hỉ vô lượng trong 4 tâm Vô lượng của Phật. Mật hiệu là Xứng pháp kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi trên hoa sen, ca sa trùm kín vai phải và ngực, bàn tay phải ngửa lên đặt trước ngực, co ngón giữa, ngón vô danh và ngón út; tay trái cầm lá sen đựng đầy hoa. Hình Tam muội da là hoa sen vàng hoặc là hoa trên lá sen. Ấn khế là ấn Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Hỉ vô lượng tâm: Án (oô) truật đà (suddha, thanh tịnh) bát la mô na (pramoda,hỉ duyệt) sa phả la (sphàra,phổ cập khoáng đại).

như lai kim cương

(如來金剛) Chỉ cho 3 vị tôn được bày ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng của Mật giáo. Một (hoặc cả 3)trong 3 vị tôn này là đồng thể với Như lai tam muội da kim cương trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền. Trong pháp tu của Thai tạng giới, các vị tôn này lấy ấn Kim cương đại tuệ làm nội chứng. Hình tượng của 3 vị tôn này như sau: Vị thứ nhất: Ngồi bán già trên hoa sen, chân phải gác lên chân trái, khuỷu tay phải dựng thẳng, bàn tay ngửa lên, đầu ngón cái và đầu ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón kia hơi co lại; tay trái đặt ở trước ngực, cầm cây chày 5 chĩa. Vị thứ hai: Ngồi bán già trên hoa sen, chân phải gác lên chân trái, bàn tay phải duỗi, đặt trên bắp đùi; bàn tay trái ngửa lên, cầm hoa sen, trên hoa dựng cây chày kim cương 3 chĩa, trên chày có ánh lửa sáng. Vị thứ ba: Ngồi bán già trên hoa sen, chân trái gác lên chân phải, tay phải để ở chỗ eo, cầm hoa sen, trên hoa có chày yết ma; tay trái kết ấn Thí nguyện.

như lai linh đạc bồ tát

(如來鈴鐸菩薩) Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Trong hội Như lai thân của pháp tu Thai tạng, tuy có kết ấn khế và tụng chân ngôn của vị tôn này, nhưng trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4, không thấy có nói đến vị tôn này, hoặc đã được thu vào Như lai pháp loa ấn (Đại pháp loa ấn) rồi chăng? Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa hoa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng, cầm linh kim cương trong tư thế đang rung. Tay trái nắm lại đặt ở cạnh sườn.

như lai liên hoa bồ tát

(如來蓮華菩薩) Vị Bồ tát được đặt ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Vị tôn này dùng tòa hoa sen kim cương bất hoại làm nội chứng tự thệ của mình. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13, tòa hoa sen này còn được gọi là tòa Kim cương, tòa Kim cương bất hoại. Ấn khế của vị tôn này là ấn Hư tâm hợp chưởng, các ngón tay xòe ra làm thành hình cái linh, 2 ngón út và 2 ngón cái cầm lấy nhau, hợp ngón trỏ, ngón giữa thành ấn Lục diệp(ấn 6 cánh). Ấn mẫu đầu tiên là ấn hoa sen chưa nở, tượng trưng cho tòa ngồi của Pháp thân, kế đến là ấn hoa nở 8 cánh, tượng trưng tòa ngồi của Báo thân, cuối cùng là ấn 6 cánh, tượng trưng cho tòa ngồi của Ứng thân.Chân ngôn là: Qui mệnh (à#).

như lai luân bồ tát

(如來輪菩薩) Cũng gọi Như lai pháp luân bồ tát. Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này lấy ấn khế và chân ngôn Chuyển pháp luân làm tự nội chứng của mình, tượng trưng cho đức quay bánh xe pháp của Như lai. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, bàn tay phải dựng đứng, 5 ngón duỗi xòe ra; tay trái đặt ngang ngực, cầm hoa se, trên hoa có bánh xe 8 nan hoa, chung quanh vành bánh xe có ánh lửa sáng. Ấn minh là ấn Chuyển pháp luân. Ấn tướng là 2 tay duỗi 5 ngón, tay trái úp xuống, tay phải ngửa lên, lưng 2 bàn tay sáp vào nhau, các ngón út, vô danh, giữa và trỏ, 8 ngón này đan vào nhau, đầu ngón cái tay trái và đầu ngón cái tay phải hợp lại với nhau. Chân ngôn là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết la noản (nama# samanta vajraịàô, qui mệnh phổ biến chư Chấp kim cương) phạt chiết la trở ma cú ngân (vajràtmakohaô, ngã thị kim cương thân). Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 9, thì Chân ngôn này có 4 nghĩa: Bình đẳng, bản thệ, trừ chướng và cảnh giác. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4]. (xt. Chuyển Pháp Luân Ấn).

như lai mẫn bồ tát

(如來愍菩薩) Như lai mẫn, Phạm: Tathàgatamrđità. Hán âm: Đát tha nga mẫu lệ chi đa. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, phía bắc, trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Giáo lệnh kim cương. Cứ theo Chư thuyết bất đồng kí, thì Tứ vô lượng tôn và Như lai Mẫn bồ tát có lẽ là Ngũ tịnh cư thiên. Hình tượng vị tôn này là Thiên nữ, toàn thân màu da người, ngồi trên lá sen, mặc áo khái đang, bàn tay phải ngửa lên, cầm lá sen, trên lá sen đựng đầy hoa. Tay trái cầm bảo châu, trên bảo châu có ánh lửa, mặt hơi nhìn về phía trái. Hình Tam muội da là bảo hoa hoặc bảo châu. Ấn khế và chân ngôn là ấn ngôn của bồ tát Bi mẫn.[X. phẩm Chân ngôn tạng trong kinh Đại nhật Q.2].

như lai ngữ bồ tát

(如來語菩薩) Như lai ngữ, Phạm: Tathàgata-vaktra. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 2, phía nam, trong viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Tiếng PhạmVaktrahàm ý là khí cụ của ngôn ngữ, cũng tức là miệng phát ra lời nói, vì thế, phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 gọi vị Bồ tát này là Bồ tát Như lai ngữ môn và Thai tạng đồ tượng gọi là Bồ tát Như lai khẩu. Nhưng trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy truyền, thì cùng lúc có cả 2 vị Bồ tát Như lai khẩu và Như lai thần, vậy không biết vị tôn nào trong 2 vị là tên gọi khác của Bồ tát Như lai ngữ này? Đức Như lai dùng viên âm vi diệu mà tuyên thuyết đại pháp, các loài chúng sinh nghe pháp, loài nào hiểu theo loài ấy. Vị Bồ tát này từ trí của Như lai sinh ra, chủ về đức phát ngôn diễn thuyết của Như lai. Mật hiệu là Tính không kim cương. Hình tượng, theo Hiện đồ mạn đồ la, thì toàn thân màu da người, bàn tay phải ngửa lên đặt ở trước ngực; bàn tay trái dựng thẳng, ngón trỏ, ngón cái co lại, cầm hoa sen, trên hoa có bảo châu. Chủng tử là (va). Hình Tam muội da là cái môi trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ và 2 ngón vô danh hợp vào trong lòng bàn tay, đầu các ngón chụm vào 1 chỗ; 2 ngón trỏ và 2 ngón giữa dựng đứng, 2 ngón cái hơi co. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa (Tathàgata,Như lai) ma ha phạ ngật đát la (mahàvaktra,đại ngữ môn) vi thấp phược nhương nẵng (visvajĩàna,chủng chủng xảo trí) ma hộ na dã (mahodaya,quảng đại) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai nha bồ tát

(如來牙菩薩) Như lai nha, Phạm: Tathàgatadaôwỉrà. Hán âm: Đát tha nga đa năng sắt tra la. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ nhất, phía nam đức Phật, trong ngoại viện Thích ca của Mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này chủ về đức của Phật, xóa bỏ tâm chấp trước về sự sai khác giữa chúng sinh và chư Phật. Mật hiệu là Hộ pháp kim cương, Điều phục kim cương. Hình tượng của Ngài toàn thân màu da người, ngồi trên hoa sen đỏ, bàn tay phải để ngang ngực, ngón giữa và ngón áp út hơi co lại, tay trái nắm, đặt ở trước ngực, cầm hoa sen nở, trên hoa có cái răng, mặt nhìn nghiêng bên phải. Chủng tử là (daô), hình Tam muội da là cái răng trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, ấn khế của Bồ tát này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón trỏ co lại để trong lòng bàn tay và hướng lên. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nga đa (Tathàgata,Như lai) năng sắt tra la (daôwỉra,nha) la sa la sa ngật la (rasàgara,vị thắng thượng) tam bát la bác ca (sampsàpaka,đắc) tát phạ (sarva, nhất thiết) đát tha nga đa (tathàgata,Như lai) vi sái dã (viwaya,cảnh giới) tam bà phạ (sambhava,sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). Nghĩa là Qui mệnh khắp hết thảy chư Phật, răng Như lai được nhai pháp vị vô thượng, là từ cảnh giới của tất cả Như lai sinh ra.

như lai nhãn bồ tát

(如來眼菩薩) Cũng gọi Như lai quan bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri của Thai tạng đồ tượng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Vị tôn này đồng thể với bồ tát Bi sanh nhãn(Phật nhãn) của hội Như lai thân. Nhưng chân ngôn của 2 Bồ tát này không giống nhau. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng Bồ Tát Như Lai Ngữ của vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng, bàn tay ngửa lên, đầu ngón cái và đầu ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón kia thì hơi co; tay trái để ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa sen có 2 con mắt. Ấn khế giống vối ấn khế của bồ tát Bi sinh nhãn. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha yết đa chước ngật sô (Tathàgata cakwu,Như lai nhãn) vĩ dã phạ lộ ca dã (vyavalokàya,quan) sa ha (svàhà,thành tựu).[X. phẩm Cụ duyên kinh Đại nhật Q.2; phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.9].

như lai như ý bảo bồ tát

(如來如意寶菩薩) Vị Bồ tát này được bày ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, vị tôn này được xem là giống với bồ tát Đại dũng mãnh (Phạm: Mahà-vìra). Phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật quyển 1 (Đại 18, 6 hạ) hình dung vị tôn này như sau:Lại ở phương nam kia Cứu thế Phật, Bồ tát Đại đức Thánh tôn ấn Hiệu là Mãn chúng nguyện Chân đà la ni châu Trụ trong hoa sen trắng. Theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ quyển 5, thì vị tôn này là do tâm bồ đề thanh tịnh và vô biên hạnh nguyện tập thành, thường hay mưa xuống tất cả của báu thế gian và xuất thế gian.

như lai niệm xứ bồ tát

(如來念處菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri của đồ tượng Thai tạng trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy thuộc Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên hoa sen, tay phải dựng thẳng, đầu ngón cái và ngón trỏ bấm vào nhau, 3 ngón còn lại thì duỗi và xòe ra; khuỷu tay trái dựng thẳng, cầm 1 vật như quyển sách nhỏ. Ấn khế là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, đầu 2 ngón cái sáp vào nhau, tức là ấn Đại tuệ đao. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa sa ma lật để (Tathàgatasmfti,Như lai niệm) tát đỏa (sattva,chúng sinh, hữu tình) hệ đá tệ ôn nghiệt đa (heddhabhyudgata, chư lợi ích sinh) già già na (gagana,hư không) tảm mang tảm ma (samàsama,đẳng vô đẳng) sa ha (svàhà,thành tựu). Nghĩa là Như lai niệm niệm lợi ích hữu tình ngang với hư không, mà hư không lại chẳng sánh bằng. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai phát sinh kệ

(如來發生偈) Cũng gọi Năng sinh chư Phật kệ. Bài kệ trích từ phẩm Bí mật mạn đồ là trong kinh Đại nhật quyển 5 (Đại 18, 31 thượng) như sau: Hay sinh thân tùy loài Pháp tướng của các pháp Chư Phật và Thanh văn Duyên giác vì cứu đời Chúng Bồ tát cần mẫn Và Nhân tôn cũng vậy Chúng sinh khí thế giới Theo thứ lớp lập thành Pháp sinh, trụ, dị, diệt Lí hằng thường như thế Do đủ trí phương tiện Lìa ngu si chướng ngại Thường thấu suốt lí ấy Nói pháp chính biến tri. Cứ theo sự giải thích trong Đại nhật kinh sớ quyển 14, thì ý nghĩa của bài kệ trên là: Chữ (a) là bản thể của các pháp năng sinh, cho nên cũng có thể gọi là Pháp thân vô tướng, Pháp thân bình đẳng. Như lai phát sinh kệ tức là biểu hiện Pháp thân vô tướng này, có khả năng tùy duyên mà phổ hiện sắc thân, sinh ra các thân Phật như: Thụ dụng, Biến hóa, Đẳng lưu v.v..., đồng thời, do sự giáo hóa của các thân ấy mà được nghĩa của các quả: Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác...

như lai phương tiện thiện xảo chú kinh

(如來方便善巧咒經) Phạm: Sapta-buddhaka-sùtra. Cũng gọi Như lai thiện xảo chú kinh, Như lai phương tiện xảo chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này tường thuật lúc đức Phật ở trên đỉnh núi Kê la bà, có 1 vị tỉ khưu trong rừng bị ác quỉ bắt, 1 vị tỉ khưu khác thì bị tà mị ám, cả 2 đều buồn khổ áo não. Đức Phật khi ấy nhân lời thỉnh cầu của bồ tát Hư không tạng bèntuyên nói thần chú diệt trừ bệnh khổ, thoát khỏi nạn quỉ mị. Những bản dịch khác của kinh này có: - Kinh Hư không tạng bồ tát vấn thất Phật đà la ni, được dịch vào đời Lương(mất tên người dịch). - Kinh Thánh hư không tạng bồ tát đà la ni, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

như lai phổ quang bồ tát

(如來普光菩薩) Cũng gọi Phổ quang bồ tát, Viên quang bồ tát, Như lai viên quang bồ tát. Chỉ cho Như lai diệm quang bồ tát được bày ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Vị Bồ tát này biểu thị cho đức đại trí viên mãn của Như lai, ánh sáng chiếu khắp các pháp giới. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi kết già trên hoa sen, đầu đội mũ báu, 2 tay ngửa lên đặt ở trước rốn, cầm hoa sen có hình cái bát, thân và bát có ánh lửa bừng sáng. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, Đại tì lô già na kinh quảng đại nghi quĩ quyển thượng và Nhiếp đại nghi quĩ quyển trung, thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, 2 ngón cái hơi co vào trong lòng bàn tay, 2 ngón trỏ dựng thẳng và xòe ra, dáng như đang phóng ánh sáng. Chân ngôn là: Qui mệnh Nhập phạ la ma lí nễ (jvalàma-lini,quang diệm man) đát tha nghiệt đa lật chỉ (tathàgatarci, Như lai quang minh) sa ha (svàhà,thành tựu).[X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai quyên sách bồ tát

(如來罥索菩薩) Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng hướng về phía bên phải, tay ngửa lên, ngón cái và ngón trỏ duỗi, còn 3 ngón kia co lại; tay trái đặt ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa có vòng dây(quyên sách). Ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, 2 ngón trỏ dựng đứng hợp lại thành dáng cái vòng, biểu thị vòng dây. Chân ngôn là: Qui mệnh Hệ hệ (he, he,hô triệu) ma ha bá xa (mahàpàza,đại sách) bát la sa lao na lí dã (prasrau-darya?quảng như không) tát đỏa đà đổ (sattvadhàtu,hữu tình giới) vi mô ha ca (vimohaka,trừ si) đát tha yết đa địa mục khất để nễ xã đa (tathàgatàdhi= mukti nirjata,Như lai tín giải sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4; Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai quyền

(如來拳) Gọi đủ: Như lai quyền ấn. Một trong các loại ấn gốc(ấn mẹ)của Mật giáo dùng làm chuẩn cho các loại ấn khế khác khi kết thủ ấn. Là 1 trong 4 thứ quyền(nắm tay). Như lai quyền (nắm tay Như lai) có 2 loại: 1. Liên hoa quyền, cũng gọi là Thai tạng quyền, Thai quyền, được dùng trong Mạn đồ la Thai tạng giới. Ấn tướng là ngón cái đè lên cạnh ngoài chỗ lóng trên cùng của ngón trỏ, biểu thị tháp lí của pháp tính 5 đại: Đất, nước, lửa, gió, không. 2. Quyền ấnđược nêu trong Vô lượng thọ quĩ, Dược sư quán hành quĩ, Kim luân yếu lược niệm tụng pháp... Ấn này biểu thị lí và trí ngầm hợp, sắc và tâm không hai, cho nên khi tu Đạo tràng quán thì dùng ấn này. Ấn tướng là: Tay trái đặt ở dưới, kết Liên hoa quyền, nhưng dựng ngón cái vào trong bàn tay phải, tay phải đặt ở trên làm Kim cương quyền, nắm lấy đầu ngón cái của tay trái. Liên hoa quyền của tay tráitượng trưng cho Liên hoa bộlà Lí. Kim cương quyền của tay phải tượng trưng cho Kim cương bộ là Trí. Hai nắm tay chồng lên nhau biểu thị ý nghĩa Lí và Trí không hai, vì thế gọi là Như lai quyền ấn, cũng gọi là Trí quyền ấn. Nhưng, Như lai quyền được nói trong các kinh và nghi quĩ thông thường là chỉ cho Liên hoa quyền. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13]. (xt. Lục Chủng Quyền Ấn).

như lai quyền giáo

Phật vì thích ứng mọi đương cơ mà thiết lập giáo pháp quyền xảo phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nên gọi là Như lai quyền giáo.

như lai sư tử hống kinh

(如來師子吼經) Phạm: Siôha-nadika-sùtra. Kinh, 1 quyển, do ngài Phật đà phiến đa (Phạm: Buddhazànta) dịch vào năm Chính quang thứ 6 (525) đời Nguyên Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 17. Kinh này chủ trương tất cả pháp tính đều không thể diễn tả, trí không thể tìm cầu bên ngoài, mà phải cầu bên trong, để từ đó nói rõ về chỉ thú của sự tự nội chứng. Có thể nói kinh này thuộc loại kinh duy trì lập trường Không quán của Đại thừa. Địa điểm tuyên thuyết kinh này là điện Thắng tạng trong cung Nhật nguyệt, hơn nữa, đại chúng dự hội vượt hẳn con số bình thường, đây cũng là 1 trong những nét đặc biệt của kinh này. Bản dịch khác của kinh này là kinh Đại phương quảng sư tử hống, do ngài Địa bà ha la dịch vào niên hiệu Vĩnh long năm đầu (680) đời Đường và hiện vẫn còn bản dịch Tây tạng. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Đại đường nội điển lục Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.6].

như lai sở thuyết thanh tịnh điều phục kinh

(如來所說清淨調伏經) Cũng gọi Tịch điều âm sở vấn kinh, Tịch điều âm kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp hải dịch vào đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 24. Nội dung kinh này thuật lại việc bồ tát Văn thù sư lợi nói cho Thiên tử Tịch điều âm nghe về yếu nghĩa của giới Đại thừa và chỗ khác nhau giữa tì ni(luật)của Bồ tát và Thanh văn. Kinh này đại thể giống với kinh Thanh tịnh tì ni phương quảng do ngài Cưu ma la thập dịch, nhưng văn thì dài hơn. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch khác là: Kinh Văn thù sư lợi tịnh luật, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào đời Tây Tấn. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.4, 10; Khai nguyên thích giáo lục Q.5].

như lai sứ giả

(如來使者) Cũng gọi Bất động Như lai sứ. Chỉ cho Minh vương Bất động, 1 trong 5 vị Đại minh vương của Mật giáo. Bởi vì Minh vương Bất động lấy việc tuyên bố giáo lệnh của đức Như lai làm bản thệ, cho nên được gọi là Như lai sứ giả. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 5, thì Bất động Minh vương Như lai sứ giả là người hầu và làm các việc do đức Như lai sai bảo. Ngoài ra, các kinh và nghi quĩ, khi nói về Minh vương Bất động thì phần nhiều cũng gọi là Như lai sứ giả. [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.1].

như lai thiền

(如來禪) I. Như Lai Thiền. Chỉ cho Thiền định của Phật địa, là 1 trong 4 loại thiền, có xuất xứ từ phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3. Tức là thiền định tiến vào đất Như lai, chứng được 3 thứ vui của Thánh trí, thị hiện diệu dụng rộng lớn không thể nghĩ bàn làm lợi ích cho chúng sinh. II. Như Lai Thiền. Một trong 5 loại thiền(Ngũ vị thiền). Trong Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng, phần 1, ngài Tông mật chia thiền định làm 5 loại, trong đó, loại thứ 5 Tối thượng thừa thiền được gọi là Như lai thanh tịnh thiền, gọi tắt là Như lai thiền, cũng gọi Nhất hạnh tam muội, Chân như tam muội. Chỉ thú của loại thiền này là trực ngộ tâm mình xưa nay vốn thanh tịnh, không có phiền não, đầy đủ trí tính vô lậu. Tâm thanh tịnh này không khác với Phật, tâm này tức là Phật, vì thế nên ngài Tông mật gọi đó là Như lai thanh tịnh thiền và cho đó là thiền do môn hạ Tổ Đạt ma trao truyền cho nhau. Nhưng từ giữa đời Đường trở về sau, Thiền tông nhân thịnh hành các phương thức bất lập văn tự, kiến tính thành Phật, như đánh hét, tọa thiền... trong việc tiếp hóa người học; thêm nữa, đương thời Như lai thiền lại bị kẹt vào danh tướng nghĩa giải mà không đạt đến mùi vị thiền chân thực do Tổ sư Đạt ma từ Ấn độ truyền sang. Vì thế, Thiền sư Tuệ tịch ở Ngưỡng sơn mới lập ra tên gọi Tổ sư thiền, lấy đây làm tâm ấn do Tổ Đạt ma truyền, biểu thị ý nghĩa các Tổ sư dùng tâm ấn tâm trao truyền cho nhau để phân biệt với các loại thiền khác trong nội giáo. [X. chương Ngưỡng sơn Tuệ tịch trong Cảnh đức truyền đăng lục Q.11]. (xt. Ngũ Vị Thiền, Tổ Sư Thiền).

như lai thiệt bồ tát

(如來舌菩薩) Như lai thiệt, Phạm:Tathàgata-jihva. Hán âm: Đát tha nga tha nhĩ ha phạ. Vị Bồ tát ngồi ở vị trí thứ 6 phía nam đức Phật trong nội viện Thích ca trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo; cũng là vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê truyền. Vị tôn này chủ về tướng lưỡi thuyết pháp của đức Phật, thường biểu hiện đức chân thực ngữ. Mật hiệu là Biện thuyết kim cương. Tuy nhiên, vị tôn này và bồ tát Như lai biện thuyết là 2 vị khác nhau. Trong Hiện đồ Mạn đồ la, hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi bán già trên hoa sen đỏ, bàn tay phải duỗi thẳng và ngửa lên, đặt ở trước ngực; bàn tay trái dựng đứng, dùng ngón cái và ngón trỏ cầm hoa sen nở, trên hoa sen để cái lưỡi (thiệt), trên lưỡi có ánh lửa sáng. Chủng tử là (ji), hình Tam muội da là lưỡi trên hoa sen. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là co 2 ngón vô danh(nhị thủy luân), dùng 2 ngón cái(nhị không luân)chập lại đưa vào lòng bàn tay, ngón cái đè lên móng tay của 2 ngón vô danh. Nhị thủy (2 ngón vô danh) trong ấn khế biểu thị nghĩa nói năng, đưa vào trong lòng bàn tay biểu thị nghĩa vào tự môn chữ (a); dùng nhị không(2 ngón cái)đè lên trên nhị thủy biểu thị nghĩa đại không. Chân ngôn là: Qui mệnh Đát tha nghiệt đa (Tathàgata,Như lai) nhĩ ha phạ (jihva,thiệt) tát để dã (satya, chân thực) đạt ma (dharma,pháp) bát la để sắt sỉ đa (pratiwỉhita,tính) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật nghĩa kinh thích Q.10].

như lai thân hội

(如來身會) Hội Như lai thân. Hội này nói rõ nghĩa tu hành đắc quả của 13 đại hội thuộc Thai tạng giới, Mật giáo. Vì hội này kết tụng 25 ấn khế và chân ngôn đầy đủ tam mật Như lai, cho nên gọi là Như lai thân hội. Hội này gồm có 25 ấn khế và chân ngôn thuộc viện Biến tri, đó là: Đại tuệ đao, Đại pháp hoa, Liên hoa tọa, Kim cương đại tuệ, Như lai đính, Như lai đính tướng, Hào tướng tạng, Đại bát, Thí vô úy, Dữ mãn nguyện, Bi sinh nhãn, Như lai sách, Như lai tâm, Như lai tề, Như lai yêu, Như lai tạng, Phổ quang, Như lai giáp, Như lai thiệt, Như lai ngữ, Như lai nha, Như lai biện thuyết, Như lai trì thập lực, Như lai niệm xứ và Nhất thiết pháp bình đẳng khai ngộ. Có thuyết cho rằng: Nhập Phật tam muội, Pháp giới sinh, Chuyển pháp luân v.v... cũng thuộc về hội Như lai thân. [X. phẩm Mật ấn kinh Đại nhật Q.4]

như lai thí nguyện bồ tát

(如來施願菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải rủ xuống kết ấn Thí nguyện; tay trái cầm hoa sen, trên hoa có tướng của ấn Thí nguyện, chung quanh ấn có ánh lửa sáng.

như lai thương khư bồ tát

(如來商佉菩薩) Như lai thương khư, Phạm: Tathàgatazaíkha#. Hán âm: Đát tha nghiệt đa thương khư. Cũng gọi: Như lai pháp loa bồ tát, Pháp loa bồ tát, Cát tường thương khư bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi bán già trên hoa sen, khuỷu tay phải dựng thẳng hướng ra phía trước, ngón cái và ngón trỏ duỗi thẳng, 3 ngón kia thì co lại; tay trái nắm để ở trước ngực, cầm hoa sen, trên hoa sen đựng 1 cái vỏ ốc, trên vỏ ốc có ánh lửa sáng. Chủng tử là (aô), tức là trên chữ (a) biểu thị nghĩa vốn chẳng sinh, thêm ở phía trên 1 dấu chấm Đại không biểu thị nghĩa trùm khắp hết thảy chỗ, thành là thể tính của Niết bàn đại tịch. Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 thì ấn khế của vị tôn này là Hư tâm hợp chưởng, co 2 ngón trỏ, lấy 2 ngón cái vắt tréo lên đó. Chân ngôn là: Qui mệnh ám (aô,chủng tử). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai thược khất để

(如來鑠乞底) Thước khất để, Phạm: Zakti. Hán dịch: Sóc(cây giáo ngắn). Cũng gọi Như lai sóc, Như lai sóc bồ tát.Vị Bồ tát ngồi ở viện Thích ca trong Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, chủ về đức phương tiện bảo hộ chúng sinh của Như lai. Mật hiệu là Chúng hành kim cương. Hình tượng vị tôn này thân màu da người, ngồi bán già trên tòa sen, tay phải cầm cây giáo hướng ra ngoài, tay trái nắm lại đặt ở eo. Chủng tử là (za), hình Tam muội da là cây giáo. Về hình tượng của của vị Bồ tát này còn nhiều thuyết khác nhau. [X. phẩm Bí mật mạn đồ la trong kinh Đại nhật Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.5, 6; Bí tạng kí].

như lai thần bồ tát

(如來唇菩薩) Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong phẩm Mật ấn của kinh Đại nhật quyển 4, có nêu ra ấn minh của bồ tát Như lai ngữ môn và bảo rằng ấn minh này được kết tụng trong hội Như lai thân thuộc pháp tu Thai tạng giới. Ngữ môn tức chỉ cho miệng, vì vậy, bồ tát Như lai ngữ môn còn được gọi là Như lai khẩu bồ tát. Thần(môi) cũng hàm ý là ngữ môn, mà trong viện Biến tri của Mạn đồ la do A xà lê truyền lại cùng lúc nêu ra 2 vị Bồ tát là Như lai khẩu và Như lai thần, thì thật khó mà phân biệt được sự sai khác giữa 2 vị tôn này. (xt. Như Lai Ngữ Bồ Tát).

Như Lai Thập Hiệu

(如來十號): xem Thập Hiệu (十號) bên dưới.

như lai thập lực sinh chấp kim cương

(如來十力生執金剛) Vị Chấp kim cương nội quyến thuộc của Thuyết hội mạn đồ la nói trong kinh Đại nhật, Mật giáo, 1 trong 19 Chấp kim cương. Vị Chấp kim cương này coi về Trí phương tiện hậu đắc của đức Như lai. Trí này là quyền trí phương tiện hóa tha do 10 trí lực của Như lai sinh ra, vì thế mà vị tôn này được gọi là Như lai thập lực sinh. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1]

như lai thắng đức lục nghĩa

(如來勝德六義) Sáu nghĩa thắng đức của Như lai. 1. Nghĩa tự tính: Pháp thân của chư Phật đều nương vào lí thể chân như làm tự tính. 2. Nghĩa nhân: Chư Phật trong vô lượng vô số kiếp đã tu tập nhân của thắng quả. 3. Nghĩa quả: Chư Phật đã vĩnh viễn đoạn trừ hết thảy phiền não chướng và chứng được quả Bồ đề vô thượng. 4. Nghĩa nghiệp: Chư Phật dùng thân nghiệp thanh tịnh thị hiện thần thông lớn, dùng khẩu nghiệp thanh tịnh diễn nói Chính pháp, dùng ý nghiệp thanh tịnh khéo điều phục để dắt dẫn chúng sinh ra khỏi biển khổ sinh tử, chứng nhập Đại bồ đề. 5. Nghĩa tương ứng: Trong nhân vị... , chư Phật đã tu tập nhiều hạnh khổ khó làm, cho nên thành tựu được các công đức Thập lực, Tứ vô sở úy... mà tương ứng với lí pháp tính. 6. Nghĩa sai biệt: Chư Phật nói pháp giáo hóa chúng sinh, tùy nơi mà thị hiện tướng sai biệt của 3 thân: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.

như lai thị giáo thắng quân vương kinh

(如來示教勝軍王經) Cũng gọi Thắng quân vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Huyền trang dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung kinh này tường thuật lúc đức Phật trụ ở vườn Cấp cô độc, rừng Thệ đa, thành Xá vệ, chỉ dạy đường lối trị nước theo chính pháp cho vua Thắng quân (tức Ba tư nặc) như áp dụng 4 việc bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự để thu phục các quan và dân chúng. Đức Phật còn nêu các sự kiện như già, bệnh, chết, suy hao... để khuyên tu các pháp quán trọng yếu như quán vô thường, quán tận diệt, cho đến việc hộ trì Phật pháp, nguyện cầu chính pháp Thánh tuệ... Tóm lại, tư tưởng trong toàn bộ kinh phần nhiều thuộc Tục đế môn, là tư tưởng của luận A tì đạt ma Tiểu thừa. Bản dịch khác của kinh này là Phật thuyết Thắng quân vương sở vấn kinh, do ngài Thí hộ dịch vào đời Tống. [X. Đại đường nội điển lục Q.5; Cổ kim dịch kinh đồ kỉ Q.4; Khai nguyên thích giáo lục Q.8; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.11].

như lai tiếu bồ tát

(如來笑菩薩) Như lai tiếu, Phạm: Tathàgata-hàsa. Hán âm: Đát tha nga tha ha sa. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực nam trong nội viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này vốn là tướng răng của đức Như lai, biểu thị cho cái đức hoan hỉ của Ngài, tương đương với bồ tát Như lai thần (môi)hoặc bồ tát Như lai khẩu(miệng)ở viện Biến tri trong Mạn đồ la do A xà lê truyền. Mật hiệu là Hoan hỉ kim cương, Phá nhan kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, ngồi xếp bằng trên hoasen đỏ, miệng mở răng lộ, cánh tay phải giơ lên, lòng bàn tay úp xuống, đặt ở gần miệng; tay trái nắm lại để ở cạnh eo, cầm hoa sen nở. Chủng tử là (hà) hoặc (ha#). Hình tam muội da là hoa sen nở. Ấn khế và chân ngôn thì dùng ấn khế và chân ngôn của bồ tát Kim cương tiếu. (xt. Như Lai Thần Bồ Tát). NHƯ LAI TRANG NGHIÊM TRÍ TUÊ QUANG MINH NHẬP NHẤT THIẾT PHẬT CẢNH GIỚI KINH Cũng gọi Như lai nhập nhất thiết Phật cảnh giới kinh, Trí tuệ trang nghiêm kinh, Như lai trang nghiêm Phật cảnh giới kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Đàm ma lưu chi dịch vào năm Cảnh minh thứ 2(501) đời Bắc Ngụy, được thu vào Đại chính tạng tập 12. Nội dung kinh này tường thuậtviệc đức Phật tuyên thuyết pháp bất sinh bất diệt, mở bày bản nghĩa pháp thân Như lai, đạo lý phương tiện thị hiện và đại dụng tùy cơ giáo hóa; đồng thời, nói rõ về nghĩa bồ đề và hạnh Bồ tát cho Đồng chân Diệu cát tường (Văn thù sư lợi)nghe. Kinh này còn có 3 bản dịch khác là: 1. Đại thừa nhập chư Phật cảnh giới trí quang minh trang nghiêm, do ngài Pháp hộ dịch vào đời Tống. 2. Độ nhất thiết chư Phật cảnh giới trí nghiêm kinh. 3. Bản dịch tiếng Tây tạng. Trong các bản dịch trên, bản của ngài Hộ pháp có nội dung rộng nhất, còn bản Độ nhất thiết chư Phật cảnh giới trí nghiêm kinh thì vắn tắt hơn cả và rất gần với nguyên bản.[X. Ancient Khotan, Plate CIX].

như lai tâm bồ tát

(如來心菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này đầu đội mũ báu, mình mặc áo yết ma, 2 tay ngửa lên đặt ở trước rốn, cầm hoa sen, trên hoa có hạt châu biểu thị cho tâm nguyệt luân(tròn sáng như mặt trăng). Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, ngón trỏ tay phải dựng thẳng, lóng thứ 3 của ngón giữa hơi co làm thành hình móc câu. Chân ngôn là: Qui mệnh nhưỡng nộ ôn bà phạ (oô, jĩànudbhava, trí sinh) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai tâm kinh

(如來心經) Cũng gọi Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni kinh, Quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni kinh, Phật đính phóng vô cấu quang minh kinh. Kinh, 2 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật ở trên cung trời Đâu suất giảng nói về quả báo của 6 pháp Ba la mật. Lúc đó, tại cung trời Đao lợi, Thiên tử Ma ni tạng vô cấu nằm mộng được Cự khẩu thiên dạ xoa báo cho biết 7 ngày nữa sẽ chết và đọa địa ngục chịu khổ. Thiên tử hoảng sợ, đến cầu cứu trời Đế thích và cùng nhau đến chỗ đức Phật, Phật bèn vì họ mà tuyên thuyết Phật đính phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như lai tâm đà la ni và bảo họ trì tụng Đà la ni này sẽ được các công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Tiếp sau, Phật lại dạy nghi tắc để thành tựu Đà la ni này. Ngoài ra, duyên do Phật nói kinh này cũng hơi giống với duyên do Phật nói Tôn thắng đà la ni, tức Đà la ni chuyên dùng để cầu tiêu tai, sống lâu và được lưu truyền rất rộng.

như lai tê bồ tát

(如來臍菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và trong Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng của vị tôn này ngồi bán già trên tòa sen, tay phải đặt trên đầu gối, bàn tay úp và rủ xuống, kết ấn Xúc địa(chạm đất); tay trái để trước ngực cầm hoa sen, trên hoa sen có 1 vật hình tròn như quả cầu(biểu trưng cho cái rốn – tề). Cứ theo phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật quyển 4 và Quảng đại nghi quĩ quyển thượng, thì ấn khế của vị tôn này là Nội phược quyền, bàn tay phải duỗi, ngón trỏ và ngón giữa hơi co. Chân ngôn là: Qui mệnh a một lật đổ ôn bà phạ (amfitodbhava,cam lộ sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

Như Lai tạng

如來藏; S: tathāgata-garbha;|Nghĩa là cái gốc, nơi xuất xứ của Như Lai; quan điểm Ðại thừa, chỉ mỗi chúng sinh đều chứa Pháp thân (s: dharmakāya, Ba thân) trong thân mình, chứa khả năng thành Phật, khả năng Giác ngộ. Trong các kinh Ðại thừa, Như Lai tạng đồng nghĩa với Phật tính, Pháp giới, Chân như.

như lai tạng

The Tathagata-nature, which is the fundamental universal nature possessed by all the living. Chánh Pháp Tạng: Pháp giới tạng—The source or treasury of all right laws and virtues. Pháp Thân Tạng: The storehouse of the dharmakaya obtained by all saints. Xuất Thế Tạng: Xuất thế gian thượng thượng tạng—The eternal spiritual nature, free from earthly errors. Tự Tánh Thanh Tịnh Tạng: The storehouse of the pure Buddha-nature. ; (如來藏) I. Như Lai Tạng. Phạm: Tathàgata-garbha. Chỉ cho pháp thân Như lai xưa nay vốn thanh tịnh(tức là tự tính thanh tịnh)ẩn tàng trong thân phiền não của hết thảy chúng sinh, nhưng không bị phiền não làm ô nhiễm, bản tính vẫn tuyệt đối thanh tịnh và vĩnh viễn bất biến. Mặt khác, tất cả hiện tượng ô nhiễm và thanh tịnh đều duyên theo Như lai tạng mà sinh khởi, gọi là Như lai tạng duyên khởi. Trong các kinh luận, tư tưởng này thường được dùng để nói rõ về ý nghĩa mê và ngộ đối lập trong con người. Chương Pháp thân trong kinh Thắng man (Đại 12, 221 hạ) nói: Pháp thân Như lai không lìa phiền não tạng, gọi là Như lai tạng. Kinh Đại phương đẳng Như lai tạng cũng nêu 9 thí dụ như: Trong hoa sen có hóa Phật, mật ngọt trong rừng rậm, vàng ròng rơi vào chỗ nhơ bẩn, tượng vàng bọc trong giẻ rách, cô gái nghèo hèn mang thai quí tử... để giải thích rõ ý nghĩa Như lai tạng ẩn giấu trong phiền não. Theo phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2, thì Tạng có 3 nghĩa: 1. Sở nhiếp tạng: Hết thảy chúng sinh đều được thu nhiếp vào trong trí Như lai. 2. Ẩn phú tạng: Pháp thân Như lai bất luận ở nhân vị hay quả vị đều không thay đổi, nhưng chúng sinh bị phiền não che lấp nên chẳng thấy được. 3. Năng nhiếp tạng: Quả đức Như lai đều thu nhiếp trong tâm phàm phu. Còn theo phẩm Tự thể tướng của luận Phật tính quyển 2 và chương Tự tính thanh tịnh trong kinh Thắng man, thì Tạng có 5 nghĩa là: Tự tính, nhân, chí đắc, chân thực và bí mật. 1. Tự tính: Muôn vật đều là tự tính Như lai, đó là nói theo nghĩa tự tính, nên gọi là Như lai tạng. 2. Nhân...: Tạng này là đối cảnh do Thánh nhân tu hành Chính pháp mà sinh ra, đó là nói theo nghĩa trở thành nhân của cảnh giới, nên gọi là Chính pháp tạng, hoặc Pháp giới tạng. 3. Chí đắc: Tin tưởng tạng này có thể đạt được quả đức pháp thân Như lai, đó là nói theo nghĩa chí đắc(đạt được), nên gọi là Pháp thân tạng. 4. Chân thực: Tạng này vượt ra ngoài tất cả sự hư dối của thế gian, đó là nói theo nghĩa chân thực nên gọi là Xuất thế tạng, hoặc Xuất thế gian thượng thượng tạng. 5. Bí mật: Tất cả pháp nếu thuận theo tạng này thì được thanh tịnh, trái lại thì trở thành ô trọc, đó là nói theo nghĩa bí mật, nên gọi là Tự tính thanh tịnh tạng. Năm tạng nêu trên được gọi là Ngũ chủng tạng.Theo Đại thừa chỉ quán pháp môn quyển 1, thì Tạng có 3 nghĩa: Năng tàng, Sở tàng và Năng sinh. Viên giác kinh lược sớ quyển thượng thì nêu 3 nghĩa: Ẩn phú, Hàm nhiếp và Xuất sinh, gọi là Tam chủng Như lai tạng. Lại theo chương Không nghĩa ẩn phú chân thực trong kinh Thắng man, thì Như lai tạng có thể chia làm 2 loại: 1. Như lai tạng vượt ngoài phiền não, hoặc chẳng giống với phiền não, cũng tức trong Như lai tạng, phiền não là không, gọi là Không như lai tạng. 2. Như lai tạng đầy đủ tất cả pháp mà chẳng lìa, chẳng thoát, chẳng khác với phiền não, đây tức là Bất không Như lai tạng. Lại nữa, theo chương Pháp thân kinh Thắng man, thì Như lai tạng còn có thể chia làm 2 loại: 1. Tại triền: Ở trong trạng thái bị phiền não trói buộc(triền), bao hàm Không như lai tạng và Bất không như lai tạng. 2. Xuất triền: Trạng thái đã thoát ra khỏi sự trói buộc(xuất triền)của phiền não. Theo luận Đại thừa khởi tín thì Chân như có 2 mặt là Như thực không và Như thực bất không. Thể tướng của giác nếu được ví dụ bằng 4 tấm gương thì tức là: 1. Gương Như thực không: Tức Không như lai tạng. 2. Gương Nhân huân tập: Tức Bất không như lai tạng. 3. Gương Pháp xuất li. 4. Gương Duyên huân tập. Hai ví dụ trước là Tại triền, 2 ví dụ sau là Xuất triền. Luận Thích ma ha diễn quyển 2 qui nạp các thuyết kể trên mà lập ra 10 loại Như lai tạng: Đại tổng trì Như lai tạng, Viễn chuyển viễn phược Như lai tạng, Dữ hành dữ tướng Như lai tạng, Chân như chân như Như lai tạng, Sinh diệt chân như Như lai tạng, Không Như lai tạng, Bất không Như lai tạng, Năng nhiếp Như lai tạng và Ẩn phú Như lai tạng. Có thuyết cho Như lai tạng, thức A lại da và thức A ma la(thức thứ 9)là một. Như kinh Nhập lăng già quyển 7 (Đại 16, 556 trung) nói: Thức A lê da gọi là Như lai tạng và cùng có với 7 thức vô minh và (Đại 16, 556 hạ) nói: Thức Như lai tạng không ở trong thức A lê da, cho nên 7 thứ thức có sinh có diệt, mà thức Như lai tạng thì không sinh không diệt. Như lai tạng nói ở đây tức là thức A ma la. Tại Ấn độ, tư tưởng Như lai tạng được thành lập sớm hơn thuyết Duy thức và khác với tư tưởng của Trung quán, Duy thức. Nhưng người đời sau không lập riêng Như lai tạng ngoài thuyết Duy thức, mà lại bàn về Như lai tạng trong thuyết Duy thức. Còn ở Trung quốc thì tông Địa luận cho Như lai tạng là cứu cánh, rồi lập ra thuyết Tịnh thức duyên khởi. Tông Thiên thai thì cho rằng Như lai tạng tức là Thực tướng và coi là diệu pháp bất khả tư nghị. Trong khởi tín luận nghĩa kí quyển thượng, ngài Pháp tạng –Tổ thứ 3 tông Hoa nghiêm– có lập giáo phán 4 tông, trong đó tông thứ 4 tức là tông Như lai tạng duyên khởi. Nội dung tông này bao hàm những học thuyết của các kinh luận như Lăng già, Mật nghiêm, Khởi tín, Bảo tính v.v... Nói theo Ngũ giáo phán của tông Hoa nghiêm thì tông Như lai tạng duyên khởi tương đương với Chung giáo thứ 3. Ngoài ra, những gì được nói trong Mạn đồ la Thai tạng giới của Mật giáo, chính đã căn cứ vào tư tưởng Như lai tạng mà có vậy.[X. kinh Đại bát niết bàn Q.7 (bản Bắc); kinh Lăng già a bạt đa la bảo Q.2, 4; kinh Nhập lăng già Q.1; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.hạ; kinh Đại bát nhã Q.578; kinh Vô thượng y Q.thượng; luận Kim cương tiên Q.5; Đại trí độ luận sớ Q.14; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.1, 3, phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông kí Q.3, phần đầu]. (xt. Thí Dụ). II. Như Lai Tạng. Chỉ cho tất cả tạng kinh do đức Phật tuyên thuyết. Kinh Tăng nhất a hàm quyển 1 (Đại 2, 550 hạ) nói: Người nào chuyên tâm trì tụng kinh Tăng nhất tức là tổng trì Như lai tạng.

như lai tạng duyên khởi

(如來藏緣起) Cũng gọi Chân như duyên khởi. Chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh của Như lai tạng sinh khởi hết thảy muôn pháp, loại thứ 3 trong 4 loại duyên khởi. Tư tưởng Duyên khởi luận này được nói rõ ràng trong kinh Lăng già và kinh Mật nghiêm. Nghĩa là Như lai tạng 1 mặt thường trụ bất biến, đồng thời, mặt khác, lại tùy duyên khởi động mà biến sinh ra muôn vật. Tiến trình Như lai tạng tùy duyên khởi động là: Trước hết, nhất tâm của Như lai tạng bị ác tập của vô minh từ vô thủy đến nay huân tập(xông ướp)mà thành thức A lại da(Tàng thức), kế đó là từ Tạng thức hiện khởi muôn vật, nhưng bản tính của Như lai tạng vẫn không bị tổn hại, mà lại trở thành mối quan hệ Như lai tạng là thể, còn Tàng thức là tướng. Lại nữa, thực thể của Như lai tạng có 2 nghĩa Chân như môn và Sinh diệt môn. Đứng về phương diện Chân như môn mà nói, thì thể của Như lai tạng là nhất vị bình đẳng, tính không sai khác; còn đứng về phương diện Sinh diệt môn mà bàn, thì Như lai tạng tùy duyên nhiễm tịnh mà sinh khởi các pháp, như theo duyên nhơ nhớp mà sinh ra 6 đường, theo duyên trong sạch mà biến hiện ra 4 Thánh v.v... [X. kinh Nhập lăng già Q.1, 2, 7; kinh Đại thừa mật nghiêm Q.hạ; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu]. (xt. Tứ Chủng Duyên Khởi).

như lai tạng kinh

(如來藏經) Kinh, 1. Có 2 bản dịch ra chữ Hán. 1. Đại phương đẳng Như lai tạng kinh, do ngài Phật đà bạt đà la (Phạm: Buddhabhadra, Giác hiền – 359-429) dịch vào năm Nguyên hi thứ 2 (420) đời Đông Tấn, được thu vào Đại chính tạng tập 16. 2. Đại phương quảng Như lai tạng kinh, do ngài Bất không Kim cương (Phạm: Amoghavajra, 705-774) dịch vào khoảng năm Đại lịch (746-771), đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Hai bản dịch trên đây chỉ khác nhau chút ít, nhưng nội dung bản dịch của ngài Bất không tương đối phong phú và rõ ràng hơn bản dịch của ngài Phật đà bạt đà la. Ngoài ra, hiện còn có bản dịch Tây tạng. Kinh này có 4 lần được dịch ra chữ Hán, nhưng hiện nay chỉ còn bản dịch thứ 3 và thứ 4. Bản đầu tiên do ngài Pháp cự dịch vào đời Tây Tấn, cứ đó suy ra ta có thể biết kinh Như lai tạng đã được truyền vào Trung quốc khoảng thế kỉ III Tây lịch. Vì kinh này giải thích rõ về Như lai tạng (Phạm: Tathàgata-garbha) nên gọi là Như lai tạng kinh. Nội dung nói rõ mặc dù chúng sinh sống trong phiền não khổ đau, nhưng Như lai tạng cũng không vì thế mà bị nhiễm ô; đồng thời, dùng 9 thứ thí dụ để thuyết minh tự tính thanh tịnh của Như lai tạng. Phần thí dụ này chiếm phần lớn bộ kinh. Về hình thức thì sau mỗi đoạn văn trường hàng(văn xuôi)đều có kệ trùng tụng (văn vần lập lại ý chính trong đoạn văn xuôi). Nội dung kinh chỉ nhấn mạnh đến Như lai tạng chứ không nói rõ về mối quan hệ giữa Như lai tạng và thức A lại da. Cứ theo hình thức nội dung và niên đại phiên dịch mà suy đoán, thì kinh này là tác phẩm xuất hiện sớm nhất trong số các kinh luận nói về Như lai tạng. Ý chỉ nòng cốt: Như lai tạng của hết thảy chúng sinh là thường trụ bất biến trong kinh này sau được kinh Niết bàn kế thừa và triển khai thành thuyết Hết thảy chúng sinh đều có Phật tính.

như lai tạng tính

(如來藏性) Tự tính của hết thảy chúng sinh đều ẩn chứa công đức của Như lai. Du già luận kí quyển 20 (Đại 42, 764 thượng) ghi: Kinh Lăng già nói: Như lai tạng tính đầy đủ hết thảy công đức nhiều như số cát sông Hằng, vốn đã tự có chứ chẳng phải đến nay mới có. (...) Còn kinh Hoa nghiêm thì nói: Phật tử! Hết thảy chúng sinh đều có Như lai tạng tính Phật, đầy đủ mọi công đức.

như lai từ bồ tát

(如來慈菩薩) Như lai từ, Phạm: Tathàgata-maitrì. Hán âm: Đát tha nga đa muội để lợi. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực bắc trong nội viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này biểu thị tâm Từ vô lượng trong 4 tâm vô lượng(từ, bi, hỉ, xả)của đức Phật. Mật hiệu là Hộ niệm kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, khoác áo choàng, tréo chân ngồi trên lá sen, mặt xoay về phía trái, 2 tay cầm lá sen, trên lá sen có đựng hoa sen…………. Chủng tử là (mai). Hình Tam muội da là hoa sen trên lá sen, hoặc là châu như ý. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng(cũng gọi ấn Phổ thông). Chân ngôn là chân ngôn Từ vô lượng tâm: Án (oô,qui mệnh) ma hạ (mahà,đại) muội đát la dạ (màitràyà,từ) sa phả la (sphàra,phổ cập khoáng đại).

như lai xả bồ tát

(如來捨菩薩) Như lai xả, Phạm: Tathàgatopekwà. Hán âm: Đát tha nga đa ô bế khất sái. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực bắc trong ngoại viện Thích ca của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Vị tôn này biểu thị tâm Xả vô lượng trong 4 tâm vô lượng(từ, bi, hỉ, xả)của đức Phật. Mật hiệu là Bình đẳng kim cương. Hình tượng vị tôn này toàn thân màu da người, tréo chân ngồi trên lá sen, bàn tay phải đặt trên bắp đùi, ngón cái hướng vào trong, 4 ngón kia hướng ra ngoài; tay trái cầm hạt châu trắng, mặt hơi nghiêng về phía trái. Chủng tử là (u), hình Tam muội da là hạt châu trắng. Ấn khế là Phổ thông hợp chưởng. Chân ngôn là chân ngôn Xả vô lượng tâm: Án (oô,qui mệnh) ma hộ bế khất sái (mahopekwà,đại xả) sa phả la (sphàra, phổ cập khoáng đại).

như lai yêu bồ tát

(如來腰菩薩) Vị Bồ tát ngồi ở viện Biến tri trong Thai tạng đồ tượng và Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Trong Thai tạng đồ tượng, hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, tay phải ngửa lên đặt trên bắp đùi, tay trái để ở chỗ eo, cầm hoa sen, trên hoa sen có 1 vật giống cái vòng. Về ấn khế của vị tôn này thì các kinh và nghi quĩ nói đều khác nhau. Cứ theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì ấn khế của vị tôn này là ấn của Như lai câu, ngón trỏ ở trong, duỗi ngón vô danh. Chân ngôn là: Qui mệnh đát tha nghiệt đa (tathàgata, Như lai) tam bà phạ (sambhava,sinh) sa ha (svàhà,thành tựu). [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4].

như lai đao bồ tát

(如來刀菩薩) Vị Bồ tát được bày ở viện Biến tri trong đồ tượng Thai tạng trên Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Đây chính là vị tôn lấy ấn minh Đại tuệ đao làm tự nội chứng được nói trong phẩm Mật ấn kinh Đại nhật quyển 4 vậy. Đại tuệ đao(Dao tuệ lớn)ví dụ trí tuệ sắc bén, có khả năng chặt đứt tất cả phiền não. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên hoa sen, tay phải cầm thanh kiếm, bàn tay trái ngửa lên để ở trước rốn, các ngón cái, ngón giữa, ngón vô danh và ngón út hơi co lại. [X. Đại nhật kinh sớ Q.13].

như lai đỉnh bồ tát

(如來頂菩薩) Vị Bồ tát được bày trong việc Biến tri trên đồ tượng Thai tạng thuộc Mạn đồ la do A xà lê Thiện vô úy của Mật giáo truyền. Hình tượng vị tôn này ngồi xếp bằng trên tòa sen, tay phải úp lên ngực, ngón cái, ngón trỏ duỗi thẳng, co 3 ngón còn lại; tay trái cầm hoa sen để ở chỗ eo, trên hoa có 1 cái vòng, trong vòng có nhiều hạt châu nhỏ, trên vòng có ánh lửa sáng. Ấn khế là Nội phược quyền, 2 ngón giữa dựng đứng, 2 ngón trỏ để dính sát vào lưng 2 ngón giữa, 2 ngón cái duỗi thẳng đè lên 2 ngón giữa. Chân ngôn là: Qui mệnh hồng hồng (hùô hùô). Theo Đại nhật kinh sớ quyển 13 thì chân ngôn này mang ý nghĩa của Tam muội giải thoát. [X. phẩm Mật ấn trong kinh Đại nhật Q.4].

như lai đỉnh tướng

(如來頂相) Một trong những ấn minh của hội Như lai thân pháp trong pháp tu Thai tạng của Mật giáo, biểu thị Vô kiến đính tướng của Như lai. Ấn minh Như lai đính biểu thị tướng Đại nhân đặc biệt tôn quí của đức Phật, còn ấn minh Như lai đính tướng này thì biểu thị thân lượng rộng lớn vô biên của Phật. Cứ theo Thanh long nghi quĩ quyển thượng, thì ấn khế là tay phải nắm lại thành quyền, đặt lên đỉnh đầu để gia trì, như vậy thì tất cả thiên thần đều không thể thấy được đính tướng của Phật. Chân ngôn là: Qui mệnh Già già na a nan đa tát phát ra nễ (gaganànta spharaịa,Hư không vô lượng phổ biến) tì du đà đạt ma nễ xà đa (vizuddha dharma nirjàta,thanh tịnh pháp sinh) sa ha (svàhà, thành tựu). [X. phẩm Cụ duyên trong kinh Đại nhật Q.2].

như lai độc chứng tự thệ tam muội kinh

(如來獨證自誓三昧經) Cũng gọi Độc chứng tự thệ tam muội kinh, Như lai tự thệ tam muội kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Trúc pháp hộ dịch vào năm Thái thủy thứ 2 đến niên hiệu Kiến hưng năm đầu (266-313) đời Tây Tấn, Trung quốc, được thu vào Đại chính tạng tập 15. Độc chứng tự thệ tam muội là tên của đạo tràng, tức là tinh xá Giao lộ trong khu rừng cây ở nước Cú đàm di nơi thủa xưa đức Phật ở. Nội dung kinh này đức Như lai nói về 3 loại nhân duyên trong Phật pháp cho bồ tát Hiền nho nghe, tức là Như lai thụ kí cho 3 hạng người là bậc Đồng chân, Liễu sinh và A duy nhan. Sau đó, đức Như lai lại nói về pháp xuất gia và tuyên bố tôn giả Ma ha Ca diếp đã noi theo sự tự thệ này mà được giới. Các bậc Đồng chân, Liễu sinh và A duy nhan được nói trong kinh này tức tương đương với 3 giai vị thứ 8, thứ 9 và thứ 10 của Bồ tát Thập trụ nói trong kinh Hoa nghiêm. Do đó, tư tưởng về thứ bậc tu hành của các Bồ tát Thập trụ, Thập địa rất được học giả đời sau chú ý. Ngoài ra, kinh này còn có bản dịch khác là: Độc chứng tự thệ tam muội kinh, do ngài An thế cao dịch vào đời Đông Hán. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Lịch đại tam bảo kỉ Q.6; Đại đường nội điển lục Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.2].

như lai ấn bồ tát

(如來印菩薩) Gọi đủ: Nhất thiết Như lai Ấn bồ tát. Vị Bồ tát ở viện Biến tri trong bức vẽ Thai tạng của Mật giáo, tương đương với bồ tát Nhất thiết biến tri ấn của Hiện đồ mạn đồ la. Hình tượng vị Bồ tát này đầu đội mũ, áo trời bay phất phới, 2 tay ngửa lên đặt trên đầu gối, cầm đài sen, ngồi kết già trên tòa sen.

như lung như á

(如聾如啞) Cũng gọi Như lung như manh. Như điếc như câm. Cứ theo kinh Hoa nghiêm quyển 44 (bản 60 quyển) thì khi đức Phật nói kinh Hoa nghiêm giáo hóa hàng Đại Bồ tát, các vị Thanh văn như ngài Xá lợi phất... tuy ngồi trong pháp hội mà như điếc như câm, không hiểu gì hết, vì giáo thuyết của đức Phật quá cao xa. Bởi lẽ các ngài có tai mà không nghe được giáo lí viên đốn, nên gọi là như điếc; có mắt mà không được thấy sắc thân trang nghiêm của Như lai và không thể ngợi khen, cho nên nói là như mù (manh), như câm. Tóm lại, từ ngữ như lung như á được dùng để ví dụ cho hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, đối với giáo pháp viên đốn của hàng Bồ tát Đại thừa khó có thể hiểu nổi.[X. phẩm Tính khởi trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ); phẩm Xuất hiện trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.hạ].

như lí sư

(如理師) Phạm:Yathàrthazàstf. Chỉ cho bậc Đại sư nói giáo pháp đúng như thực để cứu độ chúng sinh; là lời gọi tôn kính đối với đức Phật. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 1 thượng) nói: Bậc Nhất thiết trí diệt tối tăm. Vớt chúng sinh khỏi biển sinh tử. Cúi đầu kính lạy Như lí sư Nay con nói luận Đối pháp tạng. Bài kệ trên đây được đặt ở đầu luận Câu xá hiển bày đức độ cao cả, tôn quí của đức Thế tôn, vượt hơn các Thánh chúng, cho nên đối với đức độ của Ngài càng thêm tôn sùng, lễ kính. Ngoài ra, luận Câu xá còn nêu ra các nghĩa của Như lí sư là như thực, không điên đảo, truyền dạy, khuyên răn hết lòng, gọi là Như lí sư. Lời của bậc thầy này biểu hiện đức lợi tha, nói chính giáo đúng như lí để cứu vớt chúng sinh ra khỏi vũng bùn sinh tử. [X. kinh Trường a hàm Q.12; Câu xá luận sớ Q.1].

Như Mẫn

(如敏, Nyobin, ?-920): vị Thiền tăng xuất thân Mân Xuyên (閩川, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), sau khi xuất gia ông đến tham yết Trường Khánh Đại An (長慶大安) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau ông đến ở tại Linh Thọ Thiền Viện (靈樹禪院) vùng Thiều Châu (韶州, Tỉnh Quảng Đông), rồi được vua nhà Nam Hán quy y theo và ban tặng cho hiệu là Tri Thánh Đại Sư (知聖大師). Ông thị tịch vào năm thứ 4 niên hiệu Càn Hanh (乾亨) nhà Nam Hán.

như ngữ

(如語) Lời nói chân thực không hư dối. Chỉ cho lời như thực, lời đúng như pháp. Kinh Kim cương (Đại 8, 750 trung) chép: Như lai là bậc nói lời chân thực, là bậc nói lời không hư dối, nói lời đúng như pháp.

như như bất động

Bản thể của tự tánh cùng khắp không gian thời gian, chẳng động chẳng tịnh, chẳng biến chẳng dời, chẳng sanh chẳng diệt, gọi là Như như bất động.

Như Như Cư Sĩ

(如如居士, Nyonyo Koji, ?-1212): tức Nhan Bính (顔丙, Ganhei), vị cư sĩ của Phái Đại Huệ thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, còn gọi là Đơn Hà Tiên Sinh (丹霞先生), xuất thân Thuận Xương (順昌, Tỉnh Phúc Kiến). Ông đến tham vấn Khả Am Huệ Nhiên (可庵慧然) ở Tuyết Phong Sơn (雪峰山) và kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông hoạt động giáo hóa ở trung tâm Phúc Châu (福州, Tỉnh Phúc Kiến) và cử xướng Thiền Tam Giáo Nhất Trí. Vào ngày 15 tháng 6 năm thứ 5 niên hiệu Gia Định (嘉定), ông từ trần. Trước tác của ông hiện có Như Như Cư Sĩ Ngữ Lục (如如居士語錄) 15 quyển, Tam Giáo Đại Toàn Ngữ Lục (三敎大全語錄) 1 quyển.

như như như thuyết

(如如如說) Lời nói xứng hợp hoặc tương ứng với lí Chân như. Chữ như đầu hàm ý là xứng hợp hoặc tương ứng; 2 chữ như như sau chỉ cho lí Chân như. Vì môn Chân như có 2 Như là Thể như và Tướng như, nên ghép lại mà gọi là Như như. Có 1 dụng ngữ cùng loại là Như như pháp thân tức chỉ cho chân lí của Như như. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2, phần đầu; Đại nhật kinh sớ Q.1].

như như trí pháp thân

Cái thực trí đã chứng ngộ lý như như—The spiritual body of bhutatathata-wisdom (Sambhogakaya). Công đức pháp thân: Hết thảy công đức thành tựu—The spiritual body of all virtuous achievement (Sambhogakaya). Tự pháp thân: Ứng thân—The spiritual body of incarnation in the world (Nirmakaya). Biến hóa pháp thân: The spiritual body of unlimited powers of transformation (Nirmakaya). Hư không pháp thân: Lý như như lìa tất cả tướng cũng như hư không—The spiritual body of unlimited space (Dharmakaya). (B) Theo Kinh Hoa nghiêm—According to the Flower Adornment Sutra: Pháp tánh sanh thân: Thân Như Lai do pháp tánh sanh ra—The body or person of Buddha born from the dharma-nature. Công đức pháp thân: Thân do muôn đức của Như Lai mà hợp thành—The dharmakaya evolved by Buddha-virtue, or achievement. Biến hóa pháp thân: Thân biến hóa vô hạn của Như Lai, hễ có cảm là có hiện, có cơ là có ứng—The dharmakaya with unlimited powers of transformation. Thực tướng pháp thân: Thực thân hay thân vô tướng của Như Lai—The real dharmakaya. Hư không pháp thân: Pháp thân Như Lai rộng lớn tràn đầy khắp cả hư không. Pháp thân của Như Lai dung thông cả ba cõi, bao trùm tất cả các pháp, siêu việt và thanh thịnh—The universal dharmakaya. The dharmakaya as being like space which enfolds all things, omniscient and pure. ** For more information, please see Ngũ Phần Pháp Thân and Ngũ Thân.

như pháp

(nói về thức ăn): nghĩa là những món ăn mà các vị tỳ-kheo có thể thọ dụng đúng như giới luật chế định. ; (如法) Chỉ cho sự thuận theo giáo pháp do đức Phật nói ra mà không chống trái; cũng chỉ cho sự phù hợp với đạo lí chân chính. Trong các pháp tu của Mật giáo, phần nhiều 2 chữ Như pháp được đặt ngay ở đầu. Chẳng hạn như: 1. Như pháp Ái nhiễm pháp, cũng gọi Đại ái nhiễm pháp. Mật pháp được thực hành để an trí Như ý bảo châu của Đông Mật Nhật bản. 2. Như pháp Phật nhãn pháp: Pháp tu lấy Phật nhãn làm bản tôn. Phật nhãn tôn là chỉ cho Phật mẫu có năng lực sinh ra trí Bát nhã tất cánh không của chư Phật. 3. Như pháp Bắc đẩu pháp: Pháp tu lấy sao Bắc đẩu làm bản tôn. Sao Bắc đẩu là chùm sao nổi bật nhất trong các tinh tú. Ngoài ra, cũng có Như pháp tôn thắng pháp, Như pháp tôn tinh pháp... [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; phẩm Phương tiện kinh Duy ma; kinh Du kì].

như thuyết

(如說) Khế hợp với giáo pháp của đức Phật nói; thí dụ như câu Như thuyết tu hành, nghĩa là y theo giáo pháp của đức Phật dạy mà tu hành.

như thật

(如實) I. Như Thực. Đồng nghĩa: Như pháp, Như thuyết. Như nghĩa là khế hợp; Thực nghĩa là chân thực. Tức là giáo pháp chân thực khế hợp với đạo lí chân thực, thì gọi là Như thực. II. Như Thực. Cũng gọi Chân như thực tướng. Tên khác của Chân như. Nghĩa là lí thể của các pháp chân thực không thay đổi, bình đẳng không sai khác, nên gọi là Như thực. Chữ như ở đây có nghĩa bình đẳng. (xt. Như, Chân Như). III. Như Thực. Chỉ cho cái đúng như mặt mũi xưa nay (thực tế).

như thật bất không

(如實不空) Chỉ cho Y ngôn chân như, 1 trong 2 loại Chân như được lập trong luận Đại thừa khởi tín.Như thực là tên gọi khác của Chân như. Như thực bất không, nghĩa là tự thể của Chân như có đầy đủ các công đức thanh tịnh vô lậu, vì thế gọi là Như thực bất không. Cũng tức là nghĩa Bất không chân như. (xt. Chân Như).

như thật không

(如實空) Chỉ cho Y ngôn chân như, 1 trong 2 loại Chân như của luận Đại thừa khởi tín. Như thực là tên khác của Chân như. Như thực không, nghĩa là thể của Chân như rỗng không, thanh tịnh, lìa tất cả vọng nhiễm, cho nên gọi là Như thực không. Cũng tức là nghĩa Không chân như. (xt. Chân Như).

như thật không kính

(如實空鏡) Gương như thực không, 1 trong 4 thứ gương. Nghĩa là tâm thể li niệm, xa lìa tất cả tướng tâm, cảnh, giới, rốt ráo thanh tịnh, không chút ô nhiễm; giống như mặt gương rỗng không trong sáng, chẳng ánh hiện bất cứ vật gì bên ngoài. [X. luận Đại thừa khởi tín]. (xt. Tứ Kính, Bản Giác).

như thật luận

(如實論) Gọi đủ: Như thực luận phản chất nạn phẩm. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Chân đế dịch vào đời Trần, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Luận này dùng luận thức Nhân minh để phản bác những vấn nạn mà các luận sư ngoại đạo đặt ra để chứng minh luận thức mình chủ trương là đúng sự thực. Nội dung chia làm 3 phẩm: Phẩm Vô đạo lí nạn, phẩm Đạo lí nạn và phẩm Đọa phụ xứ. Về tác giả của luận này, bản Cao li không ghi, các bộ Kinh lục cũng khuyết tên soạn giả, chỉ có 3 bản Tống, Nguyên, Minh đề do ngài Thế thân soạn. [X. Nhân minh nhập chính lí luận sớ Q.1; truyện Đạt ma cấp đa trong Tục cao tăng truyện Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.7; Đại đường nội điển lục Q.6].

Như thật tri kiến

如實知見; S: yathābhūtaṃ-jñānadarśana; P: yathābhūta-ñāṇadassana; tức là »Nhìn nhận vạn vật như chúng đích thật là«;|Mục đích tối thượng của đạo Phật và là điểm khác nhau giữa một phàm phu và một bậc Giác ngộ. Trong khi bậc giác ngộ đã đạt Như thật tri kiến thì những người còn u mê cứ quanh quẩn mãi trong cái tranh cãi, vướng mắc vào những Ðảo kiến, phân biệt, thị phi, cho tất cả những hiện tượng xung quanh là thật, là trường tồn, là có tự Ngã. Ðó chính là yếu tố trói buộc chúng sinh vào Luân hồi.

như thật tri kiến

(如實知見) Sự thấy biết đúng như thực tướng. Chỉ cho sự thấy biết khế hợp với đạo lí chân thực. Cứ theo phẩm Thọ lượng trong kinh Pháp hoa thì đức Như lai biết rõ thực tướng của 3 cõi. Còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, thì hết thảy chư Phật đều thấu suốt thực tướng các pháp và nói cho chúng sinh hiểu biết về thực tướng ấy để được giác ngộ giải thoát. Vì thế Phật được gọi là bậc Như thực tri, Như thực thuyết.

như thật tri tự tâm

(如實知自心) Biết tâm mình 1 cách đúng như thực. Mật giáo dùng chữ (a) vốn chẳng sinh làm thể tính của tâm bồ đề thanh tịnh, cho nên chủ trương người tu hành phải quán xét tâm mình để rõ biết nghĩa chân thực của nó. Phẩm Trụ tâm trong kinh Đại nhật (Đại 18, 1 hạ) nói: Thế nào là bồ đề? Nghĩa là biết rõ tâm mình 1 cách như thực. Sự giải thích này về tâm bồ đề mà người tu hành mong cầu thực ra là mở bày chỗ quí báu của công đức Như lai. Ý nghĩa trong câu nói trên đại khái cho rằng tâm của hết thảy chúng sinh vốn có đầy đủ công đức của Mạn đồ la Kim cương giới và Thai tạng giới, bởi thế, người tu hành phải quán xét thực tướng của tự tâm 1 cách đúng như thực. Nếu chứng biết tâm mình một cách rõ suốt thì chứng được quả Phật bồ đề. Cho nên câu Như thực tri tự tâm (Biết tâm mình đúng như thực)trong Mật giáo chứa đựng vô lượng nghĩa sâu xa, mầu nhiệm và được xem là toàn thể yếu chỉ tinh túy của bộ kinh Đại nhật.

như thật trí

(如實智) Trí như thực. Chỉ cho trí chung của cả 5 trí nói trong Mật giáo. Năm trí là: Pháp giới thể tính trí, Đại viên kính trí, Bình đẳng tính trí, Diệu quan sát trí và Thành sở tác trí, là trí thể mà hành giả Chân ngôn chứng được nhờ kết quả của sự phát tâm tu hành, cũng chính là trí nội chứng của đức Đại nhật Như lai. Nếu đứng trên quan điểm hướng nội tự chứng mà nói, thì 5 trí trên gọi là trí Chính thể; còn nói theo phương diện hướng ngoại lợi sinh thì gọi là trí Hậu đắc. Vì thế, Như thực trí tuy chung cho cả 2 trí Chính thể và Hậu đắc, nhưng nói theo sự tự chứng thì phần nhiều dùng danh từ Chính thể trí, vì chứng lí thực tế chữ (a) vốn chẳng sinh của lục đại chân như, nên gọi là Như thực trí. Ngoài ra, vì đức Phật có năng lực tự biết rõ thực tướng các pháp, cho nên được gọi là bậc Như thực tri. Lại vì đức Phật chẳng những tự thấu suốt thực tướng các pháp, mà còn giảng nói cho chúng sinh biết rõ về thực tướng ấy, cho nên Ngài cũng được tôn xưng là bậc Như thực thuyết. Hai danh xưng đều là đức hiệu của Phật thường được thấy trong các kinh điển. [X. Đại nhật kinh sớ Q.1].

như thật tu hành

(如實修行) Chỉ cho sự tu hành đúng với thực tướng, như Bồ tát Sơ địa trở lên, chứng được lí Chân như mà khởi hạnh. Ngoài ra, như thực tu hành là nương vào giáo pháp của đức Phật(lí thực tướng) mà tu hành, cho nên đồng nghĩa với Như pháp tu hành, Như thuyết tu hành. Như kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Phải nên tin thuận, như pháp tu hành. [X. kinh Già da sơn đính; Vãng sinh luận chú Q.thượng, hạ].

như thật tu hành tương ưng

(如實修行相應) Chỉ cho lòng tin và sự tu hành ứng hợp với nghĩa thực của giáo pháp. Theo Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan thì niệm Phật có 3 thứ chẳng tương ứng, tức là tuy niệm Phật mà lòng tin chẳng thuần,không chuyên nhất, chẳng liên tục, gọi là Bất tương ứng. Trái lại, tâm thuần, chuyên nhất và liên tục thì gọi là Tương ứng. (xt. Tam Tín Tam Bất).

như thị

(如是) I. Như Thị. Như vầy. Chỉ cho Tín thành tựu trong 6 thành tựu. Thông thường từ ngữ này được đặt ở đầu mỗi bộ kinh, là để biểu thị niềm tin sâu xa rằng những điều ghi chép trong kinh này đều là giáo pháp do chính đức Phật nói ra. (xt. Lục Thành Tựu). II. Như Thị. Như thế. Từ ngữ biểu thị thực tướng các pháp. (xt. Thập Như Thị). III. Như Thị. Đúng vậy! Đúng vậy! Đây là lời công nhận và tán thành những điều mà một người nào đó hiểu biết và trình bày.

như thị ngã văn

câu mở đầu trong tất cả các kinh do Phật thuyết. Trong tất cả các kinh được Việt dịch từ trước đến nay, các vị tiền bối đều xem đây là lời ngài A-nan thuật lại để xác tín rằng kinh này do Phật thuyết và chính ngài được nghe. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cách hiểu như thế chưa hoàn toàn chuẩn xác vì mấy lý do sau đây. Thứ nhất, chính trong kinh này có thuật lại đoạn di ngôn của đức Phật về việc đặt câu “như thị ngã văn” ở đầu tất cả các kinh điển, nhưng đó là sự dặn dò chung cho tất cả đệ tử Phật chứ không phải riêng ngài A-nan, mặc dù ngài là người thưa hỏi. Vì thế, đại từ “tôi” ở đây phải được hiểu là người nói lại hoặc ghi chép lại kinh Phật, cho dù người đó là bất cứ ai trong số các đệ tử của Phật. Thứ hai, tuy ngài A-nan là bậc Đa văn đệ nhất, nhưng Đại hội kết tập kinh điển (lần thứ nhất) không chỉ duy nhất có mình ngài. Ngược lại, ngài Ca-diếp mới là chủ trì đại hội và có sự tham dự của 500 vị A-la-hán, trong đó ngài A-nan là người chứng quả sau cùng. Như vậy, ngoài yếu tố đa văn ra thì tất cả các vị khác đều là những người có sự tu tập và chứng ngộ trước ngài A-nan. Do đó các vị không đến Đại hội chỉ để nghe ngài A-nan tuyên thuyết lại kinh điển, mà còn giữ vai trò xác nhận và bổ sung những chỗ thiếu sót. Điều này có thể được chứng minh ngay trong kinh này, vì từ đầu kinh đã có đoạn nói rõ là ngài A-nan và ngài Ca-diếp đều không có mặt. Vậy “tôi” ở đây không thể là ngài A-nan. Trong kinh Lăng nghiêm cũng có trường hợp tương tự, khi ngài A-nan gặp nạn Ma-đăng-già, không có mặt tại Pháp hội, nhưng mọi chi tiết vẫn được kể rõ trong kinh, vậy chắc chắn phải là do những vị khác bổ sung vào. Thứ ba, kinh điển sau khi Phật nhập diệt chỉ được truyền lại bằng cách trực tiếp, người này đọc cho người kia nghe, vì chưa được ghi chép thành văn tự. Như vậy, đại từ “tôi” chắc chắn đã được dùng bởi tất cả những người đứng ra truyền lại kinh điển cho người khác, và điều này còn trải qua nhiều thế kỷ trước khi chính thức có sự ghi chép kinh điển. Vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng đại từ “tôi” không nhất thiết chỉ riêng ngài A-nan. Mặt khác, khi kinh điển đã chính thức được ghi chép lại, thì đây phải là kết quả việc làm của nhiều người trong các Đại hội kết tập chứ không phải của riêng một người, nên việc sử dụng đại từ “chúng tôi” là thích hợp hơn. Ngoài ra, chữ “văn” cần phải dịch là “được nghe” để nhấn mạnh việc người nghe không chỉ tình cờ nghe được, mà là một sự tiếp nhận chính thức và đáng tin cậy; chữ “như thị” phải dịch là “đúng như thế này” mới hợp với ý nghĩa của nó thường được dùng trong kinh Phật. Chúng ta đều biết, đức Phật thường dùng chữ “như thị” mỗi khi xác nhận một sự việc hay một câu nói nào đó là hoàn toàn đúng thật. ; (如是我聞) Phạm: Evaô mayà zrutaô. Pàli: Evaô me sutaô. Cũng gọi Ngã văn như thị, Văn như thị. Tôi nghe như vầy. Lời mở đầu trong các kinh.Lúc đức Thế tôn sắp nhập diệt, Ngài đã dặn tôn giả A nan (Phạm: Ànanda), vị đệ tử đa văn bậc nhất, rằng kinh tạng do Ngài tuyên thuyết trong 1 đời, đều phải đặt ở đầu quyển câu Như thị ngã văn để phân biệt với kinh điển của ngoại đạo. Như thị là chỉ cho lời nói, việc làm và cử chỉ của đức Phật được trình bày trong kinh. Còn Ngã văn thì chỉ cho người biên tập kinh tạng là tôn giả A nan, tự nói chính mình đã được nghe những lời đức Phật nói và thấy những việc đức Phật làm. Như thị cũng có nghĩa là tin thuận theo giáo pháp mà chính mình đã được nghe; Ngã văn là người có niềm tin vững chắc vào giáo pháp được nghe ấy. Đây chính là Tín thành tựu và Văn thành tựu, cũng gọi là Chứng tín tự. [X. luận Đại trí độ Q.1, 2; Phật địa kinh luận Q.1; Pháp hoa văn cú Q.1, phần đầu; Chú duy ma cật kinh Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.2]. (xt. Lục Thành Tựu).

như thị ngữ kinh

(如是語經) Như thị ngữ, Pàli: Itivuttaka. Hán âm: Y đế phật đa già. Kinh, gồm 4 thiên (Pàli: Nipàta, tập), tổng cộng 11 chương (Pàli: Vagga, phẩm), 112 kinh, là kinh thứ 4 trong Kinh tạng tiểu bộ (Khuddaka-nikàya) tiếngPàli. Thiên thứ 1 có 3 chương 27 kinh, thiên thứ 2 có 2 chương 22 kinh, thiên thứ 3 có 5 chương 50 kinh và chương thứ 4 có 1 chương 13 kinh. Như thị ngữ nghĩa là nói như thế. Ở cuối mỗi kinh đều có lời kết iti(... như thị) hoặc Ayam pi attho vutto bhagavatà iti me sutan ti (Tôi nghe đức Thế tôn nói nghĩa này). Ở đầu kinh thì mở đầu bằng Vuttam(từng nói như vầy) hoặcVuttaô hetaô bhagavatà vuttam arahatà ti me sutaô (Tôi nghe đức Thế tôn Ứng cúng từng nói như vầy). Trong các kinh, câu văn định hình iti vuccati (Như thị ngôn, nói như vầy) cũng thường được sử dụng, do đó có thể biết nguyên do về cái tên của kinh này.Các kinh đều do văn trường văn mở đầu và văn kết thúc theo 1 hình thức nhất định. Như văn kết thúc của văn xuôi thường là câu: Đức Thế tôn ở đây nói như vậy, sau đó là văn vần được dùng để lập lại nội dung của văn xuôi đã trình bày. Sự kết hợp giữa văn xuôi và văn vần là đặc trưng quan trọng của kinh này. Nhưng trong chương 4, chương 5 của thiên thứ 3 và thiên thứ 4 cũng thiếu câu văn mở đầu, kết thúc và văn vần lập lại. Còn ở cuối mỗi chương đều phụ thêm văn vần tóm tắt. Nói về nội dung thì kinh này theo hình thức trùng tụng(lập lại)trong các kinh, thu tập từ 1 pháp đến 4 pháp có liên quan đến pháp số, tức từ thiên thứ 1 đến thiên thứ 4, lần lượt nói rõ từ 1 pháp đến 4 pháp. Nội dung toàn kinh rộng rãi và khác nhau, nhưng cũng bao hàm về tư tưởng trọng yếu, trong đó, phần chính là giáo lí về người xuất gia, cũng bao gồm cả giáo thuyết về người tại gia. Giáo pháp được trình bày 1 cách đơn giản, phần nhiều còn mang phong cách của kinh cổ xưa. Cứ theo sự suy đoán của các học giả hiện đại thì: 1. Về lịch sử thành lập: Thời đại thành lập thiên thứ 1, thiên thứ 2 tương đối sớm hơn. Trong thiên thứ 3 và thứ 4 có nhiều chỗ bị xem là do người đời sau thêm vào. 2. Về hình thức nguyên thủy của Tiểu bộPàli: Thời kì đầu tiên hình thành Phật giáo bộ phái đã bao gồm kinh này rồi. Trong các kinh điển Hán dịch, tương đương với kinh này có kinh Bản sự, do ngài Huyền trang dịch vào niên hiệu Vĩnh huy năm đầu (650), gồm 7 quyển, 138 kinh, từ phẩm Tam pháp mà thành. Đem bản dịch chữ Hán của kinh này đối chiếu với kinh Như thị ngữ tiếngPàli, thì rõ ràng hệ thống của 2 kinh khác nhau, nhưng thực ra chúng đã phát xuất từ cùng 1 nguồn gốc. Tên tiếng Phạm của kinh Bản sự là Itivfttaka, hàm ý là: Sinh khởi như thế, sự việc phát sinh từ quá khứ, so sánh với Nói như thế (Như thị ngữ)trong bản kinh tiếngPàlithì ngữ ý rất khác nhau. Nhưng nếu so sánh bảnPàli với bản Hán dịch trong hệ thống kinh điển truyền thừa thì phải công nhận rằng bản Pàligần với hình thái nguyên thủy nhất. Ngoài ra, kinh này hiện nay có bản nguyên văn được ấn hành và bản dịch tiếng Anh (Sayings of Buddha, New York, 1908), cùng với bản dịch tiếng Nhật (Nam truyền Đại tạng kinh tập 23). [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; A History ofPàliLiterature by B. C. Law; Dictionary of Pàli Proper Names by Malalasekera; A Chinese Collection of Itivuttaka by K. Watanabe (Journal of P. T. S. 1906-1907); A History of Indian Literature, vol. II, by M. Winternitz; Nam Bắc lưỡng truyền đích Bản sự kinh (Độ biên Hải húc, Hồ nguyệt toàn tập thượng quyển); Nguyên thủy Phật giáo thánh điển đích thành lập sử nghiên cứu (Tiền điền Huệ học)].

như trạm

(如湛) Cao tăng Trung quốc sống vào đời Nam Tống, người huyện Vĩnh gia, họ Tiêu, tự Tòng viễn, hiệu Giả danh. Sư xuất gia từ thủa nhỏ, y vào Pháp sư Trạch khanh, ở Xa khê. Về sau, sư đến Hoành sơn tham vấn Pháp sư Tuệ giác Tề ngọc, sư siêng năng tinh tiến tìm hiểu yếu chỉ sâu xa của giáo quán. Sau, sư đến trụ ở chùa Thọ thánh nhiều năm, không 1 ngày nào bỏ việc tụng niệm. Hằng ngày, sư trì tụng kinh Pháp hoa và niệm 2 vạn câu Thánh hiệu Di đà. Có khi sư ngồi giữa đám cỏ rậm tụng kinh Di đà, đem thân bố thí cho muỗi mòng mong cho chúng được kết duyên với Phật. Những năm cuối đời, sư từ bỏ mọi việc, chỉ ngồi yên trong am nhỏ siêng tu tịnh nghiệp. Tháng 7 năm Thiệu hưng thứ 10 (1140) sư thị tịch. Sư để lại các tác phẩm: Giả danh tập 10 quyển, Quán kinh sớ tịnh nghiệp kí 4 quyển, Quang minh huyền nghĩa hộ quốc kí 4 quyển, Kim cương tập giải 2 quyển, Thanh văn hội dị dữ phục tông khởi nghi... [X. Phật tổ thống kỉ Q.15; Thích môn chính thống Q.7].

Như Trừng Lân Giác

如澄麟角; 1696-1733|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang Ðàng ngoài, pháp hệ thứ 37. Sư kế thừa Thiền sư Chân Nguyên, sau thành lập một nhánh thiền gọi là Liên Phái.|Sư tên Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương. Lớn lên, Sư được vua Lê Hi Tông gả công chúa thứ tư cho. Một hôm, Sư sai quân đào đất làm ao nuôi cá bỗng dưng tìm thấy một cọng sen lớn. Sư cho đó là điềm lành liền đổi nhà thành chùa, đặt tên là Liên Tông, viện tên là Li Cấu. Sư cũng dâng sớ xin vua được phép xả tục xuất gia. Vua nhận lời và ngay khi được phép, Sư đến Thiền sư Chân Nguyên Chính Giác tại chùa Long Ðộng.|Chân Nguyên gặp Sư hỏi: »Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy?« Sư thưa: »Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp.« Chân Nguyên bảo: »Trùng hưng Phật Tổ sau này là trông cậy ở ngươi.«|Từ đây, Sư ngày ngày ngiên cứu, thông suốt Tam tạng. Sư được Chân Nguyên truyền giới và Tâm ấn. Sau đó, Sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông. Ðồ chúng nghe tin đến học rất đông, do đó mà phái thiền Liên Tông hoặc Liên Phái được thành lập.|Một hôm, Sư bảo chúng: »Giờ quy tịch của ta sắp đến. Ta được pháp nơi Hoà thượng Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi. Hãy nghe kệ đây:|本從無本。從無爲來|還從無爲去。我本無來去|死生何曾累|Bản tòng vô bản, tòng vô vi lai|Hoàn tòng vô vi khứ, ngã bản vô lai khứ|Tử sinh hà tằng luỵ.|*Vốn từ không gốc|Từ không mà đến|Lại từ không mà đi|Ta vốn không đến đi|Tử sinh làm gì luỵ.«|Sư bảo: »Thân khổ Tứ đại này đâu thể giữ lâu.« Nói xong, Sư ngồi yên thị tịch, nhằm niên hiệu Long Ðức thứ 2, thọ 37 tuổi.

Như Tín

(如信, Nyoshin, 1239-1300): vị Tăng của Chơn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời Liêm Thương, vị Tổ kế thế đời thứ 2 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), vị Tổ thứ 2 của Cẩm Chức Tự (錦織寺, Kinshoku-ji), húy Như Tín (如信) cháu của Thân Loan(親鸞, Shinran), con của Thiện Loan (善鸞, Zenran). Tương truyền lúc ông còn nhỏ tuổi thì đã được Thân Loan truyền thọ cho giáo nghĩa của Chơn Tông. Ông chủ yếu sống và giáo hóa ở vùng Lục Áo (陸奥, Michinoku), rồi sáng lập ra Nguyện Nhập Tự (願入寺). Vào năm 1287, ông truyền trao tông nghĩa cho Giác Như (覺如, Kakunyo) ở Kyoto. Đến năm 1299, nhận lời thỉnh cầu của người môn đệ Thừa Thiện (乘善), ông chuyển đến sống tại một thảo am ở vùng Kim Trạch (金澤, Kanazawa) thuộc Thường Lục (常陸, Hitachi) và qua đời ở nơi đó. Vì Giác Như chủ trương Bổn Nguyện Tự thuộc dòng chánh thống, nên Như Tín được xem như là đệ tử thứ 2 của Bổn Nguyện Tự.

như tịnh hoà thượng ngữ lục

(如淨和尚語錄) Cũng gọi Thiên đồng Như tịnh thiền sư ngữ lục. Ngữ lục, 2 quyển, do Thiền sư Thiên đồng Như tịnh (1163-1228) thuộc tông Tào động soạn vào đời Nam Tống, các vị Văn tố, Diệu tông và Duy kính biên tập; được thu vào Đại chính tạng tập 48. Nội dung sách này ghi chép lại những bài pháp ngữ thướng đường cho đến các bài tiểu tham, phổ thuyết, pháp ngữ, tụng cổ, tán Phật tổ, tự tán, tiểu Phật sự, kệ tụng... của Thiền sư Như tịnh nói ở chùa Thanh lương thuộc phủ Kiến khang, chùa Thụy nham ở Thai châu, chùa Tịnh từ tại phủ Lâm an, chùa Thụy nham thuộc Minh châu và chùa Cảnh đức ở Thiên đồng. Ngài Như tịnh là bậc Tông tổ tiêu biểu của tông Tào động, đệ tử nối pháp của ngài là Thiền sư Đạo nguyên, Tổ khai sáng của tông Tào động Nhật bản. Bởi thế, qua bộ ngữ lục này, ta có thể thấy được địa vị quan trọng của ngài Như tịnh đối với lịch sử tông Tào động Trung quốc và Nhật bản.Ngoài ra, 1 vị đệ tử nối pháp nữa của ngài Như tịnh là Nghĩa viễn, đem 20 tắc Thướng đường pháp ngữ của ngài Như tịnh ở Thiên đồng chưa được khắc in trong Như tịnh Hòa thượng ngữ lục, biên tập thành 1 quyển và ấn hành, gọi là Thiên đồng sơn Cảnh đức tự Như tịnh thiền sư tục ngữ lục, còn gọi là Thiên đồng di lạc lục, cũng được thu vào Đại chính tạng tập 48.

như tự

(如字) I. Như Tự. Chỉ cho chữ (ta), vì chữ này biểu thị nghĩa như như, nên gọi là Như tự. II. Như Tự. Chỉ cho chữ (trà#), là chủng tử của Bảo sinh Như lai, tượng trưng cho đức của ma ni bảo châu. Vì chữ này bao hàm chữ của bản thể nên gọi là Như tự.

như ý

(如意) I. Như Ý. Sự vừa lòng đẹp ý. II. Như Ý. Chỉ cho cái đồ dùng vị Giảng sư cầm lúc thuyết pháp và ở trong pháp hội. Vật dụng này vốn là cái để gãi lưng ở Ấn độ thời xưa, tiếng Phạm là Anuruddha (A na luật), được làm bằng xương, sừng, tre, gỗ..., cán dài 3 thước(Tàu), hình dáng như đám mây hoặc như bàn tay, dùng để gãi ngứa. Vì nó gãi ngứa ở chỗ mà tay không với tới được một cách vừa ý, nên được gọi là Như ý, cũng gọi Dưỡng hòa tử. Nhưng tại Trung quốc và Nhật bản, cây Như ý lại trở thành vật cầm tay biểu thị ý nghĩa tốt lành. Trong Phật giáo, lúc vị Pháp sư thuyết pháp và ở trong pháp hội cũng cầm cây Như ý, giống như các quan đại thần thời xưa, khi vào triều, tay cầm cái hốt trên đó đã ghi những việc mình muốn tâu lên vua để khỏi quên. Cứ theo điều Như ý trong Thích thị yếu lãm quyển trung, thì vua Cao tổ nhà Tề đã từng ban cho ẩn sĩ Minh tăng thiệu 1 cây Như ý bằng trúc, vua Vũ đế nhà Lương cũng từng ban cho Thái tử Chiêu minh 1 cây Như ý bằng mộc tê (quế hoa). Theo truyện Trí khải trong Phật tổ thống kỉ quyển 6, thì khi ngài Trí khải vâng lời Đại sư Tuệ tư thay Đại sư giảng kinh Bát nhã, Đại sư Tuệ tư tay cầm cây Như ý đến tòa giảng khen ngợi ngài Trí khải. [X. kinh Ưu bà tắc Q.5; Tăng ni nhật dụng vật trong luật Tứ phần Q.19; môn Khí vật trong Thiền lâm tượng khí tiên].

như ý bình

(如意瓶) Cũng gọi Thiện bình, Bảo bình, Đức bình, Mãn bình, Hiền bình, Cát tường bình. Bình như ý. Bình này có công năng sinh ra phúc lành đầy đủ như ý của mình mong muốn, nên gọi là bình Như ý. Trong Mật giáo, bình này được dùng để đựng 5 thứ báu, 5 loại hương, 5 vị thuốc, 5 thứ hạt và nước thơm để cúng dường chư Phật, Bồ tát. Bình này được đặt ở 4 phía của hội Nhất ấn trong Mạn đồ la Kim cương giới; cũng được đặt ở chính giữa và 4 góc của Đại đàn. (xt. Ngũ Bình).

như ý bảo châu

(如意寶珠) Phạm: Cintà-maịi. Hán âm: Chân đà ma ni, Chấn đa mạt ni. Cũng gọi Như ý bảo, Như ý châu, Ma ni bảo châu, Mạt ni bảo, Vô giá bảo châu, Như ý ma ni. Chỉ cho loại bảo châu có năng lực biến hiện ra các thứ quí báu theo ý muốn của mình. Bảo châu này còn có công năng trừ bệnh, dứt khổ. Thông thường bảo châu này được dùng để ví dụ đức cao quí của Phật và tượng trưng cho công đức của kinh điển. Cứ theo kinh Tạp bảo tạng quyển 6 thì bảo châu Như ý được lấy từ bộ óc của cá Ma kiệt. Còn theo luận Đại trí độ quyển 29 thì bảo châu Như ý lấy từ óc của vua rồng, hoặc từ vật kim cương của trời Đế thích cầm ở tay rơi xuống vỡ nát mà có. Cũng có thuyết cho rằng bảo châu này là do xá lợi của đức Phật biến hóa ra để làm lợi ích cho chúng sinh. Bảo châu như ý là vật cầm tay của các ngài Như ý luân Quan âm, Mã đầu Quan âm và bồ tát Địa tạng, có khả năng làm cho nguyện vọng của chúng sinh được đầy đủ như ý. Ngoài ra, theo phẩm Như ý bảo châu trong kinh Như ý bảo châu chuyển luân bí mật hiện thân thành Phật kim luân chú vương, thì bảo châu Như ý do 11 thứ trân quí hợp thành, đó là: Xá lợi Phật, vàng ròng, bạc, trầm hương, bạch đàn, tử đàn, hương đào, trầm cây dâu, trầm cây bạch tâm, trầm cây bách và chân tất. Cũng tức là bảo châu Như ý hình tròn được làm bằng vàng ròng, bạc trắng, ở giữa đặt 32 viên xá lợi Phật, đựng trong 1 cái bình quí rồi nhồi bột hương trát bên ngoài bình làm thành bảo châu. Trong Mật giáo, nếu pháp tu lấy bảo châu này làm bản tôn thì gọi là pháp Như ý bảo châu.[X. phẩm Ác hữu trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân Q.4; kinh Quán Phật tam muội hải Q.10, 16; phẩm Thụ trì trong kinh Nhân vương bát nhã Q.hạ; kinh Đại bảo tích Q.110; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.7; luận Đại tì bà sa Q.102]. NHƯ Ý BẢO CHÂU CHUYỂN LUÂN BÍ MẬT HIÊN THÂN THÀNH PHẬT KIM LUÂN CHÚ VƯƠNG KINH Cũng gọi Như ý bảo châu kim luân chú vương kinh, Kim luân chú vương kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này nói về công đức của bảo châu Như ý. Toàn kinh chia làm 9 phẩm: Phẩm Phóng bát, phẩm Thiện ác nhân quả, phẩm Như ý bảo châu, phẩm Đại mạn đồ la, phẩm Quán đính ấn chân ngôn, phẩm A xà lê thành Phật, phẩm Tất địa thành tựu, phẩm Hộ ma và phẩm Chúc lụy.

như ý bảo châu luận

(如意寶珠論) Cũng gọi Như ý luận. Tên gọi khác của luận Thích ma ha diễn (gọi tắt: Thích luận), do ngài Long thụ soạn để chú thích luận Đại thừa khởi tín của ngài Mã minh. Nội dung luận này bàn rõ về yếu chỉ Đại thừa (Ma ha diễn)như: Nhất nhất tâm thức, Như nghĩa ngôn thuyết, Bất nhị ma ha diễn... Từ xưa đến nay tác phẩm này được giới Phật giáo Trung quốc, Nhật bản, Đại hàn... xem trọng, đặc biệt Mật giáo lại càng chú trọng hơn bằng cách chú thích, khắc bản in, giảng giải để quảng bá. Văn từ của bộ Thích luận này rất hoàn bị, đầy đủ vô biên công đức, bao quát hết các nghĩa, giống như bảo châu như ý hàm chứa vô lượng công đức thù thắng, có thể tùy thời ánh hiện muôn tượng, vì thế được gọi là Như ý bảo châu luận. Lại nữa, pháp môn Đại thừa bất nhị được trình bày trong toàn bộ Thích luận là thể tính của vô lượng vô số pháp môn, cũng như bảo châu Như ý là gốc của các thứ báu trong thế gian, cho nên lấy tên là Như ý luận.

như ý bảo thụ sử

(如意寶樹史) Tạng: Dpag-bsam ljon-bzaí. Cũng gọi: Như ý bảo châu sử. Gọi đủ: Fphags-yul rgya-nag-chenpo bod daí sog-yul-du dam-pa#i chosbyuí-tshul dpag bsam ljon-bzaí. Tác phẩm lịch sử về chính pháp Phật giáo tại các nước Ấn độ, Tây tạng, Trung quốc, Mông cổ, do vị tăng học giả người Tây tạng là Tùng ba khám bố (Tạng: Sum-pa mkhan-po, 1704-1776) soạn thành vào năm 1748. Sách được chia làm 4 thiên: - Thiên thứ 1: Trình bày về lịch sử Phật giáo Ấn độ, như nguồn gốc của dòng dõi Thích ca, bàn về những truyện tiền thân của đức Phật, truyện Phật Thích ca, 3 lần kết tập, sự phân hóa từ 4 bộ phái căn bản chia thành 18 bộ phái, sự truyền bá của Tiểu thừa và Đại thừa, chùa Đại bồ đề, sự thiết lập Bồ đề già da, nguyên nhân sự suy vi của Phật giáo, sự kết tập và giáo nghĩa của Kim cương thừa, những Vương triều bảo hộ Phật giáo sau khi đức Phật nhập diệt, quá trình Phật giáo truyền bá đến các nước châu Á, truyện kí và sự tích của các Luận sư từ ngài Long thụ trở xuống, nguồn gốc của văn tự, văn pháp, luận lí, tạo pháp, vẽ tượng... - Thiên thứ 2: Trình bày về lịch sử Phật giáo Tây tạng. - Thiên thứ 3: Nói về lịch sử Phật giáo và các triều vua Trung quốc. - Thiên thứ 4: Ghi chép về lịch sử Phật giáo và các triều vua Mông cổ. Sau hết, tác giả nói rõ về lí do biên soạn bộ sử này và các kinh điển được dùng làm tư liệu tham khảo. Tác giả vốn tên là Da xá phạ trụ (Tạng: Ye-zes dpal-#byor), là 1 tăng sĩ bác học, ngoài Phật học, tác giả còn tinh thông các nền học thuật khác. Tác giả đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp học vấn và sáng tác. Ngài đã có 88 tác phẩm. Bộ sử này là 1 trong những tác phẩm tiêu biểu của ngài. [X. Nhật bản Tây tạng học hội hội báo số 2]. (xt. Da Xá Phạ Trụ).

như ý bảo tổng trì vương kinh

(如意寶總持王經) Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào năm Thái bình hưng quốc thứ 5 (980), đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nhan đề Như ý bảo tổng trì của kinh này là tên của thần chú. Nội dung kinh này nói về cách thụ trì và công đức của thần chú (chương cú) Như ý bảo tổng trì, đồng thời nhấn mạnh rằng nếu thụ trì thần chú này mà lòng tin không trong sạch, hoặc không kiên định chuyên chú thì không thể thấy nghe chư Phật. Nhưng trong kinh này không ghi chép nguyên văn của thần chú nói trên.

như ý bảo ấn

(如意寶印) I. Như Ý Bảo Ấn. Cũng gọi Nhất thiết Bồ tát chân đà ma ni ấn. Chỉ cho hạt bảo châu như ý Chân đà ma ni đại biểu cho hình Tam muội da của hết thảy Bồ tát. II. Như Ý Bảo Ấn. Cũng gọi Như ý Bảo châu ấn, Như ý châu ấn, Bảo ấn, Bảo châu ấn. Thủ ấn được kết để hiển bày bảo châu như ý. Về hình tướng của ấn này, các kinh và nghi quĩ đều nói khác. 1. Cứ theo kinh Văn thù sư lợi pháp bảo tạng đà la ni, thì 2 tay tréo vào nhau, 2 ngón trỏ chống vào nhau, co 2 ngón cái tréo nhau để trong lòng bàn tay. Ấn này cũng được gọi là ấn Đại tinh tiến như ý bảo. 2. Cứ theo kinh Bất không quyên sách, thì ấn này là Nội phược quyền, 2 ngón cái đè lên nhau ở trong lòng bàn tay, dựng đứng 2 ngón giữa, đầu ngón hơi co và chạm vào nhau, cạnh lóng giữa của 2 ngón trỏ, 2 ngón giữa ép vào nhau, đầu ngón thì dính vào nhau. Ấn này cũng được gọi là ấn Bất không quyên sách như ý bảo. [X. Đại nhật kinh sớ Q.5, 10; Chư nghi quĩ bẩm thừa lục Q.6, 8].

như ý bổng

(如意棒) Cây gậy trên đầu có đặt viên bảo châu như ý, là 1 trong những pháp khí của Mật giáo. Gậy này cũng là hình Tam muội da của trời Tì sa môn. Cứ theo Từ thị bồ tát niệm tụng pháp quyển hạ, thì tay thứ 13 bên phải trong 30 tay của bồ tát Di lặc cầm cây gậy này. Còn theo kinh Bất không quyên sách quyển 22 thì cây Như ý bảo trượng(gậy như ý bảo)mà bồ tát Bất không vương Quan thế âm cầm ở 1 tay trong 6 tay của Ngài là đồng loại với cây Như ý bổng này. Vì thương xót chúng sinh nên các vị Bồ tát dùng cây gậy này phá trừ nghiệp tham lam, bỏn sẻn để mang lại cho họ niềm vui bảo châu như ý. Cũng gọi Ma ca la câu xá. Bảo châu như ý có khả năng hàm chứa (tàng)muôn pháp, cho nên dùng châu như ý làm nghĩa hàm tàng mà gọi là Như ý châu tàng. Hoặc dùng với nghĩa tàng là nănghàm, châu là sở hàm mà gọi là Như ý châu tàng(kho châu như ý). [X. luận Thích ma ha diễn Q.2].

Như ý châu

如意珠; S: cintāmaṇi;|1. Ngọc như ý, được xem là thuộc tính của các vị Phật và Bồ Tát (Ðịa Tạng, Quán Thế Âm, Bảo Sinh Phật);|2. Ngọc cũng tượng trưng cho tâm thức tự tại.

như ý luân bồ tát niệm tụng pháp

(如意輪菩薩念誦法) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ, Quán tự tại như ý luân niệm tụng pháp, Như ý luân niệm tụng nghi quĩ, Như ý luân niệm tụng pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nghi quĩ này là pháp niệm tụng của bồ tát Quan âm Như ý luân, là nguyên bản thứ tự pháp Như ý luân Tứ độ gia hạnh và thứ tự tác pháp được trình bày trong đó là tác pháp tiêu chuẩn của pháp tu Mật giáo.

như ý luân du già

(如意輪瑜伽) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý luân du già, Quán tự tại bồ tát như ý luân du già niệm tụng pháp, Như ý luân du già niệm tụng pháp. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nghi quĩ này nói về tiêu chuẩn tuyển chọn đệ tử vào đàn để được trao truyền pháp tu, đồng thời, giải thích rõ ý nghĩa 6 tay của bồ tát Quan âm Như ý luân và tư tưởng thành Phật ngay trong đời hiện tại. Ngoài ra, nghi quĩ này còn có thể bổ sung cho những chỗ nói chưa được rõ ràng trong nghi quĩ niệm tụng Quán tự tại bồ tát Như ý luân cũng do ngài Tam tạng Bất không dịch.

như ý luân liên hoa tâm như lai tu hành quán môn nghi

(如意輪蓮華心如來修行觀門儀) Cũng gọi Như ý luân liên hoa tâm quán môn nghi. Nghi quĩ, 1 quyển, do ngài Từ hiền dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung nghi quĩ này tường thuật việc đức Thế tôn ở trên đỉnh núi Tu di nói cho các chúng hữu tình nghe về pháp tu Như ý luân Quan âm và thứ tự niệm tụng. Thứ tự niệm tụng nói trong kinh này tức là hình thái nguyên thủy của thứ tự pháp Như ý luân. Toàn kinh được viết theo thể văn vần Ngũ ngôn.

như ý luân mạn đồ la

(如意輪曼荼羅) Mạn đồ la lấy bồ tát Quan âm Như ý luân làm vị Trung tôn mà kiến lập. Có nhiều thuyết khác nhau: 1. Cứ theo phẩm Đàn pháp trong kinh Như ý luân đà la ni, thì Mạn đồ la này chia ra Nội viện và Ngoại viện, ở chính giữa Nội viện vẽ 1 hoa sen nở gồm 32 cánh, trên đài sen đặt bồ tát Thánh quán tự tại Như ý luân 2 tay. Bốn phương vẽ tượng minh vương Viên mãn ý nguyện, bồ tát Đại thế chí, minh vương Quan thế âm mã đầu và minh vương Quan thế âm tứ diện. Bốn góc thì vẽ bồ tát Bạch y quan thế âm mẫu, bồ tát Đa la, La sát nữ nhất kế và bồ tát Tì câu chi. Bốn phương của Ngoại viện thì vẽ trời Đế thích, vua Diêm ma, Thủy thiên và trời Đa văn, 4 góc là thần Hỏa thiên, vua La sát, vua Phong thiên và vua Đại tự tại thiên. Xen vào đó còn vẽ các tượng Nhật thiên tử, Nguyệt thiên tử, Địa thiên thần, Đại phạm thiên vương, A tố la vương và minh vương Thủy phược bà ca. 2. Cứ theo Biệt tôn tạp kí quyển 18, thì Nội viện có 1 vòng tròn to bằng bánh xe lớn, ở giữa vòng tròn là tượng bồ tát Quan thế âm Như ý luân 2 tay; 4 phương và 4 góc đặt 8 vị Đại Quan âm gồm minh vương Viên mãn ý nguyện...(như đã nói ở trên). Bốn góc phía ngoài vòng tròn vẽ hình 4 vị bồ tát Nội cúng dường: Hí, Man, Ca, Vũ. Bốn phương của Ngoại viện đặt 4 Nhiếp bồ tát: Câu, Sách, Tỏa, Linh và 4 góc là 4 bồ tát Ngoại cúng dường: Hương, Hoa, Đăng, Đồ. Còn mặt đông của Ngoại viện là Nguyệt thiên, Đa văn thiên; mặt nam là Tự tại thiên, Phạm thiên, Đế thích thiên, Hỏa thiên, mặt tây là Địa thiên, Diệm ma thiên; mặt bắc là La sát thiên, Nhật thiên, Thủy thiên và Phong thiên. Ngoài ra, kinh Thất tinh như ý luân bí mật yếucó nêu Mạn đồ la Thất tinh như ý luân, ở giữa cũng an trí bồ tát Quan âm Như ý luân 2 tay làm trung tâm, nhưng 4 chung quanh thì vẽ 7 ngôi sao Bắc đẩu và thần Quỉ tử mẫu.

như ý luân pháp

(如意輪法) Cũng gọi Như ý luân quan âm pháp, Như ý luân bảo châu pháp. Pháp tu lấy bồ tát Quan âm Như ý luân làm bản tôn để cầu tăng thêm phúc đức, giảm thiểu tội chướng, diệt trừ khổ não và đầy đủ ý nguyện. Ngoài ra, nếu pháp tu lấy viên bảo châu Như ý của bồ tát Quan thế âm Như ý luân cầm làm bản tôn, thì gọi là pháp Như ý bảo châu, gọi tắt là pháp Bảo châu. Pháp này là pháp sâu kín nhất trong Mật giáo, là pháp bí mật quán tưởng xá lợi đức Phật chính là bảo châu Như ý. Khi tu pháp này thì đặt tháp ở chính giữa đạo tràng, trong tháp đặt chiếc bình bằng vàng có đựng xá lợi(bảo châu Như ý) của đức Phật. Chủng tử là (trà#), biểu thị nghe chân lí Pháp thân như như mà phát tâm bồ đề, nương theo như như tịch tĩnh tu hành mà chứng được quả phiền não tức bồ đề, nhập vào nghĩa bí tạng hải tam đức của Đại niết bàn. [X. Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ; Quán tự tại bồ tát như ý luân du già; Quán tự tại như ý luân bồ tát du già Pháp yếu].

như ý luân quan âm

(如意輪觀音) Như ý luân, Phạm: Cintàmaịicakra. Gọi đủ: Như ý luân Quán thế âm bồ tát. Cũng gọi Như ý luân bồ tát, Như ý luân vương bồ tát. Một trong 6 vị bồ tát Quan âm. Vị Bồ tát này tay cầm bảo châu như ý và pháp luân(bánh xe pháp)để cứu giúp tất cả chúng sinh đau khổ và thành tựu các nguyện vọng của chúng sinh. Như ý bảo châu chỉ cho vật trân quí ở thế gian và của báu thực tướng xuất thế gian; 2 thứ của báu này có công năng khiến chúng sinh sinh ra phúc đức. Pháp luân nghĩa là quay bánh xe pháp, có khả năng làm cho chúng sinh sinh ra trí đức. Bồ tát Như ý luân Quan âm được an trí trong viện Quan âm của Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo, mật hiệu là Trì bảo kim cương, hình Tam muội da là bảo châu Như ý, chủng tử là (hrì#). Hình tượng của Ngài có nhiều kiểu khác nhau như: 2 tay, 4 tay, 6 tay, 8 tay, 10 tay, 12 tay... Trong đó, tượng Như ý luân Quan âm có 2 tay là tượng Phật trước thời Mật giáo, còn tượng Như ý luân Quan âm có 6 tay thì rất được người đời tôn thờ. Từ xưa đến nay, 6 tay của vị Bồ tát này được phối hợp với 6 vị Quan âm và 6 đường, tức: Bên phải, tay thứ nhất là tay Tư duy phối với Thánh quan âm và đường địa ngục; tay thứ 2 là tay Như ý bảo châu phối với Thiên thủ quan âm và đường ngã quỉ; tay thứ 3 là tay Niệm châu (cầm xâu chuỗi)phối với Mã đầu quan âm và đường súc sinh. Bên trái, tay thứ 1 là tay Quang minh sơn(cầm núi ánh sáng)phối với Thập nhất diện(11 mặt)quan âm và đường a tu la; tay thứ 2 là tay Liên hoa(cầm hoa sen) phối với Chuẩn đề quan âm và đường loài người; tay thứ 3 là tay Kim cương luân(cầm bánh xe kim cương)phối với Như ý luân quan âm và đường trời. Trên đây là biểu thị ý nghĩa 6 tay của bồ tát Như ý luân Quan âm có năng lực cứu vớt chúng sinh trong 6 đường khiến cho hết khổ được vui. Ngoài ra, trong các kinh luận vẫn còn có nhiều thuyết về Như ý luân Quan âm. Từ xưa đến nay vị Bồ tát này rất được các dân tộc vùng Nam hải sùng bái tôn thờ. Trong động Nghìn Phật ở huyện Đôn hoàng, tỉnh Thiểm tây, Trung quốc, còn tượng vẽ bồ tát Quan âm Như ý luân có 6 tay được bảo tồn. Tại Tích lan, Java, Nhật bản... cũng còn có các loại hình tượng của vị Bồ tát này.[X. phẩm Tựa kinh Như ý luân đà la ni; phẩm Tụng niệm pháp trong kinh Như ý luân đà la ni; kinh Như ý ma ni chuyển luân thánh vương; kinh Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú; Quán tự tại bồ tát như ý luân du già; Quán tự tại bồ tát như ý luân niệm tụng nghi quĩ].

như ý luân đà la ni kinh

(如意輪陀羅尼經) Kinh, 1 quyển, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào năm Cảnh long thứ 3 (709) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20.Kinh này gồm có 10 phẩm, nội dung tường thuật việc đức Phật đáp lời thỉnh cầu của bồ tát Quán tự tại mà tuyên thuyết Đà la ni căn bản, Đà la ni đại tâm, Đà la ni tiểu tâm và nói về công đức niệm tụng những Đà la ni này cùng với phương pháp thụ trì. Kinh này có 3 bản dịch khác nhau: 1. Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú kinh, do ngài Thực xoa nan đà dịch. 2. Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh, do ngài Bảo tư duy dịch. 3. Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú kinh, do ngài Nghĩa tịnh dịch. Ba bản dịch trên đây đều được dịch vào đời Đường, trong đó, bản của ngài Bồ đề lưu chí là hoàn bị hơn cả. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.14].

như ý ma ni bình

(如意摩尼瓶) Bình báu có vẽ Mạn đồ la. Bình này có công năng sinh ra tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, giống như bảo châu Như ý có khả năng sinh ra các bảo vật. Cứ theo phẩm Như ý ma ni bình trong kinh Bất không quyên sách quyển 12, thì bình này được làm bằng vàng, bạc, đồng, sành..., trên thân bình vẽ hoa sen, miệng bình vẽ tua nhụy hoa để làm kí hiệu 4 phương và hoa sen được chia làm 3 tầng trên, giữa, và dưới. Trên lá sen ở các mặt đông, nam, tây, bắc của mỗi tầng có vẽ tượng các Bồ tát, Thiên tử, tinh tú, chư thiên... Ngoài ra, còn vẽ hình các đồ trang sức như chuỗi ngọc, áo trời, gậy... Cứ theo truyền thuyết, bình này đến nay vẫn chưa được làm xong.

như ý ma ni đà la ni kinh

(如意摩尼陀羅尼經) I. Như Ý Ma Ni Đà La Ni Kinh. Cũng gọi: Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Bảo tư duy dịch vào khoảng năm Tự thánh thứ 9 đến năm Thần long thứ 2 (693-706) đời Đường, thu vào Đại chính tạng tập 20. (xt. Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Như Ý Ma Ni Đà La Ni). II. Như Ý Ma Ni Đà La Ni Kinh. Cũng gọi: Như ý ma ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch vào sau năm Thái bình hưng quốc (980) đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 21. Nội dung kinh này thuật lại việc đức Phật nói cho ngài A nan về pháp tiêu trừ tai nạn sấm sét sợ hãi. Kinh nói, ở 4 phương đông, tây, nam, bắc, đều có thần sấm tên là A già, Thiết đế rô, Đa bát ra, Tảo na ma nễ. Nếu người nào biết được chỗ ở của thần sấm rồi, viết tên hiệu của vị thần ấy mà cúng dường thì tránh được tất cả sự sợ hãi và thương tổn do sấm sét gây ra. Ngoài ra, ngài Thí hộ còn dịch 1 bản kinh cùng loại với kinh trên là Tiêu trừ nhất thiết thiểm điện chướng nạn tùy cầu như ý đà la ni kinh.

như ý thông

(如意通) Cũng gọi Như ý túc thông, Thân như ý thông, Thân thông, Thần cảnh trí chứng thông, Thần cảnh trí thông, Thần túc thông. Sức thần thông có thể bay đi vô ngại và tự tại chuyển biến cảnh giới, hóa hiện các loài như người... Là 1 trong 5 thần thông, 1 trong 6 thần thông. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 5 thì có 3 loại Như ý: Năng đáo, Chuyển biến và Thánh như ý. Trong đó, Năng đáo (có thể đến nơi)lại chia làm 4 thứ: 1. Thân có thể bay đi, như chim không bị ngăn ngại. 2. Dời xa lại gần, không đi vẫn đến. 3. Biến mất ở nơi đây, hiện ra ở đằng kia.4. Chỉ một niệm liền đến. Chuyển biến có nghĩa là lớn có thể biến thành nhỏ, nhỏ có thể biến ra lớn, một biến ra nhiều, nhiều biến thành một... Tức là đối với mọi vật đều có thể chuyển biến một cách tự do, tự tại. Thánh như ý nghĩa là quán tưởng vật chẳng vừa ý và nhơ nhớp trong 6 trần thành vật trong sạch; quán tưởng vật vừa ý và trong sạch thành nhơ nhớp. Pháp Thánh như ý này chỉ Phật mới có được. Như ý thông nói trên là do tu 4 Như ý túc(4 thần túc)mà lần lượt sinh ra, chứ chẳng phải được liền 1 lúc. Lại nữa, trong Như ý thông thì 4 thứ Năng đáo tương đương với 3 thứ thần dụng là Vận thân, Thắng giải và Ý thế được nói trong luận Đại tì bà sa. Còn Chuyển biến tương đương với Thế tục sở hân(cái mà người thế tục thích), Thánh như ý tương đương với Thánh giả sở nhạo (điều mà bậc Thánh ưa)... Do đó đủ biết những điều mà 2 bộ luận này(tức Đại trí độ và Đại tì bà sa)nói phần nhiều giống nhau. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 37, đem Thần cảnh trí thông (Như ý thông) của Phật và Bồ tátchialàm 2 thứ là Năng biến thông và Năng hóa thông. Trong đó, Năng biến thông có 18 thần biến là: Chấn động (làm rúng động khắp tất cả thế giới), Xí nhiên (lửa cháy bừng bừng), Lưu bố(ánh sáng chiếu khắp nơi), Thị hiện(tùy theo ý muốn mà thị hiện), Chuyển biến (biến vật này thành vật khác), Vãng lai(tùy ý muốn mà qua lại khắp nơi không gì làm cho trở ngại được), Quyển (biến xa thành gần), Thư(biến gần thành xa), Chúng tượng nhập thân(cóthể làm cho các hình tượng như người, vật đi vào thân mình), Đồng loại vãng thú(có thể đi đến các chúng Sát đế lợi, Bà la môn cho đến chư thiên... đồng hóa như họ về sắc tướng, ngôn ngữ... để diễn nói chính pháp), Hiển(hiện thân 1 cách tự do, tự tại trăm nghìn lần trước đại chúng), Ẩn (có thể ẩn giấu thân mình trăm nghìn lần 1 cách tự tại), Sở tác tự tại(trong tất cả thế giới của loài hữu tình có thể đi lại tự tại, không bị trở ngại), Chế tha thần thông(có năng lực chế phục thần thông của kẻ khác không cho biến hiện),Năng thí biện tài(nếu khi chúng sinh hết khả năng biện luận thì có khả năng ban cho sức biện tài), Năng thí ức niệm(đối với chính pháp, nếu chúng sinh không ghi nhớ được thì có thể ban cho sức ghi nhớ),Năng thí an lạc(có thể ban cho những người nghe pháp niềm yên vui khiến thân tâm được lợi ích)và Phóng đại quang minh(dùng thần thông phóng ra vô lượng ánh sáng, làm các Phật sự giúp cho chúng sinh được vô lượng lợi lạc). Năng hóa thông thì có 3 thứ biến hóa là: Hóa thân, Hóa cảnh và Hóa ngữ. [X. luận Đại tì bà sa Q.141; luận Câu xá Q.27; luận Tập dị môn túc Q.15; luận Thành thực Q.16; Thập địa kinh luận nghĩa kí Q.8]. (xt. Thập Bát Biến, Ngũ Thông, Lục Thông, Tứ Thần Túc).

như ý tâm đà la ni chú kinh

(如意心陀羅尼咒經) Cũng gọi Quán tự tại bồ tát như ý tâm đà la ni chú kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Nghĩa tịnh dịch vào năm Cảnh long thứ 4 (710) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh tường thuật việc bồ tát Quán tự tại được đức Phật hứa khả, tuyên nói Đà la ni Vô chướng ngại Quán tự tại liên hoa như ý bảo luân vương. Đức Phật lại bảo: Nếu ai trì tụng thần chú này 1 biến thì trừ diệt được tội, qua khỏi tai nạn và thành tựu sự nghiệp. Còn nếu ngày nào cũng trì tụng 108 biến thì cảm thấy được thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà và núi Bổ đát la của bồ tát Quan thế âm, không bị đọa vào đường ác. Kinh này có 3 bản dịch khác như sau: 1. Phẩm thứ nhất kinh Quán thế âm bồ tát bí mật tạng như ý luân đà la ni thần chú, do ngài Thực xoa nan đà dịch vào đời Đường. 2. Nửa trước của kinh Quán thế âm bồ tát như ý ma ni đà la ni, do ngài Bảo tư duy dịch vào đời Đường. 3. Phẩm thứ 1, thứ 2 kinh Như ý luân đà la ni, do ngài Bồ đề lưu chí dịch vào đời Đường. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13; Tịnh độ y bằng kinh luận chương sớ mục lục].

Như ý túc

如意足; S: ṛddhipāda; P: iddhipāda; hoặc Thần túc, thường được gọi là Tứ như ý túc (四如意足; s: catvāra ṛddhipādāḥ), Tứ thần túc;|Chỉ những nẻo đường dẫn đến Thần thông (Lục thông). Như ý túc bao gồm: 1. Dục (chanda), nghĩa là tập trung vào ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tiến (s: vīrya), tập trung vào nghị lực; 3. Tâm (citta), chú tâm; 4. Trạch pháp (s: mīmāṃsā), chú tâm vào sự tra tầm.

như ý điện

(如意殿) Chỉ cho cung điện được trang nghiêm bằng châu như ý. Tức là cung điện của bồ tát Di lặc trên cõi trời Đâu suất. (xt. Như Ý Bảo Châu).

Như Đạo

(如道[導], Nyodō, 1253-1340): vị Tăng của Phái Tam Môn Đồ thuộc Chơn Tông, sống vào khoảng cuối thời Liêm Thương; Tổ đời thứ 2 của Chuyên Chiếu Tự (專照寺, Senshō-ji); húy là Như Đạo (如道[導]); tên lúc nhỏ là Châu Thiên Đại Lữ (珠千代麿); thông xưng là Đại Đinh Như Đạo (大町如道); hiệu Không Như (空如); xuất thân là con của Bình Khoang Cơ (平康基, Taira-no-Yasumoto). Năm 1282, ông theo học giáo nghĩa của Chơn Tông với Viên Thiện (圓善) ở vùng Hòa Điền (和田), Tam Hà (三河, Mikawa); đến năm 1285 thì bố giáo ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen); rồi năm 1293 thì sáng lập Chuyên Tu Tự (專修寺) ở Đại Đinh (大町, Ōmachi). Vào năm 1311, ông được Giác Như (覺如, Kakunyo), Tổ đời thứ 13 của Bổn Nguyện Tự (本願寺, Hongan-ji), truyền trao cho bản Giáo Hành Tín Chứng (敎行信証); nhưng vì sau đó ông chủ trương pháp môn bí mật gọi là Bất Bái Bí Sự (不拜秘事, chuyện bí mật không lễ bái), nên bị đuổi ra khỏi Tông môn. Năm 1313, ông viết cuốn Ngu Ám Ký Phản Trát (愚暗記返札) để phản biện lại lời phê phán về Chơn Tông của Cô Sơn (孤山), Tăng sĩ của Trường Tuyền Tự (長泉寺) thuộc Thiên Thai Tông. Môn hạ của ông có Như Giác (如覺), Đạo Tánh (道性), Tổ Hải (祖海), v.v. Trước tác của ông để lại có Ngu Ám Ký Phản Trác.

nhương na bạt đà la

(攘那跋陀羅) Phạm: Jĩànabhadra. Hán dịch: Trí hiền. Cũng gọi Xà nhã na bạt đạt la. Cao tăng người nước Ba đầu ma, tinh thông Tam tạng, nhất là Luật bộ. Năm Minh đế thứ 2 (558) đời Bắc Chu, sư ở chùa Bà gia tại cố đô Trường an, cùng với ngài Xà na da xá (Phạm:Jinayaza), cùng dịch bộ Ngũ minh luận, do sa môn Trí tiên biên chép. [X. Khai nguyên thích lục Q.7; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.10].

nhương ngu lí đồng nữ

(蘘麌哩童女) Nhương ngu lí, Phạm: Jàígulì. Cũng gọi Thường cầu lợi, Thường cù lê, Nhương ngu lê, Nhương câu lê. Vị thần nữ tiêu trừ rắn độc, cũng là hóa thân của bồ tát Quán tự tại, ở trên núi Hương túy, uống nước độc, ăn trái độc, với bản nguyện diệt trừ các thứ độc hại. Vì Ngài hiện tướng người nữ nên gọi là Đồng nữ, cũng gọi Độc nữ; nhưng thực ra Ngài chẳng phải nữ nên cũng gọi là Đồng tử. Theo kinh Thường cù lợi độc nữ đà la ni, thì Ngài là hình đồng nữ, dùng da làm áo, tay trái cầm kiếm hàng độc, tay phải kết ấn Quản độc mộc, khắp mình quấn rắn độc làm vòng, xuyến, chuỗi anh lạc... để trang điểm. Theo kinh Nhương ngu lê đồng nữ, thì thân Ngài màu xanh, có 7 mặt, 4 tay, 2 tay bên phải cầm cây xoa 3 chĩa và 3 đến 5 cái lông chim công; 2 tay bên trái giữ con rắn đen và kết ấn Thí vô úy, dùng rắn độc làm chuỗi anh lạc để trang sức và từ trong các lỗ chân lông đều phát ra lửa. Pháp tu thờ vị tôn này làm bản tôn, gọi là pháp Nhương ngu lí đồng nữ. [X. kinh Quán tự tại bồ tát hóa thân Nhương ngu lí duệ đồng nữ tiêu phục độc hại đà la ni].

Nhương tướng kim cương đà-la-ni kinh

壤相金剛陀羅尼經; C: răngxiàng jīngāng tuóluóníjīng; J: esō kongō daranikyō; S: vajravidāraṇa-dhāraṇī; T: rdo rje rnam par 'joms pa shes bya ba'i gzungs| 1 quyển. Sa-la-ba (沙羅巴, t: zhwa lu pa) dịch. Bản phiên âm Phạn phù hợp với bản dịch tiếng Tây Tạng và Phạn. Các bản dịch khác là Kim cương tồi toái đà-la-ni (金剛摧碎陀羅尼).

nhược hồng tông hộc

(弱吽鍐斛) Nhược ( , ja#), Hồng ( , hùô), Tông ( , vaô), Hộc ( , o#h). Theo thứ tự, 4 chữ trên là chủng tử của 4 Nhiếp bồ tát: Kim cương câu, Kim cương sách, Kim cương tỏa và Kim cương linh trong 37 vị tôn thuộc Mạn đồ la Kim cương giới, Mật giáo. (xt. Tứ Nhiếp Bồ Tát).

nhạc

1) Âm nhạc: Làm cho giải khuây—Music, that which causes joy. 2) In-law (father or mother). ; (樂) Dùng nhạc khí tấu lên âm khúc. Có 3 loại: Thanh nhạc, Khí nhạc, Vũ nhạc. Nhạc được đề cập đến trong kinh phần nhiều là chỉ cho nhạc khí. Phẩm Phương tiện, kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 9 thượng) nói: Nếu sai người tấu nhạc thì đánh trống, thổi tù và, ống tiêu, ống sáo, gảy đàn cầm, đàn tì bà, đàn không hầu, xoa nạo, đồng bạt... những âm thanh mầu nhiệm phát ra từ các nhạc khí ấy đềuđem cúng dường, hoặc đem tâm hoan hỉ ca vịnh khen ngợi đức của Phật, dù chỉ 1 âm thanh nhỏ, tất cả đều đã thành Phật đạo. Cứ theo chương thứ nhất trong kinh Lăng già Laíkàvatàra sùtra) bản tiếng Phạm, thì Ấn độ có thất toàn âm, gồm: Cụ lục (Saharwya), Thần tiên khúc (Fwabha), Trì địa điệu (Gàndhàra), Minh ý (Dhaivata), Cận văn (Niwàda), Trung lệnh (Madhyama) và Kê thi ca (Kaizika). Cũng có chỗ dùng Đẳng ngũ (Phạm: Paĩcama) thay cho Kê thi ca. Tại Trung quốc, Ngũ thanh và Bát âm được dùng làm nhạc. Ngũ thanh là 5 âm giai: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Bát âm là 8 thứ tiếng về âm nhạc như: Sanh (tiếng sênh), Thổ (tiếng trống đất),Cách (tiếng trống da), Mộc (tiếng mõ gỗ), Thạch (tiếng khánh đá), Kim (tiếng chuông đồng), Ti (tiếng dây đàn) và Trúc (tiếng ống sáo tre). Về sau, khi nhạc từ các nước Ấn độ, Tây vực... được truyền đến Trung quốc thì Ngũ thanh lại thêm Biến cung và Biến chủy mà trở thành Thất thanh, đồng thời, các chủng loại nhạc khí cũng có nhiều hơn. Phật giáo cấm chỉ việc dùng lời ca, tiếng nhạc, điệu múa làm mục đích vui chơi. Kinh Thiện sinh trong Trường a hàm quyển 11 có liệt kê 6 lỗi về kĩ nhạc; kinh Tăng nhất a hàm quyển 38 lấy việc cấm đàn hát làm 1 pháp trong giới Bát quan trai; luật Ngũ phần quyển 26 cấm tỉ khưu không được múa hát để cúng dường tháp. Nhưng, Pháp hoa kinh huyền tán quyển 4, phần cuối (Đại 34, 727 trung) chép: Kinh Phát bồ đề tâm nói: Không nên đem âm nhạc, nữ sắc cho người, vì các thứ đó sẽ làm loạn tâm chúng sinh. Nhưng nếu đem cúng dường Phật thì không sai trái, như việc cúng dường âm nhạc trong Kim tạng. [X. Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.4, phần 3; Tiền Hán thư Q.21, hạ; Tùy thư Q.14]. (xt. Phật Khúc).

nhạc càn thác bà

The Gandharvas, Indra's musicians—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.

nhạc hội

Concert.

nhạc sư

Music teacher.

nhạc thiên

Deva musicians—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section. ; (樂天) Phạm: Apsara. Cũng gọi Phi thiên. Loài hữu tình ở cõi trời, bay đi trong hư không, chuyên tấu nhạc và rải hoa. Nhạc thiên thường sống trong cảnh giới vui sướng, nhưng cũng có cái khổ về ngũ suy. Ở phía tây Ngoại viện Thai tạng giới của Mật giáo cũng có Nhạc thiên, là quyến thuộc của Phong thiên. Tên tiếng Phạm của Nhạc thiên trong Mật giáo làVàdya devatà. Vàdyanghĩa là nhạc khí, âm nhạc;Devatà nghĩa là thần, vì hếVàdya devatà được dịch là Nhạc thiên. Trong kinh chép ấn tướng và chân ngôn của Nhạc thiên tức là ấn tướng và chân ngôn của Nhạc thần Càn thát bà, bởi vậy, xưa nay đều coi Nhạc thiên là cùng thể với Càn thát bà. [X. điều Trường can tự Phật tượng trong Pháp uyển châu lâm Q.13].

nhạc thụ

Khi thọ lãnh thuận cảnh thì thân tâm vui vẻ—The sensation, or perception of pleasure.

nhạc trời

Heavenly music.

nhạc âm

1) Âm thanh của tiếng nhạc: The sound of music. 2) See Mạt Nô Thị Nhã Táp Phược La (1).

nhạc âm thụ

Gió nhẹ thổi vào là cây trên cõi nước của Đức Phật A Di Đà làm phát ra những âm thanh như tiếng nhạc—The trees in Amitabha's paradise which give forth music to the breeze.

nhạn hành

(雁行) Cũng gọi Nhạn lập. Bầy chim nhạn đậu thẳng hàng, ví dụ chúng tăng đi thành hàng tề chỉnh.Chim nhạn đậu có hàng dọc, hàng ngang khác nhau. Khi vị Trụ trì lên giảng đường thuyết pháp, chúng tăng trong chùa đứng trước tòa pháp xếp thành 2 hàng đông và tây, gọi là Nhạn hàng trắc lập. Điều Vị hành giả phổ thuyết, chương Trụ trì trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển thượng (Đại 48, 1122 thượng) nói: Vị Tham đầu sắp xếp chúng tăng đứng thành hàng thẳng(nhạn lập), cắm hương xong, lạy 3 lạy rồi lui ra, chia thành hai hàng đứng tề chỉnh (nhạn lập) ở phía sau Đông tự và Tây tự. Ngoài ra, chúng tăng đứng xếp hang nghiêm chỉnh trước Phật gọi là Nhạn hang ban.[X. Tục cao tăng truyện Q.22; Thướng đường trong Thiền uyển thanh qui Q.2; môn Lễ tắc trong Thiền lâm tượng khí tiên].

nhạn môn

(雁門) I. Nhạn Môn. Chỉ cho Phật môn, vì đức Phật được tôn xưng là Nhạn vương, nên Phật môn cũngđược gọi là Nhạn môn. II. Nhạn Môn (476-?). Tôn hiệu của ngài Đàm loan, cao tăng Trung quốc thuộc tông Tịnh độ sống vào thời Bắc Ngụy, Sơ tổ tông Tịnh độ Trung quốc và được tôn làm Tổ thứ 3 của Tịnh độ chân tông Nhật bản. Vì sinh quán của ngàiởNhạn môn thuộc Tứ châu (nay là huyện Đại, tỉnh Sơn tây) nên có tôn hiệu này. (xt. Đàm Loan).

nhạn tháp

(雁塔) I. Nhạn Tháp. Phạm: Haôsa-stùpa. Cũng gọi Cắng sa tháp. Tòa tháp ở phía trước chùa Đông phong, hang núi Đế thích (Phạm:Indrazailaguhà) nước Ma yết đà, Ấn độ đời xưa. Chúng tăng ở chùa này theo Tiểu thừa, ăn tịnh nhục, Bồ tát muốn dắt dẫn chuyển hóa họ, bèn hóa thân làm chim nhạn (Phạm: Haôsa) từ trên không rơi xuống chết trước mặt 1 vị tăng; chúng tăng thấy thế vừa thẹn vừa sợ, liền xây linh tháp chôn cất, gọi là Nhạn tháp. II. Nhạn Tháp. Cũng gọi Đại nhạn tháp. Ngôi tháp ở chùa Đại từ ân, thành Tây an, do ngài Huyền trang xây dựng vào năm Vĩnh huy thứ 3 (652) đời Đường, phỏng theo kiểu tháp Nhạn ở chùa Đông phong bên Ấn độ, cho nên gọi là Nhạn tháp. (xt. Đại Nhạn Tháp, Tiểu Nhạn Tháp). III. Nhạn Tháp. Cũng gọi Tiểu nhạn tháp. Ngôi tháp ở chùa Đại tiến phúc, ngoài cửa Vĩnh ninh, thành Tây an, được kiến thiết vào khoảng năm Cảnh long đời Đường.[X. Đại từ ân tự Tam tạng pháp sư truyện Q.3; Trường an chí Q.8; Loại tụdanh vật khảo Q.27; Trường an sử tích chi nghiên cứu]. (xt. Đại Nhạn Tháp, Tiểu Nhạn Tháp).

nhạn thư

(雁書) Sự tích chim nhạn đưa thư, 1 trong những truyện bản sinh về đức Phật. Cứ theo phẩm Ác hữu trong kinh Đại phương tiện Phật báo ân quyển 4, thủa xưa, vua nước Ba la nại là Ma ha la xà có 2 người con, người anh tên Thiện hữu, người em tên Ác hữu. Người anh muốn đi tìm hạt châu Như ý để cứu giúp nhân dân trong nước, liền cùng với em ra biển, anh được hâu, em vì ghen tị mà chọc mắt anh cho mù rồi cướp lấy châu trở về, nói dối là anh đã chết chìm ngoài biển. Sau khi nghe tin, cha mẹ than khóc không thôi. Còn Thiện hữu sau khi lành vết thương, mắt sáng lại, cư ngụ tại nước Lợi sư bạt. Một hôm, bỗng thấy con chim nhạn trắng nuôi ở trong cung ngày trước, trên cổ có buộc bức thư của mẹ, bay đến kêu vang, Thiện hữu liền viết thư kể rõ sự thực, gửi nhạn đem về. Vua và Hoàng hậu xem thư xong, liền sai người đi đón Thiện hữu về nước. Ác hữu thời ấy chính là tiền thân của Đề bà đạt đa, còn Thiện hữu tức là tiền thân của đức Phật.

nhạn đường

(雁堂) Cũng gọi Nhạn vũ. Chỉ cho ngôi Tinh xá của đức Phật được xây cất trong khu rừng ở nước Tì xá li thuộc Ấn độ đời xưa. Vì kiểu dáng của ngôi Tinh xá giống như con chim nhạn, nên gọi là Nhạn đường. Về sau, Nhạn đường được dùng để chỉ cho chùa Phật. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.10; Thích thị yếu lãm Q.thượng].

nhạo

To laugh at—To mock.

nhạo báng

See Nhạo.

nhạy cảm

Sensitivity.

nhả

To spit out.

nhảm nhí

Nonsense.

nhảy

To jump—To leap.

nhảy nhót

To jump about.

nhấn

To press.

nhấn mạnh

To emphasize—To stress—To press.

Nhất

一; C: yī; J: ichi; |1. Một, số một, đơn độc (s: eka; t: gcig); 2. Một người nào đó, một vật nào đó (s: ekatya); 3. Giống nhau; số ít, một người, một loại (s: ekadhya).

nhất

Eka (skt)—Một—One—Unity—The same—Once. ; (一) I. Nhất. Số 1. II. Nhất. Biểu thị nghĩa sở hữu, đều là... III. Nhất. Biểu thị nghĩa bình đẳng, tuyệt đối. Tắc 45 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 hạ) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Triệu châu: - Muôn pháp qui về một (nhất), một qui về chỗ nào? Thiền sư Triệu châu đáp: - Lúc ở Thanh châu, tôi có may chiếc áo nặng 7 cân.

nhất ai nhất tạt

(一挨一拶) Đồng nghĩa: Ai tạt. Một đun một đẩy. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Trong Thiền tông, từ ngữ này được sử dụng để chỉ cho việc Thiền sư dùng lời nói, cử chỉ, hoặc nhẹ nhàng, hoặc nặng nề, đưa đẩy để khám nghiệm trình độ hiểu đạo của người học sâu hay cạn. Tắc 23 trong Bích nham lục (Đại 48, 164 thượng) nói: Một cơ một cảnh, một ra một vào, một đun một đẩy (nhất ai nhất tạt), cốt thấy sâu cạn, bề mặt bề trái của vấn đề.

nhất ban đảm bản đắc nhân tăng

(一般擔板得人憎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Thông thường, những kẻ vác tấm ván trên vai bị người ta ghét. Người vác tấm ván trên vai mà đi thì chỉ thấy được phía trước chứ không thấy phía sau, vì chẳng ngoái cổ lại được; ví dụ người chấp trước tự ngã, vị kỉ, chỉ biết có mình, không quan tâm đến ai, không tùy thuận thế thái nhân tình; vì họ không biết tùy duyên thích ứng, nên không được người đời cảm thông và tha thứ. Hư đường hòa thượng ngữ lục quyển 3 (Đại 47, 1004 thượng) ghi: Lúc ấy, có vị tăng hỏi rằng: Những kẻ vác tấm ván bị người ghét (Nhất ban đảm bản đắc nhân tăng), đóng cửa mười năm trong rừng sâu.

Nhất Biến

(一遍, Ippen, 1239-1289): vị tăng sống vào giữa thời kỳ Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), vị tổ sư khai sáng ra Thời Tông của Nhật Bản, húy là Trí Chơn (智眞), người vùng Y Do (伊予). Ông đầu sư với Thánh Đạt (聖達), đệ tử của Chứng Không (証空), môn đệ của Pháp Nhiên (法然, Hōnen); nhưng sau đó thì đến vùng Hùng Dã (熊野, Kumano) chuyên tâm tu tập, được linh ứng cho biết rằng chúng sanh quyết định sẽ được vãng sanh. Từ đó về sau, ông khuyên dân chúng tu tập pháp môn Niệm Phật Nhảy (踊念佛, Odorinembutsu, có nghĩa vừa đánh trống vừa niệm Phật và xướng to theo kiểu tán của Nhật, rất giống với hình thức nhảy múa, nên có tên gọi như vậy. Pháp môn này do vị tăng sống giữa thời Bình An là Không Dã [空也, Kūya, 903-972] sáng lập nên), rồi phân chia cho mọi người các thẻ có ghi danh hiệu A Di Đà. Vì ông đã từng đi khắp nơi để truyền giáo, nên được gọi là Du Hành Thượng Nhân, Xả Thánh. Giáo pháp của ông có thể tìm thấy qua mấy bộ Ngữ Lục (語錄), Bá Châu Vấn Đáp Tập (播州問答集), v.v. Ông được ban cho thụy hiệu là Viên Chiếu Đại Sư (圓照大師) và Chứng Thành Đại Sư (証成大師). ; 一遍; C: yībiàn; J: ippen;|Thiền sư Nhật Bản, được xem là vị tổ của Thời tông (時宗), một phái của Tịnh độ Phật giáo, có chùa chính là Du Hành tự ở Fujisawa. |Nhất Biến sinh ra trong thời đại quận công Ehime và được học tập rất sớm với với một đệ tử của Pháp Nhiên. Sư xuất gia rồi hoàn tục một lần, nhưng sau đó thay đổi ý định. Sau khi hành hương đến Thiện Quang tự (善光寺; j: zenkōji) ở quận Nagano, sư đến một ngôi chùa hẻo lánh ở Ehime, thực hành pháp tu rất nghiêm mật, cuối cùng, Sư đạt được sự an trú toàn vẹn nơi Phật A-di-đà. Qua kinh nghiệm của mình, Sư trở nên rất tự tin cho rằng với bất kì tầng bực thiết tha tu tập của bất cứ căn cơ nào của chúng sinh, dù nam hay nữ, họ đều có thể được vãng sinh ở Tịnh độ, dù chỉ bằng công đức trì niệm một danh hiệu đức Phật A-di-đà. Sau đó, sư đi khắp nơi trong nước, phát cho mọi người những tờ giấy ghi chép lời chỉ dạy căn bản cho pháp tu Tịnh độ. Có đến hàng ngàn người hành trì theo sự khuyến giáo của sư. Khi biết mình sắp viên tịch vào năm 51 tuổi, sư đốt tất cả nhưng gì sư đã trước tác, nên nay chẳng còn tác phẩm nào của sư lưu hành.

nhất biến

Một lần niệm hồng danh của Phật—One recital of Buddha's name. ; (一遍) Vị Tổ khai sáng của Thời tông Nhật bản, tên là Trí chân, xuất gia năm 7 tuổi. Lúc đầu, sư tu học ở núi Tỉ duệ, sau đến phủ Thái tể tu Tịnh độ. Khi tham học ở Hùng dã, sư mới đổi tên là Nhất biến. Từ đó về sau, sư hoằng dương pháp môn niệm Phật của Không dã thượng nhân ở khắp nơi trên toàn quốc, người đương thời gọi sư là Du hành thượng nhân, Xả thánh, tín chúng rất đông. Sư thị tịch vào năm Chính ứng thứ 2 (1289) ở Quan âm đường tại Binh khố hòa điền, Nhật bản, thụy hiệu là Viên Chiếu Đại Sư. Sư có các tác phẩm: Ngữ lục cập Bá châu vấn đáp tập, Nhất biến thượng nhân hội truyện.

nhất biện hương

(一瓣香) Cũng gọi Nhất chú hương. Một nén hương hay 1 thẻ hương. Nhất biện hương có nghĩa là đốt hương kính lễ. Trong Thiền lâm, khi vị tôn túc thăng tòa thuyết pháp, đốt đến nén hương thứ 3 thì nói: Một nén hương này (Nhất biện hương) kính dâng cho Pháp sư... đã truyền đạo pháp cho con. Ngày nay dùng Nhất biện tâm hương, Tâm hương nhất biện để dụ cho tâm tinh thành sùng kính 1 người nào đó, tấm lòng cung kính ấy cũng giống như đốt hương lạy Phật.

nhất bách

Sata (skt)—Một trăm—One hundred.

nhất bách bát

(一百八) Gọi tắt: Bách bát. Số 108. Phật giáo thường dùng con số này để gọi thay cho phiền não, hoặc kết hợp với các từ ngữ khác như: Bách bát phiền não, Bách bát kết nghiệp, Nhất bách bát dụ, Bách bát tôn công đức, Nhất bách bát pháp minh môn...

nhất bách bát biến

(一百八遍) Tức niệm Phật 108 lần. Con số 108 nguyên là số của phiền não, do đó, xâu chuỗi dùng để niệm Phật thường có 108 hạt. Bởi vậy, niệm Phật 108 lần là để đối trị 108 cái phiền não.

nhất bách bát danh đà la ni kinh

(一百八名陀羅尼經) Cũng gọi Thánh đa la nhất bách bát danh kinh, Thánh đa la bồ tát nhất bách bát danh đà la ni kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Pháp thiên dịch vào đời Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này tường thuật việc Đại bồ tát Đa la nói pháp Đà la ni, các trời, người, Dạ xoa, Càn thát bà... nghe đều sợ hãi. Bấy giờ, Tự tại thiên vương nói chú khen ngợi bồ tát Đa la nhất bách bát danh, bồ tát Đa la phóng ánh sáng chiếu soi các quốc độ trong 10 phương, rồi nói về nhân duyên Như lai cứu độ, che chở hết thảy chúng sinh cho Tự tại thiên vương và các trời, người nghe; sau đó, dùng các loại tia sáng trang nghiêm Như lai, tán thán công đức của bồ tát Đa la nhất bách bát danh. Bản dịch khác của kinh này có: Tán dương Thánh đức Đa la bồ tát nhất bách bát danh kinh, 1 quyển, do ngài Thiên tức tai dịch và Thánh đa la bồ tát phạm tán, 1 quyển, do ngài Thí hộ dịch.

nhất bách bát pháp minh môn

(一百八法明門) Một trăm lẻ tám pháp minh môn nói trong kinh Phật bản hạnh tập quyển 6. Pháp minh môn có công năng làm cho chúng sinh phá trừ tối tăm, được trí tuệ thông suốt tất cả. Khi bồ tát Hộ minh (tên của đức Phật Thích ca mâu ni khi ở Thiên cung), từ cung trời Đâu suất sắp thác sinh xuống nhân gian, ngồi trên tòa sư tử tuyên thuyết 108 minh môn này để cho chư thiên ghi nhớ rồi mới hạ sinh.

nhất bách bát tràng hạt

Một trăm lẽ tám tràng hạt—One hundred and eight pearls (beads).

nhất bách nghĩa môn

(一百義門) Một trăm nghĩa môn do Đại sư Thiện đạo thiết lập để giải thích nghĩa 9 phẩm trong kinh Quán vô lượng thọ. Ngay đầu phần Tán thiện nghĩa, ở đoạn văn trước Thượng bối quán, mỗi phẩm trong 9 phẩm được chia làm 11 môn như sau: 1. Giải thích tổng quát về cáo mệnh. 2. Giải thích về việc phân định ngôi thứ. 3. Nêu chung các loài có duyên. 4. Biện minh lí do lấy tam tâm (chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm) làm nhân chính yếu. 5. Giải thích rõ việc lựa chọn căn cơ khamnổi hay không. 6. Giải thích rõ việc chúng sinh tiếp nhận giáo pháp không giống nhau. 7. Giải thích rõ thời tiết tu tập nhanh, chậm khác nhau. 8. Giải thích việc hồi hướng hạnh tu tập, nguyện sinh về Tịnh độ của Phật Di đà. 9. Giải thích rõ lúc lâm chung, Phật Bồ tát đến đón rước không đồng, thời gian đi có nhanh, chậm. 10. Giải thích rõ khi sinh về Tịnh độ, hoa sen nở có nhanh, chậm khác nhau. 11. Giải thích rõ sau khi hoa sen nở, được lợi ích không giống nhau. Trong 9 phẩm, mỗi phẩm đều có 11 môn này, cộng chung là 99 nghĩa môn. Nhưng vì muốn dùng số chẵn nên gọi là 100.

nhất bách ngũ thập tán phật tụng

(一百五十贊佛頌) Phạm: Zata-paĩcàzatakastotra. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Ma điệt lí lợi chế tra soạn, ngài Nghĩa tịnh dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 32. Nội dung sách này gồm 148 bài tụng tán thán đức của Phật. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.13].

nhất bách nhất thập thiện tri thức

(一百一十善知識) Chỉ cho 110 vị thiện tri thức mà đồng tử Thiện tài đã gặp khi qua 110 thành trong 53 cuộc hỏi đạo. Thực ra, trong kinh Hoa nghiêm chỉ ghi có 54 chỗ và gặp 55 vị thiện tri thức. Nhưng vì trong quá trình tu hành có đương phần và thắng tiến nên nhân đôi số 55 thiện tri thức thành 110 thiện tri thức. [X. kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản 60 quyển)].

nhất bách nhất thập thành

(一百一十城) Một trăm mười tòa thành mà đồng tử Thiện tài đã trải qua khi đi hỏi đạo nơi 53 vị thiện tri thức. Kinh Hoa nghiêm (bản 80 quyển) quyển 78 (Đại 10, 428 hạ) ghi: Con của vị trưởng giả này khi xưa thụ giáo nơi ngài Văn thù ở Phúc thành, rồi lần lượt đi về phương Nam, cầu thiện tri thức, trải qua 110 vị, sau cùng mới đến chỗ của ta. [X. kinh Hoa nghiêm Q.59 (bản 60 quyển)].

nhất bách tam thập lục địa ngục

(一百三十六地獄) Một trăm ba mươi sáu địa ngục. Cõi Dục có 8 đại địa ngục căn bản, mỗi đại địa ngục lại đều có 16 tiểu địa ngục, 8 lần 16 thành 128, cộng với 8 địa ngục căn bản thành 136 địa ngục lớn và nhỏ. [X. phẩm Địa ngục trong kinh Trường a hàm Q.19; luận Câu xá Q.11].

nhất bách đan ngũ

(一百單五) Chỉ cho ngày Hàn thực (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch) là ngày thứ 105 sau tiết Đông chí. Vào ngày này, trong Thiền lâm, chư tăng phải ăn đồ nguội chứ không đun nấu. Đại ứng lục quyển thượng (Đại 80, 101 trung) nói: Nhất bách đơn ngũ (ngày Hàn thực) trước tiết Thanh minh.

nhất bách ứng đương học pháp

(一百應當學法) Ưng đương học, Phạm: Zikwàkaraịìya, Pàli: Sikkhà-karaịìya. Cũng gọi Nhất bách chúng học, Ưng đương học. Một trăm pháp mà tăng ni cần phải học. Luật Tứ phần liệt kê 100 giới Ưng đương học như sau: - Từ giới thứ 1 đến giới 25: Nói về uy nghi của tỉ khưu. - Từ giới 26 đến giới 47: Nói về việc ăn uống. - Từ giới 48 đến giới 51: Nói về việc đại tiểu tiện. - Từ giới 52 đến giới 59: Nói về việc giảng kinh thuyết pháp. - Từ giới 60 đến giới 85: Nói về việc kính trọng tháp Phật. - Từ giới 86 đến giới 92: Cũng nói về việc thuyết pháp. - Từ giới 93 đến giới 95: Nói về uy nghi. - Từ giới 96 đến giới 100: Cũng nói về việc giảng kinh thuyết pháp.

nhất bát

(一鉢) Cái bát của tăng sĩ Phật giáo. Thông thường nói Ba áo một bát là nói lên cuộc sống đơn giản mộc mạc của người tu hành Phật đạo.

nhất bão vong bách cơ

(一飽忘百饑) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một no quên trăm đói. Nghĩa là 1 lần được ăn no bỗng quên bẵng 100 lần bị đói trước kia. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ 1 khi đã vào được cảnh giới giải thoát tự do tự tại, thì không còn cố bám vào cái cõi đời nhọc nhằn, rối rắm này nữa. Triệu châu lục quyển hạ (Vạn tục 118, 167 hạ) nói: Mặt trời xế bóng, lần này chẳng dẵm đạp chỗ có thời gian, từng nghe một no quên trăm đói(Nhất bão vong bách cơ), chính là thân lão tăng hôm nay vậy.

nhất bút câu

(一筆勾) Nghĩa là phá trừ tất cả duyên trần. Đại sư Liên trì từng làm 7 bài Nhất bút câu để khuyến cáo người đời như: Ngũ sắc kim chương nhất bút câu, Ngư thủy phu thê nhất bút câu... Ngày nay, Nhất bút câu được dùng với nghĩa là không đề cập đến những việc trước kia nữa.

Nhất bút tam lễ

一筆三禮; C: yībǐ sānlǐ; J: ippitsu sanrai;|Nhất đao tam lễ (一刀三禮).

nhất bút tam lễ

Mỗi nét họa hình của Thế Tôn, lễ lạy ba lần—Three salutions at each drawing or painting of a picture of the Buddha. ; (一筆三禮) Một bút ba lạy. Nghĩa là khi vẽ, khắc tượng Phật hoặc viết chép văn kinh, mỗi lần đặt bút xuống lại lạy 3 lạy để bày tỏ lòng thành kính thiết tha.

nhất bạch tam kiết ma

Trong nghi lễ thọ giới, vị sư được thọ giới sẽ trả lời ba lần mỗi câu hỏi của sư chứng minh—One announcement and three responses—It is the mode of ordaining monks, three responses to the one call of the abbot.

nhất bạch tam yết ma

(一白三羯磨) Cũng gọi Bạch tứ yết ma, Tam yết ma, Bạch tứ. Một lần tác bạch (thưa các việc) ba lần yết ma. Trong tăng đoàn, mỗi khi có những việc trọng đại như thụ giới, phân xử các tội nặng như trị phạt, diệt tránh... thì cần phải tiến hành nghị quyết trước chúng tăng từ 4 vị Yết ma sư trở lên, trình tự của nghị quyết này là 1 lần cáo bạch (Nhất bạch) và 3 lần xin biểu quyết (tam yết ma). [X. luận Tứ phần Q.33, 39; luật Ma ha tăng kì Q.23; Thụ giới bồ tát nghi; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

nhất bạch tam yết-ma

xem bạch tứ-yết-ma.

nhất bản thập chi

(一本十支) Một gốc 10 nhánh. Tông Pháp tướng lấy luận Du già sư địa làm luận gốc, gọi là Nhất bản, còn lấy các luận chú thích luận Du già sư địa làm luận nhánh (chi luận). Luận nhánh có 10 bộ, gọi là Thập chi. Đó là: 1. Luận Bách pháp minh môn, cũng gọi luận Lược trần danh số. Luận này chép sơ lược những danh số trong Bản địa phần của luận Du già sư địa và lấy tất cả pháp vô ngã làm tông. 2. Luận Ngũ uẩn, cũng gọi luận Thô thích thể nghĩa, luận Y danh thích nghĩa. Luận này nói sơ lược về cảnh sự trong phần Bản địa của luận Du già sư địa và lấy vô ngã duy pháp làm tông. Hai bộ luận trên đều do ngài Thiên thân soạn. 3. Luận Hiển dương thánh giáo, cũng gọi luận Tổng bao chúng nghĩa, do ngài Vô trước soạn. Luận này tóm tắt yếu nghĩa của 17 địa Du già và lấy minh giáo làm tông.4. Luận Nhiếp đại thừa, cũng gọi luận Quảng bao đại nghĩa, do ngài Vô trước soạn. Bao gồm các pháp môn sâu kín của Du già, giải rõ tông yếu của 1 phẩm A tì đạt ma nhiếp Đại thừa và lấy sự giản biệt Tiểu thừa vào hàng Thập địa làm tông. 5. Luận Tạp tập, cũng gọi luận Phân biệt danh số, luận Quảng trần thể nghĩa; do ngài Vô trước soạn. Bao gồm tất cả pháp môn của luận Du già sư địa, tập hợp tất cả tông yếu của kinh A tì đạt ma và lấy 3 khoa: Uẩn, Xứ, Giới làm tông. 6. Luận Biện trung biên, cũng gọi luận Li tịch chương trung. Phần kệ tụng do bồ tát Di lặc trứ tác, luận giải thích do ngài Thiên thân soạn. Nội dung luận này gồm 7 phẩm nói về pháp tướng Du già và lấy Trung đạo làm tông. 7. Luận Nhị thập duy thức, cũng gọi luận Tồi phá tà sơn. Nội dung giải thích 7 vấn nạn để thành lập Duy thức du già và lấy Duy thức vô cảnh làm tông. 8. Luận Tam thập duy thức, cũng gọi luận Cao kiến pháp chàng. Nội dung bàn rộng về cảnh thể Du già và lấy ngoài thức chẳng có gì thực có làm tông. Hai bộ luận trên (7 và 8), phần kệ tụng gốc do ngài Thiên thân trứ tác, còn phần giải thích Tam thập duy thức là do nhóm 10 vị Luận sư như ngài Hộ pháp... soạn. 9. Luận Đại thừa trang nghiêm, cũng gọi luận Trang nghiêm thể nghĩa. Phần kệ gốc do bồ tát Di lặc trứ tác, phần giải thích do ngài Thiên thân soạn. Nội dung bao gồm tất cả pháp môn Nhất địa của Bồ tát Du già và lấy trang nghiêm Đại thừa làm tông. 10. Luận Phân biệt du già, cũng gọi luận Nhiếp tán qui quán, do bồ tát Di lặc tạo. Luận này chưa có bản Hán dịch. Nếu căn cứ vào phẩm Phân biệt du già trong kinh Giải thâm mật mà suy đoán, thì luận này lấy Chỉ quán làm tông.

nhất bảo

Một bảo vật (sự linh mẫn của tâm tánh)—The one precious thing—The spirit or intelligent mind or nature . ; (一寶) Một vật báu. Ví dụ cho bản tính của chúng sinh hay bản thể của vũ trụ. Phẩm Quảng chiếu không hữu trong luận Bảo tạng (Vạn 96, 25 thượng) nói: Trong trời đất, giữa khoảng vũ trụ, có một vật báu ẩn trong hình sơn. Vật biết khôn sáng, trong ngoài rỗng không, tĩnh lặng khó thấy, gọi là Huyền huyền (lặng lẽ sâu kín). Nhất bảo này đầy khắp không gian vô hạn, xuyên suốt thời gian vô cùng, thường trụ trong 3 đời và khắp cả 10 phương, nên Thiền tông cũng thường dẫn từ này để dạy chúng. Tắc 62 trong Bích nham lục (Đại 48, 193 hạ) ghi: Trong trời đất, giữa khoảng vũ trụ, có một vật báu, ẩn tại hình sơn, cầm lồng đèn hướng tới điện Phật, đem 3 cửa để trên lồng đèn.

nhất bất khứ nhị bất trụ

(一不去二不住) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một không đi hai chẳng ở. Nghĩa là nếu một chưa kết thúc, thì hai kế tiếp sẽ chẳng đến. Trong Thiền lâm, cụm từ này thường được dùng để biểu thị đạo lí tự nhiên như thế. [X. chương Hoàng long Tuệ nam trong Ngũ đăng hội nguyên Q.17].

nhất bổng

(一棒) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cây gậy, hàm ý là đánh cho 1 gậy. Đây là cơ pháp của Thiền sư dùng để tiếp hóa người học. Đồng nghĩa với từ Nhất hát (1 tiếng hét). Triệu châu lục quyển hạ (Vạn tục 118, 166 thượng) nói: Sư đi ngang qua chính điện, thấy 1 vị tăng đang lễ bái, sư đánh cho 1 gậy(đả nhất bổng). Vị tăng thưa: Lễ bái cũng là việc tốt mà! Sư nói: Việc tốt chẳng bằng vô sự.

nhất bổng đả sát

(一棒打殺) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một gậy đánh chết. Đây là cơ phong nghiêm khắc thầy dùng để cảnh tỉnh đệ tử, nhằm trừ sạch vọng tưởng ác kiến của người học. Vân môn lục quyển trung (Đại 47, 560 trung) nói: Lúc đức Thế tôn hạ sinh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, bước đi bảy bước, mắt nhìn bốn phía nói: Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quí. Sư nói: Nếu lúc đó mà ta gặp, thì ta đã đánh cho 1 gậy chết (Nhất bổng đã sát).

nhất chi hoa

(一枝花) Một nhành hoa, tức Thiền tông gọi là hoa Kim ba la. Thủa xưa, Phạm thiên vương dâng hoa Kim ba la thỉnh đức Thế tôn thuyết pháp. Sau khi thăng tòa, Ngài đưa nhành hoa lên để khai thị đại chúng. Mọi người trong pháp hội đều im lặng, chỉ có tôn giả Ca diếp ngộ được ý Phật nên mỉm cười.

nhất chuyển ngữ

Một chữ làm chuyển đổi—A turning word—A word when spoken and heard just at the right time and place, has the power to serve as a turning point in one's life. ; (一轉語) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu nói khiến cho người chuyển mê khai ngộ. Nghĩa là lúc Thiền sinh mờ mịt không hiểu, hết đường tới lui, thì lập tức vị thầy chuyển đổi cơ pháp nói ra 1 câu làm cho Thiền sinh tỉnh ngộ, gọi là Nhất chuyển ngữ. Tắc 8 trong Thung dung lục (Đại 48, 232 thượng) nói: Thủa quá khứ thời đức Phật Ca diếp tôi từng trụ ở núi này. Có người học hỏi tôi: Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả không? Tôi nói là không rơi vào nhân quả. Do câu nói ấy mà tôi bị đọa làm loài chồn đã 500 đời. Nay xin Hòa thượng nói cho tôi 1 chuyển ngữ (Nhất chuyển ngữ). Ngài Bách trượng nói: Không lầm nhân quả. Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.22; Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập Q.38].

nhất chuỳ

(一槌) Một dùi. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cái dùi làm bằng gỗ hình 8 góc, gõ vào cái kiểng thì phát ra tiếng. Trong các tùng lâm, Nhất chùy được dùng để thông báo mọi việc cho đại chúng biết. Ngoài ra, khi vị Trụ trì thướng đường thuyết pháp, vị Bạch chùy sư(người phụ trách việc đánh kiểng)cũng đánh chùy 1 hồi. Tắc 92 trong Bích nham lục (Đại 48, 216 hạ) nói: Trong hội nếu có người thông minh linh lợi, thì đâu nhọc Văn thù đánh một dùi (nhất chùy).

nhất chuỳ tiện thành

(一槌便成) Một dùi liền thành. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là vị thầy đánh 1 tiếng kiểng, người học ngộ liền. Đồng nghĩa với Ngôn hạ tức ngộ (ngay câu nói đó mà triệt ngộ tức khắc). Tắc 46, trong Bích nham lục (Đại 48, 182 trung) nói: Một chùy liền ngộ, siêu phàm vượt thánh.

nhất chân

Nhất như—Nhất thật—The whole of reality (bhutatathata).

nhất chân như

See Chân Như (B).

nhất chân pháp giới

Là biệt danh của tự tánh, cũng là quả chứng cùng tột của tông Hoa Nghiêm. ; Pháp giới của chân thực—The dharma realm of the one reality. ; (一真法界) Nhất tức không hai, Chân tức chẳng vọng, giao thoa dung nhiếp, nên gọi là Pháp giới. Tức là Pháp thân bình đẳng của chư Phật, từ xưa đến nay vốn không sinh không diệt, chẳng không chẳng có, lìa danh lìa tướng, không trong không ngoài, chỉ có một chân thực chẳng thể nghĩ bàn, vì thế gọi là Nhất chân pháp giới. [X. Hoa nghiêm kinh sớ sao Q.60; Hoa nghiêm kinh sớ sao huyền đàm Q.1].

nhất chân vô vi

(一真無爲) Thể của Nhất chân pháp giới không do tạo tác(vô vi)mà tự nhiên hình thành, thể ấy không 2 không vọng, thanh tịnh vô lậu, tính không sinh không diệt, nên diệu dụng vô cùng.

nhất chân địa

The state of meditation on the absolute. ; (一真地) Chỉ cho giai vị chứng ngộ diệu lí Nhất chân pháp giới. Trong kinh Tứ thập nhị chương có câu Coi bình đẳng như Nhất chân địa.

nhất chích nhãn

(一隻眼) Đồng nghĩa: Đính môn nhãn, Chính nhãn, Hoạt nhãn, Minh nhãn. Một con mắt. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ cho con mắt trí tuệ có chính kiến chân thực về Phật pháp, không giống như mắt thịt của phàm phu. Tắc 8 trong Bích nham lục (Đại 48, 48 thượng) nói: Có được Nhất chích nhãn thì đoạn được 10 phương, đứng thẳng nghìn trượng.

Nhất chơn

(一眞): toàn thể sự chân thật, không hư dối, chỉ cho vũ trụ, tất cả; đồng nghĩa với nhất như (一如), nhất thật (一實), chơn như (眞如). Như trong Khuyến Tu Tịnh Độ Thi (勸修淨土詩) của Đại Sư Thật Hiền Tỉnh Am (實賢省庵, 1686-1734) nhà Thanh có câu: “Tứ Đại chi trung na nhất chơn, ngã dữ Di Đà phi lưỡng cá (四大之中那一眞、我與彌陀非兩箇, ngay trong bốn đại còn chân thật, ta với Di Đà đâu hai thể).” Hay trong Nguyên Thỉ Thuyết Tiên Thiên Đạo Đức Kinh Chú Giải (元始說先天道德經註解) của Đạo Giáo có đoạn: “Hư vô bất động, nhất chơn phổ phát, thanh tịnh diệu thông, đạo tại kỳ thỉ (虛無不動、一眞普發、清靜妙通、道在其始, hư vô chẳng động, chân thật rộng khắp, trong sạch diệu thông, đạo nơi khởi đầu).” Hoặc trong Triệt Ngộ Đại Sư Di Tập (徹悟大師遺集) quyển trung cũng có câu: “Thống duy nhất chơn pháp giới, cái viên cai vạn hữu, duy thị nhất tâm (統唯一眞法界、蓋圓該萬有、唯是一心, khắp cùng pháp giới chơn như, bao trùm cả vạn hữu, chỉ là nhất tâm).” Câu “nhất chơn diệu thể, ninh hữu khứ lai chi thoại (一眞妙體、寧有去來之瑞)” có nghĩa là thể tánh vi diệu của chơn như vốn không sanh, không diệt, chẳng không chẳng có, lìa xa danh tướng, chẳng trong chẳng ngoài, vượt ra mọi phạm trù đối đãi, thì làm sao có tướng đến và đi.

nhất chướng nhất thiết chướng

(一障一切障) Chướng một chướng tất cả. Nghĩa là chúng sinh tạo tác nghiệp ác, khi phát khởi 1 niệm sân hận thì trăm nghìn cửa nghiệp chướng mở ra, tất cả thiện căn đều bị tiêu diệt, tất cả nghiệp chướng đồng thời thêm lớn, bởi thế nên hễ chướng 1 thì chướng tất cả.

nhất chất bất thành

(一質不成) Một chất chẳng thành, 1 trong 3 Bất thành do ngài Đạo an đời Đông Tấn lập ra. Trong luận Tịnh độ của mình, ngài Đạo an đã giải thích rõ sự quan hệ giữa Tịnh độ và Uế độ là: Nếu nhìn bằng tâm ô nhiễm thì khắp thế giới đều là Uế độ; còn nếu nhìn với tâm thanh tịnh thì tất cả mọi nơi, đâu cũng là Tịnh độ. Vì thế nên biết Tịnh độ là do tịnh nghiệp tạo thành, Uế độ là do uế nghiệp sinh ra; như vậy, bản chất của 2 cõi này cũng chẳng là một. Đó chính là ý nghĩa Nhất chất bất thành. [X. An lạc tập Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thành).

nhất chỉ

(一指) Một ngón tay. Theo kinh Lăng nghiêm quyển 6, sau khi đức Như lai nhập diệt, nếu có vị tỉ khưu nào phát tâm quyết định tu tập Tam ma đề, thiêu 1 lóng ngón tay và đốt 1 liều hương trên thân thể ở trước hình tượng đức Như lai, thì vô lượng oan trái của người ấy ở các kiếp trước đồng thời trả hết, dứt hẳn các lậu hoặc.

nhất chỉ thiền

(一指禪) Cũng gọi Câu chi nhất chỉ, Câu chi thụ chỉ, Nhất chỉ đầu thiền. Thiền một ngón tay. Tên công án trong Thiền tông. Cơ pháp dựng đứng 1 ngón tay để tiếp hóa người học của Hòa thượng Câu chi ở Kim hoa, Vụ châu, vào đời Tống. Nguyên lúc đầu Hòa thượng Câu chi còn trụ ở am, nhân việc 1 ni sư hỏi 3 lần mà Hòa thượng không đáp được, Hòa thượng liền lập chí đi tìm thầy hỏi đạo. Được thần núi mách bảo, Hòa thượng đến tham yết Thiền sư Thiên long, ngài Thiên long dùng 1 ngón tay khai thị, ngay lúc ấy Hòa thượng Câu chi đại ngộ. Từ đó trở đi, hễ có ai đến tham vấn, Hòa thượng đều dựng 1 ngón tay lên. Đến lúc lâm chung, Hòa thượng dạy chúng (Đại 51, 288 trung): Ta được ngài Thiên long truyền cho Nhất chỉ thiền mà suốt đời dùng không hết. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.7, 11; Ngũ đăng hội nguyên Q.4; Bích nham lục tắc 19].

Nhất chỉ tiểu tiêu tức

一紙小消息; C: yīzhǐ xiǎoxiāoxí; J: isshi koshōsoku;|Một lá thư riêng của Pháp Nhiên gởi cho một đệ tử của mình ở Kuroda, được lưu lại trong tông môn Tịnh độ, được dùng cho đến ngày nay để chỉ dạy cho những hành giả trong tông môn này. Ngược với bài viết Nhất Mai khởi thỉnh văn (一枚起請文; j: ichimai kishomon), thư này bày tỏ lòng nhiệt thành từ kinh nghiệm cá nhân của Pháp Nhiên về hiệu nghiệm của pháp tu Niệm Phật (念佛; j: nembutsu). Cả hai bản văn Nhất chỉ tiểu tiêu tức và Nhất mai khởi thỉnh văn đều được chư tăng ngày nay sử dụng trong công phu hằng ngày.

nhất chụ

(一炷) Chú nghĩa là đốt hương. Nhất chú là đốt hương 1 lần. Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 7 (Đại 48, 1154 thượng) nói: Trước Thánh tăng, đốt 1 nén hương, trải tọa cụ lễ 3 lễ, đi quanh Thiền đường 1 vòng.

nhất chứng nhất thiết chứng

(一證一切證) Chứng một chứng tất cả. Bậc thượng căn dùng trí viên diệu soi rõ tính cảnh viên thông, không đầu không cuối, chẳng cạn chẳng sâu, chẳng có chẳng không, không pháp nào chẳng đủ, chẳng chỗ nào không thông, bởi thế cho nên hễ chứng nhập 1 chỗ thì chứng nhập tất cả chỗ.[X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3].

nhất chửu

(一肘) Phạm: Hasta. Một khuỷu tay, là đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa. Cứ theo luận Câu xá quyển 12, 7 hạt lúa mạch là 1 đốt ngón tay, 3 đốt là 1 ngón tay, 24 ngón tay xếp theo hàng ngang gọi là 1 khuỷu tay(nhất trửu). Theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì 1 cung bằng 4 khuỷu tay, 1 khuỷu tay bằng 24 ngón tay. Nhưng ngón tay của mỗi người có dài, ngắn khác nhau, nên chiều dài của 1 khuỷu tay cũng không nhất định, đại khái khoảng 1 thước 4 tấc, cho đến 1 thước 8 tấc (Tàu). Chiều dài 1 khuỷu tay của đức Phật thì gấp đôi độ dài trên. [X. luận Bồ đề tâm; Tạo tượng lượng đạc kinh giải].

Nhất cung

(一弓) [tạp]: đơn vị đo lường, tức chiều dài của cây cung (s, p: dhanu, 弓). Hạc Lâm Ngọc Lộ (鶴林玉露) 9 có đoạn rằng: “Hình Công thi vân: 'Ngọa chiêm khoan nhàn ngũ bách cung, cái Phật gia dĩ tứ trửu vi cung, trửu nhất xích bát thốn, tứ trửu cái thất xích nhị thốn, kỳ thuyết xuất dịch Phạn (荆公詩云、臥占寬閑五百弓, 蓋佛家以四肘爲弓、肘一尺八寸、四肘蓋七尺二寸、其說出譯梵, Thơ Hình Công ghi rằng: 'Nằm nhàn nhã bói xem năm trăm cung (s: dhanuú pa–ca-śatāni, 五百弓), rõ ràng nhà Phật lấy chiều dài 4 khuỷu tay làm một cung, một khuỷu tay dài một thước tám tấc, 4 khuỷu tay chắc chắn là bảy thước hai tấc, thuyết này được dịch từ tiếng Phạn')”. Câu Xá Luận (倶舍論) 2 có đoạn rằng: “Nhị thập tứ chỉ, hoành bố vi trửu, thụ tích tứ trửu vi cung (二十四指、横布爲肘, 竪積四肘爲弓, dàn ngang 24 ngón tay là một khuỷu tay, chất đứng 4 khuỷu tay thành một cung)”. Tụng Sớ (頌疏) 6 ghi rằng: “Nhất trửu hữu nhất xích bát thốn, nhất cung hữu thất xích nhị thốn (一肘有一尺八寸、一弓有七尺二寸, một khuỷu tay có một thước tám tấc, một cung có bảy thước hai tấc).”

nhất cung

(一弓) Phạm: Dhanu. Đơn vị đo chiều dài ở Ấn độ đời xưa, tương đương với 4 khuỷu tay. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 62 trung) nói: Hai mươi bốn ngón tay sắp xếp theo chiều ngang là 1 khuỷu tay, còn dựng đứng 4 khuỷu tay là 1 cung. Theo Câu xá luận sớ quyển 6, thì 1 khuỷu tay bằng 1 thước 8 tấc Tàu, nên 1 cung là 7 thước 2 tấc. [X. Hạc lâm ngọc lộ Q.9]. (xt. Cung).

Nhất cá bán cá

一個半個; C: yīgě bàngě; J: ichigohango;|Một thành phần rất nhỏ; rất ít.

nhất cá bán cá

(一個半個) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người và nửa người. Chỉ cho người cực kì ưu tú, rất là hiếm có. Như Thiền sư Nam tuyền từng nói: Nên biết, khi Phật chưa xuất thế, thì đời vẫn chưa có được 1 người rưỡi. Nhóm từ này có xuất xứ từ sự tích về ngài Đạo an và Tập tạc xỉ. Chả là vào đời Tiền Tần, vua Phù kiên đánh chiếm thành Tương dương, thu được ngài Đạo an và Tập tạc xỉ, vua vui mừng nói với tả hữu: Ta đem 10 vạn quân đánh lấy thành Tương dương, chỉ để được 1 người rưỡi. Ngài Đạo an là một người, còn Tập tạc xỉ chỉ có một nửa người. Vì Tập tạc xỉ bị què 1 chân nên vua nói đùa là nửa người.

nhất cá hỗn thân vô xứ trước

(一個渾身無處著) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Khắp mình không chỗ dính. Nghĩa là khi người đã khai ngộ, toàn thân bao trùm vũ trụ, đầy khắp hư không mà không dính mắc vào bất kì nơi nào. Vô môn quan (Đại 48, 295 hạ) nói: Giơ chân đạp đổ biển Hương thủy, cúi đầu nhìn xuống trời Tứ thiền; khắp mình không chỗ dính(Nhất cá hồn thân vô xứ trước), hãy tiếp tục một hướng tiến lên.

nhất cá quan tài lưỡng cá tử hán

(一個棺材兩個死漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cái quan tài liệm hai người chết. Trong Thiền lâm, nhóm từ trên được sử dụng để hình dung sự hiểu biết tầm thường, cùng 1 ngôi mộ mà chôn 2 vị Thiền tăng trở lên. Tắc 20 trong Bích nham lục (Đại 48, 161 thượng) ghi: Vị tăng hỏi ngài Đại mai: - Thế nào là ý Tổ sư từ Tây thiên đến? Ngài Đại mai trả lời: - Tổ sư từ Tây thiên đến không có ý. Ngài Diêm quan nghe vậy, nói: - Một cái quan tài liệm 2 gã chết. Ngài Huyền sa chêm vào: - Diêm quan là tác gia. [X. Cảnh đức truyền đăng lục Q.7].

nhất cú

Một câu—One sentence—A word. ; (一句) Tiếng dùng trong Thiền lâm. I. Thiền Cú. Một câu, một lời. Kì viên chính nghi (Vạn tục 111, 85 hạ) chép: Đạt ma chưa từng nói một lời; Tuệ khả chẳng hề hỏi một câu. II. Nhất Cú. Câu nói lên 1 chân lí. Triệu châu lục quyển thượng (Vạn tục 118, 154 thượng) ghi: Có vị tăng hỏi ngài Triệu châu: - Thế nào là một câu? Ngài Triệu châu trả lời: - Nếu giữ chặt lấy một câu thì ông sẽ già đi!.Ngoài ra, Thiền tông cũng thường dùng các từ ngữ như Nhất cú đạo đắc (nói được 1 câu), Mạt hậu nhất cú (1 câu sau cùng), Thấu quan nhất cú (1 câu thấu suốt được cửa...) để biểu thị ý nghĩa chân lí hoặc lí Không của Bát nhã.

nhất cú hợp đầu ngữ

(一句合頭語) Đối lại: Vạn kiếp hệ lô quyết. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu thấu rõ được mặt mũi của chính mình, nhưng nếu để mình bị vướng mắc vào chỗ thể hội ấy, thì sẽ bị ràng buộc, mất tự do. Hợp đầu nghĩa là thấu rõ, thể hội.Chương Thuyền tử Đức thành trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 315 trung) chép: Đức thành hỏi: - Học được điều ấy ở đâu? Thiện hội trả lời: - Chẳng phải chỗ thể hội của tai và mắt. Đức thành cười nói: - Một câu thể hội được(nhất cú hợp đầu), nhưng nếu dính mắc vào đó thì giống như con lừa bị buộc vào cây cọc đến muôn kiếp. Thả sợi tơ nghìn thước, ý tại đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau! Thiện hội vừa hé miệng thì lập tức sư lấy cây sào khua xuống nước 1 cái, ngay lúc ấy Thiện hội đại ngộ.

nhất cú tiệt lưu vạn cơ tẩm sảo

(一句截流萬機寢削) Một câu dứt dòng, muôn cơ dẹp hết. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nghĩa là chỉ nói 1 câu 1 lời thôi, cũng có công năng chặt đứt tất cả tâm vọng tưởng phân biệt, chấm dứt mọi tâm cơ suy lường tính toán và ngay lúc đó chân tướng của bản thể hiển hiện. Tẩm tước nghĩa là đình chỉ, trừ bỏ. Tắc 56 trong Bích nham lục (Đại 48, 190 trung) nói: Bẩm tính của Đại trượng phu là làm tổ của tâm (một câu dứt dòng, muôn cơ dẹp hết).

Nhất Cú Tri Giáo

一句知教; tk. 16-17|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng pháp hệ thứ 35. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Tịnh Chu ở An Kiết. Một trong những đệ tử đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Giác, người Việt Nam. Với Thông Giác, Thiền Tào Ðộng được truyền sang miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên.|Trong thời du phương, Sư có dịp yết kiến Thiền sư Tịnh Chu và đắc pháp nơi đây.|Sau, Sư từ biệt thầy về núi Phụng Hoàng, Hồ Châu giáo hoá. Nơi đây, Sư khai đường dạy chúng. Học giả bốn phương quy tụ về đây rất đông.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho đệ tử Thông Giác và bài kệ:|春色色草茸茸|萬宇枝條開切切。一莖楊發產重重|水浸月圓澄海底。山頭日出露巖峰|Xuân sắc sắc, thảo nhung nhung|Vạn vũ chi điều khai thiết thiết|Nhất hành dương phát sản trùng trùng|Thuỷ tẩm nguyệt viên trừng hải để|Sơn đầu nhật xuất lộ nham phong.|*Xuân sặc sỡ, cỏ như nhung|Khắp chốn ngàn cây bông trổ gấp|Một cành dương liễu nẩy trùng trùng|Trăng chìm đáy biển nước sóng lặng|Ðỉnh núi nhật lên bày chót cao.|Nói kệ xong, Sư từ giã chúng ngồi yên mà hoá.

nhất cú tri giáo

Thiền sư Trung Hoa, quê ở núi Phụng Hoàng, Hồ Châu, Trung Quốc. Sau khi sư được Thiền sư Tịnh Chu truyền tâm ấn, sư trở về núi Phụng Hoàng hoằng hóa và thị tịch tại đây, nhưng không rõ năm nào—A Chinese Zen Master from Mount Phụng Hoàng, Hồ Châu, China. After Zen Master Tịnh Chu transmitted the Dharma mind seal to him, he returned to Mount Phụng Hoàng to expand Buddhism and passed away there; however, his passing away day was unknown.

nhất cú tử

(一句子) Cũng gọi Hướng thượng để na nhất cú. Tử là trợ từ. Nhất cú vốn chỉ cho 1 câu nói. Nhất cú tử là câu nói vô ngôn, vô thuyết mà biểu đạt được chỗ rốt ráo của Phật pháp. Lâm tế lục (Đại 47, 500 thượng) chép: Này các đạo hữu! Như có học ở các nơi đến, sau khi chủ khách gặp nhau, chỉ sau 1 câu nói mà nhận ra được vị thiện tri thức hàng đầu. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 14 (Đại 51, 314 thượng) chép: Dược sơn thăng tòa nói rằng: Ta có một câu nói (nhất cú tử) chưa từng nói với ai. Rồi sư bước xuống, ra khỏi Thiền đường, lại nói thêm rằng: Hãy đi theo ta!. Tắc 76 trong Bích nham lục (Đại 48, 203 trung) ghi: Một câu nói hết, hiếm được gặp người đó. Những công án Nhất cú tử nói trên đều nhằm nói rằng: Ai hiểu được, nói được Nhất cú tử thì người đó đã kiến tính triệt ngộ rồi.

nhất cú đạo tận

Với một câu làm tỏ bày chư pháp—With one sentence to make clear the whole Law. ; (一句道盡) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chỉ dùng 1 câu nói mà thấu suốt hết cốt tủy của Phật pháp. Tắc 76 trong Bích nham lục (Đại 48, 203 trung) ghi: Thiền sư Bảo phúc nói: Người cho, người nhận, cả hai đều mù (theo lệnh thi hành, một câu nói hết thật hiếm khi gặp được ngườt như vậy).

nhất cú đạo đoạn

(一句道斷) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một câu dứt bặt nói năng. Chỉ dùng 1 câu mà dứt hết mọi lời. Tắc 63 trong Bích nham lục (Đại 48, 195 thượng) nói: Các vị ở nhà Đông và nhà Tây đều là Thiền tăng xoàng (Chính cửa miệng thốt ra lời thân thiết, một câu dứt bặt nói năng, quét sạch vọng tưởng chấp trước).

nhất cú đầu hoả

(一句投火) Một câu lao vào lửa. Nghĩa là tâm cầu đạo của Bồ tát rất thiết tha, nếu được nghe 1 câu chính pháp với điều kiện phải lao đầu vào lửa, thì Bồ tát cũng sẵn sàng chấp nhận. Truyện Pháp trí Tri lễ trong Phật Tổ thống kỉ quyển 8 (Đại 49, 193 thượng) nói: Nửa kệ quên mình, một câu vào lửa (nhất cú đầu hỏa).

nhất căn

(一根) I. Nhất Căn. Cũng gọi Nhất cơ. Chỉ cho nhĩ căn. Chúng sinh trong cõi Diêm phù đề tuy đầy đủ 6 căn nhưng chỉ có nhĩ căn là nhạy bén nhất, nghe pháp dễ thâm nhập, thông suốt đạo vô thượng, vì thế có tên là Nhất căn. II. Nhất Căn. Một thứ căn tính nào đó, tức là căn tính tin nhận cùng 1 loại giáo pháp. III. Nhất Căn. Chỉ cho bất cứ 1 căn nào trong 6 căn nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân và ý.

nhất cơ

(一機) I. Nhất Cơ. Cơ duyên cùng 1 loại. Nghĩa là động cơ sẽ cùng tiếp nhận 1 loại giáo pháp. Tắc 46 trong Bích nham lục (Đại 48, 182 trung) nói: Người xưa lập bày nhất cơ nhất cảnh để tiếp dẫn người học. II. Nhất Cơ. Cơ là cơ quan, là nơi phát động. Nhất cơ ví dụ nhĩ căn, 1 căn trở về nguồn, các căn đều giải thoát. Kinh Lăng nghiêm nói rằng: Tuy thấy các căn đều động, nhưng chỉ do 1 cơ quan điểu khiển mà thôi. [X. kinh Lăng nghiêm Q.6].

nhất cơ nhất cảnh

One subjective corresponds to one objective: 1) Cơ: The subjective (fire). 2) Cảnh: The objective (smoke). ; (一機一境) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cơ một cảnh. Cơ là tác dụng tâm ở bên trong; Cảnh là vật có hình tướng ở bên ngoài. Ví dụ như đức Thế tôn đưa cành hoa sen lên, là Cảnh; Tổ Ca diếp lĩnh hội được ý của Phật, là Cơ. Lại như thấy khói ở đằng xa, đó là Cảnh; thấy khói mà biết có lửa, đó là Cơ. Tắc 3 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 hạ) nói: Một cơ một cảnh, một lời một câu, vẫn mong có chỗ vào. Trên da thịt lành lặn, khoét thành mụn nhọt, thành hang thành ổ, đại dụng hiện tiền, không cần khuôn phép. Ngoài ra, các Thiền sư đã triệt ngộ tự tính, khi giơ gậy, dựng phất trần để xét nghiệm người học, thì gọi là Thiền giả nhất cơ nhất cảnh.

nhất cạch thủ

(一磔手) Phạm:Vitasti. Cũng gọi Nhất kiệt thủ, Nhất trương thủ, Nhất xách thủ, Nhất tháp thủ, Một gang tay. Đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa. Trách nghĩa là giang ra. Nhất trách thủ chỉ cho khoảng cách giang ra giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón giữa, dài khoảng 23 phân tây. Nhưng khoảng cách này không nhất định, vì có người ngón tay dài, người ngón tay ngắn, chỉ ước chừng đại khái thế thôi. [X. Huyền ứng âm nghĩa Q.22; Tuệ lâm âm nghĩa Q.24].

nhất cạch thủ bán

(一磔手半) Cũng gọi Nhất kiệt thủ bán. Một gang tay rưỡi. Theo Trần thiêm ái nang sao quyển 15, Nhất trách thủ bán bằng khoảng 1 thước 3 tấc (Tàu), hoặc 1 thước 2 tấc (Một trách bằng 8 tấc, nửa trách bằng 4 tấc). Thai nhi trong bụng mẹ đến 140 ngày (tức khoảng hơn 4 tháng rưỡi) thì tứ chi đầy đủ, 2 tay ngang mặt, ngồi chồm hổm, thân dài bằng 1 gang tay rưỡi (nhất trách thủ bán) của người mẹ. Tại Nhật bản, khi đúc hoặc tạc tượng Phật mang theo bên mình để trì niệm, người ta thường dùng độ dài của Nhất trách hủ bán, tức là lấy ý nghĩa thân thai nhi trong bụng mẹ nói trên.

nhất cảnh

One region—One realm.

nhất cảnh tứ tâm

(一境四心) Cũng gọi Nhất thủy tứ kiến. Một cảnh bốn tâm. Ví dụ cùng 1 dòng nước, nhưng vì quả báo bất đồng mà trời, người, ngã quỉ, súc sinh nhìn thấy có 4 tướng khác nhau: 1. Trời thấy nước là cõi báu trang nghiêm: Vì phúc báu của chư thiên thù thắng nên thấy nước là đất báu trang nghiêm do lưu li hợp thành. 2. Người thấy nước là nước: Nước mà người thế gian trông thấy, tuy có trong đục sai khác, nhưng đều là nước. 3. Ngã quỉ thấy nước là máu mủ: Vì đời trước tham lam bỏn sẻn, tội chướng sâu nặng, đọa vào loài ngã quỉ nhiều kiếp không hề thấy nước; do đói khát bức bách, nên khi thấy dòng nước, lòng muốn uống lắm, liền chạy vội đến bờ sông, khi đến nơi thấy toàn là máu mủ! 4. Cá thấy nước là nhà ở: Cá bơi lội trong nước, chúng thấy nước là nơi cư trú của chúng chứ không phải là nước. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.4 (bản dịch của ngài Huyền trang); Đại minh tam tạng pháp số Q.18].

nhất cầm nhất tung

(一擒一縱) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một bắt một thả. Cầm là chặn đứng dòng suy tư của người học, Túng là buông thả tự do. Đây là cơ pháp ứng biến linh động mà Thiền sư dùng để dắt dẫn người học. Tắc 49 trong Bích nham lục (Đại 48, 185 thượng) nói: Một bắt một thả, gặp kẻ mạnh thì mình yếu; gặp người hèn thì mình sang.

Nhất Cửu

一九; C: yījiǔ; J: ichikū;|Một cách gọi xưng danh Phật A-di-đà của tông Chân Ngôn.

nhất cửu chi giáo

(一九之教) Giáo pháp Cửu phẩm vãng sinh do tông Tịnh độ thiết lập. Trong bài tựa luận Tịnh độ (Đại 47, 83 trung), ngài Ca tài nói: Nhị bát hoằng qui thịnh hành ở Ấn độ, Nhất cửu chi giáo dần dần truyền đến Trung quốc. Trong đó, Nhị bát(hai tám)chỉ cho 16 pháp quán nói trong kinh Quán vô lượng thọ; còn Nhất cửu là chỉ cho 9 phẩm vãng sinh của tông Tịnh độ.

nhất cửu chi sanh

Sanh vào một trong cửu phẩm Tịnh Độ—Future life in tha Amitabha Pure Land.

nhất cực

(一極) Pháp tột bậc. Kinh Hoa nghiêm bàn rộng yếu chỉ của pháp giới là tột bậc không hai.Đức Như lai ra đời, đầu tiên giảng nói về cảnh giới chân thực của Phật và Bồ tát cho hàng Đại bồ tát nghe, chứ không nói pháp Nhị thừa phương tiện. Vì thế mà hàng Thanh văn, Duyên giác, tuy vẫn cùng nghe nhưng không hiểu được gì cả.Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ gọi là Nhất cực xướng cao, Nhị thừa tuyệt thính (Nói pháp tột bậc, Nhị thừa không hiểu).

nhất danh

(一名) Danh tức tên gọi. Nhất danh nghĩa là lí tuy là 1 nhưng tên gọi thì có nhiều thứ khác nhau. Như Niết bàn còn có nhiều tên khác như: Vô sinh, Vô tác, Vô vi, Giải thoát, Bỉ ngạn, Vô thoái, An xứ, Tịch tĩnh, Vô tướng, Vô nhị, Nhất hạnh, Thanh lương, Vô tránh, Cát tường... Tuy đặt nhiều tên như vậy, nhưng đều chỉ là 1 tên Niết bàn, nên gọi là Nhất danh. [X. kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc)].

nhất danh tứ thật

xem tiên-đà-bà. ; (一名四實) Một tên gọi chỉ cho 4 nghĩa khác nhau. Ví dụ mật ngữ của Như lai sâu xa khó hiểu, chỉ người có trí mới thấu suốt được. Kinh Đại bát niết bàn quyển 9 (bản Nam) nêu thí dụ: Ví như các bầy tôi hầu hạ Đại vương, khi vua cần nước thì bảo: Đem tiên đà bà đến đây! Người bầy tôi có trí hiểu ngay rằng vua cần dùng nước, liền dâng nước. Khi vua cần muối, gọi Tiên đà bà, quan hầu cũng hiểu ý mà dâng muối. Khi vua cần chén uống nước cũng gọi Tiên đà bà, quan hầu liền dâng chén. Khi vua muốn đi chơi, gọi Tiên đà bà, quan hầu liền đem ngựa đến. Như vậy, chỉ 1 danh từ Tiên đà bà mà có tới 4 nghĩa: Nước, muối, đồ vật và ngựa khác nhau, nên gọi là Nhất danh tứthực. Nhất danh tứ thực ví dụ giáo pháp Như lai tuyên thuyết không ngoài Tứ pháp ấn: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Hàng Bồ tát Đại thừa khéo thông đạt nên tu quán Vô thường, Khổ, Vô ngã để chứng nhập Niết bàn giải thoát. (xt. Tiên Đà Bà).

nhất danh vô lượng nghĩa

(一名無量義) Đối lại: Nhất nghĩa vô lượng danh. Trong một danh từ có vô lượng vô biên nghĩa lí. Phẩm Ca diếp trong kinh Niết bàn quyển 33 (bản Bắc) chép: Từ một tên gọi nói ra vô lượng nghĩa, từ trong một nghĩa nói ra vô lượng tên gọi. Ý nói đức Phật sử dụng danh tướng 1 cách linh động tự do để thích ứng với căn cơ, trình độ của chúng sinh mà nói pháp.

nhất dao thiêu tựu

(一窑燒就) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Cùng 1 lò nung thành nhiều đồ vật. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được sử dụng để ví dụ cùng 1 vị thầy đã đào tạo được nhiều học trò ưu tú. Tắc 6 trong Thung dung lục (Đại 48, 231 thượng), nói: Đầu bạc đầu xanh chừ, con của một nhà (nhất diêu thiêu tựu); có câu không câu chừ, có cơ tuyệt dòng.

nhất diện

(一面) I. Nhất Diện. Một mặt. Thiền uyển thanh qui quyển 3, thiên Duy na (Vạn tục 111, 446 thượng) nói: Mỗi người làm 1 tấm thẻ nhập liêu, trên 1 mặt tấm thẻ ghi thứ tự tuổi hạ, gọi là Nhất diện. II. Nhất Diện. Một phía. Phẩm Tựa kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 2 trung) nói: Tất cả đều lễ chân đức Phật, rồi lui ra ngồi ở một phía. III. Nhất Diện. Chỉ cho 1 phương diện, 1 người hoặc chính mình trong các việc. Thiên Giám viện trong Thiền uyển thanh qui quyển 3 (Vạn tục 111, 446 thượng) nói: Như những việc nhỏ nhặt, tầm thường trong viện thì mỗi người (nhất diện) hãy tự xử trí lấy.

nhất diện khí

(一面器) Chỉ cho các khí cụ đựng vật cúng dường đặt ở mặt chính của Đại đàn. Trong Mật giáo, khi tu pháp Hộ ma, những đồ đựng vật cúng dường làm bằng kim loại quí như vàng bạc... hay bằng gốm, được đặt ở 4 phía của đàn Hộ ma, gọi là Tứ diện khí. Trong đó, Nhất diện khí ở mặt chính Đại đàn gồm các đồ đựng nước thơm, hương bột và hoa, mỗi thứ 2 cái (gọi chung là Lục khí), 1 cái lư hương, 2 cái mâm đựng thức ăn uống, 2 cái bình, 2 cái chân đèn, tổng cộng 13 cái.

nhất diệp quan âm

(一葉觀音) Cũng gọi Liên diệp Quan âm, Nam minh Quan âm. Đại sĩ Quan âm ngồi trên 1 lá sen(Nhất diệp), 1 trong 33 thân tướng Quan âm. Tương truyền, trên đường từ Trung quốc trở về Nhật bản, ngài Đạo nguyên gặp 1 trận bão ở núi Nam minh. Lúc ấy, ngài ở trên thuyền khấn thầm, bỗng thấy đức Đại bi ngồi trên lá sen nổi trên mặt biển, sóng gió liền lặng. Khi lên bờ, ngài Đạo nguyên tự khắc tượng Quan âm mà ngài nhìn thấy, để thờ ở chùa Quan âm tại núi Nam minh. Do đó mà có danh hiệu Nam minh Quan âm.Phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa quyển 7 (Đại 9, 56 hạ) nói: Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng niệm danh hiệu Quán thế âm, liền được vào chỗ cạn. [X. Phật tượng đồ vậng Q.2; Kiến tê kí Q.thượng].

Nhất diệp thiên chu

(一葉扁舟): một chiếc thuyền con; như trong Tiền Xích Bích Phú (前赤壁賦) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) có câu: “Giá nhất diệp chi thiên chu, cử bào tôn dĩ tương chúc, ký phù du ư thiên địa, diểu thương hải chi nhất túc (駕一葉之扁舟、舉匏樽以相屬、寄蜉蝣與天地、渺滄海之一粟, cỡi một chiếc thuyền cỏn con, nhấc chén rượu để chúc nhau, gởi thân phù du cùng trời đất, tựa hạt thóc trong biển xanh).” Hay trong Liễu Vĩnh Từ Toàn Tập (柳永詞全集), bài Mê Thần Dẫn (迷神引) có câu: “Nhất diệp thiên chu khinh phàm quyển, tạm bạc Sở Giang nam ngạn (一葉扁舟輕帆卷、暫泊楚江南岸, một chiếc thuyền con buồm nhẹ lướt, tạm dừng bờ nam Sở Giang).” Câu “nhất diệp thiên chu, chánh trực trang nghiêm chi hải (一葉扁舟、正直莊嚴之海)” có nghĩa là với một chiếc thuyền nhỏ bé thôi cũng đủ để làm trang nghiêm biển công đức.

nhất duyên

(一緣) Chỉ cho nhân duyên, cơ duyên cùng 1 loại.Kinh Đại tập quyển 38 (Đại 13, 260 thượng) nói: Đi, đứng, ngồi, nằm, thường là một duyên. Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 1 (Đại 33, 684 hạ) nói: Một căn một duyên, cùng một đạo vị.

nhất dẫn

(一引) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tổ 3 người hướng dẫn chúng tăng cử hành các nghi thức trong Thiền viện. Chương Tạ quải tháp trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5 (Đại 48, 1141 hạ) nói: Lựa những vị có tuổi hạ cao, 1 vị làm Tham đầu, 1 vị làm Phó tham. Vị Tham đầu lãnh đạo chung; ba người làm 1 tổ, mỗi tổ có 1 vị Tiểu tham đầu.

Nhất dị

一異; C: yīyì; J: ichi-i;|Một và nhiều; đồng nhất và dị biệt.

nhất dị

Ekatva-anyatva (skt)—Một và nhiều—One and many—Oneness and otherness. ; (一異) Nhất là 2 cái giống nhau; Dị là 2 cái khác nhau, bất luận thiên về 1 bên nào cũng đều là sai lầm. Phật giáo chủ trương Trung đạo để phá trừ sự thiên chấp sai lầm ấy, nên gọi là Bất nhất bất dị (chẳng phải 1, chẳng phải khác).

nhất dị tứ cú

(一異四句) Bốn câu một khác. Tất cả kiến chấp của ngoại đạo không ngoài Thường kiến và Đoạn kiến. Thường kiến là chấp có, Đoạn kiến là chấp không. Trong Thường kiến lại chấp nhất, chấp dị thành ra có 4 câu: 1. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính là 1 (nhất): Ngoại đạo chấp 5 uẩn là có thật (Hữu pháp); 5 uẩn đều có tự tính (Hữu đẳng tính); thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn là 1, nên gọi là Nhất. 2. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính khác nhau: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn khác nhau, nên gọi là Dị. 3. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính cũng 1 cũng khác: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn cũng 1 cũng khác, nên gọi là Diệc nhất diệc dị. 4. Chấp thể của Hữu pháp và Hữu đẳng tính chẳng phải 1 chẳng phải khác: Ngoại đạo chấp thể của 5 uẩn và của tự tính 5 uẩn chẳng phải 1 chẳng phải khác, nên gọi là Phi nhất phi dị. [X. luận Thành duy thức Q.1].

nhất gia

(一家) Một nhà. Chỉ cho 1 tông, 1 phái, hoặc 1 môn. Duy ma kinh nghĩa sớ quyển thượng (Đại 56, 20 hạ) nói: Chữ Như thị có rất nhiều nghĩa, nhưng nay chỉ y cứ vào sự giải thích của Một nhà (nhất gia) mà thôi.

nhất gia yến

Sư trụ trì mới về trú xứ mời các đồng viện tham dự buổi tiệc đãi trong tịnh xá—A monastery family party, when a monk, on becoming head of a monastery, invites his colleagues to a feast. ; (一家宴) Cũng gọi Nhất gia diên. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ cho bữa tiệc chỉ tổ chức trong phạm vi gia đình, chứ không mời người khác. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được dùng để chỉ cho buổi tiệc tấn phong Trụ trì, chỉ có những thành viên của bản tự tham dự chứ không mời các chùa viện khác. Về sau, không chỉ giới hạn trong nghi thức tấn phong Trụ trì, mà bất cứ vào dịp nào, hễ tổ chức tiệc tùng mà không mời các chùa khác tham dự, thì cũng gọi là Nhất gia yến. Pháp diễn thiền sư ngữ lục (Đại 47, 650 hạ) nói: Kết hạ không có khả năng cúng dường đại chúng, làm bữa tiệc trong chùa (nhất gia yến) rồi đưa tay lên nói với mọi người: Mời gọi phiền phức, tiếp đón phiền phức, tiễn đưa phiền phức, xin đừng trách tôi không chu đáo, kính mong quí vị hiểu cho!.

nhất gian

(一間) Phạm: Eka-vicika. Hán âm: Ế ca tị chí ca. Dịch cũ: Nhất chủng tử. Cũng gọi Nhất gián thánh giả. Chỉ cho bậc Thánh Bất hoàn hướng, 1 trong 18 bậc Thánh Hữu học. Trong 9 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, các bậc Thánh này đã dứt được 7 hoặc 8 phẩm, vẫn còn 1 hay 2 phẩm chưa dứt, còn phải 1 lần thụ sinh ở cõi Dục để tu quả vị Bất hoàn. Vì phải thụ sinh 1 lần nữa mới được vào Niết bàn nên gọi là Nhất gián. Luận Câu xá quyển 24 (Đại 29, 124 thượng) nói: Bậc Thánh đã dứt được 7 hay 8 phẩm Tu hoặc, còn thụ sinh 1 đời nữa gọi là Nhất gián.

nhất giác tiên nhân

See Độc Giác Tiên Nhân. ; (一角仙人) Cũng gọi Độc giác tiên nhân. Người tiên một sừng, tên 1 vị tiên trong thần thoại Ấn độ cổ đại, cũng là tiền thân đức Phật trong các truyện Bản sinh. Tương truyền, vào thời quá khứ xa xưa, trong 1 quả núi ở nước Ba la nại có 1 vị tiên, trong khi đang ngồi trên 1 tảng đá, bỗng động lòng dâm dục và tinh khí chảy ra. Lúc đó, có 1 con nai cái đến liếm ăn nên thụ thai, về sau sinh ra 1 con nai con hình dáng giống như người, trên đầu có 1 cái sừng, chân tựa như chân nai, vì thế gọi là Nhất giác tiên nhân. Lớn lên, người tiên này được cha dạy cho học, thông suốt 18 thứ Đại kinh; lại học tọa thiền, thực hành 4 tâm Vô lượng, chứng được 5 thần thông. Một hôm, trên đường lên núi, gặp mưa lớn, đường trơn, tiên nhân trượt ngã và bị thương ở chân. Tiên nhân nổi giận, dùng chú thuật không cho mưa, khiến ngũ cốc khô cháy, nhân dân đói khổ. Vua nước Ba la nại bèn sai dâm nữ Phiến đà đem những thứ quí báu và thức ăn ngon đến dụ dỗ, tiên nhân thấy sắc đẹp, khởi dục tâm, liền mất thần thông. Nhất giác tiên nhân thủa ấy chính là tiền thân của đức Phật Thích ca, còn dâm nữ Phiến đà là tiền thân của bà Da du đà la. [X. luận Đại trí độ Q.17; Kinh luật dị tướng Q.39].

nhất giả nhất thiết giả

(一假一切假) Một giả tất cả giả. Trong 3 pháp quán Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập, thì Giả không những chỉ có nghĩa là Giả quán, mà còn biểu thị nghĩa tức Không quán, tức Trung quán, cho nên gọi là Nhất giả nhất thiết giả. (xt. Nhất Tâm Tam Quán).

nhất giải thoát

(一解脫) Một giải thoát. Ý nói người không còn bị ràng buộc, đã được tự do, tự tại. Tất cả chúng sinh đều có tính Phật, vốn là giải thoát, nhưng vì sinh tâm chấp trước, mê lầm điên đảo, nên bị bao thứ trói buộc. Nếu 1 niệm bỏ vọng về chân, hiểu rõ đạo lí trói buộc tức không trói buộc thì cùng 1 giải thoát với chư Phật, không có sai khác. [X. kinh Niết bàn Q.32 (bản Bắc); phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa].

nhất giới

(一界) I. Nhất Giới. Cũng gọi Nhất thế giới. Một thế giới, tức chỉ cho nơi chúng sinh cư trú. Kinh Lăng nghiêm quyển 1 (Đại 19, 108 trung) nói: Uy thần của Phật làm cho các thế giới hợp chung lại thành một thế giới. (xt. Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới). II. Nhất Giới. Chỉ cho 1 pháp giới nào đó trong 10 pháp giới.Diệu pháp liên hoa kinh huyền nghĩa quyển 2, thượng (Đại 33, 696 thượng) nói: Dùng trí Phật vô biên, chiếu soi cảnh Phật rộng lớn (...) Thân mình thân người hoàn toàn tịch lặng, vi diệu, tất cả chẳng phải quyền chẳng phải thực, nhưng có thể ứng với quyền của 9 giới, với thực của 1 giới mà Phật pháp vẫn không bị tổn giảm.

nhất hoa ngũ diệp

(一花五葉) Cũng gọi Nhất hoa khai ngũ diệp. Một hoa nở 5 cánh, chỉ cho 5 phái Thiền: Tào động, Lâm tế, Vân môn, Qui ngưỡng và Pháp nhãn hình thành sau thời Lục tổ Tuệ năng. Điều Bồ đề đạt ma trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 (Đại 51, 219 hạ): Ta vốn đến đất này, Truyền pháp cứu mê tình; Một hoa nở năm cánh, Kết quả tự nhiên thành.

Nhất hoá

一化; C: yī huà; J: ichike;|Chỉ một cuộc đời hoằng hoá của đức Phật, của các vị Tổ sư.

nhất hoá

(一化) I. Nhất Hóa. Chỉ cho sự giáo hóa trong suốt 1 đời hoặc sự giáo hóa trong 1 giai đoạn của đức Phật. Trong Quán kinh diệu tông sao có từ ngữ Nhất thời nhất hóa. II. Nhất Hóa. Đồng nghĩa: Nhất hóa ích. Lợi ích của sự giáo hóa. Pháp hoa văn cú quyển 7 (Đại 34, 285 trung) nói: Sau khi pháp hội viên mãn, tất cả đều được nhất hóa thấm nhuần.

nhất hoá ngũ vị chi giáo

(一化五味之教) Cũng gọi Ngũ thời chi giáo. Giáo pháp một hóa năm vị. Chỉ cho giáo phán 5 thời do tông Thiên thai thành lập. Tông Thiên thai đem chia giáo pháp mà đức Phật nói trong 1 đời (Nhất hóa) làm 5 thời: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã và Pháp hoa Niết bàn, rồi đem 5 thời ấy phối hợp với 5 vị (ngũ vị) của sữa được nói trong kinh Niết bàn quyển 8 (bản Bắc) là: Nhũ, lạc, sinh tô, thục tô và đề hồ, nên gọi là Nhất hóa ngũ vị chi giáo. Pháp hoa văn cú quyển 6, hạ (Đại 34, 86 hạ) nói: Bốn bậc Đại đệ tử (Xá lợi phất, Mục kiền liên, Tu bồ đề, Ma ha ca diếp) thâm thiết hiểu được ý Phật, lãnh hội thứ tự trước sau của giáo pháp 5 vị mà đức Phật tuyên thuyết trong 1 đời. (xt. Ngũ Vị).

nhất hoả lộng nê đoàn hán

(一火弄泥團漢) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Lũ trẻ con giỡn lửa vọc bùn, ý chỉ cho việc làm của kẻ tầm thường. Trong Thiền lâm, nhóm từ này thường được dùng để châm biếm người ngu ngơ vô trí. Tắc 36 trong Bích nham lục (Đại 48, 174 trung) chép: Tuyết đậu có lời bình rằng: Cảm tạ ông về lời đáp!(Lũ trẻ con giỡn lửa vọc bùn, trong 3 đứa có 1 đứa cầm đầu).

Nhất hàn

(一寒): vô cùng nghèo nàn, nghèo mạt, tương đương với xích bần (赤貧).

Nhất Hành

(一行, Ichigyō, 683-727): còn gọi là Nhất Hành A Xà Lê (一行阿闍梨), vị cao tăng Mật Giáo và nhà thiên văn lịch toán nổi tiếng của Trung Quốc, một trong 5 vị tổ của Mật Giáo, người vùng Cự Lộc (鉅鹿, thuộc Huyện Cự Lộc, Hà Bắc), họ Trương (張), xuất thân gia đình làm quan hiển hách, học thông kinh sử. Ban đầu ông theo Thiền Sư Châu Cảnh (州景) ở Kinh Châu (荆州) xuất gia, sau học Thiền với Thiền Sư Phổ Tịch (普寂) ở Tung Sơn (嵩山). Bên cạnh đó ông cũng thường theo hầu hạ các cao tăng Ấn Độ như Thiện Vô Úy (善無畏), Kim Cang Trí (金剛智); đã cùng với Thiện Vô Úy dịch Đại Nhật Kinh (大日經), thánh điển quan trọng của Mật Giáo và thọ phép quán đảnh với Kim Cang Trí. Ngoài ra, ông còn tinh thông cả Thiền, số học, lịch pháp, v.v. Vào năm thứ 9 (721) niên hiệu Khai Nguyên (開元), nhà vua sai ông đính chính lịch pháp truyền thống rồi cho lưu hành khắp thiên hạ. Bộ Đại Nhật Kinh Sớ (大日經疏) gồm 20 quyển do ông biên tập là tư liệu rất quan trọng đối với Mật Giáo. Đến năm thứ 15 niên hiệu Khai Nguyên, ông thị tịch, hưởng thọ 45 tuổi, được ban cho thụy hiệu là Đại Huệ Thiền Sư (大慧禪師). Trước tác của ông có Tú Diệu Nghi Quỹ (宿曜儀軌), Phạm Thiên Hỏa La Nghi Quỹ (梵天火羅儀軌), Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp (七曜精神別行法), Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Tiêu Tai Trừ Nạn Niệm Tụng Nghi Quỹ (藥師瑠璃光如來消災除難念誦儀軌), v.v. Ngoài ra ông đã cùng với đệ tử Huệ Giác (慧覺) soạn ra Hoa Nghiêm Kinh Hải Ấn Đạo Tràng Sám Nghi (華嚴經海印道塲懺儀) 42 quyển.

nhất hành

1) One act (of body, mouth or mind). 2) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, Nhất Hành (683-727), đệ tử của Thiện Vô Úy, tinh thông về Tam Luận, Thiền, Thiên Thai và lịch số, từng giúp Thiện Vô Úy dịch kinh Đại Nhật. Nhờ nghe thầy giảng, Nhất Hành đã trước tác một bản sớ về Kinh Đại Nhật, gọi là Đại Nhật Kinh Sớ. Vì là một học giả uyên thâm về Thiên Thai giáo, nên bản sớ giải của ông được xem như chứa đựng rất nhiều giáo nghĩa Thiên Thai. Bản cảo lưu truyền chưa được tu chính, sau cùng được Trí Nghiễm, đệ tử của Thiện Vô Úy và Ôn Cổ, đệ tử của Kim Cang Trí, hiệu đính và đặt tựa lại là Đại Nhật Kinh Thích Nghĩa. Đông Mật vẫn y theo bản kinh cũ chưa được tu chính, trong lúc Thai Mật lại dùng bản được hiệu đính nầy. Nhất Hành theo học với cả hai Pháp sư Ấn Độ là Thiện Vô Úy và Kim Cang Trí và được cả hai truyền cho các nghi quỹ về Kim Cang Giới (Vajradhatu) và Thai Tạng Giới (Garbhadhatu), nhưng có người cho rằng ông coi Kim Cang Giới quan trọng hơn—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, I-Hsing (683-727), a pupil of Subhakarasimha, who was well versed in the San-Lun, the Zen, the T'ien-T'ai, and the calendar, assisted Subhakarasimha in his translation of the 'Great Sun' text. On hearing the lecture from his teacher, I-Hsing compiled a commentary on the 'Sun' text called Ta-Jih-Ching-Su. Since he was a savant of the T'ien-T'ai doctrine, his commentary is said to contain some of the T'ien-T'ai tenets. The commentary, as it was left in an unrevised manuscript, was afterward revised by Chih-Yen, a pupil of Subhakarasimha, and Wên-Ku, a pupil of Vajrabodhi, and was called by a new name Ta-Jih-Ching I-Shih. The Tomitsu follows the former revision whilt the Taimitsu adopts the latter. I-Hsing studied under the two Indian teachers Subhakarasimha and Vajrabodhi, and received the cults of both the Realm of Matrix Repository (Garbhadhatu) and the Realm of Diamond Elements (Vajradhatu), but he is said to have held the latter as the more important of the two. ; (一行) I. Nhất Hạnh. Chuyên chú vào 1 việc, đặc biệt chỉ cho việc tu hành niệm Phật. Quán kinh sớ quyển 1 của ngài Thiện đạo (Đại 37, 249 hạ) nói: Muốn thành Phật, cần phải tu đầy đủ muôn hạnh mới thành tựu, há chỉ nương vào một hạnh (nhất hạnh)niệm Phật mà mong thành Phật được ư?. II. Nhất Hạnh (683-727). Cũng gọi Nhất hạnh A xà lê. Vị cao tăng của Mật tông, cũng là nhà thiên văn lịch toán lỗi lạc của Trung quốc vào đời Đường, người Cự lộc, tỉnh Hà bắc, họ Trương, là 1 trong 5 vị Tổ của Mật tông. Sư xuất thân từ 1 gia đình quan lại nổi tiếng, học thông kinh sử. Lúc đầu, sư y vào Thiền sư Cảnh xuất gia ở Kinh châu, sau theo Thiền sư Phổ tịch ở Tung sơn học thiền, rồi lại theo ngài Chân toản ở Đương dương học luật. Sư rút ra những chỗ cốt yếu từ trong kinh, luật, luận tổng hợp thành bộ Nhiếp điều phục tạng 10 quyển. Sư từng theo học 2 vị cao tăng Ấn độ là các ngài Thiện vô úy và Kim cương trí. Sư cùng dịch kinh Đại nhật với ngài Thiện vô úy và được ngài Kim cương trí truyền bí pháp Quán đính.Ngoài ra, sư còn tinh thông về Thiền, Đạo, số học và lịch pháp. Năm Khai nguyên thứ 9 (721), vua ban sắc thỉnh sư sửa lại quyển Truyền thống lịch pháp và lưu hành khắp trong thiên hạ. Sư soạn lịch Đại diễn 52 quyển(bộ lịch pháp này từ năm 763 đến nay được Nhật bản và nhiều nơi sử dụng). Sau đó, sư cùng với ông Lương lệnh toản cùng soạn Hoàng đạo du nghi dùng để đo tính lại các vị trí của hơn 150 định tinh và tính ra chiều dài tương đương với vĩ độ của tuyến Tí, Ngọ. Năm Khai nguyên 15 (727), sư thị tịch, hưởng dương 45 tuổi, thụy hiệu Đại Tuệ Thiền Sư. Sư có các tác phẩm: Đại nhật kinh sớ 20 quyển, Tú diệu nghi quĩ, 1 quyển, Phạm thiên hỏa la nghi quĩ, 1 quyển, Thất diệu tinh thần biệt hành pháp, 1 quyển, Dược sư lưu li quang Như lai tiêu tai trừ nạn niệm tụng nghi quĩ, 1 quyển, Hoa nghiêm kinh hải ấn đạo tràng sám nghi, 42 quyển, Đại diễn lịch, 52 quyển. [X. Tống cao tăng truyện Q.5; Thích môn chính thống Q.3; Phật tổ lịch đại thông tải Q.26; Cựu đường thư phương kỉ truyện].

nhất hành nhất thiết hành

(一行一切行) Cũng gọi Viên hạnh. Trong một hạnh đầy đủ tất cả hạnh. Như Diệu hạnh do các tông Thiên thai và Hoa nghiêm lập ra đều thuộc Nhất hạnh nhất thiết hạnh. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1 (Đại 35, 108 hạ) nói: Một hạnh tức tất cả hạnh, lúc mới phát tâm liền thành chánh giác, đầy đủ thân trí tuệ, tự chứng ngộ chứ không do người khác. Đây chính là Viên dung tương nhiếp môn trong các hạnh vị của Bồ tát, nghĩa là trong 1 hạnh đã bao gồm các hạnh trước sau, đây là hạnh pháp giới viên cực, tự tại vô ngại, thủy chung đều như nhau. Cho nên viên mãn từng giai vị liền đến quả vị Phật. Đây cũng tức là hạnh viên dung vô ngại, chủ bạn đầy đủ. [X. Ma ha chỉ quán Q.1, thượng].

nhất hành tam muội

Trong cuộc sống hàng ngày, đi, đứng, ngồi, nằm, thường hành theo trực tâm, như Lục Tổ nói: “Đối với tất cả pháp đều chẳng có chấp trước”.

nhất hành thảo

(一莖草) Cũng gọi Nhất chi thảo. Một cọng cỏ, từ ngữ hình dung những vật nhỏ nhiệm. Một cọng cỏ, 1 ngôi chùa hay Kim thân 1 trượng 6 thước thường được nêu lên song song để biểu thị ý nghĩa tâm và Phật không 2, vật và ngã là 1. Tắc 4 trong Thung dung lục (Đại 48, 230 thượng) chép: Có lần, đang cùng đi với chúng đệ tử, đức Phật chỉ tay xuống đất dạy rằng: Nên dựng 1 ngôi chùa ở chỗ này. Đế thích lấy 1 cọng cỏ cắm trên đất nói: Dựng chùa đã xong! Đức Phật mỉm cười. Triệu châu Hòa thượng ngữ lục (Vạn tục 118, 155 thượng) nói: Việc ấy như viên minh châu ở trên bàn tay, Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán, lão tăng lấy 1 cọng cỏ làm thành Kim thân 1 trượng 6 thước, đem Kim thân 1 trượng 6 thước làm thành 1 cọng cỏ. Phật tức là phiền não, phiền não tức là Phật.

nhất hình

See Nhứt Hình và Nhất Kỳ. ; (一形) Cũng gọi Nhất sinh, Nhất kì, Nhất thế. Chỉ cho khoảng thời gian 1 thân người liên tục tồn tại. An lạc tập quyển thượng (Đại 47, 10 hạ) nói: Một đời (nhất hình) của chúng sinh xưa nay như thế nào? Hoặc 100 năm, hoặc 10 năm, cho đến ngày nay không 1 việc ác nào mà không làm.

nhất hóa

Sự giáo hóa và ảnh hưởng của một vị Phật trong thời tại thế của vị Phật nầy—The teaching and influence of a Buddha during one Buddha-period.

nhất hóa ngũ vị giáo

See Nhứt Hóa Ngũ Vị Giáo.

nhất hư

(一虛) Một cái rỗng không, tức chỉ cho hư không. Chân thân Như lai vô hình vô tướng, hệt như hư không, tuy cùng là Nhất hư, nhưng muôn tượng hiện bày la liệt; tuy bao hàm muôn tượng, nhưng 1 tướng cũng chẳng lập. Phổ hiền hành nguyện phẩm sớ nói: Lặng lẽ giữa nơi muôn nghìn biến hóa, động dụng trong 1 cái rỗng không.

nhất hưu hoà thượng

(一休和尚) Cao tăng Nhật bản thuộc tông Lâm tế, tên Chu kiến, pháp danh Tông thuần, tự Nhất hưu, hiệu là Cuồng vân tử. Tương truyền, sư là con của dòng Thiên hoàng Hậu tiểu tùng ở Nhật bản, xuất gia năm lên 6 tuổi. Lúc đầu, sư ở chùa Kiến nhân học tập thơ văn, sau sư đến tham học ngài Hoa tẩu Tông đàm ở Kiên điền tại Cận giang (huyện Tư hạ) và được ấn khả. Sau đó, sư đi nhiều nơi, giao du với các tầng lớp nhân sĩ. Sư thích ngâm vịnh, lại giỏi hội họa và viết chữ rất đẹp. Sư ra sức vận động cải cách Thiền phong cô lập lúc bấy giờ hướng tới đại chúng hóa. Năm 81 tuổi, sư nối pháp đời 47 của chùa Đại đức, tận lực chấn hưng chùa này, đem trà đạo vào Thiền viện, hình thành 1 phong cách đặc biệt không giống với các Thiền viện khác. Năm Văn minh 13 (1481) sư thị tịch, thọ 88 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Phật quỉ quân, Nhất hưu pháp ngữ, Cuồng vân tập (tập thơ do người sau sưu tập).

Nhất Hưu Tông Thuần

一休宗純; J: ikkyū sōjun; 1394-1481;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai), hệ phái Ðại Ðức tự (j: daitokuji-ha). Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất của Thiền tông Nhật Bản. Với phong điệu của một »Cuồng Thánh«, Sư đả phá những phong cách tệ mạt trong những thiền viện lớn mà Sư cho rằng đang trên đường tàn lụi. Cách sống và giáo hoá của Sư vượt trên tất cả những tục lệ và vì vậy có rất nhiều tích nói về Sư, phần đúng, phần huyền hoặc.|Tương truyền Sư là con của một cung phi, bị Nhật hoàng hất hủi khi mang thai Sư. Lên năm tuổi, Sư được mẹ gửi vào một ngôi chùa gần nhà. Năm lên mười ba, Sư đến Kiến Nhân tự (kennin-ji) nhưng chỉ khoảng bốn năm sau đó, Sư rời chùa này vì không hài lòng với phong cách sinh hoạt quá phàm tục của những vị tăng tại đây. Sư đến tham học với Khiêm Ông (gen'ō) – một vị tăng độc cư tu tập – và cũng có chút sở đắc nơi đây nhưng không bao lâu, Khiêm Ông tịch và Sư lại phải lên đường cầu đạo.|Chỉ một năm sau, Sư tìm được vị chân sư của mình là Hoa Tẩu Tông Ðàm (華叟宗曇; kesō sōdon, 1352-1428), vị trụ trì của Ðại Ðức tự. Hoa Tẩu không ở tại chùa Ðại Ðức mà lại ngụ tại một am gần đó để tránh sự náo nhiệt, phong cách quá nhập thế của một Thiền viện thời đó. Sư lưu lại đây chín năm và và kiên nhẫn chịu đựng phương pháp tu tập rốt ráo của Hoa Tẩu. Nhân khi tham Công án thứ 15 của tập Vô môn quan – với tên Ðộng Sơn (Thủ Sơ) ba hèo (Ðộng Sơn tam đốn) – Sư có ngộ nhập. Không bao lâu sau, trong khi toạ thiền trên một chiếc thuyền, Sư nhân nghe một con quạ kêu to bỗng nhiên ngộ đạo. Sư bèn trình Hoa Tẩu và được vị này Ấn khả. Sư không nhận ấn chứng này và có thuyết bảo rằng, Sư xé bỏ bản ấn chứng này ngay sau khi nhận. Sư tự tin rằng, kinh nghiệm giác ngộ của ai chỉ có người ấy biết và không ai có thẩm quyền quyết định được cái thật hoặc giả của kinh nghiệm giác ngộ của Sư. Với những hành động này, Sư đảo ngược truyền thống ấn chứng của Thiền tông và chính Sư cũng không ấn chứng cho ai trong cả cuộc đời hoằng hoá của mình. Mặc dù vậy, Sư ở lại hầu cho đến lúc Hoa Tẩu viên tịch (1428).|Trong suốt một thời gian khoảng 30 năm, Sư không dừng chân nơi nào, chỉ chu du tuỳ duyên hoằng hoá nơi quần chúng. Sư tiếp xúc với mọi tầng cấp của xã hội Nhật thời bấy giờ như quan tước, võ sĩ, văn hào, nghệ sĩ… và cả kĩ nữ, và Sư đặc biệt đề cao tính tình chất phác của họ. Con đường hoằng hoá quần chúng của Sư đi xa, cũng có nhiều người cho rằng đi quá xa so với giáo lí của nhà Phật. Sư không để ý gì đến Giới luật, ăn thịt cá, mê rượu, gái. Một mặt Sư chê bai, than trách về tư cách đạo đức giả, gian trá của các vị tăng tại những Thiền viện lớn bấy giờ, mặt khác Sư lại rất chú tâm đến việc phổ biến Phật pháp trong quần chúng và các hành động »phá giới« của Sư nêu trên đều có thể xem là trùng hợp với việc thực hành Phật pháp của phần lớn của Phật tử nằm ngoài Tăng-già thời bấy giờ. Sư viết: »Thời xưa, mọi người có tín tâm đều vào cửa chùa, nhưng ngày nay tất cả đều rời chùa. Nếu nhìn kĩ thì người ta sẽ thấy rằng, các phường chủ không biết gì – không tham thiền, chẳng quán công án mà chỉ chú tâm đến vật chất, trang trí bồ đoàn. Họ rất tự hào về ca-sa của họ nhưng mặc dù họ mang ca-sa, họ cũng chỉ là phàm phu thay áo. Dù họ mang ca-sa, ca-sa cũng trở thành dây xích, gậy sắt trói buộc, hành hạ thân họ.«|Sư chỉ trích mạnh mẽ sự tôn thờ và ham muốn thác sinh nơi Cực lạc Tịnh độ của Phật tử. Sư dạy: »Nếu ai thanh lọc tâm địa và Kiến tính, người ấy chẳng còn muốn tái sinh cõi Phật, chẳng còn sợ địa ngục, chẳng còn phiền não phải đoạn, chẳng còn phân biệt thiện ác; người ấy đã đạt tự do tự tại trong sinh tử luân hồi, muốn tái sinh vào nơi nào cũng được – chỉ khi tâm người ấy mong cầu.« Vì thế mà Sư chế nhạo tất cả những phong tục có tính cách mê tín dị đoan như đốt đèn, cầu cúng, dâng lễ vật cho người chết và tụng kinh cầu siêu cầu an.|Sư tự gọi mình là »Cuồng Vân« (狂雲; kyōun) và rất nhiều câu chuyện thú vị về việc tuỳ cơ hoằng hoá và nhạo đời của Sư được lưu truyền. Một lần nọ, Sư khất thực tại một nhà giàu sang với quần áo rách rưới dơ bẩn và chỉ nhận được nửa xu. Sau đó, Sư thay y phục, mặc ca-sa tía đến khất thực và được mời ngay vào nhà dùng cơm cùng với gia đình. Sư liền cởi áo tía ra, đặt nó vào ngay chỗ ngồi ăn và bảo rằng: »Bữa ăn thịnh trọng ngày hôm nay không phải dành cho ta mà là áo ca-sa tía này.«|Tính tình chân chính, phong cách tự do, bất lệ thuộc của Sư chính là nguyên do vì sao Sư rất được quần chúng mộ đạo yêu thích. Sư là một trong những vị Thiền sư nổi danh nhất thời trung cổ của Nhật Bản. Năm 1456, Sư nhận lời trụ trì Diệu Tâm tự (myōshinji) và sống tại một am gần đó. Từ đây, Sư được các vị tăng dần dần chấp nhận, tôn kính, ngay cả những vị mà ngày xưa Sư chỉ trích thậm tệ. Vào những năm cuối đời, Sư được cử trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji). Không bao lâu sau – vào năm 1481 – Sư viên tịch, thọ 87 tuổi.

Nhất hướng

一向; C: yīxiàng; J: ikkō;|1. Nhiệt tình, chỉ nhắm tới một mục đích, không mong mỏi điều gì khác ngoài mục đích đang dự tính. Tha thiết, nhiệt thành; 2. Hoàn toàn, toàn vẹn, đầy đủ (s: eka-aṃsa); 3. Triệt để, cho đến mức có thể được; 4. Chỉ riêng về một hướng, chỉ có, chỉ là.

nhất hướng

Tâm định trên một hướng—One direction—Each direction—Undistracted—With a single mind—The mind is fixed on one direction. ; (一向) Phạm: Zama-eka-ayana-màrga. I. Nhất Hướng. Sự chuyên tâm nhất ý. Tức 1 lòng niệm Phật, tu hành, như Nhất hướng chuyên niệm, Nhất hướng chuyên tu. II. Nhất Hướng. Biểu thị ý nghĩa hoàn toàn, triệt để. Phật địa kinh luận quyển 1 (Đại 26, 292 hạ) nói: Thụ dụng các cõi Phật thanh tịnh như thế, hoàn toàn thanh tịnh vi diệu, triệt để an lạc, hoàn toàn vô tội, triệt để tự tại.

Nhất Hướng Chuyên Tu

(一向專修, ikkōsenshū): chuyên tu hướng về một. Trong cuốn Nhất Niệm Đa Niệm Chứng Văn (一念多念証文) của Thân Loan (親鸞, Shinran) có đoạn rằng: “cái gọi nhất tâm chuyên niệm có nghĩa nhất tâm là trú tâm Kim Cang, còn chuyên niệm là nhất hướng chuyên tu; nhất hướng không làm điều thiện nào khác, không niệm Phật nào khác, còn chuyên tu nghĩa là siêng năng tu hành không có hai tâm niệm danh hiệu bổn nguyện [A Di Đà Phật].”

nhất hướng kí

(一向記) Phạm: Ekàôza-vyàkaraịa. Cũng gọi Nhất định đáp, Định đáp, Quyết liễu đáp, Tất định luận, Nhất hướng luận, Quyết định kí luận. Nghĩa là trả lời những câu hỏi của người khác 1 cách khẳng định, quyết đoán, không trù trừ, do dự. Là 1 trong 4 loại kí đáp. Luận Câu xá quyển 19 (Đại 29, 103 trung) chép: Nếu có người hỏi rằng: Tất cả loài hữu tình (sinh vật) đều sẽ phải chết, đúng không? Thì phải trả lời dứt khoát rằng (Nhất hướng kí): Tất cả loài hữu tình đều sẽ phải chết. [X. kinh Tập chúng trong Trường a hàm Q.8; kinh Giải thâm mật Q.5; Phật địa kinh luận Q.6].

nhất hướng ký

Câu trả lời khẳng định—A confirmatory reply to a question.

nhất hướng nhất quỹ

(一向一揆) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nhất hướng chỉ cho Nhất hướng tông, tức là Tịnh độ chân tông, Nhật bản; Nhất quĩ nghĩa là đoàn kết 1 mối để chống xâm lăng.Vào khoảng những năm Khoan chính, Văn minh, Thiên chính (1460-1591) dưới thời Thất đinh ở Nhật bản, để bảo vệ sự an toàn của tông môn, chư tăng và môn đồ của Chân tông đã cất quân chống lại sự bạo ngược của các lãnh chúa, quần hùng, nên được người đời gọi là Nhất hướng nhất quĩ.

nhất hướng thanh tịnh, vô hữu nữ nhân

Phật độ duy chỉ một đường thanh tịnh, không có nữ nhân—The land of the Buddha everywhere is pure, no women are there.

Nhất hướng thuyết

一向說|Nghĩa là »Phật lúc nào cũng dạy một điều duy nhất«.

nhất hướng tiểu thừa tự

Tự viện Tiểu Thừa—A monastery wholly Hinayana.

Nhất Hướng Tông

(一向宗, Ikkō-shū): tên gọi khác của Tịnh Độ Chơn Tông, tông phái chỉ nhất hướng tin vào đức Phật A Di Đà mà thôi.

nhất hướng tông

Nhất Hướng Chân Tông—Tín đồ của tông phái nầy thực tập bằng cách niệm danh hiệu Phật A Di Đà để đạt được nhất tâm—The Pure Land Shin Sect of which followers practice by repeating the name of Amitabha Buddha to obtain unwavering concentration. ; (一向宗) Chỉ cho Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản. Vì tông này chủ trương lấy việc chuyên tâm (nhất hướng) niệm Phật, qui mệnh đức Phật A di đà làm tông chỉ, cho nên gọi là Nhất hướng tông. [X. Tam quốc Phật tổ truyện tập].

nhất hướng vị tha ân

(一向爲他恩) Ơn một lòng vì người khác. Tức ân đức của Như lai đối với tất cả chúng sinh. Đức Như lai trong vô lượng kiếp chuyên tâm (nhất hướng) tu tập các công đức, không hề nghĩ đến bản thân mà chỉ vì mục đích cứu độ tất cả chúng sinh (vị tha), nên gọi là Nhất hướng vị tha ân, là 1 trong 10 ân của Như lai. [X. Hoa nghiêm đại sớ sao Q.23; Đại minh tam tạng pháp số Q.36]. (xt. Thập Ân).

Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh

一向出生菩薩經; C: yīxiàng chūshēng púsà jīng; J: ikkō shusshō bosatsu kyō;|Tên gọi khác của bản Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).

nhất hướng xuất sinh bồ tát kinh

(一向出生菩薩經) Phạm: Anantamukhasàdhaka dhàraịì. Kinh, 1 quyển, do ngài Xà na quật đa dịch vào đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 19. Nội dung kinh này tường thuật việc đức Phật tuyên thuyết Đà la ni Nhập vô biên môn cho tôn giả Xá lợi phất. Bản dịch khác của kinh này là kinh A nan đà mục khư ni ha li đà, do ngài Cầu na bạt đà la dịch vào đời Lưu Tống. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.12; Đại đường nội điển lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.7].

nhất hướng đại thừa tự

Tự viện Đại Thừa—A monastery wholly Mahayana. ; (一向大乘寺) Gọi chung các ngôi chùa chuyên tu tập pháp Đại thừa. Luận Hiển giới quyển thượng dẫn Đại đường tây vực kí, nói rằng thời gian ngài Huyền trang đến Ấn độ và Tây vực cầu pháp, thỉnh kinh thì có 15 nước, trong đó, ngài có ghi rõ số các chùa và tăng đồ chuyên tu học Đại thừa.

nhất hạ

An cư kiết hạ từ ngày 16 tháng tư đến 15 tháng bảy—The summer retreat from the 16th of the 4th month to the 15th of the 7th month.

nhất hạ cửu tuần

(一夏九旬) Gọi tắt: Nhất hạ. Một hạ gồm có 9 tuần (1 tuần 10 ngày), 9 tuần là 90 ngày, tức tính từ 16 tháng 4 đến 15 tháng 7 âm lịch mỗi năm. Đây là thời gian kết hạ an cư của tăng đoàn Phật giáo.Cảnh đức truyền đăng lục quyển 17 (Đại 51, 337 thượng) nói: Tào sơn 1 đời hành cước, đến đâu cũng quan tâm đến 1 hạ 9 tuần. [X. môn Thời tiết trong Thiền lâm tượng khí tiên]. (xt. An Cư).

nhất hạng

First class.

Nhất Hạnh

一行; 683-727; cũng được gọi là Nhất Hạnh Thiền sư.|Cao tăng đời Ðường, được xem là trong tám vị Tổ chủ trương Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của tông Chân Ngôn.|Sau khi cha mẹ mất một cách đột ngột, sư đầu tiên làm quen với Ðạo giáo. Sau đó, sư đến vị Tổ thứ bảy của Bắc tông thiền là Phổ Tịch (普寂; 631-739) tu học Thiền, rồi đến học Luật nơi Huệ Chân (惠眞; 673-751), một đệ tử của Hoằng Cảnh (弘景). Thêm vào đó, trong khoảng thời gian lưu lại ở dãy Thiên Thai, sư nghiên cứu Toán học, Thiên văn học cũng như cách bói toán theo Ðạo gia, một biệt tài trứ danh của sư sau này. Năm 716, sư trở thành môn đệ của Thiện Vô Uý (善無畏), sau đó được mời vào cung của Huyền Tống. Sư cũng được Kim Cương Trí (金剛智) hướng dẫn vào những kĩ thuật tu học của Mật giáo sau cuộc hội ngộ lần thứ nhất vào năm 720. Tác phẩm lớn nhất của sư, một bài sớ vĩ đại về kinh Ðại Nhật với tên Ðại Nhật kinh sớ được hoàn tất vào năm 725. Sư cũng được xem là người phát minh ra đồng hồ chạy bằng dây thép xoắn.

nhất hạnh cư tập

(一行居集) Tác phẩm, 8 quyển, do cư sĩ Bành thiệu thăng soạn vào đời Thanh. Văn từ trong sách rất thanh nhã, không liên quan đến ngữ lục cổ hủ, mỗi chữ đều từ trong biển tính tuôn ra, làm sáng tỏ tinh nghĩa của Tịnh độ. Trong sách có phụ thêm Nho môn công án niêm đề, 1 quyển.

nhất hạnh tam muội

(一行三昧) Phạm: Ekavyùha-sanàdhi. Cũng gọi Nhất tam muội, Chân như tam muội, Nhất tướng tam muội, Nhất tướng trang nghiêm tam ma địa. Chính định do tâm chuyên chú vào 1 hạnh mà tu tập, có 2 loại Lí và Sự. 1. Về Lí: Nhất hạnh tam muội là tam muội định tâm quán xét pháp giới 1 tướng bình đẳng. Vào Tam muội này thì biết rõ Pháp thân của hết thảy chư Phật và thân của chúng sinh là bình đẳng không hai, không có tướng sai khác. Cho nên trong tất cả mọi cử chỉ như: Đi, đứng, ngồi, nằm đều thuần nhất 1 trực tâm, không động đạo tràng, liền thành Tịnh độ. Luận Đại trí độ quyển 47 (Đại 25, 401 trung) nói: Hành giả vào được Nhất trang nghiêm tam muội thì quán xét các pháp đều là 1, hoặc quán vì tất cả pháp có tướng nên là 1, hoặc quán vì tất cả pháp không tướng nên là 1, hoặc quán vì tất cả pháp đều không nên là 1, cứ như thế vô lượng đều là 1 (...) Tam muội này thường chỉ có 1 hạnh. Trong Tam muội tương ứng với rốt ráo khôngnày không có 1 thứ hạnh nào khác. 2. Về Sự: Nhất hạnh tam muội là Niệm Phật tam muội do nhất tâm niệm Phật. Kinh Văn thù sư lợi sở thuyết Ma ha bát nhã ba la mật quyển hạ (Đại 8, 731 trung) nói: Này các thiện nam tử, thiện nữ nhân! Muốn vào được Nhất hạnh tam muội, thì phải ở những nơi vắng vẻ, buông bỏ vọng tưởng, không chấp tướng mạo, buộc tâm vào 1 đức Phật, niệm danh hiệu của Ngài. Đức Phật mà mình đã chọn ở phương nào thì ngồi ngay thẳng xoay mặt về hướng ấy, 1 lòng chuyên niệm, liên tục không gián đoạn, thì ngay trong niệm ấy thấy được chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. [X. kinh Đại bảo tích Q.47; kinh Đại phẩm bát nhã Q.5; luận Đại trí độ Q.43; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.hạ].

Nhất hạnh tam-muội

一行三昧; C: yīxíng sānmèi; J: ichigyō zanmai; S: ekavyūha-samādhi.|Chuyên một công phu tu tập chính định. Chính định viên mãn hợp nhất thân tâm trong mọi công hạnh (theo Văn-thù Sư-lợi thuyết Ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh 文殊師利説摩訶般若波羅蜜經, Khởi tín luận 起信論).

nhất hạt

(一喝) Một tiếng hét. Trong Thiền tông, thầy thường dùng tiếng hét để làm cho người học khai ngộ. Tiếng hét này có đại cơ, đại dụng chứ không phải như tiếng hét bình thường. Lâm tế lục (Đại 47, 504 thượng) chép: Sư hỏi vị tăng: Có lúc tiếng hét như gươm báu Kim cương vương, có lúc tiếng hét như con sư tử lông vàng ngồi xổm trên đất, có lúc tiếng hét như cần câu khùa dưới bóng cỏ, có lúc tiếng hét không có tác dụng của 1 tiếng hét. Ông hiểu thế nào? Vị tăng suy nghĩ, sư liền hét.

nhất hạt vạn cơ bãi tam triều lưỡng nhĩ lung

(一喝萬機罷三朝兩耳聾) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một tiếng hét muôn cơ dứt, 3 ngày điếc cả 2 tai. Nghĩa là khi thầy hét 1 tiếng thì tất cả ý thức phân biệt của người học đều dừng nghỉ, trong 3 ngày, 2 tai không còn nghe được âm thanh gì nữa. Đây là cuộc thể nghiệm đại ngộ của Thiền sư Bách trượng Hoài hải khi tham vấn ngài Mã tổ Đạo nhất. Chương Bách trượng Hoài hải trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 6 (Đại 48, 249 hạ) nói: Lão tăng trước đây bị 1 tiếng hét của Mã đại sư, làm cho tai điếc mắt mờ suốt 3 ngày.

nhất hằng hà sa

See Nhứt Hằng Hà Sa. ; (一恒河沙) Gọi tắt: Nhất hằng. Chỉ cho số cát trong 1 sông Hằng. Lưu vực sông Hằng (Phạm: Gaígà) bên Ấn độ là nơi đức Phật giáng sinh và du hành hóa đạo, do đó mà nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. Hai bờ sông có bãi cát dài. Khi thuyết pháp, đức Phật thường dùng số cát sông Hằng để ví dụ số lượng nhiều không thể tính đếm được. [X. luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Hằng Hà Sa).

nhất họa tam lễ

Mỗi nét vẽ hình tượng chư Phật đều phải lễ lạy Tam Bảo—In drawing an image of Buddha, at each drawing thrice to pay homage to the Triratna.

Nhất hồi chu

一回周; C: yīhuízhōu; J: ikkaishū;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi kị (一回忌).

nhất hồi cử trước nhất hồi tân

(一回舉著一回新) Cũng gọi Nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân.Tiếng dùng trong Thiền lâm. Mỗi lần nêu lên là mỗi lần mới. Nghĩa là cùng 1 câu nói, mà mỗi lần nêu ra lại có sự thể ngộ khác, không giống như trước. Tắc 30 trong Bích nham lục (Đại 48, 169 hạ) chép: Trấn châu sản xuất loại củ cải khá lớn (Mọi người đều biết, rất kị nói đến! Mỗi lần nêu ra là mỗi lần mới). Nạp tăng trong thiên hạ đều dùng nó.

Nhất hồi kị

一回忌; C: yīhuíjì; J: ikkaiki;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi chu (一回周).

nhất hồi kị

(一回忌) Cũng gọi Nhất chu kị, Chính kị nhật, Nhất chu quan, Tiểu tường kị. Ngày giỗ đầu. Vào ngày này, các tín chủ thường thỉnh chư tăng cử hành lễ truy tiến và làm các việc thiện để cầu cho người quá cố được siêu thoát như: tạo tượng Phật, xây chùa tháp, bố thí tài, pháp, tụng kinh, trì chú, trai tăng v.v... (xt. Niên Kị).

nhất hồi ẩm thuỷ nhất hồi trước ế

(一回飲水一回著噎) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một lần uống nước, một lần bị nghẹn. Trong Thiền lâm, cụm từ này được chuyển dụng để chỉ cho sự biến hóa của các pháp là điều mà không ai có thể tiên liệu được. Tắc 2 trong Thung dung lục (Đại 48, 228 hạ) nói: Rỗng rang không thánh, một lần uống nước, một lần bị nghẹn.

nhất hội

(一會) I. Nhất Hội. Thông thường chỉ cho 1 cuộc hội họp có hình thức tông giáo. II. Nhất Hội. Một lần giảng kinh. Thời đức Phật còn tại thế, khi giảng 1 bộ kinh, Ngài thường chia làm nhiều lần, mỗi lần là 1 hội. Như kinh Đại bát nhã được giảng ở 4 chỗ gồm 16 hội. III. Nhất Hội. Một hồi chuông trống. Trong các chùa viện Thiền tông, khi đánh chuông trống, phải theo đúng pháp tắc đã được qui định, hễ đánh 1 lần, gọi là Nhất hội; đánh 2 lần, gọi là Nhị hội...

nhất hội nhất thiết hội

(一會一切會) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hiểu một hiểu tất cả. Hội nghĩa là hiểu được, lí giải được. Ý nói hễ triệt để hiểu được 1 việc thì tất cả các lí sự khác đều tự nhiên lãnh hội 1 cách thấu suốt, rõ ràng. Tắc 60 trong Bích nham lục (Đại 48, 192 trung) chép: Nói vậy thì lí và trí thầm hợp, cảnh và thức hội nhau. Vì sao? Vì hiểu 1 thì hiểu tất cả; rõ 1 thì rõ tất cả.

nhất hợp tướng

Thế giới do nhiều vi trần hợp thành, gọi là nhất hợp tướng. Thân người do nhiều tế bào hợp thành cũng gọi là nhất hợp tướng. Tất cả vật chất đều do nhiều nguyên tử hợp thành cũng như vậy. ; (一合相) Phạm: Piịđa-gràha. Một hợp tướng. Chỉ cho 1 sự vật do nhiều nhân duyên kết hợp mà thành. Nói theo quan điểm của Phật giáo thì tất cả mọi hiện tượng trong thế gian đều là 1 hợp tướng. Kinh Kim cương bát nhã ba la mật (Đại 8, 752 trung) nói: Nếu thế giới là có thực, thì đó là Nhất hợp tướng; Như lai nói Nhất hợp tướng chẳng phải Nhất hợp tướng, đó gọi là Nhất hợp tướng.

nhất hữu đa chủng

(一有多種) Đối lại: Nhị vô lưỡng ban. Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất biểu thị nguyên lí tuyệt đối, nhất vị bình đẳng. Đa chỉ cho các tướng sai biệt, nhiều chủng loại. Nghĩa hoàn chỉnh của Nhất hữu đa chủng là Bình đẳng tức sai biệt. Tức là đứng từ góc độ bình đẳng mà nhìn, thì trời đất muôn vật là một; nhưng nếu từ phương diện sai biệt mà quan sát thì vũ trụ vạn hữu lại có thiên hình vạn trạng khác nhau. Tắc 2 trong Bích nham lục (Đại 48, 142 thượng) nói: Một có nhiều loại, hai lại chẳng hai (Nhất hữu đa chủng, nhị vô lưỡng ban).

nhất khanh mai khước

(一坑埋却) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Chôn hết trong một hố. Trong Thiền tông, từ ngữ này được chuyển dụng để chỉ cho việc chôn vùi tất cả ngôn ngữ, suy tư, luận đoán, dứt hết thị phi không để chúng làm hoặc loạn. Tắc 33 trong Bích nham lục (Đại 48, 172 hạ) ghi: Ngài Tuyết đậu lại nói: Nạp tăng trong thiên hạ, không ai nhảy ra được (Toàn thân ở trong, một hố chôn hết, liệu Xà lê có nhảy ra được không?).

nhất khiếp tứ xà

(一篋四蛇) Một cái hòm nhỏ (cái rương nhỏ) đựng 4 con rắn, ví dụ thân người là do 4 đại: Đất, nước, lửa, gió hòa hợp mà thành. Luận Đại trí độ quyển 22 (Đại 25, 228 thượng) nói: Bốn đại trong thân bức hại lẫn nhau, như người mang cái hòm đựng rắn độc, lẽ nào kẻ trí lại cho là an ổn? [X. kinh Tạp a hàm Q.43; kinh Đạt ma đa la thiền Q.thượng].

nhất khiếu

(一竅) Chỉ cho bộ phận trọng yếu của sự vật. Khiếu nghĩa là hang, lỗ; chuyển chỉ cho phần trung tâm của sự vật. Trong Tề vật luận của Trang tử, Nhất khiếu nghĩa là cửa ngõ trọng yếu nhất (quan khiếu chí yếu); nghĩa là 1 cửa thông suốt thì trăm cửa đều thông suốt. Tắc 36 trong Bích nham lục (Đại 48, 174 hạ) chép: Không thấy tất cả sắc mới chỉ là đề xuất một nửa; phải lấy tất cả sơn hà đại địa không một mảy may lầm lỗi mới là toàn đề, rồi cứ thế tiến lên chỗ trọng yếu (Nhất khiếu) mới lãnh hội được yếu chỉ tọa thiền.

Nhất khoả minh châu

一顆明珠; C: yīkē míngzhū; J: ikkamyōju;|Viên ngọc báu sáng ngời. Một tiểu luận của Đạo Nguyên Hi Huyền, lập trên cơ sở lời trần thuật của sư Huyền Sa Sư Bị: »Mười phương thế giới đều là hạt minh châu.« Luận giải nầy là một chương trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏; j: shōbōgenzō).

nhất khoả minh châu

(一顆明珠) I. Nhất Khỏa Minh Châu. Một viên minh châu. Minh châu được dùng để ví dụ cho chân như, Phật tính, chính pháp, vì chân như, Phật tính, chính pháp có năng lực hiển bày tướng chân thực của thế giới này. Tướng chân thực ấy tròn đầy không khiếm khuyết, không có trong ngoài, giống như minh châu trong ngoài đều lóng lánh, không có sắc, không có tâm, bình đẳng không hai. Chương Huyền sa sư bị trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 18 (Đại 51, 346 hạ) chép: Vị tăng hỏi: Theo như lời Hòa thượng nói, khắp 10 phương thế giới là 1 viên minh châu, đệ tử làm sao hiểu được? Ngài Huyền sa trả lời: Khắp 10 phương thế giới là 1 viên minh châu, hiểu để làm gì? II. Nhất Khỏa Minh Châu. Gọi đủ: Chính pháp nhãn tạng nhất khỏa minh châu. Tên 1 chương sách trong bộ Chính pháp nhãn tạng quyển 4, được thu vào Đại chính tạng tập 82. [X. Chính pháp nhãn tạng Q.4].

nhất khoản tiện chiêu tự lĩnh xuất đầu

(一款便招自領出頭) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất khoản là một tờ cáo trạng; Tự lãnh xuất đầu vốn là ngôn ngữ được sử dụng trong tòa án, nghĩa là tự ra trước tòa để nhận tội trạng. Ở đây có nghĩa là tự mình nhận lấy khuyết điểm. Tắc 18 trong Thung dung lục (Đại 48, 238 trung) ghi: Vị tăng hỏi: Đã có, thì tại sao lại chui vào cái đãy da này? (Nhất khoản tiện chiêu, tự lãnh xuất đầu).

nhất khách phiền lưỡng chủ

(一客煩兩主) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người khách cùng 1 lúc muốn được 2 người chủ tiếp đãi. Đứng về phương diện chủ nhà mà nói thì quả thật ông khách này quá phiền hà. Thiền tông mượn nhóm từ này để chỉ cho người khéo ứng dụng Thiền cơ một cách linh hoạt. Tắc 87 trong Thung dung lục (Đại 48, 283 trung) chép: Sau, đến chỗ ngài Minh chiêu nêu lại câu nói trước (Nhất khách phiền lưỡng chủ).

nhất khí

(一氣) Gốc của trời đất, âm dương, là chỗ y cứ của đạo, ví dụ cho tâm tự tính thanh tịnh. Khi nhiễm tịnh chưa khởi lên thì Phật và chúng sanh là bình đẳng bất nhị, hết thảy các pháp đều từ tâm tự tính thanh tịnh mà sinh ra, vì thế dùng Nhất khí để ví dụ cho Nhất tâm.

nhất không

Tất cả đều không—Non-material—All is empty—All is of the void. ; (一空) Vắng lặng tuyệt đối. Nhất biểu thị con số vượt ngoài sự đối đãi, là trạng thái duy nhất tuyệt đối. Không nghĩa là tính vốn vắng lặng, muôn pháp qui về Nhất không. Tam tạng pháp số quyển 4 nói: Nhất không nghĩa là hết thảy các pháp đều không có tự tính, hoặc sắc pháp, hoặc tâm pháp, hoặc chính báo, hoặc y báo, cho đến pháp nhân quả, thánh phàm, tuy có những hiện tượng khác nhau, nhưng tìm đến thể tính thì rốt cuộc đều là Không. [X. Ma ha chỉ quán Q.7, thượng].

nhất không nhất thiết không

(一空一切空) Một không thì tất cả đều không. Trong 3 pháp quán: Không, Giả, Trung do tông Thiên thai lập ra, thì trong Không chẳng phải chỉ có nghĩa là Không, mà cũng bao hàm cả 2 nghĩa Giả và Trung để biểu thị nghĩa Không chân thực, vì thế gọi là Nhất không nhất thiết không. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 55 trung) nói: Một không tất cả không, Giả và Trung cũng đều không, đó là Tổng không quán (...) Nếu tất cả pháp là một pháp thì tôi nói đó là Không, tùy theo trí mà đạt tất cả trí.

nhất khẩu thôn tận

(一口吞盡) Một hớp nuốt hết. Ý nói dung chứa tất cả sự vật, không sót. Tắc 11 trong Bích nham lục (Đại 48, 151 trung) chép: Ngài Hoàng bá dạy mọi người rằng: (Khuấy nước động chậu, một hớp nuốt hết, nạp tăng trong thiên hạ nhảy không ra). Tất cả các ngươi đều là hạng ăn bã rượu!.

nhất khắc thiên kim

Một khắc đáng giá ngàn vàng (thời gian quý báu như vàng)—Time is as precious as gold (time is as precious as gold).

nhất kinh kì nhĩ

(一經其耳) Một lần nghe qua tai. Đây là lời thuộc văn nguyện thứ 7 trong 12 thệ nguyện của đức Phật Dược sư. Nguyện ấy như sau (Đại 14, 450 thượng): Tôi nguyện đời sau, khi chứng được Bồ đề, nếu có chúng sinh nào bị bệnh bức bách, không thầy không thuốc, chẳng có người thân, nghèo cùng khốn khổ, được nghe danh hiệu của tôi, chỉ một lần qua tai, thì các bệnh hoạn đều được tiêu trừ, thân tâm yên vui, quyến thuộc sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được Vô thượng bồ đề.

nhất kiến

Cái nhìn hay cuộc gặp gỡ đầu tiên—At first sight or at the first meeting.

nhất kiếp

(一劫) I. Nhất Kiếp. Một thời kì dài lâu. Kiếp, gọi đủ là Kiếp ba, dịch âm Hán từ chữ Kalpa của tiếng Phạm. Theo luận Đại trí độ quyển 38, đơn vị thời gian ngắn nhất gọi là Niệm, đơn vị thời gian dài nhất gọi là Kiếp. Thích ca thị phổ (Đại 50, 84 hạ) nói: Kiếp ba, Hán dịch là Đại thời. Một đại thời có vô số năm, phải mượn thí dụ để diễn tả mới có thể biết được. [X. luận Đại tì bà sa Q.135; luận Đại trí độ Q.7]. (xt. Kiếp). II. Nhất Kiếp. Chỉ cho một lần tai ách. Đây là nói về sự hoại diệt của thế gian.

nhất kì

(一蟣) Phạm: Likwà. Kỷ là trứng rận, từ này được chuyển dụng làm đơn vị đo chiều dài, gấp 7 lần 1 mảy bụi nơi kẽ hở. Luận Câu xá quyển 12 (Đại 29, 62 trung) nói: Bảy ngưu mao trần(hạt bụi nhỏ bằng đầu cái lông bò) bằng 1 mảy bụi nơi kẽ hở, 7 mảy bụi nơi kẽ hở bằng 1 trứng rận, 7 trứng rận bằng 1 con rận. ; (一期) I. Nhất Kỳ. Qui định 1 thời hạn tu hành. Như người tu Tam muội thường hành thì thời hạn là 7 ngày đến 90 ngày. Các Thiền viện ở Trung quốc lấy ngày 15 tháng giêng đến ngày 15 tháng 7 âm lịch làm 1 kỳ hạn, rồi lại từ 15 tháng 7 đến 15 tháng giêng năm sau là 1 kỳ hạn. Đặc biệt vài ngày trước hoặc sau ngày 15 tháng 7 là kỳ hạn thay đổi các chức sự trong tùng lâm. Thời gian tại chức phải lấy 1 năm 2 kỳ làm hạn. Đạo tràng Luật tông mỗi năm truyền giới 2 lần. Truyền giới vào mùa xuân, gọi là Xuân kỳ; truyền giới vào mùa đông, gọi là Đông kỳ. II. Nhất Kỳ. Đồng nghĩa: Nhất sinh, Nhất thế, Nhất đại, Nhất hình. Một đời người. (xt. Nhất Hình).

nhất kì tung hoành

(一期縱橫) Tiếng dùng trong phán giáo của tông Thiên thai. Tông Thiên thai chia giáo pháp do đức Phật nói trong 1 đời làm 5 thời và 4 giáo. Nhất kỳ là chỉ cho thời gian đức Phật thuyết pháp độ sinh; Tung hoành là chỉ cho 5 thời 4 giáo. Năm thời là: Hoa nghiêm, A hàm, Phương đẳng, Bát nhã, Pháp hoa Niết bàn. Vì trong thời này, đức Phật nói pháp theo thứ tự từ cạn đến sâu, cho nên gọi là Tung. Còn 4 giáo là: Tạng, Thông, Biệt, Viên, tuy sâu cạn khác nhau, nhưng khi đức Phật thuyết pháp cũng có Kiêm, Đãn, Đối, Đới, là nhằm khế hợp với căn tính chúng sinh, chứ không phải theo thứ tự cạn sâu, cho nên gọi là Hoành.

nhất kế

(一髻) Tết một búi tóc trên đầu. Đây là tập tục của Bà la môn ở Ấn độ thời xưa.

nhất kế la sát

(一髻羅刹) Phạm: Ekajaỉà-rakwa. Gọi đủ: Nhất kế la sát vương bồ tát. Vị Bồ tát ngồi ở phía cực nam trong viện Tô tất địa trên Mạn đồ la Thai tạng giới Mật giáo. Mật hiệu là Điện lôi kim cương. Chủng tử là (Ca) hoặc (Ế). Vị Bồ tát này dùng trí bất nhị hiện tướng phẫn nộ, hàng phục các phiền não nên gọi là Nhất kế la sát. Nếu ai thụ trì chân ngôn của vị Bồ tát này thì phá dẹp được thiên ma, ác dạ xoa, la sát tư, quỉ thần độc ác, tất cả những tai họa như dịch bệnh, nước lửa, giặc cướp và mọi oán địch đều được tiêu trừ. Ngoài ra, theo Thai tạng giới thất tập quyển trung, thì hình tượng của vị Bồ tát này là thân màu xanh lục, ngồi trên hoa sen đỏ, hiện tướng phẫn nộ, có 4 tay, tay thứ 1 bên phải cầm kiếm, tay thứ 2 cầm búa lưỡi móc câu; tay thứ 1 bên trái cầm vòng Nhất Hưu dây, duỗi thẳng xuống, tay thứ 2 cầm chày 3 chĩa. [X. Bí tạng kí; Chư thuyết bất đồng kí Q.6; Lưỡng bộ mạn đồ la nghĩa kí Q.3].

nhất kế la sát nữ

(一髻羅刹女) Tên vị La sát giữ gìn che chở chúng sinh. Cứ theo kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển trung, vị La sát nữ này ở trên bờ biển, khi nghe mùi máu mủ, có thể đi 8 vạn du thiện na trong 1 đêm. Vị La sát này thường hộ vệ Bồ tát lúc còn ở trong thai, lúc vừa sinh ra hoặc đã sinh ra, lại dùng chân ngôn của Phật mẫu đại khổng tước minh vương để bảo vệ hành giả và các quyến thuộc.

nhất kế tôn đà la ni kinh

(一髻尊陀羅尼經) Gọi tắt: Nhất kế tôn kinh. Kinh, 1 quyển, do ngài Tam tạng Bất không dịch vào đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 20. Nội dung kinh này trước hết nói về 10 thứ lợi ích và 4 loại quả báo tốt của việc thụ trì đọc tụng chân ngôn, kế đến nói về 3 loại Đà la ni, pháp làm đàn Quán đính 7 ngày, pháp lập đàn, Hộ ma, Căn bản ấn và pháp kết giới. [X. Đại đường trinh nguyên tục khai nguyên thích giáo lục Q.thượng; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].

nhất kỳ

Một đời—A lifetime—The period of an individual existence.

Nhất lai

xem Bốn quả thánh. ; 一來; C: yīlái; J: ichirai; S: sakṛḍāgāmin; P: sakaḍāgāmin; phiên âm Hán Việt là là Tư-đà-hàm (斯陀含);|Chỉ các bậc thánh đã đạt được quả giai đoạn hai của Thánh đạo (s: ārya-mārga). Các vị đó đã đoạn diệt gần hết ba gốc Bất thiện (s: akuśala) là Ba độc tham, sân và si, chỉ còn sinh lại một lần nữa trước khi đạt Niết-bàn.|Thánh quả Nhất lai là một trong Tứ quả (p: cātvariphalani) trên con đường tu tập trở thành một bậc A-la-hán. Thánh quả này được chia làm hai thành phần: 1. Nhất lai hướng (一來向), nghĩa là người vừa bước nhập quả vị và 2. Nhất lai quả (一來果), người đã thành tựu quả vị này. Hành giả chứng đắc quả vị nầy là đã chuyển hoá toàn triệt sáu loại đầu tiên trong chín loại phiền não (Cửu chủng phiền não 九種煩惱); hành giả ấy sẽ tái sinh một lần nữa trong cõi trời hay cõi người, rồi sau đó chứng nhập Niết-bàn. Cũng được gọi là Đệ nhị quả.

nhất lai

Sakrdagamin (skt)—Chỉ còn tái sanh một lần—Only one more return to mortality.

nhất lai bồ tát

Bồ Tát chỉ còn tái sanh một lần nữa, người đã thực chứng Tứ Thánh Đế và đã diệt trừ đa phần nhiễm trược. Người nầy chỉ còn trở lại trần thế một lần nữa trước khi thực chứng A La Hán—One-Life Bodhisattva—Once-Returner—One-life Bodhisattva—Who is one lifetime away from Buddhahood—The best known example is the Bodhisattva Maitrya—An enlightened being in the second stage towards Arhatship, who has realized the Four Noble Truths and has eradicated a great portion of defilements. He will return to the human world for only one more rebirth before he reaches full realization of Arhatship.

Nhất lai hướng

一來向; C: yīláixiàng; J: ichiraikō;|Hành giả đang thể nhập vào quả vị Nhất lai.

nhất lai hướng

(一來向) Phạm: Zakfdàgàmi-pratipannaka. Cũng gọi Tư đà hàm hướng. Là 1 trong 4 hướng, 4 quả của Thanh văn.Quả Tư đà hàm cũng gọi là quả Nhất lai, là quả thứ 2 trong 4 quả Thanh văn, là bậc Thánh đã đạt được quả Dự lưu, đã dứt hết 6 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục, còn phải 1 lần thụ sinh vào cõi người nữa mới được chứng quả A la hán. Còn Nhất lai hướng thì chỉ cho giai vị tu nhân để hướng tới quả vị Tư đà hàm, tức là giai vị tu hành đoạn trừ 6 phẩm trước trong 9 phẩm Tu hoặc ở cõi Dục. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả, Tư Đà Hàm).

Nhất lai quả

一來果; C: yīláiguǒ; J: ichiraika; S: sakṛ-dāgāmi-phala.|Hành giả đã hoàn thành viên mãn quả vị Nhất lai. Nhất lai.

nhất liên

Bông sen của cõi Tịnh Độ—The Lotus-flower of the Pure Land of Amitabha.

nhất liên hoa

See Nhất Liên.

nhất liên thác sinh

(一蓮托生) Cùng gá sinh trong một hoa sen. Ýnói những người vãng sinh Tịnh độ được thác sinh trong hoa sen. Từ ngữ này đồng nghĩa với câu: Chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ (Các bậc thượng thiện đều họp ở một chỗ)trong kinh A di đà, hoặc câu: Các lưu bán tọa thừa hoa đài, đãi ngã Diêm phù đồng hành nhân (Mỗi người đều dành nửa tòa sen để đợi người đồng hành của mình từ cõi Diêm phù đề đến sau) trong Ngũ hội pháp sự tán.

nhất loạt

Uniformly.

nhất luận

(一論) Cũng gọi Vãng sinh luận. Chỉ cho luận Tịnh độ của bồ tát Thế thân. Vì sợ lẫn lộn với luận Tịnh độ của ngài Ca tài nên đặc biệt gọi là Nhất luận. Những kinh luận mà tông Tịnh độ y cứ vốn được gọi là Tam kinh nhất luận. Nhất luận tức là bộ luận này.

nhất lí

(一理) Các pháp đều cùng một nguyên lí. Lí của vũ trụ vô thủy vô chung, không thêm không bớt, đồng nhất bình đẳng, nên gọi là Nhất lí. Vả lại, lí tính dung nhiếp tất cả các pháp. Lí tuy là 1 nhưng xuyên suốt các pháp. Các pháp tuy thiên sai vạn biệt, nhưng đều bắt nguồn từ 1 lí. Sự lí dung thông, pháp pháp vô ngại; tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không ngoài một nguyên lí này.Pháp hoa văn cú kí quyển 6 trung (Đại 34, 263 thượng) nói: Từ một nguyên lí biến thông tất cả.

nhất lũ nhất xúc

(一縷一觸) Được một sợi chỉ của áo ca sa hoặc một lần chạm vào áo ca sa cũng được vô lượng công đức. Cứ theo Vãng sinh yếu tập chỉ huy sao quyển 9, có 1 con bò thường dùng sừng của nó chạm vào ca sa, nhờ đó mà đời sau được làm tăng và được nghe Phật pháp. [X. Pháp hoa văn cú kí Q.3].

nhất lưu

Trong cùng một dòng—Of the same class—Of the same flow. ; (一流) Một dòng phái. Từ khi các tông thành lập tông chỉ, thầy trò truyền trao cho nhau không dứt, giống như dòng sông luôn chảy không ngừng, nên gọi là Nhất lưu.

nhất lạc sách

(一絡索) I. Nhất Lạc Tác. Dây dợ quấn lại thành 1 cục, chỉ cho lời nói lằng nhằng, lộn xộn không rõ ràng. II. Nhất Lạc Tác. Một đoạn, 1 tiết văn chương, gọi là Nhất lạc tác. Từ ngữ này thường thấy trong các sách vở thuộc Thiền tông. Như tắc 44 trong Bích nham lục (Đại 48, 181 trung) chép: Ở mặt sau, ngài Tuyết đậu dẫn 1 đoạn văn (nhất lạc tác) dạy chúng của ngài Vân môn đã tụng ra công án này.

nhất lạp

(一臘) Lạp vốn nghĩa là sự cúng tế vào mùa đông, thông thường chỉ cho cuối năm. Trong Phật giáo, Lạp được chuyển dụng chỉ cho tuổi thụ giới của tăng ni. Từ sau khi thụ giới, cứ mỗi năm qua 1 lần hạ an cư, bắt đầu từ ngày 16 tháng 4 đến hết ngày 15 tháng 7 âm lịch, thì tăng ni được tính thêm 1 tuổi, gọi là Pháp tuế, cũng gọi là Pháp lạp. Thích thị yếu lãm quyển hạ (Đại 54, 298 hạ), nói: Hạ lạp là tuổi đạo của Thích tử. Muốn biết thứ tự lớn nhỏ thì hỏi hạ lạp, vị nào nhiều tuổi hạ là lớn. Ngoài ra, vị trưởng lão có tuổi hạ cao nhất gọi là Nhất lão.

nhất lệ ti

(一綟絲) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một cuộn tơ nhuộm màu. Lệ là cỏ lệ. Lấy cỏ lệ làm thuốc nhuộm; nhuộm tơ thành màu đen hoặc màu xanh lá mạ, gọi là Lệ ti. Thiền tông dùng từ ngữ này để ví dụ cho nguồn gốc mê vọng của chúng sinh, tức là vô minh phiền não.Tắc 19 trong Bích nham lục (Đại 48, 159 thượng) nói: Một hạt bụi bay lên, là đại địa thu trọn; 1 đóa hoa nở là thế giới bừng dậy. Nhưng khi bụi chưa bay lên, hoa chưa bừng nở thì mắt dính vào đâu? Cho nên nói: Như chém 1 cuộn tơ, chém 1 mối là chém hết; như nhuộm 1 cuộn tơ, nhuộm 1 lần là nhuộm tất cả.

nhất lộ

(一路) Một con đường duy nhất. Nghĩa là các đức Phật Như lai xa lìa sinh tử vào Đại niết bàn đều do con đường chính duy nhất là Đại định Thủ lăng nghiêm. Ngoài con đường này ra thì chẳng còn con đường nào khác để mà vào.[X. kinh Thủ lăng nghiêm Q.5].

nhất ma nhất mễ

(一麻一米) Một hạt vừng (mè) một hạt gạo. Lúc mới xuất gia cầu đạo, đức Thế tôn tu khổ hạnh ở trong rừng, mỗi ngày chỉ ăn 1 hạt vừng, 1 hạt gạo. Luận Đại trí độ quyển 34 (Đại 25, 311 thượng) nói: Đức Thích ca văn Phật ở trong rừng Ưu lâu tần loa, ăn một hạt vừng, một hạt gạo. Những thầy tu ngoại đạo nói: Bậc tiên sư của chúng tôi tuy tu khổ hạnh, nhưng cũng không thể siêng tu khổ hạnh 6 năm như thế.

nhất ma vạn tiễn

(一魔萬箭) Một ma vạn mũi tên. Nghĩa là tuy 1 việc ác cực nhỏ, nhưng cũng đáng sợ như 1 vạn mũi tên bắn vào mình. Qui nguyên trực chỉ tập quyển thượng (Vạn tục 108, 119 hạ) nói: Thấy 1 việc ma như 1 vạn mũi tên ghim vào vào tim; nghe 1 tiếng ma như nghìn mũi dùi xuyên vào tai.

nhất mai khởi thỉnh văn

(一枚起請文) Cũng gọi Nhất mai tiêu tức, Nhất mai thệ văn. Nguyện văn, 1 thiên, do ngài Nguyên không, Tổ của tông Tịnh độ Nhật bản soạn. Vào tháng giêng năm Kiến lịch thứ 2 (1212), trước khi thị tịch, ngài Nguyên không đã đáp lời thỉnh cầu của các môn nhân, soạn ra bài văn này để làm lời di huấn cho đệ tử. Nội dung nói về yếu nghĩa vãng sinh Tịnh độ. Về sau, bài văn này được các chùa thuộc tông Tịnh độ ở Nhật bản đọc tụng trong 2 khóa sớm tối.

nhất manh dẫn chúng manh

(一盲引衆盲) Một người mù dẫn lũ mù. Nghĩa là ông thầy tà kiến dắt dẫn người học vào con đường sai lầm. Hoặc ví dụ 1 người, 1 việc sai lầm sẽ ảnh hưởng đến người khác. Bài tụng Can đầu tiến bộ trong Vô môn quan (Đại 48, 298 hạ) nói: Mù mất mắt trên trán, Nhận định lầm phương hướng; Liều mình thường bỏ mạng, Một mù dẫn lũ mù.

nhất mao

(一毛) Một sợi lông. Kinh Lăng nghiêm quyển 4 cho rằng hiện cõi Bảo vương trên đầu 1 sợi lông(nhất mao), tức là hiện y báo trong chính báo. Đức Phật có năng lực thần thông chẳng thể nghĩ bàn, cho nên có thể hiện y báo trong chính báo, hiện chính báo trong y báo, y báo, chính báo dung thông, sự lí vô ngại, lớn nhỏ dung nhau, một nhiều bình đẳng, vì thế mà có thể hiện cõi nước Bảo vương trên đầu một sợi lông vậy.

nhất môn

(一門) Nhất là nhất lí, tức Sở thong (cái được làm thông suốt). Môn là chính giáo, tức Năng thong (cái làm cho thông suốt). Như đức Phật nói giáo pháp Nhất thừa thì có thể làm cho lí thực tướng được thông suốt vậy.

nhất môn phổ môn

(一門普門) Từ gọi chung Nhất môn và Phổ môn. Nhất môn chỉ cho pháp môn 1 trí 1 đức; còn Phổ môn là pháp môn bao gồm toàn đức toàn trí. Phổ môn theo Hiển giáo là pháp Thực tướng trung đạo viên thông; còn theo Mật giáo thì đức Đại nhật Như lai là Bản tôn của Phổ môn, vì Ngài có đầy đủ vô lượng vạn đức nên Ngài là Bản tôn của Phổ môn. Còn các đức Phật và Bồ tát khác như: Di đà, Dược sư, Bất động, Quan âm... thì vì mỗi Ngài chỉ đứng đầu về 1 đức nào đó trong vạn đức của Đại nhật Như lai, nên chỉ là Bản tôn của Nhất môn. Đại nhật kinh sớ (Đại 39, 582 thượng) nói: Nếu các hànhgiảân cần tu tập, làm cho 3 nghiệp của mình thanh tịnh đồng đẳng với Bản tôn, từ 1 môn này mà thể nhập được pháp giới, thì tức là vào tất cả môn của pháp giới. Nghĩa là hành giả Mật giáo qui y Bản tôn của Nhất môn, siêng năng tu tập mà được vào pháp giới; rồi qui y Bản tôn của Phổ môn là Pháp thân Đại nhật thì cũng được vào tất cả môn củapháp giới. Vì thế cho nên sau khi liễu ngộ chân lí Một tức tất cả và từ Tam ma địa Bất động minh vương mà quan sát vũ trụ thì tất cả vũ trụ đều là Tam muội của Bất động minh vương phẫn nộ; rồi lại từ Tam ma địa của bồ tát Quan âm mà quan sát thế giới thì tất cả thế giới đều là Tam muội của bồ tát Quan âm từ bi. [X. Đại nhật kinh sớ Q.3; Quan âm huyền nghĩa Q.hạ].

nhất mạch

(一麥) Một hạt lúa mạch. Đơn vị đo chiều dài của Ấn độ đời xưa, nhỏ nhất là bằng 1 hạt lúa mạch. Luận Câu xá luận quyển 12 (Đại 29, 62 trung) Nói: Bảy con rận là 1 hạt lúa mạch, 7 hạt lúa mạch là 1 đốt ngón tay, 3 đốt ngón tay là 1 ngón tay.

nhất mặc

(一默) Im lặng không nói. Chư Phật, Bồ tát hoặc nói hoặc im đều là hiển bày diệu lí. Kinh Duy ma quyển trung có thuật lại 1 cuộc luận đàm về pháp môn Bất nhị, kể rằng: Sau khi 32 vị Bồ tát mỗi vị đều đã tỏ bày ý kiến của mình về pháp môn Bất nhị, lúc ấy, bồ tát Văn thù sư lợi mới hỏi cư sĩ Duy ma: Thế nào là Bồ tát vào pháp môn Bất nhị?, cư sĩ Duy ma im lặng không nói. Bồ tát Văn thù khen rằng (Đại 14, 551 hạ): Hay thay! Hay thay! Cho đến không còn văn tự ngôn ngữ mới thực là vào pháp môn Bất nhị. Đây là dùng ngôn ngữ để dẹp ngôn ngữ mà hiển bày thực tướng. Vì thế trong nội giáo có câu: Duy ma nhất mặc nhất thanh lôi(sự im lặng của cư sĩ Duy ma là 1 tiếng sấm).

nhất nghiệp

A karma.

nhất nghiệp nhân

A karma cause (Causative of the next form of existence).

nhất nghiệp sở cảm

(一業所感) Cùng 1 nghiệp chiêu cảm quả báo. Nghĩa là nhiều người ở đời trước tạo cùng 1 nghiệp, nên đời này cùng chịu chung 1 quả báo. Cứ theo luận Câu xá quyển 17, chúng sinh trong 1 đời tạo nhiều nghiệp thiện ác, tà chính khác nhau, nhưng trong đó nghiệp nào chủ yếu nhất sẽ dẫn chúng sinh ấy sinh ra ở đời sau, còn các nghiệp khác thì nương tựa nhau đưa đến nhiều quả báo khác nhau ở đời sau như thọ yểu, giàu nghèo, sang hèn... [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.29, 30; Bồ tát anh lạc bản nghiệp kinh sớ Q.hạ].

nhất nghĩa vô lượng danh

(一義無量名) Một nghĩa vô lượng tên. Ý nói cùng 1 nghĩa nhưng có rất nhiều tên gọi khác nhau. Như 1 nghĩa Đế thích mà có các tên gọi: Kiêu thi ca, Bà ta bà, Phú lan đà la, Ma khư bà, Nhân đà la, Thiên nhãn, Xá chi phu, Kim cương, Bảo đính, Bảo chàng... Cũng như 1 nghĩa chân tục nhị đế mà có các tên gọi như: Thế đế, tục đế, hữu đế, phàm đế, chân đế, đệ nhất nghĩa đế, không đế, thánh đế...

nhất nguyên

(一源) Một nguồn, ví dụ như các pháp cùng bắt nguồn từ 1 nguyên lí, đặc biệt chỉ cho nguồn gốc Nhất thừa rốt ráo thành Phật. Kinh Đại tập quyển 8 (Đại 13, 50 thượng), nói: Các pháp không 2, không có phân biệt; 1 vị 1 thừa, 1 đạo 1 nguồn.

nhất nguyên luận

(一元論) Anh ngữ: Monism. Đối lại: Nhị nguyên luận, Đa nguyên luận.Kiến giải căn cứ vào 1 nguyên lí duy nhất để thuyết minh toàn thể vũ trụ. Luận thuyết này cho rằng căn bản của vũ trụ thế giới là 1 và muôn sự muôn vật trong vũ trụ đều bắt đầu từ cái 1 ấy, vì thế gọi là Nhất nguyên luận. Còn Nhị nguyên luận thì chủ trương thần linh và thế giới, tinh thần và vật chất, bản chất và hiện tượng... hoàn toàn đối lập nhau. Nhất nguyên luận, trái lại, cho rằng hết thảy vạn vật đều từ 1 nguyên lí căn bản sinh thành, cho nên không có sự đối lập giữa thần linh và thế giới, giữa tinh thần và vật chất... Tư tưởng giới Ấn độ dựa theo thuyết Nhất nguyên luận mà phát sinh ra nhiều luận phái khác nhau, như triết học Phệ đà chủ trương bản chất của vũ trụ là Phạm (Phạm: Brahman), bản chất chủ thể cá nhân là Ngã (Phạm: Àtman), 2 nguyên lí này cùng là 1 thể, tức Phạm-Ngã nhất như. Vũ trụ vạn hữu cuối cùng sẽ trở về Phạm và Ngã này. Muốn biểu hiện cái nội dung bản chất của luận thuyết Nhất nguyên này thực không phải việc dễ, vì thế mới nảy sinh ra các quan niệm về thực tại (Phạm: Sat, có), tinh thần (Phạm: Cit, biết), chí phúc (Phạm: Ànanda, vui mừng)... Tuy nhiên, loại Nhất nguyên luận bản chất tuyệt đối này lại khó giải thích được mọi sự phát sinh của hiện tượng giới, như những hiện tượng vật chất thuộc tự nhiên giới và những cái khổ, cái ác... thuộc tinh thần giới của con người. Muốn phân định sự đối lập giữa nguyên lí tinh thần (Phạm: Puruwa- Thần ngã) và nguyên lí vật chất (Phạm:Prakfti- Tự ngã) để giải quyết những vấn đề trên mà Nhị nguyên luận xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thời đại. Ngoài ra, còn có thuyết Nhất nguyên duy vật luận của phái Lục sư ngoại đạo. Các luận thuyết kể trên đều có chỗ mâu thuẫn của chúng. Để giải quyết những quan niệm thiên chấp sai lầm, Phật giáo bèn khẳng định thái độ cùng lập trường của mình và nhất khái phủ định tất cả nguyên lí cố định về tinh thần, vật chất, thần, ngã, hoặc thuyết Hình nhi thượng học (siêu hình học) v.v... Phật giáo Tiểu thừa phân loại những yếu tố (pháp) cấu tạo thành các loại hiện tượng giới, nên sản sinh ra thuyết 75 pháp chia làm 5 vị và 100 pháp chia làm 5 vị mà thành là 1 trong những học thuyết Đa nguyên luận. Phật giáo Đại thừa thì lại tông hợp các pháp mà gọi là chân như, pháp tính, thực tướng, Phật tính, Như lai tạng, duy tâm, nhất niệm v.v... mà thành là 1 Nhất nguyên luận. Còn về nguồn gốc của các hiện tượng giới thì Phật giáo Đại thừa cho là vô minh và A lại da thức. Về mối quan hệ giữa vô minh và chân như thì đã có nhiều tranh luận. Tóm lại, Phật chưa từng xem những khái niệm về Nhất nguyên, Nhị nguyên, Đa nguyên... là những nguyên lí thực thể cố định, mà nhìn chung là những cái đó không có tự tính. Đây là thái độ cơ bản của Phật giáo về vũ trụ quan.

nhất nguyện kiên lập

The one vow—See Tứ Thập Bát Nguyện.

nhất nguyện kiến lập

(一願建立) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Kiến lập 1 nguyện, do Tịnh độ chân tông Nhật bản căn cứ vào nguyện thứ 18 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà mà lập ra. Quán vô lượng thọ Phật kinh sớ quyển 1 (Đại 37, 250 trung) nói: Tỉ khưu Pháp tạng (...) phát 48 nguyện, lời nguyện nào cũng nói khi tôi thành Phật, chúng sinh ở 10 phương xưng niệm danh hiệu của tôi, nguyện sinh về cõi nước tôi, cho đến 10 niệm, nếu không được sinh thì tôi không lên ngôi chính giác. Tịnh độ chân tông Nhật bản đã dựa vào ý nghĩa này mà lập ra thuyết Nhất nguyện kiến lập.

nhất nguyệt tam chu

(一月三舟) Một mặt trăng 3 con thuyền. Trăng ví dụ đức Phật, 3 thuyền ví dụ căn cơ sai khác của chúng sinh. Ở đây, ý nói dưới ánh trăng vằng vặc, người đi thuyền về hướng nam nghìn dặm, thấy trăng đi theo mình về nam; người chèo thuyền về hướng bắc 10 dặm, cũng thấy trăng theo mình về bắc; còn người ngồi yên trên thuyền đậu ở 1 chỗ thì không thấy trăng di động. Nhưng mặt trăng thì chỉ là 1, không hề có sai khác. Chỉ 1 vầng trăng, nhưng do thuyền đi, thuyền đậu, mà người ngồi trên thuyền thấy có khác nhau. Điều này ví dụ vì cơ cảm của chúng sinh bất đồng nên thấy thân Phật không giống nhau. Kinh Hoa nghiêm quyển 16 (Đại 10, 80 hạ) nói: Bấy giờ, nhờ uy thần của đức Như lai, tất cả thế giới trong trong 10 phương, mỗi 4 thiên hạ trong cõi Diêm phù đề, đều trông thấy Như lai ngồi dưới gốc cây, mỗi đức Phật đều có chúng Bồ tát nhờ thần lực của Phật diễn nói chính pháp; những người trông thấy ai cũng nói chính mình được diện kiến đức Phật. Lúc ấy, đức Thế tôn vẫn không rời khỏi gốc cây Bồ đề. Ý trong đoạn kinh trên cho rằng Như lai chứng được bồ đề, cái thể ấy không có chỗ nương, không có trú xứ, không đi, không đến, chỉ tùy theo cơ cảm của chúng sinh mà hiển hiện Ứng thân khác nhau thôi.

nhất nguyệt tam thân

(一月三身) Một trăng 3 thân. Ngài Phi tích đời Đường đã dùng Nguyệt thể (mặt trăng), Nguyệt quang (ánh sáng của mặt trăng) và Nguyệt ảnh (bóng của mặt trăng) để ví dụ 3 thân của đức Phật. 1. Nguyệt thể: Ví dụ cho Pháp thân, vì Pháp thân là lí thường trụ không dời đổi, nguyên lí sinh ra các pháp, bao trùm muôn vật, như vầng trăng giữa hư không, bóng trăng phản chiếu khắp trăm nghìn vạn ức dòng sông. 2. Nguyệt quang: Ví dụ Báo thân, vì Báo thân là trí lặng chiếu, trí không có tự thể, dựa vào lí mà phát, cũng như ánh sáng mặt trăng chiếu soi môn tượng, tất cả sáng tỏ không lầm lẫn. 3. Nguyệt ảnh: Ví dụ Ứng thân, vì Ứng thân là tác dụng biến hóa, dụng không có tự tính, từ thể sinh ra, có cảm thì thông, không cảm thì dừng; cũng như bóng trăng, có nước thì hiện, không nước thì ẩn. Tuy vậy, cả 3 đều cùng 1 thể, hình thức tuy khác, nhưng thực chất chỉ là 1 mà thôi. [X. luận Niệm Phật tam muội bảo vương Q.trung, hạ].

nhất ngôn

Một lời nói—One word only. ; (一言) Một lời. Nhất ngôn có liên quan đến việc ngộ đạo của Thiền sư Tông mật đời Đường. Truyện kể rằng: Một hôm, Thiền sư Tông mật ở núi Khuê phong đọc chưa hết quyển kinh Viên giác, đến chữ Nhất ngôn thì hoát nhiên khai ngộ, nhận rõ tâm mình tức là tâm Phật, nhất định sẽ thành Phật, nên khi biên soạn sớ giải kinh Viên giác, trong lời tựa (Đại 39, 524 trung) ngài viết: Ngay chữ Nhất ngôn, bỗng nhiên tâm địa khai thông. [X. Viên giác kinh lược sớ].

nhất ngôn thanh

(一言聲) Thanh của 1 chữ. Trong văn phạm tiếng Phạm, từ ngữ này biểu thị số ít của danh từ, đại danh từ, hình dung từ, số từ... (xt. Tam Ngôn Thanh).

nhất ngôn tứ mã

(一言駟馬) Gọi đủ: Nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy. Tên công án trong Thiền tông. Một lời đã nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp. Có vị tăng hỏi ngài Từ minh: Thế nào là mặt mũi xưa nay? Ngài Từ minh trả lời: Một lời nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp (Nhất ngôn tứ mã).Tắc 89 trong Thung dung lục (Đại 48, 285 thượng) nói: Còn như nơi vạn dặm không có 1 tấc cỏ thì thế nào? (Một lời nói ra, xe 4 ngựa kéo đuổi không kịp).

nhất ngốc thừa

A “bald-pated” vehicle—An unproductive monk or disciple. ; (一禿乘) Những kẻ cố chấp ngoan không, đoạn không, phản lại chính pháp của Phật, nghĩa là người không có công đức. Ma ha chỉ quán quyển 7, hạ (Đại 46, 100 trung) nói: Người đời nay cho rằng chỉ cần xả bỏ Ác thủ không (chấp trước ngoan không, đoạn không) là Đại thừa, nhưng cái không này chẳng ngoài cái ác đơn thuần và phức tạp của 62 thứ tà kiến thì làm sao gọi được là Thừa? Giả sử cho là Thừa thì chỉ là Nhất ngốc thừa, không có pháp môn nào cứu được họ. Đại thành chính pháp, kho báu kim cương, đầy đủ không thiếu, không đâu mà không có, chẳng lẽ chỉ dung kẻ chấp ngoan không, đoạn không thôi sao?.

Nhất Nhiên

一然; C: yīrán; J: ichinen; K: iryǒn (1206-1289);|Một vị cao tăng Hàn Quốc vào thời Cao Li (k: koryǒ). Là nhà văn sáng tác sung sức nhất, nổi tiêng với tác phẩm Tam quốc di sự (三國遺事; k: samguk yusa), là một tập hợp những sự kiện và giai thoại làm nền tảng khoa giáo cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn Quốc.

nhất nhân

Nhất nhơn—A cause—The cause from which the Buddha-law arises. ; (一因) I. Nhất Nhân. Cùng một nhân hạnh. Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vì cùng 1 nhân hạnh ấy cho nên đều có thể đạt đến Niết bàn.Kinh Đại bát niết bàn quyển 32 nói: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều cùng 1 thừa, cùng 1 giải thoát, cùng 1 nhân, cùng 1 quả, cùng 1 vị cam lộ, tất cả sẽ được thường, lạc, ngã, tịnh. II. Nhất Nhân. Chỉ cho nguyên nhân, nguyên lí duy nhất.Các hệ thống triết học Ấn độ đời xưa như: Phệ đà, Áo nghĩa thư, Phệ đàn đa... đều chủ trương 1 nguyên nhân duy nhất sinh ra muôn vật, đó là: Người duy nhất (Phạm: Tad-ekam), Sinh chủ (Phạm: Prajàpati), Tự tại thiên (Phạm: Ìzvara), Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Puruwa hay Àtman). Phật giáo phủ định thuyết Nhất nhân này mà chủ trương các pháp đều do nhân duyên sinh. [X. luận Câu xá Q.6, 7; Trung luận sớ (Nguyệt xứng, Prasannapadà, XXVI); phẩm Quán tác giả nghiệp trong Bát nhã đăng luận thích Q.6; phẩm Phá nhân trung vô quả trong Bách luận Q.hạ; Câu xá luận quang kí Q.7]. ; (一人) Người bậc nhất. Chỉ cho đức Phật. Phật tu hành đắc đạo trong cõi người, là bậc tôn thắng nhất trong thế gian, nên gọi là Nhất nhân. Phẩm Thí dụ trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 14 hạ) nói: Tất cả chúng sinh trong ấy đều là con ta (...) chỉ 1 mình ta (Nhất nhân) có năng lực cứu được.

nhất nhân huýnh xuất nhất quả bất dung

(一因迥出一果不融) Một nhân tách xa, một quả không dung. Tiếng dùng biểu thị nghĩa nhân quả cách rời của Biệt giáo trong 4 giáo Hóa pháp do tông Thiên thai phán lập. Trong nhân có đủ 3 nhân Phật tính là Chính nhân, Liễu nhân và Duyên nhân. Theo giáo nghĩa của Biệt giáo, vì Tu đức và Tính đức không tương tức nhau, nên ở nhân vị còn trong mê mà nói về lí chính nhân của Tính đức vốn có; còn Duyên nhân và Liễu nhân của Tu đức không tương tức nhau, gọi là Nhất nhân quýnh xuất. Lí của quả tột cùng chứng được là nhân quả không 2, đây là giáo nghĩa của Biệt giáo. Một quả pháp thân cách rời với giai vị nói trên, nên gọi là Nhất quả bất dung. [X. Pháp hoa huyền tiêm Q.1; Thiên thai tứ giáo nghi tập chú Q.hạ].

nhất nhân ngoại đạo

(一因外道) Ngoại đạo chủ trương vũ trụ vạn vật do 1 nguyên nhân duy nhất sinh thành. Chẳng hạn như Ca la cưu đà ca chiên diên thứ 5 trong phái Lục sư được đề cập đến trong kinh Duy ma; Vi đà luận sư thứ 4, Y xa na luận sư thứ 5, Nữ nhân quyến thuộc luận sư thứ 9, La đà la luận sư thứ 12, Ma hê thủ la luận sư thứ 15, An đồ luận sư thứ 20... được nói đến trong luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn. Mặc dầu trên lập trường quan điểm, những Luận sư này có chỗ dị đồng, nhưng nói chung thì họ đều thuộc loại ngoại đạo chủ trương thuyết Nhất nhân.

Nhất nhân tác hư

(一人作虚) [tạp]: tên gọi một công án trong Thiền Tông, nghĩa là một người làm (cho là, nói) sai. Có công án rằng: “Nhất nhân thổ hư ngôn, tắc vạn nhân tương truyền vi thật dã (一人吐虚言、則萬人相傳爲實也, một người nói lời sai tất vạn người truyền nhau là thật)”. Hư Cốc Tập (虚谷集) có đoạn rằng: “Hữu tăng vấn Hưng Hóa Tồn Tương, Đa Tử tháp tiền, cọng đàm hà sự ? Hóa vân: 'Nhất nhân tác hư vạn nhân truyền thật' (有僧問興化存奬、多子塔前、共談何事, có vị tăng hỏi Hưng Hóa Tồn Tương (興化存奬, 830-888) rằng: 'Trước tháp Đa Tử, cùng luận việc gì ? Hưng Hóa đáp: 'Một người cho là sai, vạn người truyền là thật)”. Như vậy chân lý là cái mà mọi người tự ngộ tự đắc, mỗi bước cũng như ngôn ngữ, chữ nghĩa đều mất đi cái chân thật của chân lý. Câu này cùng nghĩa với câu nói của Thiền sư Diên Chiểu (延沼, 896-973) rằng: “Nhất khuyển phệ hư, thiên nhu nhai thật (一犬吠虚、千猱啀實, một con chó sủa lên sai, ngàn con vượn hùa nhau cho là thật)”.

nhất nhân tác hư

(一人作虛) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một người truyền hư. Không cốc tập quyển 6 (Vạn tục 117, 316 thượng) chép: Vị tăng hỏi ngài Hưng hóa: - Nhiều người đang bàn luận việc gì ở trước tháp? Ngài Hưng hóa nói: - Một người truyền hư, muôn người truyền thực. Từ ngữ này đồng nghĩa với câu Nhất khuyển phệ hư, thiên nhu nhai thực (Một con chó sủa láo, nghìn con vượn hú thật) của Thiền sư Diên chiểu dẫn trong Cảnh đức truyền đăng lục quyển 13.

Nhất nhân đương thiên

(一人當千): lấy đao của một người mà địch với ngàn người, biểu thị người có sức dũng mãnh phi thường. Như Niết Bàn Kinh (涅槃經) 2 có đoạn rằng: “Thí như Nhân Vương hữu đại lực sĩ, kỳ đao đương thiên, cánh vô hữu năng hàng phục chi giả, cố xưng thử nhân nhất nhân đương thiên (譬如人王有大力士、其刀當千、更無有能降伏之者、故稱此人一人當千, ví như Nhân Vương có tay đại lực sĩ, cây đao vị ấy có thể địch với ngàn người, không ai có thể hàng phục được anh, cho nên gọi người ấy là 'một người địch với ngàn người').”

nhất nhân đương thiên

(一人當千) Một người địch lại nghìn người, chỉ cho người có sức mạnh dũng cảm. Kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 2 (Đại 12, 373 hạ) nói: Ví như nhà vua có đại lực sĩ, sức địch lại nghìn người, không ai khuất phục được, cho nên gọi người ấy là Nhất nhân đương thiên.

nhất nhãn chi qui

Rùa biển một mắt, từ đáy biển trồi lên trong một bọng cây, thấy được vầng nhựt nguyệt, rồi theo lượn sóng mà tấp vào bờ. Ý nói sự hiếm quý của sự thị hiện của Phật, cũng như được sanh làm người vậy—A sea turtle which has only one eye, and that underneath, entered a hollow in a floating log; the log, tossed by the waves, happen to roll over, whereupon the turtle momentarily saw the sun and moon. This refers to the rareness of the appearance of a Buddha, also of the difficulty of being born as a man.

nhất nhãn chi quy

(一眼之龜) Con rùa một mắt. Con rùa chỉ có 1 mắt ở bụng gặp được hốc cây nổi giữa biển cả là 1 cơ hội cực kì khó khăn. Hình ảnh này được dùng để ví dụ có được thân người, gặp Phật ra đời, được nghe Phật nói pháp là việc hiếm có, rất khó được. Kinh Tạp a hàm quyển 15 nói rằng: Giữa đại dương mênh mông, có 1 con rùa, dưới bụng có 1 mắt, trôi nổi bềnh bồng theo sóng nước, may gặp được 1 hốc gỗ nổi, rùa liền chui vào, bỗng nhiên gió thổi, khúc gỗ lật ngửa lên, con mắt ở bụng rùa nhờ đó thấy được ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Cũng thế, chúng sinh được thân người, gặp Phật ra đời, cũng giống như con rùa có 1 mắt dưới bụng gặp được hốc cây nổi mà thấy ánh sáng mặt trời mặt trăng là việc rất khó có được. Phẩm Trang nghiêm vương trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 60 thượng) nói: Phật khó được gặp, như hoa Ưu đàm bát la, hoặc như con rùa có 1 mắt gặp được hốc cây nổi (...) Chư Phật khó gặp, cơ duyên cũng khó được. (xt. Manh Qui Phù Mộc).

Nhất như

(一如): “nhất (一)” nghĩa là không hai, “như (如)” là không khác; cho nên không hai không khác gọi là nhất như, tức là lý của chân như. Như trong Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh (文殊師利所說摩訶般若波羅蜜經, Taishō Tripitaka Vol. 8, No. 232) quyển Hạ có đoạn rằng: “Bất tư nghì Phật pháp, đẳng vô phân biệt, giai thừa nhất như, thành tối chánh giác, tất cụ vô lượng công đức, vô lượng biện tài (不思議佛法、等無分別、皆乘一如、成最正覺、悉具無量功德、無量辯才, Phật pháp không thể nghĩ bàn, bình đẳng không phân biệt, đều cỡi nhất như, thành chánh giác tột cùng, tất đủ vô lượng công đức, vô lượng biện tài).” ; 一如; C: yīrú; J: ichinyo;|Là cái »Một«, »Không hai«; 1. Sự vô phân biệt giữa cái này cái nọ; 2. Nguyên tắc căn bản của tất cả những hiện hữu, đồng nghĩa với Chân như (眞如), Pháp tính (法性), Thật tướng (實相); 3. Lúc nào cũng như thế.

nhất như

The one bhutatathata or absolute (chân như). 1) Chân Như: The true suchness or true character, or reality. 2) Pháp tánh: Nature of things or beings. ** For more information, please see Chân Như. ; (一如) I. Nhất Như. Lí Chân như không 2 không khác, bình đẳng không sai biệt, nên gọi là Nhất như. Nhất là tuyệt đối duy nhất. Như là dịch ý từ tiếng PhạmTathà(Chân như)cũng gọi là Bất dị. Nghĩa là trong Chân như thì những cái tên giả như Phật và chúng sinh đều dứt bặt; trong tính bình đẳng thì chẳng còn hình tướng mình và người. Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ (Đại 15, 639 hạ) nói: Cõi ma như tức là cõi Phật như; cõi ma như, cõi Phật như, không hai không khác. II. Nhất Như (1352-1425). Cao tăng Trung quốc sống vào đời Minh, người Thượng ngu, tỉnh Chiết giang, họ Tôn, giữ chức Tăng lục ti Hữu thiện thế và trụ trì chùa Thượng thiên trúc. Cứ theo Thích thị kê cổ lược tục tập, ngày 28 tháng 2 năm Vĩnh lạc 17 (1419), Hoàng đế hạ chiếu ban cho ngài 2 bức tranh tượng Phật, 5 viên xá lợi Phật, 1.000 quan tiền, 3 bản ca khúc danh xưng chư Phật Bồ tát, 1 bức tranh Phật thành đạo... Ngài từng biên tập ngữ lục Thiền tông và cùng với 8 vị như Đạo thành... vâng sắc chỉ xem xét lại Tạng kinh, đối chiếu và so sánh lại các bản mới, cũ, rồi qui tụ chúng tăng viết chép lại. Niên hiệu Hồng hi năm đầu (1425) ngài thị tịch, thọ 74 tuổi. Ngài để lại các tác phẩm: Đại minh tam tạng pháp số, 50 quyển, Pháp hoa khoa chú (Nhất như tân chú)...

nhất như pháp giới

(一如法界) Chỉ cho lí màu nhiệm của Chân như pháp tính, là diệu lí tịch diệt vô vi.

nhất như quán âm

Một trong 33 đại biểu của Quán Âm, đi lên từ trên mây—One of the thirty-three representations of Kuan-Yin, ascending on the clouds.

nhất như vô nhị như

(一如無二如) Nhất như là không 2 không khác, tức là lí Chân như. Nghĩa là trong cảnh giới Chân như không có các cái tên giả như Phật và chúng sinh; trong tính bình đẳng không có hình tướng mình và người. Kinh Thủ lăng nghiêm tam muội quyển hạ nói: Cõi ma như tức cõi Phật như, chỉ có nhất như, không có nhị như. Sở dĩ nói Phật và ma đều như là vì ma là chúng sinh tạo ác cùng cực, Phật là bậc tu thiện chí cực, tuy có thiện ác khác nhau, nhưng bản tính chỉ là 1, cho nên nói Nhất như vô nhị như.

nhất như đốn chứng

Tức thì chứng ngộ Bồ Đề—Immediate experiential enlightenment by the Tathagata truth—The immediate realization that all is bhutatathata. ; (一如頓證) Mười phương chúng sinh đều nương vào lí nhất như mà chứng ngay quả Phật. Nhất như là lí Chân như; Đốn chứng là chứng quả tức khắc.

Nhất nhất

(s: vyasta, ekaika, pratikṣaṇam, 一一) [tạp]: mỗi một, từng. Kinh Thủ Lăng Nghiêm (首楞嚴經) có đoạn rằng: “Hiện nhất nhất hình tụng nhất nhất chú (現一一形、誦一一咒, hiện mỗi một hình, tụng mỗi một chú)”. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (觀無量壽經) có đoạn rằng: “Nhất nhất chỉ đoan hữu bát vạn tứ thiên họa do như ấn văn, nhất nhất họa hữu bát vạn tứ thiên sắc, nhất nhất sắc hữu bát vạn tứ thiên quang, kỳ quang nhu nhuyến thiện chiếu nhất thiết (一一指端有八萬四千畫由如印文、一一畫有八萬四千色、一一色有八萬四千光、其光柔輭善照一切, mỗi một đầu ngón tay có 84.000 bức tranh như hoa văn, mỗi một bức tranh có 84.000 sắc màu, mỗi một sắc màu có 84.000 ánh sáng, ánh sáng ấy mềm mại chiếu khắp tất cả)”. Phần Khai Đề của Kinh Phạm Võng (梵綱經) có đoạn rằng: “nhất nhất tự tự, nhất nhất cú cú, giai thị chư tôn pháp Mạn Đà La thân (一一字字、一一句句、皆是諸尊法曼陀羅身, Mỗi một chữ, mỗi một câu, đều là thân pháp Mạn Đà La của chư tôn)”.

nhất nhất

Mọi người hay mọi vật—All—Everything—Everyone—One by one. ; (一一) Phạm: Vyasta, Ekaika, Pratikwaịam. Mỗi mỗi, mỗi một, tất cả... Kinh Phạm võng mở đề (Đại 62, 2 trung) nói: Mỗi một câu, mỗi một chữ đều là thân Pháp mạn đồ la của chư tôn. Kinh Quán vô lượng thọ (Đại 12, 343 thượng) nói: Mỗi một viên Bảo châu có 8 vạn 4 nghìn tia sáng, mỗi một tia sáng làm thành 8 vạn 4 nghìn màu kim sắc khác nhau, mỗi một màu kim sắc chiếu sáng khắp cõi báu.

nhất nhất tâm thức

(一一心識) Cũng gọi Nhất nhất thức tâm, Nhất tâm nhất tâm thức, Câu phi niệm,Tịch diệt tịch tĩnh niệm. Mỗi mỗi tâm thức. Chỉ cho thức sở nhập của chân như, là tâm niệm chẳng phải thường chẳng phải vô thường, vì thế mà gọi là Câu phi (đều chẳng phải). Đây là thức thứ 10 trong 10 thức do Mật giáo y cứ vào luận Thích ma ha diễn mà thành lập. Nghĩa là vì tâm sở y của Chân như môn hợp với lí của thực tướng nhất vị nên gọi là Tâm thức. Vả lại, thể chân như chung cho tất cả loài hữu tình, phi tình và chỉ có 1 nên gọi là Nhất tâm. Thích ma ha diễn luận tán huyền sớ quyển 2 (Vạn tục 72, 44 hạ) nói: Thức tâm thứ 10 là pháp sở y căn bản của Chân như môn, chỉ duyên theo chân lí của tự môn, thể soi sáng dụng, thể ấy độc lập nên gọi là Duyên. Tâm này duyên theo chân lí làm cảnh giói, cho nên khác với thức thứ 9 (nhất thiết nhất tâm thức) không duyên theo chân lí. Tâm thức thứ 10 này của Mật giáo tương đương với Viên giáo trong 4 giáo của tông Thiên thai. [X. luận Thích ma ha diễn Q.2; Thích ma diễn luận kí Q.2; Thai tạng kim cương bồ đề tâm nghĩa lược vấn đáp Q.2, phần cuối; Tông kính lục Q.45].(xt. Nhất Thiết Nhất Tâm Thức, Thập Thức).

nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực

(一日不作一日不食) Một ngày không làm một ngày không ăn. Tức là không ăn cơm của Phật 1 cách uổng phí. Đây là 1 trong những qui tắc của tùng lâm do Thiền sư Bách trượng Hoài hải ở đời Đường lập ra. Ngài có tiếng là người đặt ra những pháp tắc, hành trì nghiêm ngặt. Chính bản thân ngài cũng suốt đời siêng năng làm việc hàng ngày, nghiêm giữ thanh qui, không hề trễ nải. Một hôm, chúng tăng thấy ngài đã già yếu, muốn để ngài nghỉ ngơi, nên đem cất giấu hết những dụng cụ làm việc của ngài. Hôm ấy ngài được nghỉ ngơi, nhưng suốt ngày cũng nhịn đói để thực hành cái nguyên tắc mà ngài đã chế định: Một ngày không làm, một ngày không ăn. [X. Tống cao tăng truyện Q.10; Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.2; Cảnh đức truyền đăng lục Q.6].

nhất nhật kinh

See Đốn Kinh. ; (一日經) Cũng gọi Đốn tả kinh. Bộ kinh được chép xong trong 1 ngày, hoặc chỉ cho việc chép kinh trong 1 ngày. Tại Nhật bản, bắt đầu từ giữa thời đại Bình an, qua các thời Nam Bắc triều, phong trào chép Nhất nhật kinh, đặc biệt là kinh Pháp hoa, để cầu siêu độ cho vong linh những người quá cố rất thịnh hành. Trong khoảng thời gian mười mấy năm, Nhất nhật kinh đã được chép đi chép lại và chép đủ 1.000 bộ, gọi là Thiên bộ Nhất nhật kinh. Có khi rất nhiều người chép Nhất thiết kinh (Đại tạng kinh) trong 1 ngày. (xt. Đốn Tả).

nhất nhật phật

(一日佛) Phật một ngày. Nghĩa là 1 ngày không lo âu, không phiền não, được thanh tịnh và giải thoát như Phật. Tông kính lục quyển 23 (Đại 48, 543 trung) nói: Một niệm tương ứng 1 niệm Phật, 1 ngày tương ứng 1 ngày Phật.

nhất nhật tam thời

(一日三時) Một ngày 3 thời. Tức 1 ngày được chia làm 3 thời: Sáng sớm, giữa trưa và chiều tối. Phong tục Ấn độ đời xưa chia ngày làm 3 thời và đêm 3 thời(đầu đêm, nửa đêm, cuối đêm), cho nên trong kinh thường nói ngày đêm 6 thời. Như kinh A di đà (Đại 12, 347 thượng) nói: Cõi nước của Phật A di đà thường trỗi thiên nhạc, đất toàn bằng vàng, ngày đêm 6 thời, trời mưa hoa Mạn đà la. (xt. Lục Thời).

nhất nhật trai

(一日齋) Trai một ngày. Tức là 1 ngày tu hành, thụ trì giới Bát quan trai.

nhất nhị tam tứ ngũ lục thất

(一二三四五六七) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một hai ba bốn năm sáu bảy. Trong Thiền lâm, nhóm từ này dùng để chỉ cho 1 việc thông thường có thể xảy ra ở bất cứ đâu và vào bất cứ lúc nào, hoặc chỉ cho cái lí đương nhiên mà trẻ con cũng có thể hiểu được. Tắc 21 trong Bích nham lục (Đại 48, 161 hạ) chép: Có vị tăng hỏi ngài Trí môn: - Lúc hoa sen chưa nhô lên khỏi mặt nước thì thế nào? Ngài Trí môn đáp: - Hoa sen (một hai ba bốn năm sáu bảy), nghi chết người trong thiên hạ.

nhất nhựt

A day from sun rise to sun set.

nhất nhựt nhất dạ

One day one night.

nhất nhựt phật

A one-day Buddha—One who lives a whole day purely.

nhất ninh

Nhà sư Trung Hoa sang Nhật vào khoảng năm 1299—A Chinese monk who went to Japan in 1299.

Nhất niệm

一念; C: yīniàn; J: ichinen;|Một ý nghĩ, một ý niệm, một khoảnh khắc của một ý nghĩ.

nhất niệm

A ksana (skt)—A concentration of mind—A thought—The time of a thought. ; (一念) I. Nhất Niệm. Một niệm. Đơn vị thời gian cực ngắn, hoặcchỉ cho khoảng 1 cái nháy mắt, hay 1 khoảnh khắc vừa thành tựu 1 sự việc nào đó.Về Nhất niệm, có nhiều thuyết khác nhau như: Kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng (Đại 8 , 826 thượng) nói: Chín mươi sát na là 1 niệm, trong khoảng 1 sát na có 900 lần niệm sinh diệt, cho đến tất cả các pháp cũng như thế. Vãng sinh luận chú quyển thượng (Đại 40, 834 hạ) nói: Một trăm lẻ một lần sinh diệt gọi là 1 sát na, 60 sát na gọi là 1 niệm hoặc nói: Hai mươi niệm là 1 cái nháy mắt, 20 cái nháy mắt là 1 cái khảy móng tay. Tất cả đều chỉ cho thời gian cực ngắn. Ngoài ra, khoảng thời gian nảy ra 1 ý niệm, gọi là Nhất niệm khoảnh, hoặc Nhất phát ý khoảnh. [X. luật Ma ha tăng kì Q.17; luận Đại trí độ Q.38; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. II. Nhất Niệm. Phạm: Eka-citta. Một lần xưng niệm. Niệm có nghĩa là nhớ nghĩ, thông thường có các danh từ như: Tâm niệm, quán niệm, xưng niệm... Tông Tịnh độ giải nghĩa chữ Niệm là Xưng niệm, cho nên phối hợp 1 niệm với 1 danh hiệu Phật, rồi xưng niệm 1 danh hiệu Phật tức là 1 niệm. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ (Đại 12, 279 thượng) nói: Nếu ai được nghe danh hiệu của đức Phật A di đà, vui mừng hớn hở, cho đến dù chỉ 1 niệm(nãi chí nhất niệm), nên biết người ấy được lợi ích lớn, đầy đủ công đức vô thượng. III. Nhất Niệm. Chỉ cho 1 tâm niệm trọn đủ 3.000 tính tướng do tông Thiên thai lập ra. Nghĩa là tâm đầy đủ tất cả, gọi là Nhất niệm. IV. Nhất Niệm. Nhất niệm tương ứng. Y cứ vào trí tuệ tương ứng với 1 sát na mà khai ngộ tức khắc, gọi là Nhất niệm tương ứng (1 niệm ứng hợp nhau). Luận Đại thừa khởi tín cho rằng Bản giác tương ứng với Thủy giác mà cái niệm vô niệm của lí và trí ngầm hợp nhau, tức là Nhất niệm. [X. kinh Đại bát nhã Q.393]. V. Nhất Niệm. Nhất niệm được dùng chung với các ngữ cú khác thì có: - Nhất niệm tín giải: Nghe qua Phật pháp 1 lần sinh lòng tin hiểu liền được khai ngộ, gọi là Nhất niệm tín giải. - Hành chi nhất niệm: Niệm 1 danh hiệu Phật A di đà, gọi là Hành chi nhất niệm. - Tín chi nhất niệm: Trong 1 sát na, sinh khởi tín tâm đối với đức Phật A di đà, gọi là Tín chi nhất niệm. - Nhất niệm nghiệp thành: Cái sát na phát tín tâm ấy chính là nhân của sự quyết định vãng sinh, gọi là Nhất niệm nghiệp thành. - Nhất niệm thập niệm: Bất luận niệm danh hiệu Phật A di đà 1 biến hay 10 biến đều là nhân vãng sinh Tịnh độ, gọi là Nhất niệm thập niệm. Ngoài ra, còn rất nhiều thành ngữ liên quan đến từ nhất niệm như: Nhất niệm bất sinh, Nhất niệm tùy hỷ... [X. phẩm Phân biệt công đức trong kinh Pháp hoa].

Nhất niệm bất sinh

一念不生; J: ichinen-fushō;|Có nghĩa là »một ý nghĩ cũng không phát sinh ra«; theo Thiền tông thì khi tâm thức của một người bình thường không sản sinh ra một ý niệm vô minh nào thì chính ngay lúc ấy người này là Phật. Nhất niệm bất sinh được dùng để chỉ một trạng thái thoát khỏi mọi khái niệm, vô minh, cảm giác – một trạng thái chỉ có thể thực hiện được bằng cách Toạ thiền (j: zazen) và trạng thái này cũng chính là toạ thiền trong dạng thuần tuý nhất.

nhất niệm bất sinh

Không một niệm nào phát sanh—Not a thought arising. ; (一念不生) Một niệm chẳng sinh, chỉ cho cảnh giới hoàn toàn vô niệm, tức là cảnh giới Phật. Hoa nghiêm kinh sớ quyển 2 (Đại 35, 512 trung) nói: Đốn giáo có nghĩa chỉ cần 1 niệm chẳng sinh, liền gọi là Phật, vì không theo thứ lớp qua các giai vị, nên nói là Đốn. Thích thị kê cổ lược quyển 3 (Đại 49, 833 trung) nói: Nếu 1 niệm chẳng sinh thì quá khứ, vị lai dứt, thể chiếu sáng độc lập, ta và vật như như.

nhất niệm bất sinh toàn thể hiện

(一念不生全體現) Khi 1 niệm không sinh thì toàn thể chân lí vũ trụ tự nhiên hiện bày. Chúng sinh vốn có sẵn tính Phật, chỉ vì vọng tưởng, trầm mê nên tính Phật ấy không hiển lộ ra được. Nếu như vọng niệm chẳng sinh thì bản lai diện mục tự nhiên hiện bày. Tắc 76 trong Thung dung lục (Đại 48, 275 trung) nói: Gặp sang thì hèn, gặp hèn thì sang; được châu vọng tưởng bày, chí đạo xa vời vợi (Nhất niệm bất sinh toàn thể hiện).

nhất niệm diệt tội

(一念滅罪) Đối lại: Đa niệm diệt tội. Nghĩa là nhờ 1 niệm tín tâm, hoặc 1 tiếng xưng danh chí thành, mà có thể diệt trừ được phiền não tội chướng.

nhất niệm nghiệp thành

Chỉ trong một niệm là nghiệp đã được thành lập. Nếu thành tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà thì đường vào Tịnh độ là chắc chắn—Karma complete in one thought or at just one thought the work completed. If one has sincere thought or fath in Amitabha's vow, entrance into the Pure Land is assured. ; (一念業成) Một niệm thành tựu tịnh nghiệp. Nghĩa là ngay cái giây phút mà tín tâm của hành giả ứng hợp với một niệm Phật trí thì tức khắc vãng sinh Tịnh độ. Đây là nghĩa Nhất niệm do ngài Hạnh tây thuộc tông Tịnh độ Nhật bản thành lập. (xt. Nhất Niệm Nghĩa Đa Niệm Nghĩa). NHẤT NIỆM NHẤT THỜI BIẾN CHÍ PHẬT HỘI LỢI ÍCH QUẦN SINH TRANG NGHIÊM Trong cùng 1 niệm đến khắp các hội của Phật để trang nghiêm và làm lợi ích cho chúng sinh. Đây là 1 trong 29 thứ trang nghiêm ở nước Cực lạc phương Tây. Là 1 trong 4 thứ thành tựu trang nghiêm công đức tu hành chính yếu của Bồ tát, do ngài Thiên thân thành lập trong luận Tịnh độ. Luận Tịnh độ (Đại 26, 231 thượng) nói: Ánh sáng trang nghiêm thanh tịnh, trong cùng 1 niệm chiếu khắp các Phật hội, làm lợi ích hết thảy chúng sinh. Ý nói Ứng hóa thân của Bồ tát, trong tất cả thời không trước không sau, 1 lòng 1 niệm phóng ánh sáng chói lọi soi khắp các thế giới trong 10 phương, giáo hóa chúng sinh, tạo ra các thứ phương tiện tu hành để diệt trừ khổ não cho tất cả chúng sinh.

nhất niệm nghĩa đa niệm nghĩa

(一念義多念義) Cũng gọi Nhất niệm đa niệm. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Nghĩa một niệm, nghĩa nhiều niệm. Nghĩa 1 niệm chỉ cho 1 tiếng xưng danh đã đủ để làm nhân quyết định vãng sinh, bởi thế không cần nhiều niệm xưng danh. Còn nghĩa nhiều niệm thì chỉ cho người đã phát tâm niệm Phật thì phải niệm liên tục cho đến lúc lâm chung không dứt, mới được vãng sinh Tịnh độ. Nhưng Tịnh độ chân tông Nhật bản lại giải thích khác: Một niệm là tín tâm, nhiều niệm là xưng danh, tức cho rằng nhân vãng sinh quyết định ở 1 niệm tín tâm, còn nhiều niệm xưng danh sau đó thì là biểu hiện sự báo ân đức Phật. Ngoài ra, còn có các quan điểm về vấn đề này như: - Ngài Hạnh tây đề xướng Phật trí nhất niệm, chủ trương Phật và phàm phu là cùng 1 thể, trong 1 niệm tín tâm của phàm phu ứng hợp với 1 niệm Phật trí thì chắc chắn cũng vãng sinh Tịnh độ. - Ngài Long khoan thì chủ trương nghĩa nhiều niệm, cho rằng phải tích lũy nhiều công phu niệm Phật, niệm liên tục, không ngừng nghỉ, mới có thể vãng sinh.

nhất niệm phát khởi

(一念發起) Một niệm phát khởi. Tức là do phát tâm bồ đề mà sinh khởi 1 niệm quy y Phật, Pháp, Tăng để hướng tới giác ngộ.

nhất niệm tam thiên

Một niệm bao trùm chúng sanh trong cả tam thiên đại thiên thế giới—In one thought to survey or embrace the three thousand worlds with all its forms od existence. ; (一念三千) Một niệm ba nghìn. Nhất niệm cũng gọi Nhất tâm, chỉ cho tâm niệm hoạt động trong khoảng thời gian ngắn nhất. Tam thiên biểu thị ý nghĩa tổng hợp tất cả thiện ác, tính tướng, người và vật sai khác trong thế gian và xuất thế gian. Nhất niệm tam thiên nghĩa là ngay trong 1 tâm niệm của phàm phu có đầy đủ 3.000 các pháp tính tướng của thế gian. Vì theo tư tưởng của tông Thiên thai thì ngay trong 1 tâm niệm, dù thuộc 3 tính hữu lậu hay vô lậu, đều có đủ các pháp mê ngộ của 3.000 thế gian, không thiếu sót. Ma ha chỉ quán quyển 5, thượng (Đại 46, 54 thượng) nói: Trong 1 tâm đủ 10 pháp giới, 1 pháp giới lại đủ 10 pháp giới, nên thành 100 giới; 1 pháp giới có 30 loại thế gian, thành ra 100 pháp giới có 3.000 loại thế gian. Ba nghìn loại thế gian này ở ngay trong 1 tâm niệm, trừ trường hợp vô tâm, như lúc chết ngất chẳng hạn, còn ngoài ra hễ mống lên 1 ý niệm liền đầy đủ 3000 thế gian. Nhưng không phải nói 1 niệm ở trước, tất cả pháp ở sau; cũng không nói tất cả pháp ở trước, 1 niệm ở sau. Như vậy thì bất cứ 1 tâm niệm nào của chúng ta phát khởi trong ngày hay đêm, đều cũng thuộc về 1 pháp giới nào đó trong 10 pháp giới. Nếu như phát khởi tâm niệm giận dữ tương ứng với việc giết hại, thì đó là pháp giới địa ngục; nếu tương ứng với tham muốn thì là pháp giới ngã quỉ; nếu tương ứng với luật đạo đức nhân luân thì là pháp giới nhân gian; nếu tương ứng với chân như thì là pháp giới Phật. Cho nên, hễ 1 niệm tương ứng với pháp giới nào thì tâm ta thuộc về pháp giới ấy. Vả lại, tâm 1 niệm này của chúng sinh tuyệt không cách lìa với tất cả pháp mà là dung hợp trong nhau, hòa nhập vào nhau. Vì tâm ấy chẳng phải cô lập, nên nó ở trong 1 pháp giới nào tức đầy đủ 10 pháp giới. Đồng thời, trong 10 pháp giới, mỗi giới lại đủ 10 giới, nên tổng cộng thành 100 pháp giới; 100 giới pháp này lại đầy đủ 10 Như thị (như thị tính, như thị tướng, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh...),tức thành 1.000 như thị; rồi lại phối hợp với 3 loại thế gian lànămấm, chúng sinh và quốc độ thành ra 3.000 thế gian. Như vậy, trong 1 tâm niệm có đầy đủ 3.000 thế gian. Giáo nghĩa Nhất niệm tam thiên này bắt nguồn từ câu Tâm, Phật và chúng sinh, cả 3 không sai khác trong phẩm Dạ ma thiên cung tự tại của kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ). Người mới học căn cơ còn non nớt, không nên tu tập pháp quán quá cao, mà phải nên bắt đầu quán xét ngay từ tâm mình, lấy sự vật cụ thể làm đối tượng để quán xét. Vì thế nên tông Thiên thai lập ra pháp Nhất tâm tam quán để làm chìa khóa vào cửa cho người mới học. [X. Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.5, phần 3; Pháp hoa huyền nghĩa Q.2, thượng; Pháp hoa văn cú Q.2 thượng; Thập bất nhị môn yếu sao Q.thượng]. (xt. Tam Thiên Chư Pháp, Sơn Gia Sơn Ngoại).

nhất niệm tham sân khởi, bá vạn chướng môn khai

A thought of greed and anger arises, thousand doors of hindrances open.

nhất niệm tuỳ hỉ

(一念隨喜) Một niệm vui theo. Nghĩa là khi được nghe Phật pháp, sinh khởi một niệm vui mừng, tin tưởng. Hoặc 1 lòng tôn kính đức Phật mà qui y.

nhất niệm tương ưng

(一念相應) Một niệm ứng hợp nhau. Có 4 nghĩa: 1. Tâm 1 niệm ứng hợp với lí Không. 2. Hàng Bồ tát từ địa thứ 5 trở lên, trong 1 niệm, 2 trí Chân đế và Tục đế đều khởi 1 lượt, vì 2 trí này không khác nhau nên ứng hợp nhau. 3. Tự tính linh tri của Thủy giác và Bản giác vốn chẳng phải 2, nên ngầm ứng hợp nhau. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 trung) nói: Như bậc Bồ tát đã viên mãn quả Thập địa, đầy đủ phương tiện, một niệm tương ứng, giác tâm mới khởi lên, tâm không có tướng ban đầu. Nhờ xa lìa những niệm nhỏ nhiệm mà thấy được tâm tính thường trụ, gọi là Cứu cánh giác. 4. Niềm tin 1 niệm của hành giả ứng hợp với trí Phật và tâm Phật. Vì 1 niệm của trí Phật là bản nguyện A di đà, nên niềm tin của hành giả ứng hợp với tâm Phật thì năng sở không 2, tín trí là 1, niệm niệm nối nhau,chắc chắn vãng sinh. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.trung, phần đầu; Tứ giáo nghĩa Q.8].

nhất niệm tương ưng huệ

(一念相應慧) Chỉ cho định tuệ tương ứng với 1 sát na hiện tiền, hoặc khế hợp với chân lí. Người đạt đến cảnh giới này thì thấy vật mất, cảnh diệt mà thấu suốt bản tính linh tri của mình. Kinh Đại bát nhã ba la mật đa quyển 393 (Đại 6, 1035 trung) nói: Từ đạo Vô gián này, dùng Kim cương dụ định 1 sát na tương ứng với diệu tuệ, dứt hẳn tất cả phiền não chướng, sở tri chướng và các tập khí thô trọng nối nhau thì chứng được Vô thượng chính đẳng bồ đề. [X. luận Đại trí độ Q.29; luận Đại thừa khởi tín].

nhất niệm tịnh tín

(一念淨信) Một niệm tín tâm thanh tịnh. Kinh Kim cương (Đại 8, 749 trung) nói: Người nghe chương cú này, cho đến sinh 1 niệm tịnh tín.... Ý nói tin rằng Bát nhã ba la mật có năng lực sinh ra tất cả chư Phật và Phật tính sẵn có trong thân mình thanh tịnh không nhiễm ô; tin rằng tính của chư Phật là bình đẳng không hai; tin rằng chúng sinh trong 6 đường xưa nay vốn không có tướng và tin rằng tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật... Phàm tín tâm thanh tịnh như thế, đều gọi là Nhất niệm tịnh tín (1 niềm tin trong sạch).

Nhất niệm vạn niên

一念萬年; J: ichinen-mannen;|Nghĩa là khoảnh khắc của một khái niệm bằng mười ngàn năm và ngược lại; biểu đạt này được dùng để miêu tả kinh nghiệm của các vị Thánh nhân của tất cả các thời đại, các nền văn hoá. Thành ngữ này muốn diễn tả rằng, đối với các bậc giác ngộ thì thời gian không có thật – theo quan niệm thông thường. Dưới cái nhìn của các vị này thì một khoảnh khắc của một niệm, một nhận thức, một Sát-na chính là vĩnh cửu (chữ vạn trong tiếng Hán được dùng để chỉ một con số rất lớn, vô lượng). Biểu thị »Nhất niệm vạn niên« được tìm thấy trong bản Tín tâm minh của Tam tổ Tăng Xán.

nhất niệm vạn niên

Chỉ một niệm Di Đà mà được vạn năm không trở lại luân hồi sanh tử—In a moment's thought of Amitabha to obtain a myriad years and no return to mortality. ; (一念萬年) Đồng nghĩa: Nhất tức nhất thiết. Một niệm tức muôn năm, muôn năm tức một niệm. Đây là ngữ cú tuyệt đối siêu việt những khái niệm tương đối như ngắn dài, nhanh chậm về thời gian. Nghĩa là trong 1 tâm niệm gói ghém hết năm tháng của vạn năm, không sót. Như câu ngạn ngữ: Mười đời xưa nay ở ngay trong 1 niệm. Tín tâm minh (Đại 48, 377 thượng) nói: Tông chẳng phải ngắn dài, 1 niệm là vạn năm; chẳng ở đâu mà không đâu chẳng ở, 10 phương hiện trước mắt.

nhất nạp

(一衲) Một bộ áo. Nạp là áo của tăng sĩ Phật giáo, do đó, Nhất nạp cũng được chuyển dụng để chỉ cho 1 vị tăng. (xt. Nạp Y).

nhất nữ bất giá nhị phu

Người xưa tin rằng một người đàn bà không bao giờ lấy hai chồng—Old timers believed that one woman should never have (get married to) two husbands.

nhất phiến bạch vân bất lộ xú

(一片白雲不露醜) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một áng mây trắng bao phủ mặt đất, che lấp kín những gì xấu xí. Trong Thiền lâm, nhóm từ này được dùng để ví dụ chân lí bao dung hết thảy, vượt ngoài tất cả các pháp đối đãi như hữu vô, thị phi, thiện ác...

nhất phu nhất thê

Monogamy.

nhất pháp

A dharma or law—A thing. ; (一法) I. Nhất Pháp. Đối lại: Vạn pháp. Chỉ cho 1 sự, 1 vật. Pháp ở đây biểu thị nghĩa tồn tại, sự vật, chứ hoàn toàn không có nghĩa phép tắc. II. Nhất Pháp. Chỉ cho pháp tuyệt đối, độc nhất vô nhị. Kinh Hoa nghiêm (bản 60 quyển) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Văn thù, pháp vốn thế Pháp vương chỉ nhất pháp Hết thảy người giải thoát Một đường vượt sinh tử.

nhất pháp cú

(一法句) Câu diễn đạt chân lí. Nhất pháp là nghĩa triệt ngộ pháp thân; Cú là câu giải thích rõ lí nghĩa. Câu nêu tỏ được Nhất pháp, gọi là Nhất pháp cú. Chư Phật và Bồ tát do sức bản nguyện của các Ngài, hiện thân trong tất cả cõi Phật và dưới mọi hình thức, diễn nói Nhất pháp cú khắp hết thảy pháp giới. Kinh Đại pháp cự đà la ni quyển 1 (Đại 21, 662 hạ) nói: Trong Đà la ni nhất pháp cú này, chứa đựng vô lượng ức số tu đa la (kinh); đó là nghĩa quyết định. Nên biết tất cả giáo pháp do Như lai nói, không có ngằn mé, các ông cũng được nhiều loại pháp môn. Luận Thập trụ tì bà sa quyển 11 (Đại 26, 78 thượng) nói: Phật pháp quí ở chỗ tu hành như lời Phật dạy, chứ không quí đọc tụng nhiều. Đức Phật dạy, tu hành Nhất pháp cú, được lợi ích cho mình, gọi là Đa văn, trí tuệ cũng như thế. Ngoài ra, tông Tịnh độ căn cứ vào câu Nhất pháp cú tức là Thanh tịnh cú của bồ tát Thế thân mà chủ trương Thanh tịnh cú là chỉ cho Pháp thân vô vi của trí tuệ chân thực. Trong luận Tịnh độ, ngài Thế thân nói rằng những cảnh giới thù thắng như: Phật, Bồ tát, thế giới Cực lạc... gồm 29 câu, tất cả công đức trang nghiêm của 29 câu này được thu gọn vào Nhất cú thanh tịnh. Vì thế, 29 câu là Nhất pháp cú rộng, còn 29 câu thu gọn vào 1 câu là Nhất pháp cú lược. Vì rộng và lược hòa nhập vào nhau, cho nên nói cảnh giới Tịnh độ tức là Pháp thân vô vi của trí tuệ chân thực. [X. kinh Độ thế phẩm Q.3; luận Vãng sinh; Vãng sinh luận chú Q.hạ].

Nhất pháp giới

一法界; C: yīfǎjiè; J: ichihokkai;|Chỉ một pháp giới; riêng một pháp giới. Chỉ một, độc nhất, tuyệt đối một pháp giới hiện hữu. Nơi duy nhất bao gồm và lưu xuất tất cả các pháp (theo Khởi tín luận 起信論).

nhất pháp giới

The bhutatathata considered in terms of mind as a whole—A spiritual realm. ; (一法界) Cũng gọi Nhất tâm pháp giới, Độc nhất pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Chỉ cho lí thể chân như độc nhất vô nhị, tuyệt đối bình đẳng. Giới có các nghĩa sở y(chỗ nương), sở nhân (từ chỗ đó mà ra); Thánh pháp nương vào Chân như mà sinh, Chân như là chỗ sở y, sở nhân của Thánh pháp, cho nên gọi là Pháp giới. Vì Chân như là pháp bình đẳng không 2, duy nhất chân thực, nên gọi là Nhất pháp giới. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 576 thượng) nói: Tâm chân như là thể pháp môn đại tổng tướng của Nhất pháp giới. Tâm chân như vốn không sinh không diệt, hết thảy pháp do nương vào vọng niệm mà có sai khác, nếu lìa vọng niệm, thì tâm chân như hiển hiện và không có tướng của tất cả cảnh giới. Ngoài ra, Nhất pháp giới, tông Thiên thai gọi là Chư pháp thực tướng, tông Hoa nghiêm gọi là Nhất chân pháp giới, còn luận Đại thừa khởi tín thì gọi là Chân như môn. [X. Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng (Tuệ viễn); Đại minh tam tạng pháp số Q.4].

nhất pháp giới tâm

A mind universal which is above limitations of existence or differentiation. ; (一法界心) Tâm nhất pháp giới. Chỉ cho tâm cùng tột, vượt ra ngoài mọi đối đãi, xa lìa tất cả sự sai biệt. Luận Nhị giáo quyển thượng (Đại 77, 375 hạ) nói: Tâm nhất pháp giới chẳng phải trăm sai, không phải nghìn đúng.

nhất pháp thân

(一法身) Nhất là bình đẳng không 2, Pháp thân mà chư Phật chứng được cùng với lí thể của pháp giới là 1, không sai khác. Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 5 (Đại 9, 429 trung) nói: Thân của hết thảy chư Phật chỉ là nhất pháp thân, nhất tâm, nhất trí tuệ, lực và vô úy cũng thế.

Nhất pháp trung đạo

一法中道; C: yīfǎ zhōngdào; J: ippōchūdō;|Trong giáo lí Duy thức, chỉ quan niệm rằng mỗi một tính trong Tam tính (三性), tự nó đã chứa sẵn đầy đủ ý nghĩa Trung đạo. Nghĩa là, theo tính »biến kế sở chấp« thì »nhân hữu« – con người thì hiện hữu –, và »pháp không« pháp giới không hiện hữu. Ý nghĩa Trung đạo ở đây là »nhân không pháp không.«

nhất pháp trung đạo

(一法中道) Đối lại: Tam tính đối vọng trung đạo. Chỉ cho diệu lí Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không do tông Pháp tướng thành lập. Theo tông Pháp tướng, tính Biến kế sở chấp là vọng tình nên cho nó là không, còn tính Y tha khởi và tính Viên thành thực là có giả, thực giả nên cho chúng là có. Ba tính này là 3 tính trên 1 pháp, nên pháp ấy là Trung đạo chẳng phải có chẳng phải không. Đây là từ Tam tính đối vọng mà lập nghĩa trung đạo, gọi là Tam tính đối vọng trung đạo.Nếu nói 1 cách tỉ mỉ rõ ràng thì mỗi 1 tính trong 3 tính đều có nghĩa trung đạo. Như tính Biến kế sở chấp là tính có, lí không, trên vọng tình thì có, nên chẳng phải không; nhưng nói theo lí thì là không, nên chẳng phải có, đó là Trung đạo chẳng có chẳng không. Tính Y tha khởi trên sự hòa hợp của các duyên là giả tồn tại, cho nên là giả có, thực không, vì là giả có nên chẳng phải là không; vì là thực không nên chẳng phải có; đó là Trung đạo chẳng có chẳng không. Còn tính Viên thành thực thì xa lìa tất cả vọng tưởng và không có tướng, nên chẳng phải có; nhưng vì nó là tính chân thực thường trụ nên chẳng phải không, đó là Trung đạo chẳng phải có, chẳng phải không. Trên đây là căn cứ vào 1 tính trong 3 tính để lập nghĩa Trung đạo, gọi là Nhất pháp trung đạo. Hoặc có thuyết cho rằng Nhất pháp trung đạo là căn cứ vào Tam tính đối vọng mà lập ra thể của tính Viên thành thực, trên tính Y tha khởi thành là Nhất pháp, rồi trên nhất sắc, nhất hương mà bàn về lí trung đạo. Vì thế, Bách pháp vấn đáp sao quyển 8 cho rằng ngoài Tam tính đối vọng trung đạo ra, không có nghĩa Nhất pháp trung đạo. [X. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu; Thành duy thức luận đồng học sao Q.7, phần 3]. (xt. Trung Đạo).

nhất pháp ấn

The seal or assurance of the one truth or law. ; (一法印) Cũng gọi Thực tướng ấn, Nhất thực tướng ấn. Đối lại: Tam pháp ấn. Ấn tính của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa lấy nghĩa lí thực tướng của các pháp làm nền tảng, vì thế nói nghĩa lí thực tướng của các pháp là ấn tín của Phật giáo Đại thừa. Tất cả giáo thuyết nào không thuộc phạm trù này đều không phải giáo pháp của Phật giáo Đại thừa. [X. luận Đại trí độ Q.22; Pháp hoa huyền nghĩa Q.8, thượng; Duy ma kinh huyền sớ Q.6].

nhất phát ý khuynh

(一發意頃) Đồng nghĩa: Nhất niệm chi khoảnh. Chỉ cho thời gian ngắn, chỉ bằng khoảnh khắc nảy ra 1 ý nghĩ.

nhất phóng nhất thâu

(一放一收) Đồng nghĩa: Thời phóng thời tróc (lúc thả lúc bắt). Tiếng dùng trong Thiền lâm. Một buông 1 thu. Nghĩa là buông thả ra, thu bắt lại, là phương pháp được Thiền sư vận dụng 1 cách khéo léo để thích ứng với căn cơ của người học lúc tiếp hóa họ. Tắc 99 trong Bích nham lục (Đại 48, 222 trung) nói: Người người đều đầy đủ, ai nấy thảy viên thành; hãy xem sư nhất phóng nhất thu giữa 4 bề thụ địch.

nhất phù âu

(一浮漚) Một đám bọt nổi trên mặt nước. Giữa biển cả mênh mông 1 đám bọt nước nổi lềnh bềnh, thoắt còn thoắt mất, ví dụ thân người vô thường, sống chết khó biết chắc. Kinh Lăng nghiêm quyển 3 (Đại 19, 119 trung) nói: Hãy nhìn lại thân thể do cha mẹ sinh ra, khác nào như thổi 1 mảy bụi trong 10 phương hư không, chợt còn chợt mất, như đám bọt nước nổi trong biển cả, nổi lên, tan biến vô thường.

Nhất phương

一方; C: yīfāng; J: ippō;|1. Một bên, một mặt; 2. Phía bên kia, phần bên kia; 3. Trong lúc ấy; 4. Rất, lắm.

Nhất phần

一分; C: yīfēn; J: ichibun;|Một phần, từng phần, cục bộ, không hoàn chỉnh. Phản nghĩa với toàn phần, cụ phần (具分).

nhất phần

(一分) Đối lại: Toàn phần. Tiếng dùng trong Nhân minh. Chỉ cho 1 bộ phận của danh tướng hoặc sự vật, hoặc chỉ cho 1 phần danh tướng hay sự vật trong nhiều loại tướng, sự vật. (xt. Toàn Phần).

Nhất phần Bồ Tát

一分菩薩; C: yīfēn púsà; J: ichibun bosat-su;|Chỉ một vị Bồ Tát chỉ thụ nhận và thực hành một phần giới bản (theo Bồ Tát Anh Lạc bản nguyện kinh 菩薩瓔珞本業經).

nhất phần bồ tát

A one-tenth bodhisattva—A disciple who keeps one-tenth of the commandments. ; (一分菩薩) Chỉ cho hàng Bồ tát thụ 1 phần giới pháp. Luận Hiển giới quyển trung (Đại 74, 606 thượng) nói: Bồ tát Thập địa có 8 vạn uy nghi, Bồ tát trước Thập địa chỉ có tùy phần uy nghi, huống chi là Nhất phần bồ tát hay Cụ phần bồ tát. Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1021 trung) nói: Người thụ 1 phần giới là Nhất phần bồ tát, cho đến thụ 2 phần, 3 phần, 4 phần; còn thụ 10 phần thì gọi là Cụ túc thụ giới.

Nhất phần gia

一分家; C: yīfēnjiā; J: ichibunke;|Một nhánh của Duy thức tông do An Huệ (安慧; s: sthiramati) đề xướng. Sư chủ trương – đối nghịch với giáo thuyết cho rằng thức có ba hoặc bốn phần –, thức chỉ có một phần. Luận điểm nầy được tranh cãi nhiều trong trường phái của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla). Họ cho rằng nầy cho rằng thức có bốn phần (四分).

nhất phần gia

(一分家) Nhà một phần. Chỉ cho thuyết Nhất phần về tâm thức do ngài An tuệ thành lập.Theo thuyết này, khi khởi tác dụng nhận thức thì chỉ khởi nơi Tự chứng phần (phần tự thể); còn Kiến phần (tác dụng năng duyên của chủ thể nhận thức) và Tướng phần (đối tượng bị nhận thức) thì tính có lí không, là Biến kế sở chấp (vọng chấp) thuộc về pháp không có thực thể. Đây là sức huân tập (xông ướp thành thói quen) chấp trước ngã, pháp của phàm phu từ vô thủy đến nay mà sinh ra thức thể giống như năng duyên và sở duyên. Thuyết Nhất phần của ngài An tuệ xưa nay vốn khó hiểu, tuy không phải là nghĩa chính thống, nhưng có thể nói nó đã mở đường cho học thuyết của ngài Hộ pháp; nó khác với học thuyết của ngài Hộ pháp nhưng cùng bắt nguồn từ ngài Thế thân. Ngoài ra, cũng có thuyết Nhị phần của ngài Nan đà, thuyết Tam phần của ngài Trần na, rồi cuối cùng đến thuyết Tứ phần của ngài Hộ pháp là thuyết hoàn chỉnh và chặt chẽ nhất để trở thành thuyết chính thống. [X. luận Thành duy thức Q.8; Thành duy thức luận thuật kí Q.3]. (xt. Tứ Phần).

nhất phần giới

(一分戒) Thụ 1 phần trong toàn bộ giới pháp, như Nhất phần bồ tát thuộc về Nhất phần giới.Kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển hạ (Đại 24, 1021 trung) nói: Người thụ một phần giới gọi là Nhất phần bồ tát, thụ 2 phần giới là Nhị phần bồ tát v.v... Thụ 10 phần giới (toàn bộ) thì gọi Cụ túc thụ giới.

nhất phần thường luận

(一分常論) Cũng gọi Tứ chủng nhất phần thường luận, Tứ nhất phần thường luận. Ngoại đạo chấp thường kiến, 1 trong 62 kiến chấp của ngoại đạo ở Ấn độ đời xưa. Ngoại đạo này chấp sắc pháp(vật chất) và tâm pháp(tinh thần)1 phần vô thường, 1 phần thường còn, vì thế gọi là Nhất phần thường luận, gồm có 4 loại: 1. Ngoại đạo được Túc trụ thong (thần thông biết được đời trước) có năng lực thấy được các việc đời trước, cho rằng các loài đều do ý muốn của Phạm thiên tạo ra, nhưng không thấy được sự bắt đầu và kết thúc của Phạm thiên, vì thế nên cho Phạm thiên là thường, còn tự thân mình và thế gian là vô thường. 2. Chấp sắc pháp diệt mất và tâm pháp thường còn, hoặc chấp tâm pháp diệt mất, sắc pháp thường còn. Hoặc cho rằng sắc pháp là 1 phần của tâm pháp, nên là thường còn.3. Chấp mình từ cõi trời Hí vong sinh xuống nhân gian, nhờ Túc trụ thông biết được quá khứ, cho rằng trụ xứ của mình ở kiếp trước là thường còn. 4. Chấp mình từ cõi trời Ý ức khuể sinh xuống nhân gian, nhờ Túc trụ thông biết được quá khứ, nhận rằng chỗ mình ở trong đời trước là thường còn. Ngoại đạo chấp trước loại kiến giải trên, tương đương với tông Tự tại đẳng nhân trong 16 tông ngoại đạo. [X. kinh Phạm động trong Trường a hàm Q.14; luận Đại tì bà sa Q.199; luận Du già sư địa Q.6; Đại thừa nghĩa chương Q.6]. (xt. Lục Thập Nhị Kiến, Thường Kiến).

nhất phẩm

Varga (skt)—One chapter of a sutra. ; (一品) Phạm: Varga. Hán âm: Bạt cừ. Một phẩm. Chỉ cho 1 chương hoặc 1 thiên kinh Phật. Phẩm nghĩa là biệt, là đơn vị dùng để chia 1 tác phẩm ra làm nhiều phần riêng biệt. (xt. Phẩm).

nhất phẩm kinh

(一品經) Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Một phẩm kinh. Nghĩa là 28 phẩm của kinh Pháp hoa được chép riêng ra từng phẩm 1, gọi là Nhất phẩm kinh. Phong trào này thịnh hành vào cuối thời đại Bình an của Nhật bản. Ngoài ra, người Nhật cũng dùng 28 phẩm kinh Pháp hoa làm đề tài ca nhạc mà soạn thành những bài hát ngắn, gọi là Nhất phẩm kinh hòa ca.

nhất phật nhất thiết phật

(一佛一切佛) Một đức Phật tức là hết thảy các đức Phật. Vì các đức Phật đều bình đẳng nên 1 đức Phật tức là tất cả các đức Phật. Lại nữa, một đức Phật bao gồm tất cả đức Phật, cho nên 1 đức Phật có đầy đủ nghĩa của hết thảy các đức Phật. Như kinh Đại bảo tích quyển 116 nói rằng: Công đức vô lượng vô biên của 1 đức Phật và công đức vô lượng của chư Phật không hai. Pháp quán Chân thân thứ 9 trong kinh Quán vô lượng thọ Phật nói: Thấy đức Phật Vô lượng thọ tức là thấy vô lượng chư Phật trong 10 phương.

nhất phật quốc độ

See Nhất Phật thế giới.

Nhất Phật thế giới

一佛世界; C: yīfó shìjiè; J: ichibutsusekai;|Cõi Phật, thế giới Phật.

nhất phật thế giới

Phật giới hay Tịnh độ—A Buddha-cosmo or Buddha-domain (a world undergoing transformation by a Buddha)—Buddha-region—Pure Land. ; (一佛世界) Phạm: Eka-buddha-kwetra. Cũng gọi Nhất Phật độ, Nhất Phật sát, Nhất Phật quốc độ. Chỉ cho phạm vi giáo hóa chúng sinh của 1 đức Phật. Người đời sau dần dần mở rộng phạm vi này ra 4 châu, cho đến tam thiên đại thiên thế giới, hoặc vô biên thế giới.[X. luận Đại trí độ Q.4; Câu xá luận quang kí Q.12; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.52].

nhất phật thừa

The One-Buddha-Yana—Những người theo Phật giáo Đại thừa tin rằng đây là con đường duy nhất giúp chúng ta đáo bỉ ngạn Niết Bàn—The Mahayanists believe that this is the perfect and only way to the shore of parinirvana—See Nhất Thừa.

nhất phật tịnh độ

A Buddha's Pure Land, especially that of Amitabha. ; (一佛淨土) Chỉ cho cõi nước thanh tịnh của 1 đức Phật cư trụ, hoặc chỉ cho Tịnh độ của 1 đức Phật nào đó. Nhưng đến đời sau thì từ ngữ này chuyên chỉ riêng Tịnh độ của đức Phật A di đà ở phương Tây. Luận Tịnh độ thập nghi (Đại 41, 78 trung) nói: Tâm của chúng sinh ở cõi Diêm phù đề phần nhiều vẩn đục và tán loạn, nên ở đây chỉ tán thán Nhất Phật tịnh độ ở phương Tây, khiến cho chúng sinh chuyên tâm vào 1 cảnh hầu dễ được vãng sinh.

nhất phật xuất thế nhị phật niết bàn

(一佛出世二佛涅槃) Một là Phật xuất thế, hai là Phật niết bàn.Xuất thế là lìa khỏi thế gian; Niết bàn là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ, vượt ra ngoài vòng sinh tử luân hồi, là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo. Nói đúng ra trong các kinh điển Phật giáo không hề có câu này, mà chỉ thấy được truyền tụng trong dân gian. Có lẽ đã do các cuốn tiểu thuyết dẫn các từ ngữ Phật giáo như Phật, Xuất thế, Niết bàn... để hợp thành câu này nhằm diễn tả tính trạng linh hồn đã ra khỏi thể xác lúc con người hôn mê bất tỉnh.

nhất phật đa phật

One Buddha or many Buddhas. ; (一佛多佛) Một đức Phật, nhiều đức Phật. Đại thừa chủ trương cùng 1 thời đại có nhiều đức Phật ra đời. Tiểu thừa thì có 2 thuyết: - Theo luận Câu xá quyển 12, các Luận sư thuộc Tát bà đa bộ cho rằng, trong vô biên thế giới chỉ có 1 đức Phật duy nhất ra đời, chứ không có 2 đức Phật xuất hiện cùng 1 lúc. - Các luận sư khác thì chủ trương, trong 1 tam thiên đại thiên thế giới, tuy không có 2 đức Phật ra đời cùng 1 lúc, nhưng ở các tam thiên đại thiên thế giới khác cũng có nhiều đức Phật xuất hiện. Luận Đại trí độ quyển 9 cho thuyết trước là bất liễu nghĩa, còn thuyết sau là liễu nghĩa.

nhất quang tam tôn

Ba đấng Chí Tôn dưới một vầng hào quang (Di Đà, Quán Âm, và Thế Chí)—Three Honored Ones in one light or halo (Amitabha, Avalokitesvara, Mahasthamaprapta). ; (一光三尊) Chỉ cho bức tranh Tam tôn Phật: Một vị ở chính giữa, 2 vị đứng hầu 2 bên trong cùng 1 vòng hào quang sau lưng. Vòng hào quang này thông thường là hình chiếc thuyền. Tại Trung quốc, vào thời Bắc Ngụy, đã có không ít tượng Phật mang hình thức vòng hào quang loại này, như tượng 3 vị Phật ngồi được tàng trữ ở chùa Thảo đường tại Trường an, được tạo vào năm Hưng hòa (539-542) đời Bắc Ngụy.

nhất quyết

To determine—To decide.

nhất quán

1) Nhất điểm quán: The contemplation on the one-pointedness. 2) Một đề mục quán tưởng: Theo Vi Diệu Pháp, đây là quán tưởng về tánh cách không trong sạch của thức ăn, hay sự ghê tởm của vật thực—According to The Abhidharma, this is the one perception of loadsomeness of material food (ahare patikkulasanna).

nhất sanh

Một đời người—A whole lifetime—Lifetime—Throughout one's life.

nhất sanh bất phạm

Life-long innocence.

nhất sanh bổ xứ

Eka-jati-prati-badha (skt)—Giai đoạn mà vị Bồ Tát chỉ một lần sanh ở chỗ nầy là được bổ lên ngôi vị Phật—The stage of having only one lifetime or one enlightenment to attain Buddhahood.

nhất sanh bổ xứ bồ tát

Vị chỉ còn sanh vào cõi Tịnh Độ một lần nữa là được lên ngôi Phật, thường chỉ áp dụng cho Bồ Tát. Tất cả các vị vãng sanh Tịnh Độ, người nào cũng quyết thực là nhất sanh bổ xứ, trong số đó có vô số “Thượng Thiện Nhân”—One who, in this one life, accomplishes the three stages for final entry. The stage of having only one lifetime to go before enlightenment, generally attributed to Bodhisattvas (associated with 20th vow of Amitabha). Everyone in the Pure Land is sure to experience the stage of having only one lifetime to go before enlightenment, and among them are countless numbers of such superlative Bodhisattvas.

nhất sanh bổ xứ bồ tát tượng

A 30-armed image of Maitreya (Di Lặc).

nhất sanh nhập diệu giác

Buddha enlightenment can be attained by any in one lifetime.

nhất sanh viên mãn

Perfect Realization in a lifetime—Trong các thời kỳ giáo thuyết của Đức Phật, chỉ có thời kỳ Hoa Nghiêm là nói rõ nghĩa của “Nhất Sanh Viên Mãn.” Đức Phật giảng rất rõ về Nhất Sanh Viên Mãn trong Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện. Đây là con đường trở về cõi An Dưỡng Địa hay Tây Phương Cực Lạc của người tu mà Đức Phật đã khuyến tấn tứ chúng rất rõ ràng trong Hải Hội Hoa Tạng trong Kinh Hoa Nghiêm—Among the teachings given by Sakyamuni Buddha for a certain era, only the Flower Ornament or Avatamsaka Sutra explains “Perfect Realization in a Single Lifetime.” The basis for perfect realization is explained in the Chapter of the “Vows of Samantabhadra in the Ten Great Vows which show the way back to the land called “Peaceful Nurturing” or Amitabha's Pure Land. In Avatamsaka Sutra, the Buddha urged the whole assembly to advance toward the Pure Land in the Flower Treasury World.

nhất sinh

(一生) I. Nhất Sinh. Một lần sinh. Nghĩa là Bồ tát Đẳng giác còn phải 1 lần sinh tử nữa để dứt hết hoặc Vô minh mới được lên ngôi vị Phật quả Diệu giác, thế nên Bồ tát Đẳng giác được gọi là Nhất sinh bổ xứ. II. Nhất Sinh. Trong một đời. Nghĩa là đồng tử Thiện tài đã viên thành quả Phật chỉ trong 1 đời, cho nên được bồ tát Di lặc khen rằng: Trong khi các vị Bồ tát khác phải trải qua vô lượng kiếp mới viên thành hạnh nguyện Bồ tát thì Trưởng giả tử này(Thiện tài), chỉ trong 1 đời đã có thể làm cõi Phật thanh tịnh, hóa độ chúng sinh, vì thế gọi là Nhất sinh. [X. Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.2].

nhất sinh bất phạm

(一生不犯) Một đời không phạm. Nghĩa là trọn 1 đời giữ gìn giới luật, không phạm giới dâm, không gần người nữ, sống cuộc đời thanh tịnh.

nhất sinh bổ xứ

(一生補處) Phạm: Eka-jàti-pratibadha. Cũng gọi Nhất sinh sở hệ. Gọi tắt: Bổ xứ. Người sinh ra 1 lần cuối cùng ở nhân gian để thành Phật. Bổ xứ là chỉ cho địa vị tối cao của Bồ tát, tức là bồ tát Đẳng giác. Hiện nay, bồ tát Di lặc thường được gọi là Bồ tát Nhất sinh bổ xứ. Cứ theo kinh Di lặc thướng sinh, bồ tát Di lặc hiện đang ở trên cung trời Đâu suất, đợi hết đời này thì sinh xuống nhân gian lần cuối cùng để tu hành thành Phật, nối sau đức Phật Thích ca. Nhất sinh bổ xứ còn được gọi là Nhất sinh sở hệ, nghĩa là vị Bồ tát này chỉ còn bị trói buộc(hệ)1 đời này nữa trong thế giới mê muội, rồi đời sau sẽ thành Phật. Ngoài ra, theo Vô lượng thọ kinh kí quyển thượng, Bồ tát Nhất sinh bổ xứ được chia làm 4 cấp bậc: 1. Bồ tát an trụ ở chính định. 2. Bồ tát tiếp cận Phật địa. 3. Bồ tát trụ ở cung trời Đâu suất. 4. Từ trời Đâu suất sinh xuống nhân gian tu hành thành Phật. [X. phẩm Thập địa trong kinh Bồ tát bản nghiệp; phẩm Cụ duyên chân ngôn trong kinh Đại nhật; Di lặc thướng sinh kinh tông yếu].

nhất sinh bổ xứ bồ tát tối thắng đại tam muội da tượng

(一生補處菩薩最勝大三昧耶像) Cũng gọi Từ sinh tam muội da tượng. Tượng bồ tát Di lặc, thân màu vàng ròng, đầu đội mũ Ngũ trí, dung mạo từ bi hiền hòa, có 30 tay, mỗi tay đều cầm bảo vật. [X. Giác thiền sao; Từ thị niệm tụng pháp Q.thượng].

nhất sinh nhập diệu giác

(一生入妙覺) Một đời chứng nhập được quả Diệu giác. Đây là giáo thuyết do tông Thiên thai lập ra. Tông Thiên thai cho rằng nhất tâm tu hành theo lí diệu giác viên đốn thì có thể từ địa vị phàm phu đạt đến Phật quả Diệu giác ngay trong đời hiện tại, chứ không phải trải qua 3 đại a tăng kì kiếp.

nhất sinh quả toại

(一生果遂) Thành quả trong 1 đời. Nghĩa là nguyện vọng vãng sinh Tịnh độ có thể thành tựu trong 1 đời. Đây là thuyết của Chân tông Nhật bản. Chân tông căn cứ vào nguyện thứ 20 trong 48 nguyện của đức Phật A di đà, chủ trương người phàm phu khi nghe danh hiệu của Phật mà cầu mong được sinh về Tịnh độ thì ngay trong 1 đời có thể đạt được nguyện vọng. Về vấn đề này, xưa nay đều lấy Tam sinh quả toại làm thuyết chính thống. Tức là đời thứ 1(quá khứ hay hiện tại) được nghe danh hiệu của Phật, đời thứ 2 (hiện tại hay vị lai) siêng năng tu hành niệm Phật, đời thứ 3 (vị lai hay đời vị lai kế tiếp) được vãng sinh. Hoặc lại có thuyết cho rằng đời thứ 1 tự lực niệm Phật, đời thứ 2 được sinh vào Hóa độ và đời thứ 3 sinh về Báo độ. Nhưng Chân tông Nhật bản thì vì đứng trên lập trường tín ngưỡng Tha lực niệm Phật nên lập riêng thuyết Nhất sinh quả toại này. (xt. Bản Nguyện).

nhất sinh tham học sự

(一生參學事) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Việc tham học một đời. Nghĩa là nếu tham cứu đến đáy nguồn của việc lớn sinh tử thì có thể chứng ngộ ngay trong 1 đời. Phật quả Viên ngộ Chân giác thiền sư tâm yếu quyển thượng (Vạn 120, 360 hạ) chép: Ngài Trường khánh nói: Nếu gặp bạn đạo lỗi lạc sánh vai vượt qua, thì việc tham học 1 đời có thể xong ngay!.

nhất sinh tộc

(一生族) Phạm: Eka-jàti. Chủng tộc chỉ sinh ra có 1 đời. Từ chỉ cho đẳng cấp Thủ đà la. Bà la môn giáo ở Ấn độ cổ đại cho rằng trong 4 đẳng cấp thì đẳng cấp Thủ đà la là tiện dân, chẳng những không có quyền lễ bái thần linh và đọc tụng kinh điển Phệ đà, mà cũng không có cả cái quyền được sinh ra ở đời thứ 2 nữa! Vì thế gọi là Nhất sinh tộc.

nhất siêu trực nhập

Hành giả tham Tổ Sư Thiền siêu việt những cấp bậc của giáo môn, trực tiếp ngộ nhập Phật tánh, gọi là nhất siêu trực nhập. ; (一超直入) Một vượt vào thẳng. Nghĩa là chỉ trong khoảnh khắc vượt ra ngoài thế giới mê vọng mà vào thẳng cảnh giới giác ngộ. Cũng tức là ý nghĩa chỉ thẳng lòng người, thấy tính thành Phật. Đây là cảnh giới Tức tâm tức Phật, phi tâm phi Phật.

nhất siêu trực nhập như lai địa

(一超直入如來地) Đồng nghĩa: Lập địa thành Phật. Một nhảy vào thẳng đất Như lai. Nghĩa là không cần trải qua các thứ bậc tu hành mà trực tiếp chứng nhập quả vị Phật. Vĩnh gia chứng đạo ca (Đại 48, 396 thượng) nói: Chỉ hướng cửa vô vi thực tướng, Một vượt vào thẳng đất Như lai. Cần được gốc, chớ lo ngọn, Như ngọc lưu li ngậm ánh trăng. Hiểu rõ ngọc như ý kia rồi, Lợi mình lợi người không cùng tận.

nhất sát

A ksetra (skt)—Một cõi Phật—A land—A Buddha realm—Chiliocosm. ; (一刹) Sát, Phạm: Kwetra. Một quốc độ, một thế giới. Chỉ cho phạm vi giáo hóa chúng sinh của 1 đức Phật, cũng tức là Tam thiên đại thiên thế giới. [X. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7].

nhất sát na

A ksana (skt)—Một khoảng thời gian ngắn nhất (1/90 của một niệm hay 1/4500 của một phút)—The shortest period of time. (1/90th part of a thought or 1/4500th of a minute). ; (一刹那) Phạm: Kwaịa. Chỉ cho khoảng thời gian cực ngắn, tương đương với1/60 của 1 sao. Theo kinh Nhân vương hộ quốc bát nhã quyển thượng, thì 1 niệm bằng 90 sát na, trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt. Theo các vị Luận sư của A tì đàm thì trong 1 cái búng ngón tay của người tráng sĩ có 65 sát na. [X. luận Đại tì bà sa Q.136].

nhất sát đa sinh

Giết một cứu nhiều—To kill one that many may live. ; (一殺多生) Giết một sống nhiều. Nghĩa là giết 1 người để cứu sống nhiều người, đó là phương tiện quyền biến mà Bồ tát thực hiện nhằm làm lợi ích cho chúng sinh. Cứ theo luận Du già sư địa quyển 41, Bồ tát tuy nghiêm trì giới luật, nhưng nếu thấy 1 tên cướp, vì lòng tham muốn, định giết nhiều người để đoạt tiền của, hoặc muốn hại các bậc Đại đức, Thanh văn, Độc giác, Bồ tát, không sợ tạo thêm nhiều nghiệp Vô gián, Bồ tát liền vận dụng tâm thiện, tâm vô kí, tâm thương xót, ra tay giết chết tên cướp ấy để cứu sống nhiều người. Bồ tát thà tự mình chịu đọa địa ngục, chứ không để kẻ ác kia phải chịu quả báo Vô gián. [X. kinh Báo ân Q.7; kinh Niết bàn Q.12 (bản Bắc)].

Nhất sơn

(一山) [tạp]: tên gọi riêng của toàn thể một chùa, từ thay thế cho đạo tràng Thiền lâm. Vì phần lớn các tự viện đều tọa lạc trong núi nên có tên gọi như vậy.

nhất sơn

Nhà sư Trung Hoa du hành sang Nhật vào khoảng năm 1299 AD, cũng còn gọi là Nhất Ninh—I-shan, a Chinese monk who voyaged to Japan in 1299 AD, also called I-Ning. ; (一山) I. Nhất Sơn. Một ngôi chùa. Vì chùa phần nhiều được xây dựng trên núi nên 1 ngôi chùa cũng gọi là Nhất sơn. Nhưng trên thực tế, phạm vi của Nhất sơn rộng hơn 1 ngôi chùa. II. Nhất Sơn. Vị tăng thuộc tông Lâm tế đời Tống. (xt. Nhất Sơn Nhất Ninh).

Nhất Sơn Nhất Ninh

(一山一寧, Issan Ichinei, 1247-1317): vị tổ của Phái Nhất Sơn (一山派) thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, người vùng Đài Châu (台州, Tỉnh Triết Giang), họ là Hồ (胡), hiệu là Nhất Sơn (一山). Lúc còn nhỏ, ông theo làm đệ tử của Vô Đẳng Dung (無等融) ở Hồng Phước Tự (鴻福寺) thuộc vùng Phù Sơn (浮山), Đài Châu, rồi sau đó thọ giới với Xử Khiêm (處謙) ở Phổ Quang Tự (普光寺). Kế đến ông theo học Luật ở Ứng Chơn Tự (應眞寺), học Thiên Thai ở Diên Khánh Tự (延慶寺), sau ông quay trở về với Thiền Tông. Ông lên Thiên Đồng Sơn (天童山) tham vấn khắp chư vị tôn túc như Giản Ông Cư Kính (簡翁居敬), Tạng Tẩu Thiện Trân (藏叟善珍), ở Dục Vương Sơn (育王山), Đông Tẩu Khải (東叟愷), Tịch Song Hữu Chiếu (寂窻有照), Ngoan Cực Hành Di (頑極行彌) ở Tịnh Từ Tự (淨慈寺), và cuối cùng kế thừa dòng pháp của Hành Di. Sau đó, ông đến trú tại Tổ Ấn Tự (祖印寺) thuộc vùng Tứ Minh (四明), rồi Phổ Đà Sơn (普陀山). Vào năm thứ 3 (1299) niên hiệu Đại Đức (大德), ông được vua nhà Nguyên là Thành Tông ban cho hiệu là Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư (妙慈弘濟大師), rồi được bổ nhiệm là cai quản toàn bộ tôn giáo ở vùng Triết Giang. Vào tháng 8 cùng năm này, theo lời mời của Tây Giản Tử Đàm (西礀子曇) và Thạch Lương Nhân Cung (石梁仁恭), ông đến Thái Tể Phủ Nhật Bản. Lúc bấy giờ, người chấp quyền là Tướng Quân Bắc Điều Trinh Thời (北條貞時, Hōjō Sadatoki) mới nghi ngờ ông là mật thám của nhà Nguyên, nên bắt ông giam ở Tu Thiền Tự (修禪寺) vùng Y Đậu (伊豆, Izu). Sau đó, biết được ông là một vị danh tăng nên Trinh Thời thỉnh ông đến trú trì Kiến Trường Tự (建長寺), nhưng rồi ông lại chuyển đến Viên Giác Tự (圓覺寺) cũng như Tịnh Trí Tự (淨智寺). Vào năm thứ 2 (1313) niên hiệu Chánh Hòa (正和), theo sắc chỉ của Hậu Vũ Đa Thượng Hoàng (後宇多上皇), ông được thỉnh đến làm vị tổ thứ 3 của chùa này. Chúng đạo tục lúc bấy giờ mới tập trung đến mà tham học với ông; vì không chịu nỗi tình trạng tiếp khách đông đảo như vậy, nên ông đã xin Thượng Hoàng cho lui về ẩn cư, nhưng không được phép. Đến tháng 9 năm đầu (1317) niên hiệu Văn Bảo (文保), ông ngọa bệnh ở chùa này, được Thượng Hoàng đích thân đến vấn an thăm hỏi, và đến ngày 24 tháng 10 cùng năm thì viên tịch, hưởng thọ 71 tuổi. Bài kệ để lại của ông là “Hoành hành nhất thế, Phật tổ thôn khí, tiễn dĩ ly huyền, hư không trụy địa (横行一世、佛祖呑氣、箭巳離弦、虛空墜地, tung hoành một đời, Phật Tổ nuốt khí, tên đã rời dây, hư không xuống đất).” Thượng Hoàng ban cho ông thụy hiệu là Nhất Sơn Quốc Sư (一山國師). Đệ tử nối dòng pháp của ông có Thạch Lương Nhân Cung (石梁仁恭), Vô Trước Lương Duyên (無著良緣), Vô Cảm Lương Khâm (無感良欽), Vô Tướng Lương Chơn (無相良眞), Tuyết Thôn Hữu Mai (雪村友梅), Văn Khê Lương Thông (文溪良聰), Đông Lâm Hữu Kheo (東林友丘), v.v. Trước tác của ông có Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục (一山國師語錄). ; 一山一寧; C: yīshān yīníng; J: issan ichinei; 1247-1317;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sau khi nhà Tống bị Mông Cổ lật đổ, Sư được Nguyên Thành Tông cử đến Nhật Bản để nối lại mối quan hệ – vốn bị gián đoạn từ khi Mông Cổ cố gắng xâm lấn nhiều lần. Sư vừa đặt chân lên đất Nhật (1299) liền bị nghi là gián điệp, bị bắt giam. Sau khi được tha, Sư được cử trụ trì Kiến Trường tự (kenchō-ji), năm 1302 trụ trì Viên Giác tự (engaku-ji) và năm 1312, Thiên hoàng Hậu Ðề Hồ (go-daigo) cử Sư làm Phương trượng chùa Nam Thiền (nanzen-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư nổi danh không chỉ là một Thiền sư mà còn là một nghệ sĩ xuất trần, một hoạ sĩ tinh thông Thư pháp (Thư đạo; j: shōdō).|Cùng với môn đệ người Nhật là Tuyết Thôn Hữu Mai (sesson yūbai, 1290-1346), Sư được xem là vị Khai tổ của phong trào văn hoá Ngũ sơn (Ngũ sơn văn học). Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – cũng một thời gian tu học với Sư – là người đã góp phần lớn trong việc giúp đỡ các Thiền viện tại Kinh Ðô trở thành những trung tâm của văn hoá, nghệ thuật và khoa học với sắc thái Trung Quốc rõ rệt.

nhất sơn nhất ninh

(一山一寧) Thiền sư Trung quốc, thuộc phái Dương kì, tông Lâm tế, sống vào đời Tống, người Thai châu (huyện Lâm hải, tỉnh Chiết giang), họ Hồ, hiệu Nhất sơn. Sau khi xuất gia, sư học tập, nghiên cứu giáo chỉ tông Thiên thai và Luật tông. Năm Đại đức thứ 3 (1299), sư được vua Thành tông nhà Nguyên ban hiệu Diệu Từ Hoằng Tế và áo kim lan, sắc lệnh cho sư sang Nhật bản giáo hóa. Mạc phủ Liêm thương ngờ sư là trinh thám nên bắt hạ ngục, nhưng ngày đêm sư vẫn an nhiên tụng kinh, Thiền quán. Không bao lâu, sư được phóng thích, rồi lần lượt trụ trì các chùa Kiến trường, Viên giác, Nam thiền... dần dần sư được Thiên hoàng Hậu vũ đa và các công khanh, quí tộc tín nhiệm, cảm mến đạo phong của sư, đến tham vấn rất đông. Sư cũng tinh thông cái học Chu tử và là 1 trong những người đầu tiên khai sáng ra nền văn học Ngũ sơn của Nhật bản. Pháp phái của sư gọi là Nhất sơn phái, 1 trong 24 phái thuộc Thiền tông Nhật bản. Niên hiệu Văn bảo năm đầu (1317) sư tịch, thọ 71 tuổi, được vua ban hiệu là Nhất Sơn Quốc Sư. Sư có tác phẩm: Nhất sơn quốc sư ngữ lục, 2 quyển. [X. Nguyên hanh thích thư Q.8; Diên bảo truyền đăng lục Q.4].

Nhất Sơn Quốc Sư Diệu Từ Hoằng Tế Đại Sư Ngữ Lục

(一山國師妙慈弘濟大師語錄, Issankokushimyōjikōsaidaishigoroku): còn gọi là Nhất Sơn Nhất Ninh Quốc Sư Ngữ Lục (一山一寧國師語錄), Nhất Sơn Ninh Hòa Thượng Ngữ Lục (一山寧和尚語錄), Nhất Sơn Quốc Sư Ngữ Lục (一山國師語錄), Ninh Nhất Sơn Lục (寧一山語錄), 2 quyển, là bộ ngữ lục hoằng pháp do Nhất Sơn Nhất Ninh soạn thuật, và nhóm thị giả Liễu Chơn (了眞) biên tập. Vì bộ này được khai bản ở Đại Vân Am (大雲庵) nên nó còn được gọi là Đại Vân Lục (大雲錄), được thâu lục vào trong quyển thứ 80 của Đại Chánh Tạng (Taishō). Đây là bộ ngữ lục thâu tập các lời dạy khi thượng đường của Nhất Sơn từ khi ông sống tại Ngao Phong Sơn Tổ Ấn Tự (鰲峰山祖印寺) vùng Tứ Minh (四明), Bảo Đà Quan Âm Thiền Tự (寳陀觀音禪寺) ở Phủ Khánh Nguyên (慶元府) bên Trung Quốc cho đến Kiến Trường Tự (建長寺), Viên Giác Tự (圓覺寺), Tịnh Trí Tự (淨智寺), Nam Thiền Tự (南禪寺), của Nhật Bản, kèm theo một số tiểu tham, pháp ngữ, niêm cổ, tụng cổ, kệ tụng, tán Phật tổ, tự tán, tiểu Phật sự, hành ký, v.v.

nhất sơn quốc sư diệu từ hoằng tế đại sư ngữ lục

(一山國師妙慈弘濟大師語錄) Cũng gọi Nhất sơn nhất ninh quốc sư ngữ lục, Nhất sơn ninh hòa thượng ngữ lục, Nhất sơn quốc sư ngữ lục, Ninh nhất sơn lục, Đại vân lục. Ngữ lục, 2 quyển, do ngài Nhất sơn Nhất ninh (1247-1317) trứ tác, các vị thị giả Liễu chân... biên tập, được thu vào Đại chính tạng tập 80. Nội dung gồm: - Quyển thượng có các phần: Sơ trụ Tứ minh Ngao phong sơn Tổ ấn thiền tự ngữ lục, do Liễu chân biên tập, Trụ Khánh nguyên phủ Bảo đà Quan âm thiền tự ngữ lục, do Duy phượng biên tập, cùng các mục Tiểu tham, Pháp ngữ, Niêm cổ, Tụng cổ... - Quyển hạ thu chép: Kệ tụng, Tán Phật tổ, Tự tán, Tiểu Phật sự và Hành kí do ngài Ngạn tài soạn, cuối cùng là lời Bạt của ngài Trung phong Minh bản.

Nhất sư ấn chứng

一師印證; J: isshi-injō; nghĩa là »sự ấn khả chứng minh của một vị thầy«;|Chỉ sự tu tập của một thiền sinh dưới sự hướng dẫn của một vị thầy duy nhất. Sự cần thiết của nhất sư ấn chứng được Thiền tông – nhất là tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) – tại Nhật Bản đề cao từ khoảng thế kỉ 17 để chống lại khuynh hướng chạy tới chạy lui qua nhiều vị thầy của các thiền sinh thời bấy giờ.|Việc tu học trong Thiền tông dưới một vị thầy khác với cái học nơi thế tục ở một điểm: nơi đây thiền sinh không được học suông (tri) rồi truyền cái học suông này cho người khác mà còn phải thực hiện cái chân lí đã được học qua lí thuyết ngay ở chính mình, cứ như người khát nước uống nước (hành). Chỉ khi nào tri và hành hợp nhất thì thiền sinh mới có thể hi vọng một ngày nào đó sẽ Kiến tính (kenshō) ngộ đạo. Vì lí do này mà niềm tin và sự tu tập nơi một vị thầy – trong một tông phái tự gọi là Phật tâm tông và chủ trương việc Dĩ tâm truyền tâm – được xem là tối trọng. Mà cũng có khi một vị thầy nhìn nhận ra khả năng cao tột của một thiền sinh mới đến – nhưng thấy cơ duyên của thiền sinh này không hợp nơi mình thì vị này cũng gửi thiền sinh này đi nơi khác. Việc gửi các môn đệ đi học qua lại nhau của hai vị Mã Tổ Ðạo Nhất và Thạch Ðầu Hi Thiên là những ví dụ hay nhất của phương pháp giảng dạy này.|Vì trong Thiền tông không có bản quy định, thước đo cụ thể cho việc ấn chứng nên các Lão sư (j: rōshi) chỉ có thể hướng dẫn và ấn chứng cho một đệ tử theo khả năng, trình độ đã đạt của mình và một sự hướng dẫn gần gũi trực tiếp. Một khi sự hướng dẫn của một vị thầy bị gián đoạn thì vị thầy sau không thể tiếp nối việc này một cách hoàn hảo. Thiền sinh vì vậy phải có niềm tin vững chắc nơi vị thầy – sau khi đã tìm được vị thích hợp – và chỉ học với vị này mà thôi. Sau khi thiền sinh đã đạt mức độ giác ngộ của vị thầy thì có thể Hành cước đây đó để trau dồi kinh nghiệm qua những cuộc Vấn đáp (j: mondō), cũng thường được gọi là Pháp chiến (j: hossen) với các vị Thiền sư khác.

nhất sư ấn chứng

(一師印證) Một thầy ấn chứng. Nghĩa là người kế thừa pháp thống, chỉ được nhận sự ấn chứng của 1 vị thầy mà thôi. Đây là 1 trong những pháp tắc xưa của tông Tào động Nhật bản.

nhất sắc

One colour—The same colour. ; (一色) Phạm: Eka-rùpa. I. Nhất Sắc. Chỉ cho 1 hình tượng hay 1 hiện tượng vật chất. II. Nhất Sắc. Ý nói cực kì nhỏ bé. Vãng sinh yếu tập quyển trung (Đại 84, 56 thượng) nói: Nhất sắc nhất hương đều là trung đạo, thụ tưởng hành thức cũng lại như thế. III. Nhất Sắc. Biểu thị sự toàn tâm toàn ý, hoặc sự tu hành Phật đạo thuần nhất. Điển tọa giáo huấn (Đại 82, 320 thượng) nói: Tu đạo phải toàn tâm nhất ý (nhất sắc), nếu không có đạo tâm thì dù vất vả cực nhọc bao nhiêu, cuối cùng cũng vô ích.

nhất sắc biên

(一色邊) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Nhất sắc là thuần nhất, tuyệt đối. Trong Thiền lâm, từ ngữ này được sử dụng để diễn đạt cảnh giới thanh tịnh, bình đẳng vượt ngoài sự sai biệt và quan niệm tương đối. Tắc 42 trong Bích nham lục (Đại 48, 179 hạ) nói: Người xưa dùng tuyết để minh họa cảnh giới thanh tịnh bình đẳng (Nhất sắc biên).

nhất sắc nhất hương vô phi trung đạo

(一色一香無非中道) Một sắc 1 hương đều là Trung đạo. Nghĩa là lí thực tướng Trung đạo tiềm tàng trong hết thảy mọi vật, dù nhỏ nhặt như nhất sắc, nhất hương cũng có đủ bản thể của thực tướng Trung đạo. Theo tông Thiên thai thì đây là cảnh giới chứng ngộ hiển bày sau khi quán chiếu tất cả các pháp dưới ánh sáng của 3 pháp quán: Không, Giả, Trung. [X. chương Viên đốn trong Ma ha chỉ quán Q.1, thượng].

nhất sắc vô biện xứ

(一色無辨處) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Không thể dùng tư duy tương đối để phân biệt cảnh giới tuyệt đối. Tào sơn lục (Đại 47, 533 hạ) nói: Pháp thân pháp tính là việc tôn quí ngoài lề, cũng cần phải chuyển, vì đó là tôn quí đọa; giả sử trâu trắng lộ thiên là pháp thân cứu cánh thì cũng phải chuyển để nó khỏi ngồi ở cảnh giới tuyệt đối (Nhất sắc vô biện xứ), đây gọi là dứt sự cúng dường ngoài lề.

Nhất tam muội

(一三昧) [thuật]: từ gọi tắt của Nhất Hạnh Tam Muội (一行三昧), nghĩa là chuyên tâm vào một việc, không suy nghĩ chuyện khác.

nhất tam muội

Ekagra (skt)—Undeflected concentration—Meditation on one object—Undefeated concentration.

Nhất tam-muội

一三昧; C: yīsānmèi; J: ichisanmai;|Tâm an trú vào cảnh giới nhất như, tâm đạt định; viết tắt của Nhất hạnh tam-muội (一行三昧)

nhất thanh lôi chấn thanh biều khởi

(一聲雷震清飈起) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Sau 1 tiếng sấm vang trời thì sẽ có 1 làn gió mát thoảng qua. Thiền tông dùng cụm từ này với ý khi đã chứng ngộ thì tất cả phiền não đều tiêu trừ.Tắc 49 trong Bích nham lục (Đại 48, 185 thượng) nói: Cá kình nghìn thước phun sóng lớn Một tiếng sấm vang gió thoảng qua.

nhất thiên

Sahasra (skt)—Một ngàn—One thousand.

Nhất thiên nhị bách công đức

(一千二百功德) [danh]: tức công đức của sáu căn thanh tịnh. Trong Phẩm Pháp Sư Công Đức của Kinh Pháp Hoa (法華經) có đoạn rằng: “Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì thị Pháp Hoa Kinh, nhược độc nhược tụng, nhược giải thuyết, nhược thư tả, thị nhân đương đắc bát bách nhãn công đức, thiên nhị bách nhĩ công đức, bát bách tỷ công đức, thiên nhị bách thiệt công đức, bát bách thân công đức, thiên nhị bách ý công đức, dĩ thị công đức, trang nghiêm lục căn, giai linh thanh tịnh (若善男子、善女人受持是法華經、若讀、若誦、若解說、若書冩、是人當得八百眼功德、千二百耳功德、八百鼻功德、千二百舌功德、八百身功德、千二百意功德、以是功德、莊嚴六根、皆令清淨, nếu có người nam, người nữ nào thọ trì Kinh Pháp Hoa này, nếu đọc, nếu tụng, nếu giải thích, nếu viết chép, người ấy sẽ được 800 công đức về mắt, 1.200 công đức về tai, 800 công đức về mũi, 1.200 công đức về lưỡi, 800 công đức về thân, 1.200 công đức về ý; lấy công đức ấy để trang nghiêm sáu căn, thảy đều làm cho được thanh tịnh)”.

nhất thiên nhị bách công đức

Một ngàn hai trăm công đức trong Kinh Pháp Hoa—One thousand two hundred merits or powers of eye, tongue and mind predicted in the Lotus sutra.